Pages

Saturday, January 10, 2026

Thuốc Tây, Thuốc Bắc, Thuốc Nam Dưới Mắt Của Một Bác Sĩ Tây Y - BS. Lương Lễ Hoàng




Kính thưa quý vị, một hôm, có một bệnh nhân đến phòng mạch, yêu cầu chúng tôi thử máu tổng quát. Là bác sĩ, trước khi thử máu thì cần phải biết tại sao bệnh nhân lại có yêu cầu này, vì nhiều khi bệnh nhân có những căn bệnh mà cuộc thử nghiệm tổng quát không phải là sự thử nghiệm thích hợp nhất.

Sau khi được hỏi bệnh cẩn thận, bệnh nhân dứt khoát là không bị bệnh gì cả, chỉ muốn khám nghiệm tổng quát. Thấy bệnh nhân trong độ tuổi giữa 45 và 49, cũng là tuổi mà giới Y tế muốn các b/s làm một cuộc khám nghiệm tổng quát, chúng tôi đồng ý cho bệnh nhân đi thử máu.

Thật tình cờ, khi kết quả trở về thì cho thấy bệnh nhân bị suy gan khá trầm trọng. Tất nhiên, tiếp theo đó những thử nghiệm khác được tiến hành, để tìm hiểu thêm nguyên nhân của sự suy gan, mà người Việt mình thường gọi là "nóng gan", như thử các bệnh viêm gan do siêu vi khuẩn gây ra, siêu âm gan, và hỏi lại thật cặn kẻ việc ăn uống cùng thuốc men của bệnh nhân. Nên biết, rượu hay thuốc làm giảm mỡ (cholesterol) cũng thường là nguyên nhân làm cho "nóng gan".

Kết quả là không có một nguyên nhân cụ thể nào được tìm thấy, nhưng chính trong lần khám nghiệm thứ ba này, bệnh nhân tiết lộ đang dùng thuốc Bắc, mặc dù trong những lần khám nghiệm trước, đã được hỏi về những thuốc men mà bệnh nhân sử dụng. Sau một thời gian ngưng uống liều thuốc Bắc này, gan bệnh nhân trở lại bình thường.


Kính thưa quý vị, chúng tôi lớn lên ở VN, tuy không học qua Ðông y, nhưng cũng nghe lõm bõm về khái niệm "âm dương ngũ hành", "thổ sinh kim, thủy khắc hỏa", vân vân.

Khi ở VN thì chúng tôi học 4 năm đại học ngành hóa học, thấy người Tây phương chia vạn vật ra làm hàng tỷ tỷ hợp chất khác nhau, mà thành phần đơn chất căn bản để cấu tạo nên những hợp chất này là nguyên tố, như oxygen, carbon, sắt, đồng, nitrogen, vân vân. Té ra đời không thể nhìn đơn giản với "kim mộc thủy hỏa thổ" mà đủ (quan niệm của Hy Lạp cách đây mấy ngàn năm cũng tương tự như vậy, nhưng nay người ta đã tiến rất xa rồi). Khi sang Úc, theo học ngành y, thì chúng tôi được biết thêm cách thức mà Tây phương nghiên cứu về thuốc men.

Xin được vắn tắt về cách Tây y nghiên cứu một môn thuốc trước khi thuốc này được đưa ra thị trường cho người bệnh dùng.

Một liều thuốc Tây căn bản, thường chỉ bao gồm một hợp chất (hoặc cao lắm là vài hợp chất) trộn với chất bột không có chứa dược tính thuốc. Sau khi thử trên loài vật có hệ thống sinh lý tương đối giống con người và đã xác định được hiệu quả của thuốc, người ta mới bắt đầu thử nghiệm trên con người.

Ở giai đoạn thử nghiệm lâm sàng trên con người này, hầu như luôn luôn người ta sử dụng phương pháp gọi là "double blinded study". Xin đưa một thí dụ. Các bệnh nhân có cùng một căn bệnh, sẽ được chia làm 2 nhóm. Một nhóm sẽ được cho uống thuốc thật và một nhóm được cho uống thuốc giả (placebo), tức là viên thuốc chỉ có chất bột mà không có hợp chất thuốc.

Bác sĩ cho thuốc cũng không hề biết viên thuốc mình cho bệnh nhân uống là thật hay giả, và tất nhiên bệnh nhân cũng không biết luôn. Do đó, người ta gọi là "double blinded", cả hai, thầy lang và con bệnh, đều bị "bịt mắt". Người biết ai uống thuốc thật, ai uống thuốc giả là những nhân viên hành chánh, chưa hề gặp mặt các bệnh nhân.

Sau một thời gian dùng thuốc, bệnh nhân được kiểm tra lại. Thí dụ như trong trường hợp thử nghiệm loại thuốc giảm huyết áp, người ta sẽ đo lại huyết áp của bệnh nhân, và so sánh với chỉ số huyết áp trước khi dùng thuốc này.

Cùng lúc đó, người ta hỏi bệnh nhân về các phản ứng phụ, như buồn nôn, chóng mặt, vân vân, và đo đạc những thay đổi khách quan khác như thử máu xem gan có bị "nóng" (bệnh) hay không, "công năng" thận ra sao, vân vân. Sau đó người ta lấy các con số đưa sang qua các thống kê để tiếp tục phân tích.


Nếu trường hợp 99% người uống thuốc thật khỏi bệnh, còn chỉ có 1% người uống thuốc giả khỏi bệnh, thì người ta có thể kết luận là thuốc này là công hiệu. Ngược lại, nếu chỉ có 5% người uống thuốc thật sự hết bệnh và có 4% người uống thuốc giả cũng khỏi bệnh, thì có thể người ta cũng thấy được dù có uống thuốc hay không cũng không khác gì nhau, tức là thuốc không có hiệu nghiệm.

Nhưng thông thường, kết quả không rõ rệt như vậy, mà có thể là 563/1000 người dùng thuốc thật sẽ khỏi bệnh, 230/1000 người dùng thuốc giả hết bệnh. Như vậy thì thuốc thật có công hiệu không? Và thuốc giả thì sao, vì cũng có người hết bệnh đó mà.

Ðến đây, vai trò của bài toán thống kê vô cùng quan trọng. Toán thống kê cuối cùng sẽ cho chúng ta một kết luận, kết luận rằng có thể nào vì "tình cờ" mà có nhiều người uống thuốc thật khỏi bệnh hơn người uống thuốc giả hay không? (chỉ số dùng để kết luận này được gọi là "p value", và nếu nó nhỏ hơn 0.05 thì kể như không thể nào thuốc thật theo kiểu "chó ngáp phải ruồi" được). Song song đó, người ta cũng phải bảo đảm những bệnh nhân tham gia cuộc thử thuốc không có những căn bệnh có sẳn trong người khác, hoặc không có uống những loại thuốc nào khác.

Sở dĩ người ta phải so sánh người uống thuốc thật và thuốc giả là để loại đi vai trò của tâm lý ảnh hưởng lên người bệnh (hiệu ứng tâm lý này rất quan trọng, gọi là placebo effect), vì nhiều người chỉ nhờ vào sự tin tưởng mà hết bệnh, nhất là đối với những chứng bệnh mà người ta không thể đo lường một cách khách quan được, thí dụ như bệnh nhức đầu. (Nhức, đau, ngứa là những triệu chứng rất chủ quan, chỉ có bản thân bệnh nhân mới có thể xác định được mà thôi).

Và, sở dĩ người ta chú ý đến những yếu tố khác của bệnh nhân là vì những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến căn bệnh. Thí dụ như một người nghĩ rằng vì nhờ uống "hà thủ ô" mà tóc trở nên đen, nhưng không chừng trong thời gian đó, người này ăn nhiều rau giấp cá, mà chính rau giấp cá mới có tác dụng làm đen tóc thì sao?(chỉ thí dụ như vậy mà thôi). Chắc chúng ta không biết được trong 1000 người uống hà thủ ô thì đã có bao nhiêu người bị tóc bạc trở thành đen (e rằng không có đến 1 người, nhờ vậy mà thuốc nhuộm tóc vẫn bán chay re re).

Kính thưa quý vị, đó là quá trình thử nghiệm và thực nghiệm của Tây y, mà theo chúng tôi, y học cổ truyền của chúng ta không có được. Y học cổ truyền dựa trên kinh nghiệm tích lũy, nhưng không có con số thống kê rõ ràng.


Chúng tôi được biết, có rất nhiều bệnh nhân tin rằng uống thuốc Bắc sẽ khỏi một số bệnh nan y, tốn tiền rất nhiều, nhưng cuối cùng trong một ngàn người dùng thuốc này có bao nhiêu người khỏi bệnh và bao nhều người đã... quy tiên, thì chúng ta cũng không hề biết vì làm gì có con số thống kê chính thức nào? Một số người do nhìn thấy một vài trường hợp cá biệt rồi khái quát hóa, cho rằng liều thuốc Đông y ấy có hiệu nghiệm trên mọi người. Có lẽ là vì Ðông y thiếu thực nghiệm lâm sàng và những con số thống kê cần thiết.

Thứ đến, có rất nhiều bệnh nhân than phiền về phản ứng phụ của Tây y.

Kính thưa quý vị, trong khi một viên thuốc Tây chỉ có một hay hai hợp chất, thì một khúc rễ cây, một túi mật, có hàng chục đến hàng trăm hợp chất trong đó. Như vậy thì "phản ứng không mong muốn" (unwanted effects) ắt phải có nhiều hơn rất nhiều. Một viên thuốc có morphine chỉ chứa có chất morphine mà thôi, trong khi đó nếu ăn một cây á phiện thì chúng ta cho vào cơ thể biết bao nhiêu thứ tạp chất khác. Vấn đề nằm ở hai chữ: LIỀU LƯỢNG.

Kính thưa quý vị, chắc chắn một số thuốc Ta, thuốc Bắc, thuốc Nam cũng có hiệu lực, nên mới lưu truyền cả ngàn năm, nhưng sự nghiên cứu của những loại thuốc này thực sự thua kém thuốc Tây rất xa. Nói đến thuốc Bắc thuốc Nam thì chắc có lẽ vua Càn Long, Tần Thủy Hoàng, các đại quan, phú hộ của Tàu là người uống nhiều nhất, cũng được toàn các danh y như Hoa Ðà, Biển Thước chẩn trị. Nhưng kết quả các vị ấy ra sao, chết lúc bao nhiêu tuổi, có mạnh khỏe hơn Tổng thống Bush hay không, chúng ta cũng đã thấy rồi.

Các vị ngày xưa thường nói, "nhân sinh thất thập cổ lai hy", bây giờ với Tây y thì nhân sinh thất thập mà "die", thì là... hơi yểu mệnh đó. Ngày nay, có rất nhiều cô chú bác đã xấp xỉ thất thập, nhưng vẫn còn mạnh cuồi cuội, đi shop, đi du lịch, đi biểu tình rần rần, so với các vị quan lớn, vua chúa ngày xưa thì khỏe và thọ hơn nhiều, dù không có uống sâm nhung, dù không dùng cao hổ cốt, lộc nai, sừng tê giác.

Bài tâm tình về thuốc này không nhằm việc bài bác Ðông y, mà chỉ để chúng ta thấy được sự khác biệt trong nghiên cứu giữa Ðông và Tây y. Là một người theo ngành khoa học, nhìn đời qua cặp mắt thống kê, cá nhân của chúng tôi chỉ được thuyết phục khi nào thuốc Bắc, thuốc Nam, Ðông y, có những nghiên cứu tinh tế, chi tiết, với sự chứng minh của các con số thống kê mà thôi.


Nhiều bệnh nhân khi gặp bác sĩ Tây y, thường hỏi thuốc này có những phản ứng phụ gì. Hầu như lúc nào b/s cũng biết, nếu không biết thì tờ giấy hướng dẫn đính kèm trong hộp thuốc cũng có ghi. Quý vị vẫn có thể dùng thuốc Bắc, thuốc Nam, nhưng khi gặp các Ðông y sĩ, nên hỏi xem thuốc ấy có gây ra phản ứng phụ gì không. Ðiều này sẽ hữu ích cho kiến thức hiểu biết và sức khỏe của chúng ta.


Theo lời kể của B/s Lương lể Hoàng

 

Nguồn: https://tinhte.vn/thread/thuoc-tay-thuoc-bac-thuoc-nam-duoi-mat-cua-mot-bac-si-tay-y.3518674/

Cười Rụng Răng: Lợi Ích Của Việc Sợ Vợ

 

* Sợ vợ nên ta… tiêu xài thông minh hơn: Đến cuối tháng, lương lãnh về, ta mang gởi hết cho vợ. Vợ “phát” lại cho ít trăm dằn túi. “Hẻo” quá nên ta đâu dám hào phóng cho các cuộc vui bù khú với bạn bè. Ngày thường, ngoài cà phê, ta phải tính toán để cắt giảm hết các khoản linh tinh như thuốc lá, cá độ v.v…

Mua sắm cái gì cũng phải bàn bạc với vợ, nghe vợ cân nhắc tính toán thiệt hơn. Chẳng thế mà tuy lương chẳng phải thuộc hàng “đại gia”nhưng chỉ sau ít năm cùng vợ tiết kiệm chi tiêu, nhìn lại vợ chồng ta đã có đầy đủ xe tay ga, TV màn hình phẳng… Thử hỏi nếu không sợ vợ, có bao nhiêu xài thả cửa hết bấy nhiêu thì làm gì có chuyện nhà cao cửa rộng!

* Sợ vợ nên ta… (chắc sẽ) sống thọ hơn: Ta vừa cầm điếu thuốc, vợ đã quắc mắt nạt: “Anh biết hút thuốc có hại cho sức khỏe không?” Muốn đi nhậu với bạn bè, vợ tiễn ra tận cổng: “Anh uống ít thôi! Xỉn về là… biết tay em”. Thôi thì đành nghe theo. Mấy thằng bạn bỉu môi: “Đúng là đồ sợ vợ!”.
Ấy thế mà lúc đến khám sức khỏe định kỳ ở cơ quan, trong khi khối cậu cuống cuồng lên vì gan nhiễm mỡ, mỡ trong máu, tăng huyết áp… (toàn mấy “món” có đươc nhờ thuốc lá, rượu chè…) thì ta khoái chí với lời khen của bác sĩ: “Ông giữ sức khỏe tốt!” Đấy, không công của vợ thì ai vào đây?

* Sợ vợ nên… con ta gần gũi ta hơn: Hết giờ làm là phải về nhà. Thay vì ngồi xem đá banh chờ đến lúc vợ dọn cơm mời ăn như đám bạn bè “tốt phước”, ta phải lọ mọ vào bếp cùng với vợ. Vợ nấu cơm thì ta lặt rau. Vợ rửa chén thì ta quét nhà. Con ta “tội nghiệp” bố nên cũng xắn tay vào giúp bố. Hai bố con vừa dọn dẹp vừa cười đùa với nhau như hai “thằng bạn”!
Ừ cũng nhờ chuyện này, thay vì dán mắt vào màn hình TV, ta được vợ “bắt” chơi với con, dò bài cho con… Bố con ta vô tình có thời gian gần gũi nhau nhiều hơn. Chả thế mà cu cậu lúc nào cũng hớn hở: “Bố về, bố về!”, “Yêu bố nhất trên đời”!”. Riêng khoản này thôi, ta cũng ăn đứt mấy thằng bạn rồi.

* Sợ vợ nên ta… giúp xã hội tốt hơn: Có gả đàn ông sợ vợ nào dám.. bạo hành với vợ, đánh vợ, đánh con không? Có gả đàn ông sợ vợ nào dám… lăng nhăng, bồ bịch lung tung không? Cứ xem tỉ lệ bạo hành, ngoại tình, ly hôn thì biết. Đàn ông càng sợ vợ càng … ít dám phạm vào các chuyện “động trời “ này. Chẳng phải điều đó giúp gia đình yên ấm, xã hội ổn định hơn sao? Sợ vợ, ta biết cách chia sẻ việc nhà, để cho vợ có thêm thời gian nghỉ ngơi, giải trí, học hành. Vợ chồng, con cái gần gũi nhau hơn.

Cuối cùng, anh chồng này kết luận: Chỉ chừng ấy lợi ích thôi cũng đủ thấm thía hết chuyện sợ vợ đã mang đến cho anh những gì. Thế nên anh tặng các chiến hữu mấy câu thơ được truyền miệng như sau:
Dù không sinh đẻ ra ta
Nhưng công nuôi dưỡng thật là lớn lao:
Khi ta đau ốm xanh xao,
Vợ lo săn sóc hồng hào khỏe ngay,
Sợ ta đi trật đường ray,
Vợ liền theo dõi kéo ngay về nhà.
Khi ta tán tỉnh ba hoa.
Vợ liền “quát nạt” để mà răn đe.
Lời vợ dạy phải lắng nghe,
Mai sau “khôn lớn” mà khoe mọi người!
Nói ra, xin hãy chớ cười,
Vợ ta ta sợ, vợ người… còn lâu! ( Chính xác!)

Một Năm Cũ Sắp Khép Lại...

Một năm cũ sắp khép lại. Không phải để tiếc nuối, mà để hiểu mình đã đi qua những gì. Có đúng – có sai – có mất mát – có trưởng  thành. 

      Tất cả đều là bài học, không có gì là vô nghĩa 


 Mời click vào ô vuông bên phải đê mở lớn màn hình

Tết Trong Trại Tù Cùng Bạn Bè - Văn Quang


Tổng cộng đã có hơn 80 mùa xuân đi qua trong cuộc đời tôi. Nhưng 12 mùa xuân trong những cái được gọi là "trại cải tạo" là những mùa xuân đáng nhớ nhất. Từ Nam chí Bắc, từ Sơn La, Vĩnh Phú đến Hàm Tân, mùa xuân nào đến cũng mang đầy dấu tích buồn như những vết sẹo trong tận cùng tâm khảm, đến nỗi đến bây giờ có đêm còn nằm mơ thấy mình đang bị đày đọa trong lao tù khiếp đảm ấy. Giật mình tỉnh dậy mừng như khi vừa được thả từ trại tù ra.

Tuy nhiên con người ta thật lạ, sống lâu trong tù rồi cũng... quen. Đó là bản năng sinh tồn hay con người phải thích ứng với từng hoàn cảnh để sống, dù để sống cho qua ngày chờ đợi một cái gì sẽ đến. Nhưng cái gì sẽ đến ở trong một thứ tù đày không có án, không có thời hạn là điều đáng sợ hơn nữa. Tù cải tạo làm gì có thời hạn. Thích bắt thì bắt, thích thả thì thả, người ra trước, kẻ ra sau, chẳng bao giờ biết lý do, tất cả chỉ là suy đoán.

Tôi đã sống như thế suốt 12 năm. Khoảng 8-9 năm, khi đã là "tù cũ", có lẽ tụi cai ngục cũng "xuê xoa" cho một đôi phần, không còn siết chặt cùm kẹp như mấy năm đầu nữa. Tôi bị đưa từ trại tù miền Bắc vào miền Nam, bởi hồi đó miến bắc dân đói quá thiếu mọi thứ thực phẩm kể cả ngô khoai sắn, không thể nuôi thêm tù. Chúng tôi bị cùm hai tay suốt ba ngày hai đêm trên xe. Cho đến khi vào đến trại Hàm Tân mới được tháo cùm. Tôi nhớ hôm đó là ngày 19 tháng 5 năm 1978 và biết đó là ngày Sinh nhật "Bác" vì xe chạy qua mấy con đường có dựng mấy cái khẩu hiệu đỏ chót "Nhiệt liệt chào mừng sinh nhật Bác". Một sự trùng hợp khá thú vị. Được trở lại miền Nam cũng như sống lại vậy, không nhớ sao được.

Nơi chúng tôi được chuyển tới là trại tù Hàm Tân, mang ký danh Z30. Thật ra chế độ tù cải tạo từ Bắc chí Nam chẳng có gì khác nhau, cũng đi lao động mệt phờ phạc và tối tối lại ngồi kiểm điểm -chúng tôi gọi là "ngồi đồng"- cho đến khi mệt rũ, chẳng còn nghĩ được gì ngoài việc lăn ra ngủ. Có lẽ đây cũng là một "đòn" kìm hãm mọi suy tư của bọn tù được gọi là trí thức.

Dù sao, chế độ ăn trong Nam khá hơn ở ngoài Bắc. Nếu ở Sơn La - Vĩnh Phú, trước khi đi làm buổi sáng chỉ có một củ khoai nhỏ như ba ngón tay thì ở miền Nam được ăn một bát nhỏ bắp nấu hoặc bát bo bo. Nhà văn Đặng Trần Huân thường có cái muỗng nhỏ xíu bằng nhựa, thứ đồ chơi của trẻ con, ông ấy cứ nhấm nháp từ từ cho đến hết buổi sáng. Ông truyền "bí kíp" rằng ăn như thế có cảm tưởng như lúc nào cũng được ăn, quên cái cảm giác đói đi. Tôi không biết có bao nhiêu "tín đồ" tin theo bí kíp này, riêng tôi theo không nổi vì đói quá, không nhịn được, ăn luôn một lèo, chỉ ba phút là hết nhẵn nên anh em có câu nói cửa miệng là "ăn rồi cư tưởng là mình chưa ăn".

Tôi ở trại này chẳng nhớ bao lâu thì bỗng một ngày năm 1985, thấy mấy anh cai tù đưa một đoàn tù từ nơi khác đến. Đám tù này con rách rưới, gầy còm xanh xao hơn chúng tôi nhiều. Tôi là tù cũ nên tiến lại gần khi tù mới vừa được ngồi xuống bên hàng rào. Lúc đó tôi mới biết đó là những người bạn tù ở các trại tận Pleiku, Kontum và ở những trại nổi tiếng là "ác ôn" nhất như Gia Trung, Bù Gia Mập... Tôi nhận ra trong đó có nhiều ông bạn văn nghệ sĩ đã từng là bạn thân khi chúng tôi còn viết báo và làm trong các đài Phát Thanh ở Sài Gòn.

Người đầu tiên tôi gặp là ông Thái Thủy với cặp kính cận mất gọng, chỉ có hai sợi dây vải buộc vào mắt kính. Câu đầu tiên tôi hỏi là "đói không?" Thái Thủy chỉ gật. Thế là tôi tức tốc chạy về phòng lấy một ít mì sợi của tôi và anh Nguyễn Gia Quyết để chung trong một cái thùng sắt mang chia cho Thái Thủy. Hồi đó chúng tôi ở trại này gần Sài gòn, đã được "thăm nuôi" vài tháng một lần nên cuộc sống cũng tạm dễ chịu.

Sau đó tôi mới được gặp lại một loạt các ông Nguyễn Viết Khánh, Trần Dạ Từ, Mặc Thu, Nguyễn Sỹ Tế, Thảo Trường. Ông nào cũng đói trơ xương.

Mấy hôm sau, trại bán thịt heo, tôi chỉ còn đủ tiền mua đúng một kí lô thịt heo mang cho Trần Dạ Từ, nhưng ông này lại bảo "tớ còn chịu đựng được, ông đưa cho ông Nguyễn Sỹ Tế đi". Thế là tôi lại phải tìm cách gặp ông Nguyễn Sỹ tế.

Đám tù mới chuyển trại tới được "biên chế" vào nhiều đội khác nhau. Tôi nhớ hồi đó, trong đám bạn văn, ông Nguyễn Viết Khánh có tuổi nên được giao cho chức "trực buồng", không phải xếp hàng đi lao động, chỉ ở buồng dọn dẹp vệ sinh cho đội. Những người khác phải đi làm công việc khổ sai như tất cả mọi người khác. Anh em gặp nhau mỗi buổi sáng thường chỉ còn biết nhìn nhau.

Ít lâu sau, vì là tù cũ, tôi được giao phụ trách coi tủ sách -gọi là thư viện- của trại, tôi ở trong một căn nhà tranh nhỏ nằm ngay lối cổng trại ra vào. Nhờ vậy, có nhiều dịp thăm gặp các bạn hơn.

Nhớ có lần con ông Mặc Thu lên thăm, mang theo thức ăn và cả đồ nhắm cùng rượu ngon cho bố. Ông Mặc Thu cao hứng đánh chén tì tì. Đến khi vào trại, đi siêu vẹo, chân nam đá chân chiêu, mồm sặc mùi rượu. Lúc đó anh trưởng trại, ở ngay phòng trực trước cổng trại. Gọi ông Mặc Thu vào, còn sặc mùi rượu, nói năng lè nhè lung tung nên buổi chiều bị nhốt ngay vào nhà lao, cùm hai chân.

Cái nhà lao bằng tranh nhỏ xíu nằm gần phía sau trại chỉ có một lối nhỏ dẫn vào. Hàng ngày mấy tay gọi là "thi đua" trong trại phải mang cơm đưa vào cái cửa ô cửa nhỏ, đồng thời lấy cái bô vệ sinh của tù ra ngoài mang đi đổ. Tôi phải nói năng mãi với tay thi đua để mang thêm cho ông ấy ít cơm và thức ăn. Vài ngày sau ông Mặc Thu được thả, bởi thật sự nếu để ông ấy nằm trong nhà lao cái kiểu ấy, có thể chết bất cứ lúc nào.

Tết năm đó, tôi để dành phần quà thăm nuôi của tôi và anh Nguyễn Gia Quyết để làm bữa cơm "thịnh soạn" mời tất cả mấy anh em bạn văn trong tù lên ăn trưa. Buổi họp mặt đông đủ chẳng thiếu ông nào. Địa điểm tôi nhớ chỗ bên bệnh xá vắng người. Bàn tiệc là chiếc chiếu rách trải trên chiếc giường tre, nhưng có cả một chai rượu trắng. Vậy mà chén chú chén anh, đấu hót xôm trò. Còn nhớ Thảo Trường luôn miệng tấm tắc khen "Sang trọng! Sang trọng!".

Khi tàn tiệc, ông Mặc Thu lại lảo đảo đi ngật ngưỡng giữa trưa nắng trong sân trại. Cũng may tên lính gác trại tù nhìn thấy nên ngày Tết nó tha, không nói gì. Hôm sau nó vào gặp tôi kể công về cái sự "nhân từ" đó, tôi đành phải đi xin một con gà cho nó mới yên. Vào thời kỳ đó ông nào cũng trên 10 năm tù cả rồi nên không khí bớt ngột ngạt hơn.


Cho đến tháng 9 năm 1987 chúng tôi mới được tha về, nhưng Thảo Trường còn phải nằm lại trong tù thêm mấy năm nữa cho đủ 17 năm.

Như tôi đã viết trong một bút ký, khi ra tù, chúng tôi được chở trên xe từ trại tù Hàm Tân về hội trường trại giam Chí Hòa. Trong một bút ký về Sài Gòn, tôi có kể chuyện này. Đây là lần thứ hai tôi đặt chân lên đất Sài Gòn nhưng với tư cách khác giữa một thành phố đã đổi chủ. Xin mạn phép trích lại:

"Vào buổi chiều tháng 9 năm 1987. Khi đoàn xe thả tù cải tạo bị giữ lại nhà giam Chí Hòa nghe các ông quan chức trấn an về số phận chúng tôi khi được trở về, khoảng hơn 5 giờ chiều chúng tôi mới được thoát ra khỏi cánh cửa sắt nhà tù Chí Hòa. Ngay từ cổng trại tù đã có đoàn quay phim đợi sẵn để quay cảnh "vui mừng đoàn tụ" của tù nhân, chắc là để chứng tỏ cái sự "khoan hồng bác ái" của nhà nước cho những thằng may mắn không chết trong ngục tù.

Thấy cái cảnh sẽ bị quay phim, Trần Dạ Từ kéo tôi lên vỉa hè đi lẫn trong đám thân nhân được vận động ra đón tù cùng những người dân tò mò nhìn "cảnh lạ". Tránh được cái máy quay phim, chúng tôi đi gần như chạy ra khỏi con phố nhỏ này. Ra đến đường Lê văn Duyệt, chúng tôi đi chậm lại, nhìn đường phố mà cứ thấy đường phố nhìn chúng tôi với một vẻ xa lạ và xót thương.

Trần Dạ Từ còn lại ít tiền, anh rủ tôi ghé vào đường Hiền Vương ăn phở. Chẳng biết là bao nhiêu năm mới lại được ăn tô phở Hiền Vương đây. Tôi chọn quán phở ngay sát cạnh tiệm cắt tóc Đàm mà mấy chục năm tôi cùng nhiều bạn bè vẫn thường đến cắt tóc. Có lẽ Trần Dạ Từ hiểu rằng anh về đoàn tụ cùng gia đình chứ còn tôi, vợ con đi hết, nhà cửa chẳng còn, sẽ rất cô đơn, nên anh níu tôi lại. Ngồi ăn tô phở tưởng ngon mà thấy đắng vì thật ra cho đến lúc đó tôi chưa biết sống ra sao giữa thành phố này"

*****

Vậy mà rồi ngày tháng cũng qua.

Tôi vẫn phải sống như thế cho đến hôm nay. Các bạn tôi đều đã ra đi hết, người còn kẻ mất, đôi khi chẳng biết tin tức gì về nhau.

Trong những anh em bạn tù cũ, khi đã ra tù, tôi thường đến thăm ông Mặc Thu. Những năm sau này, ông bà Mặc Thu đã được con gái lớn bảo lãnh sang Mỹ theo diện đoàn tụ. Nhưng ông bà đông con, một số con cháu không thể cùng đi. Vậy là cả ông lẫn bà đã trở lại Sài gòn trong những ngày cuối đời. Khi ông sắp mất, ông nhất định bắt con trai gọi tôi đến. Khi ngồi bên giường bệnh, ông nắm tay tôi, lúc đó có lẽ ông biết chắc sắp ra đi nên bùi ngùi nói lời từ biệt: "Không thể quên cậu và anh em trong tù được".

Đêm hôm đó ông ra đi mãi mãi.

Ông Mặc Thu có chùm râu tơ, trong tù cũng như sau này, ông luôn thích vuốt râu khi "đối ẩm" với trà và rượu, thường nhắc tên từng người bạn trong tù. Ngay lúc sắp lâm chung, vẫn không thể quên.

Nhớ lời cuối ông nói, đêm cuối năm Ất Mùi này, chỉ cần chớp mắt là tôi lại thấy hình ảnh từng người một xuất hiện. Thảo Trường luôn tưng tửng, ngang ngang, cứ như bất cần đời; Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh lúc nào cũng thanh thản chẳng thèm nghĩ gì dấn cái thân phận tù đầy. Ông Nguyễn Sỹ Tế rất kiệm lời và vẫn nét mặt trang nghiêm của những "thầy đồ". Trong trại tù, có lúc ông Tế nằm cạnh Trần Dạ Từ. Có lần tôi đến thăm, ông Tế mang cây đàn violon do bạn tù tự chế ra biểu diễn nhạc cổ điển tây phương. Sau màn nghiêm chỉnh thưởng thức, chúng tôi cùng cười vui khi nghe Từ nói nhờ chiều nào anh cũng được ông Tế cho nghe Schubert bằng cái đàn lạc giọng này mà thừa sức lao động.

Trong số các bà thăm nuôi ngày đó, Nhã Ca là dân cùng nghề văn, cũng đã từng đi tù rồi nuôi tù nên quen biết mọi người. Tôi nhớ chuyện kiếp trước, một sáng mùa xuân nào đó thời đầu 1960', khi có dịp ra Huế, tôi đã cùng Thanh Nam lái xe đến gặp Nhã Ca và Từ ở ngôi nhà khu Bến Ngự. Cũng chỉ mới đó thôi, khi Trần Dạ Từ - Nhã Ca ghé thăm từ biệt tôi để ra đi, nay đã là hơn một góc thế kỷ.

Sau Mặc Thu, các ông Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, Thái Thủy, Thảo Trường cũng đều đã ra đi. Tết này, dù không thắp hương cho bạn, nhưng tự trong đáy lòng tôi có hương khói tưởng nhớ đến những người bạn trong tù.


Đúng như thơ Tản Đà: Thời gian ngựa chạy...

Bạn bè đi hết từ lâu. Cũng đã từ rất lâu chỉ còn mình tôi quanh quẩn ở Sài Gòn. Mới đây, nhận lời Trần Dạ Từ hỏi thăm, kèm câu chúc "Thượng Thọ Bát Tuần" tôi chợt thấy ra là trong đám bạn văn cùng ăn tết nhà tù năm xưa, nay chỉ còn hai tên. Mà còn sống thì dù ở bất cứ đâu, cũng không thể nào quên. Vì vậy tôi viết bài này để cùng bạn tưởng nhớ.


Ước gì lại có một cái Tết được hội ngộ cùng các bạn tôi. Ước gì lại có thể cùng ngồi bên nhau trên một manh chiếu rách như tết năm nào, nhưng không phải trong trại tù mà là ở một khung trời tự do đầy nắng vàng. Chúng ta đâu cần gì hơn thế.

 

Sài Gòn một đêm cuối năm

Văn Quang

Tết Bính Thân 2016

Người Hà Nội Và Người Sài Gòn Ai Giàu Hơn?

 

Không có số liệu thống kê tin cậy nào cho biết về thu nhập nhưng nếu quan sát riêng về việc hưởng thụ các sự kiện văn hóa hay thể thao, sẽ có căn cứ để nói rằng người Hà nội giàu hơn người Sài Gòn . Thậm chí giàu hơn rất nhiều : 

- Từ trước đến nay, tất cả những show diễn của các ban nhạc nổi tiếng thế giới , giá vé hàng chục triệu, đều diễn ra tại Hn và luôn bán hết vé .

- Các đội tuyển hay các clb bóng đá nổi tiếng thế giới, với giá vé cao ngất ngưỡng cũng chỉ đến Hà nội thi đấu , chưa bao giờ sân banh tại SG  được đón tiếp các đội bóng này.

Bởi nếu các sự kiện này được mang vào Sài Gòn chắc chắn những cty đứng ra tổ chức sự kiện sẽ lỗ trắng tay vì họ thừa hiểu dân Sg sẽ không mạnh tay chi tiền như người Hn .

- Mỗi lần đội tuyển bóng đá việt nam thi đấu tại các nước , bạn sẽ thấy cổ động viên Việt Nam có mặt trên khán đài rất đông đảo, tất cả họ đều đến từ hà nội hoặc một số tỉnh phía Bắc (qua cách ăn mặc và những thứ họ mang theo để cổ vũ )

Đã từng có lần, một cty du lịch thuê bao nguyên chuyến bay bán vé cho cđv Việt Nam đi cổ vũ cho đội tuyển đi về trong ngày . Các CDV phía Bắc đã mua  hết chuyến bay ngay khi mở bán 

- Rất nhiều các khách sạn ở VT PQ NT ĐL chủ nhân là người Hà nội vào mua đất xây nên. Trong khi ở chiều ngược lại, tôi chưa từng được ở một ks nào tại Hà nội, Hạ long hay Hải phòng mà chủ ks là người trong Sài Gòn mang tiền ra đầu tư 

Kể ra vài sự kiện để thấy rằng, ngày nay người HN giàu hơn người Sg rất nhiều . Trong khi trước năm 1975 thì ….

Giàu có là như vậy nhưng ở HN hoàn toàn không thấy quán cơm 0 đồng , nhà trọ 0 đồng, chuyến xe 0 đồng. không thấy các tiệm vá xe miễn phí cho hssv . (Đây là những sản phẩm đậm chất nhân văn đặc trưng của người SG )

Đặc biệt ra HN bạn sẽ không thấy người ăn xin , người bán vé số dạo , bởi người Hn không có thói quen bố thí , không có thói quen mua vé số của người già người tàn tật hay trẻ em ,  vì lòng trắc ẩn …..nhưng họ lại rất siêng đi chùa và rất mạnh tay cúng dường. (  chùa Ba Vàng chỉ trong hơn 1 tháng thu được hơn 4 tỷ tiền cúng ) 

Giau có là vậy nhưng họ luôn sẵn sàng  gào về phía Nam nhờ " GIẢI CỨU " mỗi khi trái cây hay nông sản của họ bị dội chợ . Trong khi đó, tại đợt dịch Covid 19, người Sài gòn thiệt hại nặng nề nhất nhưng chưa từng kêu gọi nơi khác cứu giúp. Người SG tự cứu nhau là chính.

Giàu có như vậy nhưng ra Hn mà muốn hỏi đường , đôi khi bạn phải trả 5 ngàn hoặc 10 ngàn họ mới chịu chỉ. 

Cuối cùng, Giàu có như vậy nhưng sau một sự kiện âm nhạc hay thể thao nơi qui tụ toàn những người đã bỏ ra 5 , 10 triệu mua vé, đến khi ra về họ đã để lại...




 Nguồn FB

Có Những Niềm Vui Năm Mới - Sương Lam


Bây giờ đã bắt đầu một năm mới.  Mọi người dần dần làm quen với những sinh hoạt của năm mới như khi viết “check” trả tiền nhà, tiền điện, tiền  bảo hiểm v..v.. bạn phải để ý đề ngày cho đúng năm 2026 nhé.

Có những cá nhân nhân dịp đầu năm này cũng thiết lập một chương trình sinh hoạt riêng cho mình:  ăn uống, tập thể dục như thế nào để làm sao không cho “phát triển  thêm bề ngang”.  Quý vị phu nhân ở xứ Mỹ này đều sợ bị chê là “phì nhiêu” quá!  Quý bà ai cũng muốn được khen là: “Dạo này chị ốm bớt nên mặc áo dài có eo ghê!”  Thích nhé!

Còn quý ông cũng nhất quyết lên kế hoạch kiêng uống rượu, kiêng hút thuốc, bớt ăn chất béo để cho lượng Cholesterol không tăng theo “cấp số nhân” và không bị cao máu nhiều hơn năm cũ nữa để mà sống hưởng phước với số tiền hưu trí của ông Trump phát hàng tháng.  Vui nhỉ!

 Khi đi sưu tầm tài liệu viết bài tôi tìm được  bài thuyết giảng của Hòa Thượng Tịnh Không trên internet  về đề tài  “Thay đổi cách sống”, xin được chia sẻ cùng các bạn.

 Hòa Thượng đã nêu lên quan niệm giáo dục đạo đức đời sống của Đông Phương Trung Quốc và Tây Phương Âu Mỹ. 

Đông Phương cho rằng đời người có bốn giai đoạn như bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông của đất trời.

 . Dưới 20 tuổi như Mùa Xuân  con người cần phải được giáo dục đạo đức.

2. Từ 20 - 40 tuổi như mùa Hạ con người cần phục vụ xã hội.

3. Từ 40 - 60 tuổi như mùa Thu con người cần truyền trao kinh nghiệm cho người kế thừa.

4. Sau 60 tuổi như mùa Đông con người cần về hưu để hưởng phước.


 Trong khi đó Tây Phương lại quan niệm:

1.  Tuổi trẻ là tuổi để hưởng thụ cho nên tuổi thơ được ví như đang sống trong thiên đàng.

2. Tuổi trung niên sống trong chiến trường tranh đua danh lợi

3. Tuổi già  sống buồn thảm  đi vào phần mộ.


Theo lời trình bày kể trên chúng ta cần phải chọn lựa và thay đổi cách sống như thế nào để có thể sống một cuộc đời an vui hạnh phúc, bạn nhỉ?

Trong khi đó thì Mẹ Têrêsa  khuyên chúng ta: 


Hãy cho nhau nụ cười

Có lần mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại câu chuyện như sau:

“Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ý với tôi: “Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn”.

Tôi liền bảo họ: “Quý vị hãy về và hãy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông. Một nụ cười cho chồng của bà. Một nụ cười cho con cái của ông bà. Hãy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai. Với những nụ cười tươi như thế quý vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương”.

Nghe vậy một người trong nhóm hỏi tôi:

- Bà có lập gia đình không?

Tôi gật đầu và nói:

- Ðôi khi tôi cũng cảm thấy khó nở một nụ cười với vị hôn phu của tôi.

Và mẹ Têrêsa kết luận:

- Ðúng thế, Chúa Giêsu có thể đòi hỏi rất nhiều. Và chính khi Ngài đòi hỏi như thế thì không gì đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài

Lạy Chúa! Nụ cười không mất tiền mua, không phải vất vả cực nhọc để đi xa mang về… Nụ cười thật dễ dàng để xuất hiện trên môi miệng và trên khuôn mặt nhưng sao con lại thấy thật khó khăn vất vả để trao tặng nụ cười trên khuôn mặt của con cho những người xung quanh… Con đã thay thế nụ cười bằng những cái nhăn mặt méo mó, bằng những ánh mắt giận dữ, bằng những cái lắc đầu xua tay và đôi khi bằng những lời nói làm đau lòng người khác. Xin cho con luôn ý thức rằng: mỗi khi con mang nụ cười đến cho những người xung quanh chính là lúc con dâng lên Thiên Chúa tình yêu và nụ cười, sức sống và hy vọng của đời con. Amen.

(Nguồn: Sưu tầm trên internet)

Nếu năm rồi chúng ta chưa có cơ hội cho nhiều hơn nhận, chưa trao hoặc không trao nụ cười cho ai cả thì trong năm mới chúng ta thử thay đổi cách sống để cuộc đời thêm nở hoa, bạn nhé!

Riêng tôi dù là đầu năm hay cuối năm tôi luôn sống trong tinh thần lạc quan với "Có Những Niềm Vui" của tôi và tôi  muốn chia sẻ niềm vui này đến thân nhân  thân yêu gia đình tôi và bạn hữu thân mến của tôi.  Hy vọng Bạn sẽ cùng vui với tôi, Bạn nhé.

Có Những Niềm Vui

Có những niềm vui suốt đời nhớ mãi:
Thuở tuổi ấu thơ, theo mẹ đến trường
Mẹ nắm tay con, gửi trọn tình thương
Con đã vào lớp, mẹ còn trông ngó 

Có những niềm vui, ngây thơ tuổi nhỏ:
Đánh đáo, chọi bi, đánh đũa, lò cò 
Vô tư, khờ dại, chẳng chút âu lo
Chỉ biết giỡn đùa, quấy cha, nũng mẹ 

Có những niềm vui, một thời coi nhẹ:
“Cồng sin”, chép phạt, một thuở biết yêu
Ngớ ngẩn theo ai, dáng liễu yêu kiều
Gửi lén thơ tìn , nên vào trễ học 

Có những niềm vui, cười trong tiếng khóc:
Pháo cưới vu quy, con bước theo chồng 
Một sáng mùa Xuân, có kẻ sang sông 
Bỏ lại sau lưng, biết bao kỷ niệm 

Có những niềm vui, phải đành dấu diếm:
Gặp lại cố nhân, đôi mắt vẫn tình 
Sống lại trong tim tuổi mộng thư sinh,
Cuộc tình thứ nhất, học trò vụng dại 

Có những niềm vui, mỉm cười sảng khoái:
Thấy kẻ thân yêu, được sống an bình,
Giữa cuộc trần ai, đau khổ sinh linh 
Thân tâm tĩnh lạc, an vui, hạnh phúc

Hy vọng sau khi đọc xong bài tâm tình này, qúy bạn sẽ thấy vui hơn, tinh thần thoải mái hơn, ăn được, ngủ được và sẽ không bao giờ hỏi “Tại Sao Không Ngủ Được” như Sư Cô Suối Thông giải thích dưới đây:

Tại Sao Không Ngủ Được – Sư Cô Suối Thông

Ai trong chúng ta cũng sẽ có lúc không ngủ được. Không phải không muốn ngủ, mà bởi có quá nhiều chuyện buông không đành. Vì suy nghĩ quá nhiều nên tâm tình phiền muộn. Vì trăn trở quá mức mà thành ra trằn trọc.

Con người sở dĩ mỏi mệt là vì cứ mãi đuổi theo những tham vọng không hồi kết, chất chứa nhiều toan tính, rối rắm trong lòng.

Dù bạn thông minh đến đâu cũng không thể nhìn thấu hết mọi việc. Bạn trí tuệ thế nào cũng không thể hiểu hết được lòng người. Dù bạn thanh bạch trong sáng cũng không thể tránh khỏi những nghi ngờ vụn vặt.

Cho nên điều gì cần buông thì nên buông xuống, đừng cố gắng đeo mang; chuyện gì nên quên thì hãy quên đi, đừng cứ mãi ghi nhớ. Đừng níu kéo một câu chuyện quá lâu, thời gian lâu ngày sẽ ảnh hưởng tới những việc khác, đêm đến không ngủ được.Tài vật, danh lợi vốn là vật ngoài thân, nếu biết xem nhẹ thì sẽ không mỏi mệt, giấc ngủ sẽ tự động tìm về.
Lời không cần nói thì không nên nói, việc có thể cho qua thì cho qua, cần gì phải phân định rạch ròi hay luận bàn đen trắng? Bởi trên đời, rất nhiều việc, hiểu rõ rồi thì tổn thương thần khí; rất nhiều người, nhìn thấu rồi chỉ tổn thương tâm tình!


Thế gian vốn không có chuyện mọi thứ đều thuận lòng, thôi thì tự tìm chút hợp ý vậy. Không có người thập toàn thập mỹ thì trân trọng chút bình yên trước mặt. Giữ tâm thái lạc quan đối diện tất cả.

Xem nhẹ thì vui vẻ, nhìn thoáng sẽ hạnh phúc, thân tâm đều không bị trói buộc thì đêm đến giấc ngủ cũng nhẹ nhàng.

Trích sách “SỐNG ĐỜI BÌNH AN”  

Suối Thông  sưu tầm & biên dịch

* Chúc mọi người ngủ ngon nha! 

Kính chúc toàn thể quý độc giả và thân hữu Một Năm Mới nhiều sức khỏe, thân an trí lạc, dứt bớt được nhiều điều phiền não và làm được nhiều chuyện thiện lành.


Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi- MCTN 794-ORTB 1235-1-7-2025


Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

https://www.pinterest.com/suonglamt/

Friday, January 9, 2026

Hình Ảnh Mùa Đông Năm 2026 Ở Pháp - Nguyễn Duy Phước

Mời xem những hình ảnh của mùa Đông 2026 rất kinh khủng và hiếm thấy từ hơn 2 tuần qua ở nước Pháp.

Thu Vàng - Tiểu Thu


Suốt tuần qua trời mưa dầm rả rích, ẩm và lạnh. Cuối tuần Thoa cũng không có hứng đi ra ngoài. Nằm đắp chăn, nghiền ngẫm cuốn truyện ngắn của một người bạn vừa gửi tặng, mà bận quá Thoa chưa rờ tới.


Sáng thứ hai, vừa bước xuống giường, Thoa tới bên cửa sổ vén màn ngó ra vườn. Ánh nắng rực rỡ reo vui trên mấy đóa hồng nở muộn. Mấy bụi cúc đủ màu lộng lẫy trong ánh nắng mai. Những trái táo đỏ rụng nằm lăn lóc trên thảm cỏ xanh mượt. Trên cây đào dại, mấy con chim cũng thi nhau cất tiếng hót ríu rít, như để chào đón ông mặt trời trở về sau một tuần đi vắng! Tự dưng Thoa cảm thấy vui lây với cái vui của vạn vật.


Nhưng một sự thay đổi kỳ thú đang chờ đợi Thoa trên đường tới sở làm. Chỉ qua một tuần thôi, mà các con đường với những hàng cây xanh thẳng tắp giờ đã rợp lá vàng, lá đỏ. Rất nhiều người có cùng một ý nghĩ với Thoa: Không nơi nào mùa thu đẹp bằng nơi này. Mọi nơi, mọi chốn, những công viên, những núi đồi, những cánh rừng đều được bao phủ bằng nhiều gam màu lộng lẫy huy hoàng. Vàng, cam, hồng, đỏ, tía, nâu, đồng, xanh… tất cả được trộn lẫn vào nhau tạo nên những bức tranh lập thể mà từ ba mươi năm nay Thoa ngắm hoài vẫn không thấy chán. Chẳng vậy mà rất nhiều du khách khắp nơi trên thế giới đã phải bỏ tiền ra để tới cái xứ có tiếng là tủ lạnh này để ngắm lá thu! Cây phong lại có mặt ở khắp nơi. Vì vậy khi nhớ tới câu “rừng phong thu đã nhuộm màu quan san”. Thoa thấy lòng dấy lên một sự cảm hoài thật khó tả!

Đi ngang cái công viên nho nhỏ cách sở làm chừng trăm thước, nhìn đám lá vàng đang đuổi bắt nhau trên thảm cỏ, tự dưng mấy câu thơ của thi sĩ Lưu Trọng Lư hiện về:

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô…

Hình ảnh con nai vàng ngơ ngác khiến Thoa nhớ tới thuở nào mình hãy còn là một con nhỏ ngu ngơ, sống vui vẻ cùng gia đình trên vùng Tây Nguyên xa thẳm. Cái tỉnh lỵ Kontum nhỏ bé nhưng khí hậu tuyệt vời. Những cô con gái má đỏ môi hồng, tính tình thật thà dễ yêu. Chẳng vậy mà biết bao chàng sĩ quan của Quân Lực Lực Việt Nam cộng hòa đã từng bỏ quên con tim ở chốn này!


Thoa bắt đầu cuộc sống mới của mình ở ngôi trường Trung-Tiểu học Thánh Têrêsa. Năm Đệ thất con bé vướng víu, bực bội trong chiếc áo dài trắng lụng thụng của nữ sinh trung học. Cả cái đám lóc nhóc Minh, Thơ, Hải, Ngân, Thoa…cứ canh chuông ra chơi là đã chân trong chân ngoài chạy ù ra sân, vừa chạy vừa cột hai vạt áo lại với nhau cho khỏi vướng khi nhảy lò cò. Vì vậy mà áo quần lúc nào cũng nhăn nhúm thảm hại. Không kể những hôm chơi u mọi, hai bên trì kéo nhau vạt áo tét lên gần tới nách, đầu bù tóc rối, mặt mày nhễ nhại mồ hôi!..Bị mẹ rầy rà, cô nào cũng cố gắng đàng hoàng được ít hôm rồi đâu lại vào đó! Mấy bà mẹ đành phải chào thua.!


Năm đệ thất được đánh dấu bằng sự trở về Dòng chánh của cô Anna vào cuối năm. Học trò thương cô giọt ngắn giọt dài, khiến mắt cô cũng đỏ hoe. Cô Anna trắng bóc, mỗi lần mắc cỡ mặt cô đỏ như đánh phấn hồng và bị …cà lăm. Vì vậy mà đám học trò hay chọc cho cô đỏ mặt!


Năm đệ lục, lớp Thoa được Sœur Marie ưu ái tặng cho cái danh hiệu để đời là Hỏa Ngục. Bởi vì giờ nữ công gia chánh của Sœur chỉ được các chị lớn tuổi hoan nghênh. Đối với tụi nhóc này là cả một cực hình. Vì vậy trong khi hai bàn tay bẩn thỉu đưa những đường kim mũi chỉ một cách khó nhọc thì cái miệng cũng làm việc tận tình. Không xì xào nói chuyện, cũng lén nhai nhóp nhép một món gì đó: cóc, me, ổi dầm… Nhỏ Thọ còn cả gan chun xuống gầm bàn ở cuối lớp, trước mặt chị Loan là người nổi tiếng khéo tay. Chị thêu giùm và bù lại nhỏ kể cho chị nghe chuyện cổ tích, tất nhiên là do nhỏ tự…sáng tác! Tội nghiệp chị Loan hiền lành, dịu dàng và…dễ tin.

Có lần Sœur Marie, sau khi đã gõ thước xuống bàn vài lần vẫn không sao vãn hồi được sự im lặng, bèn thu xếp ”hành trang” bỏ đi một nước, ném lại một câu xanh dờn (nhưng mặt lại đỏ như Trương Phi):

– Tui chịu hết nổi cái lớp này rồi. Nơi đây đúng là Hỏa Ngục. Mặc kệ mấy người, tui không thèm dạy nữa! .

Báo hại bữa đó bà Nhất tới bắt nghe mo-ran mệt nghỉ và cả lớp phải xin lỗi Sœur Marie hết lời bà mới chịu trở lại để tiếp tục huấn luyện cho những bà nội trợ tương lai…


Ngày đầu của năm đệ ngũ, cả lớp đang ồn ào vì giáo sư chưa tới bỗng im phăng phắc, có tên còn há hốc miệng…tất cả sững sờ nhìn bà sœur đang bước vô lớp. Phải nói đây một nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn. Sœur độ chừng hăm hai, hăm ba tuổi. Người cao dong dỏng, mảnh mai trong chiếc áo dòng đen. Tuy nước da bánh mật nhưng mịn như nhung. Đôi mắt to tròn long lanh dưới cặp lông mày gọn xinh như vẽ. Sœur có chiếc mũi cao, thon, đẹp chắc không thua gì mũi của Nữ Hoàng Cleopatra thuở xa xưa. Và nụ cười thì ôi thôi mê hồn! Và tất cả những thứ đó được đặt trên một khuôn mặt trái xoan với đôi má hồng như thoa phấn. Sau khi kiểm chứng lại, biết là mình lộn lớp sœur cười ngượng nghịu đi ra trong sự thất vọng não nề của học sinh lớp đệ ngũ. Nhiều tiếng kêu theo ơi ới : Ma sœur…ma sœur, nỡ lòng nào bỏ tụi…con cho đành! Sœur Françoise mắc cỡ đi càng nhanh. Đúng là nhứt quỷ nhì ma…


Nhưng may thay, sau đó bà sœur xinh như mộng này trở lại trong giờ Sử – Địa và hội họa. Chưa năm nào Thoa học Sử Địa hăng như năm nay. Trả bài lúc nào cũng 20/ 20 …Còn vẽ là môn ruột của Thoa mà!


Sœur Françoise chẳng những đẹp mà còn hát hay nên được Sœur Hiệu Trưởng cho làm Trưởng Ban văn nghệ của trường. Năm đó Thoa quên mất không biết vì lý do nào, trưởng ban văn nghệ của ty thông tin lại vô trường Têrêsa tập văn nghệ chung. Ông ta tên Hoàng, trẻ tuổi đẹp trai. Nhưng thay vì phải theo dõi những diễn viên đang tập vở kịch Trầu Cau, cặp mắt cú vọ của ông ta cứ dán chặt vào khuôn mặt xinh đẹp của Sœur Françoise. Một hôm con Kim Ly bắt gặp ” hắn” nói nho nhỏ gì đó với sœur, chịu không nổi nó chạy đi mét với Sœur Hiệu Trưởng. Vậy là chấm dứt màn hợp tác với ty thông tin!


Hè năm đó Sœur Françoise trở về dòng chính ở Đà Nẵng. Sœur ra đi mang theo vài lu nước mắt của lũ học trò trường Thánh Têrêsa! Có điều bí mật mà cho tới giờ Thoa chưa hề bật mí với đứa bạn nào, là Thoa có một tấm ảnh của sœur chụp bán thân và một tấm thiệp Giáng Sinh rất đẹp của sœur tặng. Hôm đó Thoa đang cầm quyển sách đứng tựa cửa lớp để ôn bài, Sœur Françoise đi ngang cầm tấm thiệp nhét vào quyển sách của Thoa rồi đi thẳng, cứ như là không có chuyện gì xảy ra! Con bé há hốc miệng nhìn theo mà con tim thì đập thình thịch!


Năm Đệ Tứ là năm thi Trung học Đệ Nhứt Cấp nên đứa nào cũng cắm đầu học không dám lơ là. Môn Toán- Lý- Hóa xưa nay là kẻ thù không đội trời chung với Thoa, vậy mà năm này cô nhỏ cũng phải ”tụng” kịch liệt. Vô trường thi mà ngồi đó cắn bút nhìn trời hiu quạnh thì bước ra cửa chắn chắc là phải đạp vỏ chuối! Hơn nữa Sœur Madeleine phụ trách môn này là người rất nghiêm. Đừng có mà giỡn mặt !


Năm này cũng tạm ngưng chương trình cuối tuần cả bọn dung dăng dung dẻ đạp xe qua Phương Hòa mua nhãn, mua mít. Lên Phương Nghĩa ăn mía Thanh Diệu. Chiều chiều sắp hàng ngồi mút cà rem trước hàng ba nhà nhỏ Thơ, hoặc tối tối dẫn nhau đi ăn bò viên, chè.. và dẫn nhau đi coi phim…Ấn Độ!

Một bữa Chúa Nhựt, Thoa đang ngồi coi tiệm cho mẹ đi công chuyện, bỗng con Lài từ ngoài hớt hải đi vào. Mặt nó vốn xanh từ thuở nào tới giờ lại càng trắng không thua tờ giấy:

– Thoa, mày hay tin gì chưa?

– Chưa.

– Con Minh chết rồi!

Thoa đứng bật dậy như bị lửa đốt, lập bập:

– Cái gì? Mày…mày nói đứa nào chết?

– Con Minh lớp mình. Nhà nó xuống Pleiku xem hội chợ. Trên đường trở về bị Việt Cộng bắn. Họ lầm xe nhà nó với xe ông Quận Trưởng. Tụi mình tới nhà nó đi.


Lúc Lài và Thoa tới nhà của Minh ngoài bờ sông Dakbla thì đã thấy Thơ, Sương, Liên, Hải, Ngân ở đó rồi. Cả đám nhìn thi hài của đứa bạn thân nằm trên bộ ván mà khóc như ri. Minh hiền lắm. Ai nói gì nó cũng chỉ cười cười. Vậy mà nó vắn số! Mẹ của Minh cứ ôm lấy mấy đứa bạn của con mà khóc, mà gào…Minh nằm đó, bất động, nét mặt bình thản như đang ngủ. Viên đạn quái ác xuyên qua cổ, trúng động mạch nên máu ra lai láng và nó không hề tỉnh lại lần nào.

Cả lớp đi đưa Minh về nơi an nghỉ cuối cùng vào một ngày mưa tầm tã. Nước mắt hòa với nước mưa. Ông Trời chắc cũng buồn lây! Cái nghĩa trang Công giáo nằm ngay trước cửa trường Kim Phước Lasan. Nhóm của Thoa có thói quen hai ba hôm sau giờ tan trường là ghé lại thăm mộ Minh ít phút. Cho nó đỡ cô đơn. Thoa không nhớ là lần thăm thứ mấy, nhưng hôm đó có một tờ giấy học trò nằm ngay ngắn trên ngôi mộ mới. Nhỏ Thơ cầm lên và đọc cho mọi người nghe. Thì ra đó là một bài thơ:

Chiều hôm nay nắng vàng vương nghĩa địa
Trút nguồn thương tôi dệt mấy vần thơ
Gởi đến em người chưa biết bao giờ
Trong giấc mộng hình như vừa gặp gỡ…

(Bài thơ còn dài nhưng Thoa chỉ nhớ được ít câu)


Cả đám lúc đó còn rất ngây thơ vô tội, nên thấy đây là một cử chỉ xúc phạm trầm trọng đến linh hồn của Minh, nên đã hội ý với nhau viết một bức thơ sỉ vả tác giả một cách thậm tệ! Sau đó không thấy hắn sáng tác gì thêm. Chắc phản ứng mãnh liệt của tụi Thoa đã dập tắt nguồn cảm hứng của hắn!

…Sau khi lều chõng xuống Ban Mê Thuột thi Trung Học Đệ Nhất cấp, bọn Thoa đã tứ tán mỗi đứa một phương: Sài Gòn, Đà Lạt, Đà Nẵng, Qui Nhơn…Những chị lớn tuổi trong lớp thì lên xe bông, theo chồng bỏ cuộc chơi…

-Bà xã ơi, tới sở rồi. Còn mơ mộng gì mà ngồi yên đó?

Tiếng của Đạt, chồng Thoa, đã cắt ngang dòng tư tưởng đang đưa hồn nàng trở về cái thời ăn chưa no, lo chưa tới. Thoa cười:

– Lúc nãy ngang công viên thấy lá vàng, em nhớ lại cái thời còn đi học ở Kontum…

Đạt cười trêu vợ:

– Cái thời mà em còn mài đũng quần ở trường Têrêxa đó phải hôn? Để coi, anh nghe tới lần thứ một trăm lẻ mấy hồi he?…

Thoa nguýt chồng:

– Anh kỳ! Cứ chọc em hoài. Thấy người ta hiền…

Nhưng Đạt đã ra khỏi xe, băng qua đường để vô tiệm. Thoa lẩm bẩm:

– Tối nay về nhà biết tay tui…!


Tiểu Thu