Pages

Saturday, March 31, 2018

Khi Đỉnh Cao Trí Tuệ Dự Hội Nghị

Chưa có lãnh đạo nào trên thế giới được diễm phúc như TT phúc. Được quyền "ngủ" trong Hội nghị:)
Có lẽ mục đích chính của ông Phúc qua Úc là xin xỏ chứ không phải họp, cho nên các vấn đề bàn thảo trong Hội nghị không cần phải quan tâm?


(Anh phóng viên nào có mối thâm thù với ông Phúc hay sao mà cứ chụp những ảnh độc về ông Phúc)

Tướng Fuck ngửa mặt hỏi trời
Xin hãy lên tiếng trả lời cho tôi
Ấy là thủ tướng Úc châu
Ma Com Tu Bu đang show cái gì
Mà sao tôi chẳng hiểu chi
Cho nên tôi ngủ li bì cho qua
Mặc cho thế giới siết xoa
Biển Đông có cạn, sơn hà can chi !

Paulus Lê Sơn tức cảm vì bức ảnh rất "thần thái giấc ngủ thượng định" của tướng Fuck.

" THIỀN SƯ " NIỄNG
Ngủ đi mông vẫn bình thường
À ơi có tiếng tiền rơi xuống đầu
Ngu gì ngu quá là ngu
Ngu không chừa chỗ cho người ta ngu dùm
Vác chuông đi đánh xứ người
Hoá ra vác cả trò cười thế gian
Tướng hèn lại Niễng lại gian
Một chữ không biết nói năng chúng cười
Thôi thì NGỦ MẸ cho rồi
Họp xong bị gậy lại vào xin ĐÔ
Muôn năm Tưởng Thú Niễng đồ
Cà lăm cà pháo cà rằm cà chua
Cộng hù xưởng đẻ Vi Xi
Chó săn Tàu cẩu Ăn mày tứ phương
Sông cạn núi có thể mòn
Nhưng CHÂN LÝ ấy suốt đời chẳng sai
Việt gian cộng sản chúng bay
Hèn ngu khiếp nhược bồi Tây bồi Tàu
Hồ già Đồng vẩu Chinh xâu
Trọng ngu Phúc ngốc Ngân lù Quang tham
CHXHCN VIỆT GIAN ... !
Phản quốc bán nước miệng đời ngàn năm.

Trần Tưởng Hoàng Kevin
(Mây Bay Khắp Trời )
March 18th. 2018

Lượm trên mạng

Friday, March 30, 2018

Phiếm: Con Số 3 Của Tiểu Tử - Tiểu Tử


Trong mấy con số từ 1 đến 10 con số 3 là đặc biệt nhứt vì nó lúc nào cũng thấy có mặt trong cuộc sống hằng ngày . Đây ví dụ bà Hai cúng Phật : bàn thờ Phật được gọi là “ Ngôi tam bảo “ , trên bàn thờ có bộ ba “ lư hương và hai chân đèn “, có ba chung nước , bà Hai xá ba xá rồi lấy ba chung nước đem đi lau rồi cho nước mới vào mang lại đặt lên bàn Phật , thắp ba cây nhang chắp vào hai bàn tay xá ba lần mới cắm nhang vào lư hương , xong là xá ba xá mới gõ ba tiếng  chuông rồi quỳ xuống lạy ba lạy , đứng lên xá ba xá hướng về bốn hướng . Đó : chỉ việc cúng Phật mà đã có biết bao nhiêu lần ba !  

Trong ngôn ngữ thông thường , để nói về một người không đứng đắng , người ta gọi người đó là “ thằng ba trợn , thằng ba xạo , thằng ba que xõ lá , thằng ba gai , thằng ba búa … “ 

Trường hợp hơi gấp  cần gặp nhau để “ nói ba điều bốn chuyện rồi đi ! “ . Lỡ gặp bữa cơm thì “ăn ba miếng rồi đi “ . Bữa nay ngày rằm mà không có cơm chay . Thôi thì  "và ba miếng cơm lạc trước khi ăn cũng được".

Thông thường, nhà xưa có nền hơi cao nên phải bước lên tam cấp để vào nhà ! Ngôi nhà có ba giang hai chái với hàng ba rộng. Trong bếp có ông Táo là ba cục đất hoặc ba viên gạch . Theo truyền thuyết đó là “ một bà và hai ông “. Họ như vậy mà vẫn chịu nổi sức nóng của lửa củi ! Hay quá !

Đàn bà đi chợ, cho dù món hàng chỉ có đôi ba đồng , họ vẫn trả giá đôi ba lần . Để khỏi bị hố ! Cuộc sống của họ dính liền với “ ba cọc ba đồng “ đó mà !

À ! Nhân nói về đàn bà mới nhớ ra theo truyền thống, họ phải chịu nép mình vào “ tam tùng tứ đức “ .  Kẹt lắm chớ không phải chơi đâu ! Trong lúc đàn ông thời xưa có “ năm thê bảy thiếp “ thì đàn bà thời nào cũng chỉ “ chính chuyên một chồng. 

Trên đây là nói về dân dã . Thử nhìn qua cuộc sống của một ông vua coi ra sao bởi vì ổng là “đối lập “ vơi nhân dân.
Đầu tiên , ổng đi đâu cũng có “ tiền hô hậu ủng “ , có tới “ ba đạo quân “ đi theo bảo vệ ổng ! Cho nên khi nghe trên sân khấu ông vua kêu lớn “ Tam quân “ là nghe dạ rân trên đó ! Oai như vậy!

Khi ông vua giận kẻ “ phản động “ nào là ổng ra lịnh “ tru di tam tộc “ kẻ đó . Ghê chưa ! Bằng không thì ổng cho “ Tam ban triều điển “ để phạm nhân tự xử : đó là chén thuốc độc, sợi giây để thắt cổ và con dao nhọn để đâm vào bụng.

Chỗ ở của ông vua không phải là loại vi-la mà là một “ tam cung lục viện “ , mỗi viện ổng cấp cho một cô gái đẹp . Mấy cô nầy có trách nhiệm “ phục vụ “ ổng ! Sướng vậy đó ! Và nơi nầy không ai được vô nên được gọi là  “ Tử cấm thành “ , trong đó có tất cả những gì để ông vua tiêu khiển , tránh cho ổng khỏi đi lan ban ra ngoài nguy hiểm !

Nhắc đến chuyện vua chúa, không quên hồi thời đó thường hay đọc truyện tàu. Có truyện « Tam Quốc » đọc cũng mê ! Trong truyện Tàu có những nhân vật làm người đọc khó quên. Tỉ như : ba người kết nghĩa đào viên ( Lưu, Quan, Trương ), tỉ như Lưu Bị tam cố thảo lư, ba lần đến đứng trước cữa nhà Khổng Minh để cầu hiền, tỉ như ông Trình Giảo Kim nằm mơ thấy Tiên Ông giạy võ công với cái búa bửa củi. Đang học bổng ông ta giật mình thức dậy và chỉ nhớ có ba đường búa, tỉ như Quan Công Hầu hoá ngủ quan ( hai cộng ba ) trảm lục tướng ( ba lần hai )…vân vân và vân vân.

Cha ! … Con số 3 nó hành tôi từ đầu câu chuyện làm tôi muốn … đo ván ! Thôi , ngừng đây nghen ! Bái bai !            

Tiểu Tử

Ý Kiến Thứ Hai - BS Nguyễn Ý Đức


Sau một tai nạn giao thông, chiếc xe “câu cơm” bị hư hại khá nhiều, cẩn “đại tu bổ”. Thường thường thì ai cũng nhờ hai ba thợ máy ước lượng tổn thất và chi phí trước khi đồng ý cho sửa.

Tương tự như vậy, trước một căn bệnh hiểm nghèo, chắc là bệnh nhân cũng muốn tìm hiểu thêm trước khi quyết định việc điều trị. Sự tìm hiểu thêm này có thể là từ sách báo, internet nhưng thường thì với các bác sĩ chuyên môn khác.

Việc lấy ý kiến thêm (Second Opinion), là chuyện được nói tới khá nhiều ở mọi quốc gia. Ấy vậy mà kết quả thăm dò cho biết hàng năm chỉ có 20% bệnh nhân làm công việc có tính cách hỗ trợ, quyết định về bệnh tình của mình.
Lấy ý kiến thứ hai (hoặc thứ ba…) có thể do bệnh nhân hoặc thân nhân yêu cầu, đôi khi cũng từ bác sĩ, khi vị này có khó khăn trong chữa trị, chẩn đoán.

Nhiều bệnh nhân ngần ngại không muốn đi hòi thêm ý kiến, e rằng nếu làm như vậy sẽ chạm tự ái, làm buồn lòng vị bác sĩ đang chữa trị cho mình. Cũng có người dễ tính, hoàn toàn tin tưởng ở “ông bà thầy” đã nhiều chục năm giao hảo.
Nhưng thực ra các bác sĩ cũng không nề hà gì về việc này. Trong thời gian huấn luyện, họ đã quen với truyền thống “học thầy không tầy học bạn”.

Khi hành nghề, các bác sĩ hỏi ý kiến của nhau là chuyện thường tình. Lý do là y khoa ngày nay quá phong phú về kiến thức bệnh lý cũng như phương thức chẩn đoán, điều trị mà không một bác sĩ nào có thể nắm vững hết được.

Ngoài ra, mặc dù có cùng huấn luyện nhưng họ có quan niệm, suy nghĩ khác nhau về cách áp dụng kiến thức của mình trong khi chẩn đoán cũng như điều trị. Có bác sĩ cho làm nhiều thử nghiệm nhưng cũng có bác sĩ chỉ làm vừa đủ rồi dùng kinh nghiệm nghề nghiệp để suy luận chẩn đoán bệnh.
Trong điều trị, một số bác sĩ “bảo thủ” chữa vừa đủ cho hết bệnh, tránh tác dụng phụ của dược phẩm, một số bác sĩ khác lại muốn chữa mau chữa mạnh. Đó là tại vì mỗi bác sĩ có một kế hoạch trị liệu khác và không phải bác sĩ nào cũng nghĩ, hành động như nhau trong mọi hoàn cảnh.

Người mà bác sĩ gia đình giới thiệu có thể là đồng nghiệp cùng chuyên môn, người được coi như có đủ khả năng để cho ý kiến hoặc tại trung tâm y tế, trường đại học y khoa. Và mặc dù bệnh nhân không có quyền đòi hỏi gặp người mình lựa, nhưng mình cũng không nên được gửi tới người mà mình không tin cậy.
Hiện nay, có nhiều cơ sở y tế, các nhà chuyên môn cung cấp dịch vụ tham khảo, góp ý kiến này.

Về phương diện quản trị sức khỏe, đôi khi bảo hiểm sức khỏe đòi hỏi có ý kiến thứ hai nếu chi phí điều trị quá cao hoặc họ cho là thử nghiệm, điều trị đó không cần thiết. Trong trường hợp này, bệnh nhân có thể phải tự trả phí tổn tham khảo thêm.
Theo các nhà chuyên môn, lấy ý kiến thứ hai hầu như là một quyền hạn của mình để bảo vệ sức khỏe.

Tuy nhiên, trước khi yêu cầu gửi đi lấy ý kiến thứ hai, thứ ba, nên cùng với bác sĩ tìm hiểu lại bệnh tình của mình, hỏi tất cả các điều cần hỏi. Trong đa số trường hợp, sau thảo luận này vấn đề được giải quyết và không cần ý kiến thứ hai.

Nếu bác sĩ không đồng ý thì hãy nhớ là không phải vị đó là người độc quyền quyết định. Thời kỳ “một thầy thuốc, một bệnh nhân” đã qua rồi. Ngày nay, một bệnh nhân có nhiều thầy thuốc khác nhau. Hơn nữa, sức khỏe của mình là ưu tiên số một và hãy làm mọi việc mà mình thấy cần thiết để bảo vệ sức khỏe. Điều quan trọng là khéo léo yêu cầu. Chẳng may gặp vị bác sĩ “bảo thủ, quá tự tin”, nhất định từ chối thì có lẽ cũng nên “giã biệt chia tay” vị này, vì tương quan đôi bên có thể bắt đầu lỏng lẻo.

Có nhiều trường hợp mà bệnh nhân cần phải xin ý kiến thứ hai.
-Khi chính bác sĩ đang điều trị cho mình nêu ra vì căn bệnh ngoài chuyên môn của vị này.
-Khi bác sĩ đề nghị một phẫu thuật không khẩn cấp. Trong trường hợp này, công ty bảo hiểm cũng đòi có ý kiến thứ hai
-Khi không được bác sĩ giải thích tường tận về bệnh của mình
-Khi mình không thỏa mãn với lời giải thích của bác sĩ điều trị
-Một bệnh hiếm chưa được hoặc đã được xác định
-Có hơn một phương thức điều trị bệnh được nêu ra.
-Bác sĩ điều trị không biết mình đau bệnh gì
-Bệnh nhân muốn có phương thức trị liệu mà bác sĩ của mình không nắm vững
-Khi mang một bệnh trầm trọng, bệnh nhân cần quyết định xem nên chấp nhận hoặc từ chối phương án điều trị mà bác sĩ đề nghị.
-Ý kiến thứ hai giúp ta yên tâm là mình đã quyết định đúng.
-Lấy ý kiến thứ hai từ các bác sĩ có kinh nghiệm hơn về bệnh của mình.
-Ý kiến thứ hai có thể giúp mình và bác sĩ điều trị an tâm về phương án trị liệu đang hoạch định
-Lấy ý kiến thứ hai giúp ta hiểu biết nhiều hơn về phương thức trị liệu mới
-Lấy ý kiến thứ hai đôi khi cần làm đối với vài loại bệnh hoặc kỹ thuật chữa trị, sàng lọc bệnh. Bảo hiểm đôi khi chỉ trả một nửa hoặc không bồi hoàn nếu không lấy ý kiến thứ hai.
-Khi sẽ phải trải qua giải phẫu lớn hoặc tái giải phẫu
-Khi gặp khó khăn thảo luận với bác sĩ điều trị
-Không thấy bệnh tình khá hơn với trị liệu đang theo
-Có quá nhiều bệnh một lúc

Khi đã quyết định lấy ý kiến thứ hai, nên xin hồ sơ bệnh lý, kết quả thử nghiệm để mang cho bác sĩ thứ hai coi. Bệnh nhân phải ký nhận đồng ý chuyển hồ sơ.
Hiện nay có nhiều cơ sở chuyên môn y khoa cung cấp ý kiến thứ hai mà không cần hồ sơ bệnh lý, kết quả thử nghiệm cũng như ý kiến của bác sĩ điều trị.

Hoặc có thể chỉ cung cấp kết quả thử nghiệm, X-quang mà không có chẩn đoán và phương thức điều trị. Đó là blind second opinion. Lợi điểm là ý kiến thứ hai không bị ảnh hưởng bới các dữ kiện trước đó.

Khi tới bác sĩ thứ hai, nên chuẩn bị sẵn các điều muốn hỏi như là:
-Liệu bệnh của mình có thể có chẩn đoán khác
-Có cách chữa nào khác không
-Kết quả sẽ ra sao nếu trì hoãn hoặc không điều trị
-Rủi ro của điều trị như thế nào
-Điều trị có kéo dài hoặc nâng cao đời sống không
-Bao lâu sau điều trị thì bình phục
-Tại sao ý kiến thứ nhì lại khác với ý kiến trước.

Theo các nhà chuyên môn y học Hoa Kỳ, năm bệnh thường được hỏi ý kiến là giải phẫu nối động mạch tim (heart bypass surgery),cắt bỏ tử cung, chấm dứt thai kỳ vì thai nhi bất bình thường, giải phẫu giãn tính mạch, điều trị u bướu não. Vì các phương pháp này đôi khi được thực hiện khi không cần thiết, kỹ thuật quá phức tạp hoặc chẩn đoán không chính xác.

Kết luận
Lấy ý kiến thứ hai có lợi điểm là giúp bệnh nhân có thêm hiểu biết về bệnh tình, về phương thức chữa trị để lựa chọn và nhờ đó họ an tâm tích cực hơn trong việc tự chăm sóc.

Trước khi yêu cầu ý kiến thứ hai, nên coi lại xem giữa mình và bác sĩ đã có sự đối thoại, giải thích rõ ràng chưa. Nếu là chưa thì mình cứ nhẹ nhàng hỏi thêm, cho ra lẽ. Thường thường thì các vị lương y cũng không đến nỗi quá khó tính, không muốn mích lòng con bệnh và cũng không muốn thấy mấy ngài trạng sư gửi thư hỏi thăm.

Các cụ ta vẫn nhắc nhở “Lời nói chẳng mất tiền mua”. Đôi bên nên nhẹ nhàng hỏi đáp thông cảm với nhau để duy trì tình nghĩa con bệnh-thầy thuốc ngày càng thêm thắm thiết.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
Texas Hoa Kỳ 

Tại Sao Trẻ Em Ở Mỹ Lại Tự Tin Hơn Những Đứa Trẻ Việt?


Không quan trọng học lực, ngoại hình xấu đẹp, hoàn cảnh ra sao,… trẻ em ở Mỹ đều rất tự tin, năng động. Các bé hiểu rằng, mỗi người đều đặc biệt theo cách riêng và không cần so sánh bản thân mình với ai cả. Vậy trẻ Mỹ có được sự tự tin này từ đâu?

1. Cha mẹ Mỹ dành tình yêu vô điều kiện cho con
Các nhà tâm lý học tin rằng, sự tự tin của trẻ con phần lớn có nguồn gốc từ tình yêu vô điều kiện của cha mẹ dành cho con mình.

Cụ thể là gì? Ngay từ khi trẻ mới chào đời, cho đến suốt cuộc sống sau này của trẻ, mẹ Mỹ luôn để con biết rằng: dù con nặng cân hay còi cọc, khỏe mạnh hay ốm yếu, thông minh hay chậm chạp, biết nghe lời hay nghịch ngợm, xinh xắn hay xấu xí, cao hay lùn…. bố mẹ đều luôn yêu con và nuôi dạy con là một người độc lập, không giống như những đứa trẻ khác. Điều này khiến trẻ con Mỹ rất tự tin vì chúng biết, mình không cần phải so sánh với ai và dù có ra sao, chúng luôn nhận được sự ủng hộ vô điều kiện từ cha mẹ.

Với những đứa trẻ Việt, từ bé đã bị mẹ so sánh về cân nặng, chiều cao, lớn lên lại bị áp lực bới điểm số, bằng cấp. Nhiều bậc phụ huynh Việt tỏ ra ngại ngần trong việc thể hiện tình yêu với con và trước mặt người lạ, luôn cố tình chê con mình với mục địch cho bé cảm thấy bản thân cần cố gắng. Tuy nhiên, cách làm này là sai lầm. Đứa trẻ sẽ cảm thấy tự ti vì chúng chưa bằng người khác, và cha mẹ chúng dường như cũng chưa hài lòng về chúng.

Lúc này trong lòng trẻ sẽ tự hoài nghi chính mình, đánh mất sự tin vào bản thân, đồng thời trẻ sẽ học cách nhìn tình yêu thương và sự quan tâm bằng quan điểm “vụ lợi”. Nếu cha mẹ cứ đặt ra tiêu chuẩn quá cao thiếu thực tế cho trẻ thì khi lớn lên trẻ sẽ trở nên căng thẳng, lo lắng, suy tính thiệt hơn.

Bác sĩ khoa thần kinh cho rằng: Các bé gặp vấn đề về tâm lý đa số đều có thể tìm thấy nguyên nhân trong cách giáo dục của gia đình. Sự tác động của cha mẹ đối với tính cách và cảm xúc của con trẻ nhiều hơn sự ảnh hưởng đến từ nhà trường và xã hội.

2. Trẻ em Mỹ được tôn trọng như một người lớn
Lòng tự trọng là một phần tạo nên sự tự tin của con người. Trẻ nhỏ cũng có lòng tự trọng và cần được mọi người tôn trọng. Các trường học và cả gia đình ở Mỹ luôn dạy trẻ về việc tôn trọng lẫn nhau. Một đứa trẻ có thể không giỏi toán nhưng lại có tài lãnh đạo, một cô bé có thể không giỏi văn nhưng lại vẽ rất đẹp… Tất cả các bé đều có ưu điểm riêng của mình và đều phải được tôn trọng, giúp đỡ để phát huy tài năng.

Các trường học và gia đình ở Mỹ luôn đề cao “giáo dục cổ vũ” và “giáo dục tôn trọng”. Giáo viên ở trường rất tôn trọng học sinh. Bất kể những câu hỏi của học sinh có ngô nghê đến đâu, các giáo viên đều trả lời rất tận tình, và thường kèm theo những câu nói động viên như: “Đây là một câu hỏi rất thú vị” hay “Em đã hỏi đúng vấn đề quan trọng nhất”… Giáo viên luôn giúp trẻ cảm thấy thoải mái và can đảm nêu ý kiến. Trẻ em lớn lên trong một môi trường như vậy liệu có thể không tự tin?

Trẻ em ở Mỹ còn được tôn trọng như một người trưởng thành vậy: Bố mẹ vào phòng con phải gõ cửa, muốn thay đổi đồ gì trong phòng con phải có sự đồng ý của trẻ, những gì liên quan đến con đều phải nói với con, nhật ký của con thì không được quyền mở ra đọc…. Mẹ Mỹ biết rằng, một đứa trẻ không được tôn trọng không chỉ không tự tin, mà còn không biết tôn trọng người khác, bởi vì không có ai làm gương, thực hành cho trẻ thấy.

Các nhà giáo dục đã rút ra kết luận sau những cuộc nghiên cứu sâu rộng như sau: Trong quá trình trưởng thành của trẻ, điều quan trọng nhất là xây dựng sự tự tin của trẻ, khi đã tự tin thì trẻ sẽ có sức mạnh để khắc phục khó khăn mà trẻ gặp phải trong cuộc sống, sống với thái độ cố gắng, dám nghĩ dám làm. Vì vậy khi trẻ còn nhỏ, điều mà cha mẹ cần làm không phải là để trẻ học được bao nhiêu chữ, học thuộc bao nhiêu bài thơ, làm được bao nhiêu bài tập mà là phải tôn trọng cảm giác dù nhỏ nhất của trẻ, xây dựng cho trẻ sự tự tin.

3. Trẻ tự tin khi được khuyến khích và đánh giá cao
Trong lòng mỗi người đều muốn được khẳng định và khen ngợi, nếu một đứa trẻ cảm thấy mình được người khác thừa nhận rằng trẻ quan trọng, có ý nghĩa với người khác thì trẻ sẽ cảm thấy vui vẻ một cách rất tự nhiên, có cảm giác được khẳng định mình.

Các trường học ở Mỹ thường tổ chức các chương trình văn nghệ, mỗi đứa trẻ sẽ lên và trình bày một tài năng của mình. Các phụ huynh sẽ ngồi ở dưới, cùng lấy máy quay để ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ. Và đương nhiên, tiết mục nào cũng nhận được những tràng pháo tay nhiệt tình nhất. Sự tự tin luôn được khuyến khích ở Mỹ. Khi một đứa trẻ được đánh giá cao bởi mọi người, chúng sẽ tự nhiên cảm thấy vui vẻ, muốn khẳng định mình hơn, cảm thấy tự hào và tự tin hơn. Ngược lại, những đứa trẻ hay bị khiển trách, phê bình, thậm chí mỉa mai sẽ cảm thấy như mình luôn thất bại, mặc cảm, sẽ phủ nhận khả năng của chính mình, sinh ra tâm lý tự ti, từ đó mất đi nhiệt tình trong việc học và trong cuộc sống.

Bắt đầu từ lớp một, các bé ở Mỹ sẽ luân phiên làm cán bộ lớp, tất cả đều có tư cách được phát biểu trên bục và phát biểu thế nào cũng được. Có những bạn khi nói không có kết cấu, nói vấp váp lắp bắp, câu trước không khớp câu sau, giáo viên sẽ khen ngợi học sinh đó có quan điểm đặc biệt và rất dũng cảm.

Giáo viên ở Mỹ luôn có rất nhiều cách để tìm ra được ưu điểm, điểm mạnh của học sinh để khen ngợi và tránh những khiếm khuyết của trẻ. Lâu dần, những điểm tốt của trẻ sẽ càng ngày càng tốt hơn, sở trường sẽ càng lúc càng giỏi. Trẻ sẽ tìm được sự tự tin nhờ những sở trường của mình.

4. Cha mẹ Mỹ tin tưởng vào con cái
Có bao giờ bạn nghe thấy một cuộc đối thoại kiểu như: “Mẹ ơi con thấy cái áo này hơi nóng” và sau đó người mẹ sẽ đáp lời: “Con mặc vào đi. Nóng gì mà nóng”. Mẹ Việt có thể từ chối ý kiến của con và cho rằng lời nói của trẻ không đáng tin cậy và không tin tưởng vào con mắt, cảm nhận của một đứa trẻ. Thế nhưng mẹ Mỹ thì không.

Những đứa trẻ nhiều lần bị từ chối và phản đối ý kiến bởi chính bố mẹ mình lâu dẫn sẽ mất tự tin và khả năng độc  lập. Là phụ huynh, cha mẹ Mỹ luôn cố găng tin tưởng vào cảm xúc và quan sát của con mình, để ý đến ý kiến cá nhân của trẻ. Khi trẻ muốn thử điều gì, mẹ Mỹ sẽ cho con cơ hội để làm. Điều đó khiến trẻ con Mỹ có cơ hội để tự tin hơn.

Một người thật sự tự tin không dựa vào những giá trị bên ngoài như học lực, thành tựu trong công việc, tiền bạc, ngoại hình mà là những giá trị mà bản thân người đó nhận thức được ở chính mình.
Hãy dạy con như mẹ Mỹ, và ta sẽ có được một thế hệ trẻ em mới, tự tin và tự chủ hơn.

Hồng Liên (t/h)
Tinh hoa net

Chuyện May Rủi - Hoàng Tá Thích


Bà Sáu bị gãy tay vì trợt té trong bồn tắm. Nửa đêm người nhà phải đưa vào bệnh viện đến hai ba giờ sáng mới về lại nhà. Tay phải băng bột và bác sĩ cho biết ít nhất cũng phải năm sáu tuần lễ mới cắt bột được. Mọi sinh hoạt đều bị trở ngại vì bà Sáu cũng đã lớn tuổi, nay chỉ dùng được một cánh tay, lại là tay trái nên lại càng không quen. Tắm rửa cũng khó khăn, thay áo quần cũng không thể làm một mình, ăn uống, mọi sinh hoạt đều là vấn đề. Nói tóm lại quả là một tai nạn xui xẻo.
Bà con đến hay tin thăm viếng rất đông. Lạ một điều là trong những câu hỏi thăm, chẳng nghe một câu chia sẻ nào tỏ ý về sự xui xẻo cả, mà chỉ nghe:"May đấy, chứ nếu gãy chân còn khổ hơn." hoặc "May đấy, chứ nếu bị té vào đầu thì thật không biết thế nào nữa"... Đại khái là câu chia sẻ nào cũng cho đó là chuyện may cả. Hoá ra gãy tay là chuyện may. Thảo nào vừa rồi có một tai nạn xe hơi trên xa lộ mà nạn nhân là một người quen nên một người bạn phải vào bệnh viện để thăm và kể lại. Nhìn người bị thương nằm như chết trên giường thấy thật thảm. Thế mà bà con đến thăm, không cần nhìn đến nét mặt đau khổ của người nhà mà còn :"May quá, chỉ bị gãy một chân thôi." Thì ra trên xe có đến sáu người, chỉ có hai người sống sót. Người còn sống kia bị bể đầu và gãy một tay, một chân. Vì vậy mà người nầy chỉ gãy có một chân nên thực là quá may mắn. Không những thế mà những người đến nhận xác thân nhân,nhận được cái xác còn nguyên vẹn, cũng thấy “còn may” vì không như một vài cái xác khác, bị mất một cánh tay hoặc một cái chân, không may chút nào.
Có người bạn bị một loại bệnh ngoài da ngay trên mặt. Mặt mày sưng húp, lở lói trông thật khó coi. Tự nhủ thầm giá như bị lở lói trong người chẳng ai thấy thì dễ chịu biết mấy, có thể đi ra ngoài như một người bình thường. Bác sĩ cho biết không phải là bệnh "giời bò" nên không bị nhức, bị ngứa. Thế là thấy quá may mắn, chứ rủi nếu đúng là giời bò thì nhức nhối đau đớn lắm, nhất là ngay trên mặt, chắc chịu không nổi. Ai đến thăm cũng đều nói như thế. May hơn nữa là không bị ăn vào mắt. Lại vẫn là có chút may mắn. Mấy ngày đầu không dám cả tắm gội nên trong người cảm thấy dơ dáy khó chịu. Đến khi bác sĩ bảo cứ tắm gội bình thường, chỉ tránh chỗ bị lở mới dám. Khi mình mẩy được sạch sẽ, bỗng thấy mình vẫn còn quá hên. Nếu không may bị lở lói trong người không thể nào tắm gội tự do được, chắc là khổ sở lắm, không như bây giờ chỉ cần đứng dưới vòi sen tránh nước vào mặt thì việc tắm gội vẫn bình thường. Toàn là may mắn trong khi thực ra thì lại quá đau khổ vì chuyện đó.
Nghe thì thấy có vẻ buồn cười, nhưng nghĩ lại, đó chính là tinh thần lạc quan giúp con người luôn luôn tự an ủi mình lúc bị rơi vào một hoàn cảnh xấu. Cố tìm cho được một chút may mắn trong chuyện rủi ro để tự trấn an mình.
Cái may nầy là cái may trong cái rủi. Có cái rủi xẩy ra mới tìm thấy cái may trong đó chứ nếu không có cái rủi xẩy đến thì chẳng thấy cái gì gọi là may cả. Đây không phải là cái may như được trúng số hay trong cơn khó khăn gặp được người khác giúp đỡ.
Tai nạn xẩy ra cho một xe khách hay một chiếc máy bay, chết gần hết, chỉ có được vài người sống sót, thì đó là những người may mắn. Những người đó thấy rõ ràng là mình được may mắn, dù là tai nạn có làm cho mình bị thương, tàn tật, nhưng đã được sống, không bị chết như những người khác, là quá may mắn rồi.
Bị cướp dí súng vào người cướp tiền. Tiền thì bị cướp, nhưng may mắn là không bị tên cướp nổ súng nên vẫn còn giữ được mạng sống. Thế là may mắn. Chạy xe ngoài đường bị giật xắc, nhưng chỉ mất của mà không bị té xe gây thương tích. Thế cũng là quá may mắn.
Một người đang khoẻ mạnh bỗng dưng bất ngờ bị đột quỵ, ngã lăn ra chết liền, đúng là đau khổ cho người thân, nhưng cuối cùng cũng :" Thôi, đi nhanh như thế cũng là may rồi, nghiệp nhẹ, chứ không đi mà nằm một chỗ bán thân bất toại thì không những khổ thân mình mà lại còn khổ cho mọi người." Chết mà cũng còn được gọi là may đấy.
Những cái may tìm được trong cái rủi đúng là một niềm an ủi nhất thời cho con người, nhưng chỉ ngay lúc sau khi gặp cái rủi, càng về lâu về dài thì chẳng thấy gì gọi là may mà chỉ có rủi mà thôi, vì đấy chỉ là cái may không thực sự là cái may. Đúng ra, cái may thực sự là không bị cướp, không bị giật sắc, không ngồi trong chuyến bay hay chuyến xe bị tai nạn mới đúng là cái may thực. Tuy nhiên cái may không bị cướp, không có mặt trong chuyến xe bị tai nạn vẫn không thực sự là cái may, vì đó cũng chỉ là cái may vì không bị rủi mà thôi.
Mua vé số là muốn cầu may. Nhỡ trúng một món tiền lớn thì đúng là may mắn, nhưng nếu chẳng trúng xu nào thì chẳng phải rủi ro gì. Đó là cái may thực.
Làm kinh doanh nếu được cơ hội tốt, mọi chuyện suông sẻ, thu được lợi nhuận thì đúng là may mắn, nhưng cái may mắn đó chính do mình làm ra. Nếu nhỡ có bị thua thiệt thì cũng chẳng thấy có gì gọi là rủi trong đó cả mà chỉ vì mình chưa có thời, chưa được may mắn thôi. Thành công là cái may mắn thực sự.
Ngược lại, có những người được cái may mắn hết sức quý báu trời cho, nhưng họ lại không bao giờ thấy được may mắn, vì cái may đó không phải do mình cầu mà ra mà cũng chẳng phải tìm thấy cái may trong cái xui, và có khi họ lại vô tình đánh mất cái may mắn trời cho đó của mình mà không hay. Chẳng hạn như người đàn ông lấy được một người đàn bà đầy đủ phẩm hạnh của một người vợ tốt, nhưng lại không thấy cái may mắn của mình. Sau một thời gian chung sống, thấy cuộc sống bình thản nhàm chán quá, lại sinh tật bê bối có bồ bịch làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Có một ông chồng bao hết mọi vấn đề trong gia đình, nên vợ quá rảnh rang nhưng không thấy cái may mắn của mình lại sinh "nhàn cư vi bất thiện", lao vào chuyện cờ bạc đến tan cửa nát nhà. Có những đứa trẻ lớn lên trong một gia đình tốt, không thấy mình được may mắn lại ham chơi theo bạn bè xấu làm hỏng cuộc đời mình. Có những người thừa hưởng tiền bạc, của cải của cha mẹ giàu có, nhưng lại xài tiền vô tội vạ, đến khi chỉ còn lại hai bàn tay trắng, nhỡ may gặp được một người tốt, giúp đỡ cho chút ít để qua cơn túng bấn thì lại thấy mình được may mắn có người bạn tốt mà đôi khi lại quên mất những gì cha mẹ đã để lại cho mình.
Cái may cái rủi, khó mà nói được. Người ta chỉ thấy cái may khi bị rủi ro, còn cái may mắn thực sự thì chẳng bao giờ biết đến. Cũng nhờ có cái rủi mới tìm thấy cái may, trong khi cái may có sẵn thì lại đánh mất đi mà không hay. Tuy nhiên, cảm thấy có thể tìm được cái may trong cái rủi đã xẩy ra chính là tinh thần lạc quan, để tự an ủi mình, cũng có thể giúp ích phần nào cho cuộc sống.
Ở đời mọi chuyện may rủi không thể nào nói được. Mọi cái được thua, may rủi cũng đều là "tái ông thất mã". Một người bị đau không thể nào đến dự đám cưới một người thân được. Anh ta buồn vì phải nằm ở nhà trong khi mọi người vui vẻ ra đi. Cuối cùng là chiếc xe bị tai nạn, mọi người đều bị thương tật, riêng anh chàng thì chẳng bị gì. Anh có thể nghĩ là mình may mắn đã không ngồi trong cái xe đó, nhưng nếu anh ta ở trong cái xe bị tai nạn và anh không hề hấn gì, anh ta mới thấy cái may mắn rõ ràng hơn nữa, vì không bị rủi như những người bị thương nặng hơn hay bị chết.
Người ta ai cũng muốn cầu may. Vì vậy mà dịp tết có những lễ hội tranh nhau đoạt "phét", giành "lộc" đầu năm. Tranh nhau đến đấm đá có thể gây thương tật để giành cho được cái may của thánh ban. Họ không bao giờ nghĩ giá có giành được cái gọi là may mắn đó mà mình mẩy bầm dập có thể nguy cả tính mạng thì cái lộc đó còn được gọi là cái may mắn không?
Lại có những người cầu may bằng cờ bạc, số đề. Cái may không thấy đâu mà đôi khi tan gia bại sản trước. Đấy cũng chỉ là cái may nằm sẵn trong cái rủi mà họ không nghĩ đến thôi.
Phải thấy cái may nằm trong cái rủi chỉ là cái may không thực,và cố gắng đừng bao giờ coi thường để vô tình đánh mất cái may thực sự đang có mà không hay.
 

Hoàng Tá Thích

Wednesday, March 28, 2018

Đời Phi Công - Phương Toàn


Phương Toàn tên thật là Nguyễn Viết Toàn, sinh năm 1948 tại Dầu Tiếng- Bình Dương, trú quán Tân Hiệp- Rạch Giá. Gia đình ông tới Mỹ năm 1981, định cư tại Garden City, Kansas. Phục vụ trong Board of Director của phòng Thương Mại địa phương (Chamber of Commerce), ông cũng là Advisory Board Member của Security Bank. Hiện nay ông là President and Owner của BT Plumbing Co. Inc. Trước 1975, ông đã phục vụ tại Phi đoàn Lôi Điểu 223 Biên Hòa và Phi đoàn Mãnh Sư 243 Phù Cát. Mới đây, nhân vụ các cựu trung uý khoá 69A họp khoá trên đất Mỹ, Phương Toàn đã viết bài “Trung Uý Nuôi Tôm”, kể chuyện nhà tù CSVN. Được em ruột là Tân Ngố, người viết bài Bên Bờ Freeway, cổ động Viết Về Nước Mỹ, lần này ông kể chuyện “đời phi công”. ---------------
-------------------------------

Mấy anh em tôi đều khù khờ như nhau. Tân Ngố, thằng em kế từ Cali gọi điện thoại hỏi: – Anh có biết gì về chương trình Viết về nước Mỹ cuả Việt Báo không? – Có nghe nhưng không rành mấy.
Nó gạ:
-Nếu có rảnh, viết bài gửi sang, nó ký tên, gửi. Lỡ trúng giải, nó ở gần, đại diện lãnh và xài dùm cho.
Tôi nói, bài đăng báo là để cho người viết hay, tôi sang đây, tối ngày đi chôn ống cống, biết gì mà viết với lách. Nó “động viên”:

– Có nhiều người viết hay, nhưng hay kiểu mèo khen mèo dài đuôi thì đọc không phê. Trong nhà mình, anh được tiếng là khờ nhất. Người khờ thì hay nói thật, mình không hay nhưng mình viết thực, đôi khi ngựa về ngược. Nếu trúng giải, anh em mình cưa đôi.
Sau khi cúp phone, vợ tôi lo lắng hỏi:
– Hai anh em ông không bàn chuyện gửi tiền về Việt Nam đấy chứ?
– Không, bàn chuyện viết bài đăng báo.
Vợ tôi tròn xoe đôi mắt bồ câu quá date kêu lên:
– Giêsu Ma!
Nói đoạn, nàng đến gần rờ vào đầu tôi, bắt mạch xem có bị sốt hay không. Không lẽ từng này tuổi, tôi lại không viết nổi một bài luận văn sao. Tôi quyết định viết bài dự thi, cho dù biết chắc là bị loại nhiều hơn được chọn.


***
Hai vợ chồng tôi lấy nhau được hơn một năm thì vượt biên, vị chi đến nay định cư ở Mỹ được hai chục năm.
Ngày mới sang đến trại tị nạn, hăm hở lắm với những tin đồn được đãi ngộ tại Mỹ. Tôi là phi công của Không quân, vợ tôi là phụ tá nghiệm chế ở Dược khoa, chắc Mỹ chẳng bỏ rơi mình.
Đúng, Mỹ nó chẳng bỏ rơi hai vợ chồng tôi khi đặt chân đến phần đất mới này. Nó cho vợ tôi cái nghề rửa chén, và cho tôi một cái xẻng để làm helper đi đào đất chôn ống cống. Mỹ còn ưu ái hơn, cho chúng tôi mỗi đứa một số quần áo ”tốt”, tha hồ lựa ở kho Salvation Army. Hai vợ chồng từ đó biết thân phận mình, vừa làm, vừa học và vừa góp tiền cắc để gửi về giúp gia đình.
Một hôm, hình như cám cảnh cái nghề mới của tôi, vợ tôi hỏi:
– Kể cho em nghe, tại sao anh lại trở thành phi công?
– Tại anh có chí tang bồng hồ thỉ, muốn làm Đường Minh Hoàng đêm đêm du nguyệt điện.
Đây là lần đầu tiên nói dối vợ, không hiểu tại sao vợ tôi lại biết, nó bĩu môi đáp:
– Xạo ke.


***
Thú thực đời phi công của tôi bắt đầu chẳng phải vì chí tang bồng, mà nó bắt đầu bằng một sự ngẫu nhiên.
Biết khả năng mình chẳng thế nào lái nổi chiếc máy bay. Vì di truyền sao đó, có thể tại ông già bị má tôi dợt cho quay mòng mòng hoài, nên cứ ngồi lên cái gì nhúc nhích là tôi nhức đầu, kể cả ngồi võng.

Tôi ở Rạch giá, thời học trò thỉnh thoảng được về thăm quê, cứ mỗi lần xe đò chạy tới Bình Chánh là tôi bắt đầu ói mửa như con gái có bầu. Nghĩ đến Không Quân, tôi cũng khoái lắm, khoái không phải vì bay bổng mà là vì khỏi lội sình. Nhưng cứ nghĩ sang Không Quân mà không bay được, thế nào nó cũng đuổi về Bộ Binh thì quê lắm.

Tôi gia nhập khóa 1/69 Bộ Binh, đang thụ huấn tại Quang Trung thì Không Quân sang tuyển người. Tôi chẳng tha thiết gì nhưng thằng Trương Phương Tuyên dụ:
– Ghi danh vào Không Quân, theo xe về Trung Tâm Y Khoa khám sức khoẻ, mỗi ngày mình chỉ cởi quần áo cho ông bác sĩ xem, nhảy tưng tưng mấy cái cho ổng đo, rồi vù ra phố chơi chiều về lại quân trường, đã lắm.

Tôi và nó ghi danh vào Không Quân và đúng như nó nói, hai thằng nhởn nhơ một tuần lễ đi khám sức khoẻ. Khám chẳng được là bao, nhưng chiều nào về ngang qua Ngã ba Chú Ía, hai thằng cũng không quên vẫy tay chào mấy nàng Kiều cho thắm tình Quân Dân cá nước.

Mãn khóa Quang Trung, tôi được chuyển về Thủ Đức học tiếp để chờ ngày ra trường. Một hôm chuẩn bị ra tuyến ứng chiến, tôi được lệnh trả quân trang để về Không Quân. Thằng Tuyên nói:
– Chỉ còn 6 tuần nữa ra trường, mang lon Chuẩn uý, bây giờ về Không Quân mang Alpha dài dài.
Hai thằng bèn hạ quyết tâm ở lại.
Tôi nói với ông Thượng Sĩ già:
– Thượng Sĩ, tôi không về Không Quân đâu.
Ông trợn mắt lên nạt:
– Giỡn chơi cha non, quân đội chứ ở nhà hay sao? Bộ muốn làm gì thì làm hả? Đến 8 giờ tối mà không ký giấy trả đồ, An Ninh nó ghép vô tội nội tuyến là bỏ mẹ.
Nghe nói tới An Ninh là tóc tôi dựng đứng đàng sau, tôi bèn trả đồ và lấy Sự vụ lệnh để về Không Quân.

Tôi được xếp học khóa 69A, toàn là những tay thông minh và gốc bự, như thằng Phan Huy Bách, ba nó là Thủ tướng Phan Huy Quát, thằng Hà Thúc Việt chi chòm ông Hà Thúc Ký, Hồ Văn Anh Tuấn con cháu Hồ Biểu Chánh (Nó thề độc là mình không có dính dáng gì đến Hồ Chí Minh). Chỉ có tôi là bần cố nông mê muội, ngay cả ông già cũng chết ngắc ngày còn nhỏ.

Ra đến Nha Trang tôi được niên trưởng chào đón và dạy dỗ rất chí tình. Khóa đàn anh, tôi gọi là niên trưởng; khóa lớn hơn tôi gọi là đại cồ; lớn nữa thì gọi là siêu đại cồ; rồi dần dà lên đến Thiếu uý Sinh viên sĩ quan, Trung uý, Đại uý… Có một ông Niên trưởng tự xưng là Đại tá sinh viên sĩ quan siêu đại cồ niên trưởng. Hôm mới ra Nha Trang ông bắt tôi chào con Đại bàng ở cổng, ông cầm khẩu carbine lên đạn lách cách tuyên bố: – Bắn bỏ ba mươi phần trăm không cần làm báo cáo.
Tôi hoảng hồn. Té ra tôi chọn lầm binh chủng rồi, ở đây nó coi mạng sống con người rẻ như bèo.

Ông niên trưởng hay ví von thời gian đi lính của tôi ít hơn ngày ông khai bịnh lậu ở quân trường. Ông dạy tôi về tinh thần ”thượng mã” của phi công, ông nói ra trận, hạ máy bay địch, nếu phi công nó nhảy dù ra thì bay ngang, lắc cánh mà chào chứ không bắn pilot. Ông dạy về chữ: ”Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”. Ông nói:
– Tất cả mọi người đeo con rồng lên ngực, sống chết có nhau, là ăn cùng mâm, ngủ cùng giường.
Thằng Hà Thúc Việt cười phá lên, ông niên trưởng đến gần gằn giọng: – Ông này cười cái gì?
– Dạ cười ngủ chung với Tiếp Viên Hàng Không.
Ông ngạc nhiên nhìn nó, đi tới đi lui, ngẫm nghĩ, chợt ông đừng lại gằn giọng:
– Mặt ông ngu hơn thằng chăn trâu, Tiếp Viên nào cho ngủ chung mà mơ. Nó dí dỏm đáp:
– Dạ tại niên trưởng nói ai đeo con rồng lên ngực thì mình được ngủ chung một giường.
Ông bực lắm, với giọng kẻ cả, ông giải thích:
– Có nhiều loại rồng, rồng Không Quân là rồng khạc lửa, rồng Nữ Tiếp Viên là rồng…lộn.
Đến lượt thằng Tuyên phì cười. Ông quát:
– Ông kia cười cái gì?
Nó bí thế đáp:
– Dạ cười con rồng.
Ông trợn mắt hỏi:
– Con rồng có gì mà cười?
Tuyên đáp bằng giọng Huế:
– Dạ, tại nó … lộn.
Cả hàng quân cười ồ lên, ông thấy mấy thằng đàn em này lếu láo qúa, ông phải ra oai kẻo chúng lờn, ông nạt tiếp:
– Rồng lộn có gì mà cười?
– Dạ con rồng lộn không có gì để cười, nhưng Nữ Tiếp Viên rồng lộn thì buồn cười.

Ông tức mình bắt hai thằng móc giò lên cửa sổ, miệng hô to một trăm lần câu: ”Nữ Tiếp Viên rồng lộn không có gì phải cười”.
Tưởng như chưa đã nư, ông đến gần một thằng thấp nhất khóa, gằn giọng hỏi:
– Tại sao ông đã xấu, mà lại còn dám lùn?
Thằng Tú ngơ ngác vài giây rồi đáp sảng:
– Dạ tại … ông già lùn.
Ông niên trưởng lại đi thêm một bài giáo khoa thư:
– Xe trước đổ thì xe sau tránh, cây đắng thì phải cố sinh trái ngọt, ông già lùn thì con phải cao, ông biết vậy mà còn ngoan cố cứ lùn. Móc giò lên đuôi bom cho tôi.
Giải quyết xong thằng Tú, ông bước sang đứa kế, ông hỏi:
– Ông tên gì?
– Khóa sinh Lê Văn Nãi, khóa 69A trình diện niên trưởng.
Ông nhìn thằng Nãi đẹp trai, cố kiếm một tội để ghép. Ông chửi:
– Gái bán Bar cũng biết ông thuộc khóa 69A, tôi hỏi tên, khai chi cả khóa. Ông họ Lê, biết Lê Long Đĩnh không?
– Dạ không.
– Mặt ông và mặt Lê Long Đĩnh giống nhau như đúc mà còn chối. Lê Long Đĩnh là vua dâm dật Lê Ngọa Triều, ông tổ mười đời của ông mà ông còn chối thì mai sau ông sẽ chối bỏ bạn bè. Từ nay mỗi lần trình diện, ông phải nói: Khóa sinh Lê Văn Nãi, cháu đích tôn Lê Ngọa Triều, ông quên thì thác cô hồn với tôi.
Ông niên trưởng chừng như thấy quá mất giờ để phạt từng thằng, ông dõng dạc tuyên bố:
– Chưa có một khóa nào ngu như khóa này, mặt ông nào cũng đần đần độn độn, tôi đếm từ một tới năm, không muốn thấy một cái chân ông nào còn đứng trên quả địa cầu.

Ông bắt đầu đếm, hàng quân như ong vỡ tổ, mỗi đứa cố gắng kiếm một vị trí để móc cẳng mình cao hơn mặt đất, không cứ là móc lên cái gì, miễn là đôi giày bốt không còn chạm mặt đất cho ông niên trưởng hài lòng.
Tôi cắn chặt hai hàm răng, sợ bật cười sẽ bị ông ra lệnh móc cẳng lên ngọn cây dương thì khốn.


***
Thấm thoắt một năm trôi qua, tôi được trở về Tân Sơn Nhứt học Anh Ngữ rồi đi Mỹ để học lái máy bay.

Đây là lần thứ ba tôi được leo lên chìếc máy bay. Hai lần trước đều ngồi bệt dưới sàn chiếc C119 thủng đít đi từ Sài Gòn ra Nha Trang và về lại, lần nào mưa cũng hắt ướt như chuột lột, lần này chiếc máy bay của hãng Braniff International không dột mà lại có ghế đàng hoàng, cô chiêu đãi viên đẹp hết cỡ, cô ta hỏi chuyện tôi nhiều, nhưng tôi không hiểu mấy. Một lần tới bữa ăn cô hỏi:
– Do you want coffee, tea or milk?
Nhìn chiếc xe cô đẩy, tôi hiểu ngay rằng cô hỏi tôi muốn ăn uống gì không. Tôi trả lời là Yes. Cô lại hỏi:
– You want some coffee?
Tôi lập lại là Yes, với chữ S kéo dài thêm, ý nói muốn lắm.
Cô đưa cho tôi một ly cà phê đắng nghét. Mỉm miệng cười duyên, chắc cô đoán chuyến phi cơ này đụng toàn thứ thiệt, không cần phải hỏi thêm thằng Việt, cô đưa cho nó một ly sữa tươi. Cô hỏi hai đứa:
– Do you want some sugar?
Tôi tưởng cô hỏi muốn thêm cà phê không, nên trả lời rất lịch sự:
– No, thank you Sir .

Uống xong ly cà phê đắng, tôi hỏi thằng Việt, sao mầy được uống sữa, nó trả lời cũng không hiểu tại sao. Tôi nói ở quê tao sữa bột pha ra toàn cho heo ăn, người uống đau bụng chết. Nó nói, họ đưa gì thì uống nấy chứ bộ chọn được sao? Tôi than phiền phải uống cà phê đắng, nó nói chắc Mỹ nó không uống đường, hôm nay mình sang Mỹ tập uống cà phê đắng cho quen.
Sang đến Lackland Air Force Base tôi được học những từ ngữ chuyên môn Anh ngữ và mãn khóa.

Lúc này trình độ Anh ngữ khấm khá lắm rồi, ông thầy Anh văn dưới quê bị tôi bỏ xa. Dù sao tôi cũng phải mang ơn ông vì ông đã dạy cho tôi biết những câu vỡ lòng, như chữ bacon nghĩa là thịt mỡ, hot dog là thịt chó nóng hổi và ”chase the girl” nghĩa là rượt con gái. Tôi cũng đã biết chắc chắn rằng đồng mười xu tuy nó nhỏ hơn đồng năm xu nhưng giá trị gấp đôi.
Cuối cùng ngày chờ đợi đã đến, đó là ngày chuyển trại để đi học lái máy bay ở Fort Wolter,Texas, tôi lo lắm, vì cái bệnh say gió của mình thế nào cũng bị rớt đài. Hôm đầu tiên ra phi đạo, thằng thầy cho tôi lên chiếc TH 55 nhỏ như cái trứng gà, lại không có cửa, nó bay lên tắp tít mây xanh nghiêng qua nghiêng lại phát khiếp, mỗi lần như vậy tôi phải uốn người vào trong cho máy bay thăng bằng trở lại, chỉ sợ mình rớt ra ngoài. Có nhiều lần tôi phải gồng tay lại nắm lấy thành ghế cho chắc. Sau gần một giờ biểu diễn, thằng thầy đáp xuống phi đạo, nhìn tôi cười cười. Tôi ra hiệu cho nó, ý nói phải ngừng ngay tại chỗ cho tôi nhảy xuống, bằng không tôi sẽ ói thẳng vào mặt nó. Thằng thầy đứng lại cho tôi ói. Tôi ói một cách thoải mái cho dù biết rằng cú ói này sẽ chấm dứt cuộc đời bay bổng cuả mình.


Lạ quá, sau khi đưa máy bay vào chỗ đậu, nó khen tôi chịu đựng giỏi và tiên đoán là tôi sẽ bay được. Tôi vận dụng khả năng Anh ngữ để hỏi là tại sao ói mà bay được? Nó cười cười trả lời:
Chẳng có thằng nào mà không ói ngày nó bay thử đầu tiên cả.
Tôi mừng lắm, thì ra tôi ói là do thằng này nó chơi, có lẽ cái sự quay mòng mòng của má tôi nó không áp phê ở xứ Mỹ này. Chắc là được Chúa Phật độ trì, sau gần một năm tôi thi mãn khóa và đậu. Bạn bè có đứa xì xào rằng tôi đậu vớt.


Về nước và chuyển về Không đoàn 43 Chiến thuật ở Biên Hoà. Một hôm đi hành quân ở biên giới Kampuchia, thả Biệt kích Lôi Hổ. Đang mơ mộng nhìn con suối thì đạn AK nổ như bắp rang, phi cơ tôi như cục sắt rớt cái bịch xuống sườn đồi, tôi chẳng còn nhớ tí ti gì về phương pháp đáp khẩn cấp mà trường đã dạy. Nhìn ra ngoài, thấy chiếc phi cơ móp bẹp như con cóc tiá, cánh quạt chém cây rừng đổ te tua và chiếc cánh quạt cũng te tua chẳng kém ngọn cây rừng. Hai chiếc Cobra của Mỹ hộ tống bắn rocket rầm rầm làm tôi hoảng quá, rút vội cái chốt gắn khẩu đại liên cùng thằng xạ thủ phóng ra rừng chạy một mạch. Chạy khoảng 200 mét, tôi hoàn hồn chút đỉnh và mệt quá, tôi chọn chiếc gò mối cao, căng chiếc càng đại liên ra, chuẩn bị một xạ trường để chiến đấu. Thằng VC nào vô phúc nhào lên là nhất định sẽ sinh Bắc tử Nam. Tôi thấy thiếu một cái gì mà nghĩ hoài không ra, bỗng thằng xạ thủ hỏi:
– Thiếu uý, mình không có đạn à?
Lúc bấy giờ tôi mới nhớ, thì ra vác cây đại liên mà chạy, tôi quên phéng ngay thùng đạn còn nằm trên phi cơ, tôi vội tháo lấy chiếc nòng, rồi vứt cây súng M 60 vào bụi rậm và… chạy tiếp.


Tôi còn một cây P.38 và hai viên đạn, lúc này mới thấy nguy hiểm quá chừng, hai viên đạn thì làm được trò trống gì. Ngày lãnh súng, tôi được phát 6 viên đạn, ráp đầy các lỗ của trái khế trong ổ súng, tôi thấy hơi ít, hỏi ông Phi đoàn phó, ông nói:
– Pilot đi đâu cũng chỉ đeo có một cây súng và hai viên đạn, mày có 6 viên còn ít ỏi gì. Nghe nói thế sau này mỗi lần đi bay gần bãi trống tôi hay bắn bia và cuối cùng còn lại đúng hai viên. Trên tay còn cái nòng súng M 60, tôi nghĩ, Việt cộng đội nón cối, mình lựa thế, dến cho một nòng đại liên bằng sắt lên đầu, có mà trời cứu. Nghĩ thế nên tôi vững bụng đôi chút. Cũng may lần này có hai chiếc gunship hộ tống và mấy chiếc H34 thả Lôi Hổ ở Lào đang bay về gần, xuống bốc bọn tôi về an toàn.
Thấy hai thằng Võ Trang bay vòng vòng có vẻ đỡ nguy hiểm hơn đi thả Lôi Hổ, tôi có ý định xin về bay trực thăng võ trang Gunship. Chưa kịp xin thì hên quá, xếp của tôi cho tăng cường vào Phi đội Gunship. Bay Gunship thì mệt một chút nhưng không phải lơ lửng trên ngọn cây đưa bụng cho chúng bắn.


Một hôm đi hành quân ở gần Bến Thế- Bình Dương, tôi phải yểm trợ cho Bộ Binh hành quân. Quân bạn cho biết họ ở sát bờ nam con rạch, địch ở phía bắc. Tôi nghĩ thầm, mấy cha Bộ Binh hay lừa mình, thôi thì bay cách hướng Nam con rạch hai cây số, bắn về phía Bắc, rồi cách con rạch một cây số ta vòng lại, nếu máy trục trặc thì cũng rớt lên đầu quân bạn. Tôi vào trục, nhắm mục tiêu bóp cò, rocket không nổ, tôi lượn ra mới hay mình bật lầm nút. Tôi nhào vào lại, bắn được hai quả rocket, một quả tịt, một quả nổ ở hướng nam con rạch, thì thấy đạn phòng không bay tứ phía, phi cơ bốc cháy ở bình xăng, tôi phải cho máy bay, bay ở vị thế nghiêng, cho khối lửa dạt ra ngoài, kẻo nó tràn vô phòng lái.

Theo bài bản học khi ở trường lái, nếu máy bay cháy, việc đầu tiên là phải bấm nút release cho hai bó rocket rớt khỏi thân tàu, kẻo nó bắt lửa nổ là bỏ mẹ cả đám. Tôi tính làm như vậy nhưng chợt nhớ lời ông già dặn hồi nhỏ: Đánh nhau, nếu bị thằng hàng xóm đấm vào mặt, không đấm lại được, thì lấy đất cày mà phang vào mái nhà nó, gặp thằng keo kiệt, tiền sửa mái nhà làm nó đau hơn bị đấm thiệt. Nên thay vì release hai bó rocket, tôi bèn bật nút cho nó nổ ”la phan”. Ôi thôi mười sáu quả còn lại thi nhau chui khỏi giàn phóng, quả thì nổ ở hướng bắc con rạch, quả thì bay tuốt sang bên kia sông Sài Gòn nổ ở tận mật khu Bời Lời. Tôi quẹo 180 độ và cho phi cơ nhào đại xuống con rạch gần đó.


Chiếc máy bay cày tung bùn như con cá thòi lòi phóng dưới bãi sình và tôi phóng vội ra ngoài. Cụ mẹ cuộc đời, tôi bị lừa, Bộ Binh nó cách con rạch tới hai cây số. Sau này hỏi lại, tôi được trả lời là nó sợ tài bắn cuả tôi, nếu không nói vậy lỡ tôi bắn trúng đầu nó thì sao. Mà nó hay thiệt, nếu nó ở phía nam con rạch như lời nó nói, thì quả rocket vừa rồi đã làm nó chạy té đái trong quần.

Cũng may số tôi còn lớn, thằng Gunship 2 kề kịp và bốc tôi lên an toàn, bỏ lại chiếc máy bay cháy mịt mù ven bờ suối. Về đến Phú Lợi, tôi mới hoàn hồn hẳn và nhận ra Phi hành đoàn thiếu một người. Tôi hỏi Cơ Phi là thiếu ai, nó nói thằng Xạ Thủ nóng quá phóng ra lúc còn ở cao độ hơn trăm bộ. Và cũng may mắn là nó rớt xuống cái bào và thằng C & C hành quân gần đó bốc lên rồi.


Hôm sau đơn vị cho biết, tôi sẽ được Anh Dũng Bội Tinh, công bắn mười sáu quả rocket, trúng hầm đạn VC gây nhiều tiếng nổ phụ, tôi còn được Chiến Thương Bội Tinh vì vết phỏng trên tay do quên mang chiếc găng tay chắn lửa Nomex, cộng thêm chiếc Phi Dũng Bội Tinh vì tôi bay hay quá, máy bay đã cháy mà còn lết cả mấy trăm thước mới chịu rớt.

***
Trời phú cho tôi cái tính hay sợ chết, sau lần chết hụt này, tôi nhắm xem có loại phi vụ nào ngon hơn bay Gunship hay không.
May thay, phi đoàn trưởng nói tôi có tướng ”sát phi”. Cả phi đoàn có không đầy hai chục chiếc phi cơ bay được, tôi đã nướng hết hai, ông không muốn mất thêm nữa, nên cho tôi bay những phi vụ liên lạc, và bay VIP thật là nhàn hạ.

Một hôm nhận lệnh bay cho Phủ Phó Tổng Thống, đáp ở bãi đáp VIP Air Vietnam. Tôi tưởng là mình sẽ chở tướng Kỳ hoặc bay theo chiếc Triệu Minh Vô Kỵ của ông, tôi đáp chỗ ấn định thì chẳng thấy tướng tá nào, chỉ thấy một ông già râu tóc bạc phơ cùng hai cô bé thơm như mít tố nữ, tháp tùng bằng một anh Đại uý với chiếc máy truyền tin PRC 25. Ông Đại uý hách xì xằng này ra lệnh cho tôi đi Trà Vinh. Tôi hỏi Trà Vinh là ở đâu? Ông trợn mắt nhìn tôi như nhìn một dị nhân, có lẽ ông nghĩ sao có thằng phi công ngu như vậy. Nhướng đôi lông mày, ông nói Trà Vinh nó ở Vĩnh Bình.

Tôi tưởng rằng mình sẽ bay vòng vòng ở Quân khu 3 nên hỏi: Vĩnh Bình có gần Phước Bình không? Ông hỏi: Phước Bình nào? Tôi nói Phước Bình ở gần núi Bà Rá trên Phước Long.
Ông chán đời nói: Mình đi Vùng 4. Tôi nói là không có bản đồ đi Vĩnh Bình ở Vùng 4 vì tôi hành quân ở vùng 3 Chiến thuật, ông nói cứ bay đi rồi ông chỉ.

Tôi bay xuống Vĩnh Bình, ông liên lạc sao đó, Tỉnh trưởng ra đón vào tòa hành chánh, để lại tôi và hai em bé xinh xinh chờ ở phi trường.
Tôi hỏi:
– Hai cô đi đâu mà xuống đây?
– Dạ em đi ăn giỗ ngoại.
Bây giờ thì tôi biết là phi vụ cuả tôi có nhiệm vụ đưa hai cô gái về quê ăn giỗ ông ngoại.
Chiếc xe Jeep cuả tỉnh chạy ra chở thêm mấy người nữa, có ông già búi tó, có bà mặc bà ba. Ông Đại Uý lại ra lệnh cho tôi:
– Mình đi Chợ Lách.
Tôi lại hỏi:
-Chợ Lách nó ở đâu?
Ông chán nản nhìn tôi và lập lại câu cũ: – Bay đi rồi tôi chỉ.
Ông khoác tay chỉ tôi bay về hướng Vĩnh Long, qua con sông Mỹ Thuận, rồi vòng vòng một hồi, ông chỉ một con sông, bảo tôi theo đó mà bay. Đến một con rạch nhỏ, ông dòm xuống một xóm làng và bảo tôi đáp xuống một con đê, gần đồn Nghĩa Quân. Ông ra lệnh:
– Tắt máy rồi mình vào đây ăn giỗ, chiều về.

Bốn thằng Phi Hành Đoàn tụi tôi nhìn nhau, tôi không dám để chiếc máy bay nằm đây cho Nghĩa Quân coi để vào ăn giỗ, sợ vợ nó xúi hút xăng về nấu rờ sô hoặc bỏ muối vào bình xăng chút ra đề khó nổ. Tôi năn nỉ ông cho bọn tôi về Mỹ Tho hay đâu đó để kiếm cơm bình dân mà ăn. Ông nói đi đâu thì đi 4 giờ trở lại đón Phái đoàn. Tôi bực mình cho phi cơ bay về Vĩnh Long đáp xuống bãi nổi ở bờ sông trước dinh Tỉnh trưởng. Một anh Địa Phương Quân ra đuổi, nói bãi đó dành riêng cho tỉnh trưởng, thằng Cơ Phi cương ẩu:
– Tỉnh Trưởng lớn bằng Phó Tổng Thống không? Phi cơ này của phủ Phó Tổng Thống.


Anh Địa Phương Quân chạy vào trong, lôi ra một anh Đại Uý, anh này khúm núm như tôi là Phó Tổng Thống vậy. Anh hỏi tôi cần gì, tôi mượn một xe Jeep đi ăn cơm. Cơm xong tôi phanh ngực áo bay, tụt phẹc ma tuya tới gần háng cho mát, giăng võng nằm ngủ. Ông Đại Uý thỉnh thoảng ra dòm chừng, có lẽ ông thắc mắc, sao Phi hành đoàn của Phó Tổng Thống mà quá bình dân và xấu trai như vậy. Gần bốn giờ chiều, trở lại Chợ Lách đón phái đoàn. Hôm sau kể chuyện lại cho thằng Tuất nghe, nó trợn mắt: – Mày điếc không sợ súng, vùng đó tụi tao ít thằng nào dám la cà vào, bay thấp thì AK nó bắn, bay cao thì hoả tiễn tầm nhiệt SA7 nó chào.

Tôi ngẫm nghĩ, phi vụ nào cũng nguy hiểm cả, như thế làm sao sống nổi cho đến ngày biết yêu. Tôi hỏi ông Phi đoàn Trưởng có phi vụ nào đỡ nguy hiểm hơn không, ông nói:
– Có, ở ngoài Phù Cát bay đỡ nguy hiểm hơn, vì toàn là cát và nước biển, có rớt cũng rớt êm êm.

Thực ra ông chỉ nói chơi thôi, vì tôi là thằng cuối cùng luân phiên thuyên chuyển sau bốn năm ở phi đoàn. Tôi ra Phù Cát, an toàn thật, vì thời điểm này Mỹ cắt viện trợ, một tháng chỉ bay vài phi vụ, còn lại là chuyên học nhảy đầm và luyện Tae Kwon Do.

Đến hôm di tản chiến thuật về Nha Trang, tôi đang uống cà phê ở Câu lạc bộ thì nghe súng nổ tứ tung, chạy ra ngoài thấy lính Không Quân chạy đầy phi đạo, tôi vội chạy ra chiếc phi cơ cuả mình, còn cách khoảng 20 mét thì thấy nó tự động vọt lên trời, bên trong đen ngòm là người. Quýnh quá, tôi vòng ngược trở lại, thấy một chiếc phi cơ cũng đầy là lính, trên ghế lái có một anh mặc đồ bay ngồi đó, chiếc ghế trưởng phi cơ còn trống, tôi phóng lên ngồi, cả phi cơ đều nhìn tôi. Tôi hỏi ông phi công:
– Vọt đi chứ cha, nó tràn ngập bây giờ.
Anh phi công nói:
– Em bay không được.
Tôi vội chụp cần lái, mở máy, cho phi cơ vội vọt lên trời và theo đoàn phi cơ hướng về Nam, đáp xuống Tân Sơn Nhất. Tôi hỏi ông phi công ngồi bên trái:
– Ông là phi công gì mà không biết bay?
– Dạ em chưa ra trường, với lại hôm nay máy bay nhiều quá, mà em thì không có Check list để mở máy.

Đó là phi vụ cuối cùng cuả tôi, nó chấm dứt cuộc đời bay một cách vô duyên, có lẽ cũng giống như nó đã bắt đầu cuộc đời bay bổng vô lý cuả tôi. Nó không bắt đầu bằng mộng mây trời và cũng không kết thúc bằng những chiến công oanh liệt.

Phi công của Không Quân toàn là những anh hùng, những người hào hoa và bay bướm, không hiểu tại sao lại đọa ra một thằng như tôi, vừa cù lần vừa dấm dớ. Hơn 5 năm khoác chiếc áo bay, tôi chẳng làm được cái gì nên tích sự, ngoại trừ lừa được một người con gái khờ, đó là má bầy trẻ của tôi bây giờ. Cho tới nay bà vẫn tin là tôi ngon lắm, hơn hẳn những thằng phi công khác, cho dù cứ mỗi lần tôi gáy, thì theo thói quen, bà vẫn đồng ý bằng câu trả lời cũ ”xạo ke”.
Hiện nay đã ”An cư lạc nghiệp” tại Mỹ, tuy cũng rất cùi đày chẳng kém ai, nhưng vào cuối tuần, tôi cũng hay la cà ở quán cà phê nghe anh em bàn chuyện thế sự.

Quán cà phê chỗ tôi ở, có đủ mọi chuyện dài ”Nhân dân tự vệ”, từ những ông đội đá vá trời một thuở, bây giờ làm Lã Vọng ở nhà ăn trợ cấp, đến những người biết quá nhiều nghề, chẳng nơi nào xứng đáng cho ông làm, bèn đi thụt bi da chờ thời. Tôi biết mình từng là pilot xạo ke thủa nọ, không dám gáy nồ trước đám đông, chỉ ngồi nghe kể chuyện thế thái nhân tình.

Hôm qua, có một ông sau khi kể thành tích long trời lở đất, thấy tôi ngồi im như Bụt, ông hỏi:
– Thế chú ngày xưa làm gì?
Bản tính bần cố nông của tôi tự nhiên vùng lên, không tự chế được mình, tôi gáy:
– Bay cho Phủ Phó Tổng Thống.
Cả quán bi da quay lại nhìn tôi, có nhiều câu bàn tán nhưng một câu tôi thấy thấm thía nhất do một anh thanh niên nói: “Xạo ke.”


Chuyện đóng góp vào cuộc chiến của tôi không có gì đáng ghi vào công trận, mà toàn là những chuyện làm mất mặt pilot và binh chủng. Tôi chỉ mong các phi công của Không lực thứ lỗi cho vì tôi bắt đầu nhận ra chân lý: ”Nhận cái dở mình có, hay hơn đánh bóng cái hay mình không có”.

Tuần rồi dự lễ ra trường của đứa con gái, nhìn lên câu khẩu hiệu mà lớp 2001 dùng làm kim chỉ nam cho cuộc đời tương lai của chúng, tôi suy nghĩ mãi. Câu nói rất giản dị của Tony Arata: ‘I will do my dreaming with my eyes wide open and I will do my looking back with my eyes closed”.

Tuy phải lưu vong ở quê người, ngày ngày đóng vai thằng phu ống nước, kiếm đồng bạc nuôi con ăn học, khó có hy vọng trở về quê cũ cầm lại cần lái chiếc trực thăng, tôi vẫn cầu mong sao, kiếp sau nếu có làm người, tôi sẽ cố gắng trở thành một phi công đàng hoàng hơn để xứng đáng với lời hát: ”Phi công ra đi lướt trên ngàn mây gió”.

Tôi cũng mong sao tập thể phi công không buồn lòng khi có một thằng ”Pilot ke” dám kể chuyện ”Xạo ke” mà tỏ ra chẳng ”ke” gì về dĩ vãng, ở cái mảnh đất tạm dung này. Thật là đa tạ, đa tạ.

Phương Toàn