Cảnh sum họp của những người con có cha tập kết ra Bắc trở về Nam sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, tưởng chừng vui tươi cảm động đầy nước mắt trong một màn tái ngộ, đã trở thành một cảnh ngỡ ngàng xót xa.
Lưu Quý Kỳ, vụ trưởng
báo chí ban tuyên huấn trung ương và tổng thư ký (TTK) hội nhà báo bắc việt,
năm 1954, đã ngu ngốc nghe lời dụ dỗ của lũ thổ phỉ bắc việt, cùng vợ ra đi tập
kết, để lại miền Nam 2 đứa con, một trai mới lên 1 tuổi
và một gái mới lên 3, cho bà ngoại nuôi. Người con trai bị bỏ lại Miền Nam khi
mới 1 tuổi nay là Thiếu Úy Lưu Đình Triều thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh – Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa, chờ đợi cái ngày hội ngộ với cha mẹ sau thời gian ly tán 30
năm, đã thấy rõ ràng mình vẫn là kẻ thù của cha mẹ và những đứa em sinh ra ở
miền bắc, khi bọn chúng đã lố bịch hát trước mặt anh câu “xô lên xác thù hung
bạo!” Kẻ thù đó là đứa con bị bỏ lại 30 năm về trước.
Lưu Quý Kỳ, cũng giống
như thân phụ nhà văn Phan Nhật Nam, hay biết bao nhiêu người cha dại dột ngu
ngốc theo cộng sản đi tập kết trở về, rút cuộc chỉ có một câu động viên con
đang ở trong nhà tù tập trung không có bản án: “Ráng học tập, lao động tốt cho
mau về với gia đình!” (theo Bên Thắng Cuộc. T.1).
-----
Trong thời gian chúng
tôi đi tù ở huyện Tân Kỳ thì nhà ông anh rể tôi ở huyện Đức Thọ cùng trong một
tỉnh, thư không có, mà thăm cũng không. Nghe gia đình ở Huế kể lại ông anh rể
tôi viết thư lên án gia đình bên vợ là “đã gây nhiều tội ác” trong khi nhà chỉ
có mình tôi bị động viên vào lính, còn lại là 4 người làm nghề dạy học.
-----
Lê Khắc Nghi, chú họ
người viết bài này, có vợ là một hoa khôi làng Văn Xá, “cưới nhau xong là đi!”
Ở miền Nam đứa con trai duy nhất lớn lên, “được” VC xã dụ dỗ tham gia du kích
vì có cha đi tập kết, trong một cuộc hành quân bị nghĩa quân miền Nam bắn chết.
30 năm sau, ông chú trở về mang theo một bà vợ răng đen do đảng “cơ cấu” và mấy
đứa con rặt Bắc, “cháu bác Hồ.”
Ngày trùng phùng hóa
ra là ngày khởi đầu cho một giai đoạn ngỡ ngàng cay đắng. Sum họp như thế thà
chia lìa còn hơn! Họ không còn giống nhau từ sự hiểu biết, giọng nói, lối sống
và tư tưởng. Vợ chồng mà đó, anh em ruột thịt mà đó, cha con mà đó, nhưng xa
cách nghìn trùng, càng dùng ngôn ngữ để tiến lại gần nhau, càng thấy xa nhau.
Trong Đèn Cù, nhà văn
Trần Đĩnh kể chuyện một ông cụ thổi kèn Tây trong ban nhạc của triều đình Huế
thời Bảo Đại, tập kết ra Bắc, sau ngày “chiến thắng” chỉ còn độc một đôi dép
râu, không có cả... bít tất. Ông cụ nói như lời trăng trối: “Cảm ơn ông, đoàn
với ai, tụ với ai? Vợ con chưa biết hiện ở đâu, đi theo nhà khác mất rồi có
khi. Họ hàng thì chết trong Tết Mậu Thân 1968... Tôi về đó vẫn lại trơ làm
thằng tập kết đợt hai trơ trọi một mình... Ra đi để thống nhất đất nước, bây
giờ ai thống nhất với thân già tôi?”
Trần Đĩnh cũng như
triệu triệu người miền Bắc ngây ngô, mơ màng thằng dân trong này bị bóc lột tận
xương tủy không có nổi cái chén mà ăn cơm, trong hành lý vào Nam của TrầnĐĩnh
có năm bảy thứ cứu đói được mang vào, trong đó có cả một cái thùng nhựa đựng nước
kẻo sợ trong Nam không có được cái miểng sành chăng?
Người ngoài bắc nô nức
đi Nam xem chúng nó bị bóc lột đến cỡ nào, không ngờ “trong kia dân nó ối chà
giàu ơi là giàu. Vàng chỉ 50 đồng Cụ 1 cây. Tủ lạnh vài chục đồng một chiếc.
Lạnh cứ là liên lu liền lù suốt năm. Bảo cho tay vào lâu là hóa ra đá!” hay “buồng
nào cũng máy lạnh. Xin lỗi anh, tôi thấy sướng nhất là đi toa lét!”
Dân miền Nam quả là
không đợi không chờ ai vào giải phóng. Câu chuyện của Minh Trường, nguyên phóng
viên nhiếp ảnh Thông Tấn Xã Bắc Việt, kể lại cái hí hửng của kẻ “giải phóng”
khi vào Sài Gòn đã bị một thau nước lạnh dội vào mặt. Bà mẹ ra mở cửa, thấy mặt
anh thì vội vàng chấp tay lạy:
– Anh còn sống thì tôi
mừng nhưng anh về thì tất cả các đứa con bao lâu nay sống với tôi, chăm sóc
phụng dưỡng tôi đều đã bị các anh lôi đi tù hết mất rồi. Anh về thì nhà này tan
nát, tôi thì trơ trọi. Thôi, tôi xin anh, anh đi với đồng chí của anh đi cho mẹ
con tôi yên!
Lê Khắc Hoan, một ký
giả, nhà văn cũng là nhà giáo “Bên Thắng Cuộc,” đã viết cuốn “Trăm Năm Ly Hợp”
nói về chuyện đoàn tụ và ly cách của dòng họ Lê Khắc từ một ngôi làng nhỏ của
miền Trung sỏi đá: Văn Xá, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau 30 năm tập kết,
cán bộ Bắc Việt Lê Khắc Hoan trở về, hí hửng tưởng bà con dòng họ này ai cũng
chờ đợi, hân hoan đón tiếp. Nhưng sự thật hoàn toàn khác những điều ông đã suy
nghĩ! Ông về, vẫn mang theo loại chữ nghĩa nghịch với lỗ tai người miền Nam, có
đoạn ca tụng “bác Hồ,” dùng chữ “ngụy quyền Sài Gòn,” kêu gọi bà con “về đầu
tư, xây dựng đất nước,” ca tụng làng Văn Xá Anh Hùng chống Mỹ (!), thiết nghĩ
không có sức thuyết phục để anh em trong dòng tộc ngồi lại với nhau, mà chỉ gây
thêm chia rẽ.
Nhưng khi tác giả trở
về Nam, một số thân tộc đã bỏ nước ra đi, một số phải chịu cảnh tù đày, một số
khác thất vọng, cay đắng, trừ những người ít bị thương tổn, không ai muốn liên
lạc hay hợp tác, nhận họ với phía “giải phóng.” Ông tác giả này đã thú nhận gặp
phải những sự lạnh lùng, ngỡ ngàng cay đắng, đã gửi đi hằng trăm e-mail, lời
nhắn cho bà con, nhưng không hề được hồi âm, và ngay đối với người viết bài
này, đứa em họ ở miền Nam, cũng ngần ngại không muốn cho tác giả biết địa chỉ,
dù là địa chỉ e-mail. Điều này chứng tỏ, “miền Bắc nhận hàng” đã xong, nhưng
miền Nam vẫn còn miễn cưỡng, chưa muốn “nhận họ.”
Cuối cùng, trong một
sự thật cay đắng, người đi tập kết trở về đã phải thốt lên: “.... Các mảnh vỡ
từ hai bên cố ráp vào vẫn rời ra, xộc lệch không tài nào ăn khớp!”
Sau 30 năm, khi con
tàu xuyên Việt có thể nhả khói, kéo những hồi còi, chạy suốt, nối Hà Nội-Huế
với Sài Gòn, nhân gian bao nhiêu dòng họ tưởng là đoàn tụ, nhưng đây là lúc
chia cách lớn nhất, không còn là vì khoảng cách của sông núi, mà bởi lòng người
ly tán, tưởng chừng, rồi đây cả trăm năm sau, cũng chưa thể hàn gắn được.
Để kết luận bài này
tôi xin mượn lời của Lê Khắc Hoan, một nhà văn tập kết trở về sau ngày “thống
nhất:” “Hai phần ba thế kỷ trong vòng xoáy đối đầu tàn khốc, rốt cuộc, không
một người nào ở phía nào được hạnh phúc vẹn tròn. Cho dù công danh hiển đạt. Cho
dù vợ đẹp con khôn. Cho dù tiếng tăm lừng lẫy, chính trực nhân từ, tài ba uyên
bác cũng nổi chìm quăng quật trong cuộc chiến đa diện, đa phương...”
Chúng tôi nghĩ khác,
hạnh phúc sẽ được vẹn toàn, nếu từ nửa thế kỷ trước, nếu đất nước này không bất
hạnh có nhân vật Hồ Chí Minh, tên tay sai bán nước cho ngoại bang Trung Cộng,
mang cái thứ “chủ nghĩa cộng sản quái thai, hoang tưởng” từ Liên Xô về để đày
đọa dân tộc Việt Nam trong suốt bao nhiêu năm dài.
Nhưng chắc chắn rồi
mai đây chúng ta sẽ có “hạnh phúc vẹn toàn”, đó là ngày chế độ cộng sản độc
tài, tàn ác, quỷ quyệt, hiểm độc, gian xảo, hèn hạ, tàn lụi trên Quê Hương Việt
Nam bởi theo quy luật của Tạo Hóa, không có bất cứ một chế độ độc tài tàn bạo nào
có thể tồn tại mãi mãi; kể cả những tên bạo chúa Tần Thủy Hoàng, Adolf Hitler,
Mussolini, Stalin, Leonid Illich Brezhnev, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình,
Nicolae Ceausescu, Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, ...
Cuộc chiến đấu này vẫn
còn đang tiếp diễn chứ chưa bao giờ và chưa bao giờ thật sự chấm dứt như bọn
phỉ quyền Hà Nội vẫn tưởng bở rêu rao và dòng sông Bến Hải sẽ vẫn muôn đời còn
đó.
Huy Phương
Thống Nhất Và Nỗi Đau Ly Tán Của Dân Tộc (Tạp Ghi Huy Phương) — Bức Tranh Vân Cẩu

No comments:
Post a Comment