Pages

1 Đô La Có Thể Mua Được Gì Ở Các Quốc Gia Khác Nhau?

1 đô la, khoảng 22 ngàn đồng, mình nghĩ bạn sẽ rất thú vị nếu biết được sẽ mua được những gì tại các quốc gia khác nhau với số tiền này.

Ở Úc, số tiền này chỉ đủ cho một cuộc gọi điện thoại di động với thời lượng 60 giây.

Ở Canada, 1 quả táo có giá bán 1 đô.

Ở Mexico, bạn có thể mua được 48 quả chuối cũng với số tiền này.

Ở Greenland, bạn mua được một lít xăng.

Ở Bỉ là được một vỉ kẹo singum.

 1 đô la, bạn sẽ được đưa đi khắp nơi trong thành phố bằng taxi khi đến Honduras.

Nhưng ở Ả Rập Saudi, bạn chỉ mua được 1 dặm đường đi taxi.

Ở Phần Lan, một lần đi toilet công cộng phí 1 đô la.

Nếu đến thị trấn Gangi của Italy, bạn có thể mua được cả 1 ngôi nhà.

 Ở Jordan, bạn sẽ mua được 1 bữa ăn với một thỏi socola, một lon pepsi và một bịt khoai tây chiên.

 Ở Kenya, 1 đô la mua được 8 nhánh cải xoăn, 4 trái cà chua, 4 củ hành.

Ở Cộng hòa Séc, 1 đô la sẽ mua được 3 chai bia.

Ở Bồ Đào Nha, 1 đô la bạn có thể thưởng thức được một tách espresso.

Ở Na Uy, 1 đô la dường như không mua được gì cả.

Nguồn: .daikynguyenvn.com

Trốn Trại Qua Campuchia - Phần 2 - Nguyễn Ngọc Thạch


Má tôi thì già yếu không có làm gì ra tiền . Hồi truớc Má tôi đi may đồ quần áo ở trong nhà thương Mỷ Tho , nhưng đã nghỉ lâu rồi .
Sau này mới biết là ở nhà không có đủ tiền để mua gạo , đôi khi còn phải bán máu để đổi lấy mấy bát cơm , thì nói gì đến thức ăn sang trọng .

Thì ra em tôi chạy qua Chợ Củ để xin Cô tôi . Cô Ba tôi có mở tiệm ăn , Cô rất thương tôi , vì vậy khi hay tin tôi về , cô tôi liền gởi cơm và đồ ăn rất ngon qua cho tôi .
Ở đây đuợc mấy ngày thì vợ tôi xuống thăm tôi làm cho tôi càng thêm lo sợ , vì sợ Công An theo dõi .
Tôi mới tính tìm đuờng vuợt biên chớ ở đây lâu thế nào cũng bị bại lộ .
Mà tìm đuờng dây để vượt biên không phải là chuyện dễ dàng . Phần thì không có tiền , phần thì không dám đi lại nên cũng không biết cách nào để vuợt biên , mà tội vuợt biên lúc đó bị coi như là tội phản quốc , chạy theo đế quốc , bọn Công An Biên Phòng bắt đuợc là chỉ có chết . Hồi đó đã có xảy ra những cảnh vuợt biên bị đổ bể , bị Công An tàn sát như ở cầu Chữ Y Sài Gòn , như ở bãi biển Vũng Tàu , nhu ở kinh Chợ Gạo hay ở cửa biển Gò Công …

Họ tàn sát không nương tay, mặc cho tiếng khóc trẻ thơ , hay những lời van xin lạy lục , của những nguời khốn khổ cùng đuờng .
Tôi dự định nếu không tìm được đuờng đi bằng ghe tàu , thì như đã hẹn với Thu và Bình , là sau một tháng chúng tôi sẽ gặp lại nhau , để bàn tính để đi bằng đuờng bộ .

Vợ tôi lại xuống một lần nữa và lần này có cả đứa con gái đầu lòng của tôi .
Coi như vậy là tôi ở đây đuợc một tuần lể và vợ tôi đem tiền xuống lần này là để mua vé xe cho tôi đi Cà Mau vào sáng sớm mai , vì hy vọng ở Cà Mau dễ kiếm đuờng vượt biên hơn .

Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào khoảng 7 giờ , thì có một người anh bà con Cô Cậu , đi cùng với một nguời bạn , xuống thăm để từ giã Má tôi , để sáng sớm mai họ lên đường đi Kampuchia , và từ đó sẽ tìm đuờng vuợt biên , và anh muốn xin địa chỉ của em tôi , hiện đang sống ở Mỹ , để anh liên lạc khi cần .
Thật là một điều quá may mắn cho tôi vì sau khi anh biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo tôi đi theo luôn .
Thế là phải trở về Sài Gòn ngay trong đêm nay để sáng sớm mai lên đuờng đi Kampuchia . Tôi từ giã Má tôi và để đứa con gái đầu lòng ở lại với Bà Nội .

Tôi và vợ tôi đi theo Long và Nghĩa ra đón xe để về Sài Gòn . Tôi ra đi mà lòng buồn vô hạn , rồi không biết sẽ đi tới đâu trên buớc đuờng bôn ba vô định này .
Ở lại Mỷ Tho thì không được , mà đi qua Kampuchia thì cũng không biết ra sao , thật là đau lòng truớc cảnh chia tay , rồi đây không biết có còn được gặp lại nhau .

Trong đêm đó hai bà cháu đã tụng niệm suốt đêm để cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được bình an . Trời đã tối lúc đó khoảng 9 giờ đêm nên không còn xe chạy về Sài Gòn . Chúng tôi đón chiếc xe lôi đạp để đi vô ngã ba Trung Lương , hy vọng ở đó sẽ có nhiều xe miền Tây lên , dể đón hơn .
Ông Xe Lôi , đạp không muốn nổi , vì trên xe có tới 4 nguời , nên chúng tôi phải thay phiên nhau nhảy xuống để đẩy phụ , nhứt là khi lên dốc cầu Trung An , thì phải nhảy xuống hết rồi qua cầu mới nhảy lên lại .
Vô tới ngã ba Trung Lương là trời đã tối , nên không còn thấy xe miền Tây nào hết , mà chỉ thấy có một chiếc xe hàng bị hư máy và nguời tài xế đang sửa chửa .

Chúng tôi mon men lại gần tìm cách làm quen rồi dọ hỏi xin quá giang về Sài Gòn , nhưng ông tài xế nhìn chúng tôi như nghi kỵ điều gì nên lắc đầu trả lời một cách sẳn giọng là xe đang hư mà làm sao cho quá giang đuợc , vì vậy chúng tôi lại lủi thủi đi tiếp .

Ở đây có một trạm Công An khá lớn để xét xe từ miền Tây lên , nên có nhiều Công An ở đồn bót này , nên trong đêm tối mà đi lang thang ở đây cũng nguy hiểm lắm . Tình cờ có một chiếc xe lô chạy từ Mỷ Tho lên huớng về Sài Gòn , chúng tôi mừng quá đón ngoắc lại nhưng xe không ngừng mà chạy luôn một khoảng , rồi bỗng đâu xe dừng lại và lùi lại cho chúng tôi quá giang .
Bác Tài chỉ cho đi quá giang một quãng đuờng lên đến Tân Hương để đón xe khác mà đi , vì xe này đi về nhà để nghỉ nên không có đi Sài Gòn .

Trong khi xe đang chạy và qua tài giao thiệp của anh Long , cũng là Lơ Xe , nên anh biết nhiều nguời trong nghề xe đo nên câu chuyện dần dần trở nên thân mật và Bác Tài dần dần có cảm tình với chúng tôi . Và sẳn đó anh Long đề nghị bao xe đi Phú Lâm rồi bận về anh sẽ phụ giúp tìm khách cho chuyến trở về .
Vợ tôi móc trong túi ra đếm còn 200 đồng nên đề nghị bao xe 200 đồng và nhờ anh Long nói thêm vô , nên sau cùng Bác Tài chịu đi Phú Lâm với giá 200 đồng .

Thật là hết sức may mắn , chớ nếu tới Tân Hương chưa chắc gì có xe để đi , mà nếu không lên kịp Sài Gòn trong đêm nay thì ngày mai xe sẽ đi sớm rồi , sẽ mất đi một dịp may hiếm có ngàn vàng .
Khi xe chạy qua khỏi trạm Công An Tân Huong một quảng , thì gặp một tốp Công An ra chận đuờng . Tôi thấy nguy vì trên xe không có ai khác , chỉ có gia đinh tôi , nên rất khó xoay sở trà trộn . Tôi có ý dò hỏi Bác Tài coi tính sao , nhung Bác Tài cho biết là xe không có ngừng đâu vì tụi này là tụi chuyên chận xe dọc đuờng để ăn cuớp , Bác Tài rất rành về bọn này . Tôi nghe thế cũng thấy mừng thêm , vì thà là chạy luôn nó có bắn theo cũng khó trúng .
Bác Tài cho xe giảm tốc độ rồi khi đến gần bọn chúng thì tống hết ga vuợt nhanh qua , nên chúng trở tay không kịp , nên xe chạy vuợt qua một cách êm xuôi .

Nhưng tôi lại lo cho trạm kiểm soát kế tiếp sợ tụi nó gọi máy báo lên chận bắt xe lại thì còn nguy hiểm hơn . Tôi hỏi ý Bác Tài thì Bác Tài nói là tụi nó đâu có máy móc gì đâu mà báo đừng có lo , nên tôi càng yên tâm tin tuởng Bác Tài muôn phần . Xe qua khỏi Tân An , Bến Lức , Bình Chánh rồi vào Phú Lâm một cách êm xuôi .
Sau khi trả tiền xe xong xuôi là chúng tôi chạy đi ngay vì trời đã tối rồi mà còn phải chạy lo kiếm mượn tiền để đi .

Chúng tôi về nhà của Nghĩa cũng ở gần đó , vợ chồng tôi muợn chiếc xe đạp để đạp vô Phú Thọ . Vô tới nhà chị Đồ là đúng nửa đêm , giờ giới nghiêm . Chị Đồ không có sẳn vàng chị rút chiếc nhẩn đang đeo trên tay 2 chỉ vàng đưa cho tôi mượn đở .
Tôi đạp xe đạp chở vợ tôi trở về nhà của Nghĩa trong lúc đã quá giờ nghiêm nên cũng sợ bị hỏi giấy tờ hay bị bắt lại thì trể chuyến xe sáng sớm mai đi . Tôi đạp xe lên dốc cầu Minh Phụng không nỗi , vợ tôi phải xuống xe đẩy phụ qua cầu , nguời của tôi lúc đó rất là ốm yếu xanh xao .

Về tới nhà Nghĩa , là chúng tôi phải đi ngay đến chổ đậu xe , để kịp chui vô trong xe sắp xếp truớc khi trời sáng . Đây là chiếc xe hàng dân sự bị VC trưng dụng để chở chiếu qua Nam Vang tiếp tế cho bộ đội VC bên Kampuchia .
Long là Lơ Xe của chiếc xe này nên mới dấu Nghĩa và tôi vô trong đống chiếu mà tài xế không hay biết gì .
Sau khi sắp lại đống chiếu , vạch ra một lổ vừa đủ để hai đứa tôi chui vô , xong rồi Long mới gác hai cây gỗ đà ngang trên đầu rồi sắp chiếu phủ kín lên như cũ rất là kín đáo .

Chúng tôi đem theo một bình nước và hai ổ bánh mì với một gói muối .
Ngoài hai chỉ vàng của chị Đồ cho muợn , vợ tôi đưa luôn chiếc nhẫn cuới đang đeo ở tay đưa cho tôi , như vậy tôi mang luôn hai chiếc nhẫn cuới . Lúc đó cũng khoảng 3 ,4 giờ sáng , vợ tôi và má của Nghĩa cũng vẫn còn ngồi đâu đó để chờ sáng ra xe chạy . Long ngồi ở ngoài nên có cho tụi tôi biết là vợ tôi và má của Nghĩa khóc nhiều lắm , vì không biết chúng tôi đi làm sao , vì không ai có tiền hay có vàng đem theo , không biết rồi sẽ đi đến đâu . Riêng tôi thì tôi quyết ra đi mặc dầu không biết ra sao , nhưng vẫn còn tốt hơn là ở lại Việt Nam .

Sáng sớm hôm sau xe rời bến để đi Nam Vang , nhìn qua khe ván ở sàn xe trời còn lờ mờ nghe tiếng nguời nói lao xao mới biết là vừa qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền . Khi đến trạm kiểm soát biên giới thì họ chỉ xét qua loa vì đây là chuyến xe công tác chở đồ cho bộ đội VC . Xe chạy càng nhanh đống chiếu trên đầu càng đe nặng , vì cây gỗ chận trên đầu không còn ở nguyên vị trí củ , mà vì sự lúc lắc của chiếc xe đa làm lệch đi và hai đứa tôi phải đưa lưng chống đở sức nặng bên trên đè xuống . Tệ hại hơn nữa là dọc đuờng VC đón xe đi quá giang nên họ ngồi trên đầu chúng tôi . Nghe tiếng họ nói chuyện với nhau thì biết là VC đang ngồi ở ngay trên đầu mình .

Chúng tôi phải rán đưa lưng ra chịu đựng , vì chỉ sợ nó sụp xuống thì bị lộ ngay , rất là nguy hiểm . Khi tiểu tiện thì phải đợi lúc xe chạy nhanh rồi mới dám tiểu qua khe hở của ván sàn xe mà phải tiểu từ từ để bên ngoài không thấy không biết .
Đến chiều thì xe tới nơi đậu vào một chổ nào đó mà tôi nghe có tiếng nhạc của những bản nhạc ngày xưa .
Tôi mừng thầm vì được nghe lại những tiếng hát quen thuộc đầm ấm nồng nàn tràn đầy kỷ niệm của ngày truớc . Tiếng nhạc hoà lẫn tiếng nguời nói chuyện lao xao gần bên cạnh xe .
Chúng tôi vẫn nằm im trong xe chờ khi nào có hiệu lệnh của Long thì mới ra đuợc .

Một hồi lâu sau khi bên ngoài hoàn toàn im vắng và khi nghe ba tiếng hiệu lệnh của Long thì chúng tôi chui ra . Khi nhảy xuống xe , tôi không thể đứng được vì bị ngồi lâu trong thế co ro nên chân bị tê cứng , mà Long thì thúc hối phải đi khỏi nơi đây ngay vì sợ tài xế và an ninh đoàn xe họ biết , nên tôi và Nghĩa phải cố lết đi ra khỏi xe thật xa .

Nhìn chung quanh , đây là một bồn binh khá lớn ở cuối đại lộ , bên cạnh một sân vận động , xe đậu một đoàn dài chừng vài chục chiếc , tài xế và Lơ Xe khá đông , có nhiều xe họ mang theo cả gia đinh vợ con với đồ đoàn nồi niêu soong chảo , nên tôi thấy cũng dễ trà trộn ẩn thân . Tối đó tôi và Nghĩa ngủ ở một đám cỏ bên cạnh đường khoảng giữa đoàn xe và không dám gần xe nào cả vì sợ họ báo với an ninh đoàn xe .

Ngay tối hôm sau , tôi bán chiếc nhẩn cuới đuợc 75 đồng Riel , tiền Kampuchia , và nhờ Long môi giới mời một số tài xế Lơ Xe ra quán nuớc uống cà phê nghe nhạc , để tìm cách lân la làm quen gây cảm tình với họ . Tôi và Nghĩa đóng vai Lơ Xe , bạn với Long .
Vì Nghĩa cũng là Lơ Xe nên nói chuyện dễ dàng , còn tôi thì cảm thấy hoàn toàn xa lạ , nên trong các câu giao tiếp tôi thuờng cuời nhiều hon là nói vì sợ bị bại lộ tông tích .

Ban ngày thì ra chợ Nam Vang , bữa đầu thì đi bằng xe lôi cho mọi nguời thấy , và vì không biết đường , mấy lần sau thì đi bộ . Đi ngang qua mấy con đuờng rất đẹp với hai hàng cây phủ mát bên đuờng , với những ngôi biệt thự sang trọng kiến trúc theo kiểu villa của Pháp , giống nhu khu đường Duy Tân , Yên Đổ ở bên xứ mình .
Mấy ngôi nhà sang trọng đó bây giờ là dinh của VC , treo cờ đỏ sao vàng và có lính canh truớc cổng . Mỗi khi đi ngang qua thấy hơi chùng chân vì sợ nó hỏi giấy tờ bất tử .

Uống nuớc phong tên ở gần đó , ăn cơm thì mua của mấy gánh bán hàng rong , cơm một dĩa 10 đồng Riel . Ra ngoài chợ thì đi lòng vòng coi nhìn cái này cái nọ cho hết thì giờ , thỉnh thoảng Công An chạy ruợt đuổi bắt người ở trong chợ , làm mình cũng sợ giật mình . Tôi thì có ý định tìm mua một quyển sách địa lý để coi bản đồ vùng Battambang , Siem Rệp , vùng biên giới Thái Lan . Họ bày bán sách cũ rất nhiều nhưng đều là tiếng Miên .
Tôi lựa xem mấy cuốn sách có hình bản đồ rồi mua một quyển . Nhưng vì tôi không biết tiếng Miên mà mua sách Miên trong đó có hình bản đồ địa lý , nên họ có ý nghi ngờ . Mua xong tôi lật đật đi bộ về chổ đậu xe vì sợ họ báo với Công An chợ .

Sau khi nghiên cứu bản đồ để biết địa thế , đường đi nuớc buớc , cũng như khoảng cách bao xa . Tôi cố học thuộc lòng vùng Battambang , Siem Rep , vùng gần biên giới Thái Lan , rồi xé bỏ quyển sách đó ngay .
Lúc bấy giờ bên Miên hoàn toàn do VC kiểm soát , thỉnh thoảng có mấy tên lính Miên trẻ mặt còn non choẹt , mang khẩu AK dài đụng tới đất .

Ở đây họ mắc loa phóng thanh cứ sáng sớm và chiều tối là nghe tiếng nhạc Miên , một âm điệu đều đều nghe buồn não ruột , nghe nhớ nhà , nhớ vợ nhớ con , nhớ quê hương mình vô cùng . Cuộc đời tôi cũng không ngờ lại lưu lạc đến noi đây , xứ lạ quê nguời , rồi cũng không biết ngày mai sẽ ra sao . Nghĩ lại thân phận mình , lêu bêu bình bồng , mà cảm thấy buồn vô hạn .

Tôi lân la mấy quán nuớc làm quen hỏi chuyện để tìm đuờng đi , thì đuợc biết là xe lửa chạy từ Nam Vang lên Battambang đã bị giật mìn không còn chạy nữa , bây giờ chỉ còn đuờng xe , nhưng VC đặt rất nhiều nút chận kiểm soát để chận bắt đào binh , nên rất khó mà lọt qua đuợc . Tôi ra phía đầu thành phố đường đi về huớng Battambang để xem trạm kiểm soát họ xét ra sao . Tôi thấy rất ít xe đi về phía đó và họ kiểm soát rất kỹ . Xe thì không thấy loại xe đò chở khách , mà toàn là xe chở hàng hay xe quân sự .
Vả lại tôi không biết tiếng Miên nên rất ít hy vọng thoát qua đuợc , giá mà còn xe lửa thì tốt hơn .
Ở đây đuợc 3 ngày thì nghe tin đoàn xe được lệnh đi xuống hải cảng Kompong Som tức là Sihanoukville .

Tôi không biết hải cảng này ra sao , nhưng nghe nói ở đó có tàu ngoại quốc ra vào . Trước đó tôi có dọ hỏi đuờng lên Battambang , thì họ nói là phải có nguời dẫn đuờng và phải trả bằng vàng , ít nhứt là hai lượng . Trong mình tôi chỉ đuợc hai chỉ vàng thì làm sao mà đi và hơn nữa chúng tôi không biết tiếng Miên nên rất khó khăn , thành ra tôi đã bỏ ý định đi lên Battambang . Bây giờ nghe tin đi xuống hải cảng Kampong Som thì tôi thấy cứ đi đại xuống đó rồi sẽ tính sau , dầu sao ở hải cảng cũng còn có hy vọng hơn .

Buổi trưa hôm đó tôi và Nghĩa ra chợ mua một nải chuối , lên chùa Năm Tháp gần đó để cúng Phật , để cầu xin Đức Phật Từ Bi độ trì đưa đuờng dẫn lối cho chúng tôi thoát ra đuợc khỏi nạn Cộng Sản . Sau khi quỳ lạy cầu nguyện Đức Phật xong , khi đứng lên là không còn thấy nải chuối đâu hết , mà trong lúc chúng tôi quỳ lạy thì có nguời tới chớp nải chuối đi mất thật là nhanh .
Đêm đó suy tính cách theo xe để đi , vì Long bảo phải tìm xe khác mà đi , chứ không được đi theo xe cũ vì sợ tài xế biết . Trong thời gian mấy ngày ở đó tôi cũng đã quen biết nhiều nên họ nhận cho tôi đi theo . Đoàn xe đi đến trạm kiểm soát thì ngừng lại để xét truớc khi ra khỏi thành phố , nhưng vì đoàn xe này có sự vụ lệnh đi công tác xuống hải cảng để chở hàng cho bộ đội VC nên không bị lục soát hay hỏi han gì và qua trạm kiểm soát này một cách dễ dàng .

Mời xem tiếp phần 3
Nguyễn Ngọc Thạch ( Khoá 20 Võ Bị Đà Lạt ) 

Học Cách Chấp Nhận Là Một Bước Tiến Lớn Để Trưởng Thành

Nếu như bạn không thể thay đổi được sự thật, vậy thì hãy học cách chấp nhận nó. (Ảnh: blog.daum)


Cuộc sống này, sẽ không ai để tâm tới sự uất ức của bạn, không ai để ý đến nỗi thất vọng của bạn. Vậy nên, khi đối diện với thực tế, phải học cách chấp nhận rằng, mọi thứ không phải sẽ đều như ý muốn…

Nếu như bạn không thể thay đổi được sự thật, vậy thì hãy học cách chấp nhận nó. Khi ai đó thất tín với bạn, bạn buông lời chỉ trích thì liệu có thể thay đổi được gì hay không? Đương nhiên không thể! Vậy thì hãy tiếp nhận nó, coi đó như một bài học.

Khi có người lừa gạt bạn, bạn vạch trần họ thì liệu có thể thay đổi được sự thật rằng họ đã lừa bạn hay không? Không thể! Vậy thì hãy chấp nhận nó, chấp nhận thực tế rằng, vì bạn có giá trị, nên người khác mới bỏ công lừa gạt.

Khi ai đó nói xấu bạn, bạn tranh luận với họ liệu có thể rửa sạch ác ý của họ dành cho bạn hay không? Không thể! Vậy hãy chấp nhận nó. Cuộc sống không thể vừa mắt tất cả mọi người cho được, người nói lời ác, thì tai họ sẽ nghe thấy đầu tiên.

Khi người thân yêu của bạn đã rời xa mãi mãi, bạn than trời trách đất liệu có thể mang họ quay trở lại hay không? Tất nhiên là không thể! Vậy hãy chấp nhận hiện thực tàn khốc đó, cuộc sống là như vậy, có đoàn tụ thì có ly tán, có hợp ắt có tan.

Ở đời, không có sự tình nào là thực sự khó khăn, chỉ có cái tâm này đang gây cản trở. Thống khổ, trắc trở, lừa gạt, hãm hại, yêu và hận… chẳng qua chỉ là một quá trình. Nắm bắt được hiện tại hay nắm bắt tương lai rốt cuộc cũng là một quá trình như thế.

Điều bạn mong chờ có phải là ngày mai tươi sáng không? Nhưng ngày mai thực sự sẽ tốt đẹp hơn sao? Ngày mai bạn sẽ thực hiện được ước mơ của mình sao? Chỉ có yên lặng, kiên nhẫn chờ đợi, ngày mai nhất định sẽ càng thêm tươi đẹp.

Tỉnh táo lại suy nghĩ một chút, thực ra mỗi một lần đau khổ, chính là một lần trưởng thành. Sống một ngày, chính là có phúc một ngày, cần phải trân quý.

Đôi khi ta khóc vì không có giày để đi, nhưng nghĩ lại, còn có rất nhiều người không có đôi chân để đứng. Vậy nên, thà rằng chính mình tha thứ cho người khác, cũng đừng chờ người khác đến tha thứ cho mình.



Người khác có thể hãm hại chúng ta, đánh chúng ta, phỉ báng ta. Thế nhưng chúng ta không thể vì vậy mà căm hận họ. Tại sao?
Chúng ta nhất định phải bảo trì được sự thiện lương và nội tâm thanh tịnh, bởi vì lương thiện là bản tính nguyên sơ của mỗi con người, “nhân chi sơ, tính bổn thiện”. Làm người thì không thể chọn con đường trở thành kẻ ác, người ác tất sẽ có báo ứng.

Trong chuyện tình cảm, bạn nhất định phải nhớ lấy, cần nhẫn nại và bao dung đối với khuyết điểm của đối phương. Trên thế giới không có cuộc hôn nhân nào hạnh phúc trọn vẹn, hạnh phúc chỉ đến từ sự tha thứ và tôn trọng lẫn nhau.

Cuộc sống thoải mái, không phải là ta có được càng nhiều, mà là ta ít so đo tính toán; không phải tiền tài có rất nhiều, mà là nhu cầu càng ít. Sống trong tiếng vỗ tay của người khác, là chịu không ít những thử thách của người đời.

Kỳ thực, không phải vì bạn khiến tôi phiền não, mà là tôi đã đem lời nói và hành động của bạn gây phiền não chính mình.

Cảm tạ trời xanh vì những thứ ta có, cũng cảm tạ trời xanh vì những thứ ta không có. Mọi thứ trên đời, đến là ngẫu nhiên, đi là tất nhiên, cho nên bạn phải “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”. Người khác vĩnh viễn đúng, ta vĩnh viễn sai, vậy thì làm sao có thể còn phiền não.

Nhất mực chờ mong người khác hiểu mình, chi bằng tự mình hiểu lấy mình. Đối với thực tế bất biến, ngoài việc chấp nhận số phận ra, thì không có phương pháp xử lý nào tốt hơn thế.

Con người sở dĩ thống khổ chính là ở chỗ theo đuổi những thứ phù phiếm, xa vời. Buông được nhiều bao nhiêu, chính là sẽ bớt đi thống khổ bấy nhiêu. Đừng nói rằng người khác khiến bạn đau khổ, hãy nói rằng bản thân mình tu dưỡng chưa tới nơi. Vận mệnh đã được đặt vào tay bạn rồi, thành hay bại phụ thuộc vào chính bạn mà thôi.

Tuệ Tâm biên dịch

Trốn Trại Qua Campuchia - Phần 1 - Nguyễn Ngọc Thạch


Sau khi ở tù cải tạo đuợc 5 năm , khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hoà , thì có một số tù đuợc đưa lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long . Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy vọng để trốn trại , vì tôi biết rất rõ vùng đất này .
Đon vị đầu tiên khi tôi mới ra truờng là Đại Đội 11 thuộc Tiểu Đoàn 3 , Trung Đoàn 9 , Sư Đoàn 5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long .

Và trong suốt thời gian phục vụ từ cấp Trung Đội lên đến cấp Trung Đoàn tôi vẫn ở trong vùng rừng xanh đất đỏ này .
Giữa tháng 05/1980 , họ chuyển tôi từ trại Suối Máu Biên Hoà lên trại Tống Lê Chân . Đây là một trại tù ở giữa rừng , gồm các dãy nhà tranh với mấy lớp hàng rào kẻm gai bên ngoài và một lớp hàng rào tre bao bọc bên trong che kín , không nhìn thấy đuợc bên ngoài .
Ở 4 góc và ngay cổng ra vào là các chòi canh đuợc trí súng đại liên . Sau khi lên đến trại Tống Lê Chân , chúng tôi liền nghiên cứu ngay kế hoạch để trốn , vì phải trốn càng sớm càng tốt .

Khi ở trại Suối Máu Biên Hoà tôi có luợm được một cục nam châm hình trụ to bằng đầu ngón tay . Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam châm đuợc treo trên sợi chỉ , đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ về huớng Bắc , còn đầu kia là huớng Nam . Vì 2 đầu giống nhau nên tôi phải dùng dầu hắc nhựa đuờng để làm dấu đầu huớng Bắc .
Trong thời gian ở tù chung nhau qua các trại , tôi có quen thân và hay tâm sự với Thu , một nguời cùng thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có cùng chung một quyết tâm là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp .

Thu cũng cho biết là có thêm một nguời bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình . Bình là một nguời rất tháo vát , lanh lợi và đã từng đổ đầu khoá học Rừng Núi Sình Lầy ở trường Biệt Động Quân Dục Mỹ , Nha Trang .
Bình đã làm đuợc một cái kềm để cắt kẻm gai . Kềm này làm bằng hai quai xách của cuộn kẻm gai concertina , hai quai xách này bằng thép rất cứng . Khi một đầu đuợc đập dẹp , mủi mài nhọn và đục lổ , thì trông giống nhu luởi dao . Nhưng khi hai cái luởi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm trục xỏ xuyên qua hai lổ , thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai .

Để chuẩn bị cho việc trốn trại , mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại vải nguỵ trang để đựng đồ mang theo như lon guigoz , mì gói , gạo muối …
Mỗi nguời mang theo một bộ đồ thật tốt , quần tây áo sơ mi bỏ trong bọc nylon thật kín cho khỏi uớt , để bên trong áo truớc ngực , mặc đồ trận áo lính cũ bên ngoài .
Ngoài ra tôi còn may thêm một cái túi vải nhỏ để cất giữ cái địa bàn , có dây choàng qua cổ để khỏi rớt mất .
Mỗi lần đo là tôi rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có làm dấu đầu huớng Bắc bằng dầu hắc nhựa đuờng nên tôi sờ vào là biết để đi cả ban đêm .

Chúng tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ , quần áo mặc , túi vải , đồ đạc mang theo tất cả đều phải đuợc nguỵ trang cho tiệp với màu cây lá trong rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào .
Ngoài ra chúng tôi còn sắp đặt những gì sẽ bỏ lại , thật ít đồ bỏ lại , cố ý nguỵ tạo như là có ý định sẽ đi xa , tức là sẽ đi về huớng Bắc để qua biên giới Kampuchia .
Buổi chiều hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau , đem tất cả những gì ngon đem ra ăn , ngốn cho thật đầy bụng để lấy sức tối đi .

Tất cả đồ còn lại đem cho hết hoặc chôn dấu . Thu đem cả túi balô quần áo cho bạn bè . Tôi có cho một nguời bạn cùng khoá là Lương Văn Thìn mấy gói mì , mà bạn tôi không hiểu tại sao , tuyệt nhiên tôi không có đá động gì tới chuyện trốn trại .
Suốt trong 3 tuần lể liền , Thu đã phải theo dỏi thật kỹ các toán tuần tra canh gác , giờ nào đi tuần , giờ nào đổi gác …
Sau cùng chúng tôi đã đi đến quyết định giờ xuất phát là 9 giờ tối , khi máy phát điện vừa tắt thì bắt đầu chui ra .
Ở đây mỗi tối có máy phát điện cho Công An coi truyền hình , đến 9 giờ thì tắt .

Sau đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là bắt đầu đi tuần . Và theo như chúng tôi dự tính là phải mất 10 phút để cắt kẻm gai và 5 phút chót phải bò thật nhanh qua con đuờng tuần tra là khoảng đất trống bên ngoài .
Địa điểm thuận lợi nhứt để chui ra là khoảng giữa hai chòi canh phía sau trại .

Ban đêm họ đứng gác trên chòi canh cao nên không thể thấy rõ ở duới đất đuợc , theo đúng nguyên tắc canh gác ban đêm là phải ở duới thấp . Còn ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối tuần trăng , để khi chui ra thì trời còn tối , đến nửa đêm trăng lên dễ thấy đuờng để đi . Chúng tôi chọn đêm 22 ta , Âm Lịch , vì tin dị đoan sợ đêm 23 ta là không tốt .
Đúng 8 giờ ruởi tối đêm 22/04 Âm Lịch tức là ngày 03/06/1980 , chúng tôi bắt đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu , để chuẩn bị cắt dây lạt của lớp hàng rào tre truớc , để đến đúng 9 giờ khi máy phát điện vừa tắt là chui ngay .

Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi thấy ở ngoài suối có ánh đèn của Công An đang đi bắt cá ở duới suối , nên chúng tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ như thuờng lệ .
Qua đêm hôm sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được nữa , vì sợ nếu để lâu dể bị bại lộ .
Lần này cũng đúng 8 giờ ruởi là ra cầu tiêu , vì cầu tiêu là chổ tốt nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để ý .
Bình bắt đầu cắt dây lạt của lớp hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ để sẳn sàng chui ra . Lớp hàng rào tre này đuợc chôn sâu duới đất và sát khít nhau bằng hai lớp tre đan chéo vào nhau dầy đặc .
Vì vậy rất khó gở ra , phải đào sâu xuống đất mới vạch ra 1 lỗ vừa chui và phải làm thật chậm thật kỹ vì sợ ở chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu ngọn rào tre .
Khi máy phát điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt đầu chui , thì bất ngờ có thêm 2 nguời đợi chui trốn theo .

Thật hết sức bất ngờ và không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau cùng trốn .
Bình chui ra truớc là để cắt kẻm gai rồi đến tôi chui kế , tiếp theo là 2 nguời trốn chui theo và Thu là nguời chui sau cùng .
Sau khi chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẻm gai thứ nhứt . Nhưng phía duới lớp hàng rào kẻm gai này là rãnh thoát nuớc với đất bùn xình hôi thúi , nên chui lòn qua đuợc mà khỏi phải cắt .
Đến lớp hàng rào kẻm gai thứ 2 thì Bình bắt đầu cắt . Hàng rào kẻm gai của VC rào thì họ có quá nhiều kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ .

Họ bắt phải đào một cái rảnh sâu xuống đất rồi mới trồng cột sắt lên và rào kẻm gai ngay từ phía duới rào lên , rồi lấp đất lại , nên không có cách nào vén lên để chui lòn qua đuợc, mà chỉ có cách duy nhứt là phải cắt thì mới chui ra đuợc .

Mà cái kềm cắt kẻm gai của Bình biến chế nên không cắt dễ dàng nhanh chóng đuợc . Khi đang nằm chờ trong đám cỏ tranh giữa mấy lớp hàng rào với quần áo đầy bùn xìn hôi thúi , tôi nhìn lên bầu trời đầy sao , cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ đến , vì không còn cách nào hơn để lựa chọn đuợc nữa .
Bình cắt xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua đuợc và còn một lớp sau cùng cũng mất 5 phút nữa .

Và cuối cùng chúng tôi chui qua đuợc hết và phải bò thật nhanh , chỉ dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất như bò hoả lực ,
vuợt thật nhanh qua khoảng đất trống , rồi truờn mình xuống suối . Lúc đó tôi có cảm giác như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ lồng ngực .
Tiếng thở dồn dập hổn hển mà tôi nghe rất rõ , và gợn lên sóng nuớc khi ngâm mình trong nước để lội qua suối .

Qua bên kia bờ suối chúng tôi phải bám theo rể cây để leo lên vì lòng suối sâu hẩm . Lên khỏi suối là băng mình qua đám rừng tre , rồi băng qua con đuờng mòn . Con đuờng mòn này đi ra chuồng bò nên chúng tôi phải tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời lui tới .
Bất ngờ Thu bị lọt xuống một hố sâu có lẽ là hố rác , tụi tôi phụ nhau kéo Thu lên . Vừa lên xong là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm .

Không bao lâu sau , bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nỗ ran trời và sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám Công An chạy túa ra về phía chúng tôi , càng lúc nghe càng gần .
Tiếng lên đạn súng AK47 nghe rớp rớp , tiếng hò hét vang động khắp nơi , tiếng chửi rủa hăm doạ địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ , nghe rất gần ở ngoài con đuờng mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua .
 Vì vậy chúng tôi hết đuờng chạy , sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ , nên 5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm , nằm rút trong đó .

Sau này được biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào , thì lại có nguời chui trốn theo , nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy đuỗi theo để bắt chúng tôi .
Chúng tôi cố nằm yên không động đậy . Một lúc sau nghe tiếng máy điện chạy trở lại và nghe tiếng lào xào ở trong trại , chắc là VC đang ra lệnh tập hợp điểm danh .

Một hồi lâu sau thấy yên tịnh , không hiểu là họ vẫn còn lục soát hay ngồi núp rình đâu đó hay là đã đi chổ khác . Nhưng trong lúc đó chúng tôi quyết định là phải bò đi vì không thể chần chờ ở đây lâu đuợc .
Chúng tôi 5 đứa bắt đầu bò đi thật chậm , 2 tay rồi lại 2 chân , đưa lên đặt xuống thật nhẹ nhàng , nếu lở có 1 tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp .

Bò đuợc một lúc lâu chừng 1 tiếng đồng hồ , tôi nghi là chưa đi đuợc bao nhiêu , chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ , tôi rờ thấy ướt mới biết , nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì .
Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chỗ này , nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận , buớc đi thật nhẹ nhàng im lặng .

Tôi lấy thẳng huớng Nam mà đi , đi ngược với huớng Bắc là hướng qua biên giới . Chúng tôi giữ đúng hướng , không đi theo đuờng mòn hay chổ trống , bất kể là băng qua các đám ô-rô duới suối hay bụi lùm gai góc . Và càng lúc nghe tiếng máy điện ở phía sau lưng càng nhỏ dần .
Khi đó nghe có tiếng xe molotova , loại xe chở quân của VC , chạy đổ ra tứ phía . Chúng tôi phải đi chậm lại , sửa soạn đồ đạc cho thật gọn gàng , tuyệt đối không đuợc gây tiếng động và phải quan sát cho thật kỹ .

Mỗi nguời nhìn một huớng , khi đến chổ trống hay gặp đuờng mòn là dừng lại lủi ngay vô bụi rậm gần nhứt rồi từ từ quan sát sau .
Có nhiều lúc gặp VC đang đi bằng xe đạp , chạy ngang qua rất gần mà họ không thấy . Mỗi khi muốn băng qua đường mòn hay trảng trống , chúng tôi dừng lại nghe ngóng quan sát rất kỹ rồi mới chạy nhanh qua từng nguời một .

Bỗng đâu có 1 tốp nguời Thuợng , vợ chồng con cái vừa đi vừa nói chuyện lào xào , nên chúng tôi lủi tránh kịp thời .
Lúc trời sáng hẳn chúng tôi đổi huớng đi về phía Đông tức là huớng ra Quốc Lộ 13 . Đi trong rừng hoang vắng nhưng thỉnh thoảng nghe có tiếng đốn cây chặt củi , chúng tôi phải tránh xa ra .
Đi tới chiều thì gặp con đường lộ đá đỏ , đó là đường vô Minh Thạnh .
Chúng tôi chuẫn bị kỹ rồi băng qua đường cho thật nhanh và lủi vô sâu trong rừng 1 khoảng xa rồi dừng lại nghỉ .

Chúng tôi lựa chổ kín đáo để dừng lại nghỉ , bởi vì từ đêm tới giờ gần 1 ngày tròn đã đem hết sức lực để cố vuợt thoát xa vùng nguy hiểm , nên bây giờ thấy thấm mệt , nhứt là vấn đề nước uống rất là khan hiếm . Tôi mang theo lon guigoz đựng nuớc uống nhưng đã bị đỗ mất hết vì nắp đậy của lon guigoz không kín chắc , giờ thấy khát rát cỗ họng .

May sao Bình tìm đuợc 1 giếng nuớc bỏ hoang , cỏ mọc um tùm , nhìn xuống giếng tối om không thấy nuớc , nhung khi thòng lon guigoz xuống , múc lên đuợc những lon nuớc thật trong veo , uống thật ngon thật đã , nhờ đó chúng tôi ăn mì gói với nuớc lạnh .
Xong rồi lấy thêm đầy nuớc rồi đi ngay , tiếp tục lấy hướng Đông để ra Quốc Lộ 13 .

Trời bắt đầu tối , nhưng khi tiếp tục đi thì nghe có nhiều tiếng súng trong rừng , chắc có lẻ là họ đi săn , mà cũng có thể là bọn Công An , vì vậy chúng tôi phải dừng lại để tìm cách lẫn tránh .
Chúng tôi ra giữa đám trảng tranh lớn cao quá ngang đầu , vạch đuờng ra ở giữa đám tranh , trải một tấm nylon để nằm nghỉ lưng và canh chừng mọi động tĩnh chung quanh .
Nếu có nguời đi tới thì chúng tôi sẽ thấy dễ dàng để tìm đường lẫn tránh , nhưng nguợc lại họ sẽ không thấy chúng tôi đuợc vì tranh cao quá khỏi đầu .
Khi đó hỏi chuyện nhau mới biết tên 2 nguời đi chui theo , đó là Tuờng Phi Công Phản Lực A37 và 1 nguời nữa tên là Thạch , hình như là nguời Việt gốc Hoa , tôi không biết đơn vị , cả 2 anh đều mang dép nên rất khó đi .

Sáng sớm hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đuờng sau khi xoá mọi dấu vết . Khi đi thỉnh thoảng gặp các bẩy của nguời Thuợng rất là nguy hiểm , như bẩy cò ke , nếu vuớng chân vào thì cần bật sẽ bung lên rất là mạnh , có thể làm bị thương , hay bẩy bắn tên khi đụng vào cần bật thì bao nhiêu mủi tên tẫm thuốc độc sẽ bắn xuống .
Vì vậy khi thấy khả nghi là phải dừng lại xem xét cho thật kỹ rồi tránh xa ra . Chúng tôi rất khát nuớc vì đi cả ngày mồ hôi ra nhiều mà không có miếng nuớc uống nên khát dữ lắm .
Gặp một cây nói là trái gấm , Bình leo lên hái xuống ăn thử , vừa ngứa miệng , vừa khát nước thêm . Có lần gặp được nước đọng trong các lằn bánh xe bò và trên những lá cây khô còn đọng nuớc của những trận mưa truớc , chúng tôi góp nhặt lại hớp những giọt nước đó cho đở khát .

Đến chiều thì trong lúc đang đi bất chợt gặp 1 em bé trai độ 11 , 12 tuổi đang lang thang trong rừng . Chúng tôi giả dạng như là cán bộ đi khảo sát địa chất và hỏi em bé ở đâu có suối , thì em bé đó chỉ về huớng truớc mặt , đi thêm vài chục thuớc là thấy suối , một con suối rất lớn .

Nhìn ở phía xa kia là một khu rừng đã đuợc phát quang và có các cây to bị đốt cháy nám đen , 1 đám nguời đang cuốc đất làm rẩy , chắc là dân vùng Kinh Tế Mới .
Chúng tôi lội xuống suối uống một bụng nước thật no nê . Sau đó chúng tôi tìm chổ bụi lùm kín đáo để nấu cơm , nấu bằng lon guigoz , 2 đứa thay phiên nhau quạt để khói đừng bốc lên cao . Chúng tôi ăn bửa cơm này thật là ngon , ăn cơm nóng với bột ngọt trong gói mì .

Sau khi ăn xong , trời đã xế chiều , chúng tôi thấy đoàn nguời làm rẩy đi về nhà đi theo hướng Đông , như vậy là ra Quốc Lộ 13 , nên chúng tôi đợi cho họ đi hết rồi mới men theo con đuờng mòn đó để đi cho nhanh . Đi độ chừng 1 tiếng đồng hồ thì ra tới ấp , tôi đoán chừng là vùng Tân Khai hay Tàu Ô , nằm cạnh Quốc Lộ 13 . Thấp thoáng nhìn từ xa thì thấy có lớp hàng rào tre bao bọc , và hình như có cổng ra vào , giống như 1 trại tập trung , nên chúng tôi không dám đến gần và cũng không muốn vô đó làm gì .

Sau khi trời xụp tối thì chúng tôi tiếp tục đi , chúng tôi dự định đi trong bìa rừng theo đuờng rầy xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh nằm song song với Quốc Lộ 13 để đi , dự định sẽ đi qua khỏi quận Chơn Thành , rồi mới ra đuờng đón xe .
Riêng 2 nguời trốn theo là Tuờng và Thạch thì không dám đi nữa , mà họ có cho địa chỉ nếu ai về đuợc đến Sài Gòn thì nhắn dùm gia đinh họ lên đón .

Chúng tôi 3 đứa đi lần mò trong đêm và vì trời tối quá nên không đi đuợc bao xa , mà đành phải dừng lại nghỉ qua đêm .
Sáng sớm hôm sau lên đuờng đi tiếp , đi cho đến trưa thì dừng lại nghỉ bên cạnh 1 cái ao nhỏ xung quanh có cây cối um tùm , dễ ẩn náu để nấu cơm ăn .

Xong rồi lại đi tiếp , đến chiều chạng vạng tối thì đến 1 cái ấp khác , 1 xóm nhà lô nhô ngoài gần Quốc Lộ , chúng tôi ở bìa rừng trốn trong hầm hố cũ đuợc che phủ bỡi những lùm tre rất kín đáo .
Buổi chiều dân trong làng đi lao động về , họ đi ngang qua khá gần chổ chúng tôi đang trốn , tiếng chó sủa dữ dội nhưng họ không để ý mà chỉ lo đi cho mau về nhà .

Chiều hôm đó nằm nghe tiếng chó sủa , tiếng trẻ con đùa giởn trên đuờng , nhìn khói lam chiều từ 1 mái nhà tranh quyện bay lên không trung mà lòng tôi cảm thấy buồn vô hạn .
Chạnh lòng nhớ đến vợ con , thầm nghĩ đến 1 mái ấm gia đình bên vợ hiền con thơ mà tôi uớc mơ đuợc như họ .
Được sống đầm ấm trong 1 căn nhà tranh vách đất ở một miền thôn quê rừng núi nào đó . Nhưng nghĩ lại thân phận tôi là 1 người tù trốn trại , tương lai rất mờ mịt , không biết ngày mai sẽ ra sao .
Một uớc muốn tầm thuờng , đuợc làm 1 nguời dân bình thuờng để sống mà lo cho gia đinh nuôi vợ nuôi con cũng không đuợc .
Tôi buồn cho thân phận bơ vơ lạc lõng của tôi trong cái xã hội mới này . Hoàn cảnh của tôi thật đúng với câu nước mất nhà tan , gia đình ly tán .

Đêm đó chúng tôi khát nước vô cùng , cồn cào lên cổ họng . Bình với ý định lẻn vô nhà dân để xin nuớc uống , nhưng tôi với Thu cản lại , vì bao công trình giờ rủi ro vô gặp phải nhà của Công An thì nguy khốn , đành chịu nhịn khát qua đêm . Nhưng không ngờ đến khoảng nửa đêm thì trời đỗ xuống 1 trận mưa thật lớn . Chúng tôi mừng quá lấy tấm nylon ra căng để hứng nuớc uống . Uống no bụng xong rồi , đỗ đầy vô lon guigoz mà trời vẫn tiếp tục mưa càng lúc càng lớn .
Chúng tôi bị lạnh quá phải ôm lấy nhau trên đầu phủ tấm nylon và mỗi đứa phải lo ôm thật chặt bộ quần áo tốt ở trong bọc nylon , ôm kỹ ở truớc ngực để giử cho khô . Trận mưa này thật lớn thật lâu sau cùng rồi cũng dứt hẳn .

Vì không thể đi tiếp trong rừng cho đến quân Chơn Thành , vì đuờng còn xa mà đường rầy xe lửa thì không còn nguyên như truớc nữa , mà chỉ còn là những đám rừng tre che phủ um tùm rất là khó đi , chỉ có thể chui lòn duới đám tre gai , cho nên chúng tôi quyết định là sẽ chia tay nhau ở đây , phân tán ra mỗi nguời tự tìm cách để đi về Sài Gòn rồi sẽ gặp lại nhau sau .
Trời hừng sáng chúng tôi thay bộ đồ thật tốt thật tươm tất , đồ đạc còn lại đem chôn dấu trong bụi , xong chờ cho đến khi nghe có tiếng xe chạy là lần luợt ra đuờng , lựa khoảng trống giửa hai nhà mà ra đón xe .

Bình lên đuờng trước tiên , một lúc sau thì đến Thu , và tôi là nguời ra đuờng sau cùng . Khi buớc ra Quốc Lộ 13 tôi lấy bình tỉnh đi men theo bên đường chờ đón xe . Tôi không thấy Bình đâu hết mà chỉ thấy Thu đang đi phía truớc tôi một khoảng xa . Có chiếc xe Lam ( xe ba bánh chở hành khách hiệu Lambretta ) chạy trờ tới tôi liền đón để đi , vì xe đã đầy nguời nên tôi phải đeo theo xe đứng ở phía sau . Thu cũng lên đuợc chiếc xe đi truớc tôi . Xe chạy qua cầu Tàu Ô và như vậy là đêm qua chúng tôi đã ngủ ở giửa khoảng Tàu Ô – Tân Khai .

Trước kia , đây là đoạn đuờng nguy hiểm nhứt của Quốc Lộ máu mang số 13 và cũng chính nơi đây đã xảy ra những trận chiến vô cùng ác liệt , mà dấu vết các hầm hố còn lại rất nhiều , dọc theo bìa rừng trông ra Quốc Lộ .
Khi xe vô quận lỵ Chơn Thành tôi xuống xe ở đầu ấp Chơn Thành 2 để đi bộ vô , vì sợ vô tới bến xe sẽ gặp Công An
Đi bộ dọc theo con đuờng vào quận lỵ , tôi nhớ lại các nơi mà ngày xua quen biết như Trại cưa Lê Quang , Trại cưa Mai Chấn Hung , Lò than ông Năm Thãnh , sau này ông Năm Thãnh cũng lập thêm trại cưa .

Đi gần đến chợ là đến bến xe và tại ngả tư đường đi Đồng Xoài có một đồn cảnh sát hồi xưa , bây giờ là đồn Công An Việt Cộng .
Tôi dự định đi bộ ra khỏi quận lỵ rồi mới đón xe để đi Bình Dương . Tôi đi ngang qua dãy phố chợ mà ngày xua có các tiệm ăn như Nghĩa Thành , Bạch Tuyết , nổi tiếng với món canh chua cá lóc , cá kho tộ .
Đi ngang qua ngôi chùa , qua cây cầu là gần đến đầu quận lỵ . Tôi nhìn thấy Thu đang đi phía truớc bỗng dưng đổi huớng qua trái tấp vô một quán nước .

Tôi nhìn kỹ về phía truớc phía bên phải thì thấy có một trạm kiểm soát nên tôi cũng đổi hướng qua trái tấp vô một quán nuớc . Tôi nhớ mài mại hình nhu đây là quán của bà Năm Chích , có cô con gái ra tiếp . Tôi kêu một ly cà phê , ngồi uống để quan sát coi trạm kiểm soát đó nó hoạt động như thế nào .
Tôi thấy rõ hai thằng Công An coi tù ở trong trại ra đây chận xét xe để nhìn mặt bắt chúng tôi , hai tên này đứng bên cạnh trạm kiểm soát tài nguyên .
Mỗi khi xe đến đó , tài xế vô trình giấy tờ cho trạm kiểm soát tài nguyên ở bên trong , thì 2 tên Công An đứng bên ngoài đi ra lục soát xe .

Tôi đoán chắc là nó sẽ bố trí chận xét ở đây để bắt tù trốn trại , vì đây là quân lỵ gần nhất , mà muốn ra khỏi quận thì phải đi ngang qua trạm kiểm soát này .
Nếu đi bằng xe đạp , xe thồ , mặc đồ như nguời đi làm cây làm củi trong rừng thì mới lọt qua đuợc .
Còn nếu bây giờ băng vô trong rừng để đi bọc qua thì cũng sợ gặp phải nguời lạ mặt họ dể nghi ngờ , vì mình mặc đồ sạch sẽ tươm tất quá .
Tôi còn đang phân vân không biết phải làm cách nào để qua khỏi trạm kiểm soát này , thì thấy Thu đi nguợc trở lại , ngang qua chổ tôi . Thu trở lại bến xe để đón xe đi , còn Bình thì không còn thấy tâm dạng đâu hết , chắc là đã đi thoát rồi .

Tôi ngồi chờ 1 hồi thì thấy chiếc xe lô chạy trờ tới , tôi nhìn thấy Thu ngồi ở băng sau cùng . Xe tới trạm kiểm soát thì ngừng lại , trong khi nguời tài xế vô trình giấy tờ thì một tên Công An đi ra nhìn vào xe , một lúc sau thì tài xế trở ra và nó cho xe chạy đi . Tôi mừng cho Thu đã thoát nạn , giờ đây chỉ còn lại 1 mình tôi , tôi không còn biết cách nào khác hơn là trở lại bến xe để đón xe đi . Đây là chổ nguy hiểm nhứt mà tôi cố tránh nhưng không đuợc nên đành phải liều mạng .

Khi vô bến xe thì thấy có một chiếc xe lô , loại xe nhỏ để chở khách , tôi thấy xe trống trơn chưa có ai , tôi lên ngồi băng sau cùng . Ngồi một lúc lâu thấy nóng ruột nên mới hỏi Bác Tài là xe chừng nào chạy , ông ta nói chờ khách lên đầy thì đi , mà thuờng là khách ở trong Minh Thạnh ra nhiều
Tôi hơi lo vì khách ở trong Minh Thạnh ra có thể là Công An trong trại ra đi phép .

Ngồi một hồi lâu thì chợt có một tốp người đi buôn than họ lên gần đầy . Bỗng tôi thấy có 2 đứa nhỏ độ hơn 11 tuổi tay cầm một con gà , tay xách một giỏ đồ , tôi liền nhanh miệng kêu 2 em bé đó vô ngồi gần bên tôi và tôi phụ xách dùm đồ , làm như vậy thấy đở trống trải vì có 2 em nhỏ che đở phần nào .

Khi xe chạy tới trạm kiểm soát thì dừng lại , Bác Tài vào trình giấy tờ trong trại kiểm soát tài nguyên . Tôi thấy một thằng Công An , đứng bên cạnh trạm kiểm soát , buớc ra để nhìn mặt nguời trên xe .
Nó nhìn vào băng truớc , trên đó có 2 nguời ngồi , tôi nghe tiếng quát tháo của tên Công An là hai nguời ngồi đằng truớc là tại sao đầu tóc để dài bù sù nhu cao bồi du đảng , đâu đưa giấy tờ coi . Sau khi coi xong giấy tờ hai người phía truớc là nó liệng vô xe rồi ra lệnh cho đi một cách thật oai quyền . Cũng vừa lúc Bác Tài đã trở ra xe , Bác Tài liền rồ ga cho xe chạy đi , mà lòng tôi vui mừng khắp khởi vì vừa thoát được một trạm kiểm soát thật là vô cùng nguy hiểm .

Xe chạy qua khỏi Tham Rớt , Bầu Bàn , Bầu Lòng rồi đến quận Bến Cát , ở đây cũng có trạm kiểm soát nhưng là trạm kiểm soát tài nguyên nên không có gì trở ngại .
Xe chạy về tới Chánh Hiệp Bình Dương , một trạm kiểm soát rất lớn , nơi cửa ngỏ vô thành phố nên xe đậu nối đuôi nhau rất dài .
Chiếc xe tôi đi là xe nhỏ chở than lậu nên tài xế đã biết cách vô trình giấy tờ và nộp tiền mải lộ là xong ngay .

Xe đi tiếp vô thành phố vào đậu ở bến xe , tôi xuống xe cũng vẫn còn nắm tay hai em bé vô mua giấy xe để về Sài Gòn , vì hai em bé đó cũng về Sài Gòn . Tôi thấy người ta sắp thành hàng dài để chờ mua vé xe , tôi cũng sắp vô hàng chờ đợi .
Nhưng khi tôi nhìn kỹ lại thì thấy mỗi nguời khi mua vé xe đều phải trình ra một thứ giấy tờ gì đó , hình như là giấy phép đi đuờng hay là giấy căn cuớc , mà trong mình tôi thì không có thứ giấy tờ nào nên tôi hơi sợ , nên mới nói với hai em nhỏ là cứ sắp hàng để mua vé về Sài Gòn truớc đi còn tôi thì sẽ đi sau .

Tôi bỏ ra ngoài tìm đường khác để đi , chớ khi mua vé họ hỏi đến giấy tờ là mình không biết trả lời ra sao , vì trong mình tôi không có thứ giấy tờ nào hết .
Tôi vào quán nước kêu ly nuớc đá chanh vừa uống vừa quan sát để tính kế . Bỗng chợt thấy xe Honda ôm , tôi liền nghĩ ra phương cách hay nhứt để đi về Sài Gòn là bằng xe ôm .

Tôi dự định là sẽ về nhà của chị Đồ ở Phú Thọ . Trong những lần đi thăm nuôi , vợ tôi thường đi chung với chị Đồ nên hai gia đinh rất thân nhau và trước khi trốn trại tôi có dọ hỏi anh Đồ địa chỉ nhà cho thật kỷ , thật đầy đủ chi tiết đuờng đi nước buớc , làm sao vô nhà , đi vô ngỏ hẻm nào …
Tôi chỉ hỏi chơi chơi chứ không cho anh biết ý định trốn trại của tôi .
Anh lái xe ôm ra giá đi Sài Gòn là 50 đồng , tôi không có đủ tiền nhưng tôi nói với anh là đưa tôi về đến nhà tôi lấy tiền rồi trả sau .
Sau khi bằng lòng giá cả anh ta mới đi đổ xăng và trở lại đón tôi . Trên đuờng đi tôi cũng nói thêm với anh là tôi vừa ở vùng kinh tế mới về , bị mất hết giấy tờ nên nhờ anh chạy làm sao để tránh các trạm kiểm soát .

Anh ta nói là tụi Công An nó chỉ xét coi có buôn đồ lậu , chứ như ông đi mình không , thì không có gì để xét thì đừng có lo .
Tôi nghe mừng trong bụng và trong lúc đi đuờng tôi có hỏi chuyện thì anh có cho biết hồi truớc anh là lính của Sư Đoàn 5 Bộ Binh . Nghe biết vậy thôi chứ tôi cũng không có hỏi thêm gì về chuyện ngày trước .

Xe chạy qua các trạm kiểm soát Búng , Lái Thiêu rồi Bình Triệu . Thấy xe kẹt đậu dài dài để chờ xét , còn xe Honda ôm này chạy qua hết mà không bị hỏi han gì và sau cùng vô Sài Gòn qua ngả cầu cư xá Thanh Đa rồi qua cầu Phan Thanh Giản và chạy trên đường Phan Thanh Giản để về Phú Thọ .

Nhìn quang cảnh thành phố Sài Gòn sau 5 năm trở lại , tôi cảm thấy như bơ vơ lạc lỏng , như lạc vào một thế giới nào xa lạ lắm .
Đây không phải là thủ đô Sài Gòn năm xua , một thời đã từng đuợc mệnh danh là một Hòn Ngọc Viễn Đông . Nay tôi thấy trên đuờng toàn là xe đạp , mà nguời nguời trông lam lũ tả tơi , không cuời không nói , với dáng vẻ buồn thiu ảm đạm , thật đúng với câu nguời buồn mà cảnh có vui đâu bao giờ .

Khi đến Phú Thọ , xe Honda chạy vào con hẻm nhỏ , một số con nít chạy theo . Khi xe vô đúng số nhà mà tôi đã học thuộc lòng , tôi gỏ cửa và chị Đồ ra mở cửa . Khi thấy tôi chị buột miệng la lên :
Ủa anh Thạch mới đuợc thả về , còn ông Đồ của tôi đâu . Tôi lật đật nói nhanh là tôi mới đuợc thả về và xin muợn chị 50 đồng để trả tiền xe .

Chị vô lấy tiền cho mượn ngay để trả tiền xe . Khi xe đi rồi và đám con nít đa tản đi hết rồi thì tôi mới nói thiệt với chị là tôi trốn trại và nhờ chị về báo tin cho vợ tôi hay .
Chị hốt hoảng cho biết là mới vừa tuần truớc đây thằng em trai của chị vừa mới vuợt biên đã đi thoát được .
Nhà Chị đang bị Công An phường khóm điều tra theo dỏi , cho nên Chị không dám chứa tôi trong nhà , mà bảo tôi ra ngoài đuờng đón xe autobus để ra bến xe Xa Cảng Miền Tây , ở Phú Lâm , rồi sẽ tính sau .

Truớc khi đi tôi còn hỏi muợn Chị đôi giày , vì đôi giày tôi đang đi là loại giày đi rừng nên đi trong thành phố coi không tiện .
Chị cho tôi muợn đôi giày sandal và còn đôi giày đi rừng của tôi thì chị nói là chị sẽ đem lên cho anh Đồ trong lần thăm nuôi tới .
Tôi ra khỏi hẻm ra ngoài đuờng thì thấy có 1 quán hủ tiếu , tôi liền tấp vô ăn một tô hủ tiếu , uống một ly cà phê sửa , rồi mới ra đón xe autobus để đi ra Xa Cảng miền Tây .

Khi ra đến bến xe Xa Cảng miền Tây , tôi thấy cả một rừng nguời hỗn độn la liệt khắp nơi . Họ trải chiếu , trải tấm nylon hay kê tấm ván tùm lum tứ tung không theo một lề lối nào cả .
Hỏi ra mới biết đây là những nguời bỏ vùng kinh tế mới trở về , nhà cửa bị tịch thu không nơi nương tựa đành phải sống lang thang đầu đuờng xó chợ bến xe .
Sau khi thấy cảnh hổn độn này tôi nghĩ thầm là mình có thể trà trộn để ngủ tạm qua đêm ở đây .

Trong khi đó thì chị Đồ đạp xe đạp từ Phú Thọ vô Gia Định để báo tin cho vợ tôi biết . Sau này gia đinh kể lại là khi chị Đồ vào nhà , chị rất lo sợ có nguời theo dõi , nên chị kéo vợ tôi ra phía sau nhà , không cho mấy đứa con tôi lại gần , rồi chị mới nói cho vợ tôi hay là tôi đã trốn trại .
Tôi đang ngồi uống nuớc đá chanh ở xe nuớc đá và định chổ ngủ qua đêm , thì bỗng thấy chị Đồ đạp xe đạp ra tới . Chị đưa cho tôi 50 đồng và một giấy cử tri của vợ tôi gởi và căn dặn tôi sáng mai ra mua vé xe đò để về Mỷ Tho .

Sáng sớm hôm sau trước khi ra bến xe tôi đi tìm nhà của Thạch , là một trong hai nguời trốn chui theo . Thạch và Tường thì còn ở lại trong rừng và có dặn là nếu ai có thoát về đuợc Sài Gòn thì báo tin cho gia đình họ biết tin , để tìm cách lên đón .
Địa chỉ của Thạch thì tôi nhớ lờ mờ là ở gần Phú Lâm nên tôi sẳn dịp ghé qua báo tin .
Lúc đó trời còn lờ mờ chưa sáng hẳn , đuờng vắng vẻ . Khi đi ngang qua trạm xe chửa lửa có vài tên Công An đang đứng nói chuyện ở phía truớc , tôi cố giử bình tỉnh khi đi ngang qua .

Sau cùng tôi tìm đuợc nhà của Thạch , tôi gỏ cửa 1 hồi thì có nguời ra mở cửa nhưng với dáng vẻ bực bội vì tôi đánh thức họ quá sớm .
Tôi hỏi có phải là nhà của Thạch không , thì họ không trả lời mà đóng ập cửa lại làm tôi ngần ngừ một lúc , vì tiếc là không báo tin cho gia đinh Thạch được . Tôi cũng không biết là có đúng nhà không , hay là họ sợ không dám tiếp tôi . Cho đến sau này tôi cũng không biết tin tức gì về 2 nguời trốn chui theo , có thoát đuợc không và bây giờ ra sao .

Tôi trở ra bến xe ngồi xếp hàng chờ để mua vé xe về Mỷ Tho, trong túi có 50 đồng và thẻ cử tri nên thấy hơi yên tâm .
Một hàng rất dài ngồi chờ mua vé xe rồi từ từ nhích lần lên . Tôi ngồi chòm hỏm 2 tay bó gối gục đầu rồi thiếp đi lúc nào không hay . Bỗng đâu có nguời vỗ vai kêu tên tôi , tôi giật mình nhìn lên thì thấy chị Đồ , chị bảo tôi vô quán nước ở bên kia đuờng để gặp bà xã tôi . Vừa mừng vừa lo , chỉ sợ Công An theo dõi vợ tôi để đón bắt tôi nên tôi hơi luỡng lự . Chị Đồ vô đứng thế chổ tôi để mua vé xe .

Tôi vô quán để gặp bà Xã tôi , vợ tôi đã kêu đủ thứ đồ ăn nào hủ tiếu , bánh bao , xiếu mại … Bà Xã tôi kêu tôi ăn đi ăn đi . Tôi hỏi coi có ai biết hay theo dõi gì không , thì thấy không có dấu hiệu gì .
Ba đứa con tôi đang ở nhà chưa hay biết gì về chuyện này . Sau này kể lại mới biết là chúng nó đói khổ lắm , đâu có được ăn hủ tiếu bánh bao như thế này .

Từ ngày tôi đi tù tới giờ gia đình suy sụp , có bao giờ dám ăn các món cao lương mỹ vị này đâu và tôi cũng quên hỏi mời vợ tôi cùng ăn , bà xã tôi cứ kêu tôi ăn đi ăn đi .

Phần thì lo sợ Công An nó theo dõi , phần thì không biết là về Mỷ Tho rồi sẽ làm gì , nên tôi cố nhét cho đầy bụng rồi đi liền . Tôi dặn vợ tôi là đừng có xuống Mỷ Tho , mà nên ở nhà lo cho mấy đứa con còn nhỏ dại , đừng để bị nguy hiểm cho cả hai , rồi không ai lo cho các con .
Tôi trở ra chổ mua vé xe thì chị Đồ đã mua vé xong xuôi và chị còn cẫn thận mua cho tôi tờ báo Nhân dân , chị bảo lên xe đọc báo này nguời ta tưởng là cán bộ .

Tôi lên xe ngồi gần băng phía sau . Xe chạy qua hết các trạm kiểm soát một cách dễ dàng vì ở mỗi trạm Bác Tài đều biết thủ tục đầu tiên, là tiền đâu. Qua Bình Chánh, Bến Lức, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Trung Lương rồi vô thành phố Mỹ Tho .
Xe vô đến bến, tôi xuống xe và vô tìm đứa em gái tôi . Vợ tôi có cho biết là em gái tôi bây giờ làm ở Tổ Hợp May Mặc Phuờng 4 ở bến xe này .
Mới vừa vô gặp mặt em tôi , nó mừng rỡ rồi la lớn Ủa anh Tư mới đuợc thả về . Tôi hơi bối rối vì sát bên cạnh tiệm may là đồn Công An Phường 4 , có một số Công An đang đứng gần đó sợ nó nghe được .
Tôi giả bộ như thiệt nói một hơi là anh mới đuợc thả về bây giờ em có rảnh ra quán uống nuớc . Em tôi lật đật xin phép bà hội truởng hợp tác xã rồi đi liền .
Ra tới quán nuớc tôi mới nói thiệt với em tôi là tôi trốn trại . Em tôi giật mình mặt tái xanh vì quá bất ngờ . Tôi dặn dò em tôi về nhà cho Má hay và coi chung quanh có ai không rồi cho anh biết để anh về nhà .
Em tôi đạp xe đạp chạy về báo tin xong trở lại làm việc , còn tôi một mình đi bộ về nhà . Má tôi đã biết truớc nên đã mở cửa sẳn chờ . Khi vô nhà tôi đi thật nhanh và đi thẳng ra phía sau nhà vì sợ lối xóm nhìn thấy .

Sau đó em tôi đi làm về có mua cho tôi một dĩa cơm suờn và hôm sau là cơm tấm bì chả và mua hủ tiếu bánh bao … toàn là các món ăn ngon đắt tiền mà tôi cũng quên hỏi là em tôi đi may lương tháng bao nhiêu.

Mời xem tiếp phần 2
Nguyễn Ngọc Thạch ( Khoá 20 Võ Bị Đà Lạt )