Riêng tặng cho cố
Trung Tá Khưu Văn Phát, nguyên Phi đoàn Trưởng phi đoàn 215, Thần Tượng, người
đã đề nghị và khuyến khích tôi viết bài Tuy Hòa và Con Lộ Máu khi anh đang còn
hiện hữu trong cuộc đời nầy.
Một nén hương thắp đến
cho vong hồn anh được an vui nơi vùng trời miên viễn.
Phần mở đầu:
Sau khi Ban Mê Thuột
thất thủ, ngày 14 tháng 3 năm 1975, trong cuộc họp khẩn cấp của các tướng lãnh
cao cấp và TổngThống Nguyễn Văn Thiệu tại Cam Ranh đã đưa đến quyết định triệt
thoái tất cả chủ lực quân của Quân Đoàn 2 và tất cả chiến xa, pháo binh
cũng như máy bay ra khỏi Pleiku và Kontum.Lệnh triệt thoái được giữ kín trong
vòng bí mật giữa những cấp chỉ huy Quân đoàn để tránh sự hoang mang cho tầng
lớp hành chánh cũng như dân chúng địa phương. Phần còn lại của các lực lượng
Địa Phương Quân và các cơ sở hành chánh vẫn tiếp tục làm việc với cấp tỉnh
trưởng cũng như các cấp quận trưởng, như không có gì thay đổi (!).
Con đường cho cuộc triệt thoái lịch sử này đã được chọn là con đường hoang phế
Liên Tỉnh Lộ 7B.
Từ Pleiku theo con Quốc lộ 14 về hướng Ban Mê Thuột khoảng 40 cây số sẽ gặp đầu
mối đường Liên Tỉnh Lộ 7B. Ngã ba đường này thường được gọi là "chĩa
ba" Mỹ Thạnh. Từ đây, con lộ 7B dài hơn 200 cây số xuyên qua vùng rừng núi
hiểm trở, đi ngang qua thị xã Phú Bổn (Cheo Reo) và huyện Phú Túc trước khi đến
Tuy Hòa. Con đường đất này uốn lượn theo những ngọn đồi cao, đôi khi ôm dài
theo mé bờ sông hay băng ngang những con suối cạn; có những đoạn, đường đã bị
sụp lở vì bị mưa xoi mòn hay cây cối chắn ngang lối đi. 3 chiếc cầu chính trên
con lộ này là Phú Thiện (50m) , Lê Bạc (600m) và Cà Lúi (40m), lâu ngày không
sửa chữa tu bổ, hư hao, gãy đổ... và đây là con đường cho hàng trăm ngàn người
và gần 4 ngàn chiếc xe đủ loại, đủ cỡ, ngay cả cho những chiếc chiến xa M48
nặng gần 50 tấn đi ngang qua.
Đêm 16 tháng 3/75 tất cả lực lượng của Quân Đoàn 2 hơn cả trăm ngàn quân nhân
đủ mọi thành phần cùng hàng ngàn quân xa và chiến xa hạng nặng được lệnh di
chuyển. Cuộc triệt thoái âm thầm bất ngờ được êm xuôi trong đêm đầu tiên cho
đến sáng hôm sau. Khi tin đồn về cuộc lui quân tới tai quần chúng địa phương,
dân chúng hoang mang, hốt hoảng tột cùng, cả thành phố vội vã ùa chạy theo đuôi
đoàn quân với bất cứ phương tiện di chuyển nào sẵn có trong tay. Một cuộc triệt
thoái hỗn loạn bắt đầu...
Nguyên tắc căn bản của một cuộc lui quân, phần đoạn hậu tối thiểu phải có một
lực lượng đủ khả năng chặn đường truy kích hoặc làm chậm bước tiến của địch
quân nếu bị truy đuổi, để bảo vệ cho sự an toàn của đoàn quân. Mỉa mai thay,
phần đuôi của đoàn quân này là hàng trăm ngàn người dân vô tội, tất tả bám theo
mang trên tay chỉ là những gói áo quần hay những đồ cần thiết tối thiểu. Con
đường lộ hiểm trở, đổ nát này đã thành một con lộ kinh hoàng, một dòng sông của
xác người và máu. Những cái chết kiệt lực vì đói, khát, thời tiết ngày nóng đêm
lạnh, của những trận mưa pháo, địch quân ngày đêm rót vào đoàn người không
ngưng nghỉ. Một ký giả lão thành Nguyễn Tú đã viết lại:
Thật thương tâm khi phải mục
kích cảnh người dân không có khả năng di tản bằng xe hơi, xe vận tải, hay bất
kỳ phương tiện chuyên chở nào có được. Họ thật cơ cực, phải di tản bằng đôi
chân, và họ chiếm đa số, bao gồm phụ nữ, trẻ em, người lớn tuổi, đi tất tả như
chạy, không được dù chỉ một giọt nước để làm dịu cơn khát như cháy cổ....
Không thể nào đếm được bao
nhiêu trẻ em đã ngã xuống trên đường đi, bao nhiêu cụ già bơ vơ phải đứng lại
dọc đường, không còn cất bước đi được nữa, và còn bao nhiêu người khác phải
chịu đựng đói khát trên suốt chặng đường tìm đến Tự do và Dân chủ.
Một sĩ quan biệt động bảo tôi:
"Lần này, tôi không thể nào còn nhìn thẳng vào mặt đồng bào mình lần
nữa."
Một anh binh nhì nói:
"Thật khốn kiếp, chúng ta rút lui không hề kháng cự. Tôi thà chiến đấu,
rồi chạy trốn nếu thua và tôi chấp nhận như vậy."
Một Đại Úy Không Quân than:
"Thật thảm thương, nhất là khi nhìn lại Pleiku, giờ chỉ còn là một thành
phố bỏ hoang. Chỉ còn thấy lửa cháy khắp nơi. Tôi buồn quá!
Một người lính khác
nói thêm: "Tôi ngạc nhiên quá. Hãy nhìn những con người này, những trẻ em
này. Thật khốn khổ, đáng thương quá!"
Dưới ngòi bút của nhà văn Phan Nhật Nam đã mô tả:
Cuộc di tản lớn quá,
mối đau thương dài đặt trên 200 cây số đường núi với 200 ngàn người dân thường
đi từ Kontum, Pleiku... Trời cao nguyên buổi tàn Xuân gây gây rét vào sáng,
càng về trưa nắng cao và nóng khô khan, đường bụi mù tung đỏ bám vào thành xe,
nòng pháo, khí cụ, tóc và da mặt người,vạn tròng mắt đỏ rực. Những tròng mắt
mệt mỏi, lo âu, tuyệt vọng, lính gục ngã trên mũi súng, đàn bà, con trẻ nằm rũ
trên hành lý, thành xe, đất cát. Được sống, được ngủ là hạnh phúc quá lớn hở
trời? Còn biết kêu vào đâu? Với ai?
Nhà văn Phạm Huấn đã viết:
Liên Tỉnh Lộ 7 Pleiku-Phú
Bổn-Phú Yên con đường máu dài 300 cây số đã là nơi chôn vùi hàng ngàn xác đồng
bào và trẻ thơ vô tội.
Thật kinh hoàng, khủng khiếp.
Biển người và biển máu.
Và sau cùng một nhân
chứng trong đoàn người khốn cùng đó đã viết về những chiến sĩ Không Quân Việt
Nam Cộng Hòa:
10 phi tuần phản lực A 37 đánh
bom CBU và Napalm yểm trợ cho đoàn quân triệt thoái ngày 24-3-1975 sau đó đã
được thực hiện đúng như Đại Tá Thảo, Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Không Quân Phan Rang
"hứa" với Tướng Phú. Những phi công anh hùng đã khắc phục, chế ngự
mọi hiểm nguy, mọi trở ngại kỹ thuật, thời tiết và sự an toàn cho chính bản
thân mình; để cứu đồng bào và các chiến hữu anh em. Những phi công cảm tử anh
hùng của QLVNCH đã bay xuất trận hôm ấy trong tinh thần của những hiệp sĩ. Trên
vùng trời Phú Yên lúc 17 giờ ngày 24-3-1975, khi những cánh đại bàng xuất hiện
"họ" thật sự là những cứu tinh, là
những người đã mang theo sự sống cho Đoàn người, Đoàn quân phía dưới. Như hàng
trăm ngàn đồng bào và các chiến hữu khác có mặt hôm đó tại Liên Tỉnh Lộ 7, tôi
muốn được bày tỏ sự kính phục đặc biệt và ca ngợi những phi công anh hùng này.
Những điều đã được mô tả chỉ là một giọt nước mắt trong đại dương thống khổ của
tất cả những ai đã đi trên con lộ này. Hàng vạn người dân vô tội đã bỏ mạng
cũng như hằng vạn những chiến sĩ đã gục ngã dưới lằn đạn địch quân mà chưa hề
có cơ hội để chống trả. Tất cả đó là hậu quả của một quyết định vội vã, sai lầm
của cấp lãnh đạo.
Súng đạn và bánh mì
8 giờ sáng, tại Không Đoàn 62 Chiến Thuật, những chiếc máy bay đủ loại bận rộn
chuẩn bị rời phi trường. Vừa cất cánh chiếc trực thăng võ trang ra khỏi phi
đạo, tôi cho con tàu giữ ở cao độ thấp bay dọc theo ven biển Nha Trang hướng về
phía bắc, trực chỉ thành phố Tuy Hòa. Sáng hôm nay nắng đẹp, những giải mây như
lụa trắng nhẹ nhàng treo lơ lững trên bầu trời trong xanh. Trên mặt biển mênh
mông lấp lánh như một tấm gương bạc khổng lồ, những chiếc thuyền đánh cá cỏn
con nuối đuôi nhấp nhô hướng về phía chân trời. Ngoài khơi lác đác vài hòn đảo
một màu xanh thẩm đang im lìm tắm nắng mai. Ngồi trên chiếc ghế bay từ căn
phòng lái tôi lặng yên thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt vời của miền duyên
hải, chiêm ngưỡng một không gian diễm lệ trữ tình của quê hương. Trong tiếng nổ
đều đặn của động cơ cùng tiếng chém gió của cánh quạt quen thuộc từ khoảng
không gian nhỏ bé này, tôi cảm thấy mình như là một cánh chim tự do đang xoải
cánh bay lượn trên vòm trời thân yêu. Cho dù mỗi ngày phải đương đầu với hiểm
nghèo, với cái sống chết, với phong sương gian khổ tôi thấy mình vẫn còn được
may mắn và hạnh phúc hơn nhiều người trai cùng thế hệ. Nhưng từ khi Ban Mê
Thuột đột nhiên rơi vào tay địch quân, tâm tư tôi bắt đầu lo ngại và hoài nghi
về cuộc chiến, viễn ảnh chiến thắng quân thù mỗi lúc một xa vời. Thời thế đã
đổi thay quá nhanh, tôi vẫn chưa chấp nhận được tình huống của thực tại, những
tư tưởng bi quan, yếm thế thường lẩn quẩn trong đầu óc tôi. Rít dài hơi thuốc
phà vào khoảng không gian trước mặt, tôi trầm ngâm, suy tư...
- Chút nữa mình đáp Tuy Hòa hay bay thẳng ra vùng luôn vậy?
Trong intercom đột
nhiên câu hỏi của Thiếu úy Nguyễn Đức Liên đưa tôi trở lại với hiện tại. Tôi
quay qua nhìn người bạn đồng nghiệp, rồi trả lời:
- Chắc mình ghé phi trường Đồng Tác đổ thêm xăng và liên lạc với Bộ binh xem
thử có phi vụ nào không, sau đó mình sẽ bay tới vùng thả bánh mì cho đồng bào
sau cũng được.
Từ khi tuyến phòng thủ của Liên Đoàn 3 Dù tại Khánh Dương trên Quốc Lộ 21 nối
liền Ban Mê Thuột và Nha Trang bị Bắc Quân áp đảo lung lay, phi đoàn Thần Tượng
đã được lệnh thay đổi vùng hành quân, chuyển hướng qua yểm trợ cho cuộc rút
quân của Quân Đoàn 2 tại Pleiku về Tuy Hòa. Hằng ngày nhiều phi vụ đơn độc của
Phi đoàn 215 được biệt phái ra vùng đồng bằng Phú Yên hổ trợ cho đoàn người di
tản trên con lộ 7B. Ngoài mục đích tiếp tế, rải thức ăn của tiểu khu Tuy Hòa
cho đồng bào, mục đích chính yếu của những chiếc trực thăng là bốc tất cả những
ai có thể chở được từ con lộ 7B đem về tập trung tại vài trung tâm tiếp cư như
phi trường Đồng Tác, một phi trường khổng lồ của Mỹ đã bỏ lại, nằm phía nam Tuy
Hòa chừng 5-7 cây số.
Trong thời gian rối loạn này với những biến cố dồn dập, những phi vụ ít được
kiểm soát, công việc của những hoa tiêu được đặt nặng trên tinh thần tự giác và
trách nhiệm của mỗi người. Như ngày hôm nay, tôi được chỉ thị ra vùng hành quân
trên chiếc trực thăng võ trang, không có chiếc C@C (Command and Control) đi dẩn
đầu để tiếp xúc với Bộ binh, không có chiếc Hổ 2 (chiếc võ trang số 2) theo sát
cánh như bao ngày qua. Một mình một ngựa lên vùng, tùy cơ ứng biến. Gunship bay
vào vùng hành quân đơn độc là trái với chiến thuật và nguyên tắc căn bản của
trực thăng võ trang. Nhưng đây là lệnh của cấp trên, tôi không có sự chọn lựa
nào hơn là cố chu toàn nhiệm vụ được giao phó.
Tôi tiếp tục cho con tàu bay thật thấp trên đầu con Quốc lộ 1. Gió biển mát
lạnh lộng vào khung cửa mở toang, phía sau khoang tàu 2 người mê vô xạ thủ đang
ngồi bên nhau trên chiếc ghế sát cửa, nhìn xuống con đường trải nhựa đen chạy
viền theo bờ biển cát trắng. Những ghềnh đá nằm sát bên đường, sóng vỗ tung lên
trắng xóa. Vài chiếc xe hàng, trên nóc chất đầy hành lý, chạy ngược chiều,
những cánh tay vẫy chào khi chiếc trực thăng bay ngang. Một vài chiếc xe hai
bánh đang phóng nhanh trên đường, trên xe mang nặng những bao bị,vội vã rời xa
vùng lửa đạn hướng về nơi an toàn. Sau sàn tàu, những bao vải lớn nằm chất đống
chứa đầy bánh mì tôi đã mua đem theo, kế bên, ông anh rể tôi tháp tùng theo từ
sáng sớm đang thích thú quan sát cảnh vật chạy lùi phía dưới bụng chiếc trực
thăng.
Hôm qua khi cả nhà đang quây quần trong bữa cơm chiều, sau một vài câu chuyện
qua lại trong ngày, bỗng Me tôi chợt nhìn tôi rồi hỏi:
- Này con..., Me thấy hình như con có điều gì không vui phải không? Con đang có
vấn đề gì không?
Tôi ngập ngừng chưa trả lời, nhưng vì không muốn để cho bà lo lắng tôi nói:
- Dạ..., đâu có vấn đề gì, con chỉ hơi mệt vì bay hơi nhiều... thêm vào đó...
ngày hôm nay con đã gặp nhiều đồng bào mình chạy loạn, đói khát khổ sở, thấy
tội nghiệp cho họ quá.
Ông anh rể tôi đang ngồi ăn kế bên với bà chị ruột của tôi, nghe câu chuyện xen
vào hỏi:
- Nè, mấy hôm nay tôi đọc báo thấy tin về vụ rút quân trên Pleiku về Tuy Hòa,
có phải em bay trên vùng đó không?
Tôi gật đầu:
- Đúng rồi... hằng trăm ngàn người bỏ chạy, thiếu thốn cực khổ... không có ai
giúp đỡ gì cả. Tụi Việt Cộng pháo kích và bắn loạn xạ vào dân lành không phân
biệt già trẻ, đàn bà con nít. Chết nhiều lắm.
Tôi nói tiếp:
- Hồi trưa nay tôi có gặp một nhóm người nhỏ chạy vào trong rừng trốn đạn rồi
bị lạc luôn,tôi đáp tàu xuống bốc tất cả về Tuy Hòa.Nguyên phi hànhđoàn lấy
bánh mì ăn trưa của mình cho họ ăn làm cả ngày tụi này đói meo.
Nghe nói tới đây, Me tôi chắc lưỡi, lắc đầu:
- Tội nghiệp quá... vậy mình có thể làm gì được để giúp họ không con?
- Dạ, con đã có ý định mai mua bánh mì đem theo thả cho họ đó. Con biết đó chỉ
như là muối bỏ biển thôi, nhưng có lẽ mình giúp được người nào hay người nấy.
Vả lại con nghĩ một ổ bánh mì cũng có thể làm cho một người bớt đói một ngày để
họ có sức tiếp tục đi tới nơi. Tôi nói tiếp:
- Nhưng chỉ có một mình con nên hơi khó khăn vì không biết làm sao chở được
nhiều bánh mì vào phi đoàn được?
Nghe tôi nói xong, mọi người im lặng. Tôi chợt nhìn ông anh rể rồi đột ngột
nói:
- Này anh Lộc, ngày mai đi bay với tôi không?
Bất ngờ bị hỏi, anh rể tôi lúng túng nhìn qua bà chị tôi đang chăm chú theo dõi
câu chuyện.
- Tôi à, tôi đi theo để làm gì hả?
- Anh đi theo tôi ngày mai để phụ tôi mua và chở bánh mì đem vô phi trường
thôi, rồi anh có thể về nhà sau đó hay là đi bay với tôi luôn thì tùy anh.
Nghe tôi nói xong, anh Lộc ngập ngừng rồi xoay qua nhìn vợ nói:
- Sao em, em nghĩ sao? Có để cho anh đi theo giúp hay không?
Bà chị tôi nuốt xong miếng cơm trong miệng, lúng búng trả lời:
- Này, đi bay có nguy hiểm không vậy? Chứ giúp đồng bào mình trong lúc này thì
là chuyện nên làm, anh muốn thì cứ đi, tùy ý anh thôi.
Được sự đồng ý của bà chị tôi, anh rể tôi quyết định:
- Được, mai anh sẽ đi giúp em.
Me tôi nghe tới đó chen vào:
- Còn vấn đề tiền bạc, con có nhiều tiền đâu mà mua, để Me đưa phụ cho con mua
bánh mì thêm. Con cần bao nhiêu cứ nói.
Nghe tới đây miếng cơm trong miệng tôi chưa kịp nuốt, bỗng dưng bị nghẹn lại,
tôi không ngờ Me tôi dám để đứa con rể cưng độc nhất cũng như chị tôi dám để
cho người chồng mới cưới, một ông thầy giáo mạo hiểm ra một mặt trận nóng bỏng
như thế này. Tôi nhắc lại cho ông anh rể trước khi đứng dậy rút lui về
phòng mình:
- Anh chắc chưa? Suy nghĩ cho kỹ đó, sáng mai tôi sẽ đánh thức anh dậy, tối nay
đi ngủ sớm đi nghe.
Sáng hôm sau thức dậy
sớm hơn mọi khi, trời còn tờ mờ tối tôi gõ cửa phòng ông anh rể. Anh đã dậy từ
lúc nào, áo quần sẵn sàng đang ngồi uống trà nóng chờ tôi. Tôi đưa cho anh
chiếc áo bay của tôi bảo anh mặc để vào cổng phi trường khỏi bị hỏi giấy.
Hai anh em chở nhau trên chiếc xe Honda 90 già nua của tôi chạy ra lò bánh
mì ở chợ. Khả năng xe chỉ chở được 4 bao bố bột mì nhét đầy những ổ bánh mới ra
lò. Tôi cột từng cặp hai bao lại với nhau, đeo hai bên xe rồi chạy thẳng vào
phi đoàn. Xe phóng ngang cổng Long Vân, mấy anh Quân Cảnh quen đưa tay chào rồi
chỉ vào mấy bao bánh mì, có lẽ tò mò về những cái túi vải lớn treo hai bên
chiếc xe.
Vào tới phi đoàn, tôi dựng xe trước cửa bảo ông anh rể đứng chờ, xong hấp tấp
chạy ngay vào phòng phi đoàn trưởng. Trước cửa phi đoàn một đám hoa tiêu nai
nịt gọn gàng tay xách túi nón bay, đang đứng nói chuyện hút thuốc lá chờ xe chở
ra bãi đi bay, tò mò nhìn tôi đưa tay chào. Bước vào phòng phi đoàn trưởng, tôi
gặp ngay Trung Tá Khưu Văn Phát đang ngồi sau bàn giấy:
- Chào Trung Tá, hôm nay tôi đi bay phi vụ ở Tuy Hòa, nhân tiện chở theo một số
bánh mì thả giúp đồng bào, xin hỏi ý kiến Trung Tá trước.
Trung Tá Phát mở mắt
lớn nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên, ngần ngừ một lúc rồi nói:
- À, chuyện đó cũng tốt thôi, nhưng anh bay gunship nặng đi thả bánh mình thì
nên cẩn thận.
- Không sao đâu Trung Tá đừng lo.
- Tôi chỉ nhắc cho anh biết thôi, tốt nhất là sau khi bắn đạn dược hết rồi thì
làm gì cũng an toàn hơn. Hôm qua phi đoàn mình có một chiếc đáp chở đồng bào bị
"over run" nặng quá cất cánh không nổi bị "crash" anh có
biết không? Thôi, tôi nói vậy anh nên cẩn thận.
Tôi nghe xong, đưa tay chào rồi vội vã trở lui. Vừa ra khỏi phòng gặp ngay
Thiếu tá phi đoàn phó Sơn Thái Huyền đang bước vào. Vị Thiếu tá này là một
huyền thoại trong phi đoàn 215, gốc người Miên, da ngăm đen và nhỏ con. Nghe
anh em nói rằng Thiếu tá Huyền rất tin tưởng vào bùa ngải, thần chú. Có một lần
đi bay với Trung úy Tôn Thất Kim trên một mặt trận lớn đang bùng nổ, bị phòng
không bắn như pháo bông xung quanh tàu. Trung úy Kim ngồi trên ghế bay mặt xanh
như tàu lá chuối, rút người trong chiếc áo giáp mang trước ngực liếc mắt nhìn
qua ghế bên cạnh, Thiếu tá Huyền đang cầm cần lái, tỉnh bơ không hề có một phản
ứng, nhưng miệng thì đọc to những câu thần chú khó hiểu. Lạ lùng thay, không
biết vì sự mầu nhiệm huyền bí của những lời thần chú đó hay là vì số mạng lớn
của phi hành đoàn,hôm đó tàu không hề bị 1 miểng đạn nào cả.
Chạy ra tới chiếc xe Honda, ông anh rể đang đứng chờ bên 4 bao bánh mì, tôi vội
nói:
- Tôi nghĩ mình nên gửi bánh mì tại đây, rồi chạy ra lò bánh làm 1 chuyến nữa
còn kịp giờ, tàu còn trống lắm.
Một khoảng thời gian sau, chiếc trực thăng võ trang đơn thương độc mã cất cánh
rời thành phố Nha Trang hướng về Tuy Hòa chở đầy súng đạn hỏa tiễn và những bao
bánh mì nóng hổi.
Sau hơn 20 phút bay dọc trên Quốc Lộ 1, con tàu vừa tới trên đầu một vườn dừa
xanh tươi bao la nằm kế bên bãi biển Đại Lãnh hình vòng cung cát trắng phau.
Trước mặt không xa là đèo Cả cao ngất, tôi kéo con tàu vươn lên cao, mặt đất
rời xa, con đường lộ và vườn dừa xanh nhỏ dần. Trước mặt tôi, dãy núi Đại Lãnh
chạy dài ra ngoài biển theo hình dáng một cái móc câu bao bọc một vùng nước
xanh, tạo thành một vùng vịnh lý tưởng, đó là vịnh Vũng Rô.Tại đây, Cộng Sản
Bắc Việt lợi dụng địa thế kín đáo này đã dùng làm địa điểm tiếp nhận vũ khí của
những tàu từ ngoài bắc vào. Ngày 16 tháng 2 năm 1965, Không Quân Việt Nam do
hai phi công "Phượng Hoàng Kim Cương" và Trung úy Chánh bay hai chiếc
A1 đã đánh đắm một chiếc tàu của địch đang bỏ neo tại đây chứa đầy vũ khí đạn
dược.
Chiếc trực thăng bắt đầu vào vùng vịnh Vũng Rô. Con tàu đột nhiên chao đảo,
rung chuyển, nhồi lên rớt xuống như chiếc ghe con bồng bềnh trên giòng nước lũ.
Đằng sau khoang tàu ông anh rể tôi ngồi trên thùng đạn, mặt mày hốt hoảng nhợt
nhạt, tôi ghì cần lái cố giữ cho con tàu bớt rung. Chiếc trực thăng đang đi vào
một vùng "nổi tiếng" về không khí nhiểu loạn (turbulence), nhiều phi
hành đoàn thường tránh bay qua vùng này, nhất là trực thăng bay ở cao độ thấp.
Cách đây mấy năm, Thiếu úy Sơn, với cái tên Sơn "phu gạo" vì một thân
thể "vai u thịt bắp" của anh, là một hoa tiêu trong phi đội trực
thăng võ trang của tôi,trên đường từ Phù Cát về Nha Trang, phòng Hành Quân
Chiến Cuộc đã được báo cáo vị trí của Sơn đang ở trên Vũng Rô và từ đó phi hành
đoàn cùng chiếc trực thăng biệt vô âm tín. Suốt 1 tuần lễ sau, mỗi ngày phi
đoàn đều cử một phi vụ đặc biệt đến vùng này tìm chiếc tàu mất tích, nhưng
không ai hề thấy một dấu vết nào của chiếc trực thăng này. Riêng tôi còn nhớ,
trong phi vụ đi tìm chiếc tàu của Sơn "phu gạo", tôi suy luận rằng
nếu chiếc trực thăng bị rơi xuống biển thì một vài ngày sau xác của phi hành
đoàn sẽ nổi lên và trôi dạt vào bãi cát hay 1 ghềnh đá nào đó. Sau hơn 1 tiếng
đồng hồ bay ở cao độ để mắt tìm kiếm xục xạo dọc theo bờ biển hay mõm đá, bỗng
trước mũi tàu dưới thấp, xuất hiện 2 vật màu đen nho nhỏ nằm kế bên nhau nổi
bật trên bãi cát vàng sát mé nước, hình thù như 2 xác người bị cháy đen trôi
dạt lên bờ. Vừa mừng vừa hồi hộp, tôi chỉ cho người hoa tiêu phụ và 2 anh
mê vô xạ thủ xem. Tất cả chồm lên phía trước chăm chú nhìn, trong lòng phấn
khởi hy vọng đã tìm được xác phi hành đoàn. Tôi hạ cao độ, khi con tàu chỉ còn
chừng một vài trăm bộ trên mặt biển, trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người,
2 "xác chết" cháy đen bỗng dưng di động về mé biển rồi biến mất dạng
dưới làn nước trong. Tò mò tôi cho chiếc trực thăng xuống thấp, bay vòng nhìn
xuống mặt nước.
Qua làn nước trong vắt, 2 "chú" kỳ đà khổng lồ đen đủi
như 2 con cá sấu lớn đang nằm sát bên nhau dưới đáy cát, im ru bất động. Vừa
ngạc nhiên lẫn thất vọng, tôi kéo con tàu lên cao, khi vừa đủ năm bảy trăm bộ,
đột ngột tôi quay đầu trở lại mở nút rockets "on" rồi chúi mũi
"dộng" 2 trái hỏa tiễn xuống ngay chỗ 2 con kỳ đà "vô tội"
sát mé biển. Mặt nước đang phẳng lặng bỗng nổ tung, hai cột nước trắng xóa phụt
lên cao xao động cả vùng biển đang êm ả. 3 người trong tàu có vẻ ngạc
nhiên trước hành động bất ngờ không lý do của tôi, nhưng không ai nói một câu
gì, cho đến khi tôi quay đầu chuyển hướng bay thì người xạ thủ lên tiếng:
- "Ông Thầy", sao mình không xuống coi thử có con nào chết không? Tôi
nghe nói mấy con kỳ đà biển này thịt ăn ngon lắm.
Trong lòng đang bực dọc không vui và nhất là khi liên tưởng tới hình dạng xấu
xí của con vật, tôi im lặng không trả lời tiếp tục bay thẳng, trong lòng phân
vân tự hỏi về những hành động hung hăng hay háo sát vô lối của mình vừa
qua,không biết có phải làdo bản chất hay là do hậu quả của những ngày tháng vào
sanh ra tử?
Con tàu đi quá Vũng
Rô, tôi cho chiếc trực thăng băng qua rặng núi cao án ngữ trước mặt chia đôi
hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, dưới thấp đèo Cả ngoằn ngoèo giữa vùng núi xanh.
Đèo Cả không hùng vĩ như đèo Hải Vân, nhưng là một nơi có nhiều di tích lịch sử.
Nhiều trận chiến giữa hai nhà Nguyễn, Tây Sơn và Nguyễn Ánh trong 3 thập niên
nội chiến (1771-1802) đã xảy ra tại đây, và ngọn đèo này được coi như là
"Đệ nhất Hùng Sơn". Bên phải tôi, ngọn Núi Đá Bia sừng sững, một
trong những danh lam thắng cảnh của miền Trung. Khối đá to lớn, trơ trụi cao
hơn 80 mét tọa lạc ngay trên đỉnh núi cao sát phía đông ngọn đèo Cả, ở xa hàng
chục cây số vẫn nhìn thấy rõ. Khối đá này người Phú Yên thường gọi là Linga,
biểu tượng của thần Siva theo tín ngưỡng Chămpa (Chàm) là sinh thực khí của nam
giới. Lúc xưa khi công phá Chiêm Thành, theo truyền thuyết năm 1471, Vua Lê
Thánh Tông đã cho khắc chữ vào khối đá của ngọn núi này, nên được gọi là núi Đá
Bia, tuy nhiên đời sau này chưa ai có được cơ may để đọc những dòng chữ đó, có
lẽ thời gian đã xóa mất dấu tích.
Vượt qua đèo Cả, trước mũi tàu hiện ra một vùng đồng bằng tỉnh Phú Yên bao la
bát ngát, đây là một vựa lúa lớn nhất của miền Trung phần được bồi bổ bởi nước
sông Đà Rằng chảy qua trước khi ra cửa biển. Sông Đà Rằng theo tiếng Chàm có
nghĩa là "con sông lau sậy", mạch máu chính của nền kinh tế thị trấn
Tuy Hòa, rất rộng lớn và có độ dốc cao nên mùa khô nước cạn trơ ra những cồn
cát vàng nằm giữa lòng sông, hai bên bờ mọc đầy lau sậy. Phần thượng lưu của
con sông này thường được gọi là Sông Ba.
Hướng về phi trường Đồng Tác nằm sát bờ biển, một phi trường khổng lồ của quân
đội Mỹ bỏ lại, cách Tuy Hòa khoảng 7 cây số phía nam, tôi cho tàu giảm cao độ
chuẩn bị đáp lấy thêm nhiên liệu.Từ trên tàu nhìn xuống phi trường một vùng đất
mênh mông bỏ hoang còn lại chỉ là phi đạo chạy dài, đa số nhà cửa đã bị tháo gở
hết chỉ còn chừa những nền xi măng. Cho con tàu chạy dọc theo taxiway, từ xa
tôi có thể thấy 2 tòa nhà hậu trạm quân đội, bên ngoài hàng ngàn người đang tụ
tập gồm những những nguòi tỵ nạn hoặc những quân nhân vừa mới được trực thăng
bốc về từ con lộ 7B cùng với thân nhân đến hỏi thăm hoặc chờ đợi tin tức người
nhà. Đây cũng là trung tâm hoạt động của những cơ quan cứu giúp người tỵ nạn và
cũng là nơi dùng cho những ban điều hành Bộ binh phối hợp với những phi vụ trực
thăng của Không quân.
Tôi cho tàu đến trạm đổ xăng dã chiến gần đó, bên những bọc cao su đen khổng lồ
căng phồng đựng JP-4 (xăng máy bay phản lực). Trong khi chờ đợi, tôi mở cửa
bước xuống đất làm vài động tác cho giãn gân cốt thì một chiếc xe Jeep vừa đến
đậu sát bên tôi, trên xe viên Đại úy tay áo mang phù hiệu đầu con cọp đen của
Biệt Động Quân bước xuống, tay xách một cái máy radio FM. Sau khi đưa tay chào,
viên Đại úy hỏi tôi:
- Đây có phải là trực thăng võ trang của phi đoàn Thần Tượng biệt phái cho Tiểu
khu Tuy Hòa không? Hiện tại một đơn vị của chúng tôi trên đường lộ 7 tại Phú
Túc bị một nhóm chốt của tiền sát của tụi VC pháo kích súng cối và đang cần sự
yểm trợ của trực thăng võ trang. Mình có thể đi ngay bây giờ hay không?
- Đại úy chờ đổ xăng xong rồi mình sẽ đi. Nhân tiện tôi có đem theo một số bánh
mì trên tàu để giúp đồng bào trên đường chạy loạn về đây, sau khi yểm trợ xong
tôi sẽ bay đi thả bánh mì xuống cho họ, nói cho Đại úy biết trước.
Người sĩ quan này quay đầu nhìn vào khoang tàu tỏ vẻ ngạc nhiên rồi trả lời:
- Vâng, tôi sẽ phụ với phi hành đoàn làm chuyện này. Viên Đai úy vừa nói xong
thì từ xa một người đàn ông ngoại quốc cỡ trung niên trong bộ đồ kaki bốn túi
vội vã chạy đến, trên người đeo mấy cái mấy ảnh. Gặp tôi đứng dưới đất kế bên
cửa cockpit, anh ta bắt tay tôi và tự giới thiệu bằng tiếng Anh:
- Tôi là Richard Blystone*, đặc phái viên của thông tấn xã AP (Associated
Press). Tôi đang làm việc tại vùng này, nếu có thể được xin anh vui lòng cho
tôi đi theo tàu, cám ơn anh rất nhiều.
Chuyện xảy ra hơi bất ngờ, tôi chưa trả lời, im lặng nhìn người đàn ông ngoại
quốc này một lúc, thấy ông ta có đeo tấm thẻ ký giả trên túi áo, tôi gật đầu
đồng ý xong mở cửa leo lên ghế bay. Con tàu đã đầy xăng, tôi chuẩn bị cất
cánh. Trên sàn tàu chiếc trực thăng võ trang là một hỗn hợp lạ lùng: một viên
Đại úy Biệt Động Quân, một anh ký giả ngoại quốc, một ông thầy giáo, hai anh
phụ tá và một đống bánh mì chất cao ngay giữa sàn. Chiếc trực thăng chúi mũi
rời mặt đất bay về hướng Tây, trước mắt con sông Đà Rằng lững lờ uốn quanh
những cồn cát vàng và những bãi lau sậy.
Sau hơn 20 phút bay, tàu đã đến khu vực huyện Phú Túc nằm kế con lộ 7B nơi đơn
vị Biệt Động Quân đang đụng độ với đám tiền quân Cộng sản. Viên Đại úy chồm lên
trên cockpit chỉ cho tôi ngọn đồi kế con sông nơi Cộng quân đặt súng pháo xuống
con lộ phía dưới. Dưới chân đồi chạy dài ra là bãi cỏ lau mọc song song với bờ
sông rồi đến bãi cát kế dòng nước.
Đang quan sát địa thế trước khi ước định vị trí tác xạ, bỗng tôi giật mình nghe
tiếng người xạ thủ bên cánh phải la hốt hoảng trong intercom:
- Việt Cộng...Việt Cộng...a...ngay bờ lau...hướng 3 giờ ... tụi nó đang chạy
trong bụi lau... đó.. đó...
Tôi nghiêng đầu nhìn xuống dưới, qua tấm thép sắt chắn đạn, sát bãi cát 3-4
bóng đen nhỏ nổi bật trong đám lau đang vạch cỏ chạy nhanh hướng về cái miểu
nhỏ. Ở trên cao cái miểu trông nhỏ xíu như con tem, mái nâu đậm tường gạch vàng
nhạt chỉ cách những bóng người đang chạy chừng vài chục mét. Tôi tức thời chỉ
cho viên Đại úy đang chồm sau lưng tôi. Viên Đại úy nhìn theo qua khung cửa và
trong một cử chỉ vội vã ghé tai tôi hét:
- Bắn đi... bắn đi... tụi nó đó... mau lên... coi chừng tụi nó chạy mất...
Vừa nghe xong câu nói, mạch đập tim tôi đột nhiên tăng vọt, tôi tức khắc vòng
con tàu ra xa để lấy trục tác xạ đồng thời hạ chiếc máy nhắm hỏa tiễn đem xuống
trước mặt, nheo mắt nhìn vào hồng tâm. Cái máy nhắm bị cháy bóng đèn, tắt ngúm
không xử dụng được. Tôi nghiến răng bực mình chửi thầm trong bụng, đẩy nhanh
cái máy vô dụng về vị trí cũ. Chợt nghĩ đến ổ bánh mì nhét dưới túi quần bay,
tôi thò tay xuống mò mẫm móc ra một mẩu ruột nhỏ vo tròn lại xong ịn vào mặt
kiếng chắn gió trước mặt làm điểm chuẩn để tác xạ. Không còn thì giờ để chậm
trễ tôi đẩy con tàu chúi mũi xuống mục tiêu. Mấy tên Việt Cộng chạy vào ẩn náu
bên trong chiếc miểu con vẫn còn đó, tin chắc chúng chưa bị phát giác. Tôi đưa
viên bánh mì nhỏ dán trên tấm kiếng vào cái miểu con đang hiện rõ dần trước
mặt, khi mẩu ruột bánh mì vừa vào đúng ngay trên mục tiêu tôi bấm nút...
Xoẹt...trái hỏa tiễn đầu tiên rời dàn phóng lao xuống nổ tung ngoài bãi cát,
cách xa cái miểu cả trăm thước. Mẩu bánh mì gắn quá thấp! Tôi tiếp tục đẩy cần
lái về phía trước, chiếc trực thăng chúi mũi xuống mục tiêu gia tăng tốc độ,
bắt đầu rung lên bần bật, lắc lư như chiếc võng, tôi cảm tưởng trục cánh quạt
có thể gãy lìa bất cứ lúc nào...Xoẹt...xoẹt...xoẹt... 3 trái hỏa tiễn nối đuôi
nhau lao xuống mục tiêu, 1 trái chui ngay vào mái ngói đen nổ tung khói mù mịt.
Trong khóe mắt tôi, Thiếu úy Liên ngồi im bất động, hai tay đang bấu chặt vào
thành ghế bay, bỗng nhảy chồm lên reo to:
- Hay quá!... Hay quá!...
Trong đám khói bụi đen đang bốc lên cao, một bóng đen đang bò lết ra hướng bờ
cỏ lau... Con tàu quẹo lại, rung chuyển. Tay bật qua nút minigun tôi hét lên
trong intercom:
- Minigun!... minigun!...
Người xạ thủ bên phải nhoài người ra hẳn bên ngoài bóp cò súng, khẩu minigun
quay vù, rống lên âm thanh nhức nhối, hàng ngàn viên đan tua tủa bắn xuống vào
đám bụi mù, đất cát văng lên khắp nơi. Thoáng đâu đây trong những tiếng động
hổn độn, tôi nghe tiếng cóc... cóc... của khẩu AK47 bắn trả. Tôi quẹo gắt con
tàu lấy lại cao độ, vội vàng bay ra khỏi vùng, trong đầu tôi thần kinh vẫn còn
căng thẳng. Đây là lần đầu tiên trong những ngày chinh chiến tôi đã vào vùng
địch một mình, không có chiếc gun số 2 theo sau yểm trợ. Điều này đã làm cho
tôi cảm thấy rất bất an trong lòng.
Quay người lại phía sau tôi nhìn ông anh rể giáo sư của tôi ngồi trên sàn tàu
kế bên những bao bánh mì, mặt mày thất thần, chưa hoàn hồn, còn anh ký giả
ngoại quốc tóc tai rối bời vì gió lộng, đang hí hoáy viết, nhưng tôi chắc chắn
rằng anh ta chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra trong vài phút ngắn ngủi vừa qua.
Vói tay ra hiệu cho vị sĩ quan Biệt Động Quân đang liên lạc với quân bạn bên
dưới trên tầng số FM, tôi nói:
- Đại úy... tôi muốn đi thanh toán mấy bao bánh mì này cho xong, sợ không đủ
xăng. Sau đó trên đường về tôi sẽ tống hết đạn dược xuống ngọn đồi này, nếu Đại
úy đồng ý.
Nói xong không đợi câu trả lời tôi quay mũi về hướng bắc bay dọc theo dòng sông
Ba đang ngoằn ngoèo uốn khúc giữa vùng rừng cây rời rạc. Chỉ dăm ba phút sau,
từ xa vài cây số tôi đã thấy đoàn người chạy giặc chen chúc trên con lộ, phần
đầu của đoàn người dừng lại tại bờ phía bắc đầu cầu sông Ba. Chiếc cầu một phần
giữa bị sập, một nửa nhịp chìm dưới đáy sông cạn. Xung quanh đó, một nhóm công
binh đang xúm lại nối cây cầu. Từ xa trên cao tôi thấy 1 chiếc trực thăng
Chinook đang bay đến, dưới bụng treo "tòng teng" (sling) tấm sắt rất
lớn trông như một nhịp cầu.
Tại đây đoàn người đang dậm chân tại chỗ. Đàng sau cả hàng cây số những người
chạy nạn cùng hàng ngàn chiếc xe vẫn tiếp tục đi tới, dồn cục càng ngày càng
đông tràn ra hai bên phía bìa rừng. Đủ mọi loại xe, cam nhông nhà binh, chiến
xa M113, xe hàng, xe ba bánh và cả hàng ngàn chiếc xe hai bánh của dân chúng
chất chứa đèo bồng tất cả những gì có thể mang theo được. Nhìn hàng vạn người
nối đuôi nhau chen chúc đói khát bên dưới, 5-7 bao bánh mì trên sàn tàu của tôi
như một giọt nước nhỏ bé trên bãi sa mạc mênh mông nắng cháy, sự hăng say phấn
khởi trong lòng tôi buổi sáng hôm nay tự nhiên tan biến tự lúc nào.
- Chắc mình phải đem thả nơi nào có ít người, chứ thả đây người ta đạp nhau đủ
chết.
Tiếng người mê vô phía
sau tàu đề nghị. Thấy hợp lý, tôi cho tàu rời con đường lộ, bay dọc theo bãi
cát bên bờ sông.
- Phía sau sẵn sàng nghe, mở hết mấy bao bánh mì ra đi, khi nào tôi bảo thì mọi
người bắt đầu thả xuống.
Tôi nói với 2 anh mê
vô xạ thủ:
- Nhờ mấy người kia
thả phụ cho nhanh.
Tại bờ sông cạn kế
trên những cồn cát, từng nhóm người đang tắm rửa, hoặc lấy nước uống. Tôi cho
con tàu bay rà xuống thấp, hàng trăm cánh tay đưa lên cao, như van xin cầu khẩn
hơn là chào đón. Một số khác, trên tay cầm những xấp giấy hình như là tiền đưa
lên vẫy vẫy như mời mọc, "khiêu gợi" chiếc trực thăng đang bay ngang
qua đầu. Hình ảnh những xấp tiền trên bàn tay của những người dân chạy giặc, có
thể là cả một gia tài mồ hôi nước mắt của họ dành dụm mang theo được, và ngay
giây phút này sẵn sàng đánh đổi một chỗ ngồi trên chiếc trực thăng để bay
ra khỏi con lộ máu. Tôi bỗng dưng thấy mủi lòng thương xót cho đồng bào đang
đau khổ cùng cực, nhưng đồng thời hành động vô tình của họ đã làm va chạm và
tổn thương tự ái của tôi không ít. Tôi quay qua Thiếu úy Liên ngồi bên ghế trái
đang nhìn xuống phía dưới, bất giác cả 2 cùng quay lại, không ai nói gì nhưng
trong đầu hình như cùng có một ý nghĩ cay đắng và xót xa. Con tàu lướt qua
một đám người nhỏ, tôi bay chậm lại rồi nói vội trong intercom:
- Thả đi...
Hàng chục ổ bánh mì rơi rải rác trên bãi các vàng, từng nhóm người ùa chạy
theo, nhào trên đất vồ vập, chen lấn giành giựt, một vài người già, con nít ngã
lăn trên cát. Chỉ trong chốc lát, những bao bánh mì đã sạch nhẵn. Tôi lấy cao
độ bay trở về, chợt nghĩ rằng mặc dù tàu còn một số đạn dược và rockets nhưng
còn có thể chở được 5-7 người. Tôi bay vòng lại nhìn dọc theo dòng sông, tìm
một nhóm người nhỏ, riêng rẽ để có thể bốc họ mà không bị tràn ngập như chiếc
trực thăng của Thần Tượng đã bị rơi ngày hôm qua.
Bay qua một vùng rừng cây thấp, tôi thấy chừng 5-7 người đang núp nắng dưới
bóng cây, hình như là một gia đình. Tôi lạng chiếc trực thăng xuống thấp và đáp
kế bên tàn cây chừng vài chục mét, cát bụi bay mù mịt, nhóm người trong bụi cây
ùa ra. Người đàn bà khuôn mặt mếu máo vì khủng hoảng, lấy chiếc nón lá che đứa
bé đang ôm trong lòng cúi đầu chạy đến cùng với vài người đàn ông nhảy lên tàu.
Phía sau không xa chừng vài chục người đang tràn tới chiếc trực thăng. Không
một giây chậm trể, tôi nhấc tàu quay mũi ra hướng bờ sông cất cánh, để lại sau
lưng một đám bụi mù và đám người đứng khựng lại vì thất vọng. Tàu lên cao, gió
mát lồng lộng vào khung cửa, khác hẳn với cái nóng hừng hực trên cồn cát nắng
cháy.Phía dưới đất, những người tỵ nạn đứng bên những bờ lau sậy đưa tay vẫy
vẫy trong tuyệt vọng. Tôi quay đầu nhìn xuống một lần cuối cùng trước khi quyết
định rời vùng. Chợt bên mé bờ sông tôi nhìn thấy 2 người, đúng hơn là 2 cô bé
hình như đang giặt áo quần. Nghĩ rằng tàu có thể đủ chỗ cho 2 người nhỏ nữa tôi
lạng một vòng và hạ con tàu xuống cách 2 cô bé chừng vài chục mét. Mọi người
trong khoang tàu nhìn ra chờ,anh xạ thủ đưa tay ngoắc, 2 cô bé thản nhiên bỏ đi
về phía đám người đang đứng dưới những tàn cây đằng xa. Gần đó 2 đứa trẻ con
đứng tắm sợ hãi bỏ chạy, vấp té ngã lăn trên đám cỏ dại. Tôi kéo con tàu
cất cánh và nói với phi hành đoàn:
- Chắc 2 cô bé này đang đi với gia đình, không muốn đi một mình.
Thiếu úy Liên gật đầu
đồng ý. Nhìn đồng hồ xăng đã xuống khá thấp, tôi vội vã hướng về Tuy Hòa.
Trong tiếng động ầm ỉ của tiếng động cơ, tôi bỗng nghe tiếng người xa thủ nói
rất to sau khoang tàu, hình như đang có gì lộn xộn. Tôi quay qua hỏi người hoa
tiêu phụ:
- Liên, coi thử chuyện gì vậy?
- Mấy người mới lên tàu dành nhau vô ngồi giữa, thấy tàu mở cửa họ sợ bị rớt ra
ngoài.
Đang suy nghĩ vì con tàu bay qua ngọn đồi lúc nãy, phân vân không biết nên bắn
xuống ngọn đồi như đã hứa với viên Đại úy trong khi tình trạng xăng trên tàu
chỉ còn đủ để bay trở về. Tôi hơi bực mình quay qua nhìn Thiếu úy Liên và nói:
- Liên, bạn giải quyết giùm đi, biểu họ ngồi yên và coi chừng, tôi sắp sửa bắn
rockets xuống ngọn đồi này đó.
Nói xong tôi quay lại ra hiệu cho viên Đại úy Biệt Động Quân biết, rồi quay đầu
tàu vòng lại, chúi mũi phóng những trái rockets còn lại xuống ngay lưng đồi.
Người xạ thủ nhoài người ra ngoài trút hết những viên đạn cuối cùng xuống đầu
địch trước khi con tàu rời vùng. Âm thanh của những trái hỏa tiễn rít lên cùng
với tiếng súng 6 nòng minigun rú lên như bò rống đinh tai nhức óc, đứa bé trong
lòng người mẹ sau khoang tàu khóc thét lên, còn đứa con trai lớn hơn kế bên, mở
trừng mắt, trên khuôn mặt lộ vẻ kinh hoàng, ngồi chết cứng, mếu máo vì sợ hãi,
khóc không ra tiếng.
Tàu đã cạn xăng và đạn dược, tôi phóng nhanh về Tuy Hòa. Bên cạnh, tôi thấy
Liên móc gói thuốc mời người đàn ông hút và 2 người nói chuyện rất hăng say.
Người đàn ông trong bộ áo quần nhàu nát, xốc xếch có lẽ là chồng của người đàn
bà đang ôm đứa bé, trên khuôn mặt gầy ốm, mệt mỏi và xạm đen vì nắng nhưng đôi
mắt lộ vẻ sung sướng với nụ cười nở rạng rỡ trên môi. Tôi hỏi Liên:
- Quen à ?
- Anh có tin không, đây là thằng bạn học cùng lớp với tôi hồi xưa, em ruột của
Thượng Sĩ Kim y tá phi đoàn mình đó. Thật là một chuyện hi hữu, đúng là ý trời.
Trong giọng nói của Liên tôi nghe như đang ẩn chứa một niềm vui bất chợt. Tôi
trao cần lái cho Liên rồi móc thuốc ra hút, nghĩ xả hơi sau 1 thời gian dài
căng thẳng.
Tôi hỏi Liên:
- Hôm qua bạn làm gì?
- À, tôi bay cho tiểu khu Tuy Hòa thả cơm vắt, mía khúc xuống cho dân chạy loạn
và bốc người. Có chuyện này tôi quên kể cho anh nghe. Lúc bay ra vùng có một Ma
Soeur đi theo tàu để thả đồ tiếp tế của tiểu khu TuyHòa. Khi tôi đáp xuống bãi
cát, một toán người tràn tới leo lên tàu, Ma Soeur lẵng lặng nhảy xuống đất
nhường chỗ không lên lại tàu, tôi cứ chần chờ, bà ngoắc tay bảo tôi bay đi.
Thấy một đám người đang chạy đến, tôi không thể chờ lâu hơn nữa được phải cất
cánh. Trước đó tôi có nghe Ma Soeur nói là muốn được xuống con lộ gia nhập với
đoàn người chạy nạn để giúp đỡ họ, nhưng tôi không ngờ.
Liên nói tiếp:
- Anh có biết không, khi chiếc tàu cất cánh, nhìn xuống thấy người nữ tu trong
bộ áo dòng đứng chơ vơ, hai tay giữ chiếc khăn bịt đầu trên bãi cát nóng cháy,
gió bụi mịt mù như muốn cuốn thổi bay tấm thân nhỏ bé, hình ảnh đó có lẽ sẽ
không bao giờ phai nhạt trong trí óc của tôi anh à.
Khi nói tới đây, giọng của Liên đột nhiên như nghẹn ngào vì xúc động. Tôi vội
quay mặt nhìn ra ngoài khung cửa, bất giác liên tưởng đến cái gọi là "giải
phóng miền Nam" của quân CộngSản khát máu và những nổi thống khổ tận cùng
mà cả hàng trăm ngàn người dân lành vô tội đang phải chịu đựng trên con lộ máu
kinh hoàng này.
Thành phố Tuy Hòa ẩn hiện trước mặt, nằm im lìm bên cửa sông Đà Rằng mênh mông
mở rộng. Trên bầu trời trong xanh, những chiếc trực thăng như những con ong dập
dìu bay tìm kiếm những người dân trên con lộ Liên tỉnh 7B, chở về trung tâm tỵ
nạn.Tôi hạ cánh đáp xuống phi trường Đồng Tác, đám đông bu quanh những bãi đậu
trực thăng, ào chạy đến gần nhìn những người trên tàu tôi vừa thả xuống đất, hy
vọng sẽ gặp lại được những khuôn mặt thân quen của họ.
Một chiếc xe Jeep chạy đến kế bên tàu, viên Đại úy tay xách chiếc radio FM nhảy
xuống đất, leo lên xe rồi đưa tay chào phi hành đoàn. Người ký giả Mỹ còn nấn
ná ở lại trên sàn tàu, trong tiếng ầm ĩ của động cơ, anh ta chồm lên từ phía
sau ghé vào tai tôi nói lớn:
- Cám ơn anh rất nhiều về chuyến bay vừa qua. Tôi rất muốn giúp đỡ những người
chạy loạn nhưng bất ngờ không đem theo nhiều tiền.Tôi chỉ có hơn 10 ngàn đồng
trong túi, xin gửi hết cho anh để ngày mai mua bánh mì giùm tôi.
Nói xong anh dúi vội
vào tay tôi xấp giấy bạc rồi nhảy xuống đất đưa tay vẫy chào. Cầm xấp giấy
bạc trong tay, tôi ngỡ ngàng nhìn theo người ký giả biến mất hút vào đám đông
người...
Đà Nẵng Di Tản và Một Sự
Gặp Gở Bất Ngờ
Tỉnh đường Tuy Hòa là một tòa nhà lớn nằm trên một vị trí đẹp nhất thành phố,
kế bên bờ biển, mặt đông khu vườn cỏ nhìn xuống bãi cát vàng, phía nam nhìn ra
cửa sông Đà Rằng mênh mông bát ngát. Từ trên cao nhìn xuống sân cỏ rộng của
tỉnh đường đã có 7-8 chiếc trực thăng tắt máy đậu sẵn. Tôi lượn một vòng nhìn
xuống, thấy có chỗ trống vừa đủ cho 1 chiếc trực thăng, tôi hạ cao độ và chen
vào đáp. Trên bãi cỏ của tỉnh đường, đứng lố nhố những phi hành đoàn và nhiều
người ngoại quốc đủ mọi quốc tịch, trên người đeo đầy máy ảnh chạy lui chạy tới
rất là bận rộn. Có lẽ họ là những nhà báo khắp thế giới đến săn tin tức về mặt
trận đang sôi động tại chiến trường vùng 2. Tắt máy tàu, mở cửa bước xuống sân
cởi chiếc áo giáp nặng chịch trên người, trước mặt tôi đậu những chiếc trực
thăng lẫn lộn của nhiều phi đoàn mang đủ loại phù hiệu như Hoàng Ưng, Thiên
Ưng, Song Chùy v...v... từ Đà Nẵng di tản vào. Một chiếc trực thăng tản thương
của phi đoàn 257 Cứu Tinh vừa đáp xuống, bụi mù tung lên, những người ký giả
chạy ùa đến săn tin tức.
Ngày 27 tháng 3 năm 75, Cộng Quân gia tăng áp lực vào thị trấn Đà Nẵng, phi
trường bị pháo kích liên tục. Tất cả máy bay được lịnh cất cánh lên trời để
tránh thiệt hại. Pháo kích kéo dài không ngưng, tất cả trực thăng được lệnh rời
bỏ phi trường Đà Nẵng đáp xuống phi trường Non Nước đậu qua đêm.Đây là 1 phi
trường nhỏ của Mỹ bỏ lại cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 5 cây số hướng
đông nam. Suốt đêm đó tất cả phi hành đoàn đều ngủ tại những "bunker"
hoặc giao thông hào của những đơn vị Thủy Quân Lục Chiến trú đóng tại đó, đang
chờ các tàu Hải Quân trên đường cập bến di tản tất cả lực lượng tại đây.
Sáng hôm sau, tình thế tại Đà Nẵng rất nguy ngập, Cộng quân tiến sát vào thành
phố. Trong tình thế hỗn loạn đó, tất cả trực thăng của các phi đoàn đậu tại phi
trường Non Nước được lệnh cất cánh di tản về Phù Cát. Thời tiết ngày đó rất
xấu, trần mây thấp không hơn 500 bộ che kín bầu trời (overcast). Tất cả hoa
tiêu trực thăng cất cánh tại phi trường Non Nước về căn cứ Phù Cát, Bình Định
có 2 giải pháp phải chọn lựa, một là bay trên trần mây mù mịt, hai là bay thấp
dọc theo bờ biển. Đa số trực thăng tối hôm qua bay chờ khá lâu trên trời để
tránh pháo của địch đã tiêu thụ một số xăng khá nhiều, bây giờ bình xăng không
còn đầy để có thể bay xa. Nếu phải chọn con đường bay trên trần mây, và khi đến
phi trường Phù Cát không tìm được khoảng trống để đáp xuống thì tàu có thể rớt
vì hết xăng. Cũng nên biết rằng, đa số trực thăng không được trang bị những khí
cụ hay máy móc để bay trong mây hay thời tiết xấu, cho nên đối với những hoa
tiêu trực thăng bay trên trần mây không thấy được mặt đất là một điều tối kỵ.
Giải pháp thứ hai bay thấp dưới trần mây, dọc theo bờ biển, nhưng những chiếc
trực thăng phải đối phó với hỏa lực phòng không của địch qua nhiều vùng đã bị
chiếm đóng. Cả 2 giải pháp đều là nan giải cho những phi hành đoàn trong hoàn
cảnh nguy ngập đó. Một trong những hoa tiêu của Phi đoàn tản thương Cứu
Tinh 257 đang đậu tại phi trường Non Nước là Trung úy Phạm Mẫn, cựu hoa tiêu
phi đoàn Thần Tượng 215, đã chọn con đường thứ hai, bay thấp dưới trần mây về
Phù Cát. Trên tàu khi đó chở đầy những quân nhân Không quân cũng như một số dân
sự. Để tránh những súng nhỏ có thể bắn từ những làng mạc đã bị địch chiếm đóng,
Trung úy Mẫn bay con tàu cách xa bờ biển chừng nửa cây số. Trên đường đi, trong
tần số radio, những hoa tiêu liên lạc với nhau, kêu nhau ơi ới. Những chiếc
trực thăng bay thấp bị đủ mọi loại súng của địch từ những ngôi làng dọc theo
Quốc Lộ 1 bắn tới tấp, những chiếc máy bay bay trên cao thì trần mây mù mịt
không tìm được đường xuống. Tình trạng rất bi đát.
Riêng Trung úy Mẫn, sau chừng nửa tiếng đồng hồ bay, khi vừa đi ngang quận Dục
Đức, từ trong bờ một tràng đạn phòng không cỡ lớn nổ liên tục nhắm vào chiếc
trực thăng đang bay thấp trên mặt biển. Một viên đạn trúng tàu nổ tung, một số
người chết ngay trên sàn tàu, Trung úy Mẫn cố lết con tàu bay sát mặt biển tới
được gần đèo Phù Củ thì rơi xuống bãi cát sát bờ nước. Từ phía sau đuôi của
chiếc trực thăng, một nhóm Việt cộng từ một làng sát mé biển chạy đến. Những
người nào còn sống sót trên tàu mạnh ai nấy chạy. Mẫn bị một vết thương ngay
chân, lết ra khỏi tàu chạy về phía trước dọc theo bờ biển, những tiếng súng
AK47 nổ dòn vang vọng đàng sau.
Chạy được chừng 3-4 cây số thì trước mặt khoảng
5-7 trăm mét, chừng 4-5 tên đầu đội nón cối chạy ngược lại chận đường, biết là
không còn đường thoát, trong một hành động tuyệt vọng Trung úy Phạm Mẫn nhảy
xuống biển bơi vòng ra khơi, hy vọng sẽ lẩn tránh được quân thù. Trên bờ mấy
tên Việt Cộng vừa tới nơi đứng giương súng chờ đợi. Sức người có hạn, sau một
chặng đường dài chạy trên biển với vết thương ngay chân, anh đã kiệt lực và
đành buông xuôi giao thân cho địch. Anh bị trói thúc ké dẩn đi vào hướng đất
liền, giữa một vùng bụi cây thấp mọc dọc theo ven biển. Trên trời cao những
chiếc trực thăng của phi đoàn 243 Mãnh Sư tại căn cứ Phù Cát được lệnh bay
ngược về hướng Đà Nẵng, hy vọng cứu cấp những phi hành đoàn bị rơi rớt dọc
đường. Một chiếc trực thăng của phi đoàn Mãnh sư vừa bay ngang, tiếng động cơ
và tiếng cánh quạt kêu ầm ỉ, bên dưới Trung úy Mẫn bị mấy tên Cộng Sản xô chúi
nhủi vào một bụi rậm, dí súng AK47 vào đầu không cho anh nhúc nhích. Trong giây
phút dưới áp lực của mũi súng quân thù, Mẫn* vẫn còn đủ bình tĩnh để ngửng lên
nhìn chiếc trực thăng đang bay qua đầu, lòng thầm biết ơn những người hoa tiêu
bạn trong giây phút tận cùng của cuộc chiến vẫn "không bỏ anh em không bỏ
bạn bè", đúng như tinh thần bất diệt của Quân chủng Không quân.
- Ê, Mãnh Hổ!
Đang đứng hút thuốc kế bên tàu tôi nghe tiếng ai kêu từ phía sau. Tôi quay lại.
Một hoa tiêu mang phù hiệu trực thăng của phi đoàn 239 Hoàng Ưng đang đứng sau
lưng nhìn tôi cười. Tôi nhíu mắt nhìn. Khuôn mặt rất quen thuộc, tôi cố moi lại
trong trí nhớ.
- Mày quên tao rồi à, Nguyễn Hào đây!
- Hào,trời đất! Hào"gàn"phải không? Mẹ, lâu ngày quá!
Vừa nói xong tôi mừng rỡ ôm choàng lấy người bạn thân cùng khóa bay. Từ lúc
chia tay nhau sau khi du học ở Mỹ trở về nước, mỗi thằng đi một vùng chiến
thuật, chưa bao giờ chúng tôi có cơ hội gặp lại nhau. Hình ảnh của thằng bạn có
giọng nói Bắc kỳ Hà Nội chậm rãi, ngọt ngào như mía lùi lại ẩn chứa một tánh
tình "ngang tàng" nếu không nói là có tí "ngông", trên một
khuôn mặt rất là "boyish" đã trở lại trong tâm trí tôi. Những ngày
bên trường bay vào những buổi đi học về, trong khi mấy anh "hoa tiêu học
trò" vội vã chen nhau xuống chiếc xe buýt thì Hào lửng thửng một tay xách
túi bay, một tay đút vào túi quần chậm rãi đi từng bước một về phòng, hình như
chưa bao giờ tôi thấy anh ta vội vã cả. Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Chuyện gì đã đưa đẩy bạn lưu lạc nơi phương trời này vậy, Hào?
- Thì lúc Ban Mê Thuột bị tụi nó chiếm, từ Đà Nẵng tao tình nguyện biệt phái
dẫn 5 chiếc tàu lên Pleiku cho phi vụ không vận Sư đoàn 23 về tái chiếm Ban Mê
Thuột. Chừng 2 ngày sau thì phi vụ đó bị "xù", tụi tao bị
"xỉ" về vùng này bốc dân. Mấy lần tao nghe tiếng mày trên tần số mà
chưa có cơ hội để gặp. Này, mày bay gunship phải không, tao có chuyện này muốn
nói với mày.
- Có gì quan trọng không?
Vừa nói tôi vừa móc ổ
bánh mì dưới túi bay rồi hỏi:
- Mày ăn chưa?
- Tao ăn rồi, mày ăn đi. Lúc nãy tao đi chở dân về, gần tới Tuy Hòa bên mấy thửa
ruộng hoang tao thấy 2-3 con bò đang đứng ăn cỏ, tao định xuống "dớt"
một con đem về cho lính mình ăn, tao thấy nhiều lính bộ binh đi lạc trong rừng
được bốc về phi trường Đồng Tác tơi tả, tội nghiệp quá. Một mình không có
gunship "cover" tao hơi ngại, bây giờ gặp mày đây tao mới hỏi mày đi
bay yễm trợ cho tao "dớt" con bò về được không?
- Chuyện nhỏ thôi, nhưng coi chừng, nhiều lúc là bò của dân đó mày.
- Dân đếch gì, xa tuốt trong rừng, giờ này dân chạy hết rồi, để lại cho tụi
Việt Cộng ăn cũng vậy thôi.
Cầm ổ bánh mì trên tay tôi vừa ăn vừa nói:
- OK, làm gì thì làm để tao "thanh toán" ổ bánh mì này cho xong đã
rồi đi đâu thì đi.
Hơn 10 phút sau 2 chiếc trực thăng bắt đầu quay máy, tôi cất cánh chiếc trực
thăng võ trang nối đuôi theo chiếc Hoàng Ưng của Hào rời bãi đậu. Hai con tàu
lấy cao độ hướng ra phía bờ sông. Trên cao nhìn xuống, từ cửa sông Đà Rằng chạy
dài về phía tây, cửa sông trông giống như đầu của một con bạch tuột với những
sợi râu nằm giữa vựa lúa lớn nhất miền Trung phần, những mảnh ruộng hình vuông
con con màu vàng cỏ rạ, nối tiếp nhau từ bờ sông chạy dài đến gần chân núi Đại
Lãnh. Nhìn thằng bạn thân cắm đầu bay trước mặt, trên tần số riêng tôi gọi:
- Hào, mày còn nhớ chỗ không đó?
- Yên chí đi, cứ theo tao, 5 phút nữa sẽ đến, cách con sông vài cây số ngay bìa
rừng tao nhớ rõ.
Đúng như lời Hào nói, chỉ trong vài phút bay tôi thấy chiếc trực thăng trước
mặt nghiêng cánh, hạ cao độ. Từ trên cao nhìn xuống, tôi có thể thấy một vùng
ruộng bỏ hoang, không canh tác, cỏ vàng úa mọc đầy, nằm kế bên bìa rừng, ở giữa
là một con suối cạn uốn éo, cỏ mọc xanh hai bên bờ.
- Hổ, mày thấy chưa, bãi ruộng gần con suối, cách đây 2 tiếng đồng hồ tao đã
bay qua đây rồi.
Tôi nhìn theo nôn nóng:
- Biết rồi, mấy con bò đâu không thấy?
- Từ từ đừng nóng, lẩn quẩn đâu đây thôi.
Hào bay dưới thấp chừng vài trăm bộ, tôi giữ vị thế cao hơn để quan sát tình
hình, theo dõi tàu của Hào trong trường hợp có biến cố nào tôi có thể phản ứng
kịp thời. Bỗng tôi nghe tiếng Hào trong tần số, giọng nói phấn khởi:
- Đây rồi, đây rồi, 3 "chú" đang ăn cỏ đây.
Nhìn xuống dưới thấp, tàu Hào đang bay bỗng quay vòng lại, cánh quạt chiếc trực
thăng chấp chóa, 3 con bò đang đứng thản nhiên gặm cỏ trên một bãi ruộng
hoang, kế bên một đám cỏ tranh vàng úa. Hào nói:
- Hổ, mày trên cao cover nghe, tao xuống đây.
Tôi hạ cao độ, bay vòng rộng quanh chiếc tàu phía dưới, quan sát tình hình.
Xung quanh đều là đồng không mông quạnh, không có dấu vết gì khả nghi cả, trừ
đám rừng xa xa khoảng vài cây số. Chiếc trực thăng của Hào bay chậm lại và
ngừng lại trên đầu 3 con bò màu nâu đang bình thản đứng kế bên nhau. Bên hông
cửa tàu của chiếc trực thăng phía dưới tôi có thể nhìn thấy khẩu đại liên đang
khạc đạn, phóng ra những làn khói trắng nho nhỏ. Một con bò nhỏ nhất trong đám
ngã quỵ xuống, hai con kia tức thời phóng chạy.
- Hổ, tao đáp xuống đây... coi chừng dùm tao nghe...
Quay qua khung cửa, tay cầm cần lái, mắt tôi chăm chú theo dõi tất cả mọi diễn
tiến bên dưới. Chiếc trực thăng đáp kế con bò đang nằm trên mặt đất,cách đó 1
khoảng gần là một đám cỏ tranh cao tới ngực. 2 người mê vô xạ thủ nhảy xuống
đất đồng thời một bên cánh cửa cockpit mở ra, người hoa tiêu phụ nhảy xuống
theo.
3 người chạy đến kế
bên con bò. Từ trên cao tôi theo dõi một hoạt cảnh ngoạn mục, 3 anh phi hành
trong bộ đồ bay, người mặc áo giáp, đội nón helmet ì ạch kéo con bò không nhúc
nhích. Mấy ông mê vô xạ thủ và ông anh rể tôi ngồi sau sàn tàu chồm ra ngoài cửa
hồi hộp nhìn xuống phía dưới theo dõi. Từ trên cao nhìn xuống, tôi thầm nghĩ
con bò quá nặng không thể nào 3 người có thể đủ sức đem nó lên sàn tàu. Đúng
như tôi đã dự đoán, trên tần số tiếng nói của Hà:
- Nặng quá tụi nó kéo không nổi, Hổ, tao xuống phụ với tụi nó, cover cho tao
nghe...
Hào nói xong chưa chờ
tôi trả lời, mở cửa nhảy xuống, chạy đến bên con bò. 4 người xúm nhau, tiếp tục
kéo. Cho con tàu bay thấp vài trăm bộ tôi nghiêng đầu theo dõi. Bỗng dưng cách
chiếc trực thăng đang đậu phía dưới chừng vài chục mét, tôi phát giác một bóng
người bận đồ đen vừa mới đứng lên giữa đám cỏ tranh mọc cao ngang ngực. Tôi la
lớn cho mấy anh mê vô xạ thủ tôi nghe thấy để chuẩn bị:
- Có người, đằng sau, coi chừng...
Người xạ thủ hình như cũng thấy như tôi đã thấy, đến chụp khẩu minigun chỉa
xuống ngay chỗ đám cỏ tranh. Phía dưới là chiếc tàu của Hào đang nổ máy hoàn
toàn không có người nào ở trên tàu, tôi không biết làm cách nào để thông báo
cho phi hành đoàn bên dưới biết tình trạng đang xảy ra. Tôi sà con tàu xuống
thấp bay ngang đầu chiếc trực thăng đang đậu dưới đất, bay vòng thật nhỏ như để
báo hiệu cho bạn mình biết để đề phòng có người lạ khả nghi đang ở gần đấy.
Một cuộc diễn tiến bất ngờ xảy ra phía dưới như một cuốn phim đang quay chậm.
Bóng người đang đứng giữa đám cỏ tranh bỗng vạch cỏ bước hẳn ra ngoài, tiến về
hướng chiếc trực thăng đang đậu kế con bò, hai tay cầm khẩu AK47 đưa cao lên
khỏi đầu. 4 người đang hì hục kéo con bò, bất ngờ ngưng lại, quay mặt về phía
bóng người đang bước tới. Tôi thấy Hào rút khẩu "rouleaux" chỉa về
phía người lạ. Hình như có một cuộc đối thoại ngắn đang xảy ra, tôi đoán vậy.
Hào bước đến gần, tay vẫn chỉa súng vào người lạ, tay kia vói giật khẩu AK47.
Bây giờ một người xạ thủ của Hào đã tỉnh hồn, nhảy lên tàu chĩa khẩu đại liên
M60 về phía "nhân vật" mới xuất hiện. Hình như cuộc đối thoại vẫn
đang còn tiếp diễn. Đột nhiên trước sự ngạc nhiên, nếu không nói là sửng sốt của
tất cả mọi người trên tàu tôi, "nhân vật" mới cùng phi hành đoàn 4
người của Hào xúm nhau lại kéo con bò lên sàn tàu. Nôn nóng muốn biết chuyện gì
đã xảy ra, chờ khi Hào đã an tọa trên ghế bay, tôi la trên tần số:
- Hào, chuyện gì vậy, chuyện gì đã xảy ra vậy?
Trong hơi thở hổn hển
có lẽ vì quá mệt sau khi khiêng con bò lên sàn tàu, tiếng nói của Hào đứt đoạn:
- Thằng... Việt cộng... nó muốn hồi chánh... nó xin tao chở về Tuy Hòa...
Tôi ngắt lời:
- Mày có chắc không? Coi chừng đó!
- Không sao...đâu, tao lấy súng nó rồi. Nó là dân du kích địa phương... có gia
đình ở Tuy Hòa...
Nghe xong tôi thở phào nhẹ nhõm. Có lẽ tên Việt Cộng này đang chăn bò, thấy
trực thăng đến chạy núp trong đám cỏ tranh, và sau khi thấy chiếc gunship quần
trên đầu tưởng là đã bị phát giác nên ra đầu hàng.
Tôi gọi Hào:
- Mày làm tao hú hồn, thôi, chở con bò về phi trường Đồng Tác giao cho bộ binh
và nhân tiện giao thằng Việt Cộng luôn.
Rồi tôi nói tiếp:
- Nhớ cắt một cái đùi tối về Nha Trang tụi mình nhậu nghe.
Vĩnh Hiếu
Phi đoàn Thần Tượng, 215
*Richard Blystone was
a correspondent for Associated Press (ap) for 15 years, reporting mainly from
Southeast Asia, where he was bureau chief in Bangkok, before moving on to Cable
News Network. He is also an Associate of Producers International Media, and one
of the world’s top journalists and writers... Now he is a retired senior
correspondent for CNN...
*Trung úy Phạm Mẫn bị Cộng quân bắt làm tù binh sau khi chiếc tàu anh bị bắn
rớt trên bờ biển Quảng Nam ngày 28 tháng 3 năm 1975. Sau 3 năm bị cầm tù, năm
1981 anh cùng hai đứa con trai vượt biển đến được bến bờ tự do.
Xin cám ơn KQ Nguyễn Đức Liên, Phạm Mẫn, Nguyễn Hào đã đóng góp những chi tiết
trong bài Ngày Tàn Cuộc Chiến (Phần 2), cùng anh Herky428 về tác phẩm rất đẹp
của Mãnh Hổ trên biển Nha Trang.
Riêng cám ơn Cánh Thép.com, là nguyên nhân để tôi tìm lại được Thiếu úy Nguyễn
Đức Liên, một hoa tiêu phi đoànThần Tượng mà tôi đã mất liên lạc từ năm 1975,
qua những bài viết về cuộc chiến của tôi.
Một bài viết của đặc phái viên AP, Richard Blyslone, về phi vụ tại Tuy Hòa.

No comments:
Post a Comment