Pages

Wednesday, April 8, 2026

Tản Mạn Về Thơ Việt Nam - Phần 2 - Nguyễn Duy Phước


Đặc điểm của thơ 7 chữ

Cùng với thơ Lục Bát, đây là thể thơ rất thịnh hành trong thi văn Việt Nam nhưng khó làm hơn nhiều vì luật lệ rất gắt gao, nhất là những loại thơ phải theo Đường Luật.

Thơ 7 chữ là một thể thơ truyền thống trong kho tàng văn học Việt Nam và Trung Hoa, mỗi dòng thơ gồm bảy chữ (hay bảy âm tiết). Đây là thể thơ quen thuộc trong thơ Đường luật cũng như thơ Lục Bát biến thể, và nhiều thể loại thơ cổ điển khác. Với cấu trúc ngắn gọn,thơ 7 chữ được sử dụng để diễn tả và truyền tải những cảm xúc chân tình, những hình ảnh sinh động và các ý tưởng sâu sắc chỉ trong một vài dòng thơ.   

Loại thơ này từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong kho tàng văn học Việt Nam. Đây là một thể thơ truyền thống đậm chất Việt, mang trong mình nhịp điệu lâng lâng, mượt mà. Qua từng vần, từng câu, thơ 7 chữ có thể vẽ nên bức tranh phong phú về cuộc sống, từ tình yêu, thiên nhiên đến những triết lý nhân sinh đầy suy ngẫm.

Thơ 7 chữ nổi bật với nhịp điệu uyển chuyển và âm hưởng du dương, thường tuân theo niêm luật và đối ý chặt chẽ trong các bài thơ xưa, nhưng cũng rất linh hoạt khi được dùng trong thơ hiện đại. Nhờ vậy, thơ 7 chữ vừa mang tính trang trọng cổ điển, vừa có thể gần gũi, dễ tiếp cận với đọc giả đương thời.

Trong các thể thơ 7 chữ, phổ biến nhất là loại 4 câu gọi là Thất Ngôn Tứ Tuyệt hoặc 8 câu gọi là Thất Ngôn Bát Cú.

Đến đây thì xin nói vì Đường Luật không phải ai cũng thông thạo, nên tôi đã phải lên mạng tìm tòi và nghiên cứu quy tắc chứ không thể « bá láp bá xàm » và « rùa » được như những loại thơ khác.


Quy tắc Đường Luật 

(Xin lỗi trước vì phần này có hơi kỹ thuật và khô khan).

 Luật Vần: Vần được gieo ở cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8 (nếu có 8 câu) và luôn phải là thanh Bằng (nghĩa là không dấu hoặc dấu huyền). Còn các câu 3, 5, 7 thì không cần vần nhưng phải thanh Trắc (nghĩa là dấu hỏi, ngã hay nặng). Như vậy nếu làm thơ Tứ Tuyệt thì cần có cùng vần cho 3 câu còn làm thơ Bát Cú thì cần có cùng vần cho đến 5 câu và do đó khó hơn Tứ Tuyệt.

Luật Đối: Đến đây là bắt đầu chông gai rồi vì nếu là thơ Bát Cú thì các câu 3 – 4 và 5 – 6 phải đối với nhau, chẳng hạn trong 4 câu sau đây trích trong bài thơ "Bác Đến Chơi Nhà" của Nguyễn Khuyến mà cách đối chữ rất là chỉnh:


Ao sâu nước cả, khôn chài cá (câu 3)

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà (câu 4)

Cải chửa ra cây, cà mới nụ (câu 5)

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa (câu 6)

                        

thì chúng ta thấy « Ao sâu » đối với « Vườn rộng », « Chài cá » đối với « Đuổi gà », « Cà mới nụ » đối với « Mướp đương hoa » v.v...

Luật Niêm: Đến đây thì mới là nhiêu khê nhất vì phải theo luật bằng trắc rất chặt chẻ. Để hiểu rõ luật này thì xin mời xem bảng hướng dẫn dưới đây mà thanh Trắc là chữ "T" và thanh Bằng là chữ "B".  


Luật thơ thất ngôn bát cú Đường luật 

Bài thơ sẽ được gọi theo luật Thanh trắc, nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên trong bài thơ là thanh Trắc “T” (như trong bảng trên). Ngược lại sẽ được gọi là Thanh bằng nếu chữ thứ hai trong câu đầu tiên là thanh Bằng “B”. Trong trường hợp này thì phải đổi tất cả từ “T” qua “B” và ngược lại trong bảng trên.

 

B1/ Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt

Như đã nói trên những bài thơ loại này chỉ có 4 câu (tuy rằng nhiều bài thơ có thể có một số 4 câu), nên tương đối dễ làm hơn thơ Bát Cú vì không cần đối chữ. Và vì không bị ràng buộc quá mức nên những loại thơ này lại thịnh hành nhất trong số loại thơ 7 chữ. Đây là loại thơ tôi thích nhất, nhiều khi chỉ có 4 câu nên tôi thường « ê a » riết rồi quen âm hưởng, và có thể nhờ vậy mà tôi yêu thơ, vì có nhiều bài đọc lên nghe rất mùi, rất truyền cảm, thấm vào lòng, thường được sáng tác bởi những thi sĩ thuộc thế hệ "mới" như đã biết qua ở loại thơ Lục Bát.

Xin dẫn chứng với các bài thơ sau đây:  

 

Hai sắc hoa Tigôn

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng

Trời ơi, người ấy có buồn không?

Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ

Tựa trái tim phai, tựa máu hồng.

T.T.Kh

 

***

Vì Sao

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu.

Xuân Diệu


***

Đà Lạt trăng mờ

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để xem trời giải nghĩa yêu.

Hàn Mạc Tử

***

Xuân

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân đến gợi thêm sầu?
Với tôi, tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!

Chế Lan Viên

 

****

Những bóng người trên sân ga

(dài lắm chỉ trích 2 đoạn 4 chữ)

 

Có lần tôi thấy một người yêu

Tiễn một người yêu một buổi chiều

Ở một ga nào xa vắng lắm

Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu.

***

Có lần tôi thấy một bà già

Đưa tiễn con đi trấn ải xa

Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng

Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.

Nguyễn Bính


B11/ Biến thể của thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt

Loai thơ Tứ Tuyệt có một biến thể cũng là 4 cây bảy chử nhưng thanh vận và vần ở các câu có hơi khác.

Trong loại này, hai câu 1 và 3 phải thanh Trắc và cùng vần trong khi đó thì hai câu 2 và 4 phải thanh Bằng và cùng vần. Còn về niêm luật thì cũng giống như trong bảng Bằng Trắc trên.

Xin dẫn chứng với 2 bài thơ sau đây:

 

Xuân Chạm Ngõ

Xuân đến nhẹ nhàng trên ngõ vắng

Gió lùa ve vuốt cánh hoa lay.

Bướm ong mơn trớn ươm màu nắng

Say đắm hồn ta giấc mộng đầy.

Tác giả Vô danh

===


Nỗi Lòng Viễn Xứ

Tôi đi trong vấn vương niềm nhớ

Phố xá người qua rất hững hờ

Có thấu lòng tôi đang nức nở

Xứ người Tết đến thấy chơi vơi.

NdP

 

Loại thơ này thật ra ít được sáng tác và thu hút nhiều như loại thơ Tứ Tuyệt ở đầu phần.


B12/ Vài bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt tôi sáng tác

(có hơi dài)

Mộng Ban Đầu


Có những chiều thu nắng nhạt màu

Lá vàng héo úa rụng lao xao

Lá rơi từng phiến sầu tan tác

Gợi nhớ trong ta mối tình đầu

 

Thuở ấy ta đang tuổi mộng mơ

Đêm thường thơ thẩn ngắm sao trời

Con tim chân chính, tình chớm nở

Mạch sống trào dâng, ngạt ý thơ

 

Rồi một chiều mây tím tơ vương

Dáng em thấp thoáng buổi tan trường

Áo bay phất phới theo cơn gió

Hé mở lòng ta cánh thiên đường

 

Và từ dạo ấy ta biết yêu

Buồn vui lẫn lộn, nhớ nhung nhiều

Giấy trắng ghi đầy tên hai đứa

Để rồi chợt thấy vẫn cô liêu

 

Đôi tám yêu đưong em biết gì

Thơ ngây còn quyện bước chân đi

Riêng ta sầu đã giăng đầy ngõ

Lòng nghe tràn lấp mối tình si

 

Hồn ta chìm đắm cõi mê say

Rực khoảng trời yêu, bóng nguyệt đầy

Em ơi nhớ quá bờ môi ấy

Trằn trọc đêm trường hóa ngu ngây!

 

Em vẫn vô tình có biết đâu

Tim ta thổn thức tự hôm nào

Đôi lời tâm sự chưa dám ngỏ

Ngại ngùng e vỡ mộng ban đầu

 

Ngày tháng dần trôi theo áng mây

Cổng trường ta dõi bóng em hoài

Chỉ mong một nụ cười ban bố

Cho lòng vơi hết nỗi đọa đày

 

Ôi khúc ân tình thoáng chơ vơ

Ôm mối tương tư mãi thẩn thờ

Vì em ta đã thành thi sĩ

Nỗi niềm đem trút cả vào thơ

 

Rồi bỗng một hôm pháo đỏ hồng

Được tin em cất bước sang sông

Ta đem đốt hết chồng thơ cũ

Lặng lẽ nhìn em đi lấy chồng

 

Thế là hết đợi, hết mong chờ

Buồn dâng đẫm ướt cả vần thơ

Sao em đành nỡ sang bến ấy

Giết chết tình ta trong hững hờ

 

Thôi thế thì thôi đoạn tuyệt rồi

Từ đây sầu dẫm nát tim côi

Từng đêm thương tiếc tình đã lỡ

Mơ bóng hình ai tận cuối trời.

===

Bến Đò Xưa 

Tôi nhớ quen em một buổi chiều

Bến đò cô quạnh, áng tịch liêu

Đường vắng thưa người chung lối bước

Chỉ nghe tiếng gió thổi hiu hiu

 

Em thoáng thẹn thùng bước chân mau

Ngỡ ngàng quen biết phút ban đầu

Đôi mắt mơ màng như xa cách

Ngại ngần không dám nói đôi câu

 

Trời bỗng mịt mù giăng phủ mây

Mưa tuôn đẫm ướt tóc vai gầy

Bước em lảo đảo theo cơn gió

Bụi đỏ, bùn trơn lắm gót lầy

 

Tôi xót thương người em gái thơ

Chung đường sao ngoảnh mặt làm ngơ

E dè vội với tay nâng đỡ

Hương tóc em bay dạ thẫn thờ

 

Rồi những chiều tháng hạ mưa ngâu

Lối về đôi bóng vẫn bên nhau

Bàn tay tha thiết khi đưa đón

Dìu bước em sang suốt nhịp cầu

 

Theo tháng ngày tình đã lên ngôi

Ta đưa nhau đi nhẹ vào đời

Đường xưa ghi dấu lời thề ước

Và nguyện muôn chiều luôn sóng đôi

 

Non nước loạn ly nạn lửa binh

Chia tay tôi dấn bước đăng trình

Em hứa sẽ chờ tôi mãi mãi

Chinh chiến lâu ngày bỗng bặt tin

 

Một hôm về phép rạo rực lòng

Tìm gặp người yêu thỏa nhớ mong

Bến đò năm trước sao hoang vắng

Không gian lặng ngắt cõi hư không

 

Tôi ngóng chờ em đến tái tê

Bóng dáng người xưa chẳng thấy về

Hỏi ra mới biết rằng em đã

Cất bước ra đi lỗi hẹn thề

 

Cánh chim biền biệt cuối chân trời

Nhịp cầu gãy khúc tách lìa đôi

Lời nguyền tan tác theo mây khói

Chưa trọn tiếng yêu vội chia phôi

 

Nhớ khi còn chung bước sang sông

Nay đã sang ngang bước theo chồng

Thuyền hoa thay thế con đò cũ

Sông buồn ngăn cách chảy đôi dòng

 

 Em nỡ quên người trong gió mưa

Quên cả bàn tay quen đón đưa

Để tôi sầu đắng trong nhung nhớ

Ngậm ngùi luyến tiếc cuộc tình xưa.


Chú thích: Bài thơ này được sáng tác dựa theo ý của bản nhạc "Tôi Đưa Em Sang Sông".

===

Mùa Thu Chết 

Một mùa thu chết, nắng hoen đời

Tình sầu trổi khúc nhạc chơi vơi

Gió chớm lạnh xua chiều vụn vỡ

Đêm sâu, ngày vắn, dạ thẫn thờ

 

Tơ lòng thổn thức giọt sầu rơi

Ru khúc tình xa, mộng nửa vời

Thu đến, thu đi ngời luyến nhớ

Tình thu còn mãi vấn vương đời.

 

Hồn lẻ, chăn đơn loang lỡ rồi

Duyên tình trắc trở mãi không thôi

Thu còn vương vấn thêm chi nữa

Giao khúc thu phai đắng kiếp người

 

Thăm thẳm đường mây trắng mịt mờ

Lạnh lùng sương khói tỏa ngàn khơi

Lạc bước tình đơn xuôi vạn nẻo

Thu vẫn muôn đời thu lẻ loi

 

Lất phất mưa sa phủ bóng người

Nghe lòng thổn thức giọt thu rơi

Gió bỗng chiều nay se thắt lạnh

Trăm thương, nghìn nhớ chẳng nên lời

 

Điệu đàn thương nhớ, phím cung lơi

Ru khúc tình xa, mộng nửa vời

Em đi, đi mãi không về nữa

Tình thu sầu đắng mãi thu ơi.

 

Chú thích: Bài thơ này gọi là độc vận chỉ dùng một vần “ơ” hay “ơi”.


B2/ Thơ Thất Ngôn Bát Cú

Bài thơ này độc đáo ở chỗ tác giả dùng những vần ở cuối câu rất đặc biệt như "trong veo", "tẻo teo", "đưa vèo", "vắng teo", và qua đây mới thấy là tiếng Việt của chúng ta quá giàu để có thể diễn tả tất cả các trạng thái, điều mà theo tôi không có một ngôn ngữ nào khác có thể làm được.


B21/ Vài bài thơ của các thi sĩ trứ danh

Sau đây xin dẫn chứng Đường Luật qua 2 bài thơ sau đây:

 

Thu Điếu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Nguyễn Khuyến


Bài thơ này độc đáo ở chỗ tác giả dùng những vần ở cuối câu rất đặc biệt như "trong veo", "tẻo teo", "đưa vèo", "vắng teo", và qua đây mới thấy là tiếng Việt của chúng ta quá giàu để có thể diễn tả tất cả các trạng thái, điều mà theo tôi không có một ngôn ngữ nào khác có thể làm được.

===

 

Qua Đèo Ngang

Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Lom khom dưới núi, tiều vài chú

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia

Dừng chân đứng lại, trời non nước

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Bà Huyện Thanh Quan

 

Bài thơ này tôi nhớ hoài vì là bài thơ tôi phải diễn giải khi thi Tú Tài Pháp trong môn Việt văn. Cũng may là bài thơ đã được ông thầy về Việt văn giảng ở trong lớp và may hơn nữa là lúc đó tôi lắng tai nghe chứ không « ngủ gà ngủ gật » như mọi khi. Nhờ vậy tôi đã biết tả : « đây là một bài thơ Đường của một nữ sĩ khi đi qua Đèo Ngang lúc chiều tà đã dâng trào cảm xúc và nói lên nỗi nhớ nhà thương nước... ». Và điều này được thể hiện qua 2 câu thơ 5 và 6 (in đậm) với cách đối chữ thật tuyệt vời. Đúng ý vị giám khảo nên tôi qua được cái ải này.   

B22/ Vài bài thơ tôi sáng tác

Bây giờ thì tôi đã học thuộc bài về quy tắc thơ Đường Luật nên cũng ráng bắt chước các thi sĩ ngày xưa làm vài bài thơ Thất Ngôn Bát Cú. Trong những thi sĩ thời đó, người mà tôi thích nhất là Trần Tế Xương, hay Tú Xương, với lối hành văn trào phúng, châm biếm, hơi ngông đời. Sở dĩ như vậy vì ông là một nhà thơ rất tài nhưng lỡ vận, thi cử cứ trượt hoài nên có một cuộc sống nghèo khó như trông bài thơ sau đây:

  

Than thân

Kể đã ba mươi mấy tuổi rồi

Tôi ngồi tôi nghĩ cái thằng tôi

Mấy khoa hương thí không đâu cả

Ba luống vườn hoang bán sạch rồi

Gạo cứ lệ ăn đong bữa một

Vợ quen dạ đẻ cách năm đôi

Bắc thang lên hỏi ông trời nhé:

Trêu ghẹo người ta thế nữa thôi?

 

và một bài thơ về Tết sau đây:

 

Cảm Tết

Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo

Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu

Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy

Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu

Bánh chưng sắp gói e mồm chảy

Giò lụa toan làm sợ nắng thiu

Thôi thế thì thôi đành Tết khác

Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo.

 

Và các bài thơ trên đã cho tôi nguồn cảm hứng để thực hiện 

các bài thơ sau đây:

 

Tết Nghèo

Ngựa đến rắn đành phải chạy te

Tết này tớ thấy khỏe, khòe, khoe

Không nêu, không pháo, không trà tửu

Chẳng mứt, chẳng dưa, chẳng rượu chè

Lũ trẻ lì xì chờ thấp thỏm

Vợ nhà cúng kiến đợi lăm le

Tết về những muốn xum xoe lắm

Xem lại túi tiền thấy rỗng toe!

 

***

Chiều 30 mươi Tết rước ông bà

Mình giả đò quên, vợ chẳng tha

Bán chiếc đờn cò mua khứa cá

Mang tranh lợn chuột đổi con gà

Cháu từ miền quê lên cho gạo

Bạn ở Cao Nguyên gửi tặng trà

Sực nhớ bàn thờ đem bán trước

Thôi đành cúng bái trong lòng ta!

 

***

Năm mới Tết sang chửa hết nghèo

Không tiền mua bánh mứt, gà heo

Bàn thờ bụi bám, hương tàn lạnh

Bếp núc chổng chơ, chén mốc meo

Họ sướng mừng Xuân vui rộn rã

Mình buồn đón Tết lạnh chèo queo

Nghênh tân tống cựu thay đời mới

Hay vẫn loay hoay kiếp bọt bèo

 

***

Tết này ta ước muốn gì đây

Mơ ước bình yên, khỏi lất lây

Quần áo còn che thân ốm yếu

Gạo cơm đủ lót bụng teo gầy

Ốm đau đừng hụt tiền thang thuốc

Bệnh hoạn chỉ mong chạy trúng thầy

Đời sống cơ hàn nên phấn đấu

Tương lai đâu thể mãi như vầy!

 

===

 

Ăn Tết Xứ Người

 

Bạn cho rằng tớ thật lai căng

Tết nhất thiêng liêng lại nhập nhằng

Ông Táo chưa đưa vì cách trở

Ông bà chửa rước bởi xa xăm

Bánh chưng toan gói quên nhưn vị

Thịt mỡ định kho thiếu cải hành

Tết vẫn đi về đâu đã hết

Thế thì xin khất đến sang năm!

 

****

Chắc bạn khi tôi mất gốc chăng?

Tết thời kiêng cử cứ lằng xằng

Giao thừa xông đất, không người hạp

Mồng một lo cầy, ngại chủ hăm

Lũ trẻ tây u luời chúc thọ

Bu nhà dân Pháp sợ chay rằm

Tân niên nếu vậy e không khá

 Tết đến chi thêm nỗi oái oăm.  

===

 

Ngán Ngẩm Cuộc Đổi Đời

 

Xưa thuở vàng son thật nhớ đời

Thỏa tình bay nhảy rộn trời mơ

 Vũ trường lả luớt, say ngây ngất

Khách sạn du dương, sướng tuyệt vời

Em út bạc bài chơi xả láng

Rượu chè đớp hít khoái mê tơi

Đào nguyên lạc thú ôi vi vút

 Rủng rỉnh tiền tài sống thảnh thơi

 ***

  Bay bướm phong lưu nay hết thời

Bạc bài hút sách cữ không chơi

Hát hò khan cổ gần ngưng thở

Nhảy nhót rêm mình muốn hụt hơi

Gái chỉ ngắm thôi vì mỏi gối

Rượu thời nhấm chút đã mềm môi

Thôi thôi tớ nguyện xin chừa hết

Gân cốt giờ đây muốn sụm rồi

 

***

Ngán ngẩm ôi thôi cuộc đổi đời

Lên voi xuống chó dễ như chơi

Thuở xưa nhung gấm ngời oanh liệt

Nay tuổi về chiều luống tả tơi

Vận nước thăng trầm bao biến động

Số phần phiêu bạt lắm nổi trôi

Cố tìm an ủi trong quên lãng

 Định mệnh an bài phải chịu thôi

  

 ***

 Ngẫm kiếp nhân sinh, thế sự đời

Chẳng qua chỉ là giấc mơ thôi

Giàu sang quyền quý rồi tay trắng

Trí thức tài cao cũng lỡ thời

Tranh chấp hơn thua hao tổn sức

Đua đòi so sánh mất công toi

Công danh, sự nghiệp như gió thoảng

Tất cả không qua được số trời.

  

Chú thích: Bài thơ này để nói lên tâm trạng những vị khi xưa bên nhà giàu sang ăn chơi hết mình, nay sa cơ thất thế nên đâm ra ngao ngán cuộc đời. Ngoài ra đây cũng là một bài thơ  độc vận vì tuy nhiều câu nhưng tôi chỉ dùng mỗi một vần “ơi”.  

 

Còn tiếp.

NdP

2 comments:

  1. Wow!!! Đúng như chị Tố Kim nhận xét, tôi không thể tưởng tượng được một “ông Tây” mà viết về thơ, sáng tác thơ… quá hay!
    Mai Khánh Thư

    ReplyDelete
  2. Xin cám ơn anh chị quá khen.

    ReplyDelete