Đặc điểm của thơ 7 chữ
Cùng với thơ Lục Bát, đây là thể thơ rất thịnh hành trong thi văn Việt Nam nhưng khó làm hơn nhiều vì luật lệ rất gắt gao, nhất là những loại thơ phải theo Đường Luật.
Thơ 7 chữ là một thể thơ truyền thống trong kho tàng văn học Việt Nam và Trung Hoa, mỗi dòng thơ gồm bảy chữ (hay bảy âm tiết). Đây là thể thơ quen thuộc trong thơ Đường luật cũng như thơ Lục Bát biến thể, và nhiều thể loại thơ cổ điển khác. Với cấu trúc ngắn gọn,thơ 7 chữ được sử dụng để diễn tả và truyền tải những cảm xúc chân tình, những hình ảnh sinh động và các ý tưởng sâu sắc chỉ trong một vài dòng thơ.
Loại thơ này từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong kho tàng văn học Việt Nam. Đây là một thể thơ truyền thống đậm chất Việt, mang trong mình nhịp điệu lâng lâng, mượt mà. Qua từng vần, từng câu, thơ 7 chữ có thể vẽ nên bức tranh phong phú về cuộc sống, từ tình yêu, thiên nhiên đến những triết lý nhân sinh đầy suy ngẫm.
Thơ 7 chữ nổi bật với nhịp điệu uyển chuyển và âm hưởng du dương, thường tuân theo niêm luật và đối ý chặt chẽ trong các bài thơ xưa, nhưng cũng rất linh hoạt khi được dùng trong thơ hiện đại. Nhờ vậy, thơ 7 chữ vừa mang tính trang trọng cổ điển, vừa có thể gần gũi, dễ tiếp cận với đọc giả đương thời.
Trong các thể thơ 7 chữ, phổ biến nhất là loại 4 câu gọi là Thất Ngôn Tứ Tuyệt hoặc 8 câu gọi là Thất Ngôn Bát Cú.
Đến đây thì xin nói vì Đường Luật không phải ai cũng thông thạo, nên tôi đã phải lên mạng tìm tòi và nghiên cứu quy tắc chứ không thể « bá láp bá xàm » và « rùa » được như những loại thơ khác.
Quy tắc Đường Luật
(Xin lỗi trước vì phần này có hơi kỹ thuật và khô khan).
- Luật Vần: Vần được gieo ở cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8 (nếu có 8 câu) và luôn phải là thanh Bằng (nghĩa là không dấu hoặc dấu huyền). Còn các câu 3, 5, 7 thì không cần vần nhưng phải thanh Trắc (nghĩa là dấu hỏi, ngã hay nặng). Như vậy nếu làm thơ Tứ Tuyệt thì cần có cùng vần cho 3 câu còn làm thơ Bát Cú thì cần có cùng vần cho đến 5 câu và do đó khó hơn Tứ Tuyệt.
- Luật Đối: Đến đây là bắt đầu chông gai rồi vì nếu là thơ Bát Cú thì các câu 3 – 4 và 5 – 6 phải đối với nhau, chẳng hạn trong 4 câu sau đây trích trong bài thơ "Bác Đến Chơi Nhà" của Nguyễn Khuyến mà cách đối chữ rất là chỉnh:
Ao sâu nước cả, khôn chài cá (câu 3)
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà (câu 4)
Cải chửa ra cây, cà mới nụ (câu 5)
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa (câu 6)
thì chúng ta thấy « Ao sâu » đối với « Vườn rộng », « Chài cá » đối với « Đuổi gà », « Cà mới nụ » đối với « Mướp đương hoa » v.v...
- Luật Niêm: Đến đây thì mới là nhiêu khê nhất vì phải theo luật bằng trắc rất chặt chẻ. Để hiểu rõ luật này thì xin mời xem bảng hướng dẫn dưới đây mà thanh Trắc là chữ "T" và thanh Bằng là chữ "B".
Bài thơ sẽ được gọi theo luật Thanh trắc, nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên trong bài thơ là thanh Trắc “T” (như trong bảng trên). Ngược lại sẽ được gọi là Thanh bằng nếu chữ thứ hai trong câu đầu tiên là thanh Bằng “B”. Trong trường hợp này thì phải đổi tất cả từ “T” qua “B” và ngược lại trong bảng trên.
B1/ Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt
Như đã nói trên những bài thơ loại này chỉ có 4 câu (tuy rằng nhiều bài thơ có thể có một số 4 câu), nên tương đối dễ làm hơn thơ Bát Cú vì không cần đối chữ. Và vì không bị ràng buộc quá mức nên những loại thơ này lại thịnh hành nhất trong số loại thơ 7 chữ. Đây là loại thơ tôi thích nhất, nhiều khi chỉ có 4 câu nên tôi thường « ê a » riết rồi quen âm hưởng, và có thể nhờ vậy mà tôi yêu thơ, vì có nhiều bài đọc lên nghe rất mùi, rất truyền cảm, thấm vào lòng, thường được sáng tác bởi những thi sĩ thuộc thế hệ "mới" như đã biết qua ở loại thơ Lục Bát.
Xin dẫn chứng với các bài thơ sau đây:
Hai sắc hoa Tigôn
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng.
T.T.Kh
***
Vì Sao
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu.
Xuân Diệu
***
Đà Lạt trăng mờ
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để xem trời giải nghĩa yêu.
Hàn Mạc Tử
***
Xuân
Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân đến gợi thêm sầu?
Với tôi, tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
Chế Lan Viên
****
Những bóng người trên sân ga
(dài lắm chỉ trích 2 đoạn 4 chữ)
Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
Ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu.
***
Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa
Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng
Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.
Nguyễn Bính
B11/ Biến thể của thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt
Loai thơ Tứ Tuyệt có một biến thể cũng là 4 cây bảy chử nhưng thanh vận và vần ở các câu có hơi khác.
Trong loại này, hai câu 1 và 3 phải thanh Trắc và cùng vần trong khi đó thì hai câu 2 và 4 phải thanh Bằng và cùng vần. Còn về niêm luật thì cũng giống như trong bảng Bằng Trắc trên.
Xin dẫn chứng với 2 bài thơ sau đây:
Xuân Chạm Ngõ
Xuân đến nhẹ nhàng trên ngõ vắng
Gió lùa ve vuốt cánh hoa lay.
Bướm ong mơn trớn ươm màu nắng
Say đắm hồn ta giấc mộng đầy.
Tác giả Vô danh
===
Nỗi Lòng Viễn Xứ
Tôi đi trong vấn vương niềm nhớ
Phố xá người qua rất hững hờ
Có thấu lòng tôi đang nức nở
Xứ người Tết đến thấy chơi vơi.
NdP
Loại thơ này thật ra ít được sáng tác và thu hút nhiều như loại thơ Tứ Tuyệt ở đầu phần.
B12/ Vài bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt tôi sáng tác
(có hơi dài)
Mộng Ban Đầu
Có những chiều
thu nắng nhạt màu
Lá vàng héo úa
rụng lao xao
Lá rơi từng
phiến sầu tan tác
Gợi nhớ trong ta
mối tình đầu
Thuở ấy ta đang
tuổi mộng mơ
Đêm thường thơ
thẩn ngắm sao trời
Con tim chân
chính, tình chớm nở
Mạch sống trào
dâng, ngạt ý thơ
Rồi một chiều
mây tím tơ vương
Dáng em thấp
thoáng buổi tan trường
Áo bay phất phới
theo cơn gió
Hé mở lòng ta
cánh thiên đường
Và từ dạo ấy ta
biết yêu
Buồn vui lẫn
lộn, nhớ nhung nhiều
Giấy trắng ghi
đầy tên hai đứa
Để rồi chợt thấy
vẫn cô liêu
Đôi tám yêu
đưong em biết gì
Thơ ngây còn
quyện bước chân đi
Riêng ta sầu đã
giăng đầy ngõ
Lòng nghe tràn
lấp mối tình si
Hồn ta chìm đắm
cõi mê say
Rực khoảng trời
yêu, bóng nguyệt đầy
Em ơi nhớ quá bờ
môi ấy
Trằn trọc đêm
trường hóa ngu ngây!
Em vẫn vô tình
có biết đâu
Tim ta thổn thức
tự hôm nào
Đôi lời tâm sự
chưa dám ngỏ
Ngại ngùng e vỡ
mộng ban đầu
Ngày tháng dần
trôi theo áng mây
Cổng trường ta
dõi bóng em hoài
Chỉ mong một nụ
cười ban bố
Cho lòng vơi hết
nỗi đọa đày
Ôi khúc ân tình
thoáng chơ vơ
Ôm mối tương tư
mãi thẩn thờ
Vì em ta đã
thành thi sĩ
Nỗi niềm đem
trút cả vào thơ
Rồi bỗng một hôm
pháo đỏ hồng
Được tin em cất
bước sang sông
Ta đem đốt hết
chồng thơ cũ
Lặng lẽ nhìn em
đi lấy chồng
Thế là hết đợi,
hết mong chờ
Buồn dâng đẫm
ướt cả vần thơ
Sao em đành nỡ
sang bến ấy
Giết chết tình
ta trong hững hờ
Thôi thế thì
thôi đoạn tuyệt rồi
Từ đây sầu dẫm
nát tim côi
Từng đêm thương
tiếc tình đã lỡ
Mơ bóng hình ai tận cuối trời.
===
Bến Đò Xưa
Tôi nhớ quen em
một buổi chiều
Bến đò cô quạnh,
áng tịch liêu
Đường vắng thưa
người chung lối bước
Chỉ nghe tiếng
gió thổi hiu hiu
Em thoáng thẹn
thùng bước chân mau
Ngỡ ngàng quen
biết phút ban đầu
Đôi mắt mơ màng
như xa cách
Ngại ngần không
dám nói đôi câu
Trời bỗng mịt mù
giăng phủ mây
Mưa tuôn đẫm ướt
tóc vai gầy
Bước em lảo đảo
theo cơn gió
Bụi đỏ, bùn trơn
lắm gót lầy
Tôi xót thương
người em gái thơ
Chung đường sao
ngoảnh mặt làm ngơ
E dè vội với tay
nâng đỡ
Hương tóc em bay
dạ thẫn thờ
Rồi những chiều
tháng hạ mưa ngâu
Lối về đôi bóng
vẫn bên nhau
Bàn tay tha
thiết khi đưa đón
Dìu bước em sang
suốt nhịp cầu
Theo tháng ngày
tình đã lên ngôi
Ta đưa nhau đi
nhẹ vào đời
Đường xưa ghi
dấu lời thề ước
Và nguyện muôn
chiều luôn sóng đôi
Non nước loạn ly
nạn lửa binh
Chia tay tôi dấn
bước đăng trình
Em hứa sẽ chờ
tôi mãi mãi
Chinh chiến lâu
ngày bỗng bặt tin
Một hôm về phép
rạo rực lòng
Tìm gặp người
yêu thỏa nhớ mong
Bến đò năm trước
sao hoang vắng
Không gian lặng
ngắt cõi hư không
Tôi ngóng chờ em
đến tái tê
Bóng dáng người
xưa chẳng thấy về
Hỏi ra mới biết
rằng em đã
Cất bước ra đi
lỗi hẹn thề
Cánh chim biền
biệt cuối chân trời
Nhịp cầu gãy
khúc tách lìa đôi
Lời nguyền tan
tác theo mây khói
Chưa trọn tiếng
yêu vội chia phôi
Nhớ khi còn
chung bước sang sông
Nay đã sang
ngang bước theo chồng
Thuyền hoa thay
thế con đò cũ
Sông buồn ngăn
cách chảy đôi dòng
Quên cả bàn tay
quen đón đưa
Để tôi sầu đắng
trong nhung nhớ
Ngậm ngùi luyến tiếc
cuộc tình xưa.
Chú thích: Bài thơ này được sáng tác dựa theo ý của bản nhạc "Tôi Đưa Em Sang Sông".
===
Mùa Thu Chết
Một mùa thu chết, nắng hoen đời
Tình sầu trổi khúc nhạc chơi
vơi
Gió chớm lạnh xua chiều vụn
vỡ
Đêm sâu, ngày vắn, dạ thẫn thờ
Tơ lòng thổn thức giọt sầu
rơi
Ru khúc tình xa, mộng nửa vời
Thu đến, thu đi ngời luyến nhớ
Tình thu còn mãi vấn vương đời.
Hồn lẻ, chăn đơn
loang lỡ rồi
Duyên tình trắc trở mãi không thôi
Thu còn vương vấn thêm chi nữa
Giao khúc thu phai đắng kiếp người
Thăm thẳm đường mây trắng mịt mờ
Lạnh lùng sương khói tỏa ngàn khơi
Lạc bước tình đơn xuôi vạn nẻo
Thu vẫn muôn đời thu lẻ loi
Lất phất mưa sa phủ bóng người
Nghe lòng thổn thức giọt thu rơi
Điệu đàn thương nhớ, phím cung lơi
Ru khúc tình xa, mộng nửa vời
Em đi, đi mãi không về nữa
Tình thu sầu đắng mãi thu ơi.
Chú thích: Bài thơ này gọi là độc vận chỉ
dùng một vần “ơ” hay “ơi”.
B2/ Thơ Thất Ngôn Bát Cú
Bài thơ này độc đáo ở chỗ tác giả dùng những vần ở cuối câu rất đặc biệt như "trong veo", "tẻo teo", "đưa vèo", "vắng teo", và qua đây mới thấy là tiếng Việt của chúng ta quá giàu để có thể diễn tả tất cả các trạng thái, điều mà theo tôi không có một ngôn ngữ nào khác có thể làm được.
B21/ Vài bài thơ của
các thi sĩ trứ danh
Sau đây xin dẫn chứng Đường
Luật qua 2 bài thơ sau đây:
Thu Điếu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Nguyễn Khuyến
Bài thơ này độc đáo ở chỗ tác giả dùng những vần ở cuối câu rất đặc biệt như "trong veo", "tẻo teo", "đưa vèo", "vắng teo", và qua đây mới thấy là tiếng Việt của chúng ta quá giàu để có thể diễn tả tất cả các trạng thái, điều mà theo tôi không có một ngôn ngữ nào khác có thể làm được.
===
Qua Đèo Ngang
Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia
Dừng chân đứng lại, trời non nước
Một mảnh
tình riêng, ta với ta.
Bà Huyện
Thanh Quan
B22/ Vài bài thơ tôi sáng tác
Bây giờ thì tôi đã học thuộc bài về quy tắc thơ Đường Luật nên cũng ráng bắt chước các thi sĩ ngày xưa làm vài bài thơ Thất Ngôn Bát Cú. Trong những thi sĩ thời đó, người mà tôi thích nhất là Trần Tế Xương, hay Tú Xương, với lối hành văn trào phúng, châm biếm, hơi ngông đời. Sở dĩ như vậy vì ông là một nhà thơ rất tài nhưng lỡ vận, thi cử cứ trượt hoài nên có một cuộc sống nghèo khó như trông bài thơ sau đây:
Than
thân
Kể đã
ba mươi mấy tuổi rồi
Tôi ngồi
tôi nghĩ cái thằng tôi
Mấy
khoa hương thí không đâu cả
Ba luống
vườn hoang bán sạch rồi
Gạo cứ
lệ ăn đong bữa một
Vợ
quen dạ đẻ cách năm đôi
Bắc
thang lên hỏi ông trời nhé:
Trêu
ghẹo người ta thế nữa thôi?
và một bài thơ về Tết sau đây:
Cảm Tết
Anh em
đừng nghĩ Tết tôi nghèo
Tiền bạc
trong kho chửa lĩnh tiêu
Rượu
cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy
Trà
sen mượn hỏi giá còn kiêu
Bánh chưng
sắp gói e mồm chảy
Giò lụa
toan làm sợ nắng thiu
Thôi
thế thì thôi đành Tết khác
Anh em
đừng nghĩ Tết tôi nghèo.
Và các bài thơ trên đã cho tôi nguồn cảm hứng để thực hiện
các bài thơ sau đây:
Tết Nghèo
Ngựa đến rắn đành phải chạy te
Tết này tớ thấy khỏe, khòe, khoe
Không nêu, không pháo, không trà tửu
Chẳng mứt, chẳng dưa, chẳng rượu chè
Lũ trẻ lì xì chờ thấp thỏm
Vợ nhà cúng kiến đợi lăm le
Tết về những muốn xum xoe lắm
Xem lại túi tiền thấy rỗng toe!
***
Chiều 30 mươi Tết rước ông bà
Mình giả đò quên, vợ chẳng tha
Bán chiếc đờn cò mua khứa cá
Mang tranh lợn chuột đổi con gà
Cháu từ miền quê lên cho gạo
Bạn ở Cao Nguyên gửi tặng trà
Sực nhớ bàn thờ đem bán trước
Thôi đành cúng bái trong lòng ta!
***
Năm mới Tết sang chửa hết nghèo
Không tiền mua bánh mứt, gà heo
Bàn thờ bụi bám, hương tàn lạnh
Bếp núc chổng chơ, chén mốc meo
Họ sướng mừng Xuân vui rộn rã
Mình buồn đón Tết lạnh chèo queo
Nghênh tân tống cựu thay đời mới
Hay vẫn loay hoay kiếp bọt bèo
***
Tết này ta ước muốn gì đây
Mơ ước bình yên, khỏi lất lây
Quần áo còn che thân ốm yếu
Gạo cơm đủ lót bụng teo gầy
Ốm đau đừng hụt tiền thang thuốc
Bệnh hoạn chỉ mong chạy trúng thầy
Đời sống cơ hàn nên phấn đấu
Tương lai đâu thể mãi như vầy!
===
Ăn Tết Xứ Người
Bạn cho rằng tớ thật
lai căng
Tết nhất thiêng liêng lại nhập
nhằng
Ông Táo chưa đưa vì cách
trở
Ông bà chửa rước bởi xa xăm
Bánh chưng toan gói quên nhưn vị
Thịt mỡ định kho thiếu cải hành
Tết vẫn đi về đâu đã hết
Thế thì xin khất đến sang năm!
****
Chắc bạn khi tôi mất gốc chăng?
Tết thời kiêng cử cứ lằng xằng
Giao thừa xông đất, không người hạp
Mồng một lo cầy, ngại chủ hăm
Lũ trẻ tây u luời chúc thọ
Bu nhà dân Pháp sợ chay rằm
Tân niên nếu vậy e không khá
Tết đến chi thêm nỗi oái oăm.
===
Ngán Ngẩm Cuộc Đổi Đời
Xưa thuở vàng son thật nhớ đời
Thỏa tình bay nhảy rộn trời
mơ
Vũ trường lả luớt, say ngây ngất
Khách sạn du dương, sướng tuyệt vời
Em út bạc bài chơi xả láng
Rượu chè đớp hít khoái mê tơi
Đào nguyên lạc thú ôi vi vút
Rủng rỉnh tiền tài sống thảnh
thơi
***
Bay bướm phong lưu nay hết
thời
Bạc bài hút sách cữ không chơi
Hát hò khan cổ gần ngưng thở
Nhảy nhót rêm mình muốn hụt hơi
Gái chỉ ngắm thôi vì mỏi gối
Rượu thời nhấm chút đã mềm môi
Thôi thôi tớ nguyện xin chừa hết
Gân cốt giờ đây muốn sụm rồi
***
Ngán ngẩm ôi thôi cuộc đổi đời
Lên voi xuống chó dễ như chơi
Thuở xưa nhung gấm ngời oanh
liệt
Nay tuổi về chiều luống tả tơi
Vận nước thăng trầm bao biến động
Số phần phiêu bạt lắm nổi trôi
Cố tìm an ủi trong quên lãng
Định mệnh an bài phải chịu thôi
***
Ngẫm kiếp nhân sinh, thế sự đời
Chẳng qua chỉ là giấc mơ thôi
Giàu sang quyền quý rồi tay trắng
Trí thức tài cao cũng lỡ thời
Tranh chấp hơn thua hao tổn sức
Đua đòi so sánh mất công toi
Công danh, sự nghiệp như gió thoảng
Tất cả không qua được số trời.
Chú thích: Bài thơ này để nói lên tâm trạng những vị khi xưa bên
nhà giàu sang ăn chơi hết mình, nay sa cơ thất thế nên đâm ra ngao
ngán cuộc đời. Ngoài ra đây cũng là một bài thơ độc vận vì tuy nhiều câu nhưng tôi chỉ dùng mỗi
một vần “ơi”.
Còn tiếp.
NdP

Wow!!! Đúng như chị Tố Kim nhận xét, tôi không thể tưởng tượng được một “ông Tây” mà viết về thơ, sáng tác thơ… quá hay!
ReplyDeleteMai Khánh Thư
Xin cám ơn anh chị quá khen.
ReplyDelete