Đúng là những ngày
tháng không quên thật! Sau 30.4.75, tôi bị ở lại Việt Nam là một điều quá ngu
xuẩn rồi. Tự mình làm hại mình và hại cả tương lai con cái nữa. Niềm đau này thật
không làm sao phôi pha được với thời gian, vết thương trong lòng tôi cứ chua
xót ngậm ngùi!
Nhớ lại ngày tôi vào
trình diện tại trường SNA cũng là ngày không quên được nữa! Bước chân đến trường
với tâm tư hoang mang cùng cực, không biết rồi đây mình sẽ làm gì và sẽ được đối
xử như thế nào đây? Vừa vào đến sân trường đã thấy một số bạn bè ngồi sẵn trên
các ghế đá, nhìn nhau nhếch mép không nổi; ai còn ai ở lại đều rõ cả rồi.
Nhìn kỹ các bạn đồng
nghiệp, tôi thấy có người đã mặc áo bà ba quần đen. Có lẽ phải thay đổi cách ăn
mặc như vậy mới thích nghi với hoàn cảnh mới chăng? Và Cộng Sản vào đây chỉ để
làm cho con người trở nên quê mùa xấu xí mà thôi?!
Qua bao thủ tục như
khai tên họ, nộp lại thẻ căn cước v.v… Chúng tôi trở lại nghề “gõ đầu trẻ” của
mình. Ngay hôm khai giảng, nghe bài Quốc Ca dưới sân trường mà tôi rùng mình và
muốn khóc! Tôi cứ bàng hoàng không thể ngờ được có một ngày quê hương tôi đều
nhuộm đỏ như thế này! Viết đến đây, tôi lại nhớ có một lần phải điều khiển buổi
lễ chào cờ, một bạn đồng nghiệp của tôi đã bắt đầu bài Quốc Ca “Này công dân
ơi….”. Chúng tôi qua một thoáng sững sờ, muốn cười quá sức mà đành phải nín lặng.
Tôi may mắn hơn các bạn
dạy Văn, Sử; môn Khoa học mà tôi phụ trách thì dù ở thời đại nào cũng phải diễn
tả trung thực mà thôi. Chỉ tội nghiệp xót xa cho các bạn tôi, giảng bài mà
không dám nhìn thẳng vào mặt học sinh, chỉ biết nhìn bức tường trước mặt và cố
đóng cho xong vai trò. Nói dối quá sức như vậy làm sao khỏi hổ thẹn lương tâm của
một nhà giáo đã chứ!
Những ngày tháng kế tiếp
của chúng tôi thật nặng nề, chán nản, hội họp liên miên khiếp quá! Suốt tuần
không có ngày nào được ở nhà. Buổi sáng vào lớp dạy, chiều lại họp. Chao ôi! Họp
kiểu gì mà họp dữ vậy không biết? Nào là họp Tổ chuyên môn, họp Khối chủ nhiệm,
họp Công đoàn, họp Ban đời sống, họp Ban văn nghệ rồi làm sổ sách, cộng điểm,
phê học bạ… Trong phòng giáo sư, luôn luôn có một cái bảng đen chia ra 2 phần:
Một phần ghi những việc làm tốt, phần kia là những việc chưa tốt. Điều làm tôi
đau đầu và chán nhất là buổi họp đầu tháng, không có tháng nào là không có kế
hoạch thi đua. Thí dụ “kế hoạch hái hoa dâng Bác” chẳng hạn. Lại còn thi đua giữa
học sinh, thi đua giữa các giáo sư, các tổ chuyên môn, đăng ký dạy giờ, dự giờ,
ngồi phê bình kiểm thảo lẫn nhau. Ra khỏi phòng họp là chân bước không muốn nổi
và chỉ muốn “thua đi” cho nó rồi.
Sau đó lại có mục kết nạp
các giáo viên vào Công đoàn; Ban Giám Hiệu cho đó là một vinh dự; còn tôi, tôi
lại thấy chính sự kết nạp này nhằm để gây chia rẽ trong hàng ngũ giáo sư. Người
chưa được kết nạp sẽ bị coi như là ý thức chính trị chưa tốt; nhưng làm sao tốt
được, dù có chẻ đầu óc chúng tôi ra làm hai rồi nhét các chủ thuyết Karl Marx
và Lénine vào, cũng thế thôi. Hè đến còn phải học chính trị nữa, năm đầu tiên
phải học luôn 3 tháng; những giờ học tập dài lê thê và buồn ngủ quá! Ngoài miệng
chúng tôi cũng thảo luận hăng say lắm nhưng thật ra chỉ nói như vẹt, ra khỏi
phòng học là không biết mình nói cái gì nữa!
Sống với chế độ Cộng Sản
thật đúng là chế độ làm bần cùng hóa nhân dân. Ngày nào các Thầy Cô ăn mặc áo
quần sang trọng đẹp đẽ, được đám học sinh coi như thần tượng mà bây giờ mỗi Thầy
Cô xách tòn ten mỗi người một túm cá, hay 1 túm thịt, một chút bột ngọt, một
gói đường… Thật không còn vẻ hào hoa phong nhã của ngày nào! Một số học sinh
thường nói với chúng tôi rằng:
– Chúng em nhìn thấy
các Thầy Cô như vậy, thần tượng trong lòng chúng em tiêu tan hết!
Cũng đành tiêu tan thôi
các em ơi! Vì chính bao tử của các Thầy Cô cũng cần chúng nó kia mà! Chúng tôi
thường gọi loại cá này là cá “long hội“, có nghĩa là ăn vào nó sẽ lôi họng mình
ra vì quá xương. Nhớ lại việc chia nhu yếu phẩm này mà buồn, cũng có nhiều vị
đâm ra so bì cái này ngon, cái kia dở. Cuộc sống thê thảm quá! Đã vậy, ngay các
thức cần dùng hằng ngày cũng không được phân phát đầy đủ: 3 người lãnh chung một
ống kem đánh răng, hai người lãnh chung một cái mùng hay một cái vỏ xe đạp (xin
nói rõ là phải trả tiền chứ không phải cho không đâu). Còn áo quần thì năm nay
chỉ mua được 2 mét vải, chỉ may được cái áo thôi, chờ sang năm mới có quần và
khi đó cái áo đã muốn rách rồi! Quá chán chường với chính sách bần cùng này nên
có dịp là chúng tôi châm biếm mỉa mai. Có một lần đang trong buổi họp, đến giờ
giải lao, các Thầy được cho đi lãnh quần đùi. Lãnh xong mặc luôn vào ngoài quần
tây rồi trở vào ngồi họp, xem như không có gì xảy ra, làm cho chúng tôi cười một
trận đến nôn ruột luôn.
Cứ thế với thời gian,
chúng tôi gầy gò xanh xao dần. Đồng lương không đủ sống, nửa tháng lãnh lương một
lần, cầm mấy chục bạc trong tay mà ngao ngán thở dài, không biết làm sao mà sống
đủ trong hai tuần đây? Chúng tôi phải bán dần các thứ còn lại trong nhà để phụ
thêm vào, theo đúng chủ trương “sạch nhà, sạch cửa”. Có một thời gian chúng tôi
ăn toàn bo-bo, bột mì rồi đến khoai mì thay cơm; ăn làm sao cho hết một ngày cả
mấy chục kilô khoai mì, mà để lâu thì bị hư thối, tháng đó bị hụt phần lương thực
rồi đó. Ăn không đủ no mà lại làm việc quá nhiều, bắt chúng tôi phải soạn giáo
án đầy đủ. Thật là một việc làm vô ích khi những bài dạy từ năm này qua năm kia
đã nằm sẵn trong đầu óc chúng tôi, vậy mà đêm về phải thức viết lại ra giấy.
Ngoài ra, còn có hai việc
khốn nạn nhất là trực đêm và trực cho heo, gà ăn. Gọi là trực đêm chứ nếu có ăn
trộm vào gỡ hết gạch ngói của nhà trường, chúng tôi cũng không biết. Mà có biết
cũng chẳng dám làm gì vì đàn bà chúng tôi vốn dĩ đã nhát gan rồi. Chỉ việc ban
đêm đến trường, leo lên lầu, vào phòng giáo sư bật cho được ngọn đèn lên cũng
đã quá mừng rồi. Sau đó, đóng chặt cửa leo lên bàn nằm và trông cho mau sáng;
khổ nhất là đứa nào cũng muốn nằm vào phía trong chứ không chịu nằm ngoài gần cửa
lớn, cuối cùng đành “oánh tù tì” thôi.
Tuy vậy, trực đêm chưa
khốn khổ bằng trực heo, gà. Chủ trương chính sách gia tăng sản xuất, nhà trường
đã dùng gầm cầu thang để nuôi; chỉ một đàn gà và hai ba con heo mà mỗi ngày đêm
có ba ca trực, mỗi ca hai giáo viên. Chúng tôi thường nói lũ heo gà này thật tốt
số, chúng được săn sóc kỹ hơn con cái của chúng tôi nữa. Chúng tôi đi suốt ngày
thì giờ đâu mà chăm lo cho con, chúng học được chữ nào hay chữ đó, nhiều khi
cơm cũng không kịp nấu mà ăn. Đó là chưa kể ngày lễ hay ngày chủ nhật phải đem
học sinh đi dự lễ hay làm vệ sinh phường khóm nữa.
Tắm heo và cho gà ăn mà
cũng có bảng nội quy treo sẵn trong phòng giáo sư, ai làm chưa tốt được nêu tên
lên bảng đen liền. Cho gà ăn còn đỡ, tôi sợ nhất là tắm heo. Phải xắn quần,
chui vào gầm cầu thang, người hơi cao như tôi lại càng khổ thân hơn nữa. Phân
heo và nước lẫn lộn, bước vào hai chân cảm thấy ghê ghê làm sao! Việc đầu tiên
là nắm ngay lấy vòi nước, nhắm mắt nhắm mũi dội cho phân trôi bớt đi đã, phần
thì sợ heo cắn nên cứ xịt tưới vào mình nó rồi muốn cho nó đứng yên thì lấy bàn
chải mà chà khắp mình. Có lẽ heo cũng giống người, sau khi tắm rửa mát mẻ xong,
nó cũng thích đi dạo. Do đó có một lần sau khi tôi tắm cho nó xong, nó đã xổng
chuồng chạy luôn, không làm sao chặn đuổi theo kịp. Cả trường vắng lặng vì đang
có giờ học, vậy mà con heo hứng chí chạy ngay vào một lớp học, có lẽ nó cũng muốn
“dự giờ”! Tôi vừa chạy theo vừa la lên, làm cho cả lớp hôm đó cười một trận
đích đáng; cuối cùng cả thầy lẫn trò phụ nhau dắt nó về chuồng.
Tôi quá chán ngấy việc
đi dạy học này rồi, ít ra cũng phải đủ ăn, công sức mình bỏ ra phải được đền bù
xứng đáng. Muốn dạy tốt, học sinh phải học tốt; đằng này chính các em cũng chưa
đủ no, làm sao học được? Vào lớp các em nằm ngay trên bàn mà ngủ vì 2 giờ sáng
đã phải thức dậy phụ với mẹ lo dọn hàng. Nhìn thấy cả một thế hệ trẻ đang đi thụt
lùi dần mà đau lòng vô cùng!
Tôi phải kéo lê những
ngày buồn chán này vì nếu không có nghề nghiệp gì trong khi chồng đi cải tạo, cả
nhà phải dọn đi Kinh Tế Mới. Cuộc sống thật nặng nề ngột ngạt, về địa phương
làm gì cũng sợ bị để ý: Năm ba người bạn đến thăm, ngồi quây quần nói chuyện với
nhau cho đỡ buồn cũng sợ bị Công an nghi ngờ. Đến trường gặp thêm cái nạn bắt
phải bài trừ “văn hóa đồi trụy” như các băng “nhạc vàng” phải xóa hết hoặc cấm
không cho nghe các đài ngoại quốc như BBC, VOA… Đầu óc luôn luôn bị căng thẳng,
hôm nay đồn đổi tiền, ngày mai nghe đồn chuyện khác mà mỗi lần đổi tiền, nhân
dân lại khốn đốn thêm vì vật giá leo thang vùn vụt. Lần đổi tiền đầu tiên tôi sợ
quá, mỗi gia đình chỉ đổi được 200 đồng thôi. Cầm số tiền trong tay, tôi đã
khóc, cứ sợ làm sao đủ sống, do đó cứ cho các con ăn toàn bí ngô và rau muống
triền miên. Công nhân viên mỗi tháng mua được nửa ký thịt giá chính thức, còn
ngày Tết mới mua được một ký-lô nhưng phải ra phường khóm xếp hàng từ 3 giờ
sáng.
Sau 3 năm không chịu đựng
nổi, tôi đã quyết định nghỉ dạy dù chưa biết làm gì để sống? Các bạn tôi cũng
muốn nghỉ dạy lắm nhưng phần lớn ai cũng sợ vì ngoài việc đi dạy học có quen
làm nghề gì khác đâu!
Tôi thì nhất định liều!
Sống gì mà ngày qua ngày chỉ thấy mệt mỏi chán chường, không có gì vui cũng
không có gì phấn khởi cho chân muốn bước tới. Tôi nộp đơn xin thôi việc, Ban
Giám Hiệu đã nhiều lần đến nhà yêu cầu tôi vì các em học sinh mà ở lại, nhưng
ai lo cho bao tử mấy mẹ con tôi đây? Bắt đầu đưa đơn là tôi không đặt chân đến
trường nữa, dù chưa có quyết định nghỉ việc. Tôi không nhận thêm gì từ tiền
lương cho đến nhu yếu phẩm.
Sau ba tháng thấy tôi
không thay đổi lập trường, Ban Giám Hiệu đành chuyển đơn lên Bộ Giáo Dục. Kể từ
đó, tôi mới thấy tâm hồn mình được thảnh thơi nhẹ nhàng rất nhiều. Tôi đi theo
một nhóm học trò cũ ra đứng bán ở Chợ Trời, các em tập cho tôi buôn bán. Ra đến
đây mới thấy thật đáng thương cho nghề giáo của mình, học hành chữ nghĩa thì
nhiều nhưng cũng lại nghề đói nhất. Trong khi ở thế giới này, họ có cần văn
chương trí thức gì đâu, vậy mà con cái họ được no ấm đầy đủ hơn con chúng tôi.
Những ngày đầu tiên ở
đây, tôi cảm thấy tủi nhục quá, khó mà thích nghi với môi trường này, về nhà nằm
xuống chỉ muốn khóc. Nhưng các con tôi cần cơm áo, tôi không lo cho chúng thì
ai lo đây, chúng cần phải no để mà học. Do đó, tôi chai lì dần với thời gian,
đã gọi là Chợ Trời rồi thì Thầy Cô cũng thế thôi, ngang hàng nhau hết.
Ô hô! Mỗi cuộc đời đảo
lộn, ai giải phóng ai đây?
Khi đọc “Thương Nhớ Mười
Hai” của Vũ Bằng ta thường bâng khuâng tiếc nuối những tháng Tư của dĩ vãng ấu
thơ, vào hè của tuổi thơ với những nao nức về ngày nghỉ sắp tới, vội vã trao
cho nhau những cuốn lưu bút ngày xanh ép đầy những cánh phượng đỏ thắm! Nhưng đến
một tháng Tư kinh hoàng cách đây 30 năm thì những huyền diệu tháng Tư đã sụp đổ
tan tành không vương vấn một dư âm nào của khúc nhạc ngày hè năm xưa! Bây giờ mỗi
tháng Tư đi qua đời mình là một thẫn thờ hoài niệm khoảng thời gian mở đầu cho
những gian nan thử thách với giông bão của cuộc đời.
30.4.75, ngày đau
thương tang tóc cho toàn dân miền Nam Việt Nam, ngày sụp đổ của một chế độ
không lấy gì làm tốt đẹp lắm để thay thế bằng một chế độ khác biệt trăm lần
khác biệt và bạo tàn hung ác hơn.
Cứ mỗi tháng Tư vào hè
trên quê hương, tôi không thể nào quên được 14 năm ở lại gian nan cùng cực, một
thời gian khủng khiếp, vô hình đã trở thành một ấn tượng bi thảm cho người dân
Việt Nam về hai tiếng 30/4.
Tháng Tư của kinh
hoàng, của đau thương, của nghèo đói, của thử thách và cũng phải là khởi điểm của
tranh đấu, hy vọng, tin yêu để tái tạo lại một quê hương Việt Nam thanh bình
tươi sáng, hạnh phúc và tự do.
Hoàng Thị Doãn

No comments:
Post a Comment