Monday, May 22, 2017

The Polish Divorce



A Polish man moved to the USA and married an American girl.

Although his English was far from perfect, they got along very well.

One day he rushed into a lawyer's office and asked him if he could arrange a divorce for him.

The lawyer said that getting a divorce would depend on the circumstances, and asked him the following questions:

Have you any grounds?
Yes, an acre and half and nice little home.

No, I mean what is the foundation of this case?
It made of concrete.

I don’t think you understand.
Does either of you have a real grudge?
No, we have carport, and not need one.

I mean what are your relations like?
All my relations still in Poland .

Is there any infidelity in your marriage?
We have hi-fidelity stereo and good DVD player.

Does your wife beat you up?
No, I always up before her.

Is your wife a nagger?
No, she white.

Why do you want this divorce?
She going to kill me.

What makes you think that?
I got proof.

What kind of proof?
She going to poison me.

She buy a bottle at drugstore and put on shelf in bathroom.
I can read English pretty good, and it say:


[Fun Funky]

Phiếm Luận: Ăn Ðể Sống Và Sống Ðể Ăn - Đoàn Văn Khanh


Không giống như thời tiền sử, con người chỉ biết ăn tươi nuốt sống bất cứ cái gì có thể ăn được và chỉ có thể ăn khi kiếm được thức ăn, vì thế mà hầu như không có sự phân biệt giữa những con người với nhau vì ăn. Nhưng kể từ khi con người văn minh ra và nhờ biết sản xuất, chế biến và dự trữ thức ăn thì tùy theo môi trường, hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân mà cùng là con người sống chung trong một xã hội, nhưng người thì ăn cơm, kẻ ăn khoai; người ăn ngon, kẻ ăn dở, người ăn no, kẻ ăn đói v.v... 

Rồi cũng vì biết so sánh về những sự cách biệt đó mà con người mới tìm cách làm sao cho mình có thể được ăn những thứ tốt hơn, ngon hơn và được ăn no hơn, ăn nhiều hơn kẻ khác. Chính vì thế mà cách sinh hoạt của con người tuy có thay đổi, nhưng xét cho cùng ra thì cũng chỉ xoay quanh cái việc ăn vì có ăn thì mới sống cho nên trong ngôn ngữ Việt, tiếng ăn thường được dùng để ghép chung với những từ khác để diễn đạt không biết bao hình thái sinh hoạt khác nhau của con người.

Trước tiên, vì con người có óc tổ chức nên biết ấn định ra những thời biểu dành cho việc ăn để không làm trở ngại cho các hoạt động mưu sinh cho nên mới có sự phân biệt nào là ăn sáng, ăn trưa, ăn xế, ăn chiều, ăn tối, ăn khuya... Rồi tùy theo số lượng thực phẩm mà người ta ấn định để ăn vào bụng theo những thời biểu khác nhau đó mà người ta nói là ăn lót lòng, ăn chính, ăn dặm... 

Tuy đã chia cái việc ăn ra thành có giờ có giấc, nhưng có nhiều người thấy ăn theo bữa vẫn chưa thỏa mãn cái tính thèm ăn nên mới ăn lắt nhắt thêm bất cứ lúc nào thấy thèm. Ăn như thế gọi là ăn vặt. Còn những người hễ thấy hàng quà hàng bánh là nhào vô mua ăn liền thì gọi là ăn quà. Cái khoản này thì chỉ các bà các cô mới là kẻ rành hơn ai cả. Nói lên điều này không phải vì tôi có thành kiến gì với phái nữ nhưng tại vì ca dao từng có câu: chưa đi đến chợ đã lo ăn quà, nên tôi muốn mình cũng phải lý luận theo cho đúng sự nhận xét khôn ngoan của ông cha ta truyền lại thế thôi. 

Vì ăn là một hành động thường lôi kéo thêm vài hành động khác đi kèm theo như ăn thì phải uống cho nên người ta mới nói là ăn uống. Tuy nhiên thay vì uống nước lã, nhiều người lại thay vào đấy những chất có đặc tính kích thích vị giác như la de, rượu tây, rượu đế... để tăng thêm phần khoái khẩu cho việc ăn nên người ta bảo là ăn nhậu. Nhưng chưa hết, nhiều người nhậu đã phải tạm ngưng để thở mà chỉ thở suông thì cũng chán mới châm thêm điếu thuốc để phì phà cho vui miệng nên người ta mới gọi là ăn hút. Rồi cũng nhờ có ăn thì mới có hơi sức để nói nên thích nói và hay nói nên nói hay, nói nhiều, nói mạnh, chứ đói thì chỉ có nước nằm co nên người ta bảo là ăn nói

Sau khi no nê đã đời thì người ta lại đâm ra rậm rật nên mới xoay ra đi tìm đối tượng để giải quyết cái nhu cầu tiếp theo đó cho thỏa mãn hết mọi cái thú ở đời nên người ta mới bảo là ăn chơi. Ở đây tôi xin nói thêm là cái từ ăn chơi này ngoài cái nghĩa vừa nói trên, còn có nghĩa là ăn lai rai chút đỉnh cái gì đó cho đỡ buồn miệng trong khi chờ đợi ăn các món chính trong những bữa ăn lớn kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Ngoài ra tiếng ăn chơi cũng có khi biểu lộ một hành động giả bộ như trường hợp con nít lấy đất sét nặn thành bánh rồi giả vờ ăn cho vui vì biết cái đó không ăn được. Cũng có khi tiếng ăn chơi dùng để diễn tả cái ý phải biết kiềm chế hành động ăn vì tuy là món ăn đó ăn rất được nhưng mình lại không phải là đối tượng được ăn, chẳng hạn khi người khác đang ăn chợt thấy mình xuất hiện nên phải mời lơi thì mình dù muốn ăn cách mấy cũng chỉ nên ăn chơi thôi, nghĩa là ăn lấy thảo, chứ đừng ăn lấy no lấy béo mà đau lòng chủ. 

Ngoài cái việc ăn thông thường hàng ngày hàng bữa, con người còn muốn có nhiều cơ hội để mà tụ họp nhau lại cùng ăn ngon hơn, ăn nhiều hơn và vui hơn nên mới đặt ra những cái lệ để cho mình tổ chức ăn. Trong phạm vi cá nhân hay gia đình thì người ta bày ra chuyện ăn tiệc, ăn mừng, ăn khao: từ ăn đầy tháng, thôi nôi, sinh nhật, ăn đám cưới đám hỏi, ăn thượng thọ cho tới đủ thứ ăn mừng như ăn mừng tân gia, khai trương công việc; hoặc ăn khao thi đỗ, khao lên lương, lên chức... nghĩa là bất cứ trường hợp nào mà người ta có thể vin vào đó như là một cái cớ để tụ họp ăn uống khác biệt hơn ngày thường là tha hồ ăn khao, ăn mừng. 

Ở mức độ tập thể thì có những cuộc ăn liên hoan của cơ quan hay đơn vị để mừng đủ thứ chuyện. Ngay cả công ty sắp sập tiệm người ta cũng họp nhau ăn uống để sáng ý ra mà tìm cách gỡ gạc lẫn nhau. Các hội đoàn ái hữu thì ăn tiệc để thắt chặt tình tương thân tương ái hay mừng nhau sau một cơn tan tác lại còn có dịp thấy mặt nhau để mà kể lể những chuyện không còn nơi nào khác để kể. Chung cho cả quốc gia dân tộc thì người ta bày ra cái gọi là ăn tết. Tháng giêng ăn Tết ở nhà mà vẫn chưa đủ nên người ta lại chế ra những tết nhỏ như tết Ðoan ngọ, tết Trung thu... để có dịp đua nhau ăn. 

Tuy đã bày ra mấy cái Tết rồi mà thấy vẫn chưa thỏa mãn nên người ta lại đặt thêm các ngày lễ, ngày hội để ăn mừng. Ở cấp địa phương thì có hội làng, lễ khánh thành ngôi chùa này, nhà thờ kia. Lên cấp quốc gia thì có lễ Quốc khánh, lễ kỷ niệm vị anh hùng này, trận chiến thắng nọ để mà cùng nhau ăn mừng. Cao hơn nữa và lan rộng ra cả thế giới thì có những cuộc lễ vĩ đại mang tính chất tôn giáo để cho muôn dân cùng ăn mừng một loạt như ăn lễ Giáng sinh, ăn lễ Phật Ðản v.v... 

Vui người ta nghĩ đến ăn đã đành mà buồn người ta cũng nghĩ đến ăn cho nên ngay cả khi bị thiên tai, hoạn nạn, đám ma, đám giỗ, người ta cũng cần phải có ăn thì mới thành đám cho nên mới bày ra trò cúng kiếng để cầu thần thánh ban ơn hay là để cho người chết cũng được no đủ. Nhưng đã là thần thánh thì đâu màng tới cái ăn, còn người chết rồi thì làm sao mà ăn được nữa cho nên những món thực phẩm bày ra để cúng kiến đó tất nhiên là người sống tha hồ mà hưởng và người ta gọi đó là ăn cúng, ăn giỗ

Khi người ta chịu khó ra chợ mua thực phẩm đem về nhà nấu nướng rồi ăn thì người ta gọi là ăn nhà. Những người không thích chuyện bếp núc mất thì giờ bèn tới bữa thì ghé hàng ghé quán mà ăn luôn cho tiện việc thì gọi là ăn tiệm. Nhiều người ăn mãi cơm nhà hoài cũng chán hay bỏ tiền ra ăn tiệm hoài cũng tiếc tiền nên nhiều lúc chỉ mong cho có ai đó mời mình đi ăn hay bao mình ăn thì gọi là ăn khách

Ăn khách còn có nghĩa là được nhiều người hâm mộ hay mê thích như tuồng cải lương này ăn khách, món nhậu nọ ăn khách. Thời tiền chiến có nhà thơ Tản Ðà vừa hay thơ mà cũng nổi tiếng là sành ăn uống. Có lẽ thấy sành ăn cũng là một nghệ thuật phụng sự nhân sinh đáng đề cao nên thời miền Nam vừa thoát cảnh nô lệ mấy ông Tây thực dân thì chính quyền Ngô Ðình Diệm bấy giờ bèn cho thực hiện ngay việc đổi tên các đường phố, Hội đồng Ðô thành Sài gòn lúc ấy thấy trong Chợ Lớn có một con đường mà từ trong tiệm ra tới lề đường chỉ toàn kinh doanh có một ngành ăn uống bèn đặt tên luôn cho con đường này là đường Tản Ðà. Có điều nếu có ai đó cắc cớ hỏi những người làm ăn buôn bán ở con đường đó có biết Tản Ðà là ai không thì câu trả lời chắc chắn sẽ là "Ngộ hổng piếc". Mà đúng thế thật. Ðã là "ngộ" thì chỉ cần biết mấy món đồ ăn của "ngộ" làm ra ăn khách và "ngộ" hốt bạc là đủ rồi. 

Chính vì ăn là cái mục đích tối hậu nên ngay cả cái động từ làm cũng được ghép với tiếng ăn để thành ra tiếng làm ăn. Rồi khi nói đến những nhu cầu phụ thuộc nhằm tăng thêm tiện nghi cho cuộc sống con người như vấn đề trang phục người ta cũng nói là ăn mặc, vì có dư ăn thì mới nghĩ đến chuyện mặc chứ bụng mà đói thì quần áo cũng đem đi cầm. Tục ngữ cũng có câu: Ăn đói mặc rách. Ðã đói thì nhất định là phải rách. Rồi tới cái nhà dùng làm chỗ che mưa đụt nắng cũng được gọi là nơi ăn ở. Thậm chí trong cái việc vợ chồng sống chung thì cũng phải có ăn rồi người ta mới có thể âu yếm ngủ chung giường với nhau nên người ta cũng gọi đó là ăn nằm

Cũng giống như cái mặc, cái cũng tùy thuộc sau cái ăn cho nên nếu dư ăn dư để thì mới có nhà. Càng dư ăn thì nhà càng cao càng đẹp. Lỡ khi hoạn nạn, biến cố hay thất nghiệp không có tiền ăn thì có nhà cũng phải đem bán. Cũng trong cái mục ăn ở, khi gia đình hoà thuận thì mọi người trong nhà ai cũng thích ăn chung cho tình gia đình thêm đầm ấm, nhưng nếu lỡ mà sinh sự ra rồi thì mạnh người nào người nấy ăn cho nên người ta lại thích ăn riêng để đỡ phải nhìn mặt nhau mà anh ách ở trong lòng. 

Người không có cơm ăn không có nhà ở phải mang cái thân trần trụi tìm đến bà con bạn bè xin tá túc thì được gọi là ăn nhờ ở đậu. Làm thân ăn gửi nằm nhờ thì nhiều khi chỉ dám ăn thừa, ăn mót và lúc nào cũng cố tìm đủ mọi cách để lấy lòng nhà chủ nhưng nhà chủ chưa lấy làm hài lòng nên hở ra là mắng đồ ăn bám hay ăn báo

Những người thuộc loại vô tích sự lại chỉ thích ăn không ngồi rồi thì khi thấy nhà người khác có chuyện vui và có ăn thường mò tới chầu rìa rồi làm bộ xun xoe để được ăn nhưng khi gia chủ cần họ giúp một việc gì thì chỉ tổ làm hỏng việc hoặc khi gia chủ bị hoạn nạn thì họ lại nhanh chân chuồn gấp bỏ mặc gia chủ bơ vơ thì được gọi là ăn hại
Những người lương tháng ba cọc ba đồng mà ưa ngồi hàng ngồi quán thì thường chưa hết tháng đã cạn túi bèn xoay ra ăn xong ghi sổ nợ chờ đến ngày lãnh lương thanh toán. Ăn như thế gọi là ăn chịu. Có người túi không tiền nhưng cũng vào hàng quán gọi đủ thứ ăn nhậu đã đời rồi tìm cách chuồn êm thì được gọi là ăn quịt. Cũng có người hễ thấy đâu có ăn free hay thấy người khác ăn uống thì cứ đứng xớ rớ bắt chuyện làm quen chờ người ta bảo ăn thì nhào vào ăn lấy ăn để. Ăn như thế thì được gọi là ăn chực.

Thân phận con người là có làm mới có ăn cho nên khi một người chỉ phải bỏ sức lao động ra làm việc cho người khác để lãnh tiền công thì được gọi là ăn công. Những người làm nghề buôn bán thì phải làm sao cho số doanh thu lớn hơn cái vốn bỏ ra lúc đầu để có được một số tiền thặng dư gọi là lời cho mình ăn tiêu nên người ta gọi là ăn lời. Những người thích buôn bán mà không có vốn nên chỉ biết làm trung gian môi giới giữa người có hàng bán và người cần hàng mua rồi dựa trên trị giá hàng hai bên mua bán được với nhau để mà ăn tiền tính theo tỷ lệ phần trăm thì gọi là ăn hoa hồng

Còn khi nhiều người cùng hùn hạp làm ăn chung với nhau để rồi cùng chia cái lời đó mà ăn thì người ta gọi là ăn chia. Tuy nhiên khi một kẻ thấy có món ngon ăn và dễ xơi thì chỉ muốn ăn một mình bèn tìm cách xé lẻ để cho mình ăn trọn thì được gọi là ăn mảnh

Ði làm cho hãng hay cho nhà nước thì ăn lương. Có nhiều người thấy chỉ ăn lương nhà nước thì chưa đủ cho mình xài nên thấy công qũy sẵn tiền bèn ngứa mắt tìm cách moi móc cho vào túi riêng nên được gọi là ăn đục, ăn khoét. Có người thì nhờ nắm giữ những chức vụ có điều kiện để ban phát ân huệ cho người khác như cấp giấy tờ, cho việc làm thì cũng được nhiều người vì muốn được việc cho mình tìm đến đút lót cho ăn để xin xỏ, cầu cạnh. Ăn như thế này được gọi là ăn hối lộ

Trường hợp không có phương tiện hay cơ hội để ăn đút ăn lót của người ngoài thì người ta tìm cách ăn xén, ăn chận người dưới mình như quan ăn chận lương lính, thủ trưởng ăn xén lương nhân viên. Ngay cả cơm tù đã quá tệ mà nhiều khi vẫn còn bị đám cai tù ăn bớt như thường. Ăn như thế này tục ngữ nói là ăn hớt cơm chim. Ngược lại người làm công hay cấp dưới cũng có thể tìm cách ăn bòn, ăn rút, của chủ. Những cách ăn theo kiểu này nói chung lại đều là ăn bẩn

Người làm nghề tự do thì lại kiếm thêm bổng lợi cho mình bằng cách tính toán sai lệch nhằm mang thêm phần lợi cho mình nên được gọi là ăn gian, ăn lận. Do sự ăn gian ăn lận này mà nảy sinh ra những tiếng ghép về ăn nghe rất lạ tai như là ăn vải, ăn xi măng, ăn sắt, ăn đá... tùy theo ngành nghề của người đó. Làm thợ may thì ăn gian vải nên người ta bảo thợ may thì ăn vải. Nhà thầu xây cất thì ăn gian vật liệu cho nên người ta mới gọi là ăn xi măng, ăn sắt... toàn là những thứ nhai không được mà người ta vẫn có thể nuốt trôi như thường mới là tài. Ngay cả funds (qũy) của các hội đoàn thiện nguyện do đồng bào đóng góp hay chính phủ tài trợ để làm những việc cứu tế từ thiện cho người nghèo, người bị thiên tai v.v... cũng bị người ta bùa phép thành của riêng bỏ túi cho mình ăn xài nên người độc miệng mới gọi ăn như thế là ăn phân

Tuy ai cũng làm để có ăn nhưng có người may mắn thì ăn nên làm ra còn nhiều kẻ đã ăn tằn ăn tiện mà vẫn không đủ ăn. Những người mà ăn bữa sáng lo bữa tối, chạy ăn từng bữa như thế thường được người ta gọi là ăn đong. Có người đã phải làm vất vả rồi mà vẫn không có đủ gạo nấu cho đầy nồi cơm đành phải dặm thêm mớ khoai, mớ củ mì vào cho đầy cái nồi để ăn cho đủ no thì được gọi là ăn độn. Rồi vì thiếu ăn cho nên càng thèm ăn và cái thèm ăn triền miên này thôi thúc mà có người hễ thấy đồ ăn của người khác để hớ hênh thì lén lấy ăn liền nên người ta bảo là ăn chùng, ăn vụng

Cái tiếng ăn vụng này còn được hiểu rộng ra để chỉ mấy ông bà vì quá no cơm ấm cật nên rậm rật hơi nhiều thành thử tuy đã có vợ, có chồng nhưng chê đồ nhà không ngon bèn lén vợ lén chồng đi tìm vui với đào với kép. Thường thì đào kép rủ nhau đi ăn vụng bao giờ cũng có kèm theo màn ăn uống thực sự cho nên khi câu chuyện ăn vụng của họ bị đổ bể ra làm đề tài cho dư luận đàm tiếu thì tùy theo hôm đó họ đưa nhau đi ăn cái gì mà thiên hạ dùng luôn cái món họ ăn hôm đó để mô tả cho tiện như là tuần trước ông nọ đưa bà kia đi ăn chè ở Nhà Bè, ăn nem Thủ Ðức ... chẳng hạn. Ăn vụng kiểu này mà lỡ bị sư tử Hà đông bắt gặp hay ông nhà trông thấy là thế nào cũng bị ăn đòn. Nhẹ ra thì miệng mũi cũng ăn trầu, còn dữ dằn hơn nữa thì không làm sao kể xiết. 

Cái chuyện ăn mà không phải là ăn và chỉ có kẻ cho ăn mới là kẻ thỏa mãn, còn người được ăn hay bị ăn bao giờ cũng đau khổ mà nhận lấy, thì ngoài chuyện ăn đòn mà hầu như ai từ nhỏ tới lớn cũng đã từng trải qua, còn có nhiều thứ ăn khác nữa: Ra đường ghẹo gái mà gặp nhằm cọp cái thì chắc chắn là sẽ được ăn tát. Ra đời mà đụng chạm thì sẽ có những lần ăn đấm ăn thoi, cho tới ăn dao, ăn đạn. Ấy là chưa kể có những người mà nghề nghiệp bắt buộc họ trở thành cái mục tiêu ăn dao ăn đạn như mấy người trót phải theo nghiệp binh đao. 

Mặc dầu muốn có ăn thì phải làm nhưng cũng có những người không thích lao động làm ra của cải cho mình mà chỉ thích lấy cái có sẵn của người khác để dùng. Ở mức độ nhẹ thì có ăn cắp. Bạo hơn chút nữa là ăn trộm vì còn biết sợ khổ chủ hay nhân viên an ninh trông thấy thì bị tóm. Ðối với những tay chịu chơi hết mình, không còn nể nang luật pháp xã hội nữa mà ngang nhiên dùng vũ khí để uy hiếp kẻ khác đưa tiền cho mình xài thì được gọi là ăn cướp. Muốn ăn cướp lớn thì cần phải lập thành băng đảng để hành động cho hữu hiệu nên những kẻ trong băng đảng đều phải ăn thề để không một thành viên nào dám phản bội, vì chỉ cần một kẻ phản bội là đủ cho cả lũ rũ xác trong tù. 

Có một con đường được coi như là khá lương thiện xưa nay vẫn giúp cho người ta có thể sau này vừa vinh thân vừa phì gia là con đường học vấn. Nhưng muốn học thì cũng phải ăn cái đã cho nên người ta mới bảo là ăn học. Tục ngữ cũng có câu: ăn vóc học hay. Cũng vì thế mà thường thì cha mẹ có đủ ăn hay dư ăn rồi mới có thể cho con đi học. Tuy nhiên có nhiều cô cậu thừa phương tiện ăn để học thì lại không chịu ăn học cho thành tài để giúp dân giúp nước mà chỉ biết ăn xài với lại ăn chơi

Trong các môn tiêu khiển mà con người bày ra cho người ta vui chơi thì cái môn cờ bạc là hấp dẫn nhất vì cờ bạc thì bao giờ cũng có ăn tiền. Những kẻ mà bản tính keo kiệt thì đôi khi có ghé vào sòng bài cũng chỉ nhằm mua vui chốc lát nên thích ké những người đánh lớn mà đang hên để mong họ thắng thì mình cũng được chia chút đỉnh nên chỉ là ăn ké. Người nào mà vừa ăn được chút đỉnh đã vội rút lui khỏi sòng bài vì sợ ngồi dai thua lại hết tiền thì được gọi là ăn non. Tuy nhiên những tay có máu mê cờ bạc thì lúc nào cũng chỉ muốn ăn thua đủ cho nên lỡ mà thần may mắn không chiếu cố tất nhiên có ngày phải sạt nghiệp đến mức không còn một đồng mua bánh mì gặm cho đỡ đói đành phải đi xin ăn nên được gọi là ăn xin, ăn mày

Mặc dù trong việc làm ăn thì tất cả ngành nghề gì cũng thu nhận nam và nữ, duy có một nghề bán hoa ái tình thì chỉ dành riêng cho phái nữ mà thôi. Ðây là một công việc làm ăn chẳng lấy gì làm vinh quang nhưng ở những nước hay nói đến vinh quang lại là những nước có nhiều chị em ta làm cái nghề này hơn cả. Lý do xui chị em ta chọn cái nghề này là thuộc phạm vi tìm hiểu của nhà xã hội học, tôi không dám lạm bàn. Ở đây tôi chỉ muốn nói là có những chị em ta kém may mắn không có cơ sở nào thâu nhận vào làm lâu dài thì cứ phải đêm đêm ra đứng lấp ló ở mấy gốc cây bên đường chờ đợi khách mua hoa để cho mình có tiền ăn thì được người ta gọi là ăn sương.

Vì con người thì càng ngày càng đông ra mà của ăn thì càng ngày càng khó hơn cho nên con người càng phải biết nhanh tay lẹ mắt chụp giật mới có ăn. Quy luật của sự ăn tranh, ăn giành, ăn giật là kẻ mạnh bao giờ cũng tìm cách ăn hiếp hay đè bẹp kẻ yếu để cho mình ăn chắc, hay nói khác đi là mình phải ăn người. Tiếng ăn người ở đây chỉ có nghĩa là hạ được người khác để chỉ còn lại mình được ăn chứ không phải coi thịt người như là một món thực phẩm rồi ăn như ăn thịt một con vật, mặc dù hiện tượng này không phải là không có. Các bộ lạc dã man ngày xưa vẫn thường coi món thịt người là món qúy và ngon nhất. Người văn minh thì không còn ăn thịt người nữa nhưng đôi khi vì quá cùng quẫn đành phải ăn cả thịt người như chuyện cha mẹ ăn thịt con vào thời xảy ra nạn đói khủng khiếp ở đồng bằng Bắc Việt vào năm Ất Dậu. 

Từ cái chuyện tranh ăn và ham ăn mà có thêm cái hiện tượng ăn đượcđược ăn. Ăn được nói ở đây không có nghĩa là cái đồ ăn đó lành, không có tính độc làm hại đến sức khoẻ con người khi ăn vào bụng, mà có nghĩa là một người nào đó vì ham ăn nên ăn quá nhiều, ăn đến độ bộ máy tiêu hóa cũng trở thành tê liệt, nhưng cái bản chất đam mê ăn uống của người ấy vẫn không chừa nên hễ thấy của ăn hay người khác ăn thì tiếc mới mong cho mình cũng ăn được. Ca dao có câu: 
Ăn được ngủ được là tiên 

Không ăn không ngủ là tiền vứt đi 
Tuy nhiên ngược lại có những kẻ chỉ mong được ăn. Họ là những kẻ quá thiếu thốn vì không thể kiếm ra cái ăn hoặc bị kẻ khác tước đoạt mất cái ăn cho nên niềm mơ ước của họ là được ăn. Nắm được cái yếu điểm này của quần chúng đói rách mà có nhiều kẻ đã lợi dụng cái chiêu bài cơm no áo ấm để lôi kéo quần chúng làm cách mạng. Nhiều người vì tin tưởng vào cái chân lý ấy của cách mạng nên đã lăn xả vào kẻ bị coi là địch để mà ăn gan uống máu quân thù cho cách mạng sớm thành công nhưng khi cách mạng thành công thì mới nhận ra lâu nay mình chỉ làm kẻ hy sinh ăn bánh vẽ để cho mấy ngài "cách mạng" an vui thụ hưởng những tàn dư của kẻ thù. 

Tại những nước từng làm cách mạng theo kiểu đó mà thành công thì nhờ có những đỉnh cao trí tuệ sáng suốt nghĩ ra mà nhân dân còn được ăn uống có chế độ gọi là ăn tiêu chuẩn. Người không có tiêu chuẩn ăn chính thức nhưng vì dựa vào mối liên hệ đúng trong quy định với một người có tiêu chuẩn để mà hưởng theo phần nào thì gọi là ăn theo. Các đỉnh cao trí tuệ lại còn tính toán tinh vi và khoa học để sáng tạo ra được cái lẽ công bằng là cấp cao phải ăn bếp nhỏ còn cấp thấp thì được ăn bếp to. Ðiều này mới nghe thì thật là hấp dẫn, nhưng phiền một nỗi là chỉ có bếp nhỏ nấu cho một hai người ăn mới có thể có chân giò heo hầm dược thảo, còn bếp to nấu chung cho cả làng cả tổng cùng ăn thì mở chảo ra chỉ thấy lỏng bỏng toàn là nước lã nấu với chân lý. 

Cái tiếng được ăn còn được hiểu theo nghĩa được quyền ăn cho nên kẻ mong được ăn mà không có quyền ăn hay không được phép ăn mới nghĩ ra một cách đòi ăn gọi là ăn vạ, giống như khi đứa nhỏ thấy người lớn ăn một món gì đó mà không cho mình ăn hay có khi còn cấm mình ăn thì xoay ra làm nũng khóc lóc để đòi hỏi. Người lớn cũng thường xuyên ăn vạ lẫn nhau như hàng xóm ăn vạ láng giềng, công nhân ăn vạ giới chủ nhân... Trên bình diện quốc gia thì khi người dân mà cảm thấy mình bị áp bức quá cũng rủ nhau kéo đến cửa công ăn vạ chính quyền.

Trường hợp dân ăn vạ đòi hỏi những cái không lấy gì làm quá đáng thì cấp thẩm quyền có thể chỉ cần tuyên bố chờ "ngâm kíu" rồi đóng cửa nằm trong nhà ăn no ngủ kỹ mặc cho đám ăn vạ cứ ăn chực nằm chờ ngoài trời cho đến khi không còn đủ sức chịu đựng nữa phải cuốn chiếu ra về. Còn trường hợp dân ăn vạ quá đông và có nguy cơ làm đổ cả mấy cái ghế lãnh đạo thì cấp thẩm quyền vì quyết tâm bảo vệ chế độ cũng sẽ không ngần ngại gì mà không sai lính tới cho dân ăn lựu đạn cay hay có khi còn cho ăn luôn cả đạn thật để hết đòi hỏi lôi thôi. 

Có lẽ vì cái ăn lúc nào cũng ám ảnh con người mà nhiều khi nói về sự vật người ta cũng dùng tiếng ăn cho nhiều trường hợp như khi người ta nói chiếc xe hơi này chạy ăn xăng, chiếc tàu nọ cặp bến để ăn hàng... rồi đến các hiện tượng thiên nhiên như nguyệt thực được gọi là mặt trăng ăn mặt trời, còn nhật thực là mặt trời ăn mặt trăng v.v... Những tiếng ăn dùng theo cách này cũng nhiều lắm nhưng vì không nằm trong nghĩa tiếng ăn chủ quan của con người nên tôi không muốn bàn đến. Duy có cái đường biên giới mới giữa nước ta và nước Tàu hiện nay đã ăn sang lãnh thổ nước ta thì cũng có liên hệ xa gần đến cái việc ăn của con người nên đang là vấn đề gây sôi nổi. Ðối với những người dân Việt yêu nước thì thấy đây là một vết thương đang ăn sâu vào lòng dân tộc nhưng đối với những kẻ có trách nhiệm trực tiếp về vấn đề này thì trót quen ăn trên ngồi trước nên không muốn lôi thôi về nó mà mất cái chỗ ngồi mát ăn bát vàng nên vẫn cứ ngậm miệng ăn tiền

Vì nhận thức được cái sự đam mê ăn của con người là nguồn gốc của mọi sự sa đọa cũng như nguyên nhân của không biết bao nhiêu tranh chấp khiến cho con người trở nên hận thù, chinh chiến, tàn sát lẫn nhau nên từ xưa các nhà tôn giáo đã nghĩ ra phép ăn chay để cho tinh thần con người tỉnh táo ra mà biết sám hối. Ăn chay là phải kiêng ăn một số đồ ăn nào đó như người theo Phật giáo thì không được ăn các loài động vật. Thế nhưng nhiều người miệng thì nói ăn chay nhưng thực tế thì chỉ tìm cách ăn mặn và còn ăn bạo hơn cả người không bao giờ ăn chay. Có người thì tin theo giáo luật để khi ăn chay chỉ dùng rau quả ngũ cốc thôi nhưng vì cái ước muốn thèm thuồng những của ngon vật lạ trần gian vẫn chưa dứt bỏ cho nên mới chế ra gà quay chay, giò heo hầm chay v.v... để vẫn được ăn ngon mà không sợ phạm giới luật. 

Người theo Thiên Chúa giáo thì khi giữ chay phải kiêng thịt và hạn chế số lượng thực phẩm đưa vào bao tử trong ngày đó cho nên có người mới chế ra cái trò canh đồng hồ: trước khi sắp bước vào ngày chay là họ đã lo ăn uống cho căng cả bụng lên để ngày ăn chay chỉ ăn qua loa đúng phép vẫn không đói. Chưa hết ngày chay thì đã lo sửa soạn sẵn các món ăn thật ngon, thật dồi dào để chờ đồng hồ vừa chỉ nhích qua ngày là an tâm chè chén mà không hề có một chút mặc cảm phạm tội nào.

Cũng vì thấy cái ăn lúc nào cũng ám ảnh con người và làm cho con người thành mê muội nên từ xưa trong ngôn ngữ Việt ông cha ta cũng còn dùng một tiếng ăn nữa cho dễ nhớ nhưng không nhằm chỉ hành động ăn theo nghĩa vật chất mà chỉ là một trạng thái tinh thần biết nhận ra những lỗi lầm sai trái trong suy nghĩ, lời nói và việc làm của mình để mà hối cải, tức là ăn năn

Cái tiếng ăn này thì hình như chẳng có vẻ gì hấp dẫn hay thú vị đối với nhiều người nên rất nhiều người cứ tảng lờ đi như không biết. Tuy nhiên, những người nào mà trong quá khứ chỉ biết sống để ăn nên đã ăn quá nhiều, ăn đến ngập mày ngập mặt, ăn đến nỗi đâm ra lú lẫn quên hết mọi cái phải trái ở trên đời, ăn theo kiểu ăn gian làm dối, ăn cháo đái bát, ăn cây táo rào cây sung, ăn trên mồ hôi nước mắt của kẻ khác, ăn trên sự đau khổ của đồng bào, ăn trên xương máu của nhân dân, cũng cần nên nhớ lại hai tiếng ăn năn này để mà chịu khó mỗi ngày biết ăn năn một chút thì may ra xã hội loài người mới không có ngày bị hủy diệt vì những con người trót bị sa đọa vì ăn.

Đoàn Văn Khanh 
Ao Sau Vườn 

Man Mác Gió Mây - Trầm Vân

Niềm Vui Cuối Tuần - Nguyễn Thị Thêm


Hôm nay tôi vui lắm. Niềm vui của một cô giáo già có học trò cũ đến thăm. Một cuộc họp mặt bất ngờ,  kỷ niệm 50 tình nghĩa.
Thú thật khi nói đến học trò, tôi cũng có chút quê quê. Bởi vì tôi dạy các em không nhiều lắm. Lúc đó tôi chỉ dạy thêm giờ của một trường bán công quận lỵ. Ngày tôi bắt đầu dạy tiết đầu tiên cũng là ngày các em bắt đầu nhập học lớp đệ thất.
Khi các em còn lúng túng vụng về với tà áo dài thời Trung học, thì tôi cũng e thẹn, ngại ngần trong lớp áo giáo viên. Nhà tôi nghèo, mới đi dạy nên tôi vẫn mặc áo dài trắng học trò của mình . Tôi cũng không lớn hơn các em là bao. Nhìn chúng tôi như cùng trang lứa học chung lớp.

Sau tiếng kẻng vào học. Học sinh sắp hàng vào lớp. Tôi đến nhận lớp mình. Hai cô học trò đến làm quen và nói với tôi.
-Mình cao, mình sắp hàng phía sau đi chị.
Tôi cười và lui theo các em . Tôi là người đi sau cùng vào lớp. Bác Tư, Tổng Giám Thị  bước vào và giới thiệu tôi.
Tôi nhìn xuống cuối lớp thấy hai  em ấy le lưỡi và cười. Tôi cười đáp lại và chúng tôi bắt đầu kết nghĩa thầy trò lẫn bạn thân từ lúc đó.

Vậy mà bây giờ ngồi lại bên nhau. Cùng nhẩm lại thời gian, chúng tôi đã có 50 năm tình nghĩ thầy trò.
50 năm chứ ít sao cho một đời người. 50 năm chúng tôi vẫn giữ được cái tình trong trái tim nhau sau bao biến cố.

Hôm nay tôi làm món heo quay tại nhà để chiêu đãi. Tôi thức rất sớm để lo nướng thịt. Tôi ra vườn hái rau, tôi cười với những chậu rau mới bén- Cho xin tí rau nha, hôm nay nhà có khách đường xa - Rau cũng vui theo tôi, chìa ra những đọt thật tươi để dâng hiến. Vâng tôi cũng đang vui nè. Lâu lắm rồi tôi mới có dịp gặp lại bạn bè, người thân.

HOÀN. Cô học trò sắp hàng cuối với tôi ngày xưa từ VN sang Texas thăm con và cháu. Em đến thăm tôi trước khi về lại VN. Từ xa xôi em lỉnh kỉnh mang đến biếu cô giáo cũ những đặc sản quê nhà.Nào là
- Chả cá tự tay em làm, mực phơi hai nắng cho cô lai rai. Men cho cô làm cơm rượu, Hột sen và nhẩn nhục cho cô nấu chè ...
 Em cũng ân cần mua tặng tôi hai bộ đồ mặc trong nhà. Vừa mát và cũng rất dễ thương.. Em nói tôi mặc vào cho các em ngắm.
-Cô mặc thật vừa vặn, đẹp quá phải không mấy bà. Vậy là em với cô cùng size.. Còn bộ kia nữa cô mặc thử luôn đi cô...
 Tôi thay ra thay vô mấy bộ đồ. Đi tới đi lui cho các em ngắm. Chỉ là hai bộ đồ mua ở chợ, nhưng sao tôi vui quá là vui. Học trò tôi giỏi thiệt. Tấm lòng của em tốt thiệt. Nhận quà mà tôi cảm động thật nhiều.
Chưa hết, hôm nay em đem đến góp vui bằng một hộp to tướng chè chuối thật ngon và một hộp cơm rượu. Nhưng cơm rượu chưa ăn được đâu nghen cô. Còn vài ngày nữa mới lên men, thầy cô mặc sức nhâm nhi, say xỉn. hi hi.

HƯƠNG! Cô học trò lớn thứ hai đã xếp hàng trước tôi ngày đó. Hương là người bạn thân thiết nhất của tôi từ ngày tôi qua Mỹ tới giờ. Trời phú cho cô gái Bắc giỏi giang một ông chồng vui tính và tốt bụng. Bà con  trường Trung Học Long Thành đều lấy nhà em làm nơi hội họp và là khách sạn gia đình khỏi trả tiền.

Hôm nay Hương mang đến tặng tôi một bình hoa nhỏ hái từ vườn nhà. Các em cắm rất dễ thương, mừng ngày Mother's Day muộn.


Còn thức ăn, ôi thôi! Nói tới Hương là nói tới tài làm bếp và chăm chút vườn tược, cây cảnh . Em mang đến cho cô giáo đủ thứ. Này nhé :
-Khoai lang cho cô ăn sáng, Khoai môn cho cô nấu canh, Gừng - Chợ trung đông bán rẻ quá cô ơi!em mua cho cô muốn làm gì thì làm. Còn nữa, trái đu đủ này ngon quá. Em mua cho thầy ăn để nhuận trường.
- Cô ơi! Đây là hai hộp  cá salmom kho riềng. Món miền Bắc ăn rất bắt cơm. Em mang cho cô với thầy dùng bửa cho lạ miệng.
- Em làm tôm chua để cô ăn với thịt luộc, rau sống với bún. Cô nhớ cắt hai con tôm nghen cô. Em làm tôm bự cho ngon.
- Cô nè! Bánh ít trần em mới làm. Em làm nhân thêm tôm chấy và nấm mèo cho đở ngán. Cô ăn với rau cũng ngon lắm cô ơi!
- Hai hộp bánh hỏi để ăn heo quay nè cô. Cô có hành chưa?, em mang hành, mang rau sống nữa nè. Em mua ớt để cô  làm nước mắm, với lại Nam ăn là phải có ớt thật cay Nam mới thích.

Khi cả nhóm ôm hôn cô giáo, lăng xăng kẻ bưng, người xách vào nhà. Hoàn đã nói một câu thật dễ thương:
- Hôm nay tụi mình đến thăm cô vui như con gái về nhà mẹ .
Hương chêm một câu:
- Chứ còn gì nữa. Có hoa, có quà mừng ngày Mother's Day  nữa nè.

Học trò, cô giáo chúng tôi rộn ràng , vui như vậy đó.


NAM  là tài xế đường dài. Em lái xe từ San Jose xuống. Hai vợ chồng Nam & Châu với trái dưa hấu to đùng.  Em mang vô nhà và nhào ngay vào bếp lặt rau, xẻ dưa vui như hội. Châu làm một hộp bánh bò lai thật ngon nổi rễ tre rất đẹp.

CHÚC  được bạn bè chọc vui là ni cô vì em ăn chay trường và tu tại gia. Bất cứ lúc nào em cũng có thể nói về đạo pháp, nhân quả và tu học. Hôm nay là ngày đầy tháng đứa cháu ngoại đầu tiên ở Mỹ. Thế mà ham vui em cũng bỏ tất cả xuống thăm cô giáo cũ. Rất may, Hương mang theo đồ chay sẳn ở nhà theo nên Chúc cũng có một bửa chay tươm tất. Em mang xuống góp vui bằng một hộp xôi đậu xanh thật ngon.

Đó! Thầy trò tôi là như vậy. Gặp nhau chỉ có tiếng nói, tiếng cười, nhắc kỷ niệm xưa rồi bùi ngùi Thấy thời gian sao đi nhanh quá.
Tôi đứng bên các em chụp hình mà xúc động. Tuần trước, nhà con gái phải sửa lại phòng tắm, quá ồn ào và bụi bậm. Con trai tôi xuống chở vợ chồng tôi đi di tản. Tưởng tuần này không về được vì làm chưa xong. Nam tuyên bố nếu cô không về được, tụi em sẽ chạy xuống San Diego thăm cô. Xa mấy tụi em cũng sẽ tới. Rất may con rễ tôi đã xuống chở chúng tôi về kịp tuần này.
Ông xã tôi vui lắm khi các em chào hỏi. Ông vẫn còn nhớ tên từng người và hỏi thăm chồng các em có khỏe không.


Tôi thấy mình hạnh phúc lắm. Những lúc cam go nhất sau 1975, Hoàn và chồng con vẫn tìm đến thăm cô và an ủi. Ngày đến Mỹ, Hương là người tìm đến nhà tôi sớm nhất để xem cô cần gì không? Mỗi lần tôi đi xuống San Jose thì vợ chồng Nam lo cho cô chỗ ăn, chỗ ngủ bĩ bàng. Vườn nhà Chút là nơi chúng tôi thường ghé vào mỗi mùa trái vải. Những nhánh vải , bưởi, xoài sai trĩu cành luôn là những điểm nổi bật  cho chúng tôi những bức hình đẹp nhất.

Tôi dạy các em không lâu. Cái tôi trao ra cho các em quá ít, nhưng tình nghĩa các em dành cho tôi thật nhiều. Tôi liên tưởng đến các thầy, cô tôi,  những vị suốt đời theo nghề giáo. Biết bao thế hệ học sinh được các thầy cô dạy dỗ. Biết bao tình thương mến học trò dành cho thầy cô.

Thú thật, nhìn học trò đối xử với mình tôi thấy thật xấu hổ. Tôi đã làm gì được cho thầy cô tôi, cho những vị cũng từng dạy tôi trong những ngày trên ghế nhà trường. Tôi nghĩ đến thầy Hoài và nụ cười đôn hậu hiền ơi là hiền. Tóc thầy bạc trắng, lưng thầy đã còng, chân yếu run run, nhưng tôi không giúp gì được cho thầy. Đi thăm thầy tôi cũng chưa đến được lần nào. Các thầy cô khác cũng vậy. Điều kiện không cho phép tôi tham gia với các bạn dự sinh nhật thầy cô. Đi thăm viếng hay họp mặt bỏ túi mỗi khi có thầy cô nào ở xa  đến Nam Cali.

Những người thầy, người cô  từng dạy tôi hay không dạy tôi ở Long Thành, ở Ngô Quyền luôn là những người thầy thật tốt. Các thầy luôn để lại trong lòng học trò những hình ảnh đẹp, những câu nói hay bài học để đời. Cuộc đời các thầy luôn là tấm gương sáng để học trò noi theo. Những tấm gương tinh anh, trong sạch của nghề giáo.

Các thầy đem kiến thức và giáo dục tốt đẹp đến cho thế hệ tiếp nối. Nền giáo dục nhân bản ngày xưa đã không hề đem chiến tranh hay thù hận vào trường học. Cho nên tâm hồn học sinh đơm hoa nhân ái và đầy tình người. Trồng cây nào nó sẽ ra quả ấy. Dù đôi khi vì đất đai hay phương pháp trồng trọt, trái đó có thể bị chua hay nhỏ đi. Nhưng trái được thành hình vẫn là nguyên thủy của cái gốc ta trồng.

Cám ơn các thầy, cô. Cám ơn học trò đã cho tôi thấy cuộc đời rất đẹp. Cuộc sống dù khó khăn cách mấy nhưng những tình cảm tốt đẹp này còn tồn tại, thì đời sống vẫn còn ý nghĩa biết bao nhiêu.

Cám ơn một cuối tuần tháng năm rất đẹp của tôi.
Hôm nay tôi vui lắm.

Nguyễn thị Thêm 

Nỗi Nhớ - Nguyễn Thị Thêm

Sunday, May 21, 2017

Ngày Hôm Nay Tôi Sẽ...




Sưu tầm

Chiều Chủ Nhật Buồn - Đỗ Công Luận

Những Nghịch Lý Chết Người Hay Bi Kịch Của Một Quốc Gia - Nguyễn Quang Dy

  
 
“Chính trong những khoảnh khắc đen tối nhất, ta phải tập trung để thấy được ánh sáng”   (It is during our darkest moments that we must focus to see the light - Aristotle).

Một số nghịch lý chết người có thể làm chính trị suy đồi và kinh tế tụt hậu, dẫn đến bi kịch quốc gia. Nguyên nhân chính là do hội chứng cực đoan và ngộ nhận, vì cực đoan thường dẫn đến vô cảm và ngộ nhận thường dẫn đến vô minh. Vô cảm và vô minh vốn là bi kịch lớn của con người, như một căn bệnh mãn tính rất khó chữa. 

Tại các nước đang chuyển đổi (nhưng “không chịu phát triển”), cực đoan và ngộ nhận cản trở cải cách thể chế và hòa giải dân tộc, bỏ qua những cơ hội sống còn để phát triển, làm đất nước ngày càng suy yếu, cạn kiệt, và phụ thuộc, dễ mất độc lập và chủ quyền. Vì vậy, muốn thoát khỏi vấn nạn đó, để “kiến tạo” và phục hưng đất nước, người Việt phải nâng cao dân trí và đổi mới tư duy, để cải cách thể chế và dân chủ hóa.   
 
Nhưng trong bối cảnh phân hóa nội bộ hiện nay, ai ủng hộ và ai chống lại cải cách thể chế? Theo Lê Kiên Thành,Nếu những người có chức có quyền giàu lên nữa thì đất nước này sẽ sụp đổ… Chúng ta sẽ phải đứng về một phía chống lại 1/3 chúng ta, mà 1/3 này là những người vừa có tiền vừa có quyền, những người đang được hưởng lợi từ thể chế hiện giờ... Đó là những nghịch lý mà chúng ta đang phải đối mặt”.

Cực đoan và hận thù hay “tù nhân của quá khứ” 
Khi xem xét lại chiến tranh Việt Nam, người ta nhận ra “một cuộc chiến sai lầm, sai lầm về địa điểm, sai lầm về thời điểm, và sai lầm về địch thủ” (a wrong war, at the wrong place, at the wrong time, with the wrong enemy – John Kennedy, Oct 13, 1960). Đó là một bài học lịch sử cho cả hai bên, vì ngộ nhận dẫn đến nghịch lý chết người. Phải chăng lịch sử có thể rẽ ngả khác, nếu John Kennedy nghe lời khuyên của George Ball (thứ trưởng ngoại giao, đã khuyên tổng thống đừng đưa quân vào Việt Nam). Những người “thông minh tài giỏi nhất” (the best and the brightest) cũng có thể ngộ nhận và mắc sai lầm.   

Tuy chiến tranh Việt Nam đã kết thúc hơn bốn thập kỷ, nhưng bóng ma Việt Nam vẫn còn ám ảnh hai đất nước, và hai thế hệ người Mỹ cũng như người Việt. Tuy hai nước cựu thù đã bình thường hóa và trở thành đối tác toàn diện, nhưng hai cộng đồng người Việt đến nay vẫn chưa thể hòa giải được. Thậm chí trong cùng một cộng đồng, các phe phái cũng coi nhau như thù địch, dùng bạo lực để triệt hạ lẫn nhau. Vì vậy mới có bi kịch “Terror in Little Saigon” và “tiếng súng Yên Bái”, như một nghịch lý của người Việt.   

Những người cộng sản cực đoan và những người chống cộng cực đoan thực ra rất giống nhau, vì họ đều độc tài, không chấp nhận ai nghĩ khác mình, nói khác mình. Chính họ đã tiếp tay cho nhau, ngăn cản hòa giải và đổi mới. Chừng nào những ân oán của hai bên chưa được hóa giải,  cực đoan và hận thù (chứ không phải ôn hòa và nhân ái) còn ngự trị trong tâm thức họ như “tù nhân của quá khứ” thì bi kịch này còn tiếp diễn.  

“Kinh tế thị trường định hướng XHCN” hay “Frankenstein”  
Suốt bốn thập kỷ sau chiến tranh Việt Nam, tuy trải qua bao biến động trên thế giới và trong nước, nhưng Việt Nam vẫn kiên trì định hướng XHCN, vẫn “đi tìm cái không có” (như lời Bộ trưởng Bùi Quang Vinh). Chính là cực đoan và ngộ nhận đã xô đẩy Việt Nam vào bãi lầy ý thức hệ, nên vẫn loanh quanh tại ngã ba đường.  
 
Chủ nghĩa tư bản hoang dã hay chủ nghĩa xã hội thân hữu, về bản chất đều như nhau, đã đi đêm và đẻ ra cái quái thai “kinh tế thị trường định hướng XHCN”, nay trở thành Frankenstein đang thao túng quyền lực, làm đất nước suy yếu và tụt hậu. Nói cách khác, các nhóm lợi ích đã trở thành “tư bản đỏ”, thao túng quyền lực và lũng đoạn chính sách, tạo ra bất ổn vĩ mô, làm cạn kiệt tài nguyên quốc gia, gây ra thảm họa môi trường, đẩy đất nước đến chỗ hỗn loạn, dễ mất chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc.
   
Trước vấn nạn nợ công khổng lồ, như một đám mây đen lớn đang đe dọa làm vỡ nợ quốc gia, chính phủ kiến tạo không thể tiếp tục đầu tư tràn lan vào những dự án lợi bất cập hại, duy trì các tập đoàn nhà nước thua lỗ và tham nhũng. Làm sao có thể kiến tạo và chống tham nhũng nếu không đổi mới thể chế toàn diện để triệt tiêu nguyên nhân gốc rễ? Chính phủ không thể bảo lãnh mãi cho con tàu đắm Vinashin và các “quả đấm thép” (nợ đến 237 tỷ USD, bằng 120% GDP), trong khi ngân sách phải “chạy ăn từng bữa”. 
 
Liệu có “ổn định chính trị” nếu bất ổn về kinh tế
Theo chuyên gia Vũ Quang Việt, nợ công của Việt Nam không phải chỉ sát ngưỡng báo động 65% GDP (khoảng 94,8 tỷ USD). Nếu tính cả nợ của các doanh nghiệp nhà nước (được chính phủ bảo lãnh) thì nợ công lên tới 210% GDP, và nợ xấu lên đến 11% GDP (khoảng 22 tỷ USD). 
Trong khi đó dự trữ ngoại hối chỉ có 40 tỷ USD (theo Ngân hàng Nhà nước), nhưng 1/3 trong số đó là trái phiếu chính phủ Mỹ (không khả dụng).
 
Theo Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VERP), nguồn kinh phí chi cho các tổ chức công chiếm 1,7% GDP (khoảng 71,000 tỷ VNĐ). Trong khi đó hàng năm Viêt Nam phải trả nợ đến hạn (20 tỷ USD năm 2015, và 12 tỷ USD năm 2016). Trong tháng 11/2016, Chính phủ phải vay tới 17 tỷ USD để chi thường xuyên cho 11 triệu người ăn lương ngân sách và trả lãi các khoản vay đến hạn, thâm hụt ngân sách hàng trăm ngàn tỷ VNĐ/tháng. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã cảnh báo khả năng “sụp đổ tài khóa quốc gia”.
 
Dù Bộ Tài Chính có bán hết vốn các doanh nghiệp lớn mà nhà nước nắm cổ phần, cũng chỉ thu về được 7 đến 15 tỷ USD, chỉ đủ chi ngân sách từ một tháng rưỡi đến ba tháng. Trong khi đó  kiều hối năm 2016 giảm 30% (khoảng 3 tỷ USD). World Bank tuyên bố chấm dứt ODA cho Việt nam vào tháng 7/2017 (tiếp theo sẽ là ADB).  
 
Bức tranh kinh tế hiện nay làm người ta liên tưởng đến Venezuyela.  Nếu Trung Quốc không thể cứu Venezuyela (lạm phát tới 700%), liệu họ có thể cứu Việt Nam? Theo Financial Times (4/2016) nợ công Trung quốc năm 2016 tăng vọt lên 237% GDP (khoảng 28 ngàn tỷ USD). Trong khi đó dự trữ ngoại hối (tính đến đẩu 2017) đã giảm xuống còn khoảng 3000 tỷ USD, nhưng chỉ một nửa số đó là khả dụng (theo Gordon Chang).  
 
“Tập trung dân chủ” hay “tam quyền phân lập”
Làm sao để “kiểm soát quyền lực”, nếu không áp dụng “Tam quyền phân lập”?  Cái gì đã tạo ra bộ máy hành chính quan liêu khổng lồ, chồng chéo và bất cập?  Làm thế nào để “nhất thể hóa” nếu Đảng vẫn độc quyền lãnh đạo, không dựa trên “pháp quyền” (rule of law)? Trên thế giới không có chính phủ nào có nhiều bộ trưởng và thứ trưởng như Viêt Nam (22 bộ trưởng và 130 thứ trưởng). Chính phủ Mỹ và Nhật cũng chỉ có 15-16 bộ trưởng và 16 thứ trưởng. Làm thế nào để giảm chi tiêu ngân sách, nếu Việt Nam vẫn duy trì hai bộ máy hành chính khổng lồ, với những “tổ chức quần chúng” phi sản xuất và ăn bám?

Mô hình nhà nước do một Đảng độc quyền lãnh đạo toàn diện, theo thể chế “tập trung dân chủ” đã lỗi thời và bất cập trước yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường và tiến bộ xã hội. Nếu muốn “kiến tạo” và chấn hưng đất nước, để đối phó với những nguy cơ và thách thức mới, Viêt Nam phải “cải cách vòng hai” bằng cách đổi mới thể chế toàn diện, bao gồm cải cách thể chế chính trị và hiến pháp, theo hướng “tam quyền phân lập”.  
 
“Theo Tàu hay theo Mỹ” là tâm thức đầy ngộ nhận
Trước đây Việt Nam đã phải đối phó với nan đề “theo Liên Xô hay theo Trung Quốc”. Có lúc Viêt Nam đã “theo cả hai” bằng cách cân bằng để tranh thủ nguồn lực chống Mỹ (trước 1975). Có lúc Việt Nam đã theo Liên Xô để chống Trung Quốc (giai đoạn 1979-1989). Thậm chí Việt Nam đã từng ghi vào Hiến pháp rằng Trung Quốc là “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất” (mà Nayan Chanda chơi chữ gọi là “Brother Enemy”).
 
Nhưng rồi sau đó Việt Nam lại “xoay trục” theo Trung Quốc tại Thành Đô (9/1990) với phương châm “16 chữ vàng”. Đó là quyết sách cực đoan do ngộ nhận về bạn thù và ý thức hệ, mà quên mất “chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Khi Washington bắt tay với Bắc Kinh (từ 1972) họ đã bỏ rơi Đài Loan và Nam Việt Nam, mặc cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa (1974). Khi Moscow hòa hoãn với Bắc Kinh, họ cũng mặc cho Trung Quốc đánh chiếm Gac Ma và 4 đảo Trường Sa (1988), tuy họ là “đồng minh chiến lược” với ta. Đó là những bài học đau đớn để chúng ta đừng ngộ nhận và ngây thơ về quan hệ các nước lớn.      
      
Muốn độc lập dân tộc và bảo vệ chủ quyền quốc gia, phải dựa vào sức mạnh nội lực là chính.  Muốn vậy phải hòa giải dân tộc và cải cách thể chế để “khai dân trí”, giải phóng năng lượng yêu nước và tinh thần dân tộc, “chấn dân khí” để phục hưng đất nước. Chính sách “cân bằng thụ động” (“đu dây” bằng nguyên tắc “ba không”) tuy cần thiết như một sách lược (nhất thời) để đối phó tình huống, nhưng “cân bằng tích cực” mới là chiến lược (lâu dài).       

Người Việt phải học hỏi người Đức về hòa giải dân tộc và thống nhất đất nước. Phải cải cách thể chế và dân chủ hóa mới chấn hưng được đất nước, để đối phó với những biến động chính trị bất thường và bất định (như Brexitism và Trumpism). Muốn “cân bằng tích cực” với Mỹ và Trung Quốc, Việt Nam phải tăng cường hợp tác chiến lược với các cường quốc khu vực (như Nhật, Ấn Độ, Úc) trong một khuôn khổ đối tác chiến lược mới.

“Còn Đảng còn mình” hay chuẩn bị tháo chạy 
Theo IOM (International Organization for Migration) sau 25 năm tính từ 1990 đến 2015, đã có 2.558.678 người Việt di cư ra nước ngoài, tính trung bình mỗi năm có khoảng 100.000 người Việt di cư.  Việt Nam nằm trong “Top 10” các quốc gia có số du học sinh nhiều nhất thế giới.

Trong tổng số trên 4,5 triệu người Việt đã di cư (tính đến 2015), số người định cư bằng đầu tư đang tăng lên đáng kể. Chỉ riêng loại visa EB-5 (dành riêng cho các đối tượng đầu tư vào Mỹ) đã tăng chóng mặt so với các loại visa khác (như EB-1, EB-2). Số lượng visa EB-5 từ 6.418 suất (năm 2014) đã tăng vọt lên 17.662 suất (năm 2015). 
 
Đến nay, Viêt Nam có 21,000 du học sinh ở Mỹ, trong đó đa số là con em các gia đình quan chức cao cấp và trung cấp. Hồ sơ Panama tiết lộ Việt Nam có tới 189 cá nhân và tổ chức, với 19 công ty vỏ bọc được thành lập ở nước ngoài, chủ yếu là tại các “thiên đường trốn thuế” (như Cayman và Virgin Islands). Sau khi ông Trump thay đổi chính sách nhập cư vào Mỹ, nhiều người Việt chuyển hướng di cư sang Canada và Australia. Người Việt Nam (cũng như người Mỹ) đang đối mặt với quá nhiều biến số và ẩn số.
 
Tại hội thảo “Kịch bản Kinh tế Viet Nam 2017” (tp HCM, 9/3/2017) tiến sỹ Trần Đình Thiên (Viện trưởng Viện Kinh tế) đã cảnh báo về tình trạng “tẩu tán tư bản”, với số triệu phú người Việt di cư ra nước ngoài ngày càng tăng. Ngoài dòng tiền đầu tư chính đáng ra nước ngoài, còn có dòng tiền chạy ra ngoài bất hợp pháp theo dòng người di cư, trong đó nhiều triệu phú là quan chức đã có sẵn kế hoạch bỏ chạy (một khi bị truy cứu trách nhiệm). Đến nay, tổng cộng đã có 92 tỷ USD được chuyển phi pháp ra khỏi Viêt Nam.

Lượng tiền bất hợp pháp chảy khỏi Việt Nam từ năm 2004 đến 2013. (Nguồn GFI).


 “Hoàng hôn nhiệm kỳ” hay tranh thủ vơ vét  

Các nhóm lợi ích tranh nhau vơ vét, chia chác mọi thứ, làm cạn kiệt tài nguyên quốc gia. Họ “ăn không từ một cái gì” (theo lời phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan). Hết nạc họ vạc đến xương. Sau khi đã bán rẻ Vũng Áng cho Formosa, họ định bán nốt Cà Ná. Sau khi đã ăn hết dầu khí, than, thủy điện, bauxite, vonphram, ruộng đất…làm rừng vàng biển bạc cạn kiệt, họ tìm cách ăn nốt cát nhiễm mặn. Phải chăng dự án thép Cà Ná và chủ trương khai thác cát để xuất khẩu là “làn ranh đỏ” (red line) của thực trạng “hoàng hôn nhiệm kỳ”? 

Năm 2010, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký văn bản cấm xuất khẩu cát nhiễm mặn. Nhưng đến 2013, Bộ Xây dựng lại cho phép xuất khẩu cát nhiễm mặn qua hình thức “xã hội hóa” với lý do “nhằm tiết kiệm chi phí nạo vét thông luồng”. Đây là nhiệm vụ của Bộ Giao thông Vận tải dùng ngân sách để làm, tại sao phải “xã hội hóa” để các doanh nghiệp khác thác cát tràn lan, tiếp tay cho các nhóm lợi ích bán rẻ nốt tài nguyên quốc gia? 

Theo phóng sự điều tra nhiều kỳ của báo Tuổi trẻ (1-3/3/2017), hầu hết các tàu chở cát từ Phú Quốc đều đến Singapore (đảo Tekong và Changi). Từ năm 2013 đến cuối năm 2016, Việt Nam đã xuất 43 triệu m3 cát. Theo các hợp đồng xuất khẩu, giá bán cát chỉ từ 0,8 đến 1,3 USD/khối, trong khi giá bán trên thực tế là hơn 4 USD/khối. Vậy chênh lệch giá đi đâu? Việt Nam không chỉ mất tài nguyên cát, thất thu ngân sách (vì giá bán cát trên giấy tờ là quá thấp), mà còn gây sụt lở ngiêm trọng, và nguy hại cho an ninh quốc gia.  

Theo số liệu thống kê, từ năm 2016 Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Quốc phòng và các địa phương (là “chủ đầu tư”) đã phê duyệt 40 dự án nạo vét, tận thu một khối lượng cát khoảng 250 triệu m3. Dẫn đầu hoạt động “xã hội hóa” này là Bộ Quốc Phòng và chính quyền 11 tỉnh ven biển: Kiên Giang, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Ðịnh, Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh. Cuộc chiến giành quyền nạo vét cát không chỉ dọc các tỉnh ven biển, mà còn trên các dòng sông. Tranh chấp tại Sông Cầu giữa Bắc Ninh và Bộ GTVT là “phần nổi của tảng băng chìm”.  

Ngoài Singapore, Trung Quốc cũng tích cực thu mua cát giá cao nhằm bồi đắp các đảo, đá mà họ chiếm của Việt Nam. Các hoạt động nạo vét, bồi đắp các đảo nhân tạo, nhằm mở rộng diện tích các đảo, đá mà họ chiếm đóng trái phép (như Châu Viên, Chữ Thập, Gạc Ma, Ga Ven và Ken Nan) đã diễn ra với quy mô lớn. Từ năm 2014, diện tích các đảo, đá mà họ chiếm tại Biển Đông đã tăng lên 400 lần (tương đương 800ha). Vậy họ lấy cát ở đâu? Không loại trừ doanh nghiệp của ta đã lặng lẽ bán cát cho họ. Nếu đúng là có chuyện này, thì đó có phải là hành động phản quốc? Không thể vừa bảo vệ chủ quyền quốc gia, vừa dung túng cho những kẻ làm tay sai cho ngoại bang (như Formosa & MCC, Huawei & OPPO).     
 
Như trước khi con tàu đắm  
Theo Wikileaks (6/1/2017), có khoảng 65% quan chức cấp cao đã có kế hoạch chạy khỏi Việt Nam (một khi có biến). Như đã thành thông lệ, khi có quan chức tham nhũng nào bị “sờ gáy”, là lại nghỉ phép trốn ra nước ngoài “chữa bệnh” (không biết bệnh gì). Kèm theo dòng người di cư là dòng vốn đi theo. Chỉ tính riêng năm 2015, đã có 19 tỷ USD chạy ra khỏi Việt Nam. Đó là hiện tượng tẩu tán vốn hay “bỏ phiếu bằng chân”, trước thực trạng của đất nước ngày càng bi đát như hình ảnh con tàu Vinashin đang chìm.   
 
Bức tranh Viêt Nam là một bản sao bức tranh Trung Quốc. Theo phó chủ tịch nước TQ Lý Nguyên Triều (Đại Kỷ Nguyên, 30/12/2016), điều tra nội bộ trước đại hội Đảng 18 cho thấy trên 85% quan chức cấp cao đã cho vợ con định cư, mua nhà ở nước ngoài, chuẩn bị ra đi trước nguy cơ “vong Đảng”. Theo Reuters, dự trữ ngoại hối đã giảm 70 tỷ USD (trong tháng 11/2016) và 41 tỷ USD (trong tháng 12/2016), nay chỉ còn 3.010 tỷ USD. 

Mỹ không còn là địa chỉ an toàn để rửa tiền tham nhũng. Liệu chính quyền Trump có triển khai “Luật Nhân Quyền Magnisky” (mà ông Obama đã ký) nhằm cấm nhập cảnh và đóng băng tài sản của những người vi phạm nhân quyền? Liệu chính phủ Việt Nam có tiến hành một chiến dịch “Săn Cáo” như chính quyền Tập Cận Bình đang làm?    

Theo giáo sư Minxin Pei, chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình cho thấy tình trạng tham nhũng đã ăn sâu vào mọi ngõ ngách của chế độ (nhất là từ thời Giang Trạch Dân). Tuy nhiên, hoạt động chống tham nhũng vẫn chưa chạm đến cái gốc rễ quan trọng nhất là “tham nhũng đất đai”. Có đến 90% quan chức có thể bị bắt bất cứ lúc nào, trong khi số “quan thanh liêm” chỉ chiếm có 0,000001% dân số. (VOA, 29/10/2016). 

Chỉ cần quan sát dòng người và dòng vốn chạy đi đâu là biết tình trạng đất nước ra sao. Dòng người di cư ngày càng đông, gồm cả doanh nhân, trí thức, và quan chức, là dấu hiệu bất ổn về “chảy máu chất xám” (brain drain) và “tẩu tán vốn”, làm đất nước kiệt quệ. Đó là bi kịch của một quốc gia thiếu dân chủ, bị các nhóm lợi ích thao túng, trì hoãn đòi hỏi cấp bách phải đổi mới thể chế, để họ tranh thủ vơ vét nốt trước khi con tàu đắm. 
 
NQD. 18/3/2017
Nguồn: Viet-Studies