Saturday, August 23, 2014

Hài Kịch - Hạnh Phúc Trong Ta - Quang Minh - Hồng Đào

Mời xem một vở kịch vui rất ý nghĩa, một thông điệp nhắn nhủ mọi người hãy biết lượng sức mình, đừng ham những gì vượt quá tầm với, chỉ chuốc khổ vào thân.

Friday, August 22, 2014

Thằng Dân - Tiểu Tử


Trong chuyện phiếm này, tôi gọi ”thời chú Sam” để chỉ miền Nam trước tháng 4 năm 1975 và ”thời bác Hồ” để chỉ miền Nam dài dài sau đó. Cho thấy miền Nam trước có chú, rồi sau có bác thay thế nhau chăm sóc tận tình. Thật là…đại phước !

Ở xứ nào không biết, chớ ở Việt Nam xưa nay người dân vẫn được coi như không có… kí lô nào hết, mặc dù họ đông như kiến !

Hồi thời Pháp thuộc (Phải lấy thời này để làm cái mốc cho thời chú Sam và thời bác Hồ. Bởi vì không có Pháp thuộc thì làm gì có bác Hồ, làm gì có chú Sam ?), có ”ông Tây bà Đầm” ăn trên ngồi trốc. Người dân sanh ra vốn… thấp cổ bé miệng, không ngóc đầu lên được. Văn chương hồi đó hay viết ”dân ngu khu đen” nghe thật miệt thị nhưng lại diễn tả rất rõ nét vị-trí… sát đất của người dân (chỉ có ngồi lê dưới đất nên khu mới đen như vậy !) và xác nhận với chính sách ngu dân thời ấy, người dân ngu là cái chắc.

Câu ”dân ngu khu đen” cũng từ từ biến thể cho hợp thời trang ngôn ngữ, và trở thành ”dân đen” cộc lốc. Không… sáng sủa hơn bao nhiêu, nhưng bớt được tiếng ”ngu” cũng đã là một… tiến bộ. Không phải nhờ vậy mà người dân khôn ra, lẽ dĩ nhiên. Nhưng hai tiếng ”dân đen” nói lên rõ rệt sự khác biệt giữa dân bản xứ da vàng và nhà cầm quyền hồi đó, toàn là dân da trắng !

Người dân hồi đó được thực dân gọi một cách miệt thị : cu-li, nhà quê. Dù anh có ăn học, dù anh có nghề nghiệp, người da trắng vẫn coi anh là cu-li là nhà quê tuốt.

Nhớ lại một hôm, anh tôi và tôi đạp xe đi dạo bến tàu Sạc-ne (sau này gọi là bến Chương Dương và sau này nữa tên là… Tôn Đức Thắng !). Thấy hai tên lính lê-dương (légionnaire) Pháp, to như cái tủ đứng, ngồi chồng lên nhau trên một chiếc xích-lô đạp, làm chổng bánh sau lên. Anh phu xích-lô, ốm tong ốm teo, không biết làm sao để giải thích rằng ảnh không thể nào chở được hai người, vì ảnh nhẹ quá. Ảnh bèn cầu cứu chúng tôi. Có lẽ ảnh thấy chúng tôi có vẻ học sinh sinh viên chắc biết ít nhiều tiếng Pháp nên nhờ thông-ngôn. Anh tôi ”ra tay nghĩa hiệp” can thiệp. Một tên lê-dương túm ngực anh tôi, sừng sộ bằng tiếng Pháp : ”Đi chỗ khác ! Đồ cu li khốn nạn !”. Dĩ nhiên chúng tôi không đợi nói thêm một tiếng, vội vã phóng lên xe, đạp đi. Một đỗi xa nhìn lại thấy một thằng lê-dương đạp xích-lô chở một thằng lê-dương, chạy vù vù, cười hắc hắc ! Còn anh phu xích-lô thì hổn hển chạy bộ phía sau, chẳng nói chẳng rằng… Những hình ảnh đó bây giờ nhớ lại, đã sáu chục năm qua mà sao lòng vẫn còn nghe căm phẫn !
Sau hiệp định Genève, Pháp… phú-lơ-căng (Âm tiếng Pháp ”Foutre le camp” = dông mất – rất thông dụng thời đó) Việt Nam bị chia làm đôi, lấy sông Bến Hải làm ranh giới. Người dân miền Bắc sống với cái-gọi-là tự do của miền Bắc. Người dân miền Nam cũng có cái tự do riêng của miền Nam. Cũng là ”tự do” cả nhưng trong hình thức có rất nhiều dị-biệt. Bắc Nam bỗng trở thành hai xứ như là lạ hoắc ! Tuy nhiên, dù đất nước bị chia hai, cái ”khối” người dân không có gì thay đổi, nghĩa là vẫn còn nguyên là những con cờ…

Rồi miền Nam có ông vua Bảo Đại – chuyên sống ở Pháp – vì thương dân nên gởi ông Diệm về Việt Nam tham chánh. (Ông vua này thì người dân biết từ lâu. Ít ra cũng biết… tên !). Rồi có ông Diệm, vì thương dân nên… lật ông Bảo Đại rồi lên làm tổng thống. (Ông này thì người dân chỉ mới biết khi ổng trèo lên ghế tổng thống. Cứ nghe ra rả hằng ngày ”Toàn dân nhớ ơn Ngô tổng thống “, không biết rồi cũng phải biết !) Rồi có chú Sam, vì thương dân Việt Nam, ra tay giúp đỡ ông Diệm hết mình. Người dân bắt đầu biết đến chú Sam với lá cờ nhiều sao và hình vẽ hai bàn tay nắm lấy nhau được dán lên nhiều món hàng ngoại quốc nhập cảng. Nhìn cái nhãn, người ta hiểu đơn giản là bàn tay chú Sam nắm bàn tay người bạn mà chú giúp đỡ. Chẳng nghe ai thắc mắc : ”Chú Sam muốn nói chú giúp mình hay chú muốn nói tao bắt mày phải đi theo tao ?” Người dân miền Nam vốn… thiệt thà !

Bây giờ, người dân hết là dân đen. Không phải được… đổi màu như người dân miền Bắc, mà là được tẩy sạch trong từ ngữ miền Nam. Tuy nhiên tùy hoàn cảnh, tùy trường hợp, tùy tâm trạng mà người ta cũng có gọi người dân bằng ”thằng dân“, nghe hơi nặng một chút. Nhưng riết rồi ”người dân” hay ”thằng dân” đều nghe cũng… xêm xêm (Âm tiếng Mỹ ”Same same” = như nhau). Bởi vì, nặng nhẹ gì thì người dân cũng đã quen được coi như không có kí lô nào hết xưa nay !

Lâu lâu người dân cũng nghe các chánh trị gia gọi mình là ”khối quảng đại quần chúng” nghe thật… rổn-rảng khó hiểu nhưng lại khoái lỗ tai, hoặc gọi là ”toàn thể nhân dân” rất nho-nhã nhẹ nhàng, và lắm khi gọi ”đồng bào thân mến” nghe thật là… âu yếm !

Thật tình, người dân vào thời này bắt đầu thấy rằng mình coi vậy mà cũng ”có giá“. Hết còn nghe gọi người ”dân” cộc lốc, mà lại được ghép vào với tiếng ”công” oai vệ để trở thành ”công dân“. Không có gì, nhưng mang thêm chữ ”công” vẫn thấy quan trọng như ”công chức“, ”công sở“, ”công khố “, ”công an” … những thứ ”công” làm toát ra sự ”chẳng có thằng nào dám đụng tới“. Sướng chớ ! Mà thật vậy, có ai dám gọi ”thằng công dân” đâu ? Thường thì gọi ”người công dân” hay ít lắm cũng gọi “anh công dân“. ( Chưa nghe ai gọi ”ông công dân”. Có lẽ tại vì gọi như vậy, người ta sẽ nghĩ là có ”ẩn ý nhạo báng” !)

Từ ngày mang ”chức” công dân, người dân được nhà nước chiếu cố…”đậm“. Ngày nào cũng kêu gọi ”Này công dân ơi ! Quốc gia đến ngày giải phóng…”. Rồi gần đến ngày bầu cử tổng thống, dân biểu v.v… luôn luôn được nhắc nhở ”đi làm bổn phận công dân“.

Nhân nói đến vụ bầu cử, phải thấy lúc đó người dân được… trọng vọng đến mức nào. Các ứng cử viên hay các liên danh ứng cử, trong thời gian vận động bầu cử, đều hết lời ”o bế” người dân. Hằng ngày, trên truyền thanh truyền hình, trên báo chí bích chương… họ cúi xuống nâng người dân lên như nâng trứng mỏng, nói ngon nói ngọt để người dân bầu cho họ. Còn khuyên ”nên chọn mặt gởi vàng“, làm cho người dân thấy tự nhiên mình… giàu ngang xương ! Cái lá phiếu trong tay người dân – bằng giấy – coi vậy… mà nặng kí !

Sau bầu cử, người dân được trả về cương vị bình thường của người dân, cộng thêm những người bị thất cử. Những người này, không cần hỏi ý kiến ai, cứ ”đánh trống thổi kèn” tuyên bố rân lên rằng “Chúng tôi đứng về phe người dân để đối lập với chánh quyền!” Làm như hễ là dân thì phải đối lập với chánh quyền vậy ! Cũng chẳng thấy có người dân nào đứng lên phản đối. Đã nói: người dân miền Nam vốn… thiệt thà !

Bỗng một hôm, ”người ta” đảo chánh ông Diệm. Người dân ngơ ngác bởi vì, trái với những lần bầu bán, lần này người dân không được ai ”hỏi thăm” hết, thậm chí chẳng nghe ai tuyên bố theo… truyền thống rằng ”đảo chánh vì dân” ! Thì ra, ”người ta” toàn là tướng tá, binh chủng này binh chủng nọ. Họ không phải…dân !

”Họ” đảo rồi, lại đảo nữa. Cuối cùng cũng lật được ông Diệm. Lần này, người dân thấy có vẻ an toàn nên cũng xuống đường hoan hô. Thật ra, trong thời đệ nhứt cộng hoà, người dân đâu có bị chèn ép đè đầu cỡi cổ bốc lột tơi bời như thời Pháp thuộc. Người dân chỉ ”ngứa con mắt” ở cái lối trịch thượng ăn trên ngồi trốc quá lố lăng của gia đình ông Diệm, cộng thêm hành động kỳ thị tôn giáo quá lộ liễu. Vì vậy, khi ông Diệm và gia đình bị lật xuống, người dân thấy như được… nhổ cái gai trong con mắt, cho nên họ cũng vỗ tay hoan hỉ ! 

Tiếp theo là mấy ông tướng, ông tá đảo chánh nhau, đảo qua đảo lại. Người dân vẫn bị cho ra rìa, nên đứng ở bên ngoài xem như xem tuồng hài hước trên sân khấu. Vở tuồng đang diễn bỗng bị chú Sam núp ở đâu đó giựt giây hạ màn ! Người dân ngẫn ngơ, rồi cũng… xách đít ”đi chỗ khác chơi” để ”người ta” làm chánh trị.

Thật ra, vào thời điểm đó, miền Nam còn được cái may là có một người trong giới lãnh đạo ”biết” nghĩ đến dân : đó là ông tướng tầu bay Nguyễn Cao Kỳ. Khi nắm chánh quyền, ông tuyên bố và cho kẻ khẩu hiệu đầy đường : ”Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ là chính phủ của dân nghèo“. Thật là ngạc nhiên đến… ngỡ ngàng ! Người dân nào đã lỡ giàu bỗng thấy mình thuộc vào loại… vô chánh phủ nên cứ phập phồng lo sợ, còn người dân nghèo thì lại bâng khuâng không dám hoan hô vì không biết mình có thuộc vào cái…”típ” nghèo mà ông tướng đã tuyên bố ? Bởi vì có hạng nghèo xơ nghèo xác, có hạng nghèo rớt mồng tơi, có hạng nghèo mạc rệp, có hạng nghèo kiết .v.v… Thành ra, lời tuyên bố rất ”nổ” của ông tướng giống như cục đá nhỏ rơi xuống mặt nước hồ, nghe cái chũm rồi… hết ! Tuy nhiên, lần đầu tiên người dân thấy mình được đứng chung với chánh quyền – dù chỉ là trên khẩu hiệu – cũng thấy có chút gì an ủi !

Rồi chú Sam ồ ạt đổ quân và đồ ”PX” lên miền Nam mà chẳng thấy có ”trưng cầu dân ý .

Người xưa nói ”ý dân là ý trời“. Người nay cầm quyền, đã không cần đến ý dân thì đâu có ông nào nói với chú Sam : ”Thưa chú, ông bà tôi nói như vầy…như vầy…”. Cho dù có ai nói cho chú Sam thì cũng chỉ làm cho chú cười văng… sơ-quynh-gum, bởi vì chú đâu có tin. Chú đã từng bay lên trời, bay lên cung trăng, bay lên bay xuống như ăn hamburger hằng bữa… chú đã gặp ông trời đâu mà tin ! Vã lại xưa nay chú Sam chỉ thấy ý của chú là ”năm bờ oan” thì chú đâu cần hỏi ý kiến của ai khác. Vì vậy, chú cứ… nhắm mắt đưa quân vào miền Nam như đi… vào chỗ không người. Chẳng có một người dân nào đứng lên phản đối. ”Họ” – người dân – nói : ”Mấy ổng (ám chỉ nhà cầm quyền) đã ô-kê Salem với chú Sam rồi, mình có la nô-gút nô-gút (no good ! no good !) chỉ có… chó nó nghe !”

Trong ”thời chú Sam“, mặc dù đang đánh giặc với Bắc Việt, người dân vẫn đi lại thong thả, miễn là đừng… lội sông Bến Hải để ra ngoài Bắc. Năm khi mười hoạ mới bị hỏi căn cước. Trong trường hợp vào ra ở các ”lãnh địa” của chú Sam thì lúc nào người dân cũng bị chú lính của chú Sam hỏi giấy bằng tiếng Việt bỏ sai dấu: ”Cán cuốc! Cán cuốc !” (căn cước). Chẳng thấy người dân nào …cười !

Ngoài ra thì đời sống của người dân rất tự do thoải mái. Tự do buôn bán. Đồ PX (dân gọi là pi-éc – là các mặt hàng nhập vào Việt Nam bán riêng cho quân đội chú Sam, không có thuế nên giá rẻ – lính chú Sam mua ra bán lại cho dân) tràn ngập các chợ trời. Còn hàng hoá sản xuất trong xứ cũng bán đầy các chợ các phố. Tự do ngôn luận, in sách, ra báo. Thật tình, ở đây có… lạm phát : báo đủ loại – báo ngày, báo tuần, báo tháng… khoảng chừng trên 30 tờ ! Người dân đọc… mờ con mắt luôn !

Cuộc sống tương đối dễ chịu, dễ…thở. Đùng một cái,Việt Cộng tổng tấn công ngay trong ngày tết Mậu Thân. Chúng tin tưởng rằng ”toàn dân miền Nam sẽ nổi dậy lật đổ chánh quyền !”. Té ra, người dân, vì sợ, nên chỉ lo bồng bế nhau chạy ! Lần đó, Việt Cộng thất bại nặng. Lần đó, người dân thật sự thấy tận mắt Việt Cộng là ai, để sau đó biến sợ hãi thành căm thù. Chỉ cần một ngòi nổ là nó bùng lên để ”quạt” cho Việt Cộng một đòn ”chí tử“. Vậy mà không thấy chú Sam… nhúc nhích một ngón tay ! Chú không đánh trả, đã đành. Chú còn ngăn không cho quân đội quốc gia đánh trả. Chú đi một nước cờ mà không ai hiểu gì hết ! Và lần đó người dân nhìn chú Sam bằng một con mắt khác. Họ nói : ”Không biết cái thằng cha chú Sam này muốn cái gì ? Thiệt là ngược đời ! Kẻ thù thì mình biết rõ, còn thằng bạn đồng minh nhai sơ-huynh-gum này thì mình…mù tịt !”.

Từ chỗ nhận định nói trên, người dân bắt đầu nghi ngờ cái ý nghĩa của hai bàn tay nắm lấy nhau dưới lá cờ nhiều sao làm nền cho loại nhãn dán trên các đồ viện trợ. Ai cũng nghĩ rằng cái nhãn đó có…hai mặt. Giống như chú Sam, chú cứ phải nhai sơ-huynh-gum liền tù tì để không ai ”bắt gân mặt” mà đoán chú đang nghĩ gì, bởi vì chú muốn giấu ”cái mặt bên kia” của chú, không phải giấu với địch mà giấu với thằng bạn đồng minh ! Thế mới đau !

Rồi vì không còn tin tưởng nữa, người dân lo… thủ. Ai cũng dự trữ đồ ăn ! Có tiền thì trữ nhiều, không tiền thì chạy nợ để trữ chút chút. Cho nó ”ăn chắc“, bởi vì thằng cha chú Sam này coi vậy mà không phải vậy !

Tình trạng nhập nhằng này kéo dài tới hiệp định gì gì đó ở Paris. Tiếp theo là lính chú Sam ”gô hôm” từ từ, trước sự dửng dưng của người dân, bởi vì họ đã lật tẩy ”cái mặt bên kia” của chú. Cái nhãn ”hai bàn tay nắm lấy nhau” không bị mưa mà nó cũng tróc, giống như đồ thợ mã !

Rồi thì ”cơm không lành canh không ngọt” giữa chú Sam và ông Thiệu (tổng thống đệ nhị cộng hoà – xin nhắc lại cho những ai không… muốn nhớ !) Đùng một cái, ông Thiệu ra lịnh bỏ Pleiku/ Kontum rút hết quân về vùng Duyên Hải. Quân đội và dân chúng ngạc nhiên đến bàng hoàng, bởi vì đã bị Việt cộng tấn công đâu mà phải rút ? Còn phía Việt cộng thì… giật mình vội vã ”nâng cao cảnh giác“, nín thở bất động , bởi vì không biết ”thằng ngụy ác ôn này định dở trò gì đây ?”. Người ta đồn (Hồi này, tin đồn đi nhanh hơn hỏa tiễn và người dân miền Nam chỉ sống bằng… tin đồn !) rằng ông Thiệu giận lẫy thằng bạn đồng minh ”xỏ lá” nên chơi một cú cho nó xanh mặt ! Không biết chú Sam có xanh mặt hay không chớ thằng dân thì xanh mặt dài dài… Bởi vì không biết không hiểu gì hết. Cứ thấy quân đội tự nhiên rút chạy là cắm đầu chạy ! Mà có hỏi quân đội thì – than ôi ! – quân đội cũng bù trất ! Vậy là kinh hoàng, là hỗn loạn ! Vậy là cứ… nhắm mắt chạy. Càng chạy càng sợ ! Càng sợ càng chạy ! Người dân giống như những con cờ bị người chơi cờ hất trọn bàn cờ xuống đất, văng tung toé khắp nơi, rơi vào hốc vào kẹt, rơi vào lỗ cống đường mương… Ai biết ? Ai thèm biết ? Nghĩ mà thương cho người dân miền Nam ”sanh chẳng gặp thời“…

Từ miền Trung dài vô Sàigòn, chỗ nào cũng thấy chạy. Dân chạy trước. Phía sau dân là quân đội. Phía sau quân đội, xa thật xa, là Việt cộng. Họ đã mất thời gian ”điều nghiên tình hình” để nhận thấy hiện tượng ”ngụy quân” rút đi là có thật. Thế là ”ta” xua quân chạy theo ”toé phở” nhưng vẫn láo phét rằng ”quân ta đuổi chúng nó chạy…toé khói” !

Tình trạng hỗn loạn này được tiếp nối bằng sự ồ ạt di tản ra… biển Đông. Cũng là chạy nhưng chạy ra khỏi xứ !

”Thời chú Sam” được hạ màn vào cuối tháng tư năm 1975. Màn không được hạ từ từ theo đúng ”điệu nghệ sân khấu” với giàn kèn đồng thổi bản ”ò e rô be đánh đu” ! Màn bị hạ… cái rẹt như bị đứt giây, bởi vì anh hạ màn… bỏ mẹ nó xuống cho rồi để còn vắt giò lên cổ chạy cho kịp nhảy lên chiếc trực thăng di tản cuối cùng !

Chú Sam ”gô hom” để lại miền Nam vô số sơ-huynh-gum đã… nhai rồi và một lô con lai, có trắng có đen… gọi là kỷ niệm !

Đây nói về người dân vào ”thời bác Hồ“…


”Thời bác Hồ” được… kéo màn khai diễn bằng một hình ảnh lẽ ra phải hào hùng, nhưng mấy anh Bắc Việt đã dàn cảnh vụng về cho nên đã trở thành ra lố bịch.

Số là…

Ngày 30 tháng tư năm 1975, cổng vào dinh Độc Lập đã được mở rộng để ”đón tiếp các anh em Giải Phóng“, sau lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương văn Minh. Thay vì cứ đường hoàng oai vệ tiến thẳng vào dinh – vì là người thắng trận – mấy ông Bắc Việt đã dàng cảnh bằng cách đóng cổng lại để cho một xe tăng mang cờ Giải Phóng ủi sập rồi ngất ngưỡng… bò vào bên trong như một thằng say. Báo chí, truyền hình chụp ảnh quay phim liền tù tì, cho thế giới thấy rằng ”chính quân đội và nhân dân ta đã tiến công ủi sập chính quyền miền Nam“. Trong màn diễn xuất đó, họ quên mất người dân nên chỉ thấy có lèo tèo mấy anh Giải Phóng ! Trong lúc đó, dân chúng – khá đông – đứng xa xa nhìn một cách bàng quan, không hiểu “tại sao không chạy thẳng cha nó vô cho rồi, chớ đóng cổng làm chi để rồi phải ủi sập mới vô được, thiệt... làm chuyện ruồi bu! ”

Tiếp theo là lá cờ Giải Phóng Miền Nam lớn bằng tấm chiếu phe phẩy trên nóc dinh giống như người chạy việt dã vừa về tới đích. Và tiếp theo là hai câu đối thoại đáng ”đi vào lịch sử” : Khi được ông Dương Văn Minh – vị tổng thống… phù du nhứt lịch sử – nói : “Mời các ông ngồi vào bàn để chúng tôi bàn giao “, một ông… nón cối Bắc Việt ”phang” cho một câu ”Bàn giao cái gì ? Các anh thua trận, đầu hàng vô điều kiện mà còn cái gì để bàn giao ?“. Không biết những người miền Nam có mặt lúc đó – tổng thống, tổng bộ trưởng v.v…– có nghe ”đau như hoạn” ?

Vậy là…giải phóng ! Người dân cũng có vỗ tay. Hết chạy loạn là… vui rồi. Hết giặc, con cái hết đi lính… là vui rồi. Một phóng viên miền Bắc phỏng vấn một bà già miền Nam : ”Thế… bà má có vui không nào ?“. Trả lời : ”Ờ… vui chớ ! Nhờ có mấy ông giải phóng về kịp nên mới yên ! Chớ không, tụi Việt Cộng nó pháo kích riết chắc chết quá !”. Ở một nơi khác, phỏng vấn một anh xích lô, anh ta trả lời : ”Vui chớ sao không vui ! Đạp xích lô lúc nào cũng bị tụi nó nghi là Việt Cộng”. Rồi anh chỉ vào mặt mình : ”Anh coi ! Mặt tui vầy mà là Việt cộng à ?”

Mà vui thật ! Ở Sàigòn đông lắm. Thiên hạ đi đầy đường. Xe hơi, xe gắn máy, xe đạp… nối đuôi nhau nhích nhích. Vậy mà chẳng thấy ai gây gổ với ai, cũng chẳng nghe ai nóng nảy tin tin một tiếng kèn ! Đó là lần đầu tiên người dân tự động ”xuống đường“, không phải để đấu tranh mà là để đi coi… bộ đội ! Cũng giống như đi coi chợ phiên sở thú. Vui lắm !

Gánh hát mới khai diễn chưa kịp đánh trống thổi kèn quảng cáo mời mọc mà đã được khán giả bốn phương kéo tới xem thật đông như vậy thì thật là… ”thành công, thành công, đại thành công !” Người dân cũng thấy khoái bởi vì toàn là đào kép mới – cái gì lạ cũng hấp dẫn – và bởi vì được đi coi…thả giàn.

Sau mấy lớp hài hước mở màn như chuyện mấy anh bộ đội nói dóc nói phét ”Hà Nội cái gì cũng có“, chuyện ”nhà ỉa nhà đái… trong xô“ .v.v… sân khấu bỗng chuyển sang bi hài kịch mà trong đó người dân được kịch tác gia cách mạng đẩy lên đóng vai chánh ! Người dân ngạc nhiên dở khóc dở cười… Vai chánh đó có cái tên nghe lạ hoắc : ”nhân dân làm chủ” !

Từ một tay ngang bước lên sân khấu, dĩ nhiên là cần được các đạo diễn chăm sóc dạy dỗ tận tình để người dân được… lột xác biến thành kịch sĩ.

Đầu tiên, người dân được mang một cái tên khác cho đúng với điệu nghệ kịch trường: tên ” Nhân Dân ” (Xưa nay, trong giới cải lương kịch nghệ có… truyền thống là khi đã ”đi hát” thì người ta thường lấy một cái tên khác đẹp hơn kêu hơn là cái tên cúng cơm. Vậy mới là nghệ sĩ !) Rồi ”cái” nhân dân đó được dạy hô khẩu hiệu – đó là những bài bản… gốc của cách mạng mà ai ai cũng phải biết hát, cũng như trong giới cải lương kép độc hay hề gì cũng phải rành ”sáu câu“… Đại khái, chỉ có mấy khẩu hiệu như ”vĩ đại, vĩ đại, vĩ đại , như ”muôn năm, muôn năm, muôn năm“, như ”sống mãi, sống mãi, sống mãi“. Vậy mà không phải dễ ! Phải hô cùng một lúc và hô cho đúng nhịp. Hô lỏn chỏn là ”có vấn đề đấy nhá !”. Tiếp theo là tập vỗ tay. ”À… vỗ tay cũng phải tập chứ ! Có phải như thời Mỹ Ngụy đâu mà các anh các chị muốn vỗ thế nào là vỗ. Muốn làm chủ, nhân dân phải tập cả vỗ tay nữa cơ !” Thế là học vỗ tay : mọi người trong hội trường cùng vỗ một lúc, không cần khoái tỷ hay thích thú gì ráo, chỉ cần thấy anh cán bộ đang nói bỗng ngừng lại vỗ tay là ta vỗ tay thôi!

Tiếp theo là đi học tập ba hôm về đường lối chủ trương của cách mạng. Thượng vàng hạ cám gì cũng phải học tập ráo. Cùng ngồi chung với nhau – thường thì ngồi dưới đất vì không có đủ băng đủ ghế, và vì không đủ chỗ nên ngồi cả ra hàng ba, ra sân – cùng nghe chung những gì mấy cán bộ nói. Và vì mấy cha cán bộ nói dài quá, lại thay nhau nói cùng một đề tài bằng những lời lẽ y chang như nhau nên người ”nhân dân“, kẻ trước người sau, cùng chung nhau… ngáp ! Suy cho cùng, ngáp cũng là một cách… phát biểu. Nó nói lên sự mệt mỏi chán chường. Về sau, khi đã… ”quen nước quen cái” với những buổi hội họp học tập, với cái gọi là ”Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý“… cách ”phát biểu” độc đáo đó đã được người dân ”khai triển” rất thoải mái, không phải giơ tay xin phép ai hết và cũng không sợ bị quy tội ”bôi bác không khí nghiêm túc của hội trường“. Để thấy ”Trong chế độ ta, nhân dân vẫn làm chủ… cái ngáp của mình đấy chứ !”.

Tiếp theo (trong ”thời bác Hồ“, lúc nào cũng có một sự ”tiếp theo” nghĩa là chẳng bao giờ thấy một sự ngưng nghỉ, cứ ” ọc tập tiếp theo học tập“, cứ ”đấu tranh tiếp theo đấu tranh“, cứ ”khai báo tiếp theo khai báo“…) nhân dân học tập khai lý lịch, học tập báo công báo tội, học tập làm sổ hộ khẩu sổ gạo… Hết học tập ở tổ dân phố thì kéo nhau ra học tập ở phường – cũng như vậy thôi nhưng đông hơn nên… vui hơn – rồi học tập ở quận… Rồi đi mết-tinh, đi đón tiếp phái đoàn này, đi chào mừng phái đoàn nọ, đi làm lễ đón nhận lẵng hoa của bác Tôn (ông già này thay thế bác Hồ, nhân dân đoán như vậy) Ôi thôi ! Rộn rịp, vui lắm !

Khác hẳn với ”thời chú Sam“, người nhân dân bây giờ đi đến đâu cũng thấy cái sự làm chủ của mình nó… lòi ra cả đống. Bằng cớ là cái gì cũng thuộc về nhân dân ráo, cái gì cũng thấy dán nhãn ”nhân dân” mà chẳng cần phải ”cầu chứng tại toà“. Sướng như vậy ! Này nhá : Ủy Ban Nhân Dân này, Toà Án Nhân Dân này, Quân Đội Nhân Dân này, Công An Nhân Dân này… đến tờ báo to nhất nước – của Đảng – cũng phải mang tên ”Nhân Dân” đấy ! Làm chủ, sướng nhá !

Thế nhưng, có hai cơ quan mà nhân dân không được làm chủ : đó là tổng cục kế hoạch và ngân hàng. Chỉ có hai cơ quan này là đặc biệt mang nhãn ”Nhà Nước” nên được gọi là ”Tổng cục kế hoạch Nhà Nước” và ”Ngân Hàng Nhà Nước“. Nhà Nước nắm cái tổng cục để độc quyền lên kế hoạch… hốt bạc đổ vào ngân hàng của Nhà Nước, vậy là an toàn nhứt rồi ! Người ta nói : ”Đồng tiền là huyết mạch, Nhà Nước nắm cái huyết mạch đó là nhân dân… nhăn răng !” Nói như vậy là có ý bôi bác chế độ. ”Hãy nhớ rằng, trong chế độ ta có sự phân công rõ rệt : Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân Dân làm chủ. Muốn quản lý, Nhà Nước phải nắm cái… hầu bao chứ. Không có cái đó thì quản lý cái đếch gì được. Rõ như thế đấy !”. Lý luận chắc nịch như đinh đóng cột, nhân dân chỉ còn nước đi chỗ khác chơi.

Dù sao đi nữa, được lên đóng vai chủ trong vở trường kịch của ”thời bác Hồ” vẫn thấy khoái hơn ở ”thời chú Sam“. Thời đó, người dân chỉ là người dân quèn với bộ mặt thật của nó, chưa từng biết thế nào là ”vẽ lọ bôi hề . Còn bây giờ, trên sân khấu cách mạng, người dân được tô son trét phấn để có bộ mặt khác – một bộ mặt không giống ai – vui chớ !

Qua ”thời bác Hồ“, cái gì cũng thay đổi hết. Đặc biệt là người dân. Ngoài chuyện ”nhân dân làm chủ“, người dân bây giờ nhìn lại mình cũng thấy không còn là mình nữa ! Cả cái thân hình trước đây, chỉ còn lại có… cái miệng. Mỗi một người dân được xem như là một ”nhân khẩu” – một cái ”miệng người” – Tờ khai gia đình thời trước bây giờ được thay bằng ”sổ hộ khẩu” trong đó kê khai có bao nhiêu…cái cửa miệng ![Mà cũng khá phức tạp về cái hộ và cái khẩu này, trong nhà mà có hai đàn ông và hai đàn bà thì phải khai làm sao cho chỉnh, vì có 4 cửa khẩu cọng thêm 2 cửa hộ nữa - ý kiến độc giả] . Nghĩ cho cùng, Nhà Nước cách mạng có lý, bởi vì trong công tác ”quản lý“, chuyện đầu tiên phải lo là ”nuôi ăn“. Vậy, phải biết rõ ”ta” có bao nhiêu cái cửa miệng trên, [còn cửa miệng dưới thì phải ém đi, không cho ăn vì ăn vào sẽ sinh đẻ làm hại đến kinh tế của nhà nước - ykđg]. Thế… Ngoài ra, nếu thấy cái miệng nào đã có ăn mà còn đòi cả quyền ”nói” thì ”ta” chận ngay không cho nó ăn. Có nói, đến chừng đói rã ruột ra thì cũng phải câm lại thôi. Đỉnh cao trí tuệ là ở chỗ này đấy !

Sau khi đã học tập tốt, nghĩa là người nhân dân đã rành bài bản để đóng vai ”nhân dân làm chủ“, người nhân dân phải biết ”đi thưa về trình“. Nói cho văn vẻ chớ thật ra là đi đâu phải xin giấy di chuyển của chánh quyền nơi cư ngụ và về phải trình lại giấy di chuyển có đóng dấu nơi mình đã đến. Nhân dân làm chủ khi dọn nhà qua ở chỗ khác phải làm thủ tục giấy tờ dời địa chỉ – gọi là chuyển hộ – có sự chấp thuận của chánh quyền hai nơi – nơi ở củ và nơi ở mới – Nhân dân làm chủ phải đi lao động xã hội chủ nghĩa (Thời trước gọi là ”đi làm…chùa”). Nhân dân làm chủ ”phải” triệt để thực thi quyền làm chủ của mình nghĩa là ”phải” làm thế này, ”phải” làm thế nọ… toàn là những thứ ”phải” mà ở ”thời chú Sam” tìm đỏ con mắt không có, ví dụ như phải đổi tiền, phải bị đánh tư sản, phải đi kinh tế mới, phải đi tập trung cải tạo… Chánh quyền mới gọi là ”một cuộc đổi đời”. Họ nói đúng ! Có điều là cuộc đổi đời đó xoay đến 180 độ, làm cho người dân thấy… ngất ngư !

Sau khi miền Nam được giải phóng, mấy cha Giải Phóng Miền Nam còn đang ”cờ phất trống khua” trên sân khấu cách mạng bỗng bị… cúp điện hạ màn, đuổi vào hậu trường lảnh ”lương cà phê” (Tiếng nhà nghề nói gánh hát không trình diễn, nghệ sĩ chỉ lảnh chút tiền để uống cà phê thôi) Họ bị giải tán một cách êm ru và dễ ợt như người ta liệng một miếng giẻ rách vào đống rác, trước sự ngạc nhiên của người nhân dân làm chủ. Bởi vì chuyện ”đại sự quốc gia” như vậy mà chẳng thấy ”lũ đầy tớ” nó hỏi qua ý kiến một lần ! Rồi đến vụ thống nhất đất nước, những ”công bộc của nhân dân“ cũng cứ quyết định một mình ên !

Thật ra, lấy công tâm mà nói, nếu có được hỏi thì cái ”nhân dân làm chủ” cũng chỉ gật đầu nhất trí. Cứ xem nhân dân miền Bắc, tính đến năm 1975, họ ”làm chủ” đã hai mươi năm, có thấy họ không nhất trí bao giờ ? Người dân chắc nghĩ rằng mình làm chủ nhưng còn thằng khác nó làm chủ cái bao tử và sinh mạng của mình nữa, vậy, cứ luôn mồm nhất trí là…chắc ăn nhứt ! (Một nhà văn lớn thời tiền chiến vào Nam thăm bạn bè sau 1975 đã nói nhỏ : ”Tôi còn sống đây là nhờ tôi biết sợ“. Một câu để đời !) Cái ưu việt của chế độ là ở chỗ này đấy !

Tiếp theo là người dân học tập – lại học tập ! – đi bầu. Hồi thời trước, người dân cầm lá phiếu thấy mình… oai ghê lắm. Họ tự do chọn lựa ứng cử viên, họ nhìn ảnh của từng người và còn phê bình ”líp ba ga” : ông này dễ thương, giống kép Hùng Cường , ông này…cha ! coi bậm trợn quá, à ! còn bà này giống Túy Hoa ghê, coi đặng à v.v… Bây giờ thì khác : Đảng chọn, dân bầu. Sợ nhân dân mất thời giờ và mất công nên Đảng chọn dùm cho dân. Nhân dân chỉ còn có… nhắm mắt bầu. Sướng gần chết còn muốn gì nữa ? Có điều là bầu bán bây giờ không còn rầm rộ trống kèn như thời trước nên chẳng thấy có gì hấp dẫn hết.

Sau giải phóng, người dân miền Bắc đua nhau vào Nam để ”cứu trợ đồng bào ruột thịt miền Nam sống trong sự kềm kẹp của bè lũ ác ôn Mỹ Ngụy, đói khổ thiếu thốn vô cùng“. Còn người dân miền Nam, ít lâu sau, cũng lục tục kéo nhau ra miền Bắc, không phải để ”tham quan” mà để… thăm nuôi thân nhân bị đưa đi tập trung cải tạo ngoài đó. Kẻ vô người ra như vậy thật là một sự… giao lưu đáng đồng tiền bát gạo, bởi vì nó ”mở mắt” người dân của cả hai miền. Để thấy rằng dù ”ở” với bác Hồ hay ”ở” với chú Sam, người dân vẫn là những con cờ, không hơn không kém !

Bây giờ, gần bốn chục năm sau giải phóng, cuộc sống miền Nam cũng đã ổn định, nghĩa là người dân vẫn… sống nhăn, không phải nhờ khẩu hiệu ”dân giàu nước mạnh…” mà nhờ biết xoay sở để sinh tồn. Cũng có hàng hoá đầy chợ. Cũng có quán xá đầy đường. Cũng có vài tờ báo của đảng / đoàn / cơ quan để đọc – vài tờ cũng đủ… chán, đâu cần phải ba mươi tờ như ”thời chú Sam” – Cũng có tiểu thuyết lai rai của Hội Nhà Văn – cái hội mà chế độ đẻ ra để ”gò” các nhà văn đi cho ngay cho đúng ”đường lối chủ trương” – Cũng có nhạc vàng lả lướt đã thông qua sự kiểm tra của Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn, một loại “cục” lúc nào cũng thấy… nằm chình ình trên các DVD và băng nhạc dưới dạng con tem, trên đó có ghi rõ tên chương trình, hãng sản xuất, số giấy phép, mã số và hàng chữ đỏ “Nghiêm cấm in sao dưới mọi hình thức“.

Đảng vẫn lãnh đạo, Nhà Nước vẫn quản lý và Nhân Dân vẫn… làm chủ, lẽ dĩ nhiên !

Tính ra, ”thời chú Sam” chỉ dài có hai mươi năm. Cái ”số” như vậy thầy bói gọi là… yểu tử ! Trong lúc ”thời bác Hồ” vẫn còn tiếp diễn dài dài, gần bốn mươi năm mà chưa thấy hạ màn ! Đó là cái ”lô-gích” của thời đại bởi vì bác Hồ lúc nào mà chẳng ”sống mãi! sống mãi ! sống mãi !” ?

Chỉ tội cho người dân, với bộ mặt ”không giống ai” vì bị tô son trét phấn, có nhăn nhó vì đau quặn ruột người ta cũng vẫn thấy như đang…cười ! Và người ta kết luận : ”Tốt đấy chứ !”. Ở đây, phải hiểu ”người ta” là Đảng và Nhà Nước.

Tiểu Tử

Những Chiếc Bánh Trung Thu Độc Đáo Nhất


Trung thu đang đến rất gần, lòng người rộn ràng chờ đón ngày trăng tròn đẹp nhất trong năm. Gia đình nào cũng chọn mua những chiếc bánh nướng bánh dẻo ngon và đẹp để dành tặng người thân và để làm quà cho bọn trẻ.  Hãy tham khảo những chiếc bánh thú vị nhất của năm nay.Ngày nay bánh trung thu được chế biến rất cầu kỳ, tinh tế, có nhiều sắc màu, hương vị, hình dáng và kích thước, khiến bạn vừa thích thú nhưng cũng rất lưỡng lự khi phải lựa chọn.
1. Bánh trung thu giòn


Những chiếc bánh hình hoa hồng vô cùng đẹp mắt này xuất xứ từ Singapore , được làm với quy trình đặc biệt. Bánh được nướng chín sau đó lại mang ướp lạnh nên phần vỏ giòn, nghe thật lạ, bánh trung thu mà lại giòn. Nhưng độ giòn vỏ vừa phải kết hợp với phần nhân mềm nhiều hương vị hấp dẫn như: trà xanh, hạt sen, hạt dẻ hay sữa dừa lại tạo được sự hấp dẫn riêng, ăn không ngán.

2. Bánh trung thu hoa quả



Trái cây mang lại hương vị mới lạ “đột phá” cho chiếc bánh. Thơm ngon và vô cùng bắt mắt, những chiếc bánh cũng đa dạng theo sự phong phú của các loại hoa quả, từ vị sầu riêng, vua của các loại trái cây, đến dâu tây quyến rũ, vị chuối ngọt ngào cho đến vị quả vải mùa hè…


Ngoài ra các đầu bếp còn kếp hợp các loại trái cây lạ làm nhân bánh như nhân mít, nhân quả bơ hay nhân xoài xốp. Các loại hoa quả được xay nhuyễn hoặc thái nhỏ rồi trộn với nhân, khi ăn đôi khi bắt gặp những miếng trái cây thực khách sẽ thấy ngạc nhiên thích thú.
Bạn sẽ không bao giờ chán bánh trung thu nữa.

3. Bánh trung thu vị rượu


Những chiếc bánh dẻo được làm tỉ mỉ như tác phẩm nghệ thuật, màu sắc của nó khiến ta phải ngỡ ngàng. Tất cả đều là nguyên liệu tự nhiên nhưng với cách kết hợp khéo léo, một chút phương tây và một chút á đông: nhân khoai lang Nhật với chocolate và rượu champagne.


Hay kỳ lạ hơn nữa với viên chocolate chứa rượu bailey bên trong rồi nhân nho khô rượu rum, nhân kem-hạt dẻ-whisky. Thật tuyệt vời.

4. Bánh trung thu oải hương


Hoa oải hương không chỉ là thứ thảo mộc chữa bệnh, làm mỹ phẩm hay dầu thơm thư giãn nữa. Nó còn xuất hiện trong món bánh trung thu của người châu Á.
Loại bánh này có màu tim tím nhẹ nhàng như hoa oải hương nước Pháp. Không những thế người làm bánh còn trực tiếp cho hoa oải hương vào trong bánh khiến người ăn thấy tò mò và háo hức, bên cạnh hạt dưa, hạt sen, đậu xanh, đậu đỏ, hoa oải hương tạo nên thứ mùi hương huyền ảo. Và bạn đã bao giờ thử bánh trung thu vị hoa chưa?

5. Bánh trung thu kiểu Tây


Các nghệ nhân Hồng Kông đã tạo ra một thứ bánh trung thu mới với hơn 40 hương vị khác nhau. Vỏ bánh mềm mịn và lớp nhân mượt như nhung, những chiếc bánh này sẽ chinh phục bất cứ ai ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Bạn sẽ không thể từ chối bánh nhân đậu xanh pho mát, bánh caramel cà phê và đậu đỏ, bánh vừng đỗ trắng hay bánh pho mát và chocolate.

6. Bánh trung thu “mỹ phẩm”


Mỹ phẩm từ bánh trung thu? Hoàn toàn không phải mà đó là những chiếc bánh được tạo hình và tạo màu như một bộ đồ trang điểm của phái đẹp.
Bạn sẽ thắc mắc, bánh trung thu màu đen ư? Có thể chứ khi người ta tạo ra thứ màu huyền bí của bóng đêm đó cho chiếc bánh từ những hạt vừng đen.

7. Bánh trung thu vị mùa xuân


Lấy cảm hứng từ mùa xuân loại bánh này có màu xanh mịn màng, phần nhân được sáng tạo với đậu nành, lòng trắng trứng và hương trà xanh. Màu sắc của chiếc bánh gợi cho ta không khí đầy sức sống, màu hồng dịu dàng của hoa đào, màu xanh mướt của lộc non tươi mới. Ngoài hình thức vô cùng hấp dẫn nhân bánh được làm từ đậu nành cũng là một nét độc đáo, quyến rũ mới.
  
Thanh Lan sưu tầm

Họa Sĩ Tài Ba


Nhà thờ cổ kính, trang nghiêm, nông thôn bình yên, miền duyên hải thơ mộng, tất cả được họa lại bằng những nét vẽ mềm mại, dịu dàng bằng màu nước, đó là những chủ để chính trong tranh của kẻ hủy diệt tàn độc nhất trong lịch sử - Adolf Hitler. Những bức tranh ấy khiến công chúng liên tưởng tới những họa sĩ yên phận chuyên vẽ tranh để bán cho khách du lịch. Trên thực tế, đó là những bức tranh của trùm Đức Quốc xã, Adolf Hitler. Thật khó để tưởng tượng rằng tác giả của những bức tranh phong cảnh bình yên, mộc mạc ấy lại là kẻ diệt chủng kinh hoàng đã cướp đi mạng sống của 6 triệu người Do Thái vô tội. Thực tế, trước Thế chiến II, Hitler là một họa sĩ nghiệp dư với những bức tranh mà dù ác cảm tới đâu, công chúng cũng không thể tìm ra một chút ít sự tàn nhẫn, độc ác.

Ngay từ thời thanh niên, trong khi người cha, ông Alois muốn con trai theo đuổi một sự nghiệp nghiêm túc trong ngành hải quan như mình, Hitler đã gây trái ý cha khi thể hiện niềm say mê với hội họa. Sau cái chết của cha vào năm 1903, Hitler chuyển tới Vienna, bắt đầu cuộc sống của một nghệ sĩ nghèo, vô gia cư, phải kiếm sống bằng cách bán bưu thiếp phong cảnh cho khách du lịch.


Nuôi mộng ước vào Học viện Mỹ thuật Vienna nhưng Hitler đành bẽ bàng hai lần, vào năm 1907 và năm 1908 khi trường từ chối nhận ông làm học viên. Một giảng viên của Học viện cho rằng Hitler nên theo đuổi ngành kiến trúc vì gã không đủ tài để trở thành một họa sĩ tên tuổi. Tuy nhiên, nhà độc tài tương lai không chịu chấp nhận thực tế đó.

The Courtyard of the Old Residency In Munich

The Courtyard of the Old Residency In Munich

Colored House

Musician by Old Town Well

Vienna đóng vai trò lớn trong việc hình thành nhân cách của Hitler, cả về quan điểm nghệ thuật lẫn chính trị. Cũng tại Vienna, Hitler bắt đầu phát triển nhiệt tình chống người Do Thái thông qua nhiều hoạt động nghệ thuật, âm nhạc và kiến trúc với các nhân vật có thái độ kỳ thị người Do Thái thời bấy giờ như  Karl Lueger, Guido von List, Aryan. Một cách vô tình, mối hận với người Do Thái hình thành và khắc sâu trong tâm trí gã thanh niên đến từ nước Áo, dù trên thực tế những khách hàng đầu tiên mua tranh của Hitler là người Do Thái. Năm 1910 – 1912 là khoảng thời gian Hitler cho ra đời những bức tranh đặc tả Vienna nhưng lại có màu sắc khá tối tăm như Oedensplatz, Colored House, Musician by Old Town Well, Town Scene with Unusual Store, Castle Battlements, Die Peterskirche in Wien, Schloss u. Kirche Perchtoldsdorf, Rolling Hills. Một trong những phong cảnh gây ấn tượng và được Hitler yêu thích là Nhà hát Opera Vienna.

Rolling Hills

Town Scene with Unusual Store Sign Post

Vienna Opera House Corner Scene

Schloss u. Kirche Perchtoldsdorf

Tháng 5/1913, nhận được một phần bất động sản thừa kế của người cha quá cố, ông trùm Phát-xít tương lai rời Vienna về Minich và vẫn tiếp tục vẽ tranh. Nhưng theo các sử gia, sở dĩ Hitler rời Vienna vì muốn tránh nghĩa vụ quân sự, không phải vì sợ hãi mà vì không tuân phục đế chế Habsburg. Cuối cùng, ông vẫn bị gửi tới Salzburg để khám tuyển nhưng không trúng tuyển và được trở về Munich. Ở Munich, Hitler không còn vẽ sung sức như thời ở Vienna nhưng vẫn bán được tranh. Một trong những bức tranh hiếm hoi của cựu độc tài Phát xít thời kỳ này là bức München Hoftheater vẽ nhà hát Opera Munich vào năm 1914. Niềm say mê với kiến trúc của trùm Phát xít thể hiện trong nhiều bản vẽ nhà cửa, nhà thờ, các tòa nhà công cộng và cảnh quan thành phố. Nhưng cũng chính Hitler, trong cơn cuồng loạn đã tàn phá không ghê tay hơn 1.000 địa điểm thờ phụng của người Do Thái vào năm 1938.

Không chỉ vẽ các công trình kiến trúc, thỉnh thoảng Hitler cũng vẽ các loài hoa như hoa lan, hoa cẩm chướng, những bông hoa với sắc màu trắng và hồng tinh khiết tương phản với lời nguyền rủa về một bạo chúa giết người không ghê tay. Một trong những bức vẽ tiêu biểu là bức White Orchids (1913). Cảnh nông thôn cũng là một trong những chủ đề yêu thích trong sáng tạo hội họa của Hitler, tiêu biểu là bức Die neue Hermannsmühle (1913), Large Colored Pansies.

Large Colored Pansies

White Orchids

Die neue Hermannsmühle (1913)

Cuộc sống của Hitler rẽ sang một bước ngoặt lớn vào năm 1914 khi ông gia nhập quân đội vùng Bavarian để phục vụ trong Thế chiến I. Tuy nhiên, Hitler vẫn tranh thủ những khoảng thời gian rảnh rỗi để vẽ tranh, thậm chí trở thành một họa sĩ truyện tranh cho một tờ báo quân đội. Chứng kiến sự thất bại của nước Đức vào năm 1918 và tiếp theo là hiệp ước Versailles, Hitler cảm thấy bị sỉ nhục vô cùng. Từ chủ để kiến trúc, sau khi gia nhập quân đội, Hitler chuyển sang khai thác các chủ đề chiến trường, các tòa nhà, thị trấn bị tàn phá trong chiến tranh như các bức Smoking Tank (1916), Destroyed Town of Ypres (1916), Tank Battleground (1916), Battlefield Wall (1918), War Torn Town (1918).



War Torn Town (1918)

Battlefield Wall (1918)
  

Hồi tưởng lại khoảng thời gian hồi phục sau khi bị thương trong Thế chiến I, Hitler từng nói: “Khi phải nằm liệt giường, ý tưởng giải phóng nước Đức tràn đến với tôi và tôi là một lựa chọn tuyệt vời. Tôi biết rằng mình sẽ thực hiện được”, Vì thế, sau Thế chiến I, trở về Munich, Hitler gia nhập * Lao động Đức, sau này đổi tên thành * Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (* Đức Quốc Xã). Không bao lâu sau đó, năm 1921, ông trở thành chủ tịch * * Đức Quốc Xã. Năm 1923, sau khi lãnh đạo thất bại cuộc đảo chính Beer Hall Putsch, Hitler bị bắt và đưa đến nhà tù Landsberg, nơi cựu độc tài người Đức viết các tập đầu tiên của Mein Kampf (Cuộc tranh đấu của tôi), cuốn sách trình bày tư tưởng và cương lĩnh của ông về Đế chế Đức một khi ông lên nắm quyền.

Ra tù, Hitler tiếp tục vẽ tranh và phô trương thanh thế. Một trong những bức vẽ đầu tiên sau khi được tại ngoại của trùm Đức Quốc Xã là Informal Dining Room Long View, tiếp tục niềm say mê với chủ đề kiến trúc, cụ thể hơn là nội thất. Mặt khác, ông vẫn tiếp tục vẽ kiến trúc bên ngoài các tòa nhà như bức München Strassenbahn (1925) hoặc các kiến trúc khác như Tòa thị chính, Giáo Hội Thánh Phêrô, nhà thờ Đức Thánh Linh và bắt đầu thử nghiệm với sơn dầu với bức Am Basler Tor (1933). Tới năm 1938, Hitler ra lệnh cấm các bản sao chép các bức tranh của mình.

Informal Dining Room Long View

Am Basler Tor (1933)

Làm sao có thể đánh giá được vẻ đẹp hội họa của một tác giả vốn là một kẻ hủy diệt tàn độc trong lịch sử? Đó là câu hỏi mà nhiều sử gia, nhà phê bình hội họa vẫn hằng lật đi lật lại. Sinh thời Hitler luôn tự coi mình là một thiên tài nghệ thuật nhưng có lẽ đã không nhận được sự đồng cảm của công chúng cùng thời. Điều thú vị là thế giới ngày nay lại rất quan tâm tới các tác phẩm hội họa của Hitler. Một bức tranh của ông, Maritime Nocturno được bán cho một nhà sưu tập vô danh với giá hơn 41.000 USD vào đầu năm 2012. Theo thống kê không chính thức, Hitler có thể đã bán được vài ngàn bức tranh và vô số bưu thiếp trong thời kỳ sống và sáng tác ở Vienna.

Sưu tầm

Thursday, August 21, 2014

Khác Biệt Giữa Stroke Và Heart Attack - BS Nguyễn Ý Đức


Stroke tiếng Việt gọi là Ðột Quỵ hoặc Tai Biến Mạch Máu Não, còn Heart Attack là Cơn Ðau Tim. Hai bệnh có một số điểm giống và khác nhau đôi khi cũng khó mà phân biệt.

-Cả hai đều gây ra do sự gián đoạn cung cấp máu cho mỗi bộ phận là não và tim.
-Cả hai đều cần được cấp cứu tức thì vì hậu quả của bệnh tùy thuộc vào điều trị sớm hay muộn.
-Triệu chứng của hai bệnh đều khác nhau.

Nhận diện và nhớ được sự khác biệt về dấu hiệu báo động sự xuất hiện giữa hai bệnh đôi khi cũng gây bối rối cho nhiều người. Xin cùng tìm hiểu về hai bệnh này.

Trước hết, xin nhấn mạnh là các tế bào trong cơ thể hoạt động được đều nhờ chất dinh dưỡng và dưỡng khí do dòng máu cung cấp. Gián đoạn sự cung cấp này sẽ đưa tới rối loạn chức năng cho bộ phận đó rồi cho toàn cơ thể.

Não bộ và tim là hai bộ phận chủ chốt của cơ thể và rất nhạy cảm với sự thiếu cung cấp nguồn nhiên liệu để hoạt động, dù sự gián đoạn chỉ trong vài phút đồng hồ.

Stroke là gì?



Stroke là một cơn yếu ớt bất chợt ở một phía của cơ thể gây ra do sự gián đoạn lưu hành máu tới một phần nào đó của não.
Ngưng cung cấp máu có thể là do ở trên não có một cục máu làm tắc nghẽn (85%) hoặc do một mạch máu bị đứt rách.
Không có máu, tế bào não chết liền nếu không được cấp cứu.
Mỗi phút không điều trị đưa tới hủy hoại cho 1.9 triệu tế bào não, 7.5 miles sợi thần kinh và 14 tỷ điểm giao liên kết hợp thần kinh.
Báo cáo y học của American Heart diễn tả sự tổn thương tế bào não khi không được điều trị với sự hóa già của cơ quan này như sau:

Cứ một giây không điều trị não già đi gần 8 giờ, mỗi phút không điều trị, não già gần 3 tuần lễ, chậm điều trị 1 giờ, não già đi 3.6 năm và nếu không chữa, não già đi 36 năm. Mà não đã hóa già hết hoạt động thì hậu quả tai hại sẽ vô lường, vĩnh viễn.
Coi vậy thì cấp cứu điều trị Stroke quan hệ như thế nào.

Cho tới nay, đột quỵ được coi là đệ tam sát thủ đối với con người, sau bệnh tim và ung thư và là đệ nhất nguyên nhân gây ra tàn phế cơ thể, đệ nhị hung thủ gây tàn phế thần kinh, sau bệnh Alzheimer.

Bên Hoa Kỳ, hàng năm có tới trên dưới 700,000 người bị stroke với gần 200,000 tử vong.
Sống sót thì cứ một trong sáu người cần chăm sóc tại các cơ sở lâu dài; ba trong bốn người giảm khả năng làm việc.
Kinh hoàng như vậy mà dường như nhiều người vẫn chưa biết rõ về bệnh cũng như chưa chịu áp dụng các phương thức phòng ngừa để bệnh không đến với mình.

Những dấu hiệu báo trước

Dấu hiệu tùy thuộc nguyên nhân gây tai biến, vùng não và số lượng tế bào bị tổn thương. Ðiểm đặc biệt của dấu hiệu báo động là một số những “Ðột Nhiên.”
-Ðột nhiên thấy yếu một bên cơ thể như mặt, tay hoặc chân là dấu hiệu sớm nhất và thông thường nhất; rồi:
-Ðột nhiên thấy tê dại trên mặt, cánh tay hoặc chân ở một nửa thân người.
-Ðột nhiên thấy bối rối, nói lơ lớ khó khăn hoặc không hiểu người khác nói gì.
-Ðột nhiên có khó khăn nhìn bằng một hoặc cả hai con mắt.
-Ðột nhiên chóng mặt, đi đứng không vững, mất thăng bằng.
-Ðột nhiên thấy nhức đầu như búa bổ mà không rõ nguyên nhân.

Không phải tất cả các dấu hiệu này đều xảy ra trong mỗi tai biến. Nhưng nếu thấy một vài trong những dấu hiệu đó là phải kêu cấp cứu, tới nhà thương ngay. Ðây là trường hợp khẩn cấp, trễ phút nào nguy hiểm gia tăng với phút đó.

Y giới đưa ra trắc nghiệm gọi tắt là FAST để sớm phát hiện stroke:
F = Face: yêu cầu họ cười, coi xem một bên mặt có méo, môi xệ.
A = Arm: yêu cầu giơ 2 tay lên cao, coi xem một tay có yếu xụi thõng xuống.
S = Speech: yêu cầu nhắc lại một câu nói, coi xem giọng nói có ngọng lớ, nhắc lại có đúng
T = Time có nghĩa thời gian điều trị là quan trọng, cần hành động kêu 911 cấp cứu ngay.

Nếu áp dụng trắc nghiệm này thì đôi khi người thường cũng dễ dàng thấy stroke đang xuất hiện.
Ngoài ra, tùy theo não trái hoặc phải bị tổn thương mà triệu chứng khác nhau đôi chút.
a) Ðột quỵ ở não trái hay phải đều đưa tới suy yếu hoặc tê liệt của phần cơ thể phía đối diện cộng thêm mắt mở rộng hoặc môi xệ xuống.
b) Ðột quỵ não trái gây ra rối loạn về ngôn ngữ ảnh hưởng tới việc phát ra và hiểu lời nói kể cả đọc và viết. Lý do là trung tâm kiểm soát ngôn ngữ thường nằm bên não trái. Nạn nhân cũng có rối loạn về trí nhớ, một chút rối loạn hành vi, chậm chạp và dè dặt hơn.
c) Tổn thương não phải: Ngoài tê liệt nửa thân phía trái, bệnh nhân còn bị mất trí nhớ, hành vi hấp tấp, không suy nghĩ, kém nhận xét về không gian, hay bị xúc động, buồn rầu và chỉ để ý tới sự việc xảy ra mé phải cơ thể. Chẳng hạn bệnh nhân không thấy có người tới ở phía trái hoặc bỏ quên thực phẩm trên phần đĩa bên trái.

Ðiều trị

Ðiều trị stroke tùy theo bị máu cục hoặc đứt động mạch.
Máu cục thì thuốc loãng máu như aspirin là ưu tiên rồi tới heparin... Aspirin cần được dùng trong vòng 3 giờ sau tai biến.
Còn stroke do đứt mạch máu thì cần giải phẫu để sửa chỗ đứt và giảm áp lực của máu tràn đè lên tế bào não. Aspirin không được dùng vì sẽ làm máu loãng, chảy nhiều hơn
Sau giai đoạn cấp cứu, bệnh nhân được tiếp tục điều trị tại trung tâm phục hồi chức năng, để lấy lại các chức năng đã mất hoặc suy yếu gây ra do sự thiếu nuôi dưỡng tế bào não.
Tóm lại, tai biến động mạch não là một tai nạn trầm trọng, cần được cấp cứu tức thì để cứu vãn sự sinh tồn của tế bào thần kinh. Nhiều nhà chuyên môn coi tai biến này nguy hiểm như Cơn Suy Tim heart attack, và gọi là Brain Attack.

Tai biến có thể viếng thăm bất cứ ai, không kể tuổi tác, nam nữ, giầu nghèo.

Heart Attack là gì?



Tim là bộ phận thiết yếu trong việc nuôi dưỡng toàn bộ tế bào trong cơ thể. Hằng ngày, tim liên tục làm việc suốt 24 giờ để bơm một khối lượng hơn 7,000 lít máu. Ðể hoàn thành công việc này, tim cần oxy và chất dinh dưỡng do động mạch vành (Coronary Artery) cung cấp.

Vì nhiều lý do khác nhau, mặt trong của động mạch vành bị các mảng chất béo bám vào, làm cho động mạch trở nên cứng và hẹp, máu lưu thông giảm đi. Một máu cục có thể thành hình và gây tắc nghẽn hoàn toàn sự lưu hành của máu. Tế bào tim không nhận được chất dinh dưỡng và oxy, sẽ bị hủy hoại, đó là sự nhồi máu cơ tim (myocardial infarction). Thời gian thiếu máu càng lâu thì sự hủy hoại của tế bào tim càng lan rộng và cơn đau tim càng trầm trọng hơn.

Ðôi khi, cơn đau tim cũng xảy ra khi động mạch vành co thắt tạm thời làm cho lưu lượng máu tới tim giảm đi. Các cơn co thắt tạm thời này có thể gây ra do căng thẳng tâm thần, tiếp xúc với thời tiết lạnh, khói thuốc lá hoặc khi sử dụng vài loại thuốc như bạch phiến...

Tại Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 1.5 triệu người bị Cơn Ðau Tim với hậu quả là gần 500,000 trường hợp tử vong. Hơn một nửa số tử vong này xảy ra 1 giờ sau cơn đau và trước khi bệnh nhân tới bệnh viện. Ngoài ra đã bị Heart Attack cũng thường đưa tới Stroke.

Cơn đau tim là một trường hợp khẩn cấp, cần được điều trị tức thì. Mỗi giây phút trì hoãn là giây phút dẫn tới “thập tử nhất sinh” cho người bệnh.

May mắn là cơn đau tim có thể điều trị được và các nguy cơ gây ra cơn đau tim có thể đối phó, thay đổi để phòng ngừa căn bệnh hiểm nghèo này.

Những dấu hiệu báo trước cơn đau tim

Có một số dấu hiệu báo trước sự xuất hiện của cơn đau tim:
a) Cảm giác khó chịu, đau đè như có vật nặng ép trên ngực, kéo dài tới mấy phút rồi mất đi, nhưng có thể tái xuất hiện. Cơn đau có thể nhè nhẹ vừa phải tới đau không chịu được.
b) Cảm giác đau từ ngực chạy lên vai, cổ hoặc lan ra cánh tay; đầu ngón tay cảm thấy tê tê..
c) Choáng váng, muốn xỉu, đổ mồ hôi, buồn nôn, khó thở.
d) Lo sợ, nóng nẩy, bồn chồn.
đ) Da xanh nhợt.
e) Nhịp tim nhanh, không đều.

Nếu cảm thấy một trong những dấu hiệu này thì phải kêu cấp cứu ngay.
Nên lưu ý là phụ nữ có thể có các dấu hiệu khác hoặc không rõ ràng như nam giới. Họ có thể cảm thấy đau ở bụng, cho là bị ợ chua với da ẩm ướt hoặc mệt mỏi bất thường. Mà không ngờ là có thể đang bị heart attack.

Ðiều trị

Ngay khi cảm thấy có dấu hiệu bị cơn đau tim, bệnh nhân cần phải kêu số điện thoại cấp cứu để được đưa đi khám bệnh và điều trị càng sớm càng tốt. Ðiều trị sớm có thề ngăn ngừa hoặc giới hạn sự hư hao của tế bào tim và giảm được tử vong cho người bệnh.
Trên đường chuyên trở bệnh nhân tới bệnh viện, nhân viên cấp cứu đã có thể bắt đầu sự chữa trị với phương tiện sẵn có trong xe cấp cứu. Họ thường xuyên liên lạc trực tiếp với bác sĩ tại bệnh viện để thông báo tình trạng người bệnh và tham khảo ý kiến về cách thức đối phó với cơn đau tim. Họ có thể cho bệnh nhân thở oxy, dùng thuốc giảm đau tim nitroglycerin, morphine. Họ cũng sử dụng máy cấp cứu tim khi nhịp tim rối loạn, tạm ngưng...

Tới nhà thương, bệnh nhân được đưa vào phòng cấp cứu tim trang bị đầy đủ dụng cụ, và dược phẩm. Các bác sĩ sẽ hành động ngay để phục hồi sự lưu hành máu tới tim, giảm thiểu tổn thương cho các tế bào và liên tục theo dõi tình trạng bệnh.

Thuốc gây tan cục huyết được dùng trong vòng 1 giờ kể từ khi bắt đầu có dấu hiệu của cơn đau tim.
Thuốc loại nitrate để giúp động mạch bớt co thắt và giảm cơn đau trước ngực.
Thuốc chống đông máu đề làm máu loãng, tránh đóng cục trong lòng động mạch.
Thuốc viên aspirin để ngăn ngừa tiều cầu kết tụ với nhau.

Ngoài ra còn các dược phẩm giúp hạ huyết áp, giảm sức căng của động mạch, nhờ đó tim làm việc nhẹ nhàng hơn; thuốc điều hòa nhịp tim; thuốc an thần giảm đau. Bệnh nhân liên tục được hít thở oxy.

Thời gian điều trị tại bệnh việc tùy thuộc tình trạng nặng hay nhẹ của bệnh, sự đáp ứng với các phương thức chữa trị, thường thường là năm, sáu ngày nếu không có biến chứng.

Trước khi xuất viện, bệnh nhân được hướng dẫn về cách thức chăm sóc và dùng thuốc, về chế độ dinh dưỡng, về nếp sống, về sự vận động cơ thể với chương trình vật lý trị liệu, phục hồi chức năng của tim. Bệnh nhân sẽ hiểu rõ nên vận động như thế nào để tăng cường sức mạnh của cơ thể mà không gây ra rủi ro cho trái tim, hiểu rõ về bệnh tim của mình và biết cách đối phó với các khó khăn trong đời sống hằng ngày để tránh cơn đau tim tái phát.

Kết luận

Dù là Cơn Ðau Tim hoặc Ðột Quỵ, cả hai bệnh đều là “thậm cấp chí nguy,” cần được điều trị tại bệnh viện tức thì.

Nhận biết và nhập tâm các dấu hiệu báo động sự xuất hiện của Ðột Quỵ và Cơn Ðau Tim là việc cần thiết để cứu vớt sự sống.
Kính chúc mọi sự bình an.


Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

Wednesday, August 20, 2014

Nhớ Cố Hương - Mặc Hàn Vi


Chuyện Vui Của Đàn Ông


Đàn Ông Huế đi May ...
Một anh thanh niên đem theo một xấp vải quần đi vô tiệm may nọ.
Cô chủ tiệm bước ra chào đón bằng giọng Huế :
- Chào anh , anh may ạo hay may quần ?
Anh ta trả lời :
- May quần .
Sau khi đo quần cho anh ta, cô chủ tiệm lấy thước đo xấp vải và hỏi: 
- Anh cặt ngắn hay cặt dài ?
Cũng bằng giọng Huế anh nói :
- Nếu cặt ngắn thì răng mà cặt dài thì răng ?
Cô chủ tiệm nghiêm giọng :
- Cặt ngắn thì đụ hai cại, cặt dài thì chỉ đụ một cại thôi !!!
- Tôi cặt dài, cô làm sao cho tôi đụ hai cại đi.
- Dạ không ạ, nệu anh cặt dài thì rạng lặm , anh chỉ đụ một cại thôi , may ra còn dư một tị. 


Tuyển Thư Ký

Sau khi sàng lọc khoảng 1 nghìn ứng viên bằng một loạt bài kiểm tra khắt khe thì chọn ra được 7 người xuất sắc nhất. Lần cuối cùng này do đích thân ông chủ phỏng vấn với một câu hỏi duy nhất: - Phụ nữ có hai cái mồm, làm sao phân biệt được? 
Người thứ nhất: 
-Một cái thì ở trên, một cái ở dưới. 
-Đúng, mời cô về nhà chờ kết quả . 
Người thứ hai:
-Một cái nằm ngang, một cái nằm dọc 
-Đúng, mời cô về chờ kết quả . 
Người thứ ba: 
-Một cái có hair, cái kia thì không 
-Đúng, mời cô về chờ kết quả . 
Người thứ tư: 
-Một cái thì để ăn các thứ , một cái để cắm các thứ 
-Đúng, mời cô về chờ kết quả . 
Người thứ năm: 
-Một cái có răng, một cái không có răng 
-Đúng, mời cô về chờ kết quả . 
Người thứ sáu: 
-Một cái biết nói, một cái không biết nói 
-Đúng, mời cô về chờ kết quả . 
Người thứ bảy: 
-Một cái phục vụ tất cả mọi người, còn một cái chỉ phục vụ riêng ông chủ mà thôi! 
-Đúng ......mời cô vô phòng nhận việc .


Thôi Bú 

Hai vợ chồng nông dân kia có đứa con đã 5 tuổi mà vẫn chưa chịu thôi bú. Hai người tìm đủ cách, kể cả bôi ớt vào đầu vú, vậy mà đứa nhỏ cũng không chừa.
Một hôm đi thăm lúa, thấy người ta phun thuốc trừ sâu vào, con sâu đang cắn bông lúa liền nhả ra rơi xuống. Anh nông dân nghĩ … lấy chút thuốc đó bôi vào đầu vú vợ, chắc con sẽ nhả vú ngay, và sẽ thôi bú.
Bữa sau trước khi ra đồng, anh bôi thuốc trừ sâu vào đầu vú vợ. Tới trưa, vừa về đến cổng, thấy nhà mình lố nhố đông người, anh giựt mình hỏi chuyện.
Thì ra … có thằng cha hàng xóm nằm chết trong nhà !


Tại Sao Trắng Bóc?

Tại sao "thằng em" trắng bất thường? 
Thợ mỏ đang khai thác than, bỗng xảy ra một vụ nổ khí mêtan. Rất may mắn, người ta khiêng lên được 3 người thợ đen nhẻm đầy than. 
Các bác sĩ cởi hết quần áo của họ ra để khám và cứu cấp, chợt phát hiện ra một trong ba người có "cái ấy" trắng hơn hẳn so với người bình thường.
Rất ngạc nhiên, một bác sĩ phỏng đoán:
- Chắc anh ta còn bị nhiễm độc một loại khí nào chăng? 
Vị bác sĩ khác nói:
- Không phải, theo tôi thì có lẽ do anh ta bệnh từ nhỏ!
Người thứ ba vừa lắc đầu phản đối vừa nhận xét:
- Cái này chắc chắn là do anh ta có lần bị bỏng! Không thể khác được.
Vị bác sĩ thứ tư xem xét nạn nhân cẩn thận rồi đưa ra kết luận: 
- Hãy nhìn “thằng nhỏ” xem, trắng đến lạ so với toàn thân của anh ta, tôi cho rằng anh ta bị nhiễm xạ!
Lúc đó, tổ trưởng công đoàn xí nghiệp than đi ngang thấy vậy bèn dừng lại vừa cười vừa nói với giọng đầy hiểu biết:
- Các bác nhầm cả rồi, chẳng qua là cậu ta... vừa mới cưới vợ đấy thôi!
- Oa!!! thì ra thế!


5000 Đồng Mua Dao Cạo

Nhà nọ có 2 chị em gái, cô chị đã 18 còn em thì mới 6 tuổi. Cạnh nhà có một vườn cây ăn trái rất sai quả, cô chị thèm lắm bèn sai đứa em sang trèo lên hái trộm. Đang leo lên cây thì bị ông chủ vườn phát hiện gọi xuống. Tưởng đâu sẽ bị một trận đòn nên cô em sợ lắm. Ngờ đâu ông chủ ôn tồn bảo: "chú cho con 50.000đ để mua quần lót, chứ mặc váy mà không có quần lót leo cây nguy hiểm lắm". Mừng quá, cô em về khoe với chị. Hôm sau cô chị quyết định mặc váy không quần lót cố tình đi hái trộm trái cây. Ai dè khi ông chủ vườn phát hiện, gọi cô chị tới lại cho 5.000đ để "mua dao cạo". 

Sưu tầm