Thursday, February 27, 2020

Thời Gian - Hàn Thiên Lương

9 Công Dụng Hay Mà Ít Người Biết Của Thỏi Son Dưỡng Môi

Thỏi son dưỡng môi nhỏ bé có thể dùng để làm dịu vết xước, giảm mẩn ngứa hay giúp giữ hương nước hoa lâu hơn.

Thoa một chút son dưỡng môi lên chiếc nhẫn bị chật để tháo ra dễ dàng hơn.

Che giấu những vết xước trên giày da bóng bằng son dưỡng môi.


Nếu cần ánh sáng mà không có nến, hãy cắm que diêm lên thỏi son dưỡng.

Giúp hàng lông mày vào nếp dễ dàng hơn bằng một chút son dưỡng

Giảm mẩn đỏ ở mũi khi thời tiết thay đổi.

Để gót chân không bị trầy khi đi giày mới, hãy thoa một chút son dưỡng môi trước khi xỏ giày.

Son dưỡng môi cũng có thể làm trơn phéc mơ tuya.

Sau khi xịt nước hoa, thoa một chút son dưỡng môi lên trên vùng da đó giúp nước hoa giữ mùi lâu hơn.

Nguồn: ngoisao.net

Vòng Tay Định Mệnh - Đỗ Công Luận

Wednesday, February 26, 2020

Nhà Hàng Tàu, Văn Hóa Việt - Huy Phương

Khung cảnh quen thuộc bên trong một nhà hàng Tàu ở Hoa Kỳ. (Hình: Getty Images)


Năm nào, vào khoảng thời gian này, chúng ta cũng thường có dịp tham dự những buổi họp mặt Tất Niên hay Tân Niên của các Hội Đoàn Đồng Hương, Ái Hữu hay Đơn Vị, Quân Binh Chủng,…
Nhiều khi nghĩ cũng lạ, nói không ngoa, trong hơn ba chục năm ở đây, trong vùng Little Saigon, mỗi năm tôi thường đến tham dự ở cái nhà hàng này, ít lắm cũng mỗi năm ba lần, tính ra trong ba mươi năm, là 90 lần đến cùng một cái nhà hàng, gặp gỡ bạn bè có khi thay đổi, nhưng cũng có khi với chừng ấy khuôn mặt.

Ba mươi năm, mỗi lần đến đây, ngồi vào bàn tiệc, tôi đã cầm đũa lên, ăn những món ăn trong cái thực đơn muôn thuở, không bao giờ thay đổi ấy, đến nhàm chán. Trên bàn thường không có mảnh giấy in bản thực đơn, nhưng dù có, nhắm mắt lại, cũng biết món mở đầu là “bát… nháo khai vị,” ở giữa là món đầu, đuôi và vỏ tôm hùm, và món cuối cùng là cơm chiên và một đĩa cá filet. Cái menu này chúng ta gọi là “Menu Hội Đoàn!” Cuối cùng món tráng miệng là một dĩa cam Cali cắt nhỏ, ngọt hay chua tùy theo mùa.

Trên bàn lúc nào cũng có một chai nước ngọt Coca hay 7Up, và thêm một chai rượu chát rẻ tiền nhất, mà theo lời ông chủ nhà hàng, là để biếu bà con, nói “văn vẽ” kiểu trong nước là… khuyến mãi! Không nhiều không ít, không di dịch, không thay đổi. Nhiều lúc trong hai ngày Chủ Nhật và Thứ Bảy cuối tuần, mà bất đắc dĩ chúng ta phải tham dự cùng ở một cái nhà hàng ấy ba buổi tiệc, thì đúng là một tai họa làm cho bộ phận tiêu hóa của chúng ta phải lên tiếng.

Những nơi mà chúng ta thường lui tới để dự tiệc tùng kể trên là những nhà hàng Tàu, theo cách nói quen miệng. Ở Mỹ, thì những nhà hàng này có thể gọi là nhà hàng Hồng Kông, Đài Loan hay Trung Quốc, với những cái tên có kèm theo chữ Seafood, Place, Cove, Paradise… sân khấu trang trí hình Long Phụng, Song Hỷ, nhưng chủ nhân và bồi bếp, trong cộng đồng này đều phần lớn là người Việt Nam hoặc là cư dân Chợ Lớn đến đây bằng con đường “bán chính thức!”
Dễ chừng không có nhà hàng Tàu thì người Việt lưu vong đã “không có… văn hóa.”
Bằng chứng là ngày cử hành hôn lễ của đôi trẻ trong cộng đồng Việt Nam, không phải do cha mẹ đôi bên giở lịch Tam Tông Miếu để chọn cho đôi trẻ ngày lành tháng tốt, mà do ông chủ nhà hàng Seafood … quyết định. Nói rõ ra, chưa, chưa… có ngày tháng để “book” nhà hàng, đãi đằng bà con hai họ, thì… chưa động phòng!

Chính trị thì ai cũng đòi “thoát Trung,” “chống Tàu lạ…” nhưng lề thói thì cứ mãi dính chặt với… Tàu!
Chưa ai làm được một cuộc cách mạng. Đám cưới mà không đãi tiệc ở nhà hàng Tàu thì ai đi. Có lần gia chủ đãi tiệc ở nhà hàng Tây, thực đơn chỉ có một đĩa rau trộn và chọn cái đùi gà, miếng beefsteak hay mấy con tôm… thì các cụ chê nhạt nhẽo và nghĩ rằng chắc là bọn chúng… hà tiện! Ba mươi năm rồi, địa điểm các nhà hàng Tàu để tham dự tiệc cưới, họp hội đoàn, đồng hương quen thuộc như nhìn bàn tay, chẳng bao giờ cần đến một cái GPS hay vào Google để tìm ra địa chỉ.

Bây giờ chúng ta trở lại với những buổi sinh hoạt của ái hữu, đồng hương, đơn vị mà trong đầu bài chúng tôi đã dạo qua ở trên.
Tôi cho buổi hội họp nào cũng trở thành một cực hình cho người tham dự, khi một chương trình ca nhạc “phong phú” đầy ắp, tra tấn lỗ tai người nghe, nhất là những lúc không may, các cụ được xếp ngồi ngay cái bàn trước loa phóng thanh, khuếch âm tối đa! Ai bảo nhân tài như lá mùa thu, tôi thì cho rằng, cộng đồng chúng ta lạm phát ca sĩ. Bằng chứng là khi phòng hội chưa đến giờ khai mạc, mới lai rai khách khứa năm bảy chục người, thì sân khấu đã ầm ĩ, ồn ào, liên tục, cho đến khi khách đứng dậy ra về, còn nghe tiếng hát của ca sĩ đuổi theo sau.

Cũng may là dân mình có thói quen đi trễ, giấy mời ghi 6:00 giờ, nhưng đến 7:30 giờ hơn cũng chưa vào cuộc, nhờ vậy mà “ca sĩ” và ban nhạc mới có cơ hội bằng vàng với thiện chí là “warm up,” kẻo không khí lạnh lùng, tẻ nhạt quá! Nhiều khi thấy thương cho ông nhạc sĩ “One Man Band,” không hề được ăn uống hay vào nhà vệ sinh, phải liên tục đệm đàn từ khi buổi hội chưa khai mạc cho đến khi nhà hàng dọn dẹp đóng cửa!

Trong một buổi họp mặt hội đoàn nào cũng vậy. MC chạy lui chạy tới, giới thiệu hết cô này đến bà nọ, cũng là người vất vả và mất lòng thiên hạ nhất, vì cô, bà nào cũng muốn lên sân khấu, mà phải được xếp ưu tiên hát trước và phải được tái ngộ… nhiều lần. Cái câu “Xin quý vị cho một tràng pháo tay…” dễ thường chúng ta phải nghe MC nói đi nói lại đến trăm lần trong một buổi ăn tại nhà hàng… Tàu hay cả trong những cuốn băng nhạc… Việt! Mỗi người hát sẽ được xin vỗ tay hai lần, một khi chưa hát và một sau khi hát xong cúi chào khán giả!

Nói chung, không phải ca sĩ tài tử nào hát cũng tệ, nhưng giá đừng hát, trả lại sự yên tĩnh… cho sân khấu chúng tôi thì tốt hơn. Vì gặp nhau ở chỗ này, ai cũng muốn chuyện trò, hàn huyên, thăm hỏi nhau, chứ mục đích buổi hội ngộ này không phải là nơi chúng ta mua vé để vào nghe ca sĩ “nghiệp dư,” được giải nghĩa là “rỗi nghề” lên hát! Nhưng ai hát thì cứ hát, ai đàn thì cứ đàn, ai chuyện trò lớn tiếng, ai ăn uống là quyền của họ. Và ca sĩ cần được hát hơn là cần có người nghe! Họ không cần chú ý đến nhau và chẳng cũng cần tôn trọng nhau.

Tôi biết một ca sĩ nổi tiếng, nay đã qua đời, lúc sinh tiền, cô không bao giờ nhận lời lên sân khấu trong lúc người ta ăn uống sì sụp. Vì lúc người ta đang phải bận rộn dùng hàm răng, lưỡi và dịch vị thì chức năng của màng nhĩ trở nên rối loạn!

Nhưng cũng chính vì lâu ngày gặp nhau, chúng ta cứ nói chuyện ào ào, chẳng coi ai ra gì, nên từ bài diễn văn của ông Hội Trưởng, đến phát biểu của một quan khách, kể cả những nghi thức tế lễ cổ truyền, cần đến sự nghiêm trang và yên lặng của mọi người tham dự, cũng chẳng có ai cần để ý đến!

Có nhân tài thì có người hâm mộ, tạo nên một lề thói tặng hoa rất là… dung tục. Lề thói này phát triển từ trong nước sau năm 1975 và theo chân người tỵ nạn đến đây. Trong khi ca sĩ đang mơ màng theo lời hát, thì dưới sân khấu, có người hùng hục bước lên, ghé qua chậu hoa, nhón một bông hoa, lên tặng người hát, xong đứng sát ca sĩ hay ôm hẳn người này để nhờ một người bạn gần đó bấm cho một “bô” hình kỷ niệm. Tội nghiệp cho ca sĩ, có khi hai ba người lên tặng hoa cùng một lúc, một tay bận cầm micro, tay kia phải nhận cả mấy chùm hoa, có khi phải kẹp vào nách. Có người còn phải ôm luôn cả một chậu hoa cúc, mà người hâm mộ lên sân khấu, tiện tay bê theo luôn cho tiện việc.

Một cái xô lớn đựng nhiều hoa được ban tổ chức đặt trước sân khấu, ca sĩ được tặng hoa, hát xong đem hoa về bỏ vào chỗ cũ, cho người khác tiếp tục lấy, tặng cho người sau, nên loại hoa này không còn được gọi là “hoa trinh nữ” nữa!
Lề thói này chúng ta chỉ có thể tìm thấy trong cộng đồng người Việt, vậy có thể cho rằng đây là một thứ văn hóa… Việt Nam chăng?

Cái mà người ta gọi là chương trình văn nghệ chỉ là một thứ tạp lục vô giá trị mà ban tổ chức nào cũng giẫm theo lối mòn, làm cho có, nhưng lại làm khổ người tham dự. Dễ thường một buổi sinh hoạt như vậy, có đến vài ba mươi ca sĩ tình nguyện lên sân khấu để được hát, được “cho” một tràng pháo tay rời rạc, được tặng hoa, được ôm và được chụp ảnh. Tiếng hát ở đây không những át được tiếng đàn của nhạc công, mà đôi khi còn át được tiếng trò chuyện cười đùa của người tham dự, trong đó ai cũng muốn giành phần thắng, nói lớn hơn, cười lớn hơn và ban tổ chức cũng muốn tiếng loa phải lớn hơn. Đi dự tiệc về nhà, phải uống thuốc… an thần.

Nhìn lên tấm lịch tháng có ghi ngày đi tham dự sinh hoạt hội đoàn, tính ra tháng này còn ba cái nữa. Đã là con đường cũ, cũng đành phải đi thôi! Vẫn là những cái nhà hàng Tàu cũ, những món ăn ba mươi năm trước đã ăn, chai coca trên bàn, chương trình ca nhạc không ai muốn nghe, câu nói “xin quý vị một tràng pháo tay!” sẽ được lặp lại.

May mắn là đến tuổi này, không còn có cơ hội đi tham dự đám cưới của con cháu nữa, chỉ còn đi dự đám tang. Yên trí, với đám tang, chắc chắn là không có câu “xin quý vị một tràng pháo tay” đâu!

Huy Phương

Những Bài Pháp Hay - Youtube Marian Tran

260 Từ Ngữ Thông Dụng Của Dân Sài Gòn Và Người Miền Nam Ngày Nay Nói Chung


Tổng hợp 260 từ ngữ thông dụng của dân Saigon xưa nói riêng & người miền Nam ngày nay nói chung !

1. À nha = thường đi cuối câu mệnh lệnh dặn dò, ngăn cấm (không chơi nữa à nha)
2. Áo thun ba lá, áo ba lỗ = Áo may ô
3. Ăn coi nồi, ngồi coi hướng = Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
4. Âm binh = phá phách (mấy thằng âm binh = mấy đứa nhỏ phá phách)
5. Bà chằn lửa = người dữ dằn (dữ như bà chằn)
6. Ba ke, Ba xạo
7. Bá Láp Bá Xàm
8. Bá chấy bù chét
9. Bà tám = nhiều chuyện (thôi đi bà tám = đừng có nhiều chuyện nữa, đừng nói nữa)
+ Bà quại = bà ngoại
10. Bang ra đường = chạy ra ngoài đường lộ mà không coi xe cộ, hoặc chạy ra đường đột ngột, hoặc chạy nghênh ngang ra đường
11. Bạt mạng = bất cần, không nghĩ tới hậu quả (ăn chơi bạt mạng)
12. Bặc co tay đôi = đánh nhau tay đôi
13. Bặm trợn = trông dữ tợn, dữ dằn
14. Bất thình lình = đột ngột
15. Bẹo = chưng ra (gốc từ cây Bẹo gắn trên ghe để bán hàng ở chợ nổi ngày xưa)
16. Bẹo gan = chọc cho ai nổi điên
17. (Tự ý xóa bỏ).
18. Bển = bên đó, bên ấy (tụi nó đang chờ con bên bển đó!)
19. Biết đâu nà, biết đâu nè = biết đâu đấy
20. Biệt tung biệt tích = không thấy hiện diện
21. Biểu (ai biểu hổng chịu nghe tui mần chi! – lời trách nhẹ nhàng) = bảo
22. Bình thủy = phích nước
23. Bình-dân = bình thường
24. Bo bo xì = nghỉ chơi không quen nữa (động tác lấy tay đập đập vào miệng vừa nói của con nít)
25. Bỏ qua đi tám = cho qua mọi chuyện đừng quan tâm nữa (chỉ nói khi người đó nhỏ vai vế hơn mình)
26. Bỏ thí = bỏ
27. Bùng binh = vòng xoay
28. Bội phần = gấp nhiều lần
29. Buồn xo = rất buồn ( làm gì mà coi cái mặt buồn xo dậy? )
30. Bữa = buổi/từ đó tới nay (ăn bữa cơm rồi về/bữa giờ đi đâu mà hổng thấy qua chơi?)
31. Cà chớn cà cháo = không ra gì
32. Cà chớn chống xâm lăng -Cù lần ra khói lửa.
33. Cà kê dê ngỗng = dài dòng.
34. Cà Na Xí Muội
+ Cà rá = chiếc nhẫn
35. Cà nhỗng = rảnh rỗi không việc gì để làm (đi cà nhỗng tối ngày)
36. Cà nghinh cà ngang = nghênh ngang
37. Cà rem = kem
38. Cà rịt cà tang = chậm chạp.
39. Cà tàng = bình thường, quê mùa,…
40. Cái thằng trời đánh thánh đâm
41. Càm ràm = nói tùm lum không đâu vào đâu/nói nhây
Coi được hông?
42. Cù lần, cù lần lữa = từ gốc từ con cù lần chậm chạp, lề mề, chỉ người quá chậm lụt trong ứng đối với chung quanh … (thằng này cù lần quá!)
43. Cụng = chạm
44. Cứng đầu cứng cổ
45. Chà bá , tổ chảng, chà bá lửa = to lớn, bự
46. Chàng hãng chê hê = banh chân ra ngồi ( Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hãng chê hê hà, khép chưn lại cái coi! )
47. Cha chả = gần như từ cảm thán “trời ơi! ” (Cha chả! hổm rày đi đâu biệt tích dzậy ông?)
48. Chả = không ( Nói chả hiểu gì hết trơn hết trọi á!)
+ Chả = thằng chả / thằng cha kia
49. Chậm lụt = chậm chạp, khờ
50. Chém vè (dè)= trốn
51. Chén = bát
52. Chèn đét ơi, mèn đét ơi, chèn ơi, Mèn ơi = ngạc nhiên
53. Chết cha mày chưa! có chiện gì dậy? = một cách hỏi thăm xem ai đó có bị chuyện gì làm rắc rối không
54. Chì = giỏi (anh ấy học “chì” lắm đó).
55. Chiên = rán
56. Chịu = thích, ưa, đồng ý ( Hổng chịu đâu nha, nè! chịu thằng đó không tao gả luôn)
57. Chỏ = xía, xen vào chuyện người khác
58. Chổ làm, Sở làm = hãng, xưởng, cơ quan công tác
59. Chơi chỏi = chơi trội, chơi qua mặt
60. Chùm hum = ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chỗ không nhúc nhích, không quan tâm đến ai (có gì buồn hay sao mà ngồi chùm hum một chổ dậy?)
61. Chưn = chân
62. Chưng ra = trưng bày
63. Có chi hông? = có chuyện gì không?
64. Dạ, Ừa (ừa/ừ chỉ dùng khi nói với người ngang hàng) = Vâng, Ạ
Dạo này = thường/nhiều ngày trước đây đến nay (Dạo này hay đi trễ lắm nghen! /thường)
65. Dấm da dấm dẳng
66. Dây = không có dây dzô nó nghe chưa = không được dính dáng đến người đó
67. Dễ tào = dễ sợ
68. Dì ghẻ = mẹ kế
69. Dĩa = Đĩa
70. Diễn hành, Diễn Binh= diễu hành, diễu binh (chữ diễu bây giờ dùng không chính xác, thật ra là “diễn” mới đúng)
71. Diễu dỡ = làm trò
72. Dỏm (dởm), dỏm đời, dỏm thúi, đồ lô (sau 1975, khi hàng hóa bị làm giả nhiều, người mua hàng nhầm hàng giả thì gọi là hàng dởm, đồ “lô” từ chữ local=nội địa)
73. Dô diên (vô duyên) = không có duyên (Người đâu mà vô diên thúi vậy đó hà – chữ “thúi’ chỉ để tăng mức độ chứ không có nghĩa là hôi thúi)
74. Du ngoạn = tham quan
75. Dù = Ô
76. Dục (vụt) đi = vất bỏ đi (giọng miền nam đọc Vụt = Dục âm cờ ít đọc thành âm tờ, giống như chữ “buồn” giọng miền nam đọc thành “buồng”)
77. Dùng dằng = ương bướng
78. Dữ hôn và …dữ …hôn…= rất ( giỏi dữ hén cũng có nghĩa là khen tặng nhưng cũng có nghĩa là đang răn đe trách móc nhẹ nhàng tùy theo ngữ cảnh và cách diễn đạt của người nói ví dụ: “Dữ hôn! lâu quá mới chịu ghé qua nhà tui nhen”, nhưng “mày muốn làm dữ phải hôn” thì lại có ý răn đe nặng hơn )
79. Dzìa, dề = về (thôi dzìa nghen- câu này cũng có thể là câu hỏi hoặc câu chào tùy ngữ điệu lên xuống người nói)
80. Dzừa dzừa (vừa) thôi nhen = đừng làm quá
81. Đá cá lăn dưa = lưu manh
82. Đa đi hia = đi chỗ khác.
83. Đài phát thanh = đài tiếng nói
84. Đàng = đường
85. Đặng = được (Qua tính vậy em coi có đặng hông?)
86. Đen như chà dà (và) = đen thui, đen thùi lùi = rất là đen
+ Đền = bồi thường
87. Đêm nay ai đưa em dìa = hôm nay về làm sao, khi nào mới về (một cách hỏi) – từ bài hát Đêm nay ai đưa em về của NA9
88. Đi bang bang = đi nghênh ngang
89. Đi cầu = đi đại tiện, đi nhà xí
90. Đó = đấy , nó nói đó = nó nói đấy
91. Đồ già dịch = chê người mất nết
92. Đồ mắc dịch = xấu nết tuy nhiên, đối với câu 93.Mắc dịch hông nè! có khi lại là câu nguýt – khi bị ai đó chòng ghẹo
94. Đờn = đàn
95. Đùm xe = Mai-ơ
96. Được hem (hôn/hơm) ? = được không ? chữ hông đọc trại thành hôn, hem hoặc hơm
97. Ghẹo, chòng ghẹo = chọc quê
98. Ghê = rất – hay ghê há tùy theo ngữ cảnh và âm điệu thì nó mang ý nghĩa là khen hoặc chê
99. Gớm ghiết = nhìn thấy ghê, không thích
100. Giục giặc, hục hặc = đang gây gổ, không thèm nói chuyện với nhau (hai đứa nó đang hục hặc!)
101. Hãng, Sở = công ty, xí nghiệp
102. Hay như = hoặc là
103. Hậu đậu = làm việc gì cũng không tới nơi tới chốn
Hết = chưa, hoặc chỉ nâng cao mức độ nhấn mạnh (chưa làm gì hết)
104. Hết trơn hết trọi = chẳng, không – “Hết Trọi” thường đi kèm thêm cuối câu để diễn tả mức độ (Ở nhà mà hổng dọn dẹp phụ tui gì hết trơn (hết trọi) á! )
105. Hồi nảo hồi nào = xưa ơi là xưa
106. Hổm rày, mấy rày = từ mấy ngày nay
107. Hổng có chi! = không sao đâu
108. Hổng chịu đâu
109. Hổng thích à nhen!
110. Hột = hạt (hột đậu đen, đỏ) miền nam ghép cả Trứng hột vịt thay vì chỉ nói Trứng vịt như người đàng ngoài
111. Hợp gu = cùng sở thích
112. Ì xèo = tùm lum, …
113. năn nỉ ỉ ôi
114. Kẻo = coi chừng
115. Kể cho nghe nè! = nói cho nghe
116. Kêu gì như kêu đò thủ thiêm = kêu lớn tiếng, kêu um trời,….
Lanh chanh
117. Làm (mần) cái con khỉ khô = không thèm làm
118. Làm (mần) dzậy coi được hông?
119. Làm dzậy coi có dễ ưa không? = một câu cảm thán tỏ ý không thích/thích tùy theo ngữ cảnh
120. Làm gì mà toành hoanh hết zậy
121. Làm nư = lì lợm
122. Làm um lên: làm lớn chuyện
123. Lặc lìa = muốn rớt ra, rời ra nhưng vẫn còn dính với nhau chút xíu
124. Lần = tìm kiếm (biết đâu mà lần = biết tìm từ chổ nào)
125. Lần mò = tìm kiếm, cũng có nghĩa là làm chậm chạm (thằng tám nó lần mò cái gì trong đó dậy bây?)
126. Lắm à nhen = nhiều, rất (thường nằm ở cuối câu vd: thương lắm à nhen)
127. Lẹt đẹt = ở phía sau, thua kém ai ( đi lẹt đẹt! Lảm gì (làm cái gì) mà cứ lẹt đẹt hoài vậy)
128. Lao-tổn (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
129. Lao-cần (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
130. Lên hơi, lấy hơi lên = bực tức (Nghe ông nói tui muốn lên hơi (lấy hơi lên) rồi đó nha!
131. Liệu = tính toán
132. Liệu hồn = coi chừng
133. Lô = đồ giả, đồ dỡ, đồ xấu (gốc từ chữ local do một thời đồ trong nước sản xuất bị chê vì xài không tốt)
134. Lộn = nhầm (nói lộn nói lại)
135. Lộn xộn = làm rối
136. Lụi hụi = ???? (Lụi hụi một hồi cũng tới rồi nè!)
137. Lùm xùm = rối rắm,
138. Lụt đục = không hòa thuận (gia đình nó lụt đục quài)
139. Má = Mẹ
140. Ma lanh, Ma le
141. Mã tà = cảnh sát
142. Mari phông tên = con gái thành phố quê mùa
143. Mari sến = sến cải lương
144. Mát trời ông địa = thoải mái
145. Máy lạnh = máy điều hòa nhiệt độ
146. Mắc cười = buồn cười
147. Mắc dịch = Mất nết, không đàng hoàng, lẳng lơ, xỏ lá, bởn cợt.
148. Mặt chù ụ một đống, mặt chầm dầm
149. Mần ăn = làm ăn
150. Mần chi = làm gì
151. Mậy = mày ( thôi nghen mậy = đừng làm nữa)
152. Mét = mách
153. Miệt, mai, báo, tứ, nóc… chò = 1, 2, 3, 4, 5…. 10.
154. Mình ên = một mình (đi có mình ên, làm mình ên)
155. Mò mẫm rờ rẫm sờ sẩm (hài) = mò
156. Mồ tổ! = câu cảm thán
157. Mả = Mồ
158. Muỗng = Thìa, Môi
159. Mút mùa lệ thủy = mất tiêu
160. Nam Tàu Bắc Đẩu
161. Nào giờ = từ trước tới nay
162. Niềng xe = vành xe
163. Ngang tàng = bất cần đời
164. Nghen, hén, hen, nhen
165. Ngoại quốc = nước ngoài
166. Ngon bà cố = thiệt là ngon
167. Ngộ = đẹp, lạ (cái này coi ngộ hén)
168. Ngồi chồm hổm = ngồi co chân ….chỉ động tác co gập hai chân lại theo tư thế ngồi … Nhưng không có ghế hay vật tựa cho mông và lưng … (Chợ chồm hổm – chợ không có sạp)
169. Ngủ nghê
170. Nhan nhản = thấy cái gì nhiều đằng trước mặt
171. Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi! = đừng nhắc chuyện đó nữa, biết rồi đừng kể nữa – trích lời trong bài hát Ngày đó xa rồi
172. Nhậu = một cách gọi khi uống rượu, bia
173. Nhiều chiện = nhiều chuyện
174. Nhìn khó ưa quá (nha)= đôi khi là chê nhưng trong nhiều tình huống lại là khen đẹp nếu thêm chữ NHA phía sau
175. Nhóc, đầy nhóc : nhiều
176. Nhột = buồn
177. Nhựt = Nhật
178. Nón An toàn = Mũ Bảo hiểm
179. Ổng, Bả, Cổ, Chả = Ông, Bà, Cô, Cha ấy = ông đó ổng nói (ông ấy nói)
180. Phi cơ, máy bay = tàu bay
181. Quá cỡ thợ mộc…= làm quá,
182. Qua đây nói nghe nè! = kêu ai đó lại gần mình
183. Qua bên bển, vô trong trỏng, đi ra ngoải,
184. Quá xá = nhiều (dạo này kẹt chiện quá xá! )
185. Quá xá quà xa = quá nhiều
186. Quê một cục
187. Quê xệ
188. Rành = thành thạo, thông thạo, biết (tui hổng rành đường 189; này nhen, tui hổng rành (biết) nhen)
190. Rạp = nhà hát(rạp hát), dựng một cái mái che ngoài đường lộ hay trong sân nhà để cho khách ngồi cho mát (dựng rạp làm đám cưới)
191. Rân trời = um sùm
192. Rốp rẽng (miền Tây) = làm nhanh chóng
193. Rốt ráo (miền Tây) = làm nhanh chóng và có hiệu quả
194. Ruột xe = xăm
195. Sai bét bèng beng = rất sai, sai quá trời sai!
196. Sai đứt đuôi con nòng nọc = như Sai bét bèng beng
197. Sạp = quầy hàng
198. Sến = cải lương
200. Sến hồi xưa là người làm giúp việc trong nhà. Mary sến cũng có nghỉa là lèn xèn như ng chị hai đầy tớ trong nhà.
201. Sên xe = xích
202. Sếp phơ = Tài xế
203. Sườn xe = khung xe
204. Tà tà, tàn tàn, cà rịch cà tang = từ từ
205. Tàn mạt = nghèo rớt mùng tơi
206. Tàng tàng = bình dân
207. Tào lao, tào lao mía lao, tào lao chi địa, tào lao chi thiên,… 208. chuyện tầm xàm bá láp = vớ vẫn
209. Tàu hủ = đậu phụ
210. Tầm xàm bá láp
211. Tầy quầy, tùm lum tà la = bừa bãi
212. Té (gốc từ miền Trung)= Ngã
213. Tèn ten tén ten = chọc ai khi làm cái gì đó bị hư
214. Tía, Ba = Cha
215. Tiền lính tính liền, tiền làng tàn liền …!
216. Tòn teng = đong đưa, đu đưa
217. Tổ cha, thằng chết bầm
218. Tới = đến (người miền Nam và SG ít khi dùng chữ đến mà dùng chữ tới khi nói chuyện, đến thường chỉ dùng trong văn bản)
219. Tới chỉ = cuối
220. Tới đâu hay tới đó = chuyện đến rồi mới tính
221. Tui ưa dzụ (vụ) này rồi à nhen = tui thích việc này rồi ( trong đó tui = tôi )
222. Tui, qua = tôi
223. Tụm năm tụm ba = nhiều người họp lại bàn chuyện hay chơi trò gì đó
224. Tức cành hông = tức dữ lắm
225. Tháng mười mưa thúi đất
226. Thắng = phanh
227. Thằng cha mày, ông nội cha mày = một cách nói yêu với người dưới tùy theo cách lên xuống và kéo dài âm, có thể ra nghĩa khác cũng có thể là một câu thóa mạ
228. Thấy ghét, nhìn ghét ghê = có thể là một câu khen tặng tùy ngữ cảnh và âm điệu của người nói
230. Thấy gớm = thấy ghê, tởm (cách nói giọng miền Nam hơi kéo dài chữ thấy và luyến ở chữ Thấy, “Thấy mà gớm” âm mà bị câm)
231. Thèo lẽo = mách lẻo ( Con nhỏ đó chuyên thèo lẽo chuyện của mầy cho Cô nghe đó! )
232. Thềm ba, hàng ba
233. Thí = cho không, miễn phí, bỏ ( thôi thí cho nó đi!)
234. Thí dụ = ví dụ
235. Thiệt hôn? = thật không?
236. Thọc cù lét, chọc cù lét = ??? làm cho ai đó bị nhột
237. Thôi đi má, thôi đi mẹ! = bảo ai đừng làm điều gì đó
238. Thôi hén!
239. Thơm = dứa, khóm
230. Thúi = hôi thối
231. Thưa rĩnh thưa rãng = lưa thưa lác đác
232. Trà = Chè
233. Trăm phần trăm = cạn chén- (có thể gốc từ bài hát Một trăm em ơi – uống bia cạn ly là 100%)
234. Trển = trên ấy (lên trên Saigon mua đi , ở trển có bán đồ nhiều lắm)
235. Trực thăng = máy bay lên thẳng
236. Um xùm
237. Ứa gan
238. Ứa gan = chướng mắt
239. Vè xe = chắn bùn xe
240. Vỏ xe = lốp
241. Xả láng, sáng về sớm,
242. Xà lỏn, quần cụt = quần đùi
243. Xài = dùng, sử dụng
244. Xảnh xẹ, Xí xọn = xảnh xẹ = làm điệu
245. Xe cam nhông = xe tải
246. Xe hơi = Ô tô con
247. Xe nhà binh = xe quân đội
248. Xe đò = xe chở khách, tương tự như xe buýt nhưng tuyến xe chạy xa hơn ngoài phạm vi nội đô (Xe đò lục tỉnh)
249. Xe Honda = xe gắn máy ( có một thời gian người miền Nam quen gọi đi xe Honda tức là đi xe gắn máy – Ê! mầy tính đi xe honda hay đi xe đạp dậy?)
250. Xẹp lép = lép xẹp, trống rổng ( Bụng xẹp lép – đói bụng chưa có ăn gì hết)
251. Xẹt qua = ghé ngang qua nơi nào một chút (tao xẹt qua nhà thằng Tám cái đã nghen – có thể gốc từ sét đánh chớp xẹt xẹt nhanh)
252. Xẹt ra – Xẹt vô = đi ra đi vào rất nhanh
253. Xí = hổng dám đâu/nguýt dài (cảm thán khi bị chọc ghẹo)
254. Xí xa xí xầm, xì xà xì xầm, xì xầm= nói to nhỏ
255. Xía = chen vô (Xí! Cứ xía dô chiện tui hoài nghen! )
256. Xiên lá cành xiên qua cành lá = câu châm chọc mang ý nghĩa ai đó đang xỏ xiên mình ???? (gốc từ bài hát Tình anh lính chiến- Xuyên lá cành trăng lên lều vải)
257. Xiết = nổi ( chịu hết xiết = chịu hổng nổi = không chịu được)
258. Xỏ lá ba que = giống như chém dè (vè), tuy nhiên có ý khác là cảnh báo đừng có xen vào chuyện của ai đó trong câu: “đừng có xỏ lá ba que nhe mậy”
259. Xỏ xiên = đâm thọt, đâm bị thóc chọc bị gạo,… (ăn nói xỏ xiên)
260. Xưa rồi diễm = chuyện ai cũng biết rồi (gốc từ tựa bài hát Diễm xưa )

-Tony- Sài Gòn trước 1975
* Vui lòng để lại ý kiến bên dưới nếu cảm thấy sai hoặc thiếu sót *

Ai Cúi Xuống Đời Tôi Tim Nhuốm Bệnh - Trầm Vân

Tiễn Bạn - Trọng Đạt


Tôi đưa bạn Tấn của tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng thấm thoát đã gần một năm qua, hôm ấy vào đầu mùa Xuân, hoa hồng, tường vi, hoa cúc. . nở đầy trước vườn. Đời tôi từ mấy chục năm nay đã tiễn đưa ba người bạn biền biệt ra đi.

Ba mươi năm trước, tôi đã tiễn đưa Ninh, người bạn cùng khóa ban Cao Học, chúng tôi cùng học tại một trường của chính phủ đào tạo công chức. Ninh cũng cùng lớp với Tấn. Ra trường được hơn một năm, bỗng một hôm tôi được bạn bè cho biết Ninh đứt mạch máu chết. Học chung trường, cùng lớp nhưng tôi và chàng không thân nhau, được biết chàng di cư vào Nam có một mình, ở với người anh bà con, cũng gần như tứ cố vô thân. Khi xác còn quàn tại nhà, mấy người bạn cùng khóa như anh Sơn, Tịnh đi phúng điếu về bảo:
- Vắng quá, đám ma gì mà vắng hoe!

Hôm tiễn đưa chàng, Tịnh lái xe chở tôi đi, những người bạn đồng học chỉ tiễn Ninh nửa đường rồi quay về. Chúng tôi đưa chàng lên tận nơi trên Gò Vấp, đám táng trông có vẻ nghèo nàn, đơn sơ quá. Lúc sắp hạ huyệt tôi đưa mắt nhìn quanh chỉ thấy loáng thoáng chừng mười mấy người, hầu hết là bạn bè, hàng xóm. Không gian vắng lặng lạ thường, chỉ có tiếng lịch kịch của mấy người phu đang hạ quan tài. Bọn phu chuẩn bị lấp đất chôn thì một bà mặc áo dài màu nâu chạy lại huyệt, tay cầm hòn đất, miệng mếu máo khóc bảo chúng tôi:
- Các anh ơi! Ném cho cậu ấy hòn đất!

Rồi tự nhiên bà ấy khóc um lên:
- Mới hôm nào cậu ấy lại nhà chơi với chú em tôi, thế mà bây giờ cậu ấy… hu.. hu !! Tội nghiệp cậu ấy!

Tiếng khóc của bà phá tan bầu không khí yên lặng. Mặc dù khi an táng chỉ có một lời khóc của một người hàng xứ, người dưng nước lã, nhưng nó lại cảm động và chân thành hơn là những lời khóc hình thức mà ta thường thấy ở nhiều đám như:
- Ới cha ơi! Biết bao giờ con mới lại được gặp cha!
Hay.
- Ới anh ơi! Anh nỡ nào bỏ em đi cho đành anh ơi!...
Bà mặc áo nâu bật khóc vì đám ma vắng quá, buồn quá. Dù đám ma hay đám cưới, người ta đều thích làm cho to nó mới oai.

Người ta thương tiếc cho Ninh, chàng còn trẻ, chưa vợ chưa con, đời chàng còn tươi như đóa hoa mới nở, đường công danh, hoạn lộ của chàng còn dài, thế mà nay chàng như hoa đã lìa cành...

Thế rồi mười lăm năm sau, tôi tiễn một người bạn tù đến nơi an nghỉ. Đó là một đám ma nghèo nàn, bệ rạc trong một xã hội bần hàn, đói rách.

Nam ở tù cải tạo cùng nhà, cùng trại với tôi, được thả về cùng ngày lại ở gần nhà. Chàng cũng chưa vợ con, ở nhờ ông cụ. Ông cụ khá giả, nhà có vườn tược rộng rãi gần Gò Vấp. Mẹ Nam mất đã lâu, ông cụ có vợ khác, mỗi lần lại chơi chàng nhìn bà mẹ ghẻ nói thầm với tôi:
- Tôi chẳng thèm ngó đến cái mặt!

Sau chàng lại dọn đến ở với người em ở Tân Bình. Ít lâu sau tôi lại chơi, Nam than thở:
- Tôi làm cho tổ hợp được mấy tháng lại hết việc. Ở đây em tôi nó cũng thất nghiệp, nó sống nhờ vợ nó bán hàng ngoài chợ, tôi cũng ngại quá!

Chừng nửa năm sau, thỉnh thoảng tôi lại chơi nhưng ít khi gặp, chàng hay ở nhà bạn bè và ban đêm đi giao bánh ngọt cho các cửa hàng, nghe nói cũng vất vả lắm. Tối tối, đi lại lò bánh lấy hàng, đêm hôm khuya khoắt đạp xe đem đi giao cho các cửa tiệm. Hàng nghìn hàng vạn người cải tạo như Nam, ông chẳng ra ông, thằng cũng chẳng ra thằng, họ phải kéo lê tấm thân tàn ma dại giữa cái xã hội bần hàn đói khổ này, một xã hội đã hạ giá trị con người đến chỗ không còn nhân phẩm, con người chỉ biết chạy kiếm miếng ăn! quanh năm suốt tháng  chỉ biết chạy ngược chạy xuôi, dầm mưa dãi nắng  để kiếm cái gì bỏ vào mồm cho khỏi đói, ngoài ra không có gì khác.

Nam đạp xe giao hàng vất vả nhưng cũng chẳng đủ ăn, đủ xài. Có hôm chàng chỉ ăn có một ổ bánh mì, mặc dù bữa đói bữa no nhưng chàng lại tự ái cao, mỗi lần bạn mời ăn cơm chàng cứ chối đây đẩy:
- Không! Tôi vừa đi ăn ngoài tiệm về mà!

Bụng đói cồn cào nhưng chàng vẫn giữ thể diện, Nam ít khi về nhà, ông cụ, bà dì ghẻ, chú em, em dâu hờ hững với chàng. Đã thiếu ăn, chàng lại thiếu cả tình thương, đêm đêm sông pha sương gió kiếm ăn, giá lạnh, hơi độc, sương đêm lâu ngày tích tụ làm cho cơ thể chàng suy nhược dần dần.

Một buổi tối nọ, Nam bị mắc mưa to rồi sinh ra cảm nặng, chàng nghỉ ở nhà bạn hai ngày, bệnh ngày càng nặng, chàng đi xích lô về nhà. Đến tối mê man chẳng còn biết gì, chú em định đưa đi nhà thương nhưng không kịp, chàng trút hơi thở trên giường. Một người bạn báo tin cho tôi rồi thở dài kết luận:
- Nguyên do cũng tại vất vả quá, đi đêm đi hôm mãi, khí độc của trời đất nó tụ lại, ăn uống thiếu thốn, cảm một cái là chết chứ có gì đâu!

Hôm đưa đám Nam tôi đến rất sớm, ông cụ thân sinh chàng ngồi khóc vật vã:
- Ới con ơi! Từ nay bố mất con rồi! ới con ơi là con ơi!

Ông cụ vật vã thảm thương lắm. Thấy vậy anh bạn tôi lườm, nguýt rồi nói nhỏ với tôi:
- Cụ thương con sao không nuôi nó, không đem nó về ở chung, nó chết rồi mới vật vã!

Bà em dâu bày cỗ ra cúng, lễ vái sì sụp, anh bạn lại lườm, nguýt rồi nói nhỏ với tôi:
- Lúc sống thì không cho ăn, chết rồi mới cúng!

Hai giờ sau chúng tôi đưa chàng lên lò thiêu xác bằng ô tô buýt. Đưa mắt nhìn trước sau, tôi chỉ thấy chừng mươi người, nhà nghèo không kèn, không trống, không có đất chôn nên phải thiêu cho rẻ.

Tại lò thiêu, mấy người bạn trò chuyện với nhau về cuộc đời bi thảm của Nam, có người nói:
- Ôi thôi! Chết như thế cũng là rảnh nợ đời, cuộc đời anh ấy sao mà bạc bẽo quá!

Đời chàng bạc bẽo thật, Cộng Sản nó bỏ tù chàng gần sáu năm, khi trở về cái xã hội bần hàn đói rách, bà con ruột thịt của chàng nhìn chàng bằng cặp mắt lạnh lùng như gió heo may! Ông cụ, chú em, bà dì ghẻ, em dâu hờ hững với chàng, cuộc đời sao mà bạc như vôi! Họ hờ hững với chàng để gìn giữ cuộc sống của họ giữa cái xã hội vô cùng khó khăn mà con người ta giành giựt, đấm đá nhau chỉ vì miếng ăn. Nam đã chạy ngược chạy xuôi, sông pha sương gió, kiếm ăn thâu đêm suốt sáng nhưng chua chát thay. . nó cũng không đủ bỏ vào mồm...

Chúng tôi đưa tiễn Nam đến nơi an nghỉ để giải thoát chàng khỏi cuộc đời bạc bẽo. Thế là chàng đã rảnh cái nợ đời!

Và rồi mười lăm năm sau, hay mùa xuân năm ngoái tôi tiễn bạn Tấn của tôi. Người ta thường gọi đùa chàng là “Tấn chân gỗ” vì có thời chàng làm phó quận ở miền Nam, Việt Cộng tấn công quận, Tấn bị thương ở chân nhưng giả chết, khi địch vào quận lục soát tưởng là chàng đã chết, chúng quanh quẩn một hồi rồi rút đi. Nhờ giả chết hay quá nên cuộc đời chàng đã kéo dài thêm ba mươi sáu năm nữa cho đến tận mùa xuân năm ngoái, dáng đi của chàng trông hơi cà nhắc, cà nhắc một tí thôi, nhưng thoát chết cũng là phước đức rồi!

Tấn cũng học cùng khóa với tôi và Ninh, ra trường có làm chung nhiệm sở chừng hai năm, tôi đi sở khác. Cộng Sản chiếm miền Nam, chúng tôi đi tù cải tạo, lại gặp Tấn trong trại nhưng chàng được về sớm lắm, chắc là có bảo lãnh gì đấy. Cải tạo về, dở ông dở thằng, chàng cũng lăn lộn kiếm sống vất vả mấy năm, bỗng có người quen rủ đi chỉ phải đóng hai cây, thế là hai bố con Tấn đi thoát, thật là phước đức, người ta mất dăm bảy cây không đi được, hồi ấy chàng bán cái xe Honda lấy một cây và thu vét hết trong nhà đánh một ván bài chót.

Vào Mỹ chàng vừa làm vừa học điện tử, vừa gởi tiền về cho vợ con còn ở Việt Nam. Tấn ở Mỹ cả chục năm, bảo lãnh cho vợ con sang thì tôi mới được vào Mỹ.

Hồi ấy tôi mới vào Mỹ lớ ngớ y như chim chích vào rừng! liên lạc được với hội đồng môn cùng trường le que co dăm bảy người, rồi Tấn với tôi lại gặp nhau nơi đất khách. Hồi trước không thân lắm nhưng nay Tấn tỏ ra hết sức ân cần với tôi. Chàng thỉnh thoảng xuống thăm tôi và mời về nhà ăn cơm. Một hôm trời đông giá lạnh, tuyết rơi lả tả, chàng cũng lái xe gần hai chục dặm chở tôi lên nhà để đãi tiệc.

Tôi ở gần Tấn được mấy năm, đang lúc quạnh hiu, bỡ ngỡ, chàng là một niềm an ủi lớn cho tôi. Tôi dọn đi làm ăn ở bang khác mấy năm rồi lại trở về, khi ấy Tấn đi mổ ruột dư, tôi lên thăm chàng, cũng mừng cho chàng thoát chết, nhưng ít lâu sau nhóm bạn hữu lại bảo chàng bị ung thư, tưởng là ruột dư nhưng bác sĩ khám phá ra là ung thư, tôi cũng lo cho Tấn vì ung thư thì có mà ông giời cũng không chữa được.

Bạn cùng trường ngày một đông hơn, nay chi hội đồng môn đã được mấy chục người, qua một buổi họp mặt, tôi thấy Tấn sa sút đi nhiều, chàng già hẳn đi, trông phờ phạc bệnh hoạn. Thỉnh thoảng lên thăm Tấn, có lần nói chuyện chàng vỗ nhẹ vào bụng, nét mặt âu sầu bảo tôi:
- Cái bụng tao nó vẫn đau, mỗi lần ăn xong tao lại thấy đau đau, hằng năm mày nên đi khám nghiệm, mới bị thì dễ chữa hơn, mình già rồi, dễ đau lắm!

Nói rồi chàng ngồi thừ ra ghế, tôi thấy trong đôi mắt chàng thoáng hiện vẻ lo âu, buồn bã. Chàng đau đớn ít, nhưng lo lắng, buồn rầu thì nhiều vì phải tự chứng kiến cái chết cứ từ từ tiến lại, ung thư có nghĩa là đã trông thấy bóng dáng của Tử Thần. Mặc dù mấy tháng bác sĩ lại khám nghiệm cho chàng, dù phương pháp trị liệu tối tân của xứ văn minh hữu hiệu đến đâu cũng không ngăn nổi bước đi của Thần Chết. Tôi cũng thương cho Tấn, lo cho chàng nhưng biết làm gì hơn được? Cái đau khổ nhất của chàng không phải là cơn đau thể xác, nhưng trước mắt chàng thấy rõ hơn ai hết bóng dáng Tử Thần cứ từ từ tiến lại.

Tôi rất muốn thăm Tấn nhưng đường lên nhà bạn xa và nguy hiểm, phải qua mấy con đại lộ chi chít những xe, chúng chạy ào ào như thác. Tuy vậy, có dịp lên Dallas tôi đều ghé thăm bạn, có lần anh thừ người bảo tôi:
- Cái bụng tao nó vẫn đau, bảo hiểm nó trả tám trăm ngàn rồi mà chả đi đến đâu mày ạ!
Tôi thấy Tấn ngày càng suy yếu, tóc chàng bạc hẳn đi, mất hết cả phong độ, căn bệnh quái ác vẫn chưa chịu tha cho anh, nó bắt anh phải sống cho đến chết. Cái căn bệnh kinh hoàng tàn ác ấy không cho con bệnh chết ngay! Nhưng nó bắt người ta phải sống trong lo âu khắc khoải, đau đớn dai dẳng cho đến chết, một căn bệnh quái ác và vô cùng tàn nhẫn.

Thấm thoắt bệnh hoạn đã kéo dài bốn, năm năm qua, tự nhiên tôi nghe người bạn bảo ở phổi của Tấn có vết đen, thời kỳ cuối cùng của bệnh ung thư. Chàng đi nằm bệnh viện trị liệu một thời gian lâu, nhưng bác sĩ biết là vô vọng, họ cho Tấn về nhà chờ chết.

Hôm tôi lên nhà thăm, thấy chàng vui vẻ, thản nhiên chẳng có vẻ gì cho lo sợ cả, mặc dù phải đeo bình nước tiểu, chàng vẫn tươi cười hỏi thăm tôi mọi chuyện, nào việc làm, nào chi hội đồng môn. Bao nhiêu lo âu, khắc khoải chồng chất bấy lâu nay đã đến lúc bão hòa, một người đã cầm chắc cái chết trong tay không còn biết sợ là cái gì nữa. Tôi chỉ nói chuyện trời trăng mây nước như ông Kèo, bà Cột sắp cưới vợ, gả chồng cho con, an ủi hoặc lên dây cót tinh thần một người sắp chết chỉ là trò giả dối. Ít lâu sau gia đình xin hãng bảo hiểm cho chàng được vào nằm ở một bệnh viện gần nhà vì vợ con không đủ sức trông coi, họ đồng ý.

Một buổi chiều cuối đông, tôi đến thăm Tấn lần chót tại bệnh viện để tỏ chút tình bằng hữu với người bạn tri kỷ lúc sắp ra đi. Đó là một bệnh viện nhỏ, bãi đậu xa vắng tanh vắng ngắt.

Vào đến phòng tôi thấy chàng nằm dài trên giường, mặt hốc hác nhưng tỉnh táo. Bà vợ đưa gương cho chàng soi mặt bảo:
- Này! Ông soi mặt xem có bị méo không?

Bà ta vẫn thản nhiên vui cười mặc dù đã phải khổ sở hầu hạ người chồng bệnh hoạn bấy lâu nay. Cô con gái ngồi cạnh tỏ vẻ u sầu. Tấn tươi cười bảo tôi:
- Mày ơi! Tuần trước tao tưởng tao đi rồi, bạn bè đứng vây quanh, tao thiếp đi, vợ con tao nó khóc, thế mà tao lại tỉnh.

Tôi nghĩ thầm:
- Không đi tuần trước thì tuần sau cũng vậy chứ gì!

Tôi chỉ thăm hỏi bâng quơ vì biết rằng đối với người cầm chắc cái chết trong tay, an ủi cũng chỉ là thừa. Tôi rán ngồi lâu thêm để cố đem lại một chút tình bằng hữu sưởi ấm lòng chàng nay đã nguội lạnh như một đống tro tàn và cũng là để tỏ tình đưa tiễn kẻ ở người đi, biết bao giờ mới gặp lại nhau? Nói chuyện khá lâu, tôi ra về, bãi đậu xe vắng ngắt, trời đã tối đen, đường phố đã lên đèn, những hạt mưa phùn rơi lất phất rơi trên vai tôi. Tôi không ngăn nổi xúc động đang dâng lên trong lòng vì thương bạn và biết rằng chiều nay mình gặp Tấn lần cuối cùng, thế là hết! Tôi bỗng nhớ lại thời tuổi trẻ đã qua...  mới ngày nào bạn bè cùng ra trường ban Cao Học, chàng còn trẻ đẹp trai,  đời tươi như hoa. .  . thế mà bây giờ… đã mấy chục năm qua! Cuộc đời y như một giấc mơ qua.

Mấy tuần sau một người bạn báo tin cho tôi biết Tấn đã qua đời, anh ấy kết luận:
- Ôi thôi, cũng mừng cho ông ấy, vừa khổ cái thân, làm khổ vợ con lại làm phiền xã hội đã năm sáu năm rồi.

Hôm làm lễ an táng người ta chở xác chàng về ghé thăm nhà rồi mới lên nhà thờ làm lễ và đem chôn, y như trong phim The Road Home, Đường Về Nhà của Trương Nghệ Mưu. Tôi đi chung xe với một người bạn đến nhà thờ, lúc ấy họ đang làm lễ, ông cha giảng hay lắm, dẫn thơ Kiều, Nguyễn Công Trứ để nói về đời người, linh hồn bất tử.

Cha giảng xong, ca đoàn ở góc bên trái nhà thờ cất tiếng hát vang, các cô học sinh giọng trong và cao lanh lảnh, họ hát rất hay nhưng sao tôi thấy giọng hát ấy buồn thấm thía và lạnh lẽo y như khí lạnh ngoài trời hôm ấy. Giọng hát cao vút lên, vô cùng thấm thía khiến tôi sững sờ, bâng khuâng, tê tái. Mỗi lần giọng ca vút lên tôi thấy lòng mình tự nhiên giá lạnh như băng tuyết. Các cô gái trẻ hát rất lâu, giọng hát lanh lảnh vang lên cho đến khi lễ tất.

Gia đình lên cám ơn quan khách rồi mọi người lục đục chuẩn bị lên đường. Hai người nhân viên nhà đòn người Mỹ ăn mặc lịch sư, nét mặt nghiêm nghị đẩy cái quan tài đen ngòm xuống phía dưới tiến thẳng về phía tôi, cái quan tài đen ngòm ấy như đâm thẳng vào tôi! ... Bà vợ, các con trong bộ tang phục đen, đầu chít khăn trắng sụt sùi lệ ngắn lệ dài.

Khác với những lần tiễn bạn trước đây, bây giờ lần đầu tiên tôi đi đưa ma tại Mỹ. Một đám ma văn minh, toàn những xe hơi bóng loáng, thầm lặng, không có tiếng khóc than, có tiếng trống kèn tò te, nhưng tôi thấy lòng mình tê tái và buồn ra riết. Đoàn xe đi chầm chậm một lúc lâu mới đến tha ma. Lúc hạ huyệt mấy chục người bạn đồng môn xúm xít vây quanh, ai nấy tỏ vẻ tiếc thương cho Tấn. Thấy ông anh Tấn ném mấy bông hồng xuống hố, tôi cũng bắt chước ném theo.

Chỉ trong một cái chớp mắt thôi! Người phu nhà đòn lái xe máy ủi vèo vèo lấp đất.

...  Thế là hết, chấm dứt một đời người!  ...

Bọn đồng môn ai nấy tê tái, bàng hoàng chứng kiến cái kiếp người phù du, mong manh như một ngọn đèn dầu!

Đánh vèo một cái thế là hết!

Mặc dù Tấn được ra đi trang trọng, văn minh, song tôi thấy sự ra đi ấy gieo vào lòng tôi những cảm giác tê tái, thấm thía và buồn mênh mang như không có bút mực nào mà tả cho siết được.
Tôi trở về nhà vào lúc xế chiều, xuân sang tiết trời ấm áp, mấy khóm hồng, khóm cúc, tường vi nở hoa rực rỡ trước vườn, chim chóc cất tiếng hót líu lô chào mừng mùa xuân trở lại. Cành cây đâm chồi, nảy lộc, báo hiệu sự sống hồi sinh sau những ngày tháng dài của một mùa đông giá lạnh, vạn vật mỹ miều cùng với trăm hoa đua nở trong khoảng không gian đầm ấm.

Nhưng sao tôi tự nhiên thấy lòng buồn rười rượi và chán chường vô tả, thực không bút mực nào mà tả cho siết nỗi lòng của tôi khi ấy. Tại ly hương chăng? Tại cuộc đời đã đến lúc xế chiều? Hay tại những nỗi giá lạnh vô hình của giây phút thiêng liêng sinh ly tử biệt? Khi ấy tôi đang đứng bên những đóa hoa hồng mới nở, tươi đẹp rực rỡ trong gió xuân, một làn gió nhẹ thoảng đưa những bông hoa đỏ thắm và thơm ngát ngả nghiêng như đón chào tôi trở về nhà, năm nay hoa hồng nở đẹp quá! Thật là tuyệt vời.

Nhưng sao tiếng ca réo rắt, lạnh lẽo, cao vút của các cô gái hát bài thánh ca vẫn vang dội bên tai tôi, hình ảnh các cô gái ở góc bên trái của Thánh đường với giọng ca cao vút, lạnh lùng cho đến lúc này vẫn còn hiện rõ trong trí tôi cùng với hình ảnh của chiếc quan tài đen ngòm đang lừng lững tiến thẳng về phía tôi. Tất cả như muốn kéo tôi ra xa khỏi khung cảnh trăm hoa đua nở tươi đẹp tuyệt vời cùng với hương thơm ngào ngạt của buổi đầu xuân.

Giọng ca ấy đã khiến tôi thấy hiện lên trong lòng một cảm giác rờn rợn, lạnh lẽo. Nó bao bọc quấn quít lấy tôi và cứ đi theo tôi mãi, tôi muốn dứt nó ra, nhưng khốn thay… tôi không thể nào mà dứt nó ra cho được.


Trọng Đạt