Monday, July 6, 2015

"Ô Mai Gót" - T.K.T.T


“Việt Kiều là giống ngớ ngẩn nhất Trần gian”. Tôi nghĩ thế khi ba mùa hè liên tiếp gần đây, liên tục đón cả đại gia đình các em, các cháu tôi từ bên kia bờ đại dương về lại Sài Gòn.

Năm 1975, cũng như bao nhiêu gia đình khác, gia đình tôi cũng trong cơn chấn động kinh hoàng của lịch sử, của thời cuộc. Hai mẹ con tôi quyết định ở lại đón ba tôi đi tập kết trở về( nghe nói cũng làm lớn trong quân đội Bắc Việt và không hề nghĩ đến chuyện vợ lẽ, con thêm)… Chỉ bốn đứa em sau cùng cha dượng của tôi quyết tâm xuống tàu vượt biển.

Chuyến đi vất vả nhưng trót lọt, sau ít năm tị nạn tại Hong Kong, cả 5 được chính phủ chấp nhận định cư tại Mỹ.
Bằn bặt gần 30 năm sau thì mọi người lần lượt tìm về thăm má già và anh cả là tôi. Sau đó thấy Việt Nam tuy nghèo khổ, lệ thuộc Trung Cộng, nhưng không đến nỗi man ri, mọi rợ như trí óc họ hình dung, và còn dây mơ rễ má với mảnh đất quê hương, nên hai năm một lần, mỗi gia đình gồm cha, mẹ, và hai hoặc ba đứa con lại trở về.

Lần đầu tôi nhìn thằng cháu đích tôn gọi tôi bằng bác, hoàn toàn là người Việt , máu đỏ da vàng, không lai căng, lai kiết gì hết. Nó chào tôi, mắt dửng dưng xa lạ:
- Hai!
Tôi bất bình sửa lại:
- Hai, ba gì, mày phải gọi đầy đủ là “Thưa bác Hai, con mới về”, nghe chưa?
- Ồ, mẹ nó bênh vực: – Nó chào anh mà, “Hai”! Cũng như “hê lô” là tiếng chào bình thường của người Mỹ thôi, không phải nó bày đặt gọi tên anh đâu.
Ra vậy, buổi trưa hôm sau nó đi đâu về, mồ hôi ướt rượt trên khuôn mặt trắng trẻo, bụ sữa của tuổi …20, tôi yêu qúa, liền bảo, giọng đon đả:
- Đi ăn cơm con!
Nó trả lời bằng tiếng Việt , giọng ráo hoảnh cộc lốc:
- Chưa bây giờ !
- Trời, tôi cười phá lên, nếu nói đầy đủ phải là: “Thưa bác, bây giờ con chưa ăn ạ, vậy mà không hiểu nó nói tiếng Việt kiểu gì mà cùn cằn, cộc lốc như vậy.
Nghe tôi kể lại, mẹ nó đỏ mặt chữa thẹn:
- Thì nó quen với tiếng Mỹ mà: Not now có nghĩa là nó sẽ ăn nhưng chưa phải là lúc này. Vì có thể mới về lại nhà mình, khẩu phần ăn sáng thay đổi, không phải sữa và ốc miu (oak milk) nữa, nên bây giờ nó chưa đói.
-Lại còn thế nữa, tôi lẩm bẩm – Đúng là đồ lai căng, nửa An Nam nửa…American có khác, ai lại uống sữa với ốc miu bao giờ? Tào tháo đuổi cho thì… “quấn ra sòn” suốt ngày.
Đang chí chóe tranh luận trong nhà, tôi bỗng nghe thằng em nó gọi giật giọng:
- Mẹ! chết đuối!

- Trời đất, cả tôi và má nó té ngửa, tưởng mấy đứa mon men ra hồ chơi rồi rơi tòm xuống nước, không biết bơi nên có đứa nào bị chết rồi.
Ba chân, bốn cẳng chạy ra, cả ba chúng tôi đứng chắn ngang thằng Bé, hỏi giật giọng:

- Đâu đâu, ai chết đuối?
Thằng bé đưa tay chỉ, miệng ú ớ;
-Đó đó…chết đuối …
Điểm mặt vẫn đủ mọi thành viên trong nhà, cả tôi và em gái, cháu ruột cùng ngẩn ra rồi cười phá lên khi thấy chiếc xuồng cột ở bờ sông tự dưng bị đứt dây, trôi ra xa bờ và dần dần chìm xuống làn nước hồ mênh mông.
Thay vì mách bác, mách mẹ là chìm xuồng, thì nó la chết đuối, làm quả tim tôi bắn ra khỏi lồng ngực.
Trở lại nhà, thằng lớn lúc này mới thay quần áo, vừa thay nó vừa càu nhàu:
- Sài Gòn nóng qúa, con bắt chước bác Hai, cởi truồng vẫn cứ nóng.
Lại đến lượt anh em tôi phì cười, vì rõ ràng nó vẫn mặc quần xoọc rất bảnh trên người, chỉ cởi trần giống tôi.

Nhớ lại tối đầu tiên ngủ tại nhà, dù tôi và má đã thu xếp chỗ ngủ tươm tất cho cả 5 thành viên nhà nó. Vậy mà sáng hôm sau, đầu tóc bù xù, mắt đỏ kè, vừa ngồi dạy trên giường, ra phòng khách, nó cự nự:- Nhà này lắm chuột qúa, họ chạy lung tung suốt đêm làm con không ngủ được.
-Ôi đúng là cái giống Việt Kiều ngố, ai lại gọi chuột là họ, coi chuột như người vậy? Bốn chân phải khác hai chân chứ?
Chưa kể con út nhìn thấy bà ngoại lúi húi rửa một đống tô, chén tú hụ, nó không đỡ một tay, còn ngớ ngẩn hỏi:
-Ngoại giặt chén à, sao ngoại không giặt bằng máy mà lại giặt bằng tay vậy? Làm vậy đâu có sạch?
Trong khi bà nó ngơ ngẩn nhìn cháu gái chẳng hiểu mô tê ất giáp gì thì mẹ nó đứng đằng sau giải thích:
-Bà ngoại đang rửa chén bằng tay đó con, ở Việt Nam không có máy rửa chén như ở Mỹ đâu con à, nên đa số làm bằng tay hết.
Nó lật đật chạy về phía bếp và tỏ rõ sự thất vọng vì tuyệt nhiên không thấy một chiếc máy nào hết. Trong khi theo mẹ nó giải thích thì máy rửa chén là một bộ phận không thể thiếu được trong bất cứ gia đình nào ở Mỹ. Ngay từ khi thiết kế bếp nấu, người Mỹ đã gắn luôn chiếc máy rửa bát vào phía dưới bồn rửa cạnh vòi nước để vận hành. Ăn xong chỉ cần cho chén vào máy, đổ xà phòng vào là máy tự xúc, rửa, tráng, lau khô đến mức nóng rẫy, sạch bong mới thôi ,đâu có ướt lẹp nhẹp như chén ngoại rửa?
- Ờ, cứ cho Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu hơn Mỹ đi, nhưng làm sao nó lại có thể nhầm từ rửa chén thành giặt chén được cơ chứ? Hệt thằng anh nó vậy, bảo vào ăn cơm nó lại lật đật chạy vào phía vòi nước bảo: con phải giặt tay, giặt đầu cho cu (cool) đã …Bố ai mà hiểu được?

Cả con mẹ nó cũng thế xa nước gần 40 năm ,ở nhà đã nói tiếng Việt sành sỏi, rành rẽ rồi mà đi với tôi, nó nói gì mà cả má và tôi đều không hiểu, nếu không có thằng chồng đi kèm làm phiên dịch tiếng Việt ra tiếng … Việt:
Đơn giản má biểu:
- Con cho má ra chợ bến Thành mua ít đồ gửi về ngoải cho ông bà thông gia nghe con
Vậy mà nó trả lời:
- Con không “mếch sua” đâu nha. Bộ má tưởng ở American tụi con không “in náp” hả?
Nghĩa là, theo lời thằng chồng phiên dịch lại, vợ nó không chắc chắn sẽ đưa mẹ đi được( Make sure), vì ở bên Mỹ cả gia đình nó ở cùng nhà với bố mẹ chồng, đầy đủ hết, chẳng thiếu thứ gì ( enough)
Đang đi đường, tất nhiên là thuê taxi tự lái, vì cả nhà nó chả ai chịu đi xe ôm cả. Đường đông, người đi qua đi lại nườm nượp như mắc cửi, thỉnh thoảng con vợ lại cự nự chồng:
-Kìa “pát” đi anh, sắp tới rồi, đó đó, ở “con nờ” đó.
Tôi ngồi sau cũng không sao hiểu nổi thứ tiếng pha trộn nửa Việt Nam , nửa Mỹ của nó, nếu cậu em rể không xởi lởi giải thích :
- Dạ, ý nhà em giục em băng ngay qua đường đi (Pass), chứ chờ hết xe mới đi như ở Mỹ thì chờ đến tối cũng không xong. Còn cái địa chỉ mà vợ chồng em định đến ở ngay góc đường( conner) anh à.
Bước chân vào khu biệt thự sang trọng( khác hẳn nhà tôi), thằng bé phát biểu:
- Ở Việt Nam toàn làm nhà bằng gạch nhỉ? Ở Mỹ nhà chỉ làm bằng củi thôi, đẹp lắm, nhưng mà không chắc chắn bằng.
- Trời! Tôi trợn mắt hỏi: – Nhà gì mà làm bằng củi, bộ nhà ở giữa rừng sao?
Ba nó cười bảo: Nhà bằng gỗ chứ con, đâu phải củi?
Nó chất vấn: – Thì “út” (Wood) mà

Hóa ra tiếng Mỹ dịch ra tiếng Việt cũng rắc rối thật, thể nào mà lũ em, lũ cháu tôi, mang tiếng là Việt Kiều mà ngố ơi là ngố, , nói bằng từ Việt Nam là ngố toàn phần , ngố đến mức ông bà, cô bác đến thăm đều nói tiếng Việt mà cả ba anh em nhà nó cứ ú ớ như vịt nghe sấm, như dã tràng nghe…tôn giáo bể. Chả trách có lúc bị gọi chệch là vịt kều.
Ngó trên, ngó dưới , trên lầu, dưới sân, em gái tôi nhấm nháy gọi tôi ra một góc vườn, bảo, giọng bồi hồi, xúc động: .
- Anh Hai xem kỹ đi, biệt thự này em định mua để má và anh Hai cùng sắp nhỏ ở đó. Nhà rẻ qúa chừng, chỉ cần anh Hai nói má mạnh dạn bán căn nhà đang ở đi, dọn đến đây, thiếu bao nhiêu, vợ chồng em phụ giúp.
- Ủa- Tôi trừng mắt la lớn, khi nhớ ra gốc tích căn nhà:- Coi bộ em khùng hả?. Biệt thự này tuy đẹp nhưng gốc gác là của một tay cán bộ cộng sản cướp nhà đó. Nó không ở được nên mới tìm cách bán rẻ bán tháo, nhưng những người chủ cũ đâu để cho ai yên, đêm đêm họ vẫn kéo về mà.
-“Ô mai gót”, em tôi la: -Sao lại có chuyện lạ dzậy? Em đi từ 75 mà, em đâu biết . Anh Hai nói rõ cho em nghe được hông?

Tôi thủng thẳng kể:
- Gia đình này có 9 người, 6 trai, 3 gái cùng người mẹ già. Họ giàu lắm, vì cả 6 con trai đều là thiếu tá, đại tá trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Một người con gái mở tiệm vàng . Ngày 29-4, người con trai cả mang xe Jeep về để đón má, đưa cả nhà di tản, nhưng người mẹ lo cho bố mẹ già và bầy em 9 đứa ở Bắc nên do dự không đi…Khi cách mạng vào, họ bị kiểm kê tài sản và dĩ nhiên là mất trắng. Bà mẹ lúc này mới hiểu rõ bản chất của cách mạng, đặc biệt qua xum họp gia đình , biết bố mẹ đã bị đấu tố trong cải cách rụộng đất, chết tức tưởi, các em ai cũng nghèo nàn túng kiết, nên cố giấu 10 lượng vàng dung thân. Không ngờ tay công an ở kế bên rình mò theo dõi và cũng giỏi “bắt nọn” đã bắt bà phải khai ra số vàng cất giấu, dù bà van lậy như tế sao, đưa nó một lượng , coi như cống nạp, vậy mà nó đòi “ăn chia sòng phẳng” 50/50. Đau khổ, uất hận bà đành phải đưa thêm 4 cây vàng cho nó…Vậy mà vẫn không yên. Thấy căn biệt thự của bả đẹp, nó tuy chỉ là phó đồn công an phường, một vợ một con, đã có căn nhà hai tầng , tổng cộng 100 m2 , vẫn rắp tâm cướp không căn nhà của bà. Lấy cớ kiểm tra hộ tịch, nửa đêm nó dựng cả nhà dạy, cho quân lục soát, khám xét, xem có giấu vàng ở đâu không? Vàng không có nhưng hở tờ tiền đô nào nó cũng cướp, vì cho đó là tiền của đế quốc Mỹ…Bị o ép, dồn nén đến ngạt thở, một đêm cuối năm 1979, cả nhà bà bảy người liều lĩnh vượt biên ( ba anh con trai đang học tập cải tạo), vài hôm sau, xác nổi lên cùng 193 người nữa ở mũi Cát Lái, nó lấy cớ “ bảo quản  nhà vắng chủ”, dọn sang ở, rồi chiếm luôn…Dù đã phải cống nạp cho thủ trưởng , mua chức mua quyền, không còn là cấp phường nữa mà là cấp quận , thành phố , nhưng đêm nào nó cũng gặp ác mộng. Lúc thì bà chủ nhà về đòi nó trả lại 5 cây vàng. Lúc thì con gái bà trừng trừng nhìn nó trong đêm (Khi nó cho quân kiểm kê, niêm phong tiệm vàng), rồi vợ chồng nó cãi cọ, ly hôn, 3 đứa con nó, đứa lành lặn thì bỏ học, đua đòi , ăn chơi trác táng, đứa đui què sứt mẻ, cả khuôn mặt có đủ các bộ phận tai, mũi, mồm, chỉ trừ đôi mắt. Làn da trắng nhợt kéo thẳng từ trán xuống đến sống mũi trông ngây độn, kỳ quái…Biết là bị quả báo, nó sợ hãi bán tống bán tháo cho người khác, nhưng người này ở chưa đầy một năm cũng luôn gặp ác mộng nên bỏ không cả mấy năm trời rồi tiếp tục sang tên chủ mới. Từ đó đến nay, đã 30 năm, căn nhà này có tới cả chục chủ, nhưng chả ai ở quá 3 năm ,dù cúng giỗ cầu siêu, xây miếu thờ v.v vẫn trong cảnh thấp thỏm, lo âu. Trong khi giá nhà đất lên vèo vèo thì giá nhà này vẫn đứng yên.
Nghe tôi nói, em tôi lè lưỡi:
- “Ô mai gót”, em tưởng nhà sạch thì mua, chứ gặp “nai me” thường xuyên thì chết à?
- Ồ tôi ngán ngẩm giải thích, nhà rộng, sạch sẽ, sáng sủa nhưng giữa thành phố thì làm gì có nai hả em?
Chồng nó đứng phía sau từ lúc nào, nghe tôi nói vậy liền cười tủm tỉm đỡ lời:
- Nightmare là gặp ác mộng ấy chứ anh. Nếu có nai thật thì tốt qúa rồi, đâu có gì phải sợ?
Ngày hai vợ chồng và 3 đứa con trở lại Mỹ, tôi và má mua một túi quà cho nó, trong đó không thể thiếu được món ô mai, món mà hồi nhỏ nó rất thích và thường ngước đôi mắt to tròn, đen ánh lên hỏi mỗi khi hai mẹ con đi xa về:
-Má , má và anh Hai có mua ô mai cho con không má?
Còn bây giờ sau gần 40 năm trở về, đầu hai thứ tóc mà hơi một tí là nhắc: “Ô mai gót”. Tuy không biết quả gót là quả gì nhưng cứ nghĩ đến số quà nó đem từ Mỹ về, nào Chà là, nho khô, hạt dẻ cười, táo tàu, v.v hai mẹ con lại động viên nhau phải kiếm cho bằng được để làm quà cho nó cũng như ông bà thông gia, gọi là “hương vị quê hương”

Tìm khắp chợ Bến Thành rồi các chợ xung quanh cả tuần lễ liền, không ai biết quả gót là quả gì. Ai cũng bảo: “Ở Việt Nam chưa bao giờ nghe thấy, chắc ở tận bên tàu, chứ Việt Nam chưa hề nhập về”.
Khệ nệ trở về trên chiếc xe máy cũ kỹ, nhìn thấy túi quà, đủ các loại ô mai xấu, ô mai cóc, ô mai me , ô mai khế, ô mai mơ v.v mỗi túi một cân, cả nhà phát hãi , không khảo mà xưng cùng la tướng lên: “Ô mai gót”.
Má tôi ngại ngùng giải thích:
- Không có ô mai gót đâu con, má biết mày thích loại đó, nên ngày nào cũng nhắc tới, mà má tìm rạc cẳng không có con à.
Đang mải mê sắp xếp đồ đạc cùng sắp nhỏ, bỗng dưng nó cười chảy nước mắt , thay vì ôm chồng lại ôm chầm lấy má:
- Ôi má ơi, con nói tiếng Mỹ mà. Oh, my god, nghĩa là “chúa ơi” , đâu phải con thèm ô mai mà má và anh mua nhiều thế này, cả nhà con ăn bao giờ cho hết? Với lại xách nặng thế này, con đem lên máy bay sao được hả má?

Đến nước này, thay vì kêu chúa như nó vẫn làm, tôi buộc phải kêu trời khi nhận ra sự nhầm lẫn tai hại của mình: Đúng là vịt kìu, sao nó không nói tiếng Việt thuần chủng là “trời ơi”, “chúa ơi” mà lại nhập khẩu cái tiếng Mỹ chết tiệt ấy để tôi hiểu lầm cơ chứ. Oh, my god!
Sacramento Oct 2014

T.K.T.T

Tôi Giải Phóng Tôi - Trương Phú Thứ



Tin nhắn từ một người quen về vợ chồng chú em họ ở ngoài Bắc sẽ đến thăm làm ông bà Thịnh vừa mừng vừa lo. Mừng vì gặp lại người thân sau hơn hai chục năm trời xa cách. Nghe nói chú em là là cán bộ trong ngành công an. Chỗ người nhà, có gì cần nhờ cậy cũng yên lòng. Lo vì chẳng biết lòng dạ của người đã thấm nhuần chủ nghĩa cộng sản như thế nào. Người em họ mà tuổi còn chạy nhẩy lúc nào cũng quanh quẩn bên ông chẳng biết có còn chút tình nghĩa gia đình hay lại khô cằn hơn một hòn đá vô sản.

Ông bà Thịnh cùng là giáo chức của một trường trung học rất nổi tiếng ở Sài Gòn. Ba người con được ông bà thu xếp đi ra khỏi nước trên một tầu buôn sang Hồng Kông mấy ngày trước khi những chiếc mũ cối của bộ đội cộng sản nhởn nhơ trên đường phố Sài Gòn. Ông Thịnh lý luận với vợ dù cho cộng sản có khát máu đến đâu thì chắc cũng chẳng đụng chạm gì đến những người chỉ biết dậy dỗ bọn trẻ nên người. Ông lẩm bẩm “có chính chị chính em gì đâu”. Bà Thịnh, trái lại, sợ đến tắt thở. Qua báo chí, bà đọc tin tức bọn Khmer Đỏ giết đến gần một nửa dân số Miên mà đa số những người này chỉ phạm một cái tội là biết đọc biết viết. Đã đến nửa tháng sau ngày Sài Gòn rơi vào tay những người cộng sản miền Bắc mà chẳng thấy máu lửa gì nên ông bà Thịnh cũng bớt lo. Mấy “thằng 30 tháng 4” chạy lăng xăng như gà mắc đẻ trước cửa nhà nhưng đứa nào cũng còn chút lễ giáo của người Sài Gòn nên vai trò nghiêm nghị của nhà giáo vẫn được kiêng nể. Vài lần chúng cũng gõ cửa hoạnh hoẹ về mấy người con. Bà Thịnh cười xuề xoà nhỏ nhẹ:

“Chúng nó dại dột đi theo bọn Mỹ, bây giờ chẳng biết sống chết ra sao.”

Bà nói với giọng buồn rầu nhưng vẫn không giấu diếm được niềm vui trong lòng vì được tin chắc chắn chuyến tầu đã đưa các con đến bến bờ bình yên. Ông bà Thịnh quyết định không ra đi vì phải “tử thủ”, nếu chuyến đi của các con không thành mà trở về thì cũng có nơi ăn chốn ở. Ông Thịnh mang những bài học binh pháp của cụ cố Tôn Từ bên Tầu giải thích cho quyết định ở lại. Phàm bất cứ việc gì có thế công thì cũng phải có đường thủ. Dắt díu nhau đi hết mà phải quay trở về thì chẳng thà ra ngoài biển “làm mồi câu cá mập” còn hơn. Bà Thịnh nghe có vẻ hợp lý nên cũng chẳng thiết tha gì với chuyện ra đi. Hơn nữa họ hàng bà con, mồ mả tổ tiên tất cả còn ở miền đất Mỹ Tho trái ngọt cây lành. Rứt ruột bỏ đi sao đặng. Hình ảnh của những cuộc đấu tố ở miền Bắc làm cho nhiều người phải rùng mình khiếp sợ. Cộng sản là máu và nước mắt, là chết chóc và thù hận. Đằng sau của những vụ cướp chính quyền bằng bạo lực của các đảng cộng sản trên thế giới luôn luôn là những cuộc tàn sát tập thể, những trại tù khổ sai và cùng cực của đói khát bệnh tật. Bà Thịnh biết vậy nhưng cũng không thể nào đành lòng ra đi.

Hai tuần lễ sau khi những đôi dép râu dẫm nát đường phố Sài Gòn, người dân của miền đất mưa nắng hai mùa vẫn chưa thấy được cái đòn thù của những người cộng sản phương bắc. Hôm nay ông bà Thịnh ăn mặc tươm tất, dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ đón vợ chồng chú em họ mà nghe đâu chú ấy cũng có vai vế trong ngành công an xã. Ông bà Thịnh cũng không biết rõ người em họ làm to đến cỡ nào nhưng có tí hơi hướm vẫn hơn. Bây giờ quyền hành trong tay những người có súng đạn. Luật pháp là một sản phẩm nhiều khi có tiếng khóc nhưng cũng có lúc không nhịn được những trận cười đến đứt ruột. Bà Thịnh sửa sọan những món đặc biệt miền Nam chỉ mong vừa lòng người em họ mà bà chưa một lần gặp mặt. Bà là dân Mỹ Tho và lớn lên ở Sài Gòn. Hầu hết dân thành phố chỉ nghe và hiểu lờ mờ về chủ nghĩa và những người cộng sản. Người miền Nam tính tình xuề xoà, chuyện gì xong rồi bỏ qua, ăn nhậu hôm nay không nghĩ đến ngày mai. Bây giờ phải đối mặt với những người cộng sản cũng trở nên loạng quạng.

Bà Thịnh đang nêm lại nồi nước lèo. Món hủ tíu Mỹ Tho là món “ruột” của bà. Nhiều người ăn xong chùi mép chưa sạch nhưng đã hẹn ngày tái ngộ. Nghe tiếng gọi ngoài cửa đặc giọng miền Bắc, bà Thịnh chắc là khách đã đến. Bà bật cười nghĩ đến ngày cưới, họ hàng bên ông Thịnh nói đặc một giọng “bắc chay”. Nhiều chữ chẳng hiểu gì nhưng vẫn cứ phải vâng dạ cho qua chuyện.

Ông Thịnh mở cửa nhìn người đàn ông mặc bộ quần áo lính đã ngả mầu đang dướn người nhìn lên tầng ba nhà ông. Người phụ nữ đứng bên cạnh dáng dấp quê mùa tay xách cái bị cói có vẻ nặng nề. Ông Thịnh nói to, giọng mừng rỡ:

“Hướng con chú An đây phải không?”

Người đàn ông không trả lời, chạy đến nắm tay ông khóc mếu máo:

“Anh ơi, đến bây giờ anh em mình mới được gặp nhau.”

Ông Thịnh cầm áo kéo người em con ông chú vào nhà. Người đàn bà đi sau có vẻ lấm lét. Ông Thịnh nói to như để báo tin cho bà vợ dưới bếp:

“Anh Hướng đây là con chú An. Mới ngày nào anh em quấn quýt bên nhau. Thế mà đã hơn hai mươi năm rồi.”

Vợ chồng Hướng nhìn bộ ghế bọc nhung đỏ thẫm, những đồ đạc trưng bầy trong phòng khách toàn là những hình ảnh xa lạ. Đã vài lần ông Thịnh mời khách ngồi, xem chừng như vợ chồng Hướng lại không dám nhưng rồi cũng rụt rè ngồi mấp mé trên làn vải nhung mịn màng. Bà Thịnh từ dưới nhà bếp đi lên, tay bưng khay nước, cười tươi:

“Anh chị Hướng dzô hồi nào dzậy?”

Không nghe ai trả lời. Vợ chồng Hướng chắc không hiểu câu hỏi của bà chị người miền Nam. Ông Thịnh nói:

“Nhà tôi hỏi chú thím vào đây bao giờ đấy.”

Vợ Hướng vội vã:

“Thưa chị, chúng em vào đây cũng được ba ngày rồi ạ. Lần mò hỏi thăm đủ chỗ mới tìm được nhà anh chị.”

Vợ Hướng nhìn bà Thịnh với nét sang cả của một giáo chức trung học như là ở một thế giới khác. Bộ quần áo lụa mầu nâu đậm may thật khéo ôm gọn thân hình vừa bước qua tuổi trung niên cũng là một hình ảnh xa vời mà người phụ nữ cán bộ nông nghiệp chưa bao giờ mơ với tay tới.

Bà Thịnh nói như lấy lòng:

“Mừng quá, anh em xa cách đã hai mươi năm mà còn được gặp nhau như thế này thì còn biết nói gì hơn.”

Hướng đứng bật dậy, hai tay đan chéo vào nhau thưa gửi thật cung kính:

“Báo cáo anh chị, chúng em chỉ mơ có ngày được vào Nam. Vào đây được gặp anh chị với cơ ngơi hoành tráng sang trọng như thế này thì chúng em mừng quá. Thật phúc đức các cụ nhà mình để lại.”

Bà Thịnh rót chai Coca Cola vào hai cái ly sáng bóng mời khách:

“Mời chú thím uống nước.”

Vợ chồng Hướng cũng đã nhìn thấy chai Coca Cola trên phố xá Sài Gòn nhưng vẫn chưa biết mùi vị chua ngọt ra sao. Vợ Hướng uống một hớp to, ra chiều thích thú:

“Gớm, của Mỹ có khác, mát mà lại thơm quá. Ở đây cái gì cũng đẹp cũng thơm cả”

Bà Thịnh bật cười nhìn người phụ nữ như đang lạc lõng ở một thế giới khác. Ông Thịnh kéo Hướng sang ngồi bên cạnh hỏi han bà con ruột thịt và những người trong làng. Hướng kê khai rành mạch người sống người chết, từng chi tộc, mỗi gia đình. Ông Thịnh chăm chú nghe, thỉnh thoảng hỏi về những người mà ông còn nhớ được. Nghe Hướng trả lời, nước mắt ông dàn dụa. Ông xót xa nói như đứt hơi “khốn nạn quá”, “tội nghiệp quá”. Giọng Hướng rầm rì như sợ tai vách mạch rừng, những người chết vì già yếu bệnh tật thì không nói làm gì nhưng cũng đã có người chết vì đói.

Vợ Hướng chỉ trỏ những đồ đạc bầy biện trong phòng khách, hỏi nhiều câu làm bà Thịnh phải lựa lời mà nói cho hợp tình hợp cảnh, đôi khi cũng không nhịn được cười. Ánh mắt vợ Hướng như lạc lõng trước những vật dụng thường ngày của người dân miền Nam. Cái đồng hồ chạy pin có con chim bay đi lượn lại “nhìn thích quá”. Cái dàn máy âm thanh “cực hiện đại, cả tỉnh nhà mình chắc đã có ai nhìn thấy”. Vợ Hướng xúm xít với nhiều câu hỏi. Bà Thịnh mở máy, một bản “nhạc vàng” ca tụng vẻ đẹp của các cô gái đất Thần Kinh và cảnh mộng mơ của xứ Huế, “Một chiều lang thang bên dòng Hương giang, tôi gặp một tà áo tím…”. Người phụ nữ cán bộ nông nghiệp cả đời chỉ đối mặt với “phân xanh phân bắc” thực sự rung động đã không kìm hãm được tư tưởng:

“Bài hát của Ngụy hay thế cơ mà. Bài hát của ta bên ấy thì chỉ toàn là hò với hét.”

Nói xong, vợ Hướng biết lỡ lời nhìn bà Thịnh thẹn thùng. Hướng như ngồi phải lửa, vội chữa cháy cho vợ:

“Thưa chị, ngày còn chiến tranh chúng em vẫn lén lút nghe nhạc vàng đấy. Bài nào cũng tình tứ lãng mạn quá.”

Ông Thịnh nhìn vẻ mặt thèm thuồng của vợ Hướng, nói như vừa đủ nghe:

“Có một cái máy nhỏ bằng hai bàn tay để trên nhà của các cháu. Để rồi tôi sẽ biếu chú thím.”

Vợ Hướng có vẻ kinh ngạc chỉ lên trần nhà:

“Thế mấy cái tầng trên này cũng là nhà của hai bác cả đấy ạ.”

Bà Thịnh mau mắn nói:

“Nhà này có ba tầng. Chúng tôi xây cũng hơn chục năm nay rồi.”

Vợ Hướng như không tin ở tai mình nhưng cũng biết nói khéo:

“Cơ ngơi của hai bác còn to hơn cả cái dinh ngoài đấy.”

Nói xong, vợ Hướng kính cẩn hai tay bưng một gói to bằng cái bánh chưng ngày Tết được buộc lạt kỹ lưỡng ngoài cái vỏ lá chuối khô, nói rất nhỏ nhẹ:

“Chúng em có cân gạo nếp biếu hai bác. Quà bánh nhà quê. Xin hai bác nhận cho.”

Bà Thịnh nhìn cân gạo nếp trên bàn mà thương cảm cho cảnh nghèo của vợ chồng Hướng. Chồng là công an xã, vợ là cán bộ nông nghiệp mà nghèo túng như vậy thì dân quê còn khổ sở đến thế nào. Bà quay sang nói với chồng rằng cơm nước đãi đằng khách đã sẵn sàng. Ông Thịnh nói trong nước mắt:

“Mời chú thím qua phòng ăn. Cũng đến bữa rồi.”

Bà Thịnh cầm tay vợ Hướng kéo xuống nhà dưới. Nhìn nhà bếp, từ cái nồi cái chảo cho đến những chai lọ xếp đặt đâu ra đó thật ngăn nắp và sạch sẽ, vợ Hướng như hoa mắt chẳng còn biết hỏi han thế nào cho ra đầu đuôi câu chuyện. Bà Thịnh cũng biết người miền Bắc đói rách nghèo khổ nhưng lại chưa bao giờ có được những hình ảnh mà qua lời kể của Hướng thì cũng đã có những người họ hàng bên ông Thịnh đã chết vì đói. Vợ Hướng đứng nhìn bà Thịnh sắp xếp những món ăn vào bát đĩa, muốn giúp một tay mà cũng chẳng biết phải làm gì. Nhà bếp mà chỗ nào cũng sạch sẽ trắng bóng như lau như ly chứ chẳng thấy cái kiềng ba chân với nắm rơm nắm rạ chỗ nào.

Món ăn thức uống đã được bà Thịnh bầy biện trên bàn. Ông Thịnh đi vội lên trên lầu lấy chai rượu Johny Walker chẳng nhớ ai cho để dưới gầm bàn viết đã nhiều năm rồi. Ông nhìn Hướng có vẻ ân cần:

“Chú Hướng uống chút rượu cho vui.”

Hướng thấy chai “rượu ngoại” mắt sáng lên, vui ra mặt. Anh công an xã cũng đã nhiều lần được mời mọc tiệc tùng đình đám nhưng cũng chỉ đến rượu trắng ngâm mấy cái rễ cây là cao nhất. Nghe nói “rượu ngoại” thơm ngon lắm, hôm nay mới được đụng môi thì còn phải nói.

Bà Thịnh bắt đầu giới thiệu các món ăn của người Sài Gòn. Món gà xé phay với những đọt rau răm xanh mơn mởn. Con cá lóc nướng trui vàng rộm xối mỡ hành thơm phức. Ông Thịnh mời mọi người ăn. Cũng bát cũng đũa mà sao vợ chồng Hướng có vẻ ngập ngừng. Ông Thịnh mở chai rượu rót cho Hướng một ly. Ông cũng rót cho mình một chút để Hướng có bạn rượu. Ông gắp cho Hướng đầy bát thì bà Thịnh cũng vun đầy cho vợ Hướng. Nhìn vẻ thèm khát của vợ chồng Hướng, ông bà Thịnh quá thương cảm nhưng cũng thấy vui vui. Hướng nhắp một ngụm rượu, hai tay cầm cái ly trịnh trọng:

“Đúng là rượu ngoại, thơm ngon quá sức.”

Ông Thịnh xởi lởi:

“Chú uống đi. Ở lại chơi với chúng tôi mấy ngày rồi đi đâu hãy đi.”

Vợ chồng Hướng như mở cờ trong bụng. Ông bà Thịnh không cho ở lại thì cũng chẳng biết đi đâu. Vài người làng gặp ngày hôm qua cũng chẳng ai mặn mà gì. Ông Thịnh là chỗ máu mủ nên cũng hơn. Vợ Hướng gắp một miếng cá to bỏ vào bát cho chồng cười nói:

“Bộ đội ta không giải phóng được Sài Gòn thì đến bao giờ chúng em mới được gặp các bác.”

Bà Thịnh nhìn vợ Hướng như muốn đuổi ra khỏi nhà. Giải phóng cái gì? Người ta đang sống vui sống khỏe mà nay đặt mìn, mai pháo kích, từ ngoài Bắc mang súng đạn vào cướp của giết người mà giải phóng cái nỗi gì. Vợ Hướng cũng không biết mình lỡ lời. Người phụ nữ quê mùa làm cán bộ nông nghiệp suốt ngày cãi nhau vì bát lúa nắm phân được học tập phải hiến ngay cả thân xác mình cho Bác cho Đảng cũng không nghĩ và nhìn ra ngoài được những giáo điều được tôi luyện. Đảng cho sống thì sống. Đảng bảo chết thì cũng “hạ quyết tâm” tuân lệnh.

Trái lại, Hướng tuy chỉ là một anh công an xã cấp dưới nhưng lại giỏi lý luận. Bất cứ chuyện gì lớn nhỏ, phải trái Hướng luôn phân giải nguyên do và kết cục của sự việc. Vừa vào đến Sài Gòn, nhìn nhà cửa tầng cao tầng thấp xe cộ chạy đầy đường, dân chúng người nào cũng quần áo bảnh bao là Hướng đã biết ngay cả miền Bắc đã bị cái bộ máy tuyên truyền khắc nghiệt của chế độ cộng sản lừa bịp. Nghe vợ nói đến hai chữ “giải phóng” mà anh chồng muốn lộn ruột. Hướng tự tay rót rượu vào cái ly pha lê sáng bóng, nhấp một ngụm to rồi đủng đỉnh nói:

“Chẳng biết ai giải phóng ai đây. Mình chui ra chui vào cái nhà gianh vách đất, ăn uống thì quanh năm chỉ có dưa khú với cà thâm, quần áo thì vá chằng vá chịt. Nhìn cơ ngơi của các bác, thức ăn thức uống ê hề như thế này. Cả miền Bắc bị lừa bịp bao nhiêu năm rồi.”

Hướng bắt đầu kể lể những oan khiên của người dân miền Bắc. Nghèo túng, bệnh họan mà từ đứa trẻ con cho đến những cụ già ai ai cũng phải vác trên vai mình đủ loại bổn phận và nghĩa vụ. Có vài cân gạo nếp giấm dúi ở xó bếp cũng phải lôi ra ủng hộ bộ đội đi B. Không ủng hộ thì bị hành hạ đủ điều cơ khổ. Mười người thì đến chín người bữa no bữa đói. Đã có biết bao người chết vì đói nhưng nào có ai dám mở miệng kêu than. Hướng say sưa kể chuyện với giọng điệu tức tối đến căm phẫn. Mồm ngồm ngoàm thức ăn, ly rượu mới vơi quá nửa đã tự tay rót đầy nhưng vẫn say sưa nói như để trút đi những uất hận bị đè nén trong lòng từ nhiều năm qua.

“Bác Phán nhà mình tháo cả cửa nhà làm hòm chôn cất những người chết đói ngoài đường hồi năm Ất Dậu thế mà cũng bị đội Cải Cách Ruộng Đất bắt ra ngoài đình làng đấu tố rồi mang đi chẳng biết chết mất xác ở đâu.”

Hướng nói huyên thuyên, không mạch lạc mà cũng chẳng có đầu đề, nhớ đến ai thì nói, chuyện vui chuyện buồn gì cũng nói cho hả hơi rượu. Đột nhiên Hướng lắc đầu xuống giọng nói như tiếc rẻ:

“Ông Tổng Thống Mỹ chẳng biết gì cả.”

Ông Thịnh giật mình, một anh công an xã mà tự nhiên lại có lời bình phẩm ông Tổng Thống Mỹ thì chắc là phải có chuyện để nói.

“Chú Hướng nói sao?”

Hướng vội vã:

“Thưa anh, ý là em nói cái hồi Mỹ bỏ bom ngoài ta đấy ạ. Thay vì bỏ bom thì cứ mang đồ hộp, thuốc lá với lại quần bò áo phông mà đổ xuống thì bất chiến tự nhiên thành. Dân mình đói khát quá. Công an bộ đội cũng bữa có bữa không, quần áo rách rưới tả tơi. Người nào cũng như con ma đói mà vớ được hộp thịt bò, điếu thuốc thơm của Mỹ thì chỉ quay ra giành giật bắn giết nhau thôi. Quân ta mà đánh quân mình thì hai bác nghĩ xem còn có binh pháp nào hơn.”

Ông Thịnh cười tủm tỉm:

“Sao hồi đó chú không viết cho ông Tổng Thống Mỹ cái thư. Hiến cho ông ta cái kế ấy thì còn hơn cả Khổng Minh bên Tầu nữa đấy.”

Hướng nhắp vội ngụm rượu nói to:

“Thưa anh, em không biết nhà ông ấy ở chỗ nào đấy chứ. Em mà biết nhà cửa ông ấy thì đi mấy ngày đường em cũng đi.”

Ông Thịnh cười ngặt nghẽo về cái ý tưởng ngộ nghĩnh mà nghe ra lại rất có lý. Đám bộ đội thèm khát đến nỗi giết nhau chỉ vì một bi thuốc lào. Nhìn lên trời những cây thuốc lá Philip sợi vàng lơ lửng trên không thì chắc sự nghiệp giải phóng hay di chúc của ông Hồ cũng bay theo mây khói. Bỏ súng, rã ngũ đạp lên nhau, chém giết nhau mà vồ vập hộp thịt bao thuốc. Dân đánh với quân, bộ đội đánh với công an. Thế là hết. Có vậy mà ông Tổng Thống Mỹ nghĩ không ra!.

Chai rượu vẫn còn quá nửa, Hướng với tay để ngay trước mặt như sợ ai giành giật mất. Ông Thịnh nhìn, vẻ thương hại:

“ Chú Hướng cũng uống rượu được đấy chứ. Nhưng mà vậy đủ rồi. Ngày mai ta lại tiếp tục.”

Hướng đã hơi ngà ngà say nhưng vẫn nghe rõ tiếng nói của ông anh họ là cái phao duy nhất cho vợ chồng Hướng bám víu nơi đất lạ. Đĩa gà xé phay chỉ còn lại một gắp rau. Con cá lóc nướng trui trơ bộ xương trên cái đĩa viền vàng choé. Hướng lại khề khà về cái chiến lược “thịt hộp thuốc lá thơm” nghe ra như chuyện đùa mà nếu những hộp thịt bò thịt gà, những bao thuốc lá Philip của Mỹ cứ ùn ùn túa ra như mưa từ những cái máy bay B52 thay vì những quả bom ngàn cân thì cuộc chiến đã kết thúc không có máu đổ thịt rơi mà lại đỡ tốn phí biết bao. Bộ đội hay công an, anh chị nào cũng đói lên đói xuống. Mang cái chủ nghĩa Mác Lê ra mà gặm vừa đau răng mà bụng lại vẫn đói cồn cào. Dân chúng thì đa số phải ăn độn khoai sắn, nhiều người phải ăn củ chuối cầm hơi. Đám thương binh từ chiến trường miền Nam trở về uốn lưỡi kể lại cái vị ngon ngọt của hộp thịt hộp bánh và mùi thơm huyền hoặc của điếu thuốc lá Mỹ càng làm cho những con ma đói từ quân đến dân thèm thuồng và có một giấc mơ. Đến ngày nào mới được cầm trong tay điếu thuốc lá sợi vàng như ông Hồ vẫn hút mỗi ngày?!

Ăn xong tô hủ tíu, húp cạn chút nước lèo ngon ngọt còn đọng lại trong đáy bát, vợ chồng Hướng lại còn được bà Thịnh mời ăn bát chè đậu đen. Hướng thích chí hỏi bà Thịnh:

“Thưa chị, nhà ta ngày nào cũng ăn uống như thế này sao”

Bà Thịnh nhỏ nhẹ:

“Hôm nay có chú thím thì cũng bầy biện hơn ngày thường nhưng ở đây thịt cá khi nào cũng ê hề.”

Hướng nắm tay vung lên cao:

“Thế mà cái loa phóng thanh ở làng cứ ông ổng suốt ngày đêm là dân miền Nam chết đói như rạ. Cả miền Bắc bị lừa bịp. Nói thật với anh chị chứ mà quân miền Nam ra giải phóng miền Bắc thì dân tình ngoài ấy chắc đỡ khổ hơn.”

Vợ Hướng mạnh dạn chen vào câu chuyện:

“Người đói khát rách rưới lại đi giải phóng người ấm no dư dật như thế này. Ngoài ấy ai cũng chộn rộn dành dụm mấy cái bát mẻ, vài cái giẻ rách mang vào Nam tiếp tế cho bà con họ hàng. Những cái thứ đấy mang vào đây không có chỗ mà vất đi. Rõ nỡm, tai quái ngược ngạo quá sức.”

Trời cũng đã sẩm tối, ông Thịnh dẫn vợ chồng Hướng lên tầng ba nơi phòng ngủ của cô con gái cả. Vợ chồng Hướng loá mắt với đồ đạc và cách bầy biện phòng ngủ của cô gái đang độ tuổi xuân thì. Những bình hoa lụa đủ mầu khoe sắc trong hương thơm của một loại nước hoa đắt tiền vẫn còn phảng phất đâu đây. Ông Thịnh cầm tay Hướng chỉ vào phòng tắm:

“Tắm rửa tất cả ở đây.”

Hướng nhìn chầm chầm vào cái bàn cầu trắng tinh chứa nước trong vắt ra vẻ xuýt xoa:

“Đi nắng về mà sẵn cái chậu nước rửa mặt như thế này thì tha hồ mát.”

Ông Thịnh cắn môi không dám cười thành tiếng:

“Ấy chết, cái đó là chỗ để ngồi lên thôi.”

Hướng ngạc nhiên cao giọng:

“Thưa anh, ngồi lên để làm gì ạ”

Ông Thịnh nói khẽ như thì thầm bên tai Hướng:

“Ngồi lên mà đi đồng như ở ngoài mình đấy.”

Nói rồi ông giảng giải “cứ việc đi vào đây, dùng cái cuộn giấy trắng này cho sạch sẽ rồi kéo cái nút này xuống là tất cả sẽ trôi đi”. Ông vừa nói vừa làm những động tác cần thiết. Vợ Hướng há hốc mồm, nói không ra tiếng:

“Giời ạ, thế mà em lại cứ ngỡ là cái chậu rửa mặt đấy.”

Ông Thịnh không thể cười được nữa. Ông cắn môi nhớ lại ngày xưa dân làng mình cũng chỉ có tầu lá chuối khô chứ nào ai mơ tưởng đến cuộn giấy trắng. Ông thương hại cho những người họ hàng làng nước lúc nào cũng đói rách mà lại còn bị chủ nghĩa cộng sản kìm kẹp đủ điều. Những con lật đật da bọc xương cả đời chỉ mơ đến bát cơm không độn khoai sắn đang khóc than cho thân phận nhục nhằn đau thương trước cảnh phồn vinh của thành phố vừa bị cưỡng chiếm. Ông Thịnh dặn dò chỉ dẫn cho vợ chồng Hướng chăn màn rồi ngồi nán lại hỏi Hướng mấy câu về một người trong họ nghe đâu làm to lắm ở Hà Nội. Vợ chồng Hướng cũng mù tịt chẳng biết đâu mà trả lời vì những người chóp bu trong đảng ông bà nào cũng dăm bẩy cái tên nên ai biết đâu mà mò.

Ông Thịnh khẽ đóng cửa đi xuống dưới nhà sau khi chỉ cho Hướng cách tắt bóng đèn trên trần nhà. Vợ chồng Hướng thẫn thờ ngồi trên chiếc giường nệm nhìn quanh quẩn những đồ đạc quần áo của cô con gái đang thời chưng diện. Mấy lọ nước hoa và những hộp son phấn trên chiếc bàn nhỏ cạnh giường ngủ là những gì quá xa lạ đối với vợ Hướng nhưng cái “đài” có hát cả băng to hơn hai bàn tay là nỗi thèm khát mong chờ của Hướng từ nhiều năm rồi. Hướng nuốt nước bọt nói thầm vào tai vợ:

“Lúc chiều bác Thịnh nói cho mình cái đài, chắc là cái này đây.”

Vợ Hướng nhìn cái “đài” nói như vừa ra ngõ vớ được vàng:

“Mang cái này về thì cả làng đến mà ngó. Gớm, người trong này sao họ lắm của thế.”

Hướng nhìn quanh quẩn trong phòng ngủ xem có gì “văn minh và hiện đại” hơn cái “đài” không phải là muốn khám phá những mới lạ nhưng để sắp đặt một toan tính ngay lúc ông Thịnh khép cửa đi xuống nhà dưới. Vợ Hướng mở tủ nhìn mấy chiếc áo dài cười nhẹ:

“ Toàn những lụa là sang trọng, các chị lãnh đạo bên ta có mơ cũng không thấy.”

Nói xong, vợ Hướng lấy chiếc áo dài ướm thử vào mình như tắm gội trong hạnh phúc. Chiếc áo cũng hơi dài nhưng cắt ngắn đi khâu lại mấy mũi là vừa thôi. Vợ Hướng tuy hơi thiếu thước tấc nhưng được cái có làn da đẹp, mặc dù gần như ngày nào cũng phải phơi nắng đội mưa ngoài ruộng. Nhìn chiếc áo dài hoa lá sặc sỡ buông lơi bên người vợ quê mùa, Hướng cắn răng nhớ lại hình ảnh chỉ mới mâý ngày trước đây người đàn bà này còn gang mồm lên chửi “bọn đế quốc Mỹ” đã bòn rút đến tận xương tủy của người dân miền Nam để đồng bào ta ở miền Nam phải rách rưới đói khát chết đầy đường đầy chợ. Hướng nuốt nước bọt thèm bi thuốc lào nói chậm rãi như đang phà nạm khói ra khỏi họng:

“Xem có cái nào thích thì nhét vào bị nhanh đi. Lấy vài cái thôi, không khéo các bác ấy biết đấy.”

Vợ Hướng cầm lọ nước hoa nhỏ bằng ngón tay cái ngửi hít hà. Hướng như ngồi phải lửa:

“Ngu thế, các bác ấy ngửi thấy mùi nước hoa thì có mà mặt mo.”

Vợ Hướng nghe chồng, thấy có lý nên để lại chỗ cũ. Hướng nhỏ nhẹ như an ủi vợ:

“Thích thì sáng mai xin bác gái.”

Sau gần hai giờ đồng hồ lục lọi từ cái gương cái lược trên bàn đến những đôi giầy xếp hàng dưới gầm giường, vợ chồng Hướng thầm thì ra chiều tương đắc, vui ra mặt.

Hướng tắt đèn giục vợ đi ngủ. Vợ Hướng vừa ngả lưng trên tấm nện trải khăn giường trắng tinh đã thảng thốt kêu:

“Ối giời ơi, êm ái mà lại thơm lừng. Long sàng của vua cũng đến như thế này thôi chứ chẳng hơn.”

Hai vợ chồng để nguyên quần áo bụi bặm nằm dài trên giường. Hướng khẽ đập vào lưng vợ, thở dài. Chỉ mới vừa bước một chân vào đời sống của người dân miền Nam mà đã như thế này rồi. Nhiều lần một mình ở trụ sở công an xã, Hướng đã mở đài “ngụy” nghe những chương trình ca nhạc, văn học một cách say mê và nhen nhúm lên một khung cảnh tự do ấm no của người dân miền Nam. Con người ta đói rách ốm đau mà lại bị kìm kẹp trong cái nanh vuốt của một thể chế độc tài đảng trị thì không thể nào có những suy tư khai phá về tình yêu người, yêu đời như vậy. Thân mình đang nằm dưới cái đe ngàn cân của chủ nghĩa cộng sản mà không biết cựa quậy để đứng lên.

Buổi sáng nghe tiếng gõ cửa của ông Thịnh thì Hướng vẫn còn đang vật lộn với cơn thèm thuốc lào. Sau cả một lúc lâu tập tành cách sử dụng phòng tắm với những vật dụng hoàn toàn xa lạ, Hướng có cảm tưởng như đã đổi đời nhưng cái mùi huyền hoặc của khói thuốc lào vẫn vất vưởng đâu đây. Ông Thịnh ân cần hỏi han:

“Sao , lạ giường lạ chiếu có ngủ được không?”

Hướng chưa kịp trả lời thì vợ đã nhanh nhẩu:

“Chúng em cứ như lên tiên đấy bác ạ.”

Hướng lườm vợ vì câu nói hớ hênh, vội làm mặt nghiêm:

“Thưa anh, em vẫn không thể nào lý giải được tại sao người miền Nam lại không ra giải phóng chúng em ngoài ấy.”

Ông Thịnh không có câu trả lời. Chuyện “chính chị chính em” là những cái gì dã man tàn bạo và rất nhiều khi ngu đần, mình chỉ là một người mù qườ quạng trong đêm tối. Ông nhỏ nhẹ mời vợ chồng Hướng xuống nhà dưới ăn sáng. Vợ Hướng vai đeo cái bị cói, tay phải nắm chặt hai cái quai bị như sợ trộm mất của. Hướng khoác chiếc ba lô có vẻ như còn mới đựng vài bộ quần áo lính cũ mèm và mấy vật dụng lỉnh kỉnh, tưởng rằng là những thứ hiếm qúy nhưng ở đây vứt ra đường không ai nhặt. Ông Thịnh nhìn hai vợ chồng Hướng như sắp sửa lên đường tiếp tục chuyến đi thăm họ hàng nội ngoại trong Nam. Ông đi vào góc phòng lấy cái “đài có hát băng” đưa cho Hướng bảo mang về mà nghe cho đỡ buồn. Hướng run run cầm trong tay chẳng biết nói lời cám ơn mà chỉ sợ giấc mơ bay đi mất. Vợ Hướng vui ra mặt, chỉ mấy ngày nữa là cả làng sẽ kéo đến đầy nhà nghe nhạc vàng của miền Nam. Người nào nghe nhạc vàng thì còn sợ chứ Hướng là công an xã thì ai đụng đến. Vợ Hướng muốn xin mấy cái quần áo nhưng lại sợ nhỡ mà mấy cái áo “tự biên tự diễn” trong bị cói lòi ra thì còn mặt mũi nào. Tại sao cái loa phóng thanh của Nhà Nước ngày đêm ra rả bên tai là người dân miền Nam bị Mỹ Ngụy bóc lột đến xương tủy mà nay đất nước thống nhất chẳng thấy có đến một người chạy ra ngoài miền Bắc đề tìm cơm no áo ấm. Nhưng xó xỉnh nào của Sài Gòn cũng có người miền Bắc lê la bòn nhặt từ cái áo rách cho đến cái nồi méo mó.

Bữa ăn sáng không có những tiếng nói lanh chanh của vợ Hướng và ông chồng thì lại trầm tư ra chiều suy nghĩ, vẻ mặt coi bộ nghiêm nghị. Chân phải Hướng đè lên chiếc ba lô để dưới gầm bàn ăn, tay cầm đũa ngập ngừng gắp những lát lạp xưởng đỏ au. Hướng cầm ly cà phê sữa trong lòng hai bàn tay nói như vừa đủ nghe:

“Thưa anh chị, chúng em từ làng mình vào đây kính thăm anh chị mà lại được anh chị thương thế này thì thật quả là một đại phúc. Chúng em mừng rỡ nhìn thấy anh chị sung túc giầu có nhưng vẫn ân cần với họ hàng nghèo khó. Thật chúng em chẳng còn biết nói gì hơn.”

Hướng chưa dứt lời thì bà Thịnh đã cầm chiếc nhẫn vàng dúi vào tay vợ Hướng:

“Thím cầm lấy chút đỉnh về mua quà cho các cháu.”

Vợ Hướng gần như tắt thở. Cái nhẫn vàng đeo ở ngón tay áp út là nỗi mộng mơ của người cán bộ nông nghiệp đã nhiều năm ăn độn khoai sắn nhưng lại biết cân đo đến từng hột thóc ủng hộ chiến sĩ đi B. Hướng nhìn chiếc nhẫn vàng, chân phải vẫn đè chặt trên chiếc ba lô nóí thay vợ:

“Anh chị cho chúng em nhiều quá.”

Bà Thịnh nhanh nhẩu:

“Để tôi đưa thím lên lấy một ít quần áo của con Hai. Cháu nó cũng không cần đến nữa.”

Đến bây giờ vợ chồng Hướng mới nhớ đến mấy người con của ông bà Thịnh đã “trót dại đi theo bọn Mỹ Ngụy”. Vợ Hướng đi theo bà Thịnh lên trên lầu. Một lúc sau ôm xuống một mớ quần áo đủ mầu sặc sỡ. Ông Thịnh cũng cho Hướng đôi giầy và mấy bộ quần áo của anh con trai lớn. Vợ Hướng mân mê chiếc nhẫn vàng nói cười rộn ràng.

Sau một lúc lâu chuyện trò, Hướng đứng lên tay nắm chặt quai chiếc ba lô nói ra vẻ nghẹn ngào:

“Thưa anh chị, chúng em từ làng mình lặn lội vào đây thăm anh chị. Nhờ hồng phúc tổ tiên, anh chị mạnh khoẻ mà lại còn giầu sang như thế này thì chúng em rất lấy làm mừng và hãnh diện. Anh chị lại còn cho chúng em và các cháu đủ thứ. Nhờ ơn anh chị mà chúng em thật sự đổi đời. Chúng em xin phép anh chị về lo cho các cháu vài việc rồi lần sau chúng em vào sẽ quấy quả anh chị.”

Bà Thịnh muốn giữ khách chỉ vì chút máu mủ bên chồng nhưng sao mà chuyện trò với mấy người bên kia nhiều khi cũng thấy tắc họng. Bà nói ra vẻ ân cần:

“Chắc chú thím cũng còn nhiều nơi phải đi thăm nom, thôi vậy lần sau thì ở chơi với chúng tôi lâu hơn.”

Vợ Hướng nhanh nhẩu:

“Thưa chị, bên họ ngoại các cháu có mấy người ở thành phố Biên Hoà cũng là ông bác bà cô cả. Chúng em tranh thủ đến chào hỏi cho phải đạo.”

Ông Thịnh kéo Hướng ra ngoài phòng khách thầm thì dặn dò việc hương khói mồ mả tổ tiên. Ông móc túi đưa cho Hướng cái đồng hồ mầu vàng chói chang như để trả công. Ông nắm tay Hướng giọng sụt sùi:

“ Thôi thì mồ mả tổ tiên ngoài đấy nhờ chú thím chăm nom chứ còn biết trông cậy ai.”

Ông bà Thịnh đưa vợ chồng Hướng ra trước cửa nhà gọi một chiếc xích lô đạp đón xe đi Biên Hoà. Sau khi trả tiền cho người đạp xe, ông nói như khóc:

“Thế nào cũng có ngày tôi ra ngoài ấy thăm bà con họ hàng mình, mồ mả tổ tiên còn cả đấy.”

Chiếc xe từ từ lăn bánh một cách nặng nhọc. Ông bà Thịnh đứng trông theo cho đến lúc quá tầm mắt. Ngồi trên xe, Hướng nắm chặt bàn tay vợ đeo chiếc nhẫn vàng, mắt nhìn lên những toà nhà cao tầng hai bên phố. Hướng nghĩ đến mấy bộ quần áo chắc là “hàng ngoại”, đôi giầy đen bóng và nhất là chiếc đồng hồ mầu vàng chói chang đang nằm trong chiếc ba lô. Vợ chồng Hướng đã thực sự đổi đời. Bất chợt anh công an xã lẩm bẩm:

“Giá mà người trong này ra giải phóng ngoài ấy mới đúng. Thôi thì… tôi giải phóng tôi

Trương Phú Thứ

Chất Béo Trans Fat Rất Nguy Hiểm Cho Sức Khỏe - Nguyễn Thượng chánh


Chất béo bão hòa và cholesterol là hai loại chất béo xấu thường được nhiều người nhắc nhở đến nhất. Gần đây có một loại chất béo khác không kém phần nguy hiểm cũng được các nhà khoa học lưu ý như là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh lý nghẽn mạch, đó là chất béo Trans (Trans fat).

* * *
Chất béo Trans từ đâu mà có?

Phần lớn 90% chất béo Trans đều do kỹ nghệ bánh kẹo và kỹ nghệ sản xuất margarine tạo ra thông qua việc sử dụng phương pháp hydro hóa (hydrogénation) các loại dầu thực vật và chuyển chúng từ thể lỏng sang thể bán lỏng hoặc thể rắn chắc hơn.

Quá trình hydro hóa nầy làm nẩy sinh ra một loại chất béo xấu, đó là acid béo Trans.
Mục đích chính của phương pháp hydro hóa dầu thực vật là để giúp cho sản phẩm được tươi ráo hơn, không bời rời, có thời gian tồn trữ lâu hơn, sản phẩm có vẻ ngon nên dễ hấp dẫn người mua hơn.
Khi chúng ta nhìn thấy trên nhãn hiệu có đề câu Shortening, made from hydrogenated, hoặc partially hydrogenated vegetable oil là chắc chắn có chất béo Trans trong sản phẩm rồi.

Một số ít chất béo Trans (dưới 10%) được vi khuẩn tổng hợp trong bao tử của các loài thú nhai lại như trâu, bò, dê và cừu.
Thịt và sữa của các loài vật nầy vì vậy cũng có chứa một cách tự nhiên một tỷ lệ nào đó chất acid béo Trans.
Chất béo Trans chiếm lối 3.5% trên tổng số chất béo của sữa.

Lối 2 % acid béo Trans cũng có thể có được qua quá trình làm tinh khiết hóa một vài loại dầu thực vật, chẳng hạn như dầu Canola (colza).
Mặc dù có chứa 1 số acid béo Trans như thế, nhưng chúng ta không thể không sử dụng dầu nầy được vì chúng cũng đồng thời là nguồn cung cấp các acid béo thiết yếu oméga 3 và oméga 6.

Thức ăn nào có chứa nhiều Trans fat?

Có thể thấy Trans fat trong hầu hết các loại bánh ngọt (patisserie), chocolat, kẹo, bánh biscuit, cookies, cracker, bánh donuts, muffin, bánh trung thu, bánh croissant, mì gói, thức ăn chiên bán trong tiệm như khoai Tây chiên (French fries) và gà chiên, và trong các loại margarine cứng.
Tất cả đều có chứa rất nhiều Trans fat.
Các thỏi bánh ngọt tạo sinh lực hay energy bar cũng có chứa khá nhiều (2% – 4%) Trans fat.

Nếu dùng các loại dầu thực vật đã được hydro hóa (Hydrogenated vegetable oil) hay shortening để làm bánh thì cũng cầm chắc có rất nhiều Trans fat trong đó!

Chất béo Trans không tốt cho sức khỏe
Trans fat làm tăng cholesterol xấu LDL và đồng thời nó cũng làm hạ cholesterol tốt HDL xuống. Nói tóm lại chúng ta nên tránh dùng những thực phẩm nào có chứa một tỷ lệ Trans fat quá cao.

Kỹ nghệ thực phẩm có nên hoàn toàn loại bỏ Trans fat hay không?

Theo các nhà chuyên môn Hoa Kỳ thì không nên vì theo họ nếu làm như vậy thì người tiêu thụ sẽ thiếu đi một số dưỡng chất vô cùng cần thiết hiện diện đồng thời với Trans fat trong một vài loại thực phẩm như sữa, thức ăn làm từ sữa và trong thịt bò và thịt cừu.

Mấy năm trước TP New York đã dưa ra đề nghị trong vòng 18 tháng các nhà hàng phải giảm lượng Trans fat xuống dưới 0.5g cho mỗi phần chuẩn (per serving) của sản phẩm bán ra.
Năm 2010, Cali cũng cấm trans fat trong nhà hàng.

Phía Canada thì có vẻ cứng rắn hơn đối với với vấn đề Trans fat. Bộ Y Tế Canada không ngừng làm áp lực và đòi hỏi giới kỹ nghệ thực phẩm phải bằng mọi cách đem tỷ lệ Trans fat trong sản phẩm xuống thật thấp hoặc là không có Trans fat (zero Trans fat) thì càng tốt.

Canada là quốc gia đi tiên phong trên thế giới bắt buộc các nhà sản xuất thực phẩm kể từ ngày 12 Dec 2005 phải liệt kê tỷ lệ Trans fat trên nhãn hiệu của món hàng bán ra. Canada cũng là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới có nền y tế hoàn toàn miễn phí cho tất cả công dân của mình bất luận giàu hay nghèo. Chánh phủ tấn công vào Trans fat với hy vọng có thể làm giảm thiểu các bệnh về tim mạch, nhờ vậy ngân sách về y tế sẽ được nhẹ bớt đi phần nào.

Có cách nào tránh bớt Trans fat được hay không?
- Đọc kỹ nhãn hiệu dinh dưỡng (Nutrition fact) có trên món hàng. Nên chọn sản phẩm nào chứa thật ít chất béo bão hòa (saturated fat) và thật ít Trans fat. Luật Canada cho phép kỷ nghệ được quyền ghi câu Trans 0, Zero Trans, No Trans fat, Trans fat free, nếu sản phẩm chứa ít hơn 0.2 g (tức 2%) Trans cho mỗi 1 phần chuẩn (per serving, par portion). Riêng Hoa kỳ thì cơ quan FDA ấn định vấn đề nầy ở mức 0.5 g. Tóm lại No Trans fat không có nghĩa là hoàn toàn không có chất béo Trans đâu. Tuy sản phẩm có ghi Trans 0g, nhưng nếu chúng ta ăn càng nhiều thì số Trans fat ăn vào cũng càng tăng lên 1 cách đáng kể. Đó là mới kể đến khía cạnh Trans fat mà thôi, còn chất béo bão hòa, và còn cholesterol nữa. Tổng số chất béo hay Total fat (lipid) ghi trên nhãn hiệu phải dưới 5% (DV, Daily value, Valeur quotidienne) mới tốt. Số % Daily value dược ghi phía mặt của bản Nutrition fact cho biết số % của 1 phần chuẩn trong tổng số 100% nhu cầu của chất dinh dưỡng đó trong 1 ngày.

- Nên dùng các loại dầu thực vật có chứa nhiều chất béo không bão hoà đa thể polyunsaturated (soybean oil, corn oil, sunflower oil) hoặc loại dầu không bão hòa đơn thể monounsaturated (olive oil, Colza hay Canola oil).
- Tránh dùng các loại dầu thực vật hydro hóa (hydrogenated vegetable oil), Shortening.
- Tránh dầu dừa, nước cốt dừa, dầu cọ (palm oil), mỡ heo (saindoux) vì chúng chứa quá nhiều chất béo bão hòa.
- Hạn chế việc tiêu thụ các thực phẩm có quá chứa nhiều cholesterol như đồ lòng, phá lấu, tim, gan, óc, thận, lòng đỏ hột gà …
- Nên ăn thịt nạc đã lốc da, bỏ mỡ
- Nên chọn sữa 1% thay gì sữa 3.25 % chất béo
- Không ăn margarine loại cứng đóng thành thỏi 454 g. Loại nầy được làm từ dầu thực vật hydro hóa (made from hydrogenated vegetable oil) nên chứa rất nhiều Trans fat.
- Nên sử dụng loại margarine mềm làm từ dầu thực vật không hydro hóa (light, soft margarine made from non hydrogenated vegetable oil).
- Nên ăn cá 2 lần trong tuần: Cá chứa nhiều chất acid béo omega 3 rất tốt.

Kết luận
Canada là một trong những quốc gia có sự tiêu thụ Trans fat ở mức độ rất cao. Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo chúng ta nên giới hạn sự tiêu thụ Trans fat ở mức 3 g / ngày.

Còn theo Cơ quan US National Academy of Sciences Institute of Medicine thì họ đặt giới hạn an toàn của Trans fat là zero Trans. Vấn đề kiểm soát Trans fat rất phức tạp. Kỷ nghệ thực phẩm có thế lực rất mạnh. Đối với họ, việc sử dụng dầu thực vật hydro hóa, shortening là điều tối cần thiết để giúp cho món hàng có được một thời gian trưng bày (shelf life) lâu dài hơn. Ngoài ra, còn biết bao nhiêu là nhà hàng fast food nhan nhản khắp mọi nơi nữa.

Chắc chắn các loại dầu họ sử dụng hằng ngày để chiên (deep fry) khoai Tây, chiên gà hay chiên thịt vv… đều là các loại dầu shortening hydrogenated vegetable oil, chứa rất nhiều Trans fat.

Nhằm mục dích ham lời họ thường ít chịu thay dầu mới mà lại thường hay giữ y một chảo dầu cũ để sử dụng đi sử dụng lại nhiều lần trong ngày và nếu dầu được sử dụng đi sử dụng lại nhiều lần thì nồng độ Trans fat càng tăng thêm lên mãi./.

Nguyễn Thượng Chánh, DVM
Montreal, 2012