Saturday, October 25, 2014

Gửi Em Chút Nắng Mùa Đông - Đỗ Công Luận


Bài Thơ Để Lại



Đây là câu chuyện được viết lại với tính cách ‘’của người phúc ta, mượn hoa kính Phật’’. Nội dung là tưởng niệm, bày tỏ sự thương tiếc đau buồn của một người bạn viết cho  một người bạn thân đã vĩnh viễn ra đi. Qua bài thơ ‘’Cám ơn đời’’của người quá cố để lại và bài truy điệu của người trong cuộc, chúng ta sẽ thấy được nghị lực, ý chí cầu sinh dũng cảm của một người phụ nữ dù mắc phải chứng bệnh nan y, cái chết đang cận kề nhưng lòng vẫn sáng ngời hạnh phúc, vẫn còn hứng thú làm thơ ngợi ca tri ân đời và vui vẻ sống cho tới giây phút cuối cùng.

Từ khi kết duyên với internet, càng ngày tôi càng có thêm nhiều bạn, những người bạn  chưa một lần quen tên hay gặp gỡ, những người bạn không chân dung hòan tòan xa lạ như người ảo  hư vô mà nhờ văn minh khoa học hiện đại, họ đã đến với tôi như  magic cho tôi một niềm vui to tát thú vị bất ngờ. Những người bạn này rất ân cần tốt bụng dễ thương, tuy không có hợp đồng giao kèo văn tự gì cả nhưng ngày nào cũng tự động nghĩ đến nhau, tận tình chia sẻ với nhau những thông tin, tài liệu hữu ích hoặc thơ văn, lời hay ý đẹp sâu sắc quý báu, cứ cho đi mà không cần nhận lại và không bao giờ có chuyện tranh chấp so đo hay lời qua tiếng lại làm sứt mẻ tình bạn… ảo. 

Trong số thân hữu internet, tôi có một cô bạn tên Như Nguyệt rất thích làm thơ, Nguyệt làm thơ dễ như ăn uống thở và thường gởi cho bạn bè tứ xứ bất cần biết ai thích ai không. Riêng tôi, thấy thơ là như gặp tri kỷ, chẳng bỏ qua bài nào, đọc xong còn để vào hồ sơ lưu trử làm kỷ niệm. Hôm nay tôi cũng nhận được một bài thơ như thường lệ nhưng đặc biệt bài thơ này không phải do Nguyệt sáng tác mà là của một cô bạn tâm giao của Nguyệt, Nguyệt gởi bài thơ này với những lời chú thích như sau:

‘’Cô bạn của Nguyệt mất tháng 9/2010. Tuyết là Aerobic instructor và personal trainer. Ăn uống rất healthy cẩn thận, dạy 3-4 lớp exsercise mỗi ngày, thế mà lại từ giã cõi đời quá sớm!!!.
Trước khi mất tháng 9, Tuyết làm bài thơ này, em gửi các anh chị, các bạn đọc nhé. Em đang organize, delete bớt…mails thì thấy bài thơ của Tuyết. Khi Tuyết mất, Nguyệt buồn quá, có làm một bài thơ(rolldown, bên dưới) tựa là ‘’Em đi’’ nói lên sự tiếc thương của Nguyệt đối với Tuyết.
Tí nữa Nguyệt đi đám ma con của người bạn mới có 14 tuổi. Đời sống quả thật vô thường quá!’’

Cám Ơn Đời

Nếu ai nói cuộc đời đầy khổ lụy
Ngước lên trời tôi kiếm vạn vì sao
Thầm cám ơn Thựơng Đế ở trên cao
Dạy cho tôi biết khổ đau là lẽ sống

Qua giông tố hoa đời tôi nở rộ
Nếm thương đau tìm thấy vị ngọt ngào
Ngang qua đời bao hệ lụy lao xao
Hồn vẫn tựa mây cao, làn gió thỏang

Còn ai bảo cuộc đời đầy chán nãn
Giữ hộ tôi chút nắng với ngày mưa
Giữ hộ tôi tôi hơi thở ấm dư thừa
Cho tôi mượn thêm một giây để sống

Ai bảo tôi tháng ngày dài trống rổng
Rộng đôi tay tôi ôm hết thời gian
Mỗi phút giây tôi sợ quá trễ tràng
Không kịp đến ủi an người bất hạnh

Đừng bảo tôi cuộc đời đầy tẻ lạnh
Mà cùng tôi thắp ngọn lửa trong tim
Hãy cùng tôi thắp sáng những im lìm
Tìm hạnh phúc ấm nồng từng hơi thở

Cám ơn đời màu nắng vàng rực rỡ
Cám ơn mưa òa vỡ những niềm vui
Cám ơn trời vào lứa tuổi năm mươi
Tôi còn có mẹ cha vui hôm sớm

Hai con tôi cũng chợt vừa khôn lớn
Chúng ngoan hiền như mực tím ngày xưa
Người bạn đời sớm nắng với chiều mưa
Đã gắn bó bên đời nhau rộn rã

Một tiếng cha tôi khắc vào tâm khảm
Tiếng mẹ hiền tôi ôm ấp vào tim
Tiếng anh em ngọt lịm hết ưu phiền
Tiếng bè bạn ôi một trời thương mến

Hãy cùng tôi thắp lên ngọn nến
Lửa yêu thương tìm đến chẳng gọi mời
Mai mốt rồi dù đời có chơi vơi
Nhớ thắp sáng chân dung ‘’Nàng Hạnh Phúc’’

Ai bảo tôi cuộc đời đầy tù ngục
Thử thả hồn đậu trên nhánh mây cao
Thử nhìn đời như một giấc chiêm bao
Hoa tự tại trổ đầy vườn muôn thuở
                        
Tina Võ (Võ thị Bạch Tuyết)
January 1st, 2010

Và dưới đây là bài thơ của Nguyệt ‘’Em đi’’cho người bạn đã vĩnh viễn ra đi.

Em đi cây cỏ cũng buồn 
Vầng trăng muốn khóc chim sầu kêu ca
Em đi còn lại mình ta 
Nhìn hoa tàn úa nhìn mây hững hờ
Em đi im lặng như tờ 
Chú chó ngơ ngẩn nhớ em nó buồn
Em đi để lại nụ cười 
Tươi như hoa nở trăng mờ nhớ em
Em đi để lại bài thơ
Cảm ơn đời sống mong em an bình
Em đi hàng nến lung linh 
Khói nhang mờ ảo bảo sao không buồn
Em đi yên nghỉ đời đời
Ngủ ngoan em nhé vẽ vời kiếp hoa

Như Nguyệt
September 27/2010

Reply cho Nguyệt, tôi viết:
 ‘’Cuộc đời quả thật vô thường, trẻ hay già, bệnh hay không bệnh, không ai dám chắc mình có sống tới ngày mai hay không. Rất cảm phục ý chí giành quyền sống kiên cường của cô bạn của Nguyệt, một tấm gương phấn đấu dũng cảm khiến người đời phải suy gẫm và noi theo. Cám ơn Nguyệt đã chia sẻ bài thơ tuyệt vời này. Tuyết đã vĩnh viễn ra đi nhưng có lẽ sẽ bất tử trong lòng Nguyệt và nhiều người, trong đó có cả chị. Thú thật khi đọc bài thơ của Tuyết, chị cảm thấy rất impressed và ‘’fall in love’’với Tuyết, như Thúy Kiều ngày xưa đã cám cảnh khóc Đạm Tiên khi thấy ‘’sè sè nấm đất bên đàng, rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh’’. Chắc hẳn rằng Tuyết rất mãn nguyện với những gì đã làm được trước khi xuôi tay nhắm mắt và giờ đây đang mỉm cười thanh thản bên kia cõi vĩnh hằng’’.
Qua hôm sau Nguyệt lại gởi email kể về bệnh tình và cái chết của Tuyết và attach theo một bài viết nhắc lại kỷ niệm của hai người vô cùng xúc động khiến người đọc không khỏi ngậm ngùi rơi lệ.           
‘’Tuyết check pap smear every year.  Kết quả test trước khi phát giác bị  bệnh 5 tháng là normal, thế mà ngay ngày Valentine 2004, T đang dậy lớp Aerobic thì máu chẩy ra ào ào, vào nhà thương mới biết là ung thư thời kỳ chót. Bác sĩ cho biết chỉ còn 3 đến 5 tháng thôi.  T đã chiến đấu với căn bệnh rất dũng cảm nên sống thêm được 7 năm hơn.  Cô chịu khó thức dậy sớm ngồi thiền và chữa tri cho đến phút cuối.  Có thì giờ chị  K đọc nha.  Bài này em viết cũng ngắn thôi.  Enjoy life while you can.  Thân ái, N’’.
‘’Cho Tuyết, người bạn rất đổi thân thương đã không còn nữa trên đời!
Hình như mình cũng có duyên với nhau, phải không Tuyết?  Nhờ  qua Hảo, em Nguyệt mà  một đứa ở San Jose, một đứa ở Fountain Valley, cũng gặp được nhau.  Người ngoài nhìn vào, ít người biết tình bạn của Tuyết với Nguyệt như thế nào?  Thời gian hai đứa biết nhau, sau lần đầu gặp mặt, chỉ gần có 6 năm thôi.  Số lần gặp mặt nhau cũng rất ít ỏi, chỉ có khoảng 6 lần!  Nhưng thỉnh thoảng Nguyệt hay gọi lên cho Tuyết và lâu lâu Tuyết cũng gọi phone cho Nguyệt.  Hai đứa mình tâm sự, nói chuyện với nhau 2, 3 tiếng hoặc hơn là thường.  Nguyệt thấy CD nào có bài giảng hay, quyển sách nào về tu tập, thiền định, thiền minh sát xem được…, Nguyệt đều nghĩ đến Tuyết và gửi lên cho Tuyết.  Có một lần Nguyệt lên San Jose, hai đứa có dịp đi riêng với nhau, Tuyết đã dẫn Nguyệt đi lẩn thẩn vào khu ăn hàng ở San Jose và còn bao Nguyệt ăn chè sâm bảo lượng, Tuyết cũng mua cho Tuyết 1 ly để ăn chung với Nguyệt cho vui.  Nguyệt biết Tuyết thương bạn, vì bình thường ra Tuyết chẳng bao giờ ăn vặt, huống hồ gì là ăn ngọt!  Buổi  trưa hôm đó, chúng ta đã có 1 kỷ niệm thật đẹp, thật vui vẻ với  nhau. Nguyệt đã thấy rất tự nhiên, thoải mái, rất bình yên bên cạnh Tuyết . Nguyệt rất quí  hóa những lần chúng ta gặp mặt nhau, Tuyết biết không? 
Tính Tuyết thật trầm, thật là đầm ấm, khuôn mặt hơi buồn nhưng nụ cười thì rạng rỡ và giọng cười thì ôi thôi thật là rộn rã.  Nguyệt rất thích nghe giọng cười của Tuyết.  Đôi khi Nguyệt nhớ, muốn gọi phone cho Tuyết chỉ để nghe giọng cười thật vui tai, thật dễ thương của Tuyết mà thôi!

Rất  nhiều lần hai đứa nói chuyện với nhau, phone này hết điện, lại  lấy qua phone khác, đến cái phone thứ hai hết điện, nhiều khi không kịp nói chia tay mới chịu thôi.  Không biết chuyện đâu ra mà nhiều đến thế.  Có lẽ 2 đứa ý hợp tâm đầu nên nói mãi không hết chuyện.  Nguyệt không biết Tuyết hay đi ngủ sớm, Nguyệt thì hay thức khuya, đến 9, 10 giờ tối mới thấy rổi rảnh và muốn gọi, cho nên có nhiều lúc nói chuyện với Tuyết đến 2, 3 giờ sáng.  Về sau, nói chuyện với Hảo, Nguỵêt mới biết Tuyết là người rất quy củ, đi ngủ sớm mỗi ngày.  Vậy mà Tuyết đã chìu Nguyệt, rán thức khuya để mà nói chuyện với Nguyệt.  Khi biết ra, Nguyệt thấy cảm động lắm, Tuyết đã chìu bạn mà phá lệ!  Sau đó, vì biết rồi nên Nguyệt đã tránh, không gọi cho Tuyết vào buổi tối khuya như vậy nữa!
Những lúc mình nói chuyện trên phone, Tuyết đã tin tưởng Nguyệt, đã tâm sự, đã kể cho Nguyệt nghe rất nhiều chuyện riêng tư.  Có những chuyện chỉ có hai đứa biết với nhau thôi!  Ngoài những chuyện lỉnh kỉnh của đàn bà, việc đời thường, hai đứa nói chuyện với nhau về thiền học, về những gì mình hấp thụ được từ Phật pháp, bàn luận về những bài pháp thoại, những cuốn sách đã được đọc qua.  Có  lúc Tuyết gặp trở ngại, khúc mắc trong cuộc sống, Nguyệt cũng đã hân hạnh cho Tuyết những lời khuyên, Tuyết bảo là Tuyết sẽ cố gắng, nhưng Tuyết cũng cứng đầu lắm, rồi 2 đứa cười hỉ hả với nhau.  Tìm được một người bạn mà mình nghĩ tương đối hiểu mình không phải dễ đâu!  Người ta bảo:  “Rượu ngon dễ kiếm, bạn tốt khó tìm”.  Hai đứa như đã quen nhau tự kiếp nào!  Thấy rất hợp, rất hiểu nhau.

Có hai lần, phiền não tới, trong cơn muộn phiền quay quắt, Nguyệt đã nghĩ đến Tuyết và đã gọi cho Tuyết như một cứu cánh, như 1 vị thầy sẽ cho đúng toa thuốc mà Nguyệt đang cần.  Tìm đến Phật pháp, tự chữa cho mình cũng được thôi,  nhưng trong cơn si mê, niềm đau nỗi khổ quá to tát, Nguyệt thấy quẫn cùng. Và Tuyết ơi, Tuyết như một cái phao, ôm phao vào là thoát khổ.  Rất bình tĩnh, rất nhẫn nại, bao dung và tử tế, Tuyết đã nghe Nguyệt nói.  Có lúc Tuyết nhẹ nhàng khuyên bảo, có lúc phải gằn giọng, nặng lời!  Có lúc còn khen tặng, nói lời khích lệ.  Lần chót mình nói chuyện, Tuyết đã ôn tồn bảo Nguyệt:  “Mỗi lần Nguyệt thấy khổ, không cần phải so sánh xa xôi, Nguyệt cứ nghĩ đến Tuyết nè, là thấy hết khổ ngay.  Một người bênh hoạn, terminal ill, thân xác rất đang đau đớn, mỗi lần Tuyết bị  mỗ , không tả  nổi cái đau mà  Tuyết phải trải  qua đâu Nguyệt ơi!  Tuyết rất thích sống, ham sống. Tuyết thấy đời đẹp lắm mà Tuyết lại phải sắp ra đi!  Nguyệt cứ nghĩ đến Tuyết đi, chẳng cần tìm đâu xa xôi, Nguyệt sẽ thấy bớt khổ ngay!” Nguyệt đã không cầm được nước mắt khi nghe Tuyết nói câu nói đó. 

Một lần hai đứa nói chuyện với nhau, Tuyết khoe Tuyết đã giúp được nhiều người.  Những người bị bệnh nặng, khó  thoát được lưỡi hái  của tử  thần. Họ đã hoàn toàn tuyệt vọng và tận cùng đau khổ.  Tuyết đã đến an ủi, khuyên nhủ. Tuyết còn đấm bóp cho họ, dạy họ  tập yoga.  Ngay cả ông bác sĩ cũng không hiểu tại sao Tuyết lại khỏe khoắn, còn có nhiều nội lực để giúp đỡ nhiều người như thế!    Nguyệt nghe Tuyết kể, thấy cảm phục Tuyết vô chừng!. Nguyệt hãnh diện được quen, được làm bạn với một người như Tuyết.  Những người được Tuyết dậy Aerobic, Yoga, múa gậy,  họ đều quí mến Tuyết nhiều.  Tuyết đã dậy rất tận tâm, hết lòng chỉ dẫn.  Tình cảm Tuyết ban bố ra thật nhiều, cho đi mà không cần nhận lại.

Khoảng hơn 1 năm trở lại, Nguyệt có một sở thích mới là làm thơ.  Nguyệt hay gửi cho Tuyết đọc.  Tuyết hay viết trả lời, chẳng hạn:  “Nguyệt ơi, Nguyệt ướt át quá đi!” hay “Nguyệt làm thơ hay lắm! Thi sĩ thứ thiệt rồi còn gì nữa?  Tuyết muốn sống cho đến ngày Nguyệt ra mắt quyển thơ đầu tay của Nguyệt!”  hoặc “Bài thơ rất hay và đầy đủ ý nghĩa. Chúc mừng Nguyệt vì Tuyết đã thấy được sự thay đổi thật tốt đang manh nha trong tâm hồn Nguyệt, Tuyết thấy một cái gì đó nhẹ nhàng hơn , an lạc hơn...trong những vần thơ sau này của Nguyệt”. Hoặc:  “Cảm ơn cô bạn quí mến, đã gửi cho Tuyết. những bài thơ tình lãng mạng rất dễ thương” hay  “Nguyệt ơi, đọc thơ của Nguyệt làm, Tuyết thấy mình bỗng trở nên mơ mộng, lãng mạn hơn!” Cảm ơn Tuyết đã khuyến khích Nguyệt, đã khen thơ của Nguyệt.  Dù bận rộn, dù bệnh hoạn, lúc nào Tuyết cũng dành thì giờ cho cô bạn ở xa là Nguyệt . Nguyệt nhớ Tuyết quá Tuyết ơi!

Nguyệt lựa những bài nói về sức khoẻ, những lời hay ý đẹp gửi cho Tuyết.  Tuyết gọi Nguyệt cám ơn, nói là Tuyết rất thích những email Nguyệt gửi.  Cô bạn của Nguyệt đã khoe: “Đọc xong, Tuyết cố gắng thực tập ngay, đã làm được nhiều điều.”  Nguyệt hỏi Tuyết đã làm được điều gì, nói cho Nguyệt nghe được  không?  Tuyết bảo: “Thí dụ như câu mình nên ôm lấy người mình thương và nói là mình thương họ, đừng chờ, kẽo không còn kịp nữa.  Bình thường thật là khó, Nguyệt  biết không? Không dễ gì làm đâu, vì người Việt nam mình không quen, nhưng Tuyết đã ôm ba Tuyết và nói con thương ba lắm, ba ơi! Tuyết cũng đã ôm mẹ Tuyết  và hai đứa con của mình.  Tuyết sẽ lần lượt ôm những người Tuyết thương và nói cho họ nghe là Tuyết thương họ lắm.  Nếu có Nguyệt ở đây, Tuyết cũng sẽ ôm Nguyệt và nói Tuyết thương Nguyệt, một người bạn thật đặc biệt của Tuyết”.
Đó, bạn tâm giao của Nguyệt đó.  Bảo sao Nguyệt không rơi lệ, bảo sao khi Tuyết ra đi, Nguyệt không thấy đau lòng!

Vĩnh biệt Tuyết.  Mong cô  bạn thật dễ  thương của Nguyệt đã được vãng sinh. Tuyết có đức tin nơi Thiên Chúa, Nguyệt nghĩ Chúa đã mở rộng vòng tay đón Tuyết về.  Xin chia buồn cùng anh Phương và 2 cháu.  Con xin chia buồn cùng 2 bác.  Chia buồn cùng các anh chị em của Tuyết, cũng như  tất cả những người thân quen, bạn hữu của Tuyết.  Nguyệt biết rằng, cũng như Nguyệt, tất cả mọi người đều rất yêu mến Tuyết, đều thấy thật sự tiếc thương, đều cảm thấy rất hụt hẫng, mất mát rất nhiều. 
Chào Tuyết rất đổi thương mến. Nguyệt sẽ không buồn nhiều đâu để Tuyết còn dễ siêu thoát chứ.  Nguyệt còn rất mừng cho Tuyết đã ra đi thênh thang. Chúc cuộc hành trình về nước Chúa của Tuyết bình an.’’
Như Nguyệt
9/17/2010

Tuyết đã chết đi nhưng bài thơ của Tuyết sẽ không bị chôn vùi theo Tuyết xuống tuyền đài mà sẽ là một thông điệp sống mãi, thông điệp nhắn nhủ người đời hãy biết trân quý sự sống từng phút từng giây vì được sống là một ân huệ trời ban. Dù nắng hay mưa, sướng hay khổ, vui hay buồn, dù bất cứ hòan cảnh nào cũng hãy cố gắng khắc phục thích nghi. Mọi sự dù tốt hay xấu rồi cũng sẽ trôi qua, xin đừng vội chán nãn ngã lòng give up, chuyện gì cũng chỉ là giai đọan tạm thời, cửa này đóng thì sẽ có cánh cửa khác mở ra, thất bại này sẽ đưa ta đến một thành công khác.  Cách ngôn Pháp có câu ‘’Vouloir c’est pouvoir’’. Muốn là được, hãy tận nhân lực, try everything before ‘’tri thiên mệnh’’ để khỏi tức tửi ân hận vì biết đâu ‘’đức năng thắng số’’ như tử vi bói tóan đã luận bàn.
Nguyệt và tôi xin thay mặt Tuyết làm messenger  gởi thông điệp này đến từng nhà, từng người để tất cả chúng ta từ đây mỗi ngày khi mở mắt ra có thể vui  sướng thốt lên rằng:
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương*
 *Nguyên văn : Wake at dawn with winged heart, and give thanks for another day of living! (Kahlil Gibran)

Người Phương Nam      

Friday, October 24, 2014

Nước Đã Buông Xuôi - Tâm Tiễn


Ghiền Đường - Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh


Nhiều bác sĩ đã từ lâu cảnh báo về tình trạng “ghiền đường” mà vị ngọt của đường là một loại ma túy nguy hiểm có thể giết người trong thầm lặng.
Trong một bài viết trước đây về hội chứng “Mỡ, Đường, Máu”, BS. Minh có cho độc giả một câu hỏi để suy gẫm: “Giữa một lon Coke và một quả trứng gà, cái nào nguy hiểm cho tim mạch hơn?” Hôm nay chúng ta đã có một câu trả lời xác đáng dựa trên nghiên cứu mới nhất đăng trên báo Y Khoa của Hội Y Sĩ Hoa Kỳ (JAMA) tháng 2/2014, sau quá trình theo dõi 40,000 bệnh nhân: “Trứng gà không gây ra đột quỵ tim mà thủ phạm chính là đường”!
Sự “ghiền đường” dường như đã được in đậm vào trong DNA của loài người chúng ta từ hằng chục ngàn năm qua, cộng thêm với những ảnh hưởng của xã hội làm cho ta khó thấy sự tác hại của bệnh ghiền này, vì lẽ, mọi người, không ít thì nhiều đều bị… nghiện đường.

Có bao nhiêu loại đường?

Đường là danh từ chung để chỉ một loại nhu yếu phẩm cần cho con người. Trên thực tế, tất cả loại cây cỏ, thảo mộc đều có chứa đường dưới nhiều thể loại khác nhau. Thí dụ như cây lúa chẳng hạn, từ hột lúa, rễ cây lúa, lá lúa đến thân cây lúa, đều có đường trong đó. Tuy nhiên những loại đường có trong thân cây, lá cây v.v… so với các loài như trâu, bò ngựa…có thể hấp thụ được, cơ thể chúng ta lại chịu thua. Để đơn giản hóa vấn đề, đối với con người, có 3 loại đơn đường, Glucose, Fructose (có nhiều trong trái cây), và Galactose (có nhiều trong sữa). Đường cát đa phần được kết tinh từ nước mía chứa một loại đường đôi gọi là sucrose, được kết hợp từ đường glucose và fructose.
Đường phèn, đường cát, đường đen, đường nâu, đường bông gòn,… tất cả đều được biến chế từ đường mía mà ra.

Cần bao nhiêu đường thì đủ?

Trên thực tế chúng ta chỉ cần khoảng 5% đến 7% tổng số lượng calories trung bình đến từ đường mỗi ngày, tức là khoảng 2 hay 3 muỗng cà phê đường. Trên thực tế chúng ta tiêu thụ đến mức 25% calories do đường cung cấp mỗi ngày. Nghiên cứu trên đây cho biết, khả năng bị đột quỵ tim tăng gấp đôi nếu chúng ta tiêu thụ 20% tổng số calories đến từ đường, nhưng tăng gấp 4 lần nếu dùng trên 25% năng lượng đến từ bất kể loại đường nào!
Từ khoảng năm 1970, để cạnh tranh kinh tế và duy trì lợi nhuận cho nghành nông nghiệp Mỹ, chính phủ Mỹ đã tăng thuế nhập cảng đường mía từ các nước khác, và tăng cường sản xuất một loại đường đặc chế từ hạt bắp gọi là “đường sy-rô nồng độ cao từ bắp” (High Fructose Corn Syrup, HCFS). Loại đường HCFS này về thành phần hóa học thì hơi giống như đường mía, nhưng ngọt hơn và dễ thấm vào máu hơn. Có người cho là vì hai tính chất này mà HCFS độc hơn đường mía, vì dễ ghiền và mau “phê” hơn là đường mía. Trên thực tế cả hai thứ đều là “bad guys” (kẻ xấu) hết.

Chỉ vì chính phủ Mỹ cố tình làm cho đường HCFS rẻ hơn nên kỹ nghệ biến chế thức ăn tha hồ tưới, nhét, trộn đường HCFS vào đồ ăn. Bạn có để ý là nước ngọt Coca Cola ở Mỹ mùi vị hơi khác hơn ở các nước khác không? Sự khác biệt là do mùi vị khác nhau của đường HCFS và đường mía. Nói đến Coca Cola, chỉ ½ lon soda có thể làm tăng tỉ số bị đột quỵ tim lên đến 30%. Bạn có biết là một muỗng tương cà chua Heinz có nhiều đường hơn là một cái bánh quy Oreo không? Hoặc, một hủ da-ua (fruit yogurt) có nhiều đường hơn là một lon Coke? Hay trong một tô cereal buổi sáng, 75% calories đến từ đường? Ngay cả nước trái cây “bổ dưỡng” fruit juice, nước uống “tăng cường năng lực”, cà phê Starbucks v.v… hãy thử đoán có bao nhiêu đường trong đó?

Tại sao đường gây ra tai hại?

Khi bạn mới uống hay ăn thức ăn có đường vào cơ thể đa phần bạn sẽ có cảm giác thoải mái, dễ chịu. Thứ nhất vì trên thực tế cơ thể chúng ta cần một số ít đường để sống. Lượng đường nầy thấm vào các tế bào, cung cấp năng lượng cấp thời làm cho ta…khỏe. Thứ nhì có thể vì yếu tố tâm lý của đa số bệnh ghiền, vì từ thuở nhỏ chúng ta đã quen với vị ngọt của đường, nhất là những khi bé khóc là bố mẹ dúi cho một cục keo hay một cây cà rem. Vì thế bây giờ khi bị “stress” chúng ta dễ đi tìm niềm an ủi với vị ngọt của đường.

Sau khi cảm giác dễ chịu qua đi, chúng ta sẽ thấy cơ thể nặng nề vì những lượng đường dư thừa sẽ tạo gánh nặng cho cơ thể. Lá gan và pancreas cần phải “giải độc” khối lượng đường phụ trội này bằng cách chế biến và chứa vào mỡ đặc (triglycerides) làm cho ta béo phì ra, hay làm tăng mỡ lỏng (cholesterol, LDL) làm cho tim, mạch máu bị nghẽn. Ngoài ra, các tế bào bị ngâm trong đường sẽ biến thành… mứt quất (mứt tắt), để cân bằng nồng độ hai bên, nước từ bên trong tế bào sẽ rút ra máu, làm khô nước bên trong và dễ chết (Bạn dã đọc bài “Yêu Nước” chưa?). Càng ngâm trong đường càng lâu các tế bào sẽ có hiệu ứng giống như bị “thắng đường” khi các bà làm nước màu kho cá!. Cuối cùng lá gan cũng đầu hàng, sanh ra bệnh tiểu đường. Vòng tròn tử vong tiếp tục xoáy tròn kéo mình vào vực sâu của đáy huyệt một cách nhanh chóng.

Làm thế nào để bớt ghiền đường?

1. Không nên ăn đường giả (sugar substitute, diet gugar)! Đường thật mà còn có hại huống chi đường giả! Đường giả đa phần có cấu trúc giống như đường có trong... lá cây, rễ cây v.v… để lừa cơ thể chúng ta mà thôi. Tuy không làm tăng calorie nhưng vẫn có những tác hại tương tự.

2. Nên để ý hàm lượng đường trong tất cả các loại thức ăn. Tốt hơn hết là không ăn đồ ăn đã chế biến mà chỉ ăn đồ ăn tươi do chính mình nấu nướng lấy.

3. Ăn ít , ăn cân bằng và biết lựa chọn. Thí dụ không ai cấm bạn ăn một quả chuối mỗi ngày, miễn đừng ăn luôn cả nải chuối. Giữa một quả cam và một ly nước cam thì nên chọn…?

4. Ăn chậm, nhai chậm lại để tận hưởng vị ngọt của thức ăn. Tôi bảo đảm với bạn sau khi bạn nhai một miếng dưa chuột thật kỹ, thật lâu bạn sẽ thấy vị ngọt của nó không thua gì một múi cam. Mà có nhai một múi cam, thì cũng nên bỏ thì giờ mà tận hưởng hương vị của nó. Nên nhớ ngoài vị ngọt còn có những vị khác nữa.

5. Tập thể dục, thể thao mỗi ngày. Đi bộ tối thiểu 15 phút trước hay ngay sau khi ăn, hoặc cả hai càng tốt. Đi bộ sẽ làm cho các tế bào mở rộng cửa để cho đường thấm nhanh vào bên trong, giảm bớt nồng độ đường ngoài mạch máu.
Hôm nay nên là bắt đầu mới cho mọi người. Chúc bạn đọc khỏe, vui vẻ vì bớt… “nghiện đường”.

BS Hồ Ngọc Minh

Chữ “Phúc” - Trầm Thiên Thu



Chữ PHÚC (Phước) liên quan chữ ĐỨC. Chữ Đức thường “đi trước” chữ Phúc. Có Đức thì mới có Phúc. Nhưng Việt ngữ thường nói Phúc Đức. Muốn có Phúc phải có Đức, muốn có Đức phải có Tâm, cái Tâm phải bền bỉ nên liên quan chữ Nhẫn.

Chữ Phúc là biểu tượng của sự may mắn, niềm sung sướng, thường dùng là Hạnh Phúc. Từ lâu, người Á Đông đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ Phúc, như ngày nay người ta còn thấy trong nhiều vật trang trí, kiến trúc, và cả trên y phục.

Theo phong tục văn hóa Trung quốc, người ta thường treo hoặc dán chữ “Phúc” để cầu “Phúc” cho gia đình trong năm mới. Nhưng chữ Phúc lại được treo ngược, nghĩa là nó bị “đảo”, mà âm “phúc” và âm “đảo” đọc liền nhau sẽ trở thành “phúc đáo” (“đáo” là “đến”), tức là “phúc đến nhà”. Nghịch mà hóa thuận, ngược mà lại tốt.
Chữ Phúc bao gồm những điều tốt lành. Kinh Thi nói về “ngũ phúc” (năm điều phúc) là: (1) 富 [giàu], (2) 安 寧 [yên lành], (3) 壽 [thọ] (4) 攸 好 德 [có đức tốt], (5) 考 終 命 [vui hết tuổi trời]. Có nhiều sách nói “ngũ phúc” là: 富 (phú), 貴 (quý), 壽 (thọ), 康 (khang), 寧 (ninh).
Về vấn đề Phúc và Đức, chuyện cổ tích “Chiếc Cầu Phúc Đức” kể rằng...
Ngày xưa có anh chàng chuyên sống về nghề ăn trộm. Trong nhà còn có mẹ già phải nuôi. Tuy có lúc được nhiều, có lúc được ít, nhưng trong nhà không bao giờ có của để dành, hai mẹ con thường phải chịu bữa no, bữa đói.
Một hôm, nhân ngày giỗ cha, mẹ chàng ôn lại cho chàng nghe cuộc đời của ông và cha chàng. Xưa kia ông nội của chàng cũng làm nghề ăn trộm, có đêm kiếm được những món rất đáng giá, nhưng khi nhắm mắt xuôi tay cũng không để lại cho cha chàng được chút gì.

Rồi đến đời cha chàng. Lớn lên, không biết chọn nghề gì khác tốt hơn, cha chàng lại nối nghề ông cụ, đến đêm lại đi rình mò hết làng trên xóm dưới mà cũng không bao giờ kiếm được nổi hai bữa cho hai vợ chồng và đứa con. Rồi cha chàng chết đi cũng không có gì để lại. Nay đến đời chàng, lao theo cái nghề này đã hai chục năm rồi mà tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Đã vậy, chàng cũng không tìm được nổi một người vợ, mặc dầu đã gần bốn chục tuổi.

Ôn lại đời cha ông xưa và nhìn cuộc đời mình, chàng không khỏi ngán ngẩm. Một đêm, chàng đến rình nhà ông thầy đồ ở xóm bên, định ăn trộm cái thủ lợn mà một nhóm học trò mang đến biếu. Rình mãi tới khuya, ông thầy vẫn chưa đi ngủ, ông đọc hết trang sách này tới trang sách khác. Chợt ông thầy đọc tới câu: “Tích thiện chi gia tất hữu dư hương; tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương”. Chàng bụng bảo dạ: “Phải chăng ông cha ta làm nghề thất đức nên để khổ nhục lại cho ta?”. Rồi chàng tự trả lời: “Phải, quả thật đúng như vậy”. Đoạn chàng chạy một mạch về nhà, quyết từ bỏ nghề ăn trộm.

Sáng hôm sau, chàng vác búa vào rừng hái củi và mang ra chợ bán. Công việc rất vất vả, hái được một gánh củi chàng phải đổi một bát mồ hôi để có được một món tiền mua gạo, nhưng chàng thấy an tâm hơn mọi ngày. Tuy vậy, đi đến đâu, chàng cũng nghe tiếng người xì xào: “Cẩn thận đấy! Cái thằng ba đời ăn trộm đã đến đó!”. Cái tiếng “ba đời ăn trộm” làm cho chàng buồn bã. Chàng nghĩ: “Từ nay ta phải làm những việc gì phúc đức thì họa may mới xóa được mấy tiếng đó”.

Một ngày mùa hạ, trời mưa to, nước lũ tràn về. Chàng đem củi đi chợ bán, vì nước lũ tràn về nhanh quá, không thể lội qua sông như mọi hôm được. Hàng trăm người ùn lại vì chưa có đò, mặt trời đã khuất sau rặng núi, mà mọi người vẫn loay hoay ở bờ sông. Chàng bèn nghĩ tới việc bắc một cái cầu. Đêm ấy, ngủ lại bến sông cùng với nhiều người khác, chàng đem chuyện bắc cầu ra hỏi bà con, nhiều người nói: “Đó là điều phúc đức được muôn ngàn người nhớ ơn. Trước đây cũng đã có người làm nhưng rồi lại bỏ dở”.

Sáng hôm sau, nước rút, chàng lội sông về nhà. Tới nhà, chàng đem ý định bắc cầu ra hỏi ý kiến mẹ. Mẹ chàng rất vui và giục chàng dốc sức bắc cầu. Từ đó, cứ sáng chàng lên rừng chặt cây; trưa cố hái thêm một gánh củi để về cho mẹ đi chợ; chiều ra sức chuyển gỗ làm cầu.
Chàng làm việc quên ngày tháng. Buổi chặt cây, buổi chuyển gỗ, buổi bắc cầu, không bao lâu đã bắc được hơn chục sải cầu. Công việc còn nhiều nặng nhọc vì con sông rộng gần hai trăm sải. Vì ăn đói mà làm nhiều nên chàng bị kiệt sức. Một hôm, chàng đói quá nên nằm lăn ra mê man ở đoạn cầu đang làm dở. Những người đi qua xúm lại cứu chữa, nhưng chàng vẫn chưa hồi tỉnh.

Lúc đó có một viên quan võ đi đến, thấy một đám đông đang xúm quanh một người nằm sóng soài, viên quan xuống ngựa đến gần hỏi chuyện. Mọi người cho biết đây là anh chàng đang bắc cầu làm phúc thì mệt quá mà ngất đi. Viên quan liền mở túi lấy thuốc cho chàng uống.
Được một lúc, chàng tỉnh lại, mọi người tản dần ra về, viên quan ngồi lại bên chàng ân cần hỏi chuyện. Chàng thật thà kể hết cho ông nghe cuộc đời của mình và nói rõ ý định cùng công việc đang làm. Viên quan nghe nói ra chiều cảm động, ông ngồi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: “Xưa kia cha ông chàng làm nghề thất đức để cho chàng ngày nay phải đói nghèo. Nay, chàng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa kia, quả là hay vô cùng. Về phần tôi, tôi xin nói thật: cha tôi, ông tôi, ông cụ, ông kỵ tôi, đời đời làm quan ức hiếp dân lành, bóp hầu bóp cổ để nã tiền, nã của. Đấy cũng là điều thất đức, vì vậy đến tôi ngày nay trời quả báo: lấy vợ đã hơn hai mươi năm rồi mà không có một đứa con để vui cửa vui nhà, cho nên, tuổi đã ngoài bốn mươi, chúng tôi vẫn phải sống hiu quạnh. Nay tôi cũng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa, chẳng hay chàng có cho tôi góp sức cùng nhau bắc cầu được không?”.

Chàng bắc cầu vui mừng nói: “Nếu quan lớn có chí hướng như vậy thì cái cầu này sẽ chóng xong, dân chúng sẽ mau được qua lại, còn gì tốt hơn!”. Hai người bèn cho nhau biết tên tuổi, quê quán, rồi kết nghĩa huynh đệ. Viên quan võ hơn chàng bắc cầu bốn tuổi nên là anh. Chàng bắc cầu nói: “Em còn có mẹ già ở nhà, vì nhà nghèo, phải bán củi lấy tiền mua gạo cho nên ngày nào em cũng phải đem củi về nhà để sáng hôm sau mẹ đem củi ra chợ bán lấy tiền”. Viên quan võ thân mật bảo chàng: “Anh có nhiều tiền của, anh sẽ bỏ ra nuôi mẹ để em khỏi phải bận tâm, như vậy chúng ta sẽ chuyên chú vào việc bắc cầu, em nghĩ thế nào?”. Chàng bắc cầu nói: “Nếu vậy thì còn gì hay hơn!”.

Từ đấy, hàng ngày hai anh em cùng nhau lên núi đốn cây, chuyển gỗ. Chẳng bao lâu, hai người đã dựng xong chiếc cầu gỗ hơn hai trăm sải. Dân chúng ai cũng vui mừng, họ đặt tên là Cầu Phúc Đức. Các cụ hai làng hoan hỉ cùng nhau bàn định góp tiền làm một bữa tiệc ăn mừng chiếc cầu hoàn thành.
Ngày ăn mừng chiếc cầu, các vị bô lão và tất cả dân chúng quanh vùng nô nức đến dự, ai cũng cầu xin Thượng Đế ban phúc cho hai người bắc cầu, họ ăn uống linh đình suốt cả buổi sáng. Bỗng một cơn gió bất chợt kéo đến, gió thổi mạnh, làm cúi rạp ngọn cỏ nghiêng ngả cành cây. Gió thổi mỗi lúc một mạnh, rồi bất thình lình cuốn anh chàng bắc cầu đi mất. Viên quan võ thất thanh kêu gọi, tất cả mọi người đều ngậm ngùi.

Thấy người em kết nghĩa của mình hết lòng hết sức hàng ba năm trời ra làm cầu mà lại không được hưởng phúc, viên quan xót xa lắm. Sau khi mọi người đã ra về, ông đón vợ sang ở chung với bà cụ để sớm hôm trông nom, phụng dưỡng bà thay người em kết nghĩa.
Chàng bắc cầu bị gió lốc cuốn tới một cái hang trên một ngọn núi cao. Chàng lảo đảo đứng chưa kịp vững, cơn gió bỗng vụt hóa thành người tươi cười nói với chàng: “Nhà ngươi chớ sợ, ta là Thần Gió được Ngọc Hoàng sai đi đón nhà ngươi về đây để thưởng cho ngươi cái công thành tâm làm chuyện phúc đức. Bạc vàng đấy, nhà ngươi muốn lấy bao nhiêu thì lấy”.

Chàng bắc cầu nhìn vào hang thấy đống vàng sáng chói. Chàng cởi áo gói lấy một số vàng, rồi buộc lại cẩn thận, chàng vác gói vàng lên vai, tiến ra cửa hang, Thần Gió lại hóa thành cơn gió lốc cuốn chàng đi, trả về bản và đặt chàng nhẹ nhàng xuống giữa sân nhà. Chàng bắc cầu sung sướng để gói vàng xuống rồi lên tiếng gọi cửa. Nghe tiếng gọi, mẹ chàng và hai vợ chồng viên quan võ tưởng là hồn chàng bắc cầu hiện về, liền dắt nhau lại ngồi quanh chiếc bàn thờ thắp hương khấn vái lầm rầm. Nhìn qua kẽ liếp thấy ba người vừa cúi lạy, vừa khấn, chàng bắc cầu bật cười lại một lần nữa chàng lên tiếng gọi: “Mẹ ơi! Con đây mà! Anh ơi! Em đây mà! Mẹ ơi! Con hãy còn sống trở về nhà đây, mau mau mở cửa đi!”. Nghe rõ tiếng gọi của con, bà mẹ mừng quýnh. Vợ chồng viên quan võ vội chạy ra mở cửa, đón người em kết nghĩa.

Chàng bắc cầu ngồi xuống kể lại ngọn ngành câu chuyện được Thần Gió đưa đi lấy vàng cho cả nhà nghe, mọi người reo mừng sung sướng. Từ đó, mẹ con chàng bắc cầu bắt đầu trở nên giàu có, chàng mời hai vợ chồng người anh kết nghĩa ở lại và cùng nhau làm ăn. Ít lâu sau, vợ viên quan võ có thai, đến ngày sinh, chị sinh được một bé trai. Hai vợ chồng mừng vô kể. Ít lâu sau, chàng bắc cầu cũng lấy vợ, có con, và sống hạnh phúc đến già.
Câu chuyện này nhắc chúng ta phải từ bỏ quá khứ tội lỗi, cố gắng tu thân tích đức để được hưởng phúc ấm!

Khi chúng ta (Giáo hội Chiến đấu) mừng kính chư vị hiển thánh (Giáo hội Chiến thắng) và tưởng niệm các linh hồn nơi luyện hình (Giáo hội Đau khổ), đó là dịp xem lại các Mối Phúc Thật của Đức Giêsu Kitô. Các thánh đã sống trọn các mối phúc nên đang được hưởng phúc trường sinh, điển hình là các vị thánh tử đạo Việt Nam – và hàng trăm ngàn vị tử đạo Việt Nam khác. Việc tôn phong một Kitô hữu nào đó là “tôi tớ Chúa”, là “bậc đáng kính”, là “chân phước” (á thánh, thánh nhỏ), hoặc “thánh” (hiển thánh, thánh lớn) chỉ là kiểu “thủ tục hành chính” cho hợp lệ để công khai hóa đối với Giáo hội hữu hình, chứ các vị đó đã là thánh từ trước khi “được” chúng ta “công nhận” rồi.

Còn các linh hồn là các vị thánh tương lai, chắc chắn các ngài cũng sẽ hưởng phúc trường sinh nay mai, trong đó có thân bằng quyến thuộc của chính mỗi chúng ta. Các thánh và các linh hồn nơi luyện hình đều đã là những phúc nhân – người có phúc. Mỗi dịp lễ cầu hồn, rất nhiều linh hồn được hưởng nhờ Lòng Thương Xót của Chúa, và trên trời lại hân hoan tiếp nhận vô vàn các Tân Thánh Nhân. Tạ ơn Thiên Chúa yêu thương vô vàn!
Theo nghĩa đó của Công giáo, chúng ta có hai dạng phúc: Phúc-hiện-tạiPhúc-tương-lai. Phúc-hiện-tại là tình trạng của các thánh đang ở Thiên đàng, Phúc-tương-lai là tình trạng của các linh hồn đang được thanh tẩy nơi luyện hình.

PHÚC HIỆN TẠI
Trình thuật Mt 5:1-12 là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Thiên Quốc do chính Chúa Giêsu soạn thảo, và là Đệ Nhất Tuyên Ngôn so với bất kỳ Bản Tuyên Ngôn nào của các quốc gia trên thế giới. Bản Tuyên Ngôn này ngắn nhất, ít điều khoản nhất, mỗi điều khoản cũng ngắn gọn, nhưng lại chính xác nhất và độc nhất vô nhị. Bản Tuyên Ngôn này còn được gọi là Bát Phúc, Tám Mối Phúc Thật, hoặc Bài Giảng Trên Núi.
Bản Tuyên Ngôn Thiên Quốc này chỉ bao gồm 8 điều khoản:
1. Phúc thay ai có tâm hồn NGHÈO KHÓ, vì Nước Trời là của họ.
2. Phúc thay ai HIỀN LÀNH, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
3. Phúc thay ai SẦU KHỔ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
4. Phúc thay ai KHÁT KHAO nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
5. Phúc thay ai XÓT THƯƠNG người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
6. Phúc thay ai có TÂM HỒN TRONG SẠCH, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
7. Phúc thay ai XÂY DỰNG HOÀ BÌNH, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
8. Phúc thay ai BỊ BÁCH HẠI vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu có thêm “mối phúc thứ chín” vì thấy Tông đồ Thomas không tin lời kể của các bạn, Chúa Giêsu nói: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Mối phúc này có thể coi như “mối phúc tổng hợp” của tám mối phúc kia. Vì khi đã tin thật lòng thì người ta không ngại gì với tám thứ kia.
Những người chưa có hoặc không có đức tin đích thực thì chẳng thể nào tin nổi, vì những gì Chúa Giêsu cho là Phúc thì toàn là những thứ “không bình thường”, không giống ai, hoàn toàn ngược đời, hết sức kỳ quặc, và chắc hẳn họ sẽ cho là khùng, là điên, là ngu xuẩn, là dại dột,… Chúa Giêsu biết vậy nên Ngài thường có kiểu nói nghe chừng “tưng tửng” thế này: “Ai có tai thì nghe!” (Mt 11:15; Mt 13:9; Mt 13:43). Đại Sư Giêsu độc chiêu thật đấy! Ai mà không có tai chứ? Ấy thế mà nào có nghe, cũng như có mắt mà không thấy: “Họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu” (Mt 13:13; Lc 8:10).

Chúa Giêsu rất giản dị, có kiểu nói ai cũng hiểu, ngay cả người mù chữ cũng hiểu. Nghe rất sướng lỗ tai! Ngài còn nói thêm như phần mở rộng: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5:11-12).
Thánh Gioan cho biết thị kiến về “một trăm bốn mươi bốn ngàn người được đóng ấn, thuộc mọi chi tộc con cái Ít-ra-en” (Kh 7:2-4). Các thánh mà chỉ bi nhiêu ư? Không phải vậy. Con số 144.000 nghĩa là rất nhiều, chứ không mang nghĩa “số đếm” như cách tính của loài người. Vả lại, theo ngôn ngữ Kinh Thánh khải huyền, 144 là con số hoàn hảo, vì 12 x 12 = 144. Họ là ai? Sách Khải Huyền cho biết: “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạchtẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7:13-14). Đó chính là các thánh mà Giáo hội Lữ hành chúng ta vẫn mừng kính vào ngày 1 tháng 11 hằng năm.

PHÚC TƯƠNG LAI
Phúc-tương-lai là Phúc mà các linh hồn nơi luyện hình sẽ có lúc được hưởng khi nào “mãn hạn tù giam”. Phúc-tương-lai cũng là Phúc dành cho chúng ta, những người đang trên đường lữ hành, cố gắng chiến đấu ngoan cường để có ngày chiến thắng vẻ vang như các thánh.
Thánh Gioan Tông đồ cho biết một thị kiến khác: “Tôi thấy những người chết, lớn cũng như nhỏ, đứng trước ngai. Sổ sách đã mở sẵn; rồi một cuốn khác cũng đã mở ra: đó là Sổ Trường Sinh. Các người chết ĐƯỢC xét xử tuỳ theo việc họ đã làm, chiếu theo những gì đã được ghi chép trong sổ sách. Biển trả lại những người chết nó đang giữ; Tử thần và Âm phủ trả lại những người chết chúng đang giữ, và mỗi người CHỊU xét xử tuỳ theo các việc đã làm. Tử thần và Âm phủ bị quăng vào hồ lửa. Hồ lửa này là cái chết thứ hai. Ai không có tên ghi trong Sổ trường sinh thì bị quăng vào hồ lửa” (Kh 20:12-15). Việt ngữ thật hay khi diễn tả hai cách thụ động: ĐƯỢC dùng cho điều tốt, tích cực; CHỊU (bị) dùng cho điều xấu, tiêu cực.

Các linh hồn nơi luyện hình là những người đã được cấp Visa-Trường-Sinh chính thức, chắc ăn 100%, chỉ còn chờ “chuyến-bay-đại-xá” trực chỉ Thiên Quốc mà thôi. Có một phần an tâm. Chưa an tâm trọn vẹn vì “chưa được diện kiến Tôn Nhan Chúa”, đó là điều ray rứt và khắc khoải nhất của các linh hồn còn phải sống xa cách Thiên Chúa. Khi sinh thời, Thánh Tiến sĩ Giám mục Augustinô đã cảm nghiệm: “Hồn con chỉ được nghỉ ngơi khi nào được an nghỉ trong Chúa”. Và ngài cũng đã nuối tiếc: “Con yêu Chúa quá muộn màng!”.
Các linh hồn nơi luyện hình, và tất cả chúng ta, chỉ là những người vô danh tiểu tốt, thiểu năng và bất tài, chẳng làm được việc gì cho ra hồn, thế nên chẳng hề có “tiếng” mà cũng chẳng hề có “miếng”. Nhưng thật là diễm phúc cho chúng ta vì Thiên Chúa không xét chi đến “tiếng” hoặc “miếng”, mà chỉ tính công-trạng-âm-thầm: “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử” (1 Pr 1:17). Và thị kiến của Thánh Gioan Tông đồ cũng minh định: “Một con ngựa trắng, và người cỡi ngựa mang tên là Trung Thành và Chân Thật, Người theo công lý mà xét xử giao chiến” (Kh 19:11).
Cứ an tâm và cố gắng sống, đừng lo không ai biết đến mình. Người Việt vẫn thường có cách ví von: “Văn hay chữ tốt không bằng ngu dốt lắm tiền”. Câu này “thâm” lắm, làm “đau” lắm, nhưng cũng thực tế lắm. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã nhắc nhở: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình? (Mt 16:26; Mc 8:34; Lc 9:22). Giỏi mà kiêu căng thì có gì giỏi? Giỏi mà phải mất Chúa thì ích chi? Thế thì thà dốt nát mà được Chúa còn hơn! Chức quyền có ích gì nếu không nhằm mục đích yêu thương và phục vụ? Có chức quyền mà không hành động theo Ý Chúa, chỉ theo ý mình, làm vinh danh mình, thì thật là bất hạnh!
Ai cũng phải quyết tâm nên thánh, vì không nên thánh là phụ tình Chúa, là lãng phí Giá Máu Cứu Độ của Đức Kitô. Cứ quẳng gánh lo đi mà vui sống, vô tư thì sẽ thoải mái, và an tâm với điều này: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6:8). Được “sống với Đức Kitô” là làm thánh đấy. Đơn giản thôi! Nhưng chắc chắn rằng, dù các thánh, dù các linh hồn nơi luyện ngục, và cả chúng ta, không ai không có “dấu đau khổ” khắc trên trán đâu. Đó là chữ Phúc!

Chữ PHÚC của các Kitô hữu là chữ THẬP (+), tức là Thập Giá (). Một nhánh thẳng đứng là hướng tới Thiên Chúa, một nhánh ngang là hướng tới tha nhân. Hai hướng đều liên kết bằng chữ YÊU – kính mến và thương mến. Chữ Yêu rất quan trọng, vì đó là một trong ba nhân đức đối thần. Vả lại, nhân đức này thường gọi là Đức Ái, cần cả đời này và đời sau, và còn mãi đời đời. Hai nhân đức đối thần khác (đức tin và đức cậy) chỉ có ở đời này, không còn ở đời sau. Ước gì mỗi chúng ta khả dĩ nói như Thánh Phaolô: “Mea Gloria est Crux Christi – Vinh dự của tôi là Thập Giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6:14). Đó mới là chữ PHÚC quan trọng nhất!

TRẦM THIÊN THU

Khi Thủ Tướng X Tham Gia Chương Trình Chúng Tôi Muốn Biết

Mời giải trí cuối tuần

Gọi Thầm Em Gái Xưa Yêu - Trầm Vân


4 Khác Biệt Trong Gia Đình Việt Xưa Và Nay

Ngày nay, vì đủ kiểu lý do, bữa cơm tối đầm ấm, quây quần giữa các thành viên ngày càng bị xao nhãng.
1. Quy mô gia đình


Ngày nay, vì đủ kiểu lý do, bữa cơm tối đầm ấm, quây quần giữa các thành viên ngày càng bị xao nhãng.
Ngày càng ít gia đình có nhiều thế hệ sống chung với nhau.

Trước đây, trong một gia đình thường có sự xuất hiện của ông bà, bố mẹ, con cái. "Tứ đại đồng đường" là chuyện rất bình thường ở mỗi ngôi nhà Việt. Điều kiện khó khăn, việc "thoát ly" ra khỏi tổ ấm dường như rất ít, con cái lớn lên, cưới vợ gả chồng rồi sinh con vẫn cố gắng để ở bên, phụng dưỡng cha mẹ. Ngược lại, việc sống cùng người già giúp các cặp vợ chồng trẻ giữ được nề nếp, thói quen, gia phong của gia đình, đồng thời biết kính trên, nhường dưới.

Xã hội ngày nay, những cặp vợ chồng trẻ tuổi thích sự tự do, muốn thể hiện được cái tôi và khả năng độc lập cao, có điều kiện kinh tế. Những lý do đó khiến nhiều người quyết định sống riêng, gây dựng một gia đình nhỏ chỉ có hai thế hệ. Không những thế, người phụ nữ ngày càng bình đẳng, không chấp nhận hy sinh nên khó lòng sống hài hòa với nhà chồng. Lựa chọn sống riêng vì thế ngày càng nhiều.

2. Bữa cơm


Bữa cơm quây quần đầy đủ thành viên luôn là niềm hạnh phúc với những người già.

Với các gia đình xưa, bữa cơm luôn được chú trọng. Trong giai đoạn đói kém, nhiều nhà chỉ ăn một bữa cơm, nhưng tất cả các thành viên đều có mặt đông đủ, để chia sẻ và gặp mặt nhau sau một ngày làm việc. Nhiều người lớn tuổi chưa quên được cảnh một gia đình thôn quê khoảng nhá nhem tối, trải chiếu ra ngoài hiên, quây quần bên mâm cơm, trò chuyện và tận hưởng không gian thoáng đãng cuối ngày.

Cuộc sống của một gia đình hiện đại ngày nay là sáng đưa con đến lớp, bố mẹ đi làm, chiều về đón con rồi đi chợ nấu cơm. Tuy nhiên, bữa cơm tối duy nhất của cả nhà đôi khi không có mặt đông đủ các thành viên. Khi thì bố hoặc mẹ bận làm thêm giờ, lúc thì con phải đi học thêm... Bữa cơm thường được ăn nhanh chóng để mỗi người một việc, chuẩn bị sẵn sàng cho ngày hôm sau, khoảng thời gian tận hưởng và chia sẻ cùng nhau dường như rất ít.

3. Nề nếp sinh hoạt

Khi sống trong gia đình tứ đại đồng đường, mọi nề nếp, gia phong đều được người già giữ gìn và duy trì. Các cụ luôn dùng những câu răn dạy của người xưa để giúp con cháu giữ được nề nếp như "ăn trông nồi, ngồi trông hướng", "kính trên, nhường dưới"... Chính nhờ có các cụ mà con cháu biết nhìn nhau mà sống. Hơn nữa, cuộc sống xưa đơn giản, chưa có sự can thiệp của các công nghệ hiện đại, con người ít có sự lựa chọn.

Nhịp sống công nghiệp ngày nay, các cặp vợ chồng trẻ có nhiều sự tự do hơn khi sống riêng. Khi không thích nấu nướng, họ có thể chọn ăn ngoài hàng hoặc gọi đồ ăn về nhà. Với những gia đình chưa có con, chỉ có hai người thì sự thoải mái càng lớn hơn. Đôi khi, căn bếp cả tuần không "đỏ lửa" và các cặp vợ chồng cũng không lấy đó làm lo lắng.

Các cặp vợ chồng trẻ sống riêng thường thoải mái hơn trong việc duy trì nề nếp sinh hoạt, ăn uống...

4. Sự khác biệt giữa hai thế hệ

Giữa một phía quyết giữ bằng được mọi giá trị truyền thống và một bên ra sức phá bỏ, luôn luôn xảy ra những mâu thuẫn. Người già luôn đem những câu chuyện ngày xa xưa ra làm chuẩn mực để dạy dỗ thế hệ trẻ, còn người trẻ thì cho đó là lạc hậu, cổ lỗ sĩ, không biết tiếp nhận cái mới. Tiếng nói chung giữa hai thế hệ ngày càng ít đi.

Gia đình, dù ở thế hệ nào, cũng đều hướng tới giá trị hạnh phúc của mỗi con người sống trong đó. Dù hiện đại hay truyền thống, thì bố mẹ cũng luôn hy sinh và làm mọi thứ để con cái được hạnh phúc.

T A
Ảnh: Inmagine