Monday, June 27, 2022

Những Hình Ảnh Đáng Yêu Của Loài Vật Khi Thưởng Thức Hoa

Không chỉ có con người mới biết yêu những bông hoa rực rỡ và thơm mát, những con vật cũng biết thưởng thức vẻ đẹp rực rỡ của thiên nhiên.

Hãy ngắm nhìn bộ ảnh đáng yêu của chúng khi thưởng thức những bông hoa ngát hương này.













Hạ Ly (Theo Bored Panda)

Hãy Trân Trọng Chính Mình

 

Hãy trân trọng chính mình thay vì ngồi chờ ai đó đến và trân trọng bạn. Bạn biết vì sao không?

Hình hài và cuộc sống này của bạn được bố mẹ bao bọc và nuôi dạy suổt bao nhiêu năm qua. Mỗi khi bị thương, té đau, những nỗi đau trên cơ thể bạn là người đầu tiên cảm nhận được và thấy xót cho chính mình hơn ai cả. Ngày hôm nay trải qua như thế nào, buồn vui ra sao, thích món đồ gì, đang nhớ đến ai cũng chính bạn biết rõ nhất. Người hiểu rõ bản thân nhất chính là bạn, vậy bạn còn không biết trân trọng chính mình thì còn trông mong gì ở ai nữa?

Bạn càng không trân trọng chính mình, người khác càng có cơ hội lợi dụng bạn như một con mồi. Vì bạn đâu biết được giá trị của chính mình, nên bạn luôn cần sự dựa dẫm vào người khác để cảm thấy an toàn, bạn nghĩ người ta sẽ đem lại cho bạn tất cả những điều tốt đẹp và trân trọng bạn như cách họ trân trọng chính bản thân họ. Điều đó thật sai lầm. Tôi có thể hiểu người sinh ra và nhận được giáo dưỡng rằng phải biết trân trọng bản thân, biết giá trị của chính mình nằm đâu. Nhưng cũng có vài người không được chỉ dạy hay nhận ra điều đó, có thể là không biết, hoặc biết nhưng không quan tâm. Mãi đến khi đi qua nhiều thăng trầm, sự chơi vơi khi mất đi chỗ dựa, lúc đó họ mới hiểu, vẫn nên tự yêu bản thân là quan trọng hơn cả.

Vậy xem ra việc trân trọng chính mình không phải là một phong cách sống, nó là sự lựa chọn. Bạn không thể kiểm soát ai đó ghét bạn, nói xấu bạn. Nhưng bạn hoàn toàn có quyền chọn phớt lờ những điều tiêu cực đó và tiếp tục với cuộc sống của mình. Thay vì chọn chạy theo người không biết trân trọng bạn nữa, thì bạn chọn làm đẹp cho bản thân, trau dồi kiến thức và gặp gỡ thêm nhiều người mới.

Đừng chỉ ngày qua ngày thực hiện ước mơ của người khác mà chính bản thân bạn thừa biết mình không hề thích một chút nào. Hãy đi và thực hiện những đam mê đi. Trân trọng ước mơ và hoài bão của chính mình cũng là đang trân trọng bản thân đấy. Bạn nghĩ xem cuộc đời còn bao nhiêu lần mười năm? Cứ hai mươi rồi lại ba mươi năm mà những kế hoạch, những dự định vẫn còn nằm một góc. Rồi đến một lúc khi hai gối đã biết mỏi, lưng bắt đầu đau thì chỉ ngồi nhớ lại rồi cảm thấy tiếc vì những điều chưa làm. Thế thì những năm qua bản thân mình đã làm được gì? Mình cũng không biết…

Hãy chủ động với hạnh phúc của mình. Đừng đặt để nó vào tay ai rồi ngày đêm cứ thấp thỏm mong chờ họ đáp lại. Làm vậy thì bản thân có thấy buồn, có thấy hụt hẫng khi mọi sự không như mong đợi không? Nếu câu trả lời là có thì đừng làm nữa. Thích gì hãy nói. Không vui hay không hài lòng điều gì đó hãy nhẹ nhàng bày tỏ. Đôi khi cái tôi quá cao chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi vì không được là chính mình, huống hồ chi là trân trọng bản thân.

Hãy cười lên, hãy cứ vui, cứ sống thật tốt, làm điều mình thích, yêu người mình yêu. Cuộc đời này chỉ có một và bản thân bạn rất có giá trị nên hãy nhớ mà trân trọng.


Sưu tầm

Sunday, June 26, 2022

Nhớ Nắng Quê Hương - Hàn Thiên Lương

Kỷ Vật Từ Biệt - Pierre Bellemare - Đào Duy Hòa Phỏng Dịch

 

Linn Anderson, hai mươi lăm tuổi, trông duyên dáng, hùng dũng, khỏe mạnh trong bộ quân phục quân đội Hoa Kỳ. Ngày 4 tháng 9 năm 1949, Linn ngồi một mình trong nhà hàng Hokkaido tại cảng biển San Francisco.

Ðó là việc đầu tiên Linn thực hiện khi đặt chân trở lại mẫu quốc Hoa Kỳ với lý do đơn giản là nàng nhớ nước Nhật, nơi nàng vừa từ biệt sau một năm rưỡi công tác tại đó. Sau Thế chiến thứ hai, cũng như nhiều phụ nữ Mỹ khác, Linn tình nguyện đi theo đoàn quân viễn chinh Hoa Kỳ đến Nhật, với chức danh nữ thư ký quân đội.

Thời gian phục vụ ở Nhật, Linn đã trải qua những ngày tuyệt vời hơn cả mong đợi với nhiều kỷ niệm không thể nào quên trong đời. Nàng đã xem nhiều thứ, học hỏi vô số điều. Nhật Bản, so với Mỹ, là một đất nước rất xa về địa lý và rất khác biệt về văn hóa. Nàng muốn dùng bữa tại nhà hàng Nhật để ôn lại, đắm mình vào thế giới vừa tuột khỏi tầm tay: hương vị những món ăn, những buổi lễ hội ẩm thực, nghi thức dọn bàn ăn…

Chủ nhà hàng Hokkaido tiến đến bàn của Linn Anderson, nụ cười tươi trên môi. Hai bàn tay nắm lại, ông cúi người chào khách:

– Xin chào. Rất hân hạnh được đón tiếp quý khách tại nhà hàng chúng tôi.

Linn Anderson cười và gật đầu đáp lễ. Trước đây nàng hơi ái ngại trước kiểu cách chào hỏi “quá cầu kỳ” của người Nhật, nhưng giờ thì nàng đã quen rồi.

Cuộc trò chuyện giữa hai người bắt đầu. Linn thuật lại cảm nhận của nàng về nước Nhật trong thời gian làm việc tại đó. Chủ nhà hàng giải thích nhà hàng vừa được khai trương gần đây nên khách đến chưa đông. Nhưng tình trạng này sẽ nhanh chóng qua thôi. Sau những câu xã giao, Linn lấy trong túi xách ra một tấm lụa với những dòng chữ màu đỏ. Từ khi nhận “kỷ vật” này, nàng rất nóng lòng muốn biết ý nghĩa của nó.

– Ông có thể dịch cho tôi nội dung những dòng chữ viết trên tấm lụa này không?

Ông chủ người Nhật lướt qua dòng chữ và hỏi:

– Linn Anderson là ai vậy?

– Là tôi!

– Tôi xin chúc mừng cô.

– Chúc mừng tôi, về việc gì?

– Thì về việc cô thành hôn chứ còn gì nữa.

– Ông nói gì tôi không hiểu?

Chủ nhà hàng Hokkaido rất ngạc nhiên.

– Cô đã kết hôn với Sato Ikeda vào ngày 02 tháng 08 năm 1949. Ðó là nội dung ghi rõ trong tấm lụa này.

Gương mặt của Linn Anderson bỗng tái mét.

– Anh ta dám làm chuyện đó ư ?

Ông chủ nhà hàng vẫn còn sững sờ trước sự việc tréo ngoe này.

Linn ấp úng:

– Tôi là nạn nhân của một trò đùa cợt đáng xấu hổ.

Rồi nàng vội vàng đứng lên.

– Xin lỗi ông, tôi phải đi gặp luật sư của tôi ngay…

John Campbell, ba mươi tuổi, quen biết Linn Anderson lúc cả hai phục vụ trong quân đội. Sau khi giải ngũ, anh về hành nghề luật sư tại San Francisco. Tuy trẻ tuổi nhưng anh đã thu hút lượng thân chủ khá đông. Cuộc viếng thăm có phần bất ngờ của nữ đồng đội khiến anh rất vui pha lẫn ngạc nhiên.

– Ồ Linn! Thật là dễ thương khi em không quên bạn cũ!

Nhưng nàng tỏ vẻ không vui trước sự niềm nở của John.

– Em đến gặp anh với tư cách là một luật sư, John…

Rồi nàng lấy tấm lụa ra cho John xem.

– Có một người đã chế giễu em, John. Anh ta cưới em mà em không hề hay biết. Anh có thể cho em biết hậu quả của sự đùa cợt này nghiêm trọng đến mức nào?

John Campbell chỉ vào tấm lụa chi chít chữ Nhật hỏi:– Em định nói tấm lụa này là giấy kết hôn với tên em trong đó?

– Ðúng vậy.

– Vậy thì anh rất tiếc, nhưng nó thật sự có hiệu lực. Từ khi chúng ta chiếm đóng nước Nhật, hai bên đã ký hiệp định tương tác về các văn bản hành chánh.

– Ðiều đó có nghĩa là… em đã có chồng sao?

– Về mặt pháp lý thì hoàn toàn đúng.

– Nhưng không thể được, John! Người ta nói với em rằng buổi lễ hôm đó có ý nghĩa hoàn toàn khác với lễ thành hôn. Vậy là người ta đã lừa dối em. Một cuộc hôn nhân như thế không thể nào có hiệu lực!

– Em hoàn toàn có lý. Tuy nhiên trường hợp lừa dối, luật pháp sẽ hủy bỏ với điều kiện có bằng chứng cụ thể…

– Thật là tệ hại! Bây giờ thì em phải làm gì đây?

John Campbell đặt hai tay lên vai Linn Anderson, ấn nhẹ cho Linn ngồi xuống ghế và nói:

– Em đã làm đúng khi đến gặp anh bởi đó là nghề của anh mà… Nào, em hãy thuật lại sự việc từ đầu!

Linn lau nước mắt nói:

– Cám ơn anh đã chỉ dẫn.

Rồi Linn Anderson kể lại thời gian nàng công tác ở Nhật với cương vị là một thư ký cho một vị tướng Mỹ. Ðến Tokyo vào đầu tháng 01 năm 1948, nàng không thể nào quên ngày đầu tiên đặt chân lên đất nước mặt trời mọc: tuyết rơi khắp nơi phủ trắng mặt đất, mái nhà; bầu trời trong veo… Ðó là hình ảnh tuyệt đẹp đầy ấn tượng …

Nơi làm việc của nàng là Nagoya nằm về phía Nam của Tokyo. Tại đây nàng quen biết Sato Ikeda. Như những người đứng đầu doanh nghiệp quan trọng khác lúc bấy giờ, Sato Ikeda phải liên lạc với lực lượng chiếm đóng và Linn chính là người tiếp đón Sato Ikeda. Ðó là một chàng trai lớn hơn nàng 1-2 tuổi, nét mặt buồn buồn như đang suy tư điều gì đau khổ và bí mật. Ikeda tự giới thiệu tên mình sau khi nghiêng mình cúi chào rất lịch sự theo kiểu Nhật, một kiểu chào mới mẻ và lạ lẫm đối với nàng. Sau vài câu xã giao, nàng hỏi:

– Doanh nghiệp của ông hoạt động trong ngành nào?

– Nuôi ngọc trai, thưa cô.

Sự trầm trồ, quan tâm thể hiện rõ trên nét mặt của Linn.

– Cô có vui lòng đến thăm trang trại nuôi ngọc trai của tôi không?

– Rất hân hạnh được ông mời…

Vài ngày sau, Linn đến viếng trại nuôi ngọc trai. Nàng thật sự bị mê hoặc bởi thế giới ngọc trai do con người sáng tạo ra. Ikeda rất vui trước sự thán phục của Linn.

– Cô có muốn tôi làm hướng dẫn cho cô không?

– Ðể làm gì ?

– Ði thăm viếng khắp nước …Nhật!

Linn gật đầu đồng ý và Ikeda đã làm đúng lời hứa. Vào ngày cuối tuần, Ikeda đậu xe chờ Linn trước cửa sở làm để đưa nàng đi thăm đất nước Nhật Bản. Nước Nhật cổ kính với đình, chùa, bảo tàng… và cả nước Nhật hiện đại với những dấu tích chiến tranh gần như khắp nơi: những chàng trai trẻ mù lòa, cụt tay, cụt chân, những phụ nữ góa chồng và những khu phố bị san phẳng. Giờ thì Linn đã hiểu vì sao nét buồn luôn phảng phất trên gương mặt của Ikeda.

Nhưng lúc nào Ikeda cũng thể hiện là một người đồng hành thoải mái, hiểu biết rộng rãi về nền văn hóa Á Ðông bên cạnh người bạn gái đến từ nước Mỹ. Thỉnh thoảng đứng trước một cảnh đẹp tự nhiên, Ikeda ngâm vài câu thơ toát lên tâm tư tình cảm của dân tộc anh. Cùng với thời gian tình cảm giữa hai người trở nên sâu đậm hơn. Ðối với Linn đó là tình bạn, sự đồng cảm sâu sắc. Linn tin rằng tình cảm Sato Ikeda dành cho nàng cũng là tình bạn… cho đến một ngày Chủ Nhật của tháng 7 năm 1949…

Linn vừa thông báo với Sato nàng quyết định quay về Mỹ. Ngay lúc đó Ikeda thố lộ tình yêu đối với Linn và xin cầu hôn nàng, điều mà nàng không hề chờ đợi. Linn không muốn làm khổ chàng trai Nhật và cũng không thể chấp nhận lời cầu hôn.

– Không thể được anh Ikeda ạ. Mỗi chúng ta thuộc về một đất nước quá cách biệt, xa xôi.

– Không đâu, Linn. Tình yêu của chúng ta là có thể!

– Nào anh Ikeda. Khi cầu hôn em, anh có nghĩ rằng anh sẽ đến sống với em ở nước Mỹ không.

– Tất nhiên là không… Anh không thể rời bỏ nước Nhật.

– Còn em thì cũng không thể sống suốt đời tại đây.

Ikeda không đáp lời Linn. Chàng chỉ cúi đầu biểu hiện sự đồng tình…

Ba tuần sau, ngày 02 tháng 08 năm 1949, họ lại gặp nhau. Cả hai đều hiểu rằng đây là lần gặp nhau cuối cùng. Sato Ikeda trao cho Linn chiếc hộp nữ trang đựng một chuỗi hạt trai tuyệt đẹp. Rồi chàng nói với giọng hơi run:

– Em có muốn cùng anh đến ngôi đền Nagoya không? Ðó là một tập quán của người Nhật để nói lời từ biệt người thân.

Linn Anderson chấp nhận lời đề nghị của Ikeda. Nàng rất cảm động cùng Ikeda đến ngôi đền. Một vị hòa thượng đang chờ họ tại đó. Buổi lễ “từ biệt” được tổ chức trong tiếng kinh cầu của vị hòa thượng, khói nhang và mùi hương của vỏ cây đàn hương đang cháy trong lò. Theo hướng dẫn của Ikeda, thỉnh thoảng Linn nghiêng mình, cúi đầu, chắp tay xá… Buổi lễ “từ biệt” kết thúc không lâu sau đó. Vị hòa thượng đến trước mặt Linn, nắm hai tay vào nhau, cúi đầu 3 lần. Ngài lấy ra từ trong túi áo cà sa tờ lụa với mấy dòng chữ màu đỏ. Sato Ikeda nói với nàng:

– Em hãy cẩn trọng cất giữ bên mình tấm lụa này, xem nó như một kỷ vật quý báu…

Ðến đây, Linn chấm dứt câu chuyện kể. Luật sư John Campbell tỏ vẻ xúc động.

– Linn này. Có một điều làm anh khó hiểu. Việc lừa gạt này không phù hợp tí nào với tính cách của nhân vật Sato Ikeda mà em mô tả trong câu chuyện. Mặt khác, mưu mô mà Ikeda hành xử sẽ không hy vọng mang lại cho anh ta bất kỳ lợi ích nào.

Linn ngồi tư lự.

– Em cũng nghĩ vậy, em không thể tin nổi. Theo anh thì Ikeda làm điều đó vì mục đích gì ?

– Anh không biết. Cách hành xử của Ikeda quả là khó hiểu. Chắc phải đợi thời gian trả lời thôi…

Ngay trong ngày hôm đó, John Campbell liên lạc với Nagoya và anh nhận được câu trả lời mà anh mong đợi. Lập tức anh nhấc điện thoại lên thông báo kết quả cho nữ đồng đội xưa.

– Linn này! Anh biết tại sao Sato Ikeda đã cưới em… Thật không thể tưởng tượng! Anh không mấy khó khăn để tìm ra câu trả lời. Hiện tại ở Nagoya, người ta đang bàn đến câu chuyện này, và nhà chức trách Hoa Kỳ đang tìm em để thông báo sự việc.

– Việc gì?

– Khi em biết được sự thật, em sẽ hiểu rõ vấn đề…

Rồi John im lặng.

– Anh John, em xin anh hãy kể cho em nghe đi. Tại sao anh lại do dự, im lặng?

– Anh lo sợ em sẽ bị cú sốc… Sato Ikeda đã chết!

– Chết rồi ư!

– Vâng, anh ta đã tự tử chết. Thật là khủng khiếp. Sato Ikeda đã tự tử theo kiểu Nhật: hara-kiri, tức là mổ bụng tự sát…

Bên kia đầu dây, Linn hét lên một tiếng. Nàng cố xua đuổi hình ảnh ghê rợn vừa xuất hiện trong đầu: Sato cầm kiếm samurai tự rạch bụng. John nói tiếp:

– Anh hiểu rất khó khăn cho em vượt qua trạng thái bàng hoàng này. Nhưng hãy nghe anh kể tiếp. Sato Ikeda đã để lại một bức thư giải thích hành động của anh ta. Em hoàn toàn đúng khi từ chối lời cầu hôn. Một cuộc hôn nhân như thế là không khả thi bởi hai người thuộc về hai xã hội hoàn toàn khác biệt. Anh ta cám ơn em đã dành cho anh ta những giây phút hạnh phúc.

Linn Anderson đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác đến độ nàng không thốt lên được lời nào. Luật sư lại tiếp:

– Trong bức thư từ biệt, Sato Ikeda giải thích rằng chết vì tình yêu là điều anh mong ước. Một trong những người ông của Sato đã tự tử vì bố mẹ phản đối ông cưới người phụ nữ trẻ mà ông ta hết lòng yêu thương. Sato rất tôn sùng người ông này và anh ta rất hạnh phúc được hội ngộ ông nơi chín suối…

Ngưng giọng trong giây lát, luật sư John đi đến kết luận gây sốc nhất:

– Sato Ikeda không tự tử vì tuyệt vọng. Tất cả thành viên trong gia đình anh đã lìa đời trong chiến tranh. Do đó người thừa kế khối tài sản của anh là người thân duy nhất hiện nay, đó chính là em, Linn Anderson!

– Là em?

– Ðúng vậy, vì em là người vợ hợp pháp của Sato. Hôn lễ và tấm lụa “kỷ vật từ biệt”, giấy chứng nhận kết hôn hoàn toàn hợp pháp, được chính quyền Nhật công nhận. Toàn bộ tài sản của Sato Ikeda thuộc quyền sở hữu của em, giang sơn nuôi ngọc trai bây giờ là của em!

Linn Anderson như nghẹt thở trước những tin bất ngờ này vừa lọt vào tai nàng: người đàn ông tự tử chết theo cách khủng khiếp nhất, hara-kiri, đã biến nàng trở thành nhà tỷ phú chỉ trong tích tắc…

– Anh John, thật tình em không muốn khối tài sản đó!

– Anh hiểu em. Nhưng tài sản đó không thể vô chủ.

– Em nghĩ giải pháp tốt nhất là dùng nó để giúp những nạn nhân chiến tranh của nước Nhật.

– Thủ tục chuyển đổi quyền sở hữu sẽ phức tạp đấy…

– Vâng em biết. Anh giúp em thực hiện thủ tục nhé.

Bên kia đầu dây im lặng trong giây lát, rồi giọng nói cảm động của Linn nói tiếp:

– Anh John! Sato đã không lừa dối em. Ðó chính là “Kỷ vật từ biệt”!

 

(Phỏng dịch từ nguyên tác “Souvenir d’adieu”

Ơn Trời Phúc Ban - Đỗ Công Luận

Saturday, June 25, 2022

Bluebonnet Vẫn Nở Sau Nhà Tôi - Phan


Sau nhà tôi là rừng, rừng ngày xưa không nhìn thấy gì ngoài màu lá xanh, những con chim sặc sỡ màu nhưng chúng chỉ cất tiếng hót lẻ loi một mình, không buồn cũng không vui. Những con thú hiền hòa như sóc với thỏ là những kẻ lãng du tử tế. Chúng thấy người không thích mắt khi nhìn chúng nữa thì sóc nhập thiền nơi những hốc cây, những hốc đá ven bờ suối là tịnh thất của thỏ. Trong khu rừng có con suối nhỏ, có đàn vịt trời khi lội khi bay dưới chân đồi bluebonnet tượng trưng cho tiểu bang Texas. Mùa hoa rộ tháng tư thì cơ man là người đến chụp hình, xe đậu quanh đồi không đủ chỗ thì người ta lái xe vào xóm nhà đậu tạm. Tôi thích bị làm phiền kiểu Mỹ vì chỉ có ở Mỹ khi người không quen biết bấm chuông nhà chỉ để xin phép cho họ đậu cái xe trước nhà mình một lát, họ lên đồi chụp vài tấm hình sẽ đi ngay. Tôi hình dung ra những bức ảnh gia đình, tình nhân, bạn hữu của những người tử tế đã làm nên phong cách Mỹ khác biệt. Bên kia đồi bluebonnet là đường xa lộ tiểu bang chạy song song với đường ray xe lửa, ai muốn đi thêm nữa để khám phá thì phải dùng xuồng chèo vì đầm lầy nên chỉ có những người đi câu cá hay săn heo rừng mới lặn lội khi hết đường bộ. 

Nhưng vài năm nay đã thay đổi từ khi người ta san bằng ngọn đồi bluebonnet cao hơn cột đèn để xây dựng khu thương mại theo đà phát triển dân số. Cả dãy cửa hàng dịch vụ, cây xăng, tiệm rượu, phòng tập thể dục, đại lý cho mướn xe, nhà hàng, tiệm nail cặp theo xa lộ buôn bán làm ăn tấp nập. Để lại sau lưng sự sầm uất náo nhiệt của khu thương mại một khoảng đất rộng lớn trở vô con suối và bên đây suối là khu nhà ở, là sau nhà tôi. Khoảng đất rộng ấy có lẽ do đại dịch covid-19 đã làm chựng lại những kế hoạch xây dựng khu chung cư hay kho chứa hàng hóa gì đó nên tôi cũng còn thấy được cánh đồng bluebonnet mênh mông, miên man tháng tư khi cánh đồng tím ngát màu hoa bluebonnet, vạt rừng mỏng còn lại ven suối xanh mướt lá non, hoa dại khoe sắc bên bờ suối là tháng tư đã về, không cần xem lịch cũng biết tháng tư đã về khi trời thường nhiều mây và những cơn mưa bất chợt, nắng vàng óng ánh lá non, bướm dập dờn chào mùa xuân mới…

Tháng tư với mọi người trên thế giới cũng chỉ là một tháng trong năm, những người có đạo chuẩn bị lễ lá, tĩnh tâm đi vào lễ phục sinh, trẻ con nô nức đi lượm trứng ngoài những bãi cỏ gần nhà cũng là một biểu tượng của tháng tư xanh lá, trong sắc màu hoa dại trên những cánh đồng cỏ mênh mông, nhìn những cô bé mới vài tuổi, mặc áo đầm, xách cái giỏ đi lượm trứng như những thiên thần vỗ về cuộc sống nhiêu khê của người lớn may mắn làm hãng xưởng, công ty có ông chủ là tín đồ tốt bụng sẽ cho công nhân nghỉ ăn lương ngày thứ sáu tốt lành mà chúng ta quen gọi là goodfriday.

Nhưng từ biến cố lịch sử ba mươi tháng tư năm một chín bảy lăm thì tháng tư đã im đậm vào lòng người Việt những khắc khoải về lịch sử, đất nước, quê hương, không ai quên được ngày lịch sử ấy dù bản thân thuộc về bên nào trong cuộc chiến! Với tôi khi ấy chỉ là một đứa trẻ nhưng nhớ mãi ngày cuối tháng tư năm mất nước. Trời đã về chiều ngày ba mươi tháng tư, mẹ tôi như người tâm thần bấn loạn vì không biết cha tôi, các anh tôi trên các chiến trường còn sống hay đã chết, sao chưa thấy ai về nhà? Trong gia đình có ba đứa nhỏ còn đi học là người anh kế tôi, tôi, với thằng em út. Ba đứa đói từ sáng mà không dám lên tiếng đòi ăn. Tôi là đứa phá phách nhất nên lại biết nhiều hơn người anh chỉ biết than đói bụng, hơn thằng em quen được phục vụ từ mở mắt tới đi ngủ. Tôi biết nấu cơm nên đi bắc nồi cơm để ba anh em ăn. Nhưng chẳng còn gì để ăn với cơm vì người anh với người em tôi đói quá nên đã ăn hết nồi thịt kho trứng trong chạn từ hồi trưa. Ngày đầu tiên trong đời ba anh em tôi không có cơm ăn được hô vang ngoài ngõ với hai từ “hoà bình”. Hoà bình rồi với những người giải phóng quân lăm lăm tay súng.

Tuy còn nhỏ nhưng tôi biết không nên làm phiền mẹ lúc quẫn trí, nhìn đầu tóc mẹ tôi gọn gàng từ khi sinh ra tôi thì hôm đó rối bời như bà cụ xin ăn ngoài chợ. Tôi sang nhà hàng xóm xin chút thức ăn, chòm xóm tôi là thiên đàng có thật trong cuộc đời tôi. Bác Ba gái bên hàng xóm đang rửa rổ cá đồng ở sàn nước nhà bác, bác sớt cho tôi nửa rổ, đem về cho mẹ mày muốn làm gì thì làm. Bác dặn thêm tôi, mày đừng chạy lung tung cho mẹ mày thêm lo tên bay đạn lạc…

Tôi về nhà, bắc nồi kho cá. Nồi cá luộc đã sôi nhưng tôi không biết bỏ gia vị nào vô nồi cho thành cá kho. Thằng em tôi níu áo mẹ xuống bếp để nấu cho nó ăn vì nó đói quá rồi. Mẹ tôi nêm vài thứ vô nồi cá luộc đang sôi. Cũng lại nó đã chạy lên nhà trên, nó la làng lên: “Mẹ ơi! Anh Hên về rồi.” Mẹ tôi bỏ bếp, nhào lên nhà trên ôm chầm lấy anh Hên: “Sao có mỗi mình mày về, anh mày đâu?” Anh Hên là trung sĩ truyền tin của anh tôi. Anh ấy quê ở Vĩnh long, không chịu vô bưng với Việt cộng nên trốn lên Sài gòn, đi lính. Từ đó không về lại Vĩnh long vì về là tụi nó làm thịt anh. Anh và anh tôi đóng quân ở An Lộc, lần nào về phép, hai anh em cũng về chung và về nhà tôi, anh gọi mẹ tôi là mẹ rất tự nhiên nên mẹ tôi thương anh lắm. Chúng tôi xem anh như người anh trong nhà nên chơi thân với anh. Anh về phép còn bận rộn hơn ở đơn vị vì sáng sớm đã đi bắt dế với chúng tôi, trưa đi câu cá rô, cá sặc, chiều tắm sông, tối đốt lửa nướng khoai, nướng bắp. Những đêm mưa rỉ rả, anh làm đèn soi nhái, cây chĩa, rồi dẫn tôi đi soi nhái rất thích…

Anh nói với mẹ tôi: “Mấy anh em con di tản cùng với dân để bảo vệ đồng bào. Cứ đụng miết trên đường di tản vì dân có trẻ con khóc nhoi nên không thể đi êm như tụi con trong rừng, nhưng về tới Bình dương thì dân tự về nhà người thân được rồi. Tụi con bỏ súng, lột quân phục, xin đồ dân mặc đỡ để về nhà. Con đi với thằng trung sĩ Minh, nhà nó ở Long an nên về tới Sài gòn thì tự nó về nhà nó. Anh Tư con đi với thằng Dũng vì nhà nó ở Phú xuân, cùng đường về. Tụi con chia ra đi cho bớt khả nghi chứ không đi chung vì đã bỏ súng. Không biết sao anh Tư với thằng Dũng còn chưa về tới nhà…”

Mẹ tôi gặp lại được anh Hên như bắt được vàng, hỏi liên tu bất tận tới anh khủng hoảng theo. Rồi vẫn là thằng em tôi, nó đói quá nên xuống bếp xem nồi cá kho chín chưa để ăn. Nó la làng lên nữa: “cá ói hết ra nồi rồi mẹ ơi…!”

Mẹ tôi bảo tôi: “Con xuống bếp xem cá chín chưa. Lấy cơm cho em con ăn dùm mẹ. Nó ồn quá!” Tôi xuống bếp, thấy nồi cá kho trào bọt lạ thường, bọt tràn xuống tới bàn bếp. Vài con cá sặc nhỏ bị bọt tống ra khỏi nồi, đang cháy khét ở đầu ngọn lửa bếp dầu hoả. Hèn gì thằng em tôi nói là cá ói hết ra nồi. Tôi ngửi được mùi xà bông giặt nên nhìn quanh. Đúng là có bịch bột giặt hiệu Viso trên bàn bếp…

Đã bốn mươi bảy năm rồi, thỉnh thoảng đi câu về cũng kho cá ăn cơm, vớt bọt khi cá bắt đầu sôi nước. Tôi không thể nào quên nồi cá kho bột giặt Viso hôm ba mươi tháng tư lịch sử ở quê nhà, lịch sử gia đình tôi sang trang, mẹ tôi và cơn bấn loạn tinh thần theo vận nước.

Sáng nay được nghỉ lễ thứ sáu tốt lành. Trời mát rượi sau cơn mưa đêm, khung cảnh sau nhà tuyệt đẹp và yên tĩnh với nắng vàng long lanh những giọt mưa đêm còn đọng trên lá mới. Ngồi nghe tin tức chiến sự Ukraine với Nga qua cái điện thoại với tách trà đầu ngày. Lòng khó quên bản tin cuối cùng trên đài phát thanh Sài gòn khi cựu tổng thống Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Tôi cầu nguyện cho Ukraine vạn nhà, triệu người không tan tác gia đình để từ đó điêu linh như người Việt, đất nước tôi bị thất thủ ngày ba mươi tháng tư năm một chín bảy lăm.

Thời điểm lịch sử, cột mốc lịch sử ấy đã vui ít buồn nhiều trong lòng bao thế hệ người Việt? Những người trực tiếp tham chiến ở tuổi đôi mươi thì nay đã già, những người lớn tuổi hơn nữa đã đi xa; đứa trẻ chưa biết kho cá hôm mất nước cũng đã phiêu bạt tới tóc bạc trên đầu nhưng đường về quê vẫn xa lắc lê thê. Tôi nghĩ đến những người sinh ra đúng ngày ba mươi tháng tư năm một chín bảy lăm thì nay họ cũng đã bốn mươi bảy tuổi. Cái tuổi nhìn lại cũng đã lắm vui buồn cuộc đời, nhìn tới chững chạc vì đã qua tuổi mộng mơ, hoang tưởng như khi còn trẻ. Những người bốn mươi bảy tuổi sống ở những thành phố lớn trong nước hay định cư ở hải ngoại thì con cái họ đã tới tuổi đi đại học. Những người sống ở thôn quê, thường lập gia đình sớm thì đã và đang lo chuyện dựng vợ gả chồng cho con cái họ. Cho dù có sự khác biệt địa lý giữa trong nước và hải ngoại, sự khác biệt giữa thành thị và thôn quê thì những người sinh ra ngày cột mốc lịch sử ba mươi tháng tư năm một chín bảy lăm đã bước vào tuổi ngũ thập tri thiên mệnh là đã nửa đời người, nói chính xác hơn là đã hai phần ba đời người với tuổi trung bình thọ của người Việt nam. Nghĩa là chiến tranh đã kết thúc hai phần ba một đời người, gần nửa thế kỷ thời gian đã lặng lẽ trôi qua. Những người tham chiến đã lần lượt đem theo những vui buồn về nơi gió cát, lứa tuổi chúng tôi chỉ là những chứng nhân lịch sử sẽ tiếp tục muộn phiền với ký ức chiến tranh, vẫn sống với lòng hoài hương trên khắp địa cầu tới hết đời chúng tôi là hết người hoài mong một Việt nam không cộng sản.

Tôi còn nhớ hôm kỷ niệm ba mươi năm ngày quốc hận ba mươi tháng tư nơi tôi sinh sống. Sau buổi lễ long trọng ở Trụ sở cộng đồng của người Việt quốc gia trong thành phố, vài người là lính cũ, vài anh em bên truyền thông báo chí, vài người có lòng là bác sĩ, kỹ sư. Coi như thân hữu ở địa phương ngồi lại với nhau để cùng tri ân những người đã khuất trong cuộc chiến đã hằn sâu vào lòng người dân nước Việt, người lính thiệt thòi nhất từ khi loài người có chiến tranh là lính Việt nam Cộng hòa. Một người bạn là nhà báo đã bộc bạch nỗi buồn: “Đã ba mươi năm trôi qua mà cả trong và ngoài nước đều không có một tác phẩm văn học đủ tầm mức với cuộc chiến Việt nam. Những người đủ sức viết nên tác phẩm ấy đã lần lượt qua đời, những người đời sau càng không đủ sức vì không trực tiếp tham chiến, còn quá nhỏ trong chiến tranh nên coi như không bao giờ có một tác phẩm đúng đắn, xứng đáng với cuộc chiến mà theo tôi là không có hồi kết dù chiến tranh đã tàn, nhưng hố phân cách bắc nam ngày càng sâu hơn, rộng hơn. Càng buồn hơn với những quyển hồi ký mà chúng ta đã đọc, có lẽ ai trong chúng ta cũng dễ dàng nhận ra hai nội dung cơ bản của những hồi ký về chiến tranh Việt nam ấy. Một là đánh bóng tên tuổi người viết hồi ký để còn chút danh gì với núi sông, hai là chạy tội bằng cách đổ tội cho chính những người đồng đội của mình. Đó không phải chân dung đích thực của cuộc chiến.”

Tôi thấy bạn mình khá đúng với nhận xét trên. Nhưng tôi tìm thêm mười bảy năm nữa cũng không ra được tác phẩm nào khả dĩ để giới thiệu cho độc giả. Tìm thêm mười bảy năm cho đến hôm nay là quãng thời gian không ngắn cũng không dài trong vô vọng thật rồi.

Nhưng lại gặp được một người đàn ông ở Hà nội chừng năm mươi tuổi, là lứa tuổi sinh ra trước hay sau chiến tranh kết thúc không nhiều. Anh khoe mẽ trên YouTube về việc anh mới mua được xe hơi bằng cách đưa cả gia đình đi ăn phở vào một sáng cuối tuần ở Hà nội. Ba thế hệ ăn mặc chỉnh tề, mỗi người cầm trên tay một lá cờ đỏ sao vàng be bé, họ hớn hở có trật tự hàng một tiến vào tiệm phở. Họ vẫy cờ chào những người xem họ đang quay video clip, họ chào cả khán giả sẽ xem đoạn video đang quay trên khắp thế giới bằng những lời kêu gọi ủng hộ kênh. Họ chào cả nước với gương mặt tự hào, rạng rỡ nhất của người Hà nội đang tự mãn với xã hội chủ nghĩa của bên thắng cuộc. Người cha của anh Hà nội mới mua được cái xe van chở cả ba đời đi ăn phở. Ông cứ như ngài tổng bí thư đi kinh lý phố phường, chào hỏi mọi người trong tiệm phở với cung cách bề trên kẻ cả, rồi đặt cái nón cối xuống bàn trang trọng như báu vật của đời. Người ngoài bắc thích đội nón cối như người miền tây nam bộ thích quấn khăn rằng ở cổ, có điều là đàn ông hay đàn bà quấn cái khăn rằn quanh cổ đều thấy dân dã, hệch hạc. Không nhìn cứ thấy ngu ngu, đần đần như đội cái nón cối. Tôi rất xin lỗi nói lên cảm xúc thật trong lòng về sự hèn hạ khi nhìn cái nón cối. Điều tôi thấy không hiện hữu qua hiện vật là người ta chấp nhận lá cờ vàng sao đỏ như một tự nhiên vì nó đại diện cho lòng tự hào. Đời ông trong gia đình nọ ở độ tuổi ngoài bảy mươi, chắc là anh bộ đội cụ Hồ trong chiến tranh Việt nam nên đến giờ ông vẫn đội nón cối dù mặc bộ đồ lớn khá chỉn chu. Nhưng cái nón cối chửi bộ đồ tây, bộ đồ tây chửi cái nón cối theo từng bước chân đi vào hư vô của ông. Không biết tả làm sao gương mặt tự hào của ông như chửi cả loài người văn minh tiến bộ thật sự. Đến đời con ông là người sanh trước hay sau biến cố lịch sử của quê nhà. Anh không có tổ quốc, gia đình là màu mè cho vui ống kính máy quay, anh chỉ tự hào về thành quả của anh là mới mua được cái xe hơi bảy chỗ ngồi nhưng nhồi nhét hết gia đình lên tới gấp đôi số ghế. Hạnh phúc quá đơn sơ với lá cờ đỏ sao vàng trên tay anh luôn tích cực hoạt động như để làm bằng nhờ ơn bác đảng nên anh mới có hôm nay, anh có xe hơi. Đến đời thứ ba là những đứa cháu hồn nhiên vui tươi trong bộ quần áo mới, được đi xe hơi, được đi ăn phở. Lẽ ra phải mừng cho (một) người Hà nội đã thoát nghèo vì dù gì họ cũng là đồng bào, là bà con xa hay bà con gần không chừng vì cha mẹ tôi cũng là người Hà nội. Nhưng không biết sao trong tôi cứ u uẩn nỗi buồn chả lẽ mọi người dân Việt đã cam phận với lá cờ đỏ sao vàng – thì chấp nhận được vì dù sao cũng phải sống đã, có tồn tại thì mới mưu cầu hạnh phúc được. Nhưng hình ảnh trên tivi đang nói gì với tôi? Họ không phải cam phận. Họ không có mưu cầu chính đáng. Họ đang rất tự hào với chỉ một cái xe hơi đã qua sử dụng.

Tôi thấm thía cụm từ “phía bên thua cuộc”. Tôi cam phận lực bất tòng tâm. Nhưng về lại trong nam qua cái clip “đám cưới miền tây”. Tôi hay đọc, xem truyền hình khi có thời gian để biết được sự thay đổi ở quê xưa. Cũng là người cha ở độ tuổi năm mươi, cũng là người nếu có biết gì về chiến tranh Việt nam thì chỉ là chuyện kể, hay những trang sách giáo khoa dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Hôm trong ti vi tôi đang xem là hôm ông đi cưới vợ cho con trai ông. Khi cả đoàn người nhà trai đi rước dâu đã sẵn sàng mâm, quả từ ngõ ra xe chờ ngoài đường lộ. Ông rất thành kính dâng hương lên bàn thờ gia tiên nhà ông như xin phép tổ tiên, ông bà cho ông được phép hôm nay đi cưới vợ cho con trai ông. Sau ông là người con trai hôm nay đi cưới vợ cũng thắp hương, vái lạy tổ tiên, ông bà cho phép con hôm nay được lập gia thất. Tôi mừng cho phong tục ở quê nhà vẫn còn giữ được văn hoá dân tộc sau bốn mươi bảy năm miền nam bị cưỡng chiếm. Nhưng tôi đã sụp hầm đau điếng lòng khi thấy bên trên những linh vị của tổ tiên nhà nọ là di ảnh ông Hồ. Không lẽ bây giờ người ta chấp nhận dễ vậy sao? Một người không bà con ngồi trên tiên tổ họ nhà mình. Lịch sử Việt nam bao đời chỉ có Trời Phật mới trên ông bà. Sao đau lòng quá!

Còn gì nữa đâu mà hy với vọng, những người không biết mùi thuốc súng đã lãnh trọn nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nay đến đời con họ, cháu họ là sự định đặt của số phận Việt nam. Buồn thì cứ buồn vì sự thực là chuyện buồn, nhưng buồn nhất là người trong hai câu chuyện tôi kể lại không thấy buồn vì họ đã bị tẩy não tới trống trơn…

Tôi nhìn ra cánh đồng bluebonnet sau nhà, hoa vẫn nở tím cả chiều hoang biền biệt như màu tím hoa sim trong thơ Hữu Loan. Thấy thương thân biền biệt tới hết đời vẫn không hết buồn khi tháng tư lại về cho hoa bluebonnet vẫn nở sau nhà, những con chim sặc sỡ màu vẫn không cất nổi tiếng hót lảnh lót, tiếng hót không vui cũng không buồn của nó như một đời người lưu lạc ngồi nhìn về cố hương trong tiết tháng tư…


Phan

Nhà Vệ Sinh Trong Suốt Và An Toàn Tại Nhật Bản - HD - Youtube LK

<p> 

Bâng Khuâng Nỗi Nhà - Hàn Thiên Lương

Kỷ Niệm Xưa: Những Hình Ảnh Đẹp - Tiểu Tử


Anh tôi nằm bịnh viện Saint Camille đã được mười bữa. Chiều hôm qua, ảnh gọi điện thoại về nhà, nói: «Thằng tây nằm chung phòng ra nhà thương rồi, ngày mai chủ nhựt, mầy vô đây anh em mình nói chuyện chơi». Nghe giọng ảnh “có thần” nên tôi vui vẻ trả lời: «Dạ! Mai em vô. Vợ con em đi Mỹ, chớ không thì em cũng chở tụi nó vô thăm anh». Tôi nghe ảnh cười khịt:  «Một mình mầy cũng đủ cho tao vui rồi…». 

Phòng anh tôi là loại phòng hai giường ở lầu ba. Ông già người Pháp cỡ hơn tám mươi tuổi nằm chung phòng với anh tôi rất khó tánh. Ổng không thích có nhiều ánh sáng vào phòng nên volet cửa sổ lúc nào cũng chỉ hé lên một chút thôi. Thấy ổng quá già lại hay gắt gỏng nên mấy cô y tá cũng nhân nhượng, chỉ kéo volet lên cao trước giờ bác sĩ trưởng đi thăm bịnh nhân, rồi lại hạ thấp xuống, sau đó! Mỗi lần tôi vào thăm anh tôi, mặc dầu chúng tôi nói chuyện nho nhỏ với nhau, ổng cũng lăn qua trở lại thở dài. Có khi còn lấy gối bịt lỗ tai nữa! 

Anh tôi nói: «Tao chưa bao giờ nghe nó… tằng hắng với tao một tiếng!» . 

Ông Tây đó xuất viện, chắc anh tôi nghe… nhẹ lắm nên mới vội vã gọi tôi vào chơi, để nói chuyện mà không cần giữ gìn ý tứ gì hết!

 Hôm nay, volet cửa sổ được kéo lên hết nên để lộ trời cao lồng lộng và phòng đầy ánh sáng… Thấy tôi, anh tôi vui vẻ nói: «Mừng quá! Hổm rày, cứ làm thinh, bực mình thấy mụ nội! Bữa nay, tụi mình nói chuyện tự do, cho nó đã!». 

Tôi nhìn anh tôi mà thấy thương: mới ngoài sáu mươi mà đã già xọm. Bao nhiêu năm tù đày của VC đã ăn mòn cơ thể của ảnh đến nỗi từ khi ảnh qua Pháp sum họp với vợ chồng tôi, ảnh cứ bịnh lên bịnh xuống hoài. Cũng may là ảnh không có vợ con nên không có những cái lo của người có gánh nặng gia đình. Và cũng may là ảnh chỉ có một mình tôi là em đã có cuộc sống ổn định nên ảnh không phải cưu mang một đứa em nào khác. 

Hai anh em tôi nói chuyện vui vẻ một lúc, bỗng anh tôi nhìn trời qua khuôn kiếng cửa sổ rồi nói: «Trời đẹp quá, Cu!». 

Tôi còn đang ngẩn ngơ không biết ảnh nói với ai thì ảnh cười khịt khịt: «Mầy quên mầy hồi nhỏ tên là Cu hả? ». 

Tôi bật cười: cả một trời dĩ vãng bỗng hiện về rất rõ, với những hình ảnh thuở nhỏ ở nhà quê, có bà mẹ một mình trồng rau trồng cải nuôi hai thằng con, đứa lớn tên Hai đứa nhỏ tên Cu… Tôi nhìn anh tôi mà nghe rưng rức ở trong lòng. Tôi “Dạ” như cái máy! Anh tôi nói: «Bác sĩ nói anh ra ngoài chút chút được». 

Tôi lại “Dạ” nhưng vẫn còn thấy tôi đang ở quê tôi, ở trong cái nhà tranh vách đất có giàn bầu vắt lên mái tranh che sàng nước nằm bên góc bếp… Tôi nói “Vậy hả anh” mà vẫn còn đứng trong vườn rau của mẹ với mấy cây mít cây ổi cây xoài, vẫn còn nhìn cái giếng có cây cần vọt để kéo nước và cái gàu đeo lủng lẳng ở đầu cây sào dài… Tôi chỉ giật mình dạ lớn khi nghe anh tôi gọi: «Cu! Ê … Cu!». 

Ảnh nhìn tôi, mỉm cười: «Tao muốn mầy đưa tao đi một vòng». 

Tôi “Dạ” rồi vội vã bước ra cửa. Ảnh ngạc nhiên: «Đi đâu vậy?». Tôi trả lời: «Em đi lấy cái xe lăn!». 

Ảnh bật cười: «Không cần xe lăn xe liếc gì hết. Mầy lại đây, tao chỉ cho». 

Ảnh tằng hắng mấy tiếng rồi nói tiếp: «Mầy đỡ tao dậy cạnh giường. Đọ… Mầy xây lưng lại thụt sát vô cạnh giường ở giữa hai chân tao nè. Đọ… Rồi mầy rùn người xuống cho tao ôm cổ mầy. Mẹ… Mầy ăn thứ gì mà mầy lớn con quá hổng biết! Rồi! Tao ôm chắc rồi! Bây giờ, mầy choàng hai tay ôm hai bắp vế của tao đây, vừa xóc nhẹ để lấy trớn vừa đứng lên. Đọ… Như vậy, người mình gọi là ‘cõng’. Ở xứ nầy, tao chưa thấy ai cõng ai hết. Có lẽ người ta không biết cõng, mầy à!». 

Tôi cõng anh tôi, nhẹ hều. Ảnh nói: «Hồi nhỏ, tao cõng mầy mòn lưng, mầy đâu có biết!». 

Một xúc động bỗng dâng tràn lên cổ, tôi vừa nuốt xuống vừa siết chặt hai chân anh tôi như muốn ôm lấy hết con người của ảnh để cám ơn, cái con người đang nằm trên lưng tôi đây, cái người anh đã hy sinh suốt cuộc đời không chịu lập gia đình chỉ vì muốn nuôi thằng em ăn học cho đến nơi đến chốn! Ảnh đã cõng tôi trong thời tuổi nhỏ, về sau, ảnh vẫn tiếp tục cõng tôi - dù dưới hình thức khác - cho đến ngày tôi thành nhân ra đời. Biết bao giờ tôi cõng lại anh tôi suốt hai mươi mấy năm trời như vậy? 

Chúng tôi ra hành lang. Gặp một cô y tá, cô ta vội nói: «Để tôi lấy cho ông một chiếc xe lăn!». 

Tôi lắc đầu: «Khỏi cần! Cám ơn cô! Anh tôi muốn tôi cõng như vầy». 

Cô ta mỉm cười bỏ đi, vừa đi vừa nhìn lại, vẻ ngạc nhiên. Anh tôi nói: «Mầy thấy không? Ở xứ nầy, người ta không biết cõng là gì!». 

Thật vậy, đi dài dài theo hành lang, gặp ai cũng bị nhìn với một nụ cười như muốn nói “Làm gì ngộ vậy há!” Tiếng của anh tôi vẫn đều đều nho nhỏ bên tai: «Hồi đó, năm mầy ba tuổi là năm mầy bịnh hoài nên mầy cứ nhề nhệ nhề nhệ đeo theo má đòi ẵm. Chiều nào má cũng nói “Hai! Mầy cõng thằng Cu đi hàng xóm cho má nấu cơm coi!” Vậy là dầu tao đang tưới rau tao cũng quăng đó, cõng mầy đi vòng vòng. Hồi đó, lúc nào mầy cũng ở truồng, còn tao, dầu đã hơn mười tuổi, nhưng lúc nào cũng ở trần, chỉ khi nào đi học mới máng lên mình cái áo sơ-mi. Thành ra, khi cõng mầy tao thương ở cái chỗ là nghe con cu của mầy mềm mềm nằm gọn trên da lưng tao. Nhiều khi thương quá, tao xoay người lại hun mầy trơ trất làm mầy nhột mầy cười đưa mấy cái răng non nhỏ như hột gạo! Mầy coi! Vậy mà đã hơn năm mươi năm rồi chớ bộ!». 

Tôi im lặng nghe anh tôi kể mà trong đầu thấy như đang nhìn ngay trước mắt cảnh thằng anh cõng thằng em đi quanh quanh để người mẹ rảnh tay lo nấu bữa cơm chiều… … Đẹp quá! Anh tôi lại nói: “Thiệt ra, tao đâu có cõng mầy đi đâu xa. Đi lòn lòn qua mấy liếp rau mấy bờ mía rồi qua lò bánh tráng của dì Sáu Lộc. Đứng xớ rớ một chút là dì Sáu hay chị Hai Huê con của dỉ cho một cái bánh tráng nướng thơm phức”. 

Ngừng một chút, anh tôi hỏi:  

“Mầy còn nhớ chị Hai Huê không?” 

Tôi đáp: “Dạ có. Hồi đó, chỉ ra sư phạm rồi dạy tụi em ở tiểu học”. 

Anh tôi tằng hắng: “Ờ! Chỉ đó! Má khen chỉ lắm, nói: con nhỏ dễ thương, đi làm có lương mà chỉ sắm có hai cái áo dài, hỏi nó thì nó nói nó để dành tiền cất một cái quán cho má nó ra bán bì bún ít cực hơn là xay bột tráng bánh”. 

Đến đây thì tôi nhớ rõ cái quán của dì Sáu Lộc: Quán nhỏ nằm cạnh cây gõ trước lò bánh tráng. Bì bún ngon có tiếng. Có điều là dì Sáu không bán rượu đế mà cũng không cho khách hàng mang rượu đế đến quán! Dân nhậu phàn nàn thì dì Sáu nói: «Tôi ghét thứ đó lắm! Cũng tại ba cái đế đó mà ông nhà tôi ba ngù té xuống bàu chết không ai hay!». 

Cái quán đó về sau giao cho vợ chồng cô cháu gái của dì Sáu trong nom và được cất rộng ra thành tiệm cà phê, người ta gọi là tiệm “Cây Gõ”... 

Ở cuối hành lang bịnh viện là khuôn kiếng rộng. Nhìn xuống dưới thấy nắng đầy… Cây cỏ được cắt xén sạch sẽ đẹp mắt. Tia nước tưới vườn tự động quét qua quét lại coi mát rượi. Anh tôi im lặng nhìn một lúc rồi nói: «Hồi đó, chiều nào đi học về, tao cũng phải đi tưới vườn rau. Mới có mười tuổi mà tao mạnh lắm! Cái gàu nước lớn như vậy mà tao xách chạy bon bon. Phải nói là nhờ có cây cần vọt tao mới kéo nổi cái gàu ra khỏi giếng, chớ nếu kéo bằng sợi dây dừa thì chắc tao chịu thua».  

Có lẽ sợ tôi quên nên anh tôi tả cây cần vọt. Tôi vẫn để ảnh nói vì tôi thấy ảnh đang sung sướng với những hình ảnh đẹp của quê hương, cái quê hương ngàn trùng xa cách… Tiếng của anh tôi vẫn đều đều bên tai: «Cần vọt là hai cây tre lớn bằng bắp chân đóng dính chắc vào nhau bằng những thanh ngang coi giống như một cái thang. Chân cái thang đó được chôn đứng cách giếng độ hai ba thước. Trên đầu có một cốt tròn xỏ qua hai thân tre. Bắc dính chắc trên cái cốt đó là một thân tre dài, đầu to là đầu nặng nằm đụng đất, đầu nhỏ chỉ lên trời coi giống như một đòn bẩy hay một cái đu nhún lên hạ xuống của trẻ con. Đó là cái cần. Trên đầu cần là một cây sào bằng tầm vông dài xuống gần miệng giếng, đầu dưới của sào có cái móc để móc cái gàu. Muốn lấy nước, người ta kéo cây sào thòng gàu xuống giếng đợi gàu đầy nước là kéo gàu lên, cây cần làm đòn bẩy giúp cho người kéo nước không phải ráng sức. Hay quá!» 

Tôi nói đẩy đưa, cố ý để cho anh tôi nghỉ: «Dạ. Em còn nhớ cây cần vọt chớ! Hồi em lớn lên, em vẫn phụ anh tưới rau cho má, anh quên sao? Em còn nhớ hồi đó phần của em là lo tưới và châm sóc giàn bầu của má”. 

Ảnh cười khịt khịt: “Ờ… giàn bầu. Trái dài lòng thòng, đi ngang phải cúi đầu để tránh...” 

Rồi giọng của ảnh như vui lên: “Bầu luộc là món mà tụi mình ăn hằng ngày, mầy nhớ không? Bữa cơm nào cũng có bầu luộc, mẻ cá kho và một tô nước luộc bầu. Nước luộc bầu không có con tôm con tép gì hết, chỉ có chút muối, chút tiêu và mấy cọng hành… vậy mà tụi mình chia nhau húp ngon lành, hén Cu!”. 

Tôi bồi hồi nhớ lại cảnh anh em tôi húp nước luộc bầu, nhứt là cái cử chỉ của anh tôi khi ảnh đưa tô sành mẻ miệng, xây chỗ miệng tô còn lành, nói: “Húp ở đây nè, Cu!”. Cha ơi…! Sao mà nó đẹp! 

Thấy gần trưa, tôi cõng anh tôi đi lần về phòng. Bỗng ảnh nói: “Ý! Má kêu kìa!”. 

Rồi ảnh nghẻo đầu buông thõng hai tay! Tôi đang hốt hoảng chưa biết phải làm sao thì gặp ông bác sĩ trưởng trong thang máy bước ra. Tôi vội vã gọi: “Bác sĩ! Bác sĩ! Ông coi dùm coi! Anh tôi bị gì rồi!”. 

Bác sĩ rờ đầu rờ cổ anh tôi rồi lôi tôi chạy lại phòng trực y tá. Bác sĩ hướng vào trong nói “Cứu cấp”. Mấy cô y tá phóng ra đỡ anh tôi qua giường sắt có bánh xe rồi đẩy nhanh về phòng, theo sau là xe dụng cụ thuốc men. Vào phòng, một cô y tá đẩy nhẹ tôi ra ngoài, nói:  “Ông đừng vào. Cảm phiền đứng đợi ở đây.” Rồi đóng cửa lại. Tôi tỳ người vào tường, nhìn quanh bối rối: hành lang trống trơn bỗng như rộng mênh mông… 

Một lúc lâu sau mấy cô y tá mở cửa đẩy giường đẩy xe ra, nói chuyện tỉnh bơ. Đi sau cùng là bác sĩ trưởng. Ổng vỗ vai tôi, nói: “Không có gì hết! Chỉ bị xúc động mạnh thôi. Ông vào được rồi.” 

Tôi nói “Cám ơn” rồi thở dài nhè nhẹ như vừa trút một gánh nặng. Nhìn thấy tôi bước vào, anh tôi mỉm cười, mắt ảnh ngời sáng, nhưng ảnh vừa đưa tay ra dấu vừa nói: “Thôi! Mầy về đi! Để tao ngủ một chút”. 

Nói xong, ảnh nhắm mắt mà trên môi vẫn còn nguyên nụ cười. Tôi biết: ảnh đang đi vào giấc ngủ với những hình ảnh đẹp! 

Tôi bước ra, đóng nhẹ cửa lại. Hành lang dài tung hút. Chắc cũng đến giờ cho bịnh nhân ăn nên phảng phất có mùi đồ ăn. Tôi bỗng nghe thèm vị ngọt của nước luộc bầu mà anh em tôi chia nhau húp năm chục năm về trước, bây giờ sao vẫn còn nhớ. Và lạ thiệt! Nước luộc bầu quá tầm thường như vậy mà sao cũng mang đầy mùi vị của quê hương? 

Tôi nuốt nước miếng…

Tiểu Tử

Ha Ha Ha! Cười Lên Đi Các Bạn

 

Voltaire

Vua Phổ Frederic Đệ nhị mời Voltaire đến thăm cung điện. Rất nhiều quan trong triều đình thèm muốn sự ưu đãi này của vua Phổ đối với nhà văn. Một vị cận thần đặc biệt rất ghen tị với Voltaire đã viết trên cửa ra vào của nhà văn một dòng chữ rất to "Chó đểu".
Voltaire đoán ngay kẻ muốn lăng mạ mình. Ngay lập tức, ông trở lại nhà gã cận thần nọ và nói rất lịch sự với gã:
- Thưa ngài, tôi xin lại thăm đáp lễ ngài. Tôi đã được đọc "Danh thiếp tên ngài" trên cửa nhà tôi. Tôi vô cùng tiếc là đã không ở nhà khi ngài đến thăm!


Bernard Shaw
Bernard Shaw vốn gầy gò, khắc khổ, trông có phần "hom hem". Trong một buổi họp mặt, có vị chính trị gia béo tốt, hồng hào, y phục sang trọng và trang sức rất đắt tiền tới gặp và trêu:
- Này ông, người nước ngoài nào mà nhìn thấy ông thì chắc họ sẽ nghĩ dân Anh phải chịu đói kém, khổ sở lắm!.
- Và rồi khi nhìn sang ông, họ hiểu ngay nguyên nhân của sự đói khổ đó là do đâu!


Albert Einstein

Albert Einstein nói về thuyết tương đối của mình, có một anh chàng hay nghi ngờ hỏi:
- Trí thông minh của người mạnh khỏe như tôi không thể chấp nhận những cái mà nó không nhìn thấy.
Einstein đứng yên lặng một lúc rồi trả lời:
- Được, điều đó có vẻ có lý lắm. Bây giờ ông đặt trí thông minh của mình lên bàn đây để tôi có thể tin rằng đó là sự thật.


Winston Churchill
Winston Churchill vốn chẳng được phụ nữ Anh yêu mến. Có một bà nói thẳng với ông:
- Nếu tôi là vợ ông, tôi sẽ cho ông uống thuốc độc.
- Nếu tôi là chồng bà, tôi sẽ uống nó ngay


Hans Poelzig
Kiến trúc sư nổi tiếng Dresden (Đức) trong những năm 30 của thế kỷ trước là Hans Poelzig có tên trong Hội đồng thành phố nhưng ít khi tham dự những cuộc họp. Một hôm trong cuộc họp hội đồng có người phát biểu:
- Giáo sư Poelzig, ủy viên hội đồng nhân dân Thành phố rất ít khi có mặt trong các buổi họp.
Kiến trúc sư không khoan nhượng trả đũa ngay:
- Các ông sử dụng cái đầu hay cái đít của tôi?


Moritz Saphir
Một nhà thơ vốn ghét Moritz Saphir nên dè bỉu rằng:
- Thưa ngài Saphir, ngài viết chỉ vì tiền. Còn tôi viết vì danh dự!
Ông từ tốn đáp:
- Mỗi chúng ta viết cái mà chúng ta thiếu!

 

Để tiếp tục chuyện vui vui của anh Lợi Sư Phạm Qui Nhơn, người Việt của mình xưa nay đối đáp rất nhanh trí, nhớ tới đâu kể lại tới đó quý anh chị vui chơi trong những ngày đầu năm.

Chuyện ngày xưa:

1. Có một phái bộ ngoại giao Tàu qua thăm nước An Nam, nhà vua muốn cho Tàu biết nước ta có nhiều nhân tài, văn hay chữ tốt bèn phái bà Đoàn Thị Điểm (không nhớ chính xác) giả dạng thường dân, mở quán ở biên giới để bán nước chè. Vì mượn quần áo rách rưới của thường dân, khi ngồi đun nước để lộ cái “Sự đời”, các quan bên Tàu vừa cười vừa nói:

-An nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh. ( Nước An Nam có một tấc đất, không biết có ông bạn nào cày chưa?). Bà đối lại liền:

-Bắc quốc chư trương phu, giai do thử đồ xuất ( Những bậc trượng phu đất bắc, cũng đều từ chỗ ấy mà ra). Quan Tàu trố mắt ngẩn ngơ, một người đàn bà lam lũ, ở vùng khỉ ho cò gáy mà đối đáp thật chỉnh như thế này, thì ở triều đinh An Nam có biết bao người giỏi, và không dám khinh thường nữa.

2. Ông Lê Quý Đôn, một nhà bác học thông minh từ nhỏ. Trong một đám tang công chúa bên Tàu, nhà vua phái Lê Quý Đôn sang tàu chia buồn, phân ưu. Mỗi sứ thần của các chư hầu đều được đưa trước một bản điếu văn, đến lượt Lê Quý Đôn, khi mở điếu văn ra đọc chỉ có bốn chữ Nhất, chẳng lẽ chỉ đọc bốn chữ nhất rồi đi xuống. Ông ứng khẩu đọc ngay bài điếu văn với bốn chữ nhất:

Thiên thượng nhất đoá vân (Trên trời có một đám mây đẹp nhất)

Hồng Lô nhất điểm tuyết (Trên núi Hông Lô có một đỉnh tuyết đẹp nhất)

Thượng uyển nhất chi ba (Trong vườn thượng uyển có một đoá hoa đẹp nhất)

Giao trì nhất điểm nguyệt ( Dưới đáy giếng có một bóng trăng đẹp nhất)

Ô! Hô! Vân tán, Tuyết tan, Ba tàn, Nguyệt khuyết. Nhưng than ôi! Mây đã bay, tuyết đã tan, hoa đã tàn và trăng đã khuyết). Quan Tàu vô cùng thán phục nước An Nam lại có những người thông minh tuyệt vời như thế.

3. Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhậm là hai bạn thân từ nhỏ, dưới triều đại Quang Trung Nguyễn Huệ, Ngô thời Nhậm học giỏi ra làm quan, Đặng Trần Thường thi rớt hoài nhờ Ngô Thời Nhậm giúp đỡ trong tình bạn thân để cùng làm quan thì Ngô Thời Nhậm trả lời:" Mình phải cố gắng học thật giỏi, người tài thì đất nước sẽ trọng dụng”. Tức vì câu nói khinh miệt mình là kẻ bất tài, Đặng Trần Thường đầu quân qua Nguyễn Ánh. Khi vua Gia Long lên ngôi, tất cả những quan thần của Quang Trung Nguyễn Huệ đều bị hành hình, trong đó có Ngô Thời Nhậm. Đặng Trần Thường gặp lại Ngô thời Nhậm trong tư thế của một kẻ chiến thắng và ra câu đối:

Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai.

Ngô Thời Nhậm đáp lại ngay:

Thế chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.

Đặng Trần Thường tâm phục, nhưng mối thù khinh bạc ngày xưa vẫn còn đó, nên Ngô Thời Nhậm đã cùng chung số phận của những kẻ chiến bại.

4. Đàm Thận Huy làm quan đến chức Lễ Bộ Thượng Thư, một hôm trời mưa to nên học trò phải ở lại chờ tạnh mưa mới về, ông ra câu đối:

-Vũ vô kiềm toả năng lưu khách (mưa không xích không khoá mà vẫn giữ khách ở lại)

Anh học trò thứ nhất đối ngay:

-Sắc bất ba đào dị nịch nhân (Nhan sắc không sóng gió mà làm say đắm lòng người)

Anh học trò thứ nhì đối tiếp

Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân ( Vầng trăng có cung loan mà không bắn người)

Anh học trò thứ ba đối tiếp

Phân bất uy quyền, dị khủng nhân (cục phân chẳng có uy quyền gì, mà làm người ta sợ.)

Chuyện thời nay:

1. Trong giờ sinh vật học lớp 12, thầy giáo ngẫu hứng ra câu đố:

-Con bò cạp, cạp con bò cạp, cạp đúng chỗ bò mà bò đúng chỗ cạp

Một anh học trò rụt rè đưa tay:

-Thầy sinh vật, vật cô sinh vật, vật đúng chỗ sinh mà sinh đúng chỗ vật.

Thầy đang đỏ mặt tía tai, thì một em khác đưa tay lên xin đáp:

-Anh tiểu thương, thương chị tiểu thương, thương đúng chỗ tiểu mà tiểu đúng chỗ thương

Một em khác đưa tay:

-Anh cà phê cà chị cà phê, cà đúng chỗ phê mà phê đúng chỗ cà.

Thầy lúng túng xin stop, không ngờ học trò mình lại giỏi đến thế!

2. Sau năm 1975, làm thầy giáo nghèo rớt mồng tơi, ba ngày Tết chẳng có gì ăn thầy bèn phán một câu:

- Chiều ba mươi Tết, thầy giáo tháo giày ra chợ bán.

Một ông giáo khác:

-Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo thay cơm.

3. Cô gái tên Miên, thật trẻ đẹp, cô ra câu đối, ai đối được cô sẽ nhận làm chồng:

-chưa chồng chơi chốn chùa chiền, chanh chua chuối chát chính chuyên chờ chồng.

Câu đối thật khó, tuy nhiên vẫn có một ông đối lại được:

-Thủ thân thăm thất thiên thần, thi thông thư thạo thảo thuần thành thân.

Chuyện văn chương đối đáp của Việt Nam còn nhiều lắm. Kính chúc Quý Anh chị, cuối năm, đầu năm vui vẻ, khoẻ mạnh và vạn sự như ý. 

Thân mến,

Đồng


Sưu tầm