Tuesday, September 17, 2019

Một Cội Đôi Cành - Nguyễn Văn Tới


Tôi tình cờ biết tin nó và gia đình, vợ 3 con, đang sống ở miền Bắc California, nơi bốn mùa mưa nắng thuận hòa và hoa cỏ xinh tươi. Tôi, vợ 2 con, vùng sa mạc nắng cháy da người, quê hương của những trận bão cát mù trời. Như một định mệnh, gia đình tôi và gia đình nó thường ở xa nhau, dù chúng tôi là anh em cô cậu ruột. Tôi xin người quen số phone của nó vì dầu sao nơi đất lạ quê người, tình anh em cũng là một giọt máu đào hơn ao nước lã.

Lần đầu nói chuyện qua phone, tôi nhận ra ngay giọng nói quen thuộc của thằng em cô cậu mình, nó không biết tôi là ai mãi cho đến khi tôi phải nói rõ tên tuổi và quan hệ giữa hai gia đình. Nó mới bật lên tiếng ồ ngạc nhiên như vừa khám phá ra điều gì mới mẻ lắm. Nó cho biết gia đình qua Mỹ theo diện con lai. Tôi hỏi: - vợ chú lai à? Nó nói: - không, em có mua một đứa con lai. Tôi vẫn phục anh em nó vì họ luôn nhanh nhậy nắm bắt thời cơ trong bất cứ chuyện gì, trong khi tôi lù khù nên cam phận tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ.

Anh em hỏi thăm nhau về gia cảnh, về những gì đã xảy ra trong thời gian hai gia đình giữ liên lạc rất là rời rạc kể từ năm 1975. Nó cho biết ba má và ba người anh của nó đều đã qua đời do trọng bệnh. Trong suốt buổi nói chuyện, tôi cảm nhận có một cái gì đó vô hình vẫn ngăn cách chúng tôi như sự cách biệt giàu nghèo của hai gia đình từ những ngày xưa. Tuy vậy, năm nào tôi cũng là người gọi phone chúc tết gia đình nó vào những ngày đầu năm mới.

Nó và tôi sinh ra cùng một năm, một tháng, nhưng khác ngày. Ba tôi là anh ruột má nó. Nó con nhà giàu, tôi con nhà nghèo. Nhà nó ở một tỉnh miền Trung đất đỏ, bụi mù nhưng buôn bán sầm uất, việc làm ăn gặp thời, tiền bạc vô như nước. Gia đình gồm 4 đứa con trai mà ba nó thường khoe là tứ quý, tất cả được gởi đi học những trường tư, lớn thì ở Sài Gòn, nhỏ thì các trường ma sơ trong tỉnh.

Gia đình chúng tôi sống ở một vùng trù phú lúa gạo miền Tây, trôi nổi theo đời lính của ba tôi trong những trại gia binh của đơn vị. Gia đình chúng tôi gồm 9 anh chị em, cuộc sống không dư dả, nhưng thuận hòa hạnh phúc. Tuổi thơ chúng tôi trải dài với những cánh đồng xanh ngát, những đàn cò trắng ven con đường quốc lộ liên tỉnh dẫn đến trường mỗi buổi sáng.

Rồi ba tôi xuất ngũ, vốn tính thật thà, không biết buôn bán, đang lay hoay không biết làm gì để nuôi đàn con 9 đứa thì một người cháu họ xa, đi công tác ghé ngang nhà thăm, nói sao chú không lên Pleiku làm ăn? Trên đó chú thím L. làm ăn phát tài lắm, phải mướn người mà việc làm vẫn không xuể. Má tôi mua vé, bay lên đó để coi tình hình. Tháng sau, cả gia đình khăn gói, từ giã khu gia binh, lên xe đò, tìm đến thành phố núi mù sương miền cao nguyên đất đỏ.

Một ngày nọ, nó gọi phone cho tôi, dễ cũng khá lâu kể từ ngày tôi gọi nó. Bằng giọng run run lo lắng, nó hỏi liền: - “Anh có biết luật sư di trú nào người Việt mình không? Tôi hỏi để làm chi? Nó trả lời: - “Em bị chính phủ Mỹ điều tra về đám cưới giữa em và cô em vợ. Mấy tháng nay ăn ngủ không yên”. Biết tôi không hiểu, nó vội giải thích rằng nó và vợ đã ly dị giả để nó về Việt Nam cưới cô em vợ, cũng ly dị giả, rồi đem cô sang Mỹ.

Sau này, qua người cháu, tôi mới hiểu như sau: Nó và vợ, thực ra vẫn sống chung với nhau đề huề cùng với các con dưới một mái nhà, cả hai giả vờ ly dị để vợ nó có thể xin được bảo hiểm sức khỏe, phụ cấp tiền nhà, và phiếu thực phẩm hằng tháng cho gia đình trong khi vợ chồng nó vẫn đi làm chui lãnh tiền mặt. Nhân việc ly dị giả, vợ nó nghĩ ra cách giúp cho em gái mình bằng cách để nó về Việt Nam làm đám cưới giả đem cô em qua Mỹ. Khi có thẻ xanh, sẽ ly dị “anh rể”, cô em vợ sẽ về nước để cưới lại ông chồng cũ và bảo lãnh cả gia đình qua đoàn tụ.

Sự việc trở nên xấu đi vì vợ nó dính líu tới một đường dây kết hôn giả vừa mới bị bể ra cách đây không lâu ở một tiểu bang khác với vai trò là một người trung gian mai mối. Vì thế, chính phủ “sờ gáy” hai vợ chồng nó vì họ tình nghi tình nghi đây cũng là một vụ kết hôn giả để đi Mỹ. Gia đình nó giờ ăn không ngon, ngủ không yên. Nó như kẻ chết đuối, thấy bất cứ phao nào, cũng muốn bám vào. Tôi là người cuối cùng mà nó gọi để trút nỗi niềm.

Ngày trước, nhà nó cũng là nơi cuối cùng anh em tôi muốn đến. Mỗi khi ba má sai chúng tôi qua nhờ vả công chuyện, chúng tôi thường rụt rè đứng ở góc nhà, không dám lên tiếng cho đến khi ba nó nhìn thấy chúng tôi và lừ mắt hỏi có chuyện gì không? Lúc đó chúng tôi mới dám thưa chuyện. Chúng tôi sợ ông lắm vì ánh mắt ông sắc lạnh, không chút tình cảm.

Một buổi sáng, ba tôi về nhà với tâm trạng bất an và bực bội, mấy ngày không ngủ được. Má gặng hỏi mãi, ba mới kể. Sáng hôm đó, trên đường đi nhà thờ, gặp ba nó ra chợ, ông hỏi ba tôi: “Bác đi lễ mỗi ngày, thế Chúa có ban cho bác tiền bạc gì không?”. Quá bất ngờ, ba tôi không biết trả lời sao, chỉ lặng lẽ bỏ đi mang theo nỗi ấm ức trong lòng.

Nhưng tôi nhớ và mang ơn nó vì đã cho tôi tất cả đồ cũ mà nó không muốn mặc nữa: Xong bậc tiểu học, tôi may mắn thi đậu vào một trường Pháp của các cố đạo Tây. Khỏi phải nói, ba má tôi tự hào và hãnh diện lắm. Mỗi khi ra chợ, bà đều khoe với các bạn và khách hàng là có thằng con sắp sửa đi học trường Tây. Má kêu tôi sang bên đó xin quần áo của nó để sang năm nhập học có cái mà mặc. Má đã nói chuyện với cô chú rồi. con cứ qua. Bước vào nhà, tôi lủi thủi đứng ở góc phòng khách rộng thênh thang, mê mệt nhìn nó đang chơi những chiếc xe chạy bằng pin với cặp mắt thèm khát. Khi chơi chán, nó mới kéo tôi vô phòng và chỉ đống quần áo, giày dép trên giường và nói cho mày đó. Tôi vội nhét tất cả vào một cái bao mang theo và chạy bay về nhà.

Mùa nhập học đầu tiên ở trường Pháp, tôi cũng có quần áo bảnh bao, áo bỏ vô thùng, hợp thời trang, ủi thẳng nếp, cùng với đôi giầy nâu sáng bóng không thua gì các bạn con nhà giàu khác. Từ đó, năm nào tôi cũng được hưởng “sái nhì” từ những đồ cũ mà nó loại ra nhưng đối với tôi còn khá mới.

Hôm nay, tôi thực sự cũng không biết làm gì để giúp nó trong lúc khó khăn này ngoài những câu an ủi chân tình. Khi hoạn nạn mới thấy tình anh em thật là cần thiết, những lời động viên tích cực như những liều thuốc an thần giúp nó phần nào lấy lại sự bình an trong tâm hồn. Tôi cũng hứa sẽ tìm kiếm thêm thông tin trên mạng và từ những bạn bè quen coi có thể giúp nó được gì không? Tôi tự hỏi đã hơn 40 năm tôi chưa gặp lại nó, không biết bây giờ có còn nhận ra nhau không?

Còn nhớ những ngày khốn cùng sau năm 1975, khi tôi còn đang đổ mồ hôi bạc trắng lưng áo, chèo ghe  đi chặt củi đước vùng rừng Sác thì nghe nói nó làm nghề phân kim, thu mua tất cả những gì có thể rồi phân chất để lựa ra vàng, đồng thời cũng buôn bán, trao đổi vàng chui nên gia đình vẫn làm ăn khấm khá, ăn no mặc ấm hơn nhiều người xung quanh trong cái xã hội ăn độn lúc bấy giờ.

Ba tôi kể, lúc đang chạy giặc trên tỉnh lộ 7B về Tuy Hòa, ông có gặp ba nó. Chú ấy không xách theo hành lý gì ngoài một bao cát đựng vàng lá được gói kỹ trong những bộ quần áo. Trong trại tạm cư, chú không bao giờ rời cái bao cát mà tối ngủ ông dùng để gối đầu. Vợ con thì ông đã cho bay về Sài Gòn với của cải, bạc vàng, trước khi quân đoàn II di tản chiến thuật. Sau 75, gia đình nó trở lại thành phố cũ vì cơ ngơi nhà cửa, tuy bị trộm phá cửa khuân sạch đồ đạc, nhưng xác nhà vẫn còn nguyên.  Giờ đây hai anh em đều đang sống trên đất Mỹ, chỉ cách nhau hơn 10 giờ lái xe, hy vọng có ngày sẽ lại gặp nhau.

Theo luật di trú Mỹ (1), nếu một người công dân kết hôn giả để đem người ngoại quốc vào Mỹ là phạm trọng tội, có thể bị án tù ở tối đa 5 năm, bị phạt tiền tối đa $250,000.00. Người phối ngẫu giả sẽ bị trục xuất và cấm vĩnh viễn không được trở lại Mỹ vì bất cứ lý do gì. Tôi thương nó quá mà không biết phải làm sao vì chính bản thân tôi cũng mù mờ về luật pháp nước Mỹ. Bao năm định cư ở đây, tôi chỉ biết vừa học vừa làm để ổn định đời sống. Khi ra trường, tôi đi làm chăm chỉ như một con ong, làm tròn bổn phận công dân và đóng thuế như mọi người, chứ chưa hề nghĩ có một ngày mình phải bận tâm đến pháp luật.

Tôi hỏi thăm nhiều đồng nghiệp về chuyện này, đa số đều không biết gì, chỉ khuyên nên mướn một luật sư. Sau nhiều tháng ngày trăn trở, nó đồng ý sẽ phải nhờ đến một văn phòng luật sư. Ở xứ này, mướn luật sư rất tốn tiền mà chưa chắc đã xong việc. Lần cuối nó cho hay luật sư báo cho biết vẫn chưa có ngày ra tòa cụ thể, sẽ cho biết sau. Cha mẹ đã dạy chúng tôi từ nhỏ, nếu thấy chuyện gì kiếm tiền quá dễ dàng mà lỗi đức công bằng, thì đừng làm. Sau bao dâu biển trong đời, tôi nghiệm ra nếu muốn có một giấc ngủ yên lành không mộng mị, không phải trăn trở rồi thở dài trong bóng đêm, tôi phải suy nghĩ, đắn đo thật kỹ, không phải bảy lần, mà bảy mươi lần bảy. Tương lai ta nằm trong tầm tay ta, trong những việc làm của ngày hôm nay.

Biết làm sao được khi anh em mỗi người mỗi ngã, mỗi cuộc sống khác nhau, tuy cùng một cội nguồn. Một cội mà đôi cành, một bên hưởng trọn ánh nắng mặt trời, bên kia bị che tối bởi một vách đá mà ánh sáng khó có thể rọi soi đến được. Bên có nắng thì lá xanh tươi mạnh mẽ và sáng hơn, còn bên kia, lá sẫm màu và thiếu sức sống. Tôi chỉ biết cầu nguyện ơn trên ban phước, che chở, và giữ gìn gia đình nó cho khỏi mọi bóng tối của cuộc đời. Nếu qua được cơn hoạn nạn này, mong sao nó nhìn lại đoạn đường đã đi qua mà định hướng lại cuộc đời trên vùng đất vẫn đang rộng mở vòng tay đón những người nhập cư lương thiện.

Nguyễn Văn Tới
REFERENCES:

Vàng Thu Lá Úa - Đỗ công Luận

Monday, September 16, 2019

Lặng Im Như Hoa Cúc - Nguyễn Duy Nhiên


Thầy Ajahn Brahm có lần chia sẻ khi ông mới đến ở tu viện Wat Pah Pong của ngài Ajahn Chah, ông thường được nghe Ngài Ajahn Chah kể một câu truyện về làm thế nào để hái một trái xoài.
Tu viện Wat Pah Pong là một vườn xoài. Và theo người ta kể thì những cây xoài ở đây được lấy hạt giống từ chính cây xoài được trồng bởi đức Phật. Vườn xoài lúc nào cũng đầy trái thơm chín chỉ chờ người hái. Nhưng theo lời Phật dạy thì chúng ta không nên leo lên cây hái trái. Và ta cũng không cần phải lấy cây sào vói hái, hay là rung lắc cho trái rụng xuống. Chúng ta chỉ cần ngồi yên dưới cây, với hai bàn tay mở rộng, và rồi trái xoài chín sẽ rơi vào trong lòng bàn tay mình. Ajahn Chah nói đó là một lời dạy đầy tuệ giáctình thương của Đức Phật.
    
Và ngài Ajahn Chah cứ kể đi kể lại câu truyện ấy rất nhiều lần cho các thiền sinh. Thầy Ajahn Brahm nói là ông không thể nào chấp nhận được câu truyện ấy, ông cho rằng lời dạy ấy rất là vô lý và không thực tế. Nếu như ta cứ ngồi yên dưới một cây xoài chín trái, thì có lẽ ta phải chờ rất lâu mới có trái rụng, Có thể những con chim cũng sẽ ăn hết trước ta. Và nếu như có trái chín nào rụng xuống đi chăng nữa, thì dễ gì mà nó sẽ rơi đúng vào trong tay mình.
    
Nhưng sau một thời gian dài tu tập, thầy Ajahn Brahm chợt nhận ra rằng câu truyện ấy là một ví dụ rất chính xác và sâu sắc về vấn đề giải thoát, giác ngộ. Ông hiểu được rằng bấy lâu nay ông mới chính là kẻ ngu khờ, không hiểu được lời dạy ấy. Trên con đường tu học, ta sẽ không bao giờ đạt được bất cứ một điều gì bằng những sự cố gắng “công phu” hay “rèn luyện” theo một ý đồ nào đó. Ta không thể nào “trèo lên cây” hay “lấy cây sào vói hái” hay “rung lắc cây”, để khiến cho một việc gì đó xảy ra theo ý mình muốn. Nhưng khi ta biết ngồi yên, bỏ hết sự mong cầu, và mở rộng lòng ra tiếp nhận những gì đang xảy ra với một tình thương, thì quả trái giác ngộ sẽ nhẹ nhàng rơi vào trong bàn tay ta.

Trọn vẹn với nơi này
Tôi nghĩ, câu truyện ấy muốn nhắc nhở chúng ta rằng quả trái của tu tập chỉ đến với một tâm không mong cầu. Nếu như ta đừng tìm kiếm và tạo tác thêm, biết có mặt trọn vẹn với những gì đang xảy ra, thì ta sẽ thấy rõ được những gì mình cần làm mà không bị ảnh hưởng bởi một sự mong muốn nào hết.

Vì thật ra những gì đang có mặt, mưa hay nắng, thành công hay thất bại, an vui hay khổ đau… chúng đều cần thiết cho một hành trình chuyển hóa của ta. Nếu như ta thấy rõ được sư thực ấy, và hiểu rằng tất cả đều là những giai đoạn khác nhau cho sự chín tới của hoa trái tuệ giác, thay vì cứ lăng xăng tìm cầu một cái gì khác…
    
Tại nhà thờ Chartres Cathedral ở Pháp, được xây vào khoảng thế kỷ 12, có một kiến trúc gọi là labyrinth.  Labyrinth là một kiến trúc cổ trong huyền thoại Hy Lạp, nó gồm có một con đường vòng vo như một mê đồ.  Nhưng trong labyrinth thì chúng ta chỉ đi trên một con đường duy nhất, tuy lối đi vòng vo và quanh co, nhưng cuối cùng con đường ấy sẽ dẫn ta vào đến trung tâm của kiến trúc.
    
Khi đi, có nhiều lúc ta tưởng như mình sắp sửa vào đến trung tâm, thì con đường ấy lại dẫn ta đi ra tận ngoài bìa, như là mình đã lạc lối. Rồi có khi đang ở bên ngoài, qua một khúc quanh, nó lại dẫn ta vào ngay bên trong. Và cuối cùng thì ta cũng bước vào được ở nơi trung tâm. Con đường ấy tượng trưng cho một hành trình tâm linh, mà bất cứ nơi nào ta đang có mặt cũng là một giai đoạn hoàn hảocần thiết. Nó nhắc nhở ta hãy có mặt trọn vẹntiếp nhận những gì xảy ra với một tâm rộng mở.

Có thể bao dung được
Trong kinh có ví dụ về một chén nước nhỏ. Nếu trong một chén nước mà người ta thả vào một nắm muối thì nước sẽ trở thành mặn và không uống được. Nhưng nếu có một người đứng trên thuyền mà đổ một bát muối xuống dưới sông, thì nước sông ấy vẫn không hề bị mặn. Nước sông không mặn, không phải tại vì trong ấy không có muối, nhưng tại vì lòng sông quá lớn, nó có thể bao dung được tất cả.

Cũng vậy, khi ta tiếp xúc với những điều bất như ý với một tâm rộng mở, trong sáng, thì chúng sẽ không đủ sức để trở thành nỗi khổ niềm đau cho ta. Ta cũng không cần tránh né hay mong cầu cho nó được khác hơn. Giữa một đại dương bao la sóng gió, có những chiếc tàu chở hàng nặng cả trăm ngàn tấn, nhưng vẫn nhẹ nhàng nổi được trên mặt nước, đó là nhờ ở cái rỗng không trong lòng tàu.
    
Thật ra thái độ ấy không phải là một sự tiêu cực, mà nó chỉ có nghĩa là ta cho phép ngày nắng được nắng, ngày mưa được mưa, và không bắt sự việc phải xảy ra theo ý riêng của mình. Sóng gió có đó chứ không phải là không có, nhưng như một chiếc thuyền lớn giữa đại dương, ta vẫn có thể an ổn đi tới. Sự rộng mở và có mặt trọn vẹn là một thái độ rất tích cực, nó giúp ta thấy rõ được những gì ta cần làm và có thể làm được, chứ không phải chỉ nỗ lực cho một sự thành đạt nào đó.

Hãy buông xả tự nhiên
Thiền sư Suzuki có lời dạy như vầy cho các thiền sinh của ông, “Đôi khi phương pháp hữu hiệu nhất để điều khiển một việc gì là để cho nó được tự nhiên. Và lúc ấy sự việc sẽ nằm dưới sự kiểm soát của ta, theo một nghĩa rộng. Cũng như muốn kiểm soát một con cừu hay một con bò, bạn hãy thả nó vào một cánh đồng cỏ rộng bao la. Làm ngơ không biết đến là một phương pháp tệ hại nhất, và kế đến là cố gắng điều khiển chúng. Chỉ có phương cách hữu hiệu nhất là thấy biết chúng, ta chỉ cần thấy biết thôi, và không cần phải điều khiển một việc gì hết.”

thiền sư Suzuki cũng khuyên chúng ta nên áp dụng thái độ ấy vào việc ngồi thiền của mình. Nếu lần tới trong giờ thiền tập, thay vì cố gắng công phu “làm” một cái gì đó, hoặc “điều khiển” tâm ý theo một phương cách nào đó, bạn hãy thử ngồi yên thư giãn và buông xả. Hãy ngồi trọn vẹn tỉnh thức và cảm nhận rõ hết tất cả, toàn thân như thế nào thì thấy như vậy. Cảm nhận một cách tự nhiên, không cố gắng, không mong cầu gì khác.
    
Ta cũng không cần tìm kiếm một phương cách nhất định nào, chỉ trở về với sự thấy biết tự nhiên của mình. Ta ngồi với một sơ tâm trong sáng, những gì xảy ra thì xảy ra.  Vì thiền tập không phải để ta “quán chiếu” một vấn đề nào, mà là để yên và thấy rõ được sự đến và đi tự nhiên của những gì đang có mặt.

Lặng im như hoa cúc


Tôi thấy, trong cuộc sống hằng ngày, nếu muốn thành tựu một việc gì đó, thì người ta cảm thấy cần phải toan tính, tìm phương án, lập kế hoạch, để đạt đến những gì mình mong muốn. Và nhiều khi ta đạt được những gì mình muốn, nhưng trong quá trình ấy ta lại đánh mất đi chính mình.

Trên con đường tu học thì như thầy Ajahn Brahm chia sẻ, thật ra ta không cần phải “trèo lên cây” hay “lấy cây sào vói hái” hay “rung lắc cây” cho được trái chín rụng.  Ta chỉ cần trở về với sự tĩnh lặng trong sáng sẵn có, buông bỏ những mong cầu của mình, và mở rộng lòng ra tiếp nhận những gì xảy ra với một tình thương. Rồi thì một ngày quả trái giác ngộ sẽ nhẹ nhàng rơi xuống trong tay.
    
Buổi sớm mai này trên con đường đi đến sở làm tôi thấy một vầng trăng tròn sáng trên cao, tĩnh lặng giữa một bầu trời vắng không, chợt nhớ đến tách trà của thiền sư Basho …
Uống trà sáng
Nhà sư
Lặng im như hoa cúc.
Basho (Thái bá Tân dịch)

Nguồn: thuvienhoasen.org

Cuộc Tình Ken Và Lan - Trầm Vân

Thiên Đường Cũng Lầm Lỗi - ThaiNC


Josh Smith. là một sinh viên đẹp trai, cầu thủ chơi Baseball cho một trường đại học nổi tiếng tại California, tương lai sáng ngời, bỗng nhiên một hôm ra đường bị tai nạn xe hơi đụng chết...

Khi hồn Josh Smith lên tới thiên đường mới biết có sự lầm lẫn. Thiên đường làm lỗi lộn tên anh với một Josh Smith khác, nhưng đã trễ, không thể trở lại trần gian vì thân xác của Josh đã được hiến tặng mọi bộ phận cho y khoa Hoa Kỳ nên tất cả đã không còn gì. Josh giận quá đòi kiện lên Thượng Đế. May sao Thánh Phê-Rô đã tìm được phương pháp đền bù cho anh.

Thánh Phê-Rô tìm ra một người Josh Smith khác 35 tuổi, thô lỗ, say sưa, đáng lẽ phải chết do say rượu đi bộ hôm nay sẽ bị đụng xe nên sắp đặt cho anh sống lại vói thể xác của Josh Smith này. Không còn đường nào khác hơn anh đồng ý chịu.

Khi Josh tỉnh lại và hỡi ơi với cái thân xác xấu xí, ù lì, và đặc biệt là một ngưòi Mỹ da mầu, hoàn toàn khác với anh. Thiên đường cho anh một đặc ân là vẫn còn nhớ một số quá khứ kiếp trước, để anh đủ nhận thức nàng Sue và thằng con Michael, là vợ và con của người tên Josh Smith kia đã chết. Anh chỉ mượn thân xác của ông ta để tạm thời sống lại mà thôi. Họ không phải là vợ và con của mình. Nhưng dù anh nói cách nào đi nữa vẫn không ai tin. Mọi người cho rằng sau tai nạn đầu óc anh có vấn đê phải đưa đi bác sĩ tâm thần, và dĩ nhiên là không có kết quả gì.

Dù muốn hay không Josh Smith cũng phải ở lại đây với ngôi nhà của Josh Smith kia, với nàng Sue luôn luôn hiền dịu, chiều chuộng chồng, và với thằng con tên Michael 12 tuổi sợ bố nó như sợ cọp. 
Thời gian mấy tháng nữa trôi qua, Josh Smith sống trong sự thưong yêu của Sue. Anh cảm động khám phá ra rằng người đàn ông trước mang hình hài của anh đang mang vốn là một thằng hay say sưa, vô tài, không nghề ngỗng gì chắc chắn, và chỉ sống chủ yếu vào đồng lương cần cù của vợ là nàng Sue. Nhưng nàng Sue thì vẫn luôn một mực thương yêu chồng và con vô cùng.

Một hôm anh ở nhà thấy thằng con Michael đang treo một cái bánh xe cũ ngoài sân và chăm chỉ đứng từ xa cố liệng trái banh vào lỗ hổng ở giữa cái bánh. Té ra thằng con Michael đang tập luyện để thành một pitcher cho đội Baseball của trường nó. Josh Smith bỗng thấy cánh tay mình rung động. Tâm thức của một Josh Smith của kiếp trước, tay ném pitcher số một của đội Baseball trường UCLA bỗng nhiên cuồn cuồn trở về trên cánh tay. Anh lấy trái banh từ thằng Michael, và chỉ một cái vung tay là trái banh đi vào tâm điểm cái bánh xe trước cặp mắt kinh ngạc của thằng bé.

Để chứng minh không phải là may mắn, Josh Smith lần lượt đứng thật xa, dưới bất kỳ góc độ nào trái banh cũng dễ dàng trúng tâm điểm ...Lần lượt những đường banh nổi tiếng của Josh Smith ngày nào, nào là “fast ball” “curved ball” “Breakng ball”, “Change up”...tất cả những đường banh tuyệt kỷ đó lần lượt trở về thể hiện trong những cú ném thần sầu của anh trước cặp mắt tròn xoe không thể nào tin nỗi đây là sự thật của thằng bé Michael.
Josh Smith reo lên sung sướng. Thiên đường đã vô tình hay cố ý để lại một tài nghệ, khả năng chơi bóng tuyệt vời ngày trước của anh lại cho anh không suy suyển mảy may.

Một tháng sau, anh ra sức huấn luyện, truyền dạy cho thằng con Michael những đường ném bóng tuyệt vời của anh. Tài nghệ chơi baseball của thằng Michael tiến bộ cực kỳ đến nỗi nhà trường chú ý, dọ hỏi và biết bố nó là Josh Smith đã dạy nó làm cả trường ngạc nhiên. 

Tuy vậy, sự thật vẫn là sự thật. Nhà trường của Michael mời Josh Smith về làm huấn luyện viên cho đội baseball của trường chuẩn bị tham dự giải vô địch hằng năm của các trường trung học.

Từ ngày tìm lại được khả năng chơi baseball của mình, Josh Smith đã có được niềm vui trở lại. Anh cảm thấy cuộc sống hiện tại của mình thật ra cũng...not bad. Một mặt anh mang hết tài nghệ ra sức truyền dạy cho thằng đệ tử ruột là Michael Smith trở thành một picher có triển vọng và tương lai, mặt kia ra sức huấn luyện cho đội baseball trường Michael chuẩn bị cho giải State Championship.

Sáu tháng trôi qua. Josh Smith ngoài những lúc chơi Baseball, anh dần dần sống hài hòa trong thân xác của Josh Smith kia. Anh là một người chồng, người cha gương mẫu, không hề say sưa thô lỗ đánh đập vợ con như Josh Smith kia đã từng làm, lại có công ăn việc làm vững vàng và được dân cư thành phố kính trọng.
Có hai người hạnh phúc sung sướng nhất trên đời là nàng Sue và thằng Michael. Họ hoàn toàn không biết gì về chuyện cải xác hoàn hồn của hai người đàn ông cùng mang tên Josh Smith này. Họ chỉ tin rằng Thượng Đế đã nghe thấy những lời cầu nguyện của họ và đã cho chồng và cha của hai người thay đổi hoàn toàn.
...
Đội bóng trường Michael Smith vào chung kết giải State Championship tiểu bang Alabama. 
Michale Smith ném trái banh cuối cùng kết thúc trận đấu. Thắng hay thua quyết định ở đường banh này. Đường “Breaking Ball” tuyệt kỷ của Josh Smith truyền dạy cho Michael loại được đấu thủ bên kia mang về chiến thắng đầy vẻ vang cho Winslow Middle High School ngôi vị State Championship đầu tiên của trường.

Sau khi trọng tài vung tay ra hiệu là Michael Smith chiến thắng, khán giả ùa ra sân, và không ai nhanh bằng chính ông huấn luyện viên Josh Smith cùng bà vợ là nàng Sue. Hai người cùng ôm choàng lấy Michael mừng rỡ. Thằng Michael bật khóc. Sue bật khóc. Và lạ thay, Josh Smith cũng bật khóc. 

Giữa lúc đó Thánh Phê-Rô từ Thiên Đường hiện ra. Thánh cho Josh hay đã đúng thời hạn một năm giao ước giữa hai người. Ông đã tìm ra một hình hài khác đúng y như Josh Smith ngày trước để anh có thể hoàn toàn phục sinh vĩnh viễn trong thể xác đó, không cần phải sống tạm bợ trong thân xác xấu xí hiện thời của anh.
Anh cần phải …ra đi!

Nhưng Josh đã nói với thánh Phê Rô, anh đang thoả mãn với hoàn cảnh hiện tại, hạnh phúc với tình yêu chân thành của Sue cùng thằng bé Michael, và cảm thấy không cần phải thay đổi gì khác hơn. Anh không còn luyến tiếc kiếp sống trước nữa, đồng ý hủy bỏ lời giao ước với thánh Phê-Rô và tình nguyện ở lại trong thể xác này vĩnh viễn.

Thánh Phê Rô chấp thuận, chúc lành cho gia đình Smiths, và từ giã.
Josh và Sue hôn nhau thắm thiết như chưa bao giờ họ được hôn nhau đắm say như vậy.

ThaiNC

Tháng Tám Bão Dông - Đỗ Công Luận

Thưa quý ACE,
My hôm nay thi tiết cc đoan, chuyn biến xu. Mưa dông. Min núi mưa nhiu lũ dâng. Min Nam mưa nhiu ph xá thành sông. Đng bng Cu long ch lũ v cho mùa màng tươi tt phù sa vun bi...
Xin chia s ni nim dân tôi..

Sức Khỏe Và Tuổi Về Hưu - BS. Hồ Ngọc Minh

(Hình minh họa: Getty Images)

Năm ngoái, tôi dự định đóng cửa phòng mạch để về hưu. Cô y tá khuyên can: “Bác sĩ ơi, đừng về hưu. Em thấy ai về hưu cũng sanh bệnh và chết sớm!”
Có phải thật như vậy hay không?
Nghỉ hưu sớm có thể kéo dài tuổi thọ. Đó là kết luận của một nghiên cứu từ trường Đại Học University of Amsterdam, đăng trên báo Health and Economics, năm 2017.

Nghiên cứu cho thấy, đàn ông trên 54 tuổi, nghỉ hưu sớm, trên 42% sẽ sống lâu hơn ít nhất là 5 năm so với người nghỉ hưu trễ. Vì số phụ nữ tham gia nghiên cứu quá ít, nên không có được kết luận.
Người ta đưa ra hai giả thuyết:
Thứ nhất, nghỉ hưu sớm sẽ có nhiều thì giờ để đầu tư cho sức khoẻ. Ví dụ như, được ngủ nhiều hơn, tập thể dục thể thao nhiều hơn, và nếu có vấn đề về sức khoẻ thì sẽ quan tâm lo đi khám bác sĩ sớm hơn.

Thứ nhì, công việc làm có thể bị stress, và stress có thể gây ra cao huyết áp, một căn bệnh giết người thầm lặng. Nghỉ hưu sớm đi kèm với sự giảm thiểu nguy cơ bị truỵ tim hay tàn tật vì tai biến não.
Nghiên cứu trên đây cũng phản ánh một số nghiên cứu khác, ví dụ như ở Mỹ, cho biết sau 7 năm về hưu, nguy cơ bị cao máu hay tiểu đường sẽ giảm đi 20%. Ngoài ra các nghiên cứu từ Do Thái, Đức, Anh Quốc và nhiều xứ Châu Âu cũng có những kết luận tương tự.
Ngược lại, có công việc để làm cũng đem lại nhiều lợi ích, thay vì ăn không ngồi rồi. Bác sĩ người Nhật, Dr. Shigeaki Hinohara, sống đến 105 tuổi, đã cho lời khuyên là, muốn sống lâu thì không nên nghỉ hưu!

Ở trong môi trường làm việc sẽ giữ cho trí tuệ và cơ thể hoạt động bình thường. Khi làm việc chung, giao tế với mọi người sẽ giúp cho ta bớt cô lập. Mà cô đơn sẽ dẫn đến tình trạng tắt nghẽn của tư duy, và kể cả chết non.
Công việc làm, không những thế, còn cho ta một mục đích để sống. Các bệnh tim mạch và giảm trí nhớ dễ phát sinh nếu ta sống không có mục đích. Một nghiên cứu cho thấy, càng làm việc dài lâu, càng bớt bệnh giảm trí nhớ.

Một số vấn đề tiêu biểu khi nghỉ hưu sớm gồm có:
  1. Bạn có thể bị khủng hoảng về phương hướng của cuộc sống. Một câu hỏi mà những người nghỉ hưu sớm có thể bị lúng túng khi “bị” hỏi: “Bạn làm nghề gì để sinh sống?”
  2. Bạn có thể tự vấn lòng mình là quyết định về hưu sớm đúng hay sai?
  3. Người ta có thể hiểu lầm bạn là người không thành công trong xã hội. Mọi người đi làm, mà mình không làm có thể bị hiểu lầm là người vô tích sự, vô nghề nghiệp, và có thể là vô gia cư!
  4. Bạn có thể không vui và hạnh phúc hơn là lúc còn đi làm
  5. Bạn có thể bị cô dơn, buồn chán. Đi chơi vacation nhiều lắm 5 hay 6 tháng là chán, lại về nhà ngồi nhìn bóng câu bay qua cửa sổ, hay ngủ gục trước màn hình ti vi.
Cô đơn và buồn chán có thể đúng nhưng, nhưng, có thật sự là những người nghỉ hưu sớm thường dễ sanh bệnh và chết sớm hay không?
Nói cho đúng, nghỉ hưu và chết sớm không hẳn là một liên hệ trực tiếp mà có thể chỉ trùng hợp. Một số người nghỉ hưu vì đã có vấn đề với sức khoẻ không cho phép tiếp tục làm việc. Ngược lại, nếu sức khoẻ còn tốt ở tuổi hưu trí, không hẳn là nghỉ hưu sẽ sinh bệnh mà chết sớm.

Ngưng làm việc nhưng không phải là ngưng sống. Nghỉ hưu sớm hay không tùy thuộc vào hoàn cảnh của mỗi cá nhân, mà trong đó, ba câu hỏi chính cần phải suy xét là: tài chánh, sức khoẻ, và định hướng của cuộc sống. Cả ba vấn đề nầy không nên để đến tuổi về  hưu mới đặt ra. Có nghĩa là, phải lo giữ gìn sức khoẻ từ khi còn trẻ, không nên phung phí. Do đó, nên để dành thì giờ để nghỉ khi còn làm việc, đừng đợi đến lúc nghỉ hưu mới gọi là nghỉ thì có thể quá trễ.
Nói đến phung phí, phải nói luôn đến tiền bạc và tài chánh. Nếu còn sức khoẻ và còn vui với công việc thì nên tiếp tục làm việc, nhưng không nên đặt mình vào tình trạng phải làm ở tuổi hưu trí vì thiếu tiền bạc.

Chúng ta, ai cũng có một khoảng thời gian hạn hữu trên trái đất này. Cả một cuộc đời từ khi sanh ra và lớn lên, đi học, đi làm, lập gia đình, có con, dựng vợ gả chồng cho con cái. Mỗi ngày thức dậy là đi làm cho đến tối. Cứ như thế, một ngày như mọi ngày, “rồi một chiều tóc trắng như vôi”. Đùng một cái, nhìn tới, nhìn lui, thấy mình đến tuổi hưu trí. Câu hỏi về việc về hưu trước sau gì cũng được đặt ra.

Một khảo sát trong năm 2017, tham vấn 400 bác sĩ ở Mỹ, 68% trả lời là họ không hề nghĩ đến chuyện nghỉ hưu sớm. Một số quan tâm bao gồm: thiếu cơ hội giao tế xã hội, cuộc sống vô nghĩa khi không có mục đích, và sự cô đơn buồn chán dẫn đến buồn phiền, tuyệt vọng.
Nghĩ lui nghĩ tới, tôi quyết định tạm gác chuyện về hưu thêm 5 năm nữa. Rồi hẳn tính tiếp.

BS.Hồ Ngọc Minh
nguoi-viet.com

Mùa Hoa Anh Đào - Nhạc Sĩ Thanh Sơn - Ca Sĩ Cẩm Ly - HD - Youtube Long Kangaroo

Sunday, September 15, 2019

Hoa Đào Tháng Chín Sydney - Trầm Vân

Phiếm: 20 Lý Do Không Nên Lấy Chồng!!!


Khi ta tự do, ta có thể mời một chàng đẹp trai, một chàng tài năng hoặc một chàng ga lăng về nhà chơi. Cũng chả ai cấm ta mời cả ba chàng...


"Phụ nữ hiện đại rất ngại lấy chồng" - đó là câu nói vui vui nhưng đúng chuẩn thực tế hiện nay khi phái đẹp ngày càng trì hoãn chuyện trăm năm, thậm chí nhiều người còn tuyên bố theo chủ nghĩa độc thân đến hết đời.
Chả thế mà mấy ngày nay, "20 lý do không nên lấy chồng" - bài viết ngắn nhưng dí dỏm, hài hước và "chuẩn đét" - bỗng trở thành tuyên ngôn hay chân lý ngời ngời được chị em phụ nữ chia sẻ rầm rộ trên mạng xã hội.
Nguyên văn bài viết như sau:
1. Khi ta không chồng, ta sẽ thoát khỏi mẹ chồng, nỗi ám ảnh của mọi cô gái trước giờ kết hôn.
2. Khi ta tự do, ta ngủ tới 11 giờ trưa, ta tha hồ xem phim bộ. Những cảnh lâm ly ta tha hồ khoe mà không sợ kẻ nào bảo rằng ta sến.
3. Khi ta không chồng, ta sẽ chẳng phải hỏi ai: "Sao giờ này mới về?". Ta cũng không phải gào lên với ai: "Anh đi với con nào?". Ta cũng không phải đay nghiến ai: "Còn vác xác về được à, sao không ở ngoài đó luôn đi".
4. Khi ta không chồng, ta khỏi phải hét lên: "Sao phòng tắm lại lênh láng nước thế này? Sao trên bàn lại đầy tàn thuốc lá thế này? Trời ơi, tôi có phải là con ở đâu!".
5. Khi ta không chồng, ta khỏi hộc tốc chạy về nhà nấu cơm buổi trưa và buổi tối, khỏi phải nghe những tiếng rên rỉ: "Lại thịt kho à? Cô không biết gì hơn thịt kho sao?" hoặc những tiếng gầm gừ: "Thôi, cô nấu thì cô tự ăn đi, để tôi ra ngoài ăn cho nhiễm độc".
6. Khi ta không chồng, ta thoát khỏi cảnh bất thình lình gặp một cái áo may ô trên ghế, một chiếc giầy đầy mốc trong gầm tủ và một bộ đồ chưa giặt nhét dưới gối. Ta cũng không phải bị cảnh đi làm về, mệt điên người lại thấy một đống bát đĩa chưa rửa đang chờ.
7. Khi ta không chồng, ta khỏi phải thức dậy giữa đêm vì tiếng ngáy khò khò. Khỏi phải nhăn mặt và nhăn mũi khi ngửi mùi thuốc lá, và chẳng cần làm ra vẻ thản nhiên khi ngửi mùi bia chua.
8. Khi không chồng, ta có thể mặc áo hai dây, mặc váy ngắn ra đường để khoe cặp chân dài bất tận, mà không sợ bị một lão vừa béo, vừa lôi thôi vừa ngái ngủ nhìn gườm gườm rồi hỏi: "Mặc thế để đi đâu?" hoặc "Tưởng mình còn trẻ lắm đấy à?".
9. Khi ta độc thân, ta tha hồ chê chồng con Tuyết già, chồng con Hồng béo, chồng con Đào gầy. Chúng nó chả có cách gì chê ta.
10. Khi ta tự do, ta có thể mời một chàng đẹp trai, một chàng tài năng hoặc một chàng ga lăng về nhà chơi. Cũng chả ai cấm ta mời cả ba chàng.
11. Khi ta chưa có gia đình, ta không cần phải đi siêu thị và ghé qua quầy "Dụng cụ gia đình", nơi phần lớn chỉ bán các dụng cụ khổ sai.
12. Khi ta chưa kết hôn, ta có thể ngồi trong tiệm cà phê, đọc báo và châm một điếu thuốc lá thơm, ngón tay út cong lên đầy kiêu hãnh.
13. Khi ta chưa có giấy hôn thú, ta có thể hét vào mặt một tên nào đó: "Cút ra khỏi nhà em ngay".
14. Khi ta chưa thành gia thất, ta đi đám cưới chỉ cần bỏ phong bì một suất tiền.
15. Khi ta sống một mình, ta có thể tắm bao lâu cũng được, vừa tắm vừa hát cũng được, và không bị đứa khác giành tắm trước, vừa khạc vừa nói vọng ra: "Dao cạo râu của tôi cô quẳng đi đâu rồi?".
16. Khi ta chẳng có chồng, ta khỏi phải mua một chiếc quần đùi rộng may sẵn và băn khoăn tự hỏi: "Chả hiểu cỡ này đã vừa chưa?".
17. Khi ta chưa chồng, ta khỏi gọi ai là "Ông xã", một danh từ chả có chút gì lãng mạn và hấp dẫn.
18. Khi ta thoải mái tự do, ta không phải mua báo bóng đá, khỏi phải nhìn cái cảnh đàn ông mặc quần đùi chạy quanh tivi.
19. Khi ta chưa chồng, ta có thể đi nhà hàng và gọi một chai bia.
20. Cuối cùng, khi ta chưa chồng, ta lấy chồng lúc nào cũng được!

Có thể thấy, 20 lợi ích tiêu chuẩn được đúc kết trên đây đánh trúng tâm lý của rất nhiều chị em. Cuộc sống hôn nhân - gia đình bày ra trước mắt với biết bao hục hặc, bất đồng, từ chuyện mẹ chồng - nàng dâu đến nghĩa vụ và trách nhiệm khiến phụ nữ không khỏi mệt mỏi, quay cuồng. Vất vả là thế lại vớ được thêm một ông chồng vô tâm, vô tư nữa thì quả là đủ bộ! Phụ nữ độc thân đọc được bài viết này thở phào vì mình chưa dại dột "sa chân". Phụ nữ đã có chồng thì gật gù tâm đắc vì "Ôi sao mà chuẩn đến như thế".

Tác giả bài viết gây bão MXH này không ai khác chính là đạo diễn Lê Hoàng - người vốn nổi tiếng với những phát ngôn, nhận định sâu cay về cuộc sống. Đạo diễn Lê Hoàng thực chất đã trình làng "10 lý do phụ nữ nên độc thân" từ cách đây vài năm và cũng từng khiến MXH sục sôi. Nay tái xuất với phiên bản đầy đủ hơn, lên tới tận 20 lý do, Lê Hoàng đã khẳng định bản thân không chỉ là một đạo diễn tài ba mà còn là người thấu hiểu phụ nữ, là "chuyên gia" trong lĩnh vực hôn nhân - gia đình.

Không khó để nhận ra thái độ, cách đánh giá của Lê Hoàng trong bài viết dù có phần bênh vực, thông cảm cho phái đẹp, "kể tội" cánh đàn ông nhưng không hề gay gắt hay phiến diện. Giọng văn hài hước, dí dỏm khiến cuộc sống hôn nhân hay hình ảnh các đức ông chồng hiện ra trước mắt người đọc dù nhiều vấn đề ra phết nhưng cũng khá dễ thương. "Cuối cùng, khi ta chưa chồng, ta lấy chồng lúc nào cũng được!" - câu kết và cũng là điều có ích số 20 cho thấy tác giả không hề phản đối hay gay gắt chuyện dựng vợ gả chồng.

Bài viết đến thời điểm hiện tại vẫn tiếp tục gây sốt trên MXH, được các fanpage lớn thi nhau đăng tải. Rất nhiều chị em phụ nữ còn độc thân đã mang về trang cá nhân chia sẻ kèm dòng chú thích với nội dung kiểu "đừng ai hỏi em chưa lấy chồng".

Nguồn: http://afamily.vn/

Chúc Mừng Sinh Nhật Con Trai - Đỗ Công Luận

Vàng - Nguyễn Đại Thuật

 

Mỗi ngày hai buổi đi, về sở làm, Quốc phải đi qua ga xe điện-ngầm Montparnasse làm trạm trung chuyển.
Có một ngày, đường xe điện ngầm về nhà Quốc tạm ngừng hoạt-động để sửa chữa, Quốc phải xử dụng đường xe điện ngầm khác trên cùng một ga trung chuyển, nhưng phải mượn lối đi qua hai thảm thang máy khá dài...
Khi vừa qua khỏi thảm thang máy thứ hai vài bước, Quốc thoáng thấy có một người phụ nữ ngồi xin tiền. Một chân bà bị teo nhỏ co quặp lai, ngắn hơn chân kia, một cặp nạng bằng kim loại sáng bóng sạch-sẽ nằm hai bên. Bà có vóc dáng của một người Á-châu và ánh mắt của bà khiến Quốc cảm nhận như đã nhìn thấy ánh mắt nầy ở một nơi nào đó rất mơ hồ.....
Dòng người phía sau Quốc thúc đẩy Quốc tiến về phía trước. Quốc vẫn đi, lòng tự hỏi, tại sao giữa Paris của nước Pháp lúc nầy lại có người khuyết tật ăn xin ?
Chính-sách an-sinh xã-hội của Pháp không thể để sự việc như thế nầy xẩy ra, trừ trường hợp người nhập-cư bất hợp-pháp chưa được chính-quyền chấp thuận cho cư-trú dài hay ngắn hạn. Người khuyết tật là ưu-tiên của chính-sách an-sinh xã-hội Pháp.

Những ngày sau đó, buổi chiều đi làm về, khi bước ra khỏi thảm thang máy thứ hai Quốc vẫn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi ngay tại một địa-điểm như những ngày hôm trước, dưới đất, trước mặt là một hộp giấy nhỏ để người hảo-tâm bỏ tiền vào. Bà ngồi im-lặng, không một lời hỏi xin khách đi ngang qua. Có lúc Quốc nhìn bà, mỉm cười. Quốc định ngừng lại bỏ tiền vào hôp giấy. nhưng một ý-nghĩ chợt dến, Quốc tiếp tục đi Quốc tự nhủ: " những người như bà nầy được xã-hội ưu-tiên giúp đỡ, không đến nổi nào phải xin ăn...làm ê mặt nước Pháp quá ! ".

Một ngày giữa tuần, sở làm có công việc cần giải-quyết gấp, tám giờ tối Quốc mới ra khỏi sỏ làm. Khi đến cuối thảm thang máy thứ hai Quốc không nhìn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi nơi chỗ cũ. Sau giờ cao-điểm trong hành lang ga rất thưa người, Quốc có thể nhìn thấy bà nếu bà đang di-chuyển một nơi nào gần đó. ...

Nhưng khi đến bến xe điện, Quốc thấy người đàn bà khuyết-tật đang đứng chờ chuyến xe đến, trên cùng hướng của tuyến đường Quốc xử-dụng. Quốc đến bên cạnh bà, cũng vừa lúc xe đến. Quốc đưa tay đẩy nhẹ sau lưng bà bước lên tàu. Một hành-động tự phát nhân-cách của một nguời trước một đồng-loại khuyết tật dù không được yêu-cầu.
Xe thưa thớt khách. Vừa ngồi xuống ghế, người đàn bà khuyết tật xếp hai nạng chung với nhau để qua phiá bên chân bị tật. Quốc ngồi vào ghế đối -diện. Bà mỉm cười nhìn Quôc, nói bằng tiếng Pháp:
- Cám ơn ông.
- Thưa bà không có gì. Quốc trả lời.
Bà nhìn Quốc, hai mắt mở lớn, Quốc vẫn thấy ánh mắt nầy mình đã gặp ở một nơi nào đó. Bà hỏi:
- Nhìn ông, nhận ra ông là người Châu-Á, nhưng không biết ông là người nước nào ?.
_ Tôi là người Việt-nam.
Bà cười, giọng cười đầy thiện-cảm :
- Tôi cũng là người Việt-nam như ông, tiếc rằng tôi không nói được tiếng Việt, còn ông, ông nói được tiếng Việt không ?.
Quốc gật đầu:
- Tôi qua đây không lâu lắm nên còn nói được tiếng Việt như người trong nước
Vẻ mặt bà thoáng suy-tư :
- Mình người Việt, không nói được tiếng Việt, cũng thiệt-thòi phải không ông ? .
Quốc chưa kip trả lời câu hỏi thì loa phát-thanh trên tàu điện ngầm thông báo trạm đến để Quốc đổi tàu.
Quốc hỏi:
- Bà xuống trạm nào ?
- Tôi sẽ xuống trạm cuối của đường tàu nầy, nhà tôi gần đó.
Đúng lúc, cửa tàu tự động mở, Quốc xuống xe. Khách xuống xe và khách lên xe che khuất tầm nhìn của Quốc đang quay người lại để chào bà.
Ngày hôm sau, đường xe điện ngầm tạm ngừng lưu-thông để sửa chữa hoạt động trở lại,
Quốc xử dụng đường xe điện ngầm cũ nên không còn gặp, nhìn lại người đàn bà khuyết tật, tuy nhiên lòng Quốc vẫn phân-vân: " Bà ta, người gốc Viêt-nam, không biết nói tiếng Việt, chỉ nói được tiếng Pháp, đi xin tiền giữa thủ-đô nước Pháp, không bị người Pháp có lòng tự ái dân-tộc pha lẫn bản chất kỳ-thị màu da xua đuổi ! Ngay chính bản thân, khi nhìn thấy người đàn bà khuyết-tật nầy xin tiền Quốc cũng cảm thấy khó chịu...bà làm tổn thương đến chính sách an sinh xã hội nước Pháp.! “ Quốc nghĩ, không biết có cần-thiết gặp lại người đàn bà nầy không ?. Vì bà là đồng-hương cơ-cực ? Vì sao bà bị tật nguyền như vậy ?

********************
Thời gian trôi qua, Quốc đã không còn nhớ gì đến người đàn bà khuyết-tật. Khoảng sáu tháng sau, buổi tối ngồi xem tin-tức thời-sự của đài truyền-hình France 3, một đài địa-phương của thủ-đô Paris và vùng phụ cận, một bản tin được phát ra với hình ảnh người đàn bà khuyết tật xin tiền trong hầm xe điện ngầm đang trao một phong bì cho cho một người, cùng lời của người phát tin: " Hôm nay là năm thứ sáu, bà Thérèse Tran một người tàn-tật, đã trao tặng cho hội Chữ Thập Đỏ nước Pháp 5.000 Frances Pháp, số tiền nầy do bà quyên được hàng ngày của khách lai vãng trong những hầm xe điện ngầm của thành phố Paris. Quý khán thính giả của đài đã từng được xem bảng thường trình bằng hình ảnh công việc của bà trong một chương-trình ĐÓNG GÓP CHO TỔ CHỨC NHÂN-ĐẠO trước đây trên đài truyền hình của chúng tôi. Bác-sĩ đại-diện hội Chữ Thập Đỏ Pháp đang nhận số tiền nầy từ tay bà.".

Bản tin tức khích-động trí tò mò của Quốc. Ngày hôm sau trên dường từ sở làm trở về nhà, Quốc chọn tuyến đường xe điện ngầm thời gian trước đây đã cùng bà xử dụng chung một chuyến. Khi đi qua khỏi thám thang máy thứ hai, Quốc nhìn thấy bà vẫn còn ngồi tại chỗ. Quốc tiến thẳng vào hành lang dường hầm, đến tuyến đường xe điện, cố ý ngồi chờ gặp bà. Gần mười chuyến tàu ngừng cho khách lên xuống rồi tiếp tục chạy....Quốc nhìn thấy bà đang chống nạng xuất hiện đầu đường hầm, Quốc đi nhanh về phía bà ngỏ lời chào. Bà chào lại và đưa tay bắt tay Quốc. Bà cười rất tươi, nói với Quốc:
- Lần đầu tiên gặp ông cùng trên tuyến xe nầy cũng khá lâu, tưởng là không còn gặp lại ông nữa, Paris có hơn mười tuyến đường xe điện ngầm và hàng vài chục ga trung chuyển...gặp nhau lại trên cùng tuyến xe rất hiếm. Gặp ông lúc đó, thấy ông lạnh lùng đối diện với một người ăn xin vì đói ăn và tàn tật như tôi. Hôm nay có khác, thấy nét mặt ông tươi vui và còn chờ tôi để trể mấy chuyến xe ? Nếu tôi đoán không sai, ông muốn gặp tôi hôm nay vì đêm qua ông đã nhìn và nghe được mẫu tin-tức về tôi trên đài truyền-hình France.3: một ngườ đàn bà Pháp gốc Việt, tật nguyền ăn xin để làm việc thiện ? Và rất tiếc phải để ông chờ...vì tôi có thấy ông đi qua chỗ tôi vừa rồi...giờ nầy ông vẫn còn ở đây ?

Quốc cảm thấy bối-rối trước những lời khẳng định và nhạy bén của bà, Quốc chưa kịp đáp lời thì chiếc tàu điện ngừng, cửa mở, hành khách lên tàu. Một hành khách lịch-sự nhường chỗ cho bà. Quốc đứng bên cạnh và có dịp quan sát khuôn mặt thanh tú của bà, mái tóc đen chen lẫn vài sợi trắng hai bên thái dương.

Cặp mắt của bà có một sức lôi cuốn kỳ lạ, người nhìn cảm thấy như bản thân mình bị thâu nhỏ lại như bị hút vào bên trong... cặp mắt mà Quốc đã nhìn thấy một nơi nào đó vào một thời kỳ rất xa, và rất xa. Xe ngừng. Khách xuống, không có khách lên. Quốc ngồi xuống chiếc ghế trống bên cạnh bà. Hai người không nói gì với nhau cho đến lúc loa tàu báo tên trạm ngừng sắp tới, bà hỏi Quốc:
- Chắc ông xuống trạm này vì kỳ trước ông đã xuống đây ?
Quốc cười, lắc đầu:
- Hôm nay tôi không xuống đây, xin được theo bà để được nghe bà cho nghe chuyện bà đi quyên xin tiền làm từ thiện.
Bà cười, hai tay ôm hai chiếc nạng vào người, nói:
- Ông thấy đó, vừa rồi tôi nói có sai đâu, hôm nay ông đón gặp tôi chỉ vì tin túc về tôi trên đài truyền-hình tối hôm qua. Có lẽ trước đây ông không theo dõi tin-túc trên truyền hình France 3 nên không biết. Tàu chạy ồn quá, vậy hãy đợi đến trạm cuối, bên ngoài ga có quán nước, chúng ta đến đó nói chuyện thỏa mái hơn, và đây cũng là người Việt-nam đầu tiên trực tiếp muốn biết chuyện nầy. Mong rằng ông không phải là người của tòa Đại-sứ Việt-nam, phỏng vấn, ghi âm lén rồi tráo trở chỉnh sửa, viết lại ...trái với trung thực rồi họ cho là đài France 3 tuyên truyền, hư cấu, giàn dựng...Chuyện của tôi là chuyện của tôi, chỉ vậy thôi.

Hai người đi vào một quán nước gần kế lối ra của hầm xe điện ngầm. Thời tiết đang vào cuối tháng tư nhưng vẫn còn se lạnh, bà chọn một bàn bên ngoài quán và nói với Quốc:
- Chắc là hôm nay tôi sẽ về nhà trễ, mẹ tôi sẽ phải đi tìm đón về, ngồi bên ngoài để bà dễ tìm thấy, trời còn lạnh, nếu ngồi bên trong thì ấm hơn. Tôi vẫn có thói quen, những chiều tối không việc gì làm, ở nhà buồn lắm hay ra ngồi đây uống cà-phê nhìn người qua lại, về nhà trễ, bà cụ đi tìm đón về....lại nghe những lời trách hàm chứa yêu thương.. đã trở thành thói quen không bỏ được. Nhà cũng gần đây nhưng cũng tội cho bà cụ, vào mùa đông, khi có tuyết rơi, bà cũng đội tuyết đi tìm đứa con tàn tật nầy !

Hai tách cà-phê được mang đến, bà đưa tay phải lấy viên đường. Quốc nhìn thấy bàn tay của bà bị co quắp trừ ngón cái và ngón trỏ còn cử động được, ba ngón còn lại áp chặt vào lòng bàn tay. Bà cầm muỗng khuấy tách cà-phê nhẹ nhàng và rất bình thường, không vướng víu....Quốc thấy lòng dâng lên nỗi ái-ngại khi vừa khám phá thêm bàn tay của bà, Quốc quên đi ly cà-phê của mình.... đến khi cà-phê được nhấm nháp rồi để xuống bàn, Quốc đang tìm lời đề vào câu chuyện thì bà nói như để nhắc Quốc:
- Không biết tôi phải gọi ông là gì đây ? Còn tên tôi thì ông đã biết rồi, trên đài truyền-hình France 3, nay giới thiệu thì quá trễ. Khỏi cần lặp lại phải không ông ?
Bà cười vui vẻ, tự nhiên. Quốc nhận ra sự vụng về của mình, ấp-úng trả lời:
- Được gặp bà hôm nay, lòng tôi phấn khởi vô cùng, nên quên giới thiệu tên, mong bà thông cảm. Xin bà gọi tôi là Nguyễn...Nguyễn-minh Quốc.
- Việt-nam mình sao nhiều Nguyễn thế ! Đi đâu trên xứ Tây nầy cũng gặp Nguyễn. Bà cười, hai mắt nhíu lại nhìn Quốc, tay bị tật cầm chiếc muỗng gõ nhẹ vào thành miệng tách cà-phê.
Quốc vui theo cái vui của bà, đề cập thẳng vào chuyện:
- Bà Trần có thể kể cho tôi câu chuyện về trường hợp nào đưa bà vào việc làm ăn xin để có tiền giúp cho Hội Từ Thiện ?
Bà trầm ngâm một chốc rồi bắt đầu câu chuyện:
- Tôi rời Việt-nam vào năm tôi được sáu tuổi vì lý do thương tật của tôi. Vào thời đó Việt-nam đang có chiến tranh và tôi cũng là một nạn-nhân của chiến tranh. Tôi là nạn nhân của chiến-tranh, nhưng bị thương tật do bị tra-tấn, không phải do bom đạn. Lúc đó ba tôi lái xe cho bịnh-viện Grall của Pháp ở Sài-gòn, trong khi mẹ tôi và tôi sống ở quê nhà, thị trấn Vĩnh-điện, miền trung Việt-nam, chí cách xa thành phố cổ Hội An không tới mười cây số. Mẹ tôi có một tủ kính nhỏ buôn bán vòng vàng trong chợ. Buổi sáng tôi theo mẹ ra chợ, buổi chiều tan chợ, theo mẹ về nhà. Buổi tối, thỉnh-thoảng mẹ tôi day tôi đọc và tập viết chữ a, b,c,đ. Tôi chưa đến trường, mẹ nói tôi còn quá nhỏ, chưa đủ tuổi đến trường. Đêm nằm ngủ với mẹ, tôi nghe có tiêng ì-ầm từ xa xa vọng vào nhà, tôi hỏi mẹ đó là tiếng gì thì nghe mẹ thở dài, giọng buồn buồn trả lời:
- Đó là tiếng súng đại-bác, chắc là hai bên đang đánh nhau một nơi nào đó, chiến tranh ngày một rộng ra, dân ở quê bắt đầu khổ rồi, buôn bán ế-ẩm.
Nói xong, mẹ ôm tôi vào lòng, im lặng, tôi nghe tiếng đập của tim mẹ.
“ Rồi một đêm đang ngủ, tôi giật mình thức dậy vì nghe tiếng súng nổ “cắc bùm”,..”tạch.. tạch”, tiếng “chéo chéo" của đạn bay....tiêng gà kêu “cục tác” “cục cục” tiếng heo kêu “ụt..ụt”, có tiếng trẻ con khóc ré lên có lẽ vì sợ...rồi có tiếng ai đó nói to: " Chắc mấy Ổng đang đánh úp quận. Ở đâu mà mấy Ổng về tứ bề, đông thiệt là đông ?”.

Mẹ lôi tôi ra khỏi giường, đẩy tôi xuống bên dưới giường, mẹ nằm bên cạnh. Người mẹ tôi run rẩy, tôi cũng run như mẹ.
Trước đấy không lâu, nghe lời khuyên của bạn bè trong chợ, mẹ đã nhờ người ta mua bao cát nhỏ chất quanh giường ngủ thay vì đào hầm để tránh đạn....nay hai mẹ con tôi có chổ nằm để tránh đạn.
Rồi tiếng súng im bặt. Tiếng chân người chạy vội vã, tiếng đập cửa liên hồi, tiếng gọi tên người nầy rồi người khác... tiếng năn nỉ, ấm-ức khóc ...Lại một tiếng la to: " bắn "...một tiếng súng nổ....tiếng đàn bà con nít khóc ré lên nghe thảm thiết . Mẹ ôm chặt tôi rồi. Mẹ kéo nhẹ tôi ra khỏi gầm giường vừa lúc có tiếng đập cửa ầm ầm, tiếng chân đá vào cửa rầm rầm.. Có tiếng ra lệnh: "Mở cửa ! mở cửa ! Nếu không tuân lệnh, quân Giải-phóng sẽ phá cửa...nếu không mở, chống đối, quân Giải phóng sẽ bắn tại chỗ ! "
Mẹ khóc, run lẩy bẩy tiến về phía cửa, trả lời lập cập :
- Tôi mở...tôi mở...nhà không có đàn ông, con trai, chỉ có hai mẹ con tôi là đàn bà con gái.!

Cửa mở, ánh sáng tràn vào. Tôi nhìn thấy có mấy người ùa vào nhà. Mẹ tôi co rúm người lại. Những người nầy có mang súng chạy tìm kiếm, lục lạo khắp nơi trong nhà, họ nhìn xuống hầm giường mẹ con tôi ngủ và hét lên: “Có còn ai trốn trong đó không thì ra ngay, bắt được quân Giải phóng sẽ không tha!"
Áo quần họ mặc không giống như áo quần quân lính Quốc gia ở quận. Người mặc quần ngắn, kẻ mặc quần dài, áo tay ngắn, tay dài. Người đi chân không, người mang dép vỏ lốp xe. Đàn ông mang súng, con gái có nguời cầm gậy, có người tay không.
Sau khi lục soát nhà xong, một người trong toán lục soát tiến ra cửa nói lớn:
- Báo cáo đồng chí, đã lục soát xong, không có gì khả nghi.
Một người đi vào. Lưng có đeo một súng ngắn. Tôi nhận ra ngay là anh Kéo vì anh mặc cái quần kaki đen có cái lỗ bị cháy nơi đầu gối. Cái quần kaki đen nầy ba tôi mua ở Sài-gòn tặng anh Kéo nhân dịp về ăn Tết với gia-đình hơn một năm trước đây mặc dầu anh đội cái mũ tai bèo che phủ hơn nửa phần mặt. Cái lỗ bị rách của cái quần nơi đầu gối là do anh Kéo tạo ra một phần, một phần do tôi. Ngày hôm đó mồng bốn tết mẹ mở cửa hàng, sau tết nên có không ít người đến mua bán. Anh Kéo làm việc cho tiệm vàng của mẹ. Anh thử vàng thật hay giả, anh làm nhẫn, làm giây chuyền. Hôm đó khách hơi đông, anh Kéo quên tắt lửa ống hàn xì khi anh đang trao đổi chuyện với khách hàng, vô-ý, mỏ hàn xì làm quần anh bị cháy thủng một lỗ nơi đầu gối, cái quần kaki đen ba tôi mua tặng mặc dịp tết. Khi không còn khách hàng, tôi tinh-nghịch cho ngón tay trỏ vào cái lỗ bị cháy của ống quần kéo mạnh tay, cái lỗ bị cháy rách rộng ra, anh Kéo không nói gì, chỉ cúi xuống vuốt vuốt chỗ bị thủng rách. Nhưng tôi bị mẹ phát cho mấy bàn tay vào mông vì cái tội tinh-nghịch.
Mặt trời đã mọc. Anh Kéo lôi mẹ vào góc nhà, anh rút khẩu súng đeo bên hông dí vào trán mẹ. Mẹ tựa lưng vào tường, người khụy xuống nhưng đứng vững bằng hai tay chống trên hai đầu gối. Miệng mẹ hả ra, hai mắt mở to, đầy nước mắt. Anh Kéo hỏi lớn:
- Vàng để đâu, đem hết ra đây đóng góp cho Mặt-Trận.
Mẹ ngồi bệt xuống đất, hai tay chấp lại, vừa vái anh Kéo liên hồi vừa chỉ cái bình hoa cắm hoa giấy trên bàn thờ, nói không thành tiếng:
- Có bao nhiêu tôi giấu hết trong cái bình hoa đó, lạy ông, ông lấy hết đi và tha cho hai mẹ con tôi.

Lúc anh Kéo đi đến bàn thờ cầm cái bình hoa lên, vứt những bông hoa giấy rồi trút hết những vòng vàng trong bình xuống mặt bàn thờ, tôi thấy hai mắt anh sáng lên, mặt mất dần vẻ hung ác. Trong lúc anh Kéo đang lấy những chiếc nhẫn vàng đeo vào những ngón tay, tôi bò đến ngồi bên cạnh mẹ, khóc ấm-ức.
Khi anh Kéo lấy hết vàng trên bàn, anh quay lại đứng trước mẹ, lúc nầy mặt anh trở lại hung dữ như trước.
Anh dí mũi súng vào trán mẹ hét lên:
- Vàng còn dấu nơi nào nữa hãy chỉ mau, nếu còn dấu diếm Cách-mạng sẽ không tha chết đâu !
Mẹ lại khóc, lại chấp tay vái lạy anh Kéo. Lần nầy mẹ quỳ hai gối, đầu rạp xuống trước chân anh Kéo, mẹ nói đứt từng hơi một:
- Ông biết rồi mà, trước đây ông làm việc với tôi, ông biết tôi chỉ có vốn liếng ba lượng vàng, làm thành mẫu mà bày trong tủ kiếng. Khi bán gần hết tôi phải vào Hội-An mua thêm vàng cho đủ số vốn ba lượng. Nay còn bấy nhiêu đã chỉ cho ông rồi đó, ông đã lấy hết rồi, đâu còn mô nữa mà giấu.
Anh Kéo ra dấu tay kêu hai người cùng trong nhóm rồi ra lệnh:
- Hãy trói con mẹ nầy lại hỏi còn vàng giấu đâu, nó ngoan cố, thay mặt chinh quyền Cách-mạng bắn bỏ.
Tôi nghe nói bắn chết mẹ, tôi vùng đứng lên chạy đến ôm cánh tay anh Kéo, nước mắt chan hòa, tôi xin anh Kéo tha cho mẹ, đừng bắn mẹ. Anh Kéo vung tay thật mạnh làm tôi té nhào xuống đất. Anh ra lệnh:
- Các đồng chí cột chân con nhỏ nầy lại treo lên sà nhà để xem mẹ nó còn ngoan cố tới đâu, còn giấu vàng mà không chịu khai báo.
Tôi bị hai người đè xuống nền đất, họ cột một chân của tôi rồi kéo lên treo lơ lững giữa nhà. Tôi vùng vẫy, kêu la trong sự đau đớn. Mẹ nằm co rúm trên nền nhà, dường như sự sợ hãi chen lẫn đau đớn tột cùng làm mẹ mất trí, mẹ lảm nhảm:
- Anh làm cho tôi, anh biết mà, vốn liếng của tôi chỉ có ba lượng làm mẫu cho khách lựa chọn...khi gần hết hàng...phải vào Hội-an mua thêm vàng cho đủ ba lượng...nay anh làm Cách-mạng, anh lấy hết rồi...còn đâu nữa mà giấu ! Anh tha cho con tôi, nó còn nhỏ, nó có biết gì đâu ! .
Tôi nghe có tiếng họ nói với nhau:
- Con mẹ nầy còn ngoan cố, không nên tha cho nó, các đồng chí đồng ý không ?
- Đồng-ý...đồng-ý !
Cái chân bị cột của tôi càng lúc càng làm tôi đau thêm. Tiếng đồng-ý, đồng-ý làm tôi khiếp người. Đến một lúc tôi nghe từ cái chân bị cột căng đến tột cùng, tôi nghe từ khớp xương mông phát ra một âm thanh nhu một cành cây khô có ai dẫm lên làm gãy, tôi hét lên và không còn nghe biết gì quanh tôi.

Rồi tôi nghe có tiếng gọi nhau, tiếng chân chạy rầm rập, tiếng súng nổ thưa thớt, tiếng trẻ con gọi cha, gọi mẹ, gọi anh, gọi chị. Tiếng khóc rưng-rức âm độ khác nhau trong cả khu xóm. Tôi mở mắt nhìn quanh nhà, duy nhất chỉ còn mẹ đang đứng trên ghế, nâng người tôi lên, với tư thế nầy tôi cảm thấy chân bị trói của tôi bớt đau một chút. Mẹ tìm cách mở giây đỡ tôi xuống đất không được, mẹ đứng như vậy vừa nâng người tôi vừa ôm tôi vào ngực, áp mặt vào thân tôi. Hơi thở của mẹ dồn dập, nóng hổi, thổn thức. Toàn thân tôi, tay chân tê lạnh, chỉ có đầu và mặt tôi nóng hừng hực, hai mắt tôi như có những ngôi sao nằm bên trong.
Cả khu xóm lại yên-lặng....Tiếng một ai đó nói lớn như muốn cho mọi người cùng nghe:
- Chúng nó rút đi rồi. Lính Quốc-gia từ Đà-nẵng kéo vô, từ Hội-an đổ xuống đông lắm.
Có tiếng vỗ tay rời rạc, có tiếng nói với nhau mang âm hưởng vui mừng và bình tĩnh hơn.
Mẹ thở ra một hơi dài thật mạnh, rồi kêu lớn :
- Bà con ơi, có ai đó cứu con tôi với... không thì nó chết mất. Bà con ơi, xin cứu con tôi...

Tiêng kêu cứu của mẹ như muốn làm vỡ tung ngôi nhà mái tôn. Nhiều người chạy đến, những ông bà lớn tuổi và con nít. Mấy ông mấy bà tìm cách tháo giây trói không được. Họ dùng dao cắt đứt giây, tôi rơi xuống. Mẹ và mấy ông mấy bà cố đỡ tôi cho khỏi rơi xuống đất, nhưng đà rơi và sức nặng của cơ thể tôi đã không giữ lại được giữa những bàn tay. Tôi rơi xuống nền đất, mẹ ngã trên người tôi vì cố giữ tôi trên tay.
Tôi hét lên...và không còn biết gì nữa.

Chị Thérèse nói tiếp, giọng nhẫn nhục:
- Khi tôi tỉnh lại, mẹ đang ngồi bên tôi, mệt mỏi và buồn rầu. Mẹ cười, hai môi như bị méo, để bàn tay lên trán tôi, mẹ hỏi giọng nghẹn ngào:
- Con tỉnh lại rồi, con còn bị đau nhiều không ? Con ráng chịu  đựng rồi sẽ khỏi, con của mẹ !
“ Tôi cảm thấy một nửa thân tôi và toàn chân bên trái bị bó cứng, bàn tay bên phải cũng bị bó cứng, tôi không cựa quậy được. Toàn thân tôi còn đau đớn nhưng tôi cảm thấy chịu đựng được nên gật đầu như trả lời cho mẹ tôi rằng không còn đau nhiều, tôi muốn nhìn thấy mẹ an-tâm. Tôi được điều trị thương tật ở bịnh-viện Hội-an. Chân phải của tôi bị trật xương khớp háng, các mạch máu không dẫn máu đến được nên toàn chân phải bị chết. Bàn tay phải của tôi bị gãy mấy ngón tay, vì khi được cắt giây bị treo trên sà nhà rơi xuống, bàn tay tôi chống đất trước. Hội đồng bác sĩ của bịnh-viện không chấp thuận đề nghị của bác sĩ điều trị cắt một phần chân của tôi vì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Ba tháng sau tôi được xuất viện, chân tôi không duỗi thẳng được, vẫn cong, nên tôi phải dùng nạng. Ba ngón tay của bàn tay phải bị gãy, khép vào lòng bàn tay không cử động được. Mẹ bán nhà, hai mẹ con vào Sài-gòn sống với ba. Biết được tình trạng thương tật của tôi, bác sĩ người Pháp giám-đốc bịnh viện Grall cũng là hội-trưởng hội Chữ Thập Đỏ của Pháp tại Việt-nam đã làm thủ tục đưa tôi qua Pháp để được tiếp tục chữa trị. Một gia-đình người Pháp không con nhận bảo trợ cho tôi. Tôi rời Việt-nam năm 1967, vừa đúng sáu tuổi.

Gia-đình người Pháp bảo trợ cho tôi gốc Bồ-đào-Nha rất sùng đạo Thiên-chúa. Chồng làm việc cho một hãng bào chế thuốc. Vợ là y-tá điều dưỡng của một bịnh-viện. Gia-đình cư ngụ vùng Bắc thành-phố Paris.
Một tuần có hai ngày tôi được xe bịnh-viện đón đưa đến trung tâm Phục hồi Chức năng để được săn sóc thương tật. Những ngày còn lại trong tuần tôi cũng đươc xe đưa đón đi học tại một trường dành cho trẻ em khuyết-tật.

Mặc dầu được chữa trị bằng phương tiện y-khoa tân-tiến vào thời đó, thương tật của tôi không trở lại bình thường...và tôi trở thành khuyết tật vĩnh viễn. Gia-đình bảo trợ tôi không muốn tôi trở lại Viêt-nam, làm thủ-tục xin nhận tôi làm con với sự đồng ý của ba mẹ tôi. Tôi tiếp-tục được đi học chữ tại trường cho người khuyết- tật đến hết chương-trình trung-học. Cuối tuần hay những ngày nghỉ lễ, tôi phụ giúp cho chi hội Chữ-thập-Đỏ địa phương, làm nhiệm vụ tiếp nhận tặng phẩm và tiền bạc của những người hảo-tâm đem đến ủng hộ cho hội hoặc đôi khi lập thành nhóm đi lạc-quyên ngoài đường phố hay tại các trung-tâm thương mại lớn.
Năm 1975, tôi đang chuẩn bị vào trung-học đệ nhị cấp thì tại Việt-nam chính quyền Cộng sản Miền Bắc đánh chiếm và cai-trị Miền Nam. Ba mẹ tôi được sứ-quán Pháp cho phép theo nhân viên người Pháp phục-vụ tại bịnh-viện Grall qua Pháp tị-nạn vì sợ chính quyền mới qui tội làm việc cho ngoại bang. Tôi tiếp tục học hết trung-học, vào đại-học, rồi ra trường đi dạy. Hai người bảo trợ cũng là cha mẹ nuôi tôi sau nầy lần lượt theo hầu Đức chúa trời vì cao tuổi. Ba tôi cũng rời bỏ hai mẹ con tôi sau một cơn bệnh đột-ngột vì tim. Năm đó, tôi ba mươi bảy tuổi. Me rời bỏ tỉnh, lên Paris sống chung với tôi. Theo lời trăn trối của ba muốn đem tro cốt về quê nhà, mẹ và tôi quyết định đi về thăm Việt-nam. Sau khi tro cốt của ba được được gởi trong chùa ở Hội-an và vài ngày thăm viếng bạn bè quen biết, mẹ và tôi trở ra Vĩnh-Điện thăm làng xóm cũ. Tôi không còn ghi nhớ gì nhiều khung cảnh ở đây vì đã rời gần ba mươi năm trước. Chỉ nghe người thân quen của mẹ nhắc lại chuyện giặc giã ba mươi năm trước tấn công và chiếm đóng thị-xã và tôi là một phần nhỏ trong những tai u xóm cũ lên đường vào Sai-gòn trở lại Pháp, mẹ mời vài người thân quen ngày trước cùng buôn bán trong chợ cạnh tủ vàng của mẹ, tham dự một bữa cơm thân mật tại một nhà hàng nhỏ. Đang lúc ăn và chuyện trò vui vẻ thì bỗng dưng mọi người ngừng nói. Một ông bác hỏi mẹ:
- Thím Ba có nhận người nầy là ai không.? Ông nhìn về hướng cửa vào nhà hàng ăn. Tôi và mẹ nhìn theo hướng nhìn của ông....Một ông già chống nạng cụt một chân, hai mắt bị mù, được một cô gái có cổ nghiêng qua một bên, mặt hướng lên trời dẫn đi. Hai người tiến gần đến bàn ăn của chúng tôi. Họ đang đi xin ăn.
Mẹ tôi lắc đầu trả lời bác, nói “không biết”.
- Thằng Kéo mà thím không nhận ra sao, ngày trước nó là thợ làm vàng cho thím đó ?
Ông bác nói với mẹ.
Mẹ mở to mắt, miệng hả ra, rồi nhắm mắt lại thở ra, khi nhận ra tên nguời làm hồi truớc. Tôi thấy toàn thân cứng lạnh, sợ hãi khi nhìn lại kẻ đã cột treo mình lên sà nhà để tra khảo mẹ nơi dấu vàng mấy chục năm trước. Ông bác kể:
- Sau cái năm nó kéo du-kích về đánh chiếm Vĩnh-Điện mình một đêm, một ngày, thì thị xã được lính Quốc-gia chiếm lại bọn nó rút về Gò-nổi, bị máy bay Quốc-gia dập bom banh càng, nó mất một chân.. Sau chiến tranh, chính-quyền mới cho làm khóm trưởng đâu bên Gò-nổi, một đêm tối, sau khi đi vận động nông-dân vào họp tác-xã nông- nghiêp, trên đường về, nó bị mấy người lạ mặt chận lại đánh bị thuơng nặng, làm mù hai mắt, rôi trói lại bỏ trong ruộng dâu. Đứa con gái dẫn nó đi ăn xin là con của nó, khi sinh ra đã bị tật như vậy."
Tôi nhìn cô gái, mặt cứ ngữa nhìn lên trời. Tôi chợt nhớ đến cái đêm tôi bị trói, treo lên sà nhà, mặt mẹ lúc nào cũng ngước lên nhìn tôi, đau đớn, sợ hãi và chan hòa nước mắt. Còn cô gái nầy suốt đời phải ngước mặt nhìn trời là tại làm sao vậy ? Trần gian nầy đang quá khổ đau nên không dám nhìn xuống ? Cầu xin ơn trên tha lỗi cho cha mình đã một thời gieo rắc tang thương cho đồng bào mình ? Nếu đúng vậy thì tội tình nầy đã đến với cô một cách bất công và cay nghiệt ! Lòng tôi ái-ngại khi nhìn thấy cô.
Ông bác kể tiếp:
- Chính-quyền địa-phương xếp nó vào diện thương binh liệt-sĩ, được trợ cấp, nhưng không đủ sống, dân địa-phương xa lánh vì sự tàn bạo nó đã gây ra trước đây, rồi vợ bỏ, để lại đứa con rồi đi biệt xứ. Hàng ngày hai cha con rời làng vào đây xin ăn.
Khi hai người ăn xin đến gần bàn ăn, mẹ tự nhiên đứng lên vội vàng đi vào nhà vệ-sinh. Tôi cũng đứng lên, đi “lọc cọc” theo mẹ . Hai mẹ con đứng yên-lặng trong nhà vệ-sinh, không trao đổi với nhau một lời, chỉ nhìn nhau.....Khi hai mẹ con trở ra lại bàn ăn, hai người ăn xin đã đi qua những bàn thực khách khác.

Bữa cơm thân mật chấm dứt, mọi người chia tay với những chúc lành đẹp nhất. Dưới ánh sáng vàng vọt của những cột điện ven đường, hai người ăn xin đang đi phía trước, dưới những hàng cây khẳng khiu, thưa lá. Khi vượt qua hai người ăn xin, tôi dừng lại, cho tay vào túi xách lấy ra mấy tờ bạc dúi vào tay cô gái rồi theo mẹ băng qua đường một cách vội vàng. Trong đêm tối yên tĩnh, tôi nghe rõ tiếng nạng “cộp...cộp “của anh Kéo vang lên chen cùng tiêng nạng “cộp...cộp” của tôi nghe buồn da diết.
Trong những ngay chờ đợi chuyến bay về lại Pháp tại Sài-gòn, một buổi sáng, mẹ và tôi dùng điểm tâm tại một tiệm phở. Khi hai mẹ con tôi vừa ăn xong thì một người đàn ông không còn chân lết đến bên cạnh nhìn thẳng vào hai mẹ con tôi, đưa một một túi nhựa ra trước mặt, hỏi:
- Hai bà ăn xong rồi, phần dư còn lại không ăn hết, xin cho vào túi nhựa của tôi.
Mẹ e-ngại trút phần ăn còn lại của hai tô phở vào túi nhựa với nét mặt đầy xúc động, rồi lặng lẽ lấy mấy tờ bạc để vào tay ông, mẹ nói:
- Chú giữ lấy tiền nầy để mua thêm thứ gì để ăn.
Người đàn ông cầm tiền, cứ chăm chăm nhìn mặt mẹ rồi lết ra bên ngoài tiệm phở. Bên ngoài có một đám con nít, tay xách thùng đánh giày, tay cầm vé số, tay cầm lon xin tiền, tay cầm túi nhựa xin thức ăn thừa, muốn vào tiệm nhưng bị người quản lý ngăn chận. Khi mẹ vả tôi bước ra khỏi tiệm phở, lũ con nít ùa tới vây quanh, mỗi đứa nói một câu lao nhao, mẹ đưa tay nhẹ nhàng gạt chúng qua một bên để có lối đi cho hai mẹ con. Giữa lúc đó, từ trong một góc, người ăn xin cụt hai chân lết lần về phía chúng tôi, hỏi lớn:
- Có phải bà là thím Ba ngày xưa có tủ vàng trong chợ Vĩnh-Điện không ? Cháu nhìn không sai đâu. Hồi đó thím nổi tiếng khu Vĩnh-điện, mọi người đều nói như vậy. Mắt thím đẹp, ai cũng biết. Con Chút, con gái của thím cũng có cặp mắt giống thím như vậy. Cô nầy chắc là con Chút ngày xưa, bị mấy thằng trong rừng ra quậy phá phố Vĩnh-Điện bắt treo lên khảo vàng nhà thím, làm nó bị thương, phải không thím ?
Ông vừa nói vừa chỉ tay vào tôi.
Tôi ngạc nhiên, cố tìm trong trí nhớ người nầy là ai....Thấy mẹ do dự một lúc rồi gật đầu xác nhận. Mẹ lại hỏi;
- Tôi nay lớn tuổi rồi, trí nhớ không còn như trước, không nhớ chú là ai vậy ?.
Người ăn xin cụt hai chân nói giọng vui mừng:
- Cháu là con ông Tư Cải cùng xóm với thím đó, cháu là thằng Lự đây. Hồi thằng Kéo đem du-kích của. nó đánh Vĩnh-Điện, nó bắt ông già cháu đi theo vì ông không chịu đóng thuế nông-hội cho chúng. Mấy tháng sau dân chúng vớt được xác ông già cháu nổi trên bến đò Hoa-trà. Đêm đó thằng Kéo vào nhà thím treo con Chút lên kèo nhà để khảo vàng, chuyện ấy ai cũng biết.
Mẹ thừ người ra, mặt đượm nét sầu đau. Còn tôi, khi được nghe nhắc đến tên Chút, cái trên mà ba mươi năm nay không còn ai nhắc đến, đã vào trong quên lãng của mọi người, nay được nghe lại, tôi bồi hồi xúc-động. Ký ức tuổi thơ của tôi chợt thức giấc: Thằng Lự đây sao ? Hồi đó hai đứa cùng lũ bạn trong xóm, suốt ngày lêu-lỗng ngoài xóm, chơi lò-cò, chơi nhảy dây, chơi u, chơi ném lon...thằng Lự khỏe mạnh, thường hay bênh vực tôi mỗi khi bị bọn trẻ khác hiếp đáp !
Tôi đang nghĩ đến ngày xa xưa, thì nghe tiếng mẹ :
- Tại sao cháu ra nông-nổi tàn tật như thế nầy ?.
- Năm 1979, cháu bị bắt vào lính, đưa ra Bắc đánh nhau vời Trung-quốc, cháu bị thương cụt hai chân. Đời sống khổ lắm thím, nhà nước trợ cấp nhưng sống vẫn thiếu trước hụt sau... người ta quy kết trước đây ông già cháu có tội với cách mạng vì không nộp thuế nông-hội, nay mặc dầu cháu hy sinh một phần cơ thể cho đất nước, nhưng cháu phải tiếp tục trả cái nợ trước đây của ông già, vì vậy phần trợ cấp thương binh của cháu bị địa phương cắt giảm không đủ vào đâu nên cháu phải xin ăn.

Tôi nhìn thân thể tật nguyền và teo gầy của Lự, nước mắt ứa ra. Tôi bước lần đến bên Lự, buông nạng, quỳ một chân trước Lự, nhìn sững Lự rồi bật khóc như ngày nào bị chúng bạn hiếp-đáp, khóc to lên để Lự chạy đến bênh vực, che chở. Tôi nghe từ phía Lự cũng có tiếng nấc lên, thổn thức. Trong làn nước mắt, tôi thấy tôi đang chạy trốn thật nhanh, đàng sau, Lự đứng giang hai tay như người hiệp-sĩ ngăn cản lũ cướp là đám con nít đưổi theo sau trong khi hơn thua nhau trong một trò chơi giành giựt nhau của trẻ con.
Tôi im-lặng. Lự im-lặng. Mẹ nhẹ nhàng kéo tay tôi đứng dậy. Tôi đứng lên. Lự vẫn ngồi bất động. Chung quanh có nhiều người hiếu kỳ đứng lại nhìn chúng tôi.

Mẹ gọi hai xe xích-lô, mẹ một chiếc, tôi ngồi chung xe với Lự. Trên đường dẫn về nhà Lự, tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài những hình ảnh một thời thơ ấu của tôi cuộn chảy về như một dòng sông ký ức. Tôi nhìn thấy một con bé lúc nào cũng được che chở, được binh-vục dù con bé sai quấy, ngay cả khi con bé dó tham lam lấy đồ chơi của người khác làm của mình. Nhưng rồi cũng có lúc con bé trở nên hung dữ, ném dép và đá sỏi vào Lự vì con bé bị ngăn chận không cho leo lên cây hái mấy trái ổi, sợ bị té. Một viên đá đă làm trán Lự chảy máu, Lự kéo áo lau máu, chạy về nhà. Con bé chạy theo, Lự khép cửa không cho nó vào nhà, Lự giận, con bé ngồi bên ngoài lo sợ cho vết thương của Lự, khóc ấm ức. ..Kỷ niệm đang trở về, trong vô thức, tôi đưa bàn tay thương tật sờ lên trán Lự, nơi vết thương của ngày nào...Bỗng nhiên Lự cũng đưa một tay lên vỗ nhẹ vào tay tôi đang dặt trên trán Lự . Lự cười và nói như nói với tôi và như nói với chính mình:
- Sẹo của vết thương đã phai theo thời gian, nhưng kỹ-niệm về vết thương vẫn nhớ mãi.
Lự nói, mắt vẫn nhìn về phía trước. Lự đã hiểu lòng tôi khi bàn tay tôi để lên trán Lự để nhớ về tháng năm thơ ấu thân yêu. Tôi nhìn Lự, ngầm nói lên lời cảm ơn tình bạn thân ái vẫn còn lại với tháng năm.

Lự sống với gia-đình em gái trong khu ngã tư Bảy Hiền, nơi dân Quảng-nam, vùng Gò-nổi, vốn tiếng tăm với nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt Lụa, Thao, Đũi, bỏ xứ vào đây lập nghiệp, tránh chiến-tranh ác-liệt. Vợ chồng em gái Lự làm nghề vệ-sinh, hốt rác trong khu phố, nuôi ba đứa con, thiếu trước hụt sau nên việc ăn uống cá-nhân Lự tự giải quyêt. Lự cần một nơi tránh gió tránh mưa nắng nơi nhà em gái. Tôi rất đau lòng cho cuộc sống của Lự. Có lúc tôi vu-vơ nghĩ quanh :" Cái đêm anh Kéo bắt treo tôi lên sà nhà...Lự lúc đó đang ở đâu mà không xuất hiện cứu tôi ? ". Rồi tôi tự cười mình ..ba mươi bảy tuổi rồi...còn nghĩ đến ngày xưa còn bé ! Tiểu hiệp sĩ ngày xưa oai nghi như một thiên-thần, nay thiên thần đã gãy cánh !
Mẹ đồng-ý xin hoãn chuyến bay về lại Pháp ba ngày theo đề nghị của tôi. Tôi có thời gian giúp Lự khám sức khỏe toàn diện cũng như đi mua cho Lự một chiếc xe lăn. Mẹ tôi giúp Lự và gia-đình em gái Lự một số tiền để xoay sở sinh sống. Có một điều Lự phàn nàn với tôi là tại sao không gọi Kéo là tên Kéo, thằng Kéo mà gọi là anh Kéo, nó là tên ác ôn mà. Tôi trả lời một cách thản nhiên:
- Đó chỉ là thói quen thôi, dù gọi tên Kéo, thằng Kéo hay là gì gì đi nữa thì Kéo vẫn là kẻ độc ác, đáng nguyền rũa.

***************
Sau chuyến về Viêt-nam rồi trở lại Paris, sức khỏe của mẹ bắt đầu sa sút. Cùng lúc trường học giảm tối đa giáo viên giảng dạy vì số lượng học sinh ngày một giảm vì người Pháp không muốn sinh con. Lợi dụng bị thuyên chuyển làm việc xa nhà, thân tàn tật di chuyển khó khăn, tôi xin nghỉ việc để có thời gian lo săn sóc mẹ. Thời gian rảnh rỗi, tôi vẫn tiếp tục làm việc thiện nguyện cho Hội Chữ Thập Đỏ. Rồi chiến tranh ở Bắc Phi, chiến tranh ở Trung-đông liên tiếp xẩy ra, tôi có dịp theo hội cứu giúp trong các trại tỵ nạn nơi xẩy ra chiến cuộc. Sự tàn phá, chết chóc do chiến-tranh tạo ra gây cho tôi kiệt lực. Người ta nhân danh chiến tranh để giải phóng con người ra khỏi đói nghèo và áp-bức, nhưng sau chiến-tranh, đói nghèo và áp bức càng gia-tăng do hậu quả cuộc chiến để lại và lòng tham muốn quyền lực chiếm đoạt và sự trả thù của
bên thắng cuộc đối với kẻ thua cuộc.
Cường-độ của độc-ác, bóc lột, đói nghèo gia tăng thì lòng nhân-đạo giúp đỡ nhau đi xuống. Chiến-tranh ở Việt-nam có “Kéo” ác-độc chủ động tham dự, “Lự “ bị cưỡng bách, có “Chút” là tôi, một thường dân vô-tội, thì các nạn nhân chiến-tranh ở Trung-đông, Bắc-Phi cũng không khác. Tôi nói lòng nhân đạo đi xuống là muốn nói lòng nhân đạo tự nguyện đối với nạn-nhân của mọi biến cố xa gần, trực-tiếp hay gián-tiếp đã trở nên cằn cỗi...nên một số anh chị em trong hội tự chọn cho mình một phương cách hữu-hiệu, an toàn để tạo thêm nguồn tài-chánh cho trung ương, và tôi đã chọn là mỗi tuần tôi để ra ba buổi chiều xin tiền trong hầm xe điện ngầm. Lúc đầu chuyện không đơn giản, vì anh chị em trong nhóm thấy quyết-định của tôi có vẻ sẽ gây bất mãn và gây dị nghị cho tổ chức, nhưng tôi dã thuyết phục được họ vì tôi làm không nhân danh hội, chỉ có tính cách cá-nhân. Những tuần lễ đầu tiên, khách qua lại trong đường hầm xe điện ngầm ném cho tôi những cái nhíu mày tỏ vẻ bực bội. Tôi biết, một người khuyết tật ở xứ Pháp nầy sẽ được xã-hội bảo bọc chu toàn nên xin ăn là điều sĩ nhục cho đất nước. Tôi để hộp xin tiền trước mặt, ngồi im, hai mắt nhắm lại. Một ngày qua đi, ba ngày trong tuần qua đi, không có một xu nào được ném vào hộp. Qua tuần lễ thứ hai, lác đác tôi nghe có tiếng tiền kim loại được ném vào hộp....Rồi một tuần sau đó, niềm vui và tin tưởng đến với tôi. Một nhóm học trò cũ của tôi được cô thầy giáo hướng dẫn du hành nghiên cứu thực tế bên ngoài xã-hội để áp-dụng cho một chương trình học trong lớp đi ngang qua chỗ tôi ngồi xin. Có lẽ do sự giải thích của cô thầy giáo đồng nghiệp cũ của tôi về việc làm của tôi nên các em vây quanh tôi vỗ tay reo hò, nhiều em bỏ tiền vào hộp. Có em giải thích việc làm của tôi với khách qua lại dùng chân vì hiếu kỳ, họ cũng bỏ tiền vào hộp. Hôm đó, lần đầu tiên trong những ngày bắt đầu xin tiền, tôi nhận được khá nhiều tiền, lòng thật vui , đầy phấn khởi. Cũng có lẽ sau ngày hôm đó, những cái nhìn của khách qua lại ném cho có nhiều thiện cảm hơn, có khách dừng chân, nhẹ nhàng bỏ những tờ giấy bạc hay những đồng tiền bằng kim loại vào hộp, không quên kèm thêm một nụ cười. Hạnh-phúc nhất đến với tôi là sau một năm thực-hiên việc xin tiền, đài truyền hình France 3 đưa tin-tức công việc của tôi cho mọi người biết. Có một câu hỏi mà câu trả lời tôi thích nhất từ đó cho tới nay.
Người ta hỏi:
- Bà là người Pháp, gốc Việt-nam, có phải việc làm của bà nhằm mục-đích có tiền
góp cho hội Chữ-Thập-Đỏ dành riêng giúp cho những nhu cầu cần-thiết hàn gắn những vết thương do thiên tai tạo ra bên Việt-nam ? .
- Thưa không phải là như vậy. Việc tôi làm là để đóng góp tài chánh cho hội Chữ-Thập-Đỏ. Sự đóng góp của tôi không bằng một hạt cát trong đai dương mênh-mông. Việc phân phối giúp đỡ theo nhu cầu ở một nơi nào đó là do Hội nghiên-cứu và quyết- định. Hội Chữ-Thập-Đỏ làm việc cho toàn thế-giới, không riêng cho một nước nào. Ngay tại nước Pháp của chúng ta, cũng có những lúc, có những nơi cần có sự góp sức của hội Chữ-Thập-Đỏ.
***************
Tôi nhấp cạn phần còn lại của tách cà-phê, lòng cảm thấy nhói vì câu chuyện.

Nguyễn Đại Thuật