Monday, February 18, 2019

10 Điểm Đặc Biệt Xung Quanh "Quái thú" The Beast 2.0 Của TT Trump


Sau gần nửa năm lộ diện, The Beast 2.0 có thể sẽ đặt chân đến Việt Nam cùng với ông Trump. Mức giá ngất ngưởng, công nghệ hiện đại nhất là những điểm nổi bật của ''Quái thú'' này.


The Beast 2.0 là mẫu limousine chống đạn được làm riêng cho Tổng thống thứ 45 của Mỹ - Donald Trump. Với mức giá lên đến 1,5 triệu USD, The Beast 2.0 là mẫu xe đắt nhất từng được chế tạo cho các đời Tổng thống Mỹ. Tuy nhiên, đó chưa phải là điều thú vị duy nhất về ''Quái thú'' này. Ảnh News18


Tiền thân của Cadillac One là dòng xe Cadillac DTS bản kéo dài của Tổng thống George W. Bush ra mắt vào năm 2001. Do kích thước đồ sộ nên Cadillac DTS được các mật vụ đặt cho biệt danh là The Beast cho đến nay. Ở mỗi đời Tổng thống, chiếc The Beast sẽ được đặt hàng riêng, tùy theo yêu cầu và sở thích của mỗi Tổng thống. Ảnh: MotorTrend


Cadillac One, The Beast hay Stagecoach đều ám chỉ mẫu limousine này. One là do hãng sản xuất đặt, các mật vụ thì gọi mẫu xe là The Beast vì thân hình đồ sộ và Stagecoach là tên mật của dự án này. Do đó, mẫu xe này thường được gọi với 2 tên đầu tiên hơn. Với tên gọi The Beast 2.0, có thể ông Trump muốn một mẫu xe mới hoàn toàn hoặc muốn bỏ đi cái tên Cadillac One có từ thời ông Obama. Ảnh: Flickr


Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ đã đặt hàng 11 chiếc The Beast 2.0 cho ông Trump. Mỗi lần ông Trump xuất hiện trước công chúng, sẽ có 2 chiếc The Beast tháp tùng. Trong đó, một chiếc chuyên chở ông Trump và chiếc còn lại đóng vai trò ''chim mồi''. Từ thời Tổng thống Obama, tất cả chiếc The Beast đều đeo biển số 800-002. Ảnh: News18


Với kích thước của một chiếc limousine và cân nặng lên đến 9 tấn, cái tên The Beast hoàn toàn xứng đáng cho mẫu xe này. Để vận chuyển 2 chiếc The Beast, chính phủ Mỹ phải huy động đến loại máy bay vận tải cỡ lớn C-17 Globemaster. Vì cân nặng khủng nên dù được trang bị động cơ diesel tăng áp 5.0L, The Beast 2.0 chỉ đạt tốc độ tối đa khoảng 90 km/h. Ảnh: Time.com



Dùng gốm để chống đạn? Đó hoàn toàn là sự thật. Lớp vỏ thân xe dày 8 inch của The Beast 2.0 được cấu thành từ thép, nhôm và gốm. Kính xe được làm từ kính cường lực dày 5 inch. Do đó, cánh cửa xe nặng tương đương cửa của một chiếc Boeing 757. Gầm xe được thửa từ chiếc bán tải hạng nặng Chevrolet Kodiak, giá cố thêm bằng titanium, gốm và tấm chống bom. Ảnh: Reuters


The Beast 2.0 được trang bị khả năng phòng thủ chủ động bao gồm hệ thống bắn khói, xả dầu ngăn cản các xe truy đuổi. Khi người lạ có ý định mở cửa xe, hệ thống sẽ phóng ra dòng diện để hạ gục người này. Bình xăng của "Quái thú" cũng được bọc thép chống đạn và bao phủ bằng một lớp bọt đặc biệt chống cháy nổ. Ảnh: The Sun



Bên trong The Beast 2.0 được trang bị hệ thống thông tin liên lạc hiện đại và bảo mật bậc nhất như dò tìm bằng định vị vệ tinh toàn cầu GPS, WiFi, điện thoại vệ tinh và kết nối thẳng đến điện thoại của cả phó Tổng thống lẫn Lầu Năm Góc để ra lệnh phóng tên lửa hạt nhân ngay từ trên xe. Một lượng khí oxy và túi máu trùng với nhóm máu của ông Trump được dự trữ sẵn. Ảnh: Autoweek


Bên cạnh tiện nghi hàng đầu, The Beast 2.0 được ví như chiếc xe tăng với một số vũ khí bên trong. Cơ quan Mật vụ Mỹ giữ bí mật hoàn toàn về các vũ khí của The Beast 2.0. Chúng ta chỉ có thể biết rằng ở phần đầu xe có trang bị súng phun hơi cay và một loại súng máy. Bên trong xe, tài xế được trang bị một khẩu Shotgun. Ảnh: Dailymail


Không phải ai cũng có thể cầm lái ''Quái thú''. Tài xế của Tổng thống sẽ được tuyển chọn gắt gao từ các chuyên gia lái thử xe của GM và được huấn luyện quân sự để bảo vệ Tổng thống khi cần thiết. Các tài xế có khả năng xử lý thượng thừa với những màn đi lùi tốc độ cao, quay xe 180 độ, drift với một chiếc xe nặng 9 tấn - điều bạn chỉ thấy trong loạt phim Fast & Furious. Ảnh: bobandsuewilliams


Tổng thống ở đâu, The Beast sẽ ở đó. Đó cũng là lý do mà chính phủ Mỹ đặt hàng đến 11 chiếc The Beast 2.0 cho ông Trump. Số lượng xe này có thể phục vụ chuyến công du nhiều nước của Tổng thống. Mỗi nơi sẽ có sẵn 2 chiếc The Beast khi Tổng thống Mỹ xuất hiện. Ảnh: Business Insider

Nguồn: news.zing.vn

Hoàng Hôn Nắng Rớt Trên Đầu - Đỗ Công Luận

Giai Thoại Nhỏ Và Một Bài Học Lớn - Từ Thức

Đại học Stanford University. Ảnh Diary Store

Văn phòng giám đốc đại học Harvard, một ngày cuối thế kỷ 19. Một cặp vợ chồng rụt rè xin gặp ông giám đốc.
Cô thư ký nhìn vẻ quê mùa của hai người khách, chiếc quần sờn gấu của ông và bộ quần áo bình dân của bà, trả lời: ông giám đốc rất bận, chỉ tiếp khách có hẹn. Đúng ra, ông chỉ quen tiếp những trí thức danh tiếng, những người gia thế, có vai vế trong xã hội.

Hai người khách nhất định xin được ở lại chờ, vì có chuyện muốn nói. Xế chiều, ông giám đốc Harvard mới hết khách, xách cặp ra về. Cặp vợ chồng xin được thưa chuyện vài phút.
Ông bà cho hay người con trai duy nhất của họ, sinh viên năm đầu của trường, vừa chết vì bịnh thương hàn, và muốn dựng một cái gì để tưởng nhớ đứa con.
Ông giám đốc thông cảm cái đau buồn của khách, nhưng trả lời: ông bà thử tưởng tượng, nếu mỗi gia đình có tang xây một mộ bia, bồn cỏ nhà trường sẽ thành một nghiã trang.
Ông khách nói: chúng tôi không muốn xây mộ bia. Chúng tôi muốn nhân danh con, xây tặng một giảng đường, hay một nhà nội trú.
Ông giám đốc nhìn bộ quần áo bình dân, vẻ quê mùa của khách, mỉm cười: ông có biết xây một giảng đường tốn hàng trăm ngàn Mỹ kim?

Bà khách nhìn chồng, nhỏ nhẹ: Nếu chỉ có vậy, tại sao mình không dựng luôn một trường đại học?
Hai ông bà ra về. Ít lâu sau, trường đại học Stanford ra đời và trở thành một 3 đại học uy tín nhất thế giới. Ông giám đốc Harvard không biết mình vừa tiếp hai vợ chồng tỉ phú Stanford, vua xe lửa, sau này trở này trở thành Thống đốc California

TRẢ LẠI CHO XÃ HỘI

Giai thoại trên đây về Leland và Jane Stanford được kể đi kể lại, nói lên nhân sinh quan đặc biệt của người Tây Phương, nhất là ở những xứ ảnh hưởng văn hóa Tin Lành (1), với phương châm được dạy dỗ và thấm nhuần từ nhỏ: trả lại cho xã hội những gì đã nhận được của xã hội.

Hai ông bà Jane Stanford. Nguồn Stanford University. Ảnh Diary Store

Khía cạnh văn hóa đó giải thích tại sao ở Hoa Kỳ và Bắc Âu có những nhà tỷ phú như Bill Gates, Warren Buffett, Zuckerberg dành những ngân khoản khổng lồ làm việc từ thiện, tài trợ những dự án có công ích, trong khi ở những xã hội khác, những người giầu có, nhất là mới giầu, chỉ biết khoe của, phung phí một cách lố bịch, nham nhở.

Những ông bà hoàng dầu lửa, keo kiệt, tàn nhẫn với gia nhân, nhất là di dân lao động, không biết dùng tiền bạc làm gì hơn là phòng tắm, cầu tiêu bằng vàng, xây cất những trường đua ngựa vĩ đại với bồn cỏ xanh giữa sa mạc, ở một xứ Hồi giáo cấm cờ bạc, cấm đánh độ.
Những tỷ phú Tàu xây lại lâu đài Versailles hàng trăm phòng cho hai vợ chồng với một cậu cả.

Những ông trời con, những cô bồ nhí của quan lớn ở Việt Nam làm thang máy bằng vàng, xây dinh thự xanh đỏ, Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu, lấy tiền gấp tàu giấy cho con thả chơi.
Những nhà độc tài Phi châu dựng lại nhà thờ Vatican giữa một biển nghèo đói, dùng máy bay riêng chở thợ may, thợ đóng giầy nổi tiếng từ Paris, từ Rome ( Roma ) tới may bộ quần áo giá cắt cổ thứ 200, hay áo lông ( fourrure ) cho các mệnh phụ sống ở những xứ nóng như lửa.
Hai tư duy khác nhau, đưa tới hai xã hội khác nhau : một bên thịnh vượng, tiến bộ, một bên nghèo đói, lạc hậu.

TỪ KINH DOANH TỚI VIỆC NGHĨA
Những nhà triệu phú Mỹ, khi kinh doanh, không ngần ngại dùng bất cứ thủ đoạn nào để thành công, kể cả đánh gục đối thủ cạnh tranh, để chiếm độc quyền. Đó cũng là một khía cạnh của văn hóa Tin lành: không có mặc cảm với tiền bạc, với thương mạị.

Đó là một yếu tố văn hoá, nhưng nó giải thích phần nào cho sự thành công kinh tế của những nước như Hoa Kỳ, Bắc Âu. Văn hoá Tin Lành đã tạo ra những xứ tư bản Tây Phương.

Người Tin lành không che giấu chuyện đã làm ra tiền, coi đó là dấu hiệu của thành công. Gặp người Mỹ, vài giờ sau biết họ lãnh bao nhiêu dollars mỗi năm, có bao nhiêu cái nhà, cái xe.


Văn hoá Thiên chúa giáo có mặc cảm với tiền bạc. Không bao giờ người Pháp nói về lương bổng của mình, ít khi phô trương, gần như muốn che giấu nếu thành công trong đời.
Người Mỹ áp dụng những phương pháp hữu hiệu để kinh doanh, để làm giầu, nhưng khi đã thành công rồi, nghĩ tới việc trả lại cho xã hội những gì đã nhận của xã hội.

Khi Bill Gates trình bày với vợ, con về dự án dùng trên 40 tỷ dollars cho Foundation Bill & Melinda Gates, và quyết định chỉ để lại cho mỗi người con 10 triệu (ít quá, khó thành công; nhiều quá, chỉ làm hư con cái ), cả bà vợ và các con đều vui vẻ chấp nhận. Bởi vì họ được dạy dỗ, thấm nhuần văn hoá đó từ nhỏ.
Khi Bill Gates nói về dự án của mình, Warren Buffet đã hưởng ứng ngay, đóng góp phần lớn gia sản kếch sù cho Foudation Gates. Trên 50 tỷ phú, đa số là người Mỹ, đứng đầu là Zuckerberg, đã noi gương Bill Gates

Các trường đại học Mỹ hay Anh đều giầu có, với những ngân sách khổng lồ, ngang với ngân sách một quốc gia nhỏ, mà nhà nước không tốn một xu, bởi vì những cựu sinh viên khi đã thành công ngoài đời đều quay lại, tự nguyện đóng góp. Đối với họ, đó là một chuyện tự nhiên, khỏi cần ai kêu gọi. Không làm, mới là chuyện bất bình thường.
Đơn giản như vậy, nhưng đem áp dụng ở những nước khác, rất khó. Phải bắt đầu bằng sự thay đổi văn hóa, thay đổi tư duy. Và văn hoá, không phải chuyện một sớm một chiều. Đó là chuyện của hàng thế hệ.

Tinh thần ‘’trả lại cho xã hội‘’ giải thích tại sao vai trò của xã hội dân sự cực kỳ quan trọng trong các xã hội Tây Phương. Nó nhân bản hóa các xã hội tư bản.
Ở Hoa Kỳ chẳng hạn, tiêu biểu cho chế độ tư bản, nó xoa dịu những bất công của một xã hội cạnh tranh, mạnh được yếu thua. Đó là hai khuôn mặt mâu thuẫn của tư bản Tây Phương. Mâu thuẫn hay bổ túc lẫn nhau.
Những foundations tư nhân, nhan nhản khắp nơi, với những số tiền nhận được ở khắp nơi gởi giúp, trợ cấp học bổng, chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, phát triển nghệ thuật văn hoá, giúp đỡ người nghèo, người sa cơ lỡ vận.

TRUYỀN THỐNG BÁC ÁI
Tại Pháp, nơi người Tin Lành chỉ chiếm trên dưới 3 %, cái tinh thần ‘’ trả lại cho xã hội ‘’ không mạnh như ở Hoa Kỳ hay các nước có văn hoá Tin Lành ở Bắc Âu. Những trường đại học lớn, uy tín nhất của Pháp, những năm gần đây kêu gọi các cựu sinh viên đã thành đạt đóng góp cho trường, nhưng kết quả rất khiêm nhượng.
Không phải một sớm một chiều người ta có thể tạo một truyền thống.
Mặc dầu vậy, tinh thần bác ái ăn sâu tại các nước Thiên Chúa giáo như Pháp, Ý, Tây Ban Nha ( Espagne, Spain ) đã thúc đẩy các xã hội dân sự hoạt động tích cực.

Tại Pháp chẳng hạn, tổ chức Resto du Cœur mỗi năm tặng thực phẩm, bữa ăn cho hàng triệu người. Emmaüs, một tổ chức thiện nguyện do linh mục Pierre lập ra không những giúp đỡ người nghèo, còn tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người. Một trong những hoạt động của Emmaüs : nhận bàn ghế, TV, tủ lạnh, computers , quần áo cũ của thiên hạ gởi tặng, sửa lại, bán rẻ lấy tiền làm việc nghĩa. Nhân viên của Emmaüs đều là những người gọi là SDF ( Sans Domicile Fixe , Không nhà không cửa, homeless ), theo nguyên tắc dạy người ta câu cá hơn là cho tiền mua cá. Những người điều hành là những người có dư khả năng làm lương lớn trong các hãng tư, nhưng muốn làm việc công ích để đóng góp cho xã hội.

TỪ GIA ĐÌNH TỚI XÃ HỘI

Người Tây Phương, có tinh thần cá nhân chủ nghĩa, nhưng không ích kỷ như chúng ta nghĩ.

Rất nhiều người tích cực và nghĩ đến người khác, coi việc giúp đỡ người khác, cải thiện xã hội là một bổn phận.

Người Việt hy sinh, nghĩ tới người khác nhiều hơn chính mình, nhưng ‘’ người khác ‘’ chỉ luẩn quẩn trong nhà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, không ra khỏi ngưỡng cửa gia đình . Gia đình VN chặt chẽ, nhưng xã hội VN lỏng lẻo. Gia đình Tây Phương lỏng lẻo, nhưng xã hội của người ta chặt chẽ. Chữ liên đới, bác ái, huynh đệ không phải là những danh từ trống rỗng trên cửa miệng

Người Việt dành trọng tâm đời mình cho gia đình. Tai họa xẩy ra cho người thân làm tiêu tan luôn đời mình. Mất một người thân, cuộc đời kể như chấm dứt. Ngồi rầu rĩ thương thân, oán phận.
Thái độ của người Tây Phương tích cực hơn. Họ nghĩ tới xã hội. Họ không bi quan yếm thế. Tại họa cá nhân không đánh gục họ, trái lại, trở thành một động lực khiến họ lao đầu vào việc cải tiến xã hội.
OUR CHILDREN”
Hai ông bà Stanford, khi cậu con cưng chết, quyết định: từ nay, tất cả những đứa con California sẽ là con mình. ‘’The children of California shall be our children‘

Ở Pháp, những bà mẹ có con thơ ấu chết vì tai nạn xe hơi, thay vì ngồi than trời oán đất, hay oán thù người gây tai nạn, đã thành lập một hội rất thế lực, Ligue Contre La Violence Routière (Hội chống lại bạo lực lưu thông) hoạt động tích cực đòi quốc hội, chính phủ ban hành những luật lệ hạn chế vận tốc, kiểm soát, trừng phạt những người lái xe sau khi uống rượu, hút cần sa ma túy, mở những lớp về an ninh lưu thông, hỗ trợ các gia đình nạn nhân.
Các nạn nhân khủng bố lập những hội tương trợ các nạn nhân như mình. Một phụ nữ Pháp, thoát chết trong cuộc khủng bố Hồi giáo ở Paris, nói: chưa bao giờ tôi hạnh phúc hơn, vì có một gia đình trên 200 người.

Có người trong gia đình chết vì ung thư, họ lập những hội giúp bệnh nhân ung thư.

Những người cựu SDF, khi có công ăn việc làm, mở hội giúp những người vô gia cư.

Người có con chết vì ma túy, gia đình tan nát vì rượu chè, bỏ tiền bạc, giúp những người nghiện ngập . Họ làm việc đó tận tụy, âm thầm, coi như chuyện đương nhiên, ngạc nhiên khi có người ngạc nhiên trước các nghĩa cử đáng khâm phuc đó.
Những thí dụ đó nhan nhản, ở mỗi góc phố, đếm không xuể.


Thí dụ điển hình nhất là tổ chức Télémathon . Một số gia đình có con bị các thứ bịnh hiếm, không có thuốc điều trị vì không có hãng bào chế thuốc nào bỏ ra những ngân khoản khổng lồ để tìm kiếm, sản xuất thuốc cho một số rất ít bệnh nhân, đã thành lập Télémathon, mỗi năm vận động quyên góp được hàng trăm triệu euros.

Với số tiền đang kể đó, họ lập tuyển dụng các y sĩ, các chuyên viên y khoa nổi danh, mở những laboratoires tối tân để nghiên cứu phương pháp chữa trị, tìm tòi thuốc men. Tiền đóng góp từ khắp nơi gởi về, thường thường là của những người lợi tức thấp, nhưng sẵn sàng giúp người thiếu may mắn hơn mình. Và những người hoạt động tích cực nhất là những người có con cái đã chết vì bạo bệnh, hoạt động để tránh cho người khác thảm kịch của chính mình.

Không quay đầu về quá khứ, tiến về phiá trước, nghĩ đến việc cải thiện xã hội, đó là những yếu tố khiến xã hội Tây phương thành công. Cả về kinh tế lẫn chính trị. Bởi vì dân chủ không phải chỉ xây dựng trên giấy tờ, qua hiến pháp, bầu cử, luật lệ. Nó phải được thực thi, bảo vệ, nuôi dưỡng bởi xã hội dân sự.

CHA CHUNG KHÔNG AI KHÓC
Người VN hy sinh cho gia đình, đó là một đức tính đáng cảm phục. Đó là một điều may, khiến xã hội VN không hoàn toàn băng hoại. Hay xã hội đã băng hoại, nhưng vẫn còn những ốc đảo là hàng triệu gia đình, đang âm thầm cố thủ.

Ngưòi Việt hết lòng với gia đình, nhưng hoàn toàn thờ ơ với xã hội.
Phương châm của người Việt: vườn ai nấy rào. Người ta đốn cây, tôi mặc kệ, vì là cây ngoài đường. Người ta xẻ núi, phá rừng, xây chung cư, khách sạn, tôi ngoảnh mặt đi để tránh vạ lây. Hậu quả là VN được trời cho một giang sơn gấm vóc, ngày nay bị tàn phá một cách thô bạo. Nha Trang, Đà Lạt, Sapa…, những thắng cảnh tuyệt vời đang trở thành những đống xi măng, cốt sắt thô kệch, trưóc sự thờ ơ của mọi người. Cha chung không ai khóc.

Tại các nước Tây phương, các di tích lịch sử được bảo trì một phần lớn nhờ các foundations, các tư nhân. Ở VN, ngược lại, người ta biến của công thành của riêng, không nương tay tàn phá di sản của đất nước để làm giầu, để trục lợi.

Khi nào tình thương, sự liên đới, lòng bác ái, tinh thần trách nhiệm của người Việt ra khỏi ngưỡng cửa gia đình, lúc đó VN sẽ có một xã hội lành mạnh, lạc quan, tích cực. Đủ lành mạnh, lạc quan, tích cực, để xây dựng một chế độ dân chủ đích thực. Để xây dựng lại đất nước đang trở thành một bãi rác, nghĩa đen cũng như nghĩa bóng.

Từ Thức (Paris, tháng 1/2018)
——————–

(1) Bài này không có dụng ý ca ngợi đạo Tin Lành. Tôn giáo nào cũng có ưu và khuyết điểm, sẽ đề cập trong một bài tới.

Xuân Xa Có Gì Lạ - Trầm Vân

Lẽ Nào “Bách Niên Giai Lão” Chỉ Đơn Giản Là Nhẫn Nại?


Có câu danh ngôn (khuyết danh) rằng: “Bách niên giai lão thực ra chẳng liên quan gì đến tình yêu, chỉ đơn giản là nhẫn nại… Thế nhưng, nhẫn nại cũng chính là một loại tình yêu. Vì thế, người thực sự yêu bạn, thực chất chính là người luôn tỏ ra nhẫn nại với bạn”. Tôi cho rằng việc này không hẳn đúng là như vậy…

Ông nội tôi sinh thời rất thích bánh bao, ông có thể ăn món này liền tù tì cả tháng mà không chán. Mỗi lần ông hỏi bà nội tôi “Hôm nay ăn bánh bao có được không bà?”, thì bà lại tủm tỉm “Được. Hôm nay ông thích ăn nhân thịt hay chay?”. Thế là ông lại vui vẻ nhường quyền chọn cho đầu bếp – “Bánh bao nhân gì tôi cũng thích, tuỳ bà lựa chọn đấy!”.

Bà nội tôi không đặc biệt thích bánh bao, nhưng sống cùng ông bao năm, bà cũng quen với món ăn dân dã này. Bà học cách làm nhiều loại nhân khác nhau, lại nặn ra vài cỡ to nhỏ, rồi thì hấp, rán… nên ông ăn mãi mà không chán.


Bố tôi lớn lên trong “tình yêu bánh bao” của ông bà, nên từ nhỏ đã thích ăn món này. Sau này, khi đã có gia đình riêng, bố cũng nhiều lần nói với mẹ “Hôm nay ăn bánh bao em nhé?”.

Ban đầu, mẹ cũng vui vẻ chiều ý bố, cặm cụi làm bánh rồi cả nhà cùng ăn. Lâu dần, thấy bố đòi ăn bánh bao liên tục, mẹ ra ngõ mua cho bố bánh làm sẵn, còn mình thì nấu cơm ăn bình thường.
Đến một ngày, bố lại hỏi:
– Hôm nay ăn bánh bao em nhé?
Mẹ tôi không nhịn được nữa, sẵn tâm trạng không tốt, liền đáp:
– Bánh bao, lại bánh bao! Chẳng lẽ anh không còn món nào khác nữa hay sao?!
Đột nhiên bị mẹ phản ứng như thế, bố cũng “ăn miếng, trả miếng”:
– Bánh bao ngon nên anh muốn ăn chứ sao? Nếu không thì em thích ăn món gì?
Mẹ tôi thở dài cái sượt, giận dỗi đáp:
– Sống với nhau bao nhiêu năm rồi mà vợ thích ăn cái gì cũng chẳng biết, chồng tốt đến thế là cùng!
Thế là, mẹ bỏ ra ngoài, bố thì ở đó làu bàu cái gì nghe không rõ.

Thực ra, không hẳn là bố không biết, mà chỉ vô tâm thôi. Mẹ vốn rất thích ăn cơm trắng với canh chua. Mùa hè, đi ngoài đường về mướt mát mồ hôi mà được ăn món này thì mát ruột lắm. Mẹ đã nhường nhịn bố nhiều lần, mà bố không để tâm, cuối cùng thì cũng không nhẫn nại được nữa.
Chuyện gì rồi cũng qua đi. Nhưng vẫn còn đôi chút lấn cấn, nên một hôm tôi thuận miệng hỏi ông:
– Ông thích ăn bánh bao lắm phải không ạ?
Ông cười xoà:
– Ông thích ăn bánh bao lắm, nhưng lần nào ông cũng hỏi ý kiến bà trước. Nếu bà muốn làm món khác, ông sẽ vui vẻ thuận theo, vì bà đã chiều ông mà làm bánh bao nhiều lần rồi!

Tôi vỡ lẽ, thì ra mỗi khi nói đến sở thích của mình, trước tiên ông luôn thương lượng với tâm thái ưu ái và sẵn lòng thuận theo ý bà. Thế nên bà cũng thường vui vẻ chiều ông, nhẫn nại cả cuộc đời.

Còn bố thường đưa ra yêu cầu mà không xuất tâm tìm hiểu, ướm hỏi xem mẹ muốn gì. Mẹ vốn hiền lành, nhẫn nại, nhưng đôi khi tâm trạng không tốt, lại cảm thấy bị áp đặt, phớt lờ như vậy, nên cũng có lúc không nhẫn nại được với bố.

Trở lại với nhận định “Bách niên giai lão thực ra chẳng liên quan gì đến tình yêu, chỉ đơn giản là nhẫn nại… Thế nhưng, nhẫn nại cũng chính là một loại tình yêu. Vì thế, người thực sự yêu bạn, thực chất chính là người luôn tỏ ra nhẫn nại với bạn”.
Theo tôi, “thực sự yêu” không hẳn nghĩa là “mãi mãi yêu”, còn nhẫn nại mãi với một dạng khảo nghiệm thì cũng chỉ là hình thành thói quen chịu đựng nó. Tình yêu giúp người ta nhẫn nại trước thử thách mà bạn tình tạo ra, nhưng đó là một dạng năng lượng không thể tồn tại “luôn luôn” và “mãi mãi”, nếu không được bồi bổ, hồi đáp bằng hình thức tương xứng nào đó. Tức là, câu cuối của danh ngôn nói trên chỉ nên gói gọn lại như sau: “…người thực sự yêu bạn chính là người đang nhẫn nại với bạn”. Vì tôi cho rằng, người ta không thể nhân danh tình yêu và lạm dụng sự nhẫn nại của bạn tình để nuôi dưỡng mãi tính ích kỷ của mình.

Sau câu chuyện bánh bao của ông bà nội và bố mẹ, tôi ngộ ra một phần đạo vợ chồng, đạo làm người. Hôn nhân thành hay bại đôi khi chỉ là chuyện hôm nay ăn gì, ai dọn nhà đón con, về lúc mấy giờ… Và sự tu dưỡng cũng không nhất thiết đòi hỏi áp dụng những đạo lý cao siêu, rộng lớn… mà thể hiện ngay trong những thói quen sinh hoạt thường ngày.

Thanh Ngọc
www.dkn.tv

Sunday, February 17, 2019

Nguyên Tiêu Lễ Hội - Đỗ Công Luận

Dẹp Tết Âm Lịch - Nguyễn Tài Ngọc


Còn hơn ba tuần nữa thì đến Tết Nguyên Đán. Để giải thích cho những người nửa chừng xuân như tôi thời gian sống ở Mỹ đã gấp đôi, gấp ba lần ở Việt Nam (tiếng Việt quên đi ít nhiều vì không sống ở quê nhà và tiếng Anh nói dở ẹc vì sang Mỹ không vào thời niên thiếu), không hiểu Tết Nguyên Đán là gì thì Tết Nguyên Đán là Tết Âm lịch.

Ai vẫn không hiểu Tết Âm lịch là gì thì tôi xin giải thích thêm Tết Âm lịch là lịch tính toán dựa trên sự xoay chuyển của mặt trăng, không như dương lịch dựa trên sự xoay chuyển của mặt trời.

Tại sao tổ tiên ta đặt ra lịch? Lý do dễ hiểu là ngày xưa những kẻ phạm pháp nhưtướng cướp Bạch Hải Đường bị Tòa kết án phạt tù hai năm, ba năm tù ở, nhưng nếu không có lịch thì làm sao người ta biết được tù nhân đã ở mấy ngày? Hoặc mấy ông chồng gian dối vợ muốn gặp bồ nhí, nói láo với vợ phải đi làm xa hai ngày nhưng thật sự đi hai tuần, nếu không có lịch thì làm sao vợ biết chồng mình đi bao lâu? - vì thế mà mới có nhu cầu phát minh ra lịch.

Nói đến âm lịch chắc ai cũng nghĩ ngay là phải phát xuất từ Tầu là nước già cú đế; nhưng thưa không, người ta tìm được chứng tích cho thấy âm lịch đã bắt nguồn từkhoảng năm 8000 trước Công nguyên ở Scotland (Tiếng Việt là "Tô-Cách-Lan". Tôi không hiểu sao chữ "Scotland" người mình lại dịch là "Tô-Cách-Lan", hay là chữ"America" Dương Quảng Hàm lại dịch là "Á-Mễ-Lị-Cơ", nhưng cứ viết ra đây cho độc giả rộng đường dư luận).

Nếu dùng chứng cớ viết lách thời xưa để lại mà nhân loại tìm được thì văn hóa Tầu - chỉ có 3600 năm -, còn thua văn hóa Ai Cập - 5000 năm -, là nước đã dùng âm lịch từ xưa. Việt Nam chúng ta chỉ giỏi bắt chước nên bắt chước Trung Quốc dùng âm lịch theo họ. Nếu ai tin văn hóa Việt Nam có đến bốn nghìn năm văn hiến với 18 đời vua Hùng Vương thì xin đến nhà tôi mua lúa giống 100 dollars/ một hạt. Không kể bánh xèo Đinh Công Tráng mà nhà khảo cứu Nguyễn Văn Mỗ tìm được 30 năm về trước ở chợ Tân Định, văn hóa chúng ta chỉ có chừng 2300 năm sau khi nghiên cứu chi tiết trên trống đồng Ngọc Lữ mà người ta tìm được vào năm 1893 ở kế cận lăng "bác".

Trong khi có vết tích nhân loại đã dùng âm lịch 10,000 năm trước, dương lịch mà thế giới dùng hiện giờ chỉ bắt đầu vào Tháng 10 năm 1582, chỉ mới có 437 năm trước đây, hơn 9000 năm sau khi âm lịch được thông dụng.

Câu hỏi hiển nhiên là cách tính ngày của âm lịch - dựa theo mặt trăng, và dương lịch - dựa theo mặt trời, cũng na ná tương tự nhau, thế thì tại sao nhân loại quá chậm tiêu 9000 năm sau mới sáng chế ra dương lịch? Nghe thì khúc mắc nhưng sự thật rất dễ giải thích: mắt con người không thể nào nhìn thẳng vào ánh mắt trời, mãi cho đến khi Chanel và Louis Vuitton phát minh ra kính râm có khả năng che bớt ánh sáng thì lúc đó người ta mới dám nhìn vào mặt trời để tính toán ngày tháng.

Ngoại trừ người Việt nào ở gần tiệm Hột vịt lộn Long An trên đường Bolsa Blvd. ở Orange County - California, tiệm Giò chả Đức Hương ở Story Road - San Jose, quán Bún măng vịt Thanh Đa ở Bellaire Blvd - Houston Texas, Tết Nguyên Đán là một ngày như mọi ngày trên nước Mỹ và hầu hết trên các quốc gia khác, chẳng ai hồ hởi để ý vì nó chỉ là một ngày thường lệ, quân dân cán chính phải đi làm.

Tôi thật sự không hiểu tại sao người mình vẫn dùng âm lịch. Dương lịch thì giờ giấc và năm tháng dễ hiểu, trong khi âm lịch thì dùng "Thập nhị Chi", "Thập Can", nghe không biết đâu mà lường, hiểu cũng không xong. Ngày xưa thời độc thân tôi có quen một cô này tôi thật tình yêu và muốn cưới. Cô ta không thích tôi nhưng vì lịch sựkhông muốn làm phật lòng nên nói khéo với tôi là cô ấy đồng ý, và đã chọn giờ Sửu, ngày Mậu Dần, tháng Ất Ngọ, năm Bính Dậu để hai đứa làm đám cưới. Tôi nghe ù ù cạc cạc chẳng hiểu là gì. Không cần nói tiếp quý vị cũng đoán được là cuộc tình ấy của tôi đã trở nên: "Em đi đường em tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi".

Thế giới có 195 quốc gia, hầu hết đều kỷ niệm Tết dương lịch, ngoại trừ chỉ vài nước: Trung Hoa, Hàn Quốc, Lào, Singapore, Tibet, Mã-Lai, Việt Nam. Những nước này vẫn kỷ niệm ngày Tết âm lịch theo Trung Hoa.

Âm lịch không chính xác, khó nhớ, cách tính không đơn giản như dương lịch , thế thì tại sao người Việt chúng ta cứ kỷ niệm Tết ta theo Tết của người Hoa mà không ăn mừng Tết dương lịch?

Chẳng những Trung Hoa đô hộ nước chúng ta một nghìn năm mà còn tiếp tay với miền Bắc thôn tính miền Nam năm 1975, đẩy lùi đất nước ngược lại vào thời tiền sử hai mươi năm cho đến khi Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton vào năm 1994 rút lệnh cấm vận với Việt Nam. Lịch sử cho thấy Trung Hoa chỉ muốn tước đoạt và thôn tính Việt Nam thì tại sao chúng ta, những người mang giòng máu An Nam, lại cứ thờ ơ cắm đầu bắt chước phong tục của họ?

Cúng ông Táo, bày mâm ngũ quả (tượng trưng cho Kim, Mộc, Thủ, Hỏa, Thổ, năm yếu tố cấu thành vũ trụ), không quét nhà trong ngày Tết... đều là những phong tục hết sức mê tín mà chúng ta mê muội bắt chước Trung Quốc thi hành trong ba ngày Tết. 

Cái gì của nước người hay thì tôi đồng ý cổ võ hai chân lẫn hai tay là chúng ta nên bắt chước. Chẳng hạn như phong tục tập quán của người Nhật. Thế nhưng Trung Quốc thì toàn là những phong tục xấu mà dân Việt mình bắt chước theo: hỉ mũi khắp nơi, đái bậy ngoài đường, ăn uống bẩn thỉu, xả rác nơi công cộng, nhà cửa dơ dáy, nói năng lớn tiếng... 

Minh Trị Thiên Hoàng, ông vua có công to nhất trong lịch sử canh tân biến Nhật Bản thành cường quốc thế giới, khi lên ngôi năm 1867 đã cải cách tất cả Nhật Bản theo chiều hướng Âu Mỹ, từ chính trị, xã hội, cho đến kinh tế. Minh Trị Thiên Hoàng nhận thấy phương Tây đã vượt quá xa Nhật Bản nên gửi sinh viên sang Pháp, Mỹ du học, và nhờ Hải Quân Pháp tân trang Hải Quân Nhật. Đồng thời, Minh Trị Thiên Hoàng đã mướn 3000 chuyên gia nước ngoài đến Nhật huấn luyện cho dân chúng trong tất cả mọi lãnh vực, kể cả học tiếng Anh.

Điều thứ tư trong năm điều cải cách Minh Trị Thiên Hoàng đưa ra là: "Thay thếphong tục xấu xa bằng các điều luật công bằng của tự nhiên". Dĩ nhiên là vì điều khoản cải cách này mà 265 năm trị vì của chế độ phong kiến võ sĩ đạo shogun bị dẹp bỏ, nhưng cũng trong thời gian này, vào năm 1872, nước Nhật dẹp bỏ Tết Tầu, chỉ ăn mừng Tết Tây.

Nước Nhật là gương tiêu biểu cho chúng ta noi theo. Không lý do gì chúng ta cứ bắt chước Trung Quốc kỷ niệm Tết theo âm lịch. Dẹp Tết -không chính xác- vào khoảng giữa tháng Giêng đến giữa tháng 2. Thay vào đó, chúng ta ăn Tết vào ngày 1 Tháng 1 dương lịch. Muốn nghỉ ba ngày Tết thay vì một như phương Tây thì cứ việc, không ai ngăn cản. An Nam Mít chúng ta phải nhất quyết khước từ, dẹp bỏ, không theo phong tục tập quán Trung Quốc.
........................
Tôi xin bổ túc câu trên một tí: bánh bò, bánh tiêu, dầu cháo quẩy, sủi cảo, heo quay, thịt vịt quay... chúng ta vẫn còn bắt chước Trung Hoa được, không sao.

Nguyễn Tài Ngọc

January 2019
http://www.saigonocean.com/trangNguyenTaiNgoc/vanNTN.htm

Saturday, February 16, 2019

Kung Fu Lý Bằng - Biểu Diễn Võ Thuật Xiếc

Cuộc Đời Tựa Chuyến Tàu Về Đích - Youtube Marian Tran

Mẹo Hay Dùng Lò Vi Ba Không Biết Thật Phí


Thật phí chiếc lò vi ba nếu bạn không biết 7 mẹo cực hay này. Đây là thiết bị không thể thiếu trong mỗi gia đình. Lò vi ba còn có một số công dụng thú vị sau đây, có thể bạn chưa biết.

1. Làm khoai tây chiên giòn rụm

Xắt lát khoai tây thành miếng mỏng, ngâm trong nước khoảng 10 phút, sau thấm khô từng lát khoai tây bằng khăn giấy. Tiếp đó cho khoai vào lò vi sóng, đợi chừng 3 phút là đã có được món khoai tây chiên giòn tan ăn vặt rồi.



2. Làm bánh flan
Bạn đập một quả trứng bỏ ra chén, thêm 200ml sữa tươi có đường vào, tiếp tục đánh cho trứng và sữa hòa tan vào nhau. Sau đó, gạt bớt lớp bọt phía trên rồi đổ hỗn hợp vào chén sứ hoặc ly thủy tinh chịu nhiệt. Tiếp đến, bỏ chén vào lò vi sóng và chỉnh nhiệt độ ở chế độ Trung Bình Thấp (đối với lò công suất 300W) rồi chỉ cần đợi chừng 5 phút thôi, bạn sẽ có được một dĩa bánh flan thơm ngon dùng cho bữa ăn nhẹ trong ngày.

3. Làm bánh mì nướng
Bánh mì để lâu thường hay bị ỉu hay mềm, không ngon như ban đầu nhưng bạn vẫn có thể “làm mới nó” bằng cách cắt từng lát bánh mì ra, trét một ít bơ lên bề mặt. Tiếp đến, nhấn nút Start để lò bắt đầu nướng bánh, đợi chừng 30 giây là bạn đã có những miếng bánh mì nướng giòn rụm. Ngoài ra, bạn cũng có thể chế biến với thời gian ít hoặc lâu hơn tùy vào độ giòn mà bạn mong muốn.

4. Làm bắp rang
Cho một thìa bơ vào tô, đồng thời cho một cốc bắp khô vào và trộn hỗn hợp này với nhau. Sau đó đậy nắp tô và bỏ vào lò, điều chỉnh cho lò vi sóng hoạt động với công suất khoảng 600W (Trung Bình Cao) và đợi trong 3,5 phút.Nếu muốn ăn ngọt, bạn bắc chảo lên bếp, cho vài thìa đường vào nấu cho đến khi thành caramen, đảo đều với bắp là bạn đã có được món bắp rang hoàn hảo rồi.

5. Liệu pháp chăm sóc sắc đẹp hiệu quả
Ngoài những công dụng trên, lò vi sóng còn giúp bạn làm ấm những gói dầu dưỡng tóc hay mặt nạ dưỡng ẩm giúp chúng thẩm thấu tốt hơn và phát huy hết hiệu quả khi sử dụng. Chỉ cần cho các sản phẩm này vào lò vi sóng và cài đặt ở chế độ Trung Bình Thấp, hâm nóng trong vòng 10 đến 20 giây là bạn có thể lấy ra sử dụng ngay.

6. Vắt cam/chanh dễ dàng
Bình thường, bạn sẽ rất khó mà vắt hết nước cam hay chanh. Có một mẹo nhỏ rất hiệu quả là sau khi lấy cam hay chanh từ tủ lạnh ra, hãy để trong lò vi sóng quay khoảng 20 giây rồi mới vắt, sẽ lấy được tối đa lượng nước.

7. Nướng hạt nhanh chóng
Có một điều khá bất ngờ là lò vi sóng có thể dùng để nướng các loại hạt điều, hạt dẻ… mà chỉ mất thời gian bằng ¼ thời gian khi bạn dùng lò nướng thông thường. Cách làm cũng vô cùng đơn giản, bạn rải đều các hạt trên một dĩa và cho vào lò và cho lò hoạt động với nhiệt độ cao, nên nhớ rằng cứ mỗi phút phải đảo để hạt được chín đều. Sau khoảng 2 đến 3 phút chờ đợi, bạn có thể mang món ăn ra và thưởng thức.


Nguồn: http://vietbf.com

Valentine Nhớ Xa Vời - Trầm Vân

Sao Cánh Đàn Ông Chán Cơm Thích Phở? - Chu Tất Tiến


Thời nay, nếu gặp bạn cũ đi với một phụ nữ trẻ, chớ có vồn vã mà hỏi: “Ồ, ông mới bảo lãnh cho cháu gái qua hả?” Nói thế nhất định mất bạn mà thêm thù đó! Tui có kinh nghiệm về vụ này rồi. Bữa hổm, đi dự tiệc “Count down”, ngồi ngay cạnh một ông bạn già, lớn hơn tui vài tuổi, thấy ổng đi với môt người đẹp chỉ bằng tuổi con gái của ổng, tui niềm nở hỏi câu trên, ai dè bị ổng gầm gừ: “Bà xã tui đó!”, rồi ổng hầm hầm dắt cổ đi. Tui quê xệ, muốn xin lỗi mà hổng kịp, bởi ông đi nhanh quá. Từ đó, tui có một kẻ thù trên Nét! Ổng kiếm cớ chửi tui như tát nước.. Thôi, mà trở lại chuyện bây giờ. Hôm Hội Chợ Tết Sinh Viên ở O.C Fair, tui gặp một ông bạn đi kề bên một người đẹp sắc nước hương trời, và một cô bé chừng 5 tuổi, tui rút kinh nghiệm rồi, nên Hê Lô với bạn rồi cúi đầu chào người đẹp, hổng dám thưa gửi gì. Dè đâu, thái độ thận trọng của tui được ông bạn khoái quá, ổng nắm tay tui dắt đến gian hàng bắp nướng, kêu hai cái bắp và hail y cà phê sữa, kéo tui vào chỗ ngồi, tâm tình, sau khi nháy người đẹp dẫn cháu bé đi chỗ khác chơi.

Không cần hỏi thăm, ổng cũng tự động kể lể. Đó là một chuyện buồn muôn thuở của phái liền ông chúng tui. Bà xã ông hổng còn yêu ông nữa, không phải là bỏ ổng đi lấy chồng khác, mà quên hẳn việc ổng là chồng bà, mà chỉ nhớ đến ổng như một cái máy làm tiền, mang về cho bà hầu mấy đứa con, mấy đứa cháu. Theo lời kể của ổng, bả vẫn đàng hoàng như mọi mệnh phụ phu nhân khác, vẫn lo mọi chuyện bên chồng như chuyện của bả, chỉ có điều bà tự biến thành một bà xếp và coi ổng như một thứ đồ thừa thãi. Đã lâu bả không cho ổng ân ái, hễ động tới người bả, là bả kiếm cớ bệnh hoạn, khó chịu trong người hoặc kêu mệt rồi lảng đi. Cho nên súng của ổng đã lâu không xài bị rỉ sét, mốc meo, làm tự ái liền ông nổi lên đùng đùng. Tuy vậy, vì ổng là người đứng đắn, cho nên dù khó chịu quá mà cũng đành chịu, không đi kiếm mì ăn liền. Vì vậy, người ổng lúc nào cũng căng thẳng, nói chung là bị “stress”. Hơn nữa, bả vì dồn hết tình thương vào con cháu nên bù lại, bả gắt mắng ổng hoài. Ổng cứ chịu trận mãi, đến một ngày, chịu hết nổi, ông đi kiếm phở ăn, mà ăn phở trường kỳ luôn, nghĩa là ông nói với bả ấy là xin li dị, tưởng là bả phẫn nộ, ai dè bả tỉnh bơ, “ông muốn sao cũng được, tôi chiều theo ông!” Thế là đường ai nấy đi, bả ở lại với con cháu, còn ông, xách va li đi kiếm “áp pạc tơ măng” rồi đi chơi thả dàn, gặp người phụ nữ trẻ cũng ly dị chồng vì tật lăng nhăng, ông cáp độ luôn. Bây giờ hai người ở với nhau vui vẻ, trẻ trung, mặc dù bả kém ông hơn hai chục tuổi!

Nghe câu chuyện này thấy cũng có lý, dĩ nhiên, chắc ổng cũng dấu đi vài chục phần trăm nào đó, nhưng vì.. giống hệt trường hợp của ông bạn học của tui và nhiều trường hợp của bạn tui, nên mới kể chuyện này cho bà con nghe.


Từ hồi sang Mỹ đến nay, vì đổi đời, nên đổi luôn con người. Khi trước 75, các bà chịu đựng các ông rất hay, đến nỗi bạn tui, vì tính ga lăng, nên đôi khi bực tức trước thái độ gia trưởng của các ông, nhất là các ông làm nghề thầy giáo, công chức, lúc nào cũng văng mắm tôm ra đầy nhà, khiến vợ con phát khiếp. Nhưng qua đến đây, khí hậu mới, sinh hoạt mới, nhà cửa mới, cái gì cũng mới, nên các bà lên ngôi, đá phóc các ông chồng xuống đất nằm mồ côi một mình. Rồi lại ảnh hưởng mấy bà bạn hay lép nhép cái mồm, lúc nào cũng săn đón cố vấn: “mày cứ thẳng tay cho tao, với mấy ổng, mình phải nghiêm mới được, nếu không, mấy ổng làm tới! Tao nè, ly dị hai lần rồi, mà vẫn còn phông, ông này mà lạng quạng, tao cho ổng de ngay!” Thế là các bà làm tới thiệt, hễ mở miệng ra là gắt, kiểm soát tiền bạc các ông rất kỹ, hỏi cung các ông đi đâu, làm gì, giờ nào tới sở…

Trong khi đó, vì bận con cháu, hay vì bận đi học nhẩy đầm, nhẩy Tây với mấy bà bạn, bận đi học ca để lên sân khấu hát cho bà con hết hồn chơi, các bà lại quên không đáp ứng như cầu sinh lý của các ông, quên luôn săn sóc cho các ông khi trái gió trở trời, ông có bệnh thì tự đi lấy thuốc mà uống và đừng mong có người cạo gió cho mình đó nhe. Một số các bà bây giờ mê bạn cũng ngang ngửa mê cháu nội, ngoại. Nghĩa là thời giờ dành cho ông chồng hầu như rất hiếm. Giọng nói ngọt ngào khi xưa đã biến mất, thái độ ân cần săn sóc lúc trước 75 cũng bốc hơi, ông chồng chỉ còn là cái bóng thừa thãi trong nhà.

Cá nhân tui chứng kiến, trong một cuộc gặp mặt những bạn làm cùng sở cũ, một bà bỗng nhận được một cú điện thoại. Bả nhắc điện thoại lên, nói nhẹ nhàng: “A lô! Mình đó hả? Có gì không?”…Rồi bà lắng nghe trong im lặng chừng một phút, bỗng dưng nổi tam bành lục tặc lên, hét vào cái phôn đến phun nước bọt ra chung quanh: “Này! Tôi bảo cho ông biết! Đừng có nói lôi thôi! Tôi về nhà mà không thấy ông làm xong cái đó, là ông biết tay tôi! Liệu hồn nhé!” Rồi bà cúp phôn cái cụp. Bạn bè ngồi gần xanh mặt. Một bà bạn nói nhỏ: “Mày làm gì mà dữ thế! La hét với chồng ghê vậy?” Bà Chung Vô Diệm kia gắt luôn với bạn: “Mày biết gì mà nói! Tao phải kềm thằng chả, nếu không hắn lừng trời!” Thiệt hết biết luôn.

Nói vậy, cũng không phải đổ tội cho các bà hết đâu. Cũng tại các ông một phần, hay đi văn nghệ văn gừng, gặp bà nào ly dị, độc thân thì mắt cũng sáng lên như hai cái đèn pha, muốn chớp nháy với em ngay lập tức. Điều đó dĩ nhiên, vì là . .thiên nhiên mà! Giống như gà trống, chim công, chim phụng, chim gáy, quạ, chim sâu vậy.. Hễ thấy đồng loại khác phái là le te, phùng mang, phùng mỏ, giang cánh, vẫy đuôi… Nhưng nếu mà chàng đã có mái ở nhà rồi, thì chàng chỉ có làm điệu vậy thôi, rồi lẳng lặng rút lui, chứ không tấn công tiếp. Nhất là giống quạ. Quạ mái ghen dữ lắm, nếu thấy quạ trống mà le te cạnh em nào, là quạ mái nhào dô, cắn xé, hò hét “quạ.. quạ…..quạ…” um trời cho đến khi em mái kia phải te tua bay đi mút chỉ cà tha, không dám trở lại nữa. Rất nhiều giống chim chung thủy, như chim thiên nga, nếu chim mái mà bệnh thì chim đực cứ lanh quanh bên cạnh ủ ê nàng cho đến khi nàng ra đi, thì chàng kêu lên mấy tiếng thảm thiết, có khi chàng bỏ ăn đến khi chết chung với nàng luôn. Tại sao vậy? Vì chim mái lúc nào cũng ân cần săn sóc chàng, im lặng, ít nói, chỉ lanh quanh bên chàng, cuốn cổ nàng vào cổ chàng, cọ sát…và chỉ có chàng mà thôi, nên bù lại, chàng cũng chung thủy với nàng cho đến hơi thở cuối cùng..

Còn các bà Việt gốc Mỹ, í quên, (nói chuyện về các bà, là tui hay lắp bắp..), người Mỹ gốc Việt, vì bị đầu độc bởi các chữ “First Lady”, “nhất vợ, nhì trời, sau mới đến tui”, coi ông chồng chẳng ra chi, cho nên ổng phải đi kiếm người an ủi…Thường thì nhân gian, thiếu cái chi thì thèm cái đó, “hễ no cơm tẻ thì chê mọi đàng”, thử hỏi bây giờ ở nhà ăn cơm nhà, no ứ hơi, còn ai dám nghĩ đến chuyện ăn phở nữa không? Hễ tui đang no căng bụng, mà ai mời tui ăn thêm cái chi nữa, tui thấy ớn, mắc ói! Thiệt đó, các bà nghĩ coi, đố các bà ăn thêm một miếng gì nữa, sau khi các bà quất một lèo một tô bún bò huế, vài cái chả Huế, thêm một đĩa bánh bột lọc..!

Bởi vậy, phe liền ông khi thiếu thốn tình cảm, thiếu sự săn sóc của các bà, thiếu cái lời nói ngọt ngào, thiếu cái cử chỉ dịu dàng … thì mới nghĩ đến việc đi ăn phở mà thôi. Nhất là về việc ấy ấy.. Nếu sau khi mà súng chàng đã bắn hết đạn ở nhà, liệu chàng có vác súng đi kiếm đích để bắn cho súng khỏi rỉ sét không? Tui nhớ có một bài thơ dzui dzui nói về việc ông chồng xin phép đi chơi, bà vợ cười: “Đi thì đi, nhưng trước khi đi, trả bài đã”! Thế là chàng ỉu xìu, quên luôn câu xin phép đi chơi… Nếu ở nhà mà chàng có bàn tay xoa vuốt, cạo gió, liệu chàng còn mơ thấy một bàn tay nào đẹp hơn vợ mình không? Nếu ở nhà chàng vẫn nghe những lời êm ái, liệu chàng có thấy cô bạn gái mới quen kia nói ngọt ngào nữa không? Nếu đã có cặp mắt đa tình ở nhà, liệu chàng có còn thấy ai có cặp mắt đẹp nữa không? Cứ thả chàng đi linh tinh đi, vẫn yên chí lớn, chàng sẽ quay về ngay vì .. nghiện rồi! Nghiện lời nói dịu dàng của nàng, nghiện thấy dáng nàng dịu dàng đi tới đi lui trong phòng.. Mà đã nghiện, đã ghiền thì cách chi mà bỏ được? Có phải vậy không, các bà chủ cho “xe phòng, xe tiền nhà”???

Chu Tất Tiến

Sapa - Hương Sắc Việt Nam - Youtube Long Kangaroo

Những Sự Kiện Hi Hữu Cười Ra Nước Mắt Năm 2018

Nhờ một con bò mà phát hiện ra bê tông cốt cây, đánh thuế thu nhập với người bán trà đá, đánh thuế vịt mót đồng… là những sự kiện hi hữu được báo TUỔI TRẺ CƯỜI bình chọn trong năm qua.









Lượm trên mạng

Friday, February 15, 2019

Xuân Yêu Thương - Đỗ Công Luận

Cô Giáo "Ngụy" - Thần Long

Nữ sinh Trường Trung Học Công Thanh. Ngôi trường được xây dựng với sự hợp tác của Lữ Đoàn 173 Không Vận Hoa Kỳ và người dân, ngày 12 Tháng Mười, 1967. (Hình: Flickr manhhai)


“…Tôi đã thấy điều đẹp đẽ trong một xã hội văn minh, tôi không thể nào quay về những cái thấp hèn mà tôi đã mù quáng tôn sùng. Tôi muốn con trai tôi ra đi, tôi không muốn thấy nó trở nên một bánh xe trong cái cỗ máy thống trị này…”

Một đứa học trò la lớn. Bọn con trai, mấy đứa con trai đang quây quần ở cuối lớp chơi trò “dích” hình, đứa nào đứa nấy vội vã thâu tóm lại mấy tấm hình màu bằng bìa cứng có in hình sặc sỡ. Bọn con gái đang tụm ba tụm bảy nói chuyện nô đùa cũng vội vàng quay về chỗ cũ.
Cô giáo Mai lễ mễ ôm phần chia nhu yếu phẩm của cô tháng này, gồm mấy trăm gram thịt, mấy trăm gram đường bước vào lớp. Cô bước vào lớp, tất cả học sinh đứng lên chào. Sau khi để gói thịt, gói đường cẩn thận vào trong giỏ. Cô mỉm cười:
-Cô cho các trò ngồi xuống. Các trò làm chi ồn rứa bộ định làm loạn giống…

Mai định nói làm loạn giống “Việt Cộng” như thói quen cô vẫn nói khi la rầy học trò trước kia, nhưng cô ngưng lại kịp. Sau khi nghe em lớp trưởng điểm danh, cô bắt đầu khảo bài. Học trò của cô phần nhiều thuộc những gia đình mà chính quyền mới gọi là thành phần có nợ máu với nhân dân hoặc có vấn đề với “cách mạng.” Hầu hết cha của các em đang bị cầm tù trong các trại tập trung “cải tạo.” Thêm vào đó có khoảng một vài em thuộc gia đình cán bộ Cộng Sản cao cấp mới vào Nam.

Phần đông các học trò miền Nam những năm đầu sau khi bị “giải phóng” các em học trò miền Nam còn rất ngoan và kính trọng thầy cô, và ngược lại thầy cô miền Nam cũng còn coi công việc gõ đầu trẻ là một thiên chức chứ không phải thuần túy là một nghề để sinh nhai. Mai ra trường Sư Phạm Đà Nẵng đi dạy được hai năm thì miền Nam mất. Cô được chính quyền mới cho đi dạy lại vì theo họ lý lịch của cô tương đối khá sạch, từ ông bà xuống tới cha mẹ không có ai làm lớn trong chính quyền cũ.

Sáng nay như thường lệ sau khi khảo bài cũ cô bắt đầu dạy bài mới. Trước bảng đen Mai nắn nót viết bài học Pháp văn cho tiết học hôm nay trên bảng đen.
“Mardi 26 Septembre 1977/ Conjuguez le verbe ‘Etre’ Je suis, Tu es, Il est …”
Bỗng một tiếng thét lớn:
-Thưa cô trò Hùng cú đầu con!
Mai nhịp nhịp cái thước gỗ vào bảng không trả lời, cả lớp lại im lặng như tờ chỉ có tiếng bút mực sột soạt trên giấy. Cô tiếp tục viết bài học lên bảng đen. “Elle est…”
-Thưa cô trò Hùng bóp… cu con…!
Cũng là cái giọng học trò hồi nãy, và lần này cả lớp phá lên cười như ong vỡ tổ. Cô Mai nghiêm mặt quay lại bảo:
-Hùng, Quang hai em lên đây!
Hai đứa học trò lớp Sáu, ngồi cạnh nhau một đứa đen đủi nhỏ thó tướng tá loắt choắt nghịch ngợm, áo bỏ ngoài quần và một đứa mặt mũi trắng trẻo dáng điệu mảnh khảnh. Cả hai lấm lét bước lên phía trên. Tuy có hơi giận vì học trò tinh nghịch, nhưng cô Mai vẫn chậm rãi hiền từ:
-Có phải Hùng phá Quang không?
Hùng cúi đầu không đáp, cô Mai lại hỏi lần này giọng nghiêm khắc hơn:
-Có phải em phá bạn làm mất trật tự trong lớp không?
Hùng nhìn lên trả lời lí nhí:
-Không ạ!
Lần này thì thằng Quang la lớn:
-Nó xạo, nó cú đầu con rồi bóp…

Mai đưa một ngón tay lên môi ra hiệu cho Quang đừng nói nữa không thì cả lớp lại cười như vỡ chợ. Có nhiều tiếng nhao nhao:

-Trò Quang nói đúng đó cô, thằng Hùng nó có làm đó,… nó còn viết bậy lên lưng áo em nè…
Thằng Hùng chợt đưa tay làm thành nắm đấm đôi mắt căm hờn:
-Chúng ông sẽ cho tụi mày biết tay nhé… chúng ông cho bố bọn mày đi “cải tạo” cứ là đờ người nhé…
Lần này thì cô Mai thật sự giận dữ:
-Trong lớp của cô hay bất cứ nơi đâu em cũng không được phép hỗn láo vô phép với người lớn nghe chưa? Nghe rõ chưa? Em Hùng đến góc kia quay mặt vào tường cho đến hết buổi.

Buổi dạy học tưởng như bình thường sáng hôm đó đem đến cho Mai nhiều chuyện bất ngờ sau này.
Vài ngày trong khi lớp Pháp văn của cô đang làm bài kiểm tra, người tùy phái đến lớp của cô mời cô xuống văn phòng hiệu trưởng có chuyện cần. Mai hỏi:
-Có chi quan trọng rứa bác Tam? Lớp tôi đang làm bài thi làm răng mà bỏ đi? Bác nói đợi tới hết giờ rồi tôi sẽ xuống bác hỉ!
Người tùy phái già trả lời:
-Dạ tui cũng nói như rứa với bà hiệu trưởng và ông khách, nhưng họ có chịu nghe mô. O xuống nhanh đi, nghe nói ông khách nớ làm lớn lắm.
Mai đáp:

-Bác Tam à, tôi không thể xuống được ngay bây chừ, bác xuống văn phòng giải thích dùm tôi…

Ông Tam quày quả đi ra. Khoảng vài phút sau một người đàn ông đội nón cối đeo mắt kính đen, tay đeo cái đồng hồ Seiko5 vàng sáng chói, nước da men mét, hàm răng hơi vổ, mặc quân phục rộng thùng thình, vai đeo xà cạp, ngang nhiên bước thẳng vào lớp, theo sau là ông Tam. Con Trang lớp trưởng sau một vài giây ngỡ ngàng vì người khách vào lớp bất ngờ, nhanh nhẹn hô lớn “Nghiêm!” Cả lớp buông bút viết, đứng thẳng chào khách. Lần này thì đến lượt người đàn ông đội nón cối đeo mắt kính đen ngỡ ngàng và ngạc nhiên đến độ lúng túng, cô giáo Mai đứng trên bục giảng lễ độ hỏi:
-Thưa ông có việc gì cấp thiết không ạ?
Người đàn ông nhìn lên lúng búng trả lời:
-À không, tôi chỉ muốn nói chuyện với cô một vài vấn đề, nhưng bây giờ tôi sẽ đợi cô dưới văn phòng.
Cô Mai từ trên bục gỗ bước xuống từ tốn:
-Dạ cám ơn ông, xin ông thông cảm, lớp đang làm bài kiểm tra tôi không thể tiếp chuyện ngay với ông.

Hết giờ Pháp văn, cô Mai vội vã xuống văn phòng hiệu trưởng. Bước vào cô hơi ngạc nhiên khi chỉ thấy có ông khách đang chễm chệ ngồi sau bàn giấy của bà hiệu trưởng. Ông khách đưa tay mời cô ngồi. Ông ta vẫn còn đeo đôi kính Rayban đen trong căn phòng không có cửa sổ. Cô Mai bất giác muốn phì cười, nhưng ngăn lại kịp. Ông khách tự giới thiệu:
-Chắc cô không biết tôi là ai, nên không xuống gặp tôi ngay.
Cô Mai trả lời ngay:
-Dạ thưa tôi biết ông là người rất quan trọng nhưng vì bài kiểm tra này quan trọng đến kỳ thi học kỳ của các em…
Ông khách ngắt lời:
-Ô! Không, không tôi có ý phiền trách gì cô đâu, thực ra thì lúc cô không xuống ngay tôi giận lắm, vì ngoài Bắc mỗi khi tôi vào trường con tôi học là giáo viên phải đến gặp tôi chứ tôi không bao giờ phải lên kiếm giáo viên cả.
Cô Mai trả lời:
-Dạ trong ni chắc còn lạc hậu, không biết bao chừ mới theo được bằng ngoài nớ…
Cô Mai không biết ông khách đang nghĩ gì và ánh mắt phản ứng ra sao sau cặp kiếng đen. Ông trầm ngâm một chút rồi nói:
-Bây giờ thì tôi hết giận rồi cô ạ. Tôi xin tự giới thiệu, tôi là Thượng Tá Trần Kình, chính ủy của Trung Đoàn Không Quân Tiềm Kích 935 đóng tại căn cứ Không Quân Đà Nẵng. Con tôi là Trần Hùng học trong lớp của cô, vài hôm trước đây nó có phản ánh phê bình cô có khuynh hướng bảo vệ bọn con cái thành phần chống cách mạng. Cô Mai nghĩ sao?

Mai thật sự ngạc nhiên, dầu miền Nam đã bị chiếm đóng hơn hai năm, bởi một đạo quân nói cùng một ngôn ngữ và cùng chung màu da với cô nhưng cô vẫn chưa thật sự chưa hiểu hết về cách suy nghĩ, giao tế của người Cộng Sản. Cô trả lời chậm rãi:
-Thưa ông Kình, tôi không biết phải trả lời ông ra sao. Tôi là một người thầy giáo chuyên nghiệp, tôi dạy bất cứ học sinh nào được giao phó cho tôi, tôi không phân biệt đối xử các em theo thành phần gia đình… hơn nữa các em khi sinh ra cũng không có sự lựa chọn về lý lịch của cha mẹ. Lý lịch cha mẹ các em theo ý tôi không thuộc phạm vi học đường. Còn việc tôi phạt em Hùng là vì em đã phá rối trật tự trong giờ dạy học của tôi. Tôi bảo đảm không có vấn đề bênh vực thành phần giai cấp gì đó….
Người đàn ông tên Kình, ngồi thẳng lên đan hai bàn tay vào nhau:
-Đó là tư duy của tôi cách đây nửa giờ cô Mai ạ. Sau khi tôi lên lớp của cô thấy việc các em lễ phép chào khách, bàn cô giáo có lọ hoa, các em quần áo chỉnh tề tôi rất lấy làm ấn tượng. Tôi thành khẩn với cô nhá, tôi chưa thấy trường nào ngoài Bắc học trò có văn hóa như lớp của cô. Tôi rất mừng thằng Hùng được cô dạy. Thôi thì thế này nhé, cô cứ công tác tốt, tôi sẽ bảo với đồng chí hiệu trưởng bỏ lời phê bình tiêu cực của tôi về cô đi. Coi như không có sự cố gì cô Mai nhé.
Mai mỉm cười:
-Dạ nếu ông đã dạy thế thì tôi rất vui. Nhưng tôi không dám nhận hết lời khen của ông, vì trong Nam này trường nào lớp nào cũng đứng nghiêm, chào khách chào thầy cô. Còn chuyện trang hoàng lọ hoa cho bàn thầy cô thì quả thật là công khó của các em học sinh nữ của lớp tôi đã tự ý hái hoa đồng cỏ dại trang điểm cho lớp học, không phải do tôi dạy bảo.
Ông Kình cười:
-Cô không tuyên truyền cho miền Nam đấy chứ ? Ồ! Tôi chỉ đùa thôi cô ạ, vâng tôi tin cô nói sự thật. Còn vấn đề này nữa, sao tôi không thấy lớp cô Mai treo ảnh Bác nhỉ?

Mai thán phục sự quan sát của người đàn ông này, chỉ có ít phút trong lớp mà ông Kình đã nhận xét được biết bao nhiêu là chuyện. Cô có biết đâu ngoài Bắc người ta treo hình bác Hồ cũng như trong Nam người ta treo cái gương chiếu yêu trước cửa nhà, để xua đuổi ma quỷ. Việc treo hình của ông Hồ là một điều bắt buộc, nhà nào cơ quan nào mà không có gương mặt lom lom, cười cười của ông Hồ là có vấn đề lớn. Thành thói quen, nhiều người treo hình bác Hồ như một sự thông báo cùng hồn ma bóng quế nhà tôi có chúa quỷ ở đây nhá! Các ngài ma quỷ hồn ma bóng quế tép riu liệu mà xéo đi… Mai ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo:
-Hình như một năm trước đây tôi nhớ có treo, nhưng vì lớp học xây dựng bằng phương pháp tiền chế, vật liệu là sắt và tôn ximăng cho nên đinh đóng vào tường không chắc, bức hình lộng kiếng của Bác bị rơi xuống vỡ nát ông ạ.
Ông Kình hỏi:
-Thế thì sao không báo cáo và thay ngay đi, hồi trước giải phóng các thầy, các cô trong Nam treo ảnh Thiệu ra sao mà bây giờ lại nói đóng đinh không được?
Cô Mai cười xòa:
-Trước giờ trong này không có lệ treo hình lãnh tụ trong nhà riêng hay trong lớp học.

Điều này thì ông Kình có thể tin, vì khi Trung Đoàn 935 tiếp thu căn cứ Không Quân Đà Nẵng ông cũng hơi ngạc nhiên khi thấy không có văn phòng, cơ sở nào có treo hình Tổng Thống Thiệu cả. Nhưng ông đã tự giải thích rằng chắc cũng như ảnh Bác là biểu tượng thiêng liêng bọn “Ngụy” khi di tản đã đem ảnh của Thiệu theo để tỏ lòng yêu kính lãnh tụ, như cái đồng chí gì đấy ở ngoài Bắc, nhà cháy nhưng đồng chí ấy cố xông vào để cứu ảnh Bác, trước khi cứu con trai ruột của mình… Ông chợt thốt lên:
-À, công tác chính trị đảng cầm quyền của Thiệu yếu nhỉ!… À này tôi có xem lý lịch của cô, khá trong sạch và cũng thuộc thành phần cơ bản đấy, cha cô là công nhân sở điện, mẹ làm cho hãng dệt, không hiểu sao trường chưa cho cô vào đối tượng Đoàn? Để tôi giúp cho nhé?
Mai im lặng một chút rồi nói:
-Chuyện hơi dài ông ạ, sợ kể ra đây làm mất thì giờ của ông, nhưng đây không phải chi bộ Đoàn sơ xuất đâu mà là hoàn toàn do tôi cả.
Ông Kình hơi nhổm người về phía trước:
-Tôi không dám tò mò, nhưng nếu cô muốn kể thì tôi không sợ mất thì giờ cô ạ, tôi muốn tìm cách giúp cô. Cô Mai yên lặng một lúc, ánh mắt cô trở nên xa xăm, rồi cô chậm rãi kể.

Chuyện xảy ra cũng gần một năm về trước. Mai gặp lại người bạn học cũ, Đoàn Đình Bình, Bình đã theo cha vô bưng sau cuộc “tổng khởi nghĩa” thất bại của Cộng Sản tại Huế năm 1968. Cả lớp của Mai khi ấy không biết Bình đi đâu hay đã bị chết thảm dưới bàn tay của Việt Cộng khi Bình về ăn Tết ở Huế.

Đầu năm 1976, Bình được bổ về làm bí thư chi bộ Đoàn Thanh Niên Cộng Sản tại trường của Mai đang dạy. Lúc đầu hai người không nhận ra nhau, nhưng Mai nhớ ngờ ngợ cái tên người bạn cũ Đoàn Đình Bình, nên sau một lần họp giáo viên Mai hỏi phải Bình hồi nhỏ có học trường tư thục Bình Minh tại Đà Nẵng không? Hai người nhận ra nhau, rồi trở nên đôi bạn thân. Mai rất trân quý những kỷ niệm và bạn học của ngày xưa thời học trò. Còn Bình thì cũng vui mừng được gặp lại người bạn xưa của ngôi trường đầy tuổi thơ êm đềm trước khi phải ra Hà Nội để bị hấp thụ một nền giáo dục rất ư “vô giáo dục.”

Qua một thời gian, Bình âm thầm yêu Mai và muốn tiến xa hơn với Mai, nhưng trước hết phải giới thiệu được cho Mai vào đối tượng Đoàn, thì việc xin lãnh đạo chấp thuận cho cưới Mai sẽ dễ dàng và vinh dự hơn nhiều. Không hỏi ý kiến Mai, vì muốn dành cho bạn một sự ngạc nhiên mà theo ý Bình đây cũng là một vinh dự cho Mai. Bình mời Mai tham dự một buổi họp Đoàn và tuyên bố đề nghị cho Mai được làm đối tượng Đoàn Thanh Niên Cộng Sản, sau khi đã đọc lý lịch trích ngang trích dọc của Mai trước mặt mọi người để minh chứng Mai thuộc thành phần tốt. Về phần Mai khi nhận lời dự buổi họp chỉ vì nể Bình và cũng có đôi chút tò mò muốn biết khi họp Đoàn ngưòi ta rù rì rủ rỉ cái chi. Mai không ngờ việc xảy ra như thế. Khuôn mặt của Mai từ trắng chuyển sang hồng, Mai im lặng. Cả phòng họp nghĩ là Mai quá xúc động trước cái đặc ân to lớn kia. Một lúc sau Mai mới run run nói:
-Cảm ơn anh Bình đã giới thiệu Mai, nhưng Mai không hoàn toàn thuộc thành phần tốt như cách mạng định nghĩa đâu, và cũng không đủ tiêu chuẩn vào Đoàn. Mai đã có chồng, mặc dầu chưa chính thức trên giấy tờ. Chồng của Mai là phi công của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa. Câu sau cùng Mai nói chậm, dõng dạc từng chữ như lời tuyên bố.
-Lỗi tại Mai, Mai đã không kể cho anh Bình nghe, vì Mai nghĩ đó là chuyện riêng tư, nhưng bây giờ thì bắt buộc Mai phải nói. Cả phòng họp lặng thinh, không ai biết phải phản ứng như thế nào, còn Bình đứng sững như trời trồng bên cạnh Mai. Một hai phút sau đó anh lắc đầu và bỏ ra ngoài. Mai chạy theo Bình ra đến khoảng sân vắng nói khẽ với Bình.
-Mai xin lỗi nhé, nhưng nếu Mai không nói thì suốt đời Mai sẽ áy náy lắm…
Bình quay lại hằn học:
-Tại sao Mai không cho tôi biết, Mai làm tôi ngượng trước mặt bao nhiêu người, mà những điều Mai nói là thật hay bịa đặt vậy? Bình đã hỏi thăm người ta ở chỗ Mai thường trú họ nói là Mai chắc chắn còn độc thân mà… Bình thật không ngờ, không ngờ. Mà nếu điều Mai nói là sự thật Mai có yêu thằng đó – xin lỗi – anh đó không?

Mai ngạc nhiên về thái độ gần như ghen tương của Bình, Mai không nói gì từ từ kéo sợi dây chuyền từ trong cổ và tháo ra một chiếc nhẫn, loại nhẫn mà phi công sau khi ra trường bên Mỹ thường đeo. Mai nói thong thả:
-Mai có chồng thật chứ, nhẫn cưới của anh ấy trao cho Mai đây này…
Bình bưng hai tai không muốn nghe thêm chạy thất thểu ra khỏi cổng.

Ông Kình, chép miệng:
-À ra thế, thế thì gay đấy, Đoàn hay Đảng có quyền từ chối đối tượng chứ có ai có gan dám từ chối vào Đoàn vào Đảng… À anh chồng của cô bây giờ ở đâu? Còn ở đây hay di tản rồi?
Mai nhớ lại câu chuyện các thực tại chưa xa lắm, vào một ngày cuối Tháng Ba năm 1975. Anh Nguyễn Bé Tư, phi công F-5E biệt phái từ Biên Hòa ra. Hai người quen nhau từ mùa Xuân 1974 trong một buổi văn nghệ ủy lạo, trường của Mai tổ chức để ủy lạo chiến sĩ. Năm 1975, một ngày trước khi Đà Nẵng bị thất thủ, anh đã gặp Mai. Anh không nói gì nhưng qua nét mặt âu lo của anh, Mai biết là tình hình chiến sự ngày càng xấu đi. Anh dẫn Mai đi ăn tối ở nhà hàng Bạch Đằng trên bờ sông Hàn, hai người cố tránh không nói gì về chiến tranh để được một lần hẹn hò trọn vẹn. Gần lúc chia tay, anh rút chiếc nhẫn ra trường bên Mỹ đeo vào ngón tay Mai và nói:
-Anh muốn cùng em sống đến cuối cuộc đời, em có thuận làm vợ của anh không?


Mai không nói được gì, chỉ khe khẽ gật đầu nước mắt bắt đầu tuôn vì xúc động và vui sướng. Mai đã là phu nhân của Nguyễn Bé Tư từ ngày ấy. Trong buổi tối ngắn ngủi đó hai người đã vẽ ra biết bao nhiêu là mộng đẹp, về ngày cưới về gia đình tương lai… Đêm đó anh Tư phải vào trực tác chiến trong phi đoàn. Ngày hôm sau thì Đà Nẵng mất, Mai tìm cách về Sài Gòn vào hỏi Bộ Tư Lệnh Không Quân về tin tức của anh Tư. Mai còn nhớ mấy người lính Không Quân ai cũng lắc đầu nhìn chị thương cảm ái ngại. Kể từ đó cái tên Nguyễn Bé Tư mộc mạc đối với Mai như thuộc về một kiếp nào rất gần mà rất xa xăm. Nhưng cô lúc nào cũng tự nhận là người vợ âm thầm của người phi công Nguyễn Bé Tư.

Câu chuyện cô Mai từ chối vào Đoàn Thanh Niên Cộng Sản được đồn ra, được thêm thắt, và từ đó học trò gọi đùa cô Mai là “Cô giáo ‘Ngụy.’” Cô nghe nhưng không bao giờ la rầy các em vì biết các em không có ý xấu, ngược lại các em từ đó rất kính nể cô, mấy đứa con trai có cha anh là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, nói cô Mai chịu chơi và “chì” lắm. Mỗi khi nghe ai kêu “Cô giáo ‘Ngụy’” Mai mỉm cười hạnh phúc tự nhủ: “Ừ, ‘Ngụy’ thì ‘Ngụy’ mình thua thì người ta gọi mình là giặc. Ngày xưa Gia Long cũng gọi Bắc Bình Vương Quang Trung, Tây Sơn là ‘Ngụy’ đó thôi!”

Giáng Sinh 1980
Sau nhiều lần vượt biên hụt, Mai bị đuổi không cho dạy nữa. Cô sinh sống bằng việc lấy mối rau quả và bán ở chợ. Một buổi chiều ông Kình ghé ngang hàng của cô lựa lựa mấy bó rau hồi lâu. Cô không nhận ra ông vì bây giờ ông coi có da thịt hơn trước nhưng lại già hẳn đi, và không còn đeo cặp kính Rayban nữa. Đến khi hết khách ông mới khẽ bảo:
-Gớm! Cô không nhận ra tôi à? Kình đây, tôi kiếm mãi mới biết cô bán hàng ở đây, tôi có thể gặp riêng cô để nói một chuyện quan trọng không? Tôi sẽ dàn xếp chỗ gặp, cô nhớ đến nhé.
Buổi chiều hôm đó tại một căn biệt thự, ông Kình đề nghị cô Mai dẫn Hùng con ông đi vượt biên ông sẽ lo mọi chuyện.
Mai dường như không tin vào tai của mình:
-Ông không nói đùa chứ?
Ông Kình nhìn cô cười:
-Tôi nghĩ là cô sẽ nói thế. Lời đề nghị của tôi rất nghiêm túc nói như người Sài Gòn là “một trăm phần dầu” cô ạ. Sau năm năm ở miền Nam tôi thấy chế độ Cộng Sản đã làm băng hoại mọi sự cô ạ. Những năm chiến tranh thì người ta còn có thể biện minh nhưng khi vào miền Nam thì tôi nhận xét thấy giá trị đạo đức nói chung là trong Nam ưu việt hơn ngoài Bắc. Sau năm năm thì tôi thấy con người Cộng Sản đã làm cho miền Nam ngày càng tồi tệ, càng ngày càng giống như miền Bắc. Tôi đã thấy điều đẹp đẽ trong một xã hội văn minh, tôi không thể nào quay về những cái thấp hèn mà tôi đã mù quáng tôn sùng. Tôi muốn con trai tôi ra đi, tôi không muốn thấy nó trở nên một bánh xe trong cái cỗ máy thống trị này. Nếu cô hứa dẫn nó đi, chăm sóc nó đến năm 18 tuổi tôi sẽ lo tất cả mọi chi phí phương tiện ra đi cho cô.

Lý do tôi nhờ đến cô vì thứ nhất tôi biết cô muốn ra đi và thứ hai cô là người rất thật thà, chung thủy. Ngay cả trong người thân tôi cũng không thể thố lộ kế hoạch này hay nhờ ai vì lý do an ninh và tính mạng của tôi, chỉ có cô mới giúp được tôi. Chuyến vượt biên của cô do công an Đà Nẵng tổ chức bến bãi, nên việc ra đi phải nói là rất chu đáo.

Chuyến đi thật suôn sẻ. Tàu vượt biên của Mai sau năm ngày lênh đênh đã cập bến Hương Cảng bình yên vô sự. Tại đây Hùng gặp lại gia đình một người bà con xa ở Hải Phòng đã đến Hương Cảng trước đó một tháng. Hùng muốn nhập chung form định cư với họ. Mai không đồng ý, qua một người trung gian cô gửi thư về Việt Nam hỏi ý kiến ông Kình. Vài tuần sau, Mai được ông cho biết là ông bằng lòng cho Hùng “tách form” với cô, và coi như lời hứa của cô đối với ông đã hoàn thành.

Khi được Cao Ủy phỏng vấn, cô giáo Mai chọn thành phố Sydney xinh đẹp của quốc gia Úc Đại Lợi làm nơi định cư. Còn Hùng thì theo bà con định cư tại Canada. Cô Mai đi học lại lấy bằng kỹ sư điện toán, cô rất nhân hậu nhã nhặn nên được rất nhiều người khác phái theo đuổi, nhưng không có ai có thể thay được hình ảnh của người phi công ngày nào.

Trong những năm gần đây khi các hội thân hữu Không Quân QLVNCH được thành lập tại Úc, người ta thường thấy cô trong những buổi họp mặt. Mai tham gia mọi sinh hoạt, báo chí văn nghệ. Câu hỏi đầu tiên cô hỏi những người lính Không Quân mà cô gặp lần đầu lúc nào cũng là: Có ai biết tin tức gì về anh Nguyễn Bé Tư phi công F-5E biệt phái ở Đà Nẵng hay không? Cô Mai không biết là lần thứ mấy đã hỏi câu hỏi đó, cô hỏi nhưng chính cô rất sợ câu trả lời về số phận của một người mất tích đã hơn hai mươi lăm năm.

Tháng Tư, 1998
Hùng đứa học trò ngày xưa của cô từ Canada qua thăm cô giáo Mai. Hai thầy trò gặp nhau mừng mừng tủi tủi sau mười bảy năm. Hùng bây giờ là một thanh niên tuấn tú lễ phép, rất chững chạc và là một bác sĩ y khoa. Hùng báo cho cô Mai biết là ông Kình đã giải ngũ về hưu, và ông đã tỉnh ngộ hẳn giấc mơ Cộng Sản và sống rất an phận tại Hà Nội.

Trước lúc chia tay, Hùng đưa cho cô Mai một phong thư niêm kín, “Em cũng chẳng rõ có cái gì trong ấy mà bố em rất cảnh giác không dám gửi qua bưu điện, hay gửi qua người quen đi nước ngoài, chỉ khi em về Việt Nam bố mới trao cho em và dặn là phải đưa tận tay cho cô, và cho cô rõ là phải khó khăn lắm mới lấy được tư liệu này… Bố em dặn cô đọc xong đừng phổ biến, không thì rắc rối lắm cô nhé!”

Trong phong thư là bản sao của tờ phúc trình tổn thất của sở tác chiến không quân Quân Đội Nhân Dân. Tờ phúc trình như sau: “Thể theo chỉ thị số… Đại Tướng Văn Tiến Dũng được lệnh từ Trung Ương Binh Chủng Không Quân Nhân Dân phải hạ quyết tâm khẩn trương làm chủ và tạo điều kiện hồi phục sử dụng sân bay Đà Nẵng để thành lập bộ phận trinh sát và phòng thủ mặt Nam đề phòng bọn Mỹ có thể quay trở lại can thiệp. Theo tinh thần trên, vào sáng ngày 30 Tháng Ba, lúc 5 giờ 15 sáng giờ Hà Nội một phi đội tiêm kích cơ hỗn hợp gồm hai máy bay chủng loại Mig21 và một Mig 17. Phi đội mang bí số KK10 được lệnh cất cánh từ Đồng Hới để trinh sát sân bay Đà Nẵng xem xét khả năng bố trí phòng không và máy bay tiềm kích của quân đội ta sau này. Tiểu đoàn trinh sát TS5 báo cáo là căn cứ Đà Nẵng của quân đội Ngụy đã bị bỏ ngỏ hoàn toàn vào lúc 2 giờ sáng 30 Tháng Ba. Khi phi đội KK10 đã băng qua Xepon Lào và bắt đầu tiến vào Đà Nẵng từ hướng Tây Bắc, thì bất ngờ một tiềm kích cơ của Không Quân Ngụy chủng loại F-5E xuất phát từ Đà Nẵng bất thình lình tiến công. Giặc lái Ngụy sau khi dùng hai tên lửa loại AIM-9B bắn hạ hai chiếc Mig-21 của ta, hắn còn ngoan cố đuổi theo dùng súng bắn hạ thêm một máy bay Mig-17 của ta. Các đồng chí lái của quân đội nhân dân đã kiên cường bất khuất chống trả suốt gần 7 phút. Các đồng chí lái, Lai Như Hạch, Hồ Mạc Dịch, Đỗ Mai Quốc đã hy sinh oanh liệt. Còn chiếc tiềm kích cơ địch đã bị tên lửa của ta bắn hạ. Tên giặc lái Ngụy nhảy dù đã bị quân dân ta bắt được. Tên giặc lái ác ôn này tên là Nguyễn Bé Tư, cấp bậc trung úy số quân… Trung Ương đã ra lệnh giải quyết thích đáng tên giặc lái này cương quyết không để những thông tin xấu lọt ra ngoài về sự kiện ba máy bay của không quân nhân dân anh hùng bị một tiềm kích cơ địch bắn hạ trong vòng 7 phút. Bọn địch có thể lợi dụng để nói xấu Không Quân Nhân Dân. Đồng chí Thượng Tá Nguyễn Công Tâm chánh án, kiêm công tố viên tòa án nhân dân đã tuyên án tử hình tên giặc lái Nguyễn Bé Tư. Tên Trung Úy Ngụy Nguyễn Bé Tư đã đền tội vào ngày 5 Tháng Tư, 1975.”
Trên góc trái của tờ phúc trình có hàng chữ TUYỆT MẬT – không bao giờ được công bố.

Mai bâng khuâng, nhưng cô không thấy buồn, cô cảm thấy rất hãnh diện và thanh thản như người lữ hành đã về lại nhà mình. Từ lâu cô đã chấp nhận là con người mang cái tên Nguyễn Bé Tư đã không còn có mặt trên cõi đời này nữa, cô linh cảm là anh đã đền nợ nước một cách anh dũng, điều cô linh cảm bây giờ đã thành sự thật trên giấy trắng mực đen. Cô kiêu hãnh về anh Nguyễn Bé Tư, anh đã chết hào hùng như anh đã sống. Cô thương mến người phi công ấy chẳng phải vì anh hào hoa phong nhã như người ta thường nói về những người lính Không Quân VNCH. Cô thương anh vì anh mộc mạc, thứ mộc mạc của loại đá bọc kim cương.

Anh Nguyễn Bé Tư “Ace” đầu tiên của Không Quân QLVNCH một mình hạ ba phi cơ địch trong vòng 7 phút, thế mà cuộc đời lại không có quyền biết đến anh. Bọn Cộng Sản run sợ và kính nể khi nhắc đến cái tên hiền hòa của anh, chúng sợ đến nỗi phải giết anh.

Đêm nay Mai thấy lòng mình thật ấm áp dường như có sự hiện diện của anh Nguyễn Bé Tư đâu đây, dường như anh đang nói với cô đừng buồn đừng giận anh. Xoay xoay chiếc nhẫn Không Quân quanh ngón tay, Mai khe khẽ gật đầu không nói nên lời như đêm cuối cùng năm xưa còn ngồi bên anh. Bên ngọn đèn Mai vuốt lại mái tóc đã điểm sương, thấy mình lại là cô giáo trẻ năm nào đang choàng hoa cho người phi công khu trục anh hùng của QLVNCH. 

Thần Long