Thursday, April 16, 2026

Văn Hóa Mỹ - Vũ Linh


Tin thời sự gần đây cho biết bố mẹ của một chú bé con đâu 16 tuổi tự tử chết, đã kiện AI về tội khuyến khích và chỉ dẫn cho chú bé cách tự tử, gián tiếp chịu trách nhiệm về cái chết của ông con này.

Tin mới cho biết chủ AI đã đạt được thỏa thuận trả một số tiền không công bố là bao nhiêu để bãi nại.

DĐTC muốn nhân dịp này, tìm hiểu rõ hơn về bối cảnh lớn của câu chuyện, nghĩa là văn hóa Mỹ, sau khi ta đã có dịp bàn qua về AI mới đây.

Văn hóa Mỹ rất khác lạ.

Trong tư cách một di dân đến từ Á châu, khác chủng tộc với dân Mỹ, và quan trọng hơn cả, khác văn hóa nền tảng với dân Mỹ, phần lớn dân tị nạn Việt, sau cả nửa thế kỷ, có thể nói vẫn chưa quen hẳn với văn hóa Mỹ, vẫn ngỡ ngàng với nhiều chuyện thật quái lạ của cái xứ tạm dung này. Rất nhiều khác biệt nền tảng với văn hóa Việt, khi văn hóa Việt dù sao cũng rất 'bảo thủ' và tế nhị trên căn bản.

'Bảo thủ' hiểu theo nghĩa tôn trọng những giá trị tương đối cổ điển mà đám trẻ Mỹ gốc Việt tị nạn coi như ... chậm tiến, hủ lậu, nhà quê. Và tế nhị khi có những cấm kỵ trong xử thế và ngôn ngữ mà chỉ có người Việt mới hiểu được, chứ đám trẻ tị nạn thế hệ hai như Nguyễn Thanh Việt thì hoàn toàn mù tịt cho dù học cao hiểu rộng tới mức giáo sư đại học Mỹ.


Tuy nhiên, vì khuôn khổ bài viết có giới hạn, DĐTC không thể bàn chi tiết về tất cả khác biệt được. Bài này xin tóm gọn lại vài vấn đề lộ liễu, nổi bật nhất của văn hóa Mỹ.

Kẻ này còn nhớ hồi năm 1976,  khi dân Việt bắt đầu định cư tị nạn tại Mỹ, có một ông Việt bị tù oan, tức quá, tự tử chết trong tù. Khi đó, dân ta mới qua Mỹ, cả dân Mỹ và dân Việt chưa biết gì nhiều về nhau. Ông tị nạn này có con bị cảm cúm gì đó, đè con ra cạo gió. Hôm sau con đi học cởi áo trong giờ thể dục, thầy giáo thấy lưng đầy vết cào tróc da, gọi cảnh sát. Ông bố bị bắt, ra tòa, kêu án tù. Vì tội dám hành hạ con dã man tới vậy. Ông tị nạn ú ớ tiếng Anh không rành, trong khi ông luật sư Mỹ cãi thí -pro bono- thì mù tịt về chuyện cạo gió, chẳng biết phải biện hộ thế nào.

Câu chuyện nói lên khoảng cách văn hóa khổng lồ giữa dân Mỹ và dân tị nạn, đẻ ra nhiều chuyện cười ra nước mắt trong những ngày đầu dân Việt mới tới định cư tại Mỹ. Cho tới ngày nay, khoảng cách tuy giảm nhưng vẫn còn.

Bài này nhìn qua một số điểm căn bản đáng nói về dân Mỹ và văn hóa Mỹ. Dưới cái nhìn chủ quan của một người.


Lương thiện

Dân Mỹ nói chung có thể nói là dân lương thiện nhất thế giới. Nếu trong văn hóa Việt, chửi 'mất dạy' là nhục mạ lớn nhất, thì trong văn hóa Mỹ, chửi "nói láo' mới là xúc phạm danh dự lớn nhất. Tuy nhiên cái tính lương thiện đó dần dà đã biến mất trong cái xứ Mỹ đầy nhiễu nhương, đầy gian trá. Chính quyền Mỹ đang khui ra hàng ngàn, hàng vạn vụ khai gian, ăn cắp trợ cấp đủ loại trên khắp nước, nhưng nhìn kỹ lại, tuyệt đại đa số dân ăn cắp đó lại không phải dân Mỹ chính gốc, mà là dân di cư từ những quốc gia khác vào sống ở Mỹ, nhận trợ cấp, có thể nói lợi dụng tính lương thiện của dân Mỹ nói chung.

Tuy nhiên, cũng phải nói tính lương thiện của dân Mỹ đã phai nhạt nhiều, đặc biệt là trong chính trường Mỹ khi các chính trị gia, vì chế độ bầu cử, biến thành những vua mỵ dân, nói láo hơn cuội, chuyên hứa trăng hẹn biển rồi... đổ thừa, từ cả hai chính đảng DC cũng như CH.


Nhân từ và khoan dung

 Dân Việt tị nạn vào Mỹ trong những ngày thê thảm của năm 75, đã trải nghiệm tính nhân ái của dân Mỹ. Hãy thử tưởng tượng Căm Pu Chia bị đại họa mất nước, chạy qua VN tị nạn, sẽ có bao nhiêu gia đình Việt mở cửa đón nhận dân Căm Pu Chia di tản vào nhà sống, giúp đỡ từ miếng ăn tới cái giường ngủ, rồi dạy tiếng Việt, dạy họ sống theo lối Việt?

Công bằng mà nói, trong phong trào bảo vệ di dân lậu hiện nay, hiển nhiên có bàn tay lông lá của đảng DC có mưu đồ chính trị, đi kiếm cử tri tương lai để cứu đảng. Nhưng không phải tất cả những người bảo vệ di dân lậu đều có mưu đồ chính trị như vậy. Một số không nhỏ muốn thật tình giúp di dân lậu vì tính bác ái, khoan dung, cũng muốn thông cảm và chấp nhận cho di dân lậu được ở lại Mỹ, hợp pháp hóa bằng cách nào đó, có cuộc sống khá hơn cuộc sống lầm than họ có trong xứ sở của họ. 


Trực tính nói thẳng

Dân 'Nam Cờ' của ta có đặc tính 'có sao nói dzậy' thật đáng quý tuy nhiều khi thật khó chịu, khác rất xa sự khéo léo, tế nhị, nhiều khi giả dối rõ ràng của đám dân 'em chả dám' Bắc cờ. (Ghi chú để tránh bôi bác: Vũ Linh này là dân... Bắc cờ chính gốc tuy không đi tàu há mồm vào Nam!)

Dân Mỹ cũng là một loại dân... Nam Cờ, thường rất trực tính, không màu mè, rào đón giả dối như dân Âu Châu, nhất là dân... Anh.

Phải nói ngay, hai lần đắc cử của ông Trump phần lớn là do cái trực tính, nói thẳng, bị mất lòng nhiều nhưng lại chiếm được niềm tin của cử tri Mỹ. Dân Mỹ quá nhàm chán với những nói láo coi thường dân của đám chính trị gia 'cổ điển', mở miệng là nói láo và đổ thừa, trong khi với ông Trump, ông ta nói là làm, không cần biết có được ủng hộ, hậu thuẫn gì hay không, thích thì bầu, không thích đừng bầu, có vậy thôi. Trái lại, nhiều khi ông Trump còn làm nhiều chuyện trái tai gai mắt, hay văn vẻ hơn, gọi là 'không phải đạo chính trị' lắm trong mắt khá nhiều người.


Tự do trong lè phè

Kẻ này có một anh bạn, từ Pháp qua sống ở Mỹ, rất mê sống ở Mỹ. Chỉ vì -theo anh ta nói- được tha hồ mặc quần cụt -short- đi đâu cũng được, kể cả ... đi ăn cưới. Kẻ này nhớ bên Pháp, đi xem xi-nê-ma cũng phải ăn mặc chỉnh tề vào rạp hát tối thui chẳng ai nhìn thấy ai. Đi sòng bài phải có áo vét đeo cà vạt, trong khi đi Las Vegas, vào những sòng bạc trong khách sạn sáu bẩy sao, không thấy có tới một người nào như vậy.

Dân Mỹ không bao giờ câu nệ cái bề ngoài đạo mạo giả dối, quần áo lúc nào cũng chỉnh tề tươm tất. Trái lại, thích gì làm nấy, muốn mặc quần áo thế nào chẳng ai để ý.


Thực dụng

 Kẻ này nhớ vài năm sau khi mới qua Mỹ đi làm, gặp một ông nhân viên vừa lười vừa dốt không biết phải làm gì. Đi hỏi ý ông xếp, ông này nói tỉnh bơ: sa thải nó -fire him-, hết chuyện. Tôi trợn mắt nhìn, nghĩ lại rồi phản đối ông xếp: thế rồi anh ta làm sao sống? Gia đình ra sao? Ông xếp thản nhiên trả lời "Không có ai sinh ra lười biếng hay cố tình dốt hết. Nếu anh ta lười và dốt thì chỉ vì anh ta làm không đúng việc anh ta giỏi hơn hay thích làm. Sa thải để anh ta tìm ra việc đúng ý đúng người đúng nghề tốt hơn, và công ty có thể mướn người giỏi hơn, tốt cho cả hai bên". Tôi miễn cưỡng sa thải mà mất ngủ mấy đêm.


Hơn một năm sau, bất ngờ một ngày thứ bảy đang ở nhà, có chuông cửa. Mở cửa thấy anh 'lười và dốt' bị tôi sa thải. Anh ta mặt mày tươi rói, hớn hở mang chai rượu lại tặng "Tôi muốn cám ơn anh đã cho tôi dịp may hiếm có, bây giờ tôi đi bán computer làm tiền còn hơn anh bây giờ và rất... happy, lại sắp lên chức! Nếu anh muốn, tôi giới thiệu anh vào làm cùng tôi luôn!"

Chúng ta, và cả dân Âu Châu nói chung hay chỉ trích người Mỹ vô nhân, chỉ biết nhìn những con số kết toán cuối cùng, không bao giờ nghĩ đến những chuyện nhân bản, có lòng trắc ẩn,... Nhưng nghĩ cho cùng, nước Mỹ trở thành đại cường giàu mạnh nhất thế giới không phải ngẫu nhiên mà có lý do thật chính đáng. Chủ trương dùng người đúng chỗ, khiến khả năng phát triển mạnh nhất, có lợi cho tất cả.

Một bài học tôi không bao giờ quên về óc thực tế của người Mỹ. Không có chuyện tình cảm vớ vẩn chẳng lợi cho cả hai bên.


Tự tin tuyệt đối

Nếu có một người luôn luôn tự tin mình mới là người có khả năng, mình mới làm được việc, thì người đó chắc chắn là một anh Mỹ. Dân Mỹ rất tự tin, luôn luôn săn tay áo bắt tay vào việc và luôn luôn tin mình đúng và mình sẽ thành công, ít khi tin người khác có thể làm bằng mình, khoan nói tới làm giỏi hơn mình. Chính khách ra tranh cử luôn luôn vỗ ngực khoe tôi giỏi nhất, không bao giờ giỏi... nhì.

Dân ta đã nếm mùi đó trong cuộc chiến chống xâm lăng của CSBV. Chính phủ Mỹ tự tin, chê ông Diệm và tướng tá Nam VN không có khả năng, không biết làm sao trị được VC. Hãy để cho Mỹ làm hết, bảo đảm sẽ thành công. Ông Diệm không đồng ý sao? Thế thì một là ta rút về hết, hai là ta thay ông Diệm, thế là giải quyết mọi việc.

Trên đây là một số điểm 'khác lạ' căn bản ta cần hiểu về dân Mỹ nếu muốn thích hợp với cuộc sống tại Mỹ.

Ngoài ra, theo ý kiến cá nhân kẻ này, có hai điểm còn nổi bật hơn nhiều, mà lại thật quan trọng, ta cần hiểu rõ hơn. Đó là vai trò của... trẻ con và kiện cáo trên đất Mỹ này. Đó có thể nói lả hai điểm thật độc đáo khiến dân Mỹ này khác hẳn, khác rất xa dân ta.


Giáo dục con cái

Kẻ này về hưu, rảnh hơi, nên mỗi tối thường coi phim, hầu hết là phim Mỹ, vừa để qua thời giờ, vừa muốn có dịp xem cho biết về văn hóa Mỹ.

Điều gây ấn tượng nhất -hay chính xác hơn, gây sốc mạnh nhất- là những cảnh về quan hệ giữa bố mẹ và con cái. Phải nói ngay, trong con mắt của một cụ già nhà quê tị nạn như kẻ này, mấy đứa trẻ con Mỹ, đứa nào cũng đáng cho vài bạt tai vì tội hỗn láo vô cùng với bố mẹ, ông bà. Nếu phim ảnh đưa ra những hình ảnh trung thực của xã hội Mỹ, không phải cảnh các nhà đạo diễn Hồ Ly Vọng sáng tạo ra để gây sốc thu hút khán giả, thì xã hội Mỹ thật là... loạn. 

Trẻ con Mỹ, cỡ tuổi 'teen' tức là từ 13 tới 19 -thirteen to nineteen-, đều là các vua con, muốn làm gì thì làm, coi bố mẹ như pha, lễ phép thì nhún vai quay đít bỏ đi, hỗn hơn là chửi thẳng lại bố mẹ. Mà cái đáng nói là bố mẹ luôn luôn bối rối, quỵ luỵ loay hoay xin lỗi mấy ông bà quý tử muốn khô cổ họng luôn. Lúc nào cũng là lỗi bố mẹ, nên cần xin lỗi chối chết. "My fault, I am so sorry". Không xin lỗi thì cũng ... 'please, please' lia lịa.

Trẻ con tị nạn bây giờ đã học được cái 'oai' của trẻ con Mỹ. Con cái coi bố mẹ như cỏ rác, vướng chân, bẩn nhà. Có khi còn cảm thấy tủi hổ vì bố mẹ chỉ là một đám già lú nhà quê đến từ một xứ chậm tiến. Trẻ con tị nạn bây giờ cũng học được câu nói sở trường của trẻ con Mỹ: "Ông bà có công trạng gì với tôi bao giờ đâu? Tôi chỉ là 'hậu quả của tai nạn' ngoài ý muốn của ông bà khi ông bà hứng thú 'vui vẻ' với nhau thôi".

Mà cái sốc kinh hồn hơn nữa là đó chính là cái mà 'văn hóa thức tỉnh' của khối cấp tiến đang cổ võ, khuyến khích tối đa. Khi các nhà trường hô hào 'bảo vệ nhân quyền' của trẻ con bằng cách tôn trọng những ý muốn của chúng về những chuyện động trời như chuyển giới, sex tự do, hút sách thả giàn, phá thai tùy hỷ,... thì hiển nhiên đó là những hiện tượng văn hóa mà kẻ già u mê này không có cách nào hiểu hay chấp nhận được. 

Chưa kể cái mâu thuẫn thô bạo nhất: trẻ con chưa ra khỏi lòng mẹ chỉ là cục thịt dư, muốn phá thai, tức là cắt bỏ liệng thùng rác, tùy hỷ. Nhưng vừa chào đời là có 'nhân quyền' mà bố mẹ phải tôn trọng, đội lên đầu ngay.

Vai trò của bố mẹ đã vậy lại còn bị các chính khách cấp tiến ngày một giảm thiểu. Theo cái nhìn 'thức tỉnh' hợp thời trang cấp tiến nhất, bố mẹ do 'tai nạn' sanh ra con, chỉ có bổn phận nuôi ăn nuôi ở cho con thôi, còn việc giáo dục, dạy bảo chúng nên người là trách nhiệm của giáo chức, của thầy cô, của Nhà Nước, để sau này chúng hữu dụng, phục vụ Nhà Nước, phục vụ xã hội. Sách vở của Pol Pot trở nên Thánh Kinh của đạo cấp tiến thức tỉnh Mỹ. Muốn biết giáo dục Mỹ dạy trẻ con như thế nào, chỉ cần nhìn vào hình ảnh 'giáo sư' đại học Nguyễn Thanh Việt với cái bảng 'Đ.M.' khổng lồ thì biết ngay.

Cả triệu dân Việt bỏ nước, bỏ mồ mả ông bà đi tìm tự do mà chỉ học được cái thói tự do ăn bẩn nói tục sao? Mà kinh hoàng nhất là người học được cái văn hóa đó không còn là một đứa trẻ con u mê chưa đủ khôn, mà bao gồm luôn những giáo sư đại học và nhiều lão ông tám chín bó. Với lão ông mà còn bị tẩy não trát trấu trong đầu dễ dàng như vậy thì đám trẻ tị nạn thế hệ hai và ba, nghĩa lý gì? NTViệt với cái bảng Đ.M. là ... chuyện nhỏ, phải không?


Kiện cáo

Trở lại câu chuyện kiện AI, ta thấy một điểm có thể nói quan trọng nhất, tiêu biểu nhất trong văn hóa Mỹ: đó là chuyện... kiện cáo. Phải nói ngay, trên thế giới này, không có xứ nào có nhiều luật sư như ở Mỹ. Chỉ vì cũng chẳng có xứ nào mê kiện cáo như xứ Mỹ này hết.

Việc bố mẹ khởi kiện AI như nêu ra trên có vẻ như xác nhận một số 'thành kiến' quen thuộc về con người Mỹ và văn hóa Mỹ, bao gồm những chủ điểm chẳng mấy tốt như:

  • Việc bố mẹ của chú bé này mau mắn kiện AI, xác nhận dân Mỹ có khuynh hướng trốn chạy trách nhiệm của chính mình để tìm cách xỉa tay đổ thừa lên đầu người khác. Luôn luôn là lỗi người khác. Do đó, phải kiện bắt người khác đền bù. Đây là hiện tượng nổi bật rất rõ nét, nhất là trong chính trị Mỹ. Hoàn toàn trái ngược với văn hóa Nhật chẳng hạn, chuyện gì cũng là trách nhiệm của chính mình. 
  • Đặc biệt là trong trường hợp này, bố mẹ đã hoàn toàn bỏ qua trách nhiệm của các bậc sinh thành là dạy dỗ con cái. Trong khi ông con chia sẻ những buồn phiền cả ngày, cả tháng với AI thì bố mẹ lại chẳng biết gì về những khó khăn của con, đưa đến khủng hoảng tinh thần, chán sống, tự tử. Không phải lỗi bố mẹ đâu mà là lỗi của AI xúi bậy.
  • Việc thưa kiện được bố mẹ khẳng định không phải vì nhu cầu tài chánh -dĩ nhiên- tuy AI là đại công ty có giá thị trường là 4.000 tỷ đô, một trong những đại công ty lớn nhất thế giới. Thực tế là nếu thắng, bố mẹ sẽ được chút tiền, làm như thể tiền là thuốc có phép màu xóa hết đau buồn con chết. Trong văn hóa Mỹ, dường như tiền là tất cả, là mục tiêu, là chìa khóa mở tất cả các cửa, là viên thuốc thần trị mọi bệnh, nhất là các bệnh tinh thần.

Những kết tội trên có vẻ không sai chút nào trong mắt của một người không phải... Mỹ. Quá hiển nhiên. Nhưng thực tế, trong mắt của chính người Mỹ, thì lại hiển nhiên là sai lầm hoàn toàn, vì chẳng hiểu gì về văn hóa Mỹ.


Một người Mỹ sẽ rất mau mắn và hăng say giải thích họ kiện cáo chẳng phải là vì tiền -không bao giờ vì tiền- mà chỉ vì muốn đòi công bằng, vì muốn một ông tòa 'trung dung', ngoài cuộc, xác nhận họ đúng và người bị họ kiện mới là người sai.

Với dân Việt ta, tất cả những gì ta làm, ta nói, ta nghĩ, đều ... ĐÚNG! Khác ý với ta chỉ có thể là sai, là... bựa. Không thể nào khác. Với dân Mỹ thì khác hoàn toàn. Trong tinh thần phóng khoáng của tự do tư tưởng, dân Mỹ không bao giờ chủ quan vô lối như dân ta. Họ dĩ nhiên cho mình đúng phần nào, nhưng không có nghĩa người khác ý nhất định phải sai, phải bựa. Họ không tự cho mình cái quyền cho rằng mọi ý nghĩ của mình đều đúng để có thể miệt thị, nhục mạ người khác ý, mà họ chấp nhận nhờ người khác, một đệ tam nhân, nhận định xem ai đúng ai sai. Đó là nhờ... quan tòa. Đó chính là nền tảng của kiện cáo. Đó chính là căn bản biến nước Mỹ thành xứ pháp trị, tất cả đều có luật lệ và không ai có quyền ngồi xổm trên luật. Không ai đúng tuyệt đối tới độ có thể miệt thị người khác ý. Và đó cũng xác nhận dân Mỹ là dân... ít độc đoán nhất thế giới.


Bài học đầu tiên về văn hóa Mỹ, về lối sống Mỹ - American way of life-: sống ở Mỹ, cái văn hóa 'con rồng cháu tiên' chỉ là một văn hóa khác lạ hoàn toàn với văn hóa Mỹ. Muốn hội nhập đầy đủ với xứ Mỹ và dân Mỹ, ta cần tạm cất văn hóa 'con rồng cháu tiên' vào tủ, nhất là đám con cháu, tị nạn thế hệ sau nếu chúng muốn thành công tại xứ này. Những cụ già gần đất xa trời như kẻ này cần bảo vệ truyền thống dân tộc vì hiển nhiên không có nhu cầu lớn để hội nhập, nhưng đám trẻ không hội nhập sẽ không thành công, chỉ mang họa vào thân.


Thành thật mà nói, có bố mẹ nào không muốn con cái thành công? Do đó, phải chấp nhận chúng thành Mỹ con sống trong môi trường Mỹ, trong văn hóa Mỹ. Tuy không thể để chúng đi quá xa, tới mức của Nguyễn Thanh Việt, mặt mày trơ trẽn, vênh váo dương biểu ngữ... Đan Mạch. 


Vũ Linh - Diễn Đàn Trái Chiều

April 4, 2026

Đừng Để Quá Trễ - Youtube LK

Mùa Xuân Đến Muộn - Thiên Lý


Chuyện bắt đầu vào những năm tháng khó khăn nhất trong gia đình tôi. Những ngày mẹ tôi bị ốm, mọi việc hầu như rối tung cả lên khi thiếu vắng sự lo toan và bàn tay điều khiển của mẹ trong nhà.


Năm ấy, tôi hai mươi mốt tuổi, lần đầu tiên tôi được mẹ giao phó nhiệm vụ đi thăm cha tôi một mình ở trại “cải tạo” Suối Máu, Biên Hòa. Thường thì những lần thăm nuôi trước thỉnh thoảng tôi đi với mẹ, có khi mẹ tôi cho các em tôi theo mỗi đứa thay phiên nhau theo mẹ đi thăm cha một lần. Nhưng lần này, mẹ tôi đang bị bệnh, tiền vé tàu xe lại càng ngày càng lên giá nên việc hạn chế số người đi thăm cha tôi là điều tôi phải hiểu… Mẹ căn dặn tôi đủ điều và quan trọng hơn là hỏi ý kiến cha tôi về chuyện mẹ sẽ …gả chồng cho tôi. Nghĩ đến đó, lòng tôi lại hoang mang, bối rối. Hai hôm trước, mẹ sốt mê man, tôi biết chắc là mẹ đau trong người lắm, mẹ không ăn gì cả chỉ nằm rên khe khẽ.Tôi đến gần mẹ, lúng túng, lo sợ, hết sờ trán rồi nắm tay gọi mẹ cuống cuồng. .. Mẹ ơi, mẹ đừng làm con sợ, mẹ ráng khoẻ lên nhé. Tôi nghe tiếng mẹ thều thào bên tai một dự định như lời trăn trối:

– Trân này, mẹ yếu lắm rồi… không biết sẽ còn sống được bao lâu… trước khi mẹ nhắm mắt, mẹ muốn con …lấy chồng, mẹ muốn …thấy được đám cưới của con.


Tôi run rẩy, lo lắng lẫn xúc động làm tôi không nói được lời nào. Lấy chồng, đám cưới, những chữ ấy nghe thật bình thường mà sao nó lại xa lạ với tôi quá chừng. Xa lạ là vì tôi chưa hề gặp mặt người đàn ông mà mẹ chọn cho tôi tuy biết ông là người châm cứu hằng ngày cho mẹ. Tôi chỉ nghe nói ông ta trước kia đi lính, lại lớn hơn tôi tới mười tuổi và nghe Châu, em gái tôi thường nhắc tên ông ta là chú Định. Châu biết ông Định nhiều hơn tôi vì nó có nhiệm vụ chở mẹ tôi đi châm cứu mỗi ngày. Mẹ ông và mẹ tôi quen nhau trong một chuyến đi thăm chồng rồi trở thành bạn bè. Do đồng cảnh ngộ hai bà mẹ đã thân thiết nhau hơn và chuyện làm sui đã được trao đổi qua lại. Một ngày, trước lúc mẹ tôi bị bệnh, câu chuyện dự tính hôn nhân với ông Định đã làm tôi giật mình, e ngại. Tôi giẫy nảy lên rằng, con không biết người ta là ai, sao mà chịu được rồi vùng vằng bỏ đi. Mẹ đã níu tôi lại ôn tồn bảo:

– Ngồi xuống nghe mẹ bảo đây. Ngày xưa mẹ với bố mày cũng không có biết nhau mà đã ăn ở với nhau thuận hòa đẻ ra một lũ tám đứa chúng mày đấy thôi.

Thấy tôi sụ mặt không nói mẹ lại dỗ dành:

– Mẹ xem ra anh ta là người tốt đấy, thời buổi khó khăn thế này mà đi làm châm cứu từ thiện. Con có thấy ai làm được như thế không? Bác Khánh người bắc mà lại hiền lành, phúc hậu, vụng về như mày về làm dâu nhà bác cũng không phải lo bị quở mắng nặng nhẹ.

Tôi vẫn lắc đầu nguầy nguậy, lần này mẹ tôi bực bội gắt:

– Mày cứ tự do yêu đương vớ vẩn rồi lại bỏ nhau sớm thôi. Mà có đứa nào thương mày chịu đến hỏi cưới mày chưa? Con gái có một thời thôi, vài năm nữa già đi còn ai hỏi nữa.

Tôi im lặng ngồi nghe mẹ thuyết giảng. Lấy chồng, dù không yêu thương nhưng rồi sinh con làm mẹ, bổn phận với con cái gia đình cũng làm mình vui ra biết chưa?

Tôi nhìn mẹ nằm thiêm thiếp trên giường, nghĩ đến cảnh nghèo của gia đình tôi, những ngày thiếu ăn, thiếu mặc. Lấy chồng rồi có khá hơn không? Hay vẫn rơi vào cảnh nghèo muôn thuở. Tôi thở dài buồn bã…


Buổi sáng tôi dậy thật sớm, chuẩn bị hai giỏ đồ ăn và một chai nước đi thăm cha tôi. Mỗi lần đi thăm cha là giỏ đồ ăn nhẹ đi một chút. Có lẽ cha tôi cũng biết được sự khổ cực của vợ con ở nhà nên cha chẳng xin gì nhiều. Chỉ có ba thứ cần thiết là một ký đậu phọng rang, một ký đường tán, vài bánh thuốc rê vớí một hũ mắm ruốc. Tôi cũng mua thêm mấy thứ bánh kẹo lặt vặt và nắm hai nắm cơm cho cha tôi. Để tiết kiệm tiền, thay vì đi xích lô, tôi đi bộ từ nhà ra ga Sài gòn, rồi mua vé xe lửa đi Biên Hoà. Ngồi trên tàu lòng tôi nóng như lửa đốt, mong sao cho tàu chạy nhanh để tôi gặp cha, tôi sẽ nói với cha nhiều chuyện lắm. Tàu ngừng ở nhiều ga nhỏ để đón khách càng lúc tàu càng thêm đông người.

Ga Biên Hoà cũng tấp nập người không kém gì ga Sài gòn. Hành khách tranh nhau xuống ga, những bà buôn bán lỉnh kỉnh rổ, thúng, quang gánh to tiếng nạt nộ người chen lấn. Tôi chán ngán nhìn cảnh tượng ấy rồi để mặc sự chen lấn, tôi cũng bị đẩy theo dòng người chen chúc đó ra khỏi tàu…Sau đó, tôi lại lẽo đẽo theo mấy người đàn bà đón xe lam đi Suối Máu, ngồi trên xe lam với tôi cũng có vài người đi thăm thân nhân làm tôi cảm thấy yên tâm hơn…

Đến nơi phải ngồi chờ một lúc lâu, ai cũng sốt ruột. Khi cánh cổng rào xiêu vẹo được kéo ra một người cán bộ xuất hiện với bộ mặt quan trọng vẫy tay ra lệnh cho mọi người vào trình giấy thăm nuôi. Tôi đợi tới phiên mình mà lòng hồi hộp vô cùng, khi thủ tục giấy tờ đã kiểm xong, những người thăm nuôi được chuyển vào ngồi trên những chiếc ghế băng dài …lại …chờ. Tôi nhìn cảnh vật chung quanh toàn những cây lá khô héo, mặt đất thì bụi mù. Không biết cha tôi sẽ đi từ đâu ra. Chợt tôi nghe tiếng một người đàn bà nói: “Kìa, mấy ổng ra kìa”, không ai bảo ai, mọi người đều tự động đứng lên, nhớn nháo nhìn. Tôi cũng đứng lên theo cố chen lên phía trước để tìm bóng dáng cha. Tôi chợt ứa nước mắt khi thấy cha tôi đi sau cùng, dáng cha vốn đã thấp và gầy người, giờ cha ốm yếu trông càng nhỏ hơn. Cha tôi chưa nhìn thấy tôi ngay, tôi phải đưa tay lên vẫy vẫy gọi to: “Bố ơi, bố ơi, con đây nè!”

Cha tôi bước đi xiêu vẹo đến gần bên tôi, hỏi ngay:

– Mẹ đâu?

– Mẹ ốm không đi thăm bố được, có một mình con thôi. Tôi nghẹn ngào nói.

Hai cha con tôi ngồi xuống một chiếc ghế băng sát tường, tôi run giọng hỏi:

– Bố có khỏe không? Lần này con thấy bố ốm đi nhiều quá.

Tôi vừa nói vừa nắm lấy tay cha, nhìn khuôn mặt khắc khổ, mái tóc bạc trắng và chòm râu dài gần tới ngực của cha. Tôi cảm thấy xót xa, nước mắt lại rơi tiếp… Cha hỏi tôi chuyện ở nhà, chuyện mẹ tôi đau ốm…Rồi cha thở dài, mắt nhìn mông lung xa vắng, tôi nói:

– Tụi con mong bố về từng giờ từng phút, mấy đứa ở nhà đi học, hôm nào gặp bài toán khó không ai giảng lại nhắc đến bố…

Cha ngắt lời tôi, giọng buồn đau:

– Thôi mày đừng khóc nữa, cán bộ nó thấy là mệt lắm. Hôm nọ bố bị nó tịch thu mấy bài thơ “Nhớ Nhà” còn bị đưa ra “kiểm điểm trước tập thể” nữa đấy.

Tôi nhìn cha sửng sốt:

– Trời ơi, nhớ nhà là cảm xúc tự nhiên của con người mà sao họ lại cấm.

– Chúng nó là những người không có trái tim… thôi, không nhắc nữa, ở nhà chị em cố đùm bọc, thương yêu nhau, đừng làm gì cho mẹ mày buồn đấy.Trong này ai cũng khao khát được về mà biết đến bao giờ mới về.

Cha tôi nói trong tiếng thở dài nẫu ruột.

Tôi đưa giỏ đồ tiếp tế về phía cha:

– Mẹ mua những thứ bố dặn trong giỏ này…

Cha tôi gật đầu bảo để đấy. Tôi kể sơ cho cha tôi nghe về chuyện đi làm của tôi, chuyện học hành của các em ở nhà. Tôi dự định sẽ nói bao nhiêu điều mà bấy giờ ngồi gần cha, tôi lại ấp úng cứ nói chuyện nọ xọ chuyện kia, chẳng có đầu đuôi gì hết. Cha tôi chỉ ngồi im lặng nghe…Tôi hỏi cha:

– Bố có đói không? Con cắt cơm nắm cho bố ăn nha, có gói muối mè lục vị con làm nữa.

Cha tôi xua tay giọng buồn cay đắng:

– Thôi, thôi, có thì giờ đâu mà ăn, nó đánh kẻng đi vào bây giờ. Ở trong này thiếu thốn đủ mọi thứ, nhưng mà cứ luyện mãi chữ “khắc phục” của chúng nó thì cũng xong.

Tôi nhìn cha, lòng dâng lên một sự thương cảm dạt dào. Tôi biết cha tôi là người sống mẫu mực, giỏi chịu đựng. Ngày trước khi còn ở nhà, cơm dù ngon hay dở lúc nào cha cũng chỉ ăn có hai chén đều đặn. Cha rất ít uống rượu, chỉ thích hút thuốc lá Ruby Queen, cha còn dặn mẹ tôi thời buổi chiến tranh, một tuần phải cho các con ăn cực vài bữa để thích ứng với thời cuộc, lỡ có chạy giặc, thiếu ăn, thiếu uống thì cơ thể sẽ quen đi. Tôi còn nhớ những bữa ăn đạm bạc của gia đình tôi có khi chỉ là cháo đậu xanh với đường, hoặc cơm đậu đen với dưa giá, hay bí đỏ xào với khoai lang. Những ngày tháng gần tàn chiến cuộc, món ăn thường xuyên chúng tôi ăn mỗi ngày là su su xào với mì gói. Cha tôi cũng ăn như thế mà không hề phàn nàn gì trong khi tôi và các em thì cứ than ngán ứ lên. Thời đó, tuy còn nhỏ tuổi, tôi đã thầm mơ ước cho mình một người bạn đời sau này sẽ phải có tính liêm khiết, cương trực và dễ chịu như cha tôi… Tiếng người cán bộ nhắc nhở còn khoảng mười lăm phút nữa là hết giờ thăm làm tôi giật mình. Tôi nhớ đến chuyện lấy chồng mà mẹ dặn phải nói với cha tôi. Tần ngần một lúc tôi mới ngập ngừng:

– Bố ơi.. Mẹ dặn con… báo với bố là …mẹ sẽ …gả chồng cho con, ý bố thấy sao?

– Lấy chồng? Cha tôi trợn mắt hỏi lại.

Tôi ứa nước mắt tức tưởi nói:

– Bố ơi, con chưa muốn lấy chồng đâu, bố nói với mẹ giùm con đi.

– Thằng đó làm gì?

Tôi lắc đầu:

– Con không biết, con chưa bao giờ gặp.

– Ôi giời, thế thì lấy làm sao được?

– Bố viết mấy chữ cho mẹ bây giờ đi, để con cầm về…

Cha tôi im lặng, đôi mắt cha như trũng sâu xuống. Tôi sụt sịt một lúc, rồi nắm tay cha lắc nhẹ:

– Bố, bố thương con, bố giúp con đi, con không muốn làm cho mẹ buồn, nhưng nếu bố nói không thì mẹ phải chịu.

– Tại sao?

Tôi nói trong nước mắt:

– Ở nhà khổ lắm bố biết không, bữa đói bữa no, con không yên tâm để đi lấy chồng, sợ đói khổ cứ tiếp nối hoài. Con thấy mình kiệt sức nếu lấy phải một ông chồng không có việc làm, phải nai lưng ra đi làm nuôi chồng, khổ lắm. ..con … con sợ khổ quá rồi…

Cha tôi thở dài không nói, tôi nức nở tiếp:

– Con cũng không biết ông ta là ai, tính tình ra sao. Nếu không có tình cảm thì không thể chịu đựng hay đối xử tốt với nhau được…

Cha tôi ôm vai tôi vỗ về:

– Đừng nói thế, hồi xưa bố với mẹ mày cũng không biết nhau nhiều…

Tôi nhìn cha ngắt lời giận dỗi:

– Sao bố nói giống như mẹ quá. Bố không có ý kiến gì sao?

Cha tôi lắc đầu:

– Bố chịu thôi, bây giờ bố không quyết định được điều gì bằng mẹ mày ở nhà. Nói với mẹ mày cứ sắp xếp sao cho thuận tiện thì làm..

Nghe cha nói, tôi nấc lên nghẹn ngào. Cha tôi vuốt tóc tôi tiếp:

– Bố trông con mới ở tuổi đôi mươi mà tiều tụy quá, cứ điệu này thì tuổi xuân biến đi nhanh lắm, thôi thì cố gắng vậy, bố chẳng muốn nhìn con gái mình chết già đâu.

Tiếng kẻng bỗng vang lên báo hiệu giờ thăm nuôi đã hết. Cha con tôi còn chần chừ, tôi cảm nhận sự run rẩy từ bàn tay cha đang nắm lấy bàn tay tôi như không muốn rời. Giờ thăm sao qua nhanh quá, giây phút chia tay nặng trĩu nỗi buồn lưu luyến. Không chỉ riêng gì cha con tôi, nhiều người đi thăm nuôi khác ai cũng chần chừ. Sự dùng dằng của cha con tôi rồi cũng phải chấm dứt. Cha tôi xách lấy giỏ đồ buồn rầu dặn tôi:

– Thôi bố vào đây, chị em ở nhà cố đùm bọc nhau mà sống, đừng làm gì để mẹ mày buồn đấy. Con đi đường về cẩn thận nhé!

Tôi nghẹn ngào:

– Bố giữ sức khoẻ nha bố. Tụi con lúc nào cũng mong bố được về sớm.

Cha tôi gật gù rồi lững thững bước theo đoàn người vào phía trong hàng rào. Tôi nhìn theo dáng người nhỏ bé của cha khuất dần mà nước mắt cứ rơi rơi… Không biết rồi sau hàng rào kia, cuộc sống của cha tôi và còn bao nhiêu người cha khác sẽ tiếp diễn ra sao trong cảnh khổ đọa đầy. Nỗi nhớ thương gia đình, nỗi khao khát tự do cứ thiêu rụi tâm hồn con người cháy đen mòn mỏi, đầy ám khói tối thui … Tôi không nhớ mình đã đứng bất động bao lâu thì bị xua đuổi. Tôi quệt nước mắt bỏ đi lê từng bước chân nặng như đeo đá trên con đường đầy bụi cát. Hình dáng cha tôi với giỏ đồ trong tay vẫn chập chờn quanh tôi dưới ánh nắng chiếu lấp loé từ phía mặt trời xa đang sắp ngả dần về hướng tây.

Dự tính về chuyện hôn nhân cho con giữa hai bà mẹ đã không thành vì bệnh tình của mẹ tôi ngày càng trầm trọng thêm. Ngày cuối cùng mẹ tôi hấp hối trên giường bệnh cũng là ngày đầu tiên tôi gặp Định. Đó là một người đàn ông khoảng ngoài ba mươi tuổi, gầy, dong dỏng cao, ông có tật ở chân hay sao mà dáng đi trông khập khiễng. Định ghé qua thăm hỏi mẹ tôi về việc lâu không thấy Châu chở mẹ đi châm cứu. Tôi thấy được sự ngạc nhiên trên khuôn mặt ông toát ra từ cái nhìn lạ lẫm về phía tôi, và một sự xót xa trong ánh mắt không ngờ mẹ tôi bị trở bịnh nặng đột ngột như thế. Hôm đó ông cũng lấy kim và điếu ngải ra châm cứu thêm cho mẹ. Chúng tôi luôn có những cái nhìn tò mò len lén qua lại. Định có khuôn mặt hơi dài với hàm râu quai nón bao quanh, đôi mắt sâu sâu dưới cặp chân mày hơi rậm, cái miệng rộng kiêu kỳ ít cười làm cho gương mặt ông nhìn có vẻ khó. Tôi thất vọng ngẫm nghĩ, người có tật này sẽ là chồng mình sao? so với ông ta mình còn quá nhỏ bé. Không biết mẹ tôi đã chấm ông ở điểm nào cho tôi? Nhớ đến những trận đánh nhau của vài cặp vợ chồng trong xóm, tôi liên tưởng đến khuôn mặt khó khăn của Định trước mắt. Khuôn mặt khó và hơi dữ này mà nổi giận thì thế nào tôi cũng bị ăn tát tai như chơi… tôi chợt rùng mình! Tôi cầu mong ông cũng chê tôi, một đứa con gái ốm nhom, xơ xác, tiều tụy… Mỗi khi ông bảo tôi giúp ông cầm cây ngải đưa qua đưa lại trên người mẹ để ông đốt kim thì tôi lại cụp mắt xuống để tránh cái nhìn kỳ quặc từ đôi mắt sâu của ông. Bởi tôi có mặc cảm về đôi mắt lãng mạn của mình như mẹ tôi vẫn hay cảnh cáo. Theo mẹ, lãng mạn là một tính xấu của người con gái mà nó lại hiện trong đôi mắt tôi. Hồi ấy, tôi chẳng biết đôi mắt lãng mạn có cái nhìn ra sao nên tôi không dám nhìn ai lâu. Có người khen mắt tôi đẹp, có người thì chê mắt buồn quá.


Mọi sự cố gắng của Định hôm ấy đều thất bại, mẹ tôi yếu dần trong từng hơi thở. Mẹ nhướng mắt lên, nắm lấy tay Định rồi nhẹ nhàng đặt tay ông lên bàn tay tôi. Môi mẹ mấp máy khó nhọc:

– Mẹ mong…mẹ mong … hai đứa …sẽ …

Mẹ tôi chưa nói hết câu thì đã nấc lên một tiếng rồi nghẹo đầu sang bên trái…Tôi rút nhanh tay mình ra khỏi tay Định, nắm hai vai mẹ lay mạnh, tôi banh mắt mẹ tôi lên, tôi lắc khuôn mặt mẹ. Tôi vẫn còn chút hy vọng mong manh rằng, mẹ tôi sẽ mở mắt ra, mẹ sẽ mỉm cười với tôi, sẽ nói với tôi một lời nào đó. Nhưng, mẹ đã chìm vào giấc ngủ thiên thu thật rồi! Thật rồi! Tôi nghe tiếng gào thét của chính tôi như một người điên, tôi khóc la trong sự tuyệt vọng hãi hùng… Có bàn tay ai đã kéo tôi ra xa mẹ mặc cho tôi cố vùng vẫy, chống trả để lại gần mẹ tôi, tôi gọi mẹ đến khản cổ …và tôi lịm đi vài phút…


oooo0oooo

Nếu không có sự giúp đỡ tận tình của bác Khánh và Định thì tôi không thể hoàn tất được nhiều việc cho ngày mai táng mẹ, còn bao nhiêu phong tục cúng tế mà tôi chưa hề biết đến. Định giúp tôi đi đánh điện tín cho cha tôi, nhưng những con người cộng sản sắt đá, tàn ác kia đã không cho cha tôi về với chúng tôi để tiễn mẹ đi. Một bầy con nhỏ đi theo chiếc xe tang ra nghĩa trang, trời hôm ấy chuyển mưa mỗi lúc một lớn. Phần huyệt của mẹ tôi bị nước ngập một nửa, những người đào huyệt phải tát nước bớt đi để hạ áo quan xuống…Ngày tang lễ của mẹ ngập nước mắt các con và đầy nước mưa đến nhũn cả đất…

Mọi việc tạm ổn sau ngày cúng mở cửa mả cho mẹ. Định vẫn thường xuyên ghé qua thăm chúng tôi mỗi chiều, dần dần ông như người thân quen trong nhà. Tuy gần gũi như thế, giữa tôi và Định vẫn chẳng nảy nở được chút tình cảm đặc biệt nào. Tôi xem Định như một ân nhân với món nợ ơn nghĩa canh cánh bên lòng. Còn ông, vẫn cái nhìn xa lạ, thái độ lạnh lùng, cách xưng hô “tôi với Trân” khô khan. Các em tôi gọi Định bằng chú, tôi gượng gạo gọi ông bằng anh.Tôi không tin rằng tôi có thể yêu được một người đàn ông như Định cho dù ông là một người tốt.

Cuộc sống cơm áo vất vả làm cho tuổi xuân của tôi ngày càng tàn tạ nhanh hơn giữa cuộc đời khô khốc như buổi tàn thu. Lúc đó, tôi đang làm việc ở một lò bánh in đậu xanh, lương lãnh công nhật chẳng có là bao nhiêu. Tôi phải xin ông chủ cho tôi đi bỏ mối bánh dạo để có thêm tiền. Đồng thời, tôi cũng lấy bánh về cho hai đứa em gái đang học trung học đem vào trường bán trong giờ ra chơi. Mấy đứa em tôi xúm xít nhau mỗi đứa một tay tự đi kiếm tiền bằng đủ mọi cách sau giờ học. Thằng Tú, em út tôi mới lên 10 tuổi đã lang thang theo nhóm trẻ bụi đời đi bán quạt ở rạp hát. Tôi lo lắng sợ em hư đốn vậy mà nó không bỏ học một ngày nào, lại được cô giáo khen. Có lẽ tất cả chúng tôi đều thừa hưởng cái “ gene” hiền hậu của cha mẹ dẫu ra đời sớm, đứa nào cũng ý thức được chỉ học điều tốt và phải tránh điều xấu. Mẹ con Định hay khen các em tôi ngoan…Vài tháng sau, Định bỏ nghề châm cứu từ thiện để làm thư ký cho một tổ hợp làm dầu thoa, như là dầu Cù là, dầu Khuynh Diệp, dầu Nhị Thiên Đường… Chủ tổ hợp là một người bạn cũ của cha Định. Nhờ Định xin giúp, ông cũng cho Báu, đứa em trai lớn của tôi vào làm chung tổ hợp với Định và nó được ưu tiên chỉ làm buổi chiều ở khâu đóng nút chai… Càng ngày tôi càng mang nợ Định, món nợ tình nghĩa không biết bao giờ mới trả hết được.

Đúng một năm sau ngày mẹ tôi mất, cha tôi trở về. Sự vui mừng không sao tả xiết. Bác Khánh ghé đến thăm cha tôi cùng với Định, biết chuyện hai mẹ con bác đã giúp đỡ chúng tôi tận tình trong thời gian mất mẹ, vắng cha. Cha tôi cảm động lắm, những giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo, đau khổ. Chắc bác Khánh hiểu được nỗi buồn của cha tôi và bấy giờ cũng không phải là lúc để nói chuyện đính ước giữa tôi với Định. Hơn nữa, cha Định cũng chưa được thả về, vì thế chuyện ấy đã được xếp vào lãng quên. Bác Khánh đến thăm cha tôi thêm vài lần, sau đó những cuộc thăm viếng thưa dần rồi mất hút…Cha con tôi lăn lộn làm đủ mọi nghề để cầm cự với cuộc sống rách nát. Bận rộn vì sinh nhai, chúng tôi chẳng còn thì giờ để nhớ đến bác nữa, đành chịu thôi! Tuy vậy, tôi vẫn cầu nguyện vong linh mẹ phù hộ cho chúng tôi có được một dịp nào đó để đền ơn, đáp nghĩa mẹ con bác Khánh… Mười mấy năm sau, cũng như bao gia đình quân nhân khác, chúng tôi được định cư ở Mỹ theo diện H.O.

oooo0oooo


Thấm thoát đã hai mươi mấy năm lặng lẽ trôi qua kể từ ngày mẹ tôi mất… Một sự tình cờ kỳ diệu đẩy đưa cơ hội cho tôi chuyển từ công ty “Institute on Aging – Older Adult Care” ở Morgan Hill vào làm công ty “Home Health Agencies” ở Santa Clara vào những ngày cận tết. Đây là một công ty cung cấp những y tá phụ đến săn sóc cho bệnh nhân tại nhà. Chính công việc này đã cho tôi gặp lại bác Khánh, một bệnh nhân mà tôi được công ty cử đến chăm sóc. Tôi đã ngờ ngợ nhận ra bác khi thấy tên Bùi thị Khánh trên hồ sơ. Quả là trái đất tròn, gia đình tôi và bác cùng định cư ở một tiểu bang Cali này bao lâu rồi mà lại không biết để liên lạc. Tôi thật mừng rỡ cho dịp may gặp gỡ này để tôi có thể trả món nợ ơn nghĩa ngày trước, nhưng phải đền đáp bằng cách nào thì tôi chưa biết được. Bác Khánh bị yếu hai chân khi di chuyển phải có walker chống đỡ. Nhiệm vụ của tôi đến thăm bác mỗi ngày là đo áp huyết, giúp bác uống thuốc và phụ công việc vệ sinh cá nhân cho bác.

Sau một ngày đầu làm việc, tôi mới gợi chuyện để bác nhận ra tôi. Tuy bác đã ở tuổi ngoài tám mươi bác nói chuyện hãy còn minh mẫn. Trong sự mừng vui với nhiều cảm xúc đầy nước mắt, bác cho tôi biết chồng bác đã bị chết trong tù, thời gian đó bác rất buồn và có nhiều chuyện phải lo trong gia đình nên đã mất liên lạc với chúng tôi. Sau đó, Định đi vượt biên, rồi ông đã bảo lãnh bác và các em qua Mỹ. Nhắc đến Định, bác vẫn không quên chuyện đính ước ngày xưa, liền nói:

– Này, cháu biết không, tội nghiệp Định lắm, cứ mải lo cho mẹ với các em đến giờ đầu bạc rồi mà hãy còn độc thân đấy! Giá như hồi ấy mẹ cháu khoẻ mạnh thì chuyện hai đứa cũng xong rồi. Còn gia đình cháu thì sao? Bố vẫn khoẻ chứ?

– Dạ bố cháu mất đã bốn năm rồi ạ…

Bác Khánh hỏi giọng hốt hoảng:

– Ô, ông mất rồi à, tội chưa! Ở VN hay ở bên Mỹ này?

– Dạ ở bên Mỹ này ạ. Hồi sang đây, bố cháu mới phát giác ra nhiều bịnh, cao máu, rồi tim…

Bác Khánh ngắt giọng:

– Rõ khổ. Ông nào đi tù về cũng sinh ra hàng tá bịnh trong người đấy cháu ạ, thế còn cháu với mấy đứa em?

– Dạ các em cháu thì cũng đi học rồi đi làm, mỗi đứa một nghề. Em Châu lập gia đình có hai đứa con, còn cháu thì…vẫn độc thân.

Giọng bác Khánh chợt vui vui:

Ồ, thế hả, cháu còn độc thân, thế thì hai đứa vẫn có cơ hội để làm bạn với nhau đấy. Có người vợ như cháu Định đỡ vất vả hơn.

Tôi ngượng ngùng không nói, thấp thoáng trong trí nhớ tôi hình ảnh ngày nào trên giường bịnh, mẹ tôi tay run run nắm lấy tay Định đặt vào tay tôi…. Ngày ấy đã lâu quá rồi, sự mơ ước của mẹ đã tàn phai. Có thể nào bây giờ…lắc đầu, tôi tò mò hỏi:

– Bao nhiêu năm nay anh Định vẫn không quen ai hả bác?

Bác Khánh buồn buồn nói:

– Cháu xem, bao nhiêu năm cứ đi làm hai “gióp”, dành dụm tiền để lo cho bác và các em nó sang đây. Chuyện lập gia đình, bác giục mãi mà nó cứ chần chừ.

Bác ngừng một chút rồi thở dài tiếp:

– Mà cũng tội cho Định, nó mặc cảm mang tật cái chân cháu ạ, hồi bác sinh nó ra khỏe mạnh, lành lặn đó chứ. Tại đi lính rồi bị thương. Hồi đó Định bị thương nặng lắm, bao nhiêu mảnh đạn ghim nát cái đùi trái, tưởng phải cưa đấy cháu, may mắn sao lại chữa được nhưng đi khập khiễng một chút. Bây giờ trời mà lạnh thì vết thương cũ vẫn bị nhức nhức đấy.

Tôi xót xa hỏi:

– Ủa, anh Định bị thương vậy rồi có phải đi tù không bác?

– Làm gì không, cũng tù hết 5 năm đấy, trước kia Định là trung úy Biệt Động Quân mà. Nó được thả về cuối năm 80, bác phải chạy chọt cho Định học nghề châm cứu đông y để được ở lại Sài gòn không thì bị tống đi kinh tế mới phát rẫy rồi. À này, bác thật lòng nói nhé thỉnh thoảng Định cũng nhắc cháu đấy, nó cứ bảo kiếm ai mà nhẫn nại được như cháu. Giờ mà nghe cháu còn độc thân Định mừng lắm.

Tôi cười nhẹ, nghĩ rằng bác chỉ nói xã giao theo tấm lòng của người mẹ muốn tìm hạnh phúc cho con trai. Tôi nói nhỏ:

– Cháu tin vợ chồng là duyên nợ hết bác à, nếu anh Định với cháu có nợ thì chắc thế nào trời cũng cho gặp.

– Bác cũng mong thế, cháu biết không, bác có 3 cô con dâu mà chẳng ở được với cô nào, phải ở với Định thôi. Nói nào ngay, Định cũng lo cho bác lắm, từ ngày bác bị yếu cái chân, Định bớt làm một “gióp”rồi, nó lo tìm người đến chăm sóc cho bác lúc nó đi làm đấy.


Tôi ngồi im lặng nghe bác kể say sưa về Định, niềm tự hào của bà mẹ về người con trai trưởng trong nhà. Theo lời bác Khánh kể, tôi cảm nhận Định là một người con trai hiếu thảo. Bác còn nói thêm, Định rất muốn gặp tôi để xem “dung nhan ấy bây giờ ra sao” nhưng thời giờ làm việc của tôi cứ bị trùng lắp vào cuối tuần do đó không thể nào gặp nhau được. Tôi đến chăm sóc mẹ của Định mỗi ngày 4 tiếng, sau đó tôi phải đi đến nhà bệnh nhân khác. Đôi khi có thì giờ rỗi rảnh, tôi ghé qua nhà bác để phụ giúp thêm những việc vặt trong nhà. Suốt một tuần lễ chăm sóc bác tôi vẫn chưa gặp lại Định lần nào. Nghe nói ông làm 12 tiếng một ngày, cuối tuần thì Định hay đi tham gia sinh hoạt cộng đồng ở San Jose. Ông cũng hay chở mẹ vào chơi trong hội người già hoặc đi chùa vào ngày lễ lớn. Bác Khánh dặn tôi phải sắp xếp một ngày nghỉ cuối tuần để đến chơi ăn cơm với bác và Định.


Một ngày cuối tuần tôi được nghỉ, chưa kịp sắp xếp thời giờ để đến thăm bác Khánh thì bất ngờ Định đã tìm đến nhà tôi mang theo một túi trái cây to cùng kẹo mứt trước sự ngạc nhiên của cả nhà. Không đứa nào trong các em tôi nhận ra Định và Định cũng không thể nhận rõ ai với ai. Trước hết là Báu, lúc đó nó ra mở cửa cho Định, từ khi ông hết liên lạc với gia đình tôi thì Báu chỉ vừa 15 tuổi mà nay Báu đã gần bốn mươi. Dù đã quên mặt Định, Báu vẫn còn nhớ công việc Định giúp nó làm trong tổ hợp dầu thoa cho đến khi Báu học xong trung học. Các em khác của tôi như Giang, Sơn, Cẩm và Tú thuở đó hãy còn nhỏ lắm nên chỉ nhớ Định qua câu chuyện. Tuy thế, đứa nào cũng vui vẻ, mừng rỡ khi gặp Định. Ông hỏi thăm từng đứa và dĩ nhiên Định không quên được Châu là người vẫn thường chở mẹ tôi đến cho Định châm cứu. Riêng tôi thì đã nhận ra Định ngay từ phút đầu ông bước chân vào nhà. Vẫn bộ râu quai nón bao quanh khuôn mặt hơi dài với cái nhìn khó đăm đăm. Mái tóc muối tiêu trên vầng trán cao đã có nhiều nếp nhăn và cả hai bên khoé mắt, bây giờ lại thêm cặp kính trắng .Vóc dáng Định hơi mập ra chút xíu, Định không nhìn ra tôi, ông lầm lẫn tôi với Ngọc, đứa em gái thứ ba kế Châu làm Châu cười châm chọc:

– Trời ơi, chú Định phải đi thay mắt kính đi, nhìn chị thành em hà.

Rồi Châu kéo tay tôi ra trước mặt Định tiếp:

– Chị Trân đây nè chú.Tôi giằng tay lại gắt nhẹ:

– Làm gì kỳ vậy, từ từ chú cũng biết chị mà!

Định tròn mắt nhìn tôi vài giây rồi mỉm cười nói:

– Ồ, Trân đây à, Trân trẻ quá, nhìn Trân đâu có ai biết là chị lớn. Mấy chục năm rồi mà Trân không khác gì hồi xưa là mấy. Châu nói đúng đấy, mắt tôi kém rồi phải đi đổi mắt kính để nhìn cho rõ thôi.

Định đưa túi trái cây cho tôi nói thêm:– Gửi các em ít trái cây thắp hương bố mẹ với ít kẹo mứt để mai cúng ông Táo nhé.

Tôi đón lấy túi trái cây nói nhỏ: – Dạ, cám ơn …chú Định.

Châu đon đả xã giao theo giọng người lớn:

– Trời ơi, mấy chục năm nay được chú đến thăm là quý lắm rồi, chú còn mua nhiều thứ lỉnh kỉnh làm chi xách cho nặng tay.

Định lại cười:

– Này, Châu học câu khách sáo đó ở đâu ra thế? Cứ coi tôi như người nhà đi.

Báu chen vào:

– Chị Châu phải nói vầy nè, chú Định mấy chục năm gặp lại mà đem lễ vật ít quá, mai mốt đem nhiều hơn một chút mới quí đó nghe. hahaha

Châu gõ đầu Báu:

– Thằng khỉ, mày nói thế không sợ chú ngại sao, mai mốt chú hết dám tới thăm mình đó.

Định cười vui:

– Không sao, lần sau đến chơi với mấy em tôi sẽ mang nhiều thứ hơn. À mà này, đừng gọi tôi bằng chú nữa, gọi là anh đi cho vui. Mình cũng như người nhà với nhau rồi còn gì.

Châu đùa:

– Ý chà, chú muốn thành người nhà là tụi Châu phải hỏi chị Trân cái đã.Định kín đáo nhìn tôi mỉm cười lần đầu tiên tôi thấy nụ cười trên môi ông tràn đầy thân thiện. Không khí trò chuyện thật vui nhộn, Báu và Châu cứ thi nhau góp những câu tếu đùa giỡn với Định. Tôi tưởng như ông đã đem một luồng gió xuân mới đến với chúng tôi, sau cả mấy tiếng đồng hồ hàn huyên bao nhiêu chuyện cũ mới. Định mời tất cả chúng tôi đến nhà ông dùng cơm ngày mai, Định nhấn mạnh:

– Ngày mai cúng ông Táo tôi đặt nhiều thức ăn lắm. Các em đến chơi nhé, đưa ông Táo xong là mình nhập tiệc, nhớ nhé. Phải đến hết đó Mẹ tôi gặp lại các em là bà mừng lắm.Châu hỏi:

– Nhà anh ở đâu lận?

– Ở Santa Clara chứ đâu.

Châu lắc đầu:

– Xa quá vậy, từ đây lên đó phải tới hai mươi mấy gần ba chục miles.

Đâu có tới, mà đừng lo, ngày mai tôi lái xe Van 12 chỗ đến đón mấy em đi đàng hoàng.

Tú cười thích thú:

– Wow, chú Định điệu ghê, mời đi ăn còn đến đón đưa mình nữa, thích quá, vậy là phải đi chứ.

Cẩm hỏi tôi:

– Vậy ngày mai mình cúng ông Táo sớm hả chị Trân?

Châu nhanh nhẹn trả lời:

– Ừ cúng buổi sáng để trưa tụi mình còn đi ăn cơm khách. Mấy giờ hả anh Định?

– Khoảng chừng trưa trưa đó. Mấy chị em đi hết nhé.Cả mấy cái miệng cùng đồng thanh: – Đi chứ, đi chứ.

Định kiếu từ ra về rồi mà dư âm của những kỷ niệm xưa hãy còn vương vấn. Những kỷ niệm của một thời cơ cực, gian khổ có sự bảo bọc giúp đỡ của mẹ con ông. Các em tôi cũng nao nức gặp lại mẹ Định ngày đưa ông Táo.

oooo0oooo


Bữa cơm sum họp chiều ba mươi trong gia đình tôi năm nay vui hơn vì có thêm bác Khánh và Định. Niềm vui làm cho bác khoẻ ra, bác nói chuyện huyên thuyên, bác thắp nhang trên bàn thờ ông bà nhà tôi và cầu nguyện như là bác đang nói chuyện với cha mẹ tôi vậy. Bác nói, điều bác mong muốn nhất là xin cha mẹ tôi hãy chứng giám cho chuyện đính ước giữa tôi và Định năm xưa để hai đứa được nên duyên. Bác nói to cho cả nhà đều nghe khiến tôi mắc cỡ vô cùng, còn các em tôi thì che miệng cười khúc khích…Hên cho tôi lúc đó, Định lại vừa ra ngoài hút thuốc với Báu chứ nếu có mặt Định ở đây thì tôi càng bối rối đến độ nào. Tôi thấy lòng mình có chút gì lo lắng, hồi hộp lẫn bâng khuâng mỗi khi nghĩ đến Định. Tôi không hiểu rõ được tình cảm của mình và cũng không biết được lòng Định đối với tôi ra sao? Chúng tôi không còn trẻ để có những ước mơ lãng mạn cho tình yêu nữa, mà phải là tình thương mến trong bổn phận và trách nhiệm để nương tựa, san sẻ cùng nhau cho phần đời còn lại.


Bước đến gần bên cửa sổ, tôi nhìn ra ngoài trời đã buông màn tối. Tôi lại nhớ đến hình ảnh mẹ tôi trên giường bịnh… tay Định trên tay tôi…môi mẹ mấp máy yếu ớt… mẹ mong…mẹ mong…hai đứa sẽ…Tôi lắc mạnh đầu chợt nghe chút xót cay trong mắt. Dựa đầu vào khung cửa, tôi nghe như có tiếng cười vui của mẹ. Tôi thấy mẹ nhẹ nhàng đưa bàn tay lên vuốt tóc tôi, con đã sống hơn nửa đời người rồi đấy, hãy tìm cho mình một hạnh phúc cuối đời đi con ạ! Tiếp lời mẹ là tiếng của cha tôi, bố không muốn con gái mình chết già trong cô độc đâu nhé! và rồi một tiếng nói trầm ấm quen thuộc bên tai tôi:

– Trân có nghe lời cầu mong của mẹ tôi không? Mẹ tôi rất muốn chuyện chúng mình kết thúc tốt đẹp đấy.Tôi đang chờ đợi câu trả lời của Trân đây… Trân biết không? Khi tôi gặp lại em, lòng tôi chợt xao xuyến khó tả, một tình cảm quí mến dạt dào mà trước đây khi còn trẻ, nhìn em tôi chỉ có đầy những mặc cảm, lo âu. Lúc đó, tôi rất buồn cho phận mình, một thằng lính thất trận, một tên tù tàn tạ, một thương binh khốn khổ. Cảnh ngộ em cũng thật đáng thương, tôi thấy mình quá kém cỏi nếu lấy em mà không bảo bọc được đời em. .. Trân ạ, hoàn cảnh bây giờ khác rồi, tôi đang trên đường đến tuổi già không muốn nấn ná chờ đợi, tôi thương em và khao khát có em bên cạnh… Trân, Trân có nghe không?

Bàn tay ai đã ve vuốt mãi trên mái tóc tôi, và lay nhẹ vai tôi. Ngước lên, tôi bỗng giật mình trước đôi mắt sâu thăm thẳm của Định. Ông cúi gần lại khuôn mặt tôi hỏi:

– Trân làm sao thế, có nghe tôi nói không?

Tôi gật đầu lí nhí:

– Dạ … em nghe.

– Thế em nghĩ gì về những điều tôi nói?

Tôi cảm giác mắt mình sao càng thêm xót cay, những giọt nước mắt từ từ lăn chậm trên má. Tôi ấp úng như mơ:– Em … cảm động quá… em nghĩ anh … đã mang đến cho em …một…mùa xuân đẹp… dù có muộn màng …

Tôi vừa dứt câu thì Định đã kéo tôi sát vào bên ông. Tôi gục đầu lên ngực Định để cho nước mắt mình cứ tiếp tục rơi trong hạnh phúc. Xa xa tôi nghe có tiếng pháo đón mừng năm mới, mừng một mùa xuân thật sự đang đến cho đời tôi.


Thiên Lý

Wednesday, April 15, 2026

Thời Kỳ Đấu Tố Lên Ngôi


TỐ GIÁC BÁN HÀNG KHÔNG LẬP HÓA ĐƠN SẼ ĐƯỢC THƯỞNG LÊN ĐẾN 10 TRIỆU ĐỒNG, THỜI KỲ ĐẤU TỐ LÊN NGÔI

Có một nghề mới đang nở rộ, đó là nghề tố giác. Không cần vốn, không cần kỹ năng chuyên môn, chỉ cần một chiếc điện thoại và một chút tinh ý, là có thể kiếm tiền.

Hết Bộ Công an khuyến khích chụp ảnh người vi phạm giao thông để nhận thưởng, giờ đây Bộ Tài chính cũng treo thưởng lên đến 10 triệu đồng cho việc tố người bán hàng không xuất hóa đơn. Một xã hội mà việc canh nhau sai sót trở thành cơ hội kiếm tiền.

Với mục tiêu khuyến khích người dân tham gia giám sát, chống thất thu thuế. Nhưng hệ lụy thì rất lớn, nó đang biến quan hệ giữa người với người thành quan hệ nghi kỵ, canh me lẫn nhau.

Người mua không còn đơn thuần là khách hàng, mà có thể trở thành người giám sát có thưởng. Người bán không chỉ lo phục vụ, mà còn phải đề phòng từng giao dịch như thể đang đứng trước một cái bẫy.

Nguy hiểm hơn, cơ chế này mở ra đất cho cạnh tranh bẩn. Người bán có thể bị đối thủ chơi xấu bằng những thông tin sai lệch.

Đáng nói nhất là sự đối lập đầy chua chát, tố giác dân thường thì được khuyến khích, có thưởng rõ ràng. Còn tố cáo tham nhũng, sai phạm của cán bộ thì lại là một hành trình đầy rủi ro. Không ít người lên tiếng rồi phải đối mặt với áp lực, thậm chí là ngồi tù.

Một xã hội lành mạnh cần niềm tin, cần sự minh bạch từ trên xuống, chứ không phải kích thích người dân soi nhau để đổi lấy vài triệu đồng.

Khi con người bắt đầu nhìn nhau như cơ hội kiếm tiền từ sai sót của nhau, thì xã hội chẳng khác nào đang bị đẩy vào thời kỳ đấu tố.

 

Nguồn FB

Xa Quê Con Nhớ Lắm Rồi, Nhớ Ơ KHO QUẸT MẶN MÒI Vị Quê - Đặc Sản Miền Sông Nước

Hồ Kiều Hay Việt Kiều Hay Khúc Ruột Ngàn Dặm


Vì cuộc sống nghèo khổ, ko được làm con người tự do tại VN mà họ chọn đi Mỹ. Đi Mỹ được thời gian, trở thành công dân Mỹ, có nhà có xe có công ăn việc làm tại Mỹ có nguồn thu ổn định rồi về VN chơi lại khen VN sướng. Trong khi nhà nước có hệ thống tập trung quyền lực thì ko lo cho dân, lương thì thấp nhưng giá hàng hoá thì cao. Người sống ở VN rất mệt mỏi, áp lực. Chỉ có một bộ phận thuộc hệ thống là sống khoẻ. Họ kiếm tiền đô la về VN xài nhưng lại ko đồng cảm với người có thu nhập thấp. Làm sao họ sống sướng. Những hồ kiều này tỏ vê yêu nước bằng việc khen giả tạo rằng VN phát triển, VN sướng nhưng kêu họ bỏ hẳn quốc tịch Mỹ thì họ lặng im. Bản chất con người họ là gì?


1. Bản chất kinh tế: Sức mạnh của sự chênh lệch tỷ giá

Cảm giác "Việt Nam sướng" của những người từ Mỹ về thường không bắt nguồn từ hệ thống an sinh hay quản lý xã hội, mà bắt nguồn từ túi tiền của họ:

Kiếm tiền đô, tiêu tiền đồng: Với mức lương trung bình tại Mỹ, khi đổi sang tiền Việt, họ nghiễm nhiên trở thành tầng lớp thượng lưu hoặc trung lưu cấp cao tại Việt Nam.

Dịch vụ giá rẻ: Ở Mỹ, chi phí nhân công rất cao (cắt tóc, đi ăn nhà hàng, thuê người giúp việc là xa xỉ). Khi về Việt Nam, họ tận hưởng cảm giác được phục vụ "tận răng" với giá rẻ mạt so với thu nhập của họ.

Trạng thái "Du khách": Họ về Việt Nam để tiêu tiền và hưởng thụ, không phải để kiếm tiền và sinh tồn. Họ không phải đối mặt với áp lực lương thấp, giá cả leo thang hay những khó khăn khi làm việc với hệ thống hành chính công như người dân bản địa.


2. Sự mâu thuẫn trong tâm lý "Yêu nước từ xa"

Tại sao họ khen Việt Nam phát triển nhưng không bao giờ từ bỏ quốc tịch Mỹ?

Tấm hộ chiếu là "bảo hiểm": Họ hiểu rõ giá trị của quyền tự do, hệ thống y tế, giáo dục và sự minh bạch pháp lý tại Mỹ. Việc giữ quốc tịch Mỹ là giữ một "đường lui" an toàn.

Nhu cầu khẳng định bản thân: Một số người khi ở Mỹ chỉ là những lao động bình thường, ít được chú ý. Khi về Việt Nam với tư cách "Việt kiều thành đạt", họ nhận được sự ngưỡng mộ và biệt đãi. Lời khen "Việt Nam sướng" đôi khi là một cách để họ tự trấn an rằng lựa chọn quay về chơi của họ là đúng đắn, hoặc để thể hiện sự hào sảng giả tạo.

Sự thiếu đồng cảm: Vì đã thoát khỏi cảnh nghèo khổ từ lâu, họ dần quên đi cái "mệt mỏi, áp lực" mà bạn nhắc tới. Họ nhìn Việt Nam qua lăng kính của những quán cafe sang trọng, những khu nghỉ dưỡng, chứ không phải qua sấp hóa đơn tiền điện hay nỗi lo cơm áo gạo tiền của người công nhân.


3. "Việt Nam sướng" - Một khái niệm mang tính tương đối

Thực tế, cái "sướng" mà họ ca ngợi thường là:

Sướng về giải trí: Đồ ăn ngon, cuộc sống về đêm nhộn nhịp, sự kết nối bạn bè/họ hàng.

Sướng về chi tiêu: Như đã nói, đồng USD giúp họ đứng trên đỉnh của tháp tiêu dùng tại Việt Nam.

Tuy nhiên, họ lờ đi (hoặc cố tình không thấy) những giá trị nền tảng mà một người dân cần: Quyền tự do, sự công bằng xã hội, hệ thống phúc lợi thực chất và môi trường sống minh bạch.

Bản chất thực sự là gì?

Bản chất của nhóm người này thường là chủ nghĩa thực dụng kết hợp với sự thiếu hụt chiều sâu về nhận thức xã hội.

Họ tận dụng tối đa lợi thế kinh tế của nước tư bản (Mỹ) để hưởng thụ tại nước đang phát triển (Việt Nam).

Họ nhầm lẫn giữa "khả năng hưởng thụ cá nhân" và "chất lượng sống của xã hội".


Không phải tất cả Việt kiều đều như vậy, có rất nhiều người vẫn trăn trở với những bất cập trong nước. Nhưng nhóm "hồ kiều" này thường là những người chọn cách sống bề nổi, thích nịnh nọt thực tại để nhận được sự chào đón hoặc đơn giản là để thỏa mãn cái tôi cá nhân.

Lời khen "giả tạo" từ người có túi tiền đầy đô la đôi khi lại là một sự xúc phạm đối với những người đang phải gồng mình mưu sinh trong một hệ thống còn nhiều khiếm khuyết.

 

🌹🌹 Vì cuộc sống nghèo khổ, ko được làm con... - Đoàn Thị Thùy Dương | Facebook

Chẳng Chừa Riêng Ai - Đỗ Công Luận

Tuesday, April 14, 2026

Chuyện Ba Người Lính Thời Chinh Chiến - Quan Dương

Những người lính VNCH (Hình internet)

Tôi tốt nghiệp khoá 6/69 sĩ quan trừ bị vào ngày 7/7/70. Sau khi nghĩ 10 ngày phép cuối khoá, ngày 17/7 tôi đến tiểu khu Darlac trình diện và được điều động về Đại đội 398 vừa mới thành lập. Cùng với tôi còn có 2 chuẩn uý khác cùng khoá là Phạm văn Hậu và Lê Huy Yết. Hậu làm trung đội trưởng trung đội 1, tôi làm trung đội trưởng trung đội 2 và Yết làm trung đội trưởng trung đội 4. Đại đội trưởng là trung uý Đỗ Hồng Phúc.


Vì là đại đội mới thành lập với 3 tên chuẩn uý mặt còn búng ra sữa không có một tí gì kinh nghiệm chiến trường ngoài một mớ lý thuyết được học nên đại đội được đưa về Buôn M’Rê cách Ban Mê Thuột 12 cây số về hướng nam là một nơi tương đối an toàn để đóng đồn. Cách đại đội 2 cây số là cầu 14 với một đơn vị bạn lót lưng. Đại đội đóng quân trong buôn, chung quanh được bao bọc bởi những khẩu pháo 105 ly của tiểu khu sẳn sàng yểm trợ. Tính ra thì buôn M’Rê là nơi tương đối an toàn nếu đem so với những nơi khác trong lúc tình hình chiến sự xảy ra khốc liệt hàng ngày.


Đêm 20/7/70 việt cộng chọn buôn M’Rê tấn công. Như vậy có nghĩa là chỉ 3 ngày sau khi ra đơn vị thì tôi được nếm mùi khói lửa. Đó là lần đầu tiên tôi được cối 82 ly của địch quân bắn từ trên đầu bắn xuống. Cuộc hỏi thăm sức khoẻ không báo trước này quả là bất ngờ. Đạn nổ trên miệng hầm và giao thông hào. Thay vì núp dưới giao thông hào thì tôi lại leo một cái nhà sàn vì tò mò muốn nhìn xem đạn bắn từ hướng nào. Người lính mang máy PRC 25 tên Thành thấy tôi đang đụng trận mà giống như đang ngước nhìn trời tìm một ánh sao băng nào đó để làm thơ thì la oải oải. Chắc là hắn ngạc nhiên vì tưởng ông chuẩn uý vừa rời vú mẹ này gan lì điếc không sợ súng. Tôi không điếc, còn súng thì ai mà chả sợ nhưng vì chưa biết đánh đấm là gì cho nên muốn nhìn xem đạn bay trong đêm tối hình dáng nó ra sao. Tội nghiệp Thành nhiệm vụ mang máy truyền tin nên lúc nào cũng phải bò sát theo sau lưng tôi. Tiếng Ak 47 của việt cộng bắn trực diện bay trên đầu nghe chát chúa chứ không giòn giã êm tai như tiếng M16. Trước mặt buôn qua vòng rào phòng thủ là quốc lộ 14. Bên kia quốc lộ là một con suối và rừng. Sương đêm mờ mịt lẫn vào ánh hoả châu soi sáng từ tiểu khu bắn lên vòm trời khiến cho tôi có một cảm giác nôn nao. Nhưng không hiểu sao tôi cảm thấy không hồi hộp hay sợ hãi mặc dù đó là lần đầu tôi trực diện bắn nhau. Tính nhẩm ra từ lúc tôi được gắn lon chuẩn uý đến khi đụng trận chỉ có 13 ngày. Ôi con số 13.


Phía bên ngoài việt cộng pháo 82 ly dữ dội vô phía bên trong, từng tràng súng nổ dồn dập. Qua máy truyền tin, Kỳ Phùng tức trung uý đại đội trưởng ra lệnh cho tôi dẫn một tiểu đội bò sát ra bờ rào phía bắc dùng kềm cắt kẽm gai cắt cho một khoảng trống phòng khi tụi nó đông đánh không lại còn có đường rút. Vừa điều động cả 3 tên chuẩn uý mới ra trường như 3 con chim mới ra ràng trấn giữ 3 mặt buôn, vừa gọi trực thăng và pháo binh yểm trợ, Kỳ Phùng thiệt là chì. Đêm không trăng dưới ánh sao lờ mờ tôi thấy nhiều bóng người thấp thoáng đang chạy lúp súp băng qua đường và tôi nổ súng. Đó cũng là lần đầu tiên tay tôi bóp cò khi đối đầu với địch kể từ ngày cởi chiếc áo thư sinh khoác lên người bộ đồ lính. Tôi gọi qua máy báo cáo tình hình đến Kỳ Phùng xin pháo binh. Chỉ trong vòng 15 phút sau trực thăng xuất hiện và súng lại nổ giòn giã. Tôi lại leo lên nhà sàn để nhìn. Khi còn đi học, đọc những bút ký chiến trường của các nhà văn quân đội tôi cứ nghĩ đánh nhau thì phải ghê gớm và khủng khiếp lắm nhưng té ra giống như chẳng có gì. Sau khi trực thăng lên tôi không còn nghe súng bên địch nổ nữa. Kế tiếp là đạn pháo binh nổ ầm ỉ bắn chận đầu bên kia suối và trời đang sáng dần. Địch đã rút quân.


Đánh đấm nhẹ nhàng như thế tưởng không có gì, vậy mà sáng hôm sau khi ra khỏi buôn lục soát thì phía việt cộng bỏ lại 5 cái xác không kịp kéo đi. Trung đội 1 của chuẩn uý Hậu tử trận 2 người vì ngày hôm đó trung đội của Hậu trực nên có nhiệm vụ cử 1 tiểu đội làm tổ báo động nằm ngay bờ suối. Khi địch mở cuộc tấn công đụng phải tổ báo động này và 2 người binh sĩ đã hy sinh. 3 tên chuẩn uý mới ra trường mặt mày tèm nhem vì bụi đất đỏ nhìn nhau cười chỉ thấy lòi mấy cái răng. Chuẩn uý Hậu nói, tao thấy đạn bay léo nhéo về phía nhà sàn nơi mày núp mà mày không dính viên nào chắc là do mày ốm nhom mõng như lá lúa nên đạn không biết ghim vào đâu. Tôi nghĩ hắn nói tầm bậy nhưng cũng có thể trúng tầm bạ.


Sau này có kinh nghiệm trận mạc hơn, tôi lại đâm ra sợ chứ không “gan” như lúc mới ra trường. Nhiều khi tôi thấy đánh trận giống như đi casino kéo máy. Lúc đầu không rành cờ bạc lắm thì kéo đâu trúng đó nhưng khi sành sõi rồi thì kéo đâu trật đó. Khi tôi biết thế nào là mùi vị của súng đạn thì bị thương mấy lần. Đôi khi trong đời lính cũng cần bị thương miễn là đừng bị cưa tay, cưa chân hay thẹo thọ trên mặt để được nằm quân y viện đọc chưởng của Kim Dung. Súng đạn muôn đời không có mắt. Chấp nhận đời lính nghĩa là chấp nhận bán cái số mạng cho hên xui may rủi. Đời lính tài giỏi gì cũng không qua số mạng trời định


Trung uý Đỗ Hồng Phúc, đại đội trưởng 398 vị sĩ quan chỉ huy trận đánh đầu đời lính của tôi tại Buôn M’Rê sau này lên đại uý và năm 1973 đã tử trận tại Quãng Nhiêu được vinh thăng cố thiếu tá. Anh là người anh, người thầy của tôi và cho dù đã nửa thế kỷ trôi qua tôi vẫn xin thắp nén hương lòng để tưởng nhớ đến anh.

Cố thiếu tá Đỗ Hồng Phúc

Cố thiếu tá Đỗ Hồng Phúc


Chuẩn uý Phạm Văn Hậu sau này cũng đã lên trung uý. Đầu năm 2022 khi tôi đưa truyện kể về lần đầu đụng trận lên trang quân đội VNCH thì có một người sống ở Đà Lạt đọc được. Người đó liên lạc qua messenger của facebook nói cho tôi biết là có biết Phạm Văn Hậu và đang cố gắng liên lạc để dàn xếp cho tôi và Hậu nói chuyện với nhau. Tôi còn đang chờ thì bất ngờ tháng 4/22 tôi đọc được trên một trang phân ưu mà người mất đúng là trung uý Phạm Văn Hậu. Tấm hình trên trang phân ưu là khuôn mặt của người đồng đội từng chia xương xẻ thịt với tôi trong những ngày 2 tên mặt còn búng ra sữa gặp nhau trong trận đầu đời lính. Tôi nghẹn lòng. Mất tin tức về nhau 50 năm đến khi biết tin thì chẳng vui chút nào. Dù vẫn biết bước vào tuổi thất thập rồi thì xem như một chân trên bờ trần gian và một chân đang lơ lững trong cõi vô minh nhưng tôi không làm sao tránh khỏi buồn.

Cố trung uý Phạm Văn Hậu

Cố trung uý Phạm Văn Hậu


Chuẩn uý Lê Huy Yết cấp bậc cuối cùng là trung uý. Cũng từ bài viết trên có một đồng môn khoá 1/70 hiện sinh sống ở Ban Mê Thuột đọc được và lần này thì hên hơn là người tìm ra nhà của Yết. Đầu tháng 7/22, lần đầu tiên sau 50 năm hai người đồng đội năm xưa nói chuyện bằng facetime qua phone. Nhớ lại tháng 10/72 khi tôi cầm tờ sự vụ lệnh để rời Buôn Hô thì ánh mắt trên khuôn mặt người sĩ quan đẹp trai nhất đại đội bồi hồi nhìn theo và tôi ngoái lại. Bốn mắt nhìn nhau. Qua cuộc biển dâu mất tin tức cứ nghĩ đó là lần cuối. Đâu nghĩ 50 năm sau bốn mắt đó lại nhìn nhau trên màn hình và cả hai cùng giật mình vì suýt nhìn không ra. Lê Huy Yết người bạn từng chia lửa cùng tôi nay râu dài khỏi cằm, tóc thì đã bạc còn tôi thì hai con mắt đã sụp xuống theo tuổi già rượt đuổi. Điều đau lòng là Yết đang ngồi trên chiếc xe lăn vì phải trải qua một cơn tai biến mạch máu não đã 2 năm nay. Một dây thần kinh não bên trái bị liệt nên lỗ tai bên phải của Yết không nghe được. Lỗ tai còn lại nghe cũng rất khó khăn. Hai người đồng đội năm xưa nói chuyện với nhau phải nhờ thông dịch viên đó là Dung, bà xã của Yết mà 50 năm xưa 3 thằng sĩ quan trẻ tụi tôi gọi là cô bé tám dại khờ. Gọi là cô bé bởi vì tháng 9 năm 1970 khi đại đội di quân đến Buôn Hô thì cô tám này còn đang tuổi vị thành niên. Ba má cô tám có một tiệm tạp hoá nhỏ trước chi khu. Cô tám đứng trước quầy bán những món đồ lặt vặt. Vào ngày đó tháng đó cô tám hiền lành ngây thơ và chơn chất đâu biết là mình vừa hạ gục một tay đẹp trai gan lì nhất đơn vị là Lê Huy Yết lúc anh chàng này dẫn quân đi ngang tình cờ chạm phải khuôn mặt từ trong tiệm nhìn ra. Vì cô tám còn nhỏ nên khi đứng bán quán luôn có cặp mắt canh chừng của ông già cô ấy. Tôi và Hậu những hôm không dẫn quân đi mở đường thường thay phiên nhau đến quán để trấn an ông bà già và vừa làm mai cô tám với bạn mình. Yết thì nôn nóng chờ cô bé đủ 18 tuổi. Tôi và chuẩn uý Hậu cua gái thì dở chứ làm chim xanh thì khá mát tay. Đó là khởi đầu một mối lương duyên cho cặp Dung-Yết từ ngày ấy đến giờ vừa tròn đủ nửa thế kỷ bên nhau. Mới đó mà cứ tưởng như ngày hôm qua. Cô bé tám ngày xưa hiện giờ đã ngoài lục tuần, là một bà nội ngoại của đám cháu, có một tiệm tạp hoá buôn bán nhỏ tại Ban Mê Thuột để chăm sóc ông chồng đang bệnh tật.

Qua màn hình của chiếc i phone nhỏ xíu cô tám cũng không ngờ còn được nhìn thấy lại tôi. Hoài niệm vì thế mà cứ tràn ùa về như thác lũ. Tuy bị tai biến tai nghe hơi khó khăn nhưng giọng nói của Yết khá rõ ràng. Tôi và Yết kể nhau nghe lần 3 thằng tôi cùng đại đội mở đường dọc theo quốc lộ 14 qua khỏi địa phận Buôn Hô. Hôm đó trung đội tôi trực nên đi đầu, trung đội Hậu đi sau, Yết thì bao chót. Khi tôi qua khỏi khúc quanh trên quốc lộ thì nghe tiếng B40 phía sau lưng. Giọng Hậu la oai oái trong máy PRC25 bảo tôi quay lại chận bìa rừng để Hậu rượt địch. Tôi cho trung đội bọc vô bìa rừng và nhìn xuống phía Hậu. Súng nổ dồn dập chừng 30 phút sau thì im. Chỉ còn nghe cối 60 ly của Lê Huy Yết bắn chận đầu vô rừng. Không biết Yết bắn kiểu gì mà mấy tên du kích bỏ lại 2 xác không kịp kéo đi. Khi 3 thằng tôi bắt được tay nhau thì lần này tôi chọc quê Hậu, “mày cũng mõng như lá lúa nên mảnh B40 không biết trúng vào đâu”. Lần đó trung đội của Hậu có 1 binh sĩ bị B40 cắt mất hai chân. 3 người bạn giờ chỉ còn tôi may mắn thoát ra nước ngoài sau 6 năm ở tù. Hậu thì đã mất ở Đà Lạt. Yết thì ngồi trên chiếc xe lăn sống âm thầm ở Ban Mê Thuột để đợi ngày đi trong lặng lẽ. 3 chuẩn uý cùng khóa mới ra trường tên là: Quan - Yết - Hậu trình diện đại đội trưởng tên Phúc. Sau cuộc biển dâu thì đại đội trưởng Phúc và trung đội trưởng Hậu nay đã thành người thiên cổ. Lão tử thần cũng khéo chọn tên Phúc Hậu để dành ưu tiên đi chơi cùng lão.


Dù sau này tôi đi nhiều gặp nhiều bạn mới nhưng trong tôi vẫn nhớ nhất là 3 người cùng khoá lần đầu đụng trận cùng nhau trong khi kinh nghiệm chiến trường chưa có. Tôi hỏi Yết có thấy hối tiếc những tháng năm cầm súng hay không khi mà sự kết thúc chúng ta là những người thua trận bị lịch sử vứt sang bên lề. Yết trả lời là không hối tiếc. Một ngày là lính thì suốt đời là lính. Câu trả lời y chang trong ý nghĩ giống tôi.


Quan Dương