Tuesday, April 21, 2015

Nghe Tiếng Nhạc Xưa - Trầm Vân

Đi Với Mỹ Là Cứu Biển Đông - Vi Anh


Chưa lúc nào thời cơ lại thuận lợi cho Đảng Nhà Nước CSVN hơn lúc này trong việc đi với Mỹ để cứu Biển Đông đang bị TC xâm thực một cách bạo ngược như lúc này. Vận động đi với Mỹ là họp ý Nhà Nước, thuận lòng dân Việt, đúng xu thế của đa số các nước bạn trong vùng Á châu Thái bình dương bị TC tranh chấp biển đảo.

Thực vậy, trong chánh trị không có thù muôn thuở bạn muôn đời, chỉ có quyền lợi quốc gia dân tộc là trên hết, là trường tồn bền vững. Nếu CSVN cứ ôm lấy 16 chữ vàng 4 cái tốt viễn vông mà TC đã tuyên tuyền trong thời TC xâm thực biển đảo của VN là phản dân hại nước. Trái lại vận động và đi với Mỹ kẻ thù trong Chiến Tranh VN, đối tác toàn diện hiện giờ đang đóng vai trò lá chắn ngăn chận hành động TC bạo ngược bành trướng xâm thực biển đảo của các nước Á châu Thái bình dương trong đó VN bị nặng nhứt là bảo vệ quyền lợi quốc gia dân tộc trên hết, là cứu cánh muôn đời của chánh trị. Không có đảng phái nào cao hơn quốc gia dân tộc. Không có chế độ nào bền vững hơn quốc gia dân tộc.

Không có gì phải mặc cảm khi liên minh với những nước có thể giúp mình. Thế giới ngày xưa cũng như ngày nay, một quốc gia dân tộc nhỏ cần liên minh với quốc gia dân tộc lớn hơn để bảo vệ giang sơn gấm vóc bờ cõi nước mình là một việc làm chánh nghĩa, không ai có quyền phê phán. Quyền lợi quốc gia, sinh mạng dân tộc là một vấn đề tối thượng.

Chưa bao giờ thời cơ thuận lợi hơn cho Đảng Nhà Nước VNCS vận động đi với Mỹ để cứu nước cứu dân trước đà bành trướng, bá quyền của TC đối với quốc gia dân tộc VN. Con đường Hà nội đi Mỹ chưa bao giờ được thẳng, không cần qua Bắc Kinh, Moscow hay Paris hạnh thông, thông thoáng hơn lúc này. Ngay những nước kinh tế mạnh hơn VN, thế chánh trị, ngoại giao thân thiết với Mỹ trăm lần hơn VN như Nhựt có hiệp ước Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ quân sự cho Nhựt và Phi có hiệp ước phòng thủ hỗ tương với Mỹ, ít bị TC giành giựt biển đảo mà còn tăng cường nỗ lực cầu viện quân sự Mỹ trước đà giành giựt biền đảo bạo ngược của TC.

Huống hồ gì VN bị TC lấn chiếm, thôn tính, bắn giết ngư dân, lấy tàu, bắt người đòi tiền chuộc khi ngư dân VN ra đánh cá ở ngư trường ngàn đời của đất nước ông bà VN để lại cho con cháu mình mà Đảng Nhà Nước không làm là một trọng tội đối với quốc gia dân tộc VN.

Tin mới đây cho biết, Nhựt đệ tam siêu cường kinh tế, đồng minh có hiệp ước được Mỹ bảo vệ quốc phòng, nơi Mỹ có mấy chục ngàn quân đóng trên đất Nhựt, Nhựt còn vận động nhờ Mỹ giúp bảo vệ đảo Senkaku chống TC tranh chấp. Theo tiết lộ của nhật báo Yomiuri Shimbun ngày 14/04/2015, Thủ Tướng Nhựt Abe đòi hỏi đồng minh Hoa Kỳ phải cam kết bằng «giấy trắng mực đen». Nhựt yêu cầu Mỹ đưa vấn đề đảo Senkaku vào thỏa thuận quốc phòng Mỹ-Nhật, dù Mỹ đã hơn một lần, do nhiều giới chức thẩm quyền hứa bằng miệng coi đó là lãnh thổ của Nhựt. Nhựt muốn chắc hơn, Nhựt yêu cầu Mỹ ghi rõ cam kết của Washington bảo vệ các đảo dưới quyền kiểm soát của Tokyo trong trường hợp bị tấn công.

Bằng giấy trắng mực đen trong văn kiện long trọng, có tên đề dấu đóng hẵn hòi. Tức là coi như nghĩa vụ quốc gia, chớ không phải trên thư riêng của TT Nixon hứa nếu CS Bắc Việt tấn công VN Cộng Hoà bằng vũ lực thì Mỹ sẽ vào can thiệp, nhưng Mỹ không làm và Quốc Hội không thừa nhận lời hứa, lại còn chơi ác cúp viện trợ bức tử VNCH.

Còn Phi Luật Tân, đồng minh có hiệp ước phòng thủ hỗ tương với Mỹ, trước đà xâm lấn bạo ngược của TC, Philippines đã cầu viện quân sự nơi Mỹ, và chính quyền Washington đã lên kế hoạch đưa trang thiết bị quân sự hiện đại đến Philippines.

Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario ngày 15/04/2015 cho toàn dân Phi biết, Washington đang xem xét việc cung cấp cho Manila các loại «thiết bị tiên tiến» để đối phó với sức ép từ Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông. Ngoại Trưởng Phi nói, theo tân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Carter, đó là nhiều loại thiết bị tiên tiến - không quân, hải quân, thiết bị giám sát biển. Ngoài ra Mỹ cũng sẽ tăng cường và tăng gia quân số Mỹ ở Phi vì cần phải có người để vận hành các loại thiết bị tối tân đó, cho dù quy mô sự hiện diện của Mỹ chưa rõ.

Và đích thân Ngoại Trưởng Phi, trong hai tuần tới Ông sẽ đi Mỹ «Thảo luận về Biển Tây Philippines (tên Philippines gọi Biển Đông) và vấn đề cải tạo đất (do Trung Quốc tiến hành)». Ông cho biết Ông dĩ nhiên sẽ phải tiếp xúc với các nghị sĩ Mỹ vì họ «là người nắm hầu bao về việc chi viện cho Philippines».

Sau cùng là Đảng Nhà Nước VNCS. Những nước đồng minh có hiệp ước quân sự với Mỹ, ít bị TC giành giựt đảo mà còn nhờ Mỹ giúp phòng chống TC, huống hồ gì VN bị TC chiếm biển đảo nhiếu nhứt mà Đảng, Nhà Nước VNCS không vận động, không lên tiếng, không nhờ Mỹ giúp là có tội với quốc gia dân tộc. Cuộc vận động này rất thuận lợi. Địa lý chiến lược của VN như bán đảo lòi ra Biển Đông, là một tiền đồn quan sát TC. Mỹ rất cần để ngăn chận TC xây “Vạn Lý Trường Thành” ngăn chận còn đường hàng hải quốc tế vô cùng quan trọng từ Nam Thái Bình dương, Ấn độ dương đi lên qua Eo Biển Mã Lai.

Mỹ rất cần ngăn chận TC bung ra qua “Con đường tơ lụa trên biển” tranh giành thế hải thượng của Mỹ và khống chế tự do hàng hải quốc tế mà Mỹ xem là quyền lợi quốc gia của Mỹ, tức ai xâm phạm Mỹ có thể trả đũa bằng biện pháp quân sự.

Chính TT Obama của Mỹ đã mở lời, công khai và đích thân lên tiếng chống TC đã ỷ lớn hiếp nhỏ, ỷ mạnh hiếp yếu, TT Mỹ nêu đích danh VN và Phi luật tân.

Chính Thượng Viện Mỹ cơ quan mà ngoại trưởng Phi gọi “là người nắm hầu bao về việc chi viện cho Philippines” đã ra nghị quyết yêu cầu TC rút giàn khoan Hải Dương ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế VN. Và chính Thương Viện và Hạ Viện Mỹ ra nghị quyết đồng ý bán một số vũ khi sát thương cho VN. Và chính 4 nghị sĩ hai chủ tịch Uỷ Ban Đối Ngoại và Quốc Phòng của Thượng Viện cùng hai Nghị sĩ Dân Chủ đã gởi công văn yêu cầu tổng thống và hai bộ trưởng đồng nhiệm phải có biện pháp toàn diện và cụ thể ngăn chận TC quân sự hoá khu vực Biển Đông của VN.

Chưa đủ, Bộ Ngoại Giao trong đó thế nào cũng có ý kiến của TT Obama đã vượt tập tục thông lệ ngoại giao giữa chánh quyền với chánh quyền, mời Tổng Bí Thư Đảng CSVN công du Mỹ.

Trong khi đó công luận trong nước VN nói chung rất ủng hộ Nhà Nước do Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng lãnh đạo chánh phủ có thái độ hành động cứng rắn với TC trong vấn đề biển đảo. Và xu thế các nước Á châu Thái bình dương như Nhựt, Úc, Nam dương đều ủng hộ VN bảo vệ biển đảo đã bị TC xâm lấn, như Nhựt giúp cho tàu tuần duyên.

Không lý do gì để Đảng Nhà Nước CSVN không đi với Mỹ và các nước đồng minh Mỹ để cứu Biển Đông. Nếu Đảng Nhà Nước CSVN không làm, là thông đồng với TC để cho TC xâm thực VN, dần dần biến VN thành thuộc địa kiểu mới của TC. Và trong trương họp đó Đảng Nhà Nước CSVN thành tội đồ muôn thuở của lịch sử VN./

Vi Anh

Monday, April 20, 2015

Biếm Họa Tháng 3-2015 (Babui, Nhậu...)

Trọng chầu Thiên triều trước khi quy mã, Babui, 7/4/2015.

30-4 ngày quốc hận của Miền Nam, Baibui, 03/04/2015.

02/04/15, tác giả: Babui, Tháng Tư đen như mõm chó.

Dậy mà đi núi sông đang chờ, Babui, 02/04/2015.

Tháng tư lại về, Biến họa (Babui), 31/03/2015.

Bún bò gân, Biếm hoa (babui), 30/03/2015.

Tự do ngôn luận ở Việt Nam, Biếm họa (Babui), 28/03/2015.

Ông Trần Văn Chứ, hiệu trưởng trường đại học Lâm Nghiệp, người đang khủng bố ts Vũ Quang Nam bằng công văn này vì đã phát ngôn về cây mỡ trên đường Nguyễn Chí Thanh do công an Hà Nội trồng...

Hồ Hải originally shared: 

Mình phải công nhận, tay họa sỹ nào vẽ bức tranh này rất có thần thái và cực giống, mặc dù là vẽ chuột. Tại hạ xin bái phục. Há há,


TIỀN trảm hậu tấu, Babui (Danlambao), 21/03/2015.

Loại cây cần phải đốn ở Hà Nội, Babui, 22/03/2015.

We Are One, Babui, 22/03/2015.

Tự do Dân chủ cho Việt Nam, Babui (Danlambao), 17/03/2015.

Tin mừng của đảng Lai châu bắt đầu tự trị!, Babui (Danlambao), 17/03/2015.

Bia, Babui (Danlambao), 16/03/2015.

Lệnh của vua Chột cấm nổ súng, Babui (Danlambao), 14/03/2015.

Nhân Quyền cho Việt Nam, Babui (Danlambao), 11/03/2015.

Cộng sản như tôi thấy, Babui (Danlambao), 9/3/2015.

Lễ hội khai đao của đảng, Babui (Danlambao), ngày 07/03/2015.

04/03/2015, tác giả: Babui, Tình đồng chí.

[biem-hoa-2015-3-baibui-nhau-kouc-kuoc].
Ngày đăng 05/03/2015 (cập nhật bổ sung thường xuyên)


Thanh Ly sưu tầm

Câu Chuyện Về “Nghề Nghiệp Buồn Nhất Thế Gian” - Theo Daily Mail

Những hình ảnh dưới đây kể về một nghề nghiệp đặc thù ở Nhật, một nghề mà người ta cho rằng… “buồn nhất thế gian”.

Đó là nghề dọn dẹp nhà cửa của những cụ già sống cô đơn, qua đời không ai hay biết. Những hình ảnh dưới đây ghi lại những công việc thường nhật của một biệt đội chuyên thực hiện “nghĩa cử cuối cùng” dành cho những cụ già qua đời trong cô đơn ở Nhật. Họ đến và dọn dẹp nhà cửa của người quá cố.

Có một thực tế đáng buồn là đối với những cụ già cô đơn, họ có thể đã qua đời cả tuần, cả tháng mà không ai hay biết. Những bức ảnh xuất hiện dưới đây được chụp tại thủ đô Tokyo. Trước khi biệt đội này đến dọn dẹp, cảnh sát đã đến trước để đưa thi hài cụ già đi an táng.

Biệt đội chuyên dọn dẹp nhà cửa của những cụ già cô đơn, qua đời không ai hay biết.

Một thành viên trong biệt đội sử dụng thuốc diệt côn trùng để diệt ruồi muỗi trong căn hộ từ lâu đã không còn được chủ nhân chăm sóc.


Những cụ già cô đơn thường phải sống trong sự bừa bộn bởi họ không còn đủ sức để dọn dẹp ngôi nhà của mình, những cuốn lịch có thể đã nhiều năm không thay mới, thời gian đối với họ lúc này không còn nhiều ý nghĩa.

Trước khi bước vào dọn dẹp căn hộ, các thành viên trong biệt đội thường làm lễ trước, để xin phép vong linh người quá cố.

Những căn hộ này có đặc điểm chung là rất bừa bộn, bởi những cụ già đã không còn đủ sức để dọn dẹp. Biệt đội sẽ đến để dọn dẹp gọn gàng tất cả.

Trước khi biệt đội được gọi tới, cảnh sát đã tới trước để đưa thi hài cụ già đi an táng.

Ở Nhật, người ta không quá để ý tới cuộc sống của hàng xóm. Ngoài ra, những chi phí như tiền nhà, tiền điện, tiền nước… có thể được trả tự động hàng tháng thông qua tài khoản ngân hàng, con cái của cụ già có thể đi làm ở xa và không thể về thăm cha mẹ thường xuyên, họ hàng cũng lâu lâu mới tới chơi… Lý do thường thấy nhất để người ta phát hiện một cụ già đã qua đời, đó là khi có mùi lạ xuất hiện.
Ở Nhật Bản, vấn đề dân số già từ lâu đã được biết tới. Tại đây, ngày càng có nhiều người già sống cô đơn một mình. Trong số 127 triệu dân Nhật Bản, có tới 1/4 đã ở độ tuổi trên 65.
Vì cuộc sống hiện đại nhiều áp lực nên những mối quan hệ gia đình cũng trở nên lỏng lẻo, người già ở Nhật thường cố gắng tự lo liệu cuộc sống của mình để không làm phiền tới cuộc sống của con cháu. Đó là lý do tại sao nhiều người già nơi đây sống một mình.
Anh Hirotsugu Masuda - một thành viên trong biệt đội cho biết một tuần họ thường được gọi tới dọn dẹp 3-4 ngôi nhà có những cụ già vừa qua đời.

Những di vật còn lại của người quá cố.

Những bằng chứng cuối cùng còn lại về một cụ già từng sống trong căn hộ.

Biệt đội làm “công việc buồn nhất thế gian”.


Việc bước vào thế giới riêng của một người quá cố xa lạ, để xem xét, dọn dẹp là việc không dễ dàng gì, nhưng đối với biệt đội, đó là một phần công việc, họ luôn làm lễ xin phép trước khi bước vào ngôi nhà.

Những gì giá trị còn lại của cụ già được ghi chép lại cẩn thận.

Quét dọn một quá khứ, khép lại một cuộc đời.

Căn phòng đã dần trở lại ngăn nắp, gọn gàng, sạch sẽ.


Việc dọn dẹp toàn bộ một căn hộ thường mất khoảng 6 tiếng, trong suốt quá trình làm việc, họ phải giữ trật tự tối đa để tránh làm những người hàng xóm cảm thấy lo lắng, bất an. Sau khi mọi công việc đã hoàn tất, hương hoa sẽ được đặt ở vị trí người quá cố đã trút hơi thở cuối cùng.
Để một biệt đội đến dọn dẹp nhà cửa như thế này, người ta phải trả số tiền tương đương từ 15-65 triệu đồng, tùy thuộc vào kích cỡ căn hộ.

Công việc được tiến hành trong lặng lẽ để không làm ảnh hưởng tới cuộc sống thường nhật của những người hàng xóm xung quanh.

Tất cả đồ đạc bỏ đi được chất lên xe tải.

Những món đồ có giá trị được gói ghém lại cho gia đình cụ già, những người dọn dẹp làm một nghi lễ giản dị để tưởng nhớ vong linh người đã khuất sau khi mọi việc hoàn tất.

Người phụ nữ cho thuê nhà đến để nhận lại căn hộ đã được dọn dẹp.


Người cho thuê nhà cũng đặt một bó hoa tưởng niệm. Chi phí tiền nhà được trả tự động qua tài khoản ngân hàng nên chính bà cũng không biết cụ già thuê nhà của mình đã qua đời cho tới khi được báo tin.

Căn phòng được khóa lại, chờ người thuê mới.

Tại Nhật hiện giờ có 5 triệu người già sống một mình, tính tới thời điểm hiện tại, đã có khoảng 40.000 người già qua đời trong cô đơn. Một thập kỷ nữa, con số này sẽ còn gia tăng với tốc độ nhanh hơn nữa.

Nước Nhật có thể Hãnh diện vì Quốc gia của họ có Tỷ lệ Người già đứng đầu Thế giới, nhưng điều này có thể xem như Hạnh phúc được không!? Khi mà cuối đời Âm thầm lặng lẽ ra đi, không một người thân hay biết. !!!

Theo Daily Mail

Sunday, April 19, 2015

Điệp Khúc Tháng Tư - Mimosa Phương Vinh


Vậy là bốn mươi năm trôi qua. Bao nhiêu nước chảy qua cầu. Bao nhiêu người đã nằm xuống. Bao nhiêu đứa trẻ được sinh ra. Cuộc sống vẫn tiếp diễn với bốn mùa xuân hạ thu đông. Hạnh phúc hay bất hạnh của những cuộc đời cũng chẳng ai biết đến ngoài chính người trong cuộc mới cảm nhận tường tận được sự mất mát hay những ân huệ mà đời sống đã trao tặng cho họ. Và bốn mươi năm trôi qua vẫn có nhiều người, rất nhiều người vẫn còn đứng phân vân giữa ngã ba đường. Không biết đi về đâu!

Bốn mươi năm trước, vào những ngày cuối cùng của tháng Tư tôi là một người đàn bà rất trẻ đang sống ở một nơi tận cùng đất nước. Thành phố nhỏ buồn có những cánh đồng bao la, hoang vắng sau mùa gặt. Thành phố có khu chợ khá sầm uất và một con sông chảy ngang qua.Tôi thỉnh thoảng đi đò  để vào chợ, hồi đó có ông lái đò già bị bệnh chân voi, hai chân to lớn dị kỳ sống bằng nghề đưa đón khách qua sông. Lâu lắm rồi chắc ông ta đã chết.

Tôi đã có nhiều buổi chiều cuối tháng Tư bồng con đi qua nhà người quen để hỏi thăm tin tức gia đình. Khi đi ngang nhà Vĩnh Biệt của thành phố mùi hôi thối của những xác chết chưa kịp chôn bốc lên nồng nặc. Sự biến động không ngừng của thời thế làm người ta quên đi những người lính nằm trong nhà xác. Họ là những người lính cuối cùng ngã xuống cho cuộc chiến tranh dai dẳng trên đất nước khổ đau này.

Bốn mươi năm sau còn có ai nhớ đến họ và biết  rằng họ đã chiến đấu cho ai! Chiến đấu cho ai! Câu hỏi đó biết đâu đã từng là nỗi ray rức, ám ảnh của những người đã chết và bị bỏ quên trong ngôi nhà Vĩnh Biệt kia.
Chiếu đấu cho ai! Câu hỏi đã được trả lời ngay sau tháng Tư Bảy Lăm khi những người lính của miền Nam Việt Nam ngỡ ngàng buông súng. Tai họa lớn đã đến với dân tộc và quê hương ngay sau đó.

Tôi đã có những giây phút sống thoi thóp giữa biên giới sinh tử của con người. Trong căn hầm đơn sơ nhỏ hẹp nghe tiếng đạn bay veo véo trên đầu, trong tiếng loa kêu gọi của hai bên thù địch giữa đêm đen đầy đe dọa và bất trắc vì lưỡi hái tử thần có thể cướp tính mạng con người bất cứ lúc nào. Bốn mươi năm qua, cứ mỗi lần tháng Tư trở về điệp khúc cũ lại mồn một réo rắc bên tai tôi như một nỗi ám ánh kinh hoàng không thể nào gột bỏ được. Tôi hiểu dù muốn dù không cũng phải chấp nhận nó như một phần đời sống mình, như chứng tích cho một giai đoạn đau thương nhất của quê hương. Tôi gọi nó là Điệp Khúc Tháng Tư.

Từ những ngày tháng Ba, binh sĩ bắt đầu kéo về thật đông trong thị xã. Họ đến từ những thành phố phía trên mang theo vợ con, nồi niêu, xoong chảo và cả gà vịt nữa. Họ tập trung trong ngôi trường trung học sau tiểu khu, vui vẻ cười đùa và lũ trẻ chạy chơi trước sân trường một cách vô tự. Sắp có đánh nhau lớn và mọi người đang chờ đợi. Đài phát thanh và đài truyền hình loan tin về những thành phố miền Trung và Cao Nguyên đã lọt vào tay cộng sản.

Tôi ở trong một tâm trạng lo âu, sợ hãi khi nghe tin thành phố Dalat đã mất. Hàng ngày tôi bồng con đi hỏi thăm tin tức của gia đình nhưng không nhận được một nguồn tin nào chính xác cả. Tôi lo lắng cũng đúng thôi vì cha là công chức trong một nha sở trực thuộc bộ Quốc Phòng và các anh em đều ở trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những điều khủng khiếp đã xảy ra ở Huế hồi tết Mậu Thân làm tôi rùng mình khi nghĩ đến gia đình.

Chồng tôi cho biết về tình hình rất nghiêm trọng. Lệnh cấm trại đã được ban hành, anh chỉ về thăm nhà trong những bữa ăn trưa và chiều rồi vội vã vào doanh trại. Chồng tôi làm ở phía sau nhà bếp một căn hầm trú ẩn nhỏ bằng bao cát và dặn tôi nếu nghe tiếng súng thì phải bồng con chạy vào đó trốn. Anh nói:
-Anh không thể lo cho em được gì đâu vì lệnh cấm trại một trăm phần trăm trong Tiểu Khu. Em phải tự lo lấy và hành động theo sự khôn ngoan của mình nếu có gì xảy ra ngoài này.
Một buổi chiều bỗng nhiên súng nổ ầm ầm, tiếng đạn pháo kích bay reo réo trên khu gia binh, tôi hoảng hốt chạy ra sân nghe ngóng. Đứa con gái khóc thét lên trong tay, chợt có tiếng la to:
- Chết thật, chị vào nhà ngay đi, chúng nó pháo kích mà chị ra ngoài sân làm gì kia chứ?
Đó là ông Đại úy Trung, người hàng xóm của tôi.  Ông ta ghé thăm nhà một chốc rồi lại phải vào tiểu khu. Một lát sau chồng tôi về mặt mày nặng trình trịch vừa bước vào nhà đã la lối om sòm:
-Tụi nó pháo kích rầm rầm mà em bồng con chạy ra sân làm chi vậy, có chuyện gì cứ chui vào hầm trốn. Anh không thể lo được cho em trong lúc này, nếu em khờ khạo như vậy làm sao anh yên trí được.
-Tại em sợ quá, nên quên mất cái hầm ở phía sau bếp.
Anh thở dài:
- Anh nghĩ tối nay sẽ có chuyện lớn. Mấy tỉnh phía trên đã mất hết rồi nhưng Đại tá Chỉ huy Trưởng đã ra lệnh tử thủ ở đây.
-Tối nay anh cũng vào tiểu khu à?
-Dĩ nhiên rồi, anh ghé nhà một chút thôi. Nghe ông Trung nói em bồng con chạy ra sân nhìn tụi nó pháo kích làm anh giận run. Không phải chuyện đùa đâu, đây là chuyện chết người em hiểu không?
Tôi vùng vằng:
-Hiểu rồi! ÔngTrung nhiều chuyện quá, có như vậy mà cũng học đi, học lại!
Chồng tôi nghiêm mặt:
-Không phải là nhiều chuyện, đó là vấn đề sanh tử em phải cảm ơn ông ta mới đúng. Em nghe rõ chưa?
-Nghe rõ, nghe rồi khổ lắm nói mãi!
Anh dặn dò thêm nhiều lần nữa, ăn uống qua loa rồi vội vã trở vào Tiểu Khu.
Trời vừa sập tối thì tiếng loa phóng thanh từ tiểu khu bắt đầu cho phát lời tuyên bố của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Tiểu Khu kiêm Tỉnh Trưởng An Xuyên ra lệnh cho tất cả sĩ quan và binh sĩ phải ở trong tình trạng sẳn sàng chiến đấu và tử thủ. Giọng ông Đại Tá sang sảng và hùng hồn như truyền được cái hào khí vào tâm hồn người nghe. Càng vào đêm, giọng nói của ông càng dõng dạc, rõ ràng dù rằng đó chỉ là một lệnh truyền được thâu băng và phát thanh lại nhiều lần.

Đạn pháo kích không biết từ nơi đâu, từ phe bên nào bỗng nổi lên chát chúa trong đêm. Âm thanh trái pháo bay ầm ầm trên mái nhà, xi măng, ngói vữa đổ xuống ào ào. Đứa con gái nhỏ đang ngủ bỗng giật mình khóc ré lên, tôi bồng con chặt vào lòng trong nỗi kinh hoàng tột độ. Bên nhà chị Hải lũ nhỏ cũng bắt đầu khóc la om sòm. Tôi chạy sân sau gọi chị:
-Chị Hải ơi, em sợ quá! Có gì vậy?
Chị Hải thì thầm:
-Việt cộng pháo kích đó, cô đem cháu vào hầm trốn đi! Ông xã có nhà không?
-Trong tiểu khu, còn anh Hải có tin gì không?
-Chưa, ổng đi vô quận cả tuần nay rồi chẳng biết ra sao, Đại Tá ra lệnh tử thủ từ hồì chiều giờ, cô nghe chứ?
-Dạ có, hồi chiều ông xã em ghé nhà nói tình hình căng lắm chị ạ.
Chị Hải thở dài:
-Tôi lo cho ông Hải nhà tôi quá cô ơi!
Tôi an ủi chị và chính mình:
-Sống chết có số chị ạ.
Hai chị em đang nói chuyện thì bỗng trong tiếng pháo nổ đạn rơi loa phóng thanh từ đâu đó vang lên giọng nói của Mặt Trận Giải phóng Miền Nam (!). Họ lập đi lập lại nhiều lần:
-Yêu cầu phía Việt Nam Cộng Hoà cử người vào mật khu để thương thảo với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Chị Hải la lên:
-Chết rồi, họ đã tràn ra thành phố!
Tôi chui vào hầm, đạn nổ vang rền khắp nơi. Chưa bao giờ tôi thấy cô đơn và sợ hãi như đêm nay, vừa khóc rấm rức vừa bắt đầu cầu nguyện các đấng thiêng liêng giúp cho qua cơn hoạn nạn này. Khi tiếng súng đạn nguôi dần thì tiếng loa phóng thanh của hai bên lại bắt đầu vang lên lồng lộng trong đêm. Một bên truyền lệnh tử thủ một bên kêu gọi thương thảo.

Rồi pháo kích lại nổi lên rầm rầm, con của tôi và đám con chị Hải lại khóc như gi vỡ tổ. Ôm con ngồi trong hầm nghẹt thở quá phải chui ra ngoài, được một lúc súng đạn lại ì ầm nổi lên càng lúc càng dữ dội khiến tôi phải vào lại trong hầm. Mạng sống con người mong manh như chỉ mành treo chuông. Đến gần sáng tôi mới thiếp đi một chút vì quá mỏi mệt, mặc cho súng đạn thét gào, mặc cho tiếng loa hai phe kêu gọi không ngừng.

Sáng ra chồng tôi về nhà một lát rồi phải đi ngay, anh cho hay phải theo Trung Tá Chỉ Huy Phó và phái đoàn vào mật khu để thương thảo với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.Tôi đứng ngồi không yên vì tình huống vô cùng nguy hiểm này.
Đại Tướng Dương Văn Minh đã kêu gọi đầu hàng. Thành phố cuối cùng không thể tử thủ được nữa. Binh Sĩ buông súng. Giặc tràn vào Tiểu Khu treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Đài phát thanh Sàigòn mời Trịnh Công Sơn lên hát Nối Vòng Tay Lớn.
Qua khung cửa sổ, tôi thấy Đại Úy Dũng và những nguời lính của ông ta ôm chầm lấy nhau trước sân, họ vừa khóc vừa chửi thề:
-Tại sao hàng, có đánh thua đâu mà hàng. Chúng tôi tức lắm Đại Úy à!

Nước mắt không phải là biểu hiệu của sự ủy mị chỉ dành riêng cho đàn bà. Nước mắt của những người có nghĩa khí đã rơi xuống cho đất nước. Họ khóc vì thấy mình bất lực không bảo vệ được chính nghĩa mà từ bao lâu nay mình từng theo đuổi, ôm ấp.

Tôi hoảng hốt nhìn ra con đường xuyên qua khu gia binh thì thấy cộng quân đã tràn ra như kiến. Không biết từ đâu ra mà đông như thế. Họ mặc quần áo bằng vải dầu mầu rêu hay màu nâu. Đầu đội mũ tai bèo, trang bị lựu đạn và súng ống khắp người. Đa số còn rất là trẻ với màu da xám xịt và gương mặt hầm hầm sát khí. Lũ con nít trong khu gia binh la lên inh ỏi:
-Việt cộng! Việt cộng!
Binh lính Việt Nam Cộng Hòa đóng trong trường trung học gần đó cũng chạy ra ngơ ngác nhìn. Mọi người không hiểu gì cả, cuộc diện thay đổi một cách lạ lùng và mau chóng quá vì đêm hôm qua Đại Tá Chỉ Huy Trưởng còn ra lệnh tử thủ một cách cương quyết dù các tỉnh phía trên đã mất. Còn phái đoàn theo Trung Tá vào mật khu số phận ra sao. Còn Đại Tá đâu rồi.
Tôi bỗng thấy ông chồng xuất hiện trên con đường về khu gia binh. Tôi mừng rỡ chạy ra đón nhưng vội khựng lại vì thấy gương mặt anh rất khác lạ, màu da tái nhợt như một xác chết, áo quần xốc xếch, lon lá trên cổ áo đã biến mất. Chị Hải chạy a tới hỏi dồn dập:
-Sao rồi?
Nhưng chị cũng khựng lại khi nhìn sự thay đổi lạ lùng trên khuôn mặt anh ta. Chồng tôi bước vào nhà im lặng ngồi xuống ghế, ánh mắt nhìn vào một thế giới nào đó, đầu rủ xuống già nua, mệt mỏi. Tôi chưa bao giờ trông thấy chồng trong tình trạng suy sụp kinh khủng này, tôi sợ sệt không dám nói gì cả. Chồng tôi rút trong người ra một khẩu súng đen nhỏ xíu như một món đồ chơi của trẻ con. Tôi hoảng hốt la lên:
-Anh làm gì vậy?
Anh nhìn tôi bằng cái nhìn đau đớn, xót xa mà chưa bao giờ tôi nhìn thấy trên gương mặt của một người đàn ông. Rồi bất ngờ chồng tôi khóc nấc lên, tiếng khóc khô khốc, khó khăn nghe rờn rợn lạ lùng làm sao, tuy nhiên như thế vẫn dễ chịu hơn là sự im lặng nặng nề từ nãy đến giờ. Anh nói lập bập:
-Mất hết rồi, không còn gì nữa cả. Tức lắm! Tức lắm!
Rồi chồng tôi lại gục xuống. Tôi thở dài:
-Anh kể cho em nghe câu chuyện đã xảy ra như thế nào đi. Trung Tá ra sao, còn Đại Tá đâu rồi khi họ tràn vào Tiểu khu.
- Đại Tá Chỉ Huy Trưởng bỏ đi rồi. Trung Tá Chỉ Huy Phó đã bị giặc bắt sống. Ông trao lại cho anh khẩu súng này.
Câu chuyện khá dài dòng, bi đát và qua lời kể của chồng, tôi thấy lòng cay đắng khi hiểu rằng những người chân chính, ngay thẳng luôn luôn bị thiệt thòi. Tôi càng thấm thía về ý nghĩa của câu “Nước loạn mới biết tôi trung”.

Mà thôi, khi một biến cố xảy ra mỗi người sẽ có mỗi phản ứng khác nhau, xấu hay tốt đôi khi cũng khó phê bình được. Qua nhiều năm sống trong nỗi đau thương cùng tận tôi bắt đầu học được nhiều điều mà trước kia tôi chưa hề biết. Tôi cố gắng giữ cho mình một chút bằng lòng chứ không phải tự hào: tôi cũng chịu đau khổ, đọa đầy như những đồng bào miền Nam của tôi. Tôi chia sẻ với họ nỗi đau thương bởi tôi đã từng là một người vợ lính với nhiều hệ luỵ khi nước mất, nhà tan.

Buổi tối anh em lính chiến tụ họp trước cửa nhà tôi. Họ vừa đàn hát vừa nói chuyện tương lai, chuyện trở về nhà. Họ hát bài Một Mai Giã Từ Vũ Khí của  Nhật Ngân, bài Nối Vòng Tay Lớn của Trịnh Công Sơn rất nhiều lần, vì ban ngày Đài Phát Thanh Saigon đã mời người nhạc sĩ họTrịnh lên hát bài này. Những người lính trò chuyện suốt đêm và trong nhà vợ chồng tôi cũng không thể ngủ được vì cuộc diện thay đổi quá nhanh chóng trong thành phố. Với đầu óc giản dị của một người đàn bà tôi nghĩ hai vợ chồng sẽ trở về Đalat tìm một miếng đất nào đó trồng trọt, chăn nuôi và bắt đầu cho một cuộc sống khác như ước mơ của những người lính đang bàn soạn ngoài kia. Chồng tôi thì có vẻ lo lắng không nguôi với những ngày trước mặt.

Tôi rời thành phố trong chuyến xe đò sớm, khi đi qua nhà Vĩnh Biệt mùi hôi thối của những xác chết chưa kịp chôn vẫn bốc lên nồng nặc. Người ta quên đi những người lính nằm trong nhà xác. Ôi! những người lính cuối cùng của cuộc chiến.

Tôi ngậm ngùi muốn khóc khi giã từ thành phố bé nhỏ, xa xôi mà mình đã trú ngụ trong cuộc đời làm vợ một người lính. Căn nhà trong khu gia binh mà  tôi có nhiều ngày tháng phải sống một mình vì chồng đi công tác liên miên. Khi đi qua cây cầu lớn với giòng nước chảy cuồn cuộn dưới kia tôi tự hỏi có bao giờ mình sẽ trở lại đây không. Cái thành phố hiu hắt cho tôi bắt đầu cuộc đời làm vợ, làm mẹ trong bầu không khí sôi sục, căng thẳng vì chiến tranh và chết chóc diễn ra từng ngày, từng giờ. Người vợ lính nào cũng sẵn sàng để trở thành một người góa phụ. Bây giờ cuộc chiến đã tàn mà sao lòng mình nặng trĩu âu lo. Trái tim đau đớn, xót xa không sao kể xiết.

Về đến Saigòn, nhìn thành phố tan tác, hoang mang vì kẻ ở người đi. Biến cố to tác đổ ập xuống đất nước làm cho mọi người ngơ ngác như đang sống trong cơn mộng dữ giữ ban ngày. Chồng tôi đi trình diện vì nghe họ nói chỉ học tập cải tạo một tháng thôi, đâu ai ngờ mình bị họ lừa dối. Tôi đem con trở về gia đình trên Dalat sống một cuộc đời với muôn ngàn khổ ải đau thương của vợ người tù cải tạo. Nỗi khốn khổ của những kẻ ở lại có viết hàng ngàn trang giấy cũng không diễn tả được hết đâu. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.

Những năm tháng sống trong địa ngục trần gian lòng tôi vẫn nhớ về An Xuyên với những ngày cuối cùng tháng Tư. Tôi hay nghĩ về vị Trung Tá Chỉ Huy Phó của tiểu khu, vị chỉ huy cao nhất còn ở lại với thuộc cấp trong giờ phút hấp hối của An Xuyên và bị bắt sống. Lòng kính phục của tôi đối với ông đã khiến tôi nhiều lần viết về ông, hội kiến cùng ông trong những mẫu chuyện hư cấu cùng nhiều tâm sự xót xa, bẽ bàng của những người bị ở lại trong cuộc dâu bể của quê hương thuở nọ. Không biết bây giờ ông ở nơi đâu hay đã hóa ra người thiên cổ.

Và tôi cũng luôn nhớ đến Thiếu Tá Phan Thành Hứa Tiểu Đoàn Trưởng tiển đoàn 446, người anh hùng cô đơn thuở nọ. Ông vẫn chiến đấu can trường cho đến khi bị bắt và bị họ xử bắn tại Cà Mau cùng với một số Sĩ Quan và Viên Chức Việt Nam Cộng Hòa một cách công khai. Trước khi chết ông vẫn hô to đả đảo cộng sản nhiều lần. Đó là cuộc chiến đấu lâu nhất trong lịch sử chiếu đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. An Xuyên là thành phố sau cùng đã mất về tay cộng sản sau khi Đại Tướng Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng.

Người ta nói có những câu chuyện xưa quá rồi, nhắc lại có ích lợi gì đâu ngoài việc khơi thêm những thù hận, oán hờn. Theo tôi có những câu chuyện không bao giờ xưa cũ đó là câu chuyện thuộc về lịch sử. Lịch sử như một dòng sông chảy mãi không ngừng.

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 quê hương miền Nam rơi vào thảm nạn quá lớn lao và dấu vết nhem nhuốc trong lịch sử dân tộc biết bao giờ xóa mờ được. Đau thương, oán hờn, đói nghèo, chết chóc bao trùm trên số phận những người dân Việt Nam. Triệu người buồn đã đành, còn triệu người vui cũng chẳng vui được bao lâu khi biết mình bị lừa dối. Chỉ có những con ma cà rồng no đủ, thỏa thuê vì hút máu dân tộc mới thực sự hạnh phúc trong men chiến thắng.
Chiến thắng hay chiến bại đôi khi cũng khó mà luận bàn vì kẻ chiến thắng bây giờ trở thành tên xin xỏ và kẻ chiến bại trở nên người ban phát. Lại cũng có khi kẻ chiến thắng muốn nhập vai làm người thua trận để hưởng chút lợi lộc thế gian. Lại cũng có kẻ dựa hơi người ra đi để củng cố quyền lợi của cha ông mình. Âu đó cũng là định luật bù trừ của đời sống muôn mặt này.

Bây giờ có lẽ mọi người đã hiểu những người lính Việt Nam Cộng Hòa chiếu đấu cho ai, vì ai. Dù họ hiểu trong muộn màng vẫn còn hơn là chưa từng hiểu. Chỉ trách cho những kẻ đã từng biết thế nào là tủi nhục, đau thương mà đã vội vàng quên hay vô tư thỏa hiệp với cái ác để mưu cầu hạnh phúc hay lợi lộc riêng tư.

Bốn mươi năm qua, điệp khúc réo gọi của hai phe thù nghịch trong một đêm đen cuối tháng Tư vẫn mồn một trở về cùng tiếng súng nổ, đạn rơi. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa dù sao vẫn còn tồn tại trong lòng người dân, vẫn còn tiếng nói trên khắp thế giới nơi có người Việt Nam Tị Nạn Cộng Sản. Còn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (!)thì đã bị chôn sống và khai tử từ lâu lắm rồi! Họ đã chết non. Họ thật sự không hiện hữu trong Điệp Khúc Tháng Tư ngày nọ. Vì thật ra Miền Nam không cần ai giải phóng.

Còn những người đang đứng giữa ngã ba đường. Sau bốn mươi năm với bao nỗi uất nghẹn, trăn trở của cả dân tộc mà cũng chẳng biết mình phải về đâu hay sao?

Tôi hài lòng vì đang sống và viết trên nước Mỹ, một xứ sở tự do, dân chủ và giàu mạnh nhất thế giới.Tôi thuộc về gia đình của những người thua trận và tôi chưa bao giờ cảm thấy xấu hổ vì điều đó nếu không muốn nói là còn cảm thấy hãnh diện và tự hào. Tôi xin cảm ơn cuộc đời đã cho tôi một đời sống khá ấm no, hạnh phúc trên nước Mỹ sau quá nhiều trắc trở gian nan. Nói như thế không có nghĩa là tôi đã cảm ơn những kẻ đã xô đẩy chúng tôi ra khỏi quê hương mình.

Tôi không bao giờ cảm ơn một người đã đập đầu tôi lên đá, dù sau cú đập đó tôi bắt gặp một viên kim cương. Hành động tàn ác và luật bù trừ của cuộc đời là hai việc hoàn toàn khác hẳn nhau. Con dao phẫu thuật của một vị bác sĩ trên thân thể bệnh nhân hoàn toàn khác xa với con dao đâm vào bụng người của kẻ ăn cướp.
Và tôi đã có những đêm không ngủ khi ký ức tháng Tư hiện về như một ám ảnh khôn nguôi. Tôi gói trọn tâm sự mình vào bài thơ:
            
Trắng đêm

Nằm im trong tiếng đời cười
Ta nghe máu chảy biếng lười trong thân
Nằm nghe tàn cuộc trăm năm
Nằm nghe da xếp vết nhăn mặt người
Nằm thương nhớ tuổi đôi mươi
Gõ tay vào mộng réo người buổi xưa
Ngậm ngùi bao cuộc tiễn đưa
Hai bàn tay đếm chẳng vừa năm đi
Nằm khơi oan trái vô nghì
Sục sôi hận buổi phân kỳ đã qua
Nộ cuồng gió hú đỉnh xa
Đau muôn mạch nhựa khóc òa trong cây
Sầu đêm bạc sợi tóc gầy
Con ong xứ lạ gọi bầy bơ vơ
Nằm đây mắt trắng bơ phờ
Thèm sao giấc ngủ bên bờ an nhiên!

 Mimosa Phương Vinh

Những Canh Bạc Chính Trị Của Hoa Kỳ (Phần III) - Lê Quế Lâm


Trong thế kỷ 20, HK đã nhiều lần đưa quân ra hải ngoại lần lượt đánh bại các thế lực lớn như Quốc Xã Đức, Phát xít Ý, Quân phiệt Nhật, Cộng sản Nga, quân xâm lược Iraq…Nhưng bước vào thế kỷ 21, lãnh thổ HK lại bị các nhóm khủng bố Hồi giáo Taliban và Al Qaeda tấn công ngay tại cơ quan đầu não chiến tranh tức Ngũ Giác Đài và Trung tâm kinh tế tài chính thế giới ở New York qua Biến cố 11/9/2001. Từ đó, HK phát động cuộc chiến chống khủng bố, đưa quân đến Iraq và Afghanistan tiêu diệt Sadam Hussein và Osama bin Laden. Sau khi giúp hai nước này tổ chức các cuộc bầu cử dân chủ tự do, HK chấm dứt sự can dự ở Iraq từ cuối năm 2011 và Afghanistan từ cuối tháng 11/2014. Đây là cuộc chiến kéo dài nhất trong lịch sử HK vì tính chất của nó không giống như các cuộc chiến mà Mỹ đã đương đầu.

Cuộc chiến Iraq của HK vừa kết thúc thì nội chiến diễn ra ở Syria. Và khi chiến tranh ở Afghanistan vừa chấm dứt thì nội chiến xảy ra ở Yemen. Đây là hai trong các cuộc chiến giữa các nước Hồi Giáo ở Trung Đông, thù nghịch nhau vì không cùng chung hệ phái. Tín đồ Sunni chiếm đa số, sống ở các nước như Saudi Arabia, các tiểu vương quốc UAE, Qatar, Bakrain, Kuwait, Jordan, Egypt…chống lại Iran- một quốc gia có đông đảo tín đồ Shiite. Hai hệ phái này vốn có truyền thống hục hặc, chống đối nhau trong 13 thế kỷ qua từ khi Giáo chủ Muhammad sáng lập đạo Hồi. Họ có mối thù truyền kiếp không thể sống chung, lại sẳn sàng tử vì đạo, ôm bom tự sát.


Các nước Hồi Giáo có đông tín đồ Sunni đứng đầu là Saudi Arabia, Egypt, Turkey có khuynh hướng thân Mỹ. Họ muốn HK can thiệp vào Syria và Yemen, giúp họ chống Iran và các tổ chức xưng danh Nhà nước Hồi Giáo IS, ISIL, ISL…Trong khi đó, Iran cũng giúp TT Bashar al. Assad tấn công ISIL ở Iraq và Syria. Hai lực lượng khủng bố al-Qaeda và ISIL tuy cùng phái Sunni cũng kình địch nhau. TT Netanyahu của Do Thái cũng như các nước Á Rập đều phản đối TT Obama nói chuyện hòa hoãn với Iran.
Tình trạng ở Trung Đông rất phức tạp, nhưng ông Phạm Đình Lân đã viết “Dù gặp khó khăn như thế nào chăng nữa, HK vẫn là một đại cường lãnh đạo thế giới…Đó là quốc gia của sáng kiến kể cả sáng kiến cờ bạc và tạo canh bạc chánh trị quốc tế”. HK sẽ tạo ra canh bạc chính trị ở đây như thế nào giải quyết các Thách thức Hòa bình của thế giới? Chủ trương xưa nay của Mỹ là xiển dương các giá trị dân chủ tự do, điểm này có vẻ chưa thích hợp đối với các nước Hồi giáo, HK chỉ có thể thực hiện sở trường là mang lại hòa bình cho các dân tộc.

Theo người viết, hầu hết các nước Hồi giáo ở đây đều là thân hữu hoặc đồng minh của Mỹ chỉ trừ Iran và Syria. Do đó bắt được nhịp cầu, tái lập bang giao với hai quốc gia này, HK có thừa khả năng mang lại hòa bình cho Trung Đông. Iran từng là đồng minh của Mỹ khi Quốc vương Mohammed Razi Pahlevi cai trị xứ này từ 1941 đến tháng 2/1979 bị Giáo chủ Ayatollah Khomenei lật đổ, chạy sang tị nạn ở Ai Cập. Nước Cộng hòa Hồi giáo Iran ra đời. Tám tháng sau, dựa vào lý do Mỹ đã bao che giúp cựu vương Pahlevi không bị dẫn độ về Iran để xét xử, chế độ mới ở Iran quản thúc toàn bộ 52 nhân viên Tòa Đại sứ Mỹ ở Teheran trong 444 ngày để áp lực Mỹ. Từ đó hai nước cắt đứt ngoại giao trong suốt 37 năm qua.

Từ đầu năm 1980, Iran trở thành mối đe dọa đối với các nước trong khu vực khi gây chiến với Iraq, cuộc chiến kéo dài đến 1988 thì chấm dứt. Sau biến cố 11/9/2001, HK can dự vào Trung Đông, tấn công Iraq vì Saddam Hussein hù dọa là có vũ khí sát thương hàng loạt. HK cũng phát hiện ở Iran có nhiều cơ sở tinh luyện uranium cũng như các lò phản ứng nguyên tử. Vấn đề này được ra Hội đồng Bảo An, LHQ bắt đầu cấm vận Iran. Năm 2011, Mỹ chấm dứt can dự ở Iraq, nội chiến lại xảy ra ở Syria có sự can thiệp của Iran và Nga. Vì thế, TT Obama coi việc đàm phán với Iran là ván bài chủ chốt của Mỹ. Theo ông, cấm vận không để Iran chế tạo bom nguyên tử sẽ không đạt được mục đích, nếu không tiến hành việc đàm phán. Việc đàm phán sẽ giúp Mỹ tìm sự thỏa hiệp với Iran để giải quyết vấn đề hòa bình ở Trung Đông, ngăn chận Nga can dự vào khu vực xung yếu này.

Vì thế trong thời gian gần đây, TT Obama chấp nhận đối đầu với thái độ phản kháng quyết liệt của đồng minh Israel cũng như Saudi Arabia và cả Đảng Cộng Hòa. Ông tin rằng việc cấm vận của Mỹ và các nước Âu Châu đã làm cho Iran thấm đòn. Năm 2011, số dầu thô xuất cảng giảm 2/3 chỉ còn 700 ngàn thùng một ngày, Iran chỉ thu được 95 tỷ mỹ kim. Năm 2012 chỉ thu được 74 tỷ. Vì cấm vận kinh tế, đồng Riyal của Iran đã mất giá 40% đối với đồng Mỹ kim, lạm phát gia tăng, hàng nhập cảng tăng giá, thực phẩm đắt đỏ, đời sống người dân Iran gặp nhiều khó khăn. Tháng 6/2013 Hassan Rohani có khuynh hướng ôn hòa lên cầm quyền. Nhờ đó, từ 24/11/2013 việc đàm phán về hạt nhân của Iran ở Genève có chiều hướng tích cực hơn để tháo gở một phần cấm vận đối với Iran.

Sau 18 tháng đàm phán, chiều ngày 2/4/2015 tại Lausanne (Thụy Sĩ) 5 đại diện Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo An LHQ và Đức đã đạt được một thỏa thuận khung về hồ sơ hạt nhân với Iran. Văn kiện quy định “những thông số then chốt” của một hiệp ước chung cuộc có giá trị trong 15 năm. Theo nhà báo Ngô Nhân Dụng: Thỏa ước Lausanne là thành công ngoại giao lớn của Mỹ vì đã ghi đầy đủ những điều Iran phải thực hiện như giảm bớt các trung tâm nguyên tử đang hoạt động và chấp nhận một hệ thống kiểm soát gắt gao trong 15 năm tới. Trong khi đó Mỹ, Anh, Pháp, Đức và các nước Âu Châu chỉ hứa hẹn sẽ giảm bớt dần dần cuộc phong tỏa kinh tế sau khi các thanh tra LHQ chứng nhận Iran sẽ thi hành đứng đắn. Từ nay, Iran chỉ còn giữ 6 ngàn lò tinh luyện uranium trong số 20 ngàn lò đang có thuộc thế hệ 1970 của Âu Châu và không được xây dựng những lò theo mẫu mới. Iran chỉ được giữ 3% số uranium đã tinh luyện tức khoảng 300 kg.

Báo chí Tây phương coi thỏa ước Lausanne ngày 2/4 là chiến thắng ngoại giao và chính trị của TT Iran Hassan Rohani. Iran là nước sản xuất dầu hỏa số hai của thế giới, nhưng vì bị cấm vận, sản lượng dầu xuất khẩu tụt giảm 50%, chưa kể cả 100 tỷ mỹ kim thu nhập từ dầu mõ cũng đã bị quốc tế phong tỏa, ảnh hưởng tai hại đến lợi ích sống còn của Iran. TT Rohani đã tạo cho người dân Iran viễn ảnh thay đổi cuộc sống tốt hơn. Ở thủ đô Teheran họ đổ ra đường ca hát nhảy múa, xe cộ bóp còi liên tục để reo mừng thỏa ước vừa đạt được với quốc tế. Một sự kiện bất ngờ là chính quyền Iran đã cho chiếu trên đài truyền hình IRINN của nhà nước toàn thể bài diễn văn của TT Mỹ. Quốc vương Saudi Arabia đã chúc mừng TT Obama cho thấy nước này cũng thỏa mãn về bản thỏa ước sơ bộ với Iran. Chỉ dấu thuận lợi trên sẽ giúp HK làm trung gian để Iran và Saudi Arabia là hai nước lãnh tụ hai hệ phái Shiite và Sunni ngồi lại để tìm giải pháp mang lại hòa bình cho khu vực, trong đó mọi tín đồ Hồi Giáo dù Shiite hay Sunni đều được đối xử bình đẳng.  

Trong chiều hướng hòa hoãn hiện nay, cuộc nội chiến ở Syria và Yemen sẽ được dàn xếp để kết thúc êm đẹp. Mấy năm trước, HK chủ trương lật đổ chế độ của TT Bashar al-Assad, được sự đồng tình của Saudi Arabia, nhưng giữa tháng trước, Ngoại trưởng John Kerry đã tuyên bố “Cuộc xung đột ở Syria bước vào năm thứ 5, đây là lúc để tái khởi động những hoạt động ngoại giao để chấm dứt cuộc chiến đã làm hơn 200 ngàn thiệt mạng và hàng triệu người khác phải rời bỏ nhà cửa”.

Đối với Israel, thỏa ước về hạt nhân ở Iran có thể giúp họ bớt lo ngại về mối đe dọa xuất phát từ Iran. Một khi mối đe dọa từ Iran được bảo đảm, Do Thái sẳn sàng đáp ứng đòi hỏi của Mỹ về việc thành lập một quốc gia cho người Palestine ở vùng Tây ngạn sông Jordan. Vùng đất này bị Israel chiếm đoạt của Jordan trong cuộc chiến năm 1967, trong đó có Thánh địa Jerusalem. Nhà nước Palestine ra đời sẽ chấm dứt mối tranh chấp Á Rập-Israel, góp phần bảo vệ hòa bình ở Trung Đông.
Vấn đề quan trọng hiện nay là lực lượng tự xưng là Nhà nước Hồi Giáo mới nổi lên gần đây. Theo tác gia Trúc Giang trong bài “Tổ chức Nhà nước Hồi Giáo là con đẻ của Mỹ” tiết lộ thủ lãnh IS là Abu al-Baghdadi do CIA Mỹ dựng lên, được tình báo Anh và Do Thái huấn luyện và tài trợ nhằm thao túng IS thuộc hệ phái Sunni để hai hệ phái Sunni và Shitie tiêu diệt lẫn nhau. Trước đây Mỹ cũng đã dùng Osama bin-Laden thuộc Sunni để đánh đuổi Liên Sô từ 1978 đến 1988. Abu al-Baghdadi đã bị Mỹ giam giữ như là một tù nhân dân sự dưới cái tên Awad Ibrahim al-Badry tại trại Bacca từ 2/12/2004 đến năm 2009 thì được phóng thích.

Riêng người viết thì nhận định đây là một canh bạc chính trị mới của Mỹ để tạo ra thế tam cực trong thế giới Hồi Giáo. Ngoài Sunni và Shiite nay có thêm nhóm IS, để ba thế lực này kiềm chế lẫn nhau mới duy trì được hòa bình ở Trung Đông. Thế lực IS có tham vọng Hồi giáo hóa thế giới mà mục tiêu trước mắt là Afghanistan sau khi Mỹ chấm dứt sự can dự từ cuối năm 2014. Trước đó, hồi cuối tháng 5/2014, để tìm cách trợ lực nhóm Hồi Giáo khủng bố, TT Obama đã cho phóng thích 5 cán bộ cao cấp Taliban bị quân Mỹ bắt ở Afghanistan năm 2002 và giam giữ ở Guantanamo (Cuba) để Taliban trả tự do cho một tù binh Mỹ là trung sĩ Bowe Bergdahl. Đó là Mohammad Fazl, Khairulla Khairkhwa, Abdul Haq Wasiq, Norullah Noori và Mohammad Nabi Omarri, từng giữ những chức vụ quan trọng của Afghanistan như bộ trưởng quốc phòng, bộ trưởng thông tin, tư lịnh quân đội, thứ trưởng phụ trách tình báo, thống đốc…

Từ Afghnistan, lực lượng tự xưng Nhà nước Hồi giáo sẽ mở rộng thế lực vào khu vực Trung Á bao gồm các nước lân cận có vần cuối stan như Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkmenistan. Đây là khu vực dồi dào tài nguyên về dầu khí, đa số dân là Hồi giáo. Các nhóm Shiite và Sunni sẽ yểm trợ những người đồng đạo IS bành trướng thế giới Hồi Giáo vào vùng Trung Á. Nơi đây, trong tương lai sẽ là đấu trường mới của thế giới, xuất phát từ tham vọng bành trướng của Liên bang Nga, Trung Quốc và Hồi giáo IS. Với canh bạc mới này, HK sẽ hóa giải thảm họa chiến tranh ở Ukraine, Đông Á và Trung Đông. Hoa Kỳ sẽ tập trung nổ lực ở hướng Đông, phát triển Châu Á/Thái Bình Dương thành khu vực hòa bình, ổn định và phồn vinh nhất của thế giới trong thế kỷ 21.

Kết luận Ông Phạm Đình Lân đặt câu hỏi: Trong canh bạc này của HK, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ ra sao? VN sẽ nằm ở vị trí nào? Người viết xin được góp ý. Trong Thế chiến I, Thổ Nhĩ Kỳ lãnh đạo Đế quốc Ottoman (1299-1923) bao gồm phần lớn khu vực Trung Đông, họ liên minh với Đức, Đế quốc Áo-Hung và bị bại trận. Đế quốc Ottoman tan rã, lãnh thổ bị Anh, Pháp, Ý xâm chiếm. Năm 1923, Mustafa Kemal giành được độc lập, thành lập nước Cộng hòa Thỗ Nhĩ Kỳ. Trong Thế chiến II, Thổ đứng trung lập, nhưng khi chiến tranh vừa chấm dứt Liên Sô muốn xâm chiếm Thổ và Hy Lạp để mở rộng ảnh hưởng vào khu vực Trung Cận Đông. Nhờ HK viện trợ, Thổ duy trì được độc lập, sau đó hợp tác với quân LHQ trong chiến tranh Triều Tiên (1950-1953). Ngày nay, dù là thành viên NATO và Cộng đồng Âu Châu (EU), nhưng Thổ đứng về các nước Hồi Giáo. NATO sẽ bảo vệ Trung Đông chống lại mưu đồ bành trướng của Nga. Các nước Trung Đông đều xuất phát từ Đế quốc Ottoman, vì thế Thổ có uy tín lớn sẽ góp phần đắc lực trong việc vãn hồi hòa bình và ổn định trong khu vực.     
Còn VN nằm ở vị trí nào? Sau HĐ Genève 1954, do sự thỏa thuận của quốc tế, Miền Nam Việt Nam thuộc ảnh hưởng của Thế giới Tự do. HK thành lập SEATO để phòng thủ Đông Nam Á. Ông HCM được Quốc tế Cộng sản đào tạo nên CSVN dựa vào LS, TQ phát động chiến tranh chống Mỹ, giải phóng MN. Sự can thiệp của HK vào VN đã bẻ gãy tham vọng của Mao Trạch Đông bành trướng xuống lục địa ĐNÁ. Sau đó, Kissinger và Chu Ân Lai thỏa thuận chấm dứt chiến tranh VN bằng giải pháp: MNVN, Lào và Cam Bốt trung lập. Tháng 6/1973, đích thân TT Chu Ân Lai sang Hà Nội gặp Lê Duẩn -Bí thư thứ nhất Đảng Lao Động VN để truyền đạt thông điệp này, nhưng CSVN không chấp nhận.

Không ngăn chận được ý định của ông Lê Duẩn mở rộng ảnh hưởng LS ở Đông Dương, năm 1975 HK bỏ rơi VNCH để tranh thủ sự hợp tác của TQ cùng Mỹ đối đầu với LS. Nay HK trở lại châu Á, coi Biển Đông là hải lộ quan trọng đối với quyền lợi chiến lược của Mỹ và nhiều cường quốc khác như Nhật, Đại Hàn, Ấn và Úc. Vì thế họ hợp tác gắn bó với nhau để làm phá sản mưu đồ bành trướng của Tập Cận Bình về biển đảo ở ĐNÁ. Trong khi lãnh tụ IS -Abu Bahr al-Baghdadi lên án TQ thi hành chính sách cấm đạo và đàn áp người Hồi Giáo ở Tân Cương và kêu gọi tất cả những người Hồi Giáo ở khắp đại lục châu Á cùng đứng lên lật đổ TQ. Để đương đầu với nguy cơ này, đến lượt Bắc Kinh phải hy sinh CSVN để thương thảo với Mỹ về hòa bình và ổn định ở ĐNÁ. Tình hình hiện nay cũng tương tự 40 năm trước, đòi hỏi MNVN phải trung lập cùng các nước ASEAN. TT Nguyễn Tấn Dũng xuất thân từ MTGPMN, nên ông dễ dàng thích nghi với tình thế. Đó là đòi hỏi của HK lẫn TQ trong 4 thập niên qua. Vì thế tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La hồi cuối tháng 5/2013, TT Nguyễn Tấn Dũng đã minh định lập trường của VN: “Không là đồng minh quân sự của nước nào và cũng không liên minh quân sự với nước này để chống lại nước khác”. Trong canh bạc mới này của HK, sẽ giúp VN thoát khỏi ảnh hưởng của TQ, hợp tác với các nước ASEAN xây dựng khu vực Châu Á/Thái Bình Dương hòa bình thịnh vượng như chiến lược của Mỹ trong thế kỷ 21.

Nhìn lại lịch sử chiến tranh trong thế kỷ vừa qua, cho thấy các nước thù địch của Mỹ cuối cùng đều trở thành đồng minh của Mỹ như Đức, Ý, Nhật. Và VN cũng không thể là trường hợp ngoại lệ. Liên Sô cũng là kẻ thù của Mỹ, nhưng HK đã giúp nước Nga thời TT Yelsin vượt qua các khó khăn trong thời hậu cộng sản. HK cũng đã giúp Đặng Tìểu Bình thực hiện “bốn hiện đại hóa Trung Quốc” mà ngày nay TQ trở thành một cường quốc kinh tế thứ hai của thế giới.

Để kết luận, người viết xin ghi lại những nhận định của cố TT Lý Quang Diệu người vừa mới qua đời ngày 23/3/2015 về vai trò của HK. Theo ông, trong hai hoặc ba thập kỷ tới, Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất. Mỹ là một đế chế thực sự vì họ biết đón nhận và dung nạp vào dân tộc mình những chũng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và nền văn hóa khác. Hiện nay và trong vài thập niên tới, chính HK sẽ giữ vai trò nổi bật trong việc định ra những quy tắc của cuộc chơi. Những vấn đề lớn liên quan đến hòa bình và ổn định của quốc tế không thể giải quyết được nếu không có vai trò lãnh đạo của Mỹ. Ông Lý khẳng định: không một quốc gia nào hay nhóm nào có thể thay thế Mỹ làm cường quốc toàn cầu. Nhận định của một chính khách lỗi lạc của thế giới khiến nhiều người cho rằng: ‘Chỉ có kẻ ngu mới chống Hoa Kỳ”

TS Lê Đăng Doanh nguyên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương đã nhiều lần tiếp xúc với ông Lý Quang Diệu trong các năm 1993, 1995, 1997 khi ông Lý đến VN, nhận làm cố vấn cho TT Võ Văn Kiệt. T/s Doanh cho biết ông LQD ước mơ có được một đất nước như VN: có tiềm năng, có dân số, có vị thế chiến lược, có những người thông minh luôn luôn học giỏi hàng đầu ở Singapore và các nơi trên thế giới. Ông cựu thủ tướng Singapore nhận định: “Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người, Việt Nam không thể xếp sau nước nào trong khu vực”. Vì muốn thấy một nước VN phồn vinh, cường thịnh, nên ông Lý Quang Diệu nhiệt tình cố vấn, ủng hộ sự cải cách ở VN, ủng hộ việc phát triển kinh tế tư nhân, ủng hộ VN hội nhập với thế giới. Theo ông Lý Quang Diệu, một nước Việt Nam phồn vinh và cường thịnh sẽ có lợi cho ĐNÁ, có lợi cho hòa bình và ổn định cho khu vực và dĩ nhiên cũng có lợi cho Singapore.

Tháng 11/1997 khi đến thăm thành phố HCM trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đang diễn ra, song ông Lý Quang Diệu vẫn lạc quan dự đoán, VN trong 5 năm tới sẽ bắt kịp tốc độ phát triển của các nước trong khu vực. VN sẽ tăng trưởng mạnh như Singapore, TQ, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia và New Zealand. Ông nói: VN đã mất nhiều thời gian, bỏ lỡ một số cơ hội. Bây giờ VN phải bù đấp cho cơ hội đã mất đó, “cần bù đấp và tiến kịp”.

Đáp lại sự khuyến cáo đó, giới lãnh đạo CSVN bảo thủ ngăn chận ông Võ Văn Kiệt trở thành Tổng Bí thư mà còn áp lực ông rời khỏi chức vụ thủ tướng. Năm 2013, trong bài trả lời phỏng vấn báo Straits Times dưới tiểu tựa “Việt Nam: mắc kẹt trong tư duy xã hội chủ nghĩa”, ông Lý Quang Diệu đã nói: Về cải cách của VN đã thay đổi đáng kể từ chỗ khá lạc quan khi ông có các chuyến viếng thăm đầu tiên vào những năm 1990. Giờ thì ông tin rằng thế hệ các nhà lãnh đạo cộng sản lớn tuổi của VN không có khả năng phá vỡ tư duy xã hội chủ nghĩa một cách cơ bản. Đó là điều bất hạnh cho dân tộc VN. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng kiến nghị của ông LQD cho đến nay chưa được thực hiện một cách có hiệu quả. Thí dụ như việc trọng dụng người tài, xây dựng bộ máy công khai minh bạch, không có tham nhũng. Ts Doanh chua chát kết luận: “Tất cả những điều đó chúng ta chưa làm được và tôi nghĩ đấy là điều mà ông Lý Quang Diệu cũng tiếc và cá nhân tôi cũng rất tiếc cho đất nước của mình”.

Lê Quế Lâm
-Sydney 10/4/2015: Kỷ niệm 40 năm Quốc Hận (1975-2015)