Sunday, May 24, 2015

Sydney Vivid Festival - May 2015


The way to Sydney CBD

Anzac bridge


Pitt Street along the way to Chinatown

Chinatown



Darling Harbour

















Photos: Gia Như Huỳnh

Thương Màu Mắt Mẹ, Áo Hương Quen - Đỗ Công Luận

Những Người "Quyết Tâm Ngu" - Nguyễn Xuân Nghĩa


Nguyễn Xuân Nghĩa (Danlambao) - Hai vợ chồng tôi làm nghề photocopy nhiều năm nay. Thực ra, trước kia gia đình tôi sống được là nhờ “công ơn của đảng”. Tại sao vậy?. Đảng cộng sản, như chúng ta đã biết chẳng làm được cái tích sự gì cho dân, cho nước, nhưng đảng lại tạo ra nhiều việc làm cho những ai làm nghề photocopy như tôi. Theo con số ước tính của tôi thì khoảng 70% các tài liệu người ta mang đến thuê tôi đánh máy, phô tô đều là tài liệu của đảng, nói về đảng hoặc dính líu đến đảng. Ví dụ, các văn bản tổng kết hoạt động của chi bộ, đảng bộ v.v... 6 tháng đầu năm, cuối năm, cả năm, các nghị quyết, các đợt phát động thi đua, như học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Các cuộc thi tìm hiểu lịch sử đảng, công ơn của đảng, rồi các diễn văn chào mừng, kỷ niệm ngày 30 tháng 4, ngày 3/2, ngày 2/9, ngày 19/5. Ngoài ra học sinh làm bài luận văn “Nói không với ma túy’ cũng “Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Sinh viên cao đẳng du lịch làm luận án tốt nghiệp bao giờ cũng chép lại của nhau câu mở đầu: “Dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng, ngành công nghiệp không khói nước ta đã...”

Khi đã in ra một bản bằng máy in, còn phải phô tô ra hàng chục bản để chỉ thị, chủ trương chính sách của đảng cấp cao và đảng địa phương đi xuống tận quần chúng, cơ sở, để được quán triệt, thực hiện đến từng câu, từng chữ, Quận tôi lại có hai câu lạc bộ thơ. Một là Câu lạc bộ thơ cán bộ về hưu, hai là câu lạc bộ thơ của người yêu thơ. Các hội viên “thơ mình vợ người” này đều quen biết tôi hết. Cứ đến các ngày ngoài đường đỏ choét khẩu hiệu, cờ quạt... thì trong nhà vợ chồng tôi tối mắt tối mũi khen thơ, đánh thơ và phô tô thơ. Tuy đảng cộng sản Việt Nam không phải là lâm tặc nhưng họ là đám phá rừng làm giấy nhiều nhất so với các đám tổ chức khác. Có lần tôi phải ngậm đắng nuốt cay đánh máy một văn bản khá vớ vẩn. Ông khách là cán bộ cấp huyện về hưu, mới làm được cái hố xí tự hoại. Ông ta gán luôn cái thành công mà ông ta phải vay mấy triệu đồng làm cho xong kia là do công lao của Bộ Chính Trị. Ông ta chính trị hóa việc làm hố xí tự hoại. Ông viết: “Quán triệt nghị quyết, đường lối, chính sách, chủ trương, chỉ đạo... của Bộ chính trị và của cấp ủy về công tác xây dựng nông thôn mới...”. Tôi thấy lạ lùng quá, mới hỏi ông ta: “Nghị quyết nào của Bộ Chính Trị nói phải làm cái hố xí tự hoại?. Sao bác cứ gán những chuyện vặt vãnh ấy cho Bộ Chính Trị?”. Ông ta cười: “Thì tranh thủ mọi cơ hội, mọi việc mình làm gán nó cho Bộ chính trị? Hố xí vẫn là của mình, BCT có lấy đi đâu. Nói thế cho nhà mình được tiếng là gia đình cách mạng, ra phường xin xỏ cái gì cũng dễ...”

Những người như tôi vừa kể nhiều lắm. Trong khi họ chờ tôi hoàn thành sản phẩm cho họ, họ nói chuyện về đảng cấp vĩ mô và đảng cấp làng xã mà họ biết tận mắt. Ai cũng kêu ca về nạn tham nhũng, cửa quyền, về đường lối, chính sách sai lầm. Có người hăng tiết còn nói về tội ác của đảng nữa kia. Nhưng khi tôi hỏi sao biết như vậy mà anh, (bác, chị...) vẫn cứ sinh hoạt đảng, làm thơ ca ngợi đảng? thì họ nhún vai. "Anh nói lạ thế! Tôi là đảng viên mà." 

- Nhưng anh (ông, bà...) vừa oán thoán đảng với tôi đấy thôi?- Tôi nhắc lại câu nói nổi bật của họ.

- Đó là những câu tôi nói riêng với anh thôi, còn nói trước hội nghị đảng, hội nghị ủy ban mặt trận tổ quốc, v.v... tức là trước cái bọn “quyết tâm ngu” thì mình không nói khôn được...

Từ ngày ấy tôi học được cách dùng cái từ “quyết tâm ngu” để chỉ người biết mà vẫn giả vờ không biết và để tiếp tục làm cái việc của người thực sự không biết. Nhưng lúc ấy tôi không nghĩ sâu hơn rằng cái ông nói với tôi, chê cái bọn “quyết tâm ngu” lại chính là người “quyết tâm ngu” bậc nhất.

Rồi khi tôi viết các bài báo trái chiều với báo nhà nước, tôi bắt đầu chú ý đến việc tranh luận với các khách hàng là đảng viên đảng cộng sản “quyết tâm ngu”, của tôi.

Thú thật là tôi không thành công nhiều về mặt này, ít người đọc, người nghe tôi mà không còn “quyết tâm ngu” nữa. Đã thế, hậu quả là cửa hàng của tôi ngày càng có ít khách hàng hơn. Ông bí thư chi bộ đảng, ông bí thư đảng ủy, bà hiệu trưởng các trường học trong vùng, bên công an... đều có chỉ thị cho cấp dưới, cho học sinh, sinh viên cách đối xử với cửa hàng photocopy của “tay Nghĩa phản động”. Thu nhập của chúng tôi chỉ đủ nuôi hai vợ chồng già, không đủ nuôi con trai thứ ba đang bị bên công an chính trị theo dõi, bao vây cả hành vi lẫn kinh tế. Một lần tôi trách một ông khách hàng ghé vào cửa hàng của tôi như một con bò đi lạc:

- Không có anh và cái chi bộ “Quyết tâm ngu” của anh, tôi mất đi một khoản thu nhập... Tôi nói.

- Con tôi thi đỗ vào trường an ninh rồi ông Nghĩa ơi. Vì tương lai của con tôi, tôi vẫn phải “quyết tâm ngu”. Thông cảm cho nhé!

Tôi buồn lắm. Sau khi ra tù, trở lại đứng cạnh cái máy phô tô tôi bắt đầu thử nghiệm các khách hàng mới của tôi, dù khách hàng bây giờ đa phần ở xa, đi đâu đó tạt qua, không hy vọng gặp lại và họ không phải là khách hàng tiềm năng... Cách đây vài hôm, tôi có một khách hàng, Người khách phô tô những 10 bài văn cúng đầu năm. Thấy người khách cứ nhìn vào cái máy phô tô Ricoh Aficio 1055 đang nhả ra mỗi phút 100 bản sao, xoèn xoẹt ngon lành, đều đặn, tôi gợi chuyện:

- Nhật nó giỏi anh nhỉ?

- Không chỉ Nhật giỏi mà tất cả các nước tư bản đều giỏi.

Người khách nói và... thú thật tôi bỗng trở thành người bị tuyên truyền cho chủ nghĩa tư bản. Mới đầu chỉ là cái máy phô tô, sau đó người khách đề cập đến không phải chỉ về hàng hóa của tư bản, chính trị của tư bản, mà còn về văn hóa, khoa học, giáo dục... Cái gì cũng thấy tư bản tốt cả, cái gì cũng nghe cộng sản xấu cả. Ngay đến cái chưa rõ tốt hay xấu của cộng sản, người khách cũng chỉ rõ cái logic dẫn đến cái xấu chắc chắn của nó. Tất cả lý luận của người khách dẫn người nghe rút ra kết luận là phải có đa nguyên, đa đảng, ba cái “pháp” phải độc lập, hai cái “vũ” phải tách riêng. Lý luận của anh chặt chẽ, tiếng nói của anh lôi cuốn. Nếu anh viết thành bài, đưa lên blog thì án tuyên truyền chống nhà nước là cái chắc. 

- Anh hiểu biết rất rộng, lý luận sắc sảo. Nói gọn lại là anh biết đặt vấn đề, giải quyết vấn đề... Tôi khen.

- Tôi có gần 20 năm làm tuyên huấn của huyện ủy mà lại! - Người khách cười nói.

Tôi kinh hãi hỏi:

- Bây giờ anh còn làm nữa không?

- Tôi đã về hưu đâu. Vẫn còn làm...

- Đứng trước các cán bộ, đảng viên anh nói thế nào?

- Tôi nói... Tôi nói: chủ nghĩa xã hội là mùa xuân của nhân loại, Bác Hồ là cha già của dân tộc. Tôi nói như đài...

- Sao anh không nói như anh?

- Dại! Dại! Anh ta hốt hoảng - Còn lương bổng của mình, còn học hành, nghề nghiệp của con cái. Nói như tôi vừa nói... chúng cho ra cuốc ruộng ngay, con cái bị mất việc ngay. Với bọn ngu ta phải nói như thế.

- Với bọn ngu, ta phải “quyết tâm ngu”. Đúng không anh?

- Nhưng tôi có quyền tự hào tôi chưa “quyết tâm ngu” bằng ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Sinh Hùng... Bao nhiêu đây anh?

- Tôi không lấy tiền. Tôi làm không cho anh. Tôi không làm cái nghề chỉ toàn gặp loại người “quyết tâm ngu” như anh nữa.

- Tôi biếu anh 1 triệu để trong dăm ngày chưa tìm được việc khác, cái việc dẫn anh đến các cuộc tiếp xúc với toàn người khôn, anh có tiền đong gạo. Tôi nói thế này anh đừng đưa lên mạng. Trong cuộc cách mạng dân chủ & nhân quyền của chung chúng ta... các anh, chị đang để cho rất nhiều người “quyết tâm ngu” đứng ngoài vỗ tay tôn vinh các anh, và các anh thích để người ta tôn vinh hơn là đòi người ta vào cuộc. Chưa đến lúc bỏ nghề phô tô đâu anh Nghĩa ơi.

Tôi không theo kịp anh ta để giả lại 1 triệu dù chỉ muốn ném mẹ nó đi.

30 Điều Khác Nhau Giữa Gái Chưa Chồng Và Gái Có Chồng


1. Gái chưa chồng đánh giá đàn ông qua quần áo ngoài. Gái có chồng đánh giá đàn ông qua quần áo lót.
2. Gái chưa chồng hay uống cà phê. Gái có chồng hay đi siêu thị.
3. Gái chưa chồng hay hỏi đàn ông về ước mơ. Gái có chồng hay hỏi đàn ông về công việc.
4. Gái chưa chồng đọc sách về đàn ông. Gái có chồng đọc sách về đàn bà.
5. Gái chưa chồng nghe nhạc Tuấn Hưng. Gái có chồng nghe nhạc Quang Dũng.
6. Gái chưa chồng thích các diễn viên. Gái có chồng thích các vận động viên.
7. Gái chưa chồng thích mùa thu. Gái có chồng thích mùa giảm giá.
8. Gái chưa chồng vừa đi vừa khóc. Gái có chồng đến nơi rồi mới khóc.
9. Gái chưa chồng nhặt lá khô ép vào sổ tay. Gái có chồng nhặt lá khô bỏ vô thùng rác.
10. Gái chưa chồng vừa ủi quần áo vừa hát. Gái có chồng vừa ủi vừa gắt gỏng.
11. Khi tiễn bạn trai đi xa, gái chưa chồng bảo: “Anh nhớ về với em”. Gái có chồng dặn: “Anh nhớ coi đồ cẩn thận”.
12. Gặp cướp, gái chưa chồng van xin “Ông tha cho tôi”. Gái có chồng nhún vai “Ông muốn lấy gì thì lấy”.
13. Khi nhà cháy, gái chưa chồng cứu cuốn album. Gái có chồng cứu két tiền.
14. Gái chưa chồng khám điện thoại bạn trai. Gái có chồng khám ví.
15. Ăn một quả me chua, gái chưa chồng lè lưỡi. Gái có chồng trợn mắt lên.
16. Đọc báo thấy tin một cặp nổi tiếng ly dị, gái chưa chồng than “Tiếc quá”, còn gái có chồng chép miệng “Biết ngay mà”.
17. Nghe một bản nhạc buồn, gái chưa chồng khóc, gái có chồng bĩu môi.
18. Lên xe taxi, gái chưa chồng nhìn anh tài xế, gái có chồng nhìn đồng hồ tính tiền.
19. Xem phim hình sự, gái chưa chồng quan tâm ai bị giết, gái có chồng quan tâm ai là hung thủ.
20. Câu được con cá vàng, gái chưa chồng thả ra và ra lệnh: “Mang tới một chàng hoàng tử”. Còn gái có chồng thả ra và ra lệnh cho cá: “Mang tới một ông vua”.
21. Xem hình một cô người mẫu chụp khỏa thân, gái chưa chồng kêu: “Ghê quá!”, còn gái có chồng kêu: “Phí quá!”.
22. Xem phim gặp cảnh nóng, gái chưa chồng nhắm mắt, gái có chồng xì mũi.
23. Khi chia tay, gái chưa chồng bảo bạn trai: “Em hết yêu rồi”, còn gái có chồng hét: “Tôi hết chịu đựng nổi rồi”.
24. Thấy một con heo con, gái chưa chồng kêu: “Nhìn dễ thương quá!”, gái có chồng kêu: “Nhìn ngon quá!”.
25. Thấy bạn trai bị té xe, gái chưa chồng hỏi: “Anh có đau không?”. Gái có chồng hỏi: “Anh có đi tiếp được không?”.
26. Gái chưa chồng thích cái đẹp, gái có chồng thích cái to.
27. Đi xa, gái chưa chồng canh chừng bạn trai. Gái có chồng canh chừng hành lý.
28. Vào tiệm ăn, gái chưa chồng xem kỹ thực đơn. Gái có chồng xem kỹ hóa đơn.
29. Gái chưa chồng sợ đen. Gái có chồng sợ béo.
30. Gái chưa chồng thấy đàn ông bí hiểm. Gái có chồng thấy đàn ông khả nghi.


Sưu tầm

Saturday, May 23, 2015

Anh Ở Đây - Nguyễn Thị Thêm

Friendship Bouquet - Will You Accept ?

A Friendship Bouquet From Me to You...


I hope you enjoy these words, they're so true. No one ever lived their lives wishing they had fewer true friends, and when we have them, they're always worth cherishing, and getting our true friendship in kind. And so I hope you enjoy this friendship bouquet from me to you.















Sưu tầm

Những Nét Son Đầy Hứng Khởi - Bùi Tín


Dịp kỷ niệm 40 năm 30/4 kết thúc chiến tranh năm nay mang lại nhiều niềm vui khác hẳn những năm trước. Nhiều bài bình luận trên các mạng có chất lượng, phơi bày sự thật, nói trắng ra sự thật, chỉ rõ nguyên nhân chính xác dẫn đến ngày 30/4/1975 là ý đồ xâm chiếm, thôn tính miền Nam bằng vũ lực của Đảng CS cầm quyền trên miền Bắc, ngang nhiên vi phạm Hiệp định Paris năm 1973, cố tình chà đạp các điều khoản «tôn trọng quyền tự quyết của mỗi miền được lựa chọn chế độ chính trị của mình», «tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN», «cam kết không đe dọa dùng vũ lực và không dùng vũ lực», «không bên nào thôn tính lấn chiếm bên nào».

Ngày 30/4 năm nay đông đảo nhân dân Việt Nam nhìn rõ thêm rằng nền cai trị của Đảng CS đã mang lại tai họa cho đất nước và nhân dân, dẫn đến tình trạng lạc hậu thê thảm so với các nước láng giềng, là nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất công xã hội, tham nhũng tràn lan, giáo dục trì trệ, y tế bệ rạc, văn hóa suy đồi. Cả một tầng lớp trí thức dân tộc cùng một số đảng viên CS có công tâm lên tiếng công khai đòi đảng phải thay đổi cả hệ thống cai trị từ độc đảng toàn trị cổ hủ sang dân chủ đa nguyên, có bầu cử tự do, có tự do lập hội, tự do ngôn luân, tự do tôn giáo.

Điều rất đáng phấn khởi là gần đây nhân dân thủ đô đã xuống đường liên tiếp bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, buộc chính quyền Hà Nội phải ngưng việc tàn sát cây cổ thụ, hứa xử trí nghiêm ngưòi phạm tội. Chính quyền Hà Nội cũng công khai phủ nhận không cử người của ngành công an hay ngành tuyên huấn phá đám các cuộc biểu tình trước đây ở quanh Bờ Hồ Hoàn Kiếm, còn công nhận những công dân thủ đô từng xuống đường chống bành trướng là những người yêu nước. Đây là một điểm son thắng lợi đầu Xuân, có nhiều ý nghĩa của bà con thủ đô ngày càng tự tin khi xuống đường.

Trong khi đó cuộc đấu tranh của 70.000 lao động thuộc công ty Nam Triều Tiên Pou Yuen - Sài Gòn đòi chủ hãng và đặc biệt là đòi chính quyền trung ương phải thay đổi các điều sai lầm trong Luật về bảo hiểm xã hội bất lợi cho người lao động. Quốc hội đã phải lập tức ghi nhận yêu sách quan trọng này và hứa giải quyết. Thắng lợi bước đầu này là một nét son mới của phong trào lao động ở nước ta, một cuộc tập dượt lớn về bãi công quy mô rộng với bài học kinh nghiệm quý về thắng lợi rõ ràng.

Đi cùng với những thắng lợi trên, đông đảo bà con ở huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận đã kéo nhau ra Quốc lộ A1, làm nghẽn đường, kẹt xe suốt 50 kilômét trong đêm 14 và ngày 15/4, vì không chịu nổi cảnh bụi than từ nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 do phía Trung Quốc nhận thầu xây dựng thải ra làm ô nhiễm cả một vùng đất và vùng biển rộng lớn. Công an được huy động hòng dẹp cuộc đấu tranh quyết liệt này, bị đồng bào giáng trả bằng bom xăng tự chế, cuối cùng theo báo Lao động (ngày 20/4) Phó Thủ tưóng Hoàng Trung Hải phải vào tại chỗ xoa dịu, đôn đốc việc làm cống dẫn nước giảm bụi từ bãi xỉ than, còn công khai xin lỗi nhân dân Tuy Phong về tai họa này. Đây cũng là một nét son nữa của cuộc đấu tranh tự phát của nhân dân, mang lại tự tin cho đông đảo công dân bật dậy dũng cảm bảo vệ cuộc sống của mình, buộc chính quyền phải lùi bước.

Bài học quý giá từ các nét son thắng lợi trên đây là chiếu theo Hiến pháp hiện hành, người dân có quyền tụ họp, biểu tình, xuống đường tuần hành có trật tự, không có ai, kể cả chính quyền như cơ quan hành chính, tuyên huấn, công an có thể hạn chế, cấm cản.

Theo quy định của mọi thể chế dân chủ chân chính, hiến pháp là đạo luật cơ bản của đất nước, là đạo luật gốc, bất khả xâm phạm, không có một đạo luật nào, sắc lệnh, nghị định nào của bất cứ cơ quan chính quyền nào có thể hạn chế, ngăn cản hay xuyên tạc một cách tùy tiện. Nhiều nước đặt ra Viện Bảo hiến hoặc Hội đồng Bảo hiến, có nghĩa vụ bảo vệ triệt để hiến pháp, hủy bỏ những văn kiện, sắc lệnh, nghị định, thông tư, tài liệu nào vi phạm bất cứ điều khoản nào của hiến pháp.
Ủy ban Hành chính quận Hoàn Kiếm cấm nhân dân biểu tình quanh bờ Hồ Hoàn Kiếm là một quyết định vi hiến khi cuộc biểu tình diễn ra có trật tự và có mục đích chính đáng.
UBHC còn có nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho những người biểu tình ôn hòa, chứ không có quyền ngăn cấm hay cho tay chân phá đám.

Thủ tướng cấm báo chí tư nhân hoạt động cũng là một quyết định vi hiến rõ ràng, cho nên là một sai lầm lớn, đi ngược lại điều khoản của Hiến pháp khẳng định quyền tư do ngôn luận và tư do lập hội của mọi công dân. Quyết định này mọi công dân có quyền bác bỏ, coi như vô giá trị. Do đó, Văn đoàn độc lập và Hội Nhà báo độc lập VN cũng như những tổ chức xã hội dân sự khác như Hội Phụ nữ Nhân quyền, Hội Bầu Bí tương thân, Khối 8406, Hiệp hội Dân oan.… tuy không được phép chính thức, vẫn là những tổ chức hợp hiến, chính đáng, đàng hoàng, được xã hội quý trọng. Cũng do đó mà hàng loạt cơ quan báo chí, thông tin, mạng lưới ngoài luồng chính thống, thường gọi là lề trái, «tự do», ngày càng được xã hội tín nhiệm, tìm đọc đông đảo, vượt qua đầu rất xa hàng trăm tờ báo và mấy chục đài phát thanh nhà nước, hàng trăm «dư luận viên» của đảng trâng tráo, đuối lý, mất dần tự tin vì bị công luận chê cười.

Một khi chính quyền mang tên «nhân dân», thực thi những chủ trương quá đáng, như dùng công an để bán bãi, bán tàu thuyền ọp ẹp cho hàng vạn người di tản thành «thuyền nhân» để thu hàng chục vạn lạng vàng chia nhau và nộp quỹ của đảng, hay dùng công an tra tấn người yêu nước chống bành trướng đến chết trong đồn công an, hoặc cướp đất của dân với đền bù rẻ mạt, nhân dân có quyền xuống đường để đấu tranh ôn hòa nhưng quyết liệt cho đến thắng lợi, hoặc nhân dân có thể chung lòng thực hiện «bất tuân dân sự» một cách hòa bình, tuần hành đông đảo với những biểu ngữ thích hợp, bãi công, bãi thị, bãi khóa, đều là chính đáng, vì lòng dân là ý Trời, quyền sống an lành trong nhân phẩm của toàn dân là thiêng liêng nhất.

Một nét son tươi rói đầy hứng khởi nữa là nhà báo Điếu Cày kiên cường từng bị kết án 12 năm tù giam ra tù trước thời hạn được Tổng thống Barack Obama tiếp đón thân mật trong Nhà Trắng cùng 2 nhà báo nữ của Ethiopia và nước Nga đúng vào dịp Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5, trước khi tiếp ông Nguyễn Phú Trọng cũng vào tháng 5 này. Đây là sự kiện nhiều ý nghĩa, là dịp nắn gân xem ông Trọng sẽ xoay sở ra sao trên đất Hoa Kỳ, khi Tổng thống Obama tại cuộc gặp trên đây công khai tuyên bố rằng ông coi tự do báo chí là mối quan tâm ưu tiên trọng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

Quả là đầu năm 2015 mang lại nhiều niềm vui, niềm hứng khởi cho mọi người dấn thân cho sự nghiệp dân chủ hóa đất nước chống ách thống trị của chế độ độc đoán toàn trị cộng sản cuối mùa. Những nét son trong đấu tranh cổ vũ mọi người tự tin dấn tới với sức lực thu hút mới, những sáng kiến mới trong khi chính quyền độc đảng đang tiến lui đều khó.

Bùi Tín

Friday, May 22, 2015

Luận Về “Ý TRỜI” - Trần Xuân Thời


Chúng ta thường đinh ninh rằng mọi việc ở đời đều do Đấng Thiêng liêng quan phòng. Nhưng quan phòng không có nghĩa là định đoạt. Quan phòng hiểu theo nghĩa quan sát, nhận định, hướng dẫn, chứ không hiểu theo nghĩa quyết định, vì Tạo hóa đã cho chúng ta lý trí để suy xét và tự do để hành động. Chỉ khi nào con người có tự do hành động mới chịu trách nhiệm về hành động cuả mình. “God, in the beginning, created man, he made him subject to his own free choice” (Sir14:15.)

Con người hữu lý khi tin rằng “Hoàng thiên bất phụ hão tâm nhân” (Trời không phụ người hiền đức) hay phúc họa ở đời do phản dưởng có điều kiện (conditioned feed back) tuỳ thái độ của con người. Khổng Tử viết   “Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phúc, vi bất thiện giả, Thiên baó chi dĩ hoạ” (Ai làm lành thì Trời báo phúc cho, ai làm điều chẳng lành thì Trời lấy họa mà báo cho) và Luận Ngữ ghi “ Bất tri Thiên mệnh vô dĩ vi quân tử giã” ( Không biết mệnh Trời thì không phải là người quân tử).
 
Ý niệm về “Ý Trời” là ý niệm chung của dân gian được hiểu qua nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo tín ngưởng. Chúng ta thử xét qua các ý nghĩa thông thường bàn bạc trong triết lý nhân gian.
Người ta thường nói:
“Sinh tử hữu mệnh, phú qúy tại Thỉên”
hay
“Sống chết bởi tại trời, giầu nghèo là cáỉ số. Dẫu ai ruộng sâu, trâu nái, đụn luá, kho tiền, cũng bất quá thủ tài chi lỗ”. Của cải thế gian là những vật hư nát nên những kẻ vi phú thường bất nhân không lo phần linh hồn thì cũng như những tên mọi giữ của!

Nếu tin hoàn toàn vào số mạng thì chúng ta đã tin vào thuyết định mệnh (determinism). Một khi tin vào số mệnh thì con người có thể có thái độ tiêu cực buông thả, không cố gắng, nhưng không tự trách mình mà phó thác cho số mệnh:
“Cũng liều nhắm mất đưa chân,
Thử xem con tạo xoay vẫn đến đâu.”

Tại sao con người tin vào số mệnh? Có lẽ khi con người được tạo dựng nên ở thế trần cảm thấy mình quá yếu đuối trước những mãnh lực thiên nhiên, tai ương khốn khó như bão tố, động đất, hạn hán, lụt lội, bệnh tật, thú dữ… đối với con người cổ sơ đó là những thiên tai trời định.

Từ những sự bất lực đó, con người đã tìm giải đáp và cũng là nguồn an ủi là tin vào thần linh. Thần linh có rất nhiều loại như thần hiền, thần dữ, thủy thần, hà bá, sơn thần, thổ thần.... và con người thờ nhiều vị thần khác nhau tạo nên tình trạng đa thần (polytheism) trong đạo giáo dân gian.

Người Trung Hoa có tục ném thiếu nữ xuống sông tế thần Hà Bá, để thần hà bá vui lòng, bớt giận, khỏi gây thủy tai, lụt lội mỗi khi sông Hoàng Hà hay sông Dương Tử ngập lụt. “Hà bá lấy vợ”.  Biết bao thiếu nữ chết oan vì sự sùng bái mê tín dị đoan này. Người Việt có truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh để giải thích nạn lụt lội hàng năm ở sông Nhị Hà.

Ngoài tín niệm chung của nhân gian, có những tín niệm có hệ thống như các hệ thống tín lý của Khổng Học, Phật Học, Lão Học. Trừ các tăng sĩ, nho sĩ, trí thức; đa số người bình dân Việt pha trộn cả ba học thuyết vào với nhau, hữu sự vái tứ phương,  trong cuộc sống hàng ngày như: “Lạy Trời, lạy Phật, lạy Thiên Tiên Thánh Giáo, lạy Ông Bà, Cha Mẹ.... ban cho con được tai qua nạn khỏi.” Nhất là những lúc gặp khốn khó thập tử nhất sinh.

Khổng học là một triết thuyết về cách xử thế dựa trên nhân, lễ, nghĩa, trí, tín... Khổng học tin vào Mệnh Trời (God’s Mandate). Trời trong tâm trí người bình dân là Ngọc Hoàng, là Thượng Đế. “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong”. Thuận Thiên thì sống chống  Thiên thì chết.

Sống theo mệnh trời là sống có trung, hiếu, tiết, nghĩa nhằm hướng đến cái chí thiện ở đời. Từ triết thuyết và luân lý làm người tốt và hữu dụng, triết lý giáo dục theo quan niệm của Nho học cốt đào tạo con người trở nên chí thiện “Đại học chi dạo, tại minh minh đức, tại thân dân. tại chi ư chí thiện.”, chứ không chỉ  học lục nghệ để mưu sinh.  

Khổng học còn là một triết thuyết về phương pháp trị quốc an dân. Chương trình giáo dục của Trung Hoa và Việt Nam suốt mấy ngàn năm văn hiến đều lấy Khổng học làm căn bản như dùng Tứ Thư, Ngũ Kinh làm sách giáo khoa cho sĩ tử. Văn võ bá quan trong các triều đại đều là những người xuất thân tu cửa Khổng, sân Trình, lấy Khổng học làm phương châm hướng dẫn hành động.

Ngưòi bình dân không cần đào sâu ý nghĩa của Thượng Đế trong Khổng học, thường chỉ tin vào Thượng Đế là đấng thiêng liêng, tạo nên vũ trụ, trên tất cả mọi loài thể hiện qua lời cầu khẩn: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cầy, lấy bát cơm đầy, lẩy khúc cá to”.
 
Phật học, không giải thích số mệnh là do Trời, mà nhấn mạnh vào ý niệm “Nghiệp Chướng” (Karma). Karma, hay nghiệp chướng, là một ý niệm đã có từ hàng ngàn năm trong giáo thuyết của Ấn Độ Giáo (Hinduism) trước khi Đức Phật ra đời.

Ấn Độ giáo tin vào thuyết, luân hồi, nghiệp chướng và nhiều vị thần thánh khác nhau mà thần Siva là vị thần có nhiều quyền lực nhất.
S
au Đại Hội Phật Học kỳ thứ II ở Ấn Độ thì Phật học chia làm hai môn phái Tiểu Thừa (Hynayana) và Đại Thừa (Mahayana).
Môn phái Tiểu Thừa khai triển mạnh ở Ấn Độ, Tích Lan,  Thái Lan, Miến điện….Môn phái Đại Thừa (Mahayana) của Phật học không phát triển mạnh ở Ấn Độ mà phát triển qua Trung Hoa, Việt Nam…..

Theo thuyết “Nghiệp chướng” thì mọi việc xảy ra ở đời này đều do kiếp trước truyền lại, nói khác đi là do tiền định. Con người vốn sinh ra và lẩn quẩn trong vòng tử sinh, sinh tử.  Chết đi rồi lại đầu thai vào người khác hoặc sinh vật khác gọi là luân hồi (rebirth hay reincarnation). Nếu kiếp này sống ác đức, tội lỗi, thì khi chết có thề hoá thân ra con ruồi, con muỗi, con trâu, con bò.... để làm thân trâu ngựa, cho đến khi được giải nghiệp, mới chấm dứt kiếp luân hồi.  Có lẽ vì hoá kiếp như vậy cho nên chúng ta không biết loài thú là hiện thân của những linh hồn tội lỗi nào đó. Như vậy trong sinh vật có linh hồn vì thế không được sát sinh.

Nói khác đi, những gì mình chịu đựng hôm nay là do hậu qủa của tiền kiếp (pre life), nghiệp báo. Ví dụ có người tin, sở dĩ chúng ta tha hương là vì nghiệp báo, ông bà chúng ta đã chiếm đất Chàm, đất Chân Lạp, giết hại biết bao dân lành nay bị nghiệp báo... Ca dao cũng có câu “Trời làm một chuyện lăng nhăng, ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông.” Câu ca dao nầy ứng nghiệm cho Nam Việt Nam sau 1975.

Nghiệp báo cũng là một loại định mệnh do kiếp trước ăn ở thất đức để lại. Do đó nhân sinh phải tím cách giải nhiệp.
Phần tích cực của thuyết Nghiệp báo là dù “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa” nhưng mà nếu có “thiện tâm”, tu tâm, tích đức, ăn hiền ở lành để tạo lập công đức có thể đạt đến trạng thái giải nghiệp (mosha). Nghĩa là thoát ra khỏi vòng luân hồi nghiệp chướng vào cõi vô vi, niết bàn... hay cõi Tây Phương cực lạc... Khi đó “Buổi sáng, sau khi thức giấc, có thể chu du qua ba ngàn đại thiên thế giới mà còn đủ thì giờ trở về ăn sáng.”

Phương pháp hay nhất là tu tiên, đến chốn cùng cốc thâm sơn để tu luyện, như Đức Phật đã bỏ gia đình, vợ con, cha mẹ đế nghiệp của tiểu quốc Ca Tì La Vệ để lên núi tu luyện theo như sấm truyền “Đức Phật sinh ra có 32 tướng tốt. Nểu làm vua thì được vị, nếu xuất gia tu hành thì sẻ thành Phật.”
Phật có nghĩa là người đắc đạo, thoát khỏi tục lụy xích xiềng của thế trần và nhất là thoát vòng nghiệp chướng (mosha) và hiện nay đã có hàng hà sa số chư vị Phật ngao du trên ba ngàn đại thiên thế giới.
 
Giải thích về sự hiện hữu của vũ trụ và con người, Phật học cho rằng vũ trụ và con người tự không mà có (The universe is from nothing). Bàn về thánh thần, Thượng Đế, Đức Phật bảo đồ đệ chuyện đời chưa hiểu được, làm sao có thể hiểu được chuyện thần thánh. Triết học ngày nay gọi những người có đồng tư tưởng là những người thuộc môn phái “Bất khả tri luận” (Agnosticism) khác với chủ trương vô thần ( Atheism) của Epicure.  Môn phái vô thần không tin có thần linh, duy vật, con người không có linh hồn, như bao nhiêu sinh vật khác, chết là hết !

Phật học chủ trương có thoát được nghiệp chướng hay không là do sức con người tự tạo lấy, “tự lực cánh sinh” (self help approach), không nhờ vào thánh thần nào giúp sức vì không biết được có thần thánh hay không... Cũng do quan niệm thiếu tính cách thần linh mà Phật học không phát triển mạnh được ở Ấn Độ, vì Ấn Độ là thế giới của thần linh, mà phát triển qua các quốc gia khác.

Phật học thiên về tu thân, tích đức để thoát vòng nghiệp chướng, lo tu luyện cá nhân để mưu cầu phần rỗi mà không bận rộn về đời sống vật chất, xa lấn thất tình lục dục.Sỡ dĩ cuộc đời khổ cực là vì ham muốn và không thỏa mãn đ ược sựham muốn, cho nên phương pháp hay nhứt là giệt sự ham muốn thì bớt khổ.

Đời là bể khổ vì luân hồi nghiệp chướng, muốn thoát bể khổ phải tu trì để được đắc đạo, thoát cảnh tái sinh. Người bình dân thường nói “Người hiền chết sớm, kẻ dữ sống lâu”, có lẽ hàm dưõng ý nghĩa chết sớm để thoát trần ai khổ lụy là có phước, kẻ dữ sống lâu để bị đọa đày, để đền tội. Vì nghiệp chướng quá nặng nề?

Phật học không đề cập đến Trời, Thượng Đế, nên ý niệm “Ý Trời” có phần thể hiện hậu quả của nghiệp chướng do tiền kiếp để lại.  Có nghĩa là người bình dân, nếu gặp trở ngại, đời sống khó khăn, gặp nhiều cảnh tai ương có thể an ủi bằng câu “Tại vì nghiệp chướng của tôi như vậy”. Hoặc tại vì luật nhân quả, nghiệp báo, kiếp trước làm ác, báo hại khiến kiếp sau lãnh đủ.
 
Người theo Khổng học có thể giải thích “Ý Trời” là ý của Thượng Đế. Thượng Đế đã an bài mọi sự. “Chung cục thì chỉ cũng tại Trời.” (Nguyễn Du). Kinh Thi ghi “Thượng đế rất lớn soi xuống dưới rất rõ ràng, xem xét bốn phương, tìm sự khốn khó của dân mà cưú giúp- Hoàng Hỹ Thượng Đế, lâm hạ hữu hách, giám quan tứ phương, cầu dân chi mạc.” Điều gì dân chúng ước ao thì Trời cũng chiều theo. “Dân chi sở dục, Thiên tất tòng chi“. Cầu thì được, xin thì cho, gõ thì mở. Đã là người, ai cũng đều  là con của Trời. “Phàm nhân giai, vân Thiên chi tử “.  Người là tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ của Trời Đất và cả hai là Một.“

Quan niệm của Nho Sĩ thường có tính cách tích cực hơn là tiêu cực. Con người phải cố gắng hết sức mình làm việc, nếu không đạt được thành công thì không còn tự trách mình mà an ủi bằng mệnh số, đó là do “Ý Trời” như Nguyễn Công Trứ trong lúc hàn vi thường tự an ủi: “Hữu kỳ đức, ắt Trời kia chẳng phụ.”

Người Công Giáo khi nói đến “Ý Trời” tức nói đến “Ý Chúa”. Nhiều người nhớ câu “Sợi tóc trên đầu rơi xuống cũng là do ý của Chúa”. Người Công Giáo tin rằng Thượng Đế là đấng tạo nên trời đất, muôn vật.

Ý Trời trong quan niệm của người Công giáo là kết quả công việc làm theo thánh ý Thượng Đế. Vi phạm luật lệ không phải là do ý trời. Tại sao? Tại vì Thượng đế sinh ra con người đã cho con người có lý trí để suy xét, và có tự do để hành động.
Vì vậy, tiêu diệt tự do cá nhân là trái với Thiên lý.
Không có có công mà được thưởng, không có tội mà bị tù đày, cấm cố, là vô nhân đạo cho nên người Công giaó chống độc tài đảng trị là làm theo Thiên ý.

Giáo hội quan niệm những kẻ theo chủ thuyết độc tài CS thì không còn là giáo hữu chân chính. Bốn năm trước khi bàn Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng Sản ra đời năm 1848, Đức Giáo Hoàng Piô thứ IX, năm 1946,  đã tuyên bố  ” That infamous doctrine of so called Communism which is absolutely contrary to the natural law itself, and if once accepted would utterly destroy the rights, property and possessions of all men and even society itself.” Cái  học thuyết  xấu xa gọi là chủ nghĩa Công sản hoàn toàn trái với luật tự nhiên, và môt khi được chấp nhận, nó sẽ tiêu giệt hết dân quyền, tài sản, quyền sở hữu của nhân loại và chính xã hội loài người. 
 
Thế thì với lý trí để suy xét, tự do hành động, con người phải chịu trách nhiệm về hành vị của mình. Giả thử Chúa sinh ra mọi người bình thường có thân thể và trí tuệ giống nhau nhưng đời sống mỗi người lại khác nhau có phải đó là tại ý trời hay không?

Yes and No. Có và không. Có vì Ý Trời là ý mà Chúa an bài cho mỗi người, bất kể lương hay giáo một vị thể khác nhau trong xã hội để mỗi người một việc thi hành nhiệm vụ mà Trời đã giao phó vì tất cả nhân loại đều là con Trời.

Tuy nhiên, phải lưu ý là khi Trời giao phó sự việc cho mỗi cá nhân, dựa vào khả năng riêng biệt của mỗi người do sự cố gắng, tự tạo và cho con người tự do hành động. Hành động thành công hay thất bại là do cá nhân. Những cá nhân có thành tâm thiện chí thường là những người sáng suốt vì tâm hồn được bình an, tâm trí được thông minh rất dễ thành công.

Không phải là ý Trời, nếu ngược lại những cá nhân thích sống ích kỷ, hay ganh tị, không hiểu vai trò đã được giao phó, có thái độ thù hận ganh ghét thì tâm hồn bối rối, mất sự bình an, từ đó kém sáng suốt, vụng về và cá nhân phải chịu trách nhiệm về thái độ của mình.

Nếu chúng ta biếng nhác, không chịụ học hỏi, không chịu làm việc để lâm vào tình trạng đói khổ, thua sút mọi người, say sưa, phạm tội, trí tuệ lụn bại, thiếu sáng suốt, làm việc ngoài vòng cương tỏa, không làm việc hết mình, không theo thánh ý Thượng Đế, thì kết quả chúng ta phải gánh lấy, không phải là ý Trời.

Như thế, những gì con người thực hiện với thành tâm thiện ý tức là làm việc thiện theo thánh ý Chúa, kết qủa đạt được hoàn hảo hay không, không phải là quan trọng, điều quan trọng là chúng ta có cố gắng hay không? Có được ơn Chúa soi sáng, được sự bình an trong tâm hồn, có cảm được sự hữu dụng của đời sống?
Thánh Phao Lồ trước khi trở thành Kitô hữu đã tự ý giết hại Kitô hữu. Khi trở thành tông đồ của Chúa vẫn cảm thấy ân hận về những việc ông đã làm (1Tim 1: 2-15).

Thiên Chúa đã chọn Phao Lồ để nhắn nhủ nhân loại là kẻ có tội lỗi như Phao Lô cũng còn thánh hóa được. Trong thư gởi tín hữu Thành Corinto, Thánh Phao Lổ đã viết: “Tôi không xứng đáng được gọi là Tông Đồ của Chúa, nhưng nhờ ơn Phúc Ngài ban, tôi mới được như ngày hôm nay”. “I am... not worthy to be called an apostle... but by the grace of God, I am what I am (1Corinthians 15: 19-10).

Như vậy, tội lỗi của quá khứ không nhất thiết làm cản trở cuộc sống trong tương lai, miễn là có thành tâm hối cải sẽ được trở thành người hữu dụng. Ý niệm nầy đã được hội nhập vào môn triết pháp. Luật pháp Tây phương dựa trên nhân bản vừa ngăn ngừa tội phạm (determent) vừa gúp phạm nhân tái tạo (restoration) lại cuộc sống, cho phạm nhân “a second chance” dựa trên sự cố gắng cá nhân của mỗi người.

Luật pháp nhân bản không chủ trương ”thà giết lầm hơn bỏ sót hay trí, phú , địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ ”mà ngược lại chủ trương“ thà bỏ sót  hơn giết lầm”, cho phạm nhân hưởng lợi nếu bằng chứng buộc tội chưa minh bạch (benefit of doubt).

Trời tạo nên con người và rất chính xác khi điều khiển vũ trụ, cũng như biết rõ người nào thích hợp để được giao phó trách nhiệm, sự xứng đáng đó dựa trên công việc, sức cố gắng của mỗi cá nhân.
 Trời phán xét dựa trên công việc của mỗi người, chứ không phải dựa vào lời đàm tiếu của người khác. “God judges us by what we do, not by what others say”.

Về phương diện vũ trụ, sự chính xác của Thượng Đế thật mầu nhiệm, sự vận hành cua các tinh tú, mặt trời, mặt trăng, quả đất đều được sắp xếp vận hành trong qũy đạo một cách chính xác. Các nhân vật thông thái, các khoa học gia về vũ trụ là những người khâm phục sự mầu nhiệm của Hoá Công và nhờ vào sự chính xác của Hoá công mà họ đoán trúng những hiện tượng sắp xảy ra.
Họ là những người chịu tìm tòi học hỏi, cố gắng tìm hiểu sự vận hành của vũ trụ để đem kiến thức truyền lại cho hậu thế.

Thượng đế đã tạo nên mọi sự, mọi sự đã có sẵn, phần còn lại là bổn phận của con người phải tìm tòi học hỏi để hiểu biết ý định của Thiên Chúa. “Không biết mệnh Trời thì không phải là người quân tử - Bất tri Thiên mệnh, vô dĩ vi quân tử giã” (Luận Ngữ)
Ví dụ, trong năm 1993, các nhà thiên văn học đã biết được rằng ngày 3 tháng 11 năm 1994 sẽ có Nhật thực kéo dài 4 phút, 51 giây. Nhật thực (eclipse) sẽ được thấy toàn điện ở các qụốc gia Bolivia, Brazil, và biển Nam Đại Tây Dương.

Đó là hiện tượng về thiên văn, về sự vận hành của vũ trụ do Thiên Chúa tạo dựng. Sở dĩ các nhà Thiên-văn-học tiên liệu một cách đích xác mà không sợ sai là vì sự vận hành của vũ trụ do Thiên Chúa tạo dựng một cách chính xác. Đến giờ phút nào thì hiện tượng gì xảy ra, đó là “Ý Trời” trong sự vận hành trật tự chung của vũ trụ.  (moral order of the universe).
Con người có nhiệm vụ tìm hiểu và đoán được Ý Trời, nếu không thì xem như chưa tu luyện đủ để đạt đến giai đoạn “Nhi tri Thiên Mệnh”.  
Thịnh, suy thay đổi như bốn muà Xuân, Hạ Thu, Đông theo luật tuần hoàn của Tạo hóa. Chớ nản lòng, hết cơn bỉ cực sẽ tới hồi thái lai.
Sau khi nghe Thúy Kiều tâm sự “Giác Duyên nghe nói rụng rời” và cùng Tam Hợp Đạo Cô khuyên nhủ Kiều:
“Sư rằng “Phúc họa đạo Trời
Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra
Có Trời mà cũng có ta
Tu là cõi phúc, tình là giây oan” (Nguyễn Du)
 
Ai dày công tu thân, tích đức, cố gắng học hỏi, làm việc sẽ hiểu được Thiên Ý, hiểu được sự vận hành của vũ trụ, hiểu đươc thế thái nhân tình, hiểu được phương cách làm việc, hiểu được đường hướng phải làm, được chương trình, kế hoạch phải thực hiện. Lòng Trời ở trong lòng mỗi người.  “Nhất nhân chi tâm, tức Thiên địa chi tâm”

Thiên Chúa bảo chúng ta đừng bao giờ nãn lòng, (not lose your heart: Luke 18:1), phải cố gắng làm việc, học hỏi (obligation to study) và cầu nguyện (pray) để được ơn Thiên Chúa, được sự bình an trong tâm hồn, để được soi sáng, thì dù kết quả có thế nào chăng nữa vẫn thể hiện thiện ý, vì:
“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài nằm với chữ tai một vần.”

Có tài chế ra nguyên tử để làm điều thiện như làm máy phát điện, dụng cụ chữa bệnh.... là hợp “Ý'Tròi”.  Nhưng dùng tài để chế vũ khí sát thương, bom nguyên tử sát hại nhân loại tức là phản “Ý Trời” là gây tai họa thì Thiên bất dung gian.
Có khoa học mà vô lương tâm sẽ gây bại hoại cho tâm hồn “Science sans conscience n'est que ruine de l’âme”.

Sau mùa Đông giá rét, nhân dịp Xuân về, muôn hoa đua sắc thắm thể hiện Ý Trời.  Chúng ta hãy làm việc hữu ích cho nhân quần xã hội, với thiện tâm, trong tình yêu nhân hậu, giữ tình đồng hương, nghĩa đồng bào.

Các học thuyết của Nho, Thích, Lão và Thần học không đối nghịch mà dung hợp thể hiện sự viên mãn ( fulfilment) về nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhân loại từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc trong tiến trình “Tri Thiên Mệnh”.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II, vào đầu tháng 11 năm 1999, đã công bố Tông Thư: Giáo Hội tại Á Châu:
“Giáo hội Công giáo tỏ lòng cung kính và ngưởng mộ tất cả truyền thống tinh thần của các Tôn Giáo Á Châu “thể hiện tinh thần tôn trọng liên tôn, hoà nhi bất đồng.

Luôn giữ tâm thường an lạc, dù vật đổi sao dời, chúng ta vẫn yên tâm sống đức hạnh “phú qúy bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” có chí thì nên, măc dù:
“Cõi trần thế cuộc chiêm bao
Công hầu khanh tướng xôn xao trong vòng
Tranh nhau chỉ vì hơi đồng
Giết nhau vì miếng đỉnh chung ở đời”

Lạc quan, tin tưởng, quyết chí tu thân và hành động chính trực là nhiệm vụ chung của chúng ta thì thân sẽ không tật bệnh, tâm sẽ không phiền não, kết quả thế nào chăng nữa thì cũng có thể yên tâm vì chúng ta đã làm việc hết mình, phần còn lại là do “Ý Trời” vậy.
“Gẫm thay muôn sự tại Trời.
 Trời kia đã bắt làm người có thân.
   Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao” (Nguyễn Du)
Luôn luôn lấy hy vọng làm nguồn sống
“Trời đâu riêng khó cho ta mãi
Vinh nhục dù ai cũng một lần.”

Trần Xuân Thời
Nguồn: Mục vụ Giáo dân

Hãy Mở Lòng - Nguyễn Thị Thêm

Welcome To America - Vân Sơn - Quang Minh - Hồng Đào

Mắm Kho Và Rau


Hai tuần nay có bà con ở xa tới thăm, đi ăn hàng quán vài ngày đã ớn tới cổ, người bà con nói bây giờ mà có mắm kho ăn thì hết sảy. Nhỏ con gái cũng nói con thèm cà tím kho trong mắm quá. Ông xã cũng đốc vô, bảo kho nồi mắm ăn cho có appétit đi bà.
Bà bếp nghe có lý, thế là chìu ý mọi người đi mua đồ về làm mắm kho cho ngày đó.    

Vật liệu :
- 2kg cà tím cắt miếng vừa ăn
- 500 grs đậu đũa
- 1,5 kg ba rọi xắt lát mỏng
- 1kg tép
- 1 keo mắm sặc (400 grs)
- 2 tép sả bằm mịn
- Rau ghém tùy thích (giá, bắp cải, dưa leo, xà lách xoong, các loại rau thơm như rau húng, rau quế, rau răm, tía tô, cần nước, bông súng, bắp chuối bào, rau muống bào, xoài xanh bằm nhỏ vv, mùa nào có rau gì thì ăn rau đó).  

Thịt ba rọi

Tép lột vỏ chẻ sống lưng lấy chỉ đen

Cà tím

Tép xào

Rau ghém (tượng trưng)
Cách làm :

Khui kéo mắm đổ ra một cái soong nhỏ kho rục, đổ ra lượt lấy nước, bỏ cái.
Đập ba tép tỏi phi vàng, xào tép chín xúc lên để riêng một bên. Cho thịt ba rọi vào xào chung với sả cho săn, đổ tô mắm đã lượt vào kho một lát, sau đó cho cà tím, đậu đũa vô kho tới chín thì trút tép vô. Nêm nếm vừa ăn rồi tắt lò.
Làm sẵn thau rau ghém, khi ăn mỗi người đơm rau vào tô, chan mắm kho, dấm ớt thật cay ăn với cơm thì nồi cơm bao to cũng hết sạch.


Bon appétit!
  Người Phương Nam