Friday, August 23, 2019

Hong Kong: Thiên An Môn 2019? - Phạm Thạch Hồng


Trước tình thế đối diện với một phong trào phản kháng chưa từng có ở Hong Kong từ khi nhận lại nhượng địa này từ tay Anh quốc, càng lúc càng trở nên nghiêm trọng hơn; sau một thời gian để cho nhà cầm quyền địa phương tìm cách giải quyết nhưng mãi không xong, ra vẻ Bắc Kinh nay đã hết kiên nhẫn và đã trực tiếp đối phó.

Lời lẽ của các giới chức Trung Cộng về tình hình Hong Kong mỗi lúc mỗi cứng rắn và đầy ý nghĩa hăm dọa hơn. Thêm vào đó tin tức về những cuộc điều động lực lượng an ninh và vũ trang bên kia ranh giới Hoa lục với đặc khu bán tự trị này càng làm tăng thêm mối lo ngại là Bắc Kinh có thể sẽ mạnh tay đàn áp sự phản kháng của người dân Hong Kong, kể cả việc sử dụng lực lượng quân đội. Nhiều người đã nhắc đến chuyện biến cố Thiên An Môn hồi đúng 30 năm trước và tự hỏi, liệu Trung Cộng có dám ra tay một cách hung bạo như vậy vào thời điểm này, đầu thế kỷ 21, hay không?

*
Sau một thời gian giữ im lặng, trong những ngày gần đây, các giới chức thuộc nhà cầm quyền trung ương của Trung Cộng liên tiếp lên tiếng cáo buộc người Hong Kong và đe dọa “không loại trừ việc đưa quân đội can thiệp để tái lập trật tự”.
Khi phong trào tại Hồng Kông phản đối dự luật cho phép dẫn độ sang Hoa Lục, thoạt tiên Bắc Kinh có vẻ coi thường, để yên cho chính quyền đặc khu tự giải quyết.

Thế nhưng từ khi người biểu tình tấn công vào trụ sở Nghị Viện Hồng Kông, bôi mực, ném trứng vào huy hiệu nhà nước Trung Cộng –biểu tượng của chính quyền trung ương, thì phản ứng của Bắc Kinh cứng rắn hẳn lên. Hôm 29/7 Văn Phòng Hồng Kông và Macao tại Bắc Kinh – Cơ quan thuộc nhà cầm quyền trung ương phụ trách quản trị 2 đặc khu này đã có cuộc họp báo chính thức về cuộc khủng hoảng. Tiếp theo đó, đến ngày 06/8 sau cuộc đình công toàn đặc khu hôm Thứ Hai 5/8, tức chỉ trong vòng 1 tuần, Văn Phòng HK và MC lại họp báo lần thứ nhì.

Tại cuộc họp báo ngay vào ngày Thứ Hai đầu tuần, Đặc khu trưởng Hong Kong Carrie Lam nói “Bạo lực gia tăng cùng với hoạt động cực đoan cho thấy người biểu tình đang chuyển khỏi mục tiêu ban đầu, đang tiến xa hơn sự phản đối dự luật dẫn độ đơn thuần trong những cuộc biểu tình khởi sự từ trong 9 tuần trước. Họ đang đẩy Hồng Kông vào một tình huống vô cùng nguy hiểm; Họ đã lôi quốc kỳ xuống rồi vứt xuống biển đồng thời lớn tiếng kêu gọi một cuộc cách mạng giải phóng Hồng Kông… Những hành động này đã thách thức quyền lực nhà nước, đe dọa quy chế “nhất quốc lưỡng chế” và sẽ phá hủy sự thịnh vượng, ổn định của thành phố đã có lâu nay.

Bà ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần khẩu hiệu của người biểu tình: “Hãy Giải phóng Hồng Kông; đây là cuộc cách mạng của thời đại chúng ta ” [Liberate Hong Kong; revolution of our times] Họ giương cao khẩu hiệu đó cùng với bạo lực và vô pháp trong nhiều ngày là bằng chứng cho thấy phong trào phản kháng dự luật dẫn độ đã vượt ra khỏi Ý định ban đầu và đang thẳng thừng leo thang thành một chiến dịch chống nhà nước.

Rồi ngay sau cuộc tổng đình công khiến Hồng Kông tê liệt, hôm 06/8/2019, Văn phòng Liên lạc của Bắc Kinh tại đặc khu ra thông điệp cứng rắn chưa từng có “Kẻ nào đùa với lửa sẽ có ngày mất mạng vì lửa”. Trong cuộc họp báo, phát ngôn viên của Văn Phòng Liên Lạc phụ trách Hồng Kông và Macao, đe dọa “Chớ bao giờ đánh giá thấp “thái độ cương quyết và sức mạnh vô biên” của chính quyền trung ương”. Đại diện nhà cầm quyền Trung Cộng khẳng định thủ phạm gây nên phong trào phản kháng chưa từng có hiện nay là “một nhóm rất nhỏ những kẻ tội phạm ưa bạo lực và vô liêm sỉ, cùng những thế lực ghê tởm đứng sau lưng”.
Theo giới quan sát, đây là phản ứng cứng rắn nhất của Trung Cộng kể từ khi phong trào phản kháng chống dự luật dẫn độ sang Hoa Lục nổ bùng cách nay hai tháng.

*
Như thế, đó là dấu hiệu cho thấy nhà cầm quyền trung ương Bắc Kinh này bắt đầu trực tiếp rat ay đối phó chứ không còn giao hẳn cho Đặc khu trưởng Carrie Lam và bộ máy chính quyền đặc khu nữa.
Cho tới nay, đối sách chống khủng hoảng Hồng Kông của Bắc Kinh chính yếu vẫn mới là đe dọa người biểu tình, đặc biệt bằng cách phô trương uy lực của quân đội, bắn tin cho biết là lực lượng vũ trang sẵn sàng hành động.

Ba mươi năm đã trôi qua nhưng hình ảnh máu me của một chế độ độc tài tàn ác sẵn sàng đưa chiến xa vào quảng trường Thiên An Môn lạnh lùng nghiền nát cuộc biểu tình ôn hòa vẫn chưa phai trong tâm trí người dân Trung Cộng cũng như cả thế giới. Trong mấy ngày gần đây 2 đoạn video được Bắc Kinh tung ra có tác động như lời hăm dọa tối hậu.

Video thứ nhất quay cảnh 12 ngàn Cảnh sát chống bạo động được trực thăng vận, tập dượt tại Quảng Đông, sát Hồng Kông. Video thứ hai do Quân đội Trung Cộng (Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc) đưa ra hình ảnh một lực lượng binh sĩ được trang bị hùng hậu tận răng, chuẩn bị súng ống đạn dược để ngăn chận một đám đông biểu tình, với sự yểm trợ của thiết giáp. Đoạn video này kết thúc ở hình ảnh người lính đội nón sắt đang cảnh cáo người biểu tình qua loa phóng thanh : “Tất cả những ai ở lại sẽ phải chịu trách nhiệm”. Đây cũng là mệnh lệnh, đúng từng chữ một, đã được đưa ra ngày 3/6/1989 ở quảng trường Thiên An Môn, trước khi phong trào sinh viên bị dìm trong biển máu.
Liệu như thế có phải nhà cầm quyền Trung Cộng đang chuẩn bị tung quân đội vào để “bình định” tình hình Hồng Kông, như họ đã từng làm tại Thiên An Môn vào năm 1989, hay chăng?

*
Về vấn đề này, hầu hết các nhà quan sát tình hình Trung Cộng đều cho rằng khó có thể xảy ra cảnh tượng Thiên An Môn tái diễn tại Hồng Kông. Lý do không phải vì nhà cầm quyền Bắc Kinh không dám mạnh tay với người biểu tình, mà chỉ là vì họ lo sợ những hậu quả như đã từng xẩy ra sau cuộc thảm sát Thiên An Môn.

Một nhà nghiên cứu Pháp thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp CNRS, nhận định rằng nếu dùng quân đội để đàn áp phong trào phản kháng tại Hồng Kông, Bắc Kinh “sẽ phải trả giá khá đắt vì chế độ ở Trung Quốc không hề bị đe dọa, trong lúc hậu quả quốc tế sẽ vô cùng mạnh mẽ”.

Cùng quan điểm, chuyên gia Jean-Pierre Cabestan, cũng thuộc trung tâm CNRS, cho rằng: “Nếu Bắc Kinh dùng quân đội để đàn áp, Mỹ và Âu châu chắc chắn sẽ đề ra các biện pháp trừng phạt, và điều này có thể cô lập gắt gao Trung Quốc về mặt kinh tế”.
Theo ông Cabestan, “Hồng Kông còn là một thị trường kinh hết sức quan trọng đối với Trung Cộng, nơi có 1300 công ty đa quốc gia đặt trụ sở, vì vậy Bắc Kinh luôn quan tâm đến việc bảo vệ một hình ảnh an toàn và ổn định cho thị trường tài chính có thể cạnh tranh với các thành phố như Singapore”.

Về tình hình Hồng Kông, chuyên gia Pháp ghi nhận là đã có rất nhiều lời lẽ và động thái đe dọa, nhưng khả năng Bắc Kinh đưa quân vào đàn áp phong trào biểu tình Hồng Kông là điều đó khó có thể xảy ra.

Đối với ông Cabestan, trước thái độ kiên cường của người biểu tình Hồng Kông hiện nay, việc cho chiến xa và binh lính đổ bộ lên đặc khu đồng nghĩa với một cuộc thảm sát. Giáo sư Cabestan kết luận rằng “đó sẽ là một sai lầm chính trị lớn lao mà Tập Cận Bình không dại gì mắc phải.”

Nhà cầm quyền đặc khu Hong Kong, theo quy chế “một đất nước hai chế độ” nay đang trong thế “trên đe dưới búa”, một bên là áp lực phản kháng rộng rãi và thu hút mọi thành phần, mọi thế hệ người dân và một bên là thúc ép của nhà cầm quyền trung ương phải hành động! Từ trước tới nay, bề ngoài Bắc Kinh vẫn để cho chính quyền Hồng Kông tự giải quyết các vụ liên quan đến phong trào phản kháng, đòi dân chủ ở vùng đất thuộc địa cũ của Anh này theo nguyên tắc đặc thù và cam kết khi Hồng Kông được trả lại cho Trung Cộng. Nhà cầm quyền Hồng Kông, mặc dù do Bắc Kinh dựng lên và đứng sau giật dây, cho tới nay vẫn chưa dám thẳng tay dùng vũ lực trấn áp các phong trào biểu tình.

Nhưng trong buổi họp báo tại Bắc Kinh hôm Thứ Ba 6/8, phát ngôn viên Văn phòng Liên lạc Trung Quốc, cơ quan đại diện cho nhà cầm quyền trung ương Trung Cộng tại đặc khu tuyên bố “Chúng tôi cho rằng, hiện tại, nhiệm vụ ưu tiên của chính quyền Hồng Kông là trừng phạt các hành động bạo lực và bất hợp pháp, theo pháp luật, nhanh chóng tái lập trật tự và duy trì môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh”.

Tuyên bố trên được coi là chỉ thị của Bắc Kinh cho chính quyền đặc khu và cụ thể là Đặc khu trưởng Hồng Kông, Carrie Lam (Lâm Trịnh Nguyệt Nga) người bị cho là bất lực trước làn sóng phản kháng. Đồng thời đó cũng là một cảnh cáo với người biểu tình rằng Bắc Kinh có thể sẽ nhập cuộc.

Một khi Bắc Kinh ra tay trấn áp phong trào phản kháng, thì đó chỉ có thể là những biện pháp rất mạnh tay, nếu không muốn nói là khốc liệt, như họ vẫn áp dụng ở Tân Cương, Tây Tạng hay bất cứ vùng nào, địa phương nào ở Hoa Lục mỗi khi có dấu hiệu của một phong trào đấu tranh ly khai, đòi dân chủ hay phản kháng chế độ.
Câu hỏi được đặt ra là phạm vi hành động của Bắc Kinh sẽ thế nào ở vùng đất vốn đã có 155 năm sống dưới thể chế dân chủ với người Anh?

Jean François Huchet, chủ tịch Viện Ngôn Ngữ Phương Đông của Pháp (INALCO), cho rằng quyết tâm của Bắc Kinh muốn tái lập trật tự nhanh chóng ở Hồng Kông có những mâu thuẫn trong phạm vi hành động. Theo ông Huchet, “Một mặt chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình không thể tỏ ra quá yếu. Mặt khác ông ta cũng không thể đi quá xa trong việc trấn áp khiến có thể làm tổn hại đến hình ảnh của cả chế độ Bắc Kinh trun gương, cũng như chế độ ở Hồng Kông”.

Việc đưa quân đội vào làm nhiệm vụ trấn áp biểu tình là một hạ sách chỉ có thể coi như là một giả thiết, dù Hiến Pháp của đặc khu bán tự trị này cho phép làm điều đó. Theo chuyên gia Jean-François Huchet, người có nhiều uy tín về Trung quốc, nói “điều động thiết giáp, chiến xa vào Hồng Kông để đè bẹp phong trào phản kháng sẽ dẫn đến một thảm họa kinh khủng. Vì thế Bắc Kinh chỉ có thể dùng để răn đe mà thôi”.
*
Thế nhưng chỉ hăm dọa không thôi thì chưa chắc đã có khả năng buộc phong trào phải kháng phải lùi bước. Cứ nhìn quyết tâm của những người biểu tình họ trước vũ lực của cảnh sát trong cuộc biểu tình hôm Chủ nhật vừa qua thì rõ. Còn một khả năng khác, theo ông Huchet, đó là can thiệp trong hậu trường, trấn áp từ trong trứng nước, tức là xác định những người tổ chức rồi cho bắt bớ hàng loạt… Thế nhưng điều này chỉ có thể làm được ở môi trường có hệ thống luật pháp mù mờ không rõ ràng ở Hoa Lục, chứ khó có thể áp dụng với Hồng Kông, nơi ít nhiều thì vẫn còn có tự do ngôn luận và truyền thông cũng như hệ thống tư pháp tương đối độc lập.

*
Tính đến nay thì chỉ còn chưa đầy hai tháng nữa là đến ngày 1/10, ngày Trung Cộng kỷ niệm 70 năm thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Thật khó có thể tưởng tượng được rằng nhà cầm quyền trung ương tại Bắc Kinh có thể tổ chức linh đình ngày lễ trọng đại của chế độ Cộng sản, trong khi ở Hồng Kông, người dân vẫn đấu tranh đòi dân chủ. Đó có thể là lý do giải thích vì sao mà Bắc Kinh nôn nóng muốn giải quyết sớm khủng hoảng Hồng Kông qua những thông điệp cứng rắn. Nhưng dùng vũ lực thái quá để trấn áp biểu tình sẽ chỉ càng làm cho người Hồng Kông cảm thấy bị áp bức từ Bắc Kinh và càng có thêm thiện cảm với phong trào dân chủ ở vùng đất thuộc địa cũ của Anh này.

Có lẽ sự chuyển biến quan trọng trong ý chí của người dân Hồng Kong càng ngày càng rõ nét.
Điều này thể hiện qua hàng chữ đại tự trên biểu ngữ của người biểu tình Hong Kong rằng “Liberate Hong Kong From Fascist China” (Hãy Giải phóng Hương Cảng khỏi ách Phát Xít Trung Quốc!)!
Trong bối cảnh phong trào phản kháng do giới trẻ Hong Kong dấy lên hơn 2 tháng nay, nhiều người tin rằng ý nguyện của thế hệ trẻ Hong Kong hôm nay là “muốn nhân cơ hội làm một cuộc chuyển đổi (tức cách mạng) vĩnh viễn cho Hương Cảng chứ không còn chịu để cho chế độ độc tài toàn trị Bắc Kinh khống chế nữa, và chuyện “dự luật dẫn độ (Extradition bill) chỉ là giọt nước làm tràn ly mà thôi!

Việc người dân Hương Cảng hôm nay sẽ tìm được Tự Do cho mình và cho các thế hệ con cháu tương lai còn phải trải qua nhiều chặng đường chông gai –thậm chí cả máu xương- phía trước và đúng là không ai có thể biết được tương lai,. Thế nhưng nếu cả một khối độc tài Cộng sản từng hiện diện có thật như 1 hữu thể gần cả 1 thế kỷ trồi bỗng chốc tan rã gần toàn bộ thì không ai dám nói trước rằng ý chí, ước nguyện cách mạng tìm tới lý tưởng Tự Do hôm nay của người Hong Kong là chuyện không tưởng!

Phạm Thạch Hồng
http://vietluan.com.au

Tay Trắng Hoàn Không - Đỗ Công Luận


Thursday, August 22, 2019

Bài Phát Biểu Của TT Putin Ở Nghị Viện Nga



Tổng thống Nga, Putin đã nói với Duma (Nghị viện Nga) và trình bày những căng thẳng với các nhóm thiểu số ở Nga:

"Ở xứ này, hãy sống như người Nga, bất cứ ai trong nhóm thiểu số, từ bất cứ chốn nào, nếu muốn sống ở Nga, làm việc và ăn ở Nga, cần phải nói tiếng Nga, và phải tôn trọng luật pháp Nga. Nếu muốn sống theo luật Sharia và đời Hồi Giáo, chúng ta khuyên họ nên đi đến và sống ở những nơi coi Hồi Giáo là pháp luật địa phương.
Nước Nga không cần đến dân thiểu số Hồi giáo, dân thiểu số đó cần Nga, và chúng ta sẽ không cấp cho họ những đặc quyền nào cả, hoặc cố gắng thay đổi luật lệ của chúng ta để thích nghi với ước nguyện của họ, cho dù họ la 'kỳ thị' to thế nào chăng nữa !
Chúng ta sẽ không tha thứ việc bất kính nền văn hoá Nga của chúng ta.
Chúng ta phải học được từ những vụ tự vẫn của các chế độ dân chủ gọi là - Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Hoà Lan - nếu quốc gia chúng ta muốn sống còn.
Dân Hồi giáo đang xâm chiếm những nước này, NHƯNG họ sẽ KHÔNG thống trị được Nga !
Phong tục và truyền thống của nước Nga chúng ta không phù hợp với lối kém văn minh hoặc những ứng xử man rợ của Sharia và dân Hồi giáo.
Khi cơ quan lập pháp được nể trọng này nghĩ về việc lập ra những đạo luật mới, xin nhớ quan tâm đầu tiên đến ích lợi quốc gia Nga, và phải luôn nhớ rằng dân thiểu số Hồi giáo không phải là người Nga"
Giới chính trị gia trong nghị viện Duma đã cùng đứng lên ngợi khen Putin trong 5 phút.
(Nếu giữ bài này cho riêng mình mà không chuyển đến người khác, chính bạn dự phần vào vấn đề).

-----------------
Chẳng lạ gì khi ông Putin được tạp chí Forbes chọn là người quyền lực nhất trên thế giới.
Đây là lúc quý vị dân cử của chúng ta nên quan tâm đến lời khuyên của Vladimir Putin.
Xin đề nghị không chỉ riêng chính quyền mà mọi công dân Mỹ nên chú tâm đến lời khuyên này. Thiệt đáng sợ ?

Thật đáng buồn khi một nhà lãnh đạo Cộng sản có lý hơn so với nhiều vị dân cử trong Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ, nhưng quả đúng vậy ! 

Imagine - John Lennon - What do you want HD - Youtube Long Kangaroo

The "F" Word

Quite frankly, the "F" word can be the ONLY word in the English language that accurately describes some situations.










The word is 'FEAR' of course!


What in the world were you thinking?

From: Internet

Wednesday, August 21, 2019

Chị Mè - Nguyễn Đại Thuật


Đầu năm tôi vào học lớp nhất trường tiểu học, gia-đình tôi có thêm một người giúp việc. Lúc bấy giờ gia đình tôi đã có một chị giúp việc lớn tuổi chuyên lo về công việc đi chợ, nấu ăn, giặt giũ quần áo, lo giữ nhà cửa sạch-sẽ.

Cha mẹ tôi có tất cả năm người con, và trong tương lai gần mẹ tôi sẽ có thêm một đứa con nữa. Có lẽ vì vậy mẹ tôi đã thuê thêm chị Mè. Cha mẹ tôi có một cơ-sở làm ăn tương đối lớn, bận rộn công chuyện suốt ngày, mấy anh chị em chúng tôi thiếu người săn sóc, nên chị Mè được giao cho công việc nầy.
Chị Mè còn trẻ lắm, chị khá đep, tóc ngắn ngang vai, kiểu tóc mà thời bấy giờ người ta gọi là tóc thề. Chị gốc người làng Trà-Kiệu, thuộc tỉnh Quảng-nam, cả làng theo đạo Thiên-chúa, nơi người ta nói đã có lần Đức Mẹ hiện ra.

Hàng ngày chị Mè tắm rửa, thay quần áo, lo cho ăn uống và đưa đón anh chị em tôi đi học.

Chị Mè không biết chữ, nhưng chị thuộc kinh Chúa, đêm nào chị cũng đọc kinh trước khi ngũ. Cha mẹ tôi gốc đạo Phật, nhưng tôi chưa có dịp đi chùa lần nào, cũng chưa biết ông Phật là ai, nhưng qua chị Mè, tuổi thơ tôi thấm nhuần rất nhiều về đạo lý của Thiên-chúa do chị kể. Chị đã dạy cho tôi thuộc kinh Kính Mừng, Kinh Lạy cha và tôi đã được nghe chuyện rước mình Thánh chúa, nếu ai nhận mình Thánh chúa không để tụ tan trong miệng, nuốt liền vô bụng thì mình Thánh chúa sẽ biến thành lửa đố cháy ruột để trừng phạt. Chị khuyên tôi làm điều tốt, không nên làm điều ác, làm điều tốt sẽ được lên Thiên-đàng gặp Đức-chúa Trời, làm điều ác sẽbị đọa vào Hỏa-ngục, bị quỷ ăn thịt, bị đốt thành lửa.

Mỗi sáng Chúa-nhật, chị được cha mẹ tôi cho phép đi dự thánh lễ ở nhà thờ Con gà. Khi trở về nhà, chị thường kể lại cho tôi nghe những gì chị được nghe cha xứ đã giảng. Có một buổi sáng Chúa nhật chị chuẩn bị đi lễ nhà thờ, lúc bước xuống cầu thang thì guốc chị bị đứt quai, chị không có guốc khác thay thế, chị không đi dự lễ nhà thờ được, chị ngồi khóc bên chân cầu thang.Tôi phải xin phép mẹ tôi cho chị mượn guốc thay thế. Chị mừng quá, ôm tôi hôn rất nhiều lần vào má và không quên lắp bắp lời cám ơn. Có lẽ nhìn cảnh chị mừng rỡ khi có guốc tạm thay thế vào buổi sáng hôm đó nên vào lúc chị từ nhà thờ về nhà, cha tôi bảo mẹ tôi cho tiền chị mua đôi guốc mới. Tôi nghe cha tôi nói với mẹ:
- Mình cho con Mè tiền mua đôi guốc mới, guốc nó mòn và đứt quai không đi được".
Tôi nghe tiếng mẹ tôi:"

- Cứ sáu tháng tôi trả tiền công cho nó một lần, tôi mới trả cho nó chưa tới năm ngày, nói nó lấy tiền đó mua".
Cha tôi cười, nói:
- Bà nầy hay thật, tiền đó nó nhờ tôi gởi hết về cho cha mẹ nó rồi, bà biết mà".


Tôi không nghe mẹ tôi nói gì thêm. Chiều hôm đó, mẹ tôi dẫn chị ra chợ mua guốc. Đôi guốc sơn màu đen rất đẹp. Khi chị đem đôi guốc bằng gỗ vông của chị vứt đi, tôi nhìn thấy đôi guốc của chị mòn đến nổi không có đủ bề dày để giữ chiếc đinh khi đóng quai.
Chị Mè không biết chữ, thời đó chính quyền của ông Ngô-đình-Diệm khuyến khích dân chúng đi học trong kế khoạch xóa nạn mù chữ, vì vậy có những lớp học Bình-dân giáo-dục mở ban đêm cho dân chúng không biết chữ,bận công việc ban ngày,đêm có thời giờ đi học. Cha mẹ tôi cho chị đi học lớp Bình-dân giáo-dục trong đình của khu phố. Lúc đầu chị không chịu đi, tôi hỏi, chị nói:"chị lớn cái đầu rồi mà còn đi học, mắc cỡ chết đi dược".


Rồi trước tết năm đó mấy ngày, cha mẹ tôi cho chị về quê thăm gia-đình và phải trở ra làm việc những ngày tết. Sau tết, chị xin được đi hoc lại lớp bình dân giáo dục. Cha mẹ tôi cũng không hỏi lý do tại sao trước đây chị từ chối nay lại đòi đi. Nhưng sau tối đầu tiên đi học trở về nhà, tôi cắc cớ hỏi chị: "Hôm nay chị Mè vào lớp có mắc cỡ không?" 

Chị đập khẽ vào đầu tôi nói: "Có mà ít ít thôi, không bằng hôm trước Tết chị về quê, khi vào làng, bị mấy thanh thiếu niên giăng giây chận đường xem giấy tờ, bắt đọc chữ trước khi cho vào làng. Chị đâu có đọc được, mấy đứa đó đưa chị vào trụ sở hội-đồng xã, họ bắt chị làm ký giấy cam kết phải đi học cho biết đọc biết viết. Nếu kỳ sau chị về làng mà bị kiểm soát, không đọc được chữ thì họ không cho vào làng. Hôm đó chị mắc cỡ muốn chun đầu xuống đất luôn. Gặp toàn mấy thanh niên thiếu nữ và người quen trong làng khuyên chị nên theo lớp Bình-dân học vụ. Kỳ sau về làng, bị kiểm soát, không đọc chữ được chắc là họ không cho vô làng quá, xấu hổ lắm".

Bên cạnh nhà tôi có một hẽm nhỏ, đầu hẻm có một tiệm hớt tóc. Người hớt tóc thuê mái hiên của một căn nhà để mở tiệm. Mấy anh em trai tôi là thân chủ của anh chủ tiệm hớt tóc nầy. Mỗi một tháng rưỡi, anh em tôi được chị Mè dẫn ra đây giao cho anh chủ tiệm, rồi trở lại trả tiền để đón về. Chủ tiệm là anh Cường, người ta gọi anh Cường chay, bởi vì anh ăn chay, không ăn thịt cá.Theo lời của một bà bán rong bún ốc kể cho mẹ tôi nghe nhân một buổi sáng cả nhà tôi ăn bún của bà. Anh Cường chay ngoài việc hớt tóc anh còn biết nghề xem chỉ tay, được nhiều người tin cậy, trong đó có bà. Anh xem chỉ tay chứ không nhận tiền của một ai. Anh là người cùng làng với bà ở An-cựu thành phố Huế.


Anh Cường chay có một người cậu đi tu ở chùa Từ Hiếu. Anh học hết năm đệ lục trường Quốc-học thì bỏ học vì nhà quá nghèo. Anh là con trai một nên không bị đi lính. Anh học nghề hớt tóc của người cậu và được người dì em của mẹ đem vào Đà nẵng hành nghề, vì ở An-cựu có nhiều người làm nghề hớt tóc nên khó kiếm sống. Do tiết lộ của bà bán bún, thỉnh thoảng mẹ tôi mời anh Cường qua nhà nhờ xem chỉ tay. Mẹ tôi thường khen anh Cường chay với cha tôi:

- Thằng Cường chay xem chỉ tay hay thật, nó nói tôi trúng như gần hết".
Tôi không nghe mẹ tôi nói anh Cường chay đã nói đúng những gì, nhưng mỗi lần nghe mẹ tôi nói như vậy cha tôi “hừ” lên một tiếng:
- Bà toàn tin những điều nhảm nhí".
Mẹ tôi còn nhanh nhẩu mời mấy bà bạn đến nhà để nhờ anh Cường chay xem chỉ tay nữa. Những lúc như vậy, cha tôi không vui, mặt ông nhăn nhó, bỏ đi khỏi cửa hàng đang buôn bán. Tuy nhiên, những lúc cha tôi đi Sài-gòn mua hàng trở về đều có quà cho anh Cường chay, có lẽ để trả ơn những lúc anh đã xem chỉ tay cho mẹ tôi.

Khi tôi bắt đầu vào năm học lớp đệ thất, chị Mè cũng đã biết đọc. Không biết ai cho chị quyển Thánh kinh, chị nâng niu, giữ gìn rất kỹ. Chị để quyển Thánh kinh trên đầu tủ, buổi tối, trước khi đi ngủ, chị rửa tay rồi mới lấy xuống đọc. Có lúc tò mò muốn biết trong Thánh kinh viết những gì, tôi hỏi mượn để xem, chị đồng ý cho mượn nhưng bất tôi phải rửa tay và nhiều lần nhắc tôi không được để sách trên ghế ngồi, như vậy sẽ bị Chúa phạt,

Rồi có một thời gian, tự nhiên tôi nghe mẹ tôi hay la rầy chị Mè; mỗi lần bị la như vậy tôi thấy chị Mè đúng trong góc nhà bếp khóc, hai mắt đỏ hoe. 
Mẹ tôi la chị:

- Sao lúc nầy mi cứ dở dở ương ương, y như người trên mặt trăng, làm trước quên sau, làm gì hư nấy, lúc nào cũng thẩn thờ như bị ai hớp hồn. Chỉ việc pha sữa tới giờ cho em bú mà cũng quên để cho thằng nhỏ khóc ầm cả lên." 
Tôi chưa bao giờ nghe chị trả lời mẹ tôi khi bị la mắng như vậy. Chỉ im lặng và khóc. Khác với những kỳ đi hớt tóc trước, kỳ nầy chị Mè tự nhiên nhắc tôi đi hớt tóc từ ba ngày trước. Đến hôm chị dẫn tôi vừa ra đến cửa thì cha tôi bảo: "Nó lớn rồi tự đi hớt tóc một mình, khỏi cần đưa đi."

Chị Mè quay lui vào nhà, mặt chị xịu xuống và buồn. Khi tôi bước vào tiệm hớt tóc, anh Cường chay thay vì chào tôi như trước đây, anh bước ra khỏi tiệm nhìn trước nhìn sau con hẽm rồi đi trở vào hỏi tôi:
- Sao nay chị Mè không đưa em đi?"


Tôi trả lời: “Cha em nói em lớn rồi không cần chị Mè đưa đi".Tôi nghe anh Cường thở dài. Suốt buổi hớt tóc hôm đó, anh Cường không nói thêm với tôi một lời nào.. Khi từ tiệm hớt tóc về nhà, chị Mè gội đầu cho tôi, chị hỏi:
- Anh Cường có hỏi gì chị không? "Tôi lắc đầu. Chị lại hỏi lần nữa:
- Bộ anh ấy không hỏi gì chị sao?".
Tôi lại lắc đầu.Tôi lại nghe chị thở dài và chờ mãi không thấy chị dội nước lên đầu khiến tôi phải nhắc chị. Mãi đến tối hôm đó tự nhiên tôi nhớ lại lời anh Cường có hỏi tôi vừa luc tôi đến hớt tóc. Tôi xuống bếp tìm chị. Chị đang đọc quyển kinh thánh.
Tôi nói với chị:
- Bữa ni anh Cường có hỏi, sao chị Mè không dẫn em đến hớt tóc, em trả lời cha em nói em lớn rồi đi một mình được, không cần chị Mè đưa đi" . Tôi thấy mặt chị rạng rỡ lên, chị nâng quyển Thánh-kinh lên hôn. Lúc tôi ra khỏi bếp, tôi nghe chị nói vọng theo:
- Lần sau đừng quên như vậy nghe em, tội chị lắm!”.
Mấy hôm sau, ngày Chúa-nhật, sau khi chơi đá banh trở về, lúc đi ngang nhà thờ Con Gà, chen lẫn giữa những người dự Thánh lễ ra về, trên đường đi, tôi nhìn thấy anh Cường chở chị Mè sau xe đạp. Buổi trưa khi chị Mè gọi cửa để vô nhà, tôi mở cửa. Chi vừa vào trong cửa, tôi cười và nói lớn:
- Lủc nảy em thấy anh Cường chở chị sau xe đạp !" 
Chị nhào tới đưa tay bịt miệng tôi, nhưng cha mẹ tôi đã nghe và đã thấy. Mặt chi đỏ gay, cúi đầu đi một mạch vào trong. Vừa lúc đó mẹ tôi nói với cha tôi:- Hèn chi mấy tháng ni nó cứ thẩn thờ, quên trước, quên sau, nó thương thằng Cường chay rồi...mới có bấy nhiêu tuổi!

Cha tôi cắt ngang lời mẹ tôi, nói diễu:

- Hay ghê! chớ bà yêu tôi lúc bao nhiêu tuổi ? Con Mè năm ni nó mười bảy tuổi rồi, lúc đó bà còn nhỏ thua nó một tuổi..bộ quên rồi sao ?"

Tôi chỉ nghe mẹ tôi "hừ” một tiếng rồi bỏ lên lầu.

Chuyện anh Cường chay và chị Mè thương nhau những ai ở trong hẽm gần tiệm hớt tóc của anh Cường cũng biết. Bà chủ nhà cho anh Cường thuê mái hiên trước nhà để làm tiệm hớt tóc đã có lần kể cho mẹ tôi nghe lúc đó có tôi bên cạnh. Mấy ngày trước đó, ông thầy tu, cậu anh Cường ngoài Huế vào thăm anh Cường, có đến tiêm hớt tóc chơi, bà nghe người cậu nói chuyện với anh Cường: "Cậu và có thể cả mẹ cháu cũng không chấp nhận cuốc hôn nhân nầy. Cháu, con nhà thờ Phật bao nhiêu đời nay rồi mà cưới con Mè gốc đạo Thiên chúa đến khi cháu chết thì ai cúng cơm cho, bộ cháu muốn làm ma đói?”

Anh Cường phân trần:
- Đâu có sao, lấy chồng thì phải theo đạo chồng, cùng quả thì đạo ai nấy giữ, cậu nói giúp cháu để bà chấp thuận hai cháu cưới nhau".
Người cậu lắc đầu lia lịa:
- Cậu biết là không được đâu, nhưng cậu sẽ cố nói giúp cho cháu, được hay không thì cậu chưa biết."Rồi ông gằn giọng:

- Hết người thương sao lại thương con nhà theo đạo Chúa!"
Ông hỏi anh Cường tuổi của chị Mè, bấm đốt ngón tay, miệng lẩm nhẩm: "Tuổi hai đứa không có gì xung khắc, nhưng cái đạo của ông Chúa và ông Phật xung khắc...không biết tính sao đây ?"

Không bao lâu sau khi nghe lõm được chuyện anh Cường chay muốn cưới chị Mè, chị xin phép cha mẹ tôi nghỉ vài hôm để về Trà-kiệu chờ ngày gia-đình anh Cường từ Huế vào xin lẽ hỏi. Thời gian đó anh Cường cũng nghỉ hớt tóc.
Ngày trở lại làm việc, chị Mè buồn thiu, chị không nói chuyện với ai, ngay cả tôi chị cũng không nói một lời. Ngày Chúa-nhật chị cũng không đi lễ nhà thờ. Càng ngày chị càng thẩn thờ hơn. Mẹ tôi cũng la rầy chị nhiều hơn vì chị lơ là công việc hàng ngày, đến nổi cha tôi phải ngăn mẹ tôi nặng lời với chị:
"Mình hãy thông cảm cho con Mè, gia-đình nó không cho thằng Cường chay cưới nó vì thằng Cường chay không chấp nhận bỏ Phật theo Chúa, nó mất tinh thần nên sao lãng công việc nhà, lần hồi tinh thần nó sẽ ổn định, làm việc bình thường trở lại.


Định kỳ hớt tóc của tôi tháng đó bị gián đoạn, anh Cường chay đóng cửa tiệm không rõ lý do. Ngày anh mở cửa làm việc trở lại cũng là ngày bà chủ nhà cho anh Cường chay thuê mái hiên làm tiêm hớt tóc qua nhà nói chuyện với mẹ tôi và tối hôm đó mẹ tôi kể lại cho cha tôi trong bửa cơm: "Thằng Cường chay đã đổi ý, chịu bỏ Phật theo Chúa để được cưới con Mè. Mẹ thằng Cường chay không chịu, đòi cắn lưỡi tự tử và bà ta đã làm thật. Gia-đình thằng Cường chay phải chở bà vào nhà thương Huế cấp cứu, may mà cứu kịp."

Rồi không hiểu sao, chị Mè vui vẻ trở lại,công việc nhà chị làm không còn bị mẹ tôi quở trách nửa. Chị tiếp tục đi lễ nhà thờ mỗi Chúa nhật, anh Cường chay chở chị đi lễ và đón chị trở về bằng chiếc xe đạp đầm mới mua. Chị Mè đã tiết lộ cho tôi biết, buổi tối hết công việc,chị sẽ xin phép cha mẹ tôi tập đi xe đạp, chi nhờ tôi: "Tối nào chị tập đi xe đạp, em giúp chị đóng của và mở của cho chị được không ?"

Tôi đồng-ý, hỏi chị: "Xe đạp đâu mà chị tập ?"
Chị trả lời không đắn đo: "Xe đạp anh Cường mới mua".

Biết được chuyện chị Mè được anh Cường chay đưa đón đi lễ nhà thờ mỗi sáng chúa nhật bằng xe đạp, mẹ tôi nói với cha tôi: "Từ đây ra nhà thờ Con gà chỉ có hai trăm thước mà đưa với đón, bày đặt!

Cha tôi lại cười: "Nguời ta yêu nhau mà em !"
Tôi học chưa hết năm đệ lục, chị Mè xin nghỉ việc vì giao ước làm việc ba năm chấm dứt. Cha mẹ tôi đồng ý.

Lúc bấy giờ mấy anh chị em tôi đã lớn, đứa em nhỏ nhất ba tuối đã có chi hai tôi săn sóc những khi nghỉ học hay những lúc rảnh rổi. Cha mẹ tôi cũng không còn cần chị Mè. Mùa hè năm đó tôi lang thang cũng lũ bạn nơi họ đạo Tam-tòa, tình cờ tôi gặp chị Mè, chị cho tôi biết đang cùng chung với người bạn mở một tiệm may quần áo tại đây. Chị đưa tôi và lũ bạn về tiệm may của chị và pha nước chanh cho uống. Đang uống thì anh Cường chay đạp xe đến, vứt xe bên vệ đường đi nhanh vào tiệm may, mặt anh cau có có vẻ bực bội.
Anh nắm tay chị Mè kéo vào sau nhà. Thấy không khí lúc đó không vui, tôi và lũ bạn im lặng rời tiệm may. 
Về gần đến nhà, ngang qua hẻm có tiệm hớt tóc của anh Cường chay, nhìn thấy có vài người tụ tập trước tiệm hớt tóc, tò mò tôi dừng lại, tôi biết anh Cường chay không có trong tiệm, anh đang ở tiệm may của chị Mè.
Một người đàn bà tóc đã bạc đang ngồi bệt dưới đất trong tiệm hớt tóc, mặt mày bơ phờ, tóc tai rũ rượi, hai tay đập vào nền đất, miệng rên ư ử : "Con ơi là con ! Mè ơi là Mè ! con ở đâu mà mấy tháng ni không về với cha mẹ? Cường ơi là Cường ! mi giấu con gái tau ở mô ? hãy đem nó trả lại cho tau...không thì tau đập đầu chết ở đây cho mi hả dạ..."
Mấy người hiếu kỳ đứng xem nói với nhau:
"Cương chay với con Mè thương nhau, xin cưới nhau nhưng hai bên cha mẹ không thuận vì khác đạo nên hai đứa nó lén lút sống chung. Bữa ni mẹ con Mè từ quê ra tìm nó, đến đây nằm vạ đòi con gái."
Tôi rời đám đông, ra đến đầu hẽm thì vừa lúc anh Cường chay đạp xe chở chị Mè chạy vào hẽm.

Tối hôm đó chị Mè đưa mẹ qua xin phép cha mẹ tôi cho ngủ nhờ để sáng hôm sau trở lại quê. Anh Cường chay đứng ngoài cửa, tôi nghe anh thở dài, còn chị Mè hai mắt đỏ hoe.

Mấy ngày liên tiếp sau đó tiệm hớt tóc của anh Cường chay đóng cửa, bà chủ nhà lại qua nói chuyện với mẹ tôi:
"Hôm con Mè đưa mẹ về quê, khi qua đò, con Mè nhảy sông tự tử, nhờ nước sông cạn nên con Mè được vớt lên, chở vô bịnh xá quận Điện-bàn cứu chữa. Bác sĩ nói cái thai trong bụng con Mè không bị ảnh hưởng gì. Thằng Cường chay không làm việc mấy bửa ni, nó đi thăm con Mè ở bịnh xá."

Bà lại thở ra: "Trai gái thời nầy loạn rồi, chưa thành vợ thành chồng mà đã ăn nằm với nhau để có chửa!"
Từ đó, tôi không còn được gặp hay được nghe tin tức nào liên hệ đến anh Cường chay và chị Mè.


*****

Sau những năm tháng chiến tranh ác liệt Quốc Cọng, miền Nam Việt-nam thua cuộc. Chiến tranh chấm dứt, nhưng lòng người lại ly-tán. Đất nước như nồi canh chay bị vỡ, người dân xông xáo khắp nơi, tìm đường ra khỏi biên giới, làm người Do-Thái lang-thang, tạo lập cuộc sống mới nơi xứ người. Trong dòng người nầy có gia-đình tôi. Trong những năm tháng tạo lập đời sống mới, lần lượt cha mẹ tôi qua đời, linh-vị được thờ tại một ngôi chùa nhỏ phía Nam thành phố Paris nước Pháp. Chùa có tên Tây-Phương. Vị sư Trụ-trì chùa, Thượng-tọa Như-Hóa mới đây đã viên-tịch, một thầy khác, Thuợng Toạ Giác-Miên, được mời từ Népal qua thay thế nhưng tôi chưa có dịp diện-kiến. 

Rằm tháng bảy âm-lịch trong năm 2000, tôi điện thoại đến chùa xin ghi danh lễ cầu siêu cho cha mẹ nhân ngày xá tội vong nhân. Hôm đó, tôi vừa đến chùa thì lễ cũng đã bắt đầu.Tiêng đọc kinh, tiếng chuông mõ hòa quyện cùng khói nhang thơm làm tâm thần tôi thanh-thản, tôi cố lắng nghe âm thanh tên, tuổi cùng pháp-danh của cha mẹ tôi sẽ được đọc lên trong buổi lễ..tôi đang chờ...tên của cha mẹ cùng Pháp-danh của một phật-tử nào đó được đọc lên, kế tiếp ...và kế tiếp...

Tôi giật mình, không tin vào tai tôi..Théresa Hứa-thị Mè, sinh ngày 12 tháng ba năm 1943 tại làng Trà-kiệu tỉnh Quảng Nam, tạ thế ngày 10 tháng 2 năm 1999 tại thành phố Marseilles nước Pháp... thầy chủ trì chánh lễ vừa đọc đến đây thì tiếng chuông mõ bổng ngừng lại, hàng Phật-tử dự lễ sát chánh điện ngơ ngác, lao xao. Một tăng sinh còn trẻ nhưng vốn quen việc nghi lễ trong chùa vội vàng thay thế Thầy đọc tiếp danh sách cầu siêu trong tiếng xì xào mất trật tự...rồi có tiếng yêu cầu gọi xe cấp cứu.


Khi biết thầy Giác-Miên bị ngất xỉu, phản ứng theo thói quen của một bác-sĩ, tôi bước nhanh đến bàn thờ Phật. Thượng-tọa Giác-Miên đang quỳ, nhưng cả phần thân người bên trên gục xuống hàng chuông mõ phía trước. Tôi nâng mặt thầy lên, quàng tay sau lưng thầy, đỡ nhẹ thầy nằm xuống mặt thảm trước chánh-điện. Tôi thực hiện những tác động cấp cứu dành cho một người bị ngất xiủ. Vài phút sau thầy bắt đầu tỉnh lại. Một vài Phật-tử giúp tôi dìu thầy về phòng riêng.Tôi tiếp tục theo dõi huyết áp và nhịp tìm của Thầy. Tôi nghe hơi thở của thầy bình thường trở lại, nhưng hai mắt của thầy vẫn nhắm như ngủ. Tôi căn dặn vị thị-giả những điều cần thiết phải săn sóc khi thầy tỉnh hẳn. Vừa quay người định ra khỏi phòng, tôi nghe tiếng thầy Giác-Miên thều thào: "Bác sĩ, bác sĩ có phải là chú Kính ở Đà Nẳng không?"

Tôi quay người lại, thầy thều thào tiếp:
- Chú không nhớ thầy sao ? Nghe cái giọng đặc biệt Quảng-nam Đà-nẵng của chú, thầy nhận ra ngay...Thầy là Cường chay, ngày xưa hớt tóc cho chú đó .

Tôi cúi xuống nhìn kỹ mặt thầy: hai mắt đã mở, hai bên khóe mắt có vài giọt nước chảy dọc theo hai bên sóng mũi. Tôi nhận ra được thầy Giác-Miên là anh Cường chay. Tôi ngối xuống bên cạnh thầy, hai tay nắm hai tay của thầy. Xúc động làm tôi ứa nước mắt...mới đó mà đă hơn hai mươi lăm năm. Cái âm thanh Theresa Hứa thị-Mè vừa được đọc lên trong lễ cầu siêu lại hiện trong đầu tôi..và tôi chợt hiểu, có thể đó là lý do thầy Giác-Miên ngất xỉu!
Những tháng năm sau đó tôi viếng chùa Tây-Phương thường xuyên hơn, có lẽ vì anh Cường chay là Thuợng Toạ Giác-Miên trụ trì. Một hôm, tôi gặp thầy xin nhận một lễ quy-y cho toàn gia-đình của tôi. Nhân lúc trong phòng làm việc chỉ còn mình thầy, tôi đánh bạo hỏi:
- Chắc thầy còn nghĩ đến chị Mè phải không?

Thầy không trả lời, mặt trở nên suy-tư, xa vắng. Tôi hỏi tiếp:
- Hồi đó, sau khi chị Mè nhảy sông tự-tử, thầy có găp được chị ấy không?

Thầy bối rối và do dự khá lâu rồi mới bắt đầu nói chuyện của thầy với giọng buồn rầu:
- Mô Phật! Mấy mươi năm nay thầy đã chôn quá khứ của thầy trong lời kinh, tiếng chuông tiêng mõ mà hình như nghiệp vẫn chưa dứt được, còn theo mãi cho đến ngày nay......

... Trước khi Mè nhảy sông tự vẫn, thầy và Mè đã chuẩn bị sẵn sàng vào Lâm-đồng sinh-sống. Lúc bấy giờ Mè đã có thai. Chú biết, thầy và Mè thương nhau. Sự ngăn cản của hai bên gia-đình không cho hai đứa cưới nhau càng quyết liệt thì hai đứa càng bất chấp tai tiếng. Sau khi được cứu chữa bình-phục, Mè trở về quê. Hai đứa đã quyết định ngày giờ gặp nhau để bỏ xứ ra đi. Ngày hẹn đã đến, thầy chờ không gặp được Mè.

Ngày hôm đó đồng bào trong quê gồng gánh cùng gia-súc lũ lượt từ trong xóm làng xa xôi tràn ra quốc lộ. Người ta kể cho nhau nghe trận chiến đã xẩy ra đêm hôm trước ở làng Trà-kiệu. Giải-phóng quân Cong-sản Việt-nam đã tấn công làng, đốt phá cơ sở chính-quyền địa-phương bắt dẫn đi chỉ điểm những viên chức chính quyên. Đạn pháo binh từ trong đồn địa phương quân cũng như từ quận bắn vào làng. Gần sáng, máy bay từ Đã-nẵng bay vào yểm trợ. Bom đạn quân đội hai bên làm làng Trà-kiệu tang-hoang. ..Không biết dân làng ai chết ai sống, mạnh ai nấy chạy. Cái gì lấy được thì mang theo. Cả mấy ngày tiếp theo, thầy đi đến các làng xã quanh làng Trà-kiệu, vào các bịnh-viện lớn, bịnh-xá nhỏ tìm Mè, Mè vẫn biệt tăm. Nửa tháng sau thầy theo chân dân làng được cho phép trở về đến trước nhà Mè, ngôi nhà đã bị cháy rụi. Mấy tháng chờ đợi sau đó, tin-tức về sự sống của Mè vô vọng, thầy trở về Huế và thầy xin xuất gia với người cậu...
Sau tốt nghiệp Phật-học viện Nha-trang năm 1970 thầy được học bỗng đi học bên Ấn-độ..rồi ở tu luôn tại bên ấy. Các đây vài tháng thượng-tọa Như-Hoá viên-tịch, thầy được chuyển về đây thay thế.
Tôi hỏi thầy:
- Danh sách lập để được cầu siêu hôm rồi không phải do thầy lập sao?
"Không !.Do một phật-tử chuyên trách từ thời còn thầy Như-Hóa."

Tôi nói tiếp:
- Như vậy thì chị Mè không bị chết trong hôm làng Trà kiệu bị giặc tấn công và người xin lễ cầu siêu xưng là con gái của chị Mè.,.nhưng không rõ có phải là con chị Mè với thầy hay con sau nầy với người khác..."
Thầy không trả lời câu hỏi của tôi, thầy chỉ gật đầu..rồi lắc đầu...rồi thở dài.

Tôi hỏi tiếp:
- Thầy có muốn tim sự thật về chị Mè những tháng năm sau này nầy không?
Thầy trả lời dè dặt:
- Chú Kính giúp thầy việc nầy thí quý hoá lắm. Từ hôm đó đến nay, thầy suy nghĩ hoài mà không biết làm gì và làm như thế nào.
Tôi vừa thương thầy vừa ái-ngại cho thầy, đoán biết trong thầy con sóng tình cảm xa xưa trở về đang làm thầy giao-động.

Nhờ vào số điện-thoại lưu trong phiếu xin lễ cầu siêu, tôi liên lạc với con gái chị Mè. Không khó khăn lắm khi tôi tự giới thiệu với con gái chị Mè, ngày xưa, rằng thời chiến tranh chị Mè làm việc trong gia-đình tôi ba năm, từ khi chị Mè thôi việc, tôi không có tin tức của chị...Vừa qua, nhân dự lễ cầu-siêu tại chùa Tây phương, có nghe tên của chị Mè được đọc trong buổi lễ, nên nay liên lạc để hỏi thăm. Đầu giây, cô gái tự nhận là con gái duy nhất của chị Mè, đang cùng chồng và con cái sống ở một làng vùng ngoại ô Bắc Paris. Qua trao đổi nhận biết nhau, con gái chị Mè mời tôi đến thăm nhà nhân dịp cuối tuần.

Một tuần sau đó tôi đến thăm con gái chị Mè. Nhà nằm trong một trang trại nuôi gà công-nghiệp. Con gái chị Mè tự giới thiệu tên là Michelle, có chồng là người Pháp chủ trại gà và có ba con. Sau những bỡ ngỡ ban đầu hai chúng tôi trở nên thân thiện rất nhanh. Tôi đã kể cho Michelle kỷ niệm giữa tôi và chị Mè ngày xưa lúc chị giúp việc cho gia-đình tôi.Tôi cũng đã giới thiệu cuộc sống hiện tại của tôi...và cả buổi sáng ngày cuối tuần hôm đó tôi đã được nghe Michelle kể về mẹ của mình, chị Mè: 


Michelle sống với mẹ vùng Chợ Đệm Thủ-Đức, mẹ có một quán may nhỏ chuyên sửa quần áo lính cho các sinh-viên sĩ quan Trường bộ binh Thủ-Đức nên cuộc sống của hai mẹ con rất ổn-định. Những năm tháng đó, Michelle không bao giờ được mẹ kể cho biết gia-đình thân thuộc có ai và ở đâu.

Khi hỏi về cha của mình, chị được mẹ nói là thất lạc trong chiến tranh không biết chết sống thế nào. Tên cha được ghi trong giấy khai-sinh là Lê-chí-Cường, sinh-quán tại Huế. Năm 1975, khi miền Nam Việt-nam bị thay đổi chính quyền, mẹ chị vẫn sống bằng nghề may. Michelle được nhận làm tiếp-viên cho khách-sạn Caravelle nhờ thông thạo Pháp ngữ. Tại đây, Michelle quen biết với một du-khách Pháp và một năm sau hai người cưới nhau. Chồng của Michelle là đảng-viên đảng Xã-hội Pháp, làm xã trưởng của một xã nhỏ vùng ngoại ô thành-phố Marseilles.


Michelle và mẹ cùng qua Pháp một ngày. Mẹ được nhận phụ giúp việc săn sóc các nữ tu Thiên chúa giáo về hưu tại địa phương. Năm 1999, mẹ chị bị phát hiện ra bịnh ung-thư lá lách ở giai đoạn cuối. Trong chống chọi với căn bịnh ngặt nghèo, biết là mình không thoát khỏi sự chết, mẹ đã kể lại một phần đoạn đời của mẹ....

Sau cái đêm làng Trà-Kiệu bị giặc tấn công chiếm đóng, gia-đình mẹ tản-cư vào tạm trú nhà một người bà con tại thị-xã Tam-kỳ. Cuộc chiến trở nên ác-liệt, gia-đình mẹ không trở về làng cũ. Cháu được mẹ sinh ra vài tháng sau đó. Cuộc sống cơ cực, hai mẹ con bị gia-đình đối xử lạnh nhạt vì mẹ sinh con trước có phép cưới. Quá đau khổ, quẩn-trí, một đêm mẹ định để cháu lại cho bà ngoại, lén ra sông tìm cái chết. Trên đường đi khi ngang qua một căn nhà trong một xóm nhỏ, mẹ nghe tiếng khóc, tiếng của một đứa trẻ: “Mẹ ơi! mẹ đâu rồi ?. Mę đi đâu rồi? Con sợ quá..." Trong đêm khuya, tiếng khóc đòi mẹ của đứa trẻ như xé lòng mẹ, đánh thức lương tâm và trách nhiệm của mẹ mà trong một phút giây nông nổi mẹ đã định làm chuyện dại dột... Và mẹ đã quay trở về nhà.


Trong cùng cực của cuộc sống, một may mắn đến với mẹ...người bạn cùng may chung với mẹ ở Đà-nẵng trước đây, vừa có chồng là lính phục vụ trong quân-trường Sĩ-quan trừ bị Thủ-Đức, gặp lại mẹ, rủ mẹ cùng hợp tác may chung tại quán may ở Chợ Nhỏ mà bạn mẹ theo chồng dọn về đây. Cuộc sống bắt đầu ổn-định,mẹ đã nhiều lần về Đà-nẵng, về Huế tìm ba, nghe nói ba đã đi tu ở nơi xa và ba đã như một cánh chim lạc trong bốn phương trời vô-định.

Michelle ngừng một chốc,thở ra, kể tiếp:
“Mẹ cũng có kể cho cháu về mối tình ngang trái của mẹ.... mẹ không còn kỳ-vọng gặp ba trước khi nhắm mắt mẹ đã căn dặn cháu phải làm theo lời mẹ, sau khi mẹ chết... mẹ nói:


- Khi mẹ chết rồi, cháu phải thờ mẹ trong một ngôi chùa nào đó...ngày xưa,vì vấn đề tín-ngưỡng mà tình duyên của mẹ ngang trái. Ba của cháu đã xin từ bỏ đạo Phật của mình theo đạo Thiên-chúa để được cưới mẹ, nhưng gia-đình của ba không thuận, bà nội, tức mẹ của ba cháu đòi tự vẫn nếu ba cháu quyết định bỏ Phật. Nay vì tấm lòng của ba, bỏ đạo của mình để được cưới mẹ, tuy chuyện không thành. Tôn giáo thường dạy con người có linh-hồn sau khi chết sẽ về an nghỉ ở một nơi nào đó, thì như vậy, Phật sẽ che chở linh hồn mẹ và mẹ sẽ gặp được ba cháu không còn bị giới luật của tôn giáo ràng buộc, ngăn cấm. Cháu đã làm theo lời mẹ, đem di-ảnh của mẹ thờ tại chùa Tây-Phương mấy năm nay, từ khi cha mẹ chồng cháu nghỉ hưu, giao cơ-sở chăn nuôi cho chồng cháu quản lý vừa lúc chồng cháu hết nhiệm-kỳ xã trưởng."

Tôi đã kể lại cho thầy Giác-Miên câu chuyện gặp gỡ Michelle ngày hôm đó.Qua điện thoại giọng thầy đầy khích-động. Tôi cho thầy biết, Michelle chưa biết thầy là thân sinh của cháu vì lý do tôi chưa xin sự chấp thuận của thầy...thầy nói:"Phải cho Michelle biết....làm thế nào đây để tạo sự thuận-tiện thầy cũng chưa biết..thôi chờ vài hôm nữa mình bàn tính lại."

Sự bàn tính tạo thuận tiện cho cha con thượng-tọa Giác Miên và Michelle gặp nhau đang trong dự trù thì một buổi sáng tôi đang còn ngủ có tiếng reo điện thoại đánh thức tôi dậy. Một người nào đó từ chùa Tây-Phương báo cho biết tin thượng-tọa Giác-Miên đang công phu sáng đã bị đột quỵ, được xe cứu thương chở vô bịnh viên cấp cứu.Thay vì vào nơi làm việc, tôi lái xe chạy thẳng vào bịnh viện thăm thượng-tọa Giác Viên; nhân viên tại đây báo cho biết Thượng-tọa đã ra đi, bác-sĩ không cứu kịp.


Sau lễ an-táng thượng-tọa Giác Miên, tôi đến thăm Michelle một ngày cuối tuần.Tôi chuyển cho Michelle một bao thơ của thượng-toạ Giác Miên đã viết sẵn. Bao thơ được tìm thấy trên bàn làm việc của thầy, nhờ tôi trao lai. Michelle nhìn tôi vẻ bối rối khi nhận thơ.Tôi yên lặng ngồi nhìn Michelle e-dè mở thư ra đọc. Tôi thoáng thấy có những tấm hình đen trắng kèm theo thư cùng bản sao một thẻ căn cước... Mặt Michelle càng lúc càng trở nên căng thẳng đầy xúc động...những giọt nước mắt chảy ra từ hai khóe mát, lan dài trên má. Tôi đứng dậy đến gần cửa sổ nhìn ra ngoài, tránh nhìn các hình ảnh cảm động đang diễn ra trước mặt.

Một tiếng nấc, rồi những tiêng thổn thức tiếp nối.Tôi quay lại, mặt của Michelle cúi xuống, hai tay ôm đầu, hai vai run-rẩy.

Chờ Michelle bớt xúc động, tôi đến ngồi bên cạnh, giúp nhặt lên thư và hình ảnh bị rơi xuống đất.Trong một tấm hình, tôi nhìn thấy anh Cường chay và chị Mè chụp chung bên bờ con sông Hàn ở Đà-nẵng, hai người âu yếm choàng vai nhau... và bản sao thẻ căn-cước bằng tiếng Pháp có in hình anh Cường chay ghi: Lê-chí-Cường sinh năm 1940 tại Huế... Việt-nam....

Michelle nhận thư và hình ảnh từ tay tôi, ôm tất cả vào ngực..lại thổn thức: “Mẹ ơi ! Ba ơi !”.

Tôi từ giã ra về.
Michelle tiễn tôi ra cổng trang trại. Tôi nghe có tiếng gà gáy trong một góc nào đó từ bên trong xa.. Nắng buổi chiều vàng vọt trãi dài trên các ngọn cây. Tôi thoáng nhìn thấy anh Cường chay đang chở chị Mè trên xe đạp chạy từ nhà thờ Con Gà về xóm chùa Hải-Châu, nơi anh Cường chay có tiệm hớt tóc.

Nguyễn-đại-Thuật

Paris ngày 16/01/2019.
Lời người kể chuyện:
Tên và địa danh trong chuyện đã được thay đổi.

Tháng Tám Buồn - Trầm Vân

Thư Ngỏ CÁM ƠN (Không Tem, Không Phong Bì) Kính Gởi Thiên Chúa - nguoiviettudo


(Tôi dự định viết thư này lâu lắm rồi mà không biết bắt đầu từ đâu, như thế nào, bởi vì Hồng Ân Thiên Chúa ban cho qua lời cầu bàu của Mẹ nhiều kể không hết !!)
………………………………………….
  
Trước hết con sấp mình thờ lạy và cám ơn Thiên Chúa. Tính từ khi hiểu biết đến bây giờ con đếm không hết những lần con ngoảnh mặt với Thiên Chúa, nhưng chưa lần nào Ngài lãng quên con.

Ngài cho con sinh ra trên một đất nước VNCH giàu lòng nhân ái, được học hỏi, thấm nhuần những đức tính để tránh việc xấu và thực hành điều tốt đẹp.
Con cám ơn Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ chúng con, cùng Thánh Cả Giu Se người bạn đời thánh sạch của Mẹ. Thay vì để mặc con chìm lỉm trong bóng đêm, Mẹ đã không nở, đã vươn tay cứu vớt, cầu bàu cho con bằng nước mắt của Mẹ.

Con cám ơn Thiên Chúa qua lời cầu bàu của Mẹ đã cho con sinh ra bởi ba má con, hai vợ chồng nghèo tiền của nhưng giàu đức tin đến nỗi chu toàn cho con cái được đi học đạo, được rửa tội, được trở thành người Công Giáo.  (Nhiều khi con tự hỏi liệu con có thể hoàn tất những gì ba má đã làm cho tụi con nếu ở vào cùng hoàn cảnh như ba má?). Con cám ơn đất nước VNCH nuôi dưỡng con nên người và tạo mọi điều kiện để con giữ đạo - mặc dù con đã có thời gian dài là một con chiên đen thùi lùi hơn mực tàu -.  Các Đấng Tử Đạo VN, những hạt giống chết đi để từ đó người VN Công Giáo chúng con ngày càng mến mộ, hiểu biết sức mạnh tình yêu và truyền bá danh Chúa ra toàn thế giới. Các Ngài noi gương sáng cho chúng con và gần đây nhất là HY Nguyễn V Thuận , lúc tù tội dâng lễ mỗi ngày với ba giọt rượu và một giọt nước , vũ khí gồm tràng hạt Mân Côi và Thập Tự bằng thép kẽm gai lại mạnh mẽ đến nỗi nhà cầm quyền phải thay đổi quản giáo liên tục vì sợ họ bị ảnh hưởng bởi đời sống đức tin của Ngài.
Con cũng biết ơn Thánh Bổn Mạng ( Louis 14 ) các thiên thần đã bảo vệ , đánh thức con dậy mỗi lần mê ngủ.

Con cảm ơn Thiên Chúa khi bước vào nhà thờ,  cảm giác mình được bảo vệ an toàn nếu so sánh với anh em mình đang ở VN, Siria, Iraq, Ấn Độ… . Họ phải thờ lạy Thiên Chúa một cách lén lút vì không biết ngày mai ai sẽ gõ cửa bịt mắt mình dẫn đi trong đêm tối.  
Cám ơn Thiên Chúa vì chung quanh con là những người lạ mặt, Đài Loan , Phi Luật Tân …khác quốc gia nhưng cùng chung tiếng nói của Tình Yêu . Con cám ơn Chúa về những giọt nước mắt chảy ra trên má (một cách tự nhiên) khi đọc phúc âm về người cha với đứa con hoang đàng. Người cha để con mình ra đi theo ý nguyện của nó ( đời sẽ mở mắt nó ) nhưng vẫn ngóng trông con trở về từng giờ từng phút. Thiên Chúa Toàn Năng , Thiên Chúa Tạo Thành lại Nặng Nợ với  con cái ( mất dạy ) của mình đến thế sao ???

Và trên hết con ĐỘI ƠN Thiên Chúa đã cho phép con chịu khổ đau tù tội đủ dài để nhận. ra ơn sủng và sự quan phòng của Ngài. Nếu không trải qua hơn sáu năm bị đày đọa, có lẽ giờ này con vẫn còn là một blackist sheep chạy lòng vòng trong rừng hoang dã lạc lõng không tìm thấy đường ra. Những ngày đầu, con tưởng rằng đây là một sự trừng phạt cho thái độ phản phúc bất phục tùng của mình nhưng dần dà con học được rằng đây là ơn ích chứ không phải hình phạt. Thời trai trẻ con không thấy trong cuộc sống mình có chút gì liên quan tới Chúa., con muốn được tự do hành xử theo ý mình và không ai có quyền bắt con  (kể cả cha mẹ )  phải thờ lạy Thiên Chúa  - con tuyệt đối không thích điều này -.    Ngày Chúa Nhật đối với con cũng bình thường như Thứ Hai, Thứ Ba…. Một suất nhậu, cà phê , đi chơi với bạn bè đáng đồng tiền bát gạo hơn  đến dâng lễ trong nhà thờ .
Cho tới khi con phải chịu thiếu thốn ơn sũng tình yêu hơn hai ngàn ngày đêm trong ngục tối và những trại lao động khổ sai .

Đó là thời gian Ơn Ích lớn lao nhất con đã nhận được từ Thiên Chúa nhờ vào lời cầu bàu của Mẹ. Ở tù VC khủng khiếp lắm và dĩ nhiên con không dám xin Chúa cho con chiu đựng lần nữa. Tuy nhiên tận đáy lòng mình  con thừa nhận rằng nếu không nhờ Hồng Ân đó, CON TIÊU LÂU RỒI CHÚA ƠI  !! 

Tái bút :
-           Rồi quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa thể hiện qua Thánh Tâm Hiền Mẫu Đức Maria sẽ Chiến Thắng bởi vì hỡi Satan mày là ai mà đòi đương đầu với Thiên Chúa ???. 
-           Trái đất sẽ ngập tràn Ân Sũng cùng Công Lý. Ánh Sáng từ Trời Cao. Quyền năng Thiên Chúa sẽ bao trùm, bảo vệ con cái Ngài .

nguoiviettudo