Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Monday, May 11, 2026
Một Nén Hương Thơm Và Một Lời Xin Lỗi Muộn Màng - Nguyễn Doãn Đôn
Hôm
nay ngày 25.04.2026 tại Thủ đô Berlin, Liên hội người Việt tỵ nạn tại Cộng hòa
Liên bang Đức đã tổ chức ngày Việt Nam Cộng Hòa mất nước. Tức là mất Miền Nam,
mà họ gọi là ngày "Quốc hận".
Tôi
là người Bắc, từng vào Nam xung trận và là Đảng viên đảng lao động VN, ngay nay
là Đảng CS VN. Vì tò mò nên tôi cũng đi tham gia xem người Miền Nam họ tổ chức
về ngày này ra sao. Tôi để ý thấy họ đi biểu tình không ồn ào, huyên náo, khuân
mặt ai cũng vui vẻ, hiền hòa, êm ả.
Nụ
cười nhẹ, lời nói êm như từ tâm phát ra. Rất nhiều người biết tôi, nhưng tôi
lại không biết họ. Vì họ vào đọc Facebook của tôi. Xin cảm ơn.
Tôi quan sát khi họ biểu tình thì Ban tổ chức hướng dẫn thế nào là họ tôn trọng nghe và làm theo như thế, chứ họ không cãi lộn hay chạy nhảy lăng xăng, rồi gào la, to tiếng đóng góp ý kiến, rằng là phải thế này, rằng là phải thế kia, để cố thể hiện ta đây nói có lý hơn người khác, như dân Bắc mình.
Họ tổ chức rất khoan thai, bình tĩnh, bài bản, lịch sự và văn minh. Tôi thấy có hai xe ô tô của cảnh sát Đức và một số nhân viên của họ đi bộ với đoàn diễu hành để bảo vệ khâu an ninh.
Họ
hô vang những khẩu hiệu bằng cả tiếng Đức lẫn tiếng Việt với Nội dung như là ;
Đả đảo CS, Đả đảo Tô Lâm, Tự do cho VN, Dân chủ cho VN. Nhiều bài phát biểu của
các vị trong Ban tổ chức bằng tiếng Đức và tiếng Việt rất đanh thép tại sân nhà
Quốc hội và tại Cổng thành Brandenburger Tor đòi tự do, dân chủ, nhân quyền,
xóa bỏ CS và yêu cầu thả tù nhân Chính trị đã vang lên và được nhiều khách Đức
và khách du lịch đi qua giơ tay chào đón và ủng hộ.
Có
lẽ họ cũng cho rằng những đòi hỏi đó là chính đáng.
Tôi nghe thấy họ Đả đảo CS mà buồn thiu, vì tôi là Đảng viên, lại từng đã vào Nam xâm lược Đất nước của họ. Một Đất nước có chủ quyền, có cờ, có Quốc ca và có một Thể chế dân chủ văn minh.
Vâng tôi phải đau lòng nhận lấy câu đả đảo của họ. Vì họ đả đảo đúng. Không đời thủa nào một Đất nước tối tăm lạc hậu, đói rách triền miên, phi dân chủ, trọng bạo lực lại đi giải phóng một Dân tộc văn minh hơn mình, giàu có hơn mình để "giúp" cho họ trở thành khổ và ngu ngốc như mình.
Tôi thương họ và buồn cho họ vì để mất Tổ quốc. Tôi trách họ, vì đã để chúng tôi thắng; để rồi cả nước thua. Nên hôm nay họ kỷ niệm ngày đen tối của họ, thì cũng là ngày đen tối trong trái tim tôi-Một người từng bên kia chiến tuyến, khi nhận ra bộ mặt thật của CS Bắc Kỳ.
Vâng,
thưa bà con, thế hệ chúng tôi đã bồng súng lên đường đi giải phóng ngược! Lẽ ra
Bắc tiến mới thực là giải phóng.
Thật
cảm động và xót xa khi thấy bà con người Miền Nam họ cúi mặt mặc niệm những
người lính của họ, người dân của họ đã ngã xuống do chúng tôi vượt suối băng
rừng ngày xưa từ ngoài Bắc vào gây ra . Họ cũng tưởng nhớ tới hàng ngàn người
chết vì vượt biển làm mồi cho cá sau này.
Những người đứng giữa 3 lựa chọn ngày đó; mà một phần không nhỏ đã ra đi nằm dưới đại dương...
"Nhất
con nuôi má
Nhì
má nuôi con
Ba con nuôi cá."
Có nghĩa là nếu vượt biên thoát được con sẽ gửi tiền về nuôi má; nhưng chẳng may con bị CS bắt thì má phải mang cơm vào nhà tu nuôi con. Còn cuối cùng rất có thể con sẽ phải làm mồi nuôi cá ngoài biển khơi mênh mông...
Tôi
thật buồn rằng chúng ta hô hào hòa giải, hòa hợp mà 51 năm rồi vẫn chỉ là
"võ miệng". Người Bắc chúng ta đã không nhận ra hay cố tình không
muốn nhận ra là chúng ta đã bị CS lừa. Chúng ta không như Dân Ukraine ngày nay
là họ đánh độc tài, để bảo vệ nền Dân chủ; còn chúng ta u minh lại đi đánh Dân
chủ để bảo vệ độc tài. Muốn hòa giải hòa hợp được chúng ta phải nhận ra rằng đó
là một cuộc chiến vô nghĩa và ngu xuẩn.
Giải phóng ngược như thế, thà rằng không thống nhất còn hơn. Thì chúng ta còn vớt vát được một nửa nước như Nam Hàn và hơn Nam Hàn . Ai ngờ giờ đây mất cả nước rơi vào tay CS. do Ngoại bang chỉ đạo, giật dây.
Bà
con yêu quý ơi, không có bên thắng cuộc đâu. Mà chúng ta ở cả hai miền đều thua
cuộc mốt cách đau đớn xót xa!
Ngày
này chúng ta hãy thắp một nén hương lòng không chỉ cho đồng bào và Chiến sỹ VN
Cộng hòa; mà cả cho những người dân chết vì Chiến tranh ở ngoài Bắc của tôi. Và
không thể nào được phép quên là hãy thắp cả cho những người đồng đội của tôi.
Các anh đã ra đi trên mảnh đất Cha ông mà không được may mắn như tôi, để sống,
để biết rằng, chúng ta đã sai lầm.
Trước khi nhắm mắt xuôi tay chắc các anh vẫn cứ đinh ninh rằng các anh hy sinh vì Dân vì Nước; chứ không ngờ:
"Cả
cuộc đời ta hy sinh cuồng nhiệt
Lại
dựng nên chính cỗ máy này" (Thơ Bùi Minh Quốc)
Xin chia buồn cùng với bà con Miền Nam thương đau trong tháng 4 u sầu và đen tối này.
Nhân
đây tôi cũng cúi đầu xin lỗi bà con, vì tôi đã từng nghe Đảng và Bác xui dại mà
vào xâm lược Tổ quốc, Quê hương yêu dấu của bà con. Để giờ đây tôi và bà con từ
hai chiến tuyến đều trở thành kẻ chiến bại bi hùng...
Cầu
Chúa ban phước lành cho tất cả chúng ta.
Thủ đô Berlin, 25.04.2026
Nguyễn
Doãn Đôn
Sunday, May 10, 2026
Những Ốc Đảo Đẹp Nhất Hành Tinh
Những ốc đảo tươi tốt này -
…chúng là một huyết mạch sống còn trong các sa mạc nóng bỏng, khắc nghiệt.
Đồng thời chúng cũng nằm trong top nhữngnơi đẹp nhất trên hành tinh.
Wadi Bani Khalid, Ô-man
Mặc dù nằm ở một đất nước không thiếu ốc đảo, nhưng Wadi Bani Khalid nổi bật hơn tất cả những ốc đảo khác bởi một dòng nước trong xanh nhìn thấy cả đáy chảy qua thung lũng xanh tươi gồm những cây chà là mọc um tùm, tươi tốt.
Ốc đảo Huacachina, Peru
Nằm trong cồn cát phía tây nam của Peru là một hồ nước trong veo, xanh ngắt. Xung quanh bờ hồ là những hàng cây tươi xa là các cồn cát cao trông như sắp đổ ụp xuống cả ốc đảo.
Siwa Oasis, Ai Cập
Chỉ cách biên giới Libya 50km và nằm giữa mộtbiển cát lớn, lưu vực màu mỡ này là nơi sinh sống của 33.000 người.
Hồ Bán Nguyệt, Đôn Hoàng, Trung
Quốc
Đây chỉ là một “vũng” nước nhỏ giữa sa mạc ở phía tây bắc Trung Quốc, hồ Bán Nguyệt ở Đôn Hoàng trông lúc nào có nguy cơ bị nuốt chửng bởi những cồn cát khổng lồ xung quanh.
Ốc đảo Chebika, Tunisia
Còn có tên là “Lâu đài Mặt trời”, ốc đảo Chebika Oasis cung cấp nước, nơi nghỉ ngơi mát mẻ và mang lại sự sống cho khu vực dưới chân dãy núi Djebel el Negueb của Tunisia.
Timia, Nigeria
Nằm sâu trong trung tâm lãnh thổ Tuareg là ốc đảo huyền thoại ở Timia. Ốc đảo nổi tiếng với những cây chà là xanh tươi rực rỡ nổi bật trong một khung cảnh cằn cỗi. Dải cây xanh này được nuôi dưỡng bởi một thác nước chỉ xuất hiện vài tháng trong năm.
Thác
Havasu, Grand Canyon, Hoa Kỳ
Hồ nước trong xanh nằm dưới Lạch Havasu, hẻm núi Grand Canyon này được nuôi dưỡng bởi các thác nước chảy ra từ núi đá vôi, tạo cho nước một màu xanh lam rất mát mắt, dễ chịu.
Tafilalt, Ma-rốc
Nằm dọc theo bờ sông Ziz, Tafilalt là ốc đảo Sahara lớn nhất ở Morocco. Ốc đào này nổi tiếng với những ngôi làng kiên cố và những rặng cây xanh mát.
Đây là điểm dừng chân quan trọng trên tuyến đường caravan Sahara từ sông Nigeria đến Tangiers.
Ốc đảo Ubari, Libya
Ubari là ốc đảo xinh đẹp với hồ nước lớn, trong veo nuôi dưỡng sự sống cho khu vực toàn những cồn cát khổng lồ ở phía nam Libya.
Seba, Libya
Nằm gần thành phố Sabha ở phía nam Libya, ốc đảo Seba trở thành trung tâm của sa mạc lớn nhất thế giới Sahara.
Những cây cọ xanh tốt đứng giữa biển cát vàng bất tận, khiến những người dừng chân tại đây tạm thời quên đi nhiệt độ nóng khủng khiếp trên sa mạc.
Ein Gedi, Israel
Ốc đảo Ein Gedi nằm ở phía tây Biển Chết, trên sa mạc Judean giữa hang Masada và Qumran ở Israel.
Nơi đây nổi tiếng với lịch sử lâu đời, các công trìnhkiến trúc và thiên nhiên hoang dã. Ein Gedi cũng được coi là ốc đảo quan trọng nhất ở Israel.
Dì Dần - Tưởng Dung
Mãi đến năm 14 tuổi,
tôi mới biết rằng mình có 1 dì Út khá giả, khá đẹp và khá...nghiêm khắc. Chị em
tôi thường gọi là dì Út chứ tên thật của dì là Dần. Má tôi có 3 chị em và mồ
côi từ nhỏ.Tên của 3 chị em được đặt theo tuổi của mỗi người. Má tôi tên Hợi,
dì kế tên Tý và dì Út tên Dần.
Nhưng dì không thích
ai gọi dì bằng cái tên này cả. Đám trẻ con chúng tôi lỡ gọi tên tộc của dì sẽ
bị la rầy và cho là “hỗn”. Còn người lớn thì đã có một cái tên gọi dành cho dì
đi kèm với tên cửa tiệm may của dì nghe thanh lịch hơn nhiều: cô Út Đông Thạnh.
Má tôi nói ngày xưa, con nhà nghèo ít có ai được mang tên đẹp, phần cho dễ nhớ
phần để dễ nuôi không bị “ông bà” quở phạt nên cứ lấy tên của 12 con giáp
hoặc lấy tên nào xấu xấu đặt cho con là... chắc ăn nhất. Đứa nhỏ sẽ ăn
no, chóng lớn và khỏe mạnh cùi cụi.
Những năm tuổi thơ
trước đó của tôi, ít thấy dì xuất hiện, dù dì ở cùng tỉnh, không biết vì lúc đó
tôi còn quá nhỏ nên quên hay vì công việc làm ăn, dì ít tới lui nên tôi không
để ý.
Má tôi mỗi khi nhắc
đến Dì Út vẫn thường hay nói: “Đàn bà tuổi Dần “cao số” lắm, tính tình lại khó
khăn, dữ dằn nữa, nên cũng khó lấy chồng vì mạng Cọp mà, dì Út tụi bây cũng
vậy”. Nhà tôi có đứa em trai cũng tuổi Dần nhưng má tôi lại không lo vì
cho rằng con trai tuổi Dần (con Cọp) cũng như tuổi Thìn (con Rồng) là tốt lắm.
Chắc nhờ vậy mà gia đình tôi có đủ cả hai ông Cọp và Rồng chăng?
Làm đàn bà cũng khổ,
không phải chỉ riêng má tôi nói vậy mà thiên hạ ai cũng cho rằng: “Đàn bà tuổi
Dần, mạng lớn, khắc chồng, hai ba đời chồng chứ chẳng chơi,” hoặc “ưng mấy
người tuổi Dần dễ chết yểu lắm”. Cho nên đàn bà con gái ai lỡ tuổi Dần cứ phải
giấu tuổi thật của mình nếu không muốn bị... ế ẩm.
Trong khi đó, đàn ông
tuổi Dần lại được quí, quí lắm, sau này chắc sẽ phải làm quan to, đứng đầu
thiên hạ, bởi con cọp là chúa tể sơn lâm mà. Ngày xưa, khi vũ trụ còn huyền bí,
con người chưa chinh phục được thiên nhiên, bắt thiên nhiên phải phục vụ mình
như ngày nay, người ta không dám kêu Cọp bằng con mà phải kêu bằng ông,
thậm chí, còn lập đền, lập miếu thờ cọp nữa kìa.
Dì Út là một phụ nữ có
nhan sắc, sống một mình lại siêng năng làm việc nên ở tuổi 30 dì đã có nhà, có
tiệm và nhiều bạn bè quen biết. Không rõ có phải cái tuổi Dần nó vận vào người
đã tạo cho dì một tính khí cứng rắn, đôi khi quá “ương ngạnh” (nói theo lời của
má tôi) hay không, nhưng thật tình mà nói, dì rất hiếm khi chịu thua hoặc
nhượng bộ ai trong những cuộc tranh cãi hay quyết định điều gì, trong công việc
làm ăn hoặc ngay cả trong vấn đề tình cảm.
Tôi nhớ lần đầu tiên
gặp và biết rằng mình có một bà dì khá đặc biệt trong một hoàn cảnh thật hi
hữu. Đi cùng má vào thăm dì trong... bót cảnh sát. Người ta bảo dì bị bắt giữ
vì đã nổi ghen, xông tới gây gổ và xô xát với người bạn trai lâu năm của dì khi
biết mình bị lừa dối và bắt gặp người này đang đi với một phụ nữ khác. Kết quả
là người đàn ông phải vào nhà thương vì bị đứt một bên tai và dì vào bót cảnh sát
với một vết thương trên trán.
Sau chuyện đó, tim dì
“đóng băng” với “bọn đàn ông” mà dì cho rằng toàn là thứ giả dối lừa đảo, bạc
tình..... Hơn 2 tuần cùng má đi thăm nuôi, tôi đã quen với gương mặt lạnh, ít
cười, đôi môi thường mím chặt, chỉ có đôi mắt đen to và hàng mi rậm dài là sinh
động của dì. Chắc dì cũng cảm động khi thấy mẹ con tôi ngày nào cũng xách cơm
vào thăm nên sau khi được trở về nhà, dì bắt đầu lui tới nhà tôi thường hơn,
thỉnh thoảng mua quà bánh cho chị em tôi nữa, khiến chúng tôi thêm quí mến dì.
Dì khá đẹp và là chủ
một cửa tiêm may lớn ở Biên Hòa nên cũng rất theo thời trang. Mỗi khi đến tiệm
dì, tôi thích ngắm tấm hình bán thân thật to của dì treo trên tường, dì đứng
nghiêng người, mặc áo dài màu xanh rêu, có kết những chiếc lá nho nhỏ bằng vải
kim tuyến màu nhủ vàng, tay tựa hờ sau gáy, mắt ngước nhìn về phía xa xăm trông
không khác gì hình các tài tử đóng phim.Tấm hình này khiến lòng ngưỡng mộ của tôi
với dì càng gia tăng hơn. Tết năm đó, dì dắt tôi lên SàiGòn mua vải đặt cắt may
một bộ “đồ tây” theo mẫu trong catalogue đàng hoàng khiến con bé mới 14 tuổi
lần đầu được diện như Tây cứ đứng ngẩn ngơ trước bộ áo đẹp đẽ, sang trọng mà
tưởng như người trong mộng. Má tôi trách: “Nó còn lớn nữa, mày may làm chi
ba cái đồ mắc tiền.” Dì gạt ngang: “Chị để tui lo, mốt bây giờ là phải mặc như
vậy đó”. Rồi dì mua thêm một bộ áo tắm nói là để cho tôi đi Vũng Tàu chơi với
dì và những cô thợ may trong tiệm. Tôi vui mừng và nghĩ rằng mình thật may mắn.
Cho đến hôm đi Vũng Tàu thì tôi mới thấy “thần tượng” dì Út của mình bị tan vỡ.
Hôm đó, tôi bị cảm ho, người cứ uể oải nên nói với dì là không đi được. Không
ngờ, Dì nổi giận đùng đùng mắng cho tôi 1 trận và đòi tôi phải trả lại bộ áo
tắm “Không đi thì để tao cho người khác”. Tôi vừa ngạc nhiên vừa... đau khổ,
năn nỉ dì để dành lần sau con đi, nhưng dì nhất định không đổi ý. Tôi đành trả
áo lại cho dì mà lòng... ấm ức không thể tả. Dì giận tôi cả tháng và nói sẽ
không cho tôi đi đâu với dì nữa. Tính dì là như thế đó, khi vui thì làm gì, nói
gì cũng được nhưng ai làm nghịch ý dì thì dì nhớ và nhắc đi nhắc lại... cả đời.
Nhiều lúc, dì lấn lướt
cả má tôi nữa nhưng thấy má dù là vai chị lớn nhưng vẫn luôn chịu “lép vế”
trước cô em tuổi Dần của mình. Dì không lập gia đình, sống cả đời thanh xuân
của dì với cửa tiệm may. Suốt ngày ở tiệm, về tới nhà dì lại tiếp tục quần quật
một mình dọn dẹp, lau chùi nhà cửa, không thuê mướn một người nào phụ giúp vì
không tin ai và cũng không thấy ai làm vừa ý dì. Đôi khi má tôi gợi ý dì Út nên
nhận một đứa con nuôi hoặc một đứa cháu, con của dì Tý (dì cũng đông con như má
tôi nhưng nghèo và chật vật hơn) về ở chung để có người hủ hỉ, chăm sóc khi đau
yếu nhưng dì Út cũng gạt đi và nói: “Tui sống một mình quen rồi”.
Dì rất cẩn thận và tin
tưởng rằng tự mình có thể đương đầu với mọi tình huống cho đến sau năm 79, dì
bị cướp giả dạng là nhân viên công ty điện lực xin vào nhà để ghi số đồng hồ
điện, dùng cây kéo cắt vải may áo của dì để trên bàn đâm vào cổ dì một nhát và
bỏ đi sau khi không tìm được tiền bạc gì trong nhà. Lần đó dì thoát chết trong
đường tơ kẻ tóc nhờ mũi kéo chỉ lệch một chút về phía bên trái yết hầu nên đã cứu
được. Chú Mười Điều, y tá của phường kể lại lúc đó chú đi ngang trước nhà thấy
dì nằm dưới đất ngay bậc thềm cửa,một tay giữ cây kéo còn cắm trong cổ, một tay
đưa ra ngoài song cửa sắt ngoắc ngoắc. Chú nói: “Bà này bữa nay giỡn kiểu gì kỳ
vậy ta!” Lúc bước tới sát cửa thấy cảnh tượng... hãi hùng đó, chú vội chạy kêu
xích lô chở dì vào nhà thương rồi chạy tới nhà báo cho má tôi biết. Lần nữa tôi
lại được đi cùng với má tôi đến thăm dì trong một hoàn cảnh trớ trêu hơn. Cổ dì
quấn băng kín mít và đôi mắt thì đỏ ngầu vì máu bầm dồn lên hết phần tròng
trắng, má tôi phải luộc mấy cái trứng đem vào bảo tôi lăn trên mí mắt dì để cho
tan máu bầm. Mà hay thật chỉ 2 ngày sau là mắt dì trở lại bình thường. Khi bắt
đầu nói chuyện được, Dì nói với má tôi: “Sức mấy nó lấy được tiền của tui!” Vì
dì giấu kỹ lắm, gói trong một cái bọc cột ba bốn lớp ni lông nhét trên cây xà
ngang đặt tuốt trên nóc nhà nên không ai có thể tìm ra được. Nằm nhà thương
được 2 ngày, vì sợ không qua khỏi nên dì mới chỉ chỗ và căn dặn má tôi lỡ dì có
chết đi thì lấy tiền ở đó ra mà lo liệu cho dì.
Má con tôi hàng ngày
vào nhà thương thăm nuôi cho đến khi dì được trở về nhà thì tôi được cử vào nhà
dì ngủ mỗi tối sau khi đi làm về để săn sóc và trông chừng dì. Mấy tuần đầu tôi
rất sợ vì cái không khí im vắng, lạnh lẽo ở nhà dì khác hẳn với bầu không khí
lúc nào cũng nhộn nhịp, đông đúc ở gia đình tôi, tôi chỉ biết tự an ủi là mình
chỉ ở vào buổi tối thôi mà. Tôi “đến rồi đi” với dì như vậy cũng hơn nửa năm
trời cho tới lúc dì chịu cầm chiếc nhẫn xoàn của má tôi để đổi mấy cây vàng cho
2 chị em tôi vượt biên.
Bao nhiêu năm trôi
qua, giờ dì đã 84 tuổi, vẫn minh mẩn, vẫn sống một mình và mở cửa hàng tạp hóa
ngay tại nhà để hưu trí, nghe nói càng lớn tuổi dì càng khó tính và kỹ lưỡng
hơn. Mãi cho đến năm ngoái, vì già yếu và bị té ngã mấy lần phải vào nhà thương
nên dì mới chịu về ở chung với gia đình đứa cháu, con của dì Tý, để có người
chăm sóc.
Bây giờ, sống cách xa
dì hơn nửa vòng trái đất nhưng mỗi khi nghe nói đến tuổi Dần và những hệ lụy
của tuổi này là tôi nhớ ngay đến dì và những kinh nghiệm với dì lúc còn ở quê
nhà. Không biết tuổi Dần nào cũng có cùng số phận như dì Út, dì Dần của tôi
không: cao số, khó khăn và suốt đời đơn độc?./.
Tưởng Dung
Câu Chuyện Của Người Chiến Thắng Khi Vào Nam - Trương Minh
Xe vừa vào địa giới miền
Nam, chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới.
Nhà cửa người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn miền Bắc. Đi rồi nghỉ ngơi rồi đi tiếp cho đến khi đoàn xe đến được khu công nghiệp Biên Hòa. Có quá nhiều nhà máy tại đây. Đoàn 18 người chúng tôi nhìn ngang nhìn dọc từng dãy nhà máy trong khu vực này và tuy không ai nói với ai nhưng đều trầm trồ trước công nghiệp miền Nam.
Rồi chúng tôi được phân công vào công tác trong một nhà máy có cái tên VICACO. Một nhà máy sản xuất chất Sút (NaOH) từ muối biển và cả Acid Chlohidric (HCL) nữa. Một nhà máy bề ngoài trông rất nhỏ mà không ngờ bên trong lại lắp đặt các máy móc tối tân, sản xuất được các hóa chất với sản lượng, hàm lượng rất cao gấp nhiều lần so với công nghệ tại miền Bắc. Chúng tôi ngạc nhiên và ngầm thán phục trong bụng.
Nhìn những công nhân miền Nam đang làm việc
tại đây rồi sau đó làm việc chung với họ, tôi mới thấy người dân miền Nam khác
xa người dân miền Bắc. Kiến thức chuyên môn và xã hội của họ hơn hẳn chúng tôi.
Kỹ sư hơn hẳn kỹ sư ở miền Bắc và công nhân cũng vậy.
Một sự rụt rè, cẩn thận
tự nhiên nẩy sinh trong đoàn tiếp quản chúng tôi.
Ai cũng sợ người trong nhà máy tại miền Nam này biết trình độ thực sự của cả đám chúng tôi. Sợ họ cười, nỗi lo chính trong lòng vì dầu gì mình cũng thuộc phía chiến thắng. Về nằm nghỉ trong căn phòng mà được biết trước đây là các phòng dành cho công nhân ngủ qua đêm nếu phải ở lại tăng ca, tôi suy nghĩ xã hội miền Nam không hề lạc hậu về công nghệ về con người… như lời nói trước giờ vẫn được nghe.
Ngay cả trong buổi họp khi chọn người xung phong vào tiếp quản, cán bộ ngành từ trung ương cũng đã nói như vậy khi động viên cán bộ công nhân viên.
Những dãy nhà nghỉ đầy đủ tiện nghi từ
các trang bị như bàn ghế, giường ngủ, quạt trần, phòng vệ sinh, đèn chiếu…
Ở đây, trong khu vực
khép kín của khu công nghệ còn được như vậy thì trong thành phố Sài Gòn chắc chắn
phải rất đẹp. Tôi cũng chưa nghĩ sẽ ra sao khi tìm gặp được hai cô em gái tôi.
Rồi một ngày tôi theo đoàn vào làm các thủ tục công tác trong một tòa nhà Tổng cục Hóa chất vừa tiếp quản nay trở thành trụ sở của Công ty Hóa chất Cơ bản miền Nam nằm gần chợ Bến Thành. Lần đầu tiên trong đời tôi biết đến thang máy khi lên một phòng tuốt trên tầng thượng. Sau khi làm xong các giấy tờ và thủ tục, chúng tôi được thoải mái đi thăm phố xá.
Ngay từ lúc còn ngồi trên xe buýt nhìn cảnh
vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài Gòn, tôi đã thấy vượt trội nhiều lần
so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh lộ ra từ cách phục sức,
sinh hoạt của người dân miền Nam.
Giờ đây đi bộ trên các
con đường trong khu trung tâm thành phố mới thấy bản thân tôi, một người dân miền
Bắc quá sức lạc hậu, nghèo nàn… từ bộ cánh (quần áo) trên người. Tôi rõ ràng xa
lạ với các tiện nghi đang được người dân trong thành phố này sử dụng.
Bên vệ đường và trong các cửa hiệu sang
trọng đầy ắp hàng hóa thật đẹp và mới lạ lần đầu chúng tôi được thấy. Có tiền cứ
việc vào mua thoải mái khác hẳn với cảnh chen chúc để chờ được tới lượt mua số
hàng ít ỏi như cảnh thường thấy ở các khu phố ngoài miền Bắc.
Phố xá thì thôi, những
tòa nhà to đẹp thấp thoáng sau dòng xe gắn máy chạy hối hả trên đường. Khung cảnh
y như ở nước ngoài, một người trong đoàn chúng tôi nói nhỏ cho nhau cùng nghe.
Tôi bối rối ngắm nhìn các cô gái miền Nam
nói chính xác là cô gái Sài Gòn đang dạo bước trên đường. Họ đẹp quá sức, như
tiên… từ dáng điệu, mái tóc, y phục mặc trên người và nhất là khuôn mặt của họ
lộ rõ vẻ sung túc đài các so với những nữ cán bộ trẻ trong đoàn chúng tôi. Tôi
mỉm cười, nghĩ thầm hai cô em gái tôi trong này cũng vậy.
Tôi âm thầm tách ra khỏi
đoàn để tự mình đi theo ý muốn. Tôi đi rảo qua nhiều con phố Sài Gòn rồi thấy mỏi
chân, tôi lấy can đảm bước vào một hàng nước thật đẹp gần một giao lộ lớn, có
tên là Cafe Minirex.
Chọn một bàn sát khung cửa kính trong suốt
có thể nhìn rõ người đi bên ngoài, tôi quan sát chung quanh. Bàn ghế, các bình
hoa, quầy thu ngân, khách cùng vách tường trang trí cảnh một rừng cây thật đẹp…
thật không khác một tiệm ở nước ngoài trong phim ảnh.
Chợt một người hầu bàn
bước đến, gật đầu chào tôi rồi hỏi:
- Thưa ông, ông dùng
chi ?
Trời ơi! Người hầu bàn này quá lịch sự
khi tiếp xúc với khách hàng thật khác hẳn với cung cách của Mậu dịch viên trong
các tiệm ăn ngoài miền Bắc.
Tôi lại nghĩ, hay ông
ta biết tôi là cán bộ chế độ mới qua quần áo mặc trên người nên xưng hô như vậy?
Tôi gọi nước uống và ngầm để ý xem sao.
Nhưng không, bất cứ có
khách nào vào quán, người hầu bàn này cũng một cách tiếp đón như vậy. Rất tự
nhiên, lịch sự mà không khúm núm hoặc hách dịch.
Một thay đổi đã đến trong lòng tôi mà tôi
biết điều này cũng sẽ đến với bất kỳ người nào từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa khi
đặt chân vào miền Nam ở thời kỳ đó.
Sài Gòn hay nói rộng ra
cả miền Nam không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh
người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo chí,
đài phát thanh Hà Nội… mô tả về con người và xã hội của chế độ Ngụy quyền tay
sai đế quốc Mỹ.
Đây là mô hình của một xã hội văn minh và
người nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội xã hội
chủ nghĩa tại miền Bắc.
Tiếc thay! Một xã hội
như vậy lại vừa bị cướp mất đi.
Trương Minh
-----------
TB: Chỉ những người trí
thức mới biết mình bị LỪA, và họ bắt đầu sống trong ân hận hối tiếc cho đến cuối
đời. Tôi đã có dịp ngồi nói chuyện với một anh Giáo sư dạy Toán người Hà Nội.
Sau khi anh vào Nam để
tiếp quản trường học. Gặp nhóm sinh viên chúng tôi anh cười buồn: “Tôi thật ngỡ
ngàng không biết phải dạy các em điều gì nữa?”
...Sau này anh không dạy
học mà cùng vợ bán tại một cửa hàng vải nhỏ. Gặp tôi anh chỉ nói “Một lầm lẫn
tai hại cả một thế hệ”...
51 năm rồi họ vẫn không chiếm được trái tim của người miền Nam và họ ngược lại mất đi khá nhiều trái tim của người miền Bắc.
(Đào Nguyên Thông)
Saturday, May 9, 2026
Ngày Hiền Mẫu Cùng Con Cháu - Người Phương Nam
Cuối tuần, nhân Ngày Hiền mẫu, con cháu mời vợ chồng chúng tôi đi ăn điểm tâm ở một nhà hàng tàu tại Cabramatta, thủ phủ của dân Á châu, Việt Miên Hoa Lào...
Xin chia sẻ vài hình ảnh cập nhựt của gia đình chúng tôi với quý bạn đọc.
Kính chúc các bà mẹ mỗi ngày đều là ngày lễ Ṃẹ tràn đầy niềm vui .
Vì Sao Con Khóc?
Thấy một thanh niên đang khóc lu bù, bụt hiện ra hỏi :
- Vì sao con khóc ?
- Dạ thưa bụt, con khóc vì con bị lừa !
- Thế nào ? Con hãy kể cho bụt nghe coi !
- Dạ con nấu cơm thì bị gạo nhựa rợ Hán ; luộc hột gà thì bị hột gà giả cũng của rợ Hán ; nhậu với khô mực thì bị khô mực bằng thứ gì đó nướng lên khét nghẹt như cao su, rượu cũng mua nhằm rượu giả ; khi bị bịnh thì mua nhằm thuốc giả.. … hu hu… Ra đường thì thấy thầy chùa giả đi khất thực ; Buồn quá đi nghe nhạc cũng bị hát giả (hát nhép) ; mua mỹ phẩm thoa cho đẹp trai hơn thì cũng bị mỹ phẩm giả ; xài hàng tiêu dùng thì cũng gặp đồ giả (nhái thương hiệu) ; buồn tình con đi uống cà phê để thư giản thì cũng bị cà phê giả ! huhu… hu hu… hu hu
- Có gì từ từ con nói, sao mà khóc ngất vậy ?
- Dạ thưa bụt, không ngất sao được vì con vừa cưới nhằm con vợ cũng giả luôn ! Huhu
Bụt cười :
- Con khéo khôi hài : Vợ làm sao giả được ?
- Có đó bụt ! Vợ con mặt mày, môi miệng đều giả : cái zú của nó giả, cái mông của nó giả ; « cái đó » của nó cũng giả !... huhu
- Trời ? sao có chuyện lạ vậy ?
- Tại bụt ở Tây Thiên nên bụt không hiểu đó thôi : Vợ con nó qua Thái Lạn đổi giới tính mà con đâu biết! huhu
Bây giờ bụt mới thở dài :
- Thì ra trần gian nầy
cái gì cũng có thể giả ; chỉ có cái ĐỂU GIẢ là có thật thôi ! Ta cũng hết ý
kiến. Ta xin lỗi vì không giúp gì được cho con !
Nói xong quay lưng bước lẹ.. Gã thanh niên nói vói :
- Bụt ơi bụt ! Bụt là bụt giả hay bụt thiệt vậy ?
Bụt không thèm quay lại:
- Kha kha.. ngu
sao thiệt, mậy?
Kha Tiệm Ly
Tản Mạn Về Ngày 30.4.1975- Trang Y Hạ (Trần Phước Hân)
Thấm thoát thời gian đã đi qua một chặng đường dài - Bốn mươi lăm năm! Kể từ ngày “giải phóng 30.4.1975”. Nhớ lại những ngày tang thương…! Tôi từ KonTum chạy về Sai Gòn, được phân công làm công tác tiếp cư ở làng Đại học Thủ Đức.
Làng
đại học lúc bấy giờ chưa xây xong hoàn toàn, còn ngổn ngang: gạch, cát, đá…, chỉ
có một số phân khoa hoàn thành. Dân tản cư chạy giặc từ vùng một, vùng hai và một
số tỉnh lân cận chạy về Sai Gòn đều tập trung về làng đại học. Người tản cư được
tiếp tế: thức ăn, nước uống, chăn chiếu... Mỗi ngày ngong ngóng chờ tin tức người
thân và tình hình chiến sự...!
Hằng ngày mọi người xúm lại mở đài BBC theo dõi tin tức. Đài nầy loan tin quân miền Bắc như có cánh… Thắng như chẻ tre - rượt đuổi quân dân miền Nam…! Chính đài nầy cũng đã góp thêm “thành quả” cho quân miền Bắc. Tất cả mọi người - đứng ngồi gần chỗ loa phát thanh, để nghe ông Tổng Thống Thiệu đọc diễn văn từ chức... Ông tổng thống Thiệu nói ”Đồng bào mất đi một tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng đồng bào còn một trung tướng Nguyễn Văn Thiệu… làm bạn của Mỹ rất khó, làm kẻ thù của Mỹ rất dễ…”. Bà con nhìn nhau ngầm hiểu là: số phận miền Nam đã cáo chung! Tôi quay người đi ra, bất chợt thấy một người đàn ông dáng dấp giống ông thầy năm lớp nhứt, - thầy Tôn Thất Đ…! Tôi kêu tên thầy, thầy quay lại ngơ ngác… - rồi dòng người quá đông chen lấn qua lại, chẳng còn thấy bóng dáng thầy…!
Tôi
cũng như bao người lính và dân miền Nam, sau khi nghe “lệnh đầu hàng của tân tổng
thống Dương văn Minh”. Nước mắt cứ trào ra tức tưởi…! Ngước lên trời - màu trời
trong xanh lưa thưa một vài áng mây trắng bay ngang qua, ước chi được ngồi trên
đám mây ấy. Không ai nói với ai lời nào, lặng lẽ ôm chút đồ đạt rời làng đại học,
(chưa học một ngày nào) để trở vô Sai Gòn, hoặc tìm cách về quê. Tôi nghe người
con gái tuổi khoảng đôi mươi nói với người thiếu phụ có lẽ là mẹ - "Thật
nhục nhã! - Thua thật là nhục nhã!".
Từ
làng đại học tôi cùng mọi người đi bộ về Sài Gòn… Đến Thủ Đức, tôi gặp các lớp
tân binh trong trường bộ binh Thủ Đức, họ bỏ trường túa ra rất đông, đầu trần,
họ bình tĩnh di chuyển ngay hàng bên phải, không vội vã… Trên người họ vẫn mặc
đồng phục của quân trường. Những tân binh im lặng, lầm lì…, họ cũng đi về hướng
Sài Gòn như chúng tôi. Từ nội ô Sài Gòn, trưa 30.4 dân chúng ào ạt dùng tất cả
mọi phương tiện trở về quê. Người đi ra quá đông còn người đi vô như chúng tôi
thì ít. Tôi đi tới đầu cầu Tân Cảng Sai Gòn nơi (Quân Cảng Hải quân VNCH). Tôi
thấy ai đó phá kho dự trữ thực phẩm dưới chân cầu và mọi người dân nhào vô lấy đồ
hộp,… Một bác xích lô đưa cho tôi một bình thủy tinh nước ép trái cây lớn. Một
vài người dùng xe xích lô, chở “chiến lợi phẩm” ngược vào ngã tư Hàng Sanh, cộng
với người và xe đi trở ra tạo nên cảnh kẹt xe không thể nào chen chân được.
Không Cảnh Sát, người dân tự dàn xếp với nhau để mà đi, trên khuôn mặt nặng
trĩu nỗi buồn pha chút hoang mang… Trên mặt cầu còn những vỏ đạn và vết máu…!
Tôi cũng chen lấn để qua cho khỏi cầu Tân Cảng Sai Gon, và đến được ngã tư Hàng Sanh. Tôi vô quán nước ngồi kêu nước uống và nghỉ chân. Ngồi nhìn quang cảnh dân chúng phá kho gạo... Họ nườm nượp đi khuân chở gạo, mặc cho trời nắng như thiêu. Lúc nầy, đối với họ nắng nôi đâu có gì là quan trọng đâu! Lo cho cái ăn là chính. Tôi kêu tính tiền. Tôi thấy một cặp có lẽ là vợ chồng, tóc đã hoa râm, mỗi người hai tay xách hai thùng tròn, khoảng một “gallon” chạy lại nhờ tôi xem những cái lon nầy có phải thức ăn hay không? Tôi nhìn trên lon ghi tiếng Anh. Tôi nói: - “Đó là thùng sơn màu trắng”. Họ không tin lời tôi nói, và cứ xách mấy thùng sơn đó lẫn theo dòng người…!
Trên
đường phố Sai Gòn xe tăng quân miền Bắc phủ đầy cành cây rừng, trên pháo tháp,
trên nòng pháo, trên nón và xung quanh lưng quần. Một số người ở trần, họ mặc
quần dùi, họ cũng quấn lá quanh người, ngồi trên xe “motolova”. Một số ít dân
chúng cầm cờ mặt trận “giải phóng miền Nam” tung hô, đông nhất là thanh thiếu
niên đeo băng đỏ ngồi trên những xe deep vẫy cờ hoan hô… chiến thắng!
Sai Gòn lúc hỗn loạn, không còn ai kiểm soát, ai cũng có quyền lấy đi bất cứ thứ gì, miễn lấy được thì lấy...! Họ vào trong những nhà hàng, khách sạn… như chỗ không người. Bởi giờ nầy đâu có còn ai quản lý trông nom, tất cả đi tìm cho bản thân và gia đình một con đường thoát…! Văn hóa phẩm: Sách và những văn bản, băng đĩa vứt ra trắng đường…! Đường Yên Đỗ nơi có Thư Viện Đắc Lộ, đội đeo băng đỏ đem hết sách ở đây ném ra ngoài vỉa hè từng đống…! Những nhà sách khác cũng chịu hoàn cảnh tương tự. Sách anh văn, sách giáo khoa, bói toán, kiếm hiệp, tiểu thuyết, thơ, sách dịch, phim ảnh… đều vứt bỏ hết. Những tủ sách gia đình cũng bỏ ra đường, không ai dám lưu giữ, sợ bị qui cho cái tội “truyền bá văn hóa đồi trụy Mỹ Ngụy”. Tôi nhìn thấy bộ sách “Bộ Luật Hành Chánh”. Thèm lắm! Nhưng đành quay mặt…! Bản thân giờ nầy không còn hướng để đi thì sách đâu có còn ý nghĩa gì nữa đâu! Giao thông bát nháo, ai muốn chạy tới đâu thì chạy không theo quy tắc gì hết.
Những “chú bộ đội” nắm tay nhau đi từng tóp năm, tốp ba vì sợ thất lạc, có người mang giày (hình như mới kiếm được), nhìn chung hầu hết đều mang dép râu… Mấy chú ấy, ngơ ngáo, trầm trồ, chỉ chỏ… - họ chỉ nói chuyện với nhau và đi tìm mua đồng hồ đeo tay… Ở Sai Gòn, ngoài đồng hồ Seiko tự động của Nhật ra, thì đồng hồ Hồng Kông cũng tương tự, nhưng bị nhái, nên mới có câu: “Hồng Kông bên hông Chợ lớn” là vậy! Mấy chú bộ đội hầu hết bị mấy thanh niên chiêu dụ mua loại đồng hồ bên hông Chợ Lớn nầy.
Những cô gái có móng tay dài đều phải cắt cụt (?) son phấn, nước hoa cũng bỏ (!) Đồ dùng bằng inox cũng ném xuống cống (?). Ai ai cũng chờ xem “cách mạng sẽ đối đãi” như thế nào với người Sai Gòn! Một buổi chiều tháng năm, tôi đi trên đường Petrus Ký, đoạn gần đường Trần Hưng Đạo, tôi thấy người ta xúm nhau xem truyền hình… Tôi dừng lại xem thử, tôi thấy một O du kích mặc áo bà ba dẫn đoàn xe tank bộ đội vào giải phóng Sai Gòn. O du kích ngồi trên xe tank quấn khăn rằn quanh cổ, vai mang súng AK, cười - trông dáng cô rất oai phong… Tôi nghe nói là cô Nhíp nào đó - người con gái của đất Sài Gòn.
Tôi
chạy xe ra ngã tư Trung Chánh, Hóc Môn… Thấy người dân ở đây thong dong đi lượm
những bộ quần áo, giày nón của lính “ngụy” đem giặt rồi phơi trên hàng rào
chung quanh vườn… Họ thản nhiên - cười giỡn như chưa hề có một cuộc “thay ngôi
đổi chủ” với nỗi tang tóc bị ai còn đang diễn ra sờ sờ trước mắt… Tôi hỏi: -
Không sợ cách mạng bắt sao…?. Một người phụ nữ trả lời tỉnh queo, rằng: -“Lượm
giặt sạch để dành mặc đi lao động chứ - hơn nữa tôi cũng là người của cách mạng,
tôi sợ chi…?”. Như vậy, là… chỉ có tôi sợ thôi! Tôi nhận thấy có những người
già họ đi lượm mấy tấm ảnh, sách, băng nhạc kể cả cờ vàng…!
Tôi đến ngã năm và Quân Y Viện Cộng Hòa, ở đây những người thương bệnh binh đang tìm đường về quê, trên người còn bông băng… Nhiều người không có ai đón, hoặc ở xa đành phải ra - nằm ngồi ngoài đường xin ăn, xin tiền để tìm cách về nhà! Tôi thấy một người phụ nữ trẻ, đang ẵm một người thương phế binh ra chiếc xe xích lô, chẳng biết cô ấy đi về đâu…?! Thấy tình cảnh đau lòng… Tôi viết vội: “vợ tao ẵm tao như một đứa trẻ sơ sinh”, nhét vô túi áo. Và sau nầy tôi làm bài thơ “Tâm sự người thương phế binh” hoặc có tên khác là “Những người lính năm xưa”. Dân chúng Sai Gòn “háo hức” đổ xô đi dự lễ Lao Động một tháng năm và xem xe tank của bộ đội…!
Ngày
nào phe ”cách mạng” cũng kêu gọi anh em “Nguy Quân, Ngụy Quyền” ra trình diện.
Hai tuần sau, tôi lại “Ủy ban quân quản” tại tỉnh Gia Định cũ trình diện. Ở
đây, họ cấp cho tôi một mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay do ông Cao Đăng Chiếm ký
tên. Họ bảo tôi về nhà chờ giấy báo đi học tập… Nhà (cha mẹ nuôi) của tôi ở bến
Hàm Tử gần cổng sau Bịnh Viện Chợ Quán, phía bờ sông… Người nhà bảo tôi đi
khuân gạch từ dưới ghe bầu lên bờ, kiếm chút tiền sống qua ngày... Một miếng
ván dày, bề ngang chừng hai tấc - bắc từ thành ghe bầu lên bờ, chồng gạch cao tới
cổ họng, đi không quen. Tôi bị trật chân rơi tõm xuống sông liên tục…!
Một
hôm mẹ ruột bảo tôi về quê nhận đất để khỏi đi học tập. Tôi ra bến xe miền Đông
ở Ngã Bảy xếp hàng chờ mua cho được cái vé... Nhưng tôi tìm hoài không thấy cái
số xe ghi trong tấm vé. Tôi lơn tơn lại quầy vé nghía vô cái sổ phân “tuyến
xe”… Ông già có khuôn mặt ốm, ngồi cạnh cái cuốn sổ. Ông ta nhìn tôi rồi đập
bàn, quát: - “Anh có biết tôi là ai không? Sổ nầy là sổ gì không?”. Tôi trả lời
rằng tôi không biết. Ông ta nói tiếp với vẻ mặt của kẻ đắc thắng: - “Tôi là cán
bộ quản lý khu vực nầy, muốn gì thì phải hỏi tôi, không được dòm ngó lung
tung…”. Dằn mặt tôi xong ông kéo trong hộc bàn ra cái “băng đỏ” đeo vào tay áo.
Tôi im thin thít và nghĩ: Thì ra, ông nầy cũng là… “cách mạng 30.4”! Ông cán bộ,
quên đeo cái “nhãn hiệu” - vậy là ổng chửi oan cho tôi… Từ đó, tôi tự nhắc nhở
mình phải cẩn thận hơn!
Về quê được mấy hôm, tôi được mấy anh du kích xã lại mời tôi tới xã trình diện và khai lý lịch… Người lấy lời khai của tôi là một O du kích còn rất trẻ, cây súng lúc nào cũng kè kè bên hông của cô ấy. Tôi ngồi vắt chân, cô nói nhỏ: “… bỏ chân xuống...!”. Độ nửa tháng sau, tôi nghe trên loa xã kêu tên tôi và cho biết hãy chuẩn bị tiền ăn - mười một nghìn sáu trăm đồng (11.600$) và quần áo, xuống xã để đưa tới nơi học tập trong vòng 20 ngày. Tôi nghĩ “chỉ “hai mươi ngày” rồi về nhà thôi”. Vậy mà, hơn bảy năm trôi qua trong tù tội... Tôi còn may mắn hơn những chiến hữu khác là Chúa giữ cái thân tôi cho các em, cho mẹ tôi! Tôi cảm ơn các em và mẹ đã “thăm & nuôi” tôi - nuôi một thằng “con nít” mới ngoài hai mươi bốn tuổi đầu!
Tôi
khâm phục và biết ơn những người phụ nữ. Họ là người “lính hậu phương” không số
quân trong thời chiến. Ngày “hòa bình”, một mình nai lưng làm lụng để nuôi con,
nuôi chồng trong tù… Chưa kể trên đầu họ và con cái của họ còn phải mang cái
“lý lịch gia đình Ngụy” và mất hết quyền lợi…! Ai, ai là người vinh danh hay gắn
huy chương cho họ đây?!
Cuộc
chiến đã im tiếng súng gần nửa thế kỷ, những người thất bại chừ họ cũng đã chết,
không còn lại bao nhiêu, mà có còn sống thì cũng đã “sương trắng miền quê ngoại”,
lang thang tìm kế sinh nhai trong mọi ngõ ngách trên quê mẹ Việt Nam và lang bạc
khắp nơi trên thế giới...! Những người thất bại còn mang trong thân thể vết thương chiến tranh, hay bị mất đi một phần thân thể … Cho dù có lành sẹo thì
cũng dễ bung ra một khi - đọc một bài báo, một câu nói hay một cái nhìn không mấy
thiện cảm của mọi người “bên thắng trận”! Gần nửa thế kỷ đi qua… Vậy mà…,
thương thay - vẫn nhìn nhau bằng mặt chứ không bằng lòng… Chuyện lịch sử vẫn còn
y nguyên đó - làm sao mà quên - có kẻ khuyên hãy quên quá khứ… Quá khứ định
hình cho tương lai… làm sao mà quên đây?
Người Mỹ có câu nói “Tôi tha thứ, nhưng tôi không quên”. Đúng, kẻ đó khuyên người khác quên vì họ không mất thời gian ở tù… Vua Văn Vương đi tù bảy năm ở Dĩu Lý. Ông cũng cũng đâu có quên những tháng năm tù đày đâu! Ông để lại câu nói truyền tụng tới mấy ngàn năm nay chưa bao giờ mất giá trị “Nhứt nhựt tại tù thiên thu tại ngoại hề”. Tôi mượn hai câu đối của ông Nguyễn Hữu Đang (1913 – 2007) trong “nhóm nhân văn giai phẩm”, để tạm kết thúc.
-”Nào
công, nào tội, nào nhục, nào vinh, thương số phận Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi.
-Vận
nước, vận nhà, biết thời, biết thế,, quý cuộc đời Nguyễn Trãi, Trương Lương.”.
(Nguyễn Hữu Đang).
Trang
Y Hạ (Trần Phước Hân)
Viết
tại San Francisco – 24.4.2020.
Bài
văn lưu trong trang website của tác giả & đăng trong website văn học
huongduongtxd. (...)
Lời
Gió Mưa:
Tướng
George Patton. "Xin Chúa thương xót kẻ thù của chúng con, vì con sẽ không
thương xót họ."
“Nếu
đất nước Hoa Kỳ mất tự do, chúng ta sẽ khộng còn một nơi nào trên trái đất để
chạy trốn”. (Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan).












