Wednesday, June 17, 2026

Thương Hoài Những Điệu Ca Dao! - Đoàn Xuân Thu

nguồn tapchidulich

Miền Tây quê ta là nơi hoang vu với rừng rậm um tùm, nhiều sông rạch, đầm lầy trải dài. Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tợ bánh canh. Dưới sông, sấu rống, trên rừng, cọp um… Những vùng đất bát ngát ấy phèn chua và thường ngập nước, nhưng ở vùng giồng cao hơn, người dân trồng cây hái trái, trồng tỉa hoa màu để sinh sống. Nước chảy cho đá lăn tròn, giận thì nói vậy chớ bụng còn thương em. Người Miền Tây không nói “thuyền” mà dùng “thoàn”, “nhơn ngãi”, “nhơn ngỡi” thay cho nhân nghĩa; “bệnh” thành “bịnh”, “huê” thay cho “hoa”, “lụy” thay cho “lệ”… và họ kiêng huý, ví dụ “Châu Do” thay cho “Chu Du” trong Tam Quốc diễn nghĩa để kính trọng.

Tình cảm gia đình và vợ chồng

Phụ mẫu tình thâm, phu thê nhơn ngãi trượng, một mai anh có xa em rồi, vẫn thờ phượng mẹ cha.

Lao xao sóng bủa dưới thoàn, vắng em một bữa, cơm vàng cũng chẳng ngon.

Lụy xang xang đưa nàng xuống vịnh, anh trở lộn về nhuốm bịnh tương tư. Hai vừng nhựt nguyệt rành rành, sao anh đứt đoạn chung tình bỏ em.

Còn duyên, kẻ đón người đưa; hết duyên, đi sớm về trưa một mình.

Duyên là sắc đẹp ngầm của người con gái mới lớn: còn duyên anh cưới ba heo, hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi.

Ngó lên tổ nễ chau mày, mảnh lo sự khó quên ngày muối dưa.

Chiều mai chiều mốt, anh cốt cây bần, chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm.

“Cốt” có nghĩa là đốn cây, chặt cây, miệt Rạch Giá – Cà Mau. Cây bần toàn giống đực, rễ bần được gọi là… “c.c” bần. “Cốt” cây bần là lời cảnh báo nặng nề cho những ai ham trổ mòi với “ghe” đã có chủ. Hun, tức dùng mũi để hun, chớ không dùng môi.

Ước gì anh hóa con kiến vàng, bò qua quai nón của nàng mà hun. Muốn cúc chơi chậu tam hường, liễu huê hiếm hiệm dọc đường thiếu chi; nói hiếm hiệm tức là không hiếm vậy!

Lời ca dao và tục ngữ đời sống

Người Tiều có câu: “Chờ anh em hết sức chờ, chờ cho ến xại lên bờ khùi hui”

Khi rau muống lên bờ trổ bông. Khi gió lớn thổi, xuốt gùa thăm em, trời mưa tối, anh chèo ghe ngược ra thăm em.

Gió đẩy đưa rau dừa quặn quỵu, anh mảng thương nàng lịu địu xuống lên.

Tóc ngang lưng vừa chừng em bới, để chi dài bối rối dạ anh?

Bước cẳng xuống tàu, tàu khua rổn rổn, tàu qua Nhựt Bổn lấy nước Châu Thành, anh với em phải nói cho rành, để anh lên xuống nhọc nhằn thân anh.

Phụ mẫu đánh em quặt quà quặt quại, đem em treo tại nhánh bần; rủi đứt dây mà rớt xuống, em cũng lần mò kiếm anh.

Chẳng thà lăn xuống giếng cái chũm, chết ngủm rồi đời; sống chi đây chịu chữ mồ côi, loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai.

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng; chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông.


Duyên nợ và tình ái

Biển Đông gió thổi bốn mùa, say mê lời nói thuốc bùa không hay.

Bần gie, bần liệt, diệc đau chờ mồi, anh với em duyên nợ hết rồi, đi tìm chỗ khác đừng ngồi kế em.

Vỗ vai con Bảy không ừ, hay là con Bảy giận, con Bảy từ ngãi anh?

Bậu nói với qua bậu không lang chạ, qua bắt đặng bậu rồi, đành dạ bậu chưa?

Em đi lên xuống cầu dừa, lấy ai có chửa đổ thừa cho anh?

Nước ròng trong ngọn chảy ra, thấy em chồng chết, anh bôn ba qua liền.

Nói bóng nói gió, vòng vo Tam Quốc:

Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh, đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương.

Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, cao phi viễn tẩu dã nan tàng; từ khi anh xa cách con bạn vàng, cơm ăn chẳng được như con chim phụng hoàng bị tên.

Điển tích và văn hóa dân gian 

Ai khôn bằng Tiết Đinh San, cũng còn mắc kế nàng Phàn Lê Huê. Văng vẳng bên tai tiếng ai như tiếng con Điêu Thuyền, anh đây Lữ Bố kết nguyền thuở xưa.

Các tác phẩm vừa kể được dân gian gọi chung là truyện Tàu, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống người bình dân Tây Nam Bộ từ nửa đầu thế kỷ XX trở về trước.

Em ơi hãy lấy anh thợ bào, khom lưng đẩy cái nào cũng êm.

Rất dễ dàng nhận ra chuyện thợ bào đẩy bào để bào cây, bào ván cho bóng, cho trơn, đến chuyện đẩy theo cách nói trây, dân gian gợi hành động của vợ chồng chốn phòng the.

Chồng em nào phải trâu cày mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm. Chuột kêu chút chít trong rương, anh đi cho khéo kẻo đụng giường mẹ hay.

Lời đối đáp và tình thương.

Thân em như cá rô mề, lao xao giữa chợ biết về tay ai.

Cóc chết nàng nhái rầu rầu, chàng hiu đi hỏi lắc đầu hổng ưng. 

Con ếch ngồi ở gốc đưng, nó kêu cái ẹo biểu ưng cho rồi.

Ruộng ai thì nấy đắp bờ, duyên ai nấy gặp đợi chờ uổng công.

Nước chảy re re con cá he nó xoè đuôi phụng, em có chồng rồi trong bụng anh vẫn còn thương.

Gần sông cội mới ngã kề, tiếng tăm anh chịu, em về tay ai?

Có chồng bậu nói rằng không, con đâu bậu ẵm bậu bồng trên tay?

Đá cheo leo muốn trèo sợ trợt, muốn nói một hai lời sợ nhột ý em?

Cau già lỡ lứa bán trăm, chị nọ lỡ lứa biết nằm cùng ai?

Bậu đừng ăn nói đảo điên, cái áo bậu bận cũng tiền anh cho.

Kết luận

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

Vợ chồng già thương lắm, mình ơi! Anh tưởng giếng sâu nối sợi dây cụt, ai dè giếng cạn hụt sợi dây.

Qua tới đây không cưới được cô hai mày, qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy mới về.

Con gái mười bảy mười ba, đêm nằm với mẹ khóc la đòi chồng; mẹ giận phát ngang hông: “Đồ con mất nết đòi chồng suốt đêm!”

Bần gie bần liệt đóm đậu ngọn bần, anh đi cưới vợ, em vái cho sóng thần nhận ghe.

Cô em gái quê rang quê rít, tóc dài bỏ xoã, bận áo bà ba, bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể, cưới vợ có chửa về thổi lửa queo râu.

Trời mưa cho ướt ruộng gò, thấy em chăn bò anh để ý thương.

Dê xồm ăn lá khổ qua, ăn nhầm lá đậu chết cha dê xồm.

Áo vắt vai đi đâu hăm hở, em có chồng rồi mắc cỡ lêu lêu; áo vắt vai anh đi dạo ruộng, anh có vợ rồi chẳng chuộng bậu đâu.

Tiếng nói uất nghẹn còn hướng đến những đối tượng đã gây phiền toái: quất ông tơ cái trót, ổng nhảy tót lên ngọn cây bần, biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng không se.

Nước Láng Linh chảy ra Vàm Cú, thấy em chèo cặp vú muốn hun.

Bới tóc cánh tiên, bỏ vòng lá liễu, thấy miệng em cười trời biểu anh thương.

Tui hun mình, dẫu mình có la làng, thì tui la xóm hai đàng la chung; tui hun mình dẫu có làm hung, nhơn cùng tắc biến tui chun xuống sàn.

Con cua càng bò ngang đám bí, nói với chị mày giờ tí qua qua.

Ai mà bày đặt dị kỳ, áo bà ba may hai túi đựng giống gì hở anh? Ba má bày đặt cho anh, áo bà ba may hai túi đựng dầu chanh o mèo.

Nước mắm ngon dầm con cá bẹ, anh biểu em rình lén mẹ qua đây. Nước mắm ngon dầm con cá đối, em biểu anh chờ để tối em qua. Giữa trưa đói bụng thèm cơm, thấy đùi em vợ như tôm kho tàu.

Quá đã mấy cha.


Đoàn Xuân Thu

Thương hoài những điệu ca dao! - TRE Magazine

Vờ - Tạp Ghi Nguyễn Giụ Hùng - Hình Ảnh Và Giọng Đọc AI

Tuesday, June 16, 2026

Truyện Người Lính Nhỏ Mà Chính Khí Lớn VŨ TIẾN QUANG - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ


Tác giả Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ  là giáo sư Y Khoa Paris Pháp Quốc.

Trung Sĩ VŨ TIẾN QUANG Cái Bóng Của  HOÀI VĂN VƯƠNG TRẦN QUỐC TOẢN 

(Trích trong bộ Lịch Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam)


********
Vũ Tiến Quang sinh ngày 10 tháng 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thân phụ là hạ sĩ địa phương quân Vũ Tiến Đức. Ngày 20 tháng 3 năm 1961, trong một cuộc hành quân an ninh của quận, Hạ Sĩ Đức bị trúng đạn tử thương khi tuổi mới 25. Ông để lại bà vợ trẻ với hai con. Con trai lớn, Vũ Tiến Quang 5 tuổi. Con gái tên Vũ thị Quỳnh Chi mới tròn một năm. Vì có học, lại là quả phụ tử sĩ, bà Đức được thu dụng làm việc tại Chương Thiện, với nhiệm vụ khiêm tốn là thư ký tòa hành chánh. Nhờ đồng lương thư ký, thêm vào tiền tử tuất cô nhi, quả phụ, nên đời sống của bà với hai con không đến nỗi thiếu thốn. 

Quang học tại trường tiểu học trong tỉnh. Tuy rất thông minh, nhưng Quang chỉ thích đá banh, thể thao hơn là học. Thành ra Quang là một học sinh trung bình trong lớp. Cuối năm 1967, Quang đỗ tiểu học. Nhân đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hoà có đăng bài: “Ngôi sao sa trường: Thượng-sĩ-sữa Trần Minh, Thiên Thần U Minh Hạ”, bài báo thuật lại: Minh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Sau khi ra trường, Minh về phục vụ tại tiểu đoàn Ngạc Thần (tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, sư đoàn 21 Bộ Binh) mà tiểu đoàn đang đồn trú tại Chương Thiện. Quang nảy ra ý đi tìm người hùng bằng xương bằng thịt. Chú bé lóc cóc 12 tuổi, được Trần Minh ôm hôn, dẫn đi ăn phở, bánh cuốn, rồi thuật cho nghe về cuộc sống vui vẻ tại trường Thiếu Sinh Quân. Quang suýt xoa, ước mơ được vào học trường này. Qua cuộc giao tiếp ban đầu, Minh là một mẫu người anh hùng, trong ước mơ của Quang. Quang nghĩ: “Mình phải như anh Minh”. 

Chiều hôm đó Quang thuật cho mẹ nghe cuộc gặp gỡ Trần Minh, rồi xin mẹ nộp đơn cho mình nhập học trường Thiếu Sinh Quân. Bà mẹ Quang không mấy vui vẻ, vì Quang là con một, mà nhập học Thiếu Sinh Quân, rồi sau này trở thành anh hùng như Trần Minh thì…nguy lắm. Bà không đồng ý. Hôm sau bà gặp riêng Trần Minh, khóc thảm thiết xin Minh nói dối Quang rằng, muốn nhập học trường Thiếu Sinh Quân thì cha phải thuộc chủ lực quân, còn cha Quang là địa phương quân thì không được. Minh từ chối: 

- Em không muốn nói dối cháu. Cháu là Quốc Gia Nghĩa Tử thì ưu tiên nhập học. Em nghĩ chị nên cho cháu vào trường Thiếu Sinh Quân, thì tương lai của cháu sẽ tốt đẹp hơn ở với gia đình, trong khuôn khổ nhỏ hẹp.

Chiều hôm ấy Quang tìm đến Minh để nghe nói về đời sống trong trường Thiếu Sinh Quân. Đã không giúp bà Đức thì chớ, Minh còn đi cùng Quang tới nhà bà, hướng dẫn bà thủ tục xin cho Quang nhập trường. Thế rồi bà Đức đành phải chiều con. Bà đến phòng 3, tiểu khu Chương Thiện làm thủ tục cho con. Bà gặp may. Trong phòng 3 Tiểu Khu, có Trung Sĩ Nhất Cao Năng Hải, cũng là cựu Thiếu Sinh Quân. Hải lo làm tất cả mọi thủ tục giúp bà. Sợ bà đổi ý, thì mình sẽ mất thằng em dễ thương. Hải lên gặp Thiếu-tá Lê Minh Đảo, Tiểu Khu trưởng trình bầy trường hợp của Quang. Thiếu Tá Đảo soạn một văn thư, đính kèm đơn của bà Đức, xin bộ Tổng Tham Mưu dành ưu tiên cho Quang. 


Tháng 8 năm 1968, Quang được giấy gọi nhập học trường Thiếu Sinh Quân, mà không phải thi. Bà Đức thân dẫn con đi Vũng Tàu trình diện. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Quang trở thành một Thiếu Sinh Quân Việt Nam.

Quả thực trường Thiếu Sinh Quân là thiên đường của Quang. Quang có nhiều bạn cùng lứa tuổi, dư thừa chân khí, chạy nhảy vui đùa suốt ngày. Quang thích nhất những giờ huấn luyện tinh thần, những giờ học quân sự. Còn học văn hóa thì Quang lười, học sao đủ trả nợ thầy, không bị phạt là tốt rồi. Quang thích đá banh, và học Anh văn. Trong lớp, môn Anh văn, Quang luôn đứng đầu. Chỉ mới học hết đệ lục, mà Quang đã có thể đọc sách báo bằng tiếng Anh, nói truyện lưu loát với cố vấn Mỹ. 
Giáo-sư Việt văn của Quang là thầy Phạm Văn Viết, người mà Quang mượn bóng dáng để thay thế người cha. Có lần thầy Viết giảng đến câu :

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” 
(Người ta sinh ra, ai mà không chết.
Cần phải lưu chút lòng son vào thanh sử). 

Quang thích hai câu này lắm, luôn miệng ngâm nga, rồi lại viết vào cuốn sổ tay. 
Trong giờ học sử, cũng như giờ huấn luyện tinh thần, Quang được giảng chi tiết về các anh hùng : Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản, thánh tổ của Thiếu Sinh Quân, giết tươi Toa Đô trong trận Hàm Tử. Quang cực kỳ sùng kính Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, từ chối công danh, chịu chết cho toàn chính khí. Quang cũng khâm phục Nguyễn Biểu, khi đối diện với quân thù, không sợ hãi, lại còn tỏ ra khinh thường chúng. Ba nhân vật này ảnh hưởng vào Quang rất sâu, rất đậm. 


Suốt các niên học từ 1969-1974, mỗi kỳ hè, được phép 2 tháng rưỡi về thăm nhà, cậu bé Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang tìm đến các đàn anh trấn đóng tại Chương Thiện để trình diện. Quang được các cựu Thiếu Sinh Quân dẫn đi chơi, cho ăn quà, kể truyện chiến trường cho nghe. Một số ông uống thuốc liều, cho Quang theo ra trận. Quang chiến đấu như một con sư tử. Không ngờ mấy ông anh cưng cậu em út quá, mà gây ra một truyện động trời, đến nỗi bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam, bộ Tư-lệnh MACV cũng phải rởn da gà! Sau trở thành huyền thoại. Câu chuyện như thế này: 

Hè 1972, mà quân sử Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, giữa lúc chiến trường toàn quốc sôi động. Bấy giờ Quang đã đỗ chứng chỉ 1 Bộ Binh. Được phép về thăm nhà, được các đàn anh cho ăn, và giảng những kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm đời. Quang xin các anh cho theo ra trận. Mấy ông cựu Thiếu Sinh Quân, trăm ông như một, ông nào gan cũng to, mật cũng lớn, lại coi trời bằng vung. Yêu cậu em ngoan ngoãn, các ông chiều…cho Quang ra trận. Cuộc hành quân nào mấy ông cũng dẫn Quang theo.

Trong môt cuộc hành quân cấp sư đoàn, đánh vào vùng Hộ Phòng, thuộc Cà Mau. Đơn vị mà Quang theo là trung đội trinh sát của trung đoàn 31. Trung đội trưởng là một thiếu úy cựu Thiếu Sinh Quân. Hôm ấy, thông dịch viên cho cố vấn bị bệnh, Quang lại giỏi tiếng Anh, nên thiếu úy trung đội trưởng biệt phái Quang làm thông dịch viên cho cố vấn là thiếu úy Hummer. Trực thăng vừa đổ quân xuống thì hiệu thính viên của Hummer trúng đạn chết ngay. Lập tức Quang thay thế anh ta. Nghĩa là mọi liên lạc vô tuyến, Hummer ra lệnh cho Quang, rồi Quang nói lại trong máy. 

Trung đội tiến vào trong làng thì lọt trận điạ phục kích của trung đoàn chủ lực miền, tên trung đoàn U Minh. Trung đội bị một tiểu đoàn địch bao vây. Vừa giao tranh được mười phút thì Hummer bị thương. Là người can đảm, Hummer bảo Quang đừng báo cáo về Trung-tâm hành quân. Trận chiến kéo dài sang giờ thứ hai thì Hummer lại bị trúng đạn nữa, anh tử trận, thành ra không có ai liên lạc chỉ huy trực thăng võ trang yểm trợ. Kệ, Quang thay Hummer chỉ huy trực thăng võ trang. Vì được học địa hình, đọc bản đồ rất giỏi, Quang cứ tiếp tục ra lệnh cho trực thăng võ trang nã vào phòng tuyến địch, coi như Hummer còn sống. Bấy giờ quân hai bên gần như lẫn vào nhau, chỉ còn khoảng cách 20-30 thước. 

Thông thường, tại các quân trường Hoa-kỳ cũng như Việt Nam, dạy rằng khi gọi pháo binh, không quân yểm trợ, thì chỉ xin bắn vào trận địa địch với khoảng cách quân mình 70 đến 100 thước. Nhưng thời điểm 1965-1975, các cựu Thiếu Sinh Quân trong khu 42 chiến thuật khi họp nhau để ăn uống, siết chặt tình thân hữu, đã đưa ra phương pháp táo bạo là xin bắn vào phòng tuyến địch, dù cách mình 20 thước. Quang đã được học phương pháp đó. Quang chỉ huy trực thăng võ trang nã vào trận địch, nhiều rocket (hoả tiễn nhỏ), đạn 155 ly nổ sát quân mình, làm những binh sĩ non gan kinh hoảng. Nhờ vậy, mà trận địch bị tê liệt. 

Sau khi được giải vây, mọi người khám phá ra Quang lĩnh tới bẩy viên đạn mà không chết: trên mũ sắt có bốn vết đạn bắn hõm vào; hai viên khác trúng ngực, may nhờ có áo giáp, bằng không thì Quang đã ô-hô ai-tai rồi. Viên thứ bẩy trúng…chim. Viên đạn chỉ xớt qua, bằng không thì Quang thành thái giám.


Trung-tá J.F. Corter, cố vấn trưởng trung đoàn được trung đội trưởng trinh sát báo cáo Hummer tử trận lúc 11 giờ 15. Ông ngạc nhiên hỏi

- Hummer chết lúc 11.15 giờ, mà tại sao tôi vẫn thấy y chỉ huy trực thăng, báo cáo cho đến lúc 17 giờ?

Vì được học kỹ về tinh thần trách nhiệm, Quang nói rằng mình là người lạm quyền, giả lệnh Hummer, thay Hummer chỉ huy. Quang xin lỗi Corter. Trung-tá J.F. Corter tưởng Quang là lính người lớn, đề nghị gắn huy chương Hoa Kỳ cho Quang. Bấy giờ mới lòi đuôi chuột ra rằng các ông cựu Thiếu Sinh Quân đã uống thuốc liều, cho thằng em sữa ra trận.

Đúng ra theo quân luật, mấy ông anh bị phạt nặng, Quang bị đưa ra tòa vì “Không có tư cách mà lại chỉ huy”. Nhưng các vị sĩ quan trong sư đoàn 21, trung đoàn 31 cũng như cố vấn đều là những người của chiến trường, tính tình phóng khoáng, nên câu truyện bỏ qua. Quang không được gắn huy chương, mà mấy ông anh cũng không bị phạt. Hết hè, Quang trở về trường mang theo kỷ niệm chiến đấu cực đẹp trong đời cậu bé, mà cũng là kỷ niệm đẹp vô cùng của Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Câu truyện này trở thành huyền thoại. Huyền thoại này lan truyền mau lẹ khắp năm tỉnh của khu 42 chiến thuật : Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Chương Thiện. Quang trở thành người hùng lý tưởng của những thiếu nữ tuổi 15-17 ! 

Năm 1974, sau khi đỗ chứng chỉ 2 Bộ Binh, Quang ra trường, mang cấp bậc trung sĩ. Quang nộp đơn xin về sư đoàn 21 Bộ Binh. Quang được toại nguyện. Sư đoàn phân phối Quang về tiểu đoàn Ngạc Thần tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, tiểu đoàn của Trần Minh sáu năm trước. Thế là giấc mơ 6 năm trước của Quang đã thành sự thực.

Trung đoàn 31 Bộ Binh đóng tại Chương Thiện. Bấy giờ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tham mưu trưởng tiểu khu là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời. Cả hai đều là cựu Thiếu Sinh Quân. Đại-tá Cẩn là cựu Thiếu Sinh Quân cao niên nhất vùng Chương Thiện bấy giờ (36 tuổi). Các cựu Thiếu Sinh Quân trong tiểu đoàn 2-31 dẫn Quang đến trình diện anh hai Cẩn. Sau khi anh em gặp nhau, Cẩn đuổi tất các tùy tùng ra ngoài, để anh em tự do xả xú báp. 
Cẩn bẹo tai Quang một cái, Quang đau quá nhăn mặt. Cẩn hỏi: 

- Ê ! Quang, nghe nói mày lĩnh bẩy viên đạn mà không chết, thì mày thuộc loại mình đồng da sắt. Thế sao tao bẹo tai mày, mà mày cũng đau à?

- Dạ, đạn Việt-cộng thì không đau. Nhưng vuốt anh cấu thì đau.

- Móng tay tao, đâu phải vuốt?

- Dạ, người ta nói anh là cọp U Minh Thượng…Thì vuốt của anh phải sắc lắm

- Hồi đó suýt chết, thế bây giờ ra trận mày có sợ không?

- Nếu khi ra trận anh sợ thì em mới sợ. Cái lò Thiếu Sinh Quân có bao giờ nặn ra một thằng nhát gan đâu ?

- Thằng này được. Thế mày đã trình diện anh Thời chưa?

- Dạ anh Thời-thẹo không có nhà. 

Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời, tham mưu trưởng Tiểu-khu, uy quyền biết mấy, thế mà một trung sĩ 18 tuổi dám gọi cái tên húy thời thơ ấu ra, thì quả là một sự phạm thượng ghê gớm. Nhưng cả Thời lẫn Quang cùng là cựu Thiếu Sinh Quân thì lại là một sự thân mật. Sau đó anh em kéo nhau đi ăn trưa. Lớn, bé cười nói ồn ào, như không biết tới những người xung quanh.

Bấy giờ tin Trần Minh đã đền nợ nước tại giới tuyến miền Trung. Sự ra đi của người đàn anh, của người hùng lý tưởng làm Quang buồn không ít. Nhưng huyền thoại về Trần Minh lưu truyền, càng làm chính khí trong người Quang bừng bừng bốc lên.

Tại sư đoàn 21 Bộ Binh, tất cả các hạ sĩ quan cũng như các Thiếu Sinh Quân mới ra trường, thường chỉ được theo hành quân như một khinh binh. Đợi một vài tháng đã quen với chiến trường, rồi mới được chỉ định làm tiểu đội trưởng. Nhưng vừa trình diện, Quang được cử làm trung đội phó ngay, dù hầu hết các tiểu đội trưởng đều ở cấp trung sĩ, trung sĩ nhất, mà những người này đều vui lòng. Họ tuân lệnh Quang răm rắp!


Sáu tháng sau, đầu năm 1975 nhờ chiến công, Quang được thăng trung sĩ nhất, nhưng chưa đủ một năm thâm niên, nên chưa được gửi đi học sĩ quan. Quang trở thành nổi tiếng trong trận đánh ngày 1-2-1975, tại Thới Lai, Cờ Đỏ. Trong ngày hôm ấy, đơn vị của Quang chạm phải tiểu đoàn Tây Đô. Đây là một tiểu đoàn được thành lập từ năm 1945, do các sĩ quan Nhật Bản không muốn về nước, trốn lại Việt Nam…huấn luyện. Quang đã được Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn giảng về kinh nghiệm chiến trường: 
“Tây Đô là tiểu đoàn cơ động của tỉnh Cần Thơ. Tiểu đoàn có truyền thống lâu đời, rất thiện chiến. Khi tác chiến cấp đại đội, tiểu đoàn chúng không hơn các đơn vị khác làm bao. Nhưng tác chiến cấp trung đội, chúng rất giỏi. Chiến thuật thông thường, chúng dàn ba tiểu đội ra, chỉ tiểu đội ở giữa là nổ súng. Nếu thắng thế, thì chúng bắn xối xả để uy hiếp tinh thần ta, rồi hai tiểu đội hai bên xung phong. Nếu yếu thế, thì chúng lui. Ta không biết, đuổi theo, thì sẽ dẫm phải mìn, rồi bị hai tiểu đội hai bên đánh ép. Vì vậy khi đối trận với chúng, phải im lặng không bắn trả, để chúng tưởng ta tê liệt. Khi chúng bắt đầu xung phong, thì dùng vũ khí cộng đồng nã vào giữa, cũng như hai bên. Thấy chúng chạy, thì tấn công hai bên, chứ đừng đuổi theo. Còn như chúng tiếp tục xung phong ta phải đợi chúng tới gần rồi mớí phản công”

Bây giờ Quang có dịp áp dụng. Sau khi trực thăng vận đổ quân xuống. Cả đại đội của Quang bị địch pháo chụp lên đầu, đại liên bắn xối xả. Không một ai ngóc đầu dậy được. Nhờ pháo binh, trực thăng can thiệp, sau 15 phút đại đội đã tấn công vào trong làng. Vừa tới bìa làng, thiếu úy trung đội trưởng của Quang bị trúng đạn lật ngược. Quang thay thế chỉ huy trung đội. Trung đội dàn ra thành một tuyến dài đến gần trăm mét. Đến đây, thì phi pháo không can thiệp được nữa, vì quân hai bên chỉ cách nhau có 100 mét, gần như lẫn vào nhau. Nhớ lại lời giảng của Cẩn, Quang ra lệnh im lặng, chỉ nổ súng khi thấy địch. Ngược lại ngay trước mặt Quang, khoảng 200 thước là một cái hầm lớn, ngay trước hầm hai khẩu đại liên không ngừng nhả đạn. Quang ghi nhận vị trí hai khẩu đại liên với hai khẩu B40 ra lệnh: 
” Lát nữa khi chúng xung phong thì dùng M79 diệt hai khẩu đại liên, B40, rồi hãy bắn trả “.

Sau gần 20 phút, thình lình địch xả súng bắn xối xả như mưa, như gió, rồi tiếng hô xung phong phát ra. Chỉ chờ có thế, M79 của Quang khai pháo. Đại liên, B40 bị bắn tung lên, trong khi địch đang xung phong. Bấy giờ trung đội của Quang mới bắn trả. Chỉ một loạt đạn, toàn bộ phòng tuyến địch bị cắt. Quang ra lệnh xung phong. Tới căn hầm, binh sĩ không dám lại gần, vì bị lựu đạn từ trong ném ra. Quang ra lệnh cho hai khẩu đại liên bắn yểm trợ, rồi cho một khinh binh bò lại gần, tung vào trong một quả lựu đạn cay. Trong khi Quang hô :

- Ra khỏi hầm, dơ tay lên đầu ! Bằng không lựu đạn sẽ ném vào trong.

Cánh cửa hầm mở ra, mười tám người, nam có, nữ có, tay dơ lên đầu, ra khỏi hầm, lựu đạn cay làm nước mắt dàn dụa. 
Đến đây trận chiến chấm dứt. 
Thì ra 18 người đó là đảng bộ và ủy ban nhân dân của huyện châu thành Cần Thơ. Trong đó có viên huyện ủy và viên chủ tịch ủy ban nhân dân huyện.

Sau trận này Quang được tuyên dương công trạng trước quân đội, được gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu. Trong lễ chiến thắng giản dị, Quang được một nữ sinh trường Đoàn Thị Điểm quàng vòng hoa. Nữ sinh đó tên Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi, học lớp đệ ngũ. Cho hay, anh hùng với giai nhân xưa nay thường dễ cảm nhau. Quang, Châu yêu nhau từ đấy. Họ viết thư cho nhau hàng ngày. Khi có dịp theo quân qua Cần Thơ, thế nào Quang cũng gặp Châu. Đôi khi Châu táo bạo, xuống Chương Thiện thăm Quang. Mẹ Quang biết truyện, bà lên Cần Thơ gặp cha mẹ Châu. Hai gia đình đính ước với nhau. Họ cùng đồng ý : Đợi năm tới, Quang xin học khóa sĩ quan đặc biệt, Châu 17 tuổi, thì cho cưới nhau. 
Nhưng mối tình đó đã đi vào lịch sử…


Tình hình toàn quốc trong tháng 3, tháng 4 năm 1975 biến chuyển mau lẹ. Ban Mê Thuột bị mất, Quân Đoàn 2 rút lui khỏi Cao Nguyên, rồi Quân Đoàn 1 bỏ mất lãnh thổ. Rồi các sĩ quan bộ Tổng Tham Mưu được Hoa Kỳ bốc đi. Ngày 29-4, trung đội của Quang chỉ còn mười người. Tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng bỏ ngũ về lo di tản gia đình. Quang vào bộ chỉ huy tiểu khu Chương Thiện trình diện Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Cẩn an ủi :  - Em đem mấy người thuộc quyền vào đây ở với anh.


Ngày 30 tháng 4 năm 1975, viên tướng mặt bánh đúc, đần độn, giết chu ̉ ,  tướng  Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng-hòa buông súng đầu hàng. Tất cả các đơn vị quân đội miền Nam tuân lệnh, cởi bỏ chiến bào, về sống với gia đình. Một vài đơn vị lẻ lẻ còn cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn vị Dù tại Sài-gòn ngừng lúc 9 giờ 7 phút.

Đúng lúc đó tại Chương Thiện, tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu trưởng là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc quyền chống lại cuộc tấn công của Cộng quân. Phần thắng đã nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các quận trưởng chán nản ra lệnh buông súng. Chỉ còn tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh: 
“Dương Văn Minh lên làm Tổng-thống trái với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng Tư Lệnh. Hãy tiếp tục chiến đấu”.

Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần dần bị tràn ngập, vì quân ít, vì hết đạn vì mất tinh thần. Chỉ còn lại bộ chỉ huy tiểu khu. Trong bộ chỉ huy tiểu khu, có một đại đội địa phương quân cùng nhân viên bộ ham mưu. Đến 13 giờ, lựu đạn, đạn M79 hết. Tới 14 giờ 45, thì đạn hết, làn sóng Cộng quân tràn vào trong bộ chỉ huy. Cuối cùng chỉ còn một ổ kháng cự từ trong một hầm chiến đấu, nơi đó có khẩu đại liên. Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng im bặt. Quân Cộng Sản vào hầm lôi ra hai người. Một là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng và một trung sĩ mớí 19 tuổi. Trung sĩ đó tên là Vũ Tiến Quang. 
Bấy giờ đúng 15 giờ. 
Kẻ chiến thắng trói người chiến bại lại. Viên đại tá chính ủy của đơn vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương Thiện hỏi:

- Đ.M. Tại sao có lệnh đầu hàng, mà chúng mày không chịu tuân lệnh?

Đại Tá Cẩn trả lời bằng nụ cười nhạt. 
Trung sĩ Quang chỉ Đại Tá Cẩn:

- Thưa đại tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng. Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến đấu. Vì anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Anh ra lệnh chiến đấu, thì tôi không thể cãi lệnh. 

Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài bộ chỉ huy tiểu khu. Viên chính ủy chỉ những xác chết nói với Đại Tá Cẩn: 

- Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Đ.M. Chúng mày sẽ phải đền tội.

Đại Tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười nhạt. Trung sĩ Quang ngang tàng:

- Đại tá có lý tưởng của đại tá, tôi có lý tưởng của tôi. Đại tá theo Karl Marx, theo Lénine; còn tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi vẫn giữ lý tưởng của tôi. Tôi không gọi đại tá là tên Việt Cộng. Tại sao đại tá lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn ăn cắp gà, phường trộm trâu vậy? Phải chăng đó ngôn ngữ của đảng Cộng-sản ? 

Viên đại tá rút súng kề vào đầu Quang: 

- Đ.M. Tao hỏi mày, bây giờ thì mày có chính nghĩa hay tao có chính nghĩa?

- Xưa nay súng đạn trong tay ai thì người đó có lý. Nhưng đối với tôi, tôi học trường Thiếu Sinh Quân, súng đạn là đồ chơi của tôi từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Đại tá đừng dọa tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, còn đại tá không có chính nghĩa. Tôi là con cháu Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản mà.

- Đ.M. Mày có chịu nhận mày là tên ngụy không?

- Tôi có chính nghĩa thì tôi không thể là ngụy. Còn Cộng quân dùng súng giết dân mới là ngụy, là giặc cướp. Tôi nhất quyết giữ chính khí của tôi như Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, như Nguyễn Biểu. 

Quang cười ngạo nghễ:

- Nếu đại tá có chính nghĩa tại sao đại tá lại dùng lời nói thô tục vớí tôi? Ừ! Muốn mày tao thì mày tao. Đ.M. tên Cộng Sản ác ôn! Nếu tao thắng, tao dí súng vào thái dương mày rồi hỏi: Đ.M.Mày có nhận mày là tên Việt Cộng không? Thì mày trả lời sao?

Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngã bật ngửa, óc phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu niên còn nở nụ cười. Tôi không có mặt tại chỗ, thành ra không mường tượng ý nghĩa nụ cười đó là nụ cười gì? Độc giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ cưòi đó mang ý nghĩa nào? Nụ cười hối hận ? Nụ cười ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ cười thỏa mãn? 

Ghi chú :
Nhân chứng quan trọng nhất, chứng kiến tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật cho tác giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Hiện (1999) cô là phu nhân của bác sĩ Jean Marc Bodoret, học trò của tôi, cư trú tại Marseille.

Cái lúc mà Quang ngã xuống, thì trong đám đông dân chúng tò mò đứng xem có tiếng một thiếu nữ thét lên như xé không gian, rồi cô rẽ những người xung quanh tiến ra ôm lấy xác Quang. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hoàng Châu. Em gái Quang là Vũ thị Quỳnh Chi đã thuê được chiếc xe ba bánh. Cô cùng Nguyễn Hoàng Châu ôm xác Quang bỏ lên xe, rồi bọc xác Quang bằng cái Poncho, đem chôn.

Chôn Quang xong, Châu từ biệt Quỳnh Chi, trở về Cần Thơ. Nhưng ba ngày sau, vào một buổi sáng sớm Quỳnh-Chi đem vàng hương, thực phẩm ra cúng mộ anh, thì thấy Châu trong bộ y phục trắng của nữ sinh, chết gục bên cạnh. Mặt Châu vẫn tươi, vẫn đẹp như lúc sống. Đích thân Quỳnh Chi dùng mai, đào hố chôn Châu cạnh mộ Quang.


Năm 1998, tôi có dịp công tác y khoa trong đoàn Liên Hiệp các viện bào chế Châu Âu (CEP= Coopérative Européenne Pharmaceutique) , tôi đem J.M Bodoret cùng đi, Quỳnh Chi xin được tháp tùng chồng. Lợi dụng thời gian nghỉ công tác 4 ngày, từ Sài-gòn, chúng tôi thuê xe đi Chương Thiện, tìm lại ngôi mộ Quang-Châu. Ngôi mộ thuộc loại vùi nông một nấm dãi dầu nắng mưa, cỏ hoa trải 22 năm, rất khó mà biết đó là ngôi mộ. Nhưng Quỳnh-Chi có trí nhớ tốt. Cô đã tìm ra. Cô khóc như mưa, như gió, khóc đến sưng mắt. Quỳnh-Chi xin phép cải táng, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên, cuối cùng có tiền thì mua tiên cũng được. Giấy phép có. Quỳnh-Chi cải táng mộ Quang-Châu đem về Kiên Hưng, chôn cạnh mộ của ông Vũ Tiến Đức. Quỳnh-Chi muốn bỏ hài cốt Quang, Châu vào hai cái tiểu khác nhau. Tôi là người lãng mạn. Tôi đề nghị xếp hai bộ xương chung với nhau vào trong một cái hòm. Bodoret hoan hô ý kiến của sư phụ.

Ngôi mộ của ông Đức, của Quang-Châu xây xong. Tôi cho khắc trên miếng đồng hàng chữ:


“Nơi đây AET Vũ Tiến Quang, 19 tuổi,
An giấc ngàn thu cùng
Vợ là Nguyễn Hoàng Châu
Nở nụ cười thỏa mãn vì thực hiện được giấc mộng”

Giấc mộng của Quang mà tôi muốn nói, là: được nhập học trường Thiếu Sinh Quân, rồi trở thành anh hùng. Giấc mộng của Châu là được chết, được chôn chung với người yêu. Nhưng người ta có thể hiểu rằng: Quang thỏa mãn nở nụ cười vì mối tình trọn vẹn. 


Paris ngày 13 tháng 4 năm 1999.
Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ. 

Dỗ Dành Xa Xôi - Trầm Vân

Giải Túc Cầu Thế Giới Và Tiếng Việt Cộng - Nguyễn Duy Phước


Với Giải Túc Cầu Thế giới 2026, gọi tắt là World Cup, chúng ta lại được dịp cười ra nước mắt với đám kỳ giả thể thao, không những việt cộng không mà còn ở hải ngoại, khi chúng tường thuật các trận đấu với một ngôn ngữ "hổ lốn" và những chữ rất là quái đản. Cần phải biết là ở hải ngoại thì chỉ có báo Người Việt là nói về thể thao còn ở V.N thì rất nhiều vì chúng luôn có người túc trực đêm ngày để theo dõi các trận đấu.

Chỉ cần đọc vài trận mở đầu thôi cũng phải cười bể bụng, nhiều khi phải "bịt mũi" để đọc vì cách hành văn và chữ nghĩa của chúng thật ngô nghê, dị hợm đến nỗi nhiều khi đọc cũng phải tự hỏi đây có phải là tiếng Việt hay là tiếng "man di mọi rợ" nào đó rất là khó hiểu và mất rất nhiều thì giờ để đoán xem chúng muốn nói gì.

Xin lần lượt trích đăng vài "lời hay ý đẹp" sau đây của đám "khỉ lên làm người" đang phá hoại tiếng Việt thuần túy (những chữ quái đản được tô màu đỏ, và những chữ tiếng Việt thuần túy màu xanh):

- "Chơi chệch choạc" thay vì "chơi không đều hay không ăn khớp với nhau"

- "Thắng giòn giã" thay vì "thắng đậm"

- "Đội trưởng" thay vì "thủ quân"

- "Các chân sút" hay "kỹ năng dứt điểm đã đưa chân sút 31 tuổi này" thay vì "vua phá lưới"

- "Đội hình xuất phát" thay vì xuất quân, thi đấu 

- "Thế rồi sang hiệp hai, ông xốc lại đội hình" thay vì "xếp đặt"

- "Cú nã đại bác" thay vì "cú sút mãnh liệt"

- "Mỹ chơi chùng xuống trong hiệp hai, khi ngòi nổ Pulisic được rút ra nghỉ", lại vẫn dao to búa lớn thay vì nói "tay châm banh hay phát banh"

- "Bóng đập chân cầu thủ Australia" thay vì "chạm chân"

- "David tắt điện trước Bosnia" thay vì "không còn sức"

- "Trận mở màn bảng G giữa Bỉ và Ai Cập xét về tên tuổi và chiều sâu đội hình...", thay vì "thành tich" hay "kết quả"

- "Những “mũi khoan” giàu tốc độ như Doku, Lukaku", thay vì "Những mũi tên nhanh nhẹn hay linh động như Doku, Lukaku"

- "Mỹ kiểm soát thế trận với lối chơi tốc độ và linh hoạt", chúng dùng chữ "tốc độ" như một tĩnh từ thay vì nói "nhanh nhẹn"

- "Tiền đạo trẻ Irankunda tăng tốc loại bỏ hai hậu vệ Thổ Nhĩ Kỳ" thay vì "chạy nhanh"

- "Calhanoglu chọc khe vào nách biên phải", thật quá thô tục thay vì nói một cách giãn dị "chọc thủng biên phải"

- "Từ đường chọc khe của Malik Tillman, Balogun bứt tốc vượt qua hàng thủ Paraguay", eo ôi khe đâu mà cứ chọc hoài, nghe thật kinh tởm thay vì "lướt banh", còn thay vì "bứt tốc" thì phải nói "nhanh nhẹn"

- "Được kết thúc bởi cú vuốt mu từ Larin" và câu này thì quá là tục tĩu

- "Huấn luyện viên Hossam Hassan hiểu rõ đá với Bỉ, Ai Cập khó có thể đôi công" (không biết muốn nói gì)

- "Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát bóng lỗi để đối thủ cướp được phản công" (cũng không hiểu nỗi)

- "Brazil ứng viên vô địch thi đấu nhạt nhòa" (cũng vậy)

- "Haiti bị xác định là đội lót đường với lối chơi chân phương" (không biết nghĩa gì)

- "Từ cú sút xa của Granit Xhaka chệch cầu môn" thay vì "chệch khung thành" 

- "Bàn mở tỉ số của Mỹ là pha đốt lưới nhà của cầu thủ Paraguay" thay vì "pha tung lưới"

- "Bóng triển khai rất nhanh từ biên phải và chỉ hai pha bật tường Mckennie có bóng và bất ngờ chuyển hướng tấn công từ biên phải đi chéo vào trung lộ và thực hiện đường chuyền khe xuống cánh trái cho Christian Pulisic". Eo ôi đọc câu này mà phải mất thì giờ đoán, chẳng hạn "bật tường" và "chuyền khe" thì không hiểu chúng muốn nói gì. Riên "đá vào trung lộ" thì tôi nhớ ngày xưa thường dùng chữ "xăng vào" (từ tiếng Pháp "centrer" để nói đưa banh vào giữa)

- "Hàn Quốc và Czech phải căng ra đá với nhau", có phải chúng muốn nói "phải đá hết mình" ?

- "Hai đội thua Mexico – Hàn Quốc có thể sẽ xác định chiếc vé đầu tiên vào vòng knock-out". Lâu lâu chúng bí quá thì chúng dùng chữ ngoại lai, đây là chúng muốn nói "vòng loại trực tiếp" sẽ bắt đầu sau các trận đấu ở vòng bảng

- "Liên tục pressing để đoạt bóng sớm", đây cũng vậy dùng chữ lai căng thay vì "dồn ép"

- "Huấn luyện viên Hong Myung-bo phải tính toán cả về con người lẫn lối chơi khắc với kiểu căng ra đá với Czech". Cũng chẳng hiểu nỗi chỉ biết là phải nói "về nhân sự" thay vì nói "về con người"

- "Australia tiếp tục chọn cách chơi với khối đội hình thấp" thay vì "Úc tiếp tục chọn lối chơi thủ ở dưới hay thủ hơn công"

- "Đội hình Australia co cụm trước khung thành đội nhà" thay vì "dồn về"  

- "Từ quả phạt trực tiếp ở cự ly khoảng 23 m", chẳng biết dùng chữ "cự ly" nghĩa là gì?

- "Akturkoglu đỡ bóng, rồi xoay người vô-lê thẳng vào Beach" thay vì "Akturkoglu chặn banh, rồi xoay người đá vô-lê thẳng vào Beach"

- "Đoàn quân HLV Montella cầm bóng hơn 80% để đẩy lùi Australia", đá banh bằng chân mà chúng gọi "cầm bóng" thay vì "giữ banh" 

- "Beach vẫn giữ phản xạ nhanh và mất hai nhịp để bắt gọn", eo ôi đá banh mà chúng cứ tưởng như tia sáng hay laser "phản xạ" thay vì "phản ứng" rồi cứ tưởng như âm nhạc "mất hai nhịp" thay vì "hai lần"

- "Arda Guler cứa lòng chân trái đưa bóng vòng qua hàng rào rồi đập đất vào góc trái, nhưng Beach vẫn phản xạ nhanh để cản phá", ôi thôi cách hành văn sao nặng nề đến thế thay vì nói  "Arda Guler dùng chân trái đá banh vòng qua hàng rào rồi chạm đất vào góc trái, nhưng Beach vẫn phản ứng kịp thời"

- "Ở khu kỹ thuật, HLV Montella quay ngoắt người thất vọng khi học trò bỏ lỡ cơ hội ngon ăn" thay vì  "Ở trên băng, HLV Montella phản ứng gay gắt khi các cầu thủ của mình bỏ lỡ cơ hội dễ làm bàn"

- "Bóng đi sát mặt cỏ sân BC Place, vượt qua pha bay người hết cỡ của Cakir và đi vào lưới" thay vì  "Trái banh đi sát mặt đất và tung lưới mặc dù Cakir cố gắng bay để cản"

- "Thủ môn này đã đổ người cản phá thành công" thay vì "lăn người cản banh thành công"

- "Thổ Nhĩ Kỳ vẫn tận dụng tốt khả năng xử lý kỹ thuật của các cầu thủ để tiếp cận vòng cấm", đây cũng vậy sao mà nặng nề quá, ngoài ra chúng dùng chữ "vòng cấm" thay vì "vùng cấm địa", nghe cứ tưởng như vùng cấm của phụ nữ

- "Tình huống đáng chú ý nhất ở phút thứ 6, với pha ban bật đẹp mắt của Guler với đồng đội trước vòng cấm, rồi cứa lòng chân trái vọt xà", "ban bật" thì không hiểu là gì còn "cứa lòng chân trái vọt xà" chắc muốn nói "đá bằng chân trái khiến trái banh bay qua xà ngang"

- "Trước khi bước vào giờ giải lao uống nước", thật quá là ngu giải lao để giải khát, uống nước chứ làm gì?

- "Kỹ thuật tốt giúp họ thắng trong các đấu tay đôi, nhưng bất lực trước khả năng bọc lót của đối thủ", thay vì "pha đấu một chọi một", còn "bọc lót" thì chịu thua.

- "Harry Souttar đánh đầu đập đất" thay vì "đội đầu xuống đất"

- "Phút 21, cựu hậu vệ Arsenal băng cắt đánh đầu ngược thông minh", chẳng hiểu "băng cắt" là gì và tại sao "đánh đầu" mà "ngược thông minh"?

- "Anh cũng giúp Australia đứng vững từ tất cả các đường treo bóng bổng của Thổ Nhĩ Kỳ" thay vì "các trái banh trên không" 

- "Trước vạch 16m50, Guler nỗ lực xoay compa nhưng bị truy cản. Akturkoglu ập vào lấy bóng, ngoặt trôi một hậu vệ", eo ôi ghê quá, "xoay compa" đúng là không giống ai thay vì "xoay 180 độ", "ập vào" thay vì "xông vào", còn "ngoặt trôi" thì xin chịu thua

- "Australia phối hợp tam giác đẹp mắt bên cánh trái để xé toang hàng tiền vệ và hậu vệ Thổ Nhĩ Kỳ" thay vì "Úc có pha hình tam giác đẹp mắt bên cánh trái để chọc thủng hàng tiền vệ và hậu vệ Thổ Nhĩ Kỳ"  

- "Bóng được trả ngược vào trung lộ cho Reyna. Tiền vệ này vẩy má ngoài chân phải" thay vì "trái banh được đưa vào giữa sân" còn "vẩy má" thì chịu thua.

 

Thôi xin dừng nơi đây nhưng theo đà này, và với 104 trận đấu của World Cup 2026, thì nếu cứ đọc riết ngôn ngữ thổ tả, quái thai của V.C chắc sẽ bị "tẩu hỏa nhập ma". Và củng còn may là bọn V.C không được vào vòng chung kết chứ nếu không thì chắc sẽ điếc con ráy khi phải suốt ngày nghe chúng gáy với những lời lẽ "bình dân giáo dục".


16/6/2026
Nguyễn Duy Phước

Monday, June 15, 2026

Một Quân Đội Bị Lãng Quên - Phạm Sơn Liêm

Hình của Bộ thông tin VNCH


Có những người lính được lịch sử ghi tên bằng tượng đài.

Có những người lính được cả thế giới nhắc nhớ qua sách vở và phim ảnh.

Nhưng cũng có những người lính chiến đấu suốt tuổi thanh xuân, đổ máu trên từng tấc đất quê hương, rồi dần bị phủ mờ trong những trang sử của thời cuộc.

Đó là người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Hai mươi năm chiến tranh.

Hai mươi năm sống giữa tiếng pháo kích, tiếng trực thăng, tiếng gọi ới nhau giữa khói lửa chiến trường.

Từ đồng bằng sông Cửu Long đến cao nguyên Kontum, từ Khe Sanh, Quảng Trị đến An Lộc, Bình Long, hàng trăm ngàn người lính đã đứng lên bảo vệ miền đất mà họ gọi là quê hương.

Nhiều người nằm lại nơi rừng sâu biên giới.

Nhiều người trở về với thân thể không còn nguyên vẹn.

Nhiều người bước vào trại tù sau năm 1975.

Và cũng có những người mãi mãi nằm lại dưới lòng biển Đông, trên những con thuyền vượt biên tìm tự do.

Lịch sử có thể còn những tranh luận. Quan điểm chính trị có thể khác nhau. Nhưng sự hy sinh của người lính thì không thể phủ nhận.

Máu đã đổ là thật. Nước mắt của những người vợ chờ chồng là thật. Nỗi đau của những đứa con mất cha là thật. Và lòng can đảm của những người đã chiến đấu đến cùng cũng là thật.

Cuốn sách “Một Quân Đội Bị Lãng Quên” của giáo sư Andrew Wiest không phải là một bản cáo trạng, cũng không phải một lời biện hộ.

Đó là lời nhắc nhở rằng, người thật việc thật, phía sau những con số thống kê và những bản đồ tác chiến là những con người bằng xương bằng thịt. Những người đã yêu nước theo cách của họ.

Đã chiến đấu theo lời thề của họ. Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm. Và đã trả giá bằng chính cuộc đời mình.

Bài viết này xin được cúi đầu trước những người lính của một quân đội đã đi vào lịch sử. Dù thắng hay thua, họ vẫn là những người đã sống, chiến đấu và hy sinh cho điều họ tin tưởng. Và lịch sử, nếu muốn công bằng, không nên quên họ.

Kính dâng những chiến hữu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, những người đã mang màu áo năm xưa đi suốt một đời người, và những người đã nằm xuống mà tên tuổi vẫn còn trong trái tim đồng đội.

MỘT QUÂN ĐỘI BỊ LÃNG QUÊN

Có những cuộc chiến kết thúc bằng tiếng súng.

Nhưng cũng có những cuộc chiến kết thúc bằng sự im lặng.

Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến như thế. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Những cánh rừng Trường Sơn đã xanh trở lại. Những hố bom năm nào đã thành ruộng lúa. Những người lính già còn sống sót giờ tóc bạc như mây. Nhưng ở đâu đó trong những trang sách lịch sử phương Tây, vẫn còn một khoảng trống rất lớn.

Đó là hình ảnh của người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Năm 2000, một giáo sư sử học người Mỹ tên Andrew Wiest đặt chân đến Việt Nam. Ông sang đây để tìm hiểu về cuộc chiến của nước Mỹ. Nhưng rồi ông phát hiện ra một sự thật khác. Một cuộc chiến của người Việt.

Một quân đội đã chiến đấu suốt hai mươi năm nhưng gần như bị xóa khỏi lịch sử.

Tại Huế, ông gặp cựu sĩ quan Phạm Văn Đính. Người sĩ quan ấy từng chỉ huy đơn vị chiến đấu giữa những trận mưa pháo dữ dội của Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972.

Một buổi chiều, ngồi bên ly cà phê cũ kỹ, Andrew hỏi:

— Ông đã chiến đấu bao lâu?

Ông Đính nhìn xa xăm.

— Gần cả tuổi trẻ.

— Và cuối cùng?

Người cựu sĩ quan khẽ cười buồn.

— Cuối cùng thì lịch sử quên mất chúng tôi.

Câu trả lời ấy khiến Andrew chết lặng.

Ít lâu sau, ông gặp một người khác.

Thiếu tá Trần Ngọc Huế. Một người lính nổi tiếng của chiến trường Quân đoàn I. Người đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng trong chiến dịch Lam Sơn 719 tại Hạ Lào. Sau trận đánh đó, ông bị thương nặng.

Bị bắt.

Bị giam cầm suốt 13 năm trong các trại tù cộng sản.

Thêm 6 năm quản thúc.

Gần hai mươi năm cuộc đời tan biến sau song sắt.

Andrew hỏi:

— Điều gì khiến ông vẫn tiếp tục chiến đấu?

Ông Huế trả lời rất chậm:

— Vì sau lưng tôi là gia đình tôi. Là quê hương tôi. Là những người dân không có súng. Nếu chúng tôi bỏ chạy, ai sẽ đứng lại?

Andrew kể rằng khoảnh khắc ấy ông hiểu. Ông không còn nghiên cứu chiến tranh nữa.

Ông đang nghiên cứu số phận con người.

Từ đó, ông bắt đầu lần theo những dấu chân bị bỏ quên.

Ông đọc hàng ngàn tài liệu.

Phỏng vấn hàng trăm cựu chiến binh. Lật lại từng trận đánh. Và ông tìm ra ra nhiều điều gây sửng sốt.

Trong rất nhiều cuốn sách nổi tiếng về Chiến tranh Việt Nam, người ta kể rất nhiều về lính Mỹ. Nhưng gần như không kể gì về những người lính Việt Nam đã chiến đấu bên cạnh họ.

Như thể họ chưa từng tồn tại!

Hình từ sách Việt Nam Khói lửa.


Mậu Thân 1968.

Thế giới nhớ đến những người lính Thủy quân Lục chiến Mỹ chiến đấu tại Huế.

Đó là sự thật. Họ đã chiến đấu anh dũng. Nhưng đó chưa phải toàn bộ sự thật.

Trong từng con hẻm đẫm máu của Thành Nội Huế.

Trong từng bức tường loang máu. Trong từng căn nhà đổ nát. Người lính Việt Nam Cộng Hòa cũng đang chiến đấu. Không lùi bước. Không đầu hàng.

Đại đội Hắc Báo.

Các đơn vị Nhảy Dù.

Thủy Quân Lục Chiến.

Bộ binh.

Địa phương quân.

Nghĩa quân…

Họ chiến đấu từng mét đất. Từng góc phố. Từng căn phòng. Nhiều nơi không có pháo binh. Không có xe tăng.

Chỉ có khẩu súng trên tay và ý chí phải giữ thành phố.

Một trung sĩ trẻ nhìn đồng đội ngã xuống. Anh nghiến răng:

— Không được lùi!

— Sau lưng mình là Huế!

Và họ tiếp tục tiến lên.

Rồi đến Lam Sơn 719. Năm 1971.

Lần đầu tiên quân đội miền Nam tiến sang đất Lào mà không có quân chiến đấu Mỹ đi cùng. Khắp các ngọn đồi.

Khắp các cánh rừng. Máu đổ như mưa. Một tiểu đoàn bị bao vây lần thứ nhất. Rồi lần thứ hai. Lần thứ ba. Lần thứ tư. Lần thứ năm. Lần thứ sáu.

Người lính trẻ hỏi tiểu đoàn trưởng Trần Ngọc Huế:

— Thưa thiếu tá… mình còn sống trở về không?

Ông nhìn những khuôn mặt đen sạm vì thuốc súng.

— Không biết.

— Nhưng còn thở thì còn đánh.

Đó không phải khẩu hiệu.

Đó là thực tế. Khi chiến dịch kết thúc. Chỉ còn 26 người sống sót. Hai mươi sáu người.

Từ một đơn vị hàng trăm lính…

Rồi đến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Quảng Trị. Kontum. An Lộc.

Ba cái tên làm rung chuyển chiến tranh Việt Nam.

Từng sư đoàn Bắc Việt tràn xuống như thác lũ. Xe tăng.

Pháo binh. Hỏa tiễn. Hàng chục ngàn quân.

Nhưng họ không gặp một quân đội tan rã như tuyên truyền từng mô tả.

Họ đụng những người lính Việt Nam Cộng Hòa đang tử thủ. Tại An Lộc. Một sĩ quan nói với thuộc cấp:

— Nếu thành phố này mất.

— Sài Gòn sẽ rung chuyển.

Người lính trẻ gật đầu:

— Vậy thì tụi mình chết ở đây.

Thành phố không mất. An Lộc đứng vững.

Kontum đứng vững.

Quảng Trị rồi được tái chiếm.

Đó là những chiến thắng mà lịch sử thế giới ít khi nhắc tới.

Hình của corbis


Vậy vì sao miền Nam thất thủ?

Đó là câu hỏi đau đớn nhất!

Không phải vì người lính, không chiến đấu. Không phải vì họ thiếu can đảm. Không phải vì họ không đổ máu.

Hơn 200.000 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống. Hàng triệu gia đình mất cha. Mất chồng. Mất con.

Không một dân tộc nào trả giá như thế nếu họ không tin vào điều mình đang bảo vệ.

Nhưng một quân đội được xây dựng để chiến đấu trong liên minh. Khi đồng minh rút đi. Khi viện trợ bị cắt. Khi nhiên liệu không còn. Khi đạn pháo binh phải tiết kiệm từng viên. Khi xe tăng nằm bất động vì thiếu phụ tùng.

Thì cuộc chiến trở thành một cuộc chiến không cân sức.

Ngày cuối cùng của cuộc chiến. Nhiều người lính vẫn còn chiến đấu. Nhiều người chọn ở lại. Nhiều người vào tù. Nhiều người vượt biển.

Nhiều người nằm lại ngoài khơi.

Và rồi lịch sử dần khép lại.

Nhưng không phải sự thật.

Sự thật là có một quân đội đã chiến đấu suốt hai mươi năm.

Có những người lính đã hy sinh tuổi trẻ, gia đình và mạng sống của mình. Có những người anh hùng không được dựng tượng. Không được nhắc tên trong sách giáo khoa. Không được thế giới biết đến.

Nhưng họ đã từng tồn tại.

Đã từng chiến đấu.

Đã từng ngã xuống.

Và như giáo sư Andrew Wiest đã nói:

“Quý vị là những người anh hùng. Và tôi chỉ là người kể lại câu chuyện của quý vị.”

Đôi khi, điều công bằng nhất mà lịch sử có thể làm…

Là nhớ lại những người đã bị lãng quên.

 

Phạm Sơn Liêm

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140