Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Thursday, May 21, 2026
Wednesday, May 20, 2026
Cha Xin Lỗi Vì Đã "Dạy" Con Làm Osin Cho Chồng
Mấy hôm trước, tôi từ quê lên thăm con gái.
Vợ tôi bận trông cháu nội, nên mình tôi xách mấy món quà quê lên cho con.
Con bé lấy chồng đã năm năm,
có hai đứa con một trai một gái,
sống trong một căn chung cư mua trả góp.
Hai vợ chồng cùng đi làm công sở,
cuộc sống nhìn chung thoải mái, êm đềm.
Tôi lên ngay tối thứ Sáu, đúng lúc con tan sở.
Con thấy tôi lên thì mừng lắm, tíu tít mời cha ngồi,
rồi vội chạy đi làm bếp.
Dăm phút sau thì chồng con cũng về tới,
chào hỏi cha vợ xong xuôi thì ngồi xuống bàn ăn,
mở điện thoại ra đọc tin tức và hỏi vợ bao giờ có cơm tối.
Con gái tôi vừa trả lời chồng,
vừa chạy đi chạy lại như con thoi để thổi cơm,
xắt rau củ, làm cá…
Trong lúc đứa con gái lớn ngồi chơi Lego,
con gái tôi tranh thủ thời gian chờ cơm canh sôi,
thì đưa con trai nhỏ đi tắm,
rồi lại giục con gái lớn đi tắm,
Và thu dọn quần áo bẩn trên sàn.
Chồng con gái tôi vẫn ngồi đó,
điềm nhiên lướt facebook,
như không trông thấy vợ đang ba đầu sáu tay,
tất bật với việc nhà.
Hai con tắm xong thì con rể tôi mới đứng dậy, đi vào tắm rửa
và cũng không quên “tiện tay” để lại cốc nước trên bàn,
áo vest vắt ngang thành ghế.
Con gái tôi đưa hai con vào bàn ăn,
mời tôi ngồi vào bàn dùng cơm
rồi dọn dẹp các thứ linh tinh hộ chồng.
Bữa cơm tối diễn ra trong cảnh,
con rể tôi vừa ăn vừa trò chuyện với cha vợ rôm rả (mà không biết tôi đang rất khó chịu),
còn con gái tôi tất bật với hai đứa nhỏ.
♦️Bữa ăn kết thúc lúc 8h00 tối,
con gái tôi chỉ kịp ăn vội miếng cơm
rồi đi dọn rửa chén bát,
con bé vẫn chưa được nghỉ ngơi,
và vẫn còn nguyên bộ đồng phục đi làm trên người.
Con rể tôi dùng bữa xong,
thì thong thả dắt hai con xuống chung cư tản bộ,
không quên rủ cha vợ đi cùng nhưng tôi từ chối.
Tôi ở lại, giúp con dọn dẹp chén bát,
nhưng con gái cứ xua tay bảo cha đi lên nghỉ ngơi đi,
con làm nhoáng cái là xong.
Sáng dậy là dỡ cơm cho chồng,
rồi đi chăm heo, chăm gà,
chạy ra đồng phụ chồng cấy lúa…
Chiều về, vợ tôi lại tất bật thổi cơm, lau nhà, rửa bát…
luôn tay luôn chân.
Còn tôi, cũng y như con rể của mình,
về đến nhà là thong thả ngồi uống nước chè xanh,
ăn tối xong là đi đánh cờ với mấy ông bạn,
còn vợ ở nhà làm gì, tôi chẳng mấy quan tâm.
tiếp tục quần quật lo cho hai đứa con và chồng,rồi tất tả đưa cha ra bến xe,dúi cho cha vài triệu,mà thương con rớt nước mắt.
Con gái, cha xin lỗi con,
vì sau một ngày cùng làm việc vất vả như nhau ở ngoài đồng, cha đã cho phép mình được ngồi chơi nhàn nhã,vàxemchuyện mẹ con một mình tất bật với việc nhà, là chuyện hiển nhiên.
Chính cha đã “dạy” con rằng,
chồng có quyền hưởng thụ, còn vợ có nghĩa vụ phục vụ chồng.
Cha xin lỗi vì cha đã luôn ngồi đó,
Cha xin lỗi vì ngày hôm qua,
mà cha chẳng thể nói, chẳng thể làm được gì,
vì chính cha cũng đã và đang cư xử với mẹ con y như vậy. Chính cha đã “dạy” con rằng,
những bất công mà con đang chịu là chuyện bình thường của phụ nữ.
Từ hôm nay, cha sẽ không cư xử với mẹ con như vậy nữa.
Cha sẽ tự lo cho mình những việc cá nhân,
cha sẽ không vứt đồ bừa bãi rồi để mặc mẹ con thu dọn,
cha sẽ rửa bát và lau nhà,
trong khi mẹ con thổi cơm và giặt đồ.
Cha sẽ dạy lại con rằng,
vợ chồng là phải cùng chia sẻ với nhau,
con là một người mẹ, người vợ,
chứ không phải là người hầu của chồng.
Mũi Né, Nên Hay Không Nên - Nguyễn Văn Tới
![]() |
Apec Mandala Cham Bay resort |
Tay nắm chặt ghi đông chiếc Honda Air Blade 125 phân khối, tôi phóng xe với tốc độ 85 km/giờ trên cao tốc trải dài hun hút dưới nắng gắt. Mặt trời chói chang như đổ lửa, hơi nóng hắt lên từ mặt đường khiến không khí rung lên mờ ảo. Mồ hôi rịn ra, chảy ướt cả trán và lưng áo, gió tạt mạnh vào mặt lại mang đến cảm giác vừa rát vừa sảng khoái. Bà xã ngồi phía sau ôm thật chặt vì sợ rớt xuống xe. Xa lộ vắng tanh, chỉ có tiếng động cơ gầm vang và tiếng gió thổi phần phật bên tai. Tôi cứ lao vun vút về phía trước trong nắng và gió bất tận của vùng biển Mũi Né.
Mũi
Né – Phan Thiết, thuộc vùng duyên hải miền Trung, là thủ đô của nắng và gió.
Cái nắng miền này dữ dội, không chỉ gay gắt mà còn khô và rát như thiêu đốt da
thịt. Gió ở đây không dịu mát mà thổi mạnh, mang theo hơi cát khô khốc, quất
vào mặt bỏng rát. Khí hậu vùng này khắc nghiệt hơn nhiều so với những nơi như
thành phố Sài Gòn hay Cần Thơ, nơi không khí thường ẩm và có phần dễ chịu hơn
dù cũng nóng.
Ở Mũi Né, cái nóng kéo dài, ít mưa, đất đai khô cằn, tạo nên một cảm giác hoang sơ và khắc nghiệt rất riêng. Chính sự khô hạn và gió mạnh ấy khiến nơi đây giống như một “tiểu sa mạc” giữa miền Nam, khác biệt rõ rệt so với sự xanh tươi của nhiều tỉnh đồng bằng khác.
Chúng
tôi đang cố chạy cho nhanh về lại khách sạn Apec Mandala Cham Bay, khu nghỉ
dưỡng ở Hòn Rơm, để nhảy xuống hồ bơi của khách sạn, tận hưởng cảm giác mát mẻ
của làn nước mơn trớn trên da thịt, trong cái nóng kinh người ở đây. Khu resort
này với 5 tòa nhà cao 23 tầng to lớn, và bề thế nhất ở đây so với các khách sạn
khác trong vùng.
Ngày
xưa, Mũi Né chỉ là một làng chài nhỏ bé và nghèo khổ, dân cư thưa thớt, bãi
biển vắng tanh; bây giờ sau 25 năm, trở lại đây, tôi không thể nhận ra cái làng
bé nhỏ ngày xưa. Giờ đây nhà cửa và các khu nghỉ dưỡng mọc lên khắp nơi, làm
thay đổi bộ mặt nơi này. Mới nhìn, tôi chưa thấy được toàn cảnh của khu du lịch
này, cho đến khi tôi mướn chiếc xe gắn máy và chạy khắp nơi để khám phá, mới
biết được sự thật phũ phàng của nó.
Ngoài
con đường bờ kè Nguyễn Đình Chiểu là khu trung tâm du lịch Mũi Né sầm uất với
khách du lịch đi lại, ăn uống, và vui chơi, tắm biển; các nơi khác như Hòn Rơm,
cách đó khoảng 5,6 cây số, không thấy hàng quán gì nhiều. Không khí nơi đây
cũng trầm lắng, ít xe đi lại.
Chạy
vòng vòng khu Hòn Rơm, tôi thấy rất nhiều khu resort bỏ hoang, tường vôi bong
tróc, cửa sổ bị đập vỡ, một vài bức tường sập đổ, chỉ còn lại mái ngói đỏ là
thấy rõ rệt nhất. Không cần là một người làm kinh tế, tôi cũng có thể thấy bức
tranh toản cảnh tiêu điều của nó: người đầu tư ồ ạt vào đây, giờ bỏ của chạy
lấy người. Biết bao nhiêu tiền bạc, công sức bỏ ra xây cất, giờ trắng tay.
Mang
tiếng là khu du lịch mà không có thắng cảnh nào cho ra hồn. Bãi biển cũng không
đẹp, cát không trắng mịn, lại còn xả rác khắp nơi. Đến tham quan bãi cát Đỏ,
tôi thất vọng vì nó bé tí xíu và nóng đến cháy da chân. Ai đã từng lái xe trên
đường xa lộ liên bang số 8 từ tiểu bang Arizona đi California sẽ thấy một sa
mạc cát cát rộng mênh mông ngút ngàn tầm nhìn với những đồi cát lượn sóng tuyệt
đẹp.
Đây
là một bãi cát của tiểu bang Arizona, trải dài đến tận chân trời, rộng mênh
mông như không có điểm kết thúc. Dưới ánh nắng rực rỡ, từng hạt cát ánh lên màu
vàng óng, tạo nên một bức tranh vừa hoang sơ vừa lộng lẫy. Những đồi cát nhấp
nhô uốn lượn như những con sóng mềm mại, khi thì thoai thoải, khi lại dốc đứng
đầy thách thức, gió thổi tự nhiên tạo nên những đường vân tinh tế như nét vẽ
của thiên nhiên.
Đó
đây, những chiếc “buggy” lao đi với tốc độ cao, để lại phía sau những vệt bánh
xe dài và những đám bụi cát tung bay mù mịt. Tiếng động cơ gầm vang phá tan sự
tĩnh lặng của sa mạc, mang theo cảm giác kích thích và tự do. Các tay lái điều
khiển xe lướt qua từng triền cát, lúc leo dốc, lúc đổ xuống, tạo nên những pha
chuyển động mạnh mẽ và đầy kịch tính.
Xa
xa, không gian như hòa vào bầu trời xanh thẳm, nơi đường chân trời mờ dần trong
làn hơi nóng. Toàn cảnh vừa hùng vĩ, vừa sống động, một sự kết hợp hoàn hảo
giữa vẻ đẹp yên bình của thiên nhiên và sự náo nhiệt, bùng nổ của những người
ham mê phiêu lưu khám phá.
Sẽ
là một sự so sánh khập khiễng giữa bãi cát nơi này và bãi cát lặng im, không
khí đặc quánh ở Hòn Rơm, Mũi Né. Nói chung, Mũi Né không có một thắng cảnh nào
có thể được gọi là điểm nhấn để tạo nên sức hút cho du khách ngoài một dãy dài
bãi biển tầm thường thiếu sức sống. Từng được gọi là thiên đường nghỉ dưỡng,
giờ chỉ còn là một bức tranh ảm đạm.
Chính
quyền thiếu tầm nhìn xa, không biết quy hoạch rõ ràng, cho phép phân lô bán
nền, xây dựng tràn lan, lấy tiền đút túi riêng. Những mảnh đất ven biển bị chia
nhỏ, chen chúc nhau bởi đủ kiểu kiến trúc: “nhà nghỉ”, khách sạn mini, villa tự
phát, không có hạ tầng đồng bộ, tạo nên một sự tương phản như cái gai trong
mắt. Người dân các nơi muốn làm giàu nhanh, cứ tràn về đây bỏ tiền ra đầu tư
trong lúc du khách không có đủ mà tốc độ xây dựng cứ tăng. Thị trường bão hòa.
Giấc mơ đổi đời tan biến để lại một dãy hoang tàn đổ nát như một “khu nhà ma”.
Không
còn thích thú với thắng cảnh, chúng tôi đi sâu vào các khu dân cứ để coi người
dân điạ phương sinh sống ra sao, đặc biệt là ngư dân đi biển như thế nào. Từ
trên đường, nhìn xuống làng chài, tôi thấy lô nhô những tấm bạt che giăng khắp
nơi; tôi chạy xe xuống một bãi cát, đến tận nơi, gặp gỡ, và làm quen với anh
Nhỏ đang lui cui sắp xếp dụng cụ trong chiếc thuyền thúng của mình.
Tôi
quá bất ngờ khi thấy phương tiện ra khơi đánh cá của người dân nơi đây là những
chiếc thuyền thúng rất thô sơ, chèo bằng tay. Trước đây, người ta dùng thuyền
thúng để đi lại giữa tàu lớn và bờ, ngày nay họ dùng nó như một phương tiện để
đánh cá vì lý do đơn giản là họ không đủ tiền sắm tàu lớn bằng gỗ, giá vài ba
tỷ đồng, trong khi một chiếc thuyền thúng có gắn máy chỉ dưới 100 triệu.
Anh
Nhỏ tâm sự, chiếc thuyền thúng của anh, đường kính khoảng 2,5 mét, được trang
bị một máy radar định dạng, một tay lưới và một động cơ nhỏ, anh có thể ra khơi
một mình, không cần mướn thêm bạn ghe để giảm chi phí. Cứ mỗi hai ngày, anh chỉ
cần chạy xa bờ khoảng 15 hải lý, hôm sau về là kiếm được 3,4 triệu (khoảng
$100- $150).
Thuyền
thúng truyền thống ở Mũi Né (Bình Thuận) thường là loại thúng nhỏ được đan
bằng tre, trét “nhựa chai”, sử dụng dầm bơi bằng tay, nhưng ngày nay người ta
chế tạo ra “thuyền thúng máy” bằng sợi tổng hợp (composite) nên thuận tiện và
bền hơn rất nhiều, không phải bảo trì thường xuyên như trước. Với cấu trúc cứng
cáp và nhẹ nhàng hơn tre, ngư dân có thể gắn một động cơ truyền động nhỏ từ 10-
30 mã lực là có thể chạy rất nhanh đến 5- 7 hải lý/giờ.
Hiện
nay ở Việt Nam, hầu hết ngư dân đều sử dụng loại thuyền thúng máy này vì tính
tiện lợi, nhẹ nhàng, xoay sở dễ dàng và nhất là tiết kiệm được tiền.
Tôi
đọc được trên khuôn mặt khắc khổ rám nắng gió của anh Nhỏ lúc anh cười, một
thoáng ưu tư pha với sự chịu đựng của một đời người gắn chặt với biển cả, nơi
mỗi ngày trôi qua là một lần chiến đấu với thiên nhiên, sóng gió trùng khơi và
cả nỗi vui mừng khi trúng được mẻ cá nặng trĩu, quay chiếc thuyền thúng đầy cá
trở về.
Tôi
cũng thấy được bức tranh sống động nhưng u ám của người dân làng chài, lúc nào
cũng lam lũ, cực nhọc, làm bữa nào biết bữa đó, tương lai bất định. Ngày nào
máy hư, bão lớn, ngày đó không có tiền. Nhìn sang người “bạn vàng” to lớn phía
Bắc, ngư dân của họ được trang bị bằng những chiếc tàu sắt khổng lồ, ra khơi
đánh bắt xa bờ, thường xuyên xâm phạm lãnh hải Việt Nam và các nước khác, thậm
chí đánh đập và tịch thu tàu của ngư dân Việt Nam mà chính quyền thường chỉ
biết “quan ngại” vì hoạt động của các “tàu lạ” xuất hiện trong vùng biển nước
mình.
Giờ
đây giữa những công trình bỏ hoang và những giấc mộng làm giàu dang dở, sự bình
yên đã bị chôn vùi đâu đó, chỉ còn lại trong ánh mắt u buồn của người dân nơi
đây, mỗi lần nhìn về mênh mông biển cả và trong chính nỗi lòng của tôi và của
những ai đã từng đi qua nơi này.
Trong tôi một nỗi mong muốn rất thầm lặng: xin trả lại cho Mũi Né vẻ yên bình của một làng chài ngày xưa. Không có những dãy khách sạn chen chúc, không cần ánh đèn rực rỡ suốt đêm thâu. Chỉ cần buổi sáng còn nghe tiếng mái chèo khua nước, những thuyền thúng trở về trong sương sớm, mang theo mùi cá tươi và vị mặn của biển cả, những mái nhà thấp nằm ép mình dưới hàng dừa và tiếng ơi ới gọi nhau khiêng những thúng cá nặng trĩu giao cho bạn hàng.
Mũi Né. Tháng 4- 2026
Nguyễn Văn Tới
Anh Nhỏ đang chuẩn bị đồ nghề trước khi ra khơi
Tuesday, May 19, 2026
Như Là Cổ Tích - Võ Anh Dũng
(Viết tặng tình bạn, tình yêu của những Cựu học sinh PTG - ĐN)
- Chắc điệu nầy trường sẽ đóng cửa dài hạn vì tình hình không ổn
lắm. Ba mình nói Quảng Trị và Huế đã mất, đồng bào dồn về Đà Nẵng mỗi lúc một
đông nên tất cả các trường học được lệnh đóng cửa để tiếp cư đồng bào, không biết
năm ni tụi mình có được thi Tú tài II không đây?
Thị Xã Đồng Hới Thời Cảnh Nghiêu Thuấn? - BS. Lê Bá Vận
Quảng Bình Quan năm xưa, 1940. Dân chúng địa phương quen gọi là Cổng Bình Quan.
Đầu tháng 7 năm 1992 từ Sài Gòn tôi bỗng nhận được
điện tín khẩn báo tin cụ thân sinh của tôi, 89 tuổi, ở Đồng Hới bệnh trở nặng,
trong nhà giục tôi ra gấp.
Đồng Hới là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình, có sông Gianh đi vào lịch sử chia đôi Nam Bắc thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, có Lũy Thầy, có Quảng Bình Quan nằm ở trung tâm thị xã, trên Quốc lộ 1. .
Thị xã Đồng Hới có một số phận kỳ lạ. “Vươn
lên từ tro tàn”, từ một thị xã bị triệt hạ toàn bộ thành bình địa năm
1964, cư dân bỏ ra đi lên phía đồi núi lưu ngụ, ngót 40 năm sau về lại, xây
dựng nơi xưa, đẹp và rộng lớn gấp 50 lần. Thị xã trước diện tích khoảng 3 km2,
nay 155.71 km2 do sáp nhập địa giới hành chánh. Được cải danh là Thành phố, Đô
thị loại II.
Để thay đổi diện mạo thị xã đã hứng chịu 2 đợt không kích, Pháp năm1947 (có tôi) và Mỹ năm 1964.
+ Sáng ngày 27/3/1947 hai chiếc máy bay nhỏ, động cơ cánh quạt từ đâu bay đến, (chắc từ Quảng Trị?), xoay vần trên không phận thị xã Đồng Hới và thị uy nã đạn xuống, nhánh cây gãy, lá rụng rào rào. Chừng hơn nửa giờ chúng bay đi mất. TIếng súng im bặt. Độ một giờ sau nữa bỗng nghe tiếng xì xồ gọi nhau ngoài đường - tôi trốn trong nhà, nghe rõ, trẻ tuổi, thính tai, nhớ mãi - thì ra lính Pháp từ một tàu thủy đến đậu ngoài biển, trước cửa sông Nhật Lệ từ chiều hôm qua 26/3 – nhiều người trông thấy, xì xào bàn tán - đã đổ bộ lên và chiếm thị xã như quà biếu không, hợp lực sau đó có lính bộ Pháp từ Quảng Trị kéo ra.
UBND tỉnh, công an, bộ đội từ tối hôm qua đã rút lui lên xã Thuận Đức, bán sơn địa, cách thị xã 12 km, nơi rừng rậm bít kín che khuất. Chính quyền tự biết thực lực lúc đó còn rất hạn chế, nên việc tạm tránh đụng độ để bảo toàn lực lượng là đúng đắn hơn cả. Duy dân chúng không được thông báo, rốt cuộc dân cư thị xã, 4 vạn, ngày 27/3 hầu hết bị kẹt, ở lại với Pháp như hồi bảo hộ, trước1945.
Pháp chiếm được Đồng Hới rộng 3 km2 nguyên vẹn, song không đóng quân tại thị xã mà lập đồn bót kiểm soát các trục giao thông trong tỉnh. Từ Quảng Bình vào tận Quảng Nam thuộc vùng quốc gia cho đến hơn 7 năm sau, hiệp định Genève năm 1954 chia cắt ở vĩ tuyến 17, tỉnh Quảng Bình thuộc về miền Bắc.
+ Từ năm 1947 mười bốn năm qua, Pháp nay đã không
còn sau Hiệp định Genève năm 1954, chiến tranh khởi động trở lại. Tháng 2 năm
1964, phi cơ Mỹ bay đến bắn phá và ném bom dữ dội Quảng Binh, là vùng bắc giới
tuyến, trọng điểm chiến lược của đường mòn Hồ Chí Minh, điểm khởi
nguồn của hai nhánh Đông và Tây Trường Sơn, nơi đóng quân vả tàng trữ kho vũ
khí để chi viện chiến trường miền Nam.
Do vị trí "đầu sóng ngọn gió" ngay sát giới tuyến, Quảng Bình đã trở thành chiến trường chính yếu chịu sự đánh phá ác liệt của bom đạn Mỹ và từng được mệnh danh là "túi bom, rốn đạn".
Thị xã Đồng Hới đặc biệt bị thiệt hại nặng. UBND và dân chúng (một số về quê ở các huyện) bắt đầu di tản dần lên xã Đồng Sơn, còn gọi là Cộn, vị trí nửa đường giữa thị xã và xã Thuận Đức, tránh bom đạn .
Ngày 4/4/1964 một đợt ném bom kéo dài san bằng
những kiến trúc còn lạl của thị xã. Những người còn ở lại, nay tất cả đều dọn
lên Đồng Sơn, trở thành tinh lỵ mới chính thức của tỉnh Quảng Bình, nơi có trụ
sở của UBND tỉnh, có bệnh viện, trường học, chợ búa (chợ Cộn), tên đường phố,
số nhà... có đủ cả. Song phong thái vẫn là cảnh làng quê với nhà sân vườn rộng,
cây cối um tùm, và không thấy có các dãy phố xá, hiệu buôn, khách sạn đặc trưng
nơi thị tứ. Đường sá không láng nhựa, vắng bóng xe cộ. Bù lại thủ phủ mới này,
máy bay Mỹ không ngó tới. Chúng như tuồng chỉ hỏi thăm những cơ sở, tiện nghi
quân sự. Một số người cẩn thận, chạy tuốt lên Thuận Đức, ở trong
rừng rậm, có bộ đội đóng quân.
Sau 1975 chiến tranh chấm dứt, UBND tỉnh, các đoàn thể chủ chốt và toàn bộ dân chúng vẫn ở yên tại Đồng Sơn thêm nhiều năm, do thị xã cũ bị hủy diệt hoàn toàn, chưa được xây cất trở lại.
+ Trong bối cảnh đó, năm 1992 tôi đáp tàu hỏa ra
Đồng Hới để chịu tang cụ thân sinh. Tôi đi cùng người anh con bác ruột, song
nhỏ tuổi hơn. Chúng tôi đến Đồng Hới thì trời vừa sẩm tối.
Ga Đồng Hới thời Pháp thuộc được đặt tên là ga Thuận Lý (Ga Hà Nội thì tên cũ là ga Hàng Cỏ) vì nằm trong địa phận làng Thuận Lý cách thị xã khoảng trên 2 km nằm về phía biển. Từ thị xã lên ga, đường bộ gặp đường sắt trước, đi qua dưới cầu lòn rồi đi vòng lại đến khu vực sân ga. . .
Xuống tàu, vào ga, chúng tôi nhìn quanh quất thấy
sân ga vắng bóng các xe tay (xe kéo), xe ba gác... khác hẳn lúc đang còn Đồng
Hới xưa.
Một anh xe gắn máy ôm tiến đến gần và mời chúng tôi
đi xe của anh.
Không thấy anh dắt xe bên mình, chúng tôi nghi hoặc
nhưng nhận lời và theo anh đi ra một bãi đất trống cách ga ngoài 100 mét. Ở đó
có vài xe gắn máy kiểu Liên xô, Đông Âu và hơn chục chiếc xe đạp vứt ngổn ngang
trên bãi cỏ. Không xe nào có khóa xe và cũng chẳng có người giữ. Tôi rất ngạc
nhiên nhưng anh xe ôm cho biết ở đây, tức là ở Đồng Hới xe luôn vứt để vậy,
chẳng ai lấy. Tôi không muốn tin cũng chẳng được, không lẽ có cảnh tượng thời
Nghiêu Thuấn trở lại trên đất nước này cuối thế kỷ 20?
Tôi đưa địa chỉ, số nhà ở Đồng Sơn cho anh xe ôm.
Anh ta nói cũng gần nhà anh. Lên xe mới biết xe gắn máy các nước cnxh khỏe
thật, chạy rất tốt, lên dốc mạnh, đèn chiếu rất sáng. Người lái cẩn thận, thuộc
đường và chạy xe nhanh vừa phải. Đến nhà an toàn, tôi biếu thêm tiền cho anh
ta.
Vào nhà, trong nhà còn thức; linh cữu ba tôi đặt ở
căn phòng giữa. Tôi mặc tang phục, thắp hương quỳ lạy trước linh cữu. Trong nhà
kể cho tôi biết tình trạng bệnh trở nặng của ba tôi, có đem vào bệnh viện nằm
vài hôm rồi cho về nhà. Cùng lúc tôi được đưa xem các hình ảnh tang lễ thợ ảnh
chụp.
Về chuyện xe đạp, xe gắn máy để ngoài không khoá mà
tôi thắc mắc thì tôi được bảo xe trong nhà cũng không chiếc nào có khóa xe. Ở
Đông Sơn và nói chung ở Quảng Bình, hộ nào có xe đạp họ đều biết. Xe đạp có
đăng ký và cấp biển số. Xe gắn máy Liên xô, Tiệp, Đông Đức lại càng ít người
có, dù lấy trộm cũng chẳng dám dùng. Muốn gỡ bán phụ tùng thì phải đem vào Đông
Hà, Quảng Trị cách xa cả trăm cây số mới có nơi tiêu thụ, mà ở trong Nam thì
chỉ dùng xe gắn máy Pháp, Đức, Nhật, tư bản.
Còn nữa! ở đây đêm ngủ hoặc nhà đi vắng cũng không phải đóng cửa. Thì ra là vậy.
Tuy nhiên hai năm trước, năm 1990 tôi ra Hà Nội,
mượn xe gắn máy Honda của ông chú bên vợ để đi công việc chút đỉnh. Lúc vừa
dựng và khóa xe bên lề đường bước vào hiệu sách ở phố Tràng Tiền, chỉ trong tíc
tắc cẩn thận ngảnh mặt nhìn lui tôi thấy một người đang loay hoay ở đầu xe,
tháo gỡ gì đó. Tôi la oai oái chạy lộn ra, anh chàng vùng bỏ chạy lập tức, mặt
nạ xe gỡ nửa chừng chưa kịp mang theo. Tối tôi về trả xe, ông chú bảo nếu bị
trộm, chỉ mất công ra chợ trời thì mua lại được đúng cái vừa bị mất cắp.
---------
+ Sau việc tang lễ, tôi đi xe đạp xuống thăm thị xã
Đông Hới xưa, hòng tìm lại vết tich ngôi nhà ngói năm gian, số 37 đường Quan
Thánh ở trung tâm thị xã, nơi cha mẹ tôi cùng con cái sinh sống.
Đến nơi, điều tôi thấy trước mắt là thị xã năm xưa
sinh động với các phường Đồng Đình, Đồng Hải, xóm Câu nay biến thành một hoang
địa với những bụi cây, đám cỏ. Tôi không tài nào nhận ra được địa điểm ngôi nhà
cũ, gần chợ Đồng Hới. Ba mẹ tôi cùng những cư dân của thị xã có làm đơn xin thu
hồi mảnh đất nơi ngôi nhà cũ tọa lạc, song sự việc không được giải quyết ví tất
cả đều mất dấu.
Thành cổ Đồng Hới chu vi trên 2 km phá hủy toàn bộ
(thời tiêu thổ kháng chiến) và nay là hành cung, dinh thự, công sở, trại lính,
lao xá, nhà cửa nội thành bị san bằng sát đất.
Một sinh khí ló dạng, trên Quốc lộ 1 ngõ vào thị
xã, nay có 1 bến xe tạm, một vài xe tải dừng lại nghỉ ngơi, có quán ăn nhỏ, mái
tranh và một tiệm nhỏ sửa xe, vá lốp, đổ xăng.
Tình trạng của thị xã Đồng Hới trong chiến tranh bị
san phẳng năm 1964 đến năm 1992 vẫn còn là bãi đất hoang như tôi, một cư dân
cũ, đã đến tận nơi, quan sát tận mắt, in sâu trong trí và mô tả.
Về lại Sài Gòn tôi không còn dịp trở lại viếng thăm
Quảng Bình, miền Trung vì năm sau, năm 1993 tôi đã rời Việt Nam ra sinh sống ở
nước ngoài.
Tuy nhiên, theo dõi thời cuộc, tôi được biết Đồng Hới nay là một đô thị hiện đại, với 14 vạn dân, thủ phủ của tỉnh Quảng Trị mới do hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị sáp nhập, kể từ năm 2026.
Năm 1992 ra Đồng Hới, ngoài việc ma chay cho cha,
tôi yên tâm phần nào khi thấy mẹ tôi còn minh mẫn, lưng không còn thẳng nhưng
đi đứng còn vững, tinh thần không suy sụp, chung quanh con cháu, họ hàng không
thiếu. Tôi lo liệu mọi chuyện cho mẹ trước khi về lại Sài Gòn.
Hình ảnh hai mẹ con ngồi cạnh nhau suốt một tiếng
đồng, tôi nắm tay me, hai mẹ con trò chuyện thì thầm – mẹ tôi, 85 tuổi, tai còn
nghe rõ – là hình ảnh thân thương nhất thường gợi lại trong tâm trí tôi.
Một ký ức khác cũng đậm đà là những trải nghiệm mà
chuyến đi đã mang lại. Hình ảnh tôi ngồi ép giữa người lái xe và người anh con
ông bác, rất vướng víu, nhớ lại rùng mình. Lần đầu tiên và duy nhất tôi ngồi xe
ôm, lại ngồi chen chật, giữa chốn hoang vu, đêm tối. Xe chạy trên đường đất,
nhiều đoạn gồ ghề, rất xóc. Trước 1975 tôi đi toàn xe hơi, sau đó đi xe đạp, xe
gắn máy, và luôn giữa thành phố.
Xuống ga Đồng Hới điều làm chúng tôi kinh ngạc tột
độ là khi mục kích các xe đạp, xe gắn máy vứt bừa bộn trên bãi đất hoang, không
người giữ mà chẳng thấy xe nào được khóa.
Nghĩ lại cũng năm 1992 ở Sài Gòn các cơ quan đều có
nhà gửi xe cho nhân viên, nhưng xe phải khóa. Ngoài đường phố luôn có nơi gửi
xe trả tiền, có người giữ. Nếu tìm được nơi có đặt khung giữ nhiều xe thì đỡ
tốn. Ở Hà Nội ngoài nạn xe mất nguyên chiếc hiếm xảy, lại thêm tệ hại trộm vặt
phụ tùng.
Chỉ sống vài hôm ở thị xã Đồng Sơn tôi đã nhận thấy
toàn bộ cư dân từ Đồng Hới di tản lên đây lập nghiệp giữa cây cối xanh tươi nơi
núi đồi, đã có một lối sống cầm chừng, dè sẻn. Có vẻ chỉ khi nào trở lại chốn
xưa họ mới tìm lại được phong thái cũ, nhưng chỉn e ngày đó, cảnh Nghiêu Thuấn
huyền thoại hiện hữu lại không còn.
Lê Bá Vận
Monday, May 18, 2026
Những Giọt Nước Mắt Không Thể Lau Khô
Nhà tôi phải gây quỹ
(mượn tiền bà con và bạn bè) để mua chiếc xe Mazda dâng cho ngục trường và tôi
được trả tự do. Tôi trở về nhà cũ, ổ khóa ở bên ngoài, nhà đã bị 'niêm phong';
Việt cộng đã đủi gia đình tôi tới vùng kinh tế mới Mình Hải. Gia đình nhỏ của
tôi 3 người phải tới nhà ông ngoại & bà ngoại lẫn núp.
Sau này tôi mới được
người làng xóm cho biết là cha tôi đã bị ép ký giấy cống hiến căn nhà cho nhà
nước để cứu mạng.
Nhìn vào căn nhà bị
niêm phong với cánh cửa bị khóa từ bên ngoài, tôi cúi đầu và nhắm mắt lại. Từng
là một gia đình ấm áp và yên bình đã bị phá hủy dưới chế độ dã man của cộng sản.
Việt cộng dùng xe chở
hàng (camion) đưa gia đình cha mẹ tôi tới đất hoang Minh Hải dưới màn trời chiếu
đất.
Lúc đó ở kinh tế mới gồm
9 người, ba má tôi, một bà ngoại và 6 đứa em. Đứa em út mới có 4 hay 5 tuổi, vì
không có lương thực nên phải giao cho một gia đình địa phương để chăm sóc giùm.
Sau này ba má tôi trốn
về Saigon và đứa em út này đã thất lạc ở dưới quê.
Tôi rất là đau lòng khi người em út đã bị bỏ rơ ở dưới quê. Vài năm sau khi tôi tới Canada định cư và làm bảo lãnh cho gia đình tôi không quên đứa em này. Tôi cho ba má biết là bất cứ với điều kiện nào cũng phải trở về Mình Hải để kiếm lại đứa em.
Sau bao ngày tháng cuối
cùng ba má tôi kiếm lại được đứa em út của tôi. Cặp vợ chồng nhận nuôi
(adopters) đồng ý cho ba má tôi chuộc về đứa em những đòi hỏi một ngân khoản để
bù đắp chi phí nuôi nấng đứa nhỏ trong thời gian qua.
Gia đình tôi cũng đồng
ý và tôi gởi về một số tiền cho ba má. Khi ba má tôi xuống Mình Hải gặp cặp vợ
chồng nhận nuôi này và giao số tiền mà họ đòi hỏi nhưng lại đổi ý và muốn lấy
thêm tiền nữa. Tôi phải gởi thêm số tiền cho ba má.
Cặp vợ chồng nhận nuôi
này biết ba má tôi ở ngoài có người tiếp viện nên đòi hỏi ngân khoản vô tận. Một
lần nữa ba má tôi đem tiền xuống Minh Hải để lấy lại đưa em lại bị cặp vợ chồng
bất lương này từ chối và muốn tống tiền thêm.
Ba tôi hỏi ý kiến tới.
Tôi đành phải mượn thêm tiền để gởi về và lần này tôi cho ba tôi biết là thay
vì giao số tiền này trực tiếp cho cặp vợ chồng bất lương này, lấy số tiền này 'áp
phe' chính quyền địa phương để họ xử lý.
Trong vòng không đầy 24
tiếng, dưới sự hộ tống của công an địa phương, cặp vợ chồng này đem trả lại đứa
em út của tôi cho ba má tôi.
Em gái út tôi cuối cùng được trở về đoàn tụ với gia đình. Sau này tôi còn bảo lãnh cho em sang Canada.
Thật buồn khi nhìn thấy
em ở sân bay khi tôi tới đón rước, nước mắt tôi tuôn rơi; trái tim tôi đau
nhói. Nhiều năm bị cha mẹ nuôi ngược đãi, trí tuệ của đầu não em suy giảm; đôi
tay bị đứt gân do nhiều năm bị đánh đập, giờ đây khó khăn lắm mới cầm được đồ vật,
run rẩy và vô thức làm rơi.
Việt Cộng vào thành phố
đã thay đổi cuộc đời tôi và số phận của cả gia đình tôi.
Trước khi miền Nam Việt
Nam bị cộng sản đóng chiếm, tôi rất cảm thông với Việt Cộng. Tôi nghe nói rằng
khi bị quân đội Mỹ 'bao vây và tiêu diệt', để trốn thoát và sống sót, họ (Việt
Cộng) đã trốn dưới nước lòng sông, dùng ống sậy nhét vào lỗ mũi để thở hơi. Nếu
biết họ đối xử với tôi như vậy, tôi thực sự hối hận vì đã không rút nhưng ống sậy
đó ra lúc bấy giờ!
[Hình ảnh] Trong thời gian quân đội Mỹ bao vây và tiêu diệt, Việt Cộng
đã trốn dưới nước lòng sông, dùng ống sậy nhét vào lỗ mũi để thở. Tôi hối hận hồi
đó không biết rút bỏ những ống sậy đó cho chết luôn!












