Wednesday, May 20, 2026

Cha Xin Lỗi Vì Đã "Dạy" Con Làm Osin Cho Chồng

 

Mấy hôm trước, tôi từ quê lên thăm con gái.


Vợ tôi bận trông cháu nội, nên mình tôi xách mấy món quà quê lên cho con.
Con bé lấy chồng đã năm năm,
có hai đứa con một trai một gái,
sống trong một căn chung cư mua trả góp.

Hai vợ chồng cùng đi làm công sở,
cuộc sống nhìn chung thoải mái, êm đềm.
Tôi lên ngay tối thứ Sáu, đúng lúc con tan sở.
Con thấy tôi lên thì mừng lắm, tíu tít mời cha ngồi,
rồi vội chạy đi làm bếp.

Dăm phút sau thì chồng con cũng về tới,
chào hỏi cha vợ xong xuôi thì ngồi xuống bàn ăn,
mở điện thoại ra đọc tin tức và hỏi vợ bao giờ có cơm tối.

Con gái tôi vừa trả lời chồng,
vừa chạy đi chạy lại như con thoi để thổi cơm,
xắt rau củ, làm cá…
Trong lúc đứa con gái lớn ngồi chơi Lego,
con gái tôi tranh thủ thời gian chờ cơm canh sôi,
thì đưa con trai nhỏ đi tắm,
rồi lại giục con gái lớn đi tắm,
Và thu dọn quần áo bẩn trên sàn.

Chồng con gái tôi vẫn ngồi đó,
điềm nhiên lướt facebook,
như không trông thấy vợ đang ba đầu sáu tay,
tất bật với việc nhà.

Hai con tắm xong thì con rể tôi mới đứng dậy, đi vào tắm rửa
và cũng không quên “tiện tay” để lại cốc nước trên bàn,
áo vest vắt ngang thành ghế.
Con gái tôi đưa hai con vào bàn ăn,
mời tôi ngồi vào bàn dùng cơm
rồi dọn dẹp các thứ linh tinh hộ chồng.

Bữa cơm tối diễn ra trong cảnh,
con rể tôi vừa ăn vừa trò chuyện với cha vợ rôm rả (mà không biết tôi đang rất khó chịu),
còn con gái tôi tất bật với hai đứa nhỏ.

♦️Bữa ăn kết thúc lúc 8h00 tối,

con gái tôi chỉ kịp ăn vội miếng cơm
rồi đi dọn rửa chén bát,
con bé vẫn chưa được nghỉ ngơi,
và vẫn còn nguyên bộ đồng phục đi làm trên người.

Con rể tôi dùng bữa xong,
thì thong thả dắt hai con xuống chung cư tản bộ,
không quên rủ cha vợ đi cùng nhưng tôi từ chối.

Tôi ở lại, giúp con dọn dẹp chén bát,
nhưng con gái cứ xua tay bảo cha đi lên nghỉ ngơi đi,
con làm nhoáng cái là xong.


Tôi hỏi: “Ngày nào đi làm về, con cũng làm từng này việc nhà à?”.
Con gái tôi cười xòa: “Dạ, làm có chút mà cha, như mẹ hay làm ở nhà vậy thôi.
Mẹ đi làm đồng về thì cũng lo việc nhà như con mà.
Con quen rồi!.
Xong con lại chạy đi, chúi mũi vào rửa bát, quét nhà,
bỏ mặc tôi đứng như trời trồng bởi câu con vừa nói:
“Như mẹ hay làm ở nhà vậy thôi”.

Ừ phải, vợ tôi ở nhà cũng y vậy.
Sáng dậy là dỡ cơm cho chồng,
rồi đi chăm heo, chăm gà,
chạy ra đồng phụ chồng cấy lúa…

Chiều về, vợ tôi lại tất bật thổi cơm, lau nhà, rửa bát…
luôn tay luôn chân.
Còn tôi, cũng y như con rể của mình,
về đến nhà là thong thả ngồi uống nước chè xanh,
ăn tối xong là đi đánh cờ với mấy ông bạn,
còn vợ ở nhà làm gì, tôi chẳng mấy quan tâm.

♦️Sáng hôm sau, tôi trở về quê.

Ngồi trên xe, nhớ lại cảnh con gái sáng nay,
tiếp tục quần quật lo cho hai đứa con và chồng,rồi tất tả đưa cha ra bến xe,dúi cho cha vài triệu,mà thương con rớt nước mắt.

Con gái, cha xin lỗi con,
vì sau một ngày cùng làm việc vất vả như nhau ở ngoài đồng, cha đã cho phép mình được ngồi chơi nhàn nhã,vàxemchuyện mẹ con một mình tất bật với việc nhà, là chuyện hiển nhiên.

Chính cha đã “dạy” con rằng,
chồng có quyền hưởng thụ, còn vợ có nghĩa vụ phục vụ chồng.

Cha xin lỗi vì cha đã luôn ngồi đó, 
chờ mẹ con phục vụ từng bát cơm, cốc nước đến cái tăm xỉa răng, soạn cho cha từng cái áo cái quần, thu dọn cho cha từng mẩu thuốc lá mà cha tiện tay vứt bừa. Chính cha đã “dạy” con rằng, chồng có quyền làm một đứa trẻ lớn xác, còn vợ có nghĩa vụ làm một “bà mẹ” thứ hai cho chồng.

Cha xin lỗi vì ngày hôm qua, 
cha chỉ có thể ngồi đó mà nhìn con như ô-sin trong nhà mình, trong khi chồng con cứ như ông hoàng,
mà cha chẳng thể nói, chẳng thể làm được gì,
vì chính cha cũng đã và đang cư xử với mẹ con y như vậy. Chính cha đã “dạy” con rằng,
những bất công mà con đang chịu là chuyện bình thường của phụ nữ.

Từ hôm nay, cha sẽ không cư xử với mẹ con như vậy nữa.
Cha sẽ tự lo cho mình những việc cá nhân,
cha sẽ không vứt đồ bừa bãi rồi để mặc mẹ con thu dọn,
cha sẽ rửa bát và lau nhà,
trong khi mẹ con thổi cơm và giặt đồ.
Cha sẽ dạy lại con rằng,
vợ chồng là phải cùng chia sẻ với nhau,
con là một người mẹ, người vợ,
chứ không phải là người hầu của chồng.

Cha xin lỗi con và mẹ con, ngàn lần xin lỗi..!!!😢❣️

P/S: Nếu hôm nay bạn đối xử với vợ bạn như Osin,
thì ngày sau, bạn đừng hỏi vì sao con gái bạn lại phải khổ thế...!!!!❣️

Mũi Né, Nên Hay Không Nên - Nguyễn Văn Tới

          Apec Mandala Cham Bay resort


Tay nắm chặt ghi đông chiếc Honda Air Blade 125 phân khối, tôi phóng xe với tốc độ 85 km/giờ trên cao tốc trải dài hun hút dưới nắng gắt. Mặt trời chói chang như đổ lửa, hơi nóng hắt lên từ mặt đường khiến không khí rung lên mờ ảo. Mồ hôi rịn ra, chảy ướt cả trán và lưng áo, gió tạt mạnh vào mặt lại mang đến cảm giác vừa rát vừa sảng khoái. Bà xã ngồi phía sau ôm thật chặt vì sợ rớt xuống xe. Xa lộ vắng tanh, chỉ có tiếng động cơ gầm vang và tiếng gió thổi phần phật bên tai. Tôi cứ lao vun vút về phía trước trong nắng và gió bất tận của vùng biển Mũi Né.

Mũi Né – Phan Thiết, thuộc vùng duyên hải miền Trung, là thủ đô của nắng và gió. Cái nắng miền này dữ dội, không chỉ gay gắt mà còn khô và rát như thiêu đốt da thịt. Gió ở đây không dịu mát mà thổi mạnh, mang theo hơi cát khô khốc, quất vào mặt bỏng rát. Khí hậu vùng này khắc nghiệt hơn nhiều so với những nơi như thành phố Sài Gòn hay Cần Thơ, nơi không khí thường ẩm và có phần dễ chịu hơn dù cũng nóng.

Ở Mũi Né, cái nóng kéo dài, ít mưa, đất đai khô cằn, tạo nên một cảm giác hoang sơ và khắc nghiệt rất riêng. Chính sự khô hạn và gió mạnh ấy khiến nơi đây giống như một “tiểu sa mạc” giữa miền Nam, khác biệt rõ rệt so với sự xanh tươi của nhiều tỉnh đồng bằng khác.

Chúng tôi đang cố chạy cho nhanh về lại khách sạn Apec Mandala Cham Bay, khu nghỉ dưỡng ở Hòn Rơm, để nhảy xuống hồ bơi của khách sạn, tận hưởng cảm giác mát mẻ của làn nước mơn trớn trên da thịt, trong cái nóng kinh người ở đây. Khu resort này với 5 tòa nhà cao 23 tầng to lớn, và bề thế nhất ở đây so với các khách sạn khác trong vùng.


Ngày xưa, Mũi Né chỉ là một làng chài nhỏ bé và nghèo khổ, dân cư thưa thớt, bãi biển vắng tanh; bây giờ sau 25 năm, trở lại đây, tôi không thể nhận ra cái làng bé nhỏ ngày xưa. Giờ đây nhà cửa và các khu nghỉ dưỡng mọc lên khắp nơi, làm thay đổi bộ mặt nơi này. Mới nhìn, tôi chưa thấy được toàn cảnh của khu du lịch này, cho đến khi tôi mướn chiếc xe gắn máy và chạy khắp nơi để khám phá, mới biết được sự thật phũ phàng của nó.

Ngoài con đường bờ kè Nguyễn Đình Chiểu là khu trung tâm du lịch Mũi Né sầm uất với khách du lịch đi lại, ăn uống, và vui chơi, tắm biển; các nơi khác như Hòn Rơm, cách đó khoảng 5,6 cây số, không thấy hàng quán gì nhiều. Không khí nơi đây cũng trầm lắng, ít xe đi lại.

Chạy vòng vòng khu Hòn Rơm, tôi thấy rất nhiều khu resort bỏ hoang, tường vôi bong tróc, cửa sổ bị đập vỡ, một vài bức tường sập đổ, chỉ còn lại mái ngói đỏ là thấy rõ rệt nhất. Không cần là một người làm kinh tế, tôi cũng có thể thấy bức tranh toản cảnh tiêu điều của nó: người đầu tư ồ ạt vào đây, giờ bỏ của chạy lấy người. Biết bao nhiêu tiền bạc, công sức bỏ ra xây cất, giờ trắng tay.


Mang tiếng là khu du lịch mà không có thắng cảnh nào cho ra hồn. Bãi biển cũng không đẹp, cát không trắng mịn, lại còn xả rác khắp nơi. Đến tham quan bãi cát Đỏ, tôi thất vọng vì nó bé tí xíu và nóng đến cháy da chân. Ai đã từng lái xe trên đường xa lộ liên bang số 8 từ tiểu bang Arizona đi California sẽ thấy một sa mạc cát cát rộng mênh mông ngút ngàn tầm nhìn với những đồi cát lượn sóng tuyệt đẹp.

Đây là một bãi cát của tiểu bang Arizona, trải dài đến tận chân trời, rộng mênh mông như không có điểm kết thúc. Dưới ánh nắng rực rỡ, từng hạt cát ánh lên màu vàng óng, tạo nên một bức tranh vừa hoang sơ vừa lộng lẫy. Những đồi cát nhấp nhô uốn lượn như những con sóng mềm mại, khi thì thoai thoải, khi lại dốc đứng đầy thách thức, gió thổi tự nhiên tạo nên những đường vân tinh tế như nét vẽ của thiên nhiên.

Đó đây, những chiếc “buggy” lao đi với tốc độ cao, để lại phía sau những vệt bánh xe dài và những đám bụi cát tung bay mù mịt. Tiếng động cơ gầm vang phá tan sự tĩnh lặng của sa mạc, mang theo cảm giác kích thích và tự do. Các tay lái điều khiển xe lướt qua từng triền cát, lúc leo dốc, lúc đổ xuống, tạo nên những pha chuyển động mạnh mẽ và đầy kịch tính.

Xa xa, không gian như hòa vào bầu trời xanh thẳm, nơi đường chân trời mờ dần trong làn hơi nóng. Toàn cảnh vừa hùng vĩ, vừa sống động, một sự kết hợp hoàn hảo giữa vẻ đẹp yên bình của thiên nhiên và sự náo nhiệt, bùng nổ của những người ham mê phiêu lưu khám phá.


Sẽ là một sự so sánh khập khiễng giữa bãi cát nơi này và bãi cát lặng im, không khí đặc quánh ở Hòn Rơm, Mũi Né. Nói chung, Mũi Né không có một thắng cảnh nào có thể được gọi là điểm nhấn để tạo nên sức hút cho du khách ngoài một dãy dài bãi biển tầm thường thiếu sức sống. Từng được gọi là thiên đường nghỉ dưỡng, giờ chỉ còn là một bức tranh ảm đạm.

Chính quyền thiếu tầm nhìn xa, không biết quy hoạch rõ ràng, cho phép phân lô bán nền, xây dựng tràn lan, lấy tiền đút túi riêng. Những mảnh đất ven biển bị chia nhỏ, chen chúc nhau bởi đủ kiểu kiến trúc: “nhà nghỉ”, khách sạn mini, villa tự phát, không có hạ tầng đồng bộ, tạo nên một sự tương phản như cái gai trong mắt. Người dân các nơi muốn làm giàu nhanh, cứ tràn về đây bỏ tiền ra đầu tư trong lúc du khách không có đủ mà tốc độ xây dựng cứ tăng. Thị trường bão hòa. Giấc mơ đổi đời tan biến để lại một dãy hoang tàn đổ nát như một “khu nhà ma”.

 

Không còn thích thú với thắng cảnh, chúng tôi đi sâu vào các khu dân cứ để coi người dân điạ phương sinh sống ra sao, đặc biệt là ngư dân đi biển như thế nào. Từ trên đường, nhìn xuống làng chài, tôi thấy lô nhô những tấm bạt che giăng khắp nơi; tôi chạy xe xuống một bãi cát, đến tận nơi, gặp gỡ, và làm quen với anh Nhỏ đang lui cui sắp xếp dụng cụ trong chiếc thuyền thúng của mình.

 


Tôi quá bất ngờ khi thấy phương tiện ra khơi đánh cá của người dân nơi đây là những chiếc thuyền thúng rất thô sơ, chèo bằng tay. Trước đây, người ta dùng thuyền thúng để đi lại giữa tàu lớn và bờ, ngày nay họ dùng nó như một phương tiện để đánh cá vì lý do đơn giản là họ không đủ tiền sắm tàu lớn bằng gỗ, giá vài ba tỷ đồng, trong khi một chiếc thuyền thúng có gắn máy chỉ dưới 100 triệu.

Anh Nhỏ tâm sự, chiếc thuyền thúng của anh, đường kính khoảng 2,5 mét, được trang bị một máy radar định dạng, một tay lưới và một động cơ nhỏ, anh có thể ra khơi một mình, không cần mướn thêm bạn ghe để giảm chi phí. Cứ mỗi hai ngày, anh chỉ cần chạy xa bờ khoảng 15 hải lý, hôm sau về là kiếm được 3,4 triệu (khoảng $100- $150).

Thuyền thúng truyền thống ở Mũi Né (Bình Thuận) thường là loại thúng nhỏ được đan bằng tre, trét “nhựa chai”, sử dụng dầm bơi bằng tay, nhưng ngày nay người ta chế tạo ra “thuyền thúng máy” bằng sợi tổng hợp (composite) nên thuận tiện và bền hơn rất nhiều, không phải bảo trì thường xuyên như trước. Với cấu trúc cứng cáp và nhẹ nhàng hơn tre, ngư dân có thể gắn một động cơ truyền động nhỏ từ 10- 30 mã lực là có thể chạy rất nhanh đến 5- 7 hải lý/giờ.


Hiện nay ở Việt Nam, hầu hết ngư dân đều sử dụng loại thuyền thúng máy này vì tính tiện lợi, nhẹ nhàng, xoay sở dễ dàng và nhất là tiết kiệm được tiền.

Tôi đọc được trên khuôn mặt khắc khổ rám nắng gió của anh Nhỏ lúc anh cười, một thoáng ưu tư pha với sự chịu đựng của một đời người gắn chặt với biển cả, nơi mỗi ngày trôi qua là một lần chiến đấu với thiên nhiên, sóng gió trùng khơi và cả nỗi vui mừng khi trúng được mẻ cá nặng trĩu, quay chiếc thuyền thúng đầy cá trở về.

Tôi cũng thấy được bức tranh sống động nhưng u ám của người dân làng chài, lúc nào cũng lam lũ, cực nhọc, làm bữa nào biết bữa đó, tương lai bất định. Ngày nào máy hư, bão lớn, ngày đó không có tiền. Nhìn sang người “bạn vàng” to lớn phía Bắc, ngư dân của họ được trang bị bằng những chiếc tàu sắt khổng lồ, ra khơi đánh bắt xa bờ, thường xuyên xâm phạm lãnh hải Việt Nam và các nước khác, thậm chí đánh đập và tịch thu tàu của ngư dân Việt Nam mà chính quyền thường chỉ biết “quan ngại” vì hoạt động của các “tàu lạ” xuất hiện trong vùng biển nước mình.

Giờ đây giữa những công trình bỏ hoang và những giấc mộng làm giàu dang dở, sự bình yên đã bị chôn vùi đâu đó, chỉ còn lại trong ánh mắt u buồn của người dân nơi đây, mỗi lần nhìn về mênh mông biển cả và trong chính nỗi lòng của tôi và của những ai đã từng đi qua nơi này.

Trong tôi một nỗi mong muốn rất thầm lặng: xin trả lại cho Mũi Né vẻ yên bình của một làng chài ngày xưa. Không có những dãy khách sạn chen chúc, không cần ánh đèn rực rỡ suốt đêm thâu. Chỉ cần buổi sáng còn nghe tiếng mái chèo khua nước, những thuyền thúng trở về trong sương sớm, mang theo mùi cá tươi và vị mặn của biển cả, những mái nhà thấp nằm ép mình dưới hàng dừa và tiếng ơi ới gọi nhau khiêng những thúng cá nặng trĩu giao cho bạn hàng.


Mũi Né. Tháng 4- 2026

Nguyễn Văn Tới

 

Anh Nhỏ đang chuẩn bị đồ nghề trước khi ra khơi       

Ai Ăn Bún Bò Huế Hông?






Thanh Loan chuyển 

Tuesday, May 19, 2026

Như Là Cổ Tích - Võ Anh Dũng


(Viết tặng tình bạn, tình yêu của những Cựu học sinh PTG - ĐN)

Đà Nẵng tháng 3 - 1975

Vy, Thanh rẽ phải đi về phía bờ sông Bạch Đằng.
Vy nhìn Thanh :

- Chắc điệu nầy trường sẽ đóng cửa dài hạn vì tình hình không ổn lắm. Ba mình nói Quảng Trị và Huế đã mất, đồng bào dồn về Đà Nẵng mỗi lúc một đông nên tất cả các trường học được lệnh đóng cửa để tiếp cư đồng bào, không biết năm ni tụi mình có được thi Tú tài II không đây?

Con đường Quang Trung bình thường vắng vẻ, giờ rất đông người qua lại. Trên mặt mọi người đều có vẻ lo âu, bồn chồn. Quán bà Bu bữa nay cũng xa lạ hẳn vì khách hàng toàn là Quân nhân thay vì những cậu Học sinh Phan Thanh Giản tinh nghịch. Thành phố ngột ngạt vì không khí chiến tranh.

Vy và Thanh là bạn học cùng lớp. Họ thân nhau từ lớp đệ thất khi cả hai cùng ghi danh vào học trường Phan Thanh Giản. Gia đình Vy sinh sống ở Đà Nẵng lâu năm. Ba mẹ Vy chủ nhân một tiệm bán xe Honda và phụ tùng ở đường Trần Hưng Đạo nên gia đình rất sung túc. Vy là người con độc nhất trong gia đình nên được cưng chìu hết mực. Ông bà Vân, cha mẹ Vy, không muốn con gái mình nối nghiệp buôn bán mà muốn Vy trở thành một Bác sĩ Nhi khoa. Ông bà cũng rất cởi mở trong lối sống nên Vy sống rất thoải mái về tinh thần và vật chất.

Gia đình Thanh di cư vào Nam sau khi Hiệp định Genève được ký kết. Bố Thanh là một Giáo viên Tiểu học và gia đình Thanh cư ngụ tại Thanh Bồ, một Xóm đạo rất hiền hoà. Sinh ra và lớn lên tại Đà Nẵng nhưng Thanh vẫn nói tiếng Bắc, giọng Hà Nội, ít pha tiếng địa phương.

Ngồi bên Thanh, Vy có nhiều điều học hỏi ở Thanh. Thanh viết chính tả hầu như không có lỗi. Người Quảng Nam, Đà Nẵng thường lẫn lộn cách phát âm giữa dấu hỏi, dấu ngã, những chữ có g hoặc không g, những chữ tận cùng bằng c hay t nhưng Thanh thì không bao giờ sai trong khi phát âm và viết. Do đó ở những lớp đệ Nhất cấp, trong giờ Việt văn mỗi lần thầy Lương Quế đọc bài cho học sinh chép, thầy luôn luôn nhờ Thanh lặp lại sau mỗi câu đọc của thầy. Lên đệ Nhị cấp, Thanh cũng được thầy Nguyễn Văn Xuân chỉ định viết bài học trên bảng để cả lớp chép lại.

Vy được nghe Thanh hát những bài Thánh ca du dương như Đêm Thánh Vô Cùng, Cao Cung Lên, Hang Bê Lem vì Thanh ở trong Ca đoàn của nhà thờ. Tình bạn của hai người càng gắn bó hơn khi cả hai được chọn vào Ban văn nghệ trường năm lớp đệ Tứ (lớp 9). Dù ngoại đạo nhưng Noël nào Vy cũng đi nhà thờ với Thanh và có năm ở lại nhà Thanh để ăn mừng lễ nửa đêm.

Tiếng thắng gấp của 1 chiếc xe gắn máy làm hai người quay lại. Một người lính trẻ với Quân phục Biệt Động Quân đưa một mảnh giấy cho Vy và nói nhanh :
- Thiếu uý chiều nay có cuộc họp khẩn cấp ở Bộ tư lệnh Liên đoàn. Ổng sai tôi đưa thư nầy cho cô. Tôi đến nhà cô Thanh thì biết hai cô đi bộ đến trường nên chạy vòng vòng giờ mới tìm được. Tôi phải về trại gấp. Chào hai cô.

Thiếu uý là Nguyên, người yêu của Vy. Nguyên phục vụ trong 1 Tiểu đoàn thuộc Liên Đoàn I Biệt Động Quân tại vùng I Chiến thuật đang đóng quân tại Đà Nẵng.
Nguyên cũng là học sinh Phan Thanh Giản nhưng học trên Vy 3 lớp. Anh là một học sinh xuất sắc trong mọi môn học và có khả năng văn nghệ. Nguyên mồ côi và được cô anh nuôi từ lúc còn bé. Nguyên được ông Vân nhờ kèm cho Vy sau giờ học mỗi ngày. Tình yêu của 2 người bắt đầu từ năm Vy lên lớp 9. Ngoài giờ kèm cho Vy về văn hoá, Nguyên còn đàn cho Vy hát hoặc hát cho Vy nghe những bài hát tiền chiến. Vy thích nhất là bài Em Tôi của Lê Trạch Lựu. Thấy Nguyên đứng đắn, thương yêu con gái mình nên ông bà Vân chấp nhận và xem Nguyên như là một người thân trong gia đình.


Nguyên thi Tú tài II đậu hạng bình đem lại vinh dự cho trường, cho thầy, cô. Thay vì ghi danh vào Đại học, Nguyên quyết định tình nguyện vào Quân trường Thủ Đức. Anh không muốn thêm sức nặng lên vai của người cô đã hy sinh hạnh phúc riêng mình cho anh ăn học.
Ông bà Vân ý tứ muốn giúp đỡ tài chánh cho anh tiếp tục con đường học vấn nhưng anh đã lễ phép từ chối. Đêm trước ngày nhập ngũ, hai người đã ngồi bên nhau đến gần sáng. Anh an ủi Vy, chọc cho Vy cười nhưng sau những đợt cười Vy lại khóc nhiều hơn.
Trước khi chia tay Nguyên đàn và hát : "Bao giờ tôi về gần em cùng đếm nầy trăng, nầy sao chia nhé em, trăng sao dâng ý thơ, mây bay khắp trời, thuyền tình lung linh trong khói sương lam, ngày về xa quá người ơi.." (Em Tôi, Lê Trạch Lựu)

Vy được ông bà Vân đưa đi thăm Nguyên ở Quân trường Thủ Đức. Gặp lại Nguyên Vy vừa thương vừa buồn cười khi thấy Nguyên đen thui vì sương gió thao trường và đầu gần như trụi tóc. Vy đùa trong nước mắt :
- Em tưởng anh sẽ có nhiều cô theo nhưng giờ thì yên tâm vì anh xấu ỉn, đen thùi lùi như Mai Hắc Đế.

Ra trường, Nguyên tình nguyện chọn Binh chủng Biệt Động Quân và đã tham dự nhiều cuộc chiến ác liệt. Anh là một Trung đội trưởng gan dạ nhưng thương yêu lính và trong những giờ dưỡng quân anh còn là một Sĩ quan tâm lý chiến với những bài ca trữ tình làm giảm sự căng thẳng tinh thần của đồng đội.
Đó chính là nét đặc biệt của những Chiến sĩ miền Nam Việt Nam. Họ chiến đấu vì tự vệ chứ không phải là những kẻ xâm lược. Họ chiến đấu để bảo vệ quê hương nhưng bên trong họ vẫn là những người cha yêu thương vợ, con, chiến hữu và đồng bào, những người tình hào hoa với tay súng tay đàn.
Vy mở tờ thư :
- Vy, anh xin lổi em là chiều nay anh không thể đưa em và Thanh đi xi nê vì vừa có lệnh cắm trại 100% từ 4 giờ chiều nay. Anh sẽ cố gắng liên lạc với em thường xuyên và hy vọng trong vài ngày nữa anh sẽ gặp lại em. Đừng buồn anh nghe. Yêu em. Nguyên.
Sự có mặt của Thanh trong những lần đi biển, đi xi nê như là một điều kiện ngầm của ông bà Vân trong những lần hẹn hò của 2 người.
Làm người yêu của lính chiến, Vy đã quen với những trường hợp như thế nầy.Vy đưa tờ thư lên môi hôn nhẹ và nói nhỏ :" Em yêu anh và chúc anh bình yên".
Hai người rẽ trái trên đường Duy Tân để về nhà Thanh. Trưa nay Vy đến nhà Thanh, để xe ở đó rồi hai đứa đi bộ đến trường xem tình hình.
Mẹ Thanh vồn vả khi thấy Thanh và Vy về :
- Vy ở lại dùng cơm tối với Thanh nhé. Hôm nay bác nấu bún mộc.
Vy lễ phép :
- Thưa bác, con cảm ơn bác nhưng con phải về nhà. Bác để dành cho con ngày mai con đến ăn nghe bác. Thanh ơi, mai gặp lại hì ?
Nhưng đó là lần cuối Vy và Thanh bên nhau...

Carlsbad, California tháng 6, 2003

Vy mở cửa bước ra Balcon . Trước mắt Vy là cát vàng và biển xanh. Vy đến nhận nhiệm sở mới đã được một tuần. Thật ra văn phòng của Vy ở San Diego nhưng trong thời gian chuẩn bị mua nhà, Vy ngụ tại Khách sạn Seashore On The Sand của Thành phố Carlsbad cách San Diego không xa. Khách sạn Vy ở nằm sát biển, bãi biển chỉ dành riêng cho người cư ngụ của khách sạn nên rất yên tĩnh. Suốt tuần lễ bận rộn với việc bàn giao, gặp gỡ nhân viên nên hôm nay, thứ Bảy, Vy nới có thời giờ thăm biển.

Sinh ra và lớn lên ở một phố biển nên Vy đã yêu biển từ lúc còn bé. Trong những năm qua Vy đã sống ở một Thành phố lớn ở miền Đông Bắc nước Mỹ nên ít có dịp gần biển nên giờ đây Vy cảm thấy như gặp lại người bạn thân xa cánh rất lâu. Và cũng đã thật lâu Vy mới cảm nhận lại mùi biển thân yêu.

Định thay đồ để xuống lội nước biển nhưng Vy đổi ý, chị rót cho mình một ly rượu vang đỏ, ngồi nhìn cảnh chiều vàng trên biển.
Gió nhẹ và sóng lăn tăn, những đợt sóng chạy vào bờ rồi rút ra xa. Tâm trí và mắt Vy đuổi theo những đợt sóng ra xa, xa mãi về phía chân mây. Vy nhắm mắt, chị thấy lại bờ biển Mỹ Khê, thấy lại Nguyên, Thanh và những kỷ niệm ùa về như những con sóng...

... Vy về đến nhà thì thấy tiệm đã đóng cửa. Thấy Vy về, mẹ Vy mừng rỡ :
- Ba, Mẹ trông con từ chiều đến giờ, con lên lầu ba con có chuyện quan trọng.
Vy chạy nhanh lên lầu. Ông Vân đang cho giấy tờ và tiền bạc vào một chiếc va-li lớn. Thấy Vy ông nói :
- Con chuẩn bị một ít quần áo để đêm nay chúng ta đi Sài Gòn. Tình hình Đà Nẵng không an toàn lắm, trường học đóng cửa vô thời hạn nên vào Sài Gòn con có cơ hội tiếp tục học thi tú tài II. Ba đã nhờ người quen xin cho con theo học trong đó.

Vy như chết lặng trong lòng vì không còn thời gian để từ giã Nguyên và Thanh. Vy lật quyển nhật ký để tờ thư của Nguyên viết cho mình hồi chiều rồi đặt vào va-li. Đó là những vật quí giá nhất mà Vy mang theo trong cuộc hành trình vô định nầy.


Đến Sài Gòn, tình hình cũng không khá hơn. Những đợt sóng tỵ nạn từ những tỉnh miền Tây về Sài Gòn mỗi ngày mỗi nhiều. Hòn Ngọc Viễn Đông giờ như ngạt thở vì không khí chiến tranh. Trong khi đó thì dân Sài Gòn lại tìm cách rời quê hương bằng mọi giá.

Và ngày 27 tháng tư năm 1975 gia đình Vy cùng với hàng nghìn người khác đã rời Sài Gòn trên một Chiến hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà.

Sau hơn hai tháng trong trại tị nạn, gia đình Vy đã được một nhà thờ Tin Lành bảo trợ về sống ở Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania. Ba, mẹ Vy muốn Vy có căn bản nên đã cho Vy học lại lớp 12. Vốn thông minh và chuyên cần, chỉ sau một thời gian ngắn Vy đã trở thành một Học sinh xuất sắc của trường. Vy tốt nghiệp trung học với hạng Á Khôi, chỉ thua người Thủ Khoa một vài điểm về Anh ngữ.

Vy đã được Đại học Pennsylvania cấp học bổng toàn phần và chọn môn kế toán để theo học. Vy vùi đầu vào sách vở một phần vì ham học nhưng một phần để quên đi những đau thương khi phải rời bỏ quê hương, xa bạn bè và người yêu không một lời từ giả. Thành tích về học vấn của Vy đã làm những công ty lớn chú ý và vào năm thứ 3, Vy đã được 4 chổ mời về làm việc sau khi ra trường.

Chỉ trong vòng 5 năm, Vy tốt nghiệp văn bằng cao học về kế toán với hạng danh dự và nhận lời làm việc cho một ngân hàng lớn có bản doanh tại New York.

Hơn 7 năm sống đời tị nạn, Vy không được biết một tin tức gì về Nguyên và Thanh. Mãi đến năm 1988, Vy mới nhận được một lá thư của Thanh do một người quen với gia đình Vy ở Cali chuyển đến. Thanh viết :
"Vy thương,
Chắc Vy ngạc nghiên lắm khi nhận được thư mình phải không ? Vậy mà đã hơn 10 năm tụi mình xa nhau và trong hơn 10 năm đó đã có biết bao dâu biển xảy ra trên quê hương và cho cả cuộc đời mình.

Chỉ vài ngày sau khi mình chia tay, Đà Nẵng hoàn toàn đổi chủ. Mọi người đều sống trong phập phồng lo sợ. Chuyện dài lắm Vy ơi, phải mất hàng tháng mình mới có thể kể hết cho Vy nghe. Mình chỉ tóm tắt cho Vy những điều quan trọng . Mình đã có gia đình và có một bé trai lên 2. Chồng mình là anh Lợi trưởng lớp tụi mình hồi xưa. Vy nhớ anh Lợi không ? Anh ở Tam Toà đó. Nguyên thì mình nghe nói là đã mất tích trong lần đụng độ cuối cùng ở Điện Bàn và không có tin tức gì sau đó nữa.
Vài hàng thăm Vy mạnh. Mình gởi lời thăm hai bác.
Bạn Vy,
Thanh.

Chút hy vọng nhỏ nhoi trong Vy giờ đã tan biến. Trong bao nhiêu năm trời, Vy vẫn mơ một ngày gặp lại Nguyên. Trong thời gian đi học cũng như đi làm, Vy đã được nhiều người mến mộ và tỏ tình nhưng Vy đã từ chối vì Vy đã dành hết tình cảm cho Nguyên. Những giây phút nhớ Nguyên quay quắt, Vy thầm hát những bài hát ngày xưa Nguyên hát cho riêng Vy. Bài hát nào cũng ghi lại những kỷ niệm của 2 người trong những năm tháng bên nhau.

Vy như người mất trí, chị thẩn thờ, biếng ăn mất ngủ làm ông bà Vân lo sợ. Trong thời gian nầy Steve là người an ủi Vy nhiều nhất. Steve là trưởng phòng Nhân viên của sở, anh hơn Vy 5 tuổi và đã phục vụ tại VN trong 3 năm, căn cứ đóng tại Sơn Trà, Đà Nẵng. Khi biết Vy là người VN, nhất là người Đà Nẵng nên anh đã đem những kỷ niệm của mình trong thời gian phục vụ kể cho Vy. Nghe một người ngoại quốc nói về những nét đẹp của quê mình, Vy rất hãnh diện và thích thú.

Là một Sĩ quan Không quân nên Steve rất lịch thiệp và hào hoa. Anh lắng nghe Vy kể chuyện tình của Vy và Nguyên một cách chăm chú và luôn luôn an ủi Vy là Vy sẽ gặp lại Nguyên dù trong lòng anh đã thầm yêu cô gái Á Đông đẹp thuỳ mị và tài giỏi nầy.
Một người rất sành về tâm lý phụ nữ nên Steve không vội vã. Anh dành cho Vy những chăm sóc và khi biết được nỗi buồn của Vy, anh an ủi, vỗ về Vy rất chân tình. Vy cảm thấy an toàn và bình yên trong sự che chở, săn sóc của Steve và cuối cùng thì Steve đã chinh phục được trái tim của Vy bằng một đám cưới với đầy đủ lễ nghi và phong tục Việt Nam.

Nhưng sau 5 năm hạnh phúc bên nhau, Steve trong một lần trượt tuyết đã bị tai nạn và tử thương. Đau thương lại đến với Vy.
Thời gian như một liều thuốc tốt làm Vy hồi sinh và hăng say trở lại trong công việc nhưng tim Vy đã chai cứng. Thư từ qua Internet giửa Vy và Thanh đều đặn hơn. Vy đã giúp Thanh một số vốn để Thanh mở 1 sạp bán vải ở chợ Cồn nên cuộc sống của gia đình Thanh đã ổn định.
Trong  1 email Thanh có hỏi Vy là có người yêu chưa ? Vy trả lời đã có lâu rồi, và chỉ yêu người đó cho đến khi chết. Không cần nói tên Thanh cũng biết người đó là Nguyên.


Trời đã tắt nắng, biển đã hoàng hôn. Đèn trên những du thuyền ngoài khơi nhấp nháy như những ngôi sao làm Vy nhớ quay quắt những bãi biển quê hương như Mỹ Khê, Nam Ô, Non Nước. Vy cảm thấy lạnh, mở cửa vào bên trong.
Màn hình Computer nhấp nháy rồi giọng nói từ máy phát ra : "You got mail !"
Vy mở Inbox và thấy 1 địa chỉ lạ và 1 thư với nội dung :
"Thưa bà, tôi xin bà thư lỗi cho sự đường đột của tôi nhưng đây là 1 chuyện rất quan trọng đối với tôi. Nếu bà đúng là Nguyễn Thị Quỳnh Vy trước học trường PTG - ĐN thì tôi xin được gặp để cho bà tin tức của Thiếu uý Nguyên, người thân của bà. Tôi ngồi chờ để nhận hồi âm của bà dù rất trễ với hy vọng là tôi tìm đúng người." John

Tim Vy thót lại, những ngón tay của Vy như không còn cảm giác. Vy run rẩy gõ phím :
"Vâng, đúng rồi, đúng rồi. Tôi có thể gặp ông John ở đâu, khi nào, hay là ngay bây giờ ? Ông cho tôi địa chỉ và số Phone được không. Cảm ơn, cảm ơn. Xin lỗi ông John là người Mỹ hay người VN ?"

"Tôi là người VN. Bà có thể gặp tôi ở nhà hàng của khách sạn nầy lúc 8 giờ được không ?"
"Được chứ ạ, tôi sẽ đúng giờ. Ủa mà sao ông biết tôi ở đây ?"
"Chuyện dài lắm, thưa Bà. Để gặp nhau tôi sẽ kể. Hẹn gặp Bà."

Đồng hồ trên Computer chỉ 7 giờ 15. Vy vội vàng đứng dậy nhưng không biết phải làm gì trước. Nhiều câu hỏi trong đầu Vy : John là ai ? sao biết mình ở đây ? hai người có liên hệ như thế nào ? Vy không có câu trả lời thích đáng nào cả.

Vy vào phòng ngủ chọn cho mình một chiếc váy màu đen, một áo cổ tròn, tay ngắn màu tím than, xoa vội lên má 1 chút phấn hồng, rồi trở ra ngoài ngồi trước Computer. Mới có 7 giờ 30. Trời ơi, 30 phút dài nhất trong đời Vy.
Vy quyết định xuống nhà hàng vì nàng không thể ngồi đây để chờ vì 30 phút là cả 1 thiên thu với nàng lúc nầy. Cô thu ngân thấy Vy là khách quen nên tươi cười vồn vã :
- Thưa bà, bà có hẹn với ông John phải không ? Ông ta đến rồi và ngồi chờ bà ở bàn số 8.
Vy đi nhanh về hướng chỉ của cô thư ký. Bàn số 8 chỉ có 2 ghế ngồi và nằm sát cửa sổ nhìn ra biển. Người đàn ông ngồi quay lưng nên Vy không nhìn được mặt. Nàng lên tiếng :
- Chào ông John, tôi đến sớm nhưng ông lại đến sớm hơn.

Người đàn ông đứng dậy, quay lại và cất tiếng :
- Khi biết đã tìm được Vy, anh lái xe như bay tới đây. Anh cũng chỉ đến trước em có vài phút thôi.

Vy hoa mắt, lảo đảo muốn ngã. Người đàn ông dìu nàng ngồi xuống chiếc ghế của mình. Vy vẫn còn run và tim như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Trước mắt nàng là Nguyên. Nàng nói trong nước mắt :
- Nguyên đây sao ? Em đang mơ hay tỉnh ? Sao anh ác quá vậy, không nói cho em biết trong Email ?
- Biết là em, anh mừng như điên lên, vội vàng thay quần áo rồi ra xe phóng đến đây. Anh mail cho em lúc 5 giờ, ngồi đợi gần 2 tiếng đồng hồ mới có thư em. Em ác hơn anh thì có.
- Em ngắm biển nhớ anh. Kể em nghe sao anh biết em ở đây.
- Anh đi dự Meeting giới thiệu người tổng giám đốc mới ngày hôm qua. Anh không tin được mắt mình khi ông Bill, giám đốc sắp về hưu, giới thiệu em có vài lời với nhân viên. Sao lại có trường hợp người giống người đến như thế. Để chắc ăn sau buổi họp anh gặp ông Bill và hỏi em có phải là người VN không thì Bill xác nhận là đúng. Bill cũng là cựu chiến binh Mỹ tham chiến tại VN nên rất thích anh và anh được Bill dạy thêm về nghề nghiệp. Anh xin Bill địa chỉ email của em. Bây giờ em là bà chủ lớn của anh rồi.

Giờ Vy mới có dịp nhìn kỹ Nguyên. Anh trắng hơn, trông trẻ hơn nhiều so với tuổi . Giọng Nguyên vẫn như xưa :
- Anh được Bill cho biết về tai nạn của chồng em. Anh thành thật chia buồn.
- Cảm ơn anh ! Vậy mà đã 3 năm. Anh đến Mỹ năm nào ? Kể em nghe cơ duyên nào anh lại vào làm việc cùng một cơ sở với em. Chị khoẻ không ? Anh được mấy cháu rồi ?
- Chuyện dài lắm, kể cả đời cũng chưa hết Vy à. Anh chỉ tóm tắt là năm 75 anh bị giam trong những nhà tù từ Nam ra Bắc. Sau 11 năm anh được thả ra, không về Đà Nẵng mà vào sống ở Cà Mau, làm đủ mọi nghề cuối cùng thì vượt biên đến Phi Luật Tân. Không bà con, thân nhân nên mãi đến năm 1989 mới được Hoá bảo trợ đến định cư tại Orange County. Em nhớ Hoá không ? Hoá cùng Trung đội của anh, người mang lá thư cuối cùng của anh đến cho em đó.
- Ủa, chú Hoá cũng ở Mỹ hở anh ?
- Hoá tình nghỉa lắm em. Hoá đọc được mẩu nhắn tin của anh trên 1 tờ báo Việt ngữ tại địa phương, thư từ qua lại rồi một hôm Hoá xuất hiện ở trại tị nạn với giấy tờ bảo lãnh. Hai anh em gặp nhau mừng lắm. Anh về ở nhà Hoá, ngày phụ Hoá làm vườn, cắt cỏ, tối đi học thêm, vì học bán thời gian nên sáu năm sau anh mới ra trường, xin được việc trong ngân hàng, với sự chỉ dẫn của Bill và mới đây được chỉ định làm giám đốc 1 chi nhánh ngân hàng tại đây. Còn em lý do nào đưa em đến Cali ?
- Sau khi Steve mất, nguồn vui của em là việc làm, nghe những bản nhạc hồi xưa anh hát cho em và đọc lại nhiều lần lá thư cuối cùng anh gởi em. Sau đó em được thăng chức, thế chỗ của Steve làm trưởng phòng nhân viên. Khi sở chỉ định em thay thế Bill ở chức vụ tổng giám đốc của sở ở Cali, em nhận lời vì muốn xa nơi có nhiều kỷ niệm buồn nhiều hơn vui. Còn anh, anh được mấy cháu rồi ?
Nguyên cười :
- Anh mới có 1 cháu lên hai. Em rảnh không ? Anh mời em đến nhà anh để anh giới thiệu em với vợ và con anh.
Vy gật đầu cố làm ra vẻ bình tĩnh :
- Em rảnh anh. Em cũng muốn gặp chị và cháu lắm.


Ngôi nhà Nguyên rất xinh xắn, nằm trong một khu yên tĩnh. Nguyên mở cửa. Vy nghe tiếng chó sủa và khi Vy bước vào, một chú chó nhỏ đưa 2 chân trước cào vào chân Vy như muốn Vy bồng.
Nguyên cười :
- Chó có linh tính hay lắm, mới gặp em mà xem em như người thân. Em bồng Mimi đi.
Vy ôm Mimi vào lòng. Mimi liếm nhẹ tay Vy. Nguyên chỉ ghế mời Vy :
- Em ngồi đi. Anh vào trong bế vợ anh ra chào em.
Vy ngạc nhiên :
- Ủa, chị bị bệnh hở anh ? Anh để chị nghỉ đi anh, em vào chào chị được mà.
Nguyên cười vui vẻ :
- Không sao, anh ra liền.
Nguyên trở lại phòng khách với cây đàn Guitar trên tay, anh nhìn Vy và đưa cây đàn lên cao giọng trịnh trọng :
- Giới thiệu với em đây là vợ anh, con của anh là Mimi em đang bồng đó.
Vy chợt hiểu, nước mắt trào ra, Vy đứng dậy, một tay ôm Mimi, một tay đánh tới tấp vào ngực Nguyên :
- Anh ác lắm, anh già mà vẫn còn nghịch như xưa. Khi nghe anh đã có gia đình, em như người vừa tìm lại được một bảo vật rồi bị ai cướp mất đi.
Mắt Nguyên cũng sũng nước, anh ôm Vy thật chặt, giọng anh lạc đi :
- Mình đã mất nhau gần 30 năm. Lần nầy thì anh sẽ không để mất em.

Nguyên dìu Vy ngồi xuống ghế, anh nhìn Vy đắm đuối, rồi nét tinh nghịch lại về với Nguyên:
- Vợ anh và anh sẽ hát tặng em, người tình của anh, bài hát ngày xưa em thích "
Nguyên dạo đàn, Vy tựa đầu vào vai Nguyên, con Mimi cuộn mình nằm ngoan ngoãn trong lòng Vy. Giọng Nguyên trầm ấm :
"...Ta ước mơ một chiều thêu nắng, em đến chơi quên niềm cay đắng và quên đường về." ( Em đến thăm anh một chiều mưa - Tô Vũ).
Vy nhìn Nguyên thì thầm :
- Em sẽ ở lại với anh mãi mãi dù mưa hay nắng, Nguyên ơi ! ./.

Longview, Washington tháng Tư, 2012
Võ Anh Dũng

Thị Xã Đồng Hới Thời Cảnh Nghiêu Thuấn? - BS. Lê Bá Vận

Quảng Bình Quan năm xưa, 1940. Dân chúng địa phương quen gọi là Cổng Bình Quan.


Đầu tháng 7 năm 1992 từ Sài Gòn tôi bỗng nhận được điện tín khẩn báo tin cụ thân sinh của tôi, 89 tuổi, ở Đồng Hới bệnh trở nặng, trong nhà giục tôi ra gấp.

Đồng Hới là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình, có sông Gianh đi vào lịch sử chia đôi Nam Bắc thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, có Lũy Thầy, có Quảng Bình Quan nằm ở trung tâm thị xã, trên Quốc lộ 1. . 

Thị xã Đồng Hới có một số phận kỳ lạ. “Vươn lên từ tro tàn”, từ một thị xã bị triệt hạ toàn bộ thành bình địa năm 1964, cư dân bỏ ra đi lên phía đồi núi lưu ngụ, ngót 40 năm sau về lại, xây dựng nơi xưa, đẹp và rộng lớn gấp 50 lần. Thị xã trước diện tích khoảng 3 km2, nay 155.71 km2 do sáp nhập địa giới hành chánh. Được cải danh là Thành phố, Đô thị loại II.

Để thay đổi diện mạo thị xã đã hứng chịu 2 đợt không kích, Pháp năm1947 (có tôi) và Mỹ năm 1964.


+ Sáng ngày 27/3/1947 hai chiếc máy bay nhỏ, động cơ cánh quạt từ đâu bay đến, (chắc từ Quảng Trị?), xoay vần trên không phận thị xã Đồng Hới và thị uy nã đạn xuống, nhánh cây gãy, lá rụng rào rào. Chừng hơn nửa giờ chúng bay đi mất. TIếng súng im bặt. Độ một giờ sau nữa bỗng nghe tiếng xì xồ gọi nhau ngoài đường - tôi trốn trong nhà, nghe rõ, trẻ tuổi, thính tai, nhớ mãi - thì ra lính Pháp từ một tàu thủy đến đậu ngoài biển, trước cửa sông Nhật Lệ từ chiều hôm qua 26/3 – nhiều người trông thấy, xì xào bàn tán - đã đổ bộ lên và chiếm thị xã như quà biếu không, hợp lực sau đó có lính bộ Pháp từ Quảng Trị kéo ra.

UBND tỉnh, công an, bộ đội từ tối hôm qua đã rút lui lên xã Thuận Đức, bán sơn địa, cách thị xã 12 km, nơi rừng rậm bít kín che khuất. Chính quyền tự biết thực lực lúc đó còn rất hạn chế, nên việc tạm tránh đụng độ để bảo toàn lực lượng là đúng đắn hơn cả. Duy dân chúng không được thông báo, rốt cuộc dân cư thị xã, 4 vạn, ngày 27/3 hầu hết bị kẹt, ở lại với Pháp như hồi bảo hộ, trước1945.

Pháp chiếm được Đồng Hới rộng 3 km2 nguyên vẹn, song không đóng quân tại thị xã mà lập đồn bót kiểm soát các trục giao thông trong tỉnh. Từ Quảng Bình vào tận Quảng Nam thuộc vùng quốc gia cho đến hơn 7 năm sau, hiệp định Genève năm 1954 chia cắt ở vĩ tuyến 17, tỉnh Quảng Bình thuộc về miền Bắc.


+ Từ năm 1947 mười bốn năm qua, Pháp nay đã không còn sau Hiệp định Genève năm 1954, chiến tranh khởi động trở lại. Tháng 2 năm 1964, phi cơ Mỹ bay đến bắn phá và ném bom dữ dội Quảng Binh, là vùng bắc giới tuyến, trọng điểm chiến lược của đường mòn Hồ Chí Minh, điểm khởi nguồn của hai nhánh Đông và Tây Trường Sơn, nơi đóng quân vả tàng trữ kho vũ khí để chi viện chiến trường miền Nam.

Do vị trí "đầu sóng ngọn gió" ngay sát giới tuyến, Quảng Bình đã trở thành chiến trường chính yếu chịu sự đánh phá ác liệt của bom đạn Mỹ và từng được mệnh danh là "túi bom, rốn đạn".

Thị xã Đồng Hới đặc biệt bị thiệt hại nặng. UBND và dân chúng (một số về quê ở các huyện) bắt đầu di tản dần lên xã Đồng Sơn, còn gọi là Cộn, vị trí nửa đường giữa thị xã và xã Thuận Đức, tránh bom đạn .


Ngày 4/4/1964 một đợt ném bom kéo dài san bằng những kiến trúc còn lạl của thị xã. Những người còn ở lại, nay tất cả đều dọn lên Đồng Sơn, trở thành tinh lỵ mới chính thức của tỉnh Quảng Bình, nơi có trụ sở của UBND tỉnh, có bệnh viện, trường học, chợ búa (chợ Cộn), tên đường phố, số nhà... có đủ cả. Song phong thái vẫn là cảnh làng quê với nhà sân vườn rộng, cây cối um tùm, và không thấy có các dãy phố xá, hiệu buôn, khách sạn đặc trưng nơi thị tứ. Đường sá không láng nhựa, vắng bóng xe cộ. Bù lại thủ phủ mới này, máy bay Mỹ không ngó tới. Chúng như tuồng chỉ hỏi thăm những cơ sở, tiện nghi quân sự.  Một số người cẩn thận, chạy tuốt lên Thuận Đức, ở trong rừng rậm, có bộ đội đóng quân.


Sau 1975 chiến tranh chấm dứt, UBND tỉnh, các đoàn thể chủ chốt và toàn bộ dân chúng vẫn ở yên tại Đồng Sơn thêm nhiều năm, do thị xã cũ bị hủy diệt hoàn toàn, chưa được xây cất trở lại. 

+ Trong bối cảnh đó, năm 1992 tôi đáp tàu hỏa ra Đồng Hới để chịu tang cụ thân sinh. Tôi đi cùng người anh con bác ruột, song nhỏ tuổi hơn. Chúng tôi đến Đồng Hới thì trời vừa sẩm tối.

Ga Đồng Hới thời Pháp thuộc được đặt tên là ga Thuận Lý (Ga Hà Nội thì tên cũ là ga Hàng Cỏ) vì nằm trong địa phận làng Thuận Lý cách thị xã khoảng trên 2 km nằm về phía biển. Từ thị xã lên ga, đường bộ gặp đường sắt trước, đi qua dưới cầu lòn rồi đi vòng lại đến khu vực sân ga. . .

Xuống tàu, vào ga, chúng tôi nhìn quanh quất thấy sân ga vắng bóng các xe tay (xe kéo), xe ba gác... khác hẳn lúc đang còn Đồng Hới xưa.

Một anh xe gắn máy ôm tiến đến gần và mời chúng tôi đi xe của anh. 

Không thấy anh dắt xe bên mình, chúng tôi nghi hoặc nhưng nhận lời và theo anh đi ra một bãi đất trống cách ga ngoài 100 mét. Ở đó có vài xe gắn máy kiểu Liên xô, Đông Âu và hơn chục chiếc xe đạp vứt ngổn ngang trên bãi cỏ. Không xe nào có khóa xe và cũng chẳng có người giữ. Tôi rất ngạc nhiên nhưng anh xe ôm cho biết ở đây, tức là ở Đồng Hới xe luôn vứt để vậy, chẳng ai lấy. Tôi không muốn tin cũng chẳng được, không lẽ có cảnh tượng thời Nghiêu Thuấn trở lại trên đất nước này cuối thế kỷ 20?


Tôi đưa địa chỉ, số nhà ở Đồng Sơn cho anh xe ôm. Anh ta nói cũng gần nhà anh. Lên xe mới biết xe gắn máy các nước cnxh khỏe thật, chạy rất tốt, lên dốc mạnh, đèn chiếu rất sáng. Người lái cẩn thận, thuộc đường và chạy xe nhanh vừa phải. Đến nhà an toàn, tôi biếu thêm tiền cho anh ta.

Vào nhà, trong nhà còn thức; linh cữu ba tôi đặt ở căn phòng giữa. Tôi mặc tang phục, thắp hương quỳ lạy trước linh cữu. Trong nhà kể cho tôi biết tình trạng bệnh trở nặng của ba tôi, có đem vào bệnh viện nằm vài hôm rồi cho về nhà. Cùng lúc tôi được đưa xem các hình ảnh tang lễ thợ ảnh chụp. 


Về chuyện xe đạp, xe gắn máy để ngoài không khoá mà tôi thắc mắc thì tôi được bảo xe trong nhà cũng không chiếc nào có khóa xe. Ở Đông Sơn và nói chung ở Quảng Bình, hộ nào có xe đạp họ đều biết. Xe đạp có đăng ký và cấp biển số. Xe gắn máy Liên xô, Tiệp, Đông Đức lại càng ít người có, dù lấy trộm cũng chẳng dám dùng. Muốn gỡ bán phụ tùng thì phải đem vào Đông Hà, Quảng Trị cách xa cả trăm cây số mới có nơi tiêu thụ, mà ở trong Nam thì chỉ dùng xe gắn máy Pháp, Đức, Nhật, tư bản.

Còn nữa! ở đây đêm ngủ hoặc nhà đi vắng cũng không phải đóng cửa. Thì ra là vậy.


Tuy nhiên hai năm trước, năm 1990 tôi ra Hà Nội, mượn xe gắn máy Honda của ông chú bên vợ để đi công việc chút đỉnh. Lúc vừa dựng và khóa xe bên lề đường bước vào hiệu sách ở phố Tràng Tiền, chỉ trong tíc tắc cẩn thận ngảnh mặt nhìn lui tôi thấy một người đang loay hoay ở đầu xe, tháo gỡ gì đó. Tôi la oai oái chạy lộn ra, anh chàng vùng bỏ chạy lập tức, mặt nạ xe gỡ nửa chừng chưa kịp mang theo. Tối tôi về trả xe, ông chú bảo nếu bị trộm, chỉ mất công ra chợ trời thì mua lại được đúng cái vừa bị mất cắp.

---------

+ Sau việc tang lễ, tôi đi xe đạp xuống thăm thị xã Đông Hới xưa, hòng tìm lại vết tich ngôi nhà ngói năm gian, số 37 đường Quan Thánh ở trung tâm thị xã, nơi cha mẹ tôi cùng con cái sinh sống.

Đến nơi, điều tôi thấy trước mắt là thị xã năm xưa sinh động với các phường Đồng Đình, Đồng Hải, xóm Câu nay biến thành một hoang địa với những bụi cây, đám cỏ. Tôi không tài nào nhận ra được địa điểm ngôi nhà cũ, gần chợ Đồng Hới. Ba mẹ tôi cùng những cư dân của thị xã có làm đơn xin thu hồi mảnh đất nơi ngôi nhà cũ tọa lạc, song sự việc không được giải quyết ví tất cả đều mất dấu.


Thành cổ Đồng Hới chu vi trên 2 km phá hủy toàn bộ (thời tiêu thổ kháng chiến) và nay là hành cung, dinh thự, công sở, trại lính, lao xá, nhà cửa nội thành bị san bằng sát đất.

Một sinh khí ló dạng, trên Quốc lộ 1 ngõ vào thị xã, nay có 1 bến xe tạm, một vài xe tải dừng lại nghỉ ngơi, có quán ăn nhỏ, mái tranh và một tiệm nhỏ sửa xe, vá lốp, đổ xăng.


Tình trạng của thị xã Đồng Hới trong chiến tranh bị san phẳng năm 1964 đến năm 1992 vẫn còn là bãi đất hoang như tôi, một cư dân cũ, đã đến tận nơi, quan sát tận mắt, in sâu trong trí và mô tả.

Về lại Sài Gòn tôi không còn dịp trở lại viếng thăm Quảng Bình, miền Trung vì năm sau, năm 1993 tôi đã rời Việt Nam ra sinh sống ở nước ngoài.

Tuy nhiên, theo dõi thời cuộc, tôi được biết Đồng Hới nay là một đô thị hiện đại, với 14 vạn dân, thủ phủ của tỉnh Quảng Trị mới do hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị sáp nhập, kể từ năm 2026.   


Năm 1992 ra Đồng Hới, ngoài việc ma chay cho cha, tôi yên tâm phần nào khi thấy mẹ tôi còn minh mẫn, lưng không còn thẳng nhưng đi đứng còn vững, tinh thần không suy sụp, chung quanh con cháu, họ hàng không thiếu. Tôi lo liệu mọi chuyện cho mẹ trước khi về lại Sài Gòn.

Hình ảnh hai mẹ con ngồi cạnh nhau suốt một tiếng đồng, tôi nắm tay me, hai mẹ con trò chuyện thì thầm – mẹ tôi, 85 tuổi, tai còn nghe rõ – là hình ảnh thân thương nhất thường gợi lại trong tâm trí tôi. 

Một ký ức khác cũng đậm đà là những trải nghiệm mà chuyến đi đã mang lại. Hình ảnh tôi ngồi ép giữa người lái xe và người anh con ông bác, rất vướng víu, nhớ lại rùng mình. Lần đầu tiên và duy nhất tôi ngồi xe ôm, lại ngồi chen chật, giữa chốn hoang vu, đêm tối. Xe chạy trên đường đất, nhiều đoạn gồ ghề, rất xóc. Trước 1975 tôi đi toàn xe hơi, sau đó đi xe đạp, xe gắn máy, và luôn giữa thành phố.  


Xuống ga Đồng Hới điều làm chúng tôi kinh ngạc tột độ là khi mục kích các xe đạp, xe gắn máy vứt bừa bộn trên bãi đất hoang, không người giữ mà chẳng thấy xe nào được khóa.

Nghĩ lại cũng năm 1992 ở Sài Gòn các cơ quan đều có nhà gửi xe cho nhân viên, nhưng xe phải khóa. Ngoài đường phố luôn có nơi gửi xe trả tiền, có người giữ. Nếu tìm được nơi có đặt khung giữ nhiều xe thì đỡ tốn. Ở Hà Nội ngoài nạn xe mất nguyên chiếc hiếm xảy, lại thêm tệ hại trộm vặt phụ tùng.


Chỉ sống vài hôm ở thị xã Đồng Sơn tôi đã nhận thấy toàn bộ cư dân từ Đồng Hới di tản lên đây lập nghiệp giữa cây cối xanh tươi nơi núi đồi, đã có một lối sống cầm chừng, dè sẻn. Có vẻ chỉ khi nào trở lại chốn xưa họ mới tìm lại được phong thái cũ, nhưng chỉn e ngày đó, cảnh Nghiêu Thuấn huyền thoại hiện hữu lại không còn.


Lê Bá Vận

 

+1) Lê nhập quan.  +2) Lễ hạ huyệt linh cửu cụ thân sinh tôi. Đồng Sơn, Quảng Bình 1992.
 
Tôi bưng di ảnh, đứng bên cạnh là mẹ tôi.

Sài Gòn Của Tôi - Nguyễn Duy Phước

Monday, May 18, 2026

Những Giọt Nước Mắt Không Thể Lau Khô


Trong thời gian quân đội Mỹ bao vây và tiêu diệt, Việt Cộng đã trốn dưới nước lòng sông, dùng ống sậy nhét vào lỗ mũi để thở.

Nhà tôi phải gây quỹ (mượn tiền bà con và bạn bè) để mua chiếc xe Mazda dâng cho ngục trường và tôi được trả tự do. Tôi trở về nhà cũ, ổ khóa ở bên ngoài, nhà đã bị 'niêm phong'; Việt cộng đã đủi gia đình tôi tới vùng kinh tế mới Mình Hải. Gia đình nhỏ của tôi 3 người phải tới nhà ông ngoại & bà ngoại lẫn núp.

Sau này tôi mới được người làng xóm cho biết là cha tôi đã bị ép ký giấy cống hiến căn nhà cho nhà nước để cứu mạng.

Nhìn vào căn nhà bị niêm phong với cánh cửa bị khóa từ bên ngoài, tôi cúi đầu và nhắm mắt lại. Từng là một gia đình ấm áp và yên bình đã bị phá hủy dưới chế độ dã man của cộng sản.

Việt cộng dùng xe chở hàng (camion) đưa gia đình cha mẹ tôi tới đất hoang Minh Hải dưới màn trời chiếu đất.

Lúc đó ở kinh tế mới gồm 9 người, ba má tôi, một bà ngoại và 6 đứa em. Đứa em út mới có 4 hay 5 tuổi, vì không có lương thực nên phải giao cho một gia đình địa phương để chăm sóc giùm.

Sau này ba má tôi trốn về Saigon và đứa em út này đã thất lạc ở dưới quê.

Tôi rất là đau lòng khi người em út đã bị bỏ rơ ở dưới quê. Vài năm sau khi tôi tới Canada định cư và làm bảo lãnh cho gia đình tôi không quên đứa em này. Tôi cho ba má biết là bất cứ với điều kiện nào cũng phải trở về Mình Hải để kiếm lại đứa em.

Sau bao ngày tháng cuối cùng ba má tôi kiếm lại được đứa em út của tôi. Cặp vợ chồng nhận nuôi (adopters) đồng ý cho ba má tôi chuộc về đứa em những đòi hỏi một ngân khoản để bù đắp chi phí nuôi nấng đứa nhỏ trong thời gian qua.

Gia đình tôi cũng đồng ý và tôi gởi về một số tiền cho ba má. Khi ba má tôi xuống Mình Hải gặp cặp vợ chồng nhận nuôi này và giao số tiền mà họ đòi hỏi nhưng lại đổi ý và muốn lấy thêm tiền nữa. Tôi phải gởi thêm số tiền cho ba má.

Cặp vợ chồng nhận nuôi này biết ba má tôi ở ngoài có người tiếp viện nên đòi hỏi ngân khoản vô tận. Một lần nữa ba má tôi đem tiền xuống Minh Hải để lấy lại đưa em lại bị cặp vợ chồng bất lương này từ chối và muốn tống tiền thêm.

Ba tôi hỏi ý kiến tới. Tôi đành phải mượn thêm tiền để gởi về và lần này tôi cho ba tôi biết là thay vì giao số tiền này trực tiếp cho cặp vợ chồng bất lương này, lấy số tiền này 'áp phe' chính quyền địa phương để họ xử lý.

Trong vòng không đầy 24 tiếng, dưới sự hộ tống của công an địa phương, cặp vợ chồng này đem trả lại đứa em út của tôi cho ba má tôi.

Em gái út tôi cuối cùng được trở về đoàn tụ với gia đình. Sau này tôi còn bảo lãnh cho em sang Canada.


Thật buồn khi nhìn thấy em ở sân bay khi tôi tới đón rước, nước mắt tôi tuôn rơi; trái tim tôi đau nhói. Nhiều năm bị cha mẹ nuôi ngược đãi, trí tuệ của đầu não em suy giảm; đôi tay bị đứt gân do nhiều năm bị đánh đập, giờ đây khó khăn lắm mới cầm được đồ vật, run rẩy và vô thức làm rơi.

Việt Cộng vào thành phố đã thay đổi cuộc đời tôi và số phận của cả gia đình tôi.

Trước khi miền Nam Việt Nam bị cộng sản đóng chiếm, tôi rất cảm thông với Việt Cộng. Tôi nghe nói rằng khi bị quân đội Mỹ 'bao vây và tiêu diệt', để trốn thoát và sống sót, họ (Việt Cộng) đã trốn dưới nước lòng sông, dùng ống sậy nhét vào lỗ mũi để thở hơi. Nếu biết họ đối xử với tôi như vậy, tôi thực sự hối hận vì đã không rút nhưng ống sậy đó ra lúc bấy giờ!

[Hình ảnh] Trong thời gian quân đội Mỹ bao vây và tiêu diệt, Việt Cộng đã trốn dưới nước lòng sông, dùng ống sậy nhét vào lỗ mũi để thở. Tôi hối hận hồi đó không biết rút bỏ những ống sậy đó cho chết luôn!