Thursday, August 6, 2026

Nếu Biết Thế - Người Phương Nam


Nếu Biết Thế


Nếu biết thế xin đừng ham cố

Bởi không ai mang được xuống mồ

Một mai khi về cõi hư vô

Của trần gian dù là vô số

 

Nếu biết thế màng chi danh lợi

Lợi danh như bọt biển phù vân

Có gì tồn tại mãi cõi trần

Mà mê muội dốc lòng đeo đuổi

 

Nếu biết thế xin dừng nghiệp chướng

Hãy biết đủ làm kẻ thiện lương

Hãy đầu tư vào quỹ thiên đường

Để một mai được lời an hưởng

 

Người Phương Nam 

Wednesday, August 5, 2026

Đôi Bông Tai - Tim Nguyễn

 


(Một góc khuất của kiếp làm dâu thời phong kiến. Một góc sáng của người phụ nữ Việt Nam: đạo nghĩa, hy sinh, nhẫn nhục, tha thứ)

Năm 1952, làng An Lạc nằm nép mình bên con sông nhỏ. Đất nghèo, người nghèo, nhưng cái tình thì chưa bao giờ thiếu.

Con sông chảy qua làng, mùa nắng cạn trơ đáy, trẻ con xắn quần lội bộ qua được nửa dòng. Mùa mưa thì nước lên láng trắng đồng, cá linh theo nước trôi về đầy sông. Đất thì tốt, lúa chín hạt trĩu xuống ruộng, cá tôm lấp xấp mé bờ. Chỉ có người là không yên. Giặc Tây đi càn hoài, tiếng súng cứ rền rền ngoài đồng xa, như một điềm xui không dứt.

Năm đó, Lan mười chín tuổi, về làm dâu.

Chồng cô là anh Tòng, con trai út nhà ông hương lý. Nhà nền đất mà nề nếp nhà còn cao hơn mái ngói. Má chồng Lan, bà Hai Hương nổi tiếng khắp tổng là người đàn bà khuôn phép, một tay giữ quy luật của một dòng họ khá giả thời phong kiến.

Lan không đẹp. Nước da ngăm ngăm vì dầm nắng, chỉ được cái hiền và khỏe, đôi mắt lúc nào cũng nhìn xuống, như sợ làm phiền đến người khác. Ngày rước dâu, má cô dúi vào tay cô đôi bông tai vàng lá nhỏ xíu và dặn: "Đây là của ngoại cho má lúc lấy chồng, nay má truyền cho con. Ráng giữ đạo làm dâu nghe con."

Ngày cưới, anh Tòng nắm tay vợ, nói nhỏ đủ hai người nghe: "Em ráng chịu với ba má một thời gian. Rồi anh học xong lớp sư phạm, mình xin ra ở riêng. Anh cất cho em cái nhà lá ven sông, mình trồng rau nuôi cá."

Lan gật đầu. Cái gật đầu của người đàn bà quê miền Tây, đã trao thân là trao luôn một đời. Tin chồng là tin cả số phận.

Người xưa nói, làm dâu là làm tôi tớ. Ở cái thời ấy, nói vậy mà không sai.

Gà chưa kịp gáy sáng, cái bóng áo bà ba mỏng của Lan đã lom khom ngoài sân. Trời còn tối mịt, sương còn ướt đẫm lá cau, cô đã quét sân, nhóm bếp, nấu nồi cám heo sôi ùng ục, rồi mới lo nồi cơm cho cả nhà.

Gạo mới trắng thơm, cô bới để phần cho cha chồng và chồng một chén vun có ngọn. Phần của má chồng là lưng chén. Phần của con dâu là những gì còn sót lại trong nồi, những hạt cơm dính đáy. Những ngày gạo trong lu sắp cạn, má chồng đếm từng lon. Đôi khi Lan chỉ dám chan nước cơm cho no bụng. Có lần cô lén bẻ miếng cơm cháy, bà Hai thấy được, bà không chửi lớn tiếng, bà chỉ lườm rồi nói:

"Nhà này phước đức ba đời mới rước được dâu thảo. Ăn cơm cháy mà không biết chừa lại cho chó, mai mốt nó không giữ nhà cho mà coi."

Lan cúi đầu, miếng cơm cháy nghẹn ngang cổ.

Áo quần của ba má chồng phải giặt riêng một chậu, vò cho trắng ngần rồi phơi cho ngay nếp. Chén úp phải úp cùng một chiều, đũa phải để cùng một phía. Nằm, ngồi, đi, đứng, ăn, nói, đều có phép tắc. Bà Hai soi con dâu từng ly từng tí. Có bữa khách tới nhà, Lan bưng nước ra, vì run quá cái tách chạm nhau kêu lạch cạch. Bà Hai cười với khách mà mắt thì liếc Lan sắc như dao: "Con dâu út nhà tôi nó quê mùa, có học được chữ nào đâu mà biết."

Đêm nào Lan cũng khóc thầm. Khóc không dám thành tiếng.

Anh Tòng thương vợ, mà cái thương của người chồng trẻ quê mình vẫn bị vai vế tôn ti trật tự điều khiển. Anh đứng giữa hai bờ: một bên là mẹ, một bên là vợ, mà bờ nào cũng sâu, cũng khó qua. Đợi tối anh lấy trong túi ra một sợi dây chuyền bạc nhỏ, mặt đá xanh đưa cho chị: "Anh dạy thêm cho con ông bá hộ, người ta thưởng. Anh mua cho em. Em cất đi, đừng cho má thấy."

Kiếp làm dâu thời phong kiến là vậy: đau không phải vì roi, mà vì bị im lặng; không phải vì cực, mà vì không được là mình; không phải vì nhà chồng khó hay dễ, mà vì cả xã hội đã quen coi đàn bà như phần phụ của một mái nhà. Và trong cái góc khuất đó, Lan sống lặng như giọt nước mắt rơi xuống đất, không ai nghe tiếng, nhưng vẫn rơi.

Rồi mùa lụt năm 1953 ập tới.

Trời làm lụt lớn, nước ngập quá nóc bếp. Lúa mất trắng. Giặc Pháp lại càn, ruộng bị giày nát hết. Nhà chồng bắt anh Tòng nghỉ học, ở nhà vác cày đi cày thuê và sau đó anh tham gia đội dân quân chống Pháp. Giấc mơ ra ở riêng của hai vợ chồng trẻ đứt ngang, như sợi dây bị nước lũ giật phăng.

Cái đói về làng. Nhà hương lý cũng phải chạy ăn từng bữa. Bà Hai Hương ngày càng cau có. Bà đi coi bói, thầy bói phán Lan nặng vía, tuổi sát phu, tuổi Dần về làm sa sút nhà chồng, làm tuyệt đường học hành của con trai.

Từ đó, bà càng đay nghiến hơn.

Thân Lan gầy rộc như tàu lá chuối héo sau bão. Ban ngày đi làm đồng cho bá hộ để lấy mấy lon gạo, tối về vẫn quét sân, nấu cám, gánh nước, không dám sót một việc gì. Lưng áo bà ba của cô không bao giờ khô.

Có bữa cô sốt rét, nằm mê man ngoài chái bếp, bà Hai đi ngang, chỉ hất hàm: "Đau thì ráng mà dậy. Heo nó đói kêu eng éc từ sáng giờ, bộ cô tính để cho nó chết đói rồi nhà này ăn cám thay heo hay sao?" Lan phải lết dậy, vừa đi vừa vịn vách, nước mắt hòa với mồ hôi.

Thương vợ đứt ruột, anh Tòng cãi má lần đầu tiên trong đời. Bà Hai lăn ra giữa phản khóc, nói con vì vợ mà bất hiếu, bỏ cả tông đường. Cả họ kéo qua khuyên giải. Cuối cùng, anh phải quỳ xuống, lạy má, rồi lạy cả dòng họ để xin tha.

Đêm đó, Lan ngồi vá áo cho chồng dưới ngọn đèn dầu leo lét. Cô nói nhỏ, giọng đứt quãng như sợi chỉ mục: "Má già rồi, đừng cãi nữa anh. Em chịu được mà. Em chỉ sợ... mình bỏ em thôi."

Một tháng trước ngày Pháp thua trận, giấy báo tử gửi về xã. Bom vùi xác anh Tòng ngoài dốc đồi miền trung.

Bữa đó Lan đang lội mương vớt bèo cho heo. Bà Sáu chạy qua bờ, la thất thanh: "Lan ơi! thằng Tòng... thằng Tòng nó chết rồi con ơi!"

Lan không khóc ré lên. Cô chỉ ngồi bệt xuống bờ đất sình, tay còn ôm rổ bèo, nước từ rổ chảy ướt hết vạt áo bà ba. Cô ngồi như người mất hồn, đau đến tận cùng không còn khóc thành tiếng được nữa.

Đám tang không có xác. Chỉ có cái bàn thờ với tấm hình trắng đen anh mới chụp hồi đi học sư phạm. Trong hình, anh cười hiền khô.

Tối đó, hai người đàn bà, một già một trẻ, ngồi hai bên bàn thờ, không ai nói một lời. Ngọn đèn dầu hắt lên thấy áo bà ba của Lan ướt đẫm. Không biết là mồ hôi của trời oi bức, hay là nước mắt đã thấm ngược vào.

Lan tưởng nghĩa vợ chồng hết thì còn nghĩa mẹ con, mình cứ ở vậy thờ chồng, hầu má chồng cho trọn chữ đạo, chữ hiếu. Ai dè, chưa đầy một tháng sau, tình người đã cạn.

Chị dâu hai, chị dâu ba trên thành phố về nói bóng gió gần xa: "Thím út còn trẻ quá, ở đây hoài người ta dị nghị. Thôi về bển mà làm lại cuộc đời cho khỏe tấm thân." Rồi thì nồi cơm tự nhiên nấu ít lại, chén đũa của Lan bị dẹp ra xó bếp.

Ai cũng khuyên cô về lại nhà ba má đẻ mà sống cho khỏe cái thân, nhưng cô nhất quyết không đi. Chạy về nhà mình chỉ làm ba má mang tiếng với xóm giềng.

Một buổi sớm, má chồng gọi Lan lại. Bà ngồi trên phản, mặt lạnh như tiền, không một chút hơi ấm, nói một câu ráo hoảnh, như nhát dao cuối cùng:

"Thằng Tòng mất rồi, cô không còn là dâu nhà này nữa. Cô ở đây thiên hạ cười chê, nói cô ăn bám. Thôi cô về bên tía má cô đi."

Một chữ "ăn bám". Mấy năm làm dâu, lưng áo nào của Lan mà chẳng ướt đẫm mồ hôi vì nhà chồng? Vậy mà giờ thành kẻ ăn bám.

Lan quỳ xuống, líu ríu: "Má... má cho con ở lại tang chồng con, mãn tang rồi con đi..."

Bà Hai quay mặt vô vách, giọng chanh chua, đanh lại: "Ở cái gì mà ở! Cô còn trẻ, ở đây trai làng dòm ngó, xui xẻo cho nhà này lắm! Đi đi cho nhà này nó nhẹ đất!"

Rồi bà chìa tay ra, mắt nhìn trừng trừng vào tai Lan và cổ Lan: "Trả lại đôi bông tai với sợi dây chuyền bữa thằng Tòng nó mua cho cô đó. Đó là của nhà này. Cô đi rồi thì trả lại, cô không có quyền mang theo."

Trời đất như sụp dưới chân Lan. Đôi bông tai vàng lá là của má ruột cô cho. Sợi dây chuyền bạc mặt đá xanh là kỷ vật duy nhất chồng cô để lại, là tình thương câm lặng của anh. Vậy mà bà cũng cố vơ vét.

Lan run run tháo đôi bông tai, máu rỉ ra ở lỗ tai vì tay run quá. "Con... con gửi lại má."

Sáng hôm sau, khi gà chưa gáy sáng, cô dậy sớm hơn mọi bữa ra quét cái sân, nấu nồi cơm để sẵn, rửa hết chén bát, cho heo ăn bữa cuối cùng. Rồi cô gói vài bộ bà ba cũ sờn vai và cái khăn tay thêu dở dang bữa tiễn chồng.

Cô quỳ lạy bàn thờ chồng, rồi lạy ba má chồng ba lạy thật sâu, đầu chạm đất: "Ba má ở lại mạnh giỏi. Con đi."

Má chồng lặng lẽ quay mặt vào vách, thờ ơ không thốt một lời. Ba chồng ngồi bất động ngoài hiên, mắt nhìn theo con sông trước nhà, đỏ hoe và ngấn nước. Căn nhà im phăng phắc, nặng trĩu một nỗi đau không ai đủ sức gọi thành lời.

Lan vừa quay lưng định bước ra khỏi cửa thì bà gọi giật lại: “Khoan đã.”

Giọng bà không còn cứng như lúc nãy. Nó chùng xuống một chút, như sợi dây bị kéo căng quá lâu giờ buông nhẹ. Lan đứng im, hai tay nắm chặt túi vải.

“Cô có tháng chưa? Lần cuối là khi nào? Để coi…thằng Tòng nó đi chuyến cuối là mùng mười tháng năm. Nay là ba mươi tháng bảy…"

Lan sững người. Cô hiểu. Câu hỏi ấy, bình thường là chuyện đàn bà với nhau, nhưng trong hoàn cảnh này, nó như một nhát dao lật ngược, phơi ra nỗi lo sâu kín của bà.

Lan cúi đầu. Một giọt nước mắt rơi xuống đôi dép rách. “Dạ… con có tuần rồi má.”

Bà quay mặt đi, thở ra một cách nhẹ nhõm: “Vậy thì tốt... Thôi, đi đi ”

Lan bước ra khỏi cổng. Con chó mực chạy theo tới bờ tre rồi đứng lại tru lên từng hồi. Ngoài sông, nước lớn đang ròng ròng chảy, như khóc.

Lan không về ngoại cách đó một ngày đường vì sợ tía má buồn. Cô xin ở đậu chái bếp nhà bà Sáu cuối xóm, ai mướn gì làm nấy. Cắt cỏ, cấy mướn, gánh nước, mót lúa. Có bữa đi mót lúa dưới nắng chang chang, cô xỉu ngoài đồng, người ta khiêng vô, chỉ thấy trong túi áo bà ba rách có gói muối hột.

Có người hỏi: "Con có giận nhà chồng không Lan?" Cô nhìn dòng sông, cười héo hắt, cái cười hiền đến tội: "Dạ đâu có. Hồi ảnh còn sống, con được thương. Được làm dâu của má, làm vợ của ảnh mấy năm, vậy là đủ phước cho con rồi. Con đâu dám giận. Con chỉ buồn là mình chưa trọn hiếu với má thôi."

***

Hai mươi năm sau.

Má chồng Lan đã ngoài tám mươi. Nhà sa sút. Hai người con trai lên thành phố làm ăn rồi ở trển luôn. Chồng mất đã mười năm. Nhà cũ chỉ còn bà với mấy gốc cau già xơ xác, mái ngói dột nát.

Một buổi chiều trở gió chướng, bà ra lu nước sau hè múc nước rửa mặt, trượt chân ngã quỵ. Hàng xóm chạy qua đỡ, bà mê man. Khi tỉnh lại miệng cứ gọi hoài một cái tên mà bà đã cố chôn vùi suốt hai mươi năm: "Lan... Lan ơi." vì bà biết lúc này Lan là người gần bà nhất.

Người ta chèo xuồng xuống cuối xóm tìm Lan. Lúc đó Lan đã ngoài bốn mươi, tóc đã lốm đốm bạc, vẫn ở một mình trong chái bếp, vá áo cho trẻ con trong xóm. Nghe nói má chồng bệnh, cô đứng lặng một hồi lâu, rồi vội phủi bùn dưới chân: "Dạ... để con qua với má liền."

Có những tình nghĩa tưởng đã cạn khô như sông mùa hạn tháng tư, nhưng chỉ cần một tiếng gọi là lại đầy ắp như nước sông tháng mười.

Cô bước vào lại căn nhà cũ. Mọi thứ vẫn như ngày cô rời đi nhưng đìu hiu, tan tác hơn. Người đàn bà trên giường tóc bạc trắng hết, da bọc xương, đôi mắt đã mờ đục. Thấy Lan, bà run run đưa tay ra. Hai người đàn bà, một già một trẻ, ôm nhau khóc. Một người khóc vì ân hận muộn màng của cả một đời làm mẹ chồng cay nghiệt. Một người khóc vì cuối cùng, sau hơn hai mươi năm, cũng được gọi lại hai tiếng "Má ơi".

Rồi một đêm cuối mùa gió chướng, gió thổi rít qua vách lá, má chồng trở bệnh nặng. Bà nằm trong vòng tay của cô con dâu út, bàn tay gầy guộc nắm chặt lấy tay Lan không rời.

Bà lần mò dưới gối, lôi ra một cái khăn tay đã ố vàng, run run mở ra. Bên trong có vài món nữ trang, trong đó có đôi bông tai vàng lá và sợi dây chuyền bạc mặt đá xanh năm xưa. Bà đã gói kỹ, giữ kỹ suốt hai mươi năm, vàng đã đổi màu nhưng vẫn còn đó.

Bà dúi vào tay Lan, giọng thều thào, đứt quãng, nước mắt chảy dài trên gò má nhăn nheo:

"Lan… má trả lại cho con. Má ác... má giữ của con bao nhiêu năm nay. Nhiều đêm má thấy thằng Tòng nó về nó đòi...Con ơi xin tha thứ cho má.”

Bà cố gượng dậy. Lan ôm chầm lấy bà, nước mắt cô lúc này mới tuôn nhỏ xuống bàn tay của bà. Cô đẩy món đồ lại, nhét vào tay bà: "Má ơi, con không nhận đâu má. Của má... má cứ giữ."

Bà nói cô không nhận là còn oán hận bà, chết không nhắm mắt được. Cô nhận. Tuy không quan tâm để nhận lại, nhưng không muốn để bà ra đi trong ân hận. Cô muốn bà đi nhẹ nhàng.

Bà Hai nhìn cô hồi lâu, mấp máy môi như muốn nói lời cảm ơn, lời xin lỗi, rồi nhẹ nhàng ra đi trong vòng tay con dâu. Trên khuôn mặt già nua ấy cuối cùng cũng có được sự thanh thản, trút bỏ nợ đời với nước mắt còn đọng ở khóe mi.

Lo tang cho má chồng xong, Lan cắm nén nhang cuối cùng lên bàn thờ còn ấm hơi khói. Cô lẳng lặng quỳ xuống, lạy đủ bốn lạy, không chỉ để tiễn biệt người đã khuất, mà là tháo gỡ cái vòng ân nghĩa gieo neo của một kiếp làm dâu.

Cô gói vài món tư trang ít ỏi vào chiếc túi vải ngả màu thời gian, trong đó có đôi bông tai và sợi dây chuyền. Lan bước ra khỏi khoảng sân ấy lần nữa. Bước chân cô nhẹ tênh, thanh thản.

Cô đi, không mang theo bất cứ thứ gì khác cho riêng mình, bởi bao nhiêu nước mắt, nụ cười và cả tuổi xuân, cô đều đã vắt cạn để trả xong chữ hiếu, vẹn xong chữ tình. Đạo làm người cô giữ trọn, chỉ có bản thân cô là trắng tay, lặng lẽ bước về phía trước trong cô độc, hun hút của một kiếp người.

Sương sớm lạnh phủ mờ con đường làng. Dáng người đàn bà gầy guộc dưới chiếc nón lá bạc màu chìm dần vào những hàng cau lặng gió.


Tim Nguyễn

London 01/08/2026

Buồn Như - Tạ Ký - Trầm Vân

Người Vô Thần Chỉ Tin Vào Khoa Học - Các Nhà Khoa Học Lại Tin Vào Thần Học

Ngày nay, có nhiều người vô Thần, họ chỉ tin vào khoa học thực chứng mà phản đối sự tồn tại của Thần Phật. Tuy nhiên, họ lại không thử nhìn lại rằng, những nhà nghiên cứu khoa học nổi tiếng, những người “cha đẻ của ngành khoa học hiện đại” lại là những người tuyệt đối tin vào Thần.


Hễ  đàm luận đến Thần Phật hoặc Thần học, Phật Pháp, liền có người nói là truyền giảng những điều mê tín, không khoa học. Bộ phận những người này đem cái gọi là “khoa học” đối lập một cách tuyệt đối hóa với Thần học, Phật Pháp, rồi đưa ra một định nghĩa vô trách nhiệm cho bản thân và người khác, cũng từ đây phong bế bản thân mình, không muốn đi ra khỏi bức tường bao quanh để nhận thức trời đất rộng lớn hơn.

Thật ra, những nhà khoa học chân chính sẽ không tùy tiện mà đưa ra kết luận, vũ trụ quan của những khoa học gia chân chính là rộng mở, họ sẽ không dùng “những gì đã biết” có hạn của bản thân để phủ nhận “những điều chưa biết” vô hạn. Những người mang danh “khoa học” tùy tiện đưa ra kết luận, thật ra là những “nhân vật chính trị” bụng dạ khó lường.


Một sự thật không cần phải nghi ngờ là: Mãi cho đến tận bây giờ, khoa học vẫn không thể phủ nhận sự tồn tại của Thần, cũng không thể chứng thực thuyết vô Thần là chân lý tuyệt đối. Trái lại, các nhà khoa học vĩ đại của thời kỳ khoa học phát triển cường thịnh trong lịch sử, bao gồm những người như: Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei, Isaac Newton, James Clerk Maxwell, Albert Einstein, v.v… đều thừa nhận bản thân mình là những tín đồ tuyệt đối tin vào Sáng Thế Chủ, cho rằng thế giới này là kiệt tác của Thần và đang chờ đợi các nhà khoa học đi phát hiện và chứng thực…

Từ trái qua: Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei, Isaac Newton, James Clerk Maxwell, Albert Einstein. (Ảnh: Wikipedia Commons) 

Newton – người được tôn xưng là “cha đẻ của ngành khoa học hiện đại”, vào năm 18 tuổi khi đi vào trường đại học Cambridge đã là một giáo đồ Cơ Đốc thành kính nổi tiếng. Newton thường ghi chép lại lời cầu nguyện của ông trong sách giáo khoa và quyển nhật ký, thậm chí ông đem những tìm tòi nghiên cứu đối với khoa học và lời cầu nguyện đối với Đức Chúa hòa làm một thể. Ông thường ở trong khám phá đối với tín ngưỡng mà nghĩ đến khoa học, trong suy nghĩ tìm tòi đối với khoa học mà nghĩ đến tín ngưỡng.

Vậy nên ông Manuel, giáo sư khoa lịch sử của trường đại học New York trong quyển sách “Newton truyện” của mình đều nói, “khoa học cận đại là bắt nguồn từ mặc tưởng của Newton đối với Thượng Đế”. Newton trước sau tin chắc rằng: “Thần mới chính là chủ nhân thật sự sang tạo nên hệ Mặt Trời vô cùng tinh xảo này”.

(Ảnh: Pixabay/Wikipedia Commons)


Trên thực tế, Newton đã là một nhà khoa học vĩ đại, đồng thời lại vừa là một nhà Thần học thành kính và có kiến giải đặc biệt. Ông một đời đi trong hai điện đường lớn giữa khoa học và Thần học, vừa nghiên cứu khoa học, vừa nghiên cứu Thần học, trước sau chưa từng cảm thấy giữa hai bên có chỗ nào mâu thuẫn lẫn nhau.

Newton tin chắc rằng trong Thánh Kinh có mật mã, thế là đã dùng hết thời gian hơn nửa đời người (gần 50 năm) để chuyên tâm nghiên cứu Thánh Kinh, và đã viết ra cuốn bản thảo nghiên cứu hơn một triệu chữ, mãi đến lúc lâm chung vẫn đang cần mẫn tìm tòi nghiên cứu. Newton thậm chí cho rằng “mật mã Thánh kinh” còn quan trọng hơn cả “lực vạn vật hấp dẫn” – thành quả khoa học mà ông đã từng công bố!

Còn Albert Einstein, nhà khoa học vĩ đại nhất thời cận đại được cả thế giới công nhận, lại nhìn nhận khoa học, Thần học và Phật học như thế nào? Trong một lần phỏng vấn, Einstein nói: “Có người cho rằng tôn giáo không phù hợp với khoa học. Tôi là một người nghiên cứu khoa học, tôi biết sâu sắc rằng, khoa học của hôm nay chỉ có thể chứng minh sự tồn tại của một vật thể nào đó, chứ không thể phán định nó là có tồn tại hay không”.

(Ảnh: Wikipedia Commons) 

Einstein đưa ra ví dụ thêm một bước nữa, nói rằng: 

“Ví như nếu như vào mấy nghìn năm trước, chúng ta chưa thể chứng minh sự tồn tại của hạt nhân nguyên tử, nếu như lúc đó chúng ta tùy tiện kết luận rằng hạt nhân nguyên tử không tồn tại, và hôm nay đã khám phá ra, nếu vậy không phải chúng ta đã phạm phải một sai lầm to lớn rồi hay sao?”.

Sau cuộc trò chuyện, Einstein khẳng định rằng ông tin vào “Thần”: “Vì vậy, khoa học hôm nay không thể chứng minh được sự tồn tại của Thần, là bởi khoa học vẫn còn chưa có phát triển đến trình độ đó, chứ không phải là Thần không tồn tại”. Còn khi Einstein nghiên cứu kinh Phật, càng cảm khái từ tận đáy lòng mà thốt lên rằng: “Sau này nếu như có điều gì có thể thay thế được khoa học, thì đó chính là chỉ có Phật Pháp”.

Hai nhân vật của giới khoa học nổi tiếng khắp thế giới trên, trong lĩnh vực vật lý học hiện đại mãi cho đến nay vẫn không người nào có thể thay thế được địa vị “Thần thánh” của họ. Vậy nên quan điểm và thái độ của họ đối với khoa học,Thần học và Phật Pháp, thì đối với những người theo “thuyết vô thần” hôm nay chỉ tin vào cái gọi là “khoa học” kia mà nói, đây chẳng phải là khải thị tốt nhất và uy tín nhất hay sao?

Tiến sỹ Harriet Zuckerman. (Ảnh: The Scientist)

Theo thống kê trong một cuốn sách có tên “Những thiên tài trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật” xuất bản năm 1977 của tiến sĩ Harriet Zuckerman, giảng viên của trường đại học Columbia: Từ năm 1901 sau khi thành lập giải Nobel đến nay, trong số 286 nhà khoa học giành được giải Nobel trong lĩnh vực này, có 92% người đoạt giải là tin vào Thần (73% người đoạt giải trong đó là tín đồ Cơ Đốc giáo; 19% là tín đồ Do Thái giáo). 

Lại dựa theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, gần 3 thế kỷ trở lại đây, trong số 300 nhà khoa học kiệt xuất trên khắp thế giới, có 242 người xác định rõ bản thân là tin vào Thần, còn những người không tin vào Thần thì chỉ có 20 người. Thậm chí 10 nhà khoa học nổi tiếng nhất trên thế giới, trong đó bao gồm: bậc thầy phát minh Thomas Edison, nhà sáng lập vi trùng học Louis Pasteur, nhà phát thuyết bị truyền tin vô tuyến Guglielmo Marconi, Samuel Morse – người phát minh ra tín hiệu Morse, Erwin Schrödinger – người đặt nền tảng cho lý thuyết cơ học lượng tử, cho đến hai là khoa học nổi tiếng thế giới là Isaac Newton và Albert Einstein mà mọi người đều quen thuộc, toàn bộ đều là những người tin vào Thần.


Từ những căn cứ và con số ở trên có thể thấy được rằng, những nhân vật đại biểu kiệt xuất mở đường cho trào lưu khoa học hiện đại, cho đến rất nhiều khoa học gia nổi tiếng khác, tuyệt đại đa số đều là những người có tín ngưỡng vào tôn giáo. Từ đây cũng đã chứng minh được nghiên cứu khoa học và tín ngưỡng đối với Thần, giữa hai điều này vốn không có gì mâu thuẫn với nhau, và tín ngưỡng đối với Thần không phải là là “mê tín”.

Còn điều khiến người ta không thể hiểu nổi và lại cảm thấy tức cười hơn cả là ở đất nước Trung Quốc, nơi mà “Thuyết vô Thần” được tuyên dương, ở khắp các ngõ ngách trên cả nước đều là khẩu hiệu quảng cáo đánh trống reo hò cho cái gọi là “sùng bái khoa học, phản đối mê tín”; suốt mấy chục năm nay chính quyền Trung Quốc luôn gắng sức nhồi nhét, tuyên dương khoa học “vô Thần luận”.

Vậy mà một quốc gia đông dân nhất thế giới với khoảng 1,4 tỷ người dân như vậy mãi cho đến tận hôm nay vẫn vỏn vẹn có một người giành được giải Nobel trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật này.

(Ảnh: Wikipedia Commons) 

Những sự thật không thể bác bỏ này, lẽ nào còn không đủ để cho những người đã quên mất văn hóa truyền thống của tổ tiên mình, và một mực theo đuổi cái gọi là “tôn sùng khoa học” phải suy nghĩ và phản tỉnh sâu sắc hay sao?

(Ảnh: Wikipedia Commons) 

Lịch sử cũng đã chứng minh, khoa học vốn không phải là vạn năng. Sự không hoàn thiện và tính giới hạn của bản thân khoa học mang đến những nguy cơ nghiêm trọng cho con người ngày nay. Điều này đã khiến cho rất nhiều nhà khoa học nhìn xa trông rộng và những người hiểu biết lo lắng không yên, đồng thời rõ ràng ý thức được rằng:

Khoa học vốn không thể đem đến một tương lai tốt đẹp cho nhân loại; khoa học chỉ là một trong những con đường và biện pháp mà con người tìm kiếm chân tướng của vũ trụ, tìm kiếm phát hiện chân lý mà thôi, chứ không phải là tất cả; càng không phải là bản thân chân lý, nó vốn không thể đại biểu cho chân lý được.

Khoa học trong quá trình phát triển cũng đã không ngừng kiểm chứng, chỉnh lại những sai sót và thành kiến trước đây. Tuy nhiên sự phá hủy về thể hệ đạo đức và môi trường sinh thái mà nó mang đến cho nhân loại hôm nay, lại là điều mà bản thân khoa học căn bản không thể kiểm soát và giải quyết được. Bởi vậy cũng càng hiện lộ ra những chỗ thiếu sót mà bản thân khoa học cố hữu.

(Ảnh: Pixabay/Shutterstock/Đại Kỷ Nguyên minh hoạ) 

Đối diện với hậu quả nghiêm trọng mà khoa học mang đến, đã đủ để khiến cho nhiều nhà khoa học hiện nay và người đời dần dần thức tỉnh và ý thức được rằng: Cần phải giải quyết nguy cơ mà con người ngày nay đang phải đối mặt từ căn bản. Lối thoát duy nhất là, chỉ có gây dựng lại tín ngưỡng đạo đức của con người. Và chìa khóa mở ra cánh cửa hy vọng tương lai của nhân loại là ở đâu đây?

Ngày nay, chẳng phải có rất nhiều nhà khoa học nhìn xa trông rộng đã chỉ ra rằng phát triển khoa học trong tương lai của nhân loại chính là Thần học sao? Và những nhà khoa học vĩ đại như Newton, Einstein chẳng phải từ sớm đã nhận thức được rằng: Thần học, Phật học mới là “khoa học” siêu thường chân chính hay sao? Đây là điều tất cả chúng ta cũng phải suy nghĩ.


Theo Tinhhoa

Ảnh bìa: Adobe Stock/Wikipedia Commons/Đại Kỷ Nguyên minh hoạ

Thiết kế: Tự Minh

7 Quốc Gia Nhỏ Bé Nhất Thế Giới Nhưng Sở Hữu Những Kỳ Quan Lớn

 

Không phải những quốc gia với diện tích rộng lớn mới sở hữu nhiều kỳ quan thu hút du lịch, những quốc gia dưới đây tuy rất nhỏ bé nhưng vẫn giữ được sự quyến rũ khó chối từ của mình.

Nhiều quốc gia tuy không nằm ở những vùng xa xôi hẻo lánh, nhưng có thể bạn chưa bao giờ nghe đến tên của chúng, hoặc bởi vì chúng quá nhỏ bé, hoặc vì chúng bị vây xung quanh bởi những đất nước khổng lồ. Mời bạn hãy cùng đến với những gã tí hon trên bản đồ địa lý thế giới, nhưng vẫn hút một lượng khách du lịch khổng lồ từ những điều đặc biệt của mình.

Vài quốc gia là những vùng thuộc địa cũ đã đấu tranh giành được độc lập, một số khu vực từng rạng danh trong thế giới cổ đại bởi những vị hoàng đế oai phong lẫm liệt của mình, những đất nước khác thì sở hữu những quả ngọt được mẹ thiên nhiên ưu ái ban tặng.

San Marino

Tòa tháp trên đỉnh Guaita là tòa tháp cổ nhất trong số ba tòa tháp của San Marino.
Tòa tháp trên đỉnh Guaita là tòa tháp cổ nhất trong số ba tòa tháp của San Marino. (Ảnh: Leonid Andronov/Shutterstock)
.

Đất nước nhỏ bé xưng nền cộng hòa từ năm 1599, được bao xung quanh bởi xứ sở Italy nức tiếng. Tuy San Marino với diện tích chỉ hơn 62 km vuông cùng dân số vỏn vẹn 33.000 người, nhưng nó sở hữu cảnh quan thiên nhiên đẹp đến nao lòng.

Không chỉ núi rừng hùng vĩ, quốc gia này bảo tồn rất tốt những tòa lâu đài cổ từ thời Trung Cổ và thời Phục Hưng. Những tòa thành sừng sững tọa lạc giữa những khu rừng tĩnh mịch, những câu chuyện huyền thoại được truyền lại về những cánh rừng và tòa lâu đài, tất cả tạo nên sức hấp dẫn không thể chối từ cho du khách khi đến đây.

Trong thực tế, nguồn thu chính của San Marino là từ du lịch. Quốc gia này là điểm sáng du lịch ở khu vực nam Châu Âu. Thủ đô của San Marino là thành phố cùng tên, nằm trong tour du lịch khi du khách ghé qua tham quan nước Ý.

Lesotho

Lesotho nổi tiếng với các thung lũng hẹp và những dãy núi cao.
Lesotho nổi tiếng với các thung lũng hẹp và những dãy núi cao. (Ảnh: Faer Out/Shutterstock).

Có thể bạn chưa bao giờ nghe về quốc gia này, cũng như tên gọi Vương quốc Bầu trời của nó. Lesotho nằm gọn trong lòng nước Nam Phi, điểm thấp nhất ở đây cũng cao hơn mực nước biển đến 804 mét khiến nó mang biệt danh như vậy.

Với diện tích 30.350km vuông, nơi này sẽ được bao phủ hoàn toàn bởi tuyết vào mùa đông và hoạt động du lịch chính ở đây là trượt tuyết hay cưỡi ngựa. Lesotho là nơi tốt nhất ở cả Châu Phi cho hoạt động nghỉ dưỡng mùa đông.

Lịch sử thăng trầm của Lesotho cũng là một điểm thu hút du khách. Quốc gia này từng là nước bảo hộ của Vương quốc Anh, vua của Lesotho lúc đó cần một quốc gia lớn mạnh bảo trợ nhằm tránh bị Nam Phi nuốt chửng do vị trí địa lý đặc thù. Quan hệ ngoại giao của Lesotho với Nam Phi là một chương thú vị trong lịch sử thế kỷ 20.

Brunei

Vương quốc Brunei tuy nhỏ bé nhưng vô cùng thịnh vượng.
Vương quốc Brunei tuy nhỏ bé nhưng vô cùng thịnh vượng. (Ảnh: Nicram Sabod/Shutterstock).

Nằm gọn trên đảo Borneo của Malaysia, vương quốc Brunei tuy với diện tích chỉ 5.765 km vuông nhưng có vị trí chiến lược quan trọng và trở thành một hải cảng lớn trên tuyến đường biển quốc tế. Ngoài khối lượng dầu mỏ dồi dào, nguồn thu đến từ hoạt động cảng biển khiến Brunei nhanh chóng trở thành một quốc gia thịnh vượng.

Vương quốc Brunei được cai trị bởi một gia đình hoàng gia trong suốt 600 năm qua. Các hoạt động kinh tế vĩ mô chủ yếu hoạt động ở cảng và ngoài khơi, khiến phần đất liền của quốc gia này vẫn giữ được vẻ nguyên sơ vốn có, thúc đẩy du lịch sinh thái phát triển. Những ngôi làng nhỏ xen lẫn những nhà thờ Hồi Giáo và chùa Phật Giáo khiến du khách không thể bỏ qua sức hấp dẫn này.

Liechtenstein

Sau hơn 300 năm với bao nhiêu biến cố lịch sử, đường biên giới của Liechtenstein vẫn không thay đổi.
Sau hơn 300 năm với bao nhiêu biến cố lịch sử, đường biên giới của Liechtenstein vẫn không thay đổi. (Ảnh: Boris Stroujko/Shutterstock).

Công quốc Liechtenstein là một quốc gia nói tiếng Đức, xuất hiện như một dấu chấm trên bản đồ giữa Áo và Thụy Sĩ. Được biết đến với phong cảnh sơn thủy tráng lệ, những ngôi làng cũ xưa mang kiến trúc cổ điển nằm trên những ngọn núi cao chót vót, những khu nghỉ dưỡng và khu trượt tuyết hiện đại, khiến đất nước này sở hữu lượng khách du lịch ổn định trong cả năm.

Vì mối quan hệ chính trị và kinh tế mạnh mẽ với Thụy Sĩ, Liechtenstein sử dụng đồng franc Thụy Sĩ làm tiền tệ. Được thành lập vào thế kỷ 18, Liechtenstein là tàn dư cuối cùng của Đế chế La Mã thần thánh, nơi những người cai trị từng kiểm soát phần lớn Trung Âu và Đông Âu.

Luxembourg

Dân số của Luxembourg chủ yếu tập trung ở Luxembourg City.
Dân số của Luxembourg chủ yếu tập trung ở Luxembourg City. (Ảnh: Boris Stroujko/Shutterstock).

Hãy cùng đến một vương quốc nhỏ khác ở Châu Âu - Luxembourg - nằm giữa Pháp, Đức và Bỉ. Đây là một đất nước của những lâu đài giống như trong truyện cổ tích và những ngôi làng nhỏ đầy thơ mộng. Dân cư chủ yếu sống ở khu vực nông thôn, thủ đô Luxembourg và trung tâm du lịch Echternach.

Du khách tìm kiếm phong cảnh thiên nhiên như thung lũng có rừng già và các cao nguyên tuyệt đẹp sẽ bị hút hồn bởi nơi này, trong khi đó, các thị trấn mang nét lãng mạn như trong những câu chuyện cổ tích sẽ thu hút các gia đình có trẻ nhỏ.

Nhờ tài chính, công nghệ và công nghiệp thép phát triển mạnh, Luxembourg là một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới. Dân số vào khoảng 600.000 người và nói rất nhiều ngôn ngữ, họ cùng nhau sống trong vùng đất rộng chỉ 2.590 km vuông.

Monaco

Monte Carlo được biết đến với sự quyến rũ về sòng bạc và ăn chơi.
Monte Carlo được biết đến với sự quyến rũ về sòng bạc và ăn chơi.

Tọa lạc ở bờ biển Côte d’Azur vùng Địa Trung Hải của Pháp và chỉ cách vài cây số đến biên giới Ý, Monaco là quốc gia độc lập nhỏ thứ hai trên Trái Đất và là quốc gia nhỏ bé nổi tiếng nhất thế giới. Không giống những quốc gia nhỏ bé khác kể ở trên, Monaco là một quốc gia với những đô thị lớn với dân số hơn 30.000 người cùng mật độ dân số 39.035 người/km vuông.

Khu vực trung tâm của nó, Monte Carlo, nổi tiếng với văn hóa xe thể thao, các sòng bạc hào nhoáng và những khách sạn đẳng cấp, trong khi khu phố cổ có các chợ truyền thống cùng những quán thức ăn đường phố trên những con đường chật hẹp quyến rũ.

Chưa hết, công quốc Moncaco là vùng đất mơ ước của những người yêu kiến trúc, với các tòa nhà cổ điển và nguy nga ở khắp mọi nơi. Các bảo tàng, phòng trưng bày nghệ thuật (gồm cả Phòng trưng bày Marlborough nổi tiếng) và Bảo tàng Hải dương học Thủy cung Jacques Cousteau cũng nằm trong tour tham quan của du khách.

Thành Vatican

Là nơi đặt Tòa Thánh của Giáo hội Công Giáo Roma, Vatican là một điểm du lịch nổi tiếng dù vô cùng nhỏ bé.
Là nơi đặt Tòa Thánh của Giáo hội Công Giáo Roma, Vatican là một điểm du lịch nổi tiếng dù vô cùng nhỏ bé.

Được bao quanh bởi Rome, Thành Vatican là quốc gia có chủ quyền nhỏ nhất thế giới với diện tích chỉ 0,45 km vuông. Đây là một trong những quốc gia giàu sức hấp dẫn nhất trong danh sách này, nơi có các bảo tàng, phòng trưng bày nghệ thuật, vườn thượng uyển và một số công trình tôn giáo nổi tiếng nhất thế giới.

Nhà thờ thánh Peter và nhiều tòa nhà với bề dày lịch sử tập trung đông đủ ở quảng trường cùng tên, nơi đây thu hút rất đông du khách trong các dịp lễ hội tôn giáo và sự xuất hiện của Đức Giáo Hoàng.

Điểm nổi bật thực sự đối với nhiều du khách là Bảo tàng Vatican, nơi có Nhà nguyện Sistine chứa đựng các tác phẩm của các nghệ sĩ thời Phục Hưng nổi tiếng nhất, cũng như bộ sưu tập các hiện vật Kitô Giáo thời kỳ đầu vào hàng ngàn năm trước.


Sưu tầm

Tuesday, August 4, 2026

Võ Lâm Ngũ Bá - Hoa Kỳ Sơn Luận Kiếm - Vô Danh



Nói về võ lâm Hoa Kỳ 10 năm trở lại đây, sóng gió nổi lên bốn bề, quần hùng tụ hội, cao thủ như mây. Nguyên lai trong thiên hạ có một bộ chân kinh, tên gọi Cửu Âm Chân Kinh MAGA, tương truyền ai luyện được thì hô một tiếng bốn phương hưởng ứng, phất một cái là mấy chục triệu hào kiệt kéo về. Bao nhiêu bang phái lớn nhỏ, bao nhiêu danh môn chính phái, hết thảy đều nhòm ngó bộ kinh ấy. Kẻ muốn cướp, người muốn giành, lại có kẻ muốn đốt bỏ cho khuất mắt — mà rốt cuộc chẳng ai đụng được tới một trang.
Vì sao vậy? Vì bộ kinh ấy đã nằm trong tay một lão già.

TRUNG NGOAN ĐỒNG — TRUMP BÁ THÔNG
Chư vị bằng hữu hẳn còn nhớ, trong Xạ Điêu Anh Hùng Truyện, kỳ Hoa Sơn luận kiếm thứ nhất, người đoạt ngôi Trung Thần Thông là Vương Trùng Dương, đường đường chính chính, quần hùng tâm phục khẩu phục. Nhưng sang tới Thần Điêu Hiệp Lữ, kỳ luận kiếm thứ hai trên đỉnh Hoa Sơn, kẻ ngồi vào ghế chính giữa lại chẳng phải một bậc chính nhân quân tử mặt lạnh như tiền, mà là một lão già tóc bạc phơ, vừa cười hì hì vừa nhảy nhót — Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông. Người đời gọi lão là Trung Ngoan Đồng.

Cái tên nghe qua thì buồn cười, nhưng ngẫm kỹ thì rất thâm thuý . Trong Ngũ Tuyệt, lão là kẻ duy nhất không màng danh vị, không giữ thể diện, không theo phép tắc, ăn nói bừa bãi, thích chọc phá thiên hạ — thế mà rốt cuộc lão ngồi giữa, còn bốn vị kia ngồi bốn góc.
Nay đem chuyện ấy mà đặt lên đất Hoa Thịnh Đốn, ta có Lão Ngoan Đồng Trump Bá Thông.

Bản lãnh của lão có ba điều đáng sợ.

Điều thứ nhất: lão nắm trong tay Cửu Âm Chân Kinh MAGA mà chẳng cần luyện. Chu Bá Thông năm xưa hứa với sư huynh là không luyện Cửu Âm, nên lão chỉ học thuộc lòng chứ không luyện — vậy mà chữ nào cũng thấm vào xương tủy. Trump Bá Thông cũng thế: lão chẳng đọc sách vở lý thuyết bảo thủ nào, chẳng qua trường lớp tư tưởng nào, thế mà mở miệng ra là trúng ngay tâm can mấy chục triệu người.

Điều thứ hai: lão sở hữu Song Thủ Hỗ Bác — phép đánh hai tay tự đấu với nhau, một người hóa thành hai, công lực tăng gấp bội. Trump Bá Thông vừa là kẻ ngồi trong Tòa Bạch Ốc vừa là kẻ đứng ngoài chửi Tòa Bạch Ốc; vừa là đương kim quyền lực vừa là nạn nhân bị vùi dập; tay trái ký sắc lệnh, tay phải đập bàn tố cáo chính cái bộ máy mình đang đứng đầu. Người thường xem thì thấy mâu thuẫn — kẻ trong nghề thì biết đó là tuyệt học.

Điều thứ ba, và là điều then chốt nhất: Kim Dung tiên sinh đã viết rõ, Song Thủ Hỗ Bác chỉ kẻ nào tâm địa đơn thuần mới học nổi. Quách Tĩnh khờ khạo nên học được. Hoàng Dung thông minh tuyệt đỉnh, nghĩ tới nghĩ lui, rốt cuộc học hoài không xong.

ĐÔNG TÀ — RON DESANTIS, chủ nhân Đào Hoa Đảo Florida
Hoàng Dược Sư ngự trên Đào Hoa Đảo giữa biển Đông, bày trận Ngũ Hành kỳ môn độn giáp, khách tới đảo mà không có người dẫn thì lạc chết trong rừng đào. Lão thông kim bác cổ: cầm kỳ thi họa, y bốc tinh tượng, kinh sử bách gia, nông điền thủy lợi — môn nào cũng tinh, môn nào cũng đạt tới bậc thầy. Trong Ngũ Tuyệt, luận về học vấn thì lão đứng đầu, không ai bì kịp.
Chữ “Tà” trong biệt hiệu chẳng phải chữ ác. Ấy là vì lão khinh miệt lễ giáo, coi thường cái đám hủ nho ở trung nguyên, ai đặt ra quy củ thì lão phá quy củ.

Ron DeSantis ngồi trên bán đảo Florida chìa ra Đại Tây Dương — đúng là phương Đông của Hoa Kỳ. Trong tay hắn, Florida hóa thành một Đào Hoa Đảo riêng biệt, luật lệ riêng, trận pháp riêng, ngược hẳn với quy củ của Hoa Thịnh Đốn.
Còn học vấn? Viện Đại Học Yale, tốt nghiệp hạng magna cum laude. Trường Luật Harvard, hạng cum laude. Trong tứ đại cao thủ, đây là bảng vàng sáng chói nhất, chẳng ai sánh nổi.
Nhưng bằng hữu ạ — Hoàng Dược Sư học rộng nhường ấy, tài cao nhường ấy, kiêu ngạo nhường ấy, mà kỳ Hoa Sơn luận kiếm thứ nhất, lão có thắng được Vương Trùng Dương chăng?
Không.
Năm Giáp Thìn, Đông Tà DeSantis từ Đào Hoa Đảo dong thuyền ra khơi, hùng hổ lên Hoa Sơn tranh ngôi. Đánh chưa được bao lâu thì thu chưởng, cúi đầu, quay thuyền về đảo.

TÂY ĐỘC — JD VANCE, chủ nhân Bạch Đà Sơn Ohio
Âu Dương Phong ở Bạch Đà Sơn nơi Tây Vực, nuôi rắn độc, luyện Hàm Mô Công, tính tình âm trầm. Chữ “Độc” cũng chưa hẳn là ác — ấy là lối đi ngược đời.
Bản lãnh ghê gớm nhất của lão là nghịch luyện Cửu Âm Chân Kinh. Lão bị Hoàng Dung lừa cho một bản kinh chép ngược, kinh mạch đảo lộn, đầu óc điên đảo — vậy mà khi lên Hoa Sơn lần thứ hai, lão đảo ngược cả người, chân chổng lên trời, đánh bại hết thảy quần hùng, đoạt ngôi thiên hạ đệ nhất.

JD Vance năm xưa từng là kẻ mạt sát Trump gay gắt nhất trong đám sĩ phu bảo thủ. Chữ nghĩa đanh thép, lý luận sắc bén, chê bai không tiếc lời. Rồi một ngày, hắn đảo ngược toàn bộ kinh mạch. Chân chổng lên trời, tay chống xuống đất — và bước thẳng vào ghế Phó Tổng Thống.
Đó chẳng phải nghịch luyện Cửu Âm thì là gì?

Học vấn của Tây Độc cũng đâu phải tầm thường: Viện Đại Học Tiểu Bang Ohio, hạng summa cum laude — hạng cao nhất. Rồi Trường Luật Yale. Xếp thứ nhì trong tứ đại.
Lại nói, trong Ngũ Tuyệt, kẻ khao khát ngôi Võ Lâm Chí Tôn ráo riết nhất, ăn không ngon ngủ không yên vì hai chữ “đệ nhất”, chính là Tây Độc. Mà kỳ Hoa Sơn luận kiếm kế tiếp thì đã gần lắm rồi — chỉ còn hai năm nữa.

NAM ĐẾ — MARCO RUBIO, hậu duệ Đại Lý quốc
Đoàn Trí Hưng làm hoàng đế nước Đại Lý — một tiểu quốc ở tận phương Nam, đất hẹp người thưa, kẹt giữa các cường quốc, đời đời phải khéo léo mà giữ mình. Tuyệt học của ngài là Nhất Dương Chỉ, môn công phu vừa đả thương được người, vừa cứu sống được người. Về sau ngài rũ áo long bào, khoác cà sa, thành Nhất Đăng đại sư.

Marco Rubio sinh tại Miami, cha mẹ là người Cuba vượt biển — phương Nam của Hoa Kỳ, mà lại là phương Nam đúng nghĩa: một hòn đảo nhỏ, một tiểu quốc, một dân tộc lưu vong mang theo ký ức về quê hương đã mất.

Nay Rubio ngồi ghế Ngoại Trưởng — cái ghế mà việc chính là dùng lời lẽ để chữa những vết thương giữa các quốc gia. Đúng là Nhất Dương Chỉ. Phong thái ôn hòa, giọng nói chừng mực, chẳng bao giờ gầm thét.
Về học vấn: Viện Đại Học Florida rồi Trường Luật Miami. So với Yale–Harvard của Đông Tà, so với summa cum laude và Yale Law của Tây Độc, thì bảng vàng của Nam Đế nhạt hơn cả — xếp chót trong bốn người.
Nhưng bằng hữu thử nghĩ mà xem: Đoàn Trí Hưng có cần bảng vàng nào chăng? Ngài là hoàng đế. Cái uy của ngài không đến từ trường ốc.
Vả lại, trong Ngũ Tuyệt, Nam Đế là kẻ duy nhất tự tay buông ngôi báu. Năm Bính Thân, Rubio từng lên Hoa Sơn tranh ngôi với Trump Bá Thông, bị đánh cho tơi tả, thua thảm ngay trên sân nhà Florida. Rồi hắn cởi giáp, cúi đầu, đi theo phò tá kẻ đã đánh bại mình.
Kẻ tầm thường gọi đó là hèn. Kim Dung tiên sinh thì gọi đó là xuất gia.

BẮC CÁI — PETE HEGSETH, Bang chủ Cái Bang Minnesota
Hồng Thất Công thống lãnh Cái Bang — bang hội đông người nhất thiên hạ, gồm toàn hạng cùng đinh áo rách, chẳng có ai quyền quý. Lão ăn to nói lớn, mê rượu mê thịt, tính tình bộc trực, ghét nhất là bọn quanh co chữ nghĩa. Tuyệt học của lão là Giáng Long Thập Bát Chưởng — mười tám chưởng đường đường chính chính, chẳng có nửa phần xảo diệu, cứ thế mà bổ xuống.

Pete Hegseth sinh tại Minneapolis, tiểu bang Minnesota, giáp biên Gia Nã Đại — phương Bắc chính hiệu, xứ tuyết phủ quanh năm. Xuất thân lính chiến, từng ra trận Iraq và A Phú Hãn. Chỗ dựa của hắn chẳng phải hàng tướng lãnh đeo đầy sao trên vai, mà là đám lính trơn hàng dưới — đúng là Cái Bang.
Ấy thế mà — chao ôi! — bằng hữu có biết cái lão Bắc Cái này học ở đâu ra chăng?
Viện Đại Học Princeton. Rồi Trường Kennedy của Viện Đại Học Harvard, bằng Cao Học Chính Sách Công.
Ghê gớm thay! Té ra Bang chủ Cái Bang, kẻ chửi bới đám tinh hoa trường ốc hăng nhất trong bốn người, lại giắt trong bị hai tấm bằng thuộc hàng danh giá bậc nhất thiên hạ. Xếp hạng ba trong tứ đại.
Người trong võ lâm gọi đó là giấu vàng trong bị rách.

Có bằng hữu đọc tới đây ắt đứng dậy vặn hỏi: “Ohio thì tây cái nỗi gì? Florida với Miami chẳng phải cùng một phương nam cả sao?”
Xin thưa: giang hồ là chuyện của khí chất, chẳng phải chuyện của địa bàn. Bạch Đà Sơn ở Tây Vực đâu phải vì nó nằm bên trái bản đồ, mà vì cái lối luyện công ngược đời của chủ nhân nó. Đại Lý ở phương Nam đâu phải vì vĩ độ, mà vì cái phận nhược tiểu và cái tâm từ bi của bậc quân vương. Chư vị chớ tra bản đồ mà hãy tra tâm địa.


Xin trở lại câu Kim Dung tiên sinh đã viết: Song Thủ Hỗ Bác chỉ kẻ tâm địa đơn thuần mới học nổi. Hoàng Dung thông minh quá nên học mãi không xong.
Đông Tà Yale–Harvard. Tây Độc summa cum laude. Bắc Cái Princeton–Kennedy. Nam Đế cử nhân luật. Bốn vị đều thông minh, đều lắm chữ, đều biết nghĩ tới nghĩ lui, biết cân nhắc lợi hại, biết đắn đo được mất.
Chính vì thế mà chẳng vị nào học nổi Song Thủ Hỗ Bác.
Còn Lão Ngoan Đồng thì cứ hai tay đánh nhau chan chát, cười hì hì, chẳng nghĩ ngợi gì sất.

Kỳ Hoa Sơn luận kiếm lần tới đã gần kề. Bốn phương đều đã mài kiếm. Nhưng chừng nào lão già tóc vàng còn ngồi giữa mà cười, thì bốn vị kia vẫn cứ là bốn góc — dù trong tay có cầm bao nhiêu tấm bằng đi nữa.
Muốn biết sự thể ra sao, xin xem hồi sau phân giải


Người Em Gái Hà Thành - Nguyễn Duy Phước

Giấc Mơ Mỹ - Trương Hữu Hiền


Trương Hữu Hiền, sinh năm 1958, quê quán Quảng Nam. Theo học bậc tiểu học và trung học tại Đà Nẵng, đại học tại Sài Gòn. Năm 1980, vượt biển và được tàu cứu vớt đưa đến trại tị nạn Okinawa, Nhật Bản. Từ 1983 đến 2000 sống ở Tokyo. Năm 2000 cùng gia đình chuyển sang sống ở Boston, bang Massachusetts (Hoa Kỳ). Hiện làm việc tại trung tâm phục hồi chức năng cho người bị chấn thương não. Tác giả mới tham dự chương trình VVNM từ tháng 12/2025. Trong một chuyến đi New York, tác giả viếng thăm tượng Nữ thần Tự Do, biếu tương của đất nước Hoa Kỳ, của “Giấc Mơ Mỹ” mà biết bao người di dân ôm ấp và cố thực hiện. Bài viết sau đây đã ghi lại những suy nghĩ chân thành, đáng quý ấy của tác giả Trương Hữu Hiền.

***

Lời tác giả: Dạo gần đây, những câu chuyện về di dân trên xứ Cờ hoa lại dày đặc trên các phương tiện truyền thông. Người ta nói nhiều về những dòng người đi tìm cơ hội, về chính sách, những tranh cãi, và cả một khái niệm đã trở nên quen thuộc: “Giấc mơ Mỹ”.

Giữa những điều ấy, tôi chợt nhớ đến một chuyến đi New York, và muốn viết lại như một kỷ niệm. Một chuyến đi tưởng chừng rất bình thường, chỉ là ghé thăm một người bạn cũ, nhưng rồi lại mở ra trong tôi nhiều suy ngẫm hơn tôi từng nghĩ.

****

Buổi sáng, chúng tôi rời bến Liberty State Park trên chuyến phà băng qua cửa sông Hudson - nơi dòng nước hòa vào vịnh New York trước khi đổ vào Đại Tây Dương. Trời lất phất mưa, một làn sương mỏng phủ lên không gian phía trước. Từ trong làn sương ấy, bức Tượng Nữ thần Tự do dần hiện ra, mỗi lúc một rõ, một gần hơn. Tôi ngước nhìn ngọn đuốc giơ cao giữa nền trời xám, lòng chợt chùng xuống trong một cảm giác bồi hồi khó tả. Dường như, tôi đang chạm vào một biểu tượng sống động của tự do. Và trong khoảnh khắc ấy, tâm trí tôi bất giác quay ngược về những câu chuyện của những con người đã từng đi qua nơi này.


Có lẽ, câu chuyện nên bắt đầu từ hình ảnh cậu bé Vito Corleone, nhân vật chính thời thơ ấu trong phim The Godfather Part II. Vito đứng lặng yên trong khu cách ly của Ellis Island, ánh mắt hướng ra khung cửa sổ. Ngoài kia, Tượng Nữ thần Tự do sừng sững giữa bầu trời New York. Đó là một phân cảnh luôn gợi lại trong tôi những cảm xúc sâu đậm mỗi lần xem lại. 

Ở tuổi ấy, cậu chưa thể hiểu hết ý nghĩa của bức tượng, cũng không biết vì sao nó lại đứng đó, ngay nơi cửa ngõ của một thế giới mới. Nhưng với hàng triệu di dân đi từ Âu châu cùng thời, khoảnh khắc ấy luôn chất chứa một cảm xúc đặc biệt, vừa hân hoan, vừa nghẹn ngào. Đó là dấu mốc cho thấy hành trình vượt đại dương đã chạm đến bến bờ; rằng họ đã đặt chân vào một phần của “Giấc mơ Mỹ”, giấc mơ về một cuộc đời khác, một cơ hội để bắt đầu lại.

Câu chuyện hư cấu trong The Godfather Part II đôi khi khiến người xem dễ hình thành một cái nhìn phiến diện về cộng đồng người gốc Ý, như thể họ gắn liền với thế giới mafia. Nhưng thực tế không phải vậy. Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, một làn sóng lớn người Ý đã vượt Đại Tây Dương để đến Hoa Kỳ. Phần lớn, lý do họ rời bỏ quê hương vì cuộc sống nghèo đói, xã hội bất ổn và thiếu cơ hội. Họ mang theo một giấc mộng giản dị là tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn.


Nhưng câu chuyện di dân của nước Mỹ không chỉ dừng lại ở người Ý. Từ châu Âu, châu Á đến châu Mỹ Latin, những dòng người khác nhau đã cùng hội tụ nơi đây, tạo nên một xã hội đa sắc tộc. Hoa Kỳ thường được ví như một “melting pot”, một nồi lẩu văn hóa; nơi những khác biệt không hoàn toàn bị xóa nhòa, mà dần hòa quyện, va chạm và thích nghi. Mỗi cộng đồng mang theo một lịch sử riêng, nhưng cùng góp phần viết nên câu chuyện chung của một quốc gia được xây dựng bởi những người rời bỏ quê hương.

Và giữa dòng chảy đó, có một làn sóng người đến muộn hơn, nhưng mang theo những câu chuyện không kém phần dữ dội. Đó là câu chuyện của “Boat People” Việt Nam. 

Cộng đồng người Việt đặt chân lên nước Mỹ chủ yếu sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975. Phần lớn họ đến bằng đường biển, nhưng không phải trên những con tàu lớn có tổ chức, mà trên những chiếc thuyền nhỏ bé, chật chội và thiếu thốn. Hành trình vượt biển là chuỗi ngày lênh đênh đầy bất trắc, phải đối mặt với bão tố, hải tặc, đói khát và cả nỗi tuyệt vọng kéo dài.

Họ dừng chân tại các trại tị nạn ở Đông Nam Á trong một thời gian dài, trước khi được chấp nhận định cư tại Mỹ.


Câu chuyện ra đi ấy không thể chỉ gói gọn trong nhu cầu mưu sinh. Nghèo đói có thể là nguyên nhân trực tiếp, nhưng sâu xa hơn, đó là hệ quả của một hoàn cảnh thiếu tự do và cơ hội, đẩy con người đến tình thế không còn lựa chọn nào khác ngoài việc rời bỏ quê hương.

Làn sóng người Việt rời quê hương kéo dài suốt nhiều thập niên; từ những chuyến vượt biển đầy rủi ro đến các chương trình định cư có tổ chức về sau, như diện HO. Theo các thống kê dân số gần đây, hiện nay có hơn 2 triệu người gốc Việt sinh sống tại Hoa Kỳ. Đây là một trong những cộng đồng phát triển nhanh so với nhiều sắc tộc khác, và cũng là một cộng đồng không ngừng vươn lên, từng bước khẳng định vị trí của mình trong xã hội của đất nước đã cưu mang họ.


Một Ngày Trên Đảo Ellis và Liberty

Hơn 20 năm sống trên đất Mỹ, tôi đã nhiều lần đến New York. Nhưng những lần trước, có lẽ tôi chỉ đến như một du khách. Vội vã đặt chân đến, rồi vội vã đi. Đi nhanh, nhìn nhanh và cố ghi nhớ thật nhanh những điều mình bắt gặp. Thành phố này dường như có một sức lôi cuốn đặc biệt, khiến người ta trở nên nôn nóng, như thể chỉ cần đứng yên quá lâu cũng sẽ bỏ lỡ điều gì đó quan trọng.

Nhưng lần này thì khác. Hai ngày trôi qua chậm rãi hơn thường lệ, để lại trong tôi những kỷ niệm khó quên. Chúng tôi đến thăm gia đình một người bạn cũ, cùng học với nhau từ nửa thế kỷ trước. Nửa thế kỷ nghe dài đến vô cùng. Nhưng có những điều của tuổi trẻ dường như không chịu phai mờ trong ký ức dù qua bao năm tháng.

Ở thành phố New Jersey, ngay cạnh phố New York, là một căn nhà nhỏ, xinh xắn. Trước cửa là khu vườn vừa chớm xuân, hoa mới nở. Những cái ôm ấm áp đến ngay từ phút đầu gặp lại. Giữa những bữa cơm thân tình, những câu chuyện nối dài là những khoảng lặng đầy thấu hiểu, nơi những người bạn chia sẻ với nhau về đời người qua bao thăng trầm theo dòng biến động của thời cuộc.


Xin cảm ơn Vĩnh Ánh, người bạn từ thời trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng, và phu quân - anh Khôi - vì sự đón tiếp chân thành và ấm áp ấy. Buổi tối, chúng tôi cùng nhau dạo dọc bờ sông Hudson. Gió từ sông thổi lên mát rượi. Những câu chuyện kéo dài gần nửa thế kỷ tưởng như không thể kể hết và thấu đáo, nhưng bằng một cách nào đó, chúng tôi vẫn hiểu nhau. Cuối buổi trò chuyện, vợ chồng bạn gợi ý cho chương trình hôm sau: chuyến phà ra Liberty Island và Ellis Island. Bạn muốn cho chúng tôi một ngày không chỉ để tham quan thắng cảnh, mà còn để chạm vào lịch sử của những con người đã đi tìm “Giấc mơ Mỹ”.

Và sáng hôm sau, chúng tôi có mặt trên chuyến phà sớm nhất. Phà chầm chậm rời bến. Dù trời còn lạnh, chúng tôi vẫn lên boong để nhìn rõ hơn khung cảnh phía trước.

Trạm dừng đầu tiên là Ellis Island. Nơi từng là khu đón nhận hàng triệu người nhập cư vào nước Mỹ trong giai đoạn 1892 đến 1954. 

Khi phà cập bến, con tàu khẽ chòng chành. Chúng tôi bước lên đảo một cách chậm rãi, gần như dè dặt. Những bước chân hôm nay khiến tôi liên tưởng đến bước chân đầu tiên của người di dân năm xưa. Khác chăng, họ đến với hành lý cũ kỹ và một tương lai chưa định hình. Còn chúng tôi, đến với những tấm vé và một mong muốn tìm lại ký ức, của chính mình, của gia đình, và của những con người đã từng bắt đầu lại cuộc đời nơi đây.


Bước vào Bảo tàng Di dân, tôi gần như lặng đi. Không gian ở đó như đặc lại bởi những âm vang của quá khứ. Phòng lớn đầu tiên là sảnh ghi danh, nơi người nhập cư khai báo tên tuổi, nghề nghiệp, quê quán. Những thông tin tưởng chừng đơn giản ấy lại trở thành dấu tích bản thân theo chân họ suốt đời. 

Tiếp đến là khu khám sức khỏe, nơi quyết định họ có được phép bước vào nước Mỹ hay phải cách ly điều trị. Rồi đến những phòng ăn, phòng ngủ. Những không gian đơn sơ nhưng đủ để nói lên sự quan tâm của xứ sở mới dành cho họ. Dọc hành lang bảo tàng là những bức ảnh, những bảng tên, những câu chuyện rời rạc ghép lại thành một dòng lịch sử sống động. Tôi bắt gặp cả hình ảnh người Việt sau biến cố 30 tháng Tư 1975. Những chuyến vượt biển, những khuôn mặt ngơ ngác, tuy còn mang nét sợ sệt nhưng mắt vẫn ánh lên niềm tin.


Chúng tôi dừng lại khá lâu trước khu trưng bày hành lý. Trong góc xa, một chiếc rương gỗ bạc màu, vài bộ quần áo, một cuốn Kinh Thánh, một tấm ảnh gia đình. Tất cả những gì một con người mang theo khi rời quê hương. Chúng gói ghém cả một quá khứ. Anh Khôi chợt thầm thì bên tai tôi. Giọng anh trầm xuống như nói với chính mình, “Gia đình mình ngày xưa cũng mang theo những chiếc vali như vậy.”

Câu nói ngắn, nhưng mở ra một câu chuyện dài.

Gia đình anh đến Mỹ theo diện HO, sau những năm tháng cha anh bị giam trong trại tù “cải tạo”. Những thủ tục nghiêm ngặt, phỏng vấn, khám sức khỏe, những ngày tháng chờ đợi, những hy vọng mong manh. Tất cả, dù không diễn ra tại Ellis Island, nhưng vẫn là một hành trình tương tự. Hành trình của những người đi tìm một cơ hội sống khác. Ellis Island, vì thế, không chỉ là một địa danh. Nó là biểu tượng của sự rời bỏ, của hy vọng, và của lòng can đảm để bắt đầu lại.


Rời Ellis Island, chuyến phà tiếp tục đưa chúng tôi đến Liberty Island. Khi cập bến, trên đảo đã đông khách tham quan. Chúng tôi đứng dưới chân tượng Nữ thần Tự do, chụp vài tấm hình. Nhưng thật khó để mỉm cười theo kiểu tạo dáng ở một nơi như thế.

Trời hôm đó âm u, không nắng. Thế nhưng ánh sáng từ vầng miện của bức tượng vẫn như rực lên, khiến tôi có cảm giác chói mắt. Một tay bà giơ cao ngọn đuốc, tay kia giữ bản Tuyên ngôn Độc lập. Ánh mắt vừa kiêu hãnh, vừa nhân hậu, như đang lặng lẽ nói với tất cả những ai đặt chân đến đây rằng, “dù bạn đến từ đâu, bạn vẫn có quyền được sống như một con người”.


Tôi chợt thấy sống mũi cay cay. Không phải vì gió biển, mà vì những dòng thơ của Emma Lazarus khắc gần đó:


“Give me your tired, your poor,

Your huddled masses yearning to breathe free…”

“Xin hãy trao cho tôi những con người mệt mỏi, những người nghèo khó.

Những đám đông chen chúc đang khát khao được hít thở tự do..."

 

Ở khoảnh khắc này, những câu thơ ấy không còn là một phần của lịch sử xa xôi. Chúng trở thành một lời gọi rất riêng, dành cho những con người đang rời bỏ nơi nghèo khó và bất công, mang theo khát vọng được sống một cuộc đời khác.

Tượng Nữ thần Tự do vẫn đứng đó hơn một thế kỷ; cánh tay không mỏi, dáng hình không đổi, như một lời nhắc nhở bền bỉ rằng nước Mỹ được dựng nên từ những bước chân của những người rời bỏ quê hương, nhưng chưa bao giờ từ bỏ niềm tin. 

Câu chuyện của anh Khôi tối hôm trước chợt trở lại trong tôi. Anh kể về những năm tháng cha anh trong trại tù “cải tạo”, về hành trình chờ đợi chương trình HO, và khoảnh khắc cả gia đình hơn mười con người đặt chân đến Mỹ năm 1990, với vài chiếc vali cũ. Họ mang theo rất ít tài sản. Nhưng mang theo rất nhiều ký ức. Đó là một quê nhà được giữ lại trong tâm tưởng.

 

Ba mươi lăm năm trôi qua. Cha mẹ anh nay đã khuất. Nhưng các anh chị em vẫn quây quần, nâng đỡ nhau. Hai người con của anh đã trưởng thành, thành đạt, như một sự tiếp nối lặng lẽ của hành trình di dân.

Câu chuyện ấy không phải là trường hợp đặc biệt. Nó là một trong rất nhiều câu chuyện về những con người bắt đầu từ con số không, ở một nơi bây giờ họ có thể gọi là “nhà”.

Đứng trên hòn đảo này, giữa gió biển và những lớp lịch sử chồng lên nhau, tôi chợt nghĩ về chính mình. Tôi nhớ những ngày vượt biển, lênh đênh giữa đại dương. Nhớ khoảnh khắc được kéo lên boong tàu Nhật, người ướt sũng, trong tay không có gì ngoài sự sống sót mong manh.

 

Hai mươi năm sau, khi rời Nhật để sang Mỹ, hành lý của chúng tôi vẫn chỉ là vài chiếc vali. Nhưng có một điều không thay đổi. Cho dù đi đến đâu, tôi vẫn mang theo bên mình một quê hương đã rời lại phía sau.

Giữa dòng suy nghĩ ấy, hình ảnh cậu bé Vito Corleone trong The Godfather Part II lại trở về trong tôi. Vito đứng lặng, nhìn Tượng Nữ thần Tự do qua khung cửa sổ của khu cách ly ở Ellis Island. Khi ấy, cậu chỉ là một đứa trẻ, có lẽ chưa thể hiểu hết ý nghĩa của những gì mình đang nhìn thấy. Nhưng bức tượng ấy, bằng một cách nào đó, vẫn nói lên một điều rất rõ ràng: đó là một khởi đầu mới. Một tương lai mà, dù thành công hay thất bại, con người vẫn có quyền lựa chọn và tự mình gánh lấy trách nhiệm cho lựa chọn ấy.

Với Vito Corleone, cậu đã chọn con đường của riêng mình, trở thành một trong những nhân vật quyền lực của thế giới ngầm. Đúng hay sai, có lẽ không phải là điều quan trọng nhất ở đây. Điều đáng nói hơn, là trong khoảnh khắc đứng trước ngưỡng cửa của một thế giới mới, cậu đã có quyền lựa chọn con đường đời mình.

 

Còn tôi, hôm nay không còn ở cái tuổi đi tìm một tương lai phía trước nữa. Nhưng khi đứng dưới chân Tượng Nữ thần Tự do, tôi vẫn thấy lòng mình chùng lại trong một cảm giác bồi hồi. Có những biểu tượng, khi ta gặp lại, không còn để thôi thúc ta bước tới, mà để giúp ta nhìn lại. Để hiểu rõ hơn con đường mình đã đi qua; và có lẽ để biết trân trọng hơn những gì mình đã lựa chọn trong suốt hành trình ấy.

  

Trương Hữu Hiền

Boston, một ngày cuối tháng Tư 2026 

Giấc Mơ Mỹ - VVNM 2026 - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ