Friday, July 31, 2026

Lẩm Cẩm Tuổi Già

 

Thật buồn khi về già! ..... Tôi bước ra khỏi siêu thị và tìm chìa khóa xe. Nó không có trong túi của tôi. Tôi vào trong lục tung cà chua khoai tây tất cả các kệ hàng mà chẳng thấy gì. Đột nhiên tôi nhận ra có thể tôi đã để nó trong xe và nó có thể đã bị đánh cắp.


Tôi chạy ra bãi đậu xe và XE ĐÃ MẤT! Tôi đã gọi cho cảnh sát và cho họ vị trí của tôi, mô tả xe, biển số,... , vân vân... , và tôi thú nhận rằng tôi đã để quên chìa khóa bên trong. 

Sau đó tôi đã đưa ra một cuộc gọi khó khăn nhất... gọi vợ tôi. Em yêu.... (Giọng rung rung) Anh để quên chìa khóa trong xe và nó đã bị đánh cắp! 

 

Đã có một khoảng lặng dài...

Sau đó cô ấy hét lên: Em chở anh và đưa anh đi siêu thị trước khi đi làm tóc! Đồ ngốc! 

 

Không xấu hổ nhưng hạnh phúc, tôi nói: Thật ngọt ngào! Vậy em có đến đón anh không?

 

Cô ấy lại hét lên, em không thể, đồ ngốc! Em đang ở đồn cảnh sát và em phải thuyết phục họ rằng em không ăn cắp chiếc xe!


CANG HUỲNH lược dịch từ Le canard Enchainé 

Một Nén Hương Lòng Dành Cho Ngày 27/7 - Nguyễn Doãn Đôn


TÔI CẢM ƠN ANH, MỘT CỰU CHIẾN BINH CỘNG SẢN. ANH ĐÃ HIỂU RÕ BẢN CHẤT CUỘC CHIẾN HAI MIỀN NAM BẮC . *Kiến Thiết Gia*

Từ trang Facebook anh Nguyễn Doãn Đôn - người cựu chiến binh cộng sản đã viết bài công khai xin lỗi đồng bào miền Nam.

MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG DÀNH CHO NGÀY 27.07

Tưởng nhớ đến các Anh hùng, Liệt sỹ của Dân tộc là đúng, nhưng phải trong một tâm thế thương đau, chứ không nên theo Tuyên giáo của đảng CS dẫn dắt để tự cao, tự đại, tự hào và cho là cuộc chiến "thắng hai Đế quốc to là Pháp và Mỹ" do đảng lãnh đạo là đúng đắn.

Thắp nén hương để tưởng nhớ tới người đã khuất trong cuộc chiến sai lầm không cần thiết để xảy ra, do Chính phủ và Nguyên thủ không chính danh ích kỷ, hám danh dẫn dắt, thì chúng ta cần phải có tư duy sáng láng và sự hiểu biết nhất định.

Nén hương được thắp lên đó phải thấm đượm một tình yêu bao la, mang tính nhân bản và nhân văn sâu sắc.

Hãy thể hiện từ tâm can mình bằng sự nuối tiếc và chia sẻ thương đau và mất mát to lớn hơn là sự mỉm cười, tự hào một cách hão huyền với những chiến công "hiển hách, rực rỡ, huy hoàng". Mà người ta gọi là "ăn mày dĩ vãng"...

Đáng buồn là nhiều nhà Chùa và các Hội đoàn trong nước và ngoài nước đã biến ngày 27.07 này thành ngày vui chơi và kinh doanh. Một số nơi thì tổ chức ca hát diễn kịch vui đến nổ trời với những chủ để đầy máu lửa và kích động bạo lực, nhằm ca ngợi cuộc chiến do đảng và bác quang vinh lãnh đạo thành công trong quá khứ.

Bản thân tôi đã từng là người lính vượt Trường Sơn vào Nam tham chiến cho đến tận ngày Sài Gòn thất thủ. Được sống, trở lại Miền Bắc và được tuyên dương, được kết nạp vào Đảng lao động VN (Đảng CS VN bây giờ). Ngày đó vào Đảng rất khó, không dễ như bây giờ...

Nhưng tôi không tự hào, vì tôi thấy con đường của tôi và đồng đội của tôi đi là sai. Cũng may cho tôi là tôi đã sống để được trở về. Chứ ngày đó tôi chết trong trận đánh Đồng Xoài, ngầm Sông Bé thì tôi cũng sẽ như đồng đội của tôi nằm lại đó mà đinh ninh tưởng rằng cuộc chiến này chúng tôi theo đảng và bác hô hào là đúng; là yêu nước, thương Dân. Và là Chính nghĩa.

Ngày đó chúng tôi đã hăng hái, hăm hở và vô tư đến quên mình. Nên rất sẵn sàng tin theo mấy vần thơ Chế Lan Viên viết để lên đường:

"Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi con sông

Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng"

(Trích trong bài "Sao chiến thắng")

Thực tế hiện nay đã chứng minh cho tôi biết một cách rõ ràng rằng: Sự hy sinh cống hiến của đàn anh và của Thế hệ tôi đã uổng công, vô ích, vì sai lầm nghiêm trọng về bản chất.

Vâng, thưa Bạn Đọc kính quý, đáng tiếc tôi bắt buộc phải LẬT SỬ để rồi ân hận, phải cúi đầu xin lỗi Đồng bào Miền Nam.

Chúng tôi thắng họ để họ từ người được tự do sung sướng văn minh trở thành kẻ nghèo hèn và rừng rú như ngoài Bắc chúng ta.

Và kết quả đó được đảng và bác định nghĩa là "giải phóng"!

Cuộc chiến mà tôi tham gia cùng với bao Thế hệ để viết "bài thơ trên báng súng" đó là một cuộc chiến phi nghĩa, chứ không phải chính nghĩa như đảng và bác đã cố ý nhập nhèm, đánh lộn con đen!

Chúng tôi đã u minh bị ăn phải bả tuyên truyền, nên một lòng tin theo phe CS độc tài tàn ác và rừng rú để đi xâm lược đánh lại phe Dân chủ văn minh. Thời đó chúng tôi không phải là đoàn quân phơi phới "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" mà là lũ khỉ rừng đói khát đi giải phóng ngược. Chúng tôi hệt như đội quân Nga sang xâm lược Ukraine bây giờ.

Thế hệ chúng tôi thật không ngờ rằng, sự cống hiến và hy sinh to lớn ấy lại nhắm sai mục đích. Làm cho Dân tộc chúng ta càng thêm bi đát hơn!

Thế hệ đàn anh và Thế hệ chúng tôi ngày đó đáng tiếc đã tin vào Ba Đình và ông Hồ kêu gọi trích máu viết quyết tâm thư, gác bút nghiên, vác súng hồ hởi lên đường. Tưởng đó là yêu nước, yêu Tổ quốc và yêu Đồng bào.

Nhưng thực ra chúng tôi đã hại Dân, hại Dân tộc.

Sau này mới nhận ra là chúng tôi chiến đấu hy sinh là chẳng qua vì đảng mà thôi. Đúng như Nguyễn Văn Linh tổng Bí thư nói:

"Thà mất nước còn hơn mất Đảng"

Hay như Lê Duẩn từng thổ lộ:

"Chúng ta đánh Mỹ là chúng ta đánh cho Trung Quốc và Liên Xô."

Đúng như Nhà thơ Bùi Minh Quốc viết:

"Cả cuộc đời ta hy sinh cuồng nhiệt

Lại dựng nên chính cỗ máy này"

Hay Nguyễn Duy chia sẻ:

"Rút cho cùng trong các cuộc Chiến tranh

Bên nào thắng thì Nhân dân đều bại"

Theo tôi thì ngày 27 tháng 7 là ngày để chúng ta buồn và thương nhớ tới những Liệt sỹ đã ra đi. Chứ không nên biến thành như ngày hội, ngày ghi công, ngày thể hiện cái tôi nhỏ mọn của mỗi người.

Tôi đã nhiều lần tự hỏi tôi rằng, tôi từng là đảng viên, là người lính Trường Sơn năm xưa, ở đó tôi đã chiến đấu vì ai? Để rồi sau này nhận ra tôi đứng trước đoàn người Miền Nam họ tưởng nhớ đến "Ngày quốc hận", mình tôi cô đơn, trống trải nghe họ hô vang nơi trời Âu "Đả đảo CS VN"-Họ đang đả đảo chính tôi; Mà lạy Chúa, tôi đã can đảm đứng lên nhận ra mình sai, để thốt lên lời xin lỗi muộn màng...


Thủ đô Berlin, 27.07.2026

Nguyễn Doãn Đôn

Video Hình Ảnh Trận Hỏa Hoạn Tàn Khốc Ở Tỉnh Gironde Và Quận Cap-Ferret, Nước Pháp - Nguyễn Duy Phước

Nước Pháp dạo này không những bị những cơn nắng nóng cực độ mà còn bị hỏa hoạn nhiều nơi đã tiêu huỷ gần 45 000 ha rừng rậm, trầm trọng nhất là ở tỉnh Gironde và quận Cap-Ferret nằm cạnh thành phố Arcacgon mà tôi thường viếng thăm.

Mời xem video về những hình ảnh của  thành phố Arcachon và quận Cap-Ferret bị những cơn lửa tàn phá: 

NdP

Đi Nhận Xác Thầy - BS Tôn Thất Sang



 Kính dâng hương hồn các vị Giáo Sư Đức Quốc:

Giáo Sư Gunther Krainick và Phu Nhân:

- Thạc sĩ Y Khoa Đại Học Greifswald 1943

- Thạc sĩ Y Khoa Đại Học Freiburg    1951

- Giáo Sư Nhi Khoa Đại Học Freiburg 1954

- Giáo Sư Nhi Khoa Đại Học Y Khoa Huế


Giáo Sư Raymund Discher:

- Giáo Sư Bệnh Lý Nội Thương Đại Học Y Khoa Huế

- Trưởng Khu Bệnh Lý Nội Thương Đại Học Y Khoa Huế


Bác Sĩ Alterkoster:

- Phụ Tá Giáo Sư Bệnh Lý Nội Thương

- Bác Sĩ thường trú khu Truyền Nhiểm

 ...là những vị đã đóng góp công lao và tâm trí rất nhiều vào việc khai sáng Đại Học Y Khoa Huế...


Những vị, với lương tâm chức nghiệp cao quí và lòng vị tha vô bờ đối với bệnh nhân, đã mãi là gương sáng của chúng tôi.

Những vị đã bỏ mình nơi quê người vì tâm hồn bác ái và tình nhân loại (Tết Mậu Thân 1968)


Lần giở những trang trân trọng đầu tiên của cuốn luận án Y Khoa; nhìn tên, tước vị của các Giáo Sư người Đức, bỗng nhiên tôi thấy lòng bồi hồi dâng lên niềm đau xót vô vàn với những tiếc nuối khôn nguôi. Những thương yêu, kính mến, với biết bao kỷ niệm và lòng tri ân với các vị; đã vì thiện tâm, chấp nhận hy sinh, xa gia đình, xa bạn bè, xa tổ quốc thân yêu, để đem sở học và nguyện ước của mình, đi truyền rao để khai hóa tận một xứ sở kém mở mang, xa xôi hẻo lánh, đầy dẫy hiểm nguy, ở tận bên kia bờ Đại Dương. Ước nguyện của quí vị thật dễ thương và hiền hòa là làm sao tạo dựng những bác sĩ Y Khoa tài năng, để đem sở học phục vụ bệnh nhân, phục vụ con người, phục vụ Y đạo ở ngay xứ sở họ.


Thế nhưng, những hy sinh cao quí, từ những con người nhân ái đó, đã bị trả một giá quá đắt -  bằng chính mạng sống của họ -  bởi những tên cộng phỉ xâm lược man rợ đầy thú tính từ phương bắc; đã lạnh lùng và tàn nhẫn ra lệnh thủ tiêu họ, không một chút tiếc thương, trong biến động do chính bọn chúng gây ra, trong lần bọn xâm lược này tấn công xâm chiếm cố đô Huế; trong dịp Tết Mậu Thân 1968.


Hạ tuần tháng 4, năm 1968.

Khoảng gần hai tháng, sau Tết Mậu Thân, cố đô Huế đã được Quân Đội VNCH tái chiếm (25 tháng 2 – 1968 dựng lại cờ tại kỳ đài chính của cố đô Huế)

Huế, sau những ngày bị bọn quỉ đỏ tràn ngập, đã nhuộm máu đào tang thương và đẫm nước mắt khóc than!

Không có phường nào, xã nào, không có xóm nào, không có gia đình nào, là không có người thân ngã gục, cha xa con, vợ mất chồng hoặc bằng viên đạn, hoặc bằng con dao, hoặc bằng cán cuốc...Có hàng loạt ngưòi bị chôn sống, sau khi bị cột thành từng “xâu người”, nối kết lại bằng dây dừa, dây điện thoại...

- Nào Phú Thứ oán khí ngất trời, với tiếng khóc và màu tang phủ trắng cánh đồng! 

- Nào chùa Áo Vàng (Tăng Quang Tự), nào lăng Tự Đức. 

- Nào Trung Học Gia Hội, với hầm chôn tập thể, nơi mà trường học biến thành lò sát sinh, nơi mà bọn súc sinh “phản sư diệt tổ” Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm, Tống Hoàng Nguyên, Hoàng Lan, Nguyễn Thiết, Nguyễn Bé, Nguyễn Hữu Vấn, Trần Văn Linh, Lê Văn Hảo (Chủ Tịch của “cái- gọi- là” Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình tại Huế), Thích Đôn Hậu, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu …..


Tất cả những tên ác thú này đã chứng tỏ bản chất khát máu, man rợ, đê hèn, tiểu nhân của bọn cộng phỉ để chôn sống hàng loạt con người bằng xương bằng thịt với nỗi đau kinh khiếp, rợn người mà oán khí chất ngất của họ chắc chắn sẽ đời đời theo níu chân bọn chúng và gia đình mà đòi món nợ xưong máu ngút trời này!

- Nào Khe Đá Mài, Bãi Dâu, Tây Lộc..., mà mỗi địa danh là một chứng tích không thể chối cãi về những tội ác man rợ, kinh khiếp đến rợn người, gây ra bởi loài quỉ đỏ cộng phỉ uống máu người không biết tanh!!

Huế tang thương lầy lội

Huế rách như xơ mướp!

Huế tiêu điều với tường xiêu, mái đổ

Huế với thép gai giăng mắc

Huế như mặt kẻ bị đậu mùa!!

Huế với B40, với AK47, với CKC báng đỏ,

Huế đầy nước mắt với khăn tang,

Máu đỏ tanh hôi chảy ngập đàng,

Hoa cúc, mai vàng sau chẳng thấy?

Chỉ còn hoang lạnh với ly tan?!!

Các nạn nhân vô tội đã bị bọn sát nhân khát máu mang ra sau chùa bắn theo kiểu hành quyết KGB với một viên đạn vào đầu. Thiếu Tá Từ Tôn Khoáng thì bị bọn chúng ra lệnh bắn nát thây với hơn 200 viên đạn vào người!

Sở dĩ tìm được các xác chết tại khe Đá Mài là do oan hồn của một thanh nữ Phật Tử bị bọn ác thú việt cộng thủ tiêu để diệt khẩu, đã chết oan uổng, tức tưởi, nên đã hiển linh về báo mộng cho mẹ đi tìm xác và đưa đẩy bà mẹ này đến khe Đá Mài. 

Trong cái cảnh hỗn mang ấy, tôi đi giữa kinh thành Huế tang thương, đổ vỡ, lạc lõng, bơ vơ, không định hướng như bị mộng du. Tôi đi mà lòng ngậm ngùi thương tiếc như lạc mất người yêu xưa! Tôi đi, nhìn, nghe, phân vân, bồng bềnh như đang sống trong một cơn ác mộng khủng khiếp!


Bỗng tôi hoảng hồn vì tiếng Vespa rít lên bên cạnh, đồng thời với cái vỗ vai làm tôi giật bắn người:

- Đã biết tin gì chưa?

Tôi định thần nhìn lại, thì ra Đặng Ngọc Hồ, tôi hỏi.

- Tin gì mà có vẻ gấp rút thế?

- Tìm thấy xác của các thầy Krainick, Discher, Alterkoster và cả xác bà Krainick nữa!

- Trời ơi, có chắc không, ở đâu?

- Nghe đâu gần chuà Tường Vân, phía trên giốc Nam Giao. Rồi Hồ nói luôn:

- Ban đầu dân họ tưởng người Mỹ, họ báo với tiểu khu. Tiểu khu liên lạc với Lãnh Sự Mỹ, thì được biết phía Mỹ tuy có thiệt hại khá nhiều, nhưng không có mất tích. Sau liên lạc với viện Đại Học mình và với Lãnh Sự Quán Tây Đức thì biết Đức bị mất tích 4 công dân: 3 nam và 1 nữ. Bây giờ thì hoàn toàn trùng khớp.

Tôi chưa kịp đình thần, thì trong tiếng còi inh ỏi, đã trông thấy Bùi Hữu Út xuất hiện như một cơn lốc trên chiếc xe gắn máy, lạng và thắng nhanh như chớp! Tôi và Hồ vừa vội vàng nhảy tránh cú lạng vừa nói cho Út biết... Đằng xa lại thấy Lê Đình Thiềng, chở Nguyễn Quang trờ tới... 

Bọn tôi, vội vàng làm cuộc họp “bỏ túi” trên lề đường Trần Hưng Đạo, gần Chi Thông Tin ở chân múi cầu Trường Tiền, bay giờ đã gãy một nhịp do đạn pháo kích của bọn cộng phỉ xâm lược từ phương bắc – vết ô nhục do đoàn cán binh cộng phỉ bắc việt để lại, khắc một vết nhơ sâu đậm trong lòng người dân xứ Huế có lẽ đến muôn đời sau.

Khi đó vào khoảng mười giờ sáng, cái lạnh của những ngày đầu Xuân len lén như dao cắt vào da thịt, lại thêm cái nắng quái của ngày Xuân, sao hôm nay lại khác thường, nó nhợt nhạt, vàng vàng, tai tái như da của một xác chết. Nó như bàng bạc mùi tử khí của một thành phố đang ung mủ, đã có lắm người chết oan khiên uất hận; chúng tôi chợt nghĩ đến các thầy và thương quá là thương.

Tôi đề nghị anh Hồ qua tiểu khu hỏi lại tình hình an ninh vùng đó đã ổn chưa, rồi sau đó, chúng tôi lên xe, chở nhau, nhắm vùng Nam Giao trực chỉ.


Một hồi sau, Tiểu Khu cho một tiểu đội, trên chiếc xe Dodge, với vũ khí đầy đủ đi mở đường, nhắm hướng vùng chùa Tường Vân. Anh Thiếu Úy bảo bọn tôi ngồi chờ ở ngã ba đường Nam Giao, ngã rẽ vào chùa Tưòng Vân để chờ họ báo tin. Khoảng nửa giờ sau, viên sĩ quan trở lại bảo tình hình an ninh an toàn, ụ không có mìn bẫy và hiện tiểu đội ông vẫn bám sát địa hình. 

Đột nhiên ông buồn bã, ngậm ngùi nói:

- Quân tôi, cùng một số dân trong xóm, đang đào đất, thấy nhô lên bốn cái đầu tóc, trong đó có một đầu tóc màu bạch kim. Thật tội nghiệp quá! 

Bọn tôi nhìn nhau thở dài:

- Chắc là thầy Discher rồi!

Mái tóc màu bạch kim, hơi dợn sóng của người thầy tài ba thưong mến học trò, xem học trò như con, không ngừng ám ảnh tâm hồn chúng tôi đến xót xa.

Bọn tôi cám ơn viên Sĩ Quan và tất cả lên xe, nhắm hướng chùa Tường Vân trực chỉ. 

Chùa Tưòng Vân nằm về hưóng tây nam núi Ngự Bình (hưóng Nam Giao, từ phố đi lên), đi quá chùa Sư Nữ một quãng xa thì rẽ phải, con đường mòn đất đỏ, thoai thoải dốc với nhiều ổ gà và nhiều bụi rậm.


Ngôi chùa với mái rêu phong, cỗ kính, chung quanh sân rộng là những ngọn trúc la đà. Ở giữa là ngọn giả sơn Ngư Tiều Canh Độc. Xa xa, về phía dưói ruộng là hàng tre bao phủ, xanh ngắt một màu, xen kẽ mấy cây lồ ô, thân vàng có sọc xanh, dịu dàng lay động trứoc gió. Cảnh chùa tuy đẹp, nhưng bọn tôi không còn lòng dạ nào thưởng ngoạn khung cảnh nên thơ!

Vừa xuống xe tại sân chùa, đã nghe tiếng cuốc xẻng và thấy vài người dân địa phưong tụm năm tụm ba, cùng một vài anh em quân nhân đang xúm xít đào bới tận bờ hào tre, cách sân chùa khoảng 200 mét. Bọn tôi vội vàng chạy lại:

  - Tội quá các anh ôi, 3 ông, 1 bà. Tất cả đều bị bắn giống nhau. Tụi việt cộng thật quá dã man, tán ác! Tiếng một quân nhân phát biểu.

“... Trong chiếc hầm chật hẹp đó, 4 ngưòi ngoại quốc đều bị trói thúc ké, hai tay bị bẻ quặt ra sau lưng, bị siết chặt bằng giây điện thoại truyền tin...”

Tôi vội vàng nhìn theo tay anh chỉ, thấy ba quân nhân đang cùng một vài ngưòi dân, tay cuốc, tay xẻng, nhẹ nhàng xúc đất và cát lên từ một chiếc hầm đào vội; bề dài khoảng 3.0m, bề ngang khoảng 1.0m và bề cao khoảng 1.0m, vừa đủ cho thế quì thẳng đứng của một ngưòi ngoại quốc! Trong chiếc hầm chật hẹp đó, 4 ngưòi ngoại quốc đều bị trói thúc ké, hai tay bị bẻ quặt ra sau lưng, bị siết chặt bằng giây điện thoại truyền tin.

Nhìn mặt họ đều bị biến dạng thê thảm. Thái dưong trái là lỗ đạn vào, thái dưong phải là lỗ đạn ra, nên bị phá ra toang hoát; mắt lồi hẳn ra ngoài! Đưòng đi ngọt xớt của viên dạn do chính kẻ luôn luôn miệng trơ trẽn và lố bịch rêu rao lấy lưọng khoan hồng và nhân đạo làm nền tảng để xử thế, đã làm méo mó, biến dạng những khuôn mặt hiền hoà của các vị thầy chúng ta.


Các Thầy đã “được giải phóng” bởi những tên tay sai man rợ ác ôn của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của bọn Bắc Bộ Phủ dựng nên! Chúng đã đang tâm đi “giải phóng” những con ngưòi chỉ biết đem tình thương và lòng nhân ái ra cứu chữa cho mọi ngưòi bệnh tật, nghèo đói..

Sau đó, chúng tôi cùng nhau, ngươi một tay phụ giúp anh em chuyển xác quí thầy lên xe của tiểu khu và đưa vào nhà xác của Bệnh Viện Trung Ương Huế.


Cả thành phố Huế xôn xao, cả bệnh viện xôn xao! Nhiều ngưòi đã khóc nức nở. Có nhiều tiếng khóc thầm lặng ở khu nội thưong, phòng cấp cứu, khu truyền nhiểm, khu nhi đồng….. 

  - Ôi, còn đâu nữa vị Bác Sĩ trưỏng đoàn, luống tuổi, hồn nhiên, thưong yêu sinh viên, đã luôn luôn tận tụy trong bài giảng, trong lâm sàn, suốt đêm ngày khám bệnh ở khu Nhi Đồng. Thân mật với sinh viên, vui đùa, xem như con; chúng tôi thưòng gọi ông là Bon Papa.

Có lần, trong khi chuông reo, chờ giáo sư đổi giờ vào giảng, chúng tôi thuờng nghịch ngợm “câu giờ”; mặc dầu chuông reo, nhưng chưa chịu vào lớp. Tôi cùng Lê văn Mộ, Trần Xuân Thắng, Hoàng Thế Định…đứng cheo leo trên mép thành cửa sổ lầu hai, nói chuyện phiếm. Ông đi lại nhắc nhở:

- C’est l’heure! 

Chúng tôi giả bộ không nghe, ông vội trờ tới, nheo mắt, lo lắng mĩm cưòi nói:

  - N’avez vous pas peur de tomber du ciel?

Tôi làm bộ sắp rơi từ cửa sổ đáp:

  - Si, mais je veux voler dans le ciel plein de beaux nuages, mon bon papa. 

Ông vội vàng chạy lại, hai tay nhẹ nhàng nhất bỗng tôi lên, đặt xuống sàn nhà, hào hển nói:

- Oh, Il faut faire attention, mon pauvre enfant!

Bọn chúng tôi cười sảng khoái vì câu đựoc giờ, ù chạy vào phòng học. Bon Papa mệt nhọc theo sau!


Còn đâu những kỷ niệm êm đềm bên ngưòi Thầy yêu quí, ngưòi đã đem hết cuộc đời tận tuỵ để phụng sự khoa học. Lẽ ra Thầy phải về nước dưõng bệnh một thời gian, sau khi bị cơn bệnh “Japanese Encephalitis” vật vã một thời, tưỏng như gần “đi đứt”. Tuy nhien ông đã ở lại vào dịp Tết Mậu Thân nghiệt ngả và bọn quỉ đỏ đã bắt Thầy cùng vị phu nhân can đảm, yêu thưong chồng, xin được đi theo để chăm sóc chồng cho đến ngày cuối cuộc đời thì Bà cũng bị xử bắn luôn!

Xin vĩnh biệt thầy cùng phu nhân.

Nguyện cầu Thầy cùng phu nhân thanh bình trong cõi vĩnh hằng, ở nơi không còn hận thù, ở nơi mà bọn quỉ đỏ phải lánh xa.

  - Ôi, còn đâu nữa, Bác Sĩ Raymund Discher -  ngưòi BS trẻ tuổi, điềm đạm và trầm tĩnh, vui tính và nhân hậu nhưng nghiêm khắc, ngày đêm ở khu truyền nhiễm, với tương lai đang rực sáng, Nhớ lại những “Family Party” thầy và cô thỉnh thoảng mở ra, mời sinh viên một vài lớp đến dự trong căn apartment nhỏ ấm cúng, bên bờ sông Bến Ngự. Thầy và cô hạnh phúc bên nhau như đôi vợ chồng mới cưói, thức ăn nhẹ, ruợu chát đỏ, vừa chuyện trò với đám sinh viên và nghe những tấu khúc bất hủ của Mozart trong không gian của buổi chiều đang tắt nắng, chỉ còn lại ánh đèn vàng của gian phòng ấm cúng.. Hạnh phúc của thầy cô bình yên và miên viễn đến chừng nào.

  Tuy nhiên định mệnh năm Mậu Thân đã khắc nghiệt cướp đi mạng sống của người chồng tài hoa. Thầy vừa mới đưa vợ về nước, và đáng lẽ thầy còn được nghỉ, mọi ngưòi đều khuyên nên ở lại, nói tình hình ngoài Huế không an ninh, nhưng thầy lại tìm đủ mọi cách ra Huế để giảng dạy sinh viên cho kịp thời khoá biểu riêng mà thầy đã lập sẵn!

Bọn quỉ đỏ đã nhẫn tâm hành quyết thầy bằng viên đạn xuyên thái dương đầy thù hận! 

Nguyện cầu linh hồn Bác Sĩ Raymund Discher sẽ mãi mãi bình yên ở chốn vĩnh hằng.

- Ôi, còn đâu nữa Bác Sĩ Alterkoster, ngưòi Bác Sỉ trẻ tuổi, đẹp trai, tận tâm ở khu truyền nhiễm. Alterkoster với bộ râu quai nón đầy vẻ giang hồ của một tay hải tặc khí phách “Le Viking”, đôi mắt xanh biếc ánh lên nét thông minh và nhân từ; nhìn chung rất lôi cuốn và nhất định phải là một “good guy”. Alterkoster rất thân mật và hoà đồng với sinh viên, ông thưòng rũ sinh viên lên Kim Long, Thiên Mụ ăn chè, ăn bánh bèo.. Tướng ông rất tốt, xem qua không thể chết yểu được, ngờ đâu lại bại dưới tay “sát thủ” của đảng và bác!


Tối hôm đó, chúng tôi, hầu như tất cả các sinh viên Y khoa còn tại Huế, đều tề tựu đến bệnh viện trung ưong. Từ Đại Học Xá Nam Giao, trung tâm Xavier, trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, Cán Sự Y Tế... các bạn ở mọi nơi trong thành phố, lần lượt biết tin, tập trung tại phòng trực bệnh viện để phân chia công việc và trực xác quí thầy, đang tạm quàng tại nhà xác bệnh viện. 

Mờ sáng hôm sau, quan tài quí thầy được đưa lên quàn tại Toà Viện Trưỏng Viện Đại Học Huế.

Sinh viên Y khoa chúng tôi, quần sẩm, áo chemise trắng dài tay, cravat đen; nghiêm trang vòng tay đứng thành hai hàng, trực bên quan tài quí thầy. Những tràng hoa phúng điếu rải rác của các Toà Lãnh Sự, các Trưòng, các Hội Đoàn, Đoàn Thể, các Phân Khoa bạn... 

Không khí lắng đọng, cảm xúc và trang nghiêm. Mắt mọi ngưòi đều rưng rưng, tiếng máy quay phim đều đều, âm thanh trầm buồn như lời nguyện cầu. Đột nhiên, có tiếng thổn thức ở phía cửa chính, mọi ngưòi xôn xao nhìn ra; nhiều ống kính hưóng theo, ánh sáng máy ảnh lập loè: Một thiếu nữ, trong bộ đồ đen tuyền, khăn tang trắng bịt ngang đầu, nức nở lão đảo tiến vào; hai tay ôm chặc vòng hoa tím – Couronne Mortuaire – kết cườm đen có đính dãi băng màu tím với giòng chữ trắng “To You With All My Sacred And Humble Love” Đức Tổng Giám Mục lặng lẽ nhìn, nét mặt ngài dịu đi. Mọi ngưòi xúc động bàng hoàng cùng với nhiều tiếng nức nở. Ai đây? Ngưòi thiếu nữ nhẹ đặt vòng hoa trước linh cữu của BS. Alterkoster rồi phủ phục xuống, ôm quan tài khóc nức nở!


Mắt tôi mờ đi, cảm xúc đến lặng ngưòi; nhìn người thiếu nữ, không còn trẻ lắm, với nét thuỳ mị, đoan trang và kín đáo, kín đáo như trong tình yêu thiêng liêng của chị, thắm thiết và buồn như màu tím của vành Couronne mortuaire. Những giọt nước mắt xót thương chị đang gởi cho ngưòi mình yêu vừa ngã gục trên mãnh đất của quê hương nầy. Máu đào của anh, vô tình đã tô thắm lên quê hưong Việt Nam mến yêu của chị!

Tình yêu của hai người kín đáo và thầm lặng như giòng sông xứ Huế, rất ít người được biết.


Ở đây, tôi xin phép chị Thảo – vâng, người ấy chính là chị – cho tôi viết ra điều; phải chăng đó là những kỹ niệm cao quí nhất và thiêng liêng nhất của cả cuộc đời chị; mà tôi tin rằng, nếu mọi người biết đến, cũng sẽ làm tâm hồn họ thăng hoa, bâng khuâng và xúc động, như khi họ khám phá ra một khu vườn hoa đầy hương sắc, kỳ bí, mong manh, dễ vở. Họ sẽ ngạc nhiên thích thú và trân trọng giữ gìn...

(Chị là chuyên viên phòng thí nghiệm trường Y, nhưng chị thường lên thư viện để tìm sách đọc nghiên cứu, và trò chuyện cùng chị Hưòng nên nhiều người cứ tưởng chị là quản thủ thư viện -  là chị Hường).


Sáng hôm sau, hai chiếc máy bay màu trắng bạc “Air America” đưa bốn quan tài vào phi trường Tân Sơn Nhứt. Ở đó, ngoài phái đoàn Đại Học Y Khoa Huế, còn có phái đoàn của sinh viên Đại Học Y Khoa Saigon chờ đón với vòng hoa phân ưu và biểu ngữ lên án bọn quỉ đỏ khát máu xâm lược từ phương bắc đã ra tay thảm sát một cách hèn hạ và man rợ những người làm công việc y tế, chỉ biết phụng sự khoa học và phụng sự nhân loại.

(**) Linh cữu của bốn vị được đưa ra phi cơ về cố quốc trên chiếc xe có bốn ngựa kéo, theo sau là 250 sinh viên Y Khoa Huế và Saigon, đội đưa tang và đội quân danh dự của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Sinh viên cầm biểu ngữ nói lên lòng biết ơn công lao của quí vị...


Một biểu ngữ ghi “Đại Học Huế không quên các giáo sư người Đức”. Trước khi linh cữu được đưa lên máy bay, nghi lễ tiễn biệt diễn ra thật cảm động. Ông Trân, Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục và Kỹ Thuật phát biểu: “Bao nhiêu năm, tôi đã từng tham dự nhiều buổi lễ ghi nhớ các anh hùng hy sinh cho tổ quốc, nhưng chưa bao giờ cảm động như hôm nay, khi tiễn biệt những người Bác Sĩ dân sự này đã chết cho lý tưởng cao cả vì tha nhân và nhân loại.”

(**) Trích “Cái chết của Bác Sĩ Krainick” của Elje Vannema, trang 98 – 99 (Cuốn Thảm sát Mậu Thân ở Huế)


Máy bay rời phi đạo, cất cánh lên cao dần và mất hút, mọi người vẫy tay tiễn biệt lần cuối, ánh mắt đỏ hoe, mờ lệ...

Vĩnh biệt từ nay bóng dáng thầy

Tình sư nghĩa phụ sáng trời mây

Thương người viễn xứ thân tan nát

Lưu lại danh thơm với tháng ngày!

 

Tôn Thất Sang


 


 


 

 

 

 

Thursday, July 30, 2026

This Is Wonderful!

 

I never knew about this before England's Stonehenge or Egypt's Karnak or Abu Simbel has nothing on us.  

Our memorial even has a plaque pedestal to explain it all.

Archaeologists of the future won't have to guess what the site is all about.

Why is it so under publicized?

anthem veterans memorial                                          arizona by renee palmer-jones                                          (9)

Once a year at 11:11 A.M., the sun shines perfectly on this Memorial.

At precisely 11:11 A.M., each Veterans Day (Nov. 11), the sun's rays pass through the ellipses of the five Armed Services pillars to form a perfect solar spotlight over a mosaic of The Great Seal of the United States.

anthem veterans memorial                                          arizona by renee palmer-jones                                          (1)

Photograph by Mike Spinelli

The Anthem Veterans Memorial, located in Anthem, Arizona, is a monument dedicated to honoring the service and sacrifice of the United States armed forces.

The pillar provides a place of honor and reflection for veterans, their family and friends, and those who want to show their respects to those service men and women who have and continue to courageously serve the United States.

The memorial was designed by Anthem resident Renee Palmer-Jones.

The five marble pillars represent the five branches of the United States military.

They are staggered in size (from 17 feet to 6 feet) and ordered in accordance with the Department of Defense prescribed precedence, ranging from the United States Army, the United States Marine Corps, the United States Navy, the United States Air Force and the United States Coast Guard.

anthem veterans memorial                                          arizona by renee palmer-jones                                          (2)

Photograph via Anthem Community Council

anthem veterans memorial                                          arizona by renee palmer-jones                                          (3)

Photograph via Anthem Community Council 

anthem veterans memorial                                          arizona by renee palmer-jones                                          (4)

Photograph via Anthem Community Council

Additionally, the brick pavers within the Circle of Honor are inscribed with the names of over 750 U.S. servicemen and women, symbolizing the 'support' for the Armed Forces.

The pavers are red, the pillars are white, and the sky is blue to represent America's flag.

The circle represents an unbreakable border.

Anthem resident and chief engineer, Jim Martin was responsible for aligning the memorial accurately with the sun.

anthem veterans memorial                                          arizona by renee palmer-jones                                          (5)

 Anthem Veterans Memorial

Home of the free…

because of the brave!


Kim Lee

Ice Skating


 Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình 

Đề Thi Cuối Cùng Của Cuộc Đời: Chỉ Cần Bạn Đi Chăm Sóc Một Người Già... - Chơn Không

 

Chỉ cần bạn đi chăm sóc một người già không thể tự chủ được vệ sinh cá nhân, không cần nhiều, chỉ cần hai tháng thôi. Bạn sẽ nhận ra rằng, cuộc sống tuổi già của mỗi người đều nhuốm màu "mưa máu gió tanh". Lời này nghe có vẻ tàn nhẫn, nhưng những ai từng trải qua đều hiểu. Đó không phải là một tuổi già yên bình như trên phim ảnh.

    Đó là những vết loét ép ra khi trở mình, là sự kháng cự vô thức khi được bón cơm, là việc bài tiết không thể tự chủ lúc nửa đêm, và theo sau đó là sự im lặng pha trộn giữa mệt mỏi và bất lực. Hai tháng là đủ để bạn nhìn thấu bộ mặt chân thực nhất của sự già nua. Nó lột bỏ mọi danh phận xã hội và thể diện, đưa một con người trở về với những nhu cầu nguyên thủy nhất: được làm sạch, được cho ăn, được di chuyển.

    Còn người chăm sóc, trong sự lặp đi lặp lại của lao động và mùi cơ thể ngày qua ngày, sẽ dần cạn kiệt kiên nhẫn và nhìn thấu những góc khuất u tối nhất của nhân tính. Sự bất lực về thể xác chỉ là chương mở đầu, sự giằng xé về nhân tính mới là vở kịch chính.

    "Trước giường bệnh lâu ngày", thứ bị thử thách chưa bao giờ chỉ là lòng hiếu thảo. Đó là sự tính toán xem ai bỏ tiền, ai góp sức giữa anh chị em; là ánh mắt đôi khi lóe lên sự tê liệt và chán ghét của người bạn đời gắn bó lâu năm; là chính bản thân người già, từ sự áy náy khi tỉnh táo đến sự cố chấp và giày vò khi lú lẫn.

    Bạn sẽ nhận ra rằng, tình yêu rất vĩ đại, nhưng sự mệt mỏi và vụn vặt có thể mài mòn mọi sự vĩ đại đó. Những người thân mà bạn từng ngước nhìn, từng thấy họ mạnh mẽ và tinh tế, trong vũng bùn cuối cùng của cuộc đời, có thể trở nên xa lạ đến mức không nhận ra. Và chính bạn, sau một lần dọn dẹp chất thải nào đó, soi gương cũng chẳng thể nhận ra người đang nhíu mày, mắt vằn tia máu kia là ai.

    Cái gọi là "mưa máu gió tanh" ấy, không thấy ánh đao kiếm, nhưng nhát nào cũng đâm vào tim. Nó tiêu diệt ảo tưởng lãng mạn của bạn về việc "già có nơi nương tựa", tiêu diệt sự ngây thơ khi bạn nghĩ rằng "chỉ cần có tiền thuê điều dưỡng là giải quyết được". Nó làm bạn hiểu ra rằng, già nua là một cuộc hành hình chậm chạp và không thể đảo ngược, còn người đồng hành là chứng nhân cùng chịu hình phạt đó.

    Vì vậy, đừng nhẹ nhàng nói câu "già rồi thì vào viện dưỡng lão". Những người thực sự từng đến đó mới biết, dù là cơ sở cao cấp đến đâu cũng không tránh khỏi việc chăm sóc "tiểu tiện, đại tiện" cơ bản nhất, không tránh khỏi cuộc chiến về tôn nghiêm khi một con người đối mặt với sự tước đoạt vô tình của thời gian.

    Sự già nua thực sự bắt đầu từ khi mất đi thể diện. Và tình yêu đích thực là khi đối phương không còn chút thể diện nào, bạn vẫn sẵn lòng đối đãi bằng sự dịu dàng. Nhưng sự dịu dàng này cần một nguồn năng lượng khổng lồ chống đỡ. Nó có thể đến từ trách nhiệm, cũng có thể bị đánh sập bất cứ lúc nào bởi sự mệt mỏi vô bờ bến.

    Người từng chăm sóc người già sẽ biết sợ cái già, không phải sợ chết, mà là sợ một ngày nào đó mình cũng phải ra đi trong hình hài như thế... sống theo cách đó, làm lụy đến người mình yêu thương, cũng sợ rằng cuối cùng bản thân sẽ trở thành tâm điểm tạo ra sự 'mưa máu gió tanh' ấy. Khi còn có thể cử động, hãy đối xử tốt với bản thân một chút. Khi cha mẹ còn đó, hãy dành thêm chút kiên nhẫn để ở bên cạnh họ. Đây không phải là ủy mị, mà là một chút lòng từ bi đối với những người đang trên hành trình này sau khi đã nhìn thấy phong cảnh nơi cuối con đường.

    Cuối cùng sẽ có một ngày chúng ta hiểu ra rằng: Đề thi cuối cùng của cuộc đời không phải là làm sao để sống huy hoàng, mà là làm sao để rời đi một cách có tôn nghiêm và ít gây ra bão giông nhất có thể.


Chơn Không

CANH CHUA QUÊ MẸ - Hổng Gì Ngon Bằng Đâu Nghen! - Đặc Sản Miền Sông Nước

Hành Trình Đi Tìm Tự Do Của Một "Boat-People” - Nguyễn Văn Lục


Sau 4 năm sống dưới chế độ cộng sản miền Bắc, nếm đủ mùi tân khổ đói nghèo, nhục nhã, lầm than và kìm kẹp.

Nỗi nhục và nỗi lo rình rập mà cả đời sẽ chẳng bao giờ có thể quên được.

Ai quên thì quên, phần tôi ghi khắc như vết hằn trong tâm trí như nỗi cắt còn đó.

Còn chế độ, dù nay đã có nhiều thay đổi, tôi sẽ còn nhớ mãi.

Năm 19 79, sau khi mẹ tôi qua đời vào tháng 2-năm 1979 vì bạo bệnh.

Tôi nhất quyết ra đi, bỏ lại vợ và con nhỏ 4 tuổi. Hiểm nguy trực chờ trăm thứ không ai nói hay được hay tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra.

Mỗi người di tản liều mình bỏ nước ra đi đều có đủ lý do biện minh cho việc ra đi.

Đối với riêng tôi, tôi tự hiểu rằng, mình không có một chỗ đứng nào trong chế độ mới.

Vì thế ngay khi mất miền Nam, tôi quyết định không lên Biên Hòa dạy học nữa. Giã từ quá khứ. Buồn ơi chào mi.

Đêm ấy, tôi lên sân thượng trong nhà, tự nhiên tôi rơi nước mắt, nấc lên từng hồi vì biết mình không còn là chính  mình nữa.

Tôi nhận thức được rằng, cuộc đời tôi được phân định rõ ràng: cuộc đời trước 1975 như một người trí thức của miền Nam. Và cuộc đời sau 1975 như kẻ thù của chế độ.

Vì thế, có những nỗi lo không tên khiến nhiều đêm thức trắng.

Điều chính yếu là biết rõ mình và các con là không có tương lai..

Nghĩ tới tương lai hai đứa con trai, nếu ở lại, chúng sẽ sống không ra người, cuộc sống vất vưởng không ra ông ra thằng. Tôi đau đớn nghĩ tới điều đó và càng trở nên quyết tâm cho việc ra đi. ( Sau này, khi thoát ra được nước ngoài may mắn chúng trở thành dược sĩ và bác sĩ chuyên khoa dạ dày tại Canada.)

Kinh nghiệm bản thân cho tôi nhận thức được rằng: Sống dưới chế độ cộng sản, nỗi lo thường trực là nỗi sợ kinh hoàng như thể mình là kẻ tội phạm.

Tôi còn nhớ, sau khi Nhatrang mất, người anh cột chèo vốn là bác sĩ trưởng ty y tế ở Nha Trang đã mau chóng tìm đường thoát thân, anh đã mang vào Sàigon nào xe cộ, tivi, tủ lạnh, sách vở chứa đầy ở nhà tôi.

Trong một đêm đánh tư sản, một ông bà cụ  gần đối diện nhà tôi bán chạp phô cho bà con nghèo lối xóm như gạo, muối đường, có thể do bà con tố cáo nên bị bị công an vào nhà sục xạo, lục tìm kiếm cả đêm.

Tôi ở trên lầu nằm xuống sàn nhà, theo dõi cả đêm trong nỗi bàng hoàng sợ hãi vì nhà chứa quá nhiều thứ..

Ngay sáng hôm sau, tôi lén lút dạy sớm lái chiếc xe hơi của anh cột chèo vứt ở đầu ngõ. Tôi cảm nhận được rằng có tư hữu là tự mình có tội với chế độ.

Sau đêm kinh hoàng đó, tôi càng quyết tâm ra đi, mặc cho nỗi hiểm nguy sống chết ra sao, chỉ đem theo con con trai lớn mới 7 tuổi. Một phần vì không có đủ tiền, một phần nhỡ có mệnh hệ gì thì còn vợ, còn con trai nhỏ thứ hai.

Tôi còn nhớ sau 30/4, vợ tôi mang bầu đứa con thứ hai gần đến ngày sinh. Nó được sinh ra trong lòng chế độ mới chỉ 15 ngày, sau 30/04.

Nhân có phong trào bài người Hoa nên trong dịp này, tôi lợi dụng để được đi bán chính thức với giắ cắt cổ.Tôi phải đóng cho bản thân mình 12 cây vàng, con trai 6 cây, cộng chung 18 cây- một số tiền không nhỏ và thời điểm đó.

Mất một lần là sạt nghiệp, tán gia bại sản.

Việc tôi đi do quen biết một người bạn dạy cùng trường. Hắn ngồi cà phê, cà pháo, thề sống thề chết có nhau. Tên y là Đạo-một tên lưu manh chuyên trò lừa đảo sau này tôi mới biết. Tin hắn,thoạt tiên chỉ đóng một cây, khi đến ngày đi, phải đóng đủ số còn lại.

Tổng cộng số vàng 18 cây, tôi đã giao cho tên Đạo.

Cả hai bố con mang tên Tàu mà cố thuộc rồi vẫn quên.

Trước ngày đi, tôi cho em gái chiếc vespa, đời ED.

Rồi tôi đến ngủ nhà chị gái để sáng hôm sau lẳng lặng ra đi để hàng xóm không ai nghi kỵ.

Chị tôi đưa tôi ra bến xe đò đi lục tỉnh, xuống Mỹ Tho.

Mỹ Tho là điểm hẹn đi.

Hai chị em ngậm ngùi chia tay mà không biết có ngày về.

Xuống Mỹ Tho, tên Đạo giả đò rơi chiếc nhẫn xuống sông, tôi phải đổi một chiếc nhẫn để ăn mấy ngày chờ đợi, nhân đó tôi có dịp mời anh tài công dùng chung bữa.

Anh tài công lái tàu tên Chín, nguyên là trung sĩ quân cảnh ở Sai gòn trước 1975, có vợ và bày con 5,6 đứa.

Bữa ăn ấy sau này chính là bữa ăn cứu mạng tôi sau này.
Ngày lên tàu, tên chủ tầu đọc tên từng người để lên tàu..Đến lượt tôi, tên chủ tàu đọc tên và quát to bảo hai cha con tôi đứng ra một bên. Tôi lo ngại tuân theo không hiểu chuyện gì thì may thay, thấy anh Chín ghé tai nói nhỏ chuyện gì, cuối cùng rồi tôi cũng được tên chủ tầu cho lên như mọi người.

Tàu ra khơi, ra đến biển, sóng nhồi chòng chành, nghiêng bên này, nghiêng bên kia như muốn chìm.

Tàu bắt buộc quay vào một bãi thuyền chài trống vắng.

Nơi đây, người dân phơi con tép, con tôm, trên đường phố lẫn với bùn đất.

Tôi đã có ý định dại dột chốn về. Nhưng  không giấy tờ lại bị công an canh phòng cẩn mật nên đành chịu.

Trong khi chờ đợi, chủ tầu cho người về sài gon mua những thùng nhựa 20 lít và những bao cát để dằn xuống đáy tàu cho tàu nặng dưới đáy.

Vì chở tham người, chủ tầu trước đây đã làm thêm một tầng gỗ để chở được thêm người.

Cả tàu dài hơn 22 mét, rộng khoảng 3 mét với hơn 400 người chen chúc nhau.. và chỉ cần một chút hoảng loạn đủ làm tầu chìm.

Cũng may hơn cả là chủ tàu đã thuê được một người phụ máy tàu, trước đây, anh trông coi máy tàu làm nước đá nên biết kỹ thuật máy móc.

Khoảng một tuần sau, tàu ra khơi xuông xẻ..

Tôi được anh lái tầu sắp xếp cùng với tên Đạo cho nằm trên nắp boong buồng lái để quan sát. Con trai tôi, ngồi lẫn lộn trên boong tàu với gia đình chủ tầu. Có nhiều đêm, tôi nghĩ, tàu bị đắm làm thế nào tôi cứu được con. Những ý nghĩ hoảng lọan ấy làm tôi sống thường trực trong nỗi sợ hãi.

Ôi, tình cảnh này, ai có qua cầu mới hay.

Nhưng vào một đêm, tầu chết máy giữa biển khơi, trong khi mặt nước biển phẳng lặng như tờ chỉ lăn tăn gợn sóng. Trời Phật, tháng năm đi biển lại có những ngày may mắn đến như thế. Tôi cứ nghĩ đây là một phép lạ.

Anh thợ máy mới tuyển loay hoay sửa chữa mất hơn nửa ngày, tầu lại nổ máy được.

Rồi tàu cứ theo hướng Nam, thấy những đốm lửa sáng cứ thế mà xông tới hy vọng tưởng là đất liền..

Gần đến nơi mới thấy đó là những dàn khoan dầu của Indonesia.

Tôi được đại diện lên dàn khoan, họ cho thêm nước ngọt, chỉ dẫn cách đi vào đất liền.

Trên đường đi, ngư dân thuyền chài Indonesia dẫn đường và chạm đảo Térampa và chúng tôi đến được bến đỗ bình an. Cảm tạ trời đất.

Giấc ngủ đầu tiên trên bãi biển thật là thần tiên sau những ngày tháng lo sợ mái tọc bạc đi.. Đây là đảo Térampa..

Sau này, có nhiều đêm trên đảo, tôi nằm mơ mình quay trở lại và bị bắt.. Tỉnh lại hóa chỉ là một giấc mơ.,

Từ ngoài biển đến đất liền là những cánh rừng và đồi núi lên cao dần..

Trên đó có nước ngọt giúp dân tỵ nạn sống còn. Hình như không ở đâu có sự may mắn và kỳ diệu như vậy.

Trên các triền đồi, dân tỵ nạn đã làm tạm các lán nhỏ bằng cách chặt cây rừng làm chỗ che mưa nắng.

Tôi lại bỏ một chiếc nhẫn để mua lại một chỗ ở tạm của một cặp vợ chồng trẻ..đã đến trước chúng tôi làm sẵn.

May mắn, tôi được gặp ông Cả Cần vốn hùn vốn với một chủ người Tàu và ông có khá nhiều lạng vàng đem theo.

Ông đã tự bỏ tiền ra, thuê người lên rừng chặt cây  để làm một cây cầu qua một dòng suối.. Cây cầu ấy cũng giúp bà con tỵ nạn, nhất là các cô gái trẻ buổi tối ra đây  kín đáo tắm giặt..

Không có cây cầu bắt qua dòng suối thì thật gian nan cho nhiều người.

Phần các mệnh phụ phu nhân vốn quen cuộc sống nhàn tản tiện nghi trước đây thì tội nghiệp mấy ông chồng phải cởi trần vác từng xô nước lên núi để cho các bà vợ tắm rửa. Trong số ấy, có một ông bác sĩ sau này là bạn tôi cùng  định cư ở Canada.

Phần ông Cả Cần vốn nổi tiếng trước đây với bánh bao Cả Cần đã nhờ tôi dạy học các con gái và trai của ông như các em Mỹ Tiên, Mỹ Trinh, các em trai khâc như Tiến, Tới vv…

Ông trả công cho tôi mỗi tháng 10.000 Rupia- tiền Indonesia, có thể tương đương khoảng 2,3 chục Đô la.

Số tiền tuy nhỏ, nhưng đã giúp tôi nuôi báo cô vợ chồng đã bán lán cho tôi và tên Đạo. Mỗi ngày thay vì chỉ có gạo và cá khô, nay mua thêm cá biển tươi và rau tươi..

Cho đến tận bên giờ, sau hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn giữ liên lạc với Mỹ Tiên.

Rồi một ngày nọ không nhớ rõ trong một bữa ăn, anh Chín hỏi tôi: Cậu có biết tại sao, tên chủ tầu không cho tôi lên tầu không? Tôi trả lời không rõ. Anh Chín vạch trần tội ác của tên Đạo, chính do tên Đạo đã dấu 17 cây vàng không giao cho chủ tầu.

Cảm thấy thương hại cha con tôi hiền lành, anh Chín đã vội nghĩ ra cái kế phải rỉ tai tên chủ tầu là cần một người giỏi ngoại ngữ để khi gặp tầu ngoại quốc có người đại diện có thể giao dịch.

Chủ tầu gượng đồng ý cho tôi lên tầu trở lại.

Nghe xong câu chuyện, tôi chết lặng người đi vì oán hận tên Đạo. Nếu không có sự giúp đỡ của anh Chín, tôi bị đuổi về, vừa mất tiền vừa bị đi tù và có thể không có cơ hội ra đi trở lại.

Tương lai con tôi sẽ ra sao?

Nhưng thay vì hạch hỏi tên Đạo, tôi đã giữ im lặng, không nói chuyện với tên Đạo nữa.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không cắt nghĩa được tại sao tôi lại hành xử như vậy.

Có lẽ phần nào nghi ngờ tôi đã biết chuyện, hắn lại cố tình tỏ vẻ ngây ngô, tiếp tục nịnh nọt tôi.

Một chuyện nhỏ khác cũng xin kể ra đây. Một bữa nọ, có một cô gái nhận ra tôi là ông thày đã dạy cô ở một trường tư. Thấy cô ăn mặc rách rưới, tôi đã giúp cô mua một vài bộ đồ khác. Và thỉnh thoảng vẫn hỏi thăm qua lại.

Sau đó, cô đi với một vài chuyên viên ngoại quốc đi phỏng vấn với vẻ hãnh diện, rồi tránh né tôi.

Tôi im lặng không nói gì. Sau này, cô được một người anh bảo lãnh sang Ý, cô viết thư cho tôi.

Tôi im lặng không trả lời.

Phải chăng trong những hoàn cảnh khốn cùng mới hiểu rõ đâu là tình người.

  • Về tinh thần Hồi giáo ở Indonesia.

Có thể nói là đa số đến 90% dân Indonesia theo đạo Hồi. Phần còn lại là tín đồ Tin Lành, hoặc Thiên Chúa giáo. Và một thiểu số không đáng chưa tới 1% kể là Phật giáo.

  • Tuy nhiên, tinh thần Hồi giáo rất rộng rãi và rộng lượng.
  • Điều này gây ngạc nhiên và thắc mắc cho tôi không ít. Thái Lan là một nơi sùng Phật. Thanh niên trước khi vào đời cần một thời gian tu luyện theo Phật.
  • Vậy mà chính nơi đây, những tên cướp biển Thái Lan đã trấn lột các thuyền nhân, cướp bóc tiền tài, hãm hiếp các phụ nữ và đôi khi mang đi bán làm con tin.
  • Biết bao thảm cảnh không bút nào tả xiết đã xảy ra, trong khi chính quyền Thái Lan lam ngơ, dư luận thế giới im lặng không lên tiếng..
  • Tôi khơi dậy như từ một đống tro tàn nay đã nguội..
  • Sau này, nhiều thuyền nhân đã thành đạt quay trở lại đặt những bia tưởng niệm thì bị chính quyền cộng sản can thiệp, đập phá các bia mộ ấy.
  • Trở lại câu chuyện những người Indonesia.. Đã nhiều lần, tôi theo bạn bè lên rừng để hái những trái sầu riêng.( Durio Những cây sầu riêng mọc trên cao, có cây cao từ 20 mét đến 40 mét. Tuổi thọ nếu được chăm sóc kỹ càng có thể kéo dài cả trăn năm.
  • Người hái phải núp dưới gốc cây, chờ những cơn gió thổi mạnh, làm rơi những trái xuống vội chạy ra nhặt cho vào bao tải..
  • Indonesia là một trong những nước sản xuất sầu riêng lớn nhất thế giới, sau đến Mã Lai và Thái Lan..
  • Nông dân dùng trái sầu riêng thay cho món ăn.
  • Và họ từng ăn bốc. Và buộc dùng tay phải.
  • Cho đến bây giờ, tôi vẫn mua những trái sầu riêng để tưởng nhớ lại những ngày tháng xa xôi, đầy tình người ấy.
  • Ngày chúng tôi rời đảo để đến Galang chờ ngày đi định cư, nhiều dân làng ra đứng trên bờ biển vãy tay chào tiễn biệt.
  • * Về vấn đề che mặt của phụ nữ Hồi giáo.
  • Phải nói thật là có sự tự nguyện của chính người phụ nữ. Hay nó còn tùy thuộc vào địa phương, văn hóa truyền thống và đức tin tôn giáo. Tuy nhiên đã gây ra những tranh luận trên nhiều quốc gia. Ở Pháp, cấm che kín mặt ở nơi công cộng. Tại Đức hạn chế niquab trong trường học, cơ quan nhà nước hoặc khi vì lý do an ninh khi lái xe.
  • Tuy nhiên, có thể chỉ che kín cổ, để lộ khuôn mặt. Hijab. Che toàn thân và cả mặt bằng một lớp lưới. Burqa. Và thường được thực dụng ở khu vực vùng Vịnh và Aghanistan..

Riêng Canada, nơi tôi đang sinh sống, có vẻ người phụ nữ tự chọn lựa việc che mặt của mình. Hiếm khi gặp một phụ nữ che kín mặt.

Theo luật Hồi giáo, người đàn ông Hồi giáo được cưới 4 vợ với điều kiện họ phải được đối xử công bằng về quyền lợi vật chất, thời gian và sự chăm sóc.

Trên thực tế thì ít có người nào có bốn vợ, trừ Saudi Arabia được lấy nhiều vợ.

  • Vài dòng kết luận

Bài viết này mục đích chỉ đề cập đến việc Hồi giáo ở Indonesia, nơi mà tôi đã có dịp trải nghiệm và cảm mến mà không đề cập đến Hồi giáo ở các nơi khác như Afganistan, Arap Saodiste và nhất là Iran mà tôi đã có dịp trình bày trong một bài viết khác.

Bài viết này cũng còn để như một lời tạ ơn anh Chín đã một cách nào đó cứu giúp cả tương lai gia đình chúng tôi mà không bao giờ tôi quên.

Sau này anh đã đi định cư ở Đức và mong gia đình anh chị ổn định và các cháu thành công nơi xứ người..

Tôi cũng còn nhớ kỷ niệm  khó quên là trước khi bước lên tầu, anh còn cầm dao định đâm tên chủ tầu, vì trước đây, hắn có hứa cho anh một số cây vàng nếu đến được đảo. Nhưng tên chủ tầu đã nuốt lời nên anh Chín định dạy cho tên chủ tầu một bài học. Rất may, đàn em của hắn đã sớm can thiệp nên hắn chỉ bị sước một mảnh da đầu và thoát nạn.

Bài viết này một lần nữa cũng tố cáo tên Đạo một lần nữa về thói quen lừa đảo của y.

Theo lời kể của y, y đã giả nghèo và lừa gạt được một số phụ nữ thương hại đã giúp y tiền hoặc vàng.

Tệ hại hơn nữa, Y đã lừa được vợ một người bạn yêu hắn và hứa khi nào định cư, bà sẽ ly dị chồng và cưới hắn. Bà cũng đã xin bố của bà vốn cũng là chủ tầu cho hắn đi cùng. Nhưng bố bà đã từ chối và chỉ cho người con rể chính thức đi cùng.

Viết những dòng này như một ân đền oán trả và hắn và gia đình hắn có cơ hội đọc một người cha, một người chồng như một tên điếm chuyên lừa đảo người.

Bài viết này cũng chỉ nhằm mục đích trình bày một hoàn cảnh  riêng của một người dưới tư cách một nhà văn với góc nhìn riêng tư từ một hoàn cảnh cá biệt mong được chia xẻ.


Mùa hè 2026 

Nguyễn Văn Lục

https://www.danchimviet.info/hanh-trinh-di-tim-tu-do-cua-mot-boat-people/07/2026/35754/

Anh Phước chuyển