Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Wednesday, May 13, 2026
Cuộc Ra Đi Lầm Lũi Của Một Vị Tổng Thống - Quốc Việt
50 năm trước, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
đã có ngày lưu vong cô đơn đầu tiên trên đất khách quê người ở Taipei, Taiwan.
Để rồi, ba ngày sau, 29/4/1975, vị tổng thống lưu vong đã cay đắng trả lời một
đại diện không chính thức của chính phủ Mỹ: “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ,
nhưng làm bạn rất khó”. 10 năm lính Mỹ cùng chiến hào binh sĩ Nam Việt có
phải vì Mỹ muốn giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa hay đã dùng chính những người lính
Việt này để thực hiện thế trận ngăn chặn “làn sóng đỏ” ở Châu Á thì lịch sử đã
đủ tường minh rồi!
Từ nhiều tháng trước khi ông Thiệu phải
lầm lũi ra đi trong đêm, chính quyền miền Nam Việt Nam đã đến thế cờ tàn thật
sự sau khởi đầu của chuỗi domino sụp đổ từ Hiệp định Paris 1973. Người bạn
Mỹ, đồng minh chí cốt từng một thời làm quá tải phi trường Tân Sơn Nhất bởi dày
đặc những chuyến không vận tiếp tế cho Sài Gòn, đã quay lưng thật sự.
Bản tin đài VOA tường thuật cuộc bỏ phiếu
kín của Hạ Nghị viện Mỹ ngày 12/3/1975 về việc tiếp tục viện trợ quân
sự cho Sài Gòn đã nhận kết quả cay đắng: chỉ có 49 phiếu thuận trong khi đến
189 phiếu chống. Một ngày sau, Sài Gòn lại tiếp tục nhận tin sét đánh từ Thượng
viện Mỹ: chỉ có 6 phiếu thuận trên 36 phiếu chống việc viện trợ thêm vũ
khí cho Sài Gòn trong năm 1975.
Trong cuốn sách Từ tòa Bạch Ốc đến
Dinh Độc Lập, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của ông Thiệu
đã nhắc lại một đoạn u tối: “Tại nhà thờ Lutheran ở Arlington, bang Virginia,
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng James Schesinger đã khóc cho miền Nam Việt Nam. Ông
được ngài phó giám đốc Cục tình báo Trung ương Vernon Walters kể rằng viên đại
sứ Nam Việt Nam ở Washington nói: “Phía bên kia vùng không có bình minh là
hoàng hôn đang phủ xuống”. Rồi Schlesinger nhớ lại: “Tôi vẫn nhớ lời miêu
tả của Churchill về sự sụp đổ của nước Pháp trong Thế chiến thứ II. Đây là thảm
họa tương tự, dù khác nhau về tầm cỡ. Tôi không trách người Việt Nam đã cố theo
đuổi chút hy vọng mong manh. Tôi cảm thương họ. Tôi buồn cho họ!” …
Tổng thống Ford tháng 4 năm 1975 quyết
định rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp về mặt quân sự nữa. Sẽ không có những hạm
đội đổ bộ đến cứu nguy, cũng không có những chuyến tàu tiếp tế từ phía chân
trời như đã từng có từ 10 năm trước đây …”.
Gặp ông Thiệu ở Dinh Độc Lập, Tổng trưởng
Nguyễn Tiến Hưng đã chứng kiến sự tức giận cùng cực của vị tổng thống suốt 10
năm của nền Đệ nhị Cộng hòa Nam Việt với đồng minh Mỹ: “Điều này không thể tin
được. Trước hết ở Midway, người Mỹ bảo tôi chấp thuận vài ngàn lính Mỹ rút quân
và tôi vẫn còn nửa triệu lính Mỹ ở lại chiến đấu với tôi. Rồi sau đó, khi họ
rút thêm quân, họ đã nói: “Đừng lo, chúng tôi sẽ tăng cường cho ông để bù
cho những sư đoàn đã rút lui”. Khi nhịp độ rút quân gia tăng, và năm 1972
họ lại nói với tôi: “Đừng lo, ông còn có những lực lượng dự bị và chúng
tôi bù đắp cho việc rút quân bằng việc tăng yểm trợ không lực cho bộ binh của
ông”. Sau đó, lính Mỹ rút hết và cũng không còn yểm trợ không lực. Họ lại
nói với tôi: “Chúng tôi sẽ tăng cho ông thêm nhiều quân viện để bù đắp vào
tất cả những cái đó. Xin đừng quên Đệ thất hạm đội Mỹ và những căn cứ không
quân ở Thái Lan sẽ bảo vệ ông trong trường hợp cần thiết”.
Cuối cùng, chẳng còn gì hết, người
Mỹ không hỗ trợ quân sự cũng cắt tiếp viện cho Sài Gòn!
Chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
cố gắng chống chọi bằng mọi giá, từ những lá thư khẩn cầu viện trợ gởi đích danh
đến Tổng thống Ford, Quốc hội, Bộ Quốc phòng Mỹ, kể cả việc đem các mỏ dầu
Hoa Hồng (nay là Bạch Hổ) dù mới ở giai đoạn thăm dò thấy dầu ra “thế chấp” để
vay tiền.
Trong lá thư đầy u buồn với nhiều lời lẽ van
nài của ông Thiệu gửi cho Tổng thống Ford có những đoạn như không thể nào buồn
và cam chịu hơn được nữa: “ … Chúng tôi kêu gọi lương tâm và lòng
thương của nhân dân Mỹ đối với cảnh ngộ của đất nước chúng tôi, một người bạn
đồng minh trung thành của nhân dân Mỹ trong suốt 20 năm sóng gió, một dân tộc
đã chịu nhiều hy sinh và đau khổ to lớn trong hai thập niên để gìn giữ mảnh đất
tự do này. Một dân tộc như vậy xứng đáng với lòng thông cảm và giúp đỡ. Trong
giờ phút vô cùng khẩn thiết, chúng tôi mong muốn Ngài thúc giục Quốc Hội xem
xét dễ dàng và cấp bách lời yêu cầu được vay “số tiền vì tự do” của chúng tôi.
Đây sẽ là hành động cầu xin cuối cùng mà chúng tôi, một người bạn đồng minh,
gửi đến nhân dân Mỹ”.
Giữa tháng 4 cuối cùng của chính thể miền
Nam, Tổng trưởng
Nguyễn Tiến Hưng cầm lá thư “Freedom
Loan” (vay tiền cho tự do) đầy bi thảm này đi Mỹ với trạng thái u uất, không tin
mình sẽ thành công. Chuyến phản lực cất cánh trên đường băng Tân Sơn Nhất trong
một buổi sáng ầm ì tiếng bom đạn. Mặc dù nó không đầy hành khách, nhưng có cảm
giác như nặng nề hơn bình thường với tâm trạng trĩu nặng của Tổng trưởng Hưng.
Cô tiếp viên yêu cầu ông đặt chiếc cặp da lên giá hành lý trên đầu, nhưng ông
ta khư khư giữ chặt trong lòng vì không muốn rời lá thư này.
Về sau, cuốn Từ Tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập
đã thuật lại: “ Cảm thấy lòng ngực nhức nhối và chóng mặt. Hưng có một linh cảm
sắc bén đây là lần cuối cùng ông ta còn nhìn thấy được quê hương mình, và có lẽ
chẳng bao giờ ông còn gặp lại mẹ và các anh chị em của mình. Ông nhìn xuống Sài
Gòn qua cửa sổ máy bay một cách tuyệt vọng. Từ trên cao, Sài Gòn hiện ra thật
đẹp, tràn đầy những kỷ niệm của một thời đã qua … Như hiểu được tâm trạng ông,
máy bay lượn hai vòng quanh Sài Gòn … Bên dưới vẫn là dòng sông Sài Gòn với màu
nước nâu sẫm như Chocolate, với hàng dừa chạy dọc hai bên bờ, nơi đó cuối tuần
nào ông cũng đến câu cá, bắt tôm. Xa xa, Dinh Độc Lập rực sáng và những nỗi đau
khổ trong ba tháng qua lại ập đến với ông”.
Và Tổng trưởng Hưng đã dự cảm đúng. Kế hoạch
“Freedom Loan”, chiếc phao cứu sinh cuối cùng của Sài Gòn, hoàn toàn đổ vỡ. Từ
khẩn cầu vay 3 tỷ USD ban đầu, rút xuống còn 722 triệu có hoàn trả, nhưng Quốc
hội Mỹ vẫn lạnh lùng lắc đầu. Niềm hy vọng mong manh cuối cùng đặt ở nỗ lực của
Chính phủ Mỹ đã bị Henry Kissingger dội gáo nước lạnh: “Việc bàn luận
về Việt Nam đã chấm dứt. Chính phủ sẽ chấp nhận lời pháp quyết của Quốc hội mà
không phản bác lại”.
“Chiều ngày 20/4, Đại sứ Martin đến
thăm Tổng thống Thiệu để hỏi về tình hình và gợi ý ngọt ngào: “Tôi tin rằng một
vài ngày nữa, các tướng lãnh của ông sẽ đến đề nghị ông từ chức”. “Nếu tôi từ
chức thì sẽ có viện trợ quân sự không”, ông Thiệu hỏi. Martin trả lời: “Tôi
không thể hứa với ông nhưng có thể vậy”. Trước khi Martin về, ông Thiệu nói
rằng mình sẽ làm những điều tốt nhất cho đất nước”. Cuốn sách của Nguyễn Tiến
Hưng nhắc lại những ngày cuối sầu thảm trên chiếc ghế Tổng thống Việt Nam Cộng
Hòa của ông Thiệu.
Suốt từ khởi đầu vào thập niên thứ hai
của thế kỷ 20, Tân Sơn Nhất đã là chứng nhân của bao biến động thời cuộc. Từ giai
đoạn phát triển của miền đất phía Nam trù phú, đến cuộc Thế chiến thứ hai tàn
khốc, người Nhật kéo sang, quân Pháp tái xâm lược rồi cũng đến ngày phải rút
lui hoàn toàn, quốc gia hình chữ S bị chia đôi bởi vĩ tuyến 17 và nền Đệ nhất,
Đệ nhị Cộng hòa mong manh như ngọn đèn dầu trong chiến cuộc kéo dài suốt 20
năm. Đến tận cuối tháng 4/1975, phi trường Sài Gòn này lại trở thành chứng nhân
một sự kiện lịch sử thầm lặng nói lên gió đã xoay chiều báo hiệu những trận
cuồng phong dữ dội sắp ập đến.
Trước áp lực chiến sự dồn dập đẩy chính quyền
Sài Gòn vào thế bí, ngày 21/4/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải ngậm ngùi
từ chức, nhường vị trí lãnh đạo lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương, với hy
vọng mong manh sự đổi thay chính trị có thể thay đổi thế cờ quân sự đang sắp
đến hồi “chiếu tướng” miền Nam. “Về vườn” nhưng vị cựu Tổng thống nắm
quyền dài nhất ở miền Nam cũng không thể ở lại quê hương của mình. Lực
lượng cách mạng buộc phải “loại biên” vĩnh viễn ông Thiệu, chính quyền tân
Tổng thống Trần Văn Hương cũng cho rằng không thể làm được gì nếu vị cựu Tổng
thống sắt đá chống cộng và đầy bản lĩnh chính trường còn hiện diện ở Sài Gòn.
Ông Thiệu buộc phải ra đi!
Phi trường Tân Sơn Nhất là chứng nhân
cuộc ra đi thầm lặng, buồn thảm này. Đêm 25/4/1975, một chiếc DC6 thuộc quyền sử
dụng của Đại sứ quán Mỹ bay từ Bangkok sang Tân Sơn Nhất để đón một vị khách
đặc biệt.
Cùng lúc đó, tư dinh Thủ tướng Trần Thiện
Khiêm, trong Bộ Tổng Tham Mưu, âm thầm diễn ra buổi chia tay một vị cựu Tổng
thống như không thể nào sơ sài, giản đơn hơn được nữa. Không có hoa, rượu, cũng
chẳng có lời diễn văn tiễn biệt hoa mỹ nào, ông Thiệu lặng lẽ lên một trong ba
chiếc công xa màu đen của Đại sứ quán Mỹ lầm lũi chạy thẳng vào phi trường.
Ngồi băng ghế sau, vị Tổng thống mà lúc
này đã là cựu của Chính quyền miền Nam Việt Nam lọt thỏm giữa hai người Mỹ to
lớn là tướng Timmes và đặc trách tình báo Polgar. Hộ tống ông Thiệu cũng bằng
vài lính thủy quân lục chiến Mỹ, chứ không hề có một người lính Việt nào trong
quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà ông từng nhiều năm là tư lệnh tối cao của họ.
Đoàn xe chạy qua Đài tưởng niệm chiến sĩ trận
vong với dòng chữ “Những hy sinh cao quý của chiến sĩ đồng minh sẽ không
bao giờ bị quên lãng”. Ông Thiệu thở dài giữa hai người Mỹ ngồi cùng băng
ghế tiễn đưa một cựu Tổng thống mà chẳng khác gì như áp tải. Xe cũng không dừng
lại ở bãi đậu máy bay của Air Việt Nam, mà sang bãi riêng biệt của Air America
với lính thủy quân lục chiến lăm lăm M16 canh gác.
Ở đó, Đại sứ Mỹ Graham Martin đã đợi sẵn với
cái bắt tay xã giao cùng câu chào ngắn gọn. Ông Thiệu trông có vẻ rất buồn và
nhẫn nhịn, nhưng vẫn giữ cố tư cách trang trọng của một Tổng thống, để nói lời
cảm ơn Martin đã tổ chức chuyến ra đi đặc biệt này. Đại sứ Mỹ đáp lời: “Đây là
điều nhỏ nhặt nhất tôi có thể làm. Chào ông và chúc ông may mắn”.
Ít phút sau, chiếc DC6 cất cánh rời khỏi Sài
Gòn rực ánh hỏa châu báo hiệu chiến sự đang đến rất gần và thời điểm Đô thành
thất thủ chỉ còn tính bằng ngày. Ông Thiệu ngậm ngùi dõi mắt qua ô cửa sổ máy
bay, nhìn Sài Gòn bỏ lại sau lưng. Bàn cờ chính trị – chiến cuộc trên mảnh đất
đẫm máu lửa, thương đau đã tàn và ông ta hiểu đây là lần cuối cùng mình được
nhìn thấy quê hương!
Người dân, kể cả nhiều chính khách lớn
nhỏ của miền Nam, cũng không hề biết một cựu Tổng thống của nền Đệ nhị Cộng Hòa
đã rời khỏi đất nước và không hề mang theo một thỏi vàng nào trong 16 tấn vàng
ngân khố như lời đồn thổi đầy ác ý. Nhưng chiến tranh vẫn không hề được tạm
dừng hay một chính phủ liên hiệp nào đó ra đời như một số người hy vọng. Biệt
khu Sài Gòn vẫn đang bị thít chặt lại với tốc độ nhanh đến nỗi không ai ở bên
trong đó có thể ngờ nổi.
Ngày 29 – 4 -1975, một đại diện không
chính thức của Chính phủ Mỹ đã tìm gặp ông Thiệu khi ấy vẫn còn đang ở Đài Loan,
để chuyển lời rằng ông không nên đến Mỹ vào lúc này, nhân dân phản chiến Mỹ
không chào đón ông. Ông Thiệu nhún vai, trả lời một cách ngậm ngùi: “Làm
kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó” …
Đặc biệt, khi vị tổng thống lưu vong cay đắng
thốt lên những lời này, thì ở quê hương Sài Gòn, tướng “độc nhãn” Hoàng Anh
Tuấn – Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ CMLTMNVN đang ở trại Davis, phi
trường Tân Sơn Nhất, đã lệnh cho cấp dưới chuẩn bị một lá cờ cách mạng thật
lớn. Đúng 9 giờ sáng ngày 30 – 4 – 1975, lá cờ hai màu xanh đỏ ấy đã được treo
lên tháp nước ở trại Davis trước khi quốc kỳ ba sọc Việt Nam Cộng Hòa bị hạ
xuống ở Dinh Độc Lập.
50 năm trước, Mỹ đã quay lưng với đồng
minh ngay thời khắc sinh tử nhất. 50 sau, lịch sử đắng cay này lại lặp lại với
Ukraine?
Subscribe to:
Post Comments (Atom)

Đừng tin những gì CS nói, hãy nhìn kỷ những gì CS làm ! ÔngThiệu đã nói câu đó. Chắc lúc ra đi trong giây phút miền nam hấp hối ông cũng nghỉ trong đầu : Đừng tin những gì người mỹ hứa, hãy nhìn kỷ những gì người mỹ làm. Chua chát thay số phận nhược tiểu của đất nước tôi !
ReplyDelete