Monday, May 28, 2018

Điểm Danh Đồng Đội - Đỗ Công Luận

Đàn Ông Như Thế Mới Là Đàn Ông - Hoàng Đại Dương


Bình sinh, cho đến bây giờ đã sang bên kia dốc cuộc đời, tôi vẫn thường tự cho mình là kẻ không đến nỗi phải xấu hổ với danh phận của một thằng đàn ông.

Trong mắt vợ tôi, tôi là một người đàn ông đích thực đáng để chăm sóc yêu chiều. Trong mắt tôi, tôi là thằng đàn ông hơn rất nhiều thằng đàn ông khác. Về chuyện này là cả một lĩnh vực triết lý sâu xa, một chủ đề mênh mông sâu sắc mà tiếc thay lâu nay ít ai bàn tới. Mặc kệ chuyện thiên hạ thờ ơ với thiên phận đàn ông, riêng tôi, tôi thầm tự đắc về cái chất đàn ông của mình. Ấy thế mà bỗng có một ngày đẹp trời, trên một phiên chợ vùng cao, tôi bị choáng váng vì tự thấy xấu hổ với mình khi ngồi nghe trộm câu chuyện của hai người đàn ông xa lạ.


Bên một chiếc bàn gỗ mốc thếch, tôi ngồi uống rượu với một người bạn. Anh này thạo nhiều thứ tiếng dân tộc vì đã một thời chuyên đi thu mua nấm rừng, thảo quả trong các bản làng xuất sang Trung Quốc. Bàn bên cạnh có hai người đàn ông mặc quần áo chàm vừa nốc từng bát rượu đầy vừa chằm chằm nhìn vào mặt nhau. Ngồi né ra xa một chút là một người phụ nữ váy áo thêu xanh đỏ, khắp người đeo không biết bao nhiêu vòng bạc lủng lẳng.

Suốt đến gần nửa tiếng đồng hồ chỉ thấy có một anh chàng nói, khi thì giận dữ khi thì nghẹn ngào, có lúc lại đắm chìm trong ưu tư như bị men rượu nhấn chìm. Can rượu to trên bàn đã vơi quá nửa, bỗng hai người đàn ông ôm chầm lấy nhau, nức lên rưng rức. Cái bàn ọp ẹp chao ngiêng làm hai bát rượu đổ tóe ra sàn. Lẳng lặng nhìn hai gã đàn ông quá say, người đàn bà cúi xuống nhặt những chiếc bát đặt lên bàn rồi lẳng lặng mở nút cái can nhựa cao đến hai gang tay, nghiêng can rót rượu đầy tràn hai miệng bát. Xong xuôi lại trở về chỗ, lẳng lặng nhìn bâng quơ ra rặng núi giăng ngang trước mặt.

Thấy cảnh lạ lùng, tôi thì thầm hỏi anh bạn xem chuyện gì đang xảy ra. Thì ra hai gã đàn ông này chính là “tình địch” của nhau, theo cái cách định nghĩa ngu ngốc của người dưới xuôi chúng ta. Một anh là chồng, còn một anh là người yêu cũ của người đàn bà đang ngồi đây. Nhìn kỹ ra thì cô vẫn còn khá trẻ nhưng vẻ tiều tụy và cam chịu làm cho ta nghĩ rằng đấy đã là một thiếu phụ nhan sắc đang tàn.

Chiều tối ngày hôm qua họ đã xuống đến chợ. Như nhiều đôi khác, hai vợ chồng này buộc ngựa vào một góc bên quán, ăn một bữa no nê rồi chia tay nhau. Sáng hôm nay họ lại tìm về quán cũ theo lệ thường để rồi sẽ lại ăn một bữa trước khi túc tắc dắt ngựa đi về. Thế nhưng lần này, cô vợ không về quán một mình mà dẫn theo anh người yêu cũ. Thế là ba người ngồi cùng nhau. Hai người đàn ông và một người đàn bà.

Anh bạn tôi ngồi xây mặt ra cửa nhưng căng tai về phía bàn bên để nghe và cố hạ giọng dịch cho tôi nghe từng câu nhát gừng đứt quãng của người đàn ông đang vừa nói vừa uống một cách đầy bức xúc. Anh bạn tôi còn phải tóm tắt cả câu chuyện đã xảy ra trước khi tôi hỏi, thế nhưng vẫn theo kịp được khúc sau vì anh kia cứ nói một câu lại uống một hớp, rồi lại gật gật cái đầu như đang cố vắt ra các ý nghĩ lộn xộn nằm đâu đó bên trong óc mình.

Tôi vừa nín thở để nghe và cố sắp xếp các lời dịch của anh bạn. Cuối cùng thì tôi hiểu được đại khái câu chuyện giữa hai người đàn ông, một người chỉ nói, vừa nói vừa nghẹn ngào, một người cúi gằm mặt xuống vừa nghe vừa cắn chặt hàm răng. Bỏ qua những câu vòng vo mà tôi không nhớ mà cũng không hiểu hết ý thì tóm tắt lại là như sau:
- Thằng Xín Thau kia, mày uống hết cái bát ấy đi rồi nghe tao nói. Suốt đêm qua tao đau tức cái tim, đau quặn cái ruột. Tao đi theo vợ mày về đây tìm mày.
-...
- Cái ngày bố mày theo ông thầy cúng đưa mày đến đón vợ mày về, tao buồn muốn chết. Tao đã bắn hết cả một túi thuốc, nhồi hết đạn chì thì nhồi sỏi sạn vào mà bắn. Đáy nòng vỡ ra, sẹo trên má tao vẫn còn đây này.
-...
- Sau khi cưới, vợ mày nó bảo rằng tao đừng buồn, mày thương vợ lắm. Tao tin nó quá, thế là tao vui.
- ....
- Phiên chợ trước tao được tin nhắn là phiên này vợ chồng nhà mày sẽ đi. Tao đắp vội mấy khúc bờ ruộng cho xong, tao bỏ cái đám cưới trong bản để ra đây gặp vợ mày.
- ...
- Mày phải biết. Khi đi ra chợ tao vui quá, bỏ không bắn hai con chim to trên cành, bỏ không bắn một con nhím to trong bụi. Tao chỉ nghĩ đến cái lúc được gặp vợ mày. Thật đấy. Tao vẫn còn thương con vợ mày lắm mà.
- ...
- Đến lúc tao tìm được con vợ mày, tao vui đến chảy cả nước mắt. Tao lại hát lại cái bài mà ngày xưa lần đầu tao hát vào bên tai con vợ mày, cái đêm đầu tiên tao gặp được nó.
- ...
- Thế mà, dắt nhau đi rồi, đèn tao chiếu vào tận mặt mà tao không còn nhận ra nó là cô con gái đẹp nhất bản. Giàng ơi. Ngày xưa cái mặt ấy tròn như trăng rằm, hai cái vú nó tròn to như hai quả dưa chín, cái tay nó đẹp như mình con trăn trên cây, tiếng nó cười hay như chim hót làm nắng cũng cười theo, cái váy nó thơm như hoa rừng làm bướm cũng bay theo.
- ...
- Giàng ơi. Đêm qua tao chỉ thấy mặt nó cong méo như trăng hạ tuần, ngực nó nhăn như hai quả bí héo. Nó không cười, nó chỉ muốn khóc. Tao đau cái tim tao quá. Giàng ơi.
- ...
- Mày nói đi. Là thằng đàn ông, mắt mày có nhìn thấy vợ mày nó khổ hay không? Là thằng đàn ông, mày có thấy vợ mày nó buồn hay không?
- ...
- Mày là thằng tốt số nhất đời. Mày sinh vào lúc nào mà mày lấy được vợ mày. Mày thật là có cái tội to. Hôm nay tao định đánh mày, tao thương con vợ mày quá.
- ...
- Lần này tao mang hai bao ngô giống. Tao không bán nữa. Mày mang về đi mà trồng. Phiên chợ sau tao gửi phân bón vào cho.
- ...
- Đến kỳ ngô ra bắp tao bảo mày cách đặt bẫy. Tao có bài thuốc, bẫy sập là lợn rừng ngấm thuốc không chạy được đâu. Tao sẽ cho mày. Nếu nhím sập bẫy, mày bắt nguyên cả con mang ra chợ. Có người mua ngay. Ba cái dạ dày nhím sống là đổi được một con lợn giống to.
- ...
- Mày không được lười. Mày đói thì tao kệ mày nhưng vợ mày thiếu thóc thiếu ngô là tao đánh mày đấy.
- ...
- Thằng Xín Thau kia, mày có phải là thằng đàn ông hay không?
Nhìn hai gã đàn ông gục đầu vào nhau rưng rức khóc trên hai bát rượu đã cạn khô, tôi thấy thật là khó tả. Nhìn sang người đàn bà lẳng lặng ngồi bên, tôi không đọc được những ý nghĩ gì đang ẩn hiện trong đầu cô ta. Phải chăng là vừa hạnh phúc vừa tủi thân, phải chăng là vừa ái ngại vừa thương xót cho cả hai gã đàn ông của cô.

Rất lâu về sau, một lần tôi đem câu chuyện này kể cho vợ tôi nghe. Vợ tôi thở dài, cầm cái điều khiển tắt phụt màn hình vô tuyến đang lải nhải vô duyên và bâng quơ nói: “Đàn ông như thế mới là đàn ông”.
Nghe vợ nói thế bỗng tôi tự hỏi đàn ông dưới xuôi chúng ta ngày nay vênh vênh váo váo vì sự “văn minh” mà mình tự khoác cho mình, hãnh diện với những ô tô đời mới, với những biệt thự đắt tiền của mình, những gã đàn ông như thế có biết đích thực thế nào mới đáng được gọi là thằng đàn ông.
Vợ tôi bảo là “đàn ông như thế mới là đàn ông”, tôi hiểu cô ấy muốn nói cô ấy ngưỡng mộ những người đàn ông như thế chứ không phải là cái loại văn minh, tốt mã nhưng mà chứa đầy chất “xăng pha nhớt” như là bọn tôi.
Tôi hiểu ra là những thứ tiện nghi quanh tôi đang gặm nhấm dần biết bao nhiêu là những điều tốt đẹp sẵn có trong tôi mà nay chỉ tìm thấy được ở những vùng sâu vùng xa hẻo lánh nơi còn giữ được đời sống nguyên sơ.
Hoàng Đại Dương
Nguồn: mb.dkn.tv

Sunday, May 27, 2018

Tiếng Suối Thời Gian - Trầm Vân

Bài Điếu Văn Cho Mẹ Việt Nam - Nguyên Thạch (Danlambao)


Tuy không bi quan, không yếm thế nhưng các bạn nên thông cảm rằng trong tận cùng của nỗi đau lo sợ mất nước, đưa đến thảm cảnh dân tộc phải bị chìm ngập trong vũng lầy đầy đau thương…Nếu tất cả người Việt không vùng dậy để cứu lấy non sông, nếu Thượng Đế không đoái hoài đến đất nước cùng dân tộc này thì các bạn hãy xem đây như một bài Điếu Văn cho mẹ Việt Nam trong khi mẹ hãy còn đang hấp hối trong cơn bệnh trầm kha.

***                                                                                                      
Còn non 3 năm nữa. Vâng, còn non 3 năm nữa là đến kỳ hạn phải thực thi những điều khoản mà Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười cùng Phạm Văn Đồng đại diện cho Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) một lũ phản quốc và bán nước đã ngầm ký kết với thiên triều Tàu cộng mà cho đến giờ này cả 2 bên vẫn còn giữ kín trong vòng tối mật.

Với tập đoàn Hán phiệt đầy tham vọng và mưu lược, cộng với sự nối giáo tiếp tay của bọn hèn mạt ĐCSVN, chúng đã mang đại họa đến cho toàn dân tộc Việt Nam. Giờ đây, hỡi những ai còn mê muội, còn bị ru ngủ, còn đặt niềm tin vào một bè lũ gian trá, điếm hèn mà thờ ơ với vận mạng của đất nước thì hãy mau tỉnh ngộ, sự tỉnh ngộ tuy muộn màng nhưng vẫn còn hơn không.

    
Các bạn tôi ơi, đồng bào tôi ơi, ngoài kia Biển Đông đã bị bọn Hán Phiệt tuyên bố chủ quyền với diện tích chiếm hơn 80% của trên 3.500.000 km2 chứa bao tài nguyên dầu khí, khoáng sản, cùng con đường giao thông huyết mạch hàng hải quốc tế vô cùng quan trọng, chúng đã cướp và đang xây dựng những căn cứ quân sự kiên cố với dàn hỏa tiễn cực khủng, với kho dự trữ nhiên liệu dự phòng cho những cuộc chiến, với sân bay hiện đại trên các đảo mà chúng đã cướp được thuộc chủ quyền của Việt Nam, đó là Đá Chữ Thập, Vành Khuyên, Subi, Tư Nghĩa, Bãi đá Châu Viên, Gaven và Gạc Ma (1). Chúng thách thức cả Hoa Kỳ và thế giới, chúng xem ĐCSVN như là những đứa con hoang mà chúng muốn đánh muốn dập bất cứ lúc nào.


Diện tích phần đất nhân tạo trên bãi đá Châu Viên được mở rộng tới 119.711 m2, tính đến ngày 14/3. Những công trình xuất hiện tại đây gồm kênh tiếp cận, đê chắn sóng, bãi đáp trực thăng, các tòa nhà hỗ trợ, cơ sở quân sự, ăng ten liên lạc vệ tinh, radar. Ảnh: AMTI/Digital Globe

Đá Chữ Thập có diện tích 960.000 m2, tính đến ngày 21/10/2014. Ngoài đường băng, trên hòn đảo nhân tạo này còn có cảng biển đủ lớn để đón tàu tiếp tế, tàu chiến đấu cỡ lớn, nhiều nhà máy xi măng, cơ sở hỗ trợ, cầu cảng, súng phòng không, hệ thống chống người nhái, trang thiết bị liên lạc, nhà kính, bãi đáp trực thăng. Ảnh: CSIS/AMTI.

Quân đội VN ơi, trên đầu của Tổ Quốc, lãnh thổ đã bị chúng xâm nhập, di dời cột mốc biên giới để gặm nhắm hàng hàng ngàn km2 đất đai của 6 tỉnh dọc biên thùy, lấn hàng chục ngàn km2 vịnh biển, chiếm cứ các điểm cao chiến lược… mà quân đội ta chẳng dám làm gì! Thật nhục nhã cho một quân đội đã luôn tuyên bố là "đánh thắng 2 tên Đế quốc sừng sỏ nhất thế giới là Mỹ, Pháp" mà giờ đây phải bị khuất phục. Giờ đây, các anh có thấy được nỗi đau, nỗi nhục của một thứ quân đội chỉ biết cúi đầu dưới câu huấn lịnh “Quân đội phải trung với đảng” mà đảng thì chỉ là một bọn phản quốc bán nước thuộc BCT - TWĐ (Bộ Cá Tra) chuyên đớp hít những thứ cực kỳ nhơ bẩn.

Đồng bào ơi, lớp thanh niên, tuổi trẻ ơi, các bạn có thấy Hà Tĩnh thất thủ bởi sự hoành hành của Formosa khiến biển của 4 tỉnh miền Trung lặng chết? Khiến hàng triệu dân chúng và ngư phủ khốn đốn?. Các bạn có biết Đà Nẵng đã thất thủ bởi giờ đây Đà Nẵng đã tràn ngập các ông chủ Tàu phiệt?. Có thấy các khu phố, bãi biển ở Nha Trang cũng đã bị chiếm ngự bởi bọn Tàu nhớp nhúa xả rác, giành giựt ăn uống và đánh đập, khinh miệt dân mình bằng ném cho cái tên là “Ố Nàm”?. Có biết vùng chiến lược Tây Nguyên cũng đã thất thủ và đang bị các đoàn quân đặc công trá hình chiếm đóng để xây dựng những đồn trú quân sự với hầm chứa vũ khí mà nhà cầm quyền cùng côn an VN không dám bén mảng?. Có thấy Bình Dương, Bình Thuận, miền Tây Nam Bộ đầy dẫy lớp người của “đoàn quân thứ Năm” sẽ là những lực lượng hậu thuẫn cho những đợt tấn công thôn tính?.

Đồng bào tôi ơi, các chị phụ nữ Việt Nam, các em bé trai gái tội tình của tôi ơi, lớp người vô tội này sẽ phải chịu nhiều cực hình vô cùng đau đớn: Cưỡng bức, hãm hiếp, ép lấy làm vợ, làm ô sin, giết mổ lấy nội tạng sống để cung cấp cho thị trường... ngoài tim gan thận phổi, chúng còn tận dụng cả từng “mảng dây chằng” của phụ nữ?.

Lạnh người sự thật xác trẻ em "bị bắt cóc sang Trung Quốc lấy nội tạng" gây chấn động

Người Việt Nam chúng ta, đồng bào chúng ta có tội tình gì mà phải đối diện với những cảnh của địa ngục trần gian? Hình ảnh của đứa học sinh tiểu học nhà nghèo bụng đói, trên đường về đã ngất xỉu té xuống mương chết đuối. Mới hôm kia, con Hằng đứa cháu gái bà con của tôi bị bọn hung thần vì tiền bạc mà bắt cóc đứa cháu đem bán cho bọn chuyên buôn nội tạng, mường tượng ra cảnh đứa cháu bé dại dễ thương ấy phải chịu đau đớn trên bàn mổ trong tiếng rên la thảm thiết…Tôi khóc.

Đồng bào ơi, các bạn tôi ơi, không khóc sao được khi quê hương và người thân, cùng máu mủ ruột thịt phải bị chìm ngập trong cảnh đọa đày?. Trước viễn ảnh vô cùng đen tối, trước vũng lầy của uất hận… Tôi thành khẩn kêu gào, tôi van xin mọi người hãy thôi làm ngơ vì thật sự đất nước ta, đồng bào ta đang bước vào địa ngục có tên gọi Việt Nam này. Dưới ách cai trị của bọn hung tàn CSVN và Tàu cộng, ở đây một đất nước không an toàn, không vui sướng, không hạnh phúc như chúng ta đã tưởng.

Tuy không bi quan, không yếm thế nhưng các bạn nên thông cảm rằng trong tận cùng của nỗi đau lo sợ mất nước, CSVN đã đẩy đất nước đến thảm cảnh, dân tộc phải bị chìm ngập trong vũng lầy đầy đau thương… Nếu tất cả người Việt không vùng dậy để cứu lấy non sông, nếu Thượng Đế không đoái hoài đến đất nước cùng dân tộc này thì các bạn hãy xem đây như một bài Điếu Văn cho mẹ Việt Nam trong khi mẹ hãy còn trong cơn hấp hối trong cơn bệnh trầm kha.

Đứng dậy

Đất nước ta qua 4.000 năm lịch sử
Bọn tay sai đã bức tử miền Nam
Chúng dâng Biển Đông chính thức bằng công hàm
Gom cả nước về một mối để 46 năm sau chúng dâng cả Việt Nam cho Tàu cộng.

Mẹ Việt Nam ơi, chúng con đã sống
Hơn 42 năm qua trong ác mộng hãi hùng
Sống lang thang, sống khắc khoải, sống bần cùng
Ôi vận nước tận cùng mạt hạng!

Năm 2020 đất nước ta thuộc Hán
Đời sống sẽ ra sao trong ngày tháng vong nô?
Mẹ Việt Nam ơi, cả nước giờ đây đã nhận rõ mặt Hồ
Tên Hán tặc cẩu nô bán nước.

42 năm qua dòng đời xuôi ngược
Ngàn năm sau, đất nước về đâu?
Chúng con chắp tay hướng về Thượng Đế lời nguyện cầu
Cho dân Việt ngàn sau bền vững.

Chắc mẹ đã biết, bao nhiêu năm chúng con chịu đựng
Dưới gót hung tàn, bao tang chứng đau thương
Trong tim chúng con vẫn yêu Tổ Quốc quí Quê Hương
Trong khốn khó…chúng con sẽ tìm đường đứng dậy.

Hỡi bạn bè ta ơi, giờ thấy chưa hay chưa thấy?
Một Việt Nam tận đáy vực sâu!
Màu tang thương đã và sẽ trùm phủ một mầu
Khắp đất nước sẽ chìm sâu trong đại nạn.

Đồng bào ta ơi, hãy vùng lên diệt Hán
Đánh tan bầy buôn bán non sông
Hãy cùng nhau dựng lại ngày hội Diên Hồng
Đã đến lúc phải đồng lòng đứng dậy.

Hạnh Phúc Là Đây - Đỗ Công Luận

Có Một Phẩm Chất Mà Ai Cũng Cần Phải Học, Được Gọi Là… "Đợi Người Khác Nói Xong"


“Đợi tôi nói xong đã nào!”. Đây là một lời nhắc nhở, cũng là sự châm chọc về việc tôi và bạn quá nóng vội và muốn sớm gặt hái được thành quả. Khi Thượng đế tạo ra con người, vì sao chỉ có một cái miệng mà có tới tận hai cái tai? Là để chúng ta nói ít lại và lắng nghe nhiều hơn. Chúng ta cũng chẳng vội đến mức nước lên đến cổ hay đang xảy ra hỏa hoạn, mà sao ngay cả đợi người khác nói hết những gì họ muốn cũng chẳng được?
Câu chuyện người mẹ trẻ và quả táo

Người mẹ trẻ muốn kiểm tra thành quả về cách giáo dục con cái của mình. Cô vui vẻ đưa cho cậu con trai nhỏ hai quả táo. Tiếp đó, cô chờ đợi cậu con trai nhỏ sẽ tặng lại cho mẹ một quả. Nhưng cậu bé nhận lấy hai quả táo từ tay mẹ xong cũng chẳng thèm nhìn mẹ lấy một cái, mà cắn ngay mỗi quả một miếng.

Người mẹ trẻ vô cùng thương tâm, suýt nổi giận và định dạy cho cậu con một bài học về sự tham lam, ích kỷ. Ai ngờ được rằng đúng vào lúc này cậu con trai bé nhỏ cất tiếng ngọng líu ngọng lô: “Mẹ ơi, mẹ ăn quả này này. Con ăn thử rồi, không chua đâu!”.
Nước mắt của mẹ đột nhiên rớt xuống. Đôi khi chúng ta tức giận là vì không đủ kiên nhẫn và không có thời gian chờ đợi câu trả lời. Bởi phía sau sự lắng nghe là một tấm lòng ấm áp.

Nhờ biết lắng nghe tôi đã kịp thời cứu vãn được công việc và một cuộc hôn nhân
Thời gian trước, có một người bạn làm cùng tôi. Tôi tự cảm thấy mình đã dành hết tâm huyết cho công việc. Nhưng tới khi nghiệm thu anh ấy lại phê bình tôi và đưa ra đề xuất của mình. Điều này khiến tôi rất không vui. Bạn tôi gọi điện cho tôi vì muốn thay đổi ý kiến. Cậu ấy còn chưa kịp mở miệng thì tôi đã tuôn xối xả một tràng dài những lý do và suy nghĩ của mình. Sau đó hai người chúng tôi hầu như miệng ai nói thì tai người nấy tự nghe. Một lúc sau cả hai cùng tức giận và bỏ đi, kết quả là chẳng ai nói rõ được suy nghĩ của mình.

Bạn tôi sốt ruột hỏi rằng: “Chúng ta có thể nói chuyện không? Nếu không thì chúng ta chat nhé!”. Sau đó cậu đã nói rõ ràng mọi suy nghĩ của mình qua chat. Kỳ thực cũng có nhiều chỗ tôi cũng có thể tiếp thu, vấn đề đã được hóa giải trước cơn nguy nan. Sau chuyện này tôi thầm nghĩ, rất nhiều việc đã thành xôi hỏng bỏng không chỉ vì tôi không cho đối phương có cơ hội nói hết. “Đợi tôi nói xong đã nào”. Đây là một yêu cầu vô cùng nhỏ bé trong giao tiếp nhưng chúng ta lại thường quên mất sự tôn trọng cơ bản nhất này trong giao tiếp.

Em trai tôi mới lập gia đình, đang trong giai đoạn hai vợ chồng tìm cách hòa hợp với nhau. Vậy nên đôi vợ chồng trẻ ngày nào cũng cãi cọ. Cả hai đều rất khổ tâm, cãi qua cãi lại tới bước sắp phải ly hôn. Hôm qua cô gái gọi điện tới than thở với tôi. Tôi biết rằng, chẳng qua chỉ là những chuyện vụn vặt trong nhà, ví như cô ấy đã hy sinh rất nhiều mà anh chồng đáp lại chẳng được bao nhiêu. Tôi nhẫn nại lắng nghe cô ấy than thở và thể hiện sự đồng cảm và đồng tình một cách thích hợp. Cuối cùng cô gái vui vẻ quay về nhà nấu cơm cho chồng. Về sau cô gọi điện thoại tới khen ngợi tôi: “Chị quả thực là người biết an ủi người khác. Sau khi chị an ủi xong em mới thấy hóa ra chẳng có chuyện gì to tát cả”. Tôi mỉm cười rồi gác máy, thầm nghĩ, tôi đâu có nói lời nào, chỉ là cô ấy muốn than vãn một chút về nỗi ấm ức trong lòng mà thôi.

Nghệ thuật lắng nghe và câu chuyện về đôi tri kỷ Bá Nha, Tử Kỳ
Tương truyền rằng Chung Tử Kỳ là một tiều phu đầu đội nón lá, lưng khoác áo lá, vai đeo dao quặp, tay cầm rìu. Trong lịch sử còn ghi chép lại rằng, một lần nọ Du Bá Nha gảy đàn bên sông Hán Giang, Chung Tử Kỳ nghe xong xúc động thốt lên rằng: “Vòi vọi như non cao, mênh mang như nước chảy”.

Từ đó hai người trở thành bạn tri kỷ, tâm giao. Sau khi Tử Kỳ qua đời, Bá Nha cho rằng trên đời này không còn ai có thể hiểu được tiếng đàn của mình. Nên từ đó về sau ông không bao giờ gảy đàn nữa.
Bởi vậy, lắng nghe không chỉ có thể khiến tâm hồn xích lại gần nhau hơn, mà còn là sự khởi đầu của những đôi tri kỷ.

Không biết lắng nghe đã khiến một hãng hàng không thiệt hại nặng nề
Năm 2008, nhạc sĩ Dave Carroll đi lưu diễn, chiếc đàn guitar của anh được vận chuyển theo đường hàng không của hãng United Airlines và bị gãy. Carroll bèn kiện công ty hàng không, nhưng không một ai lắng nghe anh ấy nói. Công ty hàng không cho rằng Carroll thích chuyện bé xé ra to. Nhưng đối với những người có tâm hồn mong manh như các nghệ sỹ thì chiếc đàn guitar cũng là một sinh mệnh thân thiết của anh. Cách xử lý của công ty hàng không khiến Carroll rất đau lòng.

Thất vọng với cách hành xử của hãng hàng không lớn thứ hai thế giới, tháng 6/2009, sau 9 tháng xảy ra vụ việc, nhạc sĩ Dave Carroll đã cho ra đời bài hát “United breaks guitars” (United làm vỡ đàn guitar). Bài hát này với giai điệu vui tươi được Dave và nhóm nhạc của anh dàn dựng, tung lên youtube với đoạn điệp khúc nghe có phần “cay đắng”: United, anh làm vỡ cây đàn guitar Taylor của tôi rồi!

Clip cũng được thể hiện hết sức hóm hỉnh, với hình ảnh những nhân viên của hãng United Airlines đủ mọi sắc thái cảm xúc. Chắc hẳn, ai xem clip cũng không khỏi mỉm cười thú vị. Bài hát không những vui tươi, lại còn…dễ thuộc!

Không ngờ rằng, chỉ trong hai tuần ngắn ngủi, số lượt truy cập bài hát này đã lên tới 5 triệu lượt. Điều mà không ai nghĩ tới rằng, ảnh hưởng phụ diện của video này đã khiến cổ phiếu của United Airlines giảm xuống 10% chỉ vẻn vẹn trong 10 ngày. Họ đã phải chịu tổn thất vô cùng lớn, tới 180 triệu đô la Mỹ, đủ để mua 51.000 chiếc guitar đền cho Carroll.
“Kỳ thực tôi chỉ cần có một người trong United Airlines đứng ra lắng nghe sự bất mãn của tôi, thừa nhận họ đã làm sai và nói với tôi một lời “Xin lỗi”, chỉ cần vậy thôi. Nhưng họ đã không làm như vậy”.

Cuối cùng Carroll đã nói ra nguyên nhân mà anh kiên quyết kiện hãng Hàng không Liên bang Mỹ cho bằng được: “Hãy đợi tôi nói xong đã”. Carroll chẳng qua chỉ cần được lắng nghe, được tôn trọng mà thôi.

Rất không may cho United Airlines, Dave Carroll là một nhạc sĩ/ca sĩ tài ba. Có hề gì, anh sáng tác nhạc! (Ảnh dẫn theo CafeF)

Các bậc phụ huynh và những đứa con ở tuổi dậy thì
Hiện nay có rất nhiều bậc phụ huynh than vãn rằng con cái mình bước vào thời kỳ tâm lý phản nghịch, căn bản là không biết nghe lời! Nỗi khổ ấy đã trở thành tiếng lòng của những bậc phụ huynh có con đang tuổi dậy thì. Nhưng tĩnh tâm nghĩ lại, kỳ thực sự oán trách này bản thân nó đã có vấn đề: Thử đóng cửa tự hỏi mình xem bạn có thực sự lắng nghe tiếng lòng của con không? Bạn có biết con mình đang nghĩ gì, mong muốn điều gì không? Bạn muốn hiểu con mình, nhưng lại không chịu lắng nghe chúng, mà chỉ muốn chúng lắng nghe bạn. Bạn cứ ở đó như cái máy nói, thì chúng sao có thể nghe lời bạn được?!

“Đợi tôi nói xong đã nào!”. Đây là một lời nhắc nhở, cũng là sự châm chọc về việc tôi và bạn quá nóng vội và muốn sớm gặt hái được thành quả. Khi Thượng đế tạo ra con người, vì sao chỉ có một cái miệng mà có tới tận hai cái tai? Là để chúng ta nói ít lại và lắng nghe nhiều hơn. Chúng ta cũng chẳng vội đến mức nước lên đến cổ hay đang xảy ra hỏa hoạn, mà sao ngay cả đợi người khác nói hết những gì họ muốn cũng không có?”. Đôi khi tôi tự nhủ với mình rằng đây là một căn bệnh, phải chữa.

Lắng nghe là sự tu dưỡng tâm tính
Đợi người khác nói xong là một loại năng lực, cũng là sự tu dưỡng tâm tính. Có một cách lắng nghe gọi là trầm tĩnh. Đó là một bầu không khí hài hòa, yên lặng và uy nghiêm, không lời nhưng cũng rất ấm áp, và đầy sức cuốn hút. Có một cách lắng nghe là quên mất cả bản thân mình, yên lặng nghe tiếng tuyết rơi, nghe tiếng gió luồn qua mái nhà, nghe tiếng chim hót buổi sớm mai, nghe một giai điệu du dương. Điều này cũng thể hiện cảnh giới và sự tu dưỡng của một người. Chỉ khi có được một nội tâm an hòa mới có thể hiểu được sự tĩnh lặng của năm tháng thật tuyệt vời.
Đợi người khác nói hết cũng là một phẩm chất của bậc trí huệ, chứ không phải nói thao thao bất tuyệt mới thể hiện mình là người có năng lực.

Trí huệ của cha ông dạy chúng ta về nghệ thuật lắng nghe
Kỳ thực trí huệ về việc lắng nghe đã được ông cha ta gửi gắm trong chữ Nho, loại ký tự đã từng gắn liền với cuộc sống và sử sách của dân tộc Việt chúng ta thời xưa. Chữ “Thính聽” (lắng nghe) ở dạng chính thể gồm bộ “Nhĩ耳” (tai), bộ “Vương 王” (vua), chữ “Thập 十” (mười), chữ “Mục目” (mắt), chữ “Nhất一” và chữ “Tâm 心”.  Nếu ghép các bộ này vào nhau chúng ta sẽ hiểu được hàm ý mà ông cha ta muốn gửi gắm. Khi lắng nghe một ai đó, chúng ta phải khiến người ấy cảm thấy mình quan trọng như một vị vua (chữ Vương), và lắng nghe bằng đôi tai của mình (bộ Nhĩ). Đồng thời chúng ta còn phải dồn mọi ánh nhìn và sự chú ý tới họ (chữ Thập, chữ Mục). Nhưng như vậy vẫn chưa đủ, điều quan trọng nhất là phải dành trọn trái tim để cảm nhận những điều họ nói (chữ Nhất Tâm). Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể lắng nghe trọn vẹn những thông điệp mà họ muốn truyền tải, mới biết cách thấu hiểu và trân trọng người khác.

Ngày nay, trong tiếng Hán hiện đại chúng ta cũng có chữ “Thính听” (lắng nghe) nhưng lại ở dạng giản thể. Và điều kỳ lạ là nội hàm của chữ này lại bị thay đổi hoàn toàn, đi ngược hẳn lại với những giá trị trong văn hoá chính thống (vốn được viết bằng chữ phồn thể/chính thể). Chữ “Thính听” giản thể gồm bộ “Khẩu口” (cái miệng) và bộ “Cân斤” (cái rìu). Đại ý là không phải dùng tai, dùng mắt, hay dùng tâm để lắng nghe như văn hóa truyền thống, mà là nghe bằng miệng, bằng những lời búa rìu sắc nhọn. 

Chữ Hán chính thể bị thay thế bằng chữ giản thể, kéo theo đó là giá trị giáo dục và nhân văn sâu sắc bị đánh cắp một cách tài tình. Văn vốn là phương tiên để giáo hoá con người, khi văn tự bị biến đổi mất đi nội hàm chân chính của nó, thay bằng một nội hàm khác hẳn thì đương nhiên giá trị giáo dục ấy bị thay đổi rồi. Vậy nên việc cắt lời người khác, để mau chóng biểu đạt suy nghĩ của mình, mới trở thành một thói quen quá phổ biến như bây giờ.

Thay vì lắng nghe bằng cái Tâm, bằng cảm nhận từ trái tim như người xưa nhắn nhủ, thì con người ngày nay thường xuyên ngắt lời, chỉ muốn nói mà không đủ kiên nhẫn để lắng nghe, có nghe cũng là với tâm thái tranh đấu phản biện. Nội hàm của chữ giản thể mới dẫn đến một các biểu hiện văn hoá trở nên phố biến như: ‘chưa nói xong đã cãi xong’, ‘cướp diễn đàn’, ‘đốp lại’, ‘bật tanh tách’… Lời nói thay vì là phương tiện của sự thấu hiểu, thì nay là phương tiện để tranh đấu. 

“Đợi người khác nói xong”, điều tưởng chừng vô cùng đơn giản, sao giờ đây lại khó khăn đến vậy? Đó là hệ luỵ của lối sống chỉ biết nghĩ đến lợi ích của riêng mình, chỉ quen tranh giành để bản thân luôn là vị trí số 1 trong mắt người khác. Lắng nghe với thái độ khiêm nhường cầu thị trở thành thứ gì đó xa xỉ khó hình dung trong văn hoá người nhiện đại. Bằng cách đó nét đẹp của văn hóa tu dưỡng truyền thống ngày một bị lãng quên.

Người ta không ngừng than thở về chuyện xã hội thiếu vắng niềm tin, tình yêu thương, lòng nhân ái. Thực ra nếu chúng ta có thể quay trở về với những giá trị đạo lý truyền thống, biết ‘đợi người khác nói xong’, biết nghe bằng sự tập trung của đôi mắt, sự chân thành của trái tim như chữ ‘Thính’ mà ông cha ta để lại như một bài học uyên bác, thay vì nghe bằng ‘cái rìu’ như cách mà ĐCSTQ biến đổi văn tự truyền thống, thì hẳn rằng, chúng ta có thể thấu hiểu nhau nhiều hơn, và xã hội không thể thiếu vắng đi tình yêu thương và lòng nhân ái.

Nhã Văn 
dkn.tv


Saturday, May 26, 2018

The Wolf And The Smarter Little Dog...

Linh Hồn Của Đất - Bùi Thượng Phong


Khoảng cuối năm 1967 tôi nhận được sự vụ lệnh về cầm một đại đội cho một tiểu đoàn mới thành lập chưa được bao lâu, thuộc SÐ25BB,  lúc đó đang đồn trú tại quận Ðức Hòa.

Tiểu đoàn này trước đó mấy tháng, được đặt dưới quyền chỉ huy của một vị Thiếu tá rất nổi tiếng bên Biệt Ðộng Quân mới chuyển qua. Vì công sự phòng thủ chưa hoàn tất, Bộ Chỉ Huy/Tiểu Ðoàn (BCH/TÐ) phải tạm thời đóng trong ngôi biệt thự của một nhà máy xay lúa, chủ nhân là ông Sáu Ngô. Ông Sáu Ngô đã giữ kín một điều mà mãi sau này người ta mới biết, là ông có một người em bỏ nhà từ hồi còn nhỏ, theo VC.


Lợi dụng cơ hội hiếm có này, trong một đêm đen tối, VC đã  bất ngờ  dùng đặc công và nội tuyến, tràn ngập vào được tuyến đầu của BCH/TÐ. Chỉ sau vài phút đầu bối rối, các anh em binh sĩ của BCH/TÐ đã chống trả rất mãnh liệt và sau đó phản công, đánh bật chúng ra khỏi con đường mương mà anh em đã tạm dùng làm tuyến phòng thủ, khiến chúng phải vội vã tìm đường rút vì chúng dư biết lực lượng tiếp viện của ta đang trên đường tiến tới.

Tuy phải trả một giá rất đắt, VC cũng đã gây thiệt hại khá nặng cho bên ta, nhất là về phương diện tinh thần, vì trong số các chiến sĩ đã hy sinh ngay tại tuyến đầu đó, có cả vị TÐTrưởng can trường mà ai đã từng là Biệt Ðộng Quân cũng đều phải nghe danh: “Thiếu tá Cọp Ba Ðầu Rằn” !

Sau trận thất bại này, các anh em binh sĩ trong Tiểu Ðoàn (TÐ) có phần xuống tinh thần. Tiểu đoàn phải chờ bổ sung thêm quân số và cần được “hấp” lại. Và tôi được chuyển về đây cũng trong dịp này.
Ðược nương nhẹ rất nhiều, nhiệm vụ chính của TÐ lúc đó hầu như chỉ là hành quân mở đường và làm an ninh vòng ngoài cho Bộ Tư Lệnh/Sư Ðoàn 25 Bộ Binh tại Ðức Hoà. Lâu lâu cũng có hành quân, nhưng chỉ là những cuộc hành quân lục soát quanh vùng, sáng đi chiều về, như công chức!

Trong khoảng thời gian coi như nhàn hạ này, tôi đã quen biết một đứa bé gái tên là Hân, lúc đó khoảng 8, 9 tuổi, là cháu gọi bằng dì của cô Thanh, chủ ngôi nhà mà tôi đã xin phép để đặt Ban Chỉ Huy/Ðại Ðội.  Tôi chọn nhà cô Thanh vì không những nhà có một sân lớn, tầm quan sát tốt, nó lại còn có cả một cái nhà cầu đàng hoàng. Cô Thanh, một phụ nữ khoảng trên dưới ba mươi, không đẹp cũng không xấu, ăn nói rất nhỏ nhẹ, dễ thương. Không thấy cô có chồng, nghỉ dạy học đã lâu để trông coi việc ruộng nương, nhưng bà con lối xóm vẫn quen gọi cô là Cô Giáo.  Dĩ nhiên cô Thanh không hề là  đối tượng của những sĩ quan còn rất trẻ như chúng tôi hồi đó.

Còn nhớ ngày đầu tiên gặp và nói chuyện với cô ở ngoài sân, về việc xin tạm dùng căn nhà làm BCH/ÐÐ, tôi thấy có một đứa bé gái đứng dựa lưng một gốc cau gần đó, đang nheo mắt nhìn tôi rất chăm chú. Thấy nó dễ thương, tôi quỳ một chân xuống ngang tầm nó và ngoắc nó lại. Nó phụng phịu lắc đầu, không chịu. Cô Thanh nói như hơi gắt:
Hân không được hỗn, lại cúi đầu chào Thiếu úy đi con!
Vẫn còn phụng phịu, nó tiến lại gần tôi và lí nhí nói mấy câu gì tôi cũng không nghe rõ!
Tôi thông cảm sự thay đổi quá đột ngột đối với gia đình cô giáo, đang vắng vẻ, neo đơn; nay bỗng dưng ồn ào náo nhiệt, ra vào toàn lính là lính!

Cô Thanh thì còn bận rộn với ruộng vườn, công thợ… chứ bé Hân thì ngoài giờ đi học, nó đụng độ tụi tôi suốt ngày. Mấy ngày đầu, nó có vẻ còn tránh né, nhưng rồi sau đó, quen hết anh hạ sĩ y tá này đến bác thượng sĩ thường vụ kia, nó trở nên vui vẻ và hòa đồng rất nhanh với cái không khí ồn ào nhưng kỷ luật của đời lính chúng tôi. Ðặc biệt, Hân quý tôi hơn cả, vì có mấy lần tôi đã giúp em giải một vài bài toán khó trong lớp. Nó quấn quít bên tôi suốt ngày, chuyện trò líu lo không ngừng nghỉ. Có những lần tôi đi hành quân về, nó núp trong bụi, rồi chợt chạy ùa ra ôm lấy chân tôi cười nắc nẻ … Mới 8, 9  tuổi, mà em đã biết  dành dụm tiền để mua đường, nấu đãi chúng tôi những bát chè thật ngọt ngào ấm bụng! Bù lại, những lần đi phép, không lần nào tôi không mua cho em, khi thì đồ chơi, khi khác là sách, tập…

Hân mồ côi cả cha lẫn mẹ. Quê em ở mãi đâu vùng An Hiệp, Thái Mỹ. Em kể với tôi, nước mắt lưng tròng: Cha em một hôm đi làm ruộng, đạp nhằm phải mìn VC, chết không kịp trăn trối! Hơn năm sau, người mẹ cũng ra đi vì bịnh! Thế là em phải về núp bóng dì của em, là cô giáo Thanh.

Tôi lúc đó chưa lập gia đình, thực tình, tôi thương Hân như thương người em út, nó còn kém đứa em út của tôi ba, bốn tuổi.
Tuy ở với dì ruột, tôi biết Hân đang thiếu một tình thương phụ mẫu, nhất là hình bóng của một người cha. Và… không phải là một nhà Tâm lý học, tôi không thể biết nổi: ở tuổi nào sớm nhất, một đứa con gái có thể biết yêu? Vì có một lần, mấy cô bạn gái của tôi từ Sàigòn lên thăm. Khi họ ra về, bé Hân đã đối xử với tôi một cách rất khác thường. Nó lảng tránh và ít nói hẳn, không hồn nhiên như trước nữa! Hình như nó cũng biết hờn, ghen? Tôi nghĩ dù sao, nó chỉ là một đứa con nít. Mà đúng thế, chỉ được hai hôm là cô nàng đã quên hết! Lại giở trò nghịch ngợm, chọc phá như cũ…

Hồi đó cứ như thế, tôi lấy tình thương yêu của anh em binh sĩ dưới quyền và luôn của bé Hân như một hơi ấm gia đình. Ðang ở cái tuổi tràn đầy nhựa sống, mấy anh chàng sĩ quan lóc chóc như tụi tôi, có thì giờ là la cà tán tỉnh mấy em cỡ tuổi đôi tám, chợt nở rộ như những bông hoa đầy hương sắc miền thôn dã, chẳng hạn như hai chị em cô Huệ, cô Khanh con ông chủ nhà máy xay, hoặc Giáng Tiên, hoa khôi tỉnh Hậu Nghĩa.

Thế nhưng mấy tháng nhàn hạ qua nhanh như gió thổi, khi TÐ vừa có một sinh khí mới, thì biến cố Tết Mậu Thân xảy ra! TÐ hành quân mệt nghỉ, ngày nào cũng có hành quân, ngày nào cũng có đụng độ, mà trận lớn nhất xảy ra vào trước Tết khoảng 2, 3 ngày. Ðại Ðội (ÐÐ) của thằng bạn cùng khóa nhảy vào giữa một Tiểu Ðoàn VC. Chúng đang ếm quân trong khu vực Rạch Gấu, vùng phụ lưu sông Vàm Cỏ, chờ xâm nhập để đánh vào Phú Lâm ngày mồng một Tết. Hai trực thăng trúng đạn phòng không địch, phải quay về.  ÐÐ của nó thành ÐÐ trừ! Không đủ trực thăng, ÐÐ của tôi phải lội bộ vào tiếp cứu. Ðịch áp đảo về quân số, vũ khí có thừa, nhưng mục tiêu của chúng là vùng Chợ Lớn, ngày Tết, không phải chúng tôi. Thế nên chúng chỉ cầm cự để bảo toàn lực lượng, chờ đêm xuống là rút. Vậy mà mãi mờ sáng hôm sau, tụi tôi mới thanh toán xong mục tiêu. Nhờ những phi vụ oanh tạc và pháo binh bắn suốt đêm, VC dù đã cố kéo theo, chúng cũng để lại rất nhiều xác đồng đội và vũ khí. Tuy vậy, chúng tôi  cũng không vui gì khi phải đem ra xác thằng bạn  Ðại Ðội Trưởng và bốn chiến hữu của anh! Tội nghiệp quá, anh quê ở Hóc Môn, ra trường là xin ngay về Sư Ðoàn 25 cho gần nhà!

Chúng tôi ra trường, một số người đã may mắn thoát khỏi làn tên mũi đạn, họ đã theo gương các bậc đàn anh, dùng tài thao lược và lòng dũng cảm của mình để  làm nên  nhiều chiến tích vẻ vang cho quân đội. Thế nhưng chiến trận hàng ngày cũng đã lấy đi không  ít những  người con yêu của Trường Mẹ, họ đã hy sinh khi còn rất trẻ, trong những trận đánh tuy khốc liệt, tàn bạo … nhưng cũng chỉ là thường tình trong chiến tranh! Không một ai biết, chẳng một ai hay, họ đã nằm xuống như hàng ngàn chiến sĩ vô danh khác, tên tuổi và thành tích không bao giờ được xuất hiện trên trang nhất các nhật báo. Có chăng, chỉ  là mấy dòng tiếc thương cô đơn, ngắn ngủi của  thân nhân, bè bạn trong những khung hình chữ nhật màu tang đen, nơi trang chót của tờ báo!

Qua hai đợt Mậu Thân, tôi được thăng Trung úy, nghĩa là sớm hơn quy định khoảng gần nửa năm, nhưng đến cuối năm 1969 tôi bị  thương nặng, miểng mìn văng đầy người. Tệ nhất, có một miểng chém vào động mạch bên  nách phải, máu ra rất nhiều và nếu không đã theo mấy thằng bạn … vui vẻ về “miền quá cố” rồi!
Khi cơn thập tử nhất sinh đã qua, tôi được chuyển về Tổng y viện Cộng Hòa ở Sài Gòn

Một hôm, tôi đang nằm cho y tá rửa vết thương và thay băng thì có mấy anh em ban 5 Tiểu Ðoàn lên thăm. Tôi ngạc nhiên hết sức khi thấy có cả bé Hân trong đó, nó chạy ngay lại ôm lấy tôi, nước mắt đầm đìa… Ông Thượng sĩ  thường vụ của tôi sau khi thăm hỏi xong, nói nhỏ vào tai tôi:
– Ngày nào nó cũng lên TÐ, xin bằng được nếu khi nào TÐ lên thăm thương bịnh binh, nhớ cho phép nó đi theo!

Tôi nhìn xuống con bé đang rúc cái đầu bé nhỏ vào bụng tôi, tấm thân mảnh mai của em thì rung rung theo tiếng nấc! Tôi cúi xuống hôn trên mái tóc mềm mại của nó và cứ để như vậy một lúc lâu, bởi vì chính trong lòng tôi cũng đang nghẹn ngào, xúc động…
Lúc sau, tôi nâng cầm nó lên, trấn an nó:
– Chú không sao đâu! Chỉ một thời gian ngắn nữa là chú sẽ lành vết thương và sẽ được xuất viện.
– Rồi Trung úy có trở lại đại đội không? Nó ngước mặt e ngại hỏi tôi điều mà nó quan tâm nhất.
– Chú cũng không biết nữa, chắc là phải ra một hội đồng quân y để họ giám định. Sau đó mới biết!
– Vậy khi nào xuất viện, chú xuống thăm Hân nha ?
Tôi mỉm cười nhìn nó:
– Chắc chắn là chú sẽ đến thăm Hân và các anh em trong đại đội, ngay khi nào chú có thể đi được.
Lúc này mới thấy nó nở một nụ cười, rồi cúi xuống nhấc lên một túi nhỏ và lấy từ trong đó ra một ít trái cây để trên chiếc bàn nhỏ đầu giường. Thì ra nó cũng biết đem quà cho thương binh!
Phái đoàn thăm viếng lúc này đã xin phép tôi để qua thăm các anh em thương binh khác. Trước khi ra khỏi phòng, ông thượng sĩ thường vụ cúi sát tai Hân dặn dò:
– Khoảng nửa tiếng nữa con ra chỗ đậu xe để về nha. Về sớm cho an toàn!
Nó ngoan ngoãn gật đầu, rồi bắt đầu bi bô:
– Bữa trước ai cũng tin là chú đã chết thiệt rồi. Sau mới biết chú còn sống, đang nằm bịnh viện Cộng Hòa. Dì Thanh có dắt Hân đi cầu nguyện trên chùa hoài. Dì con nói gởi lời thăm chú.

Ðến đây, nó bắt đầu quay qua nhìn mấy vị sĩ quan thương binh khác nằm cùng phòng. Chợt thấy chiếc nhẫn của tôi để trên mặt bàn lúc tháo ra cho y tá rửa vết máu trong các ngón tay, nó cầm lên ngắm nghía rồi hỏi:
– Nhẫn này của chú? Sao bự và đẹp quá vậy?
– Ừa, nhẫn của chú. Ðây là chiếc nhẫn lưu niệm của trường Võ Bị Ðà Lạt, lúc mãn khóa ai cũng có.
– Chú thích nó lắm hả?
– Chú rất quý nó, và chú đã đeo nó từ khi ra trường.
Nó nhẹ nhàng để lại chiếc nhẫn vào chỗ cũ, rồi quay ra ôm lấy tôi, như thể không muốn xa rời! Nó kể đủ thứ chuyện ở Ðức Hòa, đâu là đại đội đã có Ðại Ðội Trưởng mới nhưng không còn đóng ở nhà nó nữa, các chú trong BCH/ÐÐ vẫn thường ghé thăm luôn, rồi nó kể cả chuyện vợ lớn trung sĩ Hai ở Sàigòn lên đánh ghen, làm tôi không nhịn được cười…
Nửa giờ sau, ông thường vụ đã xuất hiện ở cửa phòng, nói với vào:
– Chào Trung úy đi Hân, đến giờ về rồi!
Hân bắt đầu lúng túng, vòng tay bé nhỏ, nó cố ôm lấy tôi. Mấy phút sau, tôi phải nhẹ nhẹ gỡ nó ra:
– Thôi Hân về đi không họ chờ!
Nó nhìn tôi như muốn khóc:
– Chú hứa nhen! Tới thăm Hân nhen, Hân chờ đó!
Nói rồi nó buông tôi, từ từ bước ra cửa, hình như nó đã khóc. Ðến cửa phòng, nó quay lại nhìn tôi, bàn tay bé nhỏ của nó đang cố chùi những giọt lệ…

Tôi không thể nào quên được ánh mắt của Hân ngày hôm đó! Trong đôi mắt thơ dại và rưng rưng lệ của em, chứa biết bao nhiêu là thiết tha, trìu mến… Nó nhìn tôi như nhìn một người thân yêu, mà nó ngờ rằng sẽ không bao giờ  còn có dịp thấy lại thêm một lần nữa! Một ánh mắt của chia ly, của vĩnh biệt…
Không cầm lòng được, tôi gọi nó:
– Hân, lại đây với chú!
Ngoài bộ đồng phục rộng thênh thang của bệnh viện, tôi chẳng có gì ngoại trừ một thân thể đầy những vết thương và băng bó, tôi đành cầm chiếc nhẫn lưu niệm của tôi, nhẹ nhàng để vào lòng bàn tay của nó:
– Hân giữ cho chú chiếc nhẫn này. Giữ  thật kỹ và đừng cho ai biết. Hân biết là chú quý nó như thế nào rồi. Khi nào xuất viện chú sẽ đến thăm Hân và Hân đưa lại cho chú. Thế có được không?
Thật không ngờ, cái ý kiến bất chợt đến với tôi lúc đó lại có tác dụng ngay! Hân vui mừng ra mặt, ít nhất nó đã có một vật làm tin kèm theo lời hứa. Lau hết nước mắt nó thủ thỉ:
– Dạ, con sẽ giữ thật kỹ, chờ khi nào Trung úy đến con giao lại!
Tôi xoa đầu nó rồi đẩy nhẹ nó về phía cửa. Lần này, nó quay lại mỉm cười  nhìn tôi và rồi bóng nó từ từ lẫn vào với dòng người thăm viếng bên hành lang bệnh viện …

Tôi xuất viện sau đó chừng một tháng, và phục hồi mau lẹ. Tuy vậy, phải chờ đến Tháng Ba năm 1973   sau hai lần giám định tôi mới nhận được giấy tờ giải ngũ chính thức. Tôi may mắn toàn thân không mất mát gì, nhưng  những ngón tay bên mặt nhất là ngón trỏ, không co duỗi bình thường được. Cầm tờ chứng chỉ giải ngũ trong tay, tôi biết mình đã vĩnh viễn giã từ vũ khí!

Trong khoảng thời gian chờ quyết định của Hội đồng quân y, tôi đã đi Ðức Hòa thăm lại chốn xưa. Ðại Ðội của tôi gần như hoàn toàn mới, chỉ trừ một vài anh em trong BCH/ÐÐ nhận ra tôi, còn lính tráng hầu hết là lính mới, nhìn tôi như nhìn một người xa lạ! Chiến tranh đã làm thay đổi nhanh không thể ngờ được.
Tôi lần mò đến nhà cô giáo Thanh để thăm cô giáo và bé Hân nhưng thật không may, người nhà cho biết hai dì cháu cô đã đi ăn đám giỗ bên Bình Thủy, có lẽ đến chiều mới về!
Tôi buồn rầu về lại Sàigòn, tự hứa sẽ trở lại vào một dịp khác.

Chiến tranh vẫn còn đó, chiến trận gia tăng khắp mọi nơi, nhưng Sàigòn vẫn còn là một mảnh đất khá bình yên!  Nó như  một hải đảo nằm giữa  một biển lửa. Và tôi đã phải cố gắng để thích ứng với cuộc sống hoàn toàn thay đổi.  Dù sao, tôi vẫn còn trẻ. Tôi làm việc như một cái máy, nhưng tôi không còn bị cô đơn, cái cô đơn của một người chỉ huy, dù chỉ là một cấp nhỏ; tôi tự do, không còn bị ràng buộc vào một trách nhiệm có liên can đến sinh mệnh của nhiều người khác! Tâm trạng thả lỏng này đã dẫn tôi đắm mình trong thụ hưởng, để bù lại cho bao năm tháng tuổi xuân đã qua đi trong quân trường và ngoài trận địa .

Bận rộn vì công việc lúc ban ngày, say mê trong ánh đèn mầu của các vũ trường vào ban đêm, tôi gần như đã quên hẳn Hân, một đứa bé đang ở một nơi thiếu an ninh, mà chỉ một năm trước đây thôi, tôi đã coi nó như một đứa em ruột thịt!  Tôi đã tự khất lần, và ngần ngại không muốn ra khỏi Ðô thành, nơi mà lúc nào cũng có những cuộc vui đang chờ sẵn!

Khoảng đầu năm 1974, nhân một chuyến phải đi Trảng Bàng, tôi ghé vào Ðức Hòa  và  gặp  lại  Hân. Căn nhà vắng vẻ, khu xóm cũng thiếu bóng những người lính, có lẽ họ đang bận rộn trong một cuộc hành quân nào đó. Khi tôi đến, chỉ có mình Hân ở nhà.

Hân lúc này không còn bé nữa, em đang là một thiếu nữ tràn đầy nhựa sống với một vẻ đẹp tự nhiên và tuyệt mỹ mà Thượng  Ðế chỉ dành cho những người con gái đương độ thanh xuân! Em mừng đến rơi cả nước mắt khi thấy tôi! Rót nước mời, em vẫn thân mật nhưng  tỏ ra hơi  e thẹn, cái e thẹn dễ yêu của các cô gái đang dậy thì.

Hân cho biết em đã trông mong tôi từng ngày, và rất  ân hận vì  lần trước tôi đến, mà em không được  gặp! Lấy chiếc nhẫn giấu kín trong hộc tủ, Hân đưa nó sát mặt tôi, rồi nắm vội nó trong bàn tay và ấp lên ngực:
– Hân biết đây là chiếc nhẫn lưu niệm của chú, nó lưu lại những kỷ niệm của chú với quân trường Ðà Lạt; nhưng bây giờ, nó cũng đã trở thành một vật lưu niệm của Hân luôn! Nó đã lưu lại những kỷ niệm giữa Hân và chú!  Hân muốn được giữ nó lâu hơn nữa, chú có cho phép Hân không?
Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng rất cảm động trước những lý lẽ phát ra tự con tim của em:
– Hân cứ giữ nó đi, như vậy khi nào chú đến thăm Hân, chú sẽ được gặp cả hai!
Quá vui mừng, quên cả e thẹn, Hân chạy lại ôm tôi, và nói trong cảm động:
– Thực ra, khi có chiếc nhẫn bên mình, Hân có linh cảm là chú sẽ luôn luôn quay về tìm Hân, và như vậy Hân sẽ không bao giờ mất chú!

Tôi ôm chặt Hân, và hôn nhẹ lên trán em như vài năm trước, khi em còn rất nhỏ.
Hình như Hân muốn nhiều hơn thế ! Trong vòng tay tôi, cơ thể em đang ấm dần lên… Em từ từ ngước mặt lên để mong những làn môi gặp nhau, nhưng tôi đã tự dừng lại bằng cách buông lỏng em! Có phải tôi hơi bị ngu không, hay tôi vẫn còn bối rối  giữa Hân, một đứa bé và Hân, một cô gái đang nồng nàn trong độ xuân thì?

Chúng tôi chia tay nhau khi ánh chiều vừa xuống. Tôi hứa với Hân sẽ lên thăm em thường hơn. Cả hai cùng bịn rịn, không nỡ rời nhau, nhưng rồi phút chia ly cũng phải tới,  tôi lên xe về lại  Sàigòn mang theo hình ảnh đôi mắt và những lời dặn dò đầy nước mắt của Hân:
… Nhớ lên thăm Hân nha! Hân chờ đó …

Những tháng ngày sau đó, thời cuộc biến đổi không ngừng… Tất cả đều thất lợi cho miền Nam chúng ta! Ngay cả con đường từ Sàigòn đi Ðức Hòa cũng không còn an ninh nữa! Tiếp đến là những biến cố dồn dập, nó đến nhanh quá, như dòng thác lũ, như cơn đại hồng thủy, nó cuốn đi hết cả… Không kịp nữa rồi, những gì ta không làm, hoặc chưa làm, đành phải xếp lại trong niềm hối hận khôn nguôi…

Câu “nước mất, nhà tan” thật là thấm thía với tâm trạng của những người bỏ nước ra đi ngày ấy! Ra đi là không bao giờ nghĩ đến ngày trở lại, ra đi là chấp nhận cả một trời mù mịt, đau thương! Tôi cũng ở trong số ít những người “bất hạnh nhưng may mắn” này! Còn lại tất cả nhân dân miền Nam coi như gẫy cánh nửa đường; có khác chăng, chỉ là mỗi người “gẫy”một kiểu!

o O o

Sau hơn ba mươi năm vật lộn với cuộc sống trên nước Mỹ, tôi quyết định nghỉ hưu vì đã thấm mệt, cả thể xác lẫn tinh thần. Những chuyện ngày xưa khi nhớ, khi quên. Nhiều chuyện quên hẳn, như gió thoảng, như mây bay!
Dòng đời đổi thay, cũng chỉ là thường tình của cuộc sống!
Những ngày, tháng buồn tênh, tôi chợt nhớ đến hai câu thơ, không biết đã đọc được ở đâu và ai là tác giả:
Khi ta ở, đất chỉ là đất ở,
Khi ta đi, đất đã hóa linh hồn!
Vâng, linh hồn của đất, của những nơi ta đã từng đi qua, những nơi đã hơn một lần ta dừng lại… Nó đã có một linh hồn, và linh hồn đó thường hay ám ảnh tim ta, những khi ta quay về nhìn lại quá khứ !
Tôi đã về thăm lại Sàigòn vào năm 2007!
Vẫn biết đổi thay là lẽ tự nhiên của cuộc sống, nhưng đổi thay một cách xô  bồ, hỗn độn và … ngộp thở như Sàigòn hôm nay, chỉ làm tôi thêm tiếc nuối Sàigòn của những ngày xa xưa!

Tôi biết Sàigòn khi vừa ở tuổi có trí khôn. Những con đường thời niên thiếu ấy, với những hàng me, hàng phượng vĩ… muôn đời thơ mộng và sống mãi trong trí nhớ của tôi!  Ðại lộ Trần Hưng Ðạo lần đầu tiên tôi biết, có tên là Galliéni, đường Nguyễn Huệ là Charner … Rồi đến thời Ðệ nhất Cộng Hòa, đa số đường phố đều mang tên Việt, nhưng không có con đường nào là Ðồng Khởi hoặc Nam Kỳ Khởi Nghĩa cả! Sàigòn chỉ có Tự Do và Công Lý! Có những bác tài xế taxi hoặc xích lô máy, kiếm đủ tiền nuôi vợ con rồi, không tiếp thêm ai nữa mà ngả lưng ngay trên nệm xe của mình, làm một giấc! … So với ngày nay, đời sống thời đó sao mà thanh bình và dễ dàng quá! Thì ra càng cách mạng, càng giải phóng … người dân chỉ càng thêm khốn khổ !

Lang thang mãi ở Sàigòn, chán! Một hôm, tôi trở lại thăm Ðức Hòa, chỉ vì tò mò muốn biết, nơi đã từng là chiến địa ngày xưa đó, giờ nó ra sao?
Hơn ba mươi năm trôi qua, đã có biết bao nhiêu là vật đổi sao dời, bèo dạt… hoa trôi… Và những người muôn năm cũ, giờ cũng chỉ như bóng chim tăm cá, không biết họ đã trôi dạt về những nơi đâu?!

Ðức Hòa đã thay đổi theo một chiều hướng đi xuống! Ngày xưa, dù đang là thời chiến tranh, nó vui nhộn biết là bao: hàng quán, lính tráng, người mua kẻ bán ồn ào, tấp nập. Những con đường, tuy chỉ nhỏ vừa cho hai xe nhà binh tránh nhau, nhưng đầy bóng mát của những hàng cây cao… Giờ đây, có những con đường mới thành lập, rộng thênh thang, thẳng tắp, nhưng trống trơn dưới ánh nắng như thiêu như đốt, không một bóng cây; xe cộ thì lẻ loi vài chiếc!  Thị xã giống như một cô gái quê, xấu, đang cố làm dáng với  những vết son vụng về tô vội!

Ðến khu Bình Tả, nơi ngày xưa tôi đã đóng quân. Cảnh vật cũng không thay đổi nhiều, nhưng sao trông thật hoang sơ, buồn thảm! Tại một ngã ba, ngày ấy có một cái quán lụp xụp, lúc nào cũng ồn ào những lính. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ chính tại cái quán lụp xụp đó, tôi đã ăn những tô hủ tiếu ngon nhất trong đời.
Ði vào sâu hơn khoảng trăm mét là ngôi biệt thự nhà máy xay. Rõ ràng là nó đang bị bỏ hoang, rêu phong nứt nẻ… Cảnh vật sao quá thê lương, ảm đạm! Hỏi thăm thì biết cô Huệ đã định cư bên Úc từ lâu! Cô Giáng Tiên, hoa khôi Hậu Nghĩa, nghe nói sau này lấy một sĩ quan Biệt động quân đẹp trai, giờ này không biết cuộc đời đã xô đẩy họ đến nơi đâu?

Ði sâu hơn nữa thì gặp tàn tích của một cái đồn, đồn này là của Tiểu Ðoàn chúng tôi hồi đó. Gần đấy có cắm một cái bảng nhỏ, trên đề: “Di tích lịch sử –  Cấm đến gần” !
Tự nhiên, tôi thấy lạnh toát người!   Có phải anh linh của bao nhiêu chiến sĩ ngày xưa vẫn như còn đang phảng phất đâu đây, trên những ngọn tre, những tàu lá chuối, hay trên những hàng mù u nơi xa xa kia?! …

Ra thăm khu trung tâm thị xã, ở đây có thay đổi chút ít. BTL/SÐ25BB nay đang là một công viên dành cho trẻ em, ngay trước cổng vào có một căn nhà nhỏ, trong đó trưng bày hình ảnh và những kỷ vật của một “đồng chí Võ Văn Tần” nào đó!
Chợ Ðức Hòa xây thêm một mặt tiền mới, quay về hướng khác, nhưng tôi thấy bức tường mặt tiền cũ vẫn còn để nguyên.

Ðang ngơ ngẩn nhìn ngó cảnh vật, tôi chợt để ý có một bà cụ cứ chăm chú nhìn tôi. Bước đi vài bước, bà lại quay đầu nhìn lại; cuối cùng bà cụ đến gần nhỏ nhẹ hỏi tôi:
– Nếu không phải, xin ông thứ lỗi! Phải ông đây là Trung úy Phong không?
Tôi giật bắn người! Chắc chắn đây là một người quen biết với tôi, nhưng nghĩ mãi, tôi đành chịu:
– Dạ, tôi là Phong đây! Xin lỗi, trí nhớ tôi hơi kém, bà đây là …?
– Trời đất, Mô Phật! Thiệt không ngờ cũng có ngày tôi lại gặp được Trung úy! Tôi là Thanh đây! Xưa Trung úy có đóng quân nhà tôi, Trung úy còn nhớ không?

Lúc này thì hình ảnh của một cô giáo Thanh ngày xưa đã lờ mờ lẫn vào khuôn mặt già nua của bà cụ, tôi mừng rỡ:
-…  cô giáo Thanh! Tôi nhận ra rồi! tôi nhận ra rồi! Chà, cô trông còn mạnh lắm.  Xin mời cô vô quán nước đây ta ngồi nói chuyện.
Ðôi mắt già nua của cô Thanh đã thấy có ánh nước, cô cầm tay tôi ân cần:
– Thôi! quán xá gì! Chắc là Trung úy ở nước ngoài về thăm quê hương? Trung úy có rảnh mời ghé lại tôi uống miếng nước. Nhà cũng gần đây thôi!
– Dạ! Tôi ra khỏi nước từ năm 75, giờ nghỉ hưu rồi mới có dịp về thăm lại. Hồi nãy đi ngang, tôi thấy khu nhà cũ của cô giờ dường như là một nhà máy gì đó ?
– Bị nhà nằm trong khu quy hoạch, nghe đâu họ đã bán đất đó cho Hàn quốc lập nhà máy may gì đó. Tôi phải mua bậy một căn nhà cũng gần chợ đây thôi, cho nó tiện! Mời Trung úy đi theo tôi, chút xíu là tới à!
Lẽo đẽo theo chân bà cụ đi vào một con đường nhỏ ngang hông chợ, tôi ngần ngại ngỏ ý:
– Tôi giã từ quân đội lâu lắm rồi, cô Thanh cứ gọi tôi bằng tên cho tiện!
– Không có sao đâu! Ở đây bà con cỡ tuổi tôi, ai cũng quý những người lính Cộng Hòa khi xưa. Lại bởi tôi quen miệng rồi, tôi nhớ Trung úy là Trung úy, gọi khác nghe kỳ lắm!
Ðến đây, mặc dù tận đáy lòng, như có một chút gì hơi hổ thẹn vì sự thất hứa năm xưa, nhưng tôi không thể quên được Hân:
– Thế cháu Hân giờ sao rồi? Chắc cũng con cháu rầm rề cả !?
Cô Thanh bỗng như chùng xuống, cô nói rất nhỏ, giọng run run:
– Cháu… cháu nó không còn ở với tôi nữa!
Vừa lúc đó, cô dừng lại trước một căn nhà, nhà của cô. Phải qua một cái sân nhỏ trước khi vào tới phòng khách. Cô Thanh giơ tay:
– Dạ, mời ngồi!  Ðể tôi lấy nước trà mời Trung úy.
Trong nhà còn có hai vợ chồng người bà con của cô, tuổi khoảng ngũ tuần. Cô Thanh sai họ châm bình nước trà, đoạn rót ra trân trọng mời tôi. Không giữ được kiên nhẫn, tôi hỏi:
– Hồi nãy cô nói cháu Hân không còn ở với cô, vậy giờ cháu đang ở đâu?
Sau một hơi thở thật dài, cô Thanh bỗng bật lên khóc nức nở…Hai tay bưng  mặt, cô nói trong tiếng nấc:
– Cháu nó đã mất rồi! Nó bỏ tôi đã gần ba chục năm rồi Trung úy ơi!

Tôi bàng hoàng, choáng ngợp như vừa bị dội cả một thùng nước lạnh vào người! Không biết tôi có nghe lầm không? Sao sự chết chóc lại có thể xảy đến với một người còn quá trẻ như Hân?!
Qua một phút chới với vì bất ngờ và xúc động đến tột cùng, tôi lấy lại bình tĩnh:
– Cháu nó qua đời như thế nào, cô có thể cho tôi biết được không?
Chuyện cũng hơi dài dòng, vì vậy tôi có ý mời Trung úy tới nhà, mình có nhiều thời gian hơn. Cô Thanh có vẻ đã lấy lại được chút bình tĩnh, cô tiếp:
– Tôi nhớ nó mất năm Mậu Ngọ, 1978. Lúc đó khó khăn lắm, cả nước đói! Ở quê như chúng tôi mà cũng phải ăn độn! Cháu Hân bỏ học ngay từ năm 75, nó nói học hành gì mà tối ngày họp tổ, họp đoàn, rồi chửi bới chế độ cũ… Vậy mà cũng không thoát, nó phải nhập vào cái gì kêu là thanh niên xung phong gì gì đó, đi làm thủy lợi! Nghĩa là đào kinh, đắp mương đó Trung úy!
Ngừng lại vài giây như để lấy thêm sức, cô tiếp:
– Hồi đó nó đang tuổi con gái, mà ăn uống thì thiếu thốn! Lại thêm thi đua này nọ, nó bị mất sức nhiều lắm. Rồi đào kinh đào mương, ngủ bờ ngủ bụi muỗi mòng… bị sốt xuất huyết! Bịnh cũng không đáng gì, nhưng thuốc men hồi đó hoàn toàn không có!  Ăn còn không đủ, nói chi thuốc!… Lúc đó nó mới vừa 19 tuổi !
Ðến đây, cô lại ôm mặt nức nở… Tôi lại gần cô, vỗ về an ủi:
– Số phận đã an bài như vậy, không cho em qua được cơn khó khăn! Cô cũng không nên rầu rĩ quá  không có lợi. Tuổi cô cũng như tôi,  ngày một yếu kém…
– Tôi cũng biết vậy, và tôi cũng đã cố giữ gìn sức khỏe, để sống đến ngày hôm nay …
Nói tới đây, cô Thanh từ từ đứng dậy, hướng dẫn tôi đi về phía bàn thờ giữa căn nhà.

Phía trên bàn thờ, tôi thấy có treo hai tấm hình lớn mà tôi đoán là song thân của cô Thanh; đặt trên mặt bàn thờ phía bên trái, có ba tấm hình mà một trong ba tấm đó, tôi nhận ra là em Hân. Hình chụp có lẽ vào lúc em 17, 18 tuổi, trông xinh đẹp như một bông hoa đang nở.

Khi tôi nhìn em thì đôi mắt của em cũng đã nhìn vào tôi từ lâu lắm rồi, có lẽ ngay từ khi tôi bước vào căn nhà này! Thắp nén nhang, tôi biết tim tôi đang chảy ra thành nước, và dòng nước ấm đó đang chảy ngược lên phía đôi con mắt…
Khói nhang bốc lên không gian và lung linh tỏa rộng. Ánh sáng yếu ớt khúc xạ qua làn khói, làm như em đang mỉm cười nhìn tôi! Có lúc lại không phải là cười, mà đang nhìn tôi như trách móc!? …

Mắt tôi bỗng nhiên hơi mờ đi, hình ảnh của Hân, một buổi chiều nào xa xưa trong dĩ vãng bỗng hiện về, bé nhỏ lẫn trong đám người thăm viếng ở bịnh viện  Cộng Hòa. Tôi vẫn còn nhớ mãi ánh mắt và nụ cười khi em quay lại nhìn tôi… Và rồi lần  cuối cùng tôi  gặp, cánh tay bé nhỏ giơ lên chào tạm biệt khi tôi trở về Sàigòn, mắt em đầy lệ …
Một dư âm mơ hồ như vọng lại từ một nơi nào xa, xa lắm:
… Ðừng quên đến thăm Hân nha, Hân chờ đó! …
Người tôi lúc đó như muốn rũ xuống, tôi cố gắng hết sức đứng thẳng người, nhìn tha thiết vào đôi mắt em, cầu xin một tha thứ !
Ngay trước bức hình của em, tôi thấy có một hộp nhỏ bằng nửa bàn tay, khảm xà cừ màu đen rất đẹp. Thấy tôi nhìn vào chiếc hộp nhỏ, cô Thanh nói như khuyến khích:
– Trung úy cứ cầm lên và mở ra coi!

Tôi nhẹ nhẹ cầm chiếc hộp lên bằng hai tay và mở nó. Một làn sáng như lóe lên: chiếc nhẫn lưu niệm trườngVõ Bị Ðàlạt năm xưa của tôi hiện ra, sáng bóng, nằm trong hộp trên một miếng nỉ trắng.
Cầm chiếc nhẫn trên tay, tôi chợt rùng mình, dường như có một luồng điện nhẹ đang chạy qua khắp châu thân! Qua biết bao nhiêu năm tháng, chiếc nhẫn vẫn còn đây mà… người xưa đã mất! Chiếc nhẫn như nhắc tôi một lời hứa, một lời hứa tôi đã không giữ trọn!

Nhìn giọt nước mắt rơi, tôi mới biết mình đang khóc! Thực lòng, tôi cũng không biết tôi đang khóc vì vui mừng thấy lại một kỷ vật xưa, hay đang khóc vì tràn đầy ân hận!

Rồi trong một thoáng giây vô thức, tôi đưa chiếc nhẫn lên gần miệng, hà một hơi ấm vào viên hồng ngọc rồi chà xát nhẹ nhẹ vào ngực, phía trái tim.
Nhạt nhòa trong nhang khói, tôi thấy Hân như lại mỉm cười! Có phải tôi tưởng tượng không, hay đang thực sự có một thần giao cách cảm?
Cô Thanh từ nãy chỉ đứng yên lặng theo dõi, bỗng cô nói, giọng nhẹ như hơi thở:
– Những lúc còn tỉnh, cháu nó đã kể hết cho tôi nghe vì sao nó có chiếc nhẫn này! Trước đó, nó đã giấu cả tôi,  giữ  kín và âm thầm chờ mong cho đến những ngày cuối cùng!  Trước khi nhắm mắt, nó còn dặn tôi phải để chiếc nhẫn này trong một chiếc hộp thật đẹp, ngay trước hình thờ của nó. Vì nó quả quyết là sẽ có một ngày, một ngày Trung úy sẽ tìm đến!
Ngừng một phút, cô nói thật nhỏ, như nói với chính mình:
– Cũng phải mất gần ba chục năm! Giờ thì châu đã lại về hiệp phố!
Ðặt lại chiếc nhẫn vào trong hộp và trân trọng để chiếc hộp vào đúng chỗ ban đầu, tôi quay qua cô Thanh:
– Thưa cô, chiếc nhẫn này có lẽ là một trong những kỷ vật quý nhất mà tôi còn có được, kể từ khi vội vã ra đi ngày ấy! Nó đã đánh dấu một thời chinh chiến tang thương của đất nước, nó nhắc tôi một thời tuổi trẻ mà lúc nào tôi cũng hãnh diện và trân quý. Và… nó cũng có cả hình bóng của em Hân trong đó nữa! Nhưng chắc nó không cần về  “hiệp phố” nữa  đâu! Tôi giữ nó chỉ có khoảng 5 năm, thế mà chiếc  nhẫn này nó đã ở bên em Hân những trên ba mươi năm, những lúc em còn sống và cả những lúc em đã qua đời!  Tôi không thể hình dung được rồi mai đây, bên hình của em sẽ chỉ còn là một khoảng trống! Tôi còn biết khi xưa,em luôn luôn muốn có chiếc nhẫn này ở bên cạnh. Xin cô cho phép tôi, cứ để chiếc nhẫn bên hình của em. Nó ở đây cũng là nó đang ở  mãi mãi, trong tim tôi …

Không biết mắt tôi có ướt đẫm như đôi mắt cô Thanh không, nhưng giọng nói của tôi, sao bỗng thấy quá nghẹn ngào:
… Vẫn biết âm dương là muôn đời cách trở,  nhưng tôi muốn mượn chiếc nhẫn này, như một vật xúc tác giữa hai linh hồn, một linh hồn đang còn phiêu bạt nơi đất khách quê người, và một linh hồn đang an nghỉ ngàn đời trên quê hương …

o O o

Cô Thanh ân cần mời tôi ở lại dùng cơm chiều, nhưng tôi phải từ chối vì không muốn trở lại Sàigòn khi quá tối. Tôi hẹn tuần sau sẽ lên để thăm và thắp nén nhang tại mộ phần, nơi an nghỉ cuối cùng của em Hân.
Khi tiễn tôi qua chợ, cô Thanh cười nói với tôi:
– Trung úy biết không, khi mua lại căn nhà gần chợ này, tôi cũng có chủ ý là được thấy thật nhiều du khách Việt kiều. Thấy ai có dáng Việt kiều là tôi ngó thiệt kỹ. Không dè cũng có ngày Trời Phật run rủi, mà cũng có thể do vong hồn của cháu Hân khiến, tôi lại gặp được Trung úy. Tôi cảm thấy như vừa trút được một tảng đá đã đè nặng trên vai tôi qua bao nhiêu năm tháng… Xin cám ơn Trung úy!

Tôi mỉm cười trước những ý nghĩ chân chất và đôn hậu của một người miền Nam như cô Thanh. Tôi nắm hai tay cô, rồi ôm cô thật chặt trước khi giã từ. Theo tỉnh lộ 10, tôi trở về Sàigòn qua ngả Phú Lâm. Trước kia con đường này hầu như không bao giờ sử dụng được, nó luôn luôn bị đắp mô, mìn bẫy, đôi khi có cả phục kích …

Thương hải biến vi tang điền!  Ngàn xưa đến ngàn sau, dù muốn hay không, đổi thay vẫn cứ là một bản chất tự nhiên của đời sống!
Chỉ có tình cảm của con người, có những thứ tình cảm mà suốt cả một đời, không bao giờ  thay đổi!
… Vậy mà nhiều khi tôi vẫn đinh ninh rằng: Ðã mất hết cả rồi!



BTP – Memorial Day, 2013
Nguồn: http://baotreonline.com