Đến khi nào người Việt Nam mới hết “Nỗi buồn Tháng Tư” (Hình: VietBao Foundation)
Ngày 30 Tháng Tư,
1975, đang giữa buổi làm việc, tôi thấy Ba tôi về nhà rất sớm. Ông ôm lấy tôi,
giọng nghẹn lại đầy xúc động: ”Sài Gòn giải phóng rồi con.” Rồi ông dắt tôi ra
nơi treo bảng thông tin của khu tập thể. Ở đó mọi người đã tập trung đông đúc tự
khi nào. Tất cả đều nghểnh cổ nhìn theo tay một bác già mái tóc hoa râm, tay
đang run run dán lá cờ đỏ sao vàng đè lên hai chữ Sài Gòn.
Rồi họ rồi ôm lấy nhau
cười cười nói nói. Trên khoé mắt ai ai cũng ánh lên những giọt lệ long lanh.
Tôi kiễng chân nhìn lên tấm bản đồ Việt Nam hình chữ S: Một nửa bản đồ, đỏ chói
những lá cờ, che phủ lên khắp các địa danh phía dưới vĩ tuyến 17! Đâu đâu tôi
cũng thấy mọi người sung sướng đến tột cùng.
Trên các loa phát
thanh treo ở những góc phố, đầu các dãy nhà, những bài hát “Giải phóng miền Nam
chúng ta cùng quyết tiến bước…,” “Sài Gòn ơi ta đã về đây ta đã về
đây…” cứ vang vang hừng hực. Tôi và các bạn cùng lứa, sau khi ở trường về, đua
nhau lôi hết những quyển sách quý giá mình có được nhờ những lần nhịn không ăn
quà sáng, hay là phần thưởng cho những lần làm đựợc việc tốt… giở trang đầu,
nắn nót ghi dòng chữ:
“Thân tặng các bạn nhỏ
miền Nam.” Nhà trường sẽ nhận những quyển sách ấy, chuyển vào Nam, tặng các bạn
nhỏ. Thầy cô giáo nói với chúng tôi: Sách báo văn hoá miền Nam toàn sản phẩm
của văn hoá đồi truỵ, của Mỹ nguỵ và phản động. Rồi chỉ một hai tháng sau nhà
nào cũng có người chuẩn bị vào Nam. Bởi lẽ khu tập thể tôi ở là phần lớn cán bộ
miền Nam tập kết.
Cũng như họ, Ba tôi
mua mấy đôi dép guốc nhựa Tiền phong, vốn ngay cả Ba và tôi cũng không hề được
mang (suốt những năm ở miền Bắc tôi thấy ba chỉ mang đôi dép cao su mòn vẹt),
mấy cân đường trắng Cuba để chuẩn bị vào Nam…
Cái đầu non choẹt của
tôi tưởng tượng ra những nét mặt rạng rỡ sung sướng của người dân trong Miền
Nam khi nhận được những món quà nghĩa tình này từ miền Bắc, sau khi họ được
giải phóng khỏi ách kìm kẹp, tàn ác của Mỹ nguỵ…
Rồi họ và Ba tôi lần
lượt trở về… Thật bất ngờ, mọi người ai ai cũng trầm trồ, cũng hoa mắt vì những
bộ quần áo thơm phức, những đồ dùng… đẹp hơn cả trong mơ… Tôi và mấy đứa trẻ
nâng niu những con búp bê biết nhắm mắt mở mắt trên tay mà trước đây chỉ thòm
thèm nhìn những đứa bạn có bố mẹ đi Liên Xô hay nước ngoài nào đó đem về… Những
cái đài xinh xắn, đẹp sang trọng hơn hẳn mấy cái đài Liên Xô to đùng… Tôi mặc
bộ đồ màu trắng, vải phin mềm mại, cổ viền chỉ xanh thơm phức, đội cái mũ nhựa
rộng vành đi khắp khu tập thể để mọi người tấm tắc khen! Trước giờ chị em tôi
chỉ có mặc đồ vải tám may từ quần áo cũ của người lớn hoặc được kế thừa từ chị
sang em cho đến khi không thể vá được, rồi mẹ mới hoá kiếp chúng làm tã em bé
hay giẻ lau bàn… Đồ mới chỉ được may hoạ hoằn một năm một lần, vừa mặc một chút
đã nhăn nhúm, chỗ đầu gối thì phồng lên. Cuộc sống khó khăn ấy là vì: “Đồng
bài Miền Bắc thắt lưng buộc bụng để tất cả vì sự nghiệp giải phóng Miền Nam
thân yêu.” (Chúng tôi luôn được dạy như vậy). Cẩn thận vắt bộ đồ mới lên ghế
trước khi ngủ, không dám giặt vì sợ hết mùi thơm, trong cái đầu trẻ con của tôi
cứ lởn vởn: “Sao Miền Nam có nhiều thứ đẹp vậy?” …
Bốn tháng sau, chú tôi là bộ đội theo quân đoàn vào tiếp quản Đà Nẵng. Tôi được
Ba mẹ cho theo chú vào trước, theo đường giao liên của bộ đội. Sau hơn một
tuần, khi thì bằng tàu lửa, khi thì bằng xe tải, có cả lúc phải đi bộ… Chú và
tôi vào đến Đà Nẵng vào một đêm mưa tầm tã. Hai chú cháu mệt nhoài sau một hành
trình vất vả. Sáng đầu tiên tỉnh dậy ở Miền Nam, Tôi ngỡ ngàng trước những gì
mình thấy trước mắt:
Một căn nhà nhỏ nhưng ngăn nắp gọn gàng với những vật dụng mà tôi chưa bao giờ
có hay đựợc cầm trên tay khi ở Hà Nội. Từ những cây viết chì màu nhỏ, cái bàn
ủi, tủ áo quần, tủ kính… đến những cái tủ lạnh ti vi, các bộ quần áo của mọi
người trong nhà… Tất cả đều bày trí sang trọng và đẹp mắt! Ngồi vào bàn ăn, lần
đầu tiên tôi được ngồi trước một bữa cơm trên bàn tròn như một bữa tiệc thịnh
soạn mà món nào cũng thơm phức… được bày trong những chén dĩa kiểu sang trọng…
Nhưng cái gì cũng nhỏ xíu làm tôi chẳng dám ăn vì sợ… hết!
Chú tôi dắt tôi ra chợ Hàn. Một lần nữa tôi lại hoa mắt vì hàng hoá trong chợ.
Đặc biệt tôi thấy đủ thứ loại đường được bày bán. Từ đường cát trắng tinh cho
đến những cục đường tảng ứa mật vàng óng… Những câu hỏi ngớ ngẩn của tôi về
Miền Nam làm cô tôi, một phụ nữ có chồng tập kết ra Bắc cứ lăn ra cười, rồi cả
nhà cùng cười… Họ rất ngạc nhiên khi tôi hỏi cô có bị tra tấn đánh đập, hai anh
chị con cô có bị lang thang đói rách không… Điều đó khiến tôi mắc cỡ không còn
dám hỏi gì thêm nữa. Tôi thấy mấy đôi dép nhựa ba tôi mua để bám bụi dưới gầm
cầu thang lên gác… Bên cạnh đó là những đôi giày da, giày cao gót, “san-đan”…
đủ kiểu mà tôi chưa được tận mắt nhìn thấy bao giờ, chỉ thấy trong phim ảnh mà
thôi. Đặc biệt là sách! Tôi leo lên gác vùi đầu vào những kệ sách báo của anh
chị họ tôi…
Thôi thì đủ thứ: Tuổi Hoa, Tuổi Hồng, truyện trinh thám, sách giáo khoa toán,
văn… chuyện dịch… Tôi đọc say sưa. Cái nào cũng hay cũng hấp dẫn và cũng dạy
con người ta sống hướng thiện, nhân nghĩa… Không hề “đồi truỵ” chút nào… Hay là
cái gọi là “đồi truỵ” ấy được giấu kỹ đến nỗi tôi, một đứa trẻ con, không nhận
ra chăng(?). Nhưng những điều tôi đọc và học được trên những quyển sách báo ấy
vẫn là một trong những “hành trang” tôi mang theo suốt cuộc đời. Lời bài hát
tôi được một thầy giáo trẻ của “chế độ cũ” dạy tôi trong năm học đầu tiên sau
1975 là một trong những bài hát tôi yêu thích nhất, cho đến tận bây giờ. Lời
bài hát thật mộc mạc giản dị: “Yêu là yêu thầy yêu là yêu cô, yêu luôn cả
lời rầy lời la. Yêu là yêu mẹ yêu là yêu cha yêu luôn cả ruộng đồng bao la… Yêu
là yêu chị yêu là yêu anh yêu luôn cả mái trường mến thương, thương là thương
bạn, thương là thương ta. Thương luôn cả nước Việt mến yêu.”
Rồi cả gia đình tôi
vào Nam sinh sống… Ba Mẹ tôi tha hồ tẩm bổ cho mấy đứa con bằng những bữa ăn có
thịt, có rau, có tôm, có mực và có cả sữa. Mặc cho dưới mái trường mới Xã hội
chủ nghĩa, những thầy cô từ miền Bắc nhồi nhét những bài học đạo đức, chính trị
vào cái đầu óc non choẹt của một đứa trẻ con như tôi rằng chế độ miền Nam là
chế độ tư bản phồn vinh giả tạo, văn hoá miền Nam là văn hoá nô dịch ru ngủ đồi
truỵ. Rằng những đồ dùng, thức ăn xa xỉ chỉ là bơ thừa sữa cặn…
Tôi và các em vẫn cảm thấy thật sung sướng, thật hạnh phúc, mỗi khi được hưởng
một chút phồn vinh giả tạo hay bơ thừa sữa cặn ấy. Nhưng trong tôi chợt cảm
thấy hụt hẫng khi nhận ra không ít những cái nhìn e dè của người miền Nam.
Trong ánh mắt đó xen lẫn cả sự khinh bỉ và căm ghét …
Không lâu sau, tàn dư của “phồn vinh giả tạo,” “bơ thừa sữa cặn” đã bị những
người “thắng cuộc” ra tay “càn quét” cạn kiệt. Gia đình tôi cũng như hầu hết
các gia đình khác rơi vào túng thiếu và nghèo đói. Trí thức khoa học, nhân
nghĩa, lòng tự trọng và nghị lực không cứu vãn được cuộc sống nghèo đói. Biết
“Thức thời” hay “đạt được mục đích bất chấp thủ đoạn” may ra là một cứu cánh.
“Giật gấu vá vai” đó là cuộc sống gia đình tôi trong những năm 80 sau 1975.
Nhưng nhờ vậy những bạn thân của tôi toàn là những đứa bạn con nhà “nguỵ quân
nguỵ quyền, học giỏi, hiền lành và đặc biệt là nghèo như gia đình tôi…
Lý tưởng cách mạng của một đứa cộng sản con như tôi đầy rẫy những dấu hỏi, dấu
chấm than và những dấu chấm lửng… Lớp lớp người vượt biên càng lúc càng nhiều…
trong đó có cả những người chú của tôi là lính là nhân viên của chế độ Sài Gòn…
Báo đài ra rả đăng những cái chết bi thương, những kết cục đau đớn của những
người “phản bội tổ quốc, ham cuộc sống xa hoa truỵ lạc, ôm giấc mộng trời Tây…”
Mỗi lần nhìn ra biển khơi mù mịt mùa giông bão, những con sóng bạc đầu xoáy vào đầu tôi một câu hỏi tại sao họ phải
ra đi?
Năm mươi năm, đúng nửa
thế kỷ sau cái ngày “Vui đại thắng, Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước. Mỹ
cút, ngụy nhào,” dân tộc Việt Nam đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo “tài
tình, sáng suốt” của đảng cộng sản Việt Nam đã đạt được những gì?
Thế rồi, tôi đã có câu trả lời từ những gì gia đình tôi đã trải qua dưới chế độ
xã hội chủ nghĩa. Tôi biết thế nào là đút lót. thế nào là tham những… Những
“chị Dậu”, những “Chí Phèo”, những “Ông Nghị, bà Quế” bằng xương bằng thịt
không còn ở trong sách vở văn chương mà hiện hữa bằng xương bằng thịt ngoài đời
nhan nhản, càng lúc càng nhiều…
Không còn là “con sâu làm rầu nồi canh…” mà nồi canh đã thối, đã rữa… Ruồi bọ
sinh ra nhung nhúc từ nồi canh đó… Những lớp sóng người “vượt biên” vẫn không hết mà còn đa dạng
hơn. Họ vượt trong cả những chiếc xe tải bịt bùng để rồi chết ngạt. Họ vượt
bằng cách lấy chồng “nước ngoài” bằng con đường buôn người để rồi chôn vùi tuổi
xuân trong những trại lao động hay trong kiếp sống nô lệ…
Những kẻ ăn trên ngồi
trốc thì vượt bằng máy bay với những va li tiền mồ hôi nước mắt, xương máu của
đồng bào mình để qua xứ tư bản dãy chết du học và ở trong những biệt thự triệu
đô… Những thế hệ trẻ mà “nước việt nam có vẻ vang sánh vai các cường quốc năm
châu được hay không là nhờ vào công học tập của các cháu” thì đi rồi không muốn
trở về (có trở về lác
đác cũng không thể có đất mà dụng võ vì con ông cháu cha đã nối nghiệp gia tộc
mà chiếm chỗ hết rồi)…
Trước cổng các lãnh sự quán của các nước tư bản dãy chết, dòng người xếp hàng
chờ xin visa phỏng vấn định, cư du học vẫn dài dằng dặc… Không thể kể hết những
“ưu việt” ở “Thiên đường XHCN…” Mà kể ra thì sẽ bị chụp ngay cái mũ “phản
động,” còn cứng hơn cả cái nón cối, và trở thành thế lực thù địch của chế độ…
Những câu trong áng văn Hịch tướng sĩ: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung
tàn, vùi con đỏ dưới hầm tai vạ,” lại ám ảnh khi tôi đọc những bản tin về các
vụ cưỡng chế đất đai, hay bắt bớ những người bất đồng chính kiến hay những cảnh
trẻ em vùng cao đu dây vượt sông đi học…
Và cuối cùng, cái đứa
tôi hèn nhát cũng đành tìm cách rời bỏ quê hương để tìm một tương lai mới cho
các con, tìm một xứ sở tự do cho chính mình, đặt dấu chấm hết cho cái lý tưởng
cách mạng của mình. Năm mươi năm sau ngày 30 Tháng Tư, 1975… đất nước Việt Nam
đã sánh vai sánh vai các cường quốc năm châu được hay chưa? Ai ai cũng có cơm
no áo mặc hay chưa? Câu hỏi này hãy để những vị đứng đầu đảng cầm quyền hãy
thật thà và dũng cảm trả lời. “Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác. Tuy mạnh yếu từng lúc
khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có.” Hào kiệt đất nước đã được đảng cầm quyền, đảng
luôn “khiêm tốn” nhận mình là “người lãnh đạo mọi thành công của đất nước”
trọng dụng hay không?
Những người lãnh đạo cao nhất của đảng, đã làm gì để thể hiện yêu Tổ Quốc Yêu
đồng bào khi mà những vụ tham những hàng tỷ đồng chưa bao giờ dứt. Cái lò đốt
những cây do chính tay họ trồng cứ rực lửa hừng hực. Họ làm vì yêu tổ quốc yêu
đồng bào hay để củng cố quyền lực của họ. Một đất nước bốn nghìn năm văn hiến
nhưng giờ đây hệ thống báo chí truyền thông chính thống của nhà nước, hệ thống
giáo dục luôn bị chỉ chích vì có quá nhiều “sạn” dù đã cố gắng nhiều lần cải
cách “gạn đục khơi trong…” Một nền giáo dục bị chính trị hoá về nội dung, lạc
hậu về phương pháp, vật chất và cơ cấu tổ chức.
Chính những kẻ rao
giảng “Giáo dục xã hội chủ nghĩa là ưu việt” lại chính là những kẻ cho con cái
ra nước ngoài du học nhiều nhất. Họ cho con cái đi học để về xây dựng đất nước
hay là chuẩn bị một “sân sau” để sau khi “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”
ở xứ “thiên đường” thì hạ cánh an toàn nơi xứ “dãy chết”!
Khoan chụp cái mũ “phản động” cứng như cái nón cối lên đầu những người dám “lợi
dụng quyền tự do dân chủ” lên tiếng “nói xấu chế độ, chống phá nhà nước.”
Không!
Trước tiên: Đất nước Việt Nam là Quê hương Tổ quốc của những người dân gốc Việt
trên toàn thế giới! Chúng ta yêu tổ quốc yêu dân tộc Việt Nam không có nghĩa là
phải yêu luôn cái “đuôi”: “xã hội chủ nghĩa” gắn vào sau hai tiếng Việt Nam từ
sau 30 Tháng Tư, 1975.
Con người ta ai rồi cũng phải chết. Tiền tài danh vọng rồi cũng trở thành hư
không đối với một đời người. Khác nhau ở chỗ khi sống người ta đã sống như thế
nào. “Buông bỏ” để tương
lai con cháu Lạc Hồng sẽ đi về đâu khi đảng cầm quyền dùng chuyên chính để bắt
cả dân tộc phải đi theo con đường “đảng đã chọn”!
Sau gần 50 năm ngày Giải phóng mà ranh giới
giữa những người con Đất Việt vẫn còn đó! Vì sao? Vì nỗi đau quá lớn của những
người “thua cuộc” hay vì sự ngạo nghễ quá lố của “phe thắng cuộc”! Hãy trả lại sự thật cho
Lịch sử Dân tộc, đừng dùng búa liềm bẻ cong ngòi bút của Sử Gia. Khiêm, tốn, thật thà, dũng cảm để nhìn nhận
đúng sai trong những cuộc chiến! Biết cảm ơn, xin lỗi mới thực sự xoá đi nỗi
đau và sự thù hận, để lòng con dân đất Việt về cùng một mối mà xây dựng đất
nước… Chỉ những kẻ không có lương tri, hèn nhát và ti tiện mới dùng “lòng hận
thù” làm vũ khí chia rẽ lòng người để củng cố địa vị của mình. Hãy tôn trọng
“Không có gì quý hơn độc lập tự do!” Tôn trọng nhân quyền, quyền của người dân
Việt được cất tiếng nói từ lòng mình.
Hãy trả lời cho Dân
tộc Việt Nam: Đến khi nào người Việt Nam mới hết “Nỗi buồn Tháng
Tư”
DP
No comments:
Post a Comment