Tác
giả sinh năm 1944 tại Tuy Hòa, Phú Yên. Tốt nghiệp Khóa 1, Đại Học Chiến Tranh
Chính Trị Đà Lạt. Cử nhân Chính trị học, Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Trước năm
1975: sĩ quan phục vụ trong ngành CTCT/ QLVNCH. Đơn vị sau cùng: Ủy Ban Binh
Thư thuộc Tổng Cục/ CTCT. Sau 1975, ở tù 7 năm. Sang Mỹ định cư tại Virginia
vào năm 1986. Đã xuất bản: NGƯỜI MẸ TÌM CON (Truyện ký, 2022).
Tác giả đã nhận giải Danh dự Viết Về Nước Mỹ năm 2023 và 2025. Sau đây là bài viết mới nhất của ông tản mạn nhiều điều đáng suy ngẫm về đời sống và con người trong cộng đồng Việt ở Mỹ theo chiều dài lịch sử hơn 50 năm qua.
***
Sau
ngày 30-4-1975, nhiều người Việt Nam bỏ xứ ra đi, đa số đã xin định cư tại Hoa
Kỳ theo diện tị nạn chính trị. Trong khoảng mười, mười lăm năm đầu, người Việt
khi gặp nhau thường nêu một câu hỏi mà người hỏi có hai ý, còn người được hỏi cảm
thấy phân vân, rồi trả lời theo một trong hai ý. Đó là câu: “Anh chị sang đây
lâu chưa?” Nếu người hỏi có thái độ kẻ cả, hỏi để phân biệt đẳng cấp, thì câu
trả lời sẽ hờ hững, qua loa. Nếu người hỏi tỏ ra thân thiện - có ý muốn giúp đỡ
đồng hương đến sau, thì câu trả lời sẽ rất chân tình.
Những người Việt Nam có mặt tại nước Mỹ trong thời gian đầu thường thuộc hai trường hợp - hoặc được di tản trong những ngày Sài Gòn hấp hối, trên những chuyến bay vội vã của chiến dịch “Gió lốc - Operation Frequent Wind” - hoặc lặng lẽ xuống thuyền, rời khỏi Việt Nam, bất chấp hiểm nguy trên biển cả để tránh sự đàn áp, trả thù của chế độ mới. Rồi họ xin định cư ở Mỹ. Người ta gán cho họ cái tên “Thuyền nhân” (Boat people).
Ai cũng hiểu: Những người Việt Nam đã phải lìa bỏ quê hương sau một biến cố lớn của lịch sử, mỗi bước chân ra đi, dù bằng đường nào, cũng in dấu một mất mát không gì bù đắp được. Nhưng có số ít người tỏ vẻ “ta đây”, kẻ đến trước coi thường người đến sau. Nôm na là “ma cũ coi thường ma mới”, mặc dù cùng chung cảnh ngộ.
Cái
tật “Ai hơn mình thì ghét, ai kém mình thì khinh. Ai nổi trội hơn thì tìm cách
dèm pha, ai kém cỏi thì chê bai” thường xảy ra trong sinh hoạt cộng đồng của
người Việt. Cho nên, câu hỏi: “Anh chị sang đây lâu chưa?” đã làm chạnh lòng một
số người.
Câu
chuyện tiếu lâm sau đây làm ta suy ngẫm: “Ngoài chợ bày bán hai giỏ cua - một
giỏ có nắp đậy, giỏ kia thì không. Khách hỏi lý do. Người bán cua giải thích:
“Giống cua Việt Nam, con nào bò lên gần tới miệng giỏ thì bị con khác kéo xuống,
chẳng có con nào bò ra khỏi giỏ được, nên không cần nắp đậy. Còn giống cua Mỹ
khi bò đến miệng giỏ, không bị con khác kéo xuống, nó có thể bò ra ngoài, nên phải
đậy nắp.”
Những chuyện khó quên về người tị nạn Việt Nam trong bước đầu trên đất khách: lo lắng, ngẩn ngơ - như khi lạc đường chưa biết bỏ 25 cent vào cái điện thoại công cộng để gọi người nhà ra đón, cũng chẳng nói được tiếng Anh để nhờ người ta chỉ đường, cứ lòng vòng cả buổi mới tìm ra lối về nhà.
Một
câu chuyện khác, mới nghe tưởng đùa, mà có thật, được một người kể lại thế này:
“Hồi mới đến Mỹ, tôi thấy cái gì cũng mới lạ, đồ sộ và văn minh quá, làm mình cảm
thấy như anh nhà quê lần đầu ra tỉnh. Một hôm, gặp lại chú đàn em, anh ta mừng rỡ,
ôm tôi, hai bàn tay vỗ vỗ vào lưng, rồi thốt lên: “Niên trưởng! Niên trưởng!
Niên trưởng qua lâu chưa?” Cử chỉ ấy làm tôi cảm động nhưng cũng khiến tôi có
chút ngỡ ngàng. Bởi vì trước năm 1975, người miền Nam gặp nhau, dù thân tình,
cũng chỉ tay bắt mặt mừng, ít khi “ôm nhau thắm thiết” như vậy. Sau này, ở lâu
mới quen cách biểu lộ tình cảm theo kiểu Mỹ là “ôm nhau thắm thiết” - tiếng Anh
gọi là “hug”.
Anh
ta kể tiếp: Sau ngày “đứt phim 30-4-1975”, người ta gọi tôi là “thằng ngụy”. Tiếng
“niên trưởng” như rơi vào cõi âm, chỉ còn mơ hồ trong ký ức. Bây giờ, gặp nhau
trên đất khách, chú đàn em chưa quên truyền thống Trường Mẹ, gọi tôi “niên trưởng”,
làm tôi bồi hồi nhớ lại những ngày Chủ nhật dạo phố Đà Lạt: đàn em gặp đàn anh
chào cái rụp, rồi chờ đàn anh mở lời, đàn em mới vui vẻ tiếp lời.
Truyền
thống ấy làm cho chúng tôi tương kính nhau và giữ cho tình huynh đệ luôn tha
thiết, chân tình. Mặc dù bây giờ chú ấy trông bảnh bao, hoạt bát, da dẻ hồng
hào, bụng phệ… Anh ta mang dây treo quần (suspenders), trông rất sang. Hồi đó
chưa có điện thoại di động (cell phone), anh ta kẹp ở thắt lưng cái máy nhỏ bằng
bộ bài tây, thỉnh thoảng phát ra tiếng bíp bíp… trông rất lạ. Tôi hỏi cái gì thế?
Anh ta giải thích: Đây là cái beeper, còn gọi là pager, dùng để
nhận tin nhắn. Rồi anh ta giải thích công dụng và cách dùng.
Chúng
tôi đối với nhau rất chân tình - điều gì chưa biết, tôi hỏi; chú đàn em tận
tình chỉ dẫn - không màu mè hay mặc cảm. Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn,
tôi đã quen với các thiết bị điện tử. Chú cũng nói cho tôi biết cách giao tiếp
với người bản xứ sao cho phải phép, trong đó có một chuyện nhớ đời, chuyện đàn
bà. Chú bảo: “Người Mỹ ít khi hỏi tuổi nhau, kỵ nhất là với phụ nữ. Trong trường
hợp phải nói về tuổi tác, nếu gặp bà bốn mươi, niên trưởng bảo: trông cô khoảng
ba mươi - cứ cho các bà trẻ hơn mươi tuổi là ăn tiền!
Tám năm cầm súng ở chiến trường, rồi tiếp theo bảy năm cầm cuốc trong các trại tập trung cải tạo của Việt Cộng; khi đến Mỹ, tôi còn trai tân (độc thân), gặp con gái cứ lúng túng như gà rù mắc tóc, nhưng nhờ “cái mánh” này, tôi cưới được vợ lớn hơn 8 tuổi - hạnh phúc như gặp được bà tiên… Tôi nhớ ơn chú đàn em. Tôi cũng nhận ra rằng những người đến trước đã trải qua nhiều gian nan lúc ban đầu. Họ đã để lại những kinh nghiệm giúp kẻ đến sau bớt bỡ ngỡ.
Sau
mười mấy năm, cuộc sống của đa số người Việt đã bước vào giai đoạn ổn định.
Ngày nào, họ đến đây với hai bàn tay trắng, mang theo mấy đứa con thơ - bảy,
tám tuổi. Bây giờ, có nhà cửa khang trang, con cái học hành thành đạt, các bậc
cha mẹ vui mừng và có chút hãnh diện. Câu hỏi “Anh chị qua đây lâu chưa?” hầu
như ít ai nhắc đến.
Nhưng
rồi lại nảy sinh một câu hỏi khác cũng làm chạnh lòng người. Một câu hỏi để
khoe và nghe để tủi: “Con anh chị học ngành gì? Tốt nghiệp chưa?” Người Việt
mình có truyền thống hiếu học nên rất coi trọng bằng cấp và những ngành nghề được
xem là “danh giá” như bác sĩ, kỹ sư… Nếu con cái mình tốt nghiệp và làm bác sĩ,
kỹ sư… thì có chút hãnh diện để khoe. Những ai có con cái học hành không ra gì,
nghề nghiệp không vững vàng thì cảm thấy tủi cho phước nhà.
Từ đầu thập niên 2000, cộng đồng người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ bước vào giai đoạn năng động và phát triển mạnh mẽ. Sau nhiều năm vất vả, cần cù, lớp người tị nạn đến từ sau biến cố 1975 (tạm gọi là thế hệ thứ nhất) đã đứng vững trên vùng đất mới. Những khu phố người Việt như Little Saigon ở California hay Eden Center ở Falls Church, VA trở nên đông đúc, phồn thịnh. Báo chí, đài phát thanh, truyền hình phát triển mạnh, tạo nên đời sống văn hóa phong phú.
Đó
là quãng thời gian nhiều người Việt nỗ lực xây dựng tương lai cho gia đình với
nghị lực phi thường và hăng hái tham gia các hoạt động cộng đồng. Ngày nào, những
đứa trẻ năm, bảy tuổi theo cha mẹ đến miền “đất hứa” sau năm 1975, nay đã trưởng
thành - học hành thành đạt và trở thành thế hệ thứ hai hội nhập vững vàng vào tầng
lớp trung lưu Hoa Kỳ. Chúng tham gia sâu rộng vào đời sống Mỹ, hiện diện trong
hầu hết mọi ngành nghề: bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, doanh nhân, viên chức
chính quyền, quân đội, truyền thông và cả chính trường… Thế hệ thứ hai vừa giữ
được nề nếp văn hóa Việt trong gia đình vừa thích nghi tự nhiên với xã hội Mỹ.
Đây
cũng là giai đoạn thế hệ thứ nhất vừa bận rộn vừa bận tâm đến chuyện hôn nhân của
con cái. Tuần nào cũng được mời đi dự đám cưới. Có những đám cưới, người dẫn
chương trình “kê khai” bằng cấp, chức danh của cô dâu, chú rể, như một cách
đánh bóng cho gia đình. Và trong tiệc cưới, câu hỏi thường nghe là: “Con anh chị
học ngành gì? Làm việc ở đâu? Lương bỗng bao nhiêu?” Nghe qua tưởng như câu hỏi
thăm bình thường, nhưng lại có ẩn ý khoe khoang và cũng kín đáo dò tìm dâu hiền,
rể thảo có học thức ngang với con mình.
Những
người thuộc thế hệ thứ nhất hồi tưởng về lúc rời bỏ quê hương với hai bàn tay
trắng, ra đi để tìm sự sống trong cái chết. Bây giờ cuộc sống trên quê hương thứ
hai đã ổn định, con cái cũng yên bề gia thất; họ muốn về thăm cố hương, viếng mồ
mả cha ông, thăm gặp bà con thân thích, bạn bè tri kỷ để tỏ lòng thủy chung với
nguồn cội và tình yêu quê hương.
Là
con người bình thường, ai cũng mong đời mình có được đôi lần sống trong sự huy
hoàng như nhà thơ Xuân Diệu đã viết: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.” Và đây là dịp để một số “người Việt hải
ngoại” biến ước mơ thành hiện thực. Họ muốn ngày trở về sao cho xôm tụ - được
bà con đón tiếp long trọng, nên tổ chức tiệc tùng chiêu đãi tưng bừng. Tiếp
theo, xây cất từ đường bề thế, rồi sửa sang mộ phần của cha ông.
Thực
ra, đây là việc làm tốt, có ý nghĩa, nhưng một số người nhân cơ hội này để khoa
trương, chơi trội quá lố nên đã biến thành trò cười cho thiên hạ. Chuyện rằng:
Một ông về trước sửa sang mồ mả cha ông; ông về sau cũng tu sửa mộ phần nhưng “hoành
tráng” hơn - “tranh nhau lấy tiếng” nên đã xây rồi phá đi, xây lại, sao cho
“hoành tráng” hơn. Và cứ thế tiếp tục tiến lên, khiến nhiều khu nghĩa trang xa
trông như một khu phố thu nhỏ.
Ngoài
những chuyện nêu trên, cộng thêm lối ăn mặc chảnh chọe, cách nhún vai làm dáng
kiểu Mỹ và giả giọng lơ lớ như một người Mỹ mới học tiếng Việt, làm cho mấy người
này không giống ai - Mỹ chả ra Mỹ. Việt chả ra Việt. Dân ta bèn đặt cho họ cái
tên “áo gấm về làng”. Một dạo “áo gấm về làng” trở thành một phong trào. Các
ông, các bà về nước chơi sang, tiệc tùng xôm tụ, tiêu pha vung vít…
Nhưng
không phải “người Việt hải ngoại” nào cũng muốn tạo cảnh “áo gấm về làng”. Có
nhiều người tự trọng, tỉnh táo, nhận biết được chỗ đứng của mình trên đất
khách, đối với quê hương đang nghèo khó. Họ chắt chiu và âm thầm gởi tiền về cứu
khổ bà con bên nhà với số tiền không ngờ. Năm 2000, lượng kiều hối gởi về Việt
Nam được ước tính từ 1,3 đến 1,6 tỷ đô la và con số này tăng rất nhanh trong những
năm sau đó: năm 2010 hơn 8 tỷ đô la, năm 2023 khoảng 14 tỷ đô la (1).
Mới
ngày nào những con người đó trốn chui, trốn nhủi - rời bỏ quê hương với hai bàn
tay trắng để tìm cuộc sống tự do và tương lai cho con cháu, bị mấy ông quan chức
Việt Cộng tìm cách bắt bớ, giam cầm với những lời miệt thị: “Bọn phản quốc, bọn
cặn bã xã hội, bọn ôm chân đế quốc …” Nhưng rồi đồng đô la đã làm cho quan chức
Việt Cộng đổi giọng, gọi họ là “Việt kiều yêu nước”; một tiếng khác có vẻ bình
dân nhưng tha thiết và rất mùi là “khúc ruột ngàn dặm”, làm người ta cứ tưởng
có đô la lận lưng là trở thành người yêu nước.
Nhưng
sự đời như đóa phù dung - sớm nở tối tàn - “áo gấm” đã phai màu; “khúc ruột dư
ngàn dặm” cũng không còn bốc mùi. Bởi vì từ ngày Mỹ dỡ bỏ cấm vận và chạy theo
kinh tế thị trường (có thêm cái đuôi: “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”), mấy ông
quan Việt Cộng ăn nên làm ra nhờ những đồng tiền hối lộ và tham nhũng… thì những
bữa tiệc chiêu đãi hay vòi vĩnh vài ba trăm đô la bồi dưỡng cán bộ còn có ra
chi, coi như chuyện nhỏ. Các ông bà “Việt kiều” không còn được trọng vọng, xênh
xang áo gấm về làng như trước. Dân ta kháo nhau: Bây giờ “Việt cộng ngon hơn Việt
kiều” (chỗ này phải giải thích cho rõ: Việt cộng là những đảng viên cộng sản có
quyền thế và giàu sụ. Còn dân ta là những người không phải Việt cộng, cũng chẳng
phải Việt kiều, nên bàng quan đưa ra nhận xét như thế) làm mấy ông bà “Việt kiều”
cảm thấy mất hứng, mất oai…
Sự đời lắm nỗi oái oăm. Chuyện vui buồn trong cuộc đời tị nạn kể hoài không dứt. Khi “Áo gấm về làng”, “ruột dư ngàn dặm” trở thành chuyện đời xưa, thì xuất hiện những ông già “Việt kiều” nham nhở - dân ta gọi là “già dịch”. Ngôn ngữ Việt có thêm một tiếng mới.
Ngày xưa, dân Bắc Kỳ có tiếng “già chơi trống bỏi” để cười cợt, châm biếm những ông già thích ăn diện, đua đòi, tán tỉnh, yêu đương nhăn nhít, ham vui như thanh niên. “Già chơi trống bỏi” gần giống nghĩa của chữ “già dịch” bây giờ. Nhưng tiếng “già dịch” còn ẩn chứa sự miệt thị đối với những ông già “Việt kiều” vô liêm sỉ về nước ăn chơi đàn đúm trên nỗi khổ đau của những đứa trẻ đáng tuổi con cháu mình - những đứa trẻ đã chịu đựng biết bao tủi nhục vì miếng cơm manh áo dưới một chế độ không nhìn thấy tương lai.
Qua rồi những chuyện buồn vui trong đời tị nạn. Những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất đến Hoa Kỳ sau năm 1975, bây giờ đang bước vào tuổi bảy mươi, tám mươi. Khi gặp nhau, họ đặt những câu hỏi rất thực tế, chân tình. Hỏi để biết, biết để áp dụng hay đề phòng, không còn ẩn ý khoe khoang nữa. Qua rồi những ngày tháng trần ai, tủi nhục dưới chế độ cộng sản; qua rồi những ngày tháng làm việc cần cù và chắt chiu tiền bạc để nuôi con ăn học. Bây giờ họ sống ung dung và hạnh phúc khi nhìn thấy tương lai tươi sáng đang rộng mở cho thế hệ con cháu của mình trên đất nước Hoa Kỳ.
Dù vậy, những người tị nạn thuộc thế hệ đầu tiên vẫn còn canh cánh bên lòng với quê hương Việt Nam ở bên kia bờ Thái Bình Dương. Một cụ tám mươi tâm sự: Tôi đã chọn nước Mỹ làm quê hương thứ hai, nhưng lòng tôi vẫn cứ cho là đất khách. Tôi mang quốc tịch Mỹ, nhưng cảm thấy chỉ là “Mỹ giấy”
Ôi!
Quê hương Việt Nam vẫn còn đau đáu trong lòng người viễn xứ.
LÊ ĐỨC LUẬN
07/08/2026
Ngẫm Chuyện Xưa Nay - VVNM 2026 - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ
No comments:
Post a Comment