Saturday, September 19, 2026

Giọt Nước Mắt Cho Ngàn Sau - A Tear for Eternity - NgànThu/AI - English Subtitles

Bài Học Nhớ Đời - BS ThyAnh



Hàng trước từ trái qua phải: các Giáo Sư Đào Đức Hoành, Giáo Sư Ngô Gia Hy (chánh chủ khảo với áo choàng đen), Giáo Sư Nguyễn Huy Can và Giáo Sư Đặng Văn Chiếu. 

Năm 1973, tôi là sinh viên Y3.

Hôm ấy là buổi đầu tiên đi lâm sàng ở khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân.

Chúng tôi có sáu đứa, sáu cái áo blouse trắng mới tinh, túi áo thêu 3 ngôi sao đỏ, cổ áo dựng lên vì căng thẳng. Từ cổng đường Phan Thanh Giản* đi vào, nắng Sài Gòn tháng đó không gắt lắm, vậy mà vừa bước qua cái hành lang khu ung thư, một mùi thối khắm, thối nồng nặc của mủ, của thịt hoại tử, của xác chết thối rữa xộc thẳng vào mũi cả bọn.

Tôi nín thở theo phản xạ. Thằng bạn đứng cạnh tôi đưa tay lên che mũi. Đứa con gái duy nhất trong nhóm thì tái mặt đi.

Khoa Ung thư thời đó không như bây giờ. Không có máy lạnh, không có buồng cách ly đầy mùi thuốc sát khuẩn. Chỉ là một dãy phòng dài, giường sắt kê gần nhau. Trên mỗi giường là một thân người đã bị ung thư gặm mòn. Có người nằm co quắp vì đau, có người rên ư ử...

Chúng tôi, sáu đứa nhóc Y3, vừa mới qua xong hai năm đầu chỉ học cơ thể học trên xác ướp, sinh lý học trên trong labo và triệu chứng học trên các bài giảng bệnh viện, chưa từng đối diện với những sinh mạng chỉ còn thoi thóp.

Sáu đứa líu ríu đứng chụm lại ở cửa khoa, e ngại chưa dám bước vào, tay kẹp chặt cuốn sổ ghi chép lâm sàng nhỏ bằng bàn tay.

Rồi chúng tôi thấy Thầy - Thầy Đào Đức Hoành**.

Thầy đang ngồi trên mép một chiếc giường bệnh ở cuối dãy. Một chiếc giường kê gần cửa sổ, nắng xiên vào chỉ đủ sáng một khoảng nhỏ.

Trên giường là một bà bệnh nhân khoảng năm mươi tuổi. Bà mặc một bộ bà ba nâu sờn, kiểu thường thấy của phụ nữ nông thôn miền Nam khi lên Sài Gòn chữa bệnh thời đó. Tóc bà đã điểm bạc, búi sau gáy nhưng rối bời. Bà rất gầy, xương quai xanh nhô hẳn lên, đôi mắt bà lo lắng như đang đối diện với một nỗi sợ hãi vô hình, nó trũng sâu có lẽ vì mất ngủ hay vì sụt cân quá nhanh. Sau này tôi mới biết bà bị ung thư cổ tử cung giai đoạn cuối, đã di căn, không còn khả năng điều trị vì đến quá muộn.

Thầy ngồi bên bà. Không phải ngồi trên ghế. Thầy ngồi hẳn lên giường bệnh, ngay sát chân bà, như một người thân của bà.

Thầy cầm tay bà. Tôi nhớ như in bàn tay thầy, bao trọn lấy bàn tay gầy guộc, khô đét của bà.

Thầy không đeo khẩu trang. Thầy cũng không mang găng tay.

Thầy hỏi chuyện bà nhỏ nhẹ, dịu dàng như với người thân của mình.

-Bà Tư, nhà bà ở đâu?

- Dạ thưa bác sĩ, ở dưới Cai Lậy...

- Bà có mấy cháu rồi? Đứa nào đi theo bà lên đây?

- Dạ có thằng Út nó theo...

Thầy nói giọng Bắc di cư, nghe nhẹ nhàng, ấm áp, chậm rãi, từ tốn.

Bà Tư ban đầu chỉ lí nhí, cứ chớp mắt nhìn đi chỗ khác, như ngại mình hôi thối không dám gần thầy. Nhưng thầy vẫn cầm lấy tay bà, thỉnh thoảng lại gật đầu khi bà trả lời, rồi vuốt nhẹ lên mu bàn tay nổi đầy gân xanh của bà.

Cả khoa vẫn ồn ào tiếng xe đẩy, tiếng rên rỉ, tiếng y tá gọi nhau văng vẳng, nhưng ở góc phòng đó, ở chiếc giường nồng nặc mùi ung thư đó, chỉ có hai người, một bác sĩ và một người bệnh, nói chuyện với nhau như hai người đã quen từ lâu rồi, không phải người dưng ở bệnh viện.

Chúng tôi sáu đứa đứng sững lại ở đó, không đứa nào còn che mũi. Các anh chị nội trú lớp trên cũng đứng sau thầy. Tất cả đều im lặng.

Theo lẽ thường, một buổi đi buồng đầu tiên, thầy sẽ gọi chúng tôi lại, giới thiệu bệnh nhân, chỉ vào khối u nào đó, giảng về cách thăm khám, về phân loại các giai đoạn của ung thư, về tiên lượng, về hướng điều trị... Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sổ để ghi chép những từ ngữ to tát đó.

Nhưng hôm đó, Thầy Hoành không giảng một chữ nào về bệnh.

Thầy không nói một tí gì về ung thư, về chẩn đoán, về tiên lượng của bà Tư. Thầy không lật hồ sơ bệnh án lên cho chúng tôi xem các kết quả xét nghiệm.

Thầy chỉ ngồi đó, cầm tay bà, hỏi bà ăn được không, đêm ngủ được không? có đau nhiều không? thằng Út nó có chỗ ngủ không?

Một lúc sau, bà Tư khóc. Khóc không thành tiếng Nước mắt bà chảy dài trên gò má hóp. Chỉ là những giọt nước mắt lặng lẽ của một người đàn bà biết mình sắp chết.

Thầy vẫn không buông tay bà ra. Thầy lấy trong túi áo blouse ra một chiếc khăn tay trắng, chấm nhẹ lên khóe mắt bà.

Khoảnh khắc đó, cái mùi hôi khắm nồng nặc của khoa ung thư mà lúc nãy làm chúng tôi muốn nôn mửa, bỗng dưng như biến mất.

Tôi chỉ còn cảm thấy mùi nắng khét trên bộ bà ba nâu của bà, mùi mồ hôi của một đời lam lũ.

Thằng bạn đứng cạnh tôi cúi gằm mặt xuống. Đứa con gái trong nhóm đưa tay quẹt mắt.

Chúng tôi hiểu.

Chúng tôi, sáu đứa sinh viên Y3 ngày đầu tiên đi lâm sàng ung thư năm 1973, vừa được học bài học lâm sàng đầu tiên và có lẽ là bài học quý giá nhất trong cả cuộc đời làm nghề y của mình.

Đó không phải là bài học về bệnh ung thư cổ tử cung.

Đó là bài học về cách đối xử với một con người đang mang trong mình căn bệnh ung thư.

Sau này ra trường, đi qua nhiều bệnh viện, phụ mổ nhiều ca, đọc hàng trăm cuốn sách y khoa rồi cũng quên dần theo năm tháng, nhưng tôi không bao giờ quên hình ảnh buổi sáng năm 1973 đó. Thầy Hoành ngồi trên giường bệnh, cầm tay một bà bệnh nhân nghèo, bệnh ung thư không còn khả năng điều trị.

Thầy đã dạy chúng tôi bằng chính hành động của mình: Khi y học bất lực, thì tình người là thứ thuốc duy nhất còn lại.

Giờ nghĩ lại, ở tuổi này, tóc tôi cũng đã bạc trắng, thầy tôi cũng ra đi đã lâu rồi, tôi mới thấy mình thật là may mắn. May mắn vì năm hai mươi mấy tuổi, khi còn là một thằng nhóc lơ ngơ, khá ngạo mạn với mớ kiến thức sách vở, tôi đã được học thầy một bài học đến giờ vẫn nhớ như in.

Hãy đối xử với bệnh nhân như chính người thân của mình.

Và mỗi khi tôi đặt tay lên bụng một bệnh nhân để thăm khám, tôi lại nhớ đến bàn tay to, ấm của thầy Hoành năm đó, bao trọn lấy bàn tay gầy guộc của bà Tư, ở khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân, trong một buổi sáng nồng nặc mùi tử khí, một ký ức sao ấm áp lạ thường.

 

��Chú thích:

* nay là Đường Điện biên Phủ , trước năm 1975 có tên là đường Phan Thanh Giản.

** GS Đào Đức Hoành (1920 - 15.6.2002) là người đặt nền móng ngành Ung thư học miền Nam.

Thầy sinh tại Hà Nội, Tú tài 1941, tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa 1948. Thầy từng là Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa Hà Nội (1950), Bác sĩ thường trú Ngoại khoa BV Yersin (1952).

Thầy tu nghiệp chuyên sâu về ung thư tại Pháp với GS Henri Redon và tại Viện Gustave Roussy với GS Pierre Denoix (1956-1957), học Đồng vị Phóng xạ ở Tokyo (1958), Observer tại Memorial Sloan Kettering, New York (1964-1965).

Tại Sài Gòn trước 1975:

• Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa B - BV Bình Dân từ 1955.

• Giảng sư Ung thư học Đại học Y khoa Sài Gòn 1957, Giáo sư Thạc sĩ 1964, Giáo sư Thực thụ 1966.

• Thành lập Khoa Ung thư BV Bình Dân năm 1957, nơi vừa điều trị vừa giảng dạy cho sinh viên Y khoa Sài Gòn.

• Giám đốc Bệnh viện Bình Dân từ 1967.

Thầy có 41 công trình nghiên cứu, bảo trợ 70 luận án Tiến sĩ Y khoa (1958-1968), được kính trọng vì y đức và tài năng phẫu thuật đầu cổ, bụng chậu.

Thầy và gia đình đã rời Sài Gòn cuối tháng 4/1975 và sau đó định cư tại Canada.

 

Nguyen Thyanh - TRUYỆN CỰC NGẮN 💔 BS THI ANH BÀI HỌC NHỚ ĐỜI Năm... | Facebook



Chồng Tốt


 Thanh Loan chuyển

Friday, September 18, 2026

Gửi Những Du Học Sinh Đã Ăn Mừng Ngày 2/9 - Trần Quốc Kim (Dân Làm Báo)



Các bạn gọi đó là yêu nước.
Vậy hãy tự hỏi:

YÊU NƯỚC LÀ GÌ?
Yêu nước không phải một cuộc vui. Không phải khoác cờ, hô vang rồi nghĩ rằng mình đã làm tròn bổn phận với quê hương.

Việt Nam không phải một trận bóng đá.
Dân tộc không phải một sân vận động.
Lịch sử không phải một bảng tỷ số.

Sau những ngày lịch sử là máu, nước mắt, tù đày, chia lìa, những con thuyền vượt biển và những gia đình không bao giờ còn nguyên vẹn.

Vì vậy, khi các bạn đem những biểu tượng của ngày 2/9, 30/4 .. vào giữa một cộng đồng người Việt tị nạn và cố tình khơi lại những vết thương ấy, hãy tự hỏi:

Đó là yêu nước — hay là khiêu khích chính những người đã mở cửa cho bạn?

Các bạn đến Úc để học và xây dựng tương lai. Nhưng các bạn không đến một nơi không có lịch sử.

Cộng đồng Việt Nam đã được dựng xây bằng hơn nửa thế kỷ mồ hôi, nước mắt và hy sinh — từ trước khi nhiều người trong các bạn chào đời, thậm chí trước cả khi cha mẹ các bạn được sinh ra.

Tô phở các bạn ăn.
Ổ bánh mì các bạn mua.
Công việc các bạn làm.
Căn phòng các bạn thuê.
Ngôi Chùa các bạn đến.
Nhà Thờ các bạn cầu nguyện.
Tết, Trung Thu, hội hè các bạn tham dự.
Tình bạn và tiếng Việt các bạn tìm thấy khi xa quê.

Tất cả đều có dấu tay của những người đi trước.

Họ đến đây với hai bàn tay gần như trắng.

Họ lao động. Dành dụm. Mở cửa hàng. Xây dựng doanh nghiệp. Mua nhà. Dựng Chùa. Xây Nhà Thờ. Thành lập hội đoàn. Góp từng đồng, từng viên gạch để tạo nên một cộng đồng mà hôm nay các bạn đang bước vào.

Và khi một Cô Chú hỏi:

“Con khỏe không?”
“Con Ăn gì chưa?”
“Con học tới đâu rồi?”
“Con có việc làm chưa?”

Đừng xem đó chỉ là những câu xã giao.

Những người ấy có lịch sử.

Có người mất cha mẹ. Có người mất chồng con. Có người từng bị tù. Có người bỏ lại nhà cửa, quê hương. Có người vượt biển. Có người sống trong trại tị nạn. Có người đã nhìn người thân ra đi mà không bao giờ trở lại.

Họ đã trả một cái giá mà thế hệ các bạn may mắn chưa từng phải trả.

Các bạn không cần mang cùng ký ức.
Không cần cùng quan điểm.

Nhưng phải biết TÔN TRỌNG.

Đừng nhận sự tử tế của họ hôm nay rồi ngày mai cố tình chạm vào vết thương họ đã mang suốt một đời.

Đó không phải bản lĩnh.
Đó không phải yêu nước.

Nếu yêu Việt Nam, hãy nhìn vào Việt Nam bằng đôi mắt mở.

Tượng đài lung linh.
Quảng trường hoành tráng.
Cơ sở Đảng nguy nga.
Khẩu hiệu rực đỏ.

Nhưng bệnh viện của dân thì sao?
Trường học của trẻ?
Đời sống người lao động?
Người già? Người nghèo?

Một quốc gia không vĩ đại vì tượng đài cao.

Một quốc gia vĩ đại khi người dân được sống có phẩm giá.

Nếu các bạn đủ mạnh mẽ để hô vang lòng yêu nước trên đất Úc, hãy đủ mạnh mẽ hỏi:

Hoàng Sa thì sao?
Trường Sa thì sao?
Biển Đông thì sao?
Sức ép và ảnh hưởng của Trung Quốc thì sao?
Tham nhũng thì sao?
Môi trường thì sao?
Những tiếng nói bất đồng ôn hòa thì sao?
Những tù nhân lương tâm thì sao?

Tổ tiên chúng ta đã chống sự xâm lấn và đồng hóa từ phương Bắc qua bao thế hệ để giữ lại hai chữ VIỆT NAM.

Máu của tiền nhân không đổ xuống để chúng ta hôm nay chỉ biết hô khẩu hiệu.

Yêu Việt Nam thì hãy bảo vệ Việt Nam.
Bảo vệ dân.
Bảo vệ đất.
Bảo vệ chủ quyền.
Bảo vệ tương lai.

Một chính quyền không phải Việt Nam.

Một đảng chính trị không phải Việt Nam.

Việt Nam là dân tộc Việt Nam.

Các bạn đang sử dụng quyền tự do trên đất Úc để thể hiện quan điểm chính trị.

Hãy hiểu giá trị của chính quyền tự do ấy:

Tự do không chỉ là quyền được nói.
Tự do còn là trách nhiệm đối với điều mình nói và việc mình làm.

Đừng để bất kỳ ai tập hợp, vận động, kích động các bạn rồi bước đi.

Bởi cuộc vui kết thúc, các bạn vẫn ở lại.

Vẫn trở về khu phố Việt. Cộng Đồng Việt
Vẫn tìm việc.
Vẫn cần mái nhà.
Vẫn đến Chùa, Nhà Thờ.
Vẫn dự Tết, Trung Thu.
Vẫn tìm tình bạn và tiếng Việt giữa quê người.

Đừng tự tay đốt cây cầu mà ngày mai chính mình còn phải bước qua.

Chúng tôi không yêu cầu các bạn phải mang cùng một ký ức.

Không yêu cầu các bạn phải có cùng quan điểm
.
Không yêu cầu các bạn phải đứng dưới cùng một lá cờ.

Nhưng chúng tôi yêu cầu sự TÔN TRỌNG.

Tôn trọng những người đã đến trước.

Tôn trọng lịch sử của người tị nạn.

Tôn trọng những người đã dựng xây cộng đồng mà hôm nay các bạn đang hưởng.

Và đừng nhầm lẫn:

Tự do không phải là giấy phép để cố tình làm tổn thương người khác.

Các bạn là du học sinh.

Hãy để hai chữ ấy có giá trị.
Đừng chỉ học để lấy bằng.
Hãy học để biết suy nghĩ.
Học để kiểm chứng sự thật.
Học để hiểu dân chủ.
Học để biết đặt câu hỏi.
Học để bất đồng mà vẫn giữ nhân cách.

Và hãy hiểu:

Yêu nước không phải là tuyệt đối trung thành với một chính quyền, hay một đảng chính trị.

Việt Nam không cần thêm một thế hệ chỉ biết hô “Việt Nam vĩ đại.”

Việt Nam cần một thế hệ đủ sức, làm cho Việt Nam thực sự vĩ đại — bằng tri' thức, khoa học, đạo đức, minh bạch, thượng tôn pháp luật, lòng nhân ái và sự can đảm.

Ngày 2/9 đã qua.
Tương lai của các bạn thì chưa.

Đừng dùng vài giờ náo nhiệt, để đánh đổi sự tôn trọng của một cộng đồng, được xây dựng bằng cả cuộc đời của những người đi trước.

Nếu thật sự yêu nước, hãy chứng minh bằng điều khó hơn:

Bạn đã làm gì cho dân?
Bạn đã bảo vệ gì cho đất nước?
Bạn đã học được gì để xây dựng quê hương?
Và trước những điều sai, bạn có đủ can đảm lên tiếng để sửa hay không?

Yêu nước không phải làm đau một người Việt khác, để chứng minh mình yêu Việt Nam hơn họ.

Yêu nước sâu hơn một lá cờ.
Sâu hơn một ngày lễ.
Sâu hơn một khẩu hiệu.

Yêu nước là mang trong mình trách nhiệm với dân tộc, lòng biết ơn tổ tiên đã dựng nước và giữ nước, và bổn phận với những thế hệ chưa ra đời.

Các bạn được đi xa để học.
Hãy học cho xứng đáng.
Hãy sống cho có trách nhiệm.
Hãy nhìn lịch sử cho đủ sâu.
Và hãy trở thành thế hệ xây dựng — đừng trở thành thế hệ bị sử dụng.

Để một ngày chúng ta có thể tự hào, không phải vì một cuộc ăn mừng,

Mà vì người dân Việt Nam được sống trong một Việt Nam mạnh, nhân bản, tự do, công bằng và có phẩm giá.

ĐÓ MỚI LÀ YÊU NƯỚC.
ĐÓ MỚI LÀ ĐIỀU XỨNG ĐÁNG ĐỂ ĂN MỪNG.

Mùa Thu Vắng Em - Nguyễn Duy Phước

Con Đặt Đâu Cha Mẹ Ngồi Đó - Nguyễn Duy An


Tác giả Nguyễn Duy-An là cư dân Virginia, hiện là Vice President, phụ trách Infor- mation Technology của NATIONAL GEOGRAPHIC

*****
Một buổi chiều Chúa Nhật, vợ chồng tôi chở các con đi tham dự buổi đấu bóng rổ chung kết giữa các trường Công Giáo ở Hoa Thịnh Đốn và vùng phụ cận về; vừa bước chân vô cửa đã nghe tiếng chuông điện thoại reo inh ỏi.. Vợ tôi nhấc điện thoại, nói chuyện trong giây lát rồi quay sang bảo tôi:
- Anh Dũng muốn nói chuyện với anh. Bà cụ Thanh đang hấp hối ở bệnh viện George Washington.
Tôi vội vàng đến cầm điện thoại:
- Hello anh Dũng. Cụ bị sao vậy anh?
- Bà cụ nhà tôi bị mệt vài tuần nay, đã nhập viện được mấy hôm rồi. Sợ không qua khỏi. Anh chị sắp xếp lên một tý được không? Bà cụ muốn gặp vợ chồng anh. Các em tôi cũng tề tựu đây cả.
- Vâng. Chúng em lên ngay.
Vừa lái xe từ nhà lên Washington, DC tôi vừa tưởng nhớ lại kỷ niệm quen biết bà cụ Thanh từ mấy tháng nay...

*****
Tôi đến phi trường Chicago – Illinois vào một buổi tối mùa đông. Ngoài trời gió thổi vù vù, và tuyết vẫn tiếp tục rơi... Hôm đó chuyến máy bay của tôi đến trễ hơn một tiếng đồng hồ vì bão tuyết. Tôi biết mình đã lỡ chuyến bay chuyển tiếp để trở về Washington D..C. nên chạy vội vàng tìm văn phòng lo thủ tục đổi vé. Khi biết tôi là người Việt Nam vì mang họ Nguyễn, cô nhân viên của hãng Delta đã nhờ tôi làm thông dịch viên để nói chuyện với một bà cụ khoảng 80 tuổi đang ngồi ủ rũ bên quầy bán vé. Bà cụ Thanh cũng bị lỡ chuyến bay về Maryland, nhưng vì không nói được tiếng Anh nên cụ không biết phải làm sao, cứ ngồi lim dim, lặng lẽ đọc kinh lần chuỗi...
Lo xong thủ tục giấy tờ cho hai người, tôi quay sang:
- Để con dẫn cụ đi nhận phòng ngủ rồi kiếm gì ăn tối. Sáng mai mới có máy bay cụ ạ.
- Cám ơn cậu. Cậu gì nhỉ?
- Dạ con tên Huy. Cụ để con xách hành lý cho. Con dẫn cụ lên phòng cụ trước, rồi con tìm phòng con sau. Sắp xếp xong con sẽ qua dẫn cụ đi ăn tối.
- Cậu cho tôi ở chung với được không? Tôi không biết tiếng Mỹ, làm sao ở một mình trong nhà trọ được.

Tôi dở khóc dở cười trước đề nghị của bà cụ; nhưng đã nhận lời vì nghĩ tới mẹ tôi. Cụ Thanh làm tôi nhớ mẹ thật nhiều với những lần đưa mẹ đi đây, đi đó thăm anh em bà con lúc mẹ tôi qua Mỹ du lịch... Tôi dẫn bà cụ về phòng trọ. Cũng may trong phòng có sẵn hai chiếc giường đôi. Tôi gọi điện thoại về nhà báo tin cho vợ con biết hôm sau mới về được vì bị bão tuyết. Sau khi nói chuyện với vợ con xong, tôi quay sang hỏi cụ Thanh:
- Cụ có mang theo số điện thoại của các anh chị không? Con giúp cụ gọi điện thoại về báo tin máy bay bị trễ tới mai, kẻo các anh chị ấy lại lo lắng.
Cụ Thanh mở "ruột tượng", lần mãi mới lấy ra một xấp tiền và mấy tờ giấy cuộn tròn trao cho tôi:
- Cậu Huy coi rồi giúp dùm tôi nhé.. Tôi có biết số nào ra số nào đâu.

Tôi mở xấp giấy ra xem, có cả một tờ giấy ghi sẵn bằng tiếng Anh phòng khi gặp trở ngại thì trao cho nhân viên ở phi trường để xin giúp đỡ... Tìm ra tờ giấy đánh máy số điện thoại của nhiều người, tôi hỏi cụ:
- Con nên gọi cho ai bây giờ?
- Nhờ cậu gọi về Texas cho con Lành dùm tôi. Vợ chồng nó thương tôi nhất, chỉ tội nghèo. Đi đâu tôi cũng nói chuyện với nó, rồi nó nói lại với mấy đứa khác, nhất là với vợ chồng thằng Dũng ở Thủ Đô vì hôm nay tôi về trên đó.
- Nếu thế con gọi thẳng về Maryland cho anh chị Dũng luôn cũng được.
- Tuỳ cậu.
Tôi để lại lời nhắn trong máy cho anh chị Dũng, và hẹn hôm sau sẽ gọi lại cho biết chuyến bay và giờ giấc bà cụ về tới phi trường BWI (Baltimore Washington Internation Airport) để họ ra đón. Phần tôi sẽ bay về phi trường National Airport nên không đi chung chuyến bay với cụ được. Sau khi tắm rửa, tôi mời cụ đi ăn, nhưng cụ từ chối vì trong xắc tay đã có sẵn vài nắm cơm vắt với muối mè và giò lụa. Thay vì ra ngoài kiếm gì ăn, tôi đã nhận lời ngồi lại ăn cơm nắm, muối mè và giò lụa với bà cụ Thanh...
Tối hôm đó, tôi đã thức trắng đêm nghe bà cụ tâm sự.

*****
“Tôi mới qua Mỹ được gần 2 năm nay thôi cậu Huy à... nhưng tôi cứ phải đi lung tung nhiều chỗ vì con cháu mỗi đứa một nơi, và chúng nó cứ đẩy qua đẩy lại làm tôi chóng cả mặt. Tôi buồn lắm, chỉ muốn về Việt Nam, nhưng không biết phải làm sao. Hơn 70 tuổi đầu tôi mới học được điều này là con cháu sang Mỹ khác xưa nhiều lắm. Trước đây ở Việt Nam, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, còn bây giờ qua Mỹ thì... ngược lại: Con đặt đâu cha mẹ ngồi đó! Cậu nghĩ tôi nói có đúng không?”
Tôi đang nằm mơ mơ màng màng nhớ mẹ, chưa kịp lên tiếng trả lời, bà cụ Thanh lại tiếp tục:
“Vợ chồng tôi có 5 người con; cứ đứa trai rồi đứa gái cách nhau 3 tuổi. Nhờ trời thương, gia đình làm ăn cũng khấm khá nên đứa lớn được ông nhà tôi gởi đi du học bên Mỹ từ năm 70, rồi lấy vợ và ở lại luôn bên này. Năm 75, vợ chồng đứa con gái kế đưa thêm được thằng út nhà tôi đi, bây giờ đang ở bên Ca-li. Thằng thứ ba đi lính ngoài Trung, lấy cô vợ người Huế, rồi làm mai cho ông anh vợ lấy con em gái kế nó. Hai thằng đi cải tạo về rồi cũng sang Mỹ theo diện H.O.. và định cư ở Texas. Vợ chồng tôi có giấy tờ bảo lãnh từ lâu, nhưng ông nhà tôi nhất định không đi; và tôi cũng chẳng ham muốn gì chuyện đi Mỹ, chỉ mong thỉnh thoảng chúng nó đưa các cháu về thăm là mãn nguyện lắm rồi.. Nhưng hơn 4 năm trước, Chúa đã gọi ông nhà tôi về với ông bà. Chúng nó cứ thúc ép mãi, nhưng tôi cũng không đi. Ngày giỗ mãn tang ông nhà tôi, vợ chồng thằng lớn về thăm quê hương, và tìm đủ lý lẽ thuyết phục tôi đi Mỹ vì “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” nên tôi đành “nhắm mắt đưa chân”.

Ngày đặt chân đến Mỹ phải nói là ngày hạnh phúc nhất trong đời tôi, cậu Huy ạ. Con cháu dâu rể tề tựu đông đủ hết, cả cô bồ của thằng út Đức cũng bay sang mừng ngày đoàn tụ của gia đình tôi. Nếu như chúng nó chỉ khóc chứ đừng nói gì như lúc gặp nhau ở phi trường thì chắc tôi còn vui nhiều nữa. Đằng này, vừa gặp tôi, thằng Đức đã xì lồ xì lào có một câu ‘hi mom’ rồi lo quấn quýt với con bồ người Mỹ của nó. Tôi thấy chướng mắt quá, chỉ muốn chửi cho nó một trận, nhưng con Hoa đã phân trần cho em: ‘Con xin mẹ đừng giận cậu út... Nó sang Mỹ từ nhỏ, chúng con lại bận rộn công ăn việc làm nên không có thì giờ dạy cho em nó hiểu phong tục tập quán của mình. Mẹ thấy đó, từ cách đi đứng, nói năng, cử chỉ của em Đức đều đúng y chang là một thanh niên người Mỹ, chỉ khác có màu da. Mẹ đừng buồn.’

Cậu Huy nghĩ coi làm sao mà tôi không buồn cho được. Tôi thương thằng Đức nhất nhà vì nó là út đã đành, nhưng vì nó phải xa tôi từ lúc mới 6 tuổi đầu. Hơn 20 năm trời mới gặp mẹ mà có cứ lo xà nẹo với con bồ Mỹ trước mặt tôi và các anh chị nó... và nhất là các cháu nhỏ. Coi chướng mắt hết sức! Tôi thất vọng quá cậu Huy à. Nhưng đó chỉ là bước đầu... Suốt một tuần liền chúng nó lôi tôi đi chụp hình khắp thủ đô, rồi mạnh đứa nào bay về chỗ đứa đó, giam tôi một mình trong căn nhà rộng thênh thang của thằng Dũng. Vợ chồng nó đi làm suốt ngày. Hai đứa con cũng đi học và ở luôn trong trường, mà nếu bọn nhỏ có ở nhà cũng chẳng nên cơm cháo gì vì chúng nó chỉ nói toàn tiếng Mỹ! Tôi ngồi một mình suốt ngày nhìn ra đường, lúc nào cũng "vắng như chùa bà đanh" nên tôi cứ nghĩ mình đang bị tù cậu Huy ạ. Riết rồi tôi chịu không thấu nên ngã bệnh. Vợ chồng thằng Dũng đưa tôi đi khám bác sĩ, lấy thuốc uống.... Rồi không biết vợ chồng nó bàn nhau sao đó, tự động mua vé máy bay đẩy tôi sang Ca-li ở với vợ chồng con Hoa.

Lúc ở bên nhà, tôi cũng nghe nói Ca-li có nhiều người Việt, có khu chợ Việt Nam rất sầm uất, không khác chi Sàigòn nên tôi cũng mừng trong bụng. Thêm vào đó, tôi cũng muốn được ở gần thằng út để hướng dẫn nó được tý nào hay tý đó. Gần 30 tuổi đầu rồi mà cứ lang thang, không chịu cưới vợ gì cả... Nhưng vợ chồng con Hoa lại ở đâu miệt phía bắc, nghe nói phải lái xe cả ngày mới tới vùng Quận Cam nên tôi lại buồn hơn vì vợ chồng thằng Dũng đi làm công sở, khoảng 6 giờ chiều đã về nhà. Đàng này vợ chồng con Hoa mở cái tiệm gì đó, tối nào cũng nửa đêm mới về.. Con cái thì mạnh đứa nào đứa đó lo, đi học về là chui ngay vào phòng riêng. Tôi muốn vào nói chuyện với các cháu thì tụi nó không cho, lại còn nói tiếng Mỹ với nhau tỏ vẻ nhạo báng bà ngoại cổ hủ, lỗi thời, không tôn trọng "xi xi" gì đó (privacy).

Tôi tủi thân chỉ biết ngồi khóc một mình. Tôi sang đó cả tuần cũng không gặp được thằng út. Mãi sau này tôi mới biết là nó thuê "pạc-măng" (apartment) ở riêng với con bồ Mỹ chứ chẳng cưới xin gì hết. Chúa Nhật cũng không thấy đi lễ đi lạy gì cả. Tôi khổ tâm lắm, bắt con Hoa gọi nó về, chửi cho một trận. Nhưng tôi nói gì mặc tôi, nó cứ ngồi trợn mắt ngó lên trần nhà chứ có hiểu tôi nói gì đâu!

Quá thật vọng với mấy đứa con và các cháu ở Ca-li, tôi nói với cái Lành mua vé máy bay cho tôi về Texas ở với chúng nó và vợ chồng thằng Hiền. Cậu biết đó, chúng nó mới sang sau này theo diện H.O.. nên còn nghèo lắm; được cái là hai anh em lấy hai chị em nên chúng nó hòa thuận thương yêu nhau. Hai gia đình chung nhau mua một cái nhà khá lớn vì cả hai đều đông con.

Thằng Hiền và thằng Khanh đi làm cho một hãng cuốn chả giò vì không có nghề nghiệp chuyên môn. Hai con vợ nhận hàng về nhà may tối ngày sáng đêm. Nhà đông người, lại chất đầy vải vóc, kim chỉ... Thôi thì bụi bậm, rác rưởi không thua gì mấy khu vực lao động bên Sàigòn. Tôi bảo chúng nó là thằng Dũng và con Hoa đều giàu có, sao không kêu anh chị giúp vốn cho mà làm ăn buôn bán cho đỡ vất vả... Tôi nói mặc tôi, chúng nó không đứa nào trả lời trả vốn gì hết.

Tôi chờ tới hôm thằng Dũng và con Hoa gọi điện thoại hỏi thăm mới la cho một trận là tại sao không giúp đỡ các em. Cả hai đứa đều nại đủ lý do phải chi tiêu khoản này khoản nọ, không có khả năng để cưu mang cho ai. Con Hoa lại còn kể công đã nuôi thằng Đức bao nhiêu năm từ ngày thằng út mới đi học lớp một! Tôi mở hết hầu bao, có vài ngàn bạc để dành từ Việt Nam, tôi giao hết cho con Lành, nói nó dùng làm vốn mở tiệm gì đó buôn bán cho đỡ cực hơn làm nghề may khoán. Lúc đó tôi mới biết là số tiền vài ngàn bạc ở Mỹ này chẳng làm được gì hết!

Ở chung với vợ chồng con Lành và thằng Hiền được mấy tháng thì bệnh suyễn của tôi tái phát. Bác sĩ bắt tôi phải đi ở chỗ thoáng mát, tránh bụi bậm ô nhiễm... Thằng Dũng đã không biết thương em thì chớ, lại chửi chúng nó là không biết lo cho mẹ, tự động mua vé máy bay bắt con Lành đưa tôi trở về.

Tôi ở nhà vợ chồng đứa con trai trưởng mà cứ nghĩ như mình bị đưa đi tù vậy đó, cậu Huy à. Nó giam tôi từ mùa thu cho tới mùa Xuân, cứ ngồi trong cửa sổ nhìn lá vàng rồi lá rụng, tuyết xuống phủ đầy sân rồi tuyết tan... Tôi cứ thui thủi một mình lần chuỗi suốt ngày, ngoại trừ Chúa Nhật nó chở tôi đi lễ ở nhà thờ Mỹ gần nhà. Tới mùa hè, vợ chồng nó bàn nhau đi "cu" đi "cụ" gì đó (cruise) 3 tuần trên biển, nên gọi cho con Hoa nói sẽ gởi tôi về bên đó vài tháng. Tôi quá thất vọng với con cháu bên Mỹ nên cũng chẳng thèm nói năng gì, mặc kệ chúng nó. Tôi lại lạch cạch khăn gói về Ca-li. Mới ở được vài tháng chúng nó lại "tống" cổ tôi về Houston vì "không có thì giờ để hầu mẹ"!

Tôi chỉ muốn chết đi cho xong, nhưng mình là người Công Giáo đâu dám nghĩ chuyện làm bậy. Không biết vợ chồng hai đứa "nghèo" bàn nhau làm sao mà tôi mới về ở được vài tuần, chúng nó nói sẽ đi mướn một một chỗ riêng cho tôi ở để bệnh suyễn của tôi không phát lại vì bụi bậm trong nhà nó. Tôi thương các con, các cháu còn nghèo nên đòi về lại "nhà tù" của thằng Dũng chịu khổ một mình hơn là gây thêm gánh nặng cho mấy đứa nhà nghèo. Cực chẳng đã, chúng nó đã phải mua vé máy bay cho tôi trở về với thằng Dũng giữa mùa đông như thế này. Cũng may mà gặp được cậu...”

Bà cụ Thanh bật khóc nức nở. Tôi không biết phải làm gì nên cứ để cụ khóc một lúc cho nguôi ngoai... Và chợt nhớ tới khu "nhà già" của các cụ cao niên ở gần nhà thờ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, nên nhỏ nhẹ nói với cụ:
- Để mai về bên đó con liên lạc với anh Dũng xem có thể sắp xếp gởi cụ tới ở chung với các cụ trong Hội Cao Niên bên giáo xứ chúng con cho vui. Vừa có bạn bè người Việt, vừa có các bạn trẻ tới chở đi lễ nhà thờ Việt Nam...
- Được thế thì còn gì bằng. Mà ở đó có gần nhà cậu Huy không?
- Cũng gần cụ ạ. Và cũng không xa chỗ anh Dũng lắm đâu, tuy là 2 tiểu bang khác nhau nhưng chỉ cách con sông Potomac...
- Thế cậu Huy giúp dùm tôi nhé. Tôi chẳng trông mong gì nơi vợ chồng thằng Dũng cả..
- Vâng. Đàng nào con cũng đã ghi số điện thoại anh Dũng đây rồi, cuối tuần con sẽ nói chuyện và nếu tiện con sẽ chở vợ con sang thăm cụ cho vui; và thỉnh thoảng chúng con xin phép đón cụ sang bên này đi lễ Việt Nam cho biết..
- Giêsu Lạy Chúa tôi. Được thế thì có chết tôi cũng mãn nguyện. Tôi đi nhà thờ Mỹ cứ như vịt nghe sấm chứ có hiểu gì đâu. Tôi nói vợ chồng nó chở đi nhà thờ Việt Nam nhưng chúng nó bảo giờ giấc không thuận tiện nên chưa bao giờ đưa tôi đi cả cậu ơi!
- Cũng gần sáng rồi, cụ nghỉ một lát cho đỡ mệt rồi còn sửa soạn ra phi trường.
- Cậu nghỉ đi, tôi già cả rồi có cần gì ngủ nghỉ. Tôi làm khổ cậu thức suốt đêm. Xin Chúa Mẹ thay tôi báo đáp công ơn cho cậu.

Sau khi trở về Virginia, tôi đã liên lạc với vợ chồng anh Dũng. Anh chị ấy đã mời chúng tôi qua chơi ngay cuối tuần đó để cám ơn tôi giúp đỡ bà cụ hôm bị lỡ máy bay ở phi trường Chicago. Tôi nói sơ qua về việc gởi cụ vào "nhà già" bên Virginia cho có bạn, có bè... nhưng anh đã kịch liệt phản đối vì sợ các em trách là "vợ chồng anh đẩy mẹ vô viện dưỡng lão"! Tôi giải thích mãi là mình chỉ muốn sắp xếp làm sao cho cụ vui lúc tuổi già, nhưng anh chị ấy cũng không nghe theo. Cuối cùng tôi chỉ xin phép đón cụ sang nhà tôi chơi với mấy đứa nhỏ vài lần vào dịp cuối tuần, và chở cụ đi nhà thờ Việt Nam.. Ôi thôi, cụ mừng như đứa trẻ mới lớn, lần đầu được mẹ cho đi chợ sắm quần áo mới và sách vở đi học lớp vỡ lòng! Lần nào tôi chở về lại nhà anh Dũng cụ cũng rươm rướm nước mắt, nhưng chúng tôi cũng không biết phải làm sao hơn được. Vợ chồng tôi bàn nhau, nếu mùa hè này mẹ tôi qua Mỹ du lịch lần nữa, chúng tôi sẽ xin phép anh Dũng để cho hai bà đi chơi với nhau một thời gian cho cụ đỡ buồn... Nhưng mùa hè chưa tới!

*****

Vợ chồng tôi vừa bước vào khu vực ICU (Intensive Care Unit, khu chăm sóc đặc biệt) ở nhà thương George Washington đã gặp vợ chồng anh Dũng và mấy người nữa đang ngồi nơi hành lang phòng chờ đợi (waiting room). Anh Dũng chạy tới bắt tay tôi: “Cha tuyên uý đang làm các phép cho bà cụ nhà tôi... Chắc cũng sắp xong rồi. Tôi sẽ dẫn anh vào ngay cho cụ gởi gắm ít lời. Cụ nhắc anh mãi. Họ chỉ cho vào mỗi lần 2 người thôi. Bác sĩ nói chắc bà cụ nhà tôi không qua khỏi đêm nay. Cụ đang nuối anh đó, anh Huy à. Tôi là con mà không lo được cho cụ như vợ chồng anh..” 

Nói rồi anh Dũng giới thiệu vợ chồng tôi với gia đình các em của anh. Chúng tôi ngồi chờ mấy phút thì cha tuyên uý đi ra. Ngài nói vài lời an ủi gia đình rồi lại vội vàng đi xức dầu cho một bệnh nhân ở lầu dưới. Anh Dũng kéo tôi đi vào gặp bà cụ... Đôi mắt cụ sáng hẳn lên khi nhìn thấy tôi và anh Dũng bước tới bên giường. Cụ thều thào:
- Dũng con. Mẹ chỉ còn một ước muốn cuối cùng, và mẹ muốn con hứa với mẹ truớc mặt cậu Huy là con sẽ...
- Vâng, con sẽ nghe lời mẹ. Con xin mẹ tha thứ cho chúng con đã làm mẹ buồn lòng.
- Mẹ không buồn giận các con. Hai năm nay mẹ đã đi đông, về tây theo sự sắp xếp của các con... Các con đặt đâu mẹ ngồi đó! Nhưng sau khi Chúa cất mẹ về, mẹ xin con một điều... con cho mẹ được về nằm bên cạnh mộ cha con bên Việt Nam... Cậu Huy, tôi mang ơn vợ chồng cậu nhiều lắm... đã cho tôi được hưởng sự ấm cúng của một gia đình bên Mỹ. Xin Chúa Mẹ trả công cho... gia... đình...

Tôi đang thầm thì kêu Tên Cực Trọng: "Giêsu, Maria, Giuse.... Xin Ba Đấng gìn giữ và đón tiếp linh hồn Anna" thì nghe anh Dũng òa lên khóc nức nở. Tôi nhìn qua thấy bà cụ Thanh miệng vẫn như mỉm cười nhưng hơi thở đã tắt!

Nguyễn Duy-An

*
Bạn đọc thân mến:
Ai trong chúng ta cũng có mẹ, có cha. Sau khi đọc những tâm tình trên đây, nếu bạn là người may mắn vì cha mẹ còn sống, hãy dành một ít phút tự vấn lương tâm, xét lại thái độ, cử chỉ hay lời nói của mình đối với cha mẹ. Hãy làm một việc gì “nho nhỏ” cho cha mẹ vui lòng. Nếu cha mẹ không còn, hãy đọc một bài kinh cầu nguyện cho các cụ được về hưởng nhan thánh Chúa trên trời.

Con ra đời có mẹ cha
Là trời cao biển lớn bao la
Từng ngày qua giữa tuổi ngọc ngà

Con là nụ hoa bé nhỏ trong nhà
Nhờ công cha, nhờ nghĩa mẹ
Con khôn lớn trong muôn lời ca.

Xin ơn trên đổ xuống chan hòa
Giúp mẹ cha ngày tháng an hòa
Bao nhọc nhằn sinh trái đơm hoa
Xin cho con ở giữa gia đình
Sống làm sao đền đáp ân tình
Ơn biển trời ghi khắc trong tim.

Nuôi con bằng sữa tình thương
Và dạy con bằng tiếng thương yêu
Là nụ hoa bé nhỏ dại khờ
Con nhờ mẹ cha mới trở nên người
Bàn tay cha, giòng sữa mẹ
Xin ghi nhớ không bao giờ quên.

(Trích Bài Hát "Cầu Cho Cha Mẹ" của Phanxicô Nguyễn Đình Diễn)


Thursday, September 17, 2026

Về Đi Em - Trầm Vân

 

Ồ em xa lắc trời xa

Áo bay có gửi mượt mà về đây

Má hồng giọt nắng hồng rây

Mùa xuân trên mái tóc dài se hương

 

Nhớ em ngan ngát lòng buồn

Ly cà phê khuấy ngọt đường bờ môi

Khuấy lên nao nức tiếng cười

Những ngày hò hẹn gió lơi lả tình

 

Đôi hồn mở cửa bình minh

Sáng trong ánh mắt lung linh tia nhìn

Con đường ngan ngát hương quen

Ngã ba ngã bảy êm đềm vòng xe

 

Nhớ hoài ngày ấy đam mê

Những ngày đưa đón nhau về ngất ngây

Thế rồi lỡ lạc vòng tay

Em xa phố vắng bóng ngày lạnh tanh

 

Mưa thương nắng nhớ chòng chành

Câu thơ anh lượn một vành nón nghiêng

Vầng trăng thao thức qua đêm

Giấc mơ mộng ảo sương mềm quấn thương

 

Với tay là chạm nỗi buồn

Em đi bỏ lại làn hương tạ từ

Nỗi đau rụng lá vàng khô

Con đường phố hẹn mịt mờ đành sao

 

Thoảng lời âu yếm ngọt ngào

Quán khuya tiếng hát xanh xao đợi chờ

Về đi em, bóng chiều mơ

Đôi bờ mi chớp khép hờ dung nhan

 

Lòng ta lại trổ mai vàng

Tiếng chim lảnh lót hân hoan đón mừng

Nhịp cầu nối lại dòng sông

Khua chèo đò lượn gió hong mối tình


          Trầm Vân

Những Chiếc Giày Bên Bờ Sông Danube - Nguyễn Văn Tới


Bóng chiều dần tàn trên bờ sông Danube, chúng tôi thong thả rảo bước bên bờ phía đông, bờ Pest của dòng sông chia đôi thành phố Buda và Pest. Trời đã vào cuối hè, gió từ dưới sông nhẹ đưa lên một luồng không khí mát mẻ, ai nấy đều khoan khoái đón nhận từng hơi thở mát rượi của dòng sông thơ mộng nổi tiếng đã đi vào huyền sử trong văn thơ và âm nhạc phương Tây. Tôi dõi mắt ra xa, tìm kiếm một đài tưởng niệm, một quảng trường, hay một công trình nghệ thuật nào đó, nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy được gì ngoài dòng người đi lại đông đúc trên bờ sông.

Tôi vẫn đi, vẫn kiếm tìm giữa dòng người tấp nập đó, và tôi đã nhìn thấy … Tôi đã thấy những chiếc giày bị bỏ lại bên bờ sông Danube. Những chiếc giày bằng sắt, đơn sơ, trên bờ đá sát mép nước. Những chiếc giày rỉ sét theo thời gian, chịu đựng nắng mưa, giông bão, đứng xếp hàng một cách hỗn độn nhưng trang nghiêm.

Chiều chậm rãi khép lại, nhường khoảng trời cuối cùng cho màn đêm đen buông xuống, tôi chìm đắm trong suy tư, lặng im nhìn khoảnh khắc giao thời, nghe tiếng bước chân xôn xao của người qua lại. Những thanh âm và màu sắc lãng đãng đưa tôi trở về một mùa đông năm xưa, ngay trên bờ sông này.

                                                                               ***

Budapest, mùa đông năm 1944. Khi cơn gió rét mướt từ phương Bắc thổi về, len lỏi qua những mái nhà cổ kính của thành phố hiền hòa, khiến khách bộ hành ngại ngùng khi bước ra đường. Dòng sông Danube hiền hòa biến thành một dải băng xanh thẫm lạnh giá, nằm im lìm ngủ đông. Nhưng cái lạnh của đất trời chẳng là gì so với bầu không khí khủng bố đang bao trùm lên những khu phố Do Thái.

Trong căn hầm tối tăm và ẩm ướt của khu tập trung, cô bé Hanna, bảy tuổi, đang ngồi thu mình trong lòng mẹ. Hanna có đôi mắt to tròn, trong veo như bầu trời mùa thu và mái tóc xoăn màu hạt dẻ. Em không hiểu tại sao thế giới bên ngoài lại tràn ngập tiếng súng, và tại sao những người đàn ông mang băng tay đỏ có hình chữ thập ngược, lại nhìn gia đình em bằng ánh mắt căm thù đến vậy.

Mẹ của Hanna, cô Ilona, ôm chặt con gái vào lòng. Hơi thở của Hanna ấm áp, vương mùi sữa và mùi hoa cúc khô từ những ngày bình yên cũ, cái ngày mà cha em chưa bị bắt đi “cải tạo” rồi biến mất không một tin tức. Bên cạnh họ, ông già Miklos, một người thợ đóng giày có đôi tay đầy những vết chai sần, đang nhắm nghiền mắt, đôi môi run rẩy lầm bầm những lời cầu nguyện cổ xưa bằng tiếng Do Thái. Tất cả họ đều có một đặc điểm chung trên ngực áo: ngôi sao vàng sáu cánh, dấu hiệu của sự phân biệt, sỉ nhục và cái chết.

Duy nhất chỉ có Hanna là sở hữu một niềm vui nhỏ nhoi: đôi giày da màu đỏ do bà ngoại tặng vào dịp sinh nhật năm ngoái. Đôi giày nhỏ nhắn có chiếc nơ bướm xinh xắn ở quai, là thứ đẹp đẽ nhất, rực rỡ nhất còn sót lại trong cuộc đời em. Mỗi lần nhìn xuống đôi giày đỏ, Hanna lại nhớ về những buổi chiều thanh bình được cha nắm tay dạo chơi trên đại lộ, ngắm dòng sông Danube lấp lánh dưới ánh hoàng hôn.

Nửa đêm về sáng, tiếng ổ khóa lách cách, tiếng cửa sắt va chạm nhau kêu loảng xoảng, rồi tiếng thét vang của một tên lính canh:

-            Dậy mau! Tất cả ra ngoài, xếp thành hàng hai!

Hanna giật mình, khóc thét lên. Cô Ilona đã kịp thời bịt miệng em lại và thì thầm:

-            Có mẹ đây, con đừng sợ.

Đoạn đường dẫn ra bờ sông dài dằng dặc trong cái lạnh rét mướt. Tuyết rơi trắng xóa, xóa nhòa cả ranh giới giữa đất và trời. Những đôi chân gầy guộc bước đi run rẩy trên mặt đường đóng băng. Hanna bước đi chập chững, đôi giày đỏ ngập trong tuyết lạnh, nhưng chiếc nơ nhỏ vẫn nhảy múa trên đôi chân ngây thơ vô tội.

Khi dòng sông Danube hiện ra trước mắt, ai nấy đều hiểu chuyện gì sắp xảy ra. Gió sông thổi thốc vào mặt buốt nhói. Những tên lính phát xít người Hungary đứng thành hàng sau lưng họ, tay lăm lăm súng trường với những khuôn mặt đanh lại. Tên chỉ huy bước lên, đôi giày da của hắn dẵm lên tuyết nghe sột soạt. Hắn không dám nhìn vào mắt các nạn nhân, chỉ nhìn xuống chân họ và quát lớn:

-            Cởi tất cả giày dép ra. Xếp ngay ngắn thành hàng. Đứa nào cãi lệnh. Bắn bỏ!

Trong thời kỳ chiến tranh khan hiếm, giày dép là một thứ hàng hóa vô cùng xa xỉ. Bọn phát xít muốn lột sạch chúng từ những người sắp chết để đem bán, tái sử dụng hoặc chia chác cho binh lính. Đó là sự sỉ nhục cuối cùng mà chúng dành cho các nạn nhân trước khi tước đoạt mạng sống của họ.

Ông già Miklos từ tốn cúi người, đôi tay run rẩy vì lạnh và vì tuổi già, cởi bỏ đôi giày da cũ của mình. Ông đặt nó xuống tuyết một cách nhẹ nhàng, như thể đang đặt một chiếc hộp báu vật. Ông ngước mắt nhìn tên lính trẻ măng đang chĩa súng vào mình, ánh mắt ông không có sự oán hận, chỉ có một nỗi bao dung kỳ lạ:

-            Chúa sẽ tha thứ cho linh hồn con, chàng trai trẻ!

Một tiếng súng khô khốc vang lên. Thân hình gầy guộc của người thợ già đổ gục xuống, lăn qua mép đá và chìm nghỉm vào dòng sông đang chảy xiết. Con sông Danube đón nhận ông, dòng nước lạnh giá cuốn vội thân xác ông đi, không để lại một dấu vết.

Đến lượt hai mẹ con Ilona. Người mẹ quỳ xuống trên nền tuyết lạnh, những ngón tay đông cứng cố gắng gỡ chiếc nơ trên đôi giày đỏ của Hanna. Em run rẩy, nắm lấy vạt áo mẹ:

-            Mẹ ơi, tại sao họ lấy giày của con? Chân con lạnh lắm, chân con đau lắm!

Giọt nước mắt nóng hổi của Ilona rơi xuống mu bàn chân con gái, nhưng nó nhanh chóng bị đóng băng bởi cái lạnh khắc nghiệt. Trái tim người mẹ như có ngàn vạn mũi dao đâm thấu. Cô cố nở một nụ cười rạng rỡ nhất, ôm lấy khuôn mặt nhỏ nhắn của con:

-            Hanna yêu quý của mẹ, nghe mẹ nói này. Chúng ta sắp đi đến một nơi rất đẹp. Ở đó không có mùa đông, không có những tiếng súng. Ở đó có cha đang đợi, có những cánh đồng hoa cúc ngập tràn ánh nắng và con sẽ được chạy nhảy thỏa thích mà không cần đến giày nữa.

-            Thật không mẹ? Nơi đó có ấm áp không mẹ?

-            Ấm áp lắm con yêu. Giờ thì con hãy cởi giày ra và đặt cạnh đôi giày của mẹ, rồi hai mẹ con mình cùng đi.

Hanna ngoan ngoãn tháo đôi giày đỏ ra. Em đặt nó ngay ngắn, sát cạnh đôi giày cao gót màu đen cũ kỹ của mẹ, đôi giày mà Ilona đã đi trong ngày cưới, ngày hạnh phúc nhất đời mình. Hai đôi giày, một lớn một nhỏ, một đen một đỏ, đứng tựa vào nhau trên nền tuyết trắng xóa, giống như hình bóng hai mẹ con suốt những năm tháng gian truân vừa qua.

Tên lính phát xít bước lại gần, họng súng đen ngòm chĩa thẳng vào lưng họ. Ilona ôm chặt Hanna vào lòng, lấy thân mình che chở cho con như một bản năng sau cùng. Cô thì thầm vào tai con lời hát ru thuở nhỏ:

-            Nhắm mắt lại đi, thiên thần của mẹ. hãy ngủ một giấc thật ngon.

Hanna ngoan ngoãn nhắm mắt, rúc đầu vào bờ ngực ấm áp của mẹ. Em không nhìn thấy họng súng, không nhìn thấy khuôn mặt tàn ác của những kẻ sát nhân, em chỉ nghe thấy tiếng nhịp tim của mẹ đang đập dồn dập, và rồi ...

Hai tiếng súng xé toạc màn đêm Budapest. Hai thân hình đổ nhào về phía trước, hòa vào nhau, rơi xuống dòng Danube lạnh căm. Nước sông lạnh buốt ôm trọn lấy người mẹ và đứa con thơ vô tội, cuốn họ đi xa khỏi trần gian đầy đau khổ này.

Trên bờ sông lúc này, chỉ còn lại những đôi giày.

Đôi giày da màu đỏ của Hanna vẫn đứng nguyên vẹn ở đó, mũi giày quay về phía dòng sông như đang đợi em quay lại. Một bông tuyết nhẹ nhàng rơi xuống, đậu trên chiếc nơ nhỏ xinh, rồi tuyết cứ thế rơi, dần dần phủ trắng xóa, lấp đầy khoảng trống mà hai linh hồn vừa để lại. Trong đêm tối, hàng chục đôi giày vô chủ xếp thành hàng dài dọc bờ sông, câm lặng chứng kiến một trong những tội ác man rợ nhất lịch sử loài người.

 *****

Giờ đây, mỗi ngày, hàng ngàn du khách đến Budapest, đến tận bờ sông này, lẳng lặng ngắm nhìn và cúi đầu mặc niệm những oan hồn như còn lảng vãng đâu đây; dòng Danube vẫn âm thầm chảy, mang theo ký ức vĩnh cửu về những con người đã hóa thân vào cát bụi.


NGUYỄN VĂN TỚI. 9/2026.

REFERENCE: https://en.wikipedia.org/wiki/Shoes On The Danube Bank the_Danube_Bank

Xin Mưa Hoa Têrêxa - Joseph Tong

Têrêsa ngày còn nơi trần thế, Ngài đã hứa sẽ mưa hoa hồng.
Giờ nầy đây trên cõi tòa cao. Nguyện xin Ngài thương đến đoàn con.

 

Nỗi Khổ Của Bà Mẹ Chồng Thời Nay - Người Phương Nam


Thời xưa người ta quan niệm rằng ‘’nữ sanh ngọai tộc’’, con gái là con người ta, con dâu mới phải mẹ cha đem về. Người con gái khi lớn lên xuất giá về nhà chồng thì sẽ mang họ của chồng, đọan lìa cốt nhục phụ mẫu, chỉ còn biết có giang sơn nhà chồng, sống là người nhà của chồng, chết cũng là ma bên chồng. Số phận người con gái từ đó vui hay buồn, sướng hay khổ đều tùy thuộc vào sự thương ghét của gia đình bên chồng. Nhân vật tối ưu nắm quyền sinh sát trong tay là ‘’thái hậu lão phật gia’’ mẹ chồng, người đàn bà đã đẻ ra thằng chồng cho mình.


Hiếm có nàng dâu nào tránh khỏi bị mẹ chồng cay nghiệt hà khắc dù rằng chính bản thân bà  trước đó cũng đã từng làm dâu con người ta, đã từng nếm đủ mùi vị chua chát đắng cay, ngày ngày nước mắt chan cơm bởi vì ‘’làm dâu khổ lắm ai ơi! vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than!’’. Nếu có bà mẹ chồng nào rộng lượng thương con dâu  như con gái ruột, hoặc chỉ cần cư xử tốt với con dâu bằng phân nửa với con đẻ của mình thôi là cô dâu đó coi như đã tu chín kiếp mười đời hoặc hưởng phúc đức của ông bà để lại.

May mắn  thay! thời nay thì bi kịch mẹ chồng con dâu đã là chuyện đời xưa đời xửa, không còn tái diễn nữa ở thời đại văn minh nam nữ bình đẳng bình quyền này. Thế hệ con gái lớn lên bây giờ rất độc lập tự do, việc gì đàn ông con trai làm được là đàn bà con gái cũng xung phong nhào vô làm tuốt luốt, còn vượt trội hơn cả cánh đàn ông, không còn nữa cái cảnh ngồi ôm con chờ chồng, lệ thuộc vào đồng lương của các đấng ông chồng thì tội gì phải làm dâu con ép mình phụng sự mẹ chồng và cả dòng họ bên ấy, nhứt là các mụ o em chồng chỉ chực chờ có dịp là nhào vô ăn hiếp chị dâu. Mẹ chồng bây giờ không còn là nỗi ám ảnh hãi hùng cho những người con gái sắp lên xe hoa như ngày xưa nữa mà ngược lại những bà mẹ có con trai sắp cưới vợ lại thấp thỏm lo âu không biết số phận mình và con trai mình sẽ ra sao một mai khi phải bàn giao thằng con cưng của mình cho vợ nó, chẳng khác nào như giao trứng cho ác, nhứt là chẳng may gặp nhằm con vợ dữ như sư tử Hà Đông.

Bà Maria, người Úc gốc Tây Ban Nha có hai đứa con dâu, một đứa là Việt Nam tên Annie, một đứa là dân gốc Nam Mỹ, xứ Peru. Hai đứa này vốn là bạn học chung lớp chung trường với nhau trong suốt thời kỳ high school, tuy không chí thân nhưng cũng là bạn già chí cốt. Sau một thời gian hẹn hò tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân với thằng con trai lớn tên Jeff của bà, Annie giới thiệu bạn mình, Michelle cho thằng em là Harvey quen biết. Lúc đầu, hai đứa này chỉ tính là cặp bồ chơi thôi, không có vẻ gì là tha thiết đắm say, ba hồi tiến bốn hồi lùi, ‘’on, off’’, ‘’off’’ rồi lại ‘’on’’ cứ như mèo vờn chuột, ăn không ăn, nhả không nhả. 

Ai dè sau khi con Annie có đứa con trai được sáu tháng thì bỗng nhiên con Michelle và thằng Harvey serious tuyên bố kết hôn noi gương thằng Jeff và con Annie xây dựng một tổ ấm gia đình. Hồi con Annie đám cưới thì con Michelle làm dâu phụ, bây giờ tới phiên Michelle lên xe hoa thì Annie làm phù dâu lại cho bạn mình. Thế là hai đứa bạn chung học mười mấy năm về trước giờ đây đã trở thành hai chị em bạn dâu thân thiện, tha hồ mà team up kình chống lại bà già chồng mỗi khi bà quở trách hay la rầy chuyện bỏ bê thờ ơ bổn phận với hai thằng con của bà.

Tội nghiệp bà Maria, bà cũng đã biết thân phận mình giờ đây không còn quyền hạn trực tiếp với hai thằng con nữa bởi vì nó đã thuộc về vợ nó. Có nhiều chuyện bà ấm ức cho con mình lắm nhưng bà phải rán nhượng bộ dằn lòng, giả mù sa mưa tảng lờ cho qua chuyện chớ có dám đâu nói nặng nói nhẹ gì tụi nó, con mình đang ở trong tay tụi nó, lạng quạng tụi nó nổi tam bành lục tặc lên về nhà kiếm chuyện ‘’mần thịt’’ hai thằng con bà thì hóa ra bà là kẻ gây xào xáo gia đình nó hay sao.

Bà rất thương yêu hai thằng quý tử, từ lúc tụi nó chào đời, bà đã âu yếm sùng bái tác phẩm của mình gọi tụi nó là “my kings’’ với tất cả tấm lòng yêu thương trân quý của một bà mẹ. Bây giờ hai thằng kings của bà đã có hai con queens  kè kè bên mình, ngai vàng đã có hòang hậu, thái hậu đã hết bổn phận đành phải rút lui về phía sau bức màn nhiếp chính, dù có thương con đứt ruột, bà cũng chỉ có thể đứng ngòai lề âm thầm quan sát cuộc sống của nó và chỉ biết cầu mong cho tụi nó được ấm êm hạnh phúc, được vợ nó thương yêu chăm sóc chu đáo là bà đã mãn nguyện rồi.

Nhà bà rộng lớn, có dư đất trống phía sau, hai vợ chồng bà bảo tụi nó về ở chung, ông bà sẽ cất hai cái town house đằng sau cho tụi nó ở để ông bà có thể thấy mặt con mỗi ngày nhưng hai con queens lắc đầu không chịu, thà chịu thiếu nợ mượn tiền mua nhà ở riêng tránh xa tầm ‘’phóng xạ’’ của ba má chồng, để khỏi phiền phức lôi thôi mất tự do vì phải sống under supervisor của parents-in-law.

Về cách xưng hô, hai con dâu của bà lúc đầu gọi ba má chồng bằng tên như tụi Úc tụi Mỹ làm bà cảm thấy rất buồn tủi bẽ bàng. Với cái lối suy nghĩ thực tế của  đa số những đứa con dâu thời đại này thì ba má chồng có nghĩa là ba má của thằng chồng nó thôi chớ không có liên hệ huyết thống gì với tụi nó cả, kể như là nước lã người dưng thì tại sao tụi nó phải kêu bằng cha bằng mẹ. 

Má con Annie biết vậy nên dạy con gái mình phải kêu ba má chồng như chồng nó cho phải đạo con dâu. Dân nào muốn gọi sao thì gọi nhưng người Việt Nam mình thì không có chuyện gọi ba má chồng bằng tên nghe rất hỗn hào vô phép,  không thể nào chấp nhận được. Con Annie cãi lại nói rằng ‘’vậy chớ thằng chồng con nó cũng kêu ba má bằng tên vậy, con biểu nó sửa lại kêu Mum and Dad, nó nói không quen, ngượng quá hà’’.

Nhưng cuối cùng Annie cũng vâng lời má nó gọi parents-in-law bằng ‘’Mama, Papa’’ y như chồng nó làm hai ông bà sung sướng cảm động vô cùng. Nhờ vậy mà bà Maria có thiện cảm với sui gia Việt Nam hơn là sui gia người Nam Mỹ dù họ có cùng chung ngôn ngữ như nhau. Và cũng vì vậy mà mỗi năm cứ nhân dịp lễ Giáng sinh hay Phục Sinh, bà Maria đều mời ba má  Annie tới chung vui, ăn mừng với gia đình bà chớ ít khi mời ba má Michelle.

Thật ra Annie cũng là đứa biết đạo nghĩa, cứ vài hôm là nhắc chừng chồng nó gọi thăm ba má nó coi ông bà có cần gì tụi nó không. Mỗi khi ba má chồng nó đụng chuyện giấy tờ hoặc cần đi bác sĩ chuyên khoa hay đi bệnh viện, nó đều xung phong đưa đi vì biết ba má chồng nó không rành tiếng Anh mấy, nghe gà ra vịt thì làm sao biết rõ chuyện gì hay bệnh gì mà giải quyết.  Và cuối tuần nào tụi nó cũng chở con cái về thăm ba má chồng cho ông bà thấy con thấy cháu ấm áp tuổi già. Đó cũng là một dịp họp mặt gia đình để anh em, chị em bạn dâu gặp nhau hàn huyên tâm sự và mấy đứa nhỏ con cái tụi nó có dịp chơi đùa với nhau, quây quần bên ông bà nội để thắt chặt mối quan hệ gia đình.

Bà Maria chỉ mong có thế cho nên cuối tuần nào bà cũng làm vài món ăn mà trước kia hai thằng con bà ưa thích bù đắp cho những ngày vợ nó nấu gì thì phải ăn nấy (vợ nó chịu nấu còn đỡ, chớ có đứa bảo thằng chồng ‘’mày muốn ăn mày nấu đi’’). Hai đứa con dâu tới thì chỉ việc phụ dọn ra bàn rồi chễm chệ ngồi xuống ăn uống thỏai mái ung dung  chớ không có cái màn kính cẩn dâng cơm hầu nước bố mẹ chồng lôi thôi phiền phức gì cả. Ăn xong mỗi đứa còn đựng một hộp take away nói là đem về cho chồng nó ngày hôm sau đi làm ăn trưa. Bà nghe vậy thì khóai chí tử trong lòng, bảo tụi nó cứ lấy as much as you want, muốn lấy bao nhiêu thì lấy, lần sau bà sẽ làm nhiều thêm nữa.

Có lần, một trong hai thằng con của Annie tới xuống xe chạy te te vô nhà mà không hug, không hun bà nội vì mải mê với món đồ chơi trên tay, bà Maria than phiền với con trai rằng một tuần gặp có một lần mà con mày vô lễ không biết chào hỏi tao gì hết. Ba nó rầy la nó giựt món đồ chơi lại làm thằng nhỏ khóc ré lên, con Annie nóng ruột oang óac la thằng chồng:
         - Jeff, why can you do that to your son, tell him gently, not to act cruelly like that.(Sao anh làm vậy với con, nói nhẹ nhàng với nó không được sao mà phải làm hùm làm hổ như vậy?)
Bà Maria  nóng mặt rầy con Annie:
- Sao mày dám la thằng con tao trước mặt tao, mày không nể nang tao chút nào hết hả?
Con Annie vốn là đứa nóng tính liền cãi lại:
         - Ai biểu con bà làm con tui khóc thì tui phải la nó, bà thương con bà, tui cũng thương con tui vậy.
Nói xong nó biết mình lỡ lời vì má nó vẫn thường căn dặn nhắc nhở  nó không bao giờ nên la mắng chồng nó trước mặt bà già chồng, vì thế nó vội vàng xin lỗi mặc dù nó thấy nó đúng:
- Sorry Mama, I didn’t mean that. (Xin lỗi má, con không cố ý như vậy)
Và nó kêu con nó lại ôm bà nội hun một cái thật thắm thiết cho bà nội nó mát dạ mát lòng.

Xong chuyện con Annie, chợt nghe thằng Harvey ho sù sụ và nhảy mũi lia chia, bà Maria lo lắng hỏi:
- Harvey, bộ con bệnh hả? Cảm hay sao vậy con, con có uống thuốc gì chưa? Vợ con có chở con đi bác sĩ không?

Con Michelle nghe vậy hậm hực nói bằng tiếng Spanish:
        - Maria, con bà lớn đầu rồi chớ đâu phải con nít mà phải lo từng ly từng tí. Nó chỉ cảm cúm thường thôi, uống thuốc hay không thì sau bảy ngày cũng sẽ bớt. Tui đã nói với nó nếu không bớt thì đi bác sĩ mà nó trơ trơ đâu có bao giờ chịu nghe. Nó cứ nói ‘’fine’’, với ‘’allright’’ hòai tui biết làm sao.Tui lo hai đứa con tui còn chưa xong nữa, cứ phải theo nhắc chừng nó hòai mệt quá, phải chi nó bệnh nặng đi một mình không được thì tui sẽ đưa nó đi, nó là chồng tui mà, bà khỏi lo.

Bị con dâu này trả treo thì bà chỉ có nước ngậm bồ hòn làm thinh chớ không dám bắt bẻ nói năng gì nữa chỉ tổ nó về nhà hành tội con mình thêm thôi.

Ông Carlos, bố chồng của tụi nó xuất thân từ một gia đình lao động, là một handy man năng động cần cù, tháo vát đầy kinh nghiệm, việc gì ông cũng có thể bao thầu làm tất tật, từ thợ bạc, thợ mộc, thợ hồ, thợ nề, thợ ống nước cho đến xây nguyên cả một cái nhà lầu bề thế, ông cũng dư sức qua cầu. Ông chuyên mua nhà cũ rồi đi tìm mua vật liệu auction về tự sửa sang bán lại hoặc nếu gặp căn nào quá cũ, mục rệu thì mướn người demolition để ông cất lại thành một căn nhà mới nguyên xi.

Nhà hai thằng con ông có chỗ nào hư hao cần tu sửa hay muốn xịt gián xịt nhện là cứ réo ông, đối với ông mấy cái chuyện vặt vãnh như vòi nước rỉ rỉ hay nhà tắm không thóat nước, máng xối nghẹt cứng hoặc hàng rào xiêu vẹo chỉ là piece of cake, tụi nó cứ việc đi làm, khi về thì mọi chuyện đã xong. Mà mỗi khi ông qua nhà con cái sửa sang thì bà Maria cũng đi theo để phụ với ông nếu ông cần, còn không thì bà dọn dẹp nhà cửa, rửa đống bát dĩa mà tụi nó ăn sáng rồi vội vàng đi làm bỏ đó chưa kịp rửa và nhứt là ủi quần áo cho con trai bà. Bởi vì bà thường thấy con bà mặc quần áo không ủi, nhăn nheo bèo nhèo làm bà rất chướng mắt ứa gan, nhưng khi bà nhìn sang con Annie có vẻ trách móc thì nó lên tiếng chận đầu bà:

- Please don’t give me that look Mama, I had Carpal tunnel operation of both hands. I can’t even iron my clothes for work, how can I mind his ones. Moreover, I have to be careful with my hands for my job. (Má làm ơn đừng có nhìn con cái kiểu đó, hai cánh tay con đã bị mổ vì bệnh tê nhức, quần áo đi làm của con, con còn không ủi được, làm sao ủi đồ cho nó. Vả lại con phải cẩn thận dưỡng hai cái tay để còn đi làm).

Cũng vì cái bệnh Carpal tunnel này mà nó đã bỏ hết ba mớ bát dĩa Stoneware nặng trìu trịu đã sắm trước kia thay vào tòan bộ mới mỏng tăng nhẹ hửng nhẹ tưng hiệu Corelle tốn hết mấy trăm đồng bạc. Và cũng vì ủi đồ không thấu nên nó cũng đã get rid cho giáo hội gần hết mớ quần áo cần ủi để mua lọai iron free. Bà thấy con dâu bà sắm đồ mà thấy xót ruột, má nó cũng la nó hòai cái vụ tiêu xài phung phí nhưng nói tụi này như nước đổ lá môn, mưa tưới đầu vịt. Thời đại này tụi nó quan niệm sống là phải hưởng phải xài, không có cái chuyện tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn gì ráo, mặc kệ credit card chừng nào quá maximum hẳng tính. Bây giờ nghe con dâu bà lấy cớ tê tay ra hù bà, bà cũng đành xuôi xị thông cảm cho nó nhưng trong bụng bà thầm nhủ thỉnh thỏang sẽ qua ủi đồ cho thằng con. 

Đó là nỗi khổ của bà mẹ chồng thời nay. Đã hết rồi cái thời vàng son mẹ chồng ăn hiếp con dâu mà chỉ có con dâu trịch thượng cãi lý với mẹ chồng. Bà mẹ chồng bây giờ chỉ còn biết ngậm hờn ai oán tỉ tê với con trai mình rằng:

1/- Kẻ thù lớn nhứt của con là vợ con
2/- Ngu dốt nhứt của đời con là không hiểu được nó
3/- Thất bại lớn nhứt của đời con là không bỏ được nó
4/- Bi ai lớn nhứt của đời con là phải sống với nó
5/- Sai lầm lớn nhứt của đời con là quyết định lấy nó
6/- Tội lỗi lớn nhứt của đời con là nghe lời nó
7/- Đáng thương nhứt của đời con là bị nó sai khiến
8/- Đáng khâm phục nhứt đời con là chịu được nó
9/- Tài sản lớn nhứt của đời con là những thứ nó đang giữ
10/-Khiếm khuyết  lớn nhứt của đời con là không lấy được hai vợ*

Một vợ là đã chịu đời không thấu rồi, hai vợ thì có mà phát điên và bà mẹ chồng sẽ đứt gân máu chết sớm. Tốt hơn hết là sống độc thân, yêu nhau thì mỗi tuần gặp nhau du hí đôi ba lần rồi nhà ai nấy ở, tiền ai nấy xài, thân ai nấy lo thì họa may mới bớt được một số phiền não cho cuộc đời.

* sưu tầm trên net

Người Phương Nam