Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Saturday, September 19, 2026
Bài Học Nhớ Đời - BS ThyAnh
Năm 1973, tôi là sinh viên Y3.
Hôm ấy là buổi đầu tiên đi lâm sàng ở
khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân.
Chúng tôi có sáu đứa, sáu cái áo
blouse trắng mới tinh, túi áo thêu 3 ngôi sao đỏ, cổ áo dựng lên vì căng thẳng.
Từ cổng đường Phan Thanh Giản* đi vào, nắng Sài Gòn tháng đó không gắt lắm, vậy
mà vừa bước qua cái hành lang khu ung thư, một mùi thối khắm, thối nồng nặc của
mủ, của thịt hoại tử, của xác chết thối rữa xộc thẳng vào mũi cả bọn.
Tôi nín thở theo phản xạ. Thằng bạn đứng
cạnh tôi đưa tay lên che mũi. Đứa con gái duy nhất trong nhóm thì tái mặt đi.
Khoa Ung thư thời đó không như bây giờ.
Không có máy lạnh, không có buồng cách ly đầy mùi thuốc sát khuẩn. Chỉ là một
dãy phòng dài, giường sắt kê gần nhau. Trên mỗi giường là một thân người đã bị
ung thư gặm mòn. Có người nằm co quắp vì đau, có người rên ư ử...
Chúng tôi, sáu đứa nhóc Y3, vừa mới
qua xong hai năm đầu chỉ học cơ thể học trên xác ướp, sinh lý học trên trong
labo và triệu chứng học trên các bài giảng bệnh viện, chưa từng đối diện với những
sinh mạng chỉ còn thoi thóp.
Sáu đứa líu ríu đứng chụm lại ở cửa
khoa, e ngại chưa dám bước vào, tay kẹp chặt cuốn sổ ghi chép lâm sàng nhỏ bằng
bàn tay.
Rồi chúng tôi thấy Thầy - Thầy Đào Đức
Hoành**.
Thầy đang ngồi trên mép một chiếc giường
bệnh ở cuối dãy. Một chiếc giường kê gần cửa sổ, nắng xiên vào chỉ đủ sáng một
khoảng nhỏ.
Trên giường là một bà bệnh nhân khoảng
năm mươi tuổi. Bà mặc một bộ bà ba nâu sờn, kiểu thường thấy của phụ nữ nông
thôn miền Nam khi lên Sài Gòn chữa bệnh thời đó. Tóc bà đã điểm bạc, búi sau
gáy nhưng rối bời. Bà rất gầy, xương quai xanh nhô hẳn lên, đôi mắt bà lo lắng
như đang đối diện với một nỗi sợ hãi vô hình, nó trũng sâu có lẽ vì mất ngủ hay
vì sụt cân quá nhanh. Sau này tôi mới biết bà bị ung thư cổ tử cung giai đoạn
cuối, đã di căn, không còn khả năng điều trị vì đến quá muộn.
Thầy ngồi bên bà. Không phải ngồi
trên ghế. Thầy ngồi hẳn lên giường bệnh, ngay sát chân bà, như một người thân của
bà.
Thầy cầm tay bà. Tôi nhớ như in bàn
tay thầy, bao trọn lấy bàn tay gầy guộc, khô đét của bà.
Thầy không đeo khẩu trang. Thầy cũng
không mang găng tay.
Thầy hỏi chuyện bà nhỏ nhẹ, dịu dàng
như với người thân của mình.
-Bà Tư, nhà bà ở đâu?
- Dạ thưa bác sĩ, ở dưới Cai Lậy...
- Bà có mấy cháu rồi? Đứa nào đi theo
bà lên đây?
- Dạ có thằng Út nó theo...
Thầy nói giọng Bắc di cư, nghe nhẹ
nhàng, ấm áp, chậm rãi, từ tốn.
Bà Tư ban đầu chỉ lí nhí, cứ chớp mắt
nhìn đi chỗ khác, như ngại mình hôi thối không dám gần thầy. Nhưng thầy vẫn cầm
lấy tay bà, thỉnh thoảng lại gật đầu khi bà trả lời, rồi vuốt nhẹ lên mu bàn
tay nổi đầy gân xanh của bà.
Cả khoa vẫn ồn ào tiếng xe đẩy, tiếng
rên rỉ, tiếng y tá gọi nhau văng vẳng, nhưng ở góc phòng đó, ở chiếc giường nồng
nặc mùi ung thư đó, chỉ có hai người, một bác sĩ và một người bệnh, nói chuyện
với nhau như hai người đã quen từ lâu rồi, không phải người dưng ở bệnh viện.
Chúng tôi sáu đứa đứng sững lại ở đó,
không đứa nào còn che mũi. Các anh chị nội trú lớp trên cũng đứng sau thầy. Tất
cả đều im lặng.
Theo lẽ thường, một buổi đi buồng đầu
tiên, thầy sẽ gọi chúng tôi lại, giới thiệu bệnh nhân, chỉ vào khối u nào đó,
giảng về cách thăm khám, về phân loại các giai đoạn của ung thư, về tiên lượng,
về hướng điều trị... Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sổ để ghi chép những từ ngữ to
tát đó.
Nhưng hôm đó, Thầy Hoành không giảng
một chữ nào về bệnh.
Thầy không nói một tí gì về ung thư,
về chẩn đoán, về tiên lượng của bà Tư. Thầy không lật hồ sơ bệnh án lên cho
chúng tôi xem các kết quả xét nghiệm.
Thầy chỉ ngồi đó, cầm tay bà, hỏi bà
ăn được không, đêm ngủ được không? có đau nhiều không? thằng Út nó có chỗ ngủ
không?
Một lúc sau, bà Tư khóc. Khóc không
thành tiếng Nước mắt bà chảy dài trên gò má hóp. Chỉ là những giọt nước mắt lặng
lẽ của một người đàn bà biết mình sắp chết.
Thầy vẫn không buông tay bà ra. Thầy
lấy trong túi áo blouse ra một chiếc khăn tay trắng, chấm nhẹ lên khóe mắt bà.
Khoảnh khắc đó, cái mùi hôi khắm nồng
nặc của khoa ung thư mà lúc nãy làm chúng tôi muốn nôn mửa, bỗng dưng như biến
mất.
Tôi chỉ còn cảm thấy mùi nắng khét
trên bộ bà ba nâu của bà, mùi mồ hôi của một đời lam lũ.
Thằng bạn đứng cạnh tôi cúi gằm mặt
xuống. Đứa con gái trong nhóm đưa tay quẹt mắt.
Chúng tôi hiểu.
Chúng tôi, sáu đứa sinh viên Y3 ngày
đầu tiên đi lâm sàng ung thư năm 1973, vừa được học bài học lâm sàng đầu tiên
và có lẽ là bài học quý giá nhất trong cả cuộc đời làm nghề y của mình.
Đó không phải là bài học về bệnh ung
thư cổ tử cung.
Đó là bài học về cách đối xử với một
con người đang mang trong mình căn bệnh ung thư.
Sau này ra trường, đi qua nhiều bệnh
viện, phụ mổ nhiều ca, đọc hàng trăm cuốn sách y khoa rồi cũng quên dần theo
năm tháng, nhưng tôi không bao giờ quên hình ảnh buổi sáng năm 1973 đó. Thầy
Hoành ngồi trên giường bệnh, cầm tay một bà bệnh nhân nghèo, bệnh ung thư không
còn khả năng điều trị.
Thầy đã dạy chúng tôi bằng chính hành
động của mình: Khi y học bất lực, thì tình người là thứ thuốc duy nhất còn lại.
Giờ nghĩ lại, ở tuổi này, tóc tôi
cũng đã bạc trắng, thầy tôi cũng ra đi đã lâu rồi, tôi mới thấy mình thật là
may mắn. May mắn vì năm hai mươi mấy tuổi, khi còn là một thằng nhóc lơ ngơ,
khá ngạo mạn với mớ kiến thức sách vở, tôi đã được học thầy một bài học đến giờ
vẫn nhớ như in.
Hãy đối xử với bệnh nhân như chính người
thân của mình.
Và mỗi khi tôi đặt tay lên bụng một bệnh
nhân để thăm khám, tôi lại nhớ đến bàn tay to, ấm của thầy Hoành năm đó, bao trọn
lấy bàn tay gầy guộc của bà Tư, ở khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân, trong một buổi
sáng nồng nặc mùi tử khí, một ký ức sao ấm áp lạ thường.
Chú thích:
* nay là Đường Điện biên Phủ , trước
năm 1975 có tên là đường Phan Thanh Giản.
** GS Đào Đức Hoành (1920 -
15.6.2002) là người đặt nền móng ngành Ung thư học miền Nam.
Thầy sinh tại Hà Nội, Tú tài 1941, tốt
nghiệp Bác sĩ Y khoa 1948. Thầy từng là Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa Hà Nội
(1950), Bác sĩ thường trú Ngoại khoa BV Yersin (1952).
Thầy tu nghiệp chuyên sâu về ung thư
tại Pháp với GS Henri Redon và tại Viện Gustave Roussy với GS Pierre Denoix
(1956-1957), học Đồng vị Phóng xạ ở Tokyo (1958), Observer tại Memorial Sloan
Kettering, New York (1964-1965).
Tại Sài Gòn trước 1975:
• Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa B -
BV Bình Dân từ 1955.
• Giảng sư Ung thư học Đại học Y khoa
Sài Gòn 1957, Giáo sư Thạc sĩ 1964, Giáo sư Thực thụ 1966.
• Thành lập Khoa Ung thư BV Bình Dân
năm 1957, nơi vừa điều trị vừa giảng dạy cho sinh viên Y khoa Sài Gòn.
• Giám đốc Bệnh viện Bình Dân từ
1967.
Thầy có 41 công trình nghiên cứu, bảo
trợ 70 luận án Tiến sĩ Y khoa (1958-1968), được kính trọng vì y đức và tài năng
phẫu thuật đầu cổ, bụng chậu.
Thầy và gia đình đã rời Sài Gòn cuối
tháng 4/1975 và sau đó định cư tại Canada.
Nguyen Thyanh - TRUYỆN CỰC NGẮN 💔 BS THI ANH BÀI HỌC NHỚ ĐỜI Năm... | Facebook
Friday, September 18, 2026
Gửi Những Du Học Sinh Đã Ăn Mừng Ngày 2/9 - Trần Quốc Kim (Dân Làm Báo)
Con Đặt Đâu Cha Mẹ Ngồi Đó - Nguyễn Duy An
Tác giả Nguyễn Duy-An là cư dân Virginia, hiện là Vice President, phụ trách Infor- mation Technology của NATIONAL GEOGRAPHIC
*****
(Trích
Bài Hát "Cầu Cho Cha Mẹ" của Phanxicô Nguyễn Đình Diễn)
Thursday, September 17, 2026
Về Đi Em - Trầm Vân
Ồ em xa lắc trời xa
Áo bay có gửi mượt mà về đây
Má hồng giọt nắng hồng rây
Mùa xuân trên mái tóc dài se hương
Nhớ em ngan ngát lòng buồn
Ly cà phê khuấy ngọt đường bờ môi
Khuấy lên nao nức tiếng cười
Những ngày hò hẹn gió lơi lả tình
Đôi hồn mở cửa bình minh
Sáng trong ánh mắt lung linh tia
nhìn
Con đường ngan ngát hương quen
Ngã ba ngã bảy êm đềm vòng xe
Nhớ hoài ngày ấy đam mê
Những ngày đưa đón nhau về ngất ngây
Thế rồi lỡ lạc vòng tay
Em xa phố vắng bóng ngày lạnh tanh
Mưa thương nắng nhớ chòng chành
Câu thơ anh lượn một vành nón
nghiêng
Vầng trăng thao thức qua đêm
Giấc mơ mộng ảo sương mềm quấn
thương
Với tay là chạm nỗi buồn
Em đi bỏ lại làn hương tạ từ
Nỗi đau rụng lá vàng khô
Con đường phố hẹn mịt mờ đành sao
Thoảng lời âu yếm ngọt ngào
Quán khuya tiếng hát xanh xao đợi chờ
Về đi em, bóng chiều mơ
Đôi bờ mi chớp khép hờ dung nhan
Lòng ta lại trổ mai vàng
Tiếng chim lảnh lót hân hoan đón mừng
Nhịp cầu nối lại dòng sông
Khua chèo đò lượn gió hong mối tình
Trầm Vân
Những Chiếc Giày Bên Bờ Sông Danube - Nguyễn Văn Tới
Bóng chiều dần tàn trên bờ sông
Danube, chúng tôi thong thả rảo bước bên bờ phía đông, bờ Pest của dòng sông
chia đôi thành phố Buda và Pest. Trời đã vào cuối hè, gió từ dưới sông nhẹ đưa
lên một luồng không khí mát mẻ, ai nấy đều khoan khoái đón nhận từng hơi thở
mát rượi của dòng sông thơ mộng nổi tiếng đã đi vào huyền sử trong văn thơ và
âm nhạc phương Tây. Tôi dõi mắt ra xa, tìm kiếm một đài tưởng niệm, một quảng
trường, hay một công trình nghệ thuật nào đó, nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy
được gì ngoài dòng người đi lại đông đúc trên bờ sông.
Tôi vẫn đi, vẫn kiếm tìm giữa
dòng người tấp nập đó, và tôi đã nhìn thấy … Tôi đã thấy những chiếc giày bị bỏ
lại bên bờ sông Danube. Những chiếc giày bằng sắt, đơn sơ, trên bờ đá sát mép
nước. Những chiếc giày rỉ sét theo thời gian, chịu đựng nắng mưa, giông bão,
đứng xếp hàng một cách hỗn độn nhưng trang nghiêm.
Chiều chậm rãi khép lại, nhường
khoảng trời cuối cùng cho màn đêm đen buông xuống, tôi chìm đắm trong suy tư,
lặng im nhìn khoảnh khắc giao thời, nghe tiếng bước chân xôn xao của người qua
lại. Những thanh âm và màu sắc lãng đãng đưa tôi trở về một mùa đông năm xưa,
ngay trên bờ sông này.
***
Budapest, mùa đông năm 1944. Khi
cơn gió rét mướt từ phương Bắc thổi về, len lỏi qua những mái nhà cổ kính của
thành phố hiền hòa, khiến khách bộ hành ngại ngùng khi bước ra đường. Dòng sông
Danube hiền hòa biến thành một dải băng xanh thẫm lạnh giá, nằm im lìm ngủ
đông. Nhưng cái lạnh của đất trời chẳng là gì so với bầu không khí khủng bố
đang bao trùm lên những khu phố Do Thái.
Trong căn hầm tối tăm và ẩm ướt
của khu tập trung, cô bé Hanna, bảy tuổi, đang ngồi thu mình trong lòng mẹ.
Hanna có đôi mắt to tròn, trong veo như bầu trời mùa thu và mái tóc xoăn màu
hạt dẻ. Em không hiểu tại sao thế giới bên ngoài lại tràn ngập tiếng súng, và
tại sao những người đàn ông mang băng tay đỏ có hình chữ thập ngược, lại nhìn
gia đình em bằng ánh mắt căm thù đến vậy.
Mẹ của Hanna, cô Ilona, ôm chặt
con gái vào lòng. Hơi thở của Hanna ấm áp, vương mùi sữa và mùi hoa cúc khô từ
những ngày bình yên cũ, cái ngày mà cha em chưa bị bắt đi “cải tạo” rồi biến
mất không một tin tức. Bên cạnh họ, ông già Miklos, một người thợ đóng giày có
đôi tay đầy những vết chai sần, đang nhắm nghiền mắt, đôi môi run rẩy lầm bầm
những lời cầu nguyện cổ xưa bằng tiếng Do Thái. Tất cả họ đều có một đặc điểm
chung trên ngực áo: ngôi sao vàng sáu cánh, dấu hiệu của sự phân biệt, sỉ nhục
và cái chết.
Duy nhất chỉ có Hanna là sở hữu
một niềm vui nhỏ nhoi: đôi giày da màu đỏ do bà ngoại tặng vào dịp sinh nhật
năm ngoái. Đôi giày nhỏ nhắn có chiếc nơ bướm xinh xắn ở quai, là thứ đẹp đẽ
nhất, rực rỡ nhất còn sót lại trong cuộc đời em. Mỗi lần nhìn xuống đôi giày
đỏ, Hanna lại nhớ về những buổi chiều thanh bình được cha nắm tay dạo chơi trên
đại lộ, ngắm dòng sông Danube lấp lánh dưới ánh hoàng hôn.
Nửa đêm về sáng, tiếng ổ khóa
lách cách, tiếng cửa sắt va chạm nhau kêu loảng xoảng, rồi tiếng thét vang của
một tên lính canh:
-
Dậy mau! Tất cả ra ngoài, xếp thành hàng hai!
Hanna giật mình, khóc thét lên.
Cô Ilona đã kịp thời bịt miệng em lại và thì thầm:
-
Có mẹ đây, con đừng sợ.
Đoạn đường dẫn ra bờ sông dài
dằng dặc trong cái lạnh rét mướt. Tuyết rơi trắng xóa, xóa nhòa cả ranh giới
giữa đất và trời. Những đôi chân gầy guộc bước đi run rẩy trên mặt đường đóng
băng. Hanna bước đi chập chững, đôi giày đỏ ngập trong tuyết lạnh, nhưng chiếc
nơ nhỏ vẫn nhảy múa trên đôi chân ngây thơ vô tội.
Khi dòng sông Danube hiện ra
trước mắt, ai nấy đều hiểu chuyện gì sắp xảy ra. Gió sông thổi thốc vào mặt
buốt nhói. Những tên lính phát xít người Hungary đứng thành hàng sau lưng họ,
tay lăm lăm súng trường với những khuôn mặt đanh lại. Tên chỉ huy bước lên, đôi
giày da của hắn dẵm lên tuyết nghe sột soạt. Hắn không dám nhìn vào mắt các nạn
nhân, chỉ nhìn xuống chân họ và quát lớn:
-
Cởi tất cả giày dép ra. Xếp ngay ngắn thành hàng. Đứa nào cãi lệnh. Bắn bỏ!
Trong thời kỳ chiến tranh khan
hiếm, giày dép là một thứ hàng hóa vô cùng xa xỉ. Bọn phát xít muốn lột sạch
chúng từ những người sắp chết để đem bán, tái sử dụng hoặc chia chác cho binh
lính. Đó là sự sỉ nhục cuối cùng mà chúng dành cho các nạn nhân trước khi tước
đoạt mạng sống của họ.
Ông già Miklos từ tốn cúi người,
đôi tay run rẩy vì lạnh và vì tuổi già, cởi bỏ đôi giày da cũ của mình. Ông đặt
nó xuống tuyết một cách nhẹ nhàng, như thể đang đặt một chiếc hộp báu vật. Ông
ngước mắt nhìn tên lính trẻ măng đang chĩa súng vào mình, ánh mắt ông không có
sự oán hận, chỉ có một nỗi bao dung kỳ lạ:
-
Chúa sẽ tha thứ cho linh hồn con, chàng trai trẻ!
Một tiếng súng khô khốc vang
lên. Thân hình gầy guộc của người thợ già đổ gục xuống, lăn qua mép đá và chìm
nghỉm vào dòng sông đang chảy xiết. Con sông Danube đón nhận ông, dòng nước
lạnh giá cuốn vội thân xác ông đi, không để lại một dấu vết.
Đến lượt hai mẹ con Ilona. Người
mẹ quỳ xuống trên nền tuyết lạnh, những ngón tay đông cứng cố gắng gỡ chiếc nơ
trên đôi giày đỏ của Hanna. Em run rẩy, nắm lấy vạt áo mẹ:
-
Mẹ ơi, tại sao họ lấy giày của con? Chân con lạnh lắm, chân con đau lắm!
Giọt nước mắt nóng hổi của Ilona
rơi xuống mu bàn chân con gái, nhưng nó nhanh chóng bị đóng băng bởi cái lạnh
khắc nghiệt. Trái tim người mẹ như có ngàn vạn mũi dao đâm thấu. Cô cố nở một
nụ cười rạng rỡ nhất, ôm lấy khuôn mặt nhỏ nhắn của con:
-
Hanna yêu quý của mẹ, nghe mẹ nói này. Chúng ta sắp đi đến một nơi rất đẹp.
Ở đó không có mùa đông, không có những tiếng súng. Ở đó có cha đang đợi, có
những cánh đồng hoa cúc ngập tràn ánh nắng và con sẽ được chạy nhảy thỏa thích
mà không cần đến giày nữa.
-
Thật không mẹ? Nơi đó có ấm áp không mẹ?
-
Ấm áp lắm con yêu. Giờ thì con hãy cởi giày ra và đặt cạnh đôi giày của mẹ,
rồi hai mẹ con mình cùng đi.
Hanna ngoan ngoãn tháo đôi giày
đỏ ra. Em đặt nó ngay ngắn, sát cạnh đôi giày cao gót màu đen cũ kỹ của mẹ, đôi
giày mà Ilona đã đi trong ngày cưới, ngày hạnh phúc nhất đời mình. Hai đôi
giày, một lớn một nhỏ, một đen một đỏ, đứng tựa vào nhau trên nền tuyết trắng
xóa, giống như hình bóng hai mẹ con suốt những năm tháng gian truân vừa qua.
Tên lính phát xít bước lại gần,
họng súng đen ngòm chĩa thẳng vào lưng họ. Ilona ôm chặt Hanna vào lòng, lấy
thân mình che chở cho con như một bản năng sau cùng. Cô thì thầm vào tai con
lời hát ru thuở nhỏ:
-
Nhắm mắt lại đi, thiên thần của mẹ. hãy ngủ một giấc thật ngon.
Hanna ngoan ngoãn nhắm mắt, rúc
đầu vào bờ ngực ấm áp của mẹ. Em không nhìn thấy họng súng, không nhìn thấy
khuôn mặt tàn ác của những kẻ sát nhân, em chỉ nghe thấy tiếng nhịp tim của mẹ
đang đập dồn dập, và rồi ...
Hai tiếng súng xé toạc màn đêm
Budapest. Hai thân hình đổ nhào về phía trước, hòa vào nhau, rơi xuống dòng
Danube lạnh căm. Nước sông lạnh buốt ôm trọn lấy người mẹ và đứa con thơ vô
tội, cuốn họ đi xa khỏi trần gian đầy đau khổ này.
Trên bờ sông lúc này, chỉ còn
lại những đôi giày.
Đôi giày da màu đỏ của Hanna vẫn
đứng nguyên vẹn ở đó, mũi giày quay về phía dòng sông như đang đợi em quay lại.
Một bông tuyết nhẹ nhàng rơi xuống, đậu trên chiếc nơ nhỏ xinh, rồi tuyết cứ
thế rơi, dần dần phủ trắng xóa, lấp đầy khoảng trống mà hai linh hồn vừa để
lại. Trong đêm tối, hàng chục đôi giày vô chủ xếp thành hàng dài dọc bờ sông,
câm lặng chứng kiến một trong những tội ác man rợ nhất lịch sử loài người.
*****
Giờ đây, mỗi ngày, hàng ngàn du
khách đến Budapest, đến tận bờ sông này, lẳng lặng ngắm nhìn và cúi đầu mặc
niệm những oan hồn như còn lảng vãng đâu đây; dòng Danube vẫn âm thầm chảy,
mang theo ký ức vĩnh cửu về những con người đã hóa thân vào cát bụi.
NGUYỄN VĂN TỚI. 9/2026.
REFERENCE: https://en.wikipedia.org/wiki/Shoes On The Danube Bank the_Danube_Bank
Xin Mưa Hoa Têrêxa - Joseph Tong
Nỗi Khổ Của Bà Mẹ Chồng Thời Nay - Người Phương Nam
Thời xưa người ta quan niệm rằng ‘’nữ sanh ngọai tộc’’, con gái là
con người ta, con dâu mới phải mẹ cha đem về. Người con gái khi lớn lên xuất
giá về nhà chồng thì sẽ mang họ của chồng, đọan lìa cốt nhục phụ mẫu, chỉ còn
biết có giang sơn nhà chồng, sống là người nhà của chồng, chết cũng là ma bên
chồng. Số phận người con gái từ đó vui hay buồn, sướng hay khổ đều tùy thuộc
vào sự thương ghét của gia đình bên chồng. Nhân vật tối ưu nắm quyền sinh sát
trong tay là ‘’thái hậu lão phật gia’’ mẹ chồng, người đàn bà đã đẻ ra thằng
chồng cho mình.
May mắn thay! thời nay thì bi kịch mẹ chồng con dâu đã là chuyện đời xưa đời xửa, không còn tái diễn nữa ở thời đại văn minh nam nữ bình đẳng bình quyền này. Thế hệ con gái lớn lên bây giờ rất độc lập tự do, việc gì đàn ông con trai làm được là đàn bà con gái cũng xung phong nhào vô làm tuốt luốt, còn vượt trội hơn cả cánh đàn ông, không còn nữa cái cảnh ngồi ôm con chờ chồng, lệ thuộc vào đồng lương của các đấng ông chồng thì tội gì phải làm dâu con ép mình phụng sự mẹ chồng và cả dòng họ bên ấy, nhứt là các mụ o em chồng chỉ chực chờ có dịp là nhào vô ăn hiếp chị dâu. Mẹ chồng bây giờ không còn là nỗi ám ảnh hãi hùng cho những người con gái sắp lên xe hoa như ngày xưa nữa mà ngược lại những bà mẹ có con trai sắp cưới vợ lại thấp thỏm lo âu không biết số phận mình và con trai mình sẽ ra sao một mai khi phải bàn giao thằng con cưng của mình cho vợ nó, chẳng khác nào như giao trứng cho ác, nhứt là chẳng may gặp nhằm con vợ dữ như sư tử Hà Đông.
Bà Maria, người Úc gốc Tây Ban Nha có hai đứa con dâu, một đứa là Việt Nam tên Annie, một đứa là dân gốc Nam Mỹ, xứ Peru. Hai đứa này vốn là bạn học chung lớp chung trường với nhau trong suốt thời kỳ high school, tuy không chí thân nhưng cũng là bạn già chí cốt. Sau một thời gian hẹn hò tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân với thằng con trai lớn tên Jeff của bà, Annie giới thiệu bạn mình, Michelle cho thằng em là Harvey quen biết. Lúc đầu, hai đứa này chỉ tính là cặp bồ chơi thôi, không có vẻ gì là tha thiết đắm say, ba hồi tiến bốn hồi lùi, ‘’on, off’’, ‘’off’’ rồi lại ‘’on’’ cứ như mèo vờn chuột, ăn không ăn, nhả không nhả.
Tội nghiệp bà Maria, bà cũng đã biết thân phận mình giờ đây không còn quyền hạn trực tiếp với hai thằng con nữa bởi vì nó đã thuộc về vợ nó. Có nhiều chuyện bà ấm ức cho con mình lắm nhưng bà phải rán nhượng bộ dằn lòng, giả mù sa mưa tảng lờ cho qua chuyện chớ có dám đâu nói nặng nói nhẹ gì tụi nó, con mình đang ở trong tay tụi nó, lạng quạng tụi nó nổi tam bành lục tặc lên về nhà kiếm chuyện ‘’mần thịt’’ hai thằng con bà thì hóa ra bà là kẻ gây xào xáo gia đình nó hay sao.
Bà rất thương yêu hai thằng quý tử, từ lúc tụi nó chào đời, bà đã âu yếm sùng bái tác phẩm của mình gọi tụi nó là “my kings’’ với tất cả tấm lòng yêu thương trân quý của một bà mẹ. Bây giờ hai thằng kings của bà đã có hai con queens kè kè bên mình, ngai vàng đã có hòang hậu, thái hậu đã hết bổn phận đành phải rút lui về phía sau bức màn nhiếp chính, dù có thương con đứt ruột, bà cũng chỉ có thể đứng ngòai lề âm thầm quan sát cuộc sống của nó và chỉ biết cầu mong cho tụi nó được ấm êm hạnh phúc, được vợ nó thương yêu chăm sóc chu đáo là bà đã mãn nguyện rồi.
Nhà bà rộng lớn, có dư đất trống phía sau, hai vợ chồng bà bảo tụi nó về ở chung, ông bà sẽ cất hai cái town house đằng sau cho tụi nó ở để ông bà có thể thấy mặt con mỗi ngày nhưng hai con queens lắc đầu không chịu, thà chịu thiếu nợ mượn tiền mua nhà ở riêng tránh xa tầm ‘’phóng xạ’’ của ba má chồng, để khỏi phiền phức lôi thôi mất tự do vì phải sống under supervisor của parents-in-law.
Về cách xưng hô, hai con dâu của bà lúc đầu gọi ba má chồng bằng tên như tụi Úc tụi Mỹ làm bà cảm thấy rất buồn tủi bẽ bàng. Với cái lối suy nghĩ thực tế của đa số những đứa con dâu thời đại này thì ba má chồng có nghĩa là ba má của thằng chồng nó thôi chớ không có liên hệ huyết thống gì với tụi nó cả, kể như là nước lã người dưng thì tại sao tụi nó phải kêu bằng cha bằng mẹ.
Nhưng cuối cùng Annie cũng vâng lời má nó gọi parents-in-law bằng ‘’Mama, Papa’’ y như chồng nó làm hai ông bà sung sướng cảm động vô cùng. Nhờ vậy mà bà Maria có thiện cảm với sui gia Việt Nam hơn là sui gia người Nam Mỹ dù họ có cùng chung ngôn ngữ như nhau. Và cũng vì vậy mà mỗi năm cứ nhân dịp lễ Giáng sinh hay Phục Sinh, bà Maria đều mời ba má Annie tới chung vui, ăn mừng với gia đình bà chớ ít khi mời ba má Michelle.







