Tuesday, November 11, 2025

Chuyện Hàng Xóm - Người Phương Nam



1. Cô Dâu

Xóm nhỏ chín căn của tôi tuần rồi đón về một cô dâu mới. Cô dâu còn trong tuổi teen, ăn chưa no lo chưa tới, mới học xong high school, đang phân vân chưa biết chọn ngành gì khi vào đại học.

Ngày xưa, nữ thập tam, nam thập lục, chuyện cưới gả đều do gia đình đặt để, không thể nào cãi lệnh mẹ cha, bởi vì áo mặc sao qua khỏi đầu. Nhưng thời bây giờ, muốn mặc cái áo pull-over thì đương nhiên phải tròng từ trên đầu kéo xuống và muốn cởi ra cũng phải từ dưới dở qua khỏi đầu. Chuyện hôn nhân ngày nay là do chính người trong cuộc quyết định. Kết hôn hay không là tùy ở đôi lứa yêu nhau chớ không phải theo ý cha mẹ. Ngày nay, chuyện kết hôn đối với bọn trẻ như là nightmare, là đồng nghĩa với no more freedom, no more fun, no more life enjoyment, having a lot of responsibilities mà bọn nó cố tránh né trì hõan, chậm chừng nào tốt chừng nấy để được thong dong tự tại theo đuổi mục đích, sự nghiệp riêng của mình hay tự do bay nhảy vui chơi cho đến bao giờ thỏa mãn chán ngấy mới quay đầu về tìm bến nghỉ... dưỡng già. 

Vậy mà cô dâu chú rể ở đây thì trái lại, chưa tới tuổi thành niên nhưng đã gấp gáp làm đám cưới, hăm hở dắt nhau đi ký giấy chung thân để được sống chung một mái nhà hôm sớm đi về có nhau.     

Đôi uyên ương này quen nhau đã gần 10 năm từ khi mới học lớp 8 high school. Mỗi ngày sau khi tan học, hai đứa dắt nhau về nhà làm homework chung, ăn tối chung với gia đình chú rể.  Mỗi cuối tuần nhà chú rể có tổ chức ăn uống vui chơi gì thì cũng có cô dâu tham dự, đi đâu hai đứa cũng đi chung như hình với bóng. Cô dâu ở nhà bạn trai nhiều hơn ở nhà mình. Không biết con cái nhà ai mà cha mẹ dễ dãi cho con sống theo lối Úc, ăn dầm nằm dề ở nhà bạn trai tới tối mịt mới về. Nghĩ cũng lạ! Nhưng có lẽ là  do tiền duyên của hai đứa nó chưa dứt nên mới tái hợp ở kiếp này.


Tuần rồi hai đứa đã được gia đình cho làm đám cưới linh đình trọng thể, khách khứa đến chung vui với tụi nó rất đông, đa số là bạn học của tụi nó, quậy tưng bừng. Hai đứa còn đi học, chưa có việc làm, làm gì có tiền xây tổ ấm riêng nên sau đám cưới là đi thẳng về nhà chồng một nước cho ba má chồng bảo bọc nuôi ăn nuôi ở.

Ngày xưa con gái về nhà chồng làm dâu "sặc máu" nhưng thời nay nhứt là ở Úc làm gì có chuyện làm dâu.  Con dâu này ở nhà chồng như ở nhà nó,  chỉ ăn no rồi lo đi học chớ không rớ tay đến chuyện gì trong nhà cả, nói chi đến cái chuyện làm dâu dâng cơm hầu nước cha mẹ chồng, mà ngược lại má chồng đi làm về phải lẹ lẹ săn tay áo vô bếp nấu cơm cho con dâu và con trai ăn. Không biết vài năm nữa con dâu có biết điều hơn chút nào hay không chớ bây giờ thấy má chồng nó bắt đầu cực hơn lúc chưa cưới dâu về. Cũng may ba má chồng nó chỉ có một thằng con trai duy nhứt nên cũng rán chịu khó hy sinh cho con mình nó vui trọn vẹn.

Cặp ba má chồng này 20 năm về trước cũng là một đôi bạn học, vừa ra trường high school là vội đi làm, dành dụm tiền để xây tổ uyên ương, 18 tuổi là đã có thằng con này. Nghe má chồng nó kể lại, khi thằng con chào đời, hai vợ chồng nuôi con cực quá, mất tự do, lại ngủ không đủ, hai đứa cự lộn thiếu điều giết nhau. Không dè 20 năm sau, thằng con noi gương cha mẹ lập gia đình sớm, rồi đây có con, không biết ai sẽ nuôi con cho tụi nó đi học. Má chồng nó còn trẻ măng mới có 38 mùa hạ, còn tung tăng ham vui lắm, weekend nào cũng party với karaoke tới nửa đêm, làm sao chịu an phận ngồi một chỗ giữ cháu. Thấy tụi nó vô tư quá cũng phát ớn dùm! Chắc là cô dâu phải nghỉ học ở nhà trông con thôi. Má ruột cô dâu thì chắc chắn là không babysit rồi vì má cô dâu là một ca sĩ lại kiêm thêm cái job làm radio đài tiếng Việt.

Chờ coi! Rồi cũng xuôi theo tự nhiên đâu vào đó, như cha mẹ chồng nó vậy thôi! 
    
2. Con Dâu

Chiều nay đi làm về, má chồng cô dâu đem qua cho tôi tấm hình chụp chung hôm tiệc cưới và một hộp bánh trung thu làm quà trung thu sắp tới.
Hỏi thăm về cô dâu, má chồng nói:
- Dạ bây giờ tụi nó chưa có khả năng ra riêng, con biểu tụi nó cứ ở chung với tụi con, khi nào học xong có việc làm hẳng tính. Nhà con chỉ có hai vợ chồng và thằng con trai, tụi nó mà dọn ra thì hai đứa con cũng buồn. Thôi kệ, có thêm con dâu về ở cho vui nhà vui cửa. Thấy thằng con vui là mình vui rồi. Hơn nữa, tụi nó ở chung thì con vẫn còn có thể săn sóc cho thằng con mình như lúc nó chưa cưới vợ. Lúc trước, đêm nào thằng nhỏ cũng phải đưa con nhỏ này về, bây giờ cưới rồi thì ở đây là nhà nó, khỏi mắc công đưa tới đưa lui.
Tôi gật đầu phụ họa :
       - Ờ vậy là phải đó, chớ nếu tụi nó dọn ra rồi thì mình coi như mất thằng con. Vì nếu ở riêng, tụi nó phải tự lo lấy cuộc sống của tụi nó, biết chừng nào mới có dịp về thăm mình. Họa may mình có làm cái gì ăn kêu nó thì nó mới về. Bữa nọ đi shop, bác nghe một bà di dân người Ý đang nói chuyện với người bạn. Bạn bà hỏi bữa nay cuối tuần, con cái bà có đứa nào về thăm bà không. Bà Italian nói "today me sick, me no cook, no cook, no eat, no come". Ý bà nói là bữa nay bà bịnh, không có nấu ăn, không có ăn thì con không tới. Nghe người mà nghĩ đến ta, sao đúng y chang hòan cảnh chung của những người cha mẹ có con ra riêng quá! Còn một chuyện khác cũng vui lắm, có một ông Úc làm kỹ sư trong hảng của cậu em bác, thằng con ổng mới học lớp 9 một hôm về nói với ổng là nó phải nghỉ học đi kiếm việc làm vì con bồ nó có bầu. Nghe nó nói ổng giựt mình tá hỏa la lối nó một hồi rồi nói "Thôi mày chờ nó đẻ đi, nếu má nó không nuôi thì bồng về tao với má mày nuôi cho tụi mày đi học tiếp, chớ mới lớp 9, tụi mày nghỉ học rồi làm gì ăn, còn phải nuôi con nữa, thiệt là con nít ăn chưa no lo chưa tới mà đòi làm người lớn!" 
Vậy đó, mình thương con thì phải ráng giúp đỡ cho tụi nó lúc đầu cho nó đỡ chới với!   

Con dâu này thật là có phước, ở nhà chồng mà như ở nhà má ruột, tự do tự tại muốn làm gì thì làm, ngủ tới giờ nào thì ngủ. Bữa nào con dâu không có giờ học sớm thì cứ “nướng” thả dàn, tám chín giờ cũng chưa thấy mở cửa sổ. Còn má chồng nó sáng nào cũng dậy sớm, bảy giờ rưởi là tấm sáo cửa sổ trên lầu đã được vén qua một bên để trang điểm rồi đi làm. 

Má chồng lại chịu chơi, cuối tuần thường có màn họp bạn hoặc gia đình, chị em cả thảy chín đứa, cứ xoay vòng mỗi tuần đi một nhà cũng đủ vui cả đời. Con dâu đã từng “nhập bọn” đi theo từ hồi mới làm bạn gái với thằng con nhà này nên bây giờ không có gì bỡ ngỡ, chơi hết mình như má chồng nó. Lo gì trời nắng, lo gì trời mưa, tới đâu hay tới đó, rồi thì cũng đi làm, cũng có nhà cửa xe cộ như ai!

Xã hội này bình đẳng, chỉ cần sống vui, không cần ai trọng vọng nể vì, không cần phải tranh danh đọat lợi, cũng không cần địa vị quyền uy hay nhiều tiền nhiều của. More money more blood, càng cao danh vọng càng nhiều gian nan chớ chắc chi có thời giờ hưởng thụ cuộc sống, chắc chi có hạnh phúc thật sự trong lòng!    

3. Cháu Nội Đầy Tháng

Hồi nào tới giờ, tôi chưa đi cái party nào mà gần nhà như lần nầy. Gần tới nổi không cần đi ra đường lộ mà chỉ bước qua cái driveway bên kia là tới nhà hàng xóm để dự tiệc đầy tháng đứa cháu nội đích tôn của chủ nhà.

Thằng cháu nội chào đời ngày 25 tháng 12 năm 2014 tới bữa nay là tròn một tháng. Hai vợ chồng hàng xóm của tôi tổ chức đãi tiệc mừng đầy tháng cháu nội tại nhà,  mời bà con bạn bè gần 100 người, đặt 10 bàn, từ trong garage ra tới vườn sau, mướn đầu bếp chuyên catering cho các đám tiệc tư gia tới nhà nấu nướng rình rang như nhà hàng. Ban thợ nấu gồm hai vợ chồng và hai người phụ bếp. Thực đơn gồm có gỏi đu đủ tôm thịt bánh phồng tôm, bánh hỏi thịt quay, Singapore spicy crab, Mongolian beef, cơm chiên, cá chưng, lẩu thập cẩm và chè tráng miệng. 

Hai vợ chồng người chef, ông này có biệt danh là Bảy Thọ (7 Thọ) đã từng làm chef trong Sheraton hotel, Israel trước khi định cư ở Úc, hiện tại chuyên catering cho các đám tiệc tư gia (Trường Thọ mobile master chef)     





Mừng đầy tháng cháu nội mà không thấy thằng cháu đâu hết, chỉ thấy người lớn cụng ly ăn uống tưng bừng và đám nhỏ chạy giỡn rùm beng ầm ĩ nhảy jumping castle. Hỏi bà nội cháu đâu thì bà nội nói là má cháu mới cho bú xong, đã bồng lên lầu ngủ. Có người hỏi ông nội sao mới có bốn mươi mà đã có cháu nội rồi. Ông nội cười ruồi nói là do di truyền, cha truyền, con nối gương cha đó chú bác ơi! Có người hỏi thằng ba của baby chớ con mày có khóc đêm không thì nó nói là I wonder why he is so qiuet! (con hổng biết sao mà nó ngủ êm ru hà!). Vậy là mày trúng số rồi đó nghe con. Nó mà khóc đêm tụi bây khỏi ngủ thế nào cũng gây lộn! 

Không biết năm sau tới thôi nôi có "lôi đầy tháng" nữa không. Nếu đầy tháng thêm đứa nữa thì tội cho ông bà nội cháu quá. Cha mẹ nào cũng thương con, khi con chưa đủ lông cánh để bay thì nhà cha mẹ vẫn là chiếc tổ ấm cúng êm đềm cho đàn con trú thân nương náu...

4. Ra Riêng

Bốn năm sau, đôi trẻ lại cho chào đời thêm một bé gái. Lại nghe tiếng khóc oe oe bên nhà hàng xóm và ông bà nội lại ca tiếp điệp khúc nuôi cháu như nuôi con, trang trải hết mọi việc giúp con và dâu mình. Cháu nội trai từ khi 3 tuổi đã cho đi nhà trẻ một tuần ba ngày tập cho quen dần để mai mốt còn đi học.  

Thằng con sau khi vào đại học đôi ba năm thì tìm được một việc làm tốt nên cũng đã đi làm. Nhận thấy ở chung với ba má hơi chật chội vì bây giờ đã có tới hai đứa con cho nên hai vợ chồng nó xin ba má nó ra riêng,  mướn nhà ở gần đó cho tiện việc gởi con hằng ngày. 

Bà nội hai cháu làm ở một chemist, mỗi ngày ra về 3 giờ đi rước cháu ở trường rồi về nấu ăn cho con trai chiều lại rước con thì take away về nhà ăn luôn thể. 
Thằng cháu nội rất khôn lanh, từ khi biết nói đủ, nó nói tía lia tối ngày, miệng không lành da non. Chuyện gì nó cũng hỏi,  hỏi vặn vẹo đủ thứ tới ông nội nó phát chóng mặt luôn. Nó thương bà nội nó hết biết, mỗi chiều khi ba nó tới rước về, nó leo lên xe gài seat belt xong còn ráng thò đầu ra cửa sổ nói với bà nội nó  "Bye grandma, I love you, I love you grandma" và cứ một câu như thế lập lại cho tới khi xe  ba nó khuất sau cái cua quẹo để ra đường lộ mà ở đây tôi vẫn còn nghe văng vẳng thấy mà thương. 

Khi cháu nội gái được ba tuổi thì con dâu lại có bầu thêm lần nữa, không biết vì tụi nó thích nhiều con hay bị "accident". Tiền mướn nhà một  tuần là hết 750 đô. Còn tiền điện, tiền ga, tiền điện thoại, tiền quần áo, ăn uống lung tung, tôi nghĩ tới còn thấy lo mà coi bộ tụi nó không lo chút nào. 

Rồi ngày qua ngày tháng qua tháng, sau mười năm, hai vợ chồng thằng con nhà hàng xóm đã có tất cả hai trai một gái.
Thằng anh năm nay đã 11 tuổi. Đứa em gái kế thì lên 7, còn thằng nhóc bây giờ lên 3. Tới đây thì tôi nghĩ chắc tụi nó phải bớt vô tư mà nghĩ kỹ tính xa. Con cái nó càng ngày càng lớn, nhu cầu càng nhiều càng cao, càng hao càng tốn. Ba má tụi nó chỉ có thể giúp tụi nó tới một mức độ nào thôi chớ  làm sao theo tới tới hoài cho nổi... 

Đã biết chuyện gì rồi cũng có giải pháp. What will be will be...! Vậy mà sao tôi cứ lo xa lo dùm thiệt là vô duyên hết sức!!


Người Phương Nam

Buôn Hô, Nỗi Nhớ... - Kim Thanh


Thưa quý bạn,

Sáng nay, thứ bảy, cả Oregon và Portland chìm trong biển tuyết trắng xóa, ập xuống từ đêm qua và hứa hẹn kéo dài đến cuối tuần sau. Không đi đâu được. Đành ngồi nhà nhâm nhi cà-phê. Mà nhớ về những kỷ niệm vàng son cũ. Của chiến tranh, hòa bình và tình yêu muôn thuở. Bèn mạo muội gửi đến quý bạn một bài mọn mới viết xong, để quý bạn  mua vui cũng được một vài trống canh. Và cho riêng tôi, như một khúc hát thiên nga, le chant du cygne, theo nghĩa chính xác trong Pháp ngữ. Chúc quý bạn những điều tốt đẹp nhất trong Tết Kỷ Hợi. Và hẹn gặp lại trong ba năm.

Kim Thanh Nguyễn Kim Quý

I

      1. Đã qua rồi hơn nửa thế kỷ, mà tại đây, khi Portland bắt đầu trở lạnh và mây che trắng khung trời, tôi thấy lòng nhớ Buôn Hô thiết tha. Và bồi hồi, buồn bã. Như một giấc mơ vợi xa. Như một kỷ niệm nghìn trùng đã mất cùng với tháng ngày binh lửa, và Xuyến Nhi. Rời bỏ Cao Nguyên từ cuối 1967, tôi chưa một lần trở lại thăm ngôi làng quê hẻo lánh ấy, cách Ban Mê Thuột độ 40 km đường chim bay, chìm khuất sau tỉnh lộ 14 nối liền với Kontum.

      Tôi đã hai lần dẫn một toán Tâm Lý Chiến-Dân Sự Vụ (TLC-DSV) công tác theo Trung đoàn 45, Sư đoàn 23 BB, hành quân tại Buôn Hô. Lần đầu, hỏa lực địch khá mạnh và Tiểu đoàn, mà chúng tôi được chỉ định tăng phái, đụng độ dữ dội với một lực lượng địch, gồm du kích và chính quy, có cả Thượng Cộng, khiến toán TLC-DSV không thể làm được việc gì, nhưng phải bóp cò chiến đấu như lính mặt trận thứ thiệt. Lần thứ hai, địch đã rút lui, bỏ lại một Buôn Hô yên bình, chúng tôi mới có cơ hội “hành nghề”.

      Đó là một thị trấn nhỏ, dân cư thưa thớt, trên dưới khoảng một trăm nóc gia, cả Kinh lẫn Thượng, được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Người Kinh đa số gốc Quảng Trị, hay Quảng Bình tản cư lên, sống gần khu vực tỉnh lộ. Người Thượng thuộc bộ tộc Ra-đê, ở sát mé rừng, phía trong. Tất cả đều làm rẫy hoặc trồng trọt, chủ yếu cà-phê, trà. Từ xa,  trong chiều nắng nhạt, người ta thấy những đồng lúa, nương khoai, nương sắn nằm im bóng trên sườn đồi, hoặc bên bờ suối, theo hình bậc thang đều đặn, như một tấm thảm bạt ngàn, xanh ngắt một màu. Làm nhớ quá ca khúc quen thuộc “Nương Chiều” của Phạm Duy, mà tôi nghe hoài từ nhỏ, qua tiếng hát Thái Thanh:

Chiều ơi! Lúc chiều về rợp bóng nương khoai

Trâu bò về giục mõ xa xôi, ơi chiều […]

Chiều ơi! Mái nhà sàn thở khói âm u

Cô nàng về để suối tương tư, ơi chiều.

      Ở đây, cũng như tại Pleiku, Kontum, Ban Mê Thuột, quanh năm là mùa thu, khí trời se lạnh, khiến môi má của những em nhỏ, và của các “cô nàng về để suối tương tư” luôn hồng tươi trong nắng. Không biết bây giờ, trong chế độ mới, Buôn Hô có thay đổi gì chăng. Nhưng tôi nghe nói, dân số tại đó đông đúc và cuộc sống xô bồ hơn, cũng như ở tất cả thôn làng, xã ấp, phố thị Miền Nam khác, bởi những di dân đói khổ từ Miền Bắc ồ ạt tràn vào chiếm ngụ, lập nghiệp, sau năm 1975.


      2. Trong khi tiểu đoàn BB hành quân tảo thanh và truy lùng địch ven rừng, toán tôi, gồm mười người, tương đương một tiểu đội trừ, sàn sàn tuổi nhau, được lệnh công tác cho người Kinh bên ngoài, được cấp xe dodge di chuyển riêng và tự lo liệu an ninh. Ban ngày, như ở những địa phương khác, giúp đỡ dân, khám bệnh, phát thuốc, hướng dẫn vệ sinh thường thức, và dĩ nhiên, bắc loa giải thích và đề cao chính nghĩa quốc gia, chống lại những thủ đoạn tuyên truyền bịp bợm của VC –những công việc quá quen thuộc đến độ nhàm chán, mà chính những đơn vị tác chiến yểm trợ cho chúng tôi cũng có vẻ coi thường. Phải chờ cho đến tháng 4, 1975, cả nước mới thấy thành quả cụ thể của công tác CTCT. Quả vậy, chỉ mới nghe tin VC sắp đến thôi mà hàng hàng lớp lớp người dân đã hốt hoảng bỏ chạy tứ tán, từ các quận và tỉnh lỵ xa xôi đến những thành phố lớn và thủ đô Sài Gòn, và từ Sài Gòn ra biển khơi. Và mặc dù, cho đến bây giờ, đã sống với VC 44 năm rồi, mà hễ nghe đến tên chúng, ai nấy thất kinh hồn vía, kể cả người đang ở Mỹ, như một cơn ác mộng hãi hùng. Ban đêm chúng tôi đến nghỉ trong một trường học, hay dưới hiên một tư gia, sống hòa đồng với dân làng, và các toán viên thay nhau canh gác.

      Đêm ấy, tôi dẫn toán đến xin tá túc tại một nhà ngói tương đối khang trang nằm giữa một nương sắn. Sau nhà trồng đủ loại cây ăn trái, quanh năm chín tới, nặng trĩu lá cành. Phía trước nhà là một vườn hoa nhỏ, đêm về, tỏa ngát hương thơm. Gia chủ là một nông dân trung niên, tráng kiện, tên Lập, gốc Quảng Trị, vui vẻ tiếp nhận toán chúng tôi, đối đãi ân cần. Bà vợ người Huế, với một đàn con tám đứa mà hết bảy là con gái, sanh năm một. Tất cả đều xinh đẹp. Cô chị cả, tên Xuyến Nhi, tuổi độ đôi mươi. Thời gian đó, tôi là chuẩn úy trẻ, gốc giáo sư bị động viên, mới tốt nghiệp Thủ Đức, còn nguyên nét thư sinh, mà lại phục vụ ngành CTCT, nên dễ lọt vào mắt xanh của các bà có con gái đến tuổi cập kê, vì họ nghĩ đơn giản rằng gả con cho loại lính này, được bảo đảm về chữ thọ. Sự thật không phải vậy: các toán TLC-DSV của bốn Tiểu đoàn CTCT, gồm nhiều đại đội, phục vụ tại bốn Quân khu, thường được tăng phái dài hạn cho, và đặt dưới quyền điều động của, những đơn vị Bộ Binh từ cấp Trung đoàn, hoặc các binh chủng tác chiến nổi tiếng khác, như Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Thiết Giáp… Tuy không trực tiếp chiến đấu, nhưng khi đụng trận cũng phải nổ súng như ai, và có người đã bị thương, hoặc nằm xuống vĩnh viễn. Điều này, tôi đã chứng kiến tận mắt khi còn là sĩ quan thuộc Tiểu đoàn 20 CTCT, Quân Khu II, Pleiku, biệt phái công tác tại Ban Mê Thuột (Quảng Nhiêu, Buôn Hô, Quốc lộ 21 Khánh Dương), Lâm Đồng (đồn điền cà-phê), Quảng Đức (Kiến Đức), Phan Thiết (Thiện Giáo, tức Ma Lâm cũ, Mường Mán, Sông Mao), Bình Định (Phù Mỹ, Phù Cát, Bồng Sơn, Tam Quan), và Kontum, v.v…

      Trở lại Buôn Hô với gia đình ông bà Lập. Xuyến Nhi có vẻ đẹp thùy mị, mộc mạc của một cô gái sinh ra và lớn lên tại miền “sơn cước”. Vóc dáng cao thon, khỏe mạnh, và nước da luôn trắng hồng. Mái tóc buông dài, đen tuyền,  đầy hương, như một cô tiên trong truyện cổ tích. Dễ thương, gọi tất cả chúng tôi bằng “anh”, với giọng thanh tao, lai Quảng Trị, Huế và Ban Mê Thuột. Và lúc nào cũng lịch sự, lễ phép, đặc biệt đối với tôi, mà các toán viên, gồm hạ sĩ quan và binh sĩ, trong số có một Trung sĩ Ra-đê, tên K’Sor –biết chút ít tiếng Pháp, và lơ lớ tiếng Việt– quen miệng gọi là “ông thầy”, thay cho chữ “xếp”, tức toán trưởng. Phần tôi, tuy lòng xao xuyến trước vẻ đẹp và sự tử tế của Xuyến Nhi, vẫn cư xử đứng đắn với nàng, và với mọi người, điều mà tôi dặn tất cả anh em khác trong toán phải làm theo, dưới danh nghĩa tân khách và cán bộ TLC-DSV, khiến bố mẹ nàng hài lòng, tin cậy ra mặt. Buổi chiều sau công tác, chúng tôi trở về nhà, tắm rửa, nghỉ ngơi, kiểm điểm thành quả. Rồi vui đùa với mấy đứa em của Xuyến Nhi. Thỉnh thoảng mượn bếp để nấu gạo sấy và xào thịt hộp với rau quả trong vườn, mà gia chủ cho phép hái tự do.  

      Trong số các em gái, còn rất nhỏ, của nàng, tôi chú ý đến bé Tơ, rất giống chị cả, độ bảy tuổi, mắt tròn xoe, vẻ thông minh, đằm tính. Có một vết sẹo nhỏ, dài trên góc trán phải, vì năm nào, bé đã chạy chơi vấp té sấp xuống sàn xi măng, Xuyến Nhi kể. Tơ thường bắt tôi bế lên vai, và quấn quýt bên tôi, ngoài hiên nhà, hoặc mỗi lần tôi xuống bếp. Những khi thấy chiếc dodge của toán trở về, Tơ mừng rỡ chạy ào ra cửa đón, cùng với các đứa chị, đứa em khác. Anh em toán viên nhảy xuống xe, ôm tất cả vào lòng, móc túi áo lấy kẹo phát cho từng đứa. Trong khi đó, Xuyến Nhi đứng bên cửa, kín đáo giơ tay chào mừng, và tôi không quên dành tặng riêng nàng một nắm kẹo sô-cô-la, mà nàng khen ngon, “lần đầu tiên em mới được ăn đấy”, nàng nói. Gặp ngày Chúa Nhật, ông bà Lập rủ tôi và vài anh em Công giáo đi lễ cùng với cả gia đình. Thánh đường là một căn nhà nhỏ ven làng, sát quốc lộ, mái tranh và vách nứa, đơn sơ, nhưng sạch sẽ, trên nóc dựng một cây thánh giá khá lớn, và bên trong có những dãy ghế gỗ đóng theo kiểu dã chiến, đủ cho từ sáu chục đến một trăm người. Linh mục quản nhiệm, biết tiếng Thượng, được tòa Giám Mục Ban Mê Thuột “tăng phái”, đến từ chiều thứ bảy, để giải tội cho giáo dân –đa số người Kinh với một số nhỏ người Thượng, như K’Sor của toán tôi.

      Thắm thoát đã hết hai tuần, mãn hạn công tác tại Buôn Hô, chúng tôi phải theo Tiểu đoàn trở về Ban Mê Thuột, bỏ lại những nông dân chất phác, hiền hòa, tử tế, và gia đình ông bà Lập với lòng hiếu khách tuyệt vời, đã cho chúng tôi tá túc mười bốn đêm bình yên dưới mái hiên nhà, giữa khung trời thần tiên, bát ngát hương đồng cỏ nội. Riêng tôi, bỏ lại ánh mắt của Xuyến Nhi còn quyến luyến trông theo, bàn tay, mà chưa một lần tôi nắm lấy, buồn rầu vẫy vẫy tiễn đưa, và những lời tình ngọt ngào, mà môi mắt cùng hiểu và thầm hẹn, sẽ trao cho nhau, khi được gặp lại nhau một ngày nào, một nơi nào, hay một kiếp nào. Xuyến Nhi ở lại, để người về tương tư, cùng với núi, rừng, và mây ngàn, từ đó.

 

      3. Trở lại Ban Mê Thuột, được nghỉ vài hôm, tôi phải đi thêm hai chuyến công tác nữa. Lần đầu, tại rừng Lâm Đồng, với Tiểu đoàn 22 Biệt Động Quân giải tỏa một đồn điền cà phê bị VC chiếm. Trận đánh rất ác liệt, và cuối cùng VC phải rút lui, để lại một kho gạo, hai máy điện và nhiều xác du kích. Không thấy một bóng người dân, toán tôi thất nghiệp, nhưng phải tiếp tục đi với tiểu đoàn, ban ngày tìm địch, ban đêm mắc võng ngủ dưới trời sương. Lần thứ hai, tại quận Kiến Đức, tỉnh Quảng Đức, làm công tác vệ sinh thường thức, như đào giếng và hố tiêu, khám bệnh, phát thuốc cho đồng bào Thượng B’râu, còn gọi là Thượng Cà Răng Căng Tai.

      Sau một tháng, được nghỉ xả hơi hai tuần tại Ban Mê Thuột, tôi nhận lệnh sẽ dẫn một toán TLC-DSV xuống Phan Thiết tăng phái dài hạn cho Tiểu đoàn 4 đang hành quân khu vực Thiện Giáo, thuộc Trung đoàn 44, mà Bộ Chỉ Huy đóng tại Sông Mao. Nghĩa là sẽ xa rời Ban Mê Thuột khá lâu. Tôi nhớ Xuyến Nhi và quyết định đi Buôn Hô thăm nàng một ngày. Được đại đội trưởng 203 TLC, Trung úy Nguyễn Văn Mỹ, chấp thuận cho nghỉ và quá giang đoàn xe tiếp tế vật liệu, lương thực, đạn dược cho một  tiểu đoàn BB đang đóng quân tại đó. Đến nơi, ngang nhà nàng, tôi nhảy xuống, và dặn trưởng xa Trần Đại Nhơn, Chuẩn úy Quân Nhu, bạn đồng khóa 20, đồng đại đội 5, Thủ Đức, buổi chiều nhớ đón tôi về thị xã.

      Tôi vừa bước vô nhà, thì cả đám em còn nhỏ của Xuyến Nhi chạy ùa ra tranh nhau ôm tôi, vui mừng, tíu tít chào hỏi. Tôi mở ba-lô lấy ra, và phân phát, một bịch quà Ban Mê Thuột đầy kẹo bánh, bút mực và tập vở. Ông Lập và hai đứa em kế đã lớn của nàng, bận cuốc ngoài rẫy. Bà Lập, thấy tôi, bỗng òa khóc, mếu máo: “Nhi chết rồi, cháu ơi!” Tôi hoảng kinh, hỏi: “Tại sao vậy bác?”. Bà dẫn tôi vào một phòng bỏ trống, có một bàn thờ nhỏ, với tấm ảnh bán thân của nàng, tươi cười, xinh đẹp, giữa hai ngọn đèn cầy, nghi ngút khói hương. Tôi thắp nhang, lâm râm cầu nguyện. Sau đó, bà Lập mới kể: “Cách đây hơn một tháng, một sáng sớm, em nó ra thăm đồng với một bạn gái. Không có dấu hiệu báo cho biết VC đã về hoạt động tại buôn. Một lát sau, bọn chúng pháo kích bừa bãi vô ruộng, trúng hai đứa đang đứng trong cái chòi trú mưa… Xác cả hai nát bấy, cháu ơi, thảm lắm!”

      Thế là hết. Tôi không muốn nghe thêm gì nữa. Mặc dù tình cảm giữa tôi và Xuyến Nhi chưa thắm thiết đủ cho hồn nát tan, nhưng khi Nhơn ghé nhà đón về Ban Mê Thuột, tôi biết rằng lúc xa rời Buôn Hô, lần này, là vĩnh viễn sẽ mất kỷ niệm, ông bà Lập, Xuyến Nhi và các em của nàng. Nghẹn ngào tôi nói lời vĩnh biệt, ôm hôn rất lâu mọi người. Và thất thểu leo lên xe, mà lòng đau như xé.

                                              II

      1. Hai mươi ba năm sau, 1989. Tôi đang theo học và dạy tại University of Oregon, Eugene. Từ campus, thỉnh thoảng thả bộ ra con phố nhỏ, gần đó, có nhiều quán ăn, bán đủ món “quốc tế”, giá bình dân, cho sinh viên, giáo sư và nhân viên đại học. Một buổi trưa, tôi ghé vào một tiệm Tàu, tính ăn mì hoành thánh, thay cho hamburger kinh niên, ngán đến tận óc. Thực khách khá đông. Tôi vừa đến cửa, thì cô hầu bàn người Á Đông, đang bưng ra một tô hủ tiếu. Vì vội, cô vấp phải một ông khách Mỹ mập phì lũ sồng sộc phóng vô, làm rớt cái tô  xuống sàn, nước lèo nóng văng tung toé lên áo tôi và ông Mỹ. Cô hốt hoảng, quýnh quýu lấy khăn và giấy lau, miệng nói “sorry” lia lịa. Tôi an ủi cô:

      - That’s OK, don’t worry.     

      Ngồi vào bàn, một lát sau, khi cô bưng ra tô mì hoành thánh, tôi thấy có thêu trên túi áo trắng đồng phục tên Amy H. Tôi vừa ăn vừa bắt chuyện, và hỏi cô: “Are you Chinese?” Cô lắc đầu: “No, I am Vietnamese”. Tôi bèn nói tiếng Việt:

      - Trông cô quen quen, giống một người tôi biết cách đây đã lâu…

      - Thật vậy sao? Em cũng thấy anh quen quen, nhưng chịu, không nhớ là ai.

      - Chuyện dài lắm, sẽ kể cô nghe sau, khi có dịp, tôi đáp.

      Trong gần hai tháng, tôi còn trở lại tiệm của cô mấy lần nữa để ăn hủ tiếu, và tiện thể, nhìn cô kỹ hơn. Cho chắc ăn, khỏi lầm người. Phần cô cũng thế, thỉnh thoảng kín đáo liếc nhìn tôi đăm đăm, tôi đoán, như cố nhớ đã gặp tôi ở đâu rồi. Lần nào thấy tôi bước vô, cô cũng đon đả chào mời, vẻ vui mừng lộ rõ trên đôi má ửng hồng. Chọn được một ngày tương đối rảnh, tôi hẹn gặp cô tại một nơi nào đó, và sẽ kể cô nghe chuyện… đời xưa.

      Cô gật đầu, và đề nghị liền:

      - Em nghỉ việc mỗi thứ hai. Sáu giờ chiều thứ hai tuần sau, mình gặp nhau tại quán Mễ ở đầu phố, được không anh?

      Tôi OK. Buổi chiều dịu êm, và tiệm vắng khách. Amy đến trước, ngồi chờ, ở một góc khuất. Tôi gọi cho nàng và cho tôi mỗi người một chén soup và một bánh tortilla. Nàng hỏi:

      - Anh tên gì và làm gì ở Eugene?

      Tôi đáp nhanh:

      - Nguyễn Kim Quý. Học và dạy tại Đại Học này đây. Còn Amy, sao lại lạc vào cái xó xỉnh Eugene nhà quê, khỉ ho cò gáy này?

      Nàng cười, để lộ cái răng khểnh, trông rất duyên dáng:

      - Chuyện dài lắm. Nhưng trước hết, em muốn biết, như anh nói bữa trước, có thật là anh đã gặp em ở đâu rồi…

      Tôi đột ngột hỏi:

      - Có khi nào em ở Buôn Hô?

      - Dạ có. Em sinh ra và lớn lên tại đó.

      - Thật sao? Em giống hệt một người mà anh yêu mến…

      - Người ấy tên chi?

      - Xuyến Nhi.

      Amy mở to mắt, như muốn xem tôi là người hay ma, và trả lời:

      - Xuyến Nhi là chị cả của em…

      Đến lượt tôi sửng sốt:

      - Hèn chi. Vậy tên Việt Nam của em là gì?

      - Tơ. Hoàng Thị Thiên Tơ.

      Tôi reo lên, mừng rỡ:

      - Hèn chi. Em là đứa em gái của Xuyến Nhi khi còn bé tí thường đòi anh bế lên lòng và vòi kẹo mỗi lần anh ghé nhà em ở Buôn Hô...

      Tơ gật đầu, có vẻ như nhớ lại những chuyện cũ, và cười giòn tan. Nàng giống chị như đúc, và cả hai đều đẹp ngang nhau, khiến lần đầu tiên gặp nàng trong tiệm Tàu, tôi cứ tưởng Thiên Tơ là bóng ma của Xuyến Nhi hiện về. Bảo nàng cho xem vết sẹo cũ trên trán còn hay không. Nàng vén một mảng tóc lòa xòa phía thái dương. Đúng nó rồi, tôi cười bảo, dù bây giờ rất mờ. Đúng em rồi. Nàng nói:

      - Anh có trí nhớ tuyệt vời.

      Tôi bắt đầu kể, thật chậm rãi:

      - Hồi năm 1966, nghĩa là cách đây hai mươi ba năm, anh là chuẩn úy trưởng toán Tâm Lý Chiến theo Tiểu đoàn Bộ Binh từ Ban Mê Thuột đến Buôn Hô công tác, ngủ ngoài hiên nhà em. Lúc ấy em chừng độ sáu, bảy tuổi gì đó. Như vậy, bây giờ em...       

      - Dạ, ba mươi rồi. Còn một tuần nữa là ba mươi mốt đấy! Nếu còn sống, chị Nhi em giờ cũng đã bốn mươi ba. Thời gian trôi quá nhanh, anh nhỉ! Mới đó mà... À, em nhớ ra anh rồi. Gặp lại anh bây giờ, em nhớ, qua ký ức non nớt của em hồi ấy, hình ảnh rất ngầu, đẹp trai của anh trong bộ quân phục tác chiến, bạc màu phong sương...       

      Tôi hỏi:

      - Hai bác còn đủ cả không em?

      - Thưa, bố mẹ em mất cả rồi.

      Sau đó, tôi yêu cầu, và lắng nghe, Tơ kể về cuộc đời nàng tại Mỹ, và nhất là tại Eugene. Mười năm trước, nàng theo chồng, một Việt kiều, tên Dự, hơn nàng một con giáp, từ Eugene về nước kiếm vợ, qua sự giới thiệu của bà dì nàng, sang Mỹ tháng tư 1975, học lại và tìm được việc làm tại Eugene Public Schools. Dự, lúc ấy, có job tốt và có tiền, làm janitor cho một trường Middle School, do bà dì giới thiệu, và nàng vì ham đi Mỹ quá, nhắm mắt chấp thuận ngay, chưa kịp tìm hiểu, nói chi yêu thương. Hai vợ chồng định cư tại Eugene. Tơ tiếp:

      - Lúc đầu, em thấy Eugene, cái xứ khỉ ho cò gáy, như anh nói, không có một bóng người Việt, em nản quá. Xứ gì mà buồn hiu buồn hắt, không khác chi Buôn Hô của em thời chiến tranh. Rồi em kiếm được một chân waitress trong tiệm Tàu gần campus trường anh. Riết rồi quen, an phận, chả muốn di chuyển đi đâu nữa. Ván đã đóng thuyền. Lại thêm, anh chồng Dự là chúa ghen tuông, toàn là ghen bóng ghen gió không hà, vì mặc cảm xấu trai, ít học, lúc nào cũng sợ mất em. Những lần bà dì em mở party tại nhà, mời tụi em và đông bạn bè, đồng nghiệp của dì đến dự, toàn là Mỹ trắng, và nếu em cười nói, chuyện trò với một chàng trai trẻ nào, là y như rằng tối đó về nhà, bị anh ta hạch hỏi, mắng mỏ đủ điều. Rồi, như để trả thù, lôi em lên giường bắt làm tình. Em mệt, từ chối, thì anh ta xé quần áo em, cưỡng hiếp em, theo đúng nghĩa đen, mặc cho em vẫy vùng, khóc lóc. Lại đôi lần còn đánh đập em, để tự gây hứng khởi, điều mà anh ta một lần thú nhận. Em không có con là vì vậy. Em chán và sợ quá, nhưng phải gắng chịu đựng, vì em không có người quen nào ở đây, ngoài bà dì ruột...

      Nói một hơi xong, Tơ òa khóc, tôi lấy giấy kleenex, đưa cho nàng. Và lắc đầu, thở dài. Siết chặt tay nàng, tôi nói:

      - Tội nghiệp em quá. Không ngờ em Thiên Tơ bé bỏng của chị Xuyến Nhi và của anh Kim Quý ngày xưa bây giờ phải khổ lụy như vầy. Anh có thể làm được gì cho em không?

      - Không. Em chỉ xin anh cho em địa chỉ chỗ anh ở để thỉnh thoảng em đến thăm và chăm sóc anh, thay cho chị Nhi...

      Thực tình, tôi hơi ngần ngại, một phần vì Tơ đã có chồng, một phần vì tôi đã biết gia đình, bố mẹ và chị cả nàng, đã bế nàng từ lúc còn mang tã, xem như em út. Nhưng sau hai giây suy nghĩ, và bắt gặp ánh mắt khẩn khoản, buồn rầu của Tơ, tôi thấy con tim yếu mềm, cho nàng đến gặp, khi cần, just in case.

 

      2. Một buổi chiều thứ hai, tôi mãn các lớp học và lớp dạy, về phòng trọ, đang đọc sách thì bỗng có tiếng gõ cửa nhẹ. Tôi ra mở, và Thiên Tơ bước vào. Nàng ôm chầm lấy tôi, mừng mừng tủi tủi. Và tôi cũng ôm hôn nàng, với cảm giác như ôm hôn đứa em gái út. Tơ nói đùa:

      - Anh bế em lên đi anh, như khi em còn nhỏ ở Buôn Hô.

      Tôi cười, làm theo. Nhưng nàng bây giờ lớn rồi, khá nặng, dĩ nhiên, tôi phải bỏ xuống liền, và than đau cột sống –hậu quả, tôi kể cho nàng, của lần vượt biên bị bắt ở Cần Giuộc và bị thằng công an dùng khúc gỗ phang mấy cái vào lưng, đau điếng. Nàng xoa lưng tôi, nói nhỏ:

      - Xin lỗi, em làm anh đau phải không? Em nhớ anh lắm, em mong gặp lại anh từng giờ. Sau khi ăn với anh chiều hôm ấy, về nhà, em thấy hồn bỗng đầy ắp những kỷ niệm Buôn Hô êm đềm trở về, có anh, có chị Xuyến Nhi, mặc dù hồi đó trí óc em còn thơ dại, chưa biết gì, không nhớ gì nhiều.

      Tôi rót nước, lấy bánh ngọt, mời nàng. Nàng đi quanh phòng xem xét, và đến lò bếp lạnh tanh, hỏi:

      - Anh không nấu nướng gì cả sao?

      - Không, buổi trưa, anh ăn tại trường, buổi tối, đem về một cái hamburger, là xong.

      - Tội nghiệp anh! Em lục trong tủ lạnh, thấy trống trơn, không có gì để nấu cho anh tối nay. Chỉ có vài cái pizza chưa nướng. Chốc nữa, em nướng để mình cùng ăn nhé anh.  

      Tôi bèn đề nghị:

      - Hay là mình ra tiệm?

      - Không, gặp anh, em vui rồi, không thấy đói. Muốn ở bên anh, cho tận hết từng phút, từng giây.

      Tôi không kịp trả lời thì nàng đã buông mình trên chiếc giường bề bộn gối chăn chưa xếp của tôi. Còn tôi ngồi trên ghế đối diện. Và hỏi nàng:

      - Chồng em có biết em đến đây?

      - Không, em không nói. Mà anh ta cũng không biết em off mỗi ngày thứ hai.  

      Lúc ấy, Eugene đang giữa mùa thu –đúng mùa tựu trường. Trời se lạnh, làm nhớ quá Buôn Hô những ngày xưa cũ. Bên song cửa sổ, chiều rơi, thật chậm, như muốn níu kéo những tia nắng cuối ngày đang tàn úa và những giây phút diệu kỳ được gặp lại nhau tình cờ, tựa trong một giấc chiêm bao diễm ảo, sau bao năm vật đổi sao dời. Và chầm chậm, những chiếc lá vàng lìa cành, cuộn theo từng cơn gió thoảng qua, trước khi rụng rơi xuống mặt đất. Chợt thấy lòng mình buồn vui lẫn lộn, một cách vẩn vơ, kỳ lạ.

      - Anh ngồi xuống đây với em. Hãy hôn em. Hãy hôn môi em, nồng nàn như anh cứ tưởng đang hôn chị Xuyến Nhi. Em yêu anh, thay cho chị, với tình yêu và thân xác của em đây. Anh nói em giống chị như in cơ mà! Từ ngày sống với Dự, sa vào vũng lầy nhục dục bệnh hoạn, thô bạo, em thèm những nụ hôn nhẹ như sương chiều lướt qua mặt nước hồ thu, như sợi tơ trời giăng mắc trên đầu non, êm như thơ, mà nồng cháy yêu đương, thấm xuống tận xương tủy và hồn mê. Em thèm một lời thì thầm, âu yếm, rót mật vào tai và ru em vào mộng mị. Em bị bệnh trầm cảm nặng rồi đó anh, sợ việc chăn gối, sợ loại đàn ông thô lỗ, sợ mỗi cử chỉ vũ phu, cuồng dâm. Tại sao em không được gặp lại anh sớm hơn, trời hỡi, khi chiến tranh chấm dứt, khi em đến tuổi lớn khôn, khi chị Nhi không còn nữa, để bây giờ phải ôm một nỗi tiếc nuối ngập tràn, vì lầm lỡ?

      Tôi cảm động, nói:

      - Lúc em lấy chồng, anh còn trong trại tù cải tạo mà! Nghe em tâm sự, anh hiểu và thương em lắm. Nhưng tất cả đã muộn màng, hỡi em. Âu cũng là duyên số, hay đúng hơn, định mệnh, mà Trời dành cho mỗi người chúng ta. Anh yêu em, và hứa sẽ yêu em trọn cuộc đời này, bởi vì em là Thiên Tơ, người mà anh luôn xem như cô em gái nhỏ, hồn nhiên, xinh đẹp, mà anh thường bế những ngày còn Buôn Hô và chiến tranh. Với một tình yêu trong vắt thủy tinh, không chút bợn nhơ, phàm tục, không pha lẫn với hình bóng ai, kể cả của chị Nhi em. Nhưng, cũng như cát trên bãi biển, tình yêu đôi khi có lằn ranh của nó, dù mong manh, mà không ai được phép vượt qua...

      Nói thế, tôi vẫn biết rằng, trên đắm đuối môi hôn, nàng không tin và không muốn có một tình yêu thuần túy anh em, lý tưởng, phi xác thịt như thế. Khi tôi đưa nàng ra bãi đậu xe của dãy apartments thì trời tối mịt, dù mới chỉ năm giờ chiều. Ánh đèn đường leo lét không soi tỏ mặt người. Trời lạnh buốt, khiến Tơ run rẩy, nép sát vào tôi. Tôi cài áo manteau cho nàng. Tiếng còi từ ga xe lửa gần đó vang lên, thầm nhắc những cuộc chia ly não nùng, muôn thuở. Nàng nắm tay tôi hồi lâu, rồi khẽ nói:

      - Hãy hôn em, một lần nữa, như đây là lần cuối cùng, vì chúng ta không biết ra sao ngày mai... Cám ơn anh yêu. Thôi, em về.


      3. Một năm sau, tôi ra trường. Lúc này, vợ chồng Tơ đã ly dị, sau khi nàng bị Dự đánh bầm mặt sau một trận cãi vã dữ dội, như thường lệ. Một cô hàng xóm Mỹ gọi Cảnh sát. Anh ta bị còng tay và ngồi tù ba tháng. Bán nhà chia đôi, không con cái, đường ai nấy đi. Nàng thở phào, thoát nạn, về nhà bà dì ở tạm. Tôi nghe ai kể, ra tù, Dự bỏ việc, uống rượu suốt ngày, và khi ngà ngà say dọa bắn bỏ “thằng nào dê con vợ cũ của tao”.

      Mặc kệ. Tôi vẫn mời Tơ đến dự lễ tốt nghiệp, được tổ chức tại khuôn viên đại học, một buổi sáng chan hòa nắng tươi. Nàng mặc áo dài màu hồng nhạt, quần lụa trắng, vô cùng xinh đẹp, gợi cảm, lộng lẫy giữa đám quan khách, giáo sư, sinh viên, toàn ngoại quốc. Tôi choàng vai nàng, sánh bước, hãnh diện giới thiệu “Amy, em gái tôi”.

      Tôi được trường Eastern Washington University mướn dạy. Hai ngày trước khi rời Eugene đi Cheney nhận nhiệm sở mới, tôi chở cô “em gái” theo hướng  Springfield, đến ngồi tâm sự, vai kề vai, tay trong tay, trên bờ cát trắng phau của một nhánh sông Willamette, tránh xa những cặp mắt tò mò. Không gian im lắng, đến nỗi chúng tôi nghe như tiếng thời gian nhỏ từng giọt buồn thánh thót xuống dòng sông, hay dòng đời. Vài tiếng nhạn lạc đàn vang lên thảm thiết, trong chiều mênh mông, xa vắng. Cả hai lặng thinh, mắt dõi theo sóng nước cuốn trôi về đâu những đám rong rêu, những cánh hoa tả tơi, cùng với bao nhiêu mảnh trăng thề vụn vỡ. Và nghe gió lùa qua vầng tóc rối bời.

      Tôi bảo nàng, như an ủi:

      - Yêu nhau như thế, có lẽ đẹp hơn, phải không em? Để anh nói em nghe: đó là một thứ tình yêu tuyệt đối, phi thường, thánh hóa, chiếu xuống trần gian từ khung trời Chân Thiện Mỹ của triết gia Platon, thời cổ đại Hy Lạp. Bởi vì hai ta sẽ không bao giờ trở thành tình nhân, hay vợ chồng, để một ngày có thể lìa bỏ nhau, phản bội nhau, thù hận nhau.

      Nàng tựa đầu vào ngực tôi, mắt mơ màng nhìn xa xôi, và rơm rớm lệ:            

      - Anh muốn như vậy thật sao? Em không nghĩ có một tình yêu chay tịnh, và lãng mạn đến thế, của Platon, hay của chính anh bịa ra để tự lừa dối mình, và lừa dối cả em nữa. Và nếu có, em không nghĩ nó đẹp hơn tình yêu thể xác. Em rất thực tế. Đối với em, yêu là dâng hiến trọn vẹn cho nhau cả thân xác lẫn linh hồn. Thiếu một trong hai yếu tố đó, con người sẽ biến thành hoặc súc vật, hoặc thiên thần. Em là con người, đúng nghĩa. Em yêu anh, với sự khát thèm của thân xác và rung động của linh hồn. Em ao ước được diễm phúc làm vợ anh, dù chỉ một lần thôi, chỉ một giờ thôi, chỉ một đêm thôi, là em thấy mãn nguyện trọn đời. Và em sẽ không bao giờ quên anh, nói chi phản bội anh, trong kiếp này, hay kiếp khác…


      4. Và đó là lần cuối cùng tôi gặp Thiên Tơ. Từ Cheney, vì quá bận, tôi hẹn một ngày nào trở lại Eugene thăm nàng và trường xưa –điều mà tôi cứ hối tiếc mãi. Một năm sau, được tin nàng bị anh chồng cũ, Dự, trong một cơn say, hay cơn ghen, hay cơn điên, bắn khi quá giang xe của một thanh niên Mỹ, một thực khách quen của nhà hàng, mà Dự tưởng lầm là bồ của nàng. Thấy nàng chết tại chỗ, Dự kê súng vào màng tang, bóp cò, tự sát. Anh thanh niên Mỹ bị thương nặng, nhưng được cứu sống, đã lên đài địa phương kể lại tấn thảm kịch đầy phi lý này.

 

Kim Thanh

Portland,  thứ bảy Feb. 9, 2019

Chờ Em Trọn Đời - Nguyễn Duy Phước

Monday, November 10, 2025

Ảnh Vui: Vợ Là Gì?


 

Lượm trên mạng

Dấu Thánh Giá Là Một Bài Giáo Lý Và Là Lời Cầu Nguyện Ngắn Gọn Nhưng Mạnh Mẽ Nhất (Song Ngữ)

Ít ai biết rằng, dấu Thánh Giá là một bài giáo lý và là lời cầu nguyện ngắn gọn nhưng mạnh mẽ nhất ✝️

Dấu Thánh Giá gói gọn những chân lý sâu sắc của đức tin Công giáo, phản ánh Thiên Chúa Ba Ngôi và các thuộc tính thiêng liêng của Ngài. Cử chỉ đơn giản này mang trọng lượng thần học vô cùng lớn, thể hiện mầu nhiệm đức tin của chúng ta.✝️

**✨ Những hiểu biết thần học về dấu Thánh Giá:**

1. **Bàn tay phải:** Tượng trưng cho ân sủng và quyền năng, một dấu tích của những lời chúc phúc được truyền lại qua nhiều thế hệ.

2. **Năm ngón tay:** Phản ánh các thuộc tính thiêng liêng của Thiên Chúa—Toàn năng, Toàn tri, Toàn tại, Thánh thiện và Sự đơn giản trong tình yêu.

3. **Ba ngón tay giơ lên:** Đại diện cho Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

4. **Hai ngón tay gập lại:** Biểu thị sự linh ứng của Chúa Thánh Thần và sự kết hợp hai bản tính của Chúa Kitô: Nhân tính và Thần tính.

5. **Lòng bàn tay:** Đại diện cho Bản tính thiêng liêng của Thiên Chúa là Đấng tối cao của mọi tạo vật.

6. **Chạm vào đầu:** Thừa nhận Thiên Chúa Cha là Đấng lãnh đạo trong cuộc sống của chúng ta.

7. **Chạm vào ngực/rốn:** Tôn vinh Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã làm người và sống giữa chúng ta.

8. **Chạm vào hai vai:** Cầu xin Chúa Thánh Thần, Đấng bào chữa và hướng dẫn chúng ta trong chân lý.

9. **Tạo thành hình Thánh Giá:** Tưởng nhớ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, bản chất của sự cứu rỗi chúng ta.

Về bản chất, việc làm dấu Thánh Giá không chỉ đơn thuần là một nghi thức; đó là một lời cầu nguyện mạnh mẽ niêm phong thân xác và linh hồn chúng ta trong tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi.

ĐỨC MARIA, MẸ HỘI THÁNH, Cầu cho chúng con...

Amen ��

English version

✝️LITTLE DO WE KNOW, THE SIGN OF THE CROSS IS A CATECHESIS AND THE SHORTEST, MOST POWERFUL PRAYER ✝️

The sign of the Cross encapsulates the profound truths of the Catholic faith, reflecting the Triune God and His divine attributes. This simple gesture carries immense theological weight, embodying the mystery of our faith.

**✨ Theological Insights of the Sign of the Cross:**

1. **Right Hand:** Symbolizes grace and power, a remnant of blessings handed down through generations.

2. **Five Fingers:** Reflect God’s divine attributes—Omnipotence, Omniscience, Omnipresence, Holiness, and Simplicity in Love.

3. **Three Fingers Raised:** Represent the Three Divine Persons of the Holy Trinity: Father, Son, and Holy Spirit.

4. **Two Fingers Folded:** Signify the spiration of the Holy Spirit and the union of Christ’s two natures: Human and Divine.

5. **Palm of the Hand:** Represents God’s Divine Nature as the supreme being of all creation.

6. **Tapping the Head:** Acknowledges God the Father as the leader in our lives.

7. **Tapping the Bosom/Navel:** Honors Jesus Christ, who became man and walked among us.

8. **Tapping Both Shoulders:** Invokes the Holy Spirit, our Advocate and guide in truth.

9. **Forming a Cross:** Commemorates Jesus’ passion, death, and resurrection, the essence of our salvation.

In essence, making the Sign of the Cross is not merely a ritual; it’s a powerful prayer that seals our body and spirit in the love of the Triune God.

MARY, MOTHER OF THE CHURCH, Pray for us...

Amen ��


Anh Thập Chuyên

Thuốc Men - Vũ Thế Thành

 

Viết cho tuổi già, mà toàn người trẻ vào hỏi. Nghe tới mấy viên bổ sung là vào hỏi. Có người hỏi cho mình, có người hỏi cho con mình… Còn trẻ, cơ thể khỏe mạnh, dính dáng gì ở đây! (vtt)

Viết từ quán cà phê, kênh Nhiêu Lộc
- by Vũ Thế Thành

******
Tôi viết loạt bài “Chia sẻ với các bạn già” chỉ nhằm chia sẻ với các bạn cùng thế hệ tôi, - hoặc ít ra là thế hệ đứng sát sau tôi, cũng được xếp vào chữ “thọ” rồi. Họ ít nhiều đã từng nếm mùi ăn độn. Thế hệ tôi, còn phải thêm gánh nặng mưu sinh vì bổn phận, ăn uống bất cần thân thể cả thời gian dài. Sống được tới 60 là giỏi. Tới 70 thì coi như bonus trời cho. Cái giá trời cho, nhưng thân xác phải trả giá, bệnh tật đủ thứ.

Ngồi cà phê với nhau, kẻ than tê tay, người đau khớp gối, vọp bẻ, về đêm khó ngủ, … Ai cũng mang đủ chứng bệnh, người bệnh này, người bệnh khác, mà toàn là bệnh mạn tính. Đi bác sĩ, nếu là bs giỏi, ít khi họ dám chữa khỏi triệt để (trừ trường hợp cần thiết). Sao vậy?

Uống thuốc vừa lợi, vừa hại. Bs phải cân nhắc, lợi nhiều hơn hại, nên mới kê toa. Chữa triệt để bệnh này, thì bệnh kia nặng hơn. Mà người già thì đủ chứng bệnh, gan thận rệu rạo. Bs đâu dám kê toa tới bến. Bs lão khoa ít khi chạy theo con số. Chữa tiểu đường, mà đòi HbA1C xuống 6 hay 6,5, trong khi kháng insulin thì người già tầm cỡ chuyên nghiệp rồi. Huyết áp tâm thu đòi 11 - 12, như người trẻ sao được, khi mà mạch máu hết muốn đàn hồi.

Bác sĩ dư sức chữa để đạt được những con số đẹp như thế, nhưng họ sẽ không làm chuyện đó triệt để. Mục đích của họ, chữa bệnh cho người già là để kéo dài sự sống, và chất lượng sống. Buồn vậy đó. Sống bonus thì đành chịu. Còn sức cà phê tán chuyện thì cũng đáng tiền bonus rồi.

Bạn biết không, xưa nay nhét được một viên thuốc vào miệng tôi, không dễ chút nào. Tôi tra cứu rất kỹ trước khi quyết định uống hay không, loại nào cần, loại nào không cần, dù đó là toa từ bs. Này, có bs kê toa cho tôi vẫn đang follow Facebook này đấy. Thuốc đã khó như vậy, huống gì mấy viên bổ sung, là 1 dạng thực phẩm chức năng (tpcn), đâu dễ gì thuyết phục tôi. 

Trong 6 bài chia sẻ đã post trên fb, chỉ có 2 bài liên quan đến viên bổ sung. Đó là Magnesium, và vitamin B12. Các loại vitamin và khoáng là một dạng thực phẩm chức năng. Tôi không mặn mà gì lắm với TPCN. Phải cân nhắc rất nhiều tôi mới nói về chúng, và sắp tới có thể là vitamin D và K2. Tôi đọc rất kỹ những nghiên cứu về chúng, thường là loại review study. Có những thứ tôi đã trải nghiệm, và biết lợi hại của nó thế nào. Nhưng bao giờ tôi cũng nhấn mạnh: nó có hiệu quả với tôi, nhưng chưa chắc đã hiệu quả với bạn. Cơ thể người già, không ai giống ai, mức độ bệnh cũng không giống nhau.

Trong bài B12 vừa rồi, tôi đã cẩn thận nói đến xét nghiệm máu để biết có thiếu B12 không, thậm chí còn nói thêm cả kết quả xn ảo. Nếu thiếu thì uống bổ sung. Không thiếu thì uống làm gì cho tốn tiền.

Có bạn trẻ vào comment, tôi đã uống 3B rồi. Các loại vitamin này có đầy trong thực phẩm. Các bạn còn trẻ, hấp thu tốt, chuyển hóa tốt. Tại sao không ăn, mà lại đi uống mấy viên bổ sung?

Bạn có biết rằng, trong thực phẩm có nhiều dưỡng chất, vitamin, khoáng, mà tính khả dụng sinh học của chúng tốt hơn nhiều so với viên bổ sung.

Với người cao tuổi, B12 rất khó hấp thu, nên tôi mới khuyên đi xn, nếu thiếu thì uống, thậm chí bổ sung B12 liều cao. Còn các vitamin B khác hấp thu dễ hơn, người già có thể lấy từ thực phẩm. Như thế tốt hơn. Uống bổ sung làm gì cho tốn tiền!

Tôi không liên quan gì đến việc buôn bán tpcn, nếu không muốn nói là dị ứng. Bạn đừng hỏi tôi nên mua nhãn hiệu nào, mua ở đâu. Một số bạn đã share bài viết của tôi về fb của họ để quảng cáo bán hàng. Đó là chuyện của họ, ngoài kiểm soát của tôi. Nhưng nếu post vào trang tôi để quảng cáo thì tôi sẽ block. Và tôi đã block vài người rồi đấy. Đừng làm thế nữa!

Tôi không theo trường phái ăn uống nào cả. Tôi lại càng không tin, thực phẩm chữa lành, chữa bệnh gì hết. Bệnh thì đi bác sĩ chuyên khoa. Các bạn marketing khỏi cần mang ông bác sĩ này nói, bà tiến sĩ kia viết, để tranh luận với tôi. Những ông bà tiến sĩ này không phải là bằng chứng khoa học. Tôi biết thừa kiểu cách ngụy biện của họ, và không muốn mất thời gian tranh cãi vô ích.

Một vài độc giả hiểu lầm tôi là bác sĩ. Thật hân hạnh, nhưng rất tiếc, tôi không phải là bác sĩ. Chuyên môn của tôi là an toàn thực phẩm. An toàn thực phẩm và ngành y đều liên quan đến sức khỏe con người, nhưng công việc khác nhau. Không khó để bạn đọc nhận thấy, trong những bài tôi viết, những gì liên quan đến chẩn đoán, điều trị, thuốc men là tôi rất dẻo tay “bán cái” hết cho bác sĩ. Tôi không muốn giẫm chân vào lĩnh vực mà tôi hoàn toàn mù tịt về kỹ năng lâm sàng.

Nếu tôi mà là bác sĩ, thì tôi đã nổ tưng bừng về an toàn thực phẩm cho thiên hạ sợ chơi rồi.

Những gì tôi chia sẻ với các bạn già là nói về lối sống, ăn uống. Tất cả đều dựa trên kiến thức khoa học mà tôi tích lũy được. Điều đó chỉ có tính cách hỗ trợ điều trị. Tôi không thể thay thế công việc của bác sĩ, là chẩn đoán và điều trị. Đó không phải là chuyên môn của tôi.

Tôi thường viết về an toàn thực phẩm cho tờ Tuổi Trẻ Cuối Tuần, tờ báo duy nhất hiện nay tôi cộng tác. Độc giả báo này đa số tốt nghiệp đại học. Nhiều người trong số này không ở trong ngành khoa học. Do đó, thường là tôi không viết nặng nề lắm, nhưng tuyệt đối tuân thủ bằng chứng khoa học, khách quan và lạnh lùng, không có “cái tôi” gì ở đây cả. Đôi chỗ tôi còn phải khôi hài để làm “chiếu nghỉ”, thư giãn để lôi kéo họ đọc cho hết bài.

Viết loạt bài chia sẻ với bạn già, tôi cũng tuyệt đối dựa trên khoa học, nhưng đôi lúc xen chút kinh nghiệm cá nhân, diễn đạt nhẹ nhàng hơn, đùa cợt nhiều hơn, chế giễu cay hơn. Chế giễu các bạn có khác gì chế giễu chính tôi đâu? Cơ bàng quang rệu rạo, tiền liệt tuyến phồng to, ông nào, bà nào lại chẳng… “lợi tiểu”. Già rồi, còn nhiều chứng bất tiện như thế. Chúng ta đâu còn thời gian để mắc cỡ nhưng chuyện đời thường như thế. Cười cợt nhau đôi chút, để tạm quên đi những “nặng lòng” riêng tư khác, mà ai cũng có. Người già hiểu người già là chỗ đó.

Tôi viết loạt bài chia sẻ này, viết theo kiểu cà phê ven đường, nên rất thoải mái phóng bút. Chỉ đôi lúc phải kiểm tra lại về mặt khoa học, xem có tiến bộ gì mới không. Thú thiệt, viết thoải mái hơn nhiều so với viết cho tờ TTCT. Viết báo thì phải nghiêm túc như ông cụ non, hài hước cũng phải lập trình. Viết tới đây, tự nhiên thấy chột dạ. Thì là cụ… già rồi, chứ còn non gì nữa. Chẳng qua quen miệng nói thành ngữ vậy thôi.

Viết ngẫu hứng, vậy mà lượt view, lượt chia sẻ tăng đột biến. Tôi bất ngờ. Có gợi ý tôi nên gom những loạt bài này để ra sách. Một nhà xuất bản đã làm việc với tôi, nhưng tôi còn cân nhắc, chưa quyết định gì lúc này. Nếu ra sách, bài chia sẻ cuối cùng mà tôi muốn đưa vào sách, sẽ có tựa là “Giấc mơ chăm sóc tuổi già” – Vâng, chỉ là giấc mơ thôi.

Thôi, ngồi café vỉa hè , tán nhảm như thế đủ rồi. Chúc cuối tuần vui vẻ.

Vũ Thế Thành

Vietnam - Hue - Nguyễn Duy Phước

Mời du lịch on line xem thắng cảnh Huế