Wednesday, June 28, 2023

Hữu Duyên Tương Phùng - Youtube Phan ngọc Thuận

Mỹ Và Việt Cộng

 

Để tôi kể các bạn nghe 2 câu chuyện của cùng một người.

Chị ấy là công dân xứ Việt, năm ấy chị sang Mỹ thăm cha mẹ và anh chị em ngay thời khắc dịch Covid bùng phát và nước Mỹ đóng cửa. Chị vốn bị bịnh phổi từ lâu trước khi sang Mỹ nhưng ở Việt Nam mỗi lần đi khám thì bác sĩ cho mớ thuốc ho sơ sài rồi cho về chứ chẳng tìm ra được bịnh gì. Khi sang đây thì bịnh trở nặng ngay trong lúc nước Mỹ đang gồng mình chống dịch. Dẫu vậy chị vẫn được các bác sĩ Mỹ tìm ra nguyên nhân mà theo như lời kể của người nhà rằng hình chụp phổi của chị bị rổ như tổ ong vậy. Tôi lên mạng tìm hiểu thì thấy có bài nói về chứng bịnh hiếm "Lymphangioleiomyomatosis" mô tả các triệu chứng của căn bệnh chưa có thuốc chữa này hệt như những gì người nhà chị kể lại.

Bệnh viện Mỹ đã cố gắng hết sức nhưng cuối cùng cũng đành phải thông báo với gia đình rằng chị khó bề qua khỏi và cho đưa chị về chăm sóc ở nhà. Điều đáng nói chị là một công dân Việt Nam 100%, chỉ sang Mỹ theo diện du lịch thăm gia đình, chị không có bảo hiểm y tế cũng như không có đồng nào để trả viện phí với số tiền lên đến hơn 200 ngàn đô la. Dẫu vậy bệnh viện vẫn cắt cử y tá đến nhà chăm sóc chị mỗi ngày cũng như cho mượn các máy móc tân tiến nhất để giúp chị có thể thở được nhẹ nhàng trong những ngày cuối đời.

Các bạn biết số tiền viện phí hơn 200 ngàn đô la kia cuối cùng chị phải trả bao nhiêu không?

Không trả đồng nào hết, bệnh viện họ miễn hết cho chị.


****** 

Trong thời gian nằm chờ chết ở Mỹ thì chị mong muốn được đưa về lại Việt Nam để được gặp các con của chị trước khi chị đi xa. Lúc đó bên xứ Việt đang tổ chức các chuyến bay giải cứu mà báo chí xứ Việt tung hê lên mây xanh nào là "ngạo nghễ Việt Nam", nào là "bay vào tâm dịch"... 

Gia đình thấy vậy mừng quá mới liên hệ giúp đưa chị về. Có giấy chứng nhận của các bác sĩ Mỹ rằng chị không bị covid, chị chỉ bị bịnh phổi như đã kể ở trên nhưng đám con cháu Bác đâu có dễ dàng bỏ qua khi vớ được một mối béo bở như vậy. Chúng vòi vĩnh, hành hạ, dọa nạt, yêu sách đủ điều nói chung là giở đủ các chiêu trò khốn nạn nhất mà chỉ có bọn chuyên "sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương ông này ông nọ" mới có thể nghĩ ra được. Cuối cùng, trong cơn bối rối không biết phải làm sao để giúp chị có thể về để được chết trong vòng tay của các con chị, người nhà của chị ở Mỹ phải bấm bụng chi ra một số tiền khủng để đáp ứng đòi hỏi của đám "ngạo nghễ". Các bạn biết số tiền đó là bao nhiêu không? 34 ngàn 500 đô la Mỹ là số tiền người nhà của chị phải chi ra để mua cái vé máy bay giá chừng 2500 đô mới đưa được chị về. Điều khốn nạn hơn cả là chúng không cho chị về nhà ở Vũng Tàu mà đưa chị về Hà Nội rồi nhốt chị vào khu cách ly hơn 2 tuần mới thả về nhà. Sau khi được thả về chị sống với các con được hơn 1 tháng thì mất. Tôi ngồi nghe bạn tôi kể lại sự việc với đầy đủ những bằng chứng của các cuộc giao dịch, các cuộc chuyển tiền vào tài khoản của những kẻ đó trong lúc mẹ của bạn tôi thì ngồi bên vừa nghe vừa khóc. Tôi thiệt không tìm được từ ngữ gì để diễn tả tính cách của những con người mà nếu vô tình gặp ở đâu đó, tôi có thể lầm tưởng chúng là đồng bào của mình.Trong post trước tôi post một tấm hình của tôi chụp trên bãi biển Florida và viết rằng: "Bên đây biển đã là nhà. Bên kia biển chỉ còn là... quê hương". Giờ tôi kể câu chuyện này để các bạn thấy bộ mặt thật của "quê hương mình" mà bớt ngạo nghễ với tự hào đi. Quê hương mình từ thuở đàn bò vào thành phố thì nó đã "Yêu thương tàn lụi, ác độc lên ngôi" mất rồi.... /.


Posted by: lpk 116

Dấu Xưa - Hàn Thiên Lương


Sông vẫn trong

Thuyền còn xa mãi

Bến vẫn chờ

Dòng nước lặng lờ trôi !

Tiếng chim chiều hôm khắc khoải

Tiếng gọi đàn

Hay kêu sợ nỗi đau thương!?

Thời gian trôi

Cuộc đời như ngắn lại

Mới hôm nào

Nay tóc rắng màu hoa !

Trên sông nầy

Ai cùng ta đứng đợi

Mưa gió phũ phàng

Không cùng chuyến sang ngang!

Trong khoảnh khắc

Chiều hôm tím kỷ niệm

Đâu còn gì

Dầu một chút hương xưa !


27-6-2023

Hàn Thiên Lương

Tuesday, June 27, 2023

" ...Bỏ Thầy Thì Chúng Con Biết Đi Theo Ai ? Vì Thầy Có Lời Mang Lại SỰ SỐNG..." - Nguoiviettudo


Tôi thích xem các cuộc tranh tài thể thao về bộ môn volleyball hay Archery nữ . Tôi không biết tại sao nhưng theo Chị Đai nhà tôi kết tội thì vì máu dê của tôi overlimitted . Đại Công Tử  ( con trai )  cũng cười tủm tỉm và  cùng kết luận như má nó !!                       

                                                                                                          

Tất nhiên là tôi không đồng ý , bởi vì những đội nữ tôi hâm mộ lại không có đấu thủ đẹp hay thân thể nở nang đúng tiêu chuẩn của mấy cha già ( dịch ) dê . Tôi thích đội tuyển Nhật , Thái Lan với những cú đập , đỡ banh rất hấp dẫn  đúng tiêu chuẩn thể thao quốc tế . Tôi hâm mộ , thuộc lòng cả tên tuổi của các đấu thủ  , và tôi thích những cô gái nhỏ nhắn  trước  đối thủ  cao to khoẻ mạnh của Mỹ , Nga ,  Đức...

Nhưng nhỏ con không  là khuyết điểm của Thái Lan hay Nhật , trái lại những đội Châu Âu , Châu Mỹ không dám coi thường khi phải ra sân tranh với hai đội này, thậm chí rất gờm  khi thi đấu, kể cả Brazil thuộc hạng nhất hạng nhì thế giới . Tôi cũng thích tay đập hàng đầu Zhu Ting của Trung Quốc .

Nói chung  tôi  thiện cảm với những đội nữ trong thể thao (trừ  đá banh của Mỹ với thành kiến chính trị đâm ra coi mất hứng ). Và khi theo dỏi tin tức của các tuyển thủ tình cờ tôi tìm ra nhiều điều thú vị ... Chẳng hạn như  Đại Hàn có hai chị em song sinh chơi trong đội tuyển Quốc Gia ,  đội Nhật cắt cùng một kiểu tóc và không ai cao trên 1,85 cm -  rất quan trọng trong Basketball và Volleyball -

Tôi cũng thích xem phim tài liệu về những ... Nữ Tu !!! (cái này  chị đại không thể kết tội tôi là già lụ đạn  !!!)  . Lý do tại sao thì tôi biết : tôi nễ và ngưỡng mộ họ .

Ở thế kỹ hai mươi mốt những cô gái xin vào tu viện rất khác với quan đỉểm của người đời về  một Dì Phước . Đại đa số tốt nghiệp đại học và thậm chí  làm việc kiếm tiền thời gian dài ngoài đời . Có người từng là  luật sư , kỹ sư , y tá , bác sĩ... đột nhiên họ bỏ hết xin vào tu viện ( oan a lê xăng rờ tua - vô  rồi là không ra nữa ) . Một khi họ xác định rõ ( mục tiêu TÌNH YÊU  tìm thấy trong đời  ) thì họ trung thành cho tới chết  ( đại gia tiền tỷ cũng không làm họ phản bội lời thề ) .

Trước khi thành nữ tu, họ  bình thường ,  nhiều trường hợp là thiếu nữ đẹp , thông minh , tài trí ;   họ không đi tu vì cô đơn  thất tình, nhưng vì khám phá ra   giá trị đích thực của tình yêu . Chuyện   người thành đạt ngoài đời trở nên dì phước không hiếm , như tài tử nổi tiếng Dolores Hart người Mỹ ai cũng biết ....

Một Sister khác chơi  volleyball  bậc trung học  ký hợp đồng hàng trăm ngàn một năm ,  tương lai sáng chói theo định nghĩa của người đời ; đột nhiên bỏ hết xin vào dòng kín rất ngặt nghèo  ( chỉ được gặp  và hugging thân nhân một lần mỗi hai mươi lăm năm . Từ  cô gái ( sinh năm 1966 )  bà trở thành phụ nữ trung niên khi tiếp xúc gia đình , cũng chỉ  vòng ôm thân thiện  - không tiệc tùng hay liên hoan - Sau đó bà quay vào , tiếp tục đời tu trì dòng kín . Mẹ bà có hứa sẽ quay trở lai thăm con nếu còn sống ở tuổi 116 .

Bà tên  Shelley Pennefather thuộc  Tu Viện (?) Queen of Angels , bà chiếm hết lòng ngưỡng mộ trong tâm hồn tôi !!!.

Một quý bà  thuộc giới có tiền, chồng con đầy đủ cuối cùng cũng xin vào tu viện sau khi  tuyên bố đã hoàn thành nhiệm vụ làm vợ và làm mẹ  . Bà tên  Sister Patricia Schofield , có tám con  nhiều cháu , chắt…. và sở hữu nickname " Sister Mom "

Câu hỏi nảy sinh trong đầu tôi là TẠI SAO ?

Một phần trả lời có lẽ phải trở lại câu chuyện của ông thánh Phê Rô , vị Thánh rất “ phổi bò, ruột ngựa “ : thấy sao nói vậy , yêu thì nói yêu , và nói thẳng không quanh co

- Khi Chúa rửa chân cho ông vì  muốn mình phải thật sạch ông nài nỉ " Xin Thầy rửa tay và gội đầu cho con với !!

- Khi Chúa báo động cho môn đệ biết " Trong đêm nay một trong các con sẽ phản bội Ta " thì chính Phê Rô khẳng khái " Lạy Thầy cho dù mọi người có phản bội Thầy thì con đây sẽ không bao giờ " . Khi Chúa " huỵch tẹt ra " Thật vậy sao ? Ta cho con biết trong đêm nay trước khi gà gáy con sẽ CHỐI TA BA LẦN !!! " Phê Rô dứt khoát '" Lạy Thầy Con THÀ CHẾT chứ không thà chối Thầy !!" Phê Rô nói thực tâm trạng mình lúc đó ( không môi mép giả dối ) nhưng sợ hãi đã làm chủ ông khiến ông quên hết như Thiên Chúa báo trước . Tuy nhiên trong đêm Chúa bị quân dữ  gây nguy hiểm chính Phê Rô là người rút gươm chém đứt vành tai phải của Man-Chu để bảo vệ Thầy !!!....

***************

(Sau khi Chúa chịu chết ) lúc cùng đánh lưới với anh em trong biển Galilee  , nghe môn đệ  -  người áp đầu vào ngực Chúa đêm tiệc ly - đập vai " Thầy đó !! "  Phê Rô vội vã khoác áo nhảy ùm xuống nước lội vào bờ trước , có lẽ vì những lý do sau đây :

- Mừng quá !!! Chúa SỐNG LẠI y như lời Ngài báo trước ,

- Không còn bơ vơ , hoang mang thất vọng nữa !!

- Phen này thì tha hồ ôm Thầy thật chặt cho bỏ nhớ thương

- Nhất là có cơ hội xin lổi ba lần CHỐI THẦY tối hôm đó

(Truyền thuyết cho rằng sau giây phút chối Thầy Phê Rô đã khóc đến độ tạo thành vết nước mắt chảy từ khoé xuống má . Hãy tưởng tượng một người đàn ông trung niên khắc khổ vì lao động cực nhọc . nay  khóc sướt mướt tang thương vì một tội lỗi không biết làm sao để đền trả .

Thiên Chúa đã chọn Phê Rô đặt làm đầu cho Hội Thánh Ngài có lẽ vì nhìn thấu đàng sau sự hèn yếu của  người ngư phủ là một nhiệt tình mạnh mẻ; bởi vì truyền thuyết  cũng kể  Phê Rô tình nguyện chịu đóng đinh đầu dốc xuống đất vì cho  mình không xứng đáng chết trong tư thế như Thầy...)

***************

Khi Chúa Giê Su thuyết giảng trước đám đông Ngài đã nhấn mạnh nhiều điều :

- Thật quả thật ,Ta bảo thật các con : nhiều Tiên Tri và Sứ Giả ngày xưa ao ước nghe những điều các con nghe , nhìn thấy những điều các con thấy mà KHÔNG ĐƯỢC...

VÌ :

- Những điều anh em nghe không phải là CỦA TÔI mà là CỦA CHA !!! NGÀI ở trong Tôi và NGÀI ĐÃ PHÁN RA những điều đó ...

VÀ VÌ :

- CHA với TÔI LÀ MỘT !!!

 Chúa Giê Su khẳng định trước đám đông :

- Thật quả thật Tôi bảo thật anh em : Nếu anh em không ĂN THỊT và UỐNG MÁU CON NGƯỜI anh em không có sự SỐNG THẬT vì Thịt Tôi là CỦA ĂN THẬT Máu Tôi là CỦA UỐNG THẬT . Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi người ấy sẽ SỐNG TRONG TÔI và TÔI SẼ SỐNG TRONG NGƯỜI ẤY !!!

Những điều ấy vượt quá trí tuệ  con người nên nhiều môn đệ  than vãn :

- Lời này khó nghe quá!! ai mà hiểu cho nổi !!!

Họ bỏ đi không theo Chúa nữa , đông đến nổi  Chúa phải đặt vấn đề với số Mười Hai :

- Còn các con cũng bỏ Ta chăng ?

Đúng vào giây phút này chính Phê Rô đại diện anh em mà tuyên xưng :

- Lạy Thầy ... BỎ THẦY RỒI CHÚNG CON ĐI THEO AI ????  THẦY CÓ LỜI MANG LẠI SỰ SỐNG!!!

Chính vì thế nhiều người   sẵn sàng lìa bỏ tất cả : tiền tài, danh vọng , tiếng tăm ; MỘT MỰC  đi theo Ngài  đến  thế kỷ Hai Mươi Mốt và dài dài cho tới tận thế...

************

Từ  đầu Chúa sai nhóm Mười Hai đi rao giảng Tin Mừng Cho KHẮP THẾ GIỚI !!! Ai mà tin được Phúc Âm đã loan ra khắp trái đất bắt đầu chỉ bởi Mười Hai con người bé nhỏ với tất cả mọi yếu đuối, mỏng dòn của thân phận !! Nhưng do chính Thiên Chúa tạo dựng nên thay vì tàn lụi , Giáo Hội đã vững vàng và ngày càng phát triển như Chúa phán:

- Này con là ĐÁ , trên Đá này Ta xây dựng Giáo Hội Ta mà LỬA HOẢ NGỤC CŨNG KHÔNG LÀM GÌ ĐƯỢC !!

Cho nên dù đôi khi  người cầm đầu là một nhân vật không xứng đáng  ( như G.H Alexander VI có 7 con hay nhiều gương mù gương xấu ở cấp độ cao nhất )  Giáo Hội vẫn tồn tại phát triển  . Người ta có quyền tin  vào phần lớn nhờ công lao cầu nguyện của CÁC GIÁO DÂN HOÀN VŨ, những con người bé mọn nhưng niềm tin của họ thì sắt đá ...

Kế đến là do máu của những ĐẤNG BẬC sẵn sàng đổ  ra để tuyên xưng niềm tin   - Đặc biệt ở Việt Nam -  Ai không sợ chết ? ai dám chấp nhận bị tùng xẻo ? nhưng thà chịu tùng xẻo ( một tiếng trống cắt  một miếng thịt, hình phạt theo phong kiến Trung Hoa ) còn hơn phản bội Đấng đã chịu chết trần truồng trên cây Thập Giá vì mình ?

Thời WWII người ta biết đến câu chuyện Linh Mục Maximilian Kolbe ( người Ba Lan ) tình nguyện chịu xử tử  thay cho bạn tù với lý do thật giản dị :

- Tôi là Linh Mục Công Giáo , tôi độc thân , trong khi người bạn này  còn có gia đình vợ con...

Chỉ huy trại mặc dù rất ngạc nhiên nhưng chấp thuận lời khẩn cầu  . Họ cố tình bỏ đói nhưng Ngàì vẫn sống . Khi lính gác ngang qua nơi đó ( Conex ?)  vẫn nghe tiếng ca hát cầu nguyện sang sảng cho tới khi họ đè Ngài xuống tiêm thuốc độc...

Ai người Việt Nam lại không biết đến hai vị Linh Mục đặc biệt có cùng Tên Thánh ; cha Phan Xi Cô Xavi-ê TRƯƠNG BỬU DIỆP và Hồng Y Phan Xi Cô Xavi-ê NGUYỄN VĂN THUẬN (cùng đang được xét để phong Thánh ) . Đặc biệt cha Phan Xi Cô  những người không phải Công Giáo cũng thành tâm chạy đến cùng Ngài . Riêng Hồng Y Phan Xi Cô khi đang bị biệt giam VC đã không dám để quản giáo tiếp xúc với Ngài vì họ thấy sau một thời gian các quản giáo đều có khuynh hướng muốn XIN RỬA TỘI !!! . Ngài nổi tiếng Dâng Lễ với MỘT GIỌT RƯỢU và BA GIỌT NƯỚC trong biệt giam . Ngài còn nổi tiếng về tác phẩm ĐƯỜNG HY VỌNG .

****************

Kế bên Nhà Thờ chính là một Nhà Nguyện nhỏ . Trong Nhà Nguyện có đặt Mình Thánh Chúa cho giáo dân thờ lạy (Blessed Sacrament Adoration : Chầu Thánh Thể ? ) hai mươi bốn giờ một ngày  ; nghĩa là cần đến 336 guardians một tuần , kể cả  Thứ Bảy, Chúa Nhật và ngày lễ ( trừ khi tuyết thật lớn) . Thông thường cần hai guardians cho một tiếng đồng hồ trực nhưng cuối cùng chỉ còn  một . Tuy nhiên giáo dân tin rằng nhờ  sự can thiệp từ trời nên lúc nào nhà nguyện cũng đủ người hiện diện bất kể tình trạng giáo dân di chuyển nơi khác, giáo dân qua đời , giáo dân lớn tuổi không đủ sức khoẻ . Có ngày gần hai chục giáo dân chen chúc quỳ bên nhau ,số lượng người thăm viếng không ngớt đôi khi chỉ vài phút đồng hồ , vì giáo dân không đành lòng để Chúa cô đơn dù một giây trong Nhà Nguyện .

Đặc biệt  giới trẻ, đủ màu da cả trai lẩn gái lúc nào cũng hiện diện( ít nhất một người ). Những cặp vợ chồng tay dắt đứa con vài tuổi, tay đẩy xe em bé sơ sinh thăm Chúa năm mười phút . Và những anh chị em người Ấn Độ  gây nhiều ngạc nhiên với lòng mộ đạo của họ . Cứ tưởng người Ấn chỉ theo đạo Hindu nhưng  ở Nhà Nguyện họ đến với Chúa  rất sốt sắng . Khu vực này họ theo Công Giáo rất đông...

Truyền thông ( youtube) dạo này  xoay quanh những phép lạ phát xuất từ Mình Thánh Chúa . Họ hoài nghi về  niềm tin Công Giáo  khẳng định đó chính là Thánh Thể Thiên Chúa . Rõ ràng theo con mắt người đời bánh và rượu không biến hình  kể cả sau khi Linh Mục đã đọc lời truyền phép . " Con mắt người đời " thấy như thế nhưng với " con mắt Đức Tin " của người Công Giáo; thật sự đã trở thành Thánh Thể và Bảo Huyết của Thiên Chúa .

 Nhưng làm thế nào , dựa vào đâu  người Công Giáo TIN và KHẲNG ĐỊNH như thế ?

Họ tin vào LỜI THIÊN CHÚA !!! Bởi vì CHÍNH THIÊN CHÚA đã phán  :

- Tất cả các con hãy lãnh nhận mà ăn , này là MÌNH TA sẽ chịu nộp vì các con...

Rồi sau bửa ăn tối Ngài cầm chén , tạ ơn Thiên Chúa trao cho các môn đệ mà phán :

- Tất cả các con hãy lãnh nhận mà uống , này là CHÉN MÁU TA ...

Mọi sự  phát xuất từ Thiên Chúa đều trở thành SỰ THẬT và LUẬT . Do đó người Công Giáo không cần chứng cớ , họ tin vào Thiên Chúa . VẬY LÀ ĐỦ !!!!

Những anh chị em bước vào Nhà Nguyện thường sấp mình xuống đất ( hay quỳ gối) kính cẩn thờ lạy ,  họ biết mình họ đang đối diện với ai ? nếu  chỉ coi đó một mảnh bánh ( như người đời quan niệm ) hẵn họ đã chẳng  thành kính đến như vậy !!! không ai bắt buộc trừ ĐỨC TIN mà Thiên Chúa Thánh Linh  đặt vào lòng họ !!

Những gì Chúa Giê Su giảng dạy khi chưa bị treo trên Thập giá được mọi người tiếp thu như một sứ giả từ trời , thậm chí môn đệ Ngài còn không tin Ngài sẽ sống lại sau ba ngày nằm trong mồ tối {[ " môn đệ CƯNG " của Ngài cùng chạy với Phê Rô đến mộ Chúa qua lời thông báo từ Mary Magdalena "Người ta đem xác Chúa đi đâu mất rồi !! " , tới mộ trước mà không dám vào phải chờ Phê Rô (tới sau ) vào trước vì không hiểu - hay không tin ??-]} . Nếu Chúa không sống lại  người ta cũng sẽ xem Ngài như nhà Hiền Triết hay " Đặc Phái Viên " của Thượng Đế  không hơn không kém…Một ngày gồm hai mươi bốn giờ , mỗi giờ đều có ít nhất một tình nguyện viên ngồi làm bạn với Thánh Thể  kể cả ngày lễ hay ngày tuyềt . Tôi đã có nhiều lần nói chuyện với họvà không ai cảm thấy mệt mỏi hay chán nản . Diều mừng là ngày càng có nhiều người trẻ tham gia .

Họ tin họ đang ngồi trò chuyện với Thiên Chúa bằng xương bằng thịt trong Mình Thánh. Nhiều người xác định họ không cần bất cứ một dấu hay phép lạ nào để tuyên xưng . củng cố  haytáixác nhận về diều này . HỌ biết đó là sự thật vì được chính Thiên Chúa Ngôi Con đã phán ra /. Họ suy luận dợn giản như thế này :

Bởi vì Đức Giê Su lá Thiân Chúa  , những g ìNgài phán ra trở thành LUẬT và SỰ THẬT ( KHông cần phải chứng minh gì hết)

Ngài đã dề cập về Mình Máu Ngài một lần trước đám dông

- NẾu anh em không ăn thịt và úống Máu COn NGƯỜI anh em không có SỰ sống thật , vì Thịt Tôi là của ăn thật và Máu Tôi là của uống thật. Đám Đông dã phê bình và bỏ Ngài   " Thầy nói diều này khó nghe quá ai hiểu cho dược

VÀ trong dêm TIệc Ly Chúa lập lại :

-Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn này là MÌNH TA sẽ CHỊU nộp vì các con . và NÀy là CHén Máu TA Máu Tân Ước vĩnh Cửu sẽ đổ ra cho các con và nhiều người dược tha tội . Hãy làm việc này mà nhớ đến ta .

Chỉ Như vậy là đủ mà không cần bất cứ phép hay dấu lạ nào khác. Và họ tuiyệt đối chính xác.

Chính sự sống lại của Chúa Giê Su  đã đóng dấu ấn vào những gì Ngài từng phán dạy là SỰ THẬT :

- Về Thiên Chúa Ba Ngôi " Hãy đi giãng dạy, làm phép rửa, đưa mọi người về làm môn đệ Ta Nhân Danh CHA và CON và THÁNH THẦN ”

- Về tình yêu của Thiên Chúa " Thiên Chúa yêu thương con người đến nổi thí mạng sống CON MỘT NGÀI hòng cứu chuộc tội lổi nhân loại "

- Về bản thể Thiên Chúa của Ngài " CHA và TA LÀ MỘT "

- Về sự sống lại của Ngài " ....Bị giao nộp cho người La Mã , bị đóng đinh và chết trên cây Thập Giá , nhưng sau ba ngày SẼ SỐNG LẠI !! "

Và những ghi lại trong Phúc Âm sẽ tồn tại mãi mãi theo thời gian cho đến ngày tận thế khi phát xuất  từ Thiên Chúa như Thánh Phê Rô đã than thở  " Bỏ Thầy chúng con biết đi theo ai ? vì Thầy có Lời Hằng Sống “

Viết THêm một chút:

Trong tất cả những lời cầu xin , có một lời cầu xin - bất kể là khó khăn cở nào Thiên Chúa không bao giờ từ chối . Đó là lời cầu xin của Trinh Nử Rất Thánh Mẹ Thiên Chúa MAria. Dặc biệt những người từng ở tù VC sau năm 75 thường có nhiều kinh nghiệm về vịệc cầu xin cùng mẹ. Hãy nhớ đến tiệc cưới Cana , dù chưa đến giờ Thiên Chúa vì Lời van nai của Mẹ đã ra tay hành động .

Nhưng người ta không chỉ cứ xin Mẹ mà phải hợp tàc với Mẹ , làm theo lời Mẹ dạy , nhất là những chỉ dẫn của Mẹ ở Fatima . Cũng như phại hợp tác với Thiên Chúa , nhìn nhận tội lổi của mình ăn năn chạy dến xin Thiên Chúa tha thứ và thương xót . Người VN nào cũng mong có ngày dất nước mình không còn bóng dáng CS và mình có thể trở về quê hương  tự do , hạnh phúc .  Hãy xin Mẹ cầu nguyện cho chúng ta, ròi tất cả sẽ  thành hiện thực ,

Hãy nhớ lời hứa của Mẹ : cuôi cùng Trái Tim của Mẹ Sẽ Chiến thắng

Thế giới quên mình đang hưởng một hanh phúc quá lớn trên trời . Chúng ta có một bà mẹ dầy quyền năng . Bởi vì danh hiêu nào Thiên Chùa cò thể ban phát cho con nười thìNgài dã ban hềt cho mẹ . Nử Vương của trời dất, các thần thánh . Và co lẻ tước hiệu Mẹ yêu thích nhất chính là tước hiệu mà Con Mẹ dã phó thác cho Mẹ khi Ngài đang treo mình trên Thập Tự ; " Mẹ Thiên Chúa và Cũng là Mẹ Con Người " Khi ngài trau phó thánh Gioan vào Tình yêu ME.

 Và dúng như thế : Mẹ Đã yêu thương CON Thiên Chúa của Mẹ như thế náo , Mẹ cũng yêu con người hẹn mọn bé nhỏ chúng ta như thế . Còn hạnh phúc náo bằngkhi dược gọi Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ của Mình . " Chưa từng nghe nói có con cái nào chạy dến cùng Mẹ mà Mẹ Từ bỏ chẳng nhậm lời ' . Nhất là những anh cựu tù VC . Hãy dùng kinh Mân Côi mả tâm sự , cầu nguyên vơi Mẹ , dùng kinh Mân Côi dể vinh danh cảm tạ Thiên Chúa và Mẹ .

hãy suy nghĩ đơn giản như thế này ; cá nhân , gia dình , xả hội xua đổi thiên chúa ra khỏi dời mình thì cái gì sẽ tràn tới : Thiên Chúa là ánh sáng  , nếu ánh sáng biến mất thì bóng tối sẽ tràn ngập . Con người-nhất là người VN dã có qúa nhiều kinh nghiệm với bóng tối : Chiến tranh , nghèo dói, chia lìa, dau khổ, tù tội .

Đây là lúc hãy mời gọi Thiên Chúa trở lại trong dời sống của mình . Hãy sử dụng nhiều thời gian trên hai dầu gối để xin lổi Thiên Chúa, dể Thờ lạy Ngài, để tôn vinh danh cực thánh Chúa qua lời cấu bàu của một Phụ NỬ Thiên Chúa chưa bao giờtừ chối   dù lời cầu xin  khó khăn tới dâu . Hãy nhờ Mẹ cầu xin cho Tổ Quốc Dân tộc mình . Cho một thế giới vang vang lời ngợi khen Thiên Chúa, Sự  yên bình cho từng tâm hồn từng gia dình và hãy nhớ lời tuyên xưng của Tổng lãnh Thiên Thần Gabriel : Không có việc gì Thiên Chúa lại không làm dược ' Và lời Chúa Giê SU khẳng dịnh với marTHa trước mộ của Anh trai :

- Không phải Ta đã dạy các con rằng nếu các con tin các con sẽ chứng kiến nhiều việc tkỳ diệu hay sao ?

Và sau đó lagia Rô người dã chết bốn ngày dã sống lại bưốc ra khỏi mộ.

 Niềm ước mơ thầm kín trong tâm hồn tưng người VN trong cũng như ngoài nước cuôi cùng rồi sẽ thành sự thật nếu chúng ta giao phó mọi sự trong sự quan phòng của Thiên Chúa qua lời cầu bào của Mẹ Maria.


Nguoiviettudo

 

Mẹ Vào Cõi Mơ - Đỗ Công Luận

Thuyền Đắm Giữa Khơi - Tràm Cà Mau

Thỉnh thoảng, lúc mười hai giờ đêm, khi công trường xây bệnh xá cho đảo tị nạn Pulau Bidong ngưng việc, chúng tôi đốt một đống lửa lớn, ngồi quanh kể chuyện quê hương, hát hò đàn địch, cho đến khi không còn ai thức nổi nữa mới ra về đi ngủ. Đêm nay anh Nam kể một đoạn đời của anh:

“Khi chuẩn bị cho chuyến vượt biên đã kỹ càng, chúng tôi sẵn sàng ra đi. Dầu chạy máy cũng chôn dấu được nhiều hơn số cần dùng vì sợ thất lạc và hao hụt. Chỉ chờ thời tiết tốt là đón người, khởi hành. Bạn tôi không tin vào thiêng liêng, nhưng cũng nấu xôi, gà cúng để xin thánh thần phù hộ cho phút cuối đừng có gì xui xẻo xảy ra. Tôi cũng không tin, nhưng không dám chế giễu hoặc nói đùa. Chứ thánh thần nào mà ăn hối lộ xôi, gà? Thánh thần có thương thì chẳng cần hối lộ gì cả.


Sau buổi cúng, không biết vì rau ráng không sạch, hay vì thịt gà để nguội bụi bặm, đêm đó tôi đau bụng tháo dạ đi cầu. Tôi lần mò ra nhánh cây bổ vắt trên con kinh mà thả xuống lõm bõm, làm lũ cá vấy nước dành ăn kêu soàn soạt. Khuya không trăng, không sao, trời lành lạnh, tôi mồi thuốc hút làm đóm lửa bập bùng. Bỗng tôi nghe nhiều tiếng chân đi trên bờ, và nhiều tiếng thì thầm; tôi tưởng là du kích đi tuần ban đêm. Nhưng không phải, họ là đám người vượt biên đang trên đường đi đến điểm hẹn xuống thuyền. Họ thấy đóm thuốc liền kêu tôi tụt xuống cây, và bắt tôi đi theo luôn vì sợ bại lộ bí mật. Tôi năn nỉ, xin cho lui, hứa sẽ im lặng, vì tôi cũng còn nhiều việc chưa xong, không thể ra đi được. Họ không còn nhiều thì giờ để suy nghĩ, bắt tôi phải đi theo. Tôi nói cho họ biết, thời tiết lúc này chưa thuận tiện để ra khơi, tôi biết rõ vì có theo dõi tin tức khí tượng. Họ thấy tôi cù nhầy lôi thôi quá, có người hăm: “Cho nó một phảng, xô xuống kinh khỏi bận trí.” Tôi sợ, và im miệng, họ trói tay tôi đem đi. Thật là khôi hài; khi tôi muốn đi, thì không được, và còn phải tốn nhiều vàng bạc may ra mới chịu cho tham gia. Bây giờ tôi chưa muốn đi, thì bị bắt theo. Tôi tiếc công chuẩn bị và tổ chức bấy lâu cho chuyến đi sắp đến, nhất là trách nhiệm với những người mà tôi đã hứa hẹn đem họ đi. Tôi là người chủ chốt, thiếu tôi thì không biết chuyến đi có còn chu đáo, tốt đẹp như dự định không, nhưng chuyện vượt biên là may rủi không chừng. Có khi thật chu đáo, thì thất bại, có khi tổ chức đơn sơ lộ liễu, thì lại thành công. Bị bắt đi theo nhóm này là một chuyện may mắn hy hữu cho tôi nếu chuyến đi thành công. Còn thời tiết không tốt, thì tôi không ngại. Bão bùng đâu có đáng kể. Tôi bị xô lên thuyền lớn với đôi tay bị trói và nằm yên trong khoang. Nếu bị công an bắt, chắc tình trạng bị trói cũng chẳng giúp được gì cho tôi, vì Cộng Sản không bao giờ xét đến trường hợp cá biệt. Cứ trên tàu vượt biên là đi vượt biên, không lôi thôi gì cả. Nếu khai là bị bắt buộc đi, chúng còn không tin, thêm nghi ngờ, và không chừng án lại thêm nặng, hoặc không giải quyết được, cứ để cho dây dưa mãi, không có ngày về. 

Chưa bốc hết người thì bị bại lộ, thuyền phải rời bến và bỏ chạy. Nhiều gia đình thất lạc nhau, kêu khóc om sòm. Thuyền xả hết tốc lực, chạy dọc sông, thoát ra cửa biển. Trạm gác bên bờ bắn súng kêu vào để xét, thuyền cũng bỏ chạy luôn. Thuyền nhẹ chạy băng băng. Đạn bắn theo như mưa rào. Không hiểu vì đâu, chúng không cho thuyền đuổi theo. Có lẽ chúng tôi gặp may mắn.

 

Thuyền chạy thẳng ra biển khơi về hướng đông, đáng ra phải xuôi về phía nam, cần thoát hiểm trước đã. Sống dồn cao ngất. Đúng là biển đang động. Bão tố đang cuồng nộ đâu đó trên vùng biển đông nam Thái Bình Dương. Thuyền lắc lư vật vờ trên ngọn sóng. Những người yếu sức đều nằm mẹp, nôn thốc nôn tháo ra nước xanh, nước vàng. Thuyền nồng nặc mùi hôi hám. Sau khi thoát lưới công an, bà con hoàn hồn, kiểm điểm lại mới biết chủ tàu và gia đình chưa đến kịp, bị bỏ lại đằng sau. Chỉ có người con trưởng của chủ tàu, vì phải lái thuyền đáp bến, nên chỉ đi được một mình, vợ con anh cũng chưa đến kịp. Nhiều người khác cũng đồng hoàn cảnh. Trên thuyền chia làm hai phe, một nhóm đòi quay về, nhóm khác, gồm các sĩ quan cải tạo, nhất quyết ra đi. Vì vậy, nên thuyền chạy lui chạy tới mãi trên một quãng đường. Khi nhóm quân nhân lái, thì thuyền đi về phía Nam Dương; khi nhóm của con chủ thuyền lái, thì bí mật quay về.

 

Biển vẫn điên cuồng gầm thét dữ dội. Nhiều lúc thuyền bị đưa lên cao, tưởng như lơ lững giữa thinh không, rồi ném mạnh xuống kêu răng rắc, như thân ván uốn mình bể nát. Bà con nào còn chút tỉnh táo thì cầu nguyện liên hồi. Cộng thêm với cái sợ bão tố, nhóm lạc vợ, lạc chồng, lạc con có thêm nhiều lý do để đòi quay về. Tôi đã được cởi trói, và đứng theo phe ra đi, vì quay lại là nắm chắc phần đi tù. Hai phe tranh chấp dữ dội, có khi gần như sắp xô xát. Tôi linh cảm sẽ gặp khó khăn, kiếm một cái bình nhựa làm phao, kiếm dây cột chắc lên người. Một người giễu tôi là liệu với cái phao đó, tôi bơi được qua biển? Tôi thoái thác là nếu có bị sóng đánh rơi ra khỏi thuyền, thì cũng không đến nỗi chết đuối ngay. Cuộc tranh chấp của hai phe chấm dứt khi thuyền chết máy, bập bềnh giữa biển khơi. Không ai biết là thuyền đã ở nơi nào trên biển. Người thì đoán là đã ở trong vịnh Thái Lan, người thì cho rằng đang ở gần Côn Sơn. Thuyền cứ trôi theo từng đợt sóng dài. Thợ máy cố sửa chữa nhưng anh có vẻ vụng về thiếu kinh nghiệm. Có người bảo đó là thợ máy “dổm”, nghe đâu anh ta chỉ là thợ sửa xe gắn máy loại tài tử. Muốn được đi nên xưng đại là thợ máy.

 

Một buổi chiều, biển lặng im không một gợn sóng. Không một thoáng gió. Chiếc thuyền nằm im lặng giữa mênh mông. Nhiều người tỉnh lại, bớt say sóng. Họ mừng, có người vừa mừng vừa sợ, mừng vì biển êm, sợ vì không có gió thì thuyền bất động biết bao giờ mới dạt đến bến bờ. Nhưng tôi lo lắng thật sự, không dám nói ra. Trong mắt con ông chủ tàu cũng đầy ánh âu lo. Nhìn quanh bốn bề chân trời chấm xuống biển bao la. Tôi gỡ thêm mấy lưỡi câu và sợi dây cước bọc vào túi quần. Đúng như tôi lo, khi trời sẩm tối, cuồng phong kéo đến, sóng đùa cao ngất, nhồi con thuyền mong manh như chiếc lá. Sóng lên cao như ngọn đồi và tiếng gió hú ghê hồn. Thân thuyền kêu răng rắc, các mối nối long ra, nước ào ào từ đáy thuyền phun lên. Rồi con thuyền bị vỡ toang giữa tiếng sóng gió gào; tiếng kêu con người bị át hẳn.

Tôi tự xem như cuộc đời chấm dứt nơi đây, không có gì mà hoảng hốt, không thể nào làm gì hơn. Nhưng tôi không buông xuôi, vì bản năng sinh tồn còn mạnh. Tôi ôm chặt lấy mảnh ván thuyền lớn, dù trên lưng tôi còn buộc chặt cái phao nhựa. Nhiều lúc bị sóng vùi rất lâu trong nước, tôi rán nín thở, và nhớ thời còn bé hay đi tắm sông, lặn đua với bạn bè xuống đáy sâu. Sóng gió thét gào. Có chết cũng thôi, tôi chỉ tiếc chuyến đi đã chuẩn bị kỹ, chờ thời tiết tốt là lên đường, mà bị bắt theo những người này. Họ tổ chức đã kém, mà còn không biết gì về thời tiết. Tôi chiến đấu nhiều giờ với sóng vùi gió dập. Khi mỏi quá, tôi muốn ngất đi; tấm ván rời khỏi đôi vòng tay, nhưng cái phao nhựa còn buộc chặt trên người. Nhiều lúc tôi mê man, không biết gì, có khi trong lúc mơ hồ tôi biết mình đang bồng bềnh trên sóng. Lúc mệt quá, tôi buông xuôi, muốn chết đi cho khỏe. Cơn bão tố kinh hồn kéo dài đến khuya hôm đó.

 

Rồi gió và sóng lặng rất mau; cuối cùng tôi bị dạt vào một bãi cát. Tôi nằm liệt, không cử động được, trí óc mơ hồ và thiếp đi rất lâu cho đến khi trời sáng thì tỉnh dậy. Vừng thái dương đỏ ối vừa nhô khỏi chân trời ở phương đông. Ánh sáng ban mai vã vào mặt ấm áp. Tôi phải tập cử động từ ngón tay, rồi bàn tay, và tự xoa bóp khắp người, một lúc sau mới có thể chống tay ngồi dậy được. Tôi gắng quan sát chung quanh, không biết mình đang ở đâu, nhưng mơ hồ đoán được là đang ở trên một hòn đảo. Nếu ở đây cũng có chính quyền Cộng Sản, và bị bắt lại thì thà chết giữa biển còn hơn. Thôi thì đành liều, nếu có ở tù, thì cũng sẽ tìm cách vượt ngục, còn có cơ hội đi lại nữa. Nghĩ đến đó, tôi thấy mình thêm hăng hái. Tôi ráng lết vào một lùm cây để ẩn nấp. Bắt mấy con dã tràng nhỏ bỏ vào miệng nhai sống, ngon như ăn mỹ vị. Tôi liếm nước mưa đọng trên lá cây, ngọt như nước đường. Tai tôi lắng nghe, tìm xem có tiếng động sinh hoạt của loài người hay không. Chắc cũng có nhiều người dạt vào đây như tôi. Tôi cẩn thận nhìn quanh, rồi đi vòng theo bãi cát, khom người như đi phục kích. Đi chừng một tiếng đồng hồ, thì tôi bị dốc đá dựng đứng cản đường. Tiếng chim kêu xôn xao trên đỉnh cao. Chưa thấy một dấu tích sinh hoạt nào của con người trên đảo, và tôi chợt lo. Lẽ nào mình trở thành anh chàng Rô Binh Sơn (Robinson Crusoe) sống một mình ngoài hoang đảo như câu chuyện tôi thích thú đọc đi, đọc lại thời thơ ấu. Anh chàng Rô Binh Sơn còn có một số dụng cụ cần thiết, tôi đây thì chỉ có tấm thân và cái phao nhựa. Cảm thấy đói bụng vô cùng, nhưng không có gì ăn. Cá thì lội tung tăng từng đàn, nhưng với tay không, tôi còn chưa nghĩ được cách bắt. Tôi dùng cuội lớn, đập mấy con sò dính vào đá tảng, móc thịt sò ăn sống. Giá mà có chút chanh, chút muối và chai đế thì hưởng lạc có thua chi thi sĩ Tản Đà. Tiếng đập của tôi vang dội lên vách đá vọng lại mồn một, làm tôi lo. Khi đã bớt đói thì tôi đâm lo. Tiếng đập vang sẽ tố cáo tôi hiện diện nơi đây. Tôi đi sâu vào lùm cây, tìm một nơi kín đáo um tùm tạm thời ẩn nấp và nghĩ ngơi.

 

Nằm trên nhánh cây, tôi suy nghĩ, sắp đặt chương trình hành động đối phó với các trường hợp có thể xảy ra. Cùng lắm là bị bắt, khi đã chấp nhận có thể bị bắt rồi, thì lòng tôi lắng xuống. Nếu nơi đây có người ở, và có chính quyền Cộng Sản, thì tôi phải tiếp tục trốn tránh, rồi tìm cách, lấy một chiếc thuyền đi về đất liền, nhưng giờ thì phải tránh sao cho khỏi bị bắt trước đã.

 

Đã ở tù Cộng Sản một lần rồi, tôi ngán lắm. Trưa hôm đó, tôi leo lên đỉnh đá cao nhìn xuống, thấy xa xa bên kia, có bóng cây dừa, và hình như có bãi cát bằng. Tôi cẩn thận đi về hướng bãi dừa, đi rất chậm, nhìn quanh dò xét đặt từng bước, vạch cây, vén lá, cố không để lại dấu vết nào. Khi qua một quãng đất trũng, tôi thấy cả một vường khoai mì, có vẻ như mọc hoang, nhưng nhiều gốc mì trốc đất nằm ngổn ngang. Đúng là đảo có người ở. Tôi yên lặng nằm sát đất có cây cỏ cao che kín, đợi chờ xem có gì lạ không. Chỉ có tiếng chim kêu và mấy con sóc chuyền từ cành này qua cành khác.

 

Tôi ra rìa đá, nhìn xuống xa xa, thấy có căn chòi lá nhỏ, và một bóng người thấp thoáng. Tôi yên lặng quan sát và rình xem sinh hoạt động tĩnh. Bóng người đi vào căn chòi rồi khuất dạng. Tôi chờ đợi thêm nhiều tiếng mà không thấy gì, bèn đi vòng quanh, cố tìm hiểu dân số và tổ chức chính quyền trên đảo. Nhưng hình như chỉ có căn chòi duy nhất đó mà thôi. Tôi quay lại vườn khoai mì, dùng nhánh cây nhọn đào được mấy củ lớn, bóc vỏ và ngâm vào vũng nước cho bớt chất nhựa, rồi cẩn thận ăn thật ít, ăn thật chậm. Kinh nghiệm ở tù cho tôi biết say khoai mì có thể tán mạng dễ dàng. Thế này thì cũng không lo đói. Tôi leo lên nhánh cây có lá phủ kín nhìn xuống căn chòi, biết đâu đó là trạm canh gác của công an biên phòng Cộng Sản. Không biết vùng này thuộc lãnh thổ nước nào, Việt Nam, Cao Miên hay Thái Lan? Buổi chiều, khi nắng phai màu, tôi thấy có thêm hai bóng người nữa đi về căn chòi. Ba người ngồi trên tảng đá, hình như họ đang ăn và nói chuyện. Bóng chiều xuống dần, tôi tự họi, không biết mấy người này làm gì trên hoang đảo, họ là ai, có nhiệm vụ gì.

 

Hoàng hôn dần dần phủ lấp hải đảo. Khi trời tối hẳn, tôi lom khom đi về phía căn chòi, cố gắng để không gây tiếng động. Cố thở thật nhẹ, và chỉ di chuyển khi có gió gây tiếng động xào xạc trong tàn lá. Tôi nằm yên nghe ngóng. Họ đang nói chuyện, tôi chỉ nghe loáng thoáng tiếng nói mà không biết họ dùng ngôn ngữ nào. Khi ba bóng người đi vào căn chòi, thì tôi cũng quay trở lại hướng núi đá cao, tìm một nơi ngủ qua đêm. Gió quá, tôi lần xuống bãi cát đào một cái hố chắn gió, và nằm ngủ ngon giấc. Suốt một ngày lo lắng, mệt nhọc, tôi ngủ thật say, gió biển lành lạnh. Sóng đập rì rầm, tôi nằm mơ thấy mình đang đi ngữa Sàigòn vào thời Cộng Sản chưa chiếm đóng.

 

Sáng dậy, tôi xoá dấu tích của mình trên cát, và vào rừng cây rậm ẩn nấp. Cái phao nhựa thành bình đựng nước. Tôi đập vỡ một số sò bám trên mặt đá, ăn với khoai mì sống đã được ngâm nước từ hôm qua. Leo lên dốc đá, tôi nhìn xuống căn chòi rình rập. Mấy cây dừa sai trái, thân cao vút, làm tôi thèm lắm, nhưng không biết làm sao hái được. Đã là dân thành thị không biết leo trèo, lại còn phải ẩn nấp dấu diếm, thì mong chi có dừa ăn. Nhưng dù sao đi nữa, đêm nay tôi sẽ cố gắng, tìm cách leo thử. Hình như đã có lần tôi thấy người ta dùng một vòng dây máng vào hai chân, móc quàng qua thân cây mà leo lên dần. Tôi cẩn thận đi vòng xuống bãi bên kia, thấy rau lang và giàn dưa leo. Tôi hái dưa ăn, dưa thơm và ngọt lịm như tôi chưa từng ăn bao giờ, tôi bỏ thêm mấy trái vào túi quần và thử mò xuống cát xem khoai lang đã có củ chưa, nhưng chỉ thấy toàn dây và rễ nhỏ.

 

Có lẽ vì ăn quá nhiều khoai mì sống, buổi trưa tôi thấy say say và buồn ngủ. Tôi nằm dài trên tảng đá bằng phẳng, đánh một giấc ngon lành, không biết ngủ được bao lâu. Đang nằm ngủ mê man, bỗng tôi chợt thức giấc và có linh cảm như ai đang nhìn mình. Tôi vùng ngồi dậy khi thấy có đôi mắt nhìn sát vào mắt tôi. Tôi chợt nhận ra một chú bé chừng mười lăm tuổi. Nó hốt hoảng thối ui, và vấp chân té ngửa. Nhanh như chớp, một viên đá lớn từ xa bay đến đánh bốp vào đầu tôi, làm tôi ngã xuống, hai tay ôm đầu rên rỉ, máu chảy ướt tay. Trán tôi sưng vù như quả ổi, đầu nhức nhối, cố gắng chống tay dậy, nhưng không dậy nổi. Chuyện gì xẩy đến đây. Dân làng họ có bắt tôi giao cho chính quyền không? Tôi chợt ân hận đã hớ hênh nằm ngủ quên. Tôi nằm quằn quại trên tảng đá. Thôi thì đành liều. Có bị bắt thì sẽ tính sau. Tôi nghe đối thoại bằng tiếng Việt, giọng rất khó nghe, mới hiểu rằng, chị cậu bé tưởng tôi tấn công, nên ném đá yểm trợ cậu em. Một lúc sau có tiếng đàn ông, và tôi được đắp lá nhai dập lên vết thương. Tôi hé mắt nhìn, thấy một người đàn ông tóc tai phủ ra sau vai, râu ria xồm xoàm như người vượn, mặt sạm đen, đóng một cái khố nhỏ bằng da thú, chỉ có đôi mắt sáng đợm ánh lạ kỳ. Cả ba người đều đóng khố, thân trên để trần. Có lẽ thổ dân trên đảo, hoặc giống dân thiểu số trong vùng này. Khi bớt đau đớn, tôi cho họ biết là bị đắm tàu, dạt vào đây. Họ dìu tôi về căn chòi mà hôm qua tôi rình rập dò xét. Chú bé đưa cho tôi nước uống trong chén vỏ dừa. Người đàn ông tự giới thiệu là ông Tư, sinh quán trên đảo này. Ông nội của ông Tư ngày xưa làm quan võ, phò tá vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở. Khi vua bị Tây bắt, ông cụ cùng một nhóm quan sĩ tiếp tục kháng chiến theo hịch cần vương. Sau đó, theo cụ Phan Đình Phùng khởi nghĩa kháng chiến trong nhiều năm. Cuối cùng, khi tan rã, cụ nội đem gia đình và một nhóm thuộc hạ xuống thuyền đi Xiêm La, nhưng gặp bão giữa đường, phải ghé lại đảo này. Sau đó không đi được vì thuyền chìm. Ban đầu có bốn gia đình lập cư. Dần dần chết hết, chỉ còn ông Tư và hai người con. Bà Tư trẻ hơn ông Tư chừng hai mươi tuổi, nhưng mất sớm.

 

Trên tường đá treo mấy cây kiếm và bao kiếm chạm trổ rất tỉ mỉ và đã hoen ố bụi thời gian. Không là chuyên môn, tôi cũng đoán ra được đó là những thanh bảo kiếm. Ông Tư cho biết, một trong những thanh kiếm là của ông Tôn Thất Thiệp, kiếm phò vua. Mấy đời cha ông, mong có cơ hội trở về đánh đuổi giặc Tây ra khỏi nước. Khôi phục gian sơn. Ông nói rằng, có lẽ đời ông không làm gì được nữa, chờ cho thằng Ba lớn lên, mong nó nối mộng cha ông. Ông thở dài não ruột. Thì ra, ông không biết gì về tình hình thế giới, tình hình đất nước trong gần tám mươi năm qua. Tôi chậm rãi cho ông biết, Tây đã về nước hơn hai mươi năm rồi. Bây giờ thì Cộng Sản cai trị đất nước, họ còn tàn bạo, khắt khe và áp bức hơn cả giặc Pháp. Nhân dân đau khổ và đói rét hơn cả thời nô lệ ngoại bang. Có lẽ ông Tư không hiểu nhiều về những lời tôi nói vì không lẽ dân mình cai trị nhau mà khắt khe tàn bạo hơn ngoại quốc thực dân. Nhưng ông cũng vui khi nghe giặc Tây đã ra đi, và theo ông, thì nay không còn băn khoăn, cánh cánh bên lòng vì lời di huấn của tổ tiên. Yên tâm sống. Ông không còn sợ tuyệt tự, không còn ai nối chí cha ông. Tôi cảm thương tấm lòng của ông Tư. Giấc mơ đuổi giặc Tây đã truyền qua ba đời mà vẫn chưa nguội lạnh. Tôi cũng mang một giấc mơ tương tự, đuổi giặc Cộng ra khỏi quê hương. Chính ông Tư cũng không biết tuổi tác của ông và cả hai con ông. Ngày tháng cứ trôi đi, không ai để ý đến thời gian. Cô Hai, theo tôi đoán thì xấp xỉ trên dưới hai mươi, và chú Ba, thì khoảng mười lăm. Thân mình cô Hai mảnh khảnh, chắc như tượng đồng. Mái tóc đen dài thả lỏng trên lưng. Vầng trán cao, bóng. Đôi mày cong che đôi mắt long lanh sáng, trong mắt như có nụ cười. Hai làn môi thanh tú. Cổ cô dài nối liền tấm ngực mà hai vú lớn cong ngược lên. Lưng thon, mông chắc chắn, đôi chân dài. Cô Hai chỉ đóng cái khố da thú nhỏ che ngang người. Chú Ba thì như con gà mới lớn, lỏng thỏng, dáng dấp vụng về, chỉ có đầu tóc dài không cắt làm cho thêm phần hoang dã.

 

Tôi được gia đình này đón nhận với lòng hoan hỉ. Ông Tư tường nhìn tôi với ánh mắt tràn đầy tình cảm dịu dàng. Cậu Ba quấn quýt quanh tôi, không rời nửa bước, và hỏi, nói đủ thứ chuyện. Phần cô Hai, thì rất tự nhiên, không có chút e lệ nào, hình như không biết phân biệt trai gái và có những đụng chạm cùng tôi, mà đôi khi tôi ái ngại. Để hoà hợp, tôi chỉ đóng cái khố nhỏ qua người. Tham gia sinh hoạt trong gia đình này. Tôi từ từ kể cho ông Tư nghe về diễn biến lịch sử xảy ra cho đất nước từ khi Tây chiếm Việt Nam, những phong trào khởi nghĩa chống Pháp, Đệ Nhất, Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật Bản vào, rồi Pháp trở lại, chiến tranh dành độc lập, Pháp rút về, tiếp theo là cuộc nội chiến gần 20 năm, Cộng Sản miền Bắc thắng. Dân niềm Nam không chịu nổi chính sách hà khắc bỏ nước ra đi. Ông Tư thì còn hiểu nhiều, chú Ba và cô Hai thì nghe, mù mờ, ngơ ngác. Tôi cũng bỏ nước trốn đi như ngày xưa cụ tổ của gia đình này, vì không chịu được giặc Pháp. Không phải chỉ mình tôi, cả nước muốn trốn đi, tránh cái chế độ khắt khe chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.

 

Tràm cà Mau

Tôi Yêu Người Ấy - NT2

Người Hạnh Phúc Và Người Bất Hạnh


 

From Kim Hoa Bà Bà

Tử Thần Tha Mạng Cháu Tôi – Tạ Hạnh Đức


 

Vào một buổi sáng đẹp trời ở miền Nam California, tôi tưới hoa xong rồi mở cổng ra sân trước lấy tờ nhật báo Los Angeles Time vào đọc, bỗng trên trang nhất đập vào mắt tôi với hàng tít lớn như sau: “The Survivor of War from Kuwait.” (Kẻ sống sót từ chiến trường Kuwait). Tôi đọc ngấu nghiến:

“Vào lúc chiến tranh Vùng Vịnh (năm 1991) đang sôi động, có một thanh niên Á Châu bước vào phòng tuyển quân tình nguyện đi chiến đấu ở Kuwait. Chúng tôi hỏi: Anh có nói đùa không nhưng người thanh niên ấy đáp: “No, sir!” (Thưa ông, không!) Chúng tôi đưa mẫu đơn cho anh ta điền vào như sau:

“Tôi tên là Tạ Quang Khiêm, 20 tuổi, sinh viên năm thứ hai tại đại học San José, California. Sinh quán tại Qui Nhơn, VN. Cha là Tạ Quang Khanh, nghề nghiệp giáo sư dạy Anh Văn tại trường Trung Học Cường Ðể, Qui Nhơn. Mẹ là Ðặng Thị Bạch Yến, giáo sư Pháp văn kiêm giám hiệu trường nữ trung học Qui Nhơn. Cha mẹ tôi đã qua đời.”

Ðọc đến đây tôi giật bắn người lên, đúng là tên họ của cháu tôi rồi, các cháu đã thất lạc và bặt tin từ ngày cha cháu qua đời tại San José năm 1977. Ðầu năm 1978 tôi mới qua Mỹ nhưng không tìm được tông tích các cháu, thư từ tôi gửi đến địa chỉ cũ đều bị trả lại mà nước Mỹ rộng mênh mông thế này thì biết tìm các cháu ở đâu? Thế mà… thế mà bây giờ tên tuổi cháu tôi xuất hiện trên trang báo này mà lại đi lính. Sao cháu không đi học mà lại đi lính? Mà lại tình nguyện sang chiến đấu tận bên Kuwait? Tôi ngồi thừ người ra suy nghĩ…


Tôi nhớ lại năm 1972, trong lúc Liên Trường Qui Nhơn có cuộc liên hoan đốt lửa trại tại sân vận động thì thình lình Việt Cộng ném sáu, bẩy trái lựu đạn vào giết chết 14 học sinh và Hướng Ðạo sinh và làm bị thương rất nhiều người. Mẹ cháu Khiêm là em dâu tôi bị miểng lựu đạn ghim vào tim chết ngay tại chỗ. Năm ấy Yến vừa tròn 30 tuổi. Em trai tôi là Khanh bị những miểng lựu đạn ghim vào khắp người, lủng bụng lòi ruột ra. 


Lúc ấy xe cứu thương trờ tới cấp cứu, em tôi ôm lấy mớ ruột trèo lên xe, những học sinh khác cũng chen lấn trèo lên nhưng Khanh nói: “Cho thầy lên xe với, thầy bị nặng lắm!” Ngay sau đó Khanh được đưa vào bệnh viện Thánh Gia và được các bác sĩ người Tân Tây Lan từ Cam Ranh bay ra chữa trị cho Khanh.

Khanh nằm điều trị mất hơn một tháng trời mới tạm bình phục. Thời gian em tôi nằm bệnh viện thì được canh gác cẩn mật vì sợ Việt Cộng vào ám sát vì em tôi nổi tiếng chống Cộng. Bác sĩ phỏng đoán em có thể sống được khoảng 10 năm nữa.


Ðầu năm 1975, em tôi đưa 3 cháu di tản sang Mỹ và định cư tại San José. Từ đấy lâu lâu em lại kêu đau lưng và được giải phẫu nhưng vết thương cũ làm độc, giải phẫu lần thứ hai thì em qua đời vào đầu năm 1977, như vậy là em chỉ sống được có 5 năm mà thôi.

Ðến đây tôi đọc tiếp lời khai trong hồ sơ đăng lính của cháu Khiêm:

“Tôi còn người anh tên Tạ Quang Khôi và em gái là Tạ Ngân Hà. Mỗi lần nghĩ đến cảnh mồ côi và cái chết của cha mẹ tôi thì tôi buồn không tha thiết gì đến việc học hành nữa. Tôi muốn nhập ngũ để quên, quên hết…”


Bài báo viết tiếp: “Khiêm được huấn luyện quân sự cấp tốc rồi gửi sang chiến trường Kuwait, đêm ấy Khiêm đi tuần với đồng đội tại biên giới Kuwait và Iraq trên xe thiết giáp. Một quân nhân da đen từ trong pháo tháp chui ra nói: ‘Khiêm, xin anh vui lòng vào ngồi giữ súng thay tôi một lúc để tôi ra ngả lưng chứ ngồi lâu trong này mỏi quá!’

“Khiêm vừa chui vào pháo tháp thì từ trên cao, phi cơ do thám của ta rót xuống xe tăng của mình mấy quả đạn lửa vì nghi là xe của địch quân. Khiêm mở được nắp pháo tháo chạy thục mạng ra một quãng xa rồi ngất đi không biết gì nữa. Người quân nhân da đen đã tử thương. Khiêm được đưa sang quân y viện Mỹ tại Frankfurth, Germany điều trị.”

Tôi đọc xong bản tin mà nước mắt giàn giụa ra, vừa thương hoàn cảnh của cháu lại vừa thương người quân nhân kia đã thế mạng cho cháu tôi. Ngay tối hôm ấy tôi xem TV thì thấy cháu tôi nằm trên băng-ca được hai quân nhân Mỹ khiêng ra xe đưa về Mỹ vì những vết phỏng đã được băng bó sắp lành. Ngay sáng hôm sau, tôi gọi đến tòa báo Los Angeles Time xin được nói chuyện với người nữ phóng viên đã viết bài báo trên nhưng cô ấy còn đang ở bên Ðức nên không liên lạc được cho đến khi cô ấy trở lại Mỹ bấy giờ tôi mới xin được số phone và địa chỉ của cháu tôi.


Tôi chẳng bao giờ quên được cái tin sét đánh ngang tai vào năm 1972: em trai tôi là Tạ Quang Khanh và vợ là Ðặng Thị Bạch Yến bị thương nặng lắm nên tôi đã vội vã từ Nha Trang đến Qui Nhơn thì thấy em dâu tôi được quàn giữa nhà. Em mặc áo đầm trắng dài phủ chân, chiếc áo giống áo cô dâu mặc trong ngày cưới, mắt nhắm nghiền như người ngủ. Chị Hoa, người giúp việc nhà bế cháu bé Ngân Hà ngồi một bên đang khóc sụt sùi… Chính những cô giáo dạy cùng trường với Yến đã may chiếc áo voan trắng ấy cho Yến và thay phiên nhau canh xác em ngày đêm. Các cháu bé, 4 tuổi, 2 tuổi và 1 tuổi ngơ ngác chẳng hiểu gì. Tôi vào bệnh viện thăm Khanh, em hỏi:

“Yến có sao không chị?”

Nhìn em băng bó đầy người tôi không cầm được nước mắt. Tôi nghẹn ngào nói dối em:

“Yến cũng bị thương đang nằm ở phòng bên kia. Cậu yên tâm tĩnh dưỡng cho những vết thương mau lành rồi về nhà với vợ con.”

“Thế nhà em có bị thương nặng không?”

“Không nặng bằng cậu.”

“Xin chị nói với bà Sơ cho Yến ngồi xe lăn sang thăm em được không?”

“Ðể chị hỏi xem. Thôi cậu nằm nghỉ đừng lo lắng nhiều, chị phải về với các cháu. Ở nhà chỉ có một mình chị Hoa.”


Hôm đám tang Yến, tất cả các giáo sư và học sinh liên trường đều tiễn đưa Yến đến nơi an nghỉ cuối cùng. Nhìn 3 cháu bé được ẵm trên tay đi sau linh cữu mẹ khiến không ai cầm được nước mắt. Hàng trăm vòng hoa cườm của các thầy cô phúng điếu với hàng chữ viết trên những dải băng tím vắt ngang: “Vô cùng thương tiếc Giáo Sư Ðặng Thị Bạch Yến” được chở trên những chiếc xe xích-lô đi một hàng dài phía trước. Và ở trên cao, phi cơ trực thăng chở tân Tỉnh Trưởng Hoàng Ðình Thọ tiễn đưa người em vợ ra nghĩa trang. (Lúc ấy Tỉnh Trưởng Thọ vừa đến nhậm chức thay Ðại Tá Chức).


Hai bên đường, đông đảo đồng bào Qui Nhơn đứng chờ linh cữu cô giáo trẻ đi qua để chào tiễn biệt lần cuối với vẻ mặt bùi ngùi, tiếc thương… Sau đó là những đám tang của 14 học sinh. “Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ.” Nhưng lần này nhiều con ngựa đau. Ðau hơn vụ Việt Cộng pháo kích vào trường trung học Cai Lậy, Mỹ Tho, Ðịnh Tường chỉ gây thiệt mạng 2 học sinh mà thôi.

Sau khi Yến đã an nghỉ giấc ngàn thu, bấy giờ Khanh mới từ bệnh viện về, bây giờ thì em hiểu; em nhìn ảnh vợ hiền với bình hoa tươi và 2 cây nến leo lét cháy ở trên bàn thờ linh vị… Khanh khóc lặng người đi… Các cháu sà vào lòng bố chẳng hiểu chuyện gì cũng khóc theo.

Than ôi! Còn cảnh nào đau lòng hơn cảnh này không? Một gia đình đang êm ấm hạnh phúc thế mà bỗng chốc tang tóc ly tan! Vì đâu nên nỗi? Sao Việt Cộng độc ác thế nhỉ? Sao lại giết học sinh? Sao lại giết người vô tội để gây ra bao tang tóc đau thương?


Thấm thoát đã 35 năm trôi qua; tạ ơn Thượng Ðế đã đoái thương các cháu tôi: Tạ Thị Ngân Hà hiện là bác sĩ nội khoa tại bệnh viện Oklahoma, Tạ Quang Khôi và Tạ Quang Khiêm đã tốt nghiệp kỹ sư điện (EE), hiện đang làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ và các cháu đã có gia đình yên vui, hạnh phúc. Nhân đây, tôi cũng xin cám ơn chị Hoa đã hết lòng thương yêu chăm sóc các cháu tôi cho đến khi khôn lớn.


Tạ Hạnh Đức

Monday, June 26, 2023

Cơm Cải Bắp (Cải Nồi)

Lúc rời VN ra đi, tôi đem theo nhiều món ăn của người Tiều, trong số đó có một món cơm khá hấp dẫn. Đó là cơm cải bắp. Hồi dì Ba tôi còn sống, Dì nấu món này rất ngon. Dì truyền sang má tôi, tôi ăn thấy thích thế là tôi đem theo qua xứ người. Thỉnh thoảng nấu lại ăn để nhớ những ngày tháng êm đềm sống quây quần bên nhau dưới mái ấm gia đình. 

Món cơm này chẳng có chi là cầu kỳ, đơn giản thôi. Cải bắp còn gọi là cải nồi xào với tép và thịt ba rọi, lấy nước cải xào nấu cơm, khi chín xới chung cải và cơm, rắc thêm hành phi vào trộn đều sẽ cho ra món cơm càng ăn càng ghiền. 

Vật liệu :
- Nửa cái cải nồi xắt sợi to
- Nửa ký thịt ba rọi xắt mỏng
- 1 ký tôm thẻ lột vỏ rút chỉ ướp chút muối và dầu tỏi khử mùi tanh
- 2 muỗng canh hành phi
- 3 lon gạo (lon sữa bò)





Cách làm :
Xào cải, nêm muối, chút bột ngọt rồi đổ ra rổ kê trên cái thau để hứng nước. 


Bằm vài tép tỏi phi thơm để xào thịt ba rọi và tép, nêm nếm cho vừa khẩu vị, đổ chung vào rổ cải để một lát cho nước rỏ xuống.


Sau khi vo gạo, lường nước nấu cơm bằng nước đồ xào thay vì nước lã. Canh mực nước sao cho cơm khi chín phải thiệt ráo chớ không được nhão. Trong lúc nấu, khi nước gần cạn, lấy đũa quậy đều cho gạo không dính đáy nồi. 
Khi cơm chín, xới ra một cái nồi lớn, cho cải bắp và tép thịt (lúc này đã ráo nước) vào, rải hành phi lên, trộn tất cả cho thật đều. Sau đó đậy nắp nồi lại để một hồi cho thấm gia vị. 
Vậy là xong nồi cơm cải bắp. Hơi mất công nhưng ăn ngon, lâu lâu làm một lần thì cũng đáng. 
Khi ăn, đơm cơm ra dĩa, rắc chút tiêu, cho món cơm thêm phần hương vị.

Nồi cơm cải bắp, hột cơm ráo hoãnh không bị mắc nước

Bon appétit!

Người Phương Nam