Liên tiếp 3 ngày nay
mưa bão tới tấp đổ vào đây. Nơi tôi đang sinh sống là một thành phố nhỏ đã có
từ rất lâu, có lẽ cả hơn trăm năm nay. Tôi đành phải bỏ 3 buổi sáng cuốc bộ thể
dục. Thường thì mỗi ngày khi tôi thức dậy, làm vệ sinh cá nhân xong là tôi khoác
chiếc áo lạnh và mở cửa bước ra khỏi nhà. Từ đường Sobrato, qua đường Budd rồi
băng qua đại lộ San Tomas là tới công viên Morgan. Tới đó, tôi sẽ gặp hai người
bạn già từ khu chung cư Rincon, dành riêng cho người cao niên lợi tức thấp, ra
cùng đi. Cả 3 sau đó đi một vòng tròn lớn, theo đường Rincon qua Winchester rồi
trở về lại đường Budd. Thời gian tròn một tiếng. Thói quen này chúng tôi có từ
cả chục năm nay. Hôm nào mưa gió hoặc cảm cúm không đi đưọc thì trong người
thấy bứt rứt khó chịu.
Như hôm nay đây, qua khung cửa nhìn ra đường, những hạt mưa theo gió tạt rào
rào lên mái, hơi nước phủ mờ khung kính, thỉnh thoảng một chiếc xe hơi chạy qua
hắt nước tung lên hè. Mưa lớn quá, nước chảy vào hệ thống cống không kịp rút.
Tivi thông báo có lụt ở vài nơi. Đã thật lâu, tôi mới lại thấy đưọc một cơn mưa
lớn như thế này. Thả hồn trôi theo dòng thời gian và cùng với những hạt mưa
kia, tôi trở về những hình ảnh quen thuộc cũ, từ lâu nằm ủ sâu trong tiềm thức.
Thói quen đi bộ thực ra chẳng phải do tôi thích làm mà đúng hơn là do lời
khuyên của bác sĩ Phan khi phát hiện tôi bị bịnh thấp khớp và cao máu. Phan,
trước ngày mất nước, là một bác sĩ của tiểu đoàn quân y ở vùng 4 chiến thuật.
Sau 3 năm tù “cải tạo”, trở về nhà được hơn 1 năm thì anh cùng gia đình vượt
biên sang Hoa kỳ. Tại đây, hai vợ chồng vừa đi làm vừa đi học lại và lấy đưọc
bằng hành nghề của tiểu bang. Lúc tôi gặp Phan là năm 1993, khi đó tôi cũng qua
đây định cư được gần 1 năm. Tuổi tác tôi nằm ngay đúng ranh giới của sự dở ông
dở thằng. Bằng cấp chuyên môn ngoài nghề cầm súng là hai bàn tay trắng, một cơ
thể đủ các loại bịnh do hậu quả của những năm tù đày trong các trại tù từ Nam
ra Bắc.
Năm 93 cũng là năm kinh tế Hoa kỳ trong giai đoạn suy trầm nên xin công việc
làm thật khó. Từ việc assembler với lương tối thiểu $4.25/ giờ mà nạp đơn xong
cũng phải chờ cả vài tuần mới có nơi gọi phỏng vấn. Nhìn đám người xếp hàng dài
chờ đợi tới phiên mình mà chán ngán! Quả đúng như lời của một người bạn sang
trước bảo “Lứa tuổi mình thì chỉ có đi hành nghề tự do là thích hợp thôi.” Đó
là lý do tôi đi theo một anh bạn cùng đơn vị ngày trước để làm nghề cắt cỏ.
Huỳnh qua trước tôi gần 3 năm theo diện HO. Nhờ đứa con út còn vị thành niên
nên hắn được chính phủ cho đi học nghề, hắn đã chọn lấy cái nghề ít cần chữ
nghĩa này. Dĩ nhiên tôi chỉ là phụ tá, một tay lái phụ cho chiếc máy cắt cỏ và
công việc chính là sử dụng chiếc máy thổi bụi và lá cây - chúng tôi gọi là cây
chổi quét - để vun rác thành đống và sau đó hốt vào bao đựng rác tống lên xe
truck rồi đem đi đổ. Những ngày mới vào nghề khá vất vả nhưng bù lại tối về nhà
mệt nhừ tử, nằm ngay cán cuốc đánh một giấc cho tới sáng. Lương ăn chia theo
thoả thuận theo số việc có trong ngày, vì thực ra khi còn chung đơn vị, chúng
tôi coi nhau như anh em nên giờ đây cũng là dịp bày tỏ tình nghĩa huynh đệ chi
binh vậy thôi. Huỳnh người miền Nam, vùng Cái Vồn nên khi phát âm chữ r thành
chữ g nghe cũng vui vui.
Năm đó là năm 1964.
Tôi ra trường đã hơn một năm, là đại đội trưởng Đại Đội 2 Tiểu Đoàn 3/11. Cả
tiểu đoàn đang tham dự một cuộc hành quân săn diệt địch. Khu vực hành quân nằm
về hướng đông bắc chi khu Cai Lậy, trong vùng Hưng Thạnh Mỹ. Một khu vực chằng
chịt kinh rạch. Đơn vị chúng tôi được trực thăng vận từ ngã ba Cái Bè, xuống
vùng Kinh Cái Đôi, từ đó lục soát dọc theo Kinh Tổng Đốc Lộc về hướng đông, qua
Kinh Một, Kinh Hai...
Cả tiểu đoàn dừng lại giữa cánh đồng ngâp nước mênh mông. Tháp Mười lúc này vào
mùa mưa. Bốn bề nước trắng xóa chói cả mắt. Xa xa là những hàng cây so đũa chạy
dọc theo các mương đào. Xa hơn nữa là những xóm nhà nằm cặp theo bờ kinh. Tất
cả phủ mờ dưới cơn mưa buổi chiều. Hành quân vùng Đồng Tháp trong mùa này luôn
đòi hỏi những đại đội trưởng đi đầu có khả năng đọc bản đồ giỏi, nếu không, khi
đụng trận kêu hoả lực pháo yểm là mang họa. Lộc là đại đội trưởng kỳ cựu nhất
trong tiểu đoàn và đặc biệt anh có khả năng chấm tọa độ số một, nên không lạ,
mỗi khi hành quân vùng này, đại đội anh luôn tiên phong. Tiếng đại úy Cao tiểu
đoàn trưởng gọi cho Lộc.
- Còn cách mục tiêu bao xa nữa Sàigòn?
- Chừng cây rưỡi nữa thôi, thẩm quyền.
- Có thấy động tĩnh gì không?
- Trời mưa như trút thế này làm sao mà thấy? Thẩm quyền cho thằng Sao Mai đánh
vài vòng xem sao, chứ tôi có cảm giác là lạ sao ấy.
Sao Mai là danh hiệu
truyền tin của máy bay quan sát.
- Sao Mai về rồi, nó bảo khi nào ngớt mưa mới lên đưọc.
- OK, thôi thẩm quyền cho tôi một trái khói điều chỉnh ngay giữa mục tiêu xem
sao trước khi vào.
- OK, nói với thằng em
đi chung làm đi.
Thằng em đi chung đây
chính là toán tiền sát viên pháo binh đi theo đại đội của Lộc.
Đoàn quân dừng giữa đồng, từ đây tới bìa Xóm Ông Bốc cũng còn cả cây số. Nhưng
cứ lùi lũi tiến vào mục tiêu như kiểu này, nếu tụi nó nằm phục trong đó mà bắn
ra thì chết chắc. Đại úy Cao, tiểu đoàn trưởng tự nhủ như thế và cho mời đại úy
Hiền tiểu đoàn phó trở lại phía sau hội ý. Đại úy Hiền trở về đại đội tôi
rồi kêu Lộc qua cùng bàn bạc. Hiền hỏi chúng tôi:
- Hai chú có nhìn thấy cây liễu cao nằm ở phía tay phải kia không?
Lộc nhanh miệng:
- Đó có lẽ là cái
đình, đại úy ạ.
- Sao chú mày biết?
- Kinh nghiệm bản thân của tôi mà đại úy. Đại úy nhìn xem trên bản đồ đây này.
Chúng ta đang đứng ở đây, nhìn xéo qua hướng hai giờ là cây liễu đó, cũng chính
là ký hiệu cái đình miếu gì đó trên bản đồ đây này.
Tôi gật đầu tán thành. Kinh nghiệm bản thân tôi cũng thấy thế. Trong khuôn viên
các miếu đình hoặc chùa trong vùng chúng tôi đi qua luôn luôn có một loại cây
gì đó không đa thì phong hoặc thông hoặc liễu. Hình như trồng loại cây tán cao
là một chỉ dấu để cho bà con dễ nhận biết khi đi tìm những địa điểm này.
Đại úy Hiền chỉ về hướng một rặng trâm bầu nằm nhô trên mặt nước quay qua bảo
tôi:
- Vũ cho tắp đại đội vào dọc theo rặng cây đó bố trí yểm trợ cho Lộc vào mục
tiêu. Còn Lộc tiến tới cách mục tiêu chừng 800 thước thì dừng lại. Cho tiểu đội
quân báo mò vào trước xem sao rồi mới tính nghe chưa?
Lộc gật đầu nhận lệnh. Trái pháo khói được yêu cầu từ trước bây giờ mới nghe
tiếng nổ. Tiếng đạn rít khi bay qua ngang đầu rồi rớt vào trong làng, một cuộn
khói trắng bay lên cao.
Đại đội tôi dàn hàng ngang tiến dần đến rặng cây nằm nhô lên giữa cánh đồng,
còn đơn vị của Lộc tách qua hướng tay trái tôi, sau đó bì bõm lội nước di
chuyển. Cơn mưa như ngày càng nặng hạt hơn, nước trên đồng lăn tăn gợn những
đợt sóng nhỏ. Vào gần bìa làng, mực nước có vẻ đỡ hơn đôi chút, giữa đồng nước
lội trên đầu gối, có chỗ ngang lưng, bây giờ chỉ còn giữa bắp chân một chút.
Nước từ trên trời, nước ngập dưới chân, chúng tôi như đang đi giữa một không
gian đẫm nước. Có lẽ không một hình ảnh nào ảm đạm hơn hình ảnh những ngưòi
lính trùm kín poncho, đi dưới trời mưa mù mịt, lặng lẽ như chúng tôi trong giờ
phút này…
Chuẩn úy Huỳnh khi tới bờ cây gọi máy báo cho tôi biết đã tới vị trí. Tôi cho
lệnh ngừng và dàn hàng ngang bố trí hướng về phía kinh sẵn sàng yểm trợ cho
cánh quân Đại Đội 1 của Lộc ở phía trái.
Tiểu đội tiền sát của Lộc cách bìa làng chừng gần trăm mét thì súng từ bìa làng
bắt đầu khai hỏa. Trời mưa vẫn ầm ầm trút nước, tiếng đạn bay vèo vèo trong
mưa, những tia chớp lòe sáng nhấp nháy, tiếng người kêu tản thương, tiếng lội
nước bì bõm, Tiểu đoàn may mắn nằm ngoài tầm đạn súng nhỏ, ngoại trừ đại đội
của Lộc và 1 trung đội của tôi. Tiếng pháo binh bắn chặn, tiếng la hét tuyệt
vọng của những người lính ngã xuống nước vì trúng đạn. Tất cả nhòa đi trong
mưa. Tôi bất động, không thể làm gì được trong tình thế này. Biển nước mênh
mông chạy tới sát ven làng không cho phép chúng tôi dàn quân mở một cuộc xung
phong sinh tử. Chúng tôi đứng giữa hai biển nước, từ trên trời dội xuống và một
biển nước phèn chua nằm dưới chân.
Lệnh của tiểu đoàn cho Lộc và tôi rút về phía sau 200 mét ra ngoài tầm hỏa lực
của địch. Vẫn không chỗ núp, vẫn đứng dưới mưa.
Nửa giờ sau, 2 chiếc phi cơ quan sát lên lại bầu trời, cơn mưa thưa hạt dần.
Trời về chiều. 4 chiếc khu trục được gọi đến bay trên mục tiêu, giờ đây pháo
binh đã ngưng. Phi cơ lao xuống thả bom dọc theo kinh. Có tiếng đại liên phòng
không bắn lên phi cơ. Đạn phòng không toả những vòng khói nhỏ nổ lụp bụp trên
trời. Ven làng từng cột nước dâng cao trộn lẫn những đám khói và quầng lửa vụt
lên mỗi khi có trái bom được thả xuống. Khi máy bay làm xong nhiệm vụ, pháo
binh lại tiếp tục. Cả mục tiêu trở thành một vùng khói phủ. Tiếng súng bắn trả
thưa thớt dần. 4 chiếc khu trục khác lại vào cuộc, vần vũ bắn phá mục tiêu...
-----
Năm 1995, tôi được nhận vào làm việc cho một hàng lắp ráp điện tử. Công việc
của tôi là kiểm soát lại toàn bộ những component đã được gắn trên board xem có
thừa thiếu gì không hoặc có bị chập mạch nào không, sau đó đánh dấu và chuyển
qua cho bộ phận touch-up sửa chữa điều chỉnh. Nói chung công việc cũng nhàn hơn
thời đi cắt cỏ, bỏ báo. Xếp của tôi là một anh chàng Mỹ gốc Jamaica có tên là
Jason. Hôm mới vào nhận việc, Jason hỏi tôi đủ mọi thứ chuyện, sau khi nghe tôi
kể tôi từng là một sĩ quan quân lực VNCH, hoạt động hành quân khu vực Mỹ Tho,
Kiến Phong, Kiến tường. Jason cho biết cũng từng là hạ sĩ quan mang máy truyền
tin cho một đơn vị thuộc Sư Đoàn 9 Hoa Kỳ đóng quân tại căn cứ Đồng Tâm Mỹ Tho.
Jason bảo hồi tết Mậu Thân hắn bị thương trong cuộc hành quân giải tỏa khu bến
xe thị xã. Hắn được đưa ra Hạm Đội 7 điều trị và sau đó được đưa về Mỹ giải ngũ
vì đáo hạn phục vụ 2 năm đã ký trước đó. Jason nghe tôi kể về những ngày tù đày
gian khổ trong các trại tù cải tạo từ Nam ra Bắc, hắn thực sự cảm thông và chia
xẻ. Hắn bảo: “Đất nước you nếu không có chiến tranh thì dễ thương biết mấy.”
Tôi gật gù đồng tình. Jason bảo từ nay you chịu khó overtime kiếm thêm chút
đỉnh mà xài, vì theo hắn nghĩ chắc hãng này cũng không kéo dài được lâu. Từ đó
tôi cặm cụi làm thêm giờ, mỗi ngày thêm 2 tiếng, lợi tức nhờ vậy cũng khá hơn.
Đám công nhân trẻ ham vui ít ai chịu làm thêm ngoại trừ được manager yêu cầu
khi có công việc bất ngờ cần hoàn tất. Cùng làm chung phòng còn có một ngưòi
Việt khác tên là Bách. Bách xưa kia là một chuẩn úy bộ binh thuộc Sư Đoàn 2
đóng tại Quảng Ngãi. Bách đi tù 4 năm rưỡi tại Quảng Nam thì được thả, sau đó
vào Nam vưọt biên mấy lần, bị bắt lên bắt xuống mới tới được Nam Dương và đến
năm 1983 mới vào được Hoa kỳ. Từ ngày qua đây, Bách cũng làm đủ mọi ngành nghề
nhưng không thành công vì hắn bịnh tật triền miên. Bách bảo hồi còn trong tù “cải
tạo”, đói quá đang sức trai nên ăn uống xô bồ linh tinh đủ mọi thứ cây củ rễ
lá, cào cào châu chấu ếch nhái nên khi qua đây theo hắn nói, bộ đồ lòng kể như
phế thải. Bao tử thì lúc đau lúc không, ruột già ruột non gì cũng thế. Đồ ăn
thì dị ứng đủ thứ, ăn thịt bò thì nổi mề đay, ăn trứng thì ói, ăn cá thì ngứa
gãi rách da, tóm gọn lại chỉ có món thịt gà là tạm ổn. Vì thế Bách giống như
một ông già khó tính, lúc nào cũng nhăn nhó khó chịu, đôi lúc bẳn gắt hắn còn
cà khịa với cả Jason sá chi là ai. Được cái Jason cũng từng là một quân nhân
nên tốt tính, hắn thông cảm với những người vừa ra khỏi cuộc chiến đầy gian nan
và bất hạnh nên thường bỏ đi những lúc khó xử như thế.
-----
Trời về chiều. Mưa đã ngớt dần. Một đoàn trực thăng chở thêm Tiểu Đoàn 32 BĐQ
trừ bị đổ vào phía nam khu Xóm Ông Bốc phía bên kia bờ kinh cách chỗ chúng tôi
chừng 2 cây số. Những đợt bắn dọn bãi đáp của toán trực thăng võ trang và sau
đó là các loạt pháo binh từ quận Cai Lậy và Long Định phủ trùm lên mục tiêu
trước khi các toán quân được đưa vào trận địa. Đại úy Cao lại kêu Đại úy Hiền
trở về Bộ chỉ huy để bàn bạc. Đồng hồ bây giờ chỉ 5 giờ 40. Đại úy Hiền kêu tôi
và Lộc căng đội hình hàng ngang, mở hoả lực tiến chiếm bờ kinh. 6 giờ, dàn xong
đội hình, chúng tôi bắt đầu vừa di động vừa khai hỏa. Nước mênh mang bốn bề.
Dưới những hạt mưa đan chéo, chúng tôi lầm lũi bưóc. Từng bước bìa làng hiện ra
ngày càng rõ hơn và trong cái mù mịt của khói súng, mùi thuốc đạn, mùi rơm rạ
cháy, còn thêm mùi tanh tanh của máu và mùi khét của thịt da. Có vài loạt đạn
bắn ra từ một căn nhà sập vách. Không ai bảo ai, tất cả đều ùa chạy vào mục
tiêu. Tiếng đạn rít man rợ trên đầu, tiếng người la, tiếng thét gào, tiếng hét
thất thanh của ai đó trúng đạn, tiếng chửi thề... những âm thanh hỗn độn ấy làm
cho không khí chung quanh ngột ngạt khủng khiếp. Sau cùng thì đại đội tôi và
Lộc cũng bám được vào bìa làng. Cuộc lùng giết nhau bắt đầu...
Tiếng của Huỳnh gào
lên trong máy: “Có cây trung liên trong lùm tre trước mặt đó!” Rồi những
tiếng nổ nghe nhức cả tai, tiếng súng phóng lựu M79, tiếng lựu đạn, tiếng hét “Bắt
lấy nó!” không phân biệt được của ai...
Đạn bay vèo vèo trên đầu. Tiếng rít của đạn xuyên trong không trung nghe rờn
rợn vì nó cảnh báo người lính sự chết chóc đang diễn ra là có thật. Súng đạn vô
tình, chẳng e dè hoặc nể mặt bất kỳ ai, đúng đường đi của nó là mất mạng vậy
thôi. Trúng đạn hay không chẳng cần tài giỏi gì, lại càng không thể cố tình mà
tránh đưọc. Có những tiếng đạn đi nghe nhè nhẹ mượt mà khi xuyên qua thịt da,
cũng có những tiếng nghe khô khốc cục mịch khó chịu. Nhất là những tiếng đạn
phang vào các gốc cây, tường nhà, vào các chướng ngại bằng kim khí, tiếng mảnh
văng ngược lại nghe chát chúa không chịu nổi.
Đang bám theo trung đội 2 của chuẩn úy Trí bước vào căn nhà bìa xóm đầu tiên
thì tôi kịp nhận ra một cú đẩy mạnh vào ngực và ngã ngửa ra phía sau không thể
gượng lại được. Tôi nghi ngờ mình đã bị thương. Tôi nhủ thầm, không sao cả, còn
biết đưọc mình trúng đạn nghĩa là mình còn sống. Phải bình tĩnh, không có gì
phải hốt hỏang cả. Có tiếng thét thất thanh của Cầu, người lính mang máy truyền
tin của đại đội: Trung úy bị thương rồi! Cầu vực tôi dậy, dìu tôi ngồi dựa vào
một gốc rạ cháy xém một bên nằm cạnh căn nhà. Tiếng Cầu kêu y tá đại đội. Tôi
mê man không thấy gì nữa.
Lúc tỉnh lại, có lẽ đã quá nửa đêm, trời lạnh và mưa đã tạnh hẳn. Tôi thấy nhói
đau vùng ngực phải. Khát nước quá, nhưng không sao nói ra lời, chân tay nặng
như đeo chì, không thể nhúc nhích nổi, thậm chí cả một tiếng rên nhỏ cũng không
có sức mà phát ra. Tôi nghĩ là tôi sẽ chết. Số phần của một người lính là thế.
Kể từ sau khi ra trường giáp mặt với cái chết hàng ngày mỗi khi nhận được lệnh
hành quân thì cái chết không còn ám ảnh khiến tôi phải sợ hãi. Vả lại chính mắt
tôi đã chứng kiến biết bao nhiêu cái chết và cách chết của đồng đội, của địch
quân, lâu dần thành quen.
Tôi nhớ tới lời của Võ Thừa Tự, một thằng bạn cùng khóa, cùng đơn vị, Tự bảo: “Mỗi
con ngưòi có một cái số. Sợ cũng thế mà không sợ cũng vậy. Chỉ có điều cái sợ
làm cho mình hèn đớn, và khi chết là cái chết lãng xẹt”. Đôi lúc nhậu nhẹt sau
một lần hành quân dài ngày hoặc sau những lần đụng độ lớn hắn còn triết lý: “Trong
chiến tranh có rất ít anh hùng còn sống sót. Những người còn lại sau chiến
tranh đa phần là những người may mắn thoát chết...” Tự lớn hơn tôi 2 tuổi. Hắn
tuổi con cọp. Xuất thân là một học sinh Cao Thắng nên Tự rất khéo tay và rành
rẽ kỹ thuật. Sửa xe, sửa súng là cái thú vui của hắn. Lúc tôi về tiểu đoàn nhận
nhiệm vụ đại đội trưởng đại đội 2 cũng là lúc Tự bàn giao chức vụ đại đội
trưỏng đại đội chỉ huy tiểu đoàn lại cho Minh, một sĩ quan đàn anh trước tôi
một khóa. Tự là sĩ quan thâm niên trong các đại đội trưởng của tiểu đoàn này,
Minh và tôi cũng từng là đại đội trưởng nhưng lại từ các tiểu đoàn khác trong
cùng trung đoàn, sau khi học xong khóa đại đội trưởng từ Thủ Đức trở về thì
được bổ sung sang đây.
Mặt trời vừa hừng lên, Tự đã đến thăm tôi. Tôi mơ màng không nhìn rõ mặt người
mà chỉ còn phân biệt được tiếng nói. Tiếng Tự chửi thề “Mẹ kiếp”, sau khi nghe
máy liên lạc từ Bộ chỉ huy hành quân cho biết phải chờ một tiếng nữa mới có
trực thăng tản thương. Có tiếng nói nhỏ bên tai tôi: “Yên chí, tao đã xin tản
thương cho mày rồi, yên tâm, không sao đâu”. Đầu óc tôi mù mờ những hình ảnh
không rõ nét. Tôi nghĩ đến mẹ tôi. Tôi bỗng thấy hình ảnh bà nhạt nhòa nước
mắt..
-----
Bách tâm sự từ hồi mới qua đây, lúc đầu em đi bỏ báo, nghề này đơn giản không
cần học hành gì, ngoài sự chú tâm luyện tập cách quăng sao cho chính xác vào
địa chỉ mình muốn giao là đủ, vì thế nghề còn có tên là nghề quăng chữ!! Nhưng
sau khi làm đưọc vài tháng thì chịu không nổi, vì công việc đòi hỏi phải thức
rất sớm bảo đảm cho khách hàng có báo đọc trước giờ đi làm nên những ngày mùa
hè thì không mấy trở ngại. Nhưng về mùa đông, sương mù dầy đặc lái xe chạy vào
các con lộ nhỏ quăng báo cho những căn nhà trên núi thì vô cùng vất vả khó
khăn. Hắn đành phải bỏ nghề và nhường dây bỏ báo lại cho một nguời khác. Sau đó
thì hắn đi bán chợ trời. Chợ trời ở đây gồm có 2 nơi, một trên đường
Beryessa còn gọi là chợ trời Lớn, một nhỏ hơn trên đường Snell gọi là chợ trời
Nhỏ. Cũng do một bạn đồng hương khác giới thiệu, hắn phụ cho gia đình người
Campuchia có 1 nông trại nhỏ tại Gilroy chuyên trồng các loại rau cải và rau
thơm. Hàng tuần Bách phụ thu hoạch và phụ đứng bán, mỗi tuần 4 ngày từ thứ 5
đến chủ nhật. Mỗi ngày chủ bao ăn và trả cho 50 tiền mặt, vị chi được 200 một
tuần cũng tạm sống qua ngày. Ở những ngày rảnh khác thì hắn đi phụ bếp, bưng phở,
dọn vệ sinh linh tinh đủ thứ...
Ấy vậy mà hàng năm Bách cũng dành dụm gởi về cho gia đình bà chị ruột ở trong
nước cả ngàn đồng. Làm được gần 2 năm thì Bách bỏ chợ, lý do đơn giản, Bách
bảo, sống kiểu này chỉ hơn mấy người homeless một bước chân. Thành ra hắn cũng
giống tôi đi học điện tử cho nó ra một cái nghề! Khi nói chuyện về gia đình,
Bách thổ lộ, hắn mới cưới vợ đưọc chưa đầy năm thì mất nước, trong thời gian đi
tù cô vợ trẻ bỏ đi cặp bồ một cán bộ tập kết trở về làm chủ tịch xã. Khi đưọc
tha, Bách không dám trở về làng mà đi ra tá túc nhà bà chị hai tại Hội An. Một
thời gian sau đó Bách vào sống lang thang tại Sàigòn theo một người bà con buôn
bán thuốc tây, quần áo cũ tại chợ trời. Có lần tâm sự, Bách bảo tôi, ngày xưa
các cụ bảo nước mất nhà tan là đúng thiệt anh nhỉ. Rồi hắn nói người ta bảo ông
Thiệu nói câu nổi tiếng “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy coi những gì cộng
sản làm”. Riêng em thì em lại thích câu này hơn “Đất nước còn, còn tất cả, đất
nước mất, mất tất cả!” Tôi bảo câu nào cũng đúng hết. Chỉ có điều nghe rồi
chẳng ai tin nên mới ra nông nỗi này thôi.
-----
Năm 1965. Tôi bị thương lần thứ hai trong cuộc hành quân truy đuổi tiểu đoàn
516 tại vùng Thạnh Phú Kiến Hòa. Lần này thì nhẹ hơn. Viên đạn xuyên qua đùi
phải khi tôi dẫn đại đội tiến quân vào làng. Viên đạn đi ngọt quá, đến nỗi khi
phát hiện ra ống quần có vết máu và nhìn thấy một lỗ thủng nhỏ trên đùi tôi mới
hay. Cũng may là chúng tôi đã tràn ngập mục tiêu và tôi đang theo dõi các binh
sĩ dưới quyền lục soát thu dọn chiến trường. Buổi chiều tôi và một số đồng đội
được trực thăng chuyển về bịnh viện dã chiến tại Mỹ Tho. Sau gần 2 tháng vừa
chữa thương vừa dưỡng thương tôi nhận sự vụ lệnh trở về lại trung đoàn. Trung
tá Thanh, trung đoàn trưởng, hỏi tôi:
- Sao sức khỏe chú mày
thế nào?
Tôi cười trả lời:
- Cũng bình thường
thôi, trung tá.
- Thời gian nghỉ vừa
qua đã lại sức chưa?
- Cũng tàm tạm.
Trung tá Thanh nguyên
là vị sĩ quan huấn luyện chúng tôi khi tôi còn là sinh viên sĩ quan. Ông tốt
nghiệp khóa 1 Nam Định. Tướng ông cao lớn khôi ngô, tính tình cởi mở. Ông bảo
tôi:
- Tớ biết chú mày còn
mệt, nhưng tình hình cán bộ giờ này kẹt quá. Chắc chú mày có nghe vụ thằng 2
(Tiểu Đoàn 2) mới vừa đụng một trận nặng tại Cái Nứa, hiện đang trở về Vĩnh Kim
nằm dưỡng quân và nghỉ ngơi. Ngày mai chú mày về trình diện đại úy Rỡ nhận đại
đội, giúp hắn nghe.
Tôi gật đầu đồng ý. Có
điều rất lạ, khi đi tác chiến lâu, những người lính như chúng tôi đã trở nên
quen thuộc với nếp sống đánh đu với tử thần này rồi. Sau những giờ phút hiểm
nguy là sự thoải mái thống khoái. Chẳng lo ai tranh giành đoạt ghế! Mỗi lần trở
về thành phố nghỉ chừng ít ngày lại thấy nhớ thấy thương bạn hữu đồng đội, nhớ
đơn vị. Nơi đó tình cảm và thái độ cư xử giữa con người luôn được thử thách,
sàng lọc. Vì phải đối mặt với cái chết thường trực nên chân thành đùm bọc nhau
hơn. Những lọc lừa giả mạo được nhận diện chỉ mặt rất nhanh, chỉ cần sau một
lần đụng độ là biết đá biết vàng. Khi súng nổ lên, tên bay đạn réo, những phét
lác huyênh hoang trốn mất, chỉ còn con người trần trụi thực sự hiện mặt. Đó có
lẽ là lý do chính khiến cho những ai từng ở những đơn vị tác chiến lâu năm luôn
cảm thấy lạc loài cô đơn khi được đưa trở về các đơn vị yểm trợ hậu phương.
Hiểm nguy dễ kết bạn, phú quý lắm kẻ thù, cổ nhân dạy thế.
Đời lính chiến là cuộc hành trình vòng tròn: Trại lính - Mặt trận - Nhà thương.
Cái chết đối với lính có khi là một cách giải thoát. Sự khốc liệt của chiến
tranh, sự bế tắc không thể vượt qua nổi cái phi lý và bất công của hiện thực
luôn phơi bày ra trước mắt. Khi không có con đường nào để đi ra khỏi cái địa
ngục trần gian ấy thì cái chết cũng là một cách để nghỉ ngơi. Đã có lúc tôi suy
nghiệm như thế. Lâu dần, tôi thấy mình chai lỳ đi, mất dần cảm xúc. Những hoạt
động hàng ngày hoặc trong chiến đấu trở thành một thứ phản xạ mang tính bản
năng. Lần bị thương đầu năm 1964 trong cuộc hành quân phía đông bắc Cai Lậy khu
vực Kinh 1 thước, Xóm Ông Bốc, lần ấy đại đội của tôi chạm mặt với trung đoàn
Đồng Tháp 1.
Nằm tại Quân y viện Cộng Hòa gần 2 tháng. Ngửi mùi thuốc, nhìn cảnh chăm sóc
thay băng, chích thuốc hàng ngày... tự dưng tôi đâm ngang chán đời! Một anh
chàng thiếu úy BĐQ tên Du nằm ngay cạnh giường, 2-3 ngày đầu tiên cứ nằm thiu
thỉu ngủ chừng một lát lại hô xung phong! Viên đạn đại liên lấy đi mất hơn nửa
cánh tay, về tới quân y viện đành cho đi nốt phần xương vỡ vụn còn lại! Du bảo
tôi: “Lần này thì chắc em được giải ngũ thôi anh nhỉ!” Tôi cười buồn: “Thì
cũng tốt cho cậu thôi”. Rồi những ngày về Sàigòn nghỉ dưỡng thương, nhìn cảnh
nhốn nháo biểu tình, xuống đường. Những lần chính biến nối tiếp nhau làm tôi
không còn hứng thú gì với cái hậu phương luôn luôn hỗn loạn ấy nữa. Tôi nhớ và thương
các đồng đội và đơn vị của mình. Giờ đây chắc hẳn họ đang di chuyển trên các
vùng hiểm nguy truy tìm địch hoặc đang nằm nghỉ ngơi trong các làng xóm ven
quốc lộ trong khi chờ đợi một lệnh hành quân mới. Hôm chia tay mẹ để trở về đơn
vị, mẹ tôi còn dặn đi dặn lại: “Kỳ này con nhớ xin với ông chỉ huy cho về làm
văn phòng nghe con!” Tôi gật đầu cho mẹ vui lòng.
Tôi đón xe đò đi ngã ba Trung Lương rồi đi xe lam về lại trung đoàn vào buổi
sáng. Buổi chiều, Vĩnh, sĩ quan ban 1 của trung đoàn, rủ tôi ra một quán nhậu
ven kinh Long Định uống rượu. Bộ chỉ huy trung đoàn 11 nằm ngay bên cạnh Kinh
Sáng, tọa lạc trong một căn nhà hai tầng lầu. Con kinh nối liền từ sông Mỹ Tho
đi ngược lên hướng bắc mở ra hướng vận chuyển đưòng thủy vào khu vực Mỹ Phước
Tây và Tháp Mười. Nước kinh trong veo, mặt kinh rộng hơn 20 thước, cư dân trong
những vùng bắc của kinh về sống tập trung gần quận Long Định để có an ninh hơn.
Xị rượu đế gần hết, Vĩnh muốn kêu thêm một xị khác thì tôi cản lại:
- Nhức đầu thấy mẹ, thôi không uống nữa.
Dĩa lòng heo cũng gần hết, mỗi đứa ăn một tô cháo, xong thì chúng tôi ra về.
Vĩnh hỏi ngày mai có muốn về Sài gòn chơi một hai bữa trước khi đi Vĩnh Kim
không? Tôi bảo thôi, tháng qua ở nhà chán rồi, bây giờ có về cũng vậy thôi.
Tôi đón xe lam đi ngã ba Vĩnh Kim vào buổi sáng hôm sau. Đầu còn váng vất vì
chai rượu đế uống với Vĩnh chiều hôm trước. Chiếc xe cũ chạy trên hương lộ gập
ghềnh làm tôi tỉnh táo dần. Đến gần khu chợ, gặp lại Chương, một sĩ quan khóa
đàn em cùng dân Võ Bị đang ngồi trong một quán cóc bên đường. Tôi xuống xe
khoác ba lô đi dọc theo lộ. Chương nhìn ra kêu: “Niên trưởng, niên trưởng...”
Anh em gặp lại nhau mừng rỡ. Chương bảo: “Anh về thế anh Lê Ba phải không?” Tôi
gật đầu. Ba, bị tử thương trong trận đánh mấy hôm trước, Liên, đại đội phó bị
thương nhẹ hiện đang nằm quân y viện.
Nghỉ dưỡng quân và bổ sung quân số được đúng một tuần thì đại úy Rỡ về Bộ chỉ
Huy Trung đoàn nhận lệnh hành quân. Tiểu đoàn tập trung di chuyển bằng xe tới
Ba Dừa rồi lội bộ vào tới ngã ba Long Trung. Từ đó, 8 giờ sáng hôm sau sẽ tiến
về hướng tây tới mục tiêu là xã Xuân Sơn Cẩm Sơn. Nơi đây nổi tiếng là khu hang
ổ cố thủ của các trung đoàn Đồng Tháp thay phiên nhau trú đóng để thực hiện các
cuộc tấn công phá hoại và phục kích trên quốc lộ 4. Cuộc hành quân được tổ chức
quy mô với sự tham dự của nhiều đơn vị, binh chủng. Chúng tôi đi men theo sông
Mỹ Tho trong khi một tiểu đoàn TQLC và một tiểu đoàn BĐQ tiến quân từ ngoài
quốc lộ 4 đi vào. Ngoài ra còn có thiết vận xa thuộc Thiết Đoàn 6 và các đơn vị
địa phương quân thuộc tiểu khu Định Tường phối hợp.
Cuộc chạm súng lẻ tẻ bắt đầu từ 10 giờ sáng từ các hướng tiến quân khác. Cùng
thời gian đó, chúng tôi vẫn đang lặng lẽ di chuyển. Cho tới gần trưa đại đội
tôi mới chạm địch khi còn cách mục tiêu chính cả gần cây số, khu Xóm Ông Khâm.
Tôi nhận định đây chỉ là các toán tiền tiêu canh chừng và hứa hẹn sẽ có một
cuộc nổ lớn tiếp theo. Bám theo từ những xóm nhỏ trên đồng dần dần chúng
tôi áp sát bìa làng. Trên bản đồ hành quân, khu chúng tôi lục soát nằm gọn bên
này kinh, một nhánh ăn thông vào sông Mỹ Tho. Cả khu vực là một bệt xanh đậm
toàn là dừa và dừa nước.
Cuộc chạm súng thực sự nổ lớn lúc gần 1 giờ. Súng đủ loại bắn ra từ bìa làng
ghìm chân đơn vị chúng tôi lại. Nhờ địa thế ở đây là ruộng khô và bờ thửa nhiều
nên chúng tôi có chỗ núp tránh dễ dàng hơn. Đại úy Rỡ cho lệnh xin pháo
binh tác xạ yểm trợ, một chi đoàn thiết vận xa thuộc Thiết Đoàn 6 có một đại
đội ĐPQ tùng thiết cũng được điều tới hỗ trợ chúng tôi. Lại một màn luân vũ mới
với súng đạn và người chết.
Đơn vị địch bỏ vị trí rút sang bên kia kinh bằng những chiếc ghe ba lá nhỏ, lúc
trời chạng vạng tối. Dấu vết máu và bông băng kéo lê bê bết trên cỏ và vài xác
người nằm vùi trong các hầm cá nhân chữ A đã bị đạn pháo và bom đánh sập. 8
giờ, tiểu đoàn mới kiểm soát được mục tiêu nhưng trời đổ tối rất mau nên không
lục soát kỹ được. Tổn thất của đơn vị chúng tôi cũng chưa được kiểm kê chính
xác. Đại úy Rỡ ra lệnh cho bố trí phòng thủ tạm thời trong khu vực.Đại đội tôi
được phân công bố trí quay về hướng bắc.Đại đội của Chương tổn thất nặng hơn
lui về nằm chung với tiểu đoàn. Phía ngoài bìa làng giao lại cho chi đoàn thiết
quân vận. Bên kia kinh có tiếng chân người chạy lào xào. Tôi xin bắn chiếu
sáng, có tiếng người hét nằm xuống. Chúng tôi khai hỏa. Địch đang rút quân.
Những lằn đạn chiếu sáng vạch những vệt xanh đỏ chen nhau găm vào các lùm bụi
bên kia bờ kinh. Lại có tiếng người la í ới kêu gọi nhau, những tiếng chân chạy
bì bõm trong nước...
9 giờ đêm. Chiến trường chìm trong im lặng. Cả tiếng côn trùng cũng không nghe.
Cái lặng lẽ của chết chóc và kinh hoàng. Tôi nằm sau một thân cây dừa nhìn qua
bên kia bờ kinh. Bên ấy giờ đây cũng lặng im không tiếng động. Nhìn lên
bầu trời mây phủ không một vì sao. Chiếc phi cơ thả trái sáng bay vần vũ, tiếng
động cơ ù ù nghe buồn nẫu ruột. Lâu lâu một chiếc phi cơ bay ngang rất cao, chỉ
có đèn tín hiệu màu đỏ nhấp nháy ở phía đuôi là còn thấy rõ. Cuộc chiến này sẽ
kết thúc như thế nào đây? Vài tháng trước, mấy ông tướng còn thay nhau làm đảo
chánh, chỉnh lý. Sinh viên học sinh nay xuống đường biểu tình, mai xuống đường
tranh đấu... Không biết những người đó có bao giờ nghĩ tới những ngưòi lính
quần áo ướt sũng bùn nước, đang nằm giữa cái chết rình rập? Từ tiền tuyến nhìn
về một hậu phương luôn nhốn nháo xáo trộn. Rất buồn.
Lũ bạn cùng học chung lớp thời trung học, đại học nay cũng tản ra tứ hướng. Đứa
vào lính, đứa trốn lính vào bưng, đứa dọt ra nước ngoài..chẳng đứa nào yên
phận. Đất nưóc tôi điêu linh quá, oan nghiệt quá, cứ chém giết hoài như thế này
bao giờ mới ngưng tay? Nhớ tới bức thư cô bạn gái mới nhận được 2 hôm trước,
đánh tiếng gia đình muốn có cuộc gặp mặt chính thức của hai bên. Mới đó mà cũng
2 năm rồi từ ngày gặp nhau. Đời người con gái có thì, đâu có thể cứ chờ đợi
viễn vông không rõ đích đến sẽ như thế nào. Tôi định bụng sau cuộc hành quân
này về sẽ viết trả lời rõ ràng khuyên cô ta hãy tìm một người khác có cuộc sống
bớt hiểm nguy hơn. Thực ra cũng đã có lần tôi viết bóng gió như thế nhưng không
biết cô ấy có nhận ra không, hay nhận ra mà làm như không hay biết! Khóa sĩ
quan của tôi ra trường hồi cuối tháng 3 năm 63, mới hơn 2 năm mà đã hơn 20 mạng
trong tổng số 180 thiếu úy ra trường giã từ cuộc chơi. Cuộc chiến ngày càng
hung dữ hơn, tính mạng con người ngày càng rẻ rúng hơn. Đất ăn thịt người, đồng
ruộng hoang hóa, dân tình xơ xác, tản lạc, biết bao nhiêu là điều buồn đau.
-----
Làm cho hãng Sequel được 2 năm thì hãng bán lại cho tập đoàn Solectron lớn hơn.
Trước hôm chia tay, Jason bảo hãy giữ liên lạc xem khi nào có thể giúp được gì
hắn sẽ giúp. Còn Bách thì bảo tạm thời hắn nghỉ làm, lãnh lương thất nghiệp 1
thời gian rồi tính tiếp. Tôi bảo: - Tuổi cậu còn trẻ sao không vào college học
lấy một nghề chính thức mà sống cho có tương lai.
Bách cười bảo:
- Tôi cũng đã thử rồi,
đầu tôi trống rỗng, bụng dạ muốn đau lúc nào thì đau, lúc nào cũng ngồi đứng
không yên, chẳng làm gì ra hồn. Cuộc chiến tranh đã cướp đi của tôi mọi thứ. Ba
tôi, từ khi tôi và ông anh rể đi tù, đâm chứng bất mãn chửi tứ tung, chính
quyền địa phương bắt ông đi tù cho tới lúc nhìn ra ông bị chứng tâm thần, gần 2
năm sau mới thả ông về thì ông cũng không sống nổi quá một tháng. Mẹ tôi bị
trầm cảm, cả ngày chẳng nói một lời với bất cứ ai. Khi tôi ra tù về bà có nguôi
ngoai chút ít và lúc tỉnh táo nhất là lúc bà vào Hội An thăm tôi rồi khuyên tôi
phải bỏ xứ mà đi tìm đường sống. Bà bảo: “Đất nưóc này không có dung chứa con
đâu”. Tôi từ giã mẹ khóc sưng cả mắt. Chị hai tôi bán nhà của ba má ruột, rút
về bên nhà chồng ngoài Hội An sống với 5 đứa con sau khi ba má tôi mất. Ông anh
rể là đại úy tiểu đoàn trưởng địa phương quân bị đưa đi Bắc năm 1977 thì bị
bịnh kiết lị chết chẳng biết chôn ở đâu. Con vợ tôi cưới chưa đầy năm bỏ
đi lấy làm bé thằng chủ tịch xã, ông thấy có tức không? Thà rằng nó lấy ai cũng
được đằng này lại đi lấy ngay một thằng hại cả gia đình mình.
Tôi lặng im nghe Bách kể mà bùi ngùi. Tôi bảo:
- Cô ta lấy hắn chắc
cũng vì cuộc sống mà thôi, trách làm gì! Cậu phải biết là khi tụi mình đi
tù, chỉ có đám cán bộ mới có khả năng kiếm ra đồ ăn mà chu cấp cho người khác.
Đừng trách cô ấy, cô ta còn quá trẻ mà. Vả lại, chính cậu đâu có tin rằng khi
đi tù rồi sẽ có một ngày cậu trở về, phải không?
Bách nghe tôi nói,
ngồi lặng im không lên tiếng nữa, tôi chẳng biết hắn nghe lời tôi nói là có lý,
hay cho rằng những lời khuyên đó chỉ là lời nhảm nhí cũng nên.
------
Sáng hôm sau, Tiểu Đoàn 41 BĐQ phía bên kia kinh lục soát tiến quân lên ngang
với chúng tôi. Tiếng Thông, thằng bạn cùng khóa hỏi vọng sang:
- Tiểu đoàn mấy đấy?
Một người lính trong
đại đội trả lời:
- Tiểu Đoàn 2/11.
- Có trung úy Vũ đó
không?
Tôi nhận ra Thông. Hắn
đưa tay vẫy, hỏi vọng sang:
- Mày khỏe không? Có
gì lạ không? Vợ con gì chưa?... Tôi cười lớn:
- Không có gì mới,
cũng vẫn vậy thôi.
Hồi trên Võ Bị, hai
đứa chúng tôi cùng chung đại đội F. Thông người Huế tính hiền lành dễ thương,
ít nói. Thỉnh thoảng hai đứa về gặp mặt nhau tại Mỹ Tho thường rủ nhau đi nhậu
tại các quán bên sông.
Tôi hỏi:
- Có thấy dấu vết gì
không?
Thông bảo:
- Vết máu me tùm lum
với vài cái xác và mấy tên ngắc ngoải nằm lại, còn tụi nó chạy về hướng Bắc hết
rồi.
Tiểu đoàn chúng tôi được lệnh gom những thương binh về một địa điểm để di tản,
riêng những người chết thì được chở sau. Sau đó, đơn vị được lệnh bọc theo kinh
đi ngược ra quốc lộ 4 trở về quận Cai Lậy. Chúng tôi nhận lệnh đêm nay sẽ tạm
trú quân theo xóm ven quận để làm trừ bị cho tiểu đoànTQLC và 2 tiểu đoàn bộ
binh khác của TrungĐoàn 12 tiếp tục truy kích địch đang đào tẩu về hướng Đồng
Tháp. Trên đường đi ra quốc lộ, tôi bắt gặp từng đoàn ghe xuồng nhỏ nối đuôi
nhau quay trở về khu vực giao tranh hôm qua. Bà con dân làng trở về xem nhà cửa
của mình ra sao. Cuộc chiến tranh này thật tức cười, giống như một trò chơi.
Tôi thầm nghĩ khi nhìn thấy những dân làng đang trên đường trở về nhà nơi cuộc
giao chiến chưa bay hết mùi thuốc súng. Họ sẽ vun quén thu dọn lại đống tro tàn
đổ nát lợm mùi tanh của máu và mùi khét của thịt da người và súc vật chết, để
rồi một ngày nào sau đó khi những đơn vị cộng sản trở lại, lại có một cuộc giao
tranh mới! Rồi chạy tiếp, làm hoài. Không biết những người dân vô tội đó đang
suy nghĩ gì?
Cuộc chiến này đã làm mọi người dửng dưng với sự đau thương mất mát, với cái
tàn bạo vô nhân rồi. Tất cả chỉ một trò chơi trốn tìm. Cuộc chơi có súng đạn
thật và người chết thật, chỉ có những lời tuyên bố của các chính trị gia hàng
ngày trên báo chí đài phát thanh là giả dối thôi. Cay đắng là cả người tìm, lẫn
người trốn đều không muốn gặp mặt nhau, bởi vì, cứ mỗi lần gặp mặt như thế,
biết bao oan khiên tang tóc lại đổ ập đến. Tối hôm ấy, 5 đứa chúng tôi, Nguyễn
Thông, Tiểu đoàn 41/BĐQ, Trịnh văn Huệ và Nguyễn ngọc Điệp, TQLC, Vĩnh Nhi,
Tiểu đoàn 3/12 và tôi kiếm một quán nhỏ góc chợ ngồi uống bia. Lâu lắm kể từ
ngày ra trường, đã gần 2 năm bây giờ mới có dịp gặp nhau đông như vậy. Chúng
tôi ngồi kể nhau nghe những bạn cùng khóa đã ra đi, ôn lại những kỷ niệm trong
sáng hồn nhiên lúc còn ở trường, những giờ học văn hóa, những buổi tập quân
sự... Gần nửa đêm, Nhi đứng dậy nói với Huệ và Thông: “Thôi tụi bây về nghỉ đi
ngày mai phải đi sớm rồi đó nha!” Chia tay nhau ai về đơn vị nấy mà thấy trong
lòng nao nao. Có lẽ bởi vì cuộc chơi trốn tìm này lại tiếp tục khởi đầu ở một
vùng địa thế khác. Biết đâu cuộc hội ngộ đêm nay cũng là cuộc vĩnh biệt của một
đứa nào đó trong bọn vào ngày hôm sau!
Rốt cục, cuộc chơi nửa nước đi tìm nửa kia đi trốn cũng đã chấm dứt gần 10 năm
sau bữa nhậu của chúng tôi đêm ấy. 3 trong 5 đứa cũng không còn. Giờ đây chỉ
còn lại Thông và tôi. Ngày 30 tháng 4 năm 75, hai bên trốn và tìm đã giáp mặt
nhau. Mọi che giấu được phơi bày. Dân tộc tôi lê lết ra khỏi cuộc chiến tranh
với thương tích đầy mình và một tâm thần hoảng loạn hoang mang tột độ. Và cũng
từ buổi sáng tháng tư năm ấy cả dân tộc lại dắt tay nhau bước vào một cuộc trốn
tìm mới. Lần này thay đổi thành phần tham dự, đảng cầm quyền truy đuổi, cả dân
tộc tôi đi trốn! Dân tộc tôi ơi, biết đến bao giờ mới được sống bình yên?
-----
Trời đã bớt mưa hơn những tuần trước đó. Một hai
ngày nắng ráo xen kẽ trong tuần lạnh cóng cả người. Buổi chiều ngày Lễ Tạ Ơn
trời lất phất mưa. Lái xe đi qua những khu nhà sang trọng đèn kết thành chùm
lấp lánh chiếu sáng, bỗng dưng tôi nhìn thấy hình ảnh những ngày mưa của vùng
Đồng Tháp ngày nào trong quá khứ trên quê hương. Nhớ tới những đồng đội của tôi
đã nằm xuống trên khắp vùng đất nước. Thương những người dân quê chân chất trên
những vùng đất xa xôi hẻo lánh với những cái tên hết sức bình dị mộc mạc: Xóm
Ông Bốc, Xóm Ông Đùm, gẫy Cờ Đen, Cờ đỏ, Cổ Cò, Cái Quao, Cái Mơn, Sông Trăng,
Mỏ Vẹt, Hốt Hoả, Cầu Ngang, Cầu Kè, Ô Lắc, Bà Om, Sóc Ruộng... Những nơi
ấy tôi đã đi qua. Máu của chúng tôi đã đổ xuống, một số đồng đội chiến hữu của
tôi đã nằm lại.Chúng tôi, những người lính chiến đã từ trong không gian đan dầy
dấu đạn, bước trên những nẻo đường chằng chịt bom mìn, đã hít thở cái không khí
nặc nồng trí trá và phản bội để ra khỏi cuộc chiến, trong nỗi cô đơn và khổ đau
tận cùng của kiếp nhân sinh. Một cảm giác rất mạnh như bỗng dưng có ai chặn
ngang cổ. Tôi cho xe dừng sát bên lề đường. Mắt tôi mờ đi không biết vì cơn mưa
ngoài kia hay bởi một cơn mưa khác đang đổ xuống ngay trong chính lòng mình.
Song Vũ
No comments:
Post a Comment