Bức thư đến, vô tình chấm dứt bữa cơm tối của đôi vợ chồng già, và tự dưng rẽ họ về 2 phía trái ngược nhau. Bà Cảnh chợt thấy miếng cơm nghẹn đắng ở cổ và một cái gì anh ách ở đâu đó trong bộ ngực lép xẹp khi nhìn sự hồ hởi thái quá cũng như niềm vui đột ngột không thể giấu được trên nét mặt chồng. Bà thừa hiểu đó là thư của Tâm, mẹ cái Gianh, bởi chỉ thoáng qua cái cười lẫn trong râu và cái nháy mắt ranh mãnh của ông bạn già giao thông xã lúc dúi bức thư vào tay ông Cảnh qua hàng rào dâm bụt thì biết rõ.
Ông Cảnh vừa có chén
rượu trước lúc xới cơm, nên trong người thấy phấn chấn, và không hiểu sao, lại
hứng khởi nhắc đến cái chuyện hồi còn nhỏ của hai người, làm bà Cảnh vừa thích
thú cười móm mém, vừa e thẹn đỏ cả mặt. Đấy là cái thời gái 17, trai đôi mươi,
trẻ nhất làng, đêm đi tham gia cổ động, đuốc cháy đỏ trời, khi tan cuộc hai
người trở về trên lối cũ tối om, đây đó dọc vệ đường còn leo lét những tàn đuốc
cháy trong cỏ. Khi đó, không hiểu sao ông nhắc đến chuyện lũ rắn cạp nong hay
theo đóm ăn tàn và bà, cũng không hiểu sao đi sát ông hơn và quờ tay nắm lấy
khuỷu tay ông, bắt đền phải đưa về tận nhà. Bàn tay của họ tìm nhau trong bóng
tối và như có một luồng điện truyền qua, khiến họ lặng đi, nóng rực, chỉ nghe
rõ lời của hai trái tim đập dội trong lồng ngực. Đó là cái phần đời đẹp đẽ và
duy nhất họ có được với nhau trong hơn 30 năm qua và ông chỉ nhắc khi có hai vợ
chồng, muốn làm vui lòng bà. Bà Cảnh nghe ông nhắc lại chuyện ấy không biết bao
lần kể từ hồi gặp lại nhau, nhưng lần nào bà cũng thấy mới mẻ và thích thú rơm
rớm nước mắt. Hôm nay cái Gianh vắng nhà, nó bận tham gia đợt dã ngoại lên Bạch
Mã của học sinh cấp 3, nên ông Cảnh nhắc lại chuyện cũ chẳng cần ý tứ.
Bữa cơm đang vui vẻ và
ngon miệng như thế, thì cái thư đến, và họ chẳng thể tiếp tục như cũ được nữa.
Bà Cảnh ngồi thừ người, tay chống đũa trong bát cơm ăn dở, và nhìn ông Cảnh một
cái nhìn trách móc, tủi hờn của kẻ “chồng chung ai dễ chi nhường cho ai”. Ông
Cảnh, có lẽ do quá mừng, đã không chú ý đến điều đó, tay run lẩy bẩy lật đi lật
lại phong thư, miệng lẩm bẩm như nói với mình: “Thư của Tâm, thư của Tâm, bà nó
ạ”. Và suýt nữa ông hôn lên những nét chữ quen thuộc trên phong bì, nếu không
kịp liếc qua mặt vợ. Ông cố lấy lại bình tĩnh bằng câu nói to: “Để xem... thư
nói gì nào...” nhưng tay ông luống cuống đến mức bóc rách cả phong bì, và khi
dí trang thư vào bên cạnh đèn, ông mới biết là mình lật đật bỏ quên cái kính
lão ở đâu......
Bà Cảnh không tài chi
ngủ được, cứ rên hừ hừ như mọi lần bà cần rên. Nhưng đêm nay, bà thực sự thấy
mình mệt mỏi quá sức, yếu đuối quá sức. Bà trở mình liên tục và thấy đau nhức
từng khớp xương ống chân, ống tay. Hình như những đòn tra tấn của giặc xưa kia
nó lặn đi đâu, giờ trở lại hành hạ bà. Và điều này lại khiến bà càng hờn giận
những “ai” đó gấp bội. Hừ... hừ... “Người ta” sao lại quá sung sướng đến thế!
Được tập kết ra Bắc, được sống rong ruổi đây đó ở nơi xa bom đạn, thế chưa đủ
sao? Mà “người ta” còn rửng mỡ đèo bòng, còn thêm vợ nọ con kia? Để bây giờ...
Bà Cảnh bực bội trong
cơn ghen tức âm thầm khi thấy ông Cảnh vẫn chưa chịu tắt đèn đi ngủ, ngồi lặng
lẽ bên bàn trà, thỉnh thoảng mở trang thư ra đọc lại và hình như còn cười thầm
1 mình nữa. Bức thư của Tâm viết có mấy dòng, rằng chị ốm đã mấy hôm nay, rằng
không hiểu sao chị thấy nhớ cái Gianh quá. Và lần này xin phép “anh chị trong
nớ” cho em nó ra quê chơi ít bữa.
Hừ... Ôi dào, bà thì
bà hiểu tâm địa các người, bà đi guốc trong bụng các người, “ốm đã mấy hôm
nay”, dễ thường đời này chỉ một mình chị ốm chắc? Hừ... hừ... “Không hiểu sao
thấy nhớ cái Gianh quá”. Nhớ cái Gianh hay nhớ “anh Cảnh”? Điều đó thì rõ như
ban ngày rồi, lại còn “không hiểu sao”! Mà cái Gianh mới 15 tuổi ranh ấy đi từ
trong ni ra ngoài nớ một mình được răng? Khiếp. Thế mới biết người ta nhắn nhe
hẹn hò nhau khôn ngoan đáo để chưa, ranh ma chưa! Nhưng không qua nổi mắt gái
già này đâu! Bà thì bà biết tỏng tòng tong cái tổ con chuồn chuồn! Hừ... hừ...
Nỗi bực bõ và đau khổ
ngấm ngầm cứ giày vò, hành hạ bà. Đầu tiên bà đổ lên đầu ông Cảnh, người chồng
đã bội bạc lời nguyền ước xưa: “Chỉ 2 năm thôi, 2 năm là anh lại về... Em ở lại
cố...” Bà nhớ lúc đó, bà quàng cái tay nải gạo qua chiếc ba-lô của ông và nói,
cố dằn cơn nhớ nhung, tủi hờn đang dâng lên trong cổ: “Anh đi sức gối mạnh
chân... chớ lo chi cả. Mọi cái ở lại đã có em...” Bà phải cắn vào ngón tay mình
để khỏi bật ra tiếng khóc, tiếng khóc của người vợ vừa mới bén hơi chồng 3 hôm
đã phải chia xa. Hừ... hừ... Thế mà ông đi biền biệt, không một mẩu tin, hơn 20
năm mới trở lại. Và khi trở lại, nào phải chỉ có một thân một mình.
Đành rằng, cái chuyện
trở về không đúng hạn chẳng phải riêng ông, và cũng chẳng phải lỗi tại ông,
nhưng bà vẫn thấy tưng tức. Ông trở về, lại dắt theo một con bé chừng mươi tuổi
và tươi cười hơn hớn bảo với bà rằng: “Đây, con chúng ta đây!” Ôi chao rứa có
xung máu không? Đã không thấy được cái lỗi của mình, lại còn xưng xưng như thể
vừa lập được chiến tích. Té ra, bà phải chịu cảnh tù đày, tra khảo để cho “các
người” ở ngoài nớ tha hồ mà... Lần ấy suýt nữa bà đã nổi trận lôi đình ngay
giữa họ hàng, chòm xóm cho đã cơn giận. Nhưng cái vẻ ngây thơ con trẻ trên
gương mặt phúc hậu sáng sủa và cái vẻ khép nép của người chịu nhún thay mẹ của
con bé đã làm dịu đi cơn tam bành của bà.
Nhưng liền đấy, bà thấy tủi thân tủi phận quá thể. Và bà òa khóc. Ông Cảnh ngỡ đấy là những giọt nước mắt mừng rỡ của ngày gặp mặt, nên cứ vuốt mãi mái tóc sớm bạc của bà mà an ủi, rằng đất nước đã trọn vẹn, rằng giờ anh đã trở về đây, em đừng khóc nữa.
Ông Cảnh đâu hay rằng
tận sâu thẳm tâm can, bà buồn tủi biết bao, thấy mình mất mát biết bao! Phải.
Ngày ấy chia tay chồng chưa được mấy tháng, có kẻ đã rình rập theo dõi. Rồi cái
“luật mười năm chín” đẫm máu tràn qua, xóm thôn tan nát, bàng hoàng như vừa qua
cơn ác mộng. Bà bị chúng bắt lên bắt xuống, tra khảo, đòi tuyên bố từ bỏ người
chồng ngoài Bắc không biết bao lần. Người mẹ chồng già yếu đã không qua nổi đòn
thù, để lại một mình bà trơ trọi, cô độc như một nhành cây yếu đuối trước bão
tố, với cái tuổi 25 dằng dặc nỗi nhớ chồng nơi xa ngái...
Không biết bà sẽ sống
tiếp ra sao, nếu không có tổ chức đến móc nối, và dẫn dắt bà. Và nỗi nhớ chồng,
lời nguyền ước lúc chia tay lần ấy của ông, đã thành chỗ nắm vịn, chỗ tựa đỡ
cho bà đi qua những tháng năm nghiệt ngã... Lần sơ sảy duy nhất trong quãng đời
hoạt động của bà, là lần tổ du kích bố trí giết tên xã trưởng ác ôn giữa ban
ngày. Công việc thực hiện trong một khoảnh khắc cực kì mạo hiểm, tới mức khi
cài được tờ lệnh thi hành án của Mặt trận lên cái cúc áo giữa ngực của tên bán
nước, nơi cạnh đó là một lỗ thủng của viên đạn còn rỉ máu, thì bà nhận được ám
hiệu có động. Bà chỉ kịp rút lui một quãng và thay đổi bộ lốt hợp pháp, thì bị
bắt. Chúng nghi chính bà đã làm cái việc tày trời đó, nhưng vẫn chưa có cơ sở
xác đáng, phần nữa, chắc chúng còn muốn khai thác, đơm nhử đồng đội bà, nên
chúng giam bà trong một xà-lim kiên cố. Rồi từ đó, bà bị đẩy từ nhà tù này đến
nhà tù khác, với bao nỗi cực nhọc không nhớ hết. Và cái phương cách giúp bà
vượt qua những cực hình khủng khiếp của kẻ địch, là trong đầu bà luôn choán
ngợp hình ảnh ông, là những đêm gối ấp tay kề ngắn ngủi, là lời trao gửi cho
nhau ngày chia biệt...
Cho đến một hôm, nghe
súng nổ loạn xạ, rồi xà-lim bật mở, và ngoài sân lố nhố bóng áo xanh mũ tai
bèo, bà mới tin là mình thoát chết. Bà đã sống trong niềm vui tràn ngập nụ cười
đẫm nước mắt của ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, trong nỗi háo hức chờ đón
chồng trở về. Và vợ chồng sum họp như xưa...
Những bực bõ, hờn ghen
về sự năm thê bảy thiếp của chồng phút đầu, rồi cũng qua đi. Dẫu sao, giờ đây
ông cũng đã trở về với bà, hiển hiện, bằng xương bằng thịt sờ sờ ra đấy, chứ
không phải trong mơ như trước. Từ nay bà sẽ giữ riệt lấy chồng, sẽ không để mất
ông một lần nữa, không sẻ chia cho bất kì ai nữa...
Nhưng, ngay đêm đầu
tiên hai vợ chồng có được sau hơn hai mươi năm trời cách biệt, bà đã khóc tức
tưởi, đấy là những giọt nước mắt buồn tủi và thất vọng về niềm hạnh phúc, đến
lúc ấy, bà mới chợt nhận ra rằng mình đã quá già, đã ngoài năm mươi, rằng cái tuổi
hồi xuân ngắn ngủi của người đàn bà đã qua đi từ hồi nảo hồi nào trong tù.
Tiếng khóc của bà rấm rứt mãi khiến ông Cảnh tỉnh giấc. Có lẽ ông không hiểu
bà, nên đã kéo bà vào lòng, dỗ dành như một nhà thuyết giáo: “Hoàn cảnh đất
nước, hoàn cảnh lịch sử, chứ đâu phải riêng mình ta, em?” Nhưng dẫu sao câu nói
trong khuya và cử chỉ khuyên bảo âu yếm của ông cũng làm bà dịu lại. Hoặc giả
chính bà cố dịu đi để ông khỏi mất ngủ. Bà thương ông lắm lắm, giận thì giận,
bà vẫn thương chiều mọi sở thích của ông như bao người đàn bà biết sống một mực
về chồng...
Có một điều, phải, một
điều thôi, bây giờ bà không thể vì thương ông, vì nể ông mà gắng chiều được
nữa. Với cái tuổi chưa đến sáu mươi, nước da đỏ au nhanh nhẹn và còn tráng lực
như ông, đã nói chi chuyện già? Chao ôi, tạo hóa sao nỡ bất công đến thế? Trong
khi bà chỉ thua ông vài tuổi. Có thể một phần do bị tù đày tra khảo, phần nữa
sống trong trạng thái mòn mỏi mong chờ, đã đẩy bà nhanh qua cái mốc ấy khi nào:
để bây giờ người bà chỉ còn như con mắm khô quắt, và hết kiệt mọi ham muốn, mọi
thèm khát, nếu không muốn nói là “chuyện ấy” trở nên cực chẳng đã với bà. Ban
ngày mọi lo toan làm khuây khỏa, nhưng đêm đến là nỗi lo âm thầm của bà.
Quả thật, với bà, đêm
chỉ muốn ngả lưng cho sớm, sau khi đã nhẩm đếm số tiền bỏ ra và số tiền nhặt về
của gánh rau mùi trên vai sau mỗi buổi chợ rồi một giấc ngủ êm nhẹ của người
già đến từ lúc nào. Cho đến khi thấy mỏi nhừ và đau ở sống lưng biết là trời
sắp sáng, bà dậy đỏ lửa, đun cho ông ấm nước pha trà và bắc lên nắm gạo nấu
miếng cơm cho cái Gianh đi học.
Cái mong ước ấy của bà
ít khi thực hiện được, bởi đêm đêm bên cạnh bà, ông Cảnh hình như không ngủ, cứ
hay trở mình, gác tay gác chân, và đôi khi trườn cả người qua người bà. Thương
ông bà gắng chiều, nhưng sự gắng chiều ấy đã trở thành một sự chịu đựng...
Rồi bà cũng tìm được
cách khéo léo để “cách ly” ông. Đấy là một dịp mùa hè đến, bà bảo ngủ chung
nóng lắm và dọn cho ông một giường riêng. Cái nhà ba gian, gian liền sát bếp là
chỗ của bà và cái Gianh (buồng bà phía trong, giường cái Gianh ở phía ngoài, cạnh
cửa sổ, giữa là lối đi xuống bếp), gian giữa đặt bàn thờ ở phía trong, phía
ngoài là bộ bàn trà, gian trên cùng đặt giường của ông. Bà yên tâm vì đã tìm
được cách mà bà cho là diệu kế này. Nhưng bà nhầm, bà không tính đến chuyện ông
có đôi chân. Một tối, bà đang nằm thiêm thiếp thì chợt nghe tiếng dép nhè nhẹ
đi đến, rồi thấy ông quờ tay lên người bà, vuốt tóc bà và khẽ nằm xuống bên
cạnh bà...
Từ đấy, bà nín thở và
thon thót lo mỗi khi có tiếng dép của ông lê qua, dù có khi ông chỉ đi tiểu
tiện. Có một lần, không hiểu vì quá lo lắng, hay vì một lí do gì khác, bà bỗng
lên tiếng rên khe khẽ khi có tiếng dép của ông từ xa. Và lần ấy tiếng dép của
ông chần chừ một giây rồi xa dần và im hẳn. Bà nín cười... Đấy, cái sự thỉnh
thoảng hay rên hừ hừ về đêm của bà, có căn nguyên vậy đó.
Nhưng, hôm nay bà rên
không phải vì lí do đó, bà thực sự thấy mình đau yếu, thấy mình bất lực. Bà lo
không biết xử trí ra sao trước yêu cầu thế nào cũng nói vào sáng mai của ông,
là sẽ đi ra ngoài ấy thăm Tâm. Trước đây, lâu lâu ông xin phép bà đi thăm bạn
bè, hay bà con đâu đó dăm bảy bữa, bà không đắn đo cân nhắc, thoải mái chấp
nhận ngay, và thậm chí còn chuẩn bị chu đáo cho ông đi xa. Nhưng bây giờ, không
hiểu sao bà hoàn toàn không muốn ông đi ra ngoài ấy một chút nào. Trái tim bà
như bị ai bóp chặt khi mường tượng rằng ông sẽ được Tâm chăm sóc vồ vập như
trời hạn lâu ngày gặp mưa, rằng đêm đêm hai người má ấp vai kề, thầm thì “anh
anh, em em” mọi điều nhung nhớ, rồi...
Hừ... hừ... không,
không thể được. Ông ấy là chồng bà, là của riêng bà, không ai có quyền... Phải!
Bà không chấp nhận chuyện đó. Bà không thể để ông đi. Hừ... hừ...
Và, suốt đêm bà không
sao chợp mắt, vừa rên vừa nghĩ kế giữ chân ông.
Sáng hôm sau, ông Cảnh
không ngồi nhấm trà như mọi khi, mà xăm xắn đi vào đi ra, khi xếp các thứ rau
vào rổ cho bà, khi tìm đôi quang gánh ở chái bếp... Bà Cảnh biết ông định nói
điều gì rồi, nhưng bà giả lơ, không đụng đến. Cho đến khi bà cắp nón và ghé vai
vào chiếc đòn gánh tre mỏng mảnh, ông Cảnh mới ấp úng, như đứa trẻ có lỗi:
- Mình ạ... Có lẽ...
tôi phải đưa cái Gianh ra quê, nhân thể xem mẹ nó ốm đau thế nào...
Biết ngay mà! Bà Cảnh
ngừng lại, lấy tay quệt thứ bã trầu dính đỏ bầm khóe miệng, ra chiều cân nhắc
một giây, rồi xởi lởi:
- Ờ... Mà để tui
coi... Từ hồi được làm chị làm em với mẹ cái Gianh tới chừ, đã khi mô ông cho
tui được gặp mặt bà con họ hàng dì ấy ngoài nớ? Thôi chuyến ni nhân có mấy ngày
nghỉ, ông để tui đưa cái Gianh đi, chị em gặp nhau lâu lâu.
Bà nói và quày quả đặt
gánh lên vai như thể sợ kéo dài chợ trưa, và như thể chuyện không có gì phải
bàn lại nữa, khiến ông không kịp phản ứng gì. Khi bà ra khỏi cửa rồi, ông mới
ngớ ra, mới kịp hiểu, và đứng ngẩn tò te hồi lâu như đứa trẻ bị cụt hứng, trước
cái lí lẽ đơn sơ mà chết cứng ấy của bà...
Bà Cảnh, sau chuyến đi
cùng cái Gianh ra thăm “dì nó” trở về, hoan hỉ như sau một chuyến công cán dàn
xếp thắng lợi. Bà hồ hởi kể với ông say sưa bao nhiêu thu nhặt được ở quê
“ngoài nớ”: Nào cái dòng sông Gianh nước trong và xanh dễ sợ, cứ ngỡ không có đáy,
nào chạy dọc hai bờ bãi là tít tắp ngô non và lạc, với bốn bề viền những bờ dâu
xanh mướt, nào đi trong đường quê cấm có thấy ánh mặt trời, cam bưởi cứ thả
hương quấn quít theo người, nào bến sông chiều con gái tắm đông chi lạ, o mô o
nấy tóc dài và da trắng hết chỗ nói...
Bà vô tình, hoàn toàn
không hay biết rằng, đã chạm đến nỗi niềm sâu kín nhất trong lòng ông Cảnh. Bà
đơn giản nghĩ rằng, tả thực cảnh quê hương ngoài đó, cái quê hương mà quả thật
đã khiến bà thích thú, sẽ làm ông vợi nỗi nhớ Tâm. Điều bà luôn luôn mong muốn
là làm sao trong ông hình ảnh Tâm không vượt trội bà. Nhưng bà đâu hay rằng
chính những điều bà nói, đã thắp bùng lên nỗi nhớ Tâm cháy bỏng trong ông.
Chao ơi, cái làng quê
bên bờ sông Gianh ấy cứ như là nơi ngọn nguồn nỗi nhớ của ông. Thuở ấy, ông còn
trai tráng lắm. Đơn vị hải quân của ông đóng ở cảng Cửa Gianh, trấn giữ một
vùng mặt biển và một cửa sông trên bến dưới thuyền tấp nập. Chiều chiều, dòng
sông xanh chở những con tàu trắng đi lại giữa hai bờ làng quê trù phú yên vui.
Những cô gái gánh cá lên bờ còn ngoái lại trêu mấy chàng lính thủy trên tàu.
Nhưng cảnh thanh bình ấy chấm dứt đột ngột, khi những quả bom đầu tiên của giặc
Mĩ ném xuống miền Bắc lại rơi đúng bến cảng này.
Không thể tiếp tục
cuộc chiến đấu bất lợi giữa những con tàu chỉ đi lại được trên mặt nước hạn hẹp
và trống trải, với lũ diều hâu rộng đường nhào lộn trên không và có vũ khí
la-de lợi hại, đơn vị ông chuyển sang lối đánh du kích. Và những con tàu đang
đêm lặng lẽ ngược dòng sông Gianh, về neo ẩn dưới những lùm tre cao vút, xanh
um vươn ra mặt sông, như từ lâu nó đã chuẩn bị cho cuộc chiến đấu ác liệt này.
Rồi từ đó, đêm đêm, dòng sông Gianh lại lặng lẽ tiễn đưa những con tàu ra đi
trong nỗi thắc thỏm mong chờ... Để sớm hôm sau, trước khi có ánh ngày, những
con tàu lại trở về nằm nghỉ dưới những lùm tre cao vút, xanh um, lim dim nghe
sóng sông Gianh vỗ về ru hát, thì trên mặt báo in đậm những chiến công của nó:
số tàu chiến giặc bị đánh chìm, số xuồng biệt kích bị bắt gọn ngoài khơi. Đó là
nỗi kinh hoàng của bọn giặc biển và nỗi khủng khiếp đến phát điên của bọn giặc
trời Mĩ. Và hàng trăm tốp máy bay phản lực ngày càng sục sạo ráo riết khắp nơi
mọi chốn, cố tìm cho ra dấu vết những con tàu bé nhỏ của đơn vị ông.
Ông nhớ một lần, những
mái hầm của tiểu đội ông chưa kịp ngụy trang trước lúc ra đi, sớm hôm sau trở
về đã thấy mọc dày những cây dâu non. Ông không ngờ có một bàn tay con gái đã
làm việc đó. Và, cái chàng lính thủy ấy đã “vương phải tơ” của người con gái
đất Phù Kinh tơ lụa. Những người lính chuyên đánh trận về đêm, ban ngày cố ngủ.
Nhưng ông nào ngủ được đâu khi gót chân của nàng nhẹ êm bên cửa hầm và bàn tay
quay xa của nàng như múa? Cái đuôi mắt hình lá dâu của nàng cứ mở to lo lắng và
hồi hộp ngóng theo bóng con tàu của ông ra đi lúc hoàng hôn.
Rồi một hôm, ông nhớ
rõ là một sáng mùa hạ trời rất trong, trong đến nỗi có thể trông rõ những nhành
cây khẳng khiu với những tán lá lưa thưa trên vách lên màu xám của chín mươi
chín chóp núi đá vôi của dải Phượng Hoàng chạy dọc phía Nam dòng sông, không
hiểu chúng nghi là những con tàu nép hai bờ sông, hay chỉ là sự điên cuồng săn
tìm trả thù vu vơ, mà bầu trời yên vui ban mai bỗng chốc đen đặc bóng lũ giặc
trời. Thoạt đầu chúng chia thành hai toán bay hàng dọc theo hai hướng đi qua,
rồi đột ngột quay ngoặt trở lại, ngỏng những cái cổ ánh bạc lên cao và bất thần
đâm bổ xuống dòng sông. Cùng với tiếng rú rít gào thét man dại của hàng chục
động cơ máy bay, tiếng nổ váng óc của mưa bom, của rốc - két và tiếng giòn đanh
của các ổ đại liên, mười hai ly bảy dân quân vây bủa trên các đỉnh lèn đánh trả
quyết liệt, là những cột nước từ lòng sông, những cột lửa từ hai bên bờ dựng
vụt lên trời. Tất cả như chìm trong một vùng hỗn chiến của lửa, nước chạy dọc
hai triền sông.
Nhưng, như có phép
thần, những lùm tre vẫn gan góc vươn ra che chở những con tàu. Và dòng sông
Gianh cũng như đất mẹ hai bờ hứng chịu các luồng bom không chút chần chừ. Càng
sục sạo săn tìm, lũ giặc trời càng điên cuồng cắt bom hối hả...
Và, trong tiếng đạn nổ
bom gào, những người lính thủy nghe rõ cả tiếng trẻ con khóc thét, tiếng của
người bị thương kêu rên, tiếng gia súc thét rống, tiếng của những ngôi nhà bốc
cháy nổ lốp đốp... Trái tim của họ đau nhức nhối. Không thể được! Không thể để
nhân dân vì ta mà mất mát đến tính mạng và tài sản quá thể, con tàu ông xin
lệnh nhổ neo, kéo cờ đỏ sao vàng, mặt đối mặt với lũ giặc trời Mĩ, thu hút các
luồng bom, để bảo vệ nhân dân và hàng chục con tàu khác.
Phút chốc, con tàu
chiến sơn màu nước biển, ở đâu đó lao vút ra giữa dòng sông. Trên boong những
người lính, không ai bảo ai, gọn ghẽ trong bộ đồ lính thủy mới nhất của mình:
chiếc áo trắng in những con sóng xanh, chiếc mũ xanh có hai đuôi én tung bay, lanh
lẹn và bình tĩnh ngồi vào vị trí chiến đấu quen thuộc quanh cỗ pháo hai nòng
vươn thẳng lên trời một cách tự tin. Lũ máy bay giặc, như một bầy nhặng, bâu
lấy con tàu của ông.
Ông nhớ là lúc đó, ông
hoàn toàn không nghe một tiếng bom nào, chỉ thấy loang loáng những bóng đen to
nhỏ khác nhau lao thẳng từ trời cao vút xuống hạm tàu. Con tàu khi nghiêng khi
ngửa, khi chồm lên khi giật lùi, vừa tránh bom đạn vãi tứ phía, vừa nhả đạn
đánh trả quyết liệt. Nước sông Gianh lúc đó cứ sôi lên sùng sục ở hai mạn tàu,
và như nhuốm đỏ bởi máu đồng đội.
Về chiều, con tàu như
kiệt lực vì thương tích đầy mình mẩy và vì những hòm đạn từ đất liền chuyển ra
trên những con thuyền nhỏ nhoi của các cô dân quân với búi tóc tròn và bộ đồ
đen nước dính chặt thân người, vừa bơi vừa đẩy dưới mưa bom, có lúc không đủ
nạp cho cỗ pháo hai nòng bấy giờ đã đỏ bỏng. Không biết lũ phi công Mĩ nhận
biết điều đó, hay chúng sợ tối trời để sổng mất con tàu, đã tập trung đánh đòn
cuối cùng xuống con tàu của ông. Ông nhớ là lúc đó, ông thấy chớp lóe trùm con
tàu, và mình bị hất tung xuống lòng sông như một tảng đá. Từ đáy sông lắng cát,
không biết nhờ một sức mạnh nào: có lẽ là sự sống còn sót lại ở hơi thở cuối
cùng trước khi tắt lịm, đã đẩy bật ông lên khỏi mặt nước. Nhưng hai cánh tay
ông hình như không còn điều khiển được nữa, và trở nên nặng nề, đau buốt trong
sự quẫy đạp của ông. Ông bơi chỉ bằng hai chân, đúng hơn là ông chống chọi
tuyệt vọng với thần chết đang nắm hai tay ông từ từ kéo xuống lòng sông ngạt
thở...
Ông tỉnh dậy khi hoàng
hôn vừa buông xuống mép nước, bên bờ dâu thẫm xanh, nằm ngửa trong vòng tay một
cô gái áo quần ướt sũng. Dòng sông và bầu trời yên ắng trong mầu tím sẫm của
nó, như chưa từng mấy phút trước đó có cuộc ác chiến nước sôi lửa bỏng. Không
biết nước từ mái tóc rối bời của người con gái chảy xuống, hay nước từ cái đuôi
mắt hình lá dâu mở to lo lắng của nàng nơi mặn chát môi ông...
Chính tình yêu đã giúp
Tâm tìm được ông ở phút hiểm nghèo, và vừa bơi vừa dìu ông từ giữa dòng sông
mênh mông vào bờ, trong đôi tay quay xa kéo sợi dẻo mềm của gái Phù Kinh, dưới
cái bầu trời mưa bom khủng khiếp ấy.
Sau này, khi cuộc
chiến ngày càng ác liệt, có lẽ vì cái thời điểm về Nam của mỗi người đã trở nên
không hạn định được cụ thể, ở trên người ta cho phép những người tập kết ra Bắc
có thể xây dựng gia đình. Và ông đã cưới Tâm. Để kỉ niệm trận đánh không quên
ấy, họ đã chọn tên sông đặt cho con gái của mình.
Ngày đất nước hoàn
toàn giải phóng, ông trở về thăm quê, không ngờ người vợ thuở ấy, sau bao năm
tù tội, giờ vẫn còm cọm chờ ông. Lúc đó theo lời khuyên của Tâm: “Anh sống với
em như thế là đủ cho em một đời hạnh phúc rồi, bây giờ anh hãy vì chị ấy... Chị
ấy nào đã trọn một ngày gọi là hạnh phúc...” Ông trở về, và mang theo cái Gianh
cho đỡ nhớ...
Điều hoàn toàn bất ngờ
và khó xử đã xảy ra ngoài suy nghĩ của bà Cảnh (có lẽ cả ông Cảnh nữa) là sự
xuất hiện của Tâm ngay sau khi bà từ ngoài ấy trở về được ba hôm. Chiều ấy, ông
Cảnh vừa hoàn thành một vòng bơi và vừa mặc quần áo, ông vừa cảm thấy hài lòng
vì sự dẻo dai của mình vẫn còn khả dĩ. Ông trở về lòng thư thái. Đó là một điều
hiếm hoi. Từ lâu, ông Cảnh đã là một ông già đầy tâm trạng, lặng lẽ mà man mác
buồn. Chẳng còn dấu vết gì ở ông của một thuyền trưởng tiếng tăm nữa, ngoài mái
tóc đốm bạc thường xuyên cắt cua kiểu lính và nước da mầu đồng hun một đời ăn
nắng ăn gió, với thói quen ngày hai buổi, lúc tinh mơ và lúc chiều nhạt nắng là
lại ra con sông trước làng bơi một vòng.
Ông vừa bước vào sân,
thì ngoài ngõ đã nghe tiếng của Tâm. Thoạt đầu cả ba người cùng lặng đi mấy
phút. Với ông Cảnh và Tâm, có lẽ là sự dồn nén của bao ngày mong mỏi, nhớ
trông, giờ gặp lại mừng quá nghẹn ngào không nói nên lời, lại nữa bên cạnh họ
còn có bà Cảnh đang há hoác miệng vì ngạc nhiên, khiến họ phải dằn lòng. Nhưng
bà Cảnh không thể nào tưởng tượng nổi một “nước cờ” táo bạo và khôn ngoan của
“đối phương”, khi nghe Tâm, sau phút giây trấn tĩnh, đã tìm được cách lí giải
rằng chị đi kí hợp đồng gì đó cho hợp tác xã, tiện thể ghé lại...
Bữa cơm chiều diễn ra
bề ngoài vui vẻ, nhưng bên trong nhiều tâm trạng trái ngược nhau. Bà Cảnh lấy
cớ “dì nó mới vô, còn lạ nước lạ cái”, giành lấy công việc xới cơm và tiếp thức
ăn, để che lấp cõi lòng rối bời đến nỗi không tài chi ăn uống bình thường được.
Ngực bà lại như có một cái gì đè chẹn, tưng tức khi thấy ánh mắt chợt trở nên
lấp lánh, trẻ trung của ông Cảnh cứ hướng về phía Tâm. Dào ơi, sao ông vẫn chưa
chịu yên cái phận già, mà còn tí tởn!
Họ còn gắp thức ăn bỏ
vào bát nhau, nài nỉ nhau ăn thêm như một cặp uyên ương còn trẻ, khiến bà Cảnh
thấy ngứa mắt. Và liền đấy bà cảm thấy tủi thân tủi phận, cảm thấy mình là
người thừa trong mâm cơm, mặc dù họ cùng nhau gắp thức ăn bỏ lên bát bà thúc giục
bà ăn. Nhưng bà có nuốt được đâu. Bà nhìn trộm mái tóc dài và mượt chảy phủ cái
eo lưng còn thon thả của Tâm mà thèm, và giận. Này cô kia, sao bỗng dưng ở đâu
lại ghé lưng vào chỗ chồng bà? Chao ôi, sao người ta hạnh phúc đến thế? Sao các
người hạnh phúc đến thế? Bất giác, bà lại bật lên tiếng rên “hừ... hừ...” ngay
giữa mâm cơm.
- Chị làm sao thế? -
Tâm hơi hốt hoảng và hỏi bà một cách ái ngại, khi chị thoáng nghe tiếng rên.
- Không. Ơ mà... cái
hồi bị chúng tra tấn, chừ trở trời cứ hay tức ngực...
Bà Cảnh nói lí nhí và
đưa tay vuốt ngực, cố nén cơn hờn ghen đang dâng đầy ứ trong người.
Rồi bà cũng tìm được
cách để chống trả “đối phương”. Ấy là đêm đó, trước khi đi ngủ, bà Cảnh nói như
phân công.
- Dì nó với cái Gianh
ngủ giường của tui trong buồng cho rộng, hai mẹ con tha hồ tâm sự, hỉ!
Đấy là bà nói cho hợp
lí thế thôi, chứ cái Gianh đã ý tứ xin phép bà đi học tổ và ngủ lại nhà bạn từ
đầu hôm. Rồi trước khi tắt đèn, bà dịch cái giường đơn của Gianh ra chặn cửa
buồng, và vừa soạn chỗ nằm cho mình, bà vừa phân bua rằng: “Để hai chị em trò
chuyện cho rõ.”
Cứ thế, suốt nửa tháng
trời có mặt của Tâm, đêm đêm bà Cảnh nằm canh cửa buồng, mặc cho hai đầu ông
Cảnh và Tâm, cứ trở mình thao thức trong khuya... Của đáng tội, mấy lần ông
Cảnh có mạnh bạo bước tới, nhưng tiếng dép của ông dù nhẹ nhàng, dù rón rén đến
mấy, cũng bị những ăng - ten thính giác của bà phát hiện, và lập tức miệng bà
phát ra những tiếng rên “hừ... hừ...” khiến ông phải rụt cổ lại.
Không thể nấn ná, hi
vọng tìm kiếm một cơ hội nào được nữa, Tâm đành dằn lòng khăn gói trở về, sau
hơn nửa tháng vợ chồng chỉ được phép “kính nhi viễn chi”. Ngày Tâm lên đường là
một buổi chiều nắng cuối xuân vàng mong manh trên từng ngọn so đũa ven đường.
Ông Cảnh vừa đưa Tâm đi được một quãng, cả hai chưa nói với nhau được một lời
riêng tư, đã nghe sau lưng tiếng chân gấp gáp. Không hiểu sao đến phút chót bà
Cảnh lại thay đổi ý kiến: bà không muốn để ông Cảnh tiễn chân Tâm một mình, bà
đuổi theo họ. Bà vừa thở vừa phân trần về sự cần thiết có mặt của mình rằng:
chuyện vé vũng ở bến tàu là phức tạp lắm, dì nó thì lạ, mà ông Cảnh đàn ông đàn
ang vô lo, rồi kẻ cắp nó móc sạch...
Thế là cả ba người có
mặt ở sân ga, ngồi trơ như ba pho tượng trên một cái ghế băng đặt ở góc phòng
đợi, không giấu được vẻ ngượng nghịu và sượng sùng. Cho đến khi cửa nhà ga bật
mở và người tuôn vào như nước chảy về phía đoàn tàu đang đợi họ, bà Cảnh như
sực nhớ điều gì, liền đi đến mấy quán hàng bày bán dọc ga. Bà mua vội mua vàng
mấy gói kẹo, vài ổ bánh mỳ, rồi quay trở lại chỗ cũ, nhưng ông Cảnh và Tâm
không còn ở đấy nữa. Bà đuổi theo bóng họ thấp thoáng ở cuối đoàn tàu.
Khi tìm được số ghế
của Tâm, nhận ra túi đồ đạc đơn sơ của chị xếp gọn trên giá, mà không thấy hai
người đâu, tự dưng bà thấy khó thở. Và một cái gì lại đầy ứ trong cổ họng và
anh ách trong lồng ngực vừa khô khát vừa day dứt, thúc giục bà lao đi. Bà lách
về phía cuối toa, nơi có phòng vệ sinh nhỏ bé, nhưng ở đấy bọn con buôn đã lèn
chặt quá đầu những bao tải lớn hàng hóa. Như con mèo đuổi hút bóng con chuột,
bà đảo mắt một lượt dọc các lối đi, phán đoán và lường ước điều gì, rồi bà lao
qua phía cửa bên kia, nơi đoàn tàu quay lưng với một bức tường bao bọc sân ga
dài và cao có chắn thép gai. Đấy là nơi vắng vẻ nhất hiện giờ. Bà nắm lấy lan
can toa tàu, vội vã bước xuống bậc tam cấp bằng sắt cuối cùng, định nhảy xuống
đường đá. Nhưng không hiểu vì cái bậc quá cao so với mặt đường lổn nhổn đá
khiến bà sợ, hay vì một cái gì khác làm bà khựng lại. Bà thấy bải hoải và con
tàu chao đảo dưới chân. Bà tựa người vào thanh vịn bằng sắt rỉ vàng lấm tấm,
bên bậc cửa lên xuống của con tàu, và rũ ra.
Không ai thấy cả
(người ta còn bận tíu tít với việc tìm chỗ ngồi và xếp hành lí ở phía bên kia),
chỉ có một mình bà thấy, Tâm, một tay vòng qua vai ông Cảnh, tay kia lần những
ngón tay dài và trắng của gái Phù Kinh tằm tơ xưa kia, xoa vuốt bờ vai và bộ ngực
còn vạm vỡ của ông một cách âu yếm. Đầu nàng tựa ngả vào ngực và hướng khuôn
mặt phúc hậu với đôi mắt nhắm lơ mơ vào mặt ông Cảnh, để mặc cho nước mắt giàn
giụa hai má, miệng nở một nụ cười sung mãn của hạnh phúc. Ông Cảnh đứng như
trời trồng một tay vòng qua eo lưng Tâm, tay kia vuốt nhẹ mái tóc dài được búi
lại thành trái bưởi sau gáy. Ông gần như quay lưng lại, nên bà không nhìn rõ
sắc mặt ông. Rồi bà thấy ông cúi xuống, áp khuôn mặt của mình vào khuôn mặt của
Tâm, đôi môi của họ tìm được nhau và hút chặt lấy...
Bà Cảnh như sực nhớ
điều gì, đứng bật dậy, và thay vì nhảy phóc xuống, kéo xé hai người ra như bà
đã từng tốn công kèm giữ họ lâu nay, không hiểu sao, bà lại lật đật leo lên sàn
tàu, và vội vã tụt xuống phía cửa trước, nơi người ta vẫn còn lên xuống đông
đúc. Bà sấp ngửa bước qua những con đường đá có những thanh tà vẹt bằng bê-tông
bắc ngang và những đường ray sắt chạy dọc một cách vô thức. Hình như bây giờ bà
không còn ý thức được thời gian và không gian quanh mình nữa. Bà đi như một cái
máy, đôi khi suýt đâm bổ vào người đi ngược. Cứ thế bà đi, bước qua tất cả, bàn
chân gầy guộc xương xẩu va vào đá vẫn không biết đau. Bà bước lên cái hành lang
rộng có mái che, bước qua cánh cửa phòng đợi, qua những dãy ghế giờ không một
bóng người, đầu không ngẩng lên. Có lẽ chính bà cũng không biết bà đi đâu. Cho
đến khi nghe tiếng cô nhân viên bán vé giọng miền Trung hỏi thoảng đâu đó rất
xa xăm: “Mẹ xuống ga mô?” bà mới sực tỉnh, và nhận ra là tay mình đang chìa
tiền qua cửa bán vé. “Lệ Sơn,” bà nói rồi cầm tấm vé quày quả trở lại con tàu,
cũng vội vã và vô thức như khi bà đi đến đây: bàn chân gầy guộc rớm máu vượt
qua những con đường rải đá, những hàng tà vẹt bê - tông bắc ngang và những
đường ray sắt chạy dọc. Hai bên thành tàu chỉ còn lại những người đưa tiễn, mặt
hướng về các cửa sổ, và loáng thoáng đó đây những lời dặn dò chúc tụng cuối
cùng. Bà gặp ông Cảnh cũng vừa từ trong toa bước xuống bậc tam cấp, mặt ửng đỏ và
mi mắt còn ngấn lệ chia phôi. Tự dưng, nước mắt bà cũng trào ra, chảy ào xuống
gò má đầy nếp nhăn của lớp da mồi khô đét vì tuổi tác và vì những tháng năm tù
đầy cay cực. Bà ngăn ông lại ở bậc cửa và giúi vào tay ông tấm vé tàu.
- Ông đừng quay lại
nữa...
- ??
- Nó còn trẻ người non
dạ rứa, ông nỡ để nó đi một mình răng đành?
Không hiểu nhờ một sức
mạnh nào, một cái gì mới mẻ, bao dung và độ lượng đã giúp bà đứng vững và nói
được những lời rắn rỏi đó, khiến ông Cảnh cầm tấm vé lật đật quay vào toa tàu,
như thể vừa nhận được một mệnh lệnh không thể thối lui...
Và con tàu chợt giật
mình, như thể vừa chứng kiến quá say sưa cuộc đưa tiễn dùng dằng của ba người
suýt làm nó trễ giờ, liền hú lên một hồi còi giữa trời hôm sâu thẳm...
Có phải tất cả mọi cái
xảy ra trong mơ không? Bà không biết nữa. Chỉ biết rằng, khi cái chấm đen cuối
cùng của con tàu nhòa hẳn vào không gian hun hút xa lắc, bà mới quay người lại,
chợt nhận ra sân ga vắng lặng, và mình bà đứng trơ giữa những con đường đá với
những hàng tà vẹt bê-tông rải ngang, những đường ray sắt chạy dọc vô tận. Bà
bỗng bật lên tiếng nấc tủi thân, vì tuồng như con tàu đã bỏ rơi bà, trơ trọi và
cô độc giữa đời...
Bà cắm cổ bước như
chạy ra khỏi sân ga, lủi thủi một mình và cũng hoàn toàn vô thức. Cho đến khi
bàn chân bắt gặp lối bờ sông quen thuộc, nơi chồng bà sớm và chiều hai lần gắng
gỏi bơi đủ một vòng, bà cố lấy lại vẻ bình thường để vào nhà, bởi bà biết trong
nhà còn có cái Gianh. Nhưng khi đã vào được buồng mình, bà nằm vật ra giường,
âm thầm héo rũ đi. Trái tim bà vẫn chưa dễ tha thứ cho hành động mã thượng của
bà lúc ở sân ga. Thế là, cơn giằng co giữa lòng vị tha, độ lượng của người mẹ
cao cả, với sự hờn ghen tủi phận của người vợ bị cướp mất chồng cứ bám riết,
hành hạ bà, chốc chốc lật tấm thân già nua, khô héo của bà từ mép giường bên
này sang mép giường bên kia.
Bà mơ hồ có tiếng chân
bước nhẹ, và liền đấy cảm nhận được một cái gì mềm mại, mát rượi và êm ái đang
lướt trên lớp tóc cằn khô của mình, đã kéo bà dứt ra khỏi cái tâm trạng dằn vặt
kia. Và đến lúc đó, bà mới hiểu ra rằng, đó là những ngón tay thon thả của cô
gái đang lớn phổng trong nhà bà - cô con gái đã tắm uống cái nguồn nước sông
Gianh kia từ thuở lọt lòng.
- Má... Ba đi rồi hả
má?
Không biết nhờ tiếng
nói khẽ khàng, dịu ngọt, pha giọng của hai vùng đất của Gianh, hay nhờ một cái
gì khác, khiến bà thấy mình bỗng chốc khỏe khoắn như không. Và cái cảm giác bị
bỏ rơi trên sân ga cũng không còn nữa. Phải rồi, chuyến tàu của bà là chuyến
cuối cùng với Gianh, thậm chí cùng con cái của cái Gianh...
Bà nhỏm dậy, kéo cái
Gianh vào lòng, và kín đáo lau những giọt nước mắt tấm tức của mình bằng mái
tóc mềm mượt của nó.
Lúc đó, căn buồng bỗng
rạng lên chốc lát bởi những tia nắng cuối ngày bất chợt rọi qua những song cửa
phía Tây.
Hữu Phương

No comments:
Post a Comment