Lão Năm vốn là người được dân trong làng nể
hơn hết. Vì lẽ tuổi tác lão đã cao mà tấm lòng thanh bạch của lão cũng khó ai
bì kịp. Lão sống từ đời Tây qua đời V.M. đến đời Quốc Gia, vẫn không ai đụng chạm
gì đến lão. Mà lão cũng chẳng có điều gì làm phiền hà ai. Suốt ngày ngoài trừ
hai bữa cơm và những lần đi ra ngoài cần thiết còn thì lão chỉ ở trong căn
phòng đặc biệt cửa luôn luôn đóng kín.
Lão cũng chẳng có con cái gì, cho nên cuộc
đời càng âm thầm, tẻ lạnh và đầy bí mật đối với lớp trẻ vừa lớn lên. Không ai
được đến căn phòng kia, và có giao tiếp chuyện làng nước thì chỉ giao tiếp với
vợ lão thôi.
Nhờ vài câu chuyện với vợ lão, người ta được
biết như vầy : lão là người chơi đồ cổ. Trong căn phòng nhỏ bé ấy lão cất giữ
đành nhiều món đồ quí giá vô cùng. Có những món thì gian này không cất đủ hai
nhà và nếu lọt vào mắt một nhà chuyên môn người ta nói có thể mua nó với giá một
đôi chục ngàn như không không...
Còn lão vốn chất phác làm ăn để sống, không
mấy ai nghĩ đến những chuyện viễn vông đó. Nên có người hỏi :
— Những đồ cổ đó là đồ gì vậy ?
Người vợ bình dịu với cái vốn kiến thức ăn
trộm dân làng của chồng mình, đáp :
— Mấy người không hiểu được đâu, đồ quí
không hà.
Có nói ra mấy người cũng không biết đó là
thứ gì !
— Có thiệt là đắt giá lắm không ?
— Sao lại không ?
Hồi ba năm trước một người ngoại quốc nghe
tiếng nhà tui có nhiều đồ cổ, đã xin phép ông tui viếng qua thăm một lần. Và
bây giờ ta năn nỉ hết sức để mua một món gì đó, mà ông kia từ bả, bảo chưa rỗi.
Ông nhà tui vẫn chưa chịu bán.
— Trời đất, sao không bán bớt đi một cái để
lấy tiền sống. Cất làm chi bao nhiêu đồ hoài, đời đâu có lấy nó ra mà ăn được ?
Bà vợ bìm môi chê trách :
— Mấy người ham tiền nói vậy. Ông mà nghe
được, ông giận lắm đó. Mấy người không hiểu giá trị tinh thần mà !
Thật dân quê — nhất là những người vừa lớn
lên trong trận chiến tranh đã qua — không mấy ai nghĩ đến giá trị tinh thần làm
gì họ còn sống và sống thực nó mới là tốt nhất. Nên khi nghe vợ lão Năm trách
như vậy thì họ cười mà nói với nhau rằng :
— Chắc gì sống được hoài để mà giữ những
món đồ đó không, mà làm tàng dữ vậy ? Sợ mai mốt chết rồi đồ liệng ra đường
không ai thèm lượm đó chớ.
Một hôm có người thuật lại cho họ nghe một
câu chuyện như sau :
Số là cách nay khá lâu, Tư Bạc — tên của
người kể chuyện — là một tên « lưu lạc giang hồ », nghèo đói, sống lang thang
theo xe lửa, khi thì khuân vác ít hành lý cho bạn hàng để kiếm tiền cơm ; khi
thì ngồi ca vọng cổ làm hề cho bà con cô bác giải khuây trong lúc đợi xe lửa tới,
rồi người ta cho tiền, đắp đổi qua ngày.
Tư Bạc tò mò muốn biết những món đồ cổ đó
là gì nên đã tìm đến thăm ông Năm.
Chủ nhà vui mừng dẫn Tư Bạc đi xem căn
phòng đặc biệt và giải thích :
— Đây cháu xem cái tô này là tô đời nhà Tống
! Lâu đời lắm rồi và bây giờ rất mắc.
Tư Bạc nhìn qua nhìn lại chẳng hiểu giá trị
của cái tô ở chỗ nào ? Trước mắt y đấy chỉ là một cái tô kiểu như trăm, ngàn,
triệu cái khác.
Chủ gia hiểu ý nên cắt nghĩa thêm :
— Cháu biết không, chính đời nhà Tống cách
đây mấy ngàn năm, mới là lúc nền đồ gốm bên Tàu cực thịnh. Những cái tô làm từ
đời nhà Thanh sau này, giá trị đâu có bằng.
Ông chỉ một cái tô khác cạnh đó :
— Đây cháu xem, cái tô này đời nhà Thanh,
cách đây chừng vài trăm năm thôi. Thiếu gì ? Nên giá trị không sao bằng tô đời
nhà Tống được. Đành rằng đời nhà Thanh tô chén kiểu của người Tàu đem bán ra
ngoại quốc rất nhiều, nhưng bây giờ người ta vẫn thích tô nhà Tống.
Tư Bạc nhìn hai cái tô rồi cười. Vì rằng cái tô mà ông ta khen nức nở ấy lại còn xấu hơn cái tô kia nữa. Ông Năm tiếp :
— Chắc cháu chưa phân biệt được tô nhà
Thanh với tô nhà Tống. Đây cháu xem kỹ chỉ có đặc biệt tô nhà Tống mới có những
đường răn nứt nầy. Cháu nên nhớ, những đường nứt đó không phải vô tình đâu nhé
! Cố ý đó. Không biết họ đã tráng bằng men gì, mà sau khi bỏ vô lò nung xong
đem ra thì có những đường nứt như vậy đó. Ngày nay người ta hết sức tìm cách biến
chế vẫn không làm sao giống được.
Tư Bạc bắt đầu phục ông Năm về tài chơi đồ
cổ, qua những lời giải thích thật rành rọt đó. Ông Năm lại còn tiếp thêm :
— Cháu biết ở xứ mình, món nào quí giá hông
?
— Dạ, cũng đồ kiều.
— Đâu phải, đồ kiều của xứ mình đều do người
Tàu làm hết đó chớ. Vua chúa mình xưa kia cho quan lại sang Tàu đặt kiều vẽ
hình mướn họ làm theo, nên không được quí lắm. Quí nhứt của xứ mình chính là
cái bình vôi có hai quai đó. Người ngoại quốc họ chịu mua cái đó lắm đa.
— Dạ thưa cái ông vôi ?
— Đó đó...
Tư Bạc nghe vậy, tin vậy. Nhưng anh nghĩ nếu
ở trong nhà mà chưng « một cái bình ông vôi » thì thật dị hợm vô cùng. Ông Năm
còn cắt nghĩa cho Tư Bạc nghe nhiều nữa, nhưng anh đã quên hết rồi. Anh chợt nhớ
mình có mua một cái bình đất nhỏ, nung đỏ ở ngoài chợ, thử đem ra xí gạt ông nầy
coi được không ? Tánh Tư Bạc vốn hay phá phách mà.
Bấy giờ anh mới làm ra vẻ mặt đau khổ nói :
— Dạ, chẳng nói giấu gì ông. Tôi đến đây
ngoài cái việc mong được ông mở rộng sự hiểu biết như nảy giờ đó. Tôi còn một
việc cậy nhờ ông nữa, mong ông vui lòng giúp cho.
Hình như từ ngày chơi đồ cổ đến giờ, Ông
Năm mới gặp một người tỏ ra hiểu biết giá trị và kiến thức của mình, vì lẽ đó
mà ông đâu nỡ từ chối một sự giúp đỡ, nếu thật sự « Người bạn tri kỷ » có ý cậy
nhờ. Ông bèn sốt sắng hỏi :
— Chi đó, cháu có điều chi đó ?
— Dạ, cháu có món đồ thuộc về loại đồ cũ
đây, của má cháu để lại, đã ba đời rồi. Trước khi nhắm mắt người có dặn cháu thật
kỹ là dầu có nghèo đói thế nào đi nữa cũng đừng bán vật ấy đi, vì là báu vật.
Nhưng...
Tư Bạc ngừng lại nuốt nước miếng xót xa.
Ông Năm cũng cảm động rơm rớm nước mắt. Hắn tiếp :
— Nhưng nay cháu thấy vật quí giá mà ở
trong tay một kẻ không biết xài cũng thành vô ích. Ông là người hiểu giá trị của
nó, nên cháu xin nhường lại ông. Với lại, nói ra thật xấu hổ, thưa ông, cháu
đói quá... ba ngày nay cháu không có cơm ăn.
Ông Năm cảm động bồi hồi :
— Đâu cháu đưa đây cho bác. Đối với một món
lưu truyền đã ba đời thì tiền mua biết bao nhiêu cho phải giá. Bác chỉ gọi là
tượng trưng giúp cháu vậy thôi. Cháu đừng nghĩ gì cả.
Rồi ông Năm cầm hai chục đồng đưa cho Tư Bạc
— nên nhớ hai chục đồng của hai mươi năm về trước — Tư Bạc trao cho ông ta cái
bình đất bọc ngoài bằng lớp giấy nhựt trình.
Không hiểu vì cảm động tấm tình của Tư Bạc
hay vì lịch sự mà ông Năm lại không dở gói giấy ra xem liền.
Từ đó Tư Bạc biệt không ghé qua làng nầy nữa.
Nghe đâu, sau đó vợ chồng ông ta cãi nhau một trận dữ dằn, vì lẽ bà vợ quả quyết
cái bình đó mua ngoài chợ chỉ có 1 cắc thôi, mà ông để cho người ta xí gạt thì
thật là xấu hổ.
Ông Năm cũng biết là mình bị mắc mớp tên
lưu manh, về sau ông không tiếp ai cả. Đóng cửa âm thầm sống với mớ đồ cổ của
mình.
Câu chuyện trên càng làm cho dân làng tức
cười và nghi ngờ hơn về mớ đồ cổ của ông ta cất giấu gọi là báu vật đó.
Ai nói gì nói, bà Năm vẫn tin tưởng vào tài
của chồng mình. Và cũng như chồng bà rất quí những món mà chồng bà chưng dọn
trong phòng riêng, lau chùi mỗi ngày đó.
Nhưng bà ngạc nhiên hết sức, khi thấy mấy
tháng gần đây, ông Năm trở nên khó tánh hơn trước rất nhiều. Ông cấm tuyệt
không cho bà lai vãng lại gần phòng đồ cũ.
Ông Năm cắt nghĩa :
— Tôi vừa tìm ra một món quí giá lắm. Bà
không hiểu được giá trị của nó đâu. Bà phải biết sau nầy tụi mình nổi danh khắp
thế giới nhờ nó đa.
Bà Năm vẫn còn thắc mắc :
— Đâu, ông cho tôi vô coi thử ?
— Ý đâu được ! Để khi nào hoàn thành rồi, mới
được coi.
— Sao hồi đó, ông cho tôi vô coi hoài đó,
có sao đâu ?
— Ừ cái nầy quí và bí mật lắm. Trong khi nó
chưa thành hình, nó kỵ đàn bà dữ lắm !
Bà Năm tin chồng nên không hỏi tới làm chi. Cho đến hôm ba mươi tết, ông Năm vẫn rút vô buồng ở miết trỏng. Bà Năm để ý thấy hình chồng có điều gì lo nghĩ. Bà đợi cho tới chiều cơm nước sẵn sàng chưa thấy chồng ra, để lo chuyện đón rước về ăn Tết. Bà mới rón rén lại gần bên cửa vừa định kêu cửa, bỗng bà nín thở và nghe tiếng xù xì bên trong.
Trước tiên là một giọng đàn bà :
— Ông tính sao thì tính đại đi chớ tôi cũng
Tết nhứt rồi, bộ ông muốn giam tôi ở đây sao ?
— Em muốn về, em về, tôi có cản em đâu
— Còn cái nầy ?
— Thì để ra giêng, rồi thu xếp với bả.
— Cái gì của năm nay tính dứt năm nay rồi,
đợi năm tới chắc gì ông chịu tính. Đâu phải vô đây nói chuyện với ông dễ dàng !
— Nói nhỏ nhỏ vậy, bà nghe được chết bây giờ.
— Hỏng có nhỏ nhiếc gì hết. Chết thì chết.
Bộ ông tính lấy người ta có chửa rồi phải không ? Tôi la lên cho ông biết...
— Thôi mà, tội nghiệp tôi mà...
Bà Năm không dằn được nữa. Rõ ràng, ông Năm
xí gạt bà. Ông hổng bà lại gần để ông tìm ra món quí giá, ai ngờ món quí giá đó
lại là... « Con Mèo » của ổng động cửa rầm rầm.
— Mở cửa ra coi, cái gì ở trong nầy đây
Ông Năm than thầm :
— Chết rồi, bả tới rồi !
— Mở ra, mở cửa ra mau !
Giọng ông Năm run run :
— Để... để... Tôi mở, bà đừng xô mạnh bể hết
! Đồ... quí giá... đồ quí... giá
Giọng ông Năm run run :
— Để... để... Tôi mở, bà đừng xô mạnh bể hết
! Đồ... quí giá... đồ quí... giá
— Bể cái gì cũng thây kệ, tôi không cần quí
hay không quí... chỉ cần nhìn mặt « cục cưng » của ông thôi, coi nó ra làm sao
? Coi nó bánh bèo ra sao mà ông lại cho nó vào đây... Cánh cửa bật mở. Tiếng đồ
kiều rơi bể loảng cảng. Một thiếu phụ đứng thu mình vào góc cái bụng bằng cái
thúng. Bà Năm đứng chẽ một hồi mới nói được :
— Trời ơi ! Sáu, mầy lấy dượng mầy hả ?
— Tội nghiệp con, cô ơi !
— Còn cô, « kiệt »... gì nữa, con ơi !
Bà Năm bu lu ba la, hai tay quơ gạt lia lịa
tô, những độc bình, những chén dĩa kiều rổn rổn, cảng cảng... Ông Năm ôm đầu
kêu lên !
— Trời ơi ! Mấy chục năm trời của tôi...
Công lao của tôi.
— Công lao hả... Cái bụng đó... đủ quá chưa
vừa lòng với ông sao ?
Hòa với tiếng mảnh sành bể, tiếng pháo xa xa ! Nhà ai đó năm nay rước ông bà sớm...
Trích từ 1973 Khoi Hanh - Xuan Quy Suu, Anh Viet (Sai Gon).pdf
Huỳnh Chiếu Đẳng (Quán ven đường)
Nguồn: Quán ven đường









