Monday, April 6, 2026

Ông Muốn Gì?


Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình

Sunday, April 5, 2026

Thằng Sâm - Lê Đức Luận

Tác giả Lê Đức Luận nhận giải danh dự VVNM 2025 từ giám khảo Khôi An. Tranh nền: Đinh Trường Chinh.

Nó tên Sam chứ không phải Sâm - viết đầy đủ là Samuel - phát âm ngắn gọn theo tiếng mẹ đẻ của nó là “xem” - “thằng Xem”. Nhưng khi ông Tư “lượm” nó về nuôi, ông gọi nó là “thằng Sâm”. Chuyện đời thằng Sâm tưởng chỉ xảy ra ở những xứ nghèo khó ở châu Phi, hay trong những nước có chiến tranh loạn lạc. Nhưng nó lại diễn ra trên một đất nước được coi văn minh, thịnh vượng nhất toàn cầu.  Thế mới lạ!
 
Tôi được nghe kể lại những ngày thơ ấu của thằng Sâm từ ông Tư hay vài người trong khu phố và đôi khi chính tôi chứng kiến khiến tôi xúc động… Tôi muốn viết lại thành một truyện ngắn. Nhưng khi viết được một đoạn thì mắt tôi nhòa lệ, tôi không tìm ra những chữ diễn tả được hết tiếng lòng đang rung động. Thế là, tôi rưng rưng muốn khóc - không viết được nữa.
 
Ngày tháng trôi qua, thằng Sâm được ông Tư nuôi nấng, cưng chiều, cho đến trường học như bao đứa trẻ khác. Ông Tư nói với thiên hạ: “Tôi yêu quý nó như sâm, như nhung nên đặt tên cho nó là Sâm.”
 
Chiều nay, trên đường dạo mát, tôi thấy ông Tư đang đứng chờ xe school bus ở góc đường để đón thằng Sâm. Thằng Sâm xuống xe, chân đi cà nhắc, ông Tư vội đến bên nó, ông cầm cái cặp sách học trò (school bag) trên tay thằng Sâm khoác lên vai mình, rồi cúi xuống… Thằng Sâm leo lên lưng ông, hai tay choàng cổ, trông rất nhịp nhàng. Có lẽ ông Tư đã cõng nó nhiều lần nên nó quen với những động tác gọn gàng như thế.
 
Tôi đến gần, hỏi ông Tư: “Hôm nào ông cũng cõng nó như thế à?” - “Thỉnh thoảng thôi - hôm nay nó chạy nhảy đá banh bị trặc chân nên mới cõng, chứ thường ngày tôi nắm tay nó dẫn về nhà.”
 
Không nghe được thằng Sâm thỏ thẻ điều gì bên tai ông, mà ông Tư cười và lộ cái vẻ hạnh phúc trên khuôn mặt già nua. Tôi cảm thấy có một chút vui lây dấy lên trong lòng - vui với cái tình người trong kiếp nhân sinh…
Vậy là, tối hôm đó, tôi viết được một truyện ngắn “Kể Chuyện Thằng Sâm”.
 
Những cuộc biểu tình vừa qua làm náo động cả thành phố Los Angeles… Ông Tư chỉ ngồi nhà, xem tin tức qua TV. Hôm nay, các cuộc biểu tình không còn rầm rộ. Ông Tư muốn ra phố “xem dân cho biết sự tình.” Ông lấy bộ đồ lính rằn ri ra mặc, đội cái mũ beret màu đỏ có gắn phù hiệu nhảy dù. Ông nghĩ như thế ông sẽ không giống những người di dân gốc Mễ - sẽ không bị cảnh sát hỏi giấy tờ.  
 
Thành phố Los Angeles chiều nay mang một vẻ trầm lắng khác thường. Ở một góc phố, trên đại lộ Broadway, một ông già người da đen - nét mặt trầm buồn, đang cần mẫn quét từng mảnh thủy tinh vỡ vụn và nhặt những chai lọ vung vãi bên lề đường. Xa xa một nhóm công nhân cặm cụi dọn dẹp các ụ rác, lốp xe đốt cháy nằm giữa lòng đường. Những chiếc xe cảnh sát đậu ở ngã tư, chớp đèn liên tục giữa cái không khí nặng nề với mùi khét của khói và hơi lựu đạn cay vẫn còn phảng phất. Đường phố thưa người, họ bước đi trong im lặng, rụt rè như thể sợ những bước chân mạnh mẽ sẽ làm cho thành phố náo động trở lại - điều mà nhiều cư dân thành phố Los Angeles không muốn xảy ra.
 
Thành phố này, từng chứng kiến bao lần dậy sóng. Những cuộc biểu  tình trước đây chỉ có cuồng nộ và đốt phá… Nhưng lần này ngoài cái bất bình, phản đối chính sách di dân quá khắt khe của chính quyền Tổng Thống Trump, còn có những giọt nước mắt rơi xuống khi cảnh bắt bớ diễn ra: Một người đàn ông Mễ bị còng tay, dẫn đi trước mặt đứa con gái nhỏ. Đứa bé khóc thét, níu lấy tay áo của cha, nói lời cầu khẩn: Daddy, don’t go… Nhưng cảnh sát vẫn đẩy người cha lên xe, đóng cửa lại. Đứa bé đứng nhìn theo, nghẹn ngào không nói thêm lời nào, nước mắt cứ trào ra đầm đìa trên má. Cảnh tượng đó đã làm biết bao giọt nước mắt âm thầm chảy ngược về tim của nhiều khách qua đường có lòng nhân ái.
 
Từ trước đến nay, ông Tư vẫn nghĩ chuyện Tổng Thống Trump cấm hay bắt di dân bất hợp pháp tràn vào nước Mỹ là đúng - quốc gia phải có biên cương, có luật pháp… cũng như nhà ở có rào dậu, gia đình có gia quy.  Nhưng chiều nay trông thấy những cảnh tượng đau lòng: Nhiều tấm bảng viết vội bằng bút lông trên tấm carton cũ những dòng chữ như tiếng kêu bật ra từ con tim của những người lao động nghèo khổ: “Justice for All Immigrants.” “We are not criminals!” Rồi trông thấy một người mẹ trẻ ôm đứa con thơ đứng bên vệ đường, giương tấm bảng: “Let my child dream.” Lòng trắc ẩn trồi lên trước những cảnh tượng thê lương ấy…
 
Thằng Sam là đứa trẻ đến đúng lúc, khi lòng trắc ẩn đang trổi dậy trong lòng ông Tư. Ông đón nhận nó như cứu vớt một mảnh đời bất hạnh trước cảnh phân ly…
 

Ông Tư lang thang trên phố Los Angeles suốt buổi chiều, cho đến lúc mặt trời đã khuất sau dãy Santa Monica, ánh lên màu tím sẫm. Rồi hoàng hôn buông xuống, phố đã lên đèn nhưng vắng khách vãng lai. Thành phố không còn cảnh nhộn nhịp như ngày nào mà lặng lẽ, dìu hiu… và hình như đâu dây vẫn còn vọng lại tiếng khóc nghẹn ngào trước cảnh phân ly.
 
Ông Tư rảo bước đến chỗ đậu xe để lấy xe về nhà, lòng buồn rười rượi… Bỗng trước mặt ông, nơi ngã rẽ vào khu phố Tàu (Chinatown) có hai đứa nhỏ đang bới thùng rác. Ông bước đến gần thằng lớn bỏ chạy, nhưng thằng nhỏ, khoảng sáu bảy tuổi đứng lại nhìn ông, không có vẻ gì sợ hãi. Nó đang cầm trên tay nửa vòng cái bánh donut. Nó nói lắp bắp những gì ông không hiểu.
 
Nhưng, trời ơi! Thằng bé dễ thương làm sao… Tự nhiên ông Tư cúi xuống ôm nó vào lòng, nghẹn ngào: “Con ơi! Sao mà tội nghiệp thế này hở con? Thằng bé nghe ông nói, nó cũng chẳng hiểu gì, nhưng trông ông rưng rưng nước mắt, tự nhiên nó ôm lấy chân ông, nói tiếng Anh ngọng nghịu giọng Spanish:
 
- Con không biết cha mẹ con đi đâu - mấy ngày nay không trở về nhà nữa.
 
Ông Tư hiểu lý do, nhưng chưa giải thích cho nó hiểu hết nguồn cơn, ông xoa đầu nó như để an ủi… rồi ông hỏi:
 
- Tên con là gì?
 
- Sam. Nó trả lời
 
- Con mấy tuổi?
 
- Bảy tuổi.
Ông Tư nói với nó những lời thật dịu dàng:
 
- Bây giờ con về nhà ông, ở với ông, rồi ngày mai ông sẽ đưa con đi tìm cha mẹ của con. Con chịu không?
 
Thằng bé gật đầu. Thằng anh đứng cách đó khoảng mười lăm mét, có lẽ nghe được câu chuyện, nó vẩy tay và gào lên:
 
- Sam! Đi… (let’s go!)
 
Thằng Sam nắm tay ông Tư kéo đi về hướng thằng anh. Ông Tư đi theo. Nhưng thằng anh cứ giữ khoảng cách, không để thằng Sam và ông Tư đến gần. Thằng Sam kéo tay ông Tư chạy đến gần thì thằng anh cũng chạy để giữ khoảng cách. Cứ thế chạy một khoảng đường dài… Thằng Sam kêu lên:
 
- José! Trở lại đây! Không sao đâu…
 
Nhưng thằng anh José cứ chạy, rồi nó quẹo vào một ngã ba đi vào khu chợ Tàu.
Khi thằng Sam và ông Tư đến ngã ba, thì thằng José đã mất hút vào trong khu chợ tối om - các cửa hàng đã đóng cửa. Thằng Sam khóc! Nó cất tiếng gọi nghẹn ngào:
 
- José! José! José ơi!
 
Ông Tư xúc động, cúi xuống ôm nó vào lòng an ủi:
 
“Con ơi! Ta ở đây đợi José một lúc, đừng khóc nữa…”
 
Thằng Sam gật đầu, ngưng khóc. Nó có vẻ mệt lả. Nó nhìn nửa khoanh donut trên tay như thể muốn ăn, nhưng lại cho vào túi áo. Ông Tư hiểu ý, ông bảo:
 
- Con để dành nửa cái bánh đó cho José, bây giờ ông cháu mình vào tiệm Mc Donald ăn tối, rồi trở ra tìm José nhé.
 
Mắt thằng Sam sáng lên, nó gật đầu. Ôi! Được vào tiệm Mc Donald!  Nó tự hỏi: “sao mà sang thế?”. Nó nhớ lại, trước đây mỗi tháng một lần cha nó đưa cả gia đình đi ăn Mc Donald là cả một trời hạnh phúc! Bây giờ, một ông già xa lạ lại cho đi ăn Mc Donald. Nó vui ra mặt. Trông vẻ mặt hớn hở của thằng Sam khi vào tiện Mc Donald, ông Tư thấy thương cho những đứa con nhà nghèo - được vào Mc Donald coi như sang cả… Ông Tư hỏi nó muốn ăn thứ gì, nó trả lời: - “Hamburger”. Ông Tư order hai cái hamburger, ông cháu ra bàn ngồi ăn. Thằng Sam chỉ ăn nửa cái, còn nửa cái gói lại cho vào túi. Ông Tư hiểu ý nó, nhưng hỏi thử:
 
- Con ăn nửa cái bánh đã no rồi à?
 
- Chưa no, nhưng để dành cho José.
 
Tự nhiên ông Tư ứa nước mắt, cầm tay nó, nói trong xúc động:
 
- Con ăn đi… ông sẽ mua cái khác cho José.
 
Ra khỏi tiệm Mc Donald, thằng Sam nắm tay ông Tư đi về hướng chợ Tàu. Đến ngã ba khi nãy, ông cháu dừng lại. Chờ! Nhưng từ ngã ba nhìn vào con đường hun hút dưới ánh đèn lung linh, còn trong khu chợ tối om, tĩnh lặng… Ông Tư đã từng nghe nói, khu phố Tàu có nhiều tội phạm. Ông cảm thấy rờn rợn… Ông nói với thằng Sam:
- Khu phố này có nhiều du đãng lắm, ở đây lâu không tốt đâu con ạ, bây giờ về nhà ông, ngày mai ta sẽ ra tìm José.
Thằng Sam lưỡng lự. Ông Tư phải ra dấu cho nó hiểu ở đây lâu sẽ nguy hiểm. Nó hiểu… Rồi nó gật đầu. Nhưng nó nắm tay ông Tư đi về hướng có tiệm 7- Eleven gần đó, còn mở cửa. Ông Tư chưa hiểu ý định của thằng Sam, nhưng ông cứ đi theo để xem nó muốn điều gì. Trên đường đến tiệm 7- Eleven, ông Tư suy nghĩ mông lung về luật “trách nhiệm dân sự”: Đưa nó về nhà có thể ông bị quy tội “bắt cóc” trẻ con. Đưa nó đến nhà thờ, hay Hội Từ Thiện, hoặc đưa vào đồn cảnh sát là điều ông không muốn. Linh tính báo cho ông biết: Chúa đã giao cho ông trách nhiệm phải chăm sóc đứa trẻ bất hạnh này. Và ông cảm thấy giữa ông và thằng Sam như có cái cơ duyên tiền định - không thể tách rời, dù cho trong một xã hội thượng tôn pháp luật và lắm luật lệ khiến nhiều người ngại ngần trước tình huống bi thảm. Nhưng bây giờ, đối với thằng Sam ông không e ngại - ông quyết tâm không giao nó cho ai nuôi dưỡng trừ cha mẹ của nó.
 

Đến tiệm 7- Eleven, thằng Sam vừa bước vào, một người phụ nữ trạc tuổi bốn mươi là nhân viên của tiệm chạy đến ôm thằng Sam, mừng rỡ, hỏi vội, quên cả việc chào ông Tư.
 
- Mấy hôm nay con đi đâu? Còn thằng José đâu? Dì mong quá trời à!
- Con đi lang thang tìm cha mẹ. Anh José chạy vào chợ Tàu, rồi biến mất, chờ mãi không thấy ra. Thằng Sam trả lời.
- Trời ơi! Nó chạy vào đó làm gì. Cái chỗ hay bắt cóc trẻ con.
 
Ông Tư trông thấy sự lo lắng và quan tâm đặc biệt của người phụ nữ này đối với anh em thằng Sam - ông sợ bà ta sẽ giữ thằng Sam ở lại với bà, nên ông kể hết mọi chuyện từ khi gặp anh em thằng Sam và nói phủ đầu để “xí chỗ”:
 
- Chúa đã khiến tôi gặp anh em thằng Sam, như vậy tôi có trách nhiệm bảo bọc nó cho đến khi nào tìm gặp được cha mẹ của nó. Cô làm chứng cho tôi là người bảo dưỡng nó trong hoàn cảnh thương tâm này để tránh trường hợp người ta đem cái luật “trách nhiệm dân sự” kết tội tôi “bắt cóc” trẻ con. Người phụ nữ lưỡng lự…Nhưng nhìn tư cách và nét mặt hiền từ với lời nói chân tình của ông Tư, bà ta tâm sự:
 
- Tôi là bạn thân của mẹ thằng Sam, tôi sang Mỹ lâu rồi, đã có quốc tịch là công dân Mỹ. Cha mẹ thằng Sam mới trốn qua đây, chưa có giấy tờ nên mới bị bắt cách đây mấy ngày. Cha nó làm cho tiệm sửa xe, mẹ nó làm ở nhà hàng - cuộc sống tạm ổn, hai anh em thằng Sam cũng được đi học đàng hoàng. Nhưng bây giờ xảy ra cớ sự. Hai thằng nhỏ bơ vơ. Thấy thật đau lòng - chưa biết tính thế nào cho ổn… Tôi có ba đứa con, tôi làm lương vừa đủ sống, khó lòng cưu mang chúng nó. Ôi! Cái cảnh nghèo khó! Biết làm sao cho chúng nó khỏi cảnh bơ vơ (?).
 
Thấy người phụ nữ có vẻ suy tư lo lắng, ông Tư móc ví đưa tấm danh thiếp (business card) cho bà ta, nói:
 
- Cần gì bà cứ liên lạc với tôi qua số điện thoại trên business card.
 
Người phụ nữ xem tấm danh thiếp, mắt sáng lên với vẻ vui mừng, nắm tay ông Tư:
 
- Ồ! Tôi biết văn phòng địa ốc của ông - cách đây có bao xa đâu. Vậy là thằng Sam tốt phước. Thôi xin ông rủ lòng thương xót cưu mang nó. Tôi sẽ làm chứng.
 
Rồi bà ta lấy bút ghi số điện thoại của bà trên tờ giấy nhỏ trao cho ông Tư:
 
- Đây là số điện thọai của tôi. Tên tôi là Maria. Cần điều gì xin ông cứ gọi, tôi sẽ đến ngay văn phòng của ông.
 
Rồi bà ta nói với ông Tư với vẻ lo lắng:
 
- Thằng José đi vào khu chợ đó, có thể bị an ninh khu chợ bắt gìữ, cũng có thể bị bọn côn đồ bắt cóc…
 
Bà ta rươm rướm nước mắt, ôm thằng Sam, nói nhỏ:
 
- Con theo ông về nhà, ở với ông. Bây giờ cha mẹ con bị người ta bắt đi rồi, khi nào biết tin, dì sẽ cho con biết. Ở với ông thật ngoan nghe con.
 
Thằng Sam gật đầu! Người phụ nữ đứng dậy, nắm tay ông Tư:
 
- Ông ơi! Thằng Sam may mắn, nhưng chưa biết số phận thằng José thế nào, ngày mai tôi sẽ ra chợ Tàu dò la tin tức. Có lẽ khi nãy nó thấy ông mặc đồ lính - nó sợ! Thằng này rất sợ lính và cảnh sát.
 
Bà ta tiếp tục với giọng nghẹn ngào:
 
- Ngày mai ông có thể đưa thằng Sam vào trường, hỏi cô giáo của nó cách thức bảo trợ, nuôi nấng nó thế nào cho đúng luật. Cô giáo rất thương nó và cũng là dân Xì nhập cư.
 
- Được rồi! Bà yên tâm - tôi sẽ lo cho nó. Tôi sẽ cho bà biết mọi tin tức.
 
Ra khỏi tiệm 7-Eleven, thằng Sam nắm tay ông Tư đi về khu chung cư gần đó. Trước đây anh em nó ở cùng cha mẹ trong căn apartment tẩng ba. Nhưng mấy hôm nay cha mẹ nó bị bắt. Người quản lý cho thay ổ khóa. Từ hôm đó hai đứa nhỏ coi như vô gia cư - ban ngày lang thang bới thùng rác kiếm ăn, đêm đến quá mười giờ tối - vắng người - hai anh em nó mới lén vào phòng giặt (laundry room) ở tầng trệt ngủ qua đêm. Trời chưa sáng tỏ, anh em nó rời phòng giặt, lánh mặt mọi người. Bây giờ thằng Sam dẫn ông Tư vào đó thử xem thằng José về chưa. Nhưng không thấy bóng dáng thằng José. Thằng Sam rưng rưng đi vào góc tối, nơi có hai túi xách học trò (school bag) đã sờn quai dấu sau mấy cái máy giặt, nó lấy một cái đeo vào vai, rồi lấy cái hamburger ông Tư mua cho lúc nãy và nửa khoanh bánh donut cho vào cái school bag kia và dấu vào chỗ cũ.
 
Nhìn cảnh ấy ông Tư rơi nước mắt, cúi xuống nắm tay nó, nghẹn ngào nói:
 
- Con ơi! Bây giờ khuya rồi, chắc José không trở về đây đêm nay. Vậy ta về nhà thôi con ạ.
 
Thằng Sam đứng dậy nắm tay ông Tư ra khỏi phòng giặt. Lúc này đã quá mười một giờ. Cả nhà vẫn thức đợi ông Tư với vẻ lo lắng. Khi ông Tư mở cửa bước vào với đứa bé. Cả nhà mừng rỡ nhưng ngạc nhiên trông thấy ông nắm tay thằng bé dẫn vào rất âu yếm. Ông Tư kể hết mọi điều đã xảy ra. Con gái ông đến ôm thằng Sam vào lòng, rưng rưng khẽ nói: “Khốn khổ đời con! Mẹ sẽ nuôi con…” Tiếng mẹ mà con gái ông tự nhiên thốt lên làm ông Tư cảm thấy mát dạ. Hai đứa cháu ngoại của ông Tư - thằng Hùng, con Oanh đứng cạnh mẹ, nhìn thằng Sam với ánh mắt trìu mến.
 
Từ đó thằng Sam được xem như đứa con út trong gia đình. Thằng Hùng, con Oanh có thứ gì thì thằng Sam có thứ ấy. Thằng Hùng mười tuổi, con Oanh tám tuổi, thằng Sam bảy tuổi, ba đứa coi như cùng trang lứa, nên có những trò chơi thích hợp với nhau. Đi học về chúng nó chơi bóng đá, cầu lông hay ra hồ bơi lội - thoải mái hồn nhiên… Tưởng rằng như thế thằng Sam sẽ vui và sẽ quên thằng anh José. Nhưng không! Đôi khi ông Tư thấy nó ngồi một mình trên ghế đá trong góc khuất sau vườn nhìn xa xăm với ánh mắt buồn rười rượi. Ông Tư xúc động đoán biết nó đang nhớ về quá khứ và nhớ thằng José.
 
Ông Tư hồi tưởng - ông cũng có những buổi chiều buồn rười rượi… ngồi trên ghế đá trong Thảo Cầm Viên Sài Gòn nhớ về người anh hiền như đất - anh Thuấn - lúc nào cũng chiều chuộng và nhường nhịn em. Nhớ lại những buổi chiều anh Thuấn cõng đi chơi quanh Hồ Hoàn Kiếm hay anh em vào Vườn Bách Thú xem khỉ làm trò. Rồi một buổi chiều thu se lạnh năm 1954, anh em thất lạc nhau trên đường trốn thoát từ Hà Nội ra Hải Phòng để di cư vào Nam.
 
Bây giờ thấy thằng Sâm ngồi một mình với ánh mắt thật buồn trông ra phố. Ông biết nó đang mong được gặp thằng José như ông mong được gặp lại người anh hiền như đất của ông. Từ đó ông dành cho thằng Sâm một tình thương đặc biệt mà hai đứa cháu ngoại của ông không có. Ông mở một trương mục ở ngân hàng đứng tên thằng Sâm. Ông bỏ tiền vào đó và để lại tờ di chúc cho con gái: “Số tiền này để cho thằng Sâm ăn học khi lên Đại học”. Ông lo xa - nhỡ một mai ông qua đời, chưa chắc con gái ông đủ tiền cho thằng Sâm ăn học.
 
Thời gian trôi qua, thằng Sâm được nuôi nấng, cùng đi học, cùng vui chơi với thằng Hùng, con Oanh. Nhưng trong lòng nó vẫn canh cánh nhớ về thằng anh José… Bao lần ông Tư đi tìm thằng José đem về cho nó, nhưng hoàn toàn thất vọng.
 
Hôm nay, ngày Lễ Tạ Ơn - Thanksgiving, cả nhà quây quần bên bàn ăn, thưởng thức món gà tây đút lò với khoai tây nghiền. Thằng Sâm ngồi cạnh ông Tư, nó thỏ thẻ: “Con nhớ José. Không biết giờ này José ở đâu và có được ăn gà tây nướng như thế này không?” Ông Tư nghe như nghẹn ngang cổ. Cả nhà xúc động, rưng rưng… nhìn thằng Sâm như muốn khóc. Ông Tư để chiếc nĩa xuống bàn, đặt tay lên vai nó, an ủi:
 
- Con ơi! Chính trị đặt ra biên cương, nhưng tình yêu thương mà Chúa ban cho loài người thì không có biên giới. Rồi đây, Chúa sẽ soi sáng lòng người để đưa José và cha mẹ về lại với con.
 
Thằng Sâm không hiểu hết ý nghĩa sâu xa câu nói của ông Tư, nhưng nó cảm nhận được những lời cuối cùng: “Chúa sẽ soi sáng lòng người để đưa José và cha mẹ về với nó.” Nó hy vọng! Rồi từ hôm ấy, những lần đi lễ nhà thờ với ông Tư nó ngồi lại rất lâu chờ khi trong nhà thờ không còn ai, nó lên quỳ dưới chân tượng Chúa. Nó cầu nguyện…
 
LÊ ĐỨC LUẬN
(Tháng 12-2025)

https://vvnm.vietbaoonline.com/p248212a248231/thang-sam

Thanh Minh Tiết Khí - Đỗ Công Luận


Tản Mạn Về Thơ Việt Nam - Phần 1 - Nguyễn Duy Phước

 

Nói về nền thi văn Việt Nam thì đây là một biểu tượng của tiếng Việt rất phong phú và đặc sắc được thể hiện qua nhiều thể loại thơ đặc sắc ít có nước nào như vậy. Từ thơ cổ điển đến thơ mới, từ những bài thơ đủ số chữ, 4, 5, 6, 7, 8 cho đến 9 đều có hết và mỗi thể thơ đều mang nét đặc trưng riêng biệt.

Tuy nhiên những thể loại được ưa thích và thịnh hành nhất là thơ Lục Bát (6 và 8 chữ), thơ 7 và 8 chữ mà tôi sẽ trình bày sau đây.


Đôi lời phi lộ

Trước khi đi vào chi tiết tôi xin có vài ý nghĩ về thơ tuy rằng phải thú thật là tôi không hề học làm thơ vì từ nhỏ đến lớn theo học chương trình Pháp và đã xuất ngoại rất sớm. Hơn nũa, tôi thiên về ngành toán, hành nghề kỹ sư, nên trên lý thuyết thì tôi không thể có một tâm hồn lãng mạn để yêu thích và cảm nhận thi văn. Mặc dù vậy không biết vì sao, khi bắt đầu có tuổi, tôi lại « lội ngược dòng thời gian », quay về khám phá những nét hay đẹp của tiếng Việt ngàn đời, của nền văn học thâm thúy đã sinh sản ra một kho tàng thi văn phong phú. Và từ đó tôi bắt đầu yêu thơ, bắt đầu tập tành làm thơ, nhiều khi không biết là « có rùa » hay không hay là « có ma nhập » mà có thể làm được. Dù sao đi nữa, tôi cũng xin « múa rìu qua mắt thợ » có đôi lời đóng góp sau đây.

Dù rằng thơ thì phải có vần, nếu không thì là văn suông, nhưng cái hay của thơ không nhất thiết là vần mà là ý, cũng như bình rượu ngon không phải là cái vỏ ngoài mà là cái chất đựng ở trong. Và những từ ngữ dùng trong bài thơ cộng với cái ý phải thể hiện tâm hồn của người thi sĩ vì thơ là tiếng vọng và là sự hiện thân cho những gì cao cả nhất củ tâm hồn con người. Ý kiến này đề cập tới nét đặc trưng quan trọng nhất của thơ là phải xuất phát tự đáy lòng, là sự giãi bày, bộc lộ những rung động, cảm xúc của người thi sĩ, khác với một số người làm thơ như cái máy, không có hồn, tình cảm gì cả. Lại có người thì đi dùng những từ ngữ khó, cầu kỳ, tưởng là hay, nhưng thật ra có rất nhiều bài thơ trứ danh dùng những chữ rất thông thường mà vẫn làm dao động con tim đọc giả. Mỗi bài thơ là sự đồng cảm, tri âm giữa tác giả và bạn đọc, đó chính là vai trò của tiếng nói tâm hồn trong thơ. Cái đề tài của một bài thơ cũng rất quan trọng, nào là yêu đương, quê hương, mùa màng, lễ lạc, triết lý cuộc đời, trào phúng, châm biếm cho đến chống cộng, và thông thường thì những đề tài có liên quan đến tình cảm là thu hút người đọc nhiều nhất. Như nói trên, cái ý thơ rất là quan trọng, đối với những người từng trải những tình huống của cuộc đời thì tương đối có phần dễ sáng tác còn nếu không thì phải ráng nặn óc để tưởng tượng, sáng tạo những tình cảnh lâm ly, éo le, đầy xúc động để có sức gợi cảm, lôi cuốn. Ngoài ra, đối với tôi thơ như là một bản nhạc, có âm điệu như những nốt nhạc. Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”, và « Thơ là cây đàn muôn điệu của trái tim, ngân lên những cung bậc trầm bổng của cuộc đời », do đó một bài thơ hay là khi đọc lên nghe lâng lâng, thấm vào hồn. Không những thế, thơ cũng gợi lên rất nhiều hình ảnh vì “Thơ là ảnh, là nhân ảnh và thể hiện một tâm hồn muôn hình vạn trạng”. 

Để kết luận thì thơ là nơi cảm xúc thăng hoa, nơi những khát vọng tình yêu và suy tư hòa quyện và biến những điều đơn giản nhất thành vĩnh cửu. 

Xin lưu ý trong bài này tôi có kèm vài bài thơ tôi sáng tác cho

từng thể loại và được tô bằng màu xanh lục.

Ba hoa chích chòe nhiều rồi bây giờ xin quay lại vấn đề chính là trình bày các loại thơ với những quy tắc riêng cần phải tôn trọng cùng với vài thí dụ để dẫn chứng cho mỗi loại.


A/ Thơ Lục Bát 

Có thể nói thơ Lục Bát là một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân Việt Nam từ xưa đến nay, một loại thơ mang hồn thiêng dân tộc. Do đó loại thơ này rất thịnh hành trong dân gian, qua các câu ca dao, tục ngữ, vè và tiêu biểu nhất là Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Thơ lục bát là thể thơ dễ làm nhưng rất khó hay. Nó đi cheo

leo trên một sợi dây vô hình giữa một bên là thi phẩm làm rung

động lòng người và một bên là bài vè thô thiển. Do đó tuy có tính cách bình dị, gần gũi, nhưng loại thơ này cũng có thể làm rung động lòng người qua những thi phẩm thật tình tự, đầy cảm xúc ở vần điệu, ở âm hưởng, ở từng chữ, từng lời.

Mặc dù là một thể thơ tương đối dễ làm, và tuy rằng hay hay không là chuyện khác, nhưng cũng phải tuân theo một số điều luật được chỉ dẫn sau đây. 


Quy tắc thơ Lục Bát 

Thơ lục bát là một thể thơ gồm các cặp câu, mỗi cặp lục bát sẽ bao gồm hai câu, một câu sáu chữ và một câu tám chữ. 

Có hai luật chánh yếu cần biết là:

- Luật vần

Chữ cuối của câu 6 sẽ vần với chữ thứ sáu của câu 8 và chữ cuối của câu 8 sẽ vần với chữ thứ sáu của câu 6 tiếp theo. 

Một thí dụ sau đây mà các vần được tô đậm:

Gia Cảnh Họ Vương (Truyện Kiều)

Đầu lòng hai ả tố nga

Thúy Kiều là chị, em  Thúy Vân

Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Mỗi người môt vẻ, mười phân vẹn mười...

Nguyễn Du

 

Tuy nhiên có một cách gieo vần khác mà chữ cuối của câu 6 sẽ vần với chữ thứ tư của câu 8 tuy rằng ít thấy hơn, như thí dụ sau đây: 

Chào em cô gái áo vàng

Làm anh mơ màng mà chẳng nói tên.

hay

Gối mền, gối chiếu không êm

Gối lụa không mềm bằng gối tay em.

 

- Luật thanh hay luật Bằng Trắc

Trước hết cần biết Thanh âm tiếng Việt được sắp theo hai loại:

- Thanh bằng viết tắt là "B" gồm các dấu: huyền và không dấu, còn gọi là ngang,

- Thanh trắc viết tắt là "T" gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã và nặng. 


Sau đây là luật Bằng Trắc trong thơ Lục Bát:

- Câu 6 chữ: chữ thứ hai "B", chữ thứ tư "T", chữ thứ sáu "B"

- Câu 8 chữ: chữ thứ hai "B", chữ thứ tư "T", chữ thứ sáu "B",  chữ thứ tám "B".

Còn những chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm trong 2 câu 6 và 8 thì muốn “B” hay “T” gì cũng được.

Xem bài thơ sau đây đã tôn trọng đàng hoàng các luật nêu trên (những chữ được tô đậm là những chữ cần phải theo luật).

 Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

Thật ra thì trong thơ Lục Bát, luật Bằng Trắc như chỉ dẫn trên không « chắc nịch »  cho lắm như trong thơ Đường Luật vì nếu vậy thì những chữ tô đỏ trong bài thơ Kiều trên của Nguyễn Du là sai luật. Chỉ có 2 điều cần nên tuân theo là:

- Tất cả những chữ cuối của các câu thơ đều phải là thanh Bằng "B" chứ không bao giờ là thanh Trắc "T",

- Ở câu 8 chữ, chữ thứ 6 và chữ thứ 8 tuy phải là thang Bằng nhưng không được cùng dấu huyền hay cùng không dấu, nghĩa là nếu một chữ có dấu huyền thì chữ kia phải không dấu và ngược lại.

 

A1/ Vài bài thơ Lục Bát của các thi sĩ trứ danh

Đã có nhiều thi sĩ nổi tiếng thuộc thế hệ « mới » như Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Huy Cận v.v… đã thực hiện những bài thơ rất lãng mạn và tình tự, nhiều khi thật là bóng bẩy qua loại thơ này. 

Sau đây xin dẫn chứng với vài thí dụ :


Ngậm ngùi

Nắng chia nửa bãi chiều rồi

Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu

Sợi buồn con nhện giăng mau

Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây

Lòng anh mơ với quạt này

Trăm con chim mộng về bay đầu giường

Ngủ đi em, mộng bình thường

Ru em sẵn tiếng thuỳ dương đôi bờ...

Huy Cận


Chú thích: Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.


===

Uống trăng

Bóng Hằng trong chén ngã nghiêng

Lả lơi tắm mát làm duyên gợi tình

Gió lùa mặt nước rung rinh

Lòng ta khát miếng chung tình từ lâu

Uống đi cho đỡ khô hầu

Uống đi cho bớt cái sầu miên man

Có ai nuốt ánh trăng vàng

Có ai nuốt cả bóng nàng tiên nga.

Hàn Mạc Tử 

===


Chiều
Hôm nay, trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn? 
Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn
Sương trinh rơi kín tự nguồn yêu thương
Phất phơ hồn của bông hường
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng...

Xuân Diệu

Trong phong trào Thơ mới, Xuân Diệu, còn có biệt hiệu “Xuân tóc quăn”, là một nhà thơ tiêu biểu, một cây bút với sức sáng tạo mãnh liệt. Ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” với những vần thơ mang đậm tính chất lãng mạn của tình yêu.  

===

Chân quê

“Hôm qua em đi tỉnh về

Đợi em ở mãi con đê đầu làng

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi

***

Nào đâu cái yếm lụa sồi

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân

Nào đâu cái áo tứ thân

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen

 ***

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.”

Nguyễn Bính

Nguyễn Bính là nhà thơ “mới” mà tôi thích nhất. Những chữ ông dùng không có gì bóng bẩy, cầu kỳ cho lắm nhưng mang đầy sắc thái dân dã, mộc mạc, do đó mà ông còn có biệt hiệu là “nhà thơ của làng quê Việt Nam”. Điển hình là bài thơ Lục Bát bất hủ ở trên đã được nhạc sĩ Song Ngọc phổ nhạc.

Ngoài ra, ông cũng luôn khắc khoải trước sự đổi thay một cách nhanh chóng của đất nước. Trước sự du nhập của văn hóa phương Tây, ông không ngừng tiếc nuối khi chứng kiến những giá trị truyền thống đã bị bào mòn dần qua năm tháng. Và bài thơ trên là tiếng lòng thổn thức của ông, đau đáu khôn nguôi khi cái chân quê của người Việt đã không còn.

Chỉ tiếc là một số nhà thơ nói trên, chẳng hạn Xuân Diệu và Nguyễn Bính, có thể vì lòng yêu nước chống Pháp, đã theo Việt Minh rồi tập kết ra miền Bắc theo V.C. Còn Huy Cận thì có tham gia trong ĐCSVN , giống như tên văn nô Tố Hữu, chỉ biết làm thơ ca tụng và bợ đít bác đảng cùng chế độ cộng sản. 

 

A2/ Vài bài thơ Lục Bát tôi sáng tác

Riêng tôi thì cũng có sáng tác nhiều bài thơ Lục Bát, hay hay dở thì để « tùy người đối diện », và xin trích dẫn 4 bài thơ sau:


Mùa Thu Lá Bay

Mùa thu cảnh sắc vương sầu

Tình thu đã mất, niềm đau mãi còn

Chiều loang nắng nhạt bên song

Gió lùa sóng lá, dập dồn mưa bay

Lá nào còn ở trên cây

Lá nào đã rụng rơi đầy lối đi

Kể từ sông núi chia ly

Cũng mùa thu ấy phân kỳ luyến thương

Em đi thu tím gót buồn

Tôi về nghe tiếng mưa tuôn trong lòng

Em đi thổn thức dòng sông

Tôi về canh vắng đèn chong nhớ người

Mây ngàn giăng mắc lưng trời

Mênh mông, hiu quạnh bên đời phù vân

Còn đây một nửa vầng trăng

Dõi tôi soi bóng dặm ngàn tha hương

Lũng xa con suối lạc nguồn

Rừng thu phong kín nẻo đường cô liêu

Tìm đâu chiếc lá thương yêu

Mang màu xanh ngát nhng chiều mơ say

Em giờ đếm lá vàng bay

Trong công viên cũ tính ngày hợp tan

Tôi đi nhặt lá thu vàng

Ngậm ngùi ngắm xác thu tàn héo hon

Thu qua, thu lại mỏi mòn

Hồn thu đã chết, tình còn chi đâu

Hôm nay tóc đã bạc màu

Vẫn ngơ ngác hỏi ai sầu vào thu.

 

Chú thích: Xin mượn cái tựa của một bản nhạc để làm tựa bài thơ này.


Nếu muốn xem video về bài thơ này (có hình và nhạc) thì xin click vào link sau đây:

Mùa Thu và Thơ

=== 

Tình Si 

Mắt em là bể hồ thu

Trăng khuya rót ánh rạng ngời lung linh

Làn thu ba gợn rung rinh

Để anh lặn ngụp sóng tình ngất ngây

 

Tóc em bay xỏa bờ vai

Mây ngàn kết tụ gió lay bồng bềnh

Hương yêu thoang thoảng ru mềm

Để anh mê mẩn ngày đêm dật dờ

 

Môi em khao khát đợi chờ

Miệng cười chan chứa ngàn lời yêu thương

Nụ hôn xao xuyến vấn vương

Để anh say khướt nhụy hương nồng nàn

 

Giọng em ngào ngạt âm vang

Như làn gió thoảng rộn ràng bên tai

Lời ca thánh thót liêu trai

Để anh lạc chốn bồng lai nhiệm mầu

 

Má em mơn mởn hồng đào

Đôi gò phơi phới ửng màu hây hây

Làn da trắng tựa hoa lài

Để anh đắm đuối miệt mài thâu canh

 

Tay em mười ngón mơn man

Vỗ về như dạo cung đàn ái ân

Phím tơ dìu dặt lâng lâng

Để anh đắm giấc mộng vàng triền miên

 

Dáng em gót ngọc thiên kim

Thướt tha tà áo trinh nguyên tuyệt vời

Nghiêng nghiêng bóng ngã đường mơ

Để anh thơ thẩn, ngẩn ngơ sớm chiều.

 

Chú thích: Đặc biệt của bài thơ này là nói lên những cái đẹp của người phụ nữ và cứ cuối mỗi cái đẹp thì lại có một câu diễn tả sự đê mê, đắm đuối như: “Để anh xxx”.


===

Sắc Màu Lưu Luyến

 

Anh yêu áo lụa tơ vàng

Màu vàng hoa cúc rộn ràng hồn anh

Anh yêu nét đẹp đan thanh

Xuân xanh tươi mát, tình xanh ngát lòng

Anh yêu hương nhụy mặn nồng

Hương nồng âu yếm, má hồng ngây ngây

Anh yêu gót ngọc trang đài

Lộng tà áo trắng thơ ngây tuyệt vời

Anh yêu môi tím đợi chờ

Bờ môi tình mộng, nụ cười mơn man

Anh yêu ánh mắt nai vàng

Thẹn thùng soi bóng trăng tàn hồ thu

Anh yêu dòng chữ luyến lưu,

Mực đen ghi bút thiên thu không nhòa

Anh yêu dải lụa ngân hà

Xanh lam óng ả, thướt tha gọi mời

Anh yêu gò má đỏ ngời

Vương màu phượng vĩ thắm tươi sân trường

Anh yêu vị ngọt, mùi thơm

Mặn mà Tố Nữ, bưởi đường lá cam

Anh yêu châu báu, bạc vàng

Rạng ngời trang điểm, điệu đàng dáng thon

Anh yêu chiếc yếm nâu sồng

Bóng hình thắt đáy lưng ong gợi tình

Anh yêu mái tóc đen huyền

Tóc huyền bay xỏa quyện niềm mơ hoa

Anh yêu da trắng mượt mà

Làn da trắng tựa hoa lài ngát hương 

Anh yêu vóc dáng nghê thường

 Lung linh vồng sắc tơ vương nhịp cầu

Anh yêu cho đến bạc đầu

Yêu em, yêu hết muôn màu đắm say.

 

Chú thích: Đặc biệt của bài thơ này là trong mỗi cặp thơ đều có sự hiện diện của một màu sắc gợi cảm nơi người phụ nữ được tô đỏ. 

  

A3/ Thơ Song Thất Lục Bát

Đây là một biến thể của thơ Lục Bát, gồm 2 câu 7 chữ và 2 câu 6 và 8 chữ, ít thịnh hành hơn thơ Lục Bát chỉ với 6 và 8 chữ.

Thể thơ song thất lục bát, cũng được gọi là lục bát gián thất,  hay thể ngâm là một thể văn vần (thơ) đặc thù của Việt Nam.

Cách gieo vần trong loại thơ này có hơi đặc biệt, như các chữ được tô đỏ trong bài thơ tôi sáng tác sau đây làm thí dụ:

 

Đôi Lời Gửi Đồng Hương Tỵ Nạn

Chúng ta ghét búa liềm cộng sản (7 chữ)

Bỏ gia đình bè bạn ra đi   (7 chữ)

Trăm ngàn khổ cực gian nguy  (6 chữ)

Mười phần chết chín cũng  tự do  (8 chữ)

Nay đã được người cho tỵ nạn (trở lại 7 chữ)

Ở Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Âu (7 chữ)

Hoặc Gia Nã Đại, Úc Châu (trở lại 6 chữ)

Có còn nhớ đến nỗi sầu quê hương (trở lại 8 chữ)

 

Một số tác phẩm lớn trong văn chương Việt Nam như bản dịch Chinh Phụ Ngâm ra quốc âm đã được viết theo thể thơ này.

Một đoạn Chinh phụ ngâm khúc diễn ca (Đoàn Thị Điểm) song thất lục bát tiêu biểu với "yêu vận" và "cước vận" in đậm:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm từng trên

Nào ai gây dựng cho nên nỗi này

Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt

Khói Cam Tuyền mờ mịt khúc mây

Chín tầng gươm báu trao tay

Nửa đêm truyền hịch đợi ngày xuất chinh.

A31/ Vài bài thơ Song Thất Lục Bát tôi sáng tác

 

Chúc Tết

Đầu năm tớ cũng như ai

Chúc mừng cô bác trong ngoài gần xa

 

Trước chúc thọ cụ già trăm tuổi

Thú điền viên rong ruổi tiêu dao

Sâm nhung tẩm bổ dồi dào

Cháu con, hầu thiếp thay nhau nâng chiều

 

Chúc các ông gặt nhiều lợi tức

Đường công danh tiến chức thăng quan

Cổ phần cứ đắt như vàng

Chớ đừng suy sụp lại hoàn trắng tay

 

Chúc cả thảy tràn đầy sức khỏe

Chẳng phải lo mổ xẻ, ốm đau

Thuốc thang giờ quả nhiệm mầu

Hồi xuân, cải lão, uống vào mạnh ngay

 

Chúc giới trẻ miệt mài thi cử

Đỗ thành tài, kinh sử tinh tường

Dù cho học vấn khác thường

Hỏi rằng còn nhớ cội nguồn hay chăng?

 

Chúc thợ thầy siêng năng đắt việc

Sáng, trưa, chiều chẳng kịp nghỉ ngơi

Tiền thời kiếm dễ như chơi

Coi chưng bỏ vợ bơ vơ một mình…

 

Chúc quý bà trẻ xinh, đẹp mãi

Đã mấy con ngỡ gái còn xuân

Phấn son, mỹ viện chuyên cần

Sửa sang, tô điểm giả chân khó lường

 

Chúc vợ chồng yêu đương thắm thiết

Tình mặn nồng khắng khít uyên ương

Chớ theo phong tục tây phương

Yêu cuồng sóng vội, luân thường đảo điên

 

Chúc kiều bào vượt biên tỵ nạn

Năng hồi hương nhan nhản ăn chơi

Vung tiền vui thú nhởn nhơ

Dân tình đói rách làm ngơ sao đành?

Chúc quý ngài đấu tranh chống cộng

Gắng kiên trì giải phóng non sông

Đừng vi tư lợi cỏn con

Tranh giành cấu xé thành công dã tràng

 

Chúc linh tinh chi bằng chúc đức

Ráng tu tâm hưởng phúc đời đời

Xá chi danh vọng nhất thời

Ở sao cho được giống người mới hay.

 

Chú thích: Bài thơ châm biếm này để mô tả phần nào cách sống hiện nay của CDNV hải ngoại.   


===

Tình Xuân Hoa Bướm

 

Mùa xuân cây lá đẹp xinh

Bướm hoa quấn quýt tự tình xôn xao

 

Chúa xuân đến muôn màu xanh ngát

Rót hương đời ngào ngạt tơ lòng

Bướm hoa tình ngát duyên nồng

Giao thoa trời đất mênh mông ngập hồn

 

Hoa man mác dập dồn khoe sắc

Nắng vàng hoe mây mặc cánh hồng

Nụ hoa thuần khiết trắng trong

Duyên tình hoa bướm mặn nồng đắm say

 

Hoa trước gió lay lay yểu điệu

Dáng hoa mềm tơ liễu lả lơi

Mặn mà hoa bướm vương tơ

Bướm say mật ngọt thẫn thờ đê mê

 

Phấn hoa rải vần thơ chất ngất

Nhụy men nồng phảng phất hương trinh

Bướm hoa vương vấn mộng tình

Dưới trăng rộn bóng rung rinh tuyệt vời

 

Bướm bay lượn lưng trời thơi thới

Cánh hoa tươi phơi phới mỹ miều

Bướm hoa tha thiết muôn chiều

Trung trinh tình vẫn dập dìu bên nhau

 

Vạt nắng nhẹ ươm màu cánh bướm

Gió đưa hoa ngát đượm ngàn trùng

Mây ngàn lưu luyến mông lung

Bướm hoa e ấp thẹn thùng thương yêu

 

Đóa hoa nở yêu kiều sắc thắm

Bướm lẳng lơ tô đậm sóng tình

Chung đôi hoa bướm quyện mình

Đẩm hồn trong ánh bình minh dạt dào

 

Cành hoa mỏng nghiêng chao trong gió

Hoa yêu đời ửng đỏ chứa chan

Bướm tung cánh biếc rộn ràng

Bướm hoa dệt mối tơ loan phiêu bồng

 

Hoa với bướm tơ hồng tri kỷ

Hợp tâm đầu tình ý mơn man

Bướm hoa đắm giấc mộng vàng

Mơ màng giai điệu cung đàn ái ân

 

Tình xuân trải khắp dương trần

Bướm hoa thắm thiết tình nhân trọn đời.

 

Chú thích: Trong bài thơ này, tất cả những câu thơ có ngắt khoảng đều có chữ “bướm hoa” hay “hoa bướm”.

 

Còn tiếp.

NdP