Monday, September 7, 2026

#123 - Thiếu Ngủ, Khó Ngủ Cần Xem Ngay! Quá Sốc Khi Hiểu Thêm Về Hệ Thống Day Light Saving - BS. Phạm Hiếu Liêm

Mù Thu Vẫy Chào - Đỗ Công Luận

Tôi Tưởng Mình Văn Minh… - Trúc Tiên

Tôi từng nghĩ mình là một công dân khá gương mẫu. Cho đến khi một cái đèn đỏ ở Shibuya khiến tôi phải xem lại toàn bộ nền giáo dục mà mình được hưởng và tự đào tạo suốt hơn ba mươi năm.


Tôi vốn không phải là người ngoan ngoãn lắm, nề nếp quá. Ở Paris, gặp đèn đỏ mà đường vắng, nhìn phải nhìn trái, không xe, thế là tôi băng qua luôn, không đợi đèn cho phép. Tôi luôn tự an ủi rằng mình không vượt đèn đỏ. Tôi chỉ… “đi trước đèn xanh một chút.”

Nghe qua thì hai việc ấy khác nhau hoàn toàn. Một bên là vi phạm luật giao thông, một bên chỉ là… giúp cái đèn xanh đỡ phải chờ mình. Ngôn ngữ quả là phát minh kỳ diệu nhất của loài người. Nó không chỉ giúp con người giao tiếp với nhau, mà còn giúp mỗi người giao tiếp rất hòa thuận với lương tâm của chính mình.

Không ai nói dối. Người ta chỉ “nói chưa hết sự thật”. Không ai nhiều chuyện. Người ta chỉ “cập nhật thông tin”. Không ai lười. Người ta chỉ “để cơ thể nghỉ ngơi”. Và dĩ nhiên, không ai sai. Chúng ta chỉ… có một cách diễn đạt khác.

Tôi sống rất thanh thản với triết lý ấy suốt hơn ba mươi năm. Thậm chí còn xây dựng được cả một hệ thống lập luận chặt chẽ đến mức nếu đem bảo vệ luận án tiến sĩ, biết đâu dám cũng có người gật gù. Đèn xanh rồi cũng sẽ bật. Mình đi sớm ba mươi giây thì có ảnh hưởng gì đâu. Đằng nào cũng phải qua. Đứng chờ mà giữa con đường không một bóng xe chẳng khác nào bắt thời gian tăng ca vô ích.

Cứ thế, tôi tự chấm mình tám rưỡi trên mười về ý thức công dân. Không xả rác. Không chen lấn. Lên xe công cộng biết nhường ghế cho người già, trẻ em. Tôi còn có thói quen giữ cửa rộng mở cho người đến sau. Có hôm giữ lâu quá, người ta tưởng tôi đứng đó làm nghề mở cửa. Nói chung, nếu có cuộc thi “Công dân tương đối gương mẫu”, tôi tin mình đủ sức vào bán kết.


Cho đến một buổi chiều ở Tokyo.

Shibuya. Ngã tư nổi tiếng mà người ta bảo mỗi lần đèn xanh bật lên có cả nghìn người cùng băng qua. Tôi đứng giữa biển người, lòng háo hức như đứa trẻ sắp xem pháo hoa. Đèn đỏ. Đường phía trước rộng mênh mông. Không xe. Không cảnh sát. Không tiếng còi. Theo phản xạ, tôi nhìn trái. Rồi nhìn phải. Rồi nhìn thêm lần nữa cho chắc ăn. Kinh nghiệm Paris nói với tôi rằng mọi điều kiện đều đã hội tụ đủ đầy. Nếu ở bên Pháp, giờ này tôi đã sang tới vỉa hè bên kia, thậm chí còn kịp quay đầu nhìn những người đứng lại bằng ánh mắt thương cảm, đại loại: “Đường thế này mà cũng đợi!”

Tôi nhấc chân. Đúng lúc ấy, một cảm giác kỳ lạ khiến tôi khựng lại. Hình như có gì đó không ổn. Tôi ngẩng đầu lên. Hàng nghìn người vẫn đứng im. Không ai bước. Không ai sốt ruột. Không ai “tranh thủ” thắng lợi thời gian. Không ai có vẻ muốn tiết kiệm ba mươi giây quý giá của đời mình.

Điều làm tôi bối rối không phải là sự im lặng. Mà là sự bình thản. Họ đứng như thể việc chờ đèn xanh cũng là một phần rất tự nhiên của cuộc sống, giống như hít thở hay chớp mắt. Tôi bắt đầu nghi ngờ thị lực của mình. Hay người Nhật nhìn thấy chiếc xe nào mà mình không nhìn thấy? Tôi nheo mắt quan sát. Không. Đường vẫn trống trơn. Hay họ biết có cảnh sát chìm lẩn quẩn đâu đấy? Tôi đảo mắt khắp nơi. Không. Hay cái đèn giao thông này có gắn trí tuệ nhân tạo, nhận diện khuôn mặt, lưu hồ sơ rồi gửi thẳng về Bộ Nội Vụ? Trong vài giây ngắn ngủi ấy, tôi phát hiện mình suy nghĩ chẳng khác gì một nghi phạm đang tìm đường thoát thân.

Một đám đông đang chờ băng qua giao lộ Shibuya ở Tokyo, Nhật Bản. Photo: Federico Abis, pexels


Điều đau nhất là chẳng ai buồn nhìn tôi. Nếu có người liếc sang, tôi còn đỡ quê. Ít ra tôi cũng là nhân vật chính của câu chuyện. Đằng này, không. Mỗi người đều bình thản đứng như đứng trong thế giới của mình. Chỉ có tôi đang mở một phiên tòa nội tâm để xét xử cái chân phải. “Đi đi!” Bản năng Paris thì thầm. “Đừng!”, một ông Nhật tưởng tượng nào đó trong đầu nhẹ nhàng lắc đầu. Chưa bao giờ tôi thấy một cái đèn giao thông lại có sức mạnh triết học đến thế.

Ba mươi giây sau, đèn xanh bật. Cả biển người cùng bước. Không chen lấn. Không xô đẩy. Không ai chạy nước rút như sợ người phía trước cướp mất vỉa hè. Lúc ấy tôi mới hiểu, hóa ra từ trước đến nay tôi không hề tiết kiệm ba mươi giây. Tôi chỉ tiêu xài sự kiên nhẫn của mình quá hoang phí.

Đó mới chỉ là cú sốc đầu tiên. Nhật Bản dường như có một âm mưu rất lớn nhằm phá hủy toàn bộ hệ thống lý luận mà tôi dày công xây dựng suốt mấy mươi năm. Tôi cứ tưởng mình đã vượt qua được bài kiểm tra khó nhất của Nhật. Hóa ra cái đèn đỏ chỉ là buổi khai giảng. Tiết học thứ hai diễn ra trên xe điện công cộng.


Hôm sau, đứng chờ xe điện. Tàu còn ba phút. Theo thói quen Paris, tôi tiến sát mép đường rầy như thể làm vậy xe sẽ đến nhanh hơn. Người Nhật thì không. Ai cũng đứng sau vạch vàng. Không ai vượt qua lằn vạch. Tôi cũng bắt chước đứng đợi như mọi người. Mười giây. Hai mươi giây. Ba mươi giây. Tôi bắt đầu hiểu. Đứng sát đường rầy, không làm đoàn xe dài ngoằng xúc động hơn.

Nhưng đứng yên mới chỉ là bước đầu. Tôi còn phải học cách… im lặng. Trong xe điện, tôi rút điện thoại ra định gọi cho bạn. Vừa bấm số, tôi chợt nhận ra cả toa tàu im lặng đến mức nghe rõ tiếng bánh sắt nghiến trên đường rầy. Không ai nói chuyện qua điện thoại. Không ai mở loa ngoài. Không ai xem video TikTok với âm lượng đủ để cả toa cùng thưởng thức. Tôi vội vàng cúp máy như vừa bị bắt quả tang quay cóp trong phòng thi.

Thế rồi tôi chợt nhớ đến Paris. Ở đó, chỉ cần lên métro vài ga là đủ nghe một buổi hòa nhạc quốc tế: một cậu thiếu niên xem rap Pháp, một bà cô gọi điện về Maroc, hai anh sinh viên tranh luận bóng đá, phía cuối toa có em bé khóc, còn đâu đó luôn có một nghệ sĩ đường phố kéo đàn với tất cả niềm tin rằng cả toa xe đang mong đợi mình. Chúng tôi gọi đó là cuộc sống.


Ở Nhật thì khác. Có toa dành riêng cho phụ nữ vào giờ cao điểm. Có toa ưu tiên cho gia đình có trẻ nhỏ. Tôi còn tự hỏi, với cái miệng thích buôn chuyện của mình, không biết có toa nào dành riêng cho… những người không biết im lặng không.

Người Nhật gọi đó là… meiwaku, nghĩa là làm phiền người khác. Chữ ấy theo tôi suốt chuyến đi. Nó xuất hiện ở khắp nơi mà chẳng cần ai viết lên tường. Không có bảng ghi “cấm nói lớn”. Không có khẩu hiệu “hãy giữ trật tự”. Không có ai kề tai nhắc nhở. Mỗi người tự biết mình nên thu nhỏ lại một chút để người bên cạnh được yên ổn hơn một chút. Cái triết lý ấy đáng sợ ở chỗ nó không ép buộc. Nó khiến người ta tự nguyện.

Còn tôi thì bắt đầu thấy mình giống người duy nhất quên tắt chuông điện thoại trong một buổi hòa nhạc. Không ai nhắc nhở. Không ai lườm nguýt. Không có ánh mắt trách móc nào cả. Nhưng chính sự im lặng ấy lại khiến người ta tự thấy mình nên khép vào tập thể. Có lẽ đó là điều đầu tiên tôi học được ở Nhật: đôi khi, một xã hội văn minh không cần nhiều bảng cấm. Người ta chỉ cần cư xử sao cho người bên cạnh khỏi phải khó chịu.

Rồi đến chuyện xếp hàng.


Thú thật, tôi luôn nghĩ mình là người rất biết xếp hàng. Ở Paris, tôi vẫn xếp hàng mua bánh mì, xếp hàng vào siêu thị, xếp hàng lên xe buýt. Chỉ có điều… tôi hơi dị ứng với những hàng quá dài. Mỗi lần thấy hai chục người đứng trước mặt, bộ não tôi lập tức kích hoạt một chức năng đặc biệt mang tên “tối ưu hóa”. Tôi bắt đầu quan sát. Có cửa nào ít người hơn không? Có quầy nào vừa mở không? Có ai đứng đợi chứ chưa thật sự xếp hàng không? Có khoảng trống nào đủ rộng để mình lách vào mà vẫn giữ được vẻ mặt vô tội không? Người ta gọi đó là chen hàng. Tôi thích gọi là… tận dụng cơ hội.

Sang Nhật, căn bệnh ấy tái phát rất mạnh.

Trước một quán ramen nổi tiếng ở Shinjuku, tôi thấy gần ba mươi người đứng nối đuôi nhau trên vỉa hè. Phản ứng đầu tiên của tôi không phải là “Quán này chắc ngon”. Phản ứng đầu tiên là: “Không lẽ người Nhật rảnh dữ vậy?” Tôi còn đang âm thầm tính toán xem có cửa sau nào không thì một anh nhân viên bước ra, cúi đầu thật thấp rồi phát cho từng người một tờ thực đơn. Ai nấy im lặng xem món mình sẽ gọi. Không ai sốt ruột. Không ai than thở. Không ai quay sang hỏi câu rất Việt Nam: “Ủa, xếp hàng ở đây để mua cái gì vậy?”


Đến lượt tôi cũng được phát một tờ. Tôi cầm lấy mà thấy hơi áy náy. Người ta phát thực đơn không phải để giết thời gian. Người ta muốn khi bước vào quán, khách gọi món ngay, ăn xong thì nhường chỗ cho người kế tiếp. Hóa ra họ cũng tiết kiệm thời gian. Chỉ khác là họ tiết kiệm thời gian của… tất cả mọi người, chứ không riêng của mình.

Lúc ấy tôi mới giật mình nhận ra lâu nay mình vẫn hay nhầm lẫn giữa hai khái niệm. Tôi tưởng mình là người biết tối ưu hóa. Thực ra, tôi chỉ giỏi tối ưu hóa cho bản thân. Còn người Nhật dường như luôn tính thêm một ẩn số trong mọi phép tính: người bên cạnh.


Tuy nhiên, người Nhật cũng có một cách rất lịch sự để lấy tiền của khách du lịch. Họ gọi đó là… cửa hàng tiện lợi. Ban đầu, tôi chỉ định vào mua một chai nước. Ra quầy tính tiền. Thấy cái bánh nhìn ngon. Lấy luôn. Đứng chờ tính tiền. Thấy hộp kem đang giảm giá. Lấy luôn. Đang móc ví. À quên. Ngày mai có thể mưa. Lấy thêm cái dù. Đi được vài bước. Lại quay vào mua thêm gói khăn giấy. Ra tới cửa. Tôi nhìn hóa đơn. Sáu nghìn yen. Tôi đứng tính nhẩm. Một chai nước đã khéo léo rủ thêm bốn người bạn đi cùng. Tôi nghi ngờ chai nước được hưởng hoa hồng theo doanh số. Từ hôm đó, tôi bắt đầu hiểu vì sao tiếng Anh gọi là convenience store. Nó tiện đến mức, tiền trong ví cũng tiện đường ra đi.


Tôi nhận ra Nhật Bản không chỉ lấy tiền của tôi. Họ còn đang âm thầm sửa từng thói quen của tôi. Tôi thấy mình giống một chiếc điện thoại vừa cài bản cập nhật mới. Vỏ máy vẫn thế. Chỉ có điều hệ điều hành bên trong bắt đầu hoạt động khác trước. Từ đó, tôi đâm ra nghi ngờ toàn bộ nền giáo dục mà mình được thừa hưởng và tự đào tạo suốt mấy chục năm. Những điều trước đây tôi cho là hoàn toàn bình thường, bỗng dưng lại thấy… không bình thường nữa.

Chẳng hạn như chuyện đi thang cuốn.

Ở Paris, trên thang cuốn là nơi người ta biểu tỏ triết lý sống của mình. Người không muốn bước, đứng yên thì tránh sang một bên. Người vội vàng thì lao xuống hoặc lên bên phần thang còn lại, như thể nếu chậm ba giây nữa máy bay sẽ cất cánh mà không đợi. Có lúc tôi cũng hùng hục leo. Lên đến nơi mới nhớ mình chẳng có việc gì gấp. Nhưng đã leo thì phải leo cho hết thang, chứ giữa chừng mà dừng lại thì quê xệ.

Sang Tokyo, tôi cũng ngoan ngoãn nối đuôi mọi người đứng nép về một phía trái, người Nhật đứng bên trái như khi họ lái xe vậy, chứ không bên phải như người Pháp. Được vài hôm xuống Osaka, tôi tiếp tục đứng đúng chỗ ấy. Nhưng chỉ vài giây sau, tôi thấy mọi người nhìn mình với ánh mắt rất lịch sự nhưng cũng rất… tha thiết. Thì ra ở Osaka, người ta đứng bên phải. Chỉ một bước chân thôi mà tôi biến thành chướng ngại vật quốc tế.


Điều đáng lưu ý là không ai cáu gắt. Không ai buông câu: “Ông không có mắt à?” Một anh thanh niên chỉ mỉm cười, khẽ cúi đầu chào rồi đứng sang phía đối diện. Nhận ra sai lầm, tôi cuống cuồng đổi chỗ. Hai người cúi đầu xin lỗi nhau. Một người xin lỗi vì đứng nhầm. Một người xin lỗi vì làm người kia phải xin lỗi. Tôi không biết cuối cùng ai là người có lỗi nữa. Nếu cảnh ấy xảy ra ở Paris, rất có thể chúng tôi đã trao đổi với nhau vài từ vựng mà từ điển của tôi không tiện ghi lại.

Tôi bắt đầu hiểu vì sao ở Nhật người ta gập người cúi đầu hoài như vậy. Không phải vì họ lúc nào cũng có lỗi. Mà vì họ luôn sợ mình đã vô tình làm phiền người khác. Còn chúng ta, nhiều khi làm phiền người khác thật, nhưng lại rất tự tin rằng… chắc cũng không sao (!)


Rồi đến chuyện thùng rác. Nếu có ai hỏi sau chuyến đi Nhật điều gì khiến tôi nhớ nhất, rất có thể tôi sẽ trả lời: “Một cái chai nước suối.” Không phải vì nó ngon. Mà vì tôi đã mang nó đi gần nửa ngày. Ở Paris, uống xong một chai nước, việc tiếp theo đơn giản như một phản xạ có điều kiện: tìm thùng rác. Cách vài mươi mét lại có một cái. Nếu lười quay lại, đi thêm vài bước thế nào cũng sẽ gặp cái khác. Thành phố dường như luôn chuẩn bị trước cho sự bất cẩn của cư dân. Nhật Bản thì khác. Tôi uống xong chai trà lạnh, ngó quanh, không có thùng rác. Tôi đi thêm một đoạn dài, vẫn không. Đi qua hai con phố rồi, cũng không. Tôi bắt đầu nghi ngờ mình bị loạn thị. Hay người Nhật giỏi ngụy trang đến mức ngay cả thùng rác cũng hòa vào cảnh vật? Tôi còn cúi xuống nhìn dưới gốc cây. Không chừng họ giấu dưới đó. Một giờ đồng hồ sau, cái chai vẫn nằm rất ngoan trong ba lô. Lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy mình và một chai nước có mối quan hệ gắn bó đến thế. Chúng tôi cùng lên tàu điện, cùng xuống ga, cùng ngắm cảnh đình đền, cùng dạo phố. Nếu có ai chụp ảnh lưu niệm lúc ấy, đáng lẽ phải ghi chú: “Tôi và người bạn đồng hành bằng nhựa.”


Tôi hỏi một người bạn Nhật: “Sao các anh ít đặt thùng rác thế?” Anh ấy cười: “Vì mọi người mang rác về nhà!” Câu trả lời ngắn gọn đến mức tôi tưởng mình nghe nhầm. Mang… về nhà? Trong đầu tôi lập tức hiện lên một viễn cảnh rất Việt Nam. Nếu áp dụng ở quê mình, có lẽ mỗi người sẽ sở hữu một bộ sưu tập túi ni lông đủ để mở triển lãm. Chúng ta vốn có niềm tin rất mãnh liệt rằng rác là thứ phải thuộc về… nơi khác, thuận tiện trên hết. Nhà mình sạch là được. Ra khỏi cửa, thế giới còn rộng lắm.

Tôi chợt nhớ những lần ở Paris, đang đi trên vỉa hè thì thấy một lon nước nằm chỏng chơ cạnh… thùng rác. Chỉ cách đúng mấy phân. Người vứt có lẽ đã ném rất có tâm. Chỉ tiếc môn bóng rổ không chọn họ vào đội tuyển quốc gia. Điều đáng nói là thế rồi người ấy chắc cũng đã tự nhủ: “Có lao công thu lượm mà!”

Chúng ta rất giỏi chia việc. Có người quét đường thì cứ việc xả. Có người cắt cỏ thì cứ việc dẫm. Có người lau chùi thì cứ việc ngồi vắt vẻo trên lưng ghế và chân giày thượng lên mặt ghế. Miễn là mình đã đóng thuế (!) Chữ “đóng thuế” nhiều khi được sử dụng như một loại bùa hộ mệnh, có thể miễn trừ mọi trách nhiệm còn lại.

Ở Nhật, tôi bắt đầu hiểu một điều hơi khó chịu. Một thành phố sạch không phải vì có nhiều lao công hơn. Mà vì rất ít người tạo thêm việc cho lao công. Đó là một kết luận rất bất tiện. Vì nó không cho phép tôi đổ lỗi cho ai cả.


Một buổi sáng khác, tôi ghé cửa hàng tiện lợi mua một hộp cơm và một lon cà phê. Cô thu ngân cúi đầu, hai tay đưa hóa đơn, hai tay đưa tiền thối, hai tay đưa túi giấy. Tôi cũng líu quíu nhận bằng hai tay như thể đang tiếp kiến Thiên Hoàng. Ra khỏi cửa, tôi gặp một ông cụ đang quét lá. Theo phản xạ lịch sự mới học được hai ngày, tôi cúi đầu chào. Ông cụ cũng cúi đầu. Tôi thấy vui. Đi thêm vài bước, gặp một nhân viên giữ xe. Tôi cúi đầu. Anh ấy cũng cúi đầu. Đến chiều, tôi bước vào khách sạn, cửa tự động vừa mở, tôi theo quán tính… cúi đầu chào luôn cái cửa.

Đó là lúc tôi nhận ra mình đã bắt đầu có triệu chứng “Nhật hóa”. May mà cái cửa không cúi lại. Nếu không, có lẽ tôi đã đứng đó chào qua chào lại đến tối.

Tôi kể chuyện ấy cho một người bạn ở Paris. Anh ta phá lên cười rồi hỏi: “Thế cậu có chào luôn cái máy bán nước tự động không?” Tôi đáp rất thật: “Chưa. Nhưng thêm hai ngày nữa thì tớ cũng không dám chắc.”

Con người đúng là một sinh vật kỳ lạ. Chúng ta mất hàng chục năm để hình thành một thói quen. Nhưng chỉ cần vài ngày sống giữa những người cư xử khác mình, ta bắt đầu nghi ngờ những điều tưởng như hiển nhiên. Điều đó vừa đáng mừng, vừa đáng sợ. Đáng mừng vì chứng tỏ mình vẫn còn khả năng thay đổi, thích ứng. Đáng sợ vì hóa ra bao năm nay, rất nhiều điều mình vẫn gọi là “bình thường” chỉ đơn giản là vì… mình quen với nó. Chỉ đến khi bước sang một xã hội khác, ta mới phát giác có những cái “bình thường” thực ra chẳng bình thường chút nào nơi này.

Đến ngày thứ ba, tôi bắt đầu thấy những thay đổi đáng báo động. Ví dụ như chuyện… nói chuyện. Ở Paris, vào quán cà phê, tôi vẫn gọi rất tự tin:

– Cho tôi một cái espresso!

Đến Tokyo. Tự nhiên giọng tôi nhỏ dần. Nhỏ đến mức chính tôi cũng không nghe rõ mình vừa gọi gì.

Cô phục vụ cúi đầu:

– Xin lỗi, cô nói lại được không ạ?

Tôi bèn… nhỏ hơn nữa. Cuối cùng, cô phải cúi sát xuống. Tôi cũng cúi xuống. Hai người cúi đầu thì thầm với nhau như đang trao đổi mật mã của lực lượng tình báo. Chỉ để gọi… một tách cà phê nóng. Tôi chợt hiểu: lịch sự quá mức cũng có thể làm phiền người khác.


Rồi đến chuyện bấm nút. Ở Nhật, cái gì cũng có nút. Thang máy có nút. Nhà vệ sinh có nút. Máy bán nước có nút. Máy gọi thức ăn có nút. Có hôm tôi bước vào nhà vệ sinh trong một quán ăn. Đóng cửa. Ngồi xuống. Bỗng… một tiếng nhạc du dương vang lên. Tôi giật bắn người. Tưởng mình ngồi nhầm lên hộp điều khiển vô tuyến. Loay hoay tìm mãi mới biết vừa vô tình bấm nút “âm thanh thiên nhiên”. Tiếng suối chảy róc rách, tiếng chim hót, tiếng mưa…; đủ cả. Tôi ngồi đó. Trong nhà vệ sinh. Mà có cảm giác như đang nghỉ dưỡng ở một khu suối nước nóng.

Ra ngoài, đụng đầu anh nhà.

Anh thắc mắc:

– Sao lâu vậy?

Tôi thành thật:

– Em vừa… đi vệ sinh giữa rừng. Thiếu mỗi con nai bước ra uống nước là đủ quay phim tài liệu National Geographic.

Sau bốn ngày ở Tokyo, tôi bắt đầu đánh giá quá cao khả năng thích nghi của bản thân. Con người vốn có một tài rất đặc biệt: chỉ cần sửa được vài thói quen là lập tức tưởng mình đã đổi được cả tính cách. Tôi cũng không ngoại lệ. Cho đến khi Kyoto nhẹ nhàng chứng minh rằng… tôi vẫn còn là tôi nguyên bản.

Tôi đang đi bộ trên một con phố nhỏ. Phía trước có một chiếc xe đạp dựng sát lề. Ở Paris. Tôi sẽ lách qua rất tự nhiên. Ở Kyoto, tôi bỗng sợ mình va vào chiếc xe, rồi xe ngã và rồi chủ nhân chiếc xe phải loay hoay dựng lại. Rồi mình đã làm phiền người ta. Thế là tôi vòng hẳn xuống lòng đường. Đi thêm mười mét. Tôi giật mình. Ủa… Từ bao giờ mình lại đi đường vòng chỉ vì… không muốn làm phiền một chiếc xe đạp dựng bên tường? Tôi bắt đầu nghi ngờ. Nếu ở Nhật thêm một tháng. Có khi trước lúc hắt hơi, tôi cũng sẽ quay sang xin lỗi những người đứng trong chu vi 5 thước.


Một lần tôi đi lạc trong một con hẻm nhỏ ở Kyoto. Theo phản xạ, tôi dừng ngay giữa vỉa hè để mở Google Maps. Vừa lấy điện thoại ra, tôi giật mình. Đằng sau có hai người đang đi tới. Tôi vội né sang một bên. Xem được vài giây, lại thấy mình đứng chắn trước cửa một tiệm bánh. Tôi lại né. Năm phút sau, tôi vẫn chưa biết mình đang ở đâu. Nhưng tôi biết rất rõ… mình chưa làm phiền ai cả. Chỉ có Google Maps là bắt đầu sốt ruột.

Điều kỳ lạ nhất là, không một ai bảo tôi phải làm như thế. Không có cảnh sát dòm chừng. Không có ai ghé mồm nhắc nhở. Không có tiếng còi xe. Không có ánh mắt soi mói. Chỉ có hàng triệu con người mỗi ngày âm thầm cư xử giống nhau. Và chính họ mới là tấm biển báo lớn nhất. Tôi chợt hiểu một điều. Ở nhiều nơi, người ta dùng luật pháp để buộc con người cư xử đúng. Ở Nhật, người ta dùng chính những người cư xử đúng để tạo ra luật.

Máy bay đáp xuống Paris vào một buổi sáng nhiều mây. Sau mười ngày ở Nhật, tôi bỗng thấy tiếng Pháp ồn ào hơn mình nhớ. Trong lúc chờ lấy hành lý, đã có người tranh thủ gọi điện thoại, người cười lớn, người kéo va-li va vào nhau lộc cộc. Tôi mỉm cười. Mới vài ngày trước cuộc viễn du ngắn hạn, tất cả những âm thanh ấy đối với tôi đều là bình thường. Chỉ cần đổi môi trường vài ngày thôi, cái gọi là “bình thường” đã thay đổi lúc nào không biết.


Ra khỏi sân bay, tôi hít một hơi thật sâu. Paris vẫn là Paris. Tiếng va-li lăn trên vỉa hè. Tiếng ghế kéo ngoài quán cà phê. Tiếng người gọi nhau ơi ới từ bên kia đường. Mọi âm thanh ấy bỗng trở nên lớn hơn trong tai tôi. Không phải vì Paris ồn hơn. Mà vì Tokyo vẫn còn ở trong đầu tôi. Tôi bỗng thấy nhớ thành phố này. Người ta vẫn bảo đi xa mới biết yêu nhà. Có lẽ đúng. Bởi dù Tokyo sạch sẽ, ngăn nắp và lịch sự đến đâu, tôi vẫn thấy vui khi nghe ai đó càu nhàu bằng tiếng Pháp. Có cái gì đó rất… quê hương.

Vài ngày sau, tôi đi bộ ra tiệm bánh gần nhà. Đến ngã tư. Đèn đỏ. Con đường nhỏ. Không bóng xe. Tôi nhìn sang trái – theo thói quen – nhìn sang phải – theo kinh nghiệm. Mọi điều kiện đều đủ đầy. Giọng Paris quen thuộc lập tức cất lên:

– Qua đường đi!

Tôi nhấc chân. Rồi dừng lại. Không phải vì sợ cảnh sát lẩn quất đâu đó. Mà vì ở đâu đó trong đầu có một ông Nhật nhỏ thó đang nhìn tôi. Ông ấy không nói gì. Chỉ đứng đó. Im lặng. Cũng giống như hàng nghìn người ở ngã tư Shibuya hôm ấy. Tôi cảm thấy bất an vì ông ấy không có vé máy bay. Thế mà vẫn theo tôi về đến Paris.

Tôi bật cười một mình. Một cái đèn đỏ ở Tokyo, cách đây gần mười nghìn cây số, không hiểu sao vẫn theo tôi về tận Paris. Đèn bộ chuyển sang xanh. Tôi tung tăng băng qua đường. Lần đầu tiên trong đời, tôi không có cảm giác mình vừa tiết kiệm được ba mươi giây. Tôi chỉ thấy mình… bớt phải tranh cãi với lương tâm công dân.

Có lẽ rồi đây, sẽ có lúc tôi lại phạm phải cái tật cũ. Biết đâu một sáng nào đó đường vắng tanh, tôi lại tự nhủ: “Đi trước đèn xanh một chút chắc cũng không sao.” Con người mà. Đổi một thói quen còn khó hơn đổi mật khẩu. Nhưng tôi biết sẽ có một điều khác trước. Trước khi bước xuống lòng đường, tôi sẽ nhớ đến Shibuya. Nhớ đến hàng nghìn con người đã đứng yên bên một con đường trống. Nhớ đến cái chai nước đi theo tôi suốt ngày. Nhớ đến chiếc thang cuốn ở Osaka. Nhớ đến cái cửa khách sạn mà tôi cúi đầu chào.

Rồi tự nhiên… tôi đứng lại.


Đi Nhật về, thứ nặng nhất tôi mang theo không nằm trong va-li. Đó là một ông Nhật bé xíu trong đầu. Ông ấy chẳng bao giờ “lên lớp” tôi. Chẳng bao giờ mắng mỏ. Mỗi lần tôi định tự nhủ: “Chắc cũng không sao…”, ông chỉ khẽ lắc đầu. Thế thôi. Và kỳ lạ thay, nhiều khi chỉ cần một cái lắc đầu rất nhẹ như vậy, con người ta cũng bớt muốn đi trước đèn xanh một chút.


Trúc Tiên
Paris 5 tháng 8 năm 2026
Nguồn: Tạp chí Thế Kỷ Mới

Anh Phước chuyển

Ngày Từ Phụ Chung Vui Với Sui Gia - Người Phương Nam


Ở xứ Úc, ngày lễ Từ Phụ là chúa nhật đầu tiên của tháng 9. Cũng như mọi năm con cháu mời cha mẹ ông bà đi ăn. Năm nay tôi đề nghị các cháu mời luôn ông bà nội chúng để hai bên sui gia gặp gỡ chung vui thân tình. 

Thức ăn Á châu như Việt, Thái, Nhật, Đại Hàn, ông bà sui hơi kén, chỉ thích các món điểm tâm của người tàu như há cảo, xíu mại, dim sim, phù chúc tôm thịt, mì xào, cải làn dầu hào, bánh hẹ, bánh bột chiên, bánh khoai môn, mực rang muối, bao tử bò chưng tương, bánh bao xá xíu, chả giò Triều châu, cá cơm lăn bột vv, lâu lâu ăn một lần, mỗi thứ một chút, ông bà rất thích. Do đó chúng tôi hẹn nhau ở một nhà hàng tàu quen thuộc ở Cabramatta, "đặc khu" của dân Á châu như Chợ Lớn VN ngày xưa, ra đường rất hiếm khi nghe được tiếng Anh trong giao tiếp.

Ăn xong chúng tôi rủ ông bà sui đi dạo phố Cabramatta một vòng cho biết dân tình Á châu làm ăn buôn bán thế nào.

Đa số bác sĩ, nha sĩ, luật sư hay các dịch vụ du lịch, mua bán nhà đất, chủ nhân các tiệm buôn, nhà hàng, quán ăn lớn nhỏ gì đều là dân Việt Nam đứng đầu. 

Ông bà sui hết sức thán phục, khen dân VN biết chịu khó, đa số là công sức từ thuyền nhân hai bàn tay trắng mà làm nên một cộng đồng lớn mạnh phồn thịnh như ngày hôm nay.





Ông sui thích ăn phùng chảo, chả giò Triều châu, bà thì "kết" há cảo, xíu mại, bánh ướt nhưn tôm (hình này chụp ba năm trước)







Gian hàng nước trái cây, sinh tố. Có một thức uống đặc biệt là nước trái cóc và chanh muối rất ngon

Sushi

Gian hàng bán thức ăn take away, chè bánh, mặn ngọt gì cũng có 





Chụp từ iphone

Sunday, September 6, 2026

Chê Cali - Huỳnh Ngọc Chênh


Tâm lý mọi người nói chung, khi đến nơi giàu sang tốt đẹp hơn quê nhà thì khen hết lời, khen để học tập. Đó là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên người Việt sống trong chế độ cộng sản, thì việc khen chê phải có định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhớ hồi năm chín mấy của thế kỷ trước, lúc ông phó thủ tướng Trần Đức Lương mới đi thăm Mỹ về, tui phỏng vấn ông ta về nước Mỹ. Ông vô tư khen nước Mỹ nhiều thứ lắm, nhưng sau đó chợt nhớ ra, ông tự chấn chỉnh lại, “nhưng nước Mỹ cũng có nhiều cái xấu lắm”, tui hỏi cụ thể xấu cái gì thì ông lúng túng nói chung chung, nó bóc lột công nhân ghê lắm, nó tự do dân chủ quá trớn nên xã hội luôn mất ổn định…

Cũng vào thập niên 90, tui có mặt trong đoàn nhà báo đi thăm Hàn Quốc do anh Võ Như Lanh, tổng biên tập TBKTSG làm trưởng đoàn. Từ trong quê mùa của những năm 90, thấy Hàn Quốc, ai cũng choáng ngợp, đi đến đâu, thấy cái gì cũng khen ngất trời. Khen nhiều đến mức mà một nhà báo tiến bộ như anh Lanh cũng thấy không ổn, anh chấn chỉnh: khen nhiều rồi, bây giờ chúng ta phải tìm ra cái chi xấu, cái chi thua VN để chê. Vậy mà cả đoàn nhà báo gần 10 người, trong ba ngày còn lại không tìm ra một cái gì xấu, cái gì thua VN để chê. Cuối cùng tui bông phèn một câu rất mất quan điểm lập trường: Thằng Hàn quốc tệ hơn VN là không chịu để cho Triều Tiên giải phóng.

Bây giờ tui qua Cali ở gần một tháng, mới khen phở Cali ngon và khen chuyện quản lý chăm sóc trẻ con tốt đã bị nhiều người Việt XHCN, cháu ngoan bác Hồ nhảy bổ vào chửi bới, đ*t mẹ thằng bu càng nịnh Mỹ, khen cả cứt Mỹ cũng thơm hầu xin xỏ suất tị nạn hoặc lợi lộc gì đó.

Chừ tui sợ quá, bằng tự điều chỉnh, tìm cách chê Cali đây.

Thời tiết, đất đai và thổ nhưỡng Cali tệ hơn VN rất nhiều. Bay từ San Francisco xuống Los Angeles, nhìn xuống thấy cả một vệt đất khô cằn, núi đồi trùng điệp phủ toàn một màu vàng khô của cỏ cháy hoặc của đất đá trơ cằn, mỏi mắt tìm một chút màu xanh không thấy.

Khi máy bay hạ thấp xuống mới thấy được cây xanh trong các khu dân cư và trong các thành phố. Trái với VN, bay ra khỏi thành phố là thấy màu xanh ngút ngàn.

Cali mưa ít, phía tây tiếp giáp với sa mạc nên thiếu nước trầm trọng. Hầu hết đồi núi đều khô trọc, nơi nào có rừng thì phần lớn là các loại cây có dầu như thông, tùng, sồi và cây gì đó rất giống cây bạch đàn…không khí lại rất khô nên cháy rừng xảy ra thường xuyên dù không bị đốt. Ngược lại ở VN ta rừng bị cố ý đốt liên miên nhưng cũng chỉ cháy chút chút rồi tự tắt chẳng cần phải cứu chữa khổ sở như ở Cali.

Chủng loại cây đã ít mà chủng loại chim thú càng ít hơn VN. Tuy nhiên số lượng của chúng thì nhiều vô cùng. Chim ở đây thịt rất dỡ nên không ai thèm bắt ăn. Ngỗng, ngan, vịt trời, le le mập ú tràn ngập các hồ nước, công viên, có lẽ thịt nó tanh lắm và máu nó hôi hơn ngỗng vịt ở VN nên không bị bắt làm món tiết canh. Tự dưng rất tự hào khi nhớ đến lời ngài phó thủ tướng tiến sĩ kinh tế Vương Đình Huệ khi ngài cho rằng vịt trời là mũi nhọn xuất khẩu đặc sản của VN.

Con người ở Cali bị khó dễ mọi điều, bị cấm đoán đủ thứ như cấm uống rượu bia nơi công cộng, cấm hành hạ thú cưng và gia súc, cấm cả việc đụng chạm đến chim muông đến cả con sò con ốc, viên đá vô tri. Hôm qua tui mới đến chơi ở bãi biển Laguna và Dana Point, thấy có biển cấm to đùng cắm ngay bên mỗi cổng xuống biển với nội dung: Không dắt chó xuống biển, không dẫm đạp nghêu sò và tất cả các loại sinh vật biển, không nhặt lượm võ nghêu sò ốc hến, không nhặt sỏi đá, không thay đổi vị trí của các viên đá sạn… Vì thế mà nhà cầm quyền Mỹ rất tệ khi đã bắt phạt một vị đường đường đại sứ Việt Nam chỉ vì vị nầy vô tư mò ốc trên suối để cải thiện.

Cali rất thiếu bê tông, hầu hết nhà cửa phải làm bằng gỗ và vật liệu tổng hợp đã đành đến các ao hồ sông suối ngay trong lòng thành phố cũng hiếm khi được kè bê tông hoành tráng như Hồ Tây của Hà Nội. Các khu hoang dã thì để dưới mức hoang dã, đường đất quanh co, cây cối mọc nghiêng ngã lộn xộn, um tùm. Nơi nào buộc phải làm đường bê tông để du khách đi lại cho dễ thì hai bên đường trồng cây cối lau lách lên um tùm che khuất người với chim thú bên trong, thỉnh thoảng lắm mới bố thí cho người một chỗ nhòm chim thú hai bên đường bằng cách cắt thấp cây cỏ một ô chừng vài mét. Hồ Tây và các bờ sông vào thành phố ở VN sạch tưng, đố hòng tìm thấy một bụi lau sậy hoang dã… làm bẩn cả mắt.

Đất đai Cali rộng hơn VN nhưng toàn đất hoang đồi trọc, dân số thì ít hơn rất nhiều lại không thuần và ngoan như dân VN.

Dân Cali là một tập hợp hổ lốn phức tạp gồm da trắng, da đen, da vàng, da đỏ… đến từ mọi phương trời, ngôn ngữ thì hầm bà lằng gồm tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Tàu, tiếng Việt… Hì hì, lại không có tiếng Mỹ, thế có ốt dột không.

Dân Cali không ngoan vì họ chẳng sợ thằng nào kể cả thống đốc hay tổng thống và cũng chẳng thằng nào sợ họ. Họ chỉ sợ mỗi pháp luật, đứng trước pháp luật thằng nào cũng như thằng nào, cũng xanh mặt, thun cu kể cả thằng tổng thống. Nghe ngài Trump đang bị thế. Ngược lại dân VN tuy ngoan ngoãn nhưng rất anh hùng, chẳng sợ pháp luật, chỉ sợ thằng lãnh đạo cấp trên và thằng chí phèo thôi.

Dân số Cali chỉ gần 40 triệu, đất đai cằn cỗi, tài nguyên không nhiều, nhưng nó làm ra tiền khủng khiếp, GDP nó đứng thứ 6 toàn cầu nghĩa là nó chỉ thua 5 nước Mỹ, Tàu, Nhật, Đức, Anh mà thôi. Điều đó chẳng tốt lành gì, vì của cải đó phần lớn do bóc lột người lao động mà ra. Chỉ 40 triệu người mà làm ra lượng của cải khổng lồ đứng thứ 6 thế giới thì cường độ bóc lột, vét kiệt tâm sức người lao động đến mức cùng cực như thế nào khó mà kể siết. Do vậy nhận định của ngài Trần Đức Lương hoàn toàn không sai.

Nhà cầm quyền tư bản Cali nói riêng và nước Mỹ nói chung, rất lạnh lùng và vô ơn. Viết bài bưng bô ca ngợi nó bao nhiêu nó cũng chẳng thèm biết ơn tặng cho người viết phong bì hoặc ưu tiên cho một chút lợi lộc nào đó như ở VN... Ngược lại, nói xấu nó hay nói xấu làm mất uy tín lãnh đạo của nó, nó cũng rất vô cảm, chẳng thèm care.

Do vậy tui viết bài chê Cali này là nhằm phục vụ cái sướng cho các vị cháu ngoan bác Hồ, những con người mới xã hội chủ nghĩa, mong các vị tha thứ mà cho tui một suất trở về VN quê hương an toàn.

PS: Tui chỉ quanh quẩn Cali nên chỉ dám chê Cali, tui mà đi hết nước Mỹ thì phải biết, tui chê không còn manh giáp nào.


Huỳnh Ngọc Chênh

Huỳnh Ngọc Chênh: Chê California

Sân Ga Tiễn Em - Nguyễn Duy Phước

Gà Xé Phay - Đoàn Xuân Thu

 
Gỏi gà xé phay và cháo gà – nguồn youtube 

Chữ “phay” xuất hiện trong cụm từ “dao phay” và “gà xé phay”. Dao phay, ở Úc gọi là “cleaver”, cũng được gọi là “butcher knife” hoặc “chopping knife”. Dao phay có bản dao to, rộng, hình chữ nhật, cứng và nặng, có thể dùng để nghiền tỏi hoặc đập nát tiêu hột. Dao phay để chặt thịt, xương. Lưỡi dao rộng giúp bằm nhuyễn tỏi, hành, cũng như cắt các loại rau củ lớn như bắp cải hay bí rợ.

Chữ “phay” còn có trong món ‘gà xé phay’, xé phay là xé nhỏ thịt gà ra để làm món này. Sau năm 1975, khi CSBV tràn vào miền Nam, chữ “nộm gà” mới lù lù xuất hiện. ‘Nộm’, hay ‘gỏi’ ở miền Nam, thường được trộn với nước mắm chua ngọt. Ở Úc và nhiều nước phương Tây, món này thường được gọi là ‘salad’, rau trộn. Ví dụ như nộm hoa chuối (ở miền Nam gọi là bắp chuối) bào mỏng, lỗ tai heo, rau thơm; nộm đu đủ với cà rốt và thịt bò khô; nộm rau muống luộc với đậu phộng rang; nộm xoài xanh với tôm khô và rau thơm. Đặc biệt, món nộm gà xé phay của dân miền Tây không có tên “nộm” gì ráo mà được gọi là gỏi gà hay gà xé phay.

Hồi xưa, khi còn ở trong gông cùm của CS, năm bảy tháng, tui mới được bà chằn của tui làm món gà xé phay cho tui nhâm nhi với một ly rượu đế (thời VC đói nghèo thấy mẹ, tiền đâu mà mua rượu xị?). Rau răm, chanh, ớt, bắp chuối hột sau vườn đã có. Tỏi, đường, tiêu, bột ngọt thì khỏi mua vì nhà còn. Em viết ra một cái toa, sai tui chạy ù ra chợ Tham Tướng, đầu đường Mạc Tử Sanh, Cần Thơ, kế chân cầu đúc để mua dưa leo, cà rốt, hành, giá.

Nhớ mua ở sạp rau của bà Tư Ú, có ông chồng là ông Hai Ốm. Chồng như cây tre miễu đứng cạnh bà vợ là con voi. Như số một đứng cạnh số không (zéro). Số 10, bù, nghèo là phải.

Nhớ đừng lân la, rề rà lại sạp rau của con Chín Ú, ngựa bà, dụ mấy thằng dê mà bán mắc, lời nhiều.


Em rải lúa, kêu túc túc, cho tui chụp bắt một con gà tơ. Tui chụp hụt, té bò lăn, bò càng rồi cuối cùng cũng được một con cho em. Nửa con, em nấu cháo, nửa con, em kho gừng dành để ăn cơm.

Tui làm nước mắm ăn gà xé phay: gồm nước cốt chanh, đường mỗi thứ 2 muỗng canh và nước lã 4 muỗng.

Em vớt trong nồi cháo, sôi ùng ục, ra một cái ức gà và một cái đùi gà. Sau đó, nhúng với nước lạnh để thịt gà có màu trắng đẹp, rồi xé thành sợi.

Bắp chuối hột em bào mỏng, ngâm trong nước muối pha chanh để không bị thâm và giữ độ giòn. Em sai tôi xắt mỏng củ hành, ngâm trong nước cho bớt mùi hăng; bào cà rốt thành sợi. Rau răm rửa sạch, xắt nhỏ.

Em lấy một nồi lớn, cho thịt gà xé, cà rốt, dưa leo, củ hành và giá vào, lấy đũa đảo đều nhẹ nhàng. Rồi em thêm một muỗng tỏi băm, nửa muỗng bột ngọt, tiêu, một phần tư muỗng cà phê đường và nước cốt chanh. Sau đó em lấy hai tay (búp măng, ngòi viết lá tre, từng bóp cổ tui mắt trợn trắng, trợn ngược lúc em lên cơn giận), trộn món gỏi gà thấm đều gia vị. Tiếp theo, cho một nửa rau răm vào, rồi lại đảo đều lên.

Cuối cùng, em yêu cho món gỏi gà này lên đĩa và rắc phần rau răm còn lại lên trên. Em rưới nước trộn gỏi lên, trộn đều; rắc đậu phộng rang giã nhỏ lên trên. Em bày gỏi gà ra đĩa, thêm rau răm và ớt tươi. Tôi rất thích ăn cay.

Có lẽ thời kỳ VC, dân miền Tây bị CS cướp sạch bách, vợ chồng tui thiếu, ăn gì cũng thèm. Thịt gà đối với dân ngụy như tui đã trở thành cao lương mỹ vị. Đói quá, tương lai đen thùi lùi như mõm chó. Không lẽ ở lại chịu trận, chịu đói cho bọn chúng hành hạ, nên tui tìm cách dẫn vợ con bỏ nước ra đi dù lòng đau như kim châm muối xát.

Qua Úc, so với thịt bò và thịt cừu, thịt gà rẻ hơn nhiều. Muốn ăn thịt gà thì cứ tới KFC, “Kentucky Fried Chicken,” tức là gà rán Kentucky. (Úc, nó không ăn đầu gà, chân gà, lòng mề gà là phần ngon nhất của con gà. Thiệt là ngu thấy ớn hè!)

Kentucky Fried Chicken


Ba ke hai nút gọi món nầy là gà rán, nhưng tui nghĩ gọi như vậy là không đúng. Mặc dù “chiên” và “rán” đều là các phương pháp nấu ăn dùng dầu, nhưng có sự khác biệt. Chiên là nhúng cánh gà, ức gà, đùi gà ngập hoàn toàn trong dầu. Chiên làm thịt gà chín vàng đều và giòn hơn, nhai nghe rốp rốp. Còn rán thường sử dụng ít dầu hơn và gà chỉ ngập được một phần. Rán thường không làm thực phẩm giòn bằng chiên.

Ở Úc, có nhiều loại gà khác nhau, dựa theo cách nuôi. Như gà công nghiệp (Commercial Chicken) nuôi cả trăm ngàn con trong các trang trại bao la, chủ yếu để làm thịt gà KFC.


Ngày xưa, món gà xé phay là món ăn quý giá, nhưng ở Úc, thịt gà trở nên rẻ hơn nhiều. Nhà nghèo ăn riết phát ghiền ‘fast food’ như McDonald’s, Hungry Jack’s hoặc KFC. Dần dần, vợ chồng con cái bị Úc hóa, mập thù lù như cái lu hứng máng xối nước mưa!

Tui khoái gà xé phay nhưng con cháu tui đã bị Úc hóa, tụi nhỏ khoái KFC hơn. KFC ở gần, tôi thèm thịt gà, chỉ cần lái xe chưa tới 10 phút là mua về ăn cho lòi bản họng. Tốn khoảng 20 đến 30 đô Úc đủ cho hai con khỉ già và mấy con khỉ nhỏ, cháu nội kêu khẹt khẹt, no bụng tối ngày.

Còn gà của em yêu là loại nuôi tự nhiên (Pasture-raised Chicken) thịt ngon hơn gà nuôi công nghiệp. Nhưng ngặt nỗi là: bà chằn của tui ít làm gà xé phay cho tui ăn nữa. Tôi nhớ quay quắt dĩa gà xé phay 40 năm thời đói cơm, rách áo. Đêm ngủ chảy nước miếng, nghiến răng như đang nhai rau ráu món gà xé phay. Vợ tôi đi ‘pharmacy’ mua thuốc xổ lãi về bắt tôi uống vì em nghĩ bụng tôi có lãi. Lãi đâu mà lãi nè? Bụng bự vì tui uống nhiều bia. Tui chảy nước miếng tới rún; tui nhai nhóp nhép trong mơ vì tui vẫn thèm món gà xé phay hồi năm nẳm.


Đoàn Xuân Thu

Gà xé phay

Saturday, September 5, 2026

VNCH Chính Danh


 

Thanh Loan chuyển

Trời Sắp Mưa - Nguyễn Văn Sâm


Nhà bếp rộng, sạch. Trên lò, nồi giò heo hầm lửa riu riu phun khói nhè nhẹ, nắp nồi khua động bằng một âm thanh đều đều, xì xọp, vui vui. Trên tường đồng hồ thánh thót đổ một hồi kẻng dài. Dì Tư ngó lên rồi lại cúi xuống tiếp tục từ tốn cắt cắt thái thái mấy miếng thịt lấy ra từ cái oven. Trong góc bếp, nút nồi cơm điện nhảy từ chữ "nấu" sang nút "giữ ấm" nghe cái "cắc" một tiếng dòn tan, Dì lại ngước lên ngó về phía đó. Bực mình. Già cả nên lẩn thẩn, biết trong bụng là không có chuyện gì mà cứ giựt mình, cứ coi đi coi lại cho chắc. Vô ích hết sức. Như là ba cái vụ điện thoại, reng reng trong tivi mà cứ giựt mình lại coi phải ai gọi không, mặc dầu nếu có người hỏi cũng chỉ biết nói "Họ không có ở nhà", ngay ý muốn hỏi tên để về nói lại cũng ngại ngùng. Dì giở nắp nồi cơm ra coi. Hơi gạo

chín tỏa một mùi thơm dễ chịu. Dì nghĩ tới món thịt kho dưa chua đứa con gái ưa thích từ hồi còn nhỏ tới giờ, thỉnh thoảng được ăn vẫn chắc lưỡi hít hà khen ngon liền miệng.

Trí Dì miên man nghĩ tới đứa cháu ngoại chắc chắn nó sẽ bới nửa chén cơm và ba hột rồi ôm đủa ngó, đợi không ai chú ý đem chén đủa để trong chậu rửa chén rồi tới mở tủ lạnh lục bánh trái gì đó ăn dằn bụng qua loa. Tội con nhỏ không ăn được những món Việt Nam nghèo thuần tuý, món của quê nhà đồng ruộng. Dì lấy gói thịt bầm làm hai cái hamburger. 


Trong khi nướng Dì nghĩ vẫn vơ về hai đứa con gái trong nhà.

Con Trinh không gần gũi thân mật là bao nhiêu mặc dầu đã sống với nó từ mười năm nay, mến chân mến tay từ hồi còn nhỏ. Dễ thương thì dễ thương thiệt, nhưng nhiều khi nó ngồi yên cả giờ đồng hồ không nói, chăm chú trước máy truyền hình, hay cười như nắc nẻ lúc nghe được chuyện gì hay. Gợi chuyện với nó thì nó dạ dạ mà coi bộ cũng hững hờ lắm, không có gì tha thiết. Nhiều lúc vui vui buột miệng kể chuyện lúc nó còn nhỏ ở Việt Nam, thì lần nào cũng như lần nấy nó chận họng: Chuyện này bà ngoại kể hoài, bộ bà ngoại hổng nhớ sao. Con nhỏ giống má nó in hịt càng ngày càng thấy xa lạ, như tụi nó không là con cháu mình nữa. Tụi nó lúc này và lúc trước ở Việt Nam là những người khác.

Cũng mắt mũi đó, cũng tên họ đó, cũng bộ điệu đó, nhưng mà như là uống nước ở xứ này nên bị rửa ruột thành người khác. Nói năng không lựa lời lựa vốn, bạ đâu xâu đó, nhiều khi nghe muốn tức cành hông. 


Còn con Chuyên mắc giống gì không biết lại thương mến. Có lẽ nhờ nhỏ nhẹ dịu dàng. Có lẽ nhờ mới qua. Có lẽ chịu nghe, chịu góp chuyện. Ở đây có khi cả tuần, có khi cả tháng, trong nhà mới có vài câu nói, trả lời ngắn gọn, lạnh tanh, ngoài ra là thời khoảng im lặng ai lo chuyện nấy. Người trong nhà như những cái bóng dật dờ đi làm - về- ăn- ngủ. Một chu trình trôn ốc liên tục tiến lên theo thời gian bất tận. Hai vợ chồng là hai vòng trôn ốc ngoài nhau, không có điểm chung nào. Dì là đường thẳng đơn côi riêng biệt với họ. Lặng lẽ, cô đơn, thèm được chuyện trò. Rồi Chuyên, đứa con riêng của chồng của con Dì, xuất hiện tưởng không thể thân thiện được lại đến như một niềm vui, một sự khơi dậy ánh lửa đèn cây tươi mát trong lòng Dì. Dì còn nhớ ngày đầu tiên gặp gỡ, bữa ba người kia rước Chuyên từ phi trường về, được giới thiệu với Dì, Chuyên đã chào thật cung kính, thật tươi,

Thưa Ngoại. Dì cảm động rớt nước mắt. Dì đã hồi hộp chờ ngay từ lúc "họ" ra xe lên phi trường. Cái giòng con gái cỡ trong ngoài hai mươi khó chịu lắm. Con nào hỏng thương mẹ, qua đây thấy chuyện ba nó thế nào cũng nầy kia. Bị ghét lây cũng đành chịu. Không dè mọi chuyện xảy ra khác với bình thường. Ánh mắt Chuyên không biểu lộ một sự gượng gạo, khó chịu, trái lại là một nụ cười thân thiện. Hai bà  cháu bà con chống bảy sào không tới từ đó lại thương nhau hơn cật ruột.. Người dưng nước lã đã biến  thành máu mủ. Bây giờ tình thương càng ngày càng chất chồng, nó đi đâu một chút thì nhớ thì trông.


Nghe mùi thịt nướng thơm thơm, Dì Tư gắp xuống để trong dĩa, sửa soạn pickle, cà tô mách, củ hành, tất cả xếp trong một cái dĩa kiểu, các thứ rau cải xanh đỏ trắng nổi lên trên nền men trắng màu ngà coi thiệt đẹp mắt.

Dì đi lại phòng, gõ cửa ló đầu vô gọi cháu:

- Trinh ra ăn hamburger con!

Con nhỏ đương nằm lơ mơ nghe nhạc, con gấu để trên bụng, một tay ôm, một tay vuốt ve, nghe kêu, nhíu mày lại một giây trước khi chểnh mãng ngồi dậy.

Dì Tư dọn "cơm" mà lòng dửng dưng, không mấy thích thú vì đã làm một điều lợi ích cho cháu con, cũng không thấy khó chịu vì bận bịu. Lòng Dì trống rỗng, như lúc mở cái cửa, lúc xoay lại cái ghế cho ngay ngắn hay lấy cái nùi giẻ lau những miếng thức ăn vụn nho  nhỏ rơi rớt trên bàn sau buổi ăn, những công chuyện bình thường  không tên ngày này qua ngày khác của một đời không bước ra khỏi ngõ...


Tiếng xe quen thuộc ngừng trên  con đường dẫn vô nhà xe, tiếng đóng cửa xe  cũng quen quen, tiếng gót giày  đều đều mà Dì mường  tượng đã nghe rất nhiều lần trong đời tiến lần về phía cửa.

Dì lên tiếng với cháu:

- Chắc mẹ mày về đó. Tao nghe có tiếng xe, sao bữa nay về sớm vậy cà.

Con Trinh không lấy làm lạ về câu nói của bà ngoại mặc dầu nó không nghe gì hết. Chuyện trong nhà bà rất thính mũi thính tai đoán không bao giờ trật. Ít nhứt cũng có người tới.

Bên ngoài Hoa ngó khung cảnh sân cỏ  trước nhà xanh mướt, bằng phẳng, sang trọng như một minh tinh. Mùi cỏ mới cắt phảng phất trong không gian một hơi hướm thiên nhiên tươi mát tinh khiết, khiến chị nín hơi hít những hơi thật dài, đầy phổi. 

Hoa giật mình ngỡ ngàng  khi  cửa mở  cùng lúc với cái bấm chuông của chị: 

- Ồ má! Sao má biết con về hay vậy? Ngó sự chậm chạp  già nua của mẹ, nhớ lại chuyện thực tế, chị cằn nhằn: Má mở cửa mà không check coi người lạ hay quen, nguy hiểm lắm. Ở đây coi vậy chớ tụi cướp tới lúc nào không biết đó. Cái điệu má cà rịch cà tang nếu là người lạ thì trở tay đâu kịp. Chị cố gắng hạ giọng để câu nói có vẻ thật bình thường.

- Con nói với má hoài mà má cứ thờ ơ. Có chuyện gì rồi ngồi đó than trời trách đất.

- Ối tao già rồi đâu còn sợ gì nữa. Nhà đâu có để tiền mặt đâu mà sợ.

Hoa nhăn mặt không vừa ý.

- Má nói vậy sao được! Má già, nhưng còn con Trinh mần chi, nó lớn trọng cải rồi, má có một mình nó là cháu ngoại đó.

Dì Tư nghe xốn xang trong lòng. Đã đành, nhưng cách nói của nó như là mẹ người ta! Lúc nó còn  nhỏ, làm bậy, nhà cửa để bầy hầy  bề hề  mình cũng không rầy kiểu đó. Dì buồn hiu đóng cửa lại sau lưng đứa con, gài sợi xích an toàn rồi bước theo sau.

Già rồi, ở tạm ăn nhờ phải chịu. Nhứt là xứ này, mọi chuyện đảo điên. Tiếng Mỹ tiếng Tây dốt đặc cán mai nói không được như câm, như điếc. Mọi chuyện đều lạ lùng, ngơ ngơ ngác  ngác,  như thằng  lác mắc phong, chết lúc nào sướng lúc đó. Nghe nó cằn nhằn cưởi  nhưởi hoài, tủi quá.

Con Trinh ngó mẹ và ngoại, nó chào cho có:"Hi !  mom", rồi tiếp tục vừa  ăn vừa ngó xéo qua vai má nó, theo dõi chương trình tivi ở góc nhà.

Chị Hoa liếc lên bàn ăn, chị hỏi con, sự không vừa ý lộ ra rõ ràng trong âm điệu:

- Sao con không ăn cơm, ăn có thứ này thứ kia mới đủ chất bổ, hamburger chỉ là fast food để cho mấy người đi làm ăn cho mau vì không đủ thì giờ. Con phải tập ăn cơm Việt Nam cho quen chứ. Chị nắm đôi đủa  lên lật miếng hamburger lên mặt sau săm soi. Sao con không nhờ ngoại dọn cho. Đồ ăn thiếu gì trong tủ lạnh đó.

Dì Tư chen vô, dì thấy cần phải giải thích. Con nhỏ có vẻ muốn đổ thừa mình. Con nó là cháu mình, không thân với nó thiệt, nhưng đâu đến nỗi ghét bỏ.

- Tao thấy nó ưa ăn món đó thì tao làm cho nó. Có dọn cơm nó cũng không ăn. Bữa nay tao nấu thịt kho ăn với dưa chua. Còn món giò heo hầm tao tính để cho chiều nay. Dì nói như phân bua. Chưa được mềm, còn dai nhách.

Con Trinh giờ mới lên tiếng:

- Con chỉ ưa ăn hamburger thôi à ! Mấy thứ khác con ăn không được.

- Mày biết gì! Ăn uống để tẩm bổ chớ đâu phải để chết. Day qua Dì Tư, chị Hoa nói thiệt nhỏ nhẹ. Má làm ơn ép nó ăn dùm con. Nó đương sức lớn ăn bậy bạ nữa sau èo uột. Mình lớn mình biết chuyện nào trúng chuyện nào bậy, chứ nó con nít con nôi biết khỉ gì. Ở Mỹ mà, nhỏ con quá coi đâu được.

Dì Tư buồn hiu, nói xuội  lơ:

- Ừ để tao rán coi, biểu nó, nó không cãi ngang cãi dọc, nhưng nó vô buồng đóng cửa lại thì tao cũng thúc thủ thôi chứ làm gì được.

- Má,  còn con Chuyên đâu hỏng thấy?

- Nó đi lợi đằng trường ghi tên rồi. Nó ghi sớm nữa khỏi phải chen lấn.

- Nó đi một mình hay có ai tới rủ?


Khó nói quá, mình là cha mẹ nói láo với con coi sao được. Mà nói ra tội nghiệp con nhỏ. Dì giả đò không nghe câu hỏi kiếm chuyện gì đó làm, tiện tay dì mở tủ lạnh. Bình sửa để ở ngoài cùng. Bỗng nhiên Dì muốn rót một ly sữa cho con. Coi vậy chớ tội nghiệp nó, buôn bán tối ngày về còn phải coi chừng coi đổi chuyện nhà cửa. Mỗi ngày cầu nó uống hai ba ly sữa mới lấy lại sức. Dì đem ly sữa để trước mặt con rồi quay lưng tính đi rót một ly khác cho cháu. Mắt Dì rưng rưng, không biết sao kỳ vậy. Đâu có buồn gì lắm đâu. Tánh nó chót chét  vậy thôi chớ không để bụng. Nó sẽ quên ngay. Như con cọp ngủ một giấc dậy vung vai,  mọi chuyện xảy ra trước đó sẽ đi vào quên lãng. Thương con cũng muốn mời nó một câu thân mật. Chẳng hạn như con uống ly sữa nghỉ mệt rồi ăn cơm, nhưng không nói được. Khó quá ! Mẹ con lớn hết rồi, biểu lộ bằng cử chỉ săn sóc lo lắng thì được, nhưng nói dịu ngọt thiệt khó còn hơn lên trời. Nó, chồng con đùm đùm đề đề chứ còn nhỏ nhít gì  nữa đâu.


Chị Hoa ngó ly sữa, cảm động đưa mắt theo bàn tay khô cằn của mẹ. Chị hiểu lòng mẹ và cảm thấy mình vô lý, có vẻ như hỗn hào. Già rồi đâu còn lanh lợi như mấy người trẻ. Nói thì nói vậy, chớ tội nghiệp, có bà cũng đỡ chuyện cơm nước giặt dịa, nhà cửa cũng được vén khéo tươm tất. Cả nhà bỏ đi hết, trấn ba cái đồ đạc lại cho ông Táo, biết đâu chừng có bữa tụi nó vô dọn  không còn miếng giẻ rách. Tụi thất nghiệp, xì ke ma tuý, bụi đời chung quanh khu này thiếu giống gì. Dân nào cũng có. Tứ xứ. Thấy có người ra vô tụi nó cũng ngại chứ. Cũng tội, bà lâu nay lủi thủi trong nhà, quanh quẩn với cơm nước, quần áo và con nhỏ Trinh, có biết nước Mỹ là cái gì đâu.

Chị giả lả với mẹ:

- Phải con Chuyên nó đi với thằng Khoa không má?

- Ừa.

Nghe câu trả lời  như nhẹ hẫng nhẹ tênh, chị Hoa không nói ra nhưng cảm thấy giận ngang trong bụng. Như là có một sự đồng loã  nào đó trong nhà này, không đếm xỉa tới chị. Nó là con chồng, lớn đại rồi, thêm ở Mỹ này, có thân muốn đi với ai thì đi. Ba nó không rầy thì thôi, mắc mớ gì mình nói ra nói vô thêm mắc oán. Nhưng mà tại sao má lại dấu dấu diếm diếm, giống như chấp nhận thằng kia, giống như ở về phe với nó mà không đếm xỉa gì tới mình. Chị bực bội, nhưng không biết sao cho đúng, chị đưa ly sữa lên miệng, uống mấy hớp. Con Trinh thinh không mở miệng khoe:

- Anh Khoa có cho con một con beat đẹp lắm.

Chị Hoa lườm con, trút tất cả bực bội nảy giờ.

- Đồ con gái hở ai cho gì cũng lấy là con gái hư mầy biết không. Từ rày sắp tới mày mà còn lấy cái gì của thằng Khoa thì mày biết tay tao. Con Chuyên đi với nó, muốn lấy cái gì thì lấy, mày có ăn nhằm gì vô đó mà lấy.

Dì Tư nóng mũi binh cháu:

- Trinh ăn mau bà dẹp. Con còn đi học bài nữa, mai đi học rồi.

Con nhỏ ngồi xụ mặt một chút rồi bỗng nhiên nó xô nửa cái hamburger còn lại ra trước mặt đứng dậy cái rột, đi thẳng vô phòng đóng cửa cái rầm trước mặt mẹ và ngoại nó. Hai người đàn bà ngó theo, mỗi người theo đuổi tư tưởng của riêng mình, chị Hoa lắc đầu ngán ngẫm.

- Con cái, cứng đầu cứng cổ. Má nữa ! Má đừng binh nó. Con tui má để tui dạy, má cứ xử bỉ hoài nó được mòi  làm tới nữa, nó hư thì ai vô đây chịu đây? Má đâu có sống đời để lo cho nó đâu. Còn con Chuyên nay thằng này tới, mai thằng  kia tới tui đã bực lắm rồi. Bây giờ mà bắt thang cho con Trinh trèo nữa thì có nước tui bỏ nhà tui đi.


Nói xong một hơi dài, coi bộ chừng đã mệt, chị Hoa ngồi xuống bàn ăn, ngó chén đủa  đã dọn sẵn, lòng chị dịu xuống, làm thinh ngó những miếng dưa chua được xếp đặt gọn ghẽ trên cái đĩa sứ.

Dì Tư múc tô thịt kho, đem đến để trước mặt con. Mùi mỡ rục nóng mời mọc nhưng Dì thấy nó hơi ngang.

- Tao chút nữa ăn sau, bây ăn đi.


Không đợi trả lời, Dì kéo cửa kiếng  bước ra patio. Trời trong mát đầu Thu với từng cơn gió nhẹ phe phẩy mời gọi,  Dì ngồi xuống một cái ghế cũ đặt gần cụm hồng cạnh tường. Mấy chiếc lá vàng rơi rụng loả xoã  đầy sân, mấy bụi hoa cúc và nhiều thứ hoa khác nữa, trồng mấy tháng trước bây giờ coi bộ xum xuê. Vườn sau coi cũng đẹp ớn, nhưng mà trong nhà thiệt là khó thở. Một cụm mây đen phía chân trời từ từ trôi tới, Dì Tư buột miệng: Trời sắp mưa.

Lòng Dì nặng trĩu như đám mây đe dọa trên kia.

 

Nguyễn Văn Sâm 

Trích SÓNG ĐỜI TRÔI GIẠT (1987)