Sunday, October 4, 2026

Đọc "Con Dế Mèn Của Mẹ" Của Ngọc Ánh - Song Thao

Bìa sách “Con Dế Mèn Của Mẹ”.  


“Con Dế Mèn Của Mẹ” là cuốn sách mới xuất bản của Ngọc Ánh. Sách dày 140 trang nhưng chia làm hai phần: phần tiếng Việt và bản dịch Anh ngữ “My Little Cricket” của Kim Vu. Như vậy bề dày thực sự của sách chỉ vỏn vẹn 56 trang chia ra làm hai phần: “Nhật Ký Của Con Dế Mèn” và “Những Chuyến Đi”.


Ngọc Ánh không phải là cái tên xa lạ với cộng đồng Việt tại hải ngoại. Chị đã cho in cuốn tự truyện “Ngày Tháng Buồn Hiu” vào năm 2016 đã được nồng nhiệt đón nhận. Tôi đã từng được gặp chị khi chị tới ra mắt sách tại Montreal. Phải nói ngay tôi rất khâm phục con người sáng suốt và quả cảm này. Chị là con của một cán bộ có vai vế nhưng không chấp nhận chế độ Cộng sản mà cha chị đã say mê tranh đấu. Chị kể: “Ba tôi là một người Cộng Sản, ông đã tham gia cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp chống Mỹ, các chị em tôi lớn lên ở Sài Gòn, nằm trong lòng “địch” nhưng cả nhà đều là những chiến sĩ xung kích trên khắp các mặt trận ở miền Nam cho tới ngày “giải phóng”. Má thì nuôi giấu cán bộ Việt cộng, các chị em thì làm giao liên. Sau ngày 30/4/75, ba và chị tôi được đón về từ nhà tù Côn Đảo như những người vinh quang nhất trong ngày vui đại thắng, gia đình tôi là một địa chỉ đỏ của thành phố với nhiều huân chương kháng chiến chống Mỹ được treo đầy tường”.


Trước tháng 4/1975, chị không sống với gia đình tại Sài Gòn mà được gửi về Sóc Trăng, trọ tại nhà người cô ruột. Sau ngày miền Nam bị cưỡng chiếm, chị được đưa về Sài Gòn đoàn tụ với gia đình. Tiếng là đoàn tụ nhưng chị lẻ loi trong mái nhà mới. Người cha “đỏ” đã phê bình cô con gái không đồng chính kiến: “Tư tưởng còn lệch lạc, nặng về chủ nghĩa cá nhân, bản thân cần phải tích cực rèn luyện để phấn đấu tiến bộ”. Sau vài tháng bị buộc phải tham gia các công tác xã hội tẻ nhạt, sinh hoạt tập thể vớ vẩn, cô được chọn kết nạp vào Đoàn Thanh Niên Cộng Sản. Cô không nhận. Người cha hét lên: “Con có biết tại sao con được vào Đoàn không? Nhờ ba, nhờ lý lịch cách mạng của gia đình mình. Con có biết mọi người vẫn mơ ước được đứng vào hàng ngũ vẻ vang này không? Có những anh bộ đội đi suốt từ Bắc vào Nam để chiến đấu, đã đổ biết bao xương máu mà vẫn chưa được kết nạp. Còn con, tại sao con không thấy được cái vinh quang đó?”. Chị đã bình tĩnh trả lời: “Thưa ba, chính vì con chưa đổ một giọt mồ hôi nào cho chế độ này nên con không muốn trở thành người Cộng sản!”.

Không muốn trở thành người Cộng sản, chị bị gia đình từ bỏ. Và chị lội ngược dòng. Thành hôn với anh Trần Thắng Tài. Ngọc Ánh cùng chồng lo khôi phục lại một đất nước không Cộng sản. Âm mưu bại lộ, công an xộc vào nhà. Căn nhà im lặng đến ngột ngạt. Chị vội phi tang các tài liệu và nhất là cây súng.  Nhưng không kịp. Công an kiếm được bao súng giấu trong bếp. Cả ba người trong cái gia đình nhỏ bé của Ngọc Ánh bị bắt. Họ bị kết tội “âm mưu lật đổ chính quyền”. Tội không oan vì anh Trần Thắng Tài đã thực sự dấn thân vì đại nghĩa. Chị Ngọc Ánh biết tất cả công việc của chồng nhưng thủ khẩu như bình, nhất định không khai dù bị dụ dỗ ngọt ngào hay quát tháo xỉ nhục như nghe tiếng khóc của dân tôi!


Tháng 7 năm 1981, phiên tòa xử vụ án bắt đầu. Có nhiều thanh niên còn rất trẻ cũng liên quan vào vụ này. Trên xe ra tòa, họ bị còng chân và tay. Mọi người nhường cho chị ngồi cạnh chồng. Chị kể lại: “Chúng tôi ngồi im lặng bên nhau, lòng rưng rưng xúc động, nhìn mắt anh tôi cảm nhận được điều đó, nhưng gương mặt anh vẫn bình thản muôn đời, tôi nắm bàn tay anh mân mê những ngón thuôn gầy như ngày nào, tự dưng một ý nghĩ thoáng qua khiến tôi hốt hoảng, có khi nào mình mất nhau không?...Chuyến xe khựng lại và lúc này anh mới nói với tôi bằng giọng trầm ấm dịu dàng như bao giờ: “Hãy can đảm lên, rồi con chúng ta cũng sẽ giống như vậy, cố gắng chăm sóc cho Vy Dân”. Vy dân, con Dế Mèn của chị cũng vào tù cùng với mẹ vì không có ai nuôi đưỡng ngoài đời. Anh Trần Thắng Tài bị kết án tử hình và đã bị hành quyết vào ngày 14/6/1982 tại Phan Thiết.


Nuôi con trong tù là chuyện quá vất vả. Chị phải đi lao động suốt ngày, bỏ thằng bé ở nhà. Sáng không kịp cho con ăn, trưa về muộn thằng bé đói rã ruột. Mặc dù có những giúp đỡ của các bạn đồng tù, Vy Dân cũng bị suy dinh dưỡng trầm trọng. Vy Dân rất thông minh và hóm hỉnh, nó nghe và hiểu tất cả, có điều nó không nói được, nó trở thành kẻ tật nguyền từ sau cơn viêm màng não lạ lùng ở tại trại giam, chân tay lỏng khỏng, không ngồi được, không nhai được, không cầm nắm được, chỉ có nằm ngửa suốt ngày với hai chân ngo ngoe mạnh mẽ để ra dấu thay cho ngôn ngữ bằng cái đập chân, chân đưa lên cao là “có”, chân hạ xuống thấp là “không”. Sau 8 năm ở tù chung với mẹ, Vy Dân được “Terre des Hommes” Thụy Sĩ can thiệp và mang về Thụy Sĩ nuôi nấng chữa trị.


Cuốn “Con Dế Mèn Của Mẹ” viết về thời gian Vy Dân được nuôi nấng bên Thụy Sĩ. Phần I với tiểu đề “Nhật Ký Của Con Dế Mèn” tác giả đã thác lời Vy Dân ghi lại những vui buồn trong thời gian ở tù với mẹ và thời gian ở Thụy Sĩ. Tác giả viết dạng kể chuyện của Vy Dân :  “Ban ngày Mẹ lao động rất cực khổ, mệt mỏi, nhưng đêm về chui vô mùng, Mẹ mới ôm con thủ thỉ kể chuyện cổ tích, chuyện ra ngoài lao động, chuyện trên trời dưới biển mà chuyện nào Mẹ kể cũng hấp dẫn trí tò mò của con, và khiến con ao ước có một ngày ra khỏi cái nhà tù chật chội này để nhìn thấy thế giới bao la ngoài kia, nhưng tiếc là con không thể đứng dậy được Mẹ ơi! Con không thể chạy nhảy hay ca hát líu lo, không thể vòng tay ôm Mẹ như người bình thường, mà con chỉ có đôi chân ôm ngang hông Mẹ, cái chân khẳng khiu quơ khăn lau mặt Mẹ, cầm cái lược chải tóc cho Mẹ và đấm lưng cho Mẹ mỗi khi mẹ mệt nhoài”.

Sống thui thủi suốt ngày, đồ chơi chỉ là hòn đá cuội, bông hoa dại, mấy trái đào rụng hay cái lông chim lớn bằng gang tay do mẹ nhặt nhạnh mang về . Cơm tù hẩm hiu khó nuốt. Chỉ khi nào bạn tù được thăm nuôi nhường cho chút ruốc thịt mới được biết mùi vị thịt ra làm sao. “Rồi một ngày Mẹ đem về con kéc bị gãy cánh, nó không thể bay được nhưng nó hay hơn con là nó biết đi chầm chậm quanh nhà, màu sắc đầu tiên con biết là bộ cánh xanh biếc mềm mại của nó, và còn một màu hồng tươi mát mà con nhớ hoài là cái áo đầm của con bé nào đó xuất hiện trong trại khi mẹ nó dẫn vào chơi, con bé rạng rỡ như tiên làm con ngơ ngẩn, vì con có bao giờ thấy bóng dáng đứa nào nhỏ như con mà phải ở trong tù đâu, con chỉ thấy toàn là màu xám của những bộ đồ lao động mà các cô chú trong trại giam hay mặc, nó dính mủ, dính phèn và đôi khi bị vá víu vì lam lũ, cái màu tăm tối gì đâu”.

Rồi cũng tới ngày Vy Dân phải lên đường đi Thụy Sĩ. Nhật ký diễn tả giây phút chia lìa mẹ con: “Con đã quýnh quáng ôm cứng lấy Mẹ, dù Mẹ hết lời dỗ dành là nơi đó con sung sướng như ở thiên đường, có quần áo đẹp, có thức ăn ngon, có nhiều đồ chơi mà đứa trẻ nào cũng thích, con sẽ được chữa bệnh, được đi lại, được học hành và sẽ viết thư gửi cho Mẹ đọc, rồi Mẹ sẽ cố gắng về sớm để gặp con, rồi hai mẹ con mình lại ở bên nhau suốt đời. Mặc cho con đập chân phản đối, Mẹ im lặng ôm lấy con vỗ về, mắt Mẹ buồn thật buồn, con chỉ mong Mẹ khóc là con sẽ được ở lại, Mẹ sẽ yếu đuối vì không thể rời con, nhưng Mẹ đã không khóc chỗ đông người, cũng như Mẹ không hề khóc trước mặt những người xa lạ khi nhận lá thư báo tin Ba mất. Con nhớ buổi tối đó khi hai mẹ con vào mùng, Mẹ kể về cái chết của ba như một dũng sĩ trong truyện cổ tích, vung gươm giết bọn yêu tinh và bây giờ đã bay về trời, Mẹ vừa kể vừa thút thít trong bóng tối. Lúc đó con cảm nhận được sự mất mát chia lìa, chắc không bao giờ chúng ta gặp lại ba…Ai sẽ lau nước mắt cho Mẹ khi mẹ buồn, ai sẽ đấm lưng cho Mẹ khi đêm về mệt mỏi vì lao động nặng nhọc, cánh tay con yếu ớt nhưng bàn chân con rất mạnh mẽ. Con đã ôm chặt Mẹ bằng đôi chân khẳng khiu vì không muốn phải rời xa Mẹ đêm nay. Nhưng cuộc chia ly đã diễn ra âm thầm lặng lẽ khi con ngủ say trên vai dì Hai rời khỏi trại giam lúc nửa đêm, con kéc cũng im lìm trong cái ba lô dì đeo sau lưng”.

Rồi Vy Dân rời Việt Nam, con kéc thân yêu mẹ bắt về trại tù như mối dây liên kết hai mẹ con phải ở lại. “Lần đầu tiên được đi máy bay con thấy thích lắm, nó lớn hơn cái nhà và nó sẽ chở con đi rất xa, như con quạ trong chuyện cổ tích Mẹ kể, nó bay qua những đám mây trắng, qua những ngọn núi và biển xanh ngắt bên dưới. Con đã có một thời gian dài để sống thích nghi với cuộc sống mới này và đôi khi con cũng quên mất con là ai, không ai kể cho con biết về gia đình người thân, về quá khứ của con, tại sao con có mặt ở đất nước này, giống như con sinh ra ở một thế giới mới chỉ có hiện tại và tương lai, nhưng trong trí nhớ mù mờ con biết mình còn có một người Mẹ, nhưng không biết Mẹ ở đâu, Mẹ còn sống hay chết, Mẹ như thế nào trong thời gian dài của mười mấy năm không gặp”.


Nhớ mẹ, nhớ quê hương nhưng thân phận tật nguyền, làm sao trở về được. Vy Dân có cái bất khuất của cha mẹ ngấm trong người nên mưu cầu chuyện phải trở về thăm nơi cả gia đình đã bị đày đọa. Chuyện tưởng là một mission impossible. Nhưng không, cậu bé bỏ Sài Gòn ra đi từ năm 9 tuổi, nay đã là một thanh niên 24 tuổi lên kế hoạch kiếm tiền. “Con lên kế hoạch cho một chuyến bay nửa vòng trái đất, kế hoạch không phải một vài tháng mà là mấy năm trời. Con kiếm tiền bằng việc bán những mặt hàng Giáng Sinh nho nhỏ , những mẫu thiệp do con thiết kế trên computer và in ra bày bán ở chợ trời vào những ngày cuối năm. Nơi con ở họ luôn khuyến khích con sáng tạo bằng ý tưởng của mình, con được đối xử bình đẳng đến độ con quên mình khiếm khuyết rất nhiều phần trên cơ thể, con không biết cầm muỗng tự múc ăn, không biết đứng dậy và ca hát nhảy múa...Nỗi nhớ Mẹ luôn thôi thúc con phải có tiền để sớm về thăm Mẹ, và con nói nhỏ Mẹ nghe điều này vì con có một chút xấu hổ khi viết thêm dòng chữ đặt trước chỗ bán hàng của con: “Cần tiền về Việt Nam thăm Mẹ”.  Đó là một sự thật mà con đã can đảm khi viết ra, nhưng kết quả thật bất ngờ khi mọi người đi ngang qua đều dừng lại mua giúp con một cái gì đó và trả tiền nhiều hơn giá trị của món hàng”.


Vy Dân phải rủ hai người trong cơ quan thiện nguyện giúp đỡ trên đường quy hồi cố hương. Anh đã trả mọi tiền cho ba vé máy bay và phí tổn chi tiêu cho cả ba người trong thời gian 10 ngày ở Sài Gòn. Tất cả những cố gắng phi thường đó được đền bù khi anh được ôm người mẹ giờ đã ra khỏi nhà tù. “Trời ơi! Con muốn hét to lên vì mừng rỡ, nhưng chỉ biết ú ớ trong họng. Mẹ thì ôm chầm lấy con mà nước mắt chảy dài. Hạnh phúc nhất có lẽ là lúc này, khi mẹ con mình được gặp lại nhau sau thời gian dài xa cách Mọi người cùng nhau về nhà Ngoại, con gặp lại đầy đủ những người thân hồi nào con ở Sài Gòn 15 năm trước, chỉ thiếu ông Ngoại và con kéc. Ông Ngoại mất sau đó vài tháng và con kéc thì khi vắng con, nó đã buồn bã bỏ ăn rồi chết, chị Thảo chôn nó trong chậu mai trước sân nhà. Con thấy ánh mắt tự hào của Mẹ khi nhìn con. Mẹ biết con làm được tất cả mọi chuyện này, dù con không thể như những người bình thường khác, nhưng con có nghị lực để dám nghĩ và dám làm”.


Phần II mang tựa “Những Chuyến Đi”, chị Ngọc Ánh kể lại những lần qua Thụy Sĩ thăm Vy Dân sau khi chị đã được định cư tại Mỹ. Vy Dân đã quờ quạng mò về tới Sài Gòn để thăm gia đình thì đoạn đường từ Mỹ qua Thụy Sĩ thăm con có chi trở ngại với người mẹ hết lòng với đứa con tật nguyền. Trở ngại không phải không có: không biết một chữ tiếng Pháp, không có phôn tay, chỉ có 200 Euro trong túi. Nhưng nỗi mừng khi được ôm con trong vòng tay đã khiến chị coi những trở ngại đó như pha. “Luctine đẩy xe lăn và Vy Dân cười vui biểu lộ ra gương mặt muốn hét lên như bất cứ đứa trẻ sung sướng nào được đón Mẹ đi xa về. Tôi hạnh phúc khi cúi xuống ôm Vy Dân, xoa cái lưng gầy gò nhô xương của nó mà rưng rưng cảm xúc. Thương quá con dế mèn còi cọc của tôi. Có chứng kiến một buổi ăn trưa với bọn trẻ mới thấy cái tâm và sự chịu đựng của người phục vụ, họ nói huyên thuyên điều gì đó khiến mấy đứa nhỏ cười, họ lấy muỗng gõ xuống bàn chọc ghẹo nhau và các nhân viên ăn ngon lành thức ăn trong dĩa, dù trước mặt họ mấy đứa ăn uống đổ tháo ho khạc đàm nhớt lòng thòng vào chiếc khăn quấn trên ngực. Thú thật tôi nuốt không vô khi ngồi đối diện với Daniel lúc nào cũng ho sù sụ khạc đờm rơi rớt trên cái dĩa của nó. Mới biết họ chấp nhận công việc ở đây ngoài chuyện lương bổng là bình thường nhưng cái tâm họ tịnh hơn, tấm lòng của họ bao dung độ lượng hơn nhiều người khác, họ được giáo dục để biết yêu thương và tử tế với những đứa trẻ bất hạnh”.


Căn nhà nuôi bốn đứa trẻ tật nguyền. Trên tường có treo hình bốn đứa. Vy Dân là đứa “thông thái” nhất. Nó biết đọc sách, coi TV, lên mạng internet, có chơi Facebook. Thằng bé nhiều tuổi nhưng thiểu năng được cung cấp một computer trên xe lăn với bàn phím được thiết kế bằng các ký tự đặc biệt. Vy Dân chỉ có thể sử dụng hai ngón chân để bấm con chuột một cách vất vả. Nó loay hoay mất tới nửa tiếng chỉ để đánh dòng chữ “Je t’aime, Maman”.


Rồi chuyện chi đến phải đến. Vy Dân đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 29/10/2024 khi cái thân thể tật nguyền không còn cưu mang nổi luồng sinh khí bên trong. Anh đã trụ lại 47 năm trên cõi đời “buồn hiu” này. Người mẹ đã không được chứng kiến giờ phút chia lìa cuộc đời nghiệt ngã của đứa con tật nguyền và cũng không qua được Thụy Sĩ dự đám tang con. Chỉ có một vòng hoa được mẹ gửi tới con. Vòng hoa mang dòng chữ tiếng Pháp, thứ tiếng duy nhất mà đứa con hiểu được: “Mon cher Vy Dan, tu restes toujours dans mon cœur”. Người mẹ trăn trở: “Vy Dân nằm trong quan tài với cái đầu nghiêng qua một bên, gương mặt thanh thản, cũng cái dáng tựa đầu vào vai Mẹ như hồi nào khiến tôi không cầm được nước mắt. Thương con quá dế mèn ơi, dù có nhiều bạn bè đến viếng, nhưng tôi biết thằng bé rất cô đơn vì không có Mẹ bên cạnh trong lúc cuối cùng. Cái chết là sự giải thoát; tôi cố gắng nghĩ như vậy để không tự dằn vặt khi nhớ lại quá khứ đau thương, đứa trẻ ấy phải chịu cảnh tù đày khi mới 17 tháng tuổi, sống trong nghèo khó, thiếu thốn, bệnh tật triền miên mà không được chữa trị, rồi mòn mỏi suốt 8 năm trong ngục tù cho đến khi một tổ chức nhân đạo phương Tây dang tay giúp đỡ, đưa con thoát khỏi cơn ác mộng kinh hoàng. Vậy mà giờ đây con đã lặng lẽ ra đi...Chú dế nhỏ của tôi đã bay về thiên đường – tôi tin chắc là như vậy, bởi con đã trả xong nghiệp quả kiếp trước, sống trọn vẹn những tháng ngày bình yên ở cõi trần và bây giờ đã ra đi trong thanh thản. Tôi tự hỏi liệu ở chốn vĩnh hằng kia, Vy Dân có cơ hội đoàn tụ cùng Ba Tài yêu dấu để được Ba dắt tay bước qua cánh cửa thiên đường hay không? Cả hai đều là những thiên thần trong trái tim tôi”.


Gấp cuốn sách mỏng nhưng trĩu nặng những nghiệt ngã thương đau của một cuộc đời sanh ra nhầm nơi, nhầm lúc, tôi như lạc mất mình. Sao trên đời lại có những người quả cảm, hiên ngang như Trần Thắng Tài, Ngọc Ánh, Vy Dân. Họ sống trong nghịch cảnh nhưng không khuất phục dù phải trả bằng cái giá quá mắc mỏ. Anh hùng liệt nữ không chỉ có trong sách sử!

 

09/2026

Website: www.songthao.com



Mẹ con gặp nhau tại Thụy Sĩ 

Vòng hoa mẹ phúng điếu con trong tang lễ.  


Tang lễ Vy Dân

Vy Dân khi mới ra tù chờ đi Thụy Sĩ.

Mại Dô Mại Dô, Mua Lu Về Chống Lụt Bà Con Ơi!


Thanh Loan chuyển 

Cây Sầu Riêng Vườn Cũ - Võ Kỳ Điền


Tôi xề lại cái băng cây, ngồi xuống ở đằng đầu. Cái băng được làm bằng tấm ván dầy, các chưn được đóng dính luôn xuống đất. Tấm ván được cưa cắt rất thô nhưng vì nhiều người ngồi tới ngồi lui nên nó trở thành trơn láng. Ở trại chuyển tiếp để đi định cư, ai cũng thích đến đây vì ít ra tại vị trí nầy, người ta có thể nhìn ra ngoài thấy được một khoảng trời nhỏ và ở dưới kia, cái sườn đồi thoai thoải có vài mãnh vườn, cây cối xanh mát. Ngồi kế bên tôi là chú hai thợ bạc, quê ở Sóc Trăng. Mỗi lần ra đây, tôi đều gặp chú. Khí hậu Mã Lai thiệt là kỳ cục. Ban đêm, trời lạnh teo ruột teo gan, ngủ phải đắp mền. Ban ngày trời nóng như đổ lửa, hơi nóng hừng hực từ sáng tới chiều, mồ hôi tươm ra đầy người. Ở tại lều không cách gì chịu nổi nên ai cũng tìm nơi để trốn nóng. Còn chỗ nào lý tưởng hơn chỗ nầy. Cái băng núp dưới bóng mát một bụi tre um tùm, ngoài kia dưới sườn đồi là phong cảnh kỳ thú. Thiệt ra ở vùng nầy còn nhiều nơi cảnh vật đẹp hơn nhiều nhưng dân tỵ nạn bị giới hạn trong vòng rào kẽm gai nên đâu có được ra ngoài mà đi đó đi đây. Có mấy người đi chữa bịnh về kể lại rằng ở ngoài kia, thành phố đẹp đẽ, sang trọng, sạch sẽ, tiện nghi. Riêng tôi và chú hai thợ bạc thì chỉ biết xứ Mã Lai qua cái khung trời nhỏ xíu nầy.


Tôi ngồi ở đây mà đầu óc ở đâu đâu. Cái vùng đất mới mà tôi sẽ đến thì xa lạ quá, nơi đó có vẽ hấp dẫn lắm. Có nhà lầu chọc trời, có xa lộ thênh thang, có tuyết rơi trắng xóa, có đủ mọi thứ vui. Tôi tưởng tượng ra bao cảnh kỳ lạ mà tôi sẽ được mắt thấy, tai nghe trong một ngày rất gần. Nhưng có anh bạn đi trước, gởi thơ về trại, trong có đoạn viết "vừa bước ra khỏi máy bay như đi vào cái tủ lạnh, mũi thở ra khói, tay chưn tê cóng"... tôi chợt thấy ghê quá, tôi quay qua chú hai thợ bạc:

- Mai mốt qua bển, chú sợ lạnh hông chú hai?

- Sợ chớ thầy tư! Ở nhà tôi lúc nào cũng tắm bằng nước nóng như mấy ông ghiền thuốc phiện. Tại không nước nào nhận nên tôi đành phải chịu đi Canada. Tuổi già xương cốt chịu lạnh dở lắm. Người ta nói ở bển, xin lỗi thầy tư nghen, đi tiểu ngoài đường, nó đóng lại thành cây nước đá. Nghe nói sợ quá. Mấy đứa nhỏ thì khoái chí. Tối tối tụi nó rủ nhau đi đến hội trường coi chiếu phim. Thấy tây tà trượt tuyết với nhảy đầm, coi bộ tụi nhỏ chịu dữ.

Tôi nhìn chú hai thợ bạc. Chú ốm người, da xanh mét, mặt xương xương, dáng khắc khổ. Muốn gợi chuyện cho vui, tôi nói:

- Thì lần hồi rồi cũng quen. Người ta chịu được thì mình chịu được, có gì mà lo. Tôi với chú qua bển, mình học một khóa nhảy đầm với tập trượt tuyết là xong hết. Người ta tới đâu mình tới đó. Vượt biên nguy hiểm, chết sống vầy mà mình còn làm được, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó!

- Ý thôi thầy tư, thầy tuổi trẻ thì còn được, tôi trên 50 rồi, tiếng Tây tiếng Mỹ một chữ cũng không biết, nói chi tới việc ôm đầm mà nhảy nhót.

- Vậy chú chịu cực, chịu khổ lặn lội qua đây để làm chi?

Chú hai nhìn ra xa trả lời ngập ngừng:

- Tại bên mình khó sống quá, vừa nhức đầu, vừa nghẹt thở, nên phải đi, chớ vui vẻ gì. Tôi đâu có muốn nhưng hoàn cảnh bắt buộc. Thầy tư nghĩ coi, cái tiệm thợ bạc nhỏ xíu cũng bị tịch thâu. Thôi đành dẹp kềm, dẹp búa. Tôi làm đơn xin về quê làm ruộng,nhà nước cũngkhông cho, bắt phải đi xây dựng kinh tế mới. Cái chế độ gì có mắt không được nhìn, có tai không được nghe, có miệng không được nói, thì ở lại làm gì.Nói thiệt với thầy tư, tôi ngồi đây mà đầu óc vẫn nhớ Bãi Xàu. Trước nhà tôi có cái rạch nhỏ, chiều chiều ra đằng trước câu cá, cũng đủ vui. Lớn tuổi rồi, đâu còn ham muốn gì nữa!

Nói xong, chú ngó mênh ngó mông. Chợt chú đưa tay chỉ xuống phía dưới sườn đồi, hỏi:

- Cái vườn ở dưới đó trồng cây gì mà cành lá xanh um?

Tôi nhìn theo, trả lời ngay:

- Cây sầu riêng đó. Mấy cây nầy mới trồng chừng 3, 4 năm, còn nhỏ chưa có trái. Nếu lớn hơn một chút thì mùa nầy đã có bông rồi.

Tôi nhìn cây sầu riêng Mã Lai lá nhỏ nhưng tàn rậm hơn sầu riêng ở Việt Nam. Thấy khu vườn nầy lòng tôi đâm ngẩn ngơ. Quê tôi là xứ của sầu riêng, măng cụt, bây giờ nó ra sao? Tôi quay qua hỏi chú hai:

- Ủa, chú chưa bao giờ thấy cây sầu riêng sao? Chú có ăn được sầu riêng không? Có nhiều người hễ nghe tới mùi là chạy mất, họ nói hôi không chịu nổi.

- Tôi khoái lắm chớ. Cứ tới mùa trái cây là mua mỗi lần cả chục kí, ăn tới mờ con mắt... Nhưng tiếc quá, tôi chưa có dịp đi vườn để thấy cây của nó...

Tôi bèn mô tả cây sầu riêng cho chú hai biết:

- Thông thường thì ở bên mình, cây trung bình có thân lớn cỡ cột nhà, cao hơn cột đèn đường chút xíu, tàn thưa mà rộng, mùa có trái nhìn thấy mê lắm. Trái nó treo lủng lẳng đầy cành, gai đâm tua tủa. Những trái còn non nhỏ cở trái cau, trái quít, thường bị rụng rải rác quanh gốc. Hồi nhỏ tụi tôi lượm lấy, bẻ mấy cái gai nhọn, cắm lên càm... để làm ông già râu!

- Trái nó to quá mà đầy gai, rủi nó rụng trúng đầu thì chắc chết!

- Vậy mà hình như chưa có ai bị rớt bể đầu vì sầu riêng. Chỉ có mấy anh đi ăn trộm mới sợ thôi vì trái nó chỉ rụng vào nửa đêm về sáng. Trái sầu riêng chín rụng ăn mới ngon.Nếu cắt cuống sớm, còn non ăn lạt nhách, nhiều khi bị sượng. Người sành điệu họ lựa chọn kỹ càng khi mua. Phải là thứ vỏ mỏng, nhỏ hột, cơm dầy màu mỡ gà, ăn cái vị nó beo béo, đăng đắng mới đã. Chớ ăn sầu riêng mà lựa thứ cơm ngọt ngay, thì ăn chừng vài múi là ngán ngược. Ăn buổi sáng, buổi chiều còn nghe mùi thơm. Mà chú hai ơi, ăn sầu riêng mà ăn một mình cũng chưa đủ ngon. Phải đi vào vườn với một cô bạn gái dễ thương, lựa một nơi im mát, gom cỏ khô lại làm đệm, khui trái sầu riêng chín thơm nực nồng, cầm từng múi bằng năm ngón tay, ăn hết rồi còn liếm cơm còn dính trên các ngón tay, mút chùn chụt, nhìn nhau mà cười... mới đã thèm.

- Sao tả cảnh nghe mê quá vậy! Chắc thầy tư ăn sầu riêng kiểu đó hoài?

- Phải được như chú nói, cũng đỡ. Nhiều khi tôi nghĩ tới còn tức mình. Hồi đó tới giờ, ngồi dưới gốc cây sầu riêng thì nhiều, còn ăn như vậy thì chưa bao nhiêu. Bây giờ ngồi đây, nhớ tới kỷ niệm mà trong lòng nao nao. Lúc đó tôi vừa được 20 tuổi...


*******

Tôi gặp lại Phương do một sự tình cờ. Buổi chiều hôm đó, trời vừa sẩm tối, tôi ở lớp học ra, đi ngay đến ngả tư đầu đường để đón xe về tỉnh nhà. Chiếc xe lô ngừng lại. Tôi nhìn vào xe, thất vọng, trong khoang không còn 1 chỗ trống. Người ta ngồi đen nghẹt, chen chúc nhau. Anh lơ xe mở cửa, nhảy xuống kéo tay tôi, đẩy vào. Tôi cố chen vào trong. Có vài tiếng cằn nhằn nho nhỏ:

- Xe chật cứng, chỗ đâu mà chứa nữa!

Tôi vừa ngồi xuống vừa nghe bác tài xế trả lời:

- Bà con cô bác thông cảm. Chuyến chót hổng rước, người ta phải ngủ lại Sài Gòn sao? 

Thế là đâu vào đó. Ai nấy đành chịu chật. Tôi bị kẹt cứng tư bề. Phía trước, phía trong, phía sau là người ta, còn bên phải là cánh cửa xe bằng sắt. Tôi không có cách gì để đặt chưn cho gọn. Day qua, trở lại, sửa tới, sửa lui, cũng không ổn thỏa chút nào. Nhờ xe chạy có được chút ít gió mát. Ánh sáng về đêm của thành phó lấp loáng qua cửa xe. Đèn quảng cáo xanh xanh, đỏ đỏ. Đèn đường sáng trắng nhợt nhạt. Bầu trời lấp lánh đầy sao. Chiếc xe còn chạy loanh quanh chưa ra khỏi thành phố. Tôi yên chí nó sẽ chạy một mạch về tới tỉnh. Chật quá rồi làm sao chứa được nữa. Nào ngờ, qua một góc phố, chiếc xe từ từ ngừng lại. Có tiếng ồn ào:

- Trời đất ơi, cái xe nhỏ xíu như vậy, bác tài tính chứa bao nhiêu mạng?

Tôi thất vọng. Nếu có thêm người, tôi sẽ bị dồn vào trong. Còn đâu mà nhìn thấy phong cảnh bên đường với gió mát trăng sáng. Chưa kịp phản ứng gì, thì cửa xe đã mở, anh lơ nhảy xuống, đẩy người khách mới lên chỗ tôi. Tôi bắt buộc ở cái thế phải ép sát vào bên trong để nhường chỗ. Đúng là hộp cá mòi. Hành khách bị ép như mấy con cá nằm sắp lớp, hết cục cựa. Bác tài vừa cho xe chạy, vừa cam kết:

- Thôi đủ rồi, không rước nữa. Bây giờ thì xe hơi chật. Xe chạy một hồi, nó lắc xuống đâu vào đó. Bà con cô bác thông cảm!

Không thông cảm với bác tài cũng không được. Trời tối rồi, không lẽ bước xuống xe để ở lại Sài gòn đêm nay. Mà bây giờ thì tôi đâu còn muốn bước xuống nữa. Người hành khách vừa mới lên là một cô gái còn trẻ, trong ánh sáng mờ mờ, tôi không thấy rõ nhưng có lẽ nàng đẹp lắm. Tà áo vàng được vén khéo qua bên, nàng cố thu mình cho nhỏ gọn lại, dáng khép nép. Riêng tôi vì đụng chạm bên người nàng nên loay hoay, xoay ngang người lại cho thư thả. Ở cái thế nầy tôi thấy thoải mái hơn nhưng đồng thời cánh tay phải như ôm lấy người nàng. Tôi mắc cỡ quá, đâu có dám đụng, đành phải vói tay qua gác trên cửa xe cho đỡ mỏi. Trọn nửa người bên phải tôi ép sát nửa người bên trái của nàng. Tôi nghe một cảm giác êm ái bềnh bồng. Tôi đâu có ngờ hoàn cảnh trái ngang như vậy. Lần đầu tiên ngồi gần một cô gái lạ, tôi bối rối quá. Tôi thử nghĩ hằng chục câu hỏi để mong làm quen với nàng, nhưng thấy câu nào cũng vô duyên. Thôi đành ngồi im, làm ra vẻ đứng đắn nghiêm nghị. Bỗng chiếc xe quẹo gắt ở một khúc quanh, người nàng đè hẳn lên tôi. Như để đỡ mắc cở, nói nói bâng quơ:

- Chiều thứ bảy nào xe cũng chật nứt!

Tôi bèn bắt chuyện:

- Dạ, dạ, cũng hơi đông.

- Chút xíu nữa là tôi đón hụt rồi. Từ trường ra tới đây kẹt xe quá!

- Chắc cô học trường Luật?

Cô ta hơi nghiêng đầu qua tôi, hỏi lại:

- Sao anh biết?

Tôi thấy vui trong bụng, có dịp để nàng thấy tôi thông minh:

- Đa số sinh viên luật thường đón xe chỗ cô vừa lên.

Nàng cười nhẹ nhàng, hàm răng trắng bóng đều đặn:

- Dạ không phải, tôi học ở Văn Khoa.

Tôi đoán trật lất. Nhưng không hề gì. Miễn nói chuyện được với nàng là vui rồi. Tôi tuy không học ở đó, nhưng cũng biết chút ít:

- Xin lỗi, tôi hơi tò mò, cô đang theo chứng chỉ nào?

- Dạ, tôi học lớp dự bị.

- Vậy là cô được học với ông giáo sư Vương Hồng Sển. Tôi khoái được nghe ổng nói chuyện. Hễ sách nào có bài ổng viết, tôi đều kiếm mua. Ổng rành về đồ cổ... Chắc cô cũng thích các giờ ông ấy dạy?

Lại một lần nữa tôi bị hố:

- Dạ, tôi sợ các giờ đó lắm. Kỳ rồi, tôi bị rớt vì môn Văn Chương Quốc Âm, nên kỳ nhì phải thi lại môn nầy.

Tôi không dám hỏi thêm. Tôi suy nghĩ hoài cũng không hiểu tại sao cô ta lại rớt môn Quốc Âm, cái môn được coi là dễ hơn các môn khác. Vốn ít nói và hay rụt rè, tôi lại đành ngồi im. Thoang thoảng, tôi ngửi thấy tóc nàng có mùi thơm nhè nhẹ. Tự nhiên tôi cảm thấy trong lòng một xúc động bất ngờ. Trời đất nào xui khiến cho tôi gặp nàng như vậy. Bây giờ tôi phải nói câu nào nữa?

- Chắc cô về tới bến xe?

- Dạ không, tôi xuống Cầu Ngang.

Tôi lại tìm được câu đối đáp:

- Cô ở gần cái nhà ngói đỏ, có cổng sắt sơn xanh không? Đằng trước có bụi tre ngà?

Cô ta nghiêng đầu qua nhìn tôi:

- Chắc anh là bạn học của anh Bình,căn nhà đó của tôi.

Đoạn nàng chăm chú nhìn tôi, thoáng do dự, nàng tiếp:

- Phải anh là anh Hưng không, em là Phương đây!

Tôi vừa xác nhận thì nàng líu lo:

- Trời ơi, sao lâu quá không thấy anh xuống nhà chơi? Ba má em với anh Bình thường nhắc tới anh hoài.

Tôi ngạc nhiên sung sướng. Không dè con nhỏ Phương ngày nào nhỏ xíu, đen thui, mới có mấy năm mà lớn đẹp như vậy. Những chuyện năm trước bây giờ được tôi và Phương nhắc lại. Nàng nói chuyện lanh lợi, duyên dáng. Tôi lần lần bình tĩnh hơn. Tôi hỏi thăm tin tức Bình, sau cùng tôi thắc mắc:

- Ông Sển dễ lắm mà! Tại sao Phương lại bị kẹt môn Quốc Âm?

Phương phân trần:

- Anh Hưng thử nghĩ coi, em vào vấn đáp, ổng đưa em quyển "Truyện Đời Xưa" của Trương Vĩnh Ký, biểu em đọc bài "Anh chàng sợ vợ". Cái chuyện anh chàng lùi khoai lang trong tro nóng cho chín để ăn vụng, nào ngờ chị vợ về nửa chừng, anh ta sợ quá bèn cột túm ống quần lại, bỏ củ khoai lang vào trong đó để giấu, nóng quá bèn nhẩy cà tưng. Đọc đến đây, ổng bảo ngừng lại và hỏi em:

- Nhẩy cà tưng là nhảy làm sao?

Em còn đang suy nghĩ chưa kịp trả lời, thì ổng hỏi tiếp:

- Đâu cô nhảy cà tưng cho tôi coi!

- Anh Hưng thử nghĩ cả cái phòng thi rộng mênh mông. Ở dưới cả mấy chục người ngó lên, em mắc cở quá, làm sao dám nhảy. Chờ hồi lâu không được, ổng nghĩ là em không biết, nên cho dưới điểm trung bình. Em đành phải thi lại kỳ hai.

Tôi an ủi nàng:

- Gặp tôi mà ổng biểu nhảy thì cũng rớt. Ai lại nhảy cà tưng trước mắt mọi người, kỳ thấy mồ.

Phương cười nhẹ:

- Lạy trời cho mai mốt đừng gặp cái "Anh chàng sợ vợ" nữa.

Tôi chớp ngay lấy cái câu nói hớ đó, hỏi lại:

- Vậy chớ Phương muốn gặp anh chàng như thế nào, cho tôi biết các điều kiện đòi hỏi.... để kiếm cái đầu heo.

Phương chống chế:

- Ơ! Anh Hưng, không phải vậy! Mấy năm rồi gặp lại, anh vẫn y như hồi xưa, cứ phá em hoài.

Từ đó tôi thường xuống Cầu Ngang thăm gia đình nàng. Bình thì đã vào quân đội, ít khi có nhà. Má nàng lần nào thấy tôi, cũng nói:

- Khi nào rảnh rỗi cháu xuống đây chơi, đừng ngại gì hết, thằng Bình đi lính, hai Bác nhớ nó quá. Nhà đơn chiếc không có ai.

Còn Ba nàng thì ít nói, thường dẫn tôi ra sau vườn, bẻ trái cây cả đống bắt ăn. Phương xinh xắn, dễ thương, lăng xăng làm các món ngon để đãi khách. Chúng tôi thường ăn dưới gốc cây sầu riêng lớn. Vườn nhà Phương rất rộng, các mương nước nhỏ đầy rong. Nước trong vắt, thấy được những con cá bãi trầu, cá lia thia, cá lìm kìm, lội nhởn nhơ dưới đó. Đất đen mầu mỡ, cây dâu, cây măng cụt, cây sầu riêng, có những tàn lá xanh um, mát rượi...

Tôi ngồi mà nghe lòng khoan khoái, mắt nhìn ánh nắng lấp lánh qua các khoảng lá thưa. Đâu đây có con chim hót trên cành, tiếng nghe trong trẻo quá. Phương cũng như chim líu lo:

- Trên nhà anh Hưng có vườn không? Có trồng nhiều bông không? Đôi khi lên tỉnh, em muốn ghé chơi cho biết mà sợ... anh Hưng không thèm tiếp.

Má Phương mắng yêu con gái:

- Cái con nhỏ nầy, mầy làm như cậu Hưng là người dưng!

Phương vừa ngó xéo tôi, vừa trả lời mẹ:

- Thì má thấy đó, hôm con gặp anh Hưng trên xe, ngồi gần cả giờ đồng hồ, ảnh đâu có thèm nhìn... bà con!

Tôi không biết trả lời ra sao, đành cười trừ! Ôi! những buổi trưa ấm cúng, lòng vui như mở hội. Tôi vẫn đắn đo, rụt rè, chưa dám ngỏ ý với Phương. Học hành chưa thành, công danh chưa toại, bây giờ còn quá sớm để nói chuyện yêu đương....

Những ngày tháng kế tiếp qua mau. Ba má Phương sẵn có vốn, mở thêm căn tiệm cầm đồ ngoài chợ. Ngoài những giờ học, Phương còn phụ mẹ buôn bán, trông nom công việc sổ sách. Tôi lại có dịp gặp gỡ nàng nhiều hơn. Chúng tôi trao đổi chuyện trời mưa, trời nắng, chuyện học hành, thi cử. Toàn là chuyện đâu đâu, vậy mà cũng có để nói hoài, không chán. Có lần Phương hỏi tôi:

- Anh Hưng ơi, hiện thời anh thương ai nhứt?

Tôi trả lời, cười cười:

- Thì Phương biết rồi, tôi nói hoài! Đời tôi chỉ thương có chú lùn bán hủ tiếu dưới gốc me...

Mặt Phương hơi phụng phịu:

- Vậy chớ mấy người đẹp của anh, không ai bằng chú lùn sao ?

Tôi giảng nghĩa:

- Đẹp đâu có ăn được. Còn hủ tiếu cây me ăn ngon, cho nên tôi thương... chú lùn.

Phương nín thinh, bậm môi tức tối. Tôi muốn giải hòa cho khuây khỏa:

- Phương ơi, mấy ngày ở nhà không có buôn bán, em làm gì ?

- Em đi chợ, mua cá mua cua.

- Rồi sau đó Phương làm gì nữa?

Nàng trả thù tôi, trả lời tỉnh rụi:

- Thì em làm cá làm cua.

- Vậy chớ không lúc nào Phương nhớ tới bạn bè chút xíu nào sao?

Phương bật cười, tươi như đóa hoa buổi sáng:

- Có chớ, lúc ghé ăn hủ tiếu cây me thì nhớ tới anh.

Tôi vừa làm điệu bộ thất vọng vừa nhìn sững mặt nàng. Phương cười, khuôn mặt vuông vuông, rạng rỡ, làn da trắng mịn màng. Tóc cắt ngắn gọn, cái mũi thẳng cao, xinh xắn. Cặp môi trề trề. Hèn chi nàng nói chuyện tía lia. Ông trời sao thiệt bất công. Mặt Phương không một khuyết điểm. Tất cả đường nét đều hòa hợp, thêm vào đó là cái duyên dáng nữa. Còn tôi thì vừa xấu, vừa đen, được quen với nàng, đời tôi còn hạnh phúc nào hơn. Do câu chuyện đẩy đưa, bất chợt tôi thấy Phương dễ thương làm sao.Trong một thoáng ngẩn ngơ, tôi nói đại:

- Cô chủ tiệm cầm đồ ơi, sao cô đẹp quá vậy? Tiệm cô cầm vàng bạc, châu báu ngọc ngà mà có cầm "người ta" không?

Phương trố mắt nhìn tôi. Hình như nàng chưa hiểu câu nói. Cặp mắt nàng tròn to, đen bóng, ngây thơ. Tôi nói tiếp:

- Có một sinh viên nghèo, học hành dang dở, hoàn cảnh túng bấn, cần cầm tạm để đủ tiền ăn học, miễn có cơm canh ngày hai bữa, mai sau có nghề nghiệp vững chắc, nguyện sẽ làm "tôi mọi" để trả công lẫn lời.

Phương hiểu ra, cười nho nhỏ, thủ thỉ bên tai tôi:

- Anh Hưng muốn cầm thiệt không đó? Tiệm của em không khó khăn như mấy tiệm khác đâu. Miễn là sòng phẳng, siêng năng, trả nợ suốt đời...

Từ đó, tôi và Phương thương nhau. Rồi chiến tranh ngày một tàn khốc. Tôi phải vào quân ngũ, trôi nổi ngược xuôi. Những cánh thơ nồng nàn thay thế những lần gặp gỡ. Phương thường viết cho tôi biết, nàng đã phải nhiều lần từ chối những mối mai xung quanh. Tôi run trong bụng. Làm sao nàng có thể chờ đợi và nếu chờ thì đến bao giờ. Thân tôi, tôi còn lo chưa xong. Cưới Phương bây giờ, chỉ làm khổ cho nàng, điều mà tôi không muốn. Yêu Phương, tôi muốn nàng được hoàn toàn sung sướng. Phương xinh xắn và dễ thương quá, nàng đâu thể vì tôi mà chịu khổ cực. Rốt cuộc rồi thì tôi cũng phải chịu thua định mạng. Một buổi sáng mùa thu, tôi nhận được thơ cuối cùng của Phương. Vào phòng riêng, tôi xé thơ ra đọc. Nét chữ quen thuộc dễ thương ngày nào, quay cuồng trước mắt tôi:

"... ba má bắt em phải lập gia đình với một người không quen. Giữa tình yêu và gia đình, em phải chọn một. Gởi đến anh bức ảnh cuối cùng em chụp bên gốc sầu riêng ngày nào... như nỗi lòng em..."

Nước mắt tôi tự nhiên ứa ra, ràn rụa. Những chữ còn lại, mờ nhạt. Cuối thơ Phương không ký tên, tôi đọc được câu ca dao ở hàng dưới cùng:

Đêm khuya thắp chút dầu dư

Tim loang cháy lụn, sầu tư một mình.

 

*****

Câu chuyện đã trên 20 năm rồi, bây giờ tôi còn nhớ lại như in. Cái kỷ niệm ngày xưa sao mà êm ái nhẹ nhàng quá. Tôi với chú hai thợ bạc, ngồi im lặng bên nhau. Mỗi người một ý nghĩ vụn vặt, tản mác. Xa quê hương là xa hết những cảnh, những vật, những người thân yêu. Trước mắt tôi, bây giờ cũng có cây sầu riêng. Nhưng đâu phải là cây sầu riêng vườn cũ. Phương bây giờ đã có chồng, có con. Biết được nàng hạnh phúc, tôi mừng lắm. Nhưng rồi vận nước đổi thay. Hiện giờ vợ chồng con cái nàng vẫn còn ở nguyên nơi quê xưa. Liệu nàng có đủ sức khỏe và nghị lực để vượt qua những khổ nhục mà chế độ mới đưa tới hay không?

Nhớ tới giờ phút nầy, hình ảnh của hằng triệu người đang phải lam lũ, chân lấm tay bùn, cuốc xới trên vùng đất khô cằn miền kinh tế mới để phục vụ một thứ chủ nghĩa ngoại lai, tim tôi như muốn nghẹn lại:

- Chú hai ơi! mấy người còn ở lại làm sao mà sống nổi với tụi nó?

- Rồi cũng phải sống chớ thầy tư, hổng lẽ... tự tử chết! Con ngựa đua bắt đem đi kéo cày thì cũng như con bò, con trâu vậy!

Nghe chú hai thợ bạc nói, tôi nghĩ ngay đến Phương ngày nào. Trời đất ơi! cái sự thật sao mà chua xót! Tôi đứng dậy hết muốn nổi:

- Vậy thì chừng nào dân mình hết khổ, chú hai? Hổng lẽ phải chịu như vậy hoài!

Chú hai thợ bạc vừa đi vừa trả lời:

- Thầy tư đừng có lo! Luật tạo hóa tuần hoàn hết bĩ cực rồi tới thới lai. Như trái sầu riêng chín thì phải rụng. Ngày đó tôi với thầy tư trở về, gầy dựng lại quê hương cũ. Cầu trời cho nó đừng quá tang thương, đổ nát...


Võ Kỳ Điền

Thơ Đường: Bốn Mùa Trăn Trở - Nguyễn Duy Phước