Tuesday, July 14, 2026

Chuyện Người Việt Làm Việc Tại Nhật - Truong Nhat Linh

Có một thời gian, mỗi lần ngồi trên xe đi làm công trình ở Nhật mà tivi phát bản tin có chữ ベトナム人, cả nhóm người Việt tụi tôi im ngang.


Tôi là dân công trình, nên ngày đó thường xuyên phải di chuyển bằng ô tô. Sáng sớm lên xe, người còn ngái ngủ, người cầm lon cà phê, người mở điện thoại xem tin nhắn ở nhà. Trên xe hay bật tivi, có khi là bản tin buổi sáng, có khi là thời sự chạy qua chạy lại.

Rồi lâu lâu, trên đó lại hiện lên một vụ gì đó liên quan tới người Việt. Trộm cắp. Bỏ trốn. Đánh nhau. Mấy chuyện phạm pháp khác.

Tin có khi chỉ vài chục giây thôi, nhưng cái chữ nghe rõ nhất vẫn là ベトナム人 (Người Việt Nam).

Lúc đó cả xe im rất kỳ. Không ai nói gì. Không ai chửi. Cũng không ai bênh. Chỉ im thôi. Cái im đó không phải vì không có gì để nói, mà vì nhục quá nên không biết nói gì.

Mình đang mặc đồ công trình, tay chân còn mùi sắt thép, bụi bặm, mồ hôi. Tự nhiên cái tên quê hương mình bị kéo lên tivi, đọc ra giữa nước Nhật, trước mặt cả người Việt lẫn người Nhật. Cảm giác đó rất khó chịu. Chỉ muốn cúi mặt xuống sàn xe cho qua cái đoạn đó.

Mà nó lên báo một lần còn đỡ. Lâu lâu lại nghe. Nghe nhiều tới mức có thời gian trong đầu tôi cứ vang cái câu ベトナム人、ベトナム人... Ám ảnh thật sự.

Tổn thương nhất chắc là mấy bạn mang họ Nguyễn. Ở Nhật, người ta hay gọi nhau bằng họ. Mà người Việt mình họ Nguyễn rất nhiều. Đi làm nghe グエンさん riết, nhiều khi không biết người ta đang gọi mình, gọi bạn mình, hay trong đầu họ đang dính luôn mấy bản tin xấu nào đó trên tivi.

Một cái họ rất bình thường ở quê mình, qua tới Nhật có lúc lại gánh theo một lớp áp lực rất khó nói.

Tôi kể chuyện này không phải để tự nhục. Tôi cũng không đứng ngoài để chửi người Việt, vì tôi từng là một người lao động Việt ở Nhật. Tôi hiểu cảm giác nợ tiền để đi. Hiểu cảm giác tháng nào cũng nhìn lịch để tính tiền gửi về. Hiểu cái mệt của những ngày làm tới kiệt sức mà vẫn thấy mình chưa thoát khỏi áp lực.


Ngoài kia có rất nhiều người Việt tử tế. Họ đi làm đàng hoàng, sống sạch sẽ, gửi tiền về nhà, không làm phiền ai. Có người làm trong xưởng cả ngày, tối về phòng chỉ đủ sức nấu tô mì rồi ngủ. Có người làm công trường lạnh muốn cứng tay, cuối tháng vẫn chắt từng đồng gửi về cho gia đình.

Những người đó rất nhiều.

Nhưng đời nó oái oăm ở chỗ, người tử tế thường im lặng. Còn người làm bậy thì tạo tiếng động rất lớn.

Một người Việt ăn cắp một món đồ trong siêu thị, vài nghìn yên thôi, nghe qua tưởng nhỏ. Nhưng cái mất không chỉ nằm ở món đồ đó. Cái mất nằm ở ánh mắt của người quản lý ngày hôm sau. Nằm ở tấm bảng cảnh báo phải viết thêm tiếng Việt. Nằm ở việc một bạn Việt Nam tử tế bước vào sau đó, chưa làm gì sai, nhưng vẫn bị nhìn kỹ hơn.

Người sau trả giá cho người trước.

Đó mới là cái giá thật.

Tôi không nghĩ có thể nói đơn giản là “người Việt xấu đi”. Nói vậy quá cạn, và cũng không công bằng. Người Việt ở Nhật đông lên rất nhanh. Mình xuất hiện nhiều hơn trong nhà máy, công trường, nông trại, nhà hàng, trường tiếng Nhật, ký túc xá. Đông hơn thì lỗi cũng dễ bị nhìn thấy hơn.

Nhưng công bằng không có nghĩa là giả mù.

Nếu một nhóm nhỏ làm bậy đủ nhiều, cái nhìn dành cho cả cộng đồng sẽ khác. Đó là sự thật rất khó chịu, nhưng nó vẫn là sự thật.

Có nhiều người sang Nhật với một giấc mơ rất đẹp. Nghĩ rằng qua đó là kiếm được nhiều tiền, đổi đời, về quê xây nhà, trả nợ, lo cho cha mẹ. Nhưng sang rồi mới biết, lương có đó, mà nợ, tiền sống, tiền gửi về nhà cũng đứng chờ sẵn đó.

Cái đời thật nó không lung linh như lời người ta vẽ lúc còn ở Việt Nam.

Khi kỳ vọng sụp xuống, một số người bắt đầu lệch. Ban đầu chỉ là nghĩ: “Lấy một chút chắc không sao.” Một món đồ nhỏ trong combini. Một cây dù để ngoài cửa. Một chiếc xe đạp. Một lần trốn vé. Một lần lấy đồ công ty mang về. Một lần gian dối mà tự nhủ mình khổ quá rồi, mình chỉ lấy chút xíu thôi.

Nhưng cái “chút xíu” đó, nếu lặp lại đủ nhiều, nó không còn là chút xíu nữa.

Nó thành hình ảnh.


Ở Nhật, niềm tin không đến từ lời nói. Người ta không nghe mình kể mình chăm chỉ, mình hiền, mình đàng hoàng. Người ta nhìn cách mình xếp hàng, trả tiền, giữ lời, giữ sạch sẽ, giữ cái tay của mình trước thứ không thuộc về mình.

Xã hội Nhật không hoàn hảo. Tôi không thần tượng Nhật. Tôi từng sống ở đó đủ lâu để biết Nhật cũng lạnh, cũng cô đơn, cũng có những góc rất mệt cho người lao động nước ngoài. Nhưng có một điều phải công nhận: họ rất coi trọng cảm giác an toàn.

Có những nơi ở Nhật, hàng hóa có thể để ngoài cửa. Có những chiếc xe đạp chỉ khóa sơ. Có những cái ví rơi vẫn còn cơ hội tìm lại. Những thứ đó không tự nhiên mà có. Nó được xây bằng niềm tin lặp lại mỗi ngày.

Và khi niềm tin bị phá, người ta sẽ dựng hàng rào.

Hàng rào đó không chỉ chặn người xấu. Nó làm người tốt cũng thấy mình bị xa ra.


Có người cũng nợ. Cũng lạnh. Cũng gửi tiền về nhà. Cũng có những đêm nằm nhìn trần nhà mà không biết đời mình đang đi về đâu. Nhưng sáng ra họ vẫn đi làm, vẫn trả tiền, vẫn không đưa tay lấy thứ không phải của mình.

Cho nên nghèo có thể giải thích một phần. Nợ có thể giải thích một phần. Bị môi giới vẽ giấc mơ quá đẹp cũng có thể giải thích một phần. Nhưng không có cái nào trong đó đủ quyền để rửa sạch chuyện trộm cắp.

Nếu lấy cái nghèo ra để xin giảm án đạo đức, thì rốt cuộc mình đang nuôi cái xấu bằng một cái cớ nghe có vẻ tội nghiệp.


Còn chuyện người Trung Quốc trước đây từng bị dè chừng hơn, tôi nghĩ không nên so sánh rẻ tiền. Có thể họ đã đi qua một giai đoạn khác, cộng đồng ổn định hơn, nhiều người định cư lâu hơn. Còn người Việt mình đang đông lên rất nhanh, nhưng danh dự cộng đồng chưa kịp xây cho chắc.

Nếu không nhìn thẳng giai đoạn này, sau này cái giá sẽ không chỉ nằm trong thống kê của cảnh sát. Nó nằm trong cách người Nhật nghĩ về hai chữ “người Việt”.


Tôi viết chuyện này không phải để chửi đồng bào. Tôi viết vì thương những người Việt tử tế ở Nhật. Những người đang im lặng làm việc, đang trả nợ, đang gửi tiền về, đang sống sạch sẽ, đang cố không làm phiền ai, họ không đáng bị kéo xuống bởi vài người nghĩ rằng “lấy một chút không sao”.

Tôi không nói người Việt xấu.

Tôi nói một nhóm nhỏ đang làm người Việt tử tế phải mệt hơn.

Người ta không coi thường mình vì mình nghèo. Người ta bắt đầu dè chừng khi mình quen lấy cái nghèo ra để bao che cho cái sai.

Ở Nhật, có những thứ mất rồi không nằm trên hóa đơn. Nó nằm trong ánh mắt người ta nhìn mình lần sau.

 

Truong Nhat Linh

(1) Truong Nhat Linh Có một thời gian, mỗi... - Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do | Facebook

Khu Phố Đa-Kao Của Tôi - Nguyễn Duy Phước

Rạp Casino trên đường Đinh Tiên Hoàng gần cầu Bông thập niên 1960 (Nguồn: Manhhaiflickr)   


Khu phố Đa-Kao đường xưa lối cũ

Nơi sinh thành vẫn ấp ủ nhớ thương

Trọn quảng đời niên thiếu ngạt yêu đương

Một thời hoa mộng bao vấn vương chất ngất


Xưa tên Đất Hộ ở phía Bắc quận Nhất

Bắt đầu từ đại lộ Thống Nhất thênh thang

Trải dài qua suốt đường Đinh Tiên Hoàng 

Với biết bao là danh lam thắng cảnh


Tự Đức, Phan Đình Phùng, Phan Thanh Giản

Những con đường quang đãng rất nên thơ

Lá cây bàng vàng úa ngập lối rơi

Thảo Cầm Viên khung trời hoa ngào ngạt


Phố chợ, quán hàng, tiệm buôn san sát

Chè Hiển Khách, mì Cây Nhãn tuyệt trần

Hẹn hò tự tình quán cà-phê Hân 

Hồn đắm đuối lâng lâng theo nhạc Trịnh


Kem Duyên Anh, Bảy Quan bánh mì thịt      

Rạp hát Casino, Văn Hoa nhộn nhịp người đông

Bánh cuốn Tây Hồ, chả cá Thăng Long

Nhà hàng Pháp Chez Albert, La Cigale sang trọng


Đình Nam Chơn, đền Thánh Trần nơi thờ phụng   

Chùa Ngọc Hoàng cổ tự, di tích người Hoa

Chợ Đa Kao ngập người bán sớm trưa

Phở Hoàn Kiếm, Hoa Lư đầy hương vị


Trần Quang Khải nối dài đến Tân Định

Qua cầu Bông bắc xuyên rạch Thị Nghè

Chợ Bà Chiểu khu Gia Định gần kề

Ngay cạnh xa lộ đi Biên Hòa, Thủ Đức


Còn là nơi nhiều học đường giáo dục

Les Lauriers, hội Việt-Mỹ, Huỳnh Thị Ngà

Miệt mài sách đèn người em gái Văn Khoa

Trưng Vương áo trắng thướt tha chiều gió lộng


Hồ bơi Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hoa Lư sân vận động 

Đài truyền hình góc Hồng Thập Tự, Đinh Tiên Hoàng

Đài phát thanh ở cuối Phan Đình Phùng

Phát tiếng nói Dạ Lan não nùng xao xuyến

 

Phố xưa ơi giờ ngàn trùng ly biệt

Kỷ niệm dâng trào, luyến tiếc triền miên

Tình xưa chốn cũ ghi khắc trong tim

Đa-Kao muôn thuở nỗi niềm không vơi.

 

NdP

     

     Chú thích: Tất cả những tên đường và nơi chốn là trước năm 1975.

 

Songkhla Dậy Sóng - Đào Văn Bình

Hình minh họa: Họa sĩ Ann Phong

Tại Quán Biển Xanh của Thị Trấn Songkhla, Thi Thi một mình đứng dựa vào lan can, mắt dõi nhìn ra phía biển xa xa. Bán Ðảo Malay nhô dài ra phía biển, xanh rợp những hàng dừa trông tựa như mũi của một con cá sấu. Buổi chiều, từng đoàn ghe, tàu ra vô làm cho cửa biển thật chộn rộn nhưng Thi Thi thì cứ vẫn đứng yên như thể tâm hồn phiêu bạt nơi đâu. Với kiến thức và suy tính của nàng, nàng nghĩ rằng việc tìm kiếm tông tích mẹ dù khó khăn nhưng không phải không hy vọng. Nhưng đến nay thì nàng cảm thấy tình thế hầu như tuyệt vọng cho nên hai giọt lệ tự nhiên lăn dài trên khóe mắt. Xót xa nghĩ đến mẹ, nàng nhắm nghiền đôi mắt và… ký ức kinh hoàng của chín năm về trước một lần nữa lại hiện về.


…..Năm 1978, Thi Thi còn là một cô bé muời hai tuổi theo cha mẹ vượt biên ở cửa biển Vũng Tàu – Bà Rịa. Sau ba ngày lênh đênh trên biển, tàu của Thi Thi gặp hải tặc Thái Lan và một màn cướp bóc dã man diễn ra. Mẹ Thi Thi bị hải tặc dẫn đi cùng với mấy cô gái khác. Sau khi ăn hàng xong, bọn hải tặc bỏ đi và thuyền của Thi Thi mấy ngày sau may mắn tắp vào được Đảo Bi Ðông. Vì quá nhớ thương vợ, hơn thế nữa ông bị
kiệt lực vì chuyến vượt biển đầy gian nan, sóng gió, hãi hùng, ba của Thi Thi lâm bệnh và qua đời trên đảo. Ông được đồng bào chôn ông ở trên một mỏm núi đá nhìn xuống bãi biển. 

Thi Thi trơ trọi một mình,hằng tuần đều đến thăm mộ ba. Thi Thi lượm lặt những hòn sỏi, những vỏ ốc nằm chơ vơ trên cát về dát lên trên mộ thành hình những đóa hoa rồi thì thầm nói chuyện với ba như những lúc ba còn sống. Thi Thi khôngbao giờ nghĩ rằng ba đã chết… mà ông chỉ nằm yên nghỉ ở đây để chờ một ngày gặp lại mẹ Thi Thi – người yêu quý nhất đời ông.

Trong thời gian Thi Thi còn tá túc ở trại chuyển tiếp Sungei Besi – Mã Lai thì tại một khu ngoại ô của thành phố Los Angeles – California, ông bà Brown đang chăm chú đọc một bản tin của cơ quan USCC kêu gọi các nhà hảo tâm Hoa Kỳ đứng ra bảo trợ các gia đình tỵ nạn Ðông Dương mệnh danh là Boat People. Ông Brown là kỹ sư trưởng của một hãng điện
tử, còn bà Brown là giáo sư tại một Ðại Học Cộng Ðồng. 
Năm ấy ông bà khoảng bốn mươi tuổi. Ông bà rất chú ý đến trường hợp của Thi Thi bởi hai lý do: Ông bà lấy nhau đã mười năm nay mà không có con cái gì.
Ngoài ra ông còn là một cựu chiến binh trước phục vụ tại Việt Nam. Năm 1967 phi cơ của ông bị bắn rớt ở Bình Long nhưng ông được một bé gái trạc tuổi Thi Thi chỉ đường cho ông chạy trốn ra quốc lộ cho nên ông còn sống sót tới ngày nay. Nhìn hình ảnh Thi Thi trong bản tin của cơ quan USCC, ông nhớ lại kỷ niệm xưa và có ý muốn nhận nuôi Thi Thi để đền ơn một cô bé Việt Nam nào đó mà ông không bao giờ biết tên tuổi.

Vừa nhận bảo trợ, vừa nhận làm cha mẹ nuôi Thi Thi, hai ông bà lại có hai quan niệm khác nhau về cách xây dựng cuộc đời cho Thi Thi. Bà Brown thì muốn Thi Thi sớm quên đi quá khứ đau buồn để hội nhập vào xã hội mới và dĩ nhiên tạo lập cuộc đời mới trên quê hương mới cho nên bà muốn Thi Thi trở thành một bác sĩ. Còn ông, ông lại có quan niệm và một chủ đích khác. Ông muốn Thi Thi đừng đánh mất bản sắc của mình vì Việt Nam cũng là mảnh đời khó quên của ông. Vả lại, mẹ Thi Thi dù bị hải tặc bắt đi nhưng chưa chắc đã chết… may đâu? Cho nên khi Thi Thi tốt nghiệp trung học ông đã thuyết phục bà cho Thi Thi học ngành báo chí tại U.C.LA. Khi Thi Thi được hai mươi mốt tuổi và cũng là lúc nàng tốt nghiệp bằng Cử Nhân, do sự quen biết ông xin cho Thi Thi làm phóng viên của tờ Los Angeles Tribune. Năm sau, đích thân hai ông bà đến gặp ông tổng biên tập, trình bày về trường hợp của Thi Thi, cái gì xảy đến cách đây chín năm và xin tờ Los Angeles Tribune đứng ra bảo trợ cho một cuộc tìm kiếm người đàn bà xấu số… tức mẹ của Thi Thi. Sự việc được trình lên Hội Ðồng Quản Trị và Ban Quản Trị nhận thấy đây vừa là vấn đề nhân đạo vừa là dịp điều tra sâu rộng về những hành vi tàn bạo của cướp biển Thái Lan nên đã đồng ý bảo trợ.

Tuy nhiên sắp xếp cho chuyến đi không phải chuyện dễ dàng. Nếu sơ hở, sinh mạng người đi điều tra lâm nguy đã đành mà cướp biển có thể thủ tiêu người đàn bà để phi tang. Cuối cùng thì người ta đã đồng ý với nhau về một kế hoạch. Tờ Los Angeles Tribune loan tin bảo trợ cho một cuộc khảo cứu sinh vật học dưới biển ở Thái Lan và cần tuyển một người cho công tác này. Bài báo loan đi được nửa tháng thì một thanh niên tới trình diện. Chàng tên Peter, tốt nghiệp Hải Dương Học và đang phục vụ tại Ðại Học Stanford. Năm nay chàng hai mươi bốn tuổi, đẹp trai, thông minh, khoẻ mạnh, hoạt bát, thích phiêu lưu mạo hiểm nhưng chưa có dịp. Sau cuộc phỏng vấn, Peter được gặp Thi Thi để nghe nàng nhớ lại, kể lại tất cả những gì đã xảy ra cho gia đình mình cách đây chín năm. Sau hơn một tháng tập lái tàu, nghiên cứu phong tục tập quán, bờ
biển các khu vực đánh cá trong Vịnh Thái Lan nhất là khu vực Songkhla.

Ðể an toàn cho chuyến đi, Peter và Thi Thi được đưa qua Sydney rồi mới đáp máy bay đi Bangkok như thể một cặp tình nhân đến từ Úc Châu.

Tại Bangkok, Peter có người cậu làm tùy viên văn hóa của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan. Peter đến thăm cậu và nói rõ mục tiêu của chuyến đi. Nghe xong câu chuyện ông cậu rất xúc động nhưng cũng khuyên cháu nên hết sức cẩn thận vì hành tung của cướp biển Thái Lan lúc ẩn lúc hiện và khi bọn chúng đã ra tay thì hết sức tàn bạo. Ông giới thiệu cho Peter một một thám tử tư người Thái Lan tên Surat trước đây vốn sinh trưởng ở vùng Songkhla cho nên không một ngõ ngách nào của Songkhla mà Surat không biết. Sau khi nghe trình bày sự thể, Surat vui vẻ nhận lời cộng tác vì theo anh bản tính dân Thái Lan vốn hiền hòa, cướp biển chỉ là thiểu số đi ngược lại bản tính đó và làm hoen ố danh dự của dân tộc Thái Lan. Surat năm nay ngoài ba mươi tuổi nói tiếng Anh rất lưu loát. Surat da nâu nâu, thân hình khỏe mạnh có bộ râu mép giống Clark Gable và lúc nào cũng vậy – do méo mó nghề nghiệp anh ta luôn luôn mang kính đen và khẩu súng lục trong người. Do tính chất nguy hiểm của chuyến đi, Surat khuyên Peter nên đem theo súng và anh ta đã dùng giấy phép của hãng thám tử tư của chính anh để cấp giấy đeo súng cho Peter.

Là người kinh nghiệm, tế nhị và cũng để thử tài Peter trong chuyến“hành hiệp”, trước tiên Surat để Peter quyết định về kế hoạch hành động. Peter bàn với Thi Thi và Surat là nên đến Hội Ngư Phủ Songkhla để dò la tin tức. Qua sự thông dịch, Surat giới thiệu với ông Chủ Tịch Hội Ngư Phủ, Peter và Thi Thi là hai nhà nghiên cứu Hải Dương Học muốntìm hiểu về tiềm năng đánh cá của vùng Songkhla, nhất là những con tầu
thường đánh cá ở Vịnh Thái Lan. Peter lý luận rằng theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc thì các con tàu tham dự vào các chuyến cướp biển đều là tàu gỗ, có khả năng đánh cá xa bờ khoảng 100 hải lý, làm ăn theo lối gia đình, ít mướn nhân công bên ngoài. Nếu nắm được danh sách này thì ít ra cũng có tài liệu để lần ra manh mối. Còn Surat thì giới thiệu mình là thông dịch viên trước có du học ở Úc Châu. Là người hiếu khách, ngay tình, ông chủ tịch đưa ra một danh sách dài dằng dặc bao gồm tên chủ tàu và các con tàu hiện gia nhập hội của ông. 
Cầm bảngdanh sách này trên tay Peter hỏi làm sao phân biệt được tàu gỗ hay tàu sắt? Ông chủ tịch nói cái đó cũng dễ thôi vì mỗi loại tàu đều có số mã riêng. Ðêm đó Peter ngồi một mình với bản danh sách trong phòng riêng.

Sáng hôm sau chàng thú nhận với Thi Thi rằng cái danh sách này tựa như một đám rừng chỉ làm chàng đau đầu thêm cho nên chàng đề nghị một kế hoạch khác. Theo Peter thì khi hải tặc bắt được đàn bà, con gái nếu không bán đi để làm gái điếm thì chúng cũng dấu trên các hoang đảo để làm “áp trại phu nhân”. Do đó nếu dò thám các hoang đảo may đâu chẳng
tìm ra manh mối? Theo đúng đề nghị của Peter, cả ba đến gặp ông Giám Ðốc Hàng Hải Songkhla để hỏi thăm tin tức, sưu tập bản đồ của những hòn đảo nằm quanh khu vực. Ba người có lúc đi chung, có lúc đi riêng để dò la các hòn đảo, mệt nhoài cả người nhưng cũng chẳng thêm chút ánh sáng nào.

Thấy hai kế hoạch của Peter không đem lại kết quả – cảm thấy đã đến lúc trổ tài, Surat lý luận: Mục tiêu của đám cướp biển là cướp vàng bạc vì chúng biết rằng người tỵ nạn Việt Nam khi vượt biên đều mang theo tài sản vì họ cho rằng không bao giờ họ còn có cơ hội quay lại Tổ Quốc nữa. Một khi tóm được vàng bạc, có khi là vàng lá, kim cương, nhẫn vàng, khuyên vàng… bọn chúng có thể đem bán cho các tiệm vàng ở Thị Trấn Songkhla để lấy tiền chi dùng, ăn nhậu hoặc để bao gái nhất là để đánh bạc. Do đó Surat đề nghị hai người tạm nghỉ ở nhà để Surat đi xuống khu Trung Tâm của Songkhla. Tại đây Surat tìm đến một người bạn tên Sok, sau khi cha về hưu, anh ta hiện nối nghiệp cha làm chủ một tiệm vàng. Sau khi tốt nghiệp trung học tính ra có đến mười mấy năm hai người không gặp nhau. Tối đó Sok rủ Surat đi nhà hàng để hai bên ăn nhậu, hàn huyên cho thỏa thích. 

Trong lúc rượu đã ngà ngà, Surat hỏi Sok xem cách đây khoảng chín, mười năm Sok còn nhớ tên chủ tàu nào đến đổi chác vàng bạc ở tiệm không? Sok cho biết đám dân chài luới mỗi lần trúng mùa họ thường mua sắm vàng bạc, nữ trang, ăn nhậu dữ lắm còn chuyện đem vàng bạc đi bán là chuyện bất thường, chỉ khi nào họ liên tiếp thất bại một, hai mùa cá. Tuy nhiên, theo Sok thì có một trường hợp mà anh ta nhớ mãi là cách đây khoảng chín, muời năm, chủ tàu Lươn Biển đã bán cho cha anh một mớ nữ trang rất lớn mà theo anh không phải là loại làm ở Thái Lan. 

Bắt được tin này, Surat hí hửng về thông báo cho Peter và Thi Thi hay. Sau đó Surat quyết định để ra một tuần lễ liền, dùng ống nhòm quan sát cùng la cà khắp bến cảngnhưng chẳng thấy bóng dáng con tàu Lươn Biển đâu cả. Như thế là sauhai t ần lễ vất vả, cả ba vẫn chưa phăng ra một chút manh mối nào về hải tặc và dĩ nhiên sự việc đó đã gieo vào lòng Thi Thi nỗi niềm chua xót, hoang mang lẫn thất vọng.

* * *

Trong khi Thi Thi đang thả hồn mình về với quá khứ bi thương như thế thì Peter từ trong quán bước ra. Nhìn thấy Thi Thi, chàng dừng lại. Chàng không muốn làm kinh động, vừa để tôn trọng những giây phút riêng tư của nàng… mà cũng để ngắm nhìn. Sau gần một tháng đi chung, ăn uống chung và làm việc chung chưa bao giờ Peter thấy Thi Thi đẹp như vậy. Chưa bao giờ hình ảnh của Thi Thi lại thu hút tâm hồn chàng đến như vậy. Nắng và gió biển làm da Thi Thi đậm hơn một chút. Chiếc áo sơ-mi tay dài và chiếc quần Jean càng làm tăng thêm vẻ đẹp khỏe mạnh của nàng. Mái tóc dài bay lòa xòa trước gió bao phủ lấy khuôn mặt Ðông Phương nhưng thanh thoát làm Peter liên tưởng đến sự thủy chung – nền tảng của hạnh phúc gia đình mà chàng đọc được nơi sách vở. Chính sự ngưỡng mộ và khát khao đó lại là động cơ thúc dục chàng nhích chân đi tới. 
Nghe tiếng động ở sau lưng, Thi Thi giật mình ra khỏi vùng hồi ức. Nàng quay lại và không ngạc nhiên khi thấy Peter. Tuy nhiên nàng vẫn đứng bất động và mắt như nhìn vào cõi xa xăm. Peter chầm chậm tiến đến gần, đứng yên một hồi lâu rồi mạnh dạn nắm lấy tay Thi Thi. Chàng nói:

- Anh hiểu nỗi khổ đau của em. Nhưng anh linh cảm rằng chúng ta sẽ thành công. Em sẽ gặp lại mẹ em trong chuyến đi này. Ðừng để tình cảm làm suy yếu nghị lực của chúng ta. Nói xong chàng kéo tay Thi Thi và cả hai bước tản bộ dọc theo bến cá.

Trong khi hai người đang sánh bước bên nhau thì Surat ngồi rầu rĩ bênly bia đã cạn. Anh toan lên tiếng gọi thêm chai nữa  thì từ ngoài cửa hai thanh niên bước vào. Nhìn vóc dáng, cách ăn mặc, cách nói năng ai cũng phải nhận ra họ là dân chài lưới. Sau khi lớn tiếng gọi rượu và đồ nhậu, họ ăn uống rất dữ tợn. Phút chốc họ đã ngà ngà và đúng là…rượu vào lời ra. Một gã trong bọn nói:

- Mày có biết không trên đời này nhiều khi bố con giết nhau cũng chỉ vì một con đàn bà! Một con đàn bà… Việt Nam mới tức cười chứ!

Gã kia, sau khi dằn ly bia xuống bàn, lè nhè hỏi:

- Mày nói lại tao nghe. Cha con giết nhau hả? Ðứa nào ngu vậy cà? Ð.M. có nói dóc không mày?

Sau khi cầm ly bia uống ực một hơi, gã lên tiếng đầu tiên nói tiếp:

- Thì cha con thằng cha chủ tàu… chủ tàu Lươn Biển chứ ai!

Nghe đến đây thì Surat như bị điện giật. Anh ta vội vã kêu thêm một chai bia nữa uống để câu giờ và vểnh tai nghe. Khi hai gã đã dứt tiệc nhậu, lảo đảo buớc ra ngoài và chia tay ở trước quán thì Surat theo bén gót gã lên tiếng đầu tiên mà sau này y xưng tên là Thom. Surat theo chân Thom đến tận nhà và mua chuộc Thom bằng hai lạng vàng để được biết tung tích con trai lão chủ tàu Lươn Biển.

Theo tin tức của Thom thì Uthai – con lão chủ tàu Lươn Biển, hiện y đang chỉ huy con tàu Sóng Thần. Tàu của y thường lênh đênh nửa tháng trời ngoài biển và có lẽ vài ngày nữa sẽ trở lại bến Songkhla để xuống cá. Sau khi xuống cá y có thói quen ăn nhậu và kiếm gái ở Quán Giang Hồ. Sau khi thu lượm được tin tức bằng vàng này, Surat hối hả quay trở lại khách sạn để cùng Peter và Thi Thi lập kế hoạch bắt cóc Uthai vào lúc chạng vạng tối.

Theo đúng dự trù. Thi Thi ăn mặc giả làm “cô gái bán hoa” quanh quẩn ở quán Giang Hồ. Khi Uthai mặt đỏ gay, lảo đảo bước ra ngoài thì Thi Thibước tới… liếc mắt đưa tình. Chính  Uthai cũng hết sức ngạc nhiên không hiểu tại sao bến Songkhla hôm nay lại có một đóa hoa tươi đẹp như vậy cho nên y mê mẩn cả tâm thần và đưa tay ôm đại lấy Thi Thi. Mặc dù giận căm gan và nhiều lúc muốn nôn oẹ vì mùi rượu nồng nặc từ miệng Uthai thở ra. Thi Thi cũng phải cắn răng chịu đựng cho gã ôm ấp rồi dìu gã vào một ngõ tối là nơi mà Peter và Surat đã phục sẵn. Khi gã còn đang lảm nhảm mấy tiếng Thái có lẽ là “Anh anh…, em em” thì bằng quả đấm thôi sơn ngay cằm, Peter quất gã quay lơ trong khi đó Surat nhanh tay chụp lên mặt gã một chiếc khăn tẩm thuốc mê rồi hai người dìu nách gã xuống tàu như thể hai người đang đưa một người bạn ăn nhậu say về nhà.

Dưới con tàu sắt mà ba người đã thuê, có trang bị đầy đủ Radar lẫn hệ thống thông tin với Sở Cảnh Sát và Lực Lượng Duyên Phòng Songkhla, Uthai bị trói gô vào một chiếc ghế sắt. Y khoảng ngoài ba mươi tuổi có khuôn mặt vều lên như cái mâm, da mặt sần sùi như vỏ quít. Uthai mặc một bộ đồ jean, cánh tay xâm trổ. Cả con người y tỏa ra một cái gì đó hết sức thô lỗ, hiếu sắc và tục tằn. Khi tỉnh dậy, Uthai ngạc nhiên khi thấy y bị trói thúc ké. Vài giây sau, có lẽ đã nhớ lại những gìxảy ra tại Quán Giang Hồ, y trở nên vô cùng tức giận. Y quắc mắt hỏi:

- Các người là ai? Tại sao lại bắt ta?

Nói xong y gầm gầm, gừ gừ khiến bộ mặt sần sùi đen đủi của y càng thêm hung dữ. Như một tay thẩm vấn nhà nghề cần ra tay trước để thị uy, Surat xáng cho y một quả đấm ngay sống mũi khiến phải mất vài giây sau mới có thể hoàn hồn. Ðợi cho y đã tỉnh táo, Surat chìa ra trước mặt y
một tấm hình bán thân cỡ 8×10 rồi gằn giọng hỏi:

- Mày có biết người này là ai không?

Uthai rõ ràng sửng sốt khi nhìn thấy tấm hình nhưng vẫn lắc đầu:

- Tôi không biết!

Tấm hình mà Surat đưa ra trước mắt Uthai không gì khác hơn là tấm ảnh bán thân được rọi lớn của mẹ Thi Thi – một kỷ vật mà Thi Thi lưu giữ chín năm qua. Trước cử chỉ ngang bướng của Uthai, Surat đưa mắt nhìn Peter như để xin chỉ thị. Peter khẽ gật đầu. Một chiếc thùng nước được lôi ra và Surat nhanh tay nắm lấy tóc Uthai nhận xuống. Chỉ ít giây sau thì cái đầu của Uthai quậy lên dữ dội nhưng bàn tay cứng như sắt của Surat vẫn cứ ấn xuống cho đến khi Uthai gần ngất xỉu thì Surat
giật ngược đầu của y lên, quắc mắt hỏi lần nữa:

- Bây giờ mày có biết người này là ai không?

Tới mức này thì bộ mặt thiểu não của Uthai khẽ gật gật. Thấy vậy Peter hỏi và Surat thông dịch ra tiếng Thái:

- Mày có biết cha mày hiện giờ ở đâu không?

Uthai dư sức thông minh để hiểu rằng nếu y nói “không” thì chắc chắn y sẽ được cho “đi tàu thủy” một lần nữa cho nên lặng lẽ gật đầu. Thấy vậy Peter liền nói:

- Bọn tao kỳ hẹn cho mày trong hai ngày. Nếu không tìm thấy tàu của cha mày thì mày sẽ được gửi đi “thăm Hà Bá” biết chưa?

Nói xong Peter chỉ vào quả tạ bằng sắt thật lớn có sợi dây xích nằm ở một góc. Sau đó con tàu được nổ máy tiến ra cửa. Khi tàu đã ra khỏi cửa biển thì Uthai được điệu lên boong và bị trói chặt vào cột tàu.
Theo lời khai của Uthai thì cha y hiện đang đánh cá tại toạ độ X. Ðánh cá xong tàu của cha y mới quay trở về bến Songkhla cho nên đó cũng là lý do tại sao Surat dò xét khắp nơi mà cũng chẳng thấy con tàu Lươn Biển đâu cả.

Kể từ khi nhúng tay vào những vụ cướp biển và bắt được mẹ Thi Thi thì Kamphaeng – cha của y đổi kế hoạch với mục đích giữ kín tung tích mẹ Thi Thi. Thay vì cùng đánh cá chung rồi cùng về, Kamphaeng đổi sang lối đánh cá xen kẽ. Khi con tàu của y sắp vào cửa thì con tàu của Uthai được lệnh ra khơi. Khi hai tàu gặp nhau ở ngoài cửa thì mẹ của Thi Thi được chuyển qua tàu của Uthai. Do đó khi tàu cặp bến với số người đông đảo lên xuống cá, hoặc nếu có thanh tra kiểm tra tàu thì
cũng chẳng có ai nhìn thấy bóng dáng người đàn bà Việt Nam ấy cả. Do đó mà Kamphaeng đã sống an toàn với mẹ Thi Thi suốt chín năm qua.

Kamphaeng năm nay khoảng ngoài năm mươi tuổi. Mặt mày y đen đủi, tóc quăn cháy, thân hình to lớn và tỏa ra một cái gì rất man rợ. Y thường xuyên cửi trần, quấn chiếc xà-rông màu đỏ và đeo lủng lẳng bên mình dao quắm cho nên trông y dữ tợn như một hung thần.

Nhưng cũng chính vì cách dấu người như thế cho nên Uthai đã có cơ hội gần gũi người đàn bà và dần dần trở nên say mê bà vì tính ra tới năm nay bà mới khoảng bốn mươi lăm tuổi và bà trở nên một vương hậu giữa đám thổ dân đánh cá đen đúa, xấu xí. Mới đầu thì lão hải tặc không biết. Nhưng sau thì người của lão báo cáo là “đứa con bất hiếu” đã gian díu với “phu nhân” của lão cho nên lão giận điên người và đã có lần rút dao chém Uthai đúng như câu chuyện mà Surat đã nghe lén được ở Quán Giang Hồ. Kể từ đó đến nay hai cha con trở thành hai kẻ tử thù vàđều muốn tránh mặt nhau.
 
Cũng theo lời khai của Uthai thì đã nhiều lần mẹ Thi Thi tìm cánh trốn lên boong để lao mình xuống biển tự tử để sớm dứt cuộc sống nhục nhã nhưng đều bất thành. Kể từ đó lão già hải tặc cấm không cho bà rời khoang tàu. Và cứ như thế cuộc sống khổ đau của bà – khi thì phải “làm vợ” lão hải tặc, khi thì phải “làm vợ” Uthai kéo dài đã chín năm trời qua. Nghe Uthai kể đến đây thì Thi Thi khóc như mưa gió vì thương mẹ. Còn Peter và Surat thì nghiến răng trèo trẹo vì căm giận loài cướp biển.

Theo đúng lời khai của Uthai, con tàu ra khơi đã được một ngày và một đêm nhưng không thấy bóng dáng của con tàu đánh cá nào lảng vảng chung quanh. Ðã có lúc Surat nóng nảy đề nghị quăng tên quỷ sứ này xuống biển cho rồi nhưng Peter khuyên Surat nên kiên nhẫn thêm chút nữa.

Bây giờ thì trời đã hừng đông và mặt biển đẹp tuyệt trần. Tàu chạy khoảng hai tiếng đồng hồ nữa thì một chấm đen xuất hiện ở hướng Ðông Bắc. Uthai nói:

- Có thể đó là con tàu của cha tôi. Nếu đúng thì nó sơn màu đỏ đen và trên có lá cờ hình con lươn biển.

Nghe nói vậy tất cả đều nai nịt và ở tư thế sẵn sàng. Thi Thi trao ống nhòm cho Peter. Duới sự điều khiển của Peter, Surat gia tăng tốc độhướng mũi tàu về phía con tàu Lươn Biển. Trong đầu Peter lúc này nảyra một kế hoạch thật táo bạo: Uthai được chụp lên đầu một tấm vải dođó khi hai con tàu tiến đến gần nhau thì phía bên kia sẽ không nghi ngờ gì cả. Khi hai con tàu đã áp sát vào nhau thì Thi Thi có bổn phận giữ tay lái, còn Surat lanh lẹ giật giây trói và đẩy Uthai qua phía bên kia. Kế hoạch diễn ra đúng như dự liệu. Trong khi đám người trên
con tàu Lươn Biển còn đang reo hò, vẫy gọi vì tưởng đó là con tàu thân thiện thì tàu của Peter áp nhanh vào cạnh sườn. Sau khi giật dây trói cho Uthai, Surat quát lớn:

- Nếu mày không chạy qua tao bắn nát óc ngay!

Trước tình thế nguy nan đó Uthai nghĩ nhảy qua con tàu Lươn Biển may đâu y còn có cơ hội sống sót vì cha y có thể không nỡ xuống tay cho nên y phóng mình qua như một con chim. Khi thấy một bóng người bất thần nhảy qua, định thần nhìn kỹ lại thì lão hải tặc nhận ra đây là “đứa con quý tử” của lão. Vả lại trong lúc sự việc xảy ra quá nhanh, lão nghĩ rằng thằng con phản phúc đã rước cảnh sát đến đây bắt lão cho nên lão gầm lên một tiếng:

- Ðồ thằng con bất hiếu!

Và lão vung con dao quắm chém xuống. Từ bên thành tàu nhảy qua, chưa kịp giữ thăng bằng thì Uthai lãnh đủ nhát dao chém vào bả vai và y gục xuống trên vũng máu.

Trong khi đó thì Peter và Surat đã phóng qua với hai khẩu súng lăm lăm trên tay và một khung cảnh hỗn loạn diễn ra trên boong. Thấy tình thế nguy cấp lão hải tặc tháo chạy xuống khoang và Peter bám sát theo lão.
Vì không quen đường lối xuống khoang tàu cho nên khi Peter xuống tớibậc thang cuối cùng thì lão hải tặc đã biến mất ở cuối  buồng cho nên chàng phải dừng lại, dò từng bước, súng chĩa thẳng phía trước. Nhưng khi Peter vừa mới tiến được vài bước thì một tiếng quát dữ dội vang lên:

- Bỏ súng xuống nếu không tao cắt cổ con mụ này!

Cùng với tiếng quát lão hung thần xuất hiện, một tay ôm ghì lấy người đàn bà để làm khiên che đạn, còn tay kia lăm lăm chiếc dao quắm kề sát cổ. Người đàn bà đang bị kiềm chế đó không ai khác hơn là mẹ Thi Thi.
Khi Peter còn đang lưỡng lự thì một tiếng quát thứ hai vang lên. Peter hiểu rằng nếu còn chần chừ thì sinh mạng của người đàn bà có thể lâm nguy cho nên chàng đành làm theo lời lão hải tặc. Khi thấy chàng đã quăng khẩu súng, lão hải tặc kéo sền sệt người đàn bà tiến về phía đó.

Nhưng vì lão chỉ có hai tay, một tay đã cầm dao quắm, một tay bận níu chặt người đàn bà cho nên khi cúi xuống nhặt khẩu súng lão buộc lòng phải chuyển con dao qua cánh tay kia. Giữa giây phút tử sinh quyết định này – có lẽ mẹ Thi Thi quyết liều thân với tên cướp biển cho nên bà bật tung cánh tay của y ra để chạy về phía Peter. Do bản năng, lão già nhoài người ra để túm lấy mẹ Thi Thi. Quả đây là cơ hội bằng vàng cho nên Peter nhào tới đá văng khẩu súng sang một bên. Thấy tình thế
bất lợi, lão già chém đại một nhát rồi phóng vội lên boong tàu. Khi Peter lượm lại được khẩu súng, leo được lên boong thì Surat đang vật lộn với một tên cướp biển còn Thi Thi cũng đã leo qua được thành tàubên này. Nhưng khi nàng vừa đứng yên trên hai chân thì lão hải tặc đã từ xa phóng tới. Thấy lão, nàng kinh hãi rú lên một tiếng rồi lao mình phóng chạy. Nhưng khi chạy tới đuôi con tàu thì nàng hoàn toàn tuyệt lộ. Thi Thi không còn đường nào khác hơn là hai tay ôm lấy mặt để chờ đợi lưỡi dao chém xuống. Nhưng khi lưỡi dao vừa dơ lên thì Peter đã xuất hiện ở sau lưng lão hải tặc. Chàng đưa súng lên và bóp cò. Người ta chỉ thấy lão kêu rú lên một tiếng, quăng con dao quắm lên trời rồi lảo đảo ôm lấy bả vai nhưng vẫn hung hãn lao về phía Thi Thi đang ngồi co rúm, lưng dựa vào thành tàu. Rồi do đà hụt hẫng và cũng do tình cờ một con sóng mạnh ào tới làm đuôi tàu hơi tròng trành cho nên lão già té nhào xuống biển. Khi Peter chạy tới thì Thi Thi như người chết đi sống lại, nàng ôm chầm lấy Peter. Giây phút sau nàng vừa thở hổn hển vừa hỏi:

- Có gặp mẹ em không? Mẹ em có sao không?

Peter gật đầu và lấy tay chỉ về phía cầu thang. Khi hai người chạy tới thì Surat cũng đã hàng phục được tên cướp biển và từ dưới khoang tàu một người đàn bà nhô lên. Ðó là một khuôn mặt Việt Nam nhưng lại quấn một chiếc xà-rông và mái tóc đã phai màu sương khói. Vừa đặt chân lên tới boong tàu bà hít một hơi dài rồi quỳ xuống, ôm mặt kêu rống lên:

- Trời Phật ôi! Bao năm qua con mới được nhìn thấy ánh mặt trời!

Trong khi người đàn bà còn đang quỳ lạy như thế thì Thi Thi nhào tới ôm chặt lấy bà rồi nghẹn ngào thốt lên:

- Mẹ ơi! Con là Thi Thi! Thi Thi là con đây!

Dường như hai tiếng Thi Thi là hai tiếng quá thân thương với bà cho nên sau vài giây ngơ ngác bà ôm chầm lấy Thi Thi rồi khóc nức nở như một đứa trẻ. Rồi bà vừa khóc vừa nói:

- Con là Thi Thi của mẹ đó hả? Tôi mơ hay tôi tỉnh đây? Thi Thi! Mẹ là mẹ của con đây! Ba của con đâu rồi Thi Thi?

Nói vừa dứt câu đó, vì quá xúc động bà ngã ra bất tỉnh.

* * *
Sau khi Surat liên lạc vô tuyến với Sở Cảnh Sát và Duyên Phòng Songkhla đến để nhận con tàu Lươn Biển và còng tay đám cướp biển đã bị hai người hàng phục, con tàu sắt trên đó có chở theo mẹ của Thi Thi rẽ sóng quay trở lại bến cảng Songkhla. Ngày hôm sau bốn người đáp máy bay trở về Bangkok và được xe của Tòa Ðại Sứ Mỹ đón tận phi trường.

Ðêm đó Peter và Thi Thi gọi điện thoại báo cho ông Tổng Biên Tập tờ Los Angeles Tribune là chuyến công tác đã thành công.

Tuần lễ sau, do lời yêu cầu của mẹ Thi Thi, dưới sự giúp đỡ của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, ba người giã từ Surat rồi đáp máy bay đi Kuala Lumpur.
Rồi từ Kuala Lumpur ba người lại đáp máy bay đi thị trấn Terengganu nằm ở đông bộ Mã Lai. Chờ đợi ở đây một ngày, ba người được một giới chức Mã Lai hướng dẫn xuống con tàu Blue Dart là con tàu duy nhất chở thực phẩm, tiếp tế cho đồng bào tỵ nạn trên Đảo Bi Ðông.

Trên đường trở về đảo cũ, Thi Thi không nén đuợc xúc động. Nàng luôn miệng kể cho mẹ và Peter nghe đoạn đường luân lạc mà nàng đã trải qua.
Khi ba người đặt chân lên đảo thì trời đã về chiều, cơn nóng nhiệt đới đã giảm dần và bầu không khí dìu dịu. Nhìn những em bé gái mười một, mười hai tuổi tức tuổi của Thi Thi cách đây chín năm đang xếp hàng lấy nước, đang đứng ngơ ngác hoặc lấy tay vẫy khi có phái đoàn lạ viếng thăm đảo, Thi Thi không cầm được nước mắt vì biết đâu trong số này chẳng có những em mà cha mẹ đã bị hải tặc bắt đi. Cứ từng chặng, nàng lại chạy tới ôm hôn mấy em bé và cho các em kẹo. Sau chín năm nhà cửa trên đảo Bi Ðông đã tiều tụy đi nhiều nhưng Thi Thi vẫn còn nhớ con đường dẫn ra nghĩa trang nằm trên một mỏm núi nhìn xuống bãi biển. Khi tiến tới trước một nấm mồ, sau khi quan sát kỹ Thi Thi nói với mẹ:
- Ðây là mộ ba!
Khi Thi Thi vừa nói dứt câu thì Peter lanh lẹ đặt lên đó một bó hoa mà ba người đã mua ở chợ Terengganu, còn mẹ của Thi Thi thì quỳ xuống và bà gục mặt khóc trước nấm mồ. Không sao kiềm chế được xúc động, Thi Thi cũng vừa ôm chặt lấy mẹ vừa bật khóc. Trước giờ phút linh thiêng này Peter cũng lặng lẽ quỳ xuống bên cạnh hai người.

Không hiểu thời gian qua đi đã bao lâu. Khi cơn xúc động đã dịu dần,Thi Thi dìu mẹ đứng dậy. Giờ đây đảo Bi Ðông đã về chiều và những cơn gió mát rượi từ ngoài khơi lồng lộng thổi về. Trong khi mẹ Thi Thiđang lo nhổ mấy ngọn cỏ dại và đắp lại mấy vỏ ốc đắp trên nấm mồ đã bị mưa gió làm trôi đi, Thi Thi sau một ít phút tư lự, nàng nhìn vào đôi mắt Peter nói:
- Giờ đây bao nhiêu hiểm nguy đã qua. Anh có muốn cùng em về để phụng dưỡng mẹ già không?
Trước đề nghị quá bất ngờ của Thi Thi, mặt Peter từ từ sáng rỡ lên như một đứa trẻ rồi chàng nắm chặt lấy tay Thi Thi nói:
- Ðó là niềm khao khát, là giấc mơ của anh. Em đã làm tròn bổn phận với cha mẹ. Anh rất sung sướng được sống suốt đời bên người con gái hiếu thảo như em!

Nói xong chàng ôm chặt lấy Thi Thi. Giây lát sau chàng xoay người Thi Thi ra mé biển rồi xúc động nói tiếp:
- Anh xin cám ơn em! Qua chuyến đi này anh đã học được một bài học mà không một sách vở nào có thể nói hết đó là: chính khổ đau chứ không phải hạnh phúc đã làm cho tình cảm con người lớn lên. Chính thảm kịchBiển Ðông kia đã là một thử thách về nhân cách của con người. Cuối cùng thì nhân cách của con người đã thắng Thi Thi ạ!
* * *
Trên con đường từ khu nghĩa trang quay trở về, mẹ Thi Thi đi trước rồi Thi Thi và Peter theo sau. Gió chiều vẫn thổi lồng lộng và mặt biển lấp lánh như một hồ nước đẹp tuyệt trần. Nó trông tựa như một vòm sân khấu diễm lệ mà tất cả mọi vở kịch vui buồn có thể trình diễn trên đó.
Xa xa một vài con thuyền nhỏ nổi bật trên mặt nước xanh thẳm. Có thể đó là chiếc du thuyền chở một cặp tình nhân trong thời kỳ trăng mật.
Ðó cũng có thể là một con tàu đang chộn rộn đánh cá để mưu sinh. Và sau hết nó cũng có thể là con tàu tỵ nạn đang liều chết tiến vào đây để tìm nơi nương náu, để tìm chút tình thương nơi hòn đảo nhỏ bé này.


Đào Văn Bình
(Trích trong tuyển tập truyện ngắn Hương Xót Xa xb năm 1998)

Monday, July 13, 2026

Bốn "Không" Ở Singapore


Singapore là thành viên của Hiệp hội các nước ASEAN không chỉ được ca ngợi là quốc gia có nền kinh tế phát triển mà còn được đánh giá có một Chính phủ trong sạch. Singapore có bốn kinh nghiệm chống tham nhũng có hiệu quả.

xin giới thiệu đến độc giả bốn kinh nghiệm của Singapore trong chống tham nhũng.

    1. Làm cho quan chức không dám tham nhũng.

    Ở Singapore khi một người được tuyển vào làm công chức, quan chức Chính phủ thì hằng tháng phải trích một phần tiền lương để gửi tiết kiệm. Thoạt đầu trích 5%, sau tăng dần. Người có chức vụ càng cao, thì phần trăm trích ra gửi tiết kiệm càng lớn, có thể lên tới vài chục phần trăm lương tháng. Số tiền này do Nhà nước quản lý. Bất kỳ công chức, quan chức nào phạm tội tham nhũng dù nhẹ ở mức xử phạt ra khỏi ngạch công chức thì toàn bộ số tiền gửi tiết kiệm bị trưng thu.

       Quan chức càng to thì số tiền bị trưng thu càng lớn. Vì vậy, mỗi quan chức khi nảy ý định tham nhũng đều phải tính toán: Nếu tham nhũng, nhận hối lộ mấy trăm, thậm chí cả ngàn đô mà bị tịch thu hàng chục ngàn đô, bị sống trong hoàn cảnh không lương bổng cho đến lúc chết thì mất lại nhiều hơn được. Vì thế, đại đa số chọn giải pháp không tham nhũng; quan chức cấp càng cao, lương càng nhiều càng sợ không dám tham nhũng.

    2. Làm cho quan chức không thể tham nhũng.

    Chính phủ Singapore quy định và thực hiện mỗi năm công chức, viên chức, quan chức phải khai  báo một lần với Nhà nước về tài sản của bản thân hoặc của vợ (chồng) bao gồm: Tiền thu nhập, tiền gửi tiết kiệm, tiền cổ phiếu, đồ trang sức, ô tô, nhà cửa… Những tài sản tăng lên phải khai rõ nguồn gốc, cái gì không rõ nguồn gốc có thể coi là tham ô, tham nhũng. Nhà nước còn quy định: Quan chức Chính phủ không được phép nợ nần; không được vay một khoản tiền lớn vượt quá tổng ba tháng lương. 

        Singapore có thị trường mua bán cổ phiếu, nhưng quan chức Chính phủ muốn mua cổ phiếu phải được lãnh đạo cơ quan chủ quản đồng ý và chỉ được phép mua cổ phiếu của công ty trong nước. Với cổ phiếu của các công ty nước ngoài đang kinh doanh ở Singapore cũng được phép mua, nhưng với điều kiện các công ty đó không có quan hệ lợi ích với Chính phủ. Công chức và quan chức Chính phủ không được phép đến các sòng bạc, nhà chứa.

    Luật Báo chí Singapore quy định những điều khoản nhằm chống tham nhũng trong lĩnh vực này. Theo đó, các nhà báo, ký giả muốn gửi bài viết của mình ra nước ngoài phải qua tổng biên tập xem xét. Khi được trả tiền nhuận bút, nhà báo đó phải báo cáo với cơ quan chức năng của Chính phủ trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận được tiền, v.v...

    3. Làm cho quan chức không cần tham nhũng.

 

    Singapore có chế độ trả lương chênh lệch khá cao giữa quan chức cấp cao với cấp thấp, với công chức và giữa công chức với nhân viên, công nhân. Thu nhập thấp nhất là người bảo mẫu mỗi tháng 400 đô la (Singapore). Nữ công nhân lắp ráp điện tử mỗi tháng từ 600 đến 900 đô la. Công chức cơ quan chính phủ tất cả đều tốt nghiệp đại học, lương khởi điểm khoảng 1.300 đô la. Cấp thứ trưởng lương tháng từ 10.000 đô la đến 20.000 đô la. Thủ tướng lương tháng hơn 40.000 đô la (thời điểm năm 2000). Với mức lương như vậy, quan chức đủ sống và chu cấp cho gia đình mà không cần tham nhũng. Hơn nữa cách trả lương như vậy công chức và quan chức Chính phủ luôn có sự so sánh: Mình được trả lương cao hơn người lao động bình thường rất nhiều. Nếu mình tham ô, tham nhũng nữa thì là kẻ vô đạo lý, mất hết liêm, sỉ. Sự so sánh và tự vấn đó đã làm cho quan chức tự tiêu hủy những tham vọng không trong sáng của mình.

    4. Làm cho quan chức không muốn tham nhũng.

 

    ở Singapore muốn tham nhũng một thứ gì đó, dù nhỏ cũng rất phiền hà. Ví dụ, khi khách nước ngoài đến Singapore, nếu họ muốn tặng các quan chức nước chủ nhà một món quà để cảm ơn về sự đón tiếp và thắt chặt mối quan hệ thì món quà đó phải mang ý nghĩa văn hóa với giá trị tiền không nhiều. Món quà nào có giá trị 100 đô la Singapore trở lên là họ từ chối hoặc phải xin phép lãnh đạo cơ quan, nếu đồng ý mới được nhận. Nhưng khi nhận rồi lại phải báo cáo với lãnh đạo cơ quan xem xét. Nếu món quà đó có giá trị tiền quá mức quy định và quan chức đó vẫn muốn nhận thì phải nộp tiền. Số tiền nộp thêm đưa vào tài khoản quỹ “nộp phạt” của Chính phủ.

    Chuyện kể rằng, một phái đoàn quan chức của Chính phủ Singapore được cử sang một nước nọ để ký một hiệp định liên doanh sản xuất. Nhận thấy hiệp định này đem lại nhiều lợi ích cho mình, giới chức nước chủ nhà đã tặng những món quà lưu niệm có giá trị cao cho quan chức đoàn Singapore. Bởi sự quá nhiệt thành của chủ nhà, họ không sao từ chối được. Nhưng cứ nghĩ đến việc khi về nước lại mang quà biếu này đến cơ quan khai báo, phải mua lại và chuyển tiền vào tài khoản quỹ “nộp phạt” thì quả là phiền toái. Cả đoàn đều phải “đành lòng” viết thư cảm ơn và gửi lại quà ở sân bay trước khi trở về Singapore.


Kim Duncan chuyển 

Ta Dừng Cuộc Vui - Đỗ Công Luận

 

Money Has Different Names


In temple or church, it's called donation.

In school, it's fee.

In marriage, it's called dowry.

In divorce, alimony.

When you owe someone, it's debt.

When you pay the government, it's tax.

In court, it's fines.

Civil servant retirees, it's pension.

Employer to workers, it's salary.

Master to subordinates, it's wages.

To children, it's allowance.

When you borrow from bank, it's loan.
When you offer after a good service, it's
tips.
To kidnappers, it's
ransom..
Illegally received in the name of service, it's
bribe

The question is : "when a husband gives to his wife, what do we call it?" 

Answer :

Money given to your wife is called DUTY

and every man has to do his duty because wives are not DUTY FREE !!!... Hahaha. 


[Fun Funky]