Thursday, October 1, 2026

Bà Mẹ Nuôi Người Úc - Đàm Trung Phán

Circular Quay 1962


Khi tôi ngồi viết những dòng chữ này, bầu trời Toronto đang xám xịt, hơi lành lạnh mặc dù đang tháng 8 mùa hè.

Lòng tôi trùng xuống, bèn lấy bút chì ra mà ngồi viết để ghi lại những gì mà người viết đang cảm nhận được.

Hồi đầu năm 1962, nhóm 15 anh chị em Việt Nam chúng tôi trong nhóm Học bổng COLOMBO PLAN Australia tới Sydney, Úc Đại Lợi để chuẩn bị đi học Anh ngữ.

Người viết lúc đó 19 tuổi đầu, rất năng nổ khi học tiếng Anh và đi bộ trong vùng “Circular Quay” tại Sydney để biết thêm về vùng này.

Một hôm, vừa mới bước ra khỏi “Commonwealth Office of Education” tại đường Hunter Street, Sydney, một bà già người Úc tóc bạc phơ đang vẫy tay gọi tôi lại để tôi chỉ đường cho bà đi đến cái thư viện gần đó. May mắn thay cho tôi cũng vừa mới biết đường đường đi đến cái thư viện đó cho nên tôi mới có thể chỉ cho bà đường đi một cách dễ dàng. 

Không biết bây giờ xã Hội bên Úc ra sao; khi tôi đang ở bên Úc thì mọi người thường có phong trào “Morning tea break” và “Afernoon tea break”, giống như dân Bắc Mỹ mình có cái vụ “Morning Coffee break” và “Ầternoon Coffee break” vâyj.

Người viết đã đến “Have a cup of tea” một hôm thứ bảy tại nhà bà. Căn nhà của bà rất khang trang. Ở trong phòng khách có một cái piano rất to. Bà cho tôi biết: bà đã từng là một “pianist” trong một “orchestra” đi biểu diễn tại nhiều thành phố ở bên Úc cũng như bên Anh và châu Âu.

Hiện tại, bà đang sống một mình sau khi ông chồng đã mất và các con bà đã khôn lớn “xổng chuồng chim bay”…

Lúc đó tôi mới biết danh tính của bà: Madame Hanakein, gốc Hà Lan. Bà hỏi thăm tôi về gia đình tôi ở Việt Nam. Tôi có cảm giác như mình đang gặp một cụ bà ngoại quốc mà nói chuyện với mình như hai mẹ con với nhau vậy: mẹ là người Úc da trắng, nói tiếng Anh với đứa con trai da vàng gốc Việt Nam. 

Trước khi tôi về, bà nắm chặt tay tôi và nhắc tôi nên đến thăm bà thường xuyên. 

Là một đứa con trai mất mẹ khi tôi mới 13 tuổi, tôi cảm nhận được sự ân cần, dặn dò của một bà mẹ tuy khác màu da nhưng phần tình cảm của hai mẹ con với nhau, tôi cảm nhận ra ngay điều đó. 

Lúc đó, ở Việt Nam, cha tôi đã 65 tuổi, suốt ngày chờ thư của anh tôi (cố giáo sư Đàm Trung Pháp) viết thư từ Mỹ và tôi mới chân ướt, chân ráo tới đất ÚC.

Định mệnh đã an bầy: sinh viên ngoại quốc khi đến bên Úc hay bên Mỹ muốn được vào học tại một đại học nào đều phải nộp đầy đủ các hồ sơ và nhất là phải chuẩn bị cho kỳ thi tuyển chọn bằng tiếng Anh! Có nghĩa là tôi phải học và thi kỳ “Entrance exam” này: phải đậu thì mới được nhập học tại Đại học New South Wales! Lo muốn chết…

Mỗi tuần, tôi phải cố gắng viết một lá thư về thăm cha già. Vì lẽ đó, tôi không thể có đủ thì giờ để đến thăm Madame Hanakein như đã hứa. Bà biết điều đó, cho nên bà thường hay gọi điện thoại cho tôi qua điện thoại của bà chủ nhà trọ. 

Sau khi tôi đã vào được đại học, tôi phải dọn vào nội trú cho đỡ mất thì giờ và tôi mất liên lạc với bà Hanekein vì tôi phải học suốt ngày, đêm.

Hè năm thứ nhất, tôi kiếm được một việc làm trong một xưởng máy làm cái “Sunbeam blender”. Đi làm để có thêm tiền tiêu vì ở trong “ký túc xá” khá tốn kém so với số tiền nhận được từ học bổng.

Lúc này tôi vẫn còn phải viết thư đều đều cho cha tôi. Bận thì vẫn bận, nhưng thật là may mắn: Minh và tôi là 2 “roommates” cùng đậu năm thứ nhất (nhiều năm sau khi ra trường, đọc tin tức của ĐH New South Wales, mới biết là 50% sinh viên Phân Khoa Kỹ sư đã trượt năm thứ nhất)! ĐH không có đủ chỗ cho sinh viên và chương trình quá “nặng ký”!

Mùa hè năm Thứ Hai, khi tôi đang đi thực tập ngành công chánh tại nhà đèn “Munmorah Power Station” trong nội địa Úc, tôi nhận được một lá thư và thiệp cưới do bà Hanakein gửi cho tôi. Bà mời tôi đến dự đám cưới của đứa cháu trai của bà mà tôi đã có dịp gặp ở nhà bà.

Sau khi nhận được thư mời đi dự đám cưới, tôi trả lời bà ngay lập tức và hỏi bà làm sao mẹ biết địa chỉ của con. Bà cho biết: mẹ gửi đến Đại học New South Wales, ngành Civil Engineering, nhờ họ chuyển đến cho con để mẹ con mình có thể liên lạc được với nhau. Ướt mi!

Chẳng lẽ mẹ tôi đã “dàn dựng” những cuộc gặp gỡ này để bà mẹ nuôi Hanekein và cá nhân người viết đỡ cảm thấy trống vắng khi phải sống một mình và bà Hanekein đã là một “đại sứ” thay mặt mẹ tôi mỗi khi chúng tôi có dịp trò chuyện với nhau?


Tôi đang chờ một chuyến bay một chiều và cũng đang mong mỏi được gặp lại cha tôi,  mẹ tôi và bà mẹ tóc bạch kim, da trắng người Úc dịu dàng như một bà mẹ Viêt Nam…Lòng tôi ấm lại, ấm áp vô cùng!


Đàm Trung Phán

Aug.15, 2026

Toronto, Canada

Wednesday, September 30, 2026

Video Cuộc Viếng Thăm Của Đức Giáo Hoàng Léô XIV Tại Pháp, Vào Tháng 9 2026 - Nguyễn Duy Phước

Mời xem hình ảnh cuộc viếng thăm nước Pháp của Đức Giáo Hoàng Léô XIV từ 25-09 đến 28-09-2026.
NdP

Tiếng Mô Tô Ở Cuối Hành Lang - Phạm Sơn Liêm


 Đêm ấy, bệnh viện gần như đã ngủ.

  Ngoài cửa sổ phòng 314, ánh đèn của bãi đậu xe hắt lên những thân cây khô. Gió cuối mùa lùa qua những khe cửa, mang theo tiếng xe chạy xa dần trên đại lộ.
 Trong căn phòng nhỏ, một ông già nằm bất động. Tên ông là James Walker.
Tám mươi chín tuổi. Một cựu Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.
  Ngày còn trẻ, ông từng mang súng đến những nơi mà người ta chỉ nghe tên cũng thấy sợ. Ông từng đặt chân lên những bãi biển đầy khói lửa, từng nhìn thấy những người lính trẻ hơn mình ngã xuống trước mặt.
Nhưng những chuyện ấy đã cách ông quá xa.
Xa đến mức, đôi khi chính ông cũng tự hỏi:
Có thật mình đã từng ở đó không?
Ba tuần rồi không có ai đến thăm. Không một người con.
Không một người vợ. Không một người bạn. Không một bó hoa. Không một tấm thiệp.
Chỉ có tiếng máy theo dõi nhịp tim đều đều bên cạnh giường.
Tít…
Tít…
Tít…
James mở mắt.
Ông nhìn lên trần nhà.
— Có ai đến chưa?
Cô y tá trẻ đứng bên cạnh khựng lại. Cô tên Katie.
Đó là câu hỏi James đã hỏi cô rất nhiều lần trong những ngày qua. Lần nào cô cũng phải trả lời:
— Chưa, ông James.
Ông im lặng.
Một lúc sau, ông lại hỏi:
— Ngày mai… có ai đến không?
Katie không biết phải trả lời thế nào. Cô bước tới, kéo chăn lên cho ông.
— Có thể.
James mỉm cười rất nhẹ. Một nụ cười của một người đã không còn đủ sức để hy vọng.
— Tôi từng nghĩ chết là điều đáng sợ nhất.
Ông ngừng lại để thở.
— Nhưng hóa ra… không phải.
Katie cúi xuống.
— Vậy điều gì đáng sợ nhất, ông?
James nhìn ra cửa sổ.
— Là chết mà không có ai nhớ mình từng sống.
Câu nói ấy khiến Katie quay mặt đi. Cô không muốn ông nhìn thấy mắt mình đỏ.
  Đêm đó, sau ca trực, Katie ngồi trong xe rất lâu. Cô nghĩ về người đàn ông trong phòng 314. Một người từng mặc quân phục. Từng ôm súng. Từng chiến đấu cho đất nước. Vậy mà giờ đây, đến lúc gần nhắm mắt, ông chỉ còn một mình.
Katie lấy điện thoại. Cô viết một dòng. Rồi xóa. Viết lại.
Rồi lại xóa.
Cuối cùng, cô đăng lên một nhóm cộng đồng địa phương:
“Có một cựu chiến binh 89 tuổi đang nằm ở bệnh viện. Ông từng chiến đấu ở Thái Bình Dương. Ông không còn người thân bên cạnh. Ông thường hỏi tôi rằng có ai đến thăm ông không.
Ngày mai có thể ông sẽ không còn nữa. Nếu ai đó từng là đồng đội của ông, hoặc chỉ đơn giản là một người muốn nắm tay ông trong những giờ cuối cùng… xin hãy đến.”
Katie đặt điện thoại xuống.
Cô không nghĩ sẽ có chuyện gì xảy ra. Nhưng chỉ vài giờ sau, điện thoại bắt đầu rung.
Một tin nhắn.
Rồi mười tin.
Rồi hàng trăm.
Một người đàn ông tên Mike gọi cho cô.
— Cô là y tá Katie?
— Vâng.
— Ông ấy còn ở đó không?
— Vẫn còn.
— Chúng tôi sẽ đến.
— Ai vậy?
Mike im lặng vài giây.
— Những người từng mặc quân phục.
  Sáng hôm sau, tiếng động cơ xuất hiện ngoài bãi đậu xe.
Một chiếc.
Rồi hai chiếc.
Rồi năm chiếc.
Mười chiếc.
Những chiếc mô tô nối nhau chạy vào.
Người mặc áo da.
Người tóc bạc.
Người còn trẻ.
Người chống gậy.
Trên lưng áo họ là những phù hiệu của các hội cựu chiến binh.
Có người lái xe suốt đêm từ một tiểu bang khác.
Có người vừa tan ca đã lên đường.
Có người không biết James là ai.
Nhưng họ biết một điều. Ông ấy từng là lính. Thế là đủ.
Hai mươi người bước vào bệnh viện. Họ đứng quanh phòng 314.
Không ai nói lớn.
Không ai chụp hình.
Không ai đến để được cảm ơn.
  Big Mike bước tới bên giường. Ông nhìn James thật lâu.
— Chào anh.
James mở mắt.
— Anh là ai?
Mike kéo ghế ngồi xuống.
Nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của ông.
— Tôi là Mike.
James nhìn xuống bàn tay mình đang được nắm.
— Chúng ta quen nhau sao?
Mike lắc đầu.
— Chưa.
Rồi ông mỉm cười.
— Nhưng từ hôm nay thì quen.
James nhìn ông thật lâu.
Hai mắt già nua bắt đầu ướt.
  Đến tối, nhân viên bảo vệ bước vào.
— Giờ thăm đã hết.
Không ai đứng dậy.
— Tôi nói giờ thăm đã hết.
Big Mike vẫn ngồi đó.
Bàn tay ông vẫn nắm lấy tay James.
— Chúng tôi biết.
— Vậy xin mời mọi người rời khỏi đây.
Mike nhìn ông bảo vệ.
— Chúng tôi sẽ không làm phiền ai.
— Đây là quy định của bệnh viện.
Mike gật đầu.
— Tôi hiểu.
Ông quay nhìn James.
Rồi nói rất chậm:
— Nhưng người này đã từng đứng gác cho chúng ta.
Căn phòng im lặng.
— Đêm nay, chúng tôi đứng gác cho ông ấy.
Nhân viên bảo vệ không nói được gì.
  Một lúc sau, cảnh sát đến.
Hai viên sĩ quan đứng ngoài cửa. Một người nói:
— Các ông phải rời đi.
Một người trong nhóm bước lên.
— Anh ấy là lính.
Viên cảnh sát nhìn vào trong.
Ông thấy những người đàn ông mặc áo da. Những mái đầu bạc. Những đôi mắt đỏ vì thức trắng.
Ông thấy một người đang chỉnh lại chiếc gối cho James.
Một người khác rót nước.
Một người ngồi đọc Thánh Kinh.
Một người chỉ đơn giản ngồi im.
Nắm tay ông già.
Viên cảnh sát hỏi:
— Ông ấy là ai?
Katie trả lời:
— James Walker.
— Có gia đình không?
Katie lắc đầu.
— Không còn ai.
Viên cảnh sát nhìn James. Rồi nhìn những người đang đứng quanh giường.
Ông thở dài.
— Vậy thì…
Ông bước sang một bên.
— Để họ ở lại.
Không ai nói gì.
Nhưng Big Mike khẽ gật đầu.
  Ba ngày. Những chiếc mô tô thay nhau đến.
Người đến.
Người về.
Người khác lại đến.
Không để bàn tay James lạnh. Họ kể chuyện.
Có người kể về những con đường dài hàng ngàn dặm.
Có người kể về một người bạn đã không trở về.
Có người kể về ngày cuối cùng mình mặc quân phục.
Có người không nói gì.
Chỉ ngồi đó.
Đôi khi James tỉnh lại. Ông nhìn những khuôn mặt xa lạ.
— Các anh… là ai?
Mike cười.
— Anh em.
James nhắm mắt.
Một lúc sau ông nói:
— Tôi không còn anh em.
Mike siết nhẹ bàn tay ông.
— Bây giờ có rồi.
  Đêm thứ ba. Ngoài trời mưa nhẹ. Phòng 314 chỉ còn ánh đèn vàng.
James bỗng mở mắt. Ông nhìn quanh. Hai mươi người đàn ông vẫn ở đó.
Ông nhìn Big Mike.
Môi ông run run.
— Tôi tưởng…
Ông phải lấy hơi.
— Tôi tưởng tôi sẽ chết một mình.
Mike cúi xuống.
— Không đâu.
James nhìn ông. Một giọt nước mắt chảy xuống thái dương.
— Tôi đã rất sợ.
Mike cúi đầu.
— Không sao.
— Tôi đã từng không sợ chết.
— Tôi biết.
— Nhưng… James ngừng lại.
— Tôi sợ không có ai nhớ tôi.
Mike đưa tay lau nước mắt cho ông.
— Chúng tôi sẽ nhớ.
James khẽ cười.
Rồi bàn tay ông siết lấy tay Mike.
Một cái siết rất nhẹ.
Nhưng đủ để Mike hiểu. Đó là lời chào. Cũng là lời cảm ơn.
Nhịp tim trên máy bắt đầu chậm lại.
Tít…
…
Tít…
…
Rồi một khoảng im lặng. James ra đi lúc gần sáng.
Không tiếng kêu.
Không đau đớn.
Không cô độc.
Hai mươi người đàn ông đứng quanh giường.
Không ai khóc thành tiếng.
Mike cúi xuống.
Ông đặt bàn tay James lên ngực người lính già.
— Nghỉ đi, anh bạn.
Ông nghẹn giọng.
— Ca trực của anh hết rồi.
  Một tuần sau, họ lại gặp nhau. Không phải trong bệnh viện. Mà tại nghĩa trang cựu chiến binh. Hơn một trăm chiếc mô tô nối thành một hàng dài.
Động cơ nổ đều.
Brừm…
Brừm…
Brừm…
Chiếc xe tang từ từ đi qua.
Không ai biết James Walker trước ngày hôm đó.
Nhưng hôm ấy, cả một đoàn người đưa ông về nơi cuối cùng.
Một người lính.
Một con người.
Một cuộc đời.
Không còn bị lãng quên.
  Một tháng sau, Katie trở lại phòng 314. Một cựu chiến binh khác đang nằm trên chiếc giường ấy. Ông ta cũng không có ai đến thăm.
Katie đứng ngoài cửa. Rồi cô nghe tiếng ghế kéo. Có người đang ngồi bên giường.
Cô bước vào.
Một người đàn ông mặc áo da.
Một bàn tay đang nắm lấy bàn tay người bệnh.
Katie không cần hỏi. Cô biết họ là ai.
Ngoài bãi đậu xe, một chiếc mô tô vừa tắt máy.
Rồi chiếc thứ hai.
Chiếc thứ ba.
Katie mỉm cười.
Bây giờ cô hiểu. Có những người lính khi còn trẻ đã chiến đấu để bảo vệ tự do.
Nhưng có những người, đến cuối đời, vẫn còn một trận chiến khác phải chiến đấu.
Chiến đấu để không một người lính nào phải chết trong cô độc.
Và đôi khi… trận chiến ấy không cần súng. Chỉ cần một bàn tay.
Một chiếc ghế.
Một người chịu ngồi lại.
Và một lời nói:
“Anh không một mình đâu.”
Ngoài kia, tiếng động cơ lại vang lên.
Không còn là tiếng của những người nổi loạn.
Không phải tiếng thách thức.
Mà là tiếng của một lời hứa.
Rằng dù cuộc chiến đã kết thúc từ rất lâu…

Tinh huynh đệ của những người từng mặc quân phục sẽ không bao giờ kết thúc.


Phạm Sơn Liêm

Hạnh Phúc Là Gì? - T.mantu

 

Hạnh phúc là buổi sớm

Mở mắt thấy an nhiên

Một hơi thở thật nhẹ

Cũng đủ ấm lòng riêng.

 

Hạnh phúc là rất khẽ

Khi buông xuống muộn phiền

Không cần thêm gì nữa

Chỉ cần lòng bình yên.

 

Hạnh phúc không quá lớn

Chẳng ở tận chân trời

Đôi khi là chén nước

Giữa lúc lòng chơi vơi.

 

Hạnh phúc là hiểu được

Sau giông gió cuộc đời

Nước mắt rơi lặng lẽ

Dạy ta biết mỉm cười.

 

Hạnh phúc không phải giữ

Mọi thứ ở bên mình

Mà là khi dám mất

Vẫn thấy lòng lặng thinh.

 

Hạnh phúc là chia sẻ

Một ánh nhìn, bàn tay

Cho đi mà không đợi

Nhận lại điều gì ngay.

 

Hạnh phúc đôi khi lạ

Chỉ một phút dừng chân

Nghe tim mình rất thật

Không vướng bận, phân vân.

 

Đừng đi tìm xa quá

Hạnh phúc vốn đang gần

Ngay trong từng khoảnh khắc

Ta sống thật với tâm.

 

Rồi một ngày sẽ hiểu

Giữa thế gian xoay vần

Hạnh phúc không rực rỡ

Chỉ cần… đủ ấm lòng.


T.mantu 

(1) HẠNH PHÚC LÀ GÌ? Hạnh phúc là buổi sớm... - An Nhiên Giữa Dòng Đời | Facebook

Tuesday, September 29, 2026

Vào Viện Dưỡng Lão - Trần Văn Giang Ghi Lại

 


Lời giới thiệu

Đây là một câu chuyện dài, thật buồn rất đáng đọc; nhưng cũng là một bài học lớn về việc yêu thương và tôn trọng người cao niên; đồng thời tìm cách giúp họ duy trì tự do và phẩm giá trong cuộc sống còn lại.
Có người nói "Viện dưỡng lão là phòng khách của địa ngục!?" Hay là "Thôi già rồi thì đành phải chịu thôi... Than vãn làm gì nữa hè!"
Đúng hay sai cũng còn tùy mỗi hoàn cảnh…
TVG
*
Nếu chỉ có một điều trong đời mà tôi thực sự hối tiếc thì đó chính là bước chân vào Viện dưỡng lão.
Năm nay tôi 82 tuổi. Tóc tôi đã bạc trắng, chân cũng không còn nhanh nhẹn như xưa, nhưng tâm trí vẫn còn minh mẫn lắm. Tôi từng nghĩ rằng tuổi giả chỉ đơn giản là một hành trình nhẹ nhàng khi con người ta được tận hưởng quãng thời gian cuối đời trong sự thanh thản. Nhưng mà không. Tôi đã sai và sai lầm lớn nhất đời tôi chính là rời bỏ căn nhà mà tôi đã gắn bó suốt hơn nửa cuộc đời để bước vào nơi mà người ta vẫn hay gọi là chốn “An dưỡng tuổi già.”

Ban đầu tôi không có ý định vào Viện dưỡng lão vì tôi còn đủ sức chăm sóc bản thân, mặc dù hơi chậm chạp hơn trước một chút. Nhưng rồi con cái tôi, những đứa con mà tôi đã nuôi nấng bằng tất cả yêu thương, lại bảo rằng đưa tôi vào đó là cách tốt nhất để tôi có một cuộc sống thoải mái, được chăm sóc đầy đủ không phải lo nghĩ gì nữa. Con gái tôi nắm lấy tay tôi với ánh mắt đầy lo lắng, nhưng cũng có chút thúc giục, nói:
- “Mẹ vào đó đi. Ở đó có người chăm sóc; Có bác sĩ; Có bạn bè trò chuyện; Ở nhà một mình lỡ có chuyện gì không ai biết được?”
Tôi đã do dự rất lâu. Căn nhà nhỏ của tôi tuy cũ nhưng đó là nơi lưu giữ bao nhiêu kỷ niệm. Chiếc tủ gỗ do chồng tôi tự tay đóng từ thời trẻ. Góc bếp nơi tôi vẫn nấu những bữa ăn ấm cúng cho gia đình. Chiếc ghế dựa cũ kỹ cạnh cửa sổ nơi tôi hay ngồi đọc báo vào mỗi buổi sáng… Làm sao tôi có thể rời bỏ những kỷ niệm đó. Nhưng rồi tôi cũng xuôi lòng. Tôi tin vào lời con cái. Tôi tin rằng vào Viện dưỡng lão tôi sẽ có một cuộc sống tốt hơn. Tôi tin rằng mình sẽ được chăm sóc chu đáo, được trò chuyện, được an yên…

Vậy mà ngay khi cánh cửa Viện dưỡng lão khép lại sau lưng, tôi đã nhận ra một sự thật cay đắng. Nơi đây không phải là nhà và có lẽ tôi đã không còn đường quay lại. Bạn có bao giờ tự hỏi điều gì sẽ xảy ra khi một người giả đánh mất tất cả những gì quen thuộc, những thứ làm nên cuộc sống của mình. Tôi cũng từng là người không nghĩ đến điều này cho đến khi chính mình rơi vào hoàn cảnh hiện tại.

Tôi ước chi có ai đó đã nói cho tôi biết trước khi tôi bước vào Viện dưỡng lão. Nếu bạn hiện ,đang cân nhắc về việc sẽ “Vào Viện dưỡng lão,” dù cho chính mình hay cho người thân, hãy nghe câu chuyện của tôi trước khi quyết định. Vì một khi bạn bước vào Viện dưỡng lão thì cuộc sống của bạn sẽ không bao giờ còn như trước nữa. Tôi muốn kể cho bạn nghe “Sáu (6) điều mà tôi hối tiếc” như sau.

Hối tiếc 1: Đã mất đi sự tự do.
Sáng hôm đó tôi thức dậy trên một chiếc giường lạ. Tôi vươn vai theo thói quen định bước ra bên hiên nhả để hít thở chút không khí buổi sáng. Nhưng rồi tôi chùng lại vì không có hiên nhà nào cả. Không có ánh nắng nhẹ nhàng len qua khung cửa sổ quen thuộc. Không có tiếng chim ríu rít trên mái hiên. Chỉ có bốn bức tường trống trơn và mùi Thuốc khử trùng thoang thoảng trong không khí.

Phải mất một lúc để tôi nhớ ra là tôi không còn ở nhà mình nữa. Tôi đã ở Viện dưỡng lão. Cảm giác xa lạ ấy không biến mất sau một ngày, một tuần, hay thậm chí một tháng. Mọi thứ trong Viện dưỡng lão đều vận hành theo một lịch trình cứng ngắc mà tôi không có quyền thay đổi: 7:00 sáng nhân viên y tế mở cửa bước vào đánh thức tôi dù tôi chưa muốn dậy; 7:30 bữa sáng được mang đến dù tôi không hề đói; 9:00 có một buổi sinh hoạt chung nơi mọi người ngồi nghe nhạc hoặc tập thể dục nhẹ; 1:00 ăn trưa dù tôi thích món khác hơn tôi vẫn phải ăn thứ được mang ra. Mọi thứ đều có sẵn nhưng tôi chẳng được lựa chọn gì cả. Tôi không còn có thể nấu món canh khổ qua nhồi thịt mà tôi vẫn thích; Không thể uống trà vào buổi chiều như tôi vẫn hay làm; Không thể đơn giản đi bộ ra đầu ngõ mua một túi bánh khi thèm một chút đồ ngọt; Ngay cả việc muốn ra đi ngoài cũng phải xin phép và chờ có người hỗ trợ (?).
Tôi nhớ ngày đầu tiên ở đây tôi đã định ra ngoài đi dạo một chút nhưng cửa đã khóa. Một nhân viên nói tôi:
- “Bác cần ra ngoài ạ? Để con gọi người dẫn bác đi.”
Tôi sững sờ. Tôi cần ai đó dẫn đi để bước ra ngoài sao? Dù chỉ là một đoạn đường ngắn thôi. Dần dần tôi hiểu ra ở đây tôi không còn được quyết định cho chính mình nữa. Từ một người có thể tự do làm mọi thứ, tôi trở thành một người phải chờ đợi người khác quyết định giúp mình. Cảm giác mất đi sự tự do không ập đến ngay lập tức. Nó len lỏi vào từng chi tiết nhỏ nhặt của cuộc sống nó khiến tôi nhận ra những thứ đơn giản nhất như tự chọn giờ ăn; Tự quyết định hôm nay sẽ làm gì là những điều tôi từng xem là hiển nhiên, nhưng giờ lại là một thứ xa xỉ.

Rồi tôi bắt đầu quen dần với việc không thể tự do ra ngoài; Quen với việc phải ăn thứ được đưa ra dù tôi không thích; Quen với việc ngồi chờ đến giờ ngủ dù tôi chưa muốn ngủ. Nhưng bạn cũng biết: Không quen, không có nghĩa là chấp nhận. Có những đêm tôi nằm trên giường mắt mở trừng trừng nhìn lên trần nhà. Tôi nhớ lại những ngày còn ở nhà khi tôi có thể tự tay mở cánh cửa nhà mình bất cứ lúc nào. Khi tôi có thể tự quyết định hôm nay sẽ làm gì khi tôi vẫn còn là người làm chủ cuộc đời mình. Giờ đây tôi chỉ là một cái tên trên một danh sách, một phần trong hệ thống người già phụ thuộc vào lịch trình của người khác.

Nếu bạn đang cân nhắc đưa cha mẹ mình vào Viện dưỡng lão hoặc chính bạn đang nghĩ đến điều đó. Hãy tự hỏi bạn có sẵn sàng đánh đổi sự tự do của mình để lấy sự tiện lợi không? Bạn có thể chịu đựng được cảm giác mỗi ngày trôi qua mà không thực sự được quyết định điều gì trong cuộc sống của mình không? Vì một khi bạn đã đánh mất sự tự do thì việc lấy lại nó gần như là không thể được.

Hối tiếc 2: Cảm giác bị lãng quên.
Những ngày đầu tiên ở Viện dưỡng lão tôi vẫn còn niềm tin. Tôi tin rằng dù có xa nhà tôi vẫn sẽ được con cháu quan tâm. Tôi tin rằng dù ở một nơi khác, tình cảm gia đình vẫn không thay đổi. Ban đầu thì đúng như vậy.
Tuần đầu tiên con gái tôi đến thăm nó mang theo ít bánh ngọt, một hộp sữa và ngồi trò chuyện với tôi suốt cả buổi chiều. Nó hỏi tôi ánh mắt đầy quan tâm:
- “Mẹ có quen không? Mọi thứ ổn chứ?”
Tôi mỉm cười gật đầu vì tôi không muốn nó lo lắng. Cuối tuần đó, các cháu tôi cũng đến. Chúng ríu rít kể chuyện trường lớp. Chúng ôm tôi rồi chụp vài tấm ảnh. Tôi cảm thấy lòng mình ấm áp. Tôi tự nhủ mình không cô đơn đâu. Mọi người vẫn sẽ nhớ đến mình… Nhưng rồi những lần thăm hỏi cứ thưa dần đi. Tuần thứ hai con gái tôi bận công việc. Nó chỉ gọi điện thoại dặn dò vài câu rồi gác máy. Tuần thứ ba cháu tôi nói nó có bài thi ở trường không thể đến thăm Ngoại. Đến tuần thứ tư thì chẳng còn ai ghé nữa. Tôi bắt đầu đếm từng ngày mong chờ có ai đó mở cánh cửa phòng nói với tôi rằng “Mẹ ơi con đến rồi.” Hoặc “Ngoại ơi. Con nhớ Ngoại lắm…” Nhưng cửa vẫn đóng, điện thoại vẫn im lặng.

Rồi tôi nhận ra tôi không phải là người duy nhất rơi vào tình cảnh này. Tôi thấy những cụ già khác cũng ngồi lặng lẽ bên cửa sổ; Đôi mắt nhìn ra xa chờ đợi một bóng dáng quen thuộc. Tôi nghe những câu chuyện thì thầm” “Thằng con tôi nói cuối tuần này nó tới; nhưng rồi lại báo là bận”; “Hôm nay là sinh nhật tôi mà chắc chẳng có ai nhớ đâu?”… Và tôi hiểu rằng một khi đã vào Viện dưỡng lão rất dễ để người ta lãng quên mình. Không phải vì con cháu không yêu thương tôi nữa. Tôi biết chúng vẫn yêu tôi, nhưng cuộc sống bận rộn khiến chúng dần dần xem sự vắng mặt của tôi là chuyện hiển nhiên.

Lần đầu tiên tôi thực sự cảm nhận được điều này là vào dịp Tết. Những năm trước, vào ngày 30 Tết, tôi sẽ cùng con gái gói bánh, quét dọn bàn thờ tổ tiên, chuẩn bị mâm cơm cúng mọi thứ luôn rộn ràng ấm áp. Nhưng năm nay tôi ngồi một mình trong căn phòng nhỏ của Viện dưỡng lão lắng nghe tiếng pháo vọng từ xa. Không ai đến đón tôi về nhà. Không ai nhớ rằng Tết của tôi không phải là ăn một phần cơm cứng ngắc trong bữa ăn tập thể mà là những khoảnh khắc bên con cháu; Là mùi hương trầm nghi ngút trong nhà.
Lúc đó tôi mới thực sự hiểu một khi bạn rời khỏi cuộc sống thường ngày của con cái, bạn cũng rời khỏi những thói quen của họ. Họ sẽ tiếp tục với công việc với gia đình nhỏ của họ họ sẽ nhớ đến bạn nhưng không còn là mỗi ngày. Họ sẽ vẫn yêu thương bạn, nhưng không còn dành thời gian cho bạn như trước và rồi dần dần bạn trở thành một cái tên trong ký ức của họ - Một điều gì đó quan trọng nhưng không còn là ưu tiên.

Nếu bạn đang nghĩ đến việc vào Viện dưỡng lão hoặc định gửi cha mẹ mình vào đó, hãy tự hỏi là bạn có sẵn sàng sống những năm tháng cuối đời trong sự mong chờ mà không biết khi nào người thân sẽ đến thăm bạn. Có chắc rằng dù bạn không còn ở nhà con cháu vẫn sẽ đến gặp bạn thường xuyên như họ hứa bởi vì một khi bạn bước vào nơi này, cuộc sống ngoài kia sẽ tiếp tục nhưng không còn có bạn trong đó.

Hối tiếc 3: Mất đi ý nghĩa cuộc sống.
Tôi từng nghĩ rằng khi về già, con người ta chỉ cần một nơi yên tĩnh để nghỉ ngơi. Tôi từng tin rằng không phải làm gì cả là một điều tốt… Nhưng không phải vậy. Ngày còn ở nhà tôi luôn có việc để làm. Sáng thức dậy tôi pha một ấm trà; Tưới mấy chậu cây ngoài hiên; Rồi tự nấu một bữa ăn đơn giản; Tôi có thể ra chợ đi dạo trò chuyện với hàng xóm; Tôi có thể tự tay thu dọn nhà cửa giặt rũ quần áo sắp xếp lại những kỳ vật cũ… Những điều nhỏ nhặt ấy khiến tôi cảm thấy mình vẫn còn giá trị, vẫn có một mục đích sống. Nhưng khi bước vào Viện dưỡng lão mọi thứ đột nhiên dừng lại.
Tôi không cần phải nấu ăn nữa vì bữa ăn được đưa đến tận nơi dù tôi có thích hay không; Tôi không cần phải quét dọn nữa; Nhân viên vệ sinh làm tất cả rồi; Tôi không cần lo lắng gì cả nhưng tôi cũng chẳng còn gì để làm. Ban đầu tôi nghĩ đây là một điều tốt (!); Cuối cùng thì mình cũng được nghỉ ngơi. Nhưng chỉ sau vài tuần, tôi bắt đầu cảm thấy trống rỗng. Buổi sáng thức dậy, tôi chẳng biết hôm nay mình sẽ làm gì? Tôi ngồi trên giường nhìn quanh căn phòng nhỏ tự hỏi mình có thực sự còn ý nghĩa gì không?

Tôi không phải người duy nhất cảm thấy như vậy. Tôi nhớ có một bác tên Minh trước đây là một thầy giáo. Lúc còn ở nhà bác vẫn dạy kèm mấy đứa trẻ trong xóm vẫn đọc sách mỗi ngày. Nhưng khi vào đây, bác chẳng còn học trò cũng chẳng còn sách vở mỗi ngày. Bác chỉ ngồi yên trên chiếc ghế cũ, lặng lẽ nhìn ra ngoài cửa sổ. Một lần tôi hỏi bác không định làm gì sao? Đọc sách viết gì đó chẳng hạn? Bác thở dài:
- “Tôi cũng muốn lắm nhưng chẳng ai cần tôi nữa. Không có ai để dạy. Không có ai để chia sẻ. Tôi dần dần quên mất mình là ai.”
Câu nói ấy ám ảnh tôi. Một người từng là thầy giáo; Một người đầy tri thức từng cống hiến cả đời cho học trò giờ đây ngồi lặng lẽ trong căn phòng nhỏ tự hỏi mình còn ý nghĩa gì nữa không? Tôi chợt nhớ lại những người bạn đồng niên ngày xưa. Một bác từng là thợ mộc ngày nào cũng sửa chữa đóng bàn ghế; Một cô từng là thợ may lúc nào cũng bận rộn với kim chỉ. Nhưng khi vào đây tất cả đều trở thành những con người ngồi chờ thời gian trôi qua. Không phải vì họ không muốn làm gì mà vì ở đây chẳng có gì để làm cả.

Dần dần tôi hiểu ra một điều con người không chỉ cần ăn uống và ngủ để tồn tại. Chúng ta cần có một mục đích một lý do để thức dậy mỗi sang; Một điều gì đó để mong chờ nhưng ở Viện dưỡng lão những thứ ấy dần dần bị lấy đi.
Nếu bạn đang nghĩ đến việc vào Viện dưỡng lão thì hãy tự hỏi điều gì khiến cuộc sống của bạn có ý nghĩa? Bạn có thể sống mà không có trách nhiệm; Không có công việc gì để làm; Không có ai cần đến bạn không? Vì khi đã mất đi ý nghĩa cuộc sống bạn không còn thực sự sống nữa. Bạn chỉ đang tồn tại.

Hối tiếc 4: Sức khỏe suy giảm nhanh hơn mong đợi.
Trước khi vào Viện dưỡng lão tôi vẫn còn khá khỏe so với tuổi của mình. Tôi không thể chạy nhanh như thời trẻ, nhưng tôi vẫn có thể tự đi chợ tự nấu ăn tự làm những công việc nhỏ trong nhà mỗi sáng. Tôi vẫn có thói quen đi bộ quanh khu phố để giữ cho chân cứng cáp. Nhưng mọi thứ thay đổi nhanh hơn tôi tưởng.

Ngày đầu tiên vào Viện dưỡng lão, tôi nhận ra mình không cần phải làm gì nữa: Bữa ăn đã có người mang đến tận phòng không cần phải đi chợ, không cần đứng bếp, có nhân viên chăm sóc. Nếu tôi cần gì chỉ cần bấm nút sẽ có người giúp ngay không cần phải đi bộ xa vì mọi thứ đều ở ngay trong khuôn viên chỉ vài bước chân. Nghe qua thì có vẻ như một cuộc sống lý tưởng; Nhưng chính sự thoải mái đó đã làm cho cơ thể tôi yếu đi nhanh chóng. Ban đầu, tôi chỉ nghĩ rằng mình được nghỉ ngơi; Nhưng rồi chỉ sau vài tháng tôi bắt đầu cảm thấy hai chân mình yếu hơn, đi lại chậm hơn, thậm chí đứng lên cũng thấy khó khăn hơn.

Rồi tôi bắt đầu để ý đến những người xung quanh. Có một bà tên Lành ngày đầu vào đây bà vẫn còn nhanh nhẹn tự đi lại bình thường nhưng chỉ sau vài tháng bà bắt đầu dựa vào gậy để đi rồi dùng xe lăn và cuối cùng thì bà không còn đủ sức đứng lên một mình nữa. Một ngày nọ, bà nhìn tôi cười buồn. Tôi không biết nó xảy ra từ khi nào, nhưng tôi có cảm giác như mình già đi cả chục năm chỉ sau vài tháng.
Lúc còn ở nhà, dù tôi không tập thể dục nhiều nhưng ít nhất tôi vẫn di chuyển vẫn phải tự làm mọi thứ. Điều đó giúp cơ thể tôi duy trì được sự linh hoạt. Nhưng khi vào đây, tôi ít vận động hẳn. Tôi bắt đầu ngồi nhiều hơn, và cũng nằm nhiều hơn. Rồi tôi nhận ra cơ bắp của mình dần yếu đi. Có một bác sĩ từng nói với tôi:
- “Cụ biết không, khi một người già ngừng vận động họ sẽ mất khả năng vận động nhanh hơn gấp nhiều lần so với người trẻ. Cơ thể con người vốn dĩ cần được hoạt động. Khi cụ ngừng đi lại ngừng làm việc cơ thể cụ sẽ bắt đầu suy yếu.”
Đúng vậy. Nếu tôi biết trước điều này tôi sẽ cố gắng vận động nhiều hơn ngay cả khi đã vào đây. Nhưng vấn đề là môi trường này không khuyến khích điều đó. Khi mọi thứ đều được làm sẵn người ta sẽ dần quên mất cách tự chăm sóc chính mình.
Nếu bạn đang cân nhắc Viện dưỡng lão, hãy tự hỏi bạn có còn động lực để duy trì sức khỏe khi mọi thứ đã được làm thay cho bạn không? Bạn có đủ mạnh mẽ để tự thúc ép mình vận động ngay cả khi không còn ai nhắc nhở? Vì một khi bạn ngừng sử dụng cơ thể mình bạn sẽ bắt đầu mất đi; và đến khi nhận ra điều đó có thể đã quá muộn để lấy lại.

Hối tiếc 5: Mất đi sự riêng tư.
Còn nhớ ngày còn ở nhà, tôi có một căn phòng riêng, một không gian của riêng tôi. Tôi có thể đóng cửa bất cứ khi nào tôi muốn nếu tôi thấy mệt. Tôi có thể nằm dài cả buổi mà không ai làm phiền. Nếu tôi muốn tắm tôi chỉ cần bước vào phòng tắm mà không cần xin phép ai. Tôi tự quyết định mình làm gì khi nào và như thế nào. Nhưng khi bước vào Viện dưỡng lão, tôi nhận ra rằng sự riêng tư là một thứ xa xỉ. Tại đây cánh cửa phòng không bao giờ thực sự thuộc về tôi nữa. Nhân viên y tế có thể vào bất cứ lúc nào để khám tình trạng sức khỏe của tôi; Người dọn vệ sinh gõ cử cửa rồi bước vào ngay cả khi tôi chưa kịp trả lời; Những cuộc kiểm tra định kỳ được thực hiện mà tôi không có quyền từ chối. Tôi không trách họ vì họ chỉ làm đúng như được chỉ định; Nhưng cái cảm giác bị theo dõi mọi lúc mọi nơi; Cái cảm giác không còn một góc riêng để thực sự gọi là của chính mình nó không dễ chịu chút nào.

Nhưng điều khiến tôi đau lòng nhất không phải là mất đi sự riêng tư mà là mất đi phẩm giá của một con người. Ở nhà, tôi tự tắm rửa tự mặc quần áo tự chăm sóc bản thân, nhưng ở đây khi tôi bắt đầu yếu đi tôi buộc phải nhờ đến sự giúp đỡ của người khác. Tôi muốn đi tắm tôi phải chờ nhân viên hỗ trợ. Tôi cần đi vệ sinh, nếu tôi không tự đi được tôi phải nhấn chuông gọi. Tôi muốn mặc bộ quần áo mình thích; nhưng nếu không phù hợp với quy định tôi cũng không được mặc.
Bạn có biết cảm giác đứng trước một người xa lạ để họ giúp bạn làm những việc rất cá nhân, trong khi cả đời bạn đã tự làm những việc ấy là như thế nào không? Nó không chỉ là sự bất tiện mà nó là sự tổn thương. Tôi nhớ có lần tôi bị sốt. Người hơi yếu nên y tá giúp tôi thay đồ dù cô ấy rất nhẹ nhàng, rất chuyên nghiệp, nhưng tôi cảm thấy mình không còn là chính mình nữa. Tôi không còn là một người phụ nữ từng sống độc lập, từng tự chăm sóc bản thân. Tôi chỉ còn là một người già, một bệnh nhân, một con số trong danh sách và điều đó thực sự rất đau lòng.
Không phải ai cũng cảm thấy như tôi. Một số người ở đây có thể quen với điều đó; Thậm chí chấp nhận nó, nhưng với tôi một người đã từng tự do, từng tự quyết định cuộc sống của mình thì việc mất đi quyền kiểm soát ngay cả những điều nhỏ nhất là điều khiến tôi thấy mình không còn là mình nữa.

Nếu bạn đang nghĩ đến Viện dưỡng lão, hãy tự hỏi bạn có sẵn sàng đánh đổi sự riêng tư để đổi lấy sự chăm sóc. Bạn có chấp nhận việc mỗi ngày có thể bạn sẽ cần nhờ ai đó giúp làm những điều mà bạn từng làm một cách tự nhiên, bởi vì một khi bạn mất đi sự riêng tư bạn cũng mất đi một phần phẩm giá của chính mình và điều đó khó lấy lại hơn bất cứ thứ gì khác.

Hối tiếc 6: Khó khăn khi muốn rời đi.
Lúc mới bước vào Viện dưỡng lão, tôi đã tự nhủ rằng đây chỉ là một thử nghiệm. Tôi nghĩ nếu không hợp mình có thể rời đi bất cứ lúc nào; nhưng tôi đã quá ngây thơ. Tôi còn nhớ ngày đầu tiên con gái tôi đưa tôi đến đây nó siết chặt tay tôi và nói:
- “Mẹ cứ thử một thời gian xem sao. Nếu không thích mẹ có thể về nhà.”
Câu nói đó khiến tôi an tâm phần nào. Tôi nghĩ rằng mình vẫn có sự lựa chọn. Thế nhưng chỉ sau vài tháng tôi nhận ra rằng việc rời đi không đơn giản như tôi nghĩ. Một ngôi nhà cũ không còn là của tôi nữa. Lúc tôi vào Viện dưỡng lão, căn nhà của tôi vẫn còn đó nhưng tôi không còn ở đó để giữ gìn nó. Con cái tôi bắt đầu sắp xếp lại mọi thứ. Chúng bớt đi những đồ đạc không cần thiết. Thậm chí có ý định bán một số món đồ cũ. Hàng xóm cũng dần dần quên đi sự có mặt của tôi. Những người từng ghé qua trò chuyện mỗi sáng giờ đây không còn nhớ tôi đã từng sống ở đó?
Một ngày nọ, tôi nói với con gái rằng tôi muốn trở về nhà. Tôi tưởng rằng nó sẽ vui mừng, nhưng thay vào đó tôi thấy sự do dự trong mắt nó:
- “Mẹ có chắc không? Mẹ về nhà rồi ai chăm sóc mẹ? Mẹ có tự lo được cho mình không?”
Tôi cứng họng. Tôi biết rằng mình đã yếu hơn trước. Tôi biết rằng sự tự tin mà tôi từng có giờ đã lung lay và tôi sợ. Tôi sợ rằng nếu tôi rời khỏi Viện dưỡng lão tôi sẽ không biết cách thích nghi với cuộc sống bên ngoài nữa. Y như con chim đã được nhốt nuôi trong chuồng quá lâu. Tôi đã quá quen với việc có người mang cơm đến tận nơi; Có người nhắc nhở uống thuốc; Có người hỗ trợ khi cần. Giờ đây nếu tôi trở về tôi phải tự lo mọi thứ tôi thì liệu có làm được không? Sức khỏe của tôi đã thay đổi từ khi mới vào đây. Tôi vẫn còn khỏe mạnh, nhưng như tôi đã nói ở phần trước, việc ít vận động đã khiến tôi yếu đi nhanh hơn. Tôi không còn đi bộ nhanh như trước. Tôi không còn đủ sức nấu ăn một cách linh hoạt. Y như tâm trạng con chim nuôi trong chuồng lâu ngày nay được thả, tôi không còn cảm giác tự tin khi sống một mình.

Tôi nhận ra một sự thật cay đắng: Chính thời gian sống ở đây đã khiến tôi trở thành một người không còn đủ sức để trở về. Trước đây tôi từng nghĩ rằng Viện dưỡng lão chỉ là một điểm dừng chân tạm thời nhưng thực tế càng ở lâu tôi càng mất đi khả năng tự lập và dần dần Viện dưỡng lão trở thành nơi duy nhất mà tôi có thể tồn tại. Tôi nhìn quanh và thấy nhiều người khác cũng rơi vào tình trạng giống mình. Có cụ bà từng nghĩ rằng bà chỉ vào đây một thời gian để hồi phục sức khỏe nhưng rồi bà không bao giờ rời đi nữa vì bà đã quen với sự phụ thuộc. Có cụ ông từng nói rằng sẽ về nhà khi thấy ổn định hơn nhưng sau một năm ngôi nhà của ông bị bán đi và ông không còn nơi nào để về nữa.
Tôi chợt nhận ra một sự thật mà không ai nói với tôi trước đây: Việc vào Viện dưỡng lão là một quyết định dễ dàng nhưng một khi đã vào thì việc rời đi lại là điều gần như không thể làm được - A Mission Impossible!

Nếu tôi có thể quay ngược thời gian tôi sẽ tìm cách ở lại nhà lâu hơn. Tìm kiếm những giải pháp khác thay vì từ bỏ mái ấm, bước vào đây quá vội vàng. Tôi sẽ nhờ con cái thuê một người giúp việc bán thời gian. Tôi sẽ thử sống với một người bạn già để cùng nhau hỗ trợ. Tôi sẽ tìm đến những trung tâm hỗ trợ người cao niên mà không nhất thiết phải vào một nơi như thế này… Nhưng tôi đã không làm như vậy; và bây giờ tôi không biết mình có thể quay lại cuộc sống cũ hay không?
Nếu bạn đang suy nghĩ về Viện dưỡng lão, hãy tự hỏi bạn có chắc mình sẽ dễ dàng rời đi (trở lại nhà cũ) nếu không thích? Việc trở lại không dễ như bạn tưởng và nếu bạn không chuẩn bị trước có thể bạn sẽ không bao giờ có cơ hội để làm điều đó.

Tôi hy vọng rằng câu chuyện của tôi sẽ giúp bạn có một quyết định sáng suốt hơn cho chính mình hoặc cho người thân của mình. Hãy suy nghĩ thật kỹ vì tuổi giả có thể là quãng thời gian hạnh phúc nếu bạn biết cách lựa chọn đúng để chúng ta có thể đồng hành, cùng nhau trưởng thành, cùng nhau sống bình yên và cùng nhau già đi một cách hạnh phúc, êm thắm!

Trần Văn Giang (ghi lại)
Orange County

Một Mùa Thu Chết - Nguyễn Duy Phước

Hàng Xóm - Trần C. Trí


Truyện ngắn Hàng Xóm được đăng dưới bút hiệu Bảo Chấn, trong mục Những Cây Bút Mới của tạp chí Làng Văn số 26, tháng 10, 1986. Truyện được sáng tác vào thời gian tác giả còn đang ở trại tỵ nạn Palawan, Phi Luật Tân. Bức minh hoạ kèm theo là nguyên bản dành cho truyện Hàng Xóm trong số báo này.

******

Trước năm 1975, cũng như mọi gia đình khác, nhà tôi chẳng bao giờ nghĩ rằng có ngày mình sẽ sống chung với cộng sản trên mảnh đất miền Nam tự do này, đừng nói chi đến chuyện sống kề cận họ trên cùng một con đường và trở thành… hàng xóm của họ. Thế nhưng cảnh ngộ hiện tại, dù hay hay dở, đều ít nhiều là những bất ngờ mà trước đây ta không tài nào biết trước được.


Vào những ngày cuối cùng của tháng Tư lịch sử ấy, chúng tôi là một trong những gia đình may mắn nhất, thoát khỏi Nha Trang trên một chiếc C-130 để vào Sài Gòn, nhờ ông dượng làm trung tá Tiếp Vận Năm giúp đỡ, sau đó chờ người cậu em má tôi làm cảnh sát trưởng Quận 5 xin vé máy bay di tản qua Mỹ. Nhưng trời chẳng chiều lòng người, tấm vé máy bay ghi đặc danh sách năm mươi mấy người trong đại gia đình tôi chỉ là tờ giấy ghi số của một chuyến bay không bao giờ cất cánh! Rồi sau một tháng sống trong sợ hãi, hoang mang ở Sài Gòn thất thủ, gia đình tôi lại dắt díu nhau về lại Nha Trang, giữa một rừng cờ máu lạnh lùng, đầy đe doạ.

Căn nhà của gia đình tôi trong cư xá sĩ quan đã bị người khác vào chiếm để ở. Trước đó, ba tôi có cất một căn biệt thự nho nhỏ sát bên nhà ông ngoại tôi, định để dọn về ở khi hưu trí. Nhưng ông thấy tuổi hưu còn xa nên quyết định cho Mỹ mướn vài năm để, theo ông nói, lấy lại tiền xây nhà. Nhưng cũng chính vì cho Mỹ mướn mà căn nhà đó đã bị Việt cộng tịch thu. Ba tôi đã làm không biết bao nhiêu lá đơn để đòi lại nhà, nhưng cơ quan này lại đẩy cho cơ quan kia, để rồi cuối cùng bọn cán bộ nhà nước đưa ra luận điệu như thế này: “Cách mạng tiếp thu căn nhà từ trong tay người Mỹ chứ không phải từ chính ông.” Nếu chỉ có vậy thôi thì cũng đành, đằng này nhà đã không trả mà mỗi năm bọn thuế vụ của sở nhà đất vẫn bắt ba tôi đóng thuế đều đều. Chúng nói, nếu ba tôi không đóng thuế thì căn nhà đó sẽ thuộc hẳn về nhà nước.Tất nhiên là có đóng thuế đã chắc gì lấy lại được nhà, nhưng dẫu sao cũng còn chút hy vọng mong manh nên ba tôi vẫn bóp bụng đóng thuế hằng năm. Cho tới nay đã là năm thứ mười một rồi, thuế vẫn đóng nhưng nhà vẫn chưa, hoặc vẫn sẽ không bao giờ được trả lại.

Cũng may là nhà ông ngoại tôi ở kế bên rất rộng nên gia đình tôi và cả các dì tôi có thể về đó tá túc. Mất nhà đã tức, mà căn nhà đó lại sờ sờ ngay trước mặt nên càng gai mắt hơn. Kẻ đầu tiên dọn vào là một tên trưởng ty công an, Việt cộng nòi. Cả nhà tôi ai nấy đều ngán ngẩm, e chẳng sống được lâu với kẻ thù ngay bên cạnh. Tên trưởng ty này có hai đứa con trai, nghe nói đã du học ở Bảo Gia Lợi về, rất học đòi thói ăn chơi Âu Tây. Chúng lôi ở đâu về một cái máy thu băng để ngày ngày nghe nhạc. Phòng của hai anh em chúng có hai cái cửa sổ trông qua nhà ông ngoại tôi nên quanh năm suốt tháng chúng cứ đóng rịt cửa lại, chắc sợ nhà tôi dòm ngó. Chúng chơi đủ loại băng nhạc “phản động” do ông già của chúng tịch thu được, nào nhạc vàng, nhạc kích động ngoại quốc, máy mở oang oang suốt ngày. Thời đó, ai mà nghe những loại nhạc ấy đều bị bắt chứ đâu đã được các quán cà-phê phát rộng rãi như những năm về sau này. Nhờ vậy, tôi có dịp tha hồ nghe nhạc ké. Anh em nhà chúng, cũng như hai vợ chồng bố mẹ chúng, tuyệt nhiên chẳng giao du với ai chung quanh họ. Vì vậy, suốt mấy năm trời, hai bên chúng tôi chẳng ai thèm biết đến ai. Thấm thoát, đã đến ngày tên Việt cộng già đó về hưu. Hắn tậu một căn nhà khá tiện nghi ở Xóm Mới, chắc là do từ vàng bạc ăn hối lộ trong suốt mấy mươi năm phục vụ “bác” và “đảng” của hắn. Căn nhà của ba tôi mà hắn đang ở, nhà nước chỉ cho hắn sử dụng lúc còn tại chức mà thôi. Khi hắn dọn đi, một cặp vợ chồng công an khác lại dọn tới. Chính cặp vợ chồng này sẽ trở thành “hàng xóm” thật sự của nhà tôi.

Vừa đến được mấy bữa, chị vợ đã sang nhà tôi chơi ngay. Chị ta khẽ khàng chào cả nhà, đoạn hướng về má tôi, chị vào đề ngay:

“Thưa bác, chồng em biểu em qua thăm hai bác. Chồng em giáo dục em, ‘Anh em xa không bằng láng giềng gần’, cho nên em mong được qua lại với hai bác từ rày trở đi, để khi tối lửa tắt đèn mình có thể giúp đỡ nhau.”

Mới đầu, nghe chị ta kêu tôi bằng bác và xưng em, tôi thấy cũng không có gì lạ vì nhìn bề ngoài, chị ta cũng khá đứng tuổi. Nhưng sau này hỏi ra mới biết là chị mới ba mươi hai tuổi, hơn chị cả của tôi ở bên Mỹ có một tuổi mà thôi. Trời đất! Ba mươi hai tuổi mà già quéo! Đến nỗi ban đầu tôi phải gọi chị ta bằng dì, và cho tới bây giờ tôi vẫn không đổi được cách xưng hô ấy. Con người chị ta là điển hình của một chị bộ đội cái. Tóc chị dài không ra dài, ngắn không ra ngắn, loà xoà trên một gương mặt sạm nắng, đen đủi. Tay chân chị xù xì, to bè bè, chắc trong thời kỳ chống Mỹ… phá nước, hại dân, chị đã đi dân công nhiều lắm. Trông chị không khác gì mấy nàng liên tử trước năm Bảy Lăm chuyên đi ở đợ cho mấy ông lớn miền Nam để lấy tin tức cho “cách mạng”. Mà thật vậy, chị ta vốn là dân Bình Định, trước đây hoạt động nằm vùng ở nội thành Nha Trang, đã từng sống kiếp cơm thầy cơm cô, và đã lê chân hết nhà tù này sang nhà tù khác để phục vụ sự nghiệp “giải phóng miền Nam”. Người chồng hiện tại của chị cũng là dân miền Nam tập kết ra Bắc, có vợ rồi ly dị. Sau ngày “đại thắng”, trai anh hùng gặp gái thuyền quyên bèn gá nghĩa châu trần, ăn ở với nhau được hai mụn con gái. Ông chồng lớn tuổi hơn chị ta khá nhiều. Ông ta làm phó ty công an đặc trách về mặt hình sự, đặc biệt là tội vượt biên. Khi biết được điều này, tôi khoái chí tuyên bố với cả nhà:

“Vậy là từ bây giờ mình có quyền vượt biên dài dài! Hễ bị bắt là ổng sẽ ra lệnh thả mình ra ngay.”

Bà chị kế của tôi liếc xéo tôi một cái:

“Hứ! Cho mầy lời đó hả? Mầy cứ thử đi rồi bị bắt coi ổng có thả mầy hay không cho biết!”

Má tôi chậm rãi góp lời:

“Bộ con chưa hiểu cộng sản là gì hay sao mà nói kỳ vậy? Cha mẹ họ, họ còn đấu tố không nương tay, huống chi mình là người dưng nước lã, mà ba con lại là ‘nguỵ’ một trăm phần trăm. Con không nhớ là bà vợ cứ theo hỏi má hoài, tại sao ba là đại uý mà không đi ‘học tập’ sao?”

Tưởng nói chơi cho vui, ai dè bị công kích dữ quá, tôi tiu nghỉu nín thinh. Nhưng xét cho kỹ thì chị Ba, chị vợ ông công an ấy, cũng không đến nỗi tệ, ấy là đứng trên bình diện con người với con người mà nói. Dĩ nhiên là chắc vợ chồng chị cũng đã suy tính kỹ lưỡng trước khi “thiết lập” mối “quan hệ ngoại giao” với nhà tôi. Đành rằng họ là kẻ thắng cuộc và chúng tôi thuộc phe chiến bại, nhưng biết đâu họ là những người biết kiêng dè. Họ có thể nghĩ rằng, nếu không biết ăn ở với xóm giềng, lỡ có kẻ nổi khùng đang đêm ném qua nhà họ một trái lựu đạn rồi tính làm sao?

Hơn nữa, qua lại với nhà tôi, chị Ba được dịp dòm ngó và tha hồ… học đòi. Chị ta ưa qua nhà tôi vào bữa cơm, ngó một cách không giấu diếm thẳng vào mâm cơm coi chúng tôi ăn món gì. Bữa nào chỉ có toàn rau muống luộc, tôi cảm thấy thật nhẹ nhõm trước cặp mắt soi mói của chị ta; còn khi trên mâm có miếng thịt miếng cá, tôi thấy khó chịu không ít. Nhưng phải công bình mà nói, chị ta tò mò như vậy không phải để… tố nhà tôi, mà là để nhân đó coi thử nếp sống của chúng tôi cho thoả tính hiếu kỳ của mình mà thôi. Chị ta tôn thờ chị Hiền của tôi như thần tượng; nhất nhất kiểu tóc, kiểu áo quần gì của chị Hiền, chị đều bắt chước, mà bắt chước một cách rất vụng về. Có hôm chị qua nhà tôi trong một bộ cánh mới toanh, mái tóc uốn quăn tít thò lò. Cái áo mousseline đỏ choé tương phản thật tội nghiệp với làn da đen nhẻm của chị. Móng tay, móng chân của chị cũng được sơn phết cẩn thận; màu đỏ bầm nổi bật trên những ngón tay nhăn nheo như những con bọ màu đỏ bò trên một chiếc lá úa. Chị Ba hãnh diện hỏi chị tôi:

“Hiền, mầy thấy tao ăn bận như vầy có được không?”

Tuy lớn hơn chị Hiền tôi có năm tuổi, chị Ba vẫn nghiễm nhiên coi mình ngang hàng với ba má tôi, và như vậy chị em tôi chỉ vào hàng con cháu của chị thôi.

Chị Hiền lập nghiêm, cố nín cười:

“Đẹp chớ dì! Dì lựa vải ở đâu mà khéo quá vậy?”

Chị Ba không đợi ai mời, ngồi vật xuống ghế, ra vẻ mệt mỏi:

“Ối, tuần trước tao đi kiếm bắt mỏi cẳng ở chợ Đầm mới được đó. Họ nói đây là thứ xơ-lin xơ-leo gì đó ‘nhập khẩu’ từ tuốt bên Nhựt lận!”

Hùng, thằng em tôi, giả bộ ngắm nghía cái áo một hồi rồi “phát biểu”:

“Chà, vải của tụi đế quốc hình như hơi mỏng đa!”

Má tôi vội mắng át nó cho chị Ba đỡ ngượng:

“Đồ quỷ! Mầy thì biết gì. Bây giờ là mùa hè, bận vậy đi làm cho mát, phải không chị Ba?”

Chị Ba rút vai, le lưỡi:

“Dạ, em hổng dám ăn mặc như vầy đi làm đâu bác ơi! Ở sở họ phê bình chết. Em định để đi phố chơi mới bận.”

Khi chị Ba đã ra về rồi, cả nhà tôi lăn ra cười. Má tôi lầu bầu:

“Ăn với mặc! Ngó giống như Hà Bá!”

Hễ thấy ai ăn mặc kệch cỡm là má tôi đều nói giống Hà Bá. Tôi cũng không hiểu Hà Bá có ăn vận loè loẹt thật hay không! Có điều tôi thấy chị Ba đáng thương hơn đáng ghét. Chị thật thà như đếm, ấy là nói về mặt ngôn ngữ, cử chỉ của chị ở nhà, chứ một “công an cái” như chị khi thi hành nhiệm vụ thì không thể nào thật thà được. Bằng không thì làm sao mà kềm kẹp nhân dân được! Nhưng hình như vào tới nhà tôi, chị ba đã cởi bỏ cái lốt công an ra để hiện nguyên hình là một chị nhà quê ít học. Bây giờ, đường đường là phu nhân của một tay phó ty mà một tuần hai buổi tối chị vẫn phải đạp xe đi học bổ túc văn hoá lớp Bảy. Chị thường tâm sự với tôi:

“Mầy biết không, già rồi chớ tao cũng phải cố đi học cho có thêm một chút văn hoá để phục vụ cách mạng, chớ nhiệt tình mà cộng với ngu dốt thì chỉ là phá hoại mà thôi! Lê Nin cũng có nói: ‘Không có sách thì không có tri thức; không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản.’ Tao cũng bận bịu ghê lắm, đi làm về mệt quá mà cũng phải tranh thủ khẩn trương đi học để tiếp thu thêm được chừng nào hay chừng đó.”

Chị Ba nói một hơi, trích dẫn tùm lum, dùng “từ cách mạng” chan chát, leo lẻo như vẹt vậy. Hẳn bác và đảng cũng không mong muốn gì hơn là có những đảng viên lặp lại nằm lòng những điều sáo rỗng như chị. Cũng như mọi con cháu bác hồ, chị Ba rất thích nói chữ. Năm ngoái, chị sanh đứa con thứ ba, cũng lại con gái, trong khi vợ chồng chị đang ao ước một đứa con trai. Vừa cứng cáp một chút, chị đã ẵm con bé mới sanh qua nhà chúng tôi, buồn rầu nói:

“Vỡ kế hoạch rồi bác ơi! Phen này là em bị kiểm điểm phê bình là cái chắc!”

Chị ngó đứa con còn đỏ hỏn trên tay, chép miệng tiếp:

“Đáng lẽ đâu có cái con này! Em đã vận dụng hết những phương pháp kế hoạch hoá gia đình mà cán bộ y tế đã truyền đạt cho em, ngờ đâu lại có cái sự cố đột xuất như vầy!”

Má tôi an ủi:

“Thôi thì cũng đã lỡ rồi. Đã sanh con ra thì phải rán mà nuôi chớ chị đừng nói vậy không nên đâu. Con nào cũng là con. Chị không nhớ ông bà mình nói sao? ‘Trai mà chi, gái mà chi? Con nào có nghĩa có nghì là hơn.’”

Chị Ba than thở:

“Khổ một cái là nhà nước đã vận động mỗi nhà chỉ nên có từ một đến hai đứa con. Nếu đã lỡ mà có được một đứa con trai thì chịu phê bình em cũng cam lòng. Dè đâu lại lòi ra thêm một thị mẹt nữa! Sai chính sách, trật đường lối, em còn mặt mũi nào mà lãnh đạo ai nữa!”

Của đáng tội, chị Ba cũng rất quan tâm tới người khác. Thấy tôi có cô bạn gái khi làm xa, mỗi lần về nhà đều ghé tôi chơi, hễ vắng cô ít lâu là chị Ba lại hỏi:

“Dũng à, sao người yêu của mầy lâu rồi không thấy tới chơi?”

Tôi thẹn đỏ mặt:

“Dì Ba kỳ quá! Trong này không ai xài chữ ‘người yêu’ hết, ngoại trừ trong sách báo mà thôi.”

Chị Ba tỉnh bơ hỏi tiếp:

“Sao? Chừng nào tụi bây mới xây dựng với nhau đây? Tao coi con nhỏ đó cũng nết na hiền lành đó chớ.”

Tôi làm bộ thở dài:

“Xây với dựng gì hả dì? Dì thấy đó, cháu thất nghiệp, làm nhà báo, báo đời ba má cháu. Thanh niên mà vậy thì nhục lắm, sung sướng nỗi gì mà còn nghĩ tới chuyện vợ con nữa.”

Chị Ba nghiêm trang giảng giải:

“Thằng Dũng mầy suy nghĩ vậy là sai rồi. Dì đồng ý là gia đình cháu có nhiều cái kẹt, nhưng đâu phải vì vậy mà mầy không chịu lấy vợ! Theo tao thì mầy cứ lấy vợ đi, rồi tự nhiên mầy sẽ tháo vát ra mà lo nuôi vợ nuôi con hà!”

Tôi nhăn mũi:

“Tháo vát? Ờ, mà phải, có vợ rồi chắc cháu sẽ phải ‘tháo’ đồ ở nhà ra mà ‘vác’ ra chợ trời bán kiếm tiền quá!”

Chị Ba cười hắc hắc. Được một cái là chị không hay mếch lòng, mặc dù mỗi người trong nhà tôi đều rình có dịp là nói xỏ nói xiên nhà nước với chị. Nói cho cùng, chúng tôi cũng thừa hiểu rằng chị Ba cũng chỉ là nạn nhân của cộng sản mà thôi. Có khác với chúng tôi chăng là ở chỗ chị không ý thức được thân phận tôi đòi của mình, cứ cung cúc phục vụ chúng nên được nhà nước ưu đãi. Vợ chồng chị có hẳn một bác sĩ riêng. Hễ họ hơi se mình là khỏi phải đi đâu, cứ ở nhà chờ là bác sĩ sẽ tới. Thật khó có thể tưởng tượng được, giữa một xã hội lầm than như vầy mà vẫn có những kẻ được hưởng những đặc quyền kiểu đó. Tối tối, nhà ai cũng tắt điện tối om, trong khi nhà chị Ba vẫn sáng trưng như ban ngày. Nhưng chị Ba không lấy điều đó làm tự hào. Phải công nhận rằng chị ăn nói, suy nghĩ theo một kiểu rập khuôn, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Chị biết nhà tôi đã nộp hồ sơ xin giấy xuất cảnh để qua đoàn tụ với chị tôi bên Mỹ. Lẽ ra, cũng như bao nhiêu người cộng sản khác, chị phải ganh ghét mới đúng. Đằng này, chị lại cho chuyện đó là hợp lý, rằng gia đình tôi là “nguỵ” nên không cách nào khác hơn là phải ra đi. Điều đó là hoàn toàn “lô-gích”, phù hợp với “quy luật phát triển của sự việc”, chị Ba thường bảo vậy.

Chị nói với hai anh em tôi:

“Thằng Dũng, thằng Hùng rán kiếm chuyện gì đó làm đỡ trong khi chờ đợi giấy tờ. Đừng có dại dột nghe lời kẻ xấu xúi bậy đi vượt biên, lỡ bị tụi nó bắt thì khổ.”

“Tụi nó” ở đây là chị với chồng chị chớ ai trồng khoai đất này nữa?!! Vô tình mà chị lại đứng về phía chúng tôi để nói điều đó. Dường như trong thâm tâm, chị cũng nhận thấy rằng gia đình tôi là như vậy đó, không thể nào và không bao giờ sống mãi với cộng sản được, hay có sống chung thì cũng là cảnh đồng sàng dị mộng mà thôi. Cũng như vợ chồng nhà chị, không có con đường nào khác hơn là cứ con đường cách mạng rộng thênh thang tám… tấc mà thẳng tiến! Phía chúng tôi thì hầu như không khi nào dám tuyên truyền cho chị nghe về đời sống sung sướng trước “giải phóng”, mà chỉ lựa lời nhẹ nhàng chỉ trích xã hội đương thời. Chị Ba thì lại không hề có một lời nào phê bình lối sống “tiểu tư sản” nhàn nhã của nhà tôi, vì có lẽ chính chị cũng thấy nói ra thì khó nghe quá chăng?

Nhà chị Ba cũng nuôi heo như hầu hết những gia đình cán bộ khác, để góp phần “cải thiện” bữa ăn, chị phân bua như vậy. Tới kỳ bán heo, chị chạy qua nhà tôi, kể lể:

“Bữa nay cả nhà em mới được ‘ăn tươi’ một bữa bác à! Tội nghiệp, mấy đứa nhỏ nhà em tụi nó thèm miếng thịt miếng cá lắm.”

Tụi tôi lén rỉ tai nhau:

“Chết cha! Vậy thì chừng nào bả ‘nuốt sống’ đây không biết!”

Tức cười một điều là chị Ba không chịu bán heo cho nhà nước theo giá “thoả thuận” mà lại xé rào đem bán cho lái heo tư nhân. Chuyện này chị cũng không giấu má tôi. Kể xong, chị thở dài:

“Em cũng biết như vậy là sai, nhưng bác nghĩ coi, nếu mình bán heo với giá chính thức để lấy tiền mua đồ ăn giá chợ đen thì làm sao chịu cho thấu?”

Chị Ba cũng thảo ăn lắm, có miếng ngon gì chị cũng thường hay chia xẻ với nhà tôi. Chị Hiền than thở:

“Ăn miếng ăn của Việt cộng sao khó nuốt quá trời!”

Ba tôi điềm đạm nói:

“Không lẽ người ta đã cho, mình lại không nhận coi sao được. Thôi thì mình cứ sống với nhau bằng tình người là hay hơn hết. Rồi mình có món gì thì đáp lễ lại cho vui vẻ đôi đàng. Chị Ba có cảm tình với nhà mình thật đó, chớ nghĩ cho cùng, chơi với mình chị ta có lợi gì đâu? Bây giờ ai có phận nấy, mình không thể thành cộng sản, mà họ cũng không thể nào thành tư sản được. Sống thuận thảo, tôn trọng lẫn nhau được như vầy cũng là quý lắm rồi. Mình có muốn chống đối họ cũng chẳng đi đến đâu.”

Thằng Hùng lầu bầu:

“Nhưng con không muốn thoả hiệp với cộng sản!”

Tôi nạt nó:

“Có ai bắt mầy vô chung chính phủ với họ đâu mà thoả hiệp với không thoả hiệp! Mầy cũng thấy đó, bả có muốn qua nhà mình thì bả qua chớ nhà mình có ai qua nhà bả làm chi đâu.”

Nói vậy chứ tôi cũng có dịp qua nhà chị Ba một lần rồi. Đâu như lần đó cái lavabo của nhà chị bị nghẹt, sửa hoài không được, chị bèn ngó qua cửa sổ, kêu tôi:

“Dũng, mầy qua coi giùm tao cái la-xơ-bô làm sao mà nó nghẹt cứng ngắc hà!”

Tôi miễn cưỡng khoác vội cái áo lên người, bước qua nhà chị. Nhà là nhà của ba tôi, đất là của ông ngoại tôi cho, mà giờ đây tôi lại rụt rè bước vào như tá điền vào nhà chánh tổng xin khất nợ vậy. Ở bên nhà tôi, bốn năm người sống tùm húm với nhau trong hai gian phòng chật chội đầy những đồ đạc; còn bên này, phòng nào ra phòng nấy, nền lát gạch bông, đủ thứ tiện nghi. Hèn chi hồi xưa tụi Mỹ thích quá, ba tôi đòi lại hoài mà họ không muốn trả. Ngày xưa, ngôi nhà cao ráo, sạch sẽ là thế, mà ngày nay nó nhớp nhúa kinh khủng. Vách tường lam nham đầy những vết tay bẩn của lũ nhỏ, mấy cánh cửa bằng gỗ quý đánh vernis đều xỉn đen một vòng quanh lỗ khoá.

Bước vào buồng tắm, tôi suýt té xỉu vì quang cảnh ngoạn mục bên trong. Ôi thôi, dây dọc dây ngang chị Ba giăng từ bên này qua bên kia, phơi đầy quần áo đủ màu, rực rỡ như cảnh đoàn xiếc nhân dân trung ương! Cái “la-xơ-bô” của chị Ba đóng một lớp ghét dầy cả tấc. Cái gương soi mặt lốm đốm những vết nổ của lớp thuỷ tráng phía sau. Nhìn vào đó, tôi thấy một gương mặt thẫn thờ, lồi lõm méo mó. Tôi thở dài, loay hoay sửa cái bồn rửa mặt. Xong xuôi, tôi chắp tay sau lưng, lững thững đi dọc theo hành lang, ghé mắt nhìn vào gian phòng có cửa sổ thông qua nhà tôi. Khi xưa, lúc nhà đang xây, ba tôi đã tuyên bố là căn phòng này sẽ dành cho tôi. Bây giờ, nó ra làm sao rồi? Ở không hết, chị Ba lấy phòng này này làm nơi chứa “chất đốt”, nói nôm na là củi, để xen lẫn với đủ thứ đồ lặt vặt, màng nhện giăng tứ phía. Tôi lại thở dài, lầm lũi đi về nhà, quên cả chào chị Ba. Trời nắng chang chang mà sao lòng tôi thấy lạnh lẽo quá chừng.

“Nhà bếp” của gia đình tôi là một lối đi hẹp chạy dài theo vách nhà tôi với vách nhà chị Ba, bề ngang chỉ đủ một người đi lọt. Anh em tôi kiếm ba thứ vải dù, ni-lông bậy bạ che phía trên cho đỡ phần nào mưa nắng. Bên nhà chị Ba còn có một cái cửa sổ khác trổ sang “nhà bếp” bên tôi, là nơi mà thỉnh thoảng chị Ba lại hé cánh cửa ra giấm giúi cho má tôi miếng thịt nạc hay con cá tươi, và cũng là chỗ mà bà đưa qua đáp lễ chén chè, miếng bánh. Có hôm, chợt nhìn qua khe cửa, thấy má tôi đang đứng lúi húi nấu ăn, mồ hôi mồ kê chảy ròng ròng giữa một vùng khói khét lẹt, chị Ba tặc lưỡi:

“Bác cũng cực quá há! Nhà bên đó vườn tược rộng rãi vậy mà không có được một cái nhà bếp.”

Giọng chị đượm vẻ thông cảm và hết sức chân thành. Trong lòng tôi có một cảm xúc lẫn lộn, buồn vui khó tả. Trước hết, đó là sự mủi lòng, xen với một cảm giác dễ chịu khi được người khác hiểu được nỗi khó khăn của mình. Nhưng bên cạnh đó là lòng tự ái nổi lên. Phải, không tự ái sao được khi người tỏ ra thương hại đó, nói xin lỗi, lại là một bà Việt cộng ngày xưa đi ở đợ để nằm vùng, hồi đó xin xách dép chưa chắc mình đã cho. Tôi nghĩ thầm: “Chắc bà cũng thừa hiểu, sở dĩ nhà tôi chịu cảnh như vầy cũng là do cái đảng… cướp của bà đó chớ không ai vào đây đâu! Vậy mà bây giờ…” Tôi quay mặt đi, nén tiếng thở dài, cố nhớ tới lời ba tôi khuyên: “Mình cứ sống với nhau bằng tình người là hay hơn hết.”

Má tôi cũng lấy làm cảm động trước những nghĩa cử của chị Ba. Bà thường nói:

“Vợ chồng đó ăn ở cũng tốt bụng. Để khi nào ‘có gì’ tao sẽ cho họ chạy qua nhà mình núp.”

“Có gì”, theo má tôi, nghĩa là một ngày nào đó quân đội Cộng Hoà sẽ trở lại. Má tôi rất tin tưởng sẽ có ngày đó.

Thằng Hùng, kẻ chống cộng quyết liệt, lại được dịp cằn nhằn:

“Như vậy là má chứa chấp cộng sản chớ gì?”

Má tôi cười:

“Mầy ngu lắm! Má cho họ trốn trong nhà mình để rồi từ từ dụ họ trở về với chánh nghĩa quốc gia mấy hồi!”

Thế nhưng chuyện đời thì chẳng ai biết trước được. Không ngờ có một dịp thằng Hùng lại phải mang ơn kẻ thù không đội trời chung của nó. Số là nhân có một “tuy-dô” vượt biên của người quen chỉ dành cho một người, ba má tôi cho Hùng đi chuyến đó. Địa điểm vượt biên là ở Cam Ranh, nơi có căn cứ quân sự của Mỹ ngày xưa, cách Nha Trang khoảng 60 cây số về hướng nam. Rủi thay, thằng Hùng chưa đi tới đâu cả mà đã bị bắt ngay trên chuyến xe đò đi Cam Ranh. Công an chận xe lại, xét bất ngờ và tóm ngay cu cậu cùng một số người đi chung xe vì dáng điệu khả nghi và lý do vào Cam Ranh không rõ ràng. Trong lúc gia đình tôi ở nhà đang nín thở, hồi hộp chờ đợi tin tức, không biết Hùng đi tới đâu, thì ngày hôm sau, chị Ba hớt hơ hớt hãi chạy qua báo tin dữ:

“Bác ơi, làm sao mà thằng Hùng lại bị bắt trong một nhóm toan tính vượt biên gần Cam Ranh vậy?”

Má tôi rụng rời tay chân, hỏi lại:

“Chị nói sao? Có thật vậy không? Mà làm sao chị biết được?”

Chị Ba nói một thôi một hồi:

“Thì chồng em phụ trách chuyện vượt biên mà. Thằng Hùng nó khai tên tuổi, địa chỉ, nhân viên công an báo cáo với chồng em, ổng mới ngã ngửa ra khi biết đó là thằng Hùng nhà mình!”

“Thằng Hùng nhà mình”, chị Ba nói mấy chữ đó nghe sao mà cảm động đến vậy. Tối hôm đó, ba tôi dẹp tự ái, cắn răng bước qua nhà chị Ba, xin được nói chuyện với chồng chị. Đây là lần đầu tiên ba tôi gặp tận mặt tay công an sừng sỏ này. Ngày xưa, dù gì ông cũng là sĩ quan trong quân lực Việt Nam Cộng Hoà, bây giờ lỡ bước sa cơ phải đành chịu lép vế. “Anh Ba” (mặc dù chúng tôi chưa bao giờ gặp ông để xưng hô như thế) tỏ ra rất thông cảm và hứa với ba tôi sẽ “giải quyết vụ này”. Hai ngày sau, quả nhiên, thằng Hùng được thả ra, thất thểu trở về nhà, trông đến tội nghiệp. Một thời gian dài sau đó, nó đâm ra ít nói hơn trước, mặt mũi lúc nào cũng có vẻ trầm ngâm. Chắc nó nghĩ phải mang ơn “kẻ địch” thì đúng là còn miệng ăn mà hết miệng nói.

Về phần má tôi, bà tỏ ra thân mật hơn với chị Ba sau vụ đó, nhưng tất nhiên là vẫn luôn giữ kẽ. Trong lúc chuyện trò với chị hàng xóm bất đắc dĩ này, má tôi chỉ toàn nói những câu đưa đẩy cho vui mà thôi. Trong sự giao thiệp với chị Ba, nói chung, cả nhà tôi ai cũng ở vào thế thủ, trong khi chị Ba càng ngày càng tham dự sâu hơn vào sinh hoạt của gia đình chúng tôi. Mỗi lần nhà tôi nhận được giấy báo vô Tân Sơn Nhất lãnh quà do chị lớn của tôi bên Mỹ gởi về (chị đi theo chồng qua diện đoàn tụ gia đình), chị Ba cũng vui lây. Thấy nhà đã nhận được giấy rồi mà mãi chưa có ai đi Sài Gòn, chị sốt ruột nhắc:

“Ủa sao thằng Dũng thằng Hùng đâu mà không không đứa nào chịu đi lãnh đồ cho rồi?”

Thế là thằng Hùng được dịp tả oán:

“Đâu có dễ như vậy hả dì? Kỳ này chị cháu ở bên Mỹ mới đổi địa chỉ nên phải chỉnh lại trong sổ lãnh hàng. Tụi cháu đi lên đi xuống hải quan mấy ngày nay mà vẫn chưa xong. Đó là tụi nó đã hút của cháu hết hai gói ba số 5 rồi!”

Chị Ba khoát tay, ra vẻ chán nản:

“Ờ, tao cũng phải công nhận là bây giờ nhiều chỗ làm ăn còn quan liêu, cửa quyền ghê lắm!”

Chưa đã, thằng Hùng còn đế thêm:

“Tiêu cực nữa chớ dì!”

Được nghe chính Việt cộng tố Việt cộng, tụi tôi cũng hả hê lắm. Kỳ đó lãnh đồ xong, má tôi tặng chị Ba cái vòng mã não màu huyết dụ. Chị mừng hết lớn, săm soi cái vòng hoài. Mà cũng dễ hiểu, chắc từ nhỏ tới giờ, chị có khi nào được đeo những thứ đó đâu.

Chị Ba khoái đồ Mỹ, rõ ràng như vậy. Nhưng có lẽ chị vẫn ghét Mỹ, ghét những người muốn trốn đi Mỹ. Bây giờ, biết tôi đã vượt biên qua trại tỵ nạn rồi, không biết chị có còn qua nhà tôi chơi nữa không?


Trần C. Trí