Saturday, September 12, 2026

Người Tình Cao Thượng - Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

 

Ðám học trò ấy kết bạn với nhau thành một tổ học tập suốt thời kỳ Trung học từ khi họ thi đậu vào lớp Ðệ Thất trường công lập tại tỉnh lỵ. Sau 3 tháng nghỉ hè ở đồng quê, đến ngày tựu trường họ kéo nhau trở lại nhà trọ chuẩn bị cho niên học mới. Trên boóc-ba-ga xe đạp, chở đầy sách vở, gạo, mắm, rau quả dành cho 5 ngày nấu ăn tự túc trong tuần, họ vừa đi vừa chuyện trò cười vang trên con đường huyện lộ.

Rồi Tấn Toàn, trở thành mối tình đầu của cô bé Lam Lan. Và Lam Lan là hình bóng người con gái đầu tiên choán ngợp trái tim 16 của Toàn. Mối tình học trò thơ mộng nhưng cũng không kém phần nồng ấm.

Lam Lan giỏi môn văn còn Toàn trội hơn môn toán. Hai người dìu nhau học tập, cùng nhau xây đắp chung mộng ước sẽ trở thành nhà giáo. Cũng đã từng thề non hẹn biển quyết lòng kết tóc xe tơ. Hình ảnh một gia đình hạnh phúc đầy mật ngọt đã được vẽ lên trong trí tưởng của hai người.
 
Ðến mùa sim, những trái sim no tròn núc ních bắt đầu chín đen vỏ. Mùa trâm, đong đưa những chùm trái tím rịm trĩu cành. Họ là khách thường xuyên của hai mùa trái chín ấy. Miệng lưỡi người nào cũng tím ngắt như uống nhầm mực tím, nhìn nhau cười khúc kha khúc khích trên cành cây cao.

Gần hết năm Ðệ Nhị, bất thần mẹ Lam Lan bị bại liệt cả đôi chân buộc nàng phải bỏ học ở nhà lo cho đàn em và chăm sóc mẹ.
    
Lấy xong Tú tài Phần I, Toàn được cha mẹ cho vào Sài Gòn học tiếp.

Một năm sau, chàng nhận được thư Lam Lan báo tin cha nàng giữ lời hứa với người bạn nối khố ngày xưa gả nàng cho người con trai cả thuộc dòng họ nhà Tôn Thất. Một dòng họ lớn có thế lực thời bấy giờ ở dưới phố.

    
Mùa hè năm sau, Lam Lan gởi thư tha thiết gọi Toàn về quê trước khi nàng lên xe hoa. Dù cố tình xa lánh để nàng giữ tròn chữ hiếu, nhưng tâm tư Toàn lúc nào cũng vương vấn hình bóng Lan. Không thể chối từ lời khẩn thiết của người yêu mong được gặp mặt chàng lần cuối cùng, Toàn quyết định về quê thăm sau khi thi xong mảnh bằng Tú Tài 2.

Lam Lan hẹn Toàn đến khu rừng Trâm mà họ đã từng vui chơi trong mấy mùa hè trước. Một thời gian dài xa cách, nay gặp lại như cơn lũ mưa nguồn đầu tiên ào ạt đổ vào lòng suối cạn suốt mùa khô hạn. Họ ôm chầm lấy nhau và cơn mưa nước mắt tuôn trào. Lệ trùng phùng lẫn lệ chia ly ướt đẫm khuôn mặt u buồn của Lan. Họ dìu nhau ngồi trên tảng đá bàn, nơi mà hai người đã từng ước thệ.

Nước mắt đầm đìa, Lan ngả đầu trên vai Toàn nhắc lại những kỷ niệm, những ước vọng của hai người đã từng gắn bó.
Chợt, Lam Lan choàng tay ôm cổ Toàn thì thầm :

    – Yêu em đi. Không còn mấy ngày nữa, xác thân nầy sẽ thuộc về người khác. Chúng mình sẽ vĩnh viễn mất nhau. Ngày xưa ta có ước nguyện thành vợ chồng. Em muốn dành cái ngàn vàng của đời người con gái cho riêng anh, vĩnh viễn thuộc về anh.

Toàn ôm chặt Lan vào lòng như để cho hai thân thể hòa chung làm một, cho tình yêu chan hòa vào máu thịt của nhau. Rồi hai người gắn chặt môi hôn. Nụ hôn dài nồng nàn, quên cả đất trời. Bất ngờ, Lan cởi nút áo nhìn Toàn bằng ánh mắt van nài, thúc hối... Chàng vội giữ tay nàng lại:

    – Cảm ơn em. Anh yêu em, yêu vô cùng tận vì thế anh cần phải bảo vệ hạnh phúc cho em. Hạnh phúc của em chính là hạnh phúc của anh. Ta thật sự mất nhau trong đời sống vợ chồng, nhưng trái tim ta luôn đầy ắp hình ảnh của nhau. Anh mang niềm hãnh diện vì đã có một người yêu sẵn sàng chịu khổ lụy vì mình.
Lam Lan bật khóc. Gục đầu vào ngực Toàn.

Ánh nắng chiều đã tắt trong khu rừng trâm từ lâu mà đôi tình nhân vẫn còn ôm nhau tưởng chừng hóa đá. Khi loài sóc ăn đêm gọi nhau trên vòm cây cao họ mới chịu rời khỏi khu rừng.

Bóng tối phủ trùm. Ánh Sao Hôm le lói trên bầu trời cao. Vài ba ánh sáng đom đóm lẻ loi lập lòe bay lướt trên cánh đồng lúa đang thì con gái. Vừng trăng vượt lên khỏi rừng bạch đàn soi đường cho hai người đi bên nhau mà con tim cảm nhận được nỗi cô đơn của những ngày chia ly sắp tới.


Còn đúng 1 tuần nữa là đến ngày cưới. Toàn gặp Lan lần cuối cùng trước khi trở lại Sài gòn. Nàng khóc trên vai Toàn, những giọt nước mắt thấm qua làn áo mỏng chảy dài trên lồng ngực chàng như những giọt cường toan làm tan loãng cả ý chí và sức lực của một chàng trai.
Vùi mặt vào tóc nàng, Toàn giấu đi những giọt lệ yếu đuối. Chàng bùi ngùi từ biệt bằng nụ hôn trên tóc nàng, mái tóc mới gội còn nồng hương bồ kết. Ðó là mùi hương cuối cùng của mối tình đầu mà Toàn mang theo suốt quãng đời xa xứ.

     o O o

Rồi thời gian trôi đi cùng với dòng sông quê nhà mang theo bao mùa nước lũ. Ðể quên đi hình bóng người yêu, Toàn vùi đầu vào sách vở, hết giờ ở giảng đường lại vào thư viện. Tối về lẻ loi trên căn gác lửng với ánh điện vàng hiu hắt.

Bỗng một hôm, Toàn nhận được bức thư của Lam Lan. Thư viết:

 “Anh yêu,

Bốn năm rồi bặt tin anh, nhưng hình ảnh của anh mãi còn ấp ủ trong trái tim em. Anh có biết em đau khổ đến chừng nào trong cuộc đời làm vợ một người mà mình không yêu. Từ ngày đứa con đầu lòng ra đời là chồng em đổi tính không thể nào hiểu được. Mỗi lần ông ấy nhìn mặt con gái là nổi cơn bức xúc. Ông ấy nghi ngờ con bé không mang dòng máu của họ Tôn Thất bởi nó giống anh như hai giọt nước. Cũng chiếc mũi dọc dừa, hai mắt tròn xoe. Em đã giải thích nhiều lần rằng, cái trinh tiết của em đã dành cho chồng trong đêm Tân hôn. Ðiều đó đủ giải oan cho em nhưng ông ấy vẫn không hề thay đổi thái độ. Vừa rồi, trong cơn say rượu, ông ấy giận dữ nói như tát nước vào mặt em:
– Bé Ngọc đâu phải con của tôi, cô hãy nhìn kỹ nó đi, có phải là khuôn mặt của thằng người yêu cũ của cô không? Ôi, tôi chỉ là loài chim cà cưỡng nuôi tu hú! Tôi thù nó. Tôi hận nó, thằng nhãi ranh đểu cáng.

Ông ấy nói xong bỏ mặc mẹ con em suốt mấy ngày không về. Em vô cùng khổ sở.

Vài ngày sau em bồng con bỏ nhà ra đi. Hiện giờ em đang ở với cô Út ở thị xã Pleiku đã 2 tuần lễ rồi. Nhận được thư nầy anh nhớ thư hồi âm cho em. Nếu có thể được, anh lên đây cho em gặp mặt một lần để an ủi phần nào nỗi buồn tủi của em.

Anh Toàn ơi, em sẽ không trở lại với ông ấy nữa đâu. Cuộc sống vợ chồng mà cứ nghi ngờ, giằng xé nhau mãi, có ngày em phải liều mình, bỏ lại con côi.

Con em đã thức dậy rồi. Thôi nhé, tạm biệt anh.

    Lam Lan.”

Dự tính thi xong sẽ lên Pleiku thăm nàng, nên Toàn không viết thư hồi âm. Mãi đến 1 tháng sau chàng mới đón xe lên “Phố Núi”. Ðến nơi, được bà cô ruột của Lam Lan cho hay chồng nàng đã tìm đến xin lỗi vợ và đón mẹ con nàng về lại quê nhà.

Vừa tốt nghiệp đại học, Toàn trình diện nhập ngũ theo lệnh tổng động viên của Bộ Tổng Tham Mưu. Với thời giờ luyện tập quân sự khắc khổ theo khẩu hiệu: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”, thời gian miệt mài những bài học lý thuyết trên giảng đường, trên bãi tập mà hình ảnh của Lam Lan vẫn không xóa mờ được trong tâm trí của chàng.

Rồi chiến trường bùng lên dữ dội sau ngày có lệnh triệt thoái Bộ tư lệnh quân đoàn II. Lực lượng miền Bắc ồ ạt tràn qua sông Thạch Hản khi tỉnh Quảng Trị bỏ ngỏ. Như những con cờ domino nối tiếp nhau ngã đổ. Khởi đi từ Tây nguyên lần lượt đến vùng I, vùng II, vùng IV chiến thuật rồi cả miền Nam. Những ngày cuối cùng, Toàn kẹt lại tại thành phố Sài Gòn.

    o O o

Một đoàn xe Mô-lô-tô-va bít bùng chạy thẳng vào trại tù cải tạo An Ðiềm. Ðây là số tù nhân thuộc các trại tập trung do quân đội quản lý chuyển giao cho lưc lượng công an chuyên trách quản lý tù.

Người bạn tù cũ nằm bên Toàn bị chuyển sang đội khác, giờ được thay vào người mới đến. Ðó là một người đàn ông ốm yếu, xanh xao, có đôi mắt lộ tròng. Nhìn mái tóc màu muối tiêu, hai má hóp sâu, người ta phỏng đoán tuổi ông đã trên 60.

Khi cán bộ chỉ định chỗ nằm là ông ta vứt lên sạp chiếc chiếu đã nhàu nát và chiếc ba lô cáu bẩn. Trông thấy Toàn, ông già đứng sững nhìn một hồi lâu, rồi âm thầm leo lên sạp chẳng một lời chào hỏi lịch sự. Một thái độ bất cần. Ông không giống như những bạn tù kia là tạo thiện cảm với người xung quanh.

Dựa lưng vào vách, hơi thở khò khè, ông già há miệng cố hít lấy hơi cho cái phổi bị bệnh suyễn đang lên cơn. Ðôi tròng mắt của ông lộ ra trông kỳ dị và thảm não vô cùng. Toàn vội lấy bình đông nước nóng rót cho ông một ly. Lão chụp ly nước uống ừng ực như khách lạc đường trên sa mạc thiếu nước lâu ngày. Nhờ nước ấm, cơn suyễn hạ bớt. Thay vì cảm ơn, ông nhìn Toàn với ánh mắt đầy ngờ vực.

Ðêm đầu tiên nằm bên ông, Toàn như bị tra tấn. Trong cái cuống phổi của người bệnh suyễn kinh niên tưởng chừng như có gắn nhiều lưỡi gà. Hơi thở ra của ông như gió trời thổi qua khe núi rít lên từng hồi. Khi ông trở mình theo thế nằm khác thì tiếng kêu trong cổ đổi giọng rè rè như tiếng sáo sũng nước. Toàn nghe ông lão thở mà ngực chàng cũng thấy ngột ngạt, tưng tức như thiếu hơi nên cả đêm không hề chợp mắt.
Sáng ngày, đến giờ đi lao động, ông già cáo bệnh xin nghỉ nhà. Cán bộ quản giáo đội nhìn ông một hồi lâu, hỏi:

 – Anh tên gì?

 – Thiên.

 – Bị bệnh gì?

 – Suyễn.

Ông lão trả lời trong hơi thở khò khè.
Cán bộ lắc đầu:

– Suyễn, chẳng phải bệnh nhiễm trùng không có tiêu chuẩn được nghỉ nhà. Bệnh suyễn sẽ có công việc dành cho bệnh suyễn.

Khuôn mặt ông già đanh lại. Chẳng cần thêm một tiếng năn nỉ, ông bước theo bạn tù đang trên đường ra cổng.

Ðến địa điểm lao động, ông Thiên ngồi ỳ một chỗ để thở. Quản giáo ra lệnh:

    – Anh kia, đứng dậy đi làm ngay.

Ông già tỉnh bơ, ngồi như phỗng.

Quản giáo đến khỏ cây gậy vào ống chân khẳng khiu chỉ còn da bọc xương của lão, quát to:

    – Anh ù lì đấy hả, chống đối phải không? Tôi ra lệnh anh đứng lên đi làm.

Ông già trợn mắt, lớn tiếng:

    – Ban Giám Thị trại cũ cho tôi được miễn lao động, ở đây ông có buộc tôi làm, tôi cũng không làm nổi. Bệnh của tôi thà chết còn hơn sống, ông cứ cho tôi viên đạn vào đầu để giải thoát, tôi cảm ơn ông!

Cán bộ quản giáo giận lắm nhưng chẳng làm gì được với kẻ mong muốn cái chết, đành ra lệnh cho vệ binh áp giải ông về trại. Những ngày sau đó ông Thiên trở thành “quản gia” của đội 3 phụ trách dọn vệ sinh trong phòng.

Hành động khí khái đầy can đảm đã khiến cho Toàn mến phục ông già. Bạn tù thi nhau chỉ cho ông các loại thuốc nam để trị bệnh suyễn.

Mỗi lần đào đất đắp đập, Toàn cố tìm loại ổ bọ hung nằm sâu trong lòng đất đem về nướng đỏ, sắc nước cho ông già uống. Gặp con tắc kè là bằng mọi cách Toàn bắt cho kỳ được đem về đốt cháy ra than, nghiền thành bột để dành cho ông xử dụng. Cứ như thế ngày này qua ngày nọ, tháng này qua tháng khác, Toàn hy vọng chữa lành bệnh suyễn cho ông bạn “già gân”.

Môt hôm, cơn suyễn của ông già bất chợt nổi lên trầm trọng. Rất may, trúng vào chiều Chủ nhật, cả trại đều nghỉ lao động. Toàn vội vã chạy xuống nhà bếp nấu một gô nước sôi, xin bạn tù vài giọt dầu khuynh diệp nhỏ vào gô rồi bắt ông già nằm sấp chúc đầu xuống xông hơi. Hơi nước nóng có mùi dầu khuynh diệp ngấm vào phổi làm cho cuống phổi bớt sưng. Ðờm lỏng tuôn ra khiến cho cơn suyễn giảm nhẹ dần. Khi lấy lại được hơi thở bình thường, ông già Thiên hỏi:

    – Này Toàn, máu của cậu thuộc nhóm nào, A,B, hay O?

Toàn vừa đậy nắp gô nước đã nguội, vừa đùa cợt:

 – Chẳng lẽ bố muốn đổi máu suyễn lấy máu sốt rét kinh niên này sao?

Ông già không nói gì chỉ ậm ừ.

Ðờm trong phổi chảy đầy cả mảnh giấy xi-măng. Cẩn thận lắm mới giữ đờm không vung vãi ra sàn nhà khi Toàn mang bỏ vào cầu tiêu.

Khuôn mặt của lão Thiên giờ trông tươi tắn hẳn ra và ánh mắt có thần sắc trở lại. Ông ta nở nụ cười với Toàn. Ðây là nụ cười cởi mở nhất của lão lần đầu tiên dành cho hắn. Ðã hơn 1 năm trời, dù được sự giúp đỡ hết mình của Toàn, nhưng người ta nhận thấy trong ánh mắt ông Thiên nhìn Toàn vẫn không có chút gì thiện cảm.

Một buổi tối, khi hai người đang nằm dỗ giấc ngủ, bỗng ông già khe khẽ hỏi:

    – Toàn à, tôi hỏi thật cậu nhé, phải trả lời nghiêm chỉnh đấy. Cậu có thuộc nhóm máu O không?

    – Hôm nay bố trở lại đề tài đổi máu nữa à? Máu O là nhóm máu bác ái đấy. Tôi thuộc nhóm máu B, ích kỷ lắm, chỉ nhận chứ đếch cho ai được.

Toàn trả lời rồi quay lưng về phía ông để dỗ giấc ngủ.

    – Thế à!

Lão kêu lên, rồi thầm thì lảm nhảm điều gì đó mà Toàn không để ý.

Sau trận cấp cứu, lão Thiên thường tỏ ra niềm nở hơn đối với Toàn.

Một hôm, lão đang vá cái áo rách vai, đột ngột hỏi:

    – Nầy Toàn, cậu có vợ con gì chưa?

    – Hành quân suốt 30 ngày mỗi tháng, còn thời gian đâu mà cưới vợ hở bố?

Toàn vừa vấn điếu thuốc rê vừa nhìn lão Thiên trả lời.

Với nụ cười móm mém để lộ 4 chiếc răng cửa xiêu vẹo, ông già Thiên tằng hắng bảo:

    – Tôi biết chắc cậu không nhỏ tuổi hơn vợ tôi đâu, sao cứ gọi tôi là bố.

    – Thế cụ bà ở nhà được mấy mươi niên kỷ?

    – Bằng tuổi cậu đấy, 33.

    – Bố tài thật, đoán tuổi như thần. Thế bố hơn bà nhà mấy chục tuổi?

    – Một chục 12.

Toàn giật mình, vứt tàn thuốc xuống nền nhà, nhìn ông Thiên, ngạc nhiên hỏi:
    – Tuổi của ông mới 45 sao? Thế mà anh em tưởng ông trên 6 bó.

Ông Thiên tâm sự:

    – Căn bệnh suyễn kinh niên, cộng 4 năm trong tù đói khát với 14 năm lập gia đình, cái tâm mình không ổn khiến cho người mau già lắm bạn ơi.

    – Bác có mấy người con?

    – Bà xã sinh đứa con gái đầu lòng rồi nghỉ dài hạn, nay con bé đã 12 tuổi rồi.

Nói đến đây, chợt ông Thiên hạ thấp giọng như nói với chính mình: “Nếu gặp nhau sớm hơn, biết đâu gia đình mình đã lấy lại hạnh phúc.”

Toàn không hiểu câu nói đó có ý gì, nhưng chàng đoán lờ mờ là vợ chồng ông Thiên có vấn đề gì trục trặc.

Buổi sáng đầu mùa Ðông, sương mù dày đặc. Khí lạnh bỗng chốc đổ về như cắt vào da thịt, làm tê cóng cả chân tay. Tù xuất trại đi lao động co ro trong tấm vải nhựa đi mưa thay áo lạnh. Những cơn gió lộng, gió xoáy thổi từng hồi như muốn cuốn hút đám tù rách rưới cùng với đám lá khô ven đường. Người tù với áo quần bằng vải phin mặc phong phanh suốt bốn mùa. Phương cách chống rét duy nhất của tù là làm việc cật lực cho nhiệt lượng trong người bốc hơi để sưởi ấm lấy cơ thể mình.

Suốt một ngày phơi mình dưới bầu trời âm u, rét mướt còn phải làm việc gắng sức, người nào cũng bơ phờ mệt lử, lê từng bước chân với cơn đói rã rời về trại.

Tù nhập trại, tiếng ồn ào như vỡ chợ mà ông Thiên vẫn còn nằm co quắp trong chiếc mền rách. Sợ động mạnh làm ông già thức giấc nên Toàn đặt nhẹ cái túi xách may bằng bao cát lên sạp rồi chồm lấy lon gô của ông già đi lấy nước luôn thể.

Ðến lúc lãnh phần cơm tối, Toàn khẽ nắm chân ông Thiên lay gọi. Cái chân lạnh như nước đá khiến Toàn giật mình, vội kéo cái mền ra. Thân thể ông cứng đờ. Toàn tri hô lên, mọi người xúm quanh. Kẻ cạy miệng đổ dầu, người xoa bóp chà xát trên ngực và toàn thân ông. Cán bộ y sĩ trại đến khám nghiệm và quả quyết ông Thiên chết đã mấy tiếng đồng hồ rồi.

Cán bộ ra lệnh khiêng xác xuống trạm xá. Riêng tư trang của ông Thiên thì giao cho ban giám đốc.

Sau buổi cơm chiều, Toàn nhận lệnh trình diện ban trực trại. Ông phó giám thị chìa  một phong thư đã kiểm duyệt bảo vớiToàn:

    – Ðây là lá thư của anh Thiên gởi cho anh. Còn bức thứ hai, chúng tôi chịu trách nhiệm chuyển cho gia đình anh ấy với toàn bộ tư trang của người chết.

Về đến phòng, Toàn mở thư đọc :

    “Bạn Toàn thân mến,
Qua lần cơn suyễn hành hạ “thập tử nhất sanh” được Toàn cấp cứu, tôi biết bệnh suyễn trong hoàn cảnh tù đày này sẽ giết tôi bất cứ lúc nào. Vì vậy, tôi phải viết trước thư nầy cho bạn để phòng hờ cái chết vì nghẹt thở xảy ra cho tôi. Kèm theo là bức thư thứ hai nhờ bạn chuyển cho vợ tôi.

Sống gần bạn đúng 1 năm 4 tháng, tôi mới thấy được tính vô tư và lòng nhân hậu của bạn. Một người đàn ông lý tưởng, xứng đáng để người đàn bà tôn thờ. Bạn không biết tôi, nhưng tôi biết bạn đã mười mấy năm về trước thuở bạn còn là... người tình đầu của vợ tôi. Tôi mang uẩn khúc trong lòng đã mười mấy năm qua, giờ đây vỡ lẽ tôi mới nhận chân được sự sai lầm lớn lao của mình và hổ thẹn với lòng vì tính ghen tuông, cố chấp.

Tại sao tôi không dám tâm sự với bạn trong những ngày còn sống? Có lẽ do tính tự ái và nhút nhát của mình. Tôi rất yêu thương vợ nhưng lại ghen tức với mối tình đầu của cô ta. Mối tình đã chiếm trọn con tim và trở thành thần tượng của nàng.

Người con gái đầu lòng của chúng tôi là nguyên ủy của mối hận tình. Nó trở thành nỗi thống khổ đã đày đọa tôi suốt mười mấy năm trời chỉ vì nó giống bạn như khuôn đúc. Lúc còn bé, tôi lén bồng nó đến bệnh viện thử máu. Dù cùng loại máu O với tôi nhưng tôi vẫn không tin là con ruột của mình. Từ ngày bạn cho biết bạn thuộc nhóm máu B thì tôi mới hiểu ra mình nghi oan cho vợ và cảm thấy có tội với đứa con gái thơ dại vì tính đa nghi, hồ đồ của người cha.

Tôi không còn mong đợi ngày đoàn tụ với gia đình nữa đâu. Linh cảm cho thấy tử thần đang kề cận bên tôi, chực chờ cơn nghẹt thở của bệnh suyễn nổi lên bất ngờ sẽ mang tôi qua thế giới bên kia. Thiên đường hay địa ngục chẳng cần thiết nữa. Qua thư nầy, hy vọng bạn chấp nhận lời xin lỗi của tôi. Ðược vậy, linh hồn tôi sẽ thanh thản ra đi bạn ạ.

Toàn ơi, bạn thật sự xứng đáng là một người bạn tốt, một người tình cao thượng và một người chồng lý tưởng. Vì thế tôi khẩn cầu bạn hãy vì Tôn Thất Thiên này, vì mối tình đầu sâu đậm ngày xưa của hai người, xin bạn hãy bảo bọc vợ tôi là bà Tô Lam Lan và con gái tôi Tôn Nữ Lam Ngọc để bù đắp lại một thời khổ lụy mà mẹ con nàng đã chịu đựng…”

Ðọc đến đây, dù bức thư chưa chấm dứt nhưng Toàn thấy ngỡ ngàng và xót xa quá, nên vội gấp bức thư bỏ vào túi. Chàng thẫn thờ ra ngoài sân nhìn lên bậc cấp hội trường, nơi ông Thiên thường xuyên ngồi hong nắng. Chàng không ngờ Tôn Thất Thiên là chồng của Lam Lan. Lần từ biệt cuối cùng, Toàn chẳng còn tâm trí để hỏi thăm tên họ người chồng tương lai của nàng, chỉ biết rằng anh ta là một sĩ quan cảnh sát. Ngày gặp Thiên trong tù, chàng cũng rất vô tư trước ánh mắt lầm lì, xoi mói của ông. Ngay cả việc ông hỏi chàng thuộc loại máu nào, ý nghĩ đơn thuần của chàng cho là tính tò mò của ông ấy mà thôi.

Những năm tháng trong tù, bao nỗi đắng cay, khổ nhục đã làm cho trái tim chàng khô héo. Có nhiều đêm nằm thao thức, Toàn cố gợi nhớ lại kỷ niệm mối tình ngày xưa, nhưng luôn bị cơn đói dày vò nên đành bất lực. Giờ đọc bức thư của Thiên, hình ảnh Lam Lan vụt hiện ra khiến cho lòng Toàn ngậm ngùi.

14 năm nhẫn nhục, ép mình theo “khuôn vàng thước ngọc”của các cụ ngày xưa, Lam Lan như tự hủy hoại một thời xuân sắc của mình. Niềm xót thương người yêu chợt bùng lên như sóng vỗ trong lòng Toàn. Dòng nước mắt âm thầm thấm mặn môi, khiến Toàn nhớ lại buổi chia tay cuối cùng, Lam Lan đã ôm hôn chàng để lệ nhòa trên hai khuôn mặt và ướt mặn môi chàng…

    o O o

Vào đầu mùa Đông năm 1991, tại cổng ra của hành khách phi trường Quốc tế San Francisco, thuộc Tiểu bang California Hoa Kỳ, một người Mỹ cầm tấm bảng bằng các-tông có ghi hàng chữ: “Chào Mừng Gia Đình Ông TOAN TRAN, HO.9”.

Ông này có nhiệm vụ tiếp đón một gia đình Việt Nam đến Hoa kỳ tỵ nạn theo diện Cựu Tù Nhân Chính Trị tái định cư.

Chiếc Boeing chở khách đã hạ cánh xuống phi đạo từ lâu, đến giờ này hành khách mới lần lượt đi ra cổng.

Một người đàn ông trạc tuổi trung niên tay xách túi nylon đựng hồ sơ tỵ nạn có in chữ IOM tiến đến trước mặt người cầm bảng:

    - Tôi là Trần Tấn Toàn, chủ gia đình HO.9, kính chào ông.

Người nhân viên cầm tấm bảng vồn vã bắt tay Toàn và tự giới thiệu bằng tiếng Việt rất trôi chảy:

    – Tôi tên là David Johnson thay mặt Hội Thiện Nguyện USCC chúc mừng ông và gia đình đã đến được đất nướcTự do.

 Tiếp theo, Toàn lần lượt giới thiệu từng người trong gia đình: Trước tiên, anh đặt tay trên vai người phụ nữ có khuôn mặt phúc hậu đang đứng khép nép một bên:

    – Ðây là vợ tôi, bà Tô Lam Lan 45 tuổi. Kia là cô con gái lớn Tôn Nữ Lam Ngọc 24 tuổi.

Toàn vò đầu cô bé đang ôm chân cha, giương đôi mắt tròn xoe nhìn ông David có mái tóc vàng mắt xanh mà lại nói được tiếng Việt, tiếp:

    – Và đây là đứa con gái thứ nhì của chúng tôi Trần Thị Lam Loan, 4 tuổi.

Nhìn hai khuôn mặt rạng rỡ của hai người con đều giống bố như khuôn đúc khiến ông David hỏi nhỏ Toàn:

    – Thưa ông Trần Tấn Toàn, cô Tôn Nữ Lam Ngọc là con gái đầu của ông mà sao khác họ?

Toàn trả lời ông David với âm giọng vừa đủ nghe:

    – Ngọc là người chị cùng mẹ khác cha với em gái nó. Cháu Ngọc giống tôi có lẽ đây là sự sắp đặt của Thượng đế. Một sự thật không lý giải được, chỉ có đấng toàn năng mới trả lời được điều này.

Ông David chẳng hiểu gì về lời giải thích dài dòng của Toàn. Ông chỉ ậm ừ qua loa rồi mời mọi người lên xe rời khỏi phi trường.

Ngồi trên băng ghế sau cùng, Toàn nắm tay vợ âu yếm:

    – Biết đến bao giờ mình trở lại rừng Trâm ở quê nhà để thăm hòn đá Bàn cờ, nơi đã chứng kiến lời ước thệ của chúng ta trong buổi đầu yêu nhau. Anh nghĩ khí thiêng nơi ấy đã tích tụ hình bóng của anh và em quyện với lời nguyền ước năm xưa kết thành chứng quả cho ngày hôm nay. Những tưởng mất nhau vĩnh viễn nào ngờ lại đoàn viên!

Lam Lan ngước nhìn chồng với ánh mắt đầy xúc động, rồi ngả đầu trên vai Toàn để dòng nước mắt hạnh phúc tràn ra trên vai áo chàng. Nắm bàn tay chồng, Lam Lan áp vào ngực mình thầm cảm ơn Toàn đã thật sự mang đến cho nàng mùa Xuân ấm áp sau bao năm sống hiu quạnh qua 14 mùa Ðông lạnh giá của cuộc đời./.
 

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Friday, September 11, 2026

Buồn Thay Việt Kiều - Nguyễn Duy Phước

Cảm Nghĩ Tuổi Già

 

Tất cả chúng ta người trước kẻ sau ai rồi cũng phải già. Làm sao tránh được! Ðã có "sinh" là có "lão". Một giai đoạn tất yếu của cuộc sống. Nếu ngày đầu tiên mình sinh ra mà đã biết nghe, biết nói, nếu có ai bảo rằng mỗi ngày mình lớn lên là một ngày mình sẽ già đi, và tiến dần về cõi chết, chắc chắn là mình đã không tin.……

Nếu bỏ qua các giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi 20 đến tuổi 60 mà chỉ so sánh một người đã quá 60 với thời anh mới 20 tuổi, thì theo Curtis Pesman, tác giả cuốn "How a Man Ages," ta có thể ghi nhận những thay đổi như sau:


 Da mỏng hơn và chùng xuống, độ co giản của da càng ngày càng giảm sút, và qua nhiều nãm tháng biểu lộ vui, buồn, sướng, khổ, những nét nhãn trên mặt đã hằn sâu và lớn.

• Tóc bạc, thưa, và nhẹ hơn, đường kính của tóc chỉ còn 86 microns (1 phần triệu của 1m) so với 101 microns hồi 20 tuổi.

• Hai tròng mắt bị co lại, mức độ ánh sáng vào đến võng mạc giảm đi, khó phân biệt được sự vật trong tối, do đó mà khi đọc cần phải có ánh sáng đủ.

• Tai không còn nghe được tiếng động trên tầm 10,000 hertz, như tiếng hót của chim, vì chức năng chuyển thể độ rung từ tai ngoài vào tai trong đã suy thoái.

• Men răng càng ngày càng mòn dần vì quá trình nhai, nghiến, trong khi đó lợi răng co rút lại làm lộ rõ khoảng trống giữa các chân răng.

• Xương mất dần calcium, trở nên xốp, dòn, dễ gãy, lớp sụn ở các đầu khớp không còn nguyên vẹn, chất nhờn giữa các khớp khô đi, sinh ra di chuyển chậm, khó khăn.

• Tim không còn bơm đủ máu ra khắp châu thân, một phần do cholesterol đóng dày trên thành động mạch nên tim phải hoạt động nhiều hơn mới bơm được máu đi.

• Các cơ bắp làm cho phổi hoạt ðộng bình thường suy yếu dần, độ co giản của lồng ngực yếu đi, làm cho lượng dưỡng khí hít vào chỉ còn bằng một nửa thời 20 tuổi.

• Trọng lượng của thận giảm từ 20% ðến 30%, sức lọc chất thải của thận chỉ bằng nửa hồi trẻ, và sức chứa của bọng đái cũng chỉ còn chừng một nửa (8 fluid ounces, khoảng non 230cl).

• Với năm tháng qua đi, khối não cũng rút nhỏ lại và giảm trọng luợng, hàng tỷ tế bào não bị mất đi, trí nhớ bị giảm sút……


Hiểu được lẽ vô thường của cuộc đời, sẽ thấy quyền lực, danh xưng cũng chỉ là những ảo vọng mà thôi, chỉ lôi cuốn con người vào vòng tục lụy không lối thoát.

Cuộc đời ngắn ngủi quá, sự sống và cái chết chỉ cách nhau bằng một hơi thở. Cái lằn ranh vô hình đó ai cũng biết nhưng được bao nhiêu người tỉnh thức?

Hôm nay ta còn sống, còn nói cười, còn nghĩ mình cứ sống mãi, sống hoài để tận hưởng những lạc thú của trần gian, để hơn thua, vênh váo, được mất với đời. Nhưng khi nhắm mắt rồi, cát bụi lại trở về với cát bụi .

 

Sưu tầm

Kim Duncan chuyển

Bạn - Người Phương Nam



Tử vi nói số tôi không bạn

Vì cung nô bộc* bị triệt…tiêu

Nên  người quen kẻ biết tuy nhiều

Nhưng dần dà ai tôi cũng nãn

 

Bởi tính tôi ăn ngay nói thẳng

Không thích câu khách sáo màu mè

Trước mặt thì tâng bốc vuốt ve

Sau lưng lại thẳng thừng phê phán

 

Không cà phê thuốc lá nhậu nhẹt

Làm sao nhập cuộc với bạn bè

Nhưng cái màn lai rai rượu chè

Không hợp với tôi thôi đành dẹp

 

Nói không bạn thì cũng không hẳn

Một hai người tính cũng như tôi

Không xô bồ đình đám lôi thôi

Rốt cuộc thì nhà ai nấy trấn

 

Thôi thế cho yên khỏi sinh sự

Không lời qua tiếng lại mích lòng

Người thân bậu bạn còn chưa xong

Hơi sức nào tri âm bằng hữu

 

Nếu quá nhàn làm bạn cây cỏ

Cỏ cây không ý kiến ý cò

Cũng không gây phiền phức dở trò

Ta với ta một mình riêng cõi


                          Người Phương Nam                                  

*Cung nô bộc :  theo tử vi là cung anh em bạn bè

Từ Ôm Súng Giữa Vùng Địch... Đến Ôm Mõ Gõ Nhịp Cho Chúng Sinh - Phạm Sơn Liêm


Có những cuộc đời, nếu chỉ nhìn vào đoạn cuối, người ta sẽ không thể nào hình dung được đoạn đầu.

Có một người lính Việt Nam Cộng Hòa năm xưa, từng ôm súng lặng lẽ bước vào những vùng đất mà chỉ cần một tiếng động nhỏ cũng có thể mất mạng.

Ngày ấy, anh không đi để tìm danh vọng.

Anh đi làm công tác.

Có những chuyến xâm nhập kéo dài trong im lặng. Ban ngày né tránh. Ban đêm lần từng bước. Mỗi tiếng động trong rừng đều có thể là tiếng chân của địch. Mỗi ánh đèn thấp thoáng phía trước đều khiến bàn tay siết chặt khẩu súng.

Có lần bị phát hiện.

Chạy.

Chạy không cờ.

Không còn đội hình đẹp đẽ. Không còn chuyện ai đi trước, ai đi sau. Chỉ còn bản năng sinh tồn và tiếng đạn phía sau lưng.

Có những lần thoát được.

Nhưng cũng có những lần… không phải tất cả anh em cùng trở về.

Anh từng đứng trước một cảnh tượng mà người lính không bao giờ muốn nhìn thấy lần thứ hai.

Đồng đội của mình. Những người mới hôm qua còn nói chuyện với nhau, còn chia nhau điếu thuốc, còn đùa vài câu trước giờ lên đường…

Vậy mà chỉ sau một tiếng nổ, trước mắt anh là những thân xác không còn nguyên vẹn.

Chiến tranh là vậy.

Nó không hỏi người ta có mẹ già hay vợ trẻ.

Nó cũng chẳng hỏi người lính có sợ chết hay không.

Nó chỉ để lại những người sống sót mang theo ký ức.

Và có những ký ức… càng sống lâu càng không thể quên.

Rồi “đứt phim.” Cuộc chiến kết thúc. Người lính năm nào không còn ôm súng nữa. Nhưng chiến tranh đâu có chịu rời khỏi tâm hồn người lính.

Nó nằm lại trong những đêm mất ngủ.

Trong những tiếng động bất ngờ.

Trong những gương mặt đồng đội lâu lâu hiện về trong ký ức.

Và có lẽ cũng chính từ những mất mát ấy, cuộc đời đã đưa anh đến một cánh cửa khác.

Cửa nhà Phật.

Không còn tiếng súng.

Không còn tiếng gọi nhau giữa rừng.

Không còn những chuyến xâm nhập vào vùng địch.

Bây giờ, trong tay người lính năm xưa là…

một chiếc mõ.

Ngày trước, anh từng biết cách im lặng giữa vùng địch để giữ mạng sống.

Bây giờ, chính cái miệng từng nhiều lần phải ngậm chặt giữa rừng sâu ấy lại cất tiếng:

Nam Mô A Di Đà Phật.

Ngày trước, anh từng nghe tiếng súng.

Bây giờ anh nghe tiếng chuông.

Ngày trước, anh từng ôm súng bảo vệ đồng đội.

Bây giờ anh ôm mõ, tụng kinh, cầu mong cho chúng sinh bớt khổ.

Ngày trước, anh học cách sống sót.

Bây giờ anh học cách buông xuống.

Có một điều rất lạ trong cuộc đời.

Người từng đi qua địa ngục của chiến tranh đôi khi lại hiểu rất sâu về sự bình an.

Bởi vì người chưa từng nghe tiếng đạn nổ có thể nói về hòa bình.

Nhưng người từng nằm sát đất, nghe đạn bay qua đầu, từng nhìn đồng đội mình ngã xuống… khi nói về bình an, lời nói ấy có một sức nặng khác.

Người từng mất mát nhiều mới hiểu thế nào là thương.

Người từng chứng kiến sinh tử mới hiểu một đời người thật ngắn.

Và người từng cầm súng có khi lại là người hiểu rõ nhất rằng:

Không có gì quý hơn một mạng người.

Cho nên hôm nay, tại Linh Son Amida Center, người lính năm nào có thể ngồi trước bàn Phật, lần từng hạt chuỗi, gõ từng tiếng mõ.

Cốc… cốc… cốc…

Tiếng mõ đều đều.

Nhẹ thôi.

Nhưng biết đâu, trong từng tiếng mõ ấy là cả một đời người.

Một đời đã đi qua chiến tranh.

Một đời đã nhìn thấy máu và nước mắt.

Một đời đã từng chạy giữa lằn đạn.

Và một đời cuối cùng tìm được nơi để tâm mình ngồi xuống.

Có Phật Tử sẽ hỏi:

“Ngày trước Thày cầm súng, bây giờ Thày tụng kinh. Có khác nhau nhiều không?”

Có chứ.

Ngày trước, Thày cầm súng để chống lại cái chết.

Bây giờ, Thày cầm mõ để nhắc người ta biết trân quý sự sống.

Ngày trước, Thày đi vào vùng địch trong im lặng.

Bây giờ, Thày bước vào lòng người bằng lời pháp.

Ngày trước, Thày@ phải giữ từng hơi thở để sống.

Bây giờ, Thày dạy người khác biết thở chậm lại, sống chậm lại, thương nhau nhiều hơn.

Và có lẽ…

Đó không phải là hai cuộc đời khác nhau.

Mà là một cuộc đời đã đi qua quá nhiều đau thương để tìm thấy con đường bình an.

Người lính ấy từng ôm súng.

Bây giờ Thày ôm mõ.

Từng im lặng giữa vùng địch.

Giờ đây miệng lại cất lời thuyết pháp.

Từng nhìn đồng đội mình banh xác trước mắt.

Giờ đây lại cầu nguyện cho những người đã khuất.

Chiến tranh lấy đi của Thày rất nhiều thứ.

Nhưng cuối cùng, cuộc đời vẫn để lại cho Thày một món quà:

một buổi chiều bình yên, một tiếng mõ, một câu kinh và một tâm hồn biết thương chúng sinh.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Có lẽ, đó chính là trận chiến cuối cùng của một người lính:

Không phải chiến đấu với kẻ thù bên ngoài…

mà là chiến đấu với những vết thương còn nằm sâu trong chính lòng mình.

Và lần này…

Thày không cần khẩu súng nữa. Chỉ cần một tiếng mõ.

Cốc… cốc… cốc…

Rồi bình yên.

 

Phạm Sơn Liêm

(Viết cho Tỳ Kheo Thích Hữu Nguyện, anh Hải đoàn công tác 75)

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Thursday, September 10, 2026

#663 - Nhịn Ăn ̣Để Cơ Thể Tự Dọn Dẹp Tế Bào Hư? Thành Phần Gì Giúp Ngừa Suy Thận? - BS. Phạm Hiếu Liêm

Người Đàn Bà - Nguyễn Hồng Nhung


(Nhà văn Hungary Halák László va gi tng NHN mt đon văn ca ngi NGƯỜI ĐÀN BÀ nhân ngày 8-3. NHN dch đ bn đc cùng thưởng thc.)

Khi Thượng Đế, trong ngày thứ Sáu tạo nặn ra Đàn Bà, một Thiên thần đi ngang qua nhìn thấy bèn hỏi:
-       Tại sao Thượng Đế có thể dành nhiều thời gian cho việc này đến thế?

Thượng Đế trả lời:
-       Mi có thấy ta dành toàn những chất liệu đặc biệt để tạo ra một NGƯỜI ĐÀN BÀ hay chăng?

Đây là thứ chất liệu có thể tẩy rửa sạch sẽ , nhưng không phải là nhựa. Là một tạo phẩm từ hơn hai trăm bộ phận tinh tế biết chuyển động, và từng bộ phận có thể thay thế để tạo phẩm này tồn tại và thích ứng với mọi loại đời sống;để cùng lúc ĐÀN BÀ biết ôm nhiều đứa trẻ vào lòng và chữa lành cho tất cả, từ  một cái đầu gối xước chảy máu đến một trái tim bị tan vỡ hoàn toàn…

ĐÀN BÀ làm tất cả những việc này chỉ bằng một đôi tay…

-       Chỉ bằng một đôi tay? Thật không thể tin nổi!

Thiên thần ngạc nhiên kêu lên. Rồi hỏi tiếp:

-       Và đây là mô hình chuẩn về ĐÀN BÀ? Thôi, Thượng Đế đã làm quá nhiều việc trong ngày thứ Sáu rồi, hãy để mai hoàn thành nốt cũng chẳng sao…

-       Không được!- Thượng Đế trả lời – Ta cần hoàn thiện tạo phẩm này thật nhanh, vì đây là tạo phẩm gần gũi với trái tim ta nhất. Mi còn chưa biết đặc tính này nữa: ĐÀN BÀ có khả năng tự chữa chạy cho bản thân và dư sức làm việc mười tám tiếng trong một ngày…

Thiên thần bèn rón rén đến gần và chạm tay vào mô hình NGƯỜI ĐÀN BÀ Thượng Đế đang nặn:

-       Ôi! Tại sao ĐÀN BÀ mềm mại thế?

-       Đúng! – Thượng Đế trả lời – ĐÀN BÀ rất mềm mại, nhưng ta đã tạo nặn ra NGƯỜI ĐÀN BÀ cùng lúc có một sức mạnh rất mạnh mẽ, đấy là giá trị bên trong của Nàng. Mi không tưởng tượng nổi ĐÀN BÀ có thể chịu đựng và vượt qua tất cả như thế nào đâu!

-       Thế ĐÀN BÀ có biết suy nghĩ không? – Thiên thần hỏi.

Thượng Đế trả lời:

-       Nàng không những rất biết suy nghĩ mà còn biết tranh luận và thương lượng nữa.

Thiên thần lấy tay sờ vào mặt mô hình ĐÀN BÀ:

-       Ôi Thượng Đế! Tạo vật này có vẻ như đang bị rạn nứt! Có phải Ngài đã chất quá nhiều gánh nặng cho ĐÀN BÀ?

-       Không phải vết rạn nứt đâu…Đấy là những dòng nước mắt – Thượng Đế sửa lại lời của Thiên thần.

-       Nước mắt? Để làm gì cơ chứ? – Thiên thần kêu lên.

Thượng Đế trả lời:

-       ĐÀN BÀ dùng nước mắt để giãi bày những nỗi đau buồn, sự phân vân, tình yêu thương, sự đơn độc, nỗi chịu đựng cũng như lòng kiêu hãnh của họ.

Thiên thần nghe vậy tỏ ra rất trầm ngâm:

-       Ôi Thượng Đế vĩ đại, Ngài đã nghĩ ra không thiếu thứ gì trên trái đất này. Ngài đã khiến NGƯỜI ĐÀN BÀ trở thành một tạo vật tuyệt tác ?

VÀ ĐÚNG LÀ NHƯ THẾ:

ĐÀN BÀ là tạo vật tuyệt tác nhất của Tạo hóa!

Đàn bà chứa trong bản thân họ một sức mạnh lớn lao làm kinh ngạc kẻ khác giới, khi xử lý những rắc rối và mang trên vai gánh nặng cuộc đời.

Đàn bà là kẻ biết duy trì trong bản thân mình niềm hạnh phúc, tình yêu thương và những ý kiến riêng.

Đàn bà mỉm cười khi trong lòng họ những muốn hét lên.

Đàn bà hát khi trong lòng chỉ muốn khóc gào, và họ khóc khi hạnh phúc, mỉm cười khi họ sợ hãi.

Đàn bà dám tranh đấu cho điều họ tin tưởng và dám đối diện với sự dối trá.

Đàn bà không tiếp nhận câu trả lời:” Không thể” khi họ tìm ra một giải pháp tốt hơn.

Đàn bà hiến dâng toàn bộ bản thân cho gia đình để gia đình của họ sinh sôi phát triển.

Đàn bà đưa người bạn của mình đến bác sĩ vì lo lắng. Họ hạnh phúc khi những người bạn yên lành. Họ khóc sung sướng khi những đứa con của họ chiến thắng.

Đàn bà vui sướng khi nghe tin về một đám cưới hoặc tin về một đứa trẻ ra đời.

Trái tim đàn bà tan nát khi một ai đó trong họ hàng hoặc bè bạn mất đi, cho dù sau đó đàn bà luôn tìm ra và duy trì đủ sức mạnh cho một đời sống tiếp.

Đàn bà rất biết: một cái hôn và một vòng tay ôm,  đủ cứu chữa cho một trái tim tan vỡ…

Bởi ĐÀN BÀ là TÌNH YÊU THƯƠNG không điều kiện của cuộc đời!

NGƯỜI ĐÀN BÀ duy nhất có một lỗi lầm:

Họ luôn QUÊN mất: GIÁ TRỊ của NGƯỜI ĐÀN BÀ lớn lao như thế đó!!!!!

Bởi vậy bạn hỡi:

Hãy gửi tiếp những dòng trên cho các bạn gái của bạn, để họ đừng quên rằng họ tuyệt vời biết bao nhiêu!!!

Và hãy gửi tiếp những dòng trên cho những người đàn ông bạn quen biết, để đôi khi nhắc nhở trí nhớ của anh ta!!!!

Nguyễn Hồng Nhung dịch từ nguyên bản tiếng Hung 
(2011.03.06)

https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=15324 

Nỗi Buồn Chiều Qua - Nguyễn Duy Phước

Tho Nỗi Buồn Chiều Qua.png

Cháu Yêu Bà Lắm! - Sỏi Ngọc

image.png

 

Người yêu thưở ban đầu khó quên

Ngày xa em anh càng nhớ thêm

Dù mai đây vật đổi sao dời

Đường tơ đã lỗi cung rồi

Tình yêu một thưở không hề quên

(Niềm đau dĩ vãng- Nguyễn Văn Đông)


Tiếng hát nho nhỏ của bà nội ở phòng bên cạnh vang lên, bà vừa thay đồ vừa lầm bầm bài hát cho thuộc lời. Tôi biết buổi “party” chiều nay bà sẽ làm ca sĩ, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày cưới của ông Tuấn, bạn thân của gia đình ông bà nội từ bao lâu nay. Bà vừa tìm đôi bông tai trong tủ, vừa ướm thử trong gương xem có hợp với bộ đồ bà mặc không. 

Bà nội tuy đã hơn 60 nhưng trông bà còn trẻ và yêu đời lắm. Bà có nhóm hát thỉnh thoảng gặp nhau, các ông bà ấy họp lại mỗi người một món ăn đem tới. Hồi xưa nghe kể mọi người không biết nấu ăn ngon, nhưng nhờ đi chơi gặp nhau, chỉ cho nhau kinh nghiệm, cách nêm nếm cho ngon hơn mỗi ngày. Ngay cả việc quần áo mọi người cũng chỉ cách, nếu chật nới ra, rộng bóp lại và thêm những rua, kim tuyến hoặc thêm vào một loại vải khác… sao cho đẹp mắt, tự làm nhà, không bị tốn nhiều chi phí ra tiệm. Các ông chồng thật hài lòng vì được ăn ngon, no bụng, ngắm “vợ đẹp”, nên không còn than thở khi phải bị các bà “tra tấn” lỗ tai vào cuối tuần nữa.

Nghe ba kể lại, rằng ông nội tôi là một người chồng gia trưởng, rất nghiêm khắc, ít thể hiện tình cảm với vợ, rất hay quát tháo. Ông không bao giờ nhúng tay vào bếp, thấy bà xách nặng ông cũng lơ, bắt bà phải nghe theo lệnh của ông từ hồi ở Việt Nam. Thuở ấy ông giữ chức cao trong xã hội, ra oai với cấp dưới, về nhà cũng đối xử với bà như vậy. Không biết bà có cảm thấy hạnh phúc không, nhưng từ nể phục bà sợ ông một phép. Hai người chỉ có với nhau một con trai là ba tôi. Khi ông ở phòng khách thì bà trốn xuống bếp, khi ông vào phòng ngủ, thì bà chờ ông ngáy to rồi mới dám khe khẽ vào đặt lưng nằm cạnh.


Từ khi qua Mỹ theo diện HO, vào những năm 1987-1990, đến xứ người lớn tuổi, không bằng cấp, trên vai một đứa con nhỏ trong tuổi ăn học, ông bắt buộc phải làm những nghề cùng đinh mà từ xưa đến nay ông không bao giờ nghĩ tới. Ông xin được chân giữ xe ở mall Phước Lộc Thọ là cảm thấy mình may mắn lắm rồi. Cả ngày ông phải phơi mình ngoài nắng nóng như lửa đốt nhất là vào mùa hè, làn da ông đen nhẻm, tóc chuyển sang màu vàng úa bạc trắng quăn quéo như những sợi râu bắp già hơ trên lửa. Sự kiện đổi đời “lên xe xuống chó” này làm ông chán nản, tiều tụy, ông thay đổi luôn cả tính tình, không còn cáu gắt ra oai với bà nữa. Ông có nhiều kiên nhẫn hơn, bắt đầu đi ra ngoài cùng bà, tuy chả bao giờ nói ngọt hay khen bà vài câu như những ông chồng khác trong cộng đồng người Việt.


Bà nội không còn được ở nhà nội trợ, chờ đồng lương ông đem về nuôi cả gia đình như xưa nữa. Lúc đó ba tôi còn đang tuổi ăn học, nên bà nội phải kiếm thêm nguồn thu nhập mới đủ chi tiêu. Bà được nhận vào phụ bếp cho một tiệm ăn trên đường Westminster.

Mới đầu vào bà là phụ bếp, sau đó bà bếp chính nghỉ hai tuần bận việc nhà, bà nội tôi phải kiêm luôn chức bếp trưởng; tiệm từ xưa đến nay chỉ có món phở, nhưng từ ngày có bà tôi thay vai, tiệm có nhiều món ngon, lạ của miền Bắc bộ được bán cho khách, tài làm bếp của bà được nhiều người trong cộng đồng biết đến, tiệm không chỉ đông đúc khách Việt, mà còn khách Mỹ và Mễ cũng mê mùi phở hầm xương bò đặc biệt của bà, bao giờ cũng có một hàng dài xếp ngoài cửa.


Một hôm ông nội dắt ba đến ăn đột xuất ở tiệm bà, chỉ là muốn gây cho bà một ngạc nhiên nhỏ, ai ngờ người ngạc nhiên không phải là bà mà chính là ông tôi. Bữa đó ông đón ba đi học về sớm, từ đàng xa mùi phở thơm nức mũi đã dắt ông đến thẳng tiệm phở mà không cần phải nhìn địa chỉ, khi đến tiệm nơi bà làm việc, đã 8 giờ tối mà tiệm còn đầy chật người bên trong, một hàng dài đứng chờ bên ngoài, ông tôi mới hỏi ông khách đang xếp hàng: 

- Tôi chở thằng con … đói bụng ghé vào đây … tiệm này chắc khá lắm …

 - Oh ông không biết sao? Từ ngày có bà Phụng (tên bà nội tôi) đứng bếp, nhiều món ăn ngon và thay đổi món mới mỗi tuần.

 - Bà Phụng là đầu bếp mới?

 - Hình như vậy, nhưng mỗi thứ sáu đều có món khác trong tuần, ví dụ tuần này có món bún thang, bún mọc, thanh nhã…

Một ông khách khác thêm vào: 

- Bà này dùng ít đường, những món bà làm rất hợp khẩu vị người Việt mình, chứ không phải chỉ làm cho Mỹ ăn… Ông anh ăn thử sẽ thấy khác biệt ngay. 

Nghe mọi người quảng cáo và khen những món ăn của bà, ông thấy vui trong lòng, buột miệng: 

- À thì ra thế! Tôi ăn thường lắm đó mà… có thấy gì đặc biệt đâu!

Ông khách tỏ vẻ ngạc nhiên: 

- Ủa! ông hay đến đây ăn hả? sao tôi cũng đến đây hàng bữa mà có thấy ông đâu? Ông ăn ở đâu vậy?

 - Ờm… Ừm… tôi ăn ở …


Hàng cứ dồn lên, ông khách vội vàng bye bye ông tôi, sung sướng cười, lách mình vào trong tiệm vì đã có một chỗ trống. Chỉ 15 phút đứng ở hàng chờ ngoài cửa, khi chứng kiến mắt thấy tai nghe về tài nghệ “chief cook” của bà nội, những người khách đã ăn, nay quay trở lại giới thiệu thêm với gia đình, bạn bè, ông không ngờ bà giỏi vậy. Bà đã chịu đựng cái tánh gia trưởng của ông bao lâu nay, không bao giờ cằn nhằn một câu. Ra ngoài ở cái tuổi không còn trẻ nữa, bà vẫn có thể bươn chải, nuôi gia đình được, cực nhọc nhưng chả bao giờ ông nghe bà càm ràm, than thở. Nghĩ thật chậm lại, ông thấy thương và cảm thấy mình có lỗi với bà, đã không hiểu được tâm tư của vợ bao lâu nay… Ông đã không xếp hàng chờ ăn nữa, mà lẳng lặng dắt ba tôi rời khỏi hàng chờ trong sự ngỡ ngàng của ba. Về nhà ông mặc chiếc tạp dề, lần đầu tiên bật lửa trên bếp làm đồ ăn cho ba, mặc dù chỉ là mì gói! 

Từ đó, ông nhìn bà với ánh mắt dịu dàng hơn, ông cảm thấy cách đối xử hà khắc của mình với vợ đã sai, bà không còn phụ thuộc vào ông như ở quê nhà nữa. Nếu ông có bỏ bà ra thì bà vẫn có thể tự sống được, chứ ngược lại thì chưa chắc ông sống nổi vì không biết làm sao đi chợ nấu ăn mỗi ngày! Ông bỗng dưng cảm thấy thẹn với lòng đã từng hống hách gia trưởng với người vợ tào khang, từ đây ông nhất định phải thông cảm, lắng nghe bà hơn.

Còn ba tôi, thấy ông bà nội quá vất vả cực nhọc làm việc để nuôi gia đình, ba chỉ biết cắm đầu học, siêng năng chăm chỉ cho đến ngày ra trường đại học với cái bằng kỹ sư điện tử. Sau khi tìm được việc vài năm, ba gặp mẹ làm kế toán trưởng trong cùng hãng làm ở San Jose, cả hai đã yêu nhau, lập gia đình và nhanh chóng có con đầu lòng là tôi, với tên Thằng Cu Mọi, gọi ở nhà.


Vì bận rộn với công việc, và cũng để ông bà nội khỏi phải mất công đi xa đến thăm thằng cháu nội yêu quý duy nhất này, nên ba đã quyết định đem tôi gởi cho ông bà nội nuôi, bà nội sẽ ở nhà trông nom cháu, cũng để tôi được nói tiếng Việt trước khi vào lớp một của hệ thống giáo dục bên Mỹ.

Từ khi lọt lòng cho đến lúc có trí nhớ, hiểu biết, khoảng 2,3 tuổi, tôi đã được nghe quen tiếng ru à ơi của bà mỗi khi ngủ, bằng giọng ngọt ngào, thánh thót: 

À Ơi…Con cò mà đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Ông ơi ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng,

Có xáo thì xáo nước trong,

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

 

Tôi thuộc làu bài hát này, và cũng yêu bà nhất trong lòng, tôi là fan nhí duy nhất của bà!

À ơi...
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.


Mỗi lần bà hát, tôi giả vờ ngủ, im lặng, ôm cái mền mòn vẹt với mùi hơi quen thuộc từ lúc nằm nôi, vểnh tai nghe, sợ nếu tôi nũng nịu úp mặt vào lòng bà, hay khen bà hát hay thì bà lại không hát nữa mà dí ngón tay lên trán tôi: 

- Chỉ có thằng chó con này mới khen bà hát hay thôi! 

Năm nay tôi đã 8 tuổi, nói tiếng Việt rành rọt với ông bà nội, trong năm tôi ở với ba mẹ để đi học, nhưng mấy tháng hè thì được ở với ông bà nội, đây là những ngày tháng dịu dàng êm ả mà tôi thích nhất vì được ông bà cưng chiều.

Bà vừa hát nho nhỏ, vừa soi dáng trong gương. Tôi nhìn ra ngoài phòng khách, ông nội đã sửa soạn xong, ngồi yên chờ bà. Trước mắt ông là màn hình TV mở rộng, ông chỉ xem hình thôi, không nghe tiếng nói của tv phát ra, chắc chắn ông phải nghe bà thầm thì hát chứ, tại sao ông không khen bà hát hay nhỉ! Vì yêu bà nên tôi muốn ai cũng phải thần tượng bà như tôi!


Tôi nhớ buổi trưa nay, bà làm món ngon đem ra để bàn cho ông, ông ăn vèo một cái là hết ngay cái đĩa, thế mà ăn xong, ông lại đứng lên đi nằm hoặc đi chơi, tôi thấy không «fair » cho bà, nhiều lúc tôi cố ý nhắc để ông thưởng công bà một lời: 

- Ông nội ăn món cá hấp xì dầu của bà làm có ngon không?

 - Ừm… ngon!

 - …Sao cháu không thấy ông nói gì?

 - Nói gì là … nói gì?

 - Như khen bà làm ngon chẳng hạn. 

Ông nhìn vào bếp, dáng bà đang loay hoay làm tiếp những món khác. Ông gãi đầu, gãi tai vì không quen mở lời khen bà bao giờ cả. Ông nói to cho bà nghe: 

- Thằng cu Mọi nó muốn tôi … cám ơn bà vì món cá hấp đấy! 

Tiếng bà vọng ra, vẫn không quay người lại, trả lời bất đắc dĩ: 

- Ừm… Không cần đâu! 

Ông nhìn tôi vẻ chứng minh:

- Thấy chưa, bà nói bà không cần mà! 

Tôi thhấy “bất công” cho bà quá, bà làm đủ thứ từ sáng đến tối, đi chợ mua đồ ngon, về sửa soạn cơm nước, ăn xong bà lại rửa chén, ông không giúp gì bà mà ngược lại còn cằn nhằn mỗi khi bà làm không vừa miệng; còn những lần bà làm ngon, ông tấm tắc khen, vẫn không thấy ông cám ơn bà!

Tôi buột miệng nói:

- Ở nhà ba con thường khen mẹ làm bếp ngon… Còn rửa chén dùm mẹ nữa!

 - Chỉ thế thôi sao?

 - Ba còn đổ xăng, rửa xe cho cả nhà, cắt cỏ… 

Ông nội chữa thẹn:

- Chắc ba con rảnh đấy, ông thì… bận lắm!

Chả lẽ một thằng bé con 8 tuổi, hỉ mũi chưa sạch như tôi lại lên tiếng bênh bà mỗi lần thấy cảnh “chướng mắt” này sao chứ. Tức mà không biết phải làm sao, tôi bỏ vào phòng mình, không thèm chơi cờ với ông sau bữa cơm chiều khi ông rủ nữa.


Tôi nhớ một lần, khi lên 6, ông bà dắt tôi đi party của các ông bà ở nhà của người bạn, tôi thấp thỏm chờ đến phiên bà hát để ủng hộ bà, vỗ tay thật to cho bà lên tinh thần. Khi tên bà được cô MC xướng lên, bà tự tin bước lên bục hát, tôi ngồi dựa lưng vào chiếc ghế da rộng bao lấy cả người tôi, ngẩng cổ im lặng, tim đập thùm thụp như chính mình là ca sĩ, mắt đờ ra khi giọng hát thánh thót của bà cất lên. Tôi phục bà quá, bà hát nguyên một bài dài mà nhớ cả trang chữ trong đầu, không có sách vở gì trước mặt cả. Tôi tưởng tượng hồi xưa bà phải học giỏi lắm vì lớn tuổi vậy mà bà nhớ nguyên bài hát, không vấp váp chút nào, nhạc lên xuống bà theo đến từng nốt, không trật nhịp, không sai, lại còn cười với người này, chào người kia từ trên sân khấu nữa chứ, y như ca sĩ trong tv vậy!


Tôi há hốc miệng, nhìn bà điệu đàng đong đưa, lúc nghỉ ở giữa chừng bài hát, mọi người ùn ùn kéo nhau lên sân khấu chụp hình với bà. Tôi thật phấn khích la hét hú lên cổ động bà ở dưới này, rồi nhân tiện lúc lắc cái lục lạc đem theo bên mình từ nhà. Mấy ông thì lên tặng hoa cho bà, tôi nhìn quanh không thấy bóng ông nội đâu cả. Đưa mắt tìm mãi mới thấy ông ngồi trong góc nhà, đầu quẹo sang một bên, dựa vào tường, tiếng ngáy đều đều nhẹ nhàng… Trời ơi! tức quá đi thôi, ông đã không hề nghe bà hát! Tôi phóng đến bên ông, lung lay tay ông, khe khẽ gọi:

- Ông! Ông nội ơi…


Mở bừng mắt dậy, ông quệt tay lên miệng, như người vừa tỉnh dậy từ một giấc ngủ dài thật đã. Ông nhìn quanh để biết mình ở đâu, rồi mới nhìn thẳng mặt tôi:

- Gì đấy Cu? Chuyện gì?

 - Bà hát gần xong rồi, ông sửa soạn lên đón bà xuống và tặng hoa hồng cho bà… 

Tôi đưa ra đóa hoa hồng đã giữ từ nãy giờ, lo người ta lấy hết, đến nỗi cánh hoa vì nóng quá muốn gục xuống luôn, thế mà ông lại gắt nhẹ tôi: 

- Để ông ngủ, cháu ra chơi với bà là được rồi!

Ông tiếp tục ngoẹo đầu vào tường định ngủ tiếp, tôi cự nự:

- Không! Cháu không chịu, ông phải tặng hoa này cho bà cơ!

 - Ơ! Cái thằng cu Mọi này! Sao lại bắt ông lên tặng bà thế? Cháu thích thì …tặng đi!

 - Cháu không chịu đâu, ông phải lên tặng bà cơ!

 - Cháu thấy bao nhiêu người lên tặng hoa bà rồi đấy mà, đâu cần phải ông!

 - Nhưng… ông phải tặng mới … có ý nghĩa!

 - Cái thằng này thật cắc cớ! ai tặng mà chả được, hay cháu lên tặng bà nhé?

Tôi mếu máo, dọa ông: 

- Cháu không biết đâu, cháu sẽ gào to lên nếu ông không lên tặng!

 - Hay là… Cả hai ông cháu mình cùng lên…?

 - Nếu ông sợ đi một mình… 

Tôi nhớ lần ấy tất cả khách và chủ nhà đều vỗ tay thật to khi thấy một thằng bé 6 tuổi vừa kéo, vừa dắt tay ông lên sân khấu tặng hoa cho bà. Khuôn mặt tôi lúc đó thật hạnh phúc, trong khi ông thì nửa giận, nửa xấu hổ vì phải thua thằng cháu!


Tôi biết mình là thằng cháu cưng của ông bà nội nên từ bé tí tuổi đầu, tôi đã biết bênh vực bà, ai làm gì không vừa ý là tôi nằm bệt ra đất, giẫy đành đạch, đòi cho kỳ được, không được ai làm tổn thương bà, mỗi lần ông bà đi đâu, tôi cũng đòi đi theo để bảo vệ quyền lợi cho bà và cũng để được chọn đồ chơi mà tôi thích. 

Càng lớn tôi càng bận rộn với nhiều môn học, ít đến thăm ông bà, thỉnh thoảng mỗi tháng tôi gọi “facetime” để được nhìn và nói chuyện với bà yêu quý của tôi. Thấy bà đang sửa soạn ra ngoài, tôi hỏi:

- Bà đi chợ hay đi đâu vậy?

 - Ừ bà sắp đi chợ đây, cuối tuần này cháu có xuống bà ăn cơm không? Đã khá lâu rồi…

- Cháu muốn lắm nhưng nhiều bài học, chắc phải đến tháng sau cháu mới rảnh được ạ… Ông có đi chợ với bà không?

 

Nghe tiếng tôi hỏi, ông ở gần đấy vội lên tiếng: 

- Có chứ! Ông phải đi với bà để lái xe và đẩy xe đồ ăn cho bà nó chứ! Cháu hài lòng chưa?

 - Ông giỏi quá, ông đi ra ngoài như thế có thể đi bộ cho khỏe chân, lại có thể gặp bạn bè uống café trong khi bà đi chợ?

 - Cái thằng cu Mọi này biết bày độ cho ông quá!...  ông muốn giúp bà đẩy xe chợ và nhân tiện mua vài món ăn vặt khi xem tv thôi.

 - Cháu rất vui và yên tâm thấy ông đi “bảo vệ” bà…

 - Ừm… nếu không bảo vệ thì ông sợ sẽ không còn ai làm cơm ngon cho mình ăn nữa đấy cháu nội yêu quý ạ!

Trước khi cúp điện thoại, tôi đều nhắc:

- Bà ơi! Cháu yêu bà nhất trên đời!

 

Sỏi Ngọc

Montreal, July’26