Giữa tháng
5 năm 1980, họ chuyển tôi từ trại Suối Máu Biên Hòa lên trại Tống Lê Chân.
Đây là một trại tù ở giữa rừng, gồm các dãy nhà tranh với mấy lớp hàng rào kẻm
gai bên ngoài và một lớp hàng rào tre bao bọc bên trong che kín, không nhìn
thấy đuợc bên ngoài. Ở bốn góc và ngay cổng ra vào là các chòi canh đuợc trí
súng đại liên. Sau khi lên đến trại Tống Lê Chân, chúng tôi liền nghiên cứu
ngay kế hoạch để trốn, vì phải trốn càng sớm càng tốt.
Khi ở trại
Suối Máu Biên Hòa tôi có lượm được một cục nam châm hình trụ to bằng đầu ngón
tay. Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam châm đuợc treo trên sợi
chỉ, đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ về huớng Bắc, còn đầu kia là
hướng Nam. Vì hai đầu giống nhau nên tôi phải dùng dầu hắc nhựa đường để làm
dấu đầu huớng Bắc.
Trong thời
gian ở tù chung nhau qua các trại, tôi có quen thân và hay tâm sự với Thu, một
nguời cùng thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có cùng chung một quyết tâm
là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp. Thu cũng cho biết là có thêm một nguời
bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình. Bình là một người rất tháo vát, lanh lợi
và đã từng đổ đầu khóa học “Rừng Núi Sình Lầy” ở trường Biệt Động Quân Dục Mỹ,
Nha Trang. Bình đã làm đuợc một cái kềm để cắt kẻm gai. Kềm này làm bằng hai
quai xách của cuộn kẻm gai concertina, hai quai xách này bằng thép rất cứng.
Khi một đầu đuợc đập dẹp, mủi mài nhọn và đục lổ, thì trông giống như luởi
dao. Nhưng khi hai cái luởi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm
trục xỏ xuyên qua hai lổ, thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai.
Để chuẩn bị
cho việc trốn trại, mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại vải ngụy trang để
đựng đồ mang theo như lon guigoz, mì gói, gạo muối v.v…Mỗi nguời mang theo một
bộ đồ thật tốt, quần tây áo sơ mi bỏ trong bọc nylon thật kín cho khỏi ướt, để
bên trong áo truớc ngực, mặc đồ trận áo lính cũ bên ngoài. Ngoài ra tôi còn
may thêm một cái túi vải nhỏ để cất giữ cái địa bàn, có dây choàng qua cổ để
khỏi rớt mất. Mỗi lần đo là tôi rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có
làm dấu đầu huớng Bắc bằng dầu hắc nhựa đường nên tôi sờ vào là biết để đi cả
ban đêm. Chúng tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ, quần áo mặc, túi vải,
đồ đạc mang theo tất cả đều phải đuợc ngụy trang cho tiệp với màu cây lá
trong rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào. Ngoài ra chúng tôi còn sắp
đặt những gì sẽ bỏ lại, thật ít đồ bỏ lại, cố ý ngụy tạo như là có ý định sẽ
đi xa, tức là sẽ đi về huớng Bắc để qua biên giới Kampuchia.
Buổi chiều
hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau, đem tất cả những gì ngon đem ra ăn, ngốn
cho thật đầy bụng để lấy sức tối đi. Tất cả đồ còn lại đem cho hết hoặc chôn
dấu. Thu đem cả túi balô quần áo cho bạn bè. Tôi có cho một nguời bạn cùng
khóa là Lương Văn Thìn mấy gói mì, mà bạn tôi không hiểu tại sao, tuyệt nhiên
tôi không có đá động gì tới chuyện trốn trại.
Suốt trong
ba tuần lễ liền, Thu đã phải theo dỏi thật kỹ các toán tuần tra canh gác, giờ
nào đi tuần, giờ nào đổi gác v.v…Sau cùng chúng tôi đã đi đến quyết định giờ
xuất phát là 9 giờ tối, khi máy phát điện vừa tắt thì bắt đầu chui ra. Ở đây
mỗi tối có máy phát điện cho công an coi truyền hình, đến 9 giờ thì tắt. Sau
đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là bắt đầu đi tuần. Và theo như chúng tôi dự
tính là phải mất 10 phút để cắt kẻm gai và 5 phút chót phải bò thật nhanh qua
con đuờng tuần tra là khoảng đất trống bên ngoài. Địa điểm thuận lợi nhứt để
chui ra là khoảng giữa hai chòi canh phía sau trại. Ban đêm họ đứng gác trên
chòi canh cao nên không thể thấy rõ ở dưới đất đuợc, theo đúng nguyên tắc
canh gác ban đêm là phải ở dưới thấp. Còn ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối
tuần trăng, để khi chui ra thì trời còn tối, đến nửa đem trăng lên dễ thấy đường
để đi. Chúng tôi chọn đêm 22 ta, âm lịch, vì tin dị đoan sợ đêm 23 ta là
không tốt.
Đúng 8 giờ
rưởi tối đêm 22 tháng 4 âm lịch tức là ngày 3 tháng 6 năm 1980, chúng tôi bắt
đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu, để chuẩn bị cắt dây lạt của lớp
hàng rào tre truớc, để đến đúng 9 giờ khi máy phát điện vừa tắt là chui ngay.
Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi thấy ở ngoài suối có ánh đèn của công an
đang đi bắt cá ở duới suối, nên chúng tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ
như thuờng lệ.
Qua đêm hôm
sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được nữa, vì sợ nếu để lâu
dể bị bại lộ. Lần này cũng đúng 8 giờ rưởi là ra cầu tiêu, vì cầu tiêu là chổ
tốt nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để ý. Bình bắt đầu cắt dây lạt của lớp
hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ để sẳn sàng chui ra. Lớp hàng rào tre này
đuợc chôn sâu duới đất và sát khít nhau bằng hai lớp tre đan chéo vào nhau dầy
đặc. Vì vậy rất khó gở ra, phải đào sâu xuống đất mới vạch ra một lỗ vừa chui
và phải làm thật chậm thật kỹ vì sợ ở chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu
ngọn tre. Khi máy phát điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt
đầu chui, thì bất ngờ có hai người đợi chui trốn theo. Thật hết sức bất ngờ
và không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau cùng trốn.
Bình chui ra trước là để cắt kẻm gai rồi đến tôi chui kế, tiếp theo là hai
người trốn chui theo và Thu là người chui sau cùng.
Sau khi
chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẻm gai thứ nhứt. Nhưng
phía dưới lớp hàng rào kẻm gai này là rãnh thoát nước với đất bùn sình hôi
thúi, nên chui lòn qua được mà khỏi phải cắt. Đến lớp hàng rào kẻm gai thứ
hai thì Bình bắt đầu cắt. Hàng rào kẻm gai của VC rào thì họ có quá nhiều
kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ. Họ bắt phải đào một cái rảnh sâu xuống
đất rồi mới trồng cột sắt lên và rào kẻm gai ngay từ phía dưới rào lên, rồi lấp
đất lại, nên không có cách nào vén lên để chui lòn qua được, mà chỉ có cách
duy nhứt là phải cắt thì mới chui ra đuợc. Mà cái kềm cắt kẻm gai của Bình biến
chế nên không cắt dễ dàng nhanh chóng được. Khi đang nằm chờ trong đám cỏ
tranh giữa mấy lớp hàng rào với quần áo đầy bùn sình hôi thúi, tôi nhìn lên bầu
trời đầy sao, cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ đến, vì không
còn cách nào hơn để lựa chọn được nữa.
Bình cắt
xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua được và còn một lớp sau cùng cũng mất
5 phút nữa. Và cuối cùng chúng tôi chui qua đuợc hết và phải bò thật nhanh,
chỉ dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất như bò hỏa lực, vuợt thật
nhanh qua khoảng đất trống, rồi trườn mình xuống suối. Lúc đó tôi có cảm giác
như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ lồng ngực. Tiếng thở dồn dập hổn hển mà
tôi nghe rất rõ, và gợn lên sóng nước khi ngâm mình trong nước để lội qua suối.
Qua bên kia
bờ suối chúng tôi phải bám theo rể cây để leo lên vì lòng suối sâu hẳm. Lên
khỏi suối là băng mình qua đám rừng tre, rồi băng qua con đường mòn. Con đường
mòn này đi ra chuồng bò nên chúng tôi phải tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời
lui tới. Bất ngờ Thu bị lọt xuống một hố sâu có lẽ là hố rác, tụi tôi phụ
nhau kéo Thu lên. Vừa lên xong là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm.
Không bao
lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nỗ ran trời và sau đó
là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy túa ra về phía chúng
tôi, càng lúc nghe càng gần. Tiếng lên đạn súng AK47 nghe rớp rớp, tiếng hò
hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm dọa “địt mẹ ra đi không tao bắn chết
mẹ hết bây giờ”, nghe rất gần ở ngoài con đường mòn mà chúng tôi vừa mới chạy
qua. Vì vậy chúng tôi hết đường chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ,
nên 5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó. Sau này được
biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có người chui trốn
theo, nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy đuổi
theo để bắt chúng tôi.
Chúng tôi cố
nằm yên không động đậy. Một lúc sau nghe tiếng máy điện chạy trở lại và nghe
tiếng lào xào ở trong trại, chắc là VC đang ra lệnh tập hợp điểm danh. Một hồi
lâu sau thấy yên tịnh, không hiểu là họ vẫn còn lục soát hay ngồi núp rình
đâu đó hay là đã đi chổ khác. Nhưng trong lúc đó chúng tôi quyết định là phải
bò đi vì không thể chần chờ ở đây lâu đuợc.
Chúng tôi 5
đứa bắt đầu bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa lên đặt xuống thật
nhẹ nhàng, nếu lở có một tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay một
tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp. Bò đuợc một
lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi là chưa đi được bao nhiêu, chân tôi
bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ, tôi rờ thấy ướt mới biết,
nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì. Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho
nhanh ra khỏi chổ này, nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận, bước đi thật nhẹ
nhàng im lặng. Tôi lấy thẳng hướng Nam mà đi, đi ngược với hướng Bắc là hướng
qua biên giới. Chúng tôi giữ đúng hướng, không đi theo đường mòn hay chổ trống,
bất kể là băng qua các đám ôrô dưới suối hay bụi lùm gai góc. Và càng lúc
nghe tiếng máy điện ở phía sau lưng càng nhỏ dần.
Khi đó nghe
có tiếng xe molotova, loại xe chở quân của VC, chạy đổ ra tứ phía. Chúng tôi
phải đi chậm lại, sửa soạn đồ đạc cho thật gọn gàng, tuyệt đối không đuợc gây
tiếng động và phải quan sát cho thật kỹ. Mỗi người nhìn một hướng, khi đến chổ
trống hay gặp đường mòn là dừng lại lủi ngay vô bụi rậm gần nhứt rồi từ từ
quan sát sau. Có nhiều lúc gặp họ đang đi bằng xe đạp, chạy ngang qua rất gần
mà họ không thấy. Mỗi khi muốn băng qua đường mòn hay trảng trống, chúng tôi
dừng lại nghe ngóng quan sát rất kỹ rồi mới chạy nhanh qua từng người một. Bỗng
đâu có một tốp người Thượng, vợ chồng con cái vừa đi vừa nói chuyện lào xào,
nên chúng tôi lủi tránh kịp thời.
Lúc trời
sáng hẳn chúng tôi đổi hướng đi về phía Đông tức là hướng ra quốc lộ 13. Đi
trong rừng hoang vắng nhưng thỉnh thoảng nghe có tiếng đốn cây chặt củi,
chúng tôi phải tránh xa ra. Đi tới chiều thì gặp con đường lộ đá đỏ, đó là đường
vô Minh Thạnh. Chúng tôi chuẫn bị kỹ rồi băng qua đường cho thật nhanh và lủi
vô sâu trong rừng một khoảng xa rồi dừng lại nghỉ. Chúng tôi lựa chổ kín đáo
để dừng lại nghỉ, bởi vì từ đêm tới giờ gần một ngày tròn đã đem hết sức lực
để cố vượt thoát xa vùng nguy hiểm, nên bây giờ thấy thấm mệt, nhứt là vấn đề
nước uống rất là khan hiếm. Tôi mang theo lon guigoz đựng nước uống nhưng đã
bị đỗ mất hết vì nắp đậy của lon guigoz không kín chắc, giờ thấy khát rát cổ
họng. May sao Bình tìm được một giếng nước bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, nhìn xuống
giếng tối om không thấy nước, nhưng khi thòng lon guigoz xuống, múc lên được
những lon nước thật trong veo, uống thật ngon thật đã, nhờ đó chúng tôi ăn mì
gói với nước lạnh. Xong rồi lấy thêm đầy nước rồi đi ngay, tiếp tục lấy hướng
Đông để ra Quốc lộ 13.
Trời bắt đầu
tối, nhưng khi tiếp tục đi thì nghe có nhiều tiếng súng trong rừng, chắc có lẻ
là họ đi săn, mà cũng có thể là bọn công an, vì vậy chúng tôi phải dừng lại để
tìm cách lẫn tránh. Chúng tôi ra giữa đám trảng tranh lớn cao quá ngang đầu,
vạch đuờng ra ở giữa đám tranh, trải một tấm nylon để nằm nghỉ lưng và canh
chừng mọi động tĩnh chung quanh. Nếu có người đi tới thì chúng tôi sẽ thấy dễ
dàng để tìm đường lẫn tránh, nhưng nguợc lại họ sẽ không thấy chúng tôi đuợc
vì tranh cao quá khỏi đầu. Khi đó hỏi chuyện nhau mới biết tên hai người đi
chui theo, đó là Tường phi công phản lực A37 và một người nữa tên là Thạch,
hình như là người Việt gốc Hoa, tôi không biết đơn vị, cả hai anh đều mang
dép nên rất khó đi.
Sáng sớm
hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đường sau khi xóa mọi dấu vết. Khi đi thỉnh
thoảng gặp các bẩy của người Thuợng rất là nguy hiểm, như bẩy cò ke, nếu vướng
chân vào thì cần bật sẽ bung lên rất là mạnh, có thể làm bị thương, hay bẩy bắn
tên khi đụng vào cần bật thì bao nhiêu mủi tên tẫm thuốc độc sẽ bắn xuống. Vì
vậy khi thấy khả nghi là phải dừng lại xem xét cho thật kỹ rồi tránh xa ra.
Chúng tôi rất khát nước vì đi cả ngày mồ hôi ra nhiều mà không có miếng nước
uống nên khát dữ lắm. Gặp một cây nói là trái gấm, Bình leo lên hái xuống ăn
thử, vừa ngứa miệng, vừa khát nước thêm. Có lần gặp được nước đọng trong các
lằn bánh xe bò và trên những lá cây khô còn đọng nước của những trận mưa trước,
chúng tôi góp nhặt lại hớp những giọt nước đó cho đở khát.
Đến chiều
thì trong lúc đang đi bất chợt gặp một em bé trai độ 11, 12 tuổi đang lang
thang trong rừng. Chúng tôi giả dạng như là cán bộ đi khảo sát địa chất và hỏi
em bé ở đâu có suối, thì em bé đó chỉ về hướng trước mặt, đi thêm vài chục
thước là thấy suối, một con suối rất lớn. Nhìn ở phía xa kia là một khu rừng
đã được phát quang và có các cây to bị đốt cháy nám đen, một đám người đang
cuốc đất làm rẩy, chắc là dân vùng kinh tế mới. Chúng tôi lội xuống suối uống
một bụng nước thật no nê. Sau đó chúng tôi tìm chổ bụi lùm kín đáo để nấu
cơm, nấu bằng lon guigoz, hai đứa thay phiên nhau quạt để khói đừng bốc lên
cao. Chúng tôi ăn bữa cơm này thật là ngon, ăn cơm nóng với bột ngọt trong
gói mì.
Sau khi ăn
xong, trời đã xế chiều, chúng tôi thấy đoàn người làm rẫy đi về nhà đi theo
hướng Đông, như vậy là ra Quốc lộ 13, nên chúng tôi đợi cho họ đi hết rồi mới
men theo con đường mòn đó để đi cho nhanh. Đi độ chừng một tiếng đồng hồ thì
ra tới ấp, tôi đoán chừng là vùng Tân Khai hay Tàu Ô, nằm cạnh Quốc lộ 13. Thấp
thoáng nhìn từ xa thì thấy có lớp hàng rào tre bao bọc, và hình như có cổng
ra vào, giống nhu một trại tập trung, nên chúng tôi không dám đến gần và cũng
không muốn vô đó làm gì.
Sau khi trời
sụp tối thì chúng tôi tiếp tục đi, chúng tôi dự định đi trong bìa rừng theo
đường rầy xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh nằm song song với Quốc lộ 13 để đi, dự định
sẽ đi qua khỏi quận Chơn Thành, rồi mới ra đường đón xe. Riêng hai người trốn
theo là Tường và Thạch thì không dám đi nữa, mà họ có cho địa chỉ nếu ai về
được đến Sài Gòn thì nhắn dùm gia đinh họ lên đón. Chúng tôi ba đứa đi lần mò
trong đêm và vì trời tối quá nên không đi được bao xa, mà đành phải dừng lại
nghỉ qua đêm.
Sáng sớm
hôm sau lên đường đi tiếp, đi cho đến trưa thì dừng lại nghỉ bên cạnh một cái
ao nhỏ xung quanh có cây cối um tùm, dễ ẩn náo để nấu cơm ăn. Xong rồi lại đi
tiếp, đến chiều chạng vạng tối thì đến một cái ấp khác, một xóm nhà lô nhô
ngoài gần quốc lộ, chúng tôi ở bìa rừng trốn trong hầm hố cũ đuợc che phủ bởi
những lùm tre rất kín đáo. Buổi chiều dân trong làng đi lao động về, họ đi
ngang qua khá gần chổ chúng tôi đang trốn, tiếng chó sủa dữ dội nhưng họ
không để ý mà chỉ lo đi cho mau về nhà.
Chiều hôm
đó nằm nghe tiếng chó sủa, tiếng trẻ con đùa giỡn trên đường, nhìn khói lam
chiều từ một mái nhà tranh quyện bay lên không trung mà lòng tôi cảm thấy buồn
vô hạn. Chạnh lòng nhớ đến vợ con, thầm nghĩ đến một mái ấm gia đình bên vợ
hiền con thơ mà tôi uớc mơ được như họ. Được sống đầm ấm trong một căn nhà
tranh vách đất ở một miền thôn quê rừng núi nào đó. Nhưng nghĩ lại thân phận
tôi là một người tù trốn trại, tương lai rất mờ mịt, không biết ngày mai sẽ
ra sao. Một uớc muốn tầm thường, được làm một người dân bình thường để sống
mà lo cho gia đình nuôi vợ nuôi con cũng không được. Tôi buồn cho thân phận
bơ vơ lạc lõng của tôi trong cái xã hội mới này. Hoàn cảnh của tôi thật đúng
với câu “nước mất nhà tan, gia đình ly tán”.
Đêm đó
chúng tôi khát nước vô cùng, cồn cào lên cổ họng. Bình với ý định lẻn vô nhà
dân để xin nước uống, nhưng tôi với Thu cản lại, vì bao công trình giờ rủi ro
vô gặp phải nhà của công an thì nguy khốn, đành chịu nhịn khát qua đêm. Nhưng
không ngờ đến khoảng nửa đêm thì trời đỗ xuống một trận mưa thật lớn. Chúng
tôi mừng quá lấy tấm nylon ra căng để hứng nước uống. Uống no bụng xong rồi,
đỗ đầy vô lon guigoz mà trời vẫn tiếp tục mưa càng lúc càng lớn. Chúng tôi bị
lạnh quá phải ôm lấy nhau trên đầu phủ tấm nylon và mỗi đứa phải lo ôm thật
chặt bộ quần áo tốt ở trong bọc nylon, ôm kỹ ở trước ngực để giữ cho khô. Trận
mưa này thật lớn thật lâu sau cùng rồi cũng dứt hẳn. Vì không thể đi tiếp
trong rừng cho đến quận Chơn Thành, vì đường còn xa mà đường rầy xe lửa thì
không còn nguyên như trước nữa, mà chỉ còn là những đám rừng tre che phủ um
tùm rất là khó đi, chỉ có thể chui lòn dưới đám tre gai, cho nên chúng tôi
quyết định là sẽ chia tay nhau ở đây, phân tán ra mỗi người tự tìm cách để đi
về Sài Gòn rồi sẽ gặp lại nhau sau.
Trời hừng
sáng chúng tôi thay bộ đồ thật tốt thật tươm tất, đồ đạc còn lại đem chôn dấu
trong bụi, xong chờ cho đến khi nghe có tiếng xe chạy là lần lượt ra đường, lựa
khoảng trống giữa hai nhà mà ra đón xe. Bình lên đường trước tiên, một lúc
sau thì đến Thu, và tôi là người ra đường sau cùng. Khi bước ra quốc lộ 13
tôi lấy bình tỉnh đi men theo bên đường chờ đón xe. Tôi không thấy Bình đâu hết
mà chỉ thấy Thu đang đi phía trước tôi một khoảng xa. Có chiếc xe Lam (xe ba
bánh chở hành khách hiệu Lambretta) chạy trờ tới tôi liền đón để đi, vì xe đã
đầy người nên tôi phải đeo theo xe đứng ở phía sau. Thu cũng lên đuợc chiếc
xe đi trước tôi. Xe chạy qua cầu Tàu Ô và như vậy là đêm qua chúng tôi đã ngủ
ở giửa khoảng Tàu Ô – Tân Khai. Trước kia, đây là đoạn đường nguy hiểm nhứt của
quốc lộ máu mang số 13 và cũng chính nơi đây đã xảy ra những trận chiến vô
cùng ác liệt, mà dấu vết các hầm hố còn lại rất nhiều, dọc theo bìa rừng
trông ra quốc lộ.
Khi xe vô
quận lỵ Chơn Thành tôi xuống xe ở đầu ấp Chơn Thành 2 để đi bộ vô, vì sợ vô tới
bến xe sẽ gặp công an. Đi bộ dọc theo con đường vào quận lỵ, tôi nhớ lại các
nơi mà ngày xưa quen biết như Trại cưa Lê Quang, Trại cưa Mai Chấn Hưng, Lò
than ông Năm Thãnh, sau này ông Năm Thãnh cũng lập thêm trại cưa. Đi gần đến
chợ là đến bến xe và tại ngả tư đường đi Đồng Xoài có một đồn cảnh sát hồi
xưa, bây giờ là đồn công an Việt Cộng. Tôi dự định đi bộ ra khỏi quận lỵ rồi
mới đón xe để đi Bình Dương. Tôi đi ngang qua dãy phố chợ mà ngày xưa có các
tiệm ăn như Nghĩa Thành, Bạch Tuyết, nổi tiếng với món canh chua cá lóc, cá
kho tộ. Đi ngang qua ngôi chùa, qua cây cầu là gần đến đầu quận lỵ. Tôi nhìn
thấy Thu đang đi phía trước bỗng dưng đổi hướng qua trái tấp vô một quán nước.
Tôi nhìn kỹ về phía trước phía bên phải thì thấy có một trạm kiểm soát nên
tôi cũng đổi hướng qua trái tấp vô một quán nước. Tôi nhớ mài mại hình như
đây là quán của bà Năm Chích, có cô con gái ra tiếp. Tôi kêu một ly cà phê,
ngồi uống để quan sát coi trạm kiểm soát đó nó hoạt động như thế nào. Tôi thấy
rõ hai thằng công an coi tù ở trong trại ra đây chận xét xe để nhìn mặt bắt
chúng tôi, hai tên này đứng bên cạnh trạm kiểm soát tài nguyên. Mỗi khi xe đến
đó, tài xế vô trình giấy tờ cho trạm kiểm soát tài nguyên ở bên trong, thì
hai tên công an đứng bên ngoài đi ra lục soát xe.
Tôi đoán chắc
là nó sẽ bố trí chận xét ở đây để bắt tù trốn trại, vì đây là quân lỵ gần nhất,
mà muốn ra khỏi quận thì phải đi ngang qua trạm kiểm soát này. Nếu đi bằng xe
đạp, xe thồ, mặc đồ như người đi làm cây làm củi trong rừng thì mới lọt qua
được. Còn nếu bây giờ băng vô trong rừng để đi bọc qua thì cũng sợ gặp phải
người lạ mặt họ dễ nghi ngờ, vì mình mặc đồ sạch sẽ tươm tất quá. Tôi còn
đang phân vân không biết phải làm cách nào để qua khỏi trạm kiểm soát này,
thì thấy Thu đi ngược trở lại, ngang qua chổ tôi. Thu trở lại bến xe để đón
xe đi, còn Bình thì không còn thấy tâm dạng đâu hết, chắc là đã đi thoát rồi.
Tôi ngồi chờ
một hồi thì thấy chiếc xe lô chạy trờ tới, tôi nhìn thấy Thu ngồi ở băng sau
cùng. Xe tới trạm kiểm soát thì ngừng lại, trong khi nguời tài xế vô trình giấy
tờ thì một tên công an đi ra nhìn vào xe, một lúc sau thì tài xế trở ra và nó
cho xe chạy đi. Tôi mừng cho Thu đã thoát nạn, giờ đây chỉ còn lại một mình
tôi, tôi không còn biết cách nào khác hơn là trở lại bến xe để đón xe đi. Đây
là chổ nguy hiểm nhứt mà tôi cố tránh nhưng không được nên đành phải liều mạng.
Khi vô bến
xe thì thấy có một chiếc xe lô, loại xe nhỏ để chở khách, tôi thấy xe trống
trơn chưa có ai, tôi lên ngồi băng sau cùng. Ngồi một lúc lâu thấy nóng ruột
nên mới hỏi bác tài là xe chừng nào chạy, ông ta nói chờ khách lên đầy thì
đi, mà thường là khách ở trong Minh Thạnh ra nhiều. Tôi hơi lo vì khách ở
trong Minh Thạnh ra có thể là công an trong trại ra đi phép. Ngồi một hồi lâu
thì chợt có một tốp người đi buôn than họ lên gần đầy. Bỗng tôi thấy có hai đứa
nhỏ độ hơn mười tuổi tay cầm một con gà, tay xách một giỏ đồ, tôi liền nhanh
miệng kêu hai em bé đó vô ngồi gần bên tôi và tôi phụ xách dùm đồ, làm như vậy
thấy đở trống trải vì có hai em nhỏ che đở phần nào.
Khi xe chạy
tới trạm kiểm soát thì dừng lại, bác tài vào trình giấy tờ trong trại kiểm
soát tài nguyên. Tôi thấy một thằng công an, đứng bên cạnh trạm kiểm soát, bước
ra để nhìn mặt người trên xe. Nó nhìn vào băng trước, trên đó có hai người ngồi,
tôi nghe tiếng quát tháo của tên công an là hai người ngồi đằng truớc là “tại
sao đầu tóc để dài bù xù như cao bồi du đảng, đâu đưa giấy tờ coi”. Sau khi
coi xong giấy tờ hai người phía trước là nó liệng vô xe rồi ra lệnh cho đi một
cách thật oai quyền. Cũng vừa lúc bác tài đã trở ra xe, bác tài liền rồ ga
cho xe chạy đi, mà lòng tôi vui mừng khắp khởi vì vừa thoát được một trạm kiểm
soát thật là vô cùng nguy hiểm.
Xe chạy qua
khỏi Tham Rớt, Bầu Bàn, Bầu Lòng rồi đến quận Bến Cát, ở đây cũng có trạm kiểm
soát nhưng là trạm kiểm soát tài nguyên nên không có gì trở ngại. Xe chạy về
tới Chánh Hiệp Bình Dương, một trạm kiểm soát rất lớn, nơi cửa ngỏ vô thành
phố nên xe đậu nối đuôi nhau rất dài. Chiếc xe tôi đi là xe nhỏ chở than lậu
nên tài xế đã biết cách vô trình giấy tờ và nộp tiền mãi lộ là xong ngay. Xe
đi tiếp vô thành phố vào đậu ở bến xe, tôi xuống xe cũng vẫn còn nắm tay hai
em bé vô mua giấy xe để về Sài Gòn, vì hai em bé đó cũng về Sài Gòn. Tôi thấy
người ta sắp thành hàng dài để chờ mua vé xe, tôi cũng sắp vô hàng chờ đợi.
Nhưng khi tôi nhìn kỹ lại thì thấy mỗi nguời khi mua vé xe đều phải trình ra
một thứ giấy tờ gì đó, hình như là giấy phép đi đường hay là giấy căn cước,
mà trong mình tôi thì không có thứ giấy tờ nào nên tôi hơi sợ, nên mới nói với
hai em nhỏ là cứ sắp hàng để mua vé về Sài Gòn trước đi còn tôi thì sẽ đi
sau. Tôi bỏ ra ngoài tìm đường khác để đi, chớ khi mua vé họ hỏi đến giấy tờ
là mình không biết trả lời ra sao, vì trong mình tôi không có thứ giấy tờ nào
hết. Tôi vào quán nước kêu ly nước đá chanh vừa uống vừa quan sát để tính kế.
Bỗng chợt thấy xe Honda ôm, tôi liền nghĩ ra phương cách hay nhứt để đi về
Sài Gòn là bằng xe ôm. Tôi dự định là sẽ về nhà của chị Đồ ở Phú Thọ. Trong
những lần đi thăm nuôi, vợ tôi thường đi chung với chị Đồ nên hai gia đinh rất
thân nhau và trước khi trốn trại tôi có dọ hỏi anh Đồ địa chỉ nhà cho thật kỷ,
thật đầy đủ chi tiết đường đi nước bước, làm sao vô nhà, đi vô ngỏ hẻm nào
v.v….Tôi chỉ hỏi chơi chơi chứ không cho anh biết ý định trốn trại của tôi.
Anh lái xe
ôm ra giá đi Sài Gòn là 50 đồng, tôi không có đủ tiền nhưng tôi nói với anh
là đưa tôi về đến nhà tôi lấy tiền rồi trả sau. Sau khi bằng lòng giá cả anh
ta mới đi đổ xăng và trở lại đón tôi. Trên đường đi tôi cũng nói thêm với anh
là tôi vừa ở vùng kinh tế mới về, bị mất hết giấy tờ nên nhờ anh chạy làm sao
để tránh các trạm kiểm soát. Anh ta nói là tụi công an nó chỉ xét coi có buôn
đồ lậu, chứ như ông đi mình không, thì không có gì để xét thì đừng có lo. Tôi
nghe mừng trong bụng và trong lúc đi đường tôi có hỏi chuyện thì anh có cho
biết hồi trước anh là lính của Sư đoàn 5 Bộ Binh. Nghe biết vậy thôi chứ tôi
cũng không có hỏi thêm gì về chuyện ngày trước. Xe chạy qua các trạm kiểm
soát Búng, Lái Thiêu rồi Bình Triệu. Thấy xe kẹt đậu dài dài để chờ xét, còn
xe Honda ôm này chạy qua hết mà không bị hỏi han gì và sau cùng vô Sài Gòn
qua ngả cầu cư xá Thanh Đa rồi qua cầu Phan Thanh Giản và chạy trên đường
Phan Thanh Giản để về Phú Thọ.
Nhìn quang
cảnh thành phố Sài Gòn sau 5 năm trở lại, tôi cảm thấy như bơ vơ lạc lỏng,
như lạc vào một thế giới nào xa lạ lắm. Đây không phải là thủ đô Sài Gòn năm
xua, một thời đã từng đuợc mệnh danh là một “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Nay tôi thấy
trên đường toàn là xe đạp, mà người người trông lam lũ tả tơi, không cười
không nói, với dáng vẻ buồn thiu ảm đạm, thật đúng với câu “người buồn mà cảnh
có vui đâu bao giờ”.
Khi đến Phú
Thọ, xe Honda chạy vào con hẻm nhỏ, một số con nít chạy theo. Khi xe vô đúng
số nhà mà tôi đã học thuộc lòng, tôi gỏ cửa và chị Đồ ra mở cửa. Khi thấy tôi
chị buột miệng la lên: “Ủa anh Thạch mới được thả về, còn ông Đồ của tôi
đâu”. Tôi lật đật nói nhanh là tôi mới được thả về và xin muợn chị 50 đồng để
trả tiền xe. Chị vô lấy tiền cho mượn ngay để trả tiền xe. Khi xe đi rồi và
đám con nít đã tản đi hết rồi thì tôi mới nói thiệt với chị là tôi trốn trại
và nhờ chị về báo tin cho vợ tôi hay. Chị hốt hoảng cho biết là mới vừa tuần
trước đây thằng em trai của chị vừa mới vượt biên đã đi thoát được. Nhà chị
đang bị công an phường khóm điều tra theo dõi, cho nên chị không dám chứa tôi
trong nhà, mà bảo tôi ra ngoài đường đón xe autobus để ra bến xe Xa Cảng miền
Tây, ở Phú Lâm, rồi sẽ tính sau. Truớc khi đi tôi còn hỏi muợn chị đôi giày,
vì đôi giày tôi đang đi là loại giày đi rừng nên đi trong thành phố coi không
tiện. Chị cho tôi muợn đôi giày sandal và còn đôi giày đi rừng của tôi thì chị
nói là chị sẽ đem lên cho anh Đồ trong lần thăm nuôi tới.
Tôi ra khỏi
hẻm ra ngoài đường thì thấy có một quán hủ tiếu, tôi liền tấp vô ăn một tô hủ
tiếu, uống một ly cà phê sữa, rồi mới ra đón xe autobus để đi ra Xa Cảng miền
Tây. Khi ra đến bến xe Xa Cảng miền Tây, tôi thấy cả một rừng người hỗn độn
la liệt khắp nơi. Họ trải chiếu, trải tấm nylon hay kê tấm ván tùm lum tứ
tung không theo một lề lối nào cả. Hỏi ra mới biết đây là những người bỏ vùng
kinh tế mới trở về, nhà cửa bị tịch thu không nơi nương tựa đành phải sống
lang thang đầu đuờng xó chợ bến xe. Sau khi thấy cảnh hổn độn này tôi nghĩ thầm
là mình có thể trà trộn để ngủ tạm qua đêm ở đây.
Trong khi
đó thì chị Đồ đạp xe đạp từ Phú Thọ vô Gia Định để báo tin cho vợ tôi biết.
Sau này gia đinh kể lại là khi chị Đồ vào nhà, chị rất lo sợ có người theo
dõi, nên chị kéo vợ tôi ra phía sau nhà, không cho mấy đứa con tôi lại gần, rồi
chị mới nói cho vợ tôi hay là tôi đã trốn trại. Tôi đang ngồi uống nước đá
chanh ở xe nước đá và định chổ ngủ qua đêm, thì bỗng thấy chị Đồ đạp xe đạp
ra tới. Chị đưa cho tôi 50 đồng và một giấy cử tri của vợ tôi gởi và căn dặn
tôi sáng mai ra mua vé xe đò để về Mỹ Tho.
Sáng sớm
hôm sau trước khi ra bến xe tôi đi tìm nhà của Thạch, là một trong hai người
trốn chui theo. Thạch và Tường thì còn ở lại trong rừng và có dặn là nếu ai
có thoát về được Sài Gòn thì báo tin cho gia đình họ biết tin, để tìm cách
lên đón. Địa chỉ của Thạch thì tôi nhớ lờ mờ là ở gần Phú Lâm nên tôi sẳn dịp
ghé qua báo tin. Lúc đó trời còn lờ mờ chưa sáng hẳn, đường vắng vẻ. Khi đi
ngang qua trạm xe chữa lửa có vài tên công an đang đứng nói chuyện ở phía trước,
tôi cố giữ bình tỉnh khi đi ngang qua. Sau cùng tôi tìm được nhà của Thạch,
tôi gỏ cửa một hồi thì có người ra mở cửa nhưng với dáng vẻ bực bội vì tôi
đánh thức họ quá sớm. Tôi hỏi có phải là nhà của Thạch không, thì họ không trả
lời mà đóng ập cửa lại làm tôi ngần ngừ một lúc, vì tiếc là không báo tin cho
gia đình Thạch được. Tôi cũng không biết là có đúng nhà không, hay là họ sợ
không dám tiếp tôi. Cho đến sau này tôi cũng không biết tin tức gì về hai người
trốn chui theo, có thoát được không và bây giờ ra sao.
Tôi trở ra
bến xe ngồi xếp hàng chờ để mua vé xe về Mỹ Tho, trong túi có 50 đồng và thẻ
cử tri nên thấy hơi yên tâm. Một hàng rất dài ngồi chờ mua vé xe rồi từ từ
nhích lần lên. Tôi ngồi chòm hỏm hai tay bó gối gục đầu rồi thiếp đi lúc nào
không hay. Bỗng đâu có người vỗ vai kêu tên tôi, tôi giật mình nhìn lên thì
thấy chị Đồ, chị bảo tôi vô quán nước ở bên kia đường để gặp bà xã tôi. Vừa mừng
vừa lo, chỉ sợ công an theo dõi vợ tôi để đón bắt tôi nên tôi hơi luỡng lự.
Chị Đồ vô đứng thế chổ tôi để mua vé xe.
Tôi vô quán
để gặp bà xã tôi, vợ tôi đã kêu đủ thứ đồ ăn nào hủ tiếu, bánh bao, xiếu mại
v.v…. Bà xã tôi kêu tôi ăn đi, ăn đi. Tôi hỏi coi có ai biết hay theo dõi gì
không, thì thấy không có dấu hiệu gì. Ba đứa con tôi đang ở nhà chưa hay biết
gì về chuyện này. Sau này kể lại mới biết là chúng nó đói khổ lắm, đâu có được
ăn hủ tiếu bánh bao như thế này. Từ ngày tôi đi tù tới giờ gia đình suy sụp,
có bao giờ dám ăn các món cao lương mỹ vị này đâu và tôi cũng quên hỏi mời vợ
tôi cùng ăn, bà xã tôi cứ kêu tôi ăn đi, ăn đi. Phần thì lo sợ công an nó
theo dõi, phần thì không biết là về Mỹ Tho rồi sẽ làm gì, nên tôi cố nhét cho
đầy bụng rồi đi liền. Tôi dặn vợ tôi là đừng có xuống Mỹ Tho, mà nên ở nhà lo
cho mấy đứa con còn nhỏ dại, đừng để bị nguy hiểm cho cả hai, rồi không ai lo
cho các con.
Tôi trở ra
chổ mua vé xe thì chị Đồ đã mua vé xong xuôi và chị còn cẫn thận mua cho tôi
tờ báo Nhân dân, chị bảo lên xe đọc báo này người ta tưởng là cán bộ. Tôi lên
xe ngồi gần băng phía sau. Xe chạy qua hết các trạm kiểm soát một cách dễ
dàng vì ở mỗi trạm bác tài đều biết thủ tục đầu tiên, là tiền đâu. Qua Bình
Chánh, Bến Lức, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Trung Lương rồi vô thành phố Mỹ
Tho.
Xe vô đến bến,
tôi xuống xe và vô tìm đứa em gái tôi. Vợ tôi có cho biết là em gái tôi bây
giờ làm ở tổ hợp may mặc phuờng 4 ở bến xe này. Mới vừa vô gặp mặt em tôi, nó
mừng rỡ rồi la lớn “Ủa anh Tư mới đuợc thả về”. Tôi hơi bối rối vì sát bên cạnh
tiệm may là đồn công an phường 4, có một số công an đang đứng gần đó sợ nó
nghe được. Tôi giả bộ như thiệt nói một hơi là anh mới được thả về bây giờ em
có rảnh ra quán uống nước. Em tôi lật đật xin phép bà hội trưởng hợp tác xã rồi
đi liền. Ra tới quán nước tôi mới nói thiệt với em tôi là tôi trốn trại. Em
tôi giật mình mặt tái xanh vì quá bất ngờ. Tôi dặn dò em tôi về nhà cho má
hay và coi chung quanh có ai không rồi cho anh biết để anh về nhà. Em tôi đạp
xe đạp chạy về báo tin xong trở lại làm việc, còn tôi một mình đi bộ về nhà.
Má tôi đã biết trước nên đã mở cửa sẳn chờ.
Khi vô nhà
tôi đi thật nhanh và đi thẳng ra phía sau nhà vì sợ lối xóm nhìn thấy.
Sau đó em
tôi đi làm về có mua cho tôi một dĩa cơm sườn và hôm sau là cơm tấm bì chả và
mua hủ tiếu bánh bao v.v…. toàn là các món ăn ngon đắt tiền mà tôi cũng quên
hỏi là em tôi đi may lương tháng bao nhiêu. Má tôi thì già yếu không có làm
gì ra tiền. Hồi trước Má tôi đi may đồ quần áo ở trong nhà thương Mỹ Tho,
nhưng đã nghỉ lâu rồi. Sau này mới biết là ở nhà không có đủ tiền để mua gạo,
đôi khi còn phải bán máu để đổi lấy mấy bát cơm, thì nói gì đến thức ăn sang
trọng. Thì ra em tôi chạy qua Chợ Củ để xin Cô tôi. Cô Ba tôi có mở tiệm ăn,
Cô rất thương tôi, vì vậy khi hay tin tôi về, cô tôi liền gởi cơm và đồ ăn rất
ngon qua cho tôi.
Ở đây được
mấy ngày thì vợ tôi xuống thăm tôi làm cho tôi càng thêm lo sợ, vì sợ công an
theo dõi. Tôi mới tính tìm đường vượt biên chớ ở đây lâu thế nào cũng bị bại
lộ. Mà tìm đường dây để vượt biên không phải là chuyện dễ dàng. Phần thì
không có tiền, phần thì không dám đi lại nên cũng không biết cách nào để vượt
biên, mà tội vượt biên lúc đó bị coi như là tội phản quốc, chạy theo đế quốc,
bọn công an biên phòng bắt được là chỉ có chết. Hồi đó đã có xảy ra những cảnh
vượt biên bị đổ bể, bị công an tàn sát như ở cầu Chữ Y Sài Gòn, như ở bãi biển
Vũng Tàu, như ở kinh Chợ Gạo hay ở cửa biển Gò Công v.v…. Họ tàn sát không
nương tay, mặc cho tiếng khóc trẻ thơ, hay những lời van xin lạy lục, của những
người khốn khổ cùng đường. Tôi dự định nếu không tìm được đường đi bằng ghe
tàu, thì như đã hẹn với Thu và Bình, là sau một tháng chúng tôi sẽ gặp lại
nhau, để bàn tính để đi bằng đường bộ.
Vợ tôi lại
xuống một lần nữa và lần này có cả đứa con gái đầu lòng của tôi. Coi như vậy
là tôi ở đây được một tuần lễ và vợ tôi đem tiền xuống lần này là để mua vé
xe cho tôi đi Cà Mau vào sáng sớm mai, vì hy vọng ở Cà Mau dễ kiếm đường vượt
biên hơn. Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào khoảng 7 giờ, thì có một người
anh bà con cô cậu, đi cùng với một người bạn, xuống thăm để từ giã Má tôi, để
sáng sớm mai họ lên đường đi Kampuchia, và từ đó sẽ tìm đường vượt biên, và
anh muốn xin địa chỉ của em tôi, hiện đang sống ở Mỹ, để anh liên lạc khi cần.
Thật là một điều quá may mắn cho
tôi vì sau khi anh biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo tôi đi theo luôn.
Thế là phải
trở về Sài Gòn ngay trong đêm nay để sáng sớm mai lên đường đi Kampuchia. Tôi
từ giã Má tôi và để đứa con gái đầu lòng ở lại với Bà Nội. Tôi và vợ tôi đi
theo Long và Nghĩa ra đón xe để về Sài Gòn. Tôi ra đi mà lòng buồn vô hạn, rồi
không biết sẽ đi tới đâu trên bước đường bôn ba vô định này. Ở lại Mỷ Tho thì
không được, mà đi qua Kampuchia thì cũng không biết ra sao, thật là đau lòng
trước cảnh chia tay, rồi đây không biết có còn được gặp lại nhau. Trong đêm
đó hai bà cháu đã tụng niệm suốt đêm để cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được
bình an. Trời đã tối lúc đó khoảng 9 giờ đêm nên không còn xe chạy về Sài
Gòn. Chúng tôi đón chiếc xe lôi đạp để đi vô ngã ba Trung Lương, hy vọng ở đó
sẽ có nhiều xe miền Tây lên, dễ đón hơn. Ông xe lôi, đạp không muốn nổi, vì
trên xe có tới 4 người, nên chúng tôi phải thay phiên nhau nhảy xuống để đẩy
phụ, nhứt là khi lên dốc cầu Trung An, thì phải nhảy xuống hết rồi qua cầu mới
nhảy lên lại.
Vô tới ngã
ba Trung Lương là trời đã tối, nên không còn thấy xe miền Tây nào hết, mà chỉ
thấy có một chiếc xe hàng bị hư máy và người tài xế đang sửa chữa. Chúng tôi
mon men lại gần tìm cách làm quen rồi dọ hỏi xin quá giang về Sài Gòn, nhưng
ông tài xế nhìn chúng tôi như nghi kỵ điều gì nên lắc đầu trả lời một cách sẳn
giọng là xe đang hư mà làm sao cho quá giang đuợc, vì vậy chúng tôi lại lủi
thủi đi tiếp. Ở đây có một trạm công an khá lớn để xét xe từ miền Tây lên,
nên có nhiều công an ở đồn bót này, nên trong đêm tối mà đi lang thang ở đây
cũng nguy hiểm lắm. Tình cờ có một chiếc xe lô chạy từ Mỹ Tho lên hướng về
Sài Gòn, chúng tôi mừng quá đón ngoắc lại nhưng xe không ngừng mà chạy luôn một
khoảng, rồi bỗng đâu xe dừng lại và lùi lại cho chúng tôi quá giang. Bác tài
chỉ cho đi quá giang một quãng đường lên đến Tân Hương để đón xe khác mà đi,
vì xe này đi về nhà để nghỉ nên không có đi Sài Gòn.
Trong khi
xe đang chạy và qua tài giao thiệp của anh Long, cũng là lơ xe, nên anh biết
nhiều người trong nghề xe đò nên câu chuyện dần dần trở nên thân mật và bác
tài dần dần có cảm tình với chúng tôi. Và sẳn đó anh Long đề nghị bao xe đi
Phú Lâm rồi bận về anh sẽ phụ giúp tìm khách cho chuyến trở về. Vợ tôi móc
trong túi ra đếm còn 200 đồng nên đề nghị bao xe 200 đồng và nhờ anh Long nói
thêm vô, nên sau cùng bác tài chịu đi Phú Lâm với giá 200 đồng. Thật là hết sức
may mắn, chớ nếu tới Tân Hương chưa chắc gì có xe để đi, mà nếu không lên kịp
Sài Gòn trong đêm nay thì ngày mai xe sẽ đi sớm rồi, sẽ mất đi một dịp may hiếm
có ngàn vàng.
Khi xe chạy
qua khỏi trạm công an Tân Huơng một quảng, thì gặp một tốp công an ra chận đường.
Tôi thấy nguy vì trên xe không có ai khác, chỉ có gia đình tôi, nên rất khó
xoay sở trà trộn. Tôi có ý dò hỏi bác tài coi tính sao, nhưng bác tài cho biết
là xe không có ngừng đâu vì tụi này là tụi chuyên chận xe dọc đường để ăn cuớp,
bác tài rất rành về bọn này. Tôi nghe thế cũng thấy mừng thêm, vì thà là chạy
luôn nó có bắn theo cũng khó trúng. Bác tài cho xe giảm tốc độ rồi khi đến gần
bọn chúng thì tống hết ga vượt nhanh qua, nên chúng trở tay không kịp, nên xe
chạy vượt qua một cách êm xuôi. Nhưng tôi lại lo cho trạm kiểm soát kế tiếp sợ
tụi nó gọi máy báo lên chận bắt xe lại thì còn nguy hiểm hơn. Tôi hỏi ý bác
tài thì bác tài nói là tụi nó đâu có máy móc gì đâu mà báo đừng có lo, nên
tôi càng yên tâm tin tuởng bác tài muôn phần. Xe qua khỏi Tân An, Bến Lức,
Bình Chánh rồi vào Phú Lâm một cách êm xuôi.
Sau khi trả
tiền xe xong xuôi là chúng tôi chạy đi ngay vì trời đã tối rồi mà còn phải chạy
lo kiếm mượn tiền để đi. Chúng tôi về nhà của Nghĩa cũng ở gần đó, vợ chồng
tôi muợn chiếc xe đạp để đạp vô Phú Thọ. Vô tới nhà chị Đồ là đúng nửa đêm,
giờ giới nghiêm. Chị Đồ không có sẳn vàng chị rút chiếc nhẫn đang đeo trên
tay 2 chỉ vàng đưa cho tôi mượn đở. Tôi đạp xe đạp chở vợ tôi trở về nhà của
Nghĩa trong lúc đã quá giờ nghiêm nên cũng sợ bị hỏi giấy tờ hay bị bắt lại
thì trể chuyến xe sáng sớm mai đi. Tôi đạp xe lên dốc cầu Minh Phụng không nỗi,
vợ tôi phải xuống xe đẩy phụ qua cầu, người của tôi lúc đó rất là ốm yếu xanh
xao.
Về tới nhà
Nghĩa, là chúng tôi phải đi ngay đến chổ đậu xe, để kịp chui vô trong xe sắp
xếp truớc khi trời sáng. Đây là chiếc xe hàng dân sự bị VC trưng dụng để chở
chiếu qua Nam Vang tiếp tế cho bộ đội VC bên Kampuchia. Long là lơ xe của chiếc
xe này nên mới dấu Nghĩa và tôi vô trong đống chiếu mà tài xế không hay biết
gì. Sau khi sắp lại đống chiếu, vạch ra một lổ vừa đủ để hai đứa tôi chui vô,
xong rồi Long mới gát hai cây gỗ đà ngang trên đầu rồi sắp chiếu phủ kín lên
như cũ rất là kín đáo. Chúng tôi đem theo một bình nước và hai ổ bánh mì với
một gói muối.
Ngoài hai
chỉ vàng của chị Đồ cho mượn, vợ tôi đưa luôn chiếc nhẫn cưới đang đeo ở tay
đưa cho tôi, như vậy tôi mang luôn hai chiếc nhẫn cuới. Lúc đó cũng khoảng
3,4 giờ sáng, vợ tôi và má của Nghĩa cũng vẫn còn ngồi đâu đó để chờ sáng ra
xe chạy. Long ngồi ở ngoài nên có cho tụi tôi biết là vợ tôi và má của Nghĩa
khóc nhiều lắm, vì không biết chúng tôi đi làm sao, vì không ai có tiền hay
có vàng đem theo, không biết rồi sẽ đi đến đâu. Riêng tôi thì tôi quyết ra đi
mặc dầu không biết ra sao, nhưng vẫn còn tốt hơn là ở lại Việt Nam.
Sáng sớm
hôm sau xe rời bến để đi Nam Vang, nhìn qua khe ván ở sàn xe trời còn lờ mờ
nghe tiếng người nói lao xao mới biết là vừa qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền. Khi đến
trạm kiểm soát biên giới thì họ chỉ xét qua loa vì đây là chuyến xe công tác
chở đồ cho bộ đội VC. Xe chạy càng nhanh đống chiếu trên đầu càng đe nặng, vì
cây gỗ chận trên đầu không còn ở nguyên vị trí cũ, mà vì sự lúc lắc của chiếc
xe đã làm lệch đi và hai đứa tôi phải đưa lưng chống đở sức nặng bên trên đè
xuống. Tệ hại hơn nữa là dọc đường VC đón xe đi quá giang nên họ ngồi trên đầu
chúng tôi. Nghe tiếng họ nói chuyện với nhau thì biết là VC đang ngồi ở ngay
trên đầu mình. Chúng tôi phải rán đưa lưng ra chịu đựng, vì chỉ sợ nó sụp xuống
thì bị lộ ngay, rất là nguy hiểm. Khi tiểu tiện thì phải đợi lúc xe chạy
nhanh rồi mới dám tiểu qua khe hở của ván sàn xe mà phải tiểu từ từ để bên
ngoài không thấy không biết.
Đến chiều
thì xe tới nơi đậu vào một chổ nào đó mà tôi nghe có tiếng nhạc của những bản
nhạc ngày xưa. Tôi mừng thầm vì được nghe lại những tiếng hát quen thuộc đầm ấm
nồng nàn tràn đầy kỷ niệm của ngày trước. Tiếng nhạc hòa lẫn tiếng người nói
chuyện lao xao gần bên cạnh xe. Chúng tôi vẫn nằm im trong xe chờ khi nào có
hiệu lệnh của Long thì mới ra được. Một hồi lâu sau khi bên ngoài hoàn toàn
im vắng và khi nghe ba tiếng hiệu lệnh của Long thì chúng tôi chui ra. Khi nhảy
xuống xe, tôi không thể đứng được vì bị ngồi lâu trong thế co ro nên chân bị
tê cứng, mà Long thì thúc hối phải đi khỏi nơi đây ngay vì sợ tài xế và an
ninh đoàn xe họ biết, nên tôi và Nghĩa phải cố lết đi ra khỏi xe thật xa.
Nhìn chung
quanh, đây là một bồn binh khá lớn ở cuối đại lộ, bên cạnh một sân vận động,
xe đậu một đoàn dài chừng vài chục chiếc, tài xế và lơ xe khá đông, có nhiều
xe họ mang theo cả gia đinh vợ con với đồ đoàn nồi niêu soong chảo, nên tôi
thấy cũng dễ trà trộn ẩn thân. Tối đó tôi và Nghĩa ngủ ở một đám cỏ bên cạnh
đường khoảng giữa đoàn xe và không dám gần xe nào cả vì sợ họ báo với an ninh
đoàn xe.
Ngay tối
hôm sau, tôi bán chiếc nhẫn cưới được 75 đồng Riel, tiền Kampuchia, và nhờ
Long môi giới mời một số tài xế lơ xe ra quán nước uống cà phê nghe nhạc, để
tìm cách lân la làm quen gây cảm tình với họ. Tôi và Nghĩa đóng vai lơ xe, bạn
với Long. Vì Nghĩa cũng là lơ xe nên nói chuyện dễ dàng, còn tôi thì cảm thấy
hoàn toàn xa lạ, nên trong các câu giao tiếp tôi thường cười nhiều hơn là nói
vì sợ bị bại lộ tông tích.
Ban ngày
thì ra chợ Nam Vang, bữa đầu thì đi bằng xe lôi cho mọi người thấy, và vì
không biết đường, mấy lần sau thì đi bộ. Đi ngang qua mấy con đường rất đẹp với
hai hàng cây phủ mát bên đường, với những ngôi biệt thự sang trọng kiến trúc
theo kiểu villa của Pháp, giống như khu đường Duy Tân, Yên Đổ ở bên xứ mình.
Mấy ngôi nhà sang trọng đó bây giờ là dinh của VC, treo cờ đỏ sao vàng và có
lính canh trước cổng. Mỗi khi đi ngang qua thấy hơi chùng chân vì sợ nó hỏi
giấy tờ bất tử.
Uống nước
phong tên ở gần đó, ăn cơm thì mua của mấy gánh bán hàng rong, cơm một dĩa 10
đồng Riel. Ra ngoài chợ thì đi lòng vòng coi nhìn cái này cái nọ cho hết thì
giờ, thỉnh thoảng công an chạy ruợt đuổi bắt người ở trong chợ, làm mình cũng
sợ giật mình. Tôi thì có ý định tìm mua một quyển sách địa lý để coi bản đồ
vùng Battambang, Siem Rệp, vùng biên giới Thái Lan. Họ bày bán sách cũ rất
nhiều nhưng đều là tiếng Miên. Tôi lựa xem mấy cuốn sách có hình bản đồ rồi
mua một quyển. Nhưng vì tôi không biết tiếng Miên mà mua sách Miên trong đó
có hình bản đồ địa lý, nên họ có ý nghi ngờ. Mua xong tôi lật đật đi bộ về chổ
đậu xe vì sợ họ báo với công an chợ. Sau khi nghiên cứu bản đồ để biết địa thế,
đường đi nuớc buớc, cũng như khoảng cách bao xa. Tôi cố học thuộc lòng vùng
Battambang, Siem Rep, vùng gần biên giới Thái Lan, rồi xé bỏ quyển sách đó
ngay.
Lúc bấy giờ
bên Miên hoàn toàn do VC kiểm soát, thỉnh thoảng có mấy tên lính Miên trẻ mặt
còn non choẹt, mang khẩu AK dài đụng tới đất. Ở đây họ mắc loa phóng thanh cứ
sáng sớm và chiều tối là nghe tiếng nhạc Miên, một âm điệu đều đều nghe buồn
não ruột, nghe nhớ nhà, nhớ vợ nhớ con, nhớ quê hương mình vô cùng. Cuộc đời
tôi cũng không ngờ lại lưu lạc đến nơi đây, xứ lạ quê người, rồi cũng không
biết ngày mai sẽ ra sao. Nghĩ lại thân phận mình, lêu bêu bình bồng, mà cảm
thấy buồn vô hạn.
Tôi lân la
mấy quán nước làm quen hỏi chuyện để tìm đường đi, thì được biết là xe lửa chạy
từ Nam Vang lên Battambang đã bị giật mìn không còn chạy nữa, bây giờ chỉ còn
đuờng xe, nhưng VC đặt rất nhiều nút chận kiểm soát để chận bắt đào binh, nên
rất khó mà lọt qua đuợc. Tôi ra phía đầu thành phố đường đi về huớng
Battambang để xem trạm kiểm soát họ xét ra sao. Tôi thấy rất ít xe đi về phía
đó và họ kiểm soát rất kỹ. Xe thì không thấy loại xe đò chở khách, mà toàn là
xe chở hàng hay xe quân sự. Vả lại tôi không biết tiếng Miên nên rất ít hy vọng
thoát qua được, giá mà còn xe lửa thì tốt hơn.
Ở đây được
ba ngày thì nghe tin đoàn xe được lệnh đi xuống hải cảng Kompong Som tức là
Sihanoukville. Tôi không biết hải cảng này ra sao, nhưng nghe nói ở đó có tàu
ngoại quốc ra vào. Trước đó tôi có dọ hỏi đuờng lên Battambang, thì họ nói là
phải có người dẫn đường và phải trả bằng vàng, ít nhứt là hai lượng. Trong
mình tôi chỉ được hai chỉ vàng thì làm sao mà đi và hơn nữa chúng tôi không
biết tiếng Miên nên rất khó khăn, thành ra tôi đã bỏ ý định đi lên
Battambang. Bây giờ nghe tin đi xuống hải cảng Kampong Som thì tôi thấy cứ đi
đại xuống đó rồi sẽ tính sau, dầu sao ở hải cảng cũng còn có hy vọng hơn.
Buổi trưa
hôm đó tôi và Nghĩa ra chợ mua một nải chuối, lên chùa Năm Tháp gần đó để
cúng Phật, để cầu xin Đức Phật Từ Bi độ trì đưa đường dẫn lối cho chúng tôi
thoát ra được khỏi nạn cộng sản. Sau khi quỳ lạy cầu nguyện Đức Phật xong,
khi đứng lên là không còn thấy nải chuối đâu hết, mà trong lúc chúng tôi quỳ
lạy thì có người tới chớp nải chuối đi mất thật là nhanh.
Đêm đó suy
tính cách theo xe để đi, vì Long bảo phải tìm xe khác mà đi, chứ không được
đi theo xe cũ vì sợ tài xế biết. Trong thời gian mấy ngày ở đó tôi cũng đã
quen biết nhiều nên họ nhận cho tôi đi theo. Đoàn xe đi đến trạm kiểm soát
thì ngừng lại để xét trước khi ra khỏi thành phố, nhưng vì đoàn xe này có sự
vụ lệnh đi công tác xuống hải cảng để chở hàng cho bộ đội VC nên không bị lục
soát hay hỏi han gì và qua trạm kiểm soát này một cách dễ dàng.
Trên đường
đi VC đóng đồn dọc theo đường, thỉnh thoảng đón xe quá giang, nhưng tôi ngồi
phía trước chung với tài xế và lơ xe, nên rất là yên tâm. Trên xe bác tài có
khoe một khẩu súng AK47 được phát cho mỗi xe, nhưng chưa chắc là bác tài đã
biết sử dụng. Tôi nhớ bữa đó trời mưa tầm tả và xe bị hư máy phải dừng lại để
sửa chữa, nhưng bác tài rất rành nghề chỉ sửa một chút là xong ngay, nhưng phải
câu một bình xăng phụ ở bên ngoài. Đến chiều thì xe đến hải cảng Kampong Som,
xe dừng trước cổng trên con đường lộ đá dẫn vào hải cảng. Khi xe vừa đến nơi
thì tài xế và lơ xe đi vô cổng một cách tự nhiên mà không bị hỏi giấy tờ gì hết,
nên tôi, Long và Nghĩa cũng đi theo vô trong hải cảng một cách dễ dàng.
Hải cảng
này ở xa khu dân cư, có mấy lớp hàng rào kẻm gai bao bọc chung quanh, và một
trạm kiểm soát tại cổng chính ra vào, với một số công an biên phòng VC canh
gác. Đóng trên một ngọn đồi gần đó là một đồn công an biên phòng. Bên trong hải
cảng là một bến đá, xây bằng đá tảng, để tàu cặp bến. Tôi cố nhìn thật kỹ
quanh bến tàu để tìm xem có chiếc tàu nào của nước tự do, nhưng tôi chỉ thấy
toàn cờ đỏ búa lìềm, toàn cờ cộng sản, thật là thất vọng vô cùng. Gần bến tàu
là hai nhà kho rất lớn bằng sắt cất theo kiểu tiền chế của Mỹ. Có một đường rầy
xe lửa, và ở phía trong xó góc có vài toa xe lửa bỏ không, không thấy người
lai vãng, gần đó có một phong tên nước. Ở phía ngoài cổng bên cạnh con đường
lộ đá là một cái ao khá lớn, mà thỉnh thoảng thấy có công an đến câu cá. Chiều
tối đó tôi trở ra xe để ngủ qua đêm.
Sáng sớm
hôm sau xe vô đậu truớc nhà kho lớn để chất hàng lên. Họ chất lên những bao bắp
hột do nhân đạo quốc tế viện trợ để cứu đói cho dân Kampuchia, nay thực phẩm
đó được dùng để nuôi ăn cho bộ đội VC. Tôi chỉ còn bửa nay để đi lại thong thả
trong hải cảng này, đến sáng mai khi đoàn xe đi rồi thì tôi không còn chường
mặt ra đây được nữa, vì bọn công an thấy sẽ biết ngay.
Chúng tôi
đang lân la trong hải cảng thì bỗng có một chiếc tàu tuần của công an biên
phòng VC vào cặp bến để lấy nước ngọt ở cái phong tên nước. Khi đó họ có hỏi
tụi tôi, có muốn mua mấy món đồ lậu như rượu, thuốc lá, đồng hồ, máy radio
cassette v.v….Chúng tôi làm bộ nhận chịu, nhưng hẹn với họ ngày mai sẽ gom tiền
cho nhiều để mua một lần cho tiện. Họ nghe nói thế tưởng là trúng mối to. Sau
khi lấy nước xong là họ đi, trước khi rời bến họ rủ chúng tôi lên tàu. Long
nhanh chân nhảy lên trước, tôi còn đang lưỡng lự ngần ngừ, vì không biết họ
đi đâu và đi làm cái gì, họ không nói gì cả, chỉ rủ lên tàu để đi thế thôi.
Long đã ở trên tàu rồi nên thúc hối tôi lên tàu. Khi tàu mở dây cột tàu sắp
chạy và vì sự thúc hối của Long nên tôi cũng nhảy lên theo, còn Nghĩa thì
không đi.
Tàu chạy ra
ngoài, nghe họ kể về những chuyện đi bắt ghe tàu vượt biên. Họ đã bắt rất nhiều
ghe tàu vượt biên và lên giọng rất là sắt máu. Nguyền rủa những người vuợt
biên là bọn phản quốc, chạy ra nước ngoài, bám chân đế quốc để ăn bơ thừa sữa
cặn v.v… Tôi thầm nghĩ đến những chiếc ghe tàu vượt biên nếu bị chiếc tàu tuần
này bắt, thì coi như là thân tàn ma dại. Có những chuyến ghe tàu vuợt biên bị
công an VC xả súng tàn sát mặc dầu họ biết đa số là đàn bà con trẻ.
Họ dẫn
chúng tôi xuống hầm tàu để quảng cáo mấy món hàng mà chúng tôi hứa sẽ mua.
Tàu chạy một lúc rồi cặp bến vô đậu trong căn cứ hải quân của chúng, rồi bảo
chúng tôi lên bờ. Tôi cứ tuởng là tàu trở lại bến cũ cho mình lên, ai dè lại
vô căn cứ VC nên cũng hơi ngại ngại. Hai đứa tôi đi ra cổng và đi theo con đuờng
lộ đá dẫn vô bờ. Căn cứ này nằm xa bờ chừng vài chục thước, có con đường lộ
đá làm bằng những tảng đá núi mà xe loại lớn có thể chạy được.
Vô tới bờ
đi bộ ngược trở về hải cảng, dọc theo bờ biển thấy có một xóm chài, có một số
tàu đánh cá, hai đứa tôi vô hỏi thăm. Lên một chiếc tàu thì gặp một người có
mang một khẩu súng AK47, lỡ rồi nên tôi làm bộ hỏi để mua cá. Anh này người
Miên gốc Việt nên nói được tiếng Việt. Anh ta ngó tới ngó lui rồi hỏi tụi tôi
có muốn vượt biên không. Chắc có lẽ họ thấy bộ dạng mình vô đây là định tìm
đường vuợt biên nên mới hỏi thẳng như vậy. Thấy anh ta có súng thì hơi sợ,
nhưng trong bụng thì muốn tìm cơ hội để đi, nên tôi cũng trả lời lưng chừng
là bây giờ mà tính chuyện vượt biên đâu phải dễ, tụi tôi ở đoàn xe vận tải
đang đi công tác ở hải cảng. Ông ta tiếp thêm là nếu muốn vượt biên thì ba
ngày nữa trở lại đây rồi họ sẽ đưa ra hải đảo, ở đó họ sẽ chuyển qua tàu đánh
cá Thái Lan, mỗi người hai lượng vàng, ba ngày nữa tàu sẽ ra khơi, nếu muốn
đi thì lại đây. Nói xong ông ta cho một con cá to và hối tụi tôi đi ngay, vì ở
đây lâu không tiện dễ bị nghi ngờ.
Tôi và Long
trở về hải cảng, trên đường đi thỉnh thoảng gặp các toán tuần tiểu của công
an biên phòng, họ đi tuần tra dọc theo bờ biển. Chúng tôi giả vờ mò cua bắt
cá trong các hóc kẻ đá, khi họ đi qua khỏi rồi thì tiếp tục đi. Đi bộ một đoạn
đường khá xa chừng vài cây số. Khi về đến chỗ đậu xe thì thấy có gánh bán
cơm, tôi đổi cho họ con cá để lấy hai dĩa cơm. Sau khi ăn xong, tôi bàn với
Long và Nghĩa là tối nay phải vô ngủ ở trong hải cảng, vì sáng sớm đoàn xe sẽ
chạy trở về Nam Vang, khi đó thì mình không còn có chỗ ẩn thân ở bên ngoài được.
Long và Nghĩa thì có ý định trở lại Nam Vang, rồi trở về Việt Nam kiếm thêm
tiền, vàng rồi trở qua đây, để đi theo mấy ghe tàu đánh cá. Riêng tôi thì tôi
quyết tâm ở lại, kiếm chỗ ẩn náu quanh đây, may ra có dịp tìm đường đi, chớ
quay trở lại Việt Nam thì không thể được. Tôi quyết tâm là sẽ đi tới mãi chớ
không quay lui. Riêng Long và Nghĩa đều là lơ xe nên chuyện đi hay trở về đều
không có gì là nguy hiểm cả. Sau khi bàn tính một lúc thì Long và Nghĩa đồng
ý ở lại vì thấy tôi quá quyết tâm. Chúng tôi mua ba ỗ bánh mì và lấy theo một
bình nước rồi vô trong hải cảng ngay, trước khi trời tối.
Tôi đã để ý
từ trước thấy có mấy goong xe lửa bỏ không ở một xó góc không có người lui tới.
Vì vậy chúng tôi đợi đến khi trời tối, kín đáo lẻn vô trong toa xe đó và trốn
luôn trong đó. Ngồi trong goong xe nhìn qua khe ván thấy đồn công an canh gác
ở cổng cũng không xa lắm, vì vậy chúng tôi phải giữ gìn thật hết sức im lặng,
đề phòng thật kỹ luỡng. Trong những lúc nguy hiểm tôi thường cảnh giác thức
suốt đêm, quan sát nghe ngóng mọi động tịnh bên ngoài. Sợ khi ngủ hết, lỡ mà
có nguời nào ngủ mớ la hoảng hay phát ra tiếng ngáy thì nguy hiểm lắm.
Khi trời
sáng hẳn, tiếng đoàn xe rời hải cảng để trở về Nam Vang. Lúc bấy giờ bên
ngoài không còn người lui tới, không còn thấy bóng dáng tài xế hay lơ xe nữa,
vì vậy chúng tôi phải ẩn mình cho thật kỹ. Chúng tôi nằm im trong toa xe lửa
đó, buổi trưa trời nóng như thiêu, chúng tôi cởi trần, nhờ khe ván hở nên
cũng không đến đỗi nào. Tôi chỉ sợ nếu có người muốn sử dụng goong xe này, họ
đến kéo đi thì rất là nguy, chúng tôi sẽ bị phát giác ngay.
Cho đến chiều
thì may quá có một đoàn xe khác xuống cùng vào đậu ở phía cổng như truớc. Tôi
mừng quá vì lại có dịp ra ngoài trà trộn với đám tài xế lơ xe mà không ai để
ý. Và cũng vào khoảng 4 , 5 giờ chiều hôm đó, bỗng đâu xuất hiện một chấm đen
từ ngoài biển khơi đang tiến dần vô bờ, càng lúc càng lớn dần và sau cùng hiện
rõ ra một chiếc tàu đang hướng vô hải cảng, rồi từ từ cặp vào bến đá. Một chiếc
thương thuyền quá lớn mang tên PEP STAR, đặc biệt là lá cờ trên tàu không phải
là cờ đỏ búa liềm, chắc chắn không phải là tàu cộng sản. Hơn nữa chữ PEP STAR
có vẻ là tiếng Anh hơn là tiếng Nga.
Sau khi tàu
cặp bến xong xuôi, thấy có nhiều người đi lại gần chiếc tàu, khi đó tài xế và
lơ xe ra vô tấp nập. Trời đã tối chúng tôi chui ra khỏi chỗ trốn và tìm cách
lại gần chiếc tàu. Lúc đó có nhiều công nhân nguời Miên đang lên tàu, tôi liền
hỏi nguời thủy thủ trên tàu họ cho biết là tàu của nuớc Đan Mạch, mà Đan Mạch
là một nước ở Âu Châu, nên tôi yên trí chắc chắn không phải là một nước cộng
sản, tôi mừng quá vì có thể xin tị nạn được.
Trong bóng
tối chúng tôi ngồi ở xa xa nhìn lên chiếc tàu thấy công nhân người Miên lên
xuống theo chiếc cầu sắt cặp sát bên hông tàu. Ở trên tàu ngay chỗ đầu cầu
lên xuống có hai tên công an đang đứng canh gác kiểm soát mọi người lên xuống
rất là kỹ lưỡng. Tôi tập trung quan sát mọi hoạt động trên tàu để tìm cách lẻn
trốn lên tàu, nhưng rất là khó khăn vì hai tên công an đang canh gác quá kỹ.
Nếu lở lên tàu mà chúng bắt tại trận thì hết đuờng chối cãi chỉ có nuớc vô
tù, mà riêng tôi thêm tội trốn trại nữa thì chắc chúng sẽ không tha.
Kể từ khi
chui ra khỏi hàng rào ở trại tù Tống Lê Chân cho đến bây giờ là tôi đã vượt
đuợc một quảng đường khá xa, đã ra khỏi nuớc và ra đến biển và con đường duy
nhất là phải lên cho bằng được chiếc tàu này. Nhìn lên trên tàu mà thèm thuồng
ước gì mình được trốn vô nằm trong chiếc thuyền cấp cứu đang treo lủng lẳng
đong đưa trên đó thì quá kín đáo. Tôi cứ nhìn hoài, tàu này chở những chiếc
xe truck, chỉ có phần đầu máy với cái sườn phía sau. Đây là những chiếc xe viện
trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc. Cần trục trên tàu đang hoạt động liên tục
đang bốc hàng xuống, mỗi lần một chiếc xe, cho nên rất là nhanh. Theo tôi
nghĩ thì trong đêm nay sẽ bốc hàng xong và ngày mai tàu sẽ đi, mà tàu của các
nước Âu Châu thì hiếm khi vào hải cảng của nước cộng sản này.
Trời tối dần
mà Long và Nghĩa thì cứ hối thúc hoài, định leo đại theo dây cột tàu mà ra
tàu. Nhưng đèn pha chiếu sáng khắp tứ phía thì làm sao mà leo ra đuợc, mà làm
sao thoát hết được ba đứa. Rồi Long lại tính đường nhảy xuống nước bơi qua
bên kia thành tàu rồi tìm cách leo lên tàu. Tàu thì cao sừng sững đâu có dễ
gì leo lên được, mà chung quanh đèn chiếu sáng choang, vừa nhảy xuống nước là
bị bắn liền chứ đừng nói gì tới bơi ra tàu.
Tôi cứ chờ
đợi dịp thuận tiện, mắt tôi cứ dán sát vào hai tên công an đang đứng gác trên
tàu, một tên mang súng AK47, còn một tên mang K54 có lẽ là cán bộ. Quan sát
theo dõi họ thật kỹ để mong tìm một chút sơ hở, nhưng mỗi lần có ai lên tàu
là nó chận lại xét hỏi rất kỹ càng. Với lại mình không biết tiếng Miên, không
giống người Miên, nên khó qua mặt được nó.
Bỗng dưng
trời xui đất khiến hai tên công an này đồng lúc rời bỏ vị trí bước vô trong
cabin tàu. Tôi vụt chạy lên tàu tức khắc kéo theo Long và Nghĩa. Khi lên đuợc
trên tàu chúng tôi chạy băng qua bên kia thành tàu và tìm chỗ ẩn trốn, thì
khi đó hai tên công an lại trở ra canh gác như cũ, nhưng chúng chỉ nhìn về
phía cầu thang lên xuống, chứ không để ý gì về phía chúng tôi. Tôi nhìn quanh
quất không thấy có chỗ nào để ẩn thân, không thể chui vô đống dây luột hay đống
cây gỗ bên cạnh đó, vì dấu đầu lòi đuôi không thể che dấu hết ba nguời. Nhìn
xuống hầm tàu thì thấy nhân công Miên đang làm ở dưới đó và không thể lẫn quẫn
ở đây lâu được vì thủy thủ hay công nhân Miên bất chợt họ thấy họ sẽ nghi.
Ở trên tàu
có hai cần trục một cần trục ở phía bên kia đang hoạt động liên tục, còn một
cần trục phía gần bên tôi thì không hoạt động. Ở phía trên là phòng điều khiển
bằng kiến, ở bên dưới là phòng máy, có một lỗ tròn vừa người chun vô, tôi liền
thử chui vô rồi kéo Long và Nghia vô theo. Tôi cố ép sát người vô trong để vừa
đủ chỗ cho ba đứa ẩn mình. Lần lần tôi dọn dẹp các lon dầu, đồ đạc dụng cụ để
chui sâu vào trong. Nếu có ai bất chợt đi ngang qua thì sẽ không thấy chúng
tôi được, nhưng nếu ló đầu vô trong thì sẽ thấy ngay. Hơi yên tâm một chút,
lúc đó chắc cũng vào khoảng 11, 12 giờ đêm.
Cần trục
bên kia vẫn còn đang tiếp tục hoạt động, độ một giờ sau thì chấm dứt. Sau đó
công nhân lần lượt rời khỏi tàu, duy chỉ còn hai tên công an vẫn đi tới đi
lui canh gác bên kia thành tàu. Sau đó nắp hầm tàu được đóng lại, nắp hầm tàu
làm bằng những lá sách bằng sắt nó chạy từ trong ra ngoài nghe rền vang. Sau
khi nắp hầm tàu đậy xong, bây giờ chúng tôi có thể chui vô sâu thêm nằm trườn
mình trên nóc hầm tàu và mọi sự trở lại vắng lặng hoàn toàn.
Tôi suy
nghĩ, trước khi tàu rời bến chắc chắn công an biên phòng và quan thuế sẽ kiểm
soát rất kỹ, cho nên tôi phải tìm chỗ trốn khác kín đáo hơn, chớ không thể trốn
ở đây được. Lúc còn ở dưới nhìn kỹ mọi hoạt động trên tàu, tôi thấy thỉnh thoảng
có thủy thủ lên xuống ở phía truớc mũi tàu, như vậy phải có cầu thang lên xuống
ở mũi tàu.
Đợi đêm thật
khuya vắng lặng, tôi dặn dò Long và Nghĩa từng người một lần lượt chui ra và
phải chờ khi nào công an quay lưng lại thì mới cho chui ra. Bò theo thành
tàu, bò ra phía trước mũi tàu để tìm cầu thang đi xuống hầm tàu. Trên tàu rất
trống trải mà đèn thì sáng choang, do đó phải bò thật thấp để không thấy lộ
hình lên trên nền trời. Sau cùng tôi đợi khi tên công an vừa xây lưng lại là
tôi chui ra sau cùng, bò dọc núp duới thành tàu đến gần mũi tàu thì thấy có một
cửa nhỏ, tôi mở chốt cửa rồi chui vào trong, có một cầu thang bằng sắt hình
khu ốc, tôi lần theo xuống.
Xuống đến hầm
tàu thì tôi thấy Long và Nghĩa nằm dài ở đó. Đây là khoang tàu nơi chứa hàng,
sau khi hàng bốc đi rồi thì trống trơn không có chỗ nào để ẩn thân, mấy cây cột
bằng sắt cũng không lớn đủ để che thân. Tôi thấy trốn ở đây không được vì sẽ
bị lộ ngay. Tôi lần theo cầu thang khu ốc để đi xuống nữa, thì khi xuống dưới
đáy hầm tàu, tôi thấy có một đống cây gỗ ở ngay mũi tàu, tôi mừng quá vì tìm
được chỗ trốn tốt. Tôi sắp lại đống cây gỗ để chừa ra một lỗ trống, đủ chỗ để
cho ba đứa chui vào, xong rồi kéo thanh gỗ đậy lại, trông giống như cũ, không
có dấu vết gì khả nghi. Lúc đó chắc khoảng 3, 4 giờ sáng, tôi nằm im trong
đó, không dám ngủ và dặn kỹ Long và Nghĩa phải giữ thật im lặng, không được thở
mạnh hay ho hen.
Độ khoảng 6
giờ sáng, tôi nghe tiếng lộp cộp đi xuống cầu thang, họ quét đèn lên trên đống
cây, nhưng không thấy gì khả nghi, họ bỏ đi trở lên. Một lúc sau nữa tôi nghe
tiếng còi tàu hụ lên ba tiếng, tôi mừng quá vì “tàu souffler ba là tàu ra cửa
biển”. Một hồi sau tôi nghe tiếng sóng nước rào rào ở mủi tàu, tôi chợt biết
là tàu đã chạy. Vì đang ở mủi tàu nên tôi không nghe tiếng máy tàu, mà chỉ
nghe tiếng sóng nước đập vào thân tàu nghe rào rào và càng lúc càng mạnh. Đến
một hồi nữa nghe ầm ầm, tôi biết là tàu đang chạy nhanh, đang rẽ sóng ra
khơi. Một hồi sau chúng tôi chui ra khỏi đống cây gỗ.
Tôi định chờ
một ngày một đêm rồi mới lên trình diện vì sợ nếu còn trong hải phận
Kampuchia hay Việt Nam, thì họ có thể kêu tàu tuần đến bắt chúng tôi. Nhưng đến
chiều thì Long bị ói mửa vì say sóng, càng lúc càng nặng, mặc dù trong bụng
không còn thức ăn, chỉ ói ra nuớc, ói ra mật xanh. Sau cùng Long năn nỉ tôi
phải lên trình diện, nếu không sẽ chết. Lúc đó tôi nghĩ là tàu đã chạy đuợc
khoảng 8, 9 tiếng đồng hồ, chưa được xa lắm, chắc là còn trong hải phận Việt
Nam, nhưng vì Long năn nỉ quá, nên sau cùng tôi đành phải lên trình diện.
Một mình
tôi lên trước, theo cầu thang khu ốc để lên và khi vừa chui ra khỏi cửa ở mũi
tàu nhìn lên phía phòng lái bằng kính, tôi thấy nguời hoa tiêu đang nhìn xuống
phía chỗ tôi, chỗ mũi tàu. Tôi tức tốc tìm cách đi thật nhanh lên đó ngay, vì
sợ họ kêu tàu tuần đến bắt. Tôi đi thật nhanh, leo lên cầu thang lên tầng
trên cùng và đi thẳng vô phòng lái.
Thấy tôi vừa
bước vô phòng hoa tiêu, ông ta nỗi giận dậm chân đùng đùng, bấm còi báo động.
Ông hỏi tôi là ai, làm gì vô đây. Tôi liền trả lời tôi là sĩ quan Việt Nam trốn
từ trại tù ở Việt Nam sang Kampuchia và trốn xuống tàu hồi đêm qua, tôi xin
được tị nạn. Nhờ tôi nói bằng tiếng Anh, mặc dù không được trôi chảy, nhưng
cũng hiểu được phần nào. Lúc đó quần áo mặt mày tôi lem luốt dính đầy dầu nhớt,
mạt cưa trông không giống ai. Tôi nói tiếp tên họ số quân của tôi và tôi đã học
khóa Bộ Binh Cao Cấp tại truờng Fort Benning, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ và
xin ông vui lòng liên lạc với tòa đại sứ Mỹ nào gần đây thì sẽ xác định được
lý lịch của tôi. Tôi xin ông một điều là nếu ông không nhận cho tôi tị nạn,
thì xin ông bỏ tôi xuống biển, chớ đừng gọi tàu tuần đến bắt tôi, vì họ sẽ giết
tôi.
Sau khi
nghe tôi trình bày sự việc, tình hình bắt đầu lắng dịu, tôi liền nói thêm là
hiện còn có hai người nữa còn đang trốn dưới hầm tàu. Ông ta lại nỗi giận
lên, kêu người đi xuống dẫn Long và Nghĩa lên. Long và Nghĩa được dẫn lên ngồi
trong góc, trông rất thãm não, mặt mày xanh xao, quần áo lem luốc bẩn thỉu.
Xong rồi ông Thuyền trưởng gọi báo về công ty, một lúc sau thì công ty chấp
nhận cho chúng tôi tị nạn. Tôi mừng quá đỗi, coi như được sống lại và tôi có
hỏi ông là hiện giờ tàu đang ở đâu, có còn trong hải phận Việt Nam không, thì
ông chỉ cho tôi thấy một hòn đảo trông mờ mờ từ xa đó là đảo Thổ Chu của Việt
Nam và ông cũng nói thêm rằng là kể từ bây giờ không ai có quyền lên tàu này
để bắt chúng tôi lại, vì đây là tàu của Đan Mạch là đất nước Đan Mạch.
Một số thủy
thủ đứng chung quanh, nghe thấy, dần dần họ có cảm tình với chúng tôi, họ đưa
cho quần áo giày dép rồi dẫn chúng tôi đi tắm. Cho chúng tôi vô ở trong một
căn phòng, đây là phòng của một ông kỹ sư đã đi phép. Trên giường nệm có hai
tấm nệm tôi lấy một tấm đặt xuống sàn nằm ngã lưng xuống một cách thoải mái
tuyệt trần. Một lúc sau chúng tôi được dẫn đi ăn, một bửa ăn thật tuyệt diệu
trong đời, trong đó có cơm chiên dương châu và mấy khúc cá thu hấp rất thơm
ngon chưa từng có. Đây là một bửa ăn tuyệt diệu nhất, tự do nhất, thoải mái
nhất, mà tôi cảm thấy như được sống lại sau bao nhiêu ngày trốn tránh lang
thang vất vả căng thẳng tột cùng, có đôi khi gần như tuyệt vọng.
Sau khi ăn
xong bửa cơm tuyệt diệu đó, chúng tôi đuợc dẫn đi thăm viếng tàu. Trước hết đến
phòng ông thuyền trưởng, ông rót ruợu uống mừng cho chúng tôi đã thoát nạn cộng
sản và chụp hình lưu niệm. Sau đó đi tiếp qua các phòng và được biết trên chiếc
tàu này có nhiều người thuộc quốc tịch khác nhau như Hòa Lan, Đan Mạch, Ba
Tây, Phi Luật Tân v.v….Các thủy thủ trên tàu cho chúng tôi xem hình ảnh gia
đình của họ và chuyện trò rất là thân mật, thật là hết sức lịch sự và đầy
tình nhân ái. Nghĩa có mang theo một số tiền Việt Nam không còn xài được nữa,
nên mới đưa cho các thủy thủ. Họ rất tốt bụng đã cho lại chúng tôi mỗi nguời
20 US dollars và chọn cho chúng tôi mỗi đứa một bộ đồ vừa vặn đẹp đẽ để mặc
khi lên bờ.
Chúng tôi
được cho lên phòng hoa tiêu để ngắm nhìn hoàng hôn trong buổi chiều tàn, nhìn
mặt trời lặn trong cảnh nước trời bao la, thật là tuyệt đẹp, mà tưởng chừng
như trên chốn bồng lai tiên cảnh nào vậy, trong khi con tàu đang lướt sóng thật
êm đềm. Đây là một chiếc thương thuyền rất lớn nên chạy thật là êm ái, khác
xa với cảnh tượng của những chiếc ghe vượt biên bé nhỏ, chở đầy người, bập bềnh
trên biển cả mênh mông, sóng gió hãi hùng, và còn phải lo sợ bị hải tặc hảm
hiếp, cướp của giết người thật là ghê rợn.
Buổi tối
hôm sau tàu tiến vô một hải cảng với muôn ngàn ánh đèn rực rỡ, trong một vùng
vịnh bao la, với vô số thương thuyền tàu bè đủ loại, trông thật hùng vĩ huy
hoàng tráng lệ. Đó là hải cảng Singapore. Theo thủ tục của luật di trú thì
chúng tôi phải vô trong phòng và thuyền trưởng sẽ khóa cửa lại, để giữ chúng
tôi trong đó. Tuy nhiên nếu có cần gì thì cứ gọi, thỉnh thoảng có người đến
thăm chừng, thật là hết sức lịch sự tử tế và chu đáo vô cùng.
Chừng vài
tiếng đồng hồ sau thì có hai nhân viên của sở di trú Singapore đi xuồng máy
ra lên tàu và mở khóa cửa phòng, thẩm vấn chúng tôi và làm thủ tục giấy tờ,
xong rồi họ đi ngay. Sau đó thì có một phái đoàn của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp
Quốc, UNHCR, xuống phỏng vấn và làm thủ tục. Tôi trình bày bằng tiếng Anh,
nhưng bất ngờ nguời đó trả lời bằng tiếng Việt và bảo tôi cứ nói bằng tiếng
Việt Nam đuợc rồi. Tôi mừng quá vì đuợc gặp người đồng hương, sau này tôi được
biết đó là cô Bích làm việc trong văn phòng Cao Ủy Tị Nạn ở Singapore. Khi
làm thủ tục giấy tờ, và trong nguyện vọng xin đi định cư nuớc nào, thì tôi
xin đuợc đi Mỹ, vì hiện tôi có một đứa em đang ở Mỹ, và tôi cũng đã từng du học
ở Mỹ, nên nghĩ rằng sẽ đuợc cứu xét dễ dàng hơn. Chúng tôi ngủ thêm một đêm
trên tàu và sáng hôm sau thì có nguời của Cao Ủy Tị Nạn ra đón ba đứa tôi lên
bờ, tôi còn nhớ đó là cô Robin, nguời nuớc New Zealand.
Sau một thời
gian 22 ngày đêm vuợt thoát từ trại tù Tống Lê Chân, nay tôi được đặt chân
lên một đất nuớc tự do là nuớc Singapore vào ngày 27 tháng 6 năm 1980. Chúng
tôi đuợc đưa về tạm trú ở khách sạn YMCA. Ở đây hiện có chừng mười nguời Việt
Nam tị nạn cũng mới đến chừng vài ngày trước và họ giao nhiệm vụ cho tôi làm
thông dịch viên. Điều đầu tiên là tôi ra Bưu điện để đánh điện tín về Việt
Nam cho gia đình tôi biết tin. Vì có tiền 20 dollars nên tôi gọi taxi ra Bưu
điện và gởi điện tín về cho vợ tôi với nội dung như sau: “Đã giải phẩu xong
bình an”, đó là câu mật hiệu để cho vợ tôi biết là tôi đã thoát nạn và đã đến
nơi an toàn. Điện tín này đã đến nhà tôi vào ngày 30 tháng 6 năm 1980. Vợ tôi
hết sức vui mừng khi nhận được điện tín này, phân vân không biết Singapore là
nước nào ở đâu. Vợ tôi liền đi xuống Mỹ Tho để báo tin mừng và vô Trung
Lương, nơi đất hương quả mồ mả tổ tiên để cúng tạ.
Chúng tôi ở
khách sạn YMCA vài ba ngày để làm thủ tục. Buổi chiều rỗi rảnh chúng tôi dắt
nhau ra chợ Tàu. Đi bộ chừng 15 phút là đến, một dãy kios quán ăn rất là đông
vui và ngon miệng. Long biết nói tiếng Tàu nên rất dễ giao tiếp. Ở Singapore
80% là người Hoa, còn lại là nguời Ấn và người Mã Lai.
Sau đó
chúng tôi đuợc đưa vào Trại Tị nạn Sambewang, còn gọi là trại Hawkins. Khi vừa
bước vô văn phòng trại tị nạn, tôi chợt thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thật lớn
treo trên tường mà lòng hân hoan vui mừng quá độ. Tôi và nhóm người mới tới đều
vui mừng sung sướng đến rơi nước mắt, được hôn lên Lá Cờ Quốc Gia Dân Tộc và
biết chắc rằng mình đã thật sự thoát khỏi ngục tù cộng sản và đã đến được bến
bờ tự do.
Chúng tôi
được lãnh tiền trợ cấp mỗi người 2.50 đồng một ngày, một đồng Singapore lúc
đó trị giá vào khoảng 0.8 dollar Mỹ. Ngoài ra còn được phát mỗi người một chiếc
chiếu, và cứ 6 người thì được phát một cái lò nấu ăn. Đây là một trại lính với
nhiều tòa nhà có hai tầng khang trang, trại viên trải chiếu trên sàn gạch rất
mát mẻ sạch sẽ, không có ruồi muỗi. Phía ngoài là sân cỏ, đuợc giữ gìn chăm
sóc cắt xén rất đẹp như một tấm thảm xanh.
Cuộc sống ở
trại tị nạn này rất là thoải mái, có khu chợ nhỏ ngay trong trại, đa số là
người Ấn độ, bán đủ loại thực phẩm, rau cải, trái cây, đặc biệt là trái sầu
riêng ở đây có rất nhiều. Ở ngoài vòng rào và cách trại chừng vài trăm thước,
có một con rạch rất lớn, có nhiều cá, nhứt là cá rô Phi. Có người chui rào
ra, lưới đuợc rất nhiều cá, đem về bán chui qua các nhà.
Những người
đuợc đưa về trại này thường là chỉ được tạm trú ở đây khoảng 3 tháng, để làm
thủ tục đi định cư, hoặc là những người từ trại đảo Galang đưa đến chờ máy
bay để đi định cư. Hàng ngày công việc của trại là theo dõi tin tức phát
thanh trên loa, để biết khi nào đuợc gặp phái đoàn để được phỏng vấn và khám
sức khỏe.
Khi mới đến
trại khai hồ sơ lý lịch, vì tôi đã từng du học bên Mỹ nên được Ban Chỉ huy trại
giao nhiệm vụ làm Thông dịch viên. Công việc thường ngày của tôi là giúp
thông dịch nếu có phái đoàn vô trại. Còn không thì phải đưa người đi ra các
toà Đại Sứ Anh, Mỹ, Úc v.v…Hoặc đưa người đi bệnh viện, để khám sức khỏe để
đi định cư. Ở trong trại cũng có bệnh xá để điều trị các bệnh nhẹ thông thường
như ho, đau bụng, nhức đầu, nóng lạnh v.v…Lúc đó có Bác sĩ Rạng trách nhiệm bệnh
xá, ông cũng là người tị nạn và trước kia ông từng là bác sĩ của Bệnh viện 3
Dã chiến ở Phú lợi Bình Dương.
Ở trong trại
tôi thấy có nhiều hoàn cảnh rất là thương tâm. Có nhiều người mất vợ mất con
mất cha mất chồng trên đường vượt biển. Như có một ông bác sĩ, tôi nhớ mang
máng tên là Phùng, Bác sĩ Phùng, ông bị khủng hoảng tinh thần gần như điên loạn,
vì cả gia đinh vợ con đều bị chết. Tôi thấy ông cứ đi lang thang nói nhảm suốt
cả ngày. Vì ông mắc bệnh tâm thần như vậy nên không được phái đoàn nào phỏng
vấn, rồi không biết sau này ra sao.
Sau khi đến
trại được một tuần, tôi liền gởi gói quà nhỏ đầu tiên về cho gia đình, trong
đó có vài thước vải đen, chai dầu xanh và kẹo bánh. Ba tháng sau vào tháng 10
năm 1980 thì tôi được đi định cư qua Mỹ. Long và Nghĩa thì được định cư ở Đan
Mạch.
Với lòng
tri ơn sâu xa, tôi xin ghi lòng tạc dạ công ơn cứu tử của thuyền trưởng và
toàn thể thủy thủ đoàn trên chiếc thương thuyền Pep Star, thuộc công ty hàng
hải của nước Đan Mạch, đã cứu vớt tôi và giúp cho tôi thoát khỏi ngục tù cộng
sản và cho tôi đến được bến bờ tự do. Đây quả là một công ơn quá lớn lao mà
suốt đời tôi không bao giờ quên được.
Tôi cũng
không bao giờ quên nghĩa cử cao đẹp, đầy lòng nhân đạo của Cơ quan Tỵ nạn
Liên Hiệp Quốc UN/HCR và dân tộc các nước trên thế giới, đã mở rộng vòng tay
cứu vớt, trợ giúp và cưu mang chúng tôi, những người tị nạn trốn chạy khỏi chế
độ cộng sản bạo tàn phi nhân bản.
Sau khi đến
Hoa Kỳ được một năm thì tôi được vào quy chế thường trú, năm năm thì được vào
quốc tịch. Ngay khi đến Hoa Kỳ, tôi lo ngay việc nạp đơn xin bảo lãnh gia
đình qua chương trình ODP và 9 năm sau thì vợ tôi và ba đứa con đã đến được
Hoa Kỳ. Sau hơn 14 năm xa cách kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày miền Nam
rơi vào tay cộng sản, nay gia đinh tôi được đoàn tụ lại như xưa, đã thoát khỏi
gông cùm cộng sản và được sống trên quê hương mới đầy lòng nhân ái bao dung.
Đây quả như
là một phép lạ do Ơn Trên ban phước cho.
Nguyễn Ngọc Thạch, K20 VBĐL