Wednesday, May 20, 2026

Tuesday, May 19, 2026

Như Là Cổ Tích - Võ Anh Dũng


(Viết tặng tình bạn, tình yêu của những Cựu học sinh PTG - ĐN)

Đà Nẵng tháng 3 - 1975

Vy, Thanh rẽ phải đi về phía bờ sông Bạch Đằng.
Vy nhìn Thanh :

- Chắc điệu nầy trường sẽ đóng cửa dài hạn vì tình hình không ổn lắm. Ba mình nói Quảng Trị và Huế đã mất, đồng bào dồn về Đà Nẵng mỗi lúc một đông nên tất cả các trường học được lệnh đóng cửa để tiếp cư đồng bào, không biết năm ni tụi mình có được thi Tú tài II không đây?

Con đường Quang Trung bình thường vắng vẻ, giờ rất đông người qua lại. Trên mặt mọi người đều có vẻ lo âu, bồn chồn. Quán bà Bu bữa nay cũng xa lạ hẳn vì khách hàng toàn là Quân nhân thay vì những cậu Học sinh Phan Thanh Giản tinh nghịch. Thành phố ngột ngạt vì không khí chiến tranh.

Vy và Thanh là bạn học cùng lớp. Họ thân nhau từ lớp đệ thất khi cả hai cùng ghi danh vào học trường Phan Thanh Giản. Gia đình Vy sinh sống ở Đà Nẵng lâu năm. Ba mẹ Vy chủ nhân một tiệm bán xe Honda và phụ tùng ở đường Trần Hưng Đạo nên gia đình rất sung túc. Vy là người con độc nhất trong gia đình nên được cưng chìu hết mực. Ông bà Vân, cha mẹ Vy, không muốn con gái mình nối nghiệp buôn bán mà muốn Vy trở thành một Bác sĩ Nhi khoa. Ông bà cũng rất cởi mở trong lối sống nên Vy sống rất thoải mái về tinh thần và vật chất.

Gia đình Thanh di cư vào Nam sau khi Hiệp định Genève được ký kết. Bố Thanh là một Giáo viên Tiểu học và gia đình Thanh cư ngụ tại Thanh Bồ, một Xóm đạo rất hiền hoà. Sinh ra và lớn lên tại Đà Nẵng nhưng Thanh vẫn nói tiếng Bắc, giọng Hà Nội, ít pha tiếng địa phương.

Ngồi bên Thanh, Vy có nhiều điều học hỏi ở Thanh. Thanh viết chính tả hầu như không có lỗi. Người Quảng Nam, Đà Nẵng thường lẫn lộn cách phát âm giữa dấu hỏi, dấu ngã, những chữ có g hoặc không g, những chữ tận cùng bằng c hay t nhưng Thanh thì không bao giờ sai trong khi phát âm và viết. Do đó ở những lớp đệ Nhất cấp, trong giờ Việt văn mỗi lần thầy Lương Quế đọc bài cho học sinh chép, thầy luôn luôn nhờ Thanh lặp lại sau mỗi câu đọc của thầy. Lên đệ Nhị cấp, Thanh cũng được thầy Nguyễn Văn Xuân chỉ định viết bài học trên bảng để cả lớp chép lại.

Vy được nghe Thanh hát những bài Thánh ca du dương như Đêm Thánh Vô Cùng, Cao Cung Lên, Hang Bê Lem vì Thanh ở trong Ca đoàn của nhà thờ. Tình bạn của hai người càng gắn bó hơn khi cả hai được chọn vào Ban văn nghệ trường năm lớp đệ Tứ (lớp 9). Dù ngoại đạo nhưng Noël nào Vy cũng đi nhà thờ với Thanh và có năm ở lại nhà Thanh để ăn mừng lễ nửa đêm.

Tiếng thắng gấp của 1 chiếc xe gắn máy làm hai người quay lại. Một người lính trẻ với Quân phục Biệt Động Quân đưa một mảnh giấy cho Vy và nói nhanh :
- Thiếu uý chiều nay có cuộc họp khẩn cấp ở Bộ tư lệnh Liên đoàn. Ổng sai tôi đưa thư nầy cho cô. Tôi đến nhà cô Thanh thì biết hai cô đi bộ đến trường nên chạy vòng vòng giờ mới tìm được. Tôi phải về trại gấp. Chào hai cô.

Thiếu uý là Nguyên, người yêu của Vy. Nguyên phục vụ trong 1 Tiểu đoàn thuộc Liên Đoàn I Biệt Động Quân tại vùng I Chiến thuật đang đóng quân tại Đà Nẵng.
Nguyên cũng là học sinh Phan Thanh Giản nhưng học trên Vy 3 lớp. Anh là một học sinh xuất sắc trong mọi môn học và có khả năng văn nghệ. Nguyên mồ côi và được cô anh nuôi từ lúc còn bé. Nguyên được ông Vân nhờ kèm cho Vy sau giờ học mỗi ngày. Tình yêu của 2 người bắt đầu từ năm Vy lên lớp 9. Ngoài giờ kèm cho Vy về văn hoá, Nguyên còn đàn cho Vy hát hoặc hát cho Vy nghe những bài hát tiền chiến. Vy thích nhất là bài Em Tôi của Lê Trạch Lựu. Thấy Nguyên đứng đắn, thương yêu con gái mình nên ông bà Vân chấp nhận và xem Nguyên như là một người thân trong gia đình.


Nguyên thi Tú tài II đậu hạng bình đem lại vinh dự cho trường, cho thầy, cô. Thay vì ghi danh vào Đại học, Nguyên quyết định tình nguyện vào Quân trường Thủ Đức. Anh không muốn thêm sức nặng lên vai của người cô đã hy sinh hạnh phúc riêng mình cho anh ăn học.
Ông bà Vân ý tứ muốn giúp đỡ tài chánh cho anh tiếp tục con đường học vấn nhưng anh đã lễ phép từ chối. Đêm trước ngày nhập ngũ, hai người đã ngồi bên nhau đến gần sáng. Anh an ủi Vy, chọc cho Vy cười nhưng sau những đợt cười Vy lại khóc nhiều hơn.
Trước khi chia tay Nguyên đàn và hát : "Bao giờ tôi về gần em cùng đếm nầy trăng, nầy sao chia nhé em, trăng sao dâng ý thơ, mây bay khắp trời, thuyền tình lung linh trong khói sương lam, ngày về xa quá người ơi.." (Em Tôi, Lê Trạch Lựu)

Vy được ông bà Vân đưa đi thăm Nguyên ở Quân trường Thủ Đức. Gặp lại Nguyên Vy vừa thương vừa buồn cười khi thấy Nguyên đen thui vì sương gió thao trường và đầu gần như trụi tóc. Vy đùa trong nước mắt :
- Em tưởng anh sẽ có nhiều cô theo nhưng giờ thì yên tâm vì anh xấu ỉn, đen thùi lùi như Mai Hắc Đế.

Ra trường, Nguyên tình nguyện chọn Binh chủng Biệt Động Quân và đã tham dự nhiều cuộc chiến ác liệt. Anh là một Trung đội trưởng gan dạ nhưng thương yêu lính và trong những giờ dưỡng quân anh còn là một Sĩ quan tâm lý chiến với những bài ca trữ tình làm giảm sự căng thẳng tinh thần của đồng đội.
Đó chính là nét đặc biệt của những Chiến sĩ miền Nam Việt Nam. Họ chiến đấu vì tự vệ chứ không phải là những kẻ xâm lược. Họ chiến đấu để bảo vệ quê hương nhưng bên trong họ vẫn là những người cha yêu thương vợ, con, chiến hữu và đồng bào, những người tình hào hoa với tay súng tay đàn.
Vy mở tờ thư :
- Vy, anh xin lổi em là chiều nay anh không thể đưa em và Thanh đi xi nê vì vừa có lệnh cắm trại 100% từ 4 giờ chiều nay. Anh sẽ cố gắng liên lạc với em thường xuyên và hy vọng trong vài ngày nữa anh sẽ gặp lại em. Đừng buồn anh nghe. Yêu em. Nguyên.
Sự có mặt của Thanh trong những lần đi biển, đi xi nê như là một điều kiện ngầm của ông bà Vân trong những lần hẹn hò của 2 người.
Làm người yêu của lính chiến, Vy đã quen với những trường hợp như thế nầy.Vy đưa tờ thư lên môi hôn nhẹ và nói nhỏ :" Em yêu anh và chúc anh bình yên".
Hai người rẽ trái trên đường Duy Tân để về nhà Thanh. Trưa nay Vy đến nhà Thanh, để xe ở đó rồi hai đứa đi bộ đến trường xem tình hình.
Mẹ Thanh vồn vả khi thấy Thanh và Vy về :
- Vy ở lại dùng cơm tối với Thanh nhé. Hôm nay bác nấu bún mộc.
Vy lễ phép :
- Thưa bác, con cảm ơn bác nhưng con phải về nhà. Bác để dành cho con ngày mai con đến ăn nghe bác. Thanh ơi, mai gặp lại hì ?
Nhưng đó là lần cuối Vy và Thanh bên nhau...

Carlsbad, California tháng 6, 2003

Vy mở cửa bước ra Balcon . Trước mắt Vy là cát vàng và biển xanh. Vy đến nhận nhiệm sở mới đã được một tuần. Thật ra văn phòng của Vy ở San Diego nhưng trong thời gian chuẩn bị mua nhà, Vy ngụ tại Khách sạn Seashore On The Sand của Thành phố Carlsbad cách San Diego không xa. Khách sạn Vy ở nằm sát biển, bãi biển chỉ dành riêng cho người cư ngụ của khách sạn nên rất yên tĩnh. Suốt tuần lễ bận rộn với việc bàn giao, gặp gỡ nhân viên nên hôm nay, thứ Bảy, Vy nới có thời giờ thăm biển.

Sinh ra và lớn lên ở một phố biển nên Vy đã yêu biển từ lúc còn bé. Trong những năm qua Vy đã sống ở một Thành phố lớn ở miền Đông Bắc nước Mỹ nên ít có dịp gần biển nên giờ đây Vy cảm thấy như gặp lại người bạn thân xa cánh rất lâu. Và cũng đã thật lâu Vy mới cảm nhận lại mùi biển thân yêu.

Định thay đồ để xuống lội nước biển nhưng Vy đổi ý, chị rót cho mình một ly rượu vang đỏ, ngồi nhìn cảnh chiều vàng trên biển.
Gió nhẹ và sóng lăn tăn, những đợt sóng chạy vào bờ rồi rút ra xa. Tâm trí và mắt Vy đuổi theo những đợt sóng ra xa, xa mãi về phía chân mây. Vy nhắm mắt, chị thấy lại bờ biển Mỹ Khê, thấy lại Nguyên, Thanh và những kỷ niệm ùa về như những con sóng...

... Vy về đến nhà thì thấy tiệm đã đóng cửa. Thấy Vy về, mẹ Vy mừng rỡ :
- Ba, Mẹ trông con từ chiều đến giờ, con lên lầu ba con có chuyện quan trọng.
Vy chạy nhanh lên lầu. Ông Vân đang cho giấy tờ và tiền bạc vào một chiếc va-li lớn. Thấy Vy ông nói :
- Con chuẩn bị một ít quần áo để đêm nay chúng ta đi Sài Gòn. Tình hình Đà Nẵng không an toàn lắm, trường học đóng cửa vô thời hạn nên vào Sài Gòn con có cơ hội tiếp tục học thi tú tài II. Ba đã nhờ người quen xin cho con theo học trong đó.

Vy như chết lặng trong lòng vì không còn thời gian để từ giã Nguyên và Thanh. Vy lật quyển nhật ký để tờ thư của Nguyên viết cho mình hồi chiều rồi đặt vào va-li. Đó là những vật quí giá nhất mà Vy mang theo trong cuộc hành trình vô định nầy.


Đến Sài Gòn, tình hình cũng không khá hơn. Những đợt sóng tỵ nạn từ những tỉnh miền Tây về Sài Gòn mỗi ngày mỗi nhiều. Hòn Ngọc Viễn Đông giờ như ngạt thở vì không khí chiến tranh. Trong khi đó thì dân Sài Gòn lại tìm cách rời quê hương bằng mọi giá.

Và ngày 27 tháng tư năm 1975 gia đình Vy cùng với hàng nghìn người khác đã rời Sài Gòn trên một Chiến hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà.

Sau hơn hai tháng trong trại tị nạn, gia đình Vy đã được một nhà thờ Tin Lành bảo trợ về sống ở Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania. Ba, mẹ Vy muốn Vy có căn bản nên đã cho Vy học lại lớp 12. Vốn thông minh và chuyên cần, chỉ sau một thời gian ngắn Vy đã trở thành một Học sinh xuất sắc của trường. Vy tốt nghiệp trung học với hạng Á Khôi, chỉ thua người Thủ Khoa một vài điểm về Anh ngữ.

Vy đã được Đại học Pennsylvania cấp học bổng toàn phần và chọn môn kế toán để theo học. Vy vùi đầu vào sách vở một phần vì ham học nhưng một phần để quên đi những đau thương khi phải rời bỏ quê hương, xa bạn bè và người yêu không một lời từ giả. Thành tích về học vấn của Vy đã làm những công ty lớn chú ý và vào năm thứ 3, Vy đã được 4 chổ mời về làm việc sau khi ra trường.

Chỉ trong vòng 5 năm, Vy tốt nghiệp văn bằng cao học về kế toán với hạng danh dự và nhận lời làm việc cho một ngân hàng lớn có bản doanh tại New York.

Hơn 7 năm sống đời tị nạn, Vy không được biết một tin tức gì về Nguyên và Thanh. Mãi đến năm 1988, Vy mới nhận được một lá thư của Thanh do một người quen với gia đình Vy ở Cali chuyển đến. Thanh viết :
"Vy thương,
Chắc Vy ngạc nghiên lắm khi nhận được thư mình phải không ? Vậy mà đã hơn 10 năm tụi mình xa nhau và trong hơn 10 năm đó đã có biết bao dâu biển xảy ra trên quê hương và cho cả cuộc đời mình.

Chỉ vài ngày sau khi mình chia tay, Đà Nẵng hoàn toàn đổi chủ. Mọi người đều sống trong phập phồng lo sợ. Chuyện dài lắm Vy ơi, phải mất hàng tháng mình mới có thể kể hết cho Vy nghe. Mình chỉ tóm tắt cho Vy những điều quan trọng . Mình đã có gia đình và có một bé trai lên 2. Chồng mình là anh Lợi trưởng lớp tụi mình hồi xưa. Vy nhớ anh Lợi không ? Anh ở Tam Toà đó. Nguyên thì mình nghe nói là đã mất tích trong lần đụng độ cuối cùng ở Điện Bàn và không có tin tức gì sau đó nữa.
Vài hàng thăm Vy mạnh. Mình gởi lời thăm hai bác.
Bạn Vy,
Thanh.

Chút hy vọng nhỏ nhoi trong Vy giờ đã tan biến. Trong bao nhiêu năm trời, Vy vẫn mơ một ngày gặp lại Nguyên. Trong thời gian đi học cũng như đi làm, Vy đã được nhiều người mến mộ và tỏ tình nhưng Vy đã từ chối vì Vy đã dành hết tình cảm cho Nguyên. Những giây phút nhớ Nguyên quay quắt, Vy thầm hát những bài hát ngày xưa Nguyên hát cho riêng Vy. Bài hát nào cũng ghi lại những kỷ niệm của 2 người trong những năm tháng bên nhau.

Vy như người mất trí, chị thẩn thờ, biếng ăn mất ngủ làm ông bà Vân lo sợ. Trong thời gian nầy Steve là người an ủi Vy nhiều nhất. Steve là trưởng phòng Nhân viên của sở, anh hơn Vy 5 tuổi và đã phục vụ tại VN trong 3 năm, căn cứ đóng tại Sơn Trà, Đà Nẵng. Khi biết Vy là người VN, nhất là người Đà Nẵng nên anh đã đem những kỷ niệm của mình trong thời gian phục vụ kể cho Vy. Nghe một người ngoại quốc nói về những nét đẹp của quê mình, Vy rất hãnh diện và thích thú.

Là một Sĩ quan Không quân nên Steve rất lịch thiệp và hào hoa. Anh lắng nghe Vy kể chuyện tình của Vy và Nguyên một cách chăm chú và luôn luôn an ủi Vy là Vy sẽ gặp lại Nguyên dù trong lòng anh đã thầm yêu cô gái Á Đông đẹp thuỳ mị và tài giỏi nầy.
Một người rất sành về tâm lý phụ nữ nên Steve không vội vã. Anh dành cho Vy những chăm sóc và khi biết được nỗi buồn của Vy, anh an ủi, vỗ về Vy rất chân tình. Vy cảm thấy an toàn và bình yên trong sự che chở, săn sóc của Steve và cuối cùng thì Steve đã chinh phục được trái tim của Vy bằng một đám cưới với đầy đủ lễ nghi và phong tục Việt Nam.

Nhưng sau 5 năm hạnh phúc bên nhau, Steve trong một lần trượt tuyết đã bị tai nạn và tử thương. Đau thương lại đến với Vy.
Thời gian như một liều thuốc tốt làm Vy hồi sinh và hăng say trở lại trong công việc nhưng tim Vy đã chai cứng. Thư từ qua Internet giửa Vy và Thanh đều đặn hơn. Vy đã giúp Thanh một số vốn để Thanh mở 1 sạp bán vải ở chợ Cồn nên cuộc sống của gia đình Thanh đã ổn định.
Trong  1 email Thanh có hỏi Vy là có người yêu chưa ? Vy trả lời đã có lâu rồi, và chỉ yêu người đó cho đến khi chết. Không cần nói tên Thanh cũng biết người đó là Nguyên.


Trời đã tắt nắng, biển đã hoàng hôn. Đèn trên những du thuyền ngoài khơi nhấp nháy như những ngôi sao làm Vy nhớ quay quắt những bãi biển quê hương như Mỹ Khê, Nam Ô, Non Nước. Vy cảm thấy lạnh, mở cửa vào bên trong.
Màn hình Computer nhấp nháy rồi giọng nói từ máy phát ra : "You got mail !"
Vy mở Inbox và thấy 1 địa chỉ lạ và 1 thư với nội dung :
"Thưa bà, tôi xin bà thư lỗi cho sự đường đột của tôi nhưng đây là 1 chuyện rất quan trọng đối với tôi. Nếu bà đúng là Nguyễn Thị Quỳnh Vy trước học trường PTG - ĐN thì tôi xin được gặp để cho bà tin tức của Thiếu uý Nguyên, người thân của bà. Tôi ngồi chờ để nhận hồi âm của bà dù rất trễ với hy vọng là tôi tìm đúng người." John

Tim Vy thót lại, những ngón tay của Vy như không còn cảm giác. Vy run rẩy gõ phím :
"Vâng, đúng rồi, đúng rồi. Tôi có thể gặp ông John ở đâu, khi nào, hay là ngay bây giờ ? Ông cho tôi địa chỉ và số Phone được không. Cảm ơn, cảm ơn. Xin lỗi ông John là người Mỹ hay người VN ?"

"Tôi là người VN. Bà có thể gặp tôi ở nhà hàng của khách sạn nầy lúc 8 giờ được không ?"
"Được chứ ạ, tôi sẽ đúng giờ. Ủa mà sao ông biết tôi ở đây ?"
"Chuyện dài lắm, thưa Bà. Để gặp nhau tôi sẽ kể. Hẹn gặp Bà."

Đồng hồ trên Computer chỉ 7 giờ 15. Vy vội vàng đứng dậy nhưng không biết phải làm gì trước. Nhiều câu hỏi trong đầu Vy : John là ai ? sao biết mình ở đây ? hai người có liên hệ như thế nào ? Vy không có câu trả lời thích đáng nào cả.

Vy vào phòng ngủ chọn cho mình một chiếc váy màu đen, một áo cổ tròn, tay ngắn màu tím than, xoa vội lên má 1 chút phấn hồng, rồi trở ra ngoài ngồi trước Computer. Mới có 7 giờ 30. Trời ơi, 30 phút dài nhất trong đời Vy.
Vy quyết định xuống nhà hàng vì nàng không thể ngồi đây để chờ vì 30 phút là cả 1 thiên thu với nàng lúc nầy. Cô thu ngân thấy Vy là khách quen nên tươi cười vồn vã :
- Thưa bà, bà có hẹn với ông John phải không ? Ông ta đến rồi và ngồi chờ bà ở bàn số 8.
Vy đi nhanh về hướng chỉ của cô thư ký. Bàn số 8 chỉ có 2 ghế ngồi và nằm sát cửa sổ nhìn ra biển. Người đàn ông ngồi quay lưng nên Vy không nhìn được mặt. Nàng lên tiếng :
- Chào ông John, tôi đến sớm nhưng ông lại đến sớm hơn.

Người đàn ông đứng dậy, quay lại và cất tiếng :
- Khi biết đã tìm được Vy, anh lái xe như bay tới đây. Anh cũng chỉ đến trước em có vài phút thôi.

Vy hoa mắt, lảo đảo muốn ngã. Người đàn ông dìu nàng ngồi xuống chiếc ghế của mình. Vy vẫn còn run và tim như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Trước mắt nàng là Nguyên. Nàng nói trong nước mắt :
- Nguyên đây sao ? Em đang mơ hay tỉnh ? Sao anh ác quá vậy, không nói cho em biết trong Email ?
- Biết là em, anh mừng như điên lên, vội vàng thay quần áo rồi ra xe phóng đến đây. Anh mail cho em lúc 5 giờ, ngồi đợi gần 2 tiếng đồng hồ mới có thư em. Em ác hơn anh thì có.
- Em ngắm biển nhớ anh. Kể em nghe sao anh biết em ở đây.
- Anh đi dự Meeting giới thiệu người tổng giám đốc mới ngày hôm qua. Anh không tin được mắt mình khi ông Bill, giám đốc sắp về hưu, giới thiệu em có vài lời với nhân viên. Sao lại có trường hợp người giống người đến như thế. Để chắc ăn sau buổi họp anh gặp ông Bill và hỏi em có phải là người VN không thì Bill xác nhận là đúng. Bill cũng là cựu chiến binh Mỹ tham chiến tại VN nên rất thích anh và anh được Bill dạy thêm về nghề nghiệp. Anh xin Bill địa chỉ email của em. Bây giờ em là bà chủ lớn của anh rồi.

Giờ Vy mới có dịp nhìn kỹ Nguyên. Anh trắng hơn, trông trẻ hơn nhiều so với tuổi . Giọng Nguyên vẫn như xưa :
- Anh được Bill cho biết về tai nạn của chồng em. Anh thành thật chia buồn.
- Cảm ơn anh ! Vậy mà đã 3 năm. Anh đến Mỹ năm nào ? Kể em nghe cơ duyên nào anh lại vào làm việc cùng một cơ sở với em. Chị khoẻ không ? Anh được mấy cháu rồi ?
- Chuyện dài lắm, kể cả đời cũng chưa hết Vy à. Anh chỉ tóm tắt là năm 75 anh bị giam trong những nhà tù từ Nam ra Bắc. Sau 11 năm anh được thả ra, không về Đà Nẵng mà vào sống ở Cà Mau, làm đủ mọi nghề cuối cùng thì vượt biên đến Phi Luật Tân. Không bà con, thân nhân nên mãi đến năm 1989 mới được Hoá bảo trợ đến định cư tại Orange County. Em nhớ Hoá không ? Hoá cùng Trung đội của anh, người mang lá thư cuối cùng của anh đến cho em đó.
- Ủa, chú Hoá cũng ở Mỹ hở anh ?
- Hoá tình nghỉa lắm em. Hoá đọc được mẩu nhắn tin của anh trên 1 tờ báo Việt ngữ tại địa phương, thư từ qua lại rồi một hôm Hoá xuất hiện ở trại tị nạn với giấy tờ bảo lãnh. Hai anh em gặp nhau mừng lắm. Anh về ở nhà Hoá, ngày phụ Hoá làm vườn, cắt cỏ, tối đi học thêm, vì học bán thời gian nên sáu năm sau anh mới ra trường, xin được việc trong ngân hàng, với sự chỉ dẫn của Bill và mới đây được chỉ định làm giám đốc 1 chi nhánh ngân hàng tại đây. Còn em lý do nào đưa em đến Cali ?
- Sau khi Steve mất, nguồn vui của em là việc làm, nghe những bản nhạc hồi xưa anh hát cho em và đọc lại nhiều lần lá thư cuối cùng anh gởi em. Sau đó em được thăng chức, thế chỗ của Steve làm trưởng phòng nhân viên. Khi sở chỉ định em thay thế Bill ở chức vụ tổng giám đốc của sở ở Cali, em nhận lời vì muốn xa nơi có nhiều kỷ niệm buồn nhiều hơn vui. Còn anh, anh được mấy cháu rồi ?
Nguyên cười :
- Anh mới có 1 cháu lên hai. Em rảnh không ? Anh mời em đến nhà anh để anh giới thiệu em với vợ và con anh.
Vy gật đầu cố làm ra vẻ bình tĩnh :
- Em rảnh anh. Em cũng muốn gặp chị và cháu lắm.


Ngôi nhà Nguyên rất xinh xắn, nằm trong một khu yên tĩnh. Nguyên mở cửa. Vy nghe tiếng chó sủa và khi Vy bước vào, một chú chó nhỏ đưa 2 chân trước cào vào chân Vy như muốn Vy bồng.
Nguyên cười :
- Chó có linh tính hay lắm, mới gặp em mà xem em như người thân. Em bồng Mimi đi.
Vy ôm Mimi vào lòng. Mimi liếm nhẹ tay Vy. Nguyên chỉ ghế mời Vy :
- Em ngồi đi. Anh vào trong bế vợ anh ra chào em.
Vy ngạc nhiên :
- Ủa, chị bị bệnh hở anh ? Anh để chị nghỉ đi anh, em vào chào chị được mà.
Nguyên cười vui vẻ :
- Không sao, anh ra liền.
Nguyên trở lại phòng khách với cây đàn Guitar trên tay, anh nhìn Vy và đưa cây đàn lên cao giọng trịnh trọng :
- Giới thiệu với em đây là vợ anh, con của anh là Mimi em đang bồng đó.
Vy chợt hiểu, nước mắt trào ra, Vy đứng dậy, một tay ôm Mimi, một tay đánh tới tấp vào ngực Nguyên :
- Anh ác lắm, anh già mà vẫn còn nghịch như xưa. Khi nghe anh đã có gia đình, em như người vừa tìm lại được một bảo vật rồi bị ai cướp mất đi.
Mắt Nguyên cũng sũng nước, anh ôm Vy thật chặt, giọng anh lạc đi :
- Mình đã mất nhau gần 30 năm. Lần nầy thì anh sẽ không để mất em.

Nguyên dìu Vy ngồi xuống ghế, anh nhìn Vy đắm đuối, rồi nét tinh nghịch lại về với Nguyên:
- Vợ anh và anh sẽ hát tặng em, người tình của anh, bài hát ngày xưa em thích "
Nguyên dạo đàn, Vy tựa đầu vào vai Nguyên, con Mimi cuộn mình nằm ngoan ngoãn trong lòng Vy. Giọng Nguyên trầm ấm :
"...Ta ước mơ một chiều thêu nắng, em đến chơi quên niềm cay đắng và quên đường về." ( Em đến thăm anh một chiều mưa - Tô Vũ).
Vy nhìn Nguyên thì thầm :
- Em sẽ ở lại với anh mãi mãi dù mưa hay nắng, Nguyên ơi ! ./.

Longview, Washington tháng Tư, 2012
Võ Anh Dũng

Thị Xã Đồng Hới Thời Cảnh Nghiêu Thuấn? - BS. Lê Bá Vận

Quảng Bình Quan năm xưa, 1940. Dân chúng địa phương quen gọi là Cổng Bình Quan.


Đầu tháng 7 năm 1992 từ Sài Gòn tôi bỗng nhận được điện tín khẩn báo tin cụ thân sinh của tôi, 89 tuổi, ở Đồng Hới bệnh trở nặng, trong nhà giục tôi ra gấp.

Đồng Hới là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình, có sông Gianh đi vào lịch sử chia đôi Nam Bắc thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, có Lũy Thầy, có Quảng Bình Quan nằm ở trung tâm thị xã, trên Quốc lộ 1. . 

Thị xã Đồng Hới có một số phận kỳ lạ. “Vươn lên từ tro tàn”, từ một thị xã bị triệt hạ toàn bộ thành bình địa năm 1964, cư dân bỏ ra đi lên phía đồi núi lưu ngụ, ngót 40 năm sau về lại, xây dựng nơi xưa, đẹp và rộng lớn gấp 50 lần. Thị xã trước diện tích khoảng 3 km2, nay 155.71 km2 do sáp nhập địa giới hành chánh. Được cải danh là Thành phố, Đô thị loại II.

Để thay đổi diện mạo thị xã đã hứng chịu 2 đợt không kích, Pháp năm1947 (có tôi) và Mỹ năm 1964.


+ Sáng ngày 27/3/1947 hai chiếc máy bay nhỏ, động cơ cánh quạt từ đâu bay đến, (chắc từ Quảng Trị?), xoay vần trên không phận thị xã Đồng Hới và thị uy nã đạn xuống, nhánh cây gãy, lá rụng rào rào. Chừng hơn nửa giờ chúng bay đi mất. TIếng súng im bặt. Độ một giờ sau nữa bỗng nghe tiếng xì xồ gọi nhau ngoài đường - tôi trốn trong nhà, nghe rõ, trẻ tuổi, thính tai, nhớ mãi - thì ra lính Pháp từ một tàu thủy đến đậu ngoài biển, trước cửa sông Nhật Lệ từ chiều hôm qua 26/3 – nhiều người trông thấy, xì xào bàn tán - đã đổ bộ lên và chiếm thị xã như quà biếu không, hợp lực sau đó có lính bộ Pháp từ Quảng Trị kéo ra.

UBND tỉnh, công an, bộ đội từ tối hôm qua đã rút lui lên xã Thuận Đức, bán sơn địa, cách thị xã 12 km, nơi rừng rậm bít kín che khuất. Chính quyền tự biết thực lực lúc đó còn rất hạn chế, nên việc tạm tránh đụng độ để bảo toàn lực lượng là đúng đắn hơn cả. Duy dân chúng không được thông báo, rốt cuộc dân cư thị xã, 4 vạn, ngày 27/3 hầu hết bị kẹt, ở lại với Pháp như hồi bảo hộ, trước1945.

Pháp chiếm được Đồng Hới rộng 3 km2 nguyên vẹn, song không đóng quân tại thị xã mà lập đồn bót kiểm soát các trục giao thông trong tỉnh. Từ Quảng Bình vào tận Quảng Nam thuộc vùng quốc gia cho đến hơn 7 năm sau, hiệp định Genève năm 1954 chia cắt ở vĩ tuyến 17, tỉnh Quảng Bình thuộc về miền Bắc.


+ Từ năm 1947 mười bốn năm qua, Pháp nay đã không còn sau Hiệp định Genève năm 1954, chiến tranh khởi động trở lại. Tháng 2 năm 1964, phi cơ Mỹ bay đến bắn phá và ném bom dữ dội Quảng Binh, là vùng bắc giới tuyến, trọng điểm chiến lược của đường mòn Hồ Chí Minh, điểm khởi nguồn của hai nhánh Đông và Tây Trường Sơn, nơi đóng quân vả tàng trữ kho vũ khí để chi viện chiến trường miền Nam.

Do vị trí "đầu sóng ngọn gió" ngay sát giới tuyến, Quảng Bình đã trở thành chiến trường chính yếu chịu sự đánh phá ác liệt của bom đạn Mỹ và từng được mệnh danh là "túi bom, rốn đạn".

Thị xã Đồng Hới đặc biệt bị thiệt hại nặng. UBND và dân chúng (một số về quê ở các huyện) bắt đầu di tản dần lên xã Đồng Sơn, còn gọi là Cộn, vị trí nửa đường giữa thị xã và xã Thuận Đức, tránh bom đạn .


Ngày 4/4/1964 một đợt ném bom kéo dài san bằng những kiến trúc còn lạl của thị xã. Những người còn ở lại, nay tất cả đều dọn lên Đồng Sơn, trở thành tinh lỵ mới chính thức của tỉnh Quảng Bình, nơi có trụ sở của UBND tỉnh, có bệnh viện, trường học, chợ búa (chợ Cộn), tên đường phố, số nhà... có đủ cả. Song phong thái vẫn là cảnh làng quê với nhà sân vườn rộng, cây cối um tùm, và không thấy có các dãy phố xá, hiệu buôn, khách sạn đặc trưng nơi thị tứ. Đường sá không láng nhựa, vắng bóng xe cộ. Bù lại thủ phủ mới này, máy bay Mỹ không ngó tới. Chúng như tuồng chỉ hỏi thăm những cơ sở, tiện nghi quân sự.  Một số người cẩn thận, chạy tuốt lên Thuận Đức, ở trong rừng rậm, có bộ đội đóng quân.


Sau 1975 chiến tranh chấm dứt, UBND tỉnh, các đoàn thể chủ chốt và toàn bộ dân chúng vẫn ở yên tại Đồng Sơn thêm nhiều năm, do thị xã cũ bị hủy diệt hoàn toàn, chưa được xây cất trở lại. 

+ Trong bối cảnh đó, năm 1992 tôi đáp tàu hỏa ra Đồng Hới để chịu tang cụ thân sinh. Tôi đi cùng người anh con bác ruột, song nhỏ tuổi hơn. Chúng tôi đến Đồng Hới thì trời vừa sẩm tối.

Ga Đồng Hới thời Pháp thuộc được đặt tên là ga Thuận Lý (Ga Hà Nội thì tên cũ là ga Hàng Cỏ) vì nằm trong địa phận làng Thuận Lý cách thị xã khoảng trên 2 km nằm về phía biển. Từ thị xã lên ga, đường bộ gặp đường sắt trước, đi qua dưới cầu lòn rồi đi vòng lại đến khu vực sân ga. . .

Xuống tàu, vào ga, chúng tôi nhìn quanh quất thấy sân ga vắng bóng các xe tay (xe kéo), xe ba gác... khác hẳn lúc đang còn Đồng Hới xưa.

Một anh xe gắn máy ôm tiến đến gần và mời chúng tôi đi xe của anh. 

Không thấy anh dắt xe bên mình, chúng tôi nghi hoặc nhưng nhận lời và theo anh đi ra một bãi đất trống cách ga ngoài 100 mét. Ở đó có vài xe gắn máy kiểu Liên xô, Đông Âu và hơn chục chiếc xe đạp vứt ngổn ngang trên bãi cỏ. Không xe nào có khóa xe và cũng chẳng có người giữ. Tôi rất ngạc nhiên nhưng anh xe ôm cho biết ở đây, tức là ở Đồng Hới xe luôn vứt để vậy, chẳng ai lấy. Tôi không muốn tin cũng chẳng được, không lẽ có cảnh tượng thời Nghiêu Thuấn trở lại trên đất nước này cuối thế kỷ 20?


Tôi đưa địa chỉ, số nhà ở Đồng Sơn cho anh xe ôm. Anh ta nói cũng gần nhà anh. Lên xe mới biết xe gắn máy các nước cnxh khỏe thật, chạy rất tốt, lên dốc mạnh, đèn chiếu rất sáng. Người lái cẩn thận, thuộc đường và chạy xe nhanh vừa phải. Đến nhà an toàn, tôi biếu thêm tiền cho anh ta.

Vào nhà, trong nhà còn thức; linh cữu ba tôi đặt ở căn phòng giữa. Tôi mặc tang phục, thắp hương quỳ lạy trước linh cữu. Trong nhà kể cho tôi biết tình trạng bệnh trở nặng của ba tôi, có đem vào bệnh viện nằm vài hôm rồi cho về nhà. Cùng lúc tôi được đưa xem các hình ảnh tang lễ thợ ảnh chụp. 


Về chuyện xe đạp, xe gắn máy để ngoài không khoá mà tôi thắc mắc thì tôi được bảo xe trong nhà cũng không chiếc nào có khóa xe. Ở Đông Sơn và nói chung ở Quảng Bình, hộ nào có xe đạp họ đều biết. Xe đạp có đăng ký và cấp biển số. Xe gắn máy Liên xô, Tiệp, Đông Đức lại càng ít người có, dù lấy trộm cũng chẳng dám dùng. Muốn gỡ bán phụ tùng thì phải đem vào Đông Hà, Quảng Trị cách xa cả trăm cây số mới có nơi tiêu thụ, mà ở trong Nam thì chỉ dùng xe gắn máy Pháp, Đức, Nhật, tư bản.

Còn nữa! ở đây đêm ngủ hoặc nhà đi vắng cũng không phải đóng cửa. Thì ra là vậy.


Tuy nhiên hai năm trước, năm 1990 tôi ra Hà Nội, mượn xe gắn máy Honda của ông chú bên vợ để đi công việc chút đỉnh. Lúc vừa dựng và khóa xe bên lề đường bước vào hiệu sách ở phố Tràng Tiền, chỉ trong tíc tắc cẩn thận ngảnh mặt nhìn lui tôi thấy một người đang loay hoay ở đầu xe, tháo gỡ gì đó. Tôi la oai oái chạy lộn ra, anh chàng vùng bỏ chạy lập tức, mặt nạ xe gỡ nửa chừng chưa kịp mang theo. Tối tôi về trả xe, ông chú bảo nếu bị trộm, chỉ mất công ra chợ trời thì mua lại được đúng cái vừa bị mất cắp.

---------

+ Sau việc tang lễ, tôi đi xe đạp xuống thăm thị xã Đông Hới xưa, hòng tìm lại vết tich ngôi nhà ngói năm gian, số 37 đường Quan Thánh ở trung tâm thị xã, nơi cha mẹ tôi cùng con cái sinh sống.

Đến nơi, điều tôi thấy trước mắt là thị xã năm xưa sinh động với các phường Đồng Đình, Đồng Hải, xóm Câu nay biến thành một hoang địa với những bụi cây, đám cỏ. Tôi không tài nào nhận ra được địa điểm ngôi nhà cũ, gần chợ Đồng Hới. Ba mẹ tôi cùng những cư dân của thị xã có làm đơn xin thu hồi mảnh đất nơi ngôi nhà cũ tọa lạc, song sự việc không được giải quyết ví tất cả đều mất dấu.


Thành cổ Đồng Hới chu vi trên 2 km phá hủy toàn bộ (thời tiêu thổ kháng chiến) và nay là hành cung, dinh thự, công sở, trại lính, lao xá, nhà cửa nội thành bị san bằng sát đất.

Một sinh khí ló dạng, trên Quốc lộ 1 ngõ vào thị xã, nay có 1 bến xe tạm, một vài xe tải dừng lại nghỉ ngơi, có quán ăn nhỏ, mái tranh và một tiệm nhỏ sửa xe, vá lốp, đổ xăng.


Tình trạng của thị xã Đồng Hới trong chiến tranh bị san phẳng năm 1964 đến năm 1992 vẫn còn là bãi đất hoang như tôi, một cư dân cũ, đã đến tận nơi, quan sát tận mắt, in sâu trong trí và mô tả.

Về lại Sài Gòn tôi không còn dịp trở lại viếng thăm Quảng Bình, miền Trung vì năm sau, năm 1993 tôi đã rời Việt Nam ra sinh sống ở nước ngoài.

Tuy nhiên, theo dõi thời cuộc, tôi được biết Đồng Hới nay là một đô thị hiện đại, với 14 vạn dân, thủ phủ của tỉnh Quảng Trị mới do hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị sáp nhập, kể từ năm 2026.   


Năm 1992 ra Đồng Hới, ngoài việc ma chay cho cha, tôi yên tâm phần nào khi thấy mẹ tôi còn minh mẫn, lưng không còn thẳng nhưng đi đứng còn vững, tinh thần không suy sụp, chung quanh con cháu, họ hàng không thiếu. Tôi lo liệu mọi chuyện cho mẹ trước khi về lại Sài Gòn.

Hình ảnh hai mẹ con ngồi cạnh nhau suốt một tiếng đồng, tôi nắm tay me, hai mẹ con trò chuyện thì thầm – mẹ tôi, 85 tuổi, tai còn nghe rõ – là hình ảnh thân thương nhất thường gợi lại trong tâm trí tôi. 

Một ký ức khác cũng đậm đà là những trải nghiệm mà chuyến đi đã mang lại. Hình ảnh tôi ngồi ép giữa người lái xe và người anh con ông bác, rất vướng víu, nhớ lại rùng mình. Lần đầu tiên và duy nhất tôi ngồi xe ôm, lại ngồi chen chật, giữa chốn hoang vu, đêm tối. Xe chạy trên đường đất, nhiều đoạn gồ ghề, rất xóc. Trước 1975 tôi đi toàn xe hơi, sau đó đi xe đạp, xe gắn máy, và luôn giữa thành phố.  


Xuống ga Đồng Hới điều làm chúng tôi kinh ngạc tột độ là khi mục kích các xe đạp, xe gắn máy vứt bừa bộn trên bãi đất hoang, không người giữ mà chẳng thấy xe nào được khóa.

Nghĩ lại cũng năm 1992 ở Sài Gòn các cơ quan đều có nhà gửi xe cho nhân viên, nhưng xe phải khóa. Ngoài đường phố luôn có nơi gửi xe trả tiền, có người giữ. Nếu tìm được nơi có đặt khung giữ nhiều xe thì đỡ tốn. Ở Hà Nội ngoài nạn xe mất nguyên chiếc hiếm xảy, lại thêm tệ hại trộm vặt phụ tùng.


Chỉ sống vài hôm ở thị xã Đồng Sơn tôi đã nhận thấy toàn bộ cư dân từ Đồng Hới di tản lên đây lập nghiệp giữa cây cối xanh tươi nơi núi đồi, đã có một lối sống cầm chừng, dè sẻn. Có vẻ chỉ khi nào trở lại chốn xưa họ mới tìm lại được phong thái cũ, nhưng chỉn e ngày đó, cảnh Nghiêu Thuấn huyền thoại hiện hữu lại không còn.


Lê Bá Vận

 

+1) Lê nhập quan.  +2) Lễ hạ huyệt linh cửu cụ thân sinh tôi. Đồng Sơn, Quảng Bình 1992.
 
Tôi bưng di ảnh, đứng bên cạnh là mẹ tôi.

Sài Gòn Của Tôi - Nguyễn Duy Phước

Monday, May 18, 2026

Những Giọt Nước Mắt Không Thể Lau Khô


Trong thời gian quân đội Mỹ bao vây và tiêu diệt, Việt Cộng đã trốn dưới nước lòng sông, dùng ống sậy nhét vào lỗ mũi để thở.

Nhà tôi phải gây quỹ (mượn tiền bà con và bạn bè) để mua chiếc xe Mazda dâng cho ngục trường và tôi được trả tự do. Tôi trở về nhà cũ, ổ khóa ở bên ngoài, nhà đã bị 'niêm phong'; Việt cộng đã đủi gia đình tôi tới vùng kinh tế mới Mình Hải. Gia đình nhỏ của tôi 3 người phải tới nhà ông ngoại & bà ngoại lẫn núp.

Sau này tôi mới được người làng xóm cho biết là cha tôi đã bị ép ký giấy cống hiến căn nhà cho nhà nước để cứu mạng.

Nhìn vào căn nhà bị niêm phong với cánh cửa bị khóa từ bên ngoài, tôi cúi đầu và nhắm mắt lại. Từng là một gia đình ấm áp và yên bình đã bị phá hủy dưới chế độ dã man của cộng sản.

Việt cộng dùng xe chở hàng (camion) đưa gia đình cha mẹ tôi tới đất hoang Minh Hải dưới màn trời chiếu đất.

Lúc đó ở kinh tế mới gồm 9 người, ba má tôi, một bà ngoại và 6 đứa em. Đứa em út mới có 4 hay 5 tuổi, vì không có lương thực nên phải giao cho một gia đình địa phương để chăm sóc giùm.

Sau này ba má tôi trốn về Saigon và đứa em út này đã thất lạc ở dưới quê.

Tôi rất là đau lòng khi người em út đã bị bỏ rơ ở dưới quê. Vài năm sau khi tôi tới Canada định cư và làm bảo lãnh cho gia đình tôi không quên đứa em này. Tôi cho ba má biết là bất cứ với điều kiện nào cũng phải trở về Mình Hải để kiếm lại đứa em.

Sau bao ngày tháng cuối cùng ba má tôi kiếm lại được đứa em út của tôi. Cặp vợ chồng nhận nuôi (adopters) đồng ý cho ba má tôi chuộc về đứa em những đòi hỏi một ngân khoản để bù đắp chi phí nuôi nấng đứa nhỏ trong thời gian qua.

Gia đình tôi cũng đồng ý và tôi gởi về một số tiền cho ba má. Khi ba má tôi xuống Mình Hải gặp cặp vợ chồng nhận nuôi này và giao số tiền mà họ đòi hỏi nhưng lại đổi ý và muốn lấy thêm tiền nữa. Tôi phải gởi thêm số tiền cho ba má.

Cặp vợ chồng nhận nuôi này biết ba má tôi ở ngoài có người tiếp viện nên đòi hỏi ngân khoản vô tận. Một lần nữa ba má tôi đem tiền xuống Minh Hải để lấy lại đưa em lại bị cặp vợ chồng bất lương này từ chối và muốn tống tiền thêm.

Ba tôi hỏi ý kiến tới. Tôi đành phải mượn thêm tiền để gởi về và lần này tôi cho ba tôi biết là thay vì giao số tiền này trực tiếp cho cặp vợ chồng bất lương này, lấy số tiền này 'áp phe' chính quyền địa phương để họ xử lý.

Trong vòng không đầy 24 tiếng, dưới sự hộ tống của công an địa phương, cặp vợ chồng này đem trả lại đứa em út của tôi cho ba má tôi.

Em gái út tôi cuối cùng được trở về đoàn tụ với gia đình. Sau này tôi còn bảo lãnh cho em sang Canada.


Thật buồn khi nhìn thấy em ở sân bay khi tôi tới đón rước, nước mắt tôi tuôn rơi; trái tim tôi đau nhói. Nhiều năm bị cha mẹ nuôi ngược đãi, trí tuệ của đầu não em suy giảm; đôi tay bị đứt gân do nhiều năm bị đánh đập, giờ đây khó khăn lắm mới cầm được đồ vật, run rẩy và vô thức làm rơi.

Việt Cộng vào thành phố đã thay đổi cuộc đời tôi và số phận của cả gia đình tôi.

Trước khi miền Nam Việt Nam bị cộng sản đóng chiếm, tôi rất cảm thông với Việt Cộng. Tôi nghe nói rằng khi bị quân đội Mỹ 'bao vây và tiêu diệt', để trốn thoát và sống sót, họ (Việt Cộng) đã trốn dưới nước lòng sông, dùng ống sậy nhét vào lỗ mũi để thở hơi. Nếu biết họ đối xử với tôi như vậy, tôi thực sự hối hận vì đã không rút nhưng ống sậy đó ra lúc bấy giờ!

[Hình ảnh] Trong thời gian quân đội Mỹ bao vây và tiêu diệt, Việt Cộng đã trốn dưới nước lòng sông, dùng ống sậy nhét vào lỗ mũi để thở. Tôi hối hận hồi đó không biết rút bỏ những ống sậy đó cho chết luôn!


Japanese Couple Marriage In Indian Temple


 Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình


Fun Funky

Derek Trần Và Hùng Cao, 2 Người Gốc Việt Cao Cấp Nhất Hoa Kỳ, Đối Thoại Tại Quốc Hội - Nguoi Viet Online

Dân Biểu Derek Trần hỏi quyền Bộ Trưởng Hùng Cao trong buổi điều trần của Ủy Ban Quốc Phòng Hạ Viện Mỹ hôm Thứ Năm, 14 Tháng Năm. (Hình: Chụp từ YouTube Congressman Derek T. Tran)


Quyền Bộ Trưởng Hải Quân Hùng Cao trả lời Dân Biểu Derek Trần. (Hình: Chụp từ YouTube Congressman Derek T. Tran)


WASHINGTON, DC (NV) – Lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, hai giới chức gốc Việt cao cấp nhất nước Mỹ – Dân Biểu Derek Trần và quyền Bộ Trưởng Hải Quân Hùng Cao – đối thoại trong một phiên điều trần tại Quốc Hội liên bang hôm Thứ Năm, 14 Tháng Năm.

Luật Sư Derek Trần là dân cử gốc Việt cao cấp nhất Hoa Kỳ hiện nay. Ông đang là dân biểu Hạ Viện Mỹ, đại diện Địa Hạt 45 của tiểu bang California.

Ông Hùng Cao, người vừa trở thành quyền bộ trưởng Hải Quân Mỹ hôm 22 Tháng Tư, hiện là giới chức hành pháp gốc Việt cao cấp nhất trong chính quyền Hoa Kỳ.

Hình ảnh của truyền hình Hạ Viện Mỹ trên YouTube cho thấy, trong buổi điều trần tại Ủy Ban Quốc Phòng, Dân Biểu Derek Trần (Dân Chủ), một thành viên của ủy ban, đặt câu hỏi với quyền Bộ Trưởng Hùng Cao và yêu cầu ông Hùng cùng ông tham gia cuộc tranh đấu trả tự do cho tù nhân chính trị tại Việt Nam.

“Cảm ơn ông có mặt hôm nay. Thưa ông bộ trưởng, tôi xin chúc mừng ông được lên chức. Hôm nay là một ngày lịch sử. Lần đầu tiên, một giới chức quốc phòng Mỹ gốc Việt xuất hiện trước một thành viên Quốc Hội Mỹ gốc Việt. Giây phút này là của cha mẹ chúng ta và của tất cả những người đã khuất, những người đã hy sinh trên đường tìm tự do,” Dân Biểu Derek Trần phát biểu. “Ông và tôi đều đang đại diện cho một cộng đồng người Việt hải ngoại không bao giờ quên các cuộc đàn áp. Chúng ta là những tiếng nói sống động cho những người đang bị chế độ CSVN bịt miệng.”

Vị dân biểu gốc Việt tiếp: “Chúng ta đều có một trách nhiệm đạo đức trong việc bắt buộc chính quyền CSVN phải chịu trách nhiệm cho những vụ vi phạm nhân quyền liên tục. Tôi khẩn cầu ông đứng cùng với tôi trong cuộc đấu tranh này. Chúng ta phải bảo đảm tự do chúng ta có ở đây phải có bên kia bờ Thái Bình Dương.”

“Chúng phải duy trì sự hiện diện mạnh mẽ, để đảng Cộng Sản Trung Quốc hiểu rằng vùng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương không bao giờ đầu hàng các chế độ chuyên quyền,” Dân Biểu Derek Trần nói tiếp. “Đây là thời điểm chúng ta lãnh đạo, không chỉ cho đất nước chúng ta, mà là cho di sản và tự do mà chúng ta chọn để bảo vệ.”

Dân Biểu Derek Trần tiếp: “Thưa ông bộ trưởng, như ông biết, tôi đang đại diện cộng đồng Việt Nam lớn nhất hải ngoại. Cộng đồng chúng ta rất quan tâm đến việc chính quyền CSVN giam giữ bất hợp pháp các tù nhân chính trị. Ông sẽ cùng với tôi kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho những tù nhân chính trị và tù nhân lương tâm chứ?”

Quyền Bộ Trưởng Hùng Cao đáp: “Thưa ông dân biểu, cảm ơn ông dành cho tôi những lời lẽ tử tế. Một lần nữa, tôi nợ đất nước này tất cả mọi thứ, và tôi từng đổ máu cho quốc gia này. Và tôi sẵn sàng hy sinh cho đất nước này, cho tất cả những gì đất nước này cho tôi.”

“Và một lần nữa, rất nhiều người trong gia đình tôi từng bị bỏ tù một cách sai trái, và chúng ta cần phải luôn luôn đứng lên chống lại đàn áp. Và đó là công việc của chúng ta với tư cách là Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ – chúng ta không hề tự tìm kiếm điều này. Chúng ta không hề mong muốn trở thành ‘cảnh sát của thế giới.’ Chúng ta không hề chủ động tìm kiếm vai trò bảo vệ. Nhưng thực tế là như vậy, thưa ông. Và chúng ta sẽ luôn đấu tranh cho sự bất công tại đất nước này.”

Dân Biểu Derek Trần kết luận: “Cảm ơn ông rất nhiều, thưa ông. Tôi trân trọng ông đứng cùng với tôi trong cuộc đấu tranh này.”

Địa Hạt 45 do Dân Biểu Derek Trần (Dân Chủ) đại diện bao gồm một phần hoặc toàn bộ các thành phố thuộc Orange County và Los Angeles County như Artesia, Brea, Buena Park, Cerritos, Cypress, Fountain Valley, Fullerton, Garden Grove, Hawaiian Gardens, La Palma, Lakewood, Los Alamitos, Placentia, Rossmoor, Westminster, và Yorba Linda, trong đó có vùng Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại.

Bộ Trưởng Hùng Cao cùng gia đình rời Việt Nam năm 1975 khi ông mới 4 tuổi. Gia đình ông đến định cư ở thành phố Annandale, Virginia, vào năm 1982.

Thời đi học, ông Hùng là học sinh giỏi ở trường trung học Khoa Học và Công Nghệ Thomas Jefferson. Ông có bằng cao học vật lý tại Naval Postgraduate School và được học bổng (fellowship) của hai đại học MIT và Harvard, Massachusetts.

Ông Hùng Cao từng tham gia chiến đấu ở Iraq, Afghanistan, và Somalia, và phục vụ trong Lực Lượng Đặc Nhiệm và đội đặc nhiệm SEAL.

Ông cũng tham gia vào nhiều hoạt động nhân đạo và cứu trợ thiên tai ở Pakistan, cũng như phục vụ trong các tổ chức phi lợi nhuận giúp trẻ em khiếm thị và làm việc truyền giáo.

Ông Hùng có vợ người Mỹ, tên April, và năm người con. Người con trai lớn theo nghiệp cha, gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ. Cô con gái thứ hai là con nuôi người Thái Lan. Hai cô con gái sinh đôi, và con trai út. Tất cả đều được vợ ông dạy học tại nhà ở Purcellville, Virginia.

Sau khi giải ngũ, ông Hùng tranh cử vào Quốc Hội Liên Bang đại diện cho tiểu bang Virginia dưới màu áo đảng Cộng Hòa, một lần vào Hạ Viện năm 2022 và một lần vào Thượng Viện năm 2024, nhưng cả hai lần đều thua trước các ứng viên Dân Chủ. 


Derek Trần và Hùng Cao đối thoại tại Quốc Hội Mỹ

#293 - Ăn Vỏ Trứng Gà Trị Loãng Xương? Nước Hầm Xương Tốt? Khối U Ở Bụng, Ung Thư - BS. Phạm Hiếu Liêm

Một Nhà Có Phúc... - Nguyễn Thị Bích Hậu


Hôm qua tình cờ mình coi 1 video trên mạng của 1 anh tên là Trác. Anh này sanh 1963, nay sống tại Mỹ.

Coi video này mới thấy cuộc đời thật là phong phú, mà con người ta có số mạng rõ ràng.

Anh này kể trước 1975 ảnh và gia đình sống ở Nha Trang, nhà khá giả lắm nên cơm ăn áo mặc không phải lo lắng gì. Tới 1975, nhà ảnh di tản vào SG do chiến tranh. Khi đó cả dân Nha Trang đi quá trời bằng tàu biển.

Mà do còn nhỏ quá, ảnh chạy băng băng lên trước rồi leo lên tàu hải quân VNCH, rồi khi hoàn hồn, tàu chạy rồi mới thấy quanh mình không có cha mẹ anh chị em nào hết.

Vậy là tàu chở ảnh vô tới Vũng Tàu. Rồi có cái xe jeep của mấy chú lính hỏi có ai vô SG không thì cậu bé 12 tuổi này đi theo. Lúc đó gia đình cậu có rất đông bà con ở SG. Nhưng vì hồi xưa ở nhà chỉ gọi theo thứ theo kiểu Nam, nên chỉ nhớ đại loại bác Ba, bác Tư, cô Út... nhưng không biết tên họ thiệt của bà con ruột thịt và càng không biết địa chỉ của họ ở đâu.

Vì thế mà vô tới SG rồi nhưng Trác đành đi ăn xin, rồi đi bụi đời. Sau thì có một bà tên dì Năm ở gần cầu Ông Lãnh thuê dọn dẹp rửa chén cho ăn. Sau bà hổng thuê nữa thì dạt xuống chợ An Đông, ở đó có một anh thương phế binh tên anh Hiệp cho làm chung việc đẩy xe ba bánh chở rau củ, rồi cho ăn uống.

Cứ vậy tới 1978, anh Hiệp cũng không còn cách nào kiếm cơm nữa nên cho cậu bé Trác ra đi. Cậu không biết đi đâu lại dạt về bến Bạch Đằng sống bằng bụi đời như cũ.

Rồi một bữa cậu đi xuống bến, thấy có cái ghe, hỏi có qua bên Thủ Thiêm không thì cho tui đi quá giang. Họ bảo lên đi. Lên tới nơi mới biết là ghe này chở người vượt biên đang đi đón khách. Có thể do lộn xộn đông quá không biết ai với ai nên họ không kiểm soát kỹ. Mà khi đó cậu đành đi theo người ta vì không xuống được, mà cũng không biết vượt biên nghĩa là gì do còn quá nhỏ lại sống một thân một mình.

Cái ghe này chạy ra sông rồi cho người ta lên 1 cái tàu sắt màu xanh nhạt của một chủ tàu, họ đi bán chánh thức. Theo kế hoạch là hơn 300 người nhưng cuối cùng điểm danh ra ở bến chót thì cỡ hơn 560 người leo lên đi. Mà cái tàu đó chỉ là tàu sông, may mà chạy tới Malaysia an toàn, không bị bão, không bị hải tặc. Cả tàu chỉ có em nhỏ bị bệnh nên tử vong.

Cậu bé Trác khi đó 15-16 tuổi do tình cờ đi vượt biên lên tới đảo, sống vật vờ ở đó nhiều tháng ròng. Một tuần họ chỉ phát cho 3 lon gạo, thực phẩm là cá khô và đồ hộp hư mà vẫn phải ăn, nước rất thiếu vì cả đảo chỉ có 1 cái giếng nhỏ có nước lợ rất khó ăn.

Cậu rất chăm chỉ, tự lo cuộc sống, rồi học người lớn lao động cưa cây, làm lều lán, đào hố...

Sau ít lâu thì cậu qua Mỹ định cư theo diện cô nhi. Qua tới nơi thì vô trường trung học theo học.

Bỏ học 3-4 năm ròng, mà chưa từng học bằng tiếng Anh, nay cậu phải học tiếng Anh, rất khó khăn.

Nhưng trước đó ít bữa thì cậu đang đi đường có một người con gái lớn hơn cậu mấy tuổi chợt chạy lại hỏi em có phải là Trác ở Nha Trang không? Khi cậu nói đúng thì cô ấy mừng quá, đó là chị con dì ruột của cậu cũng đi vượt biên. Từ đó cô cho hay ba má và các anh chị em của cậu đã ở SG, vẫn còn sống. Từ đó là cậu có thể nhắn tin về nhà là chính cậu cũng còn sống và đang ở Mỹ.

Lúc đó chưa có vụ cho bảo lãnh gia đình qua Mỹ, nên cậu bé có lên hỏi những người hiểu biết. Một người có uy tín ở đó nói cậu nên ráng học xong trung học rồi đăng lính Mỹ, thì sẽ có cơ hội. Hơn nữa vì cậu cũng không có tiền bạc gì, nếu đi học lên nữa cũng căng, mà muốn bảo lãnh cha mẹ và gia đình thì phải có thu nhập đủ theo quy định nữa.

Nghe lời cậu về học ngày học đêm, rồi sau 2 năm cũng học xong có bằng trung học. 18 tuổi cậu đi lính. Mục tiêu là làm sao để có thể được lãnh cha mẹ và các anh em ruột qua đoàn tụ.

Vô lính một thời gian thì tình cờ chỉ huy của cậu lại là một người Mỹ rất rành tiếng Việt. Hỏi ra thì ông này từng làm cho tòa lãnh sự Mỹ ở Nha Trang trước 1975. Cậu nói tên cha mẹ ra thì ông biết cả. Vì vậy nên cậu trình bày hoàn cảnh, xin ông này giúp đỡ. Ổng cũng nói cậu cho thông tin, làm hồ sơ... Rồi thì mọi chuyện cứ thế trôi qua, không có tin tức gì.

Cho tới một ngày mấy năm sau đó, cậu hết ca tính về nhà thì thấy ông sếp chạy ra nói cậu tắm rửa cho sạch, thay quần áo chỉnh tề rồi chở ông ra phi trường do ông có việc đi gấp. Cậu cãi là bữa nay hết giờ không phải là nhiệm vụ của cậu, ông bảo cậu là cấp dưới phải tuân lịnh của ổng, khỏi cãi.

Khi ông và cậu đi vô phi trường, ra chỗ sân bay quốc tế, thì ổng chỉ vô 2 người đứng phía xa, hỏi coi có nhận ra ai không. Đó chính là ba mẹ cậu mà ông và ông sếp nữa của ông giúp bảo lãnh qua. Gia đình gặp nhau trong tràn ngập nước mắt. Kể từ khi lạc gia đình ở Nha Trang tới lúc đó là 13 năm ròng rã, tức năm 1988. Trác nói mình phải trải qua hết 13 năm thì mới hết cảnh cô nhi chiến tranh. Sau 13 năm Trác lại có cha mẹ anh em trở lại.

Một năm sau, các anh em ruột của Trác qua được Mỹ vì đi cùng cha mẹ nhưng cha mẹ được qua Mỹ trước, họ còn phải đi học khóa tiếng Anh và hòa nhập xã hội Mỹ ở Phi luật tân rồi mới qua sau.

Tới lúc này thì câu chuyện đã tràn ngập sự kỳ diệu rồi, vì một đứa bé 12 tuổi lạc cha mẹ, đi bụi đời, rồi chính đứa bé đó vì trời phật run rủi đi vượt biên được, qua tới nơi lo cho cả nhà đoàn tụ.

Chàng thanh niên tên Trác vẫn ở trong lính, rồi bị thương khi tham chiến tại trận Bão sa mạc ở Iraq thì giải ngũ. Khi đó anh mới cưới vợ, sanh con trai.

3 năm sau khi có con thì vợ anh không may bạo bệnh qua đời.

Kể từ đó anh Trác làm ngày làm đêm, vừa làm vừa lo một mình nuôi dạy con vì không đi bước nữa. Ước mong của ảnh là cho con có một cuộc đời hơn mình " cả ngàn lần".

Kết quả sau bao năm ròng cực nhọc, con trai duy nhất của anh Trác đã trở thành kỹ sư Hàng không và vũ trụ ở Mỹ. Khi tốt nghiệp xong thì cháu được nhận nhiệm sở với lương cao, làm cho hãng Airbus tại London, nước Anh.

Anh Trác nói cả đời của ảnh dù không có khả năng gì ghê gớm, nhưng khi nào cũng làm hết sức mình, và khi nào cũng vươn lên dù trong mọi hoàn cảnh.

Và quan trọng nhất là dù hoàn cảnh thế nào, ảnh cũng cố không rơi vào các tệ nạn xã hội nghiện ngập này kia, cố gắng lao động và sống cho tử tế.

Một con người như ảnh quá đáng quý. Chuyện đời thật của ảnh cho thấy con người ta do cha mẹ sanh ra, nhưng sống được cũng do nỗ lực bản thân, do ơn Trên dẫn dắt, do bao người tình cờ tận tình giúp đỡ.

Thành thử một đứa bé bị lạc cha mẹ và toàn thể anh chị em trong những ngày khốc liệt nhất của thời cuộc, sau này lại là thiên thần hộ mệnh cho cả gia đình đó. Thiệt là một nhà có phước nhiều đời. Vì biết bao hoàn cảnh tương tự như vậy lúc ấy có kết cục bi thảm.

Một câu chuyện xúc động, một con người rất đáng trân trọng. Nghe ảnh tâm sự xong mà học được nhiều điều về cuộc sống.


NGUYỄN THỊ BÍCH HẬU
Nguồn FB

Dòng Sông Tuổi Nhỏ - Nguyễn Đức Hùng


Tiếng thằng Nỹ la oang oang trước sân nhà ông bà ngoại tôi, trong cơn nắng chang chang của trưa hè:

- Hùng ơi! Nước sông ở cửa lăng bây giờ đang xuống cạn lắm, đi ra lẹ lên, nếu không nước hết ròng chảy mạnh tắm không được đó. Tắm xong mình còn lên phá ông Than cụt nữa.

Tôi đang ở trần với cái quần đùi nghe vậy liền phóng vội ra khỏi nhà. Ngoài sân nhà đám bạn phá xóm, phá làng đã tụ họp đầy đủ. Thằng phá nhất là thằng Nỷ, kế đến là thằng Tỏ, và thằng sau cùng là thằng Theo, vài ba thằng theo đóm ăn tàn như thằng Châu lé và thằng Đờn cũng đã có mặt…..

Tôi ở lại quê ngoại để học xong năm cuối cùng của bậc tiểu học. Vì công việc làm ăn ba má tôi về lại Nha trang, để tôi ở lại sống với ông bà ngoại. Ở đây tôi đã có những tháng ngày tự do nghịch phá với những thằng bạn thời thơ ấu và sự thương yêu, cưng chiều của ông bà ngoại. Như bao làng quê ở miền trung, quê ngoại tôi nghèo rất nghèo như câu nói ví von “đất cày lên sỏi đá”. Cũng chính ở trên cái miền đất khô cằn sỏi đá, cái làng nhỏ này là phần đời ăm ắp những kỷ niệm yêu dấu khó quên trong tôi. Làng Quảng Hội, Vạn Giả nghèo nàn xanh ngợp bóng dừa trong nắng hè gió nồm vi vu thổi. Tuổi thơ tôi là những sớm mai ngồi đợi thuyền của các ông cậu đi lưới cá về len vào nhặt những con “cua hét”, con “bàn chải” rồi cùng lũ bạn xúm lại nướng hoặc luộc ăn ngay trên cồn biển. Những củ khoai lang vùi dưới lửa rạ khi chín thơm lừng cả một khoảnh bếp trong ngôi nhà tranh của ông bà ngoại. Mùa đông ở đây quạnh hiu và buồn tẻ. Những bữa cơm chiều đạm bạc nhưng ấm cúng với ông bà ngoại bên những con cá lép toàn xương dầm nước mắm me. Những hình ảnh ấy còn theo tôi mãi về sau.

Tôi đã học những năm tiểu học của thời thơ ấu bên những rặng dừa bạt ngàn, trong tiếng sáo diều vi vu ở đình làng ven biển, với những trò chơi cùng lũ bạn ngổ ngáo trong làng……


******

Buổi tối ở khu chợ Cai Lậy ồn ào và bụi bậm. Những quán xá lụp xụp đầy những bộ quân phục rằn ri. Chợ Cai Lậy vào những ngày cuối năm 1969, tôi như trộn lẫn vào trong cái ồn ào của đám đông ấy. Khi đi ngang qua một quán nhỏ trong chợ, một tiếng gọi vang lên, trong một giây tôi như không tin vào cả chính tai mình.

“Mày đó phải không Hùng?” Làm sao mà tôi quên được tiếng gọi quen thuộc thường rủ tôi đi tắm sông vào những trưa hè. Sau đó một tên rằn ri TĐ6 đứng trước mặt tôi. Phải mất vài giây tôi mới nhận ra nó. Thằng Nỷ, không sai, đúng là nó.

Tôi ngạc nhiên hỏi một câu thật ngớ ngẩn:

- Đ.M. mày cũng đi TQLC nữa à?

- Mày hỏi ngu thấy mẹ. 

Nó làu bàu và kéo tay tôi lôi vô quán.

Trong quán còn có thêm 3 thằng bạn cũng TĐ6 của nó. Không biết tụi nó đã ngồi đó từ bao giờ, trên bàn ngổn ngang những vỏ chai bia. Khuôn mặt nào cũng đỏ rừ, hơi thở bốc đầy mùi rượu.

Một thằng bạn của nó hất hàm hỏi tôi:

- Ê thằng PB này đi đâu mà lạng quạng dô đây dzậy? Ngồi xuống thì phải dzô đi chứ?

Lại một tên bạn của hắn lên tiếng xen vào:

- Thằng Tr/s PB này có biết uống rượu không hả?

Thằng Nỉ càu nhàu:

- Im mẹ cái miệng mày đi. Say rồi hay sao mà ngồi đó sủa hả mấy ông nội? Để thằng Hùng uống xong tao còn hỏi thăm chuyện làng nước của tao coi. Lâu quá rồi tụi tao mới gặp.

Tôi uống vội ly bia, thế là hắn bắt đầu hỏi lung tung đủ chuyện. Giọng nó sôi nổi, nhưng khi nghe tôi hỏi sao nó vô TQLC... Giọng nó trở nên buồn bã. 

Im lặng một lúc, nó nói:

- Như mầy biết, tao sống với bà nội tao từ nhỏ. Ba má tao còn sống hay chết tao đâu có biết. Sau khi hết học ở trường làng, mầy vô Nha trang học tiếp, còn cả bọn tao thì phải nghỉ học vì làng mình chỉ có tới lớp nhất là hết. Tao phải đi biển giúp đỡ bà nội tao. Lớn rồi đâu còn lang thang phá phách như lúc nhỏ, tao phải kiếm sống nữa. Vài năm sau bà nội tao chết, tao đâu còn ai. Tới tuổi đi lính, tao, thằng Tỏ và thằng Theo tình nguyện đi TQLC sau tết Mậu thân. Thằng Đờn và thằng Châu lé, tụi nó nghe lời dụ khị của thằng cha Than cụt lên núi Hóc Chim hay Đá Bàn gì đó theo tụi du kích VC rồi. Tao thiệt là không hiểu nổi, lúc còn nhỏ thì chung một đám vui đùa phá phách. Bây giờ như vầy, tao nghĩ nếu có ngày tụi mình gặp lại tụi nó mà phải giết nhau thì thật là buồn lắm...

Nhìn những sợi gân máu trong đôi mắt đục ngầu và đỏ choạch vì rượu của nó, tôi như thấy lại dòng sông tuổi nhỏ của quê ngoại ngày nào....


******

Tiếng thằng Tỏ oang oang:

- Tao phải cởi truồng để tắm, nếu không dìa nhà má tao biết tao đi tắm sông, bả sẽ đánh nứt đít tao luôn. Bả còn nói buổi trưa lúc mặt trời đứng bóng là không được tắm ngoài sông ở cửa lăng, nếu không sẽ bị ma da kéo chân đó.

Mặc cho thằng Tỏ nói gì thì nói, cả đám nhãi con tuột hết áo quần rồi đùng đùng phóng xuống mặt sông làm bắn tung tóe nước và ồn ào cả một dòng sông trong buổi trưa hè yên lặng.

Thằng Tỏ là thằng rời bờ sông trước tiên. Nó lên bờ xỏ lẹ cái quần đùi vào rồi chậm rãi bước về phía lều của lão Than cụt. Đến nơi, nó rón rén nhìn qua những lổ hổng rách của cái lều xem lão đã ngủ say chưa trước khi ngoắt tay báo hiệu cho cả đám leo lên cây hái những trái bàng chín xuống ăn... Lão Than cụt, một người không vợ, không con, được cả đám con nít trong làng biết đến như một nhân vật huyền bí. Không biết lão cụt cánh tay trái lúc nào và tại sao. Chỉ nghe người lớn trong làng kể rằng ngày xưa lão đã từng theo Việt Minh gì đó lên núi và bị Tây bắn cụt tay. Sau khi trở về làng không biết vì thất chí hay chuyện gì đó lão cứ uống rượu say sưa tối ngày, đi lang thang khắp làng với cái đuôi con nít hò hét theo sau….


******

Rời chiếc xe lam ở Tam Hà, Thủ Đức, tôi đã thấy thằng Tỏ và 2 tên bạn cùng TĐ2 của hắn đón tôi và kéo vô cái quán gần đó. Tôi nói:

- Nghe TĐ2 của mày vừa về hậu cứ từ Chương Thiện nên tao lên thăm mày chứ sợ sẽ khó có dịp.

Nó nhăn mặt:

- Mày nói như cứt. Làm như tụi mình sắp chết tới nơi rồi. Quên mẹ mọi chuyện đi, kiếm cái gì uống rồi hẵn hay.

Lại thêm một thằng bạn lớn lên từ dòng sông tuổi nhỏ. Đã lâu không tin tức, bây giờ gặp lại nơi đây, quán nhỏ bên đường mà cứ ngỡ như giấc mơ.

- Đã lâu rồi mày có về làng không Hùng?

Tôi trả lời không, và hỏi lại hắn:

- Còn mày thì sao?

Nó nói:

- Hành quân liên miên, về hậu cứ thì cứ theo mấy thằng bạn thổ tả này uống say mèm. Nhiều lúc nhớ quê, nhớ xóm làng cũng muốn về nhưng nghĩ lại chẳng còn ai nên thôi.

Nó hỏi tiếp:

- Mày có gặp thằng Theo không? Nó ở TĐ3 đó. Tao, nó và thằng Nỷ từ ngày rời quân trường Rừng Cấm, ba thằng đi 3 TĐ khác nhau chưa bao giờ gặp lại!! Nghe nói nó bị thương nhẹ ở U Minh, lúc ra khỏi bệnh viện nó có lên trại Yết Kiêu kiếm mày và lên Tam Hà kiếm tao nhưng không gặp thằng nào. Mang tiếng cùng ở TQLC mà sao gặp nhau khó quá.…

Buổi chiều xuống dần. Tôi cũng đã bắt đầu thấm rượu. Tôi nói:

- Thôi tao về. Nếu còn sống tao sẽ kiếm mày.

Thằng Tỏ cũng đã say, nó lầm bầm trong miệng:

- Ừ, tụi mình sẽ sống mà. Có ngày tao, mày, thằng Nỷ, và thằng Theo cùng nhau về dòng sông cũ, tắm sông và lượm trái bàng chín như ngày xưa tụi mình còn nhỏ nghe Hùng.

Và đó là lần cuối cùng tôi gặp thằng Tỏ. Ngày buồn thảm của cuối tháng 3/1971 cả LĐ147 đã triệt thoái từ căn cứ Đống Đa, Hạ Lào trong chiến dịch Lam Sơn 719. Nó đã đến và ở lại nơi ấy. Giấc mộng đời không còn bao giờ thức dậy. Nó đã đi đến thiên đường một mình với tốc độ chóng mặt. Nó đã quên mất lời ước hẹn cùng tôi trở về thăm lại dòng sông tuổi nhỏ ngày nào. Quay nhìn lại lần cuối căn cứ Đống Đa rực lửa, biết bao nhiêu Trâu Điên đã ở lại, trong đó có mày đó Tõ. Tao sẽ mãi mãi nhớ mày. Hãy ngủ yên cùng với các bạn bè của mày nhé. Mày bây giờ đã thảnh thơi hơn tụi tao. Tao nhớ mày vẫn thường khoe là thằng Nỷ, thằng Theo, khoái Trâu Điên mà không về được. Rốt cuộc mày lại dành đi trước tụi tao. Bây giờ nơi chốn hư vô ấy không còn cấm trại, không còn cần giấy phép hay phải trốn trại nữa. Mày về dòng sông xưa được rồi, nhưng tao chắc là mày không vui đâu vì nơi đó không có tụi tao mà……


*******

- Ê! Có nhiều trái bàng chín quá tụi bây ơi! 

Lão Than cụt vẫn còn ngủ say như chết. Thằng Nỷ nói:

- Tụi mình bắt thêm mấy con còng gió bỏ vô mền lão Than cụt nhe.

Thằng Nỷ lúc nào cũng là thằng có những sáng kiến quỷ quái để chọc phá. Thế là cả đám nhóc nhao nhao đồng ý. Cuối cùng tụi nhóc cũng bắt được một con còng gió và một con nha (nha là một loại còng nhỏ có cái càng màu xanh). Thằng Theo nói:

- Tao nhỏ con nhất và chạy lẹ nhất, để tao vô bỏ nó trong chăn của ổng cho.

Cả bọn rình ở ngoài lều, còn thằng Theo thì lẻn vào trong. Thời gian chừng một phút mà cả bọn nghe như thật lâu. Bóng thằng Theo chạy vụt ra khỏi lều như tên bắn, thế là cả bọn ùn ùn phóng theo. Sau lưng bọn tôi còn nghe lồng lộng tiếng thét và tiếng chửi thề vang dội của lão Than cụt....


******

Xuống dưới trảng tranh cùng với TĐ2/Trâu Điên, tôi gặp lại các anh em BCH/PB2. Tôi nhập bọn lại cùng họ, sau một đêm nương theo ánh hỏa châu của TĐ3/PB chỉ đường cho cuộc triệt thoái từ căn cứ Đống Đa. Tại nơi đây các Sói Biển đang chờ và giữ cái trảng tranh cho trực thăng bốc LĐ147 về Khe Sanh. Trong nỗi tận cùng của mệt mỏi và đau thương, tôi gặp lại thằng Theo trong sự bất ngờ không tưởng. Đại đội nó đang giữ cho chúng tôi rút. Nó vẫn nhanh nhẹn và liếng thoắng như ngày nào. Gặp tôi, nó nhào tới ôm chặt lấy tôi, làm như sợ tôi chạy mất và câu đầu tiên nó hỏi tôi là:

- Hùng, thằng Tỏ có thoát không?

Tôi buồn bã lắc đầu trả lời hắn mà như muốn khóc:

- Tao nghĩ là không. Buổi sáng trước khi rút, tao có gặp một thằng ở trung đội, nó cho biết trên đường rút về LĐ nó bị thương khá nặng, thì không cách nào thoát được.

Không ngờ chỉ nghe có chừng ấy mà thằng Theo đã có thể bật khóc như trẻ thơ trong hoàn cảnh thế này, giữa núi rừng trùng điệp của Hạ Lào.

- Mẹ nó cái thằng Tỏ này. Trong đám là nó gan lì và thương tao nhất mà nó lại đi cái chó gì sớm vậy!

Trong ràn rụa nước mắt, nó lảm nhảm:

- ĐM, sao lại như thế? Từ ngày rời Rừng Cấm tới giờ tao chưa gặp lại thằng nào. Bây giờ vừa gặp lại mày, thì lại một thằng ra đi vĩnh viễn. Mày không biết, lúc còn ở Rừng Cấm, nó là thằng vì tao mà bị phạt nhiều lần. Nó đánh lộn tùm lum để bảo vệ tao. Tao nhỏ con nên thường bị mấy thằng trong đại đội khóa sinh ăn hiếp. Khi ra trường, nó về Trâu Điên còn tao về Sói biển. Nó cứ theo chọc tao. Nó nói mầy ốm như con đỉa, đánh nhau đạn khó trúng mày. Vậy thì về TĐ Đỉa đói là phải rồi. Theo ơi! Tao thương mày và thương cả chính tao. Mày còn khóc được là niềm tin, và hạnh phúc còn trong mày đó. Với tao niềm tin và sự sống cho ngày mai, để đợi ngày hòa bình cho cái đất nước khốn khổ này đã không còn trong tao. Nó đã thui chột theo tháng ngày qua. Mày có biết không, có những lần cái chết nó gần đến nỗi tao còn nghĩ rằng nó là nhân tình chung thủy không rời. Lúc nào cũng cận kề với những thằng lính mũ xanh của tụi mình và lúc nào cũng sẵn sàng mở vòng tay chào đón bọn mình. Sự sống chỉ là một thứ không tưởng. Nó là một thứ ân sủng của thượng đế bố thí cho những thằng lính áo rằn của tụi mình. Thôi thì tao, mày cũng nên mừng cho thằng Tỏ, cuối cùng thì nó cũng đã kết hôn với con nhân tình dễ ghét này, sau bao năm chung thủy đồng hành với nó.

Thằng Theo đưa bình đông nước cho tôi uống. Tôi tưởng như trong nước có vị mặn của nước mắt nó và mùi máu tanh của thằng Tỏ. Tiếng trực thăng đáp xuống trảng tranh. Tôi cùng BCH/TĐ2/PB rời bãi bốc lên cao xa tít. Tôi còn nhìn thấy bàn tay thằng Theo vẫy theo, và bóng nó nhỏ dần lẫn vào đám tranh vàng úa….


******

Thằng Theo nói với tôi:

- Sáng sớm mai, tao, mày, thằng Nỷ và thằng Tỏ, lên đám ruộng khô của ông Cần trên ga Trung Dõng. Tao biết một chỗ có nhiều dế lắm. Sáng hôm qua tao lên rẫy với ông bác, sáng sớm tao nghe nó gáy dữ dội. Nhớ đừng cho thằng Đờn và thằng Châu lé biết. Chỉ 4 đứa mình đi thôi. Chuyến này cho tụi nó biết tay. Thằng Đờn có con dế than chiến quá, 4 đứa mình chưa có đứa nào thắng nó, tức thật.

Thằng Tỏ mỉa mai:

- Mày tử tế ghê hén. Mày nhỏ nhứt trong đám tụi tao, mà lẹ như ma. Thường thì mày trốn đi một mình chứ sức mấy mà mày có lòng tốt gọi 3 thằng tao.

Thằng Nỹ xen vào:

- Sáng tờ mờ nó hổng dám đi một mình đâu. Tại nó sợ đi ngang qua mả ông Cơ, ma ra nhát nó nên mới kéo theo tụi mình chứ tử tế gì.

Thằng Theo bẻn lẽn chống chế:

- Làm gì có chuyện đó. Chẳng qua là vì tao khoái đi chung với tụi mày đó mà.

Sáng hôm sau, sau khi rời thửa ruộng khô của ông Cần. Đám nhóc 4 đứa men theo con đường đất nhỏ đi lên đường rầy xe lửa ở ga Trung Dõng thì trời đã trưa. Thằng Nỷ giơ cái lon sửa bò rỉ sét ra khoe:

- Tao bắt được 3 con dế. Con cồ lửa là chiến nhứt. Chắc chắn tao sẽ không thua con cồ than của thằng Đờn. Kỳ này cho nó hết làm hách. Tụi bây biết mà “dế lửa chắc gan, dế than mạnh húc”, con của thằng Đờn chỉ mạnh húc thôi. Tụi bây có con nào “chiến” hông?

Tôi nói:

- Tao được 2 con, còn thằng Theo và thằng Tỏ mỗi đứa chỉ có một con, nhưng không có con nào chiến hết.

Thằng Theo tiếp lời:

- Tụi mình lên đường rầy ngồi nghỉ một lát rồi tao dắt lên rẫy ông Cần kế bên rẫy bác tao hái trộm bắp nướng ăn. Ghé rẫy bác tao, tụi bây nhớ nhắc tao lấy cái cuốc chim để sau đó chôn mấy cái cùi và vỏ bắp, chứ ổng mà biết mét lại bác tao thì tao nhừ đòn.

Cả đám đi dọc theo đường rầy để lên rẫy. Chợt thằng Tỏ hỏi:

- Tụi bây có biết cái đường rầy này chạy miết tới đâu hông?

Thằng Theo làm như giỏi lắm nói ngay:

- Một ngả chạy tuốt dzô Sài Gòn, còn một ngả chạy miết ra Huế đó.

Thằng Tỏ nói với giọng chắc nịch:

- Mai mốt lớn lên tao sẽ đi tận Sài Gòn, rồi sẽ ra tuốt ngoài Huế.

Thằng Nỹ xen vào:

- Xì! Mày làm gì có tiền đi xe lửa. Năm ngoái tao theo bà nội tao đi Tuy Hòa. Mèn ơi! Ngồi xe lửa thiệt là đã. Nó chạy chun qua cái hầm tối hù, rồi băng qua cái cầu dài thật dài mới tới Tuy Hòa đó. Bà tao nói là phải trả nhiều tiền lắm….


******

Tỏ ơi! Bây giờ thì tụi mình đã đi quá xa. Xa hơn cả những gì mày đã nói trong trưa hè thuở xưa. Như vậy là mày đã mãn nguyện rồi chứ gì?! Tụi mình đã đi khắp cùng đất nước từ Năm Căn, Cà Mau ra tận Gio Linh, Đông Hà, Quảng Trị. Không phải tụi mình đi bằng chiếc xe lửa hiền hòa lăn mình nhả khói trắng hai bên đường của ngày xưa cũ khi đám nhóc 4 thằng mình dõi mắt trông theo mà ước mơ đến những chân trời xa lạ. Mà tụi mình đã đi bằng hình hài của những thằng lính rằn ri, đi trong lằn ranh sống chết, đi trong nỗi nghiệt ngã oan khiên của một đất nước điêu tàn, đau khổ triền miên trong hận thù chiến tranh. Bây giờ mày lại còn đi xa hơn nữa để rồi nằm lại mãi mãi trên núi rừng chập chùng của xứ Lào xa lạ chứ không phải là quê hương của tụi mình. Ôi! Mày sẽ buồn và nhớ tụi tao biết bao nhiêu, phải không Tỏ?

Tỏ ơi! Mày có biết rằng đã nhiều lần trong cơn say, tao đã mơ thấy 4 thằng nhóc mình ngồi trên chuyến xe lửa ngày xưa. Miệng reo vui, cả đám tụi mình thò đầu ra ngoài cửa toa tàu ngửi mùi biển mặn khi tàu ngang qua biển Đại lãnh, rồi ngửi mùi thơm mạ non của những thửa ruộng khi tàu lướt ngang qua ga Hảo Sơn. Rồi cứ thế chiếc xe lửa hiền hòa ngày ấy băng qua sông Đà... Niềm ước mơ thời tuổi nhỏ thật an bình và giản dị, nhưng cả cuộc đời tụi mình vẫn là ước cùng mơ mãi kiếm tìm…..


******

Buổi chiều còn vương chút nắng trên đồi nơi LĐ1 Kỵ Binh trú đóng ở Phong Điền, Mỹ Chánh. Từng toán quân của TĐ8 di chuyển ngang LĐ1 KB để đi về phía núi. Tôi đang chơi bóng chuyền cùng đám bạn Thiết giáp. Bỗng trong toán quân di chuyển, tôi nhìn ra thằng Nỷ. Chắc nó cũng đang ngạc nhiên không biết vì sao lại có tên TQLC ở trong đám Thiết giáp nên đưa mắt nhìn, và cũng lại giọng nói quen thuộc ngày xa xưa cũ:

- ĐM, mày đó hả Hùng?

Thằng Nỷ rời toán quân đang di chuyển để chạy về phía tôi. Hai thằng ôm choàng lấy nhau. Một thoáng từ lúc gặp nó ở chợ Cai Lậy cuối năm 1969 đến nay là 1974, đã gần 5 năm rồi còn gì. Lúc này trông nó già dặn và vững chải ra với cái lon TS1 ngụy trang trên cổ áo. Tôi cười nói đùa:

- Nhanh thế, đã TS1 rồi à?

Nó cười và nói có chút hãnh diện:

- Tao rời TĐ6 và đi học HSQ đặc biệt năm 1971 rồi sang TĐ8 này, bây giờ là Tr/đội phó.

Tôi đùa và bảo:

- Thế là gặp mày tao phải chào rồi. Tao vẫn còn Tr/s đấy.

- Đã nói là số tao không có duyên với nhà binh mà.

Nó hỏi tôi:

- Mày có biết là thằng Tỏ đã chết ở Hạ lào không?

Tôi trả lời:

- Ừ tao biết, còn thằng Theo thì tao có gặp một lần ở Hạ Lào.

Nghe nói sau đó bị thương nặng lúc đánh Cổ Thành nên đã giải ngũ. Nó quen con nhỏ nào ở Long An rồi ở luôn đó không về làng cũ nữa đâu.

Thằng Nỷ chép miệng:

- Vậy bây giờ chỉ còn tao với mầy thôi, nhưng cũng khó gặp nhau há!

Tôi nói:

- Thì chiến tranh rồi cũng có ngày phải chấm dứt.

Giọng thằng Nỷ nhỏ lại:

- Ừ phải chấm dứt. Tao sẽ về cưới vợ. Tao có thương con nhỏ ở Cần Thơ, kỳ tới có phép thường niên lần tới tao sẽ về cưới nó. Tao bây giờ không còn ai. Không họ hàng, bà con, chỉ có mày. Nếu ngày cưới mà có mày thì vui hết biết hả Hùng. Rồi vợ chồng tao và mày sẽ về thăm dòng sông Mỹ Quảng nghe.

Một người lính Ó-Biển đến hối hắn.

- TS anh em đang đợi. T/U nói lẹ lên để vô thế cho thằng 4 ra kẻo quá tối. 

Nó muốn nói với tôi thêm điều gì đó nhưng lại chần chừ rồi quay đi. Tôi nói vói theo:

- Cẩn thận nghe, nhớ giữ lại cái mạng cùi của mầy để về lấy vợ và thăm làng nghe.

Đã đi xa rồi mà hắn còn cố quay lại nhoẻn miệng cười nói to cho tôi nghe:

- Tao hứa, tao sẽ sống về lấy vợ mà.

Đó là lần sau cùng tôi gặp lại thằng Nỷ. Sau những biến chuyển dồn dập đau thương xảy ra cho đất nước, tôi đã bỏ xứ ra đi. Nhiều năm trên xứ người, hình ảnh thằng bạn thời tuổi nhỏ, lẫn theo cánh quân TĐ8 mờ dần theo rặng núi xa bên đồi thiết kỵ với niềm ước mơ những ngày phép về cưới vợ, và dắt vợ về thăm ngôi làng nghèo khổ ven biển, ngôi làng với dòng sông thời tuổi dại. Trong tôi vẫn còn thoáng nghe những tiếng cười hồn nhiên của các thằng bạn thời tuổi nhỏ. Nó không bao giờ mờ phai trong ký ức tôi.

Đã lâu thật lâu. Chiến tranh rồi hòa bình, tôi vẫn chưa một lần quay về làng cũ. Kỷ niệm đã thăng hoa. Ngày tháng thì nhạt nhòa. Trong ký ức tôi, giòng sông tuổi thơ lúc nào cũng còn đó. Nước hiền hòa lúc nào cũng chảy một giòng thôi.


Cần Thơ Ngày... Tháng... Năm...

Hùng thân,

Khi mày đọc được những giòng chữ tao viết, thì chúng mình đều đã già, đã nhiều năm dài trôi qua.

Tao đã giữ tròn lời hứa với mày. Tao đã sống sót trong trận đánh cuối cùng. Tao bị thương nặng và để lại Long Thành một chiếc chân trái. Thôi cứ coi như là kỷ niệm cho màu áo 4 chữ của tụi mình. Cuối cùng thì tao cũng lết về được Cần thơ. Người con gái hiền hòa của xứ này đã không chê và chấp nhận tao. Cũng nói thêm cho mày mừng tao đã được 2 cháu. Chúng nó đã lập gia đình và tao cũng chưa một lần dắt vợ tao về lại dòng sông tuổi nhỏ của tụi mình. Vì có còn gì nơi ấy khi ngay cả đất nước tao đang sống cái gọi là “quê hương” nó cũng đâu còn như ngày xưa.

Báo cho mày biết thằng Theo ở Long An cũng đã chết cách đây vài năm sau cơn bạo bệnh. Tao có về gặp nó, trước khi ra đi nó vẫn còn nhắc đến mày và thằng Tỏ. Bây giờ nó đã gặp thằng Tỏ rồi.

Bên trời xa xôi này tao vẫn cầu mong gia đình mày an bình và hạnh phúc. Hãy kể cho vợ con mày nghe về những ngày xưa của tụi mình như thoáng kỷ niệm còn một chút gì để nhớ để thương.

Tao gửi cho mày chút nắng vàng quê nhà vì tao biết bên mày mùa đông chắc lạnh lắm. Mong mày lúc nào cũng nhớ về những ngày xưa thân ái. Với giòng sông yên bình đã cho chúng mình biết bao kỷ niệm ấu thơ. Cuộc đời nghiệt ngã có thể lấy mọi thứ từ tao, từ mày, nhưng những kỷ niệm thân thương thì lúc nào cũng còn đó trong ngăn tim của chúng ta để đôi khi “tuổi 60 mà ngỡ như trẻ thơ” như lời bài hát nào đó.

Đừng thư lại cho tao. Đừng về tìm tao, những điều đó không cần thiết, vì tụi mình vẫn mãi mãi còn giòng sông thời tuổi nhỏ và màu áo rằn trong tim để nhớ về nhau kia mà.

Bạn mày,

Nỷ


PTMX/OR Nguyễn Đức Hùng

Image en ligne

Người bạn thuở thơ ấu của MX Nguyễn Đức Hùng (Dòng sông tuổi nhỏ), TS1 Nỷ (tức Tường), ĐĐ4/TĐ8 (người thứ nhất từ trái qua) của TQ Đông Kinh (Lê Đình Đơn)(thứ ba từ trái qua).