Sunday, May 3, 2026

Vẽ Trên Xương Lá - Nguyễn Thị Mỹ Thanh

 

“Bởi chữ nghĩa không đủ lớn để tả đời người
Tôi xin một lần vẽ trên xương lá.”
Cuối năm, trời thật lạnh, chỉ có mấy độ F mà thôi. Miền Đông.
Tôi chợt nhớ những ngày còn bé. Trời lạnh, tôi hay hà hơi lên cửa kính, rồi vẽ chữ trên đó. Chữ sẽ mau tan vì hơi nước sớm bay đi. Lúc tôi quen nàng, cũng hay vẽ chữ kiểu đó. Viết lên kính coi bộ dễ hơn nói. Bản tính nàng vốn rụt rè. Mà con gái ngày xưa ai cũng rụt rè như vậy. Tôi thì hùng hổ hơn, nhưng cũng rất ngại ngùng sợ nàng e thẹn, mất lòng. Đành vẽ chữ vậy! “Anh yêu em.”
Tôi muốn trở lại. Vâng, tôi rất muốn trở lại, khoảng thời gian đẹp như mơ đó. Nàng vẫn ở bên tôi. Tôi rủ rê:
– Đi, em!

Nàng hỏi trong khi mở to đôi mắt:
– Đi đâu? 
– Về nơi khi xưa mình hẹn nhau lần đầu.
– Nơi nào?
Nàng hỏi rồi tự trả lời:
– Nhớ rồi… Không đi được.
– Tại sao?
– Chân tôi… đã không thể đi được.
Tôi như vụt thoát ra khỏi giấc mơ. Trong đôi mắt của nàng, lệ đã cạn từ lúc nào.
– Mình nè, “đi” không có nghĩa là phải dùng đôi chân. Tôi giúp mình, tôi đẩy xe lăn cho mình. Mình vẫn có thể lên xe, lên tàu, lên máy bay, mình hiểu không?
Nàng lắc đầu, thở dài:
– Không dễ đâu mình à! Mình cũng đau yếu, tôi không nỡ…
Chúng tôi cùng im lặng. Tôi len lén thở dài, sợ nàng nghe thấy. Mới hồi đêm, tôi trải qua một cơn đau thấu trời. Tôi tưởng mình không đi được nữa. Ban đầu còn ráng vịn tường mà đi, sau thì quỵ xuống, lê lết trên nền nhà. Tôi tưởng mình sẽ nằm luôn trên đất. Nhưng có một tiếng vọng từ đâu thúc giục, nhắc tôi ngày mai đem thức ăn vào cho nàng. Nàng trông ngóng tôi lắm đấy! Tôi lầm bầm nguyền rủa chứng bệnh gout quái ác. Mày không đánh gục được tao đâu! Không bao giờ đâu!

*****

– Ngon không?
– Cái gì ngon?
– Trời!.. Thì thức ăn có ngon không? Tôi nấu đó!
– Biết rồi! Mình nấu. Nhưng tôi nấu mới ngon.
Hôm nay thấy nàng biết trêu đùa, tôi lấy làm mừng. Tôi sợ những lúc nét mặt nàng lạnh tanh không lộ cảm xúc, trông không giống người yêu của tôi khi xưa chút nào. Khi xưa chúng tôi đâu có mấy khi được gần nhau. Và những khi có nhau, nàng vui vẻ, nhiệt thành. Tôi là lính, một thứ lính rất dữ – nói “dữ” là vì chúng tôi chịu quá nhiều nguy hiểm – ở rừng nhiều hơn ở thành phố. Ngay cả ngày đám cưới chúng tôi cũng vội vàng, chú rể mặc bộ quân phục, cô dâu mặc áo dài giản dị, trang điểm đơn sơ. Đám cưới xong, tôi lại đi. Rồi từ đó về sau, nàng cứ phải nói hai chữ “Lại đi!” Như một điệp khúc, không chán.

Tôi lấy chiếc khăn giấy lau cho nàng miếng cơm dính ở phía trên môi. Nàng nhìn tôi, tia mắt lạ lùng. Rồi như chợt hiểu ra – lúc này nàng hiểu khá chậm – nàng lộ vẻ cám ơn. Khi nàng ăn, tôi phải đút. Nếu không thì tôi phải giữ chén cho chắc để nàng múc cơm bằng một tay. Có rất nhiều lúc nàng không muốn ăn. Tôi phải năn nỉ, thậm chí dọa nạt để khiến nàng ăn. Tôi hiểu rằng trong tâm trí của nàng, cuộc sống đã trở nên nặng nề quá đỗi.
Ăn xong tôi đẩy xe cho nàng ra hưởng chút không khí ngoài sân. Có nhiều người đã ở đó. Họ là “hàng xóm” của nàng. Có cả “bà cụ share phòng” với nàng nữa. Khi hơi khỏe trong người, bà cụ tỏ vẻ dễ chịu. Nhưng khi cơn bệnh trở lại, bà cụ sẵn sàng la lối, khóc lóc, nói bậy. Và nàng thì im lặng chịu đựng.

Mọi người chào nhau trong hành lang. Rồi thì hai chúng tôi tìm một chỗ vắng cho mình. Nàng nhìn thấy trời xanh, cây lá, nét mặt sáng lên. Tôi kéo một chiếc ghế, ngồi bên nàng. Nàng nói:
– Mình mệt đó!
– Sao mình biết?
– Mình đau chân, mất ngủ, còn lo nấu ăn cho tôi.
– Thì tại mình chê thức ăn kiểu Mỹ trong này, tôi nấu món Việt cho mình. Cũng đâu có mất công bao nhiêu. Miễn mình vui là được.

Giọng của nàng như chùng xuống:
– Tôi chỉ vui khi được ở trong căn nhà của mình.
Tôi nói nhỏ:
– Tôi sẽ xin cho mình về.
– Đừng, mình! Tôi sẽ không về. Chính tôi muốn ở đây. Mình không săn sóc tôi nổi đâu. Trong đây có bác sĩ, có người tập tành.
– Nhưng…
– Xin mình đừng nói gì hết. Mình hãy để mọi việc như bây giờ, đừng thay đổi gì nữa.

Nghe câu “Đừng thay đổi gì nữa” như một lời cam phận. Từ lúc nàng té xuống, chúng tôi đã mong có sự thay đổi, mong ở phép lạ. Mấy năm qua rồi, phép lạ không đến với chúng tôi. Giải thích sao đây? Tôi bây giờ chỉ còn lại hai chữ “khổ nạn.” Nàng đang gánh khổ nạn. Không ai có thể gánh thay nàng.

*****

Tôi đi xuống tầng hầm. “Xưởng in” của tôi là đây! Rón rén, rón rén… cứ như là đi hành quân. “Chiến trận” của tôi cũng ngổn ngang tệ! Máy in, máy cắt, toàn là do tôi tự chế, giấy má, bì thư… khắp nơi. Những khi ngủ không được, tôi đều đi xuống giang sơn riêng của mình. Lúc nàng còn khỏe, còn ở nhà, cũng đã là như vậy.

Tôi ngồi vào máy computer. Phải “layout” cho xong số tới. Bạn bè, em út gửi bài, sửa bài xong rồi, công việc này là của mình. Ngày mai, ngày mốt cho báo “lên khuôn”, rồi mình tự tay cắt xén, khâu gáy. Trời ơi, những từ ngữ này nghe sao mà thân thiết, sao mà hấp dẫn quá vậy? Tôi thừ người, nhớ ra một điều. Bài của mình đâu? Mình là nhân vật chủ chốt, phải có bài chứ! Ngày xưa băng rừng lội suối mà viết lách cũng dễ dàng làm sao! Bạn bè viết văn, làm thơ, có người bài chưa kịp gửi đăng báo đã ngã xuống mãi mãi. Có bạn gửi bớt thịt da vào trong đất. Chính vì vậy mà tôi đã không mệt mỏi làm cho bạn văn bạn thơ sống lại, trả vinh dự cho những người lính cầm bút, là bởi vì họ xứng đáng được như thế. Và còn nhiều, nhiều nữa, những tạp chí vang bóng một thời mà ngày nay bị quên lãng, tôi đã tìm tòi, làm hồi sinh. Tôi sẽ không làm được chuyện này dễ dàng nếu không có nàng cùng gánh vác. Hai vợ chồng đã đến Thư viện Cornell cách nhà năm, sáu tiếng đồng hồ lái xe, tìm đọc những bài xưa cũ, copy đem về. Sau này thì sắm máy “scan”, công việc nhanh hơn và đỡ tốn tiền hơn một chút. “Khâu vá di sản văn chương miền Nam!” Bạn bè tặng cho chúng tôi câu đó. Nghe mà cảm động.

Bài của mình đâu? Không cần cầm bút, tôi gõ bằng máy computer. “Theo Em.” Ngày xưa theo em trên con đường hoa, nhặt những chiếc lá vàng đẹp mang về ép, ép khô xong chúng tôi vẽ thơ lên đó. Có khoảng đời theo em vào thư viện, là thư viện Cornell. Bây giờ theo em vào nursing home, em ngồi trên xe lăn với nửa thân tê dại. Tự nhiên nước mắt tôi chảy tuôn, dào dạt. Sao tôi thương em, thương thân quá đi!  


Tôi giật mình thức dậy sau giấc ngủ mê thiếp. Hai chân tôi đau nhừ. Bệnh gout lại hành hạ. Nhưng kìa, chồng sách mình hoàn thành đêm qua! Tôi đã ngủ vùi sau đó, ngay trong tầng hầm này. Tôi nâng niu từng cuốn. “Lão gàn!” Tôi tự mắng yêu mình như vậy. Sách chỉ in tặng, không bán. Không phải bạ ai cũng tặng. Ai quý, ai yêu cầu thì mới in, mới tặng. Nghe gàn thật!

Như một quán tính, tôi nghĩ mình sẽ gọi vợ, khoe với nàng là đã xong xuôi, công việc còn lại là của nàng: cho vào bì thư, hoặc gói lại, ghi địa chỉ, đem đi bưu điện, dán tem hay đóng dấu… Nhưng tôi chưng hửng. Nàng không còn làm được cái việc này nữa. Nàng đang nằm trong nursing home, nhớ không? Tôi thở dài, lặng lẽ ôm từng chồng sách ra garage, chất vào thùng xe. Tôi lại phải tự mình làm thôi! Lặng lẽ và chăm chỉ. Như con ong, cái kiến.

Rồi cũng xong việc. Tôi cũng đã quen rồi! Trong thùng xe chỉ còn lại hộp thức ăn cho nàng. Tôi lái xe chạy vào nursing home. Tôi tự khen mình giỏi, mỉm cười.
Nàng vẫn ngồi trên giường, chờ tôi. Đã quen với hình ảnh này rồi, không còn cách nào hơn. Nàng lên tiếng hỏi trước:
– Mình đã gửi sách đi xong?
– Sao mình biết?
– Việc này là của tôi mà! Mình làm tới đâu, tôi cũng đoán ra hết.
– Mình giỏi lắm! Mình vui là được.
– Tôi vui lắm chứ!
– Tôi giúp mình ăn nhé!
Nàng lắc đầu:
– Tôi chưa muốn ăn. Đêm qua tôi ngủ không được, sáng dậy hơi đau mình.
– Tôi báo y tá, xin thuốc cho mình nhé!
– Không cần uống thuốc đâu! Mình ơi, tôi chỉ muốn mình cạo gió cho tôi.
– Được.

Xem ra ở đất Mỹ mấy mươi năm mà nàng vẫn còn giữ thói quen của người Việt thời xưa, thích cạo gió, cũng như thích xông nồi lá giải cảm khi ở nhà. Dĩ nhiên tôi phải ra xin phép y tá. Bà ấy bảo không sao. Với một lọ dầu, một đồng tiền xu, tôi cạo gió cho nàng. Chẳng có ai khác trong phòng để mắc cỡ, “bà cụ share phòng” đã có con đến đẩy ra phòng ngoài chơi.

Tôi giúp nàng xắn lưng áo lên, rồi thoa dầu, dùng đồng xu cạo nhè nhẹ lên đường xương sống, từ đó cạo ra hai bên. Nàng tỏ vẻ dễ chịu. Hình ảnh một bộ gân lá dần dần hiện lên, cùng lúc tôi xót xa nhận ra nàng đã ốm đi nhiều quá! Tôi gượng tay, như sợ đồng xu cọ sát làm đau những vùng xương lộ rõ. Tôi không còn như người cạo gió nữa, mà tôi vẽ. Vẽ trên gánh đời. Vẽ trên cây thập giá mỗi người chúng tôi phải mang vác. Mình ơi, hãy cố gắng. Em ơi, hãy cố gắng. Cho dù ngày mai có ra sao, anh vẫn theo em. Theo em! (*)

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
(*) “Theo Em”: xin mượn tựa đề loạt bài “Theo Em” của Nhà văn Trần Hoài Thư- Blog Trần Hoài Thư

Tình Anh Lính Chiến - Nguyễn Duy Phước

Chân Dung Người Vợ Lính - Phương Lâm

 

Tác giả tên thật là Phương Nguyễn. Sinh năm 1957 tại Phủ Cam, Huế, là cựu học sinh trường Jeanne D’Arc. Bà hiện ở tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Tác giả nhận giải Đặc Biệt năm 2023. Bài viết kỳ này là một câu chuyện buồn về thân phận người vợ lính Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1975.

*** 

Bức chân dung đen trắng không màu mè hoa mỹ của người phụ nữ, trong ngàn vạn  phụ nữ vợ của  lính, thời đất nước ngã nghiêng, họ đã chiến đấu, không súng, không đạn, không huy chương, không khen thưởng, tất cả cho chồng, lót đường cho con bước lên, để rồi, kết thúc như một vở hài kịch.

Được gặp lại chị, tôi vui mừng ôm chặt vai, vào sáng thứ Bảy, tại tiền đường nhà thờ các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam, thuộc Tổng giáo phận Seattle, trước thánh lễ Hôn Phối của người cháu gái gọi tôi bằng Dì, còn Chị, bên họ nhà trai. 

Tôi hỏi:

- Chị lên Oregon mấy ngày rồi, anh đâu hả chị? Để em tới chào anh một tiếng. 

Chị trả lời: 

- Ờ! Ờ! Anh không có đây, vào nhà thờ đã.

Câu trả lời của chị có chút chi không tự nhiên. Tôi đi theo chị vào nhà thờ. Hai chị em ngồi cùng băng ghế dành cho thân nhân. Thánh lễ Hôn Phối của hai cháu hoàn tất sau chín giờ sáng, tiệc rượu mừng được tổ chức buổi trưa tại nhà hàng, vì họ nhà trai ở Portland, tiểu bang Oregon lên. Thời gian còn rất dài, tôi mời chị  về nhà tôi chơi, chờ tới giờ  ra nhà hàng dự tiệc.

Tôi mời chị ấm trà hoa cúc. Chị  ngồi đối diện tôi ở góc ghế sofa. Qua loa vài câu thăm hỏi, rồi chị nhập đề, say sưa chiếu lại cuốn phim, mà chắc bị ức chế nhiều năm chưa cơ hội  trình chiếu, bộ phim dài, nhiều tập, chiếu  về anh, về việc khốn khó của chị, và đoạn kết bộ phim, những hy sinh của người vợ được bù đắp, một nỗi đau xé lòng. Nghe chị kể, mặt tôi nóng bừng, lòng bực bội, tội nghiệp chị quá.

Tôi xin phép chị cho tôi được viết lại việc làm vợ của chị. Chị đồng ý, nói:

- Viết xong cho chị đọc với nghe.

Tôi trả lời:

 -Dạ Chị.   

Bắt đầu câu chuyện.                                                                            

Tiếng gõ cửa dồn dập, anh Phát nhìn qua khe cửa sổ, rồi  mở hé cánh cửa cho Vũ vào, bầu khí gia đình ngột ngạt nặng nề, chị Oanh đặt ngón tay lên  miệng  ra dấu im lặng. Vũ liếc quanh không thấy mẹ, vợ, và hai con. Đoán được ý của Vũ, chị Oanh nói nhỏ:

- Mạ mới đưa cháu vô dỗ ngủ, em ngoài nớ vô hà? Em đã ăn chi chưa?

Vũ trả lời:

- Dạ! Ngoài nớ vô, em không đói, mạ trong nớ, rứa vợ em  mô rồi chị? 

Anh Phát và chị Oanh nhìn nhau không nói, giác quan thứ sáu của Vũ báo động, chuyện chẳng vui đang chờ. Vũ mệt mỏi ngã dài trên nền ca rô phòng khách  nằm đợi câu trả lời, trong sự hồi hộp lo âu. Vũ suy nghĩ, bây giờ chị Oanh nói cũng được không nói cũng được, vì Vũ đoán biết đáp số bài toán này, chỉ cầu mong là chuyện lành.

Chị Oanh khẽ nói:

- Duyên để lại bé Thơ cho Mạ, ẵm cu Lâm theo gia đình nhà bên cạnh, ra bến Bạch Đằng đi từ hôm đó, không biết ra răng, một vài người quay về nói, họ lên tàu thủy đi ngoại quốc cả rồi.

Vũ vui mừng nói:

- Rứa hả chị! Một chọn lựa sáng suốt, tại sao anh chị không đi ở lại đây làm chi?

Chị Oanh không trả lời câu hỏi mà theo giỏi tâm thái của cậu em, chị biết miệng  nói rứa nhưng chắc Vũ đang buồn lắm. Người ta nói “nước mất nhà tan” quả không sai.

Vũ đứng lên nhẹ bước vào phòng ngủ, đứng lặng nhìn Mẹ rồi nhìn con, xót xa suy nghĩ, sáu tháng tuổi, bú mớm thế nào, hai vợ chồng tích cóp đồng nào đưa vô ngân hàng đồng đó, bây giờ lấy chi trang trải cuộc sống hàng ngày cho Mẹ và con nhỏ. Thân phận người lính bại trận, nhìn về phía trước là một khoảng trời mênh mông u tối.

Vũ trở ra phòng khách, anh chị Phát ngồi trầm ngâm nhìn lên bàn thờ có lẽ đang cầu nguyện, một lát anh Phát nói:

- Lệnh gọi trình diện học tập 10 ngày, mấy hôm nay anh chần chừ chưa đi, bây giờ có Cậu vào, luôn thể ngày mai anh em mình cùng đi trình diện, có anh có em an tâm hơn.

 Chị Oanh nói:

- Chính sách chung mà, ở đây hay ngoài nớ, mô cũng phải đi học tập, chỉ 10 ngày thôi, mai Cậu và anh Phát đi trình diện đừng để quá trễ mà rắc rối, Cậu yên tâm Mạ và bé Thơ chị sẽ lo.

Vũ lấy chùm chìa khóa  giao cho chị Oanh nói:

- Đây là chìa khóa nhà ngoài nớ, em chỉ ghé qua nhìn nhà rồi đi liền, khi đi em đã nhờ bác Hoàng coi giúp, em đưa chìa khóa cho chị, lỡ có chuyện chi bất trắc mà xoay xở.


Hai anh em ra phường trình diện, cứ nghĩ, họ ghi danh sách, sắp xếp lớp rồi về  đợi ngày tập trung học tập, nào ngờ ghi tên xong là bị đưa vô phòng đóng kín cửa. Một giờ sau đưa lên xe bít bùng chở về khám, không biết mình bị giam khám nào, vì lên xe ở cửa phòng, rồi xuống xe đưa ngay vào phòng, ngồi trên xe bít bùng không biết chạy đường nào. Mấy hôm sau cũng xe bít bùng đưa ra sân ga, đoàn tàu dài, kéo toàn toa sắt đóng kín. Tất cả bị lùa lên, tàu xập xình chạy, Sài Gòn không có đường sắt về miền Tây, chỉ có đường ra Trung và Bắc, tàu ì à ì ạch chạy mấy ngày đêm, đứng lại nhiều ga, người ngồi trong toa được gọi tên, rải rác xuống dọc đường, Vũ được gọi tên, xuống tàu ban đêm, không biết ga nào, tàu đứng lại vài ba phút rồi tiếp tục chạy, từ đó hai anh em  mỗi người một nơi, núi rừng miền Bắc xa lạ  không biết mình bị dẫn đi đâu.

Chị Oanh  thất thểu chạy nơi này qua nơi khác, dò la tin tức hỏi thăm người  quen, hỏi thăm bạn bè, ai cũng như ai cùng chung đại họa, nước mắt lưng tròng cay đắng nhìn  nhau. Ngày ngày chờ tin trong khắc khoải âu lo. Cô nữ sinh hoa khôi trường Đồng Khánh, con nhà giàu, xếp sách vở theo chồng ở tuổi  mười chín, chưa  khi nào đụng tay bất cứ việc gì, bây giờ phải xắn cao tay áo, tập tễnh xông vào cuộc chiến  kiếm cơm.


Chồng và em trai được lệnh triệu tập đi học 10 ngày, 10 ngày đã qua, họ biệt vô âm tín, bao nhiêu gia đình nhốn nháo chạy đầu này, đầu kia, dò thăm tin tức, nhưng vẫn vô vọng. Thời gian nặng nề trôi, một tháng, năm tháng, bảy tháng rồi một năm, chị mới nhận được tin nhắn, cậu Vũ ở trại tù Thanh Cẩm, Thanh Hóa, Chồng ở tù trại Ba Sao, Hà Nam Ninh. 

Chị vui mừng báo tin cho mẹ “Hai anh em chưa chết”. Chị chạy quanh hỏi thăm cách đi thăm tù. Vừa về tới nhà, mẹ đưa tờ giấy của chính quyền địa phương báo “nhà của chị bị trưng thu”, yêu cầu phải dọn ra trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận giấy báo. Cầm tờ giấy đuổi nhà trong tay, chị không mấy ngạc nhiên, vì chị đã tình cờ gặp người bạn học cũ tại Sài Gòn, anh ta là một Phật Tử thuần thành, anh ta lên Chùa Từ Đàm, rồi đi theo Việt Cộng năm Mậu Thân. Bây giờ trở về không biết anh ta làm chức gì, chỉ thấy vai mang cặp da, người này cho chị biết, theo chính sách, sớm hay muộn nhà của Sĩ Quan cấp Tá trở lên sẽ tịch thu. Nghe tin ấy, mấy lâu nay chị đã từ từ thu xếp mọi chuyện, chuẩn bị trở về quê, về mái ấm,  nơi ông bà tổ tiên đã gầy dựng, nơi đong đầy bao nhiêu kỷ niệm của thời con gái. Chị nôn nóng về gấp để đi thăm hai người tù. Về Huế thì đoạn đường ra Bắc được thu ngắn hơn hai phần.

Bác Hoàng gái người hàng xóm coi giúp nhà, vui mừng đón mẹ con chị từ  đầu  hẻm, bác nói:

- Mệ và Cô về  cháu mừng quá,  giữ nhà của mệ không đơn giản, khô rát cổ họng trả lời với người ta, hôm nay đòi mượn, mai xin cho ở tạm, mốt xin gửi sinh viên ở học. Họ mà vô trong nhà rồi lấy xà beng nạy cũng không ra, đứa nào thấy nhà mệ cũng nuốt nước bọt. Cảnh sát khu vực, nay hăm mai dọa. Hai mẹ con chị Oanh chỉ biết cúi đầu tạ ơn bác Hoàng gái. Mới  về ở  được hai đêm, chưa dọn dẹp xong đồ đạc, đêm thứ ba Cảnh sát khu vực đập cửa kiểm tra hộ khẩu, yêu cầu cho coi giấy tạm vắng. Chị trả lời:

- Anh đợi tôi vô lấy.

Chị vào phòng cầm ra tờ  giấy nói:

- Giấy tạm vắng họ không cấp, họ đưa cho tôi giấy đuổi nhà, yêu cầu trở về quê để lao động sản xuất. Chị giới thiệu:

-  Đây là bà chủ nhà mạ của tôi.

Người Cảnh sát coi tờ giấy rồi bỏ đi. Vài ba hôm sau một toán người, đàn ông, đàn bà, đến vận động bán nhà đi kinh tế mới. Chị ấm ớ không trả lời, họ cho chị thời hạn suy nghĩ, sau một tuần họ sẽ trở lại. Họ đi rồi chị ngồi xuống ghế, đắng cổ họng. Nhà mới dọn về chưa thu xếp xong, lại phải đối đầu với những chuyện như thế này, chị quá mệt mỏi, áp lực nặng nề  đè lên người chị. Trong sự tột cùng, chị chỉ biết cầu nguyện, xin ơn trên soi sáng.

Việc cần phải giải quyết trước nhất, là đi  thăm chồng và em trai, mọi chuyện xếp lại  từ từ  tính liệu sau. Đơn xin thăm nuôi chính quyền địa phương trả lời: “Không giải quyết cho  người tạm trú”. 

Một tuần đã qua, đoàn người hôm trước lại đến, hôm nay có cảnh sát khu vực đi theo, chị vui vẻ đón tiếp miệng xuýt  xoa: 

- Thật xin lỗi nhà kẹt tiền quá phải bán bàn ghế, chưa sắm lại kịp, để khỏi mất thì giờ của các anh chị, tôi xin trả lời việc bán nhà đi kinh tế mới, theo chủ trương các anh chị đã thông báo hôm trước. Tôi xin thưa, tôi  không có quyền quyết định, tôi phải hỏi ý của em trai tôi vì đây là nhà của Tổ Phụ, còn mạ tôi các anh chị đã thấy, bà  không còn minh mẫn, hôm qua tôi lên phường xin giấy phép  thăm nuôi, để ra gặp cậu em bàn chuyện bán nhà, nhưng không được giải quyết, lý do “không giải quyết cho gia đình  tạm trú”.


Sau khi nghe tôi trình bày, Cảnh sát khu vực hứa xem xét lại giấy thăm nuôi , chị  suy nghĩ  “cá đã cắn  câu”. Mấy ngày lặn lội, vai xách nách mang, từ rừng núi Thanh Hóa ra núi rừng Hà Nam Ninh, không cầm được nước mắt. Chỉ hơn một năm mà chị không còn nhận ra họ, tột cùng khổ đau, hằn ghi lên thân xác khô gầy, trên khuôn mặt bọc lớp da nhăn nhúm, đôi mắt trắng dẻ thụt sâu trong hốc xương, vòng mi thâm quầng. Chị báo sơ qua tình hình sinh hoạt gia đình cho hai người biết, nhà ở Sài Gòn bị tịch thu, đã dọn ra Huế được hai tháng rồi, mạ và ba nhóc đều khỏe, chị không nói chi về việc kinh tế mới, vì không muốn đem âu lo đến cho chồng và em, chị tự tin sẽ giải quyết êm xuôi mọi nan đề trước mắt.

Cuộc sống chật vật hơn sau chuyến đi Bắc về, chị đạp xe quanh thành phố tìm nghề thích hợp kiếm cơm, cảnh sống chụp giật, một nói mười, không nói có, chị không làm được. Chị chọn nghề đơn giản, ít vốn, học cách luộc hột vịt lộn, chị bắt đầu bước xuống cuộc sống thành phố này bằng thúng hột vịt lộn, với mấy bao thuốc lá bán lẻ, leo lét cây đèn dầu, tấm ni lông quấn cổ xoay quanh người, khi che mưa, khi chắn gió, tại  góc ngã ba đường, đêm hè oi bức cũng như đêm đông mưa lạnh, ngồi còng lưng, tê nhức đầu gối, thâu đêm gà gáy để bán cho xong 100 cái trứng lộn.     

Vậy mà có được yên đâu. Số người hôm nọ lại đến, hoạnh họe đủ điều, bắt chị phải bán nhà đi kinh tế mới, chị quyết liệt phản đối,  vì khả năng và sức lực của chị không thể phá rừng cuốc đất để nuôi ba đứa con nít và một bà già, nếu không cho ở đây thì viết giấy trả  chị trở  lại Sài Gòn. Họ  nặng lời hăm dọa:

- Muốn người thân cải tạo mau về, thân nhân phải chấp hành triệt để lệnh của chính quyền địa phương, hơn nửa gia đình của chị là gia đình ác ôn, có nợ máu với nhân dân với cách mạng, chồng Sĩ Quan cấp Tá em là Biệt kích, theo chính sách bắt buộc phải rời thành phố nếu không đi sẽ cưỡng chế.

Máu nóng sôi lên, chị đốp chát lại ngay:

- Là sĩ quan cấp Tá, bây giờ đang ở tù ngoài rừng núi Hà Nam Ninh, là Biệt Kích cũng đang ở tù ngoài rừng Thanh Hóa. Nhà này của ba tôi, ông ấy là một nhà giáo, chuyên dạy học, ông đã mất rồi, ông chẳng nợ nần gì với các anh hết. Riêng tôi, tôi không tha thiết sống, nhưng không can đảm tự giết mình, xin giúp giải phóng cuộc đời tôi, tôi sẵn sàng chết nơi đây. Hôm nay các anh chị  không giúp giải quyết mạng sống của tôi, thì ngày mai xin các anh chị hãy quên tên tôi, đừng lui tới nhắc chuyện kinh tế mới, kinh tế cũ nữa. Còn ngôi nhà này không phải nhà của tôi, mà nhà của ông thầy dạy học, ông không phải là Sĩ Quan cấp tướng, cấp tá, nên ông không mắc nợ mắc nần gì với các anh chị hết.

Sau lần nói quyết liệt ấy, chị hồi hộp chờ kết quả, một ngày, hai ngày, một  tuần, một tháng, không nghe họ nói năng chi, vậy là chặng đường gai góc  đã vượt qua.

Cuộc sống đã tụt dốc đến tột cùng, nữ trang, áo, quần, từ từ ra đi, tất cả dồn vào những chuyến thăm nuôi, mỗi năm thăm một lần, quay qua quay lại, kỳ thăm nuôi nữa lại đến, một năm một lần thăm, không thể không đi, chị là liều thuốc bình an của hai người, nhưng biết làm sao đây, nhà không còn gì để bán, con nít mỗi năm một lớn, ăn nhiều hơn, chị quá vụng về không biết làm chi ngoài việc hằng đêm ôm thúng trứng vịt lộn, với mấy gói thuốc lá lẻ, có tối bán hết có tối không, một ngày ăn một bữa chị chịu  được, nhưng ba đứa nhỏ và mẹ già thì không thể, đành phải nhắm mắt ghé lại Trung Tâm Huyết Học đưa tay vào cho họ lấy máu kiếm ít tiền như lần trước chị đã làm.

Thầy Huỳnh thắng xe gấp chạy nhanh vào Trung Tâm Huyết Học gọi: 

- Chị Oanh.

Chị  giật mình quay lại, thầy Huỳnh nói:

- Chị ra đây, em chở chị về. 

Chị đành phải theo thầy Huỳnh rời nơi bán máu, đưa chị vào sân, thầy dặn:

- Chị vô nhà đợi em một chút. 

Mười lăm phút sau Thầy Huỳnh đưa bác Hoàng  gái tới. Thầy Huỳnh là con trai trưởng của bác Hoàng, bác Hoàng trai cũng đang ở tù tại trại Bình Điền. Thầy Huỳnh là con đỡ đầu của Ba chị, thầy Huỳnh đang tu tại đại chủng viện, vì ba đang tù cải tạo, nên chính quyền không cho tiếp tục tu học. Bị đuổi về, thầy giỏi  ngoại ngữ, nhờ người quen giới thiệu, làm công nhân thông dịch. 

 Bác Hoàng vào tới nhà,  ôm vai chị  nói:

- Xin lỗi cô. Tôi nghe thầy Huỳnh nói mà giờ này tim tôi vẫn còn đập, tôi bận lo quán cà phê, sáng đi sớm tối về khuya, lúc nào gặp cô cũng thấy tươi cười cứ tưởng cô chống đỡ qua ngày được, đâu ngờ cô túng quẫn đến độ phải đi bán máu. Người cô xanh xao khô đét như vậy còn máu mô mà đi bán, tội nghiệp cô quá, cô đã bán mấy lần rồi, cô phải giữ gìn sức khỏe để lo cho ba đứa nhỏ và mệ, răng cô liều dữ rứa, cần tiền thì nói với tôi, tiền đây cô cầm đi, cần thêm thì cứ nói, đừng dại dột tới đó nữa nghe chưa. 

Bác Hoàng dúi vào túi chị một nắm tiền, bác nói: 

- Tôi cho cô mượn, khi nào dư dả thì hoàn lại, cô an tâm không lẽ suốt kiếp này mình không ngóc đầu dậy nổi hay sao, lúc đó tôi sẽ tính vốn lẫn lời.

Bác Hoàng nói tiếp:

- Việc bán hột vịt lộn bữa ni cô lấy ít lại bán tới 11 giờ đêm, hết còn chi cũng về nghỉ, bắt đầu ngày mai 5 sáng giờ cô lên quán phụ giúp tôi, tới 11 giờ,  về lo cơm nước cho cả nhà, chiều 2 giờ cô lên lại phụ tôi một lúc đến 6 giờ cô về.

Chị đứng lên theo bác ra cửa nói:

 

- Em cám ơn bác đã lo lắng cho gia đình em.

Chuyến đi thăm tù lần này vội vàng hơn, vì khi đi gạo trong hũ còn quá ít sợ bà cháu ở nhà đói. Vừa  trở vô nhà, cu Tâm thỏ thẻ khoe:

- Mạ nờ! Mấy bữa ni  bà ngoại cho tụi con ăn hai chén cơm lận, sướng quá chừng.

Chị hỏi:

-Gạo mô mà bà ngoại nấu? 

Cu Tâm nói:

-Mệ Hoàng đem qua cho bà ngoại, còn nửa, mấy đứa con bác Huỳnh cũng cho kẹo, sướng  ơi là sướng .


Hàng tuần đều đặn bác Hoàng gửi  gạo.  Chiều đi làm về trên tay thầy Huỳnh lúc nào cũng gói kẹo, hay bao bánh, ngang qua nhà đôi vô cho mấy đứa nhỏ. Chị không biết làm sao diễn đạt lòng biết ơn với gia đình bác Hoàng . Họ là  chiếc phao cứu tử, cứu gia đình chị sắp chìm. Hằng đêm chị vẫn bưng thúng hột vịt lộn ra ngã ba ngồi bán, kiếm thêm  tiền, dồn vào việc thăm nuôi, nhờ gia đình bác Hoàng tận tình giúp đỡ, lòng  chị được bình an, đỡ lo lắng, chị lặng nhìn cây đèn dầu sáng  heo hắt  bên thúng hột vịt lộn, chị rùng mình suy nghĩ không biết kiếp sống  đọa đày này còn bao lâu. Nhiều đêm bụng đói cồn cào, muốn ăn một cái trứng cho ấm bụng, nhưng lại thôi, để dành bán kiếm vài ba hào, chắt chiu, dành dụm, thăm chồng, thăm em.

 

Rồi chị nhận được giấy báo anh Phát được ra tù,  yêu cầu gia đình ra đón. Theo thông tin bên gia đình anh Phát cho biết, sở dĩ có trường hợp đặc biệt này là nhờ sự can thiệp của người thân, làm quan lớn ngoài trung ương, chị suy nghĩ có người thân làm quan to mà mấy năm nay không nghe ai nhắc tới. Chị đưa tờ giấy báo cho bác Hoàng coi, bác cũng có suy nghĩ như chị, chắc chắn có vấn đề, nếu bình thường được ra tù thì chạy ù về nhà mắc chi gia đình phải đi đón.

Bác Hoàng nói:

- Để tôi bàn với Thầy Huỳnh, coi ý của thầy thế nào, nếu được, nhờ thầy xin nghỉ vài ngày đi với cô, lỡ có chuyện chi, chị em người một tay, chứ tôi thấy tình hình ni không xong rồi, lỡ chú nớ có chuyện chẳng lành mần răng mà tính, không chừng ra mang xác về cũng nên. 

Hai chị em vào khu thăm nuôi trình giấy ngồi chờ, một giờ sau, hai người lính xốc nách một người, hay đúng hơn là một sinh vật lạ, đặt nằm trên sạp tre, một người  nói: 

- Đây anh Nguyễn Mạnh Phát, chúng tôi giao cho gia đình.

Chị cầm tờ giấy ra trại coi tên thì đúng là Nguyễn Mạnh Phát. Nhưng không thể nhận ra con người thật của anh. Anh Phát may lắm chỉ còn khoảng ba chục ki lô, toàn thân  giống như tắm trong thùng sơn vàng kéo ra, một thứ màu vàng khủng khiếp không dám nhìn lâu, miệng anh mấp máy muốn nói gì nhưng không nói được. Nhờ có người nhà làm quan to trong trung ương đảng cộng sản can thiệp, khối vàng này may mắn được đưa xác về chôn.

Đường từ trại tù ra quốc lộ quá xa, mà lại  đường rừng, không phương tiện. Thầy Huỳnh nói:

- Mình phải đi liền thôi cô à, bằng mọi cách đưa chú ra khỏi đây đã, chú không nặng lắm đâu, hai chị em mình thay nhau cõng, đi được đoạn nào hay đoạn đó gặp nhà dân tính sau.


Ban đầu thay nhau cõng còn gắng đi nỗi, càng về sau thì không tài nào nhấc chân lên khỏi mặt đất được, cả ba cùng nằm lăn ra thở, một bà chị đi ngang qua thấy cục vàng to tướng, nằm thoi thóp, có lẽ bà chị quen chứng kiến cảnh này, chị mau miệng chỉ tới nhà người có cỗ xe trâu, thuê họ đưa ra liên tỉnh lộ để đón xe.

Khổ này chưa qua khổ khác lại tới, về Huế  Hai chị em mừng quá sức, cõng cục vàng vô bệnh viện trung ương, trình giấy xin nhập viện, phòng nhận bệnh lắc đầu từ chối. Cõng về nhà không biết điều trị bằng cách nào, các nhà thuốc tây bị trận dịch chống tư sản mại bản. Bà con quen biết chỉ thế nào, làm thế đó, nơi nào có lá thuốc, chị tìm tới đó để mua, chị đã ra tới Tân Ấp vùng đất cuối của tỉnh Quảng Bình, giáp ranh với Hà Tĩnh. Tân Ấp là làng người dân tộc Tày, từ ga xe lửa đi bộ khoảng mười cây số đường rừng, trèo lên tụt xuống hai ngọn đồi, mua hai bao lá, thuốc Nam, còng lưng vác hai bao lá ra ga, ngồi suốt đêm đợi tàu, cõng về sắc nước cho anh ấy uống, uống mấy ngày  không thấy nhúc nhích, vàng vẫn vàng, người khác chỉ ngoài làng Cùa, Ba Lòng tỉnh Quảng Trị, có ông thầy người Thượng thuốc Nam rất hay, không có xe tàu gì đến nơi này, chị nghe người ta nói, đây là mật khu của đảng Đại Việt lúc xưa, chị cũng băng rừng lội suối đến đó, vác từng bao lá về. Người khác chỉ lên Nam Đông, A Lưới, chị cũng lên, toàn lá với lá, vàng vẫn cứ vàng không xuống sắc chút nào.


Chị cầu nguyện hằng đêm, xin ơn trên cho chị gặp được thầy, được thuốc cứu chồng, sức con người có hạn, khi lực tận chỉ biết phú dâng và bám víu vào Thượng đế. Chất đốt nhà chị dùng trấu “vỏ lúa” nấu ăn. Hôm nay chị nhắn chú xe kéo, chở cho chị mấy bao trấu, chú xe kéo vác trấu vào bếp, ngang qua thấy khối vàng nằm thiêm thiếp trên võng. Chú quay lại hỏi chị: 

- Ai rứa cô?

Chị trả lời mỉa mai, chua lè:

- Ông xã của tôi ở tù ngoài Hà Nam Ninh, nhờ gia đình, có thân nhân làm quan to ngoài trung ương đảng cộng sản Việt Nam can thiệp, được ưu ái, trại tù  kêu tôi ra nhận, mới đưa khối vàng khè về đó anh à.

Chú xe kéo hỏi: 

- Cô cho chú uống thuốc chi chưa?

- Dạ! Tui chạy thuốc khắp  nơi, nơi nào cũng lá với lá, uống nhiều rồi,  không thấy bớt chút mô hết.

 Chú xe kéo cười nói. 

- Ui cha! Thứ vàng da ni dễ trị lắm, nhiều người quen của tôi đã  được chữa lành, vài ba hôm là đổi sắc, một tuần là lành. 

Chú xe kéo nói tiếp: 

- Chừ Cô chạy ra chợ, mua một bó “chè lá”  và một miếng gan heo, đem về vằm gan ra nấu chung với lá chè, sắc đậm cho chú ấy uống, rồi ngày mai cô đi sớm, khoảng gà gáy lên bến Than, đó là bến đò ngang, bến này có hai bến đỗ, một bến qua điện Hàng Chén, bến này họ ghé ngày rằm và ngày lễ, còn  ngày thường  không qua đó, chỉ đưa  người đi củi, cô lên đò theo mấy người đi củi, nhờ  họ chỉ cây Nắp Ấm, cây này thân mềm dạng dây leo, hoa giống như miệng ấm có nắp đậy, nên có tên là nắp ấm, cây mọc vùng đất trũng, nhiều lắm, tôi đã lên đó hái mấy lần rồi, cô nắm gốc nhổ thì kéo cả chùm, thân bò dài cô quấn từng nắm, đem về nấu chung với lá chè tươi và gan heo, bảo đảm chú uống ba ngày là bớt, chừng một tuần là da sẽ trở lại bình thường. 

Tạ ơn Thiên Chúa! Phương thuốc đơn giản mà quá hay, uống ngày thứ  ba là bắt đầu đổi sắc, từ vàng ra bạc, uống tiếp gần một tuần thì như lời chú  kéo xe nói,  khỏi hẳn.                                              

Anh Phát không ngờ nét tươi vui của vợ chỉ để che dấu một thảm cảnh đau lòng, nhìn thúng hột vịt anh đã khóc, khóc như một đứa trẻ, xót xa thương vợ, đã không tiếc thân mình bán máu, để có tiền nuôi anh. Hằng đêm anh bưng đèn cùng chị ra ngồi ngã ba. Thầy Huỳnh kiếm cho anh Phát một chỗ giữ xe đạp, anh Phát về được một  năm, Chị Oanh chuẩn bị đi thăm nuôi cậu Vũ, thì lễ Quốc Khánh 2 / 9 cậu Vũ và bác Hoàng ba của thầy Huỳnh được thả về.

Gia đình chị Oanh bây giờ thêm bốn cánh tay của hai người đàn ông, cuộc sống  bớt tất bật, cơm mắm tạm ổn qua ngày, ba đứa nhỏ một đứa con của Vũ, hai đứa con của chị được gửi vào trường Mẫu giáo của nhà dòng nữ.


Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai. Ba gia đình, bác Hoàng, cậu Vũ, và gia đình chị Oanh cùng nộp đơn một lần xin xuất cảnh theo chương trình HO. Ba gia đình phỏng vấn thông suốt, cùng được đến định cư tại Hoa Kỳ. Một sự ra đi không ai ngờ, chị không dám quay lại nhìn chặng đường đã qua, không bút mực nào diễn đạt được sự khốn khó đến tột cùng đó, không lời  nào xứng hợp để nói lời tạ ơn gia đình bác Hoàng. Ba gia đình bây giờ đã  kết chặt thành một đại gia đình, dọn về sống gần nhau cùng một thành phố, yêu thương, chăm sóc. Hạnh phúc hơn Thầy Huỳnh tiếp tục vào Chủng Viện nay đang là Linh Mục phó giáo xứ Việt Mỹ. 

Cuộc sống ở Mỹ. Từ ngày cưới  nhau cho tới bây giờ, trải qua bao cay đắng nhọc nhằn, chịu đựng bao gian nan khổ cực, chị Oanh luôn cố gắng vượt qua, vui vẻ chấp nhận nghịch cảnh, hi sinh cho chồng, cho con, đó là niềm vui của người làm vợ, là thiên chức của người mẹ. Mấy chục năm qua chị chưa bao giờ  có ý nghĩ sai lệch về chồng, một mực tôn trọng anh, vì anh là người có chừng mực, nói năng chín chắn, có trước, có sau, lúc nào cũng ôn tồn, hoàn cảnh nào cũng bình tỉnh, sống có nguyên tắc, năng nổ và nhiệt tình, chị tin tuyệt đối sự thủy chung của anh, chị nghĩ nếu trên đời này nếu có ai muốn tìm tấm gương  chung thủy một vợ một chồng,  thì anh chị là người đầu sổ trong số đó.


Mấy tháng nay sau chuyến đi Việt Nam lần thứ hai trở về, chị  cảm nhận ở anh có cái gì khác khác với nguyên tắc sống của anh thường ngày. Chị không phải là người đàn bà mà thiên hạ ví như con gà mái oang oác tối ngày, nhưng những sinh hoạt bất thường của anh, tạo cho chị sự chú ý, tò mò, tiếng thở dài, ngồi tư lự, thì thầm điện thoại, rồi có những lúc hốt hoảng trước mặt chị, đó là những điểm khác lạ mà mấy chục năm qua chị chưa thấy ở anh, hơn nửa giác quan thứ sáu của phụ nữ cũng rất nhạy bén.


Chiều thứ Bảy ngày hôm ấy,  gia đình  bác Hoàng và gia đình chị, lỉnh kỉnh  mang thức ăn, tập trung về nhà Vũ “cậu em trai” để mừng sinh nhật cháu Thơ. Hai chục năm qua, cậu Vũ, người em  tội nghiệp vẫn ku ki một mình, vừa làm cha, vừa làm mẹ, nhiệm vụ nào cũng chu toàn. Hạt giống cậu Vũ ươm, xới, gieo trồng, hôm  nay  đã kết nụ, ra hoa, một cô Nha Sĩ, xinh đẹp, tràn đầy sức sống, đang vươn lên trong niềm tin yêu của gia đình. Thành quả tốt đẹp đó cũng không ít công sức của chị, vừa là Cô, vừa là Mẹ và cũng là Cha.

Tiệc vui bắt đầu, chai rượu lễ của cha Huỳnh mang tới coi như khai vị, bốn anh em lâu nay ít uống rượu, chiều nay không biết vì quá vui hay mắc chứng gì mà họ thi nhau cụng, mới chút xíu mà đã thanh toán xong  chai rượu lễ. Rượu lễ chiết xuất từ trái nho, nên rất ngon và nhẹ độ, ba anh em uống thâm qua chai Cordon Bleu, cha Huỳnh từ chối vì sáng mai phải dâng lễ sớm. Rượu mạnh thấm vào, họ bắt đầu đổi tông, âm thanh lè nhè nhừa nhựa, ngắc nga ngắc nghẻo, một lúc rồi cả ba lăn đùng ra ghế sô pha, hai chị và cháu Thơ  thu dọn  chén dĩa, rồi cũng ngả lưng, đợi  hai ông tỉnh rượu để về.


Tiếng ù ù nho nhỏ ở chế độ rung của điện thoại cầm tay phát ra, lắng tai nghe thì tiếng ấy từ  trong túi quần của anh Phát, bác Hoàng bảo chị Oanh lấy ra nghe thử, không chừng thằng Tâm gọi có chuyện gì chăng. Chị Oanh kéo thẳng chân anh Phát, thọc tay lấy  cái phone trong túi quần, một hàng số lạ hiện ra 091 . 5… chị nói nhỏ với bác Hoàng. Số phone lạ quá, bác Hoàng lấy điện thoại trên tay chị, nhìn số, rồi đi ra ngoài, ngoắc chị Oanh cùng ra. Chị Oanh thấy khó chịu trong lòng, đáng lẽ chị không nên làm vậy, chị chần chừ, nhưng  trước sự đã  rồi chị  đứng dậy đi ra theo, ra tới nơi nghe bác Hoàng nói: 

- Được rồi, đợi cậu ấy tỉnh rượu tôi sẽ nói lại giúp cho cô. Bye cô nghe.. 

Bấm xóa cuộc điện đàm, bác Hoàng bảo chị, đem bỏ lại như cũ, chị trở ra bác ngồi tránh một bên ghế xích đu chờ chị. Chị rùng mình ớn lạnh, không biết do thời tiết về đêm của Cali hay rùng mình vì sắp được nghe bác Hoàng nói, chị chắc chắn là chuyện  không vui, chị nói với bác Hoàng: 

- Mình vô nhà thôi bác, em thấy ớn lạnh quá, hôm nào rảnh em chạy qua nhà, nghe bác nói chuyện cũng được. 

Nhìn sắc mặt của bác Hoàng, chị đoán biết bác sẽ cho chị câu trả lời về những dấu hỏi chị đặt ra với anh Phát, chị thường tâm sự với bác mấy lâu nay, chị suy nghĩ, nghe một lời buồn là thêm một gánh nặng, tại sao lại tìm gánh nặng mà mang vào người, bỏ được cái gì thì bỏ, quăng được cái gì thì cứ quăng, chị cố né tránh  để khỏi nghe. Lòng chị lúc nào cũng bình thản, chị nhớ một câu trong bài hát của TCS … “ Ai nên khôn không có một lần ... dậy mà đi ...”  quả thật vậy, bản lãnh của con người là tự thắng bản năng, tự thắng những đòi hỏi tầm thường của thể xác, bản năng yếu đuối không thoát khỏi cám dỗ bị vấp ngã là chuyện thường, nhưng vấp ngã rồi có biết đứng thẳng người dậy để mà đi, hay vẫn cứ nằm ỳ ra giãy giụa trong vũng bùn, đó là điều đáng nói, là điều chị mong đợi nơi anh, tất cả những suy nghĩ của chị chỉ là đoán mò theo trực giác của phụ nữ, chứ chưa chắc là đúng và chị cầu mong là không đúng. Hơn thế nữa, đều là con nhà đạo hạnh, mọi chuyện trong cuộc sống đều tín thác vào đức tin, chị dành thời gian vào việc suy niệm về tâm linh, cuộc sống…

 

Lại một mùa Chay về, sinh nhật của cháu Thơ cũng đến, câu chuyện hôm sinh nhật cháu Thơ năm ngoái, đã giáp vòng một năm, chị luôn tránh nói chuyện riêng với bác Hoàng, chị sợ phải nghe, chị luôn tạo cho gia đình, một bầu khí ấm cúng vui nhộn như mấy chục năm qua, chị nhắc anh Phát rảnh rỗi không làm gì thì lấy vé về Việt Nam chơi, mùa này vé máy bay hạ giá, nếu chậm qua lễ Phục Sinh, vào mùa hè giá vé cao. Để gỡ bỏ gút thắt trong lòng, chị muốn anh về bên nớ lần nữa, coi như thử lại bài toán, đúng sai sau lần đi này sẽ rõ. Rồi việc gì đến cũng phải đến, trái bom âm ỉ hai năm, sau chuyến đi VN về đã nổ, bao nhiêu hy sinh, bao năm gắn bó, tình nghĩa vợ chồng đã kết thúc, đơn giản trên một trang giấy với hai chữ ký.


Sau hôm tham dự phiên tòa theo lệnh của Tòa án, anh Phát đi bặt tăm. Chị nghe mấy người bạn về Việt Nam qua nói lại, anh Phát về cưới cô vợ trẻ, cô ấy là người cùng giữ xe đạp với anh sau khi anh lành bệnh vàng da. Kết thúc câu chuyện , chị cười rất sảng khoái. 

Tôi hỏi: 

- Em không thấy chị buồn. 

Chị cười nói:

- Cây kim khâu bị rớt mất cũng lấy cục nam châm rà tìm cho bằng được, một người đầu ấp tay gối mấy chục năm, con người mà mình lấy máu đem đổi bánh đường, tụm cá khô, con người mà mình vượt núi, băng rừng, tìm thuốc chữa trị, bây giờ quay lưng lại, không buồn làm sao được. Buồn lắm, đau lắm chứ, nhưng mà một khi họ đã quyết định quay lưng, đi con đường họ chọn, mình biết làm sao. Mình không phải là người hư hỏng, trách nhiệm làm mẹ mình làm xong, bổn phận làm vợ mình cũng chu toàn, mình không có gì hổ thẹn với lương tâm. 

Thời gian sau chị gặp mấy người bạn của anh Phát, mấy anh ấy nói:

- Anh Phát lúc này đã thành ca sĩ rồi, anh trình diễn rất thành công bài hát “Anh đã lầm đưa em sang đây”. 

Câu nói lấp lửng chị không hiểu mấy anh ấy nói gì. Chị nói lại:

- Mấy anh có gặp anh Phát thì xin chuyển giúp lời của tôi. Cửa nhà tôi luôn rộng mở…

Chị là người vợ tuyệt vời.

   

Phương Lâm

Chân Dung Người Vợ Lính - VVNM 2026 - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ

Anh Phước chuyển

Saturday, May 2, 2026

Thông Điệp 51 (1975-2026) - Vietnam Film Club

Cảm Nhận Cơn Mưa - Đỗ Công Luận

Bi Hài Sau 30 Tháng Tư - Năm, Mười, Mười Lăm, Ba Mươi - Ông Bảy Già






30 Tháng Tư lại đến, một sự kiện lịch sử mà, như ông Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói “… có triệu người vui mà cũng có triệu người buồn…” Không chỉ là chuyện tù đày gây bao chia ly sầu thảm; hay chuyện vượt biên tìm tự do bằng những chiếc ghe bé nhỏ như chiếc lá giữa đêm đen mịt mùng trên đại dương đầy sóng bão; còn là những chuyện vớ vẩn, không giống ai; bao bi hài đầy nước mắt…

Chẳng hạn cái gọi là “cách mạng tư tưởng văn hóa” để triệt tiêu văn hóa và âm nhạc miền Nam: Tất cả tác phẩm, nhạc phẩm, tranh hội họa, tượng điêu khắc, công trình nghiên cứu… mang “hơi hướm” miền Nam nói chung hoặc Sài Gòn nói riêng – thậm chí những nhạc phẩm “để đời” trước 1946 ở miền Bắc của các “cây đa cây đề” làng âm nhạc: Phạm Duy, Lê Thương, Phạm Đình Chương, Đặng Thế Phong… – cũng đều bị tịch thu tuốt luốt để đốt, đập, thủ tiêu, giày xéo….

Truyện thiếu nhi hay con tem sưu tập cũng bị đốt bỏ không chút xót xa. Nhưng rồi – time will tell – âm nhạc Sài Gòn vẫn sống trong lòng người, ngay cả trong lòng “bên thắng cuộc”, và trở thành trào lưu “hot” hiện nay trên các show TV hàng ngày. Nhạc miền Nam sống mãi là do “cốt hồn” của nó – nhân bản, hiền hòa, trữ tình, đậm đặc chất quê hương, tình yêu đôi lứa – cộng với tài hoa “đem thơ vào ý nhạc” của các nhạc sỹ; rồi nhờ sự thể hiện nhẹ nhàng, sâu lắng qua thần thái các giọng ca trời phú “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”: Thái Thanh, Sỹ Phú, Lệ Thu, Trúc Mai, Nhật Trường, Duy Khánh…

Tôi nhớ thời sinh viên cơ cực đầu những năm 1980, tôi phải đi bán kẹo kéo khắp hang cùng ngõ hẻm Sài Gòn với chiếc loa thùng cũ xì. Lúc đầu, tôi phát các băng nhạc “cách mạng”. Ta nói, ế nhăn răng! Tức mình, tôi đổi qua nhạc “miền Nam mình”. Mà điều này cũng xuất phát từ yêu cầu của chính bọn cán bộ, bộ đội miền Bắc vào. Thế là kẹo kéo trở thành tôm tươi. Kéo kẹo mệt nghỉ. Kéo đã tay luôn. Cùng với đó là tôi cũng bán được bộn băng nhạc. Có ngày bán được vài chục băng, có bữa còn được “típ” đậm! Nói lên điều gì? Chính người miền Bắc cũng chán ngán loại nhạc đằng đằng sát khí. Bài nào cũng có “chém giết”, “căm thù”. Quốc ca cũng đầy “máu” mà! Rầm rộ phát động “cách mạng văn hóa tư tưởng” ở Sài Gòn, rêu rao “thành công qua 20 năm thực hiện ở miền Bắc”, thế mà cuối cùng văn hóa Sài Gòn vẫn không bị “Bắc Cộng” đô hộ nổi.

À, hồi đó còn có chuyện loa phường của khu phố ra rả ngày đêm, từ 5 giờ sáng – gọi mọi người thức dậy tập thể dục; đến tối mịt lại phát đi phát lại đủ thứ thông cáo của đủ mọi ủy ban: Thành phố, quận huyện, phường xã, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, và nhất là các diễn văn dài lê thê của các lãnh đạo mỗi khi có lễ lạc mít tinh này nọ… Đi tỉnh này qua tỉnh khác phải có giấy đi đường; dưới quê đem vài ký gạo lên thành phố cho bà con bị tịch thu bởi “ngăn sông cấm chợ”; hở ra là bị “tố”; nghe Đài BBC – dù là chương trình học tiếng Anh – là “phản động”; láng cháng là bị quy chụp “chống chính quyền cách mạng” và bị mời lên công an làm việc. Như cha tôi, có lần ổng bị “đám 30” tố, bị áp giải lên công an phường để nghe tay bí thư phường “thuyết” cách mạng và “hăm dọa” cho tới rạng sáng, trong khi cha tôi ngồi “ngáp lên ngáp xuống”…


Nhà dân có thể bị khám xét nửa đêm nửa hôm mà không cần có lý do gì. Nhà nhà người người được khuyến khích “rình mò, dòm ngó” lẫn nhau – gọi là “an ninh nhân dân”, “cảnh giác cách mạng” – để báo cáo chính quyền, mặc kệ đúng sai, tào lao ba xí; rồi khám xét bắt bớ, tuyên truyền thành tích… Rủi có sai thì chỉ nhăn răng cười “xin lỗi”! Ngày xưa, trên Đông Dương tạp chí, nhà báo, học giả Nguyễn Văn Vĩnh phê phán thói xấu của người Việt qua bài Gì cũng cười; nếu còn sống, thế nào ông cũng viết tiếp bài “Gì cũng dòm”!

Chuyện đổi tiền mới lắm bi hài ra nước mắt! Đợt thứ nhất, ngày 22 Tháng Chín 1975, một đồng mới bằng 500 đồng cũ. Mỗi nhà chỉ được đổi tối đa 100.000 đồng tiền cũ – tương đương 200 đồng mới, phần còn lại sẽ giải quyết sau. Thực tế là không bao giờ có.

Mất trắng! Còn tiền gởi ngân hàng trước 30 Tháng Tư 1975 thì “đi về đâu hỡi em”! Đợt thứ hai, ngày 2 Tháng Năm 1978, một đồng mới bằng một đồng cũ; và “hề” ở chỗ là ở miền Nam thì một đồng mới bằng 0,8 đồng cũ! Đợt thứ ba, ngày 14 Tháng Chín 1985, một đồng mới bằng 10 đồng cũ. Đợt này làm sụp đổ mọi kỳ vọng phục hồi kinh tế. Lạm phát phóng cái vèo hơn 700%. Kinh tế cả nước “banh ta-lông”. Nhà nhà người người kiệt quệ đến 10 năm sau mới “ngóc dậy” nổi, nhờ “đổi mới, mở cửa”, nhờ Mỹ bỏ cấm vận, tái lập quan hệ ngoại giao…


Cái “hài” của các đợt đổi tiền là: “Cảm thấy” tiền đơn vị 10, 20 chưa đủ nên họ in thêm giấy 30 đồng cho đủ bộ; chỉ còn thiếu tờ tiền 15 đồng là bà con chơi “năm mười” được: “năm, mười, mười lăm, ba mươi”! Chán cho những bộ óc “phi thường đến bất thường”. Vậy mà cứ lên gân ra rả khoe “thắng lợi” suốt! Cho đến năm 1993 thì tờ bạc 30 đồng “tự nhiên… biến mất”, không một lời giải thích lý do “từ biệt”! Không lễ truy điệu hay một phút mặc niệm, tưởng niệm gì hết.

Nhà đất là miếng ngon béo bở cho cán bộ ngoài Bắc vào. Họ biết rút kinh nghiệm những gì trải nghiệm mấy chục năm ngoài đó, biết chớp thời cơ. Hàng trăm ngàn gia đình viên chức cũ di tản trước 30 Tháng Tư 1975 và dân thường “vượt biên” sau 1975 đã bỏ lại tất cả gia sản tích cóp gầy dựng hàng chục năm. Dưới cái “mác” “tăng cường, bổ sung cán bộ cho miền Nam”, hàng vạn cán bộ miền Bắc cùng gia đình vào Nam và tự nhiên cái… “đổi đời” – từ căn hộ chật chội chung đụng ở Hà Nội giờ đây “thênh thang” trong những căn biệt thự chỉ có trong mơ, rộng hàng trăm mét vuông với nhiều phòng. Nhà có nội thất và đồ dùng sang trọng đến nỗi lúc đầu những “chủ mới” thậm chí không biết xài. Những căn biệt thự này được cấp không lúc ban đầu, “hợp thức hóa” với cái giá chỉ bằng… vài tô phở; sau đó vài năm, bán được với giá… vài ngàn lượng vàng, đủ sống ấm êm tới trọn đời con sang đời cháu!

Chưa kể vô số trụ sở, building lộng lẫy của các cơ quan, hội đoàn chế độ cũ bỏ trống giờ đây là “nhà thiếu nhi”, “nhà văn hóa phường, quận”, “nhà bảo tàng phụ nữ”, trụ sở của đủ thứ “hội”…

Các “thầy, cô” từ Bắc vào, với “kinh nghiệm “trong ngõ có ngách” của Hà Nội, ai nấy lấn được tấc nào hay tấc nấy; làm ngõ hẻm Sài Gòn bây giờ cũng “lượn lờ, thò ra thụt vào” như Hà Nội yêu dấu. Nhiều hẻm hóc có lối đi chỉ vừa một người. Hàng triệu người Sài Gòn và miền Nam vượt biên thì “bù lại” có hàng triệu người từ Bắc vào Sài Gòn và các tỉnh miền Nam “an cư”. “Đất lành” mà, ngu gì không rủ nhau vô “đậu”! Giờ thì kín mít. Mà cũng vẫn tiếp tục kéo vào. Và chỉ có người ngoài ấy vào, chứ người trong Nam thì có cho vàng cũng chẳng thèm ra.

Còn chuyện “lý lịch” nữa chớ! Học sinh thi vào đại học được phân theo 16 hạng bậc, trong đó ưu tiên bậc cao là con cháu cán bộ cao cấp, con liệt sĩ, cán bộ, bộ đội. Đám này chỉ cần 1,2 điểm là “đậu”; để kế thừa làm lớp lãnh đạo “con ông cháu cha”. Trong khi đó, con sĩ quan chế độ cũ đạt điểm 25/30 vẫn phải “về quê cắm câu”; vợ con “ngụy quân ngụy quyền” đừng hòng kiếm được việc làm – điều kiện cần để có “sổ gạo”, nhu yếu phẩm hàng tháng, để khỏi phải đi làm thủy lợi hay đi “kinh tế mới”! Thời VNCH, con cháu Việt Cộng “gộc” vẫn được học hành thi cử đỗ đạt đàng hoàng; không hề có kỳ thị hay phân loại; thậm chí còn được học bổng du học Mỹ, Nhật… nếu học giỏi.

Lo trong nước – tan hoang sau chiến tranh, gạo không đủ ăn – còn không xong, còn bày đặt rấn tới đánh Campuchia từ năm 1979 rồi “ở luôn” cho đến hơn 10 năm sau mới rút về, sau khi hàng vạn thanh niên lớp chúng tôi vùi thân xác ở xứ chùa Tháp, chỉ để thỏa lòng đám lãnh tụ háo danh cao ngạo! Cho dầu là Trung Cộng giật dây Pol Pot để phá nước Việt, nhưng biết bao nước cờ chính trị ngoại giao quân sự khôn khéo có thể dùng để khỏi phải mang tiếng “xâm lược”; để không phải có cuộc chiến với Trung Cộng ở biên giới phía Bắc từ 1979 đến 1985, mà “chiến tích” là ngày nay không còn ải Nam Quan, chỉ còn ½ thác Bản Giốc, mất đảo Gạc Ma, phần lớn Trường Sa, chịu nhiều “o ép” khác…


Thực tế là sau đó, chính quyền có sửa sai; nhưng chậm và trễ, khiến cho đất nước xã hội lầm than và những di hại của nó tồn tại tận đến bây giờ! Những câu chuyện 30 Tháng Tư và sau đó chắc kể mãi không hết. Những câu chuyện “đổi đời” nhưng “đời không như là mơ”. Nhớ lại mà ngậm ngùi!


Ông Bảy Già


 BI HÀI SAU 30 THÁNG TƯ - NĂM, MƯỜI, MƯỜI LĂM,... - TRI THỨC NGÀY NAY | Facebook

Thanh Loan chuyển

Đề Xuất


 

Kim Duncan chuyển

Ma Ăn Phở - Nguyễn Minh Chí



Sài gòn những năm đầu thập niên 60, còn thưa dân và có những nơi vắng vẻ đến lạnh người. Chung quanh khu vực nhà thương Đồn Đất - tức Bệnh viện Nhi Đồng II bây giờ, những người yếu bóng vía thường không dám lui tới vào ban đêm. Ngay góc Mạc Đỉnh Chi và Nguyễn Du, là nơi lính Pháp tử trận trong năm 1859 khi hạ thành Gia Định được vùi tạm trước khi chuyển “hộ khẩu chính thức” về Đất Thánh Tây (công viên Lê văn Tám bây giờ). 

Bởi lẽ đó, những câu chuyện huyền hoặc và rùng rợn xảy ra không ít ở khu vực này, khiến những kẻ nhát gan xem là “vùng cấm”. Câu chuyện bác xích lô gặp cô gái đẹp đón và trả tiền xe bằng một bộ ruột bỏ vào chiếc rổ mang theo, dân Sài Gòn háo chuyện đồn đại khằp nơi. 

Rồi câu chuyện chú lính tây đen cụt đầu ngồi dưới gốc me vào những đêm mưa dầm ngay góc tòa đại sứ Anh càng khiến nơi này trở nên vắng ngắt.

     

Sau trận Bình Giã, gia đình thiếu tá Ph.  Pháo binh diện địa quân đoàn III chế độ Sài gòn, được cấp một căn nhà khá xinh xắn có cả mảnh vườn nho nhỏ, nằm ngay trên đường Đồn Đất (Thái văn Lung bây giờ). 

Ngày qua ngày, gia đình thiếu tá Ph. quen dần với cuộc sống trong ngôi nhà trên con đường tịch mịch vắng vẻ này. Bạn bè cùng khóa ngày càng thăng quan tiến chức do lao vào chính trị trong khi thiếu tá Ph. chấp nhận làm một người lính sống kiếp công chức, sáng cắp ô đi tối cắp ô về nên vẫn cứ là một viên sĩ quan quèn không có cả lính hầu và xe Jeep cấp riêng. Nguyễn văn Thiệu trở thành chủ tịch Hội đồng lãnh đạo quốc gia, tức quốc trưởng và Nguyễn cao Kỳ chủ tịch Hội Đồng Hành Pháp trung ương tức vai trò thủ tướng, đã khiến thiếu tá Ph. đổi đời. Vẫn mang hàm thiếu tá nhưng ông Ph. được cử về làm biệt khu thủ đô và bắt đầu có lính, có thực quyền. Thiếu tá Ph. bằt đầu giao thiệp trở lại với những sĩ quan hào hoa cùng cánh hẩu với tướng râu kẽm Kỳ và Nguyễn ngọc Loan. Những cuộc chơi theo kiểu trưởng giả càng lúc càng nhiều và có những hôm thiếu tá Ph. không về nhà. Bà vợ thoạt đầu còn chì chiết, trách móc thái độ bỏ bê gia đình của chồng nhưng chỉ sau đó một thời gian ngắn, bà cũng bắt được nhịp với những vị phu nhân của tướng tá khác. Bà cũng bắt đầu sửa soạn quần là áo lượt, túm tụm mua sắm kim cương, bàn chuyện làm ăn nuôi lính ma lính kiểng.

     

Một buổi chiều nọ mưa nhỏ hạt nhưng dai dẳng, bà thiếu tá Ph. đi từ thương xá TAX về trên chiếc taxi. Trả tiền xong chợt bà lảo đảo như trúng gió khiến người tài xế không khỏi ngạc nhiên. “Thưa bà…bá có sao không? Hình như bà không được khỏe?” người tài xế hỏi và nhận được cái xua tay lắc đầu thay cho câu trả lời. Bà chạy vội vào nhà khi người giúp việc ra mở cổng mà không buồn mang theo đống hàng hóa trị giá hàng chục ngàn đồng mua từ thương xá. Người tài xế bưng vội vào giúp và còn dặn người giúp việc: “Hình như bà chủ của chi 5 bị trúng gió…chị vô coi bả có bị gì không?”.

Vào đến nhà không thèm trả lời trả vốn gì những câu chào hỏi của 2 đứa con gái và thằng con trai út, bà đi nhanh vào phòng riêng đóng sập cửa lại. Ngay cả cô giúp việc đến gõ cửa để hỏi việc, bà thiếu tá Ph. vẫn im lặng không nói năng gì.

Ngày đó, thiếu tá Ph. lại khác với lệ thường, về nhà hơi sớm. Chẳng là ông nhận lời đi dự đám cưới của con trai một tay tư bản Chợ Lớn đang hùn hạp thầu rác Mỹ ở Cát Lái với ông. Ông hỏi đứa con gái lớn: “Má mày đâu?”. Đứa con gái chỉ vào phòng trong không buồn giải thích trong khi vẫn chúi mũi vào cuốn tiểu thuyết của bà Tùng Long.

Đến tận phòng gõ cửa, cũng không nghe vợ trả lời, thiếu tá Ph. ngạc nhiên đẩy cửa bước vào. Cô giúp việc cúm rúm theo sau. Bà vợ ngồi trên chiếc giường nệm, vẫn trong bộ quần áo đi chợ của mình, nhưng quay mặt vào nhìn chăm chăm vào vách.

“Bà làm cái gì vậy? Ra thay đồ lát đi đám cưới với tui…”. Không nghe trả lời, thiếu tá Ph. cau mày gắt: “Bà sao vậy?”. Cũng chẳng nghe trả lời., thiếu tá Ph. tiến lại gần hơn đặt tay vào vai vợ. “Giận tui cái gì hả?”. Cũng vẫn im lặng. Phát cáu, thiếu tá Ph. nạt luôn: “Bà muốn gì?”. Câu trả lời của bà vợ làm thiếu tá Ph. chưng hửng: “Tao muốn ăn phở!”. Trố mắt nhỉn vợ, thiếu tá Ph. bối rối khi bà chỉ quay đầu lại nhìn chồng thật nhanh rồi tiếp tục quay mặt vào vách. Có điều chỉ trong tic tac ấy, thiếu tá Ph. thoáng rùng mình vì ánh mắt vô hồn và gương mặt lạnh tanh của vợ. “Cái gì nữa đây? Bà nghe ai nói tào lao cái gì rồi về sinh sự phải không?” Ông chồng cáu tiết gắt.

“Tao muốn ăn phở!” Bà vợ vẫn trả lời bằng điệp khúc gồm 4 từ.

Bực mình, thiếu tá Ph. bỏ ra ngoài. Ông quát với lũ con và bắt chúng vào hỏi vợ “muốn gì?”. Lũ con thay nhau vào và cả 3 đều mang ra đúng một câu: “Tao muốn ăn Phở!”. Ông chồng tức điên người nhưng cố dằn vì con cái đã lớn và cương vị của ông ta không cho phép có chuyện lùm xùm trong gia đình. Ông lại vào và tiu nghỉu quay ra, vì sau một hồi thịnh nộ cũng chỉ được nghe vợ nói đúng 4 chữ: “Tao muốn ăn phở!”.


Ngồi ghế bành một lúc cho dịu cơn nóng giận, thiếu tá Ph. sực nghĩ ra một giải pháp. Ông điện thoại cho gia đình người bạn thân mà vợ ông ta là người gần gũi vợ thiếu tá Ph. nhất. Sau khi trao đổi, thiếu tá Ph. ngồi xuống ghế chờ đợi. Lát sau 2 vợ chồng trung tá Nguyễn Khắc Bình đến. Sau khi nghe thiếu tá Ph. thuật lại, vợ trung tá Bình lãnh sứ mạng vào “khuyên nhủ”. Nửa giờ trôi qua, vợ trung tá Bình quay ra mặt hoang mang. “Sao? Chị ấy nói gì?”Trung tá Bình hỏi. Bà vợ nhún vai: “Tao muốn ăn phở!”. 

Bàn bạc một lúc, vợ trung tá Bình chợt nêu ý kiến: “Trước đến giờ, thần kinh chị ấy ổn định không hả anh?”. Hai người đàn ông im lặng. Hơn ai hết, trung tá Bình là người đi hỏi vợ cho bạn nên biết gia đình giòng họ bên vợ của thiếu tá Ph. quả có hai trường hợp bị điên.

Thiếu tá Ph. đắn đo một lúc rồi mở miệng nhờ trung tá Bình: “Anh giúp dùm, tôi rối quá rồi…”. Sau vài cuộc điện thoại nhờ vả, trung tá Bình quay qua trấn an bạn: “Thằng Quy sẽ cử xe đến đưa chị ấy vào nhà thương Chợ Quán, khám xem sao…Toa(Toi) yên tâm, để Moa(Moi) giải quyết vụ này cho…”

     

Đêm hôm đó, trong khu dành riêng cho bệnh nhân loại VIP, các bác sĩ tay nhau khám bệnh, định bệnh. Các phương tiện tối tân, phương pháp khoa học và những bác sĩ trình độ nhất đưa đến kết luận: “Vợ thiếu tá Ph. hoàn toàn tỉnh táo, khỏe mạnh!”. Tuy nhiên các bác sĩ đều ngạc nhiên khi bệnh nhân luôn trả lời mọi câu hỏi bằng  câu: “Tao muốn ăn phở!”…

Bà vợ được đưa về nhà và không chịu ăn uống gì. Thiếu tá Ph. bắt đầu hoảng, điện thoại cho hàng loạt bạn bè. Bất ngờ thiếu tá Phạm Kim Quy, bạn cùng khóa của thiếu tá Ph. nêu ý kiến: “Hay là ma nhập?”. Cả nhà đang đông đúc bạn bè đến thăm hỏi, bỗng lặng ngắt như tờ. Vợ trung tá Bình rụt rè: “Hổng chừng đúng đó…chiều đến giờ em có nghĩ đến mà đâu dám nói ra…”. Trung tá Bình nạt ngang: “Căn cứ vô cái gì mà bà nghĩ vậy?”. Bà vợ trả lời tỉnh rụi nhưng câu trả lời làm mọi người rùng mình như bước ra gió lạnh: “Giọng nói này đâu phải giọng của chị ấy?”. Thiếu tá Ph.cau mày suy nghĩ một thoáng rồi quày quả đi luôn vào phòng vợ. Ông đứng sau lưng vợ hỏi gằn: “Mày là ai?”

     

Lần này thì ông không còn nghe câu trả lời quen thuộc mà thay vào đó là một giọng đàn ông lạ hoắc: “Ờ, vậy chớ! Chiều đến giờ mệt mấy người quá…”. Lặp lại câu hỏi lần nữa, trong lúc mọi người cùng kéo nhau vào đứng chung quanh, thiếu tá Ph. nghe mà bủn rủn cả người: “Tao là trung sĩ nhất Đoàn thiện Hùng, số quân 50/ 789…phục vụ ở phòng 3 Tổng tham mưu…”.

Sau khi nghe “sơ yếu lý lịch” của một gã nào đó đòi ăn phở thông qua vợ mình, thiếu tá Ph. cùng mọi người lui ra ngoài bàn bạc.

Một linh mục quen biết lập tức được mời đến cầm theo cả sợi giây 7 buộc và quyển thánh kinh bọc bìa da đỏ. Ông vào phòng cùng thiếu tá Ph. và bắt đầu rảy nước thánh. “Thôi cha về đi, tui đâu có theo đạo đâu mà nghe lời cha! Tui chỉ muốn ăn phở thôi mà…gì mà rắc rối quá vậy?”. Chiêu thứ nhất coi như thất bại. 

     

Cũng ngay trong đêm, vị sư trụ trì chùa trong quân trường Quang Trung, tên thật là Đặng Thành Tậm (quên mất pháp danh) được vời đến vì nghe nói ông đã từng trị khỏi nhiều ca ma quỷ nhập xác. Ông vừa đến nơi đã khoác mảnh y và cầm tràng hạt đi vào.

Sau một lát, ông tiu nghỉu quay ra, lắc đầu: “Nó biểu nó cũng không theo phật giáo, chỉ muốn ăn phở!”.

Sáng hôm sau, thiếu tá Phạm Kim Quy điện thoại cho một người bạn để vời cấp tốc một thầy pháp lừng danh Sài Gòn-Gia Định-Chợ lớn là thầy Chín Củi. 

Trong lúc chờ thầy và sắm sanh đủ lễ vật lập đàn cúng, trung tá Bình điện thoại cho một loạt bạn bè ở Tổng Tham Mưu. Lý lịch của con ma đòi ăn phở hóa ra có thật 100%! Gã trung sĩ nhất này chết vì tai nạn giao thông cách đây tròn 1 năm và được chôn ở nghĩa trang quân đội Gò Vấp.

 Xế trưa, “thầy Chín” đến trên xe Jeep có còi hụ đường hoàng. Bàn cúng được cấp tập bày biện. Đặt “ông tướng thầy ba”(một loại linh tượng nhỏ) lên bàn, thầy Chín bắt đầu xõa tóc vung gươm gỗ làm phép. Chưa kịp đốt xong lá bùa trừ tà thì con ma đòi ăn phở đã tuột xuống giường, xấn xổ vào thầy pháp giật thanh gươm gỗ chém nát cả đàn tràng! Sợ xanh mặt, thầy Chín lật đật cuốn tượng dông tuốt ra đường bắt taxi “quy hồi cố quận”!

Hết nước, thiếu tá Ph. bèn ngồi phịch xuống đất vái “vợ” như tế sao. Thiếu tá Quy và mọi người lắc đầu rút dần ra ngoài sân. Lúc này con ma đòi ăn phở đưa ra một yêu cầu thương lượng: “Nếu cho ăn 10 tô phở, sẽ hứa đi luôn không làm phiền gia đình nữa!”

     

Một ngày nữa trôi qua, thiếu tá Ph. lo sợ khi thấy vợ không ăn uống gì mà cứ ngồi trên giường “tôi nhìn tôi trên vách”. Bí thế, thiếu tá Ph. bàn với 2 ông bạn chí cốt là thiếu tá Quy và trung tá Bình: “Phải thua con ma này thôi!”.

Thế là “thể theo lời yêu cầu”, thiếu tá Ph. sai cô giúp việc đi mua phở. Vừa mang vào phòng, không buồn quay lại nhìn, con ma đã nạt: “Nhà giàu mà bần tiện quá vậy? Nói mua 10 tô mà sao mua có 2 tô?”. Cả nhà giật bắn mình vì quả thực là mua chỉ 2 tô.

Sá gì 10 tô phở, nhưng chỉ sợ “vợ”bị bội thực do con ma tham ăn nên thiếu tá Ph. cũng chỉ mua 5 tô, sớt ra 10 cái chén nhỏ.

Cũng không thể qua mặt con ma, gã nhấn mạnh: ”Mười tô là mười tô! Chín tô cũng không đi…”

Mười tô phở được sắp hàng trước mặt con ma trung sĩ nhất, gã hít một hơi rồi mỉm cười hài lòng. Thiếu tá Quy nghĩ sao chặn lại: “ Lỡ mai mốt ông ăn xong, quay lại nữa thì sao?” Con ma tỉnh rụi: “Tui hứa!”. Thiếu tá Quy mang giấy bút ra bắt con ma làm bản-cam-đoan. Dường như vì quá thèm nên con ma lật đật cầm giấy bút nguệch ngoạc mấy chữ rồi ký tên. Đoạn, gã cầm đũa thọc vào tô thứ nhật khiến cả nhà hồi hộp. Hóa ra gã chỉ nhúng đũa vào cả 10 tô rồi đưa lên mũi hít một cái!

Vừa xong, chợt bà vợ thiếu tá Ph. như lên cơn co giật rồi ngã ra bất tỉnh.

Khi tỉnh lại bà vợ hoàn toàn ngơ ngác không biết chuyện gì và ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều người trong nhà. Được dặn dò trước, mọi người đều nói cho bà biết bà bị trúng gió mấy ngày nay và bác sĩ đã trị cho bà thuyên giảm.

Số lượng phở của con ma dùng qua, đưa cho người làm và tài xế đều bị trả lại vì chẳng hiểu sao tất cả đều bị sình chương và đổ nhớt!

Đáng ngạc nhiên hơn khi hôm sau, thiếu tá Quy mang về một số tài liệu có chữ viết của trung sĩ  nhất Đoàn thiện Hùng. So tự dạng thì…giống hệt! Ba ông bạn nối khố gồm: thiếu tá Ph., thiếu tá Quy và trung tá Bình đi lên tận nghĩa trang quân đội Gò Vấp và đứng trước ngôi mộ của con ma đòi ăn phở, cả 3 đều có cảm giác rờn rợn.

     

Chuyện qua đi cho đến 2 tháng sau, một buổi chiều u ám, tên trung sĩ nhất lại trở về đòi ăn phở. Bực mình, thiếu tá Ph. đưa tờ giấy có bút tích của gã ra. Đọc lướt qua thật nhanh, gã “à há” một câu rồi xuất ra khỏi bà vợ ngay lập tức. Hóa ra, đây là một con ma hết sức trọng chữ tín và khá hài hước…

     

Cho đến giờ phút này, tất cả những người liên quan đã xuất cảnh sinh sống ở phương trời khác, có kẻ còn người mất, ngay cả căn nhà năm xưa bây giờ cũng đã phá bỏ để  xây lên một khách sạn cỡ 2, 3 sao…nhưng câu chuyện về con ma đòi ăn phở vẫn là một câu chuyện ma ngộ nghĩnh nhất, theo nhận định của khá nhiều tướng tá của chế độ cũ, đặc biệt là của người trong cuộc-kẻ liên quan, cũng là người thuật lại câu chuyện: đại tá Phạm Kim Quy…

      

MA ĂN...PHỞ! - Tác Giả Nguyễn Minh Chí | Truyện Ma Có Thật