(1)
Tôi theo bọn thợ rừng, giạt về Tầm Lanh. Đi kiếm sống mà chui vào cái xóm ven rừng
này, không mong gì ngóc đầu lên nổi. Cái xóm đìu hiu hẻo lánh đến não lòng. Thế
nhưng tôi ở lại đã ba năm. Đời yên mà quạnh lắm. Nơi đây có chừng vài mươi mái
nhà nằm đơn độc xa nhau, im lìm vắng vẻ. Nghe nói, ngày trước Tầm Lanh cũng
không đến nỗi tiêu điều đến thế, nhưng bom đạn chiến tranh cứ đẩy con người bỏ
xóm đi xa dần. Sau chiến tranh, chẳng ai còn nghĩ đến chuyện quay về chốn cũ để
chiều chiều ngồi ngó lên ngọn rừng, nghe chim kêu vượn hú.
Hồi tôi mới tới đây, Ba Canh nói: “Chú em đừng ngại, chuyện gì rồi cũng sẽ quen
đi. Việc đo đạc, tính giá cả, cần biết bốn phép toán cộng trừ nhân chia là đủ.
Còn công việc sau đó, hơi vất vả một chút. Tôi sẽ chỉ cách cho chú em làm. Đóng
cọc, vác củi sắp vào từng thước khối… Tiền bạc không có dư, nhưng cũng sống được
qua ngày.”
Thế đấy. Cũng sống được qua ngày. Tôi phụ việc với Ba Canh làm nơi bãi đất ở cuối
xóm, giáp với bìa rừng. Gỗ súc và củi từ trong rừng đem ra chất đống ở đây, chờ
chuyển đi các nơi xa. Dân xe be và bọn thợ rừng gọi bãi này là Bến Củi.
Bến Củi nằm trong địa phận Tầm Lanh, nhưng trong những giao tiếp làm ăn, người
ta quen nói Bến Củi. Càng về sau, nhắc đến Tầm Lanh không còn mấy người biết nữa.
Mọi sinh hoạt rộn rịp của Tầm Lanh, chỉ diễn ra nơi Bến Củi chừng vài tiếng đồng
hồ vào giữa trưa khi bọn thợ từ rừng ra, lái gỗ từ các nơi tới. Lăng xăng đo đạc,
kỳ kèo trả giá. Xuống củi từ những xe bò xe trâu, hoặc cẩu gỗ súc lên xe be.
Xong, họ chia tay. Bọn thợ xách cưa trở vô rừng. Và lái gỗ cùng những chiếc xe
be rời Bến Củi bằng con đường đất ngoằn nghèo dài hun hút, dưới những tán lá rậm
hai bên đường.
Tôi là kẻ thất cơ lỡ vận phải vào Tầm Lanh kiếm sống đã đành. Có một thành phần
khác, không ai ngờ cũng vào đây. Đó là những cô đã một thời đem thân xác mình
phục vụ cho khách mua hoa nơi các phố thị đông người. Nay nhan sắc đã tàn phai,
không còn đủ sức bon chen với đám đàn em mới vô nghề nhưng nhan sắc có phần lợi
thế hơn. Họ quay ra đón khách dọc đường, lưu động theo các chuyến xe đường xa,
có khi còn vào tận chốn rừng sâu với bọn thợ rừng. Mỗi lần nhìn thấy các cô em
tóc tai rối bời gió bụi trên chuyến xe đi đến, hoặc mặt mũi bơ phờ từ rừng trở
ra, lòng tôi trắc ẩn. Có lẽ họ cũng nhìn thấy tôi là kẻ hết thời, không hơn gì
“con vạc ăn sương” như họ. Cùng một nòi lưu lạc, dễ nhìn nhau bằng ánh mắt cảm
thông và từ đó sinh ra cảm tình gần gũi.
Buổi trưa. Tôi ngồi trốn nắng dưới bóng cây.
Một cô sà đến ngồi kế bên, nói rất tự nhiên như đã quen thân tự kiếp nào: “Em
đi lưu diễn nhiều nơi, chưa thấy nơi nào buồn như nơi này.”
Hai tiếng “lưu diễn” giống như đào kép gánh hát cải lương rày đây mai đó. Tôi
cười nhẹ và lắc đầu tỏ ý đồng cảm chán đời.
“Em tên gì?”
“Kiều.”
“Tên thật của em hả?”
“Không. Hồi em mới bước chân vô nghề, có thằng cha tự xưng thi sĩ gọi em là
Thúy Kiều. Nghe cái tên cũng hay hay, em xưng Thúy Kiều luôn. Không biết tại
sao khi em nói tên em là Thúy Kiều, có người cười. Chắc họ biết tên giả. Em bỏ
bớt chữ Thúy, chỉ còn Kiều. Em xài luôn tên Kiều cho đến bây giờ.”
“Em biết Thúy Kiều là ai không?”
“Là ai vậy anh?”
“Tên của một cô gái lầu xanh trong tác phẩm văn học.”
“Lầu xanh là lầu gì vậy?”
“Ờ… ờ… là nơi có nhiều em kỹ nữ.”
“Em kỹ nữ làm gì ở lầu xanh?”
“Em hỏi lung tung quá, anh chẳng biết đường nào trả lời.”
“Có em kỹ nữ tên Thúy Kiều thiệt hả?”
“Thiệt.”
“Trên đời thiếu chi người trùng tên. Em thích tên Thúy Kiều.”
“Không được. Tên ấy thuộc về độc quyền.”
“Ai cấm em xưng Thúy Kiều chứ? Mà thôi, em bỏ Thúy rồi. Bây giờ chỉ còn Kiều.”
“Cái thằng cha tự xưng thi sĩ nào đó thật khốn nạn. Đã chơi với người ta, còn mỉa
mai châm biếm.”
“Ông ấy chỉ gọi em là Thúy Kiều, chứ có mỉa mai châm biếm gì đâu?”
“Bỏ chuyện này đi, không nói nữa.”
“Cho em hỏi câu cuối cùng.”
“Thôi mà…, cứ hỏi hoài.”
“Cái anh này…thấy ghét. Em hỏi nè, kỹ nữ là em gì vậy?”
“Anh không biết. Tìm Thúy Kiều mà hỏi.”
“Mặt khó ưa!”
Sau cái nguýt dài, cô Kiều thò tay vào xú chiêng, móc ra một gói thuốc Hoa Mai.
Bao thuốc bèo nhèo, điếu thuốc cong queo. Cô châm lửa hút vài hơi, rồi trao cho
tôi.
“Hút đi. Nhìn chi mà nhìn dữ vậy?”
“Áo nịt vú chứ đâu phải túi đựng đồ mà cho gói thuốc vào trong ấy.”
“Em còn nhét cả tiền nữa. Thời quỷ vương, bọn cướp giựt đầy đường. Mang bóp đầm
đi õng eọ, dễ làm mồi cho tụi nó lắm.”
Cô ngó mông lung ra bìa rừng. Ánh mắt vui tươi hồi nãy biến đâu mất. Một nỗi gì
buồn bã xa xôi thoáng hiện.
“Năm bảy năm về trước, cặp vú em no tròn đầy đặn. Bao nhiêu thằng mê em, muốn vục
mặt vào đó. Còn bây giờ thì…” Cô bỏ lửng câu nói.
“Bây giờ thì sao?”
“Hỏi mỉa em hả?”
“Không. Anh đang nghĩ đến luật đào thải phũ phàng của tạo hoá.”
Cô khoát tay: “Ối! Hơi đâu mà nghĩ luật này luật kia cho mệt. Em chỉ hận lũ đàn
ông. Đàn ông là thứ mới chuộng cũ vong, là thứ phản bội trời đánh thánh đâm.”
“Trời đất! Có phải vì nóng nực làm em nổi giận bất thường? Em hận thằng nào thì
chửi thằng đó. Sao bỗng dưng lại trút căm hờn vào anh?”
“Em không nói anh.”
“Anh không phải đàn ông sao?”
“Đàn ông, nhưng em trừ anh ra.” Cô cười.
Một lúc sau, cô nói: “Mình lại quán uống nước đá đi anh. Em bao.” Cô đứng dậy,
nắm tay kéo tôi đi.
Đang đi, cô hỏi: “Anh mấy tuổi?”
“Bốn mươi ba.”
“Vợ con ra sao?” Cô liếc mắt, dí ngón tay vào trán tôi, “Đừng nói với em rằng
anh còn độc thân nha.”
“Em điều tra giống như công an phòng thẩm vấn.”
“A… a…, nhắc đến công an, em lại nổi sùng. Bọn nó ruồng bắt tụi em, đưa vào trại
Phục Hồi Nhân Phẩm. Phục cái mả cha nó, chứ phục hồi gì. Đứa nào “thâm niên
công vụ” như em, nó đẩy đi lao động phơi nắng cháy da. Đứa nào còn trẻ đẹp, nó
giữ lại chơi ngày chơi đêm, kêu trời không thấu. Những thằng công an của trại
Phục Hồi Nhân Phẩm, bản mặt thằng nào cũng tái mét xanh xao, mắt quầng thâm vì
chơi bời trác táng quá độ. Có thằng ghẻ lác đầy mình, con vi trùng giang mai đã
rúc vô tận xương tủy của nó rồi.”
“Em hay bắt quàng từ chuyện nọ xọ chuyện kia.”
“Thôi, trở lại chuyện của anh. Vợ anh đâu?”
“Gửi bà già vợ nuôi. Còn anh lo nuôi thân anh.”
Cô nhìn tôi, cười cười: “Hỏi thiệt nhe. Có thích em không?”
“Đừng hỏi tầm phào.”
“Cái mặt làm bộ sầu đời, nói chuyện cà tững của anh, nhiều em gái ngây thơ chịu
lắm. Tụi mình kết duyên thành chồng vợ được đấy.”
“Để ôm nhau chết đói hả?”
“Em tình nguyện đi làm nuôi anh.”
“Đi khách đem tiền về nuôi anh?”
“Không. Em chán cái nghề này lắm rồi.”
Chúng tôi ngồi dưới mái hiên quán Ba Canh. Chị Ba chủ quán mang nước đến, rồi bỏ
đi ngay như muốn tránh mặt.
Cô Kiều nhìn theo sau lưng chị Ba, kề tai tôi nói nhỏ: “Em còn lạ gì con đĩ ngựa
này. Nó đỏng đảnh với mấy thằng xe be ngoài chợ. Ai chẳng biết.”
“Thôi. Chuyện người ta, mắc mớ gì em.”
“Hứ! Cái thứ rượn đực, còn làm ra vẻ khinh người. Khó ưa.”
Cô nguýt dài. Đuôi mắt đã có dấu hiệu thời gian xếp nếp.
Tầm Lanh chỉ có một quán tạp hoá duy nhất của Ba Canh, nằm kề Bến Củi. Bên hông
quán, che thêm cái mái làm nơi bán thịt rừng và nước đá giải khát buổi trưa cho
những người sinh hoạt nơi Bến Củi. Ba Canh giao quán cho vợ con trông coi. Còn
anh, lo chạy vòng ngoài. Vào rừng mua thịt tươi từ các tay săn bẫy thú, hoặc
theo xe be ra chợ bổ thêm hàng về cho vợ. Nhiều khi anh bận, vợ anh thay thế ra
chợ bổ hàng. Việc này cũng mất khá nhiều thời gian, phải ở lại qua đêm, hôm sau
mới có chuyến xe vào lại Tầm Lanh. Vì phải ở lại qua đêm, nên chị Ba mang nhiều
tai tiếng lăng nhăng với dân xe be và lái gỗ. Người ta xầm xì về chuyện này,
nhưng Ba Canh không hề hay biết. Trời sanh ra anh để nhìn đời theo con đường thẳng,
chứ không phải để nghi ngờ dò xét ở những khúc quanh.
Trời nắng loá. Trông ra Bến Củi, mặt đất dường bốc hơi thành gợn sóng. Những xe
be đã bắt đầu rục rịch, chuẩn bị rời bãi.
Cô Kiều nói: “Em phải về. Anh muốn em ở lại không?”
“Anh không có tiền giữ em ở lại.”
“Miễn phí cho anh.”
“Anh trú miễu ở đình. Chốn tôn nghiêm mà làm chuyện bậy bạ, Quỷ Thần vật chết.
Thôi, em về đi.”
“Về lần này, có lẽ em không trở vô nữa. Em muốn đổi nghề, kiếm chuyện khác làm
ăn.”
“Ừ, được đấy. Em phải nghĩ tới tương lai.”
Cô than thở: “Em muốn về quê cũ làm lại cuộc đời. Nhưng em hư quá, vô phương
quay về.”
“Thì đi nơi khác, buôn gánh bán bưng gì cũng được.”
“Phải có một căn bản gia đình mà em thì cô đơn, anh ạ.” Cô thở dài.
Tôi an ủi: “Từ từ, em cũng sẽ kiếm được người thương em.”
Ngoài bãi có tiếng kêu ơi ới. Xe sắp rời Bến Củi.
Cô đứng dậy: “Em đi nha. Chắc mình không gặp nhau nữa đâu.”
Tôi cũng đứng dậy vỗ nhẹ vai cô: “Em đi bình yên. Mong tương lai em gặp nhiều
may mắn.”
Cô bước đi còn ngoảnh đầu ngó lại. Bỗng cô trở gót quay vào cầm tay tôi.
“Coi… kìa…, cái mặt buồn buồn… dễ ghét. Bộ thương em hả?”
“Thôi mà, đừng có đùa. Bao nhiêu cặp mắt dòm ngó.”
“Dòm, kệ họ. Mai mốt có ra chợ, nhớ tìm em nha.”
Tôi hối: “Được rồi. Em đi đi. Trễ chuyến xe bây giờ.”
Cô lầm lũi đi nhanh ra Bến Củi. Lúc ngồi trên xe, cô còn đưa tay vẫy vẫy. Tôi
trông theo, cảm thấy nao nao. Không biết lòng mình ra sao nữa.
Tôi ngồi lại với nỗi trống không, buồn vô cớ.
Chị Ba bước ra hiên dọn những ly tách trên bàn, nói: “Cặp kè với loại người ấy,
chỉ mất mặt.”
“Nói chuyện thôi. Đã có gì đâu?”
“Còn muốn có gì nữa hả? Anh Ba Canh giúp anh có cơm để sống, chứ không phải để
anh đem tiền bao gái.”
“Chị thấy tôi có loạng quạng với ai không?”
“Chuyện khuất lấp ban đêm, chỉ có trời biết. Còn chuyện ban
ngày, đã rõ trắng đen. Bạ ai cũng tán tỉnh. Thượng vàng hạ cám không chừa thứ
nào.”
Thái độ và lời lẽ của chị Ba làm tôi ngạc nhiên. Chị đâu có quyền
nói những lời gay gắt như thế với tôi. Nghĩ tới tình nghĩa anh Ba Canh, tôi
không nỡ phản ứng làm mất lòng chị Ba.
Tôi nói: “Chị hơi nặng lời đấy.” Rồi bỏ đi ra bãi.
Bến Củi không còn ai. Tôi một mình vác củi chất vào từng thước
khối theo những cây cọc, Ba Canh đã đóng sẵn từ trước. Hôm nay, anh theo xe ra
chợ lấy hàng. Tôi làm mãi đến xế chiều. Mồ hôi đầm lưng áo. Khô cổ, khát nước.
Trời oi nồng, đứng gió. Muốn vào quán để uống ly nước đá, nhưng nghĩ lại thái độ
khó chịu của chị Ba, tôi ngại. Tôi đi chếch về phía tây Bến Củi, nơi có ngôi
đình lâu ngày không được trùng tu.
Ngày tôi mới đến, trông thấy một bên hiên đình quằn xuống sắp đổ.
Hình ảnh hư hao tàn tạ cuốn hút lòng tôi. Tìm ở đâu cho xa? Một nơi chốn mà người
đời quên lãng, sẽ là nơi trú ngụ an toàn cho con chim tơi tả trước cơn dông thời
cuộc. Mái đình xưa, lợp ngói âm dương phủ màu rêu xám. Cuối nóc đình, chỗ giáp
với đầu hồi có gắn con hạc bằng đồng thau. Hạc xoãi cánh như đang chấp chới bay
lên để thoát khỏi sự sụp đổ của ngôi đình, mà đôi chân tội nghiệp cứ dính chặc
vào đầu hồi. Dù không bay trong không gian, nhưng con hạc vẫn bay suốt thời
gian gần trăm năm từ ngày dựng đình. Phía sau con hạc, cỏ dại và những cây con
mọc đầy trên mái. Lớp lớp rêu phong âm thầm nói lên biết bao điều ý nghĩa. Những
ai hăm hỡ xẻ gỗ dựng đình từ thế kỷ trước, đều khuất bóng cả rồi. Thần linh
phiêu hốt nơi đâu mà tượng gỗ xiêu xó nơi này? Không được trùng tu, nhưng số phận
ngôi đình vẫn còn may mắn. Nhờ ở vào vị thế địa dư hẻo lánh, không có tiếng tăm
linh hiển vang xa nên thoát được cái hoạ san bằng bởi chiến dịch triệt hạ những
đình chùa lăng miếu, quét sạch nền văn hoá cũ của bao đời cha ông để lại.
Đã bao nhiêu đêm, tôi nằm trăn trở dưới mái hậu liêu. Nghe chim
đớp muỗi vỗ cánh chạm xạc xào trong khóm lá ngoài kia. Nghe tiếng dơi chí choé
cắn nhau dưới mái ngói bên hàng hiên sắp đổ. Thấm thía nhứt là tiếng vạc kêu
sương rớt xuống tự trên lưng chừng trời. Dường như trong tịch mịch lặng im, tiếng
vạc lẻ loi làm tôi thấy rõ hơn về nỗi quạnh hiu của mình. Những đêm trăng tỏ,
tôi thường đứng trông ra Bến Củi. Những khối củi mập mờ nhìn từ xa, như những
chiếc xe tăng đang lổn nhổn tiến về phía bìa rừng. Bồi hồi nhớ lại thời còn chiến
tranh. Một binh lực hùng mạnh là thế, bỗng một ngày tán loạn rã tan. Chuyện vô
lý tưởng chừng như cơn mơ. Đến khi lủ khủ dắt nhau vào tù, mới bừng ra sự thật.
Từ ấy trở đi, lý lịch tôi mang một dấu ấn lớn, không mong gì bôi xoá để làm lại
cuộc đời. Tôi về Tầm Lanh như người xưa bất đắc chí quay về sằn dã. Ẩn nhẫn mà
sống. Nhưng bất cứ nơi nào, tôi cũng thấy bi đát. Hoàn cảnh một cô Kiều trưa
nay, cũng làm tôi suy nghĩ. Tôi có hơn gì cô đâu. Đời đã lâm vào thế bí. Trở
lui không được, tiến tới không xong.
(2)
Đêm đã khuya. Sương mù xuống lạnh màu trăng. Hình như có tiếng
chân ai dẵm lên những phiến lá khô ngoài sân đình. Tôi nhỏm dậy. Một người vừa
bước đến bên thềm hậu liêu.
Tôi ngạc nhiên: “Chị Ba. Có gì mà ra đây giờ này?”
“Cũng có chút việc.” Chị nói nhỏ.
“Việc gì? Tôi có thể giúp chị không?” Vừa hỏi, tôi vừa vén tấm
mùng vắt lên nóc.
Chị e dè ngồi xuống mép giường: “Anh có giận tôi không?”
“Giận chuyện gì?”
“Hồi trưa, tôi lỡ lời.”
“Không đâu. Chị nói cũng đúng. Tôi hay rà rê với mấy cô ấy.”
“Tôi biết anh làm thế vì buồn.”
“Vâng. Tán gẫu cho qua ngày.”
“Nhưng anh phải lựa người chứ.”
“Có tính chuyện lâu dài đâu mà chọn lựa?”
“Giữa ban ngày kề vai bá cổ với gái điếm, không sợ người ta cười
sao?”
“Cái thân cùng đinh mạt kiếp như tôi, còn sợ ai cười nữa?”
“Thấy chướng quá, tôi có nặng lời. Anh buồn không?”
“Tôi buồn, nhưng không phải buồn chị.”
Chị ngó tôi, thì thầm: “Buồn ai?”
“Buồn vì… buồn. Thế thôi.” Tôi ngập ngừng lúng túng. Cảm giác có
điều gì bất thường.
“Buồn vì cô đơn hả?” Chị liếc con mắt gợi tình.
Dưới ánh trăng khuya nghiêng rọi vào hậu liêu, nét mặt chị Ba có
sức quyến rũ lạ lùng. Mùi xà bông chanh trên tóc, mùi đàn bà quyện vào nhau
thoang thoảng. Những đêm nằm một mình dưới mái hiên, tôi thèm được hôn hít vuốt
ve một thân thể mềm mại ấm áp của người nữ. Nhưng, chưa bao giờ tôi dám nghĩ
người ấy là chị Ba.
“Nói đi. Có phải buồn vì cô đơn?”
Chị lẵng lơ nhìn tôi và đưa tay vén mớ tóc giạt qua một bên cổ.
Bộ ngực vun đầy phập phồng dưới lớp áo mỏng nghiêng về phía tôi.
“Chị Ba ơi…, còn anh Ba Canh.”
Nói thế, nhưng hình ảnh Ba Canh đã mờ nhạt trong tâm trí tôi rồi.
Giờ đây, chỉ còn chị Ba như một khối nam châm dục vọng có sức thu hút làm
nghiêng đổ những người đàn ông lòng dạ sắt đá.
“Ảnh đi ra chợ. Anh cũng biết mà.”
Chị nói mà không nhìn vào tôi, như một khuyến khích muốn làm gì
thì làm đi. Không nhìn là để anh hành động được tự nhiên. Hơi hướm từ cổ chị Ba
phả vào mũi tôi cám dỗ. Tôi hồi hộp nghe rõ hơi thở dồn dập của mình, đồng thời
với nhịp tim đập liên hồi trong lồng ngực.
Bỗng có tiếng dơi kêu chí choé bên kia hàng hiên. Tôi bàng hoàng
tưởng như tất cả những bức tượng ngả nghiêng đóng bụi trong đình đều chỗi dậy
la ó. Quỷ Thần kéo nhau ra hậu liêu, đứng nhìn chị Ba và tôi. Tôi chợt nhớ lại
ngày còn bé, đọc chuyện Một Vị Quan Thanh Liêm đời xưa, trong sách Giáo Khoa
Thư. Có người mang của hối lộ đến. Vị quan từ chối. Người ấy nói: “Xin quan cứ
nhận. Chuyện này không ai biết.” Vị quan nói: “Sao không? Ông biết. Tôi biết.
Quỷ Thần Trời Đất biết.” Chuyện của Chị Ba và tôi đêm nay, dù Ba Canh không biết,
nhưng chị Ba biết, tôi biết, và Quỷ Thần Trời Đất biết.
Ngọn đèn lương tâm sắp tắt. Tôi cố thắp lên bằng cách bước ra đứng
ngoài hiên. Ánh trăng mờ và lạnh.
“Chị Ba ơi, về đi. Lỡ có người trông thấy thì… chết.” Tôi nói với
chị Ba, cũng như nói với chính mình.
Chị ngỡ ngàng ngồi sững. Tội nghiệp chị. Tội nghiệp luôn cả tôi
nữa. Tôi muốn quay lại ôm lấy cái thân thể chín muồi dục vọng, ngả xuống mặt
giường. Tôi và chị sẽ quấn lấy nhau, sẽ chìm vào nhau, và trong giây phút sẽ
cùng nhau chết đuối trên chiếc giường này. Lúc đó, ngoài tôi và chị, tất cả những
gì chung quanh không còn gì quan trọng.
“Thôi, tôi về. Đã theo tán tỉnh mấy con đĩ, còn lên mặt đạo đức
làm cao.”
Câu nói như một gáo nước lạnh, bất ngờ dội xối vào mặt tôi. Chị
thay đổi thái độ nhanh vô cùng. Từ khuôn mặt hừng hực lửa tình quyến rũ, đôi mắt
lẳng lơ mời gọi, bỗng trở thành lạnh băng. Tôi hụt hẫng, chưa định được phản ứng
thế nào. Chị vùng vằng bỏ đi. Không biết nghĩ sao, chị dừng lại ngập ngừng.
“Anh hứa không nói với ai?”
“Vâng. Tôi hứa.”
Chị quay lưng. Thấp thoáng dưới trăng, bóng chị Ba mờ khuất
ngoài Bến Củi.
Tôi nằm thao thức suốt đêm. Chuyện xảy ra không lường trước được.
Tôi đã bỏ lỡ dịp may. Một con mèo đói vụng về đánh mất miếng mỡ. Tôi thầm tiếc,
nhưng cảm thấy yên lòng. Ngày mai nhìn lại Ba Canh, tôi không xấu hổ với lương
tâm mình.
Bình minh lên. Tôi dậy muộn. Nghe tiếng quạ kêu trên đầu cây sao
già. Tiếng quạ kêu rất thảm. Trong tiếng quạ sáng nay, dường như có pha thêm điều
gì thảng thốt. Có lẽ, lòng tôi bắt đầu nhuốm bệnh?
Mọi sinh hoạt của Bến Củi vẫn bình thường. Chị Ba đối với tôi
cũng bình thường. Nhiều khi tôi tự hỏi, chị còn nhớ gì trong đêm ấy không? Khó
mà biết được ý nghĩ của chị. Trong cái đầu của mỗi người đàn bà, có cả một kho
tàng bí mật.
Anh Ba Canh bao giờ cũng tử tế. Lòng anh đơn giản. Anh tưởng
lòng người cũng đơn giản như anh. Anh thường khuyên tôi nên tìm một người đàn
bà goá để gán ghép hai cuộc đời cô đơn làm một. Vì quá thật thà, anh đâu biết
có những cặp vợ chồng đang đi trên lưỡi dao cạo. Đến một ngày nào đó, hiểu ra
thì con tim đã bị cứa nát rồi. Chừng nào anh Ba Canh mới thấu được lòng dạ chị
Ba? Lúc ấy, liệu anh làm sao với con tim chảy máu của mình?
Ba năm tôi ở Tầm Lanh. Kẻ lạ chợt đến chợt đi. Tình người dưng
nước lã. Tôi nương tựa vào gia đình Ba Canh, coi đây là chỗ thân tình duy nhất.
Đứa con gái lớn của anh, tên Mận, học hành dang dở. Tôi đến chơi, thường vẫn dạy
thêm cho Mận về những môn thường thức của nhà trường. Năm mười lăm tuổi,
Mận nghĩ chuyện gì ở trên đời, tôi cũng thông suốt.
Mận hỏi: “Chú ơi, muối lấy từ đâu?”
Tôi nói: “Từ trong nước biển.”
“Tại sao nước biển có muối nhỉ?”
“Vì nước biển mặn.”
“Tại sao nước biển mặn?”
“Vì nước biển có muối.”
Cái kiểu trả lời theo chu kỳ vòng tròn của tôi, làm hai chú cháu
cười ngất.
Năm mười sáu tuổi, Mận nói: “Chú ngon hơn ông Nguyễn Công Trứ.”
Tôi hỏi: “Tại sao?”
“Ông Nguyễn Công Trứ đang làm quan bị hất xuống làm lính, vẫn chạy
theo sau chiếc xe công danh réo gọi ơi ới. Còn chú, nghe ba cháu nói cũng đang
làm quan gì đó, rồi bị đi tù, trở về đi vác củi, không thèm chạy theo cách mạng.”
“Hoàn cảnh mỗi thời mỗi khác. Không so sánh thế được đâu. Cháu đừng
nhắc chuyện cũ để chú yên thân làm nghề vác củi.”
Năm mười bảy tuổi, Mận nói: “Chú ơi, chú giống ông Trần Tế
Xương.”
Tôi hỏi: “Ổng là thi sĩ. Chú là phu vác củi. Sao lại giống
nhau?”
Mận lật quyển sách, đọc:
Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy
Có chăng, chừa rượu với chừa trà.
Rồi ngước lên nhìn tôi: “Chú cũng vậy. Không chừa được đàn bà.”
“Đàn bà đâu? Chú đang sống độc thân mà.”
“Hừm… Cháu thấy mấy cô làm đĩ, bu vào chú nói chuyện hoài.”
“Ừ, thì nói chuyện cho… vui.”
“Không được. Chú phải chừa cái thứ ba luôn.”
Tôi kêu: “Trời ơi! Chú đâu phải thầy tu mà chịu đủ thứ điều răn
giới luật?”
Mận khẳng định: “Người tốt không giao thiệp với người xấu.”
Trong mắt Mận, tôi là người tốt. Mận không muốn tôi lân la gần
gũi những người mà Mận cho rằng xấu. Mận đâu biết trên cõi đời ô trọc này,
không thể nhìn bề ngoài con người mà tỏ được vàng thau. Mận thừa hưởng tấm nhan
sắc mặn mà của mẹ, còn tính nết ra sao, chỉ có trời biết.
Một chiều nghỉ việc sớm, tôi đi thơ thẩn trên sân đình.
Mận đến, nói: “Má cháu bảo đem biếu chú trái dưa hấu đầu mùa.”
Và đặt trái dưa xuống bậc thềm.
Tôi nói: “Tránh chỗ đó. Coi chừng mái hiên sập xuống bất cứ lúc
nào.”
Chúng tôi đi vòng ra đứng trước cửa tiền đình.
Mận nhìn cánh cửa gỗ mối mọt hư hao: “Cái đình này ghê quá.”
“Cháu có vào bên trong bao giờ chưa?”
“Hồi nhỏ, cháu thường vào mỗi khi có dịp cúng đình. Nghe nói Thần
đình được sắc phong của vua. Sắc đựng trong cái hộp gỗ, để bên cạnh bức tượng.”
“Mình vào coi thử đi.”
Tôi mở cửa chính điện. Bụi thời gian lả tả rơi đầy trên tóc,
trên vai. Lâu ngày không ai quét dọn, mùi cứt dơi xông nồng lên mũi. Nền đình
lót gạch Tàu. Dấu chân chúng tôi in trên màu bụi xám. Trong đình âm u. Ánh sáng
bên ngoài hắt qua cửa chính mờ mờ, đủ nhìn thấy bàn thờ và bức tượng. Hai tấm
liễn màu đỏ hai bên, viết bằng Hán tự. Bụi phủ, nhện giăng. Tượng Thần không lớn
mà uy nghiêm. Hộp đựng sắc vua phong làm bằng gỗ mun, được che bởi miếng vải lụa
điều. Tôi giở miếng vải lụa. Trên nắp hộp có hình một cặp giao long khảm xa cừ
lóng lánh
Tôi toan mở, Mận ngăn: “Không được.”
“Sao không?.”
“Chẳng phải ai cũng có thể mở hộp ra coi được đâu.”
“Vậy ai có thể mở?”
“Cháu nghe nói, chỉ những vị chức sắc làm lễ xin phép Thần trước
khi mở hộp.”
“Những vị chức sắc, bây giờ ở đâu?”
“Không biết.”
Mận đứng nép vào tôi, ngó dáo dác chung quanh.
“Mình đi ra, chú! Vào đây, cháu thấy sờ sợ.”
Mùi tóc, mùi của người nữ thoảng vào mũi tôi. Tôi muốn đứng đây
mà hít thở. Và Mận cứ nép vào tôi như thế mãi. Hơi ấm thịt da con gái luồn vào
tôi một nỗi gì êm đềm lâng lâng khó tả. Tôi định nói một câu thân tình âu yếm,
nhưng lại thốt khác đi.
“Mai cháu đem cây chổi cho chú mượn. Chú muốn quét dọn bên trong
ngôi đình.”
Mận ngước nhìn tôi: “Không… Đừng động đến mọi vật trong này.”
Tôi nói thêm một câu thật lảng: “Vì tôn trọng tín ngưỡng, tập tục
lễ nghi của ngưới đời trước, chú không mở hộp để coi sắc phong thần vua ban.”
Mận cầm tay tôi lay nhẹ: “Chú!”
Bàn tay Mận đẫm mồ hôi. Xa đàn bà lâu quá, tôi đâm ra ngờ nghệch
vụng về không biết nói lời gì.
“Mình đi ra, chú!” Mận giục.
Tôi nói nhỏ: “Hãy khoan.”
Mận kêu: “Không. Cháu sợ, chú ơi!”
Chẳng biết Mận sợ sự âm u của ngôi đình, hay sợ nỗi gì khác.
Chúng tôi ra tới cửa chính. Bất ngờ, thấy chị Ba đứng sẵn nơi tiền
đình. Tôi gật đầu chào chị.
Mặt chị có vẻ khác thường: “Các người làm gì trong ấy?”
Mận nói: “Chú định coi sắc vua.”
“Hừ… Sắc vua?”
Chị nắm tay Mận lôi về, không thèm ngó đến tôi.
Hôm sau, tôi gặp lại Ba Canh ngoài bãi. Anh không nói gì. Thái độ
rất lạnh.
Tôi hỏi: “Anh có điều gì không vui?”
Anh ngừng tay làm việc, rút thuốc ra hút và đứng suy nghĩ.
Mãi lâu sau, anh nói: “Tôi quý chú em, coi như người nhà. Không
ngờ, chú tệ quá.” Anh thở dài.
“Tôi làm những gì mà anh gọi là tệ?”
“Những gì chú cũng biết rồi. Con Mận còn khờ. Chú là người hiểu
biết. Miếu đình là chốn linh thiêng. Sao lại đem nhau vào trong ấy…?”
“Có phải chị Ba thêu dệt chuyện này?”
“Ai dám thêu dệt chuyện động trời như thế.”
“Anh đã hỏi kỹ lại con Mận chưa?”
“Làm sao nó có thể nhận một hành động tày trời? Nó chối. Khóc
kêu oan.”
Tôi gắt: “Anh cũng tin lời chị sao?”
“Không tin vợ thì tin ai?” Nếu vợ tôi không bắt gặp tại trận, chỉ
nghe lời đồn thì cũng khó tin được.”
“Bắt gặp thế nào?”
“Chú là người trong cuộc, chú biết rõ hơn ai hết. Tôi không nói
là vì còn nể mặt nhau.”
Tôi muốn đấm ngực than trời. Mận khóc kêu oan. Còn tôi, kêu với
ai? Đính chính thế nào?
“Bây giờ anh tính sao?”
“Chuyện xảy ra quá đột ngột, tôi chưa biết đường nào giải quyết.
Đàn bà nhiều khi sáng suốt hơn mình. Vợ tôi nói vì danh dự của chú và con Mận,
không nên làm ồn vụ này. Nó phải giữ danh giá để mai kia còn lấy chồng. Chú nên
rời khỏi Tầm Lanh, cắt đứt ngay mối tình vụng trộm.”
Cái câu “chú nên rời khỏi Tầm Lanh” làm tôi hiểu rõ ý định của
chị Ba. Chị không hiểu lầm. Chỉ vì không muốn tôi còn lảng vảng quanh đây, sợ một
lúc nào đó, tôi sẽ tiết lộ cái đêm trăng cũ chị đến mái lậu liêu. Nếu lần ấy,
tôi đồng tình với chị thì hai người cùng giữ bí mật. Và chị cũng không cần phải
dựng đứng lên một điều không có thật giữa tôi và Mận. Bây giờ, dù tôi có vạch
rõ âm mưu của chị Ba, thì anh Ba Canh cũng sẽ cho rằng tôi đặt điều bêu xấu vợ
anh để chạy tội cho mình.
Tôi nói: “Anh Ba, mai tôi rời Tầm Lanh. Xin anh nhắn với chị rằng,
vì muốn bảo vệ danh giá của mình, chị đã vu oan cho tôi và con Mận.”
“Vu oan? Tôi không nghĩ thế. Và cũng không hiểu ý của chú muốn
nói gì?”
“Hiểu sao được khi anh đang sống ngọt ngào trên lưỡi dao cạo.
Tôi và con Mận đã bị đứt tay rồi. Không biết chừng nào tới anh.”
Trên chuyến xe rời Bến Củi, tôi thấy Mận đứng dưới mái hiên,
ngùi trông theo. Chẳng biết Mận có khóc hay không. Bóng xế hắt hiu trên đầu cây
sao già. Ngôi đình cũ vẫn im lìm như ngày tôi mới đến. Ba năm. Cây rừng Tầm
Lanh mọc rễ trong tôi. Tôi nhổ gốc ra đi. Không có ai vẫy tay làm đưa tiễn./.
Lâm Chương
https://vanngheboston.wordpress.com/van-nghe-si-boston/van/lam-ch%c6%b0%c6%a1ng/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn/