Thursday, June 18, 2026

Kiểu Ngồi Mất Dạy Của Obama


Kim Duncan chuyển

Yêu Bóng Đá, Đừng “Đá” Đi Tương Lai

Người Việt mình yêu bóng đá — điều đó hiển nhiên như cơm ăn nước uống. Cứ mỗi mùa giải lớn, cả nước bỗng dưng trở thành chuyên gia chiến thuật. Hàng xóm vốn cả năm không nói chuyện, đến mùa Euro bỗng thân thiết như anh em kết nghĩa. Quán cà phê vỉa hè chật như nêm, tiếng hò reo vang tận đầu ngõ. Đẹp lắm. Vui lắm. Thế nhưng, nếu để ý kỹ, bạn sẽ nhận ra một điều thú vị: trong số những “tín đồ bóng đá” cuồng nhiệt ấy, không ít người cả năm chẳng chạm vào quả bóng quá ba lần, nhưng bảng tỷ lệ cá cược thì thuộc làu làu như bảng cửu chương.

Trái bóng chưa kịp lăn, cầu thủ còn đang khởi động, thì ở góc quán, các “chuyên gia kinh tế tự phong” đã kịp thiết lập xong “kèo trên, kèo dưới”, rồi bắt đầu ngó nghiêng tìm… “cột”. Mà “cột” ở đây không phải cột dọc khung thành để ghi bàn — mà là cột điện, là hiệu cầm đồ, sẵn sàng “giữ hộ” chiếc xe máy, cái laptop, hay thậm chí tờ sổ đỏ của những kẻ đang khát nước giữa sa mạc may rủi.

Gốc rễ của chuyện này, nói thẳng, là lòng tham. Ban đầu chỉ “chút đỉnh cho vui, tăng phần kịch tính” — nghe rất vô hại, rất văn minh. Nhưng lòng tham của con người vốn không có đáy. Thắng thì muốn thắng thêm. Thua thì lồng lộn muốn gỡ. Rồi gỡ chưa xong lại thua tiếp. Cái vòng xoáy ấy êm đềm đến mức người trong cuộc không nhận ra mình đang chìm, cho đến khi nước đã ngập tới cổ.

Tác hại của cá độ bóng đá không đến bằng một cú đấm thẳng mặt — nó gặm nhấm, từng chút một, rất kiên nhẫn. Tiền lương tháng này “đội nón ra đi” sau cú lật kèo phút bù giờ. Tiền tiết kiệm tháng sau “đi theo”. Rồi đến tiền học phí của con, tiền thuốc của mẹ, tiền sinh hoạt của cả nhà — tất cả cùng “ra đi” theo một lộ trình rất trật tự. Khi trong tay không còn gì để cược, người ta bắt đầu vay. Mà vay ở đây không phải vay ngân hàng với thủ tục đàng hoàng — mà là “tín dụng đen”, lãi suất cắt cổ, chủ nợ gõ cửa lúc nửa đêm. Từ đó, nhà cửa phải bán, vợ chồng ly tán, con cái bơ vơ. Một gia đình tan vỡ không phải vì thiên tai, không phải vì bệnh tật — mà vì một bàn thắng phút 90 của đội bạn.

Và bi kịch tột cùng, đau lòng nhất, là khi áp lực dồn đến mức không còn lối thoát, không ít người đã chọn cách buông xuôi tất cả. Họ để lại nỗi đau xé lòng cho những người ở lại, chỉ vì không thoát được khỏi cái bẫy mà chính tay mình giăng ra.


Đức Phật dạy rằng của cải bền vững chỉ có thể đến từ Chánh nghiệp — nghề nghiệp chân chính, đôi tay siêng năng, và một cái tâm không bị “Tham, Sân, Si” che lấp. Tiền bạc kiếm được từ cờ bạc, cá độ thực chất chỉ là sự dịch chuyển túi tiền từ kẻ tham này sang người tham khác, kéo theo nghiệp nặng và năng lượng tiêu cực. Khi thua, ta “Sân” — tức giận, cay cú. Khi thắng, ta “Tham” — muốn thêm, muốn nữa. Và xuyên suốt cả quá trình ấy, ta “Si” — u mê không tỉnh, cứ ngỡ lần sau sẽ khác.

Lời dạy ấy không cũ. Ngược lại, nó đúng đến từng chữ với thực tế của những người đã và đang sa vào cái bẫy bóng tròn – tiền vuông này.

Vậy nên, hãy cứ yêu bóng đá — yêu hết mình, yêu thật lòng. Hò hét khi đội nhà ghi bàn, tiếc nuối khi đội nhà thua, rồi sáng hôm sau thức dậy đi làm với tinh thần sảng khoái. Thức đêm xem bóng đá để thưởng thức những pha bóng đẹp — đó là niềm vui trong sáng,  nhưng cũng phải nghĩ đến sức khỏe  và chọn khung giờ phù  hợp  của các trận đấu mà xem để còn đủ sức làm việc hôm sau.


Chỉ xin đừng để tiếng còi mãn cuộc của trọng tài trở thành tiếng chuông báo tử cho hạnh phúc gia đình. Trái bóng tròn sinh ra để lăn trên sân cỏ — đừng để nó lăn qua và nghiền nát cả một cuộc đời.


Du Tử 

Nguyễn chuyển bài.

Perfectly Trimmed Bougainvillea


Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình

Bài Học Cay Đắng Nhưng Cần Chấp Nhận

 

Người trên 70 tuổi: Bài học cay đắng nhưng cần chấp nhận 

– “Cuối cùng, ai cũng phải học cách sống trong cô đơn”

Ở tuổi đôi mươi, người ta sợ nghèo.

Tuổi trung niên, người ta sợ bệnh.

Nhưng đến tuổi 70… nỗi sợ lớn nhất lại là cô đơn. 

Thế nhưng, nghịch lý thay:

Cô đơn không phải bi kịch của tuổi già – mà là sự thật mà mỗi người cần học cách đón nhận.


Một cụ ông hơn 70 từng nói:

“Ở tuổi này, con cái không còn thuộc về mình nữa.”

Ngày trẻ nghe câu ấy, ta thấy chua xót.

Nhưng khi chính mình già đi, mới hiểu đó là chân lý của đời người. 

1. Con cái không vô tâm – chúng chỉ quá bận để ngoảnh lại

Người già sống bằng ký ức.

Còn người trẻ sống bằng trách nhiệm, áp lực và cơm áo.

Ta nhớ con, nhưng con mải họp.'

Ta mong con về, nhưng con còn đang vật lộn giữa thành phố xa.

Đó không phải bất hiếu. Đó là cuộc đời.


Ngày xưa, cha mẹ nhiều con, sống gần nhau, đong đầy sự quây quần.

Còn bây giờ, mỗi đứa một phương trời.

Cần gặp nhau, nhưng tất cả đều phải… đợi khi nào rảnh.

Thời gian đã thay đổi mọi thứ – không chỉ lòng người.


2. Người 70 tuổi khổ nhất khi đặt hết hy vọng vào người khác

Bi kịch lớn nhất của tuổi già không phải không ai chăm sóc,

mà là kỳ vọng quá nhiều vào con cái.


Đến tuổi 70, điều quan trọng nhất không phải là “con sẽ chăm mình thế nào”, mà là mình có tự chăm được cho mình không:

còn sức khỏe để đi lại

còn minh mẫn để tự lo

còn tiền để không phải xin

còn bạn để trò chuyện

còn sở thích để sống vui

Chỉ khi tự đứng được, tuổi già mới có phẩm giá.


3. Cô đơn – không phải kẻ thù, mà là người thầy cuối cùng

Khi ta tập quen với việc:

ăn một mình

đi chợ một mình

đi khám bệnh một mình

ngắm hoàng hôn một mình

… ta sẽ nhận ra: cuộc đời này, mỗi người đều là hành khách độc hành.


Con cái có cuộc sống riêng, bạn đời có khi đã đi trước một bước.

Còn ta, chỉ có chính mình làm bạn đồng hành đến phút cuối.

Khi không còn mong đợi ai hiểu mình, yêu mình, ở bên mình, lúc ấy ta mới thật sự bắt đầu già đi một cách thanh thản.


4. Tuổi già hạnh phúc không phải là “đông con nhiều cháu”, mà là:

Có một chút tiền

Có một chút sức khỏe

Có vài người bạn

Có một cuộc đời do chính mình làm chủ.

Đó mới là sự tự do thật sự.


Đừng kỳ vọng con về thăm thường xuyên.

Đừng oán trách người ta sống lạnh nhạt.

Đừng kể khổ với bất kỳ ai.

Đừng chờ đợi sự tận tụy mà con cái không thể cho bạn.

Thay vì trông chờ người khác làm điểm tựa, hãy trở thành điểm tựa của chính mình.


5. Bài học cuối cùng của đời người: Học cách sống cùng nỗi cô đơn

Khi cha mẹ còn sống, cuộc đời ta còn gốc rễ.

Khi cha mẹ mất đi, ta chỉ còn “đích đến”.

Người trên 70 đều đang đi nốt chặng cuối.

Đi chậm thôi, nhưng phải đi bằng chính đôi chân của mình:

Giữ sức khỏe

Giữ tiền

Giữ bạn

Giữ niềm vui nho nhỏ

Giữ lòng bình an


Và quan trọng nhất:

Giữ lại một phần sự yêu thương cho chính mình.

Tuổi già không phải để chờ đợi, mà là để sống tiếp – theo cách nhẹ nhàng và tự chủ nhất.


Những câu chuyện Nhân Văn | Người trên 70 tuổi: Bài học cay đắng nhưng cần chấp nhận – “Cuối cùng, ai cũng phải học cách sống trong cô đơn” | Facebook

Cao Dày Phước Ban - Đỗ Công Luận

Wednesday, June 17, 2026

Người Con Gái Không "Nịt Ngực" - Amy Phương Lê


Sau khi được tàu Mỹ vớt, chúng tôi nằm la liệt trên sàn tàu. 16 ngày vùi dập bởi sóng biển, đói khát, rét lạnh làm mọi người tơi tả. Một em bé sanh ra trên tàu được cấp tốc đưa vô phòng cấp cứu. Chiếc tàu nhỏ loại đánh cá chở chúng tôi đi buộc dây kéo theo sau, nhỏ bé như con kiến đi cạnh con voi. Chỉ một thời gian ngắn sau, các miếng gỗ của tàu cũng sút ra từng mảnh, trôi lênh đênh…

Ôi! Chiếc tàu nhỏ, quá nhỏ, chỉ 33 người mà đã chật không còn chỗ ngồi hay đứng. Chỉ mới qua đêm thôi, khi ngồi bó gối trong thân tàu, bị sóng biển nhận chìm, đưa lên rồi lại bị nhận chìm sâu hơn nữa vào trong lòng biển lạnh, rồi nghe tiếng kêu răng rắc của những mạnh gỗ bắt đầu bị lồi ra những cây đinh thì chúng tôi hiểu rằng chiếc tàu thân yêu không còn có thể gánh vác mạng sống của chúng tôi xa hơn được nữa.

Tôi đưa mắt nhìn những thuỷ thủ trên tàu Mỹ, lòng tràn ngập niềm vui và niềm biết ơn khó diễn tả. Và lon Cola mà tôi được phát, chao ôi sao mà nó ngon! Trôi tuột vào cổ họng khô khát... Có lẽ đó là lon coca ngon nhất trên đời tôi được uống. Chỉ mới hôm qua thôi, ngày thứ 15, khi một em nhỏ trên tàu thoi thóp khóc vì quá khát thì mẹ em đã gieo cho em chút hy vọng: Ráng đi con, khi nào có tàu vớt thì con sẽ được uống nhiều nước. Có khi lại có Coca! Lúc ấy chúng tôi mới chỉ nghĩ đó như một giấc mơ. Hai đứa em tôi nằm bên cạnh, rên lên khi nghe nói tới nước... Từ cả hơn mười mấy ngày trước, khi đói và khát quá thì thằng nhỏ nhất bắt đầu mơ tưởng đến đồ ăn thức uống: Chị ơi! Em đói quá! Em thèm một tô phở. Và một ly trà đá thật bự! Hay cái gì cũng được! Một tô mì, bánh xèo, hay bún bò...Một bà trên tàu gắt lên: Trời ơi! Đói khát thế này mà cứ kể ra mấy món ấy có chết không cơ chứ! Rồi bà lâm râm đọc kinh, cả tàu cũng đọc kinh. Em tôi không dám nói lớn nữa, nhưng ráng thì thào bên tai tôi: Chị ơi! Hay chị cho em một chén cơm nguội cũng được! Tội nghiệp! Nó quá nhỏ để hiểu cuộc hành trình này không có quyền chọn lựa. Rồi nó không thì thào được nữa, mà bắt đầu khóc, và chỉ vào hạ bộ của nó đang sưng đỏ vù. Tàu nhỏ, không có chỗ ngồi huống chi chỗ đi tiểu, đi cầu... Lúc đầu mọi người còn ráng ra ngoài để tìm chỗ đi, nhưng khi say sóng và đuối sức thì ai ngồi chỗ nào đi chỗ nấy. Sau những ngày không được chùi rửa vệ sinh, hạ bộ đỏ u lên. Em tôi không hiểu tại sao hạ bộ nó sưng phồng, đỏ lòm và to gấp hai, ba lần bình thường. Mỗi lần nước biển tạt vào, nước muối mặn sát vào da thịt rát quá làm mọi người kêu la, oằn oại như thấu trời xanh. Rồi cộng thêm với những đêm bão lạnh kinh hoàng mà mỗi giọt nước rót vào người là như mũi dao xẻ thịt xẻ da, thì em tôi cảm giác như có những mũi dao cắt đứt đi cái phần cơ thể riêng tư quý báu đang bị sưng vù nên vểnh lên cao nơi hạ bộ của nó. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn hình dung thấy hình ảnh những em trai nhỏ và những người con trai cúi cong người che 2 chân lại rên xiết mỗi lần những cơn và sóng biển ập xuống.


Trên tàu Mỹ, vì không đủ phòng tắm cho mọi người cùng vào, chúng tôi được chia làm hai hàng Nam và Nữ. Hai thuỷ thủ cầm hai ống nước gấp rút xịt nước tắm cho mọi người, tất cả quần áo được cởi ra để đem khử trùng giặt sấy. Các thuỷ thủ gom góp áo quần của mình phân phát cho mọi người mặc tạm. Những bộ quần áo Mỹ rộng lớn bao che thân thể Việt gầy nhỏ, chúng tôi bơi lội trong đó như bơi lội trong niềm hạnh phúc và lòng tri ân được vượt thoát bình an.

Ngày hôm sau quần áo giặt sấy xong được trả về cho mọi người. Vì ở rải rác trên boong tàu không có mặt lúc phát lại quần áo, hoặc có những người nhận lộn đồ, chúng tôi đa số người lạc áo kể lạc quần, giày dép không còn. Tôi còn lạc mất chiếc nịt ngực. Ngày đặt chân lên trại tỵ nạn, đôi chân trần bước trên đất nóng, tôi vẫn không thấy ngại bằng cảm thấy bộ ngực vô cùng trống trải. Thủa ấy tôi mới vừa 18 tuổi, sinh ra và lớn lên trên Cao Nguyên Đà Lạt.Ở thành phố nhỏ Hoa Anh Đào đó, đời sống là áo trắng hiền ngoan, má đỏ môi hồng, thẹn thùng e ấp. Vậy mà bỗng chốc lăn vào đời, chân không giày dép, người không nịt ngực. Cái nịt ngực đối với tôi, nhất là ở xứ lạnh, là một vật dụng thân thiết ít khi rời. Nó vừa giữ ấm cho người, vừa che đậy nâng đỡ một phần cơ thể kín đáo. Ở phần dưới nịt ngực thường có một viền sắt mỏng hay viền vải chắn ngang, và một lớp vải dầy với miếng mút ôm gọn hai bầu vú để giữ cho phần ngực không rung rinh di chuyển theo mỗi bước đi và không lộ rõ núm vú. Khi sinh hoạt, dù trong nhà, cũng nên mang. Thế mà bây giờ, ở chốn đông người, giữa ban ngày ban mặt, tôi đi đứng chạy nhảy mà chẳng mang nịt ngực. Cái cảm giác trống trải không kín đáo này đối với tôi, một người con gái Á Đông lần đầu bước vào đời là cái cảm giác không an toàn, hở hang, bất an...


Tôi lên trại xin cấp nhưng chưa có. Trại chuyển tiếp có những nhu cầu cần thiết hơn phải được giải quyết trước. Miếng ăn, nước uống, thuốc men, nhà vệ sinh, tất cả còn thiếu mà người tỵ nạn đổ về mỗi lúc một đông. Lúc bấy giờ ở Việt Nam mà đa số là đàn ông thanh niên bị kêu gọi tham gia «thanh niên xung phong» hoặc bị gởi qua chiến trường Cam Bốt khốc liệt. Mọi người vội vã tìm đường vượt biên, trại rất đông đàn ông con trai. Và đủ mọi hạng người. Mỗi lần sáng chiều đi lãnh cơm, đi tắm, đi hứng nước hay có loa gọi gấp lên làm giấy tờ, tôi đi giữa những hàng chòi lá và dãy nhà tập thể, cảm nhận có những cặp mắt nhìn theo bộ ngực vô tình nhấp nhô theo từng bước chân chạy...


Tôi vừa mất cha nên có miếng tang đeo trước ngực, không biết người ta nhìn miếng tang cảm thông với tôi hay nhìn vào ngực và biết tôi thiếu cái nịt ngực... Có những cái nhìn rất soi mói, như lột trần mình ra. Con gái mới lớn, bộ ngực nở nang không làm tôi hãnh diện mà chỉ làm tôi thêm ngại ngùng khổ sở. Ở lứa tuổi học trò ngây thơ thủa đó, cảm giác nhận được là nhột nhạt, khó chịu, bất an. Tôi bỏ luôn thói quen mỗi sáng tập thể dục ngoài trời, vì khi không có nịt ngực thì những động tác nhún nhẩy có thể tạo sự chú ý. Ngay cả những ngày hè nóng nực ở trại tỵ nạn cũng không thoải mái thả mình theo sóng biển, bởi quần áo càng dính chặt vào người, núm vú càng hiện rõ, lộ liễu. Ở cái tuổi con gái tươi trẻ tung tăng mà tôi không hề dám tung tăng. Có hôm đang đi, nghe tiếng huýt sáo trêu ghẹo đuổi theo, tôi ngại và mắc cỡ quá lính quýnh đi như chạy, vấp té làm áo bị sút khuy nút. Hai tay vội vã cố gài khuy áo, tôi đi tiếp trong những tiếng cười tinh nghịch nham nhở. Có lần vừa sắp hàng đi hứng nước tắm về, thì nhạc Quốc Ca của trại trỗi lên, mọi người đang đi đường đứng nghiêm lại hát chào Quốc Kỳ. Tôi đang đứng nghiêm chỉnh bỗng nghe tiếng cười chỉ trỏ về phía mình. Một vài thanh niên đang ngồi trên tầng trên của chòi lá thò đấu ra nhìn tôi rồi một người chợt nói: Chắc tắm về để quên cái nịt ngực! Rồi họ cười hô hố. Một người khác tiếp theo: Tên gì thế em! Tối nay đi chơi trọn đêm với anh nhá? Một người lớn tuổi đang đứng chào cờ không xa, tỏ vẻ khó chịu. Ông ta nói vừa đủ tôi nghe: Lần sau có ra đường hay chào Quốc Kỳ thì nhớ mặc nịt ngực! Con gái lớn ra đường ăn mặc đàng hoàng một chút !


Tôi còn đang ngơ ngác thì tiếng Quốc Ca và Mặc Niệm chấm dứt, mọi người tiếp tục đi. Tôi cúi xuống cầm xô nước, ngỡ ngàng. Trời ơi! Thì ra có người tưởng tôi cố tình không mặc đồ đàng hoàng. Đây là lần đầu tiên tôi biết điều này. Tôi cảm thấy nghẹn không thể nói thành lời, muốn chạy đến người đàn ông khi nãy để nói rằng là tôi không phải cố ý như thế, mà 2 chân tôi cứ bước như người không hồn, xô nước sóng sánh đổ ra mà không biết.

Dường như có giọt lệ nào, không chảy xuống mà chảy ngược vào tim tôi, lăn mãi, và lăn mãi...

Chiều chiều trong chòi lá nghe từ loa vọng lại bài hát «Người Di Tản Buồn», tôi thấy như bóng dáng mình trong đó... Chiều nay có một người đôi mắt buồn, ngày ra đi lặng câm trong đau đớn... Tôi ngồi bên song cửa, thấy chiều rơi rất chậm, rồi «rưng rưng lệ vương mắt lệ nhòa...

Rồi tôi cũng được chuyển sang một trại tỵ nạn chính thức khá hơn một chút, và xin được cái nịt ngực cũ. Cái cảm giác đầu tiên khi được mang lại vật dụng thân thiết ấy của người nữ làm tôi thật an toàn, yên ổn. Dù không vừa vặn nhưng thế là quá đủ!

Rồi tôi liên lạc được với người chị từ một trại khác vừa sang Mỹ. Ngày được bảo lãnh, khi chị đón ở phi trường, tôi nhìn chị, rồi như bị ám ảnh bởi hình ảnh của chính mình trong những ngày đầu tỵ nạn, tôi len lén nhìn vào ngực chị, trong phút chốc chợt mủi lòng, nhớ cha nhớ mẹ, nước mắt âm thầm lăn dài trên má. Chị cũng khóc, nhưng có lẽ lúc ấy chị không hiểu đích xác cái tủi buồn thầm kín của em mình.


Ngày hôm sau, vì trúng ngày thi cuối khoá nên chị nhờ người bạn trai là hôn phu chở chúng tôi đi làm giấy tờ và mua ít vật dụng cần thiết. Tôi đi trong thương xá rộng lớn, rồi bỗng sáng mắt khi nhìn thấy quầy bán nịt ngực. Chao ơi nhiều! đủ màu đủ số. Tôi mân mê vuốt nhẹ lên từng phiến vải mềm, như muốn cảm nhận được tất cả sự dịu êm của từng miếng ren vải lụa, thấy lòng hạnh phúc reo vui như thể được cái gì quí giá lắm. Tôi chọn lấy một cái vừa vặn và một quần lót nhỏ cùng màu. Thế nhưng đến lúc ra quầy tính tiền, nhìn thấy người bạn trai của chị đang đứng chờ, tôi chợt thấy ngại. Tưởng tượng phải thả cái nịt ngực và cái quần lót nhỏ xuống trước mặt anh, tôi đã thấy ngượng. Tôi len lén bỏ lại, mơ hồ một cảm giác luyến tiếc sâu kín...

Hai em tôi đã chọn được cặp táp, vở học, và một ít quần áo. Còn tôi, tôi đã dành trọn thời giờ bên quầy nịt ngực...

Bây giờ tôi đã có nhiều chiếc nịt ngực, khác màu, khác kiểu. Nhưng trong một góc ngăn kéo, tôi vẫn còn giữ lại cái chiếc chật cũ của những ngày tỵ nạn. Và trong một góc ngăn kéo rất sâu thẳm của ký ức vẫn như còn đọng lại hình dáng một chiếc nịt ngực ao ước mãi của ngày xưa...

Sau này, khi các con tôi khôn lớn, sẽ có một lúc nào đó tôi dẫn vào thương xá, rồi như vô tình, đi ngang quầy bán nịt ngực, tôi sẽ kể các con nghe về chút kỷ niệm của thời mới lớn. Đơn giản thôi các con! Chỉ là một chiếc nịt ngực, mà đã từng là niềm mơ ước, nỗi ám ảnh của mẹ trong một khoảng đời con gái.

Giờ đây, tuổi trẻ các con lớn lên trong nệm ấm chăn êm. Thấy những gì đang có sẵn là tự nhiên, là bình thường. Đôi khi còn than thở, so sánh... Có biết đâu có những không gian và thời gian mà ở đó, ngay cả những cái nhỏ bé bình thường nhất cũng có thể là nỗi tủi nhục, niềm ao ước cháy bỏng. Đừng nói chi đến cái bầu trời tự do để thở như ở đây thì đã là quá tuyệt diệu và đã từng đánh đổi bằng biết bao là đau khổ chồng chất.

Có một thời gian, những câu chuyện vượt biên thống khổ như những vết thương mà người ta muốn quên đi để bớt nhức nhối trong một cuộc sống mới xa lạ và tất bật. Thế nhưng khi có dịp ôn lại và tìm về những kỷ vật cũ ấy, tôi chợt nhận ra rằng những đề tài cũ và đấy dấu tích đau khổ ấy, lại là những bài học tiêu biểu vô cùng cho những thế hệ sau...

Và tôi hiểu ra rằng đó còn chính là bài học cho chính tôi.

Ôi thảm nạn của những cuộc hành trình vượt chết vô tiền khoáng hậu! Ôi những chiếc tàu nhỏ bé một bloc chỉ có thể chạy trên sông mà đã băng biển vượt sóng rồi giông tố biển khơi, hải tặc tàn bạo, và nhục nhằn của bao người trong cuộc hành trình vượt chết... Thế mà bây giờ, tôi ngồi đây, trong cuộc sống có thể gọi là đầy đủ, nhiều lúc lại cho rằng đời sống sao mà khổ! Nào con cái, việc làm, nhà cửa, sao mà bận bịu! Nào «bill», nào «Job», nào chứng khoán trồi sụt... nhưng nghĩ cho cùng, thì có phải là những ngày đêm dài thăm thẳm trôi dạt trên thân tàu sắp vỡ, lúc gần chôn thây trong biển lạnh, lúc cận kề cái chết trong gang tấc, tôi chỉ ước mơ đứng trên đất liền, được sống... Có phải là khi ra đi tôi chỉ mong một bầu trời tự do hơn để thở, có phải là tôi đã ngủ quên cái hạnh phúc lớn lao mà biết bao người không may mắn có được... và, nhìn lại tủ áo, có phải là một lúc nào đó trong đời tôi chỉ ao ước một cái nịt ngực...

Có nghe, có đọc, có nhớ, có hình dung lại những cuộc hành trình Biển Đông năm xưa thì dường như ta mới cảm nhận được thấm thía hơn tất cả cái may mắn và hạnh phúc mình đang có.

Những thống kê về di dân đã cho thấy thế hệ di dân đầu tiên, như chúng ta, là thế hệ làm cầu nối cho các thế hệ kế tiếp vốn không có chút kỷ niệm và ấn tượng gì về quê hương mà cha mẹ đã phải bỏ lại. Đó là những thế hệ rất dễ ngày càng xa nguồn gốc nếu không được học hỏi giả thích.

Tôi tự nhủ, tôi sẽ không nhất thiết phải đi làm cho thật nhiều để các con có cuộc sống dư thừa, rồi để lại cho các con gia tài tiền của. Nhưng, đại dương sóng sau dồn sóng trước, tôi sẽ góp phần làm gạch nối giữa các con với những giá trị muôn đời của cội nguồn dân tộc. Các con sẽ được chia xẻ, rút tỉa những kinh nghiệm quí báu của cha ông đồng thời học hỏi những cái hay cái lạ của xứ người. Cái đó mới là cái đẹp riêng, là gia tài hành trang của các con, khi một lúc nào đó nhìn màu da khác người bản xứ, sẽ tự hỏi: Tôi là ai? từ đâu đến, vì sao tôi ở chốn này? Các con sẽ được giải thích để hiểu rõ, để tự tin, hãnh diện, và sẽ có lúc giải thích cho các con của mình hiểu. Những lúc yếu mềm, không nghị lực, không lối thoát, hãy lăn bành một chút về dĩ vãng, học ở đó những bài học xương máu. Khi tìm hiểu về những chiến trận anh hùng, những hành trình thống khổ đầy gương can đảm, các con sẽ thấy rằng ở đời có muôn ngàn cái khổ, nhưng có những cái khổ và cái can đảm làm rung chuyển lương tâm nhân loại. Máu, mồ hôi, nước mắt nhiều khi liên tiếp đổ ra mà chưa chắc đánh đổi được những gì chúng ta đang có. Rồi hãy hít thở đi cho ngập tràn khí quản cái tự do hạnh phúc quí báu vô vàn, rồi can đảm tiếp bước đi trên đường đời ngang dọc.

Đừng quên rằng chung quanh chúng ta, có những không gian và thời gian mà ở đó có những điều cần thiết, tuy nhỏ bé và bình thường, như chỉ một chiếc nịt ngực thôi, cũng có thể là nỗi ước ao triền miên của những khoảng đời cơ cực...


Amy Phương Lê

Thương Hoài Những Điệu Ca Dao! - Đoàn Xuân Thu

nguồn tapchidulich

Miền Tây quê ta là nơi hoang vu với rừng rậm um tùm, nhiều sông rạch, đầm lầy trải dài. Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tợ bánh canh. Dưới sông, sấu rống, trên rừng, cọp um… Những vùng đất bát ngát ấy phèn chua và thường ngập nước, nhưng ở vùng giồng cao hơn, người dân trồng cây hái trái, trồng tỉa hoa màu để sinh sống. Nước chảy cho đá lăn tròn, giận thì nói vậy chớ bụng còn thương em. Người Miền Tây không nói “thuyền” mà dùng “thoàn”, “nhơn ngãi”, “nhơn ngỡi” thay cho nhân nghĩa; “bệnh” thành “bịnh”, “huê” thay cho “hoa”, “lụy” thay cho “lệ”… và họ kiêng huý, ví dụ “Châu Do” thay cho “Chu Du” trong Tam Quốc diễn nghĩa để kính trọng.

Tình cảm gia đình và vợ chồng

Phụ mẫu tình thâm, phu thê nhơn ngãi trượng, một mai anh có xa em rồi, vẫn thờ phượng mẹ cha.

Lao xao sóng bủa dưới thoàn, vắng em một bữa, cơm vàng cũng chẳng ngon.

Lụy xang xang đưa nàng xuống vịnh, anh trở lộn về nhuốm bịnh tương tư. Hai vừng nhựt nguyệt rành rành, sao anh đứt đoạn chung tình bỏ em.

Còn duyên, kẻ đón người đưa; hết duyên, đi sớm về trưa một mình.

Duyên là sắc đẹp ngầm của người con gái mới lớn: còn duyên anh cưới ba heo, hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi.

Ngó lên tổ nễ chau mày, mảnh lo sự khó quên ngày muối dưa.

Chiều mai chiều mốt, anh cốt cây bần, chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm.

“Cốt” có nghĩa là đốn cây, chặt cây, miệt Rạch Giá – Cà Mau. Cây bần toàn giống đực, rễ bần được gọi là… “c.c” bần. “Cốt” cây bần là lời cảnh báo nặng nề cho những ai ham trổ mòi với “ghe” đã có chủ. Hun, tức dùng mũi để hun, chớ không dùng môi.

Ước gì anh hóa con kiến vàng, bò qua quai nón của nàng mà hun. Muốn cúc chơi chậu tam hường, liễu huê hiếm hiệm dọc đường thiếu chi; nói hiếm hiệm tức là không hiếm vậy!

Lời ca dao và tục ngữ đời sống

Người Tiều có câu: “Chờ anh em hết sức chờ, chờ cho ến xại lên bờ khùi hui”

Khi rau muống lên bờ trổ bông. Khi gió lớn thổi, xuốt gùa thăm em, trời mưa tối, anh chèo ghe ngược ra thăm em.

Gió đẩy đưa rau dừa quặn quỵu, anh mảng thương nàng lịu địu xuống lên.

Tóc ngang lưng vừa chừng em bới, để chi dài bối rối dạ anh?

Bước cẳng xuống tàu, tàu khua rổn rổn, tàu qua Nhựt Bổn lấy nước Châu Thành, anh với em phải nói cho rành, để anh lên xuống nhọc nhằn thân anh.

Phụ mẫu đánh em quặt quà quặt quại, đem em treo tại nhánh bần; rủi đứt dây mà rớt xuống, em cũng lần mò kiếm anh.

Chẳng thà lăn xuống giếng cái chũm, chết ngủm rồi đời; sống chi đây chịu chữ mồ côi, loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai.

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng; chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông.


Duyên nợ và tình ái

Biển Đông gió thổi bốn mùa, say mê lời nói thuốc bùa không hay.

Bần gie, bần liệt, diệc đau chờ mồi, anh với em duyên nợ hết rồi, đi tìm chỗ khác đừng ngồi kế em.

Vỗ vai con Bảy không ừ, hay là con Bảy giận, con Bảy từ ngãi anh?

Bậu nói với qua bậu không lang chạ, qua bắt đặng bậu rồi, đành dạ bậu chưa?

Em đi lên xuống cầu dừa, lấy ai có chửa đổ thừa cho anh?

Nước ròng trong ngọn chảy ra, thấy em chồng chết, anh bôn ba qua liền.

Nói bóng nói gió, vòng vo Tam Quốc:

Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh, đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương.

Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, cao phi viễn tẩu dã nan tàng; từ khi anh xa cách con bạn vàng, cơm ăn chẳng được như con chim phụng hoàng bị tên.

Điển tích và văn hóa dân gian 

Ai khôn bằng Tiết Đinh San, cũng còn mắc kế nàng Phàn Lê Huê. Văng vẳng bên tai tiếng ai như tiếng con Điêu Thuyền, anh đây Lữ Bố kết nguyền thuở xưa.

Các tác phẩm vừa kể được dân gian gọi chung là truyện Tàu, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống người bình dân Tây Nam Bộ từ nửa đầu thế kỷ XX trở về trước.

Em ơi hãy lấy anh thợ bào, khom lưng đẩy cái nào cũng êm.

Rất dễ dàng nhận ra chuyện thợ bào đẩy bào để bào cây, bào ván cho bóng, cho trơn, đến chuyện đẩy theo cách nói trây, dân gian gợi hành động của vợ chồng chốn phòng the.

Chồng em nào phải trâu cày mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm. Chuột kêu chút chít trong rương, anh đi cho khéo kẻo đụng giường mẹ hay.

Lời đối đáp và tình thương.

Thân em như cá rô mề, lao xao giữa chợ biết về tay ai.

Cóc chết nàng nhái rầu rầu, chàng hiu đi hỏi lắc đầu hổng ưng. 

Con ếch ngồi ở gốc đưng, nó kêu cái ẹo biểu ưng cho rồi.

Ruộng ai thì nấy đắp bờ, duyên ai nấy gặp đợi chờ uổng công.

Nước chảy re re con cá he nó xoè đuôi phụng, em có chồng rồi trong bụng anh vẫn còn thương.

Gần sông cội mới ngã kề, tiếng tăm anh chịu, em về tay ai?

Có chồng bậu nói rằng không, con đâu bậu ẵm bậu bồng trên tay?

Đá cheo leo muốn trèo sợ trợt, muốn nói một hai lời sợ nhột ý em?

Cau già lỡ lứa bán trăm, chị nọ lỡ lứa biết nằm cùng ai?

Bậu đừng ăn nói đảo điên, cái áo bậu bận cũng tiền anh cho.

Kết luận

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

Vợ chồng già thương lắm, mình ơi! Anh tưởng giếng sâu nối sợi dây cụt, ai dè giếng cạn hụt sợi dây.

Qua tới đây không cưới được cô hai mày, qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy mới về.

Con gái mười bảy mười ba, đêm nằm với mẹ khóc la đòi chồng; mẹ giận phát ngang hông: “Đồ con mất nết đòi chồng suốt đêm!”

Bần gie bần liệt đóm đậu ngọn bần, anh đi cưới vợ, em vái cho sóng thần nhận ghe.

Cô em gái quê rang quê rít, tóc dài bỏ xoã, bận áo bà ba, bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể, cưới vợ có chửa về thổi lửa queo râu.

Trời mưa cho ướt ruộng gò, thấy em chăn bò anh để ý thương.

Dê xồm ăn lá khổ qua, ăn nhầm lá đậu chết cha dê xồm.

Áo vắt vai đi đâu hăm hở, em có chồng rồi mắc cỡ lêu lêu; áo vắt vai anh đi dạo ruộng, anh có vợ rồi chẳng chuộng bậu đâu.

Tiếng nói uất nghẹn còn hướng đến những đối tượng đã gây phiền toái: quất ông tơ cái trót, ổng nhảy tót lên ngọn cây bần, biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng không se.

Nước Láng Linh chảy ra Vàm Cú, thấy em chèo cặp vú muốn hun.

Bới tóc cánh tiên, bỏ vòng lá liễu, thấy miệng em cười trời biểu anh thương.

Tui hun mình, dẫu mình có la làng, thì tui la xóm hai đàng la chung; tui hun mình dẫu có làm hung, nhơn cùng tắc biến tui chun xuống sàn.

Con cua càng bò ngang đám bí, nói với chị mày giờ tí qua qua.

Ai mà bày đặt dị kỳ, áo bà ba may hai túi đựng giống gì hở anh? Ba má bày đặt cho anh, áo bà ba may hai túi đựng dầu chanh o mèo.

Nước mắm ngon dầm con cá bẹ, anh biểu em rình lén mẹ qua đây. Nước mắm ngon dầm con cá đối, em biểu anh chờ để tối em qua. Giữa trưa đói bụng thèm cơm, thấy đùi em vợ như tôm kho tàu.

Quá đã mấy cha.


Đoàn Xuân Thu

Thương hoài những điệu ca dao! - TRE Magazine

Vờ - Tạp Ghi Nguyễn Giụ Hùng - Hình Ảnh Và Giọng Đọc AI

Tuesday, June 16, 2026

Truyện Người Lính Nhỏ Mà Chính Khí Lớn VŨ TIẾN QUANG - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ


Tác giả Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ  là giáo sư Y Khoa Paris Pháp Quốc.

Trung Sĩ VŨ TIẾN QUANG Cái Bóng Của  HOÀI VĂN VƯƠNG TRẦN QUỐC TOẢN 

(Trích trong bộ Lịch Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam)


********
Vũ Tiến Quang sinh ngày 10 tháng 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thân phụ là hạ sĩ địa phương quân Vũ Tiến Đức. Ngày 20 tháng 3 năm 1961, trong một cuộc hành quân an ninh của quận, Hạ Sĩ Đức bị trúng đạn tử thương khi tuổi mới 25. Ông để lại bà vợ trẻ với hai con. Con trai lớn, Vũ Tiến Quang 5 tuổi. Con gái tên Vũ thị Quỳnh Chi mới tròn một năm. Vì có học, lại là quả phụ tử sĩ, bà Đức được thu dụng làm việc tại Chương Thiện, với nhiệm vụ khiêm tốn là thư ký tòa hành chánh. Nhờ đồng lương thư ký, thêm vào tiền tử tuất cô nhi, quả phụ, nên đời sống của bà với hai con không đến nỗi thiếu thốn. 

Quang học tại trường tiểu học trong tỉnh. Tuy rất thông minh, nhưng Quang chỉ thích đá banh, thể thao hơn là học. Thành ra Quang là một học sinh trung bình trong lớp. Cuối năm 1967, Quang đỗ tiểu học. Nhân đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hoà có đăng bài: “Ngôi sao sa trường: Thượng-sĩ-sữa Trần Minh, Thiên Thần U Minh Hạ”, bài báo thuật lại: Minh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Sau khi ra trường, Minh về phục vụ tại tiểu đoàn Ngạc Thần (tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, sư đoàn 21 Bộ Binh) mà tiểu đoàn đang đồn trú tại Chương Thiện. Quang nảy ra ý đi tìm người hùng bằng xương bằng thịt. Chú bé lóc cóc 12 tuổi, được Trần Minh ôm hôn, dẫn đi ăn phở, bánh cuốn, rồi thuật cho nghe về cuộc sống vui vẻ tại trường Thiếu Sinh Quân. Quang suýt xoa, ước mơ được vào học trường này. Qua cuộc giao tiếp ban đầu, Minh là một mẫu người anh hùng, trong ước mơ của Quang. Quang nghĩ: “Mình phải như anh Minh”. 

Chiều hôm đó Quang thuật cho mẹ nghe cuộc gặp gỡ Trần Minh, rồi xin mẹ nộp đơn cho mình nhập học trường Thiếu Sinh Quân. Bà mẹ Quang không mấy vui vẻ, vì Quang là con một, mà nhập học Thiếu Sinh Quân, rồi sau này trở thành anh hùng như Trần Minh thì…nguy lắm. Bà không đồng ý. Hôm sau bà gặp riêng Trần Minh, khóc thảm thiết xin Minh nói dối Quang rằng, muốn nhập học trường Thiếu Sinh Quân thì cha phải thuộc chủ lực quân, còn cha Quang là địa phương quân thì không được. Minh từ chối: 

- Em không muốn nói dối cháu. Cháu là Quốc Gia Nghĩa Tử thì ưu tiên nhập học. Em nghĩ chị nên cho cháu vào trường Thiếu Sinh Quân, thì tương lai của cháu sẽ tốt đẹp hơn ở với gia đình, trong khuôn khổ nhỏ hẹp.

Chiều hôm ấy Quang tìm đến Minh để nghe nói về đời sống trong trường Thiếu Sinh Quân. Đã không giúp bà Đức thì chớ, Minh còn đi cùng Quang tới nhà bà, hướng dẫn bà thủ tục xin cho Quang nhập trường. Thế rồi bà Đức đành phải chiều con. Bà đến phòng 3, tiểu khu Chương Thiện làm thủ tục cho con. Bà gặp may. Trong phòng 3 Tiểu Khu, có Trung Sĩ Nhất Cao Năng Hải, cũng là cựu Thiếu Sinh Quân. Hải lo làm tất cả mọi thủ tục giúp bà. Sợ bà đổi ý, thì mình sẽ mất thằng em dễ thương. Hải lên gặp Thiếu-tá Lê Minh Đảo, Tiểu Khu trưởng trình bầy trường hợp của Quang. Thiếu Tá Đảo soạn một văn thư, đính kèm đơn của bà Đức, xin bộ Tổng Tham Mưu dành ưu tiên cho Quang. 


Tháng 8 năm 1968, Quang được giấy gọi nhập học trường Thiếu Sinh Quân, mà không phải thi. Bà Đức thân dẫn con đi Vũng Tàu trình diện. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Quang trở thành một Thiếu Sinh Quân Việt Nam.

Quả thực trường Thiếu Sinh Quân là thiên đường của Quang. Quang có nhiều bạn cùng lứa tuổi, dư thừa chân khí, chạy nhảy vui đùa suốt ngày. Quang thích nhất những giờ huấn luyện tinh thần, những giờ học quân sự. Còn học văn hóa thì Quang lười, học sao đủ trả nợ thầy, không bị phạt là tốt rồi. Quang thích đá banh, và học Anh văn. Trong lớp, môn Anh văn, Quang luôn đứng đầu. Chỉ mới học hết đệ lục, mà Quang đã có thể đọc sách báo bằng tiếng Anh, nói truyện lưu loát với cố vấn Mỹ. 
Giáo-sư Việt văn của Quang là thầy Phạm Văn Viết, người mà Quang mượn bóng dáng để thay thế người cha. Có lần thầy Viết giảng đến câu :

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” 
(Người ta sinh ra, ai mà không chết.
Cần phải lưu chút lòng son vào thanh sử). 

Quang thích hai câu này lắm, luôn miệng ngâm nga, rồi lại viết vào cuốn sổ tay. 
Trong giờ học sử, cũng như giờ huấn luyện tinh thần, Quang được giảng chi tiết về các anh hùng : Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản, thánh tổ của Thiếu Sinh Quân, giết tươi Toa Đô trong trận Hàm Tử. Quang cực kỳ sùng kính Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, từ chối công danh, chịu chết cho toàn chính khí. Quang cũng khâm phục Nguyễn Biểu, khi đối diện với quân thù, không sợ hãi, lại còn tỏ ra khinh thường chúng. Ba nhân vật này ảnh hưởng vào Quang rất sâu, rất đậm. 


Suốt các niên học từ 1969-1974, mỗi kỳ hè, được phép 2 tháng rưỡi về thăm nhà, cậu bé Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang tìm đến các đàn anh trấn đóng tại Chương Thiện để trình diện. Quang được các cựu Thiếu Sinh Quân dẫn đi chơi, cho ăn quà, kể truyện chiến trường cho nghe. Một số ông uống thuốc liều, cho Quang theo ra trận. Quang chiến đấu như một con sư tử. Không ngờ mấy ông anh cưng cậu em út quá, mà gây ra một truyện động trời, đến nỗi bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam, bộ Tư-lệnh MACV cũng phải rởn da gà! Sau trở thành huyền thoại. Câu chuyện như thế này: 

Hè 1972, mà quân sử Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, giữa lúc chiến trường toàn quốc sôi động. Bấy giờ Quang đã đỗ chứng chỉ 1 Bộ Binh. Được phép về thăm nhà, được các đàn anh cho ăn, và giảng những kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm đời. Quang xin các anh cho theo ra trận. Mấy ông cựu Thiếu Sinh Quân, trăm ông như một, ông nào gan cũng to, mật cũng lớn, lại coi trời bằng vung. Yêu cậu em ngoan ngoãn, các ông chiều…cho Quang ra trận. Cuộc hành quân nào mấy ông cũng dẫn Quang theo.

Trong môt cuộc hành quân cấp sư đoàn, đánh vào vùng Hộ Phòng, thuộc Cà Mau. Đơn vị mà Quang theo là trung đội trinh sát của trung đoàn 31. Trung đội trưởng là một thiếu úy cựu Thiếu Sinh Quân. Hôm ấy, thông dịch viên cho cố vấn bị bệnh, Quang lại giỏi tiếng Anh, nên thiếu úy trung đội trưởng biệt phái Quang làm thông dịch viên cho cố vấn là thiếu úy Hummer. Trực thăng vừa đổ quân xuống thì hiệu thính viên của Hummer trúng đạn chết ngay. Lập tức Quang thay thế anh ta. Nghĩa là mọi liên lạc vô tuyến, Hummer ra lệnh cho Quang, rồi Quang nói lại trong máy. 

Trung đội tiến vào trong làng thì lọt trận điạ phục kích của trung đoàn chủ lực miền, tên trung đoàn U Minh. Trung đội bị một tiểu đoàn địch bao vây. Vừa giao tranh được mười phút thì Hummer bị thương. Là người can đảm, Hummer bảo Quang đừng báo cáo về Trung-tâm hành quân. Trận chiến kéo dài sang giờ thứ hai thì Hummer lại bị trúng đạn nữa, anh tử trận, thành ra không có ai liên lạc chỉ huy trực thăng võ trang yểm trợ. Kệ, Quang thay Hummer chỉ huy trực thăng võ trang. Vì được học địa hình, đọc bản đồ rất giỏi, Quang cứ tiếp tục ra lệnh cho trực thăng võ trang nã vào phòng tuyến địch, coi như Hummer còn sống. Bấy giờ quân hai bên gần như lẫn vào nhau, chỉ còn khoảng cách 20-30 thước. 

Thông thường, tại các quân trường Hoa-kỳ cũng như Việt Nam, dạy rằng khi gọi pháo binh, không quân yểm trợ, thì chỉ xin bắn vào trận địa địch với khoảng cách quân mình 70 đến 100 thước. Nhưng thời điểm 1965-1975, các cựu Thiếu Sinh Quân trong khu 42 chiến thuật khi họp nhau để ăn uống, siết chặt tình thân hữu, đã đưa ra phương pháp táo bạo là xin bắn vào phòng tuyến địch, dù cách mình 20 thước. Quang đã được học phương pháp đó. Quang chỉ huy trực thăng võ trang nã vào trận địch, nhiều rocket (hoả tiễn nhỏ), đạn 155 ly nổ sát quân mình, làm những binh sĩ non gan kinh hoảng. Nhờ vậy, mà trận địch bị tê liệt. 

Sau khi được giải vây, mọi người khám phá ra Quang lĩnh tới bẩy viên đạn mà không chết: trên mũ sắt có bốn vết đạn bắn hõm vào; hai viên khác trúng ngực, may nhờ có áo giáp, bằng không thì Quang đã ô-hô ai-tai rồi. Viên thứ bẩy trúng…chim. Viên đạn chỉ xớt qua, bằng không thì Quang thành thái giám.


Trung-tá J.F. Corter, cố vấn trưởng trung đoàn được trung đội trưởng trinh sát báo cáo Hummer tử trận lúc 11 giờ 15. Ông ngạc nhiên hỏi

- Hummer chết lúc 11.15 giờ, mà tại sao tôi vẫn thấy y chỉ huy trực thăng, báo cáo cho đến lúc 17 giờ?

Vì được học kỹ về tinh thần trách nhiệm, Quang nói rằng mình là người lạm quyền, giả lệnh Hummer, thay Hummer chỉ huy. Quang xin lỗi Corter. Trung-tá J.F. Corter tưởng Quang là lính người lớn, đề nghị gắn huy chương Hoa Kỳ cho Quang. Bấy giờ mới lòi đuôi chuột ra rằng các ông cựu Thiếu Sinh Quân đã uống thuốc liều, cho thằng em sữa ra trận.

Đúng ra theo quân luật, mấy ông anh bị phạt nặng, Quang bị đưa ra tòa vì “Không có tư cách mà lại chỉ huy”. Nhưng các vị sĩ quan trong sư đoàn 21, trung đoàn 31 cũng như cố vấn đều là những người của chiến trường, tính tình phóng khoáng, nên câu truyện bỏ qua. Quang không được gắn huy chương, mà mấy ông anh cũng không bị phạt. Hết hè, Quang trở về trường mang theo kỷ niệm chiến đấu cực đẹp trong đời cậu bé, mà cũng là kỷ niệm đẹp vô cùng của Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Câu truyện này trở thành huyền thoại. Huyền thoại này lan truyền mau lẹ khắp năm tỉnh của khu 42 chiến thuật : Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Chương Thiện. Quang trở thành người hùng lý tưởng của những thiếu nữ tuổi 15-17 ! 

Năm 1974, sau khi đỗ chứng chỉ 2 Bộ Binh, Quang ra trường, mang cấp bậc trung sĩ. Quang nộp đơn xin về sư đoàn 21 Bộ Binh. Quang được toại nguyện. Sư đoàn phân phối Quang về tiểu đoàn Ngạc Thần tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, tiểu đoàn của Trần Minh sáu năm trước. Thế là giấc mơ 6 năm trước của Quang đã thành sự thực.

Trung đoàn 31 Bộ Binh đóng tại Chương Thiện. Bấy giờ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tham mưu trưởng tiểu khu là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời. Cả hai đều là cựu Thiếu Sinh Quân. Đại-tá Cẩn là cựu Thiếu Sinh Quân cao niên nhất vùng Chương Thiện bấy giờ (36 tuổi). Các cựu Thiếu Sinh Quân trong tiểu đoàn 2-31 dẫn Quang đến trình diện anh hai Cẩn. Sau khi anh em gặp nhau, Cẩn đuổi tất các tùy tùng ra ngoài, để anh em tự do xả xú báp. 
Cẩn bẹo tai Quang một cái, Quang đau quá nhăn mặt. Cẩn hỏi: 

- Ê ! Quang, nghe nói mày lĩnh bẩy viên đạn mà không chết, thì mày thuộc loại mình đồng da sắt. Thế sao tao bẹo tai mày, mà mày cũng đau à?

- Dạ, đạn Việt-cộng thì không đau. Nhưng vuốt anh cấu thì đau.

- Móng tay tao, đâu phải vuốt?

- Dạ, người ta nói anh là cọp U Minh Thượng…Thì vuốt của anh phải sắc lắm

- Hồi đó suýt chết, thế bây giờ ra trận mày có sợ không?

- Nếu khi ra trận anh sợ thì em mới sợ. Cái lò Thiếu Sinh Quân có bao giờ nặn ra một thằng nhát gan đâu ?

- Thằng này được. Thế mày đã trình diện anh Thời chưa?

- Dạ anh Thời-thẹo không có nhà. 

Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời, tham mưu trưởng Tiểu-khu, uy quyền biết mấy, thế mà một trung sĩ 18 tuổi dám gọi cái tên húy thời thơ ấu ra, thì quả là một sự phạm thượng ghê gớm. Nhưng cả Thời lẫn Quang cùng là cựu Thiếu Sinh Quân thì lại là một sự thân mật. Sau đó anh em kéo nhau đi ăn trưa. Lớn, bé cười nói ồn ào, như không biết tới những người xung quanh.

Bấy giờ tin Trần Minh đã đền nợ nước tại giới tuyến miền Trung. Sự ra đi của người đàn anh, của người hùng lý tưởng làm Quang buồn không ít. Nhưng huyền thoại về Trần Minh lưu truyền, càng làm chính khí trong người Quang bừng bừng bốc lên.

Tại sư đoàn 21 Bộ Binh, tất cả các hạ sĩ quan cũng như các Thiếu Sinh Quân mới ra trường, thường chỉ được theo hành quân như một khinh binh. Đợi một vài tháng đã quen với chiến trường, rồi mới được chỉ định làm tiểu đội trưởng. Nhưng vừa trình diện, Quang được cử làm trung đội phó ngay, dù hầu hết các tiểu đội trưởng đều ở cấp trung sĩ, trung sĩ nhất, mà những người này đều vui lòng. Họ tuân lệnh Quang răm rắp!


Sáu tháng sau, đầu năm 1975 nhờ chiến công, Quang được thăng trung sĩ nhất, nhưng chưa đủ một năm thâm niên, nên chưa được gửi đi học sĩ quan. Quang trở thành nổi tiếng trong trận đánh ngày 1-2-1975, tại Thới Lai, Cờ Đỏ. Trong ngày hôm ấy, đơn vị của Quang chạm phải tiểu đoàn Tây Đô. Đây là một tiểu đoàn được thành lập từ năm 1945, do các sĩ quan Nhật Bản không muốn về nước, trốn lại Việt Nam…huấn luyện. Quang đã được Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn giảng về kinh nghiệm chiến trường: 
“Tây Đô là tiểu đoàn cơ động của tỉnh Cần Thơ. Tiểu đoàn có truyền thống lâu đời, rất thiện chiến. Khi tác chiến cấp đại đội, tiểu đoàn chúng không hơn các đơn vị khác làm bao. Nhưng tác chiến cấp trung đội, chúng rất giỏi. Chiến thuật thông thường, chúng dàn ba tiểu đội ra, chỉ tiểu đội ở giữa là nổ súng. Nếu thắng thế, thì chúng bắn xối xả để uy hiếp tinh thần ta, rồi hai tiểu đội hai bên xung phong. Nếu yếu thế, thì chúng lui. Ta không biết, đuổi theo, thì sẽ dẫm phải mìn, rồi bị hai tiểu đội hai bên đánh ép. Vì vậy khi đối trận với chúng, phải im lặng không bắn trả, để chúng tưởng ta tê liệt. Khi chúng bắt đầu xung phong, thì dùng vũ khí cộng đồng nã vào giữa, cũng như hai bên. Thấy chúng chạy, thì tấn công hai bên, chứ đừng đuổi theo. Còn như chúng tiếp tục xung phong ta phải đợi chúng tới gần rồi mớí phản công”

Bây giờ Quang có dịp áp dụng. Sau khi trực thăng vận đổ quân xuống. Cả đại đội của Quang bị địch pháo chụp lên đầu, đại liên bắn xối xả. Không một ai ngóc đầu dậy được. Nhờ pháo binh, trực thăng can thiệp, sau 15 phút đại đội đã tấn công vào trong làng. Vừa tới bìa làng, thiếu úy trung đội trưởng của Quang bị trúng đạn lật ngược. Quang thay thế chỉ huy trung đội. Trung đội dàn ra thành một tuyến dài đến gần trăm mét. Đến đây, thì phi pháo không can thiệp được nữa, vì quân hai bên chỉ cách nhau có 100 mét, gần như lẫn vào nhau. Nhớ lại lời giảng của Cẩn, Quang ra lệnh im lặng, chỉ nổ súng khi thấy địch. Ngược lại ngay trước mặt Quang, khoảng 200 thước là một cái hầm lớn, ngay trước hầm hai khẩu đại liên không ngừng nhả đạn. Quang ghi nhận vị trí hai khẩu đại liên với hai khẩu B40 ra lệnh: 
” Lát nữa khi chúng xung phong thì dùng M79 diệt hai khẩu đại liên, B40, rồi hãy bắn trả “.

Sau gần 20 phút, thình lình địch xả súng bắn xối xả như mưa, như gió, rồi tiếng hô xung phong phát ra. Chỉ chờ có thế, M79 của Quang khai pháo. Đại liên, B40 bị bắn tung lên, trong khi địch đang xung phong. Bấy giờ trung đội của Quang mới bắn trả. Chỉ một loạt đạn, toàn bộ phòng tuyến địch bị cắt. Quang ra lệnh xung phong. Tới căn hầm, binh sĩ không dám lại gần, vì bị lựu đạn từ trong ném ra. Quang ra lệnh cho hai khẩu đại liên bắn yểm trợ, rồi cho một khinh binh bò lại gần, tung vào trong một quả lựu đạn cay. Trong khi Quang hô :

- Ra khỏi hầm, dơ tay lên đầu ! Bằng không lựu đạn sẽ ném vào trong.

Cánh cửa hầm mở ra, mười tám người, nam có, nữ có, tay dơ lên đầu, ra khỏi hầm, lựu đạn cay làm nước mắt dàn dụa. 
Đến đây trận chiến chấm dứt. 
Thì ra 18 người đó là đảng bộ và ủy ban nhân dân của huyện châu thành Cần Thơ. Trong đó có viên huyện ủy và viên chủ tịch ủy ban nhân dân huyện.

Sau trận này Quang được tuyên dương công trạng trước quân đội, được gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu. Trong lễ chiến thắng giản dị, Quang được một nữ sinh trường Đoàn Thị Điểm quàng vòng hoa. Nữ sinh đó tên Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi, học lớp đệ ngũ. Cho hay, anh hùng với giai nhân xưa nay thường dễ cảm nhau. Quang, Châu yêu nhau từ đấy. Họ viết thư cho nhau hàng ngày. Khi có dịp theo quân qua Cần Thơ, thế nào Quang cũng gặp Châu. Đôi khi Châu táo bạo, xuống Chương Thiện thăm Quang. Mẹ Quang biết truyện, bà lên Cần Thơ gặp cha mẹ Châu. Hai gia đình đính ước với nhau. Họ cùng đồng ý : Đợi năm tới, Quang xin học khóa sĩ quan đặc biệt, Châu 17 tuổi, thì cho cưới nhau. 
Nhưng mối tình đó đã đi vào lịch sử…


Tình hình toàn quốc trong tháng 3, tháng 4 năm 1975 biến chuyển mau lẹ. Ban Mê Thuột bị mất, Quân Đoàn 2 rút lui khỏi Cao Nguyên, rồi Quân Đoàn 1 bỏ mất lãnh thổ. Rồi các sĩ quan bộ Tổng Tham Mưu được Hoa Kỳ bốc đi. Ngày 29-4, trung đội của Quang chỉ còn mười người. Tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng bỏ ngũ về lo di tản gia đình. Quang vào bộ chỉ huy tiểu khu Chương Thiện trình diện Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Cẩn an ủi :  - Em đem mấy người thuộc quyền vào đây ở với anh.


Ngày 30 tháng 4 năm 1975, viên tướng mặt bánh đúc, đần độn, giết chu ̉ ,  tướng  Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng-hòa buông súng đầu hàng. Tất cả các đơn vị quân đội miền Nam tuân lệnh, cởi bỏ chiến bào, về sống với gia đình. Một vài đơn vị lẻ lẻ còn cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn vị Dù tại Sài-gòn ngừng lúc 9 giờ 7 phút.

Đúng lúc đó tại Chương Thiện, tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu trưởng là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc quyền chống lại cuộc tấn công của Cộng quân. Phần thắng đã nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các quận trưởng chán nản ra lệnh buông súng. Chỉ còn tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh: 
“Dương Văn Minh lên làm Tổng-thống trái với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng Tư Lệnh. Hãy tiếp tục chiến đấu”.

Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần dần bị tràn ngập, vì quân ít, vì hết đạn vì mất tinh thần. Chỉ còn lại bộ chỉ huy tiểu khu. Trong bộ chỉ huy tiểu khu, có một đại đội địa phương quân cùng nhân viên bộ ham mưu. Đến 13 giờ, lựu đạn, đạn M79 hết. Tới 14 giờ 45, thì đạn hết, làn sóng Cộng quân tràn vào trong bộ chỉ huy. Cuối cùng chỉ còn một ổ kháng cự từ trong một hầm chiến đấu, nơi đó có khẩu đại liên. Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng im bặt. Quân Cộng Sản vào hầm lôi ra hai người. Một là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng và một trung sĩ mớí 19 tuổi. Trung sĩ đó tên là Vũ Tiến Quang. 
Bấy giờ đúng 15 giờ. 
Kẻ chiến thắng trói người chiến bại lại. Viên đại tá chính ủy của đơn vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương Thiện hỏi:

- Đ.M. Tại sao có lệnh đầu hàng, mà chúng mày không chịu tuân lệnh?

Đại Tá Cẩn trả lời bằng nụ cười nhạt. 
Trung sĩ Quang chỉ Đại Tá Cẩn:

- Thưa đại tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng. Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến đấu. Vì anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Anh ra lệnh chiến đấu, thì tôi không thể cãi lệnh. 

Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài bộ chỉ huy tiểu khu. Viên chính ủy chỉ những xác chết nói với Đại Tá Cẩn: 

- Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Đ.M. Chúng mày sẽ phải đền tội.

Đại Tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười nhạt. Trung sĩ Quang ngang tàng:

- Đại tá có lý tưởng của đại tá, tôi có lý tưởng của tôi. Đại tá theo Karl Marx, theo Lénine; còn tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi vẫn giữ lý tưởng của tôi. Tôi không gọi đại tá là tên Việt Cộng. Tại sao đại tá lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn ăn cắp gà, phường trộm trâu vậy? Phải chăng đó ngôn ngữ của đảng Cộng-sản ? 

Viên đại tá rút súng kề vào đầu Quang: 

- Đ.M. Tao hỏi mày, bây giờ thì mày có chính nghĩa hay tao có chính nghĩa?

- Xưa nay súng đạn trong tay ai thì người đó có lý. Nhưng đối với tôi, tôi học trường Thiếu Sinh Quân, súng đạn là đồ chơi của tôi từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Đại tá đừng dọa tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, còn đại tá không có chính nghĩa. Tôi là con cháu Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản mà.

- Đ.M. Mày có chịu nhận mày là tên ngụy không?

- Tôi có chính nghĩa thì tôi không thể là ngụy. Còn Cộng quân dùng súng giết dân mới là ngụy, là giặc cướp. Tôi nhất quyết giữ chính khí của tôi như Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, như Nguyễn Biểu. 

Quang cười ngạo nghễ:

- Nếu đại tá có chính nghĩa tại sao đại tá lại dùng lời nói thô tục vớí tôi? Ừ! Muốn mày tao thì mày tao. Đ.M. tên Cộng Sản ác ôn! Nếu tao thắng, tao dí súng vào thái dương mày rồi hỏi: Đ.M.Mày có nhận mày là tên Việt Cộng không? Thì mày trả lời sao?

Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngã bật ngửa, óc phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu niên còn nở nụ cười. Tôi không có mặt tại chỗ, thành ra không mường tượng ý nghĩa nụ cười đó là nụ cười gì? Độc giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ cưòi đó mang ý nghĩa nào? Nụ cười hối hận ? Nụ cười ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ cười thỏa mãn? 

Ghi chú :
Nhân chứng quan trọng nhất, chứng kiến tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật cho tác giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Hiện (1999) cô là phu nhân của bác sĩ Jean Marc Bodoret, học trò của tôi, cư trú tại Marseille.

Cái lúc mà Quang ngã xuống, thì trong đám đông dân chúng tò mò đứng xem có tiếng một thiếu nữ thét lên như xé không gian, rồi cô rẽ những người xung quanh tiến ra ôm lấy xác Quang. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hoàng Châu. Em gái Quang là Vũ thị Quỳnh Chi đã thuê được chiếc xe ba bánh. Cô cùng Nguyễn Hoàng Châu ôm xác Quang bỏ lên xe, rồi bọc xác Quang bằng cái Poncho, đem chôn.

Chôn Quang xong, Châu từ biệt Quỳnh Chi, trở về Cần Thơ. Nhưng ba ngày sau, vào một buổi sáng sớm Quỳnh-Chi đem vàng hương, thực phẩm ra cúng mộ anh, thì thấy Châu trong bộ y phục trắng của nữ sinh, chết gục bên cạnh. Mặt Châu vẫn tươi, vẫn đẹp như lúc sống. Đích thân Quỳnh Chi dùng mai, đào hố chôn Châu cạnh mộ Quang.


Năm 1998, tôi có dịp công tác y khoa trong đoàn Liên Hiệp các viện bào chế Châu Âu (CEP= Coopérative Européenne Pharmaceutique) , tôi đem J.M Bodoret cùng đi, Quỳnh Chi xin được tháp tùng chồng. Lợi dụng thời gian nghỉ công tác 4 ngày, từ Sài-gòn, chúng tôi thuê xe đi Chương Thiện, tìm lại ngôi mộ Quang-Châu. Ngôi mộ thuộc loại vùi nông một nấm dãi dầu nắng mưa, cỏ hoa trải 22 năm, rất khó mà biết đó là ngôi mộ. Nhưng Quỳnh-Chi có trí nhớ tốt. Cô đã tìm ra. Cô khóc như mưa, như gió, khóc đến sưng mắt. Quỳnh-Chi xin phép cải táng, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên, cuối cùng có tiền thì mua tiên cũng được. Giấy phép có. Quỳnh-Chi cải táng mộ Quang-Châu đem về Kiên Hưng, chôn cạnh mộ của ông Vũ Tiến Đức. Quỳnh-Chi muốn bỏ hài cốt Quang, Châu vào hai cái tiểu khác nhau. Tôi là người lãng mạn. Tôi đề nghị xếp hai bộ xương chung với nhau vào trong một cái hòm. Bodoret hoan hô ý kiến của sư phụ.

Ngôi mộ của ông Đức, của Quang-Châu xây xong. Tôi cho khắc trên miếng đồng hàng chữ:


“Nơi đây AET Vũ Tiến Quang, 19 tuổi,
An giấc ngàn thu cùng
Vợ là Nguyễn Hoàng Châu
Nở nụ cười thỏa mãn vì thực hiện được giấc mộng”

Giấc mộng của Quang mà tôi muốn nói, là: được nhập học trường Thiếu Sinh Quân, rồi trở thành anh hùng. Giấc mộng của Châu là được chết, được chôn chung với người yêu. Nhưng người ta có thể hiểu rằng: Quang thỏa mãn nở nụ cười vì mối tình trọn vẹn. 


Paris ngày 13 tháng 4 năm 1999.
Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.