
(Một góc khuất của kiếp làm dâu thời
phong kiến. Một góc sáng của người phụ nữ Việt Nam: đạo nghĩa, hy sinh, nhẫn nhục,
tha thứ)
Năm 1952, làng An Lạc nằm nép mình
bên con sông nhỏ. Đất nghèo, người nghèo, nhưng cái tình thì chưa bao giờ thiếu.
Con sông chảy qua làng, mùa nắng cạn
trơ đáy, trẻ con xắn quần lội bộ qua được nửa dòng. Mùa mưa thì nước lên láng
trắng đồng, cá linh theo nước trôi về đầy sông. Đất thì tốt, lúa chín hạt trĩu
xuống ruộng, cá tôm lấp xấp mé bờ. Chỉ có người là không yên. Giặc Tây đi càn
hoài, tiếng súng cứ rền rền ngoài đồng xa, như một điềm xui không dứt.
Năm đó, Lan mười chín tuổi, về làm
dâu.
Chồng cô là anh Tòng, con trai út nhà
ông hương lý. Nhà nền đất mà nề nếp nhà còn cao hơn mái ngói. Má chồng Lan, bà
Hai Hương nổi tiếng khắp tổng là người đàn bà khuôn phép, một tay giữ quy luật
của một dòng họ khá giả thời phong kiến.
Lan không đẹp. Nước da ngăm ngăm vì dầm
nắng, chỉ được cái hiền và khỏe, đôi mắt lúc nào cũng nhìn xuống, như sợ làm
phiền đến người khác. Ngày rước dâu, má cô dúi vào tay cô đôi bông tai vàng lá
nhỏ xíu và dặn: "Đây là của ngoại cho má lúc lấy chồng, nay má truyền cho
con. Ráng giữ đạo làm dâu nghe con."
Ngày cưới, anh Tòng nắm tay vợ, nói
nhỏ đủ hai người nghe: "Em ráng chịu với ba má một thời gian. Rồi anh học
xong lớp sư phạm, mình xin ra ở riêng. Anh cất cho em cái nhà lá ven sông, mình
trồng rau nuôi cá."
Lan gật đầu. Cái gật đầu của người
đàn bà quê miền Tây, đã trao thân là trao luôn một đời. Tin chồng là tin cả số
phận.
Người xưa nói, làm dâu là làm tôi tớ.
Ở cái thời ấy, nói vậy mà không sai.
Gà chưa kịp gáy sáng, cái bóng áo bà
ba mỏng của Lan đã lom khom ngoài sân. Trời còn tối mịt, sương còn ướt đẫm lá
cau, cô đã quét sân, nhóm bếp, nấu nồi cám heo sôi ùng ục, rồi mới lo nồi cơm
cho cả nhà.
Gạo mới trắng thơm, cô bới để phần
cho cha chồng và chồng một chén vun có ngọn. Phần của má chồng là lưng chén. Phần
của con dâu là những gì còn sót lại trong nồi, những hạt cơm dính đáy. Những
ngày gạo trong lu sắp cạn, má chồng đếm từng lon. Đôi khi Lan chỉ dám chan nước
cơm cho no bụng. Có lần cô lén bẻ miếng cơm cháy, bà Hai thấy được, bà không chửi
lớn tiếng, bà chỉ lườm rồi nói:
"Nhà này phước đức ba đời mới rước
được dâu thảo. Ăn cơm cháy mà không biết chừa lại cho chó, mai mốt nó không giữ
nhà cho mà coi."
Lan cúi đầu, miếng cơm cháy nghẹn
ngang cổ.
Áo quần của ba má chồng phải giặt
riêng một chậu, vò cho trắng ngần rồi phơi cho ngay nếp. Chén úp phải úp cùng một
chiều, đũa phải để cùng một phía. Nằm, ngồi, đi, đứng, ăn, nói, đều có phép tắc.
Bà Hai soi con dâu từng ly từng tí. Có bữa khách tới nhà, Lan bưng nước ra, vì
run quá cái tách chạm nhau kêu lạch cạch. Bà Hai cười với khách mà mắt thì liếc
Lan sắc như dao: "Con dâu út nhà tôi nó quê mùa, có học được chữ nào đâu
mà biết."
Đêm nào Lan cũng khóc thầm. Khóc
không dám thành tiếng.
Anh Tòng thương vợ, mà cái thương của
người chồng trẻ quê mình vẫn bị vai vế tôn ti trật tự điều khiển. Anh đứng giữa
hai bờ: một bên là mẹ, một bên là vợ, mà bờ nào cũng sâu, cũng khó qua. Đợi tối
anh lấy trong túi ra một sợi dây chuyền bạc nhỏ, mặt đá xanh đưa cho chị:
"Anh dạy thêm cho con ông bá hộ, người ta thưởng. Anh mua cho em. Em cất
đi, đừng cho má thấy."
Kiếp làm dâu thời phong kiến là vậy:
đau không phải vì roi, mà vì bị im lặng; không phải vì cực, mà vì không được là
mình; không phải vì nhà chồng khó hay dễ, mà vì cả xã hội đã quen coi đàn bà
như phần phụ của một mái nhà. Và trong cái góc khuất đó, Lan sống lặng như giọt
nước mắt rơi xuống đất, không ai nghe tiếng, nhưng vẫn rơi.
Rồi mùa lụt năm 1953 ập tới.
Trời làm lụt lớn, nước ngập quá nóc bếp.
Lúa mất trắng. Giặc Pháp lại càn, ruộng bị giày nát hết. Nhà chồng bắt anh Tòng
nghỉ học, ở nhà vác cày đi cày thuê và sau đó anh tham gia đội dân quân chống
Pháp. Giấc mơ ra ở riêng của hai vợ chồng trẻ đứt ngang, như sợi dây bị nước lũ
giật phăng.
Cái đói về làng. Nhà hương lý cũng phải
chạy ăn từng bữa. Bà Hai Hương ngày càng cau có. Bà đi coi bói, thầy bói phán
Lan nặng vía, tuổi sát phu, tuổi Dần về làm sa sút nhà chồng, làm tuyệt đường học
hành của con trai.
Từ đó, bà càng đay nghiến hơn.
Thân Lan gầy rộc như tàu lá chuối héo
sau bão. Ban ngày đi làm đồng cho bá hộ để lấy mấy lon gạo, tối về vẫn quét
sân, nấu cám, gánh nước, không dám sót một việc gì. Lưng áo bà ba của cô không
bao giờ khô.
Có bữa cô sốt rét, nằm mê man ngoài
chái bếp, bà Hai đi ngang, chỉ hất hàm: "Đau thì ráng mà dậy. Heo nó đói
kêu eng éc từ sáng giờ, bộ cô tính để cho nó chết đói rồi nhà này ăn cám thay
heo hay sao?" Lan phải lết dậy, vừa đi vừa vịn vách, nước mắt hòa với mồ
hôi.
Thương vợ đứt ruột, anh Tòng cãi má lần
đầu tiên trong đời. Bà Hai lăn ra giữa phản khóc, nói con vì vợ mà bất hiếu, bỏ
cả tông đường. Cả họ kéo qua khuyên giải. Cuối cùng, anh phải quỳ xuống, lạy
má, rồi lạy cả dòng họ để xin tha.
Đêm đó, Lan ngồi vá áo cho chồng dưới
ngọn đèn dầu leo lét. Cô nói nhỏ, giọng đứt quãng như sợi chỉ mục: "Má già
rồi, đừng cãi nữa anh. Em chịu được mà. Em chỉ sợ... mình bỏ em thôi."
Một tháng trước ngày Pháp thua trận,
giấy báo tử gửi về xã. Bom vùi xác anh Tòng ngoài dốc đồi miền trung.
Bữa đó Lan đang lội mương vớt bèo cho
heo. Bà Sáu chạy qua bờ, la thất thanh: "Lan ơi! thằng Tòng... thằng Tòng
nó chết rồi con ơi!"
Lan không khóc ré lên. Cô chỉ ngồi bệt
xuống bờ đất sình, tay còn ôm rổ bèo, nước từ rổ chảy ướt hết vạt áo bà ba. Cô
ngồi như người mất hồn, đau đến tận cùng không còn khóc thành tiếng được nữa.
Đám tang không có xác. Chỉ có cái bàn
thờ với tấm hình trắng đen anh mới chụp hồi đi học sư phạm. Trong hình, anh cười
hiền khô.
Tối đó, hai người đàn bà, một già một
trẻ, ngồi hai bên bàn thờ, không ai nói một lời. Ngọn đèn dầu hắt lên thấy áo
bà ba của Lan ướt đẫm. Không biết là mồ hôi của trời oi bức, hay là nước mắt đã
thấm ngược vào.
Lan tưởng nghĩa vợ chồng hết thì còn
nghĩa mẹ con, mình cứ ở vậy thờ chồng, hầu má chồng cho trọn chữ đạo, chữ hiếu.
Ai dè, chưa đầy một tháng sau, tình người đã cạn.
Chị dâu hai, chị dâu ba trên thành phố
về nói bóng gió gần xa: "Thím út còn trẻ quá, ở đây hoài người ta dị nghị.
Thôi về bển mà làm lại cuộc đời cho khỏe tấm thân." Rồi thì nồi cơm tự
nhiên nấu ít lại, chén đũa của Lan bị dẹp ra xó bếp.
Ai cũng khuyên cô về lại nhà ba má đẻ
mà sống cho khỏe cái thân, nhưng cô nhất quyết không đi. Chạy về nhà mình chỉ
làm ba má mang tiếng với xóm giềng.
Một buổi sớm, má chồng gọi Lan lại.
Bà ngồi trên phản, mặt lạnh như tiền, không một chút hơi ấm, nói một câu ráo hoảnh,
như nhát dao cuối cùng:
"Thằng Tòng mất rồi, cô không
còn là dâu nhà này nữa. Cô ở đây thiên hạ cười chê, nói cô ăn bám. Thôi cô về
bên tía má cô đi."
Một chữ "ăn bám". Mấy năm
làm dâu, lưng áo nào của Lan mà chẳng ướt đẫm mồ hôi vì nhà chồng? Vậy mà giờ
thành kẻ ăn bám.
Lan quỳ xuống, líu ríu: "Má...
má cho con ở lại tang chồng con, mãn tang rồi con đi..."
Bà Hai quay mặt vô vách, giọng chanh
chua, đanh lại: "Ở cái gì mà ở! Cô còn trẻ, ở đây trai làng dòm ngó, xui xẻo
cho nhà này lắm! Đi đi cho nhà này nó nhẹ đất!"
Rồi bà chìa tay ra, mắt nhìn trừng trừng
vào tai Lan và cổ Lan: "Trả lại đôi bông tai với sợi dây chuyền bữa thằng
Tòng nó mua cho cô đó. Đó là của nhà này. Cô đi rồi thì trả lại, cô không có
quyền mang theo."
Trời đất như sụp dưới chân Lan. Đôi
bông tai vàng lá là của má ruột cô cho. Sợi dây chuyền bạc mặt đá xanh là kỷ vật
duy nhất chồng cô để lại, là tình thương câm lặng của anh. Vậy mà bà cũng cố vơ
vét.
Lan run run tháo đôi bông tai, máu rỉ
ra ở lỗ tai vì tay run quá. "Con... con gửi lại má."
Sáng hôm sau, khi gà chưa gáy sáng,
cô dậy sớm hơn mọi bữa ra quét cái sân, nấu nồi cơm để sẵn, rửa hết chén bát,
cho heo ăn bữa cuối cùng. Rồi cô gói vài bộ bà ba cũ sờn vai và cái khăn tay
thêu dở dang bữa tiễn chồng.
Cô quỳ lạy bàn thờ chồng, rồi lạy ba
má chồng ba lạy thật sâu, đầu chạm đất: "Ba má ở lại mạnh giỏi. Con
đi."
Má chồng lặng lẽ quay mặt vào vách,
thờ ơ không thốt một lời. Ba chồng ngồi bất động ngoài hiên, mắt nhìn theo con
sông trước nhà, đỏ hoe và ngấn nước. Căn nhà im phăng phắc, nặng trĩu một nỗi
đau không ai đủ sức gọi thành lời.
Lan vừa quay lưng định bước ra khỏi cửa
thì bà gọi giật lại: “Khoan đã.”
Giọng bà không còn cứng như lúc nãy.
Nó chùng xuống một chút, như sợi dây bị kéo căng quá lâu giờ buông nhẹ. Lan đứng
im, hai tay nắm chặt túi vải.
“Cô có tháng chưa? Lần cuối là khi
nào? Để coi…thằng Tòng nó đi chuyến cuối là mùng mười tháng năm. Nay là ba mươi
tháng bảy…"
Lan sững người. Cô hiểu. Câu hỏi ấy,
bình thường là chuyện đàn bà với nhau, nhưng trong hoàn cảnh này, nó như một
nhát dao lật ngược, phơi ra nỗi lo sâu kín của bà.
Lan cúi đầu. Một giọt nước mắt rơi xuống
đôi dép rách. “Dạ… con có tuần rồi má.”
Bà quay mặt đi, thở ra một cách nhẹ
nhõm: “Vậy thì tốt... Thôi, đi đi ”
Lan bước ra khỏi cổng. Con chó mực chạy
theo tới bờ tre rồi đứng lại tru lên từng hồi. Ngoài sông, nước lớn đang ròng
ròng chảy, như khóc.
Lan không về ngoại cách đó một ngày
đường vì sợ tía má buồn. Cô xin ở đậu chái bếp nhà bà Sáu cuối xóm, ai mướn gì
làm nấy. Cắt cỏ, cấy mướn, gánh nước, mót lúa. Có bữa đi mót lúa dưới nắng
chang chang, cô xỉu ngoài đồng, người ta khiêng vô, chỉ thấy trong túi áo bà ba
rách có gói muối hột.
Có người hỏi: "Con có giận nhà
chồng không Lan?" Cô nhìn dòng sông, cười héo hắt, cái cười hiền đến tội:
"Dạ đâu có. Hồi ảnh còn sống, con được thương. Được làm dâu của má, làm vợ
của ảnh mấy năm, vậy là đủ phước cho con rồi. Con đâu dám giận. Con chỉ buồn là
mình chưa trọn hiếu với má thôi."
***
Hai mươi năm sau.
Má chồng Lan đã ngoài tám mươi. Nhà
sa sút. Hai người con trai lên thành phố làm ăn rồi ở trển luôn. Chồng mất đã
mười năm. Nhà cũ chỉ còn bà với mấy gốc cau già xơ xác, mái ngói dột nát.
Một buổi chiều trở gió chướng, bà ra
lu nước sau hè múc nước rửa mặt, trượt chân ngã quỵ. Hàng xóm chạy qua đỡ, bà
mê man. Khi tỉnh lại miệng cứ gọi hoài một cái tên mà bà đã cố chôn vùi suốt
hai mươi năm: "Lan... Lan ơi." vì bà biết lúc này Lan là người gần bà
nhất.
Người ta chèo xuồng xuống cuối xóm
tìm Lan. Lúc đó Lan đã ngoài bốn mươi, tóc đã lốm đốm bạc, vẫn ở một mình trong
chái bếp, vá áo cho trẻ con trong xóm. Nghe nói má chồng bệnh, cô đứng lặng một
hồi lâu, rồi vội phủi bùn dưới chân: "Dạ... để con qua với má liền."
Có những tình nghĩa tưởng đã cạn khô
như sông mùa hạn tháng tư, nhưng chỉ cần một tiếng gọi là lại đầy ắp như nước
sông tháng mười.
Cô bước vào lại căn nhà cũ. Mọi thứ vẫn
như ngày cô rời đi nhưng đìu hiu, tan tác hơn. Người đàn bà trên giường tóc bạc
trắng hết, da bọc xương, đôi mắt đã mờ đục. Thấy Lan, bà run run đưa tay ra.
Hai người đàn bà, một già một trẻ, ôm nhau khóc. Một người khóc vì ân hận muộn
màng của cả một đời làm mẹ chồng cay nghiệt. Một người khóc vì cuối cùng, sau
hơn hai mươi năm, cũng được gọi lại hai tiếng "Má ơi".
Rồi một đêm cuối mùa gió chướng, gió
thổi rít qua vách lá, má chồng trở bệnh nặng. Bà nằm trong vòng tay của cô con
dâu út, bàn tay gầy guộc nắm chặt lấy tay Lan không rời.
Bà lần mò dưới gối, lôi ra một cái
khăn tay đã ố vàng, run run mở ra. Bên trong có vài món nữ trang, trong đó có
đôi bông tai vàng lá và sợi dây chuyền bạc mặt đá xanh năm xưa. Bà đã gói kỹ,
giữ kỹ suốt hai mươi năm, vàng đã đổi màu nhưng vẫn còn đó.
Bà dúi vào tay Lan, giọng thều thào,
đứt quãng, nước mắt chảy dài trên gò má nhăn nheo:
"Lan… má trả lại cho con. Má
ác... má giữ của con bao nhiêu năm nay. Nhiều đêm má thấy thằng Tòng nó về nó
đòi...Con ơi xin tha thứ cho má.”
Bà cố gượng dậy. Lan ôm chầm lấy bà,
nước mắt cô lúc này mới tuôn nhỏ xuống bàn tay của bà. Cô đẩy món đồ lại, nhét
vào tay bà: "Má ơi, con không nhận đâu má. Của má... má cứ giữ."
Bà nói cô không nhận là còn oán hận
bà, chết không nhắm mắt được. Cô nhận. Tuy không quan tâm để nhận lại, nhưng
không muốn để bà ra đi trong ân hận. Cô muốn bà đi nhẹ nhàng.
Bà Hai nhìn cô hồi lâu, mấp máy môi
như muốn nói lời cảm ơn, lời xin lỗi, rồi nhẹ nhàng ra đi trong vòng tay con
dâu. Trên khuôn mặt già nua ấy cuối cùng cũng có được sự thanh thản, trút bỏ nợ
đời với nước mắt còn đọng ở khóe mi.
Lo tang cho má chồng xong, Lan cắm
nén nhang cuối cùng lên bàn thờ còn ấm hơi khói. Cô lẳng lặng quỳ xuống, lạy đủ
bốn lạy, không chỉ để tiễn biệt người đã khuất, mà là tháo gỡ cái vòng ân nghĩa
gieo neo của một kiếp làm dâu.
Cô gói vài món tư trang ít ỏi vào chiếc
túi vải ngả màu thời gian, trong đó có đôi bông tai và sợi dây chuyền. Lan bước
ra khỏi khoảng sân ấy lần nữa. Bước chân cô nhẹ tênh, thanh thản.
Cô đi, không mang theo bất cứ thứ gì
khác cho riêng mình, bởi bao nhiêu nước mắt, nụ cười và cả tuổi xuân, cô đều đã
vắt cạn để trả xong chữ hiếu, vẹn xong chữ tình. Đạo làm người cô giữ trọn, chỉ
có bản thân cô là trắng tay, lặng lẽ bước về phía trước trong cô độc, hun hút của
một kiếp người.
Sương sớm lạnh phủ mờ con đường làng.
Dáng người đàn bà gầy guộc dưới chiếc nón lá bạc màu chìm dần vào những hàng
cau lặng gió.
Tim Nguyễn
London 01/08/2026