Wednesday, May 13, 2026

Tuyệt Vời Hoa Nở Theo Điệu Nhạc

Cuộc Ra Đi Lầm Lũi Của Một Vị Tổng Thống - Quốc Việt


50 năm trước, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã có ngày lưu vong cô đơn đầu tiên trên đất khách quê người ở Taipei, Taiwan. Để rồi, ba ngày sau, 29/4/1975, vị tổng thống lưu vong đã cay đắng trả lời một đại diện không chính thức của chính phủ Mỹ: “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó”. 10 năm lính Mỹ cùng chiến hào binh sĩ Nam Việt có phải vì Mỹ muốn giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa hay đã dùng chính những người lính Việt này để thực hiện thế trận ngăn chặn “làn sóng đỏ” ở Châu Á thì lịch sử đã đủ tường minh rồi!


Từ nhiều tháng trước khi ông Thiệu phải lầm lũi ra đi trong đêm, chính quyền miền Nam Việt Nam đã đến thế cờ tàn thật sự sau khởi đầu của chuỗi domino sụp đổ từ Hiệp định Paris 1973. Người bạn Mỹ, đồng minh chí cốt từng một thời làm quá tải phi trường Tân Sơn Nhất bởi dày đặc những chuyến không vận tiếp tế cho Sài Gòn, đã quay lưng thật sự. 

Bản tin đài VOA tường thuật cuộc bỏ phiếu kín của Hạ Nghị viện Mỹ ngày 12/3/1975 về việc tiếp tục viện trợ quân sự cho Sài Gòn đã nhận kết quả cay đắng: chỉ có 49 phiếu thuận trong khi đến 189 phiếu chống. Một ngày sau, Sài Gòn lại tiếp tục nhận tin sét đánh từ Thượng viện Mỹ: chỉ có 6 phiếu thuận trên 36 phiếu chống việc viện trợ thêm vũ khí cho Sài Gòn trong năm 1975.


Trong cuốn sách Từ tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của ông Thiệu đã nhắc lại một đoạn u tối: “Tại nhà thờ Lutheran ở Arlington, bang Virginia, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng James Schesinger đã khóc cho miền Nam Việt Nam. Ông được ngài phó giám đốc Cục tình báo Trung ương Vernon Walters kể rằng viên đại sứ Nam Việt Nam ở Washington nói: “Phía bên kia vùng không có bình minh là hoàng hôn đang phủ xuống”. Rồi Schlesinger nhớ lại: “Tôi vẫn nhớ lời miêu tả của Churchill về sự sụp đổ của nước Pháp trong Thế chiến thứ II. Đây là thảm họa tương tự, dù khác nhau về tầm cỡ. Tôi không trách người Việt Nam đã cố theo đuổi chút hy vọng mong manh. Tôi cảm thương họ. Tôi buồn cho họ!” …

Tổng thống Ford tháng 4 năm 1975 quyết định rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp về mặt quân sự nữa. Sẽ không có những hạm đội đổ bộ đến cứu nguy, cũng không có những chuyến tàu tiếp tế từ phía chân trời như đã từng có từ 10 năm trước đây …”.


Gặp ông Thiệu ở Dinh Độc Lập, Tổng trưởng Nguyễn Tiến Hưng đã chứng kiến sự tức giận cùng cực của vị tổng thống suốt 10 năm của nền Đệ nhị Cộng hòa Nam Việt với đồng minh Mỹ: “Điều này không thể tin được. Trước hết ở Midway, người Mỹ bảo tôi chấp thuận vài ngàn lính Mỹ rút quân và tôi vẫn còn nửa triệu lính Mỹ ở lại chiến đấu với tôi. Rồi sau đó, khi họ rút thêm quân, họ đã nói: “Đừng lo, chúng tôi sẽ tăng cường cho ông để bù cho những sư đoàn đã rút lui”. Khi nhịp độ rút quân gia tăng, và năm 1972 họ lại nói với tôi: “Đừng lo, ông còn có những lực lượng dự bị và chúng tôi bù đắp cho việc rút quân bằng việc tăng yểm trợ không lực cho bộ binh của ông”. Sau đó, lính Mỹ rút hết và cũng không còn yểm trợ không lực. Họ lại nói với tôi: “Chúng tôi sẽ tăng cho ông thêm nhiều quân viện để bù đắp vào tất cả những cái đó. Xin đừng quên Đệ thất hạm đội Mỹ và những căn cứ không quân ở Thái Lan sẽ bảo vệ ông trong trường hợp cần thiết”. 

Cuối cùng, chẳng còn gì hết, người Mỹ không hỗ trợ quân sự cũng cắt tiếp viện cho Sài Gòn!


Chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cố gắng chống chọi bằng mọi giá, từ những lá thư khẩn cầu viện trợ gởi đích danh đến Tổng thống Ford, Quốc hội, Bộ Quốc phòng Mỹ, kể cả việc đem các mỏ dầu Hoa Hồng (nay là Bạch Hổ) dù mới ở giai đoạn thăm dò thấy dầu ra “thế chấp” để vay tiền. 

Trong lá thư đầy u buồn với nhiều lời lẽ van nài của ông Thiệu gửi cho Tổng thống Ford có những đoạn như không thể nào buồn và cam chịu hơn được nữa: “ … Chúng tôi kêu gọi lương tâm và lòng thương của nhân dân Mỹ đối với cảnh ngộ của đất nước chúng tôi, một người bạn đồng minh trung thành của nhân dân Mỹ trong suốt 20 năm sóng gió, một dân tộc đã chịu nhiều hy sinh và đau khổ to lớn trong hai thập niên để gìn giữ mảnh đất tự do này. Một dân tộc như vậy xứng đáng với lòng thông cảm và giúp đỡ. Trong giờ phút vô cùng khẩn thiết, chúng tôi mong muốn Ngài thúc giục Quốc Hội xem xét dễ dàng và cấp bách lời yêu cầu được vay “số tiền vì tự do” của chúng tôi. Đây sẽ là hành động cầu xin cuối cùng mà chúng tôi, một người bạn đồng minh, gửi đến nhân dân Mỹ”.


Giữa tháng 4 cuối cùng của chính thể miền Nam, Tổng trưởng 

Nguyễn Tiến Hưng cầm lá thư “Freedom Loan” (vay tiền cho tự do) đầy bi thảm này đi Mỹ với trạng thái u uất, không tin mình sẽ thành công. Chuyến phản lực cất cánh trên đường băng Tân Sơn Nhất trong một buổi sáng ầm ì tiếng bom đạn. Mặc dù nó không đầy hành khách, nhưng có cảm giác như nặng nề hơn bình thường với tâm trạng trĩu nặng của Tổng trưởng Hưng. Cô tiếp viên yêu cầu ông đặt chiếc cặp da lên giá hành lý trên đầu, nhưng ông ta khư khư giữ chặt trong lòng vì không muốn rời lá thư này. 


Về sau, cuốn Từ Tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập đã thuật lại: “ Cảm thấy lòng ngực nhức nhối và chóng mặt. Hưng có một linh cảm sắc bén đây là lần cuối cùng ông ta còn nhìn thấy được quê hương mình, và có lẽ chẳng bao giờ ông còn gặp lại mẹ và các anh chị em của mình. Ông nhìn xuống Sài Gòn qua cửa sổ máy bay một cách tuyệt vọng. Từ trên cao, Sài Gòn hiện ra thật đẹp, tràn đầy những kỷ niệm của một thời đã qua … Như hiểu được tâm trạng ông, máy bay lượn hai vòng quanh Sài Gòn … Bên dưới vẫn là dòng sông Sài Gòn với màu nước nâu sẫm như Chocolate, với hàng dừa chạy dọc hai bên bờ, nơi đó cuối tuần nào ông cũng đến câu cá, bắt tôm. Xa xa, Dinh Độc Lập rực sáng và những nỗi đau khổ trong ba tháng qua lại ập đến với ông”.


Và Tổng trưởng Hưng đã dự cảm đúng. Kế hoạch “Freedom Loan”, chiếc phao cứu sinh cuối cùng của Sài Gòn, hoàn toàn đổ vỡ. Từ khẩn cầu vay 3 tỷ USD ban đầu, rút xuống còn 722 triệu có hoàn trả, nhưng Quốc hội Mỹ vẫn lạnh lùng lắc đầu. Niềm hy vọng mong manh cuối cùng đặt ở nỗ lực của Chính phủ Mỹ đã bị Henry Kissingger dội gáo nước lạnh: “Việc bàn luận về Việt Nam đã chấm dứt. Chính phủ sẽ chấp nhận lời pháp quyết của Quốc hội mà không phản bác lại”. 

 “Chiều ngày 20/4, Đại sứ Martin đến thăm Tổng thống Thiệu để hỏi về tình hình và gợi ý ngọt ngào: “Tôi tin rằng một vài ngày nữa, các tướng lãnh của ông sẽ đến đề nghị ông từ chức”. “Nếu tôi từ chức thì sẽ có viện trợ quân sự không”, ông Thiệu hỏi. Martin trả lời: “Tôi không thể hứa với ông nhưng có thể vậy”. Trước khi Martin về, ông Thiệu nói rằng mình sẽ làm những điều tốt nhất cho đất nước”. Cuốn sách của Nguyễn Tiến Hưng nhắc lại những ngày cuối sầu thảm trên chiếc ghế Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa của ông Thiệu. 


Suốt từ khởi đầu vào thập niên thứ hai của thế kỷ 20, Tân Sơn Nhất đã là chứng nhân của bao biến động thời cuộc. Từ giai đoạn phát triển của miền đất phía Nam trù phú, đến cuộc Thế chiến thứ hai tàn khốc, người Nhật kéo sang, quân Pháp tái xâm lược rồi cũng đến ngày phải rút lui hoàn toàn, quốc gia hình chữ S bị chia đôi bởi vĩ tuyến 17 và nền Đệ nhất, Đệ nhị Cộng hòa mong manh như ngọn đèn dầu trong chiến cuộc kéo dài suốt 20 năm. Đến tận cuối tháng 4/1975, phi trường Sài Gòn này lại trở thành chứng nhân một sự kiện lịch sử thầm lặng nói lên gió đã xoay chiều báo hiệu những trận cuồng phong dữ dội sắp ập đến. 


Trước áp lực chiến sự dồn dập đẩy chính quyền Sài Gòn vào thế bí, ngày 21/4/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải ngậm ngùi từ chức, nhường vị trí lãnh đạo lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương, với hy vọng mong manh sự đổi thay chính trị có thể thay đổi thế cờ quân sự đang sắp đến hồi “chiếu tướng” miền Nam. “Về vườn” nhưng vị cựu Tổng thống nắm quyền dài nhất ở miền Nam cũng không thể ở lại quê hương của mình. Lực lượng cách mạng buộc phải “loại biên” vĩnh viễn ông Thiệu, chính quyền tân Tổng thống Trần Văn Hương cũng cho rằng không thể làm được gì nếu vị cựu Tổng thống sắt đá chống cộng và đầy bản lĩnh chính trường còn hiện diện ở Sài Gòn. 


Ông Thiệu buộc phải ra đi!

Phi trường Tân Sơn Nhất là chứng nhân cuộc ra đi thầm lặng, buồn thảm này. Đêm 25/4/1975, một chiếc DC6 thuộc quyền sử dụng của Đại sứ quán Mỹ bay từ Bangkok sang Tân Sơn Nhất để đón một vị khách đặc biệt. 

Cùng lúc đó, tư dinh Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, trong Bộ Tổng Tham Mưu, âm thầm diễn ra buổi chia tay một vị cựu Tổng thống như không thể nào sơ sài, giản đơn hơn được nữa. Không có hoa, rượu, cũng chẳng có lời diễn văn tiễn biệt hoa mỹ nào, ông Thiệu lặng lẽ lên một trong ba chiếc công xa màu đen của Đại sứ quán Mỹ lầm lũi chạy thẳng vào phi trường. 

Ngồi băng ghế sau, vị Tổng thống mà lúc này đã là cựu của Chính quyền miền Nam Việt Nam lọt thỏm giữa hai người Mỹ to lớn là tướng Timmes và đặc trách tình báo Polgar. Hộ tống ông Thiệu cũng bằng vài lính thủy quân lục chiến Mỹ, chứ không hề có một người lính Việt nào trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà ông từng nhiều năm là tư lệnh tối cao của họ. 


Đoàn xe chạy qua Đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong với dòng chữ “Những hy sinh cao quý của chiến sĩ đồng minh sẽ không bao giờ bị quên lãng”. Ông Thiệu thở dài giữa hai người Mỹ ngồi cùng băng ghế tiễn đưa một cựu Tổng thống mà chẳng khác gì như áp tải. Xe cũng không dừng lại ở bãi đậu máy bay của Air Việt Nam, mà sang bãi riêng biệt của Air America với lính thủy quân lục chiến lăm lăm M16 canh gác. 

Ở đó, Đại sứ Mỹ Graham Martin đã đợi sẵn với cái bắt tay xã giao cùng câu chào ngắn gọn. Ông Thiệu trông có vẻ rất buồn và nhẫn nhịn, nhưng vẫn giữ cố tư cách trang trọng của một Tổng thống, để nói lời cảm ơn Martin đã tổ chức chuyến ra đi đặc biệt này. Đại sứ Mỹ đáp lời: “Đây là điều nhỏ nhặt nhất tôi có thể làm. Chào ông và chúc ông may mắn”.  


Ít phút sau, chiếc DC6 cất cánh rời khỏi Sài Gòn rực ánh hỏa châu báo hiệu chiến sự đang đến rất gần và thời điểm Đô thành thất thủ chỉ còn tính bằng ngày. Ông Thiệu ngậm ngùi dõi mắt qua ô cửa sổ máy bay, nhìn Sài Gòn bỏ lại sau lưng. Bàn cờ chính trị – chiến cuộc trên mảnh đất đẫm máu lửa, thương đau đã tàn và ông ta hiểu đây là lần cuối cùng mình được nhìn thấy quê hương!

Người dân, kể cả nhiều chính khách lớn nhỏ của miền Nam, cũng không hề biết một cựu Tổng thống của nền Đệ nhị Cộng Hòa đã rời khỏi đất nước và không hề mang theo một thỏi vàng nào trong 16 tấn vàng ngân khố như lời đồn thổi đầy ác ý. Nhưng chiến tranh vẫn không hề được tạm dừng hay một chính phủ liên hiệp nào đó ra đời như một số người hy vọng. Biệt khu Sài Gòn vẫn đang bị thít chặt lại với tốc độ nhanh đến nỗi không ai ở bên trong đó có thể ngờ nổi. 


Ngày 29 – 4 -1975, một đại diện không chính thức của Chính phủ Mỹ đã tìm gặp ông Thiệu khi ấy vẫn còn đang ở Đài Loan, để chuyển lời rằng ông không nên đến Mỹ vào lúc này, nhân dân phản chiến Mỹ không chào đón ông. Ông Thiệu nhún vai, trả lời một cách ngậm ngùi: “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó” …


Đặc biệt, khi vị tổng thống lưu vong cay đắng thốt lên những lời này, thì ở quê hương Sài Gòn, tướng “độc nhãn” Hoàng Anh Tuấn – Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ CMLTMNVN đang ở trại Davis, phi trường Tân Sơn Nhất, đã lệnh cho cấp dưới chuẩn bị một lá cờ cách mạng thật lớn. Đúng 9 giờ sáng ngày 30 – 4 – 1975, lá cờ hai màu xanh đỏ ấy đã được treo lên tháp nước ở trại Davis trước khi quốc kỳ ba sọc Việt Nam Cộng Hòa bị hạ xuống ở Dinh Độc Lập. 

50 năm trước, Mỹ đã quay lưng với đồng minh ngay thời khắc sinh tử nhất. 50 sau, lịch sử đắng cay này lại lặp lại với Ukraine?


Quốc Việt

(Trích sách 100 năm Phi trường Tân Sơn Nhất – tác giả Quốc Việt)

Bài Tình Thơ Tháng Năm - Sương Lam

Nhớ Thi Sĩ Phạm Thiên Thư - Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn

 

Thi sĩ Phạm Thiên Thư vừa rời cõi tạm ngày 7/5/2026 tại Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi. Tin ông mất khiến nhiều người yêu thơ và âm nhạc Việt Nam bùi ngùi, bởi ông là một trong những thi sĩ mang ý thơ riêng biệt và nhẹ nhàng nhất của văn học miền Nam trước năm 1975.

Thơ ông mang một ý tưởng rất lạ: vừa tha thiết với đời sống, vừa bảng lảng khói sương thiền môn. Có lẽ vì từng có thời gian xuất gia với pháp danh Tuệ Không nên trong thơ ông luôn thấp thoáng tiếng chuông chùa, nỗi buồn vô thường và sự dịu dàng rất Á Đông.

Tên tuổi Phạm Thiên Thư gắn liền với những bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như: “Ngày xưa Hoàng Thị”, “Đưa em tìm động hoa vàng”, “Gọi em là đóa hoa sầu”, “Em lễ chùa này”… Những ca khúc ấy đã đi qua nhiều thế hệ như một miền ký ức đẹp của tuổi trẻ Việt Nam.

Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Đôi chân mịt mù
Theo nhau bụi đỏ đường mưa…

Năm 1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm: Hậu truyện Kiều - Đoạn Trường Vô Thanh.

image-12.png

Năm 2013, nhờ hai em Trần Ngọc Bách và Nguyễn Thanh Phong, chúng tôi có dịp gặp ông tại quán cà phê Hoa Vàng trên đường Hồng Lĩnh, quận 10. Quán nhỏ, yên tĩnh và mang đúng không khí thơ mộng như chính con người ông.

vn-11134259-7r98o-lwg9lb93d8ex06@resize_ss576x330.jpeg

cid:457C5734-A584-451D-AF29-9F6D47F5C3FB.jpeg

cid:1685CC3F-9C36-4627-A7C7-9D9E3FAF97EA


Hôm ấy, khi được hỏi về nhân vật Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ nổi tiếng “Ngày xưa Hoàng Thị”, ông chỉ cười hiền. Ông kể đó là một kỷ niệm học trò rất nhẹ nhàng, khi ông và cô Ngọ học cùng lớp đệ tam ở trường tư thục Kiến Thiết. Những buổi tan trường, cô lặng lẽ đi về còn ông âm thầm theo phía sau trên con đường bụi đỏ. Chỉ vậy thôi, mà đủ để thành thơ.

Giờ đây, người thi sĩ của “động hoa vàng” đã đi xa. Nhưng những câu thơ và giai điệu ông để lại vẫn còn ở đó, như một tiếng chuông chiều ngân rất nhẹ trong ký ức người yêu thơ Việt.


12/5/2026

Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn 

Tuesday, May 12, 2026

Nơi Có Ngôi Đình Cũ - Lâm Chương


(1)
Tôi theo bọn thợ rừng, giạt về Tầm Lanh. Đi kiếm sống mà chui vào cái xóm ven rừng này, không mong gì ngóc đầu lên nổi. Cái xóm đìu hiu hẻo lánh đến não lòng. Thế nhưng tôi ở lại đã ba năm. Đời yên mà quạnh lắm. Nơi đây có chừng vài mươi mái nhà nằm đơn độc xa nhau, im lìm vắng vẻ. Nghe nói, ngày trước Tầm Lanh cũng không đến nỗi tiêu điều đến thế, nhưng bom đạn chiến tranh cứ đẩy con người bỏ xóm đi xa dần. Sau chiến tranh, chẳng ai còn nghĩ đến chuyện quay về chốn cũ để chiều chiều ngồi ngó lên ngọn rừng, nghe chim kêu vượn hú.

Hồi tôi mới tới đây, Ba Canh nói: “Chú em đừng ngại, chuyện gì rồi cũng sẽ quen đi. Việc đo đạc, tính giá cả, cần biết bốn phép toán cộng trừ nhân chia là đủ. Còn công việc sau đó, hơi vất vả một chút. Tôi sẽ chỉ cách cho chú em làm. Đóng cọc, vác củi sắp vào từng thước khối… Tiền bạc không có dư, nhưng cũng sống được qua ngày.”

Thế đấy. Cũng sống được qua ngày. Tôi phụ việc với Ba Canh làm nơi bãi đất ở cuối xóm, giáp với bìa rừng. Gỗ súc và củi từ trong rừng đem ra chất đống ở đây, chờ chuyển đi các nơi xa. Dân xe be và bọn thợ rừng gọi bãi này là Bến Củi.

Bến Củi nằm trong địa phận Tầm Lanh, nhưng trong những giao tiếp làm ăn, người ta quen nói Bến Củi. Càng về sau, nhắc đến Tầm Lanh không còn mấy người biết nữa. Mọi sinh hoạt rộn rịp của Tầm Lanh, chỉ diễn ra nơi Bến Củi chừng vài tiếng đồng hồ vào giữa trưa khi bọn thợ từ rừng ra, lái gỗ từ các nơi tới. Lăng xăng đo đạc, kỳ kèo trả giá. Xuống củi từ những xe bò xe trâu, hoặc cẩu gỗ súc lên xe be. Xong, họ chia tay. Bọn thợ xách cưa trở vô rừng. Và lái gỗ cùng những chiếc xe be rời Bến Củi bằng con đường đất ngoằn nghèo dài hun hút, dưới những tán lá rậm hai bên đường.

Tôi là kẻ thất cơ lỡ vận phải vào Tầm Lanh kiếm sống đã đành. Có một thành phần khác, không ai ngờ cũng vào đây. Đó là những cô đã một thời đem thân xác mình phục vụ cho khách mua hoa nơi các phố thị đông người. Nay nhan sắc đã tàn phai, không còn đủ sức bon chen với đám đàn em mới vô nghề nhưng nhan sắc có phần lợi thế hơn. Họ quay ra đón khách dọc đường, lưu động theo các chuyến xe đường xa, có khi còn vào tận chốn rừng sâu với bọn thợ rừng. Mỗi lần nhìn thấy các cô em tóc tai rối bời gió bụi trên chuyến xe đi đến, hoặc mặt mũi bơ phờ từ rừng trở ra, lòng tôi trắc ẩn. Có lẽ họ cũng nhìn thấy tôi là kẻ hết thời, không hơn gì “con vạc ăn sương” như họ. Cùng một nòi lưu lạc, dễ nhìn nhau bằng ánh mắt cảm thông và từ đó sinh ra cảm tình gần gũi.

Buổi trưa. Tôi ngồi trốn nắng dưới bóng cây.

Một cô sà đến ngồi kế bên, nói rất tự nhiên như đã quen thân tự kiếp nào: “Em đi lưu diễn nhiều nơi, chưa thấy nơi nào buồn như nơi này.”

Hai tiếng “lưu diễn” giống như đào kép gánh hát cải lương rày đây mai đó. Tôi cười nhẹ và lắc đầu tỏ ý đồng cảm chán đời.
“Em tên gì?”
“Kiều.”
“Tên thật của em hả?”
“Không. Hồi em mới bước chân vô nghề, có thằng cha tự xưng thi sĩ gọi em là Thúy Kiều. Nghe cái tên cũng hay hay, em xưng Thúy Kiều luôn. Không biết tại sao khi em nói tên em là Thúy Kiều, có người cười. Chắc họ biết tên giả. Em bỏ bớt chữ Thúy, chỉ còn Kiều. Em xài luôn tên Kiều cho đến bây giờ.”
“Em biết Thúy Kiều là ai không?”
“Là ai vậy anh?”
“Tên của một cô gái lầu xanh trong tác phẩm văn học.”
“Lầu xanh là lầu gì vậy?”
“Ờ… ờ… là nơi có nhiều em kỹ nữ.”
“Em kỹ nữ làm gì ở lầu xanh?”
“Em hỏi lung tung quá, anh chẳng biết đường nào trả lời.”
“Có em kỹ nữ tên Thúy Kiều thiệt hả?”
“Thiệt.”
“Trên đời thiếu chi người trùng tên. Em thích tên Thúy Kiều.”
“Không được. Tên ấy thuộc về độc quyền.”
“Ai cấm em xưng Thúy Kiều chứ? Mà thôi, em bỏ Thúy rồi. Bây giờ chỉ còn Kiều.”
“Cái thằng cha tự xưng thi sĩ nào đó thật khốn nạn. Đã chơi với người ta, còn mỉa mai châm biếm.”
“Ông ấy chỉ gọi em là Thúy Kiều, chứ có mỉa mai châm biếm gì đâu?”
“Bỏ chuyện này đi, không nói nữa.”
“Cho em hỏi câu cuối cùng.”
“Thôi mà…, cứ hỏi hoài.”
“Cái anh này…thấy ghét. Em hỏi nè, kỹ nữ là em gì vậy?”
“Anh không biết. Tìm Thúy Kiều mà hỏi.”
“Mặt khó ưa!”
Sau cái nguýt dài, cô Kiều thò tay vào xú chiêng, móc ra một gói thuốc Hoa Mai. Bao thuốc bèo nhèo, điếu thuốc cong queo. Cô châm lửa hút vài hơi, rồi trao cho tôi.
“Hút đi. Nhìn chi mà nhìn dữ vậy?”
“Áo nịt vú chứ đâu phải túi đựng đồ mà cho gói thuốc vào trong ấy.”
“Em còn nhét cả tiền nữa. Thời quỷ vương, bọn cướp giựt đầy đường. Mang bóp đầm đi õng eọ, dễ làm mồi cho tụi nó lắm.”


Cô ngó mông lung ra bìa rừng. Ánh mắt vui tươi hồi nãy biến đâu mất. Một nỗi gì buồn bã xa xôi thoáng hiện.
“Năm bảy năm về trước, cặp vú em no tròn đầy đặn. Bao nhiêu thằng mê em, muốn vục mặt vào đó. Còn bây giờ thì…” Cô bỏ lửng câu nói.
“Bây giờ thì sao?”
“Hỏi mỉa em hả?”
“Không. Anh đang nghĩ đến luật đào thải phũ phàng của tạo hoá.”
Cô khoát tay: “Ối! Hơi đâu mà nghĩ luật này luật kia cho mệt. Em chỉ hận lũ đàn ông. Đàn ông là thứ mới chuộng cũ vong, là thứ phản bội trời đánh thánh đâm.”
“Trời đất! Có phải vì nóng nực làm em nổi giận bất thường? Em hận thằng nào thì chửi thằng đó. Sao bỗng dưng lại trút căm hờn vào anh?”
“Em không nói anh.”
“Anh không phải đàn ông sao?”
“Đàn ông, nhưng em trừ anh ra.” Cô cười.
Một lúc sau, cô nói: “Mình lại quán uống nước đá đi anh. Em bao.” Cô đứng dậy, nắm tay kéo tôi đi.
Đang đi, cô hỏi: “Anh mấy tuổi?”
“Bốn mươi ba.”
“Vợ con ra sao?” Cô liếc mắt, dí ngón tay vào trán tôi, “Đừng nói với em rằng anh còn độc thân nha.”
“Em điều tra giống như công an phòng thẩm vấn.”
“A… a…, nhắc đến công an, em lại nổi sùng. Bọn nó ruồng bắt tụi em, đưa vào trại Phục Hồi Nhân Phẩm. Phục cái mả cha nó, chứ phục hồi gì. Đứa nào “thâm niên công vụ” như em, nó đẩy đi lao động phơi nắng cháy da. Đứa nào còn trẻ đẹp, nó giữ lại chơi ngày chơi đêm, kêu trời không thấu. Những thằng công an của trại Phục Hồi Nhân Phẩm, bản mặt thằng nào cũng tái mét xanh xao, mắt quầng thâm vì chơi bời trác táng quá độ. Có thằng ghẻ lác đầy mình, con vi trùng giang mai đã rúc vô tận xương tủy của nó rồi.”
“Em hay bắt quàng từ chuyện nọ xọ chuyện kia.”
“Thôi, trở lại chuyện của anh. Vợ anh đâu?”
“Gửi bà già vợ nuôi. Còn anh lo nuôi thân anh.”
Cô nhìn tôi, cười cười: “Hỏi thiệt nhe. Có thích em không?”
“Đừng hỏi tầm phào.”
“Cái mặt làm bộ sầu đời, nói chuyện cà tững của anh, nhiều em gái ngây thơ chịu lắm. Tụi mình kết duyên thành chồng vợ được đấy.”
“Để ôm nhau chết đói hả?”
“Em tình nguyện đi làm nuôi anh.”
“Đi khách đem tiền về nuôi anh?”
“Không. Em chán cái nghề này lắm rồi.”

Chúng tôi ngồi dưới mái hiên quán Ba Canh. Chị Ba chủ quán mang nước đến, rồi bỏ đi ngay như muốn tránh mặt.

Cô Kiều nhìn theo sau lưng chị Ba, kề tai tôi nói nhỏ: “Em còn lạ gì con đĩ ngựa này. Nó đỏng đảnh với mấy thằng xe be ngoài chợ. Ai chẳng biết.”
“Thôi. Chuyện người ta, mắc mớ gì em.”
“Hứ! Cái thứ rượn đực, còn làm ra vẻ khinh người. Khó ưa.”

Cô nguýt dài. Đuôi mắt đã có dấu hiệu thời gian xếp nếp.

Tầm Lanh chỉ có một quán tạp hoá duy nhất của Ba Canh, nằm kề Bến Củi. Bên hông quán, che thêm cái mái làm nơi bán thịt rừng và nước đá giải khát buổi trưa cho những người sinh hoạt nơi Bến Củi. Ba Canh giao quán cho vợ con trông coi. Còn anh, lo chạy vòng ngoài. Vào rừng mua thịt tươi từ các tay săn bẫy thú, hoặc theo xe be ra chợ bổ thêm hàng về cho vợ. Nhiều khi anh bận, vợ anh thay thế ra chợ bổ hàng. Việc này cũng mất khá nhiều thời gian, phải ở lại qua đêm, hôm sau mới có chuyến xe vào lại Tầm Lanh. Vì phải ở lại qua đêm, nên chị Ba mang nhiều tai tiếng lăng nhăng với dân xe be và lái gỗ. Người ta xầm xì về chuyện này, nhưng Ba Canh không hề hay biết. Trời sanh ra anh để nhìn đời theo con đường thẳng, chứ không phải để nghi ngờ dò xét ở những khúc quanh.

Trời nắng loá. Trông ra Bến Củi, mặt đất dường bốc hơi thành gợn sóng. Những xe be đã bắt đầu rục rịch, chuẩn bị rời bãi.

Cô Kiều nói: “Em phải về. Anh muốn em ở lại không?”
“Anh không có tiền giữ em ở lại.”
“Miễn phí cho anh.”
“Anh trú miễu ở đình. Chốn tôn nghiêm mà làm chuyện bậy bạ, Quỷ Thần vật chết. Thôi, em về đi.”
“Về lần này, có lẽ em không trở vô nữa. Em muốn đổi nghề, kiếm chuyện khác làm ăn.”
“Ừ, được đấy. Em phải nghĩ tới tương lai.”
Cô than thở: “Em muốn về quê cũ làm lại cuộc đời. Nhưng em hư quá, vô phương quay về.”
“Thì đi nơi khác, buôn gánh bán bưng gì cũng được.”
“Phải có một căn bản gia đình mà em thì cô đơn, anh ạ.” Cô thở dài.
Tôi an ủi: “Từ từ, em cũng sẽ kiếm được người thương em.”
Ngoài bãi có tiếng kêu ơi ới. Xe sắp rời Bến Củi.
Cô đứng dậy: “Em đi nha. Chắc mình không gặp nhau nữa đâu.”

Tôi cũng đứng dậy vỗ nhẹ vai cô: “Em đi bình yên. Mong tương lai em gặp nhiều may mắn.”

Cô bước đi còn ngoảnh đầu ngó lại. Bỗng cô trở gót quay vào cầm tay tôi.
“Coi… kìa…, cái mặt buồn buồn… dễ ghét. Bộ thương em hả?”
“Thôi mà, đừng có đùa. Bao nhiêu cặp mắt dòm ngó.”
“Dòm, kệ họ. Mai mốt có ra chợ, nhớ tìm em nha.”
Tôi hối: “Được rồi. Em đi đi. Trễ chuyến xe bây giờ.”

Cô lầm lũi đi nhanh ra Bến Củi. Lúc ngồi trên xe, cô còn đưa tay vẫy vẫy. Tôi trông theo, cảm thấy nao nao. Không biết lòng mình ra sao nữa.

Tôi ngồi lại với nỗi trống không, buồn vô cớ.
Chị Ba bước ra hiên dọn những ly tách trên bàn, nói: “Cặp kè với loại người ấy, chỉ mất mặt.”
“Nói chuyện thôi. Đã có gì đâu?”
“Còn muốn có gì nữa hả? Anh Ba Canh giúp anh có cơm để sống, chứ không phải để anh đem tiền bao gái.”
“Chị thấy tôi có loạng quạng với ai không?”

“Chuyện khuất lấp ban đêm, chỉ có trời biết. Còn chuyện ban ngày, đã rõ trắng đen. Bạ ai cũng tán tỉnh. Thượng vàng hạ cám không chừa thứ nào.”

Thái độ và lời lẽ của chị Ba làm tôi ngạc nhiên. Chị đâu có quyền nói những lời gay gắt như thế với tôi. Nghĩ tới tình nghĩa anh Ba Canh, tôi không nỡ phản ứng làm mất lòng chị Ba.

Tôi nói: “Chị hơi nặng lời đấy.” Rồi bỏ đi ra bãi.

Bến Củi không còn ai. Tôi một mình vác củi chất vào từng thước khối theo những cây cọc, Ba Canh đã đóng sẵn từ trước. Hôm nay, anh theo xe ra chợ lấy hàng. Tôi làm mãi đến xế chiều. Mồ hôi đầm lưng áo. Khô cổ, khát nước. Trời oi nồng, đứng gió. Muốn vào quán để uống ly nước đá, nhưng nghĩ lại thái độ khó chịu của chị Ba, tôi ngại. Tôi đi chếch về phía tây Bến Củi, nơi có ngôi đình lâu ngày không được trùng tu.


Ngày tôi mới đến, trông thấy một bên hiên đình quằn xuống sắp đổ. Hình ảnh hư hao tàn tạ cuốn hút lòng tôi. Tìm ở đâu cho xa? Một nơi chốn mà người đời quên lãng, sẽ là nơi trú ngụ an toàn cho con chim tơi tả trước cơn dông thời cuộc. Mái đình xưa, lợp ngói âm dương phủ màu rêu xám. Cuối nóc đình, chỗ giáp với đầu hồi có gắn con hạc bằng đồng thau. Hạc xoãi cánh như đang chấp chới bay lên để thoát khỏi sự sụp đổ của ngôi đình, mà đôi chân tội nghiệp cứ dính chặc vào đầu hồi. Dù không bay trong không gian, nhưng con hạc vẫn bay suốt thời gian gần trăm năm từ ngày dựng đình. Phía sau con hạc, cỏ dại và những cây con mọc đầy trên mái. Lớp lớp rêu phong âm thầm nói lên biết bao điều ý nghĩa. Những ai hăm hỡ xẻ gỗ dựng đình từ thế kỷ trước, đều khuất bóng cả rồi. Thần linh phiêu hốt nơi đâu mà tượng gỗ xiêu xó nơi này? Không được trùng tu, nhưng số phận ngôi đình vẫn còn may mắn. Nhờ ở vào vị thế địa dư hẻo lánh, không có tiếng tăm linh hiển vang xa nên thoát được cái hoạ san bằng bởi chiến dịch triệt hạ những đình chùa lăng miếu, quét sạch nền văn hoá cũ của bao đời cha ông để lại.


Đã bao nhiêu đêm, tôi nằm trăn trở dưới mái hậu liêu. Nghe chim đớp muỗi vỗ cánh chạm xạc xào trong khóm lá ngoài kia. Nghe tiếng dơi chí choé cắn nhau dưới mái ngói bên hàng hiên sắp đổ. Thấm thía nhứt là tiếng vạc kêu sương rớt xuống tự trên lưng chừng trời. Dường như trong tịch mịch lặng im, tiếng vạc lẻ loi làm tôi thấy rõ hơn về nỗi quạnh hiu của mình. Những đêm trăng tỏ, tôi thường đứng trông ra Bến Củi. Những khối củi mập mờ nhìn từ xa, như những chiếc xe tăng đang lổn nhổn tiến về phía bìa rừng. Bồi hồi nhớ lại thời còn chiến tranh. Một binh lực hùng mạnh là thế, bỗng một ngày tán loạn rã tan. Chuyện vô lý tưởng chừng như cơn mơ. Đến khi lủ khủ dắt nhau vào tù, mới bừng ra sự thật. Từ ấy trở đi, lý lịch tôi mang một dấu ấn lớn, không mong gì bôi xoá để làm lại cuộc đời. Tôi về Tầm Lanh như người xưa bất đắc chí quay về sằn dã. Ẩn nhẫn mà sống. Nhưng bất cứ nơi nào, tôi cũng thấy bi đát. Hoàn cảnh một cô Kiều trưa nay, cũng làm tôi suy nghĩ. Tôi có hơn gì cô đâu. Đời đã lâm vào thế bí. Trở lui không được, tiến tới không xong.

(2)

Đêm đã khuya. Sương mù xuống lạnh màu trăng. Hình như có tiếng chân ai dẵm lên những phiến lá khô ngoài sân đình. Tôi nhỏm dậy. Một người vừa bước đến bên thềm hậu liêu.

Tôi ngạc nhiên: “Chị Ba. Có gì mà ra đây giờ này?”

“Cũng có chút việc.” Chị nói nhỏ.

“Việc gì? Tôi có thể giúp chị không?” Vừa hỏi, tôi vừa vén tấm mùng vắt lên nóc.

Chị e dè ngồi xuống mép giường: “Anh có giận tôi không?”

“Giận chuyện gì?”

“Hồi trưa, tôi lỡ lời.”

“Không đâu. Chị nói cũng đúng. Tôi hay rà rê với mấy cô ấy.”

“Tôi biết anh làm thế vì buồn.”

“Vâng. Tán gẫu cho qua ngày.”

“Nhưng anh phải lựa người chứ.”

“Có tính chuyện lâu dài đâu mà chọn lựa?”

“Giữa ban ngày kề vai bá cổ với gái điếm, không sợ người ta cười sao?”

“Cái thân cùng đinh mạt kiếp như tôi, còn sợ ai cười nữa?”

“Thấy chướng quá, tôi có nặng lời. Anh buồn không?”

“Tôi buồn, nhưng không phải buồn chị.”

Chị ngó tôi, thì thầm: “Buồn ai?”

“Buồn vì… buồn. Thế thôi.” Tôi ngập ngừng lúng túng. Cảm giác có điều gì bất thường.

“Buồn vì cô đơn hả?” Chị liếc con mắt gợi tình.

Dưới ánh trăng khuya nghiêng rọi vào hậu liêu, nét mặt chị Ba có sức quyến rũ lạ lùng. Mùi xà bông chanh trên tóc, mùi đàn bà quyện vào nhau thoang thoảng. Những đêm nằm một mình dưới mái hiên, tôi thèm được hôn hít vuốt ve một thân thể mềm mại ấm áp của người nữ. Nhưng, chưa bao giờ tôi dám nghĩ người ấy là chị Ba.

“Nói đi. Có phải buồn vì cô đơn?”

Chị lẵng lơ nhìn tôi và đưa tay vén mớ tóc giạt qua một bên cổ. Bộ ngực vun đầy phập phồng dưới lớp áo mỏng nghiêng về phía tôi.

“Chị Ba ơi…, còn anh Ba Canh.”

Nói thế, nhưng hình ảnh Ba Canh đã mờ nhạt trong tâm trí tôi rồi. Giờ đây, chỉ còn chị Ba như một khối nam châm dục vọng có sức thu hút làm nghiêng đổ những người đàn ông lòng dạ sắt đá.

“Ảnh đi ra chợ. Anh cũng biết mà.”

Chị nói mà không nhìn vào tôi, như một khuyến khích muốn làm gì thì làm đi. Không nhìn là để anh hành động được tự nhiên. Hơi hướm từ cổ chị Ba phả vào mũi tôi cám dỗ. Tôi hồi hộp nghe rõ hơi thở dồn dập của mình, đồng thời với nhịp tim đập liên hồi trong lồng ngực.


Bỗng có tiếng dơi kêu chí choé bên kia hàng hiên. Tôi bàng hoàng tưởng như tất cả những bức tượng ngả nghiêng đóng bụi trong đình đều chỗi dậy la ó. Quỷ Thần kéo nhau ra hậu liêu, đứng nhìn chị Ba và tôi. Tôi chợt nhớ lại ngày còn bé, đọc chuyện Một Vị Quan Thanh Liêm đời xưa, trong sách Giáo Khoa Thư. Có người mang của hối lộ đến. Vị quan từ chối. Người ấy nói: “Xin quan cứ nhận. Chuyện này không ai biết.” Vị quan nói: “Sao không? Ông biết. Tôi biết. Quỷ Thần Trời Đất biết.” Chuyện của Chị Ba và tôi đêm nay, dù Ba Canh không biết, nhưng chị Ba biết, tôi biết, và Quỷ Thần Trời Đất biết.

Ngọn đèn lương tâm sắp tắt. Tôi cố thắp lên bằng cách bước ra đứng ngoài hiên. Ánh trăng mờ và lạnh.

“Chị Ba ơi, về đi. Lỡ có người trông thấy thì… chết.” Tôi nói với chị Ba, cũng như nói với chính mình.

Chị ngỡ ngàng ngồi sững. Tội nghiệp chị. Tội nghiệp luôn cả tôi nữa. Tôi muốn quay lại ôm lấy cái thân thể chín muồi dục vọng, ngả xuống mặt giường. Tôi và chị sẽ quấn lấy nhau, sẽ chìm vào nhau, và trong giây phút sẽ cùng nhau chết đuối trên chiếc giường này. Lúc đó, ngoài tôi và chị, tất cả những gì chung quanh không còn gì quan trọng.

“Thôi, tôi về. Đã theo tán tỉnh mấy con đĩ, còn lên mặt đạo đức làm cao.”

Câu nói như một gáo nước lạnh, bất ngờ dội xối vào mặt tôi. Chị thay đổi thái độ nhanh vô cùng. Từ khuôn mặt hừng hực lửa tình quyến rũ, đôi mắt lẳng lơ mời gọi, bỗng trở thành lạnh băng. Tôi hụt hẫng, chưa định được phản ứng thế nào. Chị vùng vằng bỏ đi. Không biết nghĩ sao, chị dừng lại ngập ngừng.

“Anh hứa không nói với ai?”

“Vâng. Tôi hứa.”

Chị quay lưng. Thấp thoáng dưới trăng, bóng chị Ba mờ khuất ngoài Bến Củi.

Tôi nằm thao thức suốt đêm. Chuyện xảy ra không lường trước được. Tôi đã bỏ lỡ dịp may. Một con mèo đói vụng về đánh mất miếng mỡ. Tôi thầm tiếc, nhưng cảm thấy yên lòng. Ngày mai nhìn lại Ba Canh, tôi không xấu hổ với lương tâm mình.

Bình minh lên. Tôi dậy muộn. Nghe tiếng quạ kêu trên đầu cây sao già. Tiếng quạ kêu rất thảm. Trong tiếng quạ sáng nay, dường như có pha thêm điều gì thảng thốt. Có lẽ, lòng tôi bắt đầu nhuốm bệnh?

Mọi sinh hoạt của Bến Củi vẫn bình thường. Chị Ba đối với tôi cũng bình thường. Nhiều khi tôi tự hỏi, chị còn nhớ gì trong đêm ấy không? Khó mà biết được ý nghĩ của chị. Trong cái đầu của mỗi người đàn bà, có cả một kho tàng bí mật.

Anh Ba Canh bao giờ cũng tử tế. Lòng anh đơn giản. Anh tưởng lòng người cũng đơn giản như anh. Anh thường khuyên tôi nên tìm một người đàn bà goá để gán ghép hai cuộc đời cô đơn làm một. Vì quá thật thà, anh đâu biết có những cặp vợ chồng đang đi trên lưỡi dao cạo. Đến một ngày nào đó, hiểu ra thì con tim đã bị cứa nát rồi. Chừng nào anh Ba Canh mới thấu được lòng dạ chị Ba? Lúc ấy, liệu anh làm sao với con tim chảy máu của mình?


Ba năm tôi ở Tầm Lanh. Kẻ lạ chợt đến chợt đi. Tình người dưng nước lã. Tôi nương tựa vào gia đình Ba Canh, coi đây là chỗ thân tình duy nhất. Đứa con gái lớn của anh, tên Mận, học hành dang dở. Tôi đến chơi, thường vẫn dạy thêm cho Mận về những môn  thường thức của nhà trường. Năm mười lăm tuổi, Mận nghĩ chuyện gì ở trên đời, tôi cũng thông suốt.

Mận hỏi: “Chú ơi, muối lấy từ đâu?”

Tôi nói: “Từ trong nước biển.”

“Tại sao nước biển có muối nhỉ?”

“Vì nước biển mặn.”

“Tại sao nước biển mặn?”

“Vì nước biển có muối.”

Cái kiểu trả lời theo chu kỳ vòng tròn của tôi, làm hai chú cháu cười ngất.

Năm mười sáu tuổi, Mận nói: “Chú ngon hơn ông Nguyễn Công Trứ.”

Tôi hỏi: “Tại sao?”

“Ông Nguyễn Công Trứ đang làm quan bị hất xuống làm lính, vẫn chạy theo sau chiếc xe công danh réo gọi ơi ới. Còn chú, nghe ba cháu nói cũng đang làm quan gì đó, rồi bị đi tù, trở về đi vác củi, không thèm chạy theo cách mạng.”


“Hoàn cảnh mỗi thời mỗi khác. Không so sánh thế được đâu. Cháu đừng nhắc chuyện cũ để chú yên thân làm nghề vác củi.” 

Năm mười bảy tuổi, Mận nói: “Chú ơi, chú giống ông Trần Tế Xương.”

Tôi hỏi: “Ổng là thi sĩ. Chú là phu vác củi. Sao lại giống nhau?”

Mận lật quyển sách, đọc:

Một trà, một rượu, một đàn bà

Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta

Chừa được thứ nào hay thứ ấy

Có chăng, chừa rượu với chừa trà.


Rồi ngước lên nhìn tôi: “Chú cũng vậy. Không chừa được đàn bà.”

“Đàn bà đâu? Chú đang sống độc thân mà.”

“Hừm… Cháu thấy mấy cô làm đĩ, bu vào chú nói chuyện hoài.”

“Ừ, thì nói chuyện cho… vui.”

“Không được. Chú phải chừa cái thứ ba luôn.”

Tôi kêu: “Trời ơi! Chú đâu phải thầy tu mà chịu đủ thứ điều răn giới luật?”

Mận khẳng định: “Người tốt không giao thiệp với người xấu.”

Trong mắt Mận, tôi là người tốt. Mận không muốn tôi lân la gần gũi những người mà Mận cho rằng xấu. Mận đâu biết trên cõi đời ô trọc này, không thể nhìn bề ngoài con người mà tỏ được vàng thau. Mận thừa hưởng tấm nhan sắc mặn mà của mẹ, còn tính nết ra sao, chỉ có trời biết.


Một chiều nghỉ việc sớm, tôi đi thơ thẩn trên sân đình.

Mận đến, nói: “Má cháu bảo đem biếu chú trái dưa hấu đầu mùa.” Và đặt trái dưa xuống bậc thềm.

Tôi nói: “Tránh chỗ đó. Coi chừng mái hiên sập xuống bất cứ lúc nào.”

Chúng tôi đi vòng ra đứng trước cửa tiền đình.

Mận nhìn cánh cửa gỗ mối mọt hư hao: “Cái đình này ghê quá.”

“Cháu có vào bên trong bao giờ chưa?”

“Hồi nhỏ, cháu thường vào mỗi khi có dịp cúng đình. Nghe nói Thần đình được sắc phong của vua. Sắc đựng trong cái hộp gỗ, để bên cạnh bức tượng.”

“Mình vào coi thử đi.”


Tôi mở cửa chính điện. Bụi thời gian lả tả rơi đầy trên tóc, trên vai. Lâu ngày không ai quét dọn, mùi cứt dơi xông nồng lên mũi. Nền đình lót gạch Tàu. Dấu chân chúng tôi in trên màu bụi xám. Trong đình âm u. Ánh sáng bên ngoài hắt qua cửa chính mờ mờ, đủ nhìn thấy bàn thờ và bức tượng. Hai tấm liễn màu đỏ hai bên, viết bằng Hán tự. Bụi phủ, nhện giăng. Tượng Thần không lớn mà uy nghiêm. Hộp đựng sắc vua phong làm bằng gỗ mun, được che bởi miếng vải lụa điều. Tôi giở miếng vải lụa. Trên nắp hộp có hình một cặp giao long khảm xa cừ lóng lánh

Tôi toan mở, Mận ngăn: “Không được.”

“Sao không?.”

“Chẳng phải ai cũng có thể mở hộp ra coi được đâu.”

“Vậy ai có thể mở?”

“Cháu nghe nói, chỉ những vị chức sắc làm lễ xin phép Thần trước khi mở hộp.”

“Những vị chức sắc, bây giờ ở đâu?”

“Không biết.”

Mận đứng nép vào tôi, ngó dáo dác chung quanh.

“Mình đi ra, chú! Vào đây, cháu thấy sờ sợ.”

Mùi tóc, mùi của người nữ thoảng vào mũi tôi. Tôi muốn đứng đây mà hít thở. Và Mận cứ nép vào tôi như thế mãi. Hơi ấm thịt da con gái luồn vào tôi một nỗi gì êm đềm lâng lâng khó tả. Tôi định nói một câu thân tình âu yếm, nhưng lại thốt khác đi.


“Mai cháu đem cây chổi cho chú mượn. Chú muốn quét dọn bên trong ngôi đình.”

Mận ngước nhìn tôi: “Không… Đừng động đến mọi vật trong này.”

Tôi nói thêm một câu thật lảng: “Vì tôn trọng tín ngưỡng, tập tục lễ nghi của ngưới đời trước, chú không mở hộp để coi sắc phong thần vua ban.”

Mận cầm tay tôi lay nhẹ: “Chú!”

Bàn tay Mận đẫm mồ hôi. Xa đàn bà lâu quá, tôi đâm ra ngờ nghệch vụng về không biết nói lời gì.

“Mình đi ra, chú!” Mận giục.

Tôi nói nhỏ: “Hãy khoan.”

Mận kêu: “Không. Cháu sợ, chú ơi!”

Chẳng biết Mận sợ sự âm u của ngôi đình, hay sợ nỗi gì khác.

Chúng tôi ra tới cửa chính. Bất ngờ, thấy chị Ba đứng sẵn nơi tiền đình. Tôi gật đầu chào chị.

Mặt chị có vẻ khác thường: “Các người làm gì trong ấy?”

Mận nói: “Chú định coi sắc vua.”

“Hừ… Sắc vua?”

Chị nắm tay Mận lôi về, không thèm ngó đến tôi.

Hôm sau, tôi gặp lại Ba Canh ngoài bãi. Anh không nói gì. Thái độ rất lạnh.

Tôi hỏi: “Anh có điều gì không vui?”

Anh ngừng tay làm việc, rút thuốc ra hút và đứng suy nghĩ.

Mãi lâu sau, anh nói: “Tôi quý chú em, coi như người nhà. Không ngờ, chú tệ quá.” Anh thở dài.

“Tôi làm những gì mà anh gọi là tệ?”

“Những gì chú cũng biết rồi. Con Mận còn khờ. Chú là người hiểu biết. Miếu đình là chốn linh thiêng. Sao lại đem nhau vào trong ấy…?”

“Có phải chị Ba thêu dệt chuyện này?”

“Ai dám thêu dệt chuyện động trời như thế.”

“Anh đã hỏi kỹ lại con Mận chưa?”

“Làm sao nó có thể nhận một hành động tày trời? Nó chối. Khóc kêu oan.”

Tôi gắt: “Anh cũng tin lời chị sao?”

“Không tin vợ thì tin ai?” Nếu vợ tôi không bắt gặp tại trận, chỉ nghe lời đồn thì cũng khó tin được.”

“Bắt gặp thế nào?”

“Chú là người trong cuộc, chú biết rõ hơn ai hết. Tôi không nói là vì còn nể mặt nhau.”

Tôi muốn đấm ngực than trời. Mận khóc kêu oan. Còn tôi, kêu với ai? Đính chính thế nào?

“Bây giờ anh tính sao?”

“Chuyện xảy ra quá đột ngột, tôi chưa biết đường nào giải quyết. Đàn bà nhiều khi sáng suốt hơn mình. Vợ tôi nói vì danh dự của chú và con Mận, không nên làm ồn vụ này. Nó phải giữ danh giá để mai kia còn lấy chồng. Chú nên rời khỏi Tầm Lanh, cắt đứt ngay mối tình vụng trộm.”

Cái câu “chú nên rời khỏi Tầm Lanh” làm tôi hiểu rõ ý định của chị Ba. Chị không hiểu lầm. Chỉ vì không muốn tôi còn lảng vảng quanh đây, sợ một lúc nào đó, tôi sẽ tiết lộ cái đêm trăng cũ chị đến mái lậu liêu. Nếu lần ấy, tôi đồng tình với chị thì hai người cùng giữ bí mật. Và chị cũng không cần phải dựng đứng lên một điều không có thật giữa tôi và Mận. Bây giờ, dù tôi có vạch rõ âm mưu của chị Ba, thì anh Ba Canh cũng sẽ cho rằng tôi đặt điều bêu xấu vợ anh để chạy tội cho mình.

Tôi nói: “Anh Ba, mai tôi rời Tầm Lanh. Xin anh nhắn với chị rằng, vì muốn bảo vệ danh giá của mình, chị đã vu oan cho tôi và con Mận.”

“Vu oan? Tôi không nghĩ thế. Và cũng không hiểu ý của chú muốn nói gì?”

“Hiểu sao được khi anh đang sống ngọt ngào trên lưỡi dao cạo. Tôi và con Mận đã bị đứt tay rồi. Không biết chừng nào tới anh.”

Trên chuyến xe rời Bến Củi, tôi thấy Mận đứng dưới mái hiên, ngùi trông theo. Chẳng biết Mận có khóc hay không. Bóng xế hắt hiu trên đầu cây sao già. Ngôi đình cũ vẫn im lìm như ngày tôi mới đến. Ba năm. Cây rừng Tầm Lanh mọc rễ trong tôi. Tôi nhổ gốc ra đi. Không có ai vẫy tay làm đưa tiễn./. 


Lâm Chương 


https://vanngheboston.wordpress.com/van-nghe-si-boston/van/lam-ch%c6%b0%c6%a1ng/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn/

 

Vinh Danh Bà Mẹ Việt Nam - Nguyễn Duy Phước

Những Gì Quan Trọng Nhất Trong Đời Chúng Ta? - BS. Nguyễn Thượng Vũ


Trong 1 forum tiếng Pháp mà tôi là thành viên, mấy ngày trước chúng tôi có bàn về một đề tài quan trong cho tất cả chúng ta: những gì quan trọng nhất trong đời chúng ta?

    Có nhiều câu trả lời khác nhau, tùy theo tuổi tác, tùy theo giới tính, tùy theo từng lớp trong xã hội.

    Phần lớn không phải là một lựa cọn duy nhất, mà là một nhóm lựa chọn.

Tôi tóm tắt  phía dưới các bàn luận chung cho cuộc bàn luận nhiều ngày này. Tôi ước mong các anh chị sẽ cho thêm ý kiến cho bài viết đầy đủ hơn

Nguyen Thuong Vu 

****** 

    Phần lớn lựa chọn là: Sức Khòe, Vợ hay chồng, bạn hữu, Tiền Nong, Giáo dục, nghề nghiệp, bằng cấp. 

    Chúng tôi gạt bỏ lựa chọn như Bố Mẹ, con cái , vì chúng ta không lựa chon được bố, mẹ, con cái hay anh em.

    Lựa chọn bạn hữu thì được chứ không lựa chon được anh em. 

    Mỗi người chúng ta có những ưu tiên riêng tư cho chính mình. 

    Không có một tỷ lệ “đúng tuyệt đối” nào cho  tất cả mọi người, vì ưu tiên trong cuộc sống thay đổi theo tuổi tác, văn hóa, tính cách và hoàn cảnh.

    Nhưng các nghiên cứu về tâm lý học, y học và hạnh phúc lâu dài thường đồng ý với nhau ở một điểm quan trọng:

    Một cuộc sống tốt đẹp thường được xây dựng trên sự cân bằng, / balance/equilibre/  chứ không phải chỉ tối đa hóa một yếu tố như tiền bạc hay sự nghiệp. 


Một cách thực tế để nhìn về các ưu tiên trong đời sống có thể là:

  • Sức khỏe (thể chất và tinh thần): 30%. 
  • Không thể quên/loại bỏ/ coi rẻ/ sức khỏe tinh thần được.

Không có sức khỏe thì hầu như mọi điều khác đều khó tận hưởng. 
  • Quan hệ gia đình và tình cảm (vợ/chồng, gia đình, bạn thân): 25% 

  •  Khổng thể gạt bỏ  tính cách quan trọng tình cảm giữa những liên hệ đồng tình luyến ái được 

  • Những mối quan hệ bền vững là một trong các yếu tố dự đoán mạnh nhất về hạnh phúc và tuổi thọ.
  •  
  • Giáo dục và học hỏi liên tục: 15%
  •  
  • Việc học / giáo dục/ kiến thức/ giúp con người có phán đoán tốt hơn, thích nghi tốt hơn và có nhiều cơ hội hơn trong suốt cuộc đời.
  •  
  • Ý nghĩa sống / lý tưởng / giá trị tinh thần: 15%
  •  
  • Con người cần một lý do để thức dậy mỗi ngày, vượt lên trên chuyện chỉ kiếm sống hay tiêu dùng.

Đức tin tôn giáo rất quan trọng 

  • Ổn định tài chính: 10%
  • Tiền bạc giúp giảm căng thẳng và tạo sự tự do.
  • Nhưng sau khi đã đủ an toàn và ổn định, tác động của tiền đến hạnh phúc giảm dần. 
  • Giải trí / nghệ thuật / đời sống tinh thần: 5%
  • Âm nhạc, nghệ thuật, thiên nhiên, niềm vui hay đời sống tâm linh giúp nuôi dưỡng sự cân bằng nội tâm.

    Các bài khảo cứu về Thi thơ, Âm nhạc cổ điên hay tân nhạc của BS Nguyễn Văn Bảo, BS Phạm Anh Dũng , Nguyên Bích,  Khanh Phương , thuộc về địa hạt này.


Các tỷ lệ này không chỉ nói về thời gian, mà còn nói đến:

  • mức độ quan tâm,
  •  
  • năng lượng tinh thần,
  •  
  • sự đầu tư cảm xúc, (emotional investment) 
  •  
  • và tầm quan trọng lâu dài. ( long-term importance) .Một người ban quen trong khi du lich thì hường ít có đầu tư cám xúc. 
  •  

Một điều đáng suy nghĩ là:

Nhiều người lớn tuổi thường nói rằng:

  • Ít ai hối tiếc vì mình đã không kiếm thêm được một ít tiền.
  •  
  • Nhưng rất nhiều người hối tiếc vì đã làm hỏng sức khỏe, đánh mất gia đình hay bỏ quên những người thân yêu.
  •  

    Điều đó không có nghĩa tiền bạc không quan trọng.

Thiếu an toàn tài chính có thể gây áp lực rất lớn. Nhưng tiền bạc khác với sức khỏe và tình cảm:

  • Đến một mức nào đó, tiền giúp cuộc sống tốt hơn rất nhiều.
  •  
  • Nhưng vượt quá mức cần thiết, hiệu quả  tiền bạc đem lại hạnh phúc sẽ giảm dần.

Có thể hình dung cuộc sống như một cái bàn có bốn chân:

  1. Sức khỏe
  2. Quan hệ tình cảm
  3. Ý nghĩa sống
  4. Ổn định tài chính

Nếu một chân gãy hoàn toàn, cái bàn sẽ mất cân bằng.

Theo tuổi tác, ưu tiên cũng thay đổi:

  • Tuổi trẻ (15–30): học hành, kỹ năng và xây dựng bản thân có thể chiếm tỷ trọng cao hơn.
  •  
  • Trung niên (30–55): gia đình, con cái, sự nghiệp và tài chính trở nên quan trọng hơn.
  •  
  • Tuổi lớn hơn: sức khỏe và những mối quan hệ ý nghĩa thường trở thành ưu tiên hàng đầu.  (Health and meaningful relationships usually become dominant)  priorities.) 

Một thứ tự ưu tiên mà nhiều người cuối cùng nhận ra là:

  1. Sức khỏe
  2. Nhân cách và khả năng phán đoán .     
  3. Tình cảm và gia đình
  4. Công việc có ý nghĩa
  5. An toàn tài chính
  6. Danh vọng và địa vị

Điều đáng chú ý là “địa vị” thường đứng khá thấp. Nhiều người dành quá nhiều năng lượng để theo đuổi danh tiếng / địa vị/ tiền bạc/ mà quên mất sức khỏe hoặc gia đình.

Nếu muốn tóm gọn thành một công thức đơn giản:

  • 30% Sức khỏe
  • 25% Tình yêu và các mối quan hệ gia đình, bạn hữu 
  • 20% Học hỏi , giáo duc và phát triển bản thân
  • 15% Ý nghĩa sống và cống hiến, giúp đỡ xã hội và nhân loại 
  • 10% Tiền bạc , nhà cửa và vật chất

Điều quan trọng không phải là các con số chính xác, mà là tránh cực đoan:

  • chỉ có tiền mà không có sức khỏe,
  • chỉ có sự nghiệp mà không có gia đình,
  • chỉ hưởng thụ mà thiếu kỷ luật,
  • chỉ làm việc mà thiếu ý nghĩa sống tâm linh .

Một cuộc đời cân bằng thường gồm:

  • đủ tiền để sống an ổn,
  • sức khỏe tốt,
  • có người để yêu thương,
  • có việc làm có ý nghĩa,
  • và luôn tiếp tục học hỏi. ( nghe âm nhạc hàng  ngày, chơi cờ, ca hát, nhẩy múa, đọc sách...)  

Nguyễn Thượng Vũ