
Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Sunday, May 31, 2026
Lặng Ngẫm Sự Đời

Những Giọt Lệ Hồng - Diệu Nga
Mẹ tôi không muốn di cư sang Mỹ ở tuổi 60. “Già rồi, sang bên ấy chỉ ăn bám vợ chồng chúng mày!” Bà nói khăng khăng như thế nhưng con gái xuống nước năn nỉ ỉ ôi, bà lại xiêu lòng. “Ờ, nó nói cũng phải, mình qua bên ấy giữ cháu ngoại cũng vui, lại đỡ nhớ, khỏi phải chờ mong. Mình ở đây nó phải gửi tiền về cấp dưỡng, tốn kém lắm chớ chẳng không!” Dì tôi cười, nói như lẩy: “Nợ đòi rồi đấy, cứ sang mà trả cho xong!” Nghe mẹ kể lại lời dì, tôi cảm thấy hơi áy náy. Quả thật tôi cần mẹ không chỉ thuần túy vì tình cảm. Tôi cầu cứu bà sang để chăn bầy cháu 4 đứa. Dạo này buôn bán ể ẩm, tôi không kham nỗi tiền giữ trẻ, cũng không thể tiếp tế đều đặn cho mẹ nên rước bà qua là nhứt cử lưỡng tiện... Căn nhà 3 phòng của vợ chồng tôi, bề ngoài trông cũng khang trang với cây cảnh chung quanh và cửa garage tự động nhưng thật ra chỉ rộng 1100 sf. Trừ phòng ngủ chánh tương đối rộng rãi, 2 phòng còn lại vuông vức, nhỏ xíu xiu. Đất ở San Francisco là đất vàng. Căn nhà cũ kỷ 50 tuổi này trị giá chừng 60 ngàn nhưng lô đất 4000 sf của nó giá hơn 400, dù là nằm ở vùng ngoại ô xa tít. Thành ra cứ rán giữ, rán nắm dù mệt muốn hụt hơi. Cửa tiệm fast food bán cho nhân viên các hãng xưởng gần đây cũng theo đà lay-off mà đi xuống. Đến đầu tháng là chúng tôi điên đầu với đủ thứ tiền phải thanh toán. Tư trang sắm từ những năm phồn thịnh buôn may bán đắt lặng lẽ nuối đuôi nhau đi hết, vào nằm im nơi các tiệm cầm đồ.
Chúng tôi không hề nghĩ đến giải pháp bán nhà vì đó là gia tài duy nhất, cũng là mối kinh doanh không sợ lỗ vốn; vả lại bây giờ đi mướn một apartment tồi tàn đủ chỗ chứa 6 người, giá thuê hàng tháng còn mắc hơn số tiền trả góp nhà. Trong tình thế kiệt quệ này, nếu có mẹ tôi lo cho tụi nhỏ, đưa đón đi học, quán xuyến việc nhà, tôi sẽ rảnh rang hơn để đi làm thêm lặt vặt buổi sáng, trưa về phụ tiệm ăn với chồng tôi. Buổi tối chúng tôi sẽ đi clean các tiệm ăn, chợ búa. Chịu khó một thời gian hy vọng kinh tế sẽ phục hồi trở lại. Mọi người đã hăm hở đón chào thiên niên kỷ mới, ai ngờ nó bắt đầu bằng sự xuống dốc! Mẹ sang Mỹ vào mùa Thu. Trời khá lạnh đối với mẹ vì chưa quen nhưng màu xanh của biển trời đã thu hút mẹ. Lũ cháu xúm xít lấy bà vì ngày thường không ai gần gũi chúng cả. Chúng xổ tiếng Anh líu lo, thậm chí cô bé út mới 4 tuổi cũng không rành tiếng Việt. Bà cười dễ dãi: “Sẽ có cuộc trao đổi nhé! Bà dạy các cháu nói tiếng Việt, các cháu dạy cho bà nói tiếng Anh.” Thấy mẹ vui, tôi an lòng.
Thế là bên cạnh cái giường 2 tầng của 2 cô bé gái là tấm nệm của bà ngoại. Ban đêm, 3 bà cháu nói chuyện rì rầm; có khi 2 cậu trai cũng gõ cửa xin vào để được hưởng không khí đầm ầm bên bà ngoại rất hiền và rất vui. Mẹ như bà tiên có chiếc đũa thần đã biến căn nhà bừa bãi đầy phiền muộn của chúng tôi thành một tổ ấm ngăn nấp, sạch sẽ và đầy tiếng cười. Trước kia, chúng tôi chỉ dùng những thức ăn ế ẩm từ cửa hàng, lắm khi nuốt chẳng trôi. Mẹ bảo cứ bỏ thịt bỏ rau vào tủ lạnh cho bà. Thế là mỗi chiều về gia đình tôi được quây quần chung quanh bàn ăn có cơm canh nóng hổi, hương vị ngọt ngào.
Chỉ sau vài tháng, các con tôi khỏe mạnh ra, lễ phép ra và biết phụ giúp công việc lặt vặt trong nhà. 2 cậu con trai lớn, bà phân công lo vườn tược cây kiểng: “Thằng Hùng 12 tuổi, lớn rồi, lo chăm sóc các cây lớn, tỉa lá, bón phân, Hậu cũng 10 tuổi rồi, thay vì ôm máy chơi game, có thể phụ anh quét sân, tưới nước.” Bà hiền lành nhưng nói gì các cháu cũng nghe. Chúng không còn là những đứa bé “vô tích sự” như thuở trước. Thật ra chúng không đến nỗi tệ nhưng vợ chồng tôi quần quật với công ăn việc làm, không có thì giờ dạy dỗ, chỉ vẽ. Bảo làm chuyện gì, chúng thực hiện qua loa lấy có, rầy mãi phát mệt thành ra không thèm sai biểu nữa, tự mình làm chóng xong mà vừa ý hơn. Con Hoa hãnh diện khoe với mẹ: “Bà dạy con nấu cơm. Con biết lặt rau, rửa chén, lại biết tráng trứng nữa cơ!” Tôi hôn con, thầm cám ơn mẹ đã cho gia đình tôi cơ hội để sống có hạnh phúc thay vì cứ mãi rầy rà, cãi vả, gây ó nhau trong một căn nhà bề bộn, dơ bẩn.
Mẹ vốn là một Phật tử thuần thành. Thỉnh thoảng bà giảng dạy cho tôi về đạo lý: “Hạnh phúc không phải là món quà từ đâu đến, không phải tự nhiên mà có, cũng chẳng thể do phúc đức mà được. Mình phải biết cách sống, biết cách hợp tác xây dựng thì mới có hạnh phúc.” Thuở ấy, đầu óc tôi quá dầy đặc với những con số để có thể hiểu lời mẹ khuyên, vả lại cũng không có thì giờ... Thôi thì để mẹ lo giùm. Mỗi chiều về nhìn các con ngoan, được ăn bữa cơm tối ngon, đối với tôi đã là đủ rồi. Tôi bận rộn với nợ nần đến nỗi không mấy khi chú ý đến tâm tình của mẹ. Bây giờ kiểm điểm lại mới nhớ rằng tôi ít hỏi thăm về sự buồn vui của bà. Thay đổi môi trường sống, bà bỏ lại sau lưng biết bao nhiêu thứ: chị em, họ hàng, lối xóm, sư ông, bằng hữu.. Đôi khi, mắt mẹ thoáng buồn. Tôi chỉ hỏi qua loa: “Mẹ có mệt không?” Chao ôi, rõ tệ, miệng hỏi mà lòng vái thầm: “Mẹ đừng ngã bệnh, khổ con!” Là con một nên cách suy nghĩ của tôi thường ích kỷ như thế. Cái gì cũng qui về mình, cho mình thôi!
Thắm thoát, mẹ ở với chúng tôi đã được một năm rồi. Gia đình thì ổn thỏa nhưng tình trạng tài chánh càng ngày càng bết bát mặc dù vợ chồng tôi bỏ sức lao động gấp đôi. Giao kèo mướn cửa tiệm sắp hết hạn mà chẳng tìm được người sang lại. Không ký thêm thì mất tiệm, mất luôn 50 ngàn bỏ ra sang tiệm trước kia, nhưng tiếp tục thì ngày càng thua lỗ, chẳng kham được nữa. Chuyện gì đến, phải đến. Tháng sau đó, vợ chồng tôi lủi thủi dọn đồ về trả lại cửa hàng cho người ta sau 10 năm làm chủ. Bây giờ hóa ra là kẻ làm công, lại làm những nghề linh tinh quét dọn. Tủi thân mà tức số phận mình. Mẹ an ủi: “Thôi, như thế đỡ lo con ạ. Tinh thần căng thẳng quá có khi phát dại, hóa cuồng! Trong cái dở có cái hay là thế!” Chúng tôi lợi dụng thời gian tương đối rảnh rang này để sửa chữa căn nhà hư dột. Anh Thắng chịu khó và khéo tay nên cái gì cũng tự làm được, đỡ tốn tiền mướn thợ.
Một hôm anh leo lên mái nhà để lợp lại mấy miếng ngói bể. Sơ ý thế
nào chẳng rõ, anh trợt chân té xuống bất tỉnh. Chỉ có mình mẹ ở nhà! Bà bình
tĩnh gọi 911, vắn tắt vài câu tiếng Anh: “He falls down from the roof. He stops
breathing!” Và rành rọt đọc địa chỉ, số phone nhà cho họ. Ai ngờ bà âm thầm học
chữ Anh mau đến thế! Bà đã cứu mạng chồng tôi! Thắng bị gãy chân và dập ống
quyển. Phải nằm tại chỗ từ 5 đến 6 tháng. Tình cảnh này đưa mẹ tôi vào môi
trường mới. Bà tự nguyện thế chỗ cho chồng tôi để quét dọn, lau chùi các cửa
tiệm hầu phụ giúp tôi về tài chánh. Mẹ hăng hái trong công việc. Tôi đoán rằng
ở nhà mãi mẹ cũng buồn, nay được ra ngoài bà cảm thấy vui hơn. Bà có những
người bạn mới: cô thâu ngân vui tính, bà lão phụ trách hàng rau cải, chú
“Thoòng” chuyên khuân vác. Mẹ hòa mình với họ, với cuộc sống của những người
lao động tay chân. Đâu ai biết rằng trước 1975, mẹ là giáo sư dạy Pháp văn tại một trường công lập lớn ở Sài Gòn. Các con tôi
biết hoàn cảnh bi đát của gia đình nên mỗi đứa một tay, cùng nhau lo chuyện
nhà. Mẹ tôi hài lòng thấy các cháu tự ý thức được trách nhiệm, biết thương mẹ
thương cha. Ngày anh Thắng trở lại công việc, tôi xin mẹ ở nhà nghỉ ngơi. Mẹ
nói:
- Con ơi, ra ngoài
cũng vui, lại kiếm được đồng tiền. Từ ngày đi Mỹ đến nay đã gần 2 năm, mẹ chưa
gửi tiền về giúp các em, các cháu bên ấy. Tụi nó nghèo lắm mà chẳng có cách
kiếm ra tiền cho kịp đà leo thang của vật giá. Bên này kiếm tiền dễ hơn. Có
tiền, mẹ lại có phương tiện cúng dường, bố thí...
Tôi im lặng nghẹn
ngào, chợt nhớ rằng mẹ chưa hề hỏi tôi một đồng xu nào và tôi quên bẵng rằng mẹ
cũng có nhu cầu tiêu xài. Trên thế gian này, không có nhân viên nào làm việc
cật lực mà không đòi hỏi thù lao như thế! Vô tình, tôi đã “đòi nợ” mẹ tôi một cách
tận tình. Dì tôi cũng có lý khi bà mỉa mai tôi. Trong lúc tôi đăm chiêu, mẹ nhẹ
nhàng tiếp:
- Mẹ đã xin được chân
rửa chén trong nhà hàng. Rửa bằng máy chả cực nhọc gì!
- Trời đất ơi, rửa
chén, cần sức lực của người đàn ông Mễ mới kham nỗi. Nồi niêu son chảo to như
cột đình, nặng như búa tạ, làm sao mẹ nhấc cho nổi!
Tôi xuống giọng tiếp:
- Mẹ nhìn lại mẹ xem.
Tay mẹ gầy yếu, lưng mẹ đã cong, bước đi không còn nhanh nhẹn. Dù họ cần người,
mướn tạm, vài hôm cũng cho nghỉ việc thôi!
Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ mẹ. Bà già thật rồi, cái già đến nhanh quá. So với hồi mới qua, bà như tăng thêm 5, 7 tuổi. Mẹ tôi cúi đầu xuống thấp. Hình như bà cố giấu giọt lệ vừa ứa ra. Tôi nhẹ nâng cầm mẹ lên và nhìn sâu vào đôi cửa sổ tâm hồn ấy. Trời ơi, mắt mẹ đã kéo mây! Đôi mắt bồ câu đen láy ngày nào từng làm điên đảo các chàng trai cùng trang lứa, cột chân ba tôi vào tổ ấm gia đình, giờ đã một phần ngả màu đục lờ như nước gạo vo. Tóc mẹ trắng bơ phờ, đuôi mắt nhăn như rẻ quạt, vầng trán sạm đen vết đồi mồi... Tôi mủi lòng xót xa. Hai mẹ con ôm nhau, nước mắt người này thấm ướt vai áo người kia. Tôi nhỏ nhẹ: “Con không dám trái ý mẹ, nhưng mẹ rán chờ. Con hứa sẽ tìm công việc nhẹ nhàng hợp với mẹ hơn, mẹ nhé! Vong hồn ba mà biết mẹ cực khổ thế này chắc khó siêu.” Trời cũng thương tình.
Đâu chừng 1 tháng sau thì bà lão làm rau
cải xin nghỉ việc về hưu. Mẹ tôi trở thành “bà cụ hàng rau”. Danh xưng và chức
vụ gắn liền với mẹ tôi từ đấy. Vậy mà bà vui. Mỗi tháng bà lãnh được hơn ngàn
bạc. Phân nửa số tiền, bà gửi về Việt Nam: phần cúng dường, phần bố thí, phần
giúp đỡ các em, các cháu. Số còn lại, bà dành dụm mấy kỳ lương, đưa tôi hơn
ngàn bạc. “Mẹ thấy người ta dựng phòng trong garage cũng tiện lắm. Nếu chồng
con không phiền, con lấy tiền này nhờ nó mua vật liệu, che tạm cho mẹ một căn
phòng nhỏ. Con Hoa, con út bắt đầu lớn, tụi nó cần sự riêng tư. Mẹ cũng vậy, có
phòng riêng mẹ sẽ dựng kệ thờ Phật, mỗi ngày mẹ có thể lễ bái, tụng kinh, niệm
Phật...” Chồng tôi nghe kể lại, vui vẻ đáp: “Chuyện nhỏ! Mẹ muốn gì anh cũng
xin vâng, nói chi việc ấy!” Từ đấy, mẹ lộ vẻ hoan hỉ lắm. Sáng tối hai thời, ít
khi nào bà bỏ lỡ công phu. Bà như một người đạt được mục tiêu cho đời mình,
không có gì để ưu tư, khắc khoải. Mùa Đông năm ấy, thời tiết hơi khác thường.
Ban ngày ấm áp xen kẽ với những đêm buốt giá mà nhiệt độ đôi khi hạ thấp đến
không ngờ. Vợ chồng tôi mời mẹ tạm trở về phòng cũ vài ba tháng, ngoài garage
lạnh quá dễ sinh bịnh.
Mẹ nói:
- Ở chỗ này quen rồi,
dời đi khó ngủ.
- Mẹ nhớ vặn heat cho
đủ ấm nhé!
- Ờ, tao biết mà!
Ngờ đâu mẹ đã không qua khỏi mùa Đông! Buổi sáng chẳng thấy mẹ dậy sửa soạn để đi làm, tôi bảo “đứa nào ra đánh thức bà dậy, nhanh lên kẻo trễ!” Con Hoa quấn mền đẩy cửa bước ra garage miệng kêu léo nhéo: “Ngoại ơi, ngoại à!” Không có tiếng trả lời. Nọ bật đèn, tiến đến cạnh giường: ngoại quấn hai cái mền kín mít, nằm im ỉm. Nó lắc chân ngoại, bà chẳng đáp. Nó lôi cái mền xuống: mặt bà xám xịt, lạnh ngắt, đôi mắt khép hờ. “Mẹ ơi, mẹ! sao kỳ vầy nè!” Cả nhà đổ xô ra. Chồng tôi đạo Chúa, vội làm dấu thánh giá. Tôi xỉu ngay tại chỗ khi loáng thoáng nghe thằng Hùng la lên: “Sao bà không mở heat?” Cuộc điều tra của cảnh sát quấy rầy chúng tôi một thời gian, cuối cùng họ kết luận: “Bà cụ không thường mở heat; cái máy mua 2 tháng về trước còn mới tinh chưa hề được sử dụng!” Tôi như người mất hồn trong đám tang của mẹ. Sự hối hận như lưỡi dao có răng, nó cưa xé lòng tôi. Trái tim tôi cơ hồ rỏ máu thành những giọt lệ hồng. Bạn bè khuyên tôi nên đến chùa xin cúng thất, thiết lễ cầu siêu cho bà. Tôi chẳng thể nói năng chi cùng vị sư ở chùa, chỉ biết dập đầu lạy cầu cứu với đôi mắt sưng húp. Chồng tôi bình tĩnh hơn, anh buồn bã kể đầu đuôi tự sự. Câu chuyện khiến thầy thương tâm, thầy thường an ủi, khuyên giải sau những thời lễ cúng.
Khi thấy tôi bắt đầu trở lại
bình thường, thầy dành cho gia đình chúng tôi một thời pháp thoại. Thầy giảng
về lý vô thường, khổ, không. Các con tôi tỏ ra thích thú với sự thật giản dị và
sâu sắc này, chúng đòi được học giáo lý đạo Phật thay vì đi nhà thờ với ba.
Riêng tôi, tôi nhớ mãi câu kết luận của thầy trong buổi nói chuyện ấy: “Con
người ta sở dĩ đau khổ triền miên là tại mình muốn nắm giữ! Cái gì cũng khư khư
ôm chặt. Làm sao giữ mãi được vì bản chất của chúng là vô thường, là không. Hãy
buông bỏ hết đi, chừng nào bỏ được, chừng ấy mới có chân hạnh phúc!” Phải rồi,
nếu chúng tôi không bám chặt vào căn nhà thì mẹ tôi đã không phải vất vả đến
thế, không đến nỗi chết cóng ngoài garage. Và gia đình tôi không lụy đến mức
này. Tôi thỏ thẻ bàn với chồng:
- Anh à, căn nhà này
mình không giữ nỗi thì bán nó đi. Em tính rồi, sau khi thanh toán hết nợ nần
mình cũng còn vài trăm ngàn. Dọn sang Texas, nhà cửa rẻ hơn, mình có thể tậu
căn khác hoặc là giữ làm vốn, tính chuyện làm ăn.
- Ờ nhỉ, hồi đó sao
mình ngu quá, cứ ôm lấy nó mà cắm cổ đi cày trả nợ. Liệu giữ không được thì sớm
buông đi. Nhờ ông thầy giảng dạy, mình mới sáng mắt ra!
Sau khi dọn sang
Texas, trước khi bắt tay vào công ăn việc làm, tôi xin phép anh Thắng cho tôi
về Việt Nam một chuyến. Tôi về để được quì dưới chân sư ông kể lể hết sự tình,
xin sám hối thì lòng tôi mới có thể yên. Sư ông trầm ngâm và yên lặng nghe tôi
vừa khóc rấm rức vừa kể về mẹ tôi, đệ tử mà người rất quí mến. Sư ông không hề
cắt ngang bằng những câu hỏi. Người không phê phán gì, chỉ để yên cho tôi khóc,
khóc oà vỡ như cái đập nước bị ngăn chận, nay có người tháo ra. Mãi một lúc lâu
lắm sau đó, sư ông mới dạy: “Người mẹ nào cũng có trái tim Bồ Tát. Mẹ con hành
Bồ Tát đạo ngay trong gia đình trước khi mở rộng ra trong cuộc sống với mọi
người. Con hãy hãnh diện có bà mẹ như thế! Con sẽ không cảm thấy hối hận ray
rứt nữa nếu con biết đi theo hướng đi của mẹ con, biết xả bỏ cái tôi vị kỷ để
lo cho người chung quanh.” Tôi sụp xuống đảnh lễ người đã chỉ cho tôi tháo mở
cái gút dây kết mối ân hận trong tôi. Tôi trở về Texas với sự bình yên và tâm
nguyện cao cả. Nhưng khi mùa Vu Lan về, cầm hoa trắng trên tay, tôi không thể
ngăn được những giọt lệ hồng phát xuất từ trái tim tôi. Than ôi! Khi tôi biết
nghĩ tới mẹ, biết giá trị của trái tim bồ tát, biết thương mẹ thì bà đã không
còn nữa trên đời ./.
Diêu Nga
Hạm Đội Ma - Nhật Quang
Dưới
bầu trời xám xịt trên đại dương bao la, những con tàu sừng sững, khổng lồ, vỏ
ngoài hoen rỉ bởi muối mặn và thời gian, lặng lẽ rẽ sóng mà không để lại bất kỳ
tín hiệu hồng ngoại hay dấu vết nào trên hệ thống nhận dạng AIS.
Giống
như chiếc tàu Nautilus ẩn mình dưới đáy đại dương, những con tàu này ngắt mọi kết
nối vô tuyến, khiến các vệ tinh giám sát không nhận ra một khối thép khổng lồ
lướt êm trên mặt biển.
Chúng
được gọi là hạm đội bóng tối (shadow fleet), hạm đội đen (dark fleet) hoặc hạm
đội ma (ghost fleet)…
Họ là ai, tại sao hiện diện mập mờ, hành tung bí ẩn?
Hạm
đội ma là gì?
Hạm đội
ma, hay còn được gọi là hạm đội bóng đêm (shadow fleet), là một mạng lưới các
tàu hoạt động ngoài các hệ thống giám sát hàng hải nhằm mục đích lách luật quốc
tế.
Những
con tàu này “lý lịch” không rõ ràng, thông qua các công ty bình phong và treo cờ
loạn xị, phần lớn là những quốc gia “dễ chịu”, có hệ thống giám sát lỏng lẻo.
Khi di
chuyển các tàu này luôn tắt hệ thống AIS: Automatic Identification System: nhận
dạng tự động) để trở nên “vô hình” giữa biển cả, hệ thống này cũng tương tự như
hệ thống ADS-B (Automatic Dependent Surveillance-Broadcast) trên máy bay nhằm
“báo” vị trí chính xác của mình cho đài kiểm soát không lưu và các máy bay
khác.
Hạm đội
ma hình thành nhằm vận chuyển dầu thô để lách lệnh trừng phạt, nhưng trên thực
tế chúng còn chuyên chở nhiều loại hàng hóa khác, những hàng hóa lưỡng dụng, là
loại vật liệu có thể dùng trong dân sự và cả quân sự, như chip, máy móc,
hóa chất, linh kiện điện tử, đất hiếm, kể cả đạn dược hoặc các bộ phận tháo rời
của vũ khí và thậm chí đô la.
Kích thước tàu ma
(xanh lá cây) so với các loại tàu khác
Hạm đội ma ra đời
Hạm đội
ma xuất hiện từ thời kỳ chiến tranh lạnh kéo dài 44 năm giữa Mỹ, NATO và Liên
Xô. Tuy nhiên thời đó, hạm đội ma của Liên Xô chủ yếu vận chuyển thiết bị quân
sự, và nằm chờ thời chuẩn bị nếu có chiến tranh.
Ngày
nay hạm đội ma bùng phát khi Iran và Venezuela bị trừng phạt khắt khe từ Mỹ và
đồng minh nhắm vào ngành xuất cảng dầu mỏ. Để duy trì kinh tế, họ mua lại các
tàu chở dầu cũ, tắt hệ thống định vị để vận hành bí mật.
Năm
2022 khi cuộc xung đột Nga – Ukraine nổ ra, Nga mua hàng trăm tàu chở dầu cũ để
thiết lập một “hạm đội bóng tối” dưới tên những công ty không có thật. Chúng nấp
dưới cờ những quốc gia có quy định lỏng lẻo như Marshall Islands, Panama, hay
Liberia.
Lực lượng tuần duyên Thụy Điển theo
dõi một con tàu ma
Đội
lốt
Panama
là quốc gia có đội tàu ma đăng bộ lớn nhất thế giới. Ngoài ra các quốc gia
Liberia và quần đảo Marshall, Gabon, Cook Islands, Comoros, Cameroon và Palau
là nơi lý tưởng để các đội tàu ma ẩn nấp về mặt danh nghĩa.
Khi bị
săn đuổi, các tàu này có thể dễ dàng đổi xoành xoạch màu cờ nước này sang nước
khác.
Sự khác
biệt giữa một con tàu “đàng hoàng” và một chiếc tàu ma không chỉ nằm ở vẻ bề
ngoài mà ở hệ thống vận hành và tính pháp lý. Một con tàu luôn bắt đầu hành
trình của mình bằng sự minh bạch tuyệt đối, mọi thông tin về chủ sở hữu, lịch sử
sửa chữa và các chứng chỉ an toàn đều được đăng bộ công khai tại các quốc gia
uy tín thuộc White List của Paris MoU.
Những
con tàu ma thường là những chiếc tàu cũ mèm, có tuổi đời trung bình trên dưới
20 năm, đã bị loại khỏi các đội tàu chính quy.
Trong
khi tàu thường luôn duy trì hệ thống nhận dạng tự động AIS để các trạm kiểm
soát bờ biển và vệ tinh có thể theo dõi nhằm bảo đảm an toàn hàng hải.
Điều
người ta lo ngại nhất là khi một con tàu bị tai nạn làm tràn chảy dầu, người ta
lập tức đối phó để giảm thiệt hại cho môi trường. Thông thường một con tầu chở
từ 2 triệu đến 2.5 triệu thùng dầu (tương đương khoảng 300,000 tấn). Nếu bị đắm,
một lượng dầu khổng lồ ngập tràn trên biển, làm thay đổi vĩnh viễn nơi đó,
ngành du lịch và ngư nghiệp gần như tiêu tùng, các sinh vật biển không thể tồn
tại, hệ sinh thái như san hô sẽ bị hủy hoại ảnh hưởng đến vài chục năm sau.
Những
con tàu thuộc hạm đội ma là các tàu chở dầu siêu to, dài khoảng 300 mét, tương
đương với chiều dài của 3 sân banh, cao cỡ một tòa nhà 20 tầng. Nếu bạn dựng đứng
con tàu này lên, nó sẽ ngang với tháp Eiffel. Để vận chuyển số dầu này trên đất
liền, bạn sẽ cần một đoàn xe bồn dài dằng dặc, nối đuôi từ thành phố này sang
thành phố khác. Phần động cơ cao bằng một ngôi nhà 3 tầng, nặng hàng nghìn tấn.
Tại sao
sự to lớn này lại đáng sợ?
Như bạn
đã biết, hạm đội ma thường là các con tàu cũ nát, xuống cấp gần chạm đáy. Hãy
tưởng tượng một “tòa nhà 20 tầng” bằng sắt thép cũ kỹ, chở đầy chất lỏng dễ
cháy. Nếu xảy ra chìm tàu, thảm họa môi trường sẽ ra sao.
Công nhân Nga đang
xúc bỏ cát trên bờ biển Anapa thuộc Krasnodar Krai, Nga bị ngập dầu hôm tháng 3
năm 2025.
Phát hiện tàu ma
Việc
săn lùng tàu ma trên đại dương là một cuộc rượt đuổi đầy kịch tính. Các chuyên
gia theo dõi hệ thống Nhận Dạng Tự Động (AIS) của con tàu. Khi một con tàu
thình lình tắt tín hiệu AIS có nghĩa nó đang dừng đâu đó để giao “hàng”. Khi
tàu tắt tín hiệu nhận dạng, các loại vệ tinh sẽ vào cuộc, chụp ảnh từ trên cao,
cái xác khổng lồ của nó vẫn không thể giấu được ống kính vệ tinh cực nhạy với độ
phân giải rất cao. Vệ tinh radar (SAR) có thể nhìn xuyên qua mây mù và bóng
đêm, giúp xác định vị trí của con tàu, bằng cách phân tích bóng của con tàu hoặc
độ cao của thân tàu so với mặt nước, người ta có thể biết nó đang đầy hàng hay
trống rỗng.
Hiện
nay có khoảng hơn 1,000 con tàu ma trên toàn cầu, chiếm khoảng 10% đến 20% lượng
tàu đang hoạt động trên toàn thế giới. Số lượng tàu ma đã tăng gấp đôi khi Nga
bị trừng phạt trong cuộc xâm lấn Ukraine. Nga đã chi cả chục tỉ đô la để mua lại
hàng trăm tàu chở dầu cũ. Ngoài Nga, Iran cũng có một hạm đội tàu ma hùng hậu
và vận hành ì xèo trong nhiều thập niên để chở dầu sang thị trường châu Á.
Tương tự Iran, Venezuela cũng có cả lố tàu bóng đêm chở dầu. Các công ty vận tải
có trụ sở tại Dubai, Hong Kong, hoặc Thổ Nhĩ Kỳ đóng vai trò trung gian hoặc
cho thuê tàu để chở lậu.
Thuyền trưởng tàu
ma
Bắt
tàu ma
Dầu là
tàu bất hợp lệ, nhưng chúng được che chắn bởi một số quốc gia hợp pháp nên việc
bắt giữ một con tàu ma không đơn giản, nhất là trên vùng biển quốc tế, vì nó được
công ước hàng hải toàn cầu bảo vệ. Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển
(UNCLOS), quyền bắt giữ phụ thuộc vào vị trí của con tàu, trong lãnh hải cách bờ
biển dưới 12 hải lý thì quốc gia ven biển có toàn quyền bắt giữ nếu tàu vi phạm
pháp luật như buôn lậu, vi phạm môi trường hoặc xâm phạm an ninh.
Trên
vùng biển quốc tế hay hải phận quốc tế thì chỉ được quyền khám xét một con tàu
không quốc tịch, nếu một tàu tắt AIS và không treo cờ hoặc treo cờ giả, bị xem
là “tàu không quốc tịch”. Khi đó, bất kỳ tàu chiến của quốc gia nào cũng có quyền
dừng tàu để kiểm tra. Nếu con tàu nằm trong danh sách đen của Liên Hợp Quốc,
các quốc gia thành viên có nghĩa vụ và quyền hạn bắt giữ.
Khi một
con tàu ma bị bắt nó sẽ được áp giải về cảng gần nhất để điều tra. Nếu hàng hóa
là dầu lậu hoặc hàng cấm sẽ bị tịch thu và nộp vào ngân sách nhà nước. Chủ tàu
và thuyền trưởng phải đối mặt với những khoản phạt khổng lồ.
Việc bắt
giữ tàu ma của các cường quốc như Nga hay Iran thường dễ dẫn đến những căng thẳng
gay gắt.
Tính đến
đầu năm 2026, các chiến dịch truy quét hạm đội bóng tối đã trở nên quyết liệt
hơn bao giờ hết. Những “thợ săn” hạm đội ma đứng đầu là Mỹ tiên phong trong việc
bắt giữ tàu ở những vùng biển xa. Thụy Điển cũng đã bắt giữ 5 tàu trong những
tháng đầu năm 2026. Hồi đầu năm 2026, các chuyên gia phân tích dữ liệu tại Thụy
Điển nhận thấy tàu Jin Hui (treo cờ Syria) đã đột ngột tắt AIS, lực lượng đặc
nhiệm Thụy Điển đã quyết định hành động. Hai tàu tuần tra cao tốc áp sát tàu chở
dầu khổng lồ, trong khi máy bay trực thăng thả đội đặc nhiệm xuống boong tàu.
Các kiểm tra nhanh cho thấy con tàu này đã sơn đè tên mới lên lớp sơn cũ và hồ
sơ đăng bộ cờ của nó đã bị hủy bỏ từ trước đó. Con tàu bị áp giải về cảng và
toàn bộ dầu trên tàu bị tịch thu.
Lực lượng đặc nhiệm
Thụy Điến bắt giữ một tàu ma
Hiệu
quả ra sao?
Việc bắt
giữ tàu và tịch thu hàng hóa đã thu hẹp hoạt động của chúng. Tuy nhiên pháp luật
quốc tế vẫn tồn tại những kẽ hở khiến việc bắt giữ tàu trên hải phận quốc tế vô
cùng khó khăn. Nên việc săn lùng tàu ma chỉ làm chậm dòng chảy hàng lậu hơn là
một biện pháp tiệt trừ. Muốn vậy, các tổ chức quốc tế cần áp lực lên các quốc
gia như Gabon, Cameroon hay Cook Islands để không cho tàu ma “mượn” màu cờ. Thứ
hai là tăng cường mạng lưới vệ tinh radar và trí “thông minh nhân tạo” AI các
tàu biển, lúc này việc tắt AIS hay treo cờ giả trở nên vô tác dụng.
Trách
nhiệm này thuộc về ai?
Trách
nhiệm này phải thuộc về tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) và quốc gia cho phép họ
dùng cờ để “hóa trang”. Trong tương lai, chiến lược đối phó với hạm đội ma của
thế giới, đặc biệt là dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ sẽ chuyển dịch từ việc thụ động
sang chủ động. Mỹ và các đồng minh đang tăng cường sử dụng trí tuệ nhân tạo
(AI) kết hợp với mạng lưới vệ tinh dày đặc, để nhận diện các di chuyển bất thường
của các đoàn tàu ma để có thể ra tay ngay lập tức.
Ngoài
ra Mỹ có thể trừng phạt các công ty bảo hiểm, môi giới, ngân hàng hoặc đơn vị
cung cấp nhiên liệu tại các quốc gia thứ ba tiếp tay hay dính dáng đến hạm đội
ma. Việc này khiến các con tàu ma bị cô lập hoàn toàn, không thể cập cảng,
không thể bảo trì và cuối cùng buộc phải bị tháo dỡ bán sắt vụn vì chi phí vận
hành quá cao so với lợi nhuận.
Dầu vậy
việc tiệt trừ tàu ma vẫn là một bài toán khó, chừng nào các xung đột địa chính
trị còn tồn tại và các quốc gia vẫn bị trừng phạt, cấm vận, thì nhu cầu về một
“hệ thống vận tải ngầm” hay hạm đội tàu ma sẽ còn hiện hữu và các cuộc săn lùng
vẫn tiếp tục.
Một tàu dầu Iran tại
cảng Sơn Đông (Trung Quốc)
Nhật Quang
May 20th, 2026
Posted by GLN
Saturday, May 30, 2026
Maria, Mẹ Thiên Chúa Và Mẹ Con Người - Nguoiviettudo
Ở Mỹ vừa mới có ngày lễ "Ngày của Mẹ", và con người có một ngườì mẹ huy hoàng trên trời.Sung sướng của con người là họ có chung một người mẹ với Thiên Chúa.Và bà yêu thương chăm sóc Thiên Chúa ( con một của bà) như thế nàothi bà cũng yêu thương chăm sócnhững đứa con loài người như thế.Bà tên là Maria, được xưng tụng là MẸ không chỉ bởi ngươi Công Giáo mà hầu như bởi mọi con người trên thế giới. Người ta chạy đến Bà như những đứa con chạy đến mẹ mình đễ vòi vỉnh van xin một điều gì đó. Lý do họ chạy đến cùng bà bởi vì một sự thực này "hầu như không ai chạy đến cùng Bà đễ xin bàu chũa cứu giúp mà bà từ bỏ chẳng nhậm lời" hoặc "Chưa thấy ai xin mẹ lại về không ?'
Tuy vậy, người Công Giáo không " thờ lạy" bà . Họ kính yêu Bà như con cái kính yêu mẹ mình, diều này cũng dể hiểunhư trong một gia đình: những đứa con có điều gì muốn tâm sự hay xin xỏ thường chạy đến cùng mẹ hơn là cha, có lẻ vì lý do là mẹ dể xiêu lòng, mủi lòng với con hơn ba.
Tuy nhiên nhiều người Công Gíáo còn nhìn thấy một điều có ghi trong Kinh Thánh cho thấy sức mạnh của lời cầu bào của Mẹ Maria trước Toà Thiên Chúa. Câu chuyện Chúa Giê Su biến nước thành rượu( không phải rượu thưòng mà có thể là loại rượu hạng nhất trong đám cưới). Câu chuyện xãy ra ở làng Ca Na trong một đám cưới. Đây có lẽ là một đám cưới của một cặp cô dâu chú rễ nhà nghèo ( không biết nghèo đến cở nào , nhưng rõ ràng là chỉ vừa mời rượu khách mới vài tuần rượu thì...nhà hết rượu. Vì nhà nghèo, bà con hai họ và cả người chủ tiệc cưới cũng không biết làm sao. May mắn thay, họ nhìn thấy một người đàn bà rất quen trong nhóm thực khách: bà Maria (rất nổi tiếng về việc hay giúp đở mọi người). Và họ đã mời bà tới, tỏ sự khó khăn với bà, tin rằng bà sẽ có cách nào đó để giúp. Nhưng hởi ôi, tuy tâm Maria thiện lành, nhưng bà cũng chỉ là một bà mẹ nghèo không hơn không kém.
Và rồi trong lúc khó khăn bà chợt nhớ ra một chuyên quan trọng : con bà, chang thanh niên tên Giê Su cũng có tên trong danh sách thực khách. Và điều bà tin chắc là con bà sẽ thi hành bất cứ điều gì mẹ mình yêu cầu. Đó là điều mà bà đã nhìn thấy và nghiệm ra suốt thời gian dài mẹ con chung sống với nhau trong làng Nazaret. Và với tâm tưởng như thế, bà căn dặn người chủ tiệc và quan viên hai họ một cách chắc chắn rằng " Nếu Ngài bảo các ông làm gì thì cứ làm theo như thế". Và sau khi mọi chuyên đã theo đúng bài bản như thế bà mới đén trước mặt con mình và trình bày" Đám cưới này tội nghiệp quá con ơi, nghèo đén nổi chỉ mới đãi khách có vài tuần rượu mà nhà đã hết rượu rồi" và câu trả lời của con ( có lẻ) đã làm nét mặt bà không vui" Mẹ ơi việc ấy thì đâu có liên quan gì với mẹ và con ?. vì GIỜ CON CHƯA TỚi!!!( Đức Giê Su đã tiết lộ một sự thực không vui, nhưng RẤT THỰC: Thiên Chúa với hàng trăm ngàn công việc theo một trình tự và trùng khớp với chương trình , thời gian của Ngài. Tuy nhiên dù sự thực là như thế nhưng khi nhìn thấy gương mặt không vui và buồn rầu của mẹ mình, Thiên Chúa Ngôi Hai đã không thể quay mặt đi hướng khác. Ngài không thể giả vờ như không nghe, không biết, không nhìn thấy. Ngài đã chọn hướng làm theo lời yêu cầu của mẹ mình hơn là theo trình tự của chương trình Thiên Chúa.
Câu chuyện đã kết thúc tuyệt vời cho một
đám cưới nhà nghèo khi được thực khách khen ngợi "nhà này thực tuyệt vời
vì ngưỜi ta thường đãi rươu ngon trước cho tới khi khách đã ngà say mới
đem ra rượu thường, còn nhà này thì .....Đám cươi suýt trở thành thảm hoạ, và
gia đình hai họ sẽ ra sao nếu rượu đãi ngày cưới không có đủ để đãi khách? và
câu chuyện sẽ ra sao với đời sống của hai vợ chồng nghèo này và rồi cả đến
đời con cháu nữa?.Maria đã chứng minh bà làcon người duy nhất mà lời cầu xin của
mình khiến chính Thiên Chúa đã thay đổi chương trình của Ngài theo chiều hướng
làm vui lòng Mẹ Ngài. Đó là lý do ngưòi Công Giáo thường chạy đến nhờ bà cầu
nguyện cho mình!!!!nhung Bóng tối đã tìm kiếm mọi cách thức để xuyên tạc, hầu
làm xấu đi hình ảnh của Trinh Nữ, chẳng hạn chúng tung những tin đồn như đã tìm
ra ngôi mộ an táng Ngài. Điều đáng buồn là nhiều con cái Mẹ vẫn còn tin vào những
điều đó.
Nhưng
dù Không phải là một nhà nghiên cứu Thần Học, hay một chức sắc trong Công
Giáo, chỉ cần là một giáo dân và có một đầu óc bình thường , người ta
cũng tìm thấy đó là những tin đồn thất thiệt nhằm một mục đích duy nhất là phá
hoại niềm tin của giáo hữu. Bóng tối muốn người ta tin điều đó , nhưng lại quên
rằng : khi Chùa chọn Trinh Nữ Ma-ria rất Thánh làm mẹ của con duy nhất Ngài,
Thiên Chúa đã ban cho Trinh Nữ một ân phúc mà chỉ có Bà được nhận trong lịch sữ
tạo dựng và phát triễn của con người " Bà trở thành con người duy nhầt trong
lịch sữ không bị vướng víu bất cứ khúc mắc hay hệ luận gì về " Tội Tông
Truyền"( hay nói cách khác Bà là Đấng " Vô Nhiễm Nguyên Tội" ( Một
tội mà con người nào cũng vướng mắc khi vừa được sinh ra (cái tội như một
kiểu chìa khoá mở toang hồn xác con người để bóng tồi và tội lỗi tràn vào phá
tan nát hồn xác của thụ tạo. Kết quả của nó là cái chết như lời thánh Phao Lô
Tông Đồ viết trong thư" Cái Chết là Tiền Công của Tội Lỗi...'
Và vì thế, bóng tối muốn chúng ta tin rằng Đức Ma-ri-a đã chết và chôn cất như một con người đầy tội lỗi mà quên đi quyền năng tối thượng của Thiên Chúa đã chọn cho Con Duy Nhất của Ngài một người Mẹ tuyệt vời xứng đáng, không vướng mắc bất cứ tội tình gì. Và bởi vì Bà không vướng mắc bất cứ tội tình gì (như là hệ luỵ của Nguyên Tội) tất nhiên bà đã không bước qua ngưỡng cửa của sự chết. Kết quả là trước Thánh Nhan Thiên Chúa, Trinh Nữ Ma-ria Rất Thánh mà Hồn Xác Bà đẹp như kim cương không tì vết. Và điều đó làm đẹp lòng Thiên Chúa biết bao nhiêu đến nỗi Ngài lai ban cho Trinh Nữ một ơn trọng đại tiếp theo là cả hồn lẫn xác Bà được đón rước về trời .Và từ trời cao mọi tước hiệu mà Ngài có thể ban cho một tạo vật thì Thiên Chúa đã ban hết cho Bà: Bà là "Nữ Vương Thiên Đàng, Nữ Vương các Thần Thánh Trên trời..." Nhưng trên tất cả, tước hiệu mà Bà trân trọng nhất chắc có lẽ là tước hiệu mà con bà (Thiên Chúa Ngôi Hai) đã trao tặng khi Ngài đang bị treo trên Thập Tự "Này là Mẹ Con. Này là con Mẹ" (hay nói một cách khác" Bà vừa là Mẹ Thiên Chúa lại cũng là mẹ của con người)
Và
con người đã sung sướng và hạnh phúc biết bao nhiêu khi được Thiên Chúa ban cho
một người Mẹ đầy tình yêu và quyền năng như vậy ở trên trời trước thánh nhan
Thiên Chúa. Và có lẽ vì thế con người đã chạy đến kêu xin năn nỉ Mẹ khi có chuyện
gì cần thiềt quan trọng.
Đòn
phép của bóng tối vô cùng nguy hiểm vì tôi đã từng nhìn thấy một hình ảnh có cả
Thiên Chúa Cha , Thiên Chúa Con và cả Đức Mẹ, chỉ có một điểm ít ai để ý ( tôi
hỏi vài người chung quanh. không ai nói gì) đó là hình Chúa Giê Su NGỰ BÊN TAY
TRÁI ĐỨC CHUÁ CHA chứ không ở bên tay phải như trong lời Kinh Thánh.
Thời
chiến tranh VN nhiều bà mẹ, bà vợ than khóc cho chồng cha anh mình thiệt mạng
trên chiến trường và họ hoàn toàn không nhận ra rằng mình đã có một đấng
"an ủi, chia sẻ" mạnh mẻ ở trên trời. Bà cảm thông, hiểu biết với con
cái mình trên thế gian vì chính bà đã bất lực nhì thấy chính con ruột của bà bị
đóng đinh phơi mình trên cây thập tự chảy máu( đau đớn và chết vì tử thương) mà
bà bất lực không làm gì được. Bà đăc biệt cầu bàu và ủi an những ngưồi mẹ mất
con vì bất cứ lý do nào vì chính bà cũng đã trãi qua niềm đau của một bà mẹ mất
đứa con duy nhất vi tử thương. Nổi đau của một bà mẹ nhìn thấy con mình bị giết
chết ( một cách từ từ trước mặt mình) mà mình lại bất lực không làm gì được.
Vì vậy bà đã dành những lời cầu bàu, ủi an mạnh nhất dâng lên Thiên Chúa cho những
bà mẹ, người vợ và cách riêng đặc biệt cho những linh hồn đã lìa đời trện
những bãi chiến trường không còn được trở về vơi gia đình mình nữa.
Nguoiviettudo
Hồ Chí Minh Và Di Sản Độc Tài
Hôm nay, nhân kỷ niệm 136 năm ngày sinh Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), bộ máy tuyên truyền của đảng cộng sản Việt Nam lại dồn hết sức lực để tôn vinh ông ta như “cha già dân tộc”, “vị lãnh tụ vĩ đại”, người đã mang lại độc lập và tự do cho dân tộc. Nhưng đằng sau lớp sơn son thếp vàng ấy là một thực tế phũ phàng: di sản chính trị mà Hồ Chí Minh để lại không phải là tự do, mà là một hệ thống độc tài toàn trị đã biến hàng chục triệu người Việt thành những “nô lệ hiện đại” dưới ách cai trị của một đảng duy nhất, kéo dài gần một thế kỷ.
Hồ Chí Minh không phải là nhà dân tộc chủ nghĩa thuần túy như tuyên truyền vẫn ca ngợi. Ông ta là người cộng sản quốc tế, được huấn luyện bởi Quốc tế Cộng sản (Comintern) và trung thành với lý thuyết Marx-Lenin. Từ những năm 1920, ông ta đã chọn con đường cách mạng vô sản thay vì con đường dân chủ tự do mà nhiều sĩ phu Việt Nam đương thời theo đuổi. Khi nắm quyền sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ông ta nhanh chóng thiết lập nền độc tài kiểu Bolshevik: thanh trừng đối thủ (Việt Quốc, Việt Cách), cải cách ruộng đất man rợ gây nên cái chết của hàng trăm nghìn người vô tội, và xây dựng một nhà nước đảng trị thay vì nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.
Di sản lớn nhất của Hồ
Chí Minh chính là mô hình độc đảng toàn trị – một cỗ máy quyền lực không có đối
trọng, không có tam quyền phân lập, không có tự do ngôn luận và báo chí. Hiến
pháp 1946 do ông ký ban hành còn mang màu sắc dân chủ hình thức, nhưng ngay sau
đó, mọi quyền lực thực tế đều tập trung vào đảng cộng sản. Sau năm 1975, mô
hình ấy được áp dụng toàn quốc, đẩy đất nước vào thảm họa kinh tế-xã hội: kinh
tế kế hoạch hóa, hợp tác hóa nông nghiệp, công nghiệp nặng nặng nề, nạn đói,
thuyền nhân, và hàng triệu người phải bỏ quê hương chạy trốn. Đến nay, dù có Đổi
Mới từ 1986, bản chất quyền lực vẫn không thay đổi: Đảng lãnh đạo tuyệt đối,
Nhà nước là công cụ của Đảng, và Nhân dân chỉ là đối tượng để cai trị, tuyên
truyền và khai thác.
Gần một thế kỷ sau khi
Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng, người dân Việt Nam vẫn sống trong tình trạng
nô lệ tinh thần và chính trị:
* Nô lệ tư tưởng: Giáo
dục và truyền thông bị kiểm soát chặt chẽ. Lịch sử bị bóp méo, Hồ Chí Minh được
thần thánh hóa, trong khi những tiếng nói đòi dân chủ, nhân quyền bị quy là “thế
lực thù địch”. Bất kỳ ai chỉ trích Đảng đều có nguy cơ bị bắt, bị tù, bị “học tập
cải tạo” dưới hình thức mới.
* Nô lệ kinh tế: Đất
đai thuộc sở hữu toàn dân (thực chất là thuộc Đảng và các nhóm lợi ích). Doanh
nghiệp nhà nước thống trị những lĩnh vực then chốt, tham nhũng tràn lan, khoảng
cách giàu nghèo cực lớn. Người dân làm ra của cải nhưng không thực sự làm chủ vận
mệnh kinh tế của mình.
* Nô lệ chính trị:
Không có bầu cử tự do, không có đối lập chính trị hợp pháp. Quốc hội chỉ là
“con dấu” của Bộ Chính trị. Các quyền cơ bản – tự do ngôn luận, hội họp, tôn
giáo, lập hội – bị hiến định trên giấy nhưng bị tước đoạt trên thực tế.
Những người ủng hộ Hồ Chí Minh thường viện dẫn “độc lập dân tộc” để biện minh. Nhưng độc lập mà không có tự do thì chỉ là sự thay thế chủ nghĩa thực dân cũ bằng chủ nghĩa thực dân mới của Đảng. Dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi ách Pháp-Nhật, nhưng lại rơi vào ách cai trị nội sinh khắc nghiệt hơn: một đảng tự cho mình sứ mệnh “lãnh đạo” vĩnh viễn, không cho phép nhân dân chọn lựa. Kết quả là Việt Nam hôm nay vẫn thuộc nhóm các nước kém tự do nhất thế giới theo các chỉ số Freedom House, Economist Intelligence Unit, hay Transparency International.
Di sản Hồ Chí Minh không chỉ là cá nhân ông ta, mà là hệ thống tư tưởng và tổ chức mà ông kiến tạo. Hệ thống ấy đã chứng minh qua thực tiễn: nó không thể tạo ra một xã hội thịnh vượng, công bằng và tự do thực sự. Những thành tựu kinh tế gần đây, nếu có, là nhờ sức sống mãnh liệt của nhân dân và một phần nới lỏng kiểm soát kinh tế, chứ không phải nhờ bản chất của chế độ. Ngược lại, chính bản chất độc tài đang kìm hãm tiềm năng thực sự của dân tộc.
136 năm sau ngày sinh của Hồ Chí Minh, đã đến lúc người Việt cần nhìn nhận ông một cách tỉnh táo, không bị cảm tính và tuyên truyền chi phối. Một nhà lãnh tụ thực sự vĩ đại phải để lại di sản giải phóng con người, chứ không phải xiềng xích mới tinh vi hơn. Nhân dân Việt Nam xứng đáng được sống tự do, có quyền làm chủ vận mệnh của mình, chứ không phải tiếp tục là “nô lệ” dưới danh nghĩa “dân chủ tập trung” và “đảng lãnh đạo”.
Tương lai của dân tộc không nằm ở việc tiếp tục thờ cúng một di sản đã lỗi thời, mà ở việc dũng cảm vượt qua nó để xây dựng một Việt Nam thực sự dân chủ, pháp quyền và thịnh vượng. Đó mới là món quà xứng đáng nhất dành cho thế hệ mai sau – những người không muốn sống nô lệ thêm một thế kỷ nữa.
fb NguyenVanDai
Chữ Và Nghĩa - Đoàn Xuân Thu
Xin mời cùng cười với
tác giả Đoàn Xuân Thu trong bài phiếm luận Chữ và Nghĩa. Đoàn Xuân Thu là nhà
văn, nhà thơ và nhà báo rất được hâm mộ ở Melbourne nói riêng và Úc Châu nói
chung.
Chữ và Nghĩa!
Bà con mình, già già cỡ tui, hồi xưa chắc đều biết các danh hài của sân khấu miền Nam mình như: hề râu Thanh Việt, hề nhựa Thanh Hoài, hề Tùng Lâm, hề Phi Thoàn, hề Xuân Phát. Mấy danh hài nầy có cách diễn, cách giễu rất duyên và rất riêng. Không ai lẫn vào ai; không y chang, giống đồ hộp sản xuất hàng loạt danh hài như tong nước sau nầy.
Riêng hề Xuân Phát còn
là soạn giả cải lương nữa đó. Ðâu hồi ngàn chín trăm sáu mươi mấy gì đó Xuân
Phát viết tuồng ‘Tình Chú Thoòng’, diễn trên sân khấu Dạ Lý Hương của bầu Xuân.
Hùng Cường, vai chú Thoòng, xuống vọng cổ, phát âm lơ lớ, hịt Ba Tàu. “Ai có
răng vàng pể bạc pể đồng hồ hư pán hông?”. Dễ tính như chú Ba… “Hà cái lầy xính
xái, nó chọc mình mê gái Việt Nam, chổng khu làm bao nhiêu đưa cho em ăn hết
(mà hổng làm vậy thì cách chi để đỉa đeo chân hạc cho được chớ?) Xuân Phát cười
mình ‘dại gái’ là viết đúng, chớ hổng có sai thì hà cái lầy cự cãi làm gì!
Tuồng ăn khách quá xá, quà xa. Xu hào rủng rỉnh nên soạn giả Xuân Phát hăng hái soạn thêm tuồng ‘Tình Anh Bảy Chà’ cũng na ná, chỉ chuyển từ chú Ba qua anh Bảy mà thôi. Nhưng lần nầy bị tổ trác (chắc ông quên cúng Tổ!) Anh Bảy Chà do kép Thành Ðược đóng (chắc ngầm đua với kép Hùng Cường); cũng ca vọng cổ, giọng lơ lớ hịt ‘Cà ri Chà’. Nhưng hội Ấn Kiều lại hổng chịu cách Xuân Phát chọc quê như vậy, làm mất mặt bầu cua cả đám Chà Và. Hăm đi thưa Xuân Phát ra ba tòa quan lớn. Rét quá! Xuân Phát đành viết thư dà lỗi tại tôi muôn phần!
***
Melbourne, thủ phủ đa văn hóa của tiểu bang Victoria, Úc Châu, có hà rầm Ấn Ðộ. Có đứa đội ‘turban’, để râu rìa, nói: “Tui là Sikh chớ không phải Ấn Ðộ.” Vậy Sikh ở đâu? Nó nói ở gần Ấn Ðộ (He he!). Rồi Ấn Ðộ Bombay; nhưng cữ chữ ‘bom bay’ nầy rồi, (ghê quá mà) bèn đổi thành Mumbai. (Ối cái nào cũng ‘bay’ hết mà bày đặt đổi tới đổi lui chi cho nó mệt? Huỡn quá hè!) Sikh không ăn thịt, chỉ ăn rau. Ấn Ðộ, đạo Bà La Môn (Hindu), không ăn thịt bò. Ấn Ðộ, đạo Hồi, không ăn thịt heo. Người đạo Hồi trước khi giết trừu mần thịt luôn làm nghi thức; giống như bà con miền Tây mình trước khi cắt cổ gà, nấu cháo, xé phai, cũng lâm râm khấn vái cho ‘con gà’ kiếp sau nó đầu thai… thành ‘con vịt’.
Cái thịt đó gọi là ‘halah meat’. Không phải ‘halah meat’ nhứt định không mua. Nên có Chú Ba từ đại lục gom được một mớ kha khá, chạy trốn Hoàng đế Tập Cận Bình qua định cư vùng Coburg, phía Bắc thủ phủ Melbourne. Nơi đây nhiều dân Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), Li Băng (Lebanon), toàn theo đạo Hồi, nên không ăn thịt heo; thịt mà chú Ba rất ‘hẩu xực’, coi là ‘quốc nhục’ (nhục là thịt chớ hổng phải nhục nhã đâu nhe bà con). Chú Ba nầy bèn mở cái tiệm bán thịt heo. Nhưng ế nhệ hè. Nhìn qua bên đường, thấy một tay Thổ Nhĩ Kỳ bán thịt không kịp hở tay hè. Nhìn lên bảng quảng cáo của nó chú Ba thấy đề ‘Halah Meat’. Sáng hôm sau, chú Ba khệ nệ khiêng cái bảng quảng cáo ‘Halah Pork’ đặt chình ình trước cửa tiệm mình để cạnh tranh câu khách. Ðúng là ngu như heo!
***
Chữ và nghĩa nó quan trọng dường nào trong buôn bán, thương trường mà ngay cả trong chính trường cũng vậy. Mới đây nè tờ ‘Wall Street Journal’ của Mỹ, vô tình hay cố ý chơi chữ, gọi Tổng thống Nga là “Vladimir Trump” (ám chỉ hai ông ‘thần thừ’ nầy là bà con cật ruột, cùng họ với nhau) Sau đó phải xin đính chính, do lỗi của thằng đánh máy viết lộn họ Putin với họ Trump. Có một chú Sam cũng rất thâm, biểu nhà báo là tên Tổng thống Mỹ nên viết nhầm là “Donald Putin” luôn đi. (Xin phụ đề Việt ngữ! ‘Putin’ cắt thành hai âm ‘Pu’ và ‘tin’; nếu phát âm theo kiểu Mỹ thì ‘pu’ đồng âm với ‘poo’ là tiếng lóng của chữ ‘phân’; còn ‘tin’ nghĩa là cái hộp thiếc. Do đó ‘poo’ ‘tin’ là hộp đựng cái gì thối lắm). Ai mà nói mấy thằng Yankees cạn sợt, không có óc hài hước, hổng biết chọc quê thâm thúy như người Anh là lầm to đó.
***
Tóm lại, nếu nhờ chữ nghĩa để kiếm sống, tui xin mấy nhà văn mình nên cẩn tắc để vô áy náy. Lạng quạng là bị phang hoài hè! Tác giả nhờ nhà phê bình, mới viết càng lúc càng ít rác. Viết văn, lựa chữ như đãi cát (trong bãi rác đời) để tìm những mảnh vàng nhỏ li ti hầu kết lại thành một đóa bông hồng vàng tươi thắm, dâng hiến cho người đọc.
Ða số những nhà phê
bình, cầm cân nẩy mực như một quan tòa chánh trực, công minh. Chẳng bao giờ phê
bình tác phẩm mà lại lôi tác giả ra chửi cha, mắng mẹ họ bao giờ. Tui thường
tôn kính một anh bạn văn như ngọn Thái sơn sừng sững, bởi kiến thức về miền Lục
tỉnh quê mình, ổng chỉ chịu đứng hạng nhì, sau nhà văn Sơn Nam mà thôi. Tuy
nhiên chỉ vì chữ ‘Chà Và’ có một tay ăn nói cộc cằn, thô lỗ phạng ảnh thiếu
điều lọi tay, hết muốn viết luôn. “Chà Và không phải là Ấn Ðộ; mà là người đến
từ Java thuộc Nam Dương. “Viết vậy mà dám nhận vơ là giáo viên!”
Thiệt là lời phê bình cà chớn, cà cháo và cà pháo. Miền Nam mình, xưa, dạy trung học được gọi là ‘giáo sư’ chớ không phải ‘giáo viên’như miền Bắc. Chữ ‘nhận vơ’ người miền Nam hổng có xài; bà con mình dùng chữ ‘nhận ẩu’; ai khoái chơi từ Hán Việt thì xài chữ ‘mạo danh’. “Trước khi chê tui dốt, sao ‘giả’ hổng chịu tra tự điển của Lê Văn Ðức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa: người Chà ở cù lao Java (Nam Dương) đang sinh sống ở Việt Nam, nghĩa rộng chỉ chung người da đen, gốc Ấn Ðộ, Malaysia hay Indonesia tới sống ở Việt Nam!”
Anh nói đúng đó! Ða
phần người da ngăm ngăm, đến nước mình sinh sống là Ấn Ðộ. Quê tui nè, Mỹ
Tho nhỏ xíu hè, vậy mà anh chạy qua cầu quay về hướng Gò Công, gần chợ Cũ cũng
thấy có cái nghĩa địa Ấn Kiều đó. Rồi còn người Chăm, tức người Chiêm Thành,
con cháu của Chế Bồng Nga, sau khi bị Ðại Việt thôn tính, chạy tùm lum, tùm la
qua Miên rồi về Châu Giang, Châu Ðốc. Người Việt gọi những người Chăm mất nước
đó là ‘Chà Châu Giang’.
Nếu có là buồn buồn chọc ghẹo nhau chơi cho vui; chớ không hề ác ý như: “Chà và, ma ní tí te. Cái bụng thè lè, con mắt ốc bươu” hoặc “Chà và ma ní tí te. Hàm răng trắng nhách, con […] đen thùi”. Những người Chà Và (Ấn, Chàm…) đó sống chan hòa với bà con người Việt từ miền Trung vào; bà con người Minh Hương, phản Thanh phục Minh thất bại, chạy qua; rồi bà con Khmer đã bao đời sống trên vùng Thủy Chân Lạp.
***
“Thôi bỏ qua đi Tám!
Tui phục tài anh lắm. Dùng câu nào ra câu nấy, chữ nghĩa sáng trong!” Nhưng mới
đây tui đọc chỉ vài câu (văn hay đâu nệ ngắn dài!) của một tác giả ‘nặc danh’,
thấy cách dùng chữ cũng hay quá xá. Tả cơn bão số 9, rớt ở Sài Gòn, ổng tường
trình như vầy nè: “Ðường Kha Vạn Cân ngập tới chân. Ðường Huỳnh Thúc Kháng ngập
tới háng. Ðường Khương Hữu Dụng ngập tới bụng. Ðường Trần Phú ngập tới vú.
Ðường Phạm Văn Hai ngập tới vai. Ðường Nguyễn Thị Minh Khai ngập tới tai (Cha,
‘khai’ dữ nghe vì lỗ tai gần cái lỗ mũi). Ðường Cao Văn Lầu ngập tới đầu.
Ðường Võ Thị Sáu ngập hết ráo…” (Nghĩa là ngập từ chân lên tới đầu). Mà còn hay
hơn nữa! Ðường Trần Ðình Xu ngập tới […] và đường Vân Ðồn ngập tới […]
Tác giả không chịu
viết ra ba cái ‘chấm chấm’ nầy mà ai cũng hiểu; không có người không hiểu.
Thiệt hổng biết ổng muốn ăn gì để tui cúng… He he!
Đoàn Xuân Thu.
Melbourne






