Friday, June 12, 2026

Chuyện Mấy Ông Tiến Sĩ Và Bà Bán Xôi... !

 

Sáng sớm, dân khu chung cư đang tập thể dục dưới sân bỗng nghe cái "bộp": một con chim rơi thẳng từ trên cao xuống, chết lăn queo.

Tôi nhặt lên xem một hồi, ngạc nhiên ngó lên nhìn trời:

- Lạ nhỉ, hoàn toàn không có vết đạn bắn. Béo tốt khoẻ mạnh, sao nó lại rơi nhỉ ?

Cụ Sơn Phệ, Tiến sĩ bên Bộ Y, nghe tôi nói vậy hoảng hồn kéo khẩu trang lên che kín mặt:

- Thôi chết rồi, là nó dính Covid. Lây từ người sang. Cái này một số tạp chí y khoa bên Mỹ gần đây cũng có đề cập đến, chủng mới toanh. Lại lan vào Việt Nam rồi đấy, thế có khổ không cơ chứ ?

Bà Hằng Béo, Tiến sĩ, Vụ phó bên Bộ Môi lại gần ngó cái rồi lắc đầu:

- Chả phải, là do ô nhiễm không khí tầng cao. Hà Nội ở mức báo động đỏ ngang hít cyanua từ lâu rồi, các ông các bà không biết à ?

Ông Cường Hói, học tiến sĩ ở Đức về đang làm bên Bộ Công nghệ. Nâng mục kỉnh lên soi kỹ con chim, ông chậm rãi:

- Các anh các chị nên biết, khi chim chóc tự lao đầu vào các toà nhà cao tầng mà chết là do rối loạn địa từ trường bởi những đứt gãy nằm sâu dưới lòng đất gây ra. Cái này nó liên quan đến luồng vận động của nham thạch trong lõi Trái Đất, phức tạp lắm.

Mỗi người một ý cứ phán loạn cả lên, mà toàn những bậc trí giả làm tôi đâm hoang mang quá.

Bỗng đâu có bà bán xôi dạo đạp xe đi ngang, thấy đám đông tụ tập bèn ghé vào ngó tí.

Đoạn bà này phán câu xanh rờn:

- Em chả biết các bác tiến sĩ nghĩ thế nào chứ đây không phải là con chim, mà là con gà con. Chắc nhà ai nuôi trên tầng cao sổ lồng rơi xuống, các bác ạ. Đấy, lông cánh ngắn cũn cỡn thế kia chả là con gà con thì là con gì ?

Cả đám đông bỗng chưng hửng, tẽn tò rồi im lặng tản đi cả.

Lão Mùi bảo vệ đứng chứng kiến từ đầu đến cuối thấy vậy cười khẩy:

- Tưởng các ông các bà được Nhà nước đào tạo, cho đi Tây đi Tàu ăn học thành tiến sĩ thế nào, hoá ra chả bằng con bán xôi. Toàn phán linh tinh, rõ phí tiền dân.


Thấy ghi) Chuyện tuổi Trung Niên Phạm Đình Kỳ, 2 Tháng 10, 2022

Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi - Nguyễn Duy Phước

Trâu Già Gặm Cỏ Non - Phan Nhật Bắc


Ông Tấn dáo dác nhìn ra hướng cổng phi trường, tay cầm tấm hình con bé vừa mới quen khoảng 6 tháng trên mạng. Tuổi nó cở khoảng cháu gái của ông, hoàn cảnh rất bi đát. Nào mẹ bị bịnh tim, cha thì chết vì tai nạn từ khi nó còn nhỏ… một vở kịch thật hoàn hảo giăng ra chờ ông Tấn già còn yêu nhi đồng. Bao nhiêu năm sống trong gọng kèm kẹp của mụ vợ có bí danh La sát, ông hầu như mất cả tự do. Một lần, ông và mấy thằng bạn nhậu với nhau, đến lúc rượu vào lời ra, ông bèn đố mấy thằng già dịch một câu đố- chính câu đố này biến đổi đời ông: – Tao đố tụi mày con gì ăn ít nói nhiều, mau già mà lại lâu chết? Mấy ông bạn già đang đăm chiêu tìm câu trả lời thì bà vợ từ phía sau dằn tô xíu quách xuống giữa cái bàn cái rầm: – Là con vợ, là con này nè hiểu chưa? Cả bàn nhậu rã đám. Ông gầm lên như con sư tử già rụng hết lông, giáng cho bà vợ một cú tát nảy lửa. Bà ôm mặt ngạc nhiên: – Ối giời đất ơi thế lày là thế lào? (Bà vốn người Bắc di cư nói N thành L ). Ngày xưa bà chỉ nghe phong trào phụ nữ vùng lên do bà luật sư Ngô Bá Thành um tỏi trên báo chứ làm gì có phong trào đàn ông vùng lên. Không ngờ thằng chồng ngờ nghệch của mình mấy chục năm hôm nay dám trở chứng vùng lên đánh mình. Rồi bà rống lên bằng tiếng Anh: hiếp… hiếp … (help… help…), nửa nạc nửa mỡ, vậy mà bà người Greek hàng xóm cũng hiểu ra. 

Năm phút sau cảnh sát Úc đến, chuyện gì chớ chuyện đánh đàn bà tụi cảnh sát Úc nó nhanh lắm, không như bị cướp tụi nó nhởn nhơ đến nửa tiếng mới đến vì sợ bị ăn đạn. Vừa đến, thấy bà tay cầm đôi guốc dính đầy máu vì vừa đánh ông chồng vừa la làng; tụi nó không cần biết ai phải ai quấy bắt ông chồng quăng vô xe thùng cảnh sát rồi hạ hồi phân giải. Bà bù lu bù loa nhưng nước mắt ráo hoảnh: He hit me, he hit me… (ổng đánh tôi, ổng đánh tôi…), rồi bí quá chen luôn mấy câu tiếng Việt cho khỏi suy nghĩ lôi thôi! Bà cảnh sát Úc gật đầu lia lịa…


Như một thước phim quay chậm, ông Tấn nhớ lại quãng đời từ khi dẫn Phượng, người yêu chạy từ Pleiku xuống Tuy Hoà theo đoàn đi tản trên liên tỉnh lộ 7 năm 1975. Ông là một sĩ quan không tác chiến, nên rất sợ khi nghe tiếng bom rít trên đầu, 2 chiếc A37 quần vũ vừa thả bom vừa nã đạn xuống đồng, cảnh đoàn người hoảng loạn chạy xuống con suối cạn núp… Đất trời như vỡ vụn ra từng mảnh. Ông và Phượng mới quen không lâu, cô chịu theo ông đến góc bể chân trời, bỏ cha mẹ ở lại Pleiku, chẳng lẽ đành chịu kẹt nơi này sống chết không biết ra sao? Bom vừa dứt thì Biệt động Quân tấn công lên đồi, ông Tấn ngồi dậy lôi Phượng chạy tiếp. Đến cầu sông Ba chờ qua sông thì bạn gái ông đói lả người, ông đành dừng lại:
- Em ngồi đây, anh đi tìm gạo sấy hay thứ gì ăn đỡ.

Đắn đo một hồi, ông lấy dây thẻ bài lính của mình tròng vào cổ Phượng:
– Em giữ cái này, có tên họ và số quân của anh, nếu có gì thì tìm về Nha Trang mình gặp lại. Còn không… biết đâu anh với em đã có con với nhau, hãy giữ lấy sau này cha con còn tìm nhau.

Dìu Phượng ngồi xuống bìa rừng, ông đi ngược về phía sau, gặp toán lính từ trong rừng đi ra có người bạn cùng khoá cho ông ba túi gạo sấy. Ông vội vã trở lại cây cầu thì Phượng đã biến mất tăm hơi. Ông hốt hoảng đi tìm nhưng không thấy. Sau đó ông chạy từ Pleiku đến Nha Trang, lên xà lan ra Phú Quốc rồi đi một mạch đến Guam. Ông bặt tin Phượng từ đó.

*****

Nỗi đau đớn thất vọng tràn trề, ông xin đi Úc vì có bà con tại đây. Ông gặp một người chung cảnh ngộ, quen rồi lấy nhau, chính là "bà La Sát" vợ ông. Trong nỗi buồn ly hương nơi đất khách, ông lấy vợ đại nhưng trái tim của ông đã có người ngự trị. Mỗi khi nhớ đến Phượng, nước mắt ông nhạt nhoà. Cuộc đời ông bị trói bởi bàn tay của bà vợ, lúc mới quen nhau bà ngọt ngào chìu ông tới bến, nhưng khi có một thằng cu ra đời thì bà xiết ông như giọng kềm chẳng cựa quậy gì được. Đôi khi bà cũng "nhả thắng", cho ông nhậu nhẹt bù khú với bạn bè với điều kiện là không nói chuyện "gái gú", mà mấy ông bạn của ông ông nào cũng lính chiến ngày xưa, không nói chuyện gái thì mất hứng. Cứ thậm thà thậm thụt, biết chỗ nào có em út mới là thì thầm với nhau; một hôm bà nghe được chửi một trận trước mặt bạn bè:
– Tôi lói cho ông biết, banh nổ tai ra mà nghe lày. Con lào bốn vú hai ... thì ông đi kiếm, còn con lào hai vú một ... thì tôi đây cũng có tại sao thế hả?

Bàn nhậu nhanh chóng tan rã, bạn bè ông biến mất, ông cô đơn vì chẳng ai dám đến nhà. Thời gian sau, trong nước mở cửa cho Việt kiều về thăm, làm ăn. Quê hương là chùm khế ngọt, những ông bạn chống Cộng to mồm nhất lần lượt léng phéng kéo về Việt Nam. Ông nhấp nhổm muốn về nhưng mụ vợ càng xiết chặt hầu bao, lương lãnh về giao hết, chỉ chừa vài chục đổ xăng. Chiều chiều ông ra sau vườn ngó về quê mẹ, ruột đau chín chiều thì ít mà hậm hực thì nhiều. Sau vụ cảnh sát đến nhà vì ông đánh vợ, cả hai ly dị và chia tài sản. Thằng con đã có gia đình nên ông chẳng có gì lo lắng, hối tiếc. Ông lên mạng làm quen với một cô gái bên Việt Nam, cô làm ông chếnh choáng men say. Và ông quyết định về Việt Nam…
– Anh Tấn…

Ông thoáng giật mình quay lại. Cô gái ông quen trên mạng xuất hiện bằng xương bằng thịt, tới nắm tay ông. Ông cười toe toét, miệng đã rộng càng rộng hơn. Trước khi về VN gặp người yêu trên mạng, ông đã tân trang lại dung nhan, nhuộm tóc, cấy răng, tập thể dục cho phong độ. Ông Tấn mới 6 bó rưỡi (65 tuổi), nếu chịu khó tẩm bổ sâm nhung, bào ngư nấm đông cô, thịt dê kèm theo Viagra ông dư sức tiếp chiêu đối thủ mọi nơi mọi hoàn cảnh.

Lên xe taxi về khách sạn, ông ôm cô bé sát rạt, tên tài xế cứ nhìn kiếng chiếu hậu hoài:
– Lái xe đi bác tài, coi chừng đụng xe. Ông lên tiếng.

Vừa vào khách sạn, ông nhào vào phòng tắm tắm gội và nuốt viên thuốc Viagra trợ lực, xong nhìn ra nói:
– Em vào tắm luôn đi

Nhìn ông già Việt kiều da thịt nhão nhoẹt Trâm đâm ra mất hứng nhưng lão chi tiền đẹp quá, bỏ uổng. Thôi mọi sự được lúc nào hay lúc đó, chỉ sợ lão thượng mã phong thì khổ. Trâm thoát y đi vào phòng tắm…
– Trời anh tuổi này mà còn mạnh ghê làm em lên đỉnh. Anh có dùng thuốc cường dương không vậy?
– Đâu có, anh không thích thuốc đó.

– Em sợ mấy ông già dùng thuốc rồi đứt tim trên đồi cỏ thì mệt với công an. À mà khi mình ra đường em kêu anh bằng ông ngoại nhá. Cho đỡ quê đấy mà.
– Em gọi gì cũng được. Ban ngày quan lớn như cha, ban đêm quan lớn lò mò như con.

– Trời ông già văn chương dữ nghe, mà em chẳng hiểu gì ráo.
– Thì mình anh hiểu được rồi.

Ông cảm thấy thật hạnh phúc. Giờ thì con tim đã yêu trở lại. Mẹ, thà chết trên đồi cỏ non còn hơn gặm cỏ già, cỏ già sao nó nhiều gai và đắng quá. Sau bao nhiêu năm bị kèm kẹp, ông Tấn như con chim sổ lồng thoát khỏi ngục tù bay tìm chân trời cao rộng. Đêm ông nằm suy nghĩ: mấy bà Việt Nam lấy chồng Việt thì ăn hiếp thậm tệ, mà lấy chồng ngoại thì nhu mì phục tòng tới bến.

Như mấy tên Phi Luật Tân khoái con gái VN, còn nói con gái Việt Nam dại trai. Ông nghe tức tối muốn đấm vào mặt nó một cái vì dám xúc phạm đến phụ nữ VN, nhưng rồi ông nghiệm ra nó nói đúng chẳng sai chút nào. Quanh ông mấy bà VN nuôi tụi chồng Phi Luật Tân cúc cung, nó muốn gì được nấy. Ông gục đầu than: --- Trời, sao thân đàn ông VN thật tội nghiệp, chắc bụt nhà không thiêng…

Rong chơi khắp nơi, số tiền ông Tấn đem về chi nhiều quá cũng sắp cạn. Ông đề nghị về Nha Trang thăm mẹ con bé – con bé giẫy nẩy không chịu. Ông thấy như có điều gì bất ổn, thuyết phục mãi rồi con bé cũng đồng ý đáp máy bay về Nha Trang. Nhà con bé ở xóm Bóng trên con dốc nhỏ được xây bằng tiền của ông - thoáng mát, có đầy đủ máy lạnh. Vào nhà, một người đàn bà nửa chừng xuân đi ra làm ông khựng lại, đôi mắt như của Phượng người ông yêu? Ông lắc đầu rồi định thần nhìn lại, mẹ cô bé tên Trâm cười mời ông vào:
– Mời ông vào.

Nàng ấp úng không biết xưng hô thế nào với ông bạn già của con gái mình. Ông này đáng tuổi cha mình - nàng đâm ra chưa xót cho cuộc đời. Ngồi xuống ghế, ông đưa mắt nhìn quanh căn phòng trang trí gọn gàng không màu mè. Trên đầu tủ có một khung hình người đàn bà, ông dụi mắt 2, 3 lần rồi đứng dậy:
Cho tôi thắp cây nhang trên bàn thờ.

Ông choáng người muốn sụm xuống khi nhìn thấy trên bàn thờ hình người đàn bà đúng là Phượng của ông. Thấy ông loạng choạng hai mẹ con cùng chạy lại:

– Ông có sao không ?
– Không.

Ông Tấn lắc đầu ngồi xuống:
– Tôi hơi chóng mặt.

Giọt nước mắt ứa ra, ông nghẹn lời nhìn người đàn bà trước mặt: "có phải là con và cháu ngoại của ông không?".

Ông từ từ khơi ra với hy vọng người đàn bà không phải là con của ông. Nhưng mọi việc dần dần sáng tỏ, Phượng của ông sau 1975 vẫn còn sống và người đàn bà này là con của ông. Người đàn bà lấy ra tấm thẻ bài mà ông đưa cho Phượng với tên và số quân:
– Nè bác, cái này mẹ con để lại nói là của ba con, hai người lạc nhau lúc di tản. Trên tấm thẻ bài này tên Tân nhưng mẹ cháu nói tên là Tấn. Trước bác có đi lính không?

Trâm chen vào:
– Ông Việt kiều này tên Tấn đó mẹ.

Ông hoảng hồn nói:
– Tên thì trùng nhau, nhưng tôi không có ở Pleiku. Tôi dân vùng miệt dưới Đồng Nai. Ngày xưa cũng đi lính, nhưng ở Vùng 4.

Ông Tấn chết điếng trong lòng. Ông đã ngủ với cháu ngoại ông mà ông không biết. Dòng đời và định mệnh sao nghiệt ngã. Ông xin ra ngoài sân nằm trên chiếc ghế bố suy nghĩ miên man, bây giờ có nên thú nhận hay làm thinh? Dằn vặt mãi, ông ngủ quên lúc nào không hay. Trong cơn mê ông thấy Phượng về trách móc ông đủ điều. Có một bàn tay để trên ngực ông, là Trâm, và ông đẩy tay nàng ra. Trâm ngạc nhiên không biết ông già này sao kỳ lạ, lúc nàng không muốn thì ông kéo vào bây giờ lại đẩy ra. Bó tay! Bộ đồ tươi mát nơi xứ biển của con bé không còn làm ông háo hức. Ông đã dày vò tấm thân của cháu ngoại ông hơn một tuần lễ mà không biết. Phải chi bà vợ của ông không dằn tô xíu quách xuống bàn nhậu, ông không đánh bà ta, không ly dị thì đâu đến nỗi phạm vào tội lỗi nhơ nhớp này. Ông vò đầu, dù thế nào đi nữa cũng phải nán lại để xem cuộc sống con cháu mình ra sao…

Bình minh vừa ló dạng, ông vội vã ra phi trường. Ông đi như chạy. Con Trâm không biết sao ông già Việt kiều này tự dưng dở chứng đòi vô Sài Gòn sớm sau khi vét hết tiền trong túi dúi vào tay mình. Khoé mắt ông đong đầy nước mắt. Trâm nghĩ là ông buồn khi xa nàng. Còn về phần ông Tấn, sau hai ngày nán lại, ông biết Phượng không lấy chồng, vẫn chung thủy với ông. Và nàng đã mất từ lâu vì một cơn bạo bệnh. Lòng ông đau đớn vô cùng. Ông đi một mình không cho Trâm theo.

*****

Tôi đến thăm ông bạn già, tại một nơi cách xa thành phố Melbourne khoảng 100 cây số, nghe ông kể lại câu chuyện đau lòng. Sau khi từ VN về, ông gom hết tiền hưu một nửa gởi về VN giúp con gái và cháu ngoại; số còn lại ông cúng hết vào ngôi chùa Tây tạng ở Bendigo rồi xin xuất gia tu hành. Ông giờ trở thành nhà sư pháp hiệu Nhật Quang, ở một mình phía sau hậu liêu của ngôi chùa… Đời ông không cũng hoàn không, nếu còn chăng là nỗi dằn vặt của lương tâm vì ông đã về VN gặm cỏ non lại đúng ngay cháu ngoại của mình. Nỗi ân hận này chỉ riêng mình ông biết. Rồi ông vào chánh điện thắp hương và đánh ba tiếng chuông, nhìn lên khuôn mặt từ bi của Đấng Thế tôn lòng ông dịu lại. Bên ngoài cảnh đồng xa tít một đàn bò đang gặm cỏ và mùa Xuân cũng sắp về…

Phan Nhật Bắc (cuối Đông 2020)

Thursday, June 11, 2026

#667 - Tê Tay Trái: Chỉ Là Tê Mỏi Hay Cảnh Báo Bệnh Tim? Nên Uống Gì? Kiếm Tra gì? - BS. Phạm Hiếu Liêm

Ngoại Giao Thời Hiện Đại


Sau cuộc gặp với ông Tập Cận Bình.

Nhóm của ông Trump đã vứt tất cả quà tặng, huy hiệu, ghim cài và điện thoại dùng một lần của Trung Quốc vào một thùng rác khổng lồ trước khi lên chuyên cơ Air Force One.

Hoàn toàn không có sự tin tưởng nào giữa hai bên.

Ngoại giao Mỹ–Trung thời hiện đại thật thú vị .

Ban ngày quốc yến linh đình, quân nhạc, bắt tay:

"tình hữu nghị vĩ đại”, ca ngợi “quan hệ lịch sử”.

Ban đêm dùng burner phone, không dám mang điện thoại cá nhân, không dám mang laptop…

Trước khi lên Air Force One về Mỹ thì:

Trump, Elon Musk, Tim Cook…

Cùng cả đoàn gom huy hiệu, quà lưu niệm, đồ Trung Quốc ném hết vào thùng rác.

Theo nguồn được dẫn lại rộng rãi, chi tiết này do Emily Goodin phóng viên Nhà Trắng của New York Post đăng trên X.

Đúng là thời đại kỳ lạ:

"Chúng tôi rất tôn trọng các bạn…

Nhưng vì lãnh đạo của các bạn “vĩ đại” quá cho nên xin đừng đụng vào thiết bị điện tử của chúng tôi" ��.

* PHÁI ĐOÀN HOA KỲ VỪA NÉM TOÀN BỘ QUÀ TẶNG TỪ PHÍA TRUNG QUỐC VÀO THÙNG RÁC NGAY DƯỚI CHÂN AIR FORCE ONE TRƯỚC KHI LÊN MÁY BAY-NGAY TRƯỚC MẮT CAMERA.

Lần gần nhất đội ngũ của một Tổng thống Mỹ công khai vứt bỏ vật dụng từ quốc gia chủ nhà ngay trên đường băng tại một hội nghị thượng đỉnh lớn, sự việc đó đã lên trang nhất suốt cả tuần vì ai cũng hiểu điều đó có ý nghĩa gì.

– Mọi món quà đều bị bỏ vào thùng rác trước khi máy bay cất cánh.

– Mọi thẻ đeo, huy hiệu, quà lưu niệm kỷ niệm-đều bị loại bỏ

– Mọi điện thoại do phía Trung Quốc cấp cho nhân viên và báo chí bị ném bỏ.

– Không bất kỳ vật dụng có nguồn gốc Trung Quốc nào được phép mang lên máy bay.

– Thiết bị cá nhân được đặt trong túi chống sóng Faraday suốt chuyến bay.

– Quy trình được áp dụng đồng loạt cho nhân viên, báo chí và toàn bộ phái đoàn.

– Mật vụ và an ninh Tòa Bạch Ốc trực tiếp giám sát tại chân cầu thang máy bay.

– Khi được hỏi về hoạt động gián điệp, Trump nói trước camera:

“Chúng tôi không bàn về điều đó vì chúng tôi cũng do thám họ giống như họ do thám chúng tôi".

– Phóng viên Tòa Bạch Ốc của New York Post, Emily Goodin, xác nhận sự việc từ vị trí báo chí tháp tùng.

– Quy trình được thực hiện ngay trước thời điểm quay lại không phận Hoa Kỳ.

– Đây là quy trình xử lý giống hệt mà các phái đoàn Mỹ đã áp dụng tại Trung Quốc và Nga suốt nhiều năm.

– Nguyên nhân là các lo ngại phản gián đã được ghi nhận rằng thiết bị điện tử do Trung Quốc cấp có thể chứa mã độc, thiết bị theo dõi hoặc nghe lén.

– Đây không phải hành động ngẫu hứng.

Nó đã được lên kế hoạch từ trước.

Thực hiện ngay trên đường băng, trước mặt camera.

Đây là “playbook” mà các phái đoàn Mỹ đã áp dụng tại Bắc Kinh suốt cả một thế hệ.

Khác biệt duy nhất là lần này có người chụp lại được.

Trump đến cùng Elon Musk và Jensen Huang.

Ông rời đi mà không mang theo bất kỳ thứ gì của Trung Quốc trên máy bay.

Không huy hiệu.

Không điện thoại.

Không quà lưu niệm.

Dù những gì được nói trong các cuộc họp là gì đi nữa.

Tư thế an ninh lúc rời đi đã cho thấy Washington thực sự nhìn Bắc Kinh như thế nào khi camera không còn tập trung vào những cái bắt tay.


Nguồn FB

Lịch Sử Trường Taberd Saigon Năm Xưa

 
Trường La San Taberd – Sài Gòn

Trường La San Taberd là một trường học tại Sài Gòn, được thành lập từ thời Pháp thuộc, hoạt động từ năm 1873 đến năm 1975, tọa lạc ở số 53 đường Nguyễn Du, Sài Gòn, gần góc đường Tự Do. Trường này vốn là sản nghiệp riêng của Hội truyền giáo Công giáo, có công và thanh danh lớn trong việc đào tạo nhơn tài trong xứ thời bấy giờ. Những người điều hàng trường Taberd được gọi là sư huynh. Khoảng cuối năm 1865 có sáu sư huynh dòng La San (một dòng tu Công giáo với mục đích giáo dục cho trẻ em nghèo) rời Toulon, Pháp sang Việt Nam.

Khi đến Sài Gòn vào đầu năm 1866 các sư huynh tham gia quản giáo trường Trung học Adran (Collège d’Adran) vốn đã được các linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris mở ở Sài Gòn từ năm 1861. Vì có tiếng dạy giỏi, các sư huynh được nhiều nơi như Chợ Lớn, Mỹ Tho lần lượt xin mở trường vào năm 1867, rồi đến Vĩnh Long và Sóc Trăng, vào năm 1869. Nhưng tới năm 1879, chánh quyền ở Pháp thay đổi chánh sách, ngưng cấp học bổng và không tài trợ nữa. Trường Adran buộc phải đóng cửa vào khoảng năm 1887.

Trường La San Taberd – Sài Gòn

Vào năm 1873, Linh mục Kerlan (1844-1877) quyết định mở một trường nghĩa thục dạy các trẻ bị bỏ rơi, trong số đó có nhiều trẻ em lai. Trường được gọi theo tên của Jean-Louis Taberd, Giám mục địa phận Nam Kỳ từ 1830 tới 1840. Khi trường Adran đóng cửa, những học trò của trường này được đem gởi đến theo học trường Taberd. Do gặp khó khăn về tài chánh, Linh mục Kerlan mời các sư huynh Dòng La San (Les frères des Ecoles Chretiennes Jean Baptiste de La Salle) trở qua giúp ông.

Năm 1889 có 9 sư huynh từ Marseille qua. Năm sau đó, các sư huynh tiếp nhận trường tư Taberd, lúc đó có khoảng 160 học sinh mà một nửa ở nội trú. Số học trò theo học tăng nhanh, nên năm 1891 có thêm 5 sư huynh theo qua, mở thêm một trường nghĩa thục nằm ngay cạnh trường Taberd. Các sư huynh lại mở thêm một chi nhánh ở Vũng Tàu và sau này ở nhiều nơi khác. Do sự sắp xếp của Linh mục Kerlan, Hội Thừa sai gánh chịu trách nhiệm tài chánh đối với những trường do các sư huynh điều hành và giảng dạy. Năm 1897, trường Taberd được mở rộng thêm.

Vào niên khóa 1973-1974, trường có 115 lớp, 7464 Học sinh từ lớp 2 đến lớp 12 (bao gồm các cấp tương đương tiểu học, trung học cơ sở và phổ thông hiện nay).

Trường được điều hành bởi các sư huynh Dòng La San và áp dụng các lý thuyết của thánh Gioan La San (Jean-Baptiste de la Salle) đặt ra, là chú trọng tới việc giáo dục phát triển các phần: Trí dục, đức dục và thể dục. Trong trường có sân bóng chuyền và bóng rổ, cùng các bàn bóng bàn trong phòng thể thao để học sinh tập luyện. Nhờ đó, sau này, từ nơi đây đã gây niềm hứng thú thể thao và góp phần tạo dựng các vận động viên danh tiếng sau này như Lê Văn Tiết, Trần Cảnh Được…

Ngoài ra, trường còn chú ý hướng dẫn học sinh làm việc thiện và hiểu biết đời sống người nghèo. Trong những năm đầu thập niên 1970, học sinh Taberd các lớp 9 và 10 hàng tuần được hướng dẫn đi thăm viếng các khu lao động nghèo, hớt tóc cho các em nhỏ và phát thuốc cho những người đến khám bịnh ở những trạm chẩn bịnh miễn phí, theo toa các bác sĩ và các sinh viên y khoa. Học sinh cũng được dạy học thêm nghề như như chụp hình, rửa ảnh, sửa radio…

Sau năm 1975, tất cả các trường La San bị nhà nước thu lại trưng dụng hết các nhà dòng trên danh nghĩa là MƯỢN, nhưng tới nay 50 năm rồi xài luôn khỏi trả. Và những công trình lợi ích xã hội các chúng cũng cướp luôn của người dân tới nay cũng chẳng ai có và biết đấy là cái gì. Khi quyền con người không có, thì đòi hỏi cái đáng được hưởng của dân thì làm gì có mà đòi. Mà có chăng nữa cũng van xin lạy lục mới kỳ chớ! Nhưng các thứ nó được quy ra bằng tiền kể cả nhơn cách của một con người trong cái xã hội này nó thúi nát vậy đấy. Từ sau 1975, dường như tất cả hai miền đất nước đang quay về sống như thời nguyên thủy mà chẳng ai dám nói, chỉ biết cúi đầu im lặng. Học sinh thì được dạy những thứ rác rưởi vào đầu, không tài phản bác hay hùng biện sai trái không cần biết và không lắng nghe và tiếp thu. Như một cổ máy được lập trình, sống chỉ biết tham lam ích ích kỷ và nhu nhược đến đê hèn. Một lối giáo dục mà trước đây không hề có tại Miền Nam. Khi chương trình giáo dục TỰ DO- KHAI PHÓNG - NHƠN BẢN.

Nên Trường La San Taberd bị đóng cửa năm 1976, sau đó cơ sở trường được dùng làm trường Trung học Sư phạm và sau đó là trường Trung học Phổ thông Chuyên Trần Đại Nghĩa thì không có gì là lạ.


Dạ Lan Thanh


Image en ligne
Image en ligne
Image en ligne

(2) TRƯỜNG LASAN TABERD. Lịch Sử trường Taberd... - Giuse Ngọc Cường | Facebook 

Xuất Khẩu Lao Động


KHÔNG THỂ LẤY XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐỂ BÙ ĐẮP CHO NỖI MẤT ĐẤT VÀ MẤT SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN

Tại nhiều địa phương trên cả nước, đặc biệt ở các khu vực thu hồi đất phục vụ dự án đô thị, khu công nghiệp và hạ tầng, chính sách hỗ trợ người dân bị thu hồi đất đi xuất khẩu lao động đang được xem như một giải pháp “ổn định đời sống”. Nhưng phía sau những lời hứa hỗ trợ việc làm là một thực tế đáng suy nghĩ: nhiều người dân sau khi mất đất sản xuất lại bị đẩy vào cảnh phải rời quê hương để mưu sinh nơi đất khách.

Điều khiến dư luận băn khoăn không nằm ở việc hỗ trợ xuất khẩu lao động, mà ở cách chính sách đang gián tiếp thừa nhận rằng người dân mất đất không còn cơ hội sống được trên chính quê hương mình. Đất bị thu hồi để phát triển kinh tế, nhưng người dân là những người đã nhường đất lại phải đi làm thuê ở nước ngoài để tồn tại. Đó không thể được xem là một thành công trọn vẹn của chính sách phát triển.

Một xã hội công bằng không thể để người dân mất tư liệu sản xuất rồi xem việc rời bỏ quê hương là “giải pháp hỗ trợ”. Nếu thu hồi đất thật sự vì lợi ích phát triển, thì người dân phải được bảo đảm sinh kế bền vững ngay tại nơi họ từng sinh sống, chứ không phải nhận một khoản đền bù ngắn hạn rồi tự xoay xở tương lai.

Giải pháp cần thiết là buộc các dự án sử dụng đất phải gắn trách nhiệm tạo việc làm tại chỗ, đào tạo nghề thực chất và bảo đảm tái định cư đi kèm sinh kế lâu dài. Người dân cần cơ hội sống ổn định trên quê hương mình, không phải một tấm vé đi lao động xa xứ để đổi lấy phần đất đã mất.


(17) KHÔNG THỂ LẤY XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐỂ BÙ ĐẮP... - Chân Trời Mới Media | Facebook

Thanh Loan chuyển

Made Of Sugar By Vietnamese Artist Michelle Nguyen

The flowers we are about to share with you are not only beautiful, but they’re also quite delicious! How come? Well, this is because they are not real flowers, although we wouldn’t blame you if you thought they are, since they look just like the real thing. These intricate flowers are made of sugar by the hand of the talented Australian confectionary artist Michelle Nguyen. 

  

 

 

Anh NTL chuyển 

Wednesday, June 10, 2026

Chuyện Trú Mưa - Loc Duong


Hôm vừa rồi đang đi dạo phố thì gặp trận mưa to, phải chạy vào trú dưới hiên một căn nhà. Cùng đứng trú mưa có vài người khác nữa, trong đó có một cô bé mặt quen quen. Suy nghĩ mãi hắn mới nhớ ra cô bé chính là một trong những nhân vật được chụp hình đăng báo, và tấm hình này không hiểu sao đã được lưu giữ cùng với cả trăm tấm hình linh tinh khác trong phôn tay của hắn.


Thế là hắn chìa cái phôn ra và gợi chuyện làm quen :

-Có phải cháu đây không?


Cô bé không giấu được vẻ ngạc nhiên, thích thú :

-Vâng, cháu và các bạn cháu đấy. Úi giời ơi, thích quá. 

-Nhưng chuyện gì mà các cháu khóc ghê thế? Bộ ba hay má cháu chết hả?

-Không. Ba má cháu có già phải đi theo trời theo phật thì cũng là chuyện nhỏ, việc gì phải khóc?

-Hay là các cháu đang đi đám ma của bạn bè thân quen? 

-Không. Đi đám ma thì phải vui chứ lị. Có mấy người pê-đê múa lửa với nhảy thoát y, thích lắm chú ạ.

-Hay là các cháu đang tỏ lòng tiếc thương cho chiến sĩ và đồng bào ta bị giết hại dã man bởi bọn Trung quốc xâm lược?

-Ơ, chú nói hay nhỉ? Mấy chuyện linh tinh này can dự gì tới bọn cháu. Ai chết kệ người ta đi. Cháu thấy chú coi bộ hơi rảnh.

-Thì chú đang rảnh đây, đứng trú mưa chứ có làm gì đâu. Vậy nói chú nghe tại sao trong hình này các cháu khóc ghê thế? 

Cô bé vui vẻ hẳn lên :

-A, cái hôm ấy bọn cháu đi xem ca sĩ thần tượng Hàn Quốc biểu diễn lần chót trước khi về nước. Đông lắm, ai cũng khóc, ai cũng chen lấn để được hôn vào cái ghế mà ca sĩ ngồi, có đứa không chen được, còn tính đập đầu xuống đất tự tử, phải hai chú bảo vệ mới giữ được nó đấy. Còn cháu khóc sưng cả mắt, phải nghỉ học hết 3 ngày.

-Nó ca sĩ qua nước mình hát, nó kiếm khẩm tiền, mắc chi các cháu phải khóc tập thể vậy? 

-Vậy là chú Hai Lúa rồi. Chú không biết bây giờ văn minh là phải bắt chước dân Hàn quốc, phải khóc tối đa và sẳn sàng ngất xỉu vì thần tượng ca sĩ của mình. Nhờ vậy cháu mới được chụp hình lên báo đó. Còn chú, có ai chụp hình chú không?


Hắn cứng họng. Không phải vì đuối l‎ý, mà vì hắn ghê sợ cho sự xuống cấp trầm trọng của cái xã hội trăm năm trồng người hiện nay. Cứ thế này thì còn gì là thế hệ tương lai, còn gì là đất nước.


Hắn bước ra khỏi mái hiên dù trời vẫn còn đang mưa. Hắn không muốn đứng đó thêm chút nào nữa. Hắn cần sự khuây khỏa. Đi dưới mưa cũng là một cách để khuây khỏa, nhất là khi trong óc của hắn lại hiện lên mấy câu thơ của cô giáo Trần Thị Lam :

Đất nước này rồi sẽ về đâu anh

Anh không biết làm sao em biết được

Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước

Ai trả lời giùm đất nước sẽ về đâu?”

 

Loc Duong

Tháng Sáu Và Mưa - Đỗ Công Luận

Nợ Ân Tình Là Món Nợ Khó Trả Nhất Đời Người - Phạm Nhật Minh

 

Có những món nợ cầm giấy tờ đi trả là xong. Có những món nợ chỉ cần đủ tiền thì mọi chuyện khép lại rất nhanh. Người ta vay nhau vài triệu, vài trăm triệu, thậm chí cả một gia tài rồi cũng có ngày thanh toán sạch sẽ. Riêng nợ ân tình thì khác. Càng sống lâu càng thấy nặng lòng. Càng đi nhiều càng hiểu thứ khó trả nhất trên đời chưa bao giờ là tiền bạc, mà là cái nghĩa người khác dành cho mình lúc sa cơ.

Đời người ai cũng từng có lúc khó khăn. Có người khổ vì tiền. Có người khổ vì tình. Có người bên ngoài cười nói bình thường nhưng bên trong nát vụn tới mức chỉ muốn buông xuôi tất cả. Những lúc như thế, thứ cứu một con người nhiều khi không phải vật chất lớn lao, mà chỉ là một bàn tay chìa ra đúng lúc. Một câu nói tử tế. Một ánh mắt tin tưởng. Một người chịu ngồi nghe mình nói hết nỗi lòng giữa lúc ai cũng quay lưng.

Chính những thứ tưởng nhỏ bé ấy lại theo con người ta suốt cả cuộc đời.


Người từng trải thường sống nặng tình hơn nặng tiền. Vì họ hiểu cảm giác lúc bản thân rơi xuống đáy mà vẫn còn người đứng cạnh quý giá tới mức nào. Có những năm tháng đi hết túi vẫn chưa đáng sợ bằng đi hết niềm tin. Có những giai đoạn chỉ cần một người bỏ mặc thôi cũng đủ khiến lòng mình lạnh ngắt. Nên ai từng giúp mình giữa lúc tăm tối, mình nhớ rất lâu. Không cần họ nhắc. Không cần họ đòi. Trong lòng tự khắc ghi.

Nhiều người trẻ nghĩ rằng chỉ cần mang quà cáp tới biếu, gửi chút tiền gọi là đáp lễ thì xem như tròn nghĩa. Không đơn giản như vậy. Ân tình chưa bao giờ đo bằng giá trị món quà. Có người cho mình cả tuổi trẻ để nuôi mình khôn lớn. Có người hy sinh giấc ngủ, sức khỏe, công việc chỉ để mình có chỗ dựa lúc khó khăn. Những thứ ấy lấy gì cân cho đủ.

Cha mẹ là món nợ ân tình lớn nhất đời người. Lúc còn nhỏ, mình đau một chút thì cha mẹ lo đứng lo ngồi. Mình thiếu ăn thiếu mặc một ngày, cha mẹ mất ngủ cả đêm. Có những người cha đi làm quần quật ngoài trời nắng chang chang, lưng áo ướt đẫm mồ hôi vẫn không dám mua cho mình bộ đồ mới. Có những người mẹ ăn uống dè sẻn từng đồng nhưng sẵn sàng vét sạch tiền trong túi để con có bữa cơm ngon. Họ sống cả đời vì con cái nhưng chưa từng tính toán công lao.


Đến lúc con trưởng thành, kiếm được tiền, nhiều người nghĩ đưa tiền về hàng tháng là đủ. Nhưng thứ cha mẹ cần nhiều khi chỉ là một cuộc gọi hỏi han, một bữa cơm đông đủ, một ngày con cái về nhà ngồi nói chuyện tử tế. Tiền bạc giúp cuộc sống dễ thở hơn, nhưng không khỏa lấp được cảm giác cô đơn trong lòng những người già chỉ mong con cháu quan tâm thật lòng.

Có những người khi cha mẹ còn sống thì vô tâm. Lúc mất rồi mới bật khóc, mới thấy lòng trống rỗng, mới muốn báo hiếu nhưng không còn cơ hội. Đó là món nợ day dứt nhất. Muốn trả cũng không biết trả cho ai.

 

Tình nghĩa vợ chồng cũng là món nợ khó cân đo. Người ngoài nhìn vào chỉ thấy cưới nhau về sống chung một nhà. Nhưng chỉ người trong cuộc mới hiểu để đồng hành với nhau qua năm tháng không hề dễ. Một người chấp nhận ở cạnh mình lúc tay trắng, chịu cùng mình đi qua nghèo khó, chịu nhẫn nhịn tính xấu, chịu gánh vác lúc mình thất bại, người ấy đáng quý vô cùng. Có những người đàn ông lúc chưa có gì thì vợ ở cạnh động viên từng chút. Tới lúc khá giả hơn lại thay lòng. Có những người phụ nữ từng cùng chồng vượt qua những ngày cơ cực nhưng rồi lại bị bỏ quên khi cuộc sống tốt hơn.

Con người ta nhiều khi bạc với người từng cùng mình chịu khổ, nhưng lại hết lòng với những mối quan hệ hào nhoáng ngoài xã hội. Đó là điều đau nhất.


Tình bạn cũng vậy. Lúc vui vẻ thì quanh mình rất đông người. Lúc có tiền, có địa vị, đi đâu cũng có kẻ cười nói thân thiết. Nhưng tới khi thất bại mới biết ai thật lòng. Người dám ở cạnh mình lúc trắng tay mới là người đáng trân trọng. Có những người bạn nhiều năm không gặp, nhưng chỉ cần mình xảy ra chuyện, họ sẵn sàng có mặt. Có người chẳng khá giả gì nhưng vẫn cố giúp mình một khoản lúc túng quẫn. Khoản tiền ấy chưa chắc lớn, nhưng cái tình nằm phía sau mới đáng quý.

Người từng nghèo mới hiểu bát cơm lúc đói ngon tới mức nào. Người từng cô độc mới hiểu một câu động viên đúng lúc ấm lòng ra sao. Nên càng va chạm, con người càng sống chậm lại. Không còn nhìn mọi thứ bằng giá trị vật chất nữa. Họ nhìn bằng lòng người.

Đời này đáng sợ nhất không phải mang nợ tiền, mà là nợ một người đã từng tốt với mình. Tiền còn có giá rõ ràng. Ân tình thì không có con số cụ thể. Có những việc giúp xong là quên, nhưng người được giúp nhớ cả đời. Có những người chỉ vô tình cứu mình một lần nhưng lại thay đổi cả quãng đời phía sau của mình.

Có người từng nói, lúc nghèo khổ mà gặp được người thật lòng giúp đỡ, cảm giác ấy nhớ tới già cũng chưa quên được. Vì khi con người rơi xuống thấp nhất, họ mới thấy rõ ai thật tâm, ai giả tạo. Người đứng cạnh mình lúc huy hoàng chưa chắc quý bằng người ngồi cạnh mình lúc thất bại.

Cuộc sống bây giờ khiến nhiều người sống thực dụng hơn. Quan hệ cũng tính toán hơn. Người ta sợ thiệt, sợ cho đi, sợ sống quá chân thành. Có người giúp ai cũng cân nhắc xem sau này nhận lại được gì. Có người đối tốt với người khác chỉ vì lợi ích. Nên giữa một xã hội nhiều toan tính, gặp được người sống có tình có nghĩa càng hiếm.

Càng lớn càng hiểu, giàu nghèo chưa nói lên giá trị một con người. Thứ đáng quý nhất nằm ở cách họ đối đãi với người từng giúp mình. Có những người thành công rồi quay lưng với ân nhân. Có những người khá giả hơn một chút liền xem thường bạn cũ. Nhưng cũng có người dù đi tới đâu vẫn nhớ người từng nâng đỡ mình những ngày gian khó. Người như thế thường sống bền, sống lâu trong lòng người khác.


Con người sống hơn nhau ở chữ nghĩa. Một người biết nhớ ơn, đi tới đâu cũng được quý trọng. Một người vô ơn, giàu cỡ nào lòng người khác cũng lạnh nhạt. Vì tiền bạc kiếm lại được, còn nhân cách mất rồi rất khó lấy lại.

Nhiều lúc nghĩ cũng buồn. Có những người sống tử tế cả đời nhưng lại gặp toàn bạc bẽo. Giúp người lúc khó khăn, tới khi mình sa cơ thì chẳng ai nhớ tới. Nhưng người sống sâu sắc thường không than trách nhiều. Họ hiểu giúp người là do cái tâm của mình. Chỉ cần bản thân sống không thẹn lòng là được. 

Đời người ngắn ngủi lắm. Nay còn gặp nhau, mai chưa chắc còn cơ hội. Có người sáng còn nói cười, chiều đã rời xa mãi mãi. Nên ai còn cha mẹ thì cố dành thời gian nhiều hơn một chút. Ai còn ân nhân bên đời thì cố đối đãi tử tế hơn một chút. Đừng để tới lúc không còn gặp được nữa mới ôm tiếc nuối.


Tiền nợ còn có thể trả dần theo năm tháng. Ân tình nhiều khi mang theo tới hết đời vẫn chưa trả đủ. Vì thứ người khác cho mình đâu chỉ là sự giúp đỡ. Trong đó còn có lòng thương, sự tin tưởng, sự bao dung và cả chân thành.

Có những người bước qua đời mình như cơn gió. Nhưng cũng có những người chỉ cần xuất hiện một lần thôi cũng đủ khiến mình nhớ mãi. Không phải vì họ giàu có hay tài giỏi. Chỉ vì lúc cả thế giới quay lưng, họ vẫn chọn đứng về phía mình.


Người từng đi qua đủ thăng trầm thường sống chậm hơn, trầm hơn, ít khoe khoang hơn. Vì họ hiểu cuộc đời này thứ quý nhất không nằm trong tài khoản, cũng không nằm ở danh tiếng ngoài xã hội. Thứ đáng quý nằm ở những người thật lòng bên cạnh mình lúc khốn khó.


Nợ tiền còn có ngày trả hết.

Nợ ân tình nhiều khi mang theo cả đời vẫn thấy chưa đủ.


Phạm Nhật Minh

Ngày 26/05/2026

Phạm Nhật Minh - NỢ ÂN TÌNH LÀ MÓN NỢ KHÓ TRẢ NHẤT ĐỜI NGƯỜI Có... | Facebook


Tuesday, June 9, 2026

Một Đời Qua Một Ngày - Nhạc Sĩ Lê Tín Hương

Đường Đời Dễ Có Mấy Ai? - Ông Lão Bán Kem - Lê Văn Hưởng


Trời nắng chang chang, với cái nóng nung người của tiểu bang Florida vào mùa hè lối 90 độ F (32 độ C). Trước cửa tiệm bán hàng lưu niệm (Gift Shop) đông người, một ông lão người Việt Nam đứng bán kem cho du khách. Xe bán kem có hình dáng như cái thùng vuông dài, bên ngoài có sơn chữ và hình vẽ mấy bịch kem đông lạnh. Khách khá đông, ông tươi cười với mọi người. Cách đó không xa, một du khách Việt Nam khác, đứng tuổi, nhìn ông bán kem một cách chăm chú, nghĩ mình đang gặp lại một người quen biết từ khi còn ở quê nhà mấy mươi năm về trước.
 
Khách lạ bước đến gần xe kem trong khi ông bán hàng đang bận rộn với khách. Nhìn bảng tên gắn trên áo ông lão bán kem, khách lạ mừng thầm vì đúng tên người mình quen biết.
- Chà! “Tha hương ngộ cố tri”, còn gì quý cho bằng?
 
Ông suy nghĩ. Đợi đến khi xe kem vắng khách, người khách lạ lên tiếng:
- Xin lỗi ông, có phải khi xưa ông làm tỉnh trưởng tỉnh Cần Thơ không?
 
Ông bán kem giật mình, phản ứng ngay:
- Không phải đâu, chắc ông lầm người rồi!
 
Người khách lạ “cụt hứng” rồi tự trách: “Mình hấp tấp quá, không lẽ khi xưa ông làm tỉnh trưởng, giờ nầy lại đứng ở đây?”. Suy tới suy lui, khách lạ chưa chịu thua, nghĩ thầm: “Rõ ràng tên ông trên thẻ trước ngực, sao lầm được? Dáng vóc cũng cao ráo như xưa, nét mặt, cũng vậy, tuy phong trần hơn trước?” Khách lạ trở lại ông lão bán kem:
- Thưa ông, tôi không lầm đâu, tôi nhớ ơn ông lắm, nhờ ông mà anh em nhà thầu chúng tôi làm ăn rất thoải mái dưới thời ông về làm đầu tỉnh Cần Thơ.
 
Thấy người khách lạ quả quyết, ông bán kem mỉm cười:
- Đúng là tôi, nhưng đó là chuyện xa xưa rồi, nhắc làm gì?
 
 
Từ đó, người khách lạ kết thân với ông bán kem, vì thương mến một công bộc liêm chính mà giờ này sa cơ thất thế. Trong mấy lần gặp gỡ sau đó tại tiệm ăn ngoài Splendid China, khách lạ tâm tình với ông bán kem:
- Em thường đấu thầu xây cất cho tỉnh, đời mấy ông tỉnh trước, tụi em gặp khó khăn nhiều, nhưng từ khi ông về làm tỉnh trưởng mấy năm 63 tới 65, tụi em dễ thở hơn nhiều, người nào làm đúng luật lệ thi được trúng thầu, tụi em làm ăn thoải mái, bởi vậy, tụi em nhớ ơn ông hoài...
 
Gặp người tri kỷ, ông lão bán kem thổ lộ:
- Tôi có giúp gì ông đâu, đó chẳng qua là nhiệm vụ của tôi thôi. Tổng Thống tín nhiệm tôi, giao chức vụ tỉnh trưởng là để tôi lo an ninh cho người dân, công tác chánh của tôi là về mặt quân sự, dẹp CS quấy rối đồng bào. Dưới quyền tôi, có ông phó tỉnh trưởng dân sự, mọi việc về hành chánh, tôi giao cho ông phó làm hết, nhưng tôi có đặt tiêu chuẩn làm việc, là phải hết sức liêm chánh, không được ăn lối lộ hay có hành vi tham nhũng, v. v... thì ta mới được lòng dân.
 
Trong thời gian ông bán kem tại khu giải trí SC, cũng có một số du khách người Việt Nam nhận ra ông, tỏ lòng thương mến, “tội nghiệp” ông.
 
Ông khẳng khái trả lời:
- Cám ơn quý vị đã còn nhớ tới tôi, có cảm tình với tôi nhưng xin quý vị đừng tỏ ra tội nghiệp cho tôi, tôi không thích như thế. Có gì đáng phải tội nghiệp đâu ? Cộng sản nhốt tôi, giam cầm mấy mươi năm tù, ra được xứ tự do, làm nghề gì đi nữa, miễn chính đáng, vẫn còn sướng hơn ở với CS mà!
 
Nhắc đến việc CS giam cầm, ông nhấn mạnh:
- Không nên dùng chữ “tù cải tạo” đối với chúng tôi, nhà tù CS là nơi chúng hành hạ, trả thù, hạ nhục người Quốc Gia, tù là tù chớ không có “cải tạo” gì hết.
 
Ông bán kem trong khu giải trí Splendid China nói trên là cựu Thiếu Tướng Trần Bá Di. Vinh danh một bậc đàn anh gương mẫu.
 
Bài viết ngắn hôm nay chỉ nêu vài sự kiện nổi bật, chớ không thể nói lên hết sự nghiệp to lớn của ông trên chiến trường. Lúc còn là tỉnh trưởng Cần Thơ, cấp bực ông là Thiếu Tá, sau lên Trung Tá. Ông nổi tiếng trong các trận đánh như sau:
 
Giải tỏa tỉnh Vĩnh Long trong Tết Mậu Thân 1968.


Sự việc diễn tiến như dưới đây: Gần Tết Mậu Thân, (tháng 1/1968), hai ông đầu tỉnh là Trung Tá Nguyễn Ngọc Diệp và Phụ Tá đi hành quân. Trên đường về, hai ông bị VC phục kích và bị thương, phải chở vào bệnh viện điều trị. Tỉnh Vĩnh Long như rắn không đầu. Thiếu Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Sư Đoàn 9, chỉ định Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa tạm thời phòng thủ Vĩnh Long. Khi tiếng súng Tết Mậu Thân bùng nổ, Thiếu Tá Nghĩa đã về Sài Gòn thăm gia đình và bị kẹt lại đó. Tướng Thi chỉ thị Đại Tá Trần Bá Di, đang là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 9, vào Vĩnh Long để nghiên cứu tình hình và đối phó với Việt Cộng. Vào chiều tối, một mình Từ trái: Cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, cựu Thiếu Tướng Trần Bá Di.với máy truyền tin trên lưng, ông được trực thăng chở đi, dự định đáp vào khuôn viên của tỉnh, nhưng trực thăng bị VC bắn rát quá, phải thả ông tại cầu tàu, rồi từ đó, ông chạy bộ vài chục bước vào được dinh tỉnh trưởng. Tại đây, ông bắt đầu liên lạc với các đơn vị chiến đấu để lo việc phòng thủ, chỉ dẫn trực thăng, pháo binh... bắn vào các điểm tập trung của VC. Nhưng VC vẫn cầm cự, quyết tâm đánh úp tỉnh lỵ, ông phải xin tướng Thi cho tăng viện, nhờ vậy, mấy ngày sau, một Trung Đoàn của ta mở đường tiến vào căn cứ của tỉnh. Sau cùng, ông chỉ huy phá tan lực lượng VC, chúng bị giết hay đầu hàng gần hết.

 
Trận đánh vào đất Miên.
 
Danh ông càng nổi lên năm 1970, khi ông làm Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh đánh vào mật khu Ba Thu của VC trên đất Miên (tỉnh Tà Keo), phá hủy cơ sở của chúng, tịch thu vô số chiến lợi phẩm... Ngoài ra, quân ta còn tìm thấy nhiều nhà in và máy in tiền của Mặt Trận Giải Phóng, tiền này chúng tính đem ra thay thế tiền VNCH nếu chúng thắng Miền Nam năm 1968. Ông được thăng cấp đặc biệt tại mặt trận này.
 
Anh hùng sa cơ.
 
Đến năm 1975, khi VC vào chiếm miền Nam, chúng bắt ông và đày ải vào các trại tù trong hơn 17 năm trời. Hai năm sau khi VC thả, ông qua Mỹ năm 1993 theo diện HO (Humanitarian Operation: Chương trình định cư tại Mỹ dành cho người bị CS giam cầm sau 1975). Ba tháng sau khi hoàn tất thủ tục nhập cư, y tế, bằng lái xe, ông bắt đầu đi làm tại hãng Dobbs, hãng chuyên cung cấp thức ăn cho hành khách trên máy bay. Làm việc tại đây hơn 6 tháng, ông qua khu du lịch Splendid China như có nói trên. Thời gian sau, ông xin vào làm tại Disney World với nhiệm vụ “trưmg bày hàng lên kệ” (floor stacker). Ông làm việc tại đây trong 12 năm trời, từ 1999 đến 2011, chỉ thôi việc vì bị đau nhức vào tuổi 80. Tổng cộng thời gian làm việc tại Dobbs, Splendid China và Disney World, ông đã đóng thuế Liên Bang Hoa Kỳ 18 năm, quá tiêu chuẩn 10 năm để được tiền hưu. Có lần, một giám thị ở Disney World khuyên ông:
- “You” lớn tuổi rồi, sao “you” không ở nhà nghỉ cho khỏe?
- Tuy tuổi đã cao nhưng sức khỏe còn tốt là tôi không nghỉ! Ông đáp ngay.
 
Cũng có người thấy ông cao tuổi, hỏi ông:
- Cụ đi làm chi cho khổ, ở nhà lãnh tiền trợ cấp có sướng hơn không?
 
Câu trả lời:
- Tôi không “chơi” mấy thứ đó. Tôi rất tự hào không “ăn” một ngày tiền an sinh xã hội, tiền già, tiền tàn tật... Đối với anh em chúng tôi ở tù CS, người Mỹ dành một chương trình đặc biệt để đem chúng tôi đến xứ tự do, hưởng được cuộc sống an toàn trong công bằng, chừng đó thôi đủ để mình biết ơn chính phủ và nhân dân Hoa kỳ rồi, vì lẽ đó, tôi không muốn ngồi chơi để lãnh tiền cấp dưỡng, tạo thêm gánh nặng xã hội cho đất nước này trong khi tay chân còn lành lặn, còn đủ sức khỏe để đi làm.
 
Theo trên, tướng Trần Bá Di là một người rất đặc biệt. Khi còn trong Quân Đội, ông là một công bộc liêm chính, một cấp chỉ huy tài ba, gan dạ, bình dân, yêu thương lính. Đến tuổi cao niên, ông vẫn giữ khí phách của một người hùng. Thiếu Tá Nguyên Kim Sơn, cựu Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Đoàn 9 Bộ Binh, từng làm việc dưới quyền của tướng Trần Bá Di, có viết trong tuyển tập “Cái Chết Của Một Dòng Sông” như sau:
 
“Thiếu Tướng Trần Bá Di có tấm lòng hiền hòa đức độ nên được thuộc cấp kính trọng và thương mến. Ngày ông rời khỏi Sư Đoàn 9 Bộ Binh, quân dân tỉnh Vĩnh Long đã giăng biểu ngữ khắp đường phố trong tỉnh lỵ để tỏ lòng thương mến và luyến tiếc ông”.
 
Mặt khác, trong phúc trình 6 trang giấy gởi về chính phủ Hòa Kỳ ngày 5 tháng 12 năm 1973, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Graham Martin, có ca ngợi cuộc đời và binh nghiệp của tướng Trần Bá Di trải qua mấy mươi năm chỉ huy các đơn vị tác chiến trên chiến trường miền Nam, từ cấp Trung Đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn, Trung Đoàn, đến Sư Đoàn... Nhắc đến sự liêm chính của tướng Di, phúc trình của Đại Sứ Martin có ghi một đoạn như sau:
 
“Gia đình có 4 con, ba trai một gái từ 17 đến 8 tuổi. Báo cáo cho biết là gia đình ông sống bằng lương bổng nhà binh của ông và không có ghi nhận hành vi tham nhũng nào của ông hay của phu nhân ông”.
 
Nguyên văn Anh văn như sau:
 
“They have four children, three boys and a girl from 17 to 8. The Di’s reportedly live on his military income and there has been no mention of corrupt activities on his or his wife part”

 
Tài liệu trên được chính phủ Hoa Kỳ giải mật ngày 13 tháng 8, năm 2009. Thiếu Tướng Trần Bá Di mất ngày 23 tháng Ba, năm 2018, tại Orlando, Florida, hưởng thọ 87 tuổi. Người đời có câu: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”.
 

Lê Văn Hưởng