Tác
giả tên thật là Phương Nguyễn. Sinh năm 1957 tại Phủ Cam, Huế, là cựu học sinh
trường Jeanne D’Arc. Bà hiện ở tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Tác
giả nhận giải Đặc Biệt năm 2023. Bài viết kỳ này là một câu chuyện buồn về thân
phận người vợ lính Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1975.
***
Bức
chân dung đen trắng không màu mè hoa mỹ của người phụ nữ, trong ngàn vạn
phụ nữ vợ của lính, thời đất nước ngã nghiêng, họ đã chiến đấu, không
súng, không đạn, không huy chương, không khen thưởng, tất cả cho chồng, lót đường
cho con bước lên, để rồi, kết thúc như một vở hài kịch.
Được
gặp lại chị, tôi vui mừng ôm chặt vai, vào sáng thứ Bảy, tại tiền đường nhà thờ
các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam, thuộc Tổng giáo phận Seattle, trước thánh lễ Hôn
Phối của người cháu gái gọi tôi bằng Dì, còn Chị, bên họ nhà trai.
Tôi
hỏi:
-
Chị lên Oregon mấy ngày rồi, anh đâu hả chị? Để em tới chào anh một tiếng.
Chị
trả lời:
- Ờ!
Ờ! Anh không có đây, vào nhà thờ đã.
Câu trả lời của chị có chút chi không tự nhiên. Tôi đi
theo chị vào nhà thờ. Hai chị em ngồi cùng băng ghế dành cho thân nhân. Thánh lễ
Hôn Phối của hai cháu hoàn tất sau chín giờ sáng, tiệc rượu mừng được tổ chức
buổi trưa tại nhà hàng, vì họ nhà trai ở Portland, tiểu bang Oregon lên. Thời
gian còn rất dài, tôi mời chị về nhà tôi chơi, chờ tới giờ ra nhà
hàng dự tiệc.
Tôi mời chị ấm trà hoa cúc. Chị ngồi đối diện
tôi ở góc ghế sofa. Qua loa vài câu thăm hỏi, rồi chị nhập đề, say sưa chiếu lại
cuốn phim, mà chắc bị ức chế nhiều năm chưa cơ hội trình chiếu, bộ phim
dài, nhiều tập, chiếu về anh, về việc khốn khó của chị, và đoạn kết bộ
phim, những hy sinh của người vợ được bù đắp, một nỗi đau xé lòng. Nghe chị kể,
mặt tôi nóng bừng, lòng bực bội, tội nghiệp chị quá.
Tôi xin phép chị cho tôi được viết lại việc làm vợ của
chị. Chị đồng ý, nói:
- Viết xong cho chị đọc với nghe.
Tôi trả lời:
-Dạ Chị.
Bắt
đầu câu chuyện.
Tiếng gõ cửa dồn dập, anh Phát nhìn qua khe cửa sổ, rồi
mở hé cánh cửa cho Vũ vào, bầu khí gia đình ngột ngạt nặng nề, chị Oanh đặt
ngón tay lên miệng ra dấu im lặng. Vũ liếc quanh không thấy mẹ, vợ,
và hai con. Đoán được ý của Vũ, chị Oanh nói nhỏ:
- Mạ mới đưa cháu vô dỗ ngủ, em ngoài nớ vô hà? Em đã
ăn chi chưa?
Vũ trả lời:
- Dạ! Ngoài nớ vô, em không đói, mạ trong nớ, rứa vợ
em mô rồi chị?
Anh
Phát và chị Oanh nhìn nhau không nói, giác quan thứ sáu của Vũ báo động, chuyện
chẳng vui đang chờ. Vũ mệt mỏi ngã dài trên nền ca rô phòng khách nằm
đợi câu trả lời, trong sự hồi hộp lo âu. Vũ suy nghĩ, bây giờ chị Oanh nói cũng
được không nói cũng được, vì Vũ đoán biết đáp số bài toán này, chỉ cầu mong là
chuyện lành.
Chị Oanh khẽ nói:
- Duyên để lại bé Thơ cho Mạ, ẵm cu Lâm theo gia đình
nhà bên cạnh, ra bến Bạch Đằng đi từ hôm đó, không biết ra răng, một vài người
quay về nói, họ lên tàu thủy đi ngoại quốc cả rồi.
Vũ vui mừng nói:
- Rứa hả chị! Một chọn lựa sáng suốt, tại sao anh chị
không đi ở lại đây làm chi?
Chị Oanh không trả lời câu hỏi mà theo giỏi tâm thái của
cậu em, chị biết miệng nói rứa nhưng chắc Vũ đang buồn lắm. Người ta nói
“nước mất nhà tan” quả không sai.
Vũ đứng lên nhẹ bước vào phòng ngủ, đứng lặng nhìn Mẹ
rồi nhìn con, xót xa suy nghĩ, sáu tháng tuổi, bú mớm thế nào, hai vợ chồng
tích cóp đồng nào đưa vô ngân hàng đồng đó, bây giờ lấy chi trang trải cuộc sống
hàng ngày cho Mẹ và con nhỏ. Thân phận người lính bại trận, nhìn về phía trước
là một khoảng trời mênh mông u tối.
Vũ trở ra phòng khách, anh chị Phát ngồi trầm ngâm
nhìn lên bàn thờ có lẽ đang cầu nguyện, một lát anh Phát nói:
- Lệnh gọi trình diện học tập 10 ngày, mấy hôm nay anh
chần chừ chưa đi, bây giờ có Cậu vào, luôn thể ngày mai anh em mình cùng đi
trình diện, có anh có em an tâm hơn.
Chị Oanh nói:
- Chính sách chung mà, ở đây hay ngoài nớ, mô cũng phải
đi học tập, chỉ 10 ngày thôi, mai Cậu và anh Phát đi trình diện đừng để quá trễ
mà rắc rối, Cậu yên tâm Mạ và bé Thơ chị sẽ lo.
Vũ lấy chùm chìa khóa giao cho chị Oanh nói:
-
Đây là chìa khóa nhà ngoài nớ, em chỉ ghé qua nhìn nhà rồi đi liền, khi đi em
đã nhờ bác Hoàng coi giúp, em đưa chìa khóa cho chị, lỡ có chuyện chi bất trắc
mà xoay xở.
Hai anh em ra phường trình diện, cứ nghĩ, họ ghi danh
sách, sắp xếp lớp rồi về đợi ngày tập trung học tập, nào ngờ ghi tên xong
là bị đưa vô phòng đóng kín cửa. Một giờ sau đưa lên xe bít bùng chở về khám,
không biết mình bị giam khám nào, vì lên xe ở cửa phòng, rồi xuống xe đưa ngay
vào phòng, ngồi trên xe bít bùng không biết chạy đường nào. Mấy hôm sau cũng xe
bít bùng đưa ra sân ga, đoàn tàu dài, kéo toàn toa sắt đóng kín. Tất cả bị lùa
lên, tàu xập xình chạy, Sài Gòn không có đường sắt về miền Tây, chỉ có đường ra
Trung và Bắc, tàu ì à ì ạch chạy mấy ngày đêm, đứng lại nhiều ga, người ngồi trong
toa được gọi tên, rải rác xuống dọc đường, Vũ được gọi tên, xuống tàu ban đêm,
không biết ga nào, tàu đứng lại vài ba phút rồi tiếp tục chạy, từ đó hai anh
em mỗi người một nơi, núi rừng miền Bắc xa lạ không biết mình bị dẫn
đi đâu.
Chị
Oanh thất thểu chạy nơi này qua nơi khác, dò la tin tức hỏi thăm người
quen, hỏi thăm bạn bè, ai cũng như ai cùng chung đại họa, nước mắt lưng tròng
cay đắng nhìn nhau. Ngày ngày chờ tin trong khắc khoải âu lo. Cô nữ
sinh hoa khôi trường Đồng Khánh, con nhà giàu, xếp sách vở theo chồng ở tuổi
mười chín, chưa khi nào đụng tay bất cứ việc gì, bây giờ phải xắn cao tay
áo, tập tễnh xông vào cuộc chiến kiếm cơm.
Chồng
và em trai được lệnh triệu tập đi học 10 ngày, 10 ngày đã qua, họ biệt vô âm
tín, bao nhiêu gia đình nhốn nháo chạy đầu này, đầu kia, dò thăm tin tức, nhưng
vẫn vô vọng. Thời gian nặng nề trôi, một tháng, năm tháng, bảy tháng rồi một
năm, chị mới nhận được tin nhắn, cậu Vũ ở trại tù Thanh Cẩm, Thanh Hóa, Chồng ở
tù trại Ba Sao, Hà Nam Ninh.
Chị
vui mừng báo tin cho mẹ “Hai anh em chưa chết”. Chị chạy quanh hỏi thăm cách đi
thăm tù. Vừa về tới nhà, mẹ đưa tờ giấy của chính quyền địa phương báo “nhà của
chị bị trưng thu”, yêu cầu phải dọn ra trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận giấy
báo. Cầm tờ giấy đuổi nhà trong tay, chị không mấy ngạc nhiên, vì chị đã tình cờ
gặp người bạn học cũ tại Sài Gòn, anh ta là một Phật Tử thuần thành, anh ta lên
Chùa Từ Đàm, rồi đi theo Việt Cộng năm Mậu Thân. Bây giờ trở về không biết anh
ta làm chức gì, chỉ thấy vai mang cặp da, người này cho chị biết, theo chính
sách, sớm hay muộn nhà của Sĩ Quan cấp Tá trở lên sẽ tịch thu. Nghe tin ấy,
mấy lâu nay chị đã từ từ thu xếp mọi chuyện, chuẩn bị trở về quê, về mái ấm,
nơi ông bà tổ tiên đã gầy dựng, nơi đong đầy bao nhiêu kỷ niệm của thời con
gái. Chị nôn nóng về gấp để đi thăm hai người tù. Về Huế thì đoạn đường ra Bắc
được thu ngắn hơn hai phần.
Bác Hoàng gái người hàng xóm coi giúp nhà, vui mừng
đón mẹ con chị từ đầu hẻm, bác nói:
-
Mệ và Cô về cháu mừng quá, giữ nhà của mệ không đơn giản, khô rát cổ
họng trả lời với người ta, hôm nay đòi mượn, mai xin cho ở tạm, mốt xin gửi
sinh viên ở học. Họ mà vô trong nhà rồi lấy xà beng nạy cũng không ra, đứa nào
thấy nhà mệ cũng nuốt nước bọt. Cảnh sát khu vực, nay hăm mai dọa. Hai mẹ con
chị Oanh chỉ biết cúi đầu tạ ơn bác Hoàng gái. Mới về ở được hai
đêm, chưa dọn dẹp xong đồ đạc, đêm thứ ba Cảnh sát khu vực đập cửa kiểm tra hộ
khẩu, yêu cầu cho coi giấy tạm vắng. Chị trả lời:
- Anh đợi tôi vô lấy.
Chị vào phòng cầm ra tờ giấy nói:
- Giấy tạm vắng họ không cấp, họ đưa cho tôi giấy đuổi
nhà, yêu cầu trở về quê để lao động sản xuất. Chị giới thiệu:
- Đây là bà chủ nhà mạ của tôi.
Người
Cảnh sát coi tờ giấy rồi bỏ đi. Vài ba hôm sau một toán người, đàn ông, đàn bà,
đến vận động bán nhà đi kinh tế mới. Chị ấm ớ không trả lời, họ cho chị thời hạn
suy nghĩ, sau một tuần họ sẽ trở lại. Họ đi rồi chị ngồi xuống ghế, đắng cổ họng.
Nhà mới dọn về chưa thu xếp xong, lại phải đối đầu với những chuyện như thế này,
chị quá mệt mỏi, áp lực nặng nề đè lên người chị. Trong sự tột cùng, chị
chỉ biết cầu nguyện, xin ơn trên soi sáng.
Việc
cần phải giải quyết trước nhất, là đi thăm chồng và em trai, mọi chuyện xếp
lại từ từ tính liệu sau. Đơn xin thăm nuôi chính quyền địa phương
trả lời: “Không giải quyết cho người tạm trú”.
Một
tuần đã qua, đoàn người hôm trước lại đến, hôm nay có cảnh sát khu vực đi theo,
chị vui vẻ đón tiếp miệng xuýt xoa:
-
Thật xin lỗi nhà kẹt tiền quá phải bán bàn ghế, chưa sắm lại kịp, để khỏi mất
thì giờ của các anh chị, tôi xin trả lời việc bán nhà đi kinh tế mới, theo chủ
trương các anh chị đã thông báo hôm trước. Tôi xin thưa, tôi không có quyền
quyết định, tôi phải hỏi ý của em trai tôi vì đây là nhà của Tổ Phụ, còn mạ tôi
các anh chị đã thấy, bà không còn minh mẫn, hôm qua tôi lên phường xin giấy
phép thăm nuôi, để ra gặp cậu em bàn chuyện bán nhà, nhưng không được giải
quyết, lý do “không giải quyết cho gia đình tạm trú”.
Sau
khi nghe tôi trình bày, Cảnh sát khu vực hứa xem xét lại giấy thăm nuôi , chị
suy nghĩ “cá đã cắn câu”. Mấy ngày lặn lội, vai xách nách
mang, từ rừng núi Thanh Hóa ra núi rừng Hà Nam Ninh, không cầm được nước mắt.
Chỉ hơn một năm mà chị không còn nhận ra họ, tột cùng khổ đau, hằn ghi lên thân
xác khô gầy, trên khuôn mặt bọc lớp da nhăn nhúm, đôi mắt trắng dẻ thụt sâu
trong hốc xương, vòng mi thâm quầng. Chị báo sơ qua tình hình sinh hoạt gia
đình cho hai người biết, nhà ở Sài Gòn bị tịch thu, đã dọn ra Huế được hai tháng
rồi, mạ và ba nhóc đều khỏe, chị không nói chi về việc kinh tế mới, vì không muốn
đem âu lo đến cho chồng và em, chị tự tin sẽ giải quyết êm xuôi mọi nan đề trước
mắt.
Cuộc
sống chật vật hơn sau chuyến đi Bắc về, chị đạp xe quanh thành phố tìm nghề
thích hợp kiếm cơm, cảnh sống chụp giật, một nói mười, không nói có, chị không
làm được. Chị chọn nghề đơn giản, ít vốn, học cách luộc hột vịt lộn, chị bắt đầu
bước xuống cuộc sống thành phố này bằng thúng hột vịt lộn, với mấy bao thuốc lá
bán lẻ, leo lét cây đèn dầu, tấm ni lông quấn cổ xoay quanh người, khi che mưa,
khi chắn gió, tại góc ngã ba đường, đêm hè oi bức cũng như đêm đông mưa lạnh,
ngồi còng lưng, tê nhức đầu gối, thâu đêm gà gáy để bán cho xong 100 cái trứng
lộn.
Vậy
mà có được yên đâu. Số người hôm nọ lại đến, hoạnh họe đủ điều, bắt chị phải
bán nhà đi kinh tế mới, chị quyết liệt phản đối, vì khả năng và sức lực của
chị không thể phá rừng cuốc đất để nuôi ba đứa con nít và một bà già, nếu không
cho ở đây thì viết giấy trả chị trở lại Sài Gòn. Họ nặng lời
hăm dọa:
- Muốn người thân cải tạo mau về, thân nhân phải chấp
hành triệt để lệnh của chính quyền địa phương, hơn nửa gia đình của chị là gia
đình ác ôn, có nợ máu với nhân dân với cách mạng, chồng Sĩ Quan cấp Tá em là Biệt
kích, theo chính sách bắt buộc phải rời thành phố nếu không đi sẽ cưỡng chế.
Máu nóng sôi lên, chị đốp chát lại ngay:
- Là sĩ quan cấp Tá, bây giờ đang ở tù ngoài rừng núi
Hà Nam Ninh, là Biệt Kích cũng đang ở tù ngoài rừng Thanh Hóa. Nhà này của ba
tôi, ông ấy là một nhà giáo, chuyên dạy học, ông đã mất rồi, ông chẳng nợ nần
gì với các anh hết. Riêng tôi, tôi không tha thiết sống, nhưng không can đảm tự
giết mình, xin giúp giải phóng cuộc đời tôi, tôi sẵn sàng chết nơi đây. Hôm nay
các anh chị không giúp giải quyết mạng sống của tôi, thì ngày mai xin các
anh chị hãy quên tên tôi, đừng lui tới nhắc chuyện kinh tế mới, kinh tế cũ nữa.
Còn ngôi nhà này không phải nhà của tôi, mà nhà của ông thầy dạy học, ông không
phải là Sĩ Quan cấp tướng, cấp tá, nên ông không mắc nợ mắc nần gì với các anh
chị hết.
Sau lần nói quyết liệt ấy, chị hồi hộp chờ kết quả, một
ngày, hai ngày, một tuần, một tháng, không nghe họ nói năng chi, vậy là
chặng đường gai góc đã vượt qua.
Cuộc
sống đã tụt dốc đến tột cùng, nữ trang, áo, quần, từ từ ra đi, tất cả dồn vào
những chuyến thăm nuôi, mỗi năm thăm một lần, quay qua quay lại, kỳ thăm nuôi nữa
lại đến, một năm một lần thăm, không thể không đi, chị là liều thuốc bình an của
hai người, nhưng biết làm sao đây, nhà không còn gì để bán, con nít mỗi năm một
lớn, ăn nhiều hơn, chị quá vụng về không biết làm chi ngoài việc hằng đêm ôm
thúng trứng vịt lộn, với mấy gói thuốc lá lẻ, có tối bán hết có tối không, một
ngày ăn một bữa chị chịu được, nhưng ba đứa nhỏ và mẹ già thì không thể,
đành phải nhắm mắt ghé lại Trung Tâm Huyết Học đưa tay vào cho họ lấy máu kiếm
ít tiền như lần trước chị đã làm.
Thầy
Huỳnh thắng xe gấp chạy nhanh vào Trung Tâm Huyết Học gọi:
-
Chị Oanh.
Chị
giật mình quay lại, thầy Huỳnh nói:
-
Chị ra đây, em chở chị về.
Chị
đành phải theo thầy Huỳnh rời nơi bán máu, đưa chị vào sân, thầy dặn:
-
Chị vô nhà đợi em một chút.
Mười
lăm phút sau Thầy Huỳnh đưa bác Hoàng gái tới. Thầy Huỳnh là con trai trưởng
của bác Hoàng, bác Hoàng trai cũng đang ở tù tại trại Bình Điền. Thầy Huỳnh là
con đỡ đầu của Ba chị, thầy Huỳnh đang tu tại đại chủng viện, vì ba đang tù cải
tạo, nên chính quyền không cho tiếp tục tu học. Bị đuổi về, thầy giỏi ngoại
ngữ, nhờ người quen giới thiệu, làm công nhân thông dịch.
Bác
Hoàng vào tới nhà, ôm vai chị nói:
-
Xin lỗi cô. Tôi nghe thầy Huỳnh nói mà giờ này tim tôi vẫn còn đập, tôi bận lo
quán cà phê, sáng đi sớm tối về khuya, lúc nào gặp cô cũng thấy tươi cười cứ tưởng
cô chống đỡ qua ngày được, đâu ngờ cô túng quẫn đến độ phải đi bán máu. Người
cô xanh xao khô đét như vậy còn máu mô mà đi bán, tội nghiệp cô quá, cô đã bán mấy
lần rồi, cô phải giữ gìn sức khỏe để lo cho ba đứa nhỏ và mệ, răng cô liều dữ rứa,
cần tiền thì nói với tôi, tiền đây cô cầm đi, cần thêm thì cứ nói, đừng dại dột
tới đó nữa nghe chưa.
Bác
Hoàng dúi vào túi chị một nắm tiền, bác nói:
- Tôi cho cô mượn, khi nào dư dả thì hoàn lại, cô an
tâm không lẽ suốt kiếp này mình không ngóc đầu dậy nổi hay sao, lúc đó tôi sẽ
tính vốn lẫn lời.
Bác
Hoàng nói tiếp:
-
Việc bán hột vịt lộn bữa ni cô lấy ít lại bán tới 11 giờ đêm, hết còn chi cũng
về nghỉ, bắt đầu ngày mai 5 sáng giờ cô lên quán phụ giúp tôi, tới 11 giờ,
về lo cơm nước cho cả nhà, chiều 2 giờ cô lên lại phụ tôi một lúc đến 6 giờ cô
về.
Chị
đứng lên theo bác ra cửa nói:
-
Em cám ơn bác đã lo lắng cho gia đình em.
Chuyến đi thăm tù lần này vội vàng hơn, vì khi đi gạo
trong hũ còn quá ít sợ bà cháu ở nhà đói. Vừa trở vô nhà, cu Tâm thỏ thẻ
khoe:
-
Mạ nờ! Mấy bữa ni bà ngoại cho tụi con ăn hai chén cơm lận, sướng quá chừng.
Chị
hỏi:
-Gạo
mô mà bà ngoại nấu?
Cu
Tâm nói:
-Mệ
Hoàng đem qua cho bà ngoại, còn nửa, mấy đứa con bác Huỳnh cũng cho kẹo, sướng
ơi là sướng .
Hàng
tuần đều đặn bác Hoàng gửi gạo. Chiều đi làm về trên tay thầy Huỳnh
lúc nào cũng gói kẹo, hay bao bánh, ngang qua nhà đôi vô cho mấy đứa nhỏ. Chị
không biết làm sao diễn đạt lòng biết ơn với gia đình bác Hoàng . Họ là
chiếc phao cứu tử, cứu gia đình chị sắp chìm. Hằng đêm chị vẫn bưng thúng hột vịt
lộn ra ngã ba ngồi bán, kiếm thêm tiền, dồn vào việc thăm nuôi, nhờ gia
đình bác Hoàng tận tình giúp đỡ, lòng chị được bình an, đỡ lo lắng, chị lặng
nhìn cây đèn dầu sáng heo hắt bên thúng hột vịt lộn, chị rùng mình
suy nghĩ không biết kiếp sống đọa đày này còn bao lâu. Nhiều đêm bụng đói
cồn cào, muốn ăn một cái trứng cho ấm bụng, nhưng lại thôi, để dành bán kiếm
vài ba hào, chắt chiu, dành dụm, thăm chồng, thăm em.
Rồi
chị nhận được giấy báo anh Phát được ra tù, yêu cầu gia đình ra đón. Theo
thông tin bên gia đình anh Phát cho biết, sở dĩ có trường hợp đặc biệt này là
nhờ sự can thiệp của người thân, làm quan lớn ngoài trung ương, chị suy nghĩ có
người thân làm quan to mà mấy năm nay không nghe ai nhắc tới. Chị đưa tờ giấy
báo cho bác Hoàng coi, bác cũng có suy nghĩ như chị, chắc chắn có vấn đề, nếu
bình thường được ra tù thì chạy ù về nhà mắc chi gia đình phải đi đón.
Bác
Hoàng nói:
-
Để tôi bàn với Thầy Huỳnh, coi ý của thầy thế nào, nếu được, nhờ thầy xin nghỉ
vài ngày đi với cô, lỡ có chuyện chi, chị em người một tay, chứ tôi thấy tình
hình ni không xong rồi, lỡ chú nớ có chuyện chẳng lành mần răng mà tính, không
chừng ra mang xác về cũng nên.
Hai
chị em vào khu thăm nuôi trình giấy ngồi chờ, một giờ sau, hai người lính xốc
nách một người, hay đúng hơn là một sinh vật lạ, đặt nằm trên sạp tre, một người
nói:
-
Đây anh Nguyễn Mạnh Phát, chúng tôi giao cho gia đình.
Chị
cầm tờ giấy ra trại coi tên thì đúng là Nguyễn Mạnh Phát. Nhưng không thể nhận
ra con người thật của anh. Anh Phát may lắm chỉ còn khoảng ba chục ki lô, toàn
thân giống như tắm trong thùng sơn vàng kéo ra, một thứ màu vàng khủng
khiếp không dám nhìn lâu, miệng anh mấp máy muốn nói gì nhưng không nói được.
Nhờ có người nhà làm quan to trong trung ương đảng cộng sản can thiệp, khối vàng
này may mắn được đưa xác về chôn.
Đường từ trại tù ra quốc lộ quá xa, mà lại đường
rừng, không phương tiện. Thầy Huỳnh nói:
-
Mình phải đi liền thôi cô à, bằng mọi cách đưa chú ra khỏi đây đã, chú không nặng
lắm đâu, hai chị em mình thay nhau cõng, đi được đoạn nào hay đoạn đó gặp nhà
dân tính sau.
Ban
đầu thay nhau cõng còn gắng đi nỗi, càng về sau thì không tài nào nhấc chân lên
khỏi mặt đất được, cả ba cùng nằm lăn ra thở, một bà chị đi ngang qua thấy cục
vàng to tướng, nằm thoi thóp, có lẽ bà chị quen chứng kiến cảnh này, chị mau miệng
chỉ tới nhà người có cỗ xe trâu, thuê họ đưa ra liên tỉnh lộ để đón xe.
Khổ
này chưa qua khổ khác lại tới, về Huế Hai chị em mừng quá sức, cõng cục
vàng vô bệnh viện trung ương, trình giấy xin nhập viện, phòng nhận bệnh lắc đầu
từ chối. Cõng về nhà không biết điều trị bằng cách nào, các nhà thuốc tây bị trận
dịch chống tư sản mại bản. Bà con quen biết chỉ thế nào, làm thế đó, nơi nào có
lá thuốc, chị tìm tới đó để mua, chị đã ra tới Tân Ấp vùng đất cuối của tỉnh Quảng
Bình, giáp ranh với Hà Tĩnh. Tân Ấp là làng người dân tộc Tày, từ ga xe lửa đi
bộ khoảng mười cây số đường rừng, trèo lên tụt xuống hai ngọn đồi, mua hai bao
lá, thuốc Nam, còng lưng vác hai bao lá ra ga, ngồi suốt đêm đợi tàu, cõng về sắc
nước cho anh ấy uống, uống mấy ngày không thấy nhúc nhích, vàng vẫn vàng,
người khác chỉ ngoài làng Cùa, Ba Lòng tỉnh Quảng Trị, có ông thầy người Thượng
thuốc Nam rất hay, không có xe tàu gì đến nơi này, chị nghe người ta nói, đây
là mật khu của đảng Đại Việt lúc xưa, chị cũng băng rừng lội suối đến đó, vác từng
bao lá về. Người khác chỉ lên Nam Đông, A Lưới, chị cũng lên, toàn lá với lá,
vàng vẫn cứ vàng không xuống sắc chút nào.
Chị
cầu nguyện hằng đêm, xin ơn trên cho chị gặp được thầy, được thuốc cứu chồng, sức
con người có hạn, khi lực tận chỉ biết phú dâng và bám víu vào Thượng đế. Chất
đốt nhà chị dùng trấu “vỏ lúa” nấu ăn. Hôm nay chị nhắn chú xe kéo, chở cho chị
mấy bao trấu, chú xe kéo vác trấu vào bếp, ngang qua thấy khối vàng nằm thiêm
thiếp trên võng. Chú quay lại hỏi chị:
- Ai rứa cô?
Chị
trả lời mỉa mai, chua lè:
-
Ông xã của tôi ở tù ngoài Hà Nam Ninh, nhờ gia đình, có thân nhân làm quan to
ngoài trung ương đảng cộng sản Việt Nam can thiệp, được ưu ái, trại tù
kêu tôi ra nhận, mới đưa khối vàng khè về đó anh à.
Chú
xe kéo hỏi:
-
Cô cho chú uống thuốc chi chưa?
-
Dạ! Tui chạy thuốc khắp nơi, nơi nào cũng lá với lá, uống nhiều rồi,
không thấy bớt chút mô hết.
Chú
xe kéo cười nói.
-
Ui cha! Thứ vàng da ni dễ trị lắm, nhiều người quen của tôi đã được chữa
lành, vài ba hôm là đổi sắc, một tuần là lành.
Chú
xe kéo nói tiếp:
-
Chừ Cô chạy ra chợ, mua một bó “chè lá” và một miếng gan heo, đem về vằm
gan ra nấu chung với lá chè, sắc đậm cho chú ấy uống, rồi ngày mai cô đi sớm,
khoảng gà gáy lên bến Than, đó là bến đò ngang, bến này có hai bến đỗ, một bến
qua điện Hàng Chén, bến này họ ghé ngày rằm và ngày lễ, còn ngày thường
không qua đó, chỉ đưa người đi củi, cô lên đò theo mấy người đi củi, nhờ
họ chỉ cây Nắp Ấm, cây này thân mềm dạng dây leo, hoa giống như miệng ấm có nắp
đậy, nên có tên là nắp ấm, cây mọc vùng đất trũng, nhiều lắm, tôi đã lên đó hái
mấy lần rồi, cô nắm gốc nhổ thì kéo cả chùm, thân bò dài cô quấn từng nắm, đem
về nấu chung với lá chè tươi và gan heo, bảo đảm chú uống ba ngày là bớt, chừng
một tuần là da sẽ trở lại bình thường.
Tạ
ơn Thiên Chúa! Phương thuốc đơn giản mà quá hay, uống ngày thứ ba là bắt
đầu đổi sắc, từ vàng ra bạc, uống tiếp gần một tuần thì như lời chú kéo
xe nói, khỏi hẳn.
Anh
Phát không ngờ nét tươi vui của vợ chỉ để che dấu một thảm cảnh đau lòng, nhìn
thúng hột vịt anh đã khóc, khóc như một đứa trẻ, xót xa thương vợ, đã không tiếc
thân mình bán máu, để có tiền nuôi anh. Hằng đêm anh bưng đèn cùng chị ra ngồi
ngã ba. Thầy Huỳnh kiếm cho anh Phát một chỗ giữ xe đạp, anh Phát về được một
năm, Chị Oanh chuẩn bị đi thăm nuôi cậu Vũ, thì lễ Quốc Khánh 2 / 9 cậu Vũ và
bác Hoàng ba của thầy Huỳnh được thả về.
Gia
đình chị Oanh bây giờ thêm bốn cánh tay của hai người đàn ông, cuộc sống
bớt tất bật, cơm mắm tạm ổn qua ngày, ba đứa nhỏ một đứa con của Vũ, hai đứa
con của chị được gửi vào trường Mẫu giáo của nhà dòng nữ.
Qua
cơn bĩ cực đến hồi thái lai. Ba gia đình, bác Hoàng, cậu Vũ, và gia đình chị
Oanh cùng nộp đơn một lần xin xuất cảnh theo chương trình HO. Ba gia đình phỏng
vấn thông suốt, cùng được đến định cư tại Hoa Kỳ. Một sự ra đi không ai ngờ, chị
không dám quay lại nhìn chặng đường đã qua, không bút mực nào diễn đạt được sự khốn
khó đến tột cùng đó, không lời nào xứng hợp để nói lời tạ ơn gia đình bác
Hoàng. Ba gia đình bây giờ đã kết chặt thành một đại gia đình, dọn về sống
gần nhau cùng một thành phố, yêu thương, chăm sóc. Hạnh phúc hơn Thầy Huỳnh tiếp
tục vào Chủng Viện nay đang là Linh Mục phó giáo xứ Việt Mỹ.
Cuộc
sống ở Mỹ. Từ ngày cưới nhau cho tới bây giờ, trải qua bao cay đắng nhọc
nhằn, chịu đựng bao gian nan khổ cực, chị Oanh luôn cố gắng vượt qua, vui vẻ chấp
nhận nghịch cảnh, hi sinh cho chồng, cho con, đó là niềm vui của người làm vợ,
là thiên chức của người mẹ. Mấy chục năm qua chị chưa bao giờ có ý nghĩ
sai lệch về chồng, một mực tôn trọng anh, vì anh là người có chừng mực, nói
năng chín chắn, có trước, có sau, lúc nào cũng ôn tồn, hoàn cảnh nào cũng bình
tỉnh, sống có nguyên tắc, năng nổ và nhiệt tình, chị tin tuyệt đối sự thủy
chung của anh, chị nghĩ nếu trên đời này nếu có ai muốn tìm tấm gương
chung thủy một vợ một chồng, thì anh chị là người đầu sổ trong số đó.
Mấy
tháng nay sau chuyến đi Việt Nam lần thứ hai trở về, chị cảm nhận ở anh
có cái gì khác khác với nguyên tắc sống của anh thường ngày. Chị không phải là
người đàn bà mà thiên hạ ví như con gà mái oang oác tối ngày, nhưng những sinh
hoạt bất thường của anh, tạo cho chị sự chú ý, tò mò, tiếng thở dài, ngồi tư lự,
thì thầm điện thoại, rồi có những lúc hốt hoảng trước mặt chị, đó là những điểm
khác lạ mà mấy chục năm qua chị chưa thấy ở anh, hơn nửa giác quan thứ sáu của
phụ nữ cũng rất nhạy bén.
Chiều
thứ Bảy ngày hôm ấy, gia đình bác Hoàng và gia đình chị, lỉnh kỉnh
mang thức ăn, tập trung về nhà Vũ “cậu em trai” để mừng sinh nhật cháu Thơ. Hai
chục năm qua, cậu Vũ, người em tội nghiệp vẫn ku ki một mình, vừa làm
cha, vừa làm mẹ, nhiệm vụ nào cũng chu toàn. Hạt giống cậu Vũ ươm, xới, gieo trồng,
hôm nay đã kết nụ, ra hoa, một cô Nha Sĩ, xinh đẹp, tràn đầy sức sống,
đang vươn lên trong niềm tin yêu của gia đình. Thành quả tốt đẹp đó cũng không
ít công sức của chị, vừa là Cô, vừa là Mẹ và cũng là Cha.
Tiệc
vui bắt đầu, chai rượu lễ của cha Huỳnh mang tới coi như khai vị, bốn anh em
lâu nay ít uống rượu, chiều nay không biết vì quá vui hay mắc chứng gì mà họ
thi nhau cụng, mới chút xíu mà đã thanh toán xong chai rượu lễ. Rượu lễ
chiết xuất từ trái nho, nên rất ngon và nhẹ độ, ba anh em uống thâm qua chai
Cordon Bleu, cha Huỳnh từ chối vì sáng mai phải dâng lễ sớm. Rượu mạnh thấm
vào, họ bắt đầu đổi tông, âm thanh lè nhè nhừa nhựa, ngắc nga ngắc nghẻo, một lúc
rồi cả ba lăn đùng ra ghế sô pha, hai chị và cháu Thơ thu dọn chén dĩa,
rồi cũng ngả lưng, đợi hai ông tỉnh rượu để về.
Tiếng
ù ù nho nhỏ ở chế độ rung của điện thoại cầm tay phát ra, lắng tai nghe thì tiếng
ấy từ trong túi quần của anh Phát, bác Hoàng bảo chị Oanh lấy ra nghe thử,
không chừng thằng Tâm gọi có chuyện gì chăng. Chị Oanh kéo thẳng chân anh Phát,
thọc tay lấy cái phone trong túi quần, một hàng số lạ hiện ra 091
. 5… chị nói nhỏ với bác Hoàng. Số phone lạ quá, bác Hoàng lấy điện thoại trên
tay chị, nhìn số, rồi đi ra ngoài, ngoắc chị Oanh cùng ra. Chị Oanh thấy khó chịu
trong lòng, đáng lẽ chị không nên làm vậy, chị chần chừ, nhưng trước sự
đã rồi chị đứng dậy đi ra theo, ra tới nơi nghe bác Hoàng nói:
-
Được rồi, đợi cậu ấy tỉnh rượu tôi sẽ nói lại giúp cho cô. Bye cô nghe..
Bấm
xóa cuộc điện đàm, bác Hoàng bảo chị, đem bỏ lại như cũ, chị trở ra bác ngồi
tránh một bên ghế xích đu chờ chị. Chị rùng mình ớn lạnh, không biết do thời tiết
về đêm của Cali hay rùng mình vì sắp được nghe bác Hoàng nói, chị chắc chắn là
chuyện không vui, chị nói với bác Hoàng:
-
Mình vô nhà thôi bác, em thấy ớn lạnh quá, hôm nào rảnh em chạy qua nhà, nghe
bác nói chuyện cũng được.
Nhìn
sắc mặt của bác Hoàng, chị đoán biết bác sẽ cho chị câu trả lời về những dấu hỏi
chị đặt ra với anh Phát, chị thường tâm sự với bác mấy lâu nay, chị suy nghĩ,
nghe một lời buồn là thêm một gánh nặng, tại sao lại tìm gánh nặng mà mang vào
người, bỏ được cái gì thì bỏ, quăng được cái gì thì cứ quăng, chị cố né
tránh để khỏi nghe. Lòng chị lúc nào cũng bình thản, chị nhớ một câu
trong bài hát của TCS … “ Ai nên khôn không có một lần ... dậy mà đi ...”
quả thật vậy, bản lãnh của con người là tự thắng bản năng, tự thắng những đòi hỏi
tầm thường của thể xác, bản năng yếu đuối không thoát khỏi cám dỗ bị vấp ngã là
chuyện thường, nhưng vấp ngã rồi có biết đứng thẳng người dậy để mà đi, hay vẫn
cứ nằm ỳ ra giãy giụa trong vũng bùn, đó là điều đáng nói, là điều chị mong đợi
nơi anh, tất cả những suy nghĩ của chị chỉ là đoán mò theo trực giác của phụ nữ,
chứ chưa chắc là đúng và chị cầu mong là không đúng. Hơn thế nữa, đều là con
nhà đạo hạnh, mọi chuyện trong cuộc sống đều tín thác vào đức tin, chị dành thời
gian vào việc suy niệm về tâm linh, cuộc sống…
Lại
một mùa Chay về, sinh nhật của cháu Thơ cũng đến, câu chuyện hôm sinh nhật cháu
Thơ năm ngoái, đã giáp vòng một năm, chị luôn tránh nói chuyện riêng với bác
Hoàng, chị sợ phải nghe, chị luôn tạo cho gia đình, một bầu khí ấm cúng vui nhộn
như mấy chục năm qua, chị nhắc anh Phát rảnh rỗi không làm gì thì lấy vé về Việt
Nam chơi, mùa này vé máy bay hạ giá, nếu chậm qua lễ Phục Sinh, vào mùa hè giá
vé cao. Để gỡ bỏ gút thắt trong lòng, chị muốn anh về bên nớ lần nữa, coi như
thử lại bài toán, đúng sai sau lần đi này sẽ rõ. Rồi việc gì đến cũng phải đến,
trái bom âm ỉ hai năm, sau chuyến đi VN về đã nổ, bao nhiêu hy sinh, bao năm gắn
bó, tình nghĩa vợ chồng đã kết thúc, đơn giản trên một trang giấy với hai chữ
ký.
Sau
hôm tham dự phiên tòa theo lệnh của Tòa án, anh Phát đi bặt tăm. Chị nghe mấy
người bạn về Việt Nam qua nói lại, anh Phát về cưới cô vợ trẻ, cô ấy là người
cùng giữ xe đạp với anh sau khi anh lành bệnh vàng da. Kết thúc câu chuyện , chị
cười rất sảng khoái.
Tôi
hỏi:
-
Em không thấy chị buồn.
Chị
cười nói:
-
Cây kim khâu bị rớt mất cũng lấy cục nam châm rà tìm cho bằng được, một người đầu
ấp tay gối mấy chục năm, con người mà mình lấy máu đem đổi bánh đường, tụm cá
khô, con người mà mình vượt núi, băng rừng, tìm thuốc chữa trị, bây giờ quay
lưng lại, không buồn làm sao được. Buồn lắm, đau lắm chứ, nhưng mà một khi họ
đã quyết định quay lưng, đi con đường họ chọn, mình biết làm sao. Mình không phải
là người hư hỏng, trách nhiệm làm mẹ mình làm xong, bổn phận làm vợ mình cũng
chu toàn, mình không có gì hổ thẹn với lương tâm.
Thời
gian sau chị gặp mấy người bạn của anh Phát, mấy anh ấy nói:
-
Anh Phát lúc này đã thành ca sĩ rồi, anh trình diễn rất thành công bài hát “Anh
đã lầm đưa em sang đây”.
Câu
nói lấp lửng chị không hiểu mấy anh ấy nói gì. Chị nói lại:
-
Mấy anh có gặp anh Phát thì xin chuyển giúp lời của tôi. Cửa nhà tôi luôn rộng
mở…
Chị
là người vợ tuyệt vời.
Phương Lâm
Chân Dung Người Vợ Lính - VVNM 2026 - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ
Anh Phước chuyển