Saturday, October 17, 2026

Còn Đâu Cơ Hội - Phan

 

Thuở nhỏ ở quê nhà, tôi thường nghe được từ mẹ tôi – người là một kho tàng tục ngữ, ca dao nên bất cứ sự việc gì diễn ra, mẹ tôi cũng dùng một câu tục ngữ hay ca dao để nêu lên ý kiến riêng của mẹ. Ví như bà hàng xóm phê phán một bà hàng xóm khác với mẹ tôi rằng, “Bà ấy từ dạo có con cái ở Mỹ gởi tiền đô về đến nay, cứ câng câng mặt lên đi chợ, đi chùa. Ra chợ thì chê bai mọi thứ từ đầu chợ đến cuối chợ; ra chùa thì ăn mặc như bà hoàng bà chúa, vàng vòng đỏ tay… Tôi có chào hỏi bà ấy thì bà ấy cũng chẳng thèm trả lời, chị ạ!” Mẹ tôi sẽ an ủi bà hàng xóm ta thán, “Ông bà mình đã nói, trưởng giả học làm sang; phú quý sinh lễ nghĩa mà chị”.

Khi tôi trốn học, đi chơi với những đứa trẻ lêu lổng vì chúng không đi học; và khi mẹ tôi biết được thì người sẽ khuyên nhủ tôi: “Con à! Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.” Khi nhà bị nhà cầm quyền tịch thu mọi thứ, tống đi kinh tế mới thì mẹ tôi thở dài cũng ra ca dao, “Con ơi nhớ lấy câu này, cướp đêm là giặc cướp ngày là quan…”

Tôi lớn lên với thể trạng suy dinh dưỡng như cây khoai mì mùa hạn sau hoà bình lập lại, nhưng bụng no đầy, ấp lẫm tục ngữ với ca dao. Có lẽ điều ấy đã giúp tôi có suy nghĩ ngắn gọn về sau; như tiếp xúc với một người lần đầu, hình ảnh người ấy còn lại trong tôi rất ngắn gọn: Đó là con người bề ngoài thơn thớt nói cười, nhưng khẩu phật tâm xà, hành vi có tinh vi cách mấy thì cũng không che đậy được thói kéo áo người che bụng mình; kẻ mượn hoa cúng Phật dù cao tay cách mấy thì cũng có ngày vỏ quýt dầy gặp móng tay nhọn… nên ta không nên giao tiếp với người ấy nữa. Hoặc gặp người khác trong cuộc sống, nhưng về họ đọng lại trong tôi suy nghĩ giản đơn: Đúng là tốt gỗ hơn tốt nước sơn/ xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người. Đó là con người mà ta nên gần gũi, như gần đèn. Chẳng phải mẹ đã nói, ở hiền gặp lành, hữu duyên thiên lý mới tương giao được người tốt…

Không ngờ đến hôm sắp ra trường, người bạn học nói với tôi, “Anh nhớ nhiều tục ngữ, ca dao quá ha? Nhưng khả năng vận dụng vào giao tiếp thì hơi có vần đề…” Tôi trả lời cô bạn cũng rất ngắn gọn, “Cười người hôm trước hôm sau người cười”!

Từ ấy, cuộc sống là vô định vì đâu còn về nhà sau mỗi ngày tan trường, bạn bè chỉ còn là kỷ niệm; để sinh tồn không có cách khác hơn là ở bầu thì tròn ở ống thì dài; nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc… Mẹ. Hôm nào về nhà thì gần. Hứa nhăng hứa cuội cho mẹ vui, để mẹ mắng yêu cái thằng trăm voi không được bát nước xáo… Nhưng xa mẹ chỉ là cách mặt chứ không cách lòng, lòng mẹ bao la trong tôi cả kho tàng tục ngữ ca dao. Mắt sắc như dao cau, mỗi lần gặp con gái đẹp đều nhớ câu ấy của mẹ để cẩn trọng với huấn dụ vợ đẹp là vợ người ta…

Mỗi lần nhìn lại con dao cau với cái ô trầu của mẹ trên bàn thờ, lòng biết ơn người truyền lại cho tôi cả kho tàng nói ít hiểu nhiều thật vô giá. Nhưng ngay cả kỷ vật của mẹ thì giờ cũng chỉ còn được nhìn trên ảnh chụp vì bàn thờ gia tiên còn ở quê nhà.

Ra hải ngoại, nhiều người nói, chúng ta đi mang theo quê hương. Câu nói thật hay, nhiều ý nghĩa. Nhưng mỗi người trong chúng ta mang theo quê hương theo cách riêng; tôi mang theo kho tàng của mẹ tự bao giờ và đến bao giờ? Không khó tìm câu trả lời với người mẹ rỉ rả tục ngữ ca dao như mưa lâu thấm đất vào lòng con trẻ để xa quê như thật gần, quê hương ngay trong lòng mà lại rất xa xôi; quê nhà cách biển nhưng ngay trong lòng với cọng rau răm lẻ bạn trên bàn ăn cũng gợi nhớ câu, gió đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu lời đắng cay…

Nhưng truyền lại cái kho tàng ấy cho đời sau không dễ trong hoàn cảnh người Việt ở Mỹ không có nhiều thời gian gần gũi con cháu, chúng lại dùng tiếng Anh nhiều hơn tiếng Việt do hoàn cảnh hội nhập dòng chính của lớp trẻ Việt lớn lên trên nước Mỹ.

Thật là chuyện cười ra nước mắt. Tôi dạy đứa cháu làm mộc khi cháu muốn tự chế một cái loa để nghe nhạc. Dạy cháu chọn ván phải biết tận dụng hết cái đẹp của hoa văn tự nhiên trên gỗ, rồi đo đạc ra làm sao? Cưa cắt ra làm sao…? Lúc đóng những miếng ván mỏng lại thành cái hộp loa. Tôi đã dặn dò là phải khoan lỗ mồi trước khi đóng đinh, dù lỗ khoan chỉ nhỏ hơn cây đinh chút xíu, nhưng không khoan trước thì khi đóng đinh sẽ tét gỗ vì gỗ quá mỏng…

Rồi thì thằng bé mới hơn mười tuổi đầu thì làm sao đủ kiên nhẫn khi công trình tự làm đầu tiên của nó đã thành hình, chỉ còn một hai mũi đinh nữa là xong. Nó thôi khoan mồi mà đóng thẳng đinh vào gỗ cho hoàn tất. Miếng ván nứt nẻ ra, đường nứt còn ngắn hơn dòng nước mắt tiếc rẻ của thằng bé, phần sợ người chú khó tính cũng làm nó rụt rè câu hỏi, “Xin lỗi chú. Bây giờ con phải làm sao?”

Tôi nói với cháu tôi, “Chú đã nói rồi, dục tốc bất đạt. Chỉ còn cách tháo gỡ miếng gỗ nứt nẻ ấy ra, đi cắt miếng khác thôi cháu ạ!”
Thằng bé không gặp khó khăn nhiều với việc tháo gỡ và đi cắt miếng gỗ khác, nhưng nó rất khó khăn với sự kiên nhẫn, cứ lèm bèm… “Sao mà hôm nay xui quá vậy ta…?”

Tạ ơn trên khi cuối cùng nó cũng hoàn thành được cái bài tập trong trường cho học sinh về nhà tự làm một vật em thích. Trông nó vui làm tôi vui lây. Thằng bé thích nhạc đùng đùng của Mỹ đen, nên khi chỉ nó câu dây vô máy nhạc để nghe thử cái loa; nó cho tôi lại niềm tin là hạnh phúc có thật trên đời khi nhìn nó thả hồn vào loại âm nhạc khủng bố lỗ tai người nghe, và niềm vui sướng với lần đầu trong đời người ta khi hoàn thành được một việc mà mình yêu thích.

Thằng bé cũng biết khi nào nên đặt câu hỏi, và đặt câu hỏi về vấn đề gì?
Nó nói với tôi, “Hồi nãy, chú rầy con câu gì, nghe mắc cười lắm! Chú nói lại cho con nghe được không?”
“À. Chú nói: Dục tốc bất đạt. Thật ra là tiếng Hán, tiếng Tàu, chứ cũng không phải tiếng Việt của mình. Chú chỉ tiện miệng thì nói vậy thôi, cháu đừng nhớ tiếng Tàu…”

Nó gượng hỏi, “Nhưng câu đó có nghĩa là gì?”
“Ý nói, việc gì từ từ làm thì mới có kết quả tốt. Khi làm việc mà thiếu kiên nhẫn, chỉ muốn làm cho xong, mau xong. Công việc sẽ không xong như mong muốn, như cháu không khoan mồi vì muốn mau xong nên đóng đinh vô ván mỏng là bị nứt ván ngay…”
“Chú nói hay. Câu này hay mà vui nữa, con sẽ nhớ…”
…

Nhưng chỉ tuần sau, đứa cháu tôi thích vì cả đám cháu chỉ mình nó thích nói tiếng Việt, có bạn bè người Việt; còn lại toàn những đứa cháu không thích nói tiếng Việt, không thích chơi với bạn bè người Việt; lý do của chúng chỉ có thể tóm tắt lại là cần tôn trọng, nên thông cảm, chứ không hẳn có lý.

Thôi còn thằng cháu thích nói tiếng Việt cũng đủ cho chú nó vui lòng, nhưng niềm hạnh phúc nó cho không chú nó tuần trước thì tuần sau nó lấy lại!
Chuyện là: Chị tôi đi làm ra thì ghé nhà bà coi trẻ đón hai anh em nó về nhà. Thường nó là đứa trẻ hiếu động nên ham chơi, nó không quan tâm chuyện đói bụng. Nhưng thằng em của nó lại trầm tĩnh nên hay đói. Hôm đó, ba mẹ con về đến nhà. Thằng em kêu, “con đói bụng quá rồi mẹ ơi!” Nên chị tôi vội làm cho nó chút gì để ăn. Chị vốn chậm lại hay rối nên hâm được chút thức ăn cho con thì lại làm đổ cả ra sàn nhà bếp. Chị cầu cứu thằng lớn, “anh Hai ơi, con dọn dẹp, lau chùi sàn sếp dùm mẹ đi; để mẹ làm món khác cho em ăn. Nó đói bụng quá rồi! Giúp mẹ nha anh Hai…”

Nó dõng dạc nói với chị tôi, “Con nói mẹ nha! Cái gì cũng từ từ làm thì mới xong. Mẹ đừng có giục cứt bốc giục cho tèm lem, đổ bể hết rồi! Rồi lỡ mẹ bị phỏng thì sao?”
Chị tôi chết trân với thằng con sanh đẻ ở Mỹ, mới hơn mười tuổi đầu; nó nói cái tiếng Việt gì nghe khó hiểu. Chị không biết bây giờ nên rầy con không được ăn nói kỳ cục; hay để tìm hiểu đã, ai dạy con mình ăn nói kỳ cục vậy chứ…?”

Rồi đời sống Mỹ của người mẹ hai con lại còn đi làm, chị quên bẵng đi đến lần sau nó dạy em nó trên bàn ăn, “Mày đừng có giục cứt bốc giục như vậy! Phải từ từ ăn thì mới không bị nghẹn. Lần sau anh Hai không đi lấy nước uống với vỗ lưng cho mày đâu!”

Lần này thì chị tôi truy ra được người dạy con chị ăn nói kỳ cục… là chú nó!
Câu chuyện dục tốc bất đạt được tam sao thất bổn thành giục cứt bốc giục là chuyện vui trong gia đình mỗi khi sum họp. Nhưng lần này gặp lại thằng cháu ít gặp thì nó đã bốn mươi tuổi đời. Nó trả lời câu hỏi thăm của tôi, “Lâu quá không gặp. Cháu bây giờ làm ăn có khá không?”

“Dạ. Con cũng vậy à chú ơi! Số con cực nên cũng cứ… giục cứt bốc giục hoài. Dù ít gặp chú, nhưng cứ nhớ tới chú là con nhớ cái câu nói nghe vui ấy, nhưng câu đúng của chú nói thì con không nhớ…”

Tôi nhìn lại đám cháu là những chú bé ngày nào thì nay đều đã có gia đình riêng; nhìn lại anh chị em đã già, gặp nhau toàn nói chuyện tiền già với bệnh tật; nhìn lại cái kho ca dao tục ngữ trong tôi cũng đã xúc xiểng nhiều vì ít dùng, vì dùng với ai trong đời sống thực sự là nhiều từ bây giờ nói tiếng Anh còn dễ hiểu hơn nói tiếng Việt như nói với người tính tiền ở chợ, “làm ơn cho chú xin cái receipt.” Cô bé, cậu nhỏ làm thêm giờ ở chợ Việt sẽ hiểu ngay. Nhưng nói cho chú xin cái hoá đơn, hay cái biên lai tính tiền… thì nó đực mặt ra, rồi what mình… What… What… What do you want? What do you want from me…

Còn đâu cơ hội cho kho tàng nói ít hiểu nhiều của người Việt phát huy. Theo thời gian định cư, rất nhiều từ hễ nói ra tiếng Anh thì hiểu ngay, như “làm ơn cho chú order hai cái bánh xèo togo.” Người phục vụ chẳng hỏi han gì thêm, chỉ nói gọn lại “đợi con chừng mười phút, được không chú?” Nhưng nói, “làm ơn cho chú đặt hai cái bánh xèo đem về nhà…” thì thằng nhóc nhìn mình như người Mỹ mới học tiếng Việt!

Ngay cơ hội giữ gìn đã mai một thì còn đâu cơ hội phát huy cái kho tàng ca dao tục ngữ vô cùng phong phú và ý nghĩa của người Việt.


 Phan

Friday, October 16, 2026

Đôi Ngã Chia Ly - Nguyễn Duy Phước

Mối Tình Đầu Của Doãn - Đào Như



“Em gầy như liễu trong thơ cổ

Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường”
Nguyên Sa

Mỗi lần nhớ lại NhaTrang, tôi nhớ con đường Alexandre De Rhodes đượm mùi hoa sứ, có bóng mát và  tiếng sóng rì rào của biển, con đường đưa tôi đến trường Kim Yến hàng ngày. Mỗi lần nhớ lại NhaTrang, tôi nhớ Doãn, người bạn cùng lớp, một gã thư sinh đam mê văn chương, triết học và âm nhạc. Doãn mang đôi kính cận dày cộm, một thoáng Doãn trông giống Jean Paul Satre. Doãn rất đam mê đàn dương cầm và một chút tham lam tình yêu...

Mỗi lần nhớ lai NhaTrang, tôi nhớ Phương Dung, người con gái đẹp thôn Phú Vinh ngọai ô phía Tây thành phố NhaTrang, người nữ sinh trường Kim Yến có dáng đi e ấp, mái tóc frisé, thả lơi lã trên hai bờ vai, có đôi mắt đen lánh đẹp và buồn. Phương Dung vừa khiêm tốn vừa sang trọng, quí phái nhưng không hờ hửng với thế giới chung quanh mình. Phương Dung đã làm điêu đứng biết bao chàng trai của thành phố biển này trong đó có Doãn. Năm 1957, Doãn yêu Phương Dung tha thiết và chỉ mong một lần cầm được tay nàng, nhưng vẫn bị Phương Dung từ chối. Doãn biến thành gã si tình. Sau này mỗi khi nhớ lại Phương Dung, Doãn ôm lấy cây đàn dương cầm và thả hồn mình trong những tình khúc cổ điển Tây phương Romance của Robert Schuman, Eva Maria của Franz Schubert. Doãn thường ngợi ca nhan sắc của Phương Dung qua hai câu thơ của nhà thơ Nguyên Sa: “Em gầy như liễu trong thơ cổ/ Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường.”     

Những năm năm mươi của thế kỷ trước, biển NhaTrang, phố Đôc Lâp, trường Kim Yến, trường Võ Tánh, trường bán công Lê Quí Đôn, là những khung trời kỷ niệm đẹp như một bài thơ. Nhóm chúng tôi năm đứa: Đạo, gốc Huế, Định, gốc Quảng Trị, Thuận, người Ninh Hòa, và Doãn, người Nha Trang, còn tôi là dân Phan Rang, chúng tôi cứ nhỡn nhơ đi học, đi dạo biển và rủ nhau đi cinéma cuối tuần. Đôi khi chúng tôi nghe tiếng Đại bác hay nhìn thấy hỏa châu thắp sáng một góc trời, chúng tôi cứ yên tâm đó là những cuộc tâp trận của Trung tâm huấn luyên sỹ quan bộ binh ở Đồng Đế, và chúng tôi quên đi đất nước chúng ta vẫn còn trong tinh trạng chiến tranh. Ở Nha Trang còn có Trung tâm Huấn luyện Sĩ quan Phi Công của Không quân và Trường đào tạo Sỹ quan Hải quân ở Cầu Đá, dọc theo bờ biển phía Nam của thành phố.   
   
NhaTrang thuở ấy thật sự là thành phố của chiến tranh nhưng NhaTrang mang bộ mặt một thành phố của hòa bình, ổn định. Vào thời khoảng này sinh hoạt cuối tuần doc theo đai lộ Duy Tân ven biển, trên phố Đôc Lập thật là vui nhộn phong phú và đa dạng. Nhạc sỹ Văn Phụng vừa di cư vào Nam, anh thường trình diễn âm nhac ngoài trời mỗi cuối tuần trên bờ biển gần khách sạn Beau Rivage. Các trường Trung Học của NhaTrang thuở 55, 56, 57 vẫn tiếp nhận các hoc sinh: Ngoài Bắc mới di cư vào Nam trong đó có cậu hoc trò Phí Ích Nghiễm của trường Bán công Lê Quí Đôn  và sau này trở thành nhà văn thành danh với bút hiệu Dương Nghiễm Mậu; và các hoc sinh từ Liên Khu V- Nam-Ngãi-Bình-Phú- vừa được giải phóng và trở thành các tỉnh của miền Nam tự do. Trong nhóm này có Nguyễn Mông Giác, hoc ban B trường Võ Tánh, sau này là tác giả của những bộ trường thiên tiểu thuyết: Mùa Biển Động,  Sông Côn Mùa Lũ. Với tác phẩm ‘Đường Một Chiều’, Nguyễn Mộng Giác đoạt giải Nhất của cuộc thi tiểu thuyết của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam năm 1974. Nguyễn Đức Sơn từ Phan rang ra học Trường Kim Yến, anh đã sớm phát tiết phong thái như một nhà thơ lập dị với bút hiệu Sao Trên Rừng, hồi ấy Nguyễn Đức Sơn đã sáng tác bài thơ: “Một Mình Nằm Thở Đủ Kiểu Trên Bờ Biển: “Đầu tiên tôi thở cái phào/Bao nhiêu phiền não như trào ra theo/Nín hơi tôi thở cái phèo/Bao Nhiêu Mộng ảo bay vèo hư không/Sướng nên tôi thở phập phồng/Mây bay gió thổi trời hồng muôn năm/Mai sau cái chỗ tôi nằm/Sao rơi lạnh lẽo, âm thầm biển ru..”.

Phải chăng chiến tranh đã là nỗi ám ảnh thuở ấy khiến nhà thơ Nguyễn Đức Sơn sớm thấy số phận hẩm hiu cô đơn của đời người:“Mai sau cái chỗ tôi nằm/Sao rơi lạnh lẽo âm thầm biển ru”. Khi chúng tôi lớn lên đã có chiến tranh. Chiến tranh là một phần đời của chúng tôi. Chiến tranh vây bủa quấn chặt chúng tôi như loài rắn độc quấn chặt lấy con mồi của nó.  Chúng tôi lớn theo hai cuộc chiến. Chiến tranh mang chúng tôi đi muôn phương. Chúng tôi trôi giạt trong chiến tranh...  

Năm 1962, Đạo, Định, Thuận Tốt nghiệp đại học sư phạm Toán Lý Hóa. Đi dạy Trung học được một niên khóa, cả ba đều bị động viên vào thụ huấn quân trường Thủ Đức và sau này là các sĩ quan tác chiến trên 4 vùng Chiến Thuật.  Doãn tốt nghiệp sư phạm triết và là thấy dạy triết cho các lớp 12. (Terminal). Còn tôi thì theo nghiêp Y, là bác sỹ phẫu thuật của thời chiến- (Chirurgien De Guerre).    

Năm 1960, Doãn loan báo cho nhóm chúng tôi hay là Phương Dung vừa đi lấy chồng. Doãn gọi cho chúng tôi trong giọng thản thốt và buồn. Thế mới biết trong suốt những năm qua, Doãn vẫn thầm nuôi mộng với Phương Dung.

Chiến tranh luôn đi trước chúng tôi. Trận đánh lớn ở cấp sư đoàn-trận Ấp Bắc ở Định Tường xảy ra vào ngày 2 tháng 1 năm 1963, đã  làm vỡ tan mộng hòa bình và ổn định lâu dài của Chính Phủ và người dân miền nam Việt Nam. Ai ai cũng xoay lưng lại chiến tranh, nhưng rồi cũng phải chịu đựng cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, lật đổ chính phủ Ngô Đinh Diệm. Sau cái chết của nhà yêu nước Tổng thống Ngô Đinh Diệm và người em trai của ông, chiến tranh bộc phát trở lại, thiêu đốt và tàn phá quê hương Việt Nam của chúng tôi với một tốc độ khốc liệt khủng khiếp hơn bao giờ hết....    
 
Nhưng thân phận người đàn bà trong chiến tranh gánh chịu muôn vàn nỗi truân chuyên. Sau khi lấy chồng được hai năm, Phương Dung sanh được một cháu gái. Có tin đồn rằng: chồng của Phương Dung là sỹ quan Không Quân, chuyên về trinh sát-Observateur-Máy bay trinh sát L.19 của anh bị bắn rơi ở Hạ Lào vào giữa năm 1961. Anh và ngưới sỹ quan phi cô đều bị lực lượng biên phòng của chính phủ Hà Nội bắt sống. Ba tháng sau chính phủ Hà Nôi đem vụ này xử công khai trên đài phát thanh cho cả nước cùng nghe. Họ tố cáo chính phủ Mỹ đã xâm nhập biên giới của họ, ngay cả phía trên vĩ tuyến 17 và vùng Hạ Lào. Chồng Phương Dung và người bạn sĩ quan phi công mỗi người lãnh án 25 năm tù ở. Với bản án 25 năm tù ở của chồng, Phương Dung cảm thấy đời nàng hụt hẩng không biết làm sao chia sẻ sự nhọc nhằng của chồng trong lao tù cộng sản và nuôi con cho đến ngày khôn lớn trong suốt chiều dài 25 năm tới. Nhưng Phương Dung không bao giờ quay lưng lại với cái quá khứ vàng son của mình. Nàng lúc nào cũng là một mênh phụ phu nhân trong cái xã hôi chiến tranh thời đó. Nàng cố vượt lên trên số phận để có đời sống tốt đep nuôi con cho đến ngày chồng về... Nguồn tin đồn đoán cũng nhấn mạnh rằng: hoàn cảnh của Phương Dung  được xem như là quá đặc biệt. Do đó Phương Dung có được sự giúp đỡ và được ‘offered cái job’ làm thư ký tại trung tâm hỗn hợp Không lực Việt Mỹ, phi trường Không Quân-Nhatrang.  Người boss trực tiếp của Phương Dung, là một Trung tá cố vấn Mỹ cũng là vị chỉ huy trực tiếp của chồng Phương Dung trước kia.  Phương Dung đươc ân huệ có được job này thật kín đáo ít người biết đến. Nhưng chẳng bao lâu sau, Phương Dung cũng phải hứng chịu lời ong tiếng ve “gái làm sở Mỹ”.     

 
Sau hơn hai năm làm việc bên cạnh ông boss của nàng, Phương Dung cảm thấy mình được ông boss chăm sóc rất chu đáo. Từ đó một thiên tình sử xuất hiện giữa nàng và vị Trung tá người Mỹ. Có phải chăng họ yêu nhau vì nết trọng nhau vì tài? Một thực tế hiển nhiên vị Trung tá Mỹ vẫn còn độc thân, chưa có vợ, trong khi đó Phương Dung là ‘nhất gái một con’, người đàn bà từng trải. Lửa gần rơm có ngày cũng bén. Trước khi về nước, vị Trung tá người Mỹ ngỏ lời muốn cưới Phương Dung làm vợ. Âu đó cũng là điều Phương Dung không dám mong đợi và ước mơ nhưng thật sự nó đã đến với Phương Dung. Sau khi được sự đồng ý của cha mẹ chồng (cũ), Phương Dung gạt lệ, lên xe hoa một lần nữa. Năm 1967, Phương Dung cùng cô con gái theo chồng về Mỹ. Bao nhiêu quá khứ tình cảm, Phương Dung coi như theo nước sông trôi về dĩ vãng. Cuộc sống của Phương Dung sau năm 1960, dù cho thực hay là ảo, tất cả nói lên thân phận người đàn bà trong chiến tranh cũng nổi trôi theo vận nước, cũng bị cuốn hút theo chiến tranh...

 

Từ những năm 62-63... sự quan hệ giữa bọn chúng tôi thường hay mất liên lạc với nhau. Thỉnh thoảng chúng tôi liên lạc với nhau qua Khu Bưu Chính-KBC-chúng tôi thật sự không biết chúng tôi đang ở đâu và đang làm gì, sức khỏe và gia đình ra sao? Chúng tôi hoàn toàn con người của chiến tranh.      


Sau biến cố Mậu Thân, và trận Khe Sanh năm 1968, bây giờ người Mỹ bắt đầu sử dụng pháo đài bay chiến lược B52, nhất là tại vùng núi rừng Trường Sơn, Đường mòn Hồ Chí Minh. Sau đó, là những trận đánh vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972... Hai phe bốn bên dốc toàn lực đổ quân vào những trân đánh điên cuồng đẩm máu làm áp lực cho hòa đàm Paris ở giai đoạn chót. Những trân đánh tận tình hủy diêt nhau làm rực lửa những trang báo cùng khắp thế giới, thắp sáng lương tri nhân loại.  Hầu hết các gia đình người Mỹ, mỗi chiều tối đều ngóng lên màng ảnh truyền hình, theo dõi chương trình CBS Evening News Reports hớp từng lời tường thuật của Walter Cronkite về chiến tranh Việt Nam-Vietnam-War. Những trận đánh đẩm máu xé nát trái tim của những bà mẹ nước Mỹ. Các sinh viên tại các trường đại học nhất là tại Mỹ, tại Anh, tại các nước Bắc Âu và Tây Âu, tổ chức “truồng chạy” phản đối chiến tranh diệt chủng tại Việt Nam...Trong khi đó tại Sàigòn tiếng hát Thái Thanh thảm thiết trong bài “Kỷ Vật Cho Em”, một kiệt tác phản chiến thời danh của Pham Duy, viết sau Chiến Dịch Lam Sơn-719:  

“Anh trở về trong chiếc poncho
Anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về tật nguyền chai đá
Anh trở về dang dỡ đời em...”      

Rồi cái gì phải đến, đã đến. Hiêp định Paris được ký kết hôm 27-1-năm 1973 giữa Lê Đức Thọ và Henri Kissinger nhằm chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình cho Viêt Nam. Sau đó là cuộc tháo chạy của Mỹ khỏi miền Nam Viêt Nam, bỏ lại sau lưng hàng triệu quân cán chính của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong đó có chúng tôi. Tất cả sau này là đối tượng của chính sách lao tù cải tạo tập trung vô cùng tàn bạo của đảng cộng sản Việt Nam. Cả triệu người miền Nam tổ chức vượt biên, vượt biển, đi tìm vùng đất tự do, bất chấp mọi hiểm nguy.   

Sau chiến dịch “Mùa Xuân Đại Thắng”, người cộng sản Việt Nam không chịu bắt tay, tâp hợp các đảng phái, các lực lượng quốc gia yêu nước khác. Năm 1964, tại một buổi họp báo quốc tế tại Hà Nội, một phóng viên ngoại quốc hỏi ông Hồ Chí Minh: “Thưa Chủ Tịch nghĩ gì khi ông Ngô Đình Diệm, kẻ thù của ông vừa bị sát hại?”. Ông Hồ Chí Minh khẳng định: “Ông Ngô Đình Diệm là nhà yêu nước, nhưng Ông yêu nước theo cách của Ông” . Tai sao, sau 30-4-1975, đảng cộng sản Viêt Nam không chịu bắt tay, tập hợp các lực lượng, các đảng phái quốc gia yêu nước khác? Tại sao người cộng sản Viêt Nam không suy nghĩ như cố Chủ tịch Hồ Chí Minh của họ đã suy nghĩ. Người cộng sản Việt Nam không theo chân lịch sử, họ phản lại lòng tin của người dân miền Nam, họ phản lại tư tưởng của cố Chủ Tịch Hồ Chí Minh của họ!  Chúng tôi đã phải chấp nhận  sự phản bội trắng trợn của người cộng sản Việt Nam. Mặc dầu thế chúng tôi vẫn vượt lên trên người cộng sản với niềm tin vào tinh thần đoàn kết quốc gia của dân tôc.    

   
Tư năm 1979 sau khi mang cả gia đình vượt biển bằng thuyền, tôi và gia đình định cư tai Mỹ vào đầu năm 1980. Sau khi định cư ở Mỹ, việc đầu tiên là tôi cố tìm lại ban bè, ai còn ai mất? Nhưng tôi hoàn không biết Đạo, Định, Thuận và Doãn hiện giờ ra sao? Mãi đến năm 2010, tôi cộng tác với báo Vietnam Daily News. Dưới mỗi tựa đề bài viết tôi có ghi chú: Thân gửi các bạn Phương Dung (Phú Vinh) Thu Nguyệt (phố Đọc Lâp) Mộng Vân (Hà Dừa-Xóm Đạo), Phạm Hữu Đạo, Nguyễn thành Định, Lê Đức Thuận và các cựu học sinh Trường Kim Yến Nhatrang. Chúng ta thất lạc nhau trên 30 năm trong màu khói lửa chiến tranh. Các bạn còn sống? Xin điện thư về Thetrongdao2000@yahoo.com,  Cám Ơn). (*) Hai tuần sau đó được Doãn hồi âm. Doãn cho tôi hay Doãn và gia đình được đưa đến Guam vào ngày 24-4-1975, và sau đó Doãn và gia đình đinh cư tại California. Hiện giờ Doãn vẫn chưa được tin tức gì về Phương Dung, Đạo, Định, Thuận sống chết ra sao? Doãn rất lo họ có thể mất tích trên Biển Đông...

Một tháng sau đó tôi nhân được Email của Thuận, tôi liền tải đến cho Doãn. Thuận cho chúng tôi hay, hiện tại Thuận và gia đình định cư tai Pháp từ năm 1980. Thuận cũng cho chúng tôi hay, Đạo và Định vẫn còn kẹt ở Việt Nam. Thế là sau 30-4-75 trong hàng ngũ anh em của chúng tôi có kẻ đã vượt thoát lao tù cộng sản trở thành người tỵ nạn, có kẻ bị kẹt lại đành chọn quê hương làm chốn lưu đày....     


Bây giờ là đầu tháng 5 năm 2019, mùa xuân đang nở rộ ở California. Doãn đã là một ông già tuổi vừa ngoài 83. Doãn đã nhiều lần bị stroke, hiện phải ngồi xe lăn. Tuy nhiên tâm hồn Doãn vẫn còn nhạy cảm với vẽ đẹp nét buồn khi nắng sớm, lúc mưa chiều. Tiếng đàn dương cầm của Doãn trĩu nặng màu thời gian, hòa lẫn với tiếng lòng nhớ quê hương của kẻ lưu vong luôn vang vọng niềm mơ ước “Trở Về Mái Nhà Xưa -Come Back to Sorrento...”.     

Vào buổi tối hôm ấy, tựa mình vào cây đàn Piano, Doãn đề cập đến tập truyện “Tơ Vương Đến Thác” của Doãn xuất bản năm 2014. Doãn cho tôi hay đó là tiếc nuối cuối đời của Doãn về nghiệp văn chương. Tháng chạp Năm 2014 Doãn tổ chức buổi ra mắt tâp truyện “Tơ Vương Đến Thác” tại một thư viện công lập thuộc vùng San Diego. Trong các quan khách đến tham dự buổi ra mắt sách hôm ấy có một ngươi đàn bà đã lớn tuổi, mặc Jupe Soirée màu tơ vàng óng ả, có dôi mắt đen lánh đẹp và buồn. Doãn cảm thấy thấy gương mặt ấy, đôi mắt ấy rất là thân thương quen thuộc từ một thuở xa xâm nào đó của đời mình.      

Phá bỏ mọi nghi cách, người đàn bà ấy, tiến đến Doãn với tâp truyện “ Tơ Vương Đến Thác” và nói: “Phương Dung xin được đặc ân có được chữ ký đề tặng của tác giả”. Từ chiếc xe lăn, Doãn cố gắng đứng dậy hai tay nắm chặt và gục đầu trên bàn tay của Phương Dung... Doãn thều thào: ” Phải chi 50 năm về trước chúng ta nắm chặt được tay nhau như hôm nay thì cuộc sống của chúng ta đã hoàn toàn đổi thay”. Khi Doãn cuối đầu viết đề tặng Phương Dung tâp truyện với câu thơ của Thế Lữ: “ Cái phút ban đầu lưu luyến ấy. Nghìn năm chưa dễ một ai quên”. Lúc ấy Phương Dung thì thầm: “ngày xưa tôi cũng mến anh vì tính tình còn việc sau này mình có găp lại nhau hay không điều đó không ai biết đươc, vì mỗi người có một hòan cảnh và số phận riêng, nhất là trong thời đại chiến tranh- Vậy coi như chúng ta lạc nhau trong chiến tranh”. Khi từ giã Doãn mắt Phương Dung tràn ngập lệ....     

 
Đến đây, đêm đã khuya, tôi đứng dậy từ giã Doãn. Doãn vẫn ngồi đó bên cạnh cây đàn Piano. Đôi mắt Doãn hầu như ngấn lệ. Doãn nhìn tôi, hai bàn tay Doãn trải dài lướt trên những phiếm đàn, Doãn vẫn một mình thều thào những lời tình tự Come Back to Sorrento của E. Curtis.       

Mở cửa xe ngồi vào ôm tay lái, tôi nghe văng vẳng tiếng hát già nua của Doãn trong đêm thâu với bản nhạc Romance Số 2, của Phú Quang- Thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ:
     “....Em chết trong nỗi buồn
  Chết như từng giọt sương, rơi không thành tiếng.....

 ....Trong xứ sở của anh hiếm hoi niềm vui
  Nỗi cô đơn khao khát đến nặng lòng
  ....Đi bên anh, em còn lạc lối về
  Có đôi khi muốn ngã như chiếc bóng
  Ta lẫn vào đêm không ai nhận ra mình
  Em chết trong nỗi buồn
  Em chết trong nỗi buồn
  Em chết trong nỗi buồn.../.  
Chicago July 14-2020 - (Để nhớ ngày sanh thứ 84 của tác giả)
Ghi Chú

(*) Đây là chuyện hoàn toàn hư cấu. Nếu vô tình có sự trùng lập tên họ với các nhân vật xin quí vị miễn thứ- Vô cùng tri ân - Đào Như.


ĐÀO NHƯ

Tiễn Biệt! - Kỷ Niệm 5 Năm Ngày Mất 5/10/2021 Cựu Đệ Nhất Phu Nhân Của Nền Đệ Nhị Cộng Hoà - Bà Nguyễn Thị Mai Anh

 

(Kỷ niệm năm năm ngày mất 15/10/2021 của phu nhân cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cựu Đệ Nhất Phu Nhân của nền Đệ Nhị Cộng Hoà bà Nguyễn Thị Mai Anh (1931-2021)🙏

TIỄN BIỆT!

(Thơ đăng lại)

Người về thăm lại phố xưa

Phố ngày tháng thuở áo chưa đổi màu

Người về đón ngọn mưa rào

Mưa trên nỗi nhớ còn đau tháng ngày

Trăm năm mây trắng còn bay

Ngàn năm cánh hạc vẫn hoài cố hương

Tóc xưa khép lại lược gương,

Hạt sương còn đọng lệ vương ân tình

Người về soi lại bóng mình,

Nước nguồn sông cũ trọn tình núi sông!


Lac Nguyen. Cập nhật 14/10/2026.

(Ảnh share lại trên Facebook PN)


(2) Sài Gòn Xưa | TIỄN BIỆT! | Facebook

Thursday, October 15, 2026

Amazing Health Benefits Of Pineapples!

 

Pineapples are a tasty tropical fruit that have been celebrated for centuries not only for their unique taste, but also for their miraculous health benefits. This fruit is full of potassium, manganese, copper, calcium, magnesium, vitamin C, thiamin, beta carotene, B6, folate, and fiber, making it one of Mother Nature’s true superfoods.


Below you can find 10 amazing health benefits of pineapples.

1. Arthritis Management

alt

Pineapples contain a rare proteolytic enzyme known as bromelain, which primarily breaks down complex proteins, but it also has some serious anti-inflammatory effects, and has been known to reduce the signs and symptoms of arthritis in many patients.

2. Immune System

One serving of pineapple contains more than 130% of the daily requirement of Vitamin C, making it one of the richest sources of ascorbic acid. Vitamin C helps to reduce illnesses and boosts the immune system by stimulating the activity of white blood cells, and it also acts as an antioxidant that defends the body against the harmful effects of free radicals. These are dangerous byproducts of cellular metabolism that can damage various organs, as well as cause healthy cells to mutate into cancerous ones.

3. Tissue and Cellular Health

An often-overlooked benefit of vitamin C is its essential role in creating collagen. This is why it’s a healing vitamin, as collagen is the essential protein base of blood vessel walls, organs, skin, and bones. A high vitamin C content helps you heal wounds quickly and protects against illnesses and infections.

4. Cancer Prevention

alt

Apart from vitamin C, pineapples are also rich in other cancer-fighting antioxidants, such as vitamin A, bromelain, beta carotene, various flavonoid compounds, and high levels of manganese, which is an important co-factor of superoxide dismutase, an extremely potent free radical scavenger that has been known to cause cancers. Pineapples can help prevent cancers of the mouth, breasts, and throat.

5. Digestion

Like the majority of fruits, pineapples are a great source of fiber, but they are extra special as they contain both soluble and insoluble fiber. This means that eating a load of pineapples can help protect you from a health conditions such as constipation, diarrhea, blood clotting, irritable bowel syndrome, high blood pressure, and atherosclerosis. Fiber helps to bulk up stool, which promotes the passage of food through the digestive tract at a normal rate, and also stimulates the release of the juices needed to dissolve food. Furthermore, it helps in dealing with loose stool, which reduces the effects of IBS and diarrhea. Fiber also helps strip the blood vessels of excess cholesterol, thereby boosting cardiovascular health.

6. Coughs and Colds

The enzyme bromelain also helps to reduce phlegm and mucus build-up in the respiratory tracts and sinus cavities. Therefore, not only do pineapples prevent you from contracting illnesses that cause phlegm and mucus build-up, they also help eliminate these materials from your body if you’ve already contracted an illness or infection.

7. Oral Health

alt

Along with the antioxidants that protect against oral cancer, pineapples also possess astringent properties that strengthen gums, making sure that your teeth do not become loose. Astringent agents help tighten tissues and tone the body so things such as tooth loss do not occur.

8. Bone Health

Although this fruit is not known for having a strong calcium content, which most of us immediately associate with strong bones, it does have an impressive amount of manganese, which is another mineral that helps strengthen bones. Manganese is the most prominent mineral in pineapples, and a single serving of this fruit can deliver more than 70% of your daily requirement.

9. Eye Health

Vision is one of the most important human senses, and pineapples have been directly connected to boosting eye health and preventing age-related eye deficiencies that occur. Macular degeneration affects many elderly people, and beta carotene can help delay this vision problem.

10. Blood Pressure

Pineapples are full of potassium, which is one of the most important minerals in the human body. An important function of potassium is as a vasodilator, meaning that it eases the tension and stress of the blood vessels and increases blood circulation to various parts of the body. When your blood vessels are relaxed, your blood pressure is reduced and the flow of blood is less restricted. This will help prevent clots and plaque from forming, decreasing the risk of heart attacks and strokes.


[Fun Funky]

Đâu Chỉ Ăn Cá Mỗi Ngày Mới có Omega-3

Hạt chia nhỏ xíu nhưng chứa nhiều Omega-3. (Hình minh họa: Susan Wilkinson/Unsplash)

Bạn không cần phải dựa vào cá hồi hoặc dầu cá để đáp ứng nhu cầu axit béo Omega-3 hàng ngày của mình. Đối với những người theo khẩu phần ăn thực vật hoặc không thích hải sản, nhiều loại thực phẩm ngon và dễ kiếm cũng cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu này, hỗ trợ chức năng nhận thức và thúc đẩy làn da khỏe mạnh mà không để lại bất kỳ vị tanh nào trên lưỡi.

Hạt Chia

Chỉ một thìa hạt chia cung cấp khoảng 5,000 miligam ALA (axit alpha-linolenic), một dạng Omega-3 có nguồn gốc thực vật. Tính linh hoạt của loại hạt này cho phép dễ dàng kết hợp vào thói quen hàng ngày của mỗi người. Rắc hạt chìa lên sữa chua hoặc bột yến mạch để tăng cường dinh dưỡng hoặc xay thành sinh tố để tăng thêm độ sánh và lợi ích của Omega-3. Ngoài hàm lượng axit béo, hạt chia còn rất tốt cho sức khỏe tiêu hóa và giúp tạo cảm giác no, hỗ trợ kiểm soát cân nặng.

Hạt lanh

Một thìa canh cung cấp khoảng 2,350 miligam ALA. Luôn nhớ phải ăn hạt lanh ở dạng xay thay vì nguyên hạt, vì điều này bảo đảm cơ thể có thể hấp thụ hiệu quả các chất dinh dưỡng có lợi. Thêm hạt lanh xay vào sinh tố, đồ nướng hoặc rắc lên rau trộn để có hương vị hạt dẻ tinh tế và tăng cường đáng kể Omega-3.

Quả óc chó

Chỉ một ounce, tương đương với khoảng 14 nửa quả óc chó, chứa khoảng 2,570 miligam ALA. Thưởng thức quả óc chó như một món ăn nhẹ tiện lợi hoặc thêm vào rau trộn để tạo sự tương phản về kết cấu và tăng cường chất béo có lợi cho não. Vị ngon vốn có của óc chó khiến loại quả này trở thành một sự bổ sung dễ dàng vào kế hoạch ăn uống của bạn.

Hạt óc chó. (Hình minh họa: Sahand Babali/Unsplash)


Hạt gai dầu

Hạt gai dầu (Hình internet)

Lõi gai dầu, phần bên trong mềm của hạt gai dầu, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu, gồm axit béo Omega-3. Một khẩu phần ba thìa canh cung cấp khoảng 2,600 miligam ALA. Hương vị nhẹ, béo ngậy của gai dầu khiến nó trở thành một thành phần bổ sung đa năng cho nhiều món ăn khác nhau. Xay hạt thành một ly sinh tố để có kết cấu kem và tăng cường dinh dưỡng, hoặc rắc lên bánh mì nướng bơ để có được lợi ích từ thực vật.

Bắp cải Brussels

Những loại bắp cải tí hon này cung cấp nguồn Omega-3 đáng ngạc nhiên, đặc biệt khi được nấu chín. Nửa cốc bắp cải Brussels nấu chín cung cấp khoảng 135 miligam ALA. Mặc dù lượng này không cao bằng một số nguồn khác, nhưng nó vẫn góp phần vào lượng hấp thụ tổng thể của bạn, đặc biệt khi kết hợp với các loại thực phẩm giàu Omega-3 khác. Tính linh hoạt của bắp cải Brussels giúp dễ dàng kết hợp vào các bữa ăn.

Dầu tảo

Dầu tảo (Hình internet)

Tảo là nguồn gốc ban đầu của Omega-3 có trong cá. Thực phẩm bổ sung dầu tảo cung cấp nguồn thực vật trực tiếp 300-500 miligam EPA (axit eicosapentaenoic) và DHA (axit docosahexaenoic) cho mỗi viên nang – cùng loại Omega-3 có lợi có trong hải sản. Điều này làm cho dầu tảo trở thành lựa chọn lý tưởng cho người ăn chay trường muốn có đầy đủ các lợi ích của Omega-3.

Đậu nành Nhật Bản

Nửa cốc đậu nành Nhật Bản nấu chín chứa khoảng 300 miligam ALA Omega-3. Những hạt đậu nành non này không chỉ mang lại chất béo lành mạnh mà còn chứa nhiều protein, khiến nó trở thành một món ăn nhẹ bổ dưỡng. Đậu nành Nhật Bản dễ dàng kết hợp vào rau trộn, xào hoặc chỉ cần thưởng thức riêng với một chút muối.

Rong biển

Nhiều loại rong biển và tảo bẹ cũng chứa một lượng nhỏ EPA, ngoài ALA, tùy thuộc vào từng loại cụ thể. Mặc dù hàm lượng Omega-3 chính xác có thể thay đổi, một số loại cung cấp khoảng 100-250 miligam cho mỗi khẩu phần. Điều này làm cho rong biển trở thành một sự bổ sung có lợi cho những người đam mê sushi và thích húp súp miso.

Hạt bí ngô

Thật ngạc nhiên, một khẩu phần hạt bí ngô cung cấp sự kết hợp của các chất béo lành mạnh, chứa khoảng 2.5 gam Omega-6 và 22 miligam axit béo Omega-3. Những loại hạt dễ kiếm và giá cả phải chăng này là một cách dễ dàng để đưa Omega-3 vào khẩu phần ăn uống hàng ngày, từ việc thêm lớp phủ giòn vào rau trộn cho đến kết hợp với nước sốt tự làm.

Đậu hũ

Là một nguồn protein thực vật phổ biến, một khẩu phần đậu hũ có khả năng cung cấp hơn 90% lượng axit béo Omega-3 cần thiết cho một cá nhân. Tính linh hoạt của nó cho phép sử dụng trong nhiều món ăn, từ xào đến trứng đánh, hỗ trợ tăng cường lượng Omega-3 mà không cần phụ thuộc vào các sản phẩm từ động vật hay cá.


Mai Lâm

Việt Kiều Về Việt Nam Sống - Vì Yêu Quê Hương Hay Vì Muốn Hưởng Thụ Kiểu Mỹ ? Nước Úc Channel

Người Sống Dễ Chịu Không Phải Vì Cuộc Đời Hoàn Hảo, Mà Vì Họ Biết Chuyện Gì Nên Bỏ Qua


Có những người không hẳn là xấu tính, chỉ là họ đã quen với việc mọi thứ phải đúng theo ý mình. Người thân làm chưa vừa ý thì nhắc nhở, bạn bè nói chưa đúng ý thì khó chịu, một việc nhỏ không hoàn hảo cũng phải soi xét, bắt lỗi. Lâu dần, chính họ cũng mệt mỏi mà những người ở bên cạnh cũng cảm thấy nặng nề.


Thật ra, sống ở đời, ai cũng có những tiêu chuẩn riêng. Kỹ tính, cẩn thận hay có nguyên tắc không phải điều xấu. Nhưng nếu sự khó tính khiến mình lúc nào cũng nhìn thấy lỗi của người khác, luôn cảm thấy người bên cạnh chưa đủ tốt, thì có lẽ điều cần thay đổi không còn nằm ở người khác nữa, mà nằm ở chính mình.

Có một điều rất đáng suy ngẫm: chúng ta thường dễ nhận ra người khác làm sai ở đâu, nhưng lại khó nhận ra tâm mình đang trở nên quá khắt khe như thế nào.

Thật ra, nhiều phiền não của con người bắt đầu từ chữ “chấp”. Ta muốn người khác phải nói đúng điều mình muốn nghe, làm đúng cách mình muốn họ làm, sống đúng với khuôn mẫu mà mình đặt ra. Khi thực tế không giống kỳ vọng, tâm liền sinh khó chịu. Từ khó chịu sinh sân, từ sân sinh lời nói nặng nề, rồi cuối cùng chính mình và người thân đều tổn thương.

Vì vậy, bớt khó tính không có nghĩa là từ bỏ nguyên tắc hay chuyện gì cũng cho qua. Đó là học cách phân biệt điều gì thật sự quan trọng và điều gì có thể bỏ qua.


Một bữa cơm hôm nay hơi mặn, có nhất thiết phải trách người nấu? Một món đồ đặt sai chỗ, có đáng để nổi giận? Một người thân quên mất một việc nhỏ, có cần phải nhắc đi nhắc lại cả ngày? Có những chuyện nếu nhìn bằng tâm đang nóng thì rất lớn, nhưng khi bình tĩnh lại, mới nhận ra chẳng đáng để mình phiền lòng đến vậy.

Con người ta vốn nên quay về quan sát chính mình. Khi một người khiến ta tức giận, thay vì lập tức nghĩ “tại sao họ lại như vậy”, đôi khi có thể tự hỏi: “Tại sao chuyện này lại khiến tâm mình bất an đến thế?”

Câu hỏi ấy đưa con người từ trách người trở về tu mình.

Bởi người thân cũng là một phần trong hành trình học cách sống của mỗi người. Họ cho ta cơ hội học nhẫn, học bao dung, học cách nói một lời góp ý mà không làm người khác tổn thương. Có thể người khác vẫn chưa thay đổi, nhưng mình có thể thay đổi cách nhìn và cách phản ứng của mình.


Sống nhẹ nhàng cũng không có nghĩa là yếu đuối. Ta vẫn có thể giữ nguyên tắc, vẫn có thể nói điều đúng, vẫn có thể từ chối những điều không phù hợp. Chỉ là thay vì nói bằng sự tức giận, ta nói bằng sự bình tĩnh; thay vì bắt lỗi để thỏa mãn cái tôi, ta góp ý với lòng thiện ý.


Đôi khi, tu tâm không phải làm điều gì quá lớn lao. Chỉ là hôm nay bớt một câu trách móc, bớt một lần nổi nóng, bớt soi xét một lỗi nhỏ của người thân và cười nhiều hơn một chút.

Khi lòng mình mềm xuống, người bên cạnh cũng được thở nhẹ hơn. Và đến cuối cùng, dễ chịu với người cũng chính là đang từ bi với chính mình.


Tú Uyên biên tập

Nguồn: Vạn Điều Hay

Sông Đời Trôi Xuôi - Đỗ Công Luận

Wednesday, October 14, 2026

Xã Tắc Tiêu Vong – Phạm Thành Châu


Năm 1981, tôi đi tù cải tạo về. Tôi không về với gia đình ở ngoài Trung mà sống chui nhủi ở Sài Gòn. Tù “ngụy” ra khỏi nhà tù vẫn bị công an theo dõi, hạch sách. Mỗi tuần phải đến công an trình diện, nộp báo cáo trong tuần làm gì? tiếp xúc với những ai?… Nhưng tôi là “dân lậu” (không giấy tờ) không phải làm chuyện đó. Công an khu vực biết nhưng người bà con biết cách “giao thiệp” nên anh ta làm lơ. Tôi sống bình thường như những người khác, miễn thấy công an thì tránh xa. 


Nhờ người quen giới thiệu, tôi làm thư ký cho một “hợp tác xã cơ khí”. Nhân cô kế toán của hợp tác xã nghỉ đẻ, lại nghe tôi tự xưng “Biết đủ thứ. Làm gì cũng được’ ông chủ nhiệm hợp tác xã nhận tôi vô làm thay ít lâu. Vì cần người gấp trong vài tháng chứ chẳng ai dám nhận tù cải tạo vào làm việc. Tôi còn xưng mình tốt nghiệp đốc sự Quốc Gia Hành Chánh để thêm uy tín. Ông chủ nhiệm nghe vậy thì biết vậy chứ ông ta chỉ biết đọc theo kiểu đánh vần và ký tên bằng cách vẽ hình “một con chim đang tung cánh lên bầu trời xanh” (Trước 1975 ông ta là võ sĩ nổi danh Phi Điểu, có cú đá bay rất nguy hiểm). Ông ta mở tủ lôi ra một đống giấy tờ cao hơn gang tay “Anh xem lại tất cả hồ sơ, sắp xếp cho tử tế, đâu ra đấy. Cô Nguyệt (kế toán, tài vụ?) để lôn xộn quá, khi cần hồ sơ, chứng từ, tìm không ra”.


Tôi bỏ ra hai ngày, chỉ để sắp xếp hai thứ riêng biệt. Chứng từ “Chi” để riêng, vô một cuốn sổ. Chứng từ “Thu” vô một sổ khác. Mỗi mục chi, thu tôi ghi ngày giờ, số chứng từ, mục đích chi, thu theo thứ tự thời gian, nghĩa là đúng “sách vở” của một tay tốt nghiệp Đốc Sự Hành Chánh. Tiền thì ông chủ nhiệm để trong túi, nhiều quá thì đem về nhà cất giữ. Khách hàng đưa ông chủ nhiệm bao nhiêu, chẳng ai biết. Ông chỉ bảo tôi ghi vào mục thu một con số nào đó. Chi cũng vậy, ông ta chỉ nói miệng, bảo tôi ghi vào. Tôi bắt ông ta phải viết mấy chữ, ký tên vào để tôi giữ làm chứng từ. 

Được vài tuần, tôi hí hửng trình ông ta xem cách làm sổ sách đúng kiểu “kế toán thương mại”. Chiều lòng tôi, ông ta đeo kiếng vào, nheo mắt đánh vần phần chi. Mới một trang, ông ta la trời “Tôi đi nhậu với đối tác, đổ xăng, phong bì “bôi trơn”…… anh đều ghi rõ thì chết tôi. Anh phải tư duy, sáng kiến ra thành những chi phí công tác quan trọng, nhất là hồ sơ, chứng từ phải để lộn xộn, sao cho trên quận xuống kiểm tra không biết được chi, thu như thế nào, lúc đó tôi sẽ giải thích với họ. Quận xuống kiểm tra mục đích là để đi nhậu và được bồi dưỡng phong bì… Kiểm tra cho có lệ chứ hợp tác xã nầy đâu phải là tài sản của quận hay nhà nước. Anh làm qua loa cho có là được rồi”.

Hợp tác xã cơ khí nầy chỉ do một người là ông chủ nhiệm bỏ vốn, thỉnh thoảng tìm được một hợp đồng gia công cho nhà nước là đủ sống. Ví dụ, ký hợp đồng gia công kềm, búa, đinh… cho thương nghiệp thành phố để bày bán trong các cửa hàng quốc doanh. Ông ta vô Chợ Lớn giao cho mấy chú ba Tầu làm. Sau đó chở đến cho sở thương nghiệp, sở phân phối đến các cửa hàng bán cho dân chúng. Tiền trao cháo múc. Sau khi “lại quả” từ xếp lớn đến thư ký, ông ta mang chi phiếu về giao cho tôi đi lãnh tiền. Ông chủ nhiệm báo trước là ngân hàng nầy hay làm khó thiên hạ đến lãnh tiền.


Trưa đó, khoảng hai giờ, tôi đến ngân hàng, xin gặp ông phó giám đốc, trình giấy tờ và nói “Ông chủ nhiệm hợp tác xã bảo với tôi rằng. Nếu ông phó giám đốc mà không ký thì sẽ đuổi tôi. Nghĩa là tôi có bị đuổi việc hay không là quyền của ông phó giám đốc”. Có lẽ vừa đi ăn trưa về, lại có chút hơi men, ông ta cười hề hề, chả thèm xem giấy tờ, ký ngay.

Nhận tiền của thương nghiệp thành phố xong, trong vòng một tuần (sau đó), ông ta cho người đi vét hết các thứ kềm, búa, đinh…ở các cửa hàng “mậu dịch quốc doanh” (dĩ nhiên đã móc ngoặc với cửa hàng trưởng), đem về cất giấu. Các cửa hàng không còn những thứ đó nữa. Coi như dân đã mua hết. Nhà nước lại cần kềm, búa, đinh… để phục vụ “nhân dân, quần chúng”. Thế là ông ta lại làm hợp đồng “gia công” với giá cao hơn vì mọi thứ đều lên giá bởi lạm phát. Hợp đồng lại được ký, lại chia chác nhau và ông ta chở kềm, búa, đinh (đã thu gom)… đến giao cho sở thương nghiệp thành phố. Nhờ “chu kì khép kín” đó cứ lặp đi lặp lại mãi nên cán bộ và chủ nhiệm làm giàu.


Nhưng hợp tác xã của ông ta chỉ là loại cò con. Người Tàu Chợ Lớn móc nối với thương nghiệp thành phố trong những vụ làm ăn lớn hơn, ngon hơn nhiều, chẳng hạn cung cấp xe đạp Cửu Long, sườn xe làm bằng thùng phi (vấp cục đá là gãy), ruột xe, vỏ xe đi ít bữa thì bể, nổ… thì tiền chia chác mới nhiều. Thời thập niên 1980, cán bộ, đảng viên nào có chỗ ngồi ngon lành nghĩa là chức vụ hái ra tiền thì vẫn làm như trong sạch vì sợ ganh tị, soi mói nên ông, bà nào cũng nuôi heo trong nhà để ra vẻ ta đây giàu có nhờ nuôi heo. Vài con heo, mướn người nuôi nấng, chăm sóc… trả lương thì làm sao lời được nhưng vào sở làm cứ khoe nhặng lên là bán heo lời rất nhiều. Thế nên khoảng thập niên 1980, nhà cán bộ nào cũng nuôi heo. Nuôi trong biệt thự, nuôi trên lầu, nuôi trước sân (để cho thiên hạ thấy)… Cứt heo thúi nồng nực, hàng xóm không dám phàn nàn. Quan cán bộ đi làm về, đứng dòm vô chuồng heo, hỏi han người nuôi heo vài câu, đốc thúc dọn cứt heo, tắm heo cho bớt hôi rồi vung vẫy chùm chìa khóa đi vô nhà.


Một cách biện minh khác cho sự giàu có của mình là mua lại vé số của người khác trúng. Trả tiền nhiều hơn số tiền trúng, nhất là trúng độc đắc rồi vào sở khoe tờ vé số đó cho thiên hạ thấy, khỏi dị nghị mình giàu. Thời đó, hễ xổ số là chỉ có quí ông cán bộ gộc trúng độc đắc. Nhân viên biết rõ nhưng vẫn cứ xuýt xoa với xếp là “Anh Tư (Năm, Sáu… gì đó)     thật là người có số hên”. Từ năm 1986, sau chính sách mở cửa của đảng Cộng Sản Việt Nam thì cán bộ, đảng viên nào không làm giàu, không khoe xe hơi, nhà lầu thì bị coi khinh là bất tài.

Ít lâu sau, tôi xin nghỉ việc. Thư ký kế toán kiểu nầy có ngày đi tù, vì đổ bể ra họ sẽ trút hết trách nhiệm cho tôi là tên ngụy, CIA gài lại để phá hoại “sự nghiệp xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa của đảng, nhà nước và nhân dân ta”.


Tôi nghĩ đến cách kiếm ăn khác. Tôi bán bánh mì. Tôi học nghề từ một anh chàng có xe bánh mì trên đường Tô Hiến Thành, quận mười, Sài Gòn, là nơi tôi trú ngụ nhà người bà con. Nguyên do là sáng nào ngồi uống cà phê với mấy thằng em bà con trước hẻm, tôi cũng tặng anh chàng bán bánh mì một li cà phê để làm quen rồi lân la hỏi chuyện bán buôn. Anh ta truyền nghề. Hóa ra cũng rất đơn giản. Mua một xe bánh mì đóng sẵn chỗ ngã bảy, tìm nơi bán rồi cứ đến lò bánh mì lấy bánh, đến chỗ cung cấp pâté, sauce, chả, thịt … đem về bày ra, chỉ phải tự mình làm đồ chua, dưa leo, hành ngò.  Vậy thôi. Thời đó, tù về chỉ làm những nghề thấp kém như bán vé số, đạp xích lô, bán thuốc tây (chợ Tân Định), sửa xe đạp, bỏ mối kẹo bánh… kiếm chút tiền, đủ bỏ mồm.

Sở dĩ tôi chọn nghề bán bánh mì vì thời còn là sinh viên ở Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, trước trường, góc Cao Thắng-Phan Thanh Giản có xe bánh mì Tám Cẩu chỉ bán buổi tối mà rất đông khách. Tối nào chúng tôi cũng ra đó mua một ổ về ký túc xá, nằm gặm. Xe bánh mì Tám Cẩu có nhiều người phụ giúp nên khách không phải chờ lâu. Nghe nói mấy cô “phụ tá” ông chủ gồm vợ ông ta và mấy cô em vợ. Một mình ông ta “xơi” hết mấy cô em vợ. Các cô đứng một dãy, hình thành “hệ thống dây chuyền” bán bánh mì. Xe bánh mì rộng hơn nửa thước, dài hai thước, ba mặt bằng kính. Người mua đứng sắp hàng. “Nàng” thứ nhất xẻ bánh mì, chuyền cho “chàng”, chàng trét pâté, sauce, thịt thà… xong chuyền cho nàng bên cạnh, nàng nầy bỏ đồ chua, rắc tiêu muối, gói lại đưa cho nàng kế tiếp. Nàng kế tiếp trao bánh cho khách, thu tiền. Bán đến gần khuya, hết bánh, dẹp tiệm, về “ngủ”. Không biết mỗi nàng một phòng riêng hay nằm chung theo thứ tự như chỗ bán bánh mì? Mà ở Việt Nam, dân lao động, nhà có vài phòng riêng đã là hiếm rồi.


Chúng ta ở Mỹ, bánh làm bằng bột mì nguyên chất mà không ngon bằng thời “bao cấp” (trước năm 1986) của đảng Cộng Sản Việt Nam. Ấy là nhờ vào sáng kiến của dân miền Nam. Số bột mì nhà nước bán ra rất giới hạn, người làm bánh mì phải thêm đủ thứ bột (bột khoai mì, bột gạo, bột dong…), họ còn đánh trứng vịt vào, bỏ thêm một mớ thuốc bổ, vitamine A, B gì đó vào thau nước trước khi đổ bột vào nhồi để ủ men. Ổ bánh làm ra thơm phức, xốp và ngon. Chiều nào đến lò bánh mì lấy bánh (ở đường Hai Bà Trưng) để bán, tôi cũng xơi ngay một ổ nóng giòn, coi như bữa cơm chiều. Bây giờ nhớ lại tôi vẫn còn thèm, ước được một ổ như thế mà thưởng thức. Nói vậy cho ra vẻ lãng mạn, chứ ở Mỹ, thứ gì chẳng có.

Tôi đặt xe bánh mì ở góc đường Hiền Vương-Duy Tân, bán rất rẻ nên đông khách, đa số là giới bình dân, lời lãi không bao nhiêu. Vậy mà thiên hạ thấy khách sắp hàng chờ mua bánh mì, tưởng tôi lời nhiều nên đua nhau đặt xe bán bánh mì quanh đó để giành khách. Có hai xe bánh mì. Một chiếc bên phải, bên kia đường cách chỗ tôi vài trăm mét, một chiếc bên trái, cũng cách vài trăm mét. Coi như chận đầu, chận đuôi. Mà xe nào cũng đèn đóm sáng trưng, bánh mì để đầy, năm ba đòn chả lụa to đùng, pâté, sauce, thịt thà trình bày phong phú, hấp dẫn. Có điều họ không biết là thời điểm sau 1975 dân miền Nam rất nghèo, cơm không có mà ăn nên ăn uống lề đường, quán chồm hổm… rẻ tiền đã quen, nay thấy hai xe bánh mì sang trọng đó, họ không dám đến, sợ bị “chặt đẹp”. 


Thế nên, khi hai đối thủ hùng hậu xuất hiện, tôi “cạnh tranh bất chính” bằng cách bán rất rẻ, coi như bán lỗ vốn. Tôi cứ trét pâté, sauce, bỏ thịt, chả đầy ổ bánh mà vẫn lấy giá cũ, lại còn dặn lũ nhỏ vào xóm  kêu lên “Ông bánh mì bán rẻ lắm!”. Đối phương (s) chịu đựng độ một tuần là đủ chết. Bánh mì không thể để bán qua ngày hôm sau, pâté, thịt, chả… có để tủ lạnh cũng độ năm ngày là bốc mùi, đổ nhớt, ăn vô tiêu chảy ngay. Tôi không có tủ lạnh nên mua hàng đủ bán một bữa, hôm sau mua tiếp. Bánh mì bán không hết, tôi đem tặng cho dân kinh tế mới ngủ đầy lề đường Hai Bà Trưng. Khoảng chín, mười giờ tối, đắt, ế gì tôi cũng “dẹp tiệm”. Nếu còn bánh mì (không thể để ngày mai vì bánh sẽ cứng như đá) tôi bỏ vào giỏ, đạp xe ra đường Hai Bà Trưng rao lên “Bánh mì ế đây!” Vậy là họ tốc mùng chạy ra. Tặng mỗi người một ổ, đỡ đói lòng.


“Dân kinh tế mới” là dân Sài Gòn, bị chính quyền tịch thu tài sản (đánh tư sản mại bản) tống lên vùng cao nguyên, tự khai phá, trồng trọt lấy mà sống. Họ không biết làm rẫy nên đói, bịnh chết dần. Họ bỏ về Sài Gòn, ngủ đầy lề đường. Khoảng năm 1980, ở Sài Gòn, có khoảng vài trăm nghìn dân kinh tế mới sống “đầu đường, xó chợ”. Hằng ngày, người lớn tản mác đến các hố rác móc ve chai, đến các chợ, ai sai gì làm nấy. Trẻ con đi bụi đời. Mấy đứa con gái, có đứa làm “gái”, buổi tối, lang thang chỗ “Ngã Ba Sung Sướng” góc đường Hồng Thập Tự-Lê Văn Duyệt, trước bộ Y Tế cũ, đón khách. Hôm nào bị công an bố ráp (tìm bắt đưa đi tù cải tạo) thì đói. Nhiều buổi tối, đói quá, các cô sai một con bé đến nói “Bán cho chị tôi bốn ổ bánh mì” Tôi hỏi “Có tiền không?” “Không. Mai chị tôi trả” “Mầy có mấy chị?” “Nhiều lắm. Bốn chị” “Chị nào? Sao không thấy?” Nó quay đi mấy bước. Thì ra các cô nấp sau góc tường. Nghe con nhỏ báo, các cô chỉ thò đầu ra (vì mắc cỡ), nhìn tôi cười cầu tài. Tôi hỏi “Mua bánh mì, khi nào trả?” Một cô nói “Mai em trả” Tôi hỏi “Trả bằng gì?” “Gì cũng được. Tụi em đói quá!” “Tối nay trả được không?”  Mấy cô hết mắc cỡ nhưng vẫn lấp ló sau tường, vui cười “Được. Tụi em chờ anh bán xong thì đi chơi” “Chơi với mấy người?” “Cả tụi em. Càng đông càng vui” “Vui chơi xong có đi mét với thiên hạ không?” Các cô long trọng thề “Tụi nầy mà mét với người khác thì xe tung chết ngay. Cho bánh mi ăn đi. Đói quá!”


Một số bánh mì tôi để trên lò than nhỏ, sưởi cho bánh dòn, nếu bán không kịp, cứng ngắc. Tôi lấy loại bánh đó, trét chút pâté, sauce, chút thịt, rau dưa, xịt nước tương, gói lại. Các cô mừng rỡ, cám ơn rối rít. Tôi biết, các cô chẳng phải con cháu gì ông Khổng Tử mà phải giữ chữ tín. Chỉ ba mươi giây sau, các cô vào xóm kinh tế mới, sẽ nói rùm lên ngay. Quả nhiên hôm sau, có bà ra mua bánh mì vừa cười vừa nói “Ông cho mấy đứa ăn bánh mì “chùa” chúng còn vô xóm nói “Ông bánh mì đòi chơi cả bốn đứa”. Tôi cũng cười “Tôi coi tụi nó như em út. Nói giỡn cho vui. Đụng tới tụi nó là tối nào tụi nó cũng ra ăn “chùa” cho mà sập tiệm luôn” “Tụi nó “trây” lắm. Nói bậy mà không biết mắc cỡ” Tôi thở dài “Khổ quá, làm nghề đó thì còn gì xấu hổ để mà giữ gìn mồm miệng”.


Giờ đây, nhớ lại, Tôi mềm lòng vì cảm thương cho các cô. Sau 1975 dân Miền Nam gặp đại họa. Tài sản bị tịch thu, gia đình tan nát. Người con gái nào cũng có quyền ước mơ được đi học, được làm vợ, làm mẹ, nhưng chế độ đã đẩy họ vào đường cùng còn tìm cách loại trừ, cách ly họ khỏi xã hội, cho họ chết dần trong các trại tù cải tạo nơi rừng thiêng nước độc. Tôi nghĩ, giá mà tôi là “Việt kiều” như bây giờ, tôi sẽ tặng hết xe bánh mì cho các cô, nhưng lúc đó tôi cũng nghèo như họ.


Buôn bán, cũng vui vì được chuyện trò với khách. Đôi khi, có ông đạp xe đến, mua một ổ bánh đứng ăn, nói chuyện cả buổi. Đó là những ông đi tù cải tạo về. Chuyện trò thường là hỏi thăm ở tù trại nào? về ngày nào? vợ con ra sao? trước kia làm việc ở đâu? Chỉ vài câu thì thấy thông cảm như thân thiết từ lâu. Có ông trung úy Hiếu, cảnh sát đặc biệt, trước 1975, cùng làm việc với tôi ở quận Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông ta đi tù về, vào Sài Gòn, ở trong xóm, sau nhà thờ Tân Định, tối nào cũng đem một xị đế với cái ly nhỏ ra ngồi với tôi. Tôi để một ít thịt chả, pâté… bên cạnh để ông ta “đưa cay”. Tôi uống một chút lấy có, chỉ ngồi nghe ông ta tâm sự. 


Ông ta kể “Sau tám năm tù về, mới được vài bữa thì công an huyện Quảng Điền có giấy “mời” lên. Tôi lên công an huyện với cái bị áo quần, thuốc men…sẵn sàng vào nhà tù lần nữa. Không ngờ, mới bước vào thì tay trưởng công an huyện đích thân ra bắt tay, mời vào văn phòng với tất cả thân tình, vui vẻ như tôi là anh em ruột thịt của anh ta, lâu ngày không gặp. Tôi lại được mời uống cà phê sữa với thuốc “có cán” (đầu lọc, sang lắm) do đích thân một cô thư ký trẻ đẹp mang đến. Sau khi hỏi thăm gia cảnh, anh ta nói qua chính trị, rằng tất cả ai đã làm việc cho chính quyền miền Nam đều là tay sai của đế quốc Mỹ, đều có nợ máu với nhân dân, đáng tội chết, nhưng nhờ chính sách khoan hồng của “đảng và nhà nước ta” cho tập trung cải tạo để trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa… Nay được đảng và nhà nước cho về sum họp với gia đình thì phải tuân thủ luật pháp, chính sách nhà nước, khi chính quyền cần thì phải xung phong góp sức xây dựng xã hội chủ nghĩa. Anh ta nói y như cán bộ trong tù đã nói vì họ học cùng một sách, nói như vẹt, sau đó anh ta kêu gọi sự cộng tác của tôi với công an huyện để “lập công chuộc tội” bằng cách xử dụng (điều hành) lại mạng lưới tình báo của cảnh sát đặc biệt Việt Nam Cộng Hòa thuộc quận Quảng Điền trước 1975 (mạng lưới gồm nhân viên, cộng tác viên, cảm tình viên…) 


Tôi ngạc nhiên “Trước đây, tình báo là để tìm hiểu, theo dõi Việt Cộng các ông, nay mấy ông sờ sờ ra đó mà chế độ cũ không còn, quân đội, cảnh sát tan rã hết rồi, theo dõi ai? Tôi mà tiếp xúc với họ là họ báo với công an ngay vì chính họ cũng đang bị theo dõi” Anh ta nói “Những người của anh sẽ hoạt động bình thường như trước 1975. Họ báo cáo tất cả những việc của chính quyền xã, ấp trong huyện, nhất là báo cáo việc làm của công an chúng tôi trong huyện. Anh thu thập và báo cáo thẳng cho tôi, không qua bất cứ người nào. Anh hoạt động tình báo thì anh đã rõ. Kỹ thuật nghiệp vụ bên nào cũng giống nhau, nếu sai phạm, kỷ luật, hậu quả cũng giống nhau” Tôi biết, nếu không làm theo lịnh anh ta thì sẽ mục xương trong tù. Tôi đành hứa sẽ cố gắng xem sao. Anh ta dặn không được tiết lộ nội dung buổi gặp mặt nầy. Sau khi ra về tôi thông báo cho tất cả các cộng tác viên trong mạng lưới của tôi (trước đây) đề phòng, rồi tôi đi gặp và nói huỵch toẹt với trưởng công an các xã trong quận để cảnh giác rồi vô đây (Sài Gòn) sống chui nhủi với người bà con”


Vì trước đây, chúng tôi làm việc với nhau mấy năm ở quận Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, nên gặp tôi, ông ta quen miệng gọi tôi là “Ông phó” (phó quận), tôi dặn đừng gọi như vậy, nhưng khi đã xỉn, ông ta lại “Ông phó”. Rượu đế thường pha thêm thuốc trừ sâu cho “lên độ”, uống mau “phê”. Tôi có nói cho ông ta biết đó là rượu độc, nhưng ông ta bảo “Chết càng sớm càng tốt” Rượu đế pha thuốc trừ sâu, ruột gan nào chịu thấu nên chỉ mấy tháng sau, ông ta bị sưng gan chết.


Trong số khách mua bánh mì của tôi có hai ông bán vé số. Buổi tối, họ đến mua bánh mì rồi ngồi nhai bánh ngay trên lề đường. Một ông là cựu “lính ngụy”, khoảng trên bốn mươi, trước 1975, bị thương thành thương phế binh, về với vợ con ở Củ Chi, làm phó trưởng ấp an ninh, đêm nào cũng dẫn nhân dân tự vệ đi phục kích Việt Cộng từ các hầm hố trong rừng mò về ấp tuyên truyền, thu thuế, kiếm ăn. Thỉnh thoảng bắn được vài Việt Cộng nên ấp được bình yên. Sau 1975, mất nước, bị Việt Cộng truy lùng trả thù, anh ta trốn về Sài Gòn, gia đình lập bàn thờ, nói rằng anh ta vượt biên, chìm tàu chết rồi. Ông bán vé số thứ hai, gia đình ở Mỹ Tho, được gọi là Bắc Kỳ chín nút (di cư vào Nam 1954, để phân biệt với Bắc Kỳ 75 vào chiếm miền Nam 1975) lớn tuổi hơn, là cựu giáo viên, vì Việt Cộng bắt ông ta giảng bài “Mỹ Diệm Ăn Thịt Người” (Trong tập “Từ Tuyến Đầu Tổ Quốc”), ông ta nói “Tôi không thấy lính Mỹ Diệm nào ăn thịt người cả. Họ có đói đâu. Họ to mập như trâu” Ông ta bị ghép tội phản động, cần phải đưa đi “học tập cải tạo”, bèn bỏ trốn lên Sài Gòn, đi bán vé số. Đó là con mọt sách lại có trí nhớ phi thường. Tôi rất thích nghe, thích hỏi ông ta đủ thứ. Hai ông bán vé số ăn bờ ngủ bụi, lang thang khắp Sài Gòn. Tích góp được chút đỉnh thì gửi lén về nuôi vợ con. Hai ông đúng là yêu đời, lúc nào cũng vui cười. Buổi tối, họ hẹn nhau đến chỗ xe bánh mì của tôi ngồi nhai bánh mì, trò chuyện. Thời ông Hiếu còn sống, thì có thêm sự góp mặt của ông cựu trung úy cảnh sát đặc biệt nầy. Khi ông Hiếu chết, hai ông vẫn giữ thói quen đến chỗ tôi.


Một buổi tối, hai ông vé số đến xe bánh mì của tôi, miệng cười toe toét “Bữa nay, tụi này “zdô mánh” (có tiền). Một ông khách mua vé số tụi nầy. Lúc đó ông ta mua vé số của cả hai đứa nên không biết vé trúng đó ai bán. Cũng không biết ông ta trúng bao nhiêu mà tìm tụi này cho một mớ. Tụi nầy mời ông đi nhậu một bữa”. “Chà. Chơi sang thiệt. Đi nhà hàng phải không?” Hai ông vé số biết tôi nói đùa “Tụi nầy mua sẵn mồi rồi. Mời ông, lát nữa ra lề đường Hai Bà Trưng, phía nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, làm mấy li cho vui”.


Tôi “dẹp tiệm”, đẩy xe bánh mì, gửi ở nhà người ta rồi đạp xe ra đường Hai Bà Trưng. Lúc đó khoảng chín giờ tối (tôi còn nhớ, mùa hè năm 1983). Nhờ lúc chiều trời mưa nên không khí mát mẻ. Hai bên lề đường Hai Bà Trưng là hai dãy mùng của dân kinh tế mới. Hai ông vé số đã ngồi chờ sẵn ở khoảng trống giữa hai chiếc mùng của người ngủ lề đường. Một tờ báo trải xuống làm khăn bàn, một gói thịt quay cỡ một kí-lô cùng với rau dưa. Một con vịt luộc được chặt nhỏ để bên cạnh. Hai chai rượu đế với cái li nhỏ sẵn sàng chờ đợi. Tôi lôi trong bị cói ra mấy ổ bánh mì, gói patê, đồ chua… bày ra. Ông thầy giáo già lịch sự mời hai ông “chủ nhà” hai chiếc mùng bên cạnh ra tham dự. Hai gia đình nầy chưa ngủ, nhưng thấy tụi tôi bày đồ nhậu thì nằm yên, sợ bị hiểu lầm, đến khi nghe mời mới ngồi lên, chui ra khỏi mùng. 

Tôi mổ mấy ổ bánh mì, bỏ thịt quay với rau dưa, mời đàn bà và trẻ con hai gia đình đó. Họ ngồi trong mùng nhai bánh mì rào rào (vì bánh mì ế, đã nướng, nguội và cứng, cắn rộp rộp). Hai ông khách được mời, nói mấy câu lấy lệ rồi ăn uống tận tình vì đã bao nhiêu năm rồi có biết thịt quay, vịt luộc bao giờ! Chúng tôi mời nhau. Tôi không biết uống rượu nên chỉ vài ly đã thấm. Rượu cũng như ma túy đã “phê” rồi thì vui thì quá vui, buồn thì buồn thêm. Thấy tôi trầm ngâm, ông thầy giáo hỏi vì sao? Tôi kể rằng “Lúc trong tù, có ông bạn tù nằm bên cạnh bị bịnh kiết lỵ. Biết mình không qua khỏi mới ghi địa chỉ vợ con, nhờ khi nào được thả về thì đến báo cho biết ngày mất để mà giỗ quảy.


Mấy năm sau, ra tù tôi tìm đến địa chỉ, hỏi dò, biết được chị vợ vẫn chưa biết chồng mình đã chết, mấy năm mà nhà tù không thông báo, vì khi ngồi ở quán cà phê gần nhà chị ta, nghe chị ta rầy thằng con, độ mười tuổi rằng “Ba con về sẽ dạy con chứ mẹ thì hết cách rồi” Tôi không còn can đảm mà đem tin buồn đến cho gia đình đó. Bây giờ vẫn cứ phân vân. Báo cho họ biết hay cứ để cho mẹ con chị ta hi vọng trong đợi chờ? Xin quí vị cho biết ý kiến”. Chẳng ai biết nói sao! Ông thầy giáo thở dài, nhìn vào khoảng không, đọc hai câu thơ “Khả liên Vô Định hà biên cốt. Do thị Xuân Khê mộng lý nhân” (Nắm xương bên sông Vô Định đã tàn rồi mà người thiếu phụ chốn khuê phòng vẫn còn chờ đợi) rồi bảo “Anh viết thư báo cho chị ta biết. Viết sao cho khéo. Cứ bảo rằng. Anh ta vẫn mạnh khỏe, vui vẻ. Không hiểu sao buổi sáng không thức dậy. Lay gọi mới biết anh ta đã đi rồi. Chôn cất tử tế. Anh cho biết tên trại tù, ngày mất, nơi chôn cất để gia đình ra dời di cốt về quê…


Thôi đổi qua chuyện tầm phào cho vui đi” Hai ông khách kinh tế mới, chẳng biết văn chương thi phú là gì, chỉ quan tâm tới chai rượu “Tụi nầy bị lùa đi kinh tế mới cũng giống như mấy ông đi tù. Dân thành phố, biết phá rừng làm rẫy là gì? Đói, bịnh, chết liệt địa. Nhất là mấy ông bà già và con nít… Mấy tuần nay tụi nầy đập mồ, đập mả rả rời chân tay, nay vô li rượu, máu chạy “thông suốt”. Khỏe sao đâu!” Tôi ngạc nhiên “Đập mồ, đập mả ai?” “Bộ anh không biết nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi bị cào sao? 


Cả tháng nay rồi” “Người ta thuê mấy anh vô đập mồ hả?” “Ai mà thuê. Trên thành phố xuống nói. Ai muốn đập mồ mả cứ vào mà đập” “Bộ khùng sao đi làm công không cho mệt xác?” “Đập nắp mộ để kiếm sắt vụn bán ve chai. Đập rả tay một nắp mộ bia bằng bê tông cũng được năm, bảy ký sắt, đủ mua gạo” “Rêm mình chịu chi thấu” “Chưa xong đâu. Mở huyệt xong còn phải hốt xương lên. Những mộ có thân nhân đến dời đi thì bỏ vô tiểu sành cho họ đem đi” “Họ trả tiền công có khá không?” “Ai mà biết. Thân nhân người dưới mộ phải liên hệ với chính quyền, đóng tiền bốc mộ rồi mang xương cốt đi đâu thì đi. Tụi nầy chỉ được chút tiền chủ mộ “bồi dưỡng” để tìm cho đủ bộ xương, sắp ngay ngắn vào tiểu sành. Họ dọa nếu không tìm đủ thì hồn ma về đòi người bốc mộ. Thiếu một lóng tay cũng phải tìm cho ra. Tụi nầy đâu có ngán. Quỉ còn sợ tụi nầy. Sá gì hồn ma” “Nếu không có thân nhân người dưới mộ thì làm sao?” “Thì cứ bỏ xương cốt dồn đống, chính quyền đưa đi đâu đó, đào hố trút xuống, lấp lại, cho ở tập thể luôn”

Ông thầy giáo Bắc Kỳ thở dài “Xương cốt vất bỏ, mồ mả san bằng. Đã chết rồi mà cũng không yên. Nghĩa tử nghĩa tận. Mồ mả tổ tiên, cha mẹ họ mà bị đối xử như vậy, họ có chịu được không?” Lúc đầu, hai ông kinh tế mới không hăng hái chuyện trò vì bận thưởng thức các món nhậu, sau đó đã lửng dạ lại được phụ trợ bởi mấy li ‘ba xi đế” nên cao hứng nói lung tung, kiểu “rượu nói” chứ không phải người nói. Tôi hỏi “Hốt xương như vậy có ngán không?” “Giết người mới ngán chứ hốt xương là hốt của, ngán nỗi gì” “Sao hốt xương là hốt của?” “Nó như thế nầy. Mấy người chết mà gia đình giàu có thường chôn theo vàng ngọc, châu báu. Ít ra cũng có mấy cái răng vàng, chiếc nhẫn cưới trên ngón tay, trong miệng ngậm một viên ngọc. Tụi nầy nhờ vậy cũng đỡ khổ” Tôi nói đùa “Giàu chứ đỡ khổ gì?” “Tụi nó ngu lắm. Móc được trong quan tài thứ gì thì khoe rùm lên. Công an biết được. Vậy là sau đó, mỗi khi mở nắp quan tài, công an đứng sẵn, tịch thu hết. Trơ mỏ!” Ông thầy bán vé số lại thở dài “Đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, sông núi, biển đảo… đều là tài sản riêng của đảng và nhà nước ta. 


Nhân dân làm chủ nhưng nhà nước quản lý. Xương cốt nhà nước cũng quản lý luôn. Trơ mỏ cũng đúng thôi” “Tụi nó biết mình ngu nên khôn ra. Hễ vàng ngọc, cà rá, hột xoàn… cái gì nuốt được thì chúng lén bỏ vô miệng nuốt trộng. Lớn hơn, nuốt không được thì nhét trong quần xì. Làm bộ lom khom, ai thấy được” Tôi lo ngại “Coi chừng có ngày thủng ruột, mất mạng” “Không có đâu. Chúng mua rau muống già, để nguyên cây, luộc rồi nuốt trộng. Sau đó đi cầu. Rau muống lôi hết ra ngoài, lấy đi rửa rồi đem ra tiệm vàng bán. Có đứa trúng mánh, mua nhà rồi” “Có chén dĩa, đồ gia dụng chôn theo không? Mấy thứ đó là đồ cổ, quí lắm, bán được tiền lắm” “Tụi nó đập bỏ, công an có tịch thu cũng chẳng bán được” Tôi tò mò “Mấy ông hốt cốt người ta, có gì lạ không? Bên Châu Âu, thời trung cổ, có người chết bị đóng đinh chỗ trái tim trước khi đem chôn để phòng ngừa xác chết sống lại thành Dracula, chuyên hút máu người. Nghe nói trong nghĩa trang đó có chôn người Châu Âu nữa?”

 

Ông kinh tế mới thứ hai, nãy giờ cứ tì tì uống rượu, giờ mới lè nhè “Tôi không thấy đinh chỗ ngực, nhưng bị một lần hoảng vía, té đái trong quần” “Chắc là gặp Dracula rồi” Ông ta lắc đầu “Có cái mả Tây chôn đứng. Không phải chôn xuống đất mà để cái quan tài dựng đứng như cái tháp trên mặt đất, bên ngoài xây bê tông. Mấy người Pháp đến nhờ phá cái tháp, lấy hài cốt đem về Pháp. Tụi nầy đập bê tông phía trước cho lòi nấp quan tài ra rồi nạy nắp quan tài. Không biết họ bỏ chất gì mà bay mùi thơm phức. Mấy đứa đang phá mồ bỏ việc xúm đến coi đông như kiến. Xác người còn nguyên, như đứng trong cái tủ đứng. Tôi sớn sác bước tới gỡ mớ cây gì như rong màu vàng, tấp trên tấm vải liệm. Mấy cây rong đó với tấm vải liệm thơm còn hơn nước hoa. Tôi vừa kéo tấm vải liệm xuống thì lòi mặt một bà đầm, xám đen, khô đét. Mắt nhắm, thụt vô, môi teo lại, hàm răng trắng nhởn, nhe ra. Tóc còn nguyên, phủ xuống mặt.

Đúng là con ma. Tôi sợ quá, bước lui. Ngay lúc đó, xác bà đầm ngã ụp lên người tôi như nhào đến ôm tôi. Tôi sợ đến cứng người, ngã ngửa. Cái xác đè lên tôi. Tôi vùng chạy. Người ta chạy tán loạn. Tôi vừa chạy vừa nhìn lui, sợ nó đuổi theo. Mấy ông biết sao không? Chỉ nửa giờ sau, cái xác đó bốc mùi thúi khủng khiếp, hít một chút là ngộp thở, đau đầu chịu hết nỗi. Cái xác lúc đầu còn nguyên. Thân thể, chân tay như vừa mới chết, cứng ngắc. Một lúc sau thì rả ra, thúi rum ra tới ngoài đường Hai Bà Trưng, Hiền Vương. Người đi đường hít phải chóng mặt, ói mửa. Nhà nào cũng đóng cửa vì mùi thúi bay vô nhà, không cách chi cho hết thúi.

Người ta đem vôi với chất gì đó đổ lên xác con ma rồi tưới xăng đốt. Tôi ra sông, tắm ngày năm lần, xài hết một cục xà bông đá to, tắm xong bôi dầu thơm lên mà người cứ thúi. Bữa nay đỡ thúi nên tôi ngủ chung với vợ con. Mọi khi tôi giăng mùng ngủ riêng, ai đến gần, nghe mùi là né đi chỗ khác” Ông thầy giáo hỏi “Nghe nói tổng thống Ngô Đình Diệm với ông cố vấn Ngô Đình Nhu cũng chôn trong nầy. Bây giờ ra sao?” “Có người đến xin dời hài cốt. Hình như đem lên Gò Dưa, Thủ Đức cải táng, nhưng công an không cho để tên trên mộ bia mà chỉ được ghi chữ Huynh trên mộ bia tổng thống Ngô Đình Diệm và chữ Đệ trên mộ bia ông cố vấn Ngô Đình Nhu mà thôi”


Đúng ra, tôi còn có thể kể nhiều chuyện về cái nghĩa trang nầy, nhưng sợ mất thì giờ người đọc, vả lại, bữa đó, làm vài ly, tôi đã “gật gù” nên không nhớ được nhiều và chính xác. Mà không chỉ riêng tôi, mọi người đều “xỉn”. Hai ông vé số và tôi cứ nhường rượu cho hai ông kinh tế mới “Làm giùm tụi nầy cho hết hai xị. Bỏ lại, phí của” Một ông lè nhè “Bỏ đi đâu? Mười xị nữa cũng chưa “xi nhê” (xỉn) tụi nầy”. Thấy mồi đã hết, rượu cũng cạn, hai ông kinh tế mới chui vào mùng ngủ, còn lại ba người tụi tôi cũng quá say, không đứng dậy nỗi, nằm dài ra đó. Tôi chóng mặt, thở không được nhưng cũng đủ tỉnh trí mà xỏ chân vào khung xe đạp để đề phòng bị ăn cắp (xe) rồi mê man, chẳng biết trời trăng gì nữa.


Có lẽ trời lạnh nên tôi tỉnh dậy. Lúc đó khoảng một, hai giờ sáng. Cả thành phố bị cúp điện, tối thui, chỉ trên bầu trời cao có mấy vì sao lấp lánh. Một chiếc xe gắn máy chạy từ bờ sông Sài Gòn về chợ Tân Định. Ánh đèn loang loáng dọc theo hai dãy nhà rồi mất hút. Cả thành phố yên lặng như chết chìm trong bóng tối tràn ngập, đặc cứng. Tôi thấy mờ mờ hai ông vé số nằm ngửa, chân tay giang ra như đứa bé nằm ngủ.

Thình lình, ông vé số Bắc Kỳ la lên, giọng Nam Kỳ rõ ràng “Xã tắc tiêu vong. Hồn phách phiêu bạt, biết đi về đâu!?” Tôi lạnh người, tưởng như những hồn ma trong nghĩa trang, không tìm thấy mồ mả, xương cốt mình, không còn nơi trú ngụ, đành đi lang thang rồi nhập vào ông thầy giáo bán vé số mà kêu lên.

Tôi đứng lên, dựng xe đạp, định về nhà trọ, nhưng chóng mặt quá, trời lại tối thui, đâu thấy đường mà đi, đành nằm xuống, gác chân lên xe đạp, ngủ tiếp.


Phạm Thành Châu