[Fun Funky]
Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Monday, July 6, 2026
Anniversary Gift
LM. Trương Bửu Diệp, Người Chọn Ở Lại
Tôi không theo đạo Công giáo. Tôi
không cầu nguyện bằng kinh sách của họ,
không quỳ trước tượng Đức Mẹ, không hiểu hết những nghi thức trang nghiêm trong các thánh đường.
Nhưng có những con người, dù thuộc về một truyền thống tâm linh khác với tôi, vẫn
khiến tôi phải dừng lại, cúi đầu, và thấy lòng mình rưng rưng
từ sâu thẳm bên trong.
Linh mục Trương Bửu Diệp là một người như vậy.
Ngài sinh năm 1897 ở
một họ đạo nghèo tại An Giang. Mẹ ngài qua đời
khi ngài mới 7 tuổi. Có những đứa trẻ học được bài học về sự vô thường rất sớm, trước khi chúng kịp hiểu
hết ý nghĩa của hai chữ đó. Rồi ngài theo cha sang Campuchia, sống
trong một gia đình làm nghề thợ
mộc, học hành, tu tập, và năm
1924 trở thành linh mục.
Từ năm 1930, ngài về làm cha sở
họ đạo Tắc Sậy, một vùng đất nghèo ở Bạc Liêu. Ngài ở đó
suốt mười sáu năm, dài hơn bất kỳ quãng thời gian nào khác trong cuộc đời
ngắn ngủi của ngài. Ngài tận tụy
chăm sóc giáo dân, thường
xuyên thăm hỏi, động viên và giúp đỡ những
người nghèo khổ, bệnh tật, không phân biệt ai theo đạo,
ai không theo đạo.
Điều khiến tôi kính ngưỡng không phải
là chức danh linh mục của
ngài. Mà là cách ngài đã sống, và cách ngài đã chọn
chết.
Năm 1945, 1946, đất nước
rơi vào loạn lạc. Người ta khuyên ngài nên lánh đi. Ngài từ
chối: “Tôi sống giữa đoàn chiên. Và nếu có chết
cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu
hết.”
Một người Pháp từng đề nghị cấp súng để ngài tự vũ trang bảo vệ nhà thờ. Ngài đáp: “Không. Linh mục thì cần
gì súng ống. Linh mục chăm sóc bầy chiên và sống với
bầy chiên theo chân Chúa, chứ không theo
phe phái chính trị nào.” Tôi cứ nghĩ
về câu nói này. Một người
có cơ hội tự vệ, lại từ chối, để giữ một điều ngài tin còn quan trọng hơn
mạng sống của chính mình.
Ngày 12 tháng 3 năm 1946, ngài cùng
khoảng 70 giáo dân bị bắt
giữ. Ngài tự nguyện hiến mình để đổi lấy sự an toàn cho những người
bị bắt cùng. Một nhân chứng, người sau này mang theo nỗi hổ
thẹn suốt đời vì từng có liên quan đến vụ
việc, kể lại rằng ngài bị chém hai nhát vào đầu,
nhát đầu lạng sớt sau ót vì người chém run tay, nhát
thứ hai mới khiến đầu lìa khỏi thân.
Khi tìm thấy thi thể ngài dưới một cái ao, người ta thấy
hai tay ngài vẫn chắp lại, gương mặt bình thản.
Tôi không phải người
Công giáo. Nhưng đọc đến đoạn này, tôi nghĩ đến
tất cả những bậc thầy, ở mọi truyền thống, từng chọn ở lại nơi nguy hiểm vì những người mình thương yêu, thay vì chọn con đường
an toàn cho riêng mình.
Gần 80 năm đã qua từ ngày ngài mất. Điều
tôi thấy lạ nhất, là lòng kính ngưỡng
dành cho ngài không những không phai nhạt, mà còn vượt
qua chính đường biên đã từng khiến ngài phải trả giá bằng mạng sống. Rất nhiều người đến viếng mộ ngài tại Tắc Sậy không phải là người Công giáo. Họ là Phật
tử, người theo đạo Cao Đài, hoặc không theo tôn giáo nào, nhưng đều
mang một lòng thành kính rất thật.
Người ta đến đó không phải chỉ để cầu xin, mà để được ở gần với một điều rất hiếm: một con người đã sống và chết đúng như những gì mình tin.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, Giáo
hoàng Phanxicô đã chính thức cho phép ban hành sắc lệnh
nhìn nhận sự tử đạo của ngài, sau 13 năm điều
tra. Và chỉ còn vài ngày nữa, ngày 2 tháng 7 năm
2026, một lễ tuyên phong Chân phước
sẽ được cử hành ngay tại Tắc
Sậy, nơi ngài đã sống và đã ngã xuống. Đây là lần đầu tiên trong gần 500 năm
Công giáo có mặt tại Việt Nam, một nghi thức như vậy được tổ chức trên chính đất nước
này, với dự kiến hơn 70.000 người đổ
về tham dự.
Tôi viết những dòng này không phải để
mời ai theo một tôn giáo nào. Tôi
viết vì tôi tin có những con người,
bất kể thuộc về truyền thống tâm linh nào, đã sống
một cuộc đời đủ trọn vẹn để chạm đến phần thiêng liêng nhất trong mỗi
chúng ta, phần vẫn còn biết rung động trước một người sẵn sàng đặt mạng sống mình xuống cho người khác mà không hề toan tính.
Linh mục Trương Bửu Diệp đã chọn ở lại, khi mọi lý lẽ đều bảo ngài nên rời đi.
Có lẽ đó là lý do, gần một
thế kỷ sau, người ta vẫn còn tìm đến nơi ngài đã ngã xuống. Không phải để
hỏi xin một phép lạ. Mà để được đứng gần, dù chỉ một chút, với một người đã sống đúng như những gì mình tin cho đến
giây phút cuối cùng.
Nguồn : Nguyễn Cảnh Thi
NGƯỜI Ở LẠI Tôi không theo... - Jesus và Maria - con muôn đời cảm tạ | Facebook
Nguyện Làm Viên Gạch Nhỏ - De Nguyên
Hình minh hoạ từ sách Việt Nam khói lửa.
Trong những trang sử của một dân tộc, người ta thường nhớ đến những vị tướng lãnh nổi tiếng, những trận đánh vang dội hay những chiến công được ghi vào sách vở. Nhưng để xây dựng nên những năm tháng thanh bình cho quê hương, không chỉ cần những viên đá lớn nơi nền móng mà còn cần vô số những viên gạch nhỏ âm thầm, lặng lẽ góp phần nâng đỡ cả công trình.
Có những người sinh ra không để được tung hô.
Có những người sống cả một đời mà tên tuổi chẳng
được ghi vào sử sách.
Và cũng có những người lặng lẽ bước vào chiến
tranh khi tuổi đời còn rất trẻ, chỉ với một ước nguyện giản dị: Giữ cho quê
hương được bình yên.
Người lính Việt Nam Cộng Hòa năm xưa là những
con người như thế.
Họ không phải những pho tượng đồng dựng giữa
quảng trường.
Họ không phải những nhân vật huyền thoại chỉ
có trong sách vở.
Họ là những chàng trai bằng xương bằng thịt,
biết yêu thương, biết mơ mộng và cũng biết sợ hãi trước hiểm nguy như bất cứ
ai.
Ngày họ khoác lên mình màu áo lính, nhiều người
vẫn còn giữ trong cặp những cuốn sách học trò chưa kịp đọc hết.
Có người vừa rời ghế trung học.
Có người đang dang dở giảng đường đại học.
Có người đã có người yêu chờ đợi.
Có người là niềm hy vọng duy nhất của cả gia
đình.
Nhưng rồi tiếng gọi của quê hương đã khiến họ
gác lại tất cả.
Họ từ bỏ những mùa thi.
Từ bỏ những buổi hẹn hò.
Từ bỏ những giấc mơ riêng tư của tuổi trẻ.
Để nhận lấy những tháng ngày hành quân trong
mưa gió, trong khói lửa và trong sự mong manh giữa sống và chết.
Đêm xuống nơi tiền đồn.
Mưa lạnh rơi trên chiếc nón sắt.
Gió hun hút thổi qua những hàng cây đen sẫm.
Người lính đứng gác một mình giữa bóng tối.
Xa xa là ánh đèn yếu ớt, chập chờn, của một
xóm đạo.
Tiếng chuông nhà thờ vang lên trong sương sớm.
Tiếng chó sủa vọng về từ một mái nhà dân.
Những âm thanh, hình ảnh bình thường ấy chính
là điều họ đang bảo vệ.
Để những người mẹ được ngủ yên.
Để những đứa trẻ sáng mai được đến trường.
Để người dân vẫn có thể họp chợ, cày cấy và
sinh sống trên mảnh đất của mình.
Người lính thức trắng một đêm để hàng trăm
người khác được ngủ một giấc bình an.
Người lính chấp nhận hiểm nguy để người dân
được sống những ngày bình thường.
Có ai biết rằng sau những bước chân hành quân
là những đôi chân rớm máu?
Có ai biết rằng dưới chiếc áo trận bạc màu là
những lá thư nhà đã nhàu nát vì được đọc đi đọc lại hàng chục lần?
Có ai biết rằng giữa những cuộc hành quân gian
khổ ấy, nhiều người lính vẫn mang theo trong tim hình bóng của mẹ già, của người
yêu nhỏ và của một tương lai chưa kịp thành hình?
Họ cũng muốn sống.
Họ cũng muốn trở về.
Họ cũng muốn lập gia đình, nuôi dạy con cái
và hưởng một cuộc đời bình dị như bao người khác.
Nhưng chiến tranh không cho họ quyền lựa chọn.
Và họ đã chọn bổn phận.
Chọn đứng giữa lằn ranh sinh tử để quê hương
được tồn tại.
Chọn hy sinh tuổi xuân để đồng bào được sống
trong tự do.
Trong khi người dân thành phố đến trường, đi
làm, xem phim, nghe nhạc và xây dựng tương lai thì nơi tuyến đầu, biết bao
thanh niên đang âm thầm đổ mồ hôi và máu.
Có người mãi mãi nằm lại trong một khu rừng
xa lạ.
Có người tan biến giữa lòng sông nước miền
Tây.
Có người ngã xuống trên những ngọn đồi không
ai biết tên.
Ngày họ ra đi, nhiều người chưa kịp bước sang
tuổi hai mươi.
Tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người đã gửi
lại nơi chiến trường.
Và rồi năm tháng qua đi.
Những người còn sống mang theo ký ức ấy đến
cuối đời.
Mỗi lần nhắc đến đồng đội, đôi mắt già nua lại
đỏ hoe.
Bởi họ nhớ những gương mặt đã mãi mãi dừng lại
ở tuổi đôi mươi.
Những người bạn năm nào giờ chỉ còn là những
cái tên trong ký ức.
Có người không còn một nấm mộ.
Có người không còn một tấm hình để người thân
tưởng nhớ.
Nhưng sự hy sinh của họ vẫn còn đó.
Trong từng mái trường từng vang tiếng học
sinh.
Trong từng ngôi chợ từng tấp nập người mua
bán.
Trong từng nhà thờ, từng ngôi chùa, từng con
đường mà người dân đã từng sống những ngày yên bình.
Hôm nay, nhìn lại một thời chinh chiến, có lẽ
điều day dứt nhất không phải là thắng hay thua.
Mà là chúng ta đã nói lời cảm ơn quá muộn.
Quá muộn với những người đã nằm xuống.
Quá muộn với những người mang thương tích suốt
đời.
Quá muộn với những mái đầu bạc trắng đang lặng
lẽ sống những năm tháng cuối đời nơi xứ người.
Nhưng dù muộn, lời cảm ơn ấy vẫn cần được
nói.
Xin cảm ơn những người lính năm xưa.
Cảm ơn những chàng trai đã gác lại bút nghiên
để khoác lên mình màu áo trận.
Cảm ơn những tuổi trẻ đã chấp nhận gian khổ để
đồng bào được bình yên.
Cảm ơn những người đã âm thầm làm viên gạch
nhỏ dưới chân lịch sử.
Có thể thế giới sẽ nhớ đến những vị tướng.
Có thể lịch sử sẽ ghi lại những trận đánh.
Nhưng trong lòng đồng bào, những người lính
bình thường ấy mãi mãi là những người con yêu quý của Tổ Quốc.
Bởi chính họ đã dùng tuổi xuân, nước mắt và cả
sinh mạng của mình để đổi lấy những năm tháng thanh bình cho quê hương.
Họ ra đi không phải để trở thành anh hùng.
Họ chỉ mong đất nước được yên lành.
Và chính điều đó đã làm họ trở thành những
người anh hùng thật sự.
Có thể thời gian đã trôi qua nhiều thập niên.
Có thể mái tóc xanh ngày nào giờ đã bạc trắng. Có thể nhiều người đã yên nghỉ
nơi lòng đất mẹ.
Nhưng sự hy sinh ấy không nên bị lãng quên.
Bởi lịch sử không chỉ được viết bằng những
chiến thắng hay thất bại.
Lịch sử còn được viết bằng lòng tận tụy, bằng
tinh thần trách
nhiệm và bằng sự hy sinh của những con người
bình thường đã làm những điều phi thường.
Người lính năm xưa không mong mình trở thành
anh hùng.
Họ chỉ mong được góp một phần nhỏ bé cho quê
hương.
Nguyện làm viên gạch nhỏ.
Nguyện đứng nơi đầu sóng ngọn gió.
Nguyện giữ gìn từng mái nhà, từng lớp học, từng
ngôi chợ và từng tiếng cười của đồng bào.
Đó chính là vẻ đẹp giản dị nhưng cao quý nhất
của người lính Việt Nam Cộng Hòa phục vụ quê hương và gìn giữ thanh bình.
De Nguyễn
Tấm Tình Của Frank Sinatra - FB Trịnh Anh Khôi
Tháng 12 năm 1972, một
đêm đông lạnh giá bên ngoài sòng bạc Sands ở Las Vegas. Frank Sinatra (một danh
ca nổi tiếng của nước Mỹ và trên thế giới) bước ra khỏi cửa chính sau một buổi
trình diễn lúc nửa đêm đã bán hết vé, có đoàn tùy tùng đi theo ông.
Lực lượng bảo vệ tạo
thành một bức tường ngăn cách giữa ông và đám đông người hâm mộ đang chờ xin chữ
ký.
Rồi một người đàn ông bỗng
bước ra từ bóng tối. Anh gầy gò, mặc một chiếc áo khoác quân đội rách rưới với
một huy hiệu cựu chiến binh Việt Nam lộ rõ trên tay áo. Anh nhìn Frank và hỏi một
câu hỏi đơn giản: "Thưa ngài, ngài có thể cho tôi một đô-la không? Tôi
chưa ăn gì hôm nay cả”.
Điều Frank làm khiến mọi
người trên vỉa hè đều sững lại. Nó khiến lực lượng bảo vệ ông đứng im như tượng.
Nó khiến đám đông hoàn toàn im lặng. Bởi vì Frank Sinatra không chỉ cho người
kia một đô-la.
Người cựu binh đó là
Robert Chen, 26 tuổi. Anh đã phục vụ hai lần ở Việt Nam trong Lực lượng Bộ
binh, tham gia chiến đấu ác liệt ở Khe Sanh và thành phố Huế.
Anh trở về nhà năm 1971
với Huân chương Sao Đồng, với những vết sẹo vì những mảnh đạn ở trên lưng và những
cơn ác mộng khiến anh không thể ngủ được. Giống như hàng ngàn cựu chiến binh
khác, Robert trở về một đất nước không muốn nhìn mặt anh.
Anh không thể tìm được
việc làm vì các nhà tuyển dụng chỉ cần thấy dòng chữ "Cựu Chiến Binh Việt
Nam" trên đơn xin việc là họ chuyển ngay sang ứng viên khác. Anh không thể
ngủ được vì mỗi tiếng động lớn quanh chỗ nằm đều đưa anh trở lại khu rừng rậm
Việt Nam. Anh không thể kết nối với gia đình vì họ không hiểu những gì anh đã
chứng kiến.
Đến tháng 12 năm 1972,
Robert trở thành người vô gia cư, sống lang thang trên đường phố Las Vegas, ngủ
trong các con hẻm và mót thức ăn còn thừa từ mọi thùng rác.
Huân chương Sao Đồng được
cất giữ ở đâu đó trong một tiệm cầm đồ; anh đã bán nó với giá 30 đô-la từ 2
tháng trước chỉ để mua thức ăn.
Đêm đó, ngày 19 tháng
12, Robert đứng bên ngoài sòng bạc Sands, ban đầu không phải để ăn xin, chỉ là
đứng để cố tìm một chỗ ấm. Anh biết các sòng bạc bơm không khí ấm ra ngoài qua
các lỗ thông hơi, và nếu bạn đứng gần lối vào, bạn có thể cảm nhận được hơi
nóng.
Bên trong, Frank
Sinatra vừa kết thúc buổi diễn của mình. Chín mươi phút nhận được những tràng vỗ
tay nhiệt liệt, như thường lệ. Frank mệt mỏi.
Ông đã 57 tuổi, và dù
giọng nói không còn như xưa, nó vẫn đủ mạnh mẽ để lấp đầy cả căn phòng và khiến
mọi người quên đi những muộn phiền trong vài giờ.
Frank bước ra ngoài qua
cửa chính, được bao quanh bởi quản lý, vệ sĩ và trợ lý của ông.
Một đám đông khoảng 50
người đang chờ đợi bên ngoài, họ là người hâm mộ với máy ảnh và sổ xin chữ ký,
những người chơi bạc giàu có hy vọng được bắt tay ông. Đó là cảnh tượng thường
thấy ở Las Vegas.
Robert thấy Frank bước
ra qua cánh cửa kính, và có một chút hy vọng trong anh. Có lẽ đó là đói, hoặc
chỉ là nhu cầu được ai đó, nhìn thấy, người đó có thể thừa nhận sự tồn tại của
anh.
Anh bước tới. Nhân viên
bảo vệ lập tức chận anh lại. Họ là những người đàn ông to lớn, cựu cảnh sát, được
huấn luyện để giữ cho mọi người không được lại gần Frank.
"Thưa ông, xin lùi
lại”. Một người trong số họ nói dứt khoát.
Robert không lùi lại.
Anh nhìn qua vai người bảo vệ, ánh mắt nhìn thẳng vào mắt Frank:
- Ông Sinatra, tôi xin
lỗi vì đã làm phiền ông. Tôi là cựu chiến binh. Tôi chỉ cần một đô-la để mua thức
ăn, một đô-la thôi, làm ơn.
Người bảo vệ đặt tay
lên ngực Robert:
- Tôi bảo anh lùi lại!
Nhưng Frank đã nghe thấy.
Ông đã nhìn thấy chiếc áo khoác quân đội, huy hiệu chiến tranh Việt Nam, và ánh
mắt trống rỗng của Robert. Frank nhận ra ánh mắt đó vì chính ông đã từng thấy
nó trước đây, trong mắt của cha ông sau thời kỳ Đại Khủng Hoảng và trong mắt của
bạn bè ông sau Thế chiến II.
Frank khoát tay: chờ
đã!
Người bảo vệ dừng lại.
Toàn bộ đám đông im lặng, mọi người đều dõi theo.
Frank bước qua người bảo
vệ và đứng đối mặt với Robert. Ông thực sự nhìn kỹ anh ta, đôi má hóp lại, đôi
tay run rẩy, chiếc áo khoác quá mỏng so với tháng Mười Hai ở đây.
“Tên anh là gì?" Frank
hỏi.
"Robert Chen”.
"Anh từng phục vụ
trong quân đội?".
"Vâng, thưa ông. Lục
quân, hai đợt”.
Frank gật đầu chậm rãi:
“Ở đâu?".
"Khe Sanh và thành
phố Huế”.
"Chuyện đó thật tệ”
Frank thì thầm.
"Vâng, thưa ông.
Đúng vậy”.
Frank thò tay vào túi.
Đám đông nghiêng người về phía trước, quan sát, mong chờ ông rút ra một đô-la,
có thể năm đô-la, hoặc hai mươi đô-la nếu Robert may mắn. Nhưng Frank rút ví, mở
ra và lấy tất cả các tờ tiền bên trong. Hàng trăm, năm mươi, hai mươi đô-la, tổng
cộng có lẽ khoảng 800 đô-la. Ông đưa nó cho Robert.
Robert nhìn chằm chằm
vào số tiền. Anh không nhận: “Thưa ông, tôi chỉ xin một đô-la thôi”.
"Tôi biết anh cần
gì, Tôi đang cho anh những gì anh cần”. Frank nói.
"Tôi không thể nhận
số tiền này”.
"Có, anh có thể” -
Frank nắm lấy tay Robert, đặt tiền vào tay anh và khép các ngón tay của Robert
lại quanh cuộn tiền đó. Và nói:
- Nghe này, anh đã phục
vụ đất nước. Anh đã làm những gì họ yêu cầu anh làm, và anh trở về tay trắng.
Điều đó không đúng, không công bằng. Và tôi không thể sửa chữa cả thế giới,
nhưng tôi có thể giúp anh tối nay. Cầm lấy tiền đi.
Robert rưng rưng mắt:
- Tại sao?
Frank đáp:
- Vì cha tôi đã từng
như anh. Cuộc chiến tranh khác, nhưng câu chuyện giống nhau. Ông ấy trở về từ
Thế chiến thứ I với hai bàn tay trắng, làm việc quần quật đến chết để mưu sinh.
Tôi đã chứng kiến ông ấy vật lộn với cơm áo suốt thời thơ ấu của tôi. Và tôi đã
thề rằng nếu tôi có tiền, và có cơ hội để giúp đỡ một người như ông ấy, tôi sẽ
làm!
Frank quay sang người
quản lý của mình:
- Đặt cho anh ta một
phòng ở khách sạn Sands này, một tuần. Tính vào hóa đơn của tôi.
Người quản lý gật đầu,
lấy ra một cuốn sổ tay.
Frank quay lại phía
Robert: “
- Tối nay anh sẽ nhận
phòng trong khách sạn này. Anh sẽ được ăn uống. Anh sẽ được ngủ trên một chiếc
giường thực sự. Và ngày mai, anh đến gặp tôi. Tôi có một người bạn điều hành một
công ty xây dựng. Anh ấy sẽ thuê cựu chiến binh, công việc tốt. Anh có hứng thú
không?
Robert không thể nói
nên lời. Anh chỉ gật đầu, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt.
Frank đặt tay lên vai
Robert:
- Tốt! Anh không còn cô
đơn nữa. Anh hiểu tôi chứ? Dù anh đã mang vác điều gì, anh cũng không cần phải
mang một mình nữa.
Rồi Frank làm một điều
mà không ai ngờ tới. Ông cởi áo khoác của mình, đó là chiếc áo cashmere đắt tiền,
được may đo riêng, trị giá hơn thu nhập cả tháng của hầu hết những người lao động
chân tay. Ông khoác nó lên vai Robert.
"Tối nay trời lạnh”
Frank nói. Đám đông đứng chết lặng, một số người khóc. Một người phụ nữ ở phía
trước lấy tay che miệng. Một trong những vệ sĩ của Frank lau nước mắt.
Frank quay sang đám
đông:
- Người đàn ông này đã
phục vụ đất nước. Anh ấy đã chiến đấu trong một cuộc chiến mà hầu hết chúng ta
chỉ xem trên TV. Anh ấy đã trở về tay trắng. Không có việc làm, không có sự
giúp đỡ, và không được tôn trọng. Thật đáng xấu hổ. Đó là lỗi của tất cả chúng
ta!
Ông nhìn thẳng vào đám
đông:
- Tối nay các bạn đến
đây để xem trình diễn, để vui chơi, để quên đi những vấn đề của mình. Điều đó tốt
thôi. Nhưng đừng quên những người như Robert. Đừng bước qua họ, đừng giả vờ như
họ vô hình, bởi vì họ không đáng bị đối xử như vậy. Họ là những người hùng, và
chúng ta nợ họ tất cả mọi thứ!
Frank quay lại nhìn
Robert:
-Vào trong đi. Nói với
họ là Frank đã gửi anh đến. Họ sẽ chăm sóc anh.
Robert cố gắng nói
nhưng không thành công. Anh chỉ ôm chầm lấy Frank ngay trên vỉa hè. Người cựu
chiến binh vô gia cư và ngôi sao ca nhạc lớn bậc nhất thế giới ôm chặt lấy nhau
trong khi 50 người khác im lặng theo dõi.
Khi Robert buông ra,
Frank khẽ nói:
- Còn một điều nữa. Cậu
cứ giữ lấy chiếc áo khoác đó. Nó hợp với cậu hơn là với tôi.
Rồi Frank đi đến xe của
mình, lên xe và rời đi.
Đám đông đứng đó một
lúc lâu, không ai nhúc nhích, không ai nói gì. Rồi từ từ, mọi người bắt đầu thò
tay vào túi, rút tiền ra, đi về phía Robert và đưa cho anh. Hai mươi, năm mươi,
một trăm đô-la.
Một người phụ nữ cởi
khăn quàng cổ của mình và đặt vào tay Robert. "Cảm ơn vì sự phục vụ của
anh” Bà thì thầm.
Khi đám đông giải tán,
Robert Chen đã cầm trên tay hơn 3.000 đô-la và mặc chiếc áo khoác của Frank
Sinatra.
Tối đó, anh nhận phòng
847 tại khách sạn Sands. Anh tắm đến 40 phút, lần tắm nước nóng đầu tiên sau 8
tháng. Anh gọi dịch vụ phòng mang bít-tết và trứng, rồi ăn chậm rãi, thưởng thức
từng miếng.
Sáng hôm sau, anh gặp bạn
của Frank tại công ty xây dựng, một người tên là Joe Columbo, một cựu lính Thủy
Quân Lục Chiến từng phục vụ ở Hàn Quốc. Anh ấy hiểu ngay câu chuyện.
Joe nói:
- Frank đã gọi cho tôi.
Anh ấy đã kể với tôi về anh. Tôi có một vị trí đang trống. Lương 75 đô la một
ngày. Anh bắt đầu làm việc vào thứ Hai. Anh có muốn nhận không?".
Robert gật đầu:
- Vâng, thưa ông. Tôi
muốn nhận.
Joe mỉm cười.
- Tốt! Và đừng gọi tôi
là ông nữa. Tôi cũng làm việc để kiếm sống thôi mà…
Robert làm việc cho
Công ty Xây dựng Columbo trong 32 năm tiếp theo. Ông cuối cùng trở thành quản
lý dự án, và giám sát các công trình xây dựng lớn trên khắp Las Vegas. Ông có một
cuộc sống tốt đẹp, kết hôn, có ba đứa con và mua một căn nhà.
Ông giữ lại chiếc áo
khoác của Frank. Ông không bao giờ mặc nó nữa, cất giữ nó trong một tủ đặc biệt,
giặt khô mỗi năm một lần, được bảo vệ như một vật thiêng liêng.
Khi Frank Sinatra qua đời
vào ngày 14 tháng 5 năm 1998, Robert Chen, khi đó là một giám đốc điều hành đã
nghỉ hưu, đã bay đến California.
Ông không cố gắng tham
dự buổi lễ riêng tư cùng với những người nổi tiếng và các chức sắc. Ông chỉ đơn
giản đứng bên ngoài nhà thờ, mặc chiếc áo khoác cashmere màu sữa đó lần đầu sau
26 năm. Ông đứng gác, giống như hồi còn ở Việt Nam, trông chừng người đàn ông
đã cứu mạng mình.
Khi một phóng viên để ý
thấy ông và chiếc áo khoác, rõ ràng là đồ lỗi thời và rất đắt tiền, liền hỏi
ông về nó, Robert chỉ mỉm cười, vỗ nhẹ ve áo và nói:
- Một người bạn đã tặng
tôi chiếc áo này từ lâu. Anh ấy nói rằng mặc nó hợp với tôi hơn là với anh ấy.
Tôi chỉ đến đây để nói lời cảm ơn.
Robert Chen qua đời năm
2016. Ông được chôn cất cùng với Huân chương Sao Đồng, thứ mà cuối cùng ông đã
tìm lại và mua lại được. Và trong quan tài của ông, được gấp gọn gàng dưới
chân, là chiếc áo khoác của Frank Sinatra.
Một lời cuối cùng: một
hành động tử tế của bạn trong một khoảnh khắc, khi bạn nhìn thấy ai đó, lúc mà
cả thế giới ngoảnh mặt làm ngơ họ, có thể bạn sẽ làm thay đổi cuộc đời họ mãi
mãi.
Sunday, July 5, 2026
US America 250 In New York 2026 | Grand Military Parade & Independence Celebration Full 4K
Ba Thứ Của Việt Nam Cộng Hòa Mà Cộng Sản Không Thể Thay Đổi Hay Làm Mất Đi - #chantroimoi
Trong lịch sử hiện đại
Việt Nam, sau năm 1975, nhiều biểu tượng của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã bị
thay đổi tên đường phố hay xóa bỏ trong tài liệu chính thức. Tuy nhiên, vẫn tồn
tại ba yếu tố sâu sắc, được quốc tế công nhận và không thể xóa nhòa: tên gọi
Sài Gòn, mã sân bay SGN của phi trường Tân Sơn Nhứt, và mã vùng điện thoại quốc
tế +84. Những thứ này không chỉ là ký hiệu kỹ thuật hay thói quen ngôn ngữ, mà
còn là minh chứng sống động cho sức sống bền bỉ của ký ức lịch sử và bản sắc miền
Nam.
Thứ nhất, tên gọi Sài
Gòn vẫn tồn tại mãi mãi trong tâm khảm người dân. Dù chính thức đổi thành Thành
phố Hồ Chí Minh từ ngày 2/7/1976, người dân miền Nam và cả nhiều người trong nước
lẫn hải ngoại vẫn gọi quen là Sài Gòn. Tên này xuất hiện trong giao tiếp hàng
ngày, âm nhạc, văn chương, và thậm chí trên một số biển hiệu, ga tàu (Ga Sài
Gòn), hay sở thú (Thảo Cầm Viên Sài Gòn). Với cộng đồng người Việt tị nạn sau
1975, Sài Gòn là biểu tượng của tự do, thịnh vượng và ký ức tuổi trẻ. Nó không
phải tên hành chính, nhưng là tên tình cảm, không thể bị luật lệ hay nghị quyết
nào xóa bỏ.
Thứ hai, mã viết tắt
SGN của phi trường Tân Sơn Nhứt là di sản quốc tế không thể thay đổi. Theo Hiệp
hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), mã SGN được giữ nguyên từ thời VNCH, lấy
từ tên cũ Saigon. Dù sân bay nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, mọi chuyến bay quốc
tế vẫn dùng SGN trên vé máy bay, hệ thống hàng không thế giới và lịch trình.
Đây là minh chứng rõ ràng rằng các tổ chức quốc tế không dễ dàng thay đổi mã đã
được cấp cho một thực thể có chủ quyền trước đó.
Thứ ba, mã vùng điện
thoại +84 có nguồn gốc từ thời Quốc gia Việt Nam và được duy trì qua VNCH. Mã
này được Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) phê chuẩn và vẫn áp dụng cho toàn
Việt Nam ngày nay. Dù có tranh luận về năm cấp chính thức (khoảng những năm
1950-1960), thực tế là +84 gắn liền với hạ tầng viễn thông miền Nam khi Bắc Việt
chưa có kết nối quốc tế rộng rãi. Sau thống nhất, mã này được kế thừa nguyên vẹn
vì lý do kỹ thuật và quốc tế, không thể thay bằng mã khác mà không gây hỗn loạn
toàn cầu.
Ba yếu tố này cho thấy
dù có thể thay đổi tên gọi chính thức bằng nghị quyết, nhưng ký ức tập thể, chuẩn
mực quốc tế và thói quen văn hóa sâu sắc không dễ bị xóa sổ. Chúng nhắc nhở rằng
lịch sử không chỉ nằm ở sách vở hay biển tên đường, mà còn sống động trong ngôn
ngữ hàng ngày, hệ thống toàn cầu và trái tim người dân. Sài Gòn, SGN và +84 là
những di sản bất diệt sẽ tiếp tục tồn tại như lời khẳng định rằng một số giá trị
và ký ức của VNCH vẫn trường tồn, vượt qua mọi thay đổi chính trị.
(2) BA THỨ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA MÀ CỘNG SẢN... - Chân Trời Mới Media | Facebook
Bài Thơ Cảm Tạ - Sương Lam
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Đến Phật,
Trời ban hồng phúc thiện duyên
Giúp cho
tôi, hiểu nghiệp quả nhân duyên
Nhận ân
nghĩa, phải tri ân đền đáp
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Đến Cha Mẹ
tôi, hai đấng sinh thành
Dưỡng nuôi
tôi, bé nhỏ đến thành danh
Chưa đền
đáp, Mẹ Cha đà khuất bóng!
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Thầy cô dạy
tôi hai chữ nghĩa ân
Truyền cho
tôi những kiến thức thiết cần
Cho đời sống
tôi thăng hoa tốt đẹp
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Đến bạn
bè, thiện tri thức, thiện nhân
Giúp đỡ
tôi những giây phút tôi cần
Chia sẻ
cùng tôi vui buồn cuộc sống
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Đến những
người vì Tổ Quốc hy sinh
Để cho tôi
có cuộc sống an bình
Nơi xứ lạ,
trong Tự Do, Hạnh Phúc
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Đến người
dân nơi tôi sống tạm dung
Mở rộng
vòng tay, để tôi được sống cùng
Trong hạnh
phúc, trong tự do, nhân bản
Và sau hết
tôi đây xin cảm tạ
Đến người
thân gia đình bé nhỏ của tôi
Xẻ chia với
tôi ấm lạnh cuộc đời
Tôi vui khổ,
họ cùng tôi vui khổ
Sương Lam
(Trích
trong tập thơ Đời Sống Quanh Ta của SL)
Tàn Lụn Ước Mơ - Thanh Hà
Hằng năm cứ
mỗi lần lật tờ lịch đến tháng Tư là lòng tôi lại dâng lên nỗi bồi hồi tiếc nhớ.
Tuy thời gian trôi qua nửa thế kỷ, nhưng những ngày đau thương đen tối ấy vẫn
còn hằn trong ký ức tôi vết sẹo đậm sâu. Tôi nhớ rõ ràng các diễn biến như thể
mới xảy ra hôm qua hôm kia vậy.
Khi miền Nam bị rơi vào tay Cộng Sản ngày 30 tháng tư năm 1975 thì mọi sinh hoạt, nếp sống gia đình tôi bị thay đổi, xáo trộn hoàn toàn. Chị em tôi thu dọn sách vở hành lý về quê Kiên Giang với tâm trạng buồn rầu nuối tiếc sự học dở dang vì biết sẽ không bao giờ còn được trở lại giảng đường nữa. Từ nay cánh cửa trường học nào cũng đều vĩnh viễn khép lại với mình rồi.
Nhớ
biết mấy những buổi sáng hăm hở đến trường, háo hức chờ nghe giáo sư giảng các
bài học triết, văn chương Việt Nam, Anh văn, Pháp văn. Bài học vở lòng tiếng
Hán sao mà khó nhớ- mẫu tự như vẽ, rối rắm ngoằn ngoẻo. Nơi đó tôi gặp gỡ bao
nhiêu sinh viên nam nữ từ khắp miền đất nước – vĩ tuyến 17 trở vào–, quen với
nhiều anh, chị, bạn khả ái thân thiện, nay mỗi người mỗi ngả, nghe buồn ngẩn
ngơ. Lâu lắc gì cho cam, chỉ cách đây dăm hôm thôi mà tôi tưởng chừng nhiều
tháng đã trôi qua bởi bao nhiêu biến cố xảy đến.
Xã
hội thay đổi, kéo theo cuộc đời hàng triệu gia đình thay đổi, như từ ánh sáng bạch
nhật bỗng rơi vào màn đêm âm u tăm tối.
Ba
tôi vào trại tù cải tạo, má chuẩn bị túi đồ gồm vài bộ quần áo, khăn tắm, bàn
chải kem đánh răng, ít tiền mặt…cho ba mang theo–mà theo lời dụ dỗ của Uỷ ban
Quân quản Cách mạng lâm thời chi đó (tôi chỉ nhớ lờ mờ cái tên, cũng chẳng buồn
nhớ chi cho mệt óc) “học tập tư tưởng cách mạng” vài hôm thôi. Cái vài-hôm đó
biến thành sáu năm khổ sai nơi vùng U Minh Thượng muỗi bu từng đàn, đĩa vắt nổi
lều bều dưới kinh rạch.
Thật
may mắn phúc đức cho ai đã vượt thoát trước ngày 30.04.1975 năm ấy.
Hai
chữ “phải như” cứ đeo bám dai dẳng trong tâm trí tôi nhiều năm sau vẫn chưa bứt
rời ra được.
Phải
như hai người chị và em tôi kẹt ở Saigon thu xếp về kịp trước ngày 30 tháng Tư.
Phải
như ông bà ngoại chịu rời quê hương.
Phải
như chúng tôi ai đi được thì đi, đừng bịn rịn nắm níu tình cảm người đi kẻ ở,
quan niệm sống cùng sống, chết cùng chết bên nhau.
Phải
như tôi có can đảm ra đi một mình.
Bởi
sau ngày 30 tháng Tư chiến hạm Mỹ vẫn còn thả neo thêm vài hôm nữa gần đảo Phú
Quốc…chờ đón các người chạy nạn xuống đò nhỏ ra (một người cậu họ đi lính ngoài
đảo Phú Quốc về nhà kể lại). Lúc ấy việc ra đi quá dễ dàng đối với gia đình
tôi. Các chú cùng Ty với ba tụ họp lại nhà tôi, chờ ba quyết định nếu ra đi họ
sẽ cùng đi theo. Thế mà gia đình tôi bỏ lỡ cơ hội, bởi không muốn cảnh chia
lìa.
Má
xếp vào tủ những chiếc áo dài thướt tha, những bộ quần áo mặc thường ngày bằng
tơ lụa thanh lịch màu trắng tinh, trắng sữa, trắng kem, trắng phơn phớt hồng…thay
vào chiếc áo bà ba trắng, cái quần satin đen hiếm hoi. Má cấp tốc may thêm cho
mấy mẹ con mỗi người hai bộ áo bà ba quần đen cho hợp thời thế.
Hằng
đêm má trằn trọc khó dỗ giấc ngủ. Chỉ chừng một năm ai gặp lại đều giật mình thấy
má già hơn cả chục tuổi, tóc vốn uốn lượn sóng nay nuôi cho dài, cột túm gọn lại,
chờ đủ dài thì bới búi cao như tóc của bà ngoại, xuất hiện nhiều sợi bạc. Không
héo tàn sao được. Chồng tù khổ sai nơi rừng thiêng nước độc không hẹn ngày về.
Nghĩ xa hơn: có khi nào họ sưu tra tiểu sử ông nội thành phần địa chủ từng bị kết
tội Việt gian và xử tử 24 năm về trước (1951) rồi chồng chất tội ba tôi nặng
thêm không. Chưa kể là chú ba-em kế của ba- cũng bị bắt đi tù, tội tư sản mại bản,
bị chiếm hết tài sản, nhà cửa, đày ải vợ con xuống vùng kinh tế mới cũng ở tận
U Minh xa lắc lơ.
Tôi
nhớ hoài lời ba má thường khuyên bảo chị em tôi:
–Gia
tài ba má để lại cho các con không phải là tiền bạc, mà là cố gắng cho các con
học hành để mai sau các con gom góp kiến thức tự lập nuôi thân. Ngày nào các
con thành đạt nên người, coi như các con trả ơn cho ba má vậy.
Thế mà giờ đây cánh cửa học đường mở vào tương lai đã
đóng với chị em tôi. Ngoại trừ cô em út 9 tuổi còn được tiếp tục đến trường, cậu
em 16 tuổi theo học thêm vài tháng rồi cũng nghỉ vì quá chán ngán với những buổi
ngồi nghe giảng chính trị và nghe chửi bới miệt thị các gia đình “nguỵ
quân, nguỵ quyền” mà ba tôi là một trong hai thành phần họ đem
ra nhục mạ ấy.
Hỏi
lòng người mẹ nào mà không đớn đau thương xót khi nghĩ về ngày mai đen tối của
các con tuổi mười sáu đôi mươi khi trái mộng đời vừa chớm nụ chưa kịp nở đã héo
non?
Rồi
làm gì để sống đây? Đàn con sáu đứa, lúc trước trừ chị hai có việc làm thư ký,
độc thân tiền lương lãnh về bao nhiêu đưa hết cho má thì 5 người còn lại đều
trong tuổi ăn học chưa bao giờ lao động nhọc nhằn, trong đó 3 đứa đi học ở
Saigon tốn kém biết bao nhiêu. Ba tôi tuy giữ chức vụ trọng yếu trong Ty Thông
Tin tỉnh, với đồng lương căn bản nếu không nhờ lúa gạo của ông bà ngoại và má
giỏi may vá lãnh hàng từ láng giềng phụ thêm, xoay xở mới vừa đủ. Huống chi giờ
đây hai đầu lương của ba và chị hai bị cắt, việc may vá của má không nhiều như
xưa nữa.
May
là bồ lúa của ngoại còn đủ ăn cho đến mùa gặt tới. Giàn bí, bầu, khổ qua, dưa
leo trong vườn rau luống cải ngoại gieo trồng tươi tốt. Rau muống, rau ngổ,
bông súng mọc tràn lan ngoài đồng, kênh rạch. Các loại cá lóc, rô, trê, sặt
trong ao dưới mương ruộng không thiếu. Miếng ăn tạm thời chưa nguy cấp.
Gia đình chúng tôi thuộc thành phần bị hất hủi của chế độ.
Trước đó tôi có đọc các tác phẩm của nhà văn Nga đoạt giải Nobel Alexandre
Solzhenitsyn như Tầng Đầu Địa Ngục, Một
Ngày Trong Đời Ivan Denisovitch”, về câu chuyện của người tù dưới
thời CS Sô Viết. Do viết quyển sách như trên mà ông phải sống đời lưu vong 20
năm ở châu Âu, rồi Mỹ. Khi Liên Sô sụp đổ năm 1994 ông trở về cố quốc và qua đời
vào năm 2008.
Lúc
đọc hai câu chuyện ấy tôi bị ám ảnh sâu sắc, tưởng chỉ xảy ra ở một đất nước xa
xôi từ thuở tôi chưa ra đời, đâu ngờ lịch sử đen tối lập lại chính xác trên quê
hương mình, mà ba tôi là một trong hàng vạn Ivan Denisovitch.
Tỉnh
thành lập đoàn sinh viên học sinh – gom tụ các”ưu tú tương lai” lại. Có khoảng
hơn trăm người gia nhập, chia ra nhiều toán, mỗi toán hơn chục người với nhiệm
vụ đi gom rác rưởi ở chợ, móc ống cống đường mương bị nghẹt, phát nhổ cỏ công
viên…Chọn những sinh viên nào năng nổ nhất, lập nhiều thành tích nhất làm chỉ
huy.
Sáng sáng chúng tôi tụ họp ở địa điểm định sẵn, chờ “được” phân công toán nào đi những đâu.
Những
sinh viên học sinh khờ khạo ngây thơ gia đình có liên quan với chế độ VNCH
(trong đó có tôi) vẫn còn nuôi chút hy vọng khi nào trường mở cửa sẽ được tiếp
tục đi học lại nên chịu khó tham gia, túa ra nhiều ngả theo sự phân công dùng
cuốc xẻng dao hoặc tay không, hì hục hăng hái “lao động là vinh quang”, chỉ tạm
dừng chạy về nhà cách 7 km ăn trưa, 2g ra làm tiếp cho đến chiều.
Trưởng,
phó đoàn không ai xa lạ, từng có mối giao hảo rất thân thiết với chị em tôi. Đó
là những người trong ban chấp hành hội Ái Hữu SVHS tỉnh Kiên Giang. Chúng tôi học
ở các trường đại học Saigon khác nhau nhưng thường xuyên gặp trong các lần bầu
bình chọn Ban Chấp Hành kêu gọi chị em tôi dồn phiếu cho họ, các buổi văn nghệ
gây quỹ Cây Mùa Xuân, cắm trại ngoài trời Lái Thiêu, Bình Dương, hoặc hẹn đến
nhà trọ nấu chè, ăn cơm chiên rau muống xào tỏi…rất đơn giản mà thân tình.
Bây
giờ gặp lại, họ làm ngơ như thể chưa từng quen biết không cả một lời chào, một
cái gật đầu. Thật không hiểu nổi. Có lẽ họ thấy gia đình tôi thuộc thành phần
không được chào đón ở chế độ mới nên xa lánh cho khỏi liên luỵ.
Chị
em tôi tham gia được vài tuần thì ngưng. Ý thức chế độ mới nầy chẳng bao giờ chấp
nhận cho chúng tôi tiếp tục học. Tìm việc làm nuôi thân là thực tế hơn.
Từ
nhỏ đến giờ ngoài chị hai đã đi làm thì 5 chị em trở xuống có làm ra một đồng
xu cắc bạc nào ngoại trừ phụ quét nhà nấu cơm giặt quần áo.
Phần
lớn nhân viên công chức cũ bị sa thải, thiếu người trầm trọng nên họ tuyển dụng
người mới thay thế vào các ngành ngân hàng, giáo viên cấp I, y tá, thương mại…
trình độ học không quan trọng miễn thuộc thành phần không dính líu với chế độ
cũ…tôi thử nộp đơn xin việc với rất ít hy vọng được nhận.
Đơn xin việc phải kèm tờ khai lý lịch, mang cho trưởng
khóm và công an phường chứng. Ông trưởng khóm vốn xuất
thân nông dân rặt, bốn mùa đi chân đất, răng bám vàng nhựa thuốc, khăn ca-rô bằng
len choàng quanh cổ làm dáng dù trời nắng nóng đổ lửa, chữ viết ngoằn ngoèo chứng
vào tờ đơn tôi đại khái: “chứng nhận đương sự tên…ngụ tại địa chỉ…có
cha là công chức nguỵ đang đi cải tạo”.
Đến công an phường, tên đồn trưởng viết: “chứng
nhận lời trưởng khóm viết đúng sự thật” và đóng mộc. Thử hỏi với
lời chứng lý lịch như thế thì trường học hay cơ quan nào dám nhận tôi vào làm
việc. Thời gian sau, tôi tự “tụt hạng” cầm đơn xin chân bán hàng tạp hoá cho Hợp
tác xã. Bị từ chối. Lại tụt xuống nấc thang xã hội thấp nhất là công nhân
khiêng vác gạch, cát, đá cho công trường xây cất. Cũng bị từ chối nốt.
Tôi
đau khổ tuyệt vọng vì không thể tự lo bản thân nhẹ bớt phần nào gánh nặng gia
đình, tìm an ủi bằng cách chúi đầu vào sách để tạm quên thực tại. Những quyển
sách văn học, lịch sử, chính trị…bất luận loại nào được tôi nghiền ngẫm đến độ
có quyển tôi thuộc lòng từng chương đoạn. Nhìn các sách chương trình Luật (của
chị ba), Văn(của tôi) giá trị đúc kết từ tâm huyết, tri thức lỗi lạc của các
giáo sư, học giả dành cho hậu sinh, tôi từng thức nhiều đêm gạo bài chuẩn bị
cho kỳ thi cuối năm mà thẫn thờ chua xót.
Nỗi
đau tiếp nối nỗi đau chưa chấm dứt. Tìm quên trong thú đọc sách thêm thời gian
không lâu thì họ phát động phong trào “tiêu huỷ đốt sách văn hoá phẩm đồi truỵ
của tàn dư Mỹ Nguỵ”.Đây mới thực sự là cú giáng chí mạng đối với những người
đam mê sách vở văn chương đây.
+ Một cảnh đốt sách vào tháng 5 năm 1975 ở Sài
Gòn. Ảnh internet.
Ngày
xưa vua Tần Thuỷ Hoàng muốn tiêu diệt những trí thức không cùng chính kiến đã
ra lệnh đốt hết sách vở cũ và chôn học trò. Bây giờ họ không cần chôn sống học
trò, mà chỉ cần tẩy não biến chúng tôi thành lũ cừu không được có tư duy chính
kiến riêng, mà phải hành động phát ngôn rập khuôn theo những gì họ muốn. Họ huỷ
diệt nền văn hoá, di sản tinh thần quí giá của tiền nhân để lại, bóp chết bao ước
vọng hoài bão cao đẹp, tương lai hàng triệu học sinh trên dãy giang sơn hiền
hoà no ấm yêu tự do thanh bình.
Chúng
tôi lôi hết những gì tượng trưng cho “chữ nghĩa” được in bằng giấy đầy ắp các tủ
đem chất thành đống to tướng: Từ những truyện thiếu nhi, tập học của chị em tôi
từ lớp vỡ lòng vẫn còn lưu giữ, những quyển truyện có từ thời ba má còn trẻ,
sách chính trị, tôn giáo, lịch sử, văn học cổ điển Tây phương, Đông phương,
sách nghiên cứu, sách khoa học cho đến những tuần san, nguyệt san, nhật báo, tiểu
thuyết, truyện thiếu nhi, những băng dĩa, nhạc giá trị…
Bình
thường chúng tôi nấu ăn bằng réchaud dầu. Giờ thỉnh thoảng mới mua được dầu – với
lại phải tiết kiệm tiền – nên nấu xen kẽ bằng mạt cưa, các lá dừa, tàu dừa chặt
nhỏ phơi khô lẫn với củi tràm. Nay “nhờ” có thêm đống sách báo, chúng tôi kê ba
viên gạch làm bếp dã chiến nấu cơm phải vài tuần mới hết đống giấy.
Vừa
liên tay xé mỗi lần vài trang sách, cuộn tròn đút vào bếp vừa nhìn ngọn lửa liếm
dần từng trang chữ mà lòng quặn đau, tiếc hận. Kéo vạt áo lên chùi nước mắt nhạt
nhoà bởi khóc và bởi khói cay, thầm nghĩ::
–Mình
tự đốt tương lai lụi tàn theo đống lửa nầy đây.
Nhưng
chúng tôi vẫn tìm cách lưu giữ được vài chục quyển sách quí hiếm bằng cách bọc
vài lớp plastic bên ngoài, rồi đặt vào hai thùng đạn đại liên mà thời quân chủng
bộ binh còn đến đóng căn cứ tạm để đi hành quân các vùng phụ cận, các chú mang
về tặng gia đình tôi tuỳ nghi xử dụng.
Chúng
tôi sống trong căn nhà chung vách với nhà ông bà ngoại. Ông ngoại tôi gốc dân
Cao Lãnh nơi mỗi năm thường bị lụt vài tháng nên mọi người đều cất nhà sàn
tránh nước ngập. Ông cưới bà ngoại, lập nghiệp bên vợ nhưng vẫn cất nhà theo kiểu
quê ông. Sàn cao hơn thước, chị em tôi định chôn hai thùng sách dưới sàn nhà.
Bà ngoại thương đàn cháu ham mê sách vở nên chịu khó chui xuống gầm, hì hụt cặm
cụi đào cái hố nhỏ vừa đủ lọt hai thùng sách. Xong lấp đất lại bằng phẳng,
không ai lần ra dấu vết. Lúc làm việc này hàng xóm không thể thấy vì căn nhà thứ
hai của chúng tôi che chắn mọi ánh mắt tò mò.
Nhưng
tôi vẫn giữ bên mình tập thơ chép tay sưu tầm các bài thơ hay của nhiều thi sĩ
từ thời tiền chiến đến cận đại. Tôi thường đem quyển thơ ra nằm đu đưa trên chiếc
võng mắc ngoài hàng hiên nhà sàn đọc tới đọc lui các vần thơ thanh tao lãng mạn
mượt mà hòng chạy trốn hoàn cảnh thực tế trần trụi chốc lát.
Một
buổi trưa tôi đang đắm hồn vào cõi mộng qua những lời thơ trữ tình:
*Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Mắt xanh là bóng dừa hoang dại
Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng
(Mộng dưới hoa, thơ Đinh Hùng)
*Mai tôi ra đi chắc trời mưa
Tôi chắc trời mưa mau
Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội
Nhưng chậm thế nào thì cũng phải xa nhau
(Paris, thơ Nguyên Sa)
Tôi
đang còn ngẩn ngơ với 4 câu thơ của Wolfgang Goethe được Đan Chinh phỏng dịch một
cách thần sầu, bởi nó đánh trúng vào tâm trạng tôi hiện tại:
Anh là vĩnh phúc trên đường về hư mất
Lúc đời sống còn độc hơn cả chính cơn đau
Và cái đẹp phát sinh từ ngỗ nghịch
Chính là điều cuốn ta lại gần nhau
Thì
một giọng nói thô thiển đàn ông sát bên tai khiến tôi giật nẩy mình vì bất ngờ:
–Ê
con nhỏ đọc cái gì đó, đưa đây tao coi.
Nhìn
lên, là cậu ba Tòng đứng cạnh võng hồi nào tôi chả hay.
Cậu
là người hàng xóm. Gốc ngoại ô Saigon- Hóc Môn, Bà Điểm chi đó – làm công cho
chủ ghe chài thu mua gạo từ Rạch Giá chở lên Saigon, thường neo ghe dưới bến
nhà bà cô hai bán tạp hoá cách nhà tôi vài căn. Ông bà nói “có tật có tài” có lẽ
đúng với cậu Tòng. Cậu vốn nhỏ con cao chừng 1,4m-1,5m cánh tay ngắn ngủn không
đồng thanh đồng thủ với thân hình nên được hoãn quân dịch. Không biết cậu có bí
quyết gì thuyết phục được bà cô hai đem con gái lớn 16 tuổi tên Hương gả cho cậu
30 tuổi mà dưới mắt lũ trẻ nít chúng tôi thì với tuổi ấy tức “già” rồi. Cô
Hương tuy là gái quê nhưng khá xinh, tóc dài tận eo dợn sóng, mắt sáng long
lanh. Chắc bà cô sợ cô Hương lấy chồng quân nhân dễ nguy cơ trở thành “goá phụ
ngây thơ” nên gả cô cho cậu Tòng để yên tâm chứ gì.
Cưới
được vợ cậu bỏ nghề sông nước lên bờ sắm xe lam chạy chở khách. Cậu và nhà mẹ vợ
có mối giao hảo tốt đẹp với gia đình tôi. Tối tối xong công việc chạy xe, cậu
hay tới nhà uống trà kể chuyện nầy chuyện nọ với ba má, có vẻ am hiểu các vấn đề
thời sự.
Sau ngày mất miền Nam, cậu Tòng bỏ chạy xe lam, gia nhập
nhóm “ba mươi tháng Tư” hoạt động hăng say ngày ngày cầm cuốn sổ lớn
đi từng nhà kêu họp hành, hoặc kiểm kê dân số, và gì đó nữa. Thái độ bỗng nhiên
thay đổi nghênh ngang, xử dụng các danh từ rối rắm tối nghĩa của chế độ mới.
Chúng tôi ngạc nhiên không biết cậu học ở đâu mà lẹ thế.
Cùng với cậu Tòng, một số người trong xóm trước kia vốn
khiêm tốn hiền hoà gần như không ai để ý, sau đận “đổi đời” nhảy ra làm việc
cho chế độ mới với lòng nhiệt thành hăng say, được gọi là “những kẻ
cơ hội 30 tháng Tư” chẳng hạn ông trưởng khóm vốn là nông dân
nói trên. Hai phụ nữ: một làm nghề bánh tráng, một buôn bán vặt được đưa vào hội
Phụ Nữ. Một thanh niên khiêng vác nước đá – vẫn tiếp tục nghề vác nước đá – được
giao nhiệm vụ giữ trật tự đường phố mỗi khi có lễ lạc, đeo băng đỏ trên cánh
tay tưởng mình quan trọng hách xì xằng, nói năng xấc láo với chòm xóm. Đáng ngạc
nhiên có hai người bạn thời trung học của tôi cũng “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”
hăng hái phục vụ không lương một thời gian khá dài cho đến lúc bị vắt chanh bỏ
vỏ.
Tôi
đưa quyển thơ cho cậu. Ông cầm lên đọc, lật tới lật lui mấy trang sách hồi lâu
rồi hỏi:
–Mấy
cái vớ vẩn nầy mày chép ở đâu vậy?
Tôi
trả lời đại:–Thầy dạy môn Quốc văn dạy tụi con ở trường.
–Toàn
thơ văn uỷ mị đầu độc sặc mùi của bọn tiểu tư sản. Mầy đem đốt liền không được
để tao thấy nữa nghe chưa.
Ngày
trước cậu Tòng xưng hô “cậu cháu” chứ không “mầy tao” như bây giờ.
Chỉ
còn mỗi tập thơ là nguồn an ủi thế mà ông cũng truy cùng đuổi tận. Nhớ hồi trước
ông hay đến chơi nói chuyện rất tình cảm với ba má tôi, thế mà giờ đây giở giọng…
Uất ức quá tôi cãi:
–Sao
gọi là uỷ mị? Đó là những bài thơ diễn tả tình yêu giữa con người với con người,
ngoại trừ gỗ đá mới không có tình cảm, trái tim. Vậy cậu dành tình yêu thương
cho gia đình, cho cô Hương và con cái của cậu cũng là uỷ mị tiểu tư sản đó hả?
Mà tiểu tư sản thì có gì là xấu, cậu cắt nghĩa con nghe đi.
Nghe
tôi nói mạnh, ông ngẩng phắt đầu trừng mắt nhìn tôi, mở miệng định nạt gì đó.
Tôi cũng nhìn thẳng vào mắt ông không chớp. Thừa biết ông chẳng biết chút gì về
văn thơ, tôi bồi thêm:
–Hơn
nữa cậu có biết ai là tác giả mấy bài thơ cậu đang lên án nầy không vậy?
Mặt
ông đổi màu, đầu tiên từ xanh vì ngượng sang đỏ gay vì tức:
–Mầy
đừng hỏi đố tao. Có muốn đi dọn rác quét đường phố vài tuần lễ không?
Tôi
loè:
–Con
nói gì bậy mà cậu hăm doạ con. Cho cậu biết những bài thơ mà cậu chê uỷ mị đây
là của các ông thi sĩ hiện nay đang giữ chức vụ rất cao ở trung ương, là bộ trưởng
thứ trưởng lần lượt các bộ Kinh tế, Văn hoá và gì gì đó nữa. Có người là đại biểu
quốc hội, chủ tịch hội nhà văn v..v.. chớ không phải thơ của “Mỹ Nguỵ” vớ vẩn
như cậu chê nhé. Cậu dám phê bình thơ nếu mà tới tai mấy ổng thì cậu sẽ bị lôi
thôi đó. Không tin cậu cứ đi hỏi thì sẽ biết.
Tiếp
theo tôi nêu một loạt tên các ông thi sĩ HC, XD, LTL..kèm thêm vài đoạn thơ. Tất
nhiên không nói các bài thơ nầy được họ sáng tác thời tiền chiến trước 1954.
“Nắng chia nửa bãi chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu…”, HC
”Em không nghe mùa thu
Dưới trăng vàng thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ…” LTL
Biết
nếu càng nói thì càng lộ cái sự không-biết-gì của mình, định trấn áp tôi ai ngờ
bị tôi hù doạ ngược. Cuối cùng ông hạ giọng, nhưng cố vớt vát để cứu thể diện:
–Mầy
đem cất quyển tập thơ từ nay không được đọc trước mặt người khác nghe chưa. Bây
giờ tao giao cho mầy công việc nầy nè, là hai chị em mầy đi từ nhà kiểm kê nhân
số, hỏi tên tuổi từng người, nơi sanh, tình trạng gia đình, học lực, nghề nghiệp…rồi
điền vào các mẫu có sẵn đây.
Không
lâu sau, chả biết vì lý do gì cậu Tòng bị vào tù. Khi được thả ông âm thầm lẳng
lặng bán nhà đưa vợ con đi đâu mất tiêu không một lời giã biệt xóm làng.
Hết
chiến dịch đốt sách thì bắt đầu chiến dịch gởi giấy kêu gia đình nào có trai
gái từ 18 tuổi trở lên đi làm thuỷ lợi nhiều ngày, tức đào kênh rạch ở những
vùng xa xôi hẻo lánh, không điện, nước mặn, muỗi đĩa dầy đặc.
Ông
bà ngoại tôi vốn sở hữu vài mẫu đất ruộng. Lúc đầu chưa bị xung vào hợp tác xã
nên ngoại vẫn tiếp tục ra đồng dù ông đã 73 tuổi, bà 67 tuổi.
Nhà
tôi cả đàn 4 cô gái tuổi xuân thì không có việc làm, nay mai chắc chắn họ sẽ gọi
đi nên ông bà ngoại thương cháu gom cây, lá dừa nước vào cất cái chòi nhỏ 2×2 m
trên bờ đê ngay thửa ruộng cách nhà hơn một cây số cho mấy chị em tôi đóng giả
đi làm đồng áng hầu đánh lạc hướng để họ đừng bắt đi đào kênh nơi vùng hoang vu
hiểm độc.
Ruộng
nhà tôi nằm lọt thỏm giữa cánh đồng bao la, bao bọc chung quanh bởi các mảnh ruộng
của nông dân khác. Lúa đã cấy xong, nên không ai ra đồng, chúng tôi tránh được
các cặp mắt soi mói theo dõi.
Thế là sáng sáng, tôi mặc cái áo bà ba bằng vải thâm nâu,
cái quần nhuộm phai màu, đen không ra đen, vàng úa không ra vàng úa bằng chất
liệu rất xấu. Giặt nhiều lần bị rút, lai quần cuốn nhăn nhúm cao lửng lơ khỏi mắt
cá chân. Nhìn bộ vận của mình tôi cũng phải bật cười nhớ có lần nghe mấy ông bộ
đội miền Bắc trẻ kể chuyện mấy cô thôn nữ ngoài quê của họ mỗi năm được cấp mỗi
người chỉ 2 m vải may y phục nên buộc lòng phải mặc cái quần “nơ nửng”(lơ lửng)
cái áo đợi chờ”
Họ
cũng văn hoa chữ nghĩa phết đó chớ.
Chúng tôi theo bà ngoại khệ nệ xách giỏ đan bằng lác y hệt
các “lữ lông dân”(nữ nông dân) ra đồng vậy,
đâu ai biết bên trong giỏ đựng ngoài món ăn vật chất còn có món ăn tinh thần mà
nếu bắt gặp sẽ bị gán cho cái danh tiểu tư sản thật sự đây !!!
Gồm
khoai lang, nước uống, 1 cái mền và quyển truyện.
Thời
may nhà sách quốc doanh có bán vài quyển văn học giá trị in trên loại giấy vàng
xấu như Những Người Khốn Khổ của Victor Hugo, truyện ngắn của Anton Chekhov,
Chiến Tranh Và Hoà Bình của Léon Tolstoi…nên tôi cũng thoả cơn khát chữ phần
nào. Bà ngoại cưng cháu sợ buồn miệng và đói thức sớm luộc khoai lang dương ngọc,
bắp mang theo. Cái mền mỏng là của em gái thứ năm vì em có thói quen từ nhỏ hể
nằm là đắp hai chân dù trời nóng hay lạnh. Ra ruộng, trời còn mát mẻ chúng tôi
cùng bà ngoại xắn quần lên khỏi gối lội xuống nước, lom khom bứt cỏ năng mọc lẫn
lộn với mạ non. Chốc chốc lại co chân lên xem có đĩa hay vắt bám vào không. Ngoại
dạy cách phân biệt hai loại kẻo bứt nhầm mạ vì cả hai có lá tương tự.
Nắng
lên cao, hơi nóng từ mặt nước toả hầm hập. Ngoại kêu thôi các con vào lều nghỉ
đi đừng làm nữa, nắng táp đen da hết.
Trời
ơi viết đến đây mà tôi ứa nước mắt nghĩ đến tình thương của ngoại dành cho đàn
cháu bao la trời biển, chúng tôi chưa báo hiếu được ngày nào thì ông bà ngoại
đã ra người thiên cổ !!!
Cho
nên tiếng là đi làm ruộng, thực ra phần lớn thời gian chúng tôi chỉ nằm trong
chòi đắp mền đọc sách, ăn bắp, khoai lang luộc. Em gái năm có giọng ca truyền cảm
trời phú. Từ chiếc chòi lá giữa cánh đồng mạ non vọng lên tiếng em hát hoà lẫn
tiếng gió nhè nhẹ thổi dưới bầu trời xanh xen từng cụm mây trắng tạo những hình
thù thú vị biến đổi không ngừng nghe thấm thía từng ý nghĩa câu chữ:
*Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn
Nước tuôn trên đồng vuông vắn
Lúa thơm cho đủ hai mùa
Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê
(Tình hoài hương, nhạc Phạm Duy)
*Saigon ơi tôi đã mất người trong cuộc đời
Saigon ơi thôi đã hết thời gian tuyệt vời
Giờ còn đây những kỷ niệm sống trong tôi
Những nụ cười nát trên môi
Những giọt lệ ôi sầu đắng…
(Saigon ơi vĩnh biệt, nhạc Nam Lộc)
Đến
trưa má kêu cậu em trai 15 tuổi lội nước đem cơm vào. Xế chiều nhẩn nha thu dọn
đồ đạc trở về nhà, lội qua mấy cánh đồng ngập nước mà cứ hồi hộp sợ đĩa vắt bám
hút máu.
Qua
đợt Cộng Sản gọi đi làm thuỷ lợi, chị em tôi không đi ruộng nữa. Tiếp gia đình
đâu không thấy chỉ thấy báo hại thêm, khiến ngoại phải thức sớm luộc khoai, bắp,
theo bảo vệ chăm sóc chúng tôi cả ngày ngoài đồng. Đã vậy còn bắt thằng em đến
giờ trưa mang cơm ra cho các chị, nó chưa cằn nhằn là may. Thêm đùn việc nấu
cơm giặt quần áo quét nhà cho má, hai chị lớn nữa.
Đến
khi lúa chín ngoại thuê thêm vài người thợ gặt lúa, đập lúa, chuyên chở lúa bằng
xuồng từ ruộng theo giòng kênh nhỏ về nhà.
Lần
nầy tôi phụ giũ rơm, làm-ruộng-thật-sự chứ không làm tài tử che mắt thiên hạ.
Thời ấy việc đồng áng toàn bằng sức người. Muốn thu hoạch hạt lúa, gọi là đập
lúa phải nhờ các thanh niên trẻ khoẻ mạnh, thường là người Cam Bốt ngụ xóm trên
mới cáng đáng nổi. Đây là công đoạn nhọc nhằn nhất. Những cọng lúa trĩu hạt được
cắt gần gốc đem cột lại thành những bó tròn nặng đường kính 3 tấc.
Thợ
đập quấn vòng quanh bó lúa bằng chiếc néo (?) đan bằng cọng mây (hay lác?) Đó
là một dụng cụ đặc biệt nhưng đơn giản mà tôi không biết tả sao cho dễ hiểu, thợ
dùng cả hai cánh tay giữ chặt, giơ bó lúa lên cao lấy sức lẫn thế đập mạnh xuống
tấm ván dầy cả tấc hình chữ nhật dài độ 1,2 m, chiều ngang 0,6 m kê nghiêng góc
45 độ cho hạt lúa tuôn xuống cái đệm cói lót sẵn để hứng. Người thợ lập đi lập
lại động tác đập bó lúa xuống tấm ván nhiều lần cho đến khi văng hết hạt thì quẳng
ra một bên, lấy bó khác đập tiếp. Bó lúa “bị đánh vùi dập tả tơi” trở thành bó
rơm nhẹ tênh. Đến phiên tôi nhặt từng bó rơm, mở dây cột, giũ tiếp cho các hạt
còn dính sót ở giữa rơi hết hẳn.
Các
hạt lúa rơi cận rìa tấm đệm được ông bà ngoại quét gom lại, xúc vào thúng để đổ
vô bao bố loại 50 ký, chất lên chiếc xuồng được hai thanh niên dùng sào chống
xuồng xuôi theo con rạch nhỏ đem vào nhà.
Động
tác khom lưng cúi xuống nhặt bó rơm, đứng thẳng lên dùng hai cánh tay giũ hết lực
như có thể, quẳng bó rơm ra xa…được tôi lập đi lập lại từ sáng đến chiều hàng
ngàn lần liên tiếp cho hết số lúa gặt trên mấy mẫu ruộng. Trời nắng hừng hực,
tôi đội nón lá, mái tóc nửa lưng được cột lại gọn gàng. Vì không quen che mặt
nên khi mặt trời ngả dần về tây, đống rơm cao vút hình thành một ngọn đồi cao
5,6 mét thì hai má tôi đỏ au nóng bừng thân thể rã rời, lưng áo ướt đẫm, hai
cánh tay mỏi nhừ nhấc hết lên. Tôi cố gắng chịu đựng không dám than thở. Nghĩ
thầm: Ông bà ngoại tuổi cao mà còn làm lụng vất vả quanh năm không một lời nề
hà kêu ca, còn tôi chỉ làm chưa đầy một ngày có thấm vào đâu so với hai người.
Càng nghĩ càng thương ông bà ngoại vô biên, công ơn phụ ba má nuôi dưỡng chị em
chúng tôi như trời biển đời nầy không còn dịp trả rồi.
Một
trong các anh người Cam Bốt đập lúa, hẳn quan sát tôi tự sáng giờ lên tiếng:
–Trời
ơi cô ơi nghề làm ruộng nhọc nhằn cực khổ lắm sức cô làm không nổi đâu. Nên kiếm
nghề gì ở văn phòng làm cho nhẹ nhàng chứ tui thấy cô làm sáng giờ mệt tội cô
quá trời.
Tôi
chỉ cười nhẹ, nói thầm trong lòng:
–Anh
ơi, giá mà tôi có quyền chọn lựa tương lai cho mình!!!
Lúa
đem về nhà phơi thật khô đổ vào bồ để dành xay ra gạo ăn dần. Tôi chỉ làm nhiệm
vụ giũ rơm chừng 1 hoặc 2 ngày là xong. Còn ông bà ngoại thì quanh năm suốt
tháng, thật ngưỡng phục ngoại quá chừng.
Cuộc
sống không hoài vọng, không tương lai như thế kéo dài được hai năm. Tưởng đã xuống
nấc thang chót của xã hội rồi, ngờ đâu cuối năm 1977 gia đình tôi còn rơi sâu
thêm dưới tầng địa ngục nữa.
Lấy
cớ đánh đuổi tư sản và phản động lần thứ nhì vào năm 1977 (lần nhất vào tháng 9
năm 1975) họ tiếp tục tịch thu nhà cửa dân, đẩy đi kinh tế mới. Sau nầy, theo lời
kể của thím Năm hàng xóm tốt bụng được họ cho (hay ép) làm việc trong hội Phụ Nữ,
nhân cuối năm các ban ngành họp báo cáo là có chỉ thị từ trên ban xuống cho mỗi
địa phương, mỗi phường muốn lập thành tích mừng xuân phải tìm cho ra vài gia
đình tiêu biểu thuộc hai thành phần trên. Gia đình tôi không là tư sản, vậy
đương nhiên là phản động. Nửa đêm gần Giáng sinh, công an bao vây nhà, tràn vô
lục xét mọi ngõ ngách nhét súng vào bồ lúa rồi hô tướng lên là nhà chôn giấu
súng mưu toan chống đối. Bắt mấy má con đi tù, đuổi ông bà ngoại và em gái út
11 tuổi ra cái chòi hoang, chiếm mất hai căn nhà tịch thu toàn bộ tài sản
Cũng
theo thím Năm, công an Rạch Sỏi năm ấy được tuyên dương công trạng và được thưởng
“nhờ” phá tan ổ phản động nguy hiểm, tức 7 mẹ con tôi và đứa cháu 11 tháng con
của chị ba (chồng chị đi làm vắng nhà, sau cũng bị bắt nguội).
Công
an tỉnh sau nhiều lần điều tra xét hỏi chắc nhận ra sự vô lý, thiếu chứng cớ của
việc bắt bớ nầy hay sao mà mấy má con ở tù ba tháng thì được thả về, hơn nữa số
người vượt biên bị bắt đông nhà giam không đủ chỗ chứa. Ra tù, chúng tôi tiếp tục
sống trong căn chòi hoang với ông bà ngoại gần hai năm nữa. Hai căn nhà của
chúng tôi, lúc đầu do công an quận quản lý, năm sau lấy một căn làm trụ sở Công
Nghiệp, căn còn lại làm nơi trú ngụ cho mười mấy nhân viên nam nữ nhà ở xa.
Một
tên con trai vốn chúng tôi từng-tưởng-là-bạn thỉnh thoảng ghé thăm, ra vẻ xót
xa thông cảm cho hoàn cảnh chúng tôi lắm. Vì tin tưởng nên trong lúc trò chuyện
chúng tôi vô tình hớ hênh kể lại việc chôn giấu sách mà không nói chỗ nào. Thế
là hắn lân la kết bạn với những người đang chiếm ngự nhà, phóng đại rằng chúng
tôi có chôn giấu vàng bạc, đề nghị cùng họ đào bới lên chia nhau xài.
Không
biết họ có thử tìm. Diện tích nhà quá rộng, mà đất chỗ chôn giấu sách đã phẳng
lì như nhau làm sao tìm thấy?!
Mười
hai năm sau khi gởi hàng trăm lá đơn đòi nhà thì cuối cùng họ cũng giao trả. Tất
nhiên chỉ còn cái vỏ trống hoác hư hại, nhưng ít ra ông bà ngoại tôi còn được
trở
về chết trên ngôi nhà mà hai người đã xây dựng bằng mồ hôi khổ nhọc. Một trong
những người từng cư ngụ trong nhà chúng tôi kể lại câu chuyện tên con trai đề
nghị với họ tìm nơi chôn cất vàng đào lên chia nhau xài, mới bật ngửa về lòng dạ
con người quả là khó đoán.
Trở
về nhà cũ, chúng tôi không quên hai thùng sách, lúc nầy sức khoẻ bà ngoại đã yếu
nên mấy chị em thay phiên chui dưới sàn nhà tìm đúng chỗ chôn giấu. Hì hục mấy
tiếng đồng hồ mới bứng được hai thùng đạn đại liên lên. Mở nắp lôi các quyển
sách ra, bồi hồi thấy các trang giấy ẩm ướt đã vàng phai màu thời gian, xúc động
như thể tái ngộ người thân yêu bao năm thất lạc !!!
Chúng
tôi phát giác trong số người quen không ít kẻ “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”.
Hôm qua còn đối đãi nhau thân thiết, giờ đụng mặt họ giả vờ xa lạ.
Những kẻ cơ hội mà người đời mỉa mai gọi là “những
tên ba mươi tháng tư” không phải ít. Trong đó có hai người bạn
học chung lớp tôi thời trung học, chẳng hạn.
Khi công an đến chiếm nhà tôi lúc nửa đêm, tống hơn phân
nửa thành viên vào tù, số còn lại bị đuổi ra nhà hoang thì sáng hôm sau, ”đoàn
quân ba mươi tháng Tư” ồ ạt kéo đến tranh giành chia chác đồ đạc
tài sản mà họ cứ trầm trồ nhiều quá chất thành đống không ngờ nổi. Ngoại và
hàng xóm kể lại rằng một chị bạn học của tôi nhà cách 4 căn có chân trong hội
Phụ Nữ cũng góp phần trong đám người hôi của ấy.
Còn người bạn học nam nhà cách 1km lúc ấy xung vào đội an
ninh dân phòng tỏ ra hống hách lớn tiếng nạt nộ mọi người – kể cả với ông bà
ngoại tôi– là: “nội bất xuất, ngoại bất nhập, không ai được
mang bất cứ cái gì dù là cây kim sợi chỉ ra ngoài”.
Ơ
kìa, đó là tài sản của gia đình tôi kia mà!!!
Gia
đình hai bạn nam nữ ấy đều quen biết thâm giao với gia đình tôi từ rất lâu đấy.
Còn
nhiều nữa những thí dụ tương tự.
Số
người đón gió trở cờ ấy không nghênh ngang được lâu. Khi nhận thức câu “vắt
chanh bỏ vỏ” thì cuộc đời họ đã tàn tạ. Cộng sản chỉ lợi dụng hạng người trên
như công cụ, xong việc thì loại bỏ không nương tay. Đa số vào tù vì một cái cớ
nào đó, may mắn thì bị cho về vườn đuổi gà.
Còn
bị sự khinh rẻ chê cười của mọi người chung quanh.
Người
bạn nam nầy sau một thời gian tận tâm tận lực phục vụ không lương cho chế độ mới
– giống như cậu Tòng – cũng được họ “cám ơn” bằng cách cho vào nghỉ dưỡng trong
lao tù một thời gian, tôi không biết vì tội gì.
Chị
bạn bị cho nghỉ việc, may là không đi tù.
Ông
trưởng khóm trở về đời sống một nông dân như cũ, mèo vẫn hoàn mèo.
Thanh Hà
Tàn Lụn Ước Mơ - Thanh Hà CH









