Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Thursday, September 10, 2026
Người Đàn Bà - Nguyễn Hồng Nhung
https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=15324
Cháu Yêu Bà Lắm! - Sỏi Ngọc
Người yêu thưở ban đầu khó quên
Ngày xa em anh càng nhớ thêm
Dù mai đây vật đổi sao dời
Đường tơ đã lỗi cung rồi
Tình yêu một thưở không hề quên
(Niềm đau dĩ vãng- Nguyễn Văn
Đông)
Tiếng hát nho nhỏ của bà nội ở phòng bên cạnh vang lên, bà vừa thay đồ vừa lầm bầm bài hát cho thuộc lời. Tôi biết buổi “party” chiều nay bà sẽ làm ca sĩ, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày cưới của ông Tuấn, bạn thân của gia đình ông bà nội từ bao lâu nay. Bà vừa tìm đôi bông tai trong tủ, vừa ướm thử trong gương xem có hợp với bộ đồ bà mặc không.
Bà nội tuy đã
hơn 60 nhưng trông bà còn trẻ và yêu đời lắm. Bà có nhóm hát thỉnh thoảng gặp
nhau, các ông bà ấy họp lại mỗi người một món ăn đem tới. Hồi xưa nghe kể mọi
người không biết nấu ăn ngon, nhưng nhờ đi chơi gặp nhau, chỉ cho nhau kinh
nghiệm, cách nêm nếm cho ngon hơn mỗi ngày. Ngay cả việc quần áo mọi người cũng
chỉ cách, nếu chật nới ra, rộng bóp lại và thêm những rua, kim tuyến hoặc thêm
vào một loại vải khác… sao cho đẹp mắt, tự làm nhà, không bị tốn nhiều chi phí
ra tiệm. Các ông chồng thật hài lòng vì được ăn ngon, no bụng, ngắm “vợ đẹp”,
nên không còn than thở khi phải bị các bà “tra tấn” lỗ tai vào cuối tuần nữa.
Nghe ba kể lại, rằng ông nội tôi
là một người chồng gia trưởng, rất nghiêm khắc, ít thể hiện tình cảm với vợ,
rất hay quát tháo. Ông không bao giờ nhúng tay vào bếp, thấy bà xách nặng ông
cũng lơ, bắt bà phải nghe theo lệnh của ông từ hồi ở Việt Nam. Thuở ấy ông giữ
chức cao trong xã hội, ra oai với cấp dưới, về nhà cũng đối xử với bà như vậy.
Không biết bà có cảm thấy hạnh phúc không, nhưng từ nể phục bà sợ ông một phép.
Hai người chỉ có với nhau một con trai là ba tôi. Khi ông ở phòng khách thì bà
trốn xuống bếp, khi ông vào phòng ngủ, thì bà chờ ông ngáy to rồi mới dám khe
khẽ vào đặt lưng nằm cạnh.
Từ khi qua Mỹ theo diện HO, vào
những năm 1987-1990, đến xứ người lớn tuổi, không bằng cấp, trên vai một đứa
con nhỏ trong tuổi ăn học, ông bắt buộc phải làm những nghề cùng đinh mà từ xưa
đến nay ông không bao giờ nghĩ tới. Ông xin được chân giữ xe ở mall Phước Lộc
Thọ là cảm thấy mình may mắn lắm rồi. Cả ngày ông phải phơi mình ngoài nắng
nóng như lửa đốt nhất là vào mùa hè, làn da ông đen nhẻm, tóc chuyển sang màu
vàng úa bạc trắng quăn quéo như những sợi râu bắp già hơ trên lửa. Sự kiện đổi
đời “lên xe xuống chó” này làm ông chán nản, tiều tụy, ông thay đổi luôn cả
tính tình, không còn cáu gắt ra oai với bà nữa. Ông có nhiều kiên nhẫn hơn, bắt
đầu đi ra ngoài cùng bà, tuy chả bao giờ nói ngọt hay khen bà vài câu như những
ông chồng khác trong cộng đồng người Việt.
Bà nội không còn được ở nhà nội trợ, chờ đồng lương ông đem về nuôi cả gia đình như xưa nữa. Lúc đó ba tôi còn đang tuổi ăn học, nên bà nội phải kiếm thêm nguồn thu nhập mới đủ chi tiêu. Bà được nhận vào phụ bếp cho một tiệm ăn trên đường Westminster.
Mới đầu vào bà là phụ bếp, sau đó
bà bếp chính nghỉ hai tuần bận việc nhà, bà nội tôi phải kiêm luôn chức bếp
trưởng; tiệm từ xưa đến nay chỉ có món phở, nhưng từ ngày có bà tôi thay vai,
tiệm có nhiều món ngon, lạ của miền Bắc bộ được bán cho khách, tài làm bếp của
bà được nhiều người trong cộng đồng biết đến, tiệm không chỉ đông đúc khách
Việt, mà còn khách Mỹ và Mễ cũng mê mùi phở hầm xương bò đặc biệt của bà, bao
giờ cũng có một hàng dài xếp ngoài cửa.
Một hôm ông nội dắt ba đến ăn đột xuất ở tiệm bà, chỉ là muốn gây cho bà một ngạc nhiên nhỏ, ai ngờ người ngạc nhiên không phải là bà mà chính là ông tôi. Bữa đó ông đón ba đi học về sớm, từ đàng xa mùi phở thơm nức mũi đã dắt ông đến thẳng tiệm phở mà không cần phải nhìn địa chỉ, khi đến tiệm nơi bà làm việc, đã 8 giờ tối mà tiệm còn đầy chật người bên trong, một hàng dài đứng chờ bên ngoài, ông tôi mới hỏi ông khách đang xếp hàng:
- Tôi chở thằng con … đói bụng
ghé vào đây … tiệm này chắc khá lắm …
- Oh ông không biết sao? Từ
ngày có bà Phụng (tên bà nội tôi) đứng bếp, nhiều món ăn ngon và thay đổi món
mới mỗi tuần.
- Bà Phụng là đầu bếp mới?
- Hình như vậy, nhưng mỗi thứ sáu đều có món khác trong tuần, ví dụ tuần này có món bún thang, bún mọc, thanh nhã…
Một ông khách khác thêm vào:
- Bà này dùng ít đường, những món bà làm rất hợp khẩu vị người Việt mình, chứ không phải chỉ làm cho Mỹ ăn… Ông anh ăn thử sẽ thấy khác biệt ngay.
Nghe mọi người quảng cáo và khen những món ăn của bà, ông thấy vui trong lòng, buột miệng:
- À thì ra thế! Tôi ăn thường lắm đó mà… có thấy gì đặc biệt đâu!
Ông khách tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Ủa! ông hay đến đây ăn hả? sao
tôi cũng đến đây hàng bữa mà có thấy ông đâu? Ông ăn ở đâu vậy?
- Ờm… Ừm… tôi ăn ở …
Hàng cứ dồn lên, ông khách vội vàng bye bye ông tôi, sung sướng cười, lách mình vào trong tiệm vì đã có một chỗ trống. Chỉ 15 phút đứng ở hàng chờ ngoài cửa, khi chứng kiến mắt thấy tai nghe về tài nghệ “chief cook” của bà nội, những người khách đã ăn, nay quay trở lại giới thiệu thêm với gia đình, bạn bè, ông không ngờ bà giỏi vậy. Bà đã chịu đựng cái tánh gia trưởng của ông bao lâu nay, không bao giờ cằn nhằn một câu. Ra ngoài ở cái tuổi không còn trẻ nữa, bà vẫn có thể bươn chải, nuôi gia đình được, cực nhọc nhưng chả bao giờ ông nghe bà càm ràm, than thở. Nghĩ thật chậm lại, ông thấy thương và cảm thấy mình có lỗi với bà, đã không hiểu được tâm tư của vợ bao lâu nay… Ông đã không xếp hàng chờ ăn nữa, mà lẳng lặng dắt ba tôi rời khỏi hàng chờ trong sự ngỡ ngàng của ba. Về nhà ông mặc chiếc tạp dề, lần đầu tiên bật lửa trên bếp làm đồ ăn cho ba, mặc dù chỉ là mì gói!
Từ đó, ông nhìn bà với ánh mắt dịu dàng hơn, ông cảm thấy cách đối xử hà khắc của mình với vợ đã sai, bà không còn phụ thuộc vào ông như ở quê nhà nữa. Nếu ông có bỏ bà ra thì bà vẫn có thể tự sống được, chứ ngược lại thì chưa chắc ông sống nổi vì không biết làm sao đi chợ nấu ăn mỗi ngày! Ông bỗng dưng cảm thấy thẹn với lòng đã từng hống hách gia trưởng với người vợ tào khang, từ đây ông nhất định phải thông cảm, lắng nghe bà hơn.
Còn ba tôi, thấy ông bà nội quá vất vả cực nhọc làm việc để nuôi gia đình, ba chỉ biết cắm đầu học, siêng năng chăm chỉ cho đến ngày ra trường đại học với cái bằng kỹ sư điện tử. Sau khi tìm được việc vài năm, ba gặp mẹ làm kế toán trưởng trong cùng hãng làm ở San Jose, cả hai đã yêu nhau, lập gia đình và nhanh chóng có con đầu lòng là tôi, với tên Thằng Cu Mọi, gọi ở nhà.
Vì bận rộn với công việc, và cũng để ông bà nội khỏi phải mất công đi xa đến thăm thằng cháu nội yêu quý duy nhất này, nên ba đã quyết định đem tôi gởi cho ông bà nội nuôi, bà nội sẽ ở nhà trông nom cháu, cũng để tôi được nói tiếng Việt trước khi vào lớp một của hệ thống giáo dục bên Mỹ.
Từ khi lọt lòng cho đến lúc có trí nhớ, hiểu biết, khoảng 2,3 tuổi, tôi đã được nghe quen tiếng ru à ơi của bà mỗi khi ngủ, bằng giọng ngọt ngào, thánh thót:
À Ơi…Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống
ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng,
Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục đau lòng cò
con.
Tôi thuộc làu bài hát này, và cũng yêu bà nhất trong lòng, tôi là fan nhí duy nhất của bà!
À ơi...
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Mỗi lần bà hát, tôi giả vờ ngủ, im lặng, ôm cái mền mòn vẹt với mùi hơi quen thuộc từ lúc nằm nôi, vểnh tai nghe, sợ nếu tôi nũng nịu úp mặt vào lòng bà, hay khen bà hát hay thì bà lại không hát nữa mà dí ngón tay lên trán tôi:
- Chỉ có thằng chó con này mới khen bà hát hay thôi!
Năm nay tôi đã 8 tuổi, nói tiếng Việt rành rọt với ông bà nội, trong năm tôi ở với ba mẹ để đi học, nhưng mấy tháng hè thì được ở với ông bà nội, đây là những ngày tháng dịu dàng êm ả mà tôi thích nhất vì được ông bà cưng chiều.
Bà vừa hát nho nhỏ, vừa soi dáng
trong gương. Tôi nhìn ra ngoài phòng khách, ông nội đã sửa soạn xong, ngồi yên
chờ bà. Trước mắt ông là màn hình TV mở rộng, ông chỉ xem hình thôi, không nghe
tiếng nói của tv phát ra, chắc chắn ông phải nghe bà thầm thì hát chứ, tại sao
ông không khen bà hát hay nhỉ! Vì yêu bà nên tôi muốn ai cũng phải thần tượng
bà như tôi!
Tôi nhớ buổi trưa nay, bà làm món ngon đem ra để bàn cho ông, ông ăn vèo một cái là hết ngay cái đĩa, thế mà ăn xong, ông lại đứng lên đi nằm hoặc đi chơi, tôi thấy không «fair » cho bà, nhiều lúc tôi cố ý nhắc để ông thưởng công bà một lời:
- Ông nội ăn món cá hấp xì dầu
của bà làm có ngon không?
- Ừm… ngon!
- …Sao cháu không thấy ông
nói gì?
- Nói gì là … nói gì?
- Như khen bà làm ngon chẳng hạn.
Ông nhìn vào bếp, dáng bà đang loay hoay làm tiếp những món khác. Ông gãi đầu, gãi tai vì không quen mở lời khen bà bao giờ cả. Ông nói to cho bà nghe:
- Thằng cu Mọi nó muốn tôi … cám ơn bà vì món cá hấp đấy!
Tiếng bà vọng ra, vẫn không quay người lại, trả lời bất đắc dĩ:
- Ừm… Không cần đâu!
Ông nhìn tôi vẻ chứng minh:
- Th
Tôi thhấy “bất công” cho bà quá, bà làm đủ thứ từ sáng đến tối, đi chợ mua đồ ngon, về sửa soạn cơm nước, ăn xong bà lại rửa chén, ông không giúp gì bà mà ngược lại còn cằn nhằn mỗi khi bà làm không vừa miệng; còn những lần bà làm ngon, ông tấm tắc khen, vẫn không thấy ông cám ơn bà!
Tôi buột miệng nói:
- Ở nhà ba con thường khen mẹ làm
bếp ngon… Còn rửa chén dùm mẹ nữa!
- Chỉ thế thôi sao?
- Ba còn đổ xăng, rửa xe cho cả nhà, cắt cỏ…
Ông nội chữa thẹn:
- Chắc ba con rảnh đấy, ông thì… bận lắm!
Chả lẽ một thằng bé con 8 tuổi,
hỉ mũi chưa sạch như tôi lại lên tiếng bênh bà mỗi lần thấy cảnh “chướng mắt”
này sao chứ. Tức mà không biết phải làm sao, tôi bỏ vào phòng mình, không thèm
chơi cờ với ông sau bữa cơm chiều khi ông rủ nữa.
Tôi nhớ một lần, khi lên 6, ông
bà dắt tôi đi party của các ông bà ở nhà của người bạn, tôi thấp thỏm chờ đến
phiên bà hát để ủng hộ bà, vỗ tay thật to cho bà lên tinh thần. Khi tên bà được
cô MC xướng lên, bà tự tin bước lên bục hát, tôi ngồi dựa lưng vào chiếc ghế da
rộng bao lấy cả người tôi, ngẩng cổ im lặng, tim đập thùm thụp như chính mình
là ca sĩ, mắt đờ ra khi giọng hát thánh thót của bà cất lên. Tôi phục bà quá,
bà hát nguyên một bài dài mà nhớ cả trang chữ trong đầu, không có sách vở gì
trước mặt cả. Tôi tưởng tượng hồi xưa bà phải học giỏi lắm vì lớn tuổi vậy mà
bà nhớ nguyên bài hát, không vấp váp chút nào, nhạc lên xuống bà theo đến từng
nốt, không trật nhịp, không sai, lại còn cười với người này, chào người kia từ
trên sân khấu nữa chứ, y như ca sĩ trong tv vậy!
Tôi há hốc miệng, nhìn bà điệu đàng đong đưa, lúc nghỉ ở giữa chừng bài hát, mọi người ùn ùn kéo nhau lên sân khấu chụp hình với bà. Tôi thật phấn khích la hét hú lên cổ động bà ở dưới này, rồi nhân tiện lúc lắc cái lục lạc đem theo bên mình từ nhà. Mấy ông thì lên tặng hoa cho bà, tôi nhìn quanh không thấy bóng ông nội đâu cả. Đưa mắt tìm mãi mới thấy ông ngồi trong góc nhà, đầu quẹo sang một bên, dựa vào tường, tiếng ngáy đều đều nhẹ nhàng… Trời ơi! tức quá đi thôi, ông đã không hề nghe bà hát! Tôi phóng đến bên ông, lung lay tay ông, khe khẽ gọi:
- Ông! Ông nội ơi…
Mở bừng mắt dậy, ông quệt tay lên miệng, như người vừa tỉnh dậy từ một giấc ngủ dài thật đã. Ông nhìn quanh để biết mình ở đâu, rồi mới nhìn thẳng mặt tôi:
- Gì đấy Cu? Chuyện gì?
- Bà hát gần xong rồi, ông sửa soạn lên đón bà xuống và tặng hoa hồng cho bà…
Tôi đưa ra đóa hoa hồng đã giữ từ nãy giờ, lo người ta lấy hết, đến nỗi cánh hoa vì nóng quá muốn gục xuống luôn, thế mà ông lại gắt nhẹ tôi:
- Để ông ngủ, cháu ra chơi với bà là được rồi!
Ông tiếp tục ngoẹo đầu vào tường định ngủ tiếp, tôi cự nự:
- Không! Cháu không chịu, ông
phải tặng hoa này cho bà cơ!
- Ơ! Cái thằng cu Mọi này!
Sao lại bắt ông lên tặng bà thế? Cháu thích thì …tặng đi!
- Cháu không chịu đâu, ông
phải lên tặng bà cơ!
- Cháu thấy bao nhiêu người
lên tặng hoa bà rồi đấy mà, đâu cần phải ông!
- Nhưng… ông phải tặng mới
… có ý nghĩa!
- Cái thằng này thật cắc cớ! ai tặng mà chả được, hay cháu lên tặng bà nhé?
Tôi mếu máo, dọa ông:
- Cháu không biết đâu, cháu sẽ
gào to lên nếu ông không lên tặng!
- Hay là… Cả hai ông cháu
mình cùng lên…?
- Nếu ông sợ đi một mình…
Tôi nhớ lần ấy tất cả khách và
chủ nhà đều vỗ tay thật to khi thấy một thằng bé 6 tuổi vừa kéo, vừa dắt tay
ông lên sân khấu tặng hoa cho bà. Khuôn mặt tôi lúc đó thật hạnh phúc, trong
khi ông thì nửa giận, nửa xấu hổ vì phải thua thằng cháu!
Tôi biết mình là thằng cháu cưng của ông bà nội nên từ bé tí tuổi đầu, tôi đã biết bênh vực bà, ai làm gì không vừa ý là tôi nằm bệt ra đất, giẫy đành đạch, đòi cho kỳ được, không được ai làm tổn thương bà, mỗi lần ông bà đi đâu, tôi cũng đòi đi theo để bảo vệ quyền lợi cho bà và cũng để được chọn đồ chơi mà tôi thích.
Càng lớn tôi càng bận rộn với nhiều môn học, ít đến thăm ông bà, thỉnh thoảng mỗi tháng tôi gọi “facetime” để được nhìn và nói chuyện với bà yêu quý của tôi. Thấy bà đang sửa soạn ra ngoài, tôi hỏi:
- Bà đi chợ hay đi đâu vậy?
- Ừ bà sắp đi chợ đây, cuối
tuần này cháu có xuống bà ăn cơm không? Đã khá lâu rồi…
- Cháu muốn lắm nhưng nhiều bài
học, chắc phải đến tháng sau cháu mới rảnh được ạ… Ông có đi chợ với bà không?
Nghe tiếng tôi hỏi, ông ở gần đấy vội lên tiếng:
- Có chứ! Ông phải đi với bà để
lái xe và đẩy xe đồ ăn cho bà nó chứ! Cháu hài lòng chưa?
- Ông giỏi quá, ông đi ra
ngoài như thế có thể đi bộ cho khỏe chân, lại có thể gặp bạn bè uống café trong
khi bà đi chợ?
- Cái thằng cu Mọi này biết
bày độ cho ông quá!... ông muốn giúp bà đẩy xe chợ và nhân tiện mua vài
món ăn vặt khi xem tv thôi.
- Cháu rất vui và yên tâm
thấy ông đi “bảo vệ” bà…
- Ừm… nếu không bảo vệ thì ông sợ sẽ không còn ai làm cơm ngon cho mình ăn nữa đấy cháu nội yêu quý ạ!
Trước khi cúp điện thoại, tôi đều nhắc:
- Bà ơi! Cháu yêu bà nhất trên
đời!
Sỏi Ngọc
Montreal, July’26
Nói Chuyện Với...Đầu Gối
TÔI VẪN BIẾT LÀ CHUYỆN VÔ BỔ, TẦM PHÀO...NHƯNG
MUỐN THỬ XEM THẰNG CHAT GPT CÓ CÒN NGAY THẲNG HAY LƯƠN LẸO, NÊN TÔI NÊU CÂU
HỎI THẲNG THỪNG, TRẮNG TRỢN, COI NÓ NÓI SAO. XIN COI BÊN DƯỚI.
TÔI HỎI
Từng một thời thống trị một nửa thế
giới, hệ thống Cộng sản nay teo tóp lại chỉ còn 4 nước, mà mỗi nước Cộng sản tự
xoay trở để sống còn. Dẫu vậy, không một chế độ cộng sản nào ban phát một chút
chút tự do cho dân, mà quyền hành luôn phải nằm trọn trong tay Cộng Đảng. Lấy
trường hợp Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nắm trọn quyền hành, nhưng thỉnh
thoảng lại tổ chức những cuộc bầu cử bịp “ Đảng cử, Dân bầu “ Phải chăng người
dân Việt kém cỏi đến mức không biết đấy là những cuộc bầu cử bịp ? Sao họ vẫn
cam chịu mà không hề thấy các ông trí thức xưa kia hung hãn chỉ trích, chống
đối … lúc các ông có tự do, nay lại thủ khẩu như bình !.Vì sao vậy ?
CHAT GPT ĐÁP
Tôi nghĩ
câu hỏi của ông chạm đúng vào một
nghịch lý rất lớn của các chế độ độc đảng: nếu người dân biết rằng
mình không thật sự có quyền lựa chọn, tại sao họ vẫn đi bầu, vẫn im lặng, và tại
sao nhiều trí thức từng rất mạnh miệng chống “độc tài” lại trở nên im tiếng?
Nhưng tôi
xin tách vấn đề ra một chút. Không
nên vội kết luận rằng người dân Việt Nam “kém cỏi” hay “cam chịu” vì không hiểu.
Phần lớn trường hợp, đó là kết quả của cả một cơ chế xã hội.
1. “Đảng cử, dân bầu” không phải hoàn toàn là một cuộc bầu
cử cạnh tranh
Trong một
nền dân chủ cạnh tranh, người dân có thể:
- chọn
giữa nhiều đảng;
- ứng
cử mà không cần được một đảng cầm quyền chấp thuận;
- vận
động tranh cử công khai;
- báo
chí tự do đưa tin và phê bình ứng viên;
- và
quan trọng nhất: chính
quyền có khả năng bị thay thế bằng lá phiếu.
Còn trong
mô hình Việt Nam, Đảng Cộng sản giữ vị trí lãnh đạo nhà nước và xã hội. Vì vậy,
bầu cử có tồn tại, nhưng không
phải là cơ chế để người dân lựa chọn giữa những lực lượng chính trị có khả năng
thay nhau cầm quyền.
Nói ngắn gọn:
Có
bỏ phiếu, nhưng không có sự cạnh tranh quyền lực theo nghĩa đầy đủ.
Đó là điểm
khác biệt căn bản.
2. Nhưng tại sao người dân vẫn đi bầu?
Đây mới là
điều đáng suy nghĩ.
Không phải
cứ một người đi bỏ phiếu nghĩa là người ấy tin rằng cuộc bầu cử hoàn toàn tự
do.
Một người
có thể nghĩ:
“Tôi chẳng
thay đổi được gì, nhưng tôi vẫn đi bỏ phiếu.”
Đó là sự thích nghi, chứ
không nhất thiết là sự đồng tình.
Trong một
xã hội mà quyền lực chính trị tập trung lâu dài, người dân thường hình thành một
cách ứng xử rất thực dụng:
Chính
trị là chuyện của Nhà nước; còn mình lo cuộc sống của mình.
Lo làm ăn,
lo gia đình, lo con cái học hành, mua nhà, kiếm tiền, chữa bệnh...
Miễn là cuộc
sống riêng tương đối ổn định, nhiều người không muốn đánh đổi tất cả để tham
gia một cuộc đấu tranh chính trị mà họ biết trước là rất khó thành công.
Đây là hiện
tượng đã xuất hiện ở nhiều chế độ độc tài khác nhau, không riêng Việt Nam.
3. Có một yếu tố còn mạnh hơn: “Tôi chống thì được gì?”
Đây là tâm
lý rất quan trọng.
Một người
có thể không thích chế
độ, nhưng vẫn không chống đối.
Bởi vì họ
tính toán:
“Một mình
tôi làm gì được?”
Nếu 1 người
phản đối → gần như không có tác dụng.
Nếu 1.000
người phản đối → vẫn có thể bị đàn áp.
Nếu hàng
triệu người cùng phản đối → mới có khả năng tạo ra thay đổi.
Nhưng người
thứ nhất không biết người thứ hai có dám làm hay không.
Người thứ
hai cũng không biết người thứ ba có dám làm hay không.
Thế là ai cũng có thể không hài lòng, nhưng
từng người vẫn im lặng.
Trong khoa
học chính trị, đây là một vấn đề rất quan trọng của hành động tập thể.
4. Còn “các trí thức ngày xưa” thì sao?
Theo tôi,
đây là phần ông đặt câu hỏi rất hay.
Một số trí
thức thời VNCH từng công khai chống chính quyền, biểu tình, viết báo, diễn thuyết,
đòi tự do dân chủ...
Nhưng phải
nhìn vào hoàn cảnh sau
1975.
Khi một chế
độ mới kiểm soát toàn bộ hệ thống chính trị, báo chí, giáo dục, tổ chức xã hội
và bộ máy nhà nước, cái
giá của việc công khai chống đối thay đổi hoàn toàn.
Trước kia,
một trí thức có thể xuống đường và ngày mai vẫn viết báo.
Trong một
chế độ kiểm soát chặt chẽ hơn, một phát biểu chính trị có thể ảnh hưởng đến:
- nghề
nghiệp;
- gia
đình;
- con
cái;
- thu
nhập;
- quan
hệ xã hội;
- và
cả sự an toàn cá nhân.
Khi chi phí nói thật tăng lên rất cao,
số người nói thật công khai sẽ giảm.
Vì vậy, sự
im lặng của họ không
nhất thiết chứng minh rằng họ đã thay đổi tư tưởng.
Có khi chỉ
chứng minh rằng họ đã học được một điều rất thực tế:
“Nói
điều mình nghĩ” và “sống được trong chế độ này” là hai chuyện khác nhau.
5. Và đây là một nghịch lý rất đáng chú ý
Một chế độ
độc đảng không nhất thiết phải làm cho 100%
dân chúng tin tưởng nó.
Nó chỉ cần
bảo đảm rằng:
số
người bất mãn nhưng im lặng > số người bất mãn và dám hành động.
Đó là một
trong những lý do các chế độ độc tài có thể tồn tại rất lâu.
Liên Xô là
một ví dụ đặc biệt rõ.
Năm 1991,
khi chế độ sụp đổ, thế giới mới nhìn thấy rằng bên dưới vẻ ngoài ổn định tồn tại rất nhiều sự bất mãn,
hoài nghi và mệt mỏi.
6. Nhưng tôi cũng muốn bổ sung một điều công bằng với Việt
Nam
Không nên
cho rằng tất cả người
Việt đều biết cuộc bầu cử không có cạnh tranh nhưng vẫn “giả vờ”.
Có người
thực sự ủng hộ Đảng.
Có người
tin rằng ổn định quan trọng hơn cạnh tranh chính trị.
Có người
không quan tâm chính trị.
Có người bất
mãn nhưng sợ hậu quả.
Có người
thấy kinh tế và đời sống đã cải thiện nên chấp nhận hệ thống hiện tại.
Và cũng có
người mong muốn thay đổi nhưng không
nhìn thấy một con đường khả thi để thay đổi.
Tất cả những
nhóm ấy cùng tồn tại.
7. Điều tôi cho là đáng chú ý nhất trong câu hỏi của ông
Ông nói:
“Không
một chế độ cộng sản nào ban phát một chút tự do cho dân, mà quyền hành luôn phải
nằm trọn trong tay Cộng Đảng.”
Nếu nói
chính xác hơn, tôi sẽ sửa thành:
Các
chế độ cộng sản còn tồn tại đều có xu hướng giữ độc quyền chính trị của đảng cầm
quyền, dù mức độ kiểm soát và mức độ mở cửa kinh tế – xã hội khác nhau rất nhiều.
Và đây
chính là điều làm Việt Nam hiện nay trở thành một trường hợp rất thú vị.
Kinh
tế đã thay đổi rất xa mô hình cộng sản kinh điển; xã hội cũng đã mở hơn trước rất
nhiều; người dân có nhiều không gian kinh tế và đời sống hơn trước. Nhưng độc
quyền chính trị vẫn được giữ lại.
Nói cách
khác:
Đảng
đã có thể nhường rất nhiều thứ trong kinh tế, nhưng chưa nhường thứ quan trọng
nhất: quyền quyết định ai được nắm quyền chính trị.
Và tôi nghĩ đây chính là chìa khóa để hiểu tại sao Việt Nam có thể
“Đổi Mới” về kinh tế nhưng không “Đổi Mới” về thể chế chính trị.
Anh NTL chuyển
Đừng Hiện Về Nữa Em - Trần Đại
Nếu nửa đêm trăng gió đã lên
Bão mưa êm, chăn gối ghi tên
Bia mộ đường quên…
Đêm khuya lắc, khuya lơ. Giáo đường im vắng,
trời lặng yên nhưng một vài ánh đèn leo lét đang thay gió chập chờn, lay động
những pho tượng các thiên thần làm “họ” trở nên hung dữ như muốn hù dọa không
chỉ những người yếu bóng vía mà còn làm ngại ngùng những ai gan dạ muốn bước
qua. Một người đàn ông đậu xe bên lề đường ngay dưới chân đèn lộ, nhìn về phía
nhà Chầu -Thánh -Thể. Đứng bất động như thế một lúc khá lâu, người đàn ông mới bước
nhanh, vòng theo con dốc lên Giáo Đường.
Tôi cúi mặt nhìn đồng hồ, đã 3 giờ 15, lúc ngẩng
đầu lên thì người đàn ông đã biến mất vào trũng tối giữa hành lang có những pho
tượng trắng, xám, đứng rờn rợn như trong cơn ác mộng. Tôi tiến về nhà Chầu -
Thánh -Thể để dòm ngó xem ông bố vợ gần đất xa trời có làm sao không rồi dự
định sẽ về ngủ tiếp cho tới sáng. Tôi mở cửa thật nhẹ và vừa kịp nghe người đàn
ông lúc nãy đang khẩn cầu với ông bố vợ của tôi, “Cụ ơi! Cháu xin cụ ở lại cùng
chầu với cháu cho tới khi có người khác đến rồi hãy về, cụ nhé!”
Bố vợ tôi bằng lòng, ông ra hiệu cho tôi cứ việc
về ngủ và thầm bảo rằng ông không sao cả. Tôi ra về, trước khi khép cửa còn
thấy hai bờ vai người đàn ông đang qùy gối kia rung rẩy, đầu gục xuống, miệng
phát ra những tiếng lâm râm qua hơi thở hổn hển như đang có điều gì kinh hoàng,
khiếp sợ lắm. Chẳng biết tại làm sao mà tôi trở nên hồi hộp, lúng túng khi bước
nhanh như chạy qua cái hành lang âm u có những con mắt trắng dã không tròng của
mấy pho tượng đang cùng theo dõi tôi. Khi ra tới vùng sáng chính cái bóng đen
của tôi vừa té ngã sang một bên làm tôi tưởng ai cũng vừa đang lướt ra khỏi
hành lang tử địa.
Chiều hôm sau, lúc ăn cơm tối với ông bà cụ, tôi
hỏi thăm về người đàn ông trong nhà chầu Chúa đêm hôm qua thì hóa ra chẳng ai
xa lạ, đó là Khải, người vừa mới tiễn đưa vợ hiền về gặp Nhan Thánh Chúa, Mồ
chôn còn chưa héo những nhành hoa phúng điếu. Tôi chưa kịp hỏi thêm thì ông bố
vợ kể với giọng khác hơn ngày thường:
- Khải nó nói... vợ nó cứ hiện về làm nó với hai
đứa con sợ quá. Thằng anh thì van xin mẹ ơi, mẹ đừng về nữa làm chúng con sợ
lắm. Em gái nó thì trách rằng mẹ ơi, mẹ nói Chúa đón mẹ về với Chúa, sao mẹ còn
ở đây, mẹ đừng nhát con mẹ ơi!
Bà mẹ vợ ngồi kế bên, mặt xanh như tàu lá hỏi
ông cụ:
- Thế... thằng Khải nó có thấy vợ nó hiện về
không hở ông?
Ông cụ đáp:
- Không, nó không thấy nhưng đồ đạc trong nhà bị
xê dịch. Mấy lần nó mắng con bé sao cứ mở tung nắp hộp chứa đồ kỷ niệm của mẹ
và thằng con lớn cứ mãi quên đóng cửa... nhưng sau nó mới biết là con bé không
hề chạm tay đến những thứ đó và thằng anh thì kêu oan.
Ông cụ bỏ ngang bữa ăn, lấy rượu ra uống làm
không khí trở nên ngột ngạt. Bên ngoài trời sụp tối, vài làn sương mỏng thoáng
hiện rồi tan. Tôi nhìn ra đường cái, ái ngại vì bỗng dưng hôm nay hàng cây bên
kia đường vươn tay, dạng chân với những hình thù quái dị. Và cơn ác mộng tuổi
thơ lại trở về ám ảnh tôi... với một con đường dài xa hun hút hai hàng cây chồm
vào nhau đưa lối... Xa xa có bóng người chốc chốc lại hiện ra, vẫy tay và con đường
cứ dài xa mãi cho đến khi vùng thoát khỏi cơn mơ.
Mấy lần mỗi Chúa Nhật, trước khi Yến chết, tôi
thường gặp nàng cùng đi xem lễ với chồng và hai con. Đó là một người đàn bà có
nhan sắc trung bình nhưng nổi bật nét hiền hậu, khả ái. Tôi không đoán được
tuổi nàng nhưng cũng có thể suy ra được qua dáng cao gầy của đứa con trai chừng
19, 20 và đứa em gái chừng 17 tuổi có nét đẹp dịu dàng của một cô gái Nhật qua
nét vẽ trên tranh thủy mạc. Chồng nàng, Khải, là một mẫu người từ tốn, khiêm
nhường dễ gây thiện cảm. Gia đình cỏn con ấy trông chừng như rất hạnh phúc và
sống đạo theo cách biết thương yêu, nhường nhịn như lời Chúa dạy hơn là có mặt
ở nhà thờ để kiếm đủ điểm mà nhận cái chứng chỉ “Lên Thiên Đàng”.
Mặc dù mỗi lần gặp nhau, tôi và Khải chỉ gật đầu
chào, chưa từng nói dài hơn một câu chúc bình an, tôi cũng quyết định đi thăm
cha con Khải với chủ tâm trước là an ủi, chia buồn và sau đó tôi sẽ chia sẻ với
họ những sự kiện của người chết hiện về.
Chuyện Yến hiện về thăm hai con lan nhanh ra
cộng đoàn dân Chúa và được bàn tán với nhiều suy luận khác nhau. Riêng tôi, tôi
thông cảm nỗi sợ hãi, chịu đựng của hai đứa trẻ khi hồn vía người mẹ vẫn còn
đang quanh quẩn đâu đây vì tôi cũng đã từng trải qua những nỗi kinh hoàng vào
những lần mẹ tôi hiện về từ bên kia thế giới.
Nhà Khải
xinh xắn, nằm trên con đường có tên là “Thiên Đàng” với một vườn cây, bãi cỏ, lề
hoa tươm tất như đã được chủ nhân chăm sóc thường xuyên nhưng chiều nay thì
chúng như đang héo dần và u uẩn rũ mình xuống như cũng đang nhuốm một “màu tang
ngút ngàn”. Khải đón tôi vào nhà, thằng Khôi mang bia ra mời, con bé Khanh đứng
gọt vài món trái cây. Tháng Tám ở miền nam California trời còn nóng, trong nhà
hâm hấp nhưng thỉnh thoảng lại bị ớn lạnh bởi một luồng gió vô hình lướt qua. 3
cha con vẫn lặng yên, không nói với nhau một lời cho đến khi tôi mở miệng nói một
tràng phân ưu cùng tang quyến và không quên bồi thêm cái công thức “âu cũng là
ý trời, Chúa đã gọi thì phải vâng...” Khải nói lời cám ơn rồi nhắc tới cái điện
thư mà tôi gởi cho anh ta:
– Thưa
anh... Thật tình thì tôi không hiểu hết ý cái nội dung mà anh ghi trong email.
Anh có thể cho tôi biết thêm được không?
Tôi biết Khải
muốn đi ngay vào vấn đề trong điện thư “gặp nhau sẽ kể” chuyện mẹ tôi hiện hồn
về sau khi chết. Tôi hớp một ngụm bia cho trôi đi cái cảm giác ớn lạnh vì chuyện
xưa sắp kể rồi tôi kéo ghế ngồi xuống bắt đầu:
- Anh Khải biết không... Mẹ tôi trút hơi thở
cuối cùng lúc 3 giờ sáng. Chị gái tôi gào khóc thật thảm thiết trong khi mấy
chị dâu giúp vợ tôi lau khắp mình mẩy rồi mặc y phục mới cho người. Các anh em
tôi, kẻ thì ngồi gục mặt khóc xót xa, người thì đi loanh quanh như mất trí, còn
tôi thì bỏ trốn ra hiên sau ngồi ôn lại những gì giữa tôi và mẹ từ thuở hàn vi
cho đến lúc trưởng thành, đặc biệt là chỉ giữa mẹ và tôi thường có nhiều chuyện
thần-giao-cách-cảm...Anh biết không, mỗi lần ngữi thấy mùi canh khoai mỡ thoang
thoảng trong không gian là y như mẹ sắp về hoặc tới thăm tôi. Còn mỗi khi mắt
mẹ giựt liên hồi là mẹ nói mẹ biết tôi sắp đến với bà.
Tôi ngưng nói, nốc cạn hết chai bia cho vơi bớt
xúc cảm rồi tiếp:
- Chúng tôi cũng đau đớn và buồn khôn nguôi như
anh và các cháu vậy. Khi trời bừng sáng thì tôi nghe tiếng trong nhà hét to:
“Má ơi! Má! trời ơi, má gọi tất cả kìa anh Hai!” Tôi bàng hoàng, chết điếng
người chạy nhanh vào nhà, tưởng mẹ vừa sống lại nhưng người đang nằm trên ghế
xếp là chị tôi, mắt nhắm nghiền, cử chỉ và giọng nói chậm rãi cùng cái vai lệch
một bên giống y như mẹ tôi. Chị đang bị mẹ tôi nhập hồn nhắn nhủ: “Quang con,
nhớ tìm thằng Út về cho má... Phương nè, biểu thằng con (của) con nhớ ráng
học... nên người nghen!” Anh Hai, anh Ba, anh Năm và các em của tôi nghe xong
liền chồm tới vừa nắm tay chị tôi, vừa gào lên kêu mẹ vừa khóc một cách thảm
thiết. Rồi mẹ tôi mượn lời chị dặn dò thêm từng vợ chồng đứa khác nhưng
tôi đã lánh ra ngoài nên không chính tai nghe được. Tôi thấy khó tin và cho
rằng chị tôi vì gào khóc đến tàn lực nên mới mê man nói hoảng. Sau này chính vợ
tôi thuật lại từ đầu đến cuối những gì mẹ đã nói và chính bà nói câu này: “Tội
nghiệp thằng Sáu, nó không tin lời má! Con biểu nó đi trả tiền rau cho má.” Nói
xong câu đó, mẹ tôi còn dùng miệng chị mà nói khá nhiều lời ngổn ngang, không
ai hiểu thêm được gì cả, lúc xầm xì, lúc như đi đâu đó rồi chặp sau quay lại
nói tiếp những tiếng đều đều như kinh cầu của một ngôn ngữ xa lạ nào đó... Hết
kiên nhẫn, anh Hai ra hiệu cho mấy em và nức nở nói lời vĩnh biệt, cầu siêu độ
cho mẹ rồi khoan thai lau mặt và lay chị tôi tỉnh dậy.
Khải nghe tôi kể xong liền với tay châm bình
trà, anh nói không thành tiếng mấy lời nên tằng hắng và lập lại:
- Rồi sau đó hay mấy ngày sau đó mẹ anh có nhập
vào chị hoặc ai nữa không?
- Không, đó là lần duy nhất nhưng tôi biết mẹ
tôi vẫn thường về, linh cảm mà thôi nhưng chắc chắn là mẹ có về, không nhầm lẫn
được.
- Bà hiện nguyên hình cho thấy à?
- Hàng xóm có hai, ba người thấy bóng mẹ tôi
thấp thoáng trong vườn trước căn nhà của mẹ. Nhưng tôi không tin lắm chuyện đấy
vì đối với tôi người chết không thể tự tạo được dáng hình vật lý được.
- Nhưng sao anh lại nói thấy bà về?
- Biết...chứ không phải thấy. Các anh chị em và
các cháu của tôi thường kể cho nhau nghe rằng họ hay nằm mơ thấy bà. Rồi chuyện
có 2 đứa bé đang chơi thì nghe tiếng bà gọi, chúng đi theo ra sau hè thì chẳng
thấy bà đâu và chuyện nữa là con chó thường quấn quít bên bà nay đã bỏ đi đâu
mất tiêu luôn từ chiều hôm sau ngày mẹ tôi mất. Sau này tôi còn nghe vợ tôi
thuật lại là “Hôm đưa má ra chôn ngoài nghĩa địa, lúc hạ huyệt thì em thấy
chiếc quan tài rung mạnh, ai đó đang đứng bên cạnh chợt ôm ghì lấy em và hai
người em rễ ghé tai em nói hãy cho anh biết là có chuyện lạ rồi, ý họ như muốn
nói là má đang cựa quậy trong quan tài. Nhưng em cản họ vì chết ở đất Mỹ này ai
cũng bị mỗ lấy hết bên trong rồi trang điểm lại trước khi chôn thì làm gì có
chuyện đội mồ hay chôn sống nhưng mà rõ ràng thật anh ạ! Như bây giờ nhắc lại
em còn sợ đến ớn lạnh khắp người nè.
Mặt Khải càng lúc càng tái thêm, hai đứa nhỏ thì
ngồi khép vào nhau tay bấu chặt ghế. Khải ấp úng hỏi tôi:
- Có phải lúc tôi linh cảm là Yến đang đứng đâu
đó trong nhà hoặc đang ghé mặt vào khe nhìn hai con ngủ và thường đứng sát bên
tôi trong bếp như muốn giúp tôi chuyện gì thì cũng giống như anh biết mẹ hiện
hồn về không?
Tôi đáp:
- Đúng vậy. Một đêm kia... trong lúc tôi đang
ngồi đưa lưng ra cửa phòng, cắt sửa những khúc phim đám ma của mẹ thì bỗng dưng
thoang thoảng bay trong phòng mùi của canh khoai mỡ với tôm khô. Tôi không ngăn
được tiếng la “Má, má... má” rồi tôi quay lại thật nhanh vừa lúc cảm nhận một
làn khí lạnh đang luồn qua khe cửa rồi trôi xuống thang lầu. Tôi theo cảm tính
chạy ra khỏi phòng, lạng quạng bước xuống nhà dưới, lần theo mùi thơm bát canh
khoai, mùi càng mạnh về phía cửa ra sau vườn... nhưng khi tôi ra tới nơi thì
mất hết mùi. Tôi quay lại vô nhà và khi vừa mở cửa chính thì liền bị choáng đi,
ngực đầy nghẹn, chân đứng không vững... Mẹ đang đứng bên kia đường, lệch một
vai, chập chờn như sương khói mờ tan. Bà vẫy tay “má đi nghen c...o...n” tiếng
vọng của mẹ trong tai tôi âm vang không biết bao nhiêu lần cho đến khi tôi giựt
mình bật dậy từ thế nửa nằm, nửa ngồi.
Khải ngắt lời tôi:
- Anh vừa thấy bóng... bóng ma của mẹ. Sao anh
nói là anh không tin những người hàng xóm thấy bà cụ hiện hình trong vườn?
Tôi không trả lời, tiếp tục kể:
- Tôi dụi mắt, không tin là mình tỉnh táo để
thấy mẹ hiện hồn... chỉ vì tôi bị choáng váng, trúng gió khi hai làn khí nóng
lạnh ngay cửa ra vào chứ lúc đó mà hoàn toàn tỉnh táo tôi mới tin trên đời là
thật có ma hiện hình.
Bỗng nhiên thằng Khôi chen lời vào:
- Con thì cũng cảm nhận được những điều chú kể
là rất giống với trường hợp của anh em con. Tụi con lên nhà, xuống bếp, vô
phòng hay ra vườn thì hình như mẹ đều đi theo phía sau lưng.
Con bé Khanh cũng góp thêm:
- Ban ngày cũng vậy mà ban đêm cũng vậy đó chú.
Khải vô tình làm tất cả đều ớn lạnh:
- Vậy là vợ tôi vẫn chưa đi anh hở? Không chừng
Yến đang đứng đâu đây nghe chúng ta trò chuyện nãy giờ...
Khải biết mình nói dại làm hai con sợ nên ngưng
nói ngay và kéo tay tôi ra sau vườn. Nhưng khi mới vừa đặt một chân ra ngoài,
Khải rút ngay chân vào nhà, miệng anh há hốc trong khi hai tay “bơi” ra sau
lưng như muốn tìm điểm tựa. Tôi hỏi:
- Chuyện gì thế, anh sao vậy?
Khải chỉ ra góc vườn ấp úng:
- Tôi vừa thấy Yến đi khuất sau góc tường kia...
Tôi nhìn ra ngoài, trời vàng ươm một màu cũ kỷ
như trong một tấm ảnh nhạt nước phim lâu đời. Ban đêm có bóng tối làm kinh hãi
thì ban ngày có nắng vàng hoang hoắc trong vườn như lúc này cũng làm chột dạ và
có chút gì rờn rợn chẳng biết vì sao. Tôi e dè bước nặng, bước nhẹ đi
trước, tiến lên phía góc tường nơi Khải thấy Yến vừa khuất bóng. Bé Khanh nắm
chéo áo của Khải đi sau tôi và Khôi. Còn cách góc tường một hai bước thì Khôi
níu mạnh áo tôi, nó la khẻ “rắn... rắn!” Vừa lúc đó, tôi dừng lại, nghiêng tai
lắng nghe thì đúng là có tiếng xì xè và vật gì như đang trườn dưới đất. Tôi vịn
tay lên vách rồi chồm đầu tới nhìn qua góc tường. Nửa sợ rắn, nửa sợ bất ngờ
gặp hồn ma Yến hiện nguyên hình. Nhưng tôi hoàn hồn ngay vì trông thấy chị Nhu
đang kéo dây tưới và cái đầu xoa chưa mở hết, làm nước phun sương tạo thành
tiếng xè xè như con rắn đang rít lưỡi gió.
Tôi quen chị Nhu nhưng không biết nhà chị ở đâu.
Chị là người tử tế, thường hay giúp việc trao mình Thánh trong nhà thờ. Tôi kéo
“đoàn toa tàu” ra chào chị. Chị cười héo hắt lên tiếng:
- Hoa cỏ mấy
hôm rồi không được tưới, héo úa đến tội. Khôi, Khanh, hai con từ nay phải trông
nom vườn tược nhá, rảnh rỗi cô cũng sang đây giúp một tay.
Khải nói cám ơn chị và
hỏi:
- Chị đến từ bao giờ,
sao không vào nhà trước mà đã lo đi tưới vườn?
Rồi không cần nghe chị
Nhu đáp, Khải ghé tai tôi nói nhỏ “chị Nhu đang mặc áo đen” tôi chờ nghe Khải
tiếp nhưng Khải chỉ nói có bấy nhiêu thôi làm tôi chẳng hiểu vì sao chị Nhu mặc
áo màu đen và ý Khải muốn gì...
Chúng tôi cùng nhau dọn
dẹp, tưới vườn và mang rác ra đường. Công việc vừa xong thì chị Nhu cùng Khanh
vào nhà mang nước trái cây ra một góc vườn nơi có chiếc ghế xích đu và bộ bàn
ghế thấp bé bằng gỗ đỏ. Chị Nhu kéo bé Khanh ngồi xuống đong đưa ghế xích đu
vừa hỏi thăm chuyện gia đình tôi, rồi chị bày tỏ niềm thương tiếc:
- Mỗi lần vào nhà thờ
tôi thường để ý và ngưỡng mộ hai gia đình rất đầm ấm, hạnh phúc, hai gia đình
đều có hai con, một trai và một gái, đó là gia đình cậu và Khải. Nay một đã vừa
mất đi một người vợ đảm đang, một người mẹ thật dịu hiền.
Tôi định nói lời chia
buồn thì Khải đã lên tiếng trước:
- Lúc nãy chị đi trong
vườn mà em lại nhìn tưởng bóng Yến... Ơ nhưng chị mặc áo đen sao em lại thấy
người đi quanh qua tường khoác áo xanh... Lạ thật!
Mặt chị Nhu trở nên
nghiêm trọng:
- Này, chị nghe mấy hôm
nay cha con em ăn ngủ không yên, chị cũng muốn qua ngủ với bé Khanh cho nó bớt
buồn nhưng...nhưng chị cũng sợ ma lắm! Chị thường nghe nói rất nhiều về 49 ngày
hồn chưa đi hẵn, hay hiện về bên người sống. Có hồn còn lưu luyến chưa muốn đi,
có hồn tiếc của tìm về. Chuyện của Yến đồn rùm ra khắp nơi, có muốn không tin
cũng không được. Nhưng chị nghĩ có lẽ Yến vì yêu thương và tội nghiệp 3 cha con
nên mới...
Tiếng khóc nức nở của bé
Khanh làm chị Nhu dừng nói. Con bé ghé tai chị nói thì thào lời gì không nghe
rõ. Chị Nhu liền khoát tay lên vai con bé và đề nghị nó nói lớn tiếng cho mọi
người cùng nghe, “cháu nói lại đi!” Bé Khanh vừa tráo hai bàn tay xinh xắn lên nhau
vừa nói:
- Đêm hôm kia con sợ ngủ
một mình vì đêm trước nữa, mẹ đến ngồi xuống giường bảo con nằm xê vô cho mẹ
nằm với... Nên con xin bố cho con ngủ chung phòng. Bố bằng lòng cho con nằm trên
giường, bố trải chăn bông nằm dưới đất và sau đó thì anh Khôi cũng ôm chăn vào
nằm cạnh bố dưới sàn nhà...
Khanh tạm ngưng nói, đưa
mắt nhìn hai bố con như xác định việc thật chứ không phải là mơ, rồi mới kể
tiếp:
- Rồi con thiếp ngay vì
mất ngủ từ hôm đi đám tang chôn mẹ. Đến khuya con tỉnh giấc, không biết mấy
giờ, con thấy bố ngồi bệt dưới sàn, gục đầu lên hai gối, dường như đang khóc. Rồi
bố nói rất khẻ nhưng con cũng nghe được là bố đang nói với mẹ “em đừng về nữa
em! Anh nhớ em lắm! Em đừng làm hai con sợ!”
Khôi xen vào:
- Lúc đó con cũng thức,
trùm kín đầu vì tưởng có mẹ hiện ra trong phòng. Con nghe ba rên lớn “Mẹ ơi!
Con cũng muốn chết cho rồi... đau đớn quá Mẹ ơi là Mẹ!” Con sợ quá, chùm kín chăn,
cầu xin Mẹ Maria hãy dắt linh hồn mẹ con đi ngay...
Con bé ngưng nói vì bắt
đầu khóc tấm tức. Khải hỏi:
- Thế chị từng có bao
giờ gặp trường hợp hồn người chết hiện về chưa?
Chị Nhu thu hai vai nhỏ
lại, đặt tay lên nhau rồi nói với sắc mặt nhợt nhạt:
- Mấy năm về trước, phía
dưới đường gần thư viện, có một bà cụ chết linh lắm. Vừa đưa xác bà ra cửa là
bà trở lại nhập hồn vào cô con gái, chỉ cho họ tìm được những món qúy giá mà bà
cất giấu rồi còn trăn trối, dặn dò với anh em họ nữa... Hàng xóm thường thấy bà
hiện về đứng trong vườn làm việc như người sống. Mà điều đặc biệt là có ai đó
bày ra cách cầu xin bà cụ giúp mang đi những bệnh tật, đau đớn. Chị cũng tò mò
đến với bó hoa cầu xin cụ mang đi cái chứng nhức đầu bén như dao cắt... Quả
nhiên, cơn đau thuyên giảm rồi có năm chị chẳng đau lấy một lần nào, lâu lâu
mới bị lại. 49 ngày sau thì ông lão nhà đối diện bảo thôi, đừng ai đến nữa vì
bà báo mộng cho ông là đã vĩnh viễn ra đi. Thế rồi từ đó không còn ai thấy bà
hiện về trong vườn nữa. Mãi ba bốn năm sau căn nhà đó mới có người dám mua.
Tôi đợi chị Nhu kể xong
một hơi mới nói:
- Thưa chị, bà cụ ấy
không ai khác hơn, chính là mẹ tôi đấy!
Chị Nhu la lên “thế à!”
Không đợi chị nói tiếp, tôi giải bày:
- Nhưng thưa chị, anh
Khải và hai cháu đây, có một điều tôi không vui lắm khi nghe người ta nói căn
nhà đó có ma mà mẹ tôi chính là bóng ma hiện hình. Tôi đem chuyện hồn ma nói với
ông lão ở nhà đối diện nhà mẹ tôi ngày trước thì ông nói: “Ma và vong hồn là
hoàn toàn khác nhau. Khi vừa qua đời thì họ giống nhau, tuy nhiên sau 7 tuần
tức 49 ngày thì đa số là siêu thoát để đi đầu thai về từng kiếp khác nhau. Tuy
nhiên còn một số những người mang ác nghiệp, chết bất đắc kỳ tử, hay tự
tử...không thể siêu thoát được thì họ sống vất vưỡng, tá túc ở mọi nơi mà ta
hay gặp thường gọi là Ma. Cũng có những kẻ chết bờ, chết bụi nên mới có chuyện
dẫn vong về nhà, tôi cũng chưa nghe ai nói dẫn ma về nhà cả. Thân nhân chết ở
ngoài đường như tai nạn, chết trôi...thì người ta phải làm lễ gọi hồn về nhà
hay còn gọi là lễ Sai Phan vì vong hồn của người mất không thể về nhà được.
Tôi ngừng nói và tôi
biết mọi người đang ngạc nhiên vì sao một người đi Đạo Thiên Chúa như tôi lại
nói về nghiệp chướng. Hớp xong chung trà nguội lạnh, tôi tiếp:
- Tôi cũng đem chuyện mẹ
tôi hiện hồn, xin ý kiến của một linh mục, ngài nói “Anh chưa từng chết đi sống
lại, Cha cũng thế, làm sao chúng ta biết được hoàn toàn sự gì sau khi chết.
Phải không ạ? Cha không muốn dựa vào Thánh Kinh để nói về Thiên Đàng, Điạ Ngục
hay chốn luyện tội với anh nhưng Cha và anh đang giải một bài toán có cùng mẫu
số chung đó là anh đã từng trực diện với hồn mẹ mình và Cha cũng đã như thế với
nhiều linh hồn các con chiên Chúa mới qua đời. Nếu ta dựa theo bản chất của
linh hồn là ánh sáng, tình thương và cảm thông thì ta nên hân hoan tiếp nhận
ánh sáng, chia sẻ tình thương và cảm thông với hồn người quá cố. Không nên sợ
hãi, xua đuổi và tránh né vì như thế linh hồn người chết sẽ bị đau đớn, tổn
thương và cô đơn. Về con số 49 ngày thì Cha xin không bàn tới chỉ chia sẻ cùng
anh là ngẫu nhiên Cha cũng linh cảm được là sau đó họ đã đi xa. Anh nhé! nhớ
cầu nguyện và an ủi các linh hồn vừa mới qua đời nhé!
Tôi kể một hơi đến khan
cả cổ rồi lại nốc cạn chung trà, quay sang Khải, tôi nói:
- Tôi và anh chỉ gật đầu
chào mỗi lần gặp nhau nhưng hôm nay tôi đánh bạo đến nhà là vì những gì tôi vừa
kể xong. Tôi muốn mang đến anh và hai cháu cái thông điệp mà tôi rất thích đó
là “đừng sợ hãi, xa lánh mà hãy nên an ủi, thông cảm với linh hồn chị Yến”
chẳng hạn như nếu cháu Khanh nói “Mẹ ơi! Con biết rồi! Con cũng thương mẹ lắm,
mẹ hãy yên tâm mà đi...Con sẽ tiếp tục vui sống như lúc nào cũng có mẹ bên con”
thì anh thử nghĩ có phải hồn chị có vui vẻ, êm ả ra đi không?
Chúng tôi ngồi lặng
thinh một lúc rồi chị Nhu buông vai Khanh, vuốt tóc lòa xòa trên trán con bé
rồi ôn tồn trấn an hai đứa trẻ:
- Không việc gì phải sợ,
Mẹ mình mà phải không các con? Mẹ sinh ra mình, từng ăn ngủ với mình mà. Nay mẹ
phải đi trước vì ý Chúa nhưng rồi mình cũng sẽ gặp lại nhau thôi.
Chị Nhu đưa mắt nhìn tôi
như muốn kể riêng cho tôi nghe, chị nói:
- Cậu biết không, mấy
ngày trước khi Yến mất... Hôm đó tôi cùng mấy chị trong Hội Các Bà Mẹ cùng đón
Yến từ bệnh viện về đây, ngồi tại chỗ này, y như vầy, Yến ngồi cùng tôi trên ghế
xích đu này, các bà thì đứng, ngồi chung quanh. Yến mở bọc giấy khoe, Yến mân
mê một tấm áo có thêu hình hai cánh chim bồ câu trắng, nó khoan thai nói như
một cô bé đang chơi búp bê:
- Em chuẩn bị sẵn sàng
rồi chị ơi! Em chọn chiếc áo màu xanh nhạt da trời này khi gặp Ngài sẽ thích
hợp hơn. Tràng hạt Mân Côi em từng đọc kinh, cầu nguyện em cũng mang theo, nó
sẽ được đặt trên trái tim của em khi nằm trong quan tài, ờ mà em cũng đã nhắn
ông bà nội hai đứa nhỏ là em chỉ xin cái hòm thô sơ thôi vì em biết mình sẽ đi
ngay và sẽ đi rất xa.
Chưa kể xong chị Nhu
bỗng khóc oà, nói không tròn tiếng:
- Chị và mấy bà nghe Yến
nói không cầm được nước mắt,chị gục đầu vào lòng Yến khóc như mưa.
Tôi nhớ mãi nắng trong
vườn phút chốc đã loang màu tang chế.
Một màu nắng rất hợp với
bóng áo ai xanh thoáng hiện bên tường rồi nhòa đi như tranh sơn màu của Annie
trong phim What Dreams May Come. Chiều vẫn chầm chậm trôi qua đời tôi như chưa
từng có buổi chiều nào như thế và có lẽ mãi về sau cũng không còn chiều nào với
màu nắng vàng xưa hoang hoắc như thế.
Trần Đại
Cho linh hồn
N.A vừa quá cố
Viết xong tại Greenwood Cemetery


