Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Sunday, July 5, 2026
US America 250 In New York 2026 | Grand Military Parade & Independence Celebration Full 4K
Ba Thứ Của Việt Nam Cộng Hòa Mà Cộng Sản Không Thể Thay Đổi Hay Làm Mất Đi - #chantroimoi
Trong lịch sử hiện đại
Việt Nam, sau năm 1975, nhiều biểu tượng của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã bị
thay đổi tên đường phố hay xóa bỏ trong tài liệu chính thức. Tuy nhiên, vẫn tồn
tại ba yếu tố sâu sắc, được quốc tế công nhận và không thể xóa nhòa: tên gọi
Sài Gòn, mã sân bay SGN của phi trường Tân Sơn Nhứt, và mã vùng điện thoại quốc
tế +84. Những thứ này không chỉ là ký hiệu kỹ thuật hay thói quen ngôn ngữ, mà
còn là minh chứng sống động cho sức sống bền bỉ của ký ức lịch sử và bản sắc miền
Nam.
Thứ nhất, tên gọi Sài
Gòn vẫn tồn tại mãi mãi trong tâm khảm người dân. Dù chính thức đổi thành Thành
phố Hồ Chí Minh từ ngày 2/7/1976, người dân miền Nam và cả nhiều người trong nước
lẫn hải ngoại vẫn gọi quen là Sài Gòn. Tên này xuất hiện trong giao tiếp hàng
ngày, âm nhạc, văn chương, và thậm chí trên một số biển hiệu, ga tàu (Ga Sài
Gòn), hay sở thú (Thảo Cầm Viên Sài Gòn). Với cộng đồng người Việt tị nạn sau
1975, Sài Gòn là biểu tượng của tự do, thịnh vượng và ký ức tuổi trẻ. Nó không
phải tên hành chính, nhưng là tên tình cảm, không thể bị luật lệ hay nghị quyết
nào xóa bỏ.
Thứ hai, mã viết tắt
SGN của phi trường Tân Sơn Nhứt là di sản quốc tế không thể thay đổi. Theo Hiệp
hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), mã SGN được giữ nguyên từ thời VNCH, lấy
từ tên cũ Saigon. Dù sân bay nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, mọi chuyến bay quốc
tế vẫn dùng SGN trên vé máy bay, hệ thống hàng không thế giới và lịch trình.
Đây là minh chứng rõ ràng rằng các tổ chức quốc tế không dễ dàng thay đổi mã đã
được cấp cho một thực thể có chủ quyền trước đó.
Thứ ba, mã vùng điện
thoại +84 có nguồn gốc từ thời Quốc gia Việt Nam và được duy trì qua VNCH. Mã
này được Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) phê chuẩn và vẫn áp dụng cho toàn
Việt Nam ngày nay. Dù có tranh luận về năm cấp chính thức (khoảng những năm
1950-1960), thực tế là +84 gắn liền với hạ tầng viễn thông miền Nam khi Bắc Việt
chưa có kết nối quốc tế rộng rãi. Sau thống nhất, mã này được kế thừa nguyên vẹn
vì lý do kỹ thuật và quốc tế, không thể thay bằng mã khác mà không gây hỗn loạn
toàn cầu.
Ba yếu tố này cho thấy
dù có thể thay đổi tên gọi chính thức bằng nghị quyết, nhưng ký ức tập thể, chuẩn
mực quốc tế và thói quen văn hóa sâu sắc không dễ bị xóa sổ. Chúng nhắc nhở rằng
lịch sử không chỉ nằm ở sách vở hay biển tên đường, mà còn sống động trong ngôn
ngữ hàng ngày, hệ thống toàn cầu và trái tim người dân. Sài Gòn, SGN và +84 là
những di sản bất diệt sẽ tiếp tục tồn tại như lời khẳng định rằng một số giá trị
và ký ức của VNCH vẫn trường tồn, vượt qua mọi thay đổi chính trị.
(2) BA THỨ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA MÀ CỘNG SẢN... - Chân Trời Mới Media | Facebook
Bài Thơ Cảm Tạ - Sương Lam
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Đến Phật,
Trời ban hồng phúc thiện duyên
Giúp cho
tôi, hiểu nghiệp quả nhân duyên
Nhận ân
nghĩa, phải tri ân đền đáp
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Đến Cha Mẹ
tôi, hai đấng sinh thành
Dưỡng nuôi
tôi, bé nhỏ đến thành danh
Chưa đền
đáp, Mẹ Cha đà khuất bóng!
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Thầy cô dạy
tôi hai chữ nghĩa ân
Truyền cho
tôi những kiến thức thiết cần
Cho đời sống
tôi thăng hoa tốt đẹp
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Đến bạn
bè, thiện tri thức, thiện nhân
Giúp đỡ
tôi những giây phút tôi cần
Chia sẻ
cùng tôi vui buồn cuộc sống
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Đến những
người vì Tổ Quốc hy sinh
Để cho tôi
có cuộc sống an bình
Nơi xứ lạ,
trong Tự Do, Hạnh Phúc
Tôi viết
xuống đây bài thơ cảm tạ
Đến người
dân nơi tôi sống tạm dung
Mở rộng
vòng tay, để tôi được sống cùng
Trong hạnh
phúc, trong tự do, nhân bản
Và sau hết
tôi đây xin cảm tạ
Đến người
thân gia đình bé nhỏ của tôi
Xẻ chia với
tôi ấm lạnh cuộc đời
Tôi vui khổ,
họ cùng tôi vui khổ
Sương Lam
(Trích
trong tập thơ Đời Sống Quanh Ta của SL)
Tàn Lụn Ước Mơ - Thanh Hà
Hằng năm cứ
mỗi lần lật tờ lịch đến tháng Tư là lòng tôi lại dâng lên nỗi bồi hồi tiếc nhớ.
Tuy thời gian trôi qua nửa thế kỷ, nhưng những ngày đau thương đen tối ấy vẫn
còn hằn trong ký ức tôi vết sẹo đậm sâu. Tôi nhớ rõ ràng các diễn biến như thể
mới xảy ra hôm qua hôm kia vậy.
Khi miền Nam bị rơi vào tay Cộng Sản ngày 30 tháng tư năm 1975 thì mọi sinh hoạt, nếp sống gia đình tôi bị thay đổi, xáo trộn hoàn toàn. Chị em tôi thu dọn sách vở hành lý về quê Kiên Giang với tâm trạng buồn rầu nuối tiếc sự học dở dang vì biết sẽ không bao giờ còn được trở lại giảng đường nữa. Từ nay cánh cửa trường học nào cũng đều vĩnh viễn khép lại với mình rồi.
Nhớ
biết mấy những buổi sáng hăm hở đến trường, háo hức chờ nghe giáo sư giảng các
bài học triết, văn chương Việt Nam, Anh văn, Pháp văn. Bài học vở lòng tiếng
Hán sao mà khó nhớ- mẫu tự như vẽ, rối rắm ngoằn ngoẻo. Nơi đó tôi gặp gỡ bao
nhiêu sinh viên nam nữ từ khắp miền đất nước – vĩ tuyến 17 trở vào–, quen với
nhiều anh, chị, bạn khả ái thân thiện, nay mỗi người mỗi ngả, nghe buồn ngẩn
ngơ. Lâu lắc gì cho cam, chỉ cách đây dăm hôm thôi mà tôi tưởng chừng nhiều
tháng đã trôi qua bởi bao nhiêu biến cố xảy đến.
Xã
hội thay đổi, kéo theo cuộc đời hàng triệu gia đình thay đổi, như từ ánh sáng bạch
nhật bỗng rơi vào màn đêm âm u tăm tối.
Ba
tôi vào trại tù cải tạo, má chuẩn bị túi đồ gồm vài bộ quần áo, khăn tắm, bàn
chải kem đánh răng, ít tiền mặt…cho ba mang theo–mà theo lời dụ dỗ của Uỷ ban
Quân quản Cách mạng lâm thời chi đó (tôi chỉ nhớ lờ mờ cái tên, cũng chẳng buồn
nhớ chi cho mệt óc) “học tập tư tưởng cách mạng” vài hôm thôi. Cái vài-hôm đó
biến thành sáu năm khổ sai nơi vùng U Minh Thượng muỗi bu từng đàn, đĩa vắt nổi
lều bều dưới kinh rạch.
Thật
may mắn phúc đức cho ai đã vượt thoát trước ngày 30.04.1975 năm ấy.
Hai
chữ “phải như” cứ đeo bám dai dẳng trong tâm trí tôi nhiều năm sau vẫn chưa bứt
rời ra được.
Phải
như hai người chị và em tôi kẹt ở Saigon thu xếp về kịp trước ngày 30 tháng Tư.
Phải
như ông bà ngoại chịu rời quê hương.
Phải
như chúng tôi ai đi được thì đi, đừng bịn rịn nắm níu tình cảm người đi kẻ ở,
quan niệm sống cùng sống, chết cùng chết bên nhau.
Phải
như tôi có can đảm ra đi một mình.
Bởi
sau ngày 30 tháng Tư chiến hạm Mỹ vẫn còn thả neo thêm vài hôm nữa gần đảo Phú
Quốc…chờ đón các người chạy nạn xuống đò nhỏ ra (một người cậu họ đi lính ngoài
đảo Phú Quốc về nhà kể lại). Lúc ấy việc ra đi quá dễ dàng đối với gia đình
tôi. Các chú cùng Ty với ba tụ họp lại nhà tôi, chờ ba quyết định nếu ra đi họ
sẽ cùng đi theo. Thế mà gia đình tôi bỏ lỡ cơ hội, bởi không muốn cảnh chia
lìa.
Má
xếp vào tủ những chiếc áo dài thướt tha, những bộ quần áo mặc thường ngày bằng
tơ lụa thanh lịch màu trắng tinh, trắng sữa, trắng kem, trắng phơn phớt hồng…thay
vào chiếc áo bà ba trắng, cái quần satin đen hiếm hoi. Má cấp tốc may thêm cho
mấy mẹ con mỗi người hai bộ áo bà ba quần đen cho hợp thời thế.
Hằng
đêm má trằn trọc khó dỗ giấc ngủ. Chỉ chừng một năm ai gặp lại đều giật mình thấy
má già hơn cả chục tuổi, tóc vốn uốn lượn sóng nay nuôi cho dài, cột túm gọn lại,
chờ đủ dài thì bới búi cao như tóc của bà ngoại, xuất hiện nhiều sợi bạc. Không
héo tàn sao được. Chồng tù khổ sai nơi rừng thiêng nước độc không hẹn ngày về.
Nghĩ xa hơn: có khi nào họ sưu tra tiểu sử ông nội thành phần địa chủ từng bị kết
tội Việt gian và xử tử 24 năm về trước (1951) rồi chồng chất tội ba tôi nặng
thêm không. Chưa kể là chú ba-em kế của ba- cũng bị bắt đi tù, tội tư sản mại bản,
bị chiếm hết tài sản, nhà cửa, đày ải vợ con xuống vùng kinh tế mới cũng ở tận
U Minh xa lắc lơ.
Tôi
nhớ hoài lời ba má thường khuyên bảo chị em tôi:
–Gia
tài ba má để lại cho các con không phải là tiền bạc, mà là cố gắng cho các con
học hành để mai sau các con gom góp kiến thức tự lập nuôi thân. Ngày nào các
con thành đạt nên người, coi như các con trả ơn cho ba má vậy.
Thế mà giờ đây cánh cửa học đường mở vào tương lai đã
đóng với chị em tôi. Ngoại trừ cô em út 9 tuổi còn được tiếp tục đến trường, cậu
em 16 tuổi theo học thêm vài tháng rồi cũng nghỉ vì quá chán ngán với những buổi
ngồi nghe giảng chính trị và nghe chửi bới miệt thị các gia đình “nguỵ
quân, nguỵ quyền” mà ba tôi là một trong hai thành phần họ đem
ra nhục mạ ấy.
Hỏi
lòng người mẹ nào mà không đớn đau thương xót khi nghĩ về ngày mai đen tối của
các con tuổi mười sáu đôi mươi khi trái mộng đời vừa chớm nụ chưa kịp nở đã héo
non?
Rồi
làm gì để sống đây? Đàn con sáu đứa, lúc trước trừ chị hai có việc làm thư ký,
độc thân tiền lương lãnh về bao nhiêu đưa hết cho má thì 5 người còn lại đều
trong tuổi ăn học chưa bao giờ lao động nhọc nhằn, trong đó 3 đứa đi học ở
Saigon tốn kém biết bao nhiêu. Ba tôi tuy giữ chức vụ trọng yếu trong Ty Thông
Tin tỉnh, với đồng lương căn bản nếu không nhờ lúa gạo của ông bà ngoại và má
giỏi may vá lãnh hàng từ láng giềng phụ thêm, xoay xở mới vừa đủ. Huống chi giờ
đây hai đầu lương của ba và chị hai bị cắt, việc may vá của má không nhiều như
xưa nữa.
May
là bồ lúa của ngoại còn đủ ăn cho đến mùa gặt tới. Giàn bí, bầu, khổ qua, dưa
leo trong vườn rau luống cải ngoại gieo trồng tươi tốt. Rau muống, rau ngổ,
bông súng mọc tràn lan ngoài đồng, kênh rạch. Các loại cá lóc, rô, trê, sặt
trong ao dưới mương ruộng không thiếu. Miếng ăn tạm thời chưa nguy cấp.
Gia đình chúng tôi thuộc thành phần bị hất hủi của chế độ.
Trước đó tôi có đọc các tác phẩm của nhà văn Nga đoạt giải Nobel Alexandre
Solzhenitsyn như Tầng Đầu Địa Ngục, Một
Ngày Trong Đời Ivan Denisovitch”, về câu chuyện của người tù dưới
thời CS Sô Viết. Do viết quyển sách như trên mà ông phải sống đời lưu vong 20
năm ở châu Âu, rồi Mỹ. Khi Liên Sô sụp đổ năm 1994 ông trở về cố quốc và qua đời
vào năm 2008.
Lúc
đọc hai câu chuyện ấy tôi bị ám ảnh sâu sắc, tưởng chỉ xảy ra ở một đất nước xa
xôi từ thuở tôi chưa ra đời, đâu ngờ lịch sử đen tối lập lại chính xác trên quê
hương mình, mà ba tôi là một trong hàng vạn Ivan Denisovitch.
Tỉnh
thành lập đoàn sinh viên học sinh – gom tụ các”ưu tú tương lai” lại. Có khoảng
hơn trăm người gia nhập, chia ra nhiều toán, mỗi toán hơn chục người với nhiệm
vụ đi gom rác rưởi ở chợ, móc ống cống đường mương bị nghẹt, phát nhổ cỏ công
viên…Chọn những sinh viên nào năng nổ nhất, lập nhiều thành tích nhất làm chỉ
huy.
Sáng sáng chúng tôi tụ họp ở địa điểm định sẵn, chờ “được” phân công toán nào đi những đâu.
Những
sinh viên học sinh khờ khạo ngây thơ gia đình có liên quan với chế độ VNCH
(trong đó có tôi) vẫn còn nuôi chút hy vọng khi nào trường mở cửa sẽ được tiếp
tục đi học lại nên chịu khó tham gia, túa ra nhiều ngả theo sự phân công dùng
cuốc xẻng dao hoặc tay không, hì hục hăng hái “lao động là vinh quang”, chỉ tạm
dừng chạy về nhà cách 7 km ăn trưa, 2g ra làm tiếp cho đến chiều.
Trưởng,
phó đoàn không ai xa lạ, từng có mối giao hảo rất thân thiết với chị em tôi. Đó
là những người trong ban chấp hành hội Ái Hữu SVHS tỉnh Kiên Giang. Chúng tôi học
ở các trường đại học Saigon khác nhau nhưng thường xuyên gặp trong các lần bầu
bình chọn Ban Chấp Hành kêu gọi chị em tôi dồn phiếu cho họ, các buổi văn nghệ
gây quỹ Cây Mùa Xuân, cắm trại ngoài trời Lái Thiêu, Bình Dương, hoặc hẹn đến
nhà trọ nấu chè, ăn cơm chiên rau muống xào tỏi…rất đơn giản mà thân tình.
Bây
giờ gặp lại, họ làm ngơ như thể chưa từng quen biết không cả một lời chào, một
cái gật đầu. Thật không hiểu nổi. Có lẽ họ thấy gia đình tôi thuộc thành phần
không được chào đón ở chế độ mới nên xa lánh cho khỏi liên luỵ.
Chị
em tôi tham gia được vài tuần thì ngưng. Ý thức chế độ mới nầy chẳng bao giờ chấp
nhận cho chúng tôi tiếp tục học. Tìm việc làm nuôi thân là thực tế hơn.
Từ
nhỏ đến giờ ngoài chị hai đã đi làm thì 5 chị em trở xuống có làm ra một đồng
xu cắc bạc nào ngoại trừ phụ quét nhà nấu cơm giặt quần áo.
Phần
lớn nhân viên công chức cũ bị sa thải, thiếu người trầm trọng nên họ tuyển dụng
người mới thay thế vào các ngành ngân hàng, giáo viên cấp I, y tá, thương mại…
trình độ học không quan trọng miễn thuộc thành phần không dính líu với chế độ
cũ…tôi thử nộp đơn xin việc với rất ít hy vọng được nhận.
Đơn xin việc phải kèm tờ khai lý lịch, mang cho trưởng
khóm và công an phường chứng. Ông trưởng khóm vốn xuất
thân nông dân rặt, bốn mùa đi chân đất, răng bám vàng nhựa thuốc, khăn ca-rô bằng
len choàng quanh cổ làm dáng dù trời nắng nóng đổ lửa, chữ viết ngoằn ngoèo chứng
vào tờ đơn tôi đại khái: “chứng nhận đương sự tên…ngụ tại địa chỉ…có
cha là công chức nguỵ đang đi cải tạo”.
Đến công an phường, tên đồn trưởng viết: “chứng
nhận lời trưởng khóm viết đúng sự thật” và đóng mộc. Thử hỏi với
lời chứng lý lịch như thế thì trường học hay cơ quan nào dám nhận tôi vào làm
việc. Thời gian sau, tôi tự “tụt hạng” cầm đơn xin chân bán hàng tạp hoá cho Hợp
tác xã. Bị từ chối. Lại tụt xuống nấc thang xã hội thấp nhất là công nhân
khiêng vác gạch, cát, đá cho công trường xây cất. Cũng bị từ chối nốt.
Tôi
đau khổ tuyệt vọng vì không thể tự lo bản thân nhẹ bớt phần nào gánh nặng gia
đình, tìm an ủi bằng cách chúi đầu vào sách để tạm quên thực tại. Những quyển
sách văn học, lịch sử, chính trị…bất luận loại nào được tôi nghiền ngẫm đến độ
có quyển tôi thuộc lòng từng chương đoạn. Nhìn các sách chương trình Luật (của
chị ba), Văn(của tôi) giá trị đúc kết từ tâm huyết, tri thức lỗi lạc của các
giáo sư, học giả dành cho hậu sinh, tôi từng thức nhiều đêm gạo bài chuẩn bị
cho kỳ thi cuối năm mà thẫn thờ chua xót.
Nỗi
đau tiếp nối nỗi đau chưa chấm dứt. Tìm quên trong thú đọc sách thêm thời gian
không lâu thì họ phát động phong trào “tiêu huỷ đốt sách văn hoá phẩm đồi truỵ
của tàn dư Mỹ Nguỵ”.Đây mới thực sự là cú giáng chí mạng đối với những người
đam mê sách vở văn chương đây.
+ Một cảnh đốt sách vào tháng 5 năm 1975 ở Sài
Gòn. Ảnh internet.
Ngày
xưa vua Tần Thuỷ Hoàng muốn tiêu diệt những trí thức không cùng chính kiến đã
ra lệnh đốt hết sách vở cũ và chôn học trò. Bây giờ họ không cần chôn sống học
trò, mà chỉ cần tẩy não biến chúng tôi thành lũ cừu không được có tư duy chính
kiến riêng, mà phải hành động phát ngôn rập khuôn theo những gì họ muốn. Họ huỷ
diệt nền văn hoá, di sản tinh thần quí giá của tiền nhân để lại, bóp chết bao ước
vọng hoài bão cao đẹp, tương lai hàng triệu học sinh trên dãy giang sơn hiền
hoà no ấm yêu tự do thanh bình.
Chúng
tôi lôi hết những gì tượng trưng cho “chữ nghĩa” được in bằng giấy đầy ắp các tủ
đem chất thành đống to tướng: Từ những truyện thiếu nhi, tập học của chị em tôi
từ lớp vỡ lòng vẫn còn lưu giữ, những quyển truyện có từ thời ba má còn trẻ,
sách chính trị, tôn giáo, lịch sử, văn học cổ điển Tây phương, Đông phương,
sách nghiên cứu, sách khoa học cho đến những tuần san, nguyệt san, nhật báo, tiểu
thuyết, truyện thiếu nhi, những băng dĩa, nhạc giá trị…
Bình
thường chúng tôi nấu ăn bằng réchaud dầu. Giờ thỉnh thoảng mới mua được dầu – với
lại phải tiết kiệm tiền – nên nấu xen kẽ bằng mạt cưa, các lá dừa, tàu dừa chặt
nhỏ phơi khô lẫn với củi tràm. Nay “nhờ” có thêm đống sách báo, chúng tôi kê ba
viên gạch làm bếp dã chiến nấu cơm phải vài tuần mới hết đống giấy.
Vừa
liên tay xé mỗi lần vài trang sách, cuộn tròn đút vào bếp vừa nhìn ngọn lửa liếm
dần từng trang chữ mà lòng quặn đau, tiếc hận. Kéo vạt áo lên chùi nước mắt nhạt
nhoà bởi khóc và bởi khói cay, thầm nghĩ::
–Mình
tự đốt tương lai lụi tàn theo đống lửa nầy đây.
Nhưng
chúng tôi vẫn tìm cách lưu giữ được vài chục quyển sách quí hiếm bằng cách bọc
vài lớp plastic bên ngoài, rồi đặt vào hai thùng đạn đại liên mà thời quân chủng
bộ binh còn đến đóng căn cứ tạm để đi hành quân các vùng phụ cận, các chú mang
về tặng gia đình tôi tuỳ nghi xử dụng.
Chúng
tôi sống trong căn nhà chung vách với nhà ông bà ngoại. Ông ngoại tôi gốc dân
Cao Lãnh nơi mỗi năm thường bị lụt vài tháng nên mọi người đều cất nhà sàn
tránh nước ngập. Ông cưới bà ngoại, lập nghiệp bên vợ nhưng vẫn cất nhà theo kiểu
quê ông. Sàn cao hơn thước, chị em tôi định chôn hai thùng sách dưới sàn nhà.
Bà ngoại thương đàn cháu ham mê sách vở nên chịu khó chui xuống gầm, hì hụt cặm
cụi đào cái hố nhỏ vừa đủ lọt hai thùng sách. Xong lấp đất lại bằng phẳng,
không ai lần ra dấu vết. Lúc làm việc này hàng xóm không thể thấy vì căn nhà thứ
hai của chúng tôi che chắn mọi ánh mắt tò mò.
Nhưng
tôi vẫn giữ bên mình tập thơ chép tay sưu tầm các bài thơ hay của nhiều thi sĩ
từ thời tiền chiến đến cận đại. Tôi thường đem quyển thơ ra nằm đu đưa trên chiếc
võng mắc ngoài hàng hiên nhà sàn đọc tới đọc lui các vần thơ thanh tao lãng mạn
mượt mà hòng chạy trốn hoàn cảnh thực tế trần trụi chốc lát.
Một
buổi trưa tôi đang đắm hồn vào cõi mộng qua những lời thơ trữ tình:
*Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Mắt xanh là bóng dừa hoang dại
Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng
(Mộng dưới hoa, thơ Đinh Hùng)
*Mai tôi ra đi chắc trời mưa
Tôi chắc trời mưa mau
Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội
Nhưng chậm thế nào thì cũng phải xa nhau
(Paris, thơ Nguyên Sa)
Tôi
đang còn ngẩn ngơ với 4 câu thơ của Wolfgang Goethe được Đan Chinh phỏng dịch một
cách thần sầu, bởi nó đánh trúng vào tâm trạng tôi hiện tại:
Anh là vĩnh phúc trên đường về hư mất
Lúc đời sống còn độc hơn cả chính cơn đau
Và cái đẹp phát sinh từ ngỗ nghịch
Chính là điều cuốn ta lại gần nhau
Thì
một giọng nói thô thiển đàn ông sát bên tai khiến tôi giật nẩy mình vì bất ngờ:
–Ê
con nhỏ đọc cái gì đó, đưa đây tao coi.
Nhìn
lên, là cậu ba Tòng đứng cạnh võng hồi nào tôi chả hay.
Cậu
là người hàng xóm. Gốc ngoại ô Saigon- Hóc Môn, Bà Điểm chi đó – làm công cho
chủ ghe chài thu mua gạo từ Rạch Giá chở lên Saigon, thường neo ghe dưới bến
nhà bà cô hai bán tạp hoá cách nhà tôi vài căn. Ông bà nói “có tật có tài” có lẽ
đúng với cậu Tòng. Cậu vốn nhỏ con cao chừng 1,4m-1,5m cánh tay ngắn ngủn không
đồng thanh đồng thủ với thân hình nên được hoãn quân dịch. Không biết cậu có bí
quyết gì thuyết phục được bà cô hai đem con gái lớn 16 tuổi tên Hương gả cho cậu
30 tuổi mà dưới mắt lũ trẻ nít chúng tôi thì với tuổi ấy tức “già” rồi. Cô
Hương tuy là gái quê nhưng khá xinh, tóc dài tận eo dợn sóng, mắt sáng long
lanh. Chắc bà cô sợ cô Hương lấy chồng quân nhân dễ nguy cơ trở thành “goá phụ
ngây thơ” nên gả cô cho cậu Tòng để yên tâm chứ gì.
Cưới
được vợ cậu bỏ nghề sông nước lên bờ sắm xe lam chạy chở khách. Cậu và nhà mẹ vợ
có mối giao hảo tốt đẹp với gia đình tôi. Tối tối xong công việc chạy xe, cậu
hay tới nhà uống trà kể chuyện nầy chuyện nọ với ba má, có vẻ am hiểu các vấn đề
thời sự.
Sau ngày mất miền Nam, cậu Tòng bỏ chạy xe lam, gia nhập
nhóm “ba mươi tháng Tư” hoạt động hăng say ngày ngày cầm cuốn sổ lớn
đi từng nhà kêu họp hành, hoặc kiểm kê dân số, và gì đó nữa. Thái độ bỗng nhiên
thay đổi nghênh ngang, xử dụng các danh từ rối rắm tối nghĩa của chế độ mới.
Chúng tôi ngạc nhiên không biết cậu học ở đâu mà lẹ thế.
Cùng với cậu Tòng, một số người trong xóm trước kia vốn
khiêm tốn hiền hoà gần như không ai để ý, sau đận “đổi đời” nhảy ra làm việc
cho chế độ mới với lòng nhiệt thành hăng say, được gọi là “những kẻ
cơ hội 30 tháng Tư” chẳng hạn ông trưởng khóm vốn là nông dân
nói trên. Hai phụ nữ: một làm nghề bánh tráng, một buôn bán vặt được đưa vào hội
Phụ Nữ. Một thanh niên khiêng vác nước đá – vẫn tiếp tục nghề vác nước đá – được
giao nhiệm vụ giữ trật tự đường phố mỗi khi có lễ lạc, đeo băng đỏ trên cánh
tay tưởng mình quan trọng hách xì xằng, nói năng xấc láo với chòm xóm. Đáng ngạc
nhiên có hai người bạn thời trung học của tôi cũng “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”
hăng hái phục vụ không lương một thời gian khá dài cho đến lúc bị vắt chanh bỏ
vỏ.
Tôi
đưa quyển thơ cho cậu. Ông cầm lên đọc, lật tới lật lui mấy trang sách hồi lâu
rồi hỏi:
–Mấy
cái vớ vẩn nầy mày chép ở đâu vậy?
Tôi
trả lời đại:–Thầy dạy môn Quốc văn dạy tụi con ở trường.
–Toàn
thơ văn uỷ mị đầu độc sặc mùi của bọn tiểu tư sản. Mầy đem đốt liền không được
để tao thấy nữa nghe chưa.
Ngày
trước cậu Tòng xưng hô “cậu cháu” chứ không “mầy tao” như bây giờ.
Chỉ
còn mỗi tập thơ là nguồn an ủi thế mà ông cũng truy cùng đuổi tận. Nhớ hồi trước
ông hay đến chơi nói chuyện rất tình cảm với ba má tôi, thế mà giờ đây giở giọng…
Uất ức quá tôi cãi:
–Sao
gọi là uỷ mị? Đó là những bài thơ diễn tả tình yêu giữa con người với con người,
ngoại trừ gỗ đá mới không có tình cảm, trái tim. Vậy cậu dành tình yêu thương
cho gia đình, cho cô Hương và con cái của cậu cũng là uỷ mị tiểu tư sản đó hả?
Mà tiểu tư sản thì có gì là xấu, cậu cắt nghĩa con nghe đi.
Nghe
tôi nói mạnh, ông ngẩng phắt đầu trừng mắt nhìn tôi, mở miệng định nạt gì đó.
Tôi cũng nhìn thẳng vào mắt ông không chớp. Thừa biết ông chẳng biết chút gì về
văn thơ, tôi bồi thêm:
–Hơn
nữa cậu có biết ai là tác giả mấy bài thơ cậu đang lên án nầy không vậy?
Mặt
ông đổi màu, đầu tiên từ xanh vì ngượng sang đỏ gay vì tức:
–Mầy
đừng hỏi đố tao. Có muốn đi dọn rác quét đường phố vài tuần lễ không?
Tôi
loè:
–Con
nói gì bậy mà cậu hăm doạ con. Cho cậu biết những bài thơ mà cậu chê uỷ mị đây
là của các ông thi sĩ hiện nay đang giữ chức vụ rất cao ở trung ương, là bộ trưởng
thứ trưởng lần lượt các bộ Kinh tế, Văn hoá và gì gì đó nữa. Có người là đại biểu
quốc hội, chủ tịch hội nhà văn v..v.. chớ không phải thơ của “Mỹ Nguỵ” vớ vẩn
như cậu chê nhé. Cậu dám phê bình thơ nếu mà tới tai mấy ổng thì cậu sẽ bị lôi
thôi đó. Không tin cậu cứ đi hỏi thì sẽ biết.
Tiếp
theo tôi nêu một loạt tên các ông thi sĩ HC, XD, LTL..kèm thêm vài đoạn thơ. Tất
nhiên không nói các bài thơ nầy được họ sáng tác thời tiền chiến trước 1954.
“Nắng chia nửa bãi chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu…”, HC
”Em không nghe mùa thu
Dưới trăng vàng thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ…” LTL
Biết
nếu càng nói thì càng lộ cái sự không-biết-gì của mình, định trấn áp tôi ai ngờ
bị tôi hù doạ ngược. Cuối cùng ông hạ giọng, nhưng cố vớt vát để cứu thể diện:
–Mầy
đem cất quyển tập thơ từ nay không được đọc trước mặt người khác nghe chưa. Bây
giờ tao giao cho mầy công việc nầy nè, là hai chị em mầy đi từ nhà kiểm kê nhân
số, hỏi tên tuổi từng người, nơi sanh, tình trạng gia đình, học lực, nghề nghiệp…rồi
điền vào các mẫu có sẵn đây.
Không
lâu sau, chả biết vì lý do gì cậu Tòng bị vào tù. Khi được thả ông âm thầm lẳng
lặng bán nhà đưa vợ con đi đâu mất tiêu không một lời giã biệt xóm làng.
Hết
chiến dịch đốt sách thì bắt đầu chiến dịch gởi giấy kêu gia đình nào có trai
gái từ 18 tuổi trở lên đi làm thuỷ lợi nhiều ngày, tức đào kênh rạch ở những
vùng xa xôi hẻo lánh, không điện, nước mặn, muỗi đĩa dầy đặc.
Ông
bà ngoại tôi vốn sở hữu vài mẫu đất ruộng. Lúc đầu chưa bị xung vào hợp tác xã
nên ngoại vẫn tiếp tục ra đồng dù ông đã 73 tuổi, bà 67 tuổi.
Nhà
tôi cả đàn 4 cô gái tuổi xuân thì không có việc làm, nay mai chắc chắn họ sẽ gọi
đi nên ông bà ngoại thương cháu gom cây, lá dừa nước vào cất cái chòi nhỏ 2×2 m
trên bờ đê ngay thửa ruộng cách nhà hơn một cây số cho mấy chị em tôi đóng giả
đi làm đồng áng hầu đánh lạc hướng để họ đừng bắt đi đào kênh nơi vùng hoang vu
hiểm độc.
Ruộng
nhà tôi nằm lọt thỏm giữa cánh đồng bao la, bao bọc chung quanh bởi các mảnh ruộng
của nông dân khác. Lúa đã cấy xong, nên không ai ra đồng, chúng tôi tránh được
các cặp mắt soi mói theo dõi.
Thế là sáng sáng, tôi mặc cái áo bà ba bằng vải thâm nâu,
cái quần nhuộm phai màu, đen không ra đen, vàng úa không ra vàng úa bằng chất
liệu rất xấu. Giặt nhiều lần bị rút, lai quần cuốn nhăn nhúm cao lửng lơ khỏi mắt
cá chân. Nhìn bộ vận của mình tôi cũng phải bật cười nhớ có lần nghe mấy ông bộ
đội miền Bắc trẻ kể chuyện mấy cô thôn nữ ngoài quê của họ mỗi năm được cấp mỗi
người chỉ 2 m vải may y phục nên buộc lòng phải mặc cái quần “nơ nửng”(lơ lửng)
cái áo đợi chờ”
Họ
cũng văn hoa chữ nghĩa phết đó chớ.
Chúng tôi theo bà ngoại khệ nệ xách giỏ đan bằng lác y hệt
các “lữ lông dân”(nữ nông dân) ra đồng vậy,
đâu ai biết bên trong giỏ đựng ngoài món ăn vật chất còn có món ăn tinh thần mà
nếu bắt gặp sẽ bị gán cho cái danh tiểu tư sản thật sự đây !!!
Gồm
khoai lang, nước uống, 1 cái mền và quyển truyện.
Thời
may nhà sách quốc doanh có bán vài quyển văn học giá trị in trên loại giấy vàng
xấu như Những Người Khốn Khổ của Victor Hugo, truyện ngắn của Anton Chekhov,
Chiến Tranh Và Hoà Bình của Léon Tolstoi…nên tôi cũng thoả cơn khát chữ phần
nào. Bà ngoại cưng cháu sợ buồn miệng và đói thức sớm luộc khoai lang dương ngọc,
bắp mang theo. Cái mền mỏng là của em gái thứ năm vì em có thói quen từ nhỏ hể
nằm là đắp hai chân dù trời nóng hay lạnh. Ra ruộng, trời còn mát mẻ chúng tôi
cùng bà ngoại xắn quần lên khỏi gối lội xuống nước, lom khom bứt cỏ năng mọc lẫn
lộn với mạ non. Chốc chốc lại co chân lên xem có đĩa hay vắt bám vào không. Ngoại
dạy cách phân biệt hai loại kẻo bứt nhầm mạ vì cả hai có lá tương tự.
Nắng
lên cao, hơi nóng từ mặt nước toả hầm hập. Ngoại kêu thôi các con vào lều nghỉ
đi đừng làm nữa, nắng táp đen da hết.
Trời
ơi viết đến đây mà tôi ứa nước mắt nghĩ đến tình thương của ngoại dành cho đàn
cháu bao la trời biển, chúng tôi chưa báo hiếu được ngày nào thì ông bà ngoại
đã ra người thiên cổ !!!
Cho
nên tiếng là đi làm ruộng, thực ra phần lớn thời gian chúng tôi chỉ nằm trong
chòi đắp mền đọc sách, ăn bắp, khoai lang luộc. Em gái năm có giọng ca truyền cảm
trời phú. Từ chiếc chòi lá giữa cánh đồng mạ non vọng lên tiếng em hát hoà lẫn
tiếng gió nhè nhẹ thổi dưới bầu trời xanh xen từng cụm mây trắng tạo những hình
thù thú vị biến đổi không ngừng nghe thấm thía từng ý nghĩa câu chữ:
*Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn
Nước tuôn trên đồng vuông vắn
Lúa thơm cho đủ hai mùa
Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê
(Tình hoài hương, nhạc Phạm Duy)
*Saigon ơi tôi đã mất người trong cuộc đời
Saigon ơi thôi đã hết thời gian tuyệt vời
Giờ còn đây những kỷ niệm sống trong tôi
Những nụ cười nát trên môi
Những giọt lệ ôi sầu đắng…
(Saigon ơi vĩnh biệt, nhạc Nam Lộc)
Đến
trưa má kêu cậu em trai 15 tuổi lội nước đem cơm vào. Xế chiều nhẩn nha thu dọn
đồ đạc trở về nhà, lội qua mấy cánh đồng ngập nước mà cứ hồi hộp sợ đĩa vắt bám
hút máu.
Qua
đợt Cộng Sản gọi đi làm thuỷ lợi, chị em tôi không đi ruộng nữa. Tiếp gia đình
đâu không thấy chỉ thấy báo hại thêm, khiến ngoại phải thức sớm luộc khoai, bắp,
theo bảo vệ chăm sóc chúng tôi cả ngày ngoài đồng. Đã vậy còn bắt thằng em đến
giờ trưa mang cơm ra cho các chị, nó chưa cằn nhằn là may. Thêm đùn việc nấu
cơm giặt quần áo quét nhà cho má, hai chị lớn nữa.
Đến
khi lúa chín ngoại thuê thêm vài người thợ gặt lúa, đập lúa, chuyên chở lúa bằng
xuồng từ ruộng theo giòng kênh nhỏ về nhà.
Lần
nầy tôi phụ giũ rơm, làm-ruộng-thật-sự chứ không làm tài tử che mắt thiên hạ.
Thời ấy việc đồng áng toàn bằng sức người. Muốn thu hoạch hạt lúa, gọi là đập
lúa phải nhờ các thanh niên trẻ khoẻ mạnh, thường là người Cam Bốt ngụ xóm trên
mới cáng đáng nổi. Đây là công đoạn nhọc nhằn nhất. Những cọng lúa trĩu hạt được
cắt gần gốc đem cột lại thành những bó tròn nặng đường kính 3 tấc.
Thợ
đập quấn vòng quanh bó lúa bằng chiếc néo (?) đan bằng cọng mây (hay lác?) Đó
là một dụng cụ đặc biệt nhưng đơn giản mà tôi không biết tả sao cho dễ hiểu, thợ
dùng cả hai cánh tay giữ chặt, giơ bó lúa lên cao lấy sức lẫn thế đập mạnh xuống
tấm ván dầy cả tấc hình chữ nhật dài độ 1,2 m, chiều ngang 0,6 m kê nghiêng góc
45 độ cho hạt lúa tuôn xuống cái đệm cói lót sẵn để hứng. Người thợ lập đi lập
lại động tác đập bó lúa xuống tấm ván nhiều lần cho đến khi văng hết hạt thì quẳng
ra một bên, lấy bó khác đập tiếp. Bó lúa “bị đánh vùi dập tả tơi” trở thành bó
rơm nhẹ tênh. Đến phiên tôi nhặt từng bó rơm, mở dây cột, giũ tiếp cho các hạt
còn dính sót ở giữa rơi hết hẳn.
Các
hạt lúa rơi cận rìa tấm đệm được ông bà ngoại quét gom lại, xúc vào thúng để đổ
vô bao bố loại 50 ký, chất lên chiếc xuồng được hai thanh niên dùng sào chống
xuồng xuôi theo con rạch nhỏ đem vào nhà.
Động
tác khom lưng cúi xuống nhặt bó rơm, đứng thẳng lên dùng hai cánh tay giũ hết lực
như có thể, quẳng bó rơm ra xa…được tôi lập đi lập lại từ sáng đến chiều hàng
ngàn lần liên tiếp cho hết số lúa gặt trên mấy mẫu ruộng. Trời nắng hừng hực,
tôi đội nón lá, mái tóc nửa lưng được cột lại gọn gàng. Vì không quen che mặt
nên khi mặt trời ngả dần về tây, đống rơm cao vút hình thành một ngọn đồi cao
5,6 mét thì hai má tôi đỏ au nóng bừng thân thể rã rời, lưng áo ướt đẫm, hai
cánh tay mỏi nhừ nhấc hết lên. Tôi cố gắng chịu đựng không dám than thở. Nghĩ
thầm: Ông bà ngoại tuổi cao mà còn làm lụng vất vả quanh năm không một lời nề
hà kêu ca, còn tôi chỉ làm chưa đầy một ngày có thấm vào đâu so với hai người.
Càng nghĩ càng thương ông bà ngoại vô biên, công ơn phụ ba má nuôi dưỡng chị em
chúng tôi như trời biển đời nầy không còn dịp trả rồi.
Một
trong các anh người Cam Bốt đập lúa, hẳn quan sát tôi tự sáng giờ lên tiếng:
–Trời
ơi cô ơi nghề làm ruộng nhọc nhằn cực khổ lắm sức cô làm không nổi đâu. Nên kiếm
nghề gì ở văn phòng làm cho nhẹ nhàng chứ tui thấy cô làm sáng giờ mệt tội cô
quá trời.
Tôi
chỉ cười nhẹ, nói thầm trong lòng:
–Anh
ơi, giá mà tôi có quyền chọn lựa tương lai cho mình!!!
Lúa
đem về nhà phơi thật khô đổ vào bồ để dành xay ra gạo ăn dần. Tôi chỉ làm nhiệm
vụ giũ rơm chừng 1 hoặc 2 ngày là xong. Còn ông bà ngoại thì quanh năm suốt
tháng, thật ngưỡng phục ngoại quá chừng.
Cuộc
sống không hoài vọng, không tương lai như thế kéo dài được hai năm. Tưởng đã xuống
nấc thang chót của xã hội rồi, ngờ đâu cuối năm 1977 gia đình tôi còn rơi sâu
thêm dưới tầng địa ngục nữa.
Lấy
cớ đánh đuổi tư sản và phản động lần thứ nhì vào năm 1977 (lần nhất vào tháng 9
năm 1975) họ tiếp tục tịch thu nhà cửa dân, đẩy đi kinh tế mới. Sau nầy, theo lời
kể của thím Năm hàng xóm tốt bụng được họ cho (hay ép) làm việc trong hội Phụ Nữ,
nhân cuối năm các ban ngành họp báo cáo là có chỉ thị từ trên ban xuống cho mỗi
địa phương, mỗi phường muốn lập thành tích mừng xuân phải tìm cho ra vài gia
đình tiêu biểu thuộc hai thành phần trên. Gia đình tôi không là tư sản, vậy
đương nhiên là phản động. Nửa đêm gần Giáng sinh, công an bao vây nhà, tràn vô
lục xét mọi ngõ ngách nhét súng vào bồ lúa rồi hô tướng lên là nhà chôn giấu
súng mưu toan chống đối. Bắt mấy má con đi tù, đuổi ông bà ngoại và em gái út
11 tuổi ra cái chòi hoang, chiếm mất hai căn nhà tịch thu toàn bộ tài sản
Cũng
theo thím Năm, công an Rạch Sỏi năm ấy được tuyên dương công trạng và được thưởng
“nhờ” phá tan ổ phản động nguy hiểm, tức 7 mẹ con tôi và đứa cháu 11 tháng con
của chị ba (chồng chị đi làm vắng nhà, sau cũng bị bắt nguội).
Công
an tỉnh sau nhiều lần điều tra xét hỏi chắc nhận ra sự vô lý, thiếu chứng cớ của
việc bắt bớ nầy hay sao mà mấy má con ở tù ba tháng thì được thả về, hơn nữa số
người vượt biên bị bắt đông nhà giam không đủ chỗ chứa. Ra tù, chúng tôi tiếp tục
sống trong căn chòi hoang với ông bà ngoại gần hai năm nữa. Hai căn nhà của
chúng tôi, lúc đầu do công an quận quản lý, năm sau lấy một căn làm trụ sở Công
Nghiệp, căn còn lại làm nơi trú ngụ cho mười mấy nhân viên nam nữ nhà ở xa.
Một
tên con trai vốn chúng tôi từng-tưởng-là-bạn thỉnh thoảng ghé thăm, ra vẻ xót
xa thông cảm cho hoàn cảnh chúng tôi lắm. Vì tin tưởng nên trong lúc trò chuyện
chúng tôi vô tình hớ hênh kể lại việc chôn giấu sách mà không nói chỗ nào. Thế
là hắn lân la kết bạn với những người đang chiếm ngự nhà, phóng đại rằng chúng
tôi có chôn giấu vàng bạc, đề nghị cùng họ đào bới lên chia nhau xài.
Không
biết họ có thử tìm. Diện tích nhà quá rộng, mà đất chỗ chôn giấu sách đã phẳng
lì như nhau làm sao tìm thấy?!
Mười
hai năm sau khi gởi hàng trăm lá đơn đòi nhà thì cuối cùng họ cũng giao trả. Tất
nhiên chỉ còn cái vỏ trống hoác hư hại, nhưng ít ra ông bà ngoại tôi còn được
trở
về chết trên ngôi nhà mà hai người đã xây dựng bằng mồ hôi khổ nhọc. Một trong
những người từng cư ngụ trong nhà chúng tôi kể lại câu chuyện tên con trai đề
nghị với họ tìm nơi chôn cất vàng đào lên chia nhau xài, mới bật ngửa về lòng dạ
con người quả là khó đoán.
Trở
về nhà cũ, chúng tôi không quên hai thùng sách, lúc nầy sức khoẻ bà ngoại đã yếu
nên mấy chị em thay phiên chui dưới sàn nhà tìm đúng chỗ chôn giấu. Hì hục mấy
tiếng đồng hồ mới bứng được hai thùng đạn đại liên lên. Mở nắp lôi các quyển
sách ra, bồi hồi thấy các trang giấy ẩm ướt đã vàng phai màu thời gian, xúc động
như thể tái ngộ người thân yêu bao năm thất lạc !!!
Chúng
tôi phát giác trong số người quen không ít kẻ “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”.
Hôm qua còn đối đãi nhau thân thiết, giờ đụng mặt họ giả vờ xa lạ.
Những kẻ cơ hội mà người đời mỉa mai gọi là “những
tên ba mươi tháng tư” không phải ít. Trong đó có hai người bạn
học chung lớp tôi thời trung học, chẳng hạn.
Khi công an đến chiếm nhà tôi lúc nửa đêm, tống hơn phân
nửa thành viên vào tù, số còn lại bị đuổi ra nhà hoang thì sáng hôm sau, ”đoàn
quân ba mươi tháng Tư” ồ ạt kéo đến tranh giành chia chác đồ đạc
tài sản mà họ cứ trầm trồ nhiều quá chất thành đống không ngờ nổi. Ngoại và
hàng xóm kể lại rằng một chị bạn học của tôi nhà cách 4 căn có chân trong hội
Phụ Nữ cũng góp phần trong đám người hôi của ấy.
Còn người bạn học nam nhà cách 1km lúc ấy xung vào đội an
ninh dân phòng tỏ ra hống hách lớn tiếng nạt nộ mọi người – kể cả với ông bà
ngoại tôi– là: “nội bất xuất, ngoại bất nhập, không ai được
mang bất cứ cái gì dù là cây kim sợi chỉ ra ngoài”.
Ơ
kìa, đó là tài sản của gia đình tôi kia mà!!!
Gia
đình hai bạn nam nữ ấy đều quen biết thâm giao với gia đình tôi từ rất lâu đấy.
Còn
nhiều nữa những thí dụ tương tự.
Số
người đón gió trở cờ ấy không nghênh ngang được lâu. Khi nhận thức câu “vắt
chanh bỏ vỏ” thì cuộc đời họ đã tàn tạ. Cộng sản chỉ lợi dụng hạng người trên
như công cụ, xong việc thì loại bỏ không nương tay. Đa số vào tù vì một cái cớ
nào đó, may mắn thì bị cho về vườn đuổi gà.
Còn
bị sự khinh rẻ chê cười của mọi người chung quanh.
Người
bạn nam nầy sau một thời gian tận tâm tận lực phục vụ không lương cho chế độ mới
– giống như cậu Tòng – cũng được họ “cám ơn” bằng cách cho vào nghỉ dưỡng trong
lao tù một thời gian, tôi không biết vì tội gì.
Chị
bạn bị cho nghỉ việc, may là không đi tù.
Ông
trưởng khóm trở về đời sống một nông dân như cũ, mèo vẫn hoàn mèo.
Thanh Hà
Tàn Lụn Ước Mơ - Thanh Hà CH
Saturday, July 4, 2026
Cười Cho Bớt Căng Thẳng
Ba người đàn ông tham gia một cuộc thi kể chuyện kỳ lạ: ai kể xong mà khiến hai người còn lại phải thốt lên “Không thể có được!” thì người đó thắng.
Người đầu tiên, quê ở Lạng Sơn, kể:
“Đợt rét vừa rồi trên Mẫu Sơn lạnh đến mức đi tiểu xong nước tiểu
đóng băng ngay lập tức. Bẻ ra làm kiếm có thể đấu được luôn.”
Hai người kia bình thản:
“Biết rồi.”
Người thứ hai, quê ở Lào Cai, kể:
“Trên đỉnh Phan Xi Păng, sương mù dày đến mức có thể đóng đinh để
treo đồ vật lên.”
Hai người kia vẫn bình thản:
“Biết rồi.”
Người thứ ba, không rõ quê quán, kể:
“Ở tỉnh tôi chẳng có cái biệt phủ nào của quan chức cả.”
Hai người kia đồng thanh:
“Không thể có được!”
Người thứ ba thắng cuộc.
Trăm năm một kiếp con người
Đàn ông thiếu vợ là đời thiếu vui
Lấy ai chia ngọt sẻ bùi
Lấy ai giặt giũ, lau chùi, nấu cơm
Lấy ai tranh cái thua hơn
Lấy ai quản lý lũ con ở nhà
Lấy ai trách móc gần xa
Lấy ai giúp sức cho ta kiếm tiền
Lấy ai lục lọi ví tiền
Lấy ai tám chuyện triền miên vui nhà
Lấy ai hủ hỉ về già
Đàn ông không vợ sẽ rầu bỏ ăn
Trong giờ thực hành môn giải phẫu, giáo sư cho sinh viên nhận dạng các bộ phận trên thi thể nam giới.
Ông cho từng bộ phận vào các túi đen để sinh viên dùng tay nhận dạng.
Đầu tiên, một nữ sinh được mời. Cô ngập ngừng thò tay vào túi, mặt đỏ dần lên trong khi cả lớp cười rúc rích.
Giáo sư nghiêm nghị:
"Đây là giờ học nghiêm túc, em hãy nói cho tôi biết đó là bộ phận gì?"
Cô sinh viên ngập ngừng một lát rồi mạnh dạn:
"Dạ thưa thầy… đây là một cái xúc xích Đức ạ."
Cả lớp cười ồ, giáo sư bực tức nói:
"Không sao, tôi tôn trọng ý kiến của em. Giờ hãy lấy nó ra ngoài xem có đúng không."
Cô run run lấy ra… quả đúng là một cái xúc xích!
Cả lớp vỗ tay rầm rầm, còn khuôn mặt giáo sư thì tái dần. Ông lẩm bẩm:
"Chết… không biết lúc sáng mình kẹp gì vào bánh mì nhỉ?!"
Sau khi chụp hơn 300 tấm selfie mà không chọn được tấm nào ưng ý, Tún nhăn nhó nói với chồng:
"Anh à, hình như càng chụp em càng xấu đi."
Chồng liền an ủi:
"Đừng lo, vấn đề nằm ở cái điện thoại chứ không phải ở em."
Tún mỉm cười rạng rỡ:
"Thật hả anh?"
Chồng nhẹ nhàng xoa đầu vợ:
"Thật mà, nhan sắc của em vẫn vậy thôi. Chỉ là độ phân giải của điện thoại ngày càng cao, nên ảnh càng ngày càng… chi tiết hơn!"
Trong bữa cơm, thấy con dâu mới cứ vừa ăn vừa ngó nghiêng xem ai sắp hết cơm thì đứng lên xới thêm.
Bà mẹ chồng thấy thương con dâu liền bảo:
"Con cứ ngồi xuống ăn đàng hoàng, không phải như vậy đâu. Ai hết cơm thì tự ra lấy được, chạy đi chạy lại cho mệt."
Cô con dâu xua tay:
"Không mệt đâu ạ. Ở bên nhà con, một lúc con chăm cả trăm con
lợn ăn uống. Nhà mình có mấy người thì thấm gì!!!"
Chăm Sóc Bộ Não - BS. Lương Lễ Hoàng
Trong khi thầy thuốc khắp nơi nghiên cứu cách chữa bệnh Alzheimer đụng gì quên đó của người già thì tình trạng đãng trí vừa nghe quên liền, chưa nói hết đã quên của người trẻ đã từ lâu vượt xa mức báo động.
Nếu tưởng não nghỉ xả hơi khi gia chủ mơ giấc nam kha, thì lầm. Não cần giấc ngủ để... làm việc. Chính vì chất lượng của trí nhớ gắn liền với độ sâu của giấc ngủ, theo kết quả nghiên cứu ở Đại học Schleiweg-Holstein (CHLB Đức), nên người mất ngủ mất luôn trí nhớ.
Tất cả tín hiệu thần kinh trong ngày được bộ não tập
trung, nhưng để đó. Chính trong lúc ngủ là lúc não sàng lọc thông tin để đưa
vào bộ nhớ.
Biết là giấc ngủ quan trọng nhưng nếu tưởng chỉ cần dùng
thuốc an thần để ngủ cho được nhằm tăng cường trí nhớ, thì lầm to. Thuốc an thần
tuy tạo được giấc ngủ nhưng não bộ đồng thời cũng mê một lèo khiến quên luôn
công việc ghi vào bộ nhớ.
20% năng lượng cho tư duy
Đừng thấy não nhỏ nên nghĩ não ít ăn. Não lúc nào cũng tiêu thụ không dưới 20% năng lượng của cơ thể riêng cho chức năng tư duy. Não vì thế rất cần nước và chất đường cho tiến trình sinh năng lượng.
Theo các chuyên gia ở Đại học Erlangen (CHLB Đức), uống
không đủ nước trong ngày lại thêm bữa ăn chiều thiếu chất ngọt là một trong các
lý do khiến bao nhiêu tín hiệu thần kinh vừa nhập vào lại ra ngay, cứ như nước
đổ đầu vịt.
Không béo không bổ
Bên cạnh nước và chất đường, chất béo lại cần thiết cho cấu trúc của tế bào thần kinh, như 3-Omega, acid linoleic... là món ăn chính của bộ não. Đừng tưởng cử béo thì tốt cho não.
Trái lại là khác. Đừng để tăng mỡ trong máu vì đó là yếu tố bất lợi cho hoạt động của bộ não. Nhưng thiếu chất mỡ trong cơ thể cũng tai hại tương tự. Thêm vào đó, não không thể dẫn tín hiệu thần kinh, dù là hình ảnh hay âm thanh vào bộ nhớ nếu thiếu dưỡng khí.
Chính vì thế mà nhiều thầy thuốc khuyên dùng cây thuốc có
công năng cải thiện hàm lượng dưỡng khí trong não bộ, như bạch quả, việt quất,
ngay cả cho người chưa có triệu chứng đụng đâu quên đó.
Đừng ngồi yên nếu còn thương não
Nhiều công trình nghiên cứu về bệnh lý do stress cho thấy, người vận động thể dục thể thao trong ngày ít quên hơn người thích ngồi nhiều hơn đi. Theo các nhà nghiên cứu về lão khoa ở Hoa Kỳ, vận động là điều kiện để bộ não không thiếu dưỡng khí trong đêm.
Tỷ lệ tai biến mạch máu não cũng như bệnh trầm uất thấp hơn thấy rõ ở nhóm người cao tuổi nhưng còn hăng hái hoạt động. Không cần nhiều nhưng đều. Cũng không cần thái quá, nhẹ nhàng thôi, như đi bộ, bơi lội, đạp xe, khí công, miễn là ngày nào cũng có.
Trăm hay không bằng tay quen
Cũng như các nội tạng khác, muốn não ngày nào cũng “bén nhọn” mà không tập luyện chẳng khác nào đi thi mà không học bài. Kiểu nào cũng được, chơi ô chữ, sudoku, học ngoại ngữ, vẽ tranh..., kiểu nào cũng tốt, miễn là đừng ngồi yên mỗi ngày nhiều giờ trước máy truyền hình vì nó tai hại vô cùng cho bộ não, ngay cả ở người còn trẻ, ngay cả ở trẻ con.
Căng thì căng, nhưng đừng quá thẳng
Stress là khó tránh trong cuộc sống được tiếng văn minh này. Khó tránh nhưng thiếu stress cũng không xong. Chỉ khổ cho não bộ vì nội tiết tố nẩy sinh trong tình huống stress bôi sạch bộ nhớ, chẳng khác nào virút trong máy tính. Biết vậy thì đừng già néo rồi tự làm đứt dây.
Trái lại, nên hai mặt đôi công, vừa tìm cách pha loãng
stress bằng thể dục thể thao, thiền định, kiểu nào cũng được, miễn vui là
chính, để chủ động bảo vệ tế bào thần kinh bằng hoạt chất sinh học có tác dụng
kháng oxy-hóa.
Thêm vào đó, đừng tự đầu độc cơ thể và bộ não bằng thuốc
lá, rượu bia, thịt mỡ... Với bộ não “ngập rác” thì quên là cái chắc vì đâu còn
chỗ nào để nhớ!










