Wednesday, February 25, 2026

3 Người Trên Sân Ga - Hữu Phương

 

Bức thư đến, vô tình chấm dứt bữa cơm tối của đôi vợ chồng già, và tự dưng rẽ họ về 2 phía trái ngược nhau. Bà Cảnh chợt thấy miếng cơm nghẹn đắng ở cổ và một cái gì anh ách ở đâu đó trong bộ ngực lép xẹp khi nhìn sự hồ hởi thái quá cũng như niềm vui đột ngột không thể giấu được trên nét mặt chồng. Bà thừa hiểu đó là thư của Tâm, mẹ cái Gianh, bởi chỉ thoáng qua cái cười lẫn trong râu và cái nháy mắt ranh mãnh của ông bạn già giao thông xã lúc dúi bức thư vào tay ông Cảnh qua hàng rào dâm bụt thì biết rõ.


Ông Cảnh vừa có chén rượu trước lúc xới cơm, nên trong người thấy phấn chấn, và không hiểu sao, lại hứng khởi nhắc đến cái chuyện hồi còn nhỏ của hai người, làm bà Cảnh vừa thích thú cười móm mém, vừa e thẹn đỏ cả mặt. Đấy là cái thời gái 17, trai đôi mươi, trẻ nhất làng, đêm đi tham gia cổ động, đuốc cháy đỏ trời, khi tan cuộc hai người trở về trên lối cũ tối om, đây đó dọc vệ đường còn leo lét những tàn đuốc cháy trong cỏ. Khi đó, không hiểu sao ông nhắc đến chuyện lũ rắn cạp nong hay theo đóm ăn tàn và bà, cũng không hiểu sao đi sát ông hơn và quờ tay nắm lấy khuỷu tay ông, bắt đền phải đưa về tận nhà. Bàn tay của họ tìm nhau trong bóng tối và như có một luồng điện truyền qua, khiến họ lặng đi, nóng rực, chỉ nghe rõ lời của hai trái tim đập dội trong lồng ngực. Đó là cái phần đời đẹp đẽ và duy nhất họ có được với nhau trong hơn 30 năm qua và ông chỉ nhắc khi có hai vợ chồng, muốn làm vui lòng bà. Bà Cảnh nghe ông nhắc lại chuyện ấy không biết bao lần kể từ hồi gặp lại nhau, nhưng lần nào bà cũng thấy mới mẻ và thích thú rơm rớm nước mắt. Hôm nay cái Gianh vắng nhà, nó bận tham gia đợt dã ngoại lên Bạch Mã của học sinh cấp 3, nên ông Cảnh nhắc lại chuyện cũ chẳng cần ý tứ.


Bữa cơm đang vui vẻ và ngon miệng như thế, thì cái thư đến, và họ chẳng thể tiếp tục như cũ được nữa. Bà Cảnh ngồi thừ người, tay chống đũa trong bát cơm ăn dở, và nhìn ông Cảnh một cái nhìn trách móc, tủi hờn của kẻ “chồng chung ai dễ chi nhường cho ai”. Ông Cảnh, có lẽ do quá mừng, đã không chú ý đến điều đó, tay run lẩy bẩy lật đi lật lại phong thư, miệng lẩm bẩm như nói với mình: “Thư của Tâm, thư của Tâm, bà nó ạ”. Và suýt nữa ông hôn lên những nét chữ quen thuộc trên phong bì, nếu không kịp liếc qua mặt vợ. Ông cố lấy lại bình tĩnh bằng câu nói to: “Để xem... thư nói gì nào...” nhưng tay ông luống cuống đến mức bóc rách cả phong bì, và khi dí trang thư vào bên cạnh đèn, ông mới biết là mình lật đật bỏ quên cái kính lão ở đâu......

Bà Cảnh không tài chi ngủ được, cứ rên hừ hừ như mọi lần bà cần rên. Nhưng đêm nay, bà thực sự thấy mình mệt mỏi quá sức, yếu đuối quá sức. Bà trở mình liên tục và thấy đau nhức từng khớp xương ống chân, ống tay. Hình như những đòn tra tấn của giặc xưa kia nó lặn đi đâu, giờ trở lại hành hạ bà. Và điều này lại khiến bà càng hờn giận những “ai” đó gấp bội. Hừ... hừ... “Người ta” sao lại quá sung sướng đến thế! Được tập kết ra Bắc, được sống rong ruổi đây đó ở nơi xa bom đạn, thế chưa đủ sao? Mà “người ta” còn rửng mỡ đèo bòng, còn thêm vợ nọ con kia? Để bây giờ...

Bà Cảnh bực bội trong cơn ghen tức âm thầm khi thấy ông Cảnh vẫn chưa chịu tắt đèn đi ngủ, ngồi lặng lẽ bên bàn trà, thỉnh thoảng mở trang thư ra đọc lại và hình như còn cười thầm 1 mình nữa. Bức thư của Tâm viết có mấy dòng, rằng chị ốm đã mấy hôm nay, rằng không hiểu sao chị thấy nhớ cái Gianh quá. Và lần này xin phép “anh chị trong nớ” cho em nó ra quê chơi ít bữa.

Hừ... Ôi dào, bà thì bà hiểu tâm địa các người, bà đi guốc trong bụng các người, “ốm đã mấy hôm nay”, dễ thường đời này chỉ một mình chị ốm chắc? Hừ... hừ... “Không hiểu sao thấy nhớ cái Gianh quá”. Nhớ cái Gianh hay nhớ “anh Cảnh”? Điều đó thì rõ như ban ngày rồi, lại còn “không hiểu sao”! Mà cái Gianh mới 15 tuổi ranh ấy đi từ trong ni ra ngoài nớ một mình được răng? Khiếp. Thế mới biết người ta nhắn nhe hẹn hò nhau khôn ngoan đáo để chưa, ranh ma chưa! Nhưng không qua nổi mắt gái già này đâu! Bà thì bà biết tỏng tòng tong cái tổ con chuồn chuồn! Hừ... hừ...


Nỗi bực bõ và đau khổ ngấm ngầm cứ giày vò, hành hạ bà. Đầu tiên bà đổ lên đầu ông Cảnh, người chồng đã bội bạc lời nguyền ước xưa: “Chỉ 2 năm thôi, 2 năm là anh lại về... Em ở lại cố...” Bà nhớ lúc đó, bà quàng cái tay nải gạo qua chiếc ba-lô của ông và nói, cố dằn cơn nhớ nhung, tủi hờn đang dâng lên trong cổ: “Anh đi sức gối mạnh chân... chớ lo chi cả. Mọi cái ở lại đã có em...” Bà phải cắn vào ngón tay mình để khỏi bật ra tiếng khóc, tiếng khóc của người vợ vừa mới bén hơi chồng 3 hôm đã phải chia xa. Hừ... hừ... Thế mà ông đi biền biệt, không một mẩu tin, hơn 20 năm mới trở lại. Và khi trở lại, nào phải chỉ có một thân một mình.

Đành rằng, cái chuyện trở về không đúng hạn chẳng phải riêng ông, và cũng chẳng phải lỗi tại ông, nhưng bà vẫn thấy tưng tức. Ông trở về, lại dắt theo một con bé chừng mươi tuổi và tươi cười hơn hớn bảo với bà rằng: “Đây, con chúng ta đây!” Ôi chao rứa có xung máu không? Đã không thấy được cái lỗi của mình, lại còn xưng xưng như thể vừa lập được chiến tích. Té ra, bà phải chịu cảnh tù đày, tra khảo để cho “các người” ở ngoài nớ tha hồ mà... Lần ấy suýt nữa bà đã nổi trận lôi đình ngay giữa họ hàng, chòm xóm cho đã cơn giận. Nhưng cái vẻ ngây thơ con trẻ trên gương mặt phúc hậu sáng sủa và cái vẻ khép nép của người chịu nhún thay mẹ của con bé đã làm dịu đi cơn tam bành của bà.

Nhưng liền đấy, bà thấy tủi thân tủi phận quá thể. Và bà òa khóc. Ông Cảnh ngỡ đấy là những giọt nước mắt mừng rỡ của ngày gặp mặt, nên cứ vuốt mãi mái tóc sớm bạc của bà mà an ủi, rằng đất nước đã trọn vẹn, rằng giờ anh đã trở về đây, em đừng khóc nữa.

Ông Cảnh đâu hay rằng tận sâu thẳm tâm can, bà buồn tủi biết bao, thấy mình mất mát biết bao! Phải. Ngày ấy chia tay chồng chưa được mấy tháng, có kẻ đã rình rập theo dõi. Rồi cái “luật mười năm chín” đẫm máu tràn qua, xóm thôn tan nát, bàng hoàng như vừa qua cơn ác mộng. Bà bị chúng bắt lên bắt xuống, tra khảo, đòi tuyên bố từ bỏ người chồng ngoài Bắc không biết bao lần. Người mẹ chồng già yếu đã không qua nổi đòn thù, để lại một mình bà trơ trọi, cô độc như một nhành cây yếu đuối trước bão tố, với cái tuổi 25 dằng dặc nỗi nhớ chồng nơi xa ngái...


Không biết bà sẽ sống tiếp ra sao, nếu không có tổ chức đến móc nối, và dẫn dắt bà. Và nỗi nhớ chồng, lời nguyền ước lúc chia tay lần ấy của ông, đã thành chỗ nắm vịn, chỗ tựa đỡ cho bà đi qua những tháng năm nghiệt ngã... Lần sơ sảy duy nhất trong quãng đời hoạt động của bà, là lần tổ du kích bố trí giết tên xã trưởng ác ôn giữa ban ngày. Công việc thực hiện trong một khoảnh khắc cực kì mạo hiểm, tới mức khi cài được tờ lệnh thi hành án của Mặt trận lên cái cúc áo giữa ngực của tên bán nước, nơi cạnh đó là một lỗ thủng của viên đạn còn rỉ máu, thì bà nhận được ám hiệu có động. Bà chỉ kịp rút lui một quãng và thay đổi bộ lốt hợp pháp, thì bị bắt. Chúng nghi chính bà đã làm cái việc tày trời đó, nhưng vẫn chưa có cơ sở xác đáng, phần nữa, chắc chúng còn muốn khai thác, đơm nhử đồng đội bà, nên chúng giam bà trong một xà-lim kiên cố. Rồi từ đó, bà bị đẩy từ nhà tù này đến nhà tù khác, với bao nỗi cực nhọc không nhớ hết. Và cái phương cách giúp bà vượt qua những cực hình khủng khiếp của kẻ địch, là trong đầu bà luôn choán ngợp hình ảnh ông, là những đêm gối ấp tay kề ngắn ngủi, là lời trao gửi cho nhau ngày chia biệt...

Cho đến một hôm, nghe súng nổ loạn xạ, rồi xà-lim bật mở, và ngoài sân lố nhố bóng áo xanh mũ tai bèo, bà mới tin là mình thoát chết. Bà đã sống trong niềm vui tràn ngập nụ cười đẫm nước mắt của ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, trong nỗi háo hức chờ đón chồng trở về. Và vợ chồng sum họp như xưa...

Những bực bõ, hờn ghen về sự năm thê bảy thiếp của chồng phút đầu, rồi cũng qua đi. Dẫu sao, giờ đây ông cũng đã trở về với bà, hiển hiện, bằng xương bằng thịt sờ sờ ra đấy, chứ không phải trong mơ như trước. Từ nay bà sẽ giữ riệt lấy chồng, sẽ không để mất ông một lần nữa, không sẻ chia cho bất kì ai nữa...

Nhưng, ngay đêm đầu tiên hai vợ chồng có được sau hơn hai mươi năm trời cách biệt, bà đã khóc tức tưởi, đấy là những giọt nước mắt buồn tủi và thất vọng về niềm hạnh phúc, đến lúc ấy, bà mới chợt nhận ra rằng mình đã quá già, đã ngoài năm mươi, rằng cái tuổi hồi xuân ngắn ngủi của người đàn bà đã qua đi từ hồi nảo hồi nào trong tù. Tiếng khóc của bà rấm rứt mãi khiến ông Cảnh tỉnh giấc. Có lẽ ông không hiểu bà, nên đã kéo bà vào lòng, dỗ dành như một nhà thuyết giáo: “Hoàn cảnh đất nước, hoàn cảnh lịch sử, chứ đâu phải riêng mình ta, em?” Nhưng dẫu sao câu nói trong khuya và cử chỉ khuyên bảo âu yếm của ông cũng làm bà dịu lại. Hoặc giả chính bà cố dịu đi để ông khỏi mất ngủ. Bà thương ông lắm lắm, giận thì giận, bà vẫn thương chiều mọi sở thích của ông như bao người đàn bà biết sống một mực về chồng...


Có một điều, phải, một điều thôi, bây giờ bà không thể vì thương ông, vì nể ông mà gắng chiều được nữa. Với cái tuổi chưa đến sáu mươi, nước da đỏ au nhanh nhẹn và còn tráng lực như ông, đã nói chi chuyện già? Chao ôi, tạo hóa sao nỡ bất công đến thế? Trong khi bà chỉ thua ông vài tuổi. Có thể một phần do bị tù đày tra khảo, phần nữa sống trong trạng thái mòn mỏi mong chờ, đã đẩy bà nhanh qua cái mốc ấy khi nào: để bây giờ người bà chỉ còn như con mắm khô quắt, và hết kiệt mọi ham muốn, mọi thèm khát, nếu không muốn nói là “chuyện ấy” trở nên cực chẳng đã với bà. Ban ngày mọi lo toan làm khuây khỏa, nhưng đêm đến là nỗi lo âm thầm của bà.

Quả thật, với bà, đêm chỉ muốn ngả lưng cho sớm, sau khi đã nhẩm đếm số tiền bỏ ra và số tiền nhặt về của gánh rau mùi trên vai sau mỗi buổi chợ rồi một giấc ngủ êm nhẹ của người già đến từ lúc nào. Cho đến khi thấy mỏi nhừ và đau ở sống lưng biết là trời sắp sáng, bà dậy đỏ lửa, đun cho ông ấm nước pha trà và bắc lên nắm gạo nấu miếng cơm cho cái Gianh đi học.

Cái mong ước ấy của bà ít khi thực hiện được, bởi đêm đêm bên cạnh bà, ông Cảnh hình như không ngủ, cứ hay trở mình, gác tay gác chân, và đôi khi trườn cả người qua người bà. Thương ông bà gắng chiều, nhưng sự gắng chiều ấy đã trở thành một sự chịu đựng...

Rồi bà cũng tìm được cách khéo léo để “cách ly” ông. Đấy là một dịp mùa hè đến, bà bảo ngủ chung nóng lắm và dọn cho ông một giường riêng. Cái nhà ba gian, gian liền sát bếp là chỗ của bà và cái Gianh (buồng bà phía trong, giường cái Gianh ở phía ngoài, cạnh cửa sổ, giữa là lối đi xuống bếp), gian giữa đặt bàn thờ ở phía trong, phía ngoài là bộ bàn trà, gian trên cùng đặt giường của ông. Bà yên tâm vì đã tìm được cách mà bà cho là diệu kế này. Nhưng bà nhầm, bà không tính đến chuyện ông có đôi chân. Một tối, bà đang nằm thiêm thiếp thì chợt nghe tiếng dép nhè nhẹ đi đến, rồi thấy ông quờ tay lên người bà, vuốt tóc bà và khẽ nằm xuống bên cạnh bà...

Từ đấy, bà nín thở và thon thót lo mỗi khi có tiếng dép của ông lê qua, dù có khi ông chỉ đi tiểu tiện. Có một lần, không hiểu vì quá lo lắng, hay vì một lí do gì khác, bà bỗng lên tiếng rên khe khẽ khi có tiếng dép của ông từ xa. Và lần ấy tiếng dép của ông chần chừ một giây rồi xa dần và im hẳn. Bà nín cười... Đấy, cái sự thỉnh thoảng hay rên hừ hừ về đêm của bà, có căn nguyên vậy đó.


Nhưng, hôm nay bà rên không phải vì lí do đó, bà thực sự thấy mình đau yếu, thấy mình bất lực. Bà lo không biết xử trí ra sao trước yêu cầu thế nào cũng nói vào sáng mai của ông, là sẽ đi ra ngoài ấy thăm Tâm. Trước đây, lâu lâu ông xin phép bà đi thăm bạn bè, hay bà con đâu đó dăm bảy bữa, bà không đắn đo cân nhắc, thoải mái chấp nhận ngay, và thậm chí còn chuẩn bị chu đáo cho ông đi xa. Nhưng bây giờ, không hiểu sao bà hoàn toàn không muốn ông đi ra ngoài ấy một chút nào. Trái tim bà như bị ai bóp chặt khi mường tượng rằng ông sẽ được Tâm chăm sóc vồ vập như trời hạn lâu ngày gặp mưa, rằng đêm đêm hai người má ấp vai kề, thầm thì “anh anh, em em” mọi điều nhung nhớ, rồi...

Hừ... hừ... không, không thể được. Ông ấy là chồng bà, là của riêng bà, không ai có quyền... Phải! Bà không chấp nhận chuyện đó. Bà không thể để ông đi. Hừ... hừ...

Và, suốt đêm bà không sao chợp mắt, vừa rên vừa nghĩ kế giữ chân ông.

Sáng hôm sau, ông Cảnh không ngồi nhấm trà như mọi khi, mà xăm xắn đi vào đi ra, khi xếp các thứ rau vào rổ cho bà, khi tìm đôi quang gánh ở chái bếp... Bà Cảnh biết ông định nói điều gì rồi, nhưng bà giả lơ, không đụng đến. Cho đến khi bà cắp nón và ghé vai vào chiếc đòn gánh tre mỏng mảnh, ông Cảnh mới ấp úng, như đứa trẻ có lỗi:

- Mình ạ... Có lẽ... tôi phải đưa cái Gianh ra quê, nhân thể xem mẹ nó ốm đau thế nào...

Biết ngay mà! Bà Cảnh ngừng lại, lấy tay quệt thứ bã trầu dính đỏ bầm khóe miệng, ra chiều cân nhắc một giây, rồi xởi lởi:

- Ờ... Mà để tui coi... Từ hồi được làm chị làm em với mẹ cái Gianh tới chừ, đã khi mô ông cho tui được gặp mặt bà con họ hàng dì ấy ngoài nớ? Thôi chuyến ni nhân có mấy ngày nghỉ, ông để tui đưa cái Gianh đi, chị em gặp nhau lâu lâu.

Bà nói và quày quả đặt gánh lên vai như thể sợ kéo dài chợ trưa, và như thể chuyện không có gì phải bàn lại nữa, khiến ông không kịp phản ứng gì. Khi bà ra khỏi cửa rồi, ông mới ngớ ra, mới kịp hiểu, và đứng ngẩn tò te hồi lâu như đứa trẻ bị cụt hứng, trước cái lí lẽ đơn sơ mà chết cứng ấy của bà...


Bà Cảnh, sau chuyến đi cùng cái Gianh ra thăm “dì nó” trở về, hoan hỉ như sau một chuyến công cán dàn xếp thắng lợi. Bà hồ hởi kể với ông say sưa bao nhiêu thu nhặt được ở quê “ngoài nớ”: Nào cái dòng sông Gianh nước trong và xanh dễ sợ, cứ ngỡ không có đáy, nào chạy dọc hai bờ bãi là tít tắp ngô non và lạc, với bốn bề viền những bờ dâu xanh mướt, nào đi trong đường quê cấm có thấy ánh mặt trời, cam bưởi cứ thả hương quấn quít theo người, nào bến sông chiều con gái tắm đông chi lạ, o mô o nấy tóc dài và da trắng hết chỗ nói...

Bà vô tình, hoàn toàn không hay biết rằng, đã chạm đến nỗi niềm sâu kín nhất trong lòng ông Cảnh. Bà đơn giản nghĩ rằng, tả thực cảnh quê hương ngoài đó, cái quê hương mà quả thật đã khiến bà thích thú, sẽ làm ông vợi nỗi nhớ Tâm. Điều bà luôn luôn mong muốn là làm sao trong ông hình ảnh Tâm không vượt trội bà. Nhưng bà đâu hay rằng chính những điều bà nói, đã thắp bùng lên nỗi nhớ Tâm cháy bỏng trong ông.

Chao ơi, cái làng quê bên bờ sông Gianh ấy cứ như là nơi ngọn nguồn nỗi nhớ của ông. Thuở ấy, ông còn trai tráng lắm. Đơn vị hải quân của ông đóng ở cảng Cửa Gianh, trấn giữ một vùng mặt biển và một cửa sông trên bến dưới thuyền tấp nập. Chiều chiều, dòng sông xanh chở những con tàu trắng đi lại giữa hai bờ làng quê trù phú yên vui. Những cô gái gánh cá lên bờ còn ngoái lại trêu mấy chàng lính thủy trên tàu. Nhưng cảnh thanh bình ấy chấm dứt đột ngột, khi những quả bom đầu tiên của giặc Mĩ ném xuống miền Bắc lại rơi đúng bến cảng này.


Không thể tiếp tục cuộc chiến đấu bất lợi giữa những con tàu chỉ đi lại được trên mặt nước hạn hẹp và trống trải, với lũ diều hâu rộng đường nhào lộn trên không và có vũ khí la-de lợi hại, đơn vị ông chuyển sang lối đánh du kích. Và những con tàu đang đêm lặng lẽ ngược dòng sông Gianh, về neo ẩn dưới những lùm tre cao vút, xanh um vươn ra mặt sông, như từ lâu nó đã chuẩn bị cho cuộc chiến đấu ác liệt này. Rồi từ đó, đêm đêm, dòng sông Gianh lại lặng lẽ tiễn đưa những con tàu ra đi trong nỗi thắc thỏm mong chờ... Để sớm hôm sau, trước khi có ánh ngày, những con tàu lại trở về nằm nghỉ dưới những lùm tre cao vút, xanh um, lim dim nghe sóng sông Gianh vỗ về ru hát, thì trên mặt báo in đậm những chiến công của nó: số tàu chiến giặc bị đánh chìm, số xuồng biệt kích bị bắt gọn ngoài khơi. Đó là nỗi kinh hoàng của bọn giặc biển và nỗi khủng khiếp đến phát điên của bọn giặc trời Mĩ. Và hàng trăm tốp máy bay phản lực ngày càng sục sạo ráo riết khắp nơi mọi chốn, cố tìm cho ra dấu vết những con tàu bé nhỏ của đơn vị ông.

Ông nhớ một lần, những mái hầm của tiểu đội ông chưa kịp ngụy trang trước lúc ra đi, sớm hôm sau trở về đã thấy mọc dày những cây dâu non. Ông không ngờ có một bàn tay con gái đã làm việc đó. Và, cái chàng lính thủy ấy đã “vương phải tơ” của người con gái đất Phù Kinh tơ lụa. Những người lính chuyên đánh trận về đêm, ban ngày cố ngủ. Nhưng ông nào ngủ được đâu khi gót chân của nàng nhẹ êm bên cửa hầm và bàn tay quay xa của nàng như múa? Cái đuôi mắt hình lá dâu của nàng cứ mở to lo lắng và hồi hộp ngóng theo bóng con tàu của ông ra đi lúc hoàng hôn.


Rồi một hôm, ông nhớ rõ là một sáng mùa hạ trời rất trong, trong đến nỗi có thể trông rõ những nhành cây khẳng khiu với những tán lá lưa thưa trên vách lên màu xám của chín mươi chín chóp núi đá vôi của dải Phượng Hoàng chạy dọc phía Nam dòng sông, không hiểu chúng nghi là những con tàu nép hai bờ sông, hay chỉ là sự điên cuồng săn tìm trả thù vu vơ, mà bầu trời yên vui ban mai bỗng chốc đen đặc bóng lũ giặc trời. Thoạt đầu chúng chia thành hai toán bay hàng dọc theo hai hướng đi qua, rồi đột ngột quay ngoặt trở lại, ngỏng những cái cổ ánh bạc lên cao và bất thần đâm bổ xuống dòng sông. Cùng với tiếng rú rít gào thét man dại của hàng chục động cơ máy bay, tiếng nổ váng óc của mưa bom, của rốc - két và tiếng giòn đanh của các ổ đại liên, mười hai ly bảy dân quân vây bủa trên các đỉnh lèn đánh trả quyết liệt, là những cột nước từ lòng sông, những cột lửa từ hai bên bờ dựng vụt lên trời. Tất cả như chìm trong một vùng hỗn chiến của lửa, nước chạy dọc hai triền sông.

Nhưng, như có phép thần, những lùm tre vẫn gan góc vươn ra che chở những con tàu. Và dòng sông Gianh cũng như đất mẹ hai bờ hứng chịu các luồng bom không chút chần chừ. Càng sục sạo săn tìm, lũ giặc trời càng điên cuồng cắt bom hối hả...

Và, trong tiếng đạn nổ bom gào, những người lính thủy nghe rõ cả tiếng trẻ con khóc thét, tiếng của người bị thương kêu rên, tiếng gia súc thét rống, tiếng của những ngôi nhà bốc cháy nổ lốp đốp... Trái tim của họ đau nhức nhối. Không thể được! Không thể để nhân dân vì ta mà mất mát đến tính mạng và tài sản quá thể, con tàu ông xin lệnh nhổ neo, kéo cờ đỏ sao vàng, mặt đối mặt với lũ giặc trời Mĩ, thu hút các luồng bom, để bảo vệ nhân dân và hàng chục con tàu khác.

Phút chốc, con tàu chiến sơn màu nước biển, ở đâu đó lao vút ra giữa dòng sông. Trên boong những người lính, không ai bảo ai, gọn ghẽ trong bộ đồ lính thủy mới nhất của mình: chiếc áo trắng in những con sóng xanh, chiếc mũ xanh có hai đuôi én tung bay, lanh lẹn và bình tĩnh ngồi vào vị trí chiến đấu quen thuộc quanh cỗ pháo hai nòng vươn thẳng lên trời một cách tự tin. Lũ máy bay giặc, như một bầy nhặng, bâu lấy con tàu của ông.


Ông nhớ là lúc đó, ông hoàn toàn không nghe một tiếng bom nào, chỉ thấy loang loáng những bóng đen to nhỏ khác nhau lao thẳng từ trời cao vút xuống hạm tàu. Con tàu khi nghiêng khi ngửa, khi chồm lên khi giật lùi, vừa tránh bom đạn vãi tứ phía, vừa nhả đạn đánh trả quyết liệt. Nước sông Gianh lúc đó cứ sôi lên sùng sục ở hai mạn tàu, và như nhuốm đỏ bởi máu đồng đội.

Về chiều, con tàu như kiệt lực vì thương tích đầy mình mẩy và vì những hòm đạn từ đất liền chuyển ra trên những con thuyền nhỏ nhoi của các cô dân quân với búi tóc tròn và bộ đồ đen nước dính chặt thân người, vừa bơi vừa đẩy dưới mưa bom, có lúc không đủ nạp cho cỗ pháo hai nòng bấy giờ đã đỏ bỏng. Không biết lũ phi công Mĩ nhận biết điều đó, hay chúng sợ tối trời để sổng mất con tàu, đã tập trung đánh đòn cuối cùng xuống con tàu của ông. Ông nhớ là lúc đó, ông thấy chớp lóe trùm con tàu, và mình bị hất tung xuống lòng sông như một tảng đá. Từ đáy sông lắng cát, không biết nhờ một sức mạnh nào: có lẽ là sự sống còn sót lại ở hơi thở cuối cùng trước khi tắt lịm, đã đẩy bật ông lên khỏi mặt nước. Nhưng hai cánh tay ông hình như không còn điều khiển được nữa, và trở nên nặng nề, đau buốt trong sự quẫy đạp của ông. Ông bơi chỉ bằng hai chân, đúng hơn là ông chống chọi tuyệt vọng với thần chết đang nắm hai tay ông từ từ kéo xuống lòng sông ngạt thở...

Ông tỉnh dậy khi hoàng hôn vừa buông xuống mép nước, bên bờ dâu thẫm xanh, nằm ngửa trong vòng tay một cô gái áo quần ướt sũng. Dòng sông và bầu trời yên ắng trong mầu tím sẫm của nó, như chưa từng mấy phút trước đó có cuộc ác chiến nước sôi lửa bỏng. Không biết nước từ mái tóc rối bời của người con gái chảy xuống, hay nước từ cái đuôi mắt hình lá dâu mở to lo lắng của nàng nơi mặn chát môi ông...

Chính tình yêu đã giúp Tâm tìm được ông ở phút hiểm nghèo, và vừa bơi vừa dìu ông từ giữa dòng sông mênh mông vào bờ, trong đôi tay quay xa kéo sợi dẻo mềm của gái Phù Kinh, dưới cái bầu trời mưa bom khủng khiếp ấy.

Sau này, khi cuộc chiến ngày càng ác liệt, có lẽ vì cái thời điểm về Nam của mỗi người đã trở nên không hạn định được cụ thể, ở trên người ta cho phép những người tập kết ra Bắc có thể xây dựng gia đình. Và ông đã cưới Tâm. Để kỉ niệm trận đánh không quên ấy, họ đã chọn tên sông đặt cho con gái của mình.


Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ông trở về thăm quê, không ngờ người vợ thuở ấy, sau bao năm tù tội, giờ vẫn còm cọm chờ ông. Lúc đó theo lời khuyên của Tâm: “Anh sống với em như thế là đủ cho em một đời hạnh phúc rồi, bây giờ anh hãy vì chị ấy... Chị ấy nào đã trọn một ngày gọi là hạnh phúc...” Ông trở về, và mang theo cái Gianh cho đỡ nhớ...

Điều hoàn toàn bất ngờ và khó xử đã xảy ra ngoài suy nghĩ của bà Cảnh (có lẽ cả ông Cảnh nữa) là sự xuất hiện của Tâm ngay sau khi bà từ ngoài ấy trở về được ba hôm. Chiều ấy, ông Cảnh vừa hoàn thành một vòng bơi và vừa mặc quần áo, ông vừa cảm thấy hài lòng vì sự dẻo dai của mình vẫn còn khả dĩ. Ông trở về lòng thư thái. Đó là một điều hiếm hoi. Từ lâu, ông Cảnh đã là một ông già đầy tâm trạng, lặng lẽ mà man mác buồn. Chẳng còn dấu vết gì ở ông của một thuyền trưởng tiếng tăm nữa, ngoài mái tóc đốm bạc thường xuyên cắt cua kiểu lính và nước da mầu đồng hun một đời ăn nắng ăn gió, với thói quen ngày hai buổi, lúc tinh mơ và lúc chiều nhạt nắng là lại ra con sông trước làng bơi một vòng.

Ông vừa bước vào sân, thì ngoài ngõ đã nghe tiếng của Tâm. Thoạt đầu cả ba người cùng lặng đi mấy phút. Với ông Cảnh và Tâm, có lẽ là sự dồn nén của bao ngày mong mỏi, nhớ trông, giờ gặp lại mừng quá nghẹn ngào không nói nên lời, lại nữa bên cạnh họ còn có bà Cảnh đang há hoác miệng vì ngạc nhiên, khiến họ phải dằn lòng. Nhưng bà Cảnh không thể nào tưởng tượng nổi một “nước cờ” táo bạo và khôn ngoan của “đối phương”, khi nghe Tâm, sau phút giây trấn tĩnh, đã tìm được cách lí giải rằng chị đi kí hợp đồng gì đó cho hợp tác xã, tiện thể ghé lại...


Bữa cơm chiều diễn ra bề ngoài vui vẻ, nhưng bên trong nhiều tâm trạng trái ngược nhau. Bà Cảnh lấy cớ “dì nó mới vô, còn lạ nước lạ cái”, giành lấy công việc xới cơm và tiếp thức ăn, để che lấp cõi lòng rối bời đến nỗi không tài chi ăn uống bình thường được. Ngực bà lại như có một cái gì đè chẹn, tưng tức khi thấy ánh mắt chợt trở nên lấp lánh, trẻ trung của ông Cảnh cứ hướng về phía Tâm. Dào ơi, sao ông vẫn chưa chịu yên cái phận già, mà còn tí tởn!

Họ còn gắp thức ăn bỏ vào bát nhau, nài nỉ nhau ăn thêm như một cặp uyên ương còn trẻ, khiến bà Cảnh thấy ngứa mắt. Và liền đấy bà cảm thấy tủi thân tủi phận, cảm thấy mình là người thừa trong mâm cơm, mặc dù họ cùng nhau gắp thức ăn bỏ lên bát bà thúc giục bà ăn. Nhưng bà có nuốt được đâu. Bà nhìn trộm mái tóc dài và mượt chảy phủ cái eo lưng còn thon thả của Tâm mà thèm, và giận. Này cô kia, sao bỗng dưng ở đâu lại ghé lưng vào chỗ chồng bà? Chao ôi, sao người ta hạnh phúc đến thế? Sao các người hạnh phúc đến thế? Bất giác, bà lại bật lên tiếng rên “hừ... hừ...” ngay giữa mâm cơm.

- Chị làm sao thế? - Tâm hơi hốt hoảng và hỏi bà một cách ái ngại, khi chị thoáng nghe tiếng rên.

- Không. Ơ mà... cái hồi bị chúng tra tấn, chừ trở trời cứ hay tức ngực...

Bà Cảnh nói lí nhí và đưa tay vuốt ngực, cố nén cơn hờn ghen đang dâng đầy ứ trong người.

Rồi bà cũng tìm được cách để chống trả “đối phương”. Ấy là đêm đó, trước khi đi ngủ, bà Cảnh nói như phân công.

- Dì nó với cái Gianh ngủ giường của tui trong buồng cho rộng, hai mẹ con tha hồ tâm sự, hỉ!

Đấy là bà nói cho hợp lí thế thôi, chứ cái Gianh đã ý tứ xin phép bà đi học tổ và ngủ lại nhà bạn từ đầu hôm. Rồi trước khi tắt đèn, bà dịch cái giường đơn của Gianh ra chặn cửa buồng, và vừa soạn chỗ nằm cho mình, bà vừa phân bua rằng: “Để hai chị em trò chuyện cho rõ.”

Cứ thế, suốt nửa tháng trời có mặt của Tâm, đêm đêm bà Cảnh nằm canh cửa buồng, mặc cho hai đầu ông Cảnh và Tâm, cứ trở mình thao thức trong khuya... Của đáng tội, mấy lần ông Cảnh có mạnh bạo bước tới, nhưng tiếng dép của ông dù nhẹ nhàng, dù rón rén đến mấy, cũng bị những ăng - ten thính giác của bà phát hiện, và lập tức miệng bà phát ra những tiếng rên “hừ... hừ...” khiến ông phải rụt cổ lại.

Không thể nấn ná, hi vọng tìm kiếm một cơ hội nào được nữa, Tâm đành dằn lòng khăn gói trở về, sau hơn nửa tháng vợ chồng chỉ được phép “kính nhi viễn chi”. Ngày Tâm lên đường là một buổi chiều nắng cuối xuân vàng mong manh trên từng ngọn so đũa ven đường. Ông Cảnh vừa đưa Tâm đi được một quãng, cả hai chưa nói với nhau được một lời riêng tư, đã nghe sau lưng tiếng chân gấp gáp. Không hiểu sao đến phút chót bà Cảnh lại thay đổi ý kiến: bà không muốn để ông Cảnh tiễn chân Tâm một mình, bà đuổi theo họ. Bà vừa thở vừa phân trần về sự cần thiết có mặt của mình rằng: chuyện vé vũng ở bến tàu là phức tạp lắm, dì nó thì lạ, mà ông Cảnh đàn ông đàn ang vô lo, rồi kẻ cắp nó móc sạch...


Thế là cả ba người có mặt ở sân ga, ngồi trơ như ba pho tượng trên một cái ghế băng đặt ở góc phòng đợi, không giấu được vẻ ngượng nghịu và sượng sùng. Cho đến khi cửa nhà ga bật mở và người tuôn vào như nước chảy về phía đoàn tàu đang đợi họ, bà Cảnh như sực nhớ điều gì, liền đi đến mấy quán hàng bày bán dọc ga. Bà mua vội mua vàng mấy gói kẹo, vài ổ bánh mỳ, rồi quay trở lại chỗ cũ, nhưng ông Cảnh và Tâm không còn ở đấy nữa. Bà đuổi theo bóng họ thấp thoáng ở cuối đoàn tàu.

Khi tìm được số ghế của Tâm, nhận ra túi đồ đạc đơn sơ của chị xếp gọn trên giá, mà không thấy hai người đâu, tự dưng bà thấy khó thở. Và một cái gì lại đầy ứ trong cổ họng và anh ách trong lồng ngực vừa khô khát vừa day dứt, thúc giục bà lao đi. Bà lách về phía cuối toa, nơi có phòng vệ sinh nhỏ bé, nhưng ở đấy bọn con buôn đã lèn chặt quá đầu những bao tải lớn hàng hóa. Như con mèo đuổi hút bóng con chuột, bà đảo mắt một lượt dọc các lối đi, phán đoán và lường ước điều gì, rồi bà lao qua phía cửa bên kia, nơi đoàn tàu quay lưng với một bức tường bao bọc sân ga dài và cao có chắn thép gai. Đấy là nơi vắng vẻ nhất hiện giờ. Bà nắm lấy lan can toa tàu, vội vã bước xuống bậc tam cấp bằng sắt cuối cùng, định nhảy xuống đường đá. Nhưng không hiểu vì cái bậc quá cao so với mặt đường lổn nhổn đá khiến bà sợ, hay vì một cái gì khác làm bà khựng lại. Bà thấy bải hoải và con tàu chao đảo dưới chân. Bà tựa người vào thanh vịn bằng sắt rỉ vàng lấm tấm, bên bậc cửa lên xuống của con tàu, và rũ ra.

Không ai thấy cả (người ta còn bận tíu tít với việc tìm chỗ ngồi và xếp hành lí ở phía bên kia), chỉ có một mình bà thấy, Tâm, một tay vòng qua vai ông Cảnh, tay kia lần những ngón tay dài và trắng của gái Phù Kinh tằm tơ xưa kia, xoa vuốt bờ vai và bộ ngực còn vạm vỡ của ông một cách âu yếm. Đầu nàng tựa ngả vào ngực và hướng khuôn mặt phúc hậu với đôi mắt nhắm lơ mơ vào mặt ông Cảnh, để mặc cho nước mắt giàn giụa hai má, miệng nở một nụ cười sung mãn của hạnh phúc. Ông Cảnh đứng như trời trồng một tay vòng qua eo lưng Tâm, tay kia vuốt nhẹ mái tóc dài được búi lại thành trái bưởi sau gáy. Ông gần như quay lưng lại, nên bà không nhìn rõ sắc mặt ông. Rồi bà thấy ông cúi xuống, áp khuôn mặt của mình vào khuôn mặt của Tâm, đôi môi của họ tìm được nhau và hút chặt lấy...


Bà Cảnh như sực nhớ điều gì, đứng bật dậy, và thay vì nhảy phóc xuống, kéo xé hai người ra như bà đã từng tốn công kèm giữ họ lâu nay, không hiểu sao, bà lại lật đật leo lên sàn tàu, và vội vã tụt xuống phía cửa trước, nơi người ta vẫn còn lên xuống đông đúc. Bà sấp ngửa bước qua những con đường đá có những thanh tà vẹt bằng bê-tông bắc ngang và những đường ray sắt chạy dọc một cách vô thức. Hình như bây giờ bà không còn ý thức được thời gian và không gian quanh mình nữa. Bà đi như một cái máy, đôi khi suýt đâm bổ vào người đi ngược. Cứ thế bà đi, bước qua tất cả, bàn chân gầy guộc xương xẩu va vào đá vẫn không biết đau. Bà bước lên cái hành lang rộng có mái che, bước qua cánh cửa phòng đợi, qua những dãy ghế giờ không một bóng người, đầu không ngẩng lên. Có lẽ chính bà cũng không biết bà đi đâu. Cho đến khi nghe tiếng cô nhân viên bán vé giọng miền Trung hỏi thoảng đâu đó rất xa xăm: “Mẹ xuống ga mô?” bà mới sực tỉnh, và nhận ra là tay mình đang chìa tiền qua cửa bán vé. “Lệ Sơn,” bà nói rồi cầm tấm vé quày quả trở lại con tàu, cũng vội vã và vô thức như khi bà đi đến đây: bàn chân gầy guộc rớm máu vượt qua những con đường rải đá, những hàng tà vẹt bê - tông bắc ngang và những đường ray sắt chạy dọc. Hai bên thành tàu chỉ còn lại những người đưa tiễn, mặt hướng về các cửa sổ, và loáng thoáng đó đây những lời dặn dò chúc tụng cuối cùng. Bà gặp ông Cảnh cũng vừa từ trong toa bước xuống bậc tam cấp, mặt ửng đỏ và mi mắt còn ngấn lệ chia phôi. Tự dưng, nước mắt bà cũng trào ra, chảy ào xuống gò má đầy nếp nhăn của lớp da mồi khô đét vì tuổi tác và vì những tháng năm tù đầy cay cực. Bà ngăn ông lại ở bậc cửa và giúi vào tay ông tấm vé tàu.

- Ông đừng quay lại nữa...

- ??

- Nó còn trẻ người non dạ rứa, ông nỡ để nó đi một mình răng đành?

Không hiểu nhờ một sức mạnh nào, một cái gì mới mẻ, bao dung và độ lượng đã giúp bà đứng vững và nói được những lời rắn rỏi đó, khiến ông Cảnh cầm tấm vé lật đật quay vào toa tàu, như thể vừa nhận được một mệnh lệnh không thể thối lui...

Và con tàu chợt giật mình, như thể vừa chứng kiến quá say sưa cuộc đưa tiễn dùng dằng của ba người suýt làm nó trễ giờ, liền hú lên một hồi còi giữa trời hôm sâu thẳm...

Có phải tất cả mọi cái xảy ra trong mơ không? Bà không biết nữa. Chỉ biết rằng, khi cái chấm đen cuối cùng của con tàu nhòa hẳn vào không gian hun hút xa lắc, bà mới quay người lại, chợt nhận ra sân ga vắng lặng, và mình bà đứng trơ giữa những con đường đá với những hàng tà vẹt bê-tông rải ngang, những đường ray sắt chạy dọc vô tận. Bà bỗng bật lên tiếng nấc tủi thân, vì tuồng như con tàu đã bỏ rơi bà, trơ trọi và cô độc giữa đời...

Bà cắm cổ bước như chạy ra khỏi sân ga, lủi thủi một mình và cũng hoàn toàn vô thức. Cho đến khi bàn chân bắt gặp lối bờ sông quen thuộc, nơi chồng bà sớm và chiều hai lần gắng gỏi bơi đủ một vòng, bà cố lấy lại vẻ bình thường để vào nhà, bởi bà biết trong nhà còn có cái Gianh. Nhưng khi đã vào được buồng mình, bà nằm vật ra giường, âm thầm héo rũ đi. Trái tim bà vẫn chưa dễ tha thứ cho hành động mã thượng của bà lúc ở sân ga. Thế là, cơn giằng co giữa lòng vị tha, độ lượng của người mẹ cao cả, với sự hờn ghen tủi phận của người vợ bị cướp mất chồng cứ bám riết, hành hạ bà, chốc chốc lật tấm thân già nua, khô héo của bà từ mép giường bên này sang mép giường bên kia.

Bà mơ hồ có tiếng chân bước nhẹ, và liền đấy cảm nhận được một cái gì mềm mại, mát rượi và êm ái đang lướt trên lớp tóc cằn khô của mình, đã kéo bà dứt ra khỏi cái tâm trạng dằn vặt kia. Và đến lúc đó, bà mới hiểu ra rằng, đó là những ngón tay thon thả của cô gái đang lớn phổng trong nhà bà - cô con gái đã tắm uống cái nguồn nước sông Gianh kia từ thuở lọt lòng.

- Má... Ba đi rồi hả má?

Không biết nhờ tiếng nói khẽ khàng, dịu ngọt, pha giọng của hai vùng đất của Gianh, hay nhờ một cái gì khác, khiến bà thấy mình bỗng chốc khỏe khoắn như không. Và cái cảm giác bị bỏ rơi trên sân ga cũng không còn nữa. Phải rồi, chuyến tàu của bà là chuyến cuối cùng với Gianh, thậm chí cùng con cái của cái Gianh...

Bà nhỏm dậy, kéo cái Gianh vào lòng, và kín đáo lau những giọt nước mắt tấm tức của mình bằng mái tóc mềm mượt của nó.

Lúc đó, căn buồng bỗng rạng lên chốc lát bởi những tia nắng cuối ngày bất chợt rọi qua những song cửa phía Tây. 

 

Hu Phương 

#632 - Bị Cận Có Nên Uống Omega 3? Ăn Thịt Có Chất Tạo Nạc Có Hại Không? Trẻ Tuổi Bị Loãng Xương - BS. Phạm Hiếu Liêm

 

Lời Khấn Nguyện - Nguyễn Thạch Giang

Bảo Huân

Lúc mẹ tôi mất cách đây hai năm, anh em tôi có đến chùa xin làm lễ “cúng thất” cho bà. Tổng cộng 7 cái thất, làm lễ cúng vào ngày Chúa Nhật hàng tuần. Tại đây tôi quen biết chị Lành.

Ngày cuối tuần hay ngày rằm hoặc ngày Mồng Một đầu tháng (âm lịch), chị Lành đều đến chùa làm công quả. Chị đứng phụ bếp hoặc làm công việc lặt vặt trong bếp, nấu đồ chay để đãi khách viếng chùa. Thỉnh thoảng chồng chị và thằng con trai của chị cũng đến phụ dọn dẹp, bưng bàn ghế, rửa chén hoặc hốt rác đổ rác, trong chùa thì rất nhiều việc làm hoài không hết.

Hỏi ra mới biết trước đây chị ở cùng quê với tôi, nhà chị ở gần “cầu Đốt” gần trường trung học, còn nhà tôi thì ở xóm “cầu Đình”, cũng gần gần đó.

Một hôm đến chùa tôi thấy chị xuống tóc cạo đầu trọc, tôi không dám hỏi, chị tự kể câu chuyện đời chị cho tôi nghe.

“… Hồi trước năm 75 ba chị làm cảnh sát, chỉ cấp bậc nhỏ nên không phải đi tù học tập cải tạo. Nhà chị có 5 anh em, chị có một người anh và 3 đứa em. Má chị ở nhà nấu cơm làm công chuyện nhà, cả nhà chỉ trông nhờ vào đồng lương của ba chị. Năm đó chị mới 12 tuổi, thình lình ba chị bị mất việc, nhà khổ lắm, bữa đói bữa no. Ba má chị ai mướn gì cũng làm, làm suốt ngày chỉ đủ tiền mua gạo. Lúc khổ quá có mấy người hàng xóm rủ vô chùa làm công quả ăn cơm chùa. Mấy anh em chị thường vô chùa làm công chuyện, làm lặt vặt kiếm cơm chay ăn lấy no sống qua ngày.

Nhiều bữa ở trong chùa chị cứ lạy Phật, miệng thì đọc kinh mà đầu óc thì cứ cầu xin Đức Phật “cứu khổ cứu nạn”, xin giúp gia đình con.

Ba chị đau bao tử kinh niên mà không có tiền uống thuốc. Lúc nhìn thấy ông tiều tụy chị buồn lắm, chị không biết làm sao để có tiền, chị vái với Đức Phật cho chị trúng số. Em biết không, tờ giấy số có năm ngàn, chị phải để dành lâu lắm mới đủ tiền mua, thiệt lúc khổ, năm ngàn thấy cũng lớn. Mua xong, chị vô chùa lạy Phật cầu xin cho con được trúng số. Lạy tới sói đầu mà cũng chưa trúng, lô an ủi cũng chẳng thấy.

Chị đi học tới lớp mười thì nghỉ, lúc đó 16 tuổi rồi, đi làm mướn kiếm tiền phụ cha mẹ. Mà đi học thì cũng chẳng để làm gì, rồi thì cũng nhào ra đi làm mướn mà thôi.

Chị cũng không đến nỗi xấu, phải không em? Chị được cái dáng cao ráo không mập không ốm. Chỉ có nước da hơi ngâm đen, với lại đôi mắt một mí. Trong nhà chị ai cũng mắt hai mí, chỉ mình chị mắt một mí. Hồi xưa, chị cứ luôn ao ước, khi nào có tiền mình sẽ đi cắt mắt.

Chừng nói cho chồng chị nghe, ổng cản, thôi, “mắt bà vậy đẹp rồi, bày đặt đi cắt cho nó đui không thấy đường thì khổ.”

Chị chưa từng có bạn trai, lúc mới lớn cũng có thương một vài người, chút chút thôi, nhưng chị không dám nói. Nghĩ mình nghèo quá đâu ai thèm.

Chị nhìn tôi miệng cười khúc khích.

Thiệt tình mà nói, trong lòng chị lúc đó cũng muốn có chồng như người ta, nhưng ngày qua tháng lại chẳng ai ngỏ lời.

Qua 30 tuổi thì chị nghĩ chắc số chị không có chồng, cũng buồn một chút thôi, lúc rảnh rỗi thường vô chùa làm công chuyện, lấy đó làm niềm vui, có lúc chị nghĩ về già mà có một thân một mình chắc chị vô chùa ở.

Có một vài người quen, thỉnh thoảng kêu chị tới giúp việc nhà, dọn dẹp nấu cơm nấu nước. Ông xã của chị bây giờ, cái năm mà vợ ổng chết ổng mang tro cốt vợ ổng về bển chôn. Có người giới thiệu chị tới lo cơm nước cho ổng, lúc đó chị 36 tuổi rồi, ổng lớn hơn chị một giáp, ổng 48 tuổi có hai đứa con. Ổng về Mỹ một thời gian rồi trở qua Việt Nam hỏi cưới chị. Chị thiệt là bất ngờ, thấy ổng cũng hiền lành tử tế nên ưng đại, chớ thiệt ra hồi lúc đó cũng chưa biết thương yêu gì đâu.

Chị qua Mỹ được mấy tháng vừa biết lái xe là vô hãng điện tử làm, làm từ đó tới giờ. Chị ở với ổng được một năm thì có bầu đẻ được thằng con trai, lúc đó hai đứa con riêng ổng còn nhỏ, đứa 14, đứa 12. Tụi nó ở chung với chị cũng thuận thảo, không có cảnh mẹ ghẻ con chồng. Bữa nay tụi nó lớn hết rồi, đứa con gái lớn có chồng ra ở riêng, thằng con trai đi làm xa, lâu lâu về nhà thăm ông già. Thằng con trai chị bữa nay 20 tuổi rồi, em biết đó, nó cũng ngoan, lâu lâu theo chị vô chùa giúp việc lặt vặt.

Lúc con chị còn nhỏ, lúc đó nó chừng 10 tuổi, chồng chị bỗng nhiên đổ bệnh nặng. Người mệt mỏi hốc hác, sụt cả mười mấy pounds, ai thấy cũng quở. Đi bác sĩ gia đình cũng không tìm ra bệnh gì, tới chừng người ổng bị sưng vù, bụng trương bự, da vàng mới đi vô nhà thương Bascom cấp cứu. Ngồi ở phòng đợi ở nhà thương chị bỗng thấy buồn vô hạn, nhớ những ngày mới biết ổng thấy ổng sao mà hiền lành tử tế. Chị ở với ổng không bao giờ to tiếng chửi bới. Ổng không la cà quán xá nhậu nhẹt, chỉ có cái hút thuốc là không bỏ được, nhưng từ hôm bịnh ổng bỏ luôn rồi.

Ổng thều thào cầm tay chị nói ổng mà có bề gì thì chị cũng ráng nuôi mấy đứa con cho nên người.

Chị bỗng khóc ồ ồ như mưa. Con chị lúc đó mới 10 tuổi, chị sợ ổng chết thì tội nghiệp nó lắm mà chị cũng khổ lắm. Chị nguyện cầu với Đức Phật cùng Phật Bà Quan Âm cùng chư vị Bồ Tát giúp cho chồng chị sống thêm được 10 năm nữa, đợi khi đứa con chị nó lớn một chút.

Lúc đó có ông bác sĩ trẻ người Việt đi ngang, thấy chị khóc quá đứng lại an ủi. Chị cầm tay ổng nói bác sĩ ơi làm ơn cứu chồng tôi.

Bác sĩ ơi làm ơn cứu chồng tôi!

Thiệt là may mắn, ông bác sĩ này đi nói với văn phòng chi đó, lát sau họ cho trực thăng chở chồng chị lên bệnh viện Stanford chữa trị. Chồng chị bị chai túi mật, nó bị bể dịch tràn tùm lum. Bác sĩ cắt bỏ túi mật cứu sống ông xã chị kịp thời…

Chị Lành nhìn tôi cười mỉm, mới đó mà đã10 năm.


Tôi hỏi vậy chớ từ ngày đó tới giờ sức khỏe ảnh ra sao.

Chị nói cũng tốt, ảnh giờ chỉ uống thuốc cholesterol thôi chớ không bị tiểu đường, không bị huyết áp cao, tim mạch cũng không có vấn đề.

Rồi không đợi tôi hỏi, chị nói luôn cái lý do chị xuống tóc lần này.

“Trước kia chị sợ ảnh chết bất thình lình, chị cầu nguyện cho ảnh sống thêm được 10 năm nữa. Mặc dầu sức khỏe ảnh giờ cũng chẳng có vấn đề gì, nhưng chị nghĩ nếu mà ảnh ra đi lúc này thì chị buồn lắm.

Nghĩ tới đó sao tự nhiên thấy thương ảnh quá. Lúc nào ảnh cũng lo cho gia đình, ảnh thấy chị đi làm về mệt là một tay phụ chị làm bếp, cầu tiêu nhà tắm một tay ảnh chùi rửa. Chị rất thích ăn mít, trong nhà không ai ăn chỉ mình chị ăn, vậy mà mua một lần một trái bự, ngồi lột cả tiếng đồng hồ chưa xong, ảnh thấy vậy nhào vô giúp không một lời cằn nhằn.

Phía sau vườn có trồng một cây chanh, một cây plum và một cây hồng giòn. Thằng con chị với chồng chị lâu lâu ăn một trái. Em biết mà, cây trái ở đây sai lắm, nhiều ăn không hết. Chị tiếc của bỏ uổng, hái đem vô hãng cho mấy người làm chung. Chị leo trèo, ảnh sợ chị té, ảnh ra hái giúp. Tới chừng ảnh trèo cao, chị lại sợ ảnh té thì báo đời, biểu thằng con phụ ba nó mé bớt nhánh, trái chín trên cao hái không được thì để chim ăn hoặc ngó chơi chớ không dám leo trèo nữa.

Chị sống với ảnh hơn 20 năm chưa hề có tiếng cãi lộn. Trên đời này chưa ai thương chị bằng ảnh. Hồi lúc nhỏ chị thường than thân trách phận sao cuộc đời mình khổ quá. Giờ có gia đình êm ấm chị không mong gì nữa. Mấy anh em chị cũng khá, nhà cửa đàng hoàng. Thằng con trai của anh chị học rất giỏi, được học bổng du học bên Úc. Ai cũng nói nhà chị được hưởng phước nhờ mấy anh em chị hay vô chùa làm công quả.”

Có người gọi chị Lành nhờ giúp gì đó.

Nhìn chị bước đi tôi bỗng thấy có cảm tình với chị, một người vợ xuống tóc vô chùa cầu xin cho chồng mình sống thêm được một thời gian nữa.

Tôi đứng lên định bước ra về tự dưng có ý nghĩ, bước đến bàn thờ Phật, cầu xin ơn trên phù hộ cho chồng chị Lành sống thêm (ít nhất) 10 năm nữa.

 

Nguyễn Thạch Giang

Lời khấn nguyện - TRE Magazine

Anh Phước chuyển

Tết Đã Trôi Nhanh - Đỗ Công Luận

Tuesday, February 24, 2026

Chiến Tranh Việt Nam: Hơn Ba triệu Người Nằm Xuống Để Được Cái Gì?



Câu hỏi này đau lắm và cũng là câu hỏi ám ảnh nhiều thế hệ người Việt trong và ngoài nước.

Hơn ba triệu người nằm xuống để được cái gì?

Không có một câu trả lời duy nhất. Tuỳ theo người hỏi đứng ở phía nào của lịch sử.

Với phía Miền Bắc, nhà nước cộng sản sau năm 1975, câu trả lời là

• Thống nhứt đất nước

• Chấm dứt chia cắt hai miền

• Đánh bại sự can thiệp của ngoại bang

• Xây dựng một nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa

Trong câu chuyện chính thống, đó là chiến thắng của độc lập dân tộc.

Với nhiều người Miền Nam và người Việt tỵ nạn, câu trả lời lại khác hẳn.

Họ nhìn cái giá phải trả và hỏi:

• Thống nhứt, nhưng hàng triệu người vào trại tù khổ sai

• Hoà bình, nhưng kinh tế sụp đổ, đánh tư sản, đổi tiền, bị đày đi vùng kinh tế mới, nhà cửa và tài sản bị tịch thu

• Thống nhứt nhưng hàng triệu người vượt biên, chết trên biển cả hay bị hải tặc hãm hiếp và bắt cóc biệt tích

• Kết thúc chiến tranh, nhưng mở ra nhiều thập niên sợ hãi, kiểm soát, và chia rẽ trong lòng dân

Với họ, hơn ba triệu sanh mạng đổi lấy một đất nước không còn chiến tranh súng đạn, nhưng vẫn còn chiến tranh trong ký ức, trong gia đình, xã hội, và trong lòng người.

Một nền giáo dục nhân bản bị giết chết để hôm nay xã hội suy đồi, kinh tế bấp bênh, người dân ào ạt bỏ xứ đi tứ tán khắp năm châu, làm thuê làm mướn. Ngay cả đảng cầm quyền cũng khuyến khích xuất cảng lao động.

Nền y tế miễn phí được thay thế bằng y tế vô sản mà bác sĩ chỉ nhìn những bịnh nhân có tiền. Không có tiền thì bịnh nhân nằm chờ chết. Bịnh viện là chỗ cần sạch sẽ thì bị biến thành ổ bịnh với hai hoặc ba bịnh nhân nằm chung một giường, và nằm luôn dưới gầm giường.

Người dân nghèo khổ phải bán cả thận trong người để có miếng ăn.

Tài nguyên quốc gia bị ăn cắp. Rừng bị tàn phá trầm trọng khiến lũ lụt gây chết người. Đập thuỷ điện hiện ra khắp nơi nhưng thiếu quản lý và tinh thần trách nhiệm, dẫn tới việc xả nước tàn phá sanh mạng dân và gia súc, huỷ hoại tài sản.

Độ𝓬 á𝓬 𝓽𝓱𝓪𝔂, 𝓽𝓻ú𝓬 𝓝𝓪𝓶 𝓢ơ𝓷 𝓴𝓱ô𝓷𝓰 𝓰𝓱𝓲 𝓱ế𝓽 𝓽ộ𝓲.

𝓓ơ 𝓫ẩ𝓷 𝓽𝓱𝓪𝔂, 𝓷ướ𝓬 Đô𝓷𝓰 𝓗ả𝓲 𝓴𝓱ô𝓷𝓰 𝓻ử𝓪 𝓼ạ𝓬𝓱 𝓶ù𝓲.

Sự thật đau nhức. Chiến tranh Việt Nam không giống nhiều cuộc chiến khác. Đây là chiến tranh ý thức hệ trên thân xác người Việt.

Người chết:

• có người tin mình đang bảo vệ tự do

• có người tin mình đang giải phóng dân tộc

• có người chỉ là nông dân bị bắt đi lính

• có người chỉ muốn sống yên mà không được phép

Rất nhiều người chết mà không kịp biết mình chết vì lý tưởng nào.

Vậy rốt cuộc thì được cái gì?

Có lẽ là những thứ rất mâu thuẫn cùng tồn tại:

• Một quốc gia thống nhứt trên bản đồ nhưng lệ thuộc vào kẻ thù phương bắc và diện tích đất đai quốc gia bị đảng cầm quyền cắt dâng cho Tàu

• Một dân tộc bị chia rẽ trong ký ức, lời nói, suy nghĩ, hành động; dân vỗ tay thoả mãn khi công an giao thông bị xe cán chết

• Nhiều thế hệ mang hậu chấn thương không được gọi tên

• Một làn sóng người Việt khắp thế giới

• Một lịch sử mà mỗi bên giữ phân nửa sự thật

• Một đất nước ai sống chết mặc tình, đảng viên và cán bộ thẳng tay vơ vét

Có người cay đắng nói "Chiến tranh kết thúc năm 1975. Nhưng nó chưa bao giờ kết thúc trong lòng người Việt.”

Và có lẽ câu hỏi không phải để tìm đáp số mà để nhắc rằng cái giá đó lớn đến mức không có lý tưởng nào có thể trả đủ. Người Việt và đất nước Việt Nam phải tiếp tục trả giá cho đến bao giờ?


Lê Đăng Ngô Đồng

21/2/2026

Thơ Vui: Cung Chúc Tân Xuân Bính Ngọ - Nguyễn Duy Phước

Vợ Chồng Lục Đục Cũng Tại … Ông Thích “Bức Xúc”! - Captovan


– Anh ơi, dọn dùm em cái ga-ra này coi, đồ đạc lộn xộn quá hà (1).

– Đã bảo vất bớt đi thì không chịu, lại còn đem đồ bán ở ngoài lề đường về nhà! Nhiều rác quá thì biết cất đi đâu bây giờ?

– Cái gì? Ông bảo ai mang rác về? “Đồ” (2)... của tôi còn tốt mà, thấy ga-ra-seo, tôi mua về, lúc nào cần sờ đến là có ngay, còn ông cứ đi “suốt” thì biết cái gì?

Đang ngọt ngào hạnh phúc anh-anh em-em, bỗng dưng thấy vợ nổi giận rồi nổi dóa, đổi tông “ông tôi”, lão gàn Bát-Sách cũng bốc hỏa theo:

– Cái gì? Tại sao bà rủa tôi “đi tàu suốt”! Ý bà muốn rủa tôi chết đi cho rồi chứ gì? Phải mà, bây giờ tôi già rồi, là xấu, là Chung Vô Diệm...

– Này này, tôi rủa ông hồi nào? Cứ nghe mấy ông bạn già dịch xúi đi uống những thứ thuốc linh tinh, dược thảo với quả trám màu xanh lý tưởng, đã chẳng được việc gì, lại còn bị sai-ép-phếch làm cho ù tai, hoa mắt! Tôi nói ông đi “suốt” tức là đi suốt cả ngày, chứ tôi nói ông “đi tàu suốt” hồi nào? Rõ là già nghễnh ngãng lãng tai!

– À ra thế! Thà rằng bà rủa tôi đi tàu suốt còn hơn là bà nói tiếng “suốt” VC trước mặt tôi. “Suốt” là cái khỉ gì? Phải nói cho rõ là suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, suốt cả đời v.v... Cái tật ưa nói tắt, xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ...

– Sao? Ông nói cái gì? Nhắc lại thử coi, ông nói ai xấu? Ai dốt?

– Xin lỗi bà, tôi nói cái bọn ngợm và những người ưa dùng tiếng VC.

– Không phải tôi ưa dùng mà chính các đài phát thanh và báo chí ở hải ngoại đang làm đinh tai nhức mắt người ta với những tiếng “chôm” của XHCN kia kìa! Chưa hết, chính các bạn của ông, những người từng là lính, từng không đội trời chung với bọn ngợm, từng bị chúng nhốt mà lại đi vay mượn ngôn ngữ của chúng để viết văn, viết hồi ký v.v..! Ông coi đây này, coi cái này này.


Xuân, vợ Bát-Sách, dí cuốn hồi ký chiến trường của Đại Úy Lê văn Chôm vào mặt chồng, tay vỗ vỗ vào cái chỗ dùng để ngồi rồi quày quả bỏ đi ra hè ngồi sụt sịt. Bát-Sách lắc đầu thở dài, chuyện xẩy ra quá bất ngờ, Sách cầm cuốn hồi ký lên đọc xem tác giả viết cái gì mà bà chằng nổi đóa, hồi ký viết rằng:

-“Tôi không được đi phép thường niên mà đi hành quân “suốt”!

Ý hẳn là tác giả muốn nói ông đi hành quân suốt cả năm. “Suốt” là lối nói thu gọn của XHCN cho khác người, sốt rét cấp tính thì gọi là “sốt cấp”, tăng tốc độ thì nói “tăng tốc”, thiếu thốn và đói kém thành “thiếu đói” và rồi họ chẳng hiểu ý nghĩa hai chữ “thiếu đói” là cái củ cải gì cả nên đem dùng sai bét, lộn ngược. Khi đập thủy điện sông Ba bị vỡ, hàng ngàn gia đình ở hạ lưu bị cuốn trôi, báo trong nước đưa tin:

– Hàng ngàn gia đình đang lâm vào tình trạng “thiếu đói” trầm trọng. (!)

Họ chơi chữ nghĩa lộn ngược, nhưng cái lộn mửa là MC radio hải ngoại cũng cứ loan tin đồng bào trong nước đang “thiếu đói” trầm trọng, yêu cầu đồng hương “khẩn trương” đóng góp để giúp dân “thiếu đói”. (!)

Lật trang khác, Bát-Sách giật mình khi thấy tác giả còn chơi bạo hơn nữa, chắc là nhớ đâu đó có câu “xuyên suốt sợi chỉ hồng”, ông viết:

-“Tiểu đoàn của tôi hành quân xuyên suốt khắp 4 vùng chiến thuật”!

Trời ơi là trời! Chỉ cần viết đi khắp 4 vùng chiến thuật là được rồi, hà cớ gì phải khiêng 2 chữ “xuyên suốt” vào khiến nó giống như “hồi ký” của bộ đội miền Bắc? Không kềm được tức giận, Sách bật ra tiếng Đức rồi cảm thấy hối hận nên chàng bước lại bên Xuân đang ngồi sụt sịt, chàng nhè nhẹ đặt bàn tay lên vai nàng xoa xoa rồi cúi xuống ghé sát vào tai vợ thì thầm:

– Xin lỗi em, xin lỗi em vì “sự cố” vừa rồi, anh sẽ dọn dẹp cái ga-ra của em cho sạch sẽ gọn gàng. Trong “quá trình” anh dọn thì em cười lên cho đời thêm vui chứ em cứ ngồi chẩy nước ra đó thì trông “phản cảm” quá!

Biết chồng làm lành, tuy đang tức cành hông, muốn hất tay Sách ra, nhưng thấy chồng cố ý diễu, dùng những ngôn ngữ của thời kỳ “quá độ tiến lên xã hội loài người” nên Xuân phì cười cầm tay chồng mắng yêu:

– Anh ngốc quá, xoa xoa vai là sai chỗ rồi, đáng lẽ phải xoa phía đằng trước vai cơ, mình “giao lưu” lại nghe anh.

Bát Sách dìu vợ đứng dậy, đặt nhẹ cái môi hôi mùi thuốc lá lên má vợ (gò má của vợ), cái mùi 555 khiến Xuân thường bị lãnh cảm, nhưng hôm nay sao thấy nó thơm thế, rõ là “yêu nhau trái ấu cũng tròn” nên cả hai cùng dìu nhau đi dọn ga-ra, vừa đi vừa song ca nho nhỏ:

– “Không phải tại anh mà cũng không phải tại em, tại ngôn ngữ khỉ gió nên chúng mình giận nhau”.


Giữ đúng lời hứa, Sách bắt Xuân ngồi ở xích-đu đu đưa đọc tiếp cuốn hồi ký chiến trường, nhờ nàng tìm xem tác giả này có “bức xúc” hay không. Chàng cũng không quên pha cho vợ ly Carte Noire nhiều sữa ít café, còn mình thì xoay trần khoe bộ ngực Omega, sắp xếp lại mọi thứ cho gọn gàng, những thứ chàng thường lén quăng đi thì hôm nay thấy chúng dễ thương. Một bọc chứa dây buộc bún khô Tháp Chùa mà vợ cất đi để dùng khi cần thiết, cũng được Sách vuốt thẳng thắn, bó lại treo lên vách thay vì vất vào thùng rác như chàng vẫn thường làm.


Thấy Sách mồ hôi nhễ nhại, Xuân vội đứng đậy đưa chồng cái khăn thấm nước đá và uống chung một hớp café. Sách cười híp mắt nói:

– Nhờ mấy tiếng VC mà mình lại yêu nhau hơn.

– Này lão già kia! Đừng có ăn nói hàm hồ như thế, nói theo cái kiểu một số kẻ vô ý thức lộng ngôn cho rằng nhờ VC mà gia đình họ được sang Mỹ, được cơm no áo ấm ở Mỹ! Ông không biết cái nhục mất nước rồi bị tha phương cầu thực hay sao? Nếu chỉ cúi đầu ăn thì đâu nhất thiết phải đi bằng hai cẳng! Nếu…


Thấy vợ vung tay múa chân, miệng hò hét như những chính khách trên sân khấu, sợ hàng xóm nghe được thì thêm phiền hà, Sách vội chạy lại ôm Xuân “khống chế”, nhưng nàng vẫn vùng vẫy, miệng la bải hoải. Không còn cách nào khác, chàng bèn dùng thế võ khóa mồm khiến đối thủ ú ớ rồi ậm ừ, người mềm nhũn như sợi bún thiu thiếu điều muốn khuỵu xuống nên Sách vội bế thốc Xuân lên chạy vào phòng để cạo gió xoa dầu!


Nhìn chồng nằm gối đầu lên hai bàn tay, trán lấm tấm những giọt mồ hôi, nhớ lại thuở xa xưa mỗi khi gặp cảnh này, Xuân thường thưởng cho chồng một điếu thuốc SALEM, loại thuốc lá có mùi menthol dễ thương, mà cái tên của nó bị mấy ông zà-zịch dịch ra tiếng Việt nghe cũng dễ thương: Sao Anh Làm Em Mệt! Ngày ấy Xuân thường quẹt Zippo lên, đốt điếu thuốc, rít một hơi rồi phà khói vào mặt Sách trước khi gắn điếu thuốc lên môi người yêu.


Ôi thời oanh liệt nay còn đâu! Lửa đã tắt, bình khô rượu mà SALEM cũng chẳng còn, để an ủi chồng và giúp chàng quên dĩ vãng oai hùng, Xuân nằm xích lại, nâng đầu Sách lên, lấy tay thay gối, thỏ thẻ nũng nịu như hồi xa xưa:

– Thôi đừng suy tư nữa, không còn Salem thì em đọc báo XHCN cho anh nghe, mua vui cũng được một vài trống canh.

– Đã hết thuốc Salem lại còn phải nghe chuyện XHCN thì anh trở thành liệt... sĩ luôn à nghe. Mà tại sao em lại đọc báo VC ôn dịch ôn lai?

– Có vào hang hùm mới bắc được cọp, có đọc VnExpress, Tuổi Trẻ, Công An mới biết chủ tịt tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô sai hiệu trưởng Sầm Đức Xương đem nữ sinh đến cho hắn làm thịt. Có đọc mới biết ngư dân VN bị “tàu lạ” bắt và đâm chìm ngay trên biển của mình! Có đọc mới biết họ xây cầu chưa xong đã sập! Anh còn nhớ ngày 29/6/2007 cầu Cần Thơ bị sập khi đang xây khiến 54 công nhân chết và 80 bị thương không? Em nhớ rõ là vì ngày đó ông Mục sư Đục Bào vội vàng kêu gọi đồng bào hải ngoại “khẩn trương” góp đô cho ông đem vô XHCN cứu trợ! Rõ thối! Nhanh nhẩu đoảng để được lên thiên đàng XHCN... “Xuống Hố Cả Nút, Xấu Hổ Cả Nước”.

– Chuyện làm việc thiện của người ta, của cha của thầy của mục sư sao em cứ thích xía vô? Mà cây cầu đó xây tới đâu rồi nhẩy?

– Cầu ấy sắp “hợp long” rồi, để em đọc tin trên VnExpress nhá:

“Cầu Cần Thơ chuẩn bị hợp long. Ngày 26/9/2007, sự cố sập 2 nhịp khiến 54 chết, 80 bị thương. Dàn thép cuối cùng được lắp đặt để nối liền cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu ngày 3/10. Dự kiến hợp long ngày 15/10/2009 và chính thức thông xe vào tháng 3/2010. Nhưng mới chỉ thông xe kỹ thuật thôi mà đã có 10 thợ chụp hình và nhiều hàng rong đến đây tác nghiệp. Có đi thực tế mới thấy một số bộ phận người dân chưa ý thức được giá trị và biểu cảm của cây cầu.

– “Hợp long, thông xe, tác nghiệp, biểu cảm, đi thực tế” là kí gì vậy? Bộ phận của người là bộ nào vậy? Bộ trên hay bộ dưới, thượng bộ hay hạ bộ?

– Bố ai mà biết! Chắc ý họ muốn nói “hợp long” là cầu Cần Thơ giao hợp với Vĩnh Long chứ gì. Còn thông xe chắc là cho xe chạy qua cầu, là lưu thông! Thông xe kỹ thuật chắc là cho xe đi thử! Tác nghiệp là là là tác nghiệp! Biểu cảm là không phải phản cảm! Người (dân) ta có nhiều bộ phận mà chỉ có một “bộ phận” chưa ý thức thì hẳn là bộ phận này ở thấp dưới đầu gối thôi! Ối giời ơi, ai là người Việt Nam, đọc bản tin trên mà hiểu thì… hiểu chết liền. Để em đọc anh nghe lời tuyên bố của ông thanh tra nói về nạn kẹt xe ở Hà Nội nhé:

“Ùn tắc ở các điểm phân làn chỉ là cảm quan, ùn tắc hiện nay chỉ là giả tạo do sự thiếu ý thức của một bộ phận người tham gia giao thông. Ngoài ra cũng có nguyên nhân mật độ giao động khi tựu trường đột biến. Chúng tôi chia làn để các phương tiện không bị xung đột, tránh ùn ứ. Nhưng ý thức kém, người tham gia giao thông thấy chỗ nào đi được là chen vào gây nên tình trạng ùn tắc cục bộ”.

Đó là nguyên văn lời của thanh tra sở giao thông HN Hoàng Văn Mạnh phát biểu với VnExpress. Phóng viên không “đồng tình bèn phản biện”:

Thực tế cảm quan cho thấy việc cưỡng ép phân làn ở một số tuyến đường có dải phân cách là không hợp lý...

Khi tai nạn xe hơi xảy ra, cái sau ủi đít cái trước, thì họ gọi là “ô-tô đâm liên hoàn! Làm như cái xe đầu tiên quay vòng lại húc vào đít xe sau cùng, liên hoàn mà! Cái gì xảy ra liên tiếp thì họ gọi là liên hoàn. Thằng ăn cướp đâm liên tiếp ba người thì họ bảo nó đâm “liên hoàn”. Nếu chỉ có 2 xe thì sao?

Hình chụp xe taxi bị xe Rolls Roys ủi đít bẹp dúm thì ngôn ngữ đỉnh cao diễn tả như thế này:

Đuôi xe taxi dẹp dúm khi tác động với góc bên phải của Rolls Roys.

Phi cơ đang bay, nghe có tiếng điện thoại reo, ô-tét-đờ-le đi đến yêu cầu hành khách tắt điện thoại, vì hành khách này mang 3 cái điện thoại, nhưng lại chỉ tắt có 2, còn 1 chiếc thì vẫn mở. Cô tiếp viên báo cáo với phi công trưởng:

– Vị hành khách mang ba di động nhưng chỉ tắt có hai, còn một cái vẫn để ở chế độ mở. (Vnexprees)


Nếu bạn đi vào RR rồi đi ra mà quên gài thì đó cũng là những cái cúc thuộc chế độ mở. Kể sơ sơ ngôn ngữ diễn tả chuyện giao thông. Bước qua thể thao, phóng viên VnExpress diễn tả động tác cầu thủ Beckham đá bóng: Beckham vào bóng bằng gầm giầy...

Ai đã từng đá bóng thì làm ơn giải thích động tác “vào bóng” bằng “gầm giầy” là như thế nào? Khi các huấn luyện viên hướng dẫn, luyện tập và đưa ra những chỉ thị cần thiết cho cầu thủ thì VnExpress viết:

– HLV trưởng Argentina Maradona thị phạm cho các học trò trên sân tập.

– HLV Calisto của đội tuyển bóng đá VN liên tục phải nhắc nhở, sửa lỗi rồi thị phạm cho các học trò.

Không lẽ “thị phạm” là đưa ra những chỉ thị về sai phạm? Nhưng chưa ly kỳ bằng đoạn viết về ông HLV đội tuyển Pháp:

Đội tuyển Pháp đã hòa 2 trận, HLV Domenech bèn thay đổi chiến thuật, nhưng quỹ thời gian chỉ còn 1 tuần nên ông Domenech đem lại quá nhiều bất cập.

Ông HLV Domenech không còn “quỹ thời gian” để thay đổi chiến thuật, còn hoa hậu Je-nê-phơ Phạm (vợ bỏ của ĐVH) không được đi hét theo chồng thì tâm sự với PV báo Tuổi Trẻ:

– Trong quá trình làm việc sắp tới, tôi sẽ đầu tư quỹ thời gian vào công việc người dẫn chương trình.

Chỉ có quỷ sứ mới hiểu “quỹ thời gian” là cái củ cải gì! Thay vì nói MC hay điều khiển CT thì lại “dẫn ct”, làm như xích cổ nó kéo đi.

Không nói chuyện Beckham vào bóng bằng gầm giầy nữa, không tìm hiểu quỹ thời gian nữa mà đi nghe họ kể chuyện màu đỏ chủ đạo của cái xì-líp mà cô Venus mặc khi chơi banh... lưới. (3)

Venus lại mặc đồ phản cảm. Ở giải Italy mở rộng, Venus lại diện trang phục phản cảm như ở giải Pháp mở rộng, nhưng lần này cô chọn màu đỏ làm chủ đạo.

Ối bác ơi, cháu mặc xi-líp đỏ mà bảo là lấy màu đỏ làm chủ đạo thì nghe ghê quá, có khi lộn với lá cờ lấy màu đỏ làm chủ đạo đấy, cháu chả hiểu ý bác nói màu đỏ “chủ đạo” là cái gì sất.

Ở US Open, Kim Clijsters loại ứng viên nặng ký Venus Williams, sau đó cô tiếp tục mạch trở lại hoành tráng ở giải đấu mà cô từng vô địch.

“Mạch trở lại hoành tráng” nghe chưa kinh bằng ông phó giáo sư Hà Đình Đức nói về viêc nạo vét hồ Gươm:

Sau khi vét thí điểm kết quả sẽ được quan trắc đánh giá để có phương án xử lý tiếp theo. Khu vực xử lý thí điểm chưa tới 1% diện tích hồ, lượng nước hao hụt không đáng kể nên không cần bổ cập.

Đường hầm cầu Thủ Thiêm bị cháy thì bản tin ghi lại như sau:

Đường dẫn hầm cầu Thủ Thiêm phát hỏa, chiến sĩ PCCC đến hiện trường và đám cháy được khống chế. Tuy nhiên mật độ khói trong đường dẫn vẫn còn nên lực lượng tiếp tục triển khai tiếp cận điểm phát hỏa.

Anh buồn ngủ rồi hả? Thôi để em ru cho anh nghe chuyện giá cả:

Giá sữa bột ở VN tăng giá lung tung, bộ y tế thông báo là giá không được vượt trần quy định. Khung giá sẽ được xây dựng căn cứ trên giá bán không bao gồm chi phí bao bì. Sau khi cân đối, các doanh nghiệp được quyền công bố giá bán nhưng không được vượt trần quy định mà phải tiếp cận giá bình dân. (!) Nếu vi phạm thì khung hình phạt là 5 đến 10 tháng tù.

Xuân đang đọc những “mảng văn cực kỳ hoành tráng” cho chồng nghe thì Sách hét lên... “thôiii ốiii”, Xuân vội vàng nắm đầu chồng lắc lắc:

– Này này, anh mơ thấy gì mà hét lớn thế làm em giật cả cái...mình, ác mộng hả? Cái gì thối? Em có đánh… rắm gì đâu mà anh kêu thối? Hay là anh mơ thấy con đ. ngựa nào nó bóp... cổ anh.

– Không có ác mộng hay đ. ngựa nào cả, chính em đấy, em làm anh phát điên lên đây này, nếu còn lải nhải những thứ ngôn ngữ khỉ gió đó nữa thì anh, thì anh...

– Thì anh, thì anh làm sao? Anh làm gì tôi? Vì ru cho anh ngủ nên tôi đã phải hy sinh “tiếp cận” với ngôn ngữ lộn mửa này. Anh nằm gối đầu lên tay tôi, tôi gác chân lên đầu ... gối anh, tôi đọc cho anh nghe những “mảng văn chương cực kỳ” của XHCN đang trong thời kỳ quá độ tiến lên loài người mà anh lại hét thối lên là thế nào?

– Xin lỗi em, tại vì anh “bức xúc” quá!

– Ông nói “bức” cái gì, “xúc” cái gì? Muốn xúc... thì đi chỗ khác, nằm bên tôi mà ông thích “bức xúc” thì ông đúng là đần ông, ông đần. Tại sao ông lại đi mượn của VC cái thứ vô nghĩa ấy về làm cho bẩn cái lỗ... tai tôi! Có nhiều tiếng thanh tao như khó chịu, bực bội, bực dọc, phẫn uất, tức tối, lo lắng, băn khoăn, giận hờn, đau khổ, điên tiết, lộn tam bành v.v... tùy từng trường hợp mà dùng. Cái thứ gì mà đụng đâu cũng “bức xúc”! Mở miệng ra là “xúc” nghe tục làm sao!

– Ối giời! Người ta nói đầy đường kia kìa, báo dùng, “đài” dùng, ông lớn dùng, bà bé dùng thì có sao đâu? Thấy cái gì có hơi hám VC một tí là em chống, em đúng là người chống cộng “sảng”.


– À thì ra ông nói tôi mê sảng chống cộng hả? Tôi nói cho ông biết, chuyện trong nước xảy ra làm sao, dẫu có thế nào tôi cũng chẳng nói làm chi, tôi dí vào. Cái vấn đề là sự trong sáng của tiếng Việt ở hải ngoại đang mờ dần vì pha trộn với ngôn ngữ bản xứ, nay có nguy cơ bị bệnh nặng do virus du-sinh và ca-nô mang sang, hễ chúng làm rơi ra câu nào là có kẻ chộp lấy mà dùng! Nhất là bọn con buôn, nó quăng cho cái quảng cáo đầy chữ VC kèm theo vài đô-la là các “la-dô” tranh nhau vồ rồi các xướng ngôn cứ ra rả trên các làn sóng “hoành tráng, khuyến mãi, ấn tượng v.v...”! Báo chí thì bê nguyên văn các bản tin trên báo điện tử trong nước, trước đây thì đi hai bước cắt-dán, nay thì đi ba bước “highline, copie, paste là có bản tin như của chính mình, ngôn ngữ VC còn y nguyên, phóng viên viết tin thì dùng quá nhiều tiếng trong nước, có vẻ như họ xuất từ đó mà ra! Thu-em-hỏi!


– Này bà! Bà ăn nói nên giữ mồm giữ miệng kẻo bị đi kiện vì làm thiệt hại đến thương vụ của họ đấy, giống như tên Tây-lọ-lem đem thằng đờm đỏ Đâm Vào Hông ra hù cộng đồng và đang chuẩn bị đâm đơn kiện cộng đồng vụ biểu tình chống thằng Đờm-đỏ đấy.

– Con kiến mà kiện củ khoai ấy à? Mà tôi không có củ thì tôi đền “ba mươi chín ngàn” (4) được không? Mà thôi, chuyện cộng đồng để cộng đồng lo, tôi quay về chuyện giữa ông và tôi đây này. Tôi có làm điều gì khiến ông không vừa ý thì báo cho tôi biết rằng ông chán ngấy, khó chịu, bực mình v.v... thiếu gì chữ để nói mà sao ông cứ nghèo nàn chỉ có một câu thô tục “bức xúc”? Đã vậy, ông cũng như một số bạn của ông, sau khi bị “gẫy súng” lại bày đặt viết văn. Tôi trân trọng việc làm này nếu như các ông không vay mượn những thứ ngôn ngữ quái đản khiến ông không phải viết văn mà là “giết” văn chương.

– Bà đừng có nói thêm, nói điêu rồi chẻ sợi tóc ra làm tư làm tám, hai đầu bịt bạc giữa khảm xà cừ vu oan cho tôi.

– Oan hả? Nói có sách mách có chứng, cuốn sách hồi ký chiến trường ông đang “giết” tiếng Việt đây này, ngay trang đầu ông đã dao to búa lớn:

– “Tôi đi hành quân xuyên suốt khắp 4 vùng chiến thuật...”

Ngô nghê chưa? Hai chữ “xuyên suốt” không bao giờ dùng ở miền Nam VN, vả lại nó quá thừa, quăng nó vào sọt rác thì văn của ông nhẹ nhàng đầy đủ ý nghĩa rồi. Còn ở dòng 4 trang 3, tôi lại tưởng là hồi ký của bộ đội miền Bắc:

– “Tôi cho đại đội khẩn trương rút, nhưng để lại một tiểu đội ở tại hiện trường để tìm phương án tiếp cận địch quân”!


Sách báo miền Nam có chữ đường “tiếp cận” trong hình học, còn ngoài chiến trường là “tiến sát, bám sát, lại gần” địch quân. Nay ông thấy người ta nói “tiếp cận giá bình dân” ông cũng bê vào văn của ông! Miền Nam ta chỉ dùng “khẩn trương” trong trường hợp báo động, giới nghiêm, thiết quân luật, nay thì cái gì cũng “khẩn trương”, yêu khẩn trương, đái khẩn trương, ị khẩn trương. Cái đêm bị ngồi xe bít bùng từ trường Taberd đến Long Giao, dọc đường xe ngừng, bộ đội hét:

– Các anh đái khẩn trương lên”.

Tôi thấy các ông tù ngơ ngác chả hiểu gì cả, vài ông cười té đái ra quần, nay thì xoen xoét nói “khẩn trương” như môi có bôi mỡ. Ông chồng yêu... quái đản của tôi, các ông là lính, là người không đội trời chung với VC, chúng đã giết 10 năm, 15 năm tuổi trẻ của các ông trong ngục tù khiến chị em tôi chết theo tuổi xuân! Ông được thả ra khi đã hấp hối, sợ té đái vãi kk chạy ra hải ngoại mà vội quên quá khứ, “giết” văn bằng ngôn ngữ VC. Tôi đã nhắc ông nhiều lần thì ông viện cớ là ở tù lâu nên quen miệng! Ngụy biện! Miếng ngon nhớ lâu, điều đau nhớ đời, ông thường mỉa mai nhắc chuyện cai tù dẫn các ông đi coi ciné và ra lệnh:

– “Trong quá trình xem phim, các anh phải giữ cự ly giản cách.”

“Quá trình” là diễn tiến một sự việc xẩy ra trong quá khứ, nếu họ dùng vào việc đang hay chưa xẩy ra thì là “nó dốt nó say sô” vậy mà các ông cũng bày đặt dốt theo sao? Tôi nhớ mãi cái buổi họp về đại hội sắp tới của các ông vỏ bí, ông Tổng “Vớ Vẩn” nói thế này:

– “Trong quá trình diễn ra đại hội, chúng ta sẽ phải...”

Tôi nhớ là vì hôm đó sau khi ông Vớ-Vẩn phát biểu “quá trình”, tôi vẫy con tô-tô và kiki lại nghe “bố” nó nói. Tưởng “đảng đã cho ông sáng mắt”, ai ngờ sau đại hội, ông gửi một cái email cho các hội viên như sau:

-“Tôi đánh giá cao về sự năng nổ của các bạn đã giúp đại hội được thành công nhất định. Ý đồ của tôi là đưa các phu nhân đi tham quan Little SG, nhưng vì thời gian bị khống chế nên không thực hiện được. Xin cám ơn các bạn, những đồng môn thân thương của tôi”.


Tôi định đập vỡ mặt cái láp-thóp đã ăn nói ba láp, vơ vét rác rến XHCN vào cái thư gửi cho đồng đội, đồng môn! Ông ăn cắp tất cả chữ nghĩa của một “thủ trưởng”. Cái gì là “đánh giá cao, giá trị cao”? Một kiểu nói trịch thượng. Người Nam mình không bao giờ “năng nổ” mà chỉ có hăng say, nhiệt tình, tích cực. Còn chữ “ý đồ” là mưu toan thực hiện một hành động bỉ ổi, tại sao ông không dùng “ý định”? Còn “tham quan” là tiếng hán,tiếng Việt là thăm viếng.Tiếng VN ta có sẵn “thân mến, thân yêu, thân thiết” không dùng lại đi vơ con tiều “thân thương” vào, trong tự điển tiếng Việt không có chữ “thân thương”, cái chữ khỉ gió này chỉ có sau 30/4/75! Chán! Hình như ông và bạn bè ông cùng ăn phải đũa của nhau, không còn biết phân biệt ngôn ngữ nào là Việt, ngôn ngữ nào là Ziệc +! Họ thích háng-dăng như tham quan (thăm viếng) nghệ nhân (nghệ sĩ), xuất nhập khẩu (xuất nhập cảng) v.v...vì lệ thuộc Tàu, sợ Tàu đến nỗi tàu-Tàu đâm chìm tàu-ta ngay trên biển của ta thì bảo là “tàu lạ”!


Tóm lại, người trong nước họ chế tạo ngôn ngữ thế nào thì kệ họ, đừng vay mượn chôm chĩa, đừng thấy họ vẫy đuôi ông cũng vẫy theo, họ bức xúc ông xúc theo. Tôi đã khuyên bảo ông nhiều lần rồi, nhưng cứ như nước đổ lá môn, vẫn chó đen giữ mực, tôi chịu hết nổi rồi, thôi đường ông ông đi, đường tôi tôi đi.

Nói xong bà Xuân xách cái mông ra đi, bỏ lại Sách một mình bên đống rác gara-seo. Buồn thối ruột (dĩ nhiên) Sách than thân:

– Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng, ai ngờ chỉ vì vài danh từ VC mà gia cang tôi tan nát! Còn những cái khác nữa của VC thì chắc khiếp đảm lắm đây!

***

Thưa độc giả, trên đây là chuyện xẩy ra trong gia đình lão Bát-Sách, cộng đồng của Sách. Nếu ai thấy quen quen thì chẳng qua là có tật giật mình thôi. Xin mỗi người cố gắng một chút để giữ gìn tiếng Việt được trong sáng, nếu có bắt chước thì tìm cái hay, đừng thấy “sang dốt nát” mà bắt quàng làm họ. Nhất là hiện nay các nhật báo, tuần báo, tháng báo, báo bán, báo chợ đã quên đi vai trò quan trọng của truyền thông là giữ gìn tiếng Viết cho trong sáng, cũng có thể báo nào đó, có anh chị ký-rả nào đó làm nhiệm vụ “reo rắc đó đây những mầm độc hại” để giết tiếng Việt, giết người Việt!


Tập thể các cựu QN, các cựu SVSQ, các tập san quân đội, tiếng nói của tổng hội, của quân trường, của binh chủng...nhất định phải nhặt những hạt sạn, giẻ rách ra khỏi diễn văn, diễn đàn, tống chúng ra khỏi thông cáo, báo chí của mình. Những tác giả gửi bài viết cho tập san BĐQ, đặc san TQLC, Đa Hiệu, KBC/HN, Chiến Sĩ Cộng Hòa v...v... hoặc phổ biến tài liệu, những bài viết mà chúng ta sưu tầm được lên diễn đàn thì phải gạn lọc, nhặt những cái chữ khỉ gió “ấn tượng, tiếp cận, thân thương, tham quan, năng nổ, khống chế, diễu hành” v...v... mà quăng chúng vào sọt rác trước khi gửi bài, trước khi phổ biến. Nếu muốn dùng để diễu chơi thì nên bắt chúng nhốt vào cái còng 2 ngoặc kép (“...”) kẻo làm đinh tai nhức mắt độc giả.


Captovan

(1) một đọan quảng cáo trên radio v/v lắp ráp garage

(2) tiếng địa phương Đồ Sơn, BK của tôi còn có nghĩa là nơi mà từ vua tới dân đen, từ sang tới hèn đều từ đó mà xuất, “quân tử thứ dân giai do thử ĐỒ xuất”

(3) banh lưới: tennis, banh lỗ: golf

(4) tức ba vạn chín nghìn


Vợ Chồng Lục Đục Cũng Tại … Ông Thích “Bức Xúc”! (Captovan) | Vinh Danh QLVNCH và Bảo Vệ CỜ VÀNG