Thursday, April 23, 2026

Những Bệnh Do Thiếu Đường - Đỗ Đức Ngọc


Những chứng bệnh do bệnh nhân khai dưới đây được thống kê chưa được tây y bổ sung vào triệu chứng của bệnh đường-huyết thấp ( đường dưới 6.2mmoml/l = 104mg/dL) gây ra nhiều bệnh nan y mãn tính và cuối cùng tế bào sẽ trở thành ung thư, gồm các bệnh như sau :

Thoái hóa xương cổ, thoát vị đĩa đệm, vẹo cột sống, cứng cổ gáy vai, tê đau nhức tay vai, đau lưng, chân, đầu gối, gót chân, đi khó khăn, parkinson (run tay chân), bệnh cholesterol, gout, thần kinh tọa, giảm trí nhớ, lồi điã cột sống, liệt đường ruột, hư thận phải lọc thận 3 ngày/tuần, nhức nửa đầu, dị ứng, đau lưng xuống thận qua bụng ra sau lưng dấu hiệu của sạn thận. nhức đầu, đau đầu chóng mặt, ho suyễn kinh niên, khó thở, yếu bao tử, bao tử ăn không tiêu, ợ hơi, trào ngược thực quản, bướu cổ, ung thư bao tử, đi cầu ra phân sống, bệnh tâm thần, mất ngủ, đau nhức mỏi toàn thân, bị chóng mặt mệt tim. bệnh tiểu nhiều, rối loạn tiền đình, rối loạn thần kinh, mất ngủ, bụng căng cứng to, yếu sức, đi đứng chậm chạp, người xanh xao, đi hay lảo đảo, khi đi đau bàn chân, đầu cổ cứng không quay trái phải hay cúi ngửa được, ù tai, mắt sụp, nhìn không có thần, bệnh trầm cảm, tâm thần, dễ bị vong nhập, liệt mặt méo miệng, hoăc mắt bị chói, thấy xung quanh tối sầm thoáng qua, u xơ tử cung ,(xơ hóa sợi cơ, u lành tính tái phát tại chỗ, ung thư vú, ung thư tử cung, viêm gan , suy thận độ 2, mắt mù dần, bại xuội chân tay vô lực do áp huyết thấp và đường thấp khác với stroke tai biến gây liệt cứng, động kinh co giật, thiếu đường sẽ bị loãng xương, chân yếu đi hay bị té ngã gẫy xương, và bệnh thường gặp khi bỗng nhiên tụt thấp đường-huyết mà không biết, bị ớn lạnh xuất mồ hôi, chóng mặt xây xẩm có dấu hiệu như trúng gió muốn té xỉu, phải uống đường ngay tức khắc chứ không phải cạo gió bệnh nhân sẽ chết ngay nếu không cứu kịp bằng đường. …

Do đó những ai bị những chứng bệnh kể trên, biết nguyên nhân bệnh là thiếu đường do tiêu chuẩn ngành y tự hạ xuống qúa thấp, tạo ra nhiều bệnh “để bán bệnh cho mình mua thuốc”. Mình tự phải bào vệ sức khỏe cho mình, nguyên nhân thiếu đường thì uống thêm đường và tập thể dục khí công, các bệnh kể trên tự nhiên biến mất không cần thuốc. Thánh nhân đã nói : Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống. Còn Đạo Phật dạy con người biết sống trung dung, về y học có nghĩa là không để áp huyết cao quá, áp huyết thấp quá, không để đường cao quá, cũng không để đường huyết thấp quá thì không bao giờ bị bệnh, còn chúng ta thì cực đoan, vừa uống thuốc làm hạ áp huyết và hạ đường càng thấp càng tốt không chịu ngưng cứ uống thuốc suốt đời để thành bệnh nan y khác, phải chăng là si mê ?


TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM VỀ ĐƯỜNG.


Dù máy thử đường cho kết quả bao nhiêu cũng không quan trọng, mà đường-huyết tùy theo nhu cầu cần thiết để hoạt động cho mỗi người khác nhau qua cách khám nhiệt độ trên bàn tay :

1-Bàn tay nóng nhiều là dư đường,

2-Bàn tay ấm là đủ đường

3-Bàn tay lạnh là thiếu đường.

Để bàn tay lên trán, trán nóng hơn tay hay tay lạnh hơn trán là thiếu đường

Sau khi uống đường thí dụ 1 thìa thì bàn tay ấm hơn 1 tí, uống 2 thìa, ấm hơn nữa, 3 thìa ấm nhiều, 4 thìa bàn tay nóng đạt tay lên trán nóng hơn trán là đủ đường.

Sáng ngủ dậy bàn tay còn ấm thì đêm ngủ ngon,

Tối trước khi đi ngủ bàn tay lạnh hơn trán thì không ngủ được


Giải thích tại sao:

Bàn tay lạnh là nhịp tim thấp, tốc độ bơm tuần hoàn máu chậm máu không đem oxy lên nuôi não

Bàn tay âm nóng làm cơ thể tăng nhiệt giúp máu tuần hoàn dễ, nhịp tim nhanh hơn là tốc độ vận chuyển máu lên não đủ thì ngủ ngon.

Bàn tay quá nóng thì nhịp tim quá cao, vận tốc bơm máu qu1a mạnh gây ra xung huyết não thì mất ngủ.

Nhưng khác với bàn tay lạnh mà nhịp tim cao đến 100-120 đo nhiệt độ thấp không phải sốt, nhưng trong người nóng môi khô, cảm thấy trong người nóng mà bên ngoài da lạnh phải mặc áp lạnh là cơ thể thiếu lượng máu khiến nhịp tim phải bơm máu tuần hoàn nhanh , đông y gọi là ” âm hư sinh nội nhiệt “, chỉ cần bổ máu thì nhịp tim sẽ tự hạ xuống bình thường.

Những người đang uống thuốc trị tiểu đường, thường kiêng đường, lại uống thuốc hạ đường, khi có dấu hiệu bàn tay quá lạnh gây ra biến chứng bệnh nhẹ là các sợi cơ thần kinh co giật run tay chân, nặng hơn thì giựt mặt méo miệng mà tây y gọi là liệt mặt do virus, nặng hơn nữa là hôn mê sâu chết trong giấc ngủ êm đềm vào ban đêm, hồn lìa khỏi xác không biết trước để nói lời từ giã. Nhưng thật ra chỉ là chết lâm sàng, còn ý thức nghe được tiến nói bên ngoài, sai khi chôn xác xuống lòng đất có người 2 ngày sau tỉnh lại mà không thoát ra được khỏi qun tài nên đàng bị chôn sống,

Còn ở tây phương chết là mổ xác là chết oan do thiếu đường, não thiếu oxy, nếu những người nhà giầu có tiền, tây y giúp cho bình thở oxy duy trì sự sống trong các bệnh viện đặc biệt nuôi người thực vật vài năm. Hết tiền thì rút ống thở cho bệnh nhân ra đi. Trong trường hợp này áp huyết ổn định nhưng người thực vật vẫn không tỉnh, bàn tay vẫn lạnh, nếu cho uống đường làm bàn tay ấm thì có nghĩa là cơ thể vẫn còn hoạt động tự điều chỉnh được thân nhiệt nhờ đường, thì họ sẽ tỉnh lại.

Tôi đã chữa 1 người thực vật như ngủ say không biết gì, không cử động nhúc nhích, quốc tịch Hy Lạp, đã nằm trong bệnh viện nuôi người thực vật được 4 tháng, được nuôi thức ăn bằng ống, nuôi thở bằng bình dưỡng khí, theo dọi oximeter, gia đình nhờ tôi đến đánh thức bà dậy. Trong 3 ngày thì bà tỉnh dậy, ngồi xe lăn ra ngoài vười chơi với tôi, chân yếu, không nói được, chỉ nhìn trời nhìn đất….

Tóm lại đường cao không chết người, mà đường thấp sẽ chết người.

Đường cao mà tập thể dục cho xuất mồ hôi thì đường sẽ tụt xuống thấp nên không bị bệnh tiểu đường.

Như vậy không cần phải dùng máy đo đường, chỉ số đường-huyết theo tây là quy luật tương đối không giống đông y, vì những lý do sau đây :

Có người bàn tay ấm, khỏe mạnh có sức, mặt hồng hào, đo đường có 5.0mmol/l

Có người đường lên 8.0 mmol/l mới có bàn tay ấm, nếu dưới 8.0mml/l thì bàn tay vẫn lạnh và run tay, nếu uống đường lên 9.0mmol/l tay hết run (Parkinson)

Còn tôi khi đường dưới 8.0mmol/l thì hơi mệt, chóng mặt, tôi phải uống cho đường lên 15mmol/l thì có thừa năng lượng và nhiệt lượng làm việc suốt ngày không mệt mỏi, da dẻ hồng hào, đến chiếu tối đường xuống 8.0-9.0, sau khi ngủ qua đêm sáng dậy đo đường chỉ còn 6.0mmol/l thì an toàn, còn trước khi đi ngủ đường xuống 5.0mmol/l thì khi ngủ dậy mệt mỏi , đường xuống còn 4.0 mmol/l là may mắn, chứ đêm mà đường xuống dưới 3 mmol/l thì đêm về với ông bà tổ tiên rồi.

Có người mặt xanh xao chân tay bàn tay lạnh, nhịp tim thấp, đo đường-huyết rất cao từ 12.0-25.0 mmol/l, đối với đông y vẫn bị thiếu nhiệt lượng, Vì chỉ số đường cao do tránh không dùng đường cát vàng, mà dùng đường trái cây hay đường mật ong, hay ngay cả ăn nhiều chè nấu bằng đường, thử đường vẫn cao nhưng không cho năng lượng và nhiệt lượng.Khi cho họ uống 3 thìa đường cát vàng pha với nước ấm thì đo nhiệt độ bàn tay ấm, sờ bàn tay ấm, cho tập thể dục giúp cơ thể tăng nhiệt xuất mồ hôi thì đo lại đường xuống từ 6.0-8.0mmol/l

Có người thử đường cao 12.0mmol/l sau khi tập thể dục khí công bài Vỗ Tay 4 Nhịp 15 phút, thì đường xuống còn 6.2 mmol/l. Nếu kiêng không dùng đường chỉ giữa đường ở mức 6.2mmo/l để không bị bệnh tiểu đường nhưng lại muốn tập, muốn làm việc nặng thì không có đủ đường vận động, sau khi tập đường-huyết xuống 4.0mmol/l sẽ té xỉu như các người tham dự chạy Marathon, đã bị chết vì tim ngừng đập nguyên nhân do đường-huyết tụt thấp khi tập cơ thể xuất mồ hôi.

Đó là lý do tại sao nhiều người thích tập luyện thể dục thể thao mà không chịu uống thêm đường gây ra hôn mê, tử vong oan uổng. Nhất là những người già, kiêng đường lại tiêm insulin mỗi ngày làm hạ đường từ năm này đến năm khác gây ra biến chứng suy tim, hư thận, phải lọc thận, ghép thận, thay thận, hay bỗng nhiên té ngã rơi vào hôn mê chết oan uổng.

Giải thích tại sao:

Uống nước đường thì đường vào máu trực tiếp làm tăng thân nhiệt.

Đường cát vàng có 2 đặc tính thấy kết quả ngay:

-Cho năng lượng: vì đang mệt tim, chóng mặt, chân tay run rẩy yếu, hay xuất mồ hôi lạnh, bàn tay ra mồ hôi nhiều không cầm, sau khi uống đường cát vàng thấy khỏe ngay

-Cho nhiệt lượng : Bàn tay lạnh, người đang lạnh như sắp trúng gió, sau khi uống đường cát vàng thì thấy cơ thể ấm, bàn tay ấm ngay.

Còn đường từ trái cây, từ mật ong, từ chè là đường vào bao tử để chuyển hóa thành đường, mà không vào máu ngay, thì trong máu cũng có đường, thử đường trong máu cũng cao nhưng không có 2 đặc tính trên là cho năng lượng và nhiệt lượng.


Đỗ Đức Ngọc

http://khicongydaotoronto.com/forum/viewtopic.php?f=14&t=7202

Ai Ra Đời Lâu Rồi Thì Mới Hiểu Hết Được


1. Xã hội này giữa người với người đừng nên nhìn mặt đoán lòng. Họ cười họ nói một đằng nhưng trong tâm họ lại nghĩ một kiểu.

Hoá ra thứ lạnh lẽo nhất trên đời này chính là lòng người...

2. Chẳng bao giờ người ta cần có lý do để ghét bỏ ai đó. Yêu hay ghét nó là cảm giác của mỗi người, mà con người luôn là tạo vật đầy rẫy mâu thuẫn, thế nên, đừng dằn vặt mình vì: "Sao nó ghét mình?", "Mình đã làm gì nó đâu?" có bới móc tìm ra lý do biện minh cho việc yêu quý hay hờn ghét, nói thật là chẳng để làm gì. Nó ghét vì nó thích thế. Đơn giản vậy thôi!

3. Lời đồn xuất phát từ những kẻ hay ghét người khác. Lan truyền bởi những kẻ dại khờ và được chấp nhận bởi những kẻ ngu ngốc

4. Cuộc đời này ngắn lắm, chớp mắt trôi qua đã hết nửa quãng thanh xuân. Trong cái lúc tuổi xanh vùn vụt chạy qua như chuyến tàu tốc hành, còn bao nhiêu chuyện khác phải lo để tồn tại, cớ gì phải vơ hết chuyện thiên hạ về mình cho mệt?

5. Càng ngày tôi càng thấy sợ một số người xung quanh mình. Họ diễn hay quá và hạ màn cũng thật bất ngờ.

6. Người đời không nuôi bạn lớn ngày nào. Lúc bạn đau khổ, họ cũng không ở cạnh lo cho bạn, vỗ về nỗi đau của bạn. Lúc bạn vui, họ lại càng không quan tâm, chưa kể còn có phần ganh ghét. Thế thì việc gì phải bận tâm lo sợ đám đông người đời đánh giá cuộc đời bạn thế nào?

7. Không sợ chậm, chỉ sợ dừng. Những người dẫn đầu ở điểm xuất phát, chưa chắc sẽ là người về đích sớm nhất. Những người bị tụt lại ở điểm xuất phát, chưa chắc sẽ là người mãi mãi về sau. (Vãn Tình) Không hiểu thì đọc ngay: https://bit.ly/khongsocham_tiki

8. Miệng lưỡi người nào ai quản nổi? Họ nói những gì họ thích và làm những điều họ muốn chẳng bao giờ quan tâm tới những tàn nhẫn của "thú vui" ấy. Rồi nạn nhân sẽ sống thế nào đây?

9. Làm sao để nhận biết được một con người qua vẻ bề ngoài. Hoa hồng đẹp thế mà còn có gai đấy thôi! Con người cũng vậy…càng vẻ mặt từ bi bao nhiêu có khi trong lòng lại càng nham hiểm bấy nhiêu…Tất nhiên cũng có những người tuyệt vời cả về hình thức lẫn tâm hồn.

10. Bạn có sống tốt thế nào cũng có người ghét. Cho nên mình cứ sống vui, sống khỏe đừng đánh mất sự lương thiện, tốt bụng trong mình là được! Ừ lương thiện thì thiệt thân, nhưng tôi cứ sống cho tốt cái bụng mình thì chẳng bao giờ phải hổ thẹn với đời.


Sưu tầm

Chỉ Mình Với Ta - Đỗ Công Luận

Wednesday, April 22, 2026

Little Saigon, Quận Cam Có Còn LàThủ Đô Của Người Tị Nạn - Quang An


Vì không cạnh tranh nỗi với người gốc Đại Hàn, người Tàu sinh sống ở Los Angeles, nơi được xem là thành phố thiên thần, người Việt xuôi về phía Nam của Los Angeles khoảng chừng 1 giờ đồng hồ lái xe, và bắt đầu gầy dựng ở đây.

Với vùng đất rộng lớn gồm các thành phố kề sát nhau, người Việt định cư rải đều ra các thành phố Westminster, Garden Grove, Fountain Valley, Midway City, Santa Ana ở quận hạt Orange, mà dân ta hay gọi là Quận Cam.

Cửa tiệm , nhà hàng, cơ sở thương mại mang tên Việt bắt đầu xuất hiện. Ban đầu chỉ là một khúc đường Bolsa, nơi có thương xá nổi tiếng mang tên Phước Lộc Thọ. Rồi dần dần cửa hiệu, nhà hàng, cơ sở thương mại của người Việt Nam mọc lên như nấm, lan ra khắp nơi, trải dài từ Bolsa, qua Westminster, Brookhurst, Euclid, Magnolia v..v... Từ Garden Grove, đi xuống thành phố Westminster, hay Fountain Valley, Santa Ana, đều thấy bảng hiệu chữ Việt tràn đầy. Thậm chí là Midway City, hay được gọi là Thị Trấn Giữa Đàng, cũng có luôn cửa hiệu của người Việt.

Phải nói rằng với sự cần cù và siêng năng, thế hệ người Việt tỵ nạn cộng sản từ năm 1975 đã tạo nên một khu vực mà ai ai cũng có cảm giác như là một SÀI GÒN THU NHỎ. Đến đây, ngoài việc là có thể tiếp xúc, gặp gỡ người Việt xa xứ, người Việt bỏ chạy cộng sản từ hồi năm 1975 còn có dịp tìm lại những hình ảnh, những tác phẩm văn hoá của miền Nam trước kia.

Ghé nhà sách Tú Quỳnh, hay ghé các trung tâm sản xuất băng dĩa nhạc, là có thể tìm lại chút gì đó của thoáng hương xưa. Dĩ nhiên, nếu muốn tìm lại mùi vị của những món ăn Việt Nam, người Việt tị nạn sẽ dễ dàng tìm thấy
-những bát phở
-những tô bún bò
-những đĩa bánh cuốn
-hay thậm chí là cả những chén chè xôi nước, v....v....

Cái tên Little Sàigòn là đây. Người Việt đã yêu kiều đặt địa danh này cho một vùng đất cách xa quê hương hơn nửa quả địa cầu để hồi tưởng... để nhớ nhung...về một Sàigòn xưa. Và hơn cả, Little Sàigòn còn là một trung tâm văn hoá nhằm gìn giữ bản sắc của người dân Việt trước đại hoạ cộng sản từ hồi năm 1975. Chính vì vậy, Little Sàigòn luôn luôn được xem là THỦ ĐÔ của người Việt tỵ nạn cộng sản.

Rồi thời gian trôi qua...
Thế hệ người Việt tị nạn cộng sản đầu tiên nay đã già !!!
Ráng chịu khó làm ăn vất vả để nuôi gia đình
Con cái của thế hệ này nay đã trưởng thành, đã học thành tài để rồi có người là
-Bác sĩ
-Dược sĩ
-kỹ sư
-Khoa học gia
-Tướng,Tá

Cuộc sống khá giả hơn, ổn định hơn, cho nên rất nhiều người Việt đã dọn về phía Nam của vùng Little Sàigòn để an cư lập nghiệp. Người thì ở Irvine, người thì ở Mission Viejo, hay thậm chí là xa hơn nữa như San Juan Capistrano, v..v...
Hầu hết, thế hệ sau này không muốn tiếp tục con đường làm ăn của thế hệ trước đó, cho nên rất nhiều chủ nhân nhà hàng, cửa hiệu, đến tuổi về hưu, phải tìm cách bán lại những gì mình đã gầy dựng. Người đi, thì phải có người đến.

Trong những năm vừa qua, với những chính sách thu hút người ngoại quốc đem tiền vào Mỹ đầu tư, đã có rất nhiều thành phần giàu có ở Việt Nam mà thường được gọi là "đại gia đỏ" hay "tư bản đỏ" ... đổ bộ qua Mỹ.

Thành phần này là những tay cựu"quan chức" hay những tay làm ăn buôn bán tham nhũng, những tay có thể có cả chục triệu đô la lận lưng để làm vốn, để có thể mua nhà, mua cơ sở, mua cửa hiệu, v..v... Ban đầu thì còn rải rác ở các tiểu bang khác, nhưng gần đây thì đổ về tiểu bang California rất nhiều.

CUỘC SỐNG Ở LITTLE SÀI GÒN BẮT ĐẦU THAY ĐỔI

-Các cửa hiệu, nhà hàng do những người Việt tỵ nạn làm chủ, từ từ lại thấy thay tên, đổi hiệu. Có những cái tên nhà hàng, chỉ cần nghe cái tên, cũng có thể đoán được gốc gác của người chủ từ đâu đến.
-Chợ búa cũng thay đổi.
-Và phong cách người dân ở Little Sàigòn cũng thay đổi.
-Có những quán cà phê, thanh niên ngồi đánh bài "tiến lên", hay còn gọi là "chặt hẻo",một loại bài của mấy chú bộ đội miền Bắc đem vào Nam, suốt cả ngày.
-Khói thuốc lá bay mù mịt.
-Có những quán bar mà đêm nào cũng đông thanh niên đến .... "xập xình", và là nơi giới thiệu các ca sĩ ở Việt Nam bay sang.
Thử hỏi, dân bình thường thì lo đi làm ở công sở, đâu có thì giờ mà la cà quán xá như thế cả ngày lẫn đêm.
Có chăng thì chỉ vào dịp cuối tuần, nhưng ở Little Sàigòn bây giờ, ngày trong tuần, hay ngày cuối tuần đều ... ĐÔNG NHƯ NHAU

- Văn hoá, văn nghệ thì các sản phẩm từ trong nước nhan nhản đầy trong các cửa hiệu.
-Quán ăn thì không còn vẻ thanh lịch, và không còn trông sạch sẽ như lúc trước.
-Bãi đậu xe thì lại càng quá tệ, nhìn rất dơ bẩn. Rác quăng bất cứ chỗ nào.
-Các đài truyền thanh, truyền hình, thì cứ như là "cơ quan ngôn luận" của Việt Nam vì tin tức đọc nhiều khi dùng chữ "y chang" VN Express của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.
-Quan trọng hơn nữa là tình hình an ninh trật tự không còn như xưa.!!!
Nghe thử một quảng cáo phát trên truyền thanh bảo rằng "đến ăn phở ở tiệm của chúng tôi, quý khách có thể an tâm là xe của quý vị không bị ... đập kính". Thế là đủ hiểu : chuyện xe bị đập kính, mất đồ là "chuyện như cơm bữa" ở Little Sàigòn rồi.

Việc phong cách sống thay đổi, có thể một phần là do người mới định cư sau này mang những "thói hư tật xấu" đã "nhiễm" sau 40 năm sống với cộng sản sang đây.
Những "đại gia đỏ" coi trời bằng vung vì ỷ có tiền đã thể hiện cách sống của mình. Ở trần, mặc xà lỏn, là hình ảnh mà dân Mỹ ở đây không bao giờ gặp ở ngoài đường. Thế nhưng, có những tên đại gia, cầm đầu cả hệ thống xuất nhập cảng hải sản, lại nghêng ngang bước ra đường với mình trần và chiếc ... xà lỏn.

Thành phần như thế này bây giờ không hiếm ở Little Sàigòn. Cũng chẳng có gì ngạc nhiên, vì ngay giữa đường Brookhurst, đoạn gần với tiệm bánh Vân, những bảng hiệu
quảng cáo "bảo lãnh đi Mỹ" bảo đảm ... 100%, "bao" ... đậu, bất kể là tội phạm hình sự, v..v... đầy nhan nhản.

Thử nhìn xem, với sự nhếch nhác như thế, Little Sàigòn có còn là thủ đô của người tỵ nạn? Nét văn hoá, sự thanh lịch của người Việt tị nạn đang dần dần bị ... "xâm lăng"?

Cuộc sống chung quanh ta coi thế mà thay đổi chóng mặt. Nếu không để ý, và không có thái độ tích cực để gìn giữ văn hoá của người Sàigòn xưa, thì Little Sàigòn có thể sẽ mất đi cái tên và ý nghĩa yêu kiều mà người dân tỵ nạn giữ trong lòng bao nhiêu năm nay.


Quang An

Viet Nam Exodus 1954 1975 1989 - HD Youtube LK

Mời xem lại biến cố LỊCH SỬ trên quê hương VIET NAM 1954-1975
LK

p> 

Nỗi Buồn Tháng Tư: Tháng Tư Lại Về - De Nguyen



Không cần lịch, không cần ai nhắc, lòng người lính cũ vẫn tự biết. Nó đến bằng một cơn gió nhẹ mang theo mùi nắng cũ, bằng tiếng trực thăng xa xa trong ký ức, bằng màu hoàng hôn đỏ quạch như ngày nào trên boong tàu. Tháng Tư không chỉ là một bước ngoặt thời gian, nó là một vết cắt. Một vết cắt sâu vào lịch sử, vào thân phận, vào trái tim của những người từng mang trên vai màu áo của Việt Nam Cộng Hòa.


Tháng Tư 1975 không phải là “kết thúc chiến tranh” như người ta vẫn nói cho nhẹ lòng. Đối với chúng tôi, đó là ngày một miền Nam bị cưỡng chiếm. Một Quốc Gia bị bóp nghẹt. Một lá cờ bị giật xuống không phải vì đã cạn lý tưởng, mà vì bị dồn vào thế cùng đường.

Nhưng lạ thay, càng nhớ, càng đau, thì lòng lại càng kiêu hãnh.

Bởi vì chúng tôi đã chiến đấu.


Tôi vẫn nhớ những ngày lênh đênh trên Chiến Hạm. Con tàu không những là nhà, đối với chúng tôi, nó là cả một quê hương thu nhỏ. Trên boong tàu, những người lính trẻ cười nói, hút thuốc, nhìn về phía chân trời như thể nơi đó có tất cả câu trả lời. Sóng biển đập vào mạn tàu không ngừng, như nhịp tim của một đất nước chưa chịu khuất phục. 

Biển ngày đó xanh lắm. Màu xanh yên bình đến mức tưởng như không có chiến tranh. Nhưng chỉ cần quay lưng lại, nhìn về phía đất liền, là thấy khói. Khói của đạn bom, khói của những thành phố đang bị bóp nghẹt từng ngày.

Chúng tôi không phải những kẻ mơ mộng. Ai cũng biết tình hình lúc đó. Ai cũng hiểu mình đang đứng ở mép bờ vực. Nhưng không ai bỏ vị trí. Không ai buông súng. Không ai nói câu “thôi kệ”.


Có những đêm trực hải hành, gió biển lạnh cắt da. Tôi đứng trong phòng lái, nhìn vào màn đêm đen đặc, chỉ nghe tiếng máy tàu rung đều và tiếng sóng vỗ. Trong khoảnh khắc đó, tôi không nghĩ đến chính trị, không nghĩ đến thắng thua. Tôi chỉ nghĩ đến quê nhà. Đến con đường nhỏ có hàng me, đến mái nhà có ánh đèn vàng, đến mẹ già đang chờ tin con.

Và tôi biết, mình đang đứng đây, không phải cho một chính quyền, mà cho tất cả những điều đó.

Rồi ngày ấy cũng đến.


Những bản tin dồn dập. Những lệnh rút lui. Những ánh mắt nhìn nhau mà không cần nói. Con tàu vẫn còn đó, nhưng quê hương phía sau lưng đang vuột khỏi tầm tay. 

Không phải ai cũng đi thoát được.

Có những người ở lại. Ở lại vì không có cơ hội ra đi. Ở lại vì không muốn lìa bỏ gia đình và quê hương. Ở lại vì tin rằng “rồi sẽ bình yên thôi”. Nhưng chúng tôi biết, bình yên sẽ không xảy ra.

Những người ở lại, nhiều người đã mất tự do. Những người lính từng ngang dọc chiến trường, từng đối mặt với cái chết, lại bị trói buộc trong những trại tù cải tạo, tinh thần và thể xác bị bào mòn bởi thời gian, đói khát và sự im lặng. Có người không bao giờ trở về. Có người trở về nhưng không còn là chính mình.

Mỗi năm, tháng Tư đến, tôi lại nhớ họ.

Nhớ thằng bạn cùng tàu, hay cười, hay chửi thề, nhưng lúc tác chiến thì gan lì như đá. Nó ở lại. Lần cuối tôi thấy nó, nó đứng trên bến, giơ tay chào, miệng vẫn cười. Không ai biết đó là nụ cười cuối cùng của một người tự do.

Nhớ những buổi ăn vội trên tàu, cơm gạo xấy, cá hộp, nhưng nói chuyện thì rôm rả như đang ở quán nhậu Sài Gòn. Nhớ những lần cập bến, nhìn phố phường sáng đèn, nghe tiếng xe, tiếng người, thấy đời sống vẫn tiếp diễn giữa chiến tranh.

Sài Gòn của chúng tôi đẹp không phải vì không có đau thương, mà vì ngay trong đau thương, con người vẫn sống, vẫn yêu, vẫn hy vọng.


Tháng Tư cướp đi tất cả những điều đó.

Nhưng không cướp được ký ức.

Không cướp được niềm tự hào.

Người ta có thể viết lại lịch sử, có thể gọi tên mọi thứ theo cách họ muốn. Nhưng những người đã sống qua, đã chiến đấu, đã mất mát thì không ai có thể bắt họ quên hoặc tẩy xóa tình cảm của những ngày tháng cũ.

Chúng tôi không phải là những kẻ thua cuộc theo nghĩa thấp hèn. Chúng tôi là những người đã chiến đấu đến phút cuối cùng cho một lý tưởng tự do. Và dù lý tưởng đó bị đè bẹp bởi sức mạnh, nhưng nó không bao giờ chết trong lòng những người đã tin vào nó.


Tháng Tư vì thế không chỉ là nỗi buồn.

Nó là một lời nhắc nhở.

Nhắc rằng tự do không phải là điều tự nhiên mà có. Nó có giá rất đắt. Và cái giá đó, một thế hệ đã trả bằng máu, bằng tuổi trẻ, bằng cả cuộc đời.

Nhắc rằng có những con người, dù bị vùi dập, vẫn không cúi đầu.

Nhắc rằng có một miền Nam đã từng tồn tại với tất cả sự phức tạp, thiếu sót, nhưng cũng đầy nhân bản và khát vọng.

Và nhắc rằng, ở đâu đó trên thế giới này, vẫn còn những người lính già, mỗi khi tháng Tư về, lại đứng lặng nhìn ra biển.


Biển vẫn vậy. Vẫn mênh mông, vẫn dạt dào.

Chỉ có con tàu năm xưa là không còn.

Chỉ có đồng đội là không còn đủ mặt.

Nhưng trong lòng họ, lá cờ cũ vẫn còn bay.


Và ký ức về một quê hương chưa bao giờ chịu khuất phục, vẫn còn nguyên vẹn, như một ngọn lửa âm ỉ, không bao giờ tắt.

 

De Nguyen

Sài Gòn Niềm Nhớ Khôn Nguôi - Nguyễn Duy Phước

Tuesday, April 21, 2026

Nỗi Buồn Tháng Tư: Những Người Không Chịu Chết - Trần C. Trí



Bài viết này lấy cảm hứng từ tựa đề của một tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam Cộng Hoà. Đó là tựa đề “Những người không chịu chết” (1972), một trong những vở kịch nổi tiếng của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Lúc vở kịch ra đời, tôi hãy còn nhỏ lắm, nhưng cũng phần nào đủ trí khôn để thưởng thức vở kịch này. Tôi được đọc vở kịch trước rồi sau mới xem kịch trên truyền hình. Đã mấy mươi năm rồi nên bây giờ tôi chỉ còn nhớ lờ mờ rằng vở kịch đó nói về một nhóm tượng người mẫu, cứ đêm đêm đêm lại trở thành người, sống, ăn nói và sinh hoạt như bao con người bình thường khác, với đầy đủ tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, thất tình lục dục. Bài viết này mượn cảm hứng đó để nói về - không hẳn chỉ là những con người - mà còn là những thực thể khác, cũng không hề chịu chết, qua dòng lịch sử nghiệt ngã của nước Việt, tính từ ngày 30 tháng Tư năm 1975.

(Hôi Nghị Quốc Tế Bandung, Indonesia, 2015)

LÁ CỜ KHÔNG CHỊU CHẾT! Đó là lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ tượng trưng cho tinh thần dân chủ và tự do của mọi người Việt khao khát một cuộc sống an lành, hạnh phúc, xứng đáng với nhân phẩm. Lá cờ này không nhất thiết đại diện cho một chế độ hay một chính phủ nhất thời mà là một sự tiếp nối truyền thống lâu đời của một dân tộc hào hùng.

Nền vàng của lá cờ bắt nguồn từ cả ngàn năm trước, thuở Hai Bà Trưng quyết đánh đuổi quân Hán xâm lược, “đầu voi phất ngọn cờ vàng”. Một số vì vua sau đó cũng dùng cờ vàng để làm biểu hiệu cho quốc gia. Lá cờ vàng được thêm thắt, sửa đổi về sau để thành cờ Long Tinh (triều Nguyễn 1920-1945), cờ quẻ ly (chính phủ Trần Trọng Kim) và cuối cùng là cờ quẻ càn, hay lá cờ vàng ba sọc đỏ mà chúng ta có ngày nay, được dùng trong thời kỳ Quốc Gia Việt Nam (1949-1955) và Việt Nam Cộng Hoà (1955-1975).

Xem như thế đủ hiểu rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ của một dân tộc, thấm đẫm hồn thiêng của tổ quốc từ đời này qua đời khác. Ngày 30 tháng Tư năm 1975, lúc cả trăm ngàn người miền Nam bỏ chạy ra khỏi nước để trốn tránh một chế độ độc tài sắp áp đặt xuống phần đất phương nam, lá cờ vàng ba sọc đỏ cũng cùng mọi người đi tìm tự do. Lúc ấy, lá cờ vàng như vị thần hộ mệnh, đi theo đoàn người viễn xứ để bảo bọc, che chở họ, đồng thời giữ vững, hâm nóng ngọn lửa tự do dân chủ trong lòng họ.

Trong lịch sử nhân loại từ trước đến nay, chưa có lá cờ dân tộc nào tồn tại dai dẳng và kiêu hùng nơi xứ người như lá cờ vàng ba sọc đỏ, tính đến nay đã hơn bốn mươi năm trời, và còn biết bao nhiêu năm tháng trước mặt nữa. Không những sống vững, sống mạnh trong các cộng đồng người Việt tự do khắp thế giới, lá cờ vàng ba sọc đỏ còn tiếp tục “sinh sôi nẩy nở” khắp nơi trên những phần đất tự do của các quốc gia sở tại.

Cách đây vài năm, như một phép lạ diệu kỳ, tại hội nghị quốc tế Bandung ở Indonesia vào tháng 4-2015, lá cờ vàng ba sọc đỏ lại hiên ngang sánh vai với các các lá quốc kỳ khác với tư cách là lá cờ của một quốc gia hội viên. Đây là một ngoại lệ vô tiền khoáng hậu! Trên nguyên tắc, một hội nghị quốc tế không bị ràng buộc phải trưng một lá cờ của một quốc gia không tồn tại về mặt pháp lý. Ấy vậy mà hội nghị Bandung đã làm một việc mà ngay cả những nguyên tắc ngoại giao quốc tế cũng khó mà giải thích. Riêng ở Hoa Kỳ, đã có khoảng 14 tiểu bang, 7 quận hạt và 88 thành phố chính thức công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ chính thức đại diện cho cộng đồng người Việt tự do sinh sống nơi đây.

Hằng năm, vào các dịp lễ lạt cổ truyền hay sinh hoạt cộng đồng, lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn phất phới tung bay như góp vui với mọi người. Nơi tôi ở—Little Saigon, Orange County—cứ mỗi độ 30 tháng Tư về là các đường phố chính rợp bóng cờ vàng, xen lẫn với lá cờ của nước sở tại. Mỗi buổi sáng trong mùa tháng Tư Đen, vừa lái xe ra khỏi cổng tôi đã thấy những lá cờ vàng tung bay bên lá cờ sao Hoa Kỳ. Tôi vừa vui vừa buồn khi nhìn những lá cờ thân yêu ấy. Hy vọng một ngày nào đó không xa, khi đất nước Việt Nam trở thành một quốc gia tự do, dân chủ, toàn dân sẽ đồng lòng chọn lá cờ vàng truyền thống để làm biểu tượng cho tinh thần bất khuất ngàn năm của người Việt Nam.

Inline image

THÀNH PHỐ KHÔNG CHỊU CHẾT! Thành phố Sài Gòn, cho dẫu trong hiện tại có phải “mang tên xác người”, cũng như lá cờ vàng ba sọc đỏ, là một “thành phố không chịu chết”. Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng tên gọi Sài Gòn không bao giờ mất đi trên môi những người Việt xa xứ. Không những vậy mà ngay tại Sài Gòn, tên gọi này cũng không những không mai một đi mà còn tồn tại song song với cái tên xác người. Đối với người dân thành phố, người ta vẫn nói “mưa Sài Gòn, nắng Sài Gòn” chẳng hạn—nghe vừa thân mật lại vừa thơ mộng— chứ chẳng ai biết “nắng mưa thành phố hồ chí minh” là cái chi chi! Một buổi sáng thức dậy trong lòng thành phố, bạn có thể nghe tiếng người cười nói lao xao ngoài ngõ, tiếng xe cộ, tiếng kèn xe, mùi khói xe lẫn với mùi cà-phê và hủ tiếu.

Và bạn bảo tất cả những âm thanh cùng những mùi khác nhau trộn lẫn lại đó là một cái gì rất đặc trưng của thành phố này, rất “Sài Gòn”; chứ chẳng có ma nào nói, tất cả những điều đó là một cái gì rất “thành phố hồ chí minh”! Loại ngôn ngữ khiên cưỡng đó tự nó đã sượng sùng, ngượng nghịu nên không bao giờ có dịp thoát ra khỏi đôi môi người nói. Thêm nữa, không biết bao nhiêu công ty, cửa tiệm, nhãn hiệu hàng hoá ngày nay vẫn còn ưu ái mang tên Sài Gòn trong thành phố (bị xui xẻo) mang tên “người… chết” này! Thành phố có thể đang tạm mất tên nhưng cái hồn Sài Gòn vẫn còn đó, trong từng con người đang thở mỗi ngày ở đó, chờ dịp thực sự hồi sinh. 

 Inline image

Ở hải ngoại, Sài Gòn không những không chết đi trong lòng những người dân Việt lưu vong mà còn thoát thai sống lại thành những Sài Gòn mới trên đất nước tự do xứ người. Đây là những “Little Saigon” đã mọc lên ở những nơi có đông người Việt cư ngụ. Những nơi có tên Little Saigon chính thức có thể kể đến là ở Westminster (California), San Jose (California), San Francisco (California), Sacramento (California), San Diego (California), Houston (Texas), Vancouver (Canada), v.v. Đó là chưa kể những khu Little Saigon mang tên chưa chính thức khắp nơi trên Hoa Kỳ và thế giới mà sinh hoạt thương mại, văn hoá, chính trị cũng rộn rịp không kém gì những Little Saigon chính thức.

Những bảng tên đường tiếng Việt nhắc nhở đến Sài Gòn có thể tìm thấy ở Houston (Texas) hay Little Saigon (California), hay những bảng chỉ đường vào Little Saigon trên các xa lộ ở California đã đánh dấu sự “sinh sôi nẩy nở” của Sài Gòn không khác chi trường hợp của lá cờ vàng ba sọc đỏ. Sài Gòn không những không chết đi mà còn tiếp tục nở rộ ra như những bông hoa biểu hiện cho dân chủ, nhân quyền trên khắp các vùng đất tự do trên thế giới. Một mai không xa, những Sài Gòn nhỏ này sẽ sum vầy cùng Sài Gòn lớn, như những dòng sông hân hoan đổ về biển rộng, cùng hát bài “Hội trùng dương” trong ngày hội lớn của dân tộc. 


…VÀ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CHỊU CHẾT! Những người không chịu chết này là những người phải bỏ xứ ra đi vì không chấp nhận sống dưới một chế độ phi nhân, độc tài. Về chủ nghĩa cộng sản, rất nhiều danh nhân thế giới đã phát biểu những danh ngôn vô cùng sâu sắc, thấm thía. Tuy nhiên, không gì hay bằng nghe chính những người đã từng là cộng sản nói về nó. Một trong những người này là ông Boris Yeltsin, vị tổng thống đầu tiên của nước Nga hậu cộng sản (nhiệm kỳ 1991-1999). Ông Yeltsin đã từng là đảng viên Đảng Cộng Sản Nga trong 29 năm (1961-1990) và từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền Xô-viết.


Vào năm 1989, một trong những năm cuối cùng của Liên Bang Xô-viết, ông Yeltsin thực hiện một chuyến công du sang Hoa Kỳ. Trên danh nghĩa, lúc này ông vẫn còn là một người cộng sản. Trong chuyến công du, ông phát biểu như sau, do tạp chí The Independent của Anh tường thuật lại: “Let’s not talk about communism. Communism was just an idea, just pie in the sky”. (Xin tạm dịch: “Đừng nhắc đến chủ nghĩa cộng sản nữa. Chủ nghĩa cộng sản chỉ là một ý tưởng, chỉ là một cái bánh vẽ trên nền trời”). Những người trốn chạy cộng sản—hay trốn chạy “cái bánh vẽ” này—ở tất cả những nước đã từng bị hiểm hoạ này, kể cả ở Việt Nam, giờ đây đã trở thành những người không chịu chết. Nói như vậy là nói với một ý nghĩa có tính cách biểu tượng. 

Inline image

Người viết muốn nhấn mạnh rằng đa số những người tị nạn cộng sản không bao giờ quên được vì sao họ đã trốn chạy. Khi đã an thân ở chốn tự do, họ không chịu chấp nhận một lối sống mòn, sống cho qua ngày đoạn tháng, cho hết kiếp lưu vong. Sống như vậy cũng không khác gì đã chết. Vì vậy, đa số vẫn hướng lòng về quê hương, vẫn xót xa khi thấy đồng bào trong nước bị đàn áp dưới chế độ của bạo quyền. Mỗi người trong họ vẫn làm một điều gì đó, bằng cách này hay cách khác, để góp phần vào công cuộc tranh đấu chung của dân tộc cho một ngày mai không còn hiểm hoạ cộng sản trên quê hương. Cũng cần phải thấy rằng những người “không chịu chết” này là những người “không sợ chết” khi họ đã liều mình ra khơi, nơi mạng sống chỉ như sợi chỉ mành treo chuông. Ngày nay, những người không chịu chết này không chỉ là bậc ông, cha, chú của thế hệ lưu vong đầu tiên mà còn là cả thế hệ thanh niên gốc Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại. Thế hệ trẻ này không cam tâm, ích kỷ hưởng thụ cuộc sống tự do dân chủ mà mình đã may mắn có từ được lúc ra đời. Họ đã cùng đứng lên, sát cánh với cha ông đấu tranh cho tự do, dân chủ ở quê nhà bằng nhiều hình thức khác nhau.

Ở Việt Nam, ngoài thiểu số được hưởng đặc quyền đặc lợi, sẵn sàng làm lơ trước đau khổ của đồng bào, hay thậm chí đàn áp, hành hung người dân vô tội, đa số người Việt Nam cũng là những người không chịu chết, không chịu thua trước cường quyền. Họ là những nhà dân chủ sẵn sàng hy sinh sự an toàn của bản thân và gia đình để cất lên tiếng nói phản đối những điều trái tai gai mắt do chế độ gây ra trong xã hội. Họ là những người dân oan bị tước đoạt nhà cửa, đất đai, dám chấp nhận cảnh lấy trứng chọi đá để bảo vệ tài sản mồ hôi nước mắt của mình. Họ là tất cả những người nghe tiếng gọi của dòng máu Lạc Hồng trong huyết quản, đặc biệt là thế hệ trẻ, dám đứng lên để cất tiếng đòi lại những phần đất nước máu thịt của tổ quốc đang bị bọn cầm quyền “hèn với giặc, ác với dân” nhượng bộ cho chủ nghĩa bành trướng Đại Hán từ mấy ngàn năm nay.

Bốn mươi lăm năm đã trôi qua, kể từ khi miền Nam lọt vào tay bạo quyền cộng sản. Đó là một thời gian dài đối với một đời người ngắn ngủi, nhưng lại chỉ như là một khoảnh khắc phù du trong lịch sử, nhất là lịch sử của một đất nước có gần năm ngàn năm văn hiến. Lá cờ không chịu chết - thành phố không chịu chết - những người không chịu chết, tất cả những thực thể không chịu chết đó chính là biểu hiện của một đất nước không chịu chết. Đất nước chúng ta như đang trải qua một căn bệnh ngặt nghèo. Nhất định đất nước sẽ hồi phục một ngày không xa. Với niềm tin vào lịch sử, vào thực tế và vào tinh thần bất khuất của mỗi người dân Việt, chúng ta có quyền chờ đón một ngày đất Việt sẽ lại được thái bình thịnh trị như xưa.


Trần C. Trí 

Hắn Và Tôi - Ngân Bình

 

Con làm chồng thế nào mà vợ đi đâu cũng không biết. Ðã thế, bây giờ còn quay sang hạch sách mẹ vợ. Quỳnh Nhi và hai đứa nhỏ đi đâu, ở đâu, đó cũng là điều mẹ muốn hỏi con. Trời ơi! chuyện gì đã xảy ra cho nó!

Tiếng khóc của mẹ vợ chỉ làm Hắn bực bội hơn mà thôi. Hắn hét lên:
– Mẹ không biết dạy con gái mẹ nên mới ra nông nổi này. Cô ấy là vợ mà không làm tròn trách nhiệm. Suốt ngày chỉ biết có con, còn chồng thì vất sang một bên, chẳng lo lắng, quan tâm đến.

Mẹ vợ hắn gào to hơn:
– Anh muốn con gái tôi hầu anh như con ở đợ phải không? Mở mắt ra mà học hỏi người khác. Vợ anh lo cho con anh, chứ lo cho ai mà ganh tỵ. Ðáng lẽ, anh phải phụ giúp vợ một tay, chứ cái kiểu chồng chúa, vợ tôi, thì có ngày con gái tôi chết mất.

Sau khi cúp máy, Hắn đưa chân đá thốc vào bụng chú chó nhỏ đang âu yếm tựa mõm vào chân Hắn. Vò đầu, bứt tai, xô bàn, đẩy ghế, nhưng cơn giận vẫn còn đầy ắp trong lòng, nên Hắn với tay lấy điện thoại, bấm lia lịa:

– Chị Như đó hả? Quỳnh Nhi có qua bên đó không?
-Không! Có chuyện gì mà hấp ta, hấp tấp vậy?
Hắn sừng sộ:
– Chuyện gì là chuyện gì. Sáng mở mắt ra, không thấy nó đâu, bây giờ chiều tối vẫn chưa về, thì phải hỏi… không được sao?
– Cái thằng… vô duyên vừa thôi. Mày giận vợ hay giận chị mày. Cộc cằn như thế vợ có bỏ cũng đáng đời.

Cụp. Tiếng gác máy khô khan và giận dữ. Hắn đớ người ra vài giây, rồi điên tiết, muốn gọi trở lại, mắng bà chị một phát cho đỡ tức. Hắn hậm hực thầm nghĩ, bây giờ mà Quỳnh Nhi bước vào nhà, nhất định Hắn sẽ cho một cái tát nên thân.

Bụng đói cồn cào, Hắn lục lọi tủ lạnh, lôi ra một tô canh và khứa cá chiên lạnh ngắt. Hắn bỏ tất cả vào microwave hâm nóng rồi bày ra bàn, nhưng khi cầm đũa lên lại thấy ngán ngẩm.
Mọi ngày, chỉ cần Hắn tắm rửa xong xuôi, bước vào phòng ăn là trên bàn mọi thứ đã được bày ra tươm tất, nóng hổi. Ăn xong, hắn sang phòng khách, ngồi xuống sofa là đã có một ly bia lạnh hoặc một tách trà nóng tùy thích.
Hắn vừa nhâm nhi, vừa xem TV, mặc cho Quỳnh Nhi quần quật với đống chén dĩa chất đầy bồn, rồi lau nhà, giặt quần áo, tắm con, dỗ con ngủ.
Có khi, Hắn đã lên giường mà vợ Hắn vẫn còn lục đục ở bếp để chuẩn bị thức ăn cho sáng mai.

Má Hắn, thỉnh thoảng từ Cali sang chơi vài tuần, bà thường nhắc Hắn:
– Giúp Quỳnh Nhi một chút đi con. Thấy vợ mày bận bịu, tất bật đủ chuyện mà không xót ruột sao?
Hắn bĩu môi, cằn nhằn:
– Má thiệt tình! ba cái chuyện đàn bà cũng bắt con làm. Bạn bè con, có đứa nào làm như vậy đâu? Tụi nó mà thấy sẽ cười con thúi đầu.
-Cứ theo cái đám bạn xấu nết rồi bắt chước. Không thấy anh rể mày sao, đi làm về là xăn tay áo, nhào vô bếp phụ giúp vợ. Hễ chị mày tắm con, thì nó lau nhà. Vợ chồng phải biết cùng nhau san sẻ…
Hắn quạu quọ ngắt ngang:
– Thôi đi! mệt má quá.

Vợ Hắn đứng đó, im lặng không nói một tiếng, nhưng thỉnh thoảng lại nhìn má chồng bằng ánh mắt biết ơn. Còn Hắn thì tức tối. Trời! bộ má tính bắt giàn cho con dâu leo lên đầu thằng con của má hả?
Má Hắn đâu biết, trong lòng Hắn đang có nỗi bất mãn ngấm ngầm, khó nói. Ðó là từ khi có con, vợ Hắn hình như quên cả sự hiện diện của Hắn.

Sáng mở mắt ra là con, chiều cũng con và tối cũng con. Vợ Hắn làm riết rồi Hắn đâm ra bực bội và cảm thấy xa cách với con.
Có lúc, Hắn nhìn con mình một cách dửng dưng như nhìn con nhà hàng xóm. Hắn nhớ, hồi xưa má Hắn cũng hay nói, bỏ chồng được chứ không bỏ con được. Vợ Hắn thì chưa bao giờ nói như thế, nhưng cái gì cũng “để em lo cho con xong đã”. Lo cho con xong thì còn giờ đâu để lo cho Hắn.

Sự bất mãn ngày càng lớn, đến nỗi Hắn chẳng cần giấu giếm. Một chiều cuối tuần, ngồi nhậu với đám bạn, sau vài chai bia chếnh choáng hơi men, Hắn kể huỵch toẹt từ đầu, đến đuôi niềm tâm sự thầm kín của mình.
Bạn bè xúi Hắn phải làm một cuộc cách mạng.
Hắn nhíu mày khó hiểu:
– Làm cách mạng là… làm cái gì?
– Là làm cho vợ mày sáng mắt… là làm cho vợ mày biết giá trị đích thực của mày, một người đàn ông, một người chồng.
Không biết có phải vì say xỉn mà đầu óc Hắn mụ mị, nên vẫn chưa hiểu:
– Là sao? nói rõ ràng cái coi.
Ân đang ngồi đối diện với Hắn cười ha hả:
– Là tìm một em xinh đẹp, cặp kè trước mắt vợ, để cho vợ biết rằng, mày không phải là đồ bỏ. Lúc ấy, vợ mày sẽ tỉnh ngộ. Rồi mày xem, bả sẽ ghen tương lồng lộn vì sợ mất mày và….

Chưa nghe hết câu, Hắn đã cười khoái trá khi hình dung đến cơn ghen của vợ.
– Ừ! hay đó… cao kiến.
Ân xòe tay, bắt tay Hắn:
– Ðồng ý há! Tao sẽ giới thiệu cho mày con em họ của tao đẹp không chỗ chê. Dân du học đàng hoàng chứ không tệ đâu.

Tưởng chỉ là nói cho vui trong lúc ma men nhập, không ngờ tuần sau, khi Hắn đến với đám bạn đã thấy một thiếu nữ xinh xắn đang ngồi bên cái ghế trống trơn được để dành cho Hắn.
Bạn bè đổ dồn những ánh mắt sáng rực về phía Hắn. Tưởng Hắn sẽ thích thú với “món quà” bất ngờ, nhưng không, suốt buổi đó, Hắn nói năng ngượng ngập, lúng túng, không chút hào hứng.

Thật ra, Hắn không phải là người có tính lăng nhăng, ham mê bóng sắc, ưa thích của lạ. Ngay cả lúc miệng nói giận vợ thì trong lòng Hắn vẫn yêu thương vợ.
Nhưng vốn là người xem trọng bản thân, nên lúc nào Hắn cũng muốn được nuông chiều, phục vụ. Và vì “nguyện vọng” đó không được đám ứng, nên Hắn cảm thấy “bức xúc”.
Ðôi khi, Hắn tự hỏi có phải mình quá trẻ con không?… Có thể lắm – Hắn nghĩ – vì là cháu nội đích tôn, nên từ nhỏ Hắn đã được cưng chiều.
Dù ba Hắn đi cải tạo, mẹ vất vả buôn bán kiếm sống, chị em của Hắn thiếu ăn, thiếu mặc, bữa đói bữa no, nhưng Hắn vẫn được ăn ngon, mặc đẹp, được hưởng tất cả những gì tốt lành nhất khi sống với ông bà nội.

Có lẽ, vì thế mà Hắn không hề biết đến sự cực khổ của những người chung quanh, dù đó là chị em ruột thịt. Chưa bao giờ Hắn nghĩ đến việc chia sẻ với người khác những gì mình đang có, hoặc đưa vai gánh bớt sự nhọc nhằn, vất vả của người bên cạnh và Hắn cũng không hề băn khoăn về những thiếu sót của mình.

Mỗi lần về thăm gia đình là mỗi lần má Hắn buồn bã, thất vọng vì cách cư xử vô tâm của Hắn. Má rầy la, dạy dỗ thì Hắn giận dỗi bỏ về nhà ông bà nội. Hắn nghĩ rằng, vì mình ở xa má, nên không được thương yêu.

Ðã quen như thế, nên khi chung sống với vợ, hắn vẫn giữ nguyên tâm tính của một đứa trẻ thích được chiều chuộng. Chẳng những không phụ giúp vợ, mà Hắn còn ganh tỵ, vì vợ đã lo lắng cho con nhiều hơn cho hắn (không biết trên đời này có người cha nào giống như Hắn không?).

Hắn ngồi trơ ra đó cho đến khi đồng hồ gõ mười hai tiếng. Hắn ra cửa sổ, lóng ngóng chờ đợi và bấm điện thoại cho vợ liên tục, nhưng không thấy bắt máy.
Hắn dằn điện thoại thật mạnh, như để trút tất cả sự giận hờn lên món đồ vật vô tri, vô giác đó. Hắn nghiến răng thầm nhủ “Ai mà chứa chấp Quỳnh Nhi sẽ biết tay ta”.

Mọi ngày, khi giận dỗi vợ điều gì, Hắn lại sang nhà Ân để uống bia với Ân và trò chuyện vớ vẩn với Bảo Tuyết -cô em họ của Ân.
Ðôi khi, Hắn còn cùng cô nàng đi xem phim. Hắn làm như thế cho đã nư giận và dằn mặt vợ. Cũng có lúc Hắn còn giả vờ bỏ quên hai cái vé hát trên bàn, hoặc cố tình trò chuyện thân mật với Bảo Tuyết để chọc ghen vợ. Nhưng lạ lắm, vợ Hắn không hề quan tâm và không chút nghi ngờ. Như vậy là sao?

Có phải như Ân đã phân tích cho Hắn nghe:
– Bảo đảm một trăm phần trăm, vợ mày không còn yêu mày chút nào. Yêu thì phải ghen. Không ghen có nghĩa là không yêu và còn có nghĩa là xem mày không ra gì. Nói thiệt, vợ tao mà như vậy thì… tao ly dị liền.

Cứ mỗi lần nói đến chuyện vợ Hắn là Ân lại nhắc đến hai chữ ly dị.
Hắn cũng hơi ngạc nhiên, chuyện của Hắn mà Ân hùng hổ, tức tối hơn cả Hắn. Có lần Hưng -anh bạn trầm tính, ít nói nhất trong đám bạn nhậu- ôn tồn nói riêng với Hắn:
– Mày đừng nghe lời xúi giục của thằng Ân. Chuyện vợ chồng đâu phải chuyện giỡn chơi mà động một chút là ly dị.
Hắn cười:
– Nó nói chơi thôi mà!
Hưng nhìn Hắn một đỗi rồi nói:
– Nửa chơi, nửa thiệt, đứa nào dại nghe lời thì ráng chịu. Sau này có gì thì nó nói, tao nói chơi, ai biểu mày nghe lời. Nhưng ở đây, có lẽ… nói thiệt nhiều hơn nói chơi.
Hắn nhíu mày khó hiểu:
– Sao anh lại nghĩ vậy? Nếu tôi ly dị vợ thì có lợi gì cho thằng Ân?
– Có chứ! Con em du học sinh của nó đang kiếm chồng để ở lại Mỹ.
– Hổng lẽ… nó muốn gài em nó cho tôi? Tôi có vợ con rồi mà.
– Bởi vậy nó mới xúi mày ly dị. Nó chọn mày, vì mày là thằng nhẹ dạ dễ tin, lại hào phóng, coi tiền bạc như pha.

Hắn ngẫm nghĩ những điều Hưng vừa nói và bắt đầu nhận ra một vài điểm đáng nghi ngờ. Phải rồi, Ân hay rủ Hắn đi chơi, đến nửa chừng lại nói, có chuyện bất ngờ phải về và rồi chỉ còn lại hai người là Hắn và Bảo Tuyết.
Bây giờ, nhớ lại từng chi tiết, Hắn mới chợt nhận ra là nàng Tuyết đã cố tình “câu” Hắn bằng những cử chỉ tình tứ, những chiều chuộng ngọt ngào. Vậy là nhận xét của Hưng không sai! – Hắn vốn là người không có lập trường vững chắc, nên… nghe câu nào cũng có lý.
“Ly dị vợ đi, vì nó…” cũng có phần đúng. “Ðừng nghe lời thằng Ân coi chừng mắc bẫy…” cũng đúng luôn.

Ðang trầm tư suy nghĩ thì có tiếng điện thoại reo, Hắn chồm tới chụp vội:
– Hello! Quỳnh Nhi hả?
Không có gì ngoài tiếng “cụp” khô khan. Nhưng lần này Hắn không nổi giận mà lại cảm thấy sợ. Sợ gì? Hắn không rõ lắm… Hình như là cái không khí lạnh ngắt trong căn nhà thường ngày vẫn có tiếng hát líu lo, đớt đát của đứa con gái ba tuổi, và tiếng cười hăng hắc của thằng con trai chưa đầy một tuổi, đang bò theo nắm đuôi chú chó nhỏ.
Hắn nghĩ lại và cảm thấy mình thật tệ, vì chẳng mấy khi ẵm bồng, nựng nịu con cái, trong khi vợ hắn thì cưng con như trứng mỏng.

Hắn ngồi như vậy rất lâu, đầu óc nghĩ ngợi miên man. Hắn liên tục gọi điện thoại và nhắn trong máy vẫn không thấy Quỳnh Nhi trả lời.
Nỗi lo âu mỗi lúc mỗi nhiều, nhưng Hắn tự trấn tĩnh, vợ Hắn chắc chắn đang ở nhà mẹ vợ, nhưng bà cố tình giấu giếm để trừng trị cái tội Hắn làm cho vợ buồn. Nghĩ vậy, nên Hắn gọi mẹ vợ, xuống nước:
– Mẹ ơi! con xin lỗi. Là lỗi của con, lỗi của con. Mẹ đừng giấu con nữa, Quỳnh Nhi ở đâu, mẹ nói cho con biết đi!

Mẹ vợ Hắn khóc hu hu:
– Mẹ không biết. Mẹ đang sợ gần chết đây. Chẳng biết ba mẹ con nó đi đâu. Có giận chồng thì cũng phải về với mẹ, chứ sao lại bỏ đi biệt tăm, biệt dạng, để mẹ phải lo lắng.
Nghe giọng nói đứt quãng, nghèn nghẹn của mẹ vợ, Hắn tin là bà nói thật, nên càng hoảng hốt, nhưng cố làm tỉnh:
– Ðể con gọi điện cho vài người bạn nữa. Có tin gì con sẽ cho mẹ biết!
Hắn vào phòng, kéo hộc tủ, tìm quyển sổ điện thoại, để lấy số của bạn Quỳnh Nhi thì thấy một xấp hình trong đó.

Trái đất có nổ tung chắc cũng không làm Hắn kinh hoàng bằng những tấm hình đang nằm trong tay Hắn. Tấm này, Bảo Tuyết đang cặp cổ Hắn. Tấm kia, Bảo Tuyết đang đút miếng pizza vào miệng Hắn. Còn nữa…. nhiều và nhiều tấm chụp trong vườn hoa.

Những hình ảnh này là do Ân đạo diễn “Hai đứa tụi bây diễn vài cảnh như tài tử đóng phim để tao chụp cho vui”. Nhưng sao Quỳnh Nhi lại có, nếu chẳng phải Ân gửi đến để chia rẽ vợ chồng Hắn, hầu thực hiện cái âm mưu mà Hưng đã nói cho Hắn biết. Hắn ngồi sụp xuống sàn nhà, nhớ lại câu nói của Hưng “Ðừng thấy vợ im mà mừng. Ðó là dấu hiệu của sự ghen tuông khủng khiếp. Những người này chỉ lẳng lặng làm, chứ không nói”.

Lúc đó, Hắn cười ngặt nghẽo, nhưng bây giờ thì Hắn toát mồ hôi lạnh. Vợ Hắn sẽ làm gì? Còn Hắn… làm sao chối cãi được với những bằng chứng hiển nhiên. Làm sao vợ Hắn có thể tin rằng, trái tim Hắn không hề rung động trước một người con gái trẻ đẹp như Bảo Tuyết.

Làm sao vợ Hắn hiểu rằng, đó chỉ là hành động trả đũa vợ rất trẻ con của Hắn. Ôi! Ân, thằng bạn khốn kiếp, vậy mà hôm qua nó còn đổ dầu vào lửa “Vợ với con, muốn đi thì cho đi luôn, đừng để nó tưởng mày cần nó”.

Hắn ngồi như vậy cho đến khi trời tờ mờ sáng thì nhận được lời nhắn tin của vợ “Anh cứ vui vẻ với hạnh phúc đang có. Ðừng bận tâm đến mẹ con em”.
Hắn gào lên bằng giọng nghẹn ngào “Quỳnh Nhi, em ở đâu? Em không biết anh yêu em đến chừng nào sao?”
Lúc ấy, trông Hắn chẳng khác gì một đứa trẻ thơ bị mất mẹ.

Suốt một tuần lễ, Hắn ngơ ngáo, phờ phạc, đầu cổ lùi xùi, quần áo xốc xếch, đến mẹ vợ cũng cảm thấy nao lòng. Bây giờ, Hắn mới thật sự biết rằng, không có vợ thì đời Hắn tiêu điều đến dường nào.
Hắn ở trong căn nhà này sáu năm hơn mà không biết sử dụng máy giặt ra sao. Máy rửa chén cũng xa lạ với Hắn. Ðến cái nồi cơm điện, Hắn cũng phải lò mò tìm kiếm.
Chỉ tại Hắn quá ỷ lại, mọi việc đều đổ dồn lên vai vợ. Hắn bật khóc vì hối hận, vì chán ghét bản thân mình, một con người ích kỷ, vô tâm…

Từng phút nhớ đến vợ là từng phút Hắn thấy xót xa, ân hận -lần đầu tiên trong đời- vì những vất vả mà vợ Hắn đã từng một mình gánh chịu, không một lời than vãn.
Trời ơi! Hắn có phúc hơn người mà không hề biết. Hắn nhiều lần đấm tay vào ngực và tự nguyền rủa mình.

Sang ngày thứ mười thì Hắn bật dậy khi nhận được điện thoại của Hưng.
– Tao đang ở Cali và gặp vợ mày trong khu Phước Lộc Thọ.
Giọng Hắn run lên:
– Vợ.. vợ tôi… đi… với ai?
– Mày muốn nghe tao nói hả? Nhưng mày có đủ bản lãnh để tiếp nhận sự thật không?
Hắn nói mà trái tim đập thình thịch, muốn vỡ cả lồng ngực:
– Ơ..ơ.. tôi…tôi…
Nghe Hắn lạc giọng, Hưng cười đắc ý:
– Haha!!! bình tĩnh… bình tĩnh. Người đi bên cạnh vợ mày là…là… má mày. Tao nói thiệt, vợ mày khôn dàng trời. Nó giận mày bỏ nhà đi, nhưng lại đi về nhà chồng, nên mày có muốn vu khống nó “theo trai” cũng không được. Có vợ hiền lành, nhẫn nhịn và khéo léo như vậy mà không biết giữ thì mày là thằng ngu nhất trên đời.

– Quỳnh Nhi ơi! em tắm con xong chưa, mâm cơm đã sẵn sàng rồi.
– Dạ! chờ em năm phút nữa.
Ðứa con gái nhún nhẩy chạy ra với bộ quần áo xinh xắn màu hồng sen, nhe răng cười tươi tắn. Mái tóc mới gội vừa được sấy khô còn thơm ngát mùi xà bông làm tôi cảm thấy mát cả lồng ngực khi đặt một cái hôn ngọt ngào lên đó.
Thằng con trai cũng đang lững chững từng bước đi về phía tôi. Nhấc bổng thằng con lên, tôi dúi đầu vào bụng, nó cười ré lên từng cơn vì nhột nhạt. Quỳnh Nhi ra góc nhà, lấy chiếc ghế cao, đặt con lên, rồi nhìn tôi cười âu yếm:
– Ồ! anh nấu món gì mà trông ngon quá vậy?
Tôi nguýt dài:
– Xạo! Chưa thử mà biết ngon. Thợ nấu mới vào nghề, hổng dám ngon đâu bà xã!
– Ðâu cần thử, ngon đây là ngon cái tình của anh chứ bộ. Cám ơn anh đã giúp em rất nhiều… từ việc nhỏ đến việc lớn.
Tôi ôm vai Quỳnh Nhi, hôn nhẹ lên vành tai trắng muốt, xinh xinh:
– Anh cũng cám ơn em đã cho anh một mái ấm gia đình

Hắn là người của quá khứ.
Tôi là người của hiện tại.
Hắn đã chết từ ngày Tôi rước Quỳnh Nhi trở về nhà.

Tôi vươn vai đứng thẳng lên, cố gắng trút bỏ những ích kỷ, hời hợt, vô ý, vô tâm của ngày xưa, để trở thành một người chồng “hơn cả tuyệt vời”, biết nắm giữ hạnh phúc bằng sự hy sinh, chịu thương chịu khó và yêu thương vợ con bằng tất cả tấm lòng.
Thật ra… Hắn và Tôi chỉ là một.

Nhưng Tôi cầu cho HẮN mãi mãi chết đi, đừng bao giờ sống lại, để TÔI được tồn tại trên suốt quãng đường đời còn lại cùng với Quỳnh Nhi, người vợ yêu dấu nhất đời Tôi.