Hôm nay ngày 23/8 dương lịch nhằm ngày 11/7 âm lịch, Đại lễ Vu Lan ở các chùa đã bắt đầu diễn ra cho bá tánh thập phương đến tụng niệm cầu siêu cho thân nhân quá vãng. Vì ngày rằm âm lịch là ngày 27 tây trong tuần, đa số bận đi làm nên hôm nay chùa rất đông đảo người đến dự. Ngoài cúng quãy tụng niệm, sau đó bá tánh còn được ăn "chùa" lấy phước, chỉ những ai muốn mang về thì mới phải trả tiền và sẵn dịp cúng dường luôn.
Ba mươi năm trước, chúng tôi bảo lãnh ba má và đứa em gái còn lại sang đây sum họp gia đình. Sau một thời gian sống ở Úc, ba má tôi ngõ lời với chúng tôi rằng muốn mua hai lô đất để dành cho hậu sự theo lời khuyên của bạn bè đồng hương cũ với châm ngôn là sống có nhà, thác có mộ.
Lúc đó là vào đầu thập niên 90, những người có đầu óc kinh doanh họ đánh hơi rất giỏi, biết thời biết thế, biết rằng dân Á Châu không ai nghĩ tới chuyện chết rồi hỏa táng mà chỉ một ý nghĩ cũ rích duy nhứt là chôn xuống đất để có một nấm mồ sau khi nằm xuống theo tập tục từ ngàn xưa. Họ mua những khu đất trống ở ngoại ô xa thành phố thành lập nghĩa trang cho đồng hương Việt, Miên, Hoa, Lào. Dịch vụ bán đất xây mồ lúc đó bán chạy như tôm tươi.
Chị em chúng tôi cũng chìu ý ba má cùng nhau mua hai lô đất rồi xây mộ làm bia để sẵn đó cho ba má chúng tôi yên lòng. Nhưng dần dà về sau thì phong trào chết rồi thiêu gởi tro cốt vô chùa họăc rải tro xuống biển được nhiều người hưởng ứng hơn. Chúng tôi đề cập chuyện này với ba má, đề nghị ba má bán đất mua hai chỗ trong một ngôi chùa nào đó để sớm hôm còn được nghe kinh kệ cho ấm cúng. Lúc đầu ba má không đồng ý vẫn khư khư giữ ý định chôn cất.
Nhưng sau vài lần khi có dịp đi đâu với chúng tôi, ngang qua những nghĩa trang, ba má nhìn thấy những nấm mồ hoang mả lạnh xiêu vẹo đổ nát không ai chăm sóc, có lẽ vì con cái họ đã qua đời và cháu chắt thì không còn ai biết đến, ba má tôi cũng hơi... run trong bụng.
Chúng tôi phân tích cho ba má thấy dù sao chùa chiền cũng ở lòng vòng trong thành phố, gần gũi cho con cháu tới lui nhang khói. Thanh Minh, Vu Lan hay ngày Tết, chúng tôi dễ dàng tạt qua thăm viếng, còn nghĩa trang thì xa xôi quá, không tiện cho chúng tôi cúng bái viếng thăm nhứt là sống trong một xã hội lúc nào cũng bận rộn mưu sinh với bao công ăn việc làm hằng ngày. Lần hồi ba má tôi nghe xuôi tai nên đã bằng lòng mua hai hộc tủ trong chùa tàu Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm để khi trăm tuổi già có một nơi ấm cúng gởi nắm tro tàn.
Wishing tree (Cây ước )
Đoàn tăng ni đang tiến lên chánh điện
Nơi lưu giữ những bình tro cốt
"Nhà" Ba Má tôi sau khi qua đời, có tôi đứng sau lưng
Quê ngoại tôi ở Ninh Bình. Ông bà ngoại tôi được ba người con: người
con gái lớn tên Kinh, chúng tôi gọi là bác, lập gia đình sớm, rồi theo chồng vào
Nam. Bà mất năm 1947 tại Saigon. Người con thứ hai là bác Sử, cùng học trường Bưởi
với cha tôi. Mẹ tôi tên Truyện, là con gái út. Tôi thường thắc mắc, tại sao mẹ tôi
không có một cái tên đẹp, nhưng khi xếp tên ba người, KINH, SỬ, TRUYỆN là tên các
sách mà sĩ tử ngày xưa phải học để đi thi, thì tôi hiểu ngay dụng ý của ông
ngoại: cụ muốn các con theo đòi nghiên bút. Không may, ông tôi mất sớm, bà tôi bệnh, nên
bác Sử, dù rất giỏi, đành phải đi làm sau khi học xong trung học. Bác ở lại ngoài
Bắc, có vào thăm cha mẹ tôi sau 1975, và qua đời năm 1988. Bác và mẹ tôi
thời đó, chỉ được học tới khi đọc thông, viết thạo, là phải nghỉ để lo việc
nhà.
Mẹ tôi chịu khó đọc sách, thơ, văn, ca dao, bà thuộc rất nhiều. Bà
ru tôi bằng Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán, bằng những bài thơ mà hơn 60 năm
sau, tôi còn nhớ :
Đêm khuya, ta ngủ trong màn,
Vẳng nghe tiếng muỗi kêu vang phía ngoài,
Khiến ta nhức óc vang tai,
Mẹ ta ngồi cạnh, thở dài bảo ta:
Như con có mẹ có cha,
Có anh có chị sướng là bao nhiêu,
Đêm đêm con ngủ màn điều,
Ngày ngày đi học, chiều chiều đi chơi...
Ngoài kia bao trẻ mồ côi,
Không cha, không mẹ, không người nào thương,
Ngày đi vơ vẩn trên đường,
Tối về gối đất nằm sương đầu hè,
Mùa đông, chẳng có gì che,
Mùa thu đã vậy, mùa hè làm sao?
Sang ngang nhớ lại chuyến đò,
Năm xưa, một cậu học trò sang sông,
Ngây thơ sợ cả má hồng,
Biết nay cô lái có chồng hay chưa,
Bây giờ cậu bé năm xưa,
Qua con đò cũ, lại mơ một người.
Tôi là người đọc sách khá nhiều, mà bài trước, tôi chưa từng thấy. Bài sau, mẹ tôi nói là của Nguyễn Bính, nhưng trong những tuyển tập của tác
giả này, tôi cũng không tìm được.
Những nỗi vất vả, sự hy sinh của mẹ tôi trong thời
kháng chiến và lúc mới di cư vào Nam, tôi đã có dịp nhắc đến trong bài “Tâm Sự” đăng
trên Tập San Y Sĩ, số 132, tháng 8, năm 1996.
Khi xẩy đàn tan nghé năm 1975, cha mẹ tôi kẹt lại, tôi
một mình chạy thoát từ Cần Thơ, và định cư ở Montreal. Ngày đó, tôi nghĩ rằng
không còn dịp gặp lại cha mẹ, nhưng tình thế đổi thay,tôi đã đón được các
người qua đây năm 1982. Lúc đó, tôi đã lập gia đình, con trai tôi gần 3 tuổi, con
gái chừng 3 tháng, và mẹ tôi vừa tròn 70. Mẹ tôi có cháu ngoại từ
năm 1954, lúc di cư vào Nam, khi bà mới 42 tuổi, và bây giờ, tổng cộng 6 đứa. Tụi nó
đã lớn, một số có giá đình, lại ở xa, bên quận Cam, nên tình thương của bà bây giờ
dồn hết cho mấy đứa cháu còn nhỏ. Con gái tôi lúc đó chưa biết gì, nhưng thằng
con trai yêu bà đến độ có khi theo về ở luôn với bà cả tháng trời, không
nhớ gì tới cha mẹ cả!
Cha mẹ tôi ở gần nhà thương nơi tôi làm việc, khi nào rảnh
là tôi tạt qua thăm, gặp bữa thì cùng dùng cơm, không thì ngồi uống trà, nghe kể
chuyện dĩ vãng. Chiều thứ tư, khi xong phòng mạch, tôi tới dùng cơm tối với song
thân. Thứ bẩy, tôi dắt theo hai con đến ở với ông bà cả ngày. Nhà tôi thì chạy tới
chạy lui không có giờ giấc.
Từ hơn 20 năm nay, tôi chưa hề thay đổi thói quen đó. Trong tuần, mẹ tôi
lo mua sắm lỉnh kỉnh để làm những món ăn ngon cho cháu. Đó là lẽ sống của mẹ tôi. Bà
môn nao trông đợi ngày thứ bẩy. Khi đến, mẹ tôi đã đứng chờ ở cửa sổ, khi
đi, mẹ tôi lại đứng ở cửa sổ trông theo. Mỗi khi thấy bóng dáng gầy gò, nhỏ
bé của mẹ sau cửa kính, tôi lại nhớ tới câu Chinh phụ ngâm mà bà ru
tôi ngày xưa “lòng lão thân buồn khi tựa cửa “. Có thể lúc đó, mẹ tôi buồn, nhưng tôi thấy mình tràn trề hạnh phúc.
Thời gian êm đềm trôi, và các em tôi lập gia đình. Mỗi lần thêm một
đứa cháu, mẹ tôi lại vui mừng hớn hở, dù bà mỗi năm một già đi.Tóc bà trắng
như tuyết và rụng rất nhiều. Mẹ tôi không có bệnh gì nặng, chỉ bị
arthrite, arthrose, các ngón tay biến dạng, mấy cục sạn trong túi mật, họa hoằn lên
cơn đau vài ngày, và hay ợ chua, nhưng với losec và domperidone, bà không thấy khó
chịu nữa. Tai bà còn thính, mắt trái rất tốt sau khi mổ cườm, nhưng mắt phải thì
hầu như bị hư hẳn vì sau khi mổ cườm và ghép giác mạc không thành công. Nhưng chỉ
cần mắt trái, bà vẫn đọc sách báo và xem truyền hình được..
Hồi cuối tháng 7 năm 2003, mẹ tôi bị một crise de goutte, phải
vào nhà thương ba tuần. Nhân dịp này, tôi đã làm đủ các thử nghiệm cho bà, ất cả
đều tốt như những lần trước. Được xuất viện thượng tuần tháng 8, bà phải đi
marchette vì chân yếu. Lúc đó, thành phố sửa đường, không cho xe chạy,tôi phải đậu
cách nhà 200 thước,rồi dìu mẹ đi.Thấy bà vất vả, tôi cõng bà cho tiện. Tính
tôi vốn hoạt kê, vừa cõng mẹ vừa đùa: ”Vân Tiên cõng mẹ trở
vô, đụng phải cái bồ, cõng mẹ trở ra”. Lúc đó mẹ tôi rất vui, cười
tươi như hoa.
Nhưng từ đó, hình như mẹ tôi yếu dần: bà ăn ít hơn, nằm
nhiều, bớt hoạt động,và vẫn rên như thường lệ. Mẹ tôi vốn hay rên từ mấy chục
năm nay, hỏi tại sao, thì bà nói nhức đầu, hoặc đau răng, nhưng thường thường thì
bà cười:”Mợ không sao cả, rên như v ậy,thấy dễ chịu “.Tôi hay cằn nhằn: Lúc nào mợ
cũng rên thì làm sao con biết mợ bệnh hay không bệnh “.Mẹ tôi chỉ cười!
Ngày 22 tháng 10 năm 2003,mẹ tôi bị ngã, rách da đầu, phải
vào nhà thương, chụp hình đầu và may da. Lúc đó, bà sốt tới 39 độ C, bị
septicemie, bắt nguồn từ nhiễm trùng đường tiểu, và hơi thiếu máu, có lẽ vì vậy mà
bà yếu và bị ngã.
Từ một bệnh tầm thường đó mà phát sinh ra bao nhiêu thứ biến chứng: Chữa
septicemie bằng trụ sinh —>Clostridium Difficile.Flagyl không hiệu quả, dùng
Vancomycine —>Suy thận.Vì có nước biển, mà suy thận, không thải đủ nước tim chịu không nổi —>Oedeme aigu du poumon Bớt nước, cho thuốc lợi
tiểu, mẹ tôi yên được mấy hôm thì lại bị sưng phổi, bronchospasme, bác sĩ
chuyên môn lại cho trụ sinh và Solumedrol.Trụ sinh làm mẹ tôi bị lại
C. Difficile, Solumedrol giữ nước và làm đường trong máu lên cao, phải dùng Insuline.. Chẳng
qua mẹ tôi lớn tuổi, không có sức đề kháng, nên mới sinh ra nhiều biến
chứ
Trong thời gian mẹ tôi nằm bệnh viện, anh chị em chúng
tôi chia nhau, khi tới bữa thì vào cho bà ăn uống. Ai cũng cố ép bà ăn nhiều, nên mẹ tôi
hay cằn nhằn:” Các con nhồi mợ như nhồi vịt “Tôi cười: “ Thì ngày xưa, mợ cũng
nhồi tụi con và mấy đứa nhỏ vậy “ Cha tôi vào thăm mẹ tôi hàng ngày, bằng
taxi, vì không muốn phiền con cái. Vì sợ ông yếu sức, bị ngã gẫy chân, hay bị cảm, chúng
tôi hết sức can ngăn, nhưng ông nhất định không nghe. Ông rơm rớm nước mắt: Các
con đừng cản cậu nữa. Cậu ở nhà thì cũng chỉ ngồi không, thà vào đây ngồi với mợ.”.
Các thân hữu đến thăm mẹ tôi rất đông. Trong số này, có người mẹ tôi quen, có người bà không biết, nhưng ai cũng đem lại cho
bà những giờ phút vui tươi thoải mái.
Rồi mẹ tôi càng ngày càng yếu, càng tiều tuỵ, dù bà rất
tỉnh táo, minh mẫn. Chúng tôi bắt đầu thay nhau ở lại ban đêm với bà. Chị thứ hai
của tôi vất vả nhất, vừa thăm nuôi mẹ, vừa lo cơm nước cho cha, chị như con
thoi, không lúc nào ngưng nghỉ. Chị cả của tôi, từ California qua giúp các em. Chị
vốn là người vui vẻ, hoạt bát, nhưng vì anh rể tôi mới qua đời hơn hai tháng, chị
còn thất thần, cả ngày không nói một câu, ra vào như chiếc bóng. Em trai út của
tôi, Ottawa, cuối tuần nào cũng về thăm mẹ, túc trực bên giường.
Ngày 27 tháng 12 năm 2003, đường trơn, đóng đá, nó bị ngã, gẫy cả
hai mắt cá chân trái, phải mổ, đóng 6,7 cái đinh, rồi bó bột, đi nạng. Đứa em trai
kế tôi, lấy vợ hơi trễ, một nách 3 đứa con nhỏ, đi làm cách nhà 80 cây số, nhưng
lúc nào rảnh là mò vào nhà thương thăm mẹ.
Trong số anh chị em, tôi là người ít công trạng nhất, vì tôi làm
việc tại nhà thương không phải chạy tới chạy lui, lại may mắn được gặp mẹ tôi
rất thường. Cứ lúc nào rảnh là tôi lên ngồi với bà, vừa theo dõi bệnh tình, vừa
quan sát những thay đổi. Chúng tôi thường cắt, chải tóc cho mẹ, bóp tay chân
cho bà đỡ mỏi, thoa kem cho mềm da, hoặc làm manicure. Mẹ tôi có vẻ thích những
sự săn sóc nho nhỏ này. Cầm tay mẹ, tôi mới để ý thấy những ngón tay của bà
bị méo mó, lệch lạc một cách thảm hại, chứng tích của cả một đời vất vả vì chồng, con
và cháu.
Ngay lúc bệnh hoạn như vậy, mà cứ mở mắt là mẹ tôi hỏi:”Cậu
đâu? cậu và các con ăn uống gì chưa? Mợ mệt quá, không làm gì được “Thì ra việc
lo lắng cho chồng con lúc nào cũng canh cánh trong lòng mẹ.
Ngày xưa, mẹ tôi rất sùng đạo Phật. Vì cha tôi chỉ thờ tổ
tiên, nên từ khi lập gia đình, mẹ tôi ít hay hầu như không có dịp đi
chùa. Trong thời gian nằm bệnh viện, ngày nào mẹ tôi cũng tụng kinh
“Thiên Trúc độ giang nhân” là những câu kinh mà từ hơn 70 năm bà không đọc lại. Phòng bệnh tối lờ mờ, tiếng
kinh buồn thảm thiết, tôi nghe thấy não lòng và linh cảm tới chuyện không may.
Từ 20 tháng 01 năm 2004, mẹ tôi càng ngày càng yếu, càng tiều
tụy, không ăn uống được nữa, chỉ thoi thóp nhờ chút nước biển. Ngày 22 tháng 01 năm
2004 lúc 6 giờ 45 sáng, mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng. Hôm đó là mùng một Tết
Giáp Thân, mẹ tôi được 93 tuổi ta.
Mẹ tôi đi an lành như người ngủ say. Cô y tá nhờ tôi gỡ
catheter veineux central ở cổ mẹ tôi. Đáng nhẽ cô không nên nhờ tôi
làm việc này. Mắt nhoà lệ, tôi loay hoay mãi mới cắt được mấy mối chỉ: tôi cố làm
thật nhẹ nhàng, cẩn thận, vì da mẹ còn ấm và mềm, tôi sợ mẹ còn
biết đau.
Nhờ sự chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình của các bạn, tang lễ của mẹ tôi
được cử hành rất chu đáo và trọng thể.Tôi khóc thật nhiều, nhất là lúc đóng linh
cữu và lúc chị tôi cùng tôi nhấn nút để bật lửa lò hỏa thiêu.
Mất mẹ thì ai chả đau. Trong lòng mỗi đứa con đều có một
khoảng trống không sao lấp đầy được.Tôi khóc nhiều chỉ vì quá yếu đuối và nhậy
cảm. Thật ra thì tôi còn may mắn hơn nhiều người, ngoài 60 tuổi mới mất mẹ, nhưng
hình như càng ở lâu với mẹ, thì sự mất mát càng lớn.
Bây giờ, gần đến thất trai tuần của mẹ, tôi đã đi làm lại. Mỗi
khi đi qua phòng 244 là nơi mẹ tôi đã nằm trong mấy tháng qua, tôi
không sao nén được xúc động. Tôi nhìn vào phòng, mường tượng như mẹ còn
nằm đó, và nước mắt trào ra.
Mỗi khi về thăm cha, tôi không còn thấy bóng dáng thân
yêu của mẹ đứng chờ sau cửa kính. Mẹ ơi, đây là bài thơ con làm
riêng để dâng lên mẹ:
Mẹ ra đi thanh thản,
Tựa như người ngủ say,
Chúng con lòng nổi sóng,
Mẹ ơi,mẹ có hay.
Ôi cả đời lưu lạc,
Như một áng phù vân,
Nay mẹ về cõi Phật,
Rũ sạch hết bụi trần.
Mẹ đi rồi, đi thật,
Con vẫn tưởng như mơ,
Từ nay còn đâu nữa,
Người tựa cửa mong chờ.
Đây là hình tang lễ,
Con không dám mở coi,
Vết thương còn rỉ máu,
Con nhớ mẹ, mẹ ơi.
Tháng 3, năm 2004.
Nguyễn Thanh Bình.
Mời thưởng thức nhạc phẩm Mẹ Ra Đi được phổ từ bài thơ của tác giả Nguyễn Thanh Bình.
Theo một bản tin,
một trường tư thục ở Washington từng gặp một vấn đề khá đặc biệt. Một số nữ
sinh 12 tuổi bắt đầu dùng son môi và thường tô son trong nhà vệ sinh của trường.
Điều đó không có
gì đáng ngại, nhưng sau khi tô son xong, các em thường áp môi lên gương, để lại
hàng chục dấu son nhỏ.
Mỗi tối, người
lao công phải lau sạch những dấu son ấy. Thế nhưng hôm sau, các cô bé lại tiếp
tục để lại những dấu son mới.
Cuối cùng, hiệu
trưởng quyết định phải làm điều gì đó. Bà gọi tất cả các nữ sinh đến nhà vệ
sinh và cùng người lao công gặp các em ở đó.
Bà giải thích rằng
những dấu son trên gương đã gây rất nhiều khó khăn cho người lao công, vì ông
phải mất công lau chùi mỗi tối.
Để minh họa việc
làm sạch khó khăn đến mức nào, bà yêu cầu người lao công biểu diễn cho các em
xem.
Ông lấy một cây gạt
nước cán dài, nhúng nó vào bồn cầu, rồi dùng chính cây gạt đó lau tấm gương.
Kể từ ngày hôm
đó, không còn bất kỳ dấu son nào xuất hiện trên gương nữa.
Có những người chỉ dạy
học, và có những người thật sự biết cách giáo dục.😆
************
According to a news report, a certain private school in Washington recently was faced with a unique problem...
A number of 12-year-old girls were beginning to use lipstick and would put it on in the bathroom. That was fine, but after they put on their lipstick they would press their lips to the mirror leaving dozens of little lip prints.
Every night, the maintenance man would remove them and the next day, the girls would put them back.
Finally, the principal decided that something had to be done. She called all the girls to the bathroom and met them there with the maintenance man. She explained that all the lip prints were causing a major problem for the custodian who had to clean the mirrors every night.
To demonstrate how difficult it had been to clean the mirrors, she asks the maintenance man to show the girls how much effort was required.
He took out a long-handled squeegee, dipped it in the toilet, and cleaned the mirror with it.
Since then, there have been no lip prints on the mirror.
HCD:
Máy tóm tắt nội dung bài báo (có thể còn sót những “tiếng mới” khó hiểu khó
nghe)
Bài viết nầy gom nhiều câu trả lời của người cao
niên cho câu hỏi: "Đến tuổi 80 thì có điều gì không nên làm?".
Tuy mỗi người một hoàn cảnh, nhưng ý kiến của họ có nhiều điểm giống nhau.
Tóm tắt:
Phần đông đều cho rằng không có một luật chung
cho mọi người tám mươi tuổi, vì sức khỏe, tánh tình và số mạng mỗi người đều
khác. Có người còn khỏe mạnh như tuổi năm mươi, nhưng cũng có người phải nhờ
người khác săn sóc hằng ngày.
Điều được nhiều người
nhắc đến hơn cả là đừng để té ngã hay bị thương. Ở tuổi ấy, xương khớp cứng
hơn, vết thương lâu lành, sức chịu đựng sút kém. Chỉ một cú vấp cũng có thể đưa
đến gãy xương, chấn thương đầu, hoặc những điều nguy hiểm khác. Một người trả lời
còn kể chính ông vừa vấp ống bơm xăng, ngã sấp mặt, phải khâu mười một mũi, và
tự nhủ rằng mình còn may vì tai nạn chưa đến nỗi nguy đến tánh mạng.
Nhiều người khuyên rằng đừng tưởng mình vẫn còn
khỏe như lúc năm mươi hay sáu mươi tuổi. Phải biết sức mình, đừng ráng làm những
việc nặng quá khả năng. Việc gì còn làm được thì cứ làm, việc gì không còn làm
nổi thì nên buông xuống, như vậy mới mong sống yên ổn lâu dài.
Không ít người nhấn mạnh rằng đừng ngừng vận động. Đi bộ, tập thể dục,
làm vườn, làm một việc mình yêu thích hoặc còn đi làm nếu sức cho phép đều giúp
thân thể dẻo dai và tinh thần vui vẻ. Điều đáng sợ không phải là tuổi già, mà
là ngồi không và bỏ hết mọi sinh hoạt.
Một số ý kiến khác
nhắc nhở đừng bỏ bê việc săn sóc thân thể: nên đi khám sức khỏe đều, uống thuốc
theo lời thầy thuốc, ăn uống điều độ, ngủ nghỉ đầy đủ, uống đủ nước, và đừng
xem nhẹ trí nhớ, mắt tai hoặc huyết áp khi chúng có dấu hiệu suy kém.
Về tinh thần, nhiều
người cho rằng đừng sống khép kín, đừng xa lánh gia đình và bạn bè. Hãy giữ
lòng ham học hỏi, còn tò mò trước điều mới, còn đọc sách, học một điều mình
thích, hoặc nuôi thú vật để đời sống thêm vui. Cũng đừng quá bận lòng vì lời
khen chê của thiên hạ; tuổi già là lúc sống theo điều mình thấy thanh thản.
Tóm lại, điều "không nên làm" khi bước
sang tuổi tám mươi không phải là ngừng sống, mà là đừng liều lĩnh, đừng tự dối
mình về sức khỏe, đừng bỏ vận động, đừng cô độc, và đừng đánh mất niềm vui sống.
Sống biết chừng mực, thuận theo sức mình và giữ lòng thanh thản là lời khuyên
chung của hầu hết những người đã đi qua tuổi ấy.
HCD: Ấy mới là
Biết tiến biết
lui, một niệm thuận duyên tiêu họa hoạn;
Chẳng tham chẳng
cưỡng, trăm năm dưỡng tánh hưởng thanh nhàn.
Hiện nay, tình trạng giới trẻ
e ngại kết hôn và sinh con đang trở thành một thách thức mang tính toàn cầu, đặc
biệt là ở các quốc gia châu Á. Điển hình nhất có thể nhìn vào Trung Quốc – một
quốc gia từng tự hào với dân số tỷ dân nhưng nay đang chứng kiến tỷ lệ sinh chạm
đáy lịch sử, khiến dân số sụt giảm trong nhiều năm liên tiếp. Sự sụt giảm này
không đơn thuần là một biến động nhân khẩu học, mà là hệ quả của một cuộc đứt
gãy sâu sắc về cả tư tưởng lẫn kinh tế giữa hai thế hệ.
Đứa Con không còn là
"khoản đầu tư"
Trong văn hóa Nho giáo truyền
thống, con cái gắn liền với một logic rất rõ ràng: dưỡng nhi phòng lão — nuôi
con để phòng thân lúc già. Con = bảo hiểm + lương hưu + người nối dõi + người
chăm khi bệnh. Không có con là bất hiếu. Việc sinh con, dù nghèo đến đâu, được
xem là trách nhiệm đạo đức tối thiểu.
Thế hệ trẻ ngày nay không
nghĩ như vậy nữa.
Sự thay đổi không phải là họ
ghét trẻ con — khảo sát của Pew Research chỉ ra chỉ 8% người không muốn sinh
con vì không thích trẻ. Điều thay đổi là logic nền tảng: Con không phải tài sản,
không phải công cụ, không phải hợp đồng bảo hiểm. Và vì vậy, con không nợ cha mẹ
bất cứ thứ gì chỉ vì đã được sinh ra.
Sự thay đổi cốt lõi giữa
hai thế hệ nằm ở việc định nghĩa lại bản chất của việc sinh con:
Chấm dứt "đạo hiếu
giao dịch"
Trong văn hóa truyền thống Á
Đông, con cái gắn liền với chức năng kinh tế: Nối dõi tông đường, chăm sóc cha
mẹ khi đau ốm và đóng vai trò như một quỹ hưu trí sống. Tuy nhiên, thế hệ Gen Z
hiện nay lớn lên trong cấu trúc gia đình "4-2-1" (1 đứa trẻ phải gánh
2 cha mẹ và 4 ông bà). Họ thấu hiểu sự ngột ngạt của kỳ vọng báo hiếu và kiên
quyết không muốn đặt gánh nặng ấy lên vai thế hệ sau.
Quan niệm làm cha mẹ hiện đại
chuyển từ câu hỏi "Đứa con mang lại gì cho mình?" sang "Mình có
thể cung cấp cho đứa trẻ môi trường sống như thế nào?".
"Đẻ con ra làm con
tin" và tuyên ngôn "Thế hệ cuối cùng"
Trên mạng xã hội, người trẻ
không ngần ngại vạch trần góc khuất của việc sinh nở trong hoàn cảnh thiếu thốn.
Hàng loạt tuyên ngôn phản ánh đạo đức sinh sản mới:
"Chúng tôi là thế hệ cuối
cùng, cảm ơn." (Lời đáp trả mang tính biểu tượng của một thanh niên Thượng
Hải khi bị đe dọa rằng hành vi của anh sẽ ảnh hưởng đến ba thế hệ sau).
"Không muốn con sinh ra
để lặp lại sự nghèo đói và lo âu của chính mình."
So sánh việc sinh con trong
điều kiện kinh tế bất ổn như "sinh ra một con tin" cho hệ thống nhà đất
đắt đỏ, giáo dục áp lực và văn hóa làm việc bóc lột.
Với họ, việc từ chối sinh con
khi chưa chuẩn bị đầy đủ nền tảng tài chính và tâm lý là biểu hiện của lòng trắc
ẩn, không phải sự ích kỷ.
Tái định nghĩa tuổi già và
nỗi sợ cô đơn
Người trẻ không còn tin vào
phương trình: Có con = Tuổi già an nhàn. Khoảng cách địa lý, áp lực mưu sinh
khiến con cái dù muốn cũng khó chăm sóc cha mẹ toàn diện.
Nhiều nghiên cứu xã hội học
quốc tế chỉ ra rằng mức độ hạnh phúc hay cô đơn ở tuổi già không phụ thuộc vào
việc có con hay không, mà phụ thuộc vào bạn đời, sức khỏe và mạng lưới kết nối
xã hội.
Thế hệ mới chủ động chuyển hướng
sang tích lũy tài chính, mua bảo hiểm hưu trí, lên kế hoạch cho viện dưỡng lão
và xây dựng "gia đình tự chọn" (chosen family) từ bạn bè cùng chí hướng
thay vì trông đợi vào sự phụng dưỡng huyết thống.
Tự nuôi mình còn chưa xong
Ngay cả khi một người trẻ muốn
sinh con về mặt tư tưởng, thực tế kinh tế thường đặt dấu chấm hết cho ý định
đó.
Tại Việt Nam, chi phí cơ bản
nuôi một đứa trẻ từ lúc sinh đến năm 22 tuổi hiện vượt 4,2 tỷ đồng — chỉ tính
nhu cầu thiết yếu. Trong khi đó, chi phí sinh hoạt trung bình hàng tháng ở Hà Nội
đã vượt mức thu nhập trung bình của người lao động. Giá căn hộ tại hai thành phố
lớn nhất cả nước đã tăng gần 50% trong sáu năm, đạt mức 76–80 triệu đồng/m². Một
cặp vợ chồng trẻ với tổng thu nhập 20 triệu/tháng, sau khi trả tiền thuê nhà,
ăn uống và đi lại, gần như không còn gì để dành.
Ở Trung Quốc, tình trạng còn
cực đoan hơn. Giá nhà tại các thành phố cấp một gấp 20 lần mức lương trung bình
toàn quốc. Chi phí nuôi một đứa trẻ đến năm 18 tuổi tại đô thị ước tính từ
500.000 đến 1 triệu NDT. Chính phủ Bắc Kinh triển khai trợ cấp 3.600 NDT/năm/trẻ
dưới 3 tuổi — một khoản tiền bằng khoảng 1/140 GDP tính theo đầu trẻ cần hỗ trợ.
Người trẻ gọi đó là "muối bỏ bể".
Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên
Trung Quốc (16–24 tuổi) đạt 18,9% vào tháng 8/2025, mức cao nhất kể từ cuối
2023. Hàng triệu sinh viên đại học ra trường chạy xe ôm công nghệ, giao đồ ăn —
không phải vì lười, mà vì không có chỗ khác để đi. Đây là nền tảng kinh tế sinh
ra hai trào lưu đang định hình cả một thế hệ Trung Quốc.
Tang ping (躺平 — nằm thẳng) là sự phản kháng thụ động: Không mua
nhà, không mua xe, không kết hôn, không sinh con, không tiêu thụ. Người khởi xướng
phong trào này, cựu công nhân Luo Huazhong, viết năm 2021: "Khi bạn không
thể theo kịp sự phát triển của xã hội — ví dụ như giá nhà tăng vọt — nằm thẳng
thực ra là lựa chọn hợp lý nhất." Câu nói đó viral vì nó nói hộ tiếng lòng
của hàng triệu người.
Bai lan (摆烂 — mặc kệ cho thối)
là bước tiếp theo, bi quan hơn: Khi đã nhận ra nỗ lực không thay đổi được gì,
thì thôi, cứ để mọi thứ xấu đi. Không phải buông xuôi vì lười, mà là learned
helplessness — sự bất lực học được sau quá nhiều lần cố gắng mà không đi đến
đâu.
Trong bối cảnh đó, sinh con
không phải là lựa chọn xa xỉ — nó là rủi ro hiện hữu. Khi bản thân còn đang nằm
phẳng để bảo toàn sức khỏe tâm thần, thêm một đứa trẻ vào phương trình là điều
không thể hình dung.
Rủi ro dài hạn không gánh
nổi
Bên cạnh áp lực tài chính hiện
tại, bóng ma bất ổn tương lai khiến người trẻ ngần ngại ký vào "hợp đồng
cam kết 20 năm" mang tên con cái.
Ngay cả những người trẻ có việc
làm ổn định hiện tại cũng đối mặt với một mối lo khác: họ không biết công việc
đó có còn tồn tại trong năm năm nữa hay không.
Vòng xoáy đào tạo lại
(Upskilling/Reskilling): Tốc độ phát triển vũ bão của trí tuệ nhân tạo (AI) và
tự động hóa đe dọa trực tiếp các công việc văn phòng cấp thấp. Để giữ việc, người
lao động phải liên tục học thêm công nghệ, làm thêm dự án ngoài giờ. Nuôi một đứa
trẻ tiêu tốn hàng nghìn giờ chăm sóc, tước đoạt toàn bộ thời gian tái đào tạo của
cha mẹ trẻ, khiến họ đối mặt nguy cơ bị tụt hậu trên thị trường lao động.
"Lời nguyền tuổi
35": Định kiến thị trường lao động đào thải nhân sự sau 35 tuổi khiến viễn
cảnh thu nhập của người trẻ không phải là đường thẳng tăng dần mà là một ẩn số
đầy rủi ro.
Mất đi biên độ an toàn tài
chính: Một người độc thân khi thất nghiệp có thể cắt giảm chi tiêu, dọn về quê
hoặc đổi nghề. Nhưng một khi đã có con, các chi phí bỉm sữa, học phí, y tế là bắt
buộc và không thể "tạm dừng". Có con đồng nghĩa với việc đẩy gia đình
vào thế dễ tổn thương trước các cú sốc kinh tế và bệnh tật.
Điều này tạo ra một áp lực
liên tục: người trẻ buộc phải học thêm, học lại, cập nhật kỹ năng ngoài giờ làm
việc để không bị đào thải. Ở Trung Quốc, tâm lý sợ "ngưỡng 35 tuổi" —
quan niệm rằng lao động trên 35 tuổi khó tìm việc mới và dễ bị sa thải — khiến
người trẻ không dám cam kết bất cứ khoản chi phí cố định dài hạn nào.
Và đây chính là điểm then chốt:
chi phí nuôi con là cố định và tăng hàng năm, nhưng thu nhập của người trẻ là
biến số. Một đứa trẻ không thể "tạm dừng" khi bố mẹ thất nghiệp sáu
tháng để học lại kỹ năng mới. Tiền học, tiền sữa, tiền bác sĩ vẫn phải trả. Người
ta không ngại sinh con vì đang nghèo hôm nay — họ ngại vì không biết mình có
còn công việc vào ngày mai hay không. Đó là sự khác biệt giữa thiếu tiền và thiếu
chắc chắn.
Nhiều người trẻ nói thẳng:
"Tôi còn phải để dành tiền phòng khi mất việc, tiền học lại, tiền khám bệnh
— lấy đâu ra để cam kết 20 năm nuôi con?"
Những lực cản cộng hưởng khác
Quyết định không sinh con
còn chịu tác động sâu sắc từ nhiều rào cản xã hội và giới tính:
"Hình phạt làm mẹ"
(Motherhood Penalty): Phụ nữ hiện đại có học vấn cao đối mặt với nguy cơ gián
đoạn sự nghiệp, giảm cơ hội thăng tiến hoặc bị sa thải ngầm khi mang thai. Khoảng
cách thu nhập và sự nghiệp giữa phụ nữ có con và không con ngày càng nới rộng.
Gánh nặng thể xác và tâm lý:
Nhận thức y khoa giúp phụ nữ nhìn thẳng vào các rủi ro biến chứng sản khoa, lão
hóa tế bào và trầm cảm sau sinh (vốn chiếm tỷ lệ từ 10% đến hơn 30%). Tư tưởng
tôn trọng cơ thể khiến họ không còn chấp nhận việc hy sinh sức khỏe như một
nghĩa vụ hiển nhiên.
Bất bình đẳng trong phân
công việc nhà: Quan niệm gia trưởng
ngầm vẫn đẩy phần lớn trách nhiệm nuôi dạy con và việc nhà (ca làm việc thứ
hai) lên vai phụ nữ, ngay cả khi họ đi làm kiếm tiền ngang bằng nam giới.
Khoảng trống an sinh xã hội:
Hệ thống nhà trẻ công lập nhận trẻ dưới 3 tuổi quá thiếu thốn, dịch vụ tư nhân
đắt đỏ, trong khi các gói trợ cấp thai sản hiện nay còn mang tính tượng trưng,
như "muối bỏ bể" so với chi phí thực tế.
Nỗi lo âu hiện sinh: Khủng hoảng khí hậu, ô nhiễm môi trường và áp lực cạnh
tranh xã hội khiến nhiều người đặt câu hỏi về mặt đạo đức: Liệu có công bằng
khi đưa một sinh linh mới vào một thế giới ngày càng nhiều bất định và áp lực?
Sự sụt giảm mức sinh của giới
trẻ ngày nay không phải là trào lưu nhất thời hay biểu hiện của sự buông thả.
Đó là kết quả tổng hòa của sự tiến bộ trong nhận thức về tự do cá nhân, đi kèm
phản ứng phòng vệ duy lý trước một cấu trúc xã hội đòi hỏi quá nhiều chi phí và
rủi ro nhưng cung cấp quá ít sự bảo đảm an toàn.
Nhìn tổng thể, sự sụt giảm tỷ
suất sinh không phải là kết quả của một lý do đơn lẻ, mà là hệ quả của nhiều áp
lực khóa chặt vào nhau. Tư tưởng thay đổi khiến người ta đặt câu hỏi tại sao phải
sinh; kinh tế khó khăn khiến người ta không thể sinh ngay cả khi muốn; bất ổn
dài hạn khiến người ta không dám ký một cam kết 20 năm; và xã hội chưa tạo ra đủ
điều kiện để sinh con bớt rủi ro hơn.
Điều đang xảy ra sâu hơn thế.
Một mặt, người trẻ có nhiều
quyền lựa chọn hơn nên không còn xem hôn nhân và sinh con là nghĩa vụ bắt buộc.
Mặt khác, cái giá để trở thành một người cha, người mẹ mà chính họ cho là có
trách nhiệm lại cao hơn trước rất nhiều. Họ không chỉ hỏi mình có nuôi nổi một
đứa trẻ hay không, mà còn hỏi liệu họ có thể cho đứa trẻ ấy một tuổi thơ tốt, một
môi trường tâm lý lành mạnh và một tương lai đủ cơ hội hay không.
Có một nghịch lý nằm chính ở
đây: Càng coi trọng trẻ em, người ta đôi khi lại càng thận trọng với việc tạo
ra một đứa trẻ.
Thế hệ trước có thể nghĩ: “Có
con rồi khó đến đâu cũng nuôi được.”
Thế hệ trẻ lại nghĩ: “Chính
vì có con là trách nhiệm cả đời nên tôi không muốn sinh chỉ để rồi bắt nó cùng
mình chịu đựng.”
Người trẻ không ích kỷ hơn. Họ
chỉ đang tính toán thực tế hơn — trong một thế giới mà cái giá của việc tính
toán sai ngày càng cao hơn.
Bà Lan và bà Hoa gặp nhau ở sân bay Colombo,
trong đoàn du lịch tâm linh “Theo Dấu Chân Phật” mười ngày, qua Sri Lanka. Hai
bà U70 được xếp chung phòng. Định mệnh!
Bà Lan, 65 tuổi, cựu giáo sư dạy Văn Sài Gòn
xưa, sang Mỹ đã 30 năm. Bà tu tại gia, ăn chay trường, mỗi năm đi retreat ở
Nepal một lần. Trên cổ bà là chuỗi 108 hạt bồ đề Nepal, tay đeo vòng chỉ đỏ
thỉnh ở chùa Thái Lan, vai khoác túi vải thô thêu chữ “Vô Thường” mua ở Việt
Nam. Vali của bà dán chi chít sticker: “Mindfulness”, “Present Moment”,
“Buông”...
Bà Hoa, 64 tuổi, giảng viên Đại học Y khoa Sài
Gòn. Hộ chiếu bà dày cộp vì đi hội nghị y khoa khắp thế giới. Vali chỉ có một,
loại cabin size, nhét vừa quần áo, một áo dài để mặc lễ bế mạc, và tập tài liệu
“Update in Diabetic Retinopathy”. Bà ăn gì cũng được, ngủ đâu cũng xong, miễn
có wifi để check mail cho sinh viên.
Ngày đầu tiên nhận phòng, bà Lan nhìn quanh
một lượt. Rồi phán:
“Chị Hoa, mình đổi giường đi. Giường tôi phải
quay đầu về hướng Bắc, hợp mệnh Thủy. Với lại máy lạnh không được phả thẳng vô
mặt, hại phổi. Cái đèn ngủ này ánh sáng trắng quá, không tốt cho luân xa. Tôi
có mang theo đèn đá muối Himalaya…”
Bà Hoa đang lôi bịch khô bò ra nhấm nháp,
ngẩng lên cười xòa: “Ôi giời, sao cũng được chị. Tôi ngủ như chết, bom nổ cũng
không biết. Chị cứ sắp xếp theo ý chị.”
Thế là bà Lan hì hục kê lại giường, dán miếng
“Om Mani Padme Hum” lên đầu giường, xịt tinh dầu trầm. Xong xuôi, bà ngồi kiết
già, bắt đầu tụng thời kinh tối. Bà Hoa thì mở laptop, gõ lạch cạch, chuẩn bị
bài báo cáo.
Sáng 4 giờ, chuông đồng hồ của bà Lan reo.
Toàn tiếng chuông mõ, tiếng niệm Phật từ máy phát.
“Dậy chị Hoa, 4h30 xe khởi hành đi Kandy. Phải
đến chùa Xá Lợi Răng Phật sớm mới thanh tịnh.”
Bà Hoa đang trùm mền, ú ớ: “Cho tôi ngủ thêm
15 phút. Tối qua tôi chấm bài tới 1 giờ…”
“Không được! Đi trễ là tâm mình động. Tu là
phải kỷ luật.”
Cuối cùng bà Hoa bị lôi dậy, mắt nhắm mắt mở,
tóc tai bù xù, cũng ráng chui lên xe.
Trên xe, hướng dẫn viên phát mỗi người một hộp
xôi đậu. Bà Lan nhíu mày: “Xôi này chắc nấu bằng nồi inox, không phải nồi đất.
Năng lượng không tốt! Với lại họ bỏ hành phi, tôi ăn chay phải không hành không
tỏi.”
Bà Hoa đã ăn mất hết nửa hộp: “Tôi thì có gì
ăn nấy. Hồi đi công tác ở châu Phi, có cơm ăn là may rồi. Chị ăn khô bò không?
Tôi mang từ Sài Gòn qua, không có tỏi.”
Bà Lan lắc đầu, rút bịch hạt dinh dưỡng và
chai nước kiềm ra.
Đến Chùa Răng Phật, bà Lan yêu cầu cả đoàn
phải đi chân trần từ cổng, không được chụp hình khi đang lễ, phải giữ im lặng
tuyệt đối. Bà xếp bằng ngay ngắn, nhắm mắt, hít thở.
Bà Hoa thì vừa đi vừa ngó nghiêng kiến trúc,
lẩm bẩm: “Chà, kỹ thuật xây vòm này giống thời Angkor…”. Đến lúc lễ, bà Hoa
đứng, chắp tay, nhưng mắt vẫn liếc cái đầu gối của tượng Phật bị nứt. Nghề
nghiệp nó ăn vào máu.
Trưa, đoàn ăn buffet chay. Bà Lan đi một vòng,
gắp đúng 7 món, mỗi món một muỗng, xếp thành hình hoa sen trên đĩa. “Ăn uống
cũng là thiền, phải chánh niệm.”
Bà Hoa thì làm một đĩa đầy ụ, trộn hết vào:
“Tôi theo trường phái ‘tùy duyên’ của… cái bụng. Đói thì ăn, ngon thì ăn
nhiều.”
Bà Lan nhìn, thở dài: “Chị Hoa, tham ăn là một
trong tam độc Tham Sân Si đó nhen.”
Bà Hoa phì cười: “Tôi biết. Nhưng tôi còn thêm
1 cái độc nữa là độc… 'thân'. Ăn bù cho đỡ tủi cái thân già ... khà khà... Chị
đang nổi sân si tôi ăn nhiều kìa, vậy là chị dính "hai độc" rồi nhé.”
Cả bàn phá lên cười. Bà Lan đỏ mặt, không cãi
lại được.
Tối về khách sạn, bà Lan bật nhạc thiền, đốt
nụ trầm. “Chị Hoa, tối nay mình không nói chuyện phiếm. Phải tịnh khẩu sau 8
giờ, để giữ năng lượng.”
Bà Hoa đang video call với nghiên cứu sinh: “Ừ
ừ… em xem lại y văn… ừ ừ ... mai cô gửi slide cho…”. Thấy bà Lan lườm, bà bụm
miệng cười: “Xin lỗi, xin lỗi. Tịnh khẩu. Tịnh khẩu. Mô Phật.” Rồi bà chui vào
mền, tiếp tục nhắn tin lạch cạch.
Đỉnh điểm là ngày thứ năm, đi Sigiriya. Phải
leo 1200 bậc thang lên “Lion Rock”. Bà Lan mặc bộ đồ lam, đội nón lá, tay cầm
gậy tre, tuyên bố dõng dạc: “Leo núi cũng là thiền hành! Mỗi bước chân là một
câu niệm Phật. Ai than mệt là tâm còn yếu.”
Bà Hoa thì mặc quần trekking, áo thun, giày
bata, trên lưng là cái balo có chai nước và kẹo. Leo được 200 bậc, bà Lan bắt
đầu đếm: “…394, 395… A Di Đà Phật…”.
Bà Hoa thì: “Chị ơi, nghỉ chút. Tôi xem cái
đầu gối của tôi nó muốn đình công rồi... Hồi nọ mổ dây chằng.”
“Không! Nghiệp phải trả. Đau đớn là để ...
tiêu nghiệp.”
Đến bậc 800, bà Lan mặt đỏ gay, thở dốc, chuỗi
hạt Nepal vướng vào gậy tre. Bà Hoa đã ngồi trên tảng đá, đưa chai nước, cục
kẹo: “Niệm Phật trong tâm là được rồi chị. Phật không bắt mình đếm bậc đâu.
Uống miếng nước đi, kẻo mất nước, tụt đường huyết là tôi phải cấp cứu bà đó.”
Bà Lan định cãi, nhưng hết hơi, chân lại run
quá, đành ngồi xuống, tu ừng ực, “Cũng… tùy duyên vậy.”
Lên trên đỉnh, gió lồng lộng. Bà Lan định ngồi
thiền 30 phút. Vừa nhắm mắt, một đoàn khách Tây ồn ào kéo tới, cười nói,
selfie. Bà Lan mở mắt, cau có: “Vô minh! Vô minh! Đến chốn linh thiêng mà ồn
ào. Mất hết năng lượng.”
Bà Hoa đang chụp hình giúp họ, cười toe: “Kệ
người ta chị. Mình tu tâm mình. Họ vui là họ đang tạo nghiệp thiện đó. Với lại,
cảnh đẹp vầy không chụp thì phí. Để tôi chụp cho chị một tấm làm kỷ niệm.”
Bà Lan xua tay, nhưng bà Hoa đã “tách” một
cái. “Đó, chị xem, chị cau có mà lên hình vẫn đẹp. Sân si cũng có nét đẹp của
sân si, hi hi...”
Bà Lan cũng phải phì cười, lần đầu tiên trong
chuyến đi.
Đêm cuối ở Anuradhapura, dưới cội Bồ Đề linh
thiêng, cả đoàn ngồi thiền. Bà Lan xếp bằng, lưng thẳng, mặt nghiêm nghị. Được
10 phút, muỗi cắn. Bà khẽ đập “bốp”. Rồi lại “bốp”. Trong đầu bà gào thét:
“Không được sát sinh! Nhưng ngứa quá! Nghiệp! Tu! Muỗi!”. Mặt bà nhăn nhó, mồ
hôi rịn ra.
Bà Hoa ngồi kế bên, cũng bị muỗi cắn. Bà từ
tốn lấy chai dầu gió trong túi, xức cho mình, rồi chấm một miếng, đưa qua: “Chị
xức đi. Bồ Đề là cây, muỗi là chúng sinh, mình cũng là chúng sinh. Nó đói thì
nó cắn. Mình ngứa thì mình xức dầu. Phật ở trong tâm, không ở trong con muỗi.”
Bà Lan khựng lại. Nhìn chai dầu gió xanh lè,
phàm tục. Rồi nhìn mặt bà Hoa, nhăn nheo, hiền khô, mắt lúc nào cũng như đang
cười. Tự dưng bà Lan thấy mình sao mà… mệt quá. Mất 30 năm tu tập, đã đi Nepal,
đi Tây Tạng, mà sao tâm vẫn dễ động, chỉ vì con muỗi, vì hộp xôi, vì chút tiếng
ồn?
Bà cầm chai dầu, xức một miếng. Thiệt đã ngứa.
“Chị Hoa này…”
“Dạ.”
“Tôi… tôi... muốn hỏi chị, hình như tôi tu sai
cách rồi phải không? Tôi cứ tưởng cái gì cũng phải theo đúng quy định, phải
đúng giờ, phải đúng hướng, đúng món, đúng lời nói… Mà càng cố đúng, tôi càng
mệt, càng dễ cáu giận.”
Bà Hoa vỗ vai bạn: “Chị không sai. Chị chỉ… kỹ
quá thôi. Phật dạy ‘Trung Đạo’. Không buông lung, cũng không ép xác. Hồi tôi đi
thực tập ở viện, có sư thầy bị K dạ dày. Thầy vẫn uống thuốc, vẫn xạ trị, vẫn
cười. Thầy nói: ‘Bác sĩ chữa cái thân tôi, tôi tu để chữa cái tâm tôi. Thân an
thì tâm mới an. Tùy duyên mà bất biến’.”
Bà Lan im lặng. Một làn gió mới thổi qua, mát
rượi. Tiếng tụng kinh xa xa. Không còn tiếng muỗi. Hoặc có, mà bà không còn
nghe nữa.
Ngày về, ở sân bay, bà Lan trả lại giường về
chỗ cũ, tháo miếng sticker “Om Mani” khỏi đầu giường.
“Ủa, sao chị không mang về?” Bà Hoa hỏi.
“Để lại cho người sau. Biết đâu họ cần hơn
mình. Với lại… hành lý ký gửi đủ cân rồi.” Bà Lan cười, nụ cười lần đầu nhẹ
tênh.
Bà không còn cằn nhằn khi bà Hoa ăn tô phở bò
ở phòng chờ sân bay. Bà chỉ nói: “Chị ăn đi. Tôi uống nước kiềm. Mỗi người một
duyên.”
Lên máy bay, bà Lan không bật nhạc thiền. Bà
đeo tai nghe, mở phim.
Bà Hoa ghé qua: “Phim gì đó chị?”
“Phim hài. Lâu rồi không xem.”
“Vậy là chị đắc đạo rồi đó.”
“Sao?”
“Vì chị biết cười rồi. Tu mà mặt lúc nào cũng
nhăn như khỉ ăn ớt, Phật cũng buồn.”
Hai bà cười ngặt nghẽo. Cô tiếp viên đi qua
cũng phải mỉm cười.
Chuyến du lịch tâm linh kết thúc. Bà Lan về
Mỹ, vali nhẹ hơn vì đã cho hết mấy vòng, mấy chuỗi. Bà Hoa về Sài Gòn, tiếp tục
sống tùy duyên, ăn khô bò, ăn chay, tùy duyên và giảng dạy.
Thỉnh thoảng, bà Lan gọi video call. Thay vì
khoe khóa tu ở đâu đó, bà khoe: “Hôm nay tôi nấu phở chay, nhưng chồng tôi đòi
bỏ thịt bò. Tôi đành… cho ổng một cục. Tùy duyên. Hi hi.”
Bà Hoa ở đầu bên kia cười ha hả: “Đó! Tu vậy
mới là tu. Hết sân si rồi. Bữa nào về Sài Gòn, tôi dẫn đi ăn bún bò. Chị ăn
nước, tôi ăn cái ha ha.”
“Ừ. Sao cũng được.”
Bởi vậy, hình như ai tu theo Phật, rốt cuộc
cũng chỉ là học cách nói “sao cũng được” với đời, mà lòng không gợn sóng. Đừng
khe khắt quá, kẻo tu hành thành… tu hú. Mà tu hú thì chỉ biết kêu một mình giữa
rừng sâu, buồn lắm.