Saturday, June 6, 2026

Sống Nhẹ Nhàng Trong Các Mối Tương Quan


Khoảng cách sản sinh ra cái đẹp, đây là quy luật tự nhiên.

Trời và đất có khoảng cách nên mới có khoảng không bao la đẹp đẽ ở giữa.  Mặt trăng và mặt trời có khoảng cách nên mới có ngày và đêm, ngay cả mặt trăng và mặt trăng cũng có khoảng cách nên mới có trăng khuyết, trăng tròn.


Người với người có khoảng cách, mới có sự lo lắng quan tâm nhớ nhung. Con người chung sống với nhau thực ra là một nghệ thuật, muốn làm tốt một chút thực sự không đơn giản. Cách nhau quá xa, quan hệ sẽ trở nên mờ nhạt, nhưng gần quá rồi sẽ sinh thương, ghét, ân, oán không cần thiết.

- Theo lý mà nói con người càng thân thiết, càng cởi mở với nhau, mối quan hệ cũng ngày càng tốt đẹp, nhưng thực tế lại hoàn toàn không phải như vậy. Nguyên nhân nằm ở đâu?

Thực ra, điều này có thể lý giải bằng QUY TẮC CON NHÍM trong tâm lý học sau đây:

Hai con nhím, nếu tiến lại quá gần nhau, gai của chúng sẽ làm đôi bên đều bị thương. Chỉ sau khi tách nhau ra xa hơn một chút, duy trì một khoảng cách phù hợp, chúng mới có thể ở cạnh nhau, nương tựa, sưởi ấm cho nhau.

Giữa người với người thực ra giống như những con nhím kia, nếu sát lại quá gần sẽ làm nhau bị thương, nhưng quá xa lại không thể nương tựa, sưởi ấm cho nhau.  Chỉ khi duy trì một khoảng cách phù hợp, chúng ta mới có thể hòa hợp với nhau, duy trì khoảng cách phù hợp mới là chân lý mang đến thoải mái và ấm áp.

- Vậy cụ thể nên duy trì khoảng cách như thế nào?

Mối quan hệ của con người đẹp nhất là khi duy trì khoảng cách phù hợp. Chính vì thế, giữa người với người, dù thân thiết đến mấy cũng không được quên việc duy trì khoảng cách phù hợp.

Mỗi người đều cần có đủ không gian cá nhân, tựa như quả bóng khí vô hình, một lãnh thổ mà mỗi người tự vạch ra cho riêng mình.


Cho dù là thế giới tình cảm, thế giới nội tâm hay là không gian cá nhân, đều cần phải giữ gìn đủ tự do, tự chủ trong cái lãnh thổ riêng tư đó. Đừng xem thường những khoảng cách này trong cuộc sống, có biết bao tình yêu cuối cùng đều bại vì khoảng cách. Xa nhau, thì thấy không vui, mà gần nhau lại nảy sinh mâu thuẫn.

Đừng nhân danh vì tình cảm tốt đẹp để tùy tiện làm theo ý mình, cũng đừng nghĩ rằng người ta cho bạn nhiều quyền hạn mà bạn có thể vượt mặt, làm thay họ. Mỗi người đều là một cá thể độc lập, tuyệt đối không được vì thân thiết mà một bước không rời, mọi lời không giấu.


Tình cảm đẹp nhất khi xây dựng trên nền tảng tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau, không vượt quá giới hạn, không mạo phạm, không thách thức, không giả tạo.

Con người với nhau cần giữ khoảng cách nhất định, xa gần tùy mỗi người, dựa trên nguyên tắc làm bản thân vui vẻ, giúp người khác thoải mái.


Sống nhẹ nhàng trong các mối tương quan...

Ngập Lời Yêu Thương - Đỗ Công Luận

Bức Thư Tình Thời Cộng Sản XHCN

 

Em yêu,

Trên cơ sở trò truyện hôm nọ với em, anh nghĩ rằng anh đã rút ra được những kết luận nhất định về tình cảm của đôi ta. Theo đánh giá sơ bộ của anh thì chúng ta đã đạt được một sự nhất trí cao về một số mặt, đó là những thành công bước đầu trên quá trình tiến tới hôn nhân. 


Chủ đạo tình cảm gắn bó và sự hiểu biết về đối tác của chúng ta hoàn toàn có thể giúp anh và em xích lại gần nhau theo kế hoạch dự định, và anh yêu cầu mỗi người trong chúng ta phải nỗ lực củng cố những gì đã đạt được và thúc đẩy nó lên một bước phát triển mới. Em đừng bức xúc khi em không thích hợp với chức năng và nghĩa vụ mới của một người vợ. 

Con người ai chẳng mắc khuyết điểm.  Những mặt yếu của em trong phạm trù nấu nướng có thể khắc phục một cách hiệu quả, nếu em biết khắc phục từng bước trong khi tiến tới khắc phục toàn phần. Và một khi em đã tự giác đứng ra nhận khuyết điểm như vậy, hẳn em đã chuẩn bị biện pháp sửa chữa, trước mắt em là những thắng lợi mới.  Buổi đi chơi tới anh sẽ báo cáo thời gian và địa điểm với em sau. Có thể chúng ta sẽ tham quan một quán ăn, cọ sát ẩm thực nào đó, chụp hình tự sướng (xeo phi) và chúng ta sẽ bàn bạc về những bước đi thích hợp cho giai đoạn phát triển tình cảm mới.  Gửi em một nụ hôn đoàn kết. 


Tranh thủ gửi thư,

Trần đại Quang... 

Kim Hoa Bà Bà chuyển

Hai Cách Hành Xử


Nằm khuất bên cạnh Đại thánh đường Umayyad ở Damascus (Syria) là lăng mộ của Salah ad-Din, hay Saladin. Dù là vị quân vương đã tái chiếm Jerusalem từ tay Thập tự quân vào năm 1187 và khiến cả châu Âu thời Trung cổ kính nể, nơi an nghỉ của ông lại được xây dựng khiêm tốn bằng gỗ. Cùng tại lăng mộ này, lịch sử cận đại đã chứng kiến hai cách hành xử hoàn toàn trái ngược từ đại diện của hai cường quốc đại diện cho 2 thái cực của tây Âu bấy giờ.

Năm 1920, sau khi đánh bại lực lượng Ả Rập tại trận Maysalun và chính thức áp đặt quyền ủy trị của Pháp lên Syria, Tướng Henri Gouraud đã bước vào lăng mộ Saladin. Gouraud đã đá vào mộ phần của vị Sultan và tuyên bố: "Hãy tỉnh dậy, Saladin. Chúng ta đã trở lại. Sự hiện diện của ta ở đây đánh dấu chiến thắng của Thập tự giá trước Trăng lưỡi liềm."

Ngược lại về quá khứ 22 năm, năm 1898, Trong chuyến công du tới Đế chế Ottoman, Hoàng đế Đức Wilhelm II đã đến thăm Damascus. Khi đứng trước lăng mộ Saladin, vị Hoàng đế nhận thấy công trình đang trong tình trạng xuống cấp. Wilhelm II đã quyết định tài trợ toàn bộ chi phí để trùng tu khu vực này. Không dừng lại ở đó, ông còn gửi tặng một chiếc quách bằng đá cẩm thạch trắng được chế tác tinh xảo để vinh danh vị danh tướng. Ngày nay, chiếc quách cẩm thạch của Đức vẫn được đặt trang trọng ngay sát cạnh quan tài bằng gỗ nguyên bản chứa di hài Saladin.

Hành động của Wilhelm II không hoàn toàn xuất phát từ sự lãng mạn. Đó là một nước cờ ngoại giao thực dụng nhằm tranh thủ thiện cảm của thế giới Hồi giáo và củng cố liên minh Đức - Ottoman trước thềm những biến động lớn của thế kỷ 20.

Tuy nhiên, sự tương phản giữa hai sự kiện vẫn để lại một bài học sâu sắc về nghệ thuật lãnh đạo. Cùng đứng trước di sản của một cựu thù lịch sử, một bên mượn quá khứ để thỏa mãn sự kiêu ngạo của kẻ chiến thắng, bên kia dùng sự tôn kính để củng cố vị thế chính trị tương lai. Cuối cùng, sự vĩ đại của người nằm dưới mộ không bị suy chuyển bởi thời gian, mà cách ứng xử của những người sống khi đứng trước nó mới là thứ bị lịch sử phán xét.

#LichSuTheGioi #Saladin #LichSuNgoaiGiao

Beethoven & Avion


 Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình

Lẻ Bóng - Bùi Bích Hà


Ông là một trong những bác sĩ Việt Nam di tản kịp trong biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Tới Mỹ, ông đi học lại, hành nghề rất sớm và thành công tại quận Cam ít nhất trên ba thập niên cho tới khi nghỉ hưu.

Tất nhiên như mọi người có cùng địa vị với ông, ông làm chủ một quỹ về hưu khá lớn, cho phép ông vẫn giữ nếp sống thoải mái như thời còn làm việc. Chỉ có điều, ông than thở: “Nhà cao cửa rộng phải bán đi vì lầu cao, đầu gối đau, không lên xuống cầu thang được, chưa kể nhà lớn quá mà một thân một mình, ở sao hết? Sức đâu mà dọn dẹp"...


Nhìn cái hồ bơi đầy lá vàng chỉ thêm cám cảnh. Thảm cỏ sân trước, vườn sau cần người chăm sóc nhưng người làm vườn khi tới khi không, gọi khi được khi mất, chỉ tổ bực mình, nhức đầu. Mời các con, cô cậu nào muốn lấy cái nhà, ông giao nhưng chúng nó, thứ nhất đã có nhà rồi, đẹp và sang gấp mấy lần cái nhà của ông ở Fountain Valley, mắc mớ gì phải nhận của ông để bị anh chị em nhòm ngó, tỵ nạnh, chưa kể nhận cái nhà rồi, sau này khi ông cần gì, nó sẽ là đối tượng thứ nhất được chiếu cố và giao phó trách nhiệm.

Ông đành bán nhà, dọn vào một căn mobile home ở giữa khu Little Saigon cho ông tiện đi lại hoặc hẹn hò bạn bè cũ mới. Nhà ba phòng, sửa sang tươm tất trông cũng khang trang, đẹp mắt, nhưng với ông hôm sớm vào ra một bóng, vẫn còn quá dư thừa. Mấy bụi hoa xung quanh nhà được cắt tỉa gọn ghẽ vì người phụ trách cây cảnh của chủ đất rất dễ gọi để nhờ vả. Tuy nhiên, “vườn Thúy” của ông thiếu đôi mắt phượng nên không được sum suê và mỹ quan như bên hàng xóm. Ông nhớ cái vườn cây quý tự tay ông đi kén chọn mua giống, chăm bón và săm soi những ngày xưa thần tiên đã xa xôi rồi, ông tặc lưỡi, lắc đầu mấy cái, như người đi dưới cơn mưa muốn rũ sạch những giọt buồn trên khóe mắt.


Nhà đã vậy, xe đẹp cũng thường xuyên nằm ụ vì ông không còn đi đâu xa, ngay cả đi gần thì cũng phải về nhà trước khi tắt nắng vì mắt quáng. Gần đây, vẻ ngoài cái xe và ông chênh lệch nhau nhiều quá, một bên bóng lộn, khỏe mạnh, vạm vỡ, một bên hom hem, xập xùi, yếu ớt, khiến ông ngại ngùng mỗi khi ngồi vào ghế lái, chậm rãi lùi xe ra khỏi gara mà có người đang nhìn ông.

Thêm nữa, do thị lực yếu đi, ông không mấy tự tin vào khả năng ước lượng khoảng cách của cặp mắt mỗi khi cần vào một chỗ đậu xe hơi chật, sợ cọ quẹt, nên ông bắt đầu thấy cái xe Lexus 450 của ông không thích hợp với ông nữa. Gần đây, ông nghe bạn bè kháo nhau xe Honda kiểu Civic đời 2018 rất đẹp, đầy đủ tiện nghi, thoáng nhìn sang trọng không kém kiểu xe đắt tiền, mua mới từ dealer ra chỉ trên dưới $20,000, xài xăng thường, đổ đầy bình chỉ $20 một lần, bảo hiểm cũng rẻ, bảo trì càng không tốn vì hợp đồng bảo trì miễn phí của dealer có lẽ dài hơn số năm tháng còn lại của ông, chưa kể xe nhỏ nhắn, vào ra parking dễ dàng. Ông đang tính bữa nào chờ có đợt xeo, sẽ ra Honda World đổi một chiếc.


Lúc mới dọn vào khu mobile home trên đường Bolsa, thấy chợ Mỹ, chợ Việt đều gần, ông sung lắm, tự đi chợ và nấu nướng. Được ít ngày, một bữa ông đang ngồi xem ti vi, thoáng thấy có lửa cháy trên màn hình, ông hơi ngỡ ngàng, chưa biết là chuyện gì thì ông nghe mùi khét. Quay nhìn vào bếp, ông hết hồn thấy lửa đang phừng phừng. May phước đầu óc còn tỉnh táo, ông phóng ba bước tới cái lò và nhanh tay vặn cái nút tắt. Sau lần đó, lớp thì cọ rửa soong nồi, lớp lau bếp bắt mệt, may là máy báo khói chưa hú chớ không cả xóm kinh động rồi, ông quyết định thôi không nấu nướng nữa mà ăn cơm phần hay cơm chỉ cho khỏe, ngày nào ưa ăn ngon thì đi kéo ghế. Tủ lạnh nhà ông lúc nào cũng có chả lụa, chả chiên; tủ pantry thì đầy oat meal, súp hộp và mì gói, không bao giờ sợ cơ lỡ...

Thức ăn giải quyết được rồi nhưng ông nói ăn một mình buồn quá, nhiều khi nghẹn ngào muốn buông đũa, buông chén. Ông than không có gì chán hơn là cứ lui cui cặm cụi gắp, nhai, nuốt một mình, xung quanh vắng lặng không tiếng người, không cả tiếng dép hay tiếng rót một ly nước. Có bữa ông bưng cái tô vừa cơm vừa thức ăn ra đứng bên cửa sổ bếp, ngó mông ra ngoài, thử coi có gì vui không nhưng cũng đâu có gì vui?


Cư xá của ông toàn người cao niên, vắng cả tiếng trẻ con nô đùa. Cụ Nguyễn Du chẳng đã từng hạ bút viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!” ư? Trong trí tưởng ông, thấp thoáng hiện lên quang cảnh gia đình đông vui ngày nào, vợ ông tươi mát như một bông huệ tây, ngồi giữa đám cháu nội ngoại lau nhau, đứa này níu tay ông, đứa kia níu tay bà, om xòm tiếng Anh tiếng Việt, grand ma, grand pa, bà ngại, ông ngại, hỏi một trăm câu hỏi mà ông chỉ trả lời qua loa rồi bán cái cho bà, bà không biết sao thì lại chỉ qua ông.

Riêng ông chốc chốc nhìn đồng hồ, chỉ mong sao đến giờ, bố mẹ chúng tới đón hết đám trẻ của từng nhà về để trả lại ông bà ngôi nhà yên tĩnh trong buổi chiều. Trong khi bà kiên nhẫn dọn dẹp đồ chơi và thức ăn thừa mứa do lũ trẻ bỏ lại, ông ngồi duỗi chân xem ti vi tin tức hay ca nhạc, chờ bữa ăn tối ngon lành, nóng sốt, thay đổi hàng ngày nhờ bàn tay của bà...


Bây giờ, ông đảo mắt nhìn một lượt căn nhà sạch sẽ, sàn gỗ không một cọng rác, một mẩu giấy vụn, bàn ghế ngay ngắn, đồ đạc đâu vào đấy, trật tự, lạnh lẽo như chưa từng xô động, như không có ai ở, ông thấm ngấm đến tận xương tủy cảm giác hiu quạnh lạ thường. Đàn cháu nội ngoại ngày nào ríu rít như chim, nay đã trưởng thành, vào/ra đại học hết. Thỉnh thoảng có đứa còn nhớ ông, điện thoại hỏi thăm, tới chở ông ra phố uống cà phê hay ăn chè, khiến ông vui cả ngày.

Bạn bè cũ biết ông thích hát, có người rủ ông đi karaoke buổi tối ở các câu lạc bộ khiêu vũ. Ông theo họ đi giải trí cho quên bớt thời giờ trống trải nhưng trở ngại của ông là ông thích hát song không thích nhảy đầm. Hát xong vòng đầu, ông phải chờ khá lâu mới đến vòng nhì và sẽ về khuya lắm, ông sẽ mất ngủ vì quá giấc rồi lại phải uống thuốc ngủ mà ông thì rất sợ bị nghiện. Vì vậy, ông không đi thường xuyên như lúc bắt đầu nữa, đành chấp nhận nhiều hôm một mình đối bóng với đêm trường.

Năm nay ông đã ngoài 80 nhưng 10 năm trước ông chỉ mới ngoài 70. Chẳng phải ông vì lễ giáo của tông môn và sợ miệng đời mai mỉa mà nhắm mắt bỏ qua cơ hội đi tìm kiếm một hạnh phúc cho quãng đời còn lại của ông ư?


Như gia chủ buổi họp mặt bằng hữu hôm nay cũng ngoài 70 khi hai ông bà gặp nhau trong tình cảnh góa bụa, hiểu ra họ cần nhau và quyết định tạo dựng một mái ấm chung với con cái hai bên đều đồng thuận chọn lựa của bố mẹ. Họ vui lòng trả giá để có những buổi sáng thức dậy cùng nhau đón mặt trời và nghe chim hót trong vườn, ngồi bên nhau uống tách cà phê thơm đầu ngày, ăn món điểm tâm tùy thích, nói năm ba câu chuyện trên trời dưới biển đem lại cho nhau những tràng cười sảng khoái.

Tại sao khước từ những ngụm mật ngọt ấy, cái hạnh phúc ấm êm cận kề ấy mà nghĩ rằng mình khôn ngoan? Thật ra, chỉ vì vẩn vơ lo sợ những điều mình không biết trước và biết chắc có xảy ra hay không? Mà nếu biết trước và biết chắc, liệu có tránh được không, ngay cả xoay chuyển chúng được không? Ở chặng đường cuối một đời người, không ai còn nhiều thời gian phí uổng nữa nhưng có lẽ phí uổng là cách giải quyết dễ nhất khi không có nhiều chọn lựa.


Trên cõi trần gian nhiều phiền trược này, chỉ nghe con người phàn nàn đời không một ngày hạnh phúc nhưng không nghe ai thở than đã một thời hạnh phúc cho dù sau đó, như bầu trời mưa nắng bất thường, vạn vật đổi thay và hạnh phúc cũng sang trang…

Riêng ông, hoàn cảnh có khắc nghiệt hơn vì bà đang ở nhà dưỡng lão. Hằng ngày vào thăm bà, nhìn vào đôi mắt trống vắng, lạnh băng của bà, cầm hai bàn tay bà ấm thân nhiệt, không ấm một dấu hiệu cảm xúc, ông nghẹn ngào nói thầm: “Em ơi, em đã trả lại mọi buồn vui cho đời, không còn bận tâm chi nữa, có biết là anh rất khổ không?” Ông hỏi rồi ông tự nghiệm ra câu trả lời, không ai có thể giúp ông một câu trả lời nào khác.

Mỗi ngày qua, hết chiều đến đêm, hết những công việc phải chu toàn cho mình trong cuộc sống như một bổn phận không thể chối từ, ông ngồi trên ghế bành, mở ti vi cho có tiếng người, không xem, không nghe. Mở nhạc để âm thanh cho ông sự êm dịu trong căn nhà lạ dù ông đã ở đây gần ba năm. Nó không cho ông một hồi ức nào nên không có gì gắn bó.

Ông thèm một tách trà thơm, một ly cà phê nóng nhưng ông ngồi yên vị tại chỗ vì biết những thú vui nhỏ ấy sẽ làm ông mất ngủ. Con đường của người già là con đường trong những bức tranh hay tấm hình vẽ hoặc chụp viễn cảnh, hun hút, thu hẹp dần trong mắt nhìn.

Ông chợt mỉm cười nhớ lại câu nói bâng quơ của người bạn đồng cảnh, thốt lên trong một cuộc họp mặt anh em: “Mai mốt chắc là phải đặt mua robot của Nhật”. Câu nói nhỏ, tan vào đám đông huyên náo... Ông ngồi gần, nên lọt tai. Không biết có ai cũng lọt tai câu nói như ông nhưng cũng như ông, đã cất riêng cho mình như lời tự thú về một mơ ước không tiện bày tỏ?


Đôi mắt ông nhìn mông lung ra xung quanh, chạm vào cái kệ sách chỉ còn lại ít sách quý ông mang theo tới đây, ngậm ngùi hình dung ra đời mình như cuốn sách, nay cũng đang khép lại trên án thư. Các nhân vật có vai trò đã xuất hiện, đã làm xong nhiệm vụ, đã bước ra, chỉ còn ông ở trang cuối cùng chờ cơn gió nhân duyên thổi tắt ngọn nến từ bi trong thời kinh Bát Nhã ông tụng hằng đêm, đóng lại giùm ông cuốn sách sẽ được xếp lên kệ rồi bỏ quên như chưa từng hiện diện. 

 

Bùi Bích Hà

 

Phật dậy cái gì người khác cho mình được thì cũng lấy lại được, hay nói cho chính xác hơn thì vui buồn của mình mà phải chờ người khác đem tới thì mãi mãi mình chỉ là cái bóng, cái đuôi tàu của một ai đó thôi.

Nhưng có gì bảo đảm cái đầu tầu đó sẽ đưa mình tới nơi mình muốn đâu?? Chưa kể hễ nó hết xăng như bà cụ trong bài thì mình dẫu còn xăng cũng không chạy một mình được, bởi chỉ biết dựa hơi thôi là vậy! Tội nghiệp ông cụ quá!

Friday, June 5, 2026

Sáng Kiến Đỉnh Cao Thời XHCN Việt Nam - HD - Youtube LK

Nhận Định Của Một Người Việt Nam


Tôi nói luôn … tôi không phải kiểu người từ nhỏ tới lớn chỉ biết một đảng rồi nhắm mắt bênh bất chấp.

Tôi từng ủng hộ Đảng Dân Chủ. Thời Bill Clinton.

Rồi tới thời Obama.

Ngày đó, nhiều chính sách của họ vẫn còn đặt nước Mỹ, việc làm và tầng lớp lao động lên hàng đầu. Họ nói về biên giới, về an ninh quốc gia, về việc bảo vệ công nhân Mỹ, bảo vệ nền sản xuất Mỹ.

Điều thú vị là nếu ai chịu khó xem lại video phát biểu cũ của các lãnh đạo Dân Chủ nhiều năm trước sẽ thấy rất nhiều điều họ từng nói ngày xưa lại giống hệt những gì Đảng Cộng Hòa đang thực hiện hôm nay.

Nhưng sau khi Obama rời nhiệm kỳ và Trump bước vào Nhà Trắng thì mọi thứ bắt đầu thay đổi rất nhanh.

Tôi không biết chính xác điều gì đã xảy ra phía sau bộ máy quyền lực đó.

Nhưng Đảng Dân Chủ mà tôi từng biết không còn giống trước nữa.

Từ một đảng từng nói nhiều về người lao động Mỹ, về lòng yêu nước, về bảo vệ lợi ích quốc Gia … dần biến thành một bộ máy mà đôi lúc cảm giác như chỉ cần Trump làm điều gì đó thì dù tốt hay xấu cũng phải chống cho bằng được.

Chống tới mức nhiều lúc quên luôn điều gì có lợi cho nước Mỹ.

Điều làm tôi suy nghĩ nhiều nhất là: ngày nay có những người ghét Trump đến mức sẵn sàng vui khi nước Mỹ bị yếu đi … miễn phe mình thắng.

Mà một đất nước không thể mạnh nếu người dân chỉ lo hạ bệ nhau.

Tôi từng nghĩ đối thủ lớn nhất của Mỹ là Trung Quốc. Nhưng càng sống lâu ở đây tôi càng nhận ra: một quốc gia mạnh không sợ kẻ thù bên ngoài bằng sự chia rẽ và mục ruỗng từ bên trong.

Trung Quốc sẽ luôn đặt lợi ích Trung Quốc lên trước. Nga cũng vậy. Bất kỳ quốc gia nào cũng vậy.

Chỉ có người Mỹ mới quyết định được nước Mỹ mạnh hay yếu.

Tôi không nói Trump hoàn hảo. Không ai hoàn hảo cả.

Nhưng tôi tôn trọng một người dám đứng ra chịu đòn, dám bay khắp thế giới đại diện cho nước Mỹ ở tuổi gần 80, trong khi đáng lẽ ông đã có thể sống cuộc đời nghỉ dưỡng từ lâu rồi.

Có thể bạn không thích tính cách ông ấy. Không thích cách ông nói chuyện. Điều đó bình thường.

Nhưng nếu một người đang cố đưa công việc về cho dân Mỹ, giữ vị thế nước Mỹ mạnh hơn và khiến các nước khác phải tôn trọng nước Mỹ … thì ít nhất cũng nên nhìn vào kết quả trước khi chỉ biết ghét vì đảng phái.

Tôi từng là người ủng hộ Đảng Dân Chủ.

Và có lẽ chính vì vậy tôi mới thấy sự thay đổi hôm nay rõ hơn nhiều người khác.


Long Tran - Tôi nói luôn…tôi không phải kiểu người từ nhỏ tới lớn... | Facebook

Thanh Loan chuyển

Nỗi Lòng Vào Hạ - Nguyễn Duy Phước

Cỏ Non - Thủy Lâm Synh

 

Hình minh họa


Thủy Lâm Synh sinh quán tại Đức Hải, Quảng Ngãi, Việt Nam. Ông vượt biển tháng Giêng 1978, sau khi tạm trú tại Singapore 3 tháng, định cư tại Chicago, IL. Ông làm chuyên viên cho Eastman Kodak 20 năm. Năm 2000 sáng lập Bán Nguyệt San Chicago Việt Báo và điều hành đến 2015 thì sang lại và về nam Cali nghỉ hưu. Bài viết kỳ này là một câu chuyện ngắn dí dỏm về bề mặt bề trái trong đời sống của một người đàn ông Mỹ gốc Việt cưới vợ trẻ từ Việt Nam.

*** 

Gặp ông Thịnh ở phi trường O’hare hôm chủ nhật tuần trước. Ông mặc chiếc áo sơ mi trắng và thắt cà vạt màu rượu chát. Mái tóc ông Thịnh nâu đen, chải ngôi giữa và xịt dày keo, không chừng mới hớt, nhuộm sáng nay nên trông ông trẻ ra - ít nhất cũng hai tuần.


Dù không thân cho lắm, nhưng ông Thịnh làm nghề địa ốc, báo nào cũng thấy đăng quảng cáo hình của ông nên hầu như ông Thịnh được nhiều người biết đến. Có người gọi một cách giản dị là “Thịnh Địa Ốc” cho dễ phân biệt với một ông Thịnh khác đang làm ngành bán bảo hiểm ở đây. 

Tôi tiến lại chào: 

- Chà anh Thịnh đi đón ai mà chưng diện bảnh thế? 

Ông Thịnh chúm chím cười, đưa tay che một bên miệng nói nhỏ, dù chung quanh chẳng có ai. 

- Đón bà xã từ Việt Nam qua. 

Cử chỉ vui mừng pha chút hãnh diện ấy khiến tôi nghĩ lòng ông Thịnh đang tràn ngập hạnh phúc. Tôi nói: 

- Chúc mừng anh, nhưng sao mấy mươi năm, bây giờ chị mới chịu qua?

Ông Thịnh vẫn cài nụ cười mỉm trên môi, đưa hai ngón tay phải lên cổ sửa sửa chỗ gút thắt chiếc cà vạt, ông tiếp lời:

- Bà xã mới, bảo lãnh đã vài năm, bây giờ mới qua. Cô ấy còn trẻ lắm.

Tôi cười đưa đẩy:

- Ngon lành quá ta. Ừ! nhà sau thường là nhà lớn, vợ sau phải là vợ trẻ chứ.


Sau vài câu xã giao thời sự với ông Thịnh. Thảo, em gái tôi và chồng nó đẩy chiếc xe có chất vài va-li ngó dáo dác đi ra cổng. Trông thấy tôi, chúng nó vẫy tay. Thế là tôi bắt tay từ giã ông Thịnh đưa tụi nó về nhà. Trên đường về, tôi vui miệng nói với vợ chồng Thảo:

- Tao vừa gặp ông Thịnh địa ốc, đi đón vợ mới nên quần áo tươm tất ra phết. 

Thảo buột miệng hỏi chồng: 

- Chắc con nhỏ Việt Nam còn trẻ măng trang điểm như đào hát trên cùng chuyến bay, ngồi gần hàng ghế mình phải không anh?

- Anh đâu có biết, nhưng tối hôm qua khi ở phi trường Tân Sơn Nhất, lúc sắp vào cổng, anh thấy phía sau xa xa, con bé đó ôm chặt thằng kép trông có vẻ bịn rịn lắm. 

- Phải nó không? – Thảo hỏi.

- Không để ý gương mặt, nhưng chắc là nó, cái áo thun hồng bó sát lúc ngồi trên máy bay anh đoán là nó. 

Thảo chép miệng:

- Lại một con “trâu già ham gặm cỏ non.”

Câu chuyện  ông Thịnh đón vợ mới, cô gái trang điểm kỹ mặc áo thun hồng, có thể đã có chồng, hoặc người yêu tiễn chân lúc chia tay ở phi cảng tới đó chấm dứt. Chúng tôi nói lan man qua chuyện gia đình. 

Tôi hỏi Thảo: 

- Kỳ nầy về mầy có gặp bác Nguyện không, chắc bác già lắm chứ gì?

- Đâu có già lắm, hai bác dạo nầy thấy khỏe mạnh ra. Sáng sáng ông bà ra công viên tập Tài Chi, tối về chùa ngồi thiền, khóa tu Phật Thất nào mà ông bà không tham dự. Hai bác mới xây được căn nhà gạch gần chùa Hoằng Pháp, bác gái nói cũng năm sáu chục ngàn đô lận.

Nghe nói đến số tiền lớn, tôi há hốc hỏi Thảo:

- Ổng bả làm gì có nhiều tiền thế? 

Chồng Thảo xía vô: 

- Chắc bác làm cán bộ nhà nước chứ gì? 

Thảo “xì nẹt” chồng: 

- Anh nầy, cái tật đoán mò không chừa. Cán bộ gì? Bác Nguyện là giáo chức đã nghỉ hưu. Lương hưu không đủ nuôi bản thân của ông ấy. Nghe bác gái khoe chị Út Tâm có chồng nước ngoài, anh ấy giàu lắm. Chị Út Tâm cần bao nhiêu anh cũng gởi về, ngoài vấn đề gởi tiền về xây nhà cho hai bác, còn mua xe gắn máy để chỉ đi học Anh văn, mua computer để nối mạng liên lạc cho dễ... Bác gái nói bác có dành dụm chút đỉnh từ bao lâu nay, cộng với tiền chị Út Tâm mới xây được nhà. 

Nghe có vẻ thân thiện, chồng Thảo hỏi tôi: 

- Về làm rể dễ chừng mười bảy năm, thỉnh thoảng em nghe Thảo nhắc đến bác Nguyện, nhưng em chưa biết bác ấy bà con thế nào với nhà mình, anh hai? 

Tôi giải thích:

- Ông nội của bác Nguyện với ông nội cha mình là anh em. Đến thế hệ mình cũng ba đời rồi. Dượng mầy mới lấy Thảo, lại ở xa, ít gặp nhau và chưa có dịp về nhà từ đường ăn giỗ nên làm sao biết. Bác trai được lắm, con người sống có tình, có nghĩa. Chỉ có bác gái, bà đó có tiền là dễ thay đổi. Lúc xưa bà già lo cho tao và con Thảo vượt biên, thiếu bác gái một lạng vàng mà bả cứ sợ mất nên đòi ngày một, ngày hai. Bác trai nói: “thủng thẳng thím nó trả, thím lo cho cháu mình chớ lo cho ai. Cái miệng bà lép xép, làm cho gia tộc xào xáo. Thím không trả được, tui chịu cho bà, nhưng bà phải im cái mồm lại, nghe chưa?” Chừng đó bác gái mới chịu tạm ngưng đòi. 

Thảo rộng lượng chen vào: 

- Chắc lúc đó bác cũng túng, bây giờ khá rồi, “phú quí sinh lễ nghĩa”. Hôm em ghé thăm nhà bác, chị Út Tâm đi vắng, bác gái vồn vã lắm. Bác kể là chị Út Tâm sắp xuất ngoại, nhưng chị ấy căn dặn là tuyệt đối kín miệng, không được nói với bất cứ ai. 

Tôi xuề xòa: 

- Chắc lại Đài Loan, Hàn Quốc gì đây. Hình thức đi lao động chứ gì.


Chuyện bác Nguyện trai tình nghĩa, bác gái khó chịu, chị Út Tâm sắp xuất ngoại, tới đây chấm dứt. Tôi phụ thằng em rể xách cái vali nặng trĩu vào nhà:

- Bay mua gì mà va-li cái nào cũng nặng như đá thế nầy?

Thảo chép miệng: 

- Cái nào cũng mắm tôm, mắm ruốc, mắm sặt...bà già mua cả mớ, may mà nó không vỡ, nếu không thúi cả quần áo cho mà coi. 


Bẵng đi cả nửa năm. Một sáng Chủ Nhật trời lạnh như cắt. Tuyết đã ngừng rơi. Vợ chồng Thảo chuẩn bị đi chùa có lễ Vía A Di Đà thì nhận được điện thoại. Đầu dây bên kia, chị Út Tâm sụt sùi:

- Thảo ơi, em đang ở tiểu bang nào vậy?

- Tụi em ở Illnois, mà chị đang ở Việt Nam hay ở đâu mà nghe rõ dữ?

Giọng chị Út Tâm reo lên:

- Chị cũng ở Illinois, nghe các em ở cùng chỗ chị mừng quá. 

- Sao chị biết số điện thoại tụi em?

- Tìm khắp nơi đó chớ. 

- Chị qua Mỹ hồi nào? 

- Sáu tháng nay rồi.

- Ủa! Sao lúc tụi em về, cũng khoảng sáu tháng rồi, có nghe nói gì đâu!

- Ừ lúc đó giấy tờ lo xong, nhưng phỏng vấn đến mấy lần bị bác, nên hết hứng thú. 

- Chồng chị là ai, tụi em biết không?

- Có lẽ không cần biết. 

- Tại sao vậy? 

Giọng chị Út Tâm nhỏ lại như nói thầm: 

- Đợi xong thẻ thường trú, chị dzọt.

Thảo cũng hạ giọng:

- Tại sao chị có ý định đó? 

- Chồng gì mà già hơn chị gần bốn chục tuổi.

- Bác gái nói ảnh tuổi Sửu 49, còn chị đã 25, hơn có hai giáp chứ mấy. 

- Không dám đâu! Ông tuổi Kỷ Sửu 61 rồi đó em ơi. Nghe nói tuổi Sửu, bà già tưởng 49, ông già lại tưởng có 37 thôi. 

Thảo vui miệng:

- Thì chỉ có 3 con giáp chớ mấy!

- Thôi mầy ơi, cũng vừa thôi, già quá như cha con, mắc cỡ chết. 

Thảo níu kéo: 

- Nhưng khi anh ấy qua đời, chị lại được hưởng một tài sản kết xù. 

- Kết xù con khỉ! Ổng làm ngành địa ốc, bây giờ thị trường tuột như xe không phanh. Bao nhiêu của cải đầu tư vào nhà cửa, nay nhà băng lấy sạch sành sanh. Vợ chồng đang ờ nhà thuê đây.

- Chồng chị không tìm việc làm khác à? 

- Ảnh đi cắt cỏ, nhưng mùa đông thì cỏ đâu mà cắt.

Thảo buột miệng: 

- Nghề nào cũng nghề, lương thiện là được rồi. 

- Em nói vậy chớ bên nhà ai cũng đồn là chị lấy chồng giàu có, bây giờ qua đây mới vỡ lẽ.

- Thì gặp hồi kinh tế khủng hoảng chớ ai muốn thế. Bây giờ chị tính sao? 

- Chị cũng chưa biết! Có lẽ đi học làm móng tay... 

- Ừ vậy cũng được, phụ chồng một tay.

Thảo nói trong hối hả: 

- Bây giờ tụi em đi chùa, chị cho biết số điện thoại, xong lễ về em gọi chị. À mà chồng chị tên gì? 

- Anh ấy tên Thịnh, ở đây người ta gọi anh ta là “Thịnh Địa Ốc”!

 

Thủy Lâm Synh

Thursday, June 4, 2026

Lòng Tốt Không Cần Đánh Giá


Giám Đốc Walter đã chọn rất nhiều sinh viên từ các trường nghệ thuật để tham gia thử vai diễn, nhưng ông vẫn chưa tìm được người ông hài lòng.

Một ngày nọ, vì mục đích này, Walter đã đi đến ngoại ô phía tây của thành phố, ở đây ông bắt gặp một cậu bé đánh giày trong hàng chục người ở quảng trường nhà ga. Cậu bé hỏi: “Thưa ông, ông có cần đánh giày không?”

Walter nhìn xuống đôi giày ông vừa đánh bóng và lắc đầu từ chối. Ngay khi Walter quay đi, ông đột nhiên thấy cậu bé đuổi theo với khuôn mặt đỏ bừng, và ánh sáng hy vọng hiện lên trong mắt cậu bé: “Thưa ông, cháu đã không ăn gì cả ngày nay. Ông có thể cho cháu mượn tiền được không? Cháu sẽ cố gắng hết sức để đánh giày vào ngày mai và hứa sẽ trả lại tiền cho ông vào một tuần sau nữa!”

Walter nhìn cậu bé rách rưới và co rúm trước mặt, ông cảm thấy vô cùng đáng thương, ông lấy ra một vài đồng xu để vào tay cậu bé. Cậu bé nói cảm ơn ông rồi bước đi một cách nhanh chóng.

Walter lắc đầu, bởi trên đường phố những kẻ nói dối như vậy vô cùng phổ biến. Nửa tháng sau, Walter đã quên mọi thứ về việc cho vay tiền với cậu bé. Thật bất ngờ khi ông đi qua ga xe lửa phía tây ngoại ô thành phố một lần nữa, ông nhìn thấy dáng người gầy gò quen thuộc, cậu bé vẫy tay với ông và nói: “Thưa ông, xin vui lòng đợi ạ”

Cậu bé mướt mải mồ hôi, móc từ trong túi ra vài đồng xu và trao trả lại cho ông. Walter nhận ra rằng đây là cậu bé đánh giày đã mượn ông tiền lần trước.

Cậu bé thở hổn hển nói: “Thưa ông, cháu đã chờ đợi ông từ lâu và cuối cùng cháu có thể trả lại tiền cho ông rồi”. Walter nhìn những đồng xu dính mồ hôi ướt đẫm trên tay cậu bé, trái tim ông bỗng nhói lên.

Walter nhìn cậu bé trước mặt một lần nữa và đột nhiên ông thấy rằng cậu bé này phù hợp với nhân vật chính trong phim của ông. Walter nhét một vài đồng xu vào túi của cậu bé: “Tôi cho cháu như một món quà nhỏ chân thành, không cần phải trả lại tôi.”

Walter mỉm cười bí ẩn và nói: “Ngày mai cháu đến văn phòng đạo diễn của công ty phim ở trung tâm thành phố, tôi sẽ cho cháu một bất ngờ lớn.”

Sáng sớm hôm sau, người gác cửa nói với Walter rằng bên ngoài có một nhóm lớn trẻ em. Khi ông ra ngoài ông vô cùng ngạc nhiên, ông thấy cậu bé chạy lên đầy phấn khích và nói một cách ngây thơ, “Thưa ông, những đứa trẻ này giống như cháu không có cha mẹ, và họ cũng rất mong muốn có những điều ngạc nhiên!” Walter thực sự không ngờ tới một đứa trẻ nghèo và lang thang sẽ có một trái tim nhân hậu như vậy!

Qua nhiều lần quan sát và sàng lọc, Walter nhận thấy rằng trong số những đứa trẻ này, thực sự có một vài đứa thông minh hơn cậu bé, và phù hợp hơn với vai nhân vật chính trong kịch bản, nhưng cuối cùng ông vẫn chọn cậu bé và ký hợp đồng với cậu bé. Chỉ có một vài từ được viết trong cột lý do tuyển cậu bé: Sự tử tế không cần phải được đánh giá!

Bởi vì ông cảm thấy rằng cậu bé thật tốt bụng, khi cậu bé phải đối mặt với cuộc sống khó khăn, cậu bé vẫn vui vẻ chia sẻ hy vọng của mình với người khác, đây thực sự là tấm lòng nhân hậu, thuần khiết và vô tư.

Cậu bé được gọi là Vennischi de Oliveira. Dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Walter, Vennischi đã đóng thành công nhân vật chính của cậu bé trong vở kịch, và hãng phim của Walter đã giành được nhiều giải thưởng lớn bao gồm: Giải thưởng Gấu vàng của Liên hoan phim quốc tế Berlin.


Vài năm sau, Vinnischi cậu bé năm xưa, người đã trở thành chủ tịch của một công ty văn hóa điện ảnh và truyền hình, đã viết một cuốn tự truyện “Sự nghiệp diễn xuất của tôi.” Trên trang tiêu đề của cuốn sách là dòng chữ ký của Walter: Sự tử tế không cần phải được đánh giá.

Sau đây là đánh giá của ông về Vinnischi: “Đó là tấm lòng nhân hậu, anh ấy sẵn sàng trao cơ hội của mình cho những đứa trẻ khác, những cơ hội khiến người được nhận không bao giờ quên anh ấy.”

Thành công của một người không nhất thiết phải có năng khiếu hay hiểu biết nhiều, mà bởi anh ta có đủ thiện lương, tấm lòng nhân hậu và sự cố gắng.


Nguồn FB

Một Dân Tộc Có Quá Khứ Sai Lầm Mà Vẫn Cứ Mãi Ngu - Nguyễn Doãn Đôn


BỞI SỰ BẢO THỦ, HÈN ĐỚN; TỰ HÀO VỚI CHIẾN THẮNG SAI TRÁI CỦA MÌNH ĐỂ ĂN MÀY DĨ VÃNG

Nếu tôi không phải là Nguyễn Doãn Đôn thì "thằng ba sọc" nào treo ảnh này lên Facebook như thế này là tôi ghét cay, ghét đắng và chửi cho "lên bờ xuống ruộng", mới chịu thôi!

Nhưng trái lại tôi khen thằng cha này đã có công chụp và đưa tấm hình này lên phơi bày cho Cộng đồng mạng cùng xem. Vì nó lột tả đúng bản chất tối tăm, lạc hậu, quê mùa của cánh lính Bắc chúng tôi ngày xưa (trong đó có tôi)!

Vâng, xin thưa, tôi quê ở Thái Bình-Đặc dân Bắc Kỳ và là một thằng đảng viên CS chính hiệu! Xin thưa, ngày đó phấn đấu vào cái đảng khốn nạn này là cực khó, không đơn giản như bây giờ; có khi thử thách phải đổi cả mạng sống mới có được! Cò không thì 3 năm là Chiến sỹ thi đua chúng nó mới cho vào mon men cái gọi là "cảm tình đảng"...

Mặc dù tôi học giỏi nhưng tốt nghiệp Phổ thông xong, tôi không được vào Đại học (sau này oánh nhau xong tôi phải đi đường vòng chày vảy mới vào ĐH được) Ngày đó tuổi trẻ chúng tôi đều phải lên đường vào Nam xâm lược. Sư đoàn 320 B của chúng tôi có tham gia trận cuối cùng mà Việt cộng gọi là Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Chiến dịch kết thúc bọn chúng tôi sống sót được vào Thành phố Sài Gòn tráng lệ và ngắm nhìn những Thiếu nữ miền Nam óng ả mượt mà; thắt đáy lưng ong với những tà áo trắng tinh khôi tung bay , giọng nói ngọt ngào, êm ả, nhẹ nhàng, ôi sao mà tuyệt vời đến thế. Ngoài Bắc tôi chưa bao giờ được nghe những giọng nói trìu mến, thân thương và đáng yêu của giới kia đến thế.

Cánh quân của chúng tôi tấn công từ Tây Nguyên xuống Gia Định. Mũi miệng còn đầy bụi màu đất đỏ, như lũ khỉ trong rừng được đặt chân lên đất của con người trong Thành phố vậy. Chúng tôi ngỡ ngàng cả ra. Ngây ngô như bò đội nón. Bỗng nhiên được đứng giữaThiên đường...

Sau này năm 1977 tôi sang Đông Đức du học, tôi thấy trong Siêu thị có bày bán gà làm lông sạch bọc trong túi bóng, tôi mới ngớ người ra là miền Nam ngày trước họ cũng đã từng có hàng đông lạnh làm sẵn như thế này rồi.


Bây giờ ngồi nghĩ lại, tự hỏi sao ngày đó mình chai mặt đến thế, không biết xấu hổ là gì.

Phải chăng kiến thức về Văn chương tôi được học trong thơ Tố Hữu ngày đó đã làm cho tôi ngu suy đần độn, để tin vào sự tuyên truyền ma mị của CS:

"Cảm ơn Đảng đã cho ta dòng sữa

Bống ngàn năm chan chứa ân tình"

Lẽ ra phải viết thế này mới đúng:

Cảm ơn đảng đã cho ta chai mặt

Thành lũ khỉ rừng đi tiêu diệt văn minh ...


Ảnh: Chôm trên mạng

Nguyễn Doãn Đôn

Từng là Đảng viên, Cựu chiến binh Sư 320 B Quân đoàn I

Miếng Thịt Mỡ - Phạm Thành Châu


Bà Tư không rõ mấy giờ rồi, nhưng ngoài đường đã vắng tiếng xe cộ, tiếng người nói. Bà nhắm mắt cố dỗ giấc ngủ nhưng bao nhiêu ý nghĩ cứ lẩn quẩn trong đầu. Lúc nãy, khi phụ với Lan, con dâu bà, sửa soạn các thức thăm nuôi, bà không thấy chiếc nhẫn cưới trên ngón tay của nó nữa. Tại sao con dâu bà lại cất chiếc nhẫn đi ? Nếu nó phải lòng thằng con trai nào, nó có thể giấu chiếc nhẫn để không ai biết là nó là gái có chồng, nhưng về nhà ắt phải nhớ mà đeo vào. Đằng nầy nó vẫn giữ ngón tay trống trơn ! Có phải nó muốn công khai tuyên bố sẽ đi lấy chồng khác ? Điều bà lo sợ đã xảy ra ? Bà hiểu và rất thông cảm con dâu. Năm năm rồi, thằng con trai bà đang ở trong trại cải tạo, không biết ngày nào được thả ra. Bà đã thấy cảnh người hàng xóm đi thăm nuôi con về, khóc từ ngoài đường vào nhà. Đem đồ tiếp tế, thăm nuôi lên trại cải tạo chờ từ sáng đến chiều tối, cán bộ trại ra bảo một cách thản nhiên "Con bà bị bịnh chết rồi, về đi, hôm nào chính quyền địa phương sẽ có giấy báo sau". Cảnh đó cứ ám ảnh bà mãi. Mỗi lần con dâu đi thăm nuôi về, bà cứ thấp thỏm, sợ nó vừa đi vừa khóc như người hàng xóm thì không biết bà đau khổ đến chừng nào.


Con trai bà là Sĩ quan Quân đội Cộng Hòa, bà nói lắm nó mới chịu làm đám cưới với một cô bạn học trước đây. Cưới xong, qua mấy ngày phép, nó lại ra Đơn vị, hành quân liên miên. Họa hoằn lắm mới về thăm nhà. Khi thấy con dâu mang cái bụng lúp lúp, bà chưa kịp mừng thì Miền Nam rơi vào tay cộng sản, con trai bà đi tù. Chồng bà, trước bảy lăm (1975) là thầy giáo về hưu, khi cộng sản vào thì tiền hưu trí không còn nữa. Sau đó chồng bà bịnh, không tiền thuốc men, đành chịu chết. Con dâu bà làm thư ký hãng buôn. Hãng bị tịch thu, chủ bị đưa lên kinh tế mới với hai bàn tay trắng, thế là cô thất nghiệp. Mấy tháng sau, thằng cháu nội chào đời. Niềm vui có được thằng cháu kháu khỉnh không lấp được nỗi buồn chồng chết, con ở tù, nhà không còn một xu. Tất cả bất trắc đổ ụp xuống gia đình bà cùng một lúc, khiến bà điếng người, trí óc đặc cứng lại, không biết xoay xở ra sao. Thế rồi, cũng giống như bao người Miền Nam khác, bà và con dâu phải tìm mọi cách để có miếng ăn. Bà sắm một cái rổ lớn đựng linh tinh bánh, kẹo, khoai, chuối...dẫn thằng cháu nội mới chập chững, ra ngồi trước cổng trường tiểu học trên đường Chi Lăng, Gia Định bán cho học trò. Lời lãi chẳng bao nhiêu, hôm nào ế hàng thì đem khoai, chuối về ăn trừ bữa. Con dâu bà, thấy thiên hạ buôn bán chợ trời, bèn đem áo quần cũ của mình ra chợ Bà Chiểu ngồi ở vệ đường. Ít lâu sau thành người mua bán đồ cũ. Bất cứ đồ gia dụng gì người ta đem bán, cô đều mua rồi bán lại.

Mấy năm nay, trong những dịp thăm nuôi, thỉnh thoảng bà được con dâu đưa hai bà cháu cùng lên thăm người ở tù. Thấy con trai gầy ốm quá, sợ nó chết nên bà cứ nắm lấy tay thằng con, tưởng như lần cuối gặp mặt. Bà biết con dâu cho bà cùng đi là một hy sinh rất lớn. Tiền xe cộ, ăn uống dọc đường khiến cho số vốn teo lại và gánh nặng gia đình càng nặng thêm. Bên sui gia cũng không hơn gì, có mấy người đàn ông đều đi tù cả nên chẳng ai giúp nhau được. Dù sao bà cũng cám ơn sui gia đã cho bà một cô dâu rất hiếu thảo, thương mẹ chồng, thương chồng, thương con. Có những bữa ăn, con dâu chỉ ăn qua loa, nhường phần cho bà, cho cháu bà. Nó bảo đã ăn ngoài chợ no rồi, nhưng bà biết rõ tính tằn tiện của con dâu, nó chẳng bao giờ ăn quà rong. Có lần bà bắt gặp, khi rửa chén, nó lén vét những hạt cơm còn sót trong nồi cho vào miệng. Bà quay đi, làm như không thấy nhưng nước mắt bà ứa ra.

Đêm nào bà cũng lầm thầm cầu Trời khấn Phật, kêu réo vong linh chồng bà phò hộ cho con trai bà không chết trong tù, được thả về với gia đình. Dù sao trong nhà có đàn ông cũng là rường cột, đỡ đần biết bao khó khăn. Lúc đó con dâu bà không còn vừa vất vả vừa nhớ chồng đến héo hon. Và bà cũng biết, dù có thương nhớ chồng đến bao nhiêu thì với thời gian cũng phai nhạt dần trong khi cuộc sống ngày càng khó khăn. Nó không thể đi mãi trên con đường gian khổ hầu như vô tận đó được. Thế nên nó có bỏ đi cũng là chuyện thường tình. Điều lo lắng cho bà là không hiểu, khi đi lấy chồng khác, nó có dẫn theo thằng cháu nội của bà không ? Rủi thằng con bà chết trong tù thì coi như chẳng còn ai hương khói, cúng kiến ông bà, cha mẹ. Mồ mả sẽ bị bỏ phế, vong linh tổ tiên, cả vợ chồng bà nữa sẽ thành những hồn ma đói khát, vất vưởng, không nơi nương tựa.

Bà Tư thở dài, nhìn lên mái nhà tôn, bà không biết, khi con dâu bỏ đi, bà bán nhà nầy được bao nhiêu tiền, thăm nuôi thằng con được bao nhiêu lần ? Không biết sức bà còn đi nổi không ? Đường đi thăm nuôi, phải đi bộ nửa ngày trong rừng mới đến trại tù.

Nhưng bán nhà rồi sẽ ở đâu ? Hay là bán rẻ, chỉ xin để chiếc giường nhỏ ở chái nhà cho hai bà cháu ? Bà Tư nhắm mắt, ước ao đây là cơn ác mộng để rồi bà sẽ tỉnh lại, sẽ sống lại những ngày tháng hạnh phúc bên chồng, bên con, nhưng phần khác bà biết chắc là cơn ác mộng sẽ còn bi đát hơn nữa.

Bà lắng nghe những tiếng động dưới bếp. Con dâu bà đang nấu nướng, chuẩn bị vật thực, sáng mai đi thăm nuôi chồng. Lúc nãy, bà phụ nó xắt thịt, xắt sả, lặt rau...Nó bảo bà lên nghỉ ngơi. Thấy vẻ mặt buồn buồn, nhất là thấy ngón tay đeo nhẫn trống trơn, bà bỏ đi nằm. Bà không đủ can đảm chờ nghe nó bảo rằng sẽ đi lấy chồng khác.

Bỗng nhiên bà thấy con dâu trở thành đối thủ của bà. Bà phải làm cách nào để giữ đứa cháu nội ? Bà khóc lóc, năn nỉ ? Hay bà làm bộ dữ dằn cho nó sợ ? Điều chắc chắn là bà không thể chửi mắng nó được. Bà thương nó như con ruột. Giá như nó là con ruột, bà có khuyên nó ráng chịu đựng chờ chồng hay là để nó tự quyết định lấy ? Chiều nay, thấy con dâu không xách bọc áo quần cũ về như mọi khi, bà đoán nó đã bán đổ, bán tháo tất cả để sáng mai đi thăm chồng lần cuối rồi nó đi thẳng với thằng chồng mới. Bỗng nhiên bà sợ đến nghẹt thở khi nghĩ đến cảnh con dâu bà tuyên bố với chồng nó là lần cuối thăm nuôi, nó sẽ đi lấy chồng khác. Rồi con bà sẽ phản ứng ra sao ? Trong tù ăn uống thiếu thốn, lao động khổ sai mà tinh thần suy sụp thì cái chết sẽ đến chắc chắn. Bà thở dài, tự biết mình hoàn toàn bất lực, đành buông tay chờ tai họa ập đến.

Mùi xào nấu thơm phức khiến bà nghĩ đến kỳ thăm nuôi kế tiếp bà phải tự lo lấy. Bà phải nấu nướng những gì, mua sắm món gì để đem lên cho con trên trại cải tạo ? Suy nghĩ miên man, bà thiếp dần. Trong giấc ngủ, bà mơ thấy chỉ có mình bà xách giỏ thăm nuôi nặng trịch, lếch thếch lội bộ, qua đèo, vượt suối...rồi bà lại thấy cán bộ trại ra bảo con bà chết rồi, thế là bà lại lếch thếch quay về vừa đi vừa khóc...


Sau khi cơm chín, cô Lan xới ra một cái thau nhỏ cho mau nguội, để sau đó, cô sẽ gói chặt bằng lá chuối thành cơm vắt. Cô cũng gói một gói nhỏ để ăn dọc đường. Cô đổ những miếng thịt ba chỉ mà mẹ chồng cô vừa xắt lúc nãy vào chảo. Cô đảo cho mỡ tan ra. Tiếng mỡ nổ lách tách nho nhỏ. Cô xếp những gói đậu, đường, gạo...những lon, lọ vào hai giỏ cói lớn. Cô cũng không quên bỏ vào giỏ một gói kẹo nhỏ, những viên kẹo xanh trong giấy kiếng để nhắc chồng nhớ những kỷ niệm đẹp khi còn đi học. Ngày đó cả hai cùng học chung một lớp, trường Lê Văn Duyệt, cô thường chờ giờ ra chơi, lén để những viên kẹo xanh, chua chua vào hộc bàn cho người yêu. Cô cũng không quên nhét vào xách tay của mình tấm khăn trải bàn bằng vải ny lông để đi dọc đường sẽ dùng che mưa nếu trời mưa, hoặc trễ chuyến xe, sẽ thành tấm đắp khi cùng với những người thăm nuôi khác ngủ bờ, ngủ bụi... Cô đảo tiếp chảo thịt mỡ cho chín hẳn mới đổ sả bằm, đường, ớt bột và hai gói mắm ruốc vào. Cô chợt thấy một miếng mỡ lớn, cỡ ngón tay cái lẫn vào đấy, có lẽ mẹ chồng cô quên cắt nhỏ miếng mỡ nầy. Cô tưởng tượng khi chồng cô bắt gặp miếng mỡ lớn nầy sẽ ngạc nhiên lắm. Miếng mỡ ướp mắm ruốc, vừa thơm vừa cay cay, chồng cô cắn ngập vào đấy cho mỡ tươm ra trên lưỡi. Cô Lan mỉm cười, nước miếng cô ứa ra vì thèm. Cô mút đầu đũa, chép miệng "Mắm ruốc ngon thật !" Cô nuốt ực nước miếng. Lòng cô vui vì nghĩ đến chồng, khi ăn món ruốc sả nầy sẽ thấy ngon và sẽ nhớ đến cô, thương yêu cô nhiều hơn.


Khi thấy ruốc hơi quánh lại, cô trút chảo ruốc vào một thau nhỏ, chờ cho nguội mới bỏ vào bao ni lông, nhét vào lon Guigoz ( Một loại lon nhôm, cỡ một lít, đựng sữa bột, hiệu Guigoz, khi dùng hết sữa, lon được giữ lại đựng nước, thức ăn rất tiện lợi. Tù cải tạo thường dùng loại lon nầy). Miếng mỡ lớn lại xuất hiện, lăn vào góc thau. Cô gắp bỏ lại vào chảo cùng với ít mắm ruốc và bắc chảo lên bếp. Cô định dùng miếng mỡ rán thêm chút nước mỡ. Cô múc mấy vá cơm bỏ vào chảo và đảo lên. Những hạt cơm trắng dính mắm thành màu nâu. Cô thêm chút nước mắm, đập vài tép tỏi, bỏ vào. Một lát, cô nhắc xuống chia đều chỗ cơm chiên vào hai chén nhỏ. Sáng mai hai bà cháu sẽ có món điểm tâm đặc biệt. Phần cô là những hạt cơm còn sót lại trong chảo, ước chừng vài muỗng. Miếng thịt mỡ nằm lẫn vào cơm chiên nhưng cô nhận ra ngay, cô gắp bỏ vào lon Guigoz đựng mắm ruốc của chồng, nhưng không hiểu sao, cô gắp bỏ vào chén cơm cho con. Sáng mai cô dậy sớm đi thăm nuôi, thằng bé thức giấc không thấy mẹ sẽ khóc, bà nội nó sẽ cho nó ăn cơm chiên với miếng mỡ nầy, nó mừng lắm, sẽ hết khóc. Từ ngày cha nó đi tù, nó chưa hề được ăn miếng ngon nào, chỉ những dịp thăm nuôi, cô mới dành lại cho con chút thức ăn. Cô để miếng mỡ trên chén cơm, bà nội nó sẽ hiểu là phần của cháu bà. Thằng bé thiếu dinh dưỡng, lớn không nổi. Mỗi khi thấy con cán bộ, cùng tuổi đó, hai má phinh phính, chân tay mũm mĩm, cô nghĩ đến con mình mà đau lòng. Miếng ăn hàng ngày không đủ, lấy đâu mà bổ dưỡng. Cô không hiểu chút mỡ nầy có chất bổ gì, nhưng có còn hơn không.


Cô nhớ lại lúc mang bầu thằng bé, mẹ chồng cô mừng lắm, cứ ép ăn món nầy, món nọ. Bà còn bổ thuốc Bắc về, lụm cụm sắc lên, dỗ dành cô như với người bịnh. Vì thương bà, cô nhắm mắt uống bừa thứ nước vừa thơm vừa đắng vừa khó nuốt. Cô biết, sự săn sóc đó là vì cháu nội nhưng cũng có thương cô. Lúc nào bà cũng dịu dàng với cô. Cô thương mẹ chồng như mẹ ruột. Hai người đàn bà, trong cảnh túng quẫn, càng phải nương nhau mà sống. Cả hai đều cùng yêu thương một người trong tù, không biết sống chết lúc nào. 

Sau bảy lăm (1975), cha chồng chết, chồng đi tù, mẹ chồng cô trở nên ít nói. Càng ngày bà càng gầy yếu, lưng còng xuống. Bà chóng già vì buồn phiền và thiếu ăn. Cũng may bà chưa ngã bịnh. Cô bỗng lo lắng, rủi mẹ chồng cô bịnh hoạn thì tiền đâu lo thuốc men, chạy chữa ? Chẳng may có mệnh hệ nào thì sao ? Ý nghĩ đó khiến cô vừa sợ vừa tội nghiệp cho bà. Thế nên cô bèn gắp miếng mỡ từ chén thằng con bỏ qua chén cơm mẹ chồng. Cô mỉm cười nghĩ ra một ý hay là cô vùi miếng mỡ trong cơm, mẹ chồng cô sẽ không thấy. Cô xúc cơm còn lại trong chảo cho vào chén thằng con, như thế, sáng mai bà thấy chén nào nhiều cơm sẽ lấy ra cho thằng bé ăn. Bà sẽ ăn sau, sẽ gặp miếng mỡ. Cô vét mấy hạt cơm còn lại trong chảo cho vào miệng. Cơm chiên mắm ruốc ngon thật ! Chỉ được hơn muỗng cơm, cô nhai thật chậm để thưởng thức được lâu món ăn đặc biệt nầy. Xong, cô uống nước, thấy lửng dạ, cô súc miệng, rửa tay, chuẩn bị đi ngủ, sáng mai còn phải dậy sớm. Khi lau tay, cô cảm thấy bàn tay mình có gì bất thường mới nhớ ra chiếc nhẫn cưới không có trên ngón tay ! Cô đứng lặng người. Cô buồn quá, nước mắt ứa ra. Vật kỷ niệm của vợ chồng cô không còn nữa ! 

Trưa nay, lúc ngồi bán áo quần cũ trên lề đường, bên hông chợ Bà Chiểu, phía Lăng Ông, cô ngồi nghĩ đến ngày mai đi thăm nuôi chồng, sẽ gặp chồng, nhìn chồng cho đỡ nhớ. Bán xong mớ hàng nầy cô sẽ mua những gì để tiếp tế cho chồng ? Cô sẽ gửi một gói kẹo để nhắc chồng nhớ lại những ngày còn đi học, yêu nhau, đẹp đẽ, hạnh phúc. Đang mơ mộng, cô bỗng nghe lao xao và tiếng kêu " Công an !". Mọi người ôm hàng hóa tuôn chạy, cô cũng vội túm bốn góc của tấm ny lông lót trưng bày quần áo cũ của mình, định chạy vào cổng bên hông của Lăng Ông, nhưng không kịp, khắp nơi đã đầy công an với dân phòng. Thế là họ giật lấy những hàng hóa, thịt thà, rau cỏ, gà vịt... của những người buôn bán lề đường, vất tất cả vào xe, chở đi. Vì quá bất ngờ, những nạn nhân chỉ biết đứng ngớ ra, thất thần. Quãng đường nầy cấm tụ tập buôn bán. Mỗi khi có lễ lớn như Quốc Khánh, ngày thành lập đảng, sinh nhật bác Hồ... là công an với dân phòng đi dọn dẹp lòng lề đường " Cho đường phố được mỹ quan". Thường thì nghe báo động một số nhanh chân thoát được. Không ngờ hôm nay công an lại mặc thường phục, họ chia nhau mỗi công an đứng gần một người ngồi bán, thế nên khi xe công an sắc phục xuất hiện người bán vừa đứng lên là hàng hóa đã bị công an thường phục đứng bên cạnh giữ chặt, không chạy được, đành bị tịch thu. Muốn nhận lại hàng phải lên phường công an nộp phạt. Tiền phạt rất nặng. Công an rất khôn, ngày thường họ không đuổi, vì đuổi, chẳng ai đến đó buôn bán thì ngày lễ lấy đâu ra tiền phạt. Cô Lan không muốn đi chuộc những áo quần cũ đó. Cô là vợ Sỹ quan " ngụy " nên thường bị chửi mắng và phạt rất nặng, phần khác cô là gái một con trông mòn con mắt nên đôi khi họ rất tử tế cho lại hàng, không phải nộp phạt nhưng đề nghị phải đi ăn tối hay đi coi hát với một người nào đó trong bọn họ. Bị mắng chửi, bị phạt nặng cô nhẫn nhục chịu đựng, nhưng khi thấy họ tử tế, vui vẻ cho lại hàng là cô yên lặng bỏ hàng ra về. Cô thấy họ như những con rắn độc nhưng miệng lưỡi lúc nào cũng nhân nghĩa. Như trường hợp của cô. Mất vốn hoài. Họ tịch thu hàng, lấy tiền của cô mà vẫn cứ hăm dọa là sẽ đưa cô vào trại cải tạo để thành công dân tốt xã hội chủ nghĩa. Mà cô có làm gì phạm pháp đâu ?


Sáng nay cô đã dốc hết vốn liếng ra mua được một số áo quần còn tốt của một người túng tiền, đến trưa cô bị tịch thu tất cả. Thế nên cô đành bán chiếc nhẫn cưới để mua thực phẩm thăm nuôi chồng. Tính cô không biết nói dối, cô suy nghĩ mãi không biết giải thích cách nào để chồng không nghi ngờ lòng chung thủy của cô, mà nói thật thì chồng sẽ lo lắng cho gia đình. Cô cũng không thấy trong nhà còn gì có thể đem bán làm vốn để sinh sống. Trong những ngày sắp tới đây, chắc gì trong nhà còn gạo để ăn nói gì đến thăm nuôi. Có thể cô không thăm nuôi chồng nữa. Nghĩ thế cô càng sợ hãi, chồng cô đã gầy rạc, hai má tóp lại, hốc mắt sâu xuống, hai bàn tay trơ xương, nếu không có thăm nuôi chắc gì sống nổi ! Nghĩ đến đấy cô vội lấy đôi đũa moi miếng mỡ trong chén cơm của mẹ chồng bỏ vào lon ruốc sả của chồng. Cô thì thầm như nói với chồng " Thêm chút mỡ nầy cũng đỡ, anh cố gắng chịu đựng, em sẽ tìm mọi cách lên thăm anh, nhưng chỉ thăm thôi chứ em không còn tiền để mua thực phẩm nuôi anh ". Cô như an ủi chồng " Em sẽ đem con lên cho anh thăm ". Rồi cô thấy háo hức, vui mừng khi nghĩ đến giây phút gặp mặt chồng. Cô nhớ lại những lời chồng dặn " Em đừng đem quà cáp cho tốn tiền. Anh chỉ cần được gặp em, gặp con là anh đủ tinh thần chịu đựng rồi. Nhất là khi thấy con chóng lớn là anh vui". Cô biết chồng cô cố giấu nỗi buồn khi thấy con xanh xao, ốm yếu... Vậy là cô lại gắp miếng thịt mỡ trong lon ra, bỏ vào chén của con. Con khỏe mạnh, chồng cô sẽ vui, sẽ cố gắng chịu đựng gian khổ.

Miếng thịt mỡ chỉ bằng ngón tay cái, như một sinh vật, cứ nhảy từ lon ra chén rồi từ chén nhảy vô lon.

Cô buông đũa, chạy vào giường, ôm lấy con, và cô khóc nức nở. Giòng nước mắt yêu thương chồng con, lo lắng không biết bao giờ chồng về hay sẽ chết trong tù ?! Cô cũng khóc vì buồn cho hoàn cảnh mình, chân yếu tay mềm, không đủ sức nuôi mẹ chồng, nuôi chồng, nuôi con...

Bà Tư vẫn còn thao thức. Tuy nhắm mắt nhưng nghe những tiếng động, bà biết con dâu đang làm gì. Tiếng soong, chảo là cô đang nấu nướng, tiếng lon Guigoz va chạm nhau là cô đang sắp xếp đồ thăm nuôi vào giỏ xách. Đến khi nghe tiếng cô khóc thì bà mừng vì yên trí rằng con dâu bà, có thể ngày mai, sau khi thăm nuôi, nó đi luôn theo chồng mới nhưng sẽ không dẫn con theo. Vì không dẫn con đi nên nó mới khóc lóc, lưu luyến với con như thế. Bà ngồi dậy, đi xuống bếp vừa nói.
- Con ngủ đi, lấy sức mai đi sớm, để mẹ dọn dẹp.
- Cám ơn mẹ. Sáng mai con cho cháu cùng đi thăm ba nó.
Bà lại đâm lo, kiểu nầy nó dám dẫn cháu bà đi luôn, bà hỏi dò.
- Con có đem áo quần của nó theo không ?
Con dâu bà ngạc nhiên.
- Dạ không, đi về một ngày. Mọi khi đâu có cần đem áo quần theo ?
Bà mừng rỡ.
- Cám ơn con !
Cô càng ngạc nhiên hơn, không hiểu sao mẹ chồng cô lại nói tiếng cám ơn đó ?./.


Phạm Thành Châu