Wednesday, February 4, 2026

Ông Già Chơi Đồ Cổ - Dương Trữ La


Lão Năm vốn là người được dân trong làng nể hơn hết. Vì lẽ tuổi tác lão đã cao mà tấm lòng thanh bạch của lão cũng khó ai bì kịp. Lão sống từ đời Tây qua đời V.M. đến đời Quốc Gia, vẫn không ai đụng chạm gì đến lão. Mà lão cũng chẳng có điều gì làm phiền hà ai. Suốt ngày ngoài trừ hai bữa cơm và những lần đi ra ngoài cần thiết còn thì lão chỉ ở trong căn phòng đặc biệt cửa luôn luôn đóng kín.

Lão cũng chẳng có con cái gì, cho nên cuộc đời càng âm thầm, tẻ lạnh và đầy bí mật đối với lớp trẻ vừa lớn lên. Không ai được đến căn phòng kia, và có giao tiếp chuyện làng nước thì chỉ giao tiếp với vợ lão thôi.


Nhờ vài câu chuyện với vợ lão, người ta được biết như vầy : lão là người chơi đồ cổ. Trong căn phòng nhỏ bé ấy lão cất giữ đành nhiều món đồ quí giá vô cùng. Có những món thì gian này không cất đủ hai nhà và nếu lọt vào mắt một nhà chuyên môn người ta nói có thể mua nó với giá một đôi chục ngàn như không không...

Còn lão vốn chất phác làm ăn để sống, không mấy ai nghĩ đến những chuyện viễn vông đó. Nên có người hỏi :

— Những đồ cổ đó là đồ gì vậy ?

Người vợ bình dịu với cái vốn kiến thức ăn trộm dân làng của chồng mình, đáp :

— Mấy người không hiểu được đâu, đồ quí không hà.

Có nói ra mấy người cũng không biết đó là thứ gì !

— Có thiệt là đắt giá lắm không ?

— Sao lại không ?

Hồi ba năm trước một người ngoại quốc nghe tiếng nhà tui có nhiều đồ cổ, đã xin phép ông tui viếng qua thăm một lần. Và bây giờ ta năn nỉ hết sức để mua một món gì đó, mà ông kia từ bả, bảo chưa rỗi. Ông nhà tui vẫn chưa chịu bán.

— Trời đất, sao không bán bớt đi một cái để lấy tiền sống. Cất làm chi bao nhiêu đồ hoài, đời đâu có lấy nó ra mà ăn được ?

Bà vợ bìm môi chê trách :

— Mấy người ham tiền nói vậy. Ông mà nghe được, ông giận lắm đó. Mấy người không hiểu giá trị tinh thần mà !

Thật dân quê — nhất là những người vừa lớn lên trong trận chiến tranh đã qua — không mấy ai nghĩ đến giá trị tinh thần làm gì họ còn sống và sống thực nó mới là tốt nhất. Nên khi nghe vợ lão Năm trách như vậy thì họ cười mà nói với nhau rằng :

— Chắc gì sống được hoài để mà giữ những món đồ đó không, mà làm tàng dữ vậy ? Sợ mai mốt chết rồi đồ liệng ra đường không ai thèm lượm đó chớ.

Một hôm có người thuật lại cho họ nghe một câu chuyện như sau :

Số là cách nay khá lâu, Tư Bạc — tên của người kể chuyện — là một tên « lưu lạc giang hồ », nghèo đói, sống lang thang theo xe lửa, khi thì khuân vác ít hành lý cho bạn hàng để kiếm tiền cơm ; khi thì ngồi ca vọng cổ làm hề cho bà con cô bác giải khuây trong lúc đợi xe lửa tới, rồi người ta cho tiền, đắp đổi qua ngày.

Tư Bạc tò mò muốn biết những món đồ cổ đó là gì nên đã tìm đến thăm ông Năm.

Chủ nhà vui mừng dẫn Tư Bạc đi xem căn phòng đặc biệt và giải thích :

— Đây cháu xem cái tô này là tô đời nhà Tống ! Lâu đời lắm rồi và bây giờ rất mắc.

Tư Bạc nhìn qua nhìn lại chẳng hiểu giá trị của cái tô ở chỗ nào ? Trước mắt y đấy chỉ là một cái tô kiểu như trăm, ngàn, triệu cái khác.

Chủ gia hiểu ý nên cắt nghĩa thêm :

— Cháu biết không, chính đời nhà Tống cách đây mấy ngàn năm, mới là lúc nền đồ gốm bên Tàu cực thịnh. Những cái tô làm từ đời nhà Thanh sau này, giá trị đâu có bằng.

Ông chỉ một cái tô khác cạnh đó :

— Đây cháu xem, cái tô này đời nhà Thanh, cách đây chừng vài trăm năm thôi. Thiếu gì ? Nên giá trị không sao bằng tô đời nhà Tống được. Đành rằng đời nhà Thanh tô chén kiểu của người Tàu đem bán ra ngoại quốc rất nhiều, nhưng bây giờ người ta vẫn thích tô nhà Tống.

Tư Bạc nhìn hai cái tô rồi cười. Vì rằng cái tô mà ông ta khen nức nở ấy lại còn xấu hơn cái tô kia nữa. Ông Năm tiếp :

— Chắc cháu chưa phân biệt được tô nhà Thanh với tô nhà Tống. Đây cháu xem kỹ chỉ có đặc biệt tô nhà Tống mới có những đường răn nứt nầy. Cháu nên nhớ, những đường nứt đó không phải vô tình đâu nhé ! Cố ý đó. Không biết họ đã tráng bằng men gì, mà sau khi bỏ vô lò nung xong đem ra thì có những đường nứt như vậy đó. Ngày nay người ta hết sức tìm cách biến chế vẫn không làm sao giống được.

Tư Bạc bắt đầu phục ông Năm về tài chơi đồ cổ, qua những lời giải thích thật rành rọt đó. Ông Năm lại còn tiếp thêm :

— Cháu biết ở xứ mình, món nào quí giá hông ?

— Dạ, cũng đồ kiều.

— Đâu phải, đồ kiều của xứ mình đều do người Tàu làm hết đó chớ. Vua chúa mình xưa kia cho quan lại sang Tàu đặt kiều vẽ hình mướn họ làm theo, nên không được quí lắm. Quí nhứt của xứ mình chính là cái bình vôi có hai quai đó. Người ngoại quốc họ chịu mua cái đó lắm đa.

— Dạ thưa cái ông vôi ?

— Đó đó...

Tư Bạc nghe vậy, tin vậy. Nhưng anh nghĩ nếu ở trong nhà mà chưng « một cái bình ông vôi » thì thật dị hợm vô cùng. Ông Năm còn cắt nghĩa cho Tư Bạc nghe nhiều nữa, nhưng anh đã quên hết rồi. Anh chợt nhớ mình có mua một cái bình đất nhỏ, nung đỏ ở ngoài chợ, thử đem ra xí gạt ông nầy coi được không ? Tánh Tư Bạc vốn hay phá phách mà.

 

Bấy giờ anh mới làm ra vẻ mặt đau khổ nói :

— Dạ, chẳng nói giấu gì ông. Tôi đến đây ngoài cái việc mong được ông mở rộng sự hiểu biết như nảy giờ đó. Tôi còn một việc cậy nhờ ông nữa, mong ông vui lòng giúp cho.

Hình như từ ngày chơi đồ cổ đến giờ, Ông Năm mới gặp một người tỏ ra hiểu biết giá trị và kiến thức của mình, vì lẽ đó mà ông đâu nỡ từ chối một sự giúp đỡ, nếu thật sự « Người bạn tri kỷ » có ý cậy nhờ. Ông bèn sốt sắng hỏi :

— Chi đó, cháu có điều chi đó ?

— Dạ, cháu có món đồ thuộc về loại đồ cũ đây, của má cháu để lại, đã ba đời rồi. Trước khi nhắm mắt người có dặn cháu thật kỹ là dầu có nghèo đói thế nào đi nữa cũng đừng bán vật ấy đi, vì là báu vật. Nhưng...

Tư Bạc ngừng lại nuốt nước miếng xót xa. Ông Năm cũng cảm động rơm rớm nước mắt. Hắn tiếp :

— Nhưng nay cháu thấy vật quí giá mà ở trong tay một kẻ không biết xài cũng thành vô ích. Ông là người hiểu giá trị của nó, nên cháu xin nhường lại ông. Với lại, nói ra thật xấu hổ, thưa ông, cháu đói quá... ba ngày nay cháu không có cơm ăn.

Ông Năm cảm động bồi hồi :

— Đâu cháu đưa đây cho bác. Đối với một món lưu truyền đã ba đời thì tiền mua biết bao nhiêu cho phải giá. Bác chỉ gọi là tượng trưng giúp cháu vậy thôi. Cháu đừng nghĩ gì cả.

Rồi ông Năm cầm hai chục đồng đưa cho Tư Bạc — nên nhớ hai chục đồng của hai mươi năm về trước — Tư Bạc trao cho ông ta cái bình đất bọc ngoài bằng lớp giấy nhựt trình.


Không hiểu vì cảm động tấm tình của Tư Bạc hay vì lịch sự mà ông Năm lại không dở gói giấy ra xem liền.

Từ đó Tư Bạc biệt không ghé qua làng nầy nữa. Nghe đâu, sau đó vợ chồng ông ta cãi nhau một trận dữ dằn, vì lẽ bà vợ quả quyết cái bình đó mua ngoài chợ chỉ có 1 cắc thôi, mà ông để cho người ta xí gạt thì thật là xấu hổ.


Ông Năm cũng biết là mình bị mắc mớp tên lưu manh, về sau ông không tiếp ai cả. Đóng cửa âm thầm sống với mớ đồ cổ của mình.

Câu chuyện trên càng làm cho dân làng tức cười và nghi ngờ hơn về mớ đồ cổ của ông ta cất giấu gọi là báu vật đó.

Ai nói gì nói, bà Năm vẫn tin tưởng vào tài của chồng mình. Và cũng như chồng bà rất quí những món mà chồng bà chưng dọn trong phòng riêng, lau chùi mỗi ngày đó.

Nhưng bà ngạc nhiên hết sức, khi thấy mấy tháng gần đây, ông Năm trở nên khó tánh hơn trước rất nhiều. Ông cấm tuyệt không cho bà lai vãng lại gần phòng đồ cũ.

Ông Năm cắt nghĩa :

— Tôi vừa tìm ra một món quí giá lắm. Bà không hiểu được giá trị của nó đâu. Bà phải biết sau nầy tụi mình nổi danh khắp thế giới nhờ nó đa.

Bà Năm vẫn còn thắc mắc :

— Đâu, ông cho tôi vô coi thử ?

— Ý đâu được ! Để khi nào hoàn thành rồi, mới được coi.

— Sao hồi đó, ông cho tôi vô coi hoài đó, có sao đâu ?

— Ừ cái nầy quí và bí mật lắm. Trong khi nó chưa thành hình, nó kỵ đàn bà dữ lắm !

Bà Năm tin chồng nên không hỏi tới làm chi. Cho đến hôm ba mươi tết, ông Năm vẫn rút vô buồng ở miết trỏng. Bà Năm để ý thấy hình chồng có điều gì lo nghĩ. Bà đợi cho tới chiều cơm nước sẵn sàng chưa thấy chồng ra, để lo chuyện đón rước về ăn Tết. Bà mới rón rén lại gần bên cửa vừa định kêu cửa, bỗng bà nín thở và nghe tiếng xù xì bên trong.

Trước tiên là một giọng đàn bà :

— Ông tính sao thì tính đại đi chớ tôi cũng Tết nhứt rồi, bộ ông muốn giam tôi ở đây sao ?

— Em muốn về, em về, tôi có cản em đâu

— Còn cái nầy ?

— Thì để ra giêng, rồi thu xếp với bả.

— Cái gì của năm nay tính dứt năm nay rồi, đợi năm tới chắc gì ông chịu tính. Đâu phải vô đây nói chuyện với ông dễ dàng !

— Nói nhỏ nhỏ vậy, bà nghe được chết bây giờ.

— Hỏng có nhỏ nhiếc gì hết. Chết thì chết. Bộ ông tính lấy người ta có chửa rồi phải không ? Tôi la lên cho ông biết...

— Thôi mà, tội nghiệp tôi mà...

Bà Năm không dằn được nữa. Rõ ràng, ông Năm xí gạt bà. Ông hổng bà lại gần để ông tìm ra món quí giá, ai ngờ món quí giá đó lại là... « Con Mèo » của ổng động cửa rầm rầm.

— Mở cửa ra coi, cái gì ở trong nầy đây

Ông Năm than thầm :

— Chết rồi, bả tới rồi !

— Mở ra, mở cửa ra mau !

Giọng ông Năm run run :

— Để... để... Tôi mở, bà đừng xô mạnh bể hết ! Đồ... quí giá... đồ quí... giá

Giọng ông Năm run run :

— Để... để... Tôi mở, bà đừng xô mạnh bể hết ! Đồ... quí giá... đồ quí... giá

— Bể cái gì cũng thây kệ, tôi không cần quí hay không quí... chỉ cần nhìn mặt « cục cưng » của ông thôi, coi nó ra làm sao ? Coi nó bánh bèo ra sao mà ông lại cho nó vào đây... Cánh cửa bật mở. Tiếng đồ kiều rơi bể loảng cảng. Một thiếu phụ đứng thu mình vào góc cái bụng bằng cái thúng. Bà Năm đứng chẽ một hồi mới nói được :

— Trời ơi ! Sáu, mầy lấy dượng mầy hả ?

— Tội nghiệp con, cô ơi !

— Còn cô, « kiệt »... gì nữa, con ơi !

Bà Năm bu lu ba la, hai tay quơ gạt lia lịa tô, những độc bình, những chén dĩa kiều rổn rổn, cảng cảng... Ông Năm ôm đầu kêu lên !

— Trời ơi ! Mấy chục năm trời của tôi... Công lao của tôi.

— Công lao hả... Cái bụng đó... đủ quá chưa vừa lòng với ông sao ?

Hòa với tiếng mảnh sành bể, tiếng pháo xa xa ! Nhà ai đó năm nay rước ông bà sớm...


Trích từ 1973 Khoi Hanh - Xuan Quy Suu, Anh Viet (Sai Gon).pdf  

Huỳnh Chiếu Đẳng (Quán ven đường)

Nguồn: Quán ven đường  

Hoa Pensee - Trầm Vân

Cún - Thúy Messegee


Con là nợ, vợ là oan gia, cún là…người tình muôn thuở!

Từ những ngày hẹn hò tán tỉnh, dung dăng dung dẻ nắm tay nhau đi chơi, lòng mừng khấp khởi vì ta đã chiếm được trái tim người đẹp, một ngày đẹp trời nào đó chàng sẽ âu yếm ngỏ lời «xin bàn tay» nàng, từ nay kết chặt đến đầu bạc răng long… Thế rồi mọi sự thay đổi dần, tình cảm lãng mạn nhường cho những thử thách thực tế cay nghiệt ngập đầu. Một, hai, rồi ba bốn đứa trẻ khóc oa oa chào đời. Cuộc đời trở thành một gánh nặng oằn vai, cơm áo gạo tiền thôi thúc ngày đêm, con tim trở nên già cỗi khô cằn, và tình yêu đầu đời đẹp như mơ thì hình như đã chắp cánh bay xa từ bao giờ!

«Con là nợ, vợ là oan gia», một câu kết án mang tính thậm xưng trở thành câu than vãn thường xuyên trên cửa miệng các ông! Thất vọng với nợ và oan gia, người ta quay sang tìm một người tình mới: Cún cưng!


Ngày xưa trong xã hội Việt Nam cún từng bị khinh rẻ ruồng rẫy. Người ta rủa «Đồ chó đẻ!», khi muốn buông ra lời nhiếc mắng tàn tệ nhất, trên đời không còn gì tàn tệ hơn. Cún ăn cơm thừa canh cặn của chủ, lâu lâu chủ bực mình bực mẩy với «bà chủ» hay với xã hội con người bên ngoài thì thuận cẳng đá cho một cái nên thân, kêu ăng ẳng cúp đuôi chạy trốn vào gầm bàn. Sinh vào làm cún Việt Nam ngày xưa thật khổ!

Thế rồi vật đổi sao dời, ngày nay cún đã có một cuộc đời xán lạn, được  “lên chức”, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa! Ở Mỹ muốn xin cún về nuôi phải chứng tỏ «lý lịch tốt», không vướng tiền án bạo hành thú vật, không có quá khứ phụ bạc «chơi rồi chán», khi vui xin về nuôi rồi khi chán mang trả lại. Không dễ đâu!


Ngày xưa có lần tôi làm đơn xin một anh hay chị cún về nuôi. Cơ quan quản lý cún tra hỏi những câu hỏi «impossible» không thể trả lời:

– Bà định mang nó về thì mua thức ăn gì cho nó?

– Nào đã biết đâu! Xem có thứ nào đang sale thì mua chứ gì!

– Khi nó già yếu bà định xử nó như thế nào?

– Giời ạ, làm sao biết trước được! Tôi đây già yếu còn chưa biết được gia đình sẽ đối xử với tôi ra sao đây!

– Nếu lỡ nó vướng bệnh ung thư thì bà tính sao?

– Ôi Trời, tôi mà mang bệnh ung thư còn chưa biết tính sao đây này!

Đến đây thì tôi chán nản đứng lên đóng máy lại. Cơ hồ này thì chẳng được duyệt đâu!

Đó là chuyện hơn chục năm trước. Đến mùa Covid năm 2020 tôi lại xin một em cún về nuôi. Những ngày này được lệnh làm việc ở nhà nên mới có thì giờ chăm «em», chứ ngày thường sáng vác ô đi, đến tối mịt mới vác ô về, làm gì đủ tiêu chuẩn! «Trong ngày bà không có mặt ở nhà làm sao cho em đi walk được? Mỗi ngày em phải được dẫn đi 3 lần!» Thời đầu Covid các em cún đắt hàng như tôm tươi, hay nói theo kiểu Mỹ là đắt hàng như bánh nóng hổi mới ra lò. Tôi dùng một dịch vụ giới thiệu mấy em «mới xuất kho» tại các hội đoàn chuyên tìm chỗ «gả» mấy em. Họ vừa cho biết có em nào xuất hiện trên mạng là mình nộp đơn xin ngay. Ấy vậy mà vẫn nhận được những câu trả lời lịch sự: «Xin cảm ơn ông/bà đã quan tâm xin em Coquette. Em đã nhận được trên 300 đơn xin về. Chúng tôi sẽ xét đơn và cho biết kết quả sau». Thôi kể như bị loại từ vòng gửi xe rồi!


Thua keo này ta bày keo khác. Tôi lảng vảng trên mạng của những cơ quan nhà nước chuyên lo chăm sóc thú vật của các quận huyện. Họ không biết cách quảng cáo, không dùng mạng lưới tiếp thị nên ít người biết đến. Buổi sáng vừa đảo qua thấy có anh Felix nho nhỏ xinh xinh được đưa lên mạng. Bèn gọi hỏi xin ngay.

– Rất tiếc em ấy vừa được nhận nuôi rồi ạ !

– Hả? Quý vị vừa mới đưa hình em lên sáng nay mà?

– Vâng, đúng vậy, nhưng tôi bảo đảm với bà là em í vừa mới đi ngang qua trước mặt tôi với người chủ mới, cả hai bước ra khỏi cửa cách đây 5 phút!

Tôi linh động hướng ngay sang em bên cạnh:

– Thế còn em trắng kế bên?

– À, nó vẫn còn đấy. Có người đã xin nó nhưng lại vừa trả nó về hôm qua!

– Chết! Sao vừa xin về nuôi lại mang trả vậy? Nó có gì không ổn chăng?

– Nó chẳng có gì sai trái cả, chỉ tội bị con mèo nhà đó oánh cho tơi tả!


Tôi tức tốc lái xe đến «xem mắt» và đọc hồ sơ của em. Quả thật trong bản tường trình tại sao lại trả về, người chủ cũ đã trả lời câu hỏi: «Is there something wrong with the dog?” như sau: “There’s nothing wrong with the dog. We got a bad cat!” (Hỏi: “Con chó này có gì không ổn?” Đáp: “Con chó không có vấn đề gì cả. Chỉ có con mèo nhà chúng tôi là tệ thôi!”) Thế là tôi bê em về nhà. Nhà Mommy không có con mèo nào cả, con đừng lo bị bắt nạt nhé! Đến nay đã được hơn 5 năm. Mỗi lần nó “hư hỏng” không vâng lời tôi lại chỉ tay hầm hè: “Này! Không ngoan thì trả về nhà trước cho con mèo nhà í nó dạy cho một trận đấy, nghe chưa?”

Tại sao con người lại đặc biệt cưng cún đến thế? Là vì chúng yêu ta vô bờ bến, yêu với tất cả tấm lòng, yêu buông thả không hạn chế giữ gìn. Ta nỡ lòng nào phụ lòng chúng? Chiều tan sở về đến nhà thì ai chạy te te ra vẫy đuôi ríu rít mừng rỡ? Cún cưng chứ ai, mà ta càng về muộn chúng càng mừng rơn khi thấy mặt. Chắc nó tưởng mình đã bỏ nó đi luôn không về nữa, giờ gặp lại thì mừng húm! Trong hoàn cảnh y như thế trong một gia đình “sans cún” thì rất có thể nội tướng trong nhà sẽ cau có hầm hè: “Đi đâu tới giờ này mới về? Nhờ ghé chợ mua gói bún có nhớ không? Trời đất! Lại quên nữa à? v.v.”


Ta ngồi ăn tối, cún trụ sát dưới chân, đầu ngẩng nhìn ta say mê không chớp mắt. Sau bữa ăn dời đô sang ghế dựa ngồi xem Ti Vi là cún nhảy phóc lên nằm gọn trong lòng, đầu dụi qua dụi lại làm nũng. Bù lại với tình cảm vô bờ của cún, dĩ nhiên ta sẽ đáp lại không kém nồng nàn. Nửa đêm bà có lay ông dậy nhõng nhẽo đòi rót cho ly sữa uống vì đói bụng không ngủ được thì ông lăn qua một bên lầm bầm: “Thôi ráng chịu đi! Để cho tui ngủ sáng mai còn đi làm!”, rồi tiếp tục râm ran cưa gỗ. Cún mà ư ử khóc dưới chân giường đấy à? Lập tức tốc mền, mắt nhắm mắt mở đứng dậy đưa ngay ra cửa sau ngay và luôn. Là để … tránh hậu hoạ ấy mà!


Gọi cún là người tình muôn thuở quả không ngoa. Không bao giờ chúng thay lòng đổi dạ mà phụ bạc chủ. Ngạn ngữ Việt Nam có câu: “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo” Thỉnh thoảng tôi gặp những người vô gia cư lê la trên đường phố, rách rưới đùm đụp mà vẫn có cún cưng bên cạnh. Cún luôn tỏ tình thương mến với người chủ bần hàn thất cơ lỡ vận, vẫn gắn bó ngày đêm không rời. Ngược lại chủ không bao giờ để cún cưng phải đói khát, có gì đều chia sẻ cho nhau. Những người này chắc hẳn khi xưa, một lúc nào đó, cũng có cha mẹ, gia đình đàng hoàng, vợ con tử tế. Rồi một phút sa cơ thất thế hay vướng vào nghiện ngập khiến hỏng cả đời, họ mất hết của cải và người thân, lang thang trên đường phố, vô gia cư vô nghề nghiệp. Tuy nhiên họ vẫn còn được con cún trung thành đồng hành, người tình muôn thuở bên cạnh. Mong rằng cả hai cùng mang lại hơi ấm cho nhau!


Thương kẻ nào thì bỏ tiền sắm sửa o bế cho kẻ đó. Trong xóm, cún của tôi là ăn mặc quê mùa nhất, vì tôi quan niệm miễn ấm là được, cún đâu biết thế nào là áo mới với áo cũ. Cún của bà hàng xóm thì khỏi nói, mỗi mùa là có cả một tủ quần áo mới mặc đi nhỏng nhảnh khoe xóm khoe làng. OK, áo ấm phủ phần trên thì được đi, bảo vệ buồng phổi cho khỏi ho gà. Đến phần dưới gần đuôi thì để trống cho tiện việc vệ sinh. Còn cái váy xòe kết đăng ten vây quanh bụng thì thật là rởm, chẳng giữ ấm thân thể cũng chẳng che được mông đùi lồ lộ một tòa thiên nhiên. Cứ làm như đã là con gái con lứa thì phải mặc váy đầm!

Việc đi khám sức khỏe định kỳ cũng nhiều chuyện để kể. Hôm rồi tôi đưa cún đi khám hằng năm. Vào đến nơi thú y hỏi tôi có mang theo mẩu phân của em để phòng thí nghiệm phân tích không. Thôi chết, quên mất rồi! Họ bèn đưa cho một lọ nhựa để về thu thập rồi mang trở lại nộp. Đến màn tra thuốc, có một loại phải nhỏ vào lỗ mũi. Cún ta giẫy giụa đành đạch chống cự, phải hai người đè em xuống mới tra thuốc được. Bỗng bất chợt, “bụp” một cái! Nhân viên hò reo: “Rồi! Có được rồi! Bà khỏi trở lại nhé!” Thì ra em đã sản xuất ngay tại chỗ, nhân viên hốt gọn, Mom khỏi mất công về nhà nhặt nhạnh rồi mang trở lại nộp.


Một buổi sáng tôi dẫn cún mình đi bộ gặp một bà khác cũng đang dẫn cún của bà. Hai tiếng sau mình bước ra đường đi công chuyện cũng lại thấy hai mẹ con quanh quẩn ở góc phố. Lạ nhỉ, một lần dẫn đi mấy tiếng đồng hồ? Hay là cách giờ lại đưa em đi dạo? Thấy tôi nhìn một cách tò mò bà phân bua: “Loay hoay từ sáng đến giờ mà nó không chịu cho ra miếng nào để trình thú y, có chết không cơ chứ?” À ra vậy, nhìn cái cốc không trên tay bà giờ tôi mới hiểu. Em cún cố tình trốn tránh nghĩa vụ, lại còn giương đôi mắt thô lố ngây thơ vô số tội ra phân bua: “Mom! Con phải để dành để đánh dấu lãnh thổ chứ? Mỗi gốc cây một giọt, có dư đâu mà tè cho Mom một lúc đến nửa cốc đâu nà!”


Sau khi khám xét và tiêm thuốc ngừa đủ loại cần thiết, thú y cấp cho một tấm mề đay mang về đeo tòng teng trên cổ chứng tỏ là cún đã được tiêm thuốc ngừa bệnh chó dại, có lỡ cắn ẩu người nào thì cũng an tâm, sẽ không vướng bệnh chết người. Cún nhà tôi thật là đoảng, thỉnh thoảng lại để rơi mất tấm mề đay dọc đường. Tìm khắp nơi không ra, sắp phải gọi thú y xin bản sao (và chắc chắn tốn tiền), thì may quá hàng xóm nhặt được đã mang đến bỏ vào thùng thơ của nhà. Mạng lưới “công an” trong xóm rất hữu hiệu, nhìn tên cún khắc trên miếng mề đay là người ta biết ngay “hộ khẩu” hắn ở đâu, con nhà ai, khó mà qua mặt tai mắt nhân dân.


là nhu cầu chăm sóc cơ bản. Đến khi ốm đau bệnh hoạn thì bố mẹ lại càng mất ăn mất ngủ vì vấn đề… đầu tiên! Con người bệnh thì có bảo hiểm y tế đỡ cho gánh nặng tài chính, cún thì không. Ít người mua bảo hiểm cho cún, nên khi trái nắng trở trời, cảm ho sài đẹn là bố mẹ lãnh đủ. Một bà hàng xóm có hai cún cưng như vàng, đến nỗi khi hai vợ chồng bà ly dị chia tay nhau thì bà cương quyết giữ “con”, không chia cho ông đứa nào cả. Mỗi lần gặp tôi là bà có cả một chuyện dài cún bệnh kể cho tôi nghe từng chi tiết. Bà hay kết luận: “And five thousand dollars later, here we are!” (Đấy, chữa chạy tốn kém hết năm nghìn rồi thì bây giờ là như thế đấy!). Nghe tổn phí của bà mà tôi lạnh gáy. Cún mình mới trung niên (7 tuổi cún, tương đương 49 tuổi người), rồi mai kia mốt nọ sẽ bước vào con đường già lão, bệnh hoạn, tốn kém. Thôi thì đã lỡ thương rồi thì gì cũng chấp nhận, đành vậy con ơi!


Một bà bạn của tôi trở về quê ở Hawaii để nuôi mẹ già gần đất xa trời. Bà cụ có một cún cưng cũng vào hàng già cả lụm cụm. Cô em gái đưa nó đến thú y khám bệnh mà dằn giọng đe ông thú y: “Grandma has to go first, ok?” Ý rằng ông cố giữ cho cún sống cho đến khi bà trăm tuổi, không được để nó đi trước bà nhé. Không biết ông thú y có tài thánh hay nhờ Trời Phật run rủi, con cún sống cho đến ngày bà cụ qua đời, tiễn bà đến nơi an nghỉ cuối cùng rồi ít lâu sau mới đi theo bà về thế giới bên kia. Cầu cho bà cháu tiêu diêu trong cõi vĩnh hằng. Rest in peace!

 

Thúy Messegee

Mỗi Bộ Phận Trên Cơ Thể Đều Có Sở Thích Riêng


 Lượm trên mạng

Tuesday, February 3, 2026

Người Góa Phụ Giờ Thứ 25 - Phạm Tín An Ninh


Tôi gặp chị trong buổi họp mặt của các anh Khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, được tổ chức  tại một nhà hàng ở thành phố Westminster, Nam Cali, nhằm kỹ niệm 55 năm ngày mãn khóa. Vợ chồng tôi có chút cơ duyên được xếp ngồi cùng bàn với chị. Qua đôi lời chào hỏi đầu tiên, chúng tôi biết chị từ Việt Nam mới sang theo lời mời của Ban Tổ Chức, muốn dành cho chị một ân tình đặc biệt để có cơ hội gặp lại những người bạn cùng khóa Lê Lai với phu quân của chị, Cố SVSQ Đoàn Đình Thiệu.


Sau nghi thức chào quốc kỳ là một lễ tưởng niệm những vị đồng môn đã hy sinh trong không khí rất trang trọng, cảm động và mang nhiều ý nghĩa. Trên bàn thờ, phía sau những ngọn nến lung linh là hình phóng lớn của tấm bia đá tưởng niệm có khắc đậm tên 79 vị sĩ quan Khóa 17 đã lẫm liệt hy sinh trong cuộc chiến. Tấm bia này là một kỳ công được các cựu SVSQ Khóa 17 thực hiện và dựng tại Công viên Victor Memorial Veterans Park, thuộc Thành phố Greer, Tiểu Bang South Carolina, Hoa Kỳ từ tháng 6 năm 2008.

Khi chị Thiệu cùng một số cô nhi quả phụ khác của Khóa 17 được mời lên thắp hương trước bàn thờ tử sĩ và nhận món quà lưu niệm của Khóa, qua lời giới thiệu của người điều khiển chương trình, chúng tôi được biết nhiều hơn về chị. Và trong số những cô nhi quả phụ cùng đứng chung với chị chúng tôi còn nhận ra cháu Võ Hải, trưởng nam của Đại Tá Võ Toàn, vị đại tá duy nhất của Khóa, đã hy sinh cũng vào giờ thứ 25 khi Quân Đoàn I di tản, đến bây giờ chưa biết thân xác nằm  ở  nơi đâu;  và phu nhân  của Trung Tá Võ Vàng,  một cấp chỉ huy nổi tiếng trong Binh chủng Biệt Động Quân, đã bị kẻ thù sát hại dã man tại trại tù Kỳ Sơn – Quảng Nam, sau 1975.

Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu tử trận tại Phú Lâm vào khoảng 12giờ 30 trưa ngày 30.4.75, hơn một giờ sau lệnh “buông súng” của Tướng Dương Văn Minh. Khi ấy anh là Tiểu Đoàn Phó của Tiểu Đoàn 86 BĐQ mà Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Trần Tiễn San, một niên đệ Khóa 19 Võ Bị của anh.


Trước khi ra đơn vị này, Thiếu tá Thiệu phục vụ nhiều năm tại TTHL Biệt Động Quân Dục Mỹ với chức vụ Trưởng Khối Yểm Trợ. Do quyết định của Tướng Đỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng Binh chủng Biệt Động Quân, một số sĩ quan phục vụ lâu năm tại quân trường hay giữ những phần hành tham mưu được điều động hoán chuyển ra các đơn vị tác chiến.  Cuối năm 1974, đúng vào lúc Thiếu Tá Thiệu nhận lệnh hoán chuyển,  tại TTHL/BĐQ đang có Liên Đoàn 8/BĐQ vừa mới được thành lập với đa phần quân số từ các Tiểu Đoàn 7, 9, 11 Quân Cảnh giải tán bổ sung cho Binh chủng Biệt Động Quân, nên nhân tiện, ông xin ra phục vụ ở đơn vị tân lập này. Vì ở quân trường và đảm trách một phần hành tham mưu khá lâu, nên khi ra đơn vị tác chiến, ông không thể đảm nhận một chức vụ chỉ huy ngay trong thời gian ban đầu, do đó ông tìm gặp Thiếu Tá Trần Tiễn San, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 86 và ngỏ ý muốn được về làm Tiểu Đoàn Phó cho Thiếu Tá San, một niên đệ Khóa 19, mà lúc còn trong trường Võ Bị Đà Lạt, ông có trách nhiệm hướng dẫn, dạy dỗ với tư cách niên trưởng. Biết ông là niên trưởng lại có thâm niên cấp bậc hơn mình, Thiếu Tá San muốn giúp đỡ, nhưng rất e ngại nên đề nghị ông phải làm đơn gởi lên Thiếu Tướng CHT/BĐQ để trình bày nguyện vọng của mình. Cuối cùng ông được toại nguyện. Để nhận Thiếu Tá Thiệu về làm Tiểu Đoàn Phó cho mình, Thiếu Tá Trần Tiễn San còn phải giải quyết một vài khó khăn tế nhị khác. Vì lúc ấy Tiểu Đoàn đã có Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Phan Trí Viễn. Thiếu Tá San đã năn nỉ Đại Úy Viễn sang làm Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn và xin Liên Đoàn nhận anh Đại Úy Trưởng Ban 3 cũ về giữ một chức vụ tại BCH/ Liên Đoàn. Thông cảm cho anh, tất cả đều vui vẻ chấp nhận sự sắp xếp của anh.


Kính nể một niên trưởng có tư cách, Thiếu Tá San đã dành cho vị Tiểu Đoàn Phó nhiều ưu ái đặc biệt. Có điều đúng vào thời điểm Thiếu Tá Thiệu ra đơn vị, cuộc chiến đang ở giai đoạn khốc liệt nhất. Sau khi Mỹ bất chấp những phản đối của VNCH, đã tự cho mình ngồi ngang hàng với Cộng Sản Bắc Việt và đơn phương nhượng bộ quá nhiều điều trong Hiệp Định Paris ký kết ngày 27.1.1973, chứng tỏ ý định sớm bỏ rơi đồng minh, phủi tay cuộc chiến.  Lợi dụng điều này, Cộng quân đã ồ ạt tung nhiều sư đoàn với lực lượng chiến xa, từ miền Bắc và Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh xâm nhập Nam Việt Nam, đồng loạt mở các cuộc tấn công qui mô vào các đơn vị phòng thủ của ta. Phước Long là tỉnh đầu tiên bị thất thủ vào ngày 6 tháng 1/1975  nhưng không có bất cứ dấu hiệu nào từ phía Hoa Kỳ can thiệp hay phản đối CSBV vi phạm hiệp định,. Điều này đã báo hiệu cho số phận của VNCH.

Liên Đoàn 8 BĐQ ban đầu đặt dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Vũ Phi Hùng, với ba vị tiểu đoàn trưởng  đều là niên đệ Võ Bị của Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nam (K.20) TĐT/TĐ 84, Thiếu Tá Trần Tiễn San (K.19) TĐT/TĐ 86, và Thiếu Tá Nguyễn Hữu Mạnh (K.20) TĐT/TĐ 87. Thiếu Tá Thiệu chọn về làm Tiểu Đoàn Phó cho một niên đệ Khóa 19, là khóa đàn em có nhiều gắn bó và xem như học trò của Khóa 17 thời họ còn là những sinh viên sĩ quan.


Dù chưa được trang bị và huấn luyện đầy đủ, Liên Đoàn nhận lệnh của Bộ TTM di chuyển về Sài gòn để giữ an ninh trong dịp Tết nguyên đán. Liên Đoàn đặc trách phòng thủ khu vực từ QL 1 đến  QL 4, ngoại trừ TĐ 84 đặc trách một khu vực kế cận. Vào những ngày đầu tháng 4/75, Liên Đoàn 8 BĐQ thường phối họp cùng Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù tân lập mở các cuộc hành quân vào Mật khu Lý Văn Mạnh và đã phát giác có sự hiện diện của nhiều đơn vị chính quy Bắc Việt đang hoạt động, ém  quân tại đây.

Để đề phòng cho trường hợp bị tấn công bởi các đại đơn vị này của địch, Đại tá Vũ Phi Hùng, Liên Đoàn Trưởng bàn bạc với các Tiểu Đoàn Trưởng, vạch ra một kế hoạch ứng phó khi tình hình trở nên nguy ngập, được gọi là kế hoạch “Bravo”: Các tiểu đoàn tự rút về Giáo xứ Tân Phú của Linh Mục Đinh Xuân Hải để tái phối trí và tiếp tục chiến đấu tại đây.

Khoảng hai tuần lễ sau đó, Sư Đoàn 106 BĐQ được thành lập, với vị Tư Lệnh là Đại Tá Nguyễn Văn Lộc. Đại Tá Vũ Phi Hùng, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 8 BĐQ được chỉ định giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng, và bàn giao Liên Đoàn cho Trung Tá Chung Thanh Tòng từ BĐQ Vùng I di tản.


Ngày 27/4/75 Cộng quân mở các cuộc tấn công liên tục vào tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 84 và 87. Hai vị Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc cùng xuất thân Khóa 20 VB đã anh dũng điều quân chiến đấu, yểm trợ cho nhau để giữ vững phòng tuyến. Lực lượng địch quá đông và có chiến xa T 54 hỗ trợ, trong khi bên ta đã có nhiều binh sĩ thương vong, đạn dược cạn dần. Đến tối ngày 29/4/75 tình trạng trở nên tồi tệ hơn nên các đơn vị đề nghị thực hiện kế hoạch “Bravo”, rút về Giáo xứ Tân Phú lập tuyến phòng thủ mới như đã dự trù. Nhưng Đại Tá Vũ Phi Hùng từ BTL/SĐ 106 cho biết kế hoạch này không thể thực hiện được nữa, vì nhiều đơn vị Cộng quân đã thâm nhập vào Sài gòn từ các hướng khác.

Trong tình huống này, vẫn không có cách nào khác hơn, sáng sớm ngày 30/4 Liên Đoàn ra lệnh bằng mọi giá phải mở đường máu lui binh về hướng Sài gòn. Tiểu Đoàn 84 của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nam lúc ấy đang bố trí dọc theo xa lộ Đại Hàn, bị áp lực nặng nề nhất do nhiều chiến xa của địch bao vây tấn công liên tục. Tiểu Đoàn 87 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Mạnh rút ra từ Mật Khu Lý Văn Mạnh, mở đường cho BCH/ Liên Đoàn và Tiểu Đoàn 86 của Thiếu Tá Trần Tiễn San vừa rút ra sau cùng, vừa làm lực lượng án ngữ bọc hậu.  Cuộc lui binh rất khó khăn trong lúc bị địch quân bao vây, tấn công  từ mọi phía.


Thiếu Tá San ra lệnh cho Tiểu Đoàn Phó Đoàn Đình Thiệu thu nhặt hết số súng thặng dư bỏ vào ụ súng cối 81 ly để thiêu hủy. Pháo Đội Pháo Binh trong căn cứ BCH/ Liên Đoàn có bốn khẩu đại bác 105 ly, nhưng mỗi khẩu chỉ còn một quả đạn trong nòng. Thiếu Tá San cho lệnh bắn trực xạ vào những điểm địch quân tấn công mạnh nhất, sau đó phá hủy súng, và yêu cầu Pháo Đội rút theo BCH/ Liên Đoàn. Tiểu Đoàn phải mở đường máu để có thể thoát ra khỏi vòng vây của địch, nên tất cả thương binh đành phải bỏ lại phía sau. Trong lúc vừa điều quân vừa chiến đấu, Thiếu tá San bị thương ở mặt, phải bò đến một mô đất tạm ẩn nấp để tự băng bó.  Đúng lúc ấy,  Trung Úy Đoàn Ngọc Lợi (K.26VB), Đại Đội Trưởng ĐĐCH chạy đến báo cáo là Niên trưởng Đoàn Đình Thiệu vừa mới hy sinh bên bờ ruộng. Ông bị bắn đứt động mạch ở chân.  Mấy người lính trung thành ngỏ ý cõng ông theo, nhưng ông khoác tay, bảo “chạy gấp đi, anh không thể sống được!” Trung Úy Lợi còn cho biết, trước khi nhắm mắt ông hỏi Lợi: “Moa chết rồi ai sẽ nuôi vợ con đây?” Lúc ấy khoảng 12 giờ 30 trưa ngày 30/4, sau đúng một giờ Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng!

Sau đó Thiếu Tá San cùng nhiều cấp chỉ huy khác bị bắt đưa vào làng. Vì bị thương ở đầu, máu ra nhiều, nên anh được cho về, gia đình đưa vào điều trị tại Bệnh viện Triều Châu. Một ông chú nghe tin vào thăm, biếu anh 30.000 đồng. Anh cho người nhà tìm gặp gia đình Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu báo tin về cái chết của người niên trưởng. Chị Thiệu tìm đến thăm anh và hỏi kỹ địa điểm anh Thiệu đang nằm để đi tìm. Anh San chỉ dẫn, chia buồn và biếu chị Thiệu 30.000 đồng mà ông chú vừa mới cho anh.


Theo lời kể của chị Thiệu, vì tình hình lúc ấy rất hỗn loạn, tiếng súng vẫn còn nổ khắp nơi, nhiều đơn vị của ta không chịu buông súng và vẫn tiếp chiến đấu, nên chị không dám đi tìm anh Thiệu, hơn nữa chị cũng không rành đường sá ở đây,  đành phải nhờ cậu em trai, dùng xe Honda len lỏi tìm đến vị trí mà Thiếu Tá San chỉ dẫn. Cậu em tìm được xác anh Thiệu, nhưng không thể tìm được bất cứ một phương tiện nào để chuyên chở, và cũng không biết sẽ chở về đâu, trong tình thế lúc này. Cuối cùng, rất may mắn, một anh tài xế xe rác nặng tấm lòng với QLVNCH, đã vui vẻ nhận lời giúp đỡ. Sau khi đổ hết rác trên xe xuống vệ đường, theo sự hướng dẫn của cậu em chị Thiệu, nhưng cũng rất nhiều khó khăn, anh tài xế mới đưa xe đến được vị trí, nơi anh Thiệu nằm. Sau một lúc thảo luận, cuối cùng hai anh chở xác Thiếu Tá Thiệu đến Nhà Thờ Bùi Phát để nhờ giúp đỡ. Và cũng rất may mắn, đã gặp đúng một vị linh mục nhân từ. Cha Trần Quốc Phú vui vẻ nhận lời, đứng ra tẩm liệm và chôn cất Thiếu tá Thiệu ngay trong khu đất của nhà thờ.

Chị Thiệu thường xuyên đưa các con đến đây thăm viếng và xây lại ngôi mộ cho chồng. Mấy năm sau, chị xin hỏa táng, và mang tro cốt anh về thờ tại tư gia ở Mỹ Tho. Lúc Thiếu Tá Thiệu mất, anh chị có ba con, hai trai 9 và 7 tuổi, cô con gái út chưa tròn 12 tháng. Sau này, cháu trai lớn mất, cháu gái định cư ở Úc.  Hiện nay chị sống với cậu con trai thứ tại Mỹ Tho, quê hương của chị. Điều đáng ngưỡng mộ hơn, khi chồng hy sinh, chị còn khá trẻ, nổi tiếng có nhan sắc, nhưng không hề bước thêm một bước nào nữa, ở vậy nuôi dạy các con trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nghiệt ngã. Cả hai cháu đều nên người, thành đạt, hiếu thảo và luôn sống với niềm tự hào về người cha Võ Bị, từng sống rất tư cách và chết hiên ngang.


Cuộc chiến Việt Nam đã gây ra biết bao đau thương tang tóc. Vào giờ thứ 25 của cuộc chiến có biết bao nhiêu người đàn bà trở thành góa phụ, biết bao đứa con thơ  trở thành cô nhi, nhiều cháu chưa hề biết mặt cha mình. Không những không được hưởng bất cứ một ân sũng nào của quôc gia khi chồng, cha hy sinh cho Tổ Quốc mà họ còn bị kẻ thù phân biệt đối xử, nhục mạ và phải đương đầu với muôn vàn khó khăn trong cuộc sống. Những người như chị Đoàn Đình Thiệu rất xứng đáng để chúng ta biết ơn và ngợi ca. Sự hy sinh nào của những người lính, hay vợ con của lính, cũng đều tiềm ẩn những ý nghĩa cao quý, cho dù những cái chết vô danh, không được truy thăng hay chôn cất theo lễ nghi quân cách. Với Tổ Quốc và lịch sử dân tộc, những hy sinh dù trong âm thầm, vẫn mãi mãi là điều bất diệt.


Viết những dòng này, xin được thay bó hoa hồng tươi thắm nhất, gởi đến Chị Đoàn Đình Thiệu và các cháu cũng như những cô nhi quả phụ khác của giờ thứ 25, lòng tri ân và ngưỡng mộ của những người một thời từng là đồng đội, là huynh đệ của phu quân các chị, người cha đáng kính của các cháu. Và xin cầu chúc những điều tốt đẹp nhất cho những người đã sẵn sàng chấp nhận những số phận nghiệt ngã, hy sinh, nhưng vẫn luôn hãnh diện có chồng, cha là lính chiến VNCH, đã dám chết cho quê hương, dân tộc.


Cali, tháng 4/ 2018

Phạm Tín An Ninh

Ngồi Tính Sổ Đời - Đỗ Công Luận

Trong Nỗi Cô Đơn Hoá Thân - Kim Thanh


      Sáng ba mươi Tết năm nay, Trường bỗng dưng lù lù xuất hiện tại cửa nhà tôi. Một cách bất ngờ, không báo trước –do một đệ tam nhân cho địa chỉ, nhưng không biết số điện thoại của tôi. “Để thăm và chúc Tết bạn”, Trường cười nói. Lần đầu tiên, sau ba mươi mốt năm. Tôi quen Trường, một cách sơ giao, từ khi mới đặt chân đến Mỹ, năm 1985. Thỉnh thoảng gặp nhau tại nhà thờ, cũng chào hỏi, à ới vài câu cho đúng thủ tục của người “có văn hóa”, nhưng trong thâm tâm không bên nào muốn bước thêm bước nữa để trở thành bạn, đúng nghĩa. Bởi anh rất đạo đức, đạo mạo, cẩn trọng, mặc dù suýt soát bằng tuổi, ngược hẳn với tôi tính tình bộc trực, bất cần đời, thấy chướng tai gai mắt là đốp chát liền. Thấy tôi đâu, anh không quên mời gia nhập hội này hội nọ trong giáo xứ, lại còn nhắc năng xưng tội, rước lễ  –điều mà tôi luôn hứa, cho qua chuyện, nhưng không bao giờ làm. Riết rồi anh chán, và tôi cũng chán, tìm cách trốn anh.

      Trường sống một mình, không vợ con, kiểu tu tại gia. Nghe nói anh đã được phong vài chức thánh nhỏ, mà tôi cũng chẳng hỏi anh tại sao không thừa thắng xông lên đi làm thầy sáu hay linh mục, cho ấm thân. Công việc chính, âm thầm, mà anh tự đặt, là đi thăm viếng những đồng hương bị bệnh đang nằm điều trị ở nhà thương, hoặc tại gia, để an ủi, nâng đỡ tinh thần, đọc kinh cầu nguyện, có khi đem Mình Thánh Chúa đến cho họ v.v…

      Ngoài ra, Trường còn tình nguyện đi thăm các ông bà già trong những nhà dưỡng lão. Đó cũng là mục đích chính đã khiến Trường đến tôi bất ngờ sáng nay. “Tiện đường, rủ bạn cùng đi cho vui ấy mà”, anh nói. Tôi hỏi vặn: “Bộ hết người để rủ đi hay sao mà ông cứ nhắm tôi hoài vậy cà?” Anh cười, không trả lời. Mặc dù lu bu bởi trăm thứ việc không tên, tôi cũng thấy mềm lòng và mặc cảm tội lỗi với anh. Bèn OK.


      1. Nhà dưỡng lão tư mà Trường chở tôi đến cũng ở cùng khu với nhà tôi. Một căn nhà diện tích trung bình, sạch sẽ, thoáng mát, có một vườn nhỏ đầy hoa muôn sắc, xen lẫn với rau thơm đủ loại mà chủ nhân trồng thêm, cho những bữa ăn thuần túy Việt Nam. Bên trong cải biến thành một gian rộng, chia ra sáu phòng nhỏ vừa đủ cho sáu giường nằm. Có bếp và phòng vệ sinh chung. Bình thường, tổng số “cư dân” –toàn là trên bảy, tám bó– là sáu, hôm nay chỉ còn ba, vì các cụ lần lượt từ giã cõi trần, hoặc con cái muốn “đổi nhà dưỡng lão, với nhiều lý do riêng”, bà chủ nhà nói.

      Hôm ấy, Trường muốn thăm gặp, đặc biệt, một cụ ông 98 tuổi, Công giáo, không thân nhân. Vì vậy, chúng tôi vào thẳng phòng cụ trước, với sự hướng dẫn của bà chủ và một chị chăm sóc viên (caretaker), tên Sang, chuyên giúp các cụ ăn uống, làm vệ sinh, tắm gội, thay tã, dắt đi bộ ngoài vườn v.v…  Thấy có khách, cụ ông đang nằm cố gắng ngồi dậy, mặc dù Trường giơ tay ngăn cản. Trông cụ còn tráng kiện so với số tuổi, nói năng hoạt bát, nhưng đã lẫn, quên hết chuyện mới, ví dụ, vừa được Sang cho ăn đó, mà cụ lại không nhớ, kêu đói. Khiến chị phải cải chính, chỉ chỉ vào bụng của cụ. Trái lại, những chuyện cũ năm xửa năm xưa, cụ nhớ rất kỹ, và kể ra vanh vách, tuy không mạch lạc. Đặc biệt, nhớ cả bài thơ tình tám câu mà cụ nói cụ làm để tán tỉnh cô hàng xóm, thuở còn trẻ, “dễ thương ơi là dễ thương” (lời cụ), rồi cụ hứng chí đọc đi đọc lại bài thơ, lần nào cũng sai vài chữ, vài câu, rồi cười khanh khách, sảng khoái. Cười xong, cụ bỗng rơm rớm nước mắt, như trong lòng mang nặng tâm sự, và nằm vật ra giường. Trong lúc đó, bà chủ và chị Sang, vì bận việc, đã kín đáo bỏ đi, để mặc khách chuyện trò với cụ.

      Rời cụ ông 98 tuổi, chúng tôi thăm viếng xã giao, ngoài chương trình, hai “cư dân” còn lại, gồm một nam, một nữ. Cụ ông này, 85 tuổi, yếu lắm, bỏ ăn, một tuần trước đó, than khó thở, được xe cấp cứu chở đi bệnh viện nằm một ngày, và đưa về lại. Chủ nhà báo tin cho mấy đứa con cụ, nhưng ai cũng trả lời không thể ghé thăm, nại cớ bận đi làm. Nằm bất động trên giường, cụ chỉ lắng nghe, mà không nói, mà có nói cũng thều thào, không thành tiếng. Nửa tháng sau, tình cờ gặp lại Sang, tôi hỏi thăm về cụ, và nghe chị kể: “Mấy hôm sau khi hai anh gặp cụ thì cụ qua đời, lúc bấy giờ con cái mới tới, gọi nhà quàn cho xe đến chở xác cụ đi thiêu”.


      2. Rồi chúng tôi vào phòng cụ bà duy nhất. Cụ đã 86 tuổi, trông rất yếu. những còn tỉnh táo, minh mẫn, không lẫn chút nào. Gương mặt nhăn nheo phảng phất một nét đẹp thanh tú của ngày xưa còn sót lại. Sang nói, cụ được con cái thỉnh thoảng đến thăm.

      Lúc chúng tôi bước vào, cụ đang ngồi trên xe lăn, kế bên là Sang, tay cầm muỗng cơm, khom người dụ dỗ, thiếu điều năn nỉ, cụ mở miệng, để đút cho cụ ăn. Nhưng cụ lắc đầu, nhất quyết tuyệt thực. Chúng tôi nghe lời đối đáp giữa hai người:

      - Cụ ăn vài miếng giùm con đi. Đã hai ngày rồi, mà cụ không có gì trong ruột…

      Cụ òa khóc, nức nở:

      - Tôi nhớ con, nhớ cháu lắm, cô cho tôi về thăm nhà ba ngày Tết đi, rồi tôi trở lại, tôi hứa mà, giúp tôi đi, cô ơi. Con tôi không tới đón tôi về, thì tôi nhất định ngậm miệng…

      Mủi lòng, tôi tiến đến bên, cúi xuống, choàng vai cụ, vỗ nhẹ lưng, và lấy giấy Kleenex lau nước mắt cho cụ, trong khi Sang nói tiếp:

      - Cụ ăn đi, rồi chốc nữa, mấy anh mấy chị sẽ đến đón cụ về…

      Cụ ngừng khóc, vẻ mặt u buồn đổi sang một chút hớn hở, nhưng còn thút thít, hoặc nấc lên, tức tưởi, như trẻ thơ, và hỏi lại:

      - Thật nhé?

      - Dạ thật.

      Lúc đó, cụ mới hả miệng, chịu ăn hết chén cơm, có rau, thịt, và uống hết một ly nước cam vắt. Xong xuôi, như thường lệ, Sang bế cụ lên giường, để cụ nghỉ trưa.

      Ra khỏi phòng, chị khẽ kể cho hai chúng tôi rằng, theo lời yêu cầu của cụ, bà chủ đã gọi các con cháu, khá đông, đến rước cụ về thăm nhà trong dịp Tết, nhưng ai cũng trả lời là bận đi làm, không thể đưa cụ về được. Chị nói: “Khi nãy, em phải nói như thế để cho cụ chịu ăn, chứ thật tình em biết qua bà chủ là họ sẽ không đến. Hóa ra mình nói dối với cụ”. Tôi trả lời: “Chị đừng áy náy. Lúc còn chiến tranh, tại Phan Thiết, tôi cũng đã một lần nói dối với bà mẹ của một người lính ở đơn vị vừa chết trận. Gặp bà mẹ anh đang bị bệnh nặng nằm thoi thóp trên giường, hỏi thăm con, tôi không nỡ, và không thể, nói thật… Trong trường hợp này, chị đã phản ứng không khác chi tôi.”     

      Trường đứng im, lắc đầu, không nói gì. Còn tôi, tự dưng, thấy tái tê, đau đớn, như có trăm nghìn mũi kim vô hình đâm xuyên trái tim. Chợt nghe vọng về bên tai những câu hát quen thuộc, bất hủ, tưởng đã chôn vùi trong ký ức từ lâu:

      “Mẹ mẹ là dòng suối dịu hiền. Mẹ mẹ là bài hát thần tiên. Là bóng mát trên cao. Là mắt sáng trăng sao. Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối. Mẹ mẹ là lọn mía ngọt ngào. Mẹ mẹ là nải chuối buồng cau. Là tiếng dế đêm thâu”… (Phạm Thế Mỹ).

      Hay “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào / Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào / Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào / Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu”… (Y Vân).

      Hay “Maman, Maman jolie (Mẹ ơi, Mẹ xinh đẹp ơi) / Maman tu es la plus belle du monde (Mẹ, mẹ đẹp nhất trần đời) / Aucune autre à la ronde n'est plus jolie (Không ai chung quanh đẹp hơn)”… (Dalida).                       

 

      3. Và tôi bỗng thấy nhớ Mẹ dấu yêu của tôi quay quắt –đã ra đi, về với Tuổi, từ bao thu rồi. Thầm ước mong, và tưởng tượng, một ngày nào Mẹ thức dậy từ giấc ngủ ngàn năm, và cũng bảo tôi đưa về thăm nhà, vì nhớ con, nhớ cháu. Để Mẹ ôm chặt các con, các cháu vào lòng, không rời, trong vòng tay trìu mến. Để cho tôi khóc cạn nước mắt, trên vai gầy của Mẹ, bên trọn cuộc đời này. Khóc cho mẹ tôi, giờ đây vẫn nằm dưới mộ sâu, vô vàn cách trở. Khóc cho tất cả những người mẹ thân xác còn đó mà một nửa hồn đã chết, như hoa tàn trăng khuyết, trong nỗi tuyệt vọng vô bờ và chờ đợi mỏi mòn.


     Trong nỗi cô đơn tột cùng. Trong nỗi cô đơn hóa thân. Qua hình hài của một bà cụ 86 tuổi tội nghiệp, một bà mẹ đáng thương đã bỏ ăn, bỏ uống, vì không được con cái đón về nhà để vui Xuân cùng với gia đình. Một bà mẹ bất hạnh, khổ đau, không quen biết –mà tôi đã không hẹn đến để thăm gặp, để lau hộ những dòng lệ héo hắt tuôn rơi, vào sáng ngày ba mươi Tết, năm nay, tại một nhà dưỡng lão Portland.

 

Portland, 4 tháng 3, 2016

Kim Thanh 

Sớ Táo Việt Nam Năm Ất Tỵ - Nguyễn Duy Phước


Khải tấu Ngọc Hoàng, Thần Táo dương gian,

Tháng Chạp Hăm Ba, « Ô-voa » Táo bà,

Từ chốn quê nhà, Về không chậm trễ,

Dập đầu trước bệ, Kính chúc Thượng Đế,

Long thể an khang, Tâu chuyện thế gian,

Trong năm Ất Tỵ, Gom góp tỉ mỉ,

Không sót một ai, Thề không nói sai,

“Fake News” chẳng xài, Ngài phải rửa tai,

Hầu nghe cho hết, Nghe nhiều phát mệt,


Trước hết Việt Nam, Bao nỗi trái ngang,

Dưới ách cộng sản, Bè lũ bác đảng,

Vẫn cứ huênh hoang, Tổ chức liên hoan,

Cách mạng tháng Tám, Diễn binh Quốc Khánh,

Đánh Mỹ, ngụy quân, Giải phóng miền Nam,

Xuống Hố Cả Nước, Xã Hội Càng Ngược,

Lộng hành cướp giựt, Ngục tù áp bức,

Đàn áp bạo tàn, Tù nhân lương tâm,

Dân oan thống khổ, Tham nhũng hối lộ,

Nô lệ ngoại bang, Một đám Việt gian,

Buôn dân bán nước, Đọa đày dân tộc,

Dân chủ tự do, Độc lập ấm no,

Toàn là bánh vẽ, Công bằng xã hội,

Có thấy chi đâu, Chỉ thấy đám giàu,

Ăn trên ngồi trước, Tóm thâu lơi lộc,

Đem tiền đút lót, Cho bọn chóp bu,

Của cải kếch xù, Nước ngoài đầu tư,

Mua nhà mua cửa, Dân nghèo cưỡng bức,

Lầm than cơ cực, Thật là oan ức,

Chủ tịch Vingroup, Tên Phan Nhật Vượng,

Thao túng chính trường, Ép đám chính quyền,

Ra luật xe điện, Dẹp hết xe xăng,

 

Bí thư “To Lon” (Tô Lâm), Ông trùm công an,

Ăn bò dát vàng, Lên ngai ngang tàng,

Thay thế Trọng lú, Bình mới rượu cũ,

Nối gót đàn anh, Giở thói lưu manh,

Giả vờ cởi mở, Nhưng đừng tưởng bở,

Chúng cùng một lò, Bắt chước giặc Hồ,

Chuyên môn phản trắc, Tin chúng là thác,

Hòa hợp hòa giải, Chót lưỡi đầu môi,

 

Bọn này rất tồi, Cò mồi gian trá,

Dụ khị vồn vã, Việt kiều nhẹ dạ,

Xưa là phản quốc, Giờ là núm ruột,

Buồn thay dân Việt, Tỵ nạn cộng sản,

Xưa chạy có cờ, Nay lại về chơi,

Nhởn nhơ vui thú, Hối đoái kỷ lục,

Giúp chúng tiếp tục, Chế độ ngục tù,

Đi nuôi quân thù, Làm khổ đồng bào,

Lương tâm để đâu, Hãy mau thức tỉnh,

 

Dính thêm kiếp nạn,

Lũ lụt thiên tai, Tính đến hôm nay,

Hăm mốt cơn bão, Thiệt hại biết bao,

Nào là Tây Nguyên, Đắk Lắk, Thừa Thiên,

Cũng vì lũ điên, Tham lam kiếm tiền,

Đốn cây phá rừng, Xây nhà không ngừng,

Không nơi thoát nước, Bốn trăm người chết,

Thiệt bốn tỷ đô, Chúng lại mưu đồ,

Giở thói ăn mày, Kêu gọi phương Tây,

Rộng lòng cứu giúp, Lấy tiền đút túi,

Dân chúng bị gạt,

Tình nghĩa đồng bào, Cũng thấy nao nao

Hè nhau quyên góp, Gửi về cứu trợ,

Tiền chớ thấy đâu, Chúng ăn trên đầu,

Cáo hồ gian xảo, Suốt đời lếu láo,

 

Thần Táo cầu xin, Thượng đế lượng tình,

Anh minh soi sáng, Diệt tan cộng sản,

Giải thoát cơ đồ, Khỏi ách cộng nô,

Toàn dân nô nức, Đoàn tụ hạnh phúc.

 

Đến đây chấm dứt, Hết sức mệt đừ,

Thần xin cáo từ, Hẹn ngài năm tới,

Thánh thượng vạn vạn tuế.


NdP

Monday, February 2, 2026

Chữ Khác Nghĩa - Ngô Du Trung



VC là "vua" mị dân. Dùng “lời khác lẽ”, dùng “chữ khác nghĩa” để mị dân. để tráo trở, bịp bợm:

 Đi xâm lăng nó gọi là “giải phóng”..

Cướp tài sản của dân nó gọi là “đánh tư sản mại bản”.

Nó bỏ tù người ta thì nói là cho đi “học tập”.

Người yêu nước nó gọi là “phản động”.

Mấy thằng bán nước cho Tàu nó gọi là nhà “cách mạng”.

Làm việc gì nó cũng chạy sang hỏi ý kiến Tàu, nó gọi như vậy là “độc lập”.

Dân lên tiếng, bị bịt mồm và bắt bỏ tù (“đi học tập) và đánh đập, nó gọi đó là tự do..
Nó chọn người xong bắt dân bỏ phiếu bầu nó gọi là “dân chủ”.
Phiên toà không cho dân chúng tham dự nó gọi là “phiên toà công khai”.

Tiền tham nhũng nó gọi là tiền “bồi dưỡng”..

Nhận một cô gái làm con nuôi rồi làm cho con nuôi phình bụng và bịt râu giả dạng thường dân đấu tố ân nhân mình cho tới chết nó gọi là “đạo đức cách mạng”.

Xúi con cái đấu tố cha mẹ tới chết nó gọi là “cải cách ruộng đất”.

Giàu có, sung túc như ở miền Nam trước năm 75 nó gọi là “phồn vinh giả tạo”.
Đói nhăn răng như ở miền Bắc  trước 75 nó gọi là “thiên đường XHCN”.
Những tên nằm trên lưng nhân dân bắt nhân dân cõng đi làm cho khỏi ướt chân, nó gọi là “đầy tớ nhân dân”.

Quan VC qua Nhật ăn cắp bị bắt quả tang nó gọi là “gặp sự cố”. Tàu của  bọn Chệt xâm phạm lảnh hải, bắn giết ngư dân ta nó gọi là "tàu lạ".

Những người chiến đấu bảo vệ tự do nó gọi là “tay sai đế quốc”..

Kẻ thù của dân tộc nó gọi là “láng giềng tốt”.

Ân nhân chữa bệnh cho nó, dạy dỗ con cháu nó, nó gọi là “giặc xâm lăng”…..

Bịp bợm, xão quyệt theo "quy trình" là  “đặc sản” của VC.

Ngô Du Trung..