Wednesday, September 2, 2026

Hồn Ma Xứ Pháp - Lê Khánh Thọ


Chiều thứ bảy 26/3/2011

Rời khỏi phòng nhãn khoa, bà Minh mời tôi vào quán café. Thấy trời chạng vạng tối, tôi ngần ngại nhưng lại không nở từ chối vì nghĩ bà tuyệt vọng, đang cần tôi để trút nổi niềm lo lắng. Giọng bà phẫn uất:

- Tui thề với chị từ ngày chồng chết đến nay tui chưa ngủ với thằng cha nào thì làm sao tui bị Sida cho được! (bệnh Aids).

Tôi định giải thích người ta không hẳn lây bịnh Sida vì ngủ với thằng cha nào, nhưng bộ mặt thảm sầu của bà khiến tôi đổi qua giọng trấn an:

- Chị đừng lo. Người ta gởi chị tới trung tâm Sida thử máu vì người ta tìm không ra bịnh của chị, họ đâu đã quả quyết chị bị Sida.

- Tại sao trung tâm Sida đẩy tui tới đây khám mắt? Mắt đâu có liên quan gì tới Sida!?

- Em không rành y học, tốt nhất chị chờ kết quả.

Từ hơn 10 năm nay, tôi giúp bà Minh thông dịch. Bà xấp xỉ lục tuần hơn tôi 2 tuổi, người Nam, vẻ mặt đẹp phúc hậu, bản tính bộc trực, thân hình phốp pháp so với chiều cao không quá một mét rưỡi nhưng bà ít chú trọng ngoại dáng, vẫn không thể thiếu lon Coca trong bữa ăn (theo lời bà “cho nó ợ dễ tiêu”). Mang nhiều thứ bịnh tuổi xế chiều loại tê thấp, gai cột xương sống, bao tử... nhưng chưa bao giờ bà quá lo lắng như lần này. Mỗi khi ho hoặc hắt hơi, hai bên tai bà bị ù và cảm thấy nhức nhối trong đầu. Chụp quang tuyến vẫn không tìm ra bịnh, bác sĩ gởi bà đến trung tâm điều trị Sida. Giúp bà quên nổi lo, tôi bắt qua chuyện khác:

- Ông bác sĩ gia đình hôm nọ nói chị dư kí lô, khuyên chị nên đi bộ nhiều. Mấy hôm nay chị có đi không?

- Tui mới đi hổm rày.

Bà chợt nhớ ra, nói:

- Tui muốn hỏi chị chuyện này. Sáng sớm trên đường ra hồ thể dục, ngay chỗ ngọn đồi gần viện dưỡng lão, chị có gặp nhiều người hông?

- Em không theo hướng đó. Từ nhà em qua lối khác gần hơn. Mà sao chị?

- Kỳ thiệt, tui gặp đông người lắm! Có một bà mặc quần đen, áo trắng, tóc dài đi gần tui. Qua hôm sau tui cũng thấy giống y như dzậy. Tui nghĩ giờ đó còn sớm, ai mà ra đường đông quá hé! 

- Người đàn bà đi gần chị là người Pháp hay người mình?

- Tui hổng biết. Tui hổng thấy rõ mặt nhưng gặp hai ngày liên tiếp thì tui chắc chắn cũng là bà đó vì đầu tóc dài, mặc quần đen, áo trắng.

Tôi nghĩ đúng là kỳ lạ, xứ Pháp nơi tỉnh tôi ở rất ít người ra đường lúc trời chưa sáng. Tôi lan man nhớ đến phim “Giác quan thứ sáu (The sixth sense)” do nhà đạo diễn Ấn Độ M. Night Shyamalan thực hiện năm 1999, tài tử Bruce Willis và nhi đồng Haley Joel Osmen thủ vai chánh. Chuyện phim kể về một cậu bé 9 tuổi bỗng dưng có năng khiếu thấy được người thế giới bên kia, ở trong tình trạng ghê rợn như ói mửa sặc sụa, treo cổ, máu me bê bết...Cậu rất sợ hãi và trở nên đứa trẻ sống khép kín. Cho tới khi được một bác sĩ tâm lý tin lời, khuyến khích cậu làm sáng tỏ cái chết oan ức của một cô gái bị bà mẹ ghẻ đầu độc. Và bất ngờ cậu khám phá ông bác sĩ cũng là người ở thế giới bên kia, mới qua đời vì bị một bệnh nhân tâm thần ám sát. Bởi cái chết đột ngột, chưa biết mình đã chết nên ông vẫn quyến luyến cõi trần và đau khổ ghen tuông mỗi khi nhìn thấy vợ yêu của mình với người đàn ông khác... Nhờ lời hướng dẫn thông minh của cậu bé, ông hiểu và chấp nhận mình đã chết.

Tôi nghĩ biết đâu bà Minh có khả năng tiếp xúc với thế giới bên kia, bèn nghiêm giọng nói:

- Có lẽ họ muốn chị cúng.

Bà Minh bật nẩy người:

- Chị nói gì mà ghê dzậy! Bộ chị nghĩ là ma hả?

- Em nghĩ không chừng họ cần chị giúp đỡ.

- Thôi chị ơi, tôi hổng dám ra đó cúng một mình đâu, mà nếu cúng cũng phải đợi thứ bảy tụi học trò nghỉ học, chỗ đó gần trường học. Thấy mình cúng, tụi học trò Tây bu coi, hổng được đâu!

Vậy rồi cả ngày chủ nhật và thứ hai, tôi bị câu chuyện trên ám ảnh. Tôi định bụng sẽ khuyến khích bà Minh đi cúng cùng với tôi, nhưng rồi tôi chần chờ vì nghĩ: “còn lâu mới tới thứ bảy, vài ngày nữa mình phôn cho bả cũng chưa muộn”.

Lần lữa đến tối thứ tư, vào ngày con gái tôi ghé nhà ăn cơm tối, tôi đang kể cho con tôi nghe nghi vấn “hồn ma trên ngọn đồi thì thình lình hai mẹ con giật mình bởi tiếng clic, bóng đèn chớp một cái thật nhanh và sáng trở lại trong tích tắc. Đây là lần đầu tiên chuyện bất thường này xảy ra. Tôi thầm nghĩ: “không lẽ ma chơi mình sao ta!?

Ăn cơm tối xong, con gái tôi viết mail cho cô bạn Pháp mà từ tháng nay vì bận rộn với người yêu (mới!) nên quên bẵng. Đang gõ mail thì nghe tiếng clic giống hồi này, đèn điện chớp nhanh và sáng trở lại. Điều kỳ lạ tuy mail biến mất nhưng máy vẫn hoạt động. Con gái tôi lẩm bẩm: “Cả tháng mới viết mail mà cũng sinh chuyện!” May thay bức thư viết dở dang tuy biến mất nhưng vẫn còn lưu trữ trong hộp brouillons (nháp).


30/3/2011, 21giờ 47

Chào Maud,

Mình nghe Michael báo tin bồ đã sinh được một bé gái rất dễ thương! Mình muốn chúc mừng bồ và hỏi thăm sức khỏe của bồ (Coucou Maud, J’ai appris par Michael que tu avais accouché d’une adorable petite fille! Je voulais t’envoyer mes félicitations et te demander comment ça va...). Tiếc rằng đã không làm điều này sớm hơn! (Désolée de ne pas l’avoir fait plus tôt!).

Con tôi tiếp tục gõ mail thì bỗng nghe clic, mail lại biến mất lần thứ hai. Bực bội, con tôi lẩm bẩm:

- Lạ thật, thôi khỏi viết nữa! 

Tôi chợt hiểu, bảo con:

- Má nghĩ ông bà khuất mặt nào đó hối má gọi bác Minh về việc đi cúng ngày thứ bảy. Con đợi má nói chuyện với bác Minh xong rồi hãy viết lại, biết đâu sẽ được!

Qua phôn, bà Minh kể với giọng sôi nổi:

- Sáng sớm thứ hai, tui ra ngoài hành lang cột dây giày trong khi chờ thang máy xuống. Chị nhớ tui ở lầu một. Thang máy không ngừng lầu một mà lại chạy xuống tầng dưới cùng. Tui tò mò đi bộ thật nhanh xuống dưới để kịp xem người nào dậy sớm như tui. Tuyệt nhiên không có ai cả và ngoài đường vắng tanh. Ui chời ơi, tui lạnh toát cả người, sợ quá hổng dám đi ngang qua con đường cũ ra hồ, mà phải vòng qua lối khác xa hơn. Hổm rày tui hổng dám ra đường sáng sớm nữa. À, tui quên kể chị tin dzui, tui mới nhận thơ báo tui hổng bị Sida.

Sau khi tôi hẹn với bà Minh sáng thứ bảy sẽ cùng nhau ra ngọn đồi, con gái tôi vào brouillons tìm lại mail đã biến mất hồi nãy thì vô cùng kinh ngạc... Ba hàng chữ mà con tôi viết tiếp theo không còn nữa, chỉ còn câu: “Tiếc rằng đã không làm điều này sớm hơn”, như một lời nhắc khéo tôi đã không sớm gọi bà Minh.

Qua lần thứ ba con tôi viết và gởi mail đi êm thắm. Sinh trưởng trên xứ Pháp, dù đầu óc khoa học nhưng con tôi cũng phải sững sờ trước hiện tượng không thể giải thích.  


Thứ bảy 02/4/2011

6 giờ rưỡi sáng tháng tư trên xứ Pháp trời tranh tối tranh sáng, tôi hẹn bà Minh nơi có xe cộ thưa thớt qua lại. Tôi chưa bao giờ biết cúng cô hồn nên bà Minh lãnh phần mang đồ cúng. Tay bà xách bọc nylon, mặt có vẻ trầm trọng. Đi bộ khoảng vài phút thấy viện dưỡng lão, tôi nao nao xúc động nhớ ngày nào mình đã từng làm việc cận kề những người già yếu cô đơn. Bên cạnh viện là ngọn đồi nhỏ um tùm cây cối vẫn còn ngủ yên trong sương mù, vòng quanh đồi ngoằn ngoèo những con đường đất chật hẹp dành cho người đi bộ. Tôi thầm thì khấn:

- Ông bà linh thiêng cho tui thấy, có cần chi xin cứ nói.

Bà Minh nạt nhỏ:

- Cái chị này, người ta sợ muốn chết mà chị còn đòi thấy. Tui sợ đến nổi cả tuần nay mất ngủ. Thôi xin kẻ khuất mặt khuất mày để yên tui cúng, làm ơn đừng cho tui thấy.

Sắp tới nơi, tôi dặn dò:

- Khi nào chị thấy "họ", chị bấm tay em thật chặt làm hiệu nghen chị.

Bà Minh gật đầu và nắm nhẹ tay tôi. Một phút sau, bà Minh bấm mạnh vào bàn tay tôi lia lịa, mặt bà thất thần sợ hãi. Tôi đảo mắt nhìn quanh nhưng không thấy gì ngoài cây cối. Bà Minh lui cui dọn đồ cúng dưới gốc cây. Trước tiên bà trải hai tờ báo lớn và trải bánh kẹo lên trên, rót ba ly nước lạnh, thắp 6 cây nhang. Vẻ mặt bà xúc động, run run nói “tui lạnh quá!” Tôi cầm 3 cây nhang bà Minh mới trao, lâm râm niệm Phật và khấn vái tứ phương, cầu nguyện cho những oan hồn sớm siêu thoát. Tôi nhắc nhở oan hồn rằng họ đã chết rồi, họ không còn sống ở cõi trần, không sống ở cõi chết mà đang ở giữa hai cõi. Chính vì muốn bám víu cõi trần nên họ đau khổ. Tôi mong họ hãy chấp nhận sự chết để họ sớm được bước vào một cõi khác tốt đẹp hơn.

Bỗng nhiên từ xa tôi thấy trong sương mù xuất hiện một bóng dáng đàn ông cao lớn đi chầm chậm. Tôi hồi hộp nghĩ thầm: “họ cho mình thấy rồi!” Tôi ghé tai bà Minh thầm thì:

- Em thấy rồi. Chị có thấy ông mặc đồ đen phía tay phải không?

Bà Minh nhíu mày, nói nho nhỏ:

- Hổng phải, thằng cha Tuyệt (Turc: Thổ Nhĩ Kỳ) này ở gần nhà tui thường hay nhậu xỉn. Đương không mắc mớ gì sáng nay chả ra đây sớm dzậy nè!

Tôi chưng hửng khẽ bật cười,lòng thầm an ủi lời Thánh kinh “Phước cho những ai không thấy mà tin!” Khi chúng tôi rời khỏi khu vực huyền bí, bà Minh bạo miệng kể:

- Hôm nay trên đồi đông hơn hai lần trước, mà hổng khi nào tui thấy rõ mặt mũi của ai. Người đàn bà tóc dài mặc quần đen áo trắng có vẻ dân xứ mình.


Tôi chợt nhớ câu chuyện thương tâm mấy năm trước đã gây chấn động trong cộng đồng người Việt nơi tôi ở. Bà Tư Muối tuổi gần 70, chết cả tháng trời trong căn phòng nhỏ, mùi hôi thối xông nồng nặc cả chung cư khiến hàng xóm khiếu nại. Ông gác dan mở cửa thì kinh hãi khám phá một thi thể lúc nhúc dòi bọ. Thiên hạ bàn tán... tuy thằng em trai cư ngụ cùng tỉnh và hai người em gái ở Paris cách 300 km nhưng chị em rất ít liên lạc. Tôi nhắc bà Minh:

- Không chừng bà Tư Muối chết uất ức hiện về nhờ bà cúng đó!

- Hổng phải đâu. Bà Tư Muối lùn và mập. Bà này ốm và cao. Tui ở đây mấy chục năm, bà nào chết tui cũng đưa đám. Tui chưa bao giờ thấy dáng ai giống bà này.

- Em nghĩ tỉnh mình không có chùa, vậy mỗi sáng thứ bảy tụi mình ra đây thì cũng như đi chùa. Em không rành đọc kinh nhưng có thể niệm Phật cầu nguyện cho đến khi nào chị không thấy "họ" nữa.

- Ờ, chị nói dzậy cũng phải. Tui vái họ cho tui trúng cá ngựa, tui sẽ mời Thầy tới lập trai đàn giúp họ mau siêu thoát.

Tôi phì cười:

- Chị có máu hối lộ hí! Sách Phật dạy mình không được cầu lợi cho mình dưới bất cứ hình thức nào. 

- Hổng phải hối lộ, tại tui lãnh tiền trợ cấp xã hội mấy trăm bạc hổng đủ tiền mời thầy.

- Cho dù chị muốn lập trai đàn cũng không được đâu, cảnh sát bắt đó! Nếu thân nhân mình chết ngay ngọn đồi thì mình có thể lấy cớ phong tục xứ mình để xin giấy phép. Mình kể câu chuyện này ai mà tin, không chừng mình bị cảnh sát nhốt vào nhà thương điên.

- Ờ, tui cũng hổng dám nói với ai, người ta sẽ cười tui mê tín đặt chuyện.


4 ngày sau... (thứ ba) bà Minh phôn:

- Tui suy nghĩ hoài ngủ hổng được. Tui đoán người đàn bà này là má của ông bác sĩ Hướng (ông bác sĩ Việt Nam duy nhất trong tỉnh nay đã về hưu). Tui hổng biết bà này nhưng mỗi khi tui đi thăm mộ hai người hàng xóm, tui thấy mộ của má bác sĩ Hướng bên cạnh tiêu điều hổng ai thăm viếng thật tội nghiệp! Tui lượm những cành bông còn tốt người ta vất làm thành một bó cắm lên mộ bả. Tui khấn bả tha lỗi cho tui tặng bả bông lượm giỏ rác, nhưng vì tôi muốn làm mộ bả đẹp để bả dzui. Tui nghĩ người đàn bà đó có thể là má bác sĩ Hướng, vì tui nghe người ta nói bà này ở viện dưỡng lão nhưng tui hổng biết tên viện dưỡng lão.

Tỉnh tôi ở có 4 viện dưỡng lão. Tôi tới viện dưỡng lão gần ngọn đồi, là nơi tôi đã từng làm animatrice thì được xác nhận có một người đàn bà Việt Nam duy nhất nhập viện khoảng hơn 2 năm và qua đời vào năm 1980.

Sau khi hội ý với tôi,bà Minh phôn trình bày câu chuyện với bác sĩ Hướng. Bà phập phồng lo lắng ông sẽ nghĩ bà có máu đồng bóng, hoặc bịa chuyện để trục lợi. Bà van vái vong hồn mẹ ông linh thiêng cố gắng hối thúc ông con sớm liên lạc với bà.

Sáng thứ sáu bà Minh phôn cho tôi rất sớm, bà háo hức báo tin bác sĩ Hướng sẽ tới nhà bà lúc 11 giờ và bà yêu cầu tôi có mặt.  

Gặp bác sĩ Hướng, ông xác nhận mẹ ông dáng cao, gầy và tóc dài như lời bà Minh tả. Ông trầm ngâm đọc bức thư tôi mới in ra giấy có hàng chữ: “Tiếc rằng đã không làm điều này sớm hơn”. Ông cho biết ông có vợ Đầm và ba con, sau khi bảo lãnh mẹ qua thì không còn cách nào hơn là phải đưa mẹ vào viện dưỡng lão. Hôm mẹ chết, đứa em ông định cư tại Mỹ đã nhờ Thầy cầu siêu đem vong linh mẹ vào chùa ở Los Angeles.Tôi nói:

- Theo tôi đọc sách Phật thì việc cầu siêu tuy ích lợi cho người chết nhưng chính những ý tưởng và cảm xúc  ở những giây phút trước khi lìa đời đóng vai trò rất quan trọng. Sự lẻ loi đơn độc là điều bất hạnh nhất của người sắp mất. Nếu họ hôn mê trong trạng thái buồn phiền, uất ức thì phần lớn những oan hồn này lang thang vô định, không có nơi nương tựa thường lưu lại cõi âm lâu hơn những người ra đi trong thanh thản. Tôi nghĩ mẹ ông chết trong cô đơn, cần phải cầu hồn cho hương linh được siêu độ mới mong thoát được kiếp oan hồn vất vưởng. Tỉnh này không có chùa, tôi nghĩ ông nên gởi Bác về chùa ở Việt Nam.

Ông chưa kịp trả lời thì bà Minh sốt sắng:

- Ông đưa tên tuổi và ngày chết của Bác, tôi sẽ lo chuyện này. Tôi cũng xin thưa với ông, tôi không đòi hỏi tiền bạc gì cả. Bác đã tin tưởng chọn tôi thì tôi xin hết lòng giúp Bác.

Ông bác sĩ nói:

- Xin bà cứ làm như vậy, tôi sẽ lục giấy khai tử của mẹ tôi xem lại, lâu quá tôi quên ngày rồi.

Tôi nói thêm:

- Ông có muốn xem ngọn đồi đó thì chúng tôi đưa ông đi, cũng gần đây.

- Dạ thôi để dịp khác.

- Sáng thứ bảy này tụi tui ra đồi cúng sớm, ông muốn tới càng tốt.

Ông thối thoát:

- Nhà tôi có khách Paris ghé chơi nên bận lắm!

Bà Minh dặn dò:

- Ông nhớ mua bó bông ra mộ khấn vái Bác nghen!

Ông bác sĩ làm thinh.

Sau khi ông bác sĩ ra về, tôi nói:

- Ông bác sĩ muốn “bán cái” cho chị rồi. Coi bộ ổng nửa tin nửa ngờ. Thôi kệ ổng, mình cứ làm theo ý mình.

Bà Minh hậm hực:

- Nghĩ bà này đau thiệt! Hao tốn biết bao nhiêu tiền lo cho thằng con qua Pháp ăn học tới bác sĩ, qua đây bị bỏ vào viện dưỡng lão!

- Công bằng mà nói thì ông bác sĩ này cũng có hiếu đó! Nếu không thương mẹ, ổng đã không bảo lãnh bà già qua đây. Chẳng qua hoàn cảnh xã hội bắt buộc ổng phải đưa mẹ vào viện dưỡng lão.Hơn nữa ổng đã quen hội nhập vào đời sống bên này. Tập tục người Pháp khác xa với người mình, họ ít quan tâm tới sự gặp gỡ chăm sóc về mặt tâm linh lúc người thân sắp qua đời.

- Người Pháp ở viện dưỡng lão là xứ của họ mà họ còn buồn thúi ruột, huống gì bả hổng rành tiếng của người ta!

- Bộ chị nghĩ tụi mình sẽ được sống chung với con cái khi về già à!? Tốt nhất mình phải chuẩn bị tinh thần ngay từ bây giờ, phải học chấp nhận mọi hoàn cảnh. Đừng có uất ức như mẹ ông bác sĩ chết 31 năm rồi mà hồn còn vất vơ vất vưởng.

- Ít ra bác sĩ học cao thì cũng phải biết tâm lý người già, phải thường xuyên vào viện dưỡng lão thăm mẹ mới phải chớ!

- Chị làm như bác sĩ thì phải giỏi mọi thứ! Thật ra bác sĩ chưa hề được trang bị những gì thuộc về lãnh vực tâm linh. Họ chỉ chuyên môn trong phạm vi khoa học, thuộc về sự sống. Họ thiên về suy luận lý trí mà coi thường thế giới siêu hình. Hầu hết bác sĩ đều lúng túng trong trường hợp bệnh nhân hấp hối với những lời mong ước cầu xin liên quan tới tâm linh. 


Thứ bảy 09/04/2011

6g 30 sáng, tôi xách bao nylon bánh kẹo bà Minh dặn mua, tới chỗ hẹn với bà Minh lần thứ hai.

Ngọn đồi nhỏ vẫn chìm trong sương mù mang vẻ hoang liêu cô tịch. Tôi chẳng thấy ma nào nhưng có cảm giác căng thẳng do bà Minh bóp chặt tay tôi liên hồi, thầm thì với ánh mắt sợ hãi: “đông lắm!” Mùi thơm 6 cây nhang quyện vào không gian vắng lặng huyền bí, tôi niệm Phật không ngừng nghỉ, bỗng nghe tiếng bà Minh đứng dưới chân đồi hối tôi đi. Tôi xuống đồi nói:

- Đợi nhang tàn mới đi, sao chị gấp vậy!? Lên đây niệm Phật nữa chị!

Bỗng nhiên mặt bà Minh đổi sắc. Bà nhìn tôi trừng trừng. Tôi hồi hộp nghĩ thầm có lẽ bà Minh đang bị ma nhập. Bà khóc sướt mướt, giọng run rẩy:

- Tui lạnh quá! Tui lạnh!

Tôi có cảm giác lạnh buốt dọc theo xương sống mặc dù không cảm thấy chút gì sợ hãi. Tôi nghĩ oan hồn đang lẩn quẩn rất gần đâu đây nhưng không thể cho tôi thấy họ và họ cũng không thể nhập vào tôi, có lẻ vì tôi không cùng tần số. Bình tĩnh móc túi áo khoác lấy khăn giấy lau nước mắt cho bà Minh, tôi dỗ dành:

- Ông bà nào có điều chi oan ức nói đi, tui có thể giúp cho.

Bà Minh vẫn nhìn tôi trừng trừng,run lập cập, mếu máo:

- Tui lạnh quá! Tui lạnh quá!

Bà Minh vẫn tiếp tục khóc và khoảng một phút sau, vẻ mặt bà trở lại bình thường, hối:

- Mình đi chị.

Thấm nước mắt bà còn đọng trên đôi má bằng mảnh khăn giấy, tôi hỏi:

- Tại sao chị khóc?

Bà ngơ ngác:

- Tui khóc à?

Trong tuần, bà Minh gọi phôn than bị đau lưng, hai cánh tay nhức mỏi vì bà ra nghĩa địa chùi rửa ngôi mộ bằng ciment mốc meo của mẹ ông bác sĩ. Bà xuýt xoa tấm bia gãy đã xóa mất dòng chữ lý lịch người quá cố và bà than van thằng con bác sĩ vẫn chưa tặng mẹ bó bông như lời bà nhắc nhở. Nghĩ lần này vong linh sắp sửa giã từ xứ Pháp, bà chơi đẹp mua một chậu bông tươi đặt lên mộ thay vì tặng bông lượm trong giỏ rác. 


Chiều thứ bảy 26/3/2011

Bà bồn chồn, chờ đợi ông con đưa ngày chết của mẹ nhưng ông vẫn lặng thinh. Không đủ kiên nhẫn, bà dẹp tự ái phôn tới nhà ông. Nắm được tin tức, bà vội vàng phôn về chùa Gò Vấp, gọi cả 4 số điện thoại của 4 ni cô bà quen nhưng không ai trả lời. Nóng ruột, bà gọi vào chùa Chợ Lớn thì may mắn được thầy trụ trì chấp nhận giúp đỡ vong linh. Bà thở phào nhẹ nhõm, hớn hở phôn báo tin ông bác sĩ:

- Tôi đã gởi Bác vào chùa Đại Thế Giới rồi.

- Hồi trước mẹ tôi ở Chợ Lớn, nhà sát chùa Đại Thế Giới. Cám ơn bà.

Ông bác sĩ thản nhiên về sự trùng hợp này nhưng bà Minh và tôi rất xúc động. Chúng tôi tin rằng mẹ ông linh thiêng hoặc một thế lực vô hình đã sắp đặt giúp vong linh trở về đúng nơi quê quán. 


Thứ bảy, 23/4/2011

Đây là lần thứ ba chúng tôi lên ngọn đồi huyền bí. Bà Minh không bấm mạnh vào tay tôi vì bà không thấy một ma nào nữa.

Điều kỳ lạ, bịnh ù tai và nhức đầu của bà tự nhiên lành hẳn. Bà nặng thêm vài kí lô nhưng cũng mặc kệ lời khuyên bác sĩ, bà bỏ hẳn đi bộ buổi sáng và vẫn tiếp tục uống Coca cho nó ợ dễ tiêu.

Tôi tin mọi chuyện có bàn tay của Đấng Vô Hình sắp đặt. Nếu bà Minh không bị nghi vấn Sida thì có lẽ hôm đó tôi đã từ chối vào quán Café và mất dịp nghe bà kể câu chuyện huyền bí. Nhờ vậy, tôi có cơ hội được học điều tôi cần phải học đi học lại: “Ý thức tính cách vô thường để không bị ràng buộc tình cảm, tiền bạc, danh vọng... và chuẩn bị chấp nhận cái chết.”

Chấp nhận là chìa khóa của sự chuyển hóa (Darshani Deane).

 

Lê Khánh Thọ 

Đẹp Sao ! - Kim Oanh


Tình Cha nghĩa Mẹ đẹp sao

Mẹ thao thức hát ca dao canh tàn

Gian lao khổ nhọc Cha mang

Mong con hạnh phúc vô vàn giấc say!

Vu Lan con có từng ngày

Công ơn dưỡng dục con hoài khắc tâm

Nguyện cầu theo nến hương trầm

Lời con tha thiết thì thầm đêm nay!


Kim Oanh

Vu Lan 2026

Long Hồ Vĩnh Long: Kim Oanh

Tuesday, September 1, 2026

Thương Lắm Chợ Lớn Ơi - Nguyễn Gia Việt


Có người Sài Gòn nào chưa từng bước chưn xuống Chợ Lớn? 

Có người Miền Nam nào chưa từng xách đít xuống Chợ Lớn? 

Tui là người Việt, chí ít là mang họ Nguyễn. Còn đời tám hoánh nào có lai Tàu thì đâu có biết vì dòng họ không có gia phả. Nhưng thú thiệt, mỗi lần đi xuống Chợ Lớn có cảm giác như về cội nguồn của mình vậy! 

Tết trung thu không xuống Chợ Lớn buồn chết luôn à! Lồng đèn đỏ nhiều lung linh lóng lánh. 

Tết Nguyên Đán phải xuống Chợ Lớn coi giấy xanh giấy vàng, nhạc chập chèng tưng bừng hoa lá. 

Rằm tháng Giêng không xuống Chợ Lớn đi chùa, đi coi hát Tiều hát Quảng thì thiếu mất cái dư vị của Nguyên Tiêu. 

Mùng 5 tháng 5 phải xuống Chợ Lớn mua bánh ú lá tre, nhìn bánh ú mặn (bánh bá trạng), bánh tổ vàng ươm in hình đỏ đỏ.

 Ta nói đi xuống Chợ Lớn chỉ hửi mùi đồ ăn thôi cũng vui rồi! 

Chợ Lớn lúc nào cũng ồn ào, đông nghẹt người là người.

Chợ Lớn lúc nào cũng có mùi hết, đi ngang Triệu Quang Phục thì mùi thuốc bắc. Đi ngang mấy cái hội quán thì mùi khói nhang, đi ngang đèn năm ngọn thì mùi vải vóc. 

Chợ Lớn bây giờ chỉ còn đường Lão Tử ở trước cái Ôn Lăng, ông Trang Tử ở trước bến xe Chợ Lớn, còn ông Khổng mất đường rồi. 

Chợ Lớn lúc nào cũng bán đồ ăn ê hề, nhưng không phải chổ nào cũng ngon, giá thì mắc xanh mặt. 

Chợ Lớn có đặc sản gì phải nhớ? Là những người Việt gốc Hoa và cái giọng lơ lớ ngộ ngộ "Chời lất cưi, ngộ mệt chết pà hà, ấy dà...!" 

“Hổu nẹy cô thầu!”

Con cháu Chợ Lớn, con cháu của những A Phò, A Củ, A Muối, A Dí với trai nhìn giống như Lưu Đức Hòa, Châu Nhuận Phát. Còn gái thì giống Chung Lệ Đề, Châu Hải Mỵ, Mai Diễm Phương. 

Vô Chợ Lớn mà không ăn mì Tàu là bỏ sót, nó là đam mê cái thói quen ăn uống sành điệu của người Miền Nam chúng ta.

Tiệm mì Tàu với sợi mì dẻo, thơm, tươi rói trứ danh, với công thức làm sợi mì bí truyền cùng với nồi nước lèo ngọt ngay nhức nách cũng bí mật. 

Người ta thích ngồi húp mì ở những cái kệ kéo dài ra trước xe mì, thích cái nồi nước lèo luôn sôi sùng sục cùng tiếng lửa khò khè, tiếng lách cách lụp bụp của cái vợt tổ chảng trụng mì của ông chủ.

Mì Tàu có ông chủ không mua mì vắt hay mì gói làm sẵn, người chủ xe mì phải tự làm, làm tại chổ, hoặc làm ở nhà và giữ thành từng vắt một và để ngay ngắn thành xấp trong một cái ngăn kéo, toàn mì tươi.


Người Tàu làm kỹ lắm, trụng mì cũng hai ba công đoạn, trụng nước sôi xong lắc, lắc xong trụng nước sôi lại,rồi lại trụng nước lạnh, rồi lại lắc, đập đập cái vá cùm cụp.

Thương lắm Chợ Lớn!

 

Theo Nguyễn Gia Việt

Vòng Tay Tháng Chín - Đỗ Công Luận

Giang Hồ Thảo Khấu Bình Xuyên – Bảy Viễn

 

Là 3 lần vượt ngục trước khi quy hàng Pháp để leo đến chức Tổng trấn Sài Gòn và là em kết nghĩa của vua Bảo Đại.

Trong giới giang hồ Sài Gòn xưa, cậu Hai Miêng, Đại Cathay, Huỳnh Tỳ… được nhiều người nhắc đến nhưng người thành công nhất về địa vị, sự giàu có là Bảy Viễn. Dần thoát khỏi việc cướp bóc, đâm chém, Bảy Viễn vươn lên thành người nắm quyền lực một vùng rộng lớn, dùng tiền kiếm được để “buôn vua”, thăng tiến trong sự nghiệp.


Lê Văn Viễn (1904 – 1972) tức Bảy Viễn, nguyên là người cầm đầu một băng đảng xã hội đen, là tướng cướp lừng danh trước năm 1945, về sau tham gia tổ chức Lực lượng vũ trang kháng chiến chống Pháp của Việt Minh, rồi ly khai trở về hợp tác với chính phủ Quốc gia Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại làm Quốc trưởng và được phong Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ông cũng là thủ lĩnh của Lực lượng Bình Xuyên kiêm Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn.

Trong cuốn Người Bình Xuyên của Nguyên Hùng, khi trưởng thành, Bảy Viễn là tướng cướp nổi đình nổi đám khiến giới doanh nhân, tiệm vàng không chỉ ở Sài Gòn mà cả Nam Bộ khiếp sợ. Năm 1936, Viễn cướp tiệm vàng ở Giồng Ông Tố, lấy được 6.000 đồng (tương đương với 600 tấn gạo). Sau đó bị bắt và kết án 12 năm ở Côn Đảo.

Ngục Côn Đảo nổi tiếng canh gác nghiêm ngặt, lại cách đất liền 120 hải lý nên việc vượt ngục khó như lên trời. Nhờ võ nghệ cao, Bảy Viễn thường xuyên ra mặt bảo vệ tù nhân khi bị đánh đập nên rất được nể phục.


Thân thế

Bảy Viễn sinh năm Giáp Thìn 1904 tại làng Phong Đước, tổng Tân Phong Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn, Liên bang Đông Dương (Nay là xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh) trong một gia đình điền chủ trung lưu gốc Hoa (Cha người Trung Quốc, mẹ người Việt). Thân phụ là Lê Văn Dậu, người Triều Châu (Quảng Đông, Trung Quốc), một điền chủ Hoa kiều và cũng là một đàn anh giang hồ nhóm Nghĩa Hòa (Triều Châu) thuộc Thiên Địa hội, mang tinh thần Phản Thanh phục Minh, nên Bảy Viễn có máu giang hồ từ nhỏ. Tuy là tay anh chị giang hồ nhưng cụ Dậu rất được nể trọng vì bản tánh cương trực, trung thực, lương thiện và công bằng. Cụ Dậu rất trọng danh dự nên hết lòng bảo vệ quyền lợi phe nhóm và em út cũng như luôn giúp đỡ bà con làng xóm và những người khốn khó. Và do là một trong những đàn anh có tiếng của nhóm Nghĩa Hòa ở Chợ Lớn, nên cụ cũng thường đứng ra làm trung gian hòa giải mâu thuẫn xung đột giữa các băng nhóm. Bảy Viễn lúc nhỏ ương ngạnh, hung bạo và khó bảo nên thường bị cụ Dậu rầy la và dạy dỗ nghiêm khắc, tánh giang hồ hảo hán của cụ Dậu có ảnh hưởng rất lớn đến Viễn. Vì là tay giang hồ nghĩa hiệp, trọng tình bạn và tình anh em nên Bảy Viễn luôn được bạn bè, đàn em cũng như các đại phú gốc Hoa ở Chợ Lớn kính nể.


Tuy sinh ra trong gia đình điền chủ khá giả, lúc nhỏ sống đầm ấm sung túc và được học hành đàng hoàng, nhưng Viễn ham chơi nên chỉ học hết Tiểu học trường làng, và sau vì cảm thấy thiệt thòi một cách bất công trong việc chia gia tài nên Viễn bỏ nhà đi bụi, tự lực cánh sinh rồi học võ ở nhiều nơi nên ông rất giỏi võ và rất có máu mặt trong việc đánh đấm giành địa bàn.

Về hình thể, Bảy Viễn cao 1m70, dáng to vạm vỡ, trên khắp cơ thể đều có hình xăm, cả một con Rồng lớn chiếm trọn tấm lưng, đầu Rồng trên cổ, đuôi Rồng tận hậu môn, hai vai xăm hình Đầm trần truồng, trên dương vật xăm chữ Tàu và ngay trên quy đầu xăm hình đầu Rắn, ngoài ra còn có vết sẹo dài 6cm trên cánh tay trái (Nguyên là hình xăm đã bị Viễn lấy dao tự rạch lên để xóa bỏ vết xăm). Tuy xăm cùng mình và là dân anh chị nhưng Bảy Viễn rất chú trọng cách ăn mặc, luôn ăn vận chỉnh tề, từ quân phục đến thường phục đều vừa vặn với thân hình lực lưỡng, cao và cân đối nên ông trông lúc nào cũng lịch lãm và uy nghiêm. Về diện mạo, Bảy Viễn khuôn mặt chữ điền, lông mày rậm, tóc cứng và dày, đen nhánh, được húi cua kiểu nhà binh, môi dày, mũi cao và thẳng, đặc biệt là cặp mắt sáng rực dữ dằn mang tướng mạo của một kẻ đàn anh, nên tuy dân giang hồ nhưng Bảy Viễn rất điển trai và phong độ, mang phong thái của một vị tướng lĩnh thực thụ.


Tuổi trẻ

Ngày 14 tháng 2 năm 1921, Bảy Viễn vào tù lần đầu với bản án 20 ngày tù giam khi mới 17 tuổi do phạm tội trộm xe đạp (Thời bấy giờ, xe đạp là tài sản có giá trị rất lớn, và thật ra chiếc xe đạp ấy vốn của gia đình Viễn, nhưng vì bà mẹ đem cho một người bà con mà ông không biết, khi phát hiện chiếc xe đang nằm ở nhà người ta thì ông mang về, nên bị hàm oan, cũng có thể đây là lý do khiến Viễn bị thiệt thòi trong vụ chia gia tài, nguyên nhân dẫn đến việc bỏ nhà đi bụi).


Trước năm 1945, Bảy Viễn là tay giang hồ tướng cướp khét tiếng làm điên đảo giới nhà giàu và các chủ tiệm vàng cũng như ngành an ninh của chính quyền Thuộc địa khắp Sài Gòn-Chợ Lớn, khiến người Pháp phải ráo riết truy bắt. Trong tác phẩm “Bảo Đại, hay những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam”, tác giả Daniel Grandclément còn miêu tả rằng “Bảy Viễn là một đầu sỏ lưu manh thực thụ, từng cầm đầu mafia Chợ Lớn. Trưởng thành từ cuộc sống đường phố và trở thành thủ lĩnh nhờ sức mạnh võ biền, Viễn đánh nhau rất liều lĩnh để xưng hùng xưng bá, là tướng cướp nhưng nổi danh chỉ đánh vào bọn nhà giàu”.

Ban đầu Bảy Viễn nổi danh là tay anh chị chợ Bình Đông, chuyên bảo kê các trường đá gà và thu tiền xâu từ các sòng bạc, Viễn còn có cả một băng đảng do mình cầm đầu chuyên “bảo kê” cho các hãng xe đò chạy tuyến Sài Gòn-Biên Hòa và Vũng Tàu. Sau đó Bảy Viễn mở rộng địa bàn hoạt động, vào trung tâm thành phố Chợ Lớn làm bảo kê cho các tay xì thẩu.


Ngày 31 tháng 5 năm 1927, Bảy Viễn bị phạt giam 2 tháng tù về tội hành hung gây thương tích (Lúc ấy Viễn đang làm cho một ông chủ sòng bạc người Tàu, nhưng vì mâu thuẫn mà “nện” tên chủ một trận). Bảy Viễn tiếp tục các hoạt động của mình ngay khi được trả tự do, và nhờ công việc làm ăn phát đạt, Viễn dần mua cổ phần trong hai nhà hàng, một công ty Taxi, một quán rượu đêm và tài trợ cho một mạng lưới các nhà máy chưng cất rượu bí mật.

Ngày 12 tháng 9 năm 1935, một chiếc xe đò chở khách đi Phan Thiết bị năm người mang súng ngắn chặn lại khi băng ngang Rừng Lá, hai thương gia giàu có người Tàu bị cướp số tiền 6.000 đồng, một trong số họ, Lin Fung Ha, nhận diện ra đuợc Bảy Viễn qua ảnh chụp. Ngày 20 tháng 6 năm 1936, Bảy Viễn bị bắt tại nhà của một ả tình nhân trên đường “Rue de Louvain” ở Sài Gòn (Nay là đường Đề Thám, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh). Khi bị bắt, Viễn không có vũ khí trong người, nhưng lục soát trong nhà thì cảnh sát tịch thu được một khẩu súng Sauer của Đức kiểu năm 1930, cỡ nòng 7.65 mm với 32 viên đạn. Có thuyết khác thì cho rằng trong một vụ cướp tiệm vàng ở Giồng Ông Tố, Viễn lấy được 6.000 đồng (Tương đương với 600 tấn gạo), nhưng sau đó không lâu thì bị bắt. Ngày 28 tháng 8, Bảy Viễn bị kêu án 12 năm tù và đày đi Côn Đảo về tội tổ chức băng đảng và tàng trữ vũ khí bất hợp pháp. Tuy nhiên, đến năm 1940, Viễn vượt ngục thành công về đất liền. Trong khoảng thời gian ngồi khám lần đầu này, Bảy Viễn đã hạ được một tay trùm du đãng gốc Khmer để trở thành ông vua du đãng mới, rồi còn quyến rũ và dan díu với cô vợ của một tên Thầy chú (Cai ngục), cô này rất mê Viễn nên sẵn sàng giúp đỡ và hỗ trợ ông.


Năm 1941, Bảy Viễn bị bắt cùng Mười Trí (Huỳnh Văn Trí), một người bạn mới quen trong vụ tổ chức cướp xưởng mộc Bình Triệu. Mười Trí cũng là dân giang hồ, giỏi võ, vì bất mãn xã hội mà lập nên một nhóm cướp gây chấn động cả Sài Gòn-Chợ Lớn, vì vậy cả hai có duyên gặp và kết thân. Tòa án tuyên phạt Bảy Viễn 12 năm khổ sai cộng thêm 8 năm còn thiếu trước đây thành 20 năm. Sau đó Bảy Viễn lại vượt ngục thành công nhưng máu “phiêu lưu” vẫn âm ỉ nên Viễn và Mười Trí lại tổ chức đi cướp lần nữa, rồi lại bị bắt đày ra Côn Đảo lần thứ 3. Đến năm 1945, sau khoảng thời gian chuẩn bị chu đáo nhưng dài hơi vì vợ chồng Thầy chú đã được triệu hồi về đất liền, Bảy Viễn và Mười Trí cùng vài người bạn thân lại tổ chức vượt ngục thành công lần cuối cùng (Có tài liệu nói Bảy Viễn được người Nhật thả ra sau khi đảo chính người Pháp thành công để tính kế lâu dài). Lịch sử nhà tù Côn Đảo chỉ khoảng 10 cuộc vượt ngục thành công mà Bảy Viễn đã chiếm đến 3.


Tham gia kháng chiến

Tháng 8 năm 1945, vừa vượt ngục trở về cũng là lúc nổ ra Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Được một số nhân vật trong Xứ ủy Nam Kỳ móc nối, Bảy Viễn cùng Mười Trí tập hợp lực lượng du đãng tại Sài Gòn hợp tác với Trần Văn Giàu tham gia Kháng chiến chống Pháp. Bộ đội Lê Văn Viễn xây dựng thành Chi đội 9 do Lê Văn Viễn làm Chi đội trưởng và thuộc Liên khu Bình Xuyên, sở chỉ huy đặt tại Vườn Thơm (Bình Chánh) và do Ba Dương (Tức Dương Văn Dương) làm Tổng chỉ huy.

Chi đội 9 của Bảy Viễn còn được gọi là “Bộ đội Phú Thọ” hoặc “Bộ đội Bảy Viễn”, dù vậy, đơn vị của Bảy Viễn tuy tuân thủ chỉ thị quân sự của cấp trên nhưng lại từ chối tiếp nhận những chính trị viên do cấp trên cử xuống. Tháng 10 cùng năm, Bảy Viễn đưa đơn vị rời Vườn Thơm rút về mật khu Rừng Sác. Cuối tháng 11, ông được Ủy ban Hành chính lâm thời cử làm Tư lệnh tối cao các Lực lượng Kháng chiến Sài Gòn-Chợ Lớn kiêm Chỉ huy trưởng khu Sài Gòn-Chợ Lớn. Trong khoảng thời gian gần 3 năm trước khi về thành, Bảy Viễn đã chỉ huy Bộ đội Bình Xuyên đánh nhiều trận quyết liệt và gây nhiều thiệt hại cho Quân đội Pháp.

Ngày 20 tháng 2 năm 1946, Tổng chỉ huy Ba Dương hy sinh trong một trận chống càn của Pháp ở Bến Tre, khi chỉ huy một bộ phận quân Bình Xuyên vượt sông Soài Rạp từ Rừng Sác về cứu nguy cho mặt trận An Hóa-Giao Hòa. Sau khi Ba Dương hy sinh, Bảy Viễn vận động để nắm chức Tư lệnh Bình Xuyên nhưng một số cán bộ Chỉ huy trưởng các chi đội Bình Xuyên không tán thành.


Ngày 12 tháng 4 năm 1946, tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh các lực lượng vũ trang Nam Bộ ký quyết định phong Năm Hà (Tức Dương Văn Hà, em cùng cha khác mẹ với Dương Văn Dương) làm Tư lệnh lực lượng Bình Xuyên thay cho Ba Dương. Tháng 7 cùng năm, Nguyễn Bình ký quyết định phong Bảy Viễn làm Khu bộ phó Chiến khu 7 với ý định tách Viễn ra khỏi vị trí trực tiếp chỉ huy Lực lượng Bình Xuyên và để ông không từ bỏ kháng chiến về hợp tác với Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Trung tuần tháng 12 cuối năm, Bảy Viễn chính thức giữ chức Khu bộ phó Chiến khu 7, đồng thời cũng trong tháng này Đại úy Savani (Thuộc Phòng nhì Pháp, một cơ quan tình báo quốc phòng hải ngoại của Pháp) cho cài người vào Chi đội 9 bí mật tiếp xúc với Bảy Viễn nhằm mục đích lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sác. Các tay nội gián mà Phòng Nhì cài vào gồm 4 người: Anh em Lại Văn Sang – Lại Hữu Tài với vai trò cố vấn thân cận, luôn theo sát Bảy Viễn; Lâm Ngọc Đường – nhân viên Phòng Nhì cùng Maurice Thiên – tay tư sản khá giả và cũng là nhân viên Phòng Nhì hoạt động dưới danh nghĩa người hỗ trợ tài chính.


Đầu năm 1948, Bảy Viễn đồng ý đi Đồng Tháp theo lời mời của Nguyễn Bình để tham gia một cuộc họp quan trọng do Nguyễn Bình chủ trì với mục đích phong Viễn chức Khu trưởng Khu 7, đồng thời giải quyết những mâu thuẫn đang tồn tại giữa Bộ đội Bình Xuyên của Bảy Viễn và Bộ đội Nguyễn Bình. Tại cuộc họp, Bảy Viễn đã trả lời rắn chắc và đanh thép các chất vấn của Nguyễn Bình về những mâu thuẫn nội bộ và tỏ ý nghi ngờ, lưỡng lự trong việc nhận chức Khu trưởng Khu 7 mà trước đó Viễn cho rằng người xứng đáng nhận chức này hơn phải là Huỳnh Văn Nghệ vì theo Viễn chiến công của Bộ đội Tám Nghệ vượt xa những chiến công của Bộ đội Bảy Viễn. Sau vì Bảy Viễn từ chối chức Khu trưởng Khu 7 và tỏ vẻ bất hợp tác nên Nguyễn Bình quyết định giải tán các đơn vị Bình Xuyên, phiên chế thành các đơn vị Vệ quốc Đoàn để phá tan âm mưu chia rẽ các Lực lượng kháng chiến và Việt Minh của Phòng nhì Pháp, mặc cho nhiều lãnh đạo chủ chốt bên phía Bình Xuyên phản đối quyết định này (Bao gồm cả Mười Trí, một trong những thủ lĩnh). Bảy Viễn phản đối quyết liệt đồng thời tố cáo Nguyễn Bình muốn thiết lập chế độ Đảng trị và củng cố uy quyền cá nhân nên đã sát hại Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ và hai lần ám sát Viễn nhưng bất thành. Bảy Viễn nói với Nguyễn Bình:

“Chúng tôi không hài lòng về cung cách đồng chí đối xử với chúng tôi. Bình Xuyên đã chiến đấu từ trước khi đồng chí vào tới Nam Bộ, đồng chí không hề đề nghị giúp đỡ gì chúng tôi, mà đồng chí chỉ hạ lịnh bắt chúng tôi phải thi hành. Chúng tôi đã đánh giặc suốt 30 tháng qua và đã có hơn ba trăm anh em hy sinh. Suốt trong ba năm chiến đấu đó, chúng tôi không hề nhận được của Việt Minh và Hà Nội một hột gạo, một con cá khô, một khẩu súng, một viên đạn. Những đoàn công-voa từ Bắc vào, đi ngang qua vùng của chúng tôi, đã được chúng tôi bảo vệ để vận chuyển mọi thứ đến đơn vị của các đồng chí an toàn. Cả những khi các đồng chí bị Tây truy kích, chúng tôi cũng hậu tập giải vây và ngăn cản để các đồng chí rút lui êm…

Chúng tôi nghĩ rằng các chánh trị viên không có gì để dạy dỗ chúng tôi. Chúng tôi đã ý thức cầm súng chiến đấu vì nền độc lập của Tổ quốc, và để đòi tự do. Chúng tôi không chiến đấu cho một chế độ Đảng trị, hay để củng cố uy quyền lãnh đạo đã nhẫn tâm tàn sát đồng đội một cách tàn độc hơn là đối với quân thù…”

Bảy Viễn chất vấn Nguyễn Bình vì sao giết Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ thì được Nguyễn Bình trả lời:

Đó là kẻ lúc nào cũng mưu tính diệt Cộng Sản và cá nhân tôi, cho nên phải tiêu diệt.”

Bảy Viễn từ chối chức Khu trưởng Khu 7 và không còn muốn hợp tác với Việt Minh. Trên đường từ Đồng Tháp về Rừng Sác, Bảy Viễn và đoàn tùy tùng bị Trung đoàn 306 của Nguyễn Bình phục kích trong đêm nhưng vì đã đề phòng và chống trả quyết liệt nên Bảy Viễn thoát khỏi vòng vây


Về thành

Tuy cũng phản đối quyết định giải tán các đơn vị Lực lượng Bình Xuyên, nhưng Mười Trí vẫn trung thành ở lại quân kháng chiến Việt Minh. Rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1948, sau khi Bảy Viễn âm thầm rút quân rời chiến khu Đồng Tháp đã được Mười Trí mời đến Tổng hành dinh đồng thời cũng là nhà của ông ở Đông Thành (Chi đội 4) tá túc, nhằm thuyết phục Viễn quyết định kỹ trước khi quá muộn. Đêm ấy, bà vợ Mười Trí đãi hai anh em bữa cơm thịnh soạn. Mười Trí vì tình bạn, tình anh em từng cùng nhau vào sinh ra tử, từ đi cướp, vô tù đến chiến đấu trên mặt trận, đã khuyên Bảy Viễn nên suy nghĩ thấu đáo và nhất là nên ở lại vì “còn nước còn tát”, nếu xảy ra chuyện thì Mười Trí sẽ đứng ra bảo lãnh bất kể hậu quả. Cảm động, Viễn tuy vẫn chưa phục, nhưng hứa hẹn sẽ suy nghĩ kỹ.

Cùng đêm, khi Bảy Viễn đang say giấc, Mười Trí cho gọi thuộc cấp đến, ra lệnh thông báo rằng các lực lượng Bình Xuyên khác ai ở đâu thì ở yên đấy, không được tự ý rời đi khi không có lệnh của ông, nhằm làm giảm tối đa thiệt hại cho quân đội Việt Minh.

*

Sáng hôm sau, khi cùng nhau dùng bữa cơm gia đình thân tình cuối cùng, Bảy Viễn thông báo đã suy nghĩ kỹ, Viễn quyết định ra đi, trở về Sài Gòn vì không thể sống chung với những người mà ông xem là bất công và xảo quyệt. Mười Trí đã tiên liệu trước, nên dù rất thất vọng về Bảy Viễn và về sự bất lực của mình, vẫn đồng ý tiễn Viễn đi một đoạn dài đến tận xã Hưng Long (Bình Chánh), kể từ đó, cả hai thuộc hai chiến tuyến khác nhau. Mười Trí có làm một bài thơ cảm động về hoàn cảnh này. Điều đặc biệt, bài thơ vẫn được lưu truyền đến nay, gần thị trấn Cái Tàu Hạ, nhiều cụ cao niên vẫn còn nhớ bài thơ ly biệt của Mười Trí.

Vào lúc 13 giờ trưa ngày 12 tháng 6 năm 1948, qua sự trung gian móc nối của Đại úy Savani Trưởng phòng nhì Pháp cùng Thiếu úy Cistisni, Bảy Viễn và người cố vấn Lại Hữu Tài của ông đến một địa điểm cách đồn An Phú khoảng 2 cây số thuộc quận Cần Giuộc họp với 2 sĩ quan Pháp bàn việc trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia. Ngày 13 tháng 6, Bảy Viễn mở cuộc hành quân tái chiếm Rừng Sác nhưng bất thành vì tướng Nguyễn Bình đã đánh chiếm vào ngày 19 tháng 5 trước đó và đã cho củng cố chiến khu này rất chặt chẽ.

*

Ngày 17 tháng 6, Bảy Viễn tuyên bố Lực lượng Bình Xuyên trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia, cùng mang theo 280 vũ khí đủ loại đặt bản doanh tại số 31 Đại lộ Gaudot (Nay là đường Hải Thượng Lãn Ông, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi về hợp tác với Pháp và Chính phủ Quốc gia, ngày 1 tháng 8 cùng năm Bảy Viễn được Tướng Pierre Boyer de Latour gắn lon Đại tá và thuộc quyền Tổng trấn Nam Phần.

Sau khi Bảy Viễn về thành, phần lớn Lực lượng Bình Xuyên được tổ chức lại và phiên chế thành các Vệ quốc đoàn, bộ phận còn lại do Viễn chỉ huy ly khai Việt Minh để tham gia chính quyền Quốc gia Việt Nam đã trở thành lực lượng Bình Xuyên được biết đến nhiều nhất vào thập niên 1950. Nhóm Bình Xuyên ly khai còn là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp dưới danh xưng “Công an xung phong”, nắm quyền kiểm soát toàn vùng Sài Gòn-Chợ Lớn.

*

Năm 1949, Bảy Viễn cho xây Tổng hành dinh phía bên kia cầu chữ Y (Hướng quận 8 ngày nay, vị trí sát dạ cầu, bị phá hủy sau khi tướng Dương Văn Minh đánh bại quân Bình Xuyên). Viễn cũng là người bảo trợ cho ngôi chùa Bảo Quốc ở gần đấy (Bảo Quốc tự, nay cải danh là chùa Linh Phước, tọa lạc tại số 139 đường Dạ Nam, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh).

Theo báo Người Lao Động thì Bảy Viễn sở hữu một ngôi biệt thự sang trọng ngay trung tâm thành phố Đà Lạt, tọa lạc tại số 10 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay là trụ sở của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng. Ngoài ra, Bảy Viễn còn sở hữu không ít dinh thự trong Chợ Lớn, một trong số đó tọa lạc sát bên hý trường Đại Thế Giới (Nay là tòa nhà số 20 đường Ngô Quyền, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Bảy Viễn và Quốc trưởng Bảo Đại gặp nhau lần đầu năm 1949 tại Sài Gòn, sau đó cả hai nhanh chóng kết thân với nhau, nhờ vậy mà Bảy Viễn được Bảo Đại phong “Nam Tước” của Hoàng gia và nhận làm em nuôi dù Bảo Đại nhỏ tuổi hơn Viễn nhiều. Thời đó, người ta cho đấy là vinh hạnh lớn của Bảy Viễn, khi một tướng cướp võ biền gốc giang hồ lại được một cựu Hoàng đế nhận làm em nuôi và kết giao, Viễn đã trở thành một đại tư sản nhờ việc kinh doanh các sòng bạc lớn. Kể từ đó, Lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn cũng trở thành một trong những lực lượng bảo vệ Quốc trưởng Bảo Đại, tình bạn giữa Bảy Viễn và cựu Hoàng đế ngày càng thân thiết. Viễn thường lên Đà Lạt nghỉ mát và thăm Bảo Đại, những dịp gặp nhau, cả hai thường cùng đi săn, câu cá hoặc đánh bạc.


Ngày 1 tháng 1 năm 1951, bằng thế lực của mình, “Cọp Rừng Sác” Bảy Viễn đấu thầu thành công và thâu tóm sòng bạc Đại Thế Giới (Casino grand Monde) ở Chợ Lớn vốn thuộc hàng lớn nhất nhì Châu Á hoặc có lẽ toàn Thế giới lúc bấy giờ mà trước đó thuộc quyền quản lý của Lâm Giống, trùm cờ bạc Ma Cao. Theo hồ sơ về tỷ phú Hoa kiều Lý Long Thân do Cảnh sát Việt Nam Cộng hòa lập, hiện lưu trữ tại Cục lưu trữ Việt Nam, thì Lý để cầu thân Bảy Viễn đã bỏ số tiền hơn 4 triệu Franc để tổ chức tiệc chiêu đãi Bảy Viễn và thuộc cấp tại hý trường Đại Thế Giới. Sau đó Lý còn đề nghị Bảy Viễn đứng ra thầu lại sòng bạc Đại Thế Giới dưới sự hỗ trợ tài chính của chính mình với giá 500 nghìn đồng Đông Dương/ngày. Được tỷ phú Hoa kiều hỗ trợ và nhất là được Quốc trưởng Bảo Đại bảo trợ tạo mọi điều kiện thuận lợi nên Bảy Viễn dễ dàng trúng thầu khai thác “sới bạc” Đại Thế Giới, đó cũng là mong muốn của Bảy Viễn vì nắm được Đại Thế Giới là nắm được Chợ Lớn, thành phố Trung Hoa giàu có của Việt Nam vừa rộng lớn vừa nhộn nhịp bậc nhất Thế giới, nhiều khả năng thịnh vượng hơn cả Khu phố Tàu ở San Francisco của Hoa Kỳ . Viễn còn trúng thầu sòng bạc Kim Chung (Casino Cloche d’Or), tại khu vực ngày nay là khu chợ Dân Sinh sát cạnh trung tâm thành phố Sài Gòn, đồng thời làm ngơ cho khu mại dâm Bình Khang công khai hoạt động. Có tài liệu còn cho thấy Bảy Viễn móc nối với tên trùm Franchini người đảo Corse (Pháp) – cũng là chủ sở hữu đương thời của Khách sạn Continental – để buôn thuốc phiện và ma túy từ Tam giác Vàng qua Việt Nam rồi tới Âu-Mỹ. Theo các tài liệu trong Trung tâm Lưu trữ Quốc gia thì Lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn còn tham gia vào rất nhiều các ngành kinh doanh và khai thác khắp Nam Kỳ (Đơn cử như việc Bảy Viễn đứng ra mở sơn tràng khai thác gỗ ở khu vực Sài Gòn-Vũng Tàu cũng như nhiều công trường khác trên cao nguyên, rồi thu thuế, thiết lập các đoàn vận tải, thiết lập các công ty xe đò từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây và Vũng Tàu), nhưng Lực lượng Bình Xuyên do ông chỉ huy vẫn là một đơn vị độc lập, vừa là quân đội vừa là tổ chức xã hội đen khét tiếng.

*

Cả nhà văn Daniel Grandclément và Đại úy Jean Pouget (Sau này là Thiếu tá kiêm sĩ quan tùy tùng của Đại tướng Pháp Henri Navarre, Bảy Viễn từng đụng độ Jean Pouget mấy trận ác liệt trước khi về thành) đều cho rằng khu vực Chợ Lớn khá phức tạp và không tướng lĩnh lẫn quan chức Pháp nào có thể khiến tình hình yên ổn cho đến khi Bảy Viễn quay về vì thời thanh niên Viễn từng làm mưa làm gió ở Chợ Lớn nên rất am tường địa bàn này. Vốn là người Hoa nên Bảy Viễn rất trọng chữ tín, luôn sòng phẳng trong việc kinh doanh và cũng nhờ tiếng tăm Lực lượng Bình Xuyên mà chỉ trong thời gian ngắn sau khi về thành, Viễn đã dàn xếp ổn thỏa với các bang nhóm người Hoa giúp mang lại an ninh trật tự, ngay cả các chủ sòng bạc và các tay xì thẩu người Tàu sừng sỏ nhất cũng không dám bàn cãi dây dưa với đại diện của 3 nghìn tay anh chị quen chém giết được võ trang tận răng. Chợ Lớn còn là khu vực kinh tế trọng yếu của thủ đô Sài Gòn và cả miền Nam Việt Nam, kết nối với Nam Kỳ Lục tỉnh cũng như vựa lúa của toàn cõi Việt Nam lẫn Đông Nam Á, và vì Bảy Viễn từng theo Việt Minh vào bưng kháng chiến, hiểu rõ lối đánh và tư duy giao tranh của Việt Minh, với sự hiểu biết ấy và mong muốn tiêu diệt quân Nguyễn Bình ở Sài Gòn đã giúp Viễn tiêu diệt quân Cộng sản trong một thời gian rất ngắn. Sau khi Bảy Viễn nắm được Đại Thế Giới vào năm 1951 thì cả người Pháp lẫn Bảo Đại đều tin tưởng giao cho Viễn toàn quyền kiểm soát Sài Gòn-Chợ Lớn với hy vọng rằng ông sẽ quét sạch các cơ sở hạ tầng và kinh tài của Cộng sản Việt Minh khỏi thành phố, đặc biệt là ở Chợ Lớn vì đây vốn là khu vực kinh tế trọng yếu của thủ đô Sài Gòn và cả miền Nam Việt Nam, nên Viễn vừa cai quản để giữ an ninh trật tự vừa trông chừng không để Việt Minh thâm nhập quấy phá hòng kiếm tiền hưởng lợi nhằm phát triển lực lượng. Bảy Viễn chính thức trở thành ông chủ Chợ Lớn.


Năm 1951, Lực lượng Bình Xuyên giải tỏa thành công con lộ 15 Sài Gòn-Vũng Tàu. Ngày 22 tháng 4 năm 1952, Quốc trưởng Bảo Đại phong Bảy Viễn lên cấp Thiếu tướng (Major-général) Quân đội Quốc gia và bổ nhiệm vào chức vụ Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn kiêm nhiệm vụ trông coi ngành Cảnh sát-Công an, nên sau đó Bảy Viễn giao chức Giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành cho thuộc cấp Lại Văn Sang (Anh ruột Lại Hữu Tài, cố vấn của Bảy Viễn).

Trong khoảng thời gian vàng son khi nắm trong tay quyền lực to lớn, vừa là tướng quân đội, vừa nắm toàn quyền ngành an ninh nhưng đồng thời cũng thao túng nhiều hoạt động kinh doanh cùng thế giới ngầm tội phạm, Bảy Viễn trở thành một trong những ông trùm mafia giàu có và quyền lực nhất Đông Dương, thậm chí toàn cõi Đông Nam Á. Bảy Viễn xứng danh là “Bố già” của Việt Nam không thua gì các “Bố già” trùm mafia nổi danh của Ý và Mỹ. Trong giới giang hồ miền Nam trước năm 1975 thì Bảy Viễn là người thành công nhất về quyền lực, sự giàu sang cũng như đạt đến đỉnh cao danh vọng.


Ngày 4 tháng 10 năm 1954, Bảy Viễn cùng tướng Nguyễn Văn Hinh và tướng Nguyễn Văn Xuân vào Dinh Độc Lập để hội đàm cùng tân Thủ tướng Ngô Đình Diệm, nhưng rồi từ chối lời mời của vị Thủ tướng về việc sáp nhập Lực lượng Bình Xuyên vào Quân đội Quốc gia. Ngoài việc cả 3 vị tướng lĩnh chỉ yêu cầu được giữ một số bộ ít ỏi đại diện cho những đoàn thể của mình, thì Bảy Viễn cùng tướng Hinh và tướng Xuân còn yêu cầu được tham chính và đưa ra yêu sách cải tổ toàn diện cùng lập Nội các mới, nên sau đó Diệm cương quyết từ chối không cho Bảy Viễn tham gia chính phủ, vì theo ý của Bảo Đại, ông cựu Hoàng đế này muốn Viễn nhậm chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bảo Đại thậm chí còn muốn đưa Bảy Viễn lên làm Thủ tướng trong trường hợp loại bỏ Ngô Đình Diệm khi mâu thuẫn giữa Diệm và ông cựu Hoàng lên đến đỉnh điểm.

*

Bình Xuyên và các giáo phái khác như Cao Đài, Hòa Hảo muốn giữ nguyên lực lượng riêng của mình với lý do quân đội họ có lối đánh riêng, nếu sáp nhập vào Quân đội Quốc gia, e là sẽ mất đi hiệu năng chiến đấu. Nhưng vì Diệm không nhượng bộ, nên cả Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo và một số lực lượng khác đã cùng họp bàn ra quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia vào ngày 4 tháng 3 năm 1955 với chủ tịch là Hộ pháp Phạm Công Tắc và phó chủ tịch là Bảy Viễn nhằm chống đối chính phủ mà Thủ tướng Diệm điều hành thay Quốc trưởng Bảo Đại đang công du ở Pháp. Ngoài ra, Thủ tướng Diệm vốn là người Công giáo trọng tiết hạnh muốn dẹp bỏ các tệ nạn xã hội cũng như cắt đứt các nguồn thu nhập khổng lồ của Bảy Viễn nên đã ra lệnh đóng cửa Đại Thế Giới, Kim Chung cùng các sòng bạc khác do Bình Xuyên điều hành và giải tán khu mại dâm Bình Khang khiến Bảy Viễn tức điên người và tình hình ngày càng gay cấn.


Bị trấn áp và lưu vong

Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia gửi tối hậu thư buộc chính phủ phải có danh sách Nội các mới trước ngày 26 tháng 3 năm 1955, nhưng vì Nội các Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên ngày 28 tháng 3 quân Bình Xuyên đã mở cuộc tấn công Bộ Tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập, sang tháng 4 thì tấn công thành Cộng Hòa. Ban đầu quân đội Bình Xuyên giành được không ít lợi thế, nhưng sau đó bị các đơn vị Nhảy dù Quân đội Quốc gia do Trung tá Đỗ Cao Trí chỉ huy sau năm ngày đã nhanh chóng áp đảo và đánh bật ra khỏi Sài Gòn-Chợ Lớn. Quân đội Quốc gia phản công, đáng kể nhất là lực lượng người Nùng thiện chiến của Ngô Đình Diệm đã đánh sang tận Tổng hành dinh của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y khiến lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn-Chợ Lớn và rút về mật khu Rừng Sác, hai bên sau đó vẫn giằng co suốt nhiều tháng trời. Thủ tướng Diệm quyết định đặt Bảy Viễn và các thuộc cấp là Lại Văn Sang và Lại Hữu Tài ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 21 tháng 5, Bảy Viễn và các thuộc cấp bị truy tố trước Tòa án Quân sự về các tội danh phá hoại và phản quốc. Ngày 21 tháng 9, Thủ tướng Diệm tổ chức Chiến dịch Hoàng Diệu (1955) do Đại tá Dương Văn Minh chỉ huy để truy kích tàn quân Bình Xuyên đang cố thủ tại mật khu Rừng Sác. Bảy Viễn may mắn được Pháp giúp giải thoát và đưa sang Pháp bằng phi cơ, kể từ đây Viễn bắt đầu cuộc sống lưu vong.

*

Ngày 13 tháng 1 năm 1956, Bảy Viễn và các thuộc cấp (Đã lưu vong) bị Tòa án Quân sự tuyên án tử hình khiếm diện về tội danh phá hoại và phản quốc, tước binh quyền và tịch thu tài sản.

Sau khi lưu vong, dù sống nơi xứ người, Bảy Viễn vẫn luôn dõi theo tình hình chiến sự ở Việt Nam. Theo các tài liệu và thư từ còn lưu giữ được bảo tồn ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia hiện nay, thì sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, từ năm 1964 đến năm 1970, Bảy Viễn liên tục gửi nhiều bức thư cho chính quyền mới ở Nam Việt Nam, phần lớn mang nội dung rằng Viễn xin được cùng gia đình hồi hương, trở về Việt Nam để sinh sống như những công dân bình thường, và cam đoan không can hệ đến chuyện quốc sự, nhưng nếu chính quyền có thiện ý mời ông làm cố vấn tiếp tục đối kháng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc, thì dù có tuổi cao sức yếu, Viễn vẫn vui lòng góp sức. Tuy nhiên, những bức thư với lời lẽ trang trọng này lại không được đón nhận, và Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa thậm chí còn xếp xó vào kho lưu trữ tư liệu dưới dạng văn bản mật. Ngoài thư từ, có hẳn một công văn của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa đề cập đến vấn đề lo ngại việc ông Lê Văn Viễn giữa các năm 1965 và 1968 đã thực hiện những chuyến du lịch đến các quốc gia láng giềng lân cận như Thái Lan và Campuchia, nhưng thực chất là đến tham dự các cuộc họp của các nhóm chính trị lưu vong ở hải ngoại.


Bảy Viễn có năm người vợ cùng nhiều con cái, tất cả đều được ông đón sang Pháp. Các con của Bảy Viễn đều đỗ đạt thành tài và có địa vị khá trong xã hội Pháp. Con cháu, hậu duệ Bảy Viễn vẫn ở Pháp. Những năm tháng lưu vong, nhờ vào khối tài sản khổng lồ trong các ngân hàng mà Bảy Viễn sống thoải mái cùng gia đình trong một ngôi biệt thự ở ngoại ô Paris. Năm 1972, ông từ trần tại Paris, Pháp, hưởng thọ 68 tuổi.


Chuyện ngoài lề

Năm 1972, tin cựu Thiếu tướng Lê Văn Viễn qua đời được đăng báo ở cả Pháp, Mỹ và Nam Việt Nam. Ngay sau đó, Hồ Hữu Tường – chính trị gia, nhà văn và nhà báo từng ủng hộ và hợp tác với Lực lượng Bình Xuyên – nhận lời một tòa soạn viết bài báo ngắn về Bảy Viễn mà trong đó ông Tường khiêm nhường khen ngợi cá tính Viễn. Hồ Hữu Tường viết rằng Bảy Viễn là người nghĩa hiệp, anh hùng trọng anh hùng nên dù mâu thuẫn gay gắt với tướng Nguyễn Bình đến mức tuyệt giao nhưng Viễn vẫn không thù oán gì cá nhân tướng Bình, và vào năm 1951, khi nghe tin Nguyễn Bình bị quân Pháp phục kích giết chết, Bảy Viễn không tỏ vẻ vui mừng gì mà chỉ ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Là tay giang hồ tánh tình cương trực thẳng thắn nên vào những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, lực lượng của Bảy Viễn từ một nhóm nhỏ vô danh dần được biết đến và mở rộng quy mô, chiêu mộ được rất nhiều thanh niên ái quốc mà trong đó phần lớn là giới du đãng vốn là thành phần luôn bị xã hội kỳ thị xa lánh. Ưu điểm là vậy nhưng Hồ nhân sĩ cũng cho rằng vì chỉ có những ưu điểm trên nên đó đồng thời cũng là khuyết điểm dẫn đến thất bại của Bảy Viễn.


Bảy Viễn thích nuôi một số loài thú dữ. Ở trong Tổng hành dinh sát cầu chữ Y, Bảy Viễn nuôi một con Hổ cái nhốt trong chuồng sắt và nuôi Báo xích trên cũi gỗ, những khi nhàn rỗi thì ông có thể vuốt râu Hùm xoa đầu Beo. Ngoài ra Viễn còn nuôi Cá Sấu thả ở trong ao ngoài sân vườn cùng nuôi rất nhiều loài chim và thú quý hiếm khác. Có một giai thoại do ông Hồ Hữu Tường thuật lại rằng Bảy Viễn quý loài Hổ đến mức trong một lần đi săn, đang lúc rình mồi thì một con Hổ từ đâu nhảy ra chồm lên vồ trúng các ngón chân của Viễn tạo nên vết thương khá sâu. Bảy Viễn tuy ngồi xổm và bị tấn công bất ngờ nhưng vẫn không lung lay hay trượt ngã, và với khẩu súng săn trong tay, nếu bắn một phát thì Hổ sẽ chết ngay, nhưng vì thương tình mà Viễn chỉ quát lớn một tiếng để Hổ hoảng sợ bỏ chạy.


Từng tồn tại tin đồn rằng Bảy Viễn còn rất nhiều kho báu như tiền và vàng ở miền Nam Việt Nam, nên sau khi đánh bại quân Bình Xuyên năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm dưới sự điều hành của cố vấn Ngô Đình Nhu đã truy tìm tịch thu. Theo tác phẩm “Bảy Viễn – Thủ lĩnh Bình Xuyên” của nhà văn Nguyên Hùng cũng như một bài báo mạng, thì trong cuộc chiến cuối năm 1955, Bảy Viễn cùng các thuộc cấp thân tín như Lại Hữu Tài, Lại Văn Sang, Tư Hiển cùng con là Lê Paul đã mạo hiểm thoát ra khỏi Rừng Sác, tới quốc lộ 15, mượn xe chạy thoát ra Vũng Tàu, nơi có đông quân Pháp trú đóng để chờ tàu chở về nước, tuy nhiên Lê Paul đã không thể chạy thoát theo cha được và bị bắt khi đang loay hoay tìm đường thoát thân. Để chuộc lại con trai, Bảy Viễn cố gắng thương lượng với Ngô Đình Nhu về việc bàn giao tiền bạc gửi trong các Ngân hàng nhưng bất thành nên Lê Paul bị giam giữ đến tháng 4 năm 1956 thị bị tử hình. Phần lớn dư luận ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 cho rằng kho tàng Bảy Viễn sau năm 1955 đã bị các tướng lĩnh và sĩ quan cấp cao của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tẩu tán một phần, phần còn lại giao cho chính quyền Nam Việt Nam, nhưng sau này nhờ vào các bài báo và bài viết của một vài Ký giả và Luật sư nên cũng có dư luận cho rằng tất cả số kho báu ấy đã được quân đội Việt Nam Cộng hòa tường trình và bàn giao minh bạch cho chính phủ, sang năm 1956 thì Tổng thống Ngô Đình Diệm quyết định sử dụng số kho báu ấy (Bao gồm vàng và tiền mặt) để xây dựng và thành lập Cô nhi viện Quốc gia.


Theo một nguồn khả tín, cố nghệ sĩ cải lương Út Bạch Lan lúc nhỏ từng là con nuôi Bảy Viễn. Vào những năm đầu thập niên 1950, danh ca Cô Năm Cần Thơ trong làng cổ nhạc Nam Bộ từng được Thiếu tướng Lê Văn Viễn cho mở quán rượu ca cổ nhạc tên “Quán Họa Mi” trong khuôn viên hý trường Đại Thế Giới ở Chợ Lớn. Cố nghệ sĩ cải lương Ba Xây (Người gốc Hoa) cũng từng là thông dịch viên tiếng Hoa cho Bảy Viễn (Có thể Bảy Viễn chỉ biết tiếng Triều Châu và chút ít tiếng Quảng Đông, nên cần có thông dịch viên kề cận khi giao hảo với các đại phú gốc Quảng Đông ở Chợ Lớn, hay từ Hồng Kông mới đến)

Tư liệu chính gồm Bảy Viễn – Thủ lĩnh Bình Xuyên của Nguyên Hùng; Bảo Đại, hay những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam của Daniel Grandclément; cùng các bài viết, hồi ký và tư liệu khác về Bảy Viễn, Bình Xuyên và Sài Gòn – Chợ Lớn.


Theo Le Van Khoa

Nghiên Cứu Lịch Sử | # **Giang hồ thảo khấu Bình Xuyên – Bảy Viễn ** | Facebook

Thú Mê Thơ - Nguyễn Duy Phước

Khi tôi gửi bài thơ "Thú Mê Chơi Cá Ngựa" thì có bạn hỏi sao không làm một bài thơ về thú mê làm thơ. Vậy xin gửi bài thơ tôi vừa sáng tác theo yêu cầu:

NdP