Saturday, May 30, 2026

Maria, Mẹ Thiên Chúa Và Mẹ Con Người - Nguoiviettudo


Ở Mỹ vừa mới có ngày lễ "Ngày của Mẹ", và con người có một ngườì mẹ huy hoàng trên trời.Sung sướng của con người là họ có chung một người mẹ với Thiên Chúa.Và bà yêu thương chăm sóc Thiên Chúa ( con một của bà) như thế nàothi bà cũng yêu thương chăm sócnhững đứa con loài người như thế.Bà tên là Maria, được xưng tụng là MẸ không chỉ bởi ngươi Công Giáo mà hầu như bởi mọi con người trên thế giới. Người ta chạy đến Bà như những đứa con chạy đến mẹ mình đễ vòi vỉnh van xin một điều gì đó. Lý do  họ chạy đến cùng bà bởi vì một sự thực này "hầu như không ai chạy đến cùng Bà đễ xin bàu chũa cứu giúp mà bà từ bỏ chẳng nhậm lời" hoặc "Chưa thấy ai xin mẹ lại về không ?'


Tuy vậy, người Công Giáo không " thờ lạy" bà . Họ kính yêu Bà như con cái kính yêu mẹ mình, diều này cũng dể hiểunhư trong một gia đình: những đứa con có điều gì muốn tâm sự hay xin xỏ thường chạy đến cùng mẹ hơn là cha, có lẻ  vì lý do là mẹ dể xiêu lòng, mủi lòng với con hơn ba.

Tuy nhiên nhiều người Công Gíáo còn nhìn thấy một điều có ghi trong Kinh Thánh cho thấy sức mạnh của lời cầu bào của Mẹ Maria trước Toà Thiên Chúa. Câu chuyện Chúa Giê Su biến nước thành rượu( không phải rượu thưòng mà có thể là loại rượu hạng nhất trong đám cưới). Câu chuyện xãy ra ở làng Ca Na  trong một đám cưới. Đây có lẽ là một đám cưới của một cặp cô dâu chú rễ nhà nghèo ( không biết nghèo đến cở nào , nhưng rõ ràng là chỉ vừa mời rượu khách mới vài tuần rượu thì...nhà hết rượu. Vì nhà nghèo, bà con hai họ và cả người chủ tiệc cưới cũng không biết làm sao. May mắn thay,  họ nhìn thấy một người đàn bà rất quen trong nhóm thực khách: bà Maria (rất nổi tiếng về việc hay giúp đở mọi người). Và họ đã mời bà tới,  tỏ sự khó khăn với bà, tin rằng bà sẽ có cách nào đó để giúp. Nhưng hởi ôi, tuy tâm Maria thiện lành, nhưng bà cũng chỉ là một bà mẹ nghèo không hơn không kém. 


Và rồi trong lúc khó khăn bà chợt nhớ ra một chuyên quan trọng : con bà, chang thanh niên tên Giê Su cũng có tên trong danh sách thực khách. Và điều bà tin chắc là con bà  sẽ thi hành bất cứ điều gì mẹ mình yêu cầu. Đó là điều mà bà đã nhìn thấy và nghiệm ra suốt thời gian dài mẹ con chung sống với nhau trong làng Nazaret. Và với tâm tưởng như thế, bà căn dặn người chủ tiệc và quan viên hai họ một cách chắc chắn rằng " Nếu Ngài bảo các ông làm gì thì cứ làm theo như thế". Và sau khi mọi chuyên đã theo đúng bài bản như thế bà mới đén trước mặt con mình và trình bày" Đám cưới này tội nghiệp quá con ơi, nghèo đén nổi chỉ mới đãi khách có vài tuần rượu mà nhà đã hết rượu rồi" và câu trả lời của con ( có lẻ) đã làm nét mặt bà không vui" Mẹ ơi việc ấy thì đâu có liên quan gì với mẹ và con ?. vì GIỜ CON CHƯA TỚi!!!( Đức Giê Su đã tiết lộ một sự thực không vui, nhưng RẤT THỰC: Thiên Chúa với hàng trăm ngàn công việc theo một trình tự và trùng khớp với chương trình , thời gian của Ngài. Tuy nhiên dù sự thực là như thế nhưng khi nhìn thấy gương mặt không vui và buồn rầu của mẹ mình, Thiên Chúa Ngôi Hai đã không thể quay mặt đi hướng khác. Ngài không thể giả vờ như không nghe, không biết, không nhìn thấy. Ngài đã chọn hướng làm theo lời yêu cầu của mẹ mình hơn là theo trình tự của chương trình Thiên Chúa. 


Câu chuyện đã kết thúc tuyệt vời cho một đám cưới nhà nghèo khi được thực khách khen ngợi "nhà này thực tuyệt vời vì ngưỜi ta thường đãi rươu ngon trước cho tới khi khách đã ngà say  mới đem ra rượu thường, còn nhà này thì .....Đám cươi suýt trở thành thảm hoạ, và gia đình hai họ sẽ ra sao nếu rượu đãi ngày cưới không có đủ để đãi khách? và câu chuyện sẽ ra sao với đời sống của hai vợ chồng nghèo này  và rồi cả đến đời con cháu nữa?.Maria đã chứng minh bà làcon người duy nhất mà lời cầu xin của mình khiến chính Thiên Chúa đã thay đổi chương trình của Ngài theo chiều hướng  làm vui lòng Mẹ Ngài. Đó là lý do ngưòi Công Giáo thường chạy đến nhờ bà cầu nguyện cho mình!!!!nhung Bóng tối đã tìm kiếm mọi cách thức để xuyên tạc, hầu làm xấu đi hình ảnh của Trinh Nữ, chẳng hạn chúng tung những tin đồn như đã tìm ra ngôi mộ an táng Ngài. Điều đáng buồn là nhiều con cái Mẹ vẫn còn tin vào những điều đó.


Nhưng dù Không  phải là một nhà nghiên cứu Thần Học, hay một chức sắc trong Công Giáo, chỉ cần là một giáo dân  và có một đầu óc bình thường , người ta cũng tìm thấy đó là những tin đồn thất thiệt nhằm một mục đích duy nhất là phá hoại niềm tin của giáo hữu. Bóng tối muốn người ta tin điều đó , nhưng lại quên rằng : khi Chùa chọn Trinh Nữ Ma-ria rất Thánh làm mẹ của con duy nhất Ngài, Thiên Chúa đã ban cho Trinh Nữ một ân phúc mà chỉ có Bà được nhận trong lịch sữ tạo dựng và phát triễn của con người " Bà trở thành con người duy nhầt trong lịch sữ không bị vướng víu bất cứ khúc mắc hay hệ luận gì về " Tội Tông Truyền"( hay nói cách khác Bà là Đấng " Vô Nhiễm Nguyên Tội" ( Một tội mà con người nào cũng vướng mắc khi vừa được sinh ra (cái tội  như một kiểu chìa khoá mở toang hồn xác con người để bóng tồi và tội lỗi tràn vào phá tan nát hồn xác của thụ tạo. Kết quả của nó là cái chết như lời thánh Phao Lô Tông Đồ viết trong thư" Cái Chết là Tiền Công của Tội Lỗi...'


Và vì thế, bóng tối muốn chúng ta tin rằng Đức Ma-ri-a đã chết và  chôn cất như một con người đầy tội lỗi  mà quên đi quyền năng tối thượng của Thiên Chúa đã chọn cho Con Duy Nhất của Ngài một người Mẹ tuyệt vời xứng đáng, không vướng mắc bất cứ tội tình gì. Và bởi vì Bà không vướng mắc bất cứ tội tình gì (như là hệ luỵ của Nguyên Tội) tất nhiên bà đã không bước qua ngưỡng cửa của sự chết. Kết quả là trước Thánh Nhan Thiên Chúa,  Trinh Nữ Ma-ria Rất Thánh mà Hồn Xác Bà  đẹp như kim cương không tì vết. Và điều đó làm đẹp lòng Thiên Chúa biết bao nhiêu đến nỗi Ngài lai ban cho Trinh Nữ một ơn trọng đại tiếp theo là cả hồn lẫn xác Bà được đón rước về trời .Và từ trời cao mọi tước hiệu mà Ngài có thể ban cho một tạo vật thì Thiên Chúa đã ban hết cho Bà: Bà là "Nữ Vương Thiên Đàng, Nữ Vương các Thần Thánh Trên trời..." Nhưng trên tất  cả, tước hiệu mà Bà trân trọng nhất chắc có lẽ là tước hiệu mà con bà (Thiên Chúa Ngôi Hai) đã trao tặng khi Ngài đang bị treo trên Thập Tự "Này là Mẹ Con. Này là con Mẹ" (hay nói một cách khác" Bà vừa là Mẹ Thiên Chúa lại cũng là mẹ của con người)

Và con người đã sung sướng và hạnh phúc biết bao nhiêu khi được Thiên Chúa ban cho một người Mẹ đầy tình yêu và quyền năng như vậy ở trên trời trước thánh nhan Thiên Chúa. Và có lẽ vì thế con người đã chạy đến kêu xin năn nỉ Mẹ khi có chuyện gì cần thiềt quan trọng.

Đòn phép của bóng tối vô cùng nguy hiểm vì tôi đã từng nhìn thấy một hình ảnh có cả Thiên Chúa Cha , Thiên Chúa Con và cả Đức Mẹ, chỉ có một điểm ít ai để ý ( tôi hỏi vài người chung quanh. không ai nói gì) đó là hình Chúa Giê Su NGỰ BÊN TAY TRÁI  ĐỨC CHUÁ CHA chứ không  ở bên tay phải như trong lời Kinh Thánh.


Thời chiến tranh VN nhiều bà mẹ, bà vợ than khóc cho chồng cha anh mình thiệt mạng trên chiến trường và họ hoàn toàn không nhận ra rằng mình đã có một đấng "an ủi, chia sẻ" mạnh mẻ ở trên trời. Bà cảm thông, hiểu biết với con cái mình trên thế gian vì chính bà đã bất lực nhì thấy chính con ruột của bà bị đóng đinh phơi mình trên cây thập tự chảy máu( đau đớn và chết vì tử thương) mà bà bất lực không làm gì được. Bà đăc biệt cầu bàu và ủi an những ngưồi mẹ mất con vì bất cứ lý do nào vì chính bà cũng đã trãi qua niềm đau của một bà mẹ mất đứa con duy nhất vi tử thương. Nổi đau của một bà mẹ nhìn thấy con mình bị giết chết ( một cách từ từ trước mặt mình) mà mình lại bất lực không làm gì được.  Vì vậy bà đã dành những lời cầu bàu, ủi an mạnh nhất dâng lên Thiên Chúa cho những bà mẹ, người vợ và  cách riêng đặc biệt cho những linh hồn đã lìa đời trện những bãi chiến trường không còn được trở về vơi gia đình mình nữa.


Nguoiviettudo

Bận Tâm Não Phiền - Đỗ Công Luận

Hồ Chí Minh Và Di Sản Độc Tài

 

Hôm nay, nhân kỷ niệm 136 năm ngày sinh Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), bộ máy tuyên truyền của đảng cộng sản Việt Nam lại dồn hết sức lực để tôn vinh ông ta như “cha già dân tộc”, “vị lãnh tụ vĩ đại”, người đã mang lại độc lập và tự do cho dân tộc. Nhưng đằng sau lớp sơn son thếp vàng ấy là một thực tế phũ phàng: di sản chính trị mà Hồ Chí Minh để lại không phải là tự do, mà là một hệ thống độc tài toàn trị đã biến hàng chục triệu người Việt thành những “nô lệ hiện đại” dưới ách cai trị của một đảng duy nhất, kéo dài gần một thế kỷ.


Hồ Chí Minh không phải là nhà dân tộc chủ nghĩa thuần túy như tuyên truyền vẫn ca ngợi. Ông ta là người cộng sản quốc tế, được huấn luyện bởi Quốc tế Cộng sản (Comintern) và trung thành với lý thuyết Marx-Lenin. Từ những năm 1920, ông ta đã chọn con đường cách mạng vô sản thay vì con đường dân chủ tự do mà nhiều sĩ phu Việt Nam đương thời theo đuổi. Khi nắm quyền sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ông ta nhanh chóng thiết lập nền độc tài kiểu Bolshevik: thanh trừng đối thủ (Việt Quốc, Việt Cách), cải cách ruộng đất man rợ gây nên cái chết của hàng trăm nghìn người vô tội, và xây dựng một nhà nước đảng trị thay vì nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.

Di sản lớn nhất của Hồ Chí Minh chính là mô hình độc đảng toàn trị – một cỗ máy quyền lực không có đối trọng, không có tam quyền phân lập, không có tự do ngôn luận và báo chí. Hiến pháp 1946 do ông ký ban hành còn mang màu sắc dân chủ hình thức, nhưng ngay sau đó, mọi quyền lực thực tế đều tập trung vào đảng cộng sản. Sau năm 1975, mô hình ấy được áp dụng toàn quốc, đẩy đất nước vào thảm họa kinh tế-xã hội: kinh tế kế hoạch hóa, hợp tác hóa nông nghiệp, công nghiệp nặng nặng nề, nạn đói, thuyền nhân, và hàng triệu người phải bỏ quê hương chạy trốn. Đến nay, dù có Đổi Mới từ 1986, bản chất quyền lực vẫn không thay đổi: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, Nhà nước là công cụ của Đảng, và Nhân dân chỉ là đối tượng để cai trị, tuyên truyền và khai thác.

Gần một thế kỷ sau khi Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng, người dân Việt Nam vẫn sống trong tình trạng nô lệ tinh thần và chính trị:

* Nô lệ tư tưởng: Giáo dục và truyền thông bị kiểm soát chặt chẽ. Lịch sử bị bóp méo, Hồ Chí Minh được thần thánh hóa, trong khi những tiếng nói đòi dân chủ, nhân quyền bị quy là “thế lực thù địch”. Bất kỳ ai chỉ trích Đảng đều có nguy cơ bị bắt, bị tù, bị “học tập cải tạo” dưới hình thức mới.

* Nô lệ kinh tế: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân (thực chất là thuộc Đảng và các nhóm lợi ích). Doanh nghiệp nhà nước thống trị những lĩnh vực then chốt, tham nhũng tràn lan, khoảng cách giàu nghèo cực lớn. Người dân làm ra của cải nhưng không thực sự làm chủ vận mệnh kinh tế của mình.

* Nô lệ chính trị: Không có bầu cử tự do, không có đối lập chính trị hợp pháp. Quốc hội chỉ là “con dấu” của Bộ Chính trị. Các quyền cơ bản – tự do ngôn luận, hội họp, tôn giáo, lập hội – bị hiến định trên giấy nhưng bị tước đoạt trên thực tế.


Những người ủng hộ Hồ Chí Minh thường viện dẫn “độc lập dân tộc” để biện minh. Nhưng độc lập mà không có tự do thì chỉ là sự thay thế chủ nghĩa thực dân cũ bằng chủ nghĩa thực dân mới của Đảng. Dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi ách Pháp-Nhật, nhưng lại rơi vào ách cai trị nội sinh khắc nghiệt hơn: một đảng tự cho mình sứ mệnh “lãnh đạo” vĩnh viễn, không cho phép nhân dân chọn lựa. Kết quả là Việt Nam hôm nay vẫn thuộc nhóm các nước kém tự do nhất thế giới theo các chỉ số Freedom House, Economist Intelligence Unit, hay Transparency International.

Di sản Hồ Chí Minh không chỉ là cá nhân ông ta, mà là hệ thống tư tưởng và tổ chức mà ông kiến tạo. Hệ thống ấy đã chứng minh qua thực tiễn: nó không thể tạo ra một xã hội thịnh vượng, công bằng và tự do thực sự. Những thành tựu kinh tế gần đây, nếu có, là nhờ sức sống mãnh liệt của nhân dân và một phần nới lỏng kiểm soát kinh tế, chứ không phải nhờ bản chất của chế độ. Ngược lại, chính bản chất độc tài đang kìm hãm tiềm năng thực sự của dân tộc.


136 năm sau ngày sinh của Hồ Chí Minh, đã đến lúc người Việt cần nhìn nhận ông một cách tỉnh táo, không bị cảm tính và tuyên truyền chi phối. Một nhà lãnh tụ thực sự vĩ đại phải để lại di sản giải phóng con người, chứ không phải xiềng xích mới tinh vi hơn. Nhân dân Việt Nam xứng đáng được sống tự do, có quyền làm chủ vận mệnh của mình, chứ không phải tiếp tục là “nô lệ” dưới danh nghĩa “dân chủ tập trung” và “đảng lãnh đạo”.

Tương lai của dân tộc không nằm ở việc tiếp tục thờ cúng một di sản đã lỗi thời, mà ở việc dũng cảm vượt qua nó để xây dựng một Việt Nam thực sự dân chủ, pháp quyền và thịnh vượng. Đó mới là món quà xứng đáng nhất dành cho thế hệ mai sau – những người không muốn sống nô lệ thêm một thế kỷ nữa.


fb NguyenVanDai

(1) Hồ Chí Minh và di sản độc tài: Biến Nhân dân... - Nhật Ký Yêu Nước | Facebook 

Sài Gòn Xưa 1975: Nước Mắt Và Cuộc Chia Ly Vĩnh Viễn Trước 30/4

Chữ Và Nghĩa - Đoàn Xuân Thu

Những danh hài trước 75 (hình internet )


Xin mời cùng cười với tác giả Đoàn Xuân Thu trong bài phiếm luận Chữ và Nghĩa. Đoàn Xuân Thu là nhà văn, nhà thơ và nhà báo rất được hâm mộ ở Melbourne nói riêng và Úc Châu nói chung.


Chữ và Nghĩa!

Bà con mình, già già cỡ tui, hồi xưa chắc đều biết các danh hài của sân khấu miền Nam mình như: hề râu Thanh Việt, hề nhựa Thanh Hoài, hề Tùng Lâm, hề Phi Thoàn,  hề Xuân Phát. Mấy danh hài nầy có cách diễn, cách giễu rất duyên và rất riêng. Không ai lẫn vào ai; không y chang, giống đồ hộp sản xuất hàng loạt danh hài như tong nước sau nầy.

Riêng hề Xuân Phát còn là soạn giả cải lương nữa đó. Ðâu hồi ngàn chín trăm sáu mươi mấy gì đó Xuân Phát viết tuồng ‘Tình Chú Thoòng’, diễn trên sân khấu Dạ Lý Hương của bầu Xuân. Hùng Cường, vai chú Thoòng, xuống vọng cổ, phát âm lơ lớ, hịt Ba Tàu. “Ai có răng vàng pể bạc pể đồng hồ hư pán hông?”. Dễ tính như chú Ba… “Hà cái lầy xính xái, nó chọc mình mê gái Việt Nam, chổng khu làm bao nhiêu đưa cho em ăn hết (mà hổng làm vậy thì cách chi để đỉa đeo chân hạc cho được chớ?) Xuân Phát cười mình ‘dại gái’ là viết đúng, chớ hổng có sai thì hà cái lầy cự cãi làm gì!


Tuồng ăn khách quá xá, quà xa. Xu hào rủng rỉnh nên soạn giả Xuân Phát hăng hái soạn thêm tuồng ‘Tình Anh Bảy Chà’ cũng na ná, chỉ chuyển từ chú Ba qua anh Bảy mà thôi. Nhưng lần nầy bị tổ trác (chắc ông quên cúng Tổ!) Anh Bảy Chà do kép Thành Ðược đóng (chắc ngầm đua với kép Hùng Cường); cũng ca vọng cổ, giọng lơ lớ hịt ‘Cà ri Chà’. Nhưng hội Ấn Kiều lại hổng chịu cách Xuân Phát chọc quê như vậy, làm mất mặt bầu cua cả đám Chà Và. Hăm đi thưa Xuân Phát ra ba tòa quan lớn. Rét quá! Xuân Phát đành viết thư dà lỗi tại tôi muôn phần!

***

Melbourne, thủ phủ đa văn hóa của tiểu bang Victoria, Úc Châu, có hà rầm Ấn Ðộ. Có đứa đội ‘turban’, để râu rìa, nói: “Tui là Sikh chớ không phải Ấn Ðộ.” Vậy Sikh ở đâu?  Nó nói ở gần Ấn Ðộ (He he!). Rồi Ấn Ðộ Bombay; nhưng cữ chữ ‘bom bay’ nầy rồi, (ghê quá mà) bèn đổi thành Mumbai. (Ối cái nào cũng ‘bay’ hết mà bày đặt đổi tới đổi lui chi cho nó mệt? Huỡn quá hè!) Sikh không ăn thịt, chỉ ăn rau. Ấn Ðộ, đạo Bà La Môn (Hindu), không ăn thịt bò. Ấn Ðộ, đạo Hồi, không ăn thịt heo. Người đạo Hồi trước khi giết trừu mần thịt luôn làm nghi thức; giống như bà con miền Tây mình trước khi cắt cổ gà, nấu cháo, xé phai, cũng lâm râm khấn vái cho ‘con gà’ kiếp sau nó đầu thai… thành ‘con vịt’.

Cái thịt đó gọi là ‘halah meat’. Không phải ‘halah meat’ nhứt định không mua. Nên có Chú Ba từ đại lục gom được một mớ kha khá, chạy trốn Hoàng đế Tập Cận Bình qua định cư vùng Coburg, phía Bắc thủ phủ Melbourne. Nơi đây nhiều dân Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), Li Băng (Lebanon), toàn theo đạo Hồi, nên không ăn thịt heo; thịt mà chú Ba rất ‘hẩu xực’, coi là ‘quốc nhục’ (nhục là thịt chớ hổng phải nhục nhã đâu nhe bà con). Chú Ba nầy bèn mở cái tiệm bán thịt heo. Nhưng ế nhệ hè. Nhìn qua bên đường, thấy một tay Thổ Nhĩ Kỳ bán thịt không kịp hở tay hè. Nhìn lên bảng quảng cáo của nó chú Ba thấy đề ‘Halah Meat’. Sáng hôm sau, chú Ba khệ nệ khiêng cái bảng quảng cáo ‘Halah Pork’ đặt chình ình trước cửa tiệm mình để cạnh tranh câu khách. Ðúng là ngu như heo!

***

Chữ và nghĩa nó quan trọng dường nào trong buôn bán, thương trường mà ngay cả trong chính trường cũng vậy. Mới đây nè tờ ‘Wall Street Journal’ của Mỹ, vô tình hay cố ý chơi chữ, gọi Tổng thống Nga là “Vladimir Trump” (ám chỉ hai ông ‘thần thừ’ nầy là bà con cật ruột, cùng họ với nhau)  Sau đó phải xin đính chính, do lỗi của thằng đánh máy viết lộn họ Putin với họ Trump. Có một chú Sam cũng rất thâm, biểu nhà báo là tên Tổng thống Mỹ nên viết nhầm là “Donald Putin” luôn đi. (Xin phụ đề Việt ngữ! ‘Putin’ cắt thành hai âm ‘Pu’ và ‘tin’; nếu phát âm theo kiểu Mỹ thì ‘pu’ đồng âm với ‘poo’ là tiếng lóng của chữ ‘phân’; còn ‘tin’ nghĩa là cái hộp thiếc. Do đó ‘poo’ ‘tin’ là hộp đựng cái gì thối lắm). Ai mà nói mấy thằng Yankees cạn sợt, không có óc hài hước, hổng biết chọc quê thâm thúy như người Anh là lầm to đó.

***

Tóm lại, nếu nhờ chữ nghĩa để kiếm sống, tui xin mấy nhà văn mình nên cẩn tắc để vô áy náy. Lạng quạng là bị phang hoài hè! Tác giả nhờ nhà phê bình, mới viết càng lúc càng ít rác. Viết văn, lựa chữ như đãi cát (trong bãi rác đời) để tìm những mảnh vàng nhỏ li ti hầu kết lại thành một đóa bông hồng vàng tươi thắm, dâng hiến cho người đọc.

Ða số những nhà phê bình, cầm cân nẩy mực như một quan tòa chánh trực, công minh. Chẳng bao giờ phê bình tác phẩm mà lại lôi tác giả ra chửi cha, mắng mẹ họ bao giờ. Tui thường tôn kính một anh bạn văn như ngọn Thái sơn sừng sững, bởi kiến thức về miền Lục tỉnh quê mình, ổng chỉ chịu đứng hạng nhì, sau nhà văn Sơn Nam mà thôi. Tuy nhiên chỉ vì chữ ‘Chà Và’ có một tay ăn nói cộc cằn, thô lỗ phạng ảnh thiếu điều lọi tay, hết muốn viết luôn. “Chà Và không phải là Ấn Ðộ; mà là người đến từ Java thuộc Nam Dương. “Viết vậy mà dám nhận vơ là giáo viên!”


Thiệt là lời phê bình cà chớn, cà cháo và cà pháo. Miền Nam mình, xưa, dạy trung học được gọi là ‘giáo sư’ chớ không phải ‘giáo viên’như miền Bắc. Chữ ‘nhận vơ’ người miền Nam hổng có xài; bà con mình dùng chữ ‘nhận ẩu’; ai khoái chơi từ Hán Việt thì xài chữ ‘mạo danh’. “Trước khi chê tui dốt, sao ‘giả’ hổng chịu tra tự điển của Lê Văn Ðức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa: người Chà ở cù lao Java (Nam Dương) đang sinh sống ở Việt Nam, nghĩa rộng chỉ chung người da đen, gốc Ấn Ðộ, Malaysia hay Indonesia tới sống ở Việt Nam!” 

Anh nói đúng đó! Ða phần người da ngăm ngăm, đến nước mình sinh sống là Ấn Ðộ.  Quê tui nè, Mỹ Tho nhỏ xíu hè, vậy mà anh chạy qua cầu quay về hướng Gò Công, gần chợ Cũ cũng thấy có cái nghĩa địa Ấn Kiều đó. Rồi còn người Chăm, tức người Chiêm Thành, con cháu của Chế Bồng Nga, sau khi bị Ðại Việt thôn tính, chạy tùm lum, tùm la qua Miên rồi về Châu Giang, Châu Ðốc. Người Việt gọi những người Chăm mất nước đó là ‘Chà Châu Giang’.


Nếu có là buồn buồn chọc ghẹo nhau chơi cho vui; chớ không hề ác ý như: “Chà và, ma ní tí te. Cái bụng thè lè, con mắt ốc bươu” hoặc “Chà và ma ní tí te. Hàm răng trắng nhách, con […] đen thùi”. Những người Chà Và (Ấn, Chàm…) đó sống chan hòa với bà con người Việt từ miền Trung vào; bà con người Minh Hương, phản Thanh phục Minh thất bại, chạy qua; rồi bà con Khmer đã bao đời sống trên vùng Thủy Chân Lạp.

***

“Thôi bỏ qua đi Tám! Tui phục tài anh lắm. Dùng câu nào ra câu nấy, chữ nghĩa sáng trong!” Nhưng mới đây tui đọc chỉ vài câu (văn hay đâu nệ ngắn dài!) của một tác giả ‘nặc danh’, thấy cách dùng chữ cũng hay quá xá. Tả cơn bão số 9, rớt ở Sài Gòn, ổng tường trình như vầy nè: “Ðường Kha Vạn Cân ngập tới chân. Ðường Huỳnh Thúc Kháng ngập tới háng. Ðường Khương Hữu Dụng ngập tới bụng. Ðường Trần Phú ngập tới vú. Ðường Phạm Văn Hai ngập tới vai. Ðường Nguyễn Thị Minh Khai ngập tới tai (Cha, ‘khai’ dữ nghe vì lỗ tai gần cái lỗ mũi).  Ðường Cao Văn Lầu ngập tới đầu. Ðường Võ Thị Sáu ngập hết ráo…” (Nghĩa là ngập từ chân lên tới đầu). Mà còn hay hơn nữa! Ðường Trần Ðình Xu ngập tới […] và đường Vân Ðồn ngập tới […]


Tác giả không chịu viết ra ba cái ‘chấm chấm’ nầy mà ai cũng hiểu; không có người không hiểu. Thiệt hổng biết ổng muốn ăn gì để tui cúng… He he!


Đoàn Xuân Thu.

Melbourne 

 (2) Sài Gòn Xưa | Đoàn Xuân Thu | Facebook

Thằng Mù Dẫn Đường, Thằng Ngu Khốn Khổ

 


Xây dựng thí điểm mô hình xã hội chủ nghĩa:

Thằng mù dẫn đường, thằng ngu khốn khổ

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo Hà Nội thí điểm xây dựng hai xã, phường “kiểu mẫu xã hội chủ nghĩa”. Kể từ hôm đó, Chủ tịch Hà Nội Vũ Đại Thắng lâm vào khủng hoảng tinh thần, rồi ngày nào cũng lật đật chạy sang gặp ông Tô hỏi:

* “Ông ơi, xã hội chủ nghĩa nó giống nước nào?”

Ông Tô Lâm trầm ngâm, nhả khói thuốc:

* “Giống Trung Quốc.” Hôm sau:

* “Giống Singapore.” Hôm kia:

* “Giống Bắc Triều Tiên.” Hôm khác nữa:

* “Thôi giống Hàn Quốc cho sang.” Rồi ông lại đổi:

* “Hay là giống Cuba cũng được.”

Đến ngày thứ năm, ông Tô Lâm bực mình quát:

* “Thôi mày đừng hỏi nữa! Tao cũng chả biết xã hội chủ nghĩa nó như thế nào!”

Cảnh tượng hai vị lãnh đạo cao nhất đất nước và Hà Nội ngồi nhìn nhau, một ông thì không biết, ông kia thì càng không biết, rồi cùng nhau “thí điểm” cái thứ mà cả hai đều mù tịt… đúng là kịch hay, hài như phim ngắn Netflix chính trị.

Người ta hay nói “thằng mù dẫn đường cho thằng mù”. Ở đây còn kinh dị hơn: thằng mù dẫn đường cho thằng ngu, mà thằng mù cũng đang vừa đi vừa hỏi Google Maps “Xã hội chủ nghĩa là gì vậy trời ơi”.

Hà Nội sắp có hai phường xã hội chủ nghĩa thí điểm. Cư dân nơi đây chuẩn bị được hưởng “đặc quyền”:

* Sáng hôm nay học tập tư tưởng giống Trung Quốc.

* Chiều học tập kinh tế thị trường giống Singapore.

* Tối về nằm suy ngẫm triết lý Juche của Bắc Triều Tiên.

* Cuối tuần thì mở karaoke hát bài “Đi lên chủ nghĩa xã hội” theo điệu K-pop Hàn Quốc.

Còn nếu chán thì sang Cuba uống rượu rum, hút xì gà, và than thở đời khổ như… người Việt Nam.

Thật sự, dân tình giờ chỉ còn thiếu mỗi cái popcorn ngồi xem hai ông lãnh đạo “xổ số xã hội chủ nghĩa” hàng ngày. Hôm nay giống nước nào? Mai đổi sang nước nào? Cuối cùng chắc cả hai ông cũng thống nhất một câu kinh điển:

“Xã hội chủ nghĩa là cái mà chúng ta đang làm đây.”

Nghĩa là: vừa mù, vừa loanh quanh, vừa không biết mình đang đi đâu, nhưng vẫn rất tự tin chỉ đạo người khác đi theo.

Hay thật. Việt Nam mình chưa bao giờ thiếu kịch bản hài.


Facebook

Thanh Loan chuyển

Hốt Ngọc Lượm Vàng - Huy Phong (Nguyễn Vân Xuyên)


Chú hai Ngọt và dì tư Canh (theo cách gọi thông thường của người dân địa phương) là 1 cặp vợ chồng hiền lành chất phát mà hầu hết mọi người dân trong làng đánh cá xã Phước Hải thuộc quận Đất Đỏ, tỉnh lỵ Bà Rịa hết lòng thương mến.

Từ các thế hệ ông, cha của chú hai Ngọt cũng như của dì tư Canh, gia đình đã nghèo và đến đời của 2 người thì cái khó, cái nghèo cũng cứ vẫn còn đeo đuổi.....


Khi còn nhỏ, chú hai Ngọt chỉ được đi học cho đến tạm biết đọc biết viết sơ sài chữ Quốc Ngữ rồi ở nhà giúp đỡ cha mẹ trong nghề đi biển chài lưới... còn dì tư Canh thì hoàn toàn "dốt đặc cán mai" vì gia đình quá nghèo khổ, từ nhỏ đã phải ra đồng cùng cha cùng mẹ trong việc cấy cày.... Cùng với các người trai trẻ trong làng, qua các dịp hội hè đình đám, được các bậc trưởng thượng kể cho nghe những câu chuyện qua sách vỡ tiểu thuyết, câu chuyện "Chúa Tàu Kim Quy" của ông Hồ Biểu Chánh đã ăn sâu vào đầu óc của chú hai Ngọt, đã làm cho chú hai Ngọt say mê thích thú với nhiều ước mơ sẽ được giàu sang như nhân vật chánh trong câu chuyện đã được Mạc Thiên Tứ (con cháu của ông Mạc Cửu) chỉ cho 1 kho tàng đầy vàng ngọc  châu báu và trở nên giàu sang.... Nhưng đó chỉ là Ước Mơ.

Khi lớn lên, nên bề gia thất, chú hai Ngọt lấy dì tư Canh về làm vợ và có được 4 đứa con, theo thứ tự 2 gái 2 trai lần lượt cứ năm một sinh ra đời trong cảnh khó khăn thiếu trước hụt sau... nhưng chú hai Ngọt vẫn có những ước mơ của riêng mình mà chú bèn đặt tên cho các con qua 4 chữ: HỐT, NGỌC, LƯỢM, VÀNG.


Trước đây, dưới thời Cộng Hòa, dưới thời Quốc Gia, gọi là gia đình nghèo khó không bằng ai, nhưng ngày ngày cũng có được 2 bữa ăn với rau dưa tôm cá thịt dầu... sáng sáng ra phố chợ Phước Hải uống cà phê, ăn hủ tíu, ăn xíu mại, bánh tiêu giò cháo quẩy ở quán chú Tửng.. còn phần con Hốt, con Ngọc, thằng Lượm, thằng Vàng thì đều được cấp sách đến trường học hành đàng hoàng như hầu hết mọi đứa trẻ trong làng... Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước được gọi là "đã được hoàn toàn Giải Phóng và Thống Nhất"...nhân dân Việt Nam Anh Hùng đã đánh cho "Mỹ Cút Ngụy Nhào"... thì thằng Cưởng, thằng Bánh, con Ớt, con Chanh, trước đây bỏ nhà, bỏ làng đi theo Việt Cộng, đi theo Cộng Sản, bây giờ còn sống sót trở về làng Phước Hải, làm việc trong Ủy Ban Nhân Dân Xã bên cạnh 1 ông người Bắc lạ hoắt không biết từ đâu đến được gọi là "Đồng Chí Bí Thư". Thằng Cưởng, thằng Bánh, con Ớt, con Chanh đã tỏ ra hống hách, coi mọi người trong làng trong xã không 1 ai ra gì kể cả những người đáng tuổi ông bà cha mẹ của chúng nó... Thật... đúng là Đổi Đời! Tụi nó  tự cho mình là những người có công với Cách Mạng, là người của Đảng, có quyền và có bổn phận đứng ra điều hành việc làng việc nước để đem lại công ăn việc làm, đem lại cơm no ấm áo cho mọi người trong 1 cái chế độ Mới gọi là Chế Độ Xã Hội Chủ Nghĩa...


Hàng ngày, thằng Cưởng, thằng Bánh, con Ớt, con Chanh, lưng đeo súng lục, cánh tay đeo băng đỏ, luôn luôn có ông Đồng Chí Bí Thư người Bắc bên cạnh, chúng nó thay phiên nhau cầm máy phóng thanh sang sảng nói những câu, những chữ lạ hoắt mà hồi nào giờ dân chúng làng Phước Hải nầy chưa bao giờ được nghe nói đến như: "Nhân Dân Làm Chủ, Đảng Lãnh Đạo, Nhà Nước Quản Lý, nông dân làm chủ ruộng đồng, công nhân làm chủ nhà máy... Xã Hội Chủ Nghĩa Không Có Người Bóc Lột Người…"


Làm Theo Năng Lực, Hưởng Theo Nhu Cầu... Bác Hồ Vĩ Đại Sống Mãi Trong Sự Nghiệp Của Chúng Ta... "và còn không biết bao nhiêu câu, bao nhiêu chữ khó hiểu khác... mà người dân trong xã Phước Hải tự hỏi rằng "không biết cái đám Cưởng, Bánh, Chanh, Ớt, chúng nó có hiểu những câu, những chữ mà hàng ngày chúng nó đã khua tay, hùng hổ mạnh miệng phát biểu hay không? Vì có 1 lần, cậu tám Ngọ đến Ủy Ban Nhân Dân Xã xin giấy phép đi thăm người nhà ở gần Cầu Long Hương thưộc trung tâm Long Lễ, con Chanh cầm tờ giấy phép của cậu tám Ngọ lên đọc nhưng nó đã "cầm ngược đầu tờ giấy phép giả vờ đọc"... điều đó chứng tỏ rằng "hiện nay con Chanh vẫn chưa biết đọc chữ Quốc Ngữ" mà vẫn còn là thành phần dốt nát mù chữ vậy...

Và từ đó, cái gì cũng là "của chung, của  hợp tác xã và mọi người ai cũng là chủ..."  nhưng gia đình của chú hai Ngọt, dì tư Canh cùng 4 con Hốt Ngọc Lượm Vàng cũng như tất cả mọi người dân trong làng Phước Hải thì đời sống lại càng nghèo khổ khốn khó hơn lên... ngày ngày chỉ duy nhất có 2 bữa ăn, 1 bữa cháo và 1 bữa cơm độn với khoai... không có thịt cá.... đặc biệt hơn nữa là mua 1 lít dầu, mua 1 cây đinh cũng phải "xếp hàng và đăng ký"...

Và cũng từ đó, ngày nào cũng có người từ Sài Gòn, từ các nơi khác kéo nhau đến các làng ven biển mua ghe, hùn hạp đóng ghe, tàu để Vượt Biên trốn đi nước ngoài tìm Tự Do. Nhờ nhà có ghe và biết nghề đi biển mà cả nhà của chú hai Ngọt, dì tư Canh và 4 con Hốt Ngọc Lượm Vàng đã được các gia đình người Hoa Kiều từ Sài Gòn "xuống móc nối cùng nhau vượt biên trốn đi nước ngoài và tất cả đã thành công đến được bến bờ TỰ DO".

Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ mà những người Tỵ Nạn Cộng Sản Việt Nam thường gọi một cách nôm na là nước Mỹ, là xứ Cờ Hoa... đây đúng là 1 nơi "Thiên Đàng của Tiền Bạc và Tình Yêu" cũng là "Địa Ngục của Lao Động"... Ở đây người ta "Dư Ăn nhưng Thiếu Ngủ". Nhưng không sao, vì giữa cái Ăn và cái Ngủ, người ta thích cái ăn hơn, vì từ xưa tới nay, người ta thường Chết vì thiếu ăn hơn là chết vì thiếu ngủ.


Ở xứ Cờ Hoa Mỹ, có đủ mọi việc cho đủ mọi giai tầng trong xã hội: Những người có bằng cấp cao thì làm những công việc nặng về trí óc dành cho người trí thức. Những người ít học thì cũng  không thiếu gì việc làm, muốn làm bao nhiêu ngày, bao nhiêu giờ cũng được bất kể ngày đêm, chẳng hạn như thành phố sòng bạc Las Vegas Quốc Tế, sinh hoạt 24 giờ trên 24 giờ, điện đóm sáng rực 1 vùng trời bao la mà có người nói rằng: (không biết có đúng không?) "Số lượng điện ở đây xài 1 ngày 1 đêm bằng cả nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa xài trong 2 tháng".

Và cũng từ cái đất địa nầy của Xứ Cờ Hoa, đã có nhiều người Tỵ Nạn Cộng Sản Việt Nam đến đây với 2 bàn tay trắng, sau hơn 7-8 năm làm việc cật lực ngày đêm đã trở thành những Tỷ Phú, Triệu Phú trong Cộng Đồng Người Việt Nam tại Hải Ngoại như các ông Trần Dũ, Vĩnh Hiệp Phong, Khương Văn Huấn.... và còn nhiều người khác nữa....

Cũng như hầu hết những người Tỵ Nạn Việt Nam khác, gia đình của chú hai Ngọt, dì tư Canh và các con đã đến Xứ Cờ Hoa với 2 bàn tay trắng, cũng lao đầu vào Địa Ngục Lao Động để tìm Thiên Đàng của Tiền Bạc và Tình Yêu.

Thế nhưng Mưu Sự Tại Nhân mà Thành Sự Tại Thiên và sức người thì có hạn: chú hai Ngọt, dì tư Canh chỉ làm được những công việc nhẹ là cắt chỉ và vắt sổ tại nhà... còn Hốt Ngọc Lượm Vàng thì đi may ngày may đêm tại các xưởng may và nhiều lúc đã ngủ gục trên các dàn máy mà không hề hay biết... Thật là vô cùng gian nan trong lúc khởi đầu...


Đối với chú hai Ngọt và dì tư Canh thì bây giờ đã mản nguyện lắm rồi. Cuộc sống không còn phải lo bữa cháo, bữa khoai độn cơm không thịt cá như hồi còn ở Việt Nam: "Cắt chỉ, vắt sổ tại nhà, công việc được làm theo Năng Lực mà thực sự hưởng theo Nhu Cầu. Khi nào cảm thấy khát nước thì vào mở tủ lạnh lấy Coca, nước ngọt đủ loại, bia, rượu, cà phê, trà, sữa... uống tùy thích không giới hạn. Khi nào cảm thấy đói bụng, muốn ăn thì không thiếu gì các thứ thịt bò, thịt heo, thịt gà, cá, tôm, cua... có thể gọi điện thoại cho các tiệm ăn đặt hàng cho người mang thức ăn đến tận nhà như phở, hủ tíu, cơm bát bửu, bún bò Huế..." cả các món Pizza của Ý Đại Lợi và các món ăn bản xứ Hoa Kỳ như Gà Ken Tucky, Mac Donald... thêm vào đó vừa làm việc vừa nghe Tuấn Vũ hát bài Người Yêu Cô Đơn, Hoa Sứ Nhà Nàng... hay nghe Chế Linh hát bài Thành Phố Buồn, Mười Năm Tình Cũ... như vậy thì chú hai Ngọt và dì tư Canh còn mơ ước gì hơn nữa. Đúng là đang ở trên Thiên Đàng...

Còn phần con Ngọc thằng Vàng thì hình như đất địa nầy "không thích hợp" với chúng nó hay sao? Xứ Cờ Hoa với nhiều mõ Vàng, mõ Đá Quý đã "Ghen" với tên của chúng nó... cho nên con Ngọc thằng Vàng thường hay bệnh đau... đi làm chỉ đủ ăn đủ mặc... nhưng tính tình rất hiếu thảo với cha mẹ, thương mến anh chị em và rất chân tình với bạn bè láng giềng đồng hương. Con Hốt, thằng Lượm thì được "Tổ Đãi", cho nên sau một thời gian khó khăn lúc đầu, bây giờ việc làm ăn trở nên khắm khá và giàu có hơn người.

Người ta thường bảo rằng: "Bần Cùng Sinh Đạo Tặc và Phú Quý Sinh Lễ Nghĩa", nhưng con Hốt, thằng Lượm thì hoàn toàn trái ngược, từ ngày chúng bắt đầu giàu sang thì cũng là lúc chúng nó trở nên "Bất Nghĩa Bất Nhân", vô phép, vô tắc, hổn láo, khinh khi chú hai Ngọt, dì tư Canh, con Ngọc, thằng Vàng và với cả những người Đồng Hương Việt Nam... 


Con Hốt, thằng Lượm quyết định dọn nhà ra ở riêng không ở chung với chú hai Ngọt, dì tư Canh và con Ngọc, thằng Vàng nữa... đồng thời chúng nó cùng hùn vốn mở xưởng may riêng và tự đứng ra làm những ông bà Chủ Lớn.

Qua sự cố vấn của 1 số luật sư Việt Nam danh tiếng tại Thủ Đô Tỵ Nạn Tiểu Sài Gòn: 2 chữ đầu của 2 tên Hốt, Lượm ghép vào nhau để lấy tên cho công ty (Hốt: HO; Lượm: LU) tức là HOLU COMPANY, gọi tắt là HOLUCO.

HOLUCO, 1 cái tên nghe thật lạ và thật đẹp mà những tên tài phiệt Mỹ, tài phiệt Mễ khi nghe đến phải giật mình và tưởng rằng đây là 1 công ty lớn của giới tài phiệt Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan hay Singapore gì đó... chứ không thể nào là công ty của người Việt Nam, Việt Nam một trong những nước được xem như nghèo nhất thế giới hiện nay.

HOLUCO đã tưng bừng khánh thành và sau 3 năm hoạt động đã thuê mướn hơn 500 nhân viên (gồm cả nhân viên Hành Chánh lẫn Công Nhân) với đủ mọi sắc dân Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Trung Hoa, Mễ Tây Cơ và kể cả người Mỹ trắng lẫn đen, nhưng đa số vẫn là người Đồng Hương Việt Nam... và cũng sau hơn 3 năm hoạt động, số tài chánh thu nhập đầu tư đã hơn 500 triệu dollars hàng năm... 

"Bà chủ Hốt và ông chủ Lượm được mệnh danh là những Tỷ Phú Việt Nam tại Hoa Kỳ". Nhưng có 1 điều thật đáng buồn là con Hốt và thằng Lượm không 1 lời liên lạc thăm hỏi và giúp đỡ gì cho chú hai Ngọt dì tư Canh và con Ngọc  thằng  Vàng. Chính con Ngọc thằng Vàng phải đi làm hãng may cho ông bà Hứa Liều và ông bà Tăng Quảng và lảnh vải về cho chú hai Ngọt và dì tư Canh làm tại nhà.


Con Hốt thằng Lượm bây giờ hoàn toàn "Lột Xác", hình như chúng nó không còn coi chú hai Ngọt, dì tư Canh và Ngọc, Vàng là người nhà nữa... Những người Đồng Hương Việt Nam cùng vượt biên, cùng ở đảo, cùng định cư ở Mỹ cùng lúc với gia đình chú hai Ngọt dì tư Canh bàn tán xôn xao và hết lời lên án những hành động bất nhân bất nghĩa của con Hốt và thằng Lượm.

Những lúc rổi rãnh có dịp gặp nhau, nhất là những khi tại nhà của chú hai Ngọt dì tư Canh thì các Đồng Hương Việt Nam tha hồ mà chửi rủa con Hốt thằng Lượm, nhưng mỗi lần như thế thì chú hai Ngọt và dì tư Canh luôn luôn bênh vực cho con Hốt thằng Lượm và coi như không có chuyện gì xảy ra trong gia đình mình.

Trong số những công nhân làm việc cho HULOCO, có 1 cậu thanh niên đẹp trai, lực lưỡng khỏe mạnh người quê quán vùng Núi Bửu Long tỉnh Biên Hòa tên là Vô, NGUYỄN VĂN VÔ, 1 nam công nhân chuyên ráp tay áo cho các loại áo đặc biệt của hãng may đã lọt vào cặp mắt xanh của bà chủ Hốt. Đồng thời, trong giới nữ công nhân, có 1 cô thôn nữ trẻ đẹp hiền lành, làm việc siêng năng, quê quán ở Cồn Phó Quế tỉnh Long Xuyên đã làm rung động con tim đang tìm tình yêu của ông chủ Hốt, đó là cô Hoài, TRẦN THỊ HOÀI.


Sau nhiều năm miệt mài nơi thương trường, bây giờ bà chủ Hốt, ông chủ Lượm là những người đang có trong tay hàng tỷ dollards, tiền rừng bạc biển không sao kể siết và lúc nầy là lúc phải nghĩ đến Tình Yêu, phải tìm người chăn gối để cùng nhau thừa hưởng cái gia tài khổng lồ mà có lẽ ăn xài đến thêm 3 đời.... con, cháu, chít cũng không hết...

Việc gì đến thì phải đến. Không giống như những người Việt Nam khác trong Cộng Đồng Việt Nam Tại Hải Ngoại, đa số (dĩ nhiên là không phải toàn thể), mỗi lần tổ chức đám cưới, sinh nhựt là 1 dịp để "Kiếm Lời" như 1 dịch vụ thương mại trên thương trường.


Bà chủ Hốt và ông chủ Lượm hoàn toàn làm khác thiên hạ, chơi bạo lấy tiếng sang bằng cách cả 2 tổ chức đám cưới cùng lúc và đặc biệt hơn nữa là trang trọng thông báo trong Thiệp Mời là "Không nhận Tiền, Quà Tặng cho hôn lễ". Không nhận Tiền, Quà Tặng dành cho hôn lễ của tất cả các khách mời. Thêm vào đó, những thân hữu, khách mời ở xa trên khắp thế giới được đài thọ vé máy bay khứ hồi và khách sạn, ăn uống trong suốt thời gian lưu trú để tham dự đám cưới. Còn những người ở gần thì có xe đưa rước đến tận nhà.

Lần đầu tiên trong Lịch Sử Di Dân tại Hoa Kỳ, có 1 đám cưới của người gốc ngoại  quốc được tổ chức như thế mà lại là người Việt Nam thì thật là vô cùng VẺ VANG DÂN VIỆT.

Số người tham dự đám cưới dự trù lên đến 5000 người. Tất cả những nhà hàng Việt Nam lớn, nhỏ ở khu vực Tiểu Sài Gòn, cộng thêm một số nhà hàng Á Châu khác đều được đặt trước dành riêng đặc biệt cho ông bà chủ Lượm, Hốt.


1 cái đám cưới có một không hai trên cõi đời nầy được kéo dài liên tục trong vòng 24 giờ đồng hồ, từ 10 giờ sáng ngày hôm trước cho tới 10 giờ sáng ngày hôm sau. Hầu hết các ca sĩ, các băng nhạc Việt Nam nổi tiếng trong Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ đều được mời  đến trình diễn (với thù lao thuộc loại cao) để thay phiên nhau, liên tục giúp vui cho quan khách tham dự đám cưới. Điều gây chú ý nhất cho quan khách tham dự đám cưới là tại tất cả các nhà hàng dành cho hôn lễ, tên họ của các chú rể, cô dâu, từng cặp được kết thành bằng những thỏi vàng Kim Thành loại 24 ca-ra ở trước cửa ra vào: 

LÊ THỊ HỐT + NGUYỄN VĂN VÔ & LÊ VĂN LƯỢM + TRẦN THỊ HOÀI.

Việc chọn ngày lành tháng tốt cho hôn lễ do 1 thầy tướng số người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn trước năm 1975, hiện ông đang sống định cư ở khu Chinatown, Los Angeles, đã "Bốc Quẻ và Đề Nghị", đó là thầy tên TĂNG THÊM TÀI và người được mời là Trưởng Ban Tổ Chức Hôn Lễ là ông bà chủ nhân tiệm vàng THIÊN TƯỜNG đến từ Canada.


Trong số quan khách phát biểu lời chúc mừng, lời phát biểu của Giáo Sư Tiến Sĩ tên TÔN THẤT ĐỨC đến từ Pháp Quốc đã làm cho mọi người giật mình sửng sốt mà thoạt tiên không ai chú ý và nghĩ tới.

Giáo Sư Đức đã phát biểu một cách trang trọng như sau: 

- Kính thưa quý vị, xin quý vị hãy chú ý nhìn kỷ, chỉ cần ghép tên các cô dâu chú rễ vào nhau thành từng cặp thì quý vị sẽ thấy ngay ra rằng họ sẽ là những người Giàu Sang nhiều đời và tôi nghĩ rằng đây cũng là "Ý Trời", đó là HỐT VÔ và LƯỢM HOÀI. Quý vị đã nhìn thấy chưa, thưa quý vị?


Có một điều thật đáng trách và không thể tha thứ là con Hốt, thằng Lượm đã không mời chú hai Ngọt dì tư Canh, con Ngọc thằng Vàng tham dự đám cưới của chúng nó... có lẽ chúng nó sợ "Mất Mặt" với mọi người vì có cha mẹ anh em không phải là những người giàu sanh danh giá. Thật là Bất Nhân và Bất Nghĩa vô cùng! Trái lại, để giữ thể diện cho con Hốt thằng Lượm, 1 tuần lễ trước ngày đám cưới, chú hai Ngọt dì tư Canh và Ngọc, Vàng đã mua vé máy bay trở về Việt Nam thăm lại làng đánh cá Phước Hải quận Đất Đỏ, Bà Rịa sau nhiều năm dài xa cách....


Đúng ngày đám cưới tại Mỹ thì tại Việt Nam, ở làng Phước Hải, chú hai Ngọt dì tư Canh và 2 con đã bỏ ra 1000 dollards để tổ chức 1 buổi lễ cúng đình nhầm tạ ơn đối với Thánh Thần Thổ Địa và mời tất cả bà con trong làng đến tham dự.

Chính quyền Cộng Sản địa phương không thích những chuyện "duy linh thần thánh", nhưng lần đầu tiên kể từ ngày "Miền Nam được Hoàn Toàn Giải Phóng", sau 1 thời gian thật dài, có 1 gia đình Việt Kiều từ nước ngoài về thăm quê hương, bỏ tiền ra để cho dân chúng trong làng trong xã có được 1 bữa thịt, rượu hả hê và quý vị đồng chí trong Ban Lãnh Đạo Xã có được một ít tiền bỏ túi riêng thì cũng là điều tốt cho làng nước mà thôi.


Nhân dịp nầy, gia đình chú hai Ngọt nghe người trong làng trong xã kể lại: Sau hơn 10 năm dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa, đất nước cần phải văn minh tiên tiến để theo kịp trào lưu của thế giới, chính quyền cần phải có những người đầy đũ khả năng về mọi mặt để điều hành lãnh đạo việc làng xã, do đó, thằng Cưởng, thằng Bánh, con Ớt, con Chanh, mỗi đứa được cấp cho 1 tấm "Giấy Khen" và được cho phục viên về sống một đời sống bình thường như mọi người dân chân chính trong làng Phước Hải......

Thằng Bánh bây giờ làm nghề sửa, vá xe đạp ở Cầu Long Hương gần Chợ Bà Rịa cũ. Thằng Cưởng bị phục viên, bất mãn chế độ, uống rượu chửi rũa tùm lum lên nên bị bắt đưa đi "học tập cải tạo" ở Rùng Lá không biết đến ngày nào mới được thả về. Con Ớt, vượt biên trốn đi nước ngoài, không may mắn, ghe bị chìm, xác trôi vào miệt Nước Ngọt, người nhà phải đến nhận diện xác và đem về chôn ở Phước Hòa Long.


Con Chanh thì bây giờ nửa khùng nửa điên, nửa khóc nửa cười, áo quần rách rưới, 1 thời lang thang đầu đường xó chợ, có lúc ăn cả đất cát, ăn cả cứt do nó ỉa ra.. và hiện nay thì người nhà phải cột chân cột tay nhốt trong nhà không cho ra đường và ở trong tình trạng chờ chết mà thôi... còn ông Đồng Chí Bí Thư người Bắc thì bị thằng sáu Khuôn tức thằng sáu Mặt Ngựa nó đâm chết ở Đồn Con Ó cũ và thằng sáu Mặt Ngựa nó bỏ trốn đi nước ngoài... nghe đâu bây giờ thằng sáu Mặt Ngựa nó ở bên Úc...làm nghề "Chia Bài" cho các sòng bạc Casino... người dân Phước Hải có gặp nó về Sài Gòn chơi và tiêu xài tiền bạc có vẻ "hào phóng và phung phí" lắm... Gặp lại người Phước Hải ở Sài Gòn là nó "chiêu đải" thật tận tình và nó có hứa là trong tương lai nó sẽ trở về thăm làng Phước Hải… Làng đánh cá Phước Hải bây giờ thật là cả 1 sự "ĐỔI ĐỜI", vật đổi sao dời..


Sau ngày đám cưới của tụi Hốt, Lượm thì HOLUCO càng ngày càng phát đạt hơn lên, số tài chánh thu nhập bây giờ không còn tính bằng con số Triệu mà phải tính bằng con số Tỷ dollards và nổi tiếng khắp nước Mỹ.

Qua ý kiến của một số "Trí Thức Háo Danh" trong Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, HOLUCO đang nổi tiếng khắp nước Mỹ, nhưng muốn cho được VẺ VANG DÂN VIỆT và phải nghĩ rằng 1 ngày nào đó, với tiền rừng biển bạc trong tay, với 1 nơi mà mọi thứ được đánh giá bằng tiền, bằng dollards thì những người như ông bà chủ Lượm, Hốt có thể ra ứng cử và có thể trở thành những Nghị Viên, Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ, Thống Đốc các tiểu bang và thậm chí có thể trở thành Tổng Thống của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, cho nên đề nghị HOLUCO nên có 1 cái tên thật đẹp, thật xứng đáng, đầy đũ ý nghĩa cho sự giàu sang danh giá vàng son của 1 thời đã qua. Để thể hiện cho sự gặt hái kết quả vĩ đại không tiền khoáng hậu về vấn đề tài chánh của HOLUCO, rất nhiều đề nghị được đưa ra và cuối cùng HOLUCO được đổi ra tên mới rất nổ là THÀNH CÔNG CÔNG TY. Thành Công Công Ty với nguyên vẹn toàn bộ chữ Việt Nam, không cần viết tắt, viết gọn, nguyên vẹn toàn bộ để nói lên niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Do đó bà chủ Hốt có tên mới là bà LÊ THỊ THÀNH và ông chủ Lượm có tên mới là LÊ VĂN CÔNG.


1 buổi lễ đổi tên HOLUCO ra THÀNH CÔNG CÔNG TY được tổ chức vô cùng trọng thể với số quan khách tham dự hơn 1000 người. Trong đó, về phía bản xứ Hoa Kỳ có các đại điện của Tổng Thống, Lưỡng Viện Quốc Hội, 2 đảng Dân Chủ, Cộng Hòa, Thống Đốc của 51 tiểu  bang  toàn nước Mỹ... Riêng  tại tiểu bang California thì có sự hiện diện của chính quý vị Thống Đốc, Nghị Sĩ, Dân Biểu và toàn thể các Nghị Viên các cấp Việt, Mỹ...


Về phía Cộng Đồng Việt Nam tại Hải Ngoại và đặc biệt tại Hoa Kỳ thì tất cả quý vị Chủ Tịch, Đại Diện các tổ chức hội đoàn lớn nhỏ đều có mặt. Các Cộng Đồng Người Việt tại Âu Châu, Úc Châu, Gia Nã Đại, Nhật Bản thì cử các đại điện tham dự với sự đài thọ tài chánh hoàn toàn về mọi mặt của THÀNH CÔNG CÔNG TY. Riêng  người viết bài nầy được THÀNH CÔNG CÔNG TY mời tham dự với tư cách "CÁ NHÂN" (lý do là người viết bài nầy có 1 thằng em trai út làm chủ 1 cơ sở MASSAGES ở vùng Tiểu Sài Gòn, và thằng em nầy đã được bà chủ Hốt chiếu cố vì có tay nghề Đấm Bóp thật điêu luyện... cho nên thằng em xin 1 ân  huệ cho anh mình sang Mỹ vừa thăm gia đình vừa du hí... và do đó mới biết chuyện mà viết được bài viết nầy hầu đem lại niềm vui cho quý vị trong một vài trống canh... 

Xin lỗi và xin thông cảm... nếu có viết quá tay và hơi nổ....).

Buổi lễ "ĐỔI TÊN" đã tiến hành theo đúng chương trình nghị sự và mang lại kết quả tốt đẹp. Thử hỏi có công ty thương mại nào tại Hoa Kỳ nầy của người gốc ngoại quốc mà được sự ưu ái to lớn như vậy của chính quyền bản xứ Hoa Kỳ? Thật là vô cùng VẺ VANG DÂN VIỆT.

Trên bầu trời California, những chiếc khinh khí cầu khổng lồ mang tên THÀNH CÔNG CÔNG TY bay lượn liên tục suốt 2 ngày cuối tuần của tuần lễ Đổi Tên để quảng cáo với dân chúng. Thật là một niềm hãnh diện lớn lao cho người Việt Nam tại Hải Ngoại qua THÀNH CÔNG CÔNG TY tại tiểu bang California.


Theo báo cáo của Cảnh Sát thì trong 2 ngày cuối tuần đã có hơn 200 tai nạn xe hơi xảy ra tại tiểu bang Cali do những người lái xe bất cẩn gây nên vì họ vừa lái xe vừa ngước mặt lên trời nhìn khinh khí cầu của THÀNH CÔNG CÔNG TY. Nhưng đó chỉ là những việc nhỏ không sao cả, tai nạn xe cộ là việc của Cảnh Sát và các hảng Bảo Hiểm và luật sư.... chuyện  đó không liên quan gì đến THÀNH CÔNG CÔNG TY... Trong tương lai có thể sẽ có những Phi Thuyền Không Gian mang tên THÀNH CÔNG CÔNG TY bay vào vũ trụ hoặc bay lên  Hỏa Tinh để mang lại niềm hảnh diện lớn lao cho Việt Nam.


Không hiểu vì lý do gì, sau 6 tháng hoạt động kể từ ngày có tên mới, Thành Công Công Ty từ từ bắt đầu xuống dốc: công nhân hàng loạt bỏ Thành Công Công Ty sang làm việc cho các hảng khác, công nhân, nhân viên hành chánh của Công Ty bị tai nạn xe chết, bị bệnh chết... những chuyện tang thương xảy ra trong gia đình các công nhân Việt Nam như chồng dùng súng bắn chết vợ vì đi làm đêm bị bệnh về nhà sớm bắt gặp vợ ngoại tình với Mỹ Đen... Vợ dùng dao to đâm chết chồng vì khám phá ra chồng mình gạt vợ con đem tiền về Việt Nam nuôi gái tơ mà còn mang bệnh sida về truyền qua cho vợ... xưởng may gây tai nạn chết người... xưởng may bị cháy... bị trộm cắp... bị khám phá chứa cần sa, vũ khí bất hợp pháp... quần áo khi may xong, giao hàng thì bị trả lại hàng loạt vì không đúng tiêu chuẩn... và còn không biết bao nhiêu tai nạn khác thật vô cùng bất lợi xảy ra cho Thành Công Công Ty. Bà chủ Thành và ông chủ Công điên đầu tìm hiểu và nghiên cứu các biện pháp hầu cứu vãn cho sự "xuống dốc không phanh" của công ty, nhưng cuối cùng cũng đành bó tay: "THÀNH CÔNG CÔNG TY TUYÊN BỐ PHÁ SẢN và ĐÓNG CỬA".


Không biết bao nhiêu Chiêm Tinh Gia, Thầy Tướng Sớ, Địa Lý, Bốc Sư.... thuộc mọi sắc dân đã được bà chủ Thành ông chủ Công mời đến để tìm nguyên nhân của sự Phá Sản của công ty... nhưng tất cả đều giơ tay lên trời và đầu hàng Thượng Đế. Chuyện phá sản của Thành Công Công Ty là 1 chuyện dài nhiều tập được các báo Việt Ngữ ở Hoa Kỳ đăng hàng ngày và không biết đến bao giờ mới chấm dứt... Câu chuyện nầy cũng giống như câu chuyện "Người lấy Khỉ ở Cà Mau" đăng trên báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà vào thập niên 50, 60 ở Việt Nam trước đây...


Vào các quán ăn, vào các phòng mạch bác sĩ, vào các siêu thị... thò tay lấy báo Việt Ngữ lên xem, báo nào cũng bàn về sự phá sản của Thành Công Công Ty và bàn về cuộc sống thương trường và tánh tình, cách sống của ông bà chủ của công ty Thành Công.

Thầy Vương Chấn Quốc (người Việt gốc Hoa), trước năm 1975 du học ở Đài Loan, sau biến cố 30/4/1975 thầy xin định cư tại Pháp. Nhân 1 chuyến Mỹ Du thăm gia đình, trong lúc ngồi uống cà phê ở quán Sex Girl ở Tiểu Sài Gòn, lấy 1 tờ báo Việt Ngữ lên xem...

Thầy thấy ra ngay nguyên nhân phá sản của Thành Công Công Ty và Thầy được mời gặp ngay ông chủ Công và bà chủ Thành ở Los Angeles. Thầy Vương Chấn Quốc trịnh trọng nói: 

- Kính thưa ông bà, ông bà đã vô tình bỏ đi Hồng Ân của Thượng Đế đã dành cho ông bà...2 tên HỐT, LƯỢM mà cha mẹ đặt cho đã rất phù hợp với xứ Mỹ... rồi khi ông bà lập gia đình... 2 tên của người phối ngẩu là VÔ và HOÀI... tất cả 4 tên cùng ghép lại thành ra HỐT VÔ và LƯỢM HOÀI. Tự nhiên khi ông bà nghe lời người khác đổi  tên mà KHÔNG XIN PHÉP CHA MẸ mà còn đổi thành 2 tên THÀNH, CÔNG và khi ghép lại với người phối ngẩu thì trở nên VÔ THÀNH và HOÀI CÔNG... Thật là vô cùng tai hại mọi thứ đều trở thành KHÔNG THÀNH và HOÀI CÔNG... sao, ông bà có nhận ra chưa? Để cứu vãn mọi việc xin ông bà hãy làm lại mọi việc theo thứ tự như sau: "Trước tiên đến xin TẠ LỖI với cha mẹ và xin được đặt tên lại là HỐT và LƯỢM, sau đó đến ngay ngân hàng xin vay tiền để tái lập công ty mang tên HOLUCO và tôi tin mọi việc sẽ diễn biến tốt đẹp. Xin chào và chúc ông bà Thành Công ".


Con Hốt thằng Lượn giật mình choáng váng như tẩu hỏa nhập ma khi nghe như trên. Nhưng vẫn với lòng tham không đáy, thay vì đến North Hill gặp cha mẹ để tạ lỗi và xin lại tên thì vội vã lái xe ngay về Garden Grove lo việc vay tiền... chuyện tạ lỗi sẽ tính sau. Trên xa lộ từ Los Angeles về Garden Grove, lái xe trong lúc đổi ranh đường thì bị 1 chiếc xe vận tải hạng nặng chở sắt do 1 thằng Mỹ Đen lái đụng phải và gây nên tai nạn chết người: Cả con Hốt lẫn thằng Lượm đều bị chết, thân xác của cả 2 đều bị kẹt trong xe và nát bấy nhầy nhưng đôi mắt của cả 2 cứ mở trừng trừng không nhắm lại được mặc dù đã chết. Người xưa có nói: "những kẻ lừa thầy, phản bạn, bất hiếu với cha mẹ, bất nghĩa với anh em thì thường sẽ bị Trời phạt chết không nhắm mắt thân không toàn thây"… Con Hốt và thằng Lượm chắc nằm trong trường hợp nầy đây.


Chú hai Ngọt, dì tư Canh, con Ngọc, thằng Vàng vội vã đến nhà xác thành phố thăm gặp con Hốt và thằng Lượm một lần cuối. Chú hai Ngọt và dì tư Canh đưa tay vuốt mắt cho con Hốt, thằng Lượm và nói nhỏ: "Ba Má tha lỗi cho các con... các con hãy đi trong bình an".

Đôi mắt của Hốt, Lượm đóng lại và chúng nó đã vĩnh viễn ra đi. THÀNH CÔNG CÔNG TY không còn nữa. HOLUCO của người Việt Nam ở làng đánh cá Phước Hải, quận Đất Đỏ tỉnh Bà Rịa đã 1 thời làm VẺ VANG DÂN VIỆT.


Ba Lê, mùa Thu năm 1988.

Huy Phong (Nguyễn Vân Xuyên) 

Friday, May 29, 2026

Thèm Chịu Hổng Nổi Món BÁNH MẶN Mẹ Làm Đúng Chuẩn Miền Tây - Đặc Sản Miền Sông Nước

Ngã Tư Chợ Cồn - Đỗ Duy Ngọc


Gia đình tui di cư vào Nam năm 1954. Ở Quảng Trị một thời gian ngắn, sau đó Ba tui vào làm Bệnh Viện Trung Ương Huế, cũng chỉ một thời gian ngắn, năm 1956, cả gia đình vào Đà Nẵng vì Ba tui lại nhận công việc mới ở Tổng Y Viện Duy Tân, một bệnh viện Quân Y lớn nhất miền Trung thời bấy giờ.

Vào Đà Nẵng, gia đình tui ở khu ngã tư chợ Cồn mấy chục năm, do vậy trong trí nhớ của tui, khu vực này là nơi tui nhớ nhất, đó là nơi tôi sống từ tuổi thiếu nhi cho đến tuổi trưởng thành rồi bay đi xa không về lại. Chợ Cồn được hình thành từ những năm 1940. Đầu tiên được dựng lên từ trên một cồn cát, nên chết tên luôn là chợ Cồn. Nói là cái cồn, chứ thật sự đây là nơi đổ rác của thành phố Đà Nẵng. Thời đó, khu vực chợ Cồn được xem là ngoại ô thành phố. Người ta đổ rác ở khu vực hầm bứa. Có người không lên tới hầm bứa mà đổ rác ở cồn. Lâu ngày, rác chất cao, tạo thành một cái cồn, bên tay trái đường Hùng Vương.

Dân chúng đông chợ trên cái cồn nầy, nên gọi là chợ Cồn. Lúc đầu, chợ Cồn nằm ở chỗ đống rác đó, lúc ấy chỉ là chợ nhỏ, bán buôn lèo tèo. Sau này dời về cồn cát phía đường Khải Định, lúc ấy mới đúng là chợ.

Thập niên 1940, Ba tui vừa học ra trường có đi làm việc một thời gian ở Đà Nẵng, hồi đó còn có tên là Tourane. Theo lời kể của Ba tui, lúc ấy nhà cửa còn thưa thớt lắm, chung quanh chợ chỉ có lau sậy, xương rồng và dương liễu vì gốc gác của nó là cồn cát biển. Lại có mấy lạch nước. Các gian hàng tạm bợ bằng chòi tre, mái tranh đơn giản. Lần hồi người ta xây dựng bằng các vật liệu kiên cố hơn. Khi gia đình tui đến ở khu này, chợ Cồn đã là một khu chợ sầm uất nhất Đà Nẵng, buôn bán đủ thứ trên đời.

Trước đó, người Pháp đã xây dựng đường sá và phố phường cũng được quy hoạch xây dựng đàng hoàng và mang nét văn minh phố thị. Chợ nằm trên trục đường quan trọng của Đà Nẵng. Đường này chạy từ bờ sông Hàn đến gần khu Bàu Thạc Gián. Thời Pháp tên là đường Rue de la Republique (nay là đường Hùng Vương). Nó nằm ngay giao lộ của đường Sabiella (nay là đường Ông Ích Khiêm). Nối đường Ông Ích Khiêm là đường Khải Định. Đường này hồi trước chạy dài cho đến biển Thanh Bình.

Những con đường đó tạo nên giao lộ là ngã tư chợ Cồn một thời khét tiếng. Sau lưng chợ có một đường rầy, đường này chạy qua một cái hầm nhỏ dưới cầu Vồng. Từ dưới chợ muốn lên cầu Vồng phải leo một con dốc đất đỏ là lên đường Thống Nhất. Đứng trên cầu Vồng ngay địa điểm đó, ta có thể nhìn thấy sân vận động Chi Lăng. Trên con đường này tui có một kỷ niệm. Thời mới lớn tui làm thơ, cũng có lần được giải của tỉnh. Trên đường đến trường đi học năm Đệ Tam, Đệ Nhị tui thường theo đuôi một cô cùng trường có nhà trên đường Thống Nhất. Theo thế thôi, chẳng nói gì và về nhà làm biết bao nhiêu là thơ. Sau đó, tui có in tập thơ Khung Tình Vỡ, toàn là thơ tình chưa nói được. Tui học nhảy, cuối năm Đệ Nhị ở trường tui đã có bằng Tú Tài II phổ thông. Trước khi bay vào Sài Gòn thi Đại Học, tui gởi theo đường bưu điện cho cô ấy chục tập thơ rồi biến mất. Ôi cái thuở yêu em thơ dại.

Phía đối diện chợ, bên kia đường là Trung Tâm Cải Huấn, nơi nhốt những kẻ theo Việt cộng, cũng là nơi giam giữ tù thường phạm cướp của, giết người. Gần đó có kho đạn và phía sau kho đạn là Trại Gia Binh dành cho gia đình Quân Đội. Cạnh đó có nhà sách Ngày Mới, và một trụ xăng nhỏ, nhưng tiệm sách này buôn bán ế ẩm không bằng nhà sách Văn Hoá nằm ở đầu đường. Ngày đó đây là một trong những nhà sách lớn nhất Đà Nẵng. 

 
Chợ Cồn trước 1975 - ảnh tư liệu


Tui thường mua sách ở đây. Chủ nhà sách người Huế, trắng trẻo, nhìn rất thư sinh, có đứa con trai cũng trạc tuổi tui, cũng tên Ngọc đi tắm biển bị sóng cuốn trôi ở biển Mỹ Khê. Gần nhà sách Văn Hoá là một pharmacie khá lớn của một gia đình người Quảng Nam. Con chủ nhà thuốc này cũng là người bạn của tui mà mấy chục năm rồi không gặp nên quên mất tên, anh này có nước da đen, ngược lại với cô em gái trắng nõn. Ở khu đó bên kia chợ có một tiệm bán nước mắm có cô con gái học Bồ Đề. Cô gái dong dỏng cao, tóc để bom bê trước trán với chiếc áo dài trắng ngắn tà đã có một thời làm tui mê đắm. Sau này mới biết cô ấy là em gái của một người bạn tui. Cả gia đình giờ định cư bên Mỹ, cô ấy giờ chắc cũng đã là bà nội, bà ngoại rồi.

Từ những năm cuối của thập niên 1950, chợ Cồn đã được xây dựng kiên cố với những ngôi nhà lồng rộng và thoáng mát. Chung quanh chợ người ta đã xây những kiốt cho thuê bán đủ mặt hàng cao cấp nên chợ Cồn trông khang trang và lịch sự. Ngay ngã tư phía bên kia góc dường Ông Ích Khiêm và Hùng Vương có một cây xăng lớn. Đi tới chút nữa là đụng đường rầy. Chỗ đó lộn xộn mấy nhà nhỏ lụp xụp vá xe, làm vỏ xe, những người thợ lúc nào cũng đen nhẻm. Phía bên kia là một dãy phố có căn nhà tui không bao giờ quên.

Đó là xưởng vẽ của người hoạ sĩ già Nguyễn Viết Hậu. Ông này chuyên vẽ chân dung truyền thần nhưng lại vẽ Phật rất đẹp, nhất là vẽ Phật Thích Ca đản sinh, bước trên những toà sen với câu nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Hồi còn bé trên đường đi học, bữa nào tui cũng chắp tay sau đít đứng ngó ông ấy và những người đệ tử vẽ vời. Tui mê hội hoạ cũng từ xưởng vẽ của ông và tui theo nghiệp vẽ cũng từ những nhát cọ của ông.

Xây xong cây xăng, người ta cũng xây một bến xe ngay góc Hùng Vương, xế xế với chợ Cồn. Bến xe có tên Bến xe chợ Cồn, đi hai chiều từ Đà Nẵng ra Quảng Nam, Huế cùng các tỉnh miền Trung khác và cả Tây Nguyên. Từ khi có bến xe, khu vực này nhộn nhạo hẳn lên, hàng quán mọc đầy. Nổi bật ngay góc bến xe là bánh mì Ông Tý, chỉ là xe bánh mì chả nhưng khách đông vì chả có vị lạ. Mạ tui thích ăn bánh mì Ông Tý, nhiều khi khuya rồi cũng phải chạy ra mua cho Mạ. Gần đó có bún bò bà Hưng. Bà này người Huế có chồng là thợ may Âu phục. Bà có mấy cô con gái ngang tầm tuổi tui, sau này có hai chị em lấy hai thằng bạn tui, cả đôi bây giờ định cư ở Houston.

Bún bà Hưng ngon đúng điệu bún Huế, dù chỉ là quán bình dân. Khu này hồi đó Việt cộng hay rải truyền đơn dù thật ra cũng chẳng có tác dụng gì. Khu này còn có tiệm bò Thái Ngư, bánh kẹo Quánh Hưng… cùng hàng chục cửa hiệu tạp hoá, đại lý trái cây, dụng cụ cơ khí, gạo… buôn bán sầm uất, là đại lý của nhiều hãng lớn và là nơi cung cấp hàng sỉ đi khắp miền Trung. Tui có anh bạn cùng trường nổi tiếng dân chơi nhà là một tiệm buôn lớn góc phố này. Anh tên Lâm Thành mất cũng khá lâu rồi.

Gần đó, ngay đầu đường Ông Ích Khiêm là cư xá Độc Lập, dành cho Hạ Sĩ Quan Quân Đội VNCH. Khu này trước đó người ta chỉ dùng để ở, nhà nào cũng có khoảng sân trống sát đường. Phía sau là một sân cát rộng. Chiều chiều tụi nhỏ tuổi như tui thường đến đó thả diều và đá banh. Đến những năm cuối thập niên 1960 bỗng dưng người ta tận dụng sân trước để mở hàng quán. Một loạt quán bò tái ra đời. Khu Gia Binh mất dấu để trở thành phố chợ. Mà cũng lạ, cả dãy quán ăn, quán nhậu lại có một căn là tiệm vẽ của ông hoạ sĩ Hải Triều.

Ông này cũng chuyên vẽ chân dung, có thể thời đó có nhu cầu vẽ truyền thần. Hình như ông này trước đó ở trong quân đội, có nhờ Ba tui giúp cho giải ngũ nên có vẻ rất quý Ba tui. Thấy hay tặng quà và vé xem hát. Dãy nhà sau cũng lấn chiếm sân chơi, tui mất chỗ để thả diều và đá bóng. Thật ra, lúc đó tụi tui cũng đã đến tuổi thanh niên, chẳng còn mê diều và trái bóng mà đã bắt đầu biết chải đầu và diện áo quần đẹp để đi tán gái. 


Một góc Đà Nẵng trước 1975 -ảnh tư liệu


Từ chỗ cư xá đi xuôi xuống đường Ông Ích Khiêm, ta gặp bên kia đường một château d’eau cao lừng lững. Tháp nước này cung cấp nước thuỷ cục cho cả khu vực. Đối diện tháp nước là Bình dân Thư quán, là nơi cho thuê truyện của một ông Tàu già. Tiệm nhỏ thôi, nhưng sách nào cũng có. Nhất là truyện kiếm hiệp. Thời này, người ta mê truyện chưởng Kim Dung nên quán lúc nào cũng đông khách. Ông chủ người Tàu có trí nhớ siêu phàm. Sách của ông luôn bọc ngoài bìa là giấy bao ciment. Sau tờ bìa là ông ghi ký hiệu ngày mượn chi chít. Thế mà khi nói tựa sách là ông lấy ngay đúng phóc, không chút chần chừ. Cuốn nào đã có người thuê chưa trả ông cũng báo ngay. Hay thật. Tui là tín đồ của quán này, ngày nào cũng thuê đôi ba cuốn, đủ loại, đọc muốn lòi con mắt.

Nhắc đến chợ Cồn ngày xưa mà không nói đến cà phê Xướng là một thiếu sót. Ít ra là đối với bản thân tui. Cà phê Xướng là một kiốt nằm trước chợ Cồn, trên đường Khải Định xưa. Tiệm bán cà phê và các thức uống. Khách của tiệm là giới công chức, giáo sư, doanh nghiệp, quân nhân. Đó không phải là tiệm dành cho giới bình dân. Có một thời, sáng nào tui cũng phải ra đấy mua cà phê sáng cho Ba tui uống trước khi đi làm.

Lúc nào cũng mang theo một cái chén lớn để đổ nước sôi vào để khi mang cà phê về đến nhà thì nó vẫn còn nóng. Quán trang trí như mấy quán cà phê nhỏ bên Tây. Có quầy với mấy ghế cao và những cái bàn nhỏ trải khăn kẻ ca rô. Có hai điều mà tui không bao giờ quên được tiệm cà phê này là mùi cà phê rang thơm phưng phức, mỗi tách cà phê lại bỏ thêm chút bơ Bretel beo béo thơm thơm; điều nữa mà gần hết đời, tui vẫn thấy không chỗ nào có bánh mì thịt ngon như ở cà phê Xướng.

Thịt là thịt ba chỉ, có mỡ được rim vàng với ngũ vị hương và có thể có chút hồi. Bước vào quán là nghe mùi này ngay. Mùi thịt hơi cháy vàng tươm mỡ, nước thịt màu hổ phách sậm thơm nức mũi. Ổ bánh mì dòn tan, được dồn thịt và rưới thứ nước vàng óng đó lên, rắc thêm tiêu sọ xay, chẳng cần xì dầu, hành ngò mà ối chao ôi là ngon! Sau này, lớn lên, cũng nhiều lần ăn rim thịt như thế, cũng bánh mì dòn như thế, mà miếng ăn sao lại thấy chẳng ngon như xưa nữa.
_________

Bây giờ, lúc đã đi bốn phương trời, trở về chốn cũ, đứng giữa ngã tư chợ Cồn với biết bao kỷ niệm nhưng tui lại thấy xa lạ biết chừng nào? Chẳng còn ai quen, những con phố lạ, đường xưa không dấu vết cũ. Tui làm người khách lạ tiếc nhớ những chốn xưa và ký ức của mình. Thời gian nhanh quá! Mới tuổi thanh niên giờ đã là ông lão. Những bạn bè, người thân lần lượt ra đi. Cảnh cũ chẳng còn dấu tích. Nghĩ đến chuyện bể dâu, buồn ơi là buồn!


ĐỖ DUY NGỌC 

Hồi Ký Của Một Người Con Gái Bắc Tại Sài Gòn Trước 75 - Hoàng Lan Chi


Năm 1954 – 1960

Ngày ấy tôi còn bé lắm. Lênh đênh trên chuyến tàu cuối vào Nam theo cha mẹ chứ chẳng biết gì. Chuyến đi êm đềm không gì đáng nói. Tôi thấy người Pháp cũng đàng hoàng. Thì đâu chả thế. Cũng có người này người kia. Người hèn nhát, kẻ can đảm. Người quá khích, kẻ trung dung. Người Pháp trên tàu tử tế. Họ cho ăn uống đầy đủ. Tôi không hiểu tại sao họ phải tốn đủ thứ để đưa người di cư vào Nam. Nếu họ cứ mặc kệ thì không biết số dân Bắc có đến được miền Nam dễ dàng không…

Đầu tiên chúng tôi cặp bến Vũng Tàu. Rồi xe đưa vào Sài Gòn. Chúng tôi ở tạm tại Nhà Hát sau này được sửa thành Tòa Quốc Hội, mấy hôm sau thì phân tứ tán. Chính phủ trợ cấp cho mỗi đầu người là bao nhiêu đó, tôi không nhớ vì quá bé.

Nơi tôi ở đầu tiên là Cây Quéo, đường Ngô Tùng Châu. Gia đình tôi là người Bắc đầu tiên đến đây. Sau này đọc truyện và biết con trai Bắc hay bị con trai Nam uýnh và xỏ xiên: “Bắc kỳ ăn cá rô cây”… Không rõ có đúng không, nhưng gia đình tôi hên. Nơi xóm nhỏ, người Nam thật thà đôn hậu. Họ cư xử tử tế với chúng tôi. Đôi khi tôi lẩn thẩn nghĩ, hay vì gia đình tôi là nhà giáo? Tinh thần tôn sư trọng đạo đã ăn sâu trong giòng máu dân Việt? Họ rất tôn trọng và lễ phép đối với cha mẹ tôi. Một điều “thưa ông giáo”, hai điều “thưa bà giáo”…

Con đường đến trường tiểu học thật dễ thương. Ngày ấy chúng tôi đi bộ nhiều, chẳng vù vù xe máy như bây giờ. Đi bộ đến trường thật vui. Cứ tung tăng chân sáo, vừa đi vừa hái hoa bắt buớm. Ôi sao ngày đó Sài Gòn nhiều hoa bướm thế! Hai bên đường những hàng rào hoa dâm bụt đo đỏ xinh xinh. Nhìn vào trong, nhà nào cũng có vườn, cây cối xum xuê. Bướm bay la đà. Những con bướm đủ màu sắc, nhưng bướm vàng nhiều nhất. Nếu nhìn riêng thì bướm vàng không đẹp nhưng khi bay lượn giữa rừng lá xanh thì đàn bướm vàng thật duyên dáng. Chúng như một nét điểm xuyết cho bức họa hoa lá… Tôi thích nhìn bướm bay, tôi thích ngắm hoa nở.

Trường học to vừa phải, lớp học đủ ánh sáng. Mỗi sáng thứ hai chào cờ, đứng nghiêm và hát quốc ca: Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi… Ừ thì thanh niên luôn được dạy dỗ là “đáp lời sông núi”.
Chúng tôi được học những bài công dân giáo dục đầu tiên và chúng đã ăn sâu mãi vào tiềm thức. Đủ biết các cụ nói uốn cây khi chúng còn non là đúng. Tuổi ngây thơ coi những lời thầy cô là khuôn vàng thước ngọc:

Không phá của công
Không xả rác ngoài đường
Phải nhường ghế cho người lớn tuổi, phụ nữ có thai trên xe buýt
Phải dắt em bé hay cụ già qua đường
Phải ngả nón chào khi xe tang đi qua
Không gian lận. Nói dối là xấu xa…

Chúng tôi đã được dậy như thế đó và chúng tôi đã làm theo như thế đó. Ôi Sài Gòn của tôi ơi, bây giờ tôi đi giữa phố phường mà lạc lõng vô cùng khi chỉ mình tôi ngả nón chào người chết hay chạy nép vào lề nhường cho xe cấp cứu đi qua!

Rồi những bài học thuộc lòng rất giản dị dễ nhớ:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Hay:

Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông làng mạc ruộng đồng quê
Chúng tôi ngồi im lặng lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng khắp trong giờ quốc sử…
Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã điểm
Đàn chim non hớn hở dắt tay về
Chín mươi ngày vui sướng ở đồng quê…

Cuộc sống sao êm đềm và thanh bình quá! Không có những cướp bóc lớn lao. Ăn cắp vặt cũng không ghê gớm. Tôi còn nhớ phơi quần áo trước nhà rất an toàn chẳng phải trông chừng…

Tôi còn nhớ ruộng miền Nam nhiều nơi không chia bờ rõ rệt. Tôi còn nhớ cây trái Lái Thiêu không vạch lối ngăn rào. Tình hàng xóm là tất cả. Khi chia rào, ngăn lối là xúc phạm. Tự người dân quê biết đâu là đất là vườn của mình. Vào vườn Lái Thiêu cứ tha hồ ăn. Chỉ khi mua về mới phải trả tiền. Ôi sao ngày ấy người ta hiếu khách và cuộc sống thanh bình đẹp đẽ quá! Có phải là một phần nhỏ thiên đường nơi hạ giới chăng?

Tôi nhớ nhiều về Lễ Quốc Khánh đầu tiên năm 1956 thì phải, đúng là lễ hội. Pháo hoa tưng bừng và người người ra đường trong hớn hở reo vui. Không chửi bới, không chà đạp, không giành đường xem lễ… Sài Gòn bấy giờ còn thênh thang lắm. Sài Gòn bấy giờ chưa đông đúc bon chen…

Ngày ấy các bà Bắc hay Trung đi chợ còn mặc áo dài. Lề thói xưa còn ăn trong nếp ấy. Ra đường là phải lịch sự. Khi lễ lạc thì phải mặc quần đen với áo dài chứ không được quần trắng vì như thế là thiếu lễ… Tôi còn nhớ một gia đình trung lưu là đã có thể thuê người làm. Đa phần người làm là các cô gái miền Trung. Đúng là quê hương em nghèo lắm ai ơi! Đất khô cằn sỏi đá đã khiến bao cô gái quê vào miền Nam giúp việc. 

Thuở ấy người miền Nam hay dùng từ “ở đợ”, còn người Bắc gọi là “người làm”. Các chị giúp việc thường rất trung thành và lễ phép với chủ nhà, các cô cậu con chủ nhà cũng được tôn trọng. Bà chủ thường ở nhà vì nhà nào cũng khá đông con. Ban đầu thì ba, bốn và sau thành sáu.

Tôi còn nhớ lương giáo sư đệ nhị cấp tức dạy từ lớp đệ Thất đến đệ Nhất của cha tôi là 5.200 đồng, vợ được 1.200 đồng và mỗi con là 800 đồng (không hạn chế số con). Tô phở khá ngon là năm đồng. Coi như lương giáo sư là 1.040 tô phở. Lương người giúp việc là 300 đồng. Lương Bộ trưởng gấp 5 lần lương giáo sư, vào khoảng 25.000 đồng. Còn lương Đại úy thì bằng lương giáo sư. Nếu bây giờ 7.000 đồng tô phở bình dân thì lương của giáo viên cấp ba phải là 7.000.000 đ.

Hồi đó chúng tôi thi một năm hai kỳ gọi là đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt. Đề thi hoàn toàn do giáo viên (cấp tiểu học) hay giáo sư phụ trách ra đề. Hồi đó không có nạn các giáo sư hay giáo viên kéo trò về nhà dậy kèm hay bán đề thi. Đơn giản có lẽ vì đồng lương đã đủ sống nên họ không phải bán rẻ lương tâm. Cuối năm lớp Nhất thì chúng tôi phải thi bằng Tiểu Học. Sau đó thi vào đệ Thất các lớp trường công. Ai rớt thì học trường tư. Tất nhiên phải học giỏi mới thi vào được những trường công danh tiếng như Gia Long, Trưng Vương, Petrus Ký, Chu Văn An. Những tháng ngày tiểu học với tôi là tung tăng chân sáo, là chơi nhiều hơn học, là hái hoa bắt bướm, là nhảy lò cò, là chơi giải ranh, chơi ô quan.

Đúng ba tháng hè là chơi thoả thích… Ôi chơi chơi… sao mà thú vị thế! Nhớ đến tiểu học của con gái mình, tôi lại xót xa. Học quá nhiều để có thành tích cho thầy cô, cho trường lớp… và con gái tôi không bao giờ biết đến “chín mươi ngày vui sướng ở đồng quê”.

Năm 1960 – 1967

Đậu tiểu học xong tôi thi hai trường Marie Curie và Gia Long. Lẽ ra phải thi Trưng Vương mới đúng nhưng không biết sao cha tôi quyết định vậy. Những ngày đầu đi học Gia Long xúng xính đầm. Cha định cho tôi học Marie Curie nhưng phút chót lại chuyển sang Gia Long. Số tôi hên. Cô gái Bắc kỳ lạc lõng giữa rừng nữ sinh Nam kỳ mà không hề bị chia rẽ hay kỳ thị, hệt như ngày xưa, người dân Sài Gòn đã cưu mang gia đình tôi ở Cây Quéo. Từ thầy cô đến bạn bè, chẳng ai thắc mắc vì sao tôi mặc đầm.

Tôi học sinh ngữ Pháp văn. Trường có bảy lớp Anh và bảy lớp Pháp. Tôi học đệ Thất 14, lớp chót. Những năm đầu trung học tôi đi xe đưa rước của trường. Thế là hết những ngày chân sáo, hết những ngày đuổi bướm bắt hoa. Chỉ còn ngồi trong xe hiệu đoàn ngắm phố phường qua khung cửa sổ. Xe trường đưa các nữ sinh lớp sáng về nhà và trên đường đi rước các nữ sinh lớp chiều. Trong khi chờ đợi xe đến đón, tôi thường cột áo dài và trèo lên cây trứng cá trước nhà để hái trái nhâm nhi ăn chơi hay đem vào lớp cho bạn. Nghe tiếng còi xe ngoài đường thì tụt xuống xách cặp chạy ào ra. Nhà xa nên tôi bị đón sớm và về muộn. Bây giờ nhớ lại thuở cột áo leo cây thấy vui vui… khi vào trường cũng cột tà áo để nhảy lò cò.  

Trường Gia Long rất đẹp! Trường thật đồ sộ, bốn phía là bốn con đường. Ngày ấy chính phủ đặt tên đường có chủ đích rõ ràng. Đặt theo từng vùng các danh nhân văn võ, không đặt lộn xộn lung tung. Gia Long của tôi đã được bao quanh bởi các danh nhân văn chương như Bà Huyện Thanh Quan, Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm và Ngô Thời Nhiệm. Chính giữa trường là con đường tráng nhựa thật đẹp và chúng tôi hay gọi đùa là đường Bonard. Giờ ra chơi các nữ sinh dắt tay nhau thơ thẩn trên con đường ấy trông thật dễ thương. Rồi gia đình tôi chuyển sang Vạn Kiếp. Trước nhà có một bụi tre và đối diện là khoảng vườn mênh mông của chủ đất với những cây cau thẳng tắp .

Năm 1960 có nghe tin về “Mặt Trận Giải Phóng”… gì đó nhưng tôi chẳng quan tâm. Thứ nhất còn bé phải lo học, thứ hai mọi cái lúc bấy giờ đã được chính phủ đưa dần vào nền nếp và chiến tranh còn xa lắm. Đó là thời điểm cực thịnh của nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Ngày đó chưa có truyền hình, mới chỉ có truyền thanh. Chương trình khá phong phú. Tôi thích vừa làm toán vừa nghe nhạc. Cũng có chương trình “tuyển lựa ca sỹ” hàng tuần, nhưng phải nói đa số hát dở chứ không như các cuộc thi bây giờ, thí sinh hát khá vững.

Báo chí nở rộ, ai có tiền thì ra báo. Không cần phải là người của cơ quan chính quyền như bây giờ. Tôi mê xem báo. Tôi đói tin tức. Ngày đó có vụ thuê báo. Các em bán báo lẻ hay quầy bán báo nếu bán không hết thì cuối ngày trả lại toà soạn. Vì thế một số quầy báo có sáng kiến cho thuê báo. Người đọc thuê và trả tiền chỉ chừng phân nửa. Tất nhiên tiền đó chui vô túi chủ quầy báo và người bị thiệt hại là chủ nhân tờ báo. Gia đình tôi chỉ mua một tờ và trao đổi với nhà cậu tôi chứ không thuê. Coi như tốn tiền một mà được xem hai báo.

Báo thiếu nhi hơi ít. Báo chí đối lập được tự do hoạt động. Do đó có gì xấu xa của chế độ hay chính quyền thì những tờ báo đó vạch ra ngay. Còn những tờ thân chính phủ thì bị báo chí đối lập gọi là nâng bi. Sách thì rất nhiều, đủ các loại. Mỗi nhà xuất bản có nét đặc thù riêng. Như nói đến Lá Bối là biết ngay các loại sách về Thiền, Phật.

Văn thi sỹ nở rộ, tất nhiên cũng chia làm nhiều loại. Có những văn sỹ chuyên viết tiểu thuyết tâm lý xã hội và được các bà nội trợ bình dân hay các tiểu thương ái mộ như bà Tùng Long. Có những văn sỹ miền Bắc viết chuyện trong thời gian họ đi kháng chiến chống Pháp rất hay như Doãn Quốc Sỹ. Thời ấy thi sỹ cũng nhiều. Nào Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Du Tử Lê, Nguyên Sa, Hà Huyền Chi, Hoàng Anh Tuấn, Mường Mán…

Thơ văn Sài Gòn hồi ấy như trăm hoa đua nở. Đủ loại và tự do sáng tác theo cảm hứng, không phải viết theo một khuôn mẫu nào, do đó rất phong phú. Nhưng tôi lại thích đọc sách phóng tác hay dịch! (vì chưa đủ trình độ đọc nguyên tác) Mỗi lần hè về là tôi mê mẩn ngốn hàng tá truyện. Vật giá có lên nhưng chỉ chút đỉnh. Cũng chỉ mình cha đi làm còn mẹ ở nhà chăm lo con cái. Thuở tiểu học thì mẹ tôi kèm tất cả các môn. Lên Trung học thì bà không dạy được các môn khoa học nhưng Pháp văn thì vẫn tiếp tục cho đến tú tài vì ngày xưa mẹ tôi có bằng Certificat gì đó.

Cuộc sống vẫn êm đềm và khá thanh bình. Nhưng từ năm 61 thì không còn nữa. Đường đi thuờng xuyên bị đắp mô. Quốc lộ thì ít và tỉnh lộ thì nhiều hơn. Địa phương quân mỗi sáng sớm phải đi phá mô. Xong xuôi thì dân chúng mới dám đi lại. Đã có những mô nổ tung và cả chuyến xe đò tan tác. Rồi những năm sau là những lần nổ ở vũ truờng nơi quân Mỹ thường lui tới. Tất nhiên dân thường cũng vạ lây.

Tôi vẫn ngoan ngoãn với sách đèn. Chẳng hề giao du bạn trai vì cha mẹ cấm. Ngày ấy Gia Long và Trưng Vương là hai trường nữ nổi tiếng nhất. Hàng năm chỉ có một kỳ thi chọn học sinh giỏi là Trung Học Toàn Quốc. Lẽ dĩ nhiên số đậu rơi vào bốn trường lớn. Còn Lễ Hai Bà Trưng hàng năm được tổ chức khá lớn và hai nguời đẹp của Gia Long, Trưng Vương được đóng vai Hai Bà ngồi voi diễn hành.
Đề thi của mỗi môn cũng vẫn do Giáo sư môn đó phụ trách. Tôi thấy như vậy mà hay. Chẳng có gì lộn xộn xảy ra vì thời ấy không có nạn cha mẹ hối lộ Thầy cô. Mãi năm tôi học đệ nhất thì thi chung toàn khối và đã có rắc rối. Chẳng hạn đề thi triết đệ nhất lục cá nguyệt là của cô Lan dạy chúng tôi thì lớp chúng tôi làm được còn các lớp khác thì không.

Hồi đó bậc Trung Học chúng tôi phải thi tổng cộng: Trung Học (hết lớp đệ tứ) Tú tài 1 (hết lớp đệ nhị) và Tú tài 2 (hết lớp đệ nhất). Nhiều bạn sau khi có bằng Trung Học thì đi làm. Có thể chọn nghề thư ký. Sau Tú tài một, rụng bớt một số bạn. Sau Tú hai rụng một số. Số học giỏi và có điều kiện thì tiếp tục con đường đại học.

Đề thi đại học do các trường tự phụ trách. Ngày thi lệch nhau. Trường nào cũng công bố danh sách thi đậu chính thức và dự bị. Do đó tôi cảm thấy rất trật tự nề nếp chứ không lộn xộn như bây giờ. Nếu gọi danh sách chính thức mà thiếu thì truờng gọi đến dự bị. Đơn giản vậy thôi. Nhưng có lẽ hồi đó vấn đề hối lộ, bán đề thi không kinh khủng để đến nỗi Bộ Giáo Dục phải xen vào ra đề chung như bây giờ. Lại cũng do vấn đề tiền lương. Khi đồng lương không đủ sống thì tư cách con người suy giảm.

Đường phố Sài Gòn của những năm 63 vẫn còn xe Mobylette và dễ thương ngộ nghĩnh là Velo solex. Chiếc xe xinh xắn nhưng có cái bầu to phía trước. Nữ sinh thường đi xe này. Khi chạy xe, tà áo dài phía sau phồng lên trông rất vui. Nhưng đa số học sinh vẫn đi xe đạp. Số xe máy rất ít. Và vì thế đường phố Sài Gòn vẫn khá thênh thang. Năm đệ tam thì tôi không đi xe đưa rước nữa mà chuyển qua xe đạp. Cũng khá xa mà sao hồi đó chúng tôi không thấy gì. Chả như bây giờ sân trường cứ tràn ngập xe máy mà lại còn xe phân khối lớn.

Năm tôi học đệ tứ thì xảy ra vụ Phật Giáo. Sau đó nền Đệ nhất Cộng Hoà sụp đổ. Tôi không ghét ông Diệm nhưng tôi ghét bà Nhu. Vì tính tình xấc xược của bà. Nhưng phải nói hồi đó với tôi, xã hội tương đối ổn định, trật tự nề nếp. Dù ông Nhu có lập Đảng Cần Lao nhưng không ép buộc lộ liễu. Họ cũng gợi ý nhưng không vào thì thôi. Cũng chẳng vì thế mà bị “đì” sói trán. Hay trong ngành giáo dục của cha tôi, người ta không trắng trợn? Tôi chỉ biết nếu học giỏi là được học bổng, không bị phân chia lý lịch gì cả.

Sau 63, các trường có Ban Đại diện. Ngày đó tôi không chú ý lắm các thành phần ứng cử. Nhưng sau này, các anh chị lớn nói rằng, học sinh sinh viên giỏi thường bù đầu với việc học, ít tham gia các hoạt động trên. Do đó phe miền Bắc cài người vào nằm vùng ở hầu hết Ban đại diện các trường. Họ được huấn luyện kỹ nên ăn nói hoạt bát. Còn học sinh giỏi thì không có thời gian luyện khoa ăn nói. Sài Gòn của tôi sau những ngày đấu tranh sôi nổi, sau những biểu tình, sau vụ tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức… lại êm ả trở lại. Nhưng không như xưa vì liên tiếp các đột biến về chính trị.

Cuộc chỉnh lý của Tuớng Nguyễn Khánh rồi chẳng bao lâu đến phiên của Tướng Thiệu và Tướng Kỳ.
Tôi chỉ biết học và không chú ý đến những việc khác. Liên tiếp hai năm thi tú tài một và hai đã ngốn tất cả quỹ thời gian. Nhưng tôi chỉ nhớ Tú tài một, chuơng trình đã bị cắt giảm vì chiến tranh.

Cũng từ năm 1965, quân Mỹ đổ vào đông và đã gây xáo trộn. Lính Mỹ lấy vợ Việt. Đa số là các cô gái nhảy, thời đó gọi là cave hay cả các cô xuất thân là người giúp việc. Me Mỹ là tên dân chúng gọi cho những cô này. Nội cái tên gọi đã nói lên sự khinh rẻ của dân chúng dành cho những cô gái ấy. Nghĩ cũng đáng thương. Nhưng cũng chính những đồng đô la mà các cô me Mỹ tiêu vô tội vạ đã làm vật giá Sài Gòn tăng cao. Người làm của chúng tôi lấy Mỹ và đổi đời.

Cuộc sống của giới trung lưu như giáo sư bắt đầu lao đao. Giáo sư nào dạy tư thêm thì còn đỡ. Gia đình tôi hạn chế mọi chi tiêu vì cha không dạy tư và yêu cầu mẹ phải ở nhà chăm sóc việc học của các con. Ai có thời gian để gửi thư tình tự, ai có lúc lang thang quán ăn hàng, còn tôi thì không, cắm đầu cắm cổ học, đi học xong là về nhà ngay. Ngày đó chúng tôi, gồm chị tôi và tôi đều học Gia Long nên không có vụ bạn trai nào dám đến nhà. Chúng tôi cũng chẳng học tư nhiều. Mà học tư vào những năm thi thì cũng né con trai tối đa. Lệnh cha mẹ phải chấp hành nghiêm chỉnh. Thậm chí sau này chị tôi học dược cũng vẫn không hề có một tên “masculin” nào dám đến nhà!

Tôi thích con gái đi học bằng xe đạp và nón lá nghiêng nghiêng. Từng vòng xe quay chầm chậm nhỏ bé. Áo dài ngày đó mặc rất kín đáo. Chúng tôi bắt buộc phải có áo lá bên trong. Và các bà giám thị luôn coi chừng nhắc nhở những nàng mặc áo quá chít eo, những nàng khua giày cao lộp cộp. Chúng tôi đi sandal, rất dễ thương. Tôi không thích học trò quá điệu, áo thật eo hay guốc cao.

Mà thật kỳ, đa số mấy cô điệu thường học kém và có bồ sớm. Các cô giỏi thì ngược lại. Nhưng cũng có cá biệt. Tôi còn nhớ ngày đó cô bạn ban B, Kim Dung rất xinh học giỏi được chọn làm Tây Thi trong vở kịch cuối năm chẳng điệu gì cả. Riêng lớp tôi thì chỉ có vài chị điệu và tất nhiên học dở, có bồ sớm.

Năm tôi thi tú tài, chỉ còn viết và bỏ vấn đáp. Chứ trước kia, một số môn phải thi viết và vấn đáp (còn gọi là oral).Tôi đậu tú tài cao và được trường thưởng hai chữ Gia Long quyện vào nhau bằng vàng 18.

Những năm sau, trường đổi lại là hoa mai vàng. Đó cũng là phù hiệu của Gia Long. Tôi mê Y khoa và ghét duợc! Tôi thích là bác sỹ để chữa bịnh cho trẻ em và tự nhủ sẽ chữa miễn phí cho em nào mắc bệnh sài uốn ván. Tất cả chỉ vì tôi mất một đứa em trai vì bệnh này. Còn Dược khoa, chẳng hiểu sao tôi ghét nữa. Tôi nói rằng học dược, ra bán thuốc ngồi đếm từng đồng xu leng keng! Chính vì thế sau này có một dược sỹ đại uý theo, tôi đặt tên anh ta là “đại uý leng keng”! Nhưng nghề chọn người chứ người không chọn được nghề. Tôi thi rớt dù học giỏi. Năm đó đề thi y khoa bắt đầu có câu hỏi tổng quát, hỏi về những kiến thức xã hội chung quanh. Tôi học chăm quá nên vào phòng thi bị đuối sức, quỵ ngã .

Năm 1967 – 1971

Tôi ghi danh Khoa Học, Chứng chỉ Lý Hoá Vạn Vật tức SPCN (Science-Physic-Chimie-Naturel). Nơi đây quy tụ nhiều người đẹp nhất Khoa học vì sinh viên xuất thân ban A. Còn chứng chỉ MGB hay MGP thì ít con gái hơn…

Chương trình học khá nặng. Buổi sáng thực tập đủ năm môn và chiều học lý thuyết. Tôi thích thực tập thực vật hơn các môn kia. Cắt ngang hoa dâm bụt hay lá gì đó xem được cấu trúc của nó duới kinh hiển vi rất đẹp. Tôi không thích thực tập địa chất. Toàn những mẩu đá vô tri giác. Tôi cũng không thích lý với những bài dây điện loằng ngoằng.Thực tập động vật tuy sợ nhưng cũng thích. Mổ con vật ra và xem cơ thể bên trong rất thú vị. Chính ở đây là những mảnh tình trong sân trường đại học, vì có cơ hội tiếp xúc bạn trai. Chứ những ngày Gia Long hết đi xe hiệu đoàn đến xe đạp và mê học quá chừng đâu chú ý ai.

Năm đầu tiên đại học tôi chứng kiến vụ tết Mậu Thân. Sáng sớm nghe nổ mà ngỡ tiếng pháo. Khi nghe tin Sài Gòn bị tấn công, tôi bàng hoàng. Trời, thủ đô? Mấy ngày sau từ nhà nhìn về phía Gò Vấp thấy trực thăng thả rocket từng chùm. Lần đầu tiên cô bé nữ sinh chứng kiến tận mắt chiến tranh dù chỉ là một phần nhỏ. Thực ra trước đó có những lần các quán bar bị đặt mìn nổ, xác người tung toé. Sau những ngày kinh hoàng, Sài Gòn của tôi lại như cũ.

Ngày đó chúng tôi đi học mặc áo dài. Thỉnh thoảng có cô mặc đầm và không ai mặc Tây cả… Nên sân truờng đại học tung bay bao tà áo muôn màu sắc. Cha mẹ khó nên tôi vẫn đơn giản áo trắng và ôm cặp như thuở Gia Long. Thỉnh thoảng mới áo màu. Vì vậy khi tôi mặc áo dài màu, các bạn thấy lạ.

Chiều thứ bảy, tôi thường cùng cô bạn lang thang Sài Gòn để ăn hàng và ngắm phố phường. Hồi đó có lẽ không khí chưa ô nhiễm nên con gái Sài Gòn tuổi mười bốn, hai mươi trông rất đẹp. Đẹp tự nhiên ở đôi mắt đen láy, nước da đỏ hồng. Có cô má đỏ au như con gái Đà Lạt .Tôi thích người đẹp nên hay ngắm con gái Sài Gòn trên hè phố. Tuổi học trò thích nhất là lang thang phố phường và ăn hàng. Đi học cũng thích thầy bịnh để được nghỉ rồi rủ nhau ra quán tán dóc. Thật ra bọn con gái chúng tôi siêng năng đi học nên thích vậy chứ một số ông con trai rất ít đến giảng đường. Mấy ông đó chỉ đi thực tập vì có điểm danh. Vả lại không đi thì sẽ không biết làm. Còn lý thuyết thì lâu lâu đáo vô một chút. Cuối năm bắt đầu ngồi tụng. Tất nhiên cour đâu bằng bài giảng của Thầy. Thế là các ông tướng này đi theo năn nỉ mấy cô như tôi cho mượn tập!

Đời sống đắt đỏ, vật giá leo thang hoài. Chiến tranh cũng vậy. Quay trái, quay phải, sau lưng, trước mặt, đâu cũng có người đi lính và chết. Có năm sinh viên phản đối chính quyền, đã vô xé bài không cho chúng tôi thi. Sau này, điểm danh lại thì trời ơi… mấy tay kích động, phá hoại đó toàn là dân nằm vùng. Tôi bắt đầu gửi bài đăng báo năm đệ tứ. Đăng và dấu nhẹm, không dám cho gia đình biết. Hai năm sau thì bận hai kỳ thi tú tài nên ngưng. Khi lên năm thứ hai đại học thì tôi lai rai viết lại. Thuở đó báo có số phát hành nhiều nhất là tờ Chính Luận. Thiên hạ đổ xô đăng quảng cáo ở đây rất nhiều. Báo có mục Chuyện Phiếm. Nội dung là viết linh tinh đủ vấn đề nhưng khuynh huớng là chỉ trích những việc… đáng bị chỉ trích. Tôi lấy bút hiệu Quỳnh Couteau. Tôi còn nhớ có mấy cây bút sinh viên của mục này: Quỳnh Couteau của Khoa học, Thảo gàn của Nha khoa, Thu hippy dường như văn khoa.

Tôi viết truyện tình cho báo Tiếng Vang . Tôi có thói quen mua từng ram giấy pelure đủ mầu và viết bài trên đó. Tương đối tôi viết khá dễ dàng, đặt bút là viết, hiếm khi sửa lại hay bôi xoá. Để bài mình được đăng nhiều và liên tiếp, tôi lấy khá nhiều bút hiệu. Nhưng tôi biết nhà văn Thanh Nam, người phụ trách trang đó biết là cùng một người .Vì cùng một nét chữ, cùng cách sử dụng giấy pelure hồng, vàng. Tiếng Vang gửi nhuận bút 500/bài, Chính Luận thì cao hơn 800/bài . Sau này tôi lai rai nhảy qua Sóng Thần của Chu Tử…

Tôi nhớ dường như sau một năm tôi có bật mí trong một truyện, các bút hiệu 1, 2, 3, 4… đều chỉ là một người! Có điều vui là các độc giả cũng ái mộ, gửi thư đến toà soạn xin làm quen. Vui hơn nữa là khi tôi đến toà soạn lãnh nhuận bút gặp Hồng Vân, cô con gái chủ nhiệm Quốc Phong. Cô này lúc đó thay thế nhà văn Thanh Nam phụ trách trang Truyện tình của bạn. Không biết sao chỉ gặp lần đầu, nhìn xa xa mà cô rất thích tôi. Hôm sau xuất hiện trên báo dòng nhắn tin của cô: “ PQ, hôm qua PQ đến mà chị không dám ra nói chuyện vì đang đau mắt. Nhưng thấy PQ xinh quá, giọng Bắc thật dễ thưong.” Giời ạ, sau dòng nhắn của cô thì thơ của độc giả ái mộ gửi đến quá xá luôn. Tất nhiên tôi vẫn dấu nhẹm mọi người trong gia đình. Nếu không, bố tôi cho ăn chổi chà về tội không học, lo viết chuyện đăng báo! Thực ra tôi vẫn chăm học. Viết truyện tình ngắn với tôi dễ ẹt! Chỉ mất chừng một giờ mà lại có 500 hay 800 để đãi bạn bè ăn hàng thì cũng thú vị. Tiếc là sau này Tiếng Vang tự đình bản và tôi quay qua viết cho Sóng Thần hay Dân Luận.

Hồi đó sinh viên chúng tôi hay ra thư viện để học. Thư viện khoa học thì nhỏ, muốn có chỗ phải đi sớm. Chỉ có môt điều tiện là ngay trong truờng thì sau đó vô giảng đường, không mất thời gian di chuyển. Còn thư viện đẹp là của ĐH Vạn Hạnh nhưng tôi ít đến vì xa nhà. Hai thư viện gần là thư viện Văn hoá Đức và Hội Việt Mỹ. Thư viện Văn hoá Đức nằm trên đường Phan Đình Phùng, nhỏ thôi, có máy lạnh, nhưng tệ hại là không có người giữ xe, xe cứ khoá để trong sân, thư viện lại ở trên lầu. Và tại đây, tôi có những kỷ niệm vừa vui vừa buồn.

Những kỷ niệm nho nhỏ.

Thư viện bé nên chỉ một thời gian, những sinh viên hay lui tới đều biết mặt nhau. Tôi còn nhớ có một sinh viên già nhất, rất lập dị. Anh để hàm râu dài và xồm xoàm. Nghe nói anh đang học Luật. Gặp tôi vài lần ở cầu thang, mỉm cười với nhau và thế là quen. Có lần tôi ngồi học và có cảm tưởng. Tôi nhìn sang thấy anh ở bên kia và đang vẽ ký hoạ tôi. Khi ra về, anh đưa và hỏi: “Hôm nay anh thấy em dễ thương lắm. Em đã lấy mất một buổi học của anh. Vì… vẽ em…”. Có khi anh bảo tôi: “Khi nào em lấy chồng, nhớ báo anh nhé ” – “Anh sẽ mừng gì?” – “ Một tạ muối” – “Kỳ vậy” – “Cho tình nghĩa vợ chồng của em đậm đà như muối.”

T, bạn cùng Khoa học cũng hay đến đây. T đến vì tôi chứ không vì thư viện vì nhà T xa. Lắm lúc cũng chẳng học, vẽ lăng quăng hay viết lăng quăng mấy câu nho nhỏ gì đó cho tôi. Rồi tôi bị mất xe ở đây. Hôm đó tự nhiên thấy người rất khoẻ và sáng suốt, tôi say mê học. Thư viện về hết, chỉ còn mình tôi. Khi xuống thì chẳng thấy Honda, chiếc Honda mới toanh do gia đinh mới mua, giá 72.000 đ (lương giáo sư lúc đó 23.000). Tôi hoảng hốt xuống phòng dưới của bảo vệ, hỏi rất ngây thơ:

– Bác thấy xe cháu đâu không?

Bác cười:

– Không, chắc lại bị ăn cắp rồi!

Tôi tái mặt. Bác nói tôi đi khai báo. Tôi đi bộ đến bót cảnh sát trên đường Mạc Đĩnh Chi gần đó. Lão cảnh sát thấy ghét. Lão ghi chép xong lời khai rồi cười cười:

– Thế cô có biết ai lấy xe cô không?!

Tôi đi bộ từ đó về nhà ở Gia Định. Thấy con đi về, không có xe, cha mẹ hỏi. Mếu máo. Bố mắng tơi bời. Mẹ thì không. Tôi nằm trên gác khóc suốt. Sao người ta ác thế, sao ăn cắp xe của tôi, khoá rồi mà. Ngày đó tôi ngây thơ và gà tồ kinh khủng. Không thấy tôi đi học hay đến thư viện Văn hoá Đức, T tìm đến nhà. Thấy mắt sưng, T hỏi. Rồi thì T nói: “Tôi sẽ đi hỏi cho LC. Tôi quen tên đầu đảng, trùm ăn cắp xe ở vùng…” Tôi tròn mắt. T, anh chàng đẹp giai, thông minh, đàn hay, vẽ giỏi quen trùm du đãng! Thấy tôi tròn mắt, T chỉ cười. Hôm sau T quay lại: “Bạn tôi không tìm được vì không phải vùng nó kiểm soát. Tụi nó rã xe nhanh lắm.”

Tôi nghỉ học mấy bữa. T lại tìm đến :

– LC à, LC lấy xe PC của tôi đi học đi. Tôi còn cái Mini Vespa mà.

Tôi đỏ mặt. T là vậy. Muốn nói gì là nói. Chẳng ngán ai.

Còn Hội Việt Mỹ thì thư viện to, đẹp. Đa phần tôi viết truyện tình đăng báo ở đây! Nhớ lại cũng vui. Khi báo đăng, tôi cắt và đem vào trường cho bạn xem. Bạn gái xem thì ít (nhỏ Mai không có tâm hồn văn chuơng) nhưng T xem thì nhiều. Có khi ngang đến độ bỏ giờ học, ngồi ở thềm của lớp để xem truyện cuả tôi! Bởi thế mấy chục năm sau, có người nghi ngờ, đoán rằng T, bạn ông ấy cũng chính là T ngày xưa của Khoa học, đã mét T. T tìm đọc và đã nhận ra văn phong của tôi. “Văn LC lúc nào cũng vậy. Vẫn rất nhẹ nhàng , thơ mộng”. Văn vẫn vậy nhưng cuộc đời thì không vậy, bao nổi trôi sóng gió cho cô nhỏ được một số ông ở khoa học gọi là “người có đôi mắt đẹp nhất phòng Hoá”!

Tình hình chiến sự ngày một leo thang. Tôi nhớ những sự kiện đăc biệt như:

– Vụ đầu cơ gạo của thương buôn Tàu và Tướng Kỳ đã “chơi ngon”, ra lịnh xử tử Tạ Vinh. Ông tướng này thuộc loại võ biền, ruột để ngoài da, phát biểu như cao bồi Texas. Chẳng cần biết sau này Tạ Vinh có bị xử tử thật hay không nhưng lập tức vụ gạo được ổn định.

– Năm nào đó tôi tẩy chay không đi bầu khi Tướng Thiệu độc cử.

Vật giá ngày leo thang luôn. Thì như đã nói, quân Mỹ xài phung phí, “me Mỹ” xài vung vít. Chỉ còn giới trung lưu như giáo chức là khốn đốn. Tôi vẫn sống trong tháp ngà. Chiến tranh có làm suy tư thì chỉ trong phút chốc. Việc học cuốn hút. Và những ngày thứ bảy cuối tuần vẫn vi vút dạo phố Sài Gòn ăn quà. Tuổi học trò thích nhất là ăn hàng. Tiền bố phát hàng tuần eo hẹp lắm vì nhà giáo mà. Nên tôi đã bổ sung ngân quỹ ăn hàng bằng các bài viết cho Tiếng Vang, Sống, Chính luận.

Thời tiết Sài Gòn ngày ấy không như bây giờ. Vì tôi nhớ đi học phải mặc áo dài suốt ngày. Nhà xa, sáng học thực tập, trưa ở lại và chiều học lý thuyết. Có lẽ ảnh hưởng thời tiết chung toàn thế giới và cũng vì Sài Gòn không quá đông như bây giờ? Mấy cô bạn Gia Long cũ, bỏ đi làm từ khi đậu tú tài thì có cô vô Ngân hàng, lương rất cao. Cô thì làm cho hãng Pháp, lương coi như khoảng một lượng vàng một tháng. Lương chuẩn uý gần một lượng. Quân nhân được mua hàng rẻ gọi là quân tiếp vụ. Đa số mua xong, đem ra ngoài bán lại cho con buôn. Hồi đó có phong trào làm cho sở Mỹ vì lương rất cao. Thanh niên sinh viên lai rai biểu tình. Cứ “biểu”, cảnh sát biết hết ai là ham vui, ai là đặc vụ nằm vùng.Tôi chưa bao giờ tham gia hay đi xem. Vì chăm học quá mà ? Nhưng đừng nghĩ rằng không nghe tiếng đại bác trong tháp ngà! Vẫn nghe đấy chứ. Cũng có những niềm riêng khắc khoải. Nhưng mục tiêu phía trước phải đạt cho xong…

Tôi ra truờng năm 1971. Thân cư Mệnh nên suốt đời tự lo. Họ hàng, cha mẹ không giúp dù quen biết nhiều. Tôi viết bài “Ba lần văn bằng cử nhân đi xin việc làm” đăng trên Chính Luận. Nhà báo nói láo ăn tiền, bi thảm hoá thêm. Chàng Giám Đốc Nha Viện Trợ trực thuộc Tổng Nha Kế Hoạch viết thư mời cô cử đến cộng tác.

Thế là hết những ngày lang thang sân truờng đại học. Hết những ngày khúc khích với anh trên đường Khắc Khoan, nghe lá me xanh reo trên tầng cao, hết những chiều thứ bảy cùng cô bạn thân ăn hàng chợ Sài Gòn, hết những ngày trong giảng đường nhỏ giờ Thầy Thới, nghe được cả tiếng muỗi vo ve, hết cả những giờ xem hai phe chống và thích rượt nhau trong sân truờng khoa học.

Tôi bắt đầu vào đời. Từ ấy…

Sài Gòn của tôi có những nét khác hơn của thuở học trò. Nhưng vẫn là Sài Gòn của mưa nắng hai mùa, của áo lụa Hà Đông giữa trưa hè nóng bỏng, của tiếng chuông chùa Xá Lợi ngân nga. Của giáo đường nhà Thờ Đức Bà tung bay muôn màu áo chiều chủ nhật.

Sài Gòn với áo dài tha thuớt. Áo Sài Gòn không biết ngồi sau lưng Honda hai bên như bây giờ. Áo Sài Gòn không biết phóng xe ào ào như bây giờ. Áo Sài Gòn không cười hô hố trên đường phố như bây giờ. Áo Sài Gòn không cong cớn như bây giờ…

Và tôi, bao năm tháng trôi qua, vẫn một niềm hoài vọng về Sài Gòn ngày ấy…

Xin trả cho tôi nắng Sài Gòn
Thênh thang đường phố lụa Hà Đông
Xin trả cho tôi mưa ngày ấy...

 

Hoàng Lan Chi

Hồi ký của một người con gái đất Bắc tại Sài Gòn trước 75 | Sài gòn thập cẩm