Bà Thảo có hơi ngần ngừ, nửa muốn cho con ra ngoài học khôn, học ăn học nói học
gói học mở với người ta, nhưng nửa ngại con mình khờ quá biết có thích nghi nổi
hoàn cảnh nơi xứ người không đây.
Nhưng rồi anh Khờ lại rớt phỏng vấn, thôi thì theo bạn bè xin việc tại các khu
công nghiệp.
Thời đó hãng xưởng gia công mọc lên như nấm sau mưa, đi đâu cũng thấy tuyển người
làm. Mặc sức cho anh Khờ bay nhảy, anh làm chỗ này đôi ba tháng lại đổi chỗ khác,
nhưng anh vốn hay bị khờ lại đứng núi này trông núi nọ, nếu anh không tự ý xin
thì chủ cũng cho anh nghỉ.
Năm anh hai mươi lăm tuổi mẹ kêu về quê cưới vợ. Có chỗ muốn gả con.
Ông bà Thân cũng là giáo viên dạy chung trường với bà Thảo, lại là người lối
xóm. Cô con gái của ông bà cũng trạc tuổi anh Khờ, cũng theo nghiệp cha mẹ,
cũng là cô giáo trường làng. Cô tên Lan, năm nay đã hai nhăm nhưng chưa từng có
bạn trai.
Sợ để lâu con mình ế, ông bà Thân sang nhà bà Thảo không cần khách sáo nói huỵch
tẹt là muốn cưới anh Khờ cho con gái mình. Bà Thảo thấy gia đình ông giáo Thân tự
hồi nào đến giờ không mang điều tiếng chi.
Cô Lan cũng được gái, nếu đem chấm điểm cũng được bảy trên mười, người như cô
đi đâu mà tìm.
Bà Thảo thì ưng bụng lắm nhưng cũng nói để tôi hỏi ý thằng con.
Ông giáo Thân sợ anh Khờ chê con mình, trước khi ra về còn nói, “Vợ chồng tôi bảo
đảm với chị, con gái tôi còn nguyên xi, con gái tôi chưa từng, chưa từng …
yêu.”
Bà Thảo cười thầm trong bụng bởi bà là người có tư tưởng rất thoáng, đời bây giờ
đâu ai đòi hỏi gái về nhà chồng phải còn nguyên xi. Mà còn hay mất … chỉ có trời
mới biết.
Anh Khờ nghe tin cưới vợ thì mừng hí hửng. Thân con mười hai bến nước, mẹ muốn
gả cho ai thì gả.
Con đi làm trên thành phố mấy năm nay nhưng chẳng có dư được đồng nào. Ðám cưới
ai muốn tính sao thì tính. Hai nhà cách nhau chưa tới trăm mét, lễ rước dâu đi
bộ cũng được nhưng nhà gái muốn có xe hoa.
Cô dâu phải bước lên xe hoa về nhà chồng cho đúng bài bản.
Ðám cưới của anh Khờ thật là vui. Chú rể trai tân sánh duyên cùng cô dâu chưa từng
… yêu.
Nhưng ngày vui qua mau. Mau không ngờ. Cô dâu về nhà chồng được ba ngày
thì ôm gói bỏ đi đâu không ai biết.
Chờ hoài không thấy về, bà Thảo cùng anh Khờ sang nhà thông gia tìm hiểu sự
tình. Hai ông bà Thân chưng hửng, nó không có về đây, không biết nó đi đâu, để
tôi đi tìm nó về chịu tội. Thiệt tình là con với cái. Nhưng tôi biết nó không
quen ai, không hề.
Mười ngày sau ông bà Thân sang nhà bà Thảo chịu tội thế cho con. Con dại thì
cái mang. Không phải ông không tìm ra con mình bỏ trốn ở đâu, nhưng ông biết rằng
cuộc hôn nhân này hết phương cứu vãn.
Ông không nói lý do con bỏ trốn, chỉ nói xin lỗi. Chúng tôi thành thật xin lỗi.
Nhưng hai ông bà chỉ nói những lời xin lỗi suông mà không hề đả động gì tới tiền
bạc hay đồ sính lễ.
Bà Thảo nhìn thằng con, anh Khờ ngồi làm thinh mặt mày ngẩn tò te. Bà thấy vừa
tội vừa thương. Bởi vì anh sinh ra đã mang tên Hiền, trong tình cảnh này mà anh
cũng hiền được thì anh quả thật là người đáng … thương.
Sau đó anh Khờ lẳng lặng lên thành phố tiếp tục cuộc đời công nhân. Cuộc sống
ngày qua ngày, ngày nào cũng giống ngày nấy chẳng thấy chi điều mới lạ. Tiền
lương vừa đủ chi tiêu tháng nào hết tháng đó, suốt cả năm chẳng có dư lấy một đồng.
Hôm mất việc, anh lại khăn gói về quê sống với mẹ. Thôi, không đi đâu nữa, ở
đây kiếm việc làm sống qua ngày. Anh làm linh tinh đủ việc, không việc nào ổn định,
lúc có lúc không, làm năm ba bữa nghỉ năm ba bữa.
Nhưng anh không lo, chỉ mong kiếm chút đỉnh tiền sáng sáng cà phê cà pháo là được
rồi. Còn nhà lầu xe hơi tiền tỷ thì anh chẳng bao giờ mơ tới, bởi biết có mơ
thì cũng chỉ thấy mờ mờ.
Ngay cả đến việc vợ con anh cũng không lo. Kệ, chừng nào có thì có, tới đâu hay
tới đó.
Một buổi sáng mùa Xuân đẹp trời, một cô gái đến gõ cửa nhà xin được làm vợ anh
Khờ. Cô còn trẻ và khá là đẹp, chỉ mới hai lăm.
Cô nàng là người xóm trên, cha mẹ đều là nhân viên nhà nước, gia đình nhà cửa
đàng hoàng ai cũng biết. Cô chỉ có cái tội là yêu sớm và ham vui sớm, bỏ nhà
theo bạn trai sống thử. Chừng đẻ được đứa con thì bạn trai vô tù vì có dính líu
tới băng đảng bán xì-ke.
Là gái hồi nào tới giờ chỉ biết ăn ở không, nay lại ôm con mọn cô cảm thấy
không có cái khổ nào bằng. Về nhà cha mẹ sống cũng không yên, bà con chòm xóm lời
ong tiếng ve, chịu hết nổi, đường cùng, cô đến nhà bà Thảo gõ cửa, tình nguyện
làm vợ anh Khờ.
Cô hứa nếu anh Khờ chịu lấy cô làm vợ, cô sẽ một lòng một dạ lo cho chồng và mẹ
chồng. Cô sẽ đi làm nuôi anh Khờ suốt đời.
Bà Thảo nhìn thằng con, anh Khờ nay đã ba lăm rồi mà cũng chưa nên thân. Nghề
cũng không mà tiền cũng không. Thôi thì cái thằng này, nó không lo kiếm vợ thì
vợ cũng đi tìm nó. Chắc cái số của nó trời định như vậy rồi.
Ðám cưới anh Khờ lần này cũng đông vui. Chú rể trai một đời vợ sánh duyên cùng
cô dâu gái một con.
Mọi sự đều do cô dâu bày vẽ, anh Khờ chỉ lo việc trả tiền. Cô dâu trẻ tuổi điệu
đàng, thay áo cưới đôi ba lần. Áo đầm hở cổ, áo dài truyền thống, áo dài cách
tân.
Lúc đi chào bàn quan khách mời rượu, cô dâu chú rể mặc áo cung đình. Cô dâu mặc
áo hoàng hậu còn chú rể mặc áo hoàng đế. Bộ đồ mướn rộng thùng thình, không biết
y phục cung đình thời vua nào, rồng phụng màu mè giống phim bộ Hồng Kông.
Lúc cô dâu chú rể cắt bánh cưới, đứa con gái nhỏ của cô dâu chạy đến ôm chân mẹ.
Má ơi con muốn ăn bánh. Cả khán phòng cười ồ. Ðây là một tình huống bất ngờ,
ban tổ chức không lường trước được.
Ðám cưới đâu chừng ba tháng thì xảy ra chuyện không ngờ. Một buổi sáng con dâu
bà Thảo đi đâu về cùng một cậu thanh niên. Vừa bước vô nhà thấy bà Thảo là hai người
quỳ xuống vừa khóc vừa kể:
– Mẹ ơi, xin tha lỗi cho con, con biết là con có lỗi nhiều lắm khi bỏ anh Khờ. Chồng
cũ của con mới vừa được thả, đâu ai ngờ mau dữ vậy. Con thiệt là khổ tâm, mẹ với
anh Khờ có thương con thì thương cho trót, thả con về với chồng cũ của con, hai
vợ chồng con đội ơn mẹ với anh Khờ.
Nãy giờ bà Thảo ngồi sững sờ, bà bị một cú sốc mạnh không nói nên lời. Ðứa con
dâu tháo chiếc nhẫn cưới bước lại đưa anh Khờ:
– Anh làm ơn nhận lại chiếc nhẫn cưới này giùm em, coi như anh xoá bỏ một lời nguyền.
Em muôn vàn nhớ ơn anh. Còn đôi bông tai và sợi dây chuyền em xin giữ lại như đồ
kỷ niệm.
Anh Khờ và bà Thảo ngồi làm thinh, hết ý kiến.
Cái tin vợ anh Khờ trở về với chồng cũ cả xóm đều biết. Có người nói tội cho
anh Khờ, có người nói bỏ tiền ra mua được vợ ba tháng… coi như huề
Bà Thảo đến tuổi nghỉ hưu, ngày nào còn đi dạy bận bịu sách vở trường lớp, giờ ở
nhà đi ra đi vô sao mà nó trống vắng buồn tênh.
Anh Khờ nay đã bốn mươi, bà nghĩ đến việc tìm vợ cho anh, mình đâu có sống đời
mà lo cho nó hoài. Nhưng bà chưa kịp tìm thì vợ anh Khờ tới nhà gõ cửa, chắc
cái số của anh như vậy.
Một buổi chiều mưa giông, có một người đàn bà cùng hai đứa con nhỏ chạy xăm xăm
vào hiên nhà bà ngồi tránh mưa. Anh Khờ đói bụng bưng tô cơm nguội ra đứng
ngoài hiên vừa ăn vừa ngó lén người ta. Anh trở vô nói với mẹ:
– Con ăn cơm thằng nhỏ ngó miệng hoài, chắc nó đói.
Bà Thảo biết ý thằng con, thấy người ta đói tội nghiệp muốn cho ăn mà còn ngại
mẹ, sợ nói này nói kia.
Bà bước đến lấy tô cơm nguội chan cá kho đem ra ngoài cho thằng bé, bà nói trống
không:
– Còn chút cơm nguội ăn đỡ.
Thằng nhỏ lấm lét nhìn mẹ nó. Người đàn bà trẻ lên tiếng:
– Nói cám ơn bà đi con.
Hai đứa nhỏ nói cám ơn bà rồi bưng tô cơm lên ăn. Nó ăn một muỗng rồi đút cho mẹ
nó một muỗng.
Bà Thảo bước vào nhà trong lòng chợt thấy xúc động.
Mưa càng lúc càng to, giông gió sấm chớp tứ bề, anh Khờ đi tới đi lui ra chừng
áy náy.
Bà bước ra ngoài kêu ba mẹ con vô nhà tránh mưa, ướt hết rồi thay quần áo kẻo cảm
lạnh.
Bà bước đến bếp nấu nước sôi luộc mì gói cho ba mẹ con ăn thêm, chắc họ còn
đói.
Người đàn bà lấy trong túi xách mấy bộ đồ khô thay cho con rồi ba mẹ con ngồi
ăn mì.
– Con cám ơn bác nhiều lắm. Trước đây con ở ngoài Trung, làm ruộng quanh năm mà
không đủ ăn. Chồng con theo người ta đi tàu đánh cá ngoài biển xa, không may
tàu chìm chết đuối.
Con ở quê không có việc gì làm, càng lúc càng túng quẫn. Có người bạn cùng thôn
lấy chồng ở thị trấn này mấy năm trước, năm ngoái chị về quê, thấy hoàn cảnh
con khổ quá nói có gì vô đây chị giúp đỡ kiếm việc làm nuôi con.
Ðâu ngờ tới đây mới biết chị cùng chồng dọn đi nơi khác rồi. Bác làm ơn cho con
tá túc vài bữa, rồi thủng thẳng con tìm việc tìm chỗ ở dọn đi.
Bà Thảo không nói gì. Từ chối thì không nỡ mà nhận lời thì ách giữa đàng cứ
mang vào cổ.
Bà nhìn cái đi-văng chất đầy đồ đạc trên đó, bà không muốn dọn dẹp chỗ ngủ cho
họ, tự nghĩ lòng tốt cũng có giới hạn, để họ ngủ dưới sàn gạch là quý rồi.
Bà bước vào trong lấy chiếc chiếu và mùng mền. Anh Khờ giúp giăng mùng, mấy mẹ
con chui vào ngủ.
Buổi sáng bà Thảo bước ra khỏi phòng đã thấy mấy mẹ con thức dậy từ lâu, mùng mền
xếp gọn gàng. Bà bước đến bếp nấu nước pha cà phê, mang cho người đàn bà trẻ một
ly, bà cầm một ly bước ra phía trước nhà.
Bà không thấy nhưng cũng nghe biết ba mẹ con đang chia nhau uống. Sân vườn buổi
sáng sau cơn mưa đêm thêm tươi mát. Bà Tư hàng xóm đi ngang, thấy bà trước sân bước
vào nói chuyện.
Bà Tư thấy có bóng người lạ con nít trong nhà tò mò đưa mắt nhìn. Bà Thảo kể rõ
đầu đuôi câu chuyện ngày hôm qua.
Hai bà bước vào trong. Bà Tư lên tiếng hỏi:
– Cô tên gì ?
– Dạ cháu tên Lành.
– Ông Hoà nhà ở đầu đường có bà mẹ chín mươi tuổi, muốn tìm người mỗi ngày tới
phụ giúp cho ăn tắm rửa chừng bốn tiếng đồng hồ trả năm chục ngàn, cô có muốn
làm không?
– Dạ muốn, cháu làm được, chuyện gì cháu cũng làm.
Bà Tư nói, “Vậy cô đi theo tui tới đó thử việc.”
Buổi trưa chị Lành đi về đưa bà Thảo tiền làm được. Con làm được, họ
thích lắm, dặn là mỗi ngày cứ đến làm đủ bốn tiếng thì về.
Chị đến bếp làm cơm, bà Thảo lấy trong tủ lạnh con gà đưa chị làm cơm gà luộc.
Bà bước đến ghế ngồi cầm quạt phe phẩy, ra điều bà chủ, bà mẹ chồng. Chị Lành
làm bếp gọn gàng lanh lẹ, cả nhà xúm lại ngồi ăn, ai cũng khen ngon.
Chị Lành đi làm về là đưa tiền cho bà Thảo. Bà không nói gì lẳng lặng bỏ túi.
Bà muốn thử xem sức chịu đựng của chị Lành đến đâu.
Bà còn tìm cách thử lòng người mẹ trẻ này, bà giả bộ để quên tiền chỗ này chỗ nọ,
bà đánh rơi tiền khi thì trong bếp lúc ngoài sân.
Mấy đứa nhỏ lượm được trả lại cho bà. Không, bà muốn thử lòng mẹ nó kìa. Một
hôm bà nhét hai tờ giấy năm trăm trên đầu tủ, một tờ tiền thật một tờ tiền âm
phủ.
Buổi trưa bà đến xem chừng, hai tờ bạc không cánh mà bay. Bà suy nghĩ, lúc bà
giấu đâu có chị Lành ở nhà, chị đã đi làm rồi, chỉ có thằng con trai bà đi ra
đi vô mặt mày như mèo ăn vụng.
Buổi trưa anh Khờ về ngủ, bà lục túi quần anh treo trên vách, trong mớ tiền lẻ
có tờ năm trăm tiền giả. Bà xé làm đôi vứt thùng rác. Thằng này xớn xác đem xài
có ngày công an còng đầu. Con ơi là con.
Xéo nhà bà Thảo phía bên kia đường là nhà ông Quý làm ở ngân hàng. Ông đang cho
thợ đập nhà cũ xây nhà mới lên thêm từng lầu.
Một hôm mấy người thợ xách con gà nhờ chị Lành làm cơm họ trả công. Chị Lành có
tài nấu cơm gà luộc pha nước mắm gừng rất ngon. Ai ăn cũng khen.
Thế là hết nhóm thợ này tới nhóm thợ khác nhờ chị giúp, buổi trưa họ ngồi ăn uống
ồn ào như cái quán.
Chị Lành thấy ham xin phép bà Thảo đặt hai cái bàn nhỏ trước sân buổi trưa bán
cơm gà kiếm thêm tiền chợ. Bà Thảo bảo anh Khờ phụ chị cắt cổ gà nhổ lông gà,
phụ dọn dẹp.
Tiền lời bao nhiêu chị đưa bà Thảo. Bà chỉ lấy một ít, bảo chị giữ để dành lo
cho hai đứa nhỏ. Bà thử thách chị bao nhiêu đủ rồi.
Lối xóm thấy anh Khờ đưa đón hai đứa nhỏ đi học, thấy anh buổi trưa phụ chị
Lành bán cơm gà, ai cũng nghĩ chắc hai người này đã nhập cục ngủ chung mùng.
Ông Tám nhà kế bên hỏi vậy chớ chị không tính làm đám cưới cho tụi nó sao. Bà
Thảo nghe tới đám cưới thì sợ hết hồn. Tởn tới già. Mà cũng ngộ thiệt, hai đứa
tụi nó có gì đâu. Sao ai cũng nghĩ hễ trai gái chung nhà thì không trước thì
sau cũng giở mùng chun vô.
Bà Tư ông Năm gặp bà Thảo hỏi đon ren. Sao, chị tính chừng nào cho hai đứa
trình làng ra mắt quan viên hai họ.
Người này người kia nói ra nói vô khiến bà Thảo nghĩ ngợi. Hay là mình hỏi con
Lành cho thằng Khờ cho rồi. Bà nói với chị Lành:
– Con ở đây mấy tháng cũng biết tình cảnh của mẹ con bác ra sao rồi. Thằng Khờ
tuy không khôn lanh như người ta, nhưng nó hiền lành tử tế, không chơi bời nhậu
nhẹt hút xách. Bác nay đã lớn tuổi mong nó sớm yên bề gia thất. Nếu con thấy được
thì hai đứa sống với nhau xây dựng gia đình.
Chị Lành cảm động ứa nước mắt:
– Nếu bác với anh Khờ mà không chê con, con thật là có phước mới bước vô được
nhà này.
Bà Thảo không muốn tổ chức đám cưới rình rang, bà chỉ muốn làm một bữa tiệc nho
nhỏ tại nhà, gọi là buổi ra mắt. Bà bàn với ông Tám và bà Tư lối xóm, bà nói:
– Tôi tính đặt một con heo quay, nấu một nồi cà ri gà ăn với bánh mì, cá hấp ăn
với cơm chiên là đủ. Mua một thùng bia, mời bà con lối xóm chừng hai bàn là được
rồi.
Ông Tám có ý kiến:
– Mình đãi kiểu đó giống như đám giỗ. Mặc dù không nói đám cưới nhưng cũng là
đám cưới. Ðãi ăn phải dọn từ món chớ không bưng ra một lần.
Dạo đầu phải có đồ nguội để thực khách lai rai uống rượu hay bia, bỏ món cà ri
thế bằng món vịt quay hay là chim cút rô ti, thêm món đồ biển cua tôm. Có hơi tốn
kém chút… nhưng phải làm coi cho được.
Bà Năm góp ý:
– Ðể tôi kêu mấy đứa nhỏ cùng bạn bè tụi nó sang phụ giúp, chị đừng lo, mấy thằng
con tui giỏi mấy cái vụ này lắm.
Mặc dù không phát tờ rơi không làm quảng cáo, nhưng đám “ra mắt” của anh Khờ cả
xóm ai cũng biết.
Ðàn bà con nít đi ngang nhà đứng lại dòm ngó trầm trồ, “Bữa nay đám cưới anh Khờ,
bữa nay đám cưới anh Khờ!”
Mấy cậu thanh niên lăng xăng làm cổng chào với bảng “Tân Hôn”, mấy cô gái í a í
ới vừa làm vừa cười giỡn dưới bếp. Bà Thảo đi tới đi lui miệng cười mãn nguyện.
Thằng con của bà lối xóm ai cũng thương. Mấy cậu thanh niên lại còn bày đặt đem
gắn dàn máy hát hò. Ðám thanh niên thanh nữ đông quá ham vui, xin bác đặt thêm
hai bàn, bác đừng lo, tụi con tự đem mồi với lại bia, vui với anh Khờ là chính.
Anh Khờ uống rượu vui quá kéo cô dâu lại hôn, cô dâu mắc cỡ bỏ đi chỗ khác,
thiên hạ vỗ tay tán thưởng.
Anh Khờ xỉn xỉn lên hát một bài tân cổ giao duyên quên đầu quên đuôi ai cũng cười.
Buổi tối vợ chồng con cái xúm lại mở bao thơ đếm tiền. Anh Khờ mặt mày hí hửng
lại nói với mẹ: lời, lời, hổng lỗ. Bà Thảo không nhịn được cười, hết ý kiến thằng
con của tui, lần này đám cưới của nó … có lời.
Bà Thảo bắt đầu để ý con dâu, mỗi khi chị Lành đi đứng bà nhìn soi mói tìm điều
khác lạ. Bà mong chị hôi cơm tanh cá, bà mong có một đứa cháu nội của riêng bà.
Anh Khờ có thể mất vợ, nhưng cháu bà, cháu nội của bà sẽ mãi mãi là cháu bà.
Ngày tháng trôi qua bà không thể chờ. Một hôm bà kêu con dâu bà lại gặng hỏi:
– Mẹ nói thật với con, mà con cũng phải trả lời cho thật, con có thể nào đẻ cho
mẹ một đứa cháu nội nữa không.
Chị Lành trầm ngâm giây lâu ngập ngừng điều khó nói:
– Con cũng biết mẹ với anh Khờ mong đợi điều đó, con thật lòng thương anh Khờ, muốn
đẻ cho ảnh một đứa con, nhưng ảnh không thể… Hai đứa con cố gắng nhiều lần nhiều
cách mà ảnh vẫn… không thể nào.
Một lần nữa bà Thảo bị một cú sốc, chuyện bây giờ mới biết. Bà nhớ lại lúc anh
Khờ còn trẻ, bà nhiều lần tắm rửa cho anh, thấy anh cũng bình thường như bao đứa
trẻ khác. Lúc nó lớn nhiều lần giặt quần xà lỏn cho nó, đôi lúc vấy bẩn mùi
tanh tưởi. Sao bây giờ… sao bây giờ… như thế này?
Một buổi sáng sớm bà Thảo nói cho con dâu và thằng con biết là bà có việc phải
đi lên thành phố chiều về. Mỗi lần đi là bà thấy thành phố thay đổi khác lạ, xe
cộ người ta đi lại đông đúc ồn ào.
Nhưng bà không khó lắm để tìm ra nhà ông thầy “Ðông y sĩ bán thuốc gia truyền
chuyên trị đàn ông yếu sinh lý”. Bà bước vào phòng đợi, lòng thấp thỏm lo âu.
Bà nói ngập ngừng:
– Thưa thầy, tôi muốn thỉnh thuốc cho một người đàn ông… yếu… yếu… không thể… không
thể…
Ông thầy thuốc Ðông y gia truyền nhìn bà khách bề ngoài không có vẻ gì là một
người đàn bà đang trong thời kỳ … cần đến mấy chuyện đó.
– Bà nói ông nhà không thể … mà không thể như thế nào?
– Tôi nghe con dâu tôi nói chồng nó như vậy thì tôi biết như vậy. Có cần phải dẫn
nó lên đây cho thầy khám?
Ông thầy bật cười hô hố, “Té ra bà đi thỉnh thuốc cho con trai bà, nãy giờ tôi
cứ tưởng bà nói ông nhà. Tôi có thuốc viên hải cẩu bổ thận hoàn, bà mua cho cậu
một lọ uống thử. Tôi hốt ba mươi thang thuốc cho con trai bà uống trong một
tháng. Thuốc cường dương gia truyền, nổi danh ba đời.”
Buổi chiều về nhà, việc đầu tiên là bà Thảo đi vô bếp tìm siêu sắc thuốc cho thằng
con trai. Buổi tối bà còn bắt anh Khờ bưng chén thuốc uống hết trước mặt bà.
Bà chờ đợi. Ngày nào cũng dòm ngó con dâu coi tướng tá có mập thêm chút nào. Buổi
tối bà đi ra đi vô nghe ngóng, đi ngang phòng thằng con trai lắng nghe coi có tiếng
cười giỡn giường chiếu nhúc nhích động đậy gì không.
Lúc thuốc gần hết, bà kêu con dâu lại hỏi nhỏ, con thấy có tiến bộ hơn chút nào
không con. Cô con dâu lắc đầu, mọi sự vẫn u như kỹ… y như cũ.
Ngày tháng trôi qua…bà Thảo tức mình không chịu đầu hàng số phận, hễ còn nước
là còn tát, hễ có bịnh là vái tứ phương. Ði đâu cũng nghe tụi thanh niên khẳng định
“người ta làm được, mình làm được.”
Bà thu xếp chuyện gia đình, dẫn con trai con dâu lên thành phố, đến bệnh viện
trung ương khám nam, khoa chữa trị hiếm muộn. Sau nhiều lần thử nghiệm, bác sĩ
tuyên bố bó tay, hết cách. Rất tiếc, ông không thể nào… không thể nào…
Từ đó bà Thảo không còn buồn, Không còn lo kiếm đứa cháu nội. Bà tự an ủi…”Ý trời”
Một hôm chị Lành đến gần bà Thảo thưa chuyện:
– Mẹ à, đêm qua con nằm mơ thấy chồng cũ con hiện về, anh vui cười hỏi thăm con
đủ thứ.
Tỉnh dậy con nhớ quê quay quắt suốt cả ngày. Con đi cũng đã ba năm, con muốn
xin phép mẹ cho con dẫn hai đứa nhỏ về quê, cúng mồ mả ông bà, mồ Ba tụi nó.
Bà Thảo miệng nói ờ phải con cứ đi, mà trong lòng bà thấy buồn buồn. Bà nghĩ rồi
có ngày đứa con dâu này cũng sẽ bỏ con trai bà mà đi.
Buổi sáng anh Khờ hí hửng đưa vợ con ra bến xe về quê một tuần. Nghĩa là anh khỏi
cắt cổ gà nhổ lông gà một tuần. Anh có nhiều thì giờ bù khú với bạn bè, trong
khi mẹ anh lại buồn rười rượi vì nghĩ đứa con dâu này sẽ một đi không trở lại.
Lúc họ bước ra cửa bà móc tiền đưa con dâu và cho hai cháu. Dẫu thế nào thì bà
cũng phải đối xử cho phải đạo mẹ chồng.
Mấy ngày con dâu đi vắng, bà cảm thấy trống trải buồn bã lạ thường. Bà thấy nhớ
tiếng hai đứa nhỏ chạy giỡn nô đùa. Bà nhớ tiếng con dâu chặt thịt gà lộp bộp. Bà
thương con dâu thương cháu nội thương cái mái ấm gia đình này hồi nào không biết.
Nhớ ngày nào tụi nó mới tới, co ro trong chiều mưa giá lạnh. Giờ đã ba năm. Ba
năm con dâu bà trả ơn cưu mang coi như đã đủ. Sòng phẳng. Cuộc đời lúc nào cũng
đối xử với bà sòng phẳng. Quá là sòng phẳng.
Buổi sáng anh Khờ đi quán cà phê, ngang tấm lịch giả bộ ngó ngó, “Bữa nay mẹ
con tụi nó về, ngày mai lại tiếp tục… cắt cổ gà…nhổ lông gà.” Bà muốn nói, con
ơi mày được nhổ lông gà hằng ngày là phước ba đời đó con.
Anh Khờ nhắc tới một việc bà không dám chắc nhưng vẫn mong chờ. Ở tuổi này phải
gánh vác một điều mất mát là một việc hết sức khó khăn.