Thursday, May 28, 2026

Gói Xôi Năm Ấy - Lê Văn Thông

( Lê Văn Thông .Tranh ViVi)

 

(Một câu chuyện nhỏ về người thầy và ân tình năm cũ)

Buổi sáng đầu thu, sân trường ngập nắng. Lá bạch đàn non lay nhẹ trong gió, hắt bóng xuống từng tà áo trắng vừa đến lớp. Tôi đứng trên bục giảng, nhìn lũ học trò ríu rít cười nói mà trong lòng bỗng dâng lên cảm giác vừa thân quen, vừa xa lạ.

Ngày đầu tiên nhận lớp, tôi nói:

“Thầy sẽ công bằng với tất cả. Không ai là học trò cưng, và cũng chẳng ai bị ghét bỏ.”

Khi ấy, tôi tin mình có thể giữ được lời. Nhưng rồi, thời gian trôi, tôi mới hiểu – có những điều mà trái tim không thể “công bằng” được. Nhất là khi đứng trước một cậu học trò có đôi mắt giống hệt người xưa…

Thằng Tí – học sinh lớp 10A3 – là đứa ít nói nhất lớp. Nó học không tệ, nhưng thường đi học trễ, bài làm có khi thiếu, có khi gấp góc giấy vội vàng. Áo sơ mi nhàu, dép mòn, cặp sờn quai. Trong giờ học, đôi khi nó gục đầu lên bàn, ngủ quên lúc nào không biết.

Ban đầu, tôi nghĩ nó lười. Một đứa lớn rồi mà không biết tự lo, để người khác phải nhắc mãi. Có hôm tôi nghiêm giọng:

– Em Tí, nếu không cố gắng, thầy sẽ phải báo với Ban giám hiệu.

Nó đứng dậy, cúi đầu:

– Dạ… con xin lỗi thầy.

Giọng nó nhỏ, mà buồn.

Hôm ấy, tan học, tôi thấy nó vẫn ngồi lại ở ghế đá cuối sân, nhìn xuống đất, dáng nhỏ thó, lặng lẽ. Tôi đến gần, hỏi:

– Sao chưa về hả em?

Tí ngẩng lên, cười gượng:

– Dạ, con đợi dì đến rước. Má con mất rồi… ngày xưa má con bán xôi.

Tôi lặng người. Một thoáng ký ức ùa về – tiếng rao khàn buổi sớm, khói xôi bay thơm ngát trước cổng trường làng.

Tôi hỏi, giọng run:

– Má em tên gì vậy Tí?

– Dạ, má con là dì Sáu bán xôi đầu chợ hồi đó. Má mất mấy năm rồi. Má con hay kể, hồi xưa có chú học trò nghèo, sáng nào cũng ghé, má cho ăn gói xôi rồi nói: “Ráng học nghe con.” Má bảo, chú đó học giỏi lắm…

Tôi nhìn em, lòng nghẹn lại:

– Thầy chính là chú học trò đó, em à. Hồi đó nhà thầy nghèo lắm, nhờ gói xôi của má em mà có sức tới trường mỗi ngày.

Tí ngỡ ngàng, rồi mím môi cười khẽ:

– Vậy ra… thầy là người má con từng kể hả thầy?

Tôi đặt tay lên vai em, giọng khàn đi:

– Ừ, má em đã giúp thầy . Giờ tới lượt thầy giúp em. Ráng học nghe, cho má em trên trời được vui.

Từ hôm ấy, tôi để ý đến Tí hơn. Không phải vì thương hại, mà vì muốn tiếp nối điều dang dở của một người mẹ. Tôi kèm em thêm sau giờ học, hỏi han khi thấy em mệt, thỉnh thoảng dúi vào tay em hộp sữa, nói nhỏ:

– Uống đi, đừng để đói rồi học không vô.

Ban đầu em ngại, sau quen dần. Ánh mắt em sáng hơn, nụ cười cũng hiền hơn. Từng con chữ, từng phép tính dần dần nối lại niềm tin mà năm nào chính tôi từng được dì Sáu thắp lên.

Cuối năm, Tí đứng trên bục nhận giấy khen, ánh nắng xiên qua khung cửa sổ chiếu lên khuôn mặt rám nắng của em. Giây phút ấy, tôi thấy như có bóng dáng dì Sáu thấp thoáng giữa sân trường, mỉm cười hiền lành trong gió.

Nhiều năm sau, tôi nhận được một lá thư, nét chữ nghiêng nghiêng quen thuộc:

“Thưa thầy,

Con nay đã là sinh viên Sư phạm.

Con chọn nghề thầy – như thầy ngày trước.

Thầy đã cho con niềm tin để bước tiếp.

Con cảm ơn thầy "

Tôi đọc thư, nước mắt rơi ướt cả giấy.

Chiều hôm đó, tôi ghé lại chợ cũ. Cây bàng xưa vẫn đứng lặng, bóng lá đổ dài trên nền xi măng. Gió thổi qua, hương nếp đâu đó thoảng nhẹ, như dì Sáu đang mỉm cười trong làn khói sớm.

Tôi hiểu rằng, suốt đời này, người ta chẳng thể nào “công bằng” khi đứng trước tình thương.

Bởi trong hàng trăm học trò, sẽ luôn có một đứa khiến tim mình mềm lại – như thằng con của dì bán xôi năm nào.

Và tôi biết, chính từ gói xôi năm ấy, tôi đã học được bài học quý giá nhất trong đời:

Dạy học không chỉ là truyền kiến thức – mà là giữ cho ngọn lửa ân tình luôn cháy mãi trong lòng người.

Có những món quà chẳng gói trong giấy bóng, chẳng buộc ruy băng.

Chỉ là một gói xôi thơm, nhưng ấm suốt cả một đời người.


Lê Văn Thông

Đường Xưa Hẹn Hò - Nguyễn Duy Phước


Wednesday, May 27, 2026

Tách Trà Của Quý Vị Có Thể Chứa Hàng Tỷ Mảnh Nhựa Li Ti Từ Bình Đun Nước - Huỳnh Chiếu Đẳng


Nguồn tin và chi tiết: https://www.sciencealert.com/your-cup-of-tea-could-contain-billions-of-microplastics-from-one-source?utm_source=flipboard&utm_content=ScienceAlert/magazine/ScienceAlert

 

HCD: Máy tóm tắt nội dung bài báo (có thể còn sót những “tiếng mới” khó hiểu khó nghe)

 

Tách trà của quý vị có thể chứa hàng tỷ mảnh nhựa li ti từ bình đun nước

Một nghiên cứu mới đây từ Đại học Queensland (Úc Đại Lợi) vừa đưa ra lời cảnh báo: các loại bình đun nước bằng nhựa (loại nhựa polypropylene) có thể là nguồn cơn đưa một lượng lớn bụi nhựa vào cơ thể chúng ta hằng ngày.

Các điểm chính trong bản tin:

  1. Lượng bụi nhựa cực lớn: Qua phân tích, các nhà khoa học nhận thấy trong lần đun nước đầu tiên, một chiếc bình điện bằng nhựa mới có thể thải ra tới 12 triệu hạt nhựa siêu nhỏ (nanoplastics) trên mỗi phân khối nước. Tính ra, một tách trà trung bình có thể chứa đến 3 tỷ hạt nhựa này.

Bình nấu nước bằng nhựa

 

  1. Nguy cơ cho sức khỏe: Dù giới khoa học chưa khẳng định chắc chắn toàn bộ tác hại, nhưng các nghiên cứu trước đây cho thấy việc ăn phải bụi nhựa có liên quan đến các chứng bệnh về đường ruột, phổi và cả các bệnh suy nhược thần kinh như bệnh Parkinson.
  2. Cách giảm bớt bụi nhựa: Các nhà nghiên cứu chỉ ra hai cách để hạn chế tình trạng này:
    • Đun nước nhiều lần rồi đổ đi: Lượng nhựa thải ra sẽ giảm mạnh sau khoảng 10 lần đun và giảm xuống mức rất thấp sau 50 lần. Tuy nhiên, ngay cả ở lần đun thứ 150, người ta vẫn còn tìm thấy mạt nhựa. Vì vậy, khi mua bình mới, quý vị nên đun và đổ nước đi nhiều lần trước khi dùng để pha thức uống.
    • Dùng nước máy có chất khoáng (nước cứng): Các chất khoáng trong nước khi đun nóng sẽ tạo thành một lớp đóng vôi mỏng bên trong bình, lớp này vô tình giúp bao phủ và ngăn không cho bụi nhựa thoát ra.
  3. Lời khuyên: Các chuyên gia đề nghị các nhà sản xuất nên có nhãn cảnh báo và hướng dẫn kỹ lưỡng hơn trên sản phẩm. Việc chỉ tráng sơ bình bằng nước lạnh trước khi dùng là không đủ để loại bỏ các hạt nhựa độc hại này.

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu thêm trên nhiều loại đồ gia dụng khác để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của nhựa đối với đời sống con người.


HCD: Thấy thì trình các bạn may ra có ích được chút nào chăng. Bạn nào chưa xài loại bình nấu nước nhựa nầy thì nên tránh, bạn nào có trong nhà thì chắc là nên bỏ đi.


Huỳnh Chiếu Đẳng Quán ven đường

Đời Sống Một Dân Thường Sau 75 - Nguyễn Kiều Phương

 

Khi lấy thời điểm 75 làm mốc mà dùng từ "dân thường" tức là không có "làm Việt Cộng" mà cũng chẳng "theo Quốc Gia".

Gia đình tôi sống cạnh Ty Cảnh Sát. Hàng xóm đa số là viên chức hành chánh "tối lửa, tắt đèn" có nhau.

Ngày Mỹ rút khỏi Miền Nam,tôi nghĩ là họ đã biết trước. Những người hàng xóm của cha mẹ tôi chuẩn bị di tản. Họ bán đi những vật dụng có giá trị mà họ không thể mang theo. Cả xóm tôi "âm thầm" bán. Cha tôi mua tất cả những món đồ của họ bán. Gia đình tôi không có ý định di tản, ai cũng nghĩ cha tiếc của, đến sau này tôi biết, cha không đi vì bà Nội sắp trăm tuổi già.

Cha rất hiếu thảo với bà, từ nhỏ đến giờ tôi đã quen cảnh cha nhất định giặt đồ cho bà nội, tự tay rót nước cho bà không để các con làm.


Thời gian ấy, nhà tôi thật nhộn nhịp, người ra kẻ vào. Tôi quen các cô các chú đó hết. Họ cho tôi vài món đồ mà họ không thể mang đi nhưng họ rất quý: một cuốn sách, một cái cặp, cây bút máy... Có chú đưa tôi một túi đồ nặng nặng không biết là gì, tôi không mở ra xem về sau tôi cũng quên luôn.

Những người đó đi luôn không trở lại, tôi nghe loáng thoáng trong số họ có người ra đến sông Cái giựt chốt lựu đạn tự sát. Phía sau Ty Cảnh Sát người ta đốt những chồng giấy cao và nặng, đốt mấy ngày đêm, ngọn lửa bốc cao lắm.

Ngày 30/4/75, thị xã tôi vẫn bình yên, không tiếng súng, bọn nhỏ chúng tôi chạy ra đường xem Việt Cộng. Chỉ vài người bận đồ đen, quấn khăn "choàng tắm", vác súng đi vào Ty Cảnh Sát. Trong Ty không còn ai.

Cuộc sống không gì thay đổi, theo góc nhìn của một đứa trẻ như tôi lúc bấy giờ, hàng xóm vẫn mang đồ qua nhà tôi bán, thỉnh thoảng có nhà đóng cửa đi mất...

Tôi vào lớp 6. Trường phát mỗi đứa 10 hạt bobo về nhà trồng. Trước sân nhà tôi có trồng mấy chậu kiểng và một gốc Sabochê... Tôi gieo hạt dưới gốc Sabochê rồi tháng sau... ra chợ mua một lon bobo đem nộp!

Lớp có một cô giáo dạy toán người bắc, cô mặc toàn quần đáy nem đen với áo sơ mi trắng chít bốn ben, tóc cô thật dài và thắt bím. Cái đặc biệt nhất ở cô mà tôi thấy là... tôi không thể nghe được cô giảng gì cả!

Một hôm đi học về, tôi thấy cha đào hết khoảnh sân nhà lên, mấy chậu kiểng bị đẩy vào một góc sân. Cha trồng xuyên tâm liên, một loại thảo dược quý trị bá bệnh từ miền bắc đưa vào. Nhưng tôi thấy cha vẫn uống thuốc tây khi bệnh, chắc cha để dành cho trường hợp bệnh nặng hơn!!!


Nhà nước đổi tiền, tội nghiệp cha tôi không có tiền để đổi, bao nhiêu tiền cha tôi lấy đi mua đồ của hàng xóm hết rồi. Hôm đó, cha đi đổi tiền dùm hàng xóm khi về cha kể, ông Trường Thành, chủ của mấy cây xăng trong thị xã đã ngất xỉu ở chỗ đổi tiền, có lẽ thấy vậy nên điểm đổi tiền chỉ để ông mang về nhà một số tiền tượng trưng còn bao nhiêu họ giữ lại dùm ông sợ ông vác về nặng... khi đi đổi tiền ông vác đến 2 bao, sau này mấy cây xăng của ông nhà nước của chính quyền mới cũng quốc hữu hóa hết luôn.

Cha nói họ đánh tư sản, 500 đồng mang đi đổi được 1 đồng, ai nhiều mấy cũng mang về 500 đồng hay 250 đồng gì đó.

Thời kỳ tem phiếu bắt đầu, cái sổ hộ khẩu quý như sinh mạng, ai không có nó là chết đói! Cứ theo nhân khẩu mà cho chỉ tiêu gạo, vải, nhu yếu phẩm rồi phát tem, phiếu. Tới đợt hợp tác xã bán gì thì mua nấy, cửa hàng là mấy ngôi nhà chủ đi vắng, "cách mạng lâm thời miền nam Việt Nam trưng dụng".

Cha đi mua gạo vác về, mỗi người có tên trong hộ khẩu được 13kg, má kêu cha mang gạo qua cho nhà chị Mun, mẹ chị ấy đi mất từ hôm giải phóng vô. Má ăn gạo trong bao bố tời, mỗi bao 100kg, gạo phải thơm, quen rồi, má nói vậy.

Cha đi mua vải, cả nhà lớn bé nam nữ gì cũng một loại vải mười, màu ruốc in hoa. Má tôi đem cất trong bếp.

Bây giờ xóm tôi như người một nhà, vì ai cũng mặc đồ hoa vải giống nhau.

Căn tin, cửa hàng xuất hiện, thay vì ra quán, tiệm, mua chè, mua bánh, cà phê bọn tôi ra căn tin mua. Cửa hàng bán chỉ một thứ mấy ngày liên tiếp, hết món đó bán đến món khác, cũng mấy ngày.

Chợ vẫn nhóm bình thường, vẫn bán đâu thiếu thứ gì.

Nhà tôi vẫn lúa dí đầy bồ, sau vườn nuôi vài con heo, cha thỉnh thoảng vác chài xuống sông vãi vài cái cho má tôi món cá kho tiêu.


Một năm, sau khi đánh tư sản, "tàn dư của Mỹ Ngụy" cạn hết. Mỹ cấm vận, người ta đến tìm cha tôi mua những món đồ họ cần mà cha tôi có nhưng không xài. Nhà tôi lúc đó như cái kho, búa, kềm, khoan điện, khoan tay, mỏ lết, xà beng... đến tủ lạnh, tủ mát, bàn trang điểm, tủ thờ... trong phòng cha chất một góc rượu tây, hàng quân tiếp vụ, thuốc lá xigà... 

Ai mua gì cha cũng có. Tôi nhìn đống đồ của cha mà biết tên và biết xử dụng hết các thứ đó, sau này điều đó rất có ích cho cuộc sống của tôi.

Có bữa một người quen với cha ghé lại nói với cha gì đó không biết, chỉ nghe cha trả lời, không cần đâu, ngày xưa tưởng mày khổ, chứ biết mày làm VC tao đâu có giúp mày, lấy tờ giấy gia đình có công cách mạng làm sao tao đi Mỹ... Rồi cha lầm bầm, giải phóng cái gì không biết!


Thời kỳ ngăn sông cấm chợ:

Cha đi Saigon, về cha kể: từ quê lên Saigon có 150 cây số đi xe đò mà đi từ sáng sớm chiều mới tới Xa Cảng miền Tây. Trạm kiểm soát dựng lên dọc đường nhiều không nhớ nổi. Ấn tượng nhất là trạm Tân Hương, xe đến trạm phải vào một ngỏ riêng để kiểm soát, hành khách phải xuống xe hết, hành lý bị lục tung ra...thậm chí có khi họ xét người luôn, họ bắt lương thực, thực phẩm của tỉnh này mang qua tỉnh khác, đặc biệt là thịt heo, không biết cái ông ra sắc lệnh "ngăn sông cấm chợ" này có thù gì với con heo?! Quái lạ!!!

Thịt đem ra khỏi tỉnh bán gọi là thịt lậu, người đi bán thịt ra ngoài tỉnh gọi là buôn lậu. Dân buôn lậu quấn thịt quanh người, giấu dưới băng ghế... những người đi buôn họ móc nối hoặc bắt bồ với nhân viên kiểm soát. Cha đi thăm chị học ở Saigon, má nấu thịt cho chị đựng trong lon guigoz để khỏi bị tịch thâu. Khổ thân!

Thời này đến chơi nhà bạn bè, dù tay bắt mặt mừng nhưng phải ý tứ mang theo ít gạo thịt.

Anh Tâm con dì Ba sống ở Đà Lạt, trồng rau củ...không có gì ăn, chạy về quê mang theo vợ con đùm đề.

Chị tôi đậu đại học, ở ký túc xá sinh viên tháng được lãnh 12 ngàn, ăn cơm nhà bếp độn bobo thiếu chất bị phù thủng mặt tròn quay phải ăn gạo lức muối mè, lên giảng đường ngồi học mà đem chỉ gân theo thắt giỏ bán. Chị khoe mới bốc thăm được mua cây đàn, chị có đàn đâu, đem bán đó, chị xin tiền cha mua chiếc xe đạp, nói để đạp đi Long An mua gạo, mua thuốc tây... về bán, không nghe kể chuyện học hành.

Sau này tốt nghiệp đại học chị vẫn còn nợ điểm, cha lo lót cho người quen trên đó một chỉ vàng để chị được giữ lại hộ khẩu thành phố, Saigon đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh, người dân quê chúng tôi gọi tắt là thành phố cho nó gọn. Rối rắm!


Tôi lên lớp 7. Trường tôi có thầy hiệu trưởng mới từ miền Bắc vào nhận "công tác".Thầy sống trong trường ở dãy nhà sau lớp học của tôi, sáng đi học sớm, tôi vào lớp hay nhìn qua cửa sổ thấy thầy ăn sáng, không biết ăn gì mà nghe thầy húp rồn rột, thầy hay ngửi ngửi cây tăm mới xỉa xong rồi gát nó lên chung trà... Thầy mặc thêm áo sơ mi vào chồng lên chiếc áo thun ba lỗ bị rách mấy đường sau lưng. Trước khi ra khỏi nhà, thầy "chiêu" một ngụm trà súc ộc ộc trong miệng rồi mới nuốt... Chuông reo...

Cô Thoại rất hiền, người thô, cục mịch, hơi cà lăm, cô dạy toán không biết sao tự nhiên cô nghỉ dạy, tụi bạn nói thấy cô bán vé số ngoài chợ.

Thầy Điệp cũng nghỉ dạy, tôi biết, tôi thấy thầy bán nước sâm, mỗi lần đi ngang xe nước sâm của thầy tôi đều đứng lại cúi chào, thầy cười, không giống ngày xưa, lúc thầy dạy văn, thầy vui hơn bây giờ.

Thầy Đệ có “đề pô” nước đá trước khi đi dạy, thầy dạy tôi dễ hiểu nên tôi thích môn Lý của thầy, tôi là học trò giỏi được thầy cưng. Tôi cũng thương thầy lắm, thầy lùn tịt, mặt sần sùi đầy thẹo, chắc hồi nhỏ thầy nặn mụn hoài... Thầy nghỉ dạy, học cô mới tôi không vui, tôi nhớ những lần chọc phá của bọn tôi: thầy cho bài tập trên bảng, tôi hay nói:

- Thầy đừng ghi... lộn đề... nhe thầy!

Thầy nói tỉnh queo:

- Không lộn!

Nhưng lát nữa thế nào cũng có một cục phấn chọi vào trán tôi cái cốc...!!! Báo thù!

Cô Huỳnh Liên không bỏ dạy mà đổi môn, cô dạy chính trị không dạy văn nữa... Chồng cô đang học tập cải tạo ở Trại Ba Sao, tháng sau cô đi thăm chồng, bọn học trò chúng tôi hùn tiền gởi cô mua đồ cho thầy... 

Xóm tôi cũng có vài người đi học tập cải tạo ở Tân lập, Suối Máu, Bà Bèo...

Nhỏ bạn tên Kim Anh, người Hoa, rủ tôi lãnh làm vỏ xe đạp bằng cách lấy bố từ vỏ xe tải cũ dán lại, để kiếm thêm "thu nhập". Cha không cho làm, biểu lo học cho giỏi đi... Thôi vậy!

Gần đây tôi học được vài từ mới của chị lớp trưởng người Bắc vừa theo ba mẹ vào Nam "công tác": "khẩn trương", "tăng gia", "thu nhập", "cải thiện", "tập thể"... có vài từ không hiểu sao lại đọc ngược như: đảm bảo,  giản đơn...


Rồi một hôm, trường tôi bị lấy, vì họ không báo trước nên thầy trò chúng tôi ngồi ngoài đường cả buổi sáng, nghe nói lấy làm trường cho con cái cán bộ học, nhưng họ không dùng từ Thiếu Sinh Quân vì đó là từ "Ngụy quyền Saigon" hay xài. Không biết họ là ai. Mù mờ...

Nhà hàng xóm ồn ào, tôi chạy ra coi, bác Hai hớt tóc mở máy hát nghe nhạc Hoàng Oanh bị trên công an phường tịch thâu dĩa hát, lần sau lấy luôn cái máy đó nhe... tôi cũng thích Hoàng Oanh, cô ngâm thơ, bài Hòn Vọng Phu hay ác! "Nhạc ngụy", cấm đó nhe... Tối về tôi kể cả nhà biết, vì cha tôi thường uống rượu lúc ăn cơm chiều, có lúc vui vui cha mở nhạc rồi nhảy đầm nữa. Mẹ tôi nói ông mở nhạc không lời mà sợ gì, trời ơi! Nhạc không lời còn ghê hơn, tàn dư "Mỹ Ngụy" đó. "Nhất trí" nghe cải lương Út Trà Ôn, Minh Cảnh....

Má đi đám cưới anh Chiêu, anh ở với chị Huỳnh có chửa, bên chị kêu làm cái "thú phạt". Cơ quan anh Chiêu bắt làm lễ “Tuyên hôn”, tiệc đãi ở trong nhà ngoại anh Chiêu, cây nhà lá vườn, heo với cá nuôi sẵn. Má nói, “Thủ trưởng” anh ăn cái đầu cá vồ còn nguyên con lãi trong mang... Thấy gớm!!!

Sáng chúa nhật, cô Liễu qua nhờ mẹ sửa mấy cái quần ống loe, hôm nay chị cắt tóc ngắn, móng tay cũng ngắn và không sơn. Lúc trước móng tay chị để dài sơn đỏ chót, tóc cũng dài, uốn lọn, đẹp như Thẩm Thúy Hằng. Bây giờ chị cắt hết, tóc, móng, quần cũng cắt. Chị nói chị đang lo, mấy ông cách mạng bắt mấy người chưa chồng gả cho thương binh... Mẹ bảo, mầy thì ai mà lấy!


Đi kinh tế mới:

Vài gia đình xóm gò mã sau nhà tôi đóng cửa đi kinh tế mới. Họ đến những vùng hoang vu hẻo lánh khai khẩn đất hoang, nhưng được một thời gian sau họ lại quay về. Cứ hể khẩn xong phần đất nào là cán bộ đến dẫn họ đi sâu vào vùng đất hoang mới, xa hơn, hoang mạc hơn... Sao chịu được!!!

Đất nước đi từ có đến không, từ không đến có. Chế độ độc tài, độc đảng, xã hội không có đối trọng, không có sự cạnh tranh thì không thể phát triển và tiến bộ được.

Tất cả sự cạnh tranh của chế độ đều đi đến một mục đích dân giàu nước mạnh.

Nhà cầm quyền và bộ máy nhà nước chỉ được lập ra để bảo vệ quyền lực mà không nghĩ đến nhân dân.

Cuộc nội chiến gây nên tổn thương tinh thần và xương máu toàn dân. Nhưng chính quyền mới cứ luôn hả hê rằng mình là bên chiến thắng.

Thay đổi chế độ, chỉ cần cướp quyền lực và thu phục lòng dân. Không được lòng dân mà giữ được quyền lực trong một thời gian dài thì chỉ có hai lý do. Nhà cầm quyền tài giỏi hoặc nhân dân yếu hèn. 

Tôi là một người yêu nước hèn yếu.


Nguyễn Kiều Phương

Vong Nhân Tử Sĩ - Đỗ Công Luận

Tuesday, May 26, 2026

Giáng Tiên - Quý Thể

Hình minh họa

Hồi  ấy tôi bắt đầu làm thơ. Làm thơ thực là vất vả, tôi ngồi trước tờ giấy trắng cả giờ chẳng biết viết gì. Tôi thử chọn đề tài trời, trăng, mây, nước, bướm, ong, hoa lá... nhưng không sao viết được bài nào hay. Tôi chẳng khám phá ra tứ thơ nào mới cả. Những điều tôi viết ra đã có người viết cả rồi. Người ta khuyên nên làm thơ tình vì chỉ có thơ tình mới dễ cảm sâu vào lòng người, nhưng muốn làm thơ tình thì phải yêu mà tôi thì chưa yêu. Thế là tôi ráo riết đi tìm người yêu, tôi cần một nàng thơ giống như con tàu vũ trụ cần tên lửa để phóng mình chu du chín tầng hư ảo tìm hái những vần thơ lạ cống hiến cho đời. Người ta lại còn nói mối tình đau thương, trắc trở ngang trái, tuyệt vọng thì mới sản sinh ra được những áng văn thơ sầu não dễ làm dễ hay, nói vắn tắt là "thơ thất tình".Muốn có thất tình thì theo tôi cũng chẳng phải là điều khó. Tôi sẽ chọn cho mình một nàng công chúa cao sang còn tôi tự mình đày đọa mình, hóa thân thành anh chàng bán than xấu xí bần hàn, những "cuộc tình không cân sức" kiểu này thế nào cũng dẫn đến một kết cục não lòng lúc đó tha hồ mà làm thơ, vì sự nghiệp thơ ca tôi quyết định làm cuộc thí nghiệm. Tôi bắt đầu lạnh nhạt với với những niềm vui và hạnh phúc tầm thường. Tôi thèm khát sự đau khổ, tôi tin rằng một sự đau khổ thanh khiết có khả năng thăng hoa thành thơ ca bất tử, tôi phiêu lưu đi tìm cội nguồn của sự khổ đau, tuyệt vọng.


Kế hoạch đã vạch ra, cứ thế mà thi hành.Tôi chẳng mất nhiều thời gian thì đã hoàn thành bước đầu. Mấy ngày sau đã có nàng công chúa, đã có chàng bán than, đã có cuộc tình đơn phương, não lòng. Tôi đã gặp nàng "giáng tiên" đến lần thứ ba thì đã có thể tôn nàng lên ngôi thần tượng, nàng thơ, niềm kiêu hãnh đau thương, niềm hoang lạc tàn nhẫn, sự đau đớn diệu kì. Giáng Tiên là ca sĩ phòng trà, hàng đêm tôi có thể đến chiêm ngưỡng nhan sắc ảo não và nhấm nháp no nê giọng ca thánh thót của nàng. Dưới ánh đèn sân khấu nàng rực rỡ như một bà hoàng. Nàng thanh khiết cao vợi lấp lánh hào quang như khuôn mặt thánh nữ thấp thoáng trong bảy sắc cầu vồng. 


Nhiều hôm tôi thấy chiếc áo kim tuyến nàng mặc trên người sáng lên như một ngọn pháo hoa, đốt cháy một cách ngây ngất mọi giác quan trong tôi. Có khi chiếc áo dài trắng thêu hoa nàng mặc trên người đẹp tới làm cho tiếng đàn dương cầm bỗng chốc hóa thành xanh đỏ chen chúc nhau rơi xuống cõi trần như cơn mưa xác pháo. Nàng đi giống như con rắn nước lượn lờ trôi theo dòng nhạc, bao nhiêu cặp mắt nhìn lên đói khát thèm thuồng, bao nhiêu pháo tay, bao nhiêu hoa tươi... nàng bay thật cao trong một thứ gió hào quang, danh vọng, còn tôi thì tự đày đọa mình trong chốn thấp hèn tối tăm cũng chỉ với mục đích: Làm thơ yêu nàng. Tôi cấm mình không được mon men đến gần, tôi không cho mình yêu theo cái kiểu phàm phu tục tử, tôi sợ nàng thơ mỏng manh như bọt xà phòng tan vỡ vì những ý nghĩ thô tục, thường tình của tôi. Chẳng bao giờ tôi dám tưởng tượng xa xôi nghĩ về một sự chung đụng tầm thường như những cặp trai gái khác. 


Mỗi đêm sau buổi biu diễn, bao nhiêu chàng công tử hào hoa đưa đón nàng , còn tôi dựng chiếc xe đạp cà tàng dưới gốc cây từ xa đứng nhìn nàng lên xe, rồi tôi đi về lòng mang một nỗi buồn thật dễ chịu. Sau đó tôi đắm mình trong sự cô đơn sầu thảm não nề. Tôi cố gắng giữ sự cách biệt giữa tôi và "Giáng tiên", tôi lại cố gắng đẩy thêm cho sư tương phản giữa cao trọng và thấp hèn của nàng và tôi thêm rộng ra. Tôi tin sự tương phản đó sẽ tạo ra một loại phản ứng dây chuyền thúc đẩy những "phân tử thơ" bắn phá nhau mà kết quả là một năng lượng thơ khổng lồ sinh ra. Quả nhiên phản ứng có xảy ra thật. Đêm đêm tôi về viết được những bài thơ trường giang đại hải nhưng lạ quá, thơ thì dài viết thì dễ nhưng vẫn chưa có bài thơ hay. Tôi tin chắc mình không phải là kẻ bất tài, có thể mình còn mắc phải một sai lầm nào đây chỉ vì mình chưa yêu hay đã yêu nhưng chưa yêu đủ liều lượng, hoặc chỉ mới còn đứng giữa ranh giới của lãnh địa thần tình ái chứ chưa hẳn ở trong đó và thế là tôi càng phải cố gắng. Tôi phải dùng chữ "cố gắng" vì tôi thấy yêu người cũng là công việc khó khăn tột bực, tôi đem hết cả năng lực dự trữ ra dùng vào công việc yêu nàng Giáng tiên.

Giai đoạn đầu xảy ra đúng như dự liệu nhưng về sau điều mong mỏi kỳ quặc tưởng đâu dễ dàng thực hiện nhưng cuộc sống lại có những bất ngờ ghê gớm, chính sự ngẫu nhiên phi lý của cuộc sống lại đưa nàng Giáng tiên đến với tôi, lấp hẳn cái hố cách biệt mà tôi cố tình đào ra.


Đó là vào một đêm mưa cuối đông, trời mưa tầm tã, phòng trà vắng tanh, đêm đó mấy vị công tử hào hoa bỏ về trước để lại nàng Giáng tiên bơ vơ một mình, tôi thấy nàng đứng đợi xe rất lâu vẫn không có chiếc xích lô nào đi qua, Giáng tiên nhìn thấy tôi, nàng kêu tôi lại chỉ bằng một nụ cười thân thiện. Không biết đây có phải lần đầu tiên nàng biết có tôi hiện hữu trên cõi đời này không? Chiếc xe đạp của tôi có diễm phúc được nàng chọn, tôi dắt xe lại gần, quanh nàng sực nức hương thơm. Giáng tiên thỏ thẻ: "Anh cho em về nhà đi!" Giáng tiên lên xe, tay nàng vòng qua cái bụng chỉ toàn thơ lép kép của tôi. Tôi cũng cảm tưởng như hai vòng bánh xe trôi theo làn hương quấn quýt sau lưng tôi. Trên đường đi, Giáng tiên làm quen và hỏi tôi nhiều chuyện, tôi nghe giọng nói và giọng hát của nàng khác hẳn nhau, giọng nói thì đầy âm sắc quê mùa mộc mạc thế mà khi lên sân khấu đứng trước micrô nàng bắt chước cái giọng gì nghe lạ quá, giống như tây nói tiếng ta, một thứ giọng nói nửa nam nửa bắc và khi nàng hát lại còn lạ hơn nữa, nàng hát tiếng Pháp, Anh, Hoa, Ấn độ...  Không biết nàng hiểu những điều nàng hát không?

Tới nơi nàng không cho tôi đưa tận nhà. Giáng tiên nói, khuya rồi hàng xóm họ dị nghị. Ban ngày lại chơi. Rồi Giáng tiên chỉ cho tôi căn nhà cuối con hẻm có ngọn đèn vàng ngoài hiên.


Tôi quay xe về, lòng hoang mang vô kể, thực tình thì tôi không muốn có cuộc tiếp xúc vừa qua, cuộc gặp gỡ  chỉ có mấy phút ngắn ngủi đã làm rạn nứt phần nào thần tượng mong manh pha lê của tôi mà tôi vẫn xây một lâu đài cổ tích dành cho nàng công chúa chứ không phải căn nhà nhỏ tồi tàn cuối con hẻm tối tăm đó. Tôi không ngờ da thịt trong trẻo tinh khiết của nàng công chúa lại có thể chạm vào cái bụng phàm phu tục tử nào dù đó là cái bụng chứa đầy tứ thơ của tôi. Thôi đã thế thì hãy thâm nhập vào chốn bồng lai tiên cảnh một chuyến xem nàng tiên sống như thế nào. Và thế là sáng hôm sau, 9 giờ tôi đến gõ cửa nhà nàng.


Tôi gõ hồi lâu mới nghe tiếng dép lê trong nhà, tiếng mở khóa lách cách và một khuôn mặt ngái ngủ hiện ra. Dưới ánh sáng ban ngày chói chang, nét mặt của Giáng Tiên làm cho tôi sững sờ. Đây có phải nàng Giáng Tiên ướt sũng ánh đèn sân khấu mỗi đêm dâng tiếng ca huyền hoặc cho đời? Bộ mặt mà tôi gặp sáng nay khác hẳn. Ôi bao nhiêu sự bê trễ cẩu thả hiện ra rõ mồn một. Đâu rồi hình bóng giai nhân mà tôi vẫn từng chiêm ngưỡng hằng đêm dưới ngọn đèn sân khấu? Hình như tối qua nàng lên giường mà không kịp rửa mặt. May mắn lắm nàng chỉ lau qua khuôn mặt mình bằng chiếc khăn ướt. Tội nghiệp cặp lông mày nàng tỉa tót nhỏ như sợi chỉ rồi bôi đen bằng bút chì than, màu than bôi đen như bị một nhát chổi quét lấy lệ về hướng thái dương để lại vết lọ dài. Màu đỏ son môi cũng chẳng hơn gì, đêm qua nó bị bôi xóa lấy lệ cho nên sáng nay nó bị nham nhở chỗ còn, chỗ mất, trông giống như người bị đánh dập môi. Đâu rồi cặp môi mọng ướt và trông như trái chín mà bây giờ chỉ còn cái miệng vô duyên với cặp môi héo hắt đậu trên khuôn mặt giống mặt hề. Tai hại hơn cả là lớp phấn trắng, phấn hồng, kem lót, kem dưỡng da, đủ thứ sắc màu ô hợp sau một đêm nó trộn lẫn với mồ hôi nhễ nhại trông giống như bức tường ẩm mốc loang lổ. Tệ hơn nữa nhiều chỗ trông như có dòng nước ngấm qua. Chiếc cổ cao mà trước tôi đã làm thơ ca tụng đẹp như cổ thiên nga giờ đây phấn đọng lại trong mấy nếp nhăn giống như có mấy sợi chỉ quấn quanh. Tóc tai nàng bơ phờ có chỗ còn dính mấy cái kẹp, có nơi còn ống xốp cuộn tóc nhưng tất cả tả tơi trông tóc nàng giống như khu vườn sau cơn mưa gió.


Bộ quần áo nàng khoác trên người nhăn và bẩn, nó giống như dưa cải để quá ngày, còn màu của nó thì văn chương một tí gọi là màu hoàng yến. Nhưng đây là con chim hoàng yến bị  ám khói và bị bắn thủng nhiều chỗ! Gần nách áo sứt đường chỉ, nàng gài tạm  bằng chiếc kim găm. Từ đó tôi có thể kết luận rằng trong căn nhà của người phụ nữ này chắc chắn không "tồn tại" cây kim sợi chỉ. Khi nàng cúi xuống, qua cổ áo rộng tôi thấy cặp vú không gì nâng đỡ xẹp lép lòng thòng như vú chó cái nuôi con. Tôi phân vân, nào đâu bộ ngực núi lửa khiêu khích và kiêu hãnh trên sân khấu?

Giáng Tiên mở cửa mời tôi vào nhà. Trong khung cảnh đặc biệt này chúng tôi không cần giữ phép lịch sự kiểu chủ khách. Tôi thấy Giáng Tiên vén mùng. Trong giường giữa đống mền gối lộn xộn có một  khối tròn đầy vết mực xanh đỏ lăn lộn.Sau khi nhìn kỹ thì đó là một cái đầu cạo trọc của thằng bé. Có lẽ nó là con của nàng. Đứa bé có cái đầu ngũ sắc vì nó bị ghẻ chốc, mẹ nó cạo trọc và xức thuốc đỏ, thuốc xanh, chỗ còn tóc, chỗ không, trông thật buồn cười. Thng bé vừa thức dậy, nó lăn lộn đi tìm chỗ khô, đêm qua nó tè ra ướt nhiều chỗ. Thì ra nàng tiên nữ đã có con và không chồng. Phòng nàng trông chẳng khác gì tổ chuột, tới gần đầy mùi nước tiểu. Cạnh giường ngủ là chỗ móc quần áo. Bao nhiêu bộ cánh xanh đỏ, cái thì mỏng như tơ nhện cái lại dày như mo, cái dài cái ngắn, còn kiểu cách thì kỳ quái dị dạng giống như đồ hát tuồng.

Bên dưới giường của nàng tiên phải nói là một thế giới huyền bí, một thứ hang động chẳng có người dám thám hiểm. Tôi chắc cả năm chẳng có cái chổi nào lai vãng đến nơi đó. Nó đầy bụi bặm, váng nhện, rác rưởi, nước tiểu, giày dép đứt, tàn thuốc lá và bao cao su của những người bạn tình.


Đang còn ngẩn ngơ thì Giáng Tiên kêu tôi cuống quít nhờ lấy giấy cho nàng. Tôi đưa mắt nhìn nhưng chẳng có quyển sách báo nào. Nàng bảo tôi dỡ nệm ghế lên. Trời ơi! tôi khui đúng cái "viện bảo tàng của tình yêu", bao nhiêu là thư từ của những người ái mộ gửi cho nàng đều dồn cả vào chỗ này. Tôi nhặt lên một xấp giấy, có cả thơ lẫn thư, màu thiên thanh có mà màu hồng nhạt cũng có, bây giờ thì những áng văn thơ tuyệt tác này sắp sửa chịu sự tuẫn tiết cuối cùng để cho Giáng Tiên làm công tác dọn dẹp vì thằng bé vừa mới bậy ra!

Tôi tần ngần hồi lâu trước chiếc bàn phấn của nàng tiên nữ. Tôi chắc rằng chiếc bàn phấn này cũng là tặng phẩm của một kẻ si tình nào đó. Trước đây chắc nó sang trọng lộng lẫy, nhưng nay thì bệ rạc ngó thấy. Tấm gương nứt làm hai, mặt gương mờ mịt thức mây. Đứng soi vào gương trông thấy bóng dáng mình mờ ảo như nhìn qua màn sương. Tôi tưởng người như Giáng Tiên phải có những dụng cụ trang điểm loại đắt tiền mua ở những cửa hiệu sang trọng nhất. Sự thật thì không phải như thế. Hình như chỗ này cũng là nơi mà cái thằng bé đầu xanh đỏ chơi đùa. Nó chọn chỗ này cũng phải vì có rất nhiều thứ có thể làm đồ chơi. Bao nhiêu là vòng đeo tay đủ kiểu, hoa tai đủ thứ. Phấn son của mẹ nó cũng là thứ đồ chơi rất tốt. Tôi thấy nhiều hộp phấn không, nhiều hộp phấn khô bể ra như bánh in, mấy thỏi son cạn tới đáy mà dù Giáng Tiên với ngón tay út có móng dài cũng không móc ra được. Mấy ống kem thì teo tóp, hộp phấn mi mắt cái còn cái mất, kềm kẹp lông mi đã gãy, chổi quét phấn rụng tả tơi, mặt bàn chỗ nào cũng lem  luốc. Thực là một thế giới hỗn độn của mùi hương và màu sắc. Thằng bé đã chơi chán chê chỗ này. Tôi thấy lọ nước hoa không còn một giọt cắm đầy chân nhang. Với cái chỗ như thế này mà nàng Giáng Tiên có thể tô điểm thành một bà hoàng để hàng đêm ra trước công chúng thì nàng quả thực đáng cấp bằng đại học về khoa trang điểm!


Trên bàn còn nhiều thứ nữa chẳng ăn nhập gì tới việc làm  đẹp. Có một con dao cùn với trái xoài xanh ăn dở cùng với chén mắm ruốc. Nàng tiên có thể vừa nhấm nháp xoài xanh mắm ruốc vừa nhìn vào gương tô điểm dung nhan của mình. Cô ta được nuôi dưỡng bằng loại thực phẩm đặc biệt này nên vẫn giữ được vóc dáng thanh mảnh gọn gàng chứ chưa phát phì. Cạnh giường tôi thấy có dắt một mảnh giấy ghi:

- Hụi chết còn 8 tháng

- Xấp hàng trả góp cho con Lan còn 50

- Trễ kinh 16 ngày!

Ôi thực là những con số rất đáng cho nàng tiên phải quan tâm. Giáng tiên nhờ tôi xuống bếp lấy bình sữa. Tôi lần mò ra phía sau. Trong chạn nhiều chén bát đĩa ăn xong chưa rửa. Bên trong đầy phân gián, phân chuột. Một cái tô đựng thứ nước gì đục lờ lờ nổi váng mỡ không biết từ ngày nào bốc mùi chua. Một chiếc thẩu nhỏ đựng mỡ, m đã đông và đông luôn một chú gián với đầy đủ râu và chân trông giống như một xác ướp trong băng. Trong chạn còn có một chén nước mắm ớt xanh, chắc là phần còn lại của một bữa tiệc bánh bèo, bánh nậm Huế. Tỏi, ớt, đường, muối vung vãi khắp nơi. Cạnh đó là ông lò đất sứt mẻ lạnh lẽo. Điều này cho biết nàng tiên ít khi nấu bữa ăn cho mình. Trong chốn tối tăm nầy cũng có sự hiện hữu của thần thánh. Một vị thần, không rõ là táo quân, thần tài hay thổ địa, ngồi trong chỗ nhang tàn khói lạnh, còn ngài thì giống như từ ống khói vừa mới chui ra.

Tôi chính là kẻ phải ngồi xuống phồng miệng thổi lửa nấu nước sôi pha sữa cho thằng bé đầu xanh đỏ. Tôi không ngờ cuộc phiêu lưu ngỡ là tình cảm trong buổi sáng hôm nay lại có thể đưa tôi đi xa tới thế nầy. Trong khi chờ nước sôi, tôi tiến về "thám hiểm" phía sau nhà. Quang cảnh chỗ nầy càng làm tôi ngao ngán. Trên chiếc dây phơi nối nhiều chỗ cột từ cây chùm ruột tới cây khế là điểm "tập kết" của đồ lót. Xì líp, xú chiêng, đủ kiểu, đủ màu, mới có, cũ có, thủng lỗ, teo tóp... giống như lá cờ của đám tàn quân. Bên dưới là một thau nhôm cũ đựng đầy quần áo trong một thứ nước đục lờ lờ có xác lá vàng rơi. Mấy chiếc áo quần chẳng biết tới lúc nào mới được bàn tay tiên nữ chạm tới giặt giũ phơi lên? Chỗ này cũng là giang sơn của rác rưi, mùi chua của thùng nước cơm và mùi cống rãnh. Cuối vườn cũng có cái thùng rác. Tôi lấy hết can đảm nhìn vào trong. May quá, cái mà tôi tưởng sẽ thấy đã không có. Tôi chợt nhớ lại con số 16 viết trong tờ giấy mà tôi đã đọc từ lúc nãy.


Ngay buổi đó chúng tôi có được một bữa cơm thân mật. Tôi nói rằng thân mật chính vì nồi cơm thì do tôi nấu, Giáng Tiên đi mua thức ăn. Tôi ở lại với nàng suốt buổi sáng, buổi trưa và cả buổi chiều.Tôi muốn cuộc phiêu lưu của mình phải đi tới cùng đường. Tôi biết thêm nhiều điều thuộc về đời thường của Giáng Tiên. Cả cái tên "Giáng Tiên" người ta gán cho nàng, nàng cũng chẳng hiểu ý nghĩa của nó là gì. Nàng đích thị là cô Lê Thị Lụa chuyên đi làm cỏ lúa quê xã Đồng Sơn, huyện Hòa Đồng, tỉnh Gò Công, một cô gái quê chính hiệu. Thời gian đó còn cho tôi cơ hội khám phá thế giới nội tâm của cô gái nầy. Thực là một cô gái hồn nhiên, mộc mạc và thật đáng yêu, còn cô Giáng Tiên trên sân khấu chỉ là cái xác không hồn, là của giả, là cuộc sống giả phù phiếm vô vị. Trong lúc ngồi xổm trên nền nhà  ăn cơm, tôi nhìn nàng không nhịn  được cười. Nàng hỏi:

-  Cười chi?

- Cười sân khấu và cười cuộc đời sao lại khác nhau tới mức độ này.

-  Cái nào hơn?

-  Cuộc  đời!

Trên đường về nhà lòng tôi nao nao. Trong chính chốn sâu thẳm của con tim tôi đã có sự thay bực đổi ngôi. Cô Lụa mộc mạc có cuộc sống vô cùng bê bối luộm thuộm từ cách ăn mặc cho tới mọi sinh hoạt khác đã đè bẹp cô Giáng Tiên lộng lẫy xa hoa nhạt nhẽo và giả tạo.

Tôi phân vân mãi không hiểu tại làm sao cuộc đời thực không mấy khi dành chỗ cho sự lãng mạn, ảo tưởng, mơ mộng. Cuộc đời thực vừa mới trông qua chẳng có gì là đẹp đẽ nên thơ cả thế mà cuộc đời thực, cuộc sống thực đáng yêu biết là dường nào!

Bây giờ thì tôi đã "giác ngộ". Tôi sẽ ra giữa chợ quỳ xuống chiêm ngưỡng cuộc đời và làm thơ...


Quý Thể

Chú Cuội - Tạp Ghi Nguyễn Giụ Hùng - AI Diễn Đọc

 

Sự Ngu Dốt Của Ngày Xưa Và Ngày Nay - Hoàng Quốc Dũng



Ở bất cứ thời đại nào, sự ngu dốt (hay nói nhẹ hơn là sự thiếu hiểu biết) luôn tồn tại song hành với tri thức của con người. Không ai có thể biết hết mọi điều. Nhưng điều đáng nói là hình thức tồn tại và sức mạnh của sự ngu dốt hôm nay đã khác xa ngày xưa.

Ngày trước, sự ngu dốt thường đến từ nghèo đói, thiếu trường học, thiếu sách vở, thiếu thư viện, thiếu cơ hội tiếp cận tri thức. Một người nông dân ở làng quê xa xôi có thể sống cả đời mà chưa từng được cầm một cuốn sách. Nhiều người không hiểu biết đơn giản vì họ chưa từng có điều kiện để học hỏi. Đó là một sự ngu dốt mang tính thụ động và có phần đáng thương.

Nhưng ngày ấy, do phương tiện truyền thông còn hạn chế, sự ngu dốt thường ngủ yên trong phạm vi nhỏ hẹp. Một lời đồn sai có khi phải mất nhiều tháng mới lan sang làng bên. Một kẻ mê tín hay cực đoan khó có thể tác động đến hàng triệu người. Sự ngu dốt khi đó giống như một đốm lửa nhỏ âm ỉ trong đêm tối: nguy hiểm nhưng chưa đủ sức thiêu rụi cả cánh rừng.

Ngày nay thì khác.

Hầu như ai cũng có trong tay một chiếc điện thoại thông minh nối liền với toàn thế giới. Chỉ cần vài giây, một thông tin có thể vượt qua biên giới, đại dương và hàng triệu bộ óc. Khoa học kỹ thuật đã tạo ra một công cụ kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Nhưng cùng lúc, nó cũng mở ra con đường cao tốc cho sự ngu dốt lan truyền với tốc độ ánh sáng.

Ngày xưa, sự ngu dốt thường im lặng vì nó biết mình không biết. Ngày nay, nó nói rất to.

Nó xuất hiện dưới dạng những “chuyên gia” tự phong trên mạng xã hội, những đoạn video vài phút đầy cảm xúc, những “phân tích” ngắn ngủi nhưng khẳng định chắc nịch về những vấn đề vô cùng phức tạp. Nó không còn nói: “Tôi không biết.” Nó khẳng định, kết luận, phán xét và kết án người khác với sự tự tin đáng kinh ngạc.

Đó chính là quyền năng đáng sợ nhất của sự ngu dốt hiện đại: nó khiến con người tưởng rằng mình hiểu biết, trong khi thực ra ngày càng xa rời sự thật.

Ngày xưa, con người đi tìm câu trả lời. Người ta đọc sách, tranh luận, học hỏi, chờ đợi nhiều năm để kiểm chứng một điều gì đó. Hôm nay thì ngược lại: câu trả lời truy đuổi con người. Chỉ cần mở điện thoại lên, hàng nghìn “kết luận” đã chờ sẵn. Người ta không còn thời gian để suy nghĩ, để nghi ngờ hay để tự mình kiểm chứng.

Mỗi phút trôi qua, một dòng thác thông tin ào tới. Tin giả nối tiếp tin giả. Những phản ứng tức thời thay thế cho suy tư. Những phân tích hời hợt dựa trên định kiến có sẵn được tung hô như chân lý.

Thế giới thì mênh mông, tri thức của nhân loại thì vô tận, nhưng thời gian dành cho sự hoài nghi lại ngày càng nhỏ bé. Con người hiện đại không còn kiên nhẫn để nói: “Có lẽ tôi cần tìm hiểu thêm.” Người ta tin ngay, phẫn nộ ngay, kết án ngay.

Đó là một nền văn minh của phản xạ, không phải của suy tư.

Những kẻ sản xuất tin giả(vô tình hay hữu ý)  đã biến sự ngu dốt thành một ngành công nghiệp khổng lồ. Họ hiểu rất rõ rằng một lời nói dối ngoạn mục luôn hấp dẫn hơn một SỰ THẬT phức tạp. Sự thật thường chậm chạp, nhiều sắc thái và đôi khi khó chấp nhận. Trong khi đó, lời dối trá đơn giản, cảm xúc và dễ lan truyền.

Tục ngữ của cha ông ta đã nói rất đúng: “Sự thật mất lòng.” Con người thường thích nghe điều làm mình dễ chịu hơn là điều buộc mình phải suy nghĩ.

Trên các mạng xã hội ngày nay, người ta còn tạo ra cả những “đội quân niềm tin” hoạt động như những phản xạ có điều kiện. Chỉ cần một tín hiệu, một khẩu hiệu hay một mệnh lệnh vô hình nào đó, lập tức hàng nghìn tài khoản lao vào công kích, chửi bới và kết án thay cho suy nghĩ. Ở Việt Nam, dân gian mạng gọi hiện tượng ấy bằng một cái tên rất hình tượng: “bò đỏ”. Nhưng thật ra, hiện tượng đó không chỉ tồn tại ở Việt Nam. “Bò đỏ”, “cuồng Trump, Putin…”, “dư luận viên”, “thánh chiến bàn phím”, “chiến binh công lý mạng”… mỗi thời đại số lại sản sinh ra những đạo quân niềm tin khác nhau. Họ có thể đối lập nhau về ý thức hệ, khẩu hiệu hay màu cờ, nhưng lại giống nhau ở một điểm căn bản: họ không đi tìm sự thật, mà chỉ đi tìm những gì củng cố cho niềm tin có sẵn của mình. Khi ấy, tranh luận không còn là con đường để hiểu nhau nữa, mà trở thành một cuộc chiến bộ lạc, nơi cảm xúc thay thế lý trí và tiếng hò hét, chửi bới lớn hơn mọi lập luận.

Vì thế, sự ngu dốt ngày nay không còn mang bộ mặt thô sơ nữa. Nó được trang điểm bằng những mỹ từ cao đẹp, những khẩu hiệu đạo đức, những lập luận nghe có vẻ rất nhân văn và tiến bộ. Nó khoác áo khoa học, khoác áo yêu nước, khoác áo công lý, thậm chí khoác cả áo hòa bình.

Và chính ở điểm đó, sự ngu dốt hiện đại không còn chỉ là một bi kịch văn hóa nữa. Nó đã trở thành một vũ khí cực kỳ hữu hiệu của độc tài. Bởi không có chế độ nào sợ một dân tộc ngu dốt cả; điều họ sợ là những con người biết hoài nghi và biết tự suy nghĩ.

Người ta có thể biến một cuộc xâm lược thành “giải phóng”, “diệt phát xit”. Có thể biến độc tài thành “ổn định”. Có thể gọi tuyên truyền là “định hướng dư luận”. Có thể dùng những khái niệm mơ hồ để che đậy những nghịch lý hiển nhiên như “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nơi hai khái niệm đối nghịch được buộc phải chung sống bằng khẩu hiệu.

Nguy hiểm hơn nữa là công nghệ số ngày nay không chỉ là công cụ truyền thông, mà đã trở thành một ngành công nghiệp sinh lợi khổng lồ về chính trị và kinh tế. Những thuật toán không quan tâm điều gì đúng hay sai; chúng chỉ quan tâm điều gì gây kích động mạnh nhất để giữ con người ở lại lâu hơn trước màn hình. Càng giận dữ, càng sợ hãi, càng cực đoan, người ta càng dễ bị dẫn dắt và khai thác.

Và như thế, lần đầu tiên trong lịch sử, sự ngu dốt không còn là bóng tối đối lập với ánh sáng. Nó tự nhận mình là ánh sáng.

Nó nói bằng giọng của chân lý, Nó xuất hiện với dáng vẻ của hiểu biết, Nó được chia sẻ hàng triệu lần. Và đôi khi, chính những người có học cũng trở thành nạn nhân của nó.

Có lẽ bi kịch lớn nhất của thời đại chúng ta không phải là thiếu thông tin, mà là sự dư thừa thông tin đến mức con người đánh mất khả năng phân biệt giữa hiểu biết và ảo tưởng hiểu biết.

Tri thức thật sự luôn đi cùng với sự khiêm tốn. Người hiểu biết càng nhiều thường càng ý thức rõ giới hạn của mình.

Và có lẽ vì thế mà nhân loại hôm nay, dù sở hữu trí tuệ nhân tạo, vệ tinh và internet, lại đang xa dần tinh thần của Socrates:

“Điều duy nhất tôi biết là tôi không biết gì cả.”

Bởi sự thông thái luôn bắt đầu từ hoài nghi, còn sự ngu dốt thường bắt đầu bằng sự chắc chắn tuyệt đối.


Hoàng Quốc Dũng

Sự ngu dốt của ngày xưa và ngày nay | Đàn Chim Việt Online - Thông tin - Chính trị - Nghị luận

Trôi Qua Cơn Bão - Trầm Vân

Monday, May 25, 2026

Xin Lỗi, Nước Mỹ Còn Lâu Mới Bằng Trung Quốc! 😂😂


Xuất hiện lần đầu tiên trên mạng xã hội Sina Weibo của Trung Quốc, bài viết này đã nhận được hàng chục ngàn chia sẻ và bình luận.

Tờ Tea Leaf Nation đã trích dịch, biên tập lại những phần cốt lõi nhất của bài viết nói trên. Sau đây là bản chuyển ngữ của Nguyễn Đại Hoàng.

*****

Tôi có thời gian qua Mỹ khá lâu. Và nói thật đến giờ này tôi vẫn còn thấy hối hận vì sự lựa chọn đó! Truyền thông phương Tây đã khiến chúng ta mê muội rằng Hoa Kỳ là một xứ sở hiện đại! Tôi đã từng ôm giấc mộng được học tập ở đó, đã tìm mọi cách để tới được cái xứ sở siêu cường đó.

Nhưng than ôi những gì tôi chứng kiến ở Hoa Kỳ rất đáng thất vọng! 

1. Công nghiệp

Nước Mỹ thật ra chỉ là một làng quê khổng lồ chậm phát triển!

Hồi trung học, chúng ta đã được dạy rằng, công nghiệp càng phát triển bao nhiêu thì môi trường càng bị xâm hại bấy nhiêu.

Chúng ta biết rằng một thành phố công nghiệp tất phải có nhiều ống khói, nhiều nhà máy và khói bụi khắp nơi. Đó là biểu tượng của sự công nghiệp hóa. Thế mà ở tại xứ Cờ Hoa này lại không có một cái ống khói nào! Họa hoằn lắm mới thấy một vài cái nhỏ tí ti để trang trí nhà cửa thôi!

Và ở Mỹ bạn cũng chỉ thấy toàn sông hồ trong sạch thôi. Chả tìm đâu ra những nhà máy giấy, nhà máy luyện thép bên bờ sông! Không khí trong lành thanh khiết này là dấu hiệu của một xã hội sơ khai chứ gì nữa! Chả có dấu vết gì của công nghiệp hóa cả! 

2. Kinh tế

Người Mỹ hầu như không biết làm kinh tế! Bạn biết đấy, nước họ có cơ man nào là xa lộ tỏa đi mọi hướng, vươn đến mọi làng mạc xa xôi, thế mà tịnh không thấy một trạm thu phí nào! Thế là mất toi cả núi vàng! 

Ước gì tôi có thể xây dựng vài cái trạm thu phí nhỉ! Chắc chắn non tháng đã gom đủ tiền mua được cả tòa lâu đài trông ra Đại Tây Dương ấy chứ! 

Hai bên xa lộ còn những cụm hồ hoang sơ tĩnh lặng. Thế mà chính quyền cứ để mặc cho lũ chim trời cá nước thỏa sức vẫy vùng, không nghĩ đến việc xây dựng vườn cảnh để thu lợi. Người Mỹ rõ ràng là không có đầu óc kinh tế tí tẹo nào.

3. Xây dựng

Trình độ xây dựng của người Mỹ còn sơ khai lắm. Ngoài một số ít tòa nhà chọc trời tại các thành phố lớn, tôi dám chắc bạn rất ít gặp những công trình bê tông ở nước Mỹ. Nhà của người Mỹ thường làm bằng gỗ và vài thứ vật liệu nhẹ khác.

Thử nghĩ mà xem, đến giờ này mà gỗ vẫn còn được dùng để xây dựng nhà cửa, thì có thể nói là trình độ kiến trúc của ngoại bang này còn thua xa trình độ của triều đại nhà của chúng ta xưa kia ấy chứ! 

4. Văn hóa 

Người Mỹ có cách suy nghĩ thật là lạc hậu và khờ khạo.

Hồi mới tới Mỹ, tôi thuê một xe chở hành lý giá 3 đô la. Nhưng tôi lại không có tiền lẻ. Một người Mỹ liền trả dùm tôi 3 đô la đó, và thấy tôi lỉnh kỉnh đồ đạc nên còn giúp mang lên xe nữa ! Người Mỹ cũng luôn sẵn sàng mở cửa giúp tôi và hỏi tôi có cần giúp đỡ gì không? Thế đấy!

Ở Trung Quốc, mấy chuyện này chỉ có vào thời Lôi Phong tức là vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước thôi – còn bây giờ lối cư xử đó quá ư lạc hậu. (Lôi Phong là một thanh niên mà thời Mao thường nhắc tới như một tấm gương về đạo đức). 

Hồi đó người ta chuộng lối sống “đạo đức giả” nhưng bây giờ chúng ta không như vậy nữa. Bây giờ chúng ta nên sống thực dụng trần trụi, đó mới là hiện đại chứ ! Tư duy của người Mỹ lạc hậu hơn chúng ta hàng mấy thập kỷ, và không có dấu hiệu nào cho thấy họ có thể bắt kịp chúng ta cả! 

5. Ẩm thực

Người Mỹ làm như không biết thưởng thức thịt thú rừng.

Một đêm nọ, tôi cùng các bạn cùng lớp lái xe đi đến một thành phố khác, thình lình có mấy con nai nhảy xổ ra. Anh bạn tôi lập tức thắng lại và bẻ sang hướng khác để tránh. Ai cũng biết tai nạn loại này có thể làm hỏng cả chiếc xe. Thế mà chính quyền đành bó tay không biết phải xử lý tụi thú hoang này như thế nào cơ đấy! 

Người Mỹ làm như cũng không biết ăn thịt thú rừng, thậm chí không có nhà hàng nào bán thịt thú rừng, họ chả thiết đến loại thịt thú rừng thơm ngon bổ như hươu nai, và cũng chả thiết lấy sừng bọn thú này để kiếm bộn tiền!

Người Mỹ vẫn sống cùng những con thú hoang dã đó, thậm chí còn đưa ra những biện pháp để bảo vệ chúng. Quả thật đó là một xã hội còn quá sơ khai! 

6. Phong cách 

Người Mỹ làm như không biết tự trọng! Các giáo sư Mỹ không quan tâm nhiều đến bề ngoài, họ không hề có cái gọi là phong thái bác học. Giáo sư Davis chẳng hạn, là một giáo sư tâm lý học cực kỳ nổi tiếng thế mà vào giờ nghỉ ông ấy cũng thường ăn bánh bích quy với sinh viên trong văn phòng của mình, và bàn tán xôm tụ với họ về bộ phim 21, hay về minh tinh Trung Quốc Chương Tử Di ! Ông cũng không có phong cách uy nghi của một nhà bác học, và điều đó làm tôi thất vọng ghê gớm! 

Các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ cũng không bao giờ ghi hai chữ Ph.D. lên danh thiếp của mình như ở nước ta. Họ thậm chí cũng không biết cách thể hiện vị thế của mình. Thành ra những người học với những ông thầy như vậy nếu trở thành những quan chức thì làm sao biết cách đi đứng nói năng cho đúng bộ lệ đây!

Còn ở Trung Quốc, giờ đây các công chức dường như rất biết cách để thu hút sự kính trọng của dân chúng, thậm chí đến cả vị giám đốc của một cơ quan tầm tầm ở Trung Quốc có khi còn uy thế hơn cả Tổng Thống Mỹ cơ đấy ! Một công dân hạng ba của Trung Quốc có khi còn xa một công dân hạng nhất của Mỹ là vậy! 

7. Học đường

Học sinh tiểu học Mỹ chả có lý tưởng cao xa gì sất. Chúng không hề có ý định đi học để trở thành ông này bà nọ trong chính quyền! Không hề có học đường nào dành cho chủ tịch, bí thư, ủy viên tương lai, như tôi đã từng thấy hồi còn nhỏ ở quê nhà. Các em không có bài tập về nhà. Bài tập về nhà kiểu như các học sinh như các học sinh Trung Quốc là khá xa lạ ở Mỹ. 

Trường học ở Mỹ chú trọng đến đạo đức, trước hết để giúp cho các đứa trẻ trở nên những công dân có đủ tư cách, sau đó mới tính đến chuyện lý tưởng lâu dài. Trở thành công dân có đủ tư cách ư? Một quan niệm nghe mới cổ hủ làm sao! 

8. Y tế

Người Mỹ làm lớn chuyện một cách kỳ cục khi có bệnh. 

Đầu tiên họ đi bác sĩ khám bệnh, rồi bác sĩ kê toa. Rồi cầm toa đó đi mua thuốc, mua xong còn phải nghe dược sĩ hướng dẫn sử dụng … ôi chao mọi việc chẳng thể nhanh gọn như ở Trung Quốc… Tôi chả hiểu tại sao ở Mỹ lại phân biệt việc khám bệnh với việc bán thuốc… mà lẽ ra nên tách rời lợi nhuận với trách nhiệm!

Rõ ràng là các bệnh viện ở Hoa Kỳ không biết kiếm tiền mà! Sao lại phải nói tên thuốc cho bệnh nhân biết chứ?… chỉ có như vậy họ mới độc quyền bán thuốc với giá cao gấp cả chục lần cơ mà! Có quá nhiều cơ hội làm ăn béo bở thế mà họ không biết tranh thủ khai thác, rõ ràng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở Mỹ đã chết rồi! 

9. Báo chí

Ý kiến của công chúng Mỹ thật chả ra làm sao! 

Đôi khi tôi hoàn toàn mất kiên nhẫn với sự ngu dốt và khờ khạo của người Mỹ.

Chẳng hạn khi họ biết Trung Quốc có đài truyền hình và báo chí, họ đã hỏi tôi một câu ngu dốt như thế này: Hóa ra Trung Quốc cũng có báo chí à? Nghe mà bực cả người!


Chúng ta có những tờ báo tiếng Trung được Bộ Truyền Thông cho phép ấn hành sau khi đã rà soát một cách cẩn mật đấy chứ. Báo của chúng ta toàn là những bài ca tụng lãnh tụ lên mây cả, có đâu như báo Mỹ, công chúng đóng góp phê bình loạn cả lên, thậm chí còn dám “chửi” cả tổng thống nữa cơ đấy! 

Báo chí chúng ta đâu có chuyện công khai mấy vụ bê bối của quan chức, bởi nếu cứ tung hê lên thì sau này ai mà muốn làm lãnh đạo nữa chứ ! 

10. Tâm linh

Người Mỹ có đời sống tinh thần hết sức vô vị nhạt nhẽo. 

Tôi chả hiểu tại sao trước mỗi bữa ăn họ lại lẩm bẩm mấy câu kinh thánh nghe hết sức khờ khạo: “Cầu Chúa phù hộ nước Mỹ”.

Thật là buồn cười quá đi: Nếu Chúa phù hộ nước Mỹ thì làm sao lại để nước Mỹ lạc hậu, sơ khai, đơn giản đến thế này? Cầu Chúa có ích lợi gì chứ? Thực tế nhất là bạn nên dành thời gian đó để đi lễ thủ trưởng như ở nước ta!

Đó mới đúng là hiện đại chứ lỵ! 

11. Lối sống

Người Mỹ chả có khái niệm về thời gian.

Bất luận chuyện lớn chuyện nhỏ, người Mỹ đều ngoan ngoản đứng vào hàng chờ đợi… Còn chúng ta – như bạn biết đấy – khôn hơn nhiều! 

Bất kể đám đông như thế nào, chúng ta vẫn có kỹ năng chen lấn tuyệt vời, điều này giúp tiết kiệm thời gian, và tránh được sự mệt mõi khi đứng chờ !

Nếu ai đó biết đi cổng sau thì kết quả tiết kiệm thời gian còn tuyệt hơn nữa.. 

Thế mà những người Mỹ lẩm cẩm lại không biết đến những điều hay ho đó cơ chứ! 

12. Mua bán 

Những cửa hàng ở Mỹ có một phong cách buôn bán hết sức vô lý: bạn có thể đem trả lại hàng hóa vài tuần sau khi đã mua về mà thậm chí cũng không cần nêu lý do. Ở ta thì làm gì có chuyện cho đổi hàng mà không hò hét quát tháo nhau ra trò chứ!  

13. An toàn 

Nước Mỹ không an toàn chút nào! Tôi nói điều này bởi có tới 95% nhà dân không cần tới lưới chống trộm và lại không có hàng rào xung quanh, và điều kỳ lạ này nữa là: chả biết mấy tên trộm đi đâu hết rồi nhỉ? Có nhiều ngôi nhà đẹp đẽ sang trọng mà ban đêm nhiều người Mỹ không biết khóa cửa lúc họ đi ngủ nữa. Thật mất an toàn hết sức!

14. Giao thông

Người Mỹ sao mà nhút nhát và yếu đuối quá vậy không biết! Tôi nói điều này cũng bởi có tới 95% tài xế không dám vượt đèn đỏ! Ở nước ta thì phần lớn tài xế đều có thừa dũng cảm vượt đèn đỏ.

Và mặc dầu 99% dân Mỹ có xe hơi, vậy mà cách lái xe của họ thật lạ: bao nhiêu là xe cộ lưu thông nhưng không mấy khi nghe tiếng còi xe, phố xá vì thế vắng lặng đến nỗi cứ ngỡ không phải là phố xá nữa, tại sao người lái xe lại không bóp còi inh ỏi cho sướng tay như ở bên ta nhỉ? Phố xá bên Mỹ làm sao mà bì được với phố xá ồn ào náo nhiệt ở Trung Quốc cơ chứ!

15. Tình cảm

Người Mỹ rất là thiếu tình cảm và hình như không có cảm xúc. Có tới 95% nhân viên người Mỹ không nghĩ tới việc phải làm gì cho tiệc cưới của sếp hoặc của con cái xếp, họ chẳng bao giờ phải vắt óc tìm ra lý do để chăm sóc sếp của mình. Ở Trung Quốc liệu có ai điên đến mức bỏ qua cơ hội chăm sóc sếp của mình không? Nói cách khác, có ai dám làm điều đó không? Hãy xem, người Trung Quốc chúng ta có biết bao nhiêu là tình cảm thương mến đối với lãnh đạo! 

16. Nhạy bén 

Người Mỹ không nhạy bén chút nào! 99% người Mỹ đều đi học, đi làm, và thăng quan tiến chức, mà không hề biết

đến sự cần thiết của “phong bì” để có thể mở ra một cánh cửa... sau để giúp cho họ được thăng quan tiến chức nhanh hơn, giống như người Trung Quốc chúng ta!

Vậy thì còn đi Mỹ để làm gì nữa cơ chứ??!!!!


Xin lỗi, nước Mỹ còn lâu mới bằng Trung Quốc! |