Thanh Loan chuyển
Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Wednesday, May 20, 2026
Tuesday, May 19, 2026
Như Là Cổ Tích - Võ Anh Dũng
(Viết tặng tình bạn, tình yêu của những Cựu học sinh PTG - ĐN)
- Chắc điệu nầy trường sẽ đóng cửa dài hạn vì tình hình không ổn
lắm. Ba mình nói Quảng Trị và Huế đã mất, đồng bào dồn về Đà Nẵng mỗi lúc một
đông nên tất cả các trường học được lệnh đóng cửa để tiếp cư đồng bào, không biết
năm ni tụi mình có được thi Tú tài II không đây?
Thị Xã Đồng Hới Thời Cảnh Nghiêu Thuấn? - BS. Lê Bá Vận
Quảng Bình Quan năm xưa, 1940. Dân chúng địa phương quen gọi là Cổng Bình Quan.
Đầu tháng 7 năm 1992 từ Sài Gòn tôi bỗng nhận được
điện tín khẩn báo tin cụ thân sinh của tôi, 89 tuổi, ở Đồng Hới bệnh trở nặng,
trong nhà giục tôi ra gấp.
Đồng Hới là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình, có sông Gianh đi vào lịch sử chia đôi Nam Bắc thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, có Lũy Thầy, có Quảng Bình Quan nằm ở trung tâm thị xã, trên Quốc lộ 1. .
Thị xã Đồng Hới có một số phận kỳ lạ. “Vươn
lên từ tro tàn”, từ một thị xã bị triệt hạ toàn bộ thành bình địa năm
1964, cư dân bỏ ra đi lên phía đồi núi lưu ngụ, ngót 40 năm sau về lại, xây
dựng nơi xưa, đẹp và rộng lớn gấp 50 lần. Thị xã trước diện tích khoảng 3 km2,
nay 155.71 km2 do sáp nhập địa giới hành chánh. Được cải danh là Thành phố, Đô
thị loại II.
Để thay đổi diện mạo thị xã đã hứng chịu 2 đợt không kích, Pháp năm1947 (có tôi) và Mỹ năm 1964.
+ Sáng ngày 27/3/1947 hai chiếc máy bay nhỏ, động cơ cánh quạt từ đâu bay đến, (chắc từ Quảng Trị?), xoay vần trên không phận thị xã Đồng Hới và thị uy nã đạn xuống, nhánh cây gãy, lá rụng rào rào. Chừng hơn nửa giờ chúng bay đi mất. TIếng súng im bặt. Độ một giờ sau nữa bỗng nghe tiếng xì xồ gọi nhau ngoài đường - tôi trốn trong nhà, nghe rõ, trẻ tuổi, thính tai, nhớ mãi - thì ra lính Pháp từ một tàu thủy đến đậu ngoài biển, trước cửa sông Nhật Lệ từ chiều hôm qua 26/3 – nhiều người trông thấy, xì xào bàn tán - đã đổ bộ lên và chiếm thị xã như quà biếu không, hợp lực sau đó có lính bộ Pháp từ Quảng Trị kéo ra.
UBND tỉnh, công an, bộ đội từ tối hôm qua đã rút lui lên xã Thuận Đức, bán sơn địa, cách thị xã 12 km, nơi rừng rậm bít kín che khuất. Chính quyền tự biết thực lực lúc đó còn rất hạn chế, nên việc tạm tránh đụng độ để bảo toàn lực lượng là đúng đắn hơn cả. Duy dân chúng không được thông báo, rốt cuộc dân cư thị xã, 4 vạn, ngày 27/3 hầu hết bị kẹt, ở lại với Pháp như hồi bảo hộ, trước1945.
Pháp chiếm được Đồng Hới rộng 3 km2 nguyên vẹn, song không đóng quân tại thị xã mà lập đồn bót kiểm soát các trục giao thông trong tỉnh. Từ Quảng Bình vào tận Quảng Nam thuộc vùng quốc gia cho đến hơn 7 năm sau, hiệp định Genève năm 1954 chia cắt ở vĩ tuyến 17, tỉnh Quảng Bình thuộc về miền Bắc.
+ Từ năm 1947 mười bốn năm qua, Pháp nay đã không
còn sau Hiệp định Genève năm 1954, chiến tranh khởi động trở lại. Tháng 2 năm
1964, phi cơ Mỹ bay đến bắn phá và ném bom dữ dội Quảng Binh, là vùng bắc giới
tuyến, trọng điểm chiến lược của đường mòn Hồ Chí Minh, điểm khởi
nguồn của hai nhánh Đông và Tây Trường Sơn, nơi đóng quân vả tàng trữ kho vũ
khí để chi viện chiến trường miền Nam.
Do vị trí "đầu sóng ngọn gió" ngay sát giới tuyến, Quảng Bình đã trở thành chiến trường chính yếu chịu sự đánh phá ác liệt của bom đạn Mỹ và từng được mệnh danh là "túi bom, rốn đạn".
Thị xã Đồng Hới đặc biệt bị thiệt hại nặng. UBND và dân chúng (một số về quê ở các huyện) bắt đầu di tản dần lên xã Đồng Sơn, còn gọi là Cộn, vị trí nửa đường giữa thị xã và xã Thuận Đức, tránh bom đạn .
Ngày 4/4/1964 một đợt ném bom kéo dài san bằng
những kiến trúc còn lạl của thị xã. Những người còn ở lại, nay tất cả đều dọn
lên Đồng Sơn, trở thành tinh lỵ mới chính thức của tỉnh Quảng Bình, nơi có trụ
sở của UBND tỉnh, có bệnh viện, trường học, chợ búa (chợ Cộn), tên đường phố,
số nhà... có đủ cả. Song phong thái vẫn là cảnh làng quê với nhà sân vườn rộng,
cây cối um tùm, và không thấy có các dãy phố xá, hiệu buôn, khách sạn đặc trưng
nơi thị tứ. Đường sá không láng nhựa, vắng bóng xe cộ. Bù lại thủ phủ mới này,
máy bay Mỹ không ngó tới. Chúng như tuồng chỉ hỏi thăm những cơ sở, tiện nghi
quân sự. Một số người cẩn thận, chạy tuốt lên Thuận Đức, ở trong
rừng rậm, có bộ đội đóng quân.
Sau 1975 chiến tranh chấm dứt, UBND tỉnh, các đoàn thể chủ chốt và toàn bộ dân chúng vẫn ở yên tại Đồng Sơn thêm nhiều năm, do thị xã cũ bị hủy diệt hoàn toàn, chưa được xây cất trở lại.
+ Trong bối cảnh đó, năm 1992 tôi đáp tàu hỏa ra
Đồng Hới để chịu tang cụ thân sinh. Tôi đi cùng người anh con bác ruột, song
nhỏ tuổi hơn. Chúng tôi đến Đồng Hới thì trời vừa sẩm tối.
Ga Đồng Hới thời Pháp thuộc được đặt tên là ga Thuận Lý (Ga Hà Nội thì tên cũ là ga Hàng Cỏ) vì nằm trong địa phận làng Thuận Lý cách thị xã khoảng trên 2 km nằm về phía biển. Từ thị xã lên ga, đường bộ gặp đường sắt trước, đi qua dưới cầu lòn rồi đi vòng lại đến khu vực sân ga. . .
Xuống tàu, vào ga, chúng tôi nhìn quanh quất thấy
sân ga vắng bóng các xe tay (xe kéo), xe ba gác... khác hẳn lúc đang còn Đồng
Hới xưa.
Một anh xe gắn máy ôm tiến đến gần và mời chúng tôi
đi xe của anh.
Không thấy anh dắt xe bên mình, chúng tôi nghi hoặc
nhưng nhận lời và theo anh đi ra một bãi đất trống cách ga ngoài 100 mét. Ở đó
có vài xe gắn máy kiểu Liên xô, Đông Âu và hơn chục chiếc xe đạp vứt ngổn ngang
trên bãi cỏ. Không xe nào có khóa xe và cũng chẳng có người giữ. Tôi rất ngạc
nhiên nhưng anh xe ôm cho biết ở đây, tức là ở Đồng Hới xe luôn vứt để vậy,
chẳng ai lấy. Tôi không muốn tin cũng chẳng được, không lẽ có cảnh tượng thời
Nghiêu Thuấn trở lại trên đất nước này cuối thế kỷ 20?
Tôi đưa địa chỉ, số nhà ở Đồng Sơn cho anh xe ôm.
Anh ta nói cũng gần nhà anh. Lên xe mới biết xe gắn máy các nước cnxh khỏe
thật, chạy rất tốt, lên dốc mạnh, đèn chiếu rất sáng. Người lái cẩn thận, thuộc
đường và chạy xe nhanh vừa phải. Đến nhà an toàn, tôi biếu thêm tiền cho anh
ta.
Vào nhà, trong nhà còn thức; linh cữu ba tôi đặt ở
căn phòng giữa. Tôi mặc tang phục, thắp hương quỳ lạy trước linh cữu. Trong nhà
kể cho tôi biết tình trạng bệnh trở nặng của ba tôi, có đem vào bệnh viện nằm
vài hôm rồi cho về nhà. Cùng lúc tôi được đưa xem các hình ảnh tang lễ thợ ảnh
chụp.
Về chuyện xe đạp, xe gắn máy để ngoài không khoá mà
tôi thắc mắc thì tôi được bảo xe trong nhà cũng không chiếc nào có khóa xe. Ở
Đông Sơn và nói chung ở Quảng Bình, hộ nào có xe đạp họ đều biết. Xe đạp có
đăng ký và cấp biển số. Xe gắn máy Liên xô, Tiệp, Đông Đức lại càng ít người
có, dù lấy trộm cũng chẳng dám dùng. Muốn gỡ bán phụ tùng thì phải đem vào Đông
Hà, Quảng Trị cách xa cả trăm cây số mới có nơi tiêu thụ, mà ở trong Nam thì
chỉ dùng xe gắn máy Pháp, Đức, Nhật, tư bản.
Còn nữa! ở đây đêm ngủ hoặc nhà đi vắng cũng không phải đóng cửa. Thì ra là vậy.
Tuy nhiên hai năm trước, năm 1990 tôi ra Hà Nội,
mượn xe gắn máy Honda của ông chú bên vợ để đi công việc chút đỉnh. Lúc vừa
dựng và khóa xe bên lề đường bước vào hiệu sách ở phố Tràng Tiền, chỉ trong tíc
tắc cẩn thận ngảnh mặt nhìn lui tôi thấy một người đang loay hoay ở đầu xe,
tháo gỡ gì đó. Tôi la oai oái chạy lộn ra, anh chàng vùng bỏ chạy lập tức, mặt
nạ xe gỡ nửa chừng chưa kịp mang theo. Tối tôi về trả xe, ông chú bảo nếu bị
trộm, chỉ mất công ra chợ trời thì mua lại được đúng cái vừa bị mất cắp.
---------
+ Sau việc tang lễ, tôi đi xe đạp xuống thăm thị xã
Đông Hới xưa, hòng tìm lại vết tich ngôi nhà ngói năm gian, số 37 đường Quan
Thánh ở trung tâm thị xã, nơi cha mẹ tôi cùng con cái sinh sống.
Đến nơi, điều tôi thấy trước mắt là thị xã năm xưa
sinh động với các phường Đồng Đình, Đồng Hải, xóm Câu nay biến thành một hoang
địa với những bụi cây, đám cỏ. Tôi không tài nào nhận ra được địa điểm ngôi nhà
cũ, gần chợ Đồng Hới. Ba mẹ tôi cùng những cư dân của thị xã có làm đơn xin thu
hồi mảnh đất nơi ngôi nhà cũ tọa lạc, song sự việc không được giải quyết ví tất
cả đều mất dấu.
Thành cổ Đồng Hới chu vi trên 2 km phá hủy toàn bộ
(thời tiêu thổ kháng chiến) và nay là hành cung, dinh thự, công sở, trại lính,
lao xá, nhà cửa nội thành bị san bằng sát đất.
Một sinh khí ló dạng, trên Quốc lộ 1 ngõ vào thị
xã, nay có 1 bến xe tạm, một vài xe tải dừng lại nghỉ ngơi, có quán ăn nhỏ, mái
tranh và một tiệm nhỏ sửa xe, vá lốp, đổ xăng.
Tình trạng của thị xã Đồng Hới trong chiến tranh bị
san phẳng năm 1964 đến năm 1992 vẫn còn là bãi đất hoang như tôi, một cư dân
cũ, đã đến tận nơi, quan sát tận mắt, in sâu trong trí và mô tả.
Về lại Sài Gòn tôi không còn dịp trở lại viếng thăm
Quảng Bình, miền Trung vì năm sau, năm 1993 tôi đã rời Việt Nam ra sinh sống ở
nước ngoài.
Tuy nhiên, theo dõi thời cuộc, tôi được biết Đồng Hới nay là một đô thị hiện đại, với 14 vạn dân, thủ phủ của tỉnh Quảng Trị mới do hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị sáp nhập, kể từ năm 2026.
Năm 1992 ra Đồng Hới, ngoài việc ma chay cho cha,
tôi yên tâm phần nào khi thấy mẹ tôi còn minh mẫn, lưng không còn thẳng nhưng
đi đứng còn vững, tinh thần không suy sụp, chung quanh con cháu, họ hàng không
thiếu. Tôi lo liệu mọi chuyện cho mẹ trước khi về lại Sài Gòn.
Hình ảnh hai mẹ con ngồi cạnh nhau suốt một tiếng
đồng, tôi nắm tay me, hai mẹ con trò chuyện thì thầm – mẹ tôi, 85 tuổi, tai còn
nghe rõ – là hình ảnh thân thương nhất thường gợi lại trong tâm trí tôi.
Một ký ức khác cũng đậm đà là những trải nghiệm mà
chuyến đi đã mang lại. Hình ảnh tôi ngồi ép giữa người lái xe và người anh con
ông bác, rất vướng víu, nhớ lại rùng mình. Lần đầu tiên và duy nhất tôi ngồi xe
ôm, lại ngồi chen chật, giữa chốn hoang vu, đêm tối. Xe chạy trên đường đất,
nhiều đoạn gồ ghề, rất xóc. Trước 1975 tôi đi toàn xe hơi, sau đó đi xe đạp, xe
gắn máy, và luôn giữa thành phố.
Xuống ga Đồng Hới điều làm chúng tôi kinh ngạc tột
độ là khi mục kích các xe đạp, xe gắn máy vứt bừa bộn trên bãi đất hoang, không
người giữ mà chẳng thấy xe nào được khóa.
Nghĩ lại cũng năm 1992 ở Sài Gòn các cơ quan đều có
nhà gửi xe cho nhân viên, nhưng xe phải khóa. Ngoài đường phố luôn có nơi gửi
xe trả tiền, có người giữ. Nếu tìm được nơi có đặt khung giữ nhiều xe thì đỡ
tốn. Ở Hà Nội ngoài nạn xe mất nguyên chiếc hiếm xảy, lại thêm tệ hại trộm vặt
phụ tùng.
Chỉ sống vài hôm ở thị xã Đồng Sơn tôi đã nhận thấy
toàn bộ cư dân từ Đồng Hới di tản lên đây lập nghiệp giữa cây cối xanh tươi nơi
núi đồi, đã có một lối sống cầm chừng, dè sẻn. Có vẻ chỉ khi nào trở lại chốn
xưa họ mới tìm lại được phong thái cũ, nhưng chỉn e ngày đó, cảnh Nghiêu Thuấn
huyền thoại hiện hữu lại không còn.
Lê Bá Vận
Monday, May 18, 2026
Những Giọt Nước Mắt Không Thể Lau Khô
Nhà tôi phải gây quỹ
(mượn tiền bà con và bạn bè) để mua chiếc xe Mazda dâng cho ngục trường và tôi
được trả tự do. Tôi trở về nhà cũ, ổ khóa ở bên ngoài, nhà đã bị 'niêm phong';
Việt cộng đã đủi gia đình tôi tới vùng kinh tế mới Mình Hải. Gia đình nhỏ của
tôi 3 người phải tới nhà ông ngoại & bà ngoại lẫn núp.
Sau này tôi mới được
người làng xóm cho biết là cha tôi đã bị ép ký giấy cống hiến căn nhà cho nhà
nước để cứu mạng.
Nhìn vào căn nhà bị
niêm phong với cánh cửa bị khóa từ bên ngoài, tôi cúi đầu và nhắm mắt lại. Từng
là một gia đình ấm áp và yên bình đã bị phá hủy dưới chế độ dã man của cộng sản.
Việt cộng dùng xe chở
hàng (camion) đưa gia đình cha mẹ tôi tới đất hoang Minh Hải dưới màn trời chiếu
đất.
Lúc đó ở kinh tế mới gồm
9 người, ba má tôi, một bà ngoại và 6 đứa em. Đứa em út mới có 4 hay 5 tuổi, vì
không có lương thực nên phải giao cho một gia đình địa phương để chăm sóc giùm.
Sau này ba má tôi trốn
về Saigon và đứa em út này đã thất lạc ở dưới quê.
Tôi rất là đau lòng khi người em út đã bị bỏ rơ ở dưới quê. Vài năm sau khi tôi tới Canada định cư và làm bảo lãnh cho gia đình tôi không quên đứa em này. Tôi cho ba má biết là bất cứ với điều kiện nào cũng phải trở về Mình Hải để kiếm lại đứa em.
Sau bao ngày tháng cuối
cùng ba má tôi kiếm lại được đứa em út của tôi. Cặp vợ chồng nhận nuôi
(adopters) đồng ý cho ba má tôi chuộc về đứa em những đòi hỏi một ngân khoản để
bù đắp chi phí nuôi nấng đứa nhỏ trong thời gian qua.
Gia đình tôi cũng đồng
ý và tôi gởi về một số tiền cho ba má. Khi ba má tôi xuống Mình Hải gặp cặp vợ
chồng nhận nuôi này và giao số tiền mà họ đòi hỏi nhưng lại đổi ý và muốn lấy
thêm tiền nữa. Tôi phải gởi thêm số tiền cho ba má.
Cặp vợ chồng nhận nuôi
này biết ba má tôi ở ngoài có người tiếp viện nên đòi hỏi ngân khoản vô tận. Một
lần nữa ba má tôi đem tiền xuống Minh Hải để lấy lại đưa em lại bị cặp vợ chồng
bất lương này từ chối và muốn tống tiền thêm.
Ba tôi hỏi ý kiến tới.
Tôi đành phải mượn thêm tiền để gởi về và lần này tôi cho ba tôi biết là thay
vì giao số tiền này trực tiếp cho cặp vợ chồng bất lương này, lấy số tiền này 'áp
phe' chính quyền địa phương để họ xử lý.
Trong vòng không đầy 24
tiếng, dưới sự hộ tống của công an địa phương, cặp vợ chồng này đem trả lại đứa
em út của tôi cho ba má tôi.
Em gái út tôi cuối cùng được trở về đoàn tụ với gia đình. Sau này tôi còn bảo lãnh cho em sang Canada.
Thật buồn khi nhìn thấy
em ở sân bay khi tôi tới đón rước, nước mắt tôi tuôn rơi; trái tim tôi đau
nhói. Nhiều năm bị cha mẹ nuôi ngược đãi, trí tuệ của đầu não em suy giảm; đôi
tay bị đứt gân do nhiều năm bị đánh đập, giờ đây khó khăn lắm mới cầm được đồ vật,
run rẩy và vô thức làm rơi.
Việt Cộng vào thành phố
đã thay đổi cuộc đời tôi và số phận của cả gia đình tôi.
Trước khi miền Nam Việt
Nam bị cộng sản đóng chiếm, tôi rất cảm thông với Việt Cộng. Tôi nghe nói rằng
khi bị quân đội Mỹ 'bao vây và tiêu diệt', để trốn thoát và sống sót, họ (Việt
Cộng) đã trốn dưới nước lòng sông, dùng ống sậy nhét vào lỗ mũi để thở hơi. Nếu
biết họ đối xử với tôi như vậy, tôi thực sự hối hận vì đã không rút nhưng ống sậy
đó ra lúc bấy giờ!
[Hình ảnh] Trong thời gian quân đội Mỹ bao vây và tiêu diệt, Việt Cộng
đã trốn dưới nước lòng sông, dùng ống sậy nhét vào lỗ mũi để thở. Tôi hối hận hồi
đó không biết rút bỏ những ống sậy đó cho chết luôn!
Japanese Couple Marriage In Indian Temple
Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình
Fun Funky
Derek Trần Và Hùng Cao, 2 Người Gốc Việt Cao Cấp Nhất Hoa Kỳ, Đối Thoại Tại Quốc Hội - Nguoi Viet Online
WASHINGTON, DC (NV) – Lần
đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, hai giới chức gốc Việt cao cấp nhất nước Mỹ –
Dân Biểu Derek Trần và quyền Bộ Trưởng Hải Quân Hùng Cao – đối thoại trong một
phiên điều trần tại Quốc Hội liên bang hôm Thứ Năm, 14 Tháng Năm.
Luật Sư Derek Trần là dân cử gốc Việt cao cấp nhất Hoa Kỳ hiện nay. Ông đang là dân biểu Hạ Viện Mỹ, đại diện Địa Hạt 45 của tiểu bang California.
Ông Hùng Cao, người vừa trở thành quyền bộ trưởng Hải
Quân Mỹ hôm 22 Tháng Tư, hiện là giới chức hành pháp gốc Việt cao cấp nhất
trong chính quyền Hoa Kỳ.
Hình ảnh của truyền hình Hạ Viện Mỹ trên YouTube cho
thấy, trong buổi điều trần tại Ủy Ban Quốc Phòng, Dân Biểu Derek Trần (Dân Chủ),
một thành viên của ủy ban, đặt câu hỏi với quyền Bộ Trưởng Hùng Cao và yêu cầu
ông Hùng cùng ông tham gia cuộc tranh đấu trả tự do cho tù nhân chính trị tại
Việt Nam.
“Cảm ơn ông có mặt hôm nay. Thưa ông bộ trưởng, tôi
xin chúc mừng ông được lên chức. Hôm nay là một ngày lịch sử. Lần đầu tiên, một
giới chức quốc phòng Mỹ gốc Việt xuất hiện trước một thành viên Quốc Hội Mỹ gốc
Việt. Giây phút này là của cha mẹ chúng ta và của tất cả những người đã khuất,
những người đã hy sinh trên đường tìm tự do,” Dân Biểu Derek Trần phát biểu.
“Ông và tôi đều đang đại diện cho một cộng đồng người Việt hải ngoại không bao
giờ quên các cuộc đàn áp. Chúng ta là những tiếng nói sống động cho những người
đang bị chế độ CSVN bịt miệng.”
Vị dân biểu gốc Việt tiếp: “Chúng ta đều có một trách
nhiệm đạo đức trong việc bắt buộc chính quyền CSVN phải chịu trách nhiệm cho những
vụ vi phạm nhân quyền liên tục. Tôi khẩn cầu ông đứng cùng với tôi trong cuộc đấu
tranh này. Chúng ta phải bảo đảm tự do chúng ta có ở đây phải có bên kia bờ
Thái Bình Dương.”
“Chúng phải duy trì sự hiện diện mạnh mẽ, để đảng Cộng
Sản Trung Quốc hiểu rằng vùng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương không bao giờ đầu
hàng các chế độ chuyên quyền,” Dân Biểu Derek Trần nói tiếp. “Đây là thời điểm
chúng ta lãnh đạo, không chỉ cho đất nước chúng ta, mà là cho di sản và tự do
mà chúng ta chọn để bảo vệ.”
Dân Biểu Derek Trần tiếp: “Thưa ông bộ trưởng, như ông
biết, tôi đang đại diện cộng đồng Việt Nam lớn nhất hải ngoại. Cộng đồng chúng
ta rất quan tâm đến việc chính quyền CSVN giam giữ bất hợp pháp các tù nhân
chính trị. Ông sẽ cùng với tôi kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho những
tù nhân chính trị và tù nhân lương tâm chứ?”
Quyền Bộ Trưởng Hùng Cao đáp: “Thưa ông dân biểu, cảm ơn ông dành cho tôi những lời lẽ tử tế. Một lần nữa, tôi nợ đất nước này tất cả mọi thứ, và tôi từng đổ máu cho quốc gia này. Và tôi sẵn sàng hy sinh cho đất nước này, cho tất cả những gì đất nước này cho tôi.”
“Và một lần nữa, rất nhiều người trong gia đình tôi từng
bị bỏ tù một cách sai trái, và chúng ta cần phải luôn luôn đứng lên chống lại
đàn áp. Và đó là công việc của chúng ta với tư cách là Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ –
chúng ta không hề tự tìm kiếm điều này. Chúng ta không hề mong muốn trở thành
‘cảnh sát của thế giới.’ Chúng ta không hề chủ động tìm kiếm vai trò bảo vệ.
Nhưng thực tế là như vậy, thưa ông. Và chúng ta sẽ luôn đấu tranh cho sự bất
công tại đất nước này.”
Dân Biểu Derek Trần kết luận: “Cảm ơn ông rất nhiều,
thưa ông. Tôi trân trọng ông đứng cùng với tôi trong cuộc đấu tranh này.”
Địa Hạt 45 do Dân Biểu Derek Trần (Dân Chủ) đại diện
bao gồm một phần hoặc toàn bộ các thành phố thuộc Orange County và Los Angeles
County như Artesia, Brea, Buena Park, Cerritos, Cypress, Fountain Valley,
Fullerton, Garden Grove, Hawaiian Gardens, La Palma, Lakewood, Los Alamitos,
Placentia, Rossmoor, Westminster, và Yorba Linda, trong đó có vùng Little
Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại.
Bộ Trưởng Hùng Cao cùng gia đình rời Việt Nam năm 1975
khi ông mới 4 tuổi. Gia đình ông đến định cư ở thành phố Annandale, Virginia,
vào năm 1982.
Thời đi học, ông Hùng là học sinh giỏi ở trường trung
học Khoa Học và Công Nghệ Thomas Jefferson. Ông có bằng cao học vật lý tại
Naval Postgraduate School và được học bổng (fellowship) của hai đại học MIT và
Harvard, Massachusetts.
Ông Hùng Cao từng tham gia chiến đấu ở Iraq,
Afghanistan, và Somalia, và phục vụ trong Lực Lượng Đặc Nhiệm và đội đặc nhiệm
SEAL.
Ông cũng tham gia vào nhiều hoạt động nhân đạo và cứu
trợ thiên tai ở Pakistan, cũng như phục vụ trong các tổ chức phi lợi nhuận giúp
trẻ em khiếm thị và làm việc truyền giáo.
Ông Hùng có vợ người Mỹ, tên April, và năm người con.
Người con trai lớn theo nghiệp cha, gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ. Cô con gái thứ
hai là con nuôi người Thái Lan. Hai cô con gái sinh đôi, và con trai út. Tất cả
đều được vợ ông dạy học tại nhà ở Purcellville, Virginia.
Sau khi giải ngũ, ông Hùng tranh cử vào Quốc Hội Liên
Bang đại diện cho tiểu bang Virginia dưới màu áo đảng Cộng Hòa, một lần vào Hạ
Viện năm 2022 và một lần vào Thượng Viện năm 2024, nhưng cả hai lần đều thua
trước các ứng viên Dân Chủ.
Một Nhà Có Phúc... - Nguyễn Thị Bích Hậu
Dòng Sông Tuổi Nhỏ - Nguyễn Đức Hùng
Tiếng thằng Nỹ la oang oang trước sân nhà ông bà ngoại tôi, trong cơn nắng chang chang của trưa hè:
- Hùng ơi! Nước sông ở cửa lăng bây
giờ đang xuống cạn lắm, đi ra lẹ lên, nếu không nước hết ròng chảy mạnh tắm
không được đó. Tắm xong mình còn lên phá ông Than cụt nữa.
Tôi đang ở trần với cái quần đùi
nghe vậy liền phóng vội ra khỏi nhà. Ngoài sân nhà đám bạn phá xóm, phá làng đã
tụ họp đầy đủ. Thằng phá nhất là thằng Nỷ, kế đến là thằng Tỏ, và thằng sau
cùng là thằng Theo, vài ba thằng theo đóm ăn tàn như thằng Châu lé và thằng Đờn
cũng đã có mặt…..
Tôi ở lại quê ngoại để học xong năm
cuối cùng của bậc tiểu học. Vì công việc làm ăn ba má tôi về lại Nha trang, để
tôi ở lại sống với ông bà ngoại. Ở đây tôi đã có những tháng ngày tự do nghịch
phá với những thằng bạn thời thơ ấu và sự thương yêu, cưng chiều của ông bà
ngoại. Như bao làng quê ở miền trung, quê ngoại tôi nghèo rất nghèo như câu nói
ví von “đất cày lên sỏi đá”. Cũng chính ở trên cái miền đất khô cằn sỏi đá, cái
làng nhỏ này là phần đời ăm ắp những kỷ niệm yêu dấu khó quên trong tôi. Làng Quảng
Hội, Vạn Giả nghèo nàn xanh ngợp bóng dừa trong nắng hè gió nồm vi vu thổi.
Tuổi thơ tôi là những sớm mai ngồi đợi thuyền của các ông cậu đi lưới cá về len
vào nhặt những con “cua hét”, con “bàn chải” rồi cùng lũ bạn xúm lại nướng hoặc
luộc ăn ngay trên cồn biển. Những củ khoai lang vùi dưới lửa rạ khi chín thơm
lừng cả một khoảnh bếp trong ngôi nhà tranh của ông bà ngoại. Mùa đông ở đây
quạnh hiu và buồn tẻ. Những bữa cơm chiều đạm bạc nhưng ấm cúng với ông bà
ngoại bên những con cá lép toàn xương dầm nước mắm me. Những hình ảnh ấy còn
theo tôi mãi về sau.
Tôi đã học những năm tiểu học của
thời thơ ấu bên những rặng dừa bạt ngàn, trong tiếng sáo diều vi vu ở đình làng
ven biển, với những trò chơi cùng lũ bạn ngổ ngáo trong làng……
******
Buổi tối ở khu chợ Cai Lậy ồn ào và
bụi bậm. Những quán xá lụp xụp đầy những bộ
quân phục rằn ri. Chợ Cai Lậy vào những ngày cuối năm 1969, tôi như trộn lẫn
vào trong cái ồn ào của đám đông ấy. Khi đi ngang qua một quán nhỏ trong chợ,
một tiếng gọi vang lên, trong một giây tôi như không tin vào cả chính tai mình.
“Mày đó phải không Hùng?” Làm sao mà
tôi quên được tiếng gọi quen thuộc thường rủ tôi đi tắm sông vào những trưa hè.
Sau đó một tên rằn ri TĐ6 đứng trước mặt tôi. Phải mất vài giây tôi mới nhận ra
nó. Thằng Nỷ, không sai, đúng là nó.
Tôi ngạc nhiên hỏi một câu thật ngớ
ngẩn:
- Đ.M. mày cũng đi TQLC nữa à?
- Mày hỏi ngu thấy mẹ.
Nó làu bàu và kéo tay tôi lôi vô
quán.
Trong quán còn có thêm 3 thằng bạn
cũng TĐ6 của nó. Không biết tụi nó đã ngồi đó
từ bao giờ, trên bàn ngổn ngang những vỏ chai bia. Khuôn mặt nào cũng đỏ rừ,
hơi thở bốc đầy mùi rượu.
Một thằng bạn của nó hất hàm hỏi
tôi:
- Ê thằng PB này đi đâu mà lạng
quạng dô đây dzậy? Ngồi xuống thì phải dzô đi chứ?
Lại một tên bạn của hắn
lên tiếng xen vào:
- Thằng Tr/s PB này có biết uống
rượu không hả?
Thằng Nỉ càu nhàu:
- Im mẹ cái miệng mày đi. Say rồi
hay sao mà ngồi đó sủa hả mấy ông nội? Để thằng Hùng uống xong tao còn hỏi thăm
chuyện làng nước của tao coi. Lâu quá rồi tụi
tao mới gặp.
Tôi uống vội ly bia, thế là hắn bắt
đầu hỏi lung tung đủ chuyện. Giọng nó sôi nổi, nhưng khi nghe tôi hỏi sao nó vô
TQLC... Giọng nó trở nên buồn bã.
Im lặng một lúc, nó nói:
- Như mầy biết, tao sống với bà nội tao từ nhỏ. Ba má tao còn sống hay chết tao đâu
có biết. Sau khi hết học ở trường làng, mầy vô Nha trang học tiếp, còn cả bọn
tao thì phải nghỉ học vì làng mình chỉ có tới lớp nhất là hết. Tao phải đi biển
giúp đỡ bà nội tao. Lớn rồi đâu còn lang thang
phá phách như lúc nhỏ, tao phải kiếm sống nữa. Vài năm sau bà nội tao chết, tao
đâu còn ai. Tới tuổi đi lính, tao, thằng Tỏ và thằng Theo tình nguyện đi TQLC
sau tết Mậu thân. Thằng Đờn và thằng Châu lé, tụi nó nghe lời dụ khị của thằng
cha Than cụt lên núi Hóc Chim hay Đá Bàn gì đó theo tụi du kích VC rồi. Tao
thiệt là không hiểu nổi, lúc còn nhỏ thì chung một đám vui đùa phá phách. Bây
giờ như vầy, tao nghĩ nếu có ngày tụi mình gặp lại tụi nó mà phải giết nhau thì
thật là buồn lắm...
Nhìn những sợi gân máu trong đôi mắt
đục ngầu và đỏ choạch vì rượu của nó, tôi như thấy lại dòng sông tuổi nhỏ của quê ngoại ngày nào....
******
Tiếng thằng Tỏ oang oang:
- Tao phải cởi truồng để tắm, nếu
không dìa nhà má tao biết tao đi tắm sông, bả sẽ đánh nứt đít tao luôn. Bả còn
nói buổi trưa lúc mặt trời đứng bóng là không được tắm ngoài sông ở cửa lăng,
nếu không sẽ bị ma da kéo chân đó.
Mặc cho thằng Tỏ nói gì thì nói, cả
đám nhãi con tuột hết áo quần rồi đùng đùng phóng xuống mặt sông làm bắn tung
tóe nước và ồn ào cả một dòng sông trong buổi trưa hè yên lặng.
Thằng Tỏ là thằng rời bờ sông trước
tiên. Nó lên bờ xỏ lẹ cái quần đùi vào rồi chậm rãi bước về phía lều của lão
Than cụt. Đến nơi, nó rón rén nhìn qua những lổ hổng rách của cái lều xem lão
đã ngủ say chưa trước khi ngoắt tay báo hiệu cho cả đám leo lên cây hái những
trái bàng chín xuống ăn... Lão Than cụt, một người không vợ, không con, được cả
đám con nít trong làng biết đến như một nhân vật huyền bí. Không biết lão cụt
cánh tay trái lúc nào và tại sao. Chỉ nghe người lớn trong làng kể rằng ngày
xưa lão đã từng theo Việt Minh gì đó lên núi và bị Tây bắn cụt tay. Sau khi trở
về làng không biết vì thất chí hay chuyện gì đó lão cứ uống rượu say sưa tối
ngày, đi lang thang khắp làng với cái đuôi con nít hò hét theo sau….
******
Rời chiếc xe lam ở Tam Hà, Thủ Đức,
tôi đã thấy thằng Tỏ và 2 tên bạn cùng TĐ2 của hắn đón tôi và kéo vô cái quán
gần đó. Tôi nói:
- Nghe TĐ2 của
mày vừa về hậu cứ từ Chương Thiện nên tao lên thăm mày chứ sợ sẽ khó có dịp.
Nó nhăn mặt:
- Mày nói như cứt. Làm như tụi mình
sắp chết tới nơi rồi. Quên mẹ mọi chuyện đi, kiếm cái gì uống rồi hẵn hay.
Lại thêm một thằng bạn lớn lên từ
dòng sông tuổi nhỏ. Đã lâu không tin tức, bây giờ gặp lại nơi đây, quán nhỏ bên
đường mà cứ ngỡ như giấc mơ.
- Đã lâu rồi mày có về làng không
Hùng?
Tôi trả lời không, và hỏi lại hắn:
- Còn mày thì sao?
Nó nói:
- Hành quân liên miên, về hậu cứ thì
cứ theo mấy thằng bạn thổ tả này uống say mèm. Nhiều lúc nhớ quê, nhớ xóm làng
cũng muốn về nhưng nghĩ lại chẳng còn ai nên thôi.
Nó hỏi tiếp:
- Mày có gặp thằng Theo không? Nó ở
TĐ3 đó. Tao, nó và thằng Nỷ từ ngày rời quân trường Rừng Cấm, ba thằng đi 3 TĐ
khác nhau chưa bao giờ gặp lại!! Nghe nói nó bị thương nhẹ ở U Minh, lúc ra
khỏi bệnh viện nó có lên trại Yết Kiêu kiếm mày và lên Tam Hà kiếm tao nhưng
không gặp thằng nào. Mang tiếng cùng ở TQLC mà sao gặp nhau khó quá.…
Buổi chiều xuống dần. Tôi cũng đã
bắt đầu thấm rượu. Tôi nói:
- Thôi tao về. Nếu còn sống tao sẽ
kiếm mày.
Thằng Tỏ cũng đã say, nó lầm bầm
trong miệng:
- Ừ, tụi
mình sẽ sống mà. Có ngày tao, mày, thằng Nỷ, và thằng Theo cùng nhau về dòng
sông cũ, tắm sông và lượm trái bàng chín như ngày xưa tụi mình còn nhỏ nghe
Hùng.
Và đó là lần cuối cùng tôi gặp thằng
Tỏ. Ngày buồn thảm của cuối tháng 3/1971 cả LĐ147 đã triệt thoái từ căn cứ Đống
Đa, Hạ Lào trong chiến dịch Lam Sơn 719. Nó đã đến và ở lại nơi ấy. Giấc mộng
đời không còn bao giờ thức dậy. Nó đã đi đến thiên đường một mình với tốc độ
chóng mặt. Nó đã quên mất lời ước hẹn cùng tôi trở về thăm lại dòng sông tuổi
nhỏ ngày nào. Quay nhìn lại lần cuối căn cứ Đống Đa rực lửa, biết bao nhiêu
Trâu Điên đã ở lại, trong đó có mày đó Tõ. Tao sẽ mãi mãi nhớ mày. Hãy ngủ yên
cùng với các bạn bè của mày nhé. Mày bây giờ đã thảnh thơi hơn tụi tao. Tao nhớ
mày vẫn thường khoe là thằng Nỷ, thằng Theo, khoái Trâu Điên mà không về được.
Rốt cuộc mày lại dành đi trước tụi tao. Bây
giờ nơi chốn hư vô ấy không còn cấm trại, không còn cần giấy phép hay phải trốn
trại nữa. Mày về dòng sông xưa được rồi, nhưng tao chắc là mày không vui đâu vì
nơi đó không có tụi tao mà……
*******
- Ê! Có nhiều trái bàng chín quá tụi
bây ơi!
Lão Than cụt vẫn còn ngủ say như
chết. Thằng Nỷ nói:
- Tụi mình bắt thêm mấy con còng gió
bỏ vô mền lão Than cụt nhe.
Thằng Nỷ lúc nào cũng là thằng có
những sáng kiến quỷ quái để chọc phá. Thế là cả đám nhóc nhao nhao đồng ý. Cuối
cùng tụi nhóc cũng bắt được một con còng gió và một con nha (nha là một loại
còng nhỏ có cái càng màu xanh). Thằng Theo nói:
- Tao nhỏ con nhất và chạy lẹ nhất,
để tao vô bỏ nó trong chăn của ổng cho.
Cả bọn rình ở ngoài lều, còn thằng
Theo thì lẻn vào trong. Thời gian chừng một phút mà cả bọn nghe như thật lâu.
Bóng thằng Theo chạy vụt ra khỏi lều như tên
bắn, thế là cả bọn ùn ùn phóng theo. Sau lưng bọn tôi còn nghe lồng lộng tiếng
thét và tiếng chửi thề vang dội của lão Than cụt....
******
Xuống dưới trảng tranh cùng với
TĐ2/Trâu Điên, tôi gặp lại các anh em BCH/PB2. Tôi nhập bọn lại cùng họ, sau
một đêm nương theo ánh hỏa châu của TĐ3/PB chỉ đường cho cuộc triệt thoái từ
căn cứ Đống Đa. Tại nơi đây các Sói Biển đang chờ và giữ cái trảng tranh cho
trực thăng bốc LĐ147 về Khe Sanh. Trong nỗi tận cùng của mệt mỏi và đau thương,
tôi gặp lại thằng Theo trong sự bất ngờ không tưởng. Đại đội nó đang giữ cho
chúng tôi rút. Nó vẫn nhanh nhẹn và liếng thoắng như ngày nào. Gặp tôi, nó nhào
tới ôm chặt lấy tôi, làm như sợ tôi chạy mất và câu đầu tiên nó hỏi tôi là:
- Hùng, thằng Tỏ có thoát không?
Tôi buồn bã lắc đầu trả lời hắn mà
như muốn khóc:
- Tao nghĩ là không. Buổi sáng trước
khi rút, tao có gặp một thằng ở trung đội, nó cho biết trên đường rút về LĐ nó
bị thương khá nặng, thì không cách nào thoát được.
Không ngờ chỉ nghe có chừng ấy mà
thằng Theo đã có thể bật khóc như trẻ thơ trong hoàn cảnh thế này, giữa núi
rừng trùng điệp của Hạ Lào.
- Mẹ nó cái thằng Tỏ này. Trong đám
là nó gan lì và thương tao nhất mà nó lại đi cái chó gì sớm vậy!
Trong ràn rụa nước mắt, nó lảm nhảm:
- ĐM, sao lại như thế? Từ ngày rời
Rừng Cấm tới giờ tao chưa gặp lại thằng nào. Bây giờ vừa gặp lại mày, thì lại
một thằng ra đi vĩnh viễn. Mày không biết, lúc còn ở Rừng Cấm, nó là thằng vì
tao mà bị phạt nhiều lần. Nó đánh lộn tùm lum để bảo vệ tao. Tao nhỏ con nên
thường bị mấy thằng trong đại đội khóa sinh ăn hiếp. Khi ra trường, nó về Trâu
Điên còn tao về Sói biển. Nó cứ theo chọc tao. Nó nói mầy ốm như con đỉa, đánh
nhau đạn khó trúng mày. Vậy thì về TĐ Đỉa đói là phải rồi. Theo ơi! Tao thương
mày và thương cả chính tao. Mày còn khóc được là niềm tin, và hạnh phúc còn
trong mày đó. Với tao niềm tin và sự sống cho ngày mai, để đợi ngày hòa bình
cho cái đất nước khốn khổ này đã không còn trong tao. Nó đã thui chột theo
tháng ngày qua. Mày có biết không, có những lần cái chết nó gần đến nỗi tao còn
nghĩ rằng nó là nhân tình chung thủy không rời. Lúc nào cũng cận kề với những
thằng lính mũ xanh của tụi mình và lúc nào cũng sẵn sàng mở vòng tay chào đón
bọn mình. Sự sống chỉ là một thứ không tưởng. Nó là một thứ ân sủng của thượng
đế bố thí cho những thằng lính áo rằn của tụi mình. Thôi thì tao, mày cũng nên
mừng cho thằng Tỏ, cuối cùng thì nó cũng đã kết hôn với con nhân tình dễ ghét
này, sau bao năm chung thủy đồng hành với nó.
Thằng Theo đưa bình đông nước cho
tôi uống. Tôi tưởng như trong nước có vị mặn của
nước mắt nó và mùi máu tanh của thằng Tỏ. Tiếng trực thăng đáp xuống trảng
tranh. Tôi cùng BCH/TĐ2/PB rời bãi bốc lên cao xa tít. Tôi còn nhìn thấy bàn
tay thằng Theo vẫy theo, và bóng nó nhỏ dần lẫn vào đám tranh vàng úa….
******
Thằng Theo nói với tôi:
- Sáng sớm mai, tao, mày, thằng Nỷ
và thằng Tỏ, lên đám ruộng khô của ông Cần trên ga Trung Dõng. Tao biết một chỗ
có nhiều dế lắm. Sáng hôm qua tao lên rẫy với ông bác, sáng sớm tao nghe nó gáy
dữ dội. Nhớ đừng cho thằng Đờn và thằng Châu lé biết. Chỉ 4 đứa mình đi thôi.
Chuyến này cho tụi nó biết tay. Thằng Đờn có con dế than chiến quá, 4 đứa mình
chưa có đứa nào thắng nó, tức thật.
Thằng Tỏ mỉa mai:
- Mày tử tế ghê hén. Mày nhỏ nhứt
trong đám tụi tao, mà lẹ như ma. Thường thì mày trốn đi một mình chứ sức mấy mà
mày có lòng tốt gọi 3 thằng tao.
Thằng Nỹ xen vào:
- Sáng tờ mờ nó hổng dám đi một mình
đâu. Tại nó sợ đi ngang qua mả ông Cơ, ma ra nhát nó nên mới kéo theo tụi mình
chứ tử tế gì.
Thằng Theo bẻn lẽn chống chế:
- Làm gì có chuyện đó. Chẳng qua là
vì tao khoái đi chung với tụi mày đó mà.
Sáng hôm sau, sau khi rời thửa ruộng
khô của ông Cần. Đám nhóc 4 đứa men theo con đường đất nhỏ đi lên đường rầy xe
lửa ở ga Trung Dõng thì trời đã trưa. Thằng Nỷ giơ cái lon sửa bò rỉ sét ra
khoe:
- Tao bắt được 3 con dế. Con cồ lửa là chiến nhứt. Chắc chắn tao sẽ không thua con cồ
than của thằng Đờn. Kỳ này cho nó hết làm hách. Tụi bây biết mà “dế lửa chắc
gan, dế than mạnh húc”, con của thằng Đờn chỉ mạnh húc thôi. Tụi bây có con nào
“chiến” hông?
Tôi nói:
- Tao được 2 con, còn thằng Theo và
thằng Tỏ mỗi đứa chỉ có một con, nhưng không có con nào chiến hết.
Thằng Theo tiếp lời:
- Tụi mình lên đường rầy ngồi nghỉ
một lát rồi tao dắt lên rẫy ông Cần kế bên rẫy bác tao hái trộm bắp nướng ăn.
Ghé rẫy bác tao, tụi bây nhớ nhắc tao lấy cái cuốc chim để sau đó chôn mấy cái
cùi và vỏ bắp, chứ ổng mà biết mét lại bác tao thì tao nhừ đòn.
Cả đám đi dọc theo đường rầy để lên
rẫy. Chợt thằng Tỏ hỏi:
- Tụi bây có biết cái đường rầy này
chạy miết tới đâu hông?
Thằng Theo làm như giỏi lắm nói
ngay:
- Một ngả chạy tuốt dzô Sài Gòn, còn
một ngả chạy miết ra Huế đó.
Thằng Tỏ nói với giọng chắc nịch:
- Mai mốt lớn lên tao sẽ đi tận Sài
Gòn, rồi sẽ ra tuốt ngoài Huế.
Thằng Nỹ xen vào:
- Xì! Mày làm gì có tiền đi xe lửa. Năm ngoái tao theo bà nội tao đi Tuy Hòa. Mèn ơi! Ngồi xe lửa thiệt là đã. Nó chạy chun qua cái hầm tối hù, rồi băng qua cái cầu dài thật dài mới tới Tuy Hòa đó. Bà tao nói là phải trả nhiều tiền lắm….
******
Tỏ ơi! Bây giờ thì tụi mình đã đi
quá xa. Xa hơn cả những gì mày đã nói trong trưa hè thuở xưa. Như vậy là mày đã
mãn nguyện rồi chứ gì?! Tụi mình đã đi khắp cùng đất nước từ Năm Căn, Cà Mau ra
tận Gio Linh, Đông Hà, Quảng Trị. Không phải tụi mình đi bằng chiếc xe lửa hiền
hòa lăn mình nhả khói trắng hai bên đường của ngày
xưa cũ khi đám nhóc 4 thằng mình dõi mắt trông theo mà ước mơ đến những chân
trời xa lạ. Mà tụi mình đã đi bằng hình hài của những thằng lính rằn ri, đi
trong lằn ranh sống chết, đi trong nỗi nghiệt ngã oan khiên của một đất nước
điêu tàn, đau khổ triền miên trong hận thù chiến tranh. Bây giờ mày lại còn đi
xa hơn nữa để rồi nằm lại mãi mãi trên núi
rừng chập chùng của xứ Lào xa lạ chứ không phải là quê hương của tụi mình. Ôi! Mày sẽ buồn và nhớ tụi tao biết bao
nhiêu, phải không Tỏ?
Tỏ ơi! Mày có biết rằng đã nhiều lần
trong cơn say, tao đã mơ thấy 4 thằng nhóc mình ngồi trên chuyến xe lửa ngày
xưa. Miệng reo vui, cả đám tụi mình thò đầu ra ngoài cửa toa tàu ngửi mùi biển
mặn khi tàu ngang qua biển Đại lãnh, rồi ngửi mùi thơm mạ non của những thửa
ruộng khi tàu lướt ngang qua ga Hảo Sơn. Rồi cứ thế chiếc xe lửa hiền hòa ngày
ấy băng qua sông Đà... Niềm ước mơ thời tuổi nhỏ thật an bình và giản dị, nhưng
cả cuộc đời tụi mình vẫn là ước cùng mơ mãi kiếm tìm…..
******
Buổi chiều còn vương chút nắng trên
đồi nơi LĐ1 Kỵ Binh trú đóng ở Phong Điền, Mỹ Chánh. Từng toán quân của TĐ8 di chuyển ngang LĐ1 KB để đi về phía núi. Tôi đang chơi bóng chuyền cùng đám bạn Thiết
giáp. Bỗng trong toán quân di chuyển, tôi nhìn ra thằng Nỷ. Chắc nó cũng đang
ngạc nhiên không biết vì sao lại có tên TQLC ở trong đám Thiết giáp nên đưa mắt
nhìn, và cũng lại giọng nói quen thuộc ngày xa xưa cũ:
- ĐM, mày đó hả Hùng?
Thằng Nỷ rời toán quân đang di
chuyển để chạy về phía tôi. Hai thằng ôm choàng lấy nhau. Một thoáng từ lúc gặp
nó ở chợ Cai Lậy cuối năm 1969 đến nay là 1974, đã gần 5 năm rồi còn gì. Lúc
này trông nó già dặn và vững chải ra với cái lon TS1 ngụy trang trên cổ áo. Tôi
cười nói đùa:
- Nhanh thế, đã TS1 rồi à?
Nó cười và nói có chút hãnh diện:
- Tao rời TĐ6 và đi học HSQ đặc biệt
năm 1971 rồi sang TĐ8 này, bây giờ là Tr/đội phó.
Tôi đùa và bảo:
- Thế là gặp mày tao phải chào rồi.
Tao vẫn còn Tr/s đấy.
- Đã nói là số tao không có duyên
với nhà binh mà.
Nó hỏi tôi:
- Mày có biết là thằng Tỏ đã chết ở
Hạ lào không?
Tôi trả lời:
- Ừ tao biết, còn thằng Theo thì tao
có gặp một lần ở Hạ Lào.
Nghe nói sau đó bị thương nặng lúc
đánh Cổ Thành nên đã giải ngũ. Nó quen con nhỏ nào ở Long An rồi ở luôn đó
không về làng cũ nữa đâu.
Thằng Nỷ chép miệng:
- Vậy bây giờ chỉ còn tao với mầy
thôi, nhưng cũng khó gặp nhau há!
Tôi nói:
- Thì chiến tranh rồi cũng có ngày
phải chấm dứt.
Giọng thằng Nỷ nhỏ lại:
- Ừ phải chấm dứt. Tao sẽ về cưới
vợ. Tao có thương con nhỏ ở Cần Thơ, kỳ tới có phép thường niên lần tới tao sẽ
về cưới nó. Tao bây giờ không còn ai. Không họ hàng, bà con, chỉ có mày. Nếu
ngày cưới mà có mày thì vui hết biết hả Hùng. Rồi vợ chồng tao và mày sẽ về
thăm dòng sông Mỹ Quảng nghe.
Một người lính Ó-Biển đến hối hắn.
- TS anh em đang đợi. T/U nói lẹ lên
để vô thế cho thằng 4 ra kẻo quá tối.
Nó muốn nói với tôi thêm điều gì đó
nhưng lại chần chừ rồi quay đi. Tôi nói vói theo:
- Cẩn thận nghe, nhớ giữ lại cái
mạng cùi của mầy để về lấy vợ và thăm làng nghe.
Đã đi xa rồi mà hắn còn cố quay lại
nhoẻn miệng cười nói to cho tôi nghe:
- Tao hứa, tao sẽ sống về lấy vợ mà.
Đó là lần sau cùng tôi gặp lại thằng Nỷ. Sau những biến chuyển dồn dập đau
thương xảy ra cho đất nước, tôi đã bỏ xứ ra đi. Nhiều năm trên xứ người, hình
ảnh thằng bạn thời tuổi nhỏ, lẫn theo cánh quân TĐ8 mờ dần theo rặng núi xa bên
đồi thiết kỵ với niềm ước mơ những ngày phép về cưới vợ, và dắt vợ về thăm ngôi
làng nghèo khổ ven biển, ngôi làng với dòng sông thời tuổi dại. Trong tôi vẫn
còn thoáng nghe những tiếng cười hồn nhiên của các thằng bạn thời tuổi nhỏ. Nó
không bao giờ mờ phai trong ký ức tôi.
Đã lâu thật lâu. Chiến tranh rồi hòa
bình, tôi vẫn chưa một lần quay về làng cũ. Kỷ niệm đã thăng hoa. Ngày tháng
thì nhạt nhòa. Trong ký ức tôi, giòng sông tuổi thơ lúc nào cũng còn đó. Nước
hiền hòa lúc nào cũng chảy một giòng thôi.
Cần Thơ Ngày... Tháng... Năm...
Hùng thân,
Khi mày đọc được những giòng chữ tao
viết, thì chúng mình đều đã già, đã nhiều năm dài trôi qua.
Tao đã giữ tròn lời hứa với mày. Tao
đã sống sót trong trận đánh cuối cùng. Tao bị thương nặng và để lại Long Thành
một chiếc chân trái. Thôi cứ coi như là kỷ niệm cho màu áo 4 chữ của tụi mình.
Cuối cùng thì tao cũng lết về được Cần thơ. Người con gái hiền hòa của xứ này
đã không chê và chấp nhận tao. Cũng nói thêm cho mày mừng tao đã được 2 cháu.
Chúng nó đã lập gia đình và tao cũng chưa một lần dắt vợ tao về lại dòng sông
tuổi nhỏ của tụi mình. Vì có còn gì nơi ấy khi ngay cả đất nước tao đang sống
cái gọi là “quê hương” nó cũng đâu còn như ngày xưa.
Báo cho mày biết thằng Theo ở Long
An cũng đã chết cách đây vài năm sau cơn bạo bệnh. Tao có về gặp nó, trước khi
ra đi nó vẫn còn nhắc đến mày và thằng Tỏ. Bây giờ nó đã gặp thằng Tỏ rồi.
Bên trời xa xôi này tao vẫn cầu mong
gia đình mày an bình và hạnh phúc. Hãy kể cho vợ con mày nghe về những ngày xưa
của tụi mình như thoáng kỷ niệm còn một chút gì để nhớ để thương.
Tao gửi cho mày chút nắng vàng quê
nhà vì tao biết bên mày mùa đông chắc lạnh lắm. Mong mày lúc nào cũng nhớ về
những ngày xưa thân ái. Với giòng sông yên bình đã cho chúng mình biết bao kỷ
niệm ấu thơ. Cuộc đời nghiệt ngã có thể lấy mọi thứ từ tao, từ mày, nhưng những
kỷ niệm thân thương thì lúc nào cũng còn đó trong ngăn tim của chúng ta để đôi
khi “tuổi 60 mà ngỡ như trẻ thơ” như lời bài hát nào đó.
Đừng thư lại cho tao. Đừng về tìm
tao, những điều đó không cần thiết, vì tụi mình vẫn mãi mãi còn giòng sông thời
tuổi nhỏ và màu áo rằn trong tim để nhớ
về nhau kia mà.
Bạn mày,
Nỷ
PTMX/OR Nguyễn Đức Hùng













