Thursday, May 28, 2026

Càng Khoe Khoang - Giá Trị Càng Rẻ


Ra đời, điều đáng sợ không phải kẻ ác.

Mà là những người chưa có gì trong tay nhưng cái tôi thì phình to hơn thực lực.

SỰ THẬT KHÓ NGHE

Công thức phá hoại nhanh nhất của đời người là:

Nhiệt tình + thiếu hiểu biết = tai họa.

Đọc vài cuốn sách, check-in vài chỗ sang,

về nhà bắt đầu chê bạn bè “thiếu tầm nhìn”.

Mới thử việc vài tuần, đã muốn dạy sếp cách vận hành doanh nghiệp.

Đó không phải cá tính. Đó là ngu mà tưởng mình hay.

Nhớ câu chuyện cậu sinh viên viết “tâm thư vạn chữ dạy Nhậm Chính Phi cách quản lý Huawei.

Kết cục rất gọn:

đuổi thẳng cổ.

Đời thực không có chỗ cho sự ngộ nhận.

Đừng vội khinh người chỉ vì họ mang dép tổ ong, mặc áo thun chợ.

Có khi ông chú đó đang sở hữu cả dãy nhà mặt phố.

Họ đi làm vì rảnh tay.

Bạn đi làm vì cuối tháng nợ thẻ tín dụng dí không kịp thở.

QUY LUẬT KHÔNG BAO GIỜ SAI

Thùng rỗng thì kêu to.

Lúa chín thì cúi đầu.

Người có tiền thật, họ cúi thấp lắm.

Không phải vì yếu. Mà vì họ bận làm việc của mình, không rảnh phán xét hay gáy bẩn.

Tâm bạn đầy rác, nhìn ai cũng thấy đáng khinh.

Tâm bạn đủ rộng, nhìn ai cũng thấy bài học.

CHỐT LẠI

Hạ cái mặt xuống.

Bớt cái tôi lại.

Núi cao còn có núi cao hơn.

Hạ mình không phải nhục.

Hạ mình là để nhìn đường cho rõ, đỡ để cuộc đời tát cho một  cú không trượt phát nào.

Chấm dứt trì hoãn không phải bằng ép mình mạnh hơn, mà bằng hiểu mình sâu hơn. Đây là cuốn sách cho người đã mệt vì tự trách.


Nguồn FB

Ngôi Chùa Hoàn Toàn Có Thật, Tồn Tại Hơn 400 Năm


Ngôi chùa này thực sự ở đâu, có gì đặc biệt?

Những ngày đầu tháng 5, Heo Năm Móng trở thành một trong những cái tên đáng chú ý nhất của phòng vé Việt. Theo Box Office Vietnam, doanh thu hiện hiển thị của phim đã đạt hơn 100 tỷ đồng, trở thành phim Việt thứ 8 ra mắt năm 2026 đạt thành tích này.

Không chỉ gây chú ý bởi yếu tố kinh dị, bộ phim còn khai thác chất liệu dân gian về heo năm móng trong đời sống tín ngưỡng của người Khmer Nam Bộ. VTV cho biết Heo 5 móng lấy cảm hứng từ truyền thuyết về những con heo có 5 móng ở miền Tây Nam Bộ, đặc biệt trong văn hóa tín ngưỡng của người dân tộc Khmer.

Cũng từ bộ phim này, Chùa Dơi ở Sóc Trăng được nhắc lại như một địa điểm có thật gắn với câu chuyện dân gian ngoài đời. Theo thông tin từ fanpage chính thức của phim, đoàn phim Heo Năm Móng đã có chuyến viếng thăm Chùa Dơi – Sóc Trăng. Một video khác của fanpage phim cũng ghi nhận đoàn phim đến thăm mộ “Cô Năm” trong chuyến ghé thăm tại Chùa Dơi.

Ngôi chùa hoàn toàn có thật, là cảm hứng cho phim kinh dị Việt đang chiếu ngoài rạp: Tồn tại hơn 400 năm - Ảnh 1.

Ngôi chùa hoàn toàn có thật, là cảm hứng cho phim kinh dị Việt đang chiếu ngoài rạp: Tồn tại hơn 400 năm - Ảnh 2.Ngôi chùa hoàn toàn có thật, là cảm hứng cho phim kinh dị Việt đang chiếu ngoài rạp: Tồn tại hơn 400 năm - Ảnh 3.

Đoàn làm phim đến thăm Chùa Dơi ở Sóc Trăng (Ảnh Phim Heo Năm Móng)


Khu “nghĩa địa heo năm móng” phía sau chùa

Điểm khiến nhiều người tò mò nhất ở Chùa Dơi không chỉ là đàn dơi lớn sống trong khuôn viên, mà còn là khu mộ nhỏ phía sau chùa, thường được gọi là “nghĩa địa heo năm móng”.

Theo Dân trí, trong quan niệm dân gian ở miền Tây, heo năm móng từng bị xem là con vật khác thường, gắn với những điều không may. Vì vậy, khi trong đàn có heo năm móng, một số người không nuôi, không bán, không giết thịt mà đem gửi vào chùa.

Bài viết dẫn lời nhà chùa cho biết con heo năm móng đầu tiên được nuôi tại Chùa Dơi vào khoảng năm 1989, do người dân đem thả vào chùa. Con heo cái này được gọi là “Cô Năm Hợi”, sống khoảng 10 năm, khi mất nặng khoảng 400kg và được chôn phía sau chùa.

Cũng theo nguồn này, trong thời gian “Cô Năm Hợi” sống tại chùa, người dân tiếp tục đem những con heo năm móng khác vào chùa để nhà chùa nuôi dưỡng. Khi chúng chết, chùa chôn cất phía sau. Thượng tọa Lâm Tú Linh, Phó trụ trì Chùa Dơi, cho biết Phật tử thấy các nấm mồ nên phát tâm xây bia mộ, dần tạo thành khu thường được gọi là “nghĩa địa heo 5 móng”.

Ngôi chùa hoàn toàn có thật, là cảm hứng cho phim kinh dị Việt đang chiếu ngoài rạp: Tồn tại hơn 400 năm - Ảnh 4.

Cận cảnh khu vực được cho là chôn heo năm móng ở 

chùa (Ảnh Phim Heo Năm Móng)

Đây được đánh giá là một câu chuyện dân gian nổi tiếng, phản ánh lớp tín ngưỡng và quan niệm truyền miệng của một vùng đất.


Ngôi chùa Khmer hơn 400 năm tuổi nổi tiếng bậc nhất Sóc Trăng

Chùa Dơi còn được gọi là chùa Mã Tộc, chùa Mahatup, tọa lạc tại số 73B đường Lê Hồng Phong, khu vực TP Sóc Trăng cũ. Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, chùa cách trung tâm thành phố khoảng 2km về hướng đông nam.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết Chùa Dơi theo Phật giáo Nam tông, do người Khmer xây dựng vào năm 1569. Chùa được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1999. Như vậy, tính đến nay, ngôi chùa đã tồn tại hơn 400 năm và là một trong những điểm đến tiêu biểu khi nhắc tới văn hóa Khmer ở Sóc Trăng.

Ngôi chùa hoàn toàn có thật, là cảm hứng cho phim kinh dị Việt đang chiếu ngoài rạp: Tồn tại hơn 400 năm - Ảnh 5.

Ảnh Heng Duong

 

Về kiến trúc, Chùa Dơi mang đậm dấu ấn Khmer Nam Bộ. Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, chính điện có mái cong chạm trổ hình rắn Naga, trên đỉnh mái là tháp nhọn. Bao quanh chính điện là các hàng cột, mỗi cột có tượng tiên nữ Kemnar chắp tay trước ngực. Bên trong chùa có tượng Phật Thích Ca, tượng Đức Phật cưỡi rắn thần Muchalinda và các bức tranh tường kể lại cuộc đời Đức Phật.

Tên gọi “Chùa Dơi” xuất phát từ đàn dơi sinh sống lâu năm trong khuôn viên. Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, nơi đây có hàng vạn con dơi, chủ yếu là dơi quạ. Có con nặng khoảng 1–1,5kg, sải cánh có thể rộng tới 1,5m. Ban ngày, dơi treo mình trên các cành cây trong vườn chùa; khoảng 18h bay đi kiếm ăn và trở về vào khoảng 5h sáng hôm sau.

Ngôi chùa hoàn toàn có thật, là cảm hứng cho phim kinh dị Việt đang chiếu ngoài rạp: Tồn tại hơn 400 năm - Ảnh 6.

Ngôi chùa hoàn toàn có thật, là cảm hứng cho phim kinh dị Việt đang chiếu ngoài rạp: Tồn tại hơn 400 năm - Ảnh 7.Ngôi chùa hoàn toàn có thật, là cảm hứng cho phim kinh dị Việt đang chiếu ngoài rạp: Tồn tại hơn 400 năm - Ảnh 8.

Một số góc khác về ngôi chùa (Ảnh Tico Travel)


Du khách nên tham quan Chùa Dơi thế nào?

Với du khách, Chùa Dơi phù hợp cho một chuyến tham quan ngắn trong ngày khi đến Sóc Trăng. Hành trình có thể bắt đầu từ khu chánh điện để ngắm kiến trúc Khmer, sau đó đi dạo trong khuôn viên rợp bóng cây để quan sát đàn dơi, rồi ghé khu mộ heo năm móng phía sau chùa nếu muốn tìm hiểu thêm câu chuyện dân gian gắn với nơi này.

Thời điểm lý tưởng để ghé chùa là buổi sáng hoặc đầu giờ chiều, khi đàn dơi còn treo mình trên cây. Nếu muốn quan sát cảnh dơi rời tổ, du khách có thể đến vào cuối buổi chiều, trước khoảng 18h. Tuy nhiên, đây vẫn là không gian tôn giáo, vì vậy người tham quan nên ăn mặc lịch sự, giữ trật tự, không chạm vào hiện vật, không trêu chọc hay cố tiếp cận đàn dơi.

Ảnh Du lịch Sóc Trăng

 

Từ trung tâm Sóc Trăng cũ, Chùa Dơi nằm không quá xa, thuận tiện di chuyển bằng xe máy, taxi hoặc ô tô riêng. Du khách cũng có thể kết hợp điểm đến này với các ngôi chùa nổi tiếng khác trong vùng như chùa Kh’leang, chùa Chén Kiểu, chùa Đất Sét để có một hành trình trọn vẹn hơn về văn hóa Khmer Nam Bộ.

Nguồn: Ngôi chùa hoàn toàn có thật, là cảm hứng cho phim kinh dị Việt đang chiếu ngoài rạp: Tồn tại hơn 400 năm

Gói Xôi Năm Ấy - Lê Văn Thông

( Lê Văn Thông .Tranh ViVi)

 

(Một câu chuyện nhỏ về người thầy và ân tình năm cũ)

Buổi sáng đầu thu, sân trường ngập nắng. Lá bạch đàn non lay nhẹ trong gió, hắt bóng xuống từng tà áo trắng vừa đến lớp. Tôi đứng trên bục giảng, nhìn lũ học trò ríu rít cười nói mà trong lòng bỗng dâng lên cảm giác vừa thân quen, vừa xa lạ.

Ngày đầu tiên nhận lớp, tôi nói:

“Thầy sẽ công bằng với tất cả. Không ai là học trò cưng, và cũng chẳng ai bị ghét bỏ.”

Khi ấy, tôi tin mình có thể giữ được lời. Nhưng rồi, thời gian trôi, tôi mới hiểu – có những điều mà trái tim không thể “công bằng” được. Nhất là khi đứng trước một cậu học trò có đôi mắt giống hệt người xưa…

Thằng Tí – học sinh lớp 10A3 – là đứa ít nói nhất lớp. Nó học không tệ, nhưng thường đi học trễ, bài làm có khi thiếu, có khi gấp góc giấy vội vàng. Áo sơ mi nhàu, dép mòn, cặp sờn quai. Trong giờ học, đôi khi nó gục đầu lên bàn, ngủ quên lúc nào không biết.

Ban đầu, tôi nghĩ nó lười. Một đứa lớn rồi mà không biết tự lo, để người khác phải nhắc mãi. Có hôm tôi nghiêm giọng:

– Em Tí, nếu không cố gắng, thầy sẽ phải báo với Ban giám hiệu.

Nó đứng dậy, cúi đầu:

– Dạ… con xin lỗi thầy.

Giọng nó nhỏ, mà buồn.

Hôm ấy, tan học, tôi thấy nó vẫn ngồi lại ở ghế đá cuối sân, nhìn xuống đất, dáng nhỏ thó, lặng lẽ. Tôi đến gần, hỏi:

– Sao chưa về hả em?

Tí ngẩng lên, cười gượng:

– Dạ, con đợi dì đến rước. Má con mất rồi… ngày xưa má con bán xôi.

Tôi lặng người. Một thoáng ký ức ùa về – tiếng rao khàn buổi sớm, khói xôi bay thơm ngát trước cổng trường làng.

Tôi hỏi, giọng run:

– Má em tên gì vậy Tí?

– Dạ, má con là dì Sáu bán xôi đầu chợ hồi đó. Má mất mấy năm rồi. Má con hay kể, hồi xưa có chú học trò nghèo, sáng nào cũng ghé, má cho ăn gói xôi rồi nói: “Ráng học nghe con.” Má bảo, chú đó học giỏi lắm…

Tôi nhìn em, lòng nghẹn lại:

– Thầy chính là chú học trò đó, em à. Hồi đó nhà thầy nghèo lắm, nhờ gói xôi của má em mà có sức tới trường mỗi ngày.

Tí ngỡ ngàng, rồi mím môi cười khẽ:

– Vậy ra… thầy là người má con từng kể hả thầy?

Tôi đặt tay lên vai em, giọng khàn đi:

– Ừ, má em đã giúp thầy . Giờ tới lượt thầy giúp em. Ráng học nghe, cho má em trên trời được vui.

Từ hôm ấy, tôi để ý đến Tí hơn. Không phải vì thương hại, mà vì muốn tiếp nối điều dang dở của một người mẹ. Tôi kèm em thêm sau giờ học, hỏi han khi thấy em mệt, thỉnh thoảng dúi vào tay em hộp sữa, nói nhỏ:

– Uống đi, đừng để đói rồi học không vô.

Ban đầu em ngại, sau quen dần. Ánh mắt em sáng hơn, nụ cười cũng hiền hơn. Từng con chữ, từng phép tính dần dần nối lại niềm tin mà năm nào chính tôi từng được dì Sáu thắp lên.

Cuối năm, Tí đứng trên bục nhận giấy khen, ánh nắng xiên qua khung cửa sổ chiếu lên khuôn mặt rám nắng của em. Giây phút ấy, tôi thấy như có bóng dáng dì Sáu thấp thoáng giữa sân trường, mỉm cười hiền lành trong gió.

Nhiều năm sau, tôi nhận được một lá thư, nét chữ nghiêng nghiêng quen thuộc:

“Thưa thầy,

Con nay đã là sinh viên Sư phạm.

Con chọn nghề thầy – như thầy ngày trước.

Thầy đã cho con niềm tin để bước tiếp.

Con cảm ơn thầy "

Tôi đọc thư, nước mắt rơi ướt cả giấy.

Chiều hôm đó, tôi ghé lại chợ cũ. Cây bàng xưa vẫn đứng lặng, bóng lá đổ dài trên nền xi măng. Gió thổi qua, hương nếp đâu đó thoảng nhẹ, như dì Sáu đang mỉm cười trong làn khói sớm.

Tôi hiểu rằng, suốt đời này, người ta chẳng thể nào “công bằng” khi đứng trước tình thương.

Bởi trong hàng trăm học trò, sẽ luôn có một đứa khiến tim mình mềm lại – như thằng con của dì bán xôi năm nào.

Và tôi biết, chính từ gói xôi năm ấy, tôi đã học được bài học quý giá nhất trong đời:

Dạy học không chỉ là truyền kiến thức – mà là giữ cho ngọn lửa ân tình luôn cháy mãi trong lòng người.

Có những món quà chẳng gói trong giấy bóng, chẳng buộc ruy băng.

Chỉ là một gói xôi thơm, nhưng ấm suốt cả một đời người.


Lê Văn Thông

Đường Xưa Hẹn Hò - Nguyễn Duy Phước


Wednesday, May 27, 2026

Tách Trà Của Quý Vị Có Thể Chứa Hàng Tỷ Mảnh Nhựa Li Ti Từ Bình Đun Nước - Huỳnh Chiếu Đẳng

Cám ơn sư phụ Huỳnh Chiếu Đẳng


Nguồn tin và chi tiết: https://www.sciencealert.com/your-cup-of-tea-could-contain-billions-of-microplastics-from-one-source?utm_source=flipboard&utm_content=ScienceAlert/magazine/ScienceAlert

 

HCD: Máy tóm tắt nội dung bài báo (có thể còn sót những “tiếng mới” khó hiểu khó nghe)

 

Tách trà của quý vị có thể chứa hàng tỷ mảnh nhựa li ti từ bình đun nước

Một nghiên cứu mới đây từ Đại học Queensland (Úc Đại Lợi) vừa đưa ra lời cảnh báo: các loại bình đun nước bằng nhựa (loại nhựa polypropylene) có thể là nguồn cơn đưa một lượng lớn bụi nhựa vào cơ thể chúng ta hằng ngày.

Các điểm chính trong bản tin:

  1. Lượng bụi nhựa cực lớn: Qua phân tích, các nhà khoa học nhận thấy trong lần đun nước đầu tiên, một chiếc bình điện bằng nhựa mới có thể thải ra tới 12 triệu hạt nhựa siêu nhỏ (nanoplastics) trên mỗi phân khối nước. Tính ra, một tách trà trung bình có thể chứa đến 3 tỷ hạt nhựa này.

Bình nấu nước bằng nhựa

 

  1. Nguy cơ cho sức khỏe: Dù giới khoa học chưa khẳng định chắc chắn toàn bộ tác hại, nhưng các nghiên cứu trước đây cho thấy việc ăn phải bụi nhựa có liên quan đến các chứng bệnh về đường ruột, phổi và cả các bệnh suy nhược thần kinh như bệnh Parkinson.
  2. Cách giảm bớt bụi nhựa: Các nhà nghiên cứu chỉ ra hai cách để hạn chế tình trạng này:
    • Đun nước nhiều lần rồi đổ đi: Lượng nhựa thải ra sẽ giảm mạnh sau khoảng 10 lần đun và giảm xuống mức rất thấp sau 50 lần. Tuy nhiên, ngay cả ở lần đun thứ 150, người ta vẫn còn tìm thấy mạt nhựa. Vì vậy, khi mua bình mới, quý vị nên đun và đổ nước đi nhiều lần trước khi dùng để pha thức uống.
    • Dùng nước máy có chất khoáng (nước cứng): Các chất khoáng trong nước khi đun nóng sẽ tạo thành một lớp đóng vôi mỏng bên trong bình, lớp này vô tình giúp bao phủ và ngăn không cho bụi nhựa thoát ra.
  3. Lời khuyên: Các chuyên gia đề nghị các nhà sản xuất nên có nhãn cảnh báo và hướng dẫn kỹ lưỡng hơn trên sản phẩm. Việc chỉ tráng sơ bình bằng nước lạnh trước khi dùng là không đủ để loại bỏ các hạt nhựa độc hại này.

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu thêm trên nhiều loại đồ gia dụng khác để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của nhựa đối với đời sống con người.


HCD: Thấy thì trình các bạn may ra có ích được chút nào chăng. Bạn nào chưa xài loại bình nấu nước nhựa nầy thì nên tránh, bạn nào có trong nhà thì chắc là nên bỏ đi.


Huỳnh Chiếu Đẳng Quán ven đường

Đời Sống Một Dân Thường Sau 75 - Nguyễn Kiều Phương

 

Khi lấy thời điểm 75 làm mốc mà dùng từ "dân thường" tức là không có "làm Việt Cộng" mà cũng chẳng "theo Quốc Gia".

Gia đình tôi sống cạnh Ty Cảnh Sát. Hàng xóm đa số là viên chức hành chánh "tối lửa, tắt đèn" có nhau.

Ngày Mỹ rút khỏi Miền Nam,tôi nghĩ là họ đã biết trước. Những người hàng xóm của cha mẹ tôi chuẩn bị di tản. Họ bán đi những vật dụng có giá trị mà họ không thể mang theo. Cả xóm tôi "âm thầm" bán. Cha tôi mua tất cả những món đồ của họ bán. Gia đình tôi không có ý định di tản, ai cũng nghĩ cha tiếc của, đến sau này tôi biết, cha không đi vì bà Nội sắp trăm tuổi già.

Cha rất hiếu thảo với bà, từ nhỏ đến giờ tôi đã quen cảnh cha nhất định giặt đồ cho bà nội, tự tay rót nước cho bà không để các con làm.


Thời gian ấy, nhà tôi thật nhộn nhịp, người ra kẻ vào. Tôi quen các cô các chú đó hết. Họ cho tôi vài món đồ mà họ không thể mang đi nhưng họ rất quý: một cuốn sách, một cái cặp, cây bút máy... Có chú đưa tôi một túi đồ nặng nặng không biết là gì, tôi không mở ra xem về sau tôi cũng quên luôn.

Những người đó đi luôn không trở lại, tôi nghe loáng thoáng trong số họ có người ra đến sông Cái giựt chốt lựu đạn tự sát. Phía sau Ty Cảnh Sát người ta đốt những chồng giấy cao và nặng, đốt mấy ngày đêm, ngọn lửa bốc cao lắm.

Ngày 30/4/75, thị xã tôi vẫn bình yên, không tiếng súng, bọn nhỏ chúng tôi chạy ra đường xem Việt Cộng. Chỉ vài người bận đồ đen, quấn khăn "choàng tắm", vác súng đi vào Ty Cảnh Sát. Trong Ty không còn ai.

Cuộc sống không gì thay đổi, theo góc nhìn của một đứa trẻ như tôi lúc bấy giờ, hàng xóm vẫn mang đồ qua nhà tôi bán, thỉnh thoảng có nhà đóng cửa đi mất...

Tôi vào lớp 6. Trường phát mỗi đứa 10 hạt bobo về nhà trồng. Trước sân nhà tôi có trồng mấy chậu kiểng và một gốc Sabochê... Tôi gieo hạt dưới gốc Sabochê rồi tháng sau... ra chợ mua một lon bobo đem nộp!

Lớp có một cô giáo dạy toán người bắc, cô mặc toàn quần đáy nem đen với áo sơ mi trắng chít bốn ben, tóc cô thật dài và thắt bím. Cái đặc biệt nhất ở cô mà tôi thấy là... tôi không thể nghe được cô giảng gì cả!

Một hôm đi học về, tôi thấy cha đào hết khoảnh sân nhà lên, mấy chậu kiểng bị đẩy vào một góc sân. Cha trồng xuyên tâm liên, một loại thảo dược quý trị bá bệnh từ miền bắc đưa vào. Nhưng tôi thấy cha vẫn uống thuốc tây khi bệnh, chắc cha để dành cho trường hợp bệnh nặng hơn!!!


Nhà nước đổi tiền, tội nghiệp cha tôi không có tiền để đổi, bao nhiêu tiền cha tôi lấy đi mua đồ của hàng xóm hết rồi. Hôm đó, cha đi đổi tiền dùm hàng xóm khi về cha kể, ông Trường Thành, chủ của mấy cây xăng trong thị xã đã ngất xỉu ở chỗ đổi tiền, có lẽ thấy vậy nên điểm đổi tiền chỉ để ông mang về nhà một số tiền tượng trưng còn bao nhiêu họ giữ lại dùm ông sợ ông vác về nặng... khi đi đổi tiền ông vác đến 2 bao, sau này mấy cây xăng của ông nhà nước của chính quyền mới cũng quốc hữu hóa hết luôn.

Cha nói họ đánh tư sản, 500 đồng mang đi đổi được 1 đồng, ai nhiều mấy cũng mang về 500 đồng hay 250 đồng gì đó.

Thời kỳ tem phiếu bắt đầu, cái sổ hộ khẩu quý như sinh mạng, ai không có nó là chết đói! Cứ theo nhân khẩu mà cho chỉ tiêu gạo, vải, nhu yếu phẩm rồi phát tem, phiếu. Tới đợt hợp tác xã bán gì thì mua nấy, cửa hàng là mấy ngôi nhà chủ đi vắng, "cách mạng lâm thời miền nam Việt Nam trưng dụng".

Cha đi mua gạo vác về, mỗi người có tên trong hộ khẩu được 13kg, má kêu cha mang gạo qua cho nhà chị Mun, mẹ chị ấy đi mất từ hôm giải phóng vô. Má ăn gạo trong bao bố tời, mỗi bao 100kg, gạo phải thơm, quen rồi, má nói vậy.

Cha đi mua vải, cả nhà lớn bé nam nữ gì cũng một loại vải mười, màu ruốc in hoa. Má tôi đem cất trong bếp.

Bây giờ xóm tôi như người một nhà, vì ai cũng mặc đồ hoa vải giống nhau.

Căn tin, cửa hàng xuất hiện, thay vì ra quán, tiệm, mua chè, mua bánh, cà phê bọn tôi ra căn tin mua. Cửa hàng bán chỉ một thứ mấy ngày liên tiếp, hết món đó bán đến món khác, cũng mấy ngày.

Chợ vẫn nhóm bình thường, vẫn bán đâu thiếu thứ gì.

Nhà tôi vẫn lúa dí đầy bồ, sau vườn nuôi vài con heo, cha thỉnh thoảng vác chài xuống sông vãi vài cái cho má tôi món cá kho tiêu.


Một năm, sau khi đánh tư sản, "tàn dư của Mỹ Ngụy" cạn hết. Mỹ cấm vận, người ta đến tìm cha tôi mua những món đồ họ cần mà cha tôi có nhưng không xài. Nhà tôi lúc đó như cái kho, búa, kềm, khoan điện, khoan tay, mỏ lết, xà beng... đến tủ lạnh, tủ mát, bàn trang điểm, tủ thờ... trong phòng cha chất một góc rượu tây, hàng quân tiếp vụ, thuốc lá xigà... 

Ai mua gì cha cũng có. Tôi nhìn đống đồ của cha mà biết tên và biết xử dụng hết các thứ đó, sau này điều đó rất có ích cho cuộc sống của tôi.

Có bữa một người quen với cha ghé lại nói với cha gì đó không biết, chỉ nghe cha trả lời, không cần đâu, ngày xưa tưởng mày khổ, chứ biết mày làm VC tao đâu có giúp mày, lấy tờ giấy gia đình có công cách mạng làm sao tao đi Mỹ... Rồi cha lầm bầm, giải phóng cái gì không biết!


Thời kỳ ngăn sông cấm chợ:

Cha đi Saigon, về cha kể: từ quê lên Saigon có 150 cây số đi xe đò mà đi từ sáng sớm chiều mới tới Xa Cảng miền Tây. Trạm kiểm soát dựng lên dọc đường nhiều không nhớ nổi. Ấn tượng nhất là trạm Tân Hương, xe đến trạm phải vào một ngỏ riêng để kiểm soát, hành khách phải xuống xe hết, hành lý bị lục tung ra...thậm chí có khi họ xét người luôn, họ bắt lương thực, thực phẩm của tỉnh này mang qua tỉnh khác, đặc biệt là thịt heo, không biết cái ông ra sắc lệnh "ngăn sông cấm chợ" này có thù gì với con heo?! Quái lạ!!!

Thịt đem ra khỏi tỉnh bán gọi là thịt lậu, người đi bán thịt ra ngoài tỉnh gọi là buôn lậu. Dân buôn lậu quấn thịt quanh người, giấu dưới băng ghế... những người đi buôn họ móc nối hoặc bắt bồ với nhân viên kiểm soát. Cha đi thăm chị học ở Saigon, má nấu thịt cho chị đựng trong lon guigoz để khỏi bị tịch thâu. Khổ thân!

Thời này đến chơi nhà bạn bè, dù tay bắt mặt mừng nhưng phải ý tứ mang theo ít gạo thịt.

Anh Tâm con dì Ba sống ở Đà Lạt, trồng rau củ...không có gì ăn, chạy về quê mang theo vợ con đùm đề.

Chị tôi đậu đại học, ở ký túc xá sinh viên tháng được lãnh 12 ngàn, ăn cơm nhà bếp độn bobo thiếu chất bị phù thủng mặt tròn quay phải ăn gạo lức muối mè, lên giảng đường ngồi học mà đem chỉ gân theo thắt giỏ bán. Chị khoe mới bốc thăm được mua cây đàn, chị có đàn đâu, đem bán đó, chị xin tiền cha mua chiếc xe đạp, nói để đạp đi Long An mua gạo, mua thuốc tây... về bán, không nghe kể chuyện học hành.

Sau này tốt nghiệp đại học chị vẫn còn nợ điểm, cha lo lót cho người quen trên đó một chỉ vàng để chị được giữ lại hộ khẩu thành phố, Saigon đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh, người dân quê chúng tôi gọi tắt là thành phố cho nó gọn. Rối rắm!


Tôi lên lớp 7. Trường tôi có thầy hiệu trưởng mới từ miền Bắc vào nhận "công tác".Thầy sống trong trường ở dãy nhà sau lớp học của tôi, sáng đi học sớm, tôi vào lớp hay nhìn qua cửa sổ thấy thầy ăn sáng, không biết ăn gì mà nghe thầy húp rồn rột, thầy hay ngửi ngửi cây tăm mới xỉa xong rồi gát nó lên chung trà... Thầy mặc thêm áo sơ mi vào chồng lên chiếc áo thun ba lỗ bị rách mấy đường sau lưng. Trước khi ra khỏi nhà, thầy "chiêu" một ngụm trà súc ộc ộc trong miệng rồi mới nuốt... Chuông reo...

Cô Thoại rất hiền, người thô, cục mịch, hơi cà lăm, cô dạy toán không biết sao tự nhiên cô nghỉ dạy, tụi bạn nói thấy cô bán vé số ngoài chợ.

Thầy Điệp cũng nghỉ dạy, tôi biết, tôi thấy thầy bán nước sâm, mỗi lần đi ngang xe nước sâm của thầy tôi đều đứng lại cúi chào, thầy cười, không giống ngày xưa, lúc thầy dạy văn, thầy vui hơn bây giờ.

Thầy Đệ có “đề pô” nước đá trước khi đi dạy, thầy dạy tôi dễ hiểu nên tôi thích môn Lý của thầy, tôi là học trò giỏi được thầy cưng. Tôi cũng thương thầy lắm, thầy lùn tịt, mặt sần sùi đầy thẹo, chắc hồi nhỏ thầy nặn mụn hoài... Thầy nghỉ dạy, học cô mới tôi không vui, tôi nhớ những lần chọc phá của bọn tôi: thầy cho bài tập trên bảng, tôi hay nói:

- Thầy đừng ghi... lộn đề... nhe thầy!

Thầy nói tỉnh queo:

- Không lộn!

Nhưng lát nữa thế nào cũng có một cục phấn chọi vào trán tôi cái cốc...!!! Báo thù!

Cô Huỳnh Liên không bỏ dạy mà đổi môn, cô dạy chính trị không dạy văn nữa... Chồng cô đang học tập cải tạo ở Trại Ba Sao, tháng sau cô đi thăm chồng, bọn học trò chúng tôi hùn tiền gởi cô mua đồ cho thầy... 

Xóm tôi cũng có vài người đi học tập cải tạo ở Tân lập, Suối Máu, Bà Bèo...

Nhỏ bạn tên Kim Anh, người Hoa, rủ tôi lãnh làm vỏ xe đạp bằng cách lấy bố từ vỏ xe tải cũ dán lại, để kiếm thêm "thu nhập". Cha không cho làm, biểu lo học cho giỏi đi... Thôi vậy!

Gần đây tôi học được vài từ mới của chị lớp trưởng người Bắc vừa theo ba mẹ vào Nam "công tác": "khẩn trương", "tăng gia", "thu nhập", "cải thiện", "tập thể"... có vài từ không hiểu sao lại đọc ngược như: đảm bảo,  giản đơn...


Rồi một hôm, trường tôi bị lấy, vì họ không báo trước nên thầy trò chúng tôi ngồi ngoài đường cả buổi sáng, nghe nói lấy làm trường cho con cái cán bộ học, nhưng họ không dùng từ Thiếu Sinh Quân vì đó là từ "Ngụy quyền Saigon" hay xài. Không biết họ là ai. Mù mờ...

Nhà hàng xóm ồn ào, tôi chạy ra coi, bác Hai hớt tóc mở máy hát nghe nhạc Hoàng Oanh bị trên công an phường tịch thâu dĩa hát, lần sau lấy luôn cái máy đó nhe... tôi cũng thích Hoàng Oanh, cô ngâm thơ, bài Hòn Vọng Phu hay ác! "Nhạc ngụy", cấm đó nhe... Tối về tôi kể cả nhà biết, vì cha tôi thường uống rượu lúc ăn cơm chiều, có lúc vui vui cha mở nhạc rồi nhảy đầm nữa. Mẹ tôi nói ông mở nhạc không lời mà sợ gì, trời ơi! Nhạc không lời còn ghê hơn, tàn dư "Mỹ Ngụy" đó. "Nhất trí" nghe cải lương Út Trà Ôn, Minh Cảnh....

Má đi đám cưới anh Chiêu, anh ở với chị Huỳnh có chửa, bên chị kêu làm cái "thú phạt". Cơ quan anh Chiêu bắt làm lễ “Tuyên hôn”, tiệc đãi ở trong nhà ngoại anh Chiêu, cây nhà lá vườn, heo với cá nuôi sẵn. Má nói, “Thủ trưởng” anh ăn cái đầu cá vồ còn nguyên con lãi trong mang... Thấy gớm!!!

Sáng chúa nhật, cô Liễu qua nhờ mẹ sửa mấy cái quần ống loe, hôm nay chị cắt tóc ngắn, móng tay cũng ngắn và không sơn. Lúc trước móng tay chị để dài sơn đỏ chót, tóc cũng dài, uốn lọn, đẹp như Thẩm Thúy Hằng. Bây giờ chị cắt hết, tóc, móng, quần cũng cắt. Chị nói chị đang lo, mấy ông cách mạng bắt mấy người chưa chồng gả cho thương binh... Mẹ bảo, mầy thì ai mà lấy!


Đi kinh tế mới:

Vài gia đình xóm gò mã sau nhà tôi đóng cửa đi kinh tế mới. Họ đến những vùng hoang vu hẻo lánh khai khẩn đất hoang, nhưng được một thời gian sau họ lại quay về. Cứ hể khẩn xong phần đất nào là cán bộ đến dẫn họ đi sâu vào vùng đất hoang mới, xa hơn, hoang mạc hơn... Sao chịu được!!!

Đất nước đi từ có đến không, từ không đến có. Chế độ độc tài, độc đảng, xã hội không có đối trọng, không có sự cạnh tranh thì không thể phát triển và tiến bộ được.

Tất cả sự cạnh tranh của chế độ đều đi đến một mục đích dân giàu nước mạnh.

Nhà cầm quyền và bộ máy nhà nước chỉ được lập ra để bảo vệ quyền lực mà không nghĩ đến nhân dân.

Cuộc nội chiến gây nên tổn thương tinh thần và xương máu toàn dân. Nhưng chính quyền mới cứ luôn hả hê rằng mình là bên chiến thắng.

Thay đổi chế độ, chỉ cần cướp quyền lực và thu phục lòng dân. Không được lòng dân mà giữ được quyền lực trong một thời gian dài thì chỉ có hai lý do. Nhà cầm quyền tài giỏi hoặc nhân dân yếu hèn. 

Tôi là một người yêu nước hèn yếu.


Nguyễn Kiều Phương

Vong Nhân Tử Sĩ - Đỗ Công Luận

Tuesday, May 26, 2026

Giáng Tiên - Quý Thể

Hình minh họa

Hồi  ấy tôi bắt đầu làm thơ. Làm thơ thực là vất vả, tôi ngồi trước tờ giấy trắng cả giờ chẳng biết viết gì. Tôi thử chọn đề tài trời, trăng, mây, nước, bướm, ong, hoa lá... nhưng không sao viết được bài nào hay. Tôi chẳng khám phá ra tứ thơ nào mới cả. Những điều tôi viết ra đã có người viết cả rồi. Người ta khuyên nên làm thơ tình vì chỉ có thơ tình mới dễ cảm sâu vào lòng người, nhưng muốn làm thơ tình thì phải yêu mà tôi thì chưa yêu. Thế là tôi ráo riết đi tìm người yêu, tôi cần một nàng thơ giống như con tàu vũ trụ cần tên lửa để phóng mình chu du chín tầng hư ảo tìm hái những vần thơ lạ cống hiến cho đời. Người ta lại còn nói mối tình đau thương, trắc trở ngang trái, tuyệt vọng thì mới sản sinh ra được những áng văn thơ sầu não dễ làm dễ hay, nói vắn tắt là "thơ thất tình".Muốn có thất tình thì theo tôi cũng chẳng phải là điều khó. Tôi sẽ chọn cho mình một nàng công chúa cao sang còn tôi tự mình đày đọa mình, hóa thân thành anh chàng bán than xấu xí bần hàn, những "cuộc tình không cân sức" kiểu này thế nào cũng dẫn đến một kết cục não lòng lúc đó tha hồ mà làm thơ, vì sự nghiệp thơ ca tôi quyết định làm cuộc thí nghiệm. Tôi bắt đầu lạnh nhạt với với những niềm vui và hạnh phúc tầm thường. Tôi thèm khát sự đau khổ, tôi tin rằng một sự đau khổ thanh khiết có khả năng thăng hoa thành thơ ca bất tử, tôi phiêu lưu đi tìm cội nguồn của sự khổ đau, tuyệt vọng.


Kế hoạch đã vạch ra, cứ thế mà thi hành.Tôi chẳng mất nhiều thời gian thì đã hoàn thành bước đầu. Mấy ngày sau đã có nàng công chúa, đã có chàng bán than, đã có cuộc tình đơn phương, não lòng. Tôi đã gặp nàng "giáng tiên" đến lần thứ ba thì đã có thể tôn nàng lên ngôi thần tượng, nàng thơ, niềm kiêu hãnh đau thương, niềm hoang lạc tàn nhẫn, sự đau đớn diệu kì. Giáng Tiên là ca sĩ phòng trà, hàng đêm tôi có thể đến chiêm ngưỡng nhan sắc ảo não và nhấm nháp no nê giọng ca thánh thót của nàng. Dưới ánh đèn sân khấu nàng rực rỡ như một bà hoàng. Nàng thanh khiết cao vợi lấp lánh hào quang như khuôn mặt thánh nữ thấp thoáng trong bảy sắc cầu vồng. 


Nhiều hôm tôi thấy chiếc áo kim tuyến nàng mặc trên người sáng lên như một ngọn pháo hoa, đốt cháy một cách ngây ngất mọi giác quan trong tôi. Có khi chiếc áo dài trắng thêu hoa nàng mặc trên người đẹp tới làm cho tiếng đàn dương cầm bỗng chốc hóa thành xanh đỏ chen chúc nhau rơi xuống cõi trần như cơn mưa xác pháo. Nàng đi giống như con rắn nước lượn lờ trôi theo dòng nhạc, bao nhiêu cặp mắt nhìn lên đói khát thèm thuồng, bao nhiêu pháo tay, bao nhiêu hoa tươi... nàng bay thật cao trong một thứ gió hào quang, danh vọng, còn tôi thì tự đày đọa mình trong chốn thấp hèn tối tăm cũng chỉ với mục đích: Làm thơ yêu nàng. Tôi cấm mình không được mon men đến gần, tôi không cho mình yêu theo cái kiểu phàm phu tục tử, tôi sợ nàng thơ mỏng manh như bọt xà phòng tan vỡ vì những ý nghĩ thô tục, thường tình của tôi. Chẳng bao giờ tôi dám tưởng tượng xa xôi nghĩ về một sự chung đụng tầm thường như những cặp trai gái khác. 


Mỗi đêm sau buổi biu diễn, bao nhiêu chàng công tử hào hoa đưa đón nàng , còn tôi dựng chiếc xe đạp cà tàng dưới gốc cây từ xa đứng nhìn nàng lên xe, rồi tôi đi về lòng mang một nỗi buồn thật dễ chịu. Sau đó tôi đắm mình trong sự cô đơn sầu thảm não nề. Tôi cố gắng giữ sự cách biệt giữa tôi và "Giáng tiên", tôi lại cố gắng đẩy thêm cho sư tương phản giữa cao trọng và thấp hèn của nàng và tôi thêm rộng ra. Tôi tin sự tương phản đó sẽ tạo ra một loại phản ứng dây chuyền thúc đẩy những "phân tử thơ" bắn phá nhau mà kết quả là một năng lượng thơ khổng lồ sinh ra. Quả nhiên phản ứng có xảy ra thật. Đêm đêm tôi về viết được những bài thơ trường giang đại hải nhưng lạ quá, thơ thì dài viết thì dễ nhưng vẫn chưa có bài thơ hay. Tôi tin chắc mình không phải là kẻ bất tài, có thể mình còn mắc phải một sai lầm nào đây chỉ vì mình chưa yêu hay đã yêu nhưng chưa yêu đủ liều lượng, hoặc chỉ mới còn đứng giữa ranh giới của lãnh địa thần tình ái chứ chưa hẳn ở trong đó và thế là tôi càng phải cố gắng. Tôi phải dùng chữ "cố gắng" vì tôi thấy yêu người cũng là công việc khó khăn tột bực, tôi đem hết cả năng lực dự trữ ra dùng vào công việc yêu nàng Giáng tiên.

Giai đoạn đầu xảy ra đúng như dự liệu nhưng về sau điều mong mỏi kỳ quặc tưởng đâu dễ dàng thực hiện nhưng cuộc sống lại có những bất ngờ ghê gớm, chính sự ngẫu nhiên phi lý của cuộc sống lại đưa nàng Giáng tiên đến với tôi, lấp hẳn cái hố cách biệt mà tôi cố tình đào ra.


Đó là vào một đêm mưa cuối đông, trời mưa tầm tã, phòng trà vắng tanh, đêm đó mấy vị công tử hào hoa bỏ về trước để lại nàng Giáng tiên bơ vơ một mình, tôi thấy nàng đứng đợi xe rất lâu vẫn không có chiếc xích lô nào đi qua, Giáng tiên nhìn thấy tôi, nàng kêu tôi lại chỉ bằng một nụ cười thân thiện. Không biết đây có phải lần đầu tiên nàng biết có tôi hiện hữu trên cõi đời này không? Chiếc xe đạp của tôi có diễm phúc được nàng chọn, tôi dắt xe lại gần, quanh nàng sực nức hương thơm. Giáng tiên thỏ thẻ: "Anh cho em về nhà đi!" Giáng tiên lên xe, tay nàng vòng qua cái bụng chỉ toàn thơ lép kép của tôi. Tôi cũng cảm tưởng như hai vòng bánh xe trôi theo làn hương quấn quýt sau lưng tôi. Trên đường đi, Giáng tiên làm quen và hỏi tôi nhiều chuyện, tôi nghe giọng nói và giọng hát của nàng khác hẳn nhau, giọng nói thì đầy âm sắc quê mùa mộc mạc thế mà khi lên sân khấu đứng trước micrô nàng bắt chước cái giọng gì nghe lạ quá, giống như tây nói tiếng ta, một thứ giọng nói nửa nam nửa bắc và khi nàng hát lại còn lạ hơn nữa, nàng hát tiếng Pháp, Anh, Hoa, Ấn độ...  Không biết nàng hiểu những điều nàng hát không?

Tới nơi nàng không cho tôi đưa tận nhà. Giáng tiên nói, khuya rồi hàng xóm họ dị nghị. Ban ngày lại chơi. Rồi Giáng tiên chỉ cho tôi căn nhà cuối con hẻm có ngọn đèn vàng ngoài hiên.


Tôi quay xe về, lòng hoang mang vô kể, thực tình thì tôi không muốn có cuộc tiếp xúc vừa qua, cuộc gặp gỡ  chỉ có mấy phút ngắn ngủi đã làm rạn nứt phần nào thần tượng mong manh pha lê của tôi mà tôi vẫn xây một lâu đài cổ tích dành cho nàng công chúa chứ không phải căn nhà nhỏ tồi tàn cuối con hẻm tối tăm đó. Tôi không ngờ da thịt trong trẻo tinh khiết của nàng công chúa lại có thể chạm vào cái bụng phàm phu tục tử nào dù đó là cái bụng chứa đầy tứ thơ của tôi. Thôi đã thế thì hãy thâm nhập vào chốn bồng lai tiên cảnh một chuyến xem nàng tiên sống như thế nào. Và thế là sáng hôm sau, 9 giờ tôi đến gõ cửa nhà nàng.


Tôi gõ hồi lâu mới nghe tiếng dép lê trong nhà, tiếng mở khóa lách cách và một khuôn mặt ngái ngủ hiện ra. Dưới ánh sáng ban ngày chói chang, nét mặt của Giáng Tiên làm cho tôi sững sờ. Đây có phải nàng Giáng Tiên ướt sũng ánh đèn sân khấu mỗi đêm dâng tiếng ca huyền hoặc cho đời? Bộ mặt mà tôi gặp sáng nay khác hẳn. Ôi bao nhiêu sự bê trễ cẩu thả hiện ra rõ mồn một. Đâu rồi hình bóng giai nhân mà tôi vẫn từng chiêm ngưỡng hằng đêm dưới ngọn đèn sân khấu? Hình như tối qua nàng lên giường mà không kịp rửa mặt. May mắn lắm nàng chỉ lau qua khuôn mặt mình bằng chiếc khăn ướt. Tội nghiệp cặp lông mày nàng tỉa tót nhỏ như sợi chỉ rồi bôi đen bằng bút chì than, màu than bôi đen như bị một nhát chổi quét lấy lệ về hướng thái dương để lại vết lọ dài. Màu đỏ son môi cũng chẳng hơn gì, đêm qua nó bị bôi xóa lấy lệ cho nên sáng nay nó bị nham nhở chỗ còn, chỗ mất, trông giống như người bị đánh dập môi. Đâu rồi cặp môi mọng ướt và trông như trái chín mà bây giờ chỉ còn cái miệng vô duyên với cặp môi héo hắt đậu trên khuôn mặt giống mặt hề. Tai hại hơn cả là lớp phấn trắng, phấn hồng, kem lót, kem dưỡng da, đủ thứ sắc màu ô hợp sau một đêm nó trộn lẫn với mồ hôi nhễ nhại trông giống như bức tường ẩm mốc loang lổ. Tệ hơn nữa nhiều chỗ trông như có dòng nước ngấm qua. Chiếc cổ cao mà trước tôi đã làm thơ ca tụng đẹp như cổ thiên nga giờ đây phấn đọng lại trong mấy nếp nhăn giống như có mấy sợi chỉ quấn quanh. Tóc tai nàng bơ phờ có chỗ còn dính mấy cái kẹp, có nơi còn ống xốp cuộn tóc nhưng tất cả tả tơi trông tóc nàng giống như khu vườn sau cơn mưa gió.


Bộ quần áo nàng khoác trên người nhăn và bẩn, nó giống như dưa cải để quá ngày, còn màu của nó thì văn chương một tí gọi là màu hoàng yến. Nhưng đây là con chim hoàng yến bị  ám khói và bị bắn thủng nhiều chỗ! Gần nách áo sứt đường chỉ, nàng gài tạm  bằng chiếc kim găm. Từ đó tôi có thể kết luận rằng trong căn nhà của người phụ nữ này chắc chắn không "tồn tại" cây kim sợi chỉ. Khi nàng cúi xuống, qua cổ áo rộng tôi thấy cặp vú không gì nâng đỡ xẹp lép lòng thòng như vú chó cái nuôi con. Tôi phân vân, nào đâu bộ ngực núi lửa khiêu khích và kiêu hãnh trên sân khấu?

Giáng Tiên mở cửa mời tôi vào nhà. Trong khung cảnh đặc biệt này chúng tôi không cần giữ phép lịch sự kiểu chủ khách. Tôi thấy Giáng Tiên vén mùng. Trong giường giữa đống mền gối lộn xộn có một  khối tròn đầy vết mực xanh đỏ lăn lộn.Sau khi nhìn kỹ thì đó là một cái đầu cạo trọc của thằng bé. Có lẽ nó là con của nàng. Đứa bé có cái đầu ngũ sắc vì nó bị ghẻ chốc, mẹ nó cạo trọc và xức thuốc đỏ, thuốc xanh, chỗ còn tóc, chỗ không, trông thật buồn cười. Thng bé vừa thức dậy, nó lăn lộn đi tìm chỗ khô, đêm qua nó tè ra ướt nhiều chỗ. Thì ra nàng tiên nữ đã có con và không chồng. Phòng nàng trông chẳng khác gì tổ chuột, tới gần đầy mùi nước tiểu. Cạnh giường ngủ là chỗ móc quần áo. Bao nhiêu bộ cánh xanh đỏ, cái thì mỏng như tơ nhện cái lại dày như mo, cái dài cái ngắn, còn kiểu cách thì kỳ quái dị dạng giống như đồ hát tuồng.

Bên dưới giường của nàng tiên phải nói là một thế giới huyền bí, một thứ hang động chẳng có người dám thám hiểm. Tôi chắc cả năm chẳng có cái chổi nào lai vãng đến nơi đó. Nó đầy bụi bặm, váng nhện, rác rưởi, nước tiểu, giày dép đứt, tàn thuốc lá và bao cao su của những người bạn tình.


Đang còn ngẩn ngơ thì Giáng Tiên kêu tôi cuống quít nhờ lấy giấy cho nàng. Tôi đưa mắt nhìn nhưng chẳng có quyển sách báo nào. Nàng bảo tôi dỡ nệm ghế lên. Trời ơi! tôi khui đúng cái "viện bảo tàng của tình yêu", bao nhiêu là thư từ của những người ái mộ gửi cho nàng đều dồn cả vào chỗ này. Tôi nhặt lên một xấp giấy, có cả thơ lẫn thư, màu thiên thanh có mà màu hồng nhạt cũng có, bây giờ thì những áng văn thơ tuyệt tác này sắp sửa chịu sự tuẫn tiết cuối cùng để cho Giáng Tiên làm công tác dọn dẹp vì thằng bé vừa mới bậy ra!

Tôi tần ngần hồi lâu trước chiếc bàn phấn của nàng tiên nữ. Tôi chắc rằng chiếc bàn phấn này cũng là tặng phẩm của một kẻ si tình nào đó. Trước đây chắc nó sang trọng lộng lẫy, nhưng nay thì bệ rạc ngó thấy. Tấm gương nứt làm hai, mặt gương mờ mịt thức mây. Đứng soi vào gương trông thấy bóng dáng mình mờ ảo như nhìn qua màn sương. Tôi tưởng người như Giáng Tiên phải có những dụng cụ trang điểm loại đắt tiền mua ở những cửa hiệu sang trọng nhất. Sự thật thì không phải như thế. Hình như chỗ này cũng là nơi mà cái thằng bé đầu xanh đỏ chơi đùa. Nó chọn chỗ này cũng phải vì có rất nhiều thứ có thể làm đồ chơi. Bao nhiêu là vòng đeo tay đủ kiểu, hoa tai đủ thứ. Phấn son của mẹ nó cũng là thứ đồ chơi rất tốt. Tôi thấy nhiều hộp phấn không, nhiều hộp phấn khô bể ra như bánh in, mấy thỏi son cạn tới đáy mà dù Giáng Tiên với ngón tay út có móng dài cũng không móc ra được. Mấy ống kem thì teo tóp, hộp phấn mi mắt cái còn cái mất, kềm kẹp lông mi đã gãy, chổi quét phấn rụng tả tơi, mặt bàn chỗ nào cũng lem  luốc. Thực là một thế giới hỗn độn của mùi hương và màu sắc. Thằng bé đã chơi chán chê chỗ này. Tôi thấy lọ nước hoa không còn một giọt cắm đầy chân nhang. Với cái chỗ như thế này mà nàng Giáng Tiên có thể tô điểm thành một bà hoàng để hàng đêm ra trước công chúng thì nàng quả thực đáng cấp bằng đại học về khoa trang điểm!


Trên bàn còn nhiều thứ nữa chẳng ăn nhập gì tới việc làm  đẹp. Có một con dao cùn với trái xoài xanh ăn dở cùng với chén mắm ruốc. Nàng tiên có thể vừa nhấm nháp xoài xanh mắm ruốc vừa nhìn vào gương tô điểm dung nhan của mình. Cô ta được nuôi dưỡng bằng loại thực phẩm đặc biệt này nên vẫn giữ được vóc dáng thanh mảnh gọn gàng chứ chưa phát phì. Cạnh giường tôi thấy có dắt một mảnh giấy ghi:

- Hụi chết còn 8 tháng

- Xấp hàng trả góp cho con Lan còn 50

- Trễ kinh 16 ngày!

Ôi thực là những con số rất đáng cho nàng tiên phải quan tâm. Giáng tiên nhờ tôi xuống bếp lấy bình sữa. Tôi lần mò ra phía sau. Trong chạn nhiều chén bát đĩa ăn xong chưa rửa. Bên trong đầy phân gián, phân chuột. Một cái tô đựng thứ nước gì đục lờ lờ nổi váng mỡ không biết từ ngày nào bốc mùi chua. Một chiếc thẩu nhỏ đựng mỡ, m đã đông và đông luôn một chú gián với đầy đủ râu và chân trông giống như một xác ướp trong băng. Trong chạn còn có một chén nước mắm ớt xanh, chắc là phần còn lại của một bữa tiệc bánh bèo, bánh nậm Huế. Tỏi, ớt, đường, muối vung vãi khắp nơi. Cạnh đó là ông lò đất sứt mẻ lạnh lẽo. Điều này cho biết nàng tiên ít khi nấu bữa ăn cho mình. Trong chốn tối tăm nầy cũng có sự hiện hữu của thần thánh. Một vị thần, không rõ là táo quân, thần tài hay thổ địa, ngồi trong chỗ nhang tàn khói lạnh, còn ngài thì giống như từ ống khói vừa mới chui ra.

Tôi chính là kẻ phải ngồi xuống phồng miệng thổi lửa nấu nước sôi pha sữa cho thằng bé đầu xanh đỏ. Tôi không ngờ cuộc phiêu lưu ngỡ là tình cảm trong buổi sáng hôm nay lại có thể đưa tôi đi xa tới thế nầy. Trong khi chờ nước sôi, tôi tiến về "thám hiểm" phía sau nhà. Quang cảnh chỗ nầy càng làm tôi ngao ngán. Trên chiếc dây phơi nối nhiều chỗ cột từ cây chùm ruột tới cây khế là điểm "tập kết" của đồ lót. Xì líp, xú chiêng, đủ kiểu, đủ màu, mới có, cũ có, thủng lỗ, teo tóp... giống như lá cờ của đám tàn quân. Bên dưới là một thau nhôm cũ đựng đầy quần áo trong một thứ nước đục lờ lờ có xác lá vàng rơi. Mấy chiếc áo quần chẳng biết tới lúc nào mới được bàn tay tiên nữ chạm tới giặt giũ phơi lên? Chỗ này cũng là giang sơn của rác rưi, mùi chua của thùng nước cơm và mùi cống rãnh. Cuối vườn cũng có cái thùng rác. Tôi lấy hết can đảm nhìn vào trong. May quá, cái mà tôi tưởng sẽ thấy đã không có. Tôi chợt nhớ lại con số 16 viết trong tờ giấy mà tôi đã đọc từ lúc nãy.


Ngay buổi đó chúng tôi có được một bữa cơm thân mật. Tôi nói rằng thân mật chính vì nồi cơm thì do tôi nấu, Giáng Tiên đi mua thức ăn. Tôi ở lại với nàng suốt buổi sáng, buổi trưa và cả buổi chiều.Tôi muốn cuộc phiêu lưu của mình phải đi tới cùng đường. Tôi biết thêm nhiều điều thuộc về đời thường của Giáng Tiên. Cả cái tên "Giáng Tiên" người ta gán cho nàng, nàng cũng chẳng hiểu ý nghĩa của nó là gì. Nàng đích thị là cô Lê Thị Lụa chuyên đi làm cỏ lúa quê xã Đồng Sơn, huyện Hòa Đồng, tỉnh Gò Công, một cô gái quê chính hiệu. Thời gian đó còn cho tôi cơ hội khám phá thế giới nội tâm của cô gái nầy. Thực là một cô gái hồn nhiên, mộc mạc và thật đáng yêu, còn cô Giáng Tiên trên sân khấu chỉ là cái xác không hồn, là của giả, là cuộc sống giả phù phiếm vô vị. Trong lúc ngồi xổm trên nền nhà  ăn cơm, tôi nhìn nàng không nhịn  được cười. Nàng hỏi:

-  Cười chi?

- Cười sân khấu và cười cuộc đời sao lại khác nhau tới mức độ này.

-  Cái nào hơn?

-  Cuộc  đời!

Trên đường về nhà lòng tôi nao nao. Trong chính chốn sâu thẳm của con tim tôi đã có sự thay bực đổi ngôi. Cô Lụa mộc mạc có cuộc sống vô cùng bê bối luộm thuộm từ cách ăn mặc cho tới mọi sinh hoạt khác đã đè bẹp cô Giáng Tiên lộng lẫy xa hoa nhạt nhẽo và giả tạo.

Tôi phân vân mãi không hiểu tại làm sao cuộc đời thực không mấy khi dành chỗ cho sự lãng mạn, ảo tưởng, mơ mộng. Cuộc đời thực vừa mới trông qua chẳng có gì là đẹp đẽ nên thơ cả thế mà cuộc đời thực, cuộc sống thực đáng yêu biết là dường nào!

Bây giờ thì tôi đã "giác ngộ". Tôi sẽ ra giữa chợ quỳ xuống chiêm ngưỡng cuộc đời và làm thơ...


Quý Thể