Huỳnh Ngọc Chênh
Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Sunday, September 6, 2026
Chê Cali - Huỳnh Ngọc Chênh
Gà Xé Phay - Đoàn Xuân Thu
Chữ “phay” xuất hiện trong cụm từ “dao phay” và “gà xé
phay”. Dao phay, ở Úc gọi là “cleaver”, cũng được gọi là “butcher knife” hoặc
“chopping knife”. Dao phay có bản dao to, rộng, hình chữ nhật, cứng và nặng, có
thể dùng để nghiền tỏi hoặc đập nát tiêu hột. Dao phay để chặt thịt, xương. Lưỡi
dao rộng giúp bằm nhuyễn tỏi, hành, cũng như cắt các loại rau củ lớn như bắp cải
hay bí rợ.
Chữ “phay” còn có trong món ‘gà xé phay’, xé phay là xé nhỏ
thịt gà ra để làm món này. Sau năm 1975, khi CSBV tràn vào miền Nam, chữ “nộm
gà” mới lù lù xuất hiện. ‘Nộm’, hay ‘gỏi’ ở miền Nam, thường được trộn với nước
mắm chua ngọt. Ở Úc và nhiều nước phương Tây, món này thường được gọi là
‘salad’, rau trộn. Ví dụ như nộm hoa chuối (ở miền Nam gọi là bắp chuối) bào mỏng,
lỗ tai heo, rau thơm; nộm đu đủ với cà rốt và thịt bò khô; nộm rau muống luộc với
đậu phộng rang; nộm xoài xanh với tôm khô và rau thơm. Đặc biệt, món nộm gà xé
phay của dân miền Tây không có tên “nộm” gì ráo mà được gọi là gỏi gà hay gà xé
phay.
Hồi xưa, khi còn ở trong gông cùm của CS, năm bảy tháng, tui
mới được bà chằn của tui làm món gà xé phay cho tui nhâm nhi với một ly rượu đế
(thời VC đói nghèo thấy mẹ, tiền đâu mà mua rượu xị?). Rau răm, chanh, ớt, bắp
chuối hột sau vườn đã có. Tỏi, đường, tiêu, bột ngọt thì khỏi mua vì nhà còn.
Em viết ra một cái toa, sai tui chạy ù ra chợ Tham Tướng, đầu đường Mạc Tử
Sanh, Cần Thơ, kế chân cầu đúc để mua dưa leo, cà rốt, hành, giá.
Nhớ mua ở sạp rau của bà Tư Ú, có ông chồng là ông Hai Ốm.
Chồng như cây tre miễu đứng cạnh bà vợ là con voi. Như số một đứng cạnh số
không (zéro). Số 10, bù, nghèo là phải.
Nhớ đừng lân la, rề rà lại sạp rau của con Chín Ú, ngựa bà, dụ mấy thằng dê mà bán mắc, lời nhiều.
Em rải lúa, kêu túc
túc, cho tui chụp bắt một con gà tơ. Tui chụp hụt, té bò lăn, bò càng rồi cuối
cùng cũng được một con cho em. Nửa con, em nấu cháo, nửa con, em kho gừng dành
để ăn cơm.
Tui làm nước mắm ăn gà xé phay: gồm nước cốt chanh, đường mỗi
thứ 2 muỗng canh và nước lã 4 muỗng.
Em vớt trong nồi cháo, sôi ùng ục, ra một cái ức gà và một
cái đùi gà. Sau đó, nhúng với nước lạnh để thịt gà có màu trắng đẹp, rồi xé
thành sợi.
Bắp chuối hột em bào mỏng, ngâm trong nước muối pha chanh để
không bị thâm và giữ độ giòn. Em sai tôi xắt mỏng củ hành, ngâm trong nước cho
bớt mùi hăng; bào cà rốt thành sợi. Rau răm rửa sạch, xắt nhỏ.
Em lấy một nồi lớn, cho thịt gà xé, cà rốt, dưa leo, củ hành
và giá vào, lấy đũa đảo đều nhẹ nhàng. Rồi em thêm một muỗng tỏi băm, nửa muỗng
bột ngọt, tiêu, một phần tư muỗng cà phê đường và nước cốt chanh. Sau đó em lấy
hai tay (búp măng, ngòi viết lá tre, từng bóp cổ tui mắt trợn trắng, trợn ngược
lúc em lên cơn giận), trộn món gỏi gà thấm đều gia vị. Tiếp theo, cho một nửa
rau răm vào, rồi lại đảo đều lên.
Cuối cùng, em yêu cho món gỏi gà này lên đĩa và rắc phần rau
răm còn lại lên trên. Em rưới nước trộn gỏi lên, trộn đều; rắc đậu phộng rang
giã nhỏ lên trên. Em bày gỏi gà ra đĩa, thêm rau răm và ớt tươi. Tôi rất thích
ăn cay.
Có lẽ thời kỳ VC, dân miền Tây bị CS cướp sạch bách, vợ chồng
tui thiếu, ăn gì cũng thèm. Thịt gà đối với dân ngụy như tui đã trở thành cao
lương mỹ vị. Đói quá, tương lai đen thùi lùi như mõm chó. Không lẽ ở lại chịu
trận, chịu đói cho bọn chúng hành hạ, nên tui tìm cách dẫn vợ con bỏ nước ra đi
dù lòng đau như kim châm muối xát.
Qua Úc, so với thịt bò và thịt cừu, thịt gà rẻ hơn nhiều. Muốn
ăn thịt gà thì cứ tới KFC, “Kentucky Fried Chicken,” tức là gà rán Kentucky.
(Úc, nó không ăn đầu gà, chân gà, lòng mề gà là phần ngon nhất của con gà. Thiệt
là ngu thấy ớn hè!)
Kentucky Fried
Chicken
Ba ke hai nút gọi món nầy là gà rán, nhưng tui nghĩ gọi như
vậy là không đúng. Mặc dù “chiên” và “rán” đều là các phương pháp nấu ăn dùng dầu,
nhưng có sự khác biệt. Chiên là nhúng cánh gà, ức gà, đùi gà ngập hoàn toàn
trong dầu. Chiên làm thịt gà chín vàng đều và giòn hơn, nhai nghe rốp rốp. Còn
rán thường sử dụng ít dầu hơn và gà chỉ ngập được một phần. Rán thường không
làm thực phẩm giòn bằng chiên.
Ở Úc, có nhiều loại gà khác nhau, dựa theo cách nuôi. Như gà
công nghiệp (Commercial Chicken) nuôi cả trăm ngàn con trong các trang trại bao
la, chủ yếu để làm thịt gà KFC.
Ngày xưa, món gà xé phay là món ăn quý giá, nhưng ở Úc, thịt
gà trở nên rẻ hơn nhiều. Nhà nghèo ăn riết phát ghiền ‘fast food’ như
McDonald’s, Hungry Jack’s hoặc KFC. Dần dần, vợ chồng con cái bị Úc hóa, mập
thù lù như cái lu hứng máng xối nước mưa!
Tui khoái gà xé phay nhưng con cháu tui đã bị Úc hóa, tụi nhỏ
khoái KFC hơn. KFC ở gần, tôi thèm thịt gà, chỉ cần lái xe chưa tới 10 phút là
mua về ăn cho lòi bản họng. Tốn khoảng 20 đến 30 đô Úc đủ cho hai con khỉ già
và mấy con khỉ nhỏ, cháu nội kêu khẹt khẹt, no bụng tối ngày.
Còn gà của em yêu là loại nuôi tự nhiên (Pasture-raised
Chicken) thịt ngon hơn gà nuôi công nghiệp. Nhưng ngặt nỗi là: bà chằn của tui
ít làm gà xé phay cho tui ăn nữa. Tôi nhớ quay quắt dĩa gà xé phay 40 năm thời
đói cơm, rách áo. Đêm ngủ chảy nước miếng, nghiến răng như đang nhai rau ráu
món gà xé phay. Vợ tôi đi ‘pharmacy’ mua thuốc xổ lãi về bắt tôi uống vì em
nghĩ bụng tôi có lãi. Lãi đâu mà lãi nè? Bụng bự vì tui uống nhiều bia. Tui chảy
nước miếng tới rún; tui nhai nhóp nhép trong mơ vì tui vẫn thèm món gà xé phay
hồi năm nẳm.
Đoàn Xuân Thu
Saturday, September 5, 2026
Trời Sắp Mưa - Nguyễn Văn Sâm
Nhà bếp rộng, sạch.
Trên lò, nồi giò heo hầm lửa riu riu phun khói nhè nhẹ, nắp nồi khua động bằng
một âm thanh đều đều, xì xọp, vui vui. Trên tường đồng hồ thánh thót đổ một hồi
kẻng dài. Dì Tư ngó lên rồi lại cúi xuống tiếp tục từ tốn cắt cắt thái thái mấy
miếng thịt lấy ra từ cái oven. Trong góc bếp, nút nồi cơm điện nhảy từ chữ
"nấu" sang nút "giữ ấm" nghe cái "cắc" một tiếng
dòn tan, Dì lại ngước lên ngó về phía đó. Bực mình. Già cả nên lẩn thẩn, biết
trong bụng là không có chuyện gì mà cứ giựt mình, cứ coi đi coi lại cho chắc.
Vô ích hết sức. Như là ba cái vụ điện thoại, reng reng trong tivi mà cứ giựt
mình lại coi phải ai gọi không, mặc dầu nếu có người hỏi cũng chỉ biết nói
"Họ không có ở nhà", ngay ý muốn hỏi tên để về nói lại cũng ngại ngùng.
Dì giở nắp nồi cơm ra coi. Hơi gạo
chín tỏa một mùi thơm
dễ chịu. Dì nghĩ tới món thịt kho dưa chua đứa con gái ưa thích từ hồi còn nhỏ
tới giờ, thỉnh thoảng được ăn vẫn chắc lưỡi hít hà khen ngon liền miệng.
Trí Dì miên man nghĩ tới đứa cháu ngoại chắc chắn nó sẽ bới nửa chén cơm và ba hột rồi ôm đủa ngó, đợi không ai chú ý đem chén đủa để trong chậu rửa chén rồi tới mở tủ lạnh lục bánh trái gì đó ăn dằn bụng qua loa. Tội con nhỏ không ăn được những món Việt Nam nghèo thuần tuý, món của quê nhà đồng ruộng. Dì lấy gói thịt bầm làm hai cái hamburger.
Trong khi nướng Dì
nghĩ vẫn vơ về hai đứa con gái trong nhà.
Con Trinh không gần gũi thân mật là bao nhiêu mặc dầu đã sống với nó từ mười năm nay, mến chân mến tay từ hồi còn nhỏ. Dễ thương thì dễ thương thiệt, nhưng nhiều khi nó ngồi yên cả giờ đồng hồ không nói, chăm chú trước máy truyền hình, hay cười như nắc nẻ lúc nghe được chuyện gì hay. Gợi chuyện với nó thì nó dạ dạ mà coi bộ cũng hững hờ lắm, không có gì tha thiết. Nhiều lúc vui vui buột miệng kể chuyện lúc nó còn nhỏ ở Việt Nam, thì lần nào cũng như lần nấy nó chận họng: Chuyện này bà ngoại kể hoài, bộ bà ngoại hổng nhớ sao. Con nhỏ giống má nó in hịt càng ngày càng thấy xa lạ, như tụi nó không là con cháu mình nữa. Tụi nó lúc này và lúc trước ở Việt Nam là những người khác.
Cũng mắt mũi đó, cũng tên họ đó, cũng bộ điệu đó, nhưng mà như là uống nước ở xứ này nên bị rửa ruột thành người khác. Nói năng không lựa lời lựa vốn, bạ đâu xâu đó, nhiều khi nghe muốn tức cành hông.
Còn con Chuyên mắc giống gì không biết lại thương mến. Có lẽ nhờ nhỏ nhẹ dịu dàng. Có lẽ nhờ mới qua. Có lẽ chịu nghe, chịu góp chuyện. Ở đây có khi cả tuần, có khi cả tháng, trong nhà mới có vài câu nói, trả lời ngắn gọn, lạnh tanh, ngoài ra là thời khoảng im lặng ai lo chuyện nấy. Người trong nhà như những cái bóng dật dờ đi làm - về- ăn- ngủ. Một chu trình trôn ốc liên tục tiến lên theo thời gian bất tận. Hai vợ chồng là hai vòng trôn ốc ngoài nhau, không có điểm chung nào. Dì là đường thẳng đơn côi riêng biệt với họ. Lặng lẽ, cô đơn, thèm được chuyện trò. Rồi Chuyên, đứa con riêng của chồng của con Dì, xuất hiện tưởng không thể thân thiện được lại đến như một niềm vui, một sự khơi dậy ánh lửa đèn cây tươi mát trong lòng Dì. Dì còn nhớ ngày đầu tiên gặp gỡ, bữa ba người kia rước Chuyên từ phi trường về, được giới thiệu với Dì, Chuyên đã chào thật cung kính, thật tươi,
Thưa Ngoại. Dì cảm động rớt nước mắt. Dì đã hồi hộp chờ ngay từ lúc "họ" ra xe lên phi trường. Cái giòng con gái cỡ trong ngoài hai mươi khó chịu lắm. Con nào hỏng thương mẹ, qua đây thấy chuyện ba nó thế nào cũng nầy kia. Bị ghét lây cũng đành chịu. Không dè mọi chuyện xảy ra khác với bình thường. Ánh mắt Chuyên không biểu lộ một sự gượng gạo, khó chịu, trái lại là một nụ cười thân thiện. Hai bà cháu bà con chống bảy sào không tới từ đó lại thương nhau hơn cật ruột.. Người dưng nước lã đã biến thành máu mủ. Bây giờ tình thương càng ngày càng chất chồng, nó đi đâu một chút thì nhớ thì trông.
Nghe mùi thịt nướng
thơm thơm, Dì Tư gắp xuống để trong dĩa, sửa soạn pickle, cà tô mách, củ hành,
tất cả xếp trong một cái dĩa kiểu, các thứ rau cải xanh đỏ trắng nổi lên trên
nền men trắng màu ngà coi thiệt đẹp mắt.
Dì đi lại phòng, gõ
cửa ló đầu vô gọi cháu:
- Trinh ra ăn
hamburger con!
Con nhỏ đương nằm lơ mơ nghe nhạc, con gấu để trên bụng, một tay ôm, một tay vuốt ve, nghe kêu, nhíu mày lại một giây trước khi chểnh mãng ngồi dậy.
Dì Tư dọn
"cơm" mà lòng dửng dưng, không mấy thích thú vì đã làm một điều lợi
ích cho cháu con, cũng không thấy khó chịu vì bận bịu. Lòng Dì trống rỗng, như
lúc mở cái cửa, lúc xoay lại cái ghế cho ngay ngắn hay lấy cái nùi giẻ lau
những miếng thức ăn vụn nho nhỏ rơi rớt trên bàn sau buổi ăn, những công
chuyện bình thường không tên ngày này qua ngày khác của một đời không
bước ra khỏi ngõ...
Tiếng xe quen thuộc
ngừng trên con đường dẫn vô nhà xe, tiếng đóng cửa xe cũng quen
quen, tiếng gót giày đều đều mà Dì mường tượng đã nghe rất nhiều
lần trong đời tiến lần về phía cửa.
Dì lên tiếng với cháu:
- Chắc mẹ mày về đó.
Tao nghe có tiếng xe, sao bữa nay về sớm vậy cà.
Con Trinh không lấy làm lạ về câu nói của bà ngoại mặc dầu nó không nghe gì hết. Chuyện trong nhà bà rất thính mũi thính tai đoán không bao giờ trật. Ít nhứt cũng có người tới.
Bên ngoài Hoa ngó
khung cảnh sân cỏ trước nhà xanh mướt, bằng phẳng, sang trọng như một
minh tinh. Mùi cỏ mới cắt phảng phất trong không gian một hơi hướm thiên nhiên
tươi mát tinh khiết, khiến chị nín hơi hít những hơi thật dài, đầy phổi.
Hoa giật mình ngỡ
ngàng khi cửa mở cùng lúc với cái bấm chuông của chị:
- Ồ má! Sao má biết
con về hay vậy? Ngó sự chậm chạp già nua của mẹ, nhớ lại chuyện thực tế,
chị cằn nhằn: Má mở cửa mà không check coi người lạ hay quen, nguy hiểm lắm. Ở
đây coi vậy chớ tụi cướp tới lúc nào không biết đó. Cái điệu má cà rịch cà tang
nếu là người lạ thì trở tay đâu kịp. Chị cố gắng hạ giọng để câu nói có vẻ thật
bình thường.
- Con nói với má hoài
mà má cứ thờ ơ. Có chuyện gì rồi ngồi đó than trời trách đất.
- Ối tao già rồi đâu
còn sợ gì nữa. Nhà đâu có để tiền mặt đâu mà sợ.
Hoa nhăn mặt không vừa
ý.
- Má nói vậy sao được! Má già, nhưng còn con Trinh mần chi, nó lớn trọng cải rồi, má có một mình nó là cháu ngoại đó.
Dì Tư nghe xốn xang
trong lòng. Đã đành, nhưng cách nói của nó như là mẹ người ta! Lúc nó còn
nhỏ, làm bậy, nhà cửa để bầy hầy bề hề mình cũng không rầy kiểu đó.
Dì buồn hiu đóng cửa lại sau lưng đứa con, gài sợi xích an toàn rồi bước theo
sau.
Già rồi, ở tạm ăn nhờ
phải chịu. Nhứt là xứ này, mọi chuyện đảo điên. Tiếng Mỹ tiếng Tây dốt đặc cán
mai nói không được như câm, như điếc. Mọi chuyện đều lạ lùng, ngơ ngơ ngác
ngác, như thằng lác mắc phong, chết lúc nào sướng lúc đó. Nghe nó
cằn nhằn cưởi nhưởi hoài, tủi quá.
Con Trinh ngó mẹ và
ngoại, nó chào cho có:"Hi ! mom", rồi tiếp tục vừa ăn vừa
ngó xéo qua vai má nó, theo dõi chương trình tivi ở góc nhà.
Chị Hoa liếc lên bàn
ăn, chị hỏi con, sự không vừa ý lộ ra rõ ràng trong âm điệu:
- Sao con không ăn
cơm, ăn có thứ này thứ kia mới đủ chất bổ, hamburger chỉ là fast food để cho
mấy người đi làm ăn cho mau vì không đủ thì giờ. Con phải tập ăn cơm Việt Nam
cho quen chứ. Chị nắm đôi đủa lên lật miếng hamburger lên mặt sau săm
soi. Sao con không nhờ ngoại dọn cho. Đồ ăn thiếu gì trong tủ lạnh đó.
Dì Tư chen vô, dì thấy
cần phải giải thích. Con nhỏ có vẻ muốn đổ thừa mình. Con nó là cháu mình,
không thân với nó thiệt, nhưng đâu đến nỗi ghét bỏ.
- Tao thấy nó ưa ăn
món đó thì tao làm cho nó. Có dọn cơm nó cũng không ăn. Bữa nay tao nấu thịt
kho ăn với dưa chua. Còn món giò heo hầm tao tính để cho chiều nay. Dì nói như
phân bua. Chưa được mềm, còn dai nhách.
Con Trinh giờ mới lên
tiếng:
- Con chỉ ưa ăn
hamburger thôi à ! Mấy thứ khác con ăn không được.
- Mày biết gì! Ăn uống
để tẩm bổ chớ đâu phải để chết. Day qua Dì Tư, chị Hoa nói thiệt nhỏ nhẹ. Má
làm ơn ép nó ăn dùm con. Nó đương sức lớn ăn bậy bạ nữa sau èo uột. Mình lớn
mình biết chuyện nào trúng chuyện nào bậy, chứ nó con nít con nôi biết khỉ gì.
Ở Mỹ mà, nhỏ con quá coi đâu được.
Dì Tư buồn hiu, nói
xuội lơ:
- Ừ để tao rán coi,
biểu nó, nó không cãi ngang cãi dọc, nhưng nó vô buồng đóng cửa lại thì tao
cũng thúc thủ thôi chứ làm gì được.
- Má, còn con
Chuyên đâu hỏng thấy?
- Nó đi lợi đằng
trường ghi tên rồi. Nó ghi sớm nữa khỏi phải chen lấn.
- Nó đi một mình hay
có ai tới rủ?
Khó nói quá, mình là
cha mẹ nói láo với con coi sao được. Mà nói ra tội nghiệp con nhỏ. Dì giả đò
không nghe câu hỏi kiếm chuyện gì đó làm, tiện tay dì mở tủ lạnh. Bình sửa để ở
ngoài cùng. Bỗng nhiên Dì muốn rót một ly sữa cho con. Coi vậy chớ tội nghiệp
nó, buôn bán tối ngày về còn phải coi chừng coi đổi chuyện nhà cửa. Mỗi ngày
cầu nó uống hai ba ly sữa mới lấy lại sức. Dì đem ly sữa để trước mặt con rồi
quay lưng tính đi rót một ly khác cho cháu. Mắt Dì rưng rưng, không biết sao kỳ
vậy. Đâu có buồn gì lắm đâu. Tánh nó chót chét vậy thôi chớ không để
bụng. Nó sẽ quên ngay. Như con cọp ngủ một giấc dậy vung vai, mọi chuyện
xảy ra trước đó sẽ đi vào quên lãng. Thương con cũng muốn mời nó một câu thân
mật. Chẳng hạn như con uống ly sữa nghỉ mệt rồi ăn cơm, nhưng không nói được.
Khó quá ! Mẹ con lớn hết rồi, biểu lộ bằng cử chỉ săn sóc lo lắng thì được,
nhưng nói dịu ngọt thiệt khó còn hơn lên trời. Nó, chồng con đùm đùm đề đề chứ
còn nhỏ nhít gì nữa đâu.
Chị Hoa ngó ly sữa, cảm động đưa mắt theo bàn tay khô cằn của mẹ. Chị hiểu lòng mẹ và cảm thấy mình vô lý, có vẻ như hỗn hào. Già rồi đâu còn lanh lợi như mấy người trẻ. Nói thì nói vậy, chớ tội nghiệp, có bà cũng đỡ chuyện cơm nước giặt dịa, nhà cửa cũng được vén khéo tươm tất. Cả nhà bỏ đi hết, trấn ba cái đồ đạc lại cho ông Táo, biết đâu chừng có bữa tụi nó vô dọn không còn miếng giẻ rách. Tụi thất nghiệp, xì ke ma tuý, bụi đời chung quanh khu này thiếu giống gì. Dân nào cũng có. Tứ xứ. Thấy có người ra vô tụi nó cũng ngại chứ. Cũng tội, bà lâu nay lủi thủi trong nhà, quanh quẩn với cơm nước, quần áo và con nhỏ Trinh, có biết nước Mỹ là cái gì đâu.
Chị giả lả với mẹ:
- Phải con Chuyên nó
đi với thằng Khoa không má?
- Ừa.
Nghe câu trả lời
như nhẹ hẫng nhẹ tênh, chị Hoa không nói ra nhưng cảm thấy giận ngang trong
bụng. Như là có một sự đồng loã nào đó trong nhà này, không đếm xỉa tới
chị. Nó là con chồng, lớn đại rồi, thêm ở Mỹ này, có thân muốn đi với ai thì
đi. Ba nó không rầy thì thôi, mắc mớ gì mình nói ra nói vô thêm mắc oán. Nhưng
mà tại sao má lại dấu dấu diếm diếm, giống như chấp nhận thằng kia, giống như ở
về phe với nó mà không đếm xỉa gì tới mình. Chị bực bội, nhưng không biết sao
cho đúng, chị đưa ly sữa lên miệng, uống mấy hớp. Con Trinh thinh không mở
miệng khoe:
- Anh Khoa có cho con
một con beat đẹp lắm.
Chị Hoa lườm con, trút
tất cả bực bội nảy giờ.
- Đồ con gái hở ai cho
gì cũng lấy là con gái hư mầy biết không. Từ rày sắp tới mày mà còn lấy cái gì
của thằng Khoa thì mày biết tay tao. Con Chuyên đi với nó, muốn lấy cái gì thì
lấy, mày có ăn nhằm gì vô đó mà lấy.
Dì Tư nóng mũi binh
cháu:
- Trinh ăn mau bà dẹp. Con còn đi học bài nữa, mai đi học rồi.
Con nhỏ ngồi xụ mặt
một chút rồi bỗng nhiên nó xô nửa cái hamburger còn lại ra trước mặt đứng dậy
cái rột, đi thẳng vô phòng đóng cửa cái rầm trước mặt mẹ và ngoại nó. Hai người
đàn bà ngó theo, mỗi người theo đuổi tư tưởng của riêng mình, chị Hoa lắc đầu
ngán ngẫm.
- Con cái, cứng đầu
cứng cổ. Má nữa ! Má đừng binh nó. Con tui má để tui dạy, má cứ xử bỉ hoài nó
được mòi làm tới nữa, nó hư thì ai vô đây chịu đây? Má đâu có sống đời để
lo cho nó đâu. Còn con Chuyên nay thằng này tới, mai thằng kia tới tui đã
bực lắm rồi. Bây giờ mà bắt thang cho con Trinh trèo nữa thì có nước tui bỏ nhà
tui đi.
Nói xong một hơi dài,
coi bộ chừng đã mệt, chị Hoa ngồi xuống bàn ăn, ngó chén đủa đã dọn sẵn,
lòng chị dịu xuống, làm thinh ngó những miếng dưa chua được xếp đặt gọn ghẽ
trên cái đĩa sứ.
Dì Tư múc tô thịt kho,
đem đến để trước mặt con. Mùi mỡ rục nóng mời mọc nhưng Dì thấy nó hơi ngang.
- Tao chút nữa ăn sau,
bây ăn đi.
Không đợi trả lời, Dì
kéo cửa kiếng bước ra patio. Trời trong mát đầu Thu với từng cơn gió nhẹ
phe phẩy mời gọi, Dì ngồi xuống một cái ghế cũ đặt gần cụm hồng cạnh
tường. Mấy chiếc lá vàng rơi rụng loả xoã đầy sân, mấy bụi hoa cúc và
nhiều thứ hoa khác nữa, trồng mấy tháng trước bây giờ coi bộ xum xuê. Vườn sau
coi cũng đẹp ớn, nhưng mà trong nhà thiệt là khó thở. Một cụm mây đen phía chân
trời từ từ trôi tới, Dì Tư buột miệng: Trời sắp mưa.
Lòng Dì nặng trĩu như
đám mây đe dọa trên kia.
Trích SÓNG ĐỜI TRÔI GIẠT (1987)
Quốc Khánh 2 Tháng 9: Độc Lập & Tự Do Cho Ai? (Song Ngữ Việt Pháp) - Ngọc Châu
Nhân ngày 2 tháng 9,
ngày được chính quyền Việt Nam gọi là ngày Quốc khánh, chúng tôi – những người
Việt Nam tị nạn cộng sản tại Pháp – một lần nữa lên tiếng tại Montreuil.
Hôm qua, ngày 1 tháng
9, chúng tôi đã có mặt tại công viên Montreau, nơi đặt bức tượng Hồ Chí Minh, để
bày tỏ quan điểm của mình về lịch sử, về những đau thương mà chế độ cộng sản đã
gây ra cho dân tộc Việt Nam, và về lý do tại sao chúng tôi yêu cầu chính quyền
thành phố Montreuil tháo gỡ bức tượng này.
Đối với chúng tôi, Hồ
Chí Minh không chỉ là một nhân vật lịch sử được một phía tôn vinh. Đằng sau biểu
tượng ấy là cả một giai đoạn đầy đau thương của dân tộc: sự áp đặt của chế độ độc
đảng, những cuộc đàn áp, những bi kịch lịch sử, sự chia rẽ kéo dài và làn sóng
người Việt phải rời bỏ quê hương để đi tìm tự do.
Chúng tôi đến Montreuil
không phải để gieo thù hận. Chúng tôi đến để nói lên sự thật, để tưởng nhớ những
nạn nhân đã không có tiếng nói, và để bảo vệ quyền được nhìn nhận lịch sử dưới
nhiều góc độ khác nhau. Chúng tôi đặc biệt không thể im lặng khi một biểu tượng
chính trị gây nhiều đau thương cho một bộ phận lớn người Việt lại được đặt tại
một thành phố của nước Pháp – đất nước luôn tự hào về các giá trị Tự do, Bình đẳng
và Bác ái.
2-9-1945: Độc lập và Tự
Do cho ai ?
Ngày 2 tháng 9 năm 1945
thường được tuyên truyền như ngày Việt Nam giành được độc lập. Nhưng sau hơn
tám mươi năm, vẫn còn một câu hỏi mà chúng ta không thể né tránh:
Một quốc gia có thể có
chủ quyền trên danh nghĩa. Nhưng nếu người dân không có quyền lựa chọn chính
quyền; có Quốc hội nhưng không có cạnh tranh chính trị thực sự; có pháp luật
nhưng quyền lực có thể đứng trên pháp luật; có báo chí nhưng không có tự do báo
chí; có bầu cử nhưng người dân không có quyền lựa chọn thực sự — thì nền độc lập
ấy có ý nghĩa gì đối với chính người dân?
Một đất nước không thể
được gọi là thực sự tự do chỉ vì đã thoát khỏi sự thống trị của ngoại bang, nếu
chính người dân của đất nước ấy lại tiếp tục sống dưới sự kiểm soát của một chế
độ độc đoán.
Độc lập của quốc gia phải
đi cùng tự do của con người. Chủ quyền của đất nước phải thực sự thuộc về nhân
dân. Vì vậy, ngày 2 tháng 9 không nên chỉ là ngày để ca ngợi quá khứ. Đó cũng
phải là dịp để mỗi người Việt Nam đặt câu hỏi về tương lai: Bao giờ người Việt
Nam mới thực sự được làm chủ đất nước của mình? Bao giờ người dân mới được tự
do nói lên suy nghĩ mà không sợ hãi? Bao giờ người Việt Nam mới có quyền lựa chọn
những người lãnh đạo đất nước? Bao giờ Việt Nam mới có một nền độc lập mà trong
đó nhân dân là chủ nhân của đất nước, chứ không phải là đối tượng để quyền lực
cai trị?
Chúng tôi, những người
đã phải rời bỏ quê hương vì không chấp nhận chế độ cộng sản, hiểu rất rõ giá trị
của tự do.
Chúng tôi đã mất quê
hương và mang theo những ký ức đau thương của một đất nước bị chia cắt bởi chiến
tranh và ý thức hệ. Nhưng chúng tôi không muốn truyền lại hận thù cho thế hệ
mai sau.
Điều chúng tôi mong muốn
là sự thật được tôn trọng, lịch sử được nhìn nhận một cách trung thực và quyền
tự do của người dân Việt Nam được bảo vệ.
Sự hiện diện của chúng
tôi tại Montreuil là một lời nhắc nhở rằng lịch sử Việt Nam không chỉ có một tiếng
nói, không chỉ có một cách kể.
Có những người tôn vinh
Hồ Chí Minh. Nhưng cũng có hàng triệu người Việt Nam, đặc biệt là những người tị
nạn cộng sản và gia đình của họ, mang trong lòng những ký ức hoàn toàn khác.
Tiếng nói của họ cũng
phải được lắng nghe.
Chúng tôi yêu cầu tháo
gỡ bức tượng Hồ Chí Minh tại Montreuil không phải vì muốn xóa bỏ lịch sử.
Ngược lại, chúng tôi muốn
lịch sử được trả lại cho sự thật và cho tất cả những tiếng nói của người Việt.
Một dân tộc chỉ thực sự
độc lập khi người dân được tự do.
Một đất nước chỉ thực sự
mạnh khi quyền lực thuộc về nhân dân.
Và một tương lai tốt đẹp
cho Việt Nam chỉ có thể được xây dựng trên nền tảng của Tự do, Dân chủ và Nhân
quyền.
Ngày 2 tháng 9, chúng
tôi không chỉ nhìn về quá khứ. Chúng tôi nghĩ đến những người Việt Nam hôm nay.
Và chúng tôi hướng về một tương lai mà trong đó người dân Việt Nam thực sự được
sống tự do, được nói lên sự thật, được làm chủ vận mệnh của mình và được tự hào
về một đất nước độc lập không chỉ trên danh nghĩa, mà cả trong cuộc sống của mỗi
con người.
Một dân tộc chỉ thực sự
độc lập khi người dân được tự do, được làm chủ và được sống trong một nhà nước
pháp quyền dân chủ.
Ngọc Châu
Montreuil. 01.09.2026
=====================================
FÊTE NATIONALE DU 2
SEPTEMBRE : INDÉPENDANCE ET LIBERTÉ, POUR QUI ?
À l’occasion du 2
septembre, jour que les autorités vietnamiennes désignent comme la Fête
nationale, nous – les réfugiés Vietnamiens du communisme vivant en France –
avons une nouvelle fois fait entendre notre voix à Montreuil.
Hier, le 1er septembre,
nous étions présents au Parc Montreau, où se trouve le buste de Ho Chi Minh,
afin d’exprimer notre point de vue sur l’histoire, sur les souffrances que le
régime communiste a infligées au peuple vietnamien, et sur les raisons pour
lesquelles nous demandons aux autorités de la ville de Montreuil de retirer ce
monument.
Pour nous, Ho Chi Minh
n’est pas seulement un personnage historique honoré par certains. Derrière ce
symbole se trouve toute une période douloureuse de l’histoire de notre peuple :
l’instauration d’un régime à parti unique, les répressions, les tragédies
historiques, les divisions qui se sont prolongées pendant des décennies, ainsi
que les vagues de Vietnamiens contraints de quitter leur pays à la recherche de
la liberté.
Nous ne sommes pas
venus à Montreuil pour semer la haine. Nous sommes venus pour faire entendre
notre vérité, pour rendre hommage aux victimes qui n’ont pas eu la possibilité
de s’exprimer et pour défendre le droit de regarder l’histoire sous différents angles.
Nous ne pouvons tout
particulièrement pas rester silencieux lorsqu’un symbole politique, associé
pour une grande partie des Vietnamiens à tant de souffrances, est installé dans
une ville française – dans un pays qui se réclame des valeurs de Liberté, Égalité
et Fraternité.
2 SEPTEMBRE 1945 :
INDÉPENDANCE ET LIBERTÉ, POUR QUI ?
Le 2 septembre 1945 est
généralement présenté comme le jour où le Vietnam a obtenu son indépendance.
Mais, plus de quatre-vingts ans après, une question demeure et ne peut être
évitée : Indépendance pour qui ? Et liberté pour qui ?
Un pays peut être
souverain sur le papier. Mais si ses citoyens n’ont pas le droit de choisir
librement leur gouvernement ; s’il existe un Parlement mais pas de véritable
compétition politique ; s’il existe des lois mais que le pouvoir peut se placer
au-dessus d’elles ; s’il existe une presse mais pas de liberté de la presse ;
s’il y a des élections mais que les citoyens ne disposent pas d’un véritable
choix — alors, que signifie réellement cette indépendance pour le peuple ?
Un pays ne peut pas
être considéré comme véritablement libre simplement parce qu’il s’est affranchi
d’une domination étrangère, si son propre peuple continue à vivre sous le
contrôle d’un régime autoritaire.
L’indépendance d’une
nation doit aller de pair avec la liberté de chaque être humain. La
souveraineté d’un pays doit véritablement appartenir à son peuple.
C’est pourquoi le 2
septembre ne devrait pas être seulement une journée consacrée à célébrer le
passé. Ce devrait aussi être l’occasion, pour chaque Vietnamien, de
s’interroger sur l’avenir :
Quand les Vietnamiens
pourront-ils réellement devenir maîtres de leur propre pays ?
Quand les citoyens
pourront-ils exprimer librement leurs opinions sans crainte ?
Quand les Vietnamiens
auront-ils le droit de choisir librement les dirigeants de leur pays ?
Quand le Vietnam
connaîtra-t-il une véritable indépendance, dans laquelle le peuple sera le
véritable propriétaire de son destin, plutôt que l’objet d’un pouvoir qui le
gouverne ?
Nous, qui avons dû
quitter notre pays parce que nous ne pouvions accepter le régime communiste,
connaissons profondément la valeur de la liberté.
Nous avons perdu notre
patrie et nous portons avec nous les souvenirs douloureux d’un pays déchiré par
la guerre et les idéologies. Mais nous ne voulons pas transmettre la haine aux
générations futures.
Ce que nous souhaitons,
c’est que la vérité soit respectée, que l’histoire soit regardée avec honnêteté
et que les libertés du peuple vietnamien soient protégées.
Notre présence à
Montreuil est un rappel : l’histoire du Vietnam n’a pas une seule voix et ne
peut pas être racontée d’une seule manière.
Certains honorent Hồ
Chí Minh. Mais des millions de Vietnamiens, en particulier les réfugiés ayant
fui le communisme et leurs familles, portent en eux une mémoire profondément
différente.
Leur voix doit
également être entendue.
Nous demandons le
retrait du buste de Hồ Chí Minh à Montreuil non pas parce que nous voulons
effacer l’histoire.
Au contraire, nous
souhaitons que l’histoire soit rendue à la vérité et qu’elle puisse accueillir
toutes les voix du peuple vietnamien.
Un peuple n’est
véritablement indépendant que lorsque ses citoyens sont libres.
Un pays n’est
véritablement fort que lorsque le pouvoir appartient au peuple.
Et un avenir meilleur
pour le Vietnam ne pourra être construit que sur les fondements de la liberté,
de la démocratie, des droits humains et de l’État de droit.
Le 2 septembre, nous ne
regardons pas seulement vers le passé.
Nous pensons aux
Vietnamiens d’aujourd’hui.
Et nous regardons vers
un avenir dans lequel les citoyens vietnamiens pourront réellement vivre
libres, dire la vérité, être maîtres de leur destin et être fiers d’un pays
indépendant, non seulement en théorie, mais aussi dans la vie quotidienne de
chaque être humain.
Un peuple n’est
véritablement indépendant que lorsque ses citoyens sont libres, maîtres de leur
destin et vivent dans un État de droit démocratique.
Ngọc Châu
Montreuil, le 1er
septembre 2026
Chuyện Ngày Xưa… Thật Xưa - MX Nguyễn Đức Hùng
Tôi đã sống những buổi sáng mù sương
nơi Tam thôn Hiệp, Rừng Sát. Ngày nắng hè chói chang ở Giồng Trôm, Bến Tre.
Những đêm đen lạnh buốt người với mùa đông ở Đông hà, Quãng Trị và nhiều vùng
đất nữa của quê hương Việt Nam. Thời gian trãi dài trôi theo từng miền trên
những phần đất của quê mẹ tôi đã đi qua. Cố quên đi hận thù chiến tranh, không
nghĩ đến những trận chiến điêu tàn, tôi chỉ muốn nhắm mắt để hình dung lại hình
ảnh, những khuôn mặt thân yêu của đám bạn bè ngày xưa của một thời áo rằn mũ
xanh, kỷ niệm kéo nhau về chập chùng trong tâm trí như những đoạn phim rời, trở lại vây kín trong hồn tôi.....
******
Định nói:
- Hùng, tụi mình dzọt về Sàigòn
chơi, nhân tiện tao lên Củ Chi thăm bà già tao luôn, lâu quá tao chưa về thăm
nhà.
Tôi bảo:
- Được rồi để tao hỏi thằng Tòng và
thằng Chúc có dzù theo không?
Định tiếp:
- Thôi mày ơi, đi hết cả đám HSQ,
lại những cái mặt của tụi mình “Già Đông” sẻ chửi ùm lên cho mà xem. Tao với
mày đi thôi, nếu mày không đi thì tao nói với “Bố Lai” một tiếng rồi một mình
tao dzọt.
Tôi nói:
- Tao biết thằng Chúc thìch em gái
mày thế nào cũng đi theo mà,thằng Tòng thì nhất định đi rồi để gặp nhỏ Thơ. Còn
tao thì mày khỏi lo, có tao hay không “Bố Lai” hay “Già Đông” cũng chẳng thắc
mắc, mấy ổng thấy tao như thấy ma, muốn tao chết bờ chết bụi cho khuất mắt mà
tao cứ sờ sờ ra báo mấy ổng.
Thằng Định nói:
- À mày kiếm cho mỗi thằng cái giấy
phép 24 tiếng nhen, mày là vua mấy cái vụ này mà.
Tôi trả lời:
- Ừ tao lo cho, giấy phép thường
niên thì tao chịu thua, chứ 24 tiếng tao nói một tiếng thằng “Khiêm mập” văn
phòng trưởng pháo đội, nó sẽ đưa tao liền, lại có cả sẵn chữ ký của “Già Đông” nữa kìa..
Chỉ vài giờ, sau khi cả bọn vù qua
mặt đám quân cảnh ở xa lộ, với 4 cái giấy phép 24 tiếng do thằng “Khiêm mập”
cung cấp, 4 thằng lính TQLC, tôi, Định, Chúc, và Tòng đã có mặt ở Sài gòn.
Sài gòn sáng thứ bảy, thành phố vẫn
tưng bừng nhộn nhịp, không khí chiến tranh hình như ở một nơi nào, ở một đất
nước nào trên trái đất này chứ không phải trên phần đất, của quê hương khốn khổ
này. Tôi bảo:
- Thôi bọn mình vô Thanh Thế kiếm
cái gì dằn bụng rồi tính đi đâu thì đi.
Thằng Chúc xen vào nói:
- Ăn xong rồi thì về nhà bà già
thằng Định chơi cho rồi còn đi đâu nữa.
Thằng Tòng lên tiếng đùa:
- Thằng Chúc nó chỉ muốn về gặp em
thằng Định thôi chứ nó thiết tha đi đâu. À Định, hay là tụi mình ghé về Phú thọ
rủ nhỏ Thơ và nhỏ Cúc về nhà bà già mày chơi luôn.
Thằng Định tiếp lời:
- Hôm nay thứ bảy nhưng nhỏ Thơ vẫn
còn đi dạy buổi chiều, còn nhỏ Cúc phải coi cửa hàng tạp hóa cho bà chị phải
lấy cớ gì đi, nếu không bà chị nhỏ Cúc ca vọng cổ thì tội cho nhỏ Cúc lắm, ngày
mai chúa nhật thì được.
Thằng Chúc lại xía vô:
- Sao tụi mình không chia làm hai,
thằng Hùng thì đi với thằng Tòng là hợp lý, nó chỉ muốn theo thằng Tòng về nhà
cô thằng Tòng để gặp em gái thằng Tòng. Còn tao đi với thằng Định.
Tôi bảo:
- Sư tụi mày, thôi vô Thanh thế ăn
rồi tính sau…
Thế mà đã thấm thoát hơn 40 năm qua
rồi, tụi mày giờ này ở nơi phương nào hở? Có còn nhớ hay đã quên những ngày
xưa... thật xưa... Thằng Chúc chẳng biết trôi về đâu,đã nằm xuống ở xó xỉnh nào
nơi quê hương “bác”, hay mày tìm về Cái Bè kiếm lại nhỏ Trâm hoặc đã nổi trôi
nơi xứ nào? Thằng Tòng thì tao biết nó về lại Diên Khánh, Nha Trang, hiện sống
lây lất bám víu cho những ngày cuối đời trên mãnh đất khô cằn của ông già nó để
lại. Riêng tao thì trôi dạt theo giòng người lưu lạc, lang thang nơi xứ người đã
gần 38 năm rồi. Còn thằng Định như tụi mày biết, nó đã nằm xuống vào một ngày
cuối đông ở Cửa Việt. Định ơi, mày và các thằng bạn mũ xanh tụi mình có biết
bao thằng nằm xuống, có nhiều thằng thì để lại một phần thân thể trước giờ
ngưng bắn cho cái hiệp định tủi nhục ngày nào, trong giờ phút ấy thế mà tụi mũ
xanh mình vẫn còn cố giành giựt thêm một ít phân đất vô tri, có cần như thế
không hở Định? Để rồi mày có biết vào cái ngày oan khiên sầu thảm của đất nước,
tụi tao cũng đành phải ngoảnh mặt bỏ đi không thể giữ lại được những gì mà tụi
mày đã hy sinh mạng sống để giành giựt nó!!!
Nhớ lại ngày đó tao đã bật khóc như
thằng con nít, khi hay tin thằng Định mất, rồi khi trở về Sài gòn tao nào có đủ
can đảm về Củ Chi thăm mẹ nó, tao sợ phải nhìn vào đôi mắt đẫm lệ của mẹ, sợ phải nhìn đôi mắt như trách móc của nhỏ
Tuyết, lại càng sợ không khí lạnh lẽo của căn
nhà ăm ắp đầy kỷ niệm của tụi mình, sẽ không còn những đầm ấm rộn rã tiếng cười
của mẹ, của nhỏ Tuyết, của Cúc, Thơ và của đám con TQLC của mẹ..., và bây giờ ngôi nhà chỉ còn mẹ và đứa em, sẽ cô đơn lủi thủi trong những tháng ngày buồn hiu sắp đến... Tao
cũng chẳng dám ghé Phú thọ thăm nhỏ Cúc, vì tao lại càng sợ thêm khi phải nhìn những giọt nước mắt của nhỏ Cúc, người con
gái mà nó hẹn ước sẽ cưới vào đầu xuân sắp đến. Tao có tệ quá không hở Định,
sao lạ thế, tao vẫn thường tự nghĩ tụi mình
vốn dĩ coi sự sống chết không ra gì, thế mà lúc đó tao lại sợ, thật sự sợ hãi
những giọt nước mắt từ những người tao thương yêu, tao biết mày hiểu và ở nơi
nào lúc đó trong cõi hư vô chắc mày không trách tao phải không Định?! Thật buồn
cười ghê đi, tụi mình vẫn cứ thường bông đùa sẽ “không bao giờ chết người trai
khói lửa, chỉ chết người em gái nhỏ hậu
phương” thế mà mày lại ra đi hở Định?! Mày có biết cái chết mày đã làm cho bài
hát trở nên nhạt nhẽo vô duyên mỗi khi tao nghe nó….
Thời
gian qua lẹ quá, những ngày mới lớn, những ngày vui, buồn, sống, chết với tụi
mày, chừng như một giấc mơ. Những khổ cực, hiểm nguy, cay đắng, nhưng sao nhớ
chi lạ, sao vui và hạnh phúc khôn cùng, nếu thời gian có thể quay ngược lại,
nếu có được một phép mầu, tao vẫn cứ mong sẽ được trở lại như ngày xưa, được
đội trên đầu chiếc nón xanh, được gặp lại tụi bây, được một lần say khướt cùng thằng Chúc bên bến phà Neak luong,
Kampuchia thuở nào, để được nghe lại giọng cười sảng khoái của thằng Định khi tụi mình chạy thoát
đám QC.202 sau khi choảng nhau cùng tụi thiết giáp ở cái quán gần sân vận động
Huế ngày xa xưa...
Tao cứ nhớ và mãi nhớ tụi mày, tao
vẫn nhớ như in từng khuôn mặt, từng những cá tánh ngỗ ngáo nhưng thật dễ thương
của tụi bây, rồi lại nhớ nét mặt nhăn nhó, rên rỉ của “Bố Lai” thường vụ dành
cho tụi mình, nhưng coi tụi mình như con cái. Rồi nhớ tiếng lè nhè của “Hiệp sĩ Bốn say”, lại nhớ cái tật lúc nào cũng lèng èng của Hạ sĩ Tặc. Còn “Ông già Lê Khắc”
thì “Khổ” hơn vì các thằng tụi mình, vì lúc nào cũng làm “gương xấu” cho các
binh sỉ! Tất cả giờ đây đã trở thành những kỷ niệm nhạt nhòa khó quên, “Bố
Lai”, ông Khánh, thằng Cường và tài xế Thạch Chiêu cũng đã ra đi trong lần bị
trái mìn của bọn khốn nạn gài lúc theo đoàn xe
từ “Cùa” ra Đông Hà. Các ông anh thì tan tác phương trời, có người đã nằm
xuống, sau những năm dài trong ngục tù của kẻ thù phương bắc, người ra tù về
thì thân thể đã tàn tạ cùng một tinh thần quá
suy nhược xuống thấp sau những đòn thù đê tiện của đối phương sau ngày miền nam
của mình quấn khăn tang.....
******
- ... Anh Hùng ơi ra phụ tụi tui một
tay đi, cái “Anten dù” chỉ có tui và thằng Oanh dựng khó quá, gió lại mạnh.
Tiếng thằng “Hai xích lô” léo nhéo
trên nóc hầm của toán liên lạc TQLC đi bên
cạnh LĐ Dù.
- Từ từ tao biết rồi, thôi làm lẹ
lên!
Trời lại gió mạnh, cát thổi rát cả
mặt xen lẩn những tiếng nổ đạn pháo 130 của bắc phương rớt ngoài bờ rào phòng
thủ của LĐ Dù, đâu đây vọng lại những tiếng nổ của pháo binh Dù, họ cũng đang
phản pháo lại.
“Hai xích lô” hỏi tôi:
- Anh Hùng, sao tụi TQLC mình chưa
nhảy dzô, mà lại còn biệt phái đám tụi mình theo tụi Dù dzậy anh Hùng?
Tôi nói:
- Tao biết cái con mẹ gì đâu mà mày
hỏi, ông Phương nhận lịnh đâu ở trên rồi kéo toán mình đi thôi, tao chỉ biết
chừng ấy, chỉ nghe tụi SĐ3 bộ binh đang rút về từ Ái Tử, Đông Hà, và tụi LĐ147
của tụi mình cũng đang lui về tận Mỹ Chánh rồi. Thôi nhanh tay lên, léng phéng
ở ngoài hầm rồi lãnh một trái, tụi mày không còn mạng đi Huế mua kẹo mè xửng và
nón lá về thăm vợ con tụi mày lúc trở về Sài gòn đó.
Thằng Oanh lại rên rỉ:
- Chỗ này anten mẹ anten con tùm lum
chỉ tổ ăn pháo của tụi nó, nằm chịu pháo kiểu này chắc hổng thọ đâu anh Hùng
ơi!
Tôi bảo:
- Kệ thây nó chứ, mới tới hầm hố kiểu này chịu sao thấu đạn 130 của tụi nó, cứ
coi như phước chủ may thầy, hên xui thằng nào xui thì chịu đi. Xong rồi mày và
thằng Oanh nấu chút nước sôi làm chút gạo xấy ăn nhen, từ sáng tới giờ này
chẳng có con mẹ gì trong bụng, còn tao đi kiếm ông Phương coi ổng có cần gì nữa
không…..
Toán sĩ quan liên lạc của PB/SĐTQLC
vừa đến phi trường Phú Bài liền được lịnh đi biệt phái nằm cùng LĐ Dù ở An Lỗ,
Th/Tá Phương, tôi cùng 2 quân nhân được lệnh di chuyển đến nơi này, trong khi
được tin SĐ3/BB và LĐ147 đang lui dần về phía
nam đánh dấu những ngày đẫm máu cho mùa hè 1972….
Và những ngày bên LĐ Dù tôi đã có
thêm những người bạn mũ đỏ, những tên bạn với những khuôn mặt và kỷ niệm cùng
họ đã theo mãi trong tôi cho đến tận bây giờ. Một “Quang đui” tinh nghịch nhanh
nhẹn, một “Hùng điếc” điềm đạm và đầy chân tình, rồi một Trần văn Tàu Em HLV
Teawondo cho PB/SĐ Dù, vui vẻ khôi hài, không biết tụi bây giờ trôi dạt về đâu?!
Những người anh em mũ đỏ cùng các mũ xanh tụi tao đã sống chết và thắm máu trên phần đất khốn khổ này, máu anh em tụi
mình đã nhuộm thắm và trải dài cho đến ngày mà anh em mũ xanh tụi tao dựng lại
ngọn cờ trên hoang tàn đổ nát của cổ thành Đinh Công Tráng. Tao viết một lần để
được nhớ đến tụi mày đó “Tàu em”, “Hùng điếc” và “Quang đui”, tao mãi nhớ những
lần theo thằng “Tàu em” về Bao Vinh với những cơn say cùng Tuấn, anh của Phúc
để rồi tao đã có đêm “Trăng Khuyết” thuở nào, tao vẫn nhớ, tao cùng “Hùng
điếc”, một thằng mũ đỏ lang thang cùng một thằng mũ xanh say quên cả trời đất ở
quán thịt cầy Xóm Mới, rồi hai thằng lại làm “Lưu Nguyễn lạc thiên thai” ở Hạnh
Thông Tây, rồi buổi tối ở một quán bar Thoại Ngọc Hầu Bảy Hiền, mà mày nói cùng
tao đó là giang sơn của tụi mũ đỏ tụi bây ít
có những thằng binh chủng khác dám đi lạc đến đây, đêm đó chung quanh đám mũ đỏ
chỉ có một thằng mũ xanh lẻ loi nhưng tao không cảm thấy đơn độc vì có tụi mày
đó “Hùng điếc”, “Quang đui” ơi. Rồi tao lại miên man nhớ, tao cùng thằng “Quang
đui” đã có những ngày thật hạnh phúc thênh thang với Hân và Phúc ở Thiên Mụ,
không hiểu rồi ngày tụi mình bỏ Huế mày có còn gặp lại Hân không hở Quang? Còn
Phúc thì mãi mãi lạc mất sau những ngày tất tả ngược xuôi tìm tao trong tang
thương hỗn loạn của tháng ba ở Đà nẵng. Thời gian trôi không ngừng nghỉ, thế mà
đã hơn 40 năm, mà tao cứ ngỡ như mới ngày hôm qua tụi bây ơi và nổi nhớ cứ mãi
day dứt khôn nguôi.
Nơi tao đang sống, cây lá sau vườn
nhà tao đang thay màu, mùa thu đã sang, chút nắng hè còn sót lại vẫn không làm
lòng tao ấm khi nỗi nhớ về tụi bây cứ mãi đong đầy. Chút tình ngày cũ cứ theo
mãi đâu đây. Năm tới 2014 tụi mũ xanh mình sẽ làm ĐH-TQLCVN ở Atlanta GA, để
nhớ lại ngày nào thuở xưa anh em tụi mình đã nhìn lá cờ vàng bay nơi thành cổ,
và cứ mỗi lần đại hội về tao càng quay quắt nhớ đến tụi mày nhiều hơn, và nhớ
những thằng bạn mũ đỏ của tao, tụi nó cũng đã thắm máu cho Cổ thành của chuyện
ngày xưa... thật xưa và... thật nhớ.
MX Nguyễn Đức Hùng
Viết để nhớ những người bạn sống và chết của
một thời đã qua....
* “Già Đông” cố Th/tá Lê Khắc Đông
* “Bố Lai” cố Th/s1 Quách Văn Lai
* “Khiêm Mập” Ts1 Khiêm và các bạn
Cố Th/s Trương Văn Định
Th/s Nguyễn Văn Chúc
Ts1 Huỳnh Tòng
Old Soldiers Never Die; They Just Fade Away
Một Năm Học Mới - Đỗ Công Luận
Hôm nay 5/9/2026,
20 triệu học sinh cả nước bước vào năm học mới.
Trong đó, cháu nội gái của tôi vào lớp một, hành
trình cõng chữ...
Đỗ Công Luận
Trái Tim Người Cha
Một ngày nọ, Cha tới mượn tiền tôi. Cha nói sức khỏe
không tốt, cần phải tới bệnh viện để kiểm tra tổng quát, vậy nên tôi đã gửi tiền
cho Cha.
Không ngờ, chưa được bao lâu, Cha lại gọi điện tới,
nói muốn mua một chiếc xe điện 3 bánh. Tôi lưỡng lự một lúc, Cha dường như nghe
thấy sự do dự của tôi bèn nói:
“Con cho Cha một nửa, Cha tự bỏ ra một nửa, đem bán mấy
con dê nhà nuôi”.
Nghe thấy vậy, tôi liền mềm lòng. Mấy năm gần đây, Cha
tôi đã nuôi hơn chục con dê, nuôi lớn rồi lại đem bán để trang trải chi tiêu
hàng ngày. Sau khi Mẹ tôi mất đi, tôi muốn đón Cha lên thành phố ở chung, Cha
quyết không chịu đi.
Thằng em trai đang sống ở thị trấn cũng muốn đón Cha tới,
nhưng Cha nói đã quen với cuộc sống ở quê, quen với những người trong thôn nên
không muốn rời đi.
Không có cách nào thuyết phục, đành theo ý Cha. Tuy nhiên, muốn biếu Cha chi phí sinh hoạt hàng ngày ông cũng không lấy, lần nào cũng nói, cuộc sống thôn dã đơn giản, chi phí ít, cũng không tiêu gì. Mà bây giờ… chuyển tiền cho Cha, nhưng tôi vẫn cảm thấy có gì đó không đúng.
3 tháng trôi qua, tôi quyết định đưa con gái về nhà
thăm Cha.
Cửa nhà khóa, chú hàng xóm nói Cha tôi đang đi chăn
dê. Tôi bèn dắt con gái xuống dốc, từ xa đã nhìn thấy đàn dê, tới gần mới thấy
Cha đang ngồi ngủ bên gốc cây, bên cạnh trải một tấm vải, trên tấm vải có một
cái bánh đã ăn được một nửa, một túi dưa muối nhỏ, còn có một bình nước… Trong
lòng chợt thấy chua xót, tôi liền gọi: “Cha ơi”!
Cha giật mình tỉnh giấc, hồi lâu sau mới nói:
“Con bé này, sao về nhà mà không báo trước?”.
Con gái tôi liền giành nói trước: “Mẹ con nói muốn cho
ông ngoại một bất ngờ”.
Cha tôi thực sự rất vui mừng, không nói thêm với tôi
điều gì, chỉ kéo cháu gái tới làm quen với bầy dê bảo bối của mình. Một bầy dê
nho nhỏ có trên chục con, Cha tôi vui vẻ nói:
“Đợi thêm một khoảng thời gian nữa có thể bán được rồi,
chắc chắn sẽ bán được rất nhiều tiền! Bây giờ giá dê đang tăng”.
Về tới nhà, trong sân có chút bừa bộn, chiếc xe 3 bánh
Cha tôi đã đi nhiều năm nằm ở một góc sân.
Tôi thuận miệng liền hỏi:
“Cha, chiếc xe 3 bánh Cha mới mua đâu rồi?”.
Ông bối rối trả lời:
“Cha… vẫn chưa mua! Nghe người ta nói tháng sau giá sẽ
giảm”.
Trong lúc tôi dọn dẹp ngoài sân, nghe thấy Cha gọi điện
cho thằng em trai nói:
“Chị gái con về nhà, tối nay con cũng về nhà cùng ăn
cơm đi!”.
Sau đó Cha còn dặn nhỏ một câu:
“Mua thêm nhiều đồ ăn ngon nhé”!
Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi vào làm việc ở một
công ty nước ngoài khá tốt, còn em trai tôi miễn cưỡng cũng học xong trung cấp
nghề, trở thành một công nhân làm trong một dây chuyền lắp ráp tại thị trấn, thằng
út lại càng ngưỡng mộ và tôn kính tôi hơn.
Buổi chiều, thằng em trai mang theo con về nhà, còn
mua rất nhiều đồ.
Cha tôi đích thân xuống bếp, cùng với em trai làm rất
nhiều món ngon, đều là những món tôi ưa thích. Lúc Mẹ tôi còn sống, Cha tôi
chưa từng nấu ăn. Thật kỳ lạ là mỗi món ăn Cha làm đều giống y như mùi vị thức
ăn Mẹ nấu. Ăn từng miếng, tôi dường như sắp khóc.
Buổi tối, tôi ngồi nói chuyện với Cha trong sân, chỉ
là không ngờ tới, ông vòng vo một hồi lâu, nói từ chuyện trong thôn, nói tới việc
lúc còn sống Mẹ tôi muốn xây lại nhà,… cuối cùng mới nói tới vấn đề chính:
“Các con, nếu như không quá khó khăn, có thể… con biết
đấy, thằng em của con…”
Tôi ngắt lời ông, hỏi:
“Cha, sửa nhà cần bao nhiêu tiền”, trong lòng đột
nhiên có một nỗi buồn không thể diễn đạt bằng lời.
“Khoảng, khoảng 200 triệu …..”, giọng của ông nhỏ lại,
liền lập tức bổ sung, “nếu bán được bầy dê cũng sẽ được vài chục triệu”.
Tôi ngạc nhiên một lúc, 200 triệu với tôi cũng không
phải là con số nhỏ, tôi ngập ngừng nói: “Cha, đợi con về nhà tính lại rồi nói,
cũng không phải vấn đề quá lớn”.
Ông cúi thấp đầu nói:
“Con gái, làm khó con rồi. Con xem có thể được bao
nhiêu, Cha già rồi, sẽ không tiêu tốn khoản nào nữa….”.
Tôi cười nhẹ. trong ánh trăng mờ ảo, chắc chắn Cha
không thấy được sự cay đắng trong nụ cười đó.
Bàn bạc với chồng về chuyện của Cha, cả nửa ngày, anh ấy
cũng không nói gì, chồng tôi không phải một người nhỏ mọn, nhưng năm nay, tình
cảnh của anh ấy còn tệ hơn tôi. Chồng tôi mở một công ty xuất khẩu nhỏ, bây giờ
đến tiền lương cũng trở thành vấn đề.
Cuối cùng anh ấy nói:
“Em đưa tiền cho Cha đi, chúng ta tự thắt chặt chi
tiêu chút, vẫn có thể chịu được”.
Nửa tháng sau khi tôi chuyển tiền cho Cha, tôi gặp được
một người họ hàng tới thành phố làm việc, trong lúc trò chuyện tôi liền thuận
miệng hỏi:
“Nhà của con đã bắt đầu sửa lại chưa ạ”?
Ông ấy hơi ngạc nhiên:
“Không thấy Cha con nói tới việc sửa lại nhà!”, nghĩ một
lúc người đó nói, “Đúng rồi, Cha con đem dê bán hết rồi, giúp em trai con mua một
chiếc xe giao hàng nhỏ, em trai con không còn làm ở chỗ cũ nữa, đã tự lái xe đi
giao hàng rồi. Kiếm được kha khá...".
Trái tim tôi giống như bị ném vào băng vậy, cảm thấy
thực sự lạnh lẽo.
Hoá ra Cha đã nói dối tôi, từ đầu tới cuối luôn đứng về
phía thằng em trai, thiên vị tới mức nói dối tôi lấy tiền giúp đỡ nó, không thể
oán hận Cha nhưng có bao nhiêu bất mãn chính tôi cũng không rõ.
Về tới nhà, tôi không thể chịu đựng được nữa, nhốt
mình trong phòng vệ sinh, vừa mở nước vừa khóc một trận.
Vài ngày sau đó, tôi đều không chủ động gọi điện thoại
cho Cha. Cuối cùng cũng làm Cha gọi trước, tôi chỉ trả lời lấy lệ, Cha cũng
đành phải cúp máy. Nhưng không ngờ rằng, đó lại là lần cuối cùng tôi được nghe
giọng của ba..
3 ngày sau, tôi nhận được điện thoại của thằng em
trai, nói rằng Cha đã qua rồi vì bị nhồi máu cơ tim... bỗng nhiên nhớ lại cuộc
điện thoại 3 ngày trước, những lời dặn dò vụn vặt cùng sự lạnh lùng của tôi,
khiến tôi không thể nhớ nổi.
Lập tức trở về nhà, lần đầu tiên tôi và thằng em trai
ôm nhau khóc, lúc Mẹ mất tôi vẫn có thể dựa vào vòng tay Cha, còn bây giờ... tất
cả những oán trách đối với Cha đều bị sự ra đi đột ngột này làm tan đi hết, chỉ
còn sự đau thương bao trùm lấy tôi.
Sau khi lo liệu xong hậu sự của Cha, lúc rời đi, thằng
em trai tiễn tôi tới bến xe rồi nói:
"Chị gái, hãy thường về nhà nhé, Cha Mẹ đều không
còn, nhưng nhà của chúng ta vẫn còn".
Một câu nói đó đã khiến cho tôi vốn đã khóc tới cạn nước
mắt lại dâng lên dòng lệ. Nắm tay thằng em trai tôi dặn dò nó giữ gìn sức khỏe
rồi lên xe đi. Tôi đã nghĩ rằng, có thể sau này tôi sẽ không thường về nơi được
gọi là nhà của chúng tôi nữa!
Trải qua vài ngày, tôi mới có thể bình tĩnh lại sau việc Cha qua đời...
Nhưng cuộc đời con người, quả thật là hoạ vô đơn chí,
chuyện bất hạnh lại tiếp tục xảy tới, công ty của chồng tôi gặp sự cố, anh ấy bị
khách hàng lừa mất toàn bộ tài sản.
Chồng tôi lúc đó gần như sụp đổ, từ một người không
bao giờ uống rượu lại thành kẻ say sưa tối ngày. Tôi vô cùng lo lắng, sốt ruột,
lại không có cách nào có thể giúp đỡ, suy nghĩ một đêm, cuối cùng quyết định
bán nhà.
Trưa ngày hôm đó thằng em trai gọi điện tới, sau khi
Cha mất, thằng em ngược lại rất thường xuyên gọi điện thoại tới. Tôi không có
tâm trạng nói chuyện với nó, nó cũng hiểu được sự nôn nóng của tôi, nhẫn nại hỏi,
tôi cố gắng mới nói được hết cho thằng út nghe.
Không ngờ được rằng, em trai tôi ngồi tàu hỏa, sáng
hôm sau liền tới, bước vào nhà không nói gì hết, từ trong tay lấy ra một xấp tiền.
"Chị, đây là 500 triệu, không nhiều, dùng giải quyết trước đã".
Tôi vô cùng ngạc nhiên hỏi:
"Tiền này em lấy ở đâu?". "Một phần từ
mấy tháng nay em chở hàng kiếm được 300 triệu, nhà trên thị trấn không được bao
nhiêu, chỉ có điều có được từng này...".
Tôi cảm động, cầm tiền đưa lại cho em trai, nói:
"Chị không thể cầm tiền của em".
Nó vội vã nói:
"Chị gái, năm ngoái xưởng đóng cửa, em và vợ bị mất
việc, muốn nói một chiếc xe chở hàng nhưng không có tiền, chị đã đưa ba 400 triệu,
nói Cha đưa cho em, còn dặn Cha không được cho tụi em biết là tiền của chị".
Tôi ngây người, em trai nói tiếp:
"Cha nói, hồi nhỏ, đều là chị nhường em, bởi vì
em là em, bây giờ em phải bảo vệ chị, bởi vì chị là con gái. Cha còn nói, tới
lúc Cha không còn nữa, em chính là nhà của chị...".
"Cha"!
Tôi quay đầu, nước mắt rơi xuống như mưa. Tôi là đứa
con bất hiếu! Sao lại không hiểu cho sự khổ tâm của Cha. Cha đã biết trước
không còn sống được bao lâu, lại càng biết tôi vốn là đứa kiêu ngạo, ngay cả
người thân cũng sẽ không nhờ vả dựa dẫm, chính vì vậy đã để lại sự yêu thương,
dành cho tôi sau này.
Lúc đầu, khi Cha mượn tiền tôi, trong lòng Cha đã biết
khó xử, đã phải dùng bao nhiêu dũng khí. Nhưng Cha vẫn làm vậy, chỉ để khi ông
mất đi, chúng tôi còn có chỗ dựa, còn có người thân.
Thì ra đứa con mà ông yêu thương nhất lại chính là tôi. Tôi quay lại ôm lấy em trai, không thể nói một lời nào, chỉ ôm thật chặt nó.
Giây phút này, Cha tôi đang ở trên thiên đường cũng cảm
thấy an lòng, bởi vì đứa con được sống trong tình yêu của ông mà hoàn toàn
không biết, cuối cùng đã hiểu được tất cả.
Hãy yêu thương cha mẹ khi còn có thể..! 💖
Nguồn FB











