Monday, July 13, 2026

Bốn "Không" Ở Singapore


Singapore là thành viên của Hiệp hội các nước ASEAN không chỉ được ca ngợi là quốc gia có nền kinh tế phát triển mà còn được đánh giá có một Chính phủ trong sạch. Singapore có bốn kinh nghiệm chống tham nhũng có hiệu quả.

xin giới thiệu đến độc giả bốn kinh nghiệm của Singapore trong chống tham nhũng.

    1. Làm cho quan chức không dám tham nhũng.

    Ở Singapore khi một người được tuyển vào làm công chức, quan chức Chính phủ thì hằng tháng phải trích một phần tiền lương để gửi tiết kiệm. Thoạt đầu trích 5%, sau tăng dần. Người có chức vụ càng cao, thì phần trăm trích ra gửi tiết kiệm càng lớn, có thể lên tới vài chục phần trăm lương tháng. Số tiền này do Nhà nước quản lý. Bất kỳ công chức, quan chức nào phạm tội tham nhũng dù nhẹ ở mức xử phạt ra khỏi ngạch công chức thì toàn bộ số tiền gửi tiết kiệm bị trưng thu.

       Quan chức càng to thì số tiền bị trưng thu càng lớn. Vì vậy, mỗi quan chức khi nảy ý định tham nhũng đều phải tính toán: Nếu tham nhũng, nhận hối lộ mấy trăm, thậm chí cả ngàn đô mà bị tịch thu hàng chục ngàn đô, bị sống trong hoàn cảnh không lương bổng cho đến lúc chết thì mất lại nhiều hơn được. Vì thế, đại đa số chọn giải pháp không tham nhũng; quan chức cấp càng cao, lương càng nhiều càng sợ không dám tham nhũng.

    2. Làm cho quan chức không thể tham nhũng.

    Chính phủ Singapore quy định và thực hiện mỗi năm công chức, viên chức, quan chức phải khai  báo một lần với Nhà nước về tài sản của bản thân hoặc của vợ (chồng) bao gồm: Tiền thu nhập, tiền gửi tiết kiệm, tiền cổ phiếu, đồ trang sức, ô tô, nhà cửa… Những tài sản tăng lên phải khai rõ nguồn gốc, cái gì không rõ nguồn gốc có thể coi là tham ô, tham nhũng. Nhà nước còn quy định: Quan chức Chính phủ không được phép nợ nần; không được vay một khoản tiền lớn vượt quá tổng ba tháng lương. 

        Singapore có thị trường mua bán cổ phiếu, nhưng quan chức Chính phủ muốn mua cổ phiếu phải được lãnh đạo cơ quan chủ quản đồng ý và chỉ được phép mua cổ phiếu của công ty trong nước. Với cổ phiếu của các công ty nước ngoài đang kinh doanh ở Singapore cũng được phép mua, nhưng với điều kiện các công ty đó không có quan hệ lợi ích với Chính phủ. Công chức và quan chức Chính phủ không được phép đến các sòng bạc, nhà chứa.

    Luật Báo chí Singapore quy định những điều khoản nhằm chống tham nhũng trong lĩnh vực này. Theo đó, các nhà báo, ký giả muốn gửi bài viết của mình ra nước ngoài phải qua tổng biên tập xem xét. Khi được trả tiền nhuận bút, nhà báo đó phải báo cáo với cơ quan chức năng của Chính phủ trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận được tiền, v.v...

    3. Làm cho quan chức không cần tham nhũng.

 

    Singapore có chế độ trả lương chênh lệch khá cao giữa quan chức cấp cao với cấp thấp, với công chức và giữa công chức với nhân viên, công nhân. Thu nhập thấp nhất là người bảo mẫu mỗi tháng 400 đô la (Singapore). Nữ công nhân lắp ráp điện tử mỗi tháng từ 600 đến 900 đô la. Công chức cơ quan chính phủ tất cả đều tốt nghiệp đại học, lương khởi điểm khoảng 1.300 đô la. Cấp thứ trưởng lương tháng từ 10.000 đô la đến 20.000 đô la. Thủ tướng lương tháng hơn 40.000 đô la (thời điểm năm 2000). Với mức lương như vậy, quan chức đủ sống và chu cấp cho gia đình mà không cần tham nhũng. Hơn nữa cách trả lương như vậy công chức và quan chức Chính phủ luôn có sự so sánh: Mình được trả lương cao hơn người lao động bình thường rất nhiều. Nếu mình tham ô, tham nhũng nữa thì là kẻ vô đạo lý, mất hết liêm, sỉ. Sự so sánh và tự vấn đó đã làm cho quan chức tự tiêu hủy những tham vọng không trong sáng của mình.

    4. Làm cho quan chức không muốn tham nhũng.

 

    ở Singapore muốn tham nhũng một thứ gì đó, dù nhỏ cũng rất phiền hà. Ví dụ, khi khách nước ngoài đến Singapore, nếu họ muốn tặng các quan chức nước chủ nhà một món quà để cảm ơn về sự đón tiếp và thắt chặt mối quan hệ thì món quà đó phải mang ý nghĩa văn hóa với giá trị tiền không nhiều. Món quà nào có giá trị 100 đô la Singapore trở lên là họ từ chối hoặc phải xin phép lãnh đạo cơ quan, nếu đồng ý mới được nhận. Nhưng khi nhận rồi lại phải báo cáo với lãnh đạo cơ quan xem xét. Nếu món quà đó có giá trị tiền quá mức quy định và quan chức đó vẫn muốn nhận thì phải nộp tiền. Số tiền nộp thêm đưa vào tài khoản quỹ “nộp phạt” của Chính phủ.

    Chuyện kể rằng, một phái đoàn quan chức của Chính phủ Singapore được cử sang một nước nọ để ký một hiệp định liên doanh sản xuất. Nhận thấy hiệp định này đem lại nhiều lợi ích cho mình, giới chức nước chủ nhà đã tặng những món quà lưu niệm có giá trị cao cho quan chức đoàn Singapore. Bởi sự quá nhiệt thành của chủ nhà, họ không sao từ chối được. Nhưng cứ nghĩ đến việc khi về nước lại mang quà biếu này đến cơ quan khai báo, phải mua lại và chuyển tiền vào tài khoản quỹ “nộp phạt” thì quả là phiền toái. Cả đoàn đều phải “đành lòng” viết thư cảm ơn và gửi lại quà ở sân bay trước khi trở về Singapore.


Kim Duncan chuyển 

Ta Dừng Cuộc Vui - Đỗ Công Luận

 

Money Has Different Names


In temple or church, it's called donation.

In school, it's fee.

In marriage, it's called dowry.

In divorce, alimony.

When you owe someone, it's debt.

When you pay the government, it's tax.

In court, it's fines.

Civil servant retirees, it's pension.

Employer to workers, it's salary.

Master to subordinates, it's wages.

To children, it's allowance.

When you borrow from bank, it's loan.
When you offer after a good service, it's
tips.
To kidnappers, it's
ransom..
Illegally received in the name of service, it's
bribe

The question is : "when a husband gives to his wife, what do we call it?" 

Answer :

Money given to your wife is called DUTY

and every man has to do his duty because wives are not DUTY FREE !!!... Hahaha. 


[Fun Funky] 

#697 - Nấu Ăn Bằng Nồi Nhôm Dễ Bị Nhiễm Nhôm? Phì Đại Cơ Tim? Vitamin Ngừa Bệnh Alzheimer? - BS. Phạm Hiếu Liêm

 

Haloween Everyday Cô Hồn Các Đảng VN - Ph Ng


Tiếng Anh của tôi thuộc loại "thường thường bậc trung", nên khi nghe Mỹ gọi flea market, tôi mở tự điển, họ nói flea là con bọ chét. Nhưng gom hai chữ flea market vô thì không có dính dáng gì tới con bọ chét. Không cần biết tự điển tiếng Anh giải thích flea market dài dòng lôi thôi, tiếng Việt chỉ đơn giản “chợ trời” là mọi người già trẻ lớn bé đều hiểu ngay. Bởi vì ai cũng biết chợ trời ở Việt Nam là chợ lộ thiên, theo như câu than “màn trời chiếu đất”, chứ nhiều chợ trời ở Mỹ không thấy trời đâu hết, vì ở dưới tầng hầm của một số chung cư.

  Như vậy theo tôi chữ chợ trời của VN tượng hình hơn chữ flea market của Mỹ. Hoặc khi gọi “chợ chồm hổm” là mọi người hiểu ngay người bán không có ghế ngồi, ai cũng ngồi chồm hổm, mọi thứ sơ sài, chỉ có tấm nylon trải ra bày hàng. Người Việt mình gọi tên chợ kiểu gì, người nghe cũng hiểu : chợ nổi (bán trên thuyền), chợ xép (chợ nhỏ), chợ chiều (cuối ngày, sửa soạn dẹp). Chợ đời không có bán hàng, mà bán kinh nghiệm sống v.v.

  Thời VNCH ít ai nghe nói tới chợ trời, nhưng sau ngày tan hàng 30/4, mọi người nghèo quá phải mang đủ thứ trong nhà ra bán ở lề đường. Lúc này hai chữ “chợ trời” được nhắc thường xuyên trong mọi gia đình, hầu như tất cả mọi thứ trong nhà từ món to tới món nhỏ, đều lần lượt ra nằm ngoài lề đường, bán để mua thức ăn. Các cụ bảo : Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ, là không đúng đâu. Cả nước thất nghiệp, chẳng có tay nào làm, tay nào quai nhưng miệng vẫn phải ăn. Nhìn quanh nhìn quất chỉ còn cách duy nhất là mang đồ trong nhà đi bán.


  Sau ngày 30/4 dân miền Nam mới nghe câu chà đồ nhôm chôm đồ nhà. Hồi xưa kẹt tiền thì mang đồ ra tiệm cầm đồ. Nhưng là những món đồ có giá trị như đồng hồ, nữ trang, xe cộ, TV… chứ đồ tạp nhạp không ai chịu cho cầm thế. Trái lại chợ trời mua tất cả, bất kỳ cái gì dù cũ nát tới mấy cũng vẫn bán được.

   Chợ trời ở VN sau 75 là nơi có thể kiếm được chút tiền mua thức ăn cho gia đình. Hết đồ có giá trị thì tới quần áo. Hết quần áo, nồi niêu soong chảo thì cạy gạch bông, gỡ cả tấm tôn (tole) lợp mái. Nếu trong nhà có đứa con hư hỏng, chúng sẽ lén lấy đồ trong nhà đi bán để tiêu xài riêng, gọi là “chà đồ nhôm”. Ðây là tiếng lóng mới hình thành ở Saigon sau ngày mất nước. Chà đồ nhôm thì về nhà chỉ nghe cha mẹ mắng chửi, chứ ra ngoài ăn cắp coi chừng bị đánh hội đồng te tua.


   Người nghèo phải ra buôn bán ở chợ trời thì bị cảnh “chó cắn áo rách” do đám chôm chỉa rình móc tiền bạc, hoặc bị lũ công an “ăn cướp cơm chim”, tịch thu càn quét mang về phường. Ðây là một hình thức cướp cạn giữa ban ngày. Cướp có giấy phép và tên gọi hẳn hòi : Quản lý thị trường.

  Quản lý thị trường là mỹ từ gọi đám công an đi tịch thu hàng hóa buôn bán trái phép. Nghe cho hay ho chứ thực chất là “cướp cạn”, vì chúng dùng tiền cướp được của người nghèo để chén chú chén anh, ăn nhậu phè phỡn trên đồng tiền xương máu của dân khố rách áo ôm bị ghép cho tội buôn bán trái phép.

   Có bao giờ chúng cho phép đâu mà bảo trái hay phải. Nếu cách gọi đám cướp cạn thay đổi từng giai đoạn, thì tiền chúng cướp được cũng gọi khác nhau tùy lúc tùy nơi. Lúc thì gọi là thu giá, lúc thì thu phí, nói nôm na là thu tiền mãi lộ.

  Dù bị cấm đoán, chợ trời không thể dẹp; vì đó là chỗ sinh sống (duy nhất) cho người miền Nam, nơi họ có thể bán bất cứ thứ gì, và người mua chính là mấy thằng dép râu nón cối. Sau 75 cuộc sống của người dân miền Nam vô cùng thê thảm. Kinh tế là những con đường “một chiều”, tức là chỉ có bán chứ không có buôn. Ðồ đạc trong nhà mỗi ngày cứ đội nón ra đi, không hẹn ngày về.


  Ngày xưa bán chợ trời, đương nhiên ngồi chồm hổm, nhưng “chợ chồm hổm” lại không phải là “chợ trời”. Chợ chồm hổm thường là những chợ quy tụ ít người ở những vùng quê, ai có gì bán nấy : rau trái trong vườn, tôm cá tát đìa trong mương. Trong khi chợ trời bán đủ thứ tạp nhạp, đa số là đồ cũ nên giá rất rẻ. 

  Thời VNCH có một chợ bán đồ cũ nhưng không gọi là chợ trời, mà gọi là “Chợ dân sinh”. Chắc hàm nghĩa cho dân (nghèo) sinh sống. Chợ dân sinh chuyên bán đồ lạc xoong. Bây giờ không còn ai nhớ (hay biết) tên “Chợ dân sinh”, chỉ còn một chữ : chợ trời.

  Trước 1975 muốn mua đồ cũ thì ra Chợ dân sinh; sau 75 muốn mua đồ cũ ra chợ trời. Chợ trời mọc ra khắp nơi, sau đó gom tụ thành những khu vực khổng lồ: chợ trời Lăng Cha Cả, chợ trời ngã ba Chú Ía gần Quân Y Viện Cộng Hòa ngày xưa.


  Lưu lạc xứ người, chợ trời là nơi quen thuộc cho di dân bước đầu gây dựng lại đời sống nơi xứ lạ quê người. Chúng ta có thể tìm được ở đó (hầu hết) những thứ mình cần với giá rất rẻ, vừa với túi tiền của người nghèo. Chợ trời lúc bấy giờ thịnh hành đến độ bất kỳ địa phương nào cũng có chợ trời, đó là nhu cầu thiết yếu giúp cho bước đầu lập nghiệp của di dân.

  Chợ trời ở Mỹ do chính quyền địa phương điều hành nên mọi thứ được tổ chức có quy củ. Chỉ việc trả tiền thuê chỗ là sẽ có người canh gác cho mọi người yên tâm buôn bán trong trật tự, không có cảnh mắt la mày lét, lúc nào cũng sẵn sàng túm đồ chạy như ở VN hồi xưa.

  Chợ là nơi mua bán thức ăn và đồ tiêu dùng, bản thân chợ chẳng có tội tình gì, nhưng khi nói đến chợ người ta lại gán cho nó đủ thứ tiếng xấu. Ồn như cái chợ, cơm hàng cháo chợ, đầu đường xó chợ, ăn quán (chợ) ngủ đình (chùa).

  Chợ là nơi có nhiều hình ảnh xấu như cảnh “buôn gian bán lận” hay “đá cá lăn dưa”. Ngay cả người buôn bán cũng bị khinh chê, cãi nhau như phường “hàng tôm hàng cá”. 

  Vì thế người xưa khuyên : đừng ở nhà gần chợ, trẻ con sẽ nhiễm tính xấu. Bởi vì muốn bán được hàng thì phải nói láo, phi thương bất phú vi phú bất nhân.


   Sau ngày mất nước, miền Nam trở thành một cái chợ trời khổng lồ. Nhìn thấy người mua toàn dân nón cối, nhà văn Hoàng Hải Thủy đã cám cảnh than thở : 

 Bán đồ toàn những người ta 

 Mua đồ thì rặt những ma cùng mường.

  Cảnh buôn bán ở chợ trời là tương lai thê thảm của người dân miền Nam. Vâng, bây giờ quê hương tôi đang biến thành một cái chợ trời khổng lồ; nơi đó đủ thứ cảnh buôn gian bán lận xảy ra. 

   Chuyện cho thuê đất để thành đặc khu tự trị là một thứ gian lận trắng trợn. Buôn thần bán thánh, mua quan bán tước, mãi dâm, ma túy, bằng giả, hàng giả. 

  Cái gì cũng giả, treo đầu dê bán thịt chó. Cái xã hội nhốn nháo hỗn loạn với đủ thứ tệ nạn, là hình ảnh của cái chợ trời toàn mán cùng mường, một lũ ma trơi, ma cà bông, ma cô, chúng “ bán nước”. 


   Bây giờ tôi thấy gọi quê tôi là chợ trời theo tiếng Việt, không hay bằng tiếng Mỹ : Flea market, vì nơi đó toàn là một lũ bọ chét hút máu dân lành.

    Ở Mỹ chỉ có một ngày Halloween cho ma quỷ ( giả) nhởn nhơ chọc phá, chứ nơi Việt Nam ngày nào cũng là ngày ma quỷ lộng hành. Người ta gọi đó là lũ “cô hồn sống”, những con ma cà rồng hút máu dân lành. Ðúng là một lũ “Cô hồn các Ðảng”, các cụ nói không sai.

   Chợ Trời, hay chợ Ðoạn Trường,

   Ðầu âm phủ, cuối thiên đường là đây.


*Ph Ng

title

Kim Duncan chuyển

Vidéo Thành Phố Orléans Và Nơi Tôi Cư Ngụ - Cập nhật - Nguyễn Duy Phước

Mời xem hình ảnh thành phố Orléans và nơi tôi cư ngụ ở ngoại ô thành phố này cùng với phong cảnh của con sông Loire. 

NdP

 

Sunday, July 12, 2026

9 Bài Học Quý Giá Về Cuộc Sống Để Sống Trọn Vẹn Qua Các Thời Đại

“Không biết số phận thì không thể làm quân tử”. 


9 bài học quý giá về cuộc sống” tiếp thu tinh hoa tư tưởng cốt lõi của Nho – Phật – Đạo, dung hợp các lời răn dạy dân gian và trí tuệ truyền thống. Mỗi câu đều ẩn chứa một thái độ sống thấu suốt. Dưới đây là giải thích chi tiết từng bài học:

 
Bài học thứ nhất: Trong mệnh có thì ắt sẽ có, trong mệnh không có thì đừng cưỡng cầu
Câu này bắt nguồn từ tư tưởng Nho gia “tri thiên mệnh” và Đạo gia “thuận theo tự nhiên”. Đây là tục ngữ dân gian, những cách diễn đạt tương tự có thể thấy trong Tăng Quảng Hiền Văn và các tuyển tập cách ngôn khuyên đời thời Minh – Thanh, nhấn mạnh quan điểm sống “an phận tri mệnh”.

Ý nghĩa không phải phủ nhận nỗ lực, mà nhấn mạnh sự cân bằng giữa “làm hết sức người, nghe theo mện trời”. Khi còn trong khả năng thì dốc toàn lực; khi kết quả vượt ngoài tầm kiểm soát của con người thì nên bình thản buông bỏ, tránh tự làm hao tổn nội tâm vì quá chấp trước được–mất. Điều này tương thông với tư tưởng trong Luận Ngữ: “Không biết mệnh thì không thể làm quân tử”, dẫn dắt con người tìm được điểm tựa giữa tiến thủ và thản nhiên.

Bài học thứ 2: Trên đời vốn chẳng có việc gì, kẻ tầm thường tự làm mình rối loạn
Câu này xuất xứ từ Tân Đường Thư – Lục Tượng Tiên truyện, nguyên văn:
“Thiên hạ bản vô sự, dung nhân nhiễu chi vi phiền nhĩ”
(Thiên hạ vốn không có việc gì, chỉ là kẻ tầm thường tự làm rối loạn mà thôi).

Lục Tượng Tiên làm quan chủ trương xử sự khoan hòa, câu nói vốn dùng để răn dạy cấp dưới đừng quá chấp nhặt chuyện vụn vặt. Về sau, nó lan truyền trong dân gian, trở thành một triết lý sống, thể hiện tư tưởng “vô vi” của Đạo gia theo cách bình dân.

Giải nghĩa và trí tuệ: Phần lớn phiền não trong đời không đến từ sự việc, mà từ sự suy nghĩ quá mức, nghi kỵ và tính toán của lòng người. Trang Tử nói: “Con người sinh ra đã cùng lo âu mà sinh”. Kẻ tầm thường dễ bị cảm xúc chủ quan phóng đại nỗi khổ, còn người trí tuệ thì nhìn thấu bản chất sự việc, không để tạp niệm trói buộc, dùng tâm thanh tịnh để tiếp nhận mọi điều.

Bài học thứ 3: Trước khi ngủ hãy tha thứ tất cả, khi tỉnh dậy đừng hỏi chuyện đã qua
Câu này không có nguyên văn tương ứng trong kinh điển cổ, nhưng kết tinh trí tuệ truyền thống về “khoan dung” và “buông bỏ”. Tư tưởng cốt lõi có thể truy về Phật giáo với “buông xả chấp niệm”, Nho gia với “thử Đạo” (khoan dung với người), và tương thông với tâm cảnh thấu đạt của Hoằng Nhất pháp sư: “Đời người tựa nắng chiều núi Tây, phú quý rốt cuộc như sương trên ngọn cỏ”.

Đây là một trí tuệ sinh tồn mang tính tự hòa giải. Cuộc đời vốn không hoàn hảo; những ân oán, tiếc nuối, sai lầm trong quá khứ nếu cứ day dứt suốt đêm chỉ khiến con người mang gánh nặng mà bước đi. Trước khi ngủ hãy “dọn sạch” cảm xúc tiêu cực, tha thứ cho người khác cũng là tha thứ cho chính mình; khi tỉnh dậy, chuyên tâm vào hiện tại, không bị quá khứ trói buộc, mới có thể nhẹ nhàng tiến bước.

Bài học thứ 4: Tâm bình có thể chữa 3.000 bệnh, tâm tĩnh có thể thông suốt muôn lẽ
Tư tưởng này bắt rễ từ học thuyết “tình chí sinh bệnh” (Cảm xúc và trạng thái tinh thần có thể sinh ra bệnh tật) của Đông y và quan niệm “tĩnh sinh tuệ” (bình tĩnh sinh ra trí tuệ) của Đạo gia. Hoàng Đế Nội Kinh nói: “Giận hại gan, lo nghĩ hại tỳ”, nhấn mạnh ảnh hưởng của cảm xúc đối với thân thể; Đạo Đức Kinh có câu “Trí hư cực, thủ tĩnh đốc”, khẳng định rằng sự tĩnh lặng giúp con người nhìn thấu bản chất sự việc.

Tâm thái ôn hòa có thể ngăn ngừa phần lớn bệnh tật thân–tâm, nội tâm tĩnh lặng giúp con người nhận ra quy luật trong sự hỗn tạp. Cảm xúc xao động che mờ lý trí; chỉ khi lắng lòng, ta mới tìm được lối ra trong nghịch cảnh và giữ được bản tâm giữa ồn ào. Đây là cách diễn đạt giản dị của quan niệm “thân tâm hợp nhất”, nhắc nhở con người coi trọng việc tu dưỡng nội tâm.

Bài học thứ 5: Thân ở cõi phàm nhiều phiền não, người “khó mà hồ đồ” mới được nhàn thanh
Trịnh Bản Kiều lúc về già đã đề bốn chữ ‘Khó mà hồ đồ’, kèm lời tựa: “Thông minh đã khó, hồ đồ đã khó, từ thông minh mà chuyển sang hồ đồ lại càng khó hơn”. Câu nói ấy trở thành minh triết sống được lưu truyền rộng rãi.

“Hồ đồ” ở đây không phải ngu dốt thật sự, mà là cái đại trí nhược ngu. Biết “hồ đồ” trong những việc không thuộc nguyên tắc, không sa đà vào tiểu tiết, không cưỡng cầu người khác phải hoàn hảo—nhờ vậy mới giữ được sự thong dong, an nhiên giữa thế sự phức tạp.

Bài học thứ 6: Làm người, phẩm hạnh lộ ở tiểu tiết; đức dày, luôn có lòng biết ơn
Tư tưởng tương tự có thể thấy trong Chu Dịch: “Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật”, có nghĩa là Đất có đức tính mềm mại, khiêm nhường và bao dung, có thể nâng đỡ vạn vật; người quân tử noi theo đó mà lấy đức dày làm nền tảng để gánh vác chúng sinh và sự việc trong đời. Trong Đệ Tử Quy có câu: “Có ơn nên báo, có oán nên quên”—đó là đạo đức truyền thống được diễn đạt một cách mộc mạc trong bối cảnh hiện đại.

Cao thấp của nhân phẩm không nằm ở những lời tuyên bố lớn lao, mà ẩn trong từng lời nói, hành vi nhỏ nhặt. Cách đối nhân xử thế, lựa chọn trước lợi ích, có biết tri ân và đền đáp hay không—tất cả đều là thước đo phẩm hạnh. Chỉ khi nuôi dưỡng đức dày, giữ vững lương tâm, và biết cảm ơn những gì người khác đã trao, ta mới gặt hái được niềm tin lâu dài và phúc báo bền vững—đó chính là nền tảng để đứng vững giữa đời.

Bài học thứ 7: Tu thân lấy thanh tâm làm cốt yếu, bước vào đời lấy thận ngôn làm đầu
Tư tưởng này dung hòa giữa Nho gia “tu kỷ” và Đạo gia “thận ngôn”. “Tu kỷ” xuất phát từ Luận Ngữ · Hiến Vấn: “Tu kỷ dĩ kính”, nhấn mạnh việc tự rèn luyện bản thân; còn “thận ngôn”(Cẩn thận trong lời nói) có thể thấy trong Đạo Đức Kinh: “Đa ngôn sổ cùng, bất như thủ trung”, nhắc nhở về chừng mực trong lời nói.

Cốt lõi của việc tu dưỡng bản thân là giữ cho nội tâm thanh tịnh, không để dục vọng lôi kéo; nguyên tắc hàng đầu khi giao tiếp với đời là cẩn trọng trong lời nói, không buông lời tùy tiện. Nói nhiều ắt sai.

Bài học thứ 8: Đời người sao có thể nhiều điều như ý, vạn sự chỉ cầu nửa phần vừa lòng
Câu này bắt nguồn từ một đôi câu đối ở chùa Linh Ẩn (Hàng Châu), thể hiện sự kết hợp giữa tư tưởng Phật giáo “tri túc thường lạc” (Biết đủ là hạnh phúc) và Nho gia “trung dung chi đạo” (Đạo Trung Dung).

“Nửa phần vừa lòng” không phải là sự thỏa hiệp tiêu cực, mà là thái độ bình thản chấp nhận những khiếm khuyết của đời người. Vạn vật ở đời đều khó trọn vẹn; nếu cứ cố chấp đòi hỏi “mọi sự hoàn hảo”, con người chỉ rơi vào vòng xoáy lo âu và thất vọng. Học cách chấp nhận cái chưa tròn đầy, tìm sự cân bằng giữa được và mất, ta mới có thể nếm trải chân vị của cuộc sống trong sự bình dị.

Bài học thứ 9: Hoa nở hoa tàn hoa không hối tiếc, duyên đến duyên đi duyên như nước
“Hoa nở hoa tàn” thường xuất hiện trong thơ Đường – Tống, như câu của Lý Hậu Chủ: “Nước chảy hoa rơi xuân cũng tàn”, tượng trưng cho sự tuần hoàn của tự nhiên và lẽ vô thường của đời người; còn “duyên đến duyên đi” bắt nguồn từ tư tưởng Phật giáo về nhân duyên hòa hợp, nhấn mạnh rằng mọi sự đều có định số.

Hoa nở hay hoa tàn đều là quy luật tự nhiên, không cần hối tiếc; sự gặp gỡ hay chia ly giữa người với người, giữa người với việc, tựa như dòng nước chảy—đến thì đến, đi thì đi, không nên cưỡng cầu. Điều đó nhắc nhở con người dùng tâm thế ung dung để đối diện với những hợp tan trong đời, và trân trọng từng nhân duyên đang có.

“9 bài học của cuộc sống”, từ việc chấp nhận được – mất, buông bỏ chấp niệm, cho đến tu thân lập đức, chấp nhận sự vô thường của đời người, bao quát cả sự tu dưỡng nội tâm lẫn cách ứng xử ngoài đời. Để mỗi con người đang sống giữa cõi phàm tục, đều có thể tìm thấy sự an yên trong tâm hồn.

Lý Ngọc Theo Vision Times

Đành Thôi - Trầm Vân


Nhớ Cái Bánh Ú Của Ba Tôi - Đàm Ngọc Tuyên


Nhiều năm rong ruổi trên những con đường của đất nước này, mỗi khi nhìn thấy cái bánh ú, bao nhiêu ký ức xưa lại ập đến với tôi, bàng bạc không thể thành lời.

Những hương vị làm nên tuổi thơ tôi, cùng những ký ức về người cha quá cố, là những cái bánh ú mà ông đã đi dọc trên những con đường quê, nuôi lớn những đứa con trong thời khốn khó. Những chiếc bánh ú như phao cứu sinh cho người đàn ông đi tù cải tạo ngơ ngác trước biển đời đổi thay, trở về, đưa cả cuộc đời ông cùng gia đình qua một chương mới.


Ba tôi sinh ra và lớn lên ở vùng quê miền núi trung du, ven con sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1964, khi vừa thi xong Tú Tài bán phần, tức Tú Tài 1, theo lời kêu gọi tổng động viên, ba tôi vào quân đội, cầm súng chống lại quân cộng sản BắcViệt, bảo vệ miền Nam Việt Nam,mà nói gần hơn, là bảo vệ ngôi nhà có mẹ và các anh em của tôi.Lúc đó tiếng súng xâm lược mỗi lúc càng gần kề.

Trong quân ngũ, ông phục vụ ở quân đoàn Thiết Giáp, mặt trận chính là ở Vùng 2 Chiến thuật, đóng quân ở Căn cứ Chu Lai. Đầu năm 1975, quân đoàn của ông được lệnh rút về cố thủ ở thủ đô Saigon. Biến cố 30 Tháng Tư 1975 xảy ra, ba tôi cũng như bao người dân khác ở miền Nam Việt Nam, trở thành người mất nước. Đặc biệt, cái lý lịch “sĩ quan ngụy” với 11 năm ở chiến trường, khiến ba tôi trở thành “giặc,” thành “kẻ thù” trong mắt chính quyền cộng sản. Ông bị đi tù, mà họ gọi là “học tập cải tạo.”


Sau gần 2 năm tù tội, do sức khỏe yếu nên ba tôi được trả về nhà. Quả thật nước mất thì nhà tan. Nhưng người dân miền Nam Việt Nam nói chung, và “lính ngụy” như ba tôi nói riêng, nếu chưa bị giết chết thì vẫn phải tiếp tục sống. Sống như một công dân hạng hai.

Cuộc sống lúc đó vô cùng khó khăn, ba tôi trằn trọc nhiều đêm để nghĩ cách làm sao để nuôi lớn được anh em tôi và giữ được gia đình mình. Dù là công dân hạng hai, dù là thành phần bị coi là kẻ thù của chế độ mới, bị đẩy ra lề xã hội thì con cái vẫn phải làm sao để được đến trường, và gia đình cũng phải có được miếng ăn. Ba hay nói với mấy anh em tôi rằng, gia cảnh mình nghèo, nên gia tài của ông để lại cho chúng tôi chỉ có những bài học nhân nghĩa làm người và con chữ mà thôi. Rồi khi đứa em út của tôi ra đời, khiến cảnh nhà đã khó khăn lại càng thêm lam lũ. Lúc này má tôi đã không còn được buôn bán gạo ở chợ quê, gánh nặng mưu sinh càng đè nặng lên vai ba tôi.

Cái bánh ú từ đó mà ra đời. Để kiếm tiền độ nhật, ba tôi quyết định gói bánh ú để bán hằng ngày. Thứ bánh ú được gói bằng một “bí quyết” riêng mà may mắn thay, ba tôi đã học từ bà nội, mỗi khi bà làm trong những ngày giỗ, chạp, mà khách nào đến, hễ ăn là cứ muốn ăn nữa.


Những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước, bánh trái ngày thường mặc dù rất hiếm, người dân ở quê thắt lưng buộc bụng nên không dễ mà bỏ tiền ra mua ăn. Những cái bánh ú đầu tiên, ông mang đi rao, bán dạo cả ngày trên những con đường quê, mà chẳng được bao nhiêu. Sau đó, ba tôi quyết định mỗi ngày mang bánh ra chợ bán. Chợ thì xa, cách nhà hàng chục cây số, hơn nữa đường sá lại vô cùng khó đi, đầy ổ voi, ổ gà. Nhưng bán được một cái thì nhà lại có thêm được một chút phần ăn cho anh em tôi ngày hôm đó, nên ba tôi không ngại nhọc, chứ sáng sớm là lại lên đường.


Cũng nên nói một chút về chuyện làm bánh ú của ba. Cứ mỗi buổi trưa ba tôi ra vườn cắt lá chuối chát (miền Trung gọi vậy, còn miền Nam là chuối hột). Về sau lá chuối phải đi mua lại từ hàng xóm hoặc ở chợ. Lá chuối sẽ dùng vải (áo cũ) lau sạch, mang phơi nắng cho hơi héo, để khi gói bánh, lá chuối không bị rách. Thời gian phơi nắng, là lúc ba tôi chẻ lạt cột bánh, cũng từ bẹ cây chuối chát. Xong công đoạn này, ông đi làm nhân bánh và “gút” nếp. “Gút” nếp là phương ngữ quê tôi, nói về việc mang nếp ngâm nước nhiều giờ, rồi vớt lên rổ để cho rút nước trước khi gói bánh. Có lẽ tên gọi “gút” do đọc trại từ “rút” mà ra chăng? Tương tự, đậu xanh đã bỏ vỏ cũng đem ngâm nước, rồi nấu tương đối nhuyễn, cho đường vào vừa ăn, sau khi để nguội thì lấy phần vừa đủ vo tròn, để làm nhân bánh. Nhân bánh ú của ba tôi làm luôn có hương vị đặc trưng, là hương quế. Tôi hay phụ giúp ông giã mịn vỏ cây quế, với một lượng nhất định do chính ông lấy. Vì nếu nhiều quá thì nhân bánh sẽ quá nồng, thậm chí bị đắng. Còn ít quá thì bánh không đủ hương thơm.

Mỗi ngày ba tôi gói khoảng 200 cái bánh ú để bán trong một buổi chợ. Lúc bấy giờ, một chục bánh (12 cái) có giá 2,000 đồng. Người dân ở thị xã thường hay mua nửa chục trở lên. Nhờ bánh của ba tôi rất ngon, với hương quế đặc trưng không giống ai. Hơn nữa với thủ thuật gói của ông,khi nấu nước không lọt vào bên trong, bánh vẫn chín đều, dẻo ngọt chứ không bị ướt, nhão.


Cứ thế, trong đêm bánh nấu chín xong, thì ba tôi vớt ra treo cho ráo nước. Tinh mơ, ông thức dậy, một nửa bánh thì treo ở ghi-đông xe đòn-dông, nửa còn lại cho vào giỏ xách cũ, cột ở ba-ga phía sau, rồi đạp ra chợ thị. Trời thương, tiếng lành đồn xa, hàng bánh ú của ba tôi thường bán hết sớm, ông lại tất tả đạp xe trở về, lo gói bánh cho ngày hôm sau.

Cũng từ đó, những khi có giỗ chạp, người ta hay đặt ba tôi gói hàng trăm bánh. Hay những ngày Rằm, Mùng 1, thì lượng bánh gói bán thường gấp đôi. Còn vào những ngày gần Tết Nguyên Đán, cả nhà chúng tôi liên tục gói và nấu bánh cho khách. Nhờ vậy, mà cuộc sống gia đình tôi dần dần ổn định hơn. Ai mà ngờ rằng chuyện gói bánh nhà quê của bà nội tôi, chỉ trong phút chốc truyền lại cho đứa con, mà nhờ đó cả gia đình của tôi đã đi qua được cả một thời khốn khó. Có những hôm trời mưa hay chợ ế, cả nhà hôm đó toàn ăn bánh ú thay cơm. Nhớ lại lúc đó anh em chúng tôi thích lắm vì được ăn bánh thả ga. Sau này lớn lên mới hiểu là ba má tôi khi đó lo biết chừng nào, vì vốn ít, lấy công làm lời cho nên bữa nào ế hàng là đều lo ngay ngáy.


Một hôm, đang gói bánh thì ba tôi nhận tin, em trai của bà Nội tôi qua đời. Má tôi hối thúc ông bỏ mọi việc về quê chịu tang nhưng lo nhà không có tiền cho hôm sau, ông cố nán lại gói bánh cho xong, rồi đội nón đi trong đêm. Ba vừa gói bánh mà vừa khóc. Đôi lúc nhớ lại, tôi cũng không biết là ba khóc thương vì người thân đã mất, hay khóc cho người cuộc đời của mình, hay cho chúng tôi.

******

Gần nhà tôi lúc này, có một bà cụ chiều chiều lại đem bánh ú ra ngồi bán, nhìn cụ tôi lại nhớ biết bao nhiêu điều đã đi qua trong đời mình với hình ảnh chiếc bánh ú đó. Từ những cái bánh ở làng quê nghèo, mà ba tôi đã nuôi chúng tôi khôn lớn, vượt qua nghịch cảnh của đời mình và cũng như của quê hương mình khi tàn cuộc chiến.Về sau dù khôngcòn bán bánh nữa nhưng những ngày đặc biệt của gia đình, ba tôi đều gói một ít bánh ú, để cả nhà cùng ăn, như để ôn về một thời khốn khó.


Từ khi ba mất, tôi đã không còn thú vui được ăn thứ bánh ú có hương vị đặc biệt này nữa.Suốt những tháng năm đó, tôi vẫn mãi đi kiếm tìm nhưng có lẽ không tìm thấy cái bánh ú nào gói ngon bằng thứ bánh mà chính tay ba tôi đã làm. Có thể tôi cố chấp, nhưng cũng có thể hương vị của cái bánh ú trong thời của nhọc nhằn và cay đắng đó đã cộng hưởng thành một ký ức không thể nào quên, mà dẫu đã đi qua, sao vẫn cứ nhớ về.


Đàm Ngọc Tuyên