Tuesday, September 25, 2018

Một Nụ Cười - Bửu Uyển


Vào dịp cuối năm 1984, một buổi họp mặt các cựu tù nhân chính trị được tổ chức ở San Diego. Xướng ngôn viên của buổi lễ cho biết : “Khi tôi xướng tên trại nào, nếu quý anh là trại viên của trại đó, xin đứng dậy và tự giới thiệu tên của mình để các anh em khác được biết”. Nhiều trại cải tạo ở miền Bắc được lần lượt xướng tên như “Phong Quang”, “Yên Báy”, “Vĩnh Phú”, “Thanh Cẩm”, “Lý Bá Sơ”, “Nam Hà”, “Phú Sơn” v.v Trại nào cũng có năm bảy anh đứng dậy và giới thiệu tên của mình. Khi xướng tên trại Nam Hà, tôi đứng dậy và có thêm bốn anh nữa , trong đó có một anh, tự giới thiệu tên của mình là Lê Trung Đạo. Tôi lẫm nhẫm Lê Trung Đạo, Lê Trung Đạo…sao tên nghe quen quá, hình như anh ấy ở chung đội với tôi thì phải. Khi phần giới thiệu các anh em trại Nam Hà chấm dứt, tôi đi đến bàn của anh Đạo, đứng đối diện và nhìn kỹ anh ấy. Tôi nhận ra anh Đạo ngay. Tôi ôm chầm lấy anh, và anh ấy cũng ôm tôi trìu mến. Tôi thì thầm bên tai Đạo : “Em còn nhớ anh không? ” Đạo trả lời ngay: “Anh Uyển, mà sao em có thể quên được, thật vui mừng được gặp lại anh. Em trông chờ ngày này đã lâu lắm rồi!”

Khi cùng sống trong cảnh đọa đày nơi trại Nam Hà, phân trại C, tôi và Đạo nằm gần nhau. Ra đồng, bắt được con cua, con cá, tôi và Đạo cùng chia sẻ với nhau. Đạo là một Thiếu Úy Cảnh Sát Đặc Biệt, mới ra trường, không biết làm Trưởng G hay H gì đó..mà bị đày ra cải tạo ở miền Bắc. Anh còn quá trẻ, khoảng 24, 25 tuổi. Tôi xem anh như một người em của tôi và tôi rất quý mến anh. Đạo chưa lập gia đình. Anh chỉ còn một mẹ già đang sống ở Vĩnh long. Vì vậy, từ ngày bị đưa ra Bắc, Đạo chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân từ trong Nam gởi cho anh. Anh sống hiền hòa, vui tính, nên anh em trong đội ai cũng mến anh. Đạo xem tôi như một người  anh trong gia đình, anh tâm sự với tôi : “Đời em chẳng còn gì nữa, chỉ có một người mẹ, mà từ ngày bị đày ra Bắc, đã trên 5 năm rồi em chẳng có tin tức gì của mẹ em. Không biết bà còn sống hay đã ra người thiên cổ”

Đạo nắm tay tôi và cảm động nói: “Giờ đây em chỉ có anh là người duy nhất thương mến em, cho em chút an ủi để sống qua ngày!”
Như có một động lực nào thúc đẩy, Đạo tâm sự với tôi : “Anh ạ,mình phải sống chứ anh, mà muốn sống, dù là cuộc sống thấp nhất, cũng phải có một ước mơ gì đó để mà mộng tưởng, để tiếp sức cho mình. Các anh em ở đây , dĩ nhiên ai cũng mơ ước sớm được trở về với gia đình. Ngoài xã hội thì kẻ này mơ trúng số, kẻ kia mơ nhà cửa , ruộng vườn v.v. Nhưng sống nơi địa ngục trần gian này, anh em mình mơ ước điều gì đây? Tất cả đều nằm ngoài tầm tay của mình. Đạo nói tiếp em chợt nhớ lại một câu chuyện cổ tích của Pháp, tựa đề là “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide” kể lại câu chuyện một ông lão nghèo khổ, sống cô đơn một mình trong căn lều nhỏ bé, trống trước, trống sau. Bổng một bà tiên hiện ra và cho ông một điều ước. Bà tiên cứ nghĩ, thế nào ông lão nghèo nàn này cũng sẽ ao ước có một căn nhà, hoặc ao ước có nhiều tiền bạc..v..v. Nhưng bà tiên vô cùng ngạc nhiên, khi ông lão nghèo khổ ấy chỉ xin “Một Nụ Cười”

Ông lảo bất hạnh trong câu chuyện cổ tích, đã chỉ cho Đạo một mơ ước, mà dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể đạt được, đó là một nụ cười. Không cần phải là nụ cười của giai nhân, mà chỉ cần một nụ cười thân ái của ai đó, chân thành trao cho anh, vì yêu mến anh, có thế thôi.
Cuộc sống tù đày cứ kéo dài triền miên trong đói khổ, vô vọng. Nhưng khi nghĩ đến một nụ cười, Đạo thấy tâm hồn mình có chút an ủi, nhẹ nhàng. Hằng ngày , Đạo ước mơ nhận được nụ cười. Đêm đêm Đạo cũng ước mong trong giấc mơ, anh sẽ gặp được một nụ cười. Nhưng buồn thay, những giấc mơ đến với Đạo chỉ là những cơn ác mộng mà thôi.

Nhưng thật kỳ diệu, từ ngày Đạo ôm ấp ước mơ có được một nụ cười, anh thấy cuộc đời của anh có chút ý nghĩa, vì dù sao anh cũng có một ước mơ, để mà thương, mà nhớ, mà mong chờ.
Một hôm, đội được dẫn đi gặt lúa, khi đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo thấy nhiều chiếc áo vàng đứng ở đó. Nhìn lướt qua, Đạo chợt thấy một nữ cán bộ nhìn anh mỉm cười. Anh không tin ở mắt mình, anh nghĩ rằng có thể cô ta cười vu vơ gì đó, chứ đâu phải cười với anh. Anh quay lại nhìn một lần nữa, vẫn thấy cô ta nhìn anh và mỉm cười.
Từ ngày ấy, mỗi khi đội đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo đều bắt gặp nụ cười của người nữ cán bộ dành cho anh. Vì vậy khi đi lao động, Đạo luôn luôn đi cuối hàng để dễ đón nhận nụ cười của cô nữ cán bộ. Đạo cũng cười đáp lễ với cô ta. Đạo bắt đầu thấy cuộc đời của mình, có một chút gì thi vị, đáng sống. Khi ăn, khi ngủ, nụ cười đó luôn luôn theo anh, cho anh niềm an ủi, và chút lạc quan để sống. Anh em trong đội đều biết mối tình mắt nhìn mắt và trao đổi nụ cười của Đạo và cô nữ cán bộ.

Không những Đạo nhớ đến nụ cười, anh còn nhớ đến đôi mắt như muốn nói với anh muôn ngàn lời, anh nhớ đến người con gái ấy. Ban đầu anh nghĩ rằng cứ giã bộ vui vẻ cho qua ngày. Nhưng trong tâm trí anh, luôn luôn nhớ đến cô gái ấy và anh nhận ra rằng anh đã yêu cô ta. Đạo nhớ lại ngày xưa Elvis Presley đã hát một bài hát nỗi tiếng là bài Don’t Gamble With Love nay thật đúng như trường hợp của Đạo. Bây giờ Đạo không còn cho rằng lao động là khổ sai nữa, mà anh trông chờ mỗi buổi sáng được đi ngang qua cỗng cơ quan, để đón nhận nụ cười của người nữ cán bộ.
Một buổi chiều khi đi lao động về,nghe các anh em Công Giáo tập hát bài “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, Đạo mới biết, đêm nay là đêm Noel. Khi cửa phòng giam đóng lại, anh em Công Giáo vội vã thiết trí một ngôi sao Giáng Sinh và hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh” ở vách tường cuối phòng. Họ nắm tay nhau ca hát, đọc kinh, cầu nguyện. Đạo nằm mơ màng, lơ đãng nhìn về cuối phòng, chung quanh hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh”, Đạo tưởng tượng như có những bóng đèn màu chớp sáng. Anh mơ hồ nghe như có tiếng nhạc bài Silent Night dịu dàng thoảng đi trong gió…Anh thiếp đi trong giấc ngủ yên lành.

Vào một buổi sáng chúa nhật, chúng tôi được gọi ra sân để nhận quà của thân nhân từ trong Nam gởi ra. Thường thì 80 đến 90 phần trăm anh em đều nhận được quà. Riêng Đạo thì chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân. Nhưng thật bất ngờ, hôm nay cán bộ lại kêu tên Đạo lên nhận quà, ai cũng ngạc nhiên và mừng cho Đạo. Anh nhận một gói quà bình thường, nhưng cách gói quà, khác với những gói quà từ trong Nam gởi ra. Đạo sững sốt nhận gói quà, đem về phòng, cẩn thận mở ra. Một mãnh giấy nhỏ nằm trên những gói đồ ăn, anh đọc vội hàng chữ “Trìu mến gửi anh Đạo – Em : Kim Chi”. Với mấy chữ ngắn gọn đó, Đạo biết ai gởi cho anh món quà tình nghĩa này. Anh ôm gói quà vào lòng. Anh không ngờ người nữ cán bộ có nụ cười dễ thương đó, lại dám liều lĩnh gởi quà cho anh. Hai hàng nuớc mắt chảy dài xuống má, đây là những giọt nước mắt hạnh phúc mà từ lâu anh không hề có.
Trại Nam hà, Phân trại C, nơi chúng tôi đang ở, phía sau là con đường làng. Trại chỉ ngăn cách với bên ngoài bởi những bụi tre thấp và hàng rào kẽm gai. Dân chúng đi ở ngoài, chúng tôi có thể thấy họ. Thường vào buổi chiều, sau khi ăn cơm xong , chúng tôi hay ra ngồi chơi ở sân sau đó, nhìn người qua lại. Một hôm, chúng tôi thấy cô cán bộ Chi đi lui, đi tới ở ngoài hàng rào, rồi thình lình quăng vào trong một cái gói nhỏ. Chúng tôi biết cô ấy gởi gì đó cho Đạo, chúng tôi mang vào cho anh. Đạo không biết Chi gởi gì cho anh, nhưng anh cảm động lắm. Anh em hiếu kỳ đứng quanh giường của của Đạo, để xem cô Chi đã gởi gì cho anh: đó là một gói xôi và một con gà vàng rộm. Đối với tù nhân, đói triền miên như chúng tôi, thì gói xôi gà này là cao lương mỹ vị bậc nhất trên thế gian này. Đạo rất hào phóng, anh chia đều xôi, gà cho tất cả 32 anh em trong đội, mỗi người được một muỗng xôi và chút ít thịt gà. Có người ăn ngay, nhưng cũng có vài anh em để đó, hít hít mùi thịt gà cho đỡ thèm.

Đạo thấy thương Chi quá, vì yêu anh, nàng đã gan liều làm những việc như vậy, vì nếu bị phát giác, nàng ở tù như chơi. Đạo càng thương Chi khi nghĩ đến tương lai : một cán bộ công an yêu một sĩ quan cảnh sát ngụy...thì đời nào có thể sum họp được. Anh thở dài !

Vào một sáng chúa nhật, một anh trật tự đến phòng chúng tôi, bảo anh Đạo chuẩn bị ra có người thăm nuôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì từ bao năm nay, Đạo thuộc diện con mồ côi, chưa hề có ai gởi quà cho Đạo, nói gì đến chuyện thăm nuôi.Thế mà hôm nay, lại có người thân nào đó đến thăm Đạo. Chúng tôi mừng cho Đạo. Khoảng 9 giờ sáng, anh được cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. Chúng tôi hồi hộp chờ Đạo trở vào để xem anh nhận được những quà gì của thân nhân đem đến.

Nhưng chúng tôi chờ mãi…đã ba , bốn giờ chiều rồi, vẫn chưa thấy Đạo trở vô trại. Thường một trại viên được gặp mặt thân nhân khoảng 15, 20 phút, tối đa là nửa giờ. Thế mà , Đạo ra nhà thăm nuôi đã hơn bốn, năm tiếng rồi mà chưa thấy vô. Chúng tôi bắt đầu lo lắng cho Đạo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho anh, lành hay dữ. Và từ đó, chúng tôi không còn biết tin tức gì về Đạo nữa.

Hôm nay gặp lại Đạo, tôi đem chuyện ấy ra hỏi Đạo, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây:
 Anh Uyển nhớ không, ngày chúa nhật hôm đó, em được dẫn ra nhà thăm nuôi, nói là có thân nhân đến thăm. Em vô cùng ngạc nhiên vì em đâu có thân nhân nào từ trong Nam có thể ra thăm em. Bước vào nhà thăm nuôi, em thấy Chi và một ông Thượng Tá công an ngồi ở đó.Chi vội vã đứng lên giới thiệu : “Đây là cậu Du của Chi, đang công tác ở tỉnh Thái Bình, em nhờ cậu ấy đến thăm anh.” Đạo bối rối nhìn Chi, nhìn ánh mắt, nụ cười của Chi. Chi mặc đồ công an, trên cổ áo có đeo quân hàm Thiếu Úy. Chi biết Đạo ngỡ ngàng, thắc mắc nên cô nói ngay : “Anh đừng lo, em bảo anh làm gì thì cứ làm theo, chớ có hỏi han gì hết”. Chi dẫn Đạo vào một căn nhà ở gần nhà thăm nuôi, nhà không có ai cả. Chi bảo tôi cởi bộ áo quần tù ra, và mặc ngay bộ đồ công an đã để sẵn ở đó; ngoài áo quần, có cả nón, cặp da và giấy chứng nhận đi công tác miền Nam. Em như trên trời rớt xuống, nhưng không có thì giờ để hỏi Chi, việc gì đang xảy đến cho em. Khi em đã mặc xong bộ đồ công an, Chi nhìn em mỉm cươì , rồi kéo em ra ngỏ, bảo em leo lên một chiếc xe Jeep nhà binh đậu sẵn ở đó., và chạy ra ga xe lửa Phủ Lý. Chi bảo em cứ ngồi trên xe, Chi vào mua vé xe lửa đi về Sàigòn. Khi đưa em lên xe lửa, Chi ân cần căn dặn: “Không nên về nhà, cũng đừng liên lạc với mẹ, mà tìm một người bà con nào đó ở tỉnh khác xin trú ngụ vài ngày, rồi tìm đường vượt biên. Tốt nhất là đi đường bộ qua ngã Campuchia”. Chi đưa cho em một gói giấy và nói: “Đây là ít tiền để anh tiêu dùng, nhớ là phải vượt biên ngay nhé!”. Chi cầm tay em và chân thành nói : “Em là vợ của anh, anh đừng quên em!”. Em ôm Chi vào lòng, nước mắt ràn rụa. Chi cũng khóc trên vai em. Xe lửa từ từ lăn bánh, hình ảnh Chi cô đơn đứng một mình trên sân ga, nhỏ dần, nhỏ dần.. Em thấy nhiều lần Chi đưa tay lên lau nước mắt. Trong tim em, mối tình mà Chi dành cho em quá sâu đậm, đã chiếm trọn cuộc đời em. Em vỗ vỗ vào trái tim của mình “Đạo, Đạo, mày phải sống xứng đáng để đền ơn đáp nghĩa cho Chi nghe chưa”

Khi xe lửa dừng lại ở ga Bình triệu, Sàigòn, em không về nhà em ở Vĩnh Long, mà đến nhà dì em ở Cần Thơ xin trú ngụ.Chồng của dì  là một Đại úy Công Binh Việt nam Cộng Hòa, trước năm 1975, ông phục vụ ở Tiểu Đoàn 24 Công Binh Kiến tạo, mới được trả tự do. Gia đình dì, dượng tôi đang âm thầm chuẩn bị vượt biên. Dì, dượng em vui vẻ chấp thuận cho em cùng đi theo. Emi đã đưa gói tiền mà Chi trao cho tôi, cho dì tôi để bà tiêu dùng. Mở gói ra xem, dì bảo em : “Tiền đâu mà cháu có nhiều vậy?” Em trả lời ngay : “Của vợ con cho đó!”

Vào một đêm tối trời, ghe máy chở cả nhà ra cữa biển Đại Ngãi, vì tàu lớn đang đậu ở đó. Sau 3 ngày và 4 đêm, tàu đã đến hải phận Thái Lan, được tàu tuần duyên của Thái Lan đưa về trại Sikiew. Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc hỏi em rất ít. Em nghĩ là họ có đầy đủ hồ sơ cá nhân của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ chỉ hỏi em là làm Trưởng G hay Trưởng H, em trả lời. Người nhân viên đó lấy trong tập hồ sơ ra một tấm ảnh, anh ta nhìn em rồi gật đầu.Thế là em vượt qua cuộc thanh lọc. Mấy tháng sau, họ chuyển em qua trại Pulau Bidong ở Mã Lai, để chờ chuyến bay đi định cư ở Mỹ.

Em mau chóng gởi thư cho má ở Vĩnh Long, báo tin em đã bình yên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai, đang chờ chuyến bay để đi định cư ở Mỹ. Khoảng 2 tuần sau, em vui mừng nhận được thư hồi âm của má, và một bất ngờ thú vị đến với em là có cả thư của Chi nữa! Má em đã viết : “Đạo con, má rất vui mừng nhận được tin con đã đến nơi bình yên. Má cho con biết là Chi đang ở đây với má. Chi đã kể cho má nghe hết mọi chuyện. Má rất hạnh phúc có được một con dâu hiếu thảo như Chi, má mừng cho con”

Đạo run run mở thư của Chi ra đọc: “ Anh Đạo yêu quí của em, nghe anh đã đến đảo và đang chờ chuyến bay để đi Mỹ, má và em mừng quá anh ơi. Khi anh đi về Nam chưa đầy một tháng, họ đuổi em ra khỏi ngành công an. Em đã về Vĩnh Long ở với má, em thay anh phụng dưỡng, săn sóc má, anh yên tâm ! “
Với lời lẽ chân tình, mộc mạc, em uống từng chữ, từng lời trong bức thư ngắn gọn của Chi, em áp bức thư vào ngực và đi vào giấc ngủ.

Thưa anh. Năm 1982, em được đi định cư ở Mỹ. Khi có thẻ xanh, em đã làm hồ sơ bảo lãnh Chi. Trong thời gian ở với má ở Vĩnh Long, không biết Chi hỏi thủ tục bảo lãnh ở đâu mà nàng ra Thái Bình, nhờ người cậu Thượng Tá Công An của nàng, làm một giấy hôn thú của em và Chi, có đầy đủ chữ ký và khuôn dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương.

Năm 1987 khi em được nhập quốc tịch Mỹ, em đã bổ túc hồ sơ bảo lãnh. Chi đã nhanh chóng được phỏng vấn. Lúc này, những trường hợp gian dối chưa xảy ra nhiều, nên việc chấp thuận cho chồng bảo lãnh vợ tương đối dễ dàng nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh.
Vào một ngày se lạnh ở miền Nam Cali, em và vài bạn bè thân quen đến đón Chi ở phi trường Los Angeles. Em đã ôm Chi vào lòng, vì quá cảm động, em chỉ thốt lên được một tiếng “Em!” Chi cũng vậy, nàng thổn thức trên vai tôi “Anh!”. Chỉ 2 tiếng “Anh” “Em”, nhưng đã gói trọn cuộc tình mà chúng em nghĩ là không bao giờ có thể sum họp được. Tạ ơn Trời Đất ! 
Đạo xây qua người đàn bà ngồi bên cạnh, và giới thiệu với tôi : “Thưa anh, đây là Kim Chi, vợ em” Chi bẽn lẽn cúi đầu, che dấu nụ cười đã đem lại sức sống và hạnh phúc cho Đạo.
Tôi đã được nghe, được biết nhiều mối tình ly kỳ, éo le lắm. Nhưng nếu nói đến một mối tình thật lãng mạn, mà người con gái đã dám hy sinh sự nghiệp và cả tính mạng mình cho người yêu, thì không thể không nói đến mối tình của nàng  nữ cán bộ công an Kim Chi và chàng Thiếu úy Cảnh Sát Lê Trung Đạo.

Bửu Uyển
https://vietbao.com

Áo Dài Ơi - Trầm Vân

Chính Trị Là Như Thế - Đặng Chí Hùng


Nước Mỹ không “mù”, lãnh đạo Mỹ càng không “mù”. Nhưng tại sao nước Mỹ vẫn cứ để cộng sản Việt Nam sống ? Đó chính là chính trị. Mỹ đang làm ăn với Tàu cộng, mà Tàu cộng đang là ông chủ của Việt Cộng. Vì thế, Mỹ chỉ nói đến nhân quyền, Mỹ chỉ cần phản đối CSVN vi phạm mà thôi.

Obama không dứt khoát như Trump. Đó là điều hiển nhiên. Nhưng chờ mong Trump xua quân đập tan cộng sản VN cũng là điều không tưởng. Chờ mong Trump cấm vận kinh tế, cắt vòi bạch tuộc của CSVN cũng là điều khó xảy ra. Trump là một TT có tài. Nhưng cái tài của ông là để giúp nước Mỹ chứ không phải lo thay cho người dân Việt Nam. Nước Việt Nam là của người Việt. Chúng ta không tự lo cho chúng ta thì không có ai làm điều đó thay cho chúng ta. Chắc chắn, Trump không thích đu dây với cộng sản Việt Nam, Trump cũng không cho CSVN quá nhiều điều lợi bởi vì Trump không giống Obama hay Clinton. Tuy thế, Trump sẽ không xóa bỏ cộng sản giúp được cho người Việt. Bởi vì chính trị là như thế !

Nguyễn Xuân Phúc đến Mỹ chỉ để xin ăn. Đó là điều không cần bàn cãi mà bất cứ đứa trẻ mới lớn nào chịu khó đọc kỹ tin tức, suy xét một chút cũng hiểu. Chẳng có thằng CSVN nào theo Mỹ cả. Chúng chỉ làm tôi mọi cho Tàu và qua Mỹ xin tiền mà thôi. Nói cho đúng, CSVN chỉ thích những đồng USD xanh biếc của nước Mỹ. Vì thế Phúc đến Mỹ.

Hoàn toàn không có chuyện Trump mời Phúc. Phúc đã muốn đến Mỹ gặp Trump và nhờ Ted Osius bắc cầu nối. Báo chí CSVN nói rằng Trump mời Phúc qua là nói láo. Phúc chẳng là cái gì mà Trump phải mời, phải cầu cạnh qua gặp. Trong mắt Trump, Phúc hay cái đảng CSVN chỉ là bọn đu dây, tham tiền, độc tài và ngu dốt không hơn không kém. Nhưng Trump khinh trong bụng mà thôi, vì chính trị nên Trump vẫn phải tiếp Phúc dù phong cách tiếp đón khinh miệt vô cùng. Phúc đến Mỹ chẳng có thằng Mỹ nào ra chào đón, chẳng thảm đỏ, chẳng đại bác. Phúc đến trong im lặng với một nhúm người của đại sứ quán CSVN ra đón Phúc bước xuống từ một chiếc máy bay chui vào trong một cái garage chật chội. Phúc biết Mỹ khinh Phúc ra mặt. Nhưng Phúc vẫn cười tươi, vì đó là chính trị và Phúc đến Mỹ chỉ vì tiền. Bao nhiêu đầu óc, Phúc và đám CSVN đã bị nhồi vào đầu rằng “Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao”…
Trở lại chuyện của chúng ta, chúng ta đã thấy chính trị là như thế. Trump khinh Phúc nhưng vẫn tiếp Phúc. Phúc làm tôi mọi cho Tàu nhưng vẫn cố đu Mỹ để kiếm “xèng”. Chúng ta là người dân thì sao?

Như đã từng nói, dân gian Việt Nam có câu “Con có khóc thì mẹ mới cho bú” hoặc “Chẳng ai phù suy, người đời chỉ phù thịnh”. Cũng bởi vì người dân vô cảm nên Mỹ coi việc người VN sống trong độc tài CSVN là do họ tự lựa chọn. Mỹ chẳng làm gì hơn cả. Cũng bởi phong trào đấu tranh chỉ dừng lại ở một nhóm người, không phát triển được lực lượng, chỉ chăm chú vào đánh bóng cá nhân hoặc làm từ thiện nuôi dân thay cho CSVN nên Mỹ thấy họ không thể “phù suy” được. Chưa có một lực lượng thật lớn, chưa có sức mạnh của toàn dân để Mỹ có thể hậu thuẫn chúng ta đứng lên xóa bỏ cộng sản.

Công việc đó là công việc của chính chúng ta. Chúng ta không thể dựa vào Mỹ hay bất cứ nước nào như là một kẻ bề trên giúp chúng ta thoát cộng, chúng ta phải coi Mỹ là một đồng minh đúng nghĩa. Nước nào cũng có sức mạnh dân tộc. Nước Việt cũng không thiếu điều đó khi đã trải qua hơn 4000 năm dựng nước, giữ nước, giữ tiếng nói Việt Nam. Nhưng nó chưa được kích thích đúng đắn nên nó chưa thể phát huy được hiệu quả. Chính vì thế, chẳng có ai chịu giúp chúng ta thật sự. Chúng ta có thể thấy Mỹ, Châu Âu lên tiếng về vài vụ vi phạm nhân quyền của CSVN. Tuy thế, cũng chỉ dừng lại ở lên tiếng mà thôi. Cuối cùng thì đâu lại vào đó. Người khổ vẫn là người dân Việt Nam bởi vì chính trị là như thế !

Vai trò đầu tầu của cuộc đấu tranh này chính là sức mạnh toàn dân. Muốn làm điều đó thì lực lượng nòng cốt phải là những người đã sớm thay đổi nhận thức. Nhưng muốn có được sự hậu thuẫn của dân thì phải chịu khó đi vào lòng dân để vận động, truyền đạt ý thức lịch sử, xã hội cho người dân. Đa phần người dân ở VN không có điều kiện tiếp xúc Internet, vì thế các nhà đấu tranh cần phải lấy việc tiếp xúc người dân trực tiếp là điều quan trọng nhất thay vì lên mạng quá nhiều. Nhưng tiếp xúc với người dân không hẳn là làm từ thiện. Giúp người dân thay đổi nhận thức là giúp cái cần câu chứ không phải quăng tiền cho họ giống như giúp con cá. Ngoài ra, làm từ thiện chính là nuôi dân thay trách nhiệm của nhà cầm quyền CSVN. Dân được giúp đỡ sẽ chẳng cần phải đứng lên phản kháng nữa.

Một điều quan trọng cần làm đó là thôi ngay những lá đơn xin xỏ cộng sản, kiến nghị với chúng bởi vì CSVN không có chính danh, chúng ta không cần phải cầu xin cái quyền cơ bản của chúng ta với bọn cướp chính trị. Ngoài ra, chẳng bao giờ CSVN trả lời những gì một số người xin xỏ. Vậy thì chẳng có lý do gì phải năn nỉ chúng cả.

Muốn có một sự hậu thuẫn từ Mỹ hay những nước khác. Trước mắt chúng ta phải tự cứu chúng ta trước thì mới có người giúp. Nó cũng giống như anh phải có dự án thì mới có người cho vay tiền đầu tư. Không thể ngồi một chỗ mà chờ mong “sung rụng” xuống cho những ai lười biếng được. Trách nhiệm cứu dân tộc Việt Nam phải là của tất cả người Việt còn lương tri với dân tộc.

Phúc cứ đến Mỹ, Trump vẫn cứ tiếp. Chính trị là như thế. Người dân Việt thì vẫn ngày đêm sống trong tận cùng đau khổ. Vì vậy, hãy quên ngay những trò chơi chính trị mà người dân chúng ta luôn ở thế bị động đi. Chúng ta phải nắm lấy cơ hội chính trị sống còn cho dân tộc chúng ta. Chúng ta phải chuyển từ bị động sang chủ động. Chúng ta cũng phải quên ngay những buổi hội luận vô bổ chỉ để show cái tôi của cá nhân, hội đoàn. Chúng ta cũng nên quên ngay những câu nói thao thao bất tuyệt chỉ để mà hô hào cho chính chúng ta nghe đi. Chúng ta cần nói và làm việc cụ thể chứ không phải sắm vai diễn phụ trong những ván cờ chính trị.

Đã đến lúc, tinh thần dân tộc của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và chính đề Ngô Đình Nhu, tinh thần ái quốc của Ngô Đình Diệm phải được chúng ta phát huy và chuyển nó thành những hành động thực sự. Chỉ có thế mới giúp dân tộc VN thật sự hồi sinh !

Đặng Chí Hùng
30/05/2017

Sinh Ký Tử Quy - Đỗ Công Luận

Monday, September 24, 2018

Người Thông Minh Không Phạm 10 Khẩu Nghiệp


Phật dạy khẩu đức sẽ quyết định vận may. Nghĩa là khẩu đức quyết định rất nhiều đến phúc báo, vận may của một người. Là người thông minh thì bạn hãy đừng nói 10 điều sau.

Bỏ đa ngữ (bỏ nói nhiều)
Bệnh từ miệng mà vào, họa từ miệng mà ra. Nói chuyện không nên nói quá nhiều, nói nhiều là bị thiệt.


Con cóc, con ếch, cả ngày lẫn đêm đều kêu không ngừng, kêu đến khô mồm mỏi lưỡi, nhưng không có ai để tâm đến tiếng kêu của nó cả. Sáng sớm nhìn thấy con gà trống đó, gáy đúng giờ vào lúc bình minh, trời đất đều chấn động (mọi người đều thức dậy sớm). Nói nhiều thì có ích lợi gì chứ? Chỉ có lời nói được nói ra trong tình huống hợp thời cơ mới có tác dụng thôi.

Lời không cần nhiều, người biết nói chuyện luôn nói những lời thích đáng vào thời cơ thích đáng.

Bỏ khinh ngôn (bỏ lời nói dễ dãi)
Lời nói không thể nói dễ dàng, nếu thay đổi lời đã nói, chi bằng không nói. Lời không được hứa dễ dàng, nếu hứa rồi lại thay đổi, chi bằng đừng hứa. Gặp chuyện đừng tùy tiện phát ngôn, nếu không sẽ mang họa vào thân; cũng đừng dễ dàng hứa hẹn với người khác, nếu không sẽ mất chữ tín.

Bỏ nộ ngôn (bỏ lời nói tức giận)
Lúc tức giận không nên nói gì cả, vì lời nói được nói ra vào lúc này thường không được suy xét kĩ lương nên sẽ làm tổn thương mình và người khác.

Bỏ sàm ngôn (lời nói bịa đặt)
Sàm ngôn chính là nói những lời chê bai, những lời không tốt đằng sau lưng người khác gây ly gián, nghi kị. Người xưa cho rằng, người nói lời sàm ngôn, đều là tiểu nhân.

Bỏ căng ngôn (lời nói kiêu căng)
Căng chính là tự đại, tự cho mình là đúng. Người tự mình khoe tài ngược lại mất hết công lao, người tự đề cao bản thân sẽ không có tiến triển. Người nói lời kiêu căng, không phải kiêu ngạo thì là vô tri, dù là loại nào thì cũng đều bất lợi với sự trưởng thành của chính mình, và cũng dẫn đến sự chán ghét của người khác. Nói chuyện, không nên kiêu ngạo tự mãn, tự cho mình là đúng. Tự kiêu tự khen, là biểu hiện của thiếu bồi dưỡng phẩm tính.

Bỏ ác ngôn (lời nói ác độc)
Không nói những lời vô lễ và độc ác để làm tổn thương người khác. Người xưa nói, “Đao cắt dễ lành, ác ngôn khó tan”. Sự tổn thương bạn gây ra trong tâm gan người khác còn đau đớn hơn vạn lần vết thương gây ra trên thân thể.


Bỏ lậu ngôn (nói lộ chuyện)

Không được tiết lộ cơ mật. Sự dĩ mật thành, ngôn dĩ lậu bại (chuyện thành do giữ bí mật, nói lộ chuyện dễ gây ra thất bại). Đối với chuyện của người khác, tuyệt đối không được tiết lộ, đây là vấn đề nhân phẩm và nguyên tắc làm người, nó cũng dễ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Khi sự việc vẫn chưa thể chắc chắn, cũng không được nói những lời quả quyết, để tránh tạo ra ảnh hưởng không tốt, làm người khác cảm thấy phù phiếm và hà khắc.

Bỏ tận ngôn (bỏ nói lời cạn kiệt)
Nói chuyện phải súc tích, đừng nói mà không chừa đường lui. Biết hết cũng không cần nói hết, chừa chút đường lui cho người khác, để chút khẩu đức cho chính mình. Trách người không cần trách khắc khe, khoan dung với người khác một chút cũng chính là cho mình một phần linh động, một đường lui.

Bỏ trực ngôn (bỏ lời nói thẳng thừng)
Không nên nói thẳng không che đậy mà không nghĩ đến hậu quả, nếu không sẽ gây ra phiền toái. Lời thẳng thắn, phải nói vòng vo một chút, lời nói lạnh lùng như băng, phải tăng thêm nhiệt khi nói, nghĩ đến sự tự tôn của người khác, đặt sự tự tôn của người khác lên vị trí số một.

Bỏ cuồng ngôn (bỏ lời nói ngông cuồng)
Không nên không biết nặng nhẹ, mà nói bậy nói càng. Nói bậy nói càng, thường xuyên phải hối hận. Ngông cuồng hay khiêm tốn, điều này trực tiếp liên quan đến họa-phúc của một người. Cái mà con người thể hiện trước mặt người khác không gì khác là lời nói và hành vi, mà lời nói thì lại trực tiếp nhất, cho nên nói chuyện kỵ nhất là lời ngông cuồng. Cuồng gây chú ý, cuồng gây căm ghét, rất dễ gây ra chuyện tai họa.

VietBF © sưu tầm

Thú Ăn Hột Vịt Lộn - Tạ Phong Tần


Có lẽ chỉ duy nhất người Việt Nam có truyền thống ăn hột vịt lộn. Tôi đã từng đọc rất nhiều sách Đông Tây kim cổ (bản dịch ra tiếng Việt có trước và sau năm 1975) về đời sống tầng lớp quý tộc lẫn bình dân, giàu sang lẫn nghèo khó, đọc nhiều đến nỗi tôi thuộc lòng dân tộc nào thì thích ăn món gì, phong tục đãi khách quý của họ ra sao, nhưng tôi chưa bao giờ thấy thực đơn xứ Đông, Tây nào có món hột vịt lộn như người Việt. 

Người miền Nam kêu trái cây bắt đầu bằng từ “trái”, người miền Bắc gọi trái cây bắt đầu bằng từ “quả”. Trứng gà, vịt không phải là trái cây, miền Nam không xài từ “trái”, mà kêu là “cái hột vịt” dù không hề thấy “hột” (hạt) chỗ nào, hoặc là “cái trứng vịt”, nhưng người miền Bắc thì vẫn dùng từ “quả trứng”. Sở dĩ tôi phải giải thích kỹ cách gọi tên như vậy để cho bạn đọc dù ở vùng miền nào đọc cũng hiểu khi nói về văn hóa món ăn thức uống phương Nam, với những cách thưởng thức đặc trưng phương Nam mà xài từ ngữ kiểu miền Bắc thì người đọc sẽ không “thẩm thấu” được tất cả sự tinh túy trong cách ăn, cách uống, hương vị món ăn như thế nào. Cũng giống như bạn muốn biết cái ngon của mắm bù hóc Khmer thì bạn phải hiểu được văn hóa ẩm thực Khmer, bạn mới thấy người Cao Miên thích loại mắm đó, coi nó là món ăn đặc sản quốc hồn quốc túy của họ là có lý do chính đáng, chớ không gớm ghiếc hay hôi thúi gì hết.

Lúc nhỏ, ở quê tôi người ta thường bán hột vịt dạo bưng rao lòng vòng trong xóm. Hột vịt đã luộc chín sẵn, để trong cái nồi nhôm lớn, trong nồi vẫn có nước nóng. Có bà bán nhiều thì chơi nguyên cái gánh gióng, mỗi đầu gánh đặt một bếp than, trên có nồi hột vịt. Tay xách theo cái thùng xô nhôm đựng hũ muối tiêu, mớ dĩa sành nhỏ xíu bằng bề tròn nắp lon nước ngọt, mớ muỗng nhôm cũng nhỏ xíu. Bà nào bán ít thì ủ nồi trứng trong cái thúng đựng đầy trấu bưng bên hông. Mấy bả vừa đi vừa rao kéo dài: “Hột vịt lộộộộộộn… hôôôôông….?” Nhà đông người nên mỗi lần mua là hốt luôn một lúc hai chục trứng. Mẹ tôi lấy cái mâm nhôm lớn ra, cho tất cả hột vịt vô mâm, rổ rau, chén muối tiêu để kế bên, lấy cho mỗi người một cái muỗng nhôm (nhỏ hơn muỗng cà phê) rồi cả nhà nhào vô xì xụp. Mẹ tôi cũng lấy giấy nhựt trình xé ra, dạy anh em bọn tôi cách xếp miếng giấy lại thành cái nẹp để quấn quanh cái trứng vịt đang nóng hổi rồi cầm ăn cho khỏi bị nóng. Mỗi người chỉ được có hai trứng thôi là hết.

Thời đó, có mấy người lớn thấy con nít ăn hột vịt lộn là đi theo dụ, nói rằng ăn con vịt (trong trứng) là học ngu, để tao ăn giùm cho, mày ăn tròng đỏ với cái mề trắng thôi. Có đứa tin sái cổ, bèn đưa cái trứng vịt cho “tên kia” ăn hết phần phôi vịt đi, còn lại phần mề trắng cứng ngắc mới ăn. Riêng tôi thì dụ không được, tuy cũng hơi sợ sợ sẽ bị “học ngu” đó, nhưng tật ham ăn lớn hơn, nên nhứt định thà chịu “ngu” chớ không cho ai ăn miếng nào.

Hột vịt lộn là trứng vịt có trống (có phối giống) đưa vô lò ấp từ 17 đến 21 ngày thì đem ra luộc (hoặc chế biến món khác) làm thức ăn, nếu để quá thời gian này thì trứng vịt sẽ nở ra con vịt. Thập niên 50 đến 80 người ta ấp trứng vịt bằng lò ấp sử dụng trấu, sau này người ta dùng lò ấp sử dụng điện tạo hơi ấm giống thân nhiệt con vịt khi ấp trứng cho trứng phát triển phôi.
Trứng ấp non thì luộc ăn ngọt nước hơn trứng già vì khi đó cái mật trong phôi chưa hình thành. Tùy theo khẩu vị, có người thích ăn trứng lộn non, có người thích ăn loại úp mề (mề trong trứng lớn cỡ ngón chưn cái, không già khôn non), có người thích ăn loại lộn già. Theo Ðông y, trứng vịt (tươi, lộn), thịt vịt có tính hàn, nên món ăn từ thịt vịt, trứng vịt bao giờ cũng ăn kèm với rau răm (tính nhiệt) để trung hòa, như vậy mới tốt cho sức khỏe.

Người miền Nam hay miền Bắc đều biết ăn hột vịt lộn, nhưng cách thưởng thức thì khác nhau. Người Bắc ở đây là Bắc vùng ngoài, Bắc mới vô Nam sau này, chớ Bắc sống lâu năm ở Sài Gòn, di cư thời 1954 thì cách ăn uống kiểu miền Nam lâu rồi. Tôi sống ở Sài Gòn cộng lại hơn mười năm, rồi tôi đi các tỉnh phía Bắc nữa, từ đó mới để ý thấy cách ăn khác nhau như vầy:

Người Bắc lột hết vỏ trứng vịt ra một lần cho vô cái chén (tất nhiên là bỏ hết nước trong trứng lộn), rắc muối tiêu, vắt thêm chút nước chanh, cho lá rau răm vô rồi dùng đũa hoặc cái muỗng lớn vẽ cái trứng ra ăn. Có khi, để đỡ phải dơ tay khi lột vỏ trứng, họ lột hết vỏ một lúc hai ba bốn trứng cho vô cái tô luôn rồi mới ăn. Ăn kiểu này, phù hợp với câu thành ngữ “Chém to kho mặn”.

Người Sài Gòn ăn hột vịt lộn bằng cách thưởng thức từ từ từng trứng một. Nồi luộc hột vịt lúc nào cũng giữ nóng trên bếp than. Muối ăn hột vịt lộn là muối hột (nguyên cục) cho vô nồi đất rang nổ mịn ra, trộn thêm tiêu xay và chút xíu bột ngọt. Hột vịt lộn luộc vừa chín tới vớt từ trong nồi nước sôi ra còn nóng hôi hổi, người ta đặt nó vô cái chén chung nhỏ bằng sành cho phần nhọn trứng quay xuống dưới, phần đầu lớn trứng ở trên. Cái chén chung có tác dụng giữ cho trứng vịt đứng thẳng cho dễ xúc và người ăn không bị nóng tay khi ăn. Dùng cái dĩa nhỏ xíu múc ra một chút muối tiêu, rau răm rửa sạch để sẵn trong rổ, khi ăn mới sắp rau ra dĩa.

Dùng cái muỗng nhỏ gõ giập vỏ trứng, lột ra một lỗ cỡ đầu ngón tay trỏ, múc một tí xíu muối tiêu cho vô chỗ vừa đập vỏ, rồi húp hết phần nước ngọt có pha lẫn vị muối tiêu trong cái trứng lộn. Sau đó, họ tiếp tục mở vỏ trứng cho lớn hơn, chút muối tiêu cho vô, rồi dùng cái muỗng xúc từng muỗng nhỏ trong trứng ăn từ từ với lá rau răm. Vị ngọt, bùi của phôi trứng, của phần lòng đỏ, cảm giác sần sật giòn tan khi nhai miếng mề trắng, hòa với vị muối tiêu, vị cay nồng của rau răm tan dần trong miệng, người ăn nhởn nhơ ăn tới tới, hết trứng này tới trứng khác, cá nhân tôi có khi đánh bay mỗi lần hết chục trứng mà không thấy đã thèm. Ăn hết trứng này mới vớt trứng khác ăn tiếp, trứng lúc nào cũng nóng hôi hổi mới ngon và không có mùi tanh. Các quán ăn, xe đẩy bán hột vịt rong ở Sài Gòn luôn luôn có thêm cái tô lớn đựng chanh hoặc trái tắc (quất) để khách vắt thêm vô chén muối tiêu khi ăn. Người miền Tây Nam Bộ cách ăn hột vịt lộn cũng giống như người Sài Gòn, khác ở chỗ người miền Tây không xài thêm chanh, tắc khi ăn.

Ðành rằng “vật dưỡng nhơn”, ăn trứng lộn kiểu miền Nam có cái hay ở chỗ người ăn không nhìn thấy cái phôi con vịt, không có cảm giác ghê khi nhìn thấy chính mình “tàn sát” một lúc hàng chục sinh linh bé nhỏ vừa mới tượng hình.

Chợ Việt ở Nam Cali đều có bán trứng vịt lộn $1/trứng, nếu mua được trứng mới về thì ngon đáo để luôn. Tất cả trứng vịt lộn ở Nam Cali này đều là vịt Mỹ chớ không phải nhập từ Việt Nam qua, muốn ăn ngon mà rẻ cứ vô chợ mua, đừng thấy mấy bảng hiệu để tên ở Việt Nam thì tưởng nhập từ Việt Nam qua, nó chỉ có cái tên thôi mà “chém” gấp đôi giá mua trong chợ.

Tạ Phong Tần
http://baotreonline.com

The World’s Most Dangerous Bridges Will Take Your Breath Away

We’ve put together a list of the world’s most dangerous bridges. Whether they were constructed using jungle materials or professionally built by the world’s top engineers, the bridges on our list will definitely have you taking a new route to work…

Royal Gorge Bridge, Colorado:
Not only is this extreme bridge the highest suspension bridge in The United States it also has a bit of an interesting history. It was built in 1929 but actually didn’t have stabilising wind cables more than 50 years later, now that would be a scary stroll! Since then though it has become quite a tourist attraction and even has a cable car crossing for the really brave.

Monkey bridges, Vietnam:

Now this isn’t just a singular bridge, there are various ones across the Mekong Delta. While it might look like only a monkey could cross them, they are actually a popular crossing point for locals. Made usually from a single piece of bamboo, the name monkey bridge comes from the funny posture people have to adopt while crossing.
  
Hussaini Hanging Bridge, Pakistan:
Often dubbed the most dangerous bridge in the world, walking across this gap filled swinging bridge is not something for the faint hearted. What makes this bridge one of the scariest in the world, isn’t just the fall into the Hunza River below if you slip through the cracks but also the tattered remains of the last bridge still hang by its side.


While technically the newest seven mile bridge is actually the second of its kind, the first one was decommissioned because it sat directly in the water and didn’t allow boats to pass by. Even though it might not appear too scary, imagine driving across it during Florida’s many hurricanes.

Seven Mile Bridge, Florida:
While technically the newest seven mile bridge is actually the second of its kind, the first one was decommissioned because it sat directly in the water and didn’t allow boats to pass by. Even though it might not appear too scary, imagine driving across it during Florida’s many hurricanes.

Deception Pass Bridge, Washington State:
Driving a car across the fog covered bridge might not sound all too scary but what about if you were to walk the pedestrian lane, peering down nearly 180 feet? The two bridges connect Whidbey Island and Fidalgo Island but prior to its construction the islands were only accessible by ferry, I’m sure some people would much prefer the leisurely boat ride than a wobbly bridge…

Lake Pontchartrain Causeway, Louisiana:

The longest bridge in the world to cross water this monstrosity is only 16 feet above the waves below and once you venture out say goodbye to the land behind you. Built way back in the 1950’s to connect Mandeville with Metairie it has remained as one of the scariest bridges in the world since.


Canopy Walk, Ghana:
This isn’t your average stroll through the rainforest. Suspended 40 feet in the air, visitors literally get the opportunity to walk through the trees! From birds to monkeys, it’s not just the bridge that is scary! Also you can’t just turn back and run if you get scared, the bridge is over a 1,000 feet in length!

Langkawi Sky Bridge, Malaysia:
 Hovering 400 feet above the ground the sky bridge has closed multiple times for maintenance but is now fully accessible to the public. Why did it close down for two years? Rumours swirled around the tiny vacation spot of Langkawi that it was because of the potential the bridge had to collapse…

Mount Titlis, Switzerland:
Does the idea of swaying gently in the breeze overlooking the Swiss Alps at a staggering 3,000 metres above ground scare you? Good because you would be crazy if it didn’t! Regardless, many avid skiers and visitors to the famous mountains cross the bridge every year and apparently the bridge is one of the safest in the world.

Vitim River Bridge, Russia:

This rickety bridge has only ever had a few people successfully cross it, seriously. There are no guard rails, throughout certain times of year it is iced over and you know, there are a lot of missing planks. It actually has a lot of avid adrenaline junkies flooding to Siberia to be one of the few to make the crossing.

Puente de Ojuela, Mexico:

Once a utensil for the mining town beneath it, the bridge now is only used by pedestrians because if a car or truck were to venture over, they might not make it all the way across. It has turned into a popular tourist attraction as it was recently named one of the most dangerous roads in the world.


Quepos Bridge, Costa Rica:You know if the locals have given this bridge the nickname “Bridge of Death” it is a serious death trap. The planks don’t even run the entire way across the structure, leaving massive gaps on either side!

 Sunshine Skyway Bridge, Florida:
Constructed in 1987 to replace the one that was destroyed when a massive tanker collided with a pier killing 35 people in 1980. After the disaster the bridge endured a lot of stigma, made worse when it was reported that since it was built over 200 people had committed suicide.

Eshima Ohashi Bridge, Japan:

The Bridge of Immortals, Huang Shang, China:

 

Montenegro Rainforest, Costa Rica:

 Storseisundet Bridge, Norway:

Carrick-a-Rede Rope Bridge, Northern Ireland:


Sidu River Bridge, China:


Mekong River Crossing – China:


 Millau Viaduct – France:

Iya Kazurabashi Bridge – Japan:


Mystery Bridge – Indonesia: 

Trift Bridge – Switzerland:


Hanging Bridge Of Ghasa – Nepal:

Believe it or not, the Hanging Bridge of Ghasa in Nepal is used for both humans as well as animals. On a regular basis, donkeys and cattle traverse the terrifying footbridge hanging high above the river valley. Despite its vulnerability to wind and rain, the Bridge of Ghasa has been used actively for decades. While the bridge often sways back and forth, it is equipped with high side rails, providing security to those daring enough to cross.



Thông Minh Nhân Tạo Để Kiểm Soát Toàn Dân - Kai Strittmatter


Công ty Sensetime ở Bắc Kinh thu vào được cả thảy 600 triệu đô la Mỹ để phát triển công nghệ trí thông minh nhân tạo. Ngành này đóng một vai trò trung tâm trong chiến lược của nhà nước.

Trí thông minh nhân tạo, nhận diện khuôn mặt: “Nóng, rất nóng”, đó là lời quảng cáo của nữ phát ngôn viên Yuan Wei của công ty Sensetime về việc kinh doanh của công ty mình khi phóng viên của Süddeutsche Zeitung đến thăm trụ sở công ty ở Bắc Kinh vào cuối năm ngoái. “Nếu so sánh với Facebook và Google, thì công ty chúng tôi còn rất non trẻ, nhưng chúng tôi muốn leo lên đỉnh cao thế giới, đó là điều chắc chắn”.

Một bước quyết định trên con đường này đã được Sensetime thực hiện vừa qua: Trong một vòng đầu tư mới, công ty đã thu hút được 600 triệu USD. Hiện nay Sensetime có trị giá hơn ba tỷ USD. Thông tấn xã Bloomberg loan tin: “Trung Quốc hiện có công ty khởi nghiệp về trí thông minh nhân tạo có trị giá cao nhất thế giới“.

Trước đây ba năm, khi đứng ra sáng lập Công ty Sensetime, ông Tang Xiao’ou đã không giấu giếm mục đích của mình: leo lên đỉnh cao. Tên tiếng Trung của công ty là Thương Thang, tên ông vua sáng lập triều đại nhà Thương trong lịch sử Trung Quốc. Có một lần Tang Xiao’ou giải thích vì sao đã chọn tên này cho công ty mình: “Thời bấy giờ Trung Quốc đã lãnh đạo thế giới và trong tương lai tới đây TQ cũng lại đóng vai trò này một lần nữa qua các công nghệ tiên tiến của nó“.

Cơn sốt khởi nghiệp được nhà nước trợ cấp
Trên thực tế, sự trỗi dậy của Sensetime – và nhiều công ty khởi nghiệp khác trong lĩnh vực trí thông minh nhân tạo – không thể có được nếu không có những tham vọng của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Lý thuyết gia chính của Bộ chính trị Wang Huning và cũng là một trong những cố vấn quan trọng của Tập Cận Bình đã tuyên bố trước hội nghị quốc tế về Internet mới đây ở Wuzhen (thuộc tỉnh Chiết Giang): “Chúng ta sẽ xây dựng một Trung Quốc mạnh mẽ với Big Data và trí thông minh nhân tạo“. Trong bài nói chuyện truyền hình đầu năm nay, ông Tập ngồi trước một kệ sách, trong đó nổi bật có hai cuốn sách đang được bán chạy nhất về hứa hẹn của trí thông minh nhân tạo.

Cơn sốt khởi nghiệp trong nước cũng được thúc đẩy bởi rất nhiều tiền của nhà nước. Đảng Cộng sản đã xác định công nghệ này là tối quan trọng để họ sinh tồn và để hoàn thiện nền cai trị của họ. Một ngày then chốt là ngày 15 tháng 3 năm 2016. Vào ngày thứ Ba đó, một cuộc đấu cờ Go đáng ghi nhớ đã diễn ra tại Seoul; cờ Go phức tạp hơn nhiều so với cờ vua. Trong cuộc đấu này, máy AlphaGo của hãng trí thông minh nhân tạo-Labors Google Deep Mind ở London đã thắng cao thủ bậc nhất về cờ Go của Hàn Quốc là Lee Sedol. Thế giới chuyên nghiệp đã bị sốc – và ở Bắc Kinh, Đảng Cộng sản đã cuống quýt ra tay.
Chiến thắng của Alpha Go đã thay đổi một cách cơ bản sự suy nghĩ của chúng tôi“, Zhang Bo, một nhà toán học và chuyên gia trí thông minh nhân tạo của Học viện Khoa học Trung Quốc cho biết. Chỉ chưa tới một năm sau đó, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc liền công bố một kế hoạch phát triển trí thông minh nhân tạo cực kỳ tham vọng.

Kế hoạch: đảo ngược mọi ngành công nghiệp lộn ngược
Theo kế hoạch này của nhà nước thì trí thông minh nhân tạo sẽ đảo ngược mọi ngành công nghiệp; trí thông minh nhân tạo sẽ trở thành động cơ của phát triển kinh tế. Đến năm 2020, Trung Quốc được thiết lập để bắt kịp với quốc gia nghiên cứu trí thông minh nhân tạo hàng đầu – đó là Hoa Kỳ. Đến năm 2025, chính Trung Quốc muốn đạt được “những đột phá lớn” trong nghiên cứu và ứng dụng trí thông minh nhân tạo, theo đó trí thông minh nhân tạo được cho là “động lực chính trong sự đổi mới công nghiệp và thay đổi kinh tế của Trung Quốc”. Cuối cùng, đến năm 2030, Bắc Kinh muốn rằng Trung Quốc sẽ là lãnh đạo hàng đầu và là “trung tâm phát huy về công nghệ trí thông minh nhân tạo quan trọng nhất trên thế giới”.

Nhưng riêng đối với đảng Cộng sản TQ, thì công nghệ trí thông minh nhân tạo có một hứa hẹn vô cùng hấp dẫn: Đó là sự kiểm soát nhân dân một cách toàn diện. Theo kế hoạch của chính phủ, “an ninh công cộng có thể trở nên hoàn chỉnh hơn bao giờ hết nhờ một hệ thống giám sát thông minh, cảnh báo sớm và kiểm soát triệt để“.
Sensetime đang đi hàng đầu trong lãnh vực kinh doanh này. Phần mềm nhận dạng khuôn mặt của công ty đang chạy trên các điện thoại thông minh và trong các ứng dụng dành cho thiết bị di động, nhưng trên hết, chúng đang giúp công an khắp mọi nơi ở Trung Quốc.

Thị trường này là khổng lồ. Năm 2016 Trung Quốc có 176 triệu camera, con số camera sẽ lên 600 triệu vào năm 2020. Ngày nay Sensetime cho hay đã có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu trung ương của nhà nước với 500 triệu khuôn mặt. Cho tới cuối năm nay Sensetime muốn tăng số nhân viên lên 2.000 người và theo tin của Bloomberg họ sẽ đầu tư tiền triệu vào năm dàn máy Supercomputer và vào một dịch vụ mang tên là “Viper”, có thể nối mạng với 100.000 camera và có khả năng tự động đánh giá các dữ liệu thu thập được.

Kai Strittmatter, Bắc Kinh
Nguyễn Văn Vui chuyển ngữ
https://baotiengdan.com

Sunday, September 23, 2018

Thu Nhường Trăng Mơ - Đỗ Công Luận

Tiểu Thơ - Phạm Tín An Ninh


Rầm!
Tôi và hai thằng bạn vừa rà thắng xe đạp trước rạp Tân Tân để vào xem phim “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” thì bị một chiếc Vélo Solex húc từ đằng sau tới. Cả ba thằng ngã xuống đất. Riêng tôi còn bị cái xe của thằng bạn đè lên bụng đau muốn nín thở. Mới loi ngoi bò dậy, chưa kịp phủi bụi trên áo quần thì nghe tiếng quát tháo:
– Ê ! bộ ba “chàng ngự lâm pháo thủ” mù cả hà. Dừng ngựa mà chẳng coi chừng phía đàng sau ! Đáng đời!

Vừa ngượng vừa tức giận bởi tự dưng bị húc té nhào giữa thanh thiên bạch nhật và trước bao nhiêu nguời đẹp, chưa kịp nắm cổ áo cho một trận, thì bị thủ phạm tiếp tục tấn công phủ đầu. Đúng là cà chớn. Nhưng nhìn lên thì.. à..cả ba thằng khựng lại : đối phương là một cô gái, tuồi ô mai, tóc còn thắt bím, ngồi trên Vélo, vòng tay trước ngực, trề môi, rồi trợn đôi mắt to như hai cái đèn “ô tô”:
– Số còn hên đó. Cái vélo không bị hư gì.Tiểu thơ tha cho đó. Lần sau liệu hồn !
Nói xong cô bé nguýt một cái rồi rồ ga chạy mất tiêu.
Dù chưa bao giờ bị thầy Bửu Cân phán cho cái tội “con nhà không có lư hương”, bọn tôi cũng phải chửi thề một tiếng cho hả giận. Thằng Cường, đứa hiền lành ít nói nhất trong bọn tôi, xăn tay áo, xổ nho trước :
– Đ.m. con gái nhà ai trông đẹp thế mà đanh đá như bà chằn. Phải mà con trai thì biết tay tao.
Đúng là cô bé khá xinh, nhất là đôi mắt thật to và đôi môi mộng đỏ, dù có trề lên ngạo nghễ, cũng vẫn đáng yêu ghê lắm. Tôi nghĩ vẩn vơ như thế khi theo người soát vé dẫn tới chỗ ngồi. Trong rạp tối mò. Ba thằng chúng tôi vào trể. Trên màn ảnh đang chiếu phim thời sự: Tổng thồng Ngô Đình Diệm đang kinh lý Ban Mê Thuột (nhưng không thấy cảnh ông bị ám sát hụt).

Suốt buổi hôm ấy, mắt nhìn lên màn ảnh, mà tâm trí tôi thì chỉ thấy có đôi mắt cô bé, trừ khi nào có tiếng súng nổ của ba chàng ngự lâm, tôi mới giật mình trở lại với truyện phim đôi ba phút.
Cha tôi nói đúng, hồi mới ba tuổi, tôi đã khóc đến cả tháng trời khi mẹ tôi mất, ông bảo rồi sau này tôi sẽ là một thằng đa sầu đa cảm. Và hôm nay, dường như tôi bắt đầu biết tương tư đây.

Nha Trang cũng chẳng lớn hơn cái thành phố núi Pleiku là bao nhiêu, để ông nhà thơ nào đó “đi dăm phút trở về chốn cũ”, vậy mà cả mấy tháng rồi, tôi chưa gặp lại cô bé, mặc dù thời ấy Nha Trang đã có khá nhiều vélo solex, đủ làm tôi nhìn theo muốn ngoẹo cổ. Tôi nghĩ, chắc là cô bé từ đâu đến chơi. Trông nước da trắng hồng, có thể là từ Đà Lạt xuống thăm ai đó rồi lại biến mất như một nàng tiên trong cổ tích.

Quê tôi ở ngoài Vạn Giã. Vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, trước ở gần rạp ciné Moderne của ông Bác Ái, sau này dọn lên gần Ty Thông Tin. Chú tôi, ngoài làm chủ tiệm bán mọi vật dụng về điện, còn thầu các công trình diện. Ông bà chỉ có một cô con gái rượu, cưng như trứng mỏng, nên mọi thứ ngược xuôi giao dịch ông cần tới tôi. Để tôi lên tinh thần, bỏ bớt cái tật ham chơi và lười biếng có lẽ từ khi còn trong bụng mẹ, ông thường bảo: “cháu còn nhỏ mà coi bộ có khả năng thương mại. Cố gắng theo chú học hỏi, sau này dám qua mặt tao nữa đó “. ( Cái này thì ông nói trật lất. Vì sau này tôi trở thành lính đánh giặc, nên cả đời có buôn bán được cái gì đâu ).

Cả năm cứ mong tới mùa hè là tôi dọt về quê thăm cha tôi và chơi với mấy thằng bạn nối khố, rủ nhau ra con sông quê, ngày bơi lội, tối cắm câu, ngủ ngoài trời mà đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm đâu là dải Ngân Hà có cái Cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Coi bộ vui và lãng mạn hơn ở trong cái thành phố Nha Trang này nhiều. Vậy mà mùa hè này tôi bị ông chú tôi giữ lại, sau khi thuyết phục được ông già tôi, bảo là để cho tôi tập làm quen với thương trường(!). Tôi nghe mà phát sợ, cứ như là sắp sửa bị ông đẩy tôi ra giữa chốn sa trường !
Bài học đầu tay là tôi xách cặp theo ông, đi dự một cuộc họp với mấy ông thầu khoán khác, trong một công trình “hợp tác mỗi bên cùng có lợi”. Nơi họp là một ngôi biệt thự khá đẹp nằm trên con đường Duy Tân có gió reo sóng vỗ..

Tôi rụt rè theo sau ông chú, bước vào phòng khách. Nhiều người đã có mặt. Ông nào trông cũng bệ vệ, đặc biệt có một ông mặc quân phục, oai phong cao lớn, mà coi bộ mọi người ai cũng nễ trọng. Nghe nói chuyện một hồi tôi mới biết đó là ông đại tá Đỗ Cao Trí, chỉ huy quân trường Đồng Đế. Lúc ấy tôi còn nhỏ, đâu có biết gì nhiều về lính tráng, nhưng tôi có nghe nhiều người kể chuyện tình ông đại tá này với một bà dược sĩ nào đó có tiệm thuốc tây trên đường Độc Lập. Bà này mới vừa ly thân ông chồng dược sĩ, có ông bồ là đại úy phi công trẻ tuổi đẹp trai thường đèo bà trên chiếc vespa chạy vòng vòng ngoài bờ biển, mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao trọc mui duy nhất ở thành phố này. Tội nghiệp ông phi công, vừa mới bị ông đại tá này nói nhỏ bạn bè làm lớn bên Không Quân cho bay ra tận ngoài vùng 1 xa tít mịt mù.( Sau này ông phi công hào hoa lấy một cô ca sĩ có giọng hát buồn…vào hồn không tên nào đó ). Nghe mấy ông bàn bạc, tôi mới biết buổi họp này là để bàn việc xây cất và chỉnh trang lại toàn bộ doanh trại của quân trường Đồng Đế, mà chú tôi và mấy ông bạn thầu khoán vừa mới trúng thầu.

Tôi ngồi sau lưng ông chú, ghi ghi chép chép cứ như là… phóng viên tập sự. Nửa buổi thì ngưng họp ăn cơm. Một bữa ăn thịnh sọan từ nhà hàng mang tới. Vì thuộc hàng con nít, nên tôi được ưu tiên ra sân sau ngồi chung với mấy anh tài xế và con cháu ông chủ nhà. Vừa bước ra, chưa kịp tìm chỗ ngồi, thì tôi giật mình, sững sờ đến mấy phút. Cô bé, cô tiểu thơ.. vélo solex, tông bọn tôi trước rạp Tân Tân gần ba tháng trước, đang ngồi chễm chệ tự lúc nào trong cái ghế bành duy nhất bên bàn ăn.
Lấy lại bình tĩnh, tôi đến kéo chiếc ghế bên cạnh cô bé :
– Chào tiểu thơ, chàng ngự lâm pháo thủ bị xe tông..ngã ngựa có được phép ngồi đây không ạ ?
Cô bé nhìn tôi tròn xoe đôi mắt. Đôi mắt mà tôi đã tìm kiếm hơn ba tháng nay, cứ tưởng đã biến mất khỏi Nha Trang, bỗng dưng bây giờ đang mở lớn hết cỡ trước mắt tôi. Tôi ngồi yên như bị thôi miên. Dường như vừa mới nhớ ra tôi, cô bé nhoẻn miệng cười :
– À, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ.! Vous cứ tự nhiên.
Tôi ngạc nhiên, cô bé coi bộ tây này còn xổ cả tiếng nôm tiếng hán. Tôi nhủ lòng : Không phải vừa đâu nghe.

Vậy mà cái cuộc trùng phùng khá bất ngờ này lại đưa đẩy tôi đến một nấc thang danh vọng : làm gia sư cho cô bé. Nói gia sư cho oai phong, chứ hồi đó chì có mỗi chữ “dạy kèm”thôi chứ sư với siếc gì.
Số là sau này, khi thực hiện công trình, tôi thường theo chú tôi đến đây, cũng có nhiều lúc tôi đến một mình để trao giấy tờ và tham khảo ý kiến của ông chủ thầu, papa của nàng. Dần dà tôi quen thân với cả nhà. Gia đình trước sống ở Đà Lạt, làm chủ mấy cái hotel. Bà vợ bị chết bởi một tai nạn giao thông ngay trên đèo Ngọan Mục, ông già buồn quá không muốn mỗi ngày nhìn thấy bóng dáng bà vợ trong thành phố sương mù, nên dọn xuống Nha Trang, trở lại nghề thầu khoán gia truyền từ mấy đời trước. Ông bà chỉ có mỗi một cô con gái, nhưng trong nhà ông nuôi nhiều cháu và gia nhân. Gặp tôi nhiều lần, và qua chú tôi, ông già cô bé nghe nói tôi cũng gốc nhà quê, hiền lành chăm chỉ, nên nhờ tôi, cứ ba tối mỗi tuần ghé lại nhà kèm cô con gái cưng của ông về môn toán và Việt văn. Cô bé vừa từ trường Domaine de Marie ở Đà Lạt chuyển xuống lớp đệ ngũ trường Nữ trung Học Nha Trang, đọc thơ Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc mà không hiểu bà Đoàn thị Điểm và ông Ôn Như Hầu nói cái gì trong đó..
Môn toán thì tôi không biết vẽ rồng vẽ rắn, chứ cái môn Việt văn này coi bộ bao la trời biển quá, vẽ cái gì chẳng được.

Hôm đầu tiên, tiểu thơ vẫn còn cao điệu, gọi tôi là Thầy. Không biết là do lệnh của ông già, vì đề phòng tôi “tán bậy” con gái, nên phong cho tôi cái chức ” bán tự vi sư nhất tự vi sư” để tôi biết phận mà giữ mình, hay là cô bé choc quê tôi không biết.

Thấy “diễn nôm điển tích” mấy câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc coi bộ không ăn khách, chẳng hấp dẫn nổi cô bé, tôi quay sang đọc thơ cho cô bé nghe. Hồi đó ở Võ Tánh có hai nhà thơ rất sớm nổi tiếng, mà dù là tên thật hay bút hiệu gì nghe cũng đẹp làm sao : Thanh Nhung và Cao Hoành Nhân, Tôn Nữ Nha Trang và Bùi Cao Hoành gì đó. Không biết có đúng hay không, nhưng tôi nghe bạn bè thêu dệt về cuộc tình lãng mạn của hai nhà thơ học trò vang bóng một thời này. Tôi chọn mấy bài thơ ướt át nhất của hai người đọc cho cô bé nghe. Và cũng lạ, không cần diễn nôm diễn nghĩa gì cả, cô bé không những hiểu rất nhanh mà còn cảm nhận đến độ lim dim đôi mắt..nhìn xa xăm.

Có một điều tôi quên nói : cô bé cũng thuộc dòng Tôn Nữ, cũng có một cái tên hay lắm : Tôn Nữ Giáng Vân. Nhưng tôi vẫn thích gọi cô bé là Tiểu Thơ, cái tên mà nàng đã tự xưng khi đụng tôi trước rạp Tân Tân. Hơn nữa tôi thấy cái tên này cũng hợp với cô bé lắm. Tôi nghĩ thầm, có lẽ nàng Tôn Nữ xứ Huế nào cũng đẹp và.. lãng mạn đa tình.

Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, cô bé mê nhất là Hồn Bướm Mơ Tiên, nên thường bắt tôi kể lại cho nàng nghe. Mẹ nàng vốn là một phật tử ngoan đạo. Sau ngày bà chết, ba nàng cúng dường khá nhiều tiền để chỉnh trang hai ngôi chùa Tỉnh Hội, Hải Đức và cung thỉnh thêm nhiều tượng Phật. Cô bé thường theo cha lên chùa Hải Đức. Nàng bảo mỗi lần lễ Phật, nàng cứ tưởng tượng mình là “chú tiểu” Lan, nhưng lại rất sợ và bịt kín tai khi nghe có tiếng đại hồng chung, nên chắc không thể nào giả trai lên chùa tu được.

Một hôm cô bé nhất quyết bắt ông thầy phải làm cho cô bé một bài thơ. Nếu không thì không chịu học. Cái này thì đúng là tiểu thơ muốn hại “đời tư” của tôi đây. Mang tiếng là học ban C nhưng hồi giờ tôi có thơ với thẩn gì đâu, chỉ lâu lâu cùng với mấy thằng bạn trong lớp nghịch ngợm bày ra trò chơi nối vần một bài lục bát con cóc để ghẹo cô bạn nào đanh đá trong lớp. Vậy mà hôm ấy, không biết con tim nó ướt át đến cỡ nào, tôi phóng bút làm xong một bài thơ chưa đầy mười phút. Đọc qua nghe có mùi cải lương không chịu nổi, nhưng tôi cũng tự phục mình. Tôi đưa bài thơ cho nàng đọc :
N gày tháng trôi dần theo nhớ thương
I như duyên nợ đã vấn vương
N ên tình mây nước cùng trăng gíó
H ẹn ở ngày mai một nẻo đường
YÊU vầng trăng sáng in cành lá
V à khúc nhạc lòng dâng đến hương
 n ái giờ đây là mơ ước
N gỡ một tâm tình một vấn vương
Cô bé đọc xong không biết có hiểu gì không,(mà thực ra bài thơ cũng có nghĩa gì đâu mà hiểu với không), gật gù khen và hỏi :
– Sao bài thơ không có tên ?
– Có tên rồi đó mà tiểu thơ không thấy à ?
Cô bé lật qua lật lại mảnh giấy :
– Tên với tựa gì đâu, không thấy, trả lại thầy, không thèm.
Tôi cười, vuốt ve cô học trò :
– Thì Vân cứ ghép tất cả các mẫu tự đầu ở mỗi câu lại, sẽ thấy cái tựa liền.
Khổ thật, tôi còn phải giải nghĩa thêm mẫu tự là cái gì, thì cô ta mới tìm được cái tựa bài thơ. Cô bé đỏ mặt, vất mảnh giấy có bài thơ xuống đất :
– Không thèm chơi với Thầy nữa.
Nói là không thèm chơi, nhưng cũng kể từ hôm ấy cô bé thân thiết và gần gũi với tôi hơn. Ba nàng cũng thấy tin và quí ông gia sư nhóc tì này, vì thấy con gái cưng của mình chăm học, vui vẻ yêu đời hơn.

Mùa hè năm đó, cô bé theo tôi về nhà quê chơi, nhân tiện có cô con gái của ông chú tôi cùng về thăm quê nội. Dường như đó là lần đầu tiên cô bé ra một vùng quê. Không biết là gió nội hương đồng hấp dẫn cô bé, hay là suốt ngày dung dăng dung dẻ làm nũng làm nịu với “ông Thầy”, cô bé ca hát líu lo và bảo là yêu…đồng quê ghê lắm. Và đó cũng là một mùa hè đẹp nhất, có ý nghĩa nhất trong đời học trò của tôi, dù ở quê tôi chẳng có cây phượng vĩ và cũng chẳng nghe có tiếng con ve sầu nào rên rỉ.

Hai năm sau, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học tiếp. Tôi buồn và tiếc nuối vì phải chia tay cái nghề gia sư với cô hoc trò nhỏ nhưng có đôi mắt thật to..của mình. Cô bé được ông già chở lên ga Nhatrang tiễn tôi đi. Tôi cũng cố làm ra vẻ “đi là chết ở trong lòng một ít”, làm cô bé mủi lòng muốn khóc. Ông già cứ tưởng là nhờ ơn tôi mà cô bé vừa đậu cái bằng trung học kỳ rồi, nên cũng nắm chặt tay tôi, lì xì một mớ tiền và cám ơn rối rít..

Vậy mà cái tình yêu ấy ( không biết có đúng là tình yêu hay không, nhưng cứ nói như thế cho nó lãng mạn và người lớn một chút ) cũng làm cho lòng tôi xốn xang một dạo.
Sau đó chỉ có vài lần tôi nhận được thư cô bé, kể chuyện những bạn bè thân quen của cô bên trường Nữ, và chuyện chiếc máy bay phản lực rơi xuống bên cạnh rạp Tân Tân, nơi mà lần đầu tiên tôi biết cô bé nhờ chiếc vélo của cô tông tôi ngã xuống bên lề đường.Nhưng lần nào cũng kèm theo một bài thơ tình..con cóc.
Năm năm sau, khi cô bé đã trở thành người lớn và quên “ông Thầy” thích đọc thơ tình cho cô học trò.. lim dim đôi mắt, thì cũng là lúc tôi hát khúc Biệt Kinh Kỳ, xếp bút nghiên theo việc kiếm cung.

Ra trường, tôi được bổ sung về một đơn vị lưu động trên vùng Cao nguyên gió lạnh mưa mùa. Năm 1972, tôi bị thương trong trận Mủa Hè Đỏ Lửa ở Kontum, được đưa về QYV Pleiku điều trị. Khi vết thương vừa lành, tôi nhận Sự Vụ Lệnh của đơn vì đề cử về Sài gòn trong đoàn “chiến sĩ xuất sắc” được Tổng Thống tiếp đón tại khu vườn Dinh Độc Lập. Thực ra là tôi có xuất với sắc cái gì đâu. Khi còn độc thân thì hăng máu lắm, chứ đã có vợ rồi thì cũng hơi lạnh cẳng, ngại cái cảnh “anh trở về dang dở đời em”. Nhưng chiến tranh đang hồi ác liệt, nếu cử chiến sĩ xuất sắc thứ thiệt đi thì thiếu người đánh giặc giỏi, mà lại hao hụt quân số tác chiến, tôi đang trong tình trạng bất khiển dụng, nên cho tôi đi là nhất cử lưỡng tiện. “Chiến sĩ xuất sắc” được ưu ái đi bằng máy bay dân sự. Tại phi trường Pleiku bụi đỏ, tôi bất ngờ gặp lại Tiểu Thơ khi tôi vừa ngơ ngác bước lên máy bay Air Vietnam và khựng lại trước đôi mắt thật to của cô hôtesse de l’air đang mỉm cười chào khách. Trong chiếc áo dài màu thiên thanh, có thêu hai con rồng trên cổ áo, nàng đẹp như một nàng tiên. Khi chiếc máy bay DC 4 đã lấy lại thăng bằng trên cao độ, nàng đến ngồi chiếc ghế trống trước mặt tôi, quay ra sau trò chuyện. Trong chớp nhoáng, tôi biết là nàng đã có chồng. Anh ta là một phi công phản lực F5, thuộc dơn vị Biên Hòa. Hai người làm đám cưới hơn một năm. Tôi nghĩ, con gái đẹp thường chọn mấy ông không quân, vừa được tiếng có ông xã hào hoa, đi mây về gió, vừa khó trở thành góa phụ. Anh phi công nào phải vừa bô trai vừa tốt số lắm mới lọt được vào đôi mắt của Tiểu Thơ này. Tôi nghĩ như thế mà lòng thì cũng thấy một chút bâng khuâng.

Chỉ nói chuyện được vài câu, nàng ghi địa chỉ của tôi ở Sài gòn, rồi hẹn sẽ cùng đức lang quân ghé đón đi Maxim nghe Lệ Thu hát bài Kỷ Vật Cho Em. Tôi cười, bảo là rất sợ bài hát này, cái bài hát mà thằng lính nào nhát gan nghe xong là không còn muốn “đáo nhậm” đơn vị nữa. Cuối cùng nàng đến có một mình, “ông xã” vừa mới biệt phái ra Vùng 1. Tối đó thay vì đến nhà hàng Maxim, nàng đưa tôi ra Quán Cái Chùa cho có vẻ nghệ sĩ một chút, mời “ông Thầy” uống cà phê có hương vị Tùng Đà Lạt – mà chủ nhân thường pha chế đặc biệt cho riêng nàng- để nhớ những ngày cô còn ở đó.. Dường như khi đã lớn rồi, người ta lại muốn tìm về cái thời đi học. Hai đứa chỉ ngồi nhắc lại chuyện Nha Trang, chuyện mấy bài thơ con cóc, rồi chia tay không hẹn ngày tái ngộ. Thời chiến tranh mà, “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi “ biết đâu mà hẹn.

Tháng 3 /1975, Nhatrang rồi cả Vùng 2 mất,. Bao nhiêu năm sống chết với núi rừng Hoàng Triều Cương Thổ, tôi theo đơn vị chỉ còn một phần tư quân số “di tản” vào Vũng Tàu để tái bổ sung, rồi kéo xuống tham dự những trân đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ ở những địa danh xa lạ : Bến Lức, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, nhằm ngăn chận địch quân đang tràn về vây hãm và pháo kích Sài Gòn.

Cũng như nhiều đơn vị khác, vào giờ thứ 25, chúng tôi đánh giặc không có “đại bàng”. Lần cuối cùng tập họp anh em lại hô “tan hàng” mà không còn nghe “cố gắng” nữa, thì tôi mới biết là ông tướng tư lệnh đã có mặt trên đệ thất hạm đội Mỹ trước đó hai ngày rồi! Thôi thì, xưa nay người ta đã nói“nhất tướng công thành vạn cốt khô” mà. Cuối cùng thì miền Nam cũng thất thủ. Đám tụi tôi được người “anh em” chiến thắng mời vô trại cải tạo để được hưởng “chính sách khoan hồng của kách mệnh” !

Tám năm lưu đày từ nam ra bắc, cuộc đời thôi đành cứ như gởi theo những đám mây bay. Cái hạnh phúc bây giờ chỉ còn là những phút giây hồi tưởng. Mà hồi tưởng cũng phải “cảnh giác”, chứ không khéo cũng bị cùm vì cái tội ” luyến tiếc quá khứ”. Bạn bè cùng cảnh luyến tiếc điều gì thì tôi không biết, nhưng riêng tôi lại tiếc nhớ cái tuổi học trò, và cái thời con tim mới biết yêu. Tôi lại nhớ đến Tiểu Thơ, đến đôi mắt tròn xoe của cô bé, và nhớ tới cái hạnh phúc làm “gia sư” của tôi còn hơn là nhớ tới mười mấy năm làm bạn với ông Nguyễn Bắc Sơn “ta vốn hiền khô – ta là lính cậu, đi hành quân rượu đế vẫn mang theo, mang trong đầu những ý nghĩ trong veo, xem chiến cuộc như tai trời ách nước”. Tôi hình dung bây giờ chắc nàng đang hạnh phúc ở một chốn thiên đường nào bên nước Mỹ. Ông xã là không quân mà, lại đóng ở Biên Hòa nữa. Chỉ cần một lần cất cánh nhẹ nhàng là thay đổi cả cuộc đời.

Ra tù, trở lại thành phố xưa, tôi có cảm gíác Nha Trang sao bây giờ xa lạ quá, không còn là “hang động tuổi thơ”của bọn tôi ngày trước nữa. Nhưng rồi tôi cũng đâu có được phép ở lại cái thành phố này, mà phải về tạm trú ở quê tôi ngoài Vạn Giã. Ở đó tôi chỉ còn một bà cô già sống quạnh hiu trong ngồi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội. Cha tôi thì cũng đã chết cách đây sáu năm trong trại cải tạo Đá Bàn. Mồ mả còn chưa biết ở đâu. Nhưng rồi tôi còn có cái may, là gần như mỗi ngày tôi đều ghé lại Nha Trang một lần, bởi tôi được ông anh bà con cho tôi làm tài xế phụ kiêm lơ xe cho chiếc xe đò nhỏ của ông chạy đường Nha Trang – Tuy Hòa. Xe chạy bằng than và khách hầu hết là mấy bà đi buôn chuyến.

Một hôm tôi đang lui cui đứng trên mui, thì một bà khách kêu tôi nhấc hộ đội thúng của bà lên. Bà lấy hết sức đưa từng chiếc thúng lên, nhưng rồi lại bị sà xuống. Trong đôi thúng là những thỏi đường màu đen khá nặng. Tôi phải dùng một cây móc sắt đưa xuống, bảo bà móc vào để tôi kéo lên. Khi lấy sức kéo đôi thúng lên tôi bất ngờ gặp đôi mắt thật to và tròn xoe. Đôi mắt nhìn tôi tựa hồ như xoáy vào lòng tôi nhát dao đau buốt. Tôi nhảy xuống xe, nắm chặt đôi vai gầy còm của bà khách :
– Là em, là Tiểu Thơ đây à?
Nàng nhìn tôi, rồi nước mắt đầm đìa.
– Tiểu Thơ, à quên…Vân, làm sao mà em lại ra đến nỗi này.
Nàng cúi xuống im lặng, không nói một lời nào.

Ra đến Tuy Hòa, tôi gánh hộ nàng gánh đường giao cho một cái quán trong chợ, rồi mời nàng đi ăn cơm trưa. Tôi đang nóng lòng được biết về hoàn cảnh của nàng :
– Ông xã em bị kẹt ngoài Vùng 1 rồi mất tích luôn từ đó tới bây giờ. Em có đi hỏi một vài người bạn cùng phi đoàn, thì họ cho biết là anh ấy bị bắn rơi khi yễm trợ cho anh em Thủy Quân Lục Chiến rút về Đà Nẵng. Em chờ đợi xem anh có bị bắt cầm tù ở đâu không, nhưng đến bây giờ thì chắc chắn là anh đã chết thật rồi.
– Còn ba em đâu ?
– Nhà cửa ba em bị tịch thu hết. Ông bị bắt đi cải tạo với lý do từng thầu xây cất doanh trại cho Mỹ trong phi trường. Chỉ một năm là ông chết.
– Vậy bây giờ Vân ở với ai?
– Em ở với con gái em. Nó gần mười tuồi rồi. Khi gặp anh ở Sài gòn là em vừa mang thai nó mà chưa biết. Mẹ con em được đền bù một căn nhà tôn nhỏ của thương phế binh hồi trước, nằm sau ga xe lửa.
Tôi nhét vào tay Vân tất cả số tiền mà tôi kiếm được hôm ấy, bảo nàng mua hộ tôi quà cho cháu gái.

Sau đó tôi gặp lại nàng chỉ thêm hai lần nữa, vì ông anh họ tôi đã phải bán rẻ cái xe hơi cho người khác, bởi không dủ tiền sửa chữa mà còn cứ bị chính quyền trưng dụng đi chở lúa cho hợp tác xã, không trả một đồng nào. Cũng đúng vào lúc này, tôi tính chuyện vượt biên.
Tôi kể chuyện Tiểu Thơ cho vợ tôi nghe. Bây giờ tôi thương cô như một người em gái. Vợ tôi tốt bụng, thương mẹ con cô cũng như hoàn cảnh của chính mình, sẵn sàng cùng tôi giúp mẹ con nàng đi cùng chuyến vượt biên, do chính tôi tổ chức.

Một tuần trước khi ra đi, tôi vào Nha Trang tìm đến nhà nàng. Căn nhà khóa kín cửa. Tôi chờ đến tối mà chẳng thấy mẹ con cô trở về. Tôi gõ cửa căn nhà bên cạnh. Chủ nhà lại là một anh thương phế binh, nhờ mất cả hai chân nên không bị đuổi khỏi nhà.. Anh cho biết là mẹ con nàng đã dọn đi đâu cả mấy tuần rồi, không thấy về nhà.

Trời thương, chuyến vượt biên cũng đến được bến bờ, nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương Quốc Nauy vớt trên biển, trước khi cơn bão ập đến. Với ân tình này, vợ chồng tôi chọn Nauy là nơi để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.

Mùa hè năm 1989, vợ chồng tôi đưa hai cô con gái sang Mỹ học, nhân tiện ghé thăm và chia buồn gia đình ông anh họ, đi từ năm 78, định cư ở thành phố Sacramento, bắc Cali,.Anh chị vừa có thằng con trai bị chết đuối khi theo cha đi câu ngoài biển.
Bao nhiêu năm gặp lại nhau, anh chị tiếp đón chúng tôi thật ân cần, nhưng không vui vì cái bàn thờ đứa con trai còn nghi ngút khói hương.

Sáng hôm sau, anh chị đưa tôi đến nghĩa trang thăm mộ cháu rồi chở chúng tôi đến một ngôi chùa Sư Nữ ở gần đó, để bàn việc làm lễ cầu siêu cho cháu. Anh cho biết anh chị rất thân quen với Sư Bà trù trì, Bà rất quí anh chị không chỉ vì biết nhau từ lúc còn ở Nha Trang mà vì anh làm nghề thầu sửa chữa nhà cửa, nên cả ngôi chùa này phần lớn là do công sức của anh cúng dường.

Ngôi chùa không lớn lắm, khu chánh điện còn đang dang dở, nhưng vườn khá rộng và trồng nhiều loại hoa. Trong chùa tiếng tụng kinh, gõ mõ càng đượm không khí trang nghiêm. Chúng tôi được một cô phật tử mời ngồi uống trà và xin chờ chừng nửa tiếng, vì Sư Bà đang cúng ngọ.

Khi ông anh bà chị đứng bật dậy, chúng tôi chợt nhìn thấy Sư Bà vừa bước ra. Tôi ngạc nhiên vì Sư Bà còn trẻ và trông rất phương phi, nhất là hai tai thật to và dài xuống như tai các tượng Phật tôi thường nhìn thấy trong các ngôi chùa. Điều làm chúng tôi thú vị là bà rất vui vẻ cởi mở. Bà bảo bà cũng là dân Nha Trang nên rất mừng khi tiếp được người đồng hương từ tận bắc Âu đến viếng.

Sau một lúc hàn huyên, tôi biết được Sư Bà là người có trình độ học vấn cao. Bà có cử nhân Văn Khoa và đang học năm cuối cao học văn chương tại đại học Vạn Hạnh thì miền Nam thất thủ.

Điều ngạc nhiên hơn là Sư Bà cho biết có khá nhiều ni cô gốc Nha trang đang tu ở chùa này, trong đó có con gái của ông chủ tiệm ảnh nổi tiếng một thời ở đường Phan Bội Châu mà ngày xưa tôi cùng đám bạn bè thường đến để chụp ảnh, con gái một bà chủ tiệm vàng trước Grande Pharmacie, và một vài ni cô nữa. Bà còn bảo thật là tội nghiệp, có vài cô đã gặp bao nhiêu nghịch cảnh thương tâm trên biển Đông, chồng chết con chết, chỉ còn lại một mình. Ban đầu Bà đưa về chùa cưu mang, rồi sau đó các cô xin được xuống tóc qui y luôn. Sư Bà mời chúng tôi ở lại dùng cơm chay cùng với Bà, nhân tiện bà giới thiệu với mấy ni cô gốc Nha Trang cho biết, bởi tôi cũng là một phật tử thuần thành.
Tôi theo ông anh bà chị xuống bếp phụ dọn cơm. Nhưng ông anh ngăn lại :
– Chú là người lạ, không nên vào bếp. Hôm nay chú thím là khách của Sư Bà mà.

Ngồi dọc theo chiếc bàn dài, gồm các ni cô và một vài phật tử, chỉ có chúng tôi là “dân sự”. Sư Bà giới thiệu chúng tôi là đồng hương, những phật tử đến từ tận Bắc Âu. Tôi vừa đứng lên chấp hai tay trước ngực, bỗng bất ngờ bắt gặp đôi mắt thật to, tròn xoe của một ni cô ngồi ở phía cuối bàn. Ni cô cũng vừa nhìn tôi rồi cúi xuống. Đôi mắt đó với tôi có một cái gì thần giao cách cảm. Đúng. Trên thế gian này chỉ có Tiểu Thơ mới có đôi mắt ấy mà thôi
Dùng cơm xong, là đến giờ nghỉ trưa của Sư Bà. Chúng tôi cám ơn Sư Bà và xin được cúng dường một số hiện kim để trùng tu chánh điện.
Tôi từ giã Sư Bà, trong lúc mắt nhìn quanh như muốn tìm kiếm một điều gì. Nhưng tất cả chỉ có im lặng, ngoài tiếng chuông chùa ngân nga như chẳng bao giờ muốn tan đi trong không gian bao la vô tận.

Tôi bước ra khỏi cổng chùa. Chùa nằm trên một khu đất bằng phằng, nhưng sao tôi có cảm giác như mình đang lững thững bước xuống chân đồi. Tôi hình dung đến Ngọc vừa chia tay “chú tiểu” Lan lần cuối cùng ở chùa Long Giáng trong Hồn Bươm Mơ Tiên của nhà văn Khái Hưng, mà ngày xưa Tiểu Thơ đã bắt tôi phải kể đi kể lại bao nhiêu lần.


phạmtínanninh