Wednesday, August 26, 2026

Ngày Con Tìm Thấy Hồ Sơ Của Cha - Phạm Sơn Liêm


 Emily sinh ở California.

Tên khai sinh là Emily Nguyễn.

Nhưng ở nhà, cha vẫn gọi con bằng một cái tên rất Việt:

— Con Bé.

Nó lớn lên như bao đứa trẻ Mỹ khác. Nói tiếng Anh nhiều hơn tiếng Việt. Thích hamburger hơn phở. Thích Giáng Sinh vì được mở quà, chứ không biết Tết là gì ngoài vài tờ tiền đỏ.

Nó chưa bao giờ thích mặc áo dài. Mỗi lần mẹ lấy áo ra bảo:

— Mặc đi con. Đẹp lắm.

Emily chỉ nhăn mặt.

— Mom… it’s weird.

Đến những buổi văn nghệ cộng đồng người Việt, cha mở nhạc lính cũ.

Tiếng hát vang lên:

“Anh không chết đâu anh…”

Emily đeo tai nghe.

— Dad… can you play something normal?

Người cha chỉ lặng lẽ tắt nhạc.

Ông chưa bao giờ giận. Ông hiểu. Con mình sinh ở nước Mỹ. Nó không có ký ức của cha.

Trong phòng làm việc, có một chiếc hộp gỗ cũ. Emily chưa bao giờ mở. Cha cũng chưa bao giờ kể. Chỉ biết trên nắp hộp có lá cờ vàng ba sọc đỏ đã bạc màu.

Ba mươi tuổi. Một lần công ty tổ chức chương trình tìm hiểu gia phả và lịch sử gia đình.

Mọi người kể về ông nội đánh trận Normandy. Có người khoe tổ tiên từng là cao bồi Texas.

Emily chợt nhận ra… Mình chẳng biết gì về cha. Ngoài việc ông rất ít nói.

Tối hôm ấy, cô lên NET.

Gõ vài dòng:

“Vietnam War military records.”

Rồi lần theo hướng dẫn đến hồ sơ lưu trữ tại National Archives.

Cô điền tên cha. Ngày sinh.

Số quân. Chỉ nghĩ thử cho vui.

Vài tuần sau. Một phong bì dày được gửi đến.

Emily mở ra. Trong đó là những bản sao đã úa màu.

Phiếu quân dịch.

Lệnh nhập ngũ.

Bảng thuyên chuyển.

Giấy khen.

Bản ghi đơn vị.

Và…

Một tờ giấy ghi ngắn ngủi:

“Captured after April 30, 1975. Later released.”

Emily chết lặng.

“Captured…”

Cha chưa bao giờ nói mình từng là tù nhân.

Cô đọc tiếp. Một dòng khác:

Service Branch: Army of the Republic of Vietnam.

Đơn vị.

Cấp bậc.

Những địa danh xa lạ.

Khe Sanh.

Kontum.

An Lộc.

Quảng Trị.

Những nơi cô chưa từng nghe.

Đêm đó. Emily không ngủ.

Lần đầu tiên trong đời, cô mở YouTube.

Tìm:

“Nhạc lính Việt Nam Cộng Hòa.”

Tiếng nhạc vang lên. Không hiểu sao… Cô khóc.

Hôm sau. Emily về thăm cha.

Ông đã già. Mái tóc trắng gần hết. Đang ngồi tưới mấy chậu lan sau nhà.

Emily đặt tập hồ sơ xuống bàn.

Ông nhìn thấy con dấu National Archives. Bàn tay ông run lên.

Ông hỏi rất khẽ:

— Con… tìm cái này ở đâu?

— Con xin từ National Archives.

Ông im lặng thật lâu. Rồi nhẹ nhàng vuốt từng tờ giấy. Như vuốt lại tuổi trẻ của chính mình.

Emily ngồi xuống.

Lần đầu tiên sau ba mươi năm, cô hỏi cha:

— Ba… hồi đó ba sợ không?

Ông cười.

Nụ cười buồn.

— Có chứ.

— Sao ba chưa bao giờ kể?

Ông nhìn con gái.

— Vì ba muốn con lớn lên là một người Mỹ hạnh phúc… chứ không phải lớn lên bằng những vết thương của ba.

Emily bật khóc.

— Nhưng con là con của ba…

Ông cũng khóc. Hai cha con ngồi im. Không ai nói thêm.

Mấy tháng sau. Đại hội văn hóa Việt.

Mọi người bất ngờ thấy một cô gái Mỹ gốc Việt bước lên sân khấu. Mái tóc đen.

Chiếc áo dài màu trắng.

Dáng đi còn hơi vụng. Nhưng rất đẹp.

Người cha ngồi hàng ghế cuối. Ông không chớp mắt.

Emily cầm micro.

Nói bằng tiếng Việt còn chưa tròn:

“Con… xin dành bài hát này… cho ba… Và… cho tất cả những người cha… chưa bao giờ kể hết câu chuyện của mình.”

Tiếng nhạc lính cất lên.

Lần này…

Người khóc trước không phải người cha. Mà là đứa con gái sinh ra trên đất Mỹ.

Cuối cùng, nó đã hiểu rằng…

Có những di sản không nằm trong tiền bạc.

Không nằm trong ngôn ngữ.

Cũng không nằm trong màu da.

Mà nằm trong những hy sinh âm thầm của một người cha.

Và đôi khi… Chỉ cần mở một tập hồ sơ cũ trong National Archives…

Là có thể tìm lại cả một quê hương.

Phạm Sơn Liêm.

Emily sinh ở California.

Tên khai sinh là Emily Nguyễn.

Nhưng ở nhà, cha vẫn gọi con bằng một cái tên rất Việt:

— Con Bé.

Nó lớn lên như bao đứa trẻ Mỹ khác. Nói tiếng Anh nhiều hơn tiếng Việt. Thích hamburger hơn phở. Thích Giáng Sinh vì được mở quà, chứ không biết Tết là gì ngoài vài tờ tiền đỏ.

Nó chưa bao giờ thích mặc áo dài. Mỗi lần mẹ lấy áo ra bảo:

— Mặc đi con. Đẹp lắm.

Emily chỉ nhăn mặt.

— Mom… it’s weird.

Đến những buổi văn nghệ cộng đồng người Việt, cha mở nhạc lính cũ.

Tiếng hát vang lên:

“Anh không chết đâu anh…”

Emily đeo tai nghe.

— Dad… can you play something normal?

Người cha chỉ lặng lẽ tắt nhạc.

Ông chưa bao giờ giận. Ông hiểu. Con mình sinh ở nước Mỹ. Nó không có ký ức của cha.

Trong phòng làm việc, có một chiếc hộp gỗ cũ. Emily chưa bao giờ mở. Cha cũng chưa bao giờ kể. Chỉ biết trên nắp hộp có lá cờ vàng ba sọc đỏ đã bạc màu.

Ba mươi tuổi. Một lần công ty tổ chức chương trình tìm hiểu gia phả và lịch sử gia đình.

Mọi người kể về ông nội đánh trận Normandy. Có người khoe tổ tiên từng là cao bồi Texas.

Emily chợt nhận ra… Mình chẳng biết gì về cha. Ngoài việc ông rất ít nói.

Tối hôm ấy, cô lên NET.

Gõ vài dòng:

“Vietnam War military records.”

Rồi lần theo hướng dẫn đến hồ sơ lưu trữ tại National Archives.

Cô điền tên cha. Ngày sinh.

Số quân. Chỉ nghĩ thử cho vui.

Vài tuần sau. Một phong bì dày được gửi đến.

Emily mở ra. Trong đó là những bản sao đã úa màu.

Phiếu quân dịch.

Lệnh nhập ngũ.

Bảng thuyên chuyển.

Giấy khen.

Bản ghi đơn vị.

Và…

Một tờ giấy ghi ngắn ngủi:

“Captured after April 30, 1975. Later released.”

Emily chết lặng.

“Captured…”

Cha chưa bao giờ nói mình từng là tù nhân.

Cô đọc tiếp. Một dòng khác:

Đơn vị.

Cấp bậc.

Những địa danh xa lạ.

Khe Sanh.

Kontum.

An Lộc.

Quảng Trị.

Những nơi cô chưa từng nghe.

Đêm đó. Emily không ngủ.

Lần đầu tiên trong đời, cô mở YouTube.

Tìm:

“Nhạc lính Việt Nam Cộng Hòa.”

Tiếng nhạc vang lên. Không hiểu sao… Cô khóc.

Hôm sau. Emily về thăm cha.

Ông đã già. Mái tóc trắng gần hết. Đang ngồi tưới mấy chậu lan sau nhà.

Emily đặt tập hồ sơ xuống bàn.

Ông nhìn thấy con dấu National Archives. Bàn tay ông run lên.

Ông hỏi rất khẽ:

— Con… tìm cái này ở đâu?

— Con xin từ National Archives.

Ông im lặng thật lâu. Rồi nhẹ nhàng vuốt từng tờ giấy. Như vuốt lại tuổi trẻ của chính mình.

Emily ngồi xuống.

Lần đầu tiên sau ba mươi năm, cô hỏi cha:

— Ba… hồi đó ba sợ không?

Ông cười.

Nụ cười buồn.

— Có chứ.

— Sao ba chưa bao giờ kể?

Ông nhìn con gái.

— Vì ba muốn con lớn lên là một người Mỹ hạnh phúc… chứ không phải lớn lên bằng những vết thương của ba.

Emily bật khóc.

— Nhưng con là con của ba…

Ông cũng khóc. Hai cha con ngồi im. Không ai nói thêm.

Mấy tháng sau. Đại hội văn hóa Việt.

Mọi người bất ngờ thấy một cô gái Mỹ gốc Việt bước lên sân khấu. Mái tóc đen.

Chiếc áo dài màu trắng.

Dáng đi còn hơi vụng. Nhưng rất đẹp.

Người cha ngồi hàng ghế cuối. Ông không chớp mắt.

Emily cầm micro.

Nói bằng tiếng Việt còn chưa tròn:

“Con… xin dành bài hát này… cho ba… Và… cho tất cả những người cha… chưa bao giờ kể hết câu chuyện của mình.”

Tiếng nhạc lính cất lên.

Lần này…

Người khóc trước không phải người cha. Mà là đứa con gái sinh ra trên đất Mỹ.

Cuối cùng, nó đã hiểu rằng…

Có những di sản không nằm trong tiền bạc.

Không nằm trong ngôn ngữ.

Mà nằm trong những hy sinh âm thầm của một người cha.

Là có thể tìm lại cả một quê hương.

 

Phạm Sơn Liêm

Liem Pham - NGÀY CON TÌM THẤY HỒ SƠ CỦA CHA Emily sinh ở... | Facebook

Why?


 

Huỳnh Chiếu Đẳng Quán ven đường

Tuesday, August 25, 2026

Mẹ Tôi, Những Nải Chuối, Và Người Sĩ Quan Quân Đội Mỹ - Lưu An Vũ Ngọc Ruẩn



Viết dành riêng cho mẹ dịp lễ Vu lan

Mẹ tôi là một người rất biết tính toán trong việc chi tiêu nhưng với số tiền lương ít ỏi của bố tôi – Trung sĩ quân đội VNCH vào những năm của thập niên 60, 70 tại Sài Gòn.

Với món tiền lương hàng tháng của bố tôi không thể nào trang trải cho cuộc sống dù ở mức tối thiểu cho một gia đình với bảy đứa con đang tuổi ăn học, mà ông nội tôi lại bệnh ốm rề rề.

Trong khó khăn, thiếu thốn triền miên đó, mẹ tôi nhờ một người quen biết chỉ dẫn lên chợ Cầu Ông Lãnh lấy chuối từ các vựa rồi đem về bán lẻ trên lề đường chung quanh chợ Chí Hoà, gần nơi gia đình tôi sinh sống.


Trong suốt hơn 12 năm tần tảo bán buôn kiếm sống đó, mẹ con chúng tôi có biết bao nhiêu chuyện vui, chuyện buồn để nhớ, để kể lại cho cho con cháu, bạn bè, họ hàng nghe vào những lúc thư nhàn. Một dạng thức tìm vui, hoài nhớ về quá khứ nhọc mệt, thấm ướt mồ hôi, nhưng đôi lần vẫn có những niềm vui rất đẹp, đáng nhớ từ những giao tiếp với những người mà mình quen biết trong công việc.

Tôi còn nhớ vào khoảng năm 1967, khi tôi vừa bước vào đại học được vài năm, mẹ tôi vẫn còn bán chuối ở trước cửa tiệm vàng Đồng Vinh và tiệm gạo Thanh Sơn trên đường Tô Hiến Thành, đối diện mặt trước của chợ Chí Hoà. Sau này, khi chợ mở rộng hơn, mặt chính của chợ được chuyển sang phía đường Lê Văn Duyệt (Cách Mạng Tháng 8 ngày nay), mẹ tôi cũng chuyển việc buôn bán đến hướng này, sát bên hộp thư bưu điện ở góc chợ.

Thời gian mà mẹ tôi còn bán chuối tại đường Tô Hiến Thành, chúng tôi đã có một kỷ niệm đáng nhớ với một người khách mua chuối khá đặc biệt và tốt bụng. Ông ta là sĩ quan, cấp đại uý trong quân đội Mỹ mà chúng tôi hoàn toàn không biết tên. Câu chuyện giao tiếp buôn bán chuối giữa ông và mẹ con chúng tôi rất đơn giản, có tí chút buồn cười nhưng lại ghi sâu vào tâm khảm của chúng tôi một cảm giác rất xúc động.

Sau này, vào những lúc nhàn rỗi chúng tôi lại có dịp nhắc lại cho nhau nghe về ông khách mua chuối thân thiện, dễ mến đó với những nụ cười thích thú. Đến nay, câu chuyện thấm đậm tình người đó, dù đã đi vào vào dĩ vãng rất lâu nhưng chúng tôi vẫn không quên.

Đúng như vậy, đã gần 50 năm rồi, thời cuộc đã đổi thay rất nhiều, con người và cuộc sống của gia đình chúng tôi (và chắc chắn cả với người sĩ quan Hoa kỳ mua chuối tốt lòng đó ) cũng đã trải qua biết bao nhiêu dâu bể!  Tôi không biết người sĩ quan Mỹ đó ra sao, còn hay mất, nhưng mẹ tôi thì đã mất từ lâu ! Còn tôi, người sinh viên với cái vốn Anh ngữ nghèo nàn nhưng đã làm cho ông cảm động, thì nay vẫn hiện diện trong nhân gian dưới bóng dáng lụ khụ của một ông già mái tóc bạc màu xấp xỉ 80!

Dù thời gian đã được đẩy quá sâu vào dĩ vãng nhưng tôi vẫn còn nhớ như in về câu chuyện đơn sơ, nhưng đậm sắc tình người, hôm nay ngồi viết ra như một ký ức đẹp của mình.


Buổi tối hôm đó, khi tôi từ trường học về nhà, vừa dựng xong chiếc xe, chưa kịp bước qua ngưỡng cửa, mẹ tôi, với khuôn mặt vui mừng, lấy trong túi ra một tờ giấy bạc 1 dollar Mỹ, đưa tận tay tôi và nói:

- Con thử xem có phải là tiền Mỹ hay không?  Bà Sáu bán rau bên cạnh cho biết nó có giá gấp cả trăm đồng tiền VN đó! Không biết có thật như lời bà ta nói không nhỉ?

Tôi cầm tờ giấy bạc, lật qua lật lại xem, với chút ngạc nhiên, tôi hỏi mẹ:

- Một dollar, nhưng ở đâu mà mẹ có vậy? Con cũng không biết chính xác nó giá bao nhiêu, nhưng có lẽ trên thị trường chợ đen nó khoảng hơn 400 đồng thì phải? (tôi chỉ nhớ mang máng nhờ vài người bạn đi du học cho biết !)

Mẹ cầm lại tờ giấy bạc trên tay tôi, xoay qua, xoay lại ra vẻ tò mò khi biết về giá trị của nó rồi chậm rãi nói với tôi:

- Đúng là mình bán cho người ta mắc quá! Với tờ giấy bạc này, chính ra mẹ phải đưa cho người ta 10 nải chuối mới đúng!

Cuối cùng qua lời kể của mẹ, tôi mới hiểu rõ sự việc. Sáng hôm đó vào khoảng gần trưa, thình lình có một người lính Mỹ, lái chiếc xe dip dừng ngay trước thảm bán chuối của mẹ. Ông ta vẫn ngồi trên tay lái, đưa tay chỉ vào những nải chuối của mẹ tôi bầy trên tấm bạt ở lề đường, nói với mẹ tôi câu gì đó mà mẹ tôi hoàn toàn không hiểu. Nhưng mẹ tôi đoán biết là ông ta muốn mua chuối. Có lẽ vì sợ hay ngượng ngùng vì chưa bao giờ tiếp xúc với người ngoại quốc nên mẹ tôi cũng chỉ ngước mắt nhìn ông ta, lắc đầu không hiểu! Hình như cảm thông với vẻ “ngớ ngẩn“ của bà bán hàng nhà quê, ông Mỹ bước xuống xe, đưa tay chỉ trỏ rồi cầm lấy một nải chuối to và đẹp nhất trên thảm chuối, rồi móc túi đưa cho mẹ tôi một tờ tiền Mỹ.


Dù biết là ông ta trả tiền cho nải chuối, nhưng mẹ tôi cũng chẳng biết giá trị tờ giấy bạc mà ông ta đưa cho mình là bao nhiêu, có chính xác hay có thể tiêu dùng được không! Mẹ tôi nhìn ông Mỹ, với tí chút đắn đo rồi lắc đầu ra vẻ không hiểu, đưa trả lại ông ta tờ giấy bạc và nói (dĩ nhiên bằng tiếng Việt):

- Tôi không biết gì về đồng tiền này. Ông có tiền Việt Nam không trả cho tôi đi!

Dĩ nhiên ông Mỹ cũng chẳng hiểu mẹ tôi nói gì ! Có lẽ ông ta tưởng mẹ tôi không muốn bán. Với tí chút lưỡng lự, hơi chau mày, ông ta đang định bỏ nải chuối xuống không mua nữa. Đúng lúc đó bà Sáu bán rau bên cạnh nói to với mẹ tôi:

- Tờ tiền Mỹ đó, giá trị gấp cả trăm tiền Việt Nam, lời nhiều như vậy mà bà không bán cho người ta còn chờ gì nữa hả?!

Nghe bà bạn nói, mẹ tôi yên tâm không còn nghi ngờ đắn đo gì nữa, cầm lại tờ giấy bạc rồi gật đầu lia lịa, miệng lập đi lập lại những câu cảm ơn (dĩ nhiên bằng tiếng Việt !). Ông Mỹ quay nhìn bà Sáu ra vẻ cám ơn rồi có vẻ thích thú vì chuyện mua bán đã xong. Trước khi xách nải chuối quay ra xe, ông ta còn gật đầu nói với mẹ tôi một tràng tiếng Mỹ mà mẹ tôi cũng chỉ ngơ ngác nhìn theo cho đến khi chiếc xe lăn bánh.

Câu chuyện bán nải chuối giá gấp cả chục lần cho ông lính Mỹ (mẹ tôi thường nói về ông ta như vậy mỗi khi nhắc đến chuyện buôn bán này với gia đình, anh em chúng tôi) chỉ có vậy, nó sẽ qua đi như với hàng ngàn người khách mua chuối khác, chẳng có gì để nhớ.


Nhưng khoảng 3 ngày sau, buổi tối khi tôi đi học về, lại với vẻ vui mừng, mẹ đưa cho tôi xem một tờ tiền Mỹ, nhưng lần này không phải là 1 tờ đôla mà là tờ 2 đôla! Với chút ngạc nhiên tôi nhìn mẹ, hỏi:

- Ông Mỹ lại đến mua chuối của mẹ nữa phải không? Có lẽ lần này ông ta mua tất cả lô chuối của mẹ nên mới trả cho mẹ tới 2 đôla, đúng không?

Với giọng nói nhè nhẹ hơi buồn, mang theo cảm giác ân hận, mẹ ngập ngừng nói với tôi:

- Nếu ông ta lấy cả hàng chuối của mẹ, có lẽ mẹ đỡ áy náy hơn! Đằng này ông ta cũng chỉ xách lấy có một nải rồi quay ra xe! Mẹ cũng đâu có biết tờ giấy bạc ông ta đưa cho mẹ là một hay hai, nhưng thấy kỳ kỳ vì lần trước đã bán cho người ta quá mắc nên mẹ vội vàng xách lấy 3 nải chuối nữa đem ra tận xe dúi vào tay ông ta. Ông ta xua tay nhất định không chịu nhận, miệng cười cười và nói một tràng tiếng Mỹ… Mẹ chẳng hiểu mô tê gì cả!

Tôi vội ngắt lời mẹ:

- Chắc người ta thấy mẹ đem cả đống chuối lên chiếc xe, quá sợ mà từ chối đó. Theo con, nếu mẹ chỉ mang cho ông ta thêm một nải, có lẽ ông ta sẽ vui lòng mà nhận đó.

Nghe tôi nói vậy mẹ vội vàng ngắt lời:

- Đúng! Con nói đúng! Khi thấy mẹ đang định bỏ cả 3 nải chuối vào xe, ông ta chỉ cầm lấy một nải rồi xua tay lia lịa và nói một tràng tiếng Mỹ. Mẹ không hiểu nhưng cũng đoán ông ta cám ơn và chỉ vui lòng nhận thêm một nải mà thôi. Khi ông ta lái xe đi, bà Sáu xem lại tờ giấy bạc và cho mẹ biết đó là tờ 2 đôla, chứ không phài là 1 đôla như lần trước.

Nói xong, mẹ thở dài ra vẻ áy náy vì bán cho người ta quá mắc:

- Đồng tiền Mỹ có giá trị to thật! 2 đôla, tính ra hơn 800 đồng Vietnam, có lẽ người ta mua được cả xe ba gác chuối mới đúng!

Mẹ chép miệng, buông một câu:

- Tội nghiệp ông ta thật, chẳng biết lương tháng có bao nhiều mà tiêu hoang phí như vậy nhỉ?

Nghe mẹ nói, tôi cười to vì vẻ thật thà đến nỗi ngờ nghệch đáng thương của mẹ. Tôi nói:

- Mẹ ơi! Mẹ nghĩ vớ vẩn rồi! Một tháng lương của ông ta có thể mua được một căn nhà khang trang ở Vietnam chứ nói gì đến cái đống chuối “cỏ rác“ của mẹ . Thôi, chuyện đó xin mẹ khỏi lo cho mệt! Họ trả tiền cho mẹ thì mẹ cứ lấy, nói với người ta vài lời cám ơn thế là xong! Rắc rối, lo buồn làm gì cho khổ hả mẹ?!

Rồi, suốt gần hai tháng trời sau đó, cứ cách khoảng ba, bốn ngày, mỗi buổi chiều tối khi đi học về nhà, tôi lại được nghe được những câu chuyện vui bán chuối cho ông lính Mỹ của mẹ tôi.

Việc mua bán đã trở nên quen thuộc và trôi chảy. Ông lính Mỹ chẳng cần phải chỉ chỏ gì vào đống chuối của mẹ tôi như lần đầu tiên, nhưng ông vẫn nhận được 2 nải chuối to nhất, ngon nhất mà mẹ đã lựa chọn, để riêng ra, không bán cho ai từ “núi“ chuối của mẹ. Đã thế hai nải chuối còn được mẹ tôi thắt dây lạt vào cuống để dễ dàng mang xách mà không lo bị nhựa chuối dính vào tay. Còn mẹ tôi thì cũng hả hê, không thắc mắc khi nhận từ tay ông ta tờ giấy 2 đồng tiền Mỹ rồi cúi đầu nói vài câu cám ơn (dĩ nhiên bằng tiếng Việt). Ông lính Mỹ, đưa tiền, nhận 2 nải chuối, cũng chẳng cần biết người bán nói gì. Nhưng lần nào cũng vậy, ông ta cũng xả ra một tràng tiếng Mỹ kèm theo nụ cười thích thú, dù biết chắc chắn người đối diện cũng mù tịt, chẳng hiểu mình nói gì! Tóm lại giữa mẹ tôi – người bán và ông lính Mỹ, – người mua, ai nói thì người ấy nghe nhưng mọi việc “giao dịch“ vẫn trôi chảy trong vui vẻ!


Rồi một hôm khác, vào buổi chiều, tôi được nghỉ học 2 giờ sau cùng vì giáo sư bận không đến dạy học. Việc thi cử cuối năm cũng tạm xong, không biết làm gì nên tôi đạp xe tạt vào chỗ mẹ bán hàng coi có gì để giúp đỡ. Từ xa tôi nhìn thấy một chiếc xe díp đậu bên đường trước chỗ bán chuối của mẹ. Một người quân nhân Mỹ to lớn và một người lính Việt nam, hai người đứng đối diện với mẹ tôi, hình như đang có điều gì chưa thông suốt giữ mẹ tôi và họ thì phải?  Khi tôi vừa đến, chưa kịp dựng chiếc xe. Nhìn thấy tôi, mẹ mừng ra mặt, trong tay mẹ cầm tờ giấy 20  đôla đưa ra phía tôi, mẹ chau mắt phân bua:

- Con đến đây mau giúp mẹ một tí! Qua chú thông ngôn này thì hình như ông Mỹ sẽ phải đi xa, hôm nay ông ta không mua chuối mà đến từ giã mẹ mà ông ta còn cho mẹ món tiền quá to này. Mẹ thấy kỳ cục quá nên không muốn nhận!

- Nghe mẹ tôi nói, người thông dịch viên quay ra nhìn tôi và hỏi mẹ:

- Đó là con trai của thím sao?

- Vâng , con trai lớn của tôi đó, cháu nó đang là sinh viên .

Người thông dịch quay sang người Mỹ nói với ông ta điều gì đó, rồi bước đến gần tôi, anh nói:

- Anh là thông dịch viên cho ông đại úy Mỹ này, người mà mấy tháng qua vẫn đến mua chuối của mẹ em. Ông ta rất quý mến sư ngay ngắn, chân thật của mẹ em, hôm nay ông ta đến đây cùng với anh không phải để mua chuối mà muốn từ giã mẹ em và tặng bà tí chút tiền làm quà. Sáng sớm ngày mai ông ta sẽ phải rời Sài Gòn ra miền Trung công tác. Chắc ông ta không còn dịp trở lại đây mua chuối của mẹ em như mấy tháng vừa rồi nữa. Anh đã nói rõ lý do với mẹ em, nhưng hình như bà vẫn áy náy và không muốn nhận món quà của ông ta.

Nói xong anh thông dịch hơi nhíu mày với tí lưỡng lự nhìn tôi, anh ta hỏi:

- Em là sinh viên, chắc cũng nói được tí chút tiếng Anh phải không ? Nếu được em cứ nói trực tiếp với ông ta vài câu cám ơn cho thân tình là được.

Chẳng cần câu trả lời của tôi, anh ta quay sang người sĩ quan Mỹ nói một tràng, tôi cố lắng nghe nhưng có lẽ âm thanh quá nhẹ và nhanh nên gần như chẳng biết anh ta nói gì! Nhưng tôi đoán anh ta đang giới thiệu về tôi với vị sĩ quan Mỹ.

Người sĩ quan Mỹ hướng về tôi gật đầu rồi thân thiện, bước đến gần tôi, ông ta nói rất rõ ràng và chậm rãi:

- Em là sinh viên hả? Có thể nói tiếng Anh với tôi được không?

Tôi hiểu rất chính xác lời nói của ông ta vì là những câu nói quá đơn sơ, căn bản nên trả lời:

- Vâng tôi đang là sinh viên của đại học Sài Gòn. Tôi sẽ cố gắng nếu ông nói chậm và không dùng những chữ khó! 

Người sĩ quan Mỹ, giơ tay vỗ nhẹ vai tôi, tỏ ra rất vui mừng nghe câu đối thoại rất sách vở của tôi:

- Thế là quá tốt rồi! Hôm nay tôi đến đây để giã biệt mẹ của em và muốn tặng bà tí tiền làm quà. Bà là một người rất tốt, rất chân thật đã làm tôi cảm động trong những lần tôi mua chuối của bà vừa qua. Ngày mai tôi sẽ rời xa Sài Gòn, không biết trong tương lai còn có dịp trở lại đây mua chuối của bà nữa hay không.

Nghe ông ta nói, tôi không dấu được cảm động với những lời tốt đẹp mà ông dành cho mẹ tôi. Dù vốn Anh ngữ yếu kém nhưng tôi cũng cố gắng nói những câu rất đơn giản diễn tả sự cảm ơn và áy náy của mẹ tôi trong suốt thời gian qua vì đã bán cho ông những nải chuối với giá đắt, gấp 10 lần giá thực của nó! Tôi cũng không quên nói cho ông nghe cái lẩm cẩm nực cười của mẹ tôi khi bà lo lắng cho sự hao hụt tiền lương của ông, chỉ vì sự hào phóng mà ông đã trả cho mẹ tôi mỗi khi mua chuối! Tôi có cảm tưởng, người sĩ quan Mỹ nghe những câu tiếng Anh vỡ bể của tôi, ông có chút thẫn thờ, cảm động khi nghe tôi nói những điều mà ông ta không bao giờ ngờ được. Với vẻ vui tươi lộ rõ trên khuôn mặt, ông Mỹ lại đưa tay lên vỗ nhẹ vài cái lên vai tôi, gật gù, chậm rãi nói:

- Em có một bà mẹ tuyệt vời! Một bà mẹ rất chân thật và đầy lòng nhân ái. Hãy biết thương yêu me nhé.

Tôi cám ơn ông ta, rồi quay sang mẹ, tôi lược thảo sơ sài sự việc cho mẹ tôi hiểu. Mẹ tôi cúi xuống xách lên hai nải chuối đã cột dây từ trước, ân cần đưa tận tay ông Mỹ. Nhưng ông ta xua tay, có ý không nhận và quay sang người thông dịch nói một tràng, xong quay sang mẹ tôi, anh nói:

- Ông ấy cám ơn thím rất nhiều, ngày mai ông ta phải đi miền Trung rất sớm nên không thể nhận món quà của thím được. Ông ta quý mến lòng ngay thẳng và chân tình của thím trong suốt hai tháng qua, hôm nay ông ta dành thời gian đến đây từ giã thím với tí tiền nhỏ nhoi giúp đỡ thím mà thôi. Thím cứ vui vẻ nhận cho người ta vui rồi nhờ cháu trai nói trực tiếp với ông ta vài lời cám ơn thế là họ vui lắm rồi.

Nói xong với mẹ tôi, người thông dịch quay sang vị sĩ quan Mỹ phân bua điều gì đó rồi đưa mắt nhìn tôi ra vẻ chờ đợi sự can đảm của tôi. Hiểu ý, tôi đến trước mặt người sĩ quan, cúi nhẹ đầu và cố gò nắn vài câu tiếng Anh rất căn bản diễn tả sự cảm ơn của mẹ con chúng tôi với lòng tốt và rất thân thiện của ông ta. Vị sĩ quan lại vỗ nhẹ lên vai tôi ra chiều thân thiết, chậm rãi ông ta nói:

- Chẳng có gì để đáng để nói đến chữ cám ơn cả. Em hãy chăm chỉ học hành và luôn luôn nhớ rằng em đang hạnh phúc vì có một người mẹ tuyệt vời đó .

Nói xong ông ta giơ ngón tay cái hướng lên trên trời, lắc lắc nhẹ. Khuôn mặt vui tươi gật gù ra chiều rất vui và vừa lòng với cuộc gặp mặt hôm nay. Rồi ông ta cùng với người thông dịch viên vẫy tay từ giã chúng tôi quay ra chỗ xe đậu. Mẹ con chúng tôi vẫn chưa hết ngơ ngác, đưa mắt nhìn theo họ đến khi cả hai người ngồi lên xe rời xa.

Có lẽ mọi chuyện đã chấm dứt khi chiếc xe của họ lăn bánh. Nhưng qua cánh cửa của chiếc xe díp quân sự, tôi thấy hai người họ không khởi động máy xe mà quay lại trao đổi với nhau điều gì đó. Khoảng vài ba phút sau, người thông dịch viên bỏ tay lái bước ra khỏi xe, tươi cười tiến gần đến chỗ mẹ con chúng tôi đang đứng, cầm một tờ giấy 50 đôla, đưa cho tôi và nói:

- Ông đại uý rất quý mến em, nên có chút quà tặng riêng cho em đó .

Ngạc nhiên đến thẫn thờ! Tôi bước lùi lại phía sau, đưa tay lên lắc nhẹ ra ý không dám nhận và nói với người thông dịch viên:

- Không! Không! Em không dám nhận và cũng chẳng có lý do nào nhận món quà quá lớn của ông ta cả. Với món quà 20 Dollars mà ông ta cho mẹ em đã là quá đủ, quá to, đã làm cho mẹ con em cảm động lắm rồi!

- Em à, với món quà năm, bẩy chục đôla chẳng có gì to lớn đối với người ta đâu. Em đừng có lo cho rắc rối. Hãy …..

Không để cho anh thông dịch viên nói tiếp, tôi lắc bàn tay, nhíu mắt nhìn người thông dịch viên, tôi ngắt lời anh:

- Với 70 đôla mà anh nói là không lớn sao? Anh có biết với món tiền đó, đổi ra tiền Việt, gia đình em có thể sống được mấy tháng trời! Nó nhiều hơn ba lần tháng lương trung sĩ của bố em trong quân đội đó!

Nghe tôi nói, người thông dịch viên có chút ngẩn ngơ. Anh ta quay sang người đại úy Mỹ nói một tràng. Ông sĩ quan Mỹ xuống xe và đến chỗ chúng tôi lúc nào mà tôi không biết. Khả năng Anh ngữ èo ọt của tôi không đủ cho tôi hiểu chính xác họ nói gì với nhau. Nhưng nhìn dạng điệu của hai người lúc nói chuyện, tôi đoán là người thông ngôn đã thông dịch trọn vẹn lý do từ chối của tôi cho ông Mỹ nghe. Có lẽ sự so sánh quá thực tế, pha chút chua cay của tôi giữa món tiền 70 đôla và đồng lương của bố tôi đã làm cho ông sĩ quan Mỹ cảm xúc, ngẩn ngơ. Ông chau mày chuyển mắt sang nhìn mẹ con chúng tôi với ánh nhìn khác lạ! Rồi hai người lại quay lại nói chuyện với nhau. Tôi cũng chẳng hiểu họ nói gì vì âm thanh quá nhanh và nhẹ. Cuối cùng, anh thông dịch viên quay sang chúng tôi với lời nói rất chậm rãi, rõ ràng:

- Ông đại uý rất cảm động và ngạc nhiên vì sự ngay thẳng và tự trọng của thím và chú em. Ông ta cho biết, với món tiền bé nhỏ đó chẳng là gì với ông ta cả. Nhưng ông ta biết chắc chắn sự giúp đỡ cho mẹ con thím là sự tiêu dùng rất chính đáng, không nhầm lẫn. Không những thế, nó còn mang đến cho ông ta một niềm vui, đó là ông ta vừa tìm thêm được một người Việt Nam mà ông ta qúi mến. Ông ta hứa nếu có dịp về Sài Gòn, ông sẽ tìm đến gặp và thăm mẹ con thím.


Nói xong người thông dịch viên thân thiện nắm nhẹ tay tôi, nói:

- Thôi vui vẻ nhận quà của người ta đi, đừng lằng nhằng làm mất thời gian và làm buồn lòng người ta nữa!

Nói xong anh nhét vội tờ giấy bạc và túi áo của tôi. Chẳng để ý đến thái độ ngẩn ngơ của chúng tôi, rồi hai người cùng lên xe, mở máy và chiếc xe lăn bánh.

Đúng như vậy, nhiều năm sau đó, mẹ tôi vẫn bán chuối ở đó, nhưng người sĩ quan Mỹ không bao giờ đến mua chuối của mẹ tôi nữa. Đôi khi trong những lúc rảnh rỗi khi ngồi chờ đợi lấy chưối ở chợ Cầu Ông Lãnh hay gặp những ngày chợ ế, không có người mua, tôi và mẹ vẫn thường nhắc đến người sĩ quan Mỹ tốt bụng đó.

Chúng tôi luôn cầu mong sự an toàn và may mắn đến với ông ta. Nhất là vào những thời điểm mà cuộc chiến tranh Việt Nam sôi động với những chiến trận kinh hoàng như Khe Sanh ( 1968), Mậu Thân ( 1968), Hạ Lào (1971 ) hay Mùa hè đỏ lửa, Cổ thành Quảng Trị (1972)…


Cuối cùng thì cuộc chiến tranh cũng chấm dứt vào Tháng Tư 1975. Khi đó tôi đã tốt nghiệp đại học, rồi được tuyển dụng đi dậy học tại đại học Cần Thơ. Rồi cũng như những người thanh niên khác, thời loạn tôi phải vào quân đội, tôi tưởng rằng cuộc đời của mình sẽ bước vào vòng xoáy của máu đạn, chiến tranh. Nhưng vị thần may mắn đã mỉm cười kéo tôi ra khỏi vũng lầy của binh đao, mà còn hơn thế nữa, tôi được sang Nhật bản tu nghiệp trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Rồi cũng với những âm vang mềm mại vui ca đó, thượng đế vẫn dành cho tôi để tôi chuyển đến Thuỵ Sĩ lập nghiệp trong tràn đầy  hạnh phúc…

Mẹ tôi, ở quê nhà với khoảng bốn, năm năm, sau năm 1975, lúc Việt Nam vẫn còn bập bềnh trong đói nghèo, khó khăn, mẹ tôi lại phải trôi nổi kiếm ăn và vĩnh viễn ra đi vì bệnh tật!

Cuộc sống của tôi tại Thuỵ Sĩ được an định dần dần theo năm tháng. Tất cả mọi chuyện của đời tôi xảy ra rất hoàn thiện, không một tí khó khăn. Việt Nam vẫn là nơi chốn tôi tìm về thăm viếng hàng năm.

Tôi về Việt nam để sống lại, để nhìn lại nơi chốn ngày xưa mà tôi đã được sinh ra trong bom đạn, trong đói nghèo, khốn cùng! Tôi trở về vì nơi đó vẫn còn tồn trữ biết bao nhiêu hoài nhớ của thời thủa ấu thơ cực nhọc cũng như thời trai trẻ hung hăng, đầy ước vọng, mong tiến lên phá bung cái định mệnh không may của chính tôi và gia đình. Đúng như vậy, tôi có quá nhiều lý do để tìm về Việt Nam, nơi chốn mà tôi có rất nhiều kỷ niệm vui buồn. Tôi trở về chỉ để thăm viếng, nhìn lại quê hương mến yêu, nơi tôi có quá nhiều buồn vui thế mà thôi.

Đến ngày nay dù đã là một ông lão đầu bạc trắng lụ khụ với thời gian, tuổi tác, tôi vẫn còn cố gắng tìm về Việt Nam với tờ vé máy bay hạng bét. Khoác cái ba lô bạc rạc, đơn sơ đi khắp mọi nơi ngắm nhìn trời, non, nước…. để nhìn lại quê hương muôn đời kỷ niệm yêu thương mà tôi không bao giờ muốn quên. Đúng như vậy, dù chỉ còn tí chút sức khoẻ và đầu óc minh mẫn tối thiểu, tôi vẫn về, vì chỉ nơi đó – Việt Nam cố quốc, mới cho tôi có được những luồng hơi ấm của hoài niệm đầy rẫy thương yêu.


Đôi lần về Việt Nam, tôi cũng dành thời gian chậm rãi đi thăm lại con đường Tô hiến Thành, Lê Văn Duyệt… là nơi chốn ngày xưa, mẹ và tôi đã từng thấm ướt mồ hôi, bụi đường với những nải chuối mới cắt còn bầy nhầy nhựa xanh. Mẹ con chúng tôi bầy bán trên lề đường, mục đích chỉ mong có được vài đồng bạc nhỏ nhoi cung ứng cho sự sống của gia đình chúng tôi ngày đó. Cứ mỗi lần trở lại nơi còn ghi đậm dấu tích xa xưa cực nhọc đó, hình ảnh người đại uý Hoa Kỳ tốt bụng lại trở về trong trí nhớ của tôi. Đôi khi tôi tự hỏi, không biết vì một lý do nào đó, ngày chiến tranh chưa chấm dứt, ông không trở lại thăm chúng tôi như đã hứa lúc chia tay. Nhưng tôi (và có lẽ cả mẹ tôi nữa) vẫn cầu mong ông ta có được bình yên trở về Mỹ để sống với gia đình, vợ con hay cha mẹ của ông ta sau khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Ông không đến thăm chúng tôi, có lẽ chỉ vì không thuận lợi hay vì một bận rộn nào đó mà quên đi lời hứa hẹn bâng quơ. Đó cũng chẳng có gì đáng trách.

Đi xa hơn nữa trong tưởng tượng, tôi lại nghĩ đến sự giao thương thân cận của Mỹ và Việt Nam hiện tại, tôi hình dung ra cảnh người sĩ quan Hoa Kỳ tốt bụng ngày xưa đó, với mái đầu bạc trắng, theo đoàn cựu chiến binh Hoa Kỳ đến viếng thăm Việt Nam. Ông mong được nhìn lại những dấu tích, địa danh của cuộc chiến tranh kinh hoàng mà ông đã cống hiến cho nó gần hết tuổi trẻ của mình.

Rồi cũng trong cuộc du hành đó, biết đâu ông ta đã dành tí chút thời gian đi lại con đường Tô Hiến Thành để nhớ lại mẹ con người phụ nữ bán chuối rất chân thật nhiều chục năm về trước. Người phụ nữ quê mùa bán chuối xa xưa đó, bà đã bao lần dành riêng cho ông những nải chuối ngon nhất. Chính sự thân thiện, thật thà của mẹ con người đàn bà bán chuối lúc chia tay đó đã ghi sâu vào ký ức ông cảm giác nồng ấm mà họ đã dành cho ông.


Rồi một lần, có dịp sang Mỹ công tác, tôi dành thời gian đi thăm viếng “Đài tưởng niệm tử sĩ trong chiến tranh Vietnam“( Vietnam Veterans Memorial) tại trung tâm thủ đô Washington DC.

Đứng trước phiến đá vĩ đại mầu đen khắc tên của gần 60 ngàn quân nhân Mỹ tử trận trong chiến tranh Việt Nam, dù không biết tên người sĩ quan tốt bụng, quen biết thoáng qua của hơn 40 năm về trước, nhưng tôi vẫn đưa mắt chậm rãi rà soát danh sách trên phiến đá. Tôi cầu mong không có tên ông trên đó. Nhưng không biết tại sao, ngay lúc đó mắt tôi như bị lòa, tim đập mạnh trong lòng tôi phát sinh một cảm giác là lạ. Một cảm giác hình như pha trộn sự buồn đau và thương nhớ, nó làm cho tôi thờ thẫn không vui vì tôi có linh cảm người sĩ quan Hoa Kỳ đó đã không may trong cuộc chiến.

Trong tâm trạng lạ kỳ đó, tự nhiên tôi buông tiếng thở dài với câu nói rất nhẹ: God Bless You! Thượng Đế ban phước lành cho ông!


Zürich, September 2015

Lưu An Vũ Ngọc Ruẩn

Nàng Thơ Tự Tình - Nguyễn Duy Phước

Túi Bạc Sài Gòn - Phạm Công Luận


Một buổi chiều ở những năm của thập niên 1930 trước cuộc khủng hoảng kinh tế, có những anh thanh niên mới chân ướt chân ráo từ miền Bắc hay miền Trung vào Sài Gòn. Các anh chưa kiếm ra việc làm, thỉnh thoảng ra đứng hóng gió trên bến Nhà Rồng hay Lăng-tô vùng Khánh Hội, do người Pháp gọi trại chữ Láng Thọ. Tuy chỉ để tha thẩn cho mát người, các anh có thể sẽ gặp một anh “cặp-rằng” cai rủ đi làm việc trên tầu. Nếu anh từ chối vì không có sổ bìa xanh (livret marin indigenes), người cai sẽ năn nỉ mời anh ta cứ đi cho “đủ đầu người”, chuyến sau sẽ lấy sổ cho.

Những năm đó, các ông chủ xưởng ở Sài Gòn, Gia Định hay Chợ Lớn thường phải nhờ người tìm thợ ở ngoài Bắc đưa vào làm cho mình. Giữa các tiệm có sự giành giật thợ của nhau. Khi thợ từ miền Bắc đi tàu vào, có những ông chủ phải thân chinh đem xe hơi ra tận bến tàu đón thợ. Trong nghề làm thuê làm mướn ở Sài Gòn, thợ thuyền rất được biệt đãi vì thợ ở Sài Gòn thời đó hiếm.

túi bạc Sài Gòn


Cho đến những người phu xe kéo cũng được coi là có giá. Phần nhiều họ là dân nghèo ở Quảng Bình vào Nam. Họ kiếm ăn rất phát đạt, hàng năm gửi bạc trăm về nhà. Khi gặp những lần tàu ngoại quốc đến cảng, các phu xe trở nên no đủ. Mấy chiếc tàu của Hoa Kỳ ghé bến Sài Gòn, những người lính thủy bảnh bao trả năm đồng bạc tiền xe, còn cho thêm phu xe năm đồng nữa để ăn cơm vì phải gác đê mất nửa giờ.


Đó là vài câu chuyện kể trong cuốn “Túi bạc Sài Gòn” của một ký giả gốc miền Bắc, Vũ Xuân Tự, viết về đời sống xã hội thành phố này trước năm 1945.

Buổi sáng cuối năm ở Sài Gòn, dậy sớm uống ly cà phê pha chút sữa đặc hiệu Ông Thọ như cha anh hồi xưa, tôi đọc cuốn sách xưa này mà như xem lại cuốn phim phong tục cũ kỹ nhưng đầy hào hứng. Giống như tâm trạng bao người Sài Gòn, càng lúc càng đông, luôn cảm thấy “Ở Sài Gòn mà nhớ Sài Gòn”, tôi nhớ hoài những hình bóng cũ dù mình chưa bao giờ thấy, những cung cách sống cũ mình chỉ nghe kể, nhưng chúng giúp tôi vượt thoát khỏi tâm trạng đang sống trong một thành phố của tuổi thơ ngày càng không nhận ra vì mức độ xô bồ, ô nhiễm của nó. 

Trên đất nước Việt này, từ trăm năm trước, nơi đâu còn tạo chút hy vọng trong cuộc sống cùng quẫn hoặc bị o ép ngay nơi quê hương mình, chính là Sài Gòn. Ở đó, trừ khi có chiến tranh hay bị chính sách kìm hãm, việc làm ăn luôn phát triển, giới chủ sản xuất hay kinh doanh luôn cần nhân công, ai có nghề chuyên môn càng được quý, nên có nhiều chỗ làm ăn cạnh tranh nhau để thu hút thợ giỏi bằng cách trả lương cao. Nhờ vậy, tuy làm công ăn lương, người thợ không bị coi nhẹ, hưởng lương cao hơn vùng khác, nhiều nơi không dám bạc đãi, vì bạc đãi là thợ bỏ đi, có nơi khác hứng ngay.


Nhà nghiên cứu Lý Lược Tam lúc còn sống kể với tôi rằng phở từ miền Bắc đi theo các phu cao su gốc Bắc vào Nam làm nghề trồng cao su ở các đồn điền miền Đông. Khi bị người Pháp ở vùng đó đàn áp truy lùng để bắt buộc trở về cố hương, những người này trốn về Sài Gòn. Họ thấy nơi này dễ sống, dễ trà trộn, dễ hòa nhập mà không bị kỳ thị nếu thật thà lương thiện, dễ kiếm sống nếu có thể mở được một cái quán nhỏ bình dân đủ bày bán một món ăn mới ở trong một con hẻm, như hẻm Casino. Từ đó, món phở Bắc được chấp nhận và dễ dàng bắt rễ trên thành phố này.

Sài Gòn dễ ở khó về,

Giai đi có vợ gái về có con.

Vũ Xuân Tự dẫn câu ca dao trên, rồi lý giải: “Có rất nhiều người mưu sinh lâu năm ở Sài Gòn nhất là dân nghèo bỏ đi xứ khác làm ăn nhưng chẳng bao lâu lại phải quay về. Vì người ta đã quen thở cái không khí Sài Gòn nó dễ chịu hơn; sự mưu sinh thích hợp với cảnh ngộ hơn. Nếu bạn nghèo và thất nghiệp, bạn sẽ thấy thế rõ rệt lắm”. 

Tôi đọc tiếp: “Người đời có hai cái lo nhất: đói và rét. Ở đây, người ta chỉ phải phấn đấu với cái đói thôi. Người ta khỏi lo cái rét vì quanh năm nóng nực – tuy vậy đêm khuya vẫn có gió biển hơi lành lạnh thường phải đắp chăn đơn. Hơn nữa, dân chúng không hề chú trọng đến cái mặc quá. Có lắm kẻ, bề ngoài trông xuềnh xoàng mà trong túi rất nhiều tiền”.

túi bạc Sài Gòn


Tác giả kể một câu chuyện, phảng phất những câu chuyện do vài tác giả khác kể về sự coi thường vẻ bề ngoài xuề xòa của người thành phố này:

Một ông lão nhà quê vào xem và hỏi giá mấy chiếc ô-tô trong một hãng xe hơi ở Sài Gòn. Trong bộ quần áo cũ kỹ của ông ta, người thư ký bán hàng vừa đáp vừa có ý khinh khi: “Năm trăm một cái đấy, ông mua không?” ông lão lấy ngay ra một tập giấy “săng” và nhất định đòi mua chiếc xe ấy cho bằng được. Sau người chủ hãng phải xin lỗi mãi mới thôi. Rồi ông ta cũng thuận mua cho một cái xe sáu ngàn giả tiền ngay. Bài học ấy, đã khiến nhiều kẻ không dám vội xét người ở y phục. 

Ít nhất tôi đã đọc hai lần khác về chuyện người Sài Gòn đi mua hàng hóa cao cấp với bề ngoài xuề xòa và ban đầu bị coi thường. Một chuyện của nhà văn Thiếu Sơn và của một tác giả người Pháp. Điều rút ra là ở Sài Gòn trước hết không nên đánh giá bề ngoài, sau nữa quan trọng hơn, là người mới nhập cư không cần phải lo nếu anh không có bộ cánh đàng hoàng. Hãy cư xử tốt, lương thiện sẽ được tin cậy vì ở Sài Gòn “chiếc áo không làm nên thầy tu”.

Đến cái ăn ở. Ăn uống rất dễ dàng. Có bao nhiêu ăn bấy nhiêu, hoàn toàn theo ý muốn và túi tiền. Người ta không vì bộ cánh mà phải ăn uống bất đắc dĩ. Với lối bán hàng “nghe chửi lấy tiền” của khách trú (người Hoa), người ta có thể thản nhiên vào hiệu, chỉ ăn bát “cháo trắng” một xu. Còn cái ở thì tối đâu là nhà, ngã đâu là giường. Bạn đi chơi khuya về, sợ gọi cửa động đến giấc ngủ của hàng xóm thì bạn cứ ra ghế xanh mà thiu thiu. Gió đêm đã mát, giời đêm không sương, còn cái gì phiền nhiễu nữa!

Trong Sài Gòn, chỉ đắt đỏ về nhân công, hàng hóa so với các nơi khác nhiều thứ lại rẻ hơn. Ví dụ: giá gạo hạ hơn ngoài Hà Nội nhưng một khi thổi chín thì giá cơm lại đắt hơn cơm Hà Nội. Nhờ vậy người nghèo nếu chịu khó làm lụng là có tiền.

túi bạc Sài Gòn

Điều này khuyến khích người ta làm việc, ý thức công lao động là giá trị. Cho nên sức lực làm ra tiền và trí tuệ cũng làm ra tiền. Người dân bình thường ở Sài Gòn nhận ra công thức kiếm tiền như vậy và ai muốn kiếm nhiều hơn phải lo rèn luyện tay nghề hay phải học hành để có chuyên môn cao. Nếp nghĩ ấy đủ cho họ an tâm tránh xa chốn quan trường đầy nguy cơ tha hóa để kiếm tiền.

Dân chúng lại biết giữ gìn giá trị sinh hoạt. Một “xu nhỏ” là ít nhất, chỉ tiêu được một lần. Ngoài Bắc, một xu tiêu được sáu lần. Khi Sài Gòn mới có đồng nửa xu, dân chúng tiêu xài có ý miễn cưỡng. Các quán trà Huế thường bán một xu một bát nước và một quả chuối hay điếu thuốc là tùy ý. Có kẻ hà tiện uống bát nước không ăn chuối, giả nửa xu. Người bán hàng không chịu và vẫn giữ theo lệ cũ. Thành ra nhà nước phát hành đồng nửa xu, dân chúng vẫn không tiêu được món gì dưới một xu.


Người ta làm ra tiền tương dối dễ nên xài tiền rộng hơn. Đó là phần chừa lại cho người nhập cư ban đầu kiếm sống. Sống trong cảnh dù giầu, dù nghèo cũng sáng cà phê, trưa “nhậm sà” tối nước đá, hỏi ai không nhớ tiếc Sài Gòn, một khi đến xứ khác kiếm đồng tiền phải gay go chật vật.

 

Phạm Công Luận

Phạm Công Luận là tác giả của bộ sách “Sài Gòn – Chuyện đời của phố” hiện đã xuất bản đến phần V. Từng trang sách về Sài Gòn của ông như chuyến du hành ngược dòng thời gian, đưa độc giả về những nẻo đường Sài Gòn xưa. Đọc sách của ông mới thấm thía rằng những câu chuyện về Sài Gòn xưa sẽ chẳng bao giờ cạn kiệt. Mời độc giả tìm đọc bộ sách tại đây.

 

Theo Facebook Sài Gòn – Chuyện đời của phố

Bài đã đăng trên báo Trẻ với bút danh Phạm Đăng Thuyên

Monday, August 24, 2026

Hai Màu Hoa Vu Lan - Trầm Vân

Le Maitre D'école Magnifique


 Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình 

Tiếng Đàn Sau Cánh Cửa Cũ


“Vào đi!”, tiếng người đàn ông trầm đục cất lên sαu cάпh cửα.

Cô rón rén bước vào. Giữα căn ρhòng rộng được bài trí khá cầu kỳ và sαng trọng, một người đàn ông ngồi trên chiếc ghế tựα bọc nhung đỏ, đầu hơi cúi xuống vẻ mệt mỏi. Thoạt nhìn, dưới ánh sáng vàng ấm tỏα rα từ cây đèn trong góc, cô vẫn nhận thấy nơi đây vẻ lạnh lẽo, u buồn.


Lúc đặt chân đến trước ngôi biệt thự, cô nhìn lên những ô cửα đóng im ỉm, rèm ρhủ kín bưng, đến gió cũng chẳng buồn lαy động, những ô kính đã mờ đục vì bụi bám và tò vò làm tổ, đùn lên một vệt như mối.

Quαnh nhà cây cối bαo ρhủ um tùm, mùi rêu dậy trên những mảng tường đá, hồ nước đen ngòm ở góc vườn rêu đã ρhủ xαnh những hòn đá cuội, bức tượng đứng giữα hồ cũng bong tróc loαng lổ. Nhìn quα, ngỡ như ngôi biệt thự bị bỏ hoαng nếu không có tiếng nước róc rách chảy rα từ hồ cá trong vườn.


Tần ngần một lúc cô mới rụt rè bấm chuông, cάпh cổng bật mở, một người đàn bà trung niên trong bộ đồ thun tuềnh toàng, có lẽ là người giúρ việc, vồn vã mời cô vào nhà.

Bà dắt cô đi quα một khu vườn rộng, giữα vườn bức tượng vị thần Cuρid đứng im lìm với cάпh cung đã gãy, cây cối trong vườn ҳάc xơ như không được chăm sóc từ lâu lắm rồi. Đến bên cầu thαng gỗ dẫn lên lầu, người đàn bà bảo cô:

“Ông chủ ở tầng hαi, cô đi hết hành lαng đến ρhòng cuối cùng”. Nói rồi bà vội quαy đi. Cô chậm rãi leo lên từng bậc cầu thαng le lói chút ánh sáng từ ô kính bên trên, những bậc cầu thαng gỗ đã mòn vẹt, gót giày cô dù cố nhón vẫn ρhát rα tiếng cồm cộρ khuấy động cả không giαn im ắng.

“Chào ông!”, cô lên tiếng. Người đàn ông ngẩng lên, đôi mày hơi cαu lại hướng về ρhíα cô cái nhìn vẻ nghi ngại. 

 

Cô đứng yên như ρhỗng, có chút hối hận vì đã đến nơi này, kinh nghiệm sαu bα năm đi dạy đàn cho cô thấy, mỗi khi nhận dạy cho các cô cậu con nhà giàu, cô luôn ρhải chịu áρ lực bởi sự đỏng đảnh, thiếu kiên trì củα những người bạn nhỏ.

Người đàn ông sαu một thoáng nghi ngại, đứng lên chầm chậm đi về ρhíα cô, đôi chân run run như người mới ốm dậy. Lúc này cô mới nhận rα đó là một ông cụ chừng tám mươi, mớ tóc bạc rủ xuống trán, đôi môi hiền hậu mấρ máy như định nói gì. Ông chỉ chiếc ghế đối diện mời cô ngồi, mấy ngón tαy gầy khe khẽ miết lên bộ lông chú mèo đen nằm bên cạnh.

“Cô dạy đàn đã lâu chưα?”, ông cất giọng khàn khàn.

“Vâng, cũng được bα năm rồi”, cô lí nhí trả lời.

“Vậy tốt rồi, từ cuối tuần này cô có thể đến đây làm việc, nhưng cô không cần ρhải dạy đàn”, ông yên lặng nhìn cô vẻ thăm dò.

“Là sαo, thưα ông?”.

“Nghĩα là, thαy vì đến đây dạy đàn, cô chỉ việc ngồi ở cây đàn kiα và đàn những bản nhạc có trong quyển tậρ”, ông đưα tαy chỉ về ρhíα cây đàn ρiαno cũ kỹ kê sάϮ tường.

“Cháu đàn cho ông nghe ạ?!”, cô hỏi, có chút hào hứng khi nhận rα ở ông cụ có điều gì khá thú vị.

“Không! Tôi cần cô đàn cho con gáι tôi nghe”.

Có ρhần bất ngờ, cô yên lặng hồi lâu rồi dè dặt hỏi: “Vậy… chị ấy…”. Cô lúng túng chưα biết ρhải hỏi thế nào, ông cụ đã ngắt lời.

“Không, con gáι tôi còn bé lắm, mới lên chín!”, ông nhìn cô, tiα mắt ánh lên vẻ hóm hỉnh và ấm áρ lạ thường. Thấy cô còn ngơ ngác chưα hiểu ông nói tiếρ: “Cô cứ đến đây một tuần hαi buổi tối như tôi đã đăng thông tin trên báo.

Và đàn. Còn tiền lương, tôi sẽ trả cαo gấρ bα lần mức lương cô vẫn dạy”. Ông cụ nói, đầu lại gục xuống như lúc cô mới bước vào. Ngỡ ngàng vì những điều ông cụ vừα nói, cô yên lặng.


Đâu đây tiếng chuông nhà thờ vọng lại, cô nhận rα, có một ngôi nhà thờ cổ kính và cũng khá lâu đời ở gần đây, tiếng chuông đổ từng hồi vαng lên trong buổi chiều âm u, khiến cô thấy lành lạnh. Cô đứng lên xin ρhéρ rα về, hẹn tuần sαu Ьắt đầu làm việc.

Người đàn bà đợi sẵn ở cửα, đưα cô đến căn ρhòng hôm trước. Cô nhαnh nhẹn đẩy cửα bước vào, không còn thấy ngần ngại như lần đầu.

“Đến giờ cô làm việc rồi, tôi đi đây!”, người đàn bà nhìn cô, nụ cười nhẹ nhõm khác hẳn với vẻ cục mịch bên ngoài.

“Nhưng… ông cụ đi đâu rồi ạ?”, cô nhìn quαnh căn ρhòng bật đèn sáng trưng.

“Sáng sớm nαy ông ấy có việc ρhải đi rồi, cuối năm mới về”, người đàn bà giải thích rồi quαy lại nói thêm: “Nếu ở nhà, ông ấy sẽ đàn cho con gáι nghe”.

“Vậy, cô bé đâu rồi ạ?!”, cô đi về ρhíα cây đàn, không để ý người đàn bà đã rα đến cửα.

“Cô thông cảm, ông chủ dặn cô hãy chơi những bản nhạc có trong quyển tậρ kiα”, bà chỉ quyển tậρ đαng ở trên kệ sách. “Và xin đừng hỏi gì về con gáι ông ấy. Cô hãy đàn! Cô bé ở trong căn ρhòng kiα sẽ nghe được”, người đàn bà chỉ căn ρhòng có cάпh cửα màu xαnh đαng đóng im ỉm rồi vội vàng quαy đi không cho cô kịρ hỏi thêm gì.


Cô ngẩn người, đứng sững giữα giαn ρhòng lộng lẫy. Sαu bα năm nhận dạy đàn tại giα, đây là lần đầu cô gặρ cảnh này, có chút gì bí ẩn và khó hiểu ở đây, nhưng với mức lương khá hậu hĩnh ông cụ đã cho người chuyển trước vào tài khoản khiến cô không có ý định thoái lui.

Cô lật tậρ nhạc, lướt quα từng cái tên: Lettre à Mα Mère, A Comme Amour, Fur Elise… toàn những bản cô yêu thích. Cô khẽ khàng chạm lên từng ρhím, những thαnh âm bật rα trong vắt nghe như những giọt mưα thánh thót rơi trên những tán lá non…

Cũng khá lâu rồi cô chỉ dạy đàn để mưu sinh, hôm nαy, cô lại được người tα trả một mức lương cαo ngất ngưởng, chỉ để chơi những bản nhạc cô yêu thích. Vậy có gì khiến cô băn khoăn, ngại ngần?

Bất giác cô nhìn về ρhíα căn ρhòng sαu cάпh cửα xαnh, một mớ câu hỏi trong đầu bật rα, bên cάпh cửα xαnh là ô kính buông rèm ρhủ kín nên cô không thể nhìn thấy gì, chỉ đoán già đoán non, có lẽ cô bé ở trong căn ρhòng đó đαu yếu hoặc mắc một căn Ьệпh hιểm пghèo nào đó, mà chỉ tiếng đàn mới có thể xoα dịu được cô bé chăng?

Ý nghĩ đó khiến cô thấy lòng xốn xαng, dậy lên nỗi tҺươпg cảm khi nhớ đến gương mặt hiền hậu củα ông cụ. Ông có được cô bé khi ở cái tuổi quá muộn màng, có lẽ ρhải có một ẩn khuất nào đó…

Cô ngồi vào đàn, bản Lettre à Mα Mère chầm chậm vαng lên rồi tuôn như thác. Bản nhạc cô yêu thích từ ngày còn bé, đã lâu rồi mới dạo lại, cô đắm chìm cho đến khi chuông đồng hồ trên tường điểm 9 giờ đêm.

Đứng lên đậy nắρ đàn, cô nhìn về ρhíα căn ρhòng có cάпh cửα xαnh, thầm thì: “Hết giờ rồi, chị ρhải về đây. Chúc em đêm αn lành!”. Cô khéρ cửα đi rα, xuống đến sân vườn người đàn bà đã đợi sẵn, bà gật đầu chào cô rồi khéρ cổng.


Đều đặn như thế, mỗi tuần hαi buổi cô đến ngôi biệt thự ấy và ngồi vào đàn. Người đàn bà cũng đã quen, bà mở cổng để cô tự lên căn ρhòng ấy. Điều lạ lùng, cô chơi đàn sαy sưα, chơi như thể chính mình đαng tận hưởng những giαi điệu tuyệt vời ấy, có lúc cô quên mất mình đαng làm việc và được trả công, lần nào khi tiếng chuông đồng hồ trên tường điểm 9 giờ cô mới tiếc rẻ đứng lên.

Đêm nαy, đôi tαy cô lại múα trên những ρhím đàn, bản A Comme Amour ngân lên du dương, cô khéρ mắt mường tượng gương mặt cô bé sαu cάпh cửα kiα đαng lắng nghe và nhoẻn miệng cười, gương mặt xinh xắn và u buồn cúi 

xuống khi cô hỏi: “Em có thích tiếng đàn củα chị không?”.

Khi những thαnh âm cuối cùng rơi xuống, cô dừng tαy nhìn rα ngoài cửα sổ. Đêm trong vắt, những vì sαo trên trời lóe lên rồi tắt lịm như chạy trốn, tiếng chuông nhà thờ lại đổ dồn. Nhìn đồng hồ hãy còn sớm, cô dạo rα bαn công hít thở mùi hoàng lαn từ mảnh vườn sαu xộc vào.

Meo… chú mèo mun đen trũi từ đâu ρhóc đến dụi đầu vào chân cô vẻ thân thiện, thoắt cái chú đã ρhóng đi, chiếc nơ đỏ buộc ở cổ cùng tiếng chuông leng leng mất hút sαu cάпh cửα xαnh.

Lúc này cô mới nhận rα bức rèm sαu ô cửα kính hé mở một khe rất nhỏ, có lẽ gió len vào khiến bức rèm lαy động. 

Không nén nổi tò mò, cô lại gần dán mắt nhìn quα ô kính, mong được nhìn thấy cô bé một lần.

Bên trong căn ρhòng sáng đèn, quầng sáng mờ mờ soi xuống từ cây đèn ngủ trong góc. Cô nhìn thấy chiếc giường đơn bằng gỗ mộc được chạm trổ tiпҺ xảo, gối chăn được xếρ ngαy ngắn trên tấm nệm trắng tiпҺ.

Đầu giường, bức chân dung đen trắng củα một cô bé chừng chín tuổi. Cô lặng người, ngơ ngẩn ngắm gương mặt đẹρ như trαnh. Tiếng chuông đồng hồ bỗng điểm 9 giờ đêm, cô vội vã lui rα, không quên nhìn bαo quát căn ρhòng.

Trong góc, một chiếc tủ gỗ được chạm trổ công ρhu, trên đó bày biện nhiều búρ bê và đồ chơi xinh xẻo, tất cả đều được bài trí gọn gàng và đẹρ đẽ nhưng tuyệt nhiên không một bóng người.

Ngoài bαn công có tiếng chân người đi lại, cô xuống đến cầu thαng đã thấy bà giúρ việc đứng đó như đã đợi. Bà nhìn cô với ánh mắt có chút nghi ngại. “Nαy cô về muộn vậy, hơn 9 giờ rồi?”. “Vâng!”. “Tôi nghe tiếng đàn dừng từ lúc nãy nên đi lên mαng cho cô ít trái cây”. Cô cảm ơn bà rồi vội vàng trở về.


Về đến ρhòng trọ cô nằm vật rα. Rốt cuộc là ngôi biệt thự đó αi đαng ở? Ngoài người đàn ông cô đã gặρ một lần, còn lại chỉ có bà giúρ việc trông coi nhà cửα. Có điều gì bí ẩn trong căn ρhòng ρhíα sαu cάпh cửα xαnh kiα?

Nếu cô bé bị ốm ρhải nằm liệt giường hαy mắc một căn Ьệпh bẩm sinh nào đó, thì căn ρhòng cũng ρhải có bóng dáng cô bé. Đằng này tuyệt nhiên không… Hàng loạt câu hỏi đặt rα trong đầu khiến cô quαy cuồng.

Đêm thứ bảy. Cô thoáng rùng mình khi nghĩ đến căn ρhòng không người sαu cάпh cửα xαnh. Cô quyết định ở nhà, đợi ông cụ trở về và xin ρhéρ thôi công việc đó, có chút áy náy nhưng cô vội xuα đi:

Mình đàn cũng có αi nghe đâu, chẳng hề có một cô bé nào trong căn ρhòng kiα cả, hơn nửα năm rồi, không có bóng dáng αi ngoài bà giúρ việc hồn hậu kiα. Cô nằm đọc sách nhưng không sαo tậρ trung được, những con chữ cứ nhảy múα trước mắt cô, chúng xô đẩy nhαu thành một hàng dài rồi bất thình lình xếρ thành hình gương mặt cô bé trong bức chân dung, vẫn gương mặt nhìn nghiêng nhưng ánh mắt buồn rầu như trách móc:

“Sαo đêm nαy chị không đến đàn cho em nghe nữα?!”. Cô bật dậy thαy quần áo, vội vàng lαo đến ngôi biệt thự, bên cάпh cổng người đàn bà đã đợi, nhìn thấy cô bà mừng rỡ: “Tưởng cô không đến, tôi lo quá!”.

Cô lαo lên cầu thαng, đến căn ρhòng cô đẩy cửα bước vào rồi ngồi xuống mở nắρ đàn. Đêm nαy bản Lettre à Mα Mère lại ngân lên dα diết. Cô khéρ mắt, cảm thấy như sαu cάпh cửα xαnh cô bé đαng cười.


Bản nhạc vừα dứt, cô tiếρ nối bản khác, những ngón tαy như tê dại. Cô quαy cuồng trong tiếng đàn củα mình cho đến khi chuông đồng hồ điểm 9 giờ. Cô xuống dưới nhà xin ρhéρ bà giúρ việc cho nán lại một lúc nữα.

Cô lại ngồi vào đàn chơi hết những bản sαu cùng rồi đứng lên dạo quαnh ρhòng. Trên giá sách, những tậρ nhạc xếρ lα liệt, cô loαy hoαy chọn một quyển khác để thαy cho quyển cũ đã đàn nhiều lần.

Cô rút tậρ nhạc bìα đỏ nằm trong cùng, theo sαu một quyển sổ màu xαnh rơi rα, cô cầm lên đặt nó lại vào giá sách. 

Quyển sổ được đóng bìα và bαo bọc cẩn thận, bên trong vài tấm ảnh chực rơi rα.

Linh cảm, cô không vội cất vào, mà giở rα. Trαng đầu, tấm hình đen trắng củα cô bé, cô nhận rα đó chính là tấm hình trong căn ρhòng kiα, bên dưới ghi dòng chữ Viết cho Tố Như củα bα! Có gì đó như nỗi tò mò thôi thúc, cô vội vàng lật những trαng sαu:

Ngày… tháng… năm…

Hôm nαy là một ngày tồi tệ nhất đời củα bα. Bác sĩ chính thức báo tin cho bα rằng, Ьệпh củα con ngày càng xấu đi. 

Bα và các y bác sĩ đã làm hết cách nhưng… Con gáι à! Bα không dám nghĩ đến điều đó nữα, nó thật sự ám ảnh với bα. Mẹ con đã rα đi vì căn Ьệпh ác nghiệt này, sαo nαy ông Trời lại đành đoạn tước nốt củα bα niềm hạnh ρhúc sαu cùng?!…

Cô nghe bàn tαy mình run lên, nhưng vẫn bình tĩnh lật thêm vài trαng nữα.

Ngày… tháng… năm…

Hôm nαy con đã ngồi dậy và ăn được một ít cháo, ăn xong con lại nằng nặc xin được chơi đàn. Vẫn là bản nhạc con yêu thích: Lettre à Mα Mère. Bα ngồi nghe mà ҳúc ᵭộпg vô biên…

Ngày… tháng… năm…

Hαi ngày nαy con không thể ngồi dậy được, dì Năm ρhải đút con từng thìα sữα. Thương con. Con cố ăn mà mắt cứ nhìn về ρhíα bα như chờ đợi, bα hiểu ý lại gần, nghe con thầm thì: Con không thể chơi đàn được nữα, nhưng con muốn được nghe bα đàn, con yêu tiếng đàn củα bα và yêu cây đàn ấy, vì nó là kỷ vật củα mẹ…

Ngày… tháng… năm…

Tố Như à! Bα không tin đó là sự thật… Không đời nào bα tin đó là sự thật!…

Quyển nhật ký rung lên trong tαy cô, khó khăn lắm cô mới đặt được nó vào vị trí cũ. Cô ôm mặt lặng đi. Trên tường, chuông đồng hồ điểm 10 giờ đêm. Nơi kiα, tiếng chuông nhà thờ cũng vọng lại đổ dồn.

Ngoài cửα sổ gió lùα vào từng cơn lạnh buốt. Cô với tαy khéρ cửα, đến bên cây đàn, đầu gục xuống, những ngón tαy khẽ chạm vào bàn ρhím. Yêu tҺươпg. Lạnh buốt. Ngỡ như lần đầu cô đặt chân đến nơi này. Ngẩng lên, cô nghe tim se thắt khi mắt chợt chạm vào cάпh cửα màu xαnh…


Cô ngồi vào đàn, trong vô thức, những ngón tαy lại lướt lên giαi điệu củα Lettre à Mα Mère. Tiếng đàn như từ cõi xα xưα vọng về trong tiếng đêm, nức nở…