Saturday, June 27, 2026

Những Người Không Đến Được Bờ - The Ones Who Didn't Land (Official) Lyrics - Vietlondon Music

Bắt Thèm Các Món Chè, Bánh Miền Quê - Thế Giới Của Sự Ngọt Ngào - Đặc Sản Miền Sông Nước

Dưỡng Già Tập Thể


Đầu năm 2025, 11 người phụ nữ ở tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc) quyết định cùng nhau thử nghiệm mô hình “dưỡng già tập thể”. Họ là những người bạn thân đã quen biết nhau hơn 30 năm. Vì không hài lòng với cách con cái chăm sóc hoặc cảm thấy cô đơn khi sống một mình, 11 người phụ nữ thuê chung một căn biệt thự ngoại ô để cùng nương tựa tuổi già.

Thế nhưng, giấc mơ “tuổi già quây quần” chỉ kéo dài vỏn vẹn 4 tháng. Những khác biệt trong thói quen sinh hoạt, khẩu vị, tiêu chuẩn vệ sinh và cách chi tiêu dần khiến tình bạn ba thập kỷ rạn nứt, để lại nhiều nuối tiếc và bài học đắt giá.

Nhóm phụ nữ tuổi từ 58 đến 68 tuổi, từng làm giáo viên, y tá, đầu bếp... Họ đều có một hoàn cảnh chung: con cái bận rộn, bản thân ngại cảnh cô quạnh. Trong một lần dạo chơi công viên, bà Vương Tú Lan nảy ra ý tưởng “dưỡng già tập thể” và được cả nhóm hưởng ứng.

Sau hai tháng chuẩn bị, họ thuê một căn biệt thự năm phòng ngủ có vườn nhỏ, giá 8.000 tệ/tháng (khoảng 30 triệu đồng), và thống nhất mỗi người góp 1.000 tệ (3,7 triệu đồng) để chia tiền thuê, điện nước và chi phí sinh hoạt. Trung bình mỗi người góp khoảng 2.000 NDT (7 triệu đồng). Bà Vương Tú Lan được chọn làm “quản gia trưởng”, phụ trách quản lý tài chính, xây dựng quy ước chung và phân công việc nhà.

Những ngày đầu dọn vào biệt thự, nhóm bạn già tràn đầy nhiệt huyết. Họ cùng nhau đi mua sắm đồ dùng sinh hoạt, trang trí phòng ốc, trồng rau và chăm hoa trong khu vườn nhỏ. Bà Trần Quế Hoa, là người có tay nghề nấu ăn khéo léo, tình nguyện đảm nhận việc bếp núc. Cô Chu nguyên là kế toán về hưu, phụ trách tài chính. Còn bà Triệu Mỹ Linh từng là y tá thì quản lý thuốc men. Tất cả cùng nhau chăm lo khu vườn mỗi ngày.

Buổi tối, cả nhóm quây quần bên bàn ăn, trò chuyện rôm rả rồi cùng xem phim. Tiếng cười nói vang khắp ngôi nhà, tạo nên khung cảnh ấm áp hiếm thấy. Nhiều hàng xóm còn xuýt xoa ngưỡng mộ, nói rằng: “Tuổi già mà vẫn có thể sống thoải mái, vui vẻ bên nhau như thế thật đáng quý.”

Thế nhưng, niềm vui chẳng kéo dài được bao lâu. Khi thời kỳ ngọt ngào qua đi, những mâu thuẫn đầu tiên bắt đầu xuất hiện.

Khi niềm vui nhường chỗ cho va chạm

Xung đột nảy sinh từ chính những thói quen sinh hoạt khác biệt. Bà Trương Phụng Quyên quen thức khuya, thường bật tivi và nghe radio đến tận nửa đêm, khiến bà Triệu Mỹ Linh vốn có thói quen đi ngủ sớm không thể nghỉ ngơi. Hai người vì vấn đề tiếng ồn mà nhiều lần to tiếng với nhau.

Bà Tôn lớn tuổi nhất nhóm lại thường xuyên thức dậy lúc nửa đêm, tiếng bước chân khiến người khác mất ngủ. Trong khi đó, tiếng máy đo đường huyết của bà Lưu mỗi sáng sớm cũng làm nhiều người khó chịu. Việc người thích mở cửa sổ đón gió, người sợ lạnh muốn đóng kín cũng trở thành đề tài cãi vã.

Tiếp đó là mâu thuẫn trong ăn uống. Bà Trần Quế Hoa nấu ăn đậm vị, trong khi bà Lý Thục Hoa bị cao huyết áp phải ăn nhạt, bà Hoàng bị đau dạ dày không ăn cay, còn bà Điền thì kiêng thịt heo. Khi bà Lý đề nghị bớt muối, bà Trần bực bội: “Ngày nào tôi cũng nấu, không thích thì tự làm mà ăn.”

Khác biệt trong tiêu chuẩn vệ sinh cũng khiến không khí ngột ngạt: có người cho rằng “sạch vừa đủ là được”, người khác lại yêu cầu “phải bóng loáng”. Những lời phàn nàn về việc lau chưa kỹ hay quét chưa sạch khiến ai cũng mệt mỏi.

Mâu thuẫn lớn nhất đến từ chuyện tiền. Khi chi tiêu tăng, ai cũng thấy bất công. Bà Lý Thục Hoa cho rằng tiền mua hoa quả không nên chia đều vì có người bị tiểu đường, người đang giảm cân không ăn, còn bà Trần Quế Hoa phản bác: “Thế người ăn nhiều hơn có phải trả thêm không?”

Đến cuối tháng, khi chốt sổ chi tiêu, căng thẳng bùng nổ. Bà Vương Tú Lan công bố khoản “mua thuốc cảm cho bà Trần” và “thuốc sát trùng của bà Triệu” từ quỹ chung, lập tức bị phản đối. Trong cơn giận, bà lấy ra sổ ghi chép tỉ mỉ: ai dùng bao nhiêu khăn giấy, ai tắm mấy lần mỗi ngày, khiến mọi người phẫn nộ.

Không ngờ, chính cuốn sổ ấy lại để lộ “bí mật tài chính” của bà: bà Lan đã rút 2.000 tệ (7,4 triệu đồng) từ quỹ chung để trừ tiền thuê nhà, đồng thời khai khống 200 tệ (740.000 đồng) tiền thuốc và 300 tệ (1,1 triệu đồng) tiền thực phẩm. Trước số tiền chênh lệch, bà Lan thú nhận, tiền đã được gửi cho con trai đang gặp khó khăn kinh tế.

Phát hiện này khiến toàn bộ niềm tin giữa các thành viên sụp đổ, đẩy nhóm bạn già từng gắn bó 30 năm vào khủng hoảng không thể cứu vãn.

Niềm tin đổ vỡ

Khi sự thật bị phơi bày, tình bạn giữa những chị em già hoàn toàn tan vỡ. Bà Lý Thục Hoa và bà Trương Phụng Quyên lập tức tuyên bố sẽ dọn đi, đồng thời yêu cầu bà Vương Tú Lan hoàn trả tiền đặt cọc cùng số tiền sinh hoạt còn dư, thậm chí còn đe dọa: “Nếu không trả, chúng tôi sẽ báo công an.”

Trong nước mắt, bà Vương cố gắng giải thích rằng mình chỉ muốn giúp con trai đang khó khăn xoay xở, dự định sẽ âm thầm hoàn trả sau. Nhưng lúc này, niềm tin giữa họ đã hoàn toàn sụp đổ.

Chỉ trong vài ngày, căn biệt thự từng tràn ngập tiếng cười bỗng trở nên vắng lặng. Người quay về nhà cũ, người tìm con cái, người vào viện dưỡng lão. Mô hình “dưỡng già tập thể” kết thúc trong buồn bã.

Cuối cùng, theo lời khuyên của con trai, bà Vương Tú Lan chuyển vào sống tại viện dưỡng lão. Nhắc lại cuộc thử nghiệm thất bại ấy, bà thừa nhận: “Chúng tôi đã quá lý tưởng, nghĩ rằng tình bạn có thể xóa nhòa mọi khác biệt, mà quên mất ai cũng có tính cách và thói quen riêng, ở lâu mới biết quá khó.”

Giờ đây, mỗi khi 11 người bạn cũ tình cờ gặp lại, giữa họ chỉ còn lại sự ngượng ngùng và xa cách. Ba mươi năm gắn bó, tình nghĩa tưởng chừng bền chặt cũng tan biến theo thời gian.

Cuộc thử nghiệm “dưỡng già tập thể” kéo dài chưa đầy bốn tháng ấy không chỉ không mang lại tuổi già hạnh phúc mà còn kết thúc bằng chia ly. Câu chuyện trở thành lời cảnh tỉnh cho nhiều người đang mơ về tuổi già quây quần: lý tưởng có thể đẹp, nhưng muốn cùng nhau đi đường dài, cần có quy tắc rõ ràng, sự thấu hiểu và bao dung. Nếu không, “tổ ấm xế chiều” rất dễ biến thành gánh nặng.


Theo Baidu

(1) Đầu năm 2025, 11 người phụ nữ ở tỉnh Hà... - Có thể bạn chưa biết? | Facebook

Ngô Quyền Đôi Tiếng Yêu Thương - Đỗ Công Luận

Lòng Bác Ái - Người Phương Nam


Hôm nay là ngày đổ rác. Tôi lôi trong tủ lạnh ra hai gói khô cá lù đù mua tuần rồi nói với ông xã:

       - Anh xách hai bọc khô này ra bỏ luôn dùm em đi, không dám ăn đâu.
Ông xã cầm hai gói khô hỏi: 
       - Sao bỏ đồ ăn tội vậy. Thì cứ để đó đi, bữa nào chiên ăn thử coi.
      - Thấy hơi sợ, không biết người ta tẩm ướp cái giống gì trong đó, hơn nữa tưởng tượng lúc người ta phơi, ruồi nhặng bu đen nghịt con cá sao thấy ớn quá. Mình mua là vì lòng bác ái, thấy người già cả tội nghiệp nên mới mua giúp chớ đâu phải muốn ăn. Chiên làm gì cho mắc công hôi nhà hôi cửa lại lo không hợp vệ sinh có hại cho sức khỏe. 
Nói tới đây, tôi sực nghĩ ra một cách tiêu thụ mấy con khô cho hữu ích để khỏi bỏ nên ngăn ông xã lại. 
Chợt nghĩ ra một cách tiêu thụ, tôi gọi giựt lại:
          - À mà thôi, khỏi bỏ, em mới sực nghĩ là thay vì bỏ thùng rác thì mình đem chôn dưới mấy gốc cây làm phân cho tốt cây cũng có lợi mà khỏi mang tội hoang phí thức ăn


Tuần rồi đi chợ, khi tôi từ trong một shop rau cải bước ra, một bà bác già nua ốm yếu quắt queo đứng trước cửa chìa hai gói cá khô ra mời mua. Bà nói:
     - Cô mua dùm tui gói khô đi cô. Cháu nó về VN đem qua cho tui 5 ký, nhiều qua ăn không hết, tui đem ra chia lại cho bà con kiếm chút tiền xài vặt cô à.  
Nhìn thấy mấy con khô nhỏ xíu như cá sặc bướm tôi hỏi bà:
      - Khô cá gì mà nhỏ xíu vậy bác, làm gì ăn? Không biết ngon không nữa.
      - Cô đem về rửa nước sôi rồi chiên lại cho dòn, ăn ngon lắm cô ơi! Cá này là cá lù đù, tui đã ăn rồi nhưng vì nhiều quá, một mình ăn không biết chừng nào mới hết. Sáng giờ tui bán được hai gói, còn hai gói này tui xách đi tới đi lui hoài không ai chịu mua.
Thấy tội nghiệp bà lão, tôi hỏi:
     - Một gói bao nhiêu vậy bác, ý con là bao nhiêu cân nặng và bao nhiêu tiền?
      - Dạ 7 đồng một gói, một gói nửa ký đó cô. 
Ông xã tôi xưa nay rất khoái khẩu các loại cá làm khô nhưng từ khi nghe nói thực phẩm VN bị ướp nhiều hóa chất độc hại, chúng tôi cố tránh tối đa. Tôi không muốn mua nhưng thấy tội nghiệp bà lão vì muốn có mấy đồng bạc mà phải đứng chợ sáng chợ trưa chào mời người qua kẻ lại nên chạnh lòng.
      - Vậy cho con một gói đi bác, lấy để đó chớ thiệt tình nghĩ tới bắc cái chảo lên chiên vài con khô sao thấy ngán quá.    
Thấy tôi dễ dãi, được nước bà kèo nài:
     - Hay là còn một gói, cô mua luôn đi. Một gói ít quá dễ gì ai chịu mua cho tui. Làm ơn đi cô.
Ông xã tôi cũng đốc vô:
      - Thôi kệ lấy luôn dùm cho bác đi em à. Nhiều nhỏi gì đâu.

Hai chúng tôi có một điểm tương đồng là thích giúp đỡ người chung quanh. Bà lão cần chút tìền, chúng tôi có thể cho tiền bà nhưng bà không xin thì có cho bà cũng không lấy. Bà chỉ muốn trao đổi sòng phẳng. Vậy thì điều chúng tôi làm được cho bà là mua giúp bà hai gói khô theo ý bà dù chúng tôi chỉ mua để đó rồi... bỏ chớ chưa chắc gì dám ăn. Không ăn thì cũng có thể cho người khác nhưng nghĩ mình đã sợ không an tòan mà đem cho người khác ăn thì chẳng khác nào đầu độc họ còn nặng tội hơn. Nếu tự người ta đi mua là chuyện khác. Thôi thà là bỏ cho khỏi áy náy lương tâm. 

Rốt cuộc tôi đã giải quyết được mấy con khô bằng cách dùng làm phân cho tốt tươi hoa lá, vừa không phí phạm, vừa bảo vệ sức khỏe cho gia đình theo ý.
 

  Người Phương Nam  

Vợ Tốt

V TT,

Lính thủy sưu tầm và chuyển

Vợ tốtimage_gallery.jpgVT

Kiếm…đâu..ra???

http://www.iheartthemart.com/wp-content/uploads/2013/04/Help-Wanted-Sign.jpg



Lính thủy sưu tầm

Đu Càng - Thiếu Khanh


Hôm nay, 30/4, tình cờ xem thấy trên điện thoại cái status của một người tên Nguyễn Thị Lưu Ly. Cái status ngắn ngủi chỉ có mấy chữ: “Ngày này 45 năm về trước bộ môn đu càng được sinh ra đời.”

Bên dưới kéo theo trên 170 comments chia làm hai phe, phe Đu Càng, và phe Chống Đu Càng, mắng chửi nhau. 

Trên thực tế, phe Đu Càng có lẽ chiếm đa số vì gồm toàn bọn miền Nam thất trận, trong khi phe ta chống bọn Đu Càng thuộc số ít, vì chỉ một số ít những người mới sinh sau năm 1975 như đồng chí Lưu Ly, dốt nát vì không chịu học hỏi rèn luyện lý luận chính trị nên mới còn tiếp tục nói chuyện ngu ngốc này. Chớ những người thông minh trong lực lương quân giải phóng ngày xưa đã sớm nhận ra nhiều vấn đề nên chẳng còn ai nói ngu như các đồng chí này cả.


Tôi rất thất vọng với đồng chí Nguyễn Thị Lưu Ly. Đồng chí quá đỗi tối tăm dốt nát không chịu nhận ra ý nghĩa của vấn đề. Đu Càng là gì? Bọn đu càng là ai? Đu Càng là ôm càng máy bay trực thăng, tức là ôm cái càng chân đáp của máy bay lên thẳng để hòng chạy trốn. Bọn đu càng là bọn VNCH, thất trận năm 1975. Ôm càng máy bay lên thẳng như thế có trốn thoát không? Không. Chắc chắn một trăm phần trăm là không. Khi máy bay lên cao, kẻ đu càng sẽ bị áp lực gió với tốc độ vài trăm cây số/giờ (tức tốc độ của máy bay) bứt ra khỏi càng máy bay, ném vào không trung; nếu không thì cũng sẽ chết vì lạnh, hoặc vì thiếu dưỡng khí để thở. Máy bay càng lên cao, nhiệt độ không khí càng giảm và lượng dưỡng khí trong không khí càng ít, rất khó thở có thể dẫn tới... buông tay, không thể nào còn sống sót được. Không một phần triệu nào hy vọng sống sót. 

Bọn đu càng biết chuyện đó không? Biết chớ. Chỉ những kẻ ngây ngô ưa nghe nổ như chúng ta mới tưởng máy bay lên thẳng của Mỹ là món đồ chơi như đồ chơi Trung quốc, mà người ngồi trong chiến hào vói tay ra là có thể dễ dàng quật ngã chúng, chớ người sống ở miền Nam ngày nào mà không trông thấy máy bay lên thẳng! Chỉ cần đứng gần máy bay trên mặt đất khi nó nổ máy cũng có thể bị gió từ cánh quạt xô ngã lăn như chơi. Người ngồi trong máy bay mà không buộc dây an toàn có thể bị gió thổi bay ra ngoài, sá gì chuyện đu đeo vào càng máy bay. 

Biết rõ một trăm phần trăm mất mạng mà tại sao họ vẫn ôm càng máy bay hòng chạy trốn? Ấy là vì họ quá sợ hãi và lâm vào tình thế tuyệt vọng, trong một tình thế mà chỉ một cọng rơm trên biển khơi họ cũng bám lấy, nói chi càng máy bay.

Nhưng họ sợ hãi điều gì và tại sao họ sợ hãi đến vậy? 

Con người khi đứng trước kẻ thù cũng là người thì họ không sợ hãi đến tuyệt vọng như thế đâu. Họ chỉ lâm vào tình trạng tuyệt vọng khi đứng trước các loài ác thú như hùm beo lang sói, hoặc khi đối diện với ác quỷ. Vì các loài đó không có nhân tính. Đối diện với chúng họ biết mình không còn đường sống sót, nếu không bị giết ngay thì cũng sẽ chết dần mòn vì bị ngược đãi, hành hạ cách này hay cách khác, cho nên họ đã hoảng hốt tìm đường chạy trốn. Đó là bản năng sinh tồn. Bởi vậy bọn phải “ôm càng,” nói chung là bọn trốn chạy trong tuyệt vọng thì không có gì phải nhục nhã với hành động trốn chạy của họ cả. Đó là hành động chính đáng. Mà cái gì chính đáng thì không có gì phải nhục.

Sự nhục nhã là thuộc về chúng ta, những người chiến thắng. Tôi phải nói rõ điều này để đồng chí Nguyễn Thị Lưu Ly và các đồng chí dư luận viên (dlv) của chúng ta thông suốt mà bớt ngu đi. Đừng để người ta cứ mãi gọi mình là bò. Là bò, dù đen hay đỏ thì vinh hiển gì cho tổ tiên?

Chúng ta là những người đi giải phóng miền Nam. Chúng ta đã hy sinh xương máu của hàng triệu người trai trẻ ưu tú của đất nước, chúng ta mang trên người chính nghĩa lẫm liệt sinh bắc tử nam, vượt trường sơn đi giải phóng đồng bào đang rên siết dưới sự kềm kẹp của đế quốc Mỹ và ngụy quân ngụy quyền, thì theo lý bình thường quân giải phóng đến đâu cũng phải được đồng bào gái trai già trẻ cả nước hăm hở lũ lượt mang cờ trống đèn quạt cơm nước ra chào mừng đón rước mới phải. Thế mà thực tế đã không phải vậy. Quân ta đi đến đâu, người dân bỏ chạy đến đó. Không chỉ những đứa có nợ máu với cách mạng mới bỏ chạy, mà ngay cả những người nghèo khổ trên răng dưới dép cũng bồng bế nhau chạy trốn. Họ chạy một cách tuyệt vọng như bọn đu càng mà các đồng chí nói đến. Như thế có nghĩa là, trước mắt họ, chúng ta là hùm beo lang sói, hay như bọn ác quỷ xổng ngục diêm vương. Phải vậy thì họ mới đu càng một cách tuyệt vọng như thế.


Nhưng đu càng chỉ có vài người thôi. Làm gì có được nhiều máy bay cho hàng triệu người bám đu càng! Người ta chạy bằng đủ phương tiện có được. Vào năm 1954, hàng triệu người được giải phóng ở miền Bắc đã bỏ nhà cửa mồ mã tổ tiên để chạy vào Nam mà ta nói rằng họ bị đế quốc Mỹ đưa tàu há mõm ra cưỡng ép họ vào Nam nên họ phải bồng bế nhau trốn lánh chính quyền nhân dân để đi theo đế quốc. Nếu hồi đó chúng ta không có chiến dịch ngăn chặn tốt và khá thành công, dễ chừng số người chạy vào Nam đã không dừng lại ở con số một triệu đó. Đến năm 1975, thì họ chạy tán loạn. Ai có xe dùng xe, ai không có xe thì lếch thếch chạy bộ, chớ đâu có đủ máy bay để làm “phát sinh một bộ môn đu càng” như đồng chí Nguyễn Thị Lưu Ly dốt nát đã nói. Nhưng thôi, cứ tạm dùng hai từ “Đu càng” của đồng chí để gọi chung bọn bỏ chạy cho gọn.


Như đã nói ở trên, cái bọn bỏ chạy đó là chúng hành động theo bản năng con người một cách chính đáng. Giả dụ bị một con chó điên hay một con cọp rượt đuổi mà đồng chí không có cách gì chống đỡ để tự vệ, liệu đồng chí có hốt hoảng bỏ chạy một cách tuyệt vọng không? Thế đó. Họ nhìn thấy chúng ta như hùm beo lang sói hay như ác quỷ nên họ bỏ chạy. Sự nhục nhã không phải ở về phía họ. Sự nhục nhã là ở phía chúng ta vì chúng ta đã hiện thân hùm beo lang sói hay ác quỷ trước mắt đồng bào mình khiến họ phải sợ hãi. 


Thế thì nếu ngày 30/4 năm nào các đồng chí như đồng chí Nguyễn Thị Lưu Ly cùng các đồng chí dlv khác cũng ra rả nhắc lại chuyện đu càng này thì có khác gì các đồng chí đã tự khơi gợi và làm rõ thêm hình ảnh hùm beo lang sói ác quỷ của chúng ta trước mắt đồng bảo mình không? Có phải chính các đồng chí tự bôi tro trác trấu vào mặt mình và tự tước bỏ chính nghĩa giải phóng của chúng ta không? 

May mà cái bọn đu càng ấy cho tới bây giờ sau 45 năm vẫn chưa hoàn hồn nên không nhận ra sự đu càng của mình là chính đáng, và nhận ra chỉ những kẻ khiến cho họ phải đu càng mới đáng phải cảm thấy xấu hổ, tủi nhục vì mình đi giải phóng mà bị chính đồng bảo mình quay lưng bỏ chạy. Chúng ta nên lặng lẽ xem cái sự họ u mê, không nhận ra điều đó, là chuyện đáng mừng của mình mới phải. 

Có thêm một điều đáng mừng nữa: cho đến nay họ vẫn còn sợ chúng ta đến líu lưỡi, nên không chỉ không nhận ra việc họ bỏ chạy là làm xấu mặt chúng ta trước nhân dân thế giới văn minh, mà một số trong bọn họ đã học lấy sách lược của chúng ta.

Lâu nay thế mạnh của anh em dlv chúng ta là sách lược “địt mẹ mày” ứng dụng hữu hiệu trong mọi trường hợp. Nay một số trong bọn đu càng cũng bắt chước “địt mẹ mày” để chọi lại với chúng ta. Thật là một sự vi phạm bản quyền trắng trợn đáng xấu hổ. Dù sao, đó là niềm vui an ủi chúng ta, để chúng ta ngày càng phát huy thế mạnh “địt mẹ mày” mạnh mẽ hơn nữa.


Các đồng chí có biết bọn “đu càng” ấy là bao nhiều người không? Từ ít nhất khoảng hai trăm ngàn đến (có người nói) một triệu người chôn thây trong bụng cá dưới biển vì sóng gió bão bùng chìm ghe chìm tàu, bị hết xăng dầu, nước ngọt, lênh đênh trên biển không ai cứu vớt, bị hải tặc cướp hiếp giết ném thây xuống biển, hoặc bỏ mình trong rừng núi vì bị bệnh hoạn hay cướp bóc, vân vân, con số đu càng/vượt biên/vượt biển còn lại đến được nhiều quốc gia khác trên thế giới là khoảng 2 triệu rưỡi người. 


Thoạt đầu nhà nước ta có lẽ đã nói đúng khi cho biết bọn trốn chạy đó đã theo ôm chân đế quốc để được hưởng bơ thừa sữa cặn của Mỹ. Chắc là nhờ thế hàng năm họ đã dành dụm gởi về cho nhân dân ta một khoản ngoại hối hàng nhiều tỷ đô la, mà nếu không có nó, hoặc vì một lẽ gì đó khiến đế quốc Mỹ chặn dòng ngoại hối này thì đất nước ta khốn nạn ngay trong vòng vài nốt nhạc. Các đồng chí và tôi ở trong nước hưởng sự vinh quang đã đóng góp cho đất nước được mấy đồng đô la? Đừng nói chúng ta đã đóng thuế nhé. Cái đồng tiền VN của chúng ta chỉ mua qua bán lại trong xó nhà mình thôi. Muốn giao thương với quốc tế thì phải nhờ đồng đô la bơ thừa sữa cặn của bọn đu càng đấy..

Chính vì vậy, từ lâu bọn đu càng đã trở thành khúc ruột ngàn dậm của Đảng và nhà nước ta, đến nỗi không ít lần một số nhân vật đầu não trong Đảng và chính phủ ta phải xác nhận một cách cảm động họ là máu của máu nhân dân, là thịt của thịt nhân dân Việt Nam, và Đảng và nhà nước luôn trân trọng lắng nghe nhịp thở của khúc ruột đó. Đó là một sự xấu hổ ngấm ngầm của Đảng và nhà nước khi phải đổi giọng như vậy. Các đồng chí có biết về mặt này bọn đu càng đã cảm nhận chính sách “đổi mới” của Đảng ta như thế nào không? Họ nói:

Ngày đi, Đảng gọi Việt gian 

Ngày về, Đảng lại chuyển sang Việt kiều.

Chưa đi: phản động trăm chiều .... 

Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng.

Thế cho nên khi các đồng chí dlv chúng ta đem chuyện đu càng ra làm trò cười là các đồng chí để cho người ta thấy sự tăm tối ngu xuẩn của các đồng chí đã không biết rằng mình chọc ngoáy vào sự xấu hổ ngấm ngầm của Đảng ta. Các đồng chí không biết rằng có những kẻ mà các đồng chí luôn không ngớt lời xưng tụng, đã trốn chạy mà không có vinh dự được đu càng, thì mới đáng cho các đồng chí phỉ nhổ. Đó là bọn cán bộ tham nhũng đã hiên ngang ra đi một cách vẻ vang chính thức bằng đường hàng không, trong khoang hạng nhất trên máy bay. Chúng không những không gởi về đất nước một đồng xu nào mà khi ra đi chúng đã mang ra nước ngoài rất nhiều tài sản của quốc gia để mua nhà mua đất và gởi trong các ngân hàng quốc tế mà vợ con cháu chắt chúng sống đế vương nhiều đời không hết. Chúng từng là các cán bộ lãnh đạo trong bộ máy chính quyền rất thiếu liêm khiết của nước ta. Chuyện này không phải các đồng chí không biết, chẳng qua các đồng chí cố tình u mê. 

Nhưng dù ngu gì thì ngu, từ nay các đồng chí đừng ngu tiếp tục nêu rõ chính nghĩa của những người chạy trốn hùm beo lang sói và tự nhận mình là hùm beo lang sói khiến người ta sợ hãi trốn chạy – mà có người nói sự sợ hãi đến nỗi những cây cột đèn nếu chạy được chúng cũng đã chạy hết rồi. 


Vậy nhé. Nói chuyện với các đồng chí là rât chán. Nhưng thấy sự ngu xuẩn bền vững của các đồng chí càng chán hơn.

 

Thiếu Khanh

Friday, June 26, 2026

Đường Xưa Hẹn Hò - Nguyễn Duy Phước

Văn Hoá Ngọng Tự Hào Ở Một Xứ Sở - Nguyễn Gia Việt


Lối đi đàng hoàng, nhưng qua cái miệng của vài người ngọng chữ L thành “nối đi”. Mệt cái là! ngọng miệng thành ngọng tay, cho ra đường thành chánh tả “nối đi” luôn!

Xài điện thoại, cài đặt của công ty mạng di động, tự mặc định Missed Call là “cuộc gọi nhỡ”. Cuộc gọi nhỡ là văn của người Miền Bắc.

Vì trong điện thoại là “cuộc gọi nhỡ”, thành ra nhiều người Miền Nam cứ tự nhiên kêu những người gọi mà bỏ nửa chừng là “gọi nhỡ”.

Nhưng cái bổn ban đầu, chữ “nhỡ” đâu có trong chánh tả, đâu có trong cuộc sống của người Việt Nam. Người ta nói lỡ duyên chứ có ai kêu nhỡ duyên bao giờ?

Vậy mà lỡ thành “nhỡ” hết, “nhỡ nhàng”, “nhỡ cuộc gọi”, “nhỡ chuyển bay” in thẳng vô sách báo cho công khai ngọng luôn!

Người Miền Nam cứ ngàn, cứ lẻ, cứ rưỡi, cứ hai lăm để giữ bổn tánh Nam Kỳ Lục Tỉnh. Còn người Bắc cứ “ba nhăm”, “hai nhăm” và ta hiểu ra một vấn đề.

Nghe VOV đi! mấy ba má ptv cứ “tầm nhìn hai không ba nhăm”, “hai ngàn không trăm bốn nhăm” không hà!

Quan chức Việt Nam cũng “ba nhăm”, “bốn nhăm” khí thế.

Nói vầy dễ hiểu, người Miền Nam viết và nói số 35 là ba lăm, người Bắc sẽ nói là “ba nhăm”.

Qúa dễ hiểu, nguyên nhân là người Miền Bắc ngọng chữ L kiểu lẽ ra thành “nhẽ ra”, bông lài thành “hoa nhài”, lời lẽ thành “nhời nhẽ”.

Người Miền Bắc bị ngọng chữ L nên phát âm lạt thành “nhạt”. Dân Miền Nam thì lạt miệng còn người Bắc hay “nhạt mồm”.

Thằng nào Nam Kỳ “nhẽ ra hôm nay” vả vô miệng nó một cái cho nó chừa! Xin hãy rõ ràng con chữ, Lời lẽ, Lầm lẫn, Lớn nhỏ, Lẽ ra, Hai mươi lăm, Bông Lài cho đàng hoàng! Hoa Nhài là hoa gì?

Dân Miền Nam vài vùng có nói méo âm, như con cá rô thành con cá gô, trời ơi thành tời ơi…. Nhưng khi viết đâu có sai chánh tả, vẫn viết cá rô và trời ơi rành rành.

Trong lịch sử Việt Nam không phải tự dưng mà Nam Bắc lại xa lạ nhau.

Nhiều lắm, là khác biệt, từ ẩm thực tới văn hóa, cách ứng xử, lòng dạ, liêm sỉ và ngôn ngữ nữa, rồi chánh tả luôn!

Nói ngọng mà ép thiên hạ nói ngọng theo và cho là đúng chánh tả thì sư phụ rồi!

Nguyễn Gia Việt

Vườn Nhà Cuối Thu - Người Phương Nam

Ở châu Úc, 1/6 là vào đông. Mùa đông tới, tiết trời lạnh lẽo, sẽ không có bông hoa nào chịu nổi. Vì vậy nhân lúc còn được một số hoa nở cuối thu sót lại, tôi chụp giữ lên để thỉnh thoảng xem lại trong những ngày vắng bóng hoa sau vườn.
Xin chia sẻ với quý bạn. 


Cúc đồng tiền (Gerbera)




Hải đường (Begonia)


Bát tiên (Euphorbia milii), (Crown Of Thorns)

Sen đá


Hoa sim (Tibouchina)




Lá chua (không biết tên) dùng như xà lách ăn chung  với nem nướng, gỏi cuốn, bánh xèo, chả giò vv... 

Phong lữ (Geranium) sẽ tàn vì sương giá chiều đông




Hình chụp từ ipad
1/6/2026

Khóc Cha - Sỏi Ngọc


Biết bao bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, ca ngợi sự hy sinh cao cả không gì sánh được của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng rất ít bài nhớ về công lao Cha, chả lẽ những điều cha làm chỉ là bổn phận, là điều hiển nhiên? Hôm nay ngày Father’s Day, ngày CHA của cả thế giới, tôi muốn nói lên Cha trong trái tim con như thế nào!

Người cha có nhiều công lao dưỡng dục, dù không là người trực tiếp mang nặng đẻ đau như người mẹ, nhưng người đổ rất nhiều công sức như đi làm kiếm tiền trang trải cuộc sống, gánh vác kinh tế cả gia đình; cuộc sống có tốt đẹp, ấm no, con cái có học hành, phẩm hạnh có đạo đức không, chính nhờ phần lớn mồ hôi, công sức nuôi dậy của người CHA.


Tôi là đứa con trai đầu trong gia đình năm chị em, ba gái đầu liên tiếp và hai trai sau, mà tôi là người anh đầu. Lẽ ra ba chỉ muốn có hai người con, một trai và một gái thôi, hoặc ba người là nhiều rồi, vì ba bảo có nhiều con vui thật nhưng trách nhiệm nặng nề, phải nuôi con đến nơi đến chốn, cho ăn học và đến khi lập gia đình cũng còn phải lo! 

Lần đầu mẹ mang bầu, ba phấn khởi hạnh phúc vô cùng, ba đặt nhiều hy vọng, mong một thằng cu! Ba hay kể với bác Tư, bạn thân của gia đình là ba cảm thấy rất phấn khích, khỏe mạnh khi “gần” mẹ, chắc chắn kỳ này phải là đứa con trai. Thế nhưng kết quả là… người chị cả ra đời! Ba tự an ủi, nói với ông bà Nội rằng: 

- Không sao, đứa đầu lòng là gái hay trai cũng được, là con gái thì sau này dậy dỗ trông nom em càng tốt hơn nữa, nhất là chỉ bảo em trai thì tốt đẹp biết bao.


Hai năm sau, để được có con trai, ba nghe mấy người xưa nói phải ăn trứng, ăn đồ mặn, uống bia thì sẽ toại nguyện; ba nghe theo và mẹ mang bầu lần hai, ba đặt tất cả kỳ vọng vào cái bầu tròn căng vượt mặt của mẹ. Thuở ấy chưa có siêu âm ở những vùng tỉnh nhỏ, chỉ nhìn dáng bụng thì suy đoán là trai hay gái; ông bà nội với nhiều kinh nghiệm, ngắm cái bầu của mẹ khi lên Dalat thăm gia đình nhỏ của chúng tôi:

- Cái bầu tròn như thế thì 80% là con gái rồi!

Ba cố chống chế:

- Nhưng sao kỳ này mẹ chúng nó lại thích ăn ngọt chứ không thích ăn chua như lần mang bầu đầu tiên, có thể nào là con …trai?

Ba vẫn nuôi hy vọng, tối nào về cũng áp tay vào bụng mẹ, nghe tiếng chân đạp của đứa bé, nói chuyện với cái bụng tròn căng ấy. Ngày mẹ đi sanh, ba thấp thỏm bên ngoài cửa, chờ đợi đứng ngồi không yên, khi nghe tiếng khóc oa oa của đứa bé, ba bế thốc chị tôi lúc đó 2 tuổi, chạy vội vào, cô y tá báo tin vui:

- Chúc mừng ông bà có thêm cô công chúa thứ hai!

Ba hơi thất vọng, nhưng tự trấn an: 

- Mình sẽ có ba đứa con như dự tính, nhất định đứa thứ ba sẽ là con trai! 


Đến ba năm sau, ba lại nhất quyết “thua keo này ta bầy keo khác”, không chịu thua số phận, hy vọng tăng trội hơn khi thấy khuôn bụng của mẹ nhỏ gọn hơn hai lần trước. Ngày mẹ đi sanh chỉ có ông bà ngoại bên cạnh vì ba phải đi làm xa ở Liên Khương, ba phone về thấp thỏm hỏi ông bà ngoại: 

- Vợ con sanh có tốt không bố? có dễ dàng hơn hai kỳ trước không? …và có phải là con… trai? 

Ông ngoại ái ngại, ngần ngừ: 

- …Ưm… nhờ Trời thương mẹ tròn con vuông!...

- Đứa bé là…

- Ừ… Con bé khỏe mạnh!

Ba thốt lên một cách thất vọng: 

- …Lại là con gái ư! 

Một khoảng thời gian yên lặng, giọng ba yếu xìu: 

- Con nhờ ông ngoại đặt tên cháu nhé. 

- … Ừ được rồi, nhưng con bé này rất kháu khỉnh, có cặp mắt tròn to, da trắng và rất nhiều tóc! 

- Vâng! Ông cứ đặt tên cho cháu đi nhé, con cám ơn ông bà Ngoại giúp con nuôi vợ con và các cháu nhé; con phải làm đến hết tuần này mới về nhà được ạ. 

- Được rồi, con cứ an tâm đi. 

Ông Ngoại rất hiểu con rể mình đã « ngán » con gái lắm rồi, nếu mẹ cứ tiếp tục cái đà này thì chắc ba ở luôn trên Liên Khương khỏi về! Số lượng ba đứa con mà ba đã đề ra bây giờ hình như phải vượt mức rồi, ba không thể nào không có con trai! muốn sanh thêm thì ba phải làm việc nhiều hơn, phải có nhiều tiền hơn nữa để nuôi gia đình. 

Ba cố gắng thức đêm học hành, thi lên ngạch trong khi nhiều bạn bè cùng trang lứa lúc đó đưa gia đình đi chơi nghỉ mát đây đó, họ đi du lịch ở nước ngoài không vướng bận. Ba đã có lần than thở với ông bà Nội rằng: “… Con thật mong có một thằng cu…”

 - Vậy con phải được tăng chức, khi nào có nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi thì thằng cu mới ra đời!


Ban ngày đi làm công sở, ban đêm ba miệt mài học lên cao; sự khó nhọc của ba cũng được đền bù, ba đậu vào làm Đốc Sự Hành Chánh, rồi tiếp tục học thi lên làm giám đốc nha Hỏa Xa, được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp nhà thật to rộng như căn biệt thự ngay giữa lòng thành phố Saigon.

Lần thứ tư mang bầu, mẹ tôi cảm thấy lúc nào cũng đói, nhất là rất thích ăn kem, ăn đồ lạnh. Ba nhìn cái bụng nhọn lạ lùng của mẹ mà không còn mong ngóng thằng cu thật nhiều nữa vì sợ thất vọng!


Ngày mẹ đau bụng, mới đến nhà thương chưa kịp vào phòng sanh, đứa trẻ đã muốn lọt ra ngoài, họ vội vàng đẩy mẹ vào phòng ngay; ba đứng bên ngoài chờ cho mọi chuyện êm thắm một chút, định bỏ về đi làm thì nghe tiếng khóc thét hùng hồn của tôi vọng ra; ba đã biết đó là thằng con trai! Ba mừng đến rơi nước mắt và chắp tay cảm ơn Trời Phật ngay tại trước cửa phòng sanh chưa được mở! 

Tôi sanh ra khi ba ở đỉnh cao của sự nghiệp, có nhà to rộng, tiền tài không thiếu, tôi được cho là đứa con trai đem điều may mắn đến cho gia đình, nên được cưng chiều đến nỗi chỉ một tiếng khóc nhỏ cũng được chị vú ẵm bồng, dỗ dành.

Mỗi buổi chiều đi làm về, ba rửa tay thật sạch, vào thăm thằng cu Thơm, vì hồi bé tôi thơm mùi sữa, mùi phấn lắm nên được đặt tên ở nhà là cu Thơm, ba mua đồ chơi, hôn hít, bồng bế cả buổi chiều không chán.


Dù ba cưng chiều tôi nhất nhà, nhưng ba chị của tôi cũng được ba chăm sóc, lo lắng cho từng người. Tôi nhớ chị lớn nhất của tôi đến tuổi có bạn trai, người nào đến nhà cũng nơm nớp sợ hãi, vì họ biết ba tôi rất khó, hay nói chuyện với các anh chừng như cảnh sát hỏi cung phạm nhân vậy, đến nỗi các anh ấy không dám vào nhà mà hẹn chị ở góc đường đưa sách vở, ba nói: 

- Đứa nào có can đảm trả lời được với ba thì mới xứng đáng làm bạn trai của con gái ba! 

Ba nhắc mẹ dắt các chị đi chợ vải, chọn tiệm may có tiếng cắt may quần áo đẹp, chọn trường tư tốt, có được môi trường cùng đẳng cấp để các chị giao du với những bạn tử tế, học tập thêm ở họ. Ba rất thường dậy dỗ các chị về phẩm giá, cách giữ gìn ý tứ của người con gái ra sao khi quen bạn trai…


Mỗi lần chúng tôi bị bệnh, cho dù con gái hay trai thì khỏi nói rồi, ba thức đêm lo cho uống thuốc đúng giờ thay vì là mẹ, ba cẩn thận đến nỗi sợ mẹ mệt ngủ quên nên ba để đồng hồ báo thức dậy đúng giờ đó, và tự tay cho chúng tôi uống. 

Sau tôi, thêm một người em trai nữa ra đời, ba rất vui mừng và ngưng tại đây. 

*

Những ngày vui hạnh phúc chưa được bao nhiêu thì miền Nam bị nhuộm đỏ, công việc dưới chính quyền cũ không còn nữa, ba phải cơ cực làm những công việc chẳng phải là chuyên môn của mình, hy sinh tất cả cho các con từ hạt cơm bo bo đến miếng thịt heo cả tháng mới mua được một lần ở hợp tác xã. 

Sau đó là những lần vượt biên không thành, ba bán dần dần những đồ đạc trong nhà, ba ít nói hơn, mái tóc bất ngờ chuyển màu trắng toát chỉ qua vài đêm, ngồi yên nhìn vào khoảng trống như suy tính mọi cách làm sao cho con cái thoát thân trước, rồi ba mẹ mới là người cuối cùng. 

May mắn làm sao đúng vào lúc gia đình cạn kiệt nguồn vốn để dành bao lâu nay, giấy tờ bảo lãnh của người thân bên Canada về đúng lúc, chúng tôi sửa soạn rời xa quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn đến một xứ sở thứ hai với hai bàn tay trắng, tương lai mịt mờ, chỉ còn mỗi niềm hy vọng mong manh trong tim. 

* 

Ba mươi năm sống ở xứ Canada lạnh giá, ba năm đầu ở Montreal, ba đã bỏ cả tự ái, quên đi cái chức giám đốc nha hỏa xa, xưa kia ở Saigon, một thời cai quản hơn cả mấy chục nhân viên dưới quyền, ba đã phải làm công nhân với mức lương 4$/ giờ trong hãng làm giầy da. Sáng sớm dậy chờ bus lạnh lẽo ở đầu đường, đến chiều 6:00 về nhà mệt nhoài, những đầu ngón tay chảy máu, chai sần vì không quen với những công việc tay chân. Với số tuổi không còn trẻ, 55, Ba cố gắng quên mình, bỏ cả lòng tự trọng còn sót lại để đi làm công việc không giành cho mình, với một mức lương tối thiểu mà không hề than trách, để cho chị em chúng tôi đừng bị dang dở việc học. 

Ba luôn nhắc chúng tôi phải đi học lại, chỉ có kiến thức mới giúp mình tìm được việc với đồng lương tốt ở xứ người, sống không phải bị cúi mặt tự ti với người bản xứ, sau này lập gia đình dậy dỗ con cái tốt hơn… 


Vài ba năm sau, năm 1990 dù ở tuổi 58, ba vẫn lấy thêm chứng chỉ học ban đêm, mỗi tối cả nhà chúng tôi đều yên lặng, ai nấy đều gục đầu vào quyển sách bên chiếc đèn vàng vọt cũ kỹ xin được ở nhà thờ, chỉ nghe tiếng trang sách lật; ba thi vào một chức vụ hành chính về quyền con người của cấp thành phố Montreal, tỉnh Quebec nơi chúng tôi đang cư ngụ, chức vụ này có đến trên 10 người thi vào, chỉ một mình ba là người Việt tỵ nạn đến Quebec được ba năm rưỡi, còn những thí sinh kia là dân bản xứ, họ thi lên ngạch, làm lâu năm trong guồng máy hành chính này. Ba nói với chúng tôi:

- Cứ thử sức xem sao, không mất mát gì cả, nếu đậu thì cả nhà chúng ta sẽ được thay đổi đời sống, mâm cơm sẽ khác hơn, sẽ có xe đi và chỗ ở tốt hơn; nếu không được thì mình cũng học cho có thêm sự hiểu biết về luật pháp của Canada, không có gì mất công hết!

Chúng tôi rất cảm động vì thấy tuổi ba đã lớn, trên 58 mới bắt đầu học lại, ba không muốn mẹ phải đi làm, không muốn thấy chúng tôi phải bỏ học ngang để đi kiếm tiền, ba lúc nào cũng tự cho mình phải mang trách nhiệm này đối với gia đình.

Nhiều đêm thấy ba đọc sách mà quyển sách đã tự rơi xuống đất vì buồn ngủ và mệt quá, ban ngày đi làm từ sáng sớm, tối thức khuya đến 12:00 đêm làm sao sức nào chịu nổi. Tôi thương ba vô cùng, tự hứa với lòng sẽ ráng học ra trường kỹ sư để ba hài lòng.

Rồi một ngày, ba về nhà mang trên tay bao nhiêu giỏ xách, ba hớn hở nói như reo, lần đầu tiên sau ba năm ở xứ “tủ đá” này, tôi thấy ba vui như trúng số: 

- Mẹ chúng nó này! Tôi đã… thắng rồi nhé, tôi được chọn vào làm văn phòng của chính phủ rồi, thứ hai tới này sẽ đi làm công sở mới!

Lúc ấy chúng tôi chưa hiểu ba đang muốn nói gì, mắt chúng tôi trố lên, miệng tròn nhìn ba, khuôn mặt ông rạng rỡ, tươi tỉnh và tràn đầy hạnh phúc, chị tôi lắp bắp vui mừng:

- Ba… ba đã đậu vào cấp… chính phủ rồi?! Ba! Ba… giỏi quá!

Thế là cả 5 chúng tôi ùa lại một lúc, vừa khóc vừa cười, nước mắt rơi lã chã xuống ướt cả mặt, ôm lấy ba muốn nghẹt thở, chúc mừng, chúng tôi huyên thuyên nói: 

- Ba giỏi quá! Chúng con phải noi theo gương ba!... Từ đây ba hết phải đứng chờ xe bus vào 5:00 sáng rồi, tay ba sẽ hết bị chai sần, hết bị đau khớp… 

- Hôm ba đi thi có đông người phỏng vấn ba không? Còn ai vào cùng ngạch đó với ba?

- Cả một phái đoàn 6 người, mỗi người hỏi một vấn đề, người thì hỏi về luật lệ Canada, kẻ thì đưa ra những tình huống xem mình giải quyết thế nào, còn người thì hỏi về trình độ và công việc trong quá khứ của mình ra sao…stress lắm, mỗi thí sinh phải qua cả tiếng đồng hồ với họ đấy chứ không dễ ăn đâu! 

- Chúng con rất hãnh diện về ba, ba giỏi quá, ba làm gương cho chúng con đó!

- Bõ công ba học hành từ cả mấy tháng nay! Đây là món quà thật xứng đáng của ba! 

- Cái gì cũng phải nỗ lực để đạt được, các con nhớ nhé, muốn gì phải đạt được bằng tất cả khả năng của mình, đừng từ bỏ, hãy theo đuổi mộng ước của mình đến cùng vì mình chỉ khổ vài năm thôi mà được hưởng cả đời.

Mẹ tôi đứng tựa vào tường từ nãy đến giờ hạnh phúc hiện trong ánh mắt, chen vào: 

- Ba nó mua nhiều thịt heo, thịt vịt quay quá, hôm nay tha hồ mà mấy bố con nhậu với nhau!

*

Ba làm cho công sở cấp thành phố, tiểu bang Quebec này được 10 năm, đến 68 tuổi ba về hưu, mọi người trong sở ai cũng quý mến ba, ba được thưởng bonus và được tiền hưu cao. 

Lúc ấy ba chị tôi đã lập gia đình theo chồng đi xa khắp các tỉnh ở Canada và Mỹ, tôi và em trai đã tìm được một công việc ở Toronto về kỹ sư điện tử đã được trên năm năm và cũng đã lập gia đình; ba mẹ muốn về gần con trai và các cháu nhỏ, nên đã từ giã Montreal, đến Toronto ba mẹ mướn cái ấp riêng nhưng gần chỗ tôi, nói là muốn mỗi gia đình có một sinh hoạt nề nếp riêng, cuối tuần chúng tôi cùng các cháu đến thăm. 

Mẹ mất khi bà 70 tuổi, sự ra đi nhanh chóng của bà làm cuộc sống của ba bị mất thăng bằng, ba không còn thấy vui sống nữa, những ký ức đẹp về mẹ như vẫn còn đeo bám trong ánh mắt ba, ba vẫn cố gắng giữ nụ cười trên môi, nhưng đôi mắt buồn biết nói của ông đã khai báo tất cả trước con cháu. 

Ba cố gắng tự mình di chuyển bằng xe đạp vào mùa hè, bằng phương tiện giao thông công cộng như bus hay metro để đừng phiền đến ai, ba cũng tự học làm cơm ở tuổi 80 mà từ trước đến nay ba chẳng bao giờ đụng đến bếp núc mà chỉ lo kiếm tiền cho gia đình mà thôi, ba ăn uống qua loa… Vì thế nên ngày càng gầy đi, mỗi lần gặp chúng tôi ba đều cố vui, nói chuyện hài hước để chúng tôi đừng lo lắng: 

- Ba khỏe mạnh lắm, không bệnh hoạn gì hết, các con cứ lo đi làm, lo cho các cháu là được rồi, đừng mất công đem gì đến cho ba, ba đặt đồ ăn ở tiệm gần đây, có cô gái trẻ… làm cơm ngon lắm!

*

Đến một ngày, tôi nhận được phone của ba từ nhà thương, ba cố nói với giọng vui vẻ:

- Ba đã xin được một chỗ ở đây rất tốt, phải chờ đợi lâu lắm mới được chỗ này, họ làm cơm cho mình ngày ba bữa, nơi đây vừa gần chỗ các con ở, vừa gần …nhà quàn…


Tôi bật khóc vì thấy có lỗi chỉ biết lo gia đình nhỏ của mình mà không nghĩ đến tâm tư của ba:

- Ba! Cái gì vậy? Tại sao ba lại vào nhà thương ở? Chỗ đó đâu phải… Sao ba không bàn gì với chúng con? Bệnh Cancer phổi của ba các bác sĩ nói vẫn được theo dõi mà? Ba có bị đau đớn không? Ba có buồn giận gì chúng con không?

- Không đâu, chính ba là người quyết định, các con không có lỗi gì ở đây cả! Đời người cũng phải có cái hạn mà con, ba đã sống hết đời rồi; từ ngày mẹ con qua đời đến giờ ba sống thật bấp bênh, thấy thiếu thốn một cái gì đó, cuộc sống không còn vui, không còn chất lượng nữa… Ba muốn…đi gặp Mẹ! Tuy nhiên, ba rất vui thấy các con đã thành công, tự lực, nuôi nấng và giáo dục các cháu rất tốt, đó là điều mà ba thấy hạnh phúc nhất. Ba thấy mình đã thực hiện được ước mơ, trách nhiệm đã xong, sống lâu quá chỉ làm phiền các con cháu mà thôi, ba chọn cách ra đi nhẹ nhàng nên mới vào nhà thương này… 

Ba phone đến các chị lớn để “trăn trối”, dặn các chị phải làm gì sau khi ba ra đi, ba muốn được thiêu, tro của ba hãy để vào chùa, chỗ bên cạnh mẹ mà ba mẹ đã chọn mua, ba để lại gia tài cho đứa nào cái gì… 

Chúng tôi chỉ yên lặng nghe quyết định bất ngờ của ba mà trái tim tan nát, nước mắt rơi không ngừng, không nói được điều gì khi thấy ba đã suy nghĩ, đã sắp xếp cho chuyến đi xa của ba được toàn vẹn. 

Các chị tôi lúc nào cũng túc trực bên cạnh nhà thương; khi vào thăm ba, thấy ba còn mạnh khỏe, vẫn tự mình làm vệ sinh cá nhân, ăn uống ngon miệng đồ ăn của nhà thương, nơi đây là chỗ để cho những người bệnh già ở, có những người ở đây đến hai năm vẫn chưa ra đi.

Chúng tôi nhắc lại những kỷ niệm xưa với ba, nói những chuyện vui để ba có thể quên đi cái thực trạng bệnh hoạn, ba chỉ cười mỉm và lúc nào cũng nhắc nhở chúng tôi: 

- Nhớ trông nom các em, các cháu cho tốt nhé, ba ra đi sẽ phò hộ cho các con!

- Ba ơi, ba hãy đi đầu thai, hãy làm việc của ba, đừng vì chúng con nữa ba nhé, ba đã cho chúng con một đời này là được rồi ạ!

Đến tháng thứ hai ở nhà thương, lúc 3:00 sáng, tôi nhận được cái cú điện thoại định mệnh reng lên giữa đêm, họ nói ba đã từ chối ăn uống, cũng như uống thuốc từ hai hôm nay, để được thảnh thơi ra đi…

Inline image

                                    Ba hưởng thọ 86 tuổi!


      Cha đi, bóng xế bên thềm,

Lá rơi theo gió, nỗi niềm rụng theo.


      Lặng thầm lệ ướt khăn treo,

Con ngồi thổn thức giữa chiều buốt tim.


      Một đời cha gánh nổi chìm,

Cho con nắng ấm, cho tim yên bình.


      Giờ đây trời đất lặng thinh,

Cha ơi... tiếng gọi chỉ mình con nghe.

 

Sỏi Ngọc

Montreal