Monday, June 15, 2026

Một Quân Đội Bị Lãng Quên - Phạm Sơn Liêm

Hình của Bộ thông tin VNCH


Có những người lính được lịch sử ghi tên bằng tượng đài.

Có những người lính được cả thế giới nhắc nhớ qua sách vở và phim ảnh.

Nhưng cũng có những người lính chiến đấu suốt tuổi thanh xuân, đổ máu trên từng tấc đất quê hương, rồi dần bị phủ mờ trong những trang sử của thời cuộc.

Đó là người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Hai mươi năm chiến tranh.

Hai mươi năm sống giữa tiếng pháo kích, tiếng trực thăng, tiếng gọi ới nhau giữa khói lửa chiến trường.

Từ đồng bằng sông Cửu Long đến cao nguyên Kontum, từ Khe Sanh, Quảng Trị đến An Lộc, Bình Long, hàng trăm ngàn người lính đã đứng lên bảo vệ miền đất mà họ gọi là quê hương.

Nhiều người nằm lại nơi rừng sâu biên giới.

Nhiều người trở về với thân thể không còn nguyên vẹn.

Nhiều người bước vào trại tù sau năm 1975.

Và cũng có những người mãi mãi nằm lại dưới lòng biển Đông, trên những con thuyền vượt biên tìm tự do.

Lịch sử có thể còn những tranh luận. Quan điểm chính trị có thể khác nhau. Nhưng sự hy sinh của người lính thì không thể phủ nhận.

Máu đã đổ là thật. Nước mắt của những người vợ chờ chồng là thật. Nỗi đau của những đứa con mất cha là thật. Và lòng can đảm của những người đã chiến đấu đến cùng cũng là thật.

Cuốn sách “Một Quân Đội Bị Lãng Quên” của giáo sư Andrew Wiest không phải là một bản cáo trạng, cũng không phải một lời biện hộ.

Đó là lời nhắc nhở rằng, người thật việc thật, phía sau những con số thống kê và những bản đồ tác chiến là những con người bằng xương bằng thịt. Những người đã yêu nước theo cách của họ.

Đã chiến đấu theo lời thề của họ. Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm. Và đã trả giá bằng chính cuộc đời mình.

Bài viết này xin được cúi đầu trước những người lính của một quân đội đã đi vào lịch sử. Dù thắng hay thua, họ vẫn là những người đã sống, chiến đấu và hy sinh cho điều họ tin tưởng. Và lịch sử, nếu muốn công bằng, không nên quên họ.

Kính dâng những chiến hữu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, những người đã mang màu áo năm xưa đi suốt một đời người, và những người đã nằm xuống mà tên tuổi vẫn còn trong trái tim đồng đội.

MỘT QUÂN ĐỘI BỊ LÃNG QUÊN

Có những cuộc chiến kết thúc bằng tiếng súng.

Nhưng cũng có những cuộc chiến kết thúc bằng sự im lặng.

Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến như thế. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Những cánh rừng Trường Sơn đã xanh trở lại. Những hố bom năm nào đã thành ruộng lúa. Những người lính già còn sống sót giờ tóc bạc như mây. Nhưng ở đâu đó trong những trang sách lịch sử phương Tây, vẫn còn một khoảng trống rất lớn.

Đó là hình ảnh của người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Năm 2000, một giáo sư sử học người Mỹ tên Andrew Wiest đặt chân đến Việt Nam. Ông sang đây để tìm hiểu về cuộc chiến của nước Mỹ. Nhưng rồi ông phát hiện ra một sự thật khác. Một cuộc chiến của người Việt.

Một quân đội đã chiến đấu suốt hai mươi năm nhưng gần như bị xóa khỏi lịch sử.

Tại Huế, ông gặp cựu sĩ quan Phạm Văn Đính. Người sĩ quan ấy từng chỉ huy đơn vị chiến đấu giữa những trận mưa pháo dữ dội của Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972.

Một buổi chiều, ngồi bên ly cà phê cũ kỹ, Andrew hỏi:

— Ông đã chiến đấu bao lâu?

Ông Đính nhìn xa xăm.

— Gần cả tuổi trẻ.

— Và cuối cùng?

Người cựu sĩ quan khẽ cười buồn.

— Cuối cùng thì lịch sử quên mất chúng tôi.

Câu trả lời ấy khiến Andrew chết lặng.

Ít lâu sau, ông gặp một người khác.

Thiếu tá Trần Ngọc Huế. Một người lính nổi tiếng của chiến trường Quân đoàn I. Người đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng trong chiến dịch Lam Sơn 719 tại Hạ Lào. Sau trận đánh đó, ông bị thương nặng.

Bị bắt.

Bị giam cầm suốt 13 năm trong các trại tù cộng sản.

Thêm 6 năm quản thúc.

Gần hai mươi năm cuộc đời tan biến sau song sắt.

Andrew hỏi:

— Điều gì khiến ông vẫn tiếp tục chiến đấu?

Ông Huế trả lời rất chậm:

— Vì sau lưng tôi là gia đình tôi. Là quê hương tôi. Là những người dân không có súng. Nếu chúng tôi bỏ chạy, ai sẽ đứng lại?

Andrew kể rằng khoảnh khắc ấy ông hiểu. Ông không còn nghiên cứu chiến tranh nữa.

Ông đang nghiên cứu số phận con người.

Từ đó, ông bắt đầu lần theo những dấu chân bị bỏ quên.

Ông đọc hàng ngàn tài liệu.

Phỏng vấn hàng trăm cựu chiến binh. Lật lại từng trận đánh. Và ông tìm ra ra nhiều điều gây sửng sốt.

Trong rất nhiều cuốn sách nổi tiếng về Chiến tranh Việt Nam, người ta kể rất nhiều về lính Mỹ. Nhưng gần như không kể gì về những người lính Việt Nam đã chiến đấu bên cạnh họ.

Như thể họ chưa từng tồn tại!

Hình từ sách Việt Nam Khói lửa.


Mậu Thân 1968.

Thế giới nhớ đến những người lính Thủy quân Lục chiến Mỹ chiến đấu tại Huế.

Đó là sự thật. Họ đã chiến đấu anh dũng. Nhưng đó chưa phải toàn bộ sự thật.

Trong từng con hẻm đẫm máu của Thành Nội Huế.

Trong từng bức tường loang máu. Trong từng căn nhà đổ nát. Người lính Việt Nam Cộng Hòa cũng đang chiến đấu. Không lùi bước. Không đầu hàng.

Đại đội Hắc Báo.

Các đơn vị Nhảy Dù.

Thủy Quân Lục Chiến.

Bộ binh.

Địa phương quân.

Nghĩa quân…

Họ chiến đấu từng mét đất. Từng góc phố. Từng căn phòng. Nhiều nơi không có pháo binh. Không có xe tăng.

Chỉ có khẩu súng trên tay và ý chí phải giữ thành phố.

Một trung sĩ trẻ nhìn đồng đội ngã xuống. Anh nghiến răng:

— Không được lùi!

— Sau lưng mình là Huế!

Và họ tiếp tục tiến lên.

Rồi đến Lam Sơn 719. Năm 1971.

Lần đầu tiên quân đội miền Nam tiến sang đất Lào mà không có quân chiến đấu Mỹ đi cùng. Khắp các ngọn đồi.

Khắp các cánh rừng. Máu đổ như mưa. Một tiểu đoàn bị bao vây lần thứ nhất. Rồi lần thứ hai. Lần thứ ba. Lần thứ tư. Lần thứ năm. Lần thứ sáu.

Người lính trẻ hỏi tiểu đoàn trưởng Trần Ngọc Huế:

— Thưa thiếu tá… mình còn sống trở về không?

Ông nhìn những khuôn mặt đen sạm vì thuốc súng.

— Không biết.

— Nhưng còn thở thì còn đánh.

Đó không phải khẩu hiệu.

Đó là thực tế. Khi chiến dịch kết thúc. Chỉ còn 26 người sống sót. Hai mươi sáu người.

Từ một đơn vị hàng trăm lính…

Rồi đến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Quảng Trị. Kontum. An Lộc.

Ba cái tên làm rung chuyển chiến tranh Việt Nam.

Từng sư đoàn Bắc Việt tràn xuống như thác lũ. Xe tăng.

Pháo binh. Hỏa tiễn. Hàng chục ngàn quân.

Nhưng họ không gặp một quân đội tan rã như tuyên truyền từng mô tả.

Họ đụng những người lính Việt Nam Cộng Hòa đang tử thủ. Tại An Lộc. Một sĩ quan nói với thuộc cấp:

— Nếu thành phố này mất.

— Sài Gòn sẽ rung chuyển.

Người lính trẻ gật đầu:

— Vậy thì tụi mình chết ở đây.

Thành phố không mất. An Lộc đứng vững.

Kontum đứng vững.

Quảng Trị rồi được tái chiếm.

Đó là những chiến thắng mà lịch sử thế giới ít khi nhắc tới.

Hình của corbis


Vậy vì sao miền Nam thất thủ?

Đó là câu hỏi đau đớn nhất!

Không phải vì người lính, không chiến đấu. Không phải vì họ thiếu can đảm. Không phải vì họ không đổ máu.

Hơn 200.000 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống. Hàng triệu gia đình mất cha. Mất chồng. Mất con.

Không một dân tộc nào trả giá như thế nếu họ không tin vào điều mình đang bảo vệ.

Nhưng một quân đội được xây dựng để chiến đấu trong liên minh. Khi đồng minh rút đi. Khi viện trợ bị cắt. Khi nhiên liệu không còn. Khi đạn pháo binh phải tiết kiệm từng viên. Khi xe tăng nằm bất động vì thiếu phụ tùng.

Thì cuộc chiến trở thành một cuộc chiến không cân sức.

Ngày cuối cùng của cuộc chiến. Nhiều người lính vẫn còn chiến đấu. Nhiều người chọn ở lại. Nhiều người vào tù. Nhiều người vượt biển.

Nhiều người nằm lại ngoài khơi.

Và rồi lịch sử dần khép lại.

Nhưng không phải sự thật.

Sự thật là có một quân đội đã chiến đấu suốt hai mươi năm.

Có những người lính đã hy sinh tuổi trẻ, gia đình và mạng sống của mình. Có những người anh hùng không được dựng tượng. Không được nhắc tên trong sách giáo khoa. Không được thế giới biết đến.

Nhưng họ đã từng tồn tại.

Đã từng chiến đấu.

Đã từng ngã xuống.

Và như giáo sư Andrew Wiest đã nói:

“Quý vị là những người anh hùng. Và tôi chỉ là người kể lại câu chuyện của quý vị.”

Đôi khi, điều công bằng nhất mà lịch sử có thể làm…

Là nhớ lại những người đã bị lãng quên.

 

Phạm Sơn Liêm

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Sững Sờ Ngắm Nhìn 10 Sa Mạc Đẹp Nhất Thế Giới

Nói đến sa mạc chúng ta sẽ nghĩ đến những vùng đất hoang vu, nắng gió, nhưng ở một góc nào đó sa mạc lại có vẻ đẹp quyến rũ kỳ lạ.

Sững sờ ngắm nhìn 10 sa mạc đẹp nhất thế giới - 1

Gobi, Mông Cổ, là sa mạc lớn nhất châu Á, lớn thứ năm trên thế giới, nằm giữa Trung Quốc và Mông Cổ.

Sững sờ ngắm nhìn 10 sa mạc đẹp nhất thế giới - 2

Mojave, Tây Nam nước Mỹ. Mặc dù địa điểm nổi tiếng này chứa các công viên quốc gia Joshua Tree và Death Valley, Mojave là sa mạc nhỏ nhất ở Bắc Mỹ.

Sững sờ ngắm nhìn 10 sa mạc đẹp nhất thế giới - 3

Sahara, Châu Phi, là sa mạc nóng và lớn nhất thế giới, đi qua 11 quốc gia ở miền bắc châu Phi.

Sững sờ ngắm nhìn 10 sa mạc đẹp nhất thế giới - 4

Atacama, Nam Mỹ, nằm giữa biên giới của Chile, Peru, Bolivia và Argentina, Atacama là sa mạc khô nhất thế giới, với lượng mưa trung bình là 0,004 inch mỗi năm.

Sững sờ ngắm nhìn 10 sa mạc đẹp nhất thế giới - 5

Bardenas Reales, Tây Ban Nha là một trong số ít sa mạc ở Châu Âu, với những vùng đất xấu và những miệng hố sâu như ở thế giới khác.

Sững sờ ngắm nhìn 10 sa mạc đẹp nhất thế giới - 6

Sa mạc Bắc cực là sa mạc lớn thứ hai trên thế giới, 9 đến 10 tháng trong một năm ở đây không nhận được ánh sáng mặt trời.

Sững sờ ngắm nhìn 10 sa mạc đẹp nhất thế giới - 7

Sa mạc Namib, Namibia, nổi tiếng với những đụn cát màu vàng, ở đây bạn phải đi 40 dặm một ngày để tìm thức ăn.

Sững sờ ngắm nhìn 10 sa mạc đẹp nhất thế giới - 8

Sa mạc Ả-rập, Trung Đông, bên ngoài Dubai, bao gồm 8 quốc gia và chứa một trong những biển cát lớn nhất trên thế giới.

Sững sờ ngắm nhìn 10 sa mạc đẹp nhất thế giới - 9

Antarctica là sa mạc lớn nhất thế giới không có mưa, tuyết rơi nhiều tạo thành các tảng băng, giữ kỷ lục về sa mạc lạnh nhất trên thế giới.

Sững sờ ngắm nhìn 10 sa mạc đẹp nhất thế giới - 10

Sonoran, Tây Nam nước Mỹ, nằm giữa biên giới Mỹ - Mexico, Sonoran là sa mạc nóng nhất ở Bắc Mỹ, với nhiệt độ thường xuyên đạt tới 118 độ vào mùa hè.

Sững sờ ngắm nhìn 10 sa mạc đẹp nhất thế giới - 11

Sa mạc trắng, Ai Cập, cách Cairo 5 giờ về phía tây nam, có những đụn cát như những hình nấm khổng lồ nằm rải rác khắp sa mạc.


Sưu tầm 

Góp Ý Cho Tuổi Già - Trần Văn Giang

 
Hình minh họa 

Rất thực tế -- 10 điều Tâm Niệm rất đáng suy gẫm cho tuổi hoàng hôn 

Có một sự thật mà ít khi chúng ta dám đối mặt.  Đó là càng về gia chúng ta càng cô đơn. Nhưng nếu biết cách sống thì tuổi xế chiều sẽ là khoảng thời gian bình yên và đẹp đẽ nhất của cuộc đời.

Dưới đây là 10 lời khuyên rất “hữu nghị,” hợp lý và không khó áp dụng ; hy vọng sẽ giúp các sư phụ, sư mẫu cao niên sống yên vui và hạnh phúc mặc dù tóc bạc, răng long, da mồi, mắt mờ, chân chậm… nhưng lòng thì vẫn còn nguyên vẹn, yêu đời.

1. Tuyệt đối đừng cho con cái các bạn biết là bạn có bao nhiêu tiền.

Đó là cách bạn giữ quyền chủ động và sự tôn nghiêm cho chính mình.

2. Đừng cãi nhau với người bạn đời.

Khi trẻ là tình ; khi già là nghĩa.  Hãy nâng niu nhau như món quà quý.

3. Trông cháu vừa đủ thôi.

Đừng ôm đồm quá.  Hãy giữ lại chút sức khỏe và thời gian cho chính mình để sống khỏe, sống vui.

4. Nếu đang sống một mình thì đừng vội tái hôn.

Hãy học cách yêu sự tự do, sự thư thái, sống không có điều gì phải lo nghĩ, phiền muộn; và có cơ hội làm những điều mình thích.

5. Đừng vội bán căn nhà mình hiện đang ở.

Đó là chốn đi và về ; và cũng là nơi cuối cùng của bạn có thể sống bình yên.

6. Dù con cái có giỏi dang, có thương yêu bạn đến đâu ; cũng phải tự lập.

Tránh không trở thành gánh nặng cho con cái. Đó chính là cách yêu thương con ý nghĩa nhất.

7. Nếu đến chơi nhà con, không ở lâu quá 3 ngày.

Ngạn ngữ Tây phương có câu “Khách giống như cá : Sau 3 ngày đều thối như nhau.” (“Guest and fish have one thing in common : They both stink after 3 days”).  Khoảng cách hợp lý sẽ giữ tình thân tốt đẹp hơn.

8. Khi con cái đã có gia đình, đừng đòi hỏi hay trách móc chúng.

Con cái cũng có thế giới, trách nhiệm và áp lực riêng của đời sống.  Đừng cho thêm một cục đá nặng vào hành trang của chúng !

9. Đừng làm việc hay giải trí quá sức.

Ngay cả các hoạt động của tuổi già như làm vườn, rượu chè, tiệc tùng, du lịch (Các sư phụ về du lịch Việt Nam nhiều lần đều có "khả năng" đến thăm “Peek Family” sớm hơn !)...  Chỉ nên giữ chừng mực.  Đừng để Bác sĩ là người quyết định phần đời còn lại của mình.  Hãy tìm cách sống đơn giản, nhẹ nhàng, tỉnh táo, an nhiên thì tuổi thọ sẽ dài hơn.

10. Đừng quá tiết kiệm / hà tiện.

Hãy tiêu xài rộng rãi cho mình một chút, vì không thể mang tiền hay của cải lên Thiên đàng (hay xuống Địa ngục) được.  Nên làm chuyện vui cho mình. Hạnh phúc là khi bạn dám sống cho chính bản thân.


Tuổi già không đáng sợ.  Điều đáng sợ là sống một cuộc đời mà không biết cách yêu thương chính bản thân mình.

    Anyway.  Life is too short.  Don’t make it shorter !


TRẦN VĂN GIANG

Gửi Chào Thiên Thu - Đỗ Công Luận

Tình Người Đen Trắng - Đoàn Xuân Thu

 
Nguồn Youtube

Cô bé da đen chỉ mới mười hai tuổi, bị xã hội lãng quên, sống nhờ những chiếc bánh mì bơ đậu phộng và những quyển sách ở thư viện. Không ai trong khu phố của cô đi giày mới – chứ đừng nói đến việc nhìn thấy một triệu phú. Nhưng trong một sự xoay chuyển kỳ lạ của số phận, chính người đó – một người đàn ông quyền lực trị giá 48 triệu đô la – đã ngã quỵ trước mặt cô: một người đàn ông với trái tim sắp tắt… và không có ai xung quanh.


Trong một thành phố đông đúc người, chỉ có một cô bé đói khát mới nhận ra một người đàn ông sắp chết. Cô không la hét. Cô không đứng yên. Cô bỏ balo xuống và làm điều mà hầu hết trẻ con không bao giờ dám làm. Đừng bao giờ đánh giá thấp ai chỉ vì thế giới đã làm vậy. Và những gì cô bé làm sau đó – có thể đã cứu được hai mạng sống.

Tất cả bắt đầu bằng mưa. Mưa nặng hạt, lạnh lẽo và tàn nhẫn – loại mưa khiến người lớn than vãn và trẻ em chạy trú mưa. Nhưng cô bé vẫn đi, ướt sũng và im lặng, ôm chặt chiếc áo khoác rách. Gần góc phố 5th và Morrow, một chiếc xe đen rú ga. Cửa xe mở. Một người đàn ông loạng choạng bước ra. Và ngay lập tức, ông ta ngã xuống – mặt áp đất, không cử động. Mọi người liếc nhìn nhưng tiếp tục bước đi. Một người còn bước qua người đàn ông đó. Cô bé không làm vậy. Cô quỳ xuống. Đặt hai ngón tay lên cổ ông. Không có mạch đập. Không phải ai được huấn luyện cấp cứu cũng hành động trong tình huống khẩn cấp. Nhưng cô bé này, được bà nội dạy bảo, hành động như một nhân viên y tế. Dũng cảm không đến từ độ tuổi, nó đến từ sự lựa chọn. Cô thì thầm lời cầu nguyện của Chúa khi bắt đầu ép tim. Lòng bàn tay cô không đủ lớn, nhưng cô dùng toàn bộ sức nặng của mình. Một, hai, ba – cứ như bà nội đã dạy. Một người đàn ông gần đó rút điện thoại ra. Một người khác hét lên: “Cô bé làm đau ông ta rồi!” Nhưng cô không dừng lại. Khi xe cứu thương đến, cô đã khóc, mệt mỏi – nhưng vẫn tiếp tục đếm từng nhịp. “Ông ấy có mạch rồi,” một nhân viên cứu thương lẩm bẩm trong sự ngạc nhiên. “Cô bé này… đã cứu mạng ông ấy.” Họ đưa ông lên xe cứu thương. Không ai hỏi tên cô. Trong một thế giới đầy ồn ào, những người im lặng đôi khi lại mang trong mình sức mạnh lớn lao nhất. Và cô bé lại bước về nhà – ướt sũng, run rẩy và một mình.

Câu chuyện này là một minh chứng cho sức mạnh của lòng can đảm và sự quyết tâm không thể bị đánh giá thấp.

Trong khi xã hội dễ dàng quên đi những đứa trẻ sống trong nghèo khó, chỉ một hành động can đảm từ một cô bé đã làm thay đổi cả cuộc đời của một người đàn ông giàu có. Cô không để những định kiến về tuổi tác hay tình trạng xã hội ngăn cản hành động của mình. Sự giúp đỡ của cô đã cứu sống một người, nhưng điều khiến câu chuyện này thực sự đặc biệt là những lời nói cuối cùng mà người đàn ông đã thì thầm với cô bé.


Sau khi được cứu sống, người đàn ông, người có tài sản lên tới hàng chục triệu đô la, đã hồi phục và tìm cách để cảm ơn cô bé. Khi ông tỉnh lại và nhận ra mình đã được cứu sống, ông không chỉ biết ơn mà còn cảm thấy một nỗi buồn sâu sắc. Những gì ông thì thầm với cô bé khi cô vẫn còn đang cố gắng làm trong khi tất cả mọi người xung quanh chỉ đứng nhìn, đã làm cô bé rơi lệ.

“Con thật tuyệt vời… Cảm ơn con, nhưng tại sao con lại giúp tôi?” Ông hỏi, giọng ông yếu ớt nhưng chân thành.

Cô bé chỉ mỉm cười và đáp: “Vì con không thể để ai đó chết khi con có thể giúp.”

Những lời nói đó, dù đơn giản nhưng lại chất chứa một thông điệp mạnh mẽ về lòng nhân ái và sự hy sinh. Cô bé không chỉ cứu sống ông mà còn dạy ông về những giá trị mà tiền bạc không thể mua được. Cảm giác biết ơn và sự giác ngộ mà ông nhận được đã thay đổi cách ông nhìn nhận về cuộc sống và về những người không may mắn.

Một trong những bài học lớn từ câu chuyện này chính là sức mạnh của những hành động đơn giản nhưng đầy ý nghĩa, những hành động im lặng mà không cần sự phô trương. Cô bé này đã không cần phải làm điều gì vĩ đại hay ồn ào, cô chỉ làm những gì cần phải làm – và đó chính là sức mạnh đích thực. Đôi khi, trong một thế giới ồn ào, những hành động nhỏ nhưng đầy tình người lại có thể thay đổi cuộc đời của một ai đó mãi mãi.

Trong khi những người xung quanh không để ý hay quay lưng đi, cô bé đã không ngần ngại đối diện với tình huống nguy hiểm và làm hết sức mình để cứu lấy một mạng sống. Chúng ta có thể học được rất nhiều từ cô – không phải từ những gì cô nói, mà từ những gì cô làm.

Câu chuyện của cô bé này là một lời nhắc nhở rằng trong cuộc sống, không ai quá nhỏ bé để không thể làm điều lớn lao. Đừng bao giờ đánh giá thấp giá trị của bản thân chỉ vì tuổi tác, hoàn cảnh hay những điều mà xã hội muốn định đoạt cho bạn. Vì đôi khi, chính những người mà thế giới đã lãng quên lại là những người sở hữu sức mạnh thay đổi cả thế giới.

 

Đoàn Xuân Thu

Tôi Không Cuồng, Cũng Không Chống

 

TÔI KHÔNG CUỒNG, CŨNG KHÔNG CHỬI BỚI BẤT CỨ MỘT NHÀ LÃNH ĐẠO DÂN CHỦ NÀO,

TÔI CHỈ ỦNG HỘ CÓ MINH CHỨNG KẾT QUẢ MÀ HỌ ĐẠT ĐƯỢC

Hơn năm năm, ông ấy nhận năm đô la.

Ông là nhà lãnh đạo duy nhất trên thế giới không nhận lương, chỉ tượng trưng mỗi năm nhận một đô la.

Ông quyên góp toàn bộ séc 100.000 đô la mỗi quý cho công viên, trường học, cựu chiến binh.

Ông hoàn toàn thực hiện lời hứa: không lấy một đồng nào, chỉ vì đất nước.

Ông từng bị ám sát hụt hai lần,,

Trên thế giới này, ai có thể vì mỗi năm vỏn vẹn một đô la mà ngày ngày chịu đựng những lời nguyền rủa ngập trời, sỉ nhục, vu khống, thậm chí đe dọa ám sát?

Ông vốn là tỷ phú có thể ngồi hưởng gia sản tỷ đô an nhàn tuổi già, nhưng ông chọn con đường khó khăn nhất;


Tái định hình trật tự thế giới, bảo vệ giá trị truyền thống.

So với những “quyền quý” ngồi trên hàng nghìn tỷ, vung tay như cát bụi, Ông Trump là ngoại lệ duy nhất của thời đại này.

Ông đối mặt với cục diện phức tạp chưa từng có – không chỉ chống lại những cuộc tấn công điên cuồng và bôi nhọ từ trong nước, mà còn phải đối diện với mối đe dọa hạt nhân, cuộc chơi địa chính trị, và rủi ro nước Mỹ bị thế lực bên ngoài lật đổ do hậu quả của những người tiền nhiệm để lại.

Ông như một người canh gác cô độc, khí trục ác đang cố nuốt chửng nước Mỹ, ông dùng thân mình chắn đạn cho nước Mỹ.

Ông dốc hết sức lực. Không chỉ cứu nước Mỹ, mà còn nỗ lực dẫn dắt thế giới trở lại quỹ đạo đúng đắn.

Đối mặt với sự phản bội của đồng minh, dù sa vào khốn cảnh, dù có bao nhiêu bất lực, ông cũng không bao giờ từ bỏ những giá trị mà Chúa ban cho nước Mỹ.

TT Trump là một trong số rất ít người của thời đại này chưa bị ma quỷ mua chuộc!!!

Dù ông đầy vết thương, nhưng Chúa đã nghe thấy tiếng ông! Nếu không, ông cũng không thể liên tục tạo ra kỳ tích.

Chúa dường như ban cho TT Trump sức mạnh phi thường, khiến những kẻ chờ xem trò cười thất vọng hết lần này đến lần khác.

Nhiều người hỏi tôi:

Tại sao bạn ngày càng kiên định ủng hộ ông ấy?

Câu trả lời của tôi rất đơn giản: Tôi không thể nhìn một ông lão gần 80 tuổi, ngày ngày không nghỉ không ngơi lao động vì nước Mỹ. Còn phải liên tục bị sỉ nhục, vu khống, và chịu đựng những vụ ám sát hết lần này đến lần khác tôi nhìn vào kết quả ông ấy đạt được !

Ông từng đùa rằng: “Nếu tôi thực sự là vua, có thể độc tài, thì tại sao ngay cả việc sửa bãi cỏ Nhà Trắng tôi cũng không được quyết định?”

Hãy nhìn những nhà độc tài trên thế giới, những “vua chúa” thực sự — chỉ vì ai đó nói một câu không vừa tai, họ sẽ bị giam cầm trọn đời hoặc “bị biến mất hoàn toàn”.

So với những nhà độc tài này,TT Trump tính là “loại vua” gì?

Đây có lẽ là trận chiến cuối cùng then chốt giữa công lý và cái ác của nhân loại. Nếu chúng ta thua, mọi thứ sẽ vạn kiếp bất phục.

Vì vậy, đừng để ông ấy chiến đấu một mình.

Thế giới này nợ ông ấy quá nhiều. Nếu các bạn ủng hộ TT Trump, hãy dũng cảm nói ra! Nếu ngay cả chút dũng khí này cũng không có, chúng ta sẽ hổ thẹn với sự cống hiến của Trump, và hổ thẹn với mảnh đất mà chúng ta đã di cư đến.

Sự đóng góp của TT Trump cho nước Mỹ ai nấy đều thấy rõ.

Nước Mỹ bây giờ có lẽ chưa hoàn toàn nhận ra sự vĩ đại của ông, nhưng lịch sử sẽ ghi nhớ: từng có một ông lão, chiến đấu vì bảo vệ nền văn minh cuối cùng và hy vọng của nhân loại.

Đừng nhắc gì đến Giải Nobel nữa, điều đó đơn giản là sỉ nhục Trump. Giải “hòa bình” danh nghĩa này đã thối nát từ lâu.

Nếu ai đó ghét Ông Trump hãy nêu bằng chứng thuyết phục,,

Nếu họ chỉ biết chửi bới, Một ngày nào đó họ cũng sẽ vô cớ chửi bới cha mẹ họ vì họ đâu có IQ phân biệt phải trái

Phần thưởng lớn nhất mà Chúa ban cho TT Trump chính là nhân dân Mỹ sẽ đời đời ghi nhớ ông!

Người Mỹ bây giờ có lẽ chưa, nhưng tương lai chắc chắn sẽ thế hệ này sang thế hệ khác biết ơn ông.


By Son Hahong

@POTUS @realDonaldTrump

Sunday, June 14, 2026

Video Thành Phố Lourdes Và Thánh Địa Đức Bà Maria - Nguyễn Duy Phước

Cộng Sản Việt Nam





Cộng sản VN đã ra sức nhồi sọ nhân dân cách nhìn về Miền Nam trên quan điểm của kẻ thắng trận chứ không bằng cái nhìn khách quan dựa trên sự thật!

Hệ thống truyền thông của cộng sản VN luôn miệng chửi rủa người VNCH là bán nước, là ngu, là hèn, là tàn ác… và khi nói đến người Cộng Sản thì chỉ có những lời tuyên dương, mà không hề nói đến những xấu xa của lớp người mà con em họ bây giờ đang ra sức bóc lột, đày đoạ đồng bào của họ!

SỰ THẬT thì Cộng Sản mới chính là những kẻ giết dân trong thời loạn, ăn cướp của dân trong thời bình, dâng đất dâng biển cho Tàu, thống nhất giang sơn bằng những hành vi tàn ác gian manh, tráo trở lật lọng !

Ở đây tôi thử so sánh bằng cách đưa ra những sự kiện thực tế:

1) Kinh Tế

Kinh tế VNCH thời đó không thua bất cứ nước nào trong khu vực, ngoại trừ Nhật Bản!

-Trong khi ở Miền Bắc “Một năm 2 thước vải chẳng đủ che cái l…”, thì Khu Kỷ Nghệ Biên Hoà trong Nam có rất nhiều nhà máy dệt vải thừa để xuất cảng ra nước ngoài.

-Trong khi chiếc xe đạp là cả một giấc mơ của người dân Miền Bắc thời đó, thì ở trong Nam đã sản xuất xe ô tô La DaLat cho dân mua rẻ hơn xe nhập cảng.

-Trong khi bất cứ thành phố nào của VNCH cũng có những “Quán Cơm Xã Hội”, người nghèo, học sinh, sinh viên chỉ bỏ ra một ít tiền tượng trưng là có được bữa ăn no với đủ 3 món canh, món mặn, món xào… thì ở MBXHCN phải ăn độn ngô khoai sắn với chế độ “Tem Phiếu Hộ Khẩu”!

2) Chính Trị

Ai cũng thấy rõ điều này, là những kẻ bị kềm kẹp, không hề biết Tự Do Dân Chủ là gì lại đi giải phóng những người đang được hưởng Tự Do!

Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc cũng là giai đoạn cáo chung của chủ nghĩa Thực Dân, Phát Xít!

Các cựu thuộc địa mới giành được độc lập lúc đó đều đứng trước hai lựa chọn chiến lược: Thứ nhất là phát triển đất nước theo mô thức kinh tế nào. Thứ hai là liên kết với những cường quốc nào trong một thế giới đầy tranh chấp.

Việc “Đổi Mới” từ năm 1986, mở cửa để chào đón Tư Bản, hội nhập vào Thế Giới Tự Do của cộng sản VN đã cho thấy ngày xưa Việt Nam Cộng Hòa đã chọn đúng con đường, vì thực chất của việc “Đổi Mới” đó chỉ là bỏ đi những cách làm ăn của cộng sản để từng bước theo những bước Việt Nam Cộng Hoà đã đi mà thôi!

Như vậy, chính ông Hồ và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chọn nhầm trong cả hai quyết định chiến lược đó. Họ chọn đường lối phát triển theo Liên Xô, sau phải xóa bỏ vì Liên Xô sụp đổ . Họ chọn liên kết với Trung Cộng, với kết quả bây giờ phải chịu mất đất mất đảo!

Việt Nam Cộng Hoà là một con tàu đã đi đúng hướng, và nếu con tàu này không bị chìm trong trời "giông bão Cộng Sản" thì nó đã đến được đích. Rất tiếc là chính người cộng sản đã đánh chìm con tàu đó, nếu không thì ngày nay Châu Á đã có thêm một con Rồng, và con Rồng Việt Nam có thể chẳng kém gì Nhật Bản !

3) Văn Hóa & Xã Hội

Cái guồng máy cai trị của Cộng Sản VN ngày nay đã nức tiếng với những con người tồi tệ về nhân phẩm: gian tham, ăn cắp, lừa bịp, nịnh hót cấp trên thô tục với cấp dưới… một cách có hệ thống!

Không ai chối cãi rằng Chính Quyền VNCH ngày xưa có những con người tồi tệ! Nhưng ít ra họ cũng đã xây dựng được một xã hội Miền Nam tốt đẹp về tinh thần và vật chất tuy có khiêm tốn nhưng vẫn hơn xa Miền Bắc!

Một trong những yếu tố để đánh giá người lãnh đạo quốc gia là nhìn vào đời sống xã hội của nước đó! Qua yếu tố này thì rõ ràng lãnh đạo miền Nam không thể tồi tệ hơn lãnh đạo miền Bắc được!

Vài ví dụ nhỏ:

-Dưới thời VNCH, học sinh bậc Tiểu Học không phải đóng học phí, trường Trung Học Công lập cũng vậy! Trong khi đó, ngay cả khi đất nước đã thống nhất, hoà bình mà cho đến ngày nay 36 năm sau, học sinh sinh viên VN vẫn phải đóng đủ thứ tiền mới đến được trường. Tồi tệ hơn nữa là đang có vô số trẻ em phải bỏ học vì nghèo!

Thời VNCH, bệnh nhân nếu đến bệnh viện Công thì không phải trả viện phí, thuốc men không tính tiền, kể cả ngành Nha khoa. Còn VN cho đến ngày nay thì giường bệnh ít hơn chỗ nằm trong nhà tù, bệnh nhân phải về nhà chờ chết vì không tiền trả viện phí, phải đút lót ngay cả cho ý tá, bác sĩ!

-Ngày họ cưỡng chiếm được Miền nam, thì họ gọi Văn Hoá Miền nam là “văn hóa đồi trụy”, ngày nay cái “văn hóa đồi trụy” đó đang ngự trị trong tim trong óc người Việt cả nước!

4) Quân Sự

Những yếu tố để đánh giá về cái tài của người chỉ huy quân sự là con số thương vong của quân sĩ và sự thắng bại của những cuộc giao tranh.

Về điểm này thì cấp chỉ huy quân sự Miền Nam có nhiều người kém tài, hèn nhát… Nhưng cấp chỉ huy của Miền Bắc nào có hơn gì đâu?

-Con số thương vong của Quân Lực VNCH là 260 ngàn, trong khi của Bộ Đội CSBV là 1,8 triệu! Con số đó nói lên tất cả! Thử hỏi với con số thương vong như thế, nếu Mỹ không lui, không ngưng viện trợ cho VNCH, Nga Tàu không bơm tới tấp cho Bắc Việt, thì đến nay con số đó đã như thế nào?

Trong suốt chiều dài cuộc chiến, đặc biệt là Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 thì QLVNCH chỉ thua 2 trận là trận Lam Sơn 719 đánh qua Hạ Lào (thua vì vấn đề tình báo bị lộ), và trận chiến Hoàng Sa với Trung Cộng năm 1974 (Mất Hoàng Sa vì vào thời điểm đó, quân CSBV dốc toàn lực tấn công trên đất liền, buộc lực lượng tổng trừ bị của VNCH phải trải quân ra khắp nơi để đối phó, không thể tham gia trận chiến Hoàng Sa)!

Còn lại thì QLVNCH không hề thua bất cứ một trận lớn nhỏ nào cả trong suốt chiều dài cuộc chiến đó!

Còn cái chiến thắng cuối cùng 30/4/1975 lại là chuyện khác, nó không thuộc lĩnh vực Quân Sự. Phải lấy công tâm mà nói điều đó.

QLVNCH nói chung là đã buông súng vì không còn đạn dược, nhiên liệu…

Quân CSBV chỉ việc đến chiếm những thành phố đã bị bỏ ngõ, nhiều nơi bỏ ngõ cả tuần rồi mà họ cũng chưa đến được để tiếp thu! Nói tóm lại, nếu ngày xưa Bắc Việt được như Đông Đức, Bắc Triều Tiên để đừng xem sinh mạng con dân như cỏ rác, đừng bị Quốc Tế Cộng Sản biến thành những con vật hy sinh, đừng bị Trung Cộng biến thành con chó gác nhà giữ ngõ cho nó… mà xua quân đi gây chiến ở Miền Nam, thì ngày nay ít nhất đất nước Việt Nam cũng đã có một Miền Nam phồn thịnh, như Nam Hàn so với Bắc Hàn bây giờ


(2) Nhóm ACE Người Việt Lưu-Vong | Cộng sản VN đã ra sức nhồi sọ nhân dân cách nhìn về Miền Nam trên quan điểm của kẻ thắng trận chứ không bằng cái... | Facebook

Tội Trần - Người Phương Nam

Mẹ Con Anh Khờ - Nguyễn Thạch Giang

Thắm Nguyễn


Anh tên Hiền mà người thì cũng thật là hiền, nhưng hiền quá đôi lúc thành ra… khờ.
Không biết ai đặt cho anh cái tên Khờ, dân lối xóm kêu riết thành quen chết danh cái tên Khờ.
Mẹ anh thì nói con tui đâu phải khờ, nó chỉ không được khôn lanh như người ta mà thôi.

Mẹ anh Khờ là bà Thảo giáo viên trường tiểu học. Bà Thảo hồi nào tới giờ không có chồng nên anh Khờ không biết cha mình là ai.

Gia đình đơn chiếc, hai mẹ con sống trong căn nhà ông bà để lại vùng ngoại ô đèn vàng này, cái nhà mà bà Thảo đã sống từ thời bà mới vừa biết đi lẫm chẫm.
Bà có một người anh trai từ lâu sống trên thành phố, nay được con cháu bảo lãnh sang sống ở nước ngoài. Căn nhà và miếng đất cho hết bà Thảo, không ai tranh giành.

Anh Khờ cũng học xong trung học, thi đại học đôi ba lần không đậu, về nhà nói mẹ ơi con muốn đăng ký đi xuất khẩu lao động nước ngoài.

Bà Thảo có hơi ngần ngừ, nửa muốn cho con ra ngoài học khôn, học ăn học nói học gói học mở với người ta, nhưng nửa ngại con mình khờ quá biết có thích nghi nổi hoàn cảnh nơi xứ người không đây.
Nhưng rồi anh Khờ lại rớt phỏng vấn, thôi thì theo bạn bè xin việc tại các khu công nghiệp.

Thời đó hãng xưởng gia công mọc lên như nấm sau mưa, đi đâu cũng thấy tuyển người làm. Mặc sức cho anh Khờ bay nhảy, anh làm chỗ này đôi ba tháng lại đổi chỗ khác, nhưng anh vốn hay bị khờ lại đứng núi này trông núi nọ, nếu anh không tự ý xin thì chủ cũng cho anh nghỉ.

Năm anh hai mươi lăm tuổi mẹ kêu về quê cưới vợ. Có chỗ muốn gả con.
Ông bà Thân cũng là giáo viên dạy chung trường với bà Thảo, lại là người lối xóm. Cô con gái của ông bà cũng trạc tuổi anh Khờ, cũng theo nghiệp cha mẹ, cũng là cô giáo trường làng. Cô tên Lan, năm nay đã hai nhăm nhưng chưa từng có bạn trai.

Sợ để lâu con mình ế, ông bà Thân sang nhà bà Thảo không cần khách sáo nói huỵch tẹt là muốn cưới anh Khờ cho con gái mình. Bà Thảo thấy gia đình ông giáo Thân tự hồi nào đến giờ không mang điều tiếng chi.

Cô Lan cũng được gái, nếu đem chấm điểm cũng được bảy trên mười, người như cô đi đâu mà tìm.
Bà Thảo thì ưng bụng lắm nhưng cũng nói để tôi hỏi ý thằng con.
Ông giáo Thân sợ anh Khờ chê con mình, trước khi ra về còn nói, “Vợ chồng tôi bảo đảm với chị, con gái tôi còn nguyên xi, con gái tôi chưa từng, chưa từng … yêu.”
Bà Thảo cười thầm trong bụng bởi bà là người có tư tưởng rất thoáng, đời bây giờ đâu ai đòi hỏi gái về nhà chồng phải còn nguyên xi. Mà còn hay mất … chỉ có trời mới biết.

Anh Khờ nghe tin cưới vợ thì mừng hí hửng. Thân con mười hai bến nước, mẹ muốn gả cho ai thì gả.
Con đi làm trên thành phố mấy năm nay nhưng chẳng có dư được đồng nào. Ðám cưới ai muốn tính sao thì tính. Hai nhà cách nhau chưa tới trăm mét, lễ rước dâu đi bộ cũng được nhưng nhà gái muốn có xe hoa.
Cô dâu phải bước lên xe hoa về nhà chồng cho đúng bài bản.

Ðám cưới của anh Khờ thật là vui. Chú rể trai tân sánh duyên cùng cô dâu chưa từng … yêu.
Nhưng ngày vui qua mau.  Mau không ngờ. Cô dâu về nhà chồng được ba ngày thì ôm gói bỏ đi đâu không ai biết.
Chờ hoài không thấy về, bà Thảo cùng anh Khờ sang nhà thông gia tìm hiểu sự tình. Hai ông bà Thân chưng hửng, nó không có về đây, không biết nó đi đâu, để tôi đi tìm nó về chịu tội. Thiệt tình là con với cái. Nhưng tôi biết nó không quen ai, không hề.

Mười ngày sau ông bà Thân sang nhà bà Thảo chịu tội thế cho con. Con dại thì cái mang. Không phải ông không tìm ra con mình bỏ trốn ở đâu, nhưng ông biết rằng cuộc hôn nhân này hết phương cứu vãn.
Ông không nói lý do con bỏ trốn, chỉ nói xin lỗi. Chúng tôi thành thật xin lỗi. Nhưng hai ông bà chỉ nói những lời xin lỗi suông mà không hề đả động gì tới tiền bạc hay đồ sính lễ.

Bà Thảo nhìn thằng con, anh Khờ ngồi làm thinh mặt mày ngẩn tò te. Bà thấy vừa tội vừa thương. Bởi vì anh sinh ra đã mang tên Hiền, trong tình cảnh này mà anh cũng hiền được thì anh quả thật là người đáng … thương.
Sau đó anh Khờ lẳng lặng lên thành phố tiếp tục cuộc đời công nhân. Cuộc sống ngày qua ngày, ngày nào cũng giống ngày nấy chẳng thấy chi điều mới lạ. Tiền lương vừa đủ chi tiêu tháng nào hết tháng đó, suốt cả năm chẳng có dư lấy một đồng.

Hôm mất việc, anh lại khăn gói về quê sống với mẹ. Thôi, không đi đâu nữa, ở đây kiếm việc làm sống qua ngày. Anh làm linh tinh đủ việc, không việc nào ổn định, lúc có lúc không, làm năm ba bữa nghỉ năm ba bữa.
Nhưng anh không lo, chỉ mong kiếm chút đỉnh tiền sáng sáng cà phê cà pháo là được rồi. Còn nhà lầu xe hơi tiền tỷ thì anh chẳng bao giờ mơ tới, bởi biết có mơ thì cũng chỉ thấy mờ mờ.
Ngay cả đến việc vợ con anh cũng không lo. Kệ, chừng nào có thì có, tới đâu hay tới đó.

Một buổi sáng mùa Xuân đẹp trời, một cô gái đến gõ cửa nhà xin được làm vợ anh Khờ. Cô còn trẻ và khá là đẹp, chỉ mới hai lăm.
Cô nàng là người xóm trên, cha mẹ đều là nhân viên nhà nước, gia đình nhà cửa đàng hoàng ai cũng biết. Cô chỉ có cái tội là yêu sớm và ham vui sớm, bỏ nhà theo bạn trai sống thử. Chừng đẻ được đứa con thì bạn trai vô tù vì có dính líu tới băng đảng bán xì-ke.

Là gái hồi nào tới giờ chỉ biết ăn ở không, nay lại ôm con mọn cô cảm thấy không có cái khổ nào bằng. Về nhà cha mẹ sống cũng không yên, bà con chòm xóm lời ong tiếng ve, chịu hết nổi, đường cùng, cô đến nhà bà Thảo gõ cửa, tình nguyện làm vợ anh Khờ.

Cô hứa nếu anh Khờ chịu lấy cô làm vợ, cô sẽ một lòng một dạ lo cho chồng và mẹ chồng. Cô sẽ đi làm nuôi anh Khờ suốt đời.
Bà Thảo nhìn thằng con, anh Khờ nay đã ba lăm rồi mà cũng chưa nên thân. Nghề cũng không mà tiền cũng không. Thôi thì cái thằng này, nó không lo kiếm vợ thì vợ cũng đi tìm nó. Chắc cái số của nó trời định như vậy rồi.

Ðám cưới anh Khờ lần này cũng đông vui. Chú rể trai một đời vợ sánh duyên cùng cô dâu gái một con.
Mọi sự đều do cô dâu bày vẽ, anh Khờ chỉ lo việc trả tiền. Cô dâu trẻ tuổi điệu đàng, thay áo cưới đôi ba lần. Áo đầm hở cổ, áo dài truyền thống, áo dài cách tân.

Lúc đi chào bàn quan khách mời rượu, cô dâu chú rể mặc áo cung đình. Cô dâu mặc áo hoàng hậu còn chú rể mặc áo hoàng đế. Bộ đồ mướn rộng thùng thình, không biết y phục cung đình thời vua nào, rồng phụng màu mè giống phim bộ Hồng Kông.

Lúc cô dâu chú rể cắt bánh cưới, đứa con gái nhỏ của cô dâu chạy đến ôm chân mẹ. Má ơi con muốn ăn bánh. Cả khán phòng cười ồ. Ðây là một tình huống bất ngờ, ban tổ chức không lường trước được.

Ðám cưới đâu chừng ba tháng thì xảy ra chuyện không ngờ. Một buổi sáng con dâu bà Thảo đi đâu về cùng một cậu thanh niên. Vừa bước vô nhà thấy bà Thảo là hai người quỳ xuống vừa khóc vừa kể:
– Mẹ ơi, xin tha lỗi cho con, con biết là con có lỗi nhiều lắm khi bỏ anh Khờ. Chồng cũ của con mới vừa được thả, đâu ai ngờ mau dữ vậy. Con thiệt là khổ tâm, mẹ với anh Khờ có thương con thì thương cho trót, thả con về với chồng cũ của con, hai vợ chồng con đội ơn mẹ với anh Khờ.

Nãy giờ bà Thảo ngồi sững sờ, bà bị một cú sốc mạnh không nói nên lời. Ðứa con dâu tháo chiếc nhẫn cưới bước lại đưa anh Khờ:
– Anh làm ơn nhận lại chiếc nhẫn cưới này giùm em, coi như anh xoá bỏ một lời nguyền. Em muôn vàn nhớ ơn anh. Còn đôi bông tai và sợi dây chuyền em xin giữ lại như đồ kỷ niệm.
Anh Khờ và bà Thảo ngồi làm thinh, hết ý kiến.
Cái tin vợ anh Khờ trở về với chồng cũ cả xóm đều biết. Có người nói tội cho anh Khờ, có người nói bỏ tiền ra mua được vợ ba tháng… coi như huề

Bà Thảo đến tuổi nghỉ hưu, ngày nào còn đi dạy bận bịu sách vở trường lớp, giờ ở nhà đi ra đi vô sao mà nó trống vắng buồn tênh.
Anh Khờ nay đã bốn mươi, bà nghĩ đến việc tìm vợ cho anh, mình đâu có sống đời mà lo cho nó hoài. Nhưng bà chưa kịp tìm thì vợ anh Khờ tới nhà gõ cửa, chắc cái số của anh như vậy.

Một buổi chiều mưa giông, có một người đàn bà cùng hai đứa con nhỏ chạy xăm xăm vào hiên nhà bà ngồi tránh mưa. Anh Khờ đói bụng bưng tô cơm nguội ra đứng ngoài hiên vừa ăn vừa ngó lén người ta. Anh trở vô nói với mẹ:
– Con ăn cơm thằng nhỏ ngó miệng hoài, chắc nó đói.

Bà Thảo biết ý thằng con, thấy người ta đói tội nghiệp muốn cho ăn mà còn ngại mẹ, sợ nói này nói kia.
Bà bước đến lấy tô cơm nguội chan cá kho đem ra ngoài cho thằng bé, bà nói trống không:
– Còn chút cơm nguội ăn đỡ.
Thằng nhỏ lấm lét nhìn mẹ nó. Người đàn bà trẻ lên tiếng:
– Nói cám ơn bà đi con.
Hai đứa nhỏ nói cám ơn bà rồi bưng tô cơm lên ăn. Nó ăn một muỗng rồi đút cho mẹ nó một muỗng.
Bà Thảo bước vào nhà trong lòng chợt thấy xúc động.

Mưa càng lúc càng to, giông gió sấm chớp tứ bề, anh Khờ đi tới đi lui ra chừng áy náy.
Bà bước ra ngoài kêu ba mẹ con vô nhà tránh mưa, ướt hết rồi thay quần áo kẻo cảm lạnh.
Bà bước đến bếp nấu nước sôi luộc mì gói cho ba mẹ con ăn thêm, chắc họ còn đói.

Người đàn bà lấy trong túi xách mấy bộ đồ khô thay cho con rồi ba mẹ con ngồi ăn mì.
– Con cám ơn bác nhiều lắm. Trước đây con ở ngoài Trung, làm ruộng quanh năm mà không đủ ăn. Chồng con theo người ta đi tàu đánh cá ngoài biển xa, không may tàu chìm chết đuối.
Con ở quê không có việc gì làm, càng lúc càng túng quẫn. Có người bạn cùng thôn lấy chồng ở thị trấn này mấy năm trước, năm ngoái chị về quê, thấy hoàn cảnh con khổ quá nói có gì vô đây chị giúp đỡ kiếm việc làm nuôi con.
Ðâu ngờ tới đây mới biết chị cùng chồng dọn đi nơi khác rồi. Bác làm ơn cho con tá túc vài bữa, rồi thủng thẳng con tìm việc tìm chỗ ở dọn đi.

Bà Thảo không nói gì. Từ chối thì không nỡ mà nhận lời thì ách giữa đàng cứ mang vào cổ.
Bà nhìn cái đi-văng chất đầy đồ đạc trên đó, bà không muốn dọn dẹp chỗ ngủ cho họ, tự nghĩ lòng tốt cũng có giới hạn, để họ ngủ dưới sàn gạch là quý rồi.
Bà bước vào trong lấy chiếc chiếu và mùng mền. Anh Khờ giúp giăng mùng, mấy mẹ con chui vào ngủ.

Buổi sáng bà Thảo bước ra khỏi phòng đã thấy mấy mẹ con thức dậy từ lâu, mùng mền xếp gọn gàng. Bà bước đến bếp nấu nước pha cà phê, mang cho người đàn bà trẻ một ly, bà cầm một ly bước ra phía trước nhà.

Bà không thấy nhưng cũng nghe biết ba mẹ con đang chia nhau uống. Sân vườn buổi sáng sau cơn mưa đêm thêm tươi mát. Bà Tư hàng xóm đi ngang, thấy bà trước sân bước vào nói chuyện.
Bà Tư thấy có bóng người lạ con nít trong nhà tò mò đưa mắt nhìn. Bà Thảo kể rõ đầu đuôi câu chuyện ngày hôm qua.

Hai bà bước vào trong. Bà Tư lên tiếng hỏi:
– Cô tên gì ?
– Dạ cháu tên Lành.
– Ông Hoà nhà ở đầu đường có bà mẹ chín mươi tuổi, muốn tìm người mỗi ngày tới phụ giúp cho ăn tắm rửa chừng bốn tiếng đồng hồ trả năm chục ngàn, cô có muốn làm không?
– Dạ muốn, cháu làm được, chuyện gì cháu cũng làm.
Bà Tư nói, “Vậy cô đi theo tui tới đó thử việc.”

Buổi trưa chị  Lành đi về đưa bà Thảo tiền làm được.  Con làm được, họ thích lắm, dặn là mỗi ngày cứ đến làm đủ bốn tiếng thì về.
Chị đến bếp làm cơm, bà Thảo lấy trong tủ lạnh con gà đưa chị làm cơm gà luộc.
Bà bước đến ghế ngồi cầm quạt phe phẩy, ra điều bà chủ, bà mẹ chồng. Chị Lành làm bếp gọn gàng lanh lẹ, cả nhà xúm lại ngồi ăn, ai cũng khen ngon.
Chị Lành đi làm về là đưa tiền cho bà Thảo. Bà không nói gì lẳng lặng bỏ túi. Bà muốn thử xem sức chịu đựng của chị Lành đến đâu.

Bà còn tìm cách thử lòng người mẹ trẻ này, bà giả bộ để quên tiền chỗ này chỗ nọ, bà đánh rơi tiền khi thì trong bếp lúc ngoài sân.
Mấy đứa nhỏ lượm được trả lại cho bà. Không, bà muốn thử lòng mẹ nó kìa. Một hôm bà nhét hai tờ giấy năm trăm trên đầu tủ, một tờ tiền thật một tờ tiền âm phủ.
Buổi trưa bà đến xem chừng, hai tờ bạc không cánh mà bay. Bà suy nghĩ, lúc bà giấu đâu có chị Lành ở nhà, chị đã đi làm rồi, chỉ có thằng con trai bà đi ra đi vô mặt mày như mèo ăn vụng.

Buổi trưa anh Khờ về ngủ, bà lục túi quần anh treo trên vách, trong mớ tiền lẻ có tờ năm trăm tiền giả. Bà xé làm đôi vứt thùng rác. Thằng này xớn xác đem xài có ngày công an còng đầu. Con ơi là con.
Xéo nhà bà Thảo phía bên kia đường là nhà ông Quý làm ở ngân hàng. Ông đang cho thợ đập nhà cũ xây nhà mới lên thêm từng lầu.
Một hôm mấy người thợ xách con gà nhờ chị Lành làm cơm họ trả công. Chị Lành có tài nấu cơm gà luộc pha nước mắm gừng rất ngon. Ai ăn cũng khen.

Thế là hết nhóm thợ này tới nhóm thợ khác nhờ chị giúp, buổi trưa họ ngồi ăn uống ồn ào như cái quán.
Chị Lành thấy ham xin phép bà Thảo đặt hai cái bàn nhỏ trước sân buổi trưa bán cơm gà kiếm thêm tiền chợ. Bà Thảo bảo anh Khờ phụ chị cắt cổ gà nhổ lông gà, phụ dọn dẹp.
Tiền lời bao nhiêu chị đưa bà Thảo. Bà chỉ lấy một ít, bảo chị giữ để dành lo cho hai đứa nhỏ. Bà thử thách chị bao nhiêu đủ rồi.
Lối xóm thấy anh Khờ đưa đón hai đứa nhỏ đi học, thấy anh buổi trưa phụ chị Lành bán cơm gà, ai cũng nghĩ chắc hai người này đã nhập cục ngủ chung mùng.

Ông Tám nhà kế bên hỏi vậy chớ chị không tính làm đám cưới cho tụi nó sao. Bà Thảo nghe tới đám cưới thì sợ hết hồn. Tởn tới già. Mà cũng ngộ thiệt, hai đứa tụi nó có gì đâu. Sao ai cũng nghĩ hễ trai gái chung nhà thì không trước thì sau cũng giở mùng chun vô.

Bà Tư ông Năm gặp bà Thảo hỏi đon ren. Sao, chị tính chừng nào cho hai đứa trình làng ra mắt quan viên hai họ.
Người này người kia nói ra nói vô khiến bà Thảo nghĩ ngợi. Hay là mình hỏi con Lành cho thằng Khờ cho rồi. Bà nói với chị Lành:
– Con ở đây mấy tháng cũng biết tình cảnh của mẹ con bác ra sao rồi. Thằng Khờ tuy không khôn lanh như người ta, nhưng nó hiền lành tử tế, không chơi bời nhậu nhẹt hút xách. Bác nay đã lớn tuổi mong nó sớm yên bề gia thất. Nếu con thấy được thì hai đứa sống với nhau xây dựng gia đình.
Chị Lành cảm động ứa nước mắt:
– Nếu bác với anh Khờ mà không chê con, con thật là có phước mới bước vô được nhà này.
Bà Thảo không muốn tổ chức đám cưới rình rang, bà chỉ muốn làm một bữa tiệc nho nhỏ tại nhà, gọi là buổi ra mắt. Bà bàn với ông Tám và bà Tư lối xóm, bà nói:
– Tôi tính đặt một con heo quay, nấu một nồi cà ri gà ăn với bánh mì, cá hấp ăn với cơm chiên là đủ. Mua một thùng bia, mời bà con lối xóm chừng hai bàn là được rồi.

Ông Tám có ý kiến:
– Mình đãi kiểu đó giống như đám giỗ. Mặc dù không nói đám cưới nhưng cũng là đám cưới. Ðãi ăn phải dọn từ món chớ không bưng ra một lần.
Dạo đầu phải có đồ nguội để thực khách lai rai uống rượu hay bia, bỏ món cà ri thế bằng món vịt quay hay là chim cút rô ti, thêm món đồ biển cua tôm. Có hơi tốn kém chút… nhưng  phải làm coi cho được.
Bà Năm góp ý:
– Ðể tôi kêu mấy đứa nhỏ cùng bạn bè tụi nó sang phụ giúp, chị đừng lo, mấy thằng con tui giỏi mấy cái vụ này lắm.

Mặc dù không phát tờ rơi không làm quảng cáo, nhưng đám “ra mắt” của anh Khờ cả xóm ai cũng biết.
Ðàn bà con nít đi ngang nhà đứng lại dòm ngó trầm trồ, “Bữa nay đám cưới anh Khờ, bữa nay đám cưới anh Khờ!”
Mấy cậu thanh niên lăng xăng làm cổng chào với bảng “Tân Hôn”, mấy cô gái í a í ới vừa làm vừa cười giỡn dưới bếp. Bà Thảo đi tới đi lui miệng cười mãn nguyện.
Thằng con của bà lối xóm ai cũng thương. Mấy cậu thanh niên lại còn bày đặt đem gắn dàn máy hát hò. Ðám thanh niên thanh nữ đông quá ham vui, xin bác đặt thêm hai bàn, bác đừng lo, tụi con tự đem mồi với lại bia, vui với anh Khờ là chính.

Anh Khờ uống rượu vui quá kéo cô dâu lại hôn, cô dâu mắc cỡ bỏ đi chỗ khác, thiên hạ vỗ tay tán thưởng.
Anh Khờ xỉn xỉn lên hát một bài tân cổ giao duyên quên đầu quên đuôi ai cũng cười.
Buổi tối vợ chồng con cái xúm lại mở bao thơ đếm tiền. Anh Khờ mặt mày hí hửng lại nói với mẹ: lời, lời, hổng lỗ. Bà Thảo không nhịn được cười, hết ý kiến thằng con của tui, lần này đám cưới của nó … có lời.

Bà Thảo bắt đầu để ý con dâu, mỗi khi chị Lành đi đứng bà nhìn soi mói tìm điều khác lạ. Bà mong chị hôi cơm tanh cá, bà mong có một đứa cháu nội của riêng bà. Anh Khờ có thể mất vợ, nhưng cháu bà, cháu nội của bà sẽ mãi mãi là cháu bà.
Ngày tháng trôi qua bà không thể chờ. Một hôm bà kêu con dâu bà lại gặng hỏi:
– Mẹ nói thật với con, mà con cũng phải trả lời cho thật, con có thể nào đẻ cho mẹ một đứa cháu nội nữa không.

Chị Lành trầm ngâm giây lâu ngập ngừng điều khó nói:
– Con cũng biết mẹ với anh Khờ mong đợi điều đó, con thật lòng thương anh Khờ, muốn đẻ cho ảnh một đứa con, nhưng ảnh không thể… Hai đứa con cố gắng nhiều lần nhiều cách mà ảnh vẫn… không thể nào.

Một lần nữa bà Thảo bị một cú sốc, chuyện bây giờ mới biết. Bà nhớ lại lúc anh Khờ còn trẻ, bà nhiều lần tắm rửa cho anh, thấy anh cũng bình thường như bao đứa trẻ khác. Lúc nó lớn nhiều lần giặt quần xà lỏn cho nó, đôi lúc vấy bẩn mùi tanh tưởi. Sao bây giờ… sao bây giờ… như thế này?

Một buổi sáng sớm bà Thảo nói cho con dâu và thằng con biết là bà có việc phải đi lên thành phố chiều về. Mỗi lần đi là bà thấy thành phố thay đổi khác lạ, xe cộ người ta đi lại đông đúc ồn ào.
Nhưng bà không khó lắm để tìm ra nhà ông thầy “Ðông y sĩ bán thuốc gia truyền chuyên trị đàn ông yếu sinh lý”. Bà bước vào phòng đợi, lòng thấp thỏm lo âu. Bà nói ngập ngừng:
– Thưa thầy, tôi muốn thỉnh thuốc cho một người đàn ông… yếu… yếu… không thể… không thể…

Ông thầy thuốc Ðông y gia truyền nhìn bà khách bề ngoài không có vẻ gì là một người đàn bà đang trong thời kỳ … cần đến mấy chuyện đó.
– Bà nói ông nhà không thể … mà không thể như thế nào?
– Tôi nghe con dâu tôi nói chồng nó như vậy thì tôi biết như vậy. Có cần phải dẫn nó lên đây cho thầy khám?
Ông thầy bật cười hô hố, “Té ra bà đi thỉnh thuốc cho con trai bà, nãy giờ tôi cứ tưởng bà nói ông nhà. Tôi có thuốc viên hải cẩu bổ thận hoàn, bà mua cho cậu một lọ uống thử. Tôi hốt ba mươi thang thuốc cho con trai bà uống trong một tháng. Thuốc cường dương gia truyền, nổi danh ba đời.”

Buổi chiều về nhà, việc đầu tiên là bà Thảo đi vô bếp tìm siêu sắc thuốc cho thằng con trai. Buổi tối bà còn bắt anh Khờ bưng chén thuốc uống hết trước mặt bà.
Bà chờ đợi. Ngày nào cũng dòm ngó con dâu coi tướng tá có mập thêm chút nào. Buổi tối bà đi ra đi vô nghe ngóng, đi ngang phòng thằng con trai lắng nghe coi có tiếng cười giỡn giường chiếu nhúc nhích động đậy gì không.
Lúc thuốc gần hết, bà kêu con dâu lại hỏi nhỏ, con thấy có tiến bộ hơn chút nào không con. Cô con dâu lắc đầu, mọi sự vẫn u như kỹ… y như cũ.
Ngày tháng trôi qua…bà Thảo tức mình không chịu đầu hàng số phận, hễ còn nước là còn tát, hễ có bịnh là vái tứ phương. Ði đâu cũng nghe tụi thanh niên khẳng định  “người ta làm được, mình làm được.”

Bà thu xếp chuyện gia đình, dẫn con trai con dâu lên thành phố, đến bệnh viện trung ương khám nam, khoa chữa trị hiếm muộn. Sau nhiều lần thử nghiệm, bác sĩ tuyên bố bó tay, hết cách. Rất tiếc, ông không thể nào… không thể nào…
Từ đó bà Thảo không còn buồn, Không còn lo kiếm đứa cháu nội. Bà tự an ủi…”Ý trời”

Một hôm chị Lành đến gần bà Thảo thưa chuyện:
– Mẹ à, đêm qua con nằm mơ thấy chồng cũ con hiện về, anh vui cười hỏi thăm con đủ thứ.
Tỉnh dậy con nhớ quê quay quắt suốt cả ngày. Con đi cũng đã ba năm, con muốn xin phép mẹ cho con dẫn hai đứa nhỏ về quê, cúng mồ mả ông bà, mồ Ba tụi nó.
Bà Thảo miệng nói ờ phải con cứ đi, mà trong lòng bà thấy buồn buồn. Bà nghĩ rồi có ngày đứa con dâu này cũng sẽ bỏ con trai bà mà đi.

Buổi sáng anh Khờ hí hửng đưa vợ con ra bến xe về quê một tuần. Nghĩa là anh khỏi cắt cổ gà nhổ lông gà một tuần. Anh có nhiều thì giờ bù khú với bạn bè, trong khi mẹ anh lại buồn rười rượi vì nghĩ đứa con dâu này sẽ một đi không trở lại.
Lúc họ bước ra cửa bà móc tiền đưa con dâu và cho hai cháu. Dẫu thế nào thì bà cũng phải đối xử cho phải đạo mẹ chồng.

Mấy ngày con dâu đi vắng, bà cảm thấy trống trải buồn bã lạ thường. Bà thấy nhớ tiếng hai đứa nhỏ chạy giỡn nô đùa. Bà nhớ tiếng con dâu chặt thịt gà lộp bộp. Bà thương con dâu thương cháu nội thương cái mái ấm gia đình này hồi nào không biết.
Nhớ ngày nào tụi nó mới tới, co ro trong chiều mưa giá lạnh. Giờ đã ba năm. Ba năm con dâu bà trả ơn cưu mang coi như đã đủ. Sòng phẳng. Cuộc đời lúc nào cũng đối xử với bà sòng phẳng.  Quá là sòng phẳng.

Buổi sáng anh Khờ đi quán cà phê, ngang tấm lịch giả bộ ngó ngó, “Bữa nay mẹ con tụi nó về, ngày mai lại tiếp tục… cắt cổ gà…nhổ lông gà.” Bà muốn nói, con ơi mày được nhổ lông gà hằng ngày là phước ba đời đó con.
Anh Khờ nhắc tới một việc bà không dám chắc nhưng vẫn mong chờ. Ở tuổi này phải gánh vác một điều mất mát là một việc hết sức khó khăn.

 

Buổi trưa nằm thiêm thiếp trên giường bà nghe tiếng trẻ con cười nói, một âm thanh quen thuộc thân thương trong ngôi nhà này trong nhiều tháng qua.
Bà bước đến cửa sổ nhìn ra vườn sau, thằng cháu nội về tới là chạy u ra thăm con gà mái tre của nó nằm ấp trứng trong ổ, đứa cháu gái thì leo tuốt trên cây mận.
Bà bước ra phía trước, con dâu bà về tới lăng xăng xếp đồ sắp lên bàn thờ cúng ông bà. Nhiều dữ hôn, trái cây đồ ăn lũ khũ.
– Mẹ không ngủ trưa sao? Con có đem về mấy con tôm hùm với lại mực một nắng. Ðể con làm cơm trưa.
Chị Lành không thay quần áo nhào vô bếp làm món tôm hùm mới vừa học được. Anh Khờ đi chơi về bước vô nhà nói  thơm quá xá là thơm.

Cả nhà xúm lại quây quần ăn cơm trưa. Bà nói mẹ tính là ngày mai mình mua gà người ta làm sẵn cho tiện, cũng ngon chớ làm gà sống cực quá.
Cả anh Khờ và chị Lành đồng thanh, “Dạ phải, dạ phải. Con cũng tính nói với mẹ như vậy.” Ăn xong vợ chồng con cái nằm ngủ ngon lành.

Bà Thảo đi vòng quanh nhà ngắm nghía, phải sửa lại nhà bếp và nhà tắm theo kiểu mới hiện đại vừa sạch vừa thơm.
Rồi còn phải xây thêm phòng cho hai đứa cháu, tụi nó ngày một lớn. Hồi nào tới giờ cứ nghĩ thằng con của mình trước sau gì cũng bị vợ bỏ nên bà không tính đến chuyện sửa nhà. Nhưng mà mình đã tính sai.
Người tính sao bằng trời tính.


Mẹ con anh khờ - TRE Magazine