Monday, June 29, 2026

Những Câu Nói Hay, Ý Nghĩa Nhất Để Khích Lệ Tinh Thần



1. Quá khứ là nơi bạn đã học được những bài học. Tương lai là nơi bạn áp dụng bài học đó…
Vì thế đừng từ bỏ giữa chừng

2. Nếu bạn sinh ra trong nghèo khó, đó không phải là lỗi của bạn.
Nhưng nếu bạn chết trong nghèo khó, thì đó là lỗi của bạn.
~ Bill Gates

3. Không quan trọng quá khứ bạn khắc nghiệt thế nào, bạn luôn luôn có thể bắt đầu lại. ~ Đức Phật

4. Đôi lúc bạn đối mặt với khó khăn không phải vì bạn làm điều gì đó sai mà bởi vì bạn đang đi đúng hướng.

5. Những điều tốt đẹp đến với ai tin tưởng, những điều tốt hơn đến với ai kiên nhẫn và… những điều tốt nhất chỉ đến với người không bỏ cuộc.

6. Cuộc hành trình ngàn dặm …phải bắt đầu từ những bước đầu tiên.

7. Đừng mơ trong cuộc sống…mà hãy sống cho giấc mơ.

8. Cuộc sống không có nghĩa là dễ dàng. Nó luôn luôn biến động.
Đôi lúc hạnh phúc, có lúc lại khổ đau… Nhưng với tất cả những bước ” THĂNG TRẦM” trong cuộc sống, bạn lại học được những bài học làm cho bạn MẠNH MẼ LÊN.

9. Khi cuộc sống đặt bạn vào tình thế khó khăn…
Đừng bao giờ nói ” Tại sao lại là tôi..?”
Mà hãy nói ” Tôi sẽ cố gắng …!”

10. Rất nhiều người sợ nói ra những gì họ muốn, đó là lý do tại sao họ không có được những gì mình muốn.

11. Bạn không thể chặn những con sóng… nhưng bạn có thể học cách làm thế nào để lướt sóng – Jon Kabat-Zinn

12. Trong cuộc săn đuổi giữa báo và nai… rất nhiều lần con nai dành phần thắng. Bởi vì con báo chạy vì nhu cầu thức ăn còn con nai chạy để tồn tại. Hãy nhớ rằng…”mục tiêu quan trọng hơn nhu cầu”.

13. Thời gian là để tạo ra điều gì đó. Khi bạn nói TÔI KHÔNG CÓ THỜI GIAN đồng nghĩa với việc bạn nói TÔI KHÔNG MUỐN LÀM ĐIỀU ĐÓ.

14. Một trong những điều tốt nhất trong cuộc sống là nhận ra một điều bạn hoàn tòan hạnh phúc mà không cần đến những thứ mà bạn nghĩ rằng bạn cần nó nhất.

15. Mỗi khi mỏi bước trên con đường mình đã chọn, hãy tự nhủ mình: “Tiếp tục đi… đừng dừng lại. Mỗi bước có thể khó khăn hơn nhưng đừng dừng lại. Viễn cảnh đẹp nhất là lúc ở trên đỉnh”. Hãy luôn thúc đẩy mình bằng cách nghĩ về viễn cảnh hạnh phúc ở tương lai bạn nhé.

16. Đừng nghĩ mãi về quá khứ. Nó chỉ mang tới những giọt nước mắt. Đừng nghĩ nhiều về tương lai. Nó chỉ mang lại lo sợ. SỐNG Ở HIỆN TẠI VỚI NỤ CƯỜI TRÊN MÔI. Nó sẽ mang lại niềm vui cho bạn.

17. Khi bạn cảm thấy muốn buông xuôi, hãy nhớ lại rằng tại sao bạn đã đứng ở đó.

18. Nếu bạn hỏi một người giỏi trượt băng làm sao để thành công, anh ta sẽ nói với bạn: ngã, đứng dậy là thành công.
~ISAAC NEWTON

19. Tiến về phía trước không có nghĩa là bạn quên đi những điều đã xảy ra . Nó chỉ nói lên rằng bạn phải chấp nhận và tiếp tục sống.

20. Đừng lãng phí thời gian của bạn để nhìn lại những gì đã mất.
Hãy bước đi tiếp, với cuộc sống không có nghĩa là đi du lịch về miền quá khứ.

21. Nếu tôi chọn suy nghĩ hạnh phúc, tâm trạng của tôi sẽ hạnh phúc sướng vui. Nếu tôi chọn suy nghĩ tiêu cực, tâm trạng của tôi sẽ trở nên tồi tệ. Suy nghĩ của tôi tạo ra tâm trạng. Điều đó thật đơn giản, hãy thử bạn nhé.

22. Càng mất nhiều thời gian chờ đợi một điều gì đó bạn càng hiểu rõ giá trị của nó khi nhận được. Bởi vì bất cứ thứ gì có giá trị, chắc chắn phải bõ công chờ đợi.

23. Mỗi ngày có thể không phải là ngày tốt nhưng chắc chắn sẽ có điều gì đó tốt đẹp mỗi ngày => hãy mỉm cười và đón nhận ngày mới với thái độ hào hứng tích cực

24. Không quan trọng bạn nghĩ cuộc sống này tuyệt vời hay tồi tệ ra sao, Thức dậy mỗi sáng, cảm ơn cuộc đời bời vì vẫn có những người ở một nơi nào đó đang phải chiến đấu để tồn tại.

25. LÀM THẾ NÀO ĐỂ THÀNH CÔNG TRONG CUỘC SỐNG

Nói – ít đi
Thở – sâu hơn
Quần áo – lịch sự
Làm việc – chăm chỉ
Cư xử -đứng đắn-
Tiết kiệm – đều đặn
Ăn uống – hợp lý
Ngủ – đầy đủ
Hành động – dũng cảm
Suy nghĩ – sáng tạo
Kiếm tiền – lương thiện
Để dành – thông minh.


26. Hãy luôn tự nhủ mình:
“Tôi sẽ không dừng lại khi tôi mệt mỏi, tôi chỉ dừng lại khi tôi đã
hòan thành.”

Cố lên nào mọi người.


27. Niềm tin là sức mạnh của thành công.
khê kinh kha


28. Thời điểm mà bạn đã sẵn sàng buông xuôi mọi thứ thường là thời điểm ngay trước khi một phép lạ xảy ra, vì thế đừng từ bỏ.

29. Nếu một quả trứng bị vỡ do ngoại lực bên ngòai thì sự sống kết thúc.
Nếu một quả trứng bị vỡ bởi một lực từ bên trong thì cuộc sống bắt đầu.

Những điều tuyệt vời nhất trong cuộc sống cũng được hình thành từ bên trong mỗi con người.


Sưu tầm

Sunday, June 28, 2026

Những Đứa Trẻ Bị Đánh Cắp Tương Lai

 


Trong khi con cháu của các quan chức cộng sản ung dung bước vào những cánh cổng đại học ở Mỹ, Úc, châu Âu—nơi ánh đèn thư viện sáng suốt đêm và giấc mơ được bảo hộ bằng pháp luật—thì ở quê nhà, những đứa trẻ khác đang bị đẩy ra đường cùng cha mẹ. Chúng không mang vali du học, mà mang theo những xấp đơn khiếu kiện. Không học bổng nào che chở cho các em, chỉ có nắng mưa và sự im lặng.


Một xã hội được gọi là “vì nhân dân” nhưng lại cho phép một tầng lớp nhỏ cướp đất, cướp nhà, cướp sinh kế của hàng triệu người dân để nuôi dưỡng lối sống xa hoa cho con cháu họ ở nước ngoài. Đó không chỉ là sự bất công—đó là một sự phản bội có hệ thống. Những khu đất tổ tiên để lại bị thu hồi bằng một chữ ký. Những mái nhà bị đập bỏ bằng một mệnh lệnh. Và tương lai của cả một thế hệ bị đem đổi lấy những hóa đơn học phí ở xứ người.

“Dân oan” không phải là một thuật ngữ hành chính; đó là một thân phận. Là những gia đình mất đất, mất nhà, mất trường học cho con, phải sống tạm bợ, lang thang từ trụ sở này sang cơ quan khác chỉ để xin một điều rất nhỏ: được lắng nghe. Trong khi đó, những đứa trẻ của quyền lực lớn lên trong môi trường pháp trị, học về nhân quyền, về công lý, về tự do—những khái niệm mà chính cha mẹ chúng đã tước đoạt ở quê hương.

Nghịch lý ấy nhức nhối đến mức tàn nhẫn: một bên học cách bảo vệ quyền sở hữu; một bên bị tước đoạt quyền sống. Một bên nói về công bằng trong lớp học; một bên cầu xin công bằng ngoài cổng cơ quan. Một bên bay qua đại dương để mở rộng tương lai; một bên bị chặn lại ngay trước ngưỡng cửa của chính ngôi nhà mình.

Một đất nước không thể gọi là ổn định khi trẻ em phải ngủ trên vỉa hè vì đất của cha mẹ chúng bị lấy đi. Không thể gọi là phát triển khi học đường của các em bị thay bằng những khu dự án mờ ám. Và không thể gọi là “định hướng xã hội” khi lợi ích xã hội bị dồn về một nhóm đặc quyền, còn nỗi đau thì trải đều lên vai những người yếu thế nhất.

Những đứa trẻ dân oan không đòi hỏi nhiều. Các em không cần du học, không cần hộ chiếu ngoại quốc. Các em chỉ cần một mái nhà để trở về, một ngôi trường để học, và một nhà nước biết đứng về phía công lý. Nếu một chế độ không bảo vệ nổi những điều tối thiểu ấy, thì mọi khẩu hiệu đều trở nên rỗng tuếch.


Một ngày nào đó, lịch sử sẽ hỏi: chúng ta đã làm gì khi trẻ em bị đẩy ra đường để nuôi dưỡng sự xa hoa của quyền lực? Câu trả lời sẽ không nằm ở những bản báo cáo, mà ở ánh mắt của những đứa trẻ đã lớn lên giữa bất công—và vẫn còn đủ can đảm để tin rằng công lý, dù bị trì hoãn, không thể bị chôn vùi mãi mãi. 


Những đứa trẻ bị đánh cắp tương lai Trong khi... - Nhật Ký Yêu Nước | Facebook

Thanh Loan chuyển

Đời Vắng Em Rồi - Nguyễn Duy Phước

Đôi Bờ - BS. Vĩnh Chánh

Cầu Hiền Lương - Vikipedia tiếng Viiệt

Có những dòng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua bãi cát mịn, những bãi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những dòng sông, không hiểu vì sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh Chúa Nguyễn, đứng nhìn nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và những ánh mắt thù nghịch với mã tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh phúc, giáo dục nhân bản và tự do xã hội.  Hai dòng nước ấy, cách nhau hàng trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau. 


Giữa những đôi bờ ấy, dân Việt vẫn đứng đó, với một vết thương đã liền da nhưng vẫn nhói, vẫn buốt. Đặc biệt, sông Bến Hải– cầu Hiền Lương trở thành một nỗi nhớ triền miên, kèm theo mất mác chia lìa mà có khi cả đời vẫn chưa hàn gắn. Câu chuyện Đôi Bờ không chỉ là chuyện về địa lý của vĩ tuyến 17, không chỉ ngăn cách hai miền đất, hai chính thể. Chúng còn chia lìa những điều mong manh nhất của kiếp người. Với những danh từ mới: Bên Dinh Bên Tề, Di Cư Tập Kết, Tàu Há Mõm, Vượt Sông Vượt Tuyến, Bức Màn Sắt, Quốc Gia / Cộng Sản, Tự Do Dân Chủ / Độc Tài Đảng Trị, Khẩn Hoang Lập Ấp / Đấu Tố - Cải Cách Ruộng Đất. Khiến sự chia cách càng thêm éo le. Có những đôi bạn lớn lên cùng nhau, rồi một ngày trở thành hai phía của lịch sử. Có những mối tình vừa chớm nở đã bị dòng nước lạnh lùng cuốn đi, để lại hai trái tim chỉ còn biết thương nhớ nhau bằng ký ức. Có những gia đình, kẻ ở lại người ra đi, dù chỉ cách nhau một dòng sông nhỏ mà lại hóa ra xa đến tận hơn nửa đời người. Có những người chồng vội vả mang hai con lớn, để lại thằng út cho vợ, mà không ngờ thật đắng cay và chua xót khi về sau người cha và thằng con út mình tìm thấy nhau ở hai bên chiến tuyến.

 

Đôi Bờ bổng nhiên trở thành câu chuyện của những trái tim – những trái tim bị chia ly, những trái tim chảy máu, những trái tim tim lặng lẽ giữ lấy một niềm tin rằng, dù chiến tranh ngang trái, dù một dòng sông nhỏ thôi cũng đủ trở thành ranh giới của nhớ thương. Nỗi “thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai”- trong Đôi Bờ của Quang Dũng - như một lời thở than, một vết thương mềm của anh lính nhớ về một hình bóng xa mà gần, gần mà xa. Nỗi nhớ ấy tưởng chỉ là chuyện riêng giữa hai người, nhưng thật ra lại chạm vào mạch ngầm hằng có trong lịch sử Việt Nam - nơi những dòng sông từ lâu mang trong mình số phận chia cắt.


Sau Bến Hải, đến Cầu Trường Tiền bị CS đánh sập khi chúng mưu đồ xé bỏ hiệp định đình chiến Tết Mậu Thân 1968, chia cắt đôi bờ Hữu Ngạn Tả Ngạn của Huế gần cả tháng, đem chiến tranh vào tận thành phố và gieo tang tóc, chết chóc cho mấy ngàn thường dân vô tội. Từ năm 1965 và lần hồi nhiều năm sau đó, ranh giới Bến Hải bị xô lệnh khi miền Bắc cố tình và âm thầm lấn xuống phía Nam qua hẵn vùng phi quân sự. Đến năm Hè Đỏ Lửa 1973, cả ngàn bộ đội Miền Bắc bỏ xác, nhuộm đỏ dòng sông Thạch Hản khi tràn vào đánh vào Quảng Trị

Những sự kiện lấn chiếm phía Nam sông Bến Hải, đánh sập cầu Trường Tiền, tiến đánh Quảng Trị 1972, chủ trương chiến dịch Da Beo, khiến nơi trao đổi tù binh hai bên vào hè năm 1973 không phải là tại sông Bến Hải, mà là tại sông Thạch Hản, cho thấy sự tráo trở giảo quyệt của chế độ vô sản Miền Bắc, gây ra bao cuộc chia ly mà hình ảnh và vết tích đã, đang và mãi mãi còn in dấu trong lịch sử dân tộc.


Tưởng rằng sau 1975 khi đất nước liền một dải thì nỗi chia ly sẽ chấm dứt, đôi bờ ngăn cách sẽ được xóa tan. Thế nhưng lịch sử như muốn thử thách thêm sức chịu đựng của con dân mình, và rằng lịch sử chưa đủ những vết cắt, hay như thể cha ông chúng ta chưa đền đủ nợ oan gia  từ tiền kiếp, biến cố 30 tháng 4, 1975 lại mở ra một cuộc chia lìa khác, khủng khiếp hơn, kinh hãi hơn nhiều, gây nhiều thảm cảnh thương đau, đánh động lương tâm toàn thế giới – vì lần này không phải bởi một dòng sông nhỏ, mà bởi cả một đại dương rộng lớn và hãi hùng. Đại dương mênh mông này trở thành “dòng sông thứ ba”, hàng trăm ngàn người Việt lại đứng ở hai bờ sông – một bên là đất mẹ, một bên là bến bờ xa lạ.

Sóng biển không những nuốt chửng thuyền nhân, mà còn nuốt cả những hy vọng, những lời hẹn thề, những tiếng gọi nhau không bao giờ tới được. Vì vậy khi đọc Đôi Bờ, ta không chỉ thấy một cuộc chia ly của hai người, mà còn thấy luôn  bóng dáng của cả một dân tộc oằn người trong đó – một dân tộc nhiều lần bị đặt ở hai phía đối diện, nhưng trái tim người dân thì chưa bao giờ thôi hướng về nhau - với một người ra đi là cả một gia đình mươi người còn lại bên kia ngày ngày cầu nguyện cho người thân yêu đến được bờ bến tự do. Như vậy mới thấy rõ những Đôi Bờ của lịch sử có thể xa, nhưng những Đôi Bờ của tình người thì vẫn âm thầm mong ước ngày tái ngộ.

Đây là một cuộc vượt tuyến vĩ đại chưa từng được ghi nhận trong lịch sử thế giới, nói lên sự dứt khoát chọn lựa Tự Do trong cuộc sống, thà chết ngoài biển khơi hơn là tiếp tục sống trong nhà tù lớn, nhỏ, của chế độ thù hằn. Văn học xã hội và lịch sử có thêm những danh từ mới: Di Tản, Vượt Biên Vượt Biển, Cướp Biển, Thuyền Nhân Bộ Nhân, HO, ODP, Trại Tỵ Nạn, Trại Chuyển Tiếp, Hoạt Động Cứu Người Vuợt Biển, Định Cư Nhập Cư, Political Asylum Green Card…


Nhưng các bạn ơi, bến bờ lần này xa vời vợi, quá rộng, quá lạnh, quá tàn nhẫn;  Thái Bình Dương hay cả bên kia bờ Thái Bình Dương, rồi khắp vòng quanh thế giới là vạn dặm cách xa quê hương. Ở giữa những bờ ấy là những con thuyền mong manh như số phận người ra đi, là đói khát, là sóng to gió lớn, là chết chóc với con mắt mở lớn khiếp đảm và bàn tay không kịp đưa lên trời cầu xin, với những cơn bão không tên làm chìm thuyền, hay do thuyền của hung thần hải tặc đâm thẳng vào sau khi vét cạn chút tài sản còn lại của nạn nhân… Và giữa hai bờ ấy, cả mấy trăm ngàn người – vì một chữ Tự Do - đã nằm lại, không mộ phần, không bia đá, chỉ có biển cả làm tấm khăn liệm cuối cùng. Những chia ly này, không như những chia ly trước chỉ vì địa lý. Chúng là những tiếng khóc than bay lên tận trời. Là những vết thương âm thầm không ngưng rỉ máu trong từng gia đình, khi cha mất con vợ mất chồng, anh em thất lạc nhau– là những thảm cảnh xã hội trớ trêu, đầy oan trái, đắng cay.


Ta thường tự hỏi có phải lỗi lầm? Hay chỉ định mệnh? Khi một người vợ phải “ôm cầm sang thuyền khác” vì con thơ cần được nuôi, vì miếng cơm manh áo, vì bơ vơ trên xứ người, vì không biết chồng mình còn sống trong tù CS hay đã nằm đâu đó giữa núi rừng, biển khơi. Khi một người chồng cô đơn qua năm tháng, không tin có ngày vợ mình an toàn vượt biển để đoàn tụ, đành phải lấy một người chưa hề quen biết để cùng góp gạo thổi cơm – Thì đó không phải là lỗi lầm. Không ai phụ ai. Không ai phản bội ai. Đó là biến chuyển lịch sử phụ họ. Đó là định mệnh, là sự tàn nhẫn của thời cuộc, là cái giá con người phải trả. Ai trong chúng ta mà không mang một cây thánh giá trên vai?! Không nặng hơn, không nhẹ hơn; khác nhau ở chỗ vác như thế nào!?Chỉ là nhẹ hay nặng thôi! Trong những hoàn cảnh ấy, người ta không có sự lựa chọn. Cuộc sống buộc họ phải sống tiếp.


Phải chăng tiếp tục sống đôi khi cũng là một cách giữ gìn phẩm giá của mình. Để khi gặp lại nhau về sau, với mỗi người một đời sống riêng, thì điều họ trao cho nhau là sự cảm thông và tha thứ. Cảm thông để hiểu rằng định mệnh đã an bài, không ai phản bội ai. Chớ trách móc, chớ kết tội. Cần tha thứ. Tha thứ để nhẹ lòng, để giữ phần đẹp nhất của nhau, phần đã từng thuộc về nhau trước khi lịch sử xé đôi, và để khép lại một chương đời đau thương; chứ tha thứ không có nghĩa là phải quay về lại với nhau. Ta gọi đó là tình nhân bản.

Lỗi đâu ở kẻ đổi thay - Chỉ do định mệnh đẩy ngày xa nhau.

Thương nhau chẳng giữ được nhau - Thì xin giữ lấy nỗi đau dịu dàng.

Mai sau gặp lại muộn màng - Mỗi người một ngả… vẫn mang nghĩa tình.

Tha thứ để nhẹ lòng mình - Tha cho số phận lênh đênh tháng ngày.


Có những Đôi Bờ khắc nghiệt hơn — những gia đình bị xô lệch vì lịch sử. Người tập kết mang người vợ mới về Nam khi người vợ miền Nam vẫn nuôi con thành đạt và mỏi mòn chờ chồng suốt 20 năm, tạo ra hoàn cảnh những trái tim không biết phải trách ai, chỉ biết tự hỏi vì sao số phận lại chia người ta ra làm hai nửa như vậy.

Lại có Đôi Bờ còn đau hơn nữa, khi một người cha vì sợ mất chức, mất danh trong Đảng nên không dám bảo lãnh chính con ruột của mình ra khỏi trại cải tạo, nhưng lại nhận tiền để cứu một người xa lạ. Ở đó, Đôi Bờ không chỉ là khoảng cách, mà là vết cắt của lương tâm, là nơi người ta buộc phải đối diện với chính mình.


Nhưng Đôi Bờ đâu chỉ nằm ngoài xã hội, ngoài lịch sử. Ngay trong một mái nhà nhỏ, đôi khi cũng có những dòng sông lặng lẽ chảy qua. Có những người chồng bước sang một bờ khác của đam mê và phản bội, để lại người vợ đứng bên này với nỗi đau không gọi thành tên. Có những người vợ lạc vào cơn mê đỏ đen, để gia đình dần dần trôi xa như chiếc thuyền đứt neo. Những ranh giới ấy không ai dựng lên bằng tay, nhưng lại hiện ra rất rõ trong ánh mắt, trong bữa cơm, trong khoảng cách của hai người từng nằm sát bên nhau.

Thiếu gì trường hơp Đôi Bờ đâu chỉ chia vợ chồng, cha con. Có khi nó chia cả những người bạn từng lớn lên bên nhau, từng chung một giấc mơ tuổi trẻ. Một người ở lại thành phố, khoác áo sĩ quan miền Nam; người kia vào bưng, trở thành cán bộ của phía bên kia. Đến ngày gặp lại sau 75, khoảnh khắc họ nhìn thấy nhau qua song sắt — một người tù, một người cai tù — là khoảnh khắc mà cả hai đều hiểu rằng tình bạn ngày xưa đã bị lịch sử xé làm đôi, không phải bằng dao, mà bằng những lựa chọn mà họ không còn quyền từ chối. Rồi người bạn trở về ép uổng lấy người vợ của bạn mình, là người con gái mà cả hai từng thương chung thuở học trò. Không phải vì phản bội, mà vì thời cuộc đã đẩy mỗi người trôi sang hai bờ đỏ vàng khác, để khi quay lại, tình bạn ngày xưa chỉ còn là một vết đen trong ký ức, muốn quên nhưng thật khó.

Những Đôi Bờ nói trên— dù âm thầm, dù riêng tư — nhưng chính là những vết thương sâu nhất mà chiến tranh để lại trong lòng người Việt


Các bạn mến, đại dương không những chia đôi đất nước, nó xé nát cả những cuộc đời. Đôi Bờ của biển cả, Đôi Bờ của lịch sử, Đôi Bờ của định mệnh – tất cả đã hoà lại tạo thành một nỗi đau chung của dân tộc. Một vết cắt thứ Ba, quá rộng, quá to, và sâu nhất. Ba lần chia cắt, ba dòng nước – một nhỏ, một hẹp, một mênh mông – nhưng nỗi đau vẫn chỉ có một. Đó là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước. Tuy nhiên, có điều lạ nhất – càng xa quê hương, lòng càng nhớ, càng thấm nghĩa tình người. Lịch sử có thể chia đời ta từng đoạn, kể luôn cả gia đình ta ra từng khúc, nhưng lại không chia được tấm lòng của người Việt với người Việt trên quê hương thứ hai. Và với thời gian, lòng người cũng hiểu điều còn lại sau cùng, không phải là biên giới hay chiến tuyến, mà là bàn tay muốn nắm lấy bàn tay, cho dù, như đã từng – cách một dòng sông – và nay cách một đại dương

Khi viết về Đôi Bờ theo cái nhìn của lịch sử dân tộc, chúng ta không thể không nhắc đến thi văn và âm nhạc Việt qua các Đôi Bờ lịch sử ấy. Nơi lịch sử dựng ra Đôi Bờ, âm nhạc lại mở ra những con đường. Nơi chiến tranh đẩy người ta xa nhau, âm nhạc lại giữ họ lại gần. Nhạc và thơ vượt qua được ranh giới, nối lại những bờ xa vắng bằng một câu thơ nhung nhớ, bằng một câu hò à ơ tình tự. Vì thi ca và âm nhạc là hơi thở, là tiếng thở dài ai oán của cả hai bờ. Thi văn và âm nhạc luôn là nơi mọi người gởi gắm những nỗi chia ly, lòng nhung nhớ, tình yêu thương mà lời nói thường không đủ mạnh, không đủ chiều sâu để cất lên. Mỗi giai đoạn lịch sử đều để lại một dấu mốc cho những Đôi Bờ.

Với dòng sông Bến Hải, Lam Phương đã sáng tác “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” kể về một cô gái đưa người yêu vượt sông Bến Hải trong đêm “ Đêm nay trăng sáng quá anh ơi - Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”. Một bản nhạc mà mỗi câu hát như run lên vì sương khuya và nỗi đợi chờ.

https://music.youtube.com/podcast/cZuC2ACYTnQ


Ngày đất nước bị chia đôi ở vĩ tuyến 17, khi từng đoàn người lặng lẻ rời miền Bắc để tìm Tự Do, nhạc sĩ Anh Bằng đã viết “Nỗi Lòng Ngươi Đi”. Bài hát mang theo tiếng thở dài của hàng trăm ngàn thân phận người lên đường mà còn ngoái lại quê nhà. Bản nhạc không kể chuyện bằng sự kiện, mà bằng nỗi nhớ, bằng tiếng gọi quê hương từ lòng của những kẻ buộc phải rời đi.

https://youtube.com/watch?v=QqXc4vP9Pqo&si=FJDiHlz0_UCQlm4S


Có những bài hát không cần nói đến nỗi đau thương, nhưng chỉ một câu thôi cũng đủ làm tim người nghe thắt lại. Trong “Bên Bờ Đại Dương”, khi nhạc sĩ Hoàng Trọng và Hồ Đình Phương viết “Đất nước tôi màu thắm bên bờ Đại Dương, Bắc với Nam, tình nối qua lòng Miền Trung…”, đó là tiếng vọng của một người vừa trải qua cuộc chia đôi 1954, đứng bên bờ Nam nhớ qua bờ Bắc. Giữa hai miền là dãy Trường Sơn, là những mái tranh nghèo Bắc Giang, là ruộng ngọt phương Nam. Tuy trong bản nhạc không có khóc than, nhưng trong sự hùng tráng của nó có một nỗi sầu sâu đậm: dù chia đôi, dân tộc vẫn giữ niềm tin nghĩa tình có thể được nối qua lòng miền Trung.

https://share.google/ZwYsrXkghxQmFaB9q


Giữa những Đôi Bờ của lịch sử, còn có những đôi bờ riêng – đôi bờ của định mệnh và tôn giáo. “Chuyện Tình Buồn” của Phạm Duy, phổ từ bài thơ của Phạm văn Bình, gốc Đông Hà, Quảng Trị, mang tâm sự một cuộc tình tan vỡ vì người nam và người nữ không thể bước chung qua một cánh cửa tôn giáo – Một cánh cửa luôn rộng mở cho mọi người, nhưng lại khép lại cho đôi tình nhân trẻ tuổi - Đôi Bờ không nằm trên bản đồ, mà nằm trong trái tim, để khi gặp lại nhau chỉ còn “thương người em năm cũ, thương góa phụ bên sông”.

https://youtube.com/watch?v=Kh7e-iM5gDo&si=rHCO8vEyU2ARZrj6


“Chuyện Một Cây Cầu Đã Gảy” được Trầm Tử Thiêng sáng tác ngay trong năm 1968. Bài hát gắn liền với cây cầu biểu tượng cho xứ Thần Kinh, bị đánh sập trong Tết Mậu Thân ở Huế. Sáng tác này xem như một khúc ai điếu. Cấu nối hai phía Hữu Ngạn và Tả Ngạn, nối chợ Đông Ba, phu khố Gia Hội, phố Phan Bội Châu với các trường học Quốc Học, Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, Thiên Hữu, Bình Linh, Đại Học Huế, chợ Bến Ngự; nối Đại Nội, khu Thành Nội, Mang Cá cùng quân y viện Nguyễn Tri Phương với khu hành chánh, tòa Tỉnh Trưởng, khu đại học cùng bệnh viện Trung Ương Huế, nhà Ga Huế, Đập Đá. Một vài nhịp cầu bị nổ mìn và nguyên thành phố Huế chìm trong tang tóc – một phần đời của Huế bị bứng khỏi sự bình yên vốn từng có theo sự lặng lờ của dòng sông Hương. Đặc biệt giai điệu bản nhạc mang âm hưởng Nam Bình – Nam Ai, cổ kính của xứ Thần Kinh, như những tiếng than dài ai oán của thành phố chịu quá nhiều tang thương. Bản nhạc này được nhắc đến như một lời tiễn biệt cho phần linh hồn của Huế, không phải vì một vài nhịp bị sập mà cả một ký ức chung bị vỡ, một nỗi đau mà dân Huế mang theo suốt đời – cho dù về sau cây cầu được sửa lại, tô màu, lên đèn, nhưng tinh thần Đôi Bờ của cây cầu không bao giờ được nối lại. Lịch sử sẽ ghi đầy một trang đen tối.

https://youtube.com/watch?v=LrvkA7fMhG0&si=vj3xvrqc7MapaH_x

 Bạn thân mến, có những nỗi nhớ không hướng về một cá nhân, mà hướng về cả một đời. Trong “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc – mà chúng ta biết đến, qua những công việc giúp người tỵ nạn định cư, cọng tác và hướng dẫn nổi tiếng của chương trình nhạc Asia, người kêu gọi và góp sức trong việc xây dựng Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ tại Westminster, và nhạc sĩ của nhiều tình ca tuyệt vời, kể cả bài Saigon Ơi! Vĩnh Biệt - khi tiếng hát cất lên “Cho tôi xin lại ngọn đồi…Cho tôi xin lại bờ rừng…Cho tôi xin một lần chàoCho tôi xin một mộ phần”, đó không chỉ là lời xin của một người tỵ nạn đơn giản, mà là lời khấn của một người lính đã mất quê hương, mất đồng đội, mất cả nơi để trở về. Những ngọn đồi ấy, bờ rừng ấy, không còn trên bản đồ, nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức – nơi anh em từng nằm chung hầm, chia từng nhúm gạo xấy, từng hơi thở giữa cái sống và cái chết. Và nỗi đau đớn nhất, không phải là lưu vong, mà biết rằng mình không thể trở về để chào những bạn đã khuất. Xin hãy niệm mỗi câu hát là một nén hương thắp cho những đồng đội đã nằm xuống, và ngay cả cho một phần đời của mình đã nằm lại bên kia bờ. Bài hát này, không phải chỉ là ký ức chiến trường, mà còn là ký ức của những người ở lại nhìn bạn bè ra đi mãi mãi - khiến bao chiến sĩ chúng tôi nhỏ lệ.


Mấy chục năm trước, ca nhạc sĩ Nam Lộc trình bày cho cộng đồng người Việt Tỵ Nạn bản nhạc Người Di Tản Buồn rất nhiều lần, không những trên sân khấu mà  trong những công viên, những khuôn viên nhà thờ, nhà hội đoàn…Trong thước phim đen trắng cũ kỹ ấy, Nam Lộc đứng trước cả ngàn người. Không có sân khấu lộng lẫy, không ánh đèn màu, chỉ một đờn guitar và một micro đơn sơ và tiếng hát nghẹn ngào của một người từng sống với nỗi đau của dân tộc. Xung quanh ông là những gương mặt trẻ, nam nữ, đứng chen nhau, mắt mở lớn, lặng đi như bị cuốn vào từng câu hát. Họ là thế hệ vừa rời quê hương, còn nguyên nỗi bàng hoàng của những ngày vượt biển, vượt biên. Phía sau họ, những mái đầu bạc, những cụ ông cụ bà khoác áo len cũ, đứng nép dưới bóng cây. Nhiều người tỏ dấu xúc động. Có lắm cụ chắp tay trước ngực, như muốn chặn cơn nghẹn đang dâng trào trong con tim; có bà cúi mặt, cầm vạt áo lau nước mắt, không phải chỉ vì bài hát buồn, mà vì bài hát nói đúng nỗi lòng của thế hệ lưu vong.

Mọi người đứng yên, như bị giữ lại bởi sức nặng của ký ức. Khi Nam Lộc cất lên đoạn cuối – đoạn từng làm bao trái tim rướm máu – cả đám đông như nín thở, không một lời nói, không một ai nhúc nhích. Chỉ có tiếng hát, tiếng nức nở, cùng tiếng thở dài của những người mang quê hương trong tim suốt một đời.

https://www.facebook.com/watch/?v=975442624207928 


Một người khác, không có số quân, và bạn thân của tôi, cũng đã hát “Người Di Tản Buồn”. Bs. Lương Quang Thịnh chỉ là một người thích hát, với mái tóc dài lãng mạn của thời sinh viên. Nhưng giọng hát lại mang một nỗi xót xa rất thật – do lẽ anh đã lớn lên giữa mùa hè Đỏ Lửa, khi bạn bè trong xóm, và cả người thân bị đôn quân năm 1972, rồi ngã xuống quá sớm. Anh là kẻ may mắn được tiếp tục cắp sách đến trường. Nhưng sự may mắn ấy lại trở thành một vết thương âm ỷ. Là nỗi day dứt của người ở lại nhìn tuổi trẻ của bạn bè mình hóa thành bia mộ.

Có lẽ vì vậy, khi anh hát, mắt anh sâu và buồn đến lạ - như nhìn xuyên qua bao năm tháng thấy lại những gương mặt đã mất. Giọng hát anh vững, không phô trương, nhưng mỗi chữ như mang sức nặng của con người từng chứng kiến chiến tranh từ phía sau cánh cửa gia đình. Anh cùng người yêu vượt biên khi đang còn là sinh viên năm thứ Tư Đại Học YK Saigon, mang theo hành trang, không chỉ là ước mơ của tuổi trẻ, mà còn là hình ảnh của những người nằm lại trên những chiến trường lớn nhỏ, trên các con đường bờ rừng của quê hương. Vì vậy khi anh cất lên “Người Di Tản Buồn”, ta không chỉ nghe tiếng hát của một người tỵ nạn, mà là tiếng thở dài của một thế hệ của những người trai không cầm súng nhưng vẫn mang trong lòng một cuộc chiến chưa chấm dứt. Và tôi nghĩ, chứng kiến những người bạn trẻ đã nằm xuống vĩnh viễn – sự bất lực, sự ray rứt của người ở lại – rất gần với nỗi đau mà Nam Lộc từng viết, từng cất cao tiếng hát.

https://youtu.be/8f4o3mDwMkE?feature=shared


Trong bài “Một Lần Yêu” của Phạm Mạnh Cương, sáng tác năm 1968, câu cuối “Xin nhớ rằng hợp tan có khi – Em gối mộng anh xuôi vạn lý - Hẹn ngày nao trên bến quê hương – Thuyền về đây rũ áo phong sương – Đôi mình chung ngắm mây hoàng hôn” không chỉ là lời hẹn vu vơ của đôi lứa, mà là lời hẹn của những người ly hương với quê hương yêu dấu của mình. Dù đời khi hợp khi tan, dù mỗi chúng ta kẻ ngược người xuôi, chúng ta vẫn còn có chung một bến đợi…trong hoàng hôn của cuộc đời.


Nếu “Một Lần Yêu” mở ra một bến đợi cho ta tìm về, thì trong “Em Còn Nhớ Mùa Xuân”, NS. Ngô Thụy Miên mở ra một giấc mơ hồi hương giữa những ngày lưu lạc. Bài này được Ông viết năm 1978, khi ông một mình đang ở trong trại tỵ nạn Pulau Bidong, xa người yêu. Nỗi nhớ ở đây không chỉ là nhớ mùa Xuân, mà là nhớ một thành phố đã mất, nhớ một quê hương chưa biết bao giờ gặp lại. Qua câu “những thành phố em đã đi qua…nhưng có đâu bằng Saigon hôm qua- nhưng có đâu bằng Saigon mai sau – em có mơ ngày hát câu hồi hương”, đó không phải là chỉ là một nỗi nhớ cho thành phố, mà là luyến tiếc nhớ nhung cho một đời sống đã từng. Và câu hát ấy trở thành lời thì thầm của bao người xa xứ: dù chân bước qua bao nhiêu nơi, đường xa bao vạn dặm, trái tìm ta vẫn hướng về chốn duy nhất để trở về. Bản nhạc này là một trong những bài mến chuộng nhất tại hải ngoại.

https://youtube.com/watch?v=7v1DS5yYzYA&si=yx5XjrYeTOFD3-N5 


Trong hành trình về thăm lại quê hương, có những con đường vẫn nguyên như ngày ta rời, vẫn nắng mai rực rỡ, hàng hoa giấy vẫn đỏ thắm, tiếng chim vẫn gọi nhau. “Con Đường Tôi Về”, một sáng tác bất hủ để đời của NS. Lê Tín Hương khi về thăm cha bệnh nặng sau 15 năm cách biệt, đã được viết lên với những cảm xúc thật khi đối diện với cảnh cũ người xưa. Mặc dù nó không óng ả mượt mà như mấy câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan “Lối xưa xe ngưa hồn thu thảo – Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”, nhưng NS Lê Tín Hương giúp ta nhìn thấy cô gái áo trắng ngày nào nay đã bước vào đời với nụ hồng lã lơi, người thương phế binh lê đôi nạng gỗ giữa chợ đời, người cha trở về thân thể hao gầy sau những năm tù tội, người mẹ quê vá áo đời bằng đôi tay gầy guộc – những hình ảnh lột tả đúng sự thật của một xã hội nuôi nhau trong dối gian và bần cùng tột độ. Những câu ấy không trách móc ai. Chúng chỉ đặt tay lên những vết thương, dù nhẹ, nhưng vẫn đủ để ta thấy nhói, thấy đau. Và để ta nghiệm ra không phải là thấy mái nhà xiêu vẹo, vườn hoang ruộng trống mà xót xa bùi ngùi, mà chính là thấy thân phận người thương yêu của mình đã bị thời gian tiêu hao, xoáy mòn – những người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ - Đôi Bờ vì thế không chỉ là câu chuyện của chia cắt, mà còn là câu chuyện của những bước chân trở lại – trở lại để nhận biết rằng quê hương vẫn đẹp, nhưng đẹp trong một nỗi buồn không thể gọi tên.

https://youtube.com/watch?v=i3a8-_pkJMM&si=S-sYl7k7VTatO4r7


Có những chia ly không phải vì lỗi của ai, mà vì thế sự nghiêng ngữa đẩy đưa. Trong “Đã Một Lần”khi Bác sĩ Nhảy Dù tài hoa Phạm Gia Cổn viết “Trách chi người ai lỗi ai -Trách chi người mi ướt cay -Trách chi người thôi đã xa nhau kiếp này- Thì thôi có trách trăm lời cũng thừa. Mùi thơm khăn áo đi vào cỗ tích tôi”, đó chỉ là một lời thở dài của một người từng hiểu trách móc không làm vơi nỗi đau, mà chỉ làm nặng thêm những gì đã mất. Bởi vậy, Ông chọn cách buông – buông cho nhẹ lòng mình, và nhẹ luôn cả người ấy. Giữa những Đôi Bờ định mệnh, đôi khi điều nhân hậu nhất ta có thể làm cho nhau là không trách cứ gì nhau. Trả lại một khăn tang cho quảng đời của nhau.

https://youtu.be/312lnbyEYV8


Một trong những bản nhạc do bác sĩ quân y Phạm Anh Dũng sáng tác về nỗi nhớ quê hương, “Tình Khúc Hồi Hương”, rất được mến mộ, không những vì âm điệu rất nhẹ nhàng, dỗ dành, quyến rũ mà lời nhạc rất đơn sơ đầy tình quê mộc mạc. Chỉ cần một dòng sông xưa, một con đường cũ, một hàng cây xanh là đủ để đánh thức cả một nỗi niềm quê hương – đã từng tiềm ẩn trong quá khứ - Lời nhắn nhủ “này người yêu dấu, anh muốn đưa em về dòng sông xưa làng cũ…thăm ngôi trường cũ…thăm con đường cũ…” không chỉ là lời hẹn của đôi lứa, mà là lời thì thầm của những kẻ đi quá xa, mong một ngày được trở về nơi mình từng bắt đầu. Dịu dàng chân thật, bài hát nhắc ta quê hương không bao giờ mất – nó chờ đợi ta, trong khói sương chiều, lặng lẽ bình an như hàng cây xanh lá thắm ngàn năm.

https://youtube.com/watch?v=vj2h7PinnLA&si=QjGDMTVVSqBkjn2M


 Trong lời Việt của Lữ Liên, bản nhạc“Đôi Bờ” mang hai nhịp thở: một nhịp của chia lìa tuyệt vọng, và một nhịp của giấc mơ hồi hương. Khi nghe “bóng con thuyền vượt ngàn trùng…Mãi mãi mất nhau”, ta tưởng như đó là một cuộc biệt ly không còn đường trở lại. Thế nhưng, ở cuối bài, hình ảnh “đêm qua anh mơ bóng quê hương…đứng dưới bóng mát…đón em khi tan trường” lại hiện ra như một phép mầu nhỏ. Các bạn ơi! Đó không phải là thực tế - Đó là giấc mơ của những người đã mất quá nhiều, chỉ còn chút ký ức để níu lại. Giữa hai bờ tuyệt vọng và hy vọng, bài nhạc nhắc ta rằng: đôi khi, chính giấc mơ là nơi duy nhất ta còn có thể gặp lại nhau. Người nhạc sĩ nghiệp dư trong bài hát là quân nha sĩ Lý Văn Quý, với giọng hát sống động và truyền cảm.

https://youtube.com/watch?v=xJIfb95kXAE&si=o_6VwBbCYNpWFlf7


Chắc ai trong chúng ta cũng nằm lòng bản nhạc “Tôi Đưa Em Sang Sông” của Nhật Ngân & Y Vũ. Câu hát “Nàng đã thay một lối về. Quên cả người trong gió mưa” làm ta liên tưởng đến câu thơ đầy mộng mơ “Em là gái trong song cửa, anh là mây bốn phương trời”. Là tiếng thở dài của những phận người bị hoàn cảnh đẩy xa nhau, giống như bao đôi lứa bị chia lìa do thời cuộc: một chàng trai lên đường làm nhiệm vụ, một người phải rời quê vì chiến cuộc, như trong câu “Đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Rỏ ràng bài hát trang trải đúng nỗi niềm của những Đôi Bờ định mệnh: yêu nhau mà không đến được với nhau, không phải vì lỗi của ai, mà vì đời đã chọn cho họ một con đường khác. Con đường của trai thời loạn.

https://youtube.com/watch?v=TtigPvU-cLw&si=eWLoZhhpWdomImQw

            

Bạn mến, có những cuộc ra đi tưởng như chỉ là một cơn mộng dữ giữa trùng trùng sóng gió. Từng chúng ta năm ấy bước lên con thuyền không hẹn ngày trở lại, mang theo một niềm tin mỏng manh đến mức chỉ cần một cơn gió ngược cũng đủ làm chao đảo. Giữa biển đời mịt mù, đôi khi chính trái tim cũng mỏi mòn, không biết đâu là bến, đâu là bờ, đâu là nơi mình sẽ gọi “miền đất hứa”.

Thế rồi trời đất vẫn âm thầm nâng đỡ. Sau bao năm bụi mờ phủ lên ký ức, “Tạ ơn đời đã ban, Cám ơn người cưu mang, Thuyền được về bến đỗ – Giữa biển đời ly tan”— Nơi đất nước dang tay rộng đón mình, nơi gia đình được dựng lại từ những viên gạch đầu tiên của hy vọng. Từ một cuộc ra đi vô vọng, từng chúng ta đã tìm thấy một mái ấm, một hạnh phúc không chỉ nở hoa mà còn kết trái, nuôi dưỡng nhau trong tin yêu của những ngày tươi sáng trước mắt “Nhìn hoa trái đẹp đời - 50 Năm đắp xây, hạnh phúc trong tình đầy

Để từ đó trái tim học cách biết ơn. Biết ơn đất nước đã mở cửa đón mình. Biết ơn cuộc đời đã cưu mang mình. Biết ơn người bạn đời đã cùng mình đắp xây một mái nhà đầy ắp tiếng cười. Và biết ơn chính mình — người đã đi qua nửa thế kỷ bụi mờ mà vẫn luôn ráng giữ mình làm một người tốt, trân quý tất cả những gì đã nhận để sẳn sàng chia xẻ cho những kẻ kém may mắn. Vì bạn ơi, trong lớp bụi của năm tháng, có những hạt bụi làm cay mắt, nhưng cũng có những hạt bụi lấp lánh như ánh nắng ấm áp cuối chiều, mà nếu bạn biết nhặt lấy, dành giụm và nâng niu, chúng sẽ thành những câu chuyện đẹp, nhân ái và đáng nhớ.


Mời bạn đọc thưởng thức bản nhạc “50 Năm Bụi Mờ” của nhạc sĩ Lê Tín Hương. Một bản nhạc chan chứa tình cảm, và có lẽ là bản duy nhất được viết ra trong năm 2025 – tặng chung cho bao người buộc phải rời bỏ quê hương mình. Người trình bày bản nhạc là quân y sĩ Phạm Quang Tố. Điều làm người nghe xúc động nhất khi nghe “50 Năm Bụi Mờ “không phải là kỹ thuật hay sự trau chuốt, mà là giọng hát của một người bình thường — một người không đứng trên sân khấu lớn, không mang danh ca sĩ chuyên nghiệp, nhưng lại hát bằng cả trái tim đã đi qua nửa đời phong sương. Trái tim của một đời người từng trải qua di cư 54, nay lại phải một lần nữa xa quê hương. Nên trong từng câu hát của anh, tôi nghe được hơi thở của một kiếp người: ấm và chân thật, mộc mạc mà thấm sâu. Có lẽ chính vì anh không phải ca sĩ chuyên nghiệp nên mỗi chữ, mỗi nốt đều mang một vẻ đẹp rất người. Không có sự phô diễn, chỉ có sự trải lòng. Không có sự hoàn hảo, chỉ có sự chân thành. Và đôi khi, chính sự chân thành ấy lại làm người nghe dễ rơi nước mắt hơn bất kỳ kỹ thuật nào.

Phải chăng qua giọng hát ấy, ta nhìn thấy hình ảnh của chính mình trong đó: một cuộc ra đi tưởng như vô vọng, những năm tháng bão tố dập dồn, những lúc nguyện cầu khi niềm tin quá mong manh. Đồng thời cũng đồng cảm với tấm lòng biết ơn dành cho đất nước đã cưu mang, cám ơn cuộc đời đã cho mình một tương lai, cho mình đắp xây hạnh phúc từ những điều căn bản nhỏ bé nhất.         Để chợt thấy giờ đây “hoàng hôn đến hững hờ - Nghe từ cõi hoang sơ, hồn xưa cũng bụi mờ”

https://youtu.be/0yxMIkn39jo?si=4IWCcDUA5uGEuLM3


Bạn đọc thân mến, khi tôi gần chấm dứt bài viết của mình, tôi nhân được bản nhạc “Đôi Bờ Xa” của NS. Lê Tín Hương. Bản nhạc là một giai điệu nâng niu từng nỗi nhớ, còn ca từ thì như nối dài thêm câu chuyện Đôi Bờ, bất chợt đến và chạm vào nơi sâu nhất, nơi những con sóng ký ức vẫn còn thì thầm. Như một hơi thở dài của biển đêm. Giai điệu mềm, chậm, nhưng không hề buồn rũ vì nó mang cái buồn của người từng trải, của những bước chân đã đi quá nửa đời người nhưng vẫn còn ngoái về phía quê hương. Để biết rằng tình người, tình quê, tình đời… vẫn còn đậm đà. Người nghe có cảm giác như mình đang đứng trước một đại dương thật sự - rộng, sâu, và đầy những điều khó gọi thành tên. Sóng trong bài hát không chỉ là sóng biển, mà là sóng lòng: những đợt nhớ, đợt thương, đợt tiếc nuối của một đời người xa xứ.

Cao trào của cảm xúc nằm ở đoạn “Dẫu đôi bờ xa nhưng tình ta mãi đậm đà”. Ở đây, giai điệu nâng lên nhẹ nhàng, không bi lụy, mà như một lời tự nhủ, một lời hứa âm thầm. Người nghe cảm nhận được một thứ tình cảm rất đẹp: không đòi hỏi, không trách móc, chỉ lặng lẽ tồn tại — như một dòng nước ngầm chảy mãi giữa hai bờ. Khi bản nhạc kết thúc, người nghe không thấy nặng nề. Ngược lại, có một sự bình yên rất lạ. Như thể sau bao nhiêu năm đi qua bão giông, cuối cùng ta cũng hiểu rằng: có những điều không thể gặp lại, nhưng vẫn có thể giữ lại. Có những bờ xa không thể bước tới, nhưng vẫn có thể đứng từ bên này mà thương.

“Đôi Bờ Xa” vì thế không chỉ là một bản nhạc. Nó là một lời tâm sự của cả một thế hệ, là tiếng thở dài của những người đã rời đất nước nhưng tâm hồn vẫn còn gắng bó với quê hương.

https://youtu.be/gL9sQudSY60?si=YkwCIJWp66tAhX-m


Quý bạn thân mến, nhìn lại hành trình nửa thế kỷ phủ bụi mờ, ta chợt hiểu rằng mỗi đời người, dù đi xa đến đâu, cũng mang trong mình một sợi dây vô hình buộc về quê cũ. Những năm tháng lưu lạc tưởng như chỉ là chuyện riêng của một gia đình, một kiếp người, nhưng thật ra lại hòa vào câu chuyện lớn hơn của cả dân tộc - câu chuyện của những đôi bờ đã từng bị chia cắt, của những con tim phải rời nhau trong lặng lẽ, của những bước chân ra đi trong âm thầm mà không biết ngày trở lại.

Và chính trong khoảnh khắc nhận ra mình đã tìm được bến đỗ, ta lại thấy rõ hơn nỗi mong manh của những phận người đứng hai phía dòng sông lịch sử — luôn mang theo niềm tin lúc đầy lúc vơi, mang theo nỗi nhớ lúc sáng lúc mờ, nhưng chưa bao giờ thôi hy vọng một ngày nào đó được nhìn thấy nhau trong bình yên.


Quý bạn đọc thân mến, khi nhìn lại những Đôi Bờ đã đi qua theo thời gian, ta mới hiểu rằng lịch sử Việt Nam không chỉ viết bằng chiến thắng đẩm máu, chiếm đồi này hay đồn bót kia, hoặc những bản hiệp định trên giấy tờ, mà còn bằng những khoảng cách: khoảng cách của một cây cầu bị đánh sập, của một lằn vĩ tuyến phi quân sự vẫn bị mưu mô lấn chiếm trong bóng tối, của một phòng tuyến bị đẩy xuống, của một dòng sông đổi vai trò, và của một đại dương mênh mông. Nhưng điều kỳ lạ hơn nửa là càng nhiều Đôi Bờ, người Việt càng học cách tìm nhau. Từ những người di cư 54, đến những gia đình chờ tin nhau dù đã có con sông Bến Hải và vĩ tuyến 17, rồi những con thuyền vượt biển sau 1975 mang theo hy vọng mong manh…tất cả đều cho thấy một điều: khoảng cách chưa bao giờ đủ lớn để dập tắt khát vọng tự do. Và điều đẹp nhất không phải là khi hai bờ liền lại, mà khi ta nhận ra trong sâu thẳm của trái tim, có những tiếng gọi chào, những nhung nhớ, những thương yêu, tình quê hương, gởi qua âm nhạc và thi ca, là động lực giúp ta hiểu thêm rằng chưa bao giờ tồn tại một dòng sông đủ lớn, đủ mạnh để chia cắt tình người. Những đôi bờ lịch sử rồi sẽ rời xa, thay vào đó là những Đôi Bờ của lòng người, nơi ta vẫn hướng về nhau, dù ở nơi nào cũng tìm đường đến với nhau - như bao trăm ngàn người Việt bên ngoài Việt Nam đã và đang tiếp tục bảo lãnh thân nhân mình đến sống cạnh nình, chung bờ với mình – hay gởi tiền về giúp xóm làng, người quen xưa - là điều sẽ còn mãi.


Mong rằng thi ca âm nhạc, khi đưa vào bài viết Đôi Bờ này, không phải để làm loãng tính chất lịch sử khắc nghiệt của Đôi Bờ, cũng không làm bài viết mềm đi. Nó làm cho trái tim người đọc…ấm lại, đồng thời làm thêm một điều rất nhỏ mà lại rất đẹp: rót vào câu chuyện lịch sử một hơi thở của hối tiếc, của một lời xin  lỗi, của hy vọng và tha thứ độ lượng. Để nói lên rằng, không có dòng sông nào có thể vĩnh viễn làm chia cách tình người, nếu chúng ta nhìn lại những trang lịch sử Đôi Bờ bằng trái tim. Với những hiểu biết vừa lý vừa tình ở trên đã giúp Đôi Bờ, vốn nguyên thủy là một bài viết khô khan, trở thành một bài viết không chỉ để đọc, mà để cảm thông, để nhớ và để thương. Một bài viết về hành trình cho những người đứng giữa đôi bờ, nhưng trái tim thì chưa rời bờ nào. Và rằng âm nhạc luôn là chiếc cầu duy nhất, tình cảm nhất, nhẹ nhàng nhất, giúp nối những linh hồn đã tản mác khắp nơi. Cho thấy CS diệt được mọi thứ nhưng không thể nào cấm được những cái mà chúng từng sợ nhất: Tinh Thần Tự Do Dân Chủ, Nền Giáo Dục Nhân Bản, nền Văn Học Nghệ Thuật và Nhạc Vàng của Miền Nam Việt Nam.


Vĩnh Chánh, tháng 4, 2026

Saturday, June 27, 2026

Những Người Không Đến Được Bờ - The Ones Who Didn't Land (Official) Lyrics - Vietlondon Music

Bắt Thèm Các Món Chè, Bánh Miền Quê - Thế Giới Của Sự Ngọt Ngào - Đặc Sản Miền Sông Nước

Dưỡng Già Tập Thể


Đầu năm 2025, 11 người phụ nữ ở tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc) quyết định cùng nhau thử nghiệm mô hình “dưỡng già tập thể”. Họ là những người bạn thân đã quen biết nhau hơn 30 năm. Vì không hài lòng với cách con cái chăm sóc hoặc cảm thấy cô đơn khi sống một mình, 11 người phụ nữ thuê chung một căn biệt thự ngoại ô để cùng nương tựa tuổi già.

Thế nhưng, giấc mơ “tuổi già quây quần” chỉ kéo dài vỏn vẹn 4 tháng. Những khác biệt trong thói quen sinh hoạt, khẩu vị, tiêu chuẩn vệ sinh và cách chi tiêu dần khiến tình bạn ba thập kỷ rạn nứt, để lại nhiều nuối tiếc và bài học đắt giá.

Nhóm phụ nữ tuổi từ 58 đến 68 tuổi, từng làm giáo viên, y tá, đầu bếp... Họ đều có một hoàn cảnh chung: con cái bận rộn, bản thân ngại cảnh cô quạnh. Trong một lần dạo chơi công viên, bà Vương Tú Lan nảy ra ý tưởng “dưỡng già tập thể” và được cả nhóm hưởng ứng.

Sau hai tháng chuẩn bị, họ thuê một căn biệt thự năm phòng ngủ có vườn nhỏ, giá 8.000 tệ/tháng (khoảng 30 triệu đồng), và thống nhất mỗi người góp 1.000 tệ (3,7 triệu đồng) để chia tiền thuê, điện nước và chi phí sinh hoạt. Trung bình mỗi người góp khoảng 2.000 NDT (7 triệu đồng). Bà Vương Tú Lan được chọn làm “quản gia trưởng”, phụ trách quản lý tài chính, xây dựng quy ước chung và phân công việc nhà.

Những ngày đầu dọn vào biệt thự, nhóm bạn già tràn đầy nhiệt huyết. Họ cùng nhau đi mua sắm đồ dùng sinh hoạt, trang trí phòng ốc, trồng rau và chăm hoa trong khu vườn nhỏ. Bà Trần Quế Hoa, là người có tay nghề nấu ăn khéo léo, tình nguyện đảm nhận việc bếp núc. Cô Chu nguyên là kế toán về hưu, phụ trách tài chính. Còn bà Triệu Mỹ Linh từng là y tá thì quản lý thuốc men. Tất cả cùng nhau chăm lo khu vườn mỗi ngày.

Buổi tối, cả nhóm quây quần bên bàn ăn, trò chuyện rôm rả rồi cùng xem phim. Tiếng cười nói vang khắp ngôi nhà, tạo nên khung cảnh ấm áp hiếm thấy. Nhiều hàng xóm còn xuýt xoa ngưỡng mộ, nói rằng: “Tuổi già mà vẫn có thể sống thoải mái, vui vẻ bên nhau như thế thật đáng quý.”

Thế nhưng, niềm vui chẳng kéo dài được bao lâu. Khi thời kỳ ngọt ngào qua đi, những mâu thuẫn đầu tiên bắt đầu xuất hiện.

Khi niềm vui nhường chỗ cho va chạm

Xung đột nảy sinh từ chính những thói quen sinh hoạt khác biệt. Bà Trương Phụng Quyên quen thức khuya, thường bật tivi và nghe radio đến tận nửa đêm, khiến bà Triệu Mỹ Linh vốn có thói quen đi ngủ sớm không thể nghỉ ngơi. Hai người vì vấn đề tiếng ồn mà nhiều lần to tiếng với nhau.

Bà Tôn lớn tuổi nhất nhóm lại thường xuyên thức dậy lúc nửa đêm, tiếng bước chân khiến người khác mất ngủ. Trong khi đó, tiếng máy đo đường huyết của bà Lưu mỗi sáng sớm cũng làm nhiều người khó chịu. Việc người thích mở cửa sổ đón gió, người sợ lạnh muốn đóng kín cũng trở thành đề tài cãi vã.

Tiếp đó là mâu thuẫn trong ăn uống. Bà Trần Quế Hoa nấu ăn đậm vị, trong khi bà Lý Thục Hoa bị cao huyết áp phải ăn nhạt, bà Hoàng bị đau dạ dày không ăn cay, còn bà Điền thì kiêng thịt heo. Khi bà Lý đề nghị bớt muối, bà Trần bực bội: “Ngày nào tôi cũng nấu, không thích thì tự làm mà ăn.”

Khác biệt trong tiêu chuẩn vệ sinh cũng khiến không khí ngột ngạt: có người cho rằng “sạch vừa đủ là được”, người khác lại yêu cầu “phải bóng loáng”. Những lời phàn nàn về việc lau chưa kỹ hay quét chưa sạch khiến ai cũng mệt mỏi.

Mâu thuẫn lớn nhất đến từ chuyện tiền. Khi chi tiêu tăng, ai cũng thấy bất công. Bà Lý Thục Hoa cho rằng tiền mua hoa quả không nên chia đều vì có người bị tiểu đường, người đang giảm cân không ăn, còn bà Trần Quế Hoa phản bác: “Thế người ăn nhiều hơn có phải trả thêm không?”

Đến cuối tháng, khi chốt sổ chi tiêu, căng thẳng bùng nổ. Bà Vương Tú Lan công bố khoản “mua thuốc cảm cho bà Trần” và “thuốc sát trùng của bà Triệu” từ quỹ chung, lập tức bị phản đối. Trong cơn giận, bà lấy ra sổ ghi chép tỉ mỉ: ai dùng bao nhiêu khăn giấy, ai tắm mấy lần mỗi ngày, khiến mọi người phẫn nộ.

Không ngờ, chính cuốn sổ ấy lại để lộ “bí mật tài chính” của bà: bà Lan đã rút 2.000 tệ (7,4 triệu đồng) từ quỹ chung để trừ tiền thuê nhà, đồng thời khai khống 200 tệ (740.000 đồng) tiền thuốc và 300 tệ (1,1 triệu đồng) tiền thực phẩm. Trước số tiền chênh lệch, bà Lan thú nhận, tiền đã được gửi cho con trai đang gặp khó khăn kinh tế.

Phát hiện này khiến toàn bộ niềm tin giữa các thành viên sụp đổ, đẩy nhóm bạn già từng gắn bó 30 năm vào khủng hoảng không thể cứu vãn.

Niềm tin đổ vỡ

Khi sự thật bị phơi bày, tình bạn giữa những chị em già hoàn toàn tan vỡ. Bà Lý Thục Hoa và bà Trương Phụng Quyên lập tức tuyên bố sẽ dọn đi, đồng thời yêu cầu bà Vương Tú Lan hoàn trả tiền đặt cọc cùng số tiền sinh hoạt còn dư, thậm chí còn đe dọa: “Nếu không trả, chúng tôi sẽ báo công an.”

Trong nước mắt, bà Vương cố gắng giải thích rằng mình chỉ muốn giúp con trai đang khó khăn xoay xở, dự định sẽ âm thầm hoàn trả sau. Nhưng lúc này, niềm tin giữa họ đã hoàn toàn sụp đổ.

Chỉ trong vài ngày, căn biệt thự từng tràn ngập tiếng cười bỗng trở nên vắng lặng. Người quay về nhà cũ, người tìm con cái, người vào viện dưỡng lão. Mô hình “dưỡng già tập thể” kết thúc trong buồn bã.

Cuối cùng, theo lời khuyên của con trai, bà Vương Tú Lan chuyển vào sống tại viện dưỡng lão. Nhắc lại cuộc thử nghiệm thất bại ấy, bà thừa nhận: “Chúng tôi đã quá lý tưởng, nghĩ rằng tình bạn có thể xóa nhòa mọi khác biệt, mà quên mất ai cũng có tính cách và thói quen riêng, ở lâu mới biết quá khó.”

Giờ đây, mỗi khi 11 người bạn cũ tình cờ gặp lại, giữa họ chỉ còn lại sự ngượng ngùng và xa cách. Ba mươi năm gắn bó, tình nghĩa tưởng chừng bền chặt cũng tan biến theo thời gian.

Cuộc thử nghiệm “dưỡng già tập thể” kéo dài chưa đầy bốn tháng ấy không chỉ không mang lại tuổi già hạnh phúc mà còn kết thúc bằng chia ly. Câu chuyện trở thành lời cảnh tỉnh cho nhiều người đang mơ về tuổi già quây quần: lý tưởng có thể đẹp, nhưng muốn cùng nhau đi đường dài, cần có quy tắc rõ ràng, sự thấu hiểu và bao dung. Nếu không, “tổ ấm xế chiều” rất dễ biến thành gánh nặng.


Theo Baidu

(1) Đầu năm 2025, 11 người phụ nữ ở tỉnh Hà... - Có thể bạn chưa biết? | Facebook

Ngô Quyền Đôi Tiếng Yêu Thương - Đỗ Công Luận

Lòng Bác Ái - Người Phương Nam


Hôm nay là ngày đổ rác. Tôi lôi trong tủ lạnh ra hai gói khô cá lù đù mua tuần rồi nói với ông xã:

       - Anh xách hai bọc khô này ra bỏ luôn dùm em đi, không dám ăn đâu.
Ông xã cầm hai gói khô hỏi: 
       - Sao bỏ đồ ăn tội vậy. Thì cứ để đó đi, bữa nào chiên ăn thử coi.
      - Thấy hơi sợ, không biết người ta tẩm ướp cái giống gì trong đó, hơn nữa tưởng tượng lúc người ta phơi, ruồi nhặng bu đen nghịt con cá sao thấy ớn quá. Mình mua là vì lòng bác ái, thấy người già cả tội nghiệp nên mới mua giúp chớ đâu phải muốn ăn. Chiên làm gì cho mắc công hôi nhà hôi cửa lại lo không hợp vệ sinh có hại cho sức khỏe. 
Nói tới đây, tôi sực nghĩ ra một cách tiêu thụ mấy con khô cho hữu ích để khỏi bỏ nên ngăn ông xã lại. 
Chợt nghĩ ra một cách tiêu thụ, tôi gọi giựt lại:
          - À mà thôi, khỏi bỏ, em mới sực nghĩ là thay vì bỏ thùng rác thì mình đem chôn dưới mấy gốc cây làm phân cho tốt cây cũng có lợi mà khỏi mang tội hoang phí thức ăn


Tuần rồi đi chợ, khi tôi từ trong một shop rau cải bước ra, một bà bác già nua ốm yếu quắt queo đứng trước cửa chìa hai gói cá khô ra mời mua. Bà nói:
     - Cô mua dùm tui gói khô đi cô. Cháu nó về VN đem qua cho tui 5 ký, nhiều qua ăn không hết, tui đem ra chia lại cho bà con kiếm chút tiền xài vặt cô à.  
Nhìn thấy mấy con khô nhỏ xíu như cá sặc bướm tôi hỏi bà:
      - Khô cá gì mà nhỏ xíu vậy bác, làm gì ăn? Không biết ngon không nữa.
      - Cô đem về rửa nước sôi rồi chiên lại cho dòn, ăn ngon lắm cô ơi! Cá này là cá lù đù, tui đã ăn rồi nhưng vì nhiều quá, một mình ăn không biết chừng nào mới hết. Sáng giờ tui bán được hai gói, còn hai gói này tui xách đi tới đi lui hoài không ai chịu mua.
Thấy tội nghiệp bà lão, tôi hỏi:
     - Một gói bao nhiêu vậy bác, ý con là bao nhiêu cân nặng và bao nhiêu tiền?
      - Dạ 7 đồng một gói, một gói nửa ký đó cô. 
Ông xã tôi xưa nay rất khoái khẩu các loại cá làm khô nhưng từ khi nghe nói thực phẩm VN bị ướp nhiều hóa chất độc hại, chúng tôi cố tránh tối đa. Tôi không muốn mua nhưng thấy tội nghiệp bà lão vì muốn có mấy đồng bạc mà phải đứng chợ sáng chợ trưa chào mời người qua kẻ lại nên chạnh lòng.
      - Vậy cho con một gói đi bác, lấy để đó chớ thiệt tình nghĩ tới bắc cái chảo lên chiên vài con khô sao thấy ngán quá.    
Thấy tôi dễ dãi, được nước bà kèo nài:
     - Hay là còn một gói, cô mua luôn đi. Một gói ít quá dễ gì ai chịu mua cho tui. Làm ơn đi cô.
Ông xã tôi cũng đốc vô:
      - Thôi kệ lấy luôn dùm cho bác đi em à. Nhiều nhỏi gì đâu.

Hai chúng tôi có một điểm tương đồng là thích giúp đỡ người chung quanh. Bà lão cần chút tìền, chúng tôi có thể cho tiền bà nhưng bà không xin thì có cho bà cũng không lấy. Bà chỉ muốn trao đổi sòng phẳng. Vậy thì điều chúng tôi làm được cho bà là mua giúp bà hai gói khô theo ý bà dù chúng tôi chỉ mua để đó rồi... bỏ chớ chưa chắc gì dám ăn. Không ăn thì cũng có thể cho người khác nhưng nghĩ mình đã sợ không an tòan mà đem cho người khác ăn thì chẳng khác nào đầu độc họ còn nặng tội hơn. Nếu người ta tự ý đi mua là chuyện khác. Thôi thà là bỏ cho khỏi áy náy lương tâm. 

Rốt cuộc tôi đã giải quyết được mấy con khô bằng cách dùng làm phân cho tốt tươi hoa lá, vừa không phí phạm, vừa bảo vệ sức khỏe cho gia đình theo ý.
 

  Người Phương Nam  

Vợ Tốt

V TT,

Lính thủy sưu tầm và chuyển

Vợ tốtimage_gallery.jpgVT

Kiếm…đâu..ra???

http://www.iheartthemart.com/wp-content/uploads/2013/04/Help-Wanted-Sign.jpg



Lính thủy sưu tầm