Monday, May 25, 2026

Bức Ảnh "Tái Chế Nhựa"- Nguyễn Hồ Quân


Hành trình 2 năm cho cú bấm máy 1/500 giây để chụp khoảnh khắc: Bức ảnh “Tái chế nhựa” và giành giải thưởng từ Liên Hợp Quốc tại Cuộc thi Photography 4 Humanity 2025.

Một cái duyên tình cờ và một cánh cửa đóng lại: Khoảng đầu năm 2023 mình vô tình đi ngang một bãi tập kết nhựa ở Vĩnh Phúc. Trước mắt mình là những ngọn núi nhựa cao quá đầu người: xanh, đỏ, vàng, trắng… xếp lớp như một bức tranh trừu tượng khổng lồ. Mỗi màu là một câu chuyện như chai nước, vỏ đồ chơi, mảnh ống vỡ đang chờ được phân loại trước khi xay thành hạt, quay lại vòng đời mới.

Máy ảnh trong tay mình đã ngứa ngáy. Nhưng khi mình xin phép, anh chủ cơ sở lắc đầu: “Không được đâu em, quy trình thu gom phân loại, người ta nhìn vào lại hiểu sai”. Cánh cửa khép lại. Nhưng hình ảnh những điểm màu ấy thì không rời khỏi đầu mình.

Và hơn 700 ngày với nhiều cuộc trò chuyện không có máy ảnh
Sau lần đó, mình đã quay lại nhưng không mang máy ảnh. Mà chỉ mang vài câu chuyện cuộc sống và thời gian. Mình ngồi trò chuyện với các cô đang phân loại nhựa giữa trưa hè 40 độ, các cô thoăn thoắt nhặt phân loại nhựa. Mình nghe anh chủ kể về giá hạt nhựa tái chế lên xuống, về những chuyến xe chở rác nhựa từ khắp nơi đổ về, về nỗi lo nếu một ngày nghề này không còn ai làm. Cứ thế ròng rã 2 năm. Không có lời hứa “cho chụp”. Chỉ có niềm tin đang được nhen lên từng chút một. Đến tháng 3/2025 mình lại qua thì anh chủ vỗ vai: “Thôi, hôm nào qua chụp đi. Chú mày hiểu nghề này rồi”. Tháng 5/2025 mình đã chụp những bức này. Và 2 năm đổi lấy 1/500 giây đúng là có thật mọi người ạ.

Khi bức ảnh bước ra thế giới
Bức ảnh đó mình gửi dự thi Photography 4 Humanity 2025 – cuộc thi do Liên Hợp Quốc và Văn phòng Cao ủy Nhân quyền tổ chức thường niên. Đây không phải sân chơi của ảnh đẹp mà chủ đề của nó là những vấn đề nóng nhất hành tinh: biến đổi khí hậu, xung đột, khủng hoảng nhân đạo nên đòi hỏi người chụp phải hiểu thấu được những câu chuyện. Ảnh đoạt giải sẽ treo tại Trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York và đi triển lãm toàn cầu. Và rồi bức ảnh “Tái chế nhựa” của mình đã nhận được Giải “2025 Global Prize Honorable Mentions”.
Điều khiến mình nhận ra: nếu không có những bàn tay thầm lặng kia, hàng tấn nhựa này sẽ trôi ra sông, ra biển. Tái chế không chỉ là kinh tế mà đó là cách chúng ta trả lại cho đất một cơ hội thở, và cảm ơn anh chủ cơ sở rất nhiều về những công việc của anh cũng như anh đã cho mình cơ hội để chụp ảnh này.

Đứng ngoài dòng chảy, để đi đường dài
Lại một lần nữa, ảnh của mình không được gọi tên ở trong nước, nhưng lại được thế giới ghi nhận. Mình đã quá quen về việc này, nhiều khi nghĩ đó là việc đương nhiên. Documentary là dòng ảnh cô đơn, nó không chiều thị hiếu, không dàn dựng, không “lung linh”. Nó đòi hỏi thời gian, sự kiên nhẫn, và đôi khi là 2 năm chỉ để được bấm máy một lần.

Nhưng mình sẽ không thay đổi. Vì mình tin giá trị tấm ảnh không nằm ở like, ở các giải thưởng nhiếp ảnh trong nước. Mà nó nằm ở 5 năm, 10 năm sau, khi người ta nhìn lại và hiểu: à hóa ra đã từng có những con người, những nghề, những nỗ lực như thế này để giữ cho thế giới bớt đi một chút rác.

Sắp tới, nhân ngày Môi trường Thế giới 5/6 mình sẽ ra mắt bản draft bộ ảnh về môi trường. Và cả một series Hà Nội nhìn qua ống kính của riêng mình – một Hà Nội xô bồ, nhộn nhịp, in vệt thời gian nhưng cũng đầy ắp những câu chuyện tử tế đang diễn ra mỗi ngày.


Posted on 17 Tháng Năm, 2026 by post3

Nguyễn Hồ Quân


Link triển lãm ảnh tại Liên Hợp Quốc:

https://www.un.org/…/exhibit/photography4humanity2025

Và link cuộc thi:

https://www.photography4humanity.com/2025-global-prize

Sunday, May 24, 2026

Quên - Nguyen Thyanh

 

“Life without memory is no life at all.” — Unknown

Phòng mổ số 3, Bệnh viện Bình An, 8 giờ 20 phút sáng. 

Bác sĩ Trần Minh Khoa, 60 tuổi, Trưởng khoa Ngoại Thần Kinh, nhìn xuống bàn tay mình. Đôi găng mổ ôm khít, nhưng ngón cái khẽ run. Chỉ một nhịp rất nhẹ đủ để mình ông nhận ra. 

“Bác sĩ Khoa, dao mổ,” điều dưỡng nhắc. Ông chớp mắt. Con dao đã nằm trong tay từ lúc nào. 

Bệnh nhân 19 tuổi, xuất huyết não do tai nạn giao thông. CT cho thấy khối máu tụ dưới màng cứng, phải mở sọ cấp cứu. Ca mổ thứ mấy ngàn trong đời ông. 

“Chúng ta bắt đầu nào.”  

Đường rạch chính xác. Khoan sọ. Mở nắp. Máu đông lộ ra. Tay ông lại vững như 20 năm trước. Trong phòng mổ, ông là thần y. Nhưng ngoài phòng mổ, mấy tháng nay có gì đó sai sai.

Tháng thứ nhất.

Bác sĩ Khoa về nhà lúc chiều muộn. Vợ ông, bà Lan, để phần cơm trong lò vi sóng. 

“Anh ăn đi, em hâm rồi đó.”

“Anh ăn rồi mà.” 


Bà Lan nhìn hộp cơm đã chuẩn bị cho buổi trưa vẫn còn nguyên trong túi xách của ông, không nói gì. Dạo này ông hay vậy. Quên chìa khóa, quên sạc điện thoại, quên cả ngày giỗ bố. 

“Bác sĩ Khoa mà quên?” Đồng nghiệp trêu. Ông cười: “Già rồi, thông cảm.”  

Ông không già. Ông mới 60 và ông không quên. Ông chỉ không nhớ là mình đã quên. 

Tháng thứ ba

“Bác sĩ Khoa, hồ sơ bệnh nhân phòng 504, chú Năm, anh chưa ký xuất viện.” 

“Tôi ký chiều qua rồi mà?”

Cô thư ký đưa tập hồ sơ. Trống trơn, chưa có chữ ký nào. 

Ông cau mày. Rõ ràng ông nhớ đã ký. Nhớ cả cây bút mực xanh, nhớ cả lúc chú Năm cảm ơn rối rít. Nhưng giấy trắng mực đen thì không. 

Tối đó, ông ngồi trong phòng làm việc, viết một dòng vào sổ tay: “Đã ký hồ sơ 504.” Gập lại. Sáng hôm sau mở ra, dòng chữ ở đó, nhưng ông không thể nhớ đã viết lúc nào. 

Ông bắt đầu sợ phòng mổ. Không phải sợ máu, sợ chết. Mà ông sợ bàn tay run kia sẽ quay lại. Sợ một ngày ông rạch không còn chính xác, và một người nào đó sẽ không tỉnh lại nữa vì ông. 

Ông đi chụp MRI. Tự đọc phim. Não ông, trên hình ảnh, bắt đầu teo ở vùng hồi hải mã. Tuổi tác, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh nói. Ông cũng là bác sĩ. Ông biết đó không chỉ là tuổi tác. Ông sợ. 

Tháng thứ 12

Bác sĩ Khoa lạc trong chính bệnh viện của mình. 

Ông đi từ căng tin về khoa, chỉ 200 mét. Qua khoa Nhi, rẽ trái, thang máy, tầng 7. Ông đã đi mấy chục năm. Hôm đó, ông đứng sững lại ở hành lang khoa Sản, nhìn quanh: Sao mình ở đây? 

“Sếp Khoa, tìm ai vậy?” Một điều dưỡng hỏi. 

“À… tôi… đi kiểm tra phòng mổ số 8.” 

Phòng mổ số 8 đã đóng cửa sửa chữa từ 2 tháng trước. 


Bà Lan tìm thấy ông ngồi trong xe ở tầng hầm, máy vẫn nổ. 

“Anh làm gì vậy? Em gọi anh 20 cuộc.”

“Ơ, anh đang đợi em mà. Mình hẹn đi ăn?”

“Hôm nay thứ Ba. Mình hẹn thứ Bảy chứ, anh quên à?” 


Ông nổi giận: “Tôi không quên! Cô mới là người nhớ nhầm!” 

Đêm đó bà Lan khóc. Không phải vì bị ông mắng. Mà vì đây là lần đầu tiên, ông nhìn bà như một người xa lạ trong mấy giây, trước khi ánh mắt ông dịu lại.  

Anosognosia. Ông từng biết rõ thuật ngữ này. Bệnh nhân không nhận ra mình đang bệnh. Não tổn thương đúng vùng tự nhận thức. Họ lạc đường, quên tắt bếp, quên vợ con, nhưng khi hỏi thì luôn đáp: “Tôi bình thường. Tôi khỏe.” họ không hề biết họ đã quên.

Ông từng khám các bệnh nhân như thế mỗi tuần. Ông chưa từng nghĩ mình sẽ thành họ.

Hai năm sau. 

Sự cố xảy ra ở phòng mổ số 1. 

Bệnh nhân nữ, 34 tuổi, u màng não. Ca mổ kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Đến lúc đóng nắp sọ, mọi người thấy ông khựng lại. 

“Tiếp theo là gì nhỉ?” Ông hỏi, giọng lí nhí. 

Cả ê-kíp nhìn nhau. Bác sĩ phụ mổ lên tiếng: “Dạ, đặt dẫn lưu, rồi khâu da, thưa anh.” 

Mồ hôi ông đổ ròng ròng xuống trán. Ông thấy bực chính mình. Ông mổ quy trình này cả nghìn lần. Nhưng trong đầu ông lúc đó chỉ là một màn trắng xóa. Như ai vừa rút phích cắm ổ điện mất 5 giây. Rồi bác sĩ phụ mổ cũng hoàn thành ca mổ. 

Không ai báo cáo. Vì ông là bác sĩ Trần Minh Khoa nổi tiếng có đôi tay vàng. Vì ông là ân nhân của họ, ông đã cứu con họ, cha họ, vợ họ. 

Hôm sau, ông nộp đơn xin nghỉ phép dài hạn. Giám đốc bệnh viện nắm tay ông: “bác sĩ Khoa, nghỉ ngơi đi. Anh đã cống hiến quá nhiều rồi.”  Ông gật đầu. Ông không căng thẳng. Ông không thấy buồn, mọi xúc cảm dường như đang biến mất dần.


Bác sĩ Khoa nghỉ ở nhà. 

Bà Lan giấu hết dao trong nhà. Bếp ga khóa van tổng. Ông nổi cáu: “Em coi anh là trẻ con à?” 

Rồi ông lại quên mất mình đã cáu. 10 phút sau, ông pha trà cho bà, hỏi : “Em dạo này hay im lặng, có chuyện gì sao?”  

Con gái ông từ Úc bay về. “Ba, ba còn nhớ con là ai không?” 

“Vớ vẩn, con là bé Na chứ ai. Hỏi kỳ.” 


Na khóc. Vì ông gọi đúng tên, nhưng ánh mắt ông trống rỗng. Ông nhớ cái tên, như nhớ một công thức. Không nhớ con gái mình thích ăn xoài chấm mắm đường, sợ ma, từng ngồi sau xe ông đưa đi học 12 năm. 

Một chiều mưa, ông đi bộ ra khỏi nhà. Không mang áo mưa, không mang điện thoại. Ông muốn đến bệnh viện. Ông là bác sĩ. Phải đến bệnh viện.  

Ông đi lạc 4 tiếng. Công an đưa ông về. Ông khai: “Tôi là bác sĩ Trần Minh Khoa, khoa Ngoại Thần Kinh.” Họ gọi cho bà Lan.  

Về nhà, ông thấy tấm bảng tên “BS.CKII Trần Minh Khoa” trên tường. Ông đứng rất lâu. 

“Lan, ai đây?” 

Bà Lan không trả lời. 


Đêm đó, ông ngồi vào bàn, mở lại cuốn sổ tay. Trang đầu tiên ông viết từ tháng thứ ba: “Đã ký hồ sơ 504.” Trang cuối cùng, nét chữ run rẩy: 

“Nếu ngày mai tôi không còn nhớ tôi là bác sĩ, xin đừng cho tôi vào phòng mổ. 

Nếu ngày mai tôi không còn nhớ em là Lan, xin em vẫn nắm tay tôi, đừng bỏ tôi.

Tôi không biết mình đang quên. Nhưng nhiều người thân bảo tôi đang mất trí nhớ, tôi tin họ và tôi sợ. 

Ký tên: bác sĩ Khoa.”


Bà Lan ngồi bên ông, nắm lấy bàn tay từng cứu hàng nghìn người. Bàn tay giờ run nhiều hơn, nhưng vẫn ấm áp thân thương. 

Ông nhìn bà, cười như một đứa trẻ: “Cô là ai mà tốt với tôi quá?”  

Bà Lan nuốt nước mắt, ôm đầu ông áp vào ngực mình: “Em là vợ của anh. Dù anh có quên cả thế giới, em sẽ nhớ giùm anh.”  

Ngoài cửa sổ, mưa Sài Gòn vẫn rơi. Trong căn phòng ấm cúng, một bác sĩ phẫu thuật giỏi từng có đôi bàn tay vàng đang dần quên cách cầm dao mổ, quên đường về, quên cả tên mình... ký ức đang rời bỏ ông đi, chỉ còn tình thương ở lại.

_______

✍️ Nguyen Thyanh

(1) Nguyen Thyanh - TRUYỆN CỰC NGẮN Quên “Life without memory is no... | Facebook

Lá Thư Tình - Nguyễn Duy Phước

Chị Dâu Em Chồng - Huỳnh Minh Hằng

Hình minh họa 

Tôi với nó là bạn thân từ nhỏ tới lớn !

Nhà trong một xóm, nên cứ chạy qua chạy lại suốt ngày. Có miếng gì ngon nó cũng lấy đưa sang cho tôi cùng ăn. Nhà tôi chỉ có hai anh em, lại mồ côi mẹ rất sớm. Ba của chúng tôi làm công nhân ở xa, mỗi tuần chỉ về được ngày cuối tuần mà thôi. Anh trai rất thương tôi, cái gì anh cũng giỏi chỉ có điều ít nói, có gì chỉ cười cười. Thương em lại quý bạn của em vì thấy hai đứa thân như hai chị em, anh cũng đỡ lo.

Thời gian trôi qua nhanh lắm ! Anh trai tôi đậu Đại học, ra Thành phố đi học và ở KTX. Hai năm sau hai đứa chúng tôi cũng đậu Đại học Sư phạm chung trường nhưng khác khối ( vì cùng hẹn ước ) .

Lúc này ba đã nghỉ hưu chế độ, nên chúng tôi yên tâm học tập. Thỉnh thoảng lại cùng về thăm nhà, gặp mặt nhau là ba anh em chúng tôi vui như tết, đi đâu cũng có nhau, cùng ra mộ mẹ thắp nhang ...

Rồi anh trai tôi ra trường và làm ở Khu gang thép Thái nguyên. Xa nhà nhưng vẫn quan tâm tới hai đứa chúng tôi, có lẽ còn nhiều hơn trước . Tôi đâu biết nó và anh trai tôi yêu nhau từ lúc nào...chỉ biết : Nó vui hơn tôi, cười nhiều hơn tôi khi gặp lại anh trai của tôi, tôi vô tư nên không để ý sâu xa những điều này !

Chúng tôi ra trường, dạy ở hai huyện khác nhau. Nhưng vẫn như ngày xưa, như lúc còn nhỏ ...

Khi anh đã ổn định công việc, ba tôi giục anh lập gia đình. Anh nói :

- Con đã có người yêu lâu rồi và con đã quyết định cưới cô ấy, ba yên tâm !

Ba tôi ngạc nhiên và khi biết nó là người yêu của con trai mình, bạn thân của con gái mình, con bé hàng xóm tốt bụng - sẽ là con dâu nhà mình, ba vui mừng, nói :

- Cái thằng, tưởng dại mà lại chín chắn ra phết !

Ngày cưới của anh tôi và nó, bầu trời thật trong xanh. Mọi người vui vẻ chúc phúc vì họ là người cùng làng, quen biết hiểu rõ nhau từ lâu lắm rồi .

Tôi nhớ lại ngày trước, khi ba đứa chúng tôi đi thắp nhang mộ mẹ xin anh đi học ở xa được bình an, nó đã khấn gì trong miệng lâu lắm. Tôi còn chọc nó :

- Mẹ ơi, mẹ có linh thiêng giúp cho nó lấy được anh chồng tốt, yêu thương nó nhiều nha mẹ !

Và ....

Nó là một người con dâu tốt nhất mà tôi từng biết, đã chăm sóc phụng dưỡng ba chồng tử tế (như trong truyện cổ tích mà hai chúng tôi vẫn hay đọc thuở bé). Một người mẹ tuyệt vời và là một người vợ chịu thương chịu khó, để anh trai của tôi an tâm (làm lãnh đạo một nhà máy lớn ).

Còn tôi ...

Lấy chồng và theo chồng xa xứ. An tâm vì " ĐÃ CÓ NÓ RỒI MÀ ! " .

Tình bạn, tình yêu và tình thương của một gia đình hạnh phúc là đây, đúng không các bạn?


H.M.H

(1) Những câu chuyện Nhân Văn | CHỊ DÂU EM CHỒNG | Facebook

Saturday, May 23, 2026

Cười Xã Stress

Con có lấy làm tiếc...

     Một người đàn bà đến xưng tội: thưa Cha, con vừa đập vỡ chiếc bình sứ trên đầu chồng con.
     Cha hỏi:
     - Con ơi, con có lấy làm tiếc về hành động của con hay không?
     - Dạ, thưa cha, con lấy làm tiếc lắm ạ. Vì con đã phải bỏ ra 5 triệu để mua chiếc bình đó.
  

Trong giờ học tôn giáo  

      Thầy linh mục giảng cho học sinh:
     - Cùng với ngày tận thế sẽ là ngày phán xử cuối cùng.
     Học sinh Paven giơ tay, đứng dậy hỏi thầy:
- Thưa thầy, ngày đó chúng em có được nghỉ học hay không ạ?
  

Trong xe TAXI

     Chàng trai và cô gái yêu nhau ngồi trong tắc xi:
     - Anh yêu em muốn chết đi được, - chàng trai nói.
     - Em cũng cảm thấy em như đang chết  vì yêu anh, - người con gái đáp lại.
     - Xin lỗi hai anh chị! - người lái xe tắc xi nói chen. - Tôi xin lỗi vì làm gián đoạn cuộc tâm sự của anh chị, nhưng xin anh chị hãy thanh toán tiền xe cho tôi trước khi cả hai anh chị...  qua đời.


Bài tập về nhà
   Tại lớp học, cô giáo ra đề bài tập về nhà: “Em hãy kể một chuyện không bình thường mới xẩy ra gần đây ở nhà em”.

     Ngày hôm sau cô giáo gọi Robert đứng lên đọc bài làm của mình.
     Robert đọc:
     - Tuần trước bố em bị rơi xuống giếng...
     - Lạy Chúa tôi, thế bố em có bị làm sao hay không? - cô giáo hoảng hồn hỏi.
     - Thưa cô, chắc là bố em không bị làm sao cả, vì từ hôm qua không thấy bố kêu la ở dưới đó nữa.

 Tại phiên toà xét xử vụ xin ly dị

     Quan toà hỏi người vợ, bên nguyên:
     - Trước kia, khi chị đồng ý lấy anh ta thì nhất định anh ta phải có cái gì đó lôi cuốn chị chứ?
     - Dạ, thưa quý toà, có, có đấy ạ, nhưng em đã tiêu hết nhẵn rồi.

THIÊN ĐƯỜNG

Hai ông chồng ngồi kể khổ với nhau về chuyện vợ con. Một ông rầu rĩ nói:
- Nhiều lúc tôi muốn chết quách cho rồi. Không biết trên thiên đường có đàn bà không nhỉ?
Ông kia trợn mắt:
- Vớ vẩn! Có đàn bà sao còn gọi là thiên đường được!

Địa ngục là có thật

     - Bố ơi, con không thể lấy anh Paven làm chồng được đâu, anh ta là người vô thần, không tin là có địa ngục.
     - Đừng ngại, con gái của bố ơi. Rồi con và mẹ con khắc nhanh chóng cho hắn ta biết, địa ngục là có thật.

HỚT TÓC   

    Một người Mỹ vào tiệm hớt tóc, khi hớt xong chủ tiệm không tính tiền vì hôm nay là ngày của tuần lễ free.  Sáng hôm sau khi mở cửa chủ tiệm hớt tóc nhận đước 20 bông hồng mang ý nghĩa cảm ơn.
    Một lát sau một người Ý vào hớt tóc cũng free, thế là sáng hôm sau chủ tiệm nhận được 20 cái pizza.
    Một anh mũi tẹt ở Hawaii vào hớt tóc ... quên không trả tiền ...sáng. Hôm sau, anh đem lại tặng chủ tiệm  1 thùng bia.
    Sau đó có anh thanh niên người Việt vào hớt tóc và cũng được free. Sáng hôm sau khi mở cửa, người chủ tiệm hớt tóc giật mình vì có 20 ông VN đang đứng chờ!!

    

Biết Hết Sự Thật Rồi!   

Một chú bé được một cậu bạn cùng lớp rỉ tai rằng tất cả người lớn đều có những bí mật riêng và rất dễ tống tiền họ bằng câu: “Tôi biết tất cả sự thật”. Về nhà, chú bé quyết định sẽ thử điều này với mẹ:
    - Con đã biết tất cả sự thật.
    - Đừng nói gì với bố nhé!
    Mẹ cho cậu 10 nghìn đồng.
    Hiệu nghiệm quá, bố đi làm về, cậu lại đọc “thần chú” vào tai ông. Ông bố ngay lập tức rút ví cho cậu 50 nghìn đồng cùng một đề nghị giữ kín chuyện.
    Vô cùng hài lòng với phương pháp kiếm tiền mới của mình, hôm sau, khi gặp bác đưa thư trước cửa nhà, cậu nói ngay:
    - Bây giờ tôi đã biết tất cả sự thật rồi!
    Bác đưa thư đứng lặng người, cặp kính trắng mờ đi, ông giang hai tay ra và nghẹn ngào nói với cậu bé:
    - Nếu con đã biết hết sự thật rồi thì … lại đây với bố đi con!


Anh Thập chuyển

Tháng Tư, Nhớ Mì Gói - Vũ Thế Thành

Tháng tư và mì gói nào có liên quan gì với nhau. Tháng tư năm 75 chỉ là cột mốc, thoắt chốc mì gói đã trở thành sơn hào hải vị trong các bữa ăn của người dân Sài Gòn.


Những năm sau 75, con đường vương bá của mì gói bất ngờ nổi lên. Miền Tây là vựa lúa mà Sài Gòn thiếu gạo mới đau, dù chiến tranh đã trôi qua vài năm rồi. Mỗi tháng tiêu chuẩn gạo của kỹ sư như tôi được 13 kg. Gạo thiếu, thay một phần gạo bằng mì gói. Một kg gạo quy thành sáu gói mì, và chỉ một kg gạo được quy đổi thành mì gói thôi, còn lại là những lương thực độn khác như bo bo, bột mì, khoai sắn. Rồi đến lúc bao bì gói mì cũng không đủ, cho mì vụn vào túi nylon đóng bao nửa kg. 

Mì vụn hay không, không thành vấn đề, vì trước sau mì cũng được bóp vụn để nấu canh. Tô canh bành ky, mì vụn lõng bõng. Gói bột nêm đi kèm trở nên thần thánh. Có ai ngờ nổi?

Rồì mì gói bị đổi tên thành “mì ăn liền”. Ai đầu têu đổi tên mì gói? – Tôi không biết, nhưng chữ “mì ăn liền” nhanh chóng trở thành tiếng lóng mang nghĩa“chụp giựt” trong một xã hội… “mì ăn liền”. Bây giờ tiếng lóng này vẫn còn thông dụng.

Tôi không nhớ mì gói có mặt ở miền Nam từ hồi nào, có lẽ cuối thập niên 60 hay đầu 70. Hồi đó thức khuya học thi, làm một tô mì gói thì cái đầu trở nên sáng suốt lạ thường. 

Hình như chỉ có hai hãng sản xuất mì gói, mì Vị Hương Tố nổi trội hơn so với mì Colusa. Nổi trội hơn chỉ vì dễ mua, đến tiệm chạp phô gần nhà, có thứ nào mua thứ đó. Cũng đôi lần tôi nếm thử mì gói Đại Hàn, vị lạ và cay, nhưng tôi vẫn thích mì gói Hai Tôm hơn. 

Thiệt tình, tôi cũng chẳng bao giờ đặt câu hỏi trong đầu về mức dinh dưỡng của mì gói. Đơn giản, đó là món ăn vặt. Nấu mì gói nhanh lẹ hơn chiên cơm. Đêm hôm học thi, thời gian đâu mà bày vẽ nấu nướng, hơn nữa mùi vị của tô mì gói cũng đậm đà, dễ chịu, và dễ… nuốt.


Rồi đến thời khó khăn, cái thời mà có nhà khoa học hùng biện trên báo, rau muống bổ hơn thịt bò. Mẹ tôi không tin – Bà già bán xôi mù chữ không tin nhà khoa học. Còn tôi, như bao người trong nước thuở đó, ăn để tồn tại thì mì gói, bo bo , khoai sắn gì cũng như nhau, để ý làm chi đến chuyện dinh dưỡng. Mà chẳng phải mì gói đang được tôn vinh thành món canh vương bá đấy sao? 

Ít ai biết mì gói còn là món mồi đưa cay rất… tới. Mì gói đưa cay làm tôi nhớ đến chuyện liều lĩnh, bạt mạng một thời.

Hồi đó tôi đang làm ở một Trung tâm nghiên cứu, thỉnh thoảng xuống phòng thằng bạn, cùng trường nhưng khác khoa, nói chuyện đời. Thằng này giỏi tử vi, nó gần như thuộc lòng quyển “Tử vi đẩu số”của Nguyễn Phát Lộc, còn tôi chỉ mới biết xem chập chững. Tôi không tin chuyện bói toán, bây giờ vẫn không tin, nhưng thời buổi khi đó nhiều nỗi hoang mang, bế tắc, nên cũng tập tành coi tử vi chơi, để xem đời mình lắm rệp cỡ nào. 

Có hôm hai thằng luận tử vi, từ 3 giờ đến 6 -7 giờ chiều vẫn chưa mãn cuộc. Nó “phán” (tôi nhớ đại khái), “Số mày, Mệnh, tử phủ vũ tướng – Quan, hóa khoa, xương khúc hồng đào đủ cả. Nhưng tất cả đều ngộ Không – Kiếp, Hóa kỵ. Số mày, làm vua thì đi tu, làm quan thì đi tù”… Tôi bật cười ha hả – nói, “Điều tao muốn biết là, tao có số đi nước ngoài hay không thôi. Dẹp cung Mệnh – Thân – Quan lộc gì đó qua một bên, luận cung Thiên Di cho kỹ. Đi không được thì ở đây Thân – Mệnh cũng chẳng nghĩa lý gì”. 

Câu chuyện tới hồi gay cấn, thằng bạn chợt hỏi, “Có chút gì để mềm môi không?” Tôi lắc đầu, cuối tháng, túi thằng nào cũng rỗng. “Thầy” lại gật gù,“Liệu có thể lên phòng lab pha chế ra thứ gì đó nhâm nhi không?” Thằng bạn gốc nhà trâm anh thế phiệt, nên lúc nào cũng nói năng thủng thỉnh. Tôi ngẫm nghĩ, phòng lab dĩ nhiên có đủ thứ hóa chất tinh khiết, có thể “sáng tạo” được. Tôi trả lời, “Đợi đấy!”

Tôi vào phòng thí nghiệm, lấy chai ethanol 96 độ, tự nhủ, tinh khiết tới cỡ này chắc không đến nỗi…. Rót ethanol vào bình erlenmeyer (loại bình có thể lắc để trộn dung dịch), pha loãng với nước cất để còn 30 độ. Chưa hết, cho thêm chút đường dextrose (tương tự như đường glucose) để có chút đậm đà, rồi vài lát chanh nữa.


Tôi mang rượu xuống, cùng với một dĩa mì gói bóp vụn, vắt vài giọt chanh. Thiệt bất ngờ, bắt mồi không thể tả. Từ rượu tới mồi, tất cả đều tinh khiết để luận tử vi với cung Thiên Di thần thánh.

Trẻ người non dạ, tôi đã không ý thức được rằng, cồn trong phòng thí nghiệm, dù tinh khiết 96 độ, cũng chỉ là cồn công nghiệp, không phải cồn thực phẩm. Vậy mà mà hai thằng cũng chia nhau cạn hết nửa lít, không bị ngộ độc methanol thì đúng là trời độ. Ngẫm lại, chẳng có cái dại nào giống dại nào. 

Mì gói thời gian khổ trở thành sơn hào hải vị. Bữa cơm trong nhà có khi chỉ là tô canh mì gói, một trái hột vịt luộc dầm nước mắm loãng, pha chút gia vị mì gói. Vậy mà chỉ chan canh, còn hột vịt thì “tế nhị” nhường nhau, ưu tiên người già con nít.


Chừng 20 năm sau này, mì gói “nâng cấp” trở thành món ăn thường xuyên của sinh viên, lao động nghèo, và tiện lợi làm hàng cứu trợ. Mới đây tôi còn chứng kiến một em sinh viên ăn một lúc hai gói mì. Khỏi cần chất đạm chi cho đỏ da thắm thịt, chỉ cần chất bột chất béo, ăn mì gói như thế thì no lâu, phải thế không em, những tiềm năng của đất nước? Hai trăm gói mì trị giá bằng một tô phở bò Kobe.

Năm ngoái, Sài Gòn mắc đại dịch thê thảm, cả 3-4 tháng bị phong tỏa tuyệt đối, nhà nào biết nhà nấy. Rau quả thịt cá không mua được, mì gói trở thành món ăn cầm cự để tồn tại của dân Sài Gòn. Nhiều nhân viên y tế cũng ăn mì gói để dằn bụng cho qua ca trực đêm. Vậy mà lại bùng lên vụ mì gói có chứa chất gây ung thư ethylen oxide (EO). Hầu hết các nước trên thế giới kể cả Mỹ, Nhật, Canada… đều cho phép xài chất EO, chỉ có EU là cấm. Khác biệt quan điểm về an toàn thực phẩm giữa các quốc gia là chuyện thường. Nhưng vài KOLs, không chút kiến thức về an toàn thực phẩm, hay về luật chơi xuất khẩu đã nhảy lên facebook hùng hồn khuyến cáo… 

Sáng nay tôi vào tiệm phở. Bàn bên cạnh là đôi vợ chồng trẻ và đứa con chừng 6-7 tuổi. Cả cha lẫn mẹ đều thay phiên nhau, vừa dụ ngọt, vừa đút phở cho con. Còn thằng nhỏ vừa hờ hững há miệng, vừa nhìn vào smart phone chơi game. 

Tôi bỗng nhớ tuổi thơ của mình, phải giả vờ ốm mới được mẹ cho ăn phở. Tôi nhớ tô canh mì gói bóp vụn, nhớ quả trứng luộc chia năm xẻ bẩy, nhớ cả những năm tháng gian khổ mà sao đâu đó vẫn còn chút tình người thật mặn.


Mì gói ăn vặt, mì gói lên hương, mì gói cứu trợ, rồi mì gói tai bay vạ gió với đủ thứ chuyện buồn vui của đời người. Mì gói của một thời như thế đó, làm sao quên được!

 

Vũ Thế Thành

Sài Gòn 25/04/2022

Đăng lại từ Facebook Vũ Thế Thành <https://www.facebook.com/vu.thethanh.1

Most Dangerous Acts 2020 | BGT 2020

<p> 

Tấm Poncho - De Nguyen


Trong đời sống quân ngũ của người lính Việt Nam Cộng Hòa, nếu khẩu súng là biểu tượng của nhiệm vụ chiến đấu, thì chiếc poncho, tấm áo mưa nhà binh đơn sơ lại là biểu tượng thầm lặng của sự sinh tồn, chịu đựng và cả chất thơ đậm nét của đời lính. Nhìn qua, poncho chỉ là một tấm nylon mỏng, màu xanh rêu hay ngụy trang, có vài cái nút bấm và một lỗ chui đầu có nón che. Nhưng trong thực tế, nó là một “người bạn đồng hành” đa năng, hiện diện trong mọi hoàn cảnh, từ hành quân gian khổ đến những phút nghỉ ngơi hiếm hoi giữa chiến trường.

Trước hết, công dụng hiển nhiên nhất của poncho là che mưa. Ở vùng rừng núi, mưa đến bất chợt, nặng hạt và kéo dài. Người lính không có thời gian trú ẩn, chỉ kịp trùm poncho lên người, súng ôm trước ngực, tiếp tục bước đi trong màn mưa xối xả. Poncho giúp giữ cho thân thể không bị ướt sũng, tránh cảm lạnh, giữ ấm trong những đêm gió núi lạnh buốt. Nhưng nói vậy cũng chỉ đúng một phần, vì thực tế, dù có poncho, người lính vẫn ướt, vẫn lạnh. Tấm poncho không hoàn hảo, nước vẫn len lỏi vào cổ, qua tay áo, nhưng cái quý là nó giảm bớt phần nào cái khắc nghiệt của thiên nhiên. Trong hoàn cảnh đó, một chút khô ráo cũng đã là ân huệ.


Không chỉ là áo mưa, poncho còn là tấm trải lên đất. Những khi dừng quân giữa rừng, không có giường chiếu, người lính trải poncho xuống đất, nằm tạm nghỉ lưng. Đất rừng ẩm ướt, đầy côn trùng, rễ cây, đá sỏi, poncho trở thành lớp cách ly mong manh giữa cơ thể và thiên nhiên hoang dã. Có khi, poncho được căng lên làm mái che tạm, buộc vào cành cây thành một chiếc lều nhỏ, đủ để hai ba người chui vào tránh mưa, tránh sương đêm.

Trong những tình thế khẩn cấp, poncho còn biến thành cáng tải thương. Hai cây súng hoặc hai nhánh cây luồn qua, poncho trở thành chiếc băng ca dã chiến để khiêng người bị thương ra khỏi vùng nguy hiểm. Lúc đó, nó không còn là vật dụng cá nhân mà trở thành phương tiện cứu nguy, nối dài sự sống của đồng đội. Có những người lính đã được đưa về tuyến sau nhờ chính tấm poncho của bạn mình, một chi tiết nhỏ nhưng mang nặng tình chiến hữu.


Poncho cũng có thể dùng làm chăn đắp. Đêm xuống, giữa rừng sâu hay ngoài bìa làng hoang vắng, gió thổi hun hút, người lính co ro trong poncho, quấn kín người như con tằm trong kén. Không đủ ấm, nhưng đủ để giữ lại chút hơi người giữa cái lạnh cô đơn. Có khi, poncho phủ lên ba lô, lên súng đạn, bảo vệ những thứ thiết yếu khỏi mưa gió. Một vật dụng, nhưng gánh vác nhiều vai trò, đúng nghĩa “đa năng” của đời lính.


Nhưng nếu chỉ dừng lại ở công dụng thực tế, poncho vẫn chưa nói hết ý nghĩa của nó trong đời sống tinh thần và văn chương của người lính Việt Nam Cộng Hòa. Trong thi ca, poncho thường xuất hiện như một biểu tượng của nỗi cô đơn, của kiếp sống phiêu bạt. Hình ảnh người lính chiến khoác poncho, đứng gác trong mưa đêm, hay lầm lũi hành quân dưới bầu trời xám, đã đi vào nhiều bài thơ, bài nhạc. Poncho lúc này không còn là vật vô tri, mà như mang linh hồn, linh hồn của những ngày tháng gian nan.


Có những câu thơ không cần nhắc đến chiến trận khốc liệt, chỉ cần nói đến chiếc poncho ướt mưa cũng đủ gợi lên cả một bức tranh buồn. Poncho ướt, nghĩa là người lính đang ở ngoài trời, không nhà, không mái che. Poncho bạc màu, nghĩa là thời gian dài đằng đẵng của chiến tranh đã bào mòn cả vật dụng lẫn con người. Poncho phủ lên người, như một lớp vỏ che giấu nỗi niềm riêng, những nhớ nhung, lo âu không thể nói thành lời.

Trong những lúc nghỉ chân hiếm hoi, poncho cũng trở thành “chiếc chiếu văn chương”. Người lính trải poncho ra, ngồi hút thuốc, viết vài dòng thư về cho gia đình, hay ghi vội mấy câu thơ vụng về mà chân thật. Những câu thơ đó, nhiều khi không trau chuốt, nhưng lại đậm đặc cảm xúc, vì được viết trong hoàn cảnh mà mỗi phút giây đều có thể là cuối cùng. Poncho, lúc này, là nền cho những tâm sự, là chứng nhân cho những giấc mơ nhỏ bé giữa chiến tranh lớn.


Poncho còn gắn với tình đồng đội. Hai người lính có thể chia nhau một tấm poncho trong cơn mưa, ngồi sát lại cho đỡ lạnh. Một người ngã xuống, poncho của anh có thể được đồng đội giữ lại, như một kỷ vật. Có khi, poncho phủ lên thi thể người lính đã hy sinh, thay cho một tấm khăn liệm tạm thời. Hình ảnh đó vừa giản dị, vừa đau xót. Một đời người khép lại dưới chính tấm poncho đã từng che chở họ.

Trong văn chương thi phú, poncho vì thế không chỉ là vật dụng, mà là biểu tượng của thân phận. Nó nói lên sự thiếu thốn, sự chịu đựng, nhưng cũng nói lên ý chí, sự thích nghi và tình người. Nó không hào nhoáng, không oai hùng như vũ khí, nhưng lại gần gũi và chân thật hơn, vì nó chạm vào những nhu cầu cơ bản nhất của con người: được che chở, được nghỉ ngơi, được sống sót.


Có thể nói, chiếc poncho của lính Việt Nam Cộng Hòa là một phần không thể tách rời của đời lính. Trong thực tế, nó là vật dụng đa năng giúp người lính tồn tại giữa thiên nhiên khắc nghiệt và chiến tranh ác liệt. Trong văn chương, nó là hình ảnh giàu sức gợi cảm, chứa đựng bao nhiêu tâm tình, ký ức và nỗi niềm. Một tấm poncho mỏng manh, nhưng mang trên mình cả một thế giới, thế giới của những con người đã sống, đã chiến đấu và đã mơ ước giữa những ngày tháng không thể nào quên.

Chiếc poncho của lính Việt Nam Cộng Hòa không chỉ là một món đồ quân nhu vô hồn. Qua lăng kính của thực tế khắc nghiệt và tâm hồn bay bổng của những nghệ sĩ mặc áo lính, nó đã trở thành một phần bản sắc của văn chương thời chiến. Nó vừa che chở cho sự sống, vừa bảo bọc cho cái chết. Nó là nơi người lính gửi gấm những giấc ngủ vội, những lá thư tình viết dở và cả những hơi thở cuối cùng.


Trong văn chương Việt Nam, chiếc poncho sẽ mãi là một “tín vật ” nghệ thuật đặc trưng, nhắc nhở thế hệ sau về một thời kỳ mà ranh giới giữa sự sống và cái chết đôi khi chỉ mỏng manh như một lớp vải nylon che mưa.

 

De Nguyen

Dặn Lòng - Trầm Vân

Tháng Năm, Nhớ Tuổi Hoa Niên - Người Phương Nam



Anh Thọ với tôi ở cùng xóm với nhau, nhà cách nhau vài căn. Trên anh có hai người anh và một người chị, dưới thì có hai cô em gái cùng trang lứa với Hương, em của tôi. Hương thường chạy qua chạy lại chơi với em gái của anh rất thân tình. 

Quen nhau từ nhỏ tới lớn, tôi coi anh như người bạn, hay gần hơn nữa là một người anh. Mỗi khi đụng mặt nhau ở nhà anh hay ngoài đường, chúng tôi nói chuyện rất tự nhiên như người nhà, không ngượng ngùng e lệ gì cả. Nhưng lúc sau này, không biết anh nghĩ sao về tôi mà một ngày gần cuối tháng năm, Hương qua nhà anh chơi về thì Hương đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ xíu xếp làm tư như cái phiếu bắt thăm, nói anh Thọ gởi cho chị. Tôi lấy làm lạ nghĩ anh này bữa nay sao lạ vậy, chuyện bí mật gì đây chớ  thường chỉ nói miệng thôi mà, đâu có cái chuyện viết giấy nhắn tin như vầy. Tôi mở ra xem thấy mảnh giấy chỉ vừa vặn một câu "nghe Hương nói Kim mê đọc sách lắm hả, vài bữa nữa bãi trường, anh Thọ đi thư viện mượn sách cho Kim đọc mệt nghỉ, chịu hông?".

Nghe nói có sách đọc, tôi mừng húm trả lời liền "chịu chớ sao hông. Mà sao anh không nhắn Hương về nói lại, viết chi cho hao mực tốn giấy của anh? Bộ nhà anh hết giấy, không tìm ra miếng nào lớn hơn nữa hả, chơi gì như con nít, làm Kim mắc cười quá đi" .

Ngày kế tiếp, cũng lại mạnh giấy nhỏ xíu xìu xiu, nhưng hôm nay anh se tròn lại như vấn thuốc hút hỏi tôi  "thích đọc thể loại gì, tình cảm xã hội, trinh thám, lịch sử hay kiếm hiệp?". Tôi nói "có cái gì đọc cái đó, nhưng đừng mượn  truyện ma nha, Kim sợ ma lắm đó." 
Hai ngày sau, anh viết "Trong đạo Thiên Chúa, không có ma đâu, đó là chuyện nhãm nhí,  hoang đường, đừng có sợ"

Những mảnh giấy nho nhỏ gởi tin nhắn  của anh Thọ, tôi thấy ngồ ngộ vui vui nên không vứt bỏ mà gom lại cất trong cái hộp đựng xà bông thơm Bois de Santal 4 cuc đã xài hết, định để lâu lâu lấy ra đọc lại cho vui, và cũng để làm kỷ niệm, kỷ niệm của một thời niên thiếu hồn nhiên vô tư lự. 


Rồi "thư" đi "thư" lại vài lần thì hết tháng năm qua tháng sáu tới ngày bãi trường. Anh Thọ giữ lời gởi "tối hậu thư" cho tôi "Ngày mai anh Thọ đi mượn sách rồi đem qua nhà Kim ngồi đọc với Kim cho có bạn nha"

Tôi nghĩ thầm trong bụng, sao kỳ vậy ta, sao ảnh không về nhà ảnh đọc mà ngồi ở nhà tôi chi vậy. Rủi má tôi la rầy biết nói  làm sao. Tưởng là anh nói chơi thôi, vậy mà anh làm thiệt, đem mấy quyển sách về cho tôi rồi kéo chiếc ghế ngồi dựa cột, còn tôi thì nằm võng đong đưa. Mỗi đứa một cuốn chăm chú đọc, không ai nói với ai câu nào. Anh mượn cho tôi quyển "18 thôn vườn trầu của tác giả Trần Ngọc Vy",  "Vàng và Máu của tác giả Thế Lữ". Đọc qua cái tựa thôi là đã thấy lôi cuốn phấn khích lắm rồi. Tôi ước gì mình có thể "nuốt" chữ đọc thật nhanh cho thỏa lòng.


Thời gian đó, má tôi có người giúp việc, tôi không cần phụ má chuyện trong nhà nên rảnh rang tha hồ mà thả hồn vào trang sách, mơ màng theo mây gió trăng sao, buồn vui theo từng diễn biến của câu chuyện. Càng đọc càng mê mẩn tới nổi má tôi phải nhắc chừng hai đứa phải cho con mắt nghỉ ngơi một chút, bắt nó làm việc liên tục coi chừng nó đui luôn cho coi. Riêng phần tôi thì má bảo lát lát phải ngồi dậy đi tới đi lui chớ nằm võng riết mai mốt cái lưng cong vòng.

Tới giờ ăn trưa, tôi tưởng anh sẽ về ăn rồi ở nhà luôn nhưng ai dè anh nói anh về ăn ba hột rồi trở qua nữa. Lạ thiệt, về thì về luôn đi, mỗi đứa đọc riêng một cuốn chớ có đọc chung đâu mà phải trở lại ngồi chôn chân một chỗ không thoải mái chút nào.
Qua mấy ngày sau, má tôi thấy vậy mới bảo anh Thọ ăn trưa với tôi luôn nhưng anh từ chối xin phép về. Và vẫn y như cũ về rồi chút xíu lại trở qua. Chị giúp việc nhà nói với má tôi, cậu này lạ đời thiệt, sao không xách cuốn sách về nhà đọc mà cứ qua đây ngồi tối ngày, hàng xóm dị nghị chết. Má tôi bảo thôi kệ, tụi nó ngồi nhà đọc sách giải trí lành mạnh chớ phải chi đi xi nê hay dẫn nhau đi chỗ nào mình không biết thì mới lo.

Cũng may, trường tôi nghỉ hè chỉ có một tháng, không như những trường khác tới chín mươi ngày. Suốt một tháng hè, mỗi khi tôi đọc xong quyển nào thì anh mang trả quyển đó rồi mượn tiếp truyện mới cho tôi. Trước ngày tôi nhập học lại, hôm cuối ngồi đọc sách bên nhau, anh Thọ tặng tôi một bức ảnh Đức Mẹ Từ Bi bảo tôi hãy giữ kỹ và siêng năng cầu nguyện để được Đức Mẹ cứu giúp, ban ơn chở che qua những  tai ương hoạn nạn trong đời. 

Ba má tôi ngoại đạo nhưng cho tôi học trường bà phước, sáng nào vô lớp, bài đầu tiên các soeurs dạy là giáo lý rồi mới tới các môn học khác. Vì vậy tôi cũng thuộc nhiều bài kinh trong đạo Thiên Chúa.  Nay anh Thọ tặng tôi bức ảnh này, tôi  cảm thấy như nhận được sự kết nối tâm linh giữa Mẹ thiêng liêng trên trời và tôi, đứa con trần thế để từ đó tôi thấy vững mạnh một niềm tin rằng có Mẹ hằng theo dõi mỗi bước tôi đi ở cuộc đời này.
Anh Thọ còn nói với tôi rằng nếu bãi trường năm sau anh không bận gì thì đến hẹn lại lên, anh sẽ mượn sách cho tôi và  cũng sẽ ngồi đọc với tôi như hiện tại.

Bức ảnh Đức Mẹ Từ Bi 63 năm về trước

Nhưng mùa bãi trường năm sau, ba má tôi cho tôi đi Sài Gòn chơi, còn anh Thọ thì phải học thi ôn bài vở cho tú tài một. Chúng tôi không còn cơ hội lập lại thú vui đọc sách bên nhau thêm lần nào nữa. Từ đó chia đôi đường, mỗi người một lối rẻ.

Phần tôi, hết năm đệ tứ, tôi và nhóm bạn chuyển sang trường Lasan, nơi anh Thọ đang theo học vì trường cũ của  tôi không có lớp tú tài. Lần đầu tiên trường dòng nam thu nhận nữ học sinh nên các cô là tâm điểm cho các bạn nam sinh xì xào  bàn tán, chấm điểm. Số nữ sinh hai lớp đệ tam và đệ nhị cộng lại chỉ khoảng ba chục bóng hồng Eve chớ mấy nhưng với những suối tóc mây mượt mà gợi cảm, những tà áo trắng dịu dàng thướt tha trong gió sớm nắng mai, ngôi trường như được thổi vào ngọn gió mát, làm dịu đi sự khô khan cằn cỗi nhàm chán cố hữu xưa nay vốn chỉ có toàn là những Adam mà thôi. 

Năm nay anh Thọ lên lớp đệ nhứt còn tôi mới vào đệ tam. Ngày ngày đi học cũng thường gặp nhau nhưng tôi cảm thấy anh có vẻ gì khác lạ, anh làm như không hề quen biết tôi, không như hai năm trước vồn vã thân thiện ân cần. Tôi không hiểu vì sao nhưng cũng không cần tìm hiểu vì trong lòng tôi, anh chỉ là người bạn hàng xóm, khi vui thì đậu, khi buồn thì bay, muốn đậu muốn bay gì thì tùy, cứ để xuôi theo tự nhiên, tôi không bận lòng. 


Môn Pháp văn là môn tôi đứng đầu trong lớp vì tôi đã học chương trình Pháp lúc tiểu học ở trường các soeurs. Có lẽ vì vậy mà ông sư huynh dạy Pháp văn chú ý đến tôi và tỏ ra trìu mến đặc biệt hơn những học sinh khác khiến dư luận bắt đầu xôn xao lời ra tiếng vào. Tôi chợt thấy lo trong đầu, có thể nào vì lý do này mà anh Thọ không vui?? Nhưng ảnh không vui thì kệ ảnh, muốn nghỉ chơi với tôi thì cho nghỉ luôn. Đâu phải tại tôi, tại anh làm mặt lạ với tôi trước mà.

Hai năm sau anh Thọ lên đường nhập ngũ. Anh không từ giã nên tôi không hay biết để tiễn đưa anh và trao lại anh bức ảnh Đức Mẹ Từ Bi để anh được bình an trên con đường binh nghiệp vào sinh ra tử nhiều rủi ít may. Tôi chỉ còn biết cầu xin ơn trên che chở phù hộ cho anh trong lửa đạn sa trường trùng trùng nguy hiểm, lúc nào cái chết cũng lăm le chực chờ.

Lúc đó tôi đã có người yêu, mải mê với hạnh phúc nên dần dà quên mất anh Thọ cho đến một ngày Hương qua nhà chơi với em gái anh trở về báo tin anh Thọ đã tử trận. Một chút bàng hoàng thương xót anh thoáng qua trong lòng rồi nhanh chóng biến tan ngay. Bây giờ nhớ lại tôi vẫn tự trách mình không biết sao lúc đó tôi vô tình quá đổi. Không một giọt nước mắt, cũng không một lời cầu nguyện, cứ như người không quen biết chưa từng có kỷ niệm gì với nhau trong đời.

Sau ngày mất nước gia đình tôi không cam lòng sống dưới chế độ cộng sản phi nhân quyền nên tìm cách bỏ xứ ra đi. Khi vượt biên, ông xã tôi gói kín bức ảnh Đức Mẹ trong bao nylon  mang theo bên mình. Và như có phép lạ, chuyến đi của chúng tôi rất bình yên, không ai chết khát chết đói, cũng không bị cướp biển.  Bão tố, phong ba cấp tám cũng rút lui sau một hồi gầm thét đe dọa hãi hùng. Khi sóng yên gió lặng, đàn cá dolphin lội theo hai bên tàu như hộ tống đưa chúng tôi cặp bến thủy quân lục chiến Mã Lai, nơi mà bao con tàu tắp vào trước đó đều bị kéo ra không thương xót nhưng đến lượt chúng tôi thì lại được ông thiếu tá chỉ huy trưởng căn cứ đó chấp thuận cho lên bờ và cung cấp thức ăn trong lúc chờ hội trăng lưỡi liềm đỏ (Malaysian red crescent society MRCS) tới đưa đến trại tị nạn Pulau Bidong. 


Khi qua tới nước Úc, bức ảnh Đức Mẹ bị trầy sướt và rách một góc trên đầu, chúng tôi đem ép plastic mới giữ được cho đến ngày hôm nay đã 63 năm từ ngày anh Thọ trao tặng cho tôi. Tôi luôn để dưới gối nằm, đêm đêm cầu nguyện như ngày nào anh Thọ đã ân cần căn dặn. Đức Mẹ là nơi nượng tựa tinh thần vững mạnh của tôi, là nguồn hy vọng, cậy trông an ủi để tôi có thể đi đến chặng đời hôm nay mà không quá vất vả gian lao. Tôi biết rằng mình đã may mắn hơn biết bao nhiêu người trên thế gian này, nên chẳng dám tham lam cầu xin gì hơn nữa ngoài hai chữ bình an cho gia đình.

Tuy anh Thọ đã rời khỏi thế gian hơn nửa thế kỷ nhưng qua bức ảnh Đức Mẹ Từ Bi, tôi có cảm tưởng như anh vẫn đồng hành với tôi ở cuộc đời này và luôn mãi cho tới ngày tôi từ biệt cõi trần. Và nếu sau khi chết sẽ được sống lại đời đời theo lời Chúa thì một ngày nào đó tôi cũng sẽ gặp lại anh trên nước trời và lại cùng đọc sách bên nhau...

Cám ơn người anh hàng xóm đã một thời hoa niên gắn bó, đối đãi với nhau bằng cả chân tình.

Người Phương Nam

Friday, May 22, 2026

Video Nghỉ Hè Thành Phố La Grande Motte Vào Những Năm 2018 Và 2019 - Nguyễn Duy Phước

Tình Rớt - Chu Thị Hồng Hạnh

 
Hình minh họa

Sau một tháng nằm bệnh viện vì bị đột quỵ, hôm nay anh được bác sĩ cho xuất viện.

Cả tháng vừa rồi vợ anh cặm cụi chăm sóc anh ngày đêm, bóp chân bóp tay, đẩy xe lăn đưa anh đi tập vật lý trị liệu... nên giờ anh mới nhúc nhắc đi được. Quái lạ, mọi ngày mới 6 giờ đã thấy chị mang vác đủ thứ vào mà giờ hơn 10 giờ cũng chưa thấy bóng dáng đâu. Anh cứ ngồi ngây ra chờ cho đến lúc có người vỗ vai anh, là cô em vợ:

- Anh làm thủ tục xuất viện rồi về, chị em không vào nữa, chị ấy gửi thư cho anh này.

Anh từ từ mở lá thư ra. Chị viết:

“Gửi anh, người sắp là chồng cũ của em.

Khi anh nhận được thư này thì em đã bay rồi, em sang Úc thăm con và dự tính sẽ ở lại lâu với nó.

Vợ chồng chúng mình đã có bao nhiêu ngày tháng ngọt ngào, hạnh phúc bên nhau cho đến cách đây 10 năm em bước vào giai đoạn mãn kinh và mắc rất nhiều bệnh. Tệ nhất là em mắc bệnh phụ nữ, phải điều trị rất lâu dài. Thay vì động viên, an ủi, cùng em vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của đời người, thì anh trở nên dằn hắt, chửi chó, mắng mèo rồi nói những lời khó nghe. Bản thân anh bị huyết áp cao và bệnh tim nhưng anh bỏ qua tất cả, tối ngày bắt đầu lê la ở vũ trường với các cô bạn cũ, bạn mới. Anh có biết mỗi lần anh sửa soạn quần áo, đầu tóc đỏm dáng, miệng lẩm bẩm mấy câu thơ của Olga Becgon: Nhưng ta nhớ, trời ơi ta vẫn nhớ

Tình yêu đâu... Rừng lặng, bóng sao im. Là tim em như có ai lấy dao cứa vào. Anh cũng muốn bùng cháy lên lần cuối với những cô bồ anh cặp ở vũ trường. Có lần một người bạn thân của em kể cho em nghe rằng anh đi tâm sự với tất cả bạn bè là đến giờ anh mới biết thế nào là tình yêu đích thực. Vậy ai là người đã cùng anh đi qua những năm tháng khó khăn nhất của cuộc đời, cùng anh chăm sóc cha mẹ già, cùng anh nuôi dạy hai đứa con khôn lớn, công thành danh toại, cùng anh làm quần quật hàng chục năm để có nhà lầu, xe hơi sang trọng...? Có lẽ nào 40 năm về trước anh theo đuổi em suốt hơn 3 năm em mới nhận lời, thì chỉ là phù du, bèo bọt sao? Chỉ có sự thỏa mãn xác thịt mới mang lại tình yêu đích thực cho anh?

10 năm nay em sống vật vờ bên cạnh anh mà tâm hồn đã chết lặng. Anh mải chơi bời, anh có bao giờ nhận thấy những cơn đau nhức của em khi trái gió trở trời?!! Đó là hậu quả của những lần sinh nở không được kiêng cữ, con mới có mấy ngày đã gượng dậy làm việc nhà, cùng anh kiếm tiền. Anh có bao giờ để ý mới 60 tuổi mà tóc em đã bạc trắng, phải nhuộm thường xuyên không?

Tháng trước khi em nhận được điện thoại người ta gọi báo anh bị đột quỵ ở vũ trường, em cứ đinh ninh là bồ của anh sẽ chăm sóc anh nhưng không ngờ cả tháng trời chỉ có mình em sớm tối vào ra bên cạnh anh.

Em gửi kèm theo thư là đơn ly hôn. Coi như mình không còn duyên nợ với nhau.

Em từ giờ trở đi sẽ được sống cuộc sống đúng nghĩa, không còn phải đóng vai vợ chồng khắng khít khi ra ngoài đường nữa.

Chúc anh hạnh phúc trên đoạn đường tiếp theo không có em!

Đọc xong thư chị, anh ngồi chết lặng. Anh cứ ngỡ mỗi lần đi chơi về bao giờ chị cũng để phần cơm canh chu đáo. Nhà bao giờ cũng sáng đèn đợi anh về. Trải qua lần bệnh nặng này anh mới thấm thía không có ai tử tế, tốt bụng như chị.

Tiếc rằng khi anh biết quay đầu thì đã mất chị vĩnh viễn.

Có không biết trân trọng, mất ráng chịu, đừng tìm!

 

Chu Thị Hồng Hạnh

Đản Sinh Đức Phật - Đỗ Công Luân

Cái Ác Nhất Của Cộng Sản

Đó là lời bình của Linh mục Phạm Quang Hồng trong bài phỏng vấn có tựa đề “Tự do là món quà quý nhất” và chưa bao giờ hết nó đang rất đúng với thời cuộc nhiễu nhương của Việt Nam hiện tại. Khi giới trí thức Luật sư, Bác sĩ lần lược bị “bóp cổ”, người nghèo bị đuổi khỏi vỉa hè, người dân mất nhà mất đất trở thành dân oan, những sinh viên học hành ra trường không có việc làm, trẻ em bị bạo hành cho đến ch.ết, Biển Đông, Hoàng Sa thì bị Trung Quốc xâm lăng,...Đó không phải là sự “xấu số” của một cá nhân riêng lẻ, mà đó là “cái ác của cộng sản” vì nó làm cho con người “không còn niềm hy vọng vào ngày mai”.

Đối với đa số phụ huynh Việt Nam, ngay từ nhỏ họ thường dạy con cái rằng: “phải học hành thật giỏi để sau ngày giúp đời, giúp người”, “sống thật thà, tử tế, nói sự thật và ghét giả dối”. Lớn lên họ làm theo những gì họ được dạy, thì liền trở thành “phản động”.

Chỉ có “thiên đường XHCN” thì mới có những kẻ lớp 9, lớp 5 lên nắm quyền, còn giới trí thức, những người có trái tim thì không còn chỗ đứng. Vậy thì ai còn muốn làm người tử tế, ai còn muốn theo đuổi con đường học vấn tới cùng?


Hậu quả sẽ thật là khó lường nếu xã hội được hình thành, nuôi dưỡng, sinh sôi ra những con người ngu dốt. Rồi đất nước sẽ đi về đâu? Cho nên khi nhìn về tương lai, chỉ thấy sự mịt mờ tăm tối của hầu hết các tầng nấc, lứa tuổi trong xã hội, ở bất cứ giai cấp nào, họ cũng đối diện với từng sự nhiễu nhương và bất công khác nhau.


Dân tộc mình có thừa nội lực để vươn lên, thừa sức làm nên một quốc gia hùng cường, tự do, dân chủ, nhưng đã bị “bóng ma cộng sản” quấy nhiễu và tước đi “niềm hy vọng vào ngày mai” của con người.


#LinhmucPhamQuangHong #Congsan #chantroimoi