Tuesday, June 30, 2026

Kiếp Sau Xin Vẫn Làm Con Ba - Nhạc Võ Tá Hân - Ý Thơ Tố Kim (Nhân Ngày Giỗ Ba) - Người Phương Nam


Chúa nhật tuần trước, Sunday, June 21, 2026 là ngày Father's Day của các quốc gia ở châu Âu, châu Mỹ. Hôm đó tôi có nhận được một bản nhạc vinh danh tình cha do nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ nhạc từ ba năm trước chuyển lại.

BÀI THƠ CHO CHA

 

https://www.youtube.com/watch?v=THkRYhAGijQ


Sau khi nghe xong tôi đã để lại comment:

Cám ơn nhạc sĩ Võ Tá Hân.

Bài thơ cho Ngày Từ Phụ thật cảm động, hay từ lời tới nhạc, nhứt là ca sĩ hát với hết tâm hồn làm em chạnh lòng nhớ ba em quá.

Em có bốn chị em mà ba thương em nhứt vì là con đầu lòng. Em sống chung trong gia đình với ba má từ nhỏ tới lớn, tới khi lấy chồng cũng vẫn ở chung cho tới ngày đi vượt biên. Trước ngày đi ba em dặn dò rằng: 

"Từ nay không có ba má bên cạnh, con hãy rán lo liệu một mình. Cuộc đời bên ngoài không hiền lành dễ dàng như ở trong gia đình đâu. Không ai thương chìu, giúp đỡ mình như chị em trong nhà. Vì vậy muốn được yên thân thì trước nhứt con phải học chữ nhẫn. Chuyện gì cũng nên nhẫn nhịn, đừng háo thắng hơn thua với ai hết, một câu nhịn chín câu lành, nhịn không có lỗ lã mà trái lại với thời gian con sẽ thấy mình tránh được nhiều việc rắc rối vào thân, lui một bước để tiến lên hai bước là vậy. Và chữ tín cũng rất quan trọng trong việc đối nhân xử thế. Làm việc gì cũng phải có uy tín. Hứa với ai điều gì thì phải giữ lời, cố gắng thực hiện cho được đừng để người ta khinh khi, cho mình là kẻ ba hoa khoác lác không đáng tin cậy. Một con người hòa nhã biết nhẫn nhịn và có uy tín thì đi tới đâu cũng sẽ được người thương mến giúp đỡ. Ở đời người thương mình thì ít, mà người ghét mình thì rất nhiều, rán sống sao cho đắc nhân tâm, đó là chìa khóa mở ra mọi cánh cửa đời". 

Không cần đến ngày Father’s day, lúc nào em cũng luôn nhớ đến ba em và cầu mong Kiếp Sau Xin Vẫn Làm Con Ba.


Hai hôm sau  tôi nhận được được reply của anh:

Dear chị Tố Kim,

Những dòng tâm sự của chị đã được chuyển thành một bài thơ lục bát và nhờ AI (SUNO) viết thành ca khúc...  Xin gửi tặng chị nghe cho vui nhé.


Ba tôi qua đời ngày 30/6/2021, hôm nay nhân ngày giỗ thứ năm của ba tôi, xin đăng lên đây chia sẻ với quý bạn như một nén hương lòng tưởng niệm ngày ba đã lìa xa chị em chúng tôi vĩnh viễn trong kiếp này. 

Đa tạ nhạc sĩ Võ Tá Hân.

Trân trọng

KIẾP SAU XIN VẪN LÀM CON BA

https://www.youtube.com/watch?v=Aww29xvzjH4


Xin mời đọc nếu bạn nào chưa đọc


Người Phương Nam

Tiễn Chân Tháng Sáu - Đỗ Công Luận

Chuyện Kể Bên Ly rượu - Phan Xuân Sinh


Uống cà phê với anh Bửu nhiều lần, nhưng chưa lần nào anh kể cho tôi nghe về đời sống của anh. Tôi cứ nghĩ rằng anh sống một cách thanh thản, thì chắc đời sống cũng bình thường như mọi người. Một lần anh rủ tôi tới nhà chơi uống với nhau chén rượu. Chiều ý bạn tôi tới. Việc trước tiên theo thói quen, tôi quan sát tất cả thành viên trong gia đình Bửu. Người vợ cao ráo mặt mày tươi tắn. Tôi thầm nghĩ trong bụng vợ anh khi còn trẻ chắc đẹp lắm. Có bốn người con còn đi học. Gia đình mới qua Mỹ hơn một năm nên còn thiếu thốn đủ thứ, tuy nhiên họ bằng lòng chấp nhận những gì đang có. Nhìn thấy họ là biết ngay một gia đình hạnh phúc. Tôi rất thán phục con người và phong cách sống của anh. 


Trên bàn nhậu để sẵn một dĩa thịt vịt quay còn nóng mới mua về , một dĩa đậu phụng rang, một ổ bánh mì baguette một chai Johnnie Warker Red Label và hai chai soda Perrier. Vợ anh Bửu và bốn đứa con, hai trai hai gái hôm nay đi chợ ở San Jose. Khi tôi tới cũng là lúc họ chuẩn bị ra xe. Tôi cũng nói rỏ hơn là gia đình tôi và Bửu lúc đó đang sống tại Oakland, California vào khoảng năm 1992. Mỗi sáng thứ bảy anh em cựu quân nhân thường tập trung ở quán cà phê đường E.14. 

Uống được vài ly, mở đầu câu chuyện, tôi hỏi Bửu: - Anh chị có bốn cháu thôi sao? 

Bửu cười cười: - Còn kẹt hai cháu lớn ở Việt Nam. 

Anh trầm ngâm một hồi rồi nói tiếp: - Vợ tôi hiện giờ là người thứ hai. Người vợ trước chúng tôi có hai con gái và chia tay năm 1980. Nghĩa là sau năm năm học tập trở về, tôi và bà đó đành chia tay trong ngậm ngùi, u uất. Lỗi ở tôi một phần và phần nhiều là lỗi của bà đó. 


Anh đưa ly cụng với tôi rồi nốc cạn ly của mình. Để ly xuống bàn anh rót thêm cho mình một ly nữa rồi đưa lên uống cạn với một tiếng “khà” rất điệu nghệ. Uống rượu kiểu nầy thì chắc tôi phải thua. Khi vào nhậu anh có nói với tôi là ai uống được bao nhiêu cứ uống, không ép nhau. Tôi yên lòng nên từ từ uống phần của mình. Hình như tôi đã đụng tới vết thương của anh nên khi hỏi tới gia đình anh trầm ngâm vừa muốn kể cho tôi nghe nhưng cũng vừa muốn quên đi chuyện đó. Tôi không muốn làm khó khi anh không muốn đụng tới gia đình. Tôi lái sang chuyện khác hỏi về công ăn việc làm của vợ chồng anh hiện nay. Anh cho biết là anh chị đang đi làm ở hãng điện tử, hai người cùng làm một hãng nên cũng tiện cho việc đi lại. Nhưng có lẽ anh không thích đổi đề tài. Anh muốn tâm sự với tôi những điều ấp ủ trong lòng anh, những điều đã dày vò những tháng năm sau khi chia tay: 

- Anh biết không, tôi lấy vợ năm 1972 đến năm 1975 khi tôi đi học tập thì lúc đó chúng tôi có hai con. Tôi biết những năm tháng nằm trong trại cải tạo vợ tôi bên ngoài chống chọi với cuộc sống rất khó khăn. Tôi không màng vợ tôi thăm nuôi vì tôi nghĩ thân gái yếu đuối với một gánh nặng lo cho hai con còn nhỏ dại đã đuối sức, còn lấy đâu ra để thăm nuôi chồng. Tôi bằng lòng sống với sự thiếu thốn, thèm đủ thứ, đói rát ruột, vẫn mong vợ con bên ngoài khỏe mạnh là mừng rồi. Suốt trong năm năm trường tôi đã gửi về mấy chục lá thư vẫn không có hồi âm thì làm sao có được một lần thăm nuôi của vợ. Tôi nhờ các bạn tù có thăm nuôi nhắn với người nhà họ đến địa chỉ nhà tôi xem thử gia đình tôi ra sao? Tất cả đều cho tôi biết là căn nhà đã bán cho người khác và họ không biết vợ con tôi hiện giờ ở đâu. Trước khi tôi được tha, có một anh bạn tù đến nói với tôi là căn nhà của anh vẫn còn vợ con anh đang sống ở đó, nhưng vợ anh đã có chồng khác. Sở dĩ không nói thật chuyện nầy vì sợ nghe tin nầy anh sẽ đột quỵ, chi bằng nói láo để anh còn nuôi hy vọng trở về gặp lại vợ con. Nghe tin nầy tôi không đứng vững, tôi biết sẽ gặp muôn vàn khó khăn khi tôi trở về nhà. Nhưng bây giờ biết phải đi đâu? 


Nói tới đây mắt anh mờ đục, anh ôm đầu. Anh đưa tay rót thêm ly rượu khác rồi lại uống cạn. Tôi thấy anh uống nhiều nhưng rất tỉnh táo, lời kể chuyện của anh trôi chảy. Rượu vào giúp anh thêm phần can đảm khi đụng tới phần gai góc cuộc đời: 

- Từ lâu tôi ôm chuyện nầy trong lòng không kể cho ai nghe. Đây là lần đầu tiên tôi kể với anh vì tôi thấy anh là người trầm tĩnh, có chiều sâu và được biết thêm anh là người đọc sách, anh sống với chữ nghĩa. Tôi nghĩ anh hiểu thấu đáo được tâm trạng của tôi. Tôi chỉ mong một người hiểu tôi như vậy tôi đã thấy ấm lòng. Khi tôi bước vào đầu hẽm, những bà con hàng xóm cũ chạy đến chào hỏi tôi như người thân. Tôi tần ngần bước vào cổng nhà thì vợ tôi chạy ra vì nghe tiếng lao xao hàng xóm hỏi thăm tôi. Vợ tôi chưng hửng nhìn tôi với đôi mắt vừa ngạc nhiên, vừa thất thần. Tôi nhớ mãi đôi mắt vô hồn đó, nó đi theo mãi với tôi suốt trong cuộc đời sau nầy. Đôi mắt mà ngày xưa thật dịu hiền đã làm tôi mê mệt khi gặp nhau lần đầu, rồi yêu nhau lấy nhau. Tôi đã chết vì đôi mắt đó. Còn bây giờ thì tôi cũng chết vì nó, nhưng chết trong sự xua đuổi, trong hất hủi : 

- Anh về đây làm gì? Anh là người dư thừa. Anh hãy ra đi ngay lập tức vì bây giờ tôi đã có chồng khác. Tôi không muốn có mặt anh ở đây. Bà con hàng xóm thấy vợ tôi ức hiếp tôi, họ la ó đẩy tôi vào nhà. Một bà thân hình vạm vỡ, chỉ tay vào mặt vợ tôi: 

 - Nầy, con đàn bà lăng-loàn kia. Mầy và thằng tình nhân của mầy ra khỏi căn nhà nầy chứ không phải là ông Bửu. Mầy không biết xấu hổ với chồng con còn lên giọng kẻ cả, bà đấm vỡ mặt mầy ra bây giờ. Bà quay qua tôi ra lệnh: 

- Đây là căn nhà của ông, ông cứ ở đây không đi đâu hết. Không có đứa nào đụng tới ông sợi lông chưn. Bà con hàng xóm chung quanh đây đứng sau lưng ông, con nào hó hé chúng tôi đánh vỡ mặt nó ngay. Hình như lời hăm dọa của bà, đã làm cho vợ tôi khiếp sợ trốn trong buồng không dám ra.. 

Hai đứa con gái tôi đi học chưa về, tôi mong gặp lại con tôi sau năm năm. Chắc nó không thể nào nhận ra tôi vì khi tôi vào trại cải tạo chúng nó còn quá nhỏ. Một người đàn ông đẩy xe honda vào nhà, ông gật đầu chào tôi rồi dựng xe xong đi thẳng vào buồng. Đó là người tình nhân của vợ tôi. Ông vào nói chuyện gì đó với vợ tôi chừng mười phút rồi đi ra nói chuyện với tôi. Ông là người Bắc trạc bằng tuổi tôi, hỏi tôi những câu xã giao rồi nói là anh cứ việc ở đây, anh muốn ở hay đi tùy ý. Tôi thấy anh nầy ăn nói rất khéo léo nên tôi trả lời với anh rằng là tôi mới về, chưa tìm ra được chỗ ở nên xin ông bà cho tôi tạm ngủ ở ngoài phòng khách một thời gian ngắn. Chúng tôi chỉ trao đổi vài câu rồi ông ấy trở vào buồng. Tôi ngồi suy nghĩ miên man, muốn ra đi ngay nhưng biết nơi nào chấp chứa mình. Tôi sẽ đi tìm mấy người bạn cũ để xin những ý kiến và sự giúp đở, nhưng trước hết tôi phải gặp hai đứa con trước đã. 


Chiều chừng bốn giờ, hai đứa con gái tôi đi học về. Hình như ở đầu ngỏ người ta báo cho chúng nó biết là ba nó mới về. Đi sau nó là mấy đứa trẻ hàng xóm đứng bên ngoài chỉ tôi rồi nói với nó là ba mầy đó vô đi. Tôi nhìn ra hai đứa con gái tôi rụt rè đi chầm chậm về phía tôi. Tôi dang tay ôm hai con vào lòng nước mắt tôi trào ra, mặt mày hai đứa ngơ ngác. Chúng nó còn bé quá làm sao hiểu được sự sung sướng của tôi khi gặp lại hai đứa con, hiểu được vì sao tan rả của gia đình. Vợ tôi rón rén bước ra cửa phòng nhìn cha con tôi ôm nhau khóc. Tôi ngước mắt lên nhìn thấy mắt nàng cũng rớm lệ. Tôi mới biết rằng tất cả cũng chỉ vì hoàn cảnh, đã lỡ phóng lao không dừng lại được nữa rồi. Tôi mang hai cháu xuống tắm rửa thay áo quần, rồi dẫn chúng ra quán mua mấy cây kẹo, dùng số tiền trại cho đi đường chi phí xe cộ. Tài xế xe đò thấy tôi là cải tạo được tha đã không lấy tiền. Bà chủ quán bán kẹo hiểu hoàn cảnh của tôi bà cũng không lấy tiền kẹo. Tôi thấy mọi người đều tốt với tôi ngoại trừ vợ tôi. 


Người hàng xóm mang qua cho tôi một tô cơm lớn với thịt kho mặn, tôi xớt cho hai con cùng ăn chung với nhau. Đêm đó tôi nằm bên ngoài trên một chiếc chiếu manh trải dưới đất, hai con tôi nằm trên chiếc gường tre nhỏ, còn vợ tôi với người tình nhân nằm trong buồng. Nằm gác tay lên trán ngủ không được. Ước gì tôi có cây súng tôi sẽ bắn chết hết cả gia đình rồi tự tử. Làm sao tôi chịu được cái cảnh vợ tôi đang thì thầm với một gả đàn ông khác trong phòng. Tiếng nói của họ làm cho tôi muốn điên lên mà phải cắn răng chịu đựng. Chờ các con ngủ say, tôi ngồi dậy mở cửa ra ngoài hiên ngồi để khỏi còn nghe thấy tiếng họ thì thầm. Bây giờ tôi mới thấy mình là kẻ thừa thãi trong gia đình nầy, bằng mọi cách phải ra đi càng sớm càng tốt. 


Nói tới đây anh lại đưa tay ra rót rượu rồi lại nốc cạn một hơi: - Cuộc đời của tụi mình sao nó đen hơn mõm chó, Mất tuổi thơ, mất tuổi trung niên, tuổi già thì xa quê hương. Gia đình ai cũng gặp nhiều vấn nạn không ít thì nhiều. Rồi anh lại trầm ngâm kể tiếp câu chuyện dở dang: 

- Sáng hôm sau khi các cháu chưa ngủ dậy thì tôi đã ra khỏi nhà tìm đến những người bạn cũ vì sợ họ đi làm. Tôi đến nhà Dinh gõ cửa, Dinh nhận ra tôi ngay nhìn tôi từ đầu tới chân rồi vào mở tủ lấy ra một bộ quần áo cũ cho tôi thay, rồi hai đứa mới ngồi nói chuyện. Tôi kể cho Dinh nghe hoàn cảnh gia đình tôi hiện thời. Dinh không ngạc nhiên vì đã trông thấy vợ tôi nhiều lần đi với người đàn ông khác. 

Cái khó của tôi là phải trình diện công an phường mà theo địa chỉ giấy tờ ra trại đã ghi, nên không thể nào đi nơi khác. Mỗi tuần phải trình diện một lần, buổi tối bất kỳ lúc nào họ đến nhà kiểm soát phải có mặt tôi. Dù có chỗ ở khác cũng không thể rời khỏi căn nhà nầy. 

Mỗi đêm nằm bên ngoài với các con, tôi cứ nghe tiếng rù rì hay đùa giỡn của hai người trong phòng. Tôi cảm thấy đau nhói như ai đó đang tra tấn tôi. Vợ tôi có những hành động khinh khi tôi, cố tình bêu xấu tôi cho tôi tức giận để tôi không chịu được phải ra đi. Tôi biết, nhưng làm sao bây giờ nên phải chịu đựng. 


Một người bạn tìm được cho tôi một việc làm thủ kho cho một cơ sở làm đồ nhựa của người Tàu vùng Chợ Lớn. Tôi đến công an phường trình giấy tờ việc làm rồi xin cho tôi cư ngụ nơi đó. Công An họ cũng hiểu hoàn cảnh của tôi nên chấp nhận ngay. Từ đó tôi như người thoát được địa ngục, không còn chứng kiến cảnh trái tai gai mắt. Thỉnh thoảng tôi đạp xe trở về thăm con, gặp con ở ngoài đường chứ tôi không vào căn nhà đó. Ban ngày tôi lấy mối đồ nhựa đi bỏ ở các sạp hàng trong Chợ Lớn, ban đêm ngủ tại kho đồ nhựa. Cuộc sống tôi dần dần ổn định. 

Thỉnh thoảng đến rủ Dinh ra quán của Phượng, người em gái của Dinh uống vài ly bia hơi. Phượng trước đây có chồng là phi công bị tử trận năm 1974, có hai con một trai một gái. Cửa hàng của Phượng buôn bán rất đông khách nhưng lại thiếu người trông coi. Có lần Dinh nói với tôi: 

- Hay mầy ưng con Phượng để giúp nó một tay, tụi bây rổ rá gặp nhau tau thấy có lý đó. Chính đầu dây mối nhợ nầy tôi mới lấy được bà xã của tôi bây giờ. Sau khi từ trại cải tạo ra, chừng hai năm sau tôi lấy Phượng. Phượng lúc đầu thuê căn nhà mở quán bia hơi, sau nầy có tôi phụ giúp nên mua lại căn nhà đó. Chúng tôi ăn nên làm ra rất nhanh và có thêm hai cháu nữa. 


Lúc nầy Bửu đã ngà ngà say, nhưng khi anh kể tới đây tôi thấy đôi mắt anh bỗng dưng sáng lên chứ không còn mờ đục. Anh gật gù đưa tay ra rót rượu cho cả hai. Chai rượu 750 ml đã vơi gần một nữa. Tôi đổi đề tài khác hỏi anh là ngày xưa khi còn chiến tranh chắc anh uống rượu khá lắm phải không? Anh cười ha hả: 

- Hồi đó còn trẻ, ngày nào không đi hành quân là ngồi vô uống từ sáng tới chiều. Rượu đế bất kể ngon hay dở đều làm láng. Câu Lạc Bộ đơn vị bán rượu ghi sổ, cuối tháng thanh toán chẳng còn đồng nào. Nghĩ lại vui thiệt. Tôi cũng như anh vậy, dân tác chiến cái chuyện uống rượu xem như một hình thức giải khây. Chỉ có rượu và gái điếm bất kể ngon dở xấu đẹp, miễn sao có để giải quyết, có để làm nguồn vui. 

Anh Bửu có một lối kể chuyện rất hay, chậm rãi để người nghe thấm những lời mình nói. Tôi hỏi anh sao anh không mang hai đứa con gái với người vợ trước qua Mỹ, mà lại mang hai đứa con riêng của vợ? anh nghe tôi hỏi, anh đưa tay nốc cạn ly rượu, mặt anh cúi xuống rồi ngẩng lên trả lời với tôi: 

- Chương trình đi Mỹ tôi không bao giờ nghĩ tới. Một thằng bạn tù chạy tới nhà bảo tôi nộp đơn qua tại tòa Đại Sứ Mỹ ở Thái Lan, có một đường dây của mấy thằng cán bộ làm ở Bưu Điện Sài Gòn gởi cho, chỉ có tụi nó mới gởi được. Nó copy cho tôi bộ đơn, tôi ghi rồi nhờ nó gửi giùm. Chờ dài cổ năm nầy qua năm khác xem như không có gì. Thì đến năm 1990 có người ta rục rịch ra đi thì tôi nhận được giấy báo từ tòa Đại Sứ Mỹ chấp nhận cho tôi đi theo diện HO. Lúc nầy thì tôi lại mệt thêm một lần nữa, tôi phải đến gặp Loan (người vợ cũ) để xin cho hai đứa con gái được đi Mỹ theo với tôi. Dù gì thì Loan cũng là người nuôi nấng chúng nó từ nhỏ tới nay. Còn tôi trên danh nghĩa là cha nhưng chưa có một ngày nào nuôi con. Tôi sống với Phượng cùng hai đứa con riêng của Phượng. Tôi xem chúng như con ruột của mình nên hết lòng yêu thương chúng. Sau nầy chúng tôi có thêm hai đứa con chung. Như vậy nếu được đi Mỹ tôi mang được đến sáu đứa con, nếu Loan đồng ý cho hai đứa con gái theo tôi. 


Tôi đến căn nhà cũ, căn nhà mà tôi đã bỏ ra đi gần mười năm trước đây. Tôi đến đúng vào ngày chủ nhật nên các con tôi ở nhà, Loan đang nấu cơm dưới bếp. Đứa con gái lớn xuống gọi mẹ lên cho tôi nói chuyện. Nhìn Loan tôi hết hồn. Sự tàn tạ đã phá hủy dung nhan của một người đàn bà một cách thô bạo, chỉ có mười năm sau không gặp mặt mà Loan bên ngoài hoàn toàn là một người khác. Tôi mỗi tháng đều mang tiền tới phụ thêm cho Loan nuôi con nhưng chỉ gặp các con thôi, chứ không vào nhà. Chưa bao giờ gặp lại Loan lần nào. Trước mặt Loan tôi sắt se không nói được nên lời. Những sự đối xử tàn tệ của Loan với tôi trước đây tự nhiên bay đâu mất. Tôi hỏi Loan về sức khỏe về gia đình, bỗng nhiên Loan bật khóc. Các con tôi đến ôm mẹ rồi chúng nó cũng khóc theo mẹ. Tôi nói với Loan trong thổn thức: 

- Mọi chuyện đã cũ rồi không nên nhớ lại. Anh không trách gì em hết. Đó chỉ là sự chọn lựa nhầm lẫn nên nó bị trượt chân, thế thôi. Mà ai biết được cái gì sẽ xẩy ra? Có điều mình nên biết cái lỗi của mình để sửa. 

Tôi nói với Loan một cách nhẹ nhàng như vậy. Rồi tôi đi thẳng vào vấn đề đi Mỹ của các con. Loan nói với tôi rằng hồi nào đến giờ mẹ con sống với nhau không xa nhau được. Nếu đi thì đi hết, còn nếu không thì thôi. Lại thêm một quyết định sai lầm. Bây giờ tôi đã có vợ con, nếu tôi chọn cho mẹ con Loan đi thì phải bỏ lại mẹ con của Phượng, mà Phượng đâu có lỗi gì với tôi. Tôi cho Loan trong vòng một tháng để suy nghĩ quyết định, nếu không trả lời thì xem như Loan từ chối cho các con đi với tôi. Tôi cũng bảo rằng sau vài năm các con ổn định sẽ bảo lãnh mẹ qua. Loan vẫn khư khư giữ quyết định của mình. Tôi cũng cho anh biết thằng tình nhân của Loan vài tháng sau mà tôi đã gặp trong nhà,nó cuốn gói về Bắc, không liên lạc gì với Loan nữa..Từ đó đến nay cũng chẳng thấy Loan cặp với ai. Vừa rồi tôi nhận được thư của con gái tôi xin tôi khiếu nại để được đi Mỹ. Tôi có đi hỏi luật sư, thì họ bảo rằng cho đến bây giờ vẫn chưa có thay đổi gì chờ một thời gian nữa. Còn nếu không thì phải chờ năm năm sau khi tôi vào quốc tịch mới bảo lãnh cho con. Nghĩa là trước sau gì tụi nó cũng đoàn tụ với tôi, sớm hay muộn thôi. 


Tôi nhìn chai rượu mất đi hai phần ba. Anh hỏi tôi còn uống được nữa không? Tôi lắc đầu. Hình như anh cũng đã tới chỉ. Anh đi pha một bình trà uống với nhau cho giải rượu trước khi tôi lái xe ra về. Ngồi nói chuyện bâng quơ với nhau. Anh nói với tôi: 

- Đàn bà, họ yêu ai là yêu chết bỏ. Đến khi họ không còn yêu nữa thì họ cũng tàn nhẫn một cách khiếp đảm. Trường hợp của tôi chứng minh điều đó. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ. Tôi nhớ cái đêm cuối cùng trước khi tôi đi học tập, Loan khóc hết nước mắt. Cho nên trong thời gian năm năm học tập, tôi vẫn tin tưởng rằng vợ tôi sẽ không bao giờ bỏ tôi. Thế mà mới chừng vài năm sau Loan đã quay ngược đầu lại. Cho đến bây giờ nghĩ lại mình cũng không thể trách được. Lúc đó mình còn quá trẻ vợ cũng vậy, mà đi học tập chẳng biết ngày nào về. Làm sao người đàn bà còn quá trẻ không bị cám dỗ bởi những vật chất bên ngoài, trong lúc mình thiếu thốn đủ thứ mà chồng thì biệt tăm không biết có ngày về. Nên thôi, ai gặp phải những nghịch cảnh như tôi cũng đừng lấy đó làm thù hận. 


Tôi đồng ý kinh nghiệm sống của anh Bửu trong hoàn cảnh nhiễu nhương cũa đất nước. Rốt cuộc rồi chỉ có sự tha thứ mới giải quyết được mọi vấn đề. Khi tôi đứng dậy ra về, thì chị Bửu và bốn đứa con cũng về tới. Chị nhìn chai rượu rồi nhìn anh. Anh cười cười nói với vợ: - Bữa nay uống rượu ngon thiệt./. 


Phan Xuân Sinh Houston, Sau tết Nguyên Đán Nhâm Thìn (2012)

Canicule Juin 2026 En France - Cơn Nắng Nóng Cực Độ Vào Tháng 6-2006 ở Pháp - Nguyễn Duy Phước

Monday, June 29, 2026

Bài Tập Giãn Cơ Hàng Ngày - 25 Bài Tập Giãn Cơ Đơn Giản Giúp Bạn Dẻo Dai Và Tránh Đau Cơ

Đi- Về..Về - Đi


“Đi, về – Về, đi” là tên một bài thơ của Tạ Duy Bình, đăng trên Tiền Vệ, viết lẫn lộn cả 2 thứ tiếng Anh-Việt sau đây, xin trích một đoạn cuối :

“Đi, về – Về, đi

Đi, về -Trắng cơn mưa xóa con đường mòn quen lối cỏ mọc phủ vết chân cũ.

Đi, về – Về, đi.

Don’t force it. Please! Don’t force it.

I just feel something… something… when I say : Đi, về – Về, đi.

Oh! How wonderful…!”

(Sydney – Hanoi, March/April 2009)

Thôi thì cứ “Đi, về – Về, đi!”

Rõ ràng là ngày xưa, không ai bắt đi, mà ngày nay cũng không ai bắt về. Ngày xưa không ai kề dao vào cổ bắt mình phải xuống ghe, ngày nay cũng không ai dí súng để áp đảo mình phải lên xe lái đi để xin một cái visa!

Cho nên đi hay về là tự nguyện. Chẳng cần phải kêu lên : “Don’t force it! Please don’t force it!”

Ngày mới bước chân lên đất liền, mừng như được sống lại, nhảy cẫng lên mà la to : – “Oh! Freedom! How Wonderful!” Ngày nay về, cũng ứa lệ, phải hét lên : “Oh! Fatherland! How Wonderful!” 

Phải có một điều gì đó vô hình ép buộc (force) khiến cho chúng ta nhất định không muốn trở về hay thôi thúc ta về. Chẳng qua là thời thế đổi thay, lòng mình thay đổi!

Thay đổi như thế nào?

Ngày mới tan hàng, mọi nhà hỏi nhau, có ai lâm vào cảnh phải đi “học tập cải tạo” không?

Chỉ ít lâu sau, phong trào bỏ nước ra đi bùng phát, người ta lại hỏi nhau rằng nhà có ai vượt biên được không?

Chỉ trong vòng 5 năm sau, câu hỏi đã thay đổi, có phần hân hoan, hãnh diện : “Đã về Việt Nam lần nào chưa?”

Người trở về có lý do của mình, đó là quê hương, mồ mả, bà con ruột thịt, có người còn cha mẹ già, hay nấm mồ cha ông cần nhang khói. Cũng có người nêu ra những lý do để về như xây lại nhà thờ họ, đám cưới cô cháu vợ, hay dự lễ bát tuần của ông bác.

Không ít người hãnh diện làm một người ở ngoại quốc ở các nước giàu có trở về cái xứ sở thực chất là còn nghèo nàn, không kể đến cảnh nhà cao cửa rộng, xe cộ đắt tiền lộng lẫy và lối sống xa xỉ, vương giả của một tầng lớp thống trị hay vin nhờ vào thế lực của sự thống trị.

Phần lớn người về bắt đầu đến lúc thấy khó khăn trong sinh hoạt ở nước ngoài, nhất là tại Hoa Kỳ, do vậy người thì muốn về nước kiếm vợ, ca hát, đóng phim, diễn kịch, người thì muốn về mua bán, kinh doanh kiếm lời. Qua lời phát biểu với báo chí trong nước đối với loại người này, họ thường phát biểu rằng, chuyện bỏ nước ra đi ngày trước là một chuyện lỡ lầm, nay đã biết thế nào là quê hương, cội nguồn, ruột thịt! Đây là lúc những đứa con lưu lạc trở về.

Có cha mẹ lấy lý do luôn luôn nhớ đến quê hương, cội nguồn đã tổ chức một hôn lễ rềnh rang cho con gái mình, với người chồng ngoại quốc, tại ngôi làng nghèo nàn ở miền Trung của họ. Ở đó, có lũ trẻ chân đất, áo quần rách rưới, mũi chảy thò lò chạy theo xem đoàn xe lộng lẫy, xem cô dâu mặc áo dạ hội màu trắng, quàng tay ông Tây. Đó là tiếng gọi của quê hương hay là một sự thôi thúc muốn khoe áo gấm về làng, cho nở mặt nở mày họ hàng, tông môn.

Người trở về có trăm nghìn lý do để bày tỏ, thật ra cũng không cần phải nói với ai.

Về! Phải chăng đó cũng một lời réo gọi!

Còn gì thú vị hơn nghe giọng nói thân quen, đi lại trên con đường làng thời thơ ấu, tìm lại chút hương vị của những ngày tháng đã qua.

Ai mà không thương làng nhớ nước, nâng niu từng kỷ niệm :

“… Chạm vào đâu cũng thấy mình ngày cũ. Sờ vào cây khế già trước sân, một bầy keo sà xuống, kêu inh ỏi. Gõ vào cột nhà, thấy đèn khuya, bút mực và những đêm học bài. Gõ vào cửa sổ, thấy mẹ ngồi đăm chiêu đắm đuối nỗi nhọc nhằn nuôi nấng. Ra vườn, nghe tiếng vạt sành, tiếng dế, sợ hãi những con ễnh ương hót vào cổ. Đêm về, nhớ những con ma: ma rà, ma le, ma trơi, ma trứng lộn, ma Mậu Thân…” (Trần Doãn Nho).

Cái cảm giác đó thú vị, ấm cùng biết bao! Nhưng rồi cái cảm giác “đi, về” đó làm cho con người phân vân giữ hai nơi chốn, đâu là đi và đâu là về. Phải chăng đôi lúc, về cũng là một nỗi xót xa :

“… Sau hàng chục tiếng trên máy bay, khi đáp xuống phi trường Houston, tôi cảm thấy mình vừa về nhà. Và yên tâm. Ô hay! Sao lại về? Sao lại nhà? Tôi đã chẳng vừa về thăm nhà ở Việt Nam sao!

đi

về

Rốt cuộc, tôi treo tôi giữa hai sợi đi/về.

Lơ lửng.”

Nhưng không phải ai ra đi cũng muốn trở về khi họ luôn nhớ đến, vì sao họ phải ra đi.

Đám tang cha ruột và anh ruột của mình phải chăng là một lý do quá chính đáng, nhưng bà Juanita Castro, em gái của Fidel Castro, cũng như Alina Fernandez, con gái của Fidel Castro, đã không về Havana dự đám tang của cha và anh mình.

Bà cũng như nhiều người cùng hoàn cảnh chung dưới chế độ Cộng Sản, đã chạy trốn khỏi chế độ của Fidel Castro, người đã biến đảo quốc Cuba thành một nhà giam khổng lồ giữa vùng biển Caribbean.

Hiện nay chỉ ở Florida thôi, đã có 1,172,899 người Cuba sống lưu vong như số phận của 2 bà. Phải có một điều gì thôi thúc họ làm vậy!

Trong chế độ Cộng Sản Liên Sô, Trung Cộng, Cuba và Việt Cộng đã có những nhà văn, những nghệ sĩ lưu vong sống ở nước ngoài, họ không bao giờ trở lại quê hương khi còn chế độ áp bức, toàn trị, chứ đừng nói gì đến chuyện trở lại nơi đó để trình diễn, in sách, “may thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi…” Đó chính là thái độ của những nhà văn, những nghệ sĩ có liêm sỉ.

“Đi, về – Về, đi.

Don’t force it. Please! Don’t force it.”

Thôi về thì cứ về đi, nhưng đừng bao giờ phản bội lại chính mình và đừng làm tổn thương đến người khác.


(2) David Vu | Facebook

Đ.M.C.S.V.N

 

Ngày nay, triệu người đi không phải ai cũng vui. Ngược lại là đàng khác. 1 số ít quan chức rất vui khi hạ cánh an toàn, cho con cái đi tim tương lai sáng lạng ở những xứ tư bản mà họ từng/hằng nguyền rủa là bóc lột.

Đại đa số còn lại là tha phương cầu thực, làm những công việc dân bản xứ chê, không thèm làm. Đã vậy, khi đi còn trả cả 1 đống tiền có khi lên đến 40, 50 ngàn đô la, thậm chí còn có thể mất mạng giữa đường như 39 "thùng nhân" rạng sáng ngày 23.10.2019 ở Essex, Anh Quốc.

Chỉ có quan vui thôi, dân thì không đâu!

1 điều rất đáng buồn cho cả nước là trong số cả triệu thanh niên xklđộng này có rất nhiều thanh niên đã tốt nghiệp đại học, thậm chí có người là thạc sĩ.

Tốn rất nhiều tiền để lấy bằng đại học, thạc sĩ nhưng nếu chỉ là dân thường không có "quan hệ", thiếu tiền tệ và điểm không giỏi lắm thì rất khó tìm được việc làm tương xứng với kiến thức vừa thu thập được.


Thanh Loan chuyển

#669 - Bệnh Mãn Tính Xuất Phát Từ Đâu? Cách Ngừa Là Gì? - BS.Phạm Hiếu Liêm

Nửa Đêm Tiếng Chuông Chùa... Bi-Đông - Nguyễn Bửu Thoại


Thân kính tặng: những người đã cùng tác giả sống những giờ phút căng thẳng của ngày 1-11-1988, khi phái đoàn CSVN viếng (hụt) đảo tị nạn Pulau Bidong (Malaysia). Con người, thời gian, và sự kiện có (thể) thật. Nhưng "thật, giả" khởi đầu và chấm dứt ở đoạn nào thì chỉ những "người trong cuộc" mới biết được mà thôi! (NBT)

 *******

Chiếc trực thăng của Không Lực Hoàng Gia Mã Lai phải lượn hai vòng quanh đảo mới đáp đúng vào vị trí, mặc dù trước đó ít phút, nhiều trái khói màu vàng liên tục được cho kích hỏa nhả khói để đánh dấu bãi đáp. 

Hôm nay thời tiết gần như tuyệt hảo. 

Sở dĩ viên phi công hơi "bối rối", mặc dù hắn không lạ gì hòn đảo Pulau Bidong này, một nơi mà mỗi năm hắn cũng tới lui ít nhất là hai lần, là vì bãi đáp đã bất ngờ bị thay đổi giờ chót: thay vì đáp trên bãi đáp cũ ở khu F, thì lại phải đáp ở bãi đáp lạ, vừa mới được gấp rút sửa soạn vào sáng nay. 

... Tối qua, một phiên họp đặc biệt giữa Bộ Chỉ Huy Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai (Task Force) và Hội Đồng Đại Diện (HĐĐD) Cộng Đồng Tị Nạn Việt Nam tại đảo Pulau Bidong đã không mang lại kết quả mong muốn cho cả hai phía.... 

Phiên họp khai mạc lúc 7 giờ tối với sự tham dự của một phái đoàn cấp Nha từ Kuala Lumpur sang do một Thiếu Tướng ngành Tình Báo dẫn đầu.  

Cuộc họp bất ngờ và gấp rút được tổ chức là vì, sáng mai, một phái đoàn của chính phủ Cộng Sản Việt Nam sẽ đến viếng Đảo với mục đích giải thích chính sách đổi mới của Đảng CSVN, hầu kêu gọi đồng bào trong trại hãy làm đơn tình nguyện hồi hương, chính phủ VN sẽ dành mọi dễ dàng, khoan dung (!) cho người trở về. Phái đoàn được dẫn đầu bởi tên Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Duy Kinh. 

Đây là phái đoàn đầu tiên của chính phủ CSVN đến đảo tị nạn Pulau Bidong, kể từ ngày hòn đảo này được dùng làm nơi tạm trú cho người tị nạn Đông Dương, sau khi Cộng Sản chiếm trọn 3 nước Việt, Miên, Lào vào giữa thập niên 70.


Sau hơn 10 năm "vật lộn" với làn sóng thuyền nhân, các quốc gia cưu mang người tị nạn đã thấm mệt. Họ bắt đầu ca bản tình thương mệt mỏi... Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Phillipines, Indonesia và Hong Kong đã áp lực cộng đồng quốc tế tìm cách giải quyết làn sóng thuyền nhân liên tục đổ về nước họ mà chưa thấy có dấu hiệu nào sẽ chấm dứt.

Các quốc gia cho tạm trú và các quốc gia nhận định cư người tị nạn đã họp tại Genève và đi đến nhiều thỏa thuận, trong đó có thỏa thuận giải quyết vấn nạn từ cái gốc, tức là từ quốc gia có người bỏ nước ra đi. Cộng Sản Việt Nam ở cái thế bẽ bàng nhiều nỗi, nên phải muối mặt hứa với cộng đồng quốc tế là sẽ ngăn chặn người đi và nhận lại người về. Phái đoàn CSVN lần này giống trống thổi kèn, tiền hô, hậu ủng đến Pulau Bidong là để biểu diễn và thực thi lời hứa đó với quốc tế.

****** 

Tướng Mohamed Ajab, viên tướng Tình Báo Mã Lai chủ trì phiên họp, nghĩ rằng diễn tiến buổi gặp gỡ giữa ông ta và đại diện cộng đồng tị nạn Việt Nam sẽ nhanh và đơn giản! Có gì đâu!... Các anh về trại, sắp xếp nhân sự để sáng ngày mai ra bãi đáp trực thăng tiếp phái đoàn của chính phủ các anh (?!), họp với phái đoàn tại phòng họp của Lực Lượng Đặc Nhiệm, sau đó, về "triển khai" lại đồng bào các anh để đồng bào, nếu ai muốn, lên gặp phái đoàn, "đăng ký" tình nguyện trở về.... Tướng Ajab nghĩ thế. Nhưng....

Không ngờ Đại Diện Cộng Đồng tị nạn VN đã phản ứng một cách quyết liệt! Đại Đức Thích Như Đạt, Chủ Tịch Hội Đồng, sau khi tham khảo ý kiến các thành viên, đã dứt khoát minh xác lập trường: 

- Thưa Thiếu Tướng, Cộng Đồng Việt Nam tại Pulau Bidong là một cộng đồng tị nạn Cộng Sản, vì không thể sống được đưới chế độ Cộng Sản (CS) nên chúng tôi đã bỏ nước ra đi. Chúng tôi không hề công nhận bạo quyền CS Hà Nội là một chính quyền chính thống, do dân bầu ra! Do đó, họ chẳng hề đại diện cho ai. Họ không đủ tư cách để viếng nơi cư trú của một cộng đồng là nạn nhân của họ, vì họ mà phải lìa bỏ mồ mả tổ tiên, thân bằng quyến thuộc. Chúng tôi không hoan nghênh sự có mặt của họ nơi này. Do đó, việc đón tiếp họ là chuyện của nước chủ nhà (Mã Lai) quý vị đối với khách. Riêng chúng tôi, cộng đồng tị nạn Việt Nam, không có gì để bàn bạc, không có gì phải lắng nghe họ "lên lớp" chỉ bảo, dạy dỗ!


Lời tuyên bố của Đại Đức Như Đạt phản ảnh quan điểm đứt khoát của cộng đồng. Điều đó làm viên Tướng Mã Lai bẽ mặt. Hắn nhìn Đại Đức Như Đạt chằm chặp khá lâu, sau đó liếc qua 5 gương mặt còn lại của Hội Đồng Đại Diện, như ngụ ý răn đe, hăm dọa. Hắn nói chậm rãi, nhưng rít chặt hai hàm răng: 

- Chúng tôi cảm thông với nỗi khó chịu trong lòng các anh. Chính quyền CS đối với các anh là kẻ thù, nhưng đối với chúng tôi họ là một phái đoàn đại diện cho một quốc gia. Nghi thức ngoại giao đòi hỏi chúng tôi phải tiếp đón cho đúng nghi lễ. Hơn nữa, chính phủ chúng tôi đang kêu gọi sự hợp tác và thiện chí của phía Việt Nam, cho nên, chuyến viếng thăm này của họ rất được đặt nặng. Các anh, dù muốn dù không, cũng phải đi đón tiếp và nghe phái đoàn Việt Nam truyền đạt quan điểm của chính phủ họ.

Thầy Như Đạt vẫn cương quyết giữ vững lập trường. Lập trường này, các thành viên trong Hội Đồng đã thỏa thuận trước trong phiên họp chớp nhoáng tại Văn Phòng Hội Đồng Trại, trước khi lên Task Force dự họp.

Đại Đức Như Đạt nói chậm rải nhưng cương quyết: 

- Thưa Thiếu Tướng, một lần nữa, chúng tôi lấy làm tiếc phải nói lời từ chối, không thể tham dự cuộc đón tiếp và gặp gỡ phái đoàn CS, vì chúng tôi không muốn bị đồng bào mình nguyền rủa! 

Như bị gáo nước lạnh dội vào mặt, viên tướng Mã Lai không còn giữ được bình tĩnh, hắn đập mạnh tay xuống bàn làm ly nước nhảy tưng lên rơi xuống bàn bể tan tành! Miểng ly văng tung tóe trên bàn, trên sàn nhà! Một miểng nhỏ ghim vào cổ tay hắn, máu tươm đỏ cả tập tài liệu.

Vừa đau, vừa giận, hắn quát: 

- Các anh thật là vô ơn! Chúng tôi đã cho các anh nhiều thứ tại hòn đảo nầy nay chỉ nhờ các anh có một chuyện nhỏ, các anh đã thẳng thừng từ chối! Các anh có thấy vậy là quá quắt lắm không?


Nhìn những gương mặt đầy vẻ lạ lùng bỡ ngỡ pha chút khinh thị của đối tác, viên Thiếu Tướng biết mình... quá đáng. Hơn nữa, nhóm Đại Diện Cộng Đồng nầy không dễ hù dọa: họ đã trưởng thành trong cuộc chiến, đã tái sinh từ trong ngục tù cải tạo, bị đọa đày hằng chục năm. Sức chịu đựng của họ rất phi thường. Không khéo mình sẽ thất bại chua cay. 

Nghĩ thế, viên Tướng đấu dịu lại: 

- Hơn 10 năm nay, quốc gia chúng tôi đã cưu mang đồng bào các anh. Gần 300 ngàn người tị nạn đã trú ngụ tại hòn đảo này, và đã được đi định cư ở các nước phương Tây. Chúng tôi đã làm hết sức mình cho đồng bào các anh, vậy mà chỉ có một việc nhỏ các anh đã không giúp được chúng tôi. Các anh khư khư giữ lấy lập trường không thực tế, cố chấp của các anh, phó mặc công tác của người khác không hoàn thành.

Trước phản ứng hơi xấc láo của tên Thiếu Tướng, anh em trong HĐĐD rất bất bình, nhưng hiểu được tâm trạng rối bời của hắn. Hắn mang một sứ mạng, tưởng rằng không khó để chu toàn. Vậy mà...! "Thế này, sáng ngày mai báo cáo ra làm sao về Kuala Lumpur đây? Ông Mahatir Mohamed mà bị bẽ mặt với chính phủ Hà Nội, mình dám mang ba-lô lên rừng già đếm... kỳ đà và khỉ đột như chơi!" (Rừng nhiệt đới Mã Lai nổi tiếng nhiều kỳ đà và khỉ đột). Nghĩ tới đó, hắn lo thật sự. 

Hắn xoay chuyển sang đòn tâm lý: 

- Các anh thật sự cho đó là một quyết định khôn ngoan? Có phải đó là sự trả ơn của các anh? Các anh đã đọc lịch sử của trại tị nạn này chưa? Trong hơn 10 năm nay, chưa có một người Mã Lai nào giết người tị nạn VN, nhưng đã có người tị nạn giết chết 2 ngư phủ Mã Lai (?). Điều đó có hợp với đạo lý không, nhất là có hợp với truyền thống văn hóa dân tộc các anh, một dân tộc mà theo chúng tôi hiểu, luôn luôn yêu công bằng, chuộng nhân nghĩa, và lúc nào cũng đặt nặng cách cư xử có trước, có sau theo nguyên lý ân đền, nghĩa trả. Dù sao thì chúng tôi cũng có "ơn" với đồng bào các anh. Vậy các anh "trả" gì cho chúng tôi?

Đại Đức Như Đạt nhìn anh em, anh em trong đoàn nhìn Đại Đức. Tất cả ngầm hiểu rằng: họ không thể làm ngơ được trước "đòn" tâm lý tình cảm này của viên Tướng Mã Lai. Đại Đức xin 30 phút họp riêng để lấy quyết định của tập thể.


Sau đó, trong một phòng nhỏ, Hội Đồng Đại Diện đã phân tích: Người Mã rất ít kinh nghiệm về chiến tranh, không có mấy hiểu biết về sự trí trá lọc lừa của CS.... Việc họ tiểu trừ được Lực Lượng Du Kích CS hoạt động trong nước họ, vào cuối thập niên 40, sau Đệ Nhị Thế Chiến, phần lớn là do công lao và sách lược của một người Anh, Sir Robert Thompson, một chuyên gia nổi tiếng về chống du kích chiến. Do đó, họ không lường được mọi mưu mô quỷ quyệt của CS. Cho nên đòi hỏi họ cảm thông, hay đứng về chính nghĩa tị nạn của mình là điều không thực tế trong tình trạng nầy....

Sau sự bùng nổ của làn sóng thuyền nhân Việt Nam tràn ra biển Đông, giai đoạn đầu họ đã thô bạo đẩy thuyền bè tị nạn trở ra khơi, gây ra không biết bao nhiêu trường hợp tử vong. Có thể họ không đích thân trực tiếp giết người như tên Thiếu Tướng kể lể, nhưng hành động đó đã gián tiếp nhận chìm hằng trăm, hằng ngàn thuyền bè xuống lòng đại dương, chôn vùi hàng ngàn, hàng vạn đồng bào ta vào lòng biển cả, hay làm mồi cho cá mập. Họ chỉ mở cửa trại tị nạn sau khi bị quốc tế lên án nặng nề, và nhất là, sau phiên họp của cộng đồng thế giới tại Genève, cuối năm 1979; theo đó, các nước phương Tây đồng ý sẽ thu nhận tất cả người tị nạn tại các trại Đông Nam Á.

Về phần các quốc gia cho người tạm trú, phải tiếp nhận và không được xua đuổi, đẩy thuyền ra khơi. Vậy mà hôm nay, trong một nhu cầu bất ngờ cần thiết, họ lại nhắc đến sự thọ ân và đòi "trả". Hôm nay và ở đây, đại diện cộng đồng không thể bịt tai, xoay lưng, ngoảnh mặt để mang tiếng chung là phường vô ân, bạc nghĩa. Phải xoay chuyển, phải trả... ân theo yêu cầu. Nhưng trả bằng cách nào để không làm thương tổn chính nghĩa của người tị nạn, không làm trò hề trước mặt tên chủ nhà luôn kể lể và bọn khách xấc láo, đểu cáng, bạo tàn?  

Các thành viên Hội Đồng, cuối cùng chọn lựa được 5 yếu tố làm tiêu chuẩn, như là điều kiện tiên quyết, để có thể gặp gỡ phái đoàn CS: 

1- Hội Đồng Đại Diện bằng lòng họp với phái đoàn CSVN với sự hiện diện của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ).

2- Không treo cờ CS trong phòng họp.

3- Bàn họp được đặt thành hình chữ U. Phái đoàn CS và HĐĐD Trại ngồi đối diện nhau, hai bên nhánh đứng của chữ U. Cao Ủy LHQ và đại điện chánh quyền Mã Lai ngồi trên nhánh ngang của chữ U.

4- Được phân phối Kháng Thư gởi Thủ Tướng Mã Lai Mahatir Mohamed, Cao Ủy LHQ, và báo chí.

5- Cuộc đối thoại giữa phái đoàn CSVN và HĐĐD Trại là cuộc đối thoại bình đẳng, trực tiếp, và bằng ngôn ngữ VN. Một thông dịch viên của Cao Ủy LHQ sẽ đảm trách phần thông dịch sang Anh ngữ cho phái đoàn Cao Ủy và đại diện chánh phủ Mã Lai.


Tên Thiếu Tướng mừng như chết đuối vớ được phao. Hắn chấp thuận toàn bộ 5 điểm. Hắn chỉ xin "bổ sung" thêm vài qui định vào các điểm nêu trên cho... "được công bằng": 

- Về điểm 2: hắn yêu cầu cộng đồng tị nạn cũng không mang vào phòng họp cờ VNCH, không mặc áo T-shirt có in cờ.

- Về điểm 4: được phân phối Kháng Thư, nhưng chỉ sau khi hai bên đã vào phòng họp. (Báo chí không được mời tham dự.)

- Một người Mã Lai thông thạo tiếng Việt sẽ tham dự phiên họp (?).

Phía đại diện cộng đồng thấy không thể bài bác 3 điểm thêm vào của viên tướng Mã nên đành thông qua. Nhưng bất ngờ, khi Công Bố Chung sắp được ký, hắn lại đưa thêm vào 2 điều khoản: 

- HĐĐD có mặt cùng Task Force đón phái đoàn CS tại bãi đáp trực thăng.

- HĐĐD bảo đảm an ninh lộ trình từ bãi đáp trực thăng trên khu F đến Bộ Chỉ Huy.

2 điều khoản này gây bàn cãi và đưa đến bế tắc vì:

- Một là: HĐĐD không thể ra đón một phái đoàn mà họ xem như là chỉ đại diện cho một tập thể gây ra muôn ngàn tội ác với dân tộc và lịch sử.

- Hai là: Quãng đường mà phái đoàn CS đi qua, xuyên suốt chiều dài của trại và đầy bất trắc. Hội Đồng Trại không đủ nhân lực để dàn trải. 

Hơn nữa, tâm lý người tị nạn rất phức tạp, không thể lường trước được những phản ứng dữ dội bất ngờ, có thể có cả bạo lực, khi trong trại có rất nhiều gia đình vốn là nạn nhân thê thảm của bạo quyền CS: nạn nhân của Trại Cải Tạo, của vùng Kinh Tế Mới, của chiến dịch đánh Tư Sản Mại Bản, của Hải Tặc Biển Đông.... Tất cả đều từ Cộng Sản và do CS mà ra!

Đến 2 giờ sáng, viên Thiếu Tướng thấy không thể ép buộc được HĐĐD, ép mạnh tay sẽ bể nát. Hắn bằng lòng rút lại 2 Điều Khoản thêm vào để phiên họp được chấm dứt với sự hợp tác "chừng mực" của HĐĐD. 

Thế là sáng nay, một bãi đáp trực thăng dã chiến vừa được gấp rút hoàn tất tại bìa rừng, giáp với khu A, chỉ cách văn phòng Task Force Mã Lai một quãng ngắn. An ninh lộ trình và phòng họp do... Lực Lượng Cảnh Sát Chống Bạo Động từ Trengganu sang đảm trách.

******

Chiếc trực thăng từ từ hạ dần cao độ và chạm nhẹ mặt đất. Một lớp bụi hòa lẫn với lá cây, với những đụn khói màu vàng còn vương vấn tạo thành một bức màn dầy đặc, cuộn lấy chiếc trực thăng. Phải hơn 5 phút sau, hình dáng chiếc "máy bay lên thẳng" mới dần dần lộ dạng, ló hình.


Viên Tướng Mã Lai nhanh nhẩu bước lại đứng cạnh càng trực thăng để chào đón. Cửa mở, lần lượt 7 người bước ra. Nhân dáng người Á châu tương tợ nhau, nên nhất thời không thể phân biệt được ai là Việt, ai là Mã. Sau đó, do sự tiếp xúc giới thiệu, người ta mới được biết có 5 người Việt Nam trong phái đoàn CS và 2 viên chức ngoại giao Mã Lai tháp tùng. Tên đi đầu dĩ nhiên là trưởng đoàn CS. Hắn khoảng gần 50, tương đối trẻ (so với đám lãnh tụ muôn năm ở Bắc Bộ Phủ). Hắn "sorry" vì thủ trưởng của hắn (ám chỉ tên thứ trưởng Nguyễn Duy Kinh) bận công tác ở Kuala Lumpur, nên là Phó đoàn, hắn phải đi thay. 

Buổi đón tiếp diễn ra thật nhanh tại bãi đáp vì Task Force Mã không muốn có bất trắc. Họ trao đổi nhanh, và cũng kéo nhau về BCH nhanh.... 

3 giờ chiều, buổi tiếp xúc bắt đầu. Tên Thiếu Tướng giữ lời hứa: HĐĐD có 6 thành viên, ngồi đối mặt với 5 thành viên thuộc phái đoàn CS. 

Chúng cố giữ tư cách một phái đoàn ngoại giao nhưng vẻ mặt tên nào tên nấy cũng một... đống! 

Viên Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Task Force đảo Pulau Bidong đọc lời chào mừng phái đoàn CS và giới thiệu đại diện Cao Ủy LHQ tại Mã Lai và HĐĐD tị nạn trên đảo. Hắn chúc chuyến thăm viếng của phái đoàn thành công (!). 

Đại diện phái đoàn CS cảm ơn viên Đại Tá đã dành cho hắn buổi đón tiếp long trọng.... Hướng về phía đại diện Cao Ủy, hắn bày tỏ lòng ngưỡng mộ tổ chức quốc tế này đã dành cho đồng bào hắn (?!) sự chở che và trợ giúp nhân đạo cần thiết và kịp lúc! (Tội nghiệp thay cho những tên cán bộ CS được đào tạo trong khuôn thước ngôn ngữ Mác-Lê! Khi lọt ra ngoài môi trường sở trường quen thuộc và chưa kịp thích ứng với hoàn cảnh bất ngờ mới, bọn chúng dễ trở thành nạn nhân của ngôn ngữ, của chính những giáo điều chúng đã được tôi rèn thuần thục!)

Cuối cùng, quay sang mục tiêu chính của chuyến đi, hắn lướt một cái nhìn thật nhanh về phía đại diện của cộng đồng và dừng lại khá lâu ở Đại Đức Như Đạt. Hắn biết đây là những đại diện có khả năng của người tị nạn. Những người đang ngồi trước mặt hắn chắc chắn là nạn nhân cay nghiệt của chế độ "ta", họ dày dặn kinh nghiệm về CS. Bọn này không dể đối phó! Hắn "chựng" lại một chút và... mở đầu bằng câu: Chào các bạn!  

Xong hắn tự giới thiệu: 

- Tôi là Châu Thọ Nhân, tôi xin thay mặt cho đồng chí Thứ Trưởng Nguyễn Duy Kinh gởi lời chào và thăm hỏi đến các đồng bào ta trong trại. 

Đồng chí Thủ Trưởng muốn, qua các bạn, nhắn nhủ với đồng bào ta tại Pulau Bidong rằng:  

- Chính phủ và nhân dân có cảm thông được phần nào tâm trạng của đồng bào khi bỏ nước ra đi. Chúng tôi biết các bạn đã sống và trưởng thành trong một miền đất nước, tuy cùng tổ quốc, nhưng khác xa nhau về nhận thức và sinh hoạt. Tôi cũng không giấu diếm với các bạn, là toàn dân ta vẫn còn khó khăn sau hơn 10 năm Tổ quốc đã được thống nhất. Nhưng mọi chuyện giờ đây đã thay đổi! Mọi sinh hoạt trong nước đã bắt đầu khởi sắc từ sau Đại Hội VI. Mặc dù các bạn và đồng bào đã bỏ Tổ quốc ra đi, nhưng chánh phủ và nhân dân ta lúc nào cũng mở rộng vòng tay đón các bạn trở về. Chúng tôi lúc nào cũng "trước sau như một" là luôn luôn xem đồng bào ở các trại tạm trú tại Đông Nam Á, hay đã định cư ở khắp năm châu là "khúc ruột ngàn dặm", một bộ phận không thể tách rời của dân tộc. Mong các bạn trung thực chuyển lời của chúng tôi đến đồng bào ta trong trại và hợp tác với chúng tôi, tạo mọi điều kiện thuận lợi để đồng bào đăng ký hồi hương càng nhiều càng tốt. Làm được như vậy, chúng ta đã tạo một dư luận tốt cho đồng bào quốc nội, nhằm ngăn chận những phần tử vẫn còn liều lĩnh với hiểm nguy bỏ nước ra đi (?!). Mong các anh tích cực hợp tác.


Với tư cách điềm đạm của một nhà tu, Đại Đức Như Đạt chậm rãi: 

- Thưa ông Nhân, xin phép cho chúng tôi được gọi ông như vậy, Pulau Bidong tuy là một hòn đảo nhỏ, nhưng đây là vùng đất tự do vĩ đại mà chúng tôi vừa đặt chân đến. Nơi đây, cuộc sống chen chúc, chật hẹp, và thiếu thốn... nhưng về phương diện tư tưởng, mọi người tị nạn đều có quyền suy nghĩ, phán đoán, và quyết định một cách hoàn toàn tự do. Thông Điệp của chính phủ ông, chúng tôi sẽ chuyển đạt một cách trung thực đến cộng đồng chúng tôi. Chúng tôi không hề ngăn cản và, dĩ nhiên, cũng không khuyến khích đồng bào tị nạn tự nguyện "đăng ký" hồi hương. Chúng tôi nghĩ: đồng bào tôi đã có chọn lựa thích đáng và sáng suốt trước khi xuống thuyền ra bể.

Quét một cái nhìn sắc bén về hướng tên Trưởng Đoàn VC, Đại Đức Như Đạt tiếp:

- Thưa ông Nhân, vì ông nói "...các bạn và đồng bào đã bỏ tổ quốc ra đi..." nên xin cho phép tôi xác nhận một điều: chúng tôi không bao giờ bỏ tổ quốc. Tổ quốc luôn luôn ở trong tim người tị nạn VN, dù người đó sống ở chân trời góc bể nào. Trong một quốc gia thật sự tự do và nhân bản, người ta không đồng hóa Tổ quốc với nhà cầm quyền, vì Tổ quốc là thiên thu trường cửu, còn chính quyền chỉ là giai đoạn, giai đoạn rất ngắn trong lịch sử....

Đại Đức Như Đạt chấm dứt bài nói bằng câu: 

-  "Xin chào ông và quý phái đoàn." 

Những phát biểu sau đó giữa hai đối tác, cùng là người VN, chỉ xoay quanh việc thăm hỏi, xã giao, vì cả hai đều không muốn khiêu khích, gây tranh luận trước mặt Cao Ủy LHQ và quốc gia chủ nhà; một cuộc tranh cãi, nếu có, sẽ rất vô bổ và không đi đến đâu cả. 

Được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Task Force mời dự tiệc, nhưng HĐĐD nhã nhặn cảm ơn và xin cáo lui vì Đại Đức Như Đạt thì... ăn chay, còn các thành viên khác xin được về trại sớm để kịp "triển khai" "thông điệp" đến đồng bào trong trại.


Khi bước ra khỏi phòng họp, HĐĐD sững sờ chứng kiến một quang cảnh chưa từng thấy xảy ra ở đảo: gần 10 ngàn người tị nạn đã tràn ra ngoài đường, tràn xuống bãi biển với rừng cờ vàng ba sọc đỏ, với rừng biểu ngữ phản đối sự có mặt của phái đoàn CS tại đảo. Đây là cuộc biểu tình tự phát. Tuy có sự chuẩn bị trước từ phía Hội Đồng Trại và phòng Phát Triển Cộng Đồng, nhưng số người tham dự đã vượt quá mọi dự đoán. Mọi khả năng dự trù trước đã không đáp ứng được: cờ và biểu ngữ cung cấp không thấm vào đâu so với số người tham dự.  

Thì ra trong lúc HĐĐD bận họp, thì các thành viên còn lại của Hội Đồng Trại đã phối hợp với phòng phát triển Cộng Đồng, do Nhà Văn Nguyễn Bá Trạc phụ trách.  

Anh Trạc là người Mỹ gốc Việt, có hợp đồng một năm với Cao Ủy LHQ làm việc cho trại Pulau Bidong. Anh giữ nhiệm vụ Cố Vấn Phòng Phát Triển Cộng Đồng. Nhiệt tình và tích cực trợ giúp đồng bào tị nạn, trợ giúp Hội Đồng Trại, anh là nguồn cung cấp mọi tin tức về chuyến viếng thăm của phái đoàn CS, cung cấp mọi phương tiện cờ và biểu ngữ cho cuộc biểu tình vĩ đại ngày 1-11-1988. 

Cuộc biểu tình với tất cả lòng phẩn uất, với khí thế hừng hực lửa của người tị nạn trên đảo đã khiến mọi sinh hoạt trên đảo bị trình trệ, mọi phiên họp tiếp theo bị hủy bỏ.

****** 

8 giờ 30 tối, một thông báo của Lực Lượng Task Force được đọc trên hệ thống phát thanh toàn đảo: 

- "Văn phòng Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai tại Pulau Bidong xin mời ông Nguyễn Văn Thanh, tàu MB898, lên văn phòng Lực Lượng Đặc Nhiệm có chuyện cần gấp." 

Thông báo được lặp lại nhiều lần. 

Anh Nguyễn Văn Thanh là một người tị nạn rất "nổi tiếng", trên đảo rất nhiều người biết anh. Biết anh không phải vì anh là một người tài ba kiệt xuất, hoặc có công lao gì to tát, mà chính vì anh là một... Sĩ Quan Công An ngành Chấp Pháp của CS. Anh đến trại tị nạn này đã gần tròn một năm, trên một chiếc ghe của gia đình nhà vợ gồm cha mẹ vợ và vợ chồng anh. Gia đình anh được xếp định cư theo diện đoàn tụ với thân nhân bên Úc Đại Lợi và đang chờ list. 

Trong mấy tháng đầu tiên ở đảo, gia đình anh sống hòa đồng và bình thường với cộng đồng, không có dấu hiệu gì trục trặc cho đến một ngày.... 

Một cựu quân nhân Quân Lực VNCH đến đảo và bất ngờ nhận ra anh:  

- Thanh đích thực là một Thiếu Úy Công An. Trước đây, Thanh đã từng "chấp cung" cựu quân nhân này. Dĩ nhiên, vấn đề ân oán giang hồ được "tính" với nhau từ dạo ấy! Cái lầm lỗi lớn của Thanh là khi đến đảo, anh đã giấu nhẹm quá khứ mình, man khai là một người dân bình thường nên khi bị phát giác, anh hoàn toàn ở thế gian dối, khó biện bạch. 

Người quân nhân, nạn nhân trước kia của anh, đã âm thầm thu thập mọi dữ kiện đầy đủ, chính xác về anh. Sau đó, anh ta kết hợp được một số cựu quân nhân khác, và đã bất ngờ "đánh hội đồng" Thanh vào một buổi chiều, gây cho Thanh và gia đình một phen kinh hoàng. Tuy vậy, nhóm quân nhân này cũng chỉ muốn cảnh cáo, dạy cho anh một bài học, chứ không muốn hạ sát anh, một điều họ có thể làm được, nên thương tích cũng không nặng lắm. Anh kêu cứu với Hội Đồng Trại, và được giải thoát.  


Trước HĐ Trại, Thanh công nhận có lỗi giấu diếm lý lịch, anh tường trình: tôi đúng là Công An Chấp Pháp, trong một lần làm việc với toán vượt biên, tôi đã "chấp cung" một cô gái và bị sắc đẹp cũng như tính tình của cô này "chấp cung" lại. Dần dà, tôi hoàn toàn bị cô gái chinh phục, chinh phục cả về lý lẽ lẫn về lý tưởng vượt biên. 

Thanh sa vào lưới tình, anh đam mê cô gái, bất chấp mọi hậu quả, nên tạo điều kiện, vẽ ra mọi cách để tha cả gia đình cô.

Cuối cùng, Thanh đã thành công là trả tự do cho cả gia đình cô. Bù lại, Thanh cũng được gia đình nhà gái, mà cha cô là một sĩ quan cấp Trung Tá "ngụy", hiện còn trong tù Cải Tạo, "đền ơn" bằng chính đối tượng mà anh mơ ước: gả cô gái mà Thanh đã chấp cung! Dĩ nhiên, cái Thiên Đàng mà Bác và Đảng đã vạch ra cho Thanh, Thanh đành phụ rãy để đi theo tiếng gọi của "phường ma cô đĩ điếm" (câu nói nổi tiếng của Nguyễn Cơ Thạch, thứ trưởng ngoại giao CSVN) ra nước ngoài.


Thanh không "thưa gởi" gì mấy anh cựu quân nhân đã dần cho anh một trận nên thân, vì nhận mình có lỗi trước, nên tội hành hung của các anh em cựu quân nhân nầy được bỏ qua. Hội Đồng đã tìm cho anh và gia đình một chỗ ở khác an ninh hơn nhưng Thanh xin ở lại chỗ cũ. Vã lại, nhóm cựu quân nhân nọ cũng đã hứa sẽ bỏ qua chuyện cũ.

****** 

Hội Đồng Trại đang họp tại Văn Phòng thì Nguyễn Văn Thanh xuất hiện. Anh xin gặp Đại Đức Như Đạt.

Đại Đức Như Đạt bước ra cửa. 5 phút sau trở vào, Thầy thông báo cho Hội Đồng:

- Anh Thanh xin ý kiến tôi về chuyện anh lên văn phòng Task Force trình diện theo thông báo mời. Tôi khuyến khích anh nên đi sớm, và khi về cho Hội Đồng biết diễn tiến cuộc gặp gỡ, nếu thấy cần thiết! 

Hội Đồng Trại ngưng họp vào lúc 9 giờ đêm. Ai nấy đều đói và mệt sau một ngày căng thẳng với đủ thứ áp lực từ nhiều phía. Có lẽ mọi người cần nghỉ ngơi lấy lại sức.

10 giờ 30 đêm, một nguồn tin "đáng tin cậy" cho Hội Đồng Trại biết rằng Nguyễn Văn Thanh đang tiếp xúc với tên trưởng phái đoàn CS Châu Thọ Nhân. Dư luận bàn tán xôn xao, nhiều câu hỏi được đặt ra... nhưng tất cả chỉ là đoán mò hoặc suy luận theo kiểu ông bàn gà, bà bàn vịt. Thế thôi.


Quá nửa đêm, một số đồng bào còn thức, nhìn thấy hai cảnh sát Mã Lai, có một nhân viên Cao Ủy tháp tùng lên tận chùa Phật, nơi cư trú của Thầy Như Đạt và mời thầy đến văn phòng Cao Ủy. 

Diễn tiến dồn dập của sự việc vào ban chiều cho thấy có một sự kiện bất thường đang xảy ra....

Người ta đang chờ một biến cố. Biến cố gì? Có thể là một sự kiện là vô tiền khoáng hậu, kể từ ngày hòn đảo Pulau Bidong này được dùng làm nơi tạm trú cho đồng bào tị nạn.

****** 

Buổi sáng êm ả trở về trên đảo Bidong.... Biển hôm nay vẫn xanh như mọi ngày. Gió nhẹ từ ngoài khơi đùa những đợt sóng lăn tăn thi nhau chạy vào bờ cát trắng, vỗ vào gành đá sủi bọt tung tóe. Những chú Dã Tràng nhỏ nhắn, ngộ nghĩnh tiếp tục những công trình chỉ tồn tại ngắn ngủi giữa hai lượn sóng. Vậy mà chúng không hề mệt mỏi, thất vọng. 

Lác đác, một vài người đi tắm sớm đã thấy xuất hiện trên bãi.... Bên kia Đảo Cá Mập, những tia nắng vàng đầu tiên lấp lánh trên chòm cây cao của chóp đảo. Không lâu sau, ánh nắng tràn ngập chan hòa, một thứ nắng ấm của vùng nhiệt đới khiến cho người ngâm mình dưới làn nước bể trong xanh, mát rượi không hề muốn lên bờ.... 

Một ngày như mọi ngày ở đảo. Một số người thích chuyện giựt gân, thức cả đêm tối qua, tiên đoán và chờ đón sẽ có biến cố lớn trong sáng ngày hôm nay, đã bắt đầu thất vọng. 

Đúng 9 giờ sáng, Phái Đoàn Cộng Sản, mà người tị nạn đã đặt cho một cái tên ý nghĩa từ hôm qua đến nay là Phái Đoàn "Chiêu Hồi", chuẩn bị lên đường trở về đất liền. Lộ trình cũ! 

Chiếc trực thăng đưa phái đoàn đến ngày hôm qua, vẫn còn đậu tại bãi đáp. Cánh quạt trực thăng đã bắt đầu khởi động. Cũng viên Thiếu Tướng Mã Lai, vài nhân viên Cao Ủy và một Tiểu Đội Cảnh Sát chống bạo động tiễn phái đoàn (Chiêu Hồi) ra trực thăng.


Không khí giữa chủ khách hôm nay có vẻ khác lạ. Viên Thiếu Tướng hình như đăm chiêu ít nói. Các thành viên trong phái đoàn VC lộ vẻ mệt mỏi, buồn bã nặng nề. Không có "ôm hôn thắm thiết" tiễn đưa như sáng hôm qua. Không biết tâm trạng "kẻ ở người đi" như thế nào nhưng tâm trạng người tị nạn thì thắc mắc lo âu! 

Những tin đồn gần đây rằng Trại Tị Nạn rồi sẽ đóng cửa. Một thành phần tị nạn nào đó, sẽ bị cưởng bách hồi hương! Phái đoàn Cộng Sản Việt Nam lần nầy lại ra tận đảo thuyết phục. Sau khi họ về là cái gì?

Đoàn người tị nạn chứng kiến cuộc tiễn đưa sắp sửa giải tán thì một người trong đám đông, Thành, vốn là nhân viên Khối An Ninh của trại, có mặt giữ an ninh bãi đáp trực thăng sáng hôm qua, phát hiện một "chuyện động trời"...  

Anh la to:

 - Châu Thiện Nhân đâu?

Quả vậy. Châu Thiện Nhân không hề có trong đoàn người lên trực thăng rời đảo vừa rồi. 

Vậy hắn ở đâu? Chuyện gì xảy ra cho hắn?


Tối hôm qua, không ai nghe trực thăng cất cánh, không thấy tàu cao tốc tản thương rời đảo.... Vậy nếu hắn bệnh, hắn chỉ có thể nằm trên bệnh xá Sick Bay. Đoàn người ùn ùn kéo lên bệnh xá... nhưng không có nam bệnh nhân nào cả, ngoài mấy... sản phụ vừa sanh tối qua. Vậy đích thị Châu Thọ Nhân đã ở lại đảo xin tị nạn chính trị rồi chăng?

Nguồn tin không biết đúng, sai; không biết có căn cứ hay không nhưng đó là loại "Breaking News" nên loan truyền nhanh. Không đầy 2 giờ đồng hồ sau, toàn đảo, ai cũng được "tin" tên Trưởng Đoàn CS đã tị nạn tại Pulau Bidong!

Những bản tin "phụ" còn được thêm thắt vào cho đầy đủ tình tiết...  

Người ta bảo nhau:  

- Nguyễn Văn Thanh chính là cháu gọi Châu Thọ Nhân là cậu ruột. Hai cậu cháu đã chuyện trò gần suốt đêm qua. Thật ra, lúc đầu Nguyễn Văn Thanh cũng không biết cậu hắn lại là trưởng phái đoàn trong khi Châu Thọ Nhân đã có đầy đủ dữ kiện về Thanh trước khi rời VN. Cuộc nói chuyện đã chuyển từ văn phòng Task Force sang văn phòng của Cao Ủy LHQ, do Đại Đức Như Đạt làm trung gian. 

Tên Thiếu Tướng và đại diện Bộ Ngoại Giao Mã lúc đầu muốn điên lên vì diễn biến đột ngột và kỳ cục này. Hắn sợ bị khiển trách, bị quy trách nhiệm làm "khủng hoảng ngoại giao" giữa hai nước. Nhưng sau cùng, hắn phải tôn trọng quy ước về người tị nạn mà quốc gia hắn đã ký kết.

Nếu báo chí và đài phát thanh loan tin này, thế nào cũng có kèm theo câu: "Chúng tôi loan tin này với sự dè dặt thường lệ," nhưng "bản tin đặc biệt" chuyền miệng của cộng đồng tị nạn thì không nghe ai nêu ra câu trên. 

Đồng bào ùa nhau lên văn phòng Cao Ủy, nhưng không có ai lạ, chỉ có nhân viên làm việc bình thường.

Kéo nhau lên dãy nhà Trường Huấn Nghệ, nơi thường tạm chứa đồng bào mới đến đảo chờ làm thủ tục, thì dãy nhà này trống trơn vì suốt đêm qua không có ghe vào đảo. Vậy thì, chỉ còn có một chỗ duy nhất, mà tên CS có tầm cỡ này, có thể tạm lánh thân là... Chùa Phật.

Đoàn người ùn ùn kéo nhau lên chùa.

Sinh hoạt trong chùa cũng bình thường! Chỉ có sau Hậu Liêu, nơi dành riêng cho thầy trụ trì Như Đạt, thì cửa đóng kín, với tờ giấy dán trước cửa:  

- "Thầy không khỏe, xin miễn tiếp khách!" 

Làn sóng người kéo về Chùa mỗi lúc một đông, đến khoảng 2 giờ chiều thì con đường hẹp dẫn lên ngọn Đồi Tôn Giáo đều không còn chen chân vào lọt. Văn phòng Task Force lo ngại bất trắc cho chùa nên đã gởi đến 4 cảnh sát bảo vệ, nhưng Thầy Như Đạt đã có mặt đúng lúc trước cổng chùa. 

Thầy cảm ơn lực lượng cảnh sát, và mời họ ra về. 

Đám đông thấy Thầy xuất hiện, họ nhao nhao: 

- Thầy giới thiệu tên CS cho chúng con đi thầy. Chúng con cam đoan là không "làm thịt" hắn, chỉ xin hỏi vài câu thôi.

Thầy ôn tồn nói: 

- Xin quý vị trở về trại, ở đây không có tên cán bộ CS nào cả. Nhà chùa không bao giờ là nơi dung chứa kẻ ác. Nhà chùa chỉ chứa những người đã phát Tâm, hướng thiện hồi đầu, thoát bỏ trần tục....

Một giọng nói lớn từ ngoài xa vọng vào: 

- Thầy ơi, coi chừng nó trốn trong phòng Thầy. 

Nhiều giọng khác phụ họa: 

- Đúng đó Thầy! Coi chứng nó ẩn náo trong phòng Thầy. Nó sẽ hại Thầy đó!

- A Di Đà Phật! Bần đạo tu hành, xa lánh ác nghiệp, không gây thù chuốc oán với ai. Hại bần đạo để làm chi? 

Vẫn còn tiếng la lớn: 

- Thầy không hại nó nhưng coi chừng nó cắt cổ Thầy đó. Việt Cộng mà Thầy! Thầy mở cửa đi, tụi con sẽ lôi nó ra giùm cho.

Thầy Như Đạt vẫn chậm rãi:

- A Di Đà Phật! Trong phòng tôi chỉ có một chú Tiểu mới phát tâm quy y thọ giới ngày hôm qua. Tôi vừa làm lễ xuống tóc cho chú sáng nay. Nếu quý vị không tin, tôi xin mời ra giới thiệu! 

Nói xong, Thầy vào hậu liêu mở cửa phòng, gọi lớn: 

- Tâm An! Con ra chào Cộng Đồng đi! 

Một chú tiểu tuổi trung niên, đầu thật bóng loáng, đúng là vừa mới được xuống tóc, từ phòng trong bước ra, miệng niệm: 

- A Di Đà Phật!

Hàng trăm tiếng "Ồ" phát ra từ đám đông: 

- Giống lắm! Giống vô cùng!

Lại cũng có tiếng cãi: 

- Không giống chút nào!

 

Pulau Bidong 3-11-1988

Ngọc Sương & Nguyễn Bửu Thoại

 

"Giống" và "không giống"!

Họ muốn so sánh với nhân dáng của tên trưởng đoàn Châu Thọ Nhân! Nhưng làm sao xác minh được? Sáng qua, đồng bào bị cách ly khá xa; tên Trưởng Đoàn mặc âu phục sang trọng, đắc tiền, lại chỉ dừng ở bãi đáp có vài phút.... Bây giờ chú tiểu đầu nhẵn bóng, lại mặc bộ cà sa cũ kỹ, lạ hoắc, lạ huơ.... Không có tiêu chuẩn để so sánh! Biết thật chính xác, may ra chỉ có... Hội Đồng Đại Diện! Mà mấy "ông này" thì vô phương...cạy miệng!

----

Đúng hay không đúng?

"Sắc tức thị không, không tức thị sắc"

Cán bộ CS Châu Thọ Nhân cũng là không.

Chú tiểu Tâm An cũng là không.

Nhân quả xoay dần và chi phối vạn vật theo thuyết Luân Hồi của nhà Phật.

Đồ tể buông dao thành Phật.

Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận, xuôi tay, buông Thiết Chưởng, quy y trở thành Từ Ân Hòa Thượng, ôm bình bát theo phò Thầy Nhất Đăng Đại Sư (Thần Điêu Đại Hiệp của Kim Dung).

Cán bộ CS "ác ôn" Châu Thọ Nhân buông súng AK, bỏ dao mã tấu, quy y trở thành chú Tiểu TÂM AN.

Nếu nhân duyên, nghiệp quả xoay dần đúng như vậy, xin cộng đồng hãy để chú được... AN TÂM! An tâm từ nay mỏ sớm chuông chiều trên Đồi Tôn Giáo Pulau Bidong!   


Nửa đêm tiếng chuông chùa... Bi-Đông - Chuyện vượt biên - Hưng Việt