Monday, June 29, 2026

Bài Tập Giãn Cơ Hàng Ngày - 25 Bài Tập Giãn Cơ Đơn Giản Giúp Bạn Dẻo Dai Và Tránh Đau Cơ

Đi- Về..Về - Đi


“Đi, về – Về, đi” là tên một bài thơ của Tạ Duy Bình, đăng trên Tiền Vệ, viết lẫn lộn cả 2 thứ tiếng Anh-Việt sau đây, xin trích một đoạn cuối :

“Đi, về – Về, đi

Đi, về -Trắng cơn mưa xóa con đường mòn quen lối cỏ mọc phủ vết chân cũ.

Đi, về – Về, đi.

Don’t force it. Please! Don’t force it.

I just feel something… something… when I say : Đi, về – Về, đi.

Oh! How wonderful…!”

(Sydney – Hanoi, March/April 2009)

Thôi thì cứ “Đi, về – Về, đi!”

Rõ ràng là ngày xưa, không ai bắt đi, mà ngày nay cũng không ai bắt về. Ngày xưa không ai kề dao vào cổ bắt mình phải xuống ghe, ngày nay cũng không ai dí súng để áp đảo mình phải lên xe lái đi để xin một cái visa!

Cho nên đi hay về là tự nguyện. Chẳng cần phải kêu lên : “Don’t force it! Please don’t force it!”

Ngày mới bước chân lên đất liền, mừng như được sống lại, nhảy cẫng lên mà la to : – “Oh! Freedom! How Wonderful!” Ngày nay về, cũng ứa lệ, phải hét lên : “Oh! Fatherland! How Wonderful!” 

Phải có một điều gì đó vô hình ép buộc (force) khiến cho chúng ta nhất định không muốn trở về hay thôi thúc ta về. Chẳng qua là thời thế đổi thay, lòng mình thay đổi!

Thay đổi như thế nào?

Ngày mới tan hàng, mọi nhà hỏi nhau, có ai lâm vào cảnh phải đi “học tập cải tạo” không?

Chỉ ít lâu sau, phong trào bỏ nước ra đi bùng phát, người ta lại hỏi nhau rằng nhà có ai vượt biên được không?

Chỉ trong vòng 5 năm sau, câu hỏi đã thay đổi, có phần hân hoan, hãnh diện : “Đã về Việt Nam lần nào chưa?”

Người trở về có lý do của mình, đó là quê hương, mồ mả, bà con ruột thịt, có người còn cha mẹ già, hay nấm mồ cha ông cần nhang khói. Cũng có người nêu ra những lý do để về như xây lại nhà thờ họ, đám cưới cô cháu vợ, hay dự lễ bát tuần của ông bác.

Không ít người hãnh diện làm một người ở ngoại quốc ở các nước giàu có trở về cái xứ sở thực chất là còn nghèo nàn, không kể đến cảnh nhà cao cửa rộng, xe cộ đắt tiền lộng lẫy và lối sống xa xỉ, vương giả của một tầng lớp thống trị hay vin nhờ vào thế lực của sự thống trị.

Phần lớn người về bắt đầu đến lúc thấy khó khăn trong sinh hoạt ở nước ngoài, nhất là tại Hoa Kỳ, do vậy người thì muốn về nước kiếm vợ, ca hát, đóng phim, diễn kịch, người thì muốn về mua bán, kinh doanh kiếm lời. Qua lời phát biểu với báo chí trong nước đối với loại người này, họ thường phát biểu rằng, chuyện bỏ nước ra đi ngày trước là một chuyện lỡ lầm, nay đã biết thế nào là quê hương, cội nguồn, ruột thịt! Đây là lúc những đứa con lưu lạc trở về.

Có cha mẹ lấy lý do luôn luôn nhớ đến quê hương, cội nguồn đã tổ chức một hôn lễ rềnh rang cho con gái mình, với người chồng ngoại quốc, tại ngôi làng nghèo nàn ở miền Trung của họ. Ở đó, có lũ trẻ chân đất, áo quần rách rưới, mũi chảy thò lò chạy theo xem đoàn xe lộng lẫy, xem cô dâu mặc áo dạ hội màu trắng, quàng tay ông Tây. Đó là tiếng gọi của quê hương hay là một sự thôi thúc muốn khoe áo gấm về làng, cho nở mặt nở mày họ hàng, tông môn.

Người trở về có trăm nghìn lý do để bày tỏ, thật ra cũng không cần phải nói với ai.

Về! Phải chăng đó cũng một lời réo gọi!

Còn gì thú vị hơn nghe giọng nói thân quen, đi lại trên con đường làng thời thơ ấu, tìm lại chút hương vị của những ngày tháng đã qua.

Ai mà không thương làng nhớ nước, nâng niu từng kỷ niệm :

“… Chạm vào đâu cũng thấy mình ngày cũ. Sờ vào cây khế già trước sân, một bầy keo sà xuống, kêu inh ỏi. Gõ vào cột nhà, thấy đèn khuya, bút mực và những đêm học bài. Gõ vào cửa sổ, thấy mẹ ngồi đăm chiêu đắm đuối nỗi nhọc nhằn nuôi nấng. Ra vườn, nghe tiếng vạt sành, tiếng dế, sợ hãi những con ễnh ương hót vào cổ. Đêm về, nhớ những con ma: ma rà, ma le, ma trơi, ma trứng lộn, ma Mậu Thân…” (Trần Doãn Nho).

Cái cảm giác đó thú vị, ấm cùng biết bao! Nhưng rồi cái cảm giác “đi, về” đó làm cho con người phân vân giữ hai nơi chốn, đâu là đi và đâu là về. Phải chăng đôi lúc, về cũng là một nỗi xót xa :

“… Sau hàng chục tiếng trên máy bay, khi đáp xuống phi trường Houston, tôi cảm thấy mình vừa về nhà. Và yên tâm. Ô hay! Sao lại về? Sao lại nhà? Tôi đã chẳng vừa về thăm nhà ở Việt Nam sao!

đi

về

Rốt cuộc, tôi treo tôi giữa hai sợi đi/về.

Lơ lửng.”

Nhưng không phải ai ra đi cũng muốn trở về khi họ luôn nhớ đến, vì sao họ phải ra đi.

Đám tang cha ruột và anh ruột của mình phải chăng là một lý do quá chính đáng, nhưng bà Juanita Castro, em gái của Fidel Castro, cũng như Alina Fernandez, con gái của Fidel Castro, đã không về Havana dự đám tang của cha và anh mình.

Bà cũng như nhiều người cùng hoàn cảnh chung dưới chế độ Cộng Sản, đã chạy trốn khỏi chế độ của Fidel Castro, người đã biến đảo quốc Cuba thành một nhà giam khổng lồ giữa vùng biển Caribbean.

Hiện nay chỉ ở Florida thôi, đã có 1,172,899 người Cuba sống lưu vong như số phận của 2 bà. Phải có một điều gì thôi thúc họ làm vậy!

Trong chế độ Cộng Sản Liên Sô, Trung Cộng, Cuba và Việt Cộng đã có những nhà văn, những nghệ sĩ lưu vong sống ở nước ngoài, họ không bao giờ trở lại quê hương khi còn chế độ áp bức, toàn trị, chứ đừng nói gì đến chuyện trở lại nơi đó để trình diễn, in sách, “may thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi…” Đó chính là thái độ của những nhà văn, những nghệ sĩ có liêm sỉ.

“Đi, về – Về, đi.

Don’t force it. Please! Don’t force it.”

Thôi về thì cứ về đi, nhưng đừng bao giờ phản bội lại chính mình và đừng làm tổn thương đến người khác.


(2) David Vu | Facebook

Đ.M.C.S.V.N

 

Ngày nay, triệu người đi không phải ai cũng vui. Ngược lại là đàng khác. 1 số ít quan chức rất vui khi hạ cánh an toàn, cho con cái đi tim tương lai sáng lạng ở những xứ tư bản mà họ từng/hằng nguyền rủa là bóc lột.

Đại đa số còn lại là tha phương cầu thực, làm những công việc dân bản xứ chê, không thèm làm. Đã vậy, khi đi còn trả cả 1 đống tiền có khi lên đến 40, 50 ngàn đô la, thậm chí còn có thể mất mạng giữa đường như 39 "thùng nhân" rạng sáng ngày 23.10.2019 ở Essex, Anh Quốc.

Chỉ có quan vui thôi, dân thì không đâu!

1 điều rất đáng buồn cho cả nước là trong số cả triệu thanh niên xklđộng này có rất nhiều thanh niên đã tốt nghiệp đại học, thậm chí có người là thạc sĩ.

Tốn rất nhiều tiền để lấy bằng đại học, thạc sĩ nhưng nếu chỉ là dân thường không có "quan hệ", thiếu tiền tệ và điểm không giỏi lắm thì rất khó tìm được việc làm tương xứng với kiến thức vừa thu thập được.


Thanh Loan chuyển

#669 - Bệnh Mãn Tính Xuất Phát Từ Đâu? Cách Ngừa Là Gì? - BS.Phạm Hiếu Liêm

Nửa Đêm Tiếng Chuông Chùa... Bi-Đông - Nguyễn Bửu Thoại


Thân kính tặng: những người đã cùng tác giả sống những giờ phút căng thẳng của ngày 1-11-1988, khi phái đoàn CSVN viếng (hụt) đảo tị nạn Pulau Bidong (Malaysia). Con người, thời gian, và sự kiện có (thể) thật. Nhưng "thật, giả" khởi đầu và chấm dứt ở đoạn nào thì chỉ những "người trong cuộc" mới biết được mà thôi! (NBT)

 *******

Chiếc trực thăng của Không Lực Hoàng Gia Mã Lai phải lượn hai vòng quanh đảo mới đáp đúng vào vị trí, mặc dù trước đó ít phút, nhiều trái khói màu vàng liên tục được cho kích hỏa nhả khói để đánh dấu bãi đáp. 

Hôm nay thời tiết gần như tuyệt hảo. 

Sở dĩ viên phi công hơi "bối rối", mặc dù hắn không lạ gì hòn đảo Pulau Bidong này, một nơi mà mỗi năm hắn cũng tới lui ít nhất là hai lần, là vì bãi đáp đã bất ngờ bị thay đổi giờ chót: thay vì đáp trên bãi đáp cũ ở khu F, thì lại phải đáp ở bãi đáp lạ, vừa mới được gấp rút sửa soạn vào sáng nay. 

... Tối qua, một phiên họp đặc biệt giữa Bộ Chỉ Huy Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai (Task Force) và Hội Đồng Đại Diện (HĐĐD) Cộng Đồng Tị Nạn Việt Nam tại đảo Pulau Bidong đã không mang lại kết quả mong muốn cho cả hai phía.... 

Phiên họp khai mạc lúc 7 giờ tối với sự tham dự của một phái đoàn cấp Nha từ Kuala Lumpur sang do một Thiếu Tướng ngành Tình Báo dẫn đầu.  

Cuộc họp bất ngờ và gấp rút được tổ chức là vì, sáng mai, một phái đoàn của chính phủ Cộng Sản Việt Nam sẽ đến viếng Đảo với mục đích giải thích chính sách đổi mới của Đảng CSVN, hầu kêu gọi đồng bào trong trại hãy làm đơn tình nguyện hồi hương, chính phủ VN sẽ dành mọi dễ dàng, khoan dung (!) cho người trở về. Phái đoàn được dẫn đầu bởi tên Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Duy Kinh. 

Đây là phái đoàn đầu tiên của chính phủ CSVN đến đảo tị nạn Pulau Bidong, kể từ ngày hòn đảo này được dùng làm nơi tạm trú cho người tị nạn Đông Dương, sau khi Cộng Sản chiếm trọn 3 nước Việt, Miên, Lào vào giữa thập niên 70.


Sau hơn 10 năm "vật lộn" với làn sóng thuyền nhân, các quốc gia cưu mang người tị nạn đã thấm mệt. Họ bắt đầu ca bản tình thương mệt mỏi... Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Phillipines, Indonesia và Hong Kong đã áp lực cộng đồng quốc tế tìm cách giải quyết làn sóng thuyền nhân liên tục đổ về nước họ mà chưa thấy có dấu hiệu nào sẽ chấm dứt.

Các quốc gia cho tạm trú và các quốc gia nhận định cư người tị nạn đã họp tại Genève và đi đến nhiều thỏa thuận, trong đó có thỏa thuận giải quyết vấn nạn từ cái gốc, tức là từ quốc gia có người bỏ nước ra đi. Cộng Sản Việt Nam ở cái thế bẽ bàng nhiều nỗi, nên phải muối mặt hứa với cộng đồng quốc tế là sẽ ngăn chặn người đi và nhận lại người về. Phái đoàn CSVN lần này giống trống thổi kèn, tiền hô, hậu ủng đến Pulau Bidong là để biểu diễn và thực thi lời hứa đó với quốc tế.

****** 

Tướng Mohamed Ajab, viên tướng Tình Báo Mã Lai chủ trì phiên họp, nghĩ rằng diễn tiến buổi gặp gỡ giữa ông ta và đại diện cộng đồng tị nạn Việt Nam sẽ nhanh và đơn giản! Có gì đâu!... Các anh về trại, sắp xếp nhân sự để sáng ngày mai ra bãi đáp trực thăng tiếp phái đoàn của chính phủ các anh (?!), họp với phái đoàn tại phòng họp của Lực Lượng Đặc Nhiệm, sau đó, về "triển khai" lại đồng bào các anh để đồng bào, nếu ai muốn, lên gặp phái đoàn, "đăng ký" tình nguyện trở về.... Tướng Ajab nghĩ thế. Nhưng....

Không ngờ Đại Diện Cộng Đồng tị nạn VN đã phản ứng một cách quyết liệt! Đại Đức Thích Như Đạt, Chủ Tịch Hội Đồng, sau khi tham khảo ý kiến các thành viên, đã dứt khoát minh xác lập trường: 

- Thưa Thiếu Tướng, Cộng Đồng Việt Nam tại Pulau Bidong là một cộng đồng tị nạn Cộng Sản, vì không thể sống được đưới chế độ Cộng Sản (CS) nên chúng tôi đã bỏ nước ra đi. Chúng tôi không hề công nhận bạo quyền CS Hà Nội là một chính quyền chính thống, do dân bầu ra! Do đó, họ chẳng hề đại diện cho ai. Họ không đủ tư cách để viếng nơi cư trú của một cộng đồng là nạn nhân của họ, vì họ mà phải lìa bỏ mồ mả tổ tiên, thân bằng quyến thuộc. Chúng tôi không hoan nghênh sự có mặt của họ nơi này. Do đó, việc đón tiếp họ là chuyện của nước chủ nhà (Mã Lai) quý vị đối với khách. Riêng chúng tôi, cộng đồng tị nạn Việt Nam, không có gì để bàn bạc, không có gì phải lắng nghe họ "lên lớp" chỉ bảo, dạy dỗ!


Lời tuyên bố của Đại Đức Như Đạt phản ảnh quan điểm đứt khoát của cộng đồng. Điều đó làm viên Tướng Mã Lai bẽ mặt. Hắn nhìn Đại Đức Như Đạt chằm chặp khá lâu, sau đó liếc qua 5 gương mặt còn lại của Hội Đồng Đại Diện, như ngụ ý răn đe, hăm dọa. Hắn nói chậm rãi, nhưng rít chặt hai hàm răng: 

- Chúng tôi cảm thông với nỗi khó chịu trong lòng các anh. Chính quyền CS đối với các anh là kẻ thù, nhưng đối với chúng tôi họ là một phái đoàn đại diện cho một quốc gia. Nghi thức ngoại giao đòi hỏi chúng tôi phải tiếp đón cho đúng nghi lễ. Hơn nữa, chính phủ chúng tôi đang kêu gọi sự hợp tác và thiện chí của phía Việt Nam, cho nên, chuyến viếng thăm này của họ rất được đặt nặng. Các anh, dù muốn dù không, cũng phải đi đón tiếp và nghe phái đoàn Việt Nam truyền đạt quan điểm của chính phủ họ.

Thầy Như Đạt vẫn cương quyết giữ vững lập trường. Lập trường này, các thành viên trong Hội Đồng đã thỏa thuận trước trong phiên họp chớp nhoáng tại Văn Phòng Hội Đồng Trại, trước khi lên Task Force dự họp.

Đại Đức Như Đạt nói chậm rải nhưng cương quyết: 

- Thưa Thiếu Tướng, một lần nữa, chúng tôi lấy làm tiếc phải nói lời từ chối, không thể tham dự cuộc đón tiếp và gặp gỡ phái đoàn CS, vì chúng tôi không muốn bị đồng bào mình nguyền rủa! 

Như bị gáo nước lạnh dội vào mặt, viên tướng Mã Lai không còn giữ được bình tĩnh, hắn đập mạnh tay xuống bàn làm ly nước nhảy tưng lên rơi xuống bàn bể tan tành! Miểng ly văng tung tóe trên bàn, trên sàn nhà! Một miểng nhỏ ghim vào cổ tay hắn, máu tươm đỏ cả tập tài liệu.

Vừa đau, vừa giận, hắn quát: 

- Các anh thật là vô ơn! Chúng tôi đã cho các anh nhiều thứ tại hòn đảo nầy nay chỉ nhờ các anh có một chuyện nhỏ, các anh đã thẳng thừng từ chối! Các anh có thấy vậy là quá quắt lắm không?


Nhìn những gương mặt đầy vẻ lạ lùng bỡ ngỡ pha chút khinh thị của đối tác, viên Thiếu Tướng biết mình... quá đáng. Hơn nữa, nhóm Đại Diện Cộng Đồng nầy không dễ hù dọa: họ đã trưởng thành trong cuộc chiến, đã tái sinh từ trong ngục tù cải tạo, bị đọa đày hằng chục năm. Sức chịu đựng của họ rất phi thường. Không khéo mình sẽ thất bại chua cay. 

Nghĩ thế, viên Tướng đấu dịu lại: 

- Hơn 10 năm nay, quốc gia chúng tôi đã cưu mang đồng bào các anh. Gần 300 ngàn người tị nạn đã trú ngụ tại hòn đảo này, và đã được đi định cư ở các nước phương Tây. Chúng tôi đã làm hết sức mình cho đồng bào các anh, vậy mà chỉ có một việc nhỏ các anh đã không giúp được chúng tôi. Các anh khư khư giữ lấy lập trường không thực tế, cố chấp của các anh, phó mặc công tác của người khác không hoàn thành.

Trước phản ứng hơi xấc láo của tên Thiếu Tướng, anh em trong HĐĐD rất bất bình, nhưng hiểu được tâm trạng rối bời của hắn. Hắn mang một sứ mạng, tưởng rằng không khó để chu toàn. Vậy mà...! "Thế này, sáng ngày mai báo cáo ra làm sao về Kuala Lumpur đây? Ông Mahatir Mohamed mà bị bẽ mặt với chính phủ Hà Nội, mình dám mang ba-lô lên rừng già đếm... kỳ đà và khỉ đột như chơi!" (Rừng nhiệt đới Mã Lai nổi tiếng nhiều kỳ đà và khỉ đột). Nghĩ tới đó, hắn lo thật sự. 

Hắn xoay chuyển sang đòn tâm lý: 

- Các anh thật sự cho đó là một quyết định khôn ngoan? Có phải đó là sự trả ơn của các anh? Các anh đã đọc lịch sử của trại tị nạn này chưa? Trong hơn 10 năm nay, chưa có một người Mã Lai nào giết người tị nạn VN, nhưng đã có người tị nạn giết chết 2 ngư phủ Mã Lai (?). Điều đó có hợp với đạo lý không, nhất là có hợp với truyền thống văn hóa dân tộc các anh, một dân tộc mà theo chúng tôi hiểu, luôn luôn yêu công bằng, chuộng nhân nghĩa, và lúc nào cũng đặt nặng cách cư xử có trước, có sau theo nguyên lý ân đền, nghĩa trả. Dù sao thì chúng tôi cũng có "ơn" với đồng bào các anh. Vậy các anh "trả" gì cho chúng tôi?

Đại Đức Như Đạt nhìn anh em, anh em trong đoàn nhìn Đại Đức. Tất cả ngầm hiểu rằng: họ không thể làm ngơ được trước "đòn" tâm lý tình cảm này của viên Tướng Mã Lai. Đại Đức xin 30 phút họp riêng để lấy quyết định của tập thể.


Sau đó, trong một phòng nhỏ, Hội Đồng Đại Diện đã phân tích: Người Mã rất ít kinh nghiệm về chiến tranh, không có mấy hiểu biết về sự trí trá lọc lừa của CS.... Việc họ tiểu trừ được Lực Lượng Du Kích CS hoạt động trong nước họ, vào cuối thập niên 40, sau Đệ Nhị Thế Chiến, phần lớn là do công lao và sách lược của một người Anh, Sir Robert Thompson, một chuyên gia nổi tiếng về chống du kích chiến. Do đó, họ không lường được mọi mưu mô quỷ quyệt của CS. Cho nên đòi hỏi họ cảm thông, hay đứng về chính nghĩa tị nạn của mình là điều không thực tế trong tình trạng nầy....

Sau sự bùng nổ của làn sóng thuyền nhân Việt Nam tràn ra biển Đông, giai đoạn đầu họ đã thô bạo đẩy thuyền bè tị nạn trở ra khơi, gây ra không biết bao nhiêu trường hợp tử vong. Có thể họ không đích thân trực tiếp giết người như tên Thiếu Tướng kể lể, nhưng hành động đó đã gián tiếp nhận chìm hằng trăm, hằng ngàn thuyền bè xuống lòng đại dương, chôn vùi hàng ngàn, hàng vạn đồng bào ta vào lòng biển cả, hay làm mồi cho cá mập. Họ chỉ mở cửa trại tị nạn sau khi bị quốc tế lên án nặng nề, và nhất là, sau phiên họp của cộng đồng thế giới tại Genève, cuối năm 1979; theo đó, các nước phương Tây đồng ý sẽ thu nhận tất cả người tị nạn tại các trại Đông Nam Á.

Về phần các quốc gia cho người tạm trú, phải tiếp nhận và không được xua đuổi, đẩy thuyền ra khơi. Vậy mà hôm nay, trong một nhu cầu bất ngờ cần thiết, họ lại nhắc đến sự thọ ân và đòi "trả". Hôm nay và ở đây, đại diện cộng đồng không thể bịt tai, xoay lưng, ngoảnh mặt để mang tiếng chung là phường vô ân, bạc nghĩa. Phải xoay chuyển, phải trả... ân theo yêu cầu. Nhưng trả bằng cách nào để không làm thương tổn chính nghĩa của người tị nạn, không làm trò hề trước mặt tên chủ nhà luôn kể lể và bọn khách xấc láo, đểu cáng, bạo tàn?  

Các thành viên Hội Đồng, cuối cùng chọn lựa được 5 yếu tố làm tiêu chuẩn, như là điều kiện tiên quyết, để có thể gặp gỡ phái đoàn CS: 

1- Hội Đồng Đại Diện bằng lòng họp với phái đoàn CSVN với sự hiện diện của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ).

2- Không treo cờ CS trong phòng họp.

3- Bàn họp được đặt thành hình chữ U. Phái đoàn CS và HĐĐD Trại ngồi đối diện nhau, hai bên nhánh đứng của chữ U. Cao Ủy LHQ và đại điện chánh quyền Mã Lai ngồi trên nhánh ngang của chữ U.

4- Được phân phối Kháng Thư gởi Thủ Tướng Mã Lai Mahatir Mohamed, Cao Ủy LHQ, và báo chí.

5- Cuộc đối thoại giữa phái đoàn CSVN và HĐĐD Trại là cuộc đối thoại bình đẳng, trực tiếp, và bằng ngôn ngữ VN. Một thông dịch viên của Cao Ủy LHQ sẽ đảm trách phần thông dịch sang Anh ngữ cho phái đoàn Cao Ủy và đại diện chánh phủ Mã Lai.


Tên Thiếu Tướng mừng như chết đuối vớ được phao. Hắn chấp thuận toàn bộ 5 điểm. Hắn chỉ xin "bổ sung" thêm vài qui định vào các điểm nêu trên cho... "được công bằng": 

- Về điểm 2: hắn yêu cầu cộng đồng tị nạn cũng không mang vào phòng họp cờ VNCH, không mặc áo T-shirt có in cờ.

- Về điểm 4: được phân phối Kháng Thư, nhưng chỉ sau khi hai bên đã vào phòng họp. (Báo chí không được mời tham dự.)

- Một người Mã Lai thông thạo tiếng Việt sẽ tham dự phiên họp (?).

Phía đại diện cộng đồng thấy không thể bài bác 3 điểm thêm vào của viên tướng Mã nên đành thông qua. Nhưng bất ngờ, khi Công Bố Chung sắp được ký, hắn lại đưa thêm vào 2 điều khoản: 

- HĐĐD có mặt cùng Task Force đón phái đoàn CS tại bãi đáp trực thăng.

- HĐĐD bảo đảm an ninh lộ trình từ bãi đáp trực thăng trên khu F đến Bộ Chỉ Huy.

2 điều khoản này gây bàn cãi và đưa đến bế tắc vì:

- Một là: HĐĐD không thể ra đón một phái đoàn mà họ xem như là chỉ đại diện cho một tập thể gây ra muôn ngàn tội ác với dân tộc và lịch sử.

- Hai là: Quãng đường mà phái đoàn CS đi qua, xuyên suốt chiều dài của trại và đầy bất trắc. Hội Đồng Trại không đủ nhân lực để dàn trải. 

Hơn nữa, tâm lý người tị nạn rất phức tạp, không thể lường trước được những phản ứng dữ dội bất ngờ, có thể có cả bạo lực, khi trong trại có rất nhiều gia đình vốn là nạn nhân thê thảm của bạo quyền CS: nạn nhân của Trại Cải Tạo, của vùng Kinh Tế Mới, của chiến dịch đánh Tư Sản Mại Bản, của Hải Tặc Biển Đông.... Tất cả đều từ Cộng Sản và do CS mà ra!

Đến 2 giờ sáng, viên Thiếu Tướng thấy không thể ép buộc được HĐĐD, ép mạnh tay sẽ bể nát. Hắn bằng lòng rút lại 2 Điều Khoản thêm vào để phiên họp được chấm dứt với sự hợp tác "chừng mực" của HĐĐD. 

Thế là sáng nay, một bãi đáp trực thăng dã chiến vừa được gấp rút hoàn tất tại bìa rừng, giáp với khu A, chỉ cách văn phòng Task Force Mã Lai một quãng ngắn. An ninh lộ trình và phòng họp do... Lực Lượng Cảnh Sát Chống Bạo Động từ Trengganu sang đảm trách.

******

Chiếc trực thăng từ từ hạ dần cao độ và chạm nhẹ mặt đất. Một lớp bụi hòa lẫn với lá cây, với những đụn khói màu vàng còn vương vấn tạo thành một bức màn dầy đặc, cuộn lấy chiếc trực thăng. Phải hơn 5 phút sau, hình dáng chiếc "máy bay lên thẳng" mới dần dần lộ dạng, ló hình.


Viên Tướng Mã Lai nhanh nhẩu bước lại đứng cạnh càng trực thăng để chào đón. Cửa mở, lần lượt 7 người bước ra. Nhân dáng người Á châu tương tợ nhau, nên nhất thời không thể phân biệt được ai là Việt, ai là Mã. Sau đó, do sự tiếp xúc giới thiệu, người ta mới được biết có 5 người Việt Nam trong phái đoàn CS và 2 viên chức ngoại giao Mã Lai tháp tùng. Tên đi đầu dĩ nhiên là trưởng đoàn CS. Hắn khoảng gần 50, tương đối trẻ (so với đám lãnh tụ muôn năm ở Bắc Bộ Phủ). Hắn "sorry" vì thủ trưởng của hắn (ám chỉ tên thứ trưởng Nguyễn Duy Kinh) bận công tác ở Kuala Lumpur, nên là Phó đoàn, hắn phải đi thay. 

Buổi đón tiếp diễn ra thật nhanh tại bãi đáp vì Task Force Mã không muốn có bất trắc. Họ trao đổi nhanh, và cũng kéo nhau về BCH nhanh.... 

3 giờ chiều, buổi tiếp xúc bắt đầu. Tên Thiếu Tướng giữ lời hứa: HĐĐD có 6 thành viên, ngồi đối mặt với 5 thành viên thuộc phái đoàn CS. 

Chúng cố giữ tư cách một phái đoàn ngoại giao nhưng vẻ mặt tên nào tên nấy cũng một... đống! 

Viên Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Task Force đảo Pulau Bidong đọc lời chào mừng phái đoàn CS và giới thiệu đại diện Cao Ủy LHQ tại Mã Lai và HĐĐD tị nạn trên đảo. Hắn chúc chuyến thăm viếng của phái đoàn thành công (!). 

Đại diện phái đoàn CS cảm ơn viên Đại Tá đã dành cho hắn buổi đón tiếp long trọng.... Hướng về phía đại diện Cao Ủy, hắn bày tỏ lòng ngưỡng mộ tổ chức quốc tế này đã dành cho đồng bào hắn (?!) sự chở che và trợ giúp nhân đạo cần thiết và kịp lúc! (Tội nghiệp thay cho những tên cán bộ CS được đào tạo trong khuôn thước ngôn ngữ Mác-Lê! Khi lọt ra ngoài môi trường sở trường quen thuộc và chưa kịp thích ứng với hoàn cảnh bất ngờ mới, bọn chúng dễ trở thành nạn nhân của ngôn ngữ, của chính những giáo điều chúng đã được tôi rèn thuần thục!)

Cuối cùng, quay sang mục tiêu chính của chuyến đi, hắn lướt một cái nhìn thật nhanh về phía đại diện của cộng đồng và dừng lại khá lâu ở Đại Đức Như Đạt. Hắn biết đây là những đại diện có khả năng của người tị nạn. Những người đang ngồi trước mặt hắn chắc chắn là nạn nhân cay nghiệt của chế độ "ta", họ dày dặn kinh nghiệm về CS. Bọn này không dể đối phó! Hắn "chựng" lại một chút và... mở đầu bằng câu: Chào các bạn!  

Xong hắn tự giới thiệu: 

- Tôi là Châu Thọ Nhân, tôi xin thay mặt cho đồng chí Thứ Trưởng Nguyễn Duy Kinh gởi lời chào và thăm hỏi đến các đồng bào ta trong trại. 

Đồng chí Thủ Trưởng muốn, qua các bạn, nhắn nhủ với đồng bào ta tại Pulau Bidong rằng:  

- Chính phủ và nhân dân có cảm thông được phần nào tâm trạng của đồng bào khi bỏ nước ra đi. Chúng tôi biết các bạn đã sống và trưởng thành trong một miền đất nước, tuy cùng tổ quốc, nhưng khác xa nhau về nhận thức và sinh hoạt. Tôi cũng không giấu diếm với các bạn, là toàn dân ta vẫn còn khó khăn sau hơn 10 năm Tổ quốc đã được thống nhất. Nhưng mọi chuyện giờ đây đã thay đổi! Mọi sinh hoạt trong nước đã bắt đầu khởi sắc từ sau Đại Hội VI. Mặc dù các bạn và đồng bào đã bỏ Tổ quốc ra đi, nhưng chánh phủ và nhân dân ta lúc nào cũng mở rộng vòng tay đón các bạn trở về. Chúng tôi lúc nào cũng "trước sau như một" là luôn luôn xem đồng bào ở các trại tạm trú tại Đông Nam Á, hay đã định cư ở khắp năm châu là "khúc ruột ngàn dặm", một bộ phận không thể tách rời của dân tộc. Mong các bạn trung thực chuyển lời của chúng tôi đến đồng bào ta trong trại và hợp tác với chúng tôi, tạo mọi điều kiện thuận lợi để đồng bào đăng ký hồi hương càng nhiều càng tốt. Làm được như vậy, chúng ta đã tạo một dư luận tốt cho đồng bào quốc nội, nhằm ngăn chận những phần tử vẫn còn liều lĩnh với hiểm nguy bỏ nước ra đi (?!). Mong các anh tích cực hợp tác.


Với tư cách điềm đạm của một nhà tu, Đại Đức Như Đạt chậm rãi: 

- Thưa ông Nhân, xin phép cho chúng tôi được gọi ông như vậy, Pulau Bidong tuy là một hòn đảo nhỏ, nhưng đây là vùng đất tự do vĩ đại mà chúng tôi vừa đặt chân đến. Nơi đây, cuộc sống chen chúc, chật hẹp, và thiếu thốn... nhưng về phương diện tư tưởng, mọi người tị nạn đều có quyền suy nghĩ, phán đoán, và quyết định một cách hoàn toàn tự do. Thông Điệp của chính phủ ông, chúng tôi sẽ chuyển đạt một cách trung thực đến cộng đồng chúng tôi. Chúng tôi không hề ngăn cản và, dĩ nhiên, cũng không khuyến khích đồng bào tị nạn tự nguyện "đăng ký" hồi hương. Chúng tôi nghĩ: đồng bào tôi đã có chọn lựa thích đáng và sáng suốt trước khi xuống thuyền ra bể.

Quét một cái nhìn sắc bén về hướng tên Trưởng Đoàn VC, Đại Đức Như Đạt tiếp:

- Thưa ông Nhân, vì ông nói "...các bạn và đồng bào đã bỏ tổ quốc ra đi..." nên xin cho phép tôi xác nhận một điều: chúng tôi không bao giờ bỏ tổ quốc. Tổ quốc luôn luôn ở trong tim người tị nạn VN, dù người đó sống ở chân trời góc bể nào. Trong một quốc gia thật sự tự do và nhân bản, người ta không đồng hóa Tổ quốc với nhà cầm quyền, vì Tổ quốc là thiên thu trường cửu, còn chính quyền chỉ là giai đoạn, giai đoạn rất ngắn trong lịch sử....

Đại Đức Như Đạt chấm dứt bài nói bằng câu: 

-  "Xin chào ông và quý phái đoàn." 

Những phát biểu sau đó giữa hai đối tác, cùng là người VN, chỉ xoay quanh việc thăm hỏi, xã giao, vì cả hai đều không muốn khiêu khích, gây tranh luận trước mặt Cao Ủy LHQ và quốc gia chủ nhà; một cuộc tranh cãi, nếu có, sẽ rất vô bổ và không đi đến đâu cả. 

Được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Task Force mời dự tiệc, nhưng HĐĐD nhã nhặn cảm ơn và xin cáo lui vì Đại Đức Như Đạt thì... ăn chay, còn các thành viên khác xin được về trại sớm để kịp "triển khai" "thông điệp" đến đồng bào trong trại.


Khi bước ra khỏi phòng họp, HĐĐD sững sờ chứng kiến một quang cảnh chưa từng thấy xảy ra ở đảo: gần 10 ngàn người tị nạn đã tràn ra ngoài đường, tràn xuống bãi biển với rừng cờ vàng ba sọc đỏ, với rừng biểu ngữ phản đối sự có mặt của phái đoàn CS tại đảo. Đây là cuộc biểu tình tự phát. Tuy có sự chuẩn bị trước từ phía Hội Đồng Trại và phòng Phát Triển Cộng Đồng, nhưng số người tham dự đã vượt quá mọi dự đoán. Mọi khả năng dự trù trước đã không đáp ứng được: cờ và biểu ngữ cung cấp không thấm vào đâu so với số người tham dự.  

Thì ra trong lúc HĐĐD bận họp, thì các thành viên còn lại của Hội Đồng Trại đã phối hợp với phòng phát triển Cộng Đồng, do Nhà Văn Nguyễn Bá Trạc phụ trách.  

Anh Trạc là người Mỹ gốc Việt, có hợp đồng một năm với Cao Ủy LHQ làm việc cho trại Pulau Bidong. Anh giữ nhiệm vụ Cố Vấn Phòng Phát Triển Cộng Đồng. Nhiệt tình và tích cực trợ giúp đồng bào tị nạn, trợ giúp Hội Đồng Trại, anh là nguồn cung cấp mọi tin tức về chuyến viếng thăm của phái đoàn CS, cung cấp mọi phương tiện cờ và biểu ngữ cho cuộc biểu tình vĩ đại ngày 1-11-1988. 

Cuộc biểu tình với tất cả lòng phẩn uất, với khí thế hừng hực lửa của người tị nạn trên đảo đã khiến mọi sinh hoạt trên đảo bị trình trệ, mọi phiên họp tiếp theo bị hủy bỏ.

****** 

8 giờ 30 tối, một thông báo của Lực Lượng Task Force được đọc trên hệ thống phát thanh toàn đảo: 

- "Văn phòng Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai tại Pulau Bidong xin mời ông Nguyễn Văn Thanh, tàu MB898, lên văn phòng Lực Lượng Đặc Nhiệm có chuyện cần gấp." 

Thông báo được lặp lại nhiều lần. 

Anh Nguyễn Văn Thanh là một người tị nạn rất "nổi tiếng", trên đảo rất nhiều người biết anh. Biết anh không phải vì anh là một người tài ba kiệt xuất, hoặc có công lao gì to tát, mà chính vì anh là một... Sĩ Quan Công An ngành Chấp Pháp của CS. Anh đến trại tị nạn này đã gần tròn một năm, trên một chiếc ghe của gia đình nhà vợ gồm cha mẹ vợ và vợ chồng anh. Gia đình anh được xếp định cư theo diện đoàn tụ với thân nhân bên Úc Đại Lợi và đang chờ list. 

Trong mấy tháng đầu tiên ở đảo, gia đình anh sống hòa đồng và bình thường với cộng đồng, không có dấu hiệu gì trục trặc cho đến một ngày.... 

Một cựu quân nhân Quân Lực VNCH đến đảo và bất ngờ nhận ra anh:  

- Thanh đích thực là một Thiếu Úy Công An. Trước đây, Thanh đã từng "chấp cung" cựu quân nhân này. Dĩ nhiên, vấn đề ân oán giang hồ được "tính" với nhau từ dạo ấy! Cái lầm lỗi lớn của Thanh là khi đến đảo, anh đã giấu nhẹm quá khứ mình, man khai là một người dân bình thường nên khi bị phát giác, anh hoàn toàn ở thế gian dối, khó biện bạch. 

Người quân nhân, nạn nhân trước kia của anh, đã âm thầm thu thập mọi dữ kiện đầy đủ, chính xác về anh. Sau đó, anh ta kết hợp được một số cựu quân nhân khác, và đã bất ngờ "đánh hội đồng" Thanh vào một buổi chiều, gây cho Thanh và gia đình một phen kinh hoàng. Tuy vậy, nhóm quân nhân này cũng chỉ muốn cảnh cáo, dạy cho anh một bài học, chứ không muốn hạ sát anh, một điều họ có thể làm được, nên thương tích cũng không nặng lắm. Anh kêu cứu với Hội Đồng Trại, và được giải thoát.  


Trước HĐ Trại, Thanh công nhận có lỗi giấu diếm lý lịch, anh tường trình: tôi đúng là Công An Chấp Pháp, trong một lần làm việc với toán vượt biên, tôi đã "chấp cung" một cô gái và bị sắc đẹp cũng như tính tình của cô này "chấp cung" lại. Dần dà, tôi hoàn toàn bị cô gái chinh phục, chinh phục cả về lý lẽ lẫn về lý tưởng vượt biên. 

Thanh sa vào lưới tình, anh đam mê cô gái, bất chấp mọi hậu quả, nên tạo điều kiện, vẽ ra mọi cách để tha cả gia đình cô.

Cuối cùng, Thanh đã thành công là trả tự do cho cả gia đình cô. Bù lại, Thanh cũng được gia đình nhà gái, mà cha cô là một sĩ quan cấp Trung Tá "ngụy", hiện còn trong tù Cải Tạo, "đền ơn" bằng chính đối tượng mà anh mơ ước: gả cô gái mà Thanh đã chấp cung! Dĩ nhiên, cái Thiên Đàng mà Bác và Đảng đã vạch ra cho Thanh, Thanh đành phụ rãy để đi theo tiếng gọi của "phường ma cô đĩ điếm" (câu nói nổi tiếng của Nguyễn Cơ Thạch, thứ trưởng ngoại giao CSVN) ra nước ngoài.


Thanh không "thưa gởi" gì mấy anh cựu quân nhân đã dần cho anh một trận nên thân, vì nhận mình có lỗi trước, nên tội hành hung của các anh em cựu quân nhân nầy được bỏ qua. Hội Đồng đã tìm cho anh và gia đình một chỗ ở khác an ninh hơn nhưng Thanh xin ở lại chỗ cũ. Vã lại, nhóm cựu quân nhân nọ cũng đã hứa sẽ bỏ qua chuyện cũ.

****** 

Hội Đồng Trại đang họp tại Văn Phòng thì Nguyễn Văn Thanh xuất hiện. Anh xin gặp Đại Đức Như Đạt.

Đại Đức Như Đạt bước ra cửa. 5 phút sau trở vào, Thầy thông báo cho Hội Đồng:

- Anh Thanh xin ý kiến tôi về chuyện anh lên văn phòng Task Force trình diện theo thông báo mời. Tôi khuyến khích anh nên đi sớm, và khi về cho Hội Đồng biết diễn tiến cuộc gặp gỡ, nếu thấy cần thiết! 

Hội Đồng Trại ngưng họp vào lúc 9 giờ đêm. Ai nấy đều đói và mệt sau một ngày căng thẳng với đủ thứ áp lực từ nhiều phía. Có lẽ mọi người cần nghỉ ngơi lấy lại sức.

10 giờ 30 đêm, một nguồn tin "đáng tin cậy" cho Hội Đồng Trại biết rằng Nguyễn Văn Thanh đang tiếp xúc với tên trưởng phái đoàn CS Châu Thọ Nhân. Dư luận bàn tán xôn xao, nhiều câu hỏi được đặt ra... nhưng tất cả chỉ là đoán mò hoặc suy luận theo kiểu ông bàn gà, bà bàn vịt. Thế thôi.


Quá nửa đêm, một số đồng bào còn thức, nhìn thấy hai cảnh sát Mã Lai, có một nhân viên Cao Ủy tháp tùng lên tận chùa Phật, nơi cư trú của Thầy Như Đạt và mời thầy đến văn phòng Cao Ủy. 

Diễn tiến dồn dập của sự việc vào ban chiều cho thấy có một sự kiện bất thường đang xảy ra....

Người ta đang chờ một biến cố. Biến cố gì? Có thể là một sự kiện là vô tiền khoáng hậu, kể từ ngày hòn đảo Pulau Bidong này được dùng làm nơi tạm trú cho đồng bào tị nạn.

****** 

Buổi sáng êm ả trở về trên đảo Bidong.... Biển hôm nay vẫn xanh như mọi ngày. Gió nhẹ từ ngoài khơi đùa những đợt sóng lăn tăn thi nhau chạy vào bờ cát trắng, vỗ vào gành đá sủi bọt tung tóe. Những chú Dã Tràng nhỏ nhắn, ngộ nghĩnh tiếp tục những công trình chỉ tồn tại ngắn ngủi giữa hai lượn sóng. Vậy mà chúng không hề mệt mỏi, thất vọng. 

Lác đác, một vài người đi tắm sớm đã thấy xuất hiện trên bãi.... Bên kia Đảo Cá Mập, những tia nắng vàng đầu tiên lấp lánh trên chòm cây cao của chóp đảo. Không lâu sau, ánh nắng tràn ngập chan hòa, một thứ nắng ấm của vùng nhiệt đới khiến cho người ngâm mình dưới làn nước bể trong xanh, mát rượi không hề muốn lên bờ.... 

Một ngày như mọi ngày ở đảo. Một số người thích chuyện giựt gân, thức cả đêm tối qua, tiên đoán và chờ đón sẽ có biến cố lớn trong sáng ngày hôm nay, đã bắt đầu thất vọng. 

Đúng 9 giờ sáng, Phái Đoàn Cộng Sản, mà người tị nạn đã đặt cho một cái tên ý nghĩa từ hôm qua đến nay là Phái Đoàn "Chiêu Hồi", chuẩn bị lên đường trở về đất liền. Lộ trình cũ! 

Chiếc trực thăng đưa phái đoàn đến ngày hôm qua, vẫn còn đậu tại bãi đáp. Cánh quạt trực thăng đã bắt đầu khởi động. Cũng viên Thiếu Tướng Mã Lai, vài nhân viên Cao Ủy và một Tiểu Đội Cảnh Sát chống bạo động tiễn phái đoàn (Chiêu Hồi) ra trực thăng.


Không khí giữa chủ khách hôm nay có vẻ khác lạ. Viên Thiếu Tướng hình như đăm chiêu ít nói. Các thành viên trong phái đoàn VC lộ vẻ mệt mỏi, buồn bã nặng nề. Không có "ôm hôn thắm thiết" tiễn đưa như sáng hôm qua. Không biết tâm trạng "kẻ ở người đi" như thế nào nhưng tâm trạng người tị nạn thì thắc mắc lo âu! 

Những tin đồn gần đây rằng Trại Tị Nạn rồi sẽ đóng cửa. Một thành phần tị nạn nào đó, sẽ bị cưởng bách hồi hương! Phái đoàn Cộng Sản Việt Nam lần nầy lại ra tận đảo thuyết phục. Sau khi họ về là cái gì?

Đoàn người tị nạn chứng kiến cuộc tiễn đưa sắp sửa giải tán thì một người trong đám đông, Thành, vốn là nhân viên Khối An Ninh của trại, có mặt giữ an ninh bãi đáp trực thăng sáng hôm qua, phát hiện một "chuyện động trời"...  

Anh la to:

 - Châu Thiện Nhân đâu?

Quả vậy. Châu Thiện Nhân không hề có trong đoàn người lên trực thăng rời đảo vừa rồi. 

Vậy hắn ở đâu? Chuyện gì xảy ra cho hắn?


Tối hôm qua, không ai nghe trực thăng cất cánh, không thấy tàu cao tốc tản thương rời đảo.... Vậy nếu hắn bệnh, hắn chỉ có thể nằm trên bệnh xá Sick Bay. Đoàn người ùn ùn kéo lên bệnh xá... nhưng không có nam bệnh nhân nào cả, ngoài mấy... sản phụ vừa sanh tối qua. Vậy đích thị Châu Thọ Nhân đã ở lại đảo xin tị nạn chính trị rồi chăng?

Nguồn tin không biết đúng, sai; không biết có căn cứ hay không nhưng đó là loại "Breaking News" nên loan truyền nhanh. Không đầy 2 giờ đồng hồ sau, toàn đảo, ai cũng được "tin" tên Trưởng Đoàn CS đã tị nạn tại Pulau Bidong!

Những bản tin "phụ" còn được thêm thắt vào cho đầy đủ tình tiết...  

Người ta bảo nhau:  

- Nguyễn Văn Thanh chính là cháu gọi Châu Thọ Nhân là cậu ruột. Hai cậu cháu đã chuyện trò gần suốt đêm qua. Thật ra, lúc đầu Nguyễn Văn Thanh cũng không biết cậu hắn lại là trưởng phái đoàn trong khi Châu Thọ Nhân đã có đầy đủ dữ kiện về Thanh trước khi rời VN. Cuộc nói chuyện đã chuyển từ văn phòng Task Force sang văn phòng của Cao Ủy LHQ, do Đại Đức Như Đạt làm trung gian. 

Tên Thiếu Tướng và đại diện Bộ Ngoại Giao Mã lúc đầu muốn điên lên vì diễn biến đột ngột và kỳ cục này. Hắn sợ bị khiển trách, bị quy trách nhiệm làm "khủng hoảng ngoại giao" giữa hai nước. Nhưng sau cùng, hắn phải tôn trọng quy ước về người tị nạn mà quốc gia hắn đã ký kết.

Nếu báo chí và đài phát thanh loan tin này, thế nào cũng có kèm theo câu: "Chúng tôi loan tin này với sự dè dặt thường lệ," nhưng "bản tin đặc biệt" chuyền miệng của cộng đồng tị nạn thì không nghe ai nêu ra câu trên. 

Đồng bào ùa nhau lên văn phòng Cao Ủy, nhưng không có ai lạ, chỉ có nhân viên làm việc bình thường.

Kéo nhau lên dãy nhà Trường Huấn Nghệ, nơi thường tạm chứa đồng bào mới đến đảo chờ làm thủ tục, thì dãy nhà này trống trơn vì suốt đêm qua không có ghe vào đảo. Vậy thì, chỉ còn có một chỗ duy nhất, mà tên CS có tầm cỡ này, có thể tạm lánh thân là... Chùa Phật.

Đoàn người ùn ùn kéo nhau lên chùa.

Sinh hoạt trong chùa cũng bình thường! Chỉ có sau Hậu Liêu, nơi dành riêng cho thầy trụ trì Như Đạt, thì cửa đóng kín, với tờ giấy dán trước cửa:  

- "Thầy không khỏe, xin miễn tiếp khách!" 

Làn sóng người kéo về Chùa mỗi lúc một đông, đến khoảng 2 giờ chiều thì con đường hẹp dẫn lên ngọn Đồi Tôn Giáo đều không còn chen chân vào lọt. Văn phòng Task Force lo ngại bất trắc cho chùa nên đã gởi đến 4 cảnh sát bảo vệ, nhưng Thầy Như Đạt đã có mặt đúng lúc trước cổng chùa. 

Thầy cảm ơn lực lượng cảnh sát, và mời họ ra về. 

Đám đông thấy Thầy xuất hiện, họ nhao nhao: 

- Thầy giới thiệu tên CS cho chúng con đi thầy. Chúng con cam đoan là không "làm thịt" hắn, chỉ xin hỏi vài câu thôi.

Thầy ôn tồn nói: 

- Xin quý vị trở về trại, ở đây không có tên cán bộ CS nào cả. Nhà chùa không bao giờ là nơi dung chứa kẻ ác. Nhà chùa chỉ chứa những người đã phát Tâm, hướng thiện hồi đầu, thoát bỏ trần tục....

Một giọng nói lớn từ ngoài xa vọng vào: 

- Thầy ơi, coi chừng nó trốn trong phòng Thầy. 

Nhiều giọng khác phụ họa: 

- Đúng đó Thầy! Coi chứng nó ẩn náo trong phòng Thầy. Nó sẽ hại Thầy đó!

- A Di Đà Phật! Bần đạo tu hành, xa lánh ác nghiệp, không gây thù chuốc oán với ai. Hại bần đạo để làm chi? 

Vẫn còn tiếng la lớn: 

- Thầy không hại nó nhưng coi chừng nó cắt cổ Thầy đó. Việt Cộng mà Thầy! Thầy mở cửa đi, tụi con sẽ lôi nó ra giùm cho.

Thầy Như Đạt vẫn chậm rãi:

- A Di Đà Phật! Trong phòng tôi chỉ có một chú Tiểu mới phát tâm quy y thọ giới ngày hôm qua. Tôi vừa làm lễ xuống tóc cho chú sáng nay. Nếu quý vị không tin, tôi xin mời ra giới thiệu! 

Nói xong, Thầy vào hậu liêu mở cửa phòng, gọi lớn: 

- Tâm An! Con ra chào Cộng Đồng đi! 

Một chú tiểu tuổi trung niên, đầu thật bóng loáng, đúng là vừa mới được xuống tóc, từ phòng trong bước ra, miệng niệm: 

- A Di Đà Phật!

Hàng trăm tiếng "Ồ" phát ra từ đám đông: 

- Giống lắm! Giống vô cùng!

Lại cũng có tiếng cãi: 

- Không giống chút nào!

 

Pulau Bidong 3-11-1988

Ngọc Sương & Nguyễn Bửu Thoại

 

"Giống" và "không giống"!

Họ muốn so sánh với nhân dáng của tên trưởng đoàn Châu Thọ Nhân! Nhưng làm sao xác minh được? Sáng qua, đồng bào bị cách ly khá xa; tên Trưởng Đoàn mặc âu phục sang trọng, đắc tiền, lại chỉ dừng ở bãi đáp có vài phút.... Bây giờ chú tiểu đầu nhẵn bóng, lại mặc bộ cà sa cũ kỹ, lạ hoắc, lạ huơ.... Không có tiêu chuẩn để so sánh! Biết thật chính xác, may ra chỉ có... Hội Đồng Đại Diện! Mà mấy "ông này" thì vô phương...cạy miệng!

----

Đúng hay không đúng?

"Sắc tức thị không, không tức thị sắc"

Cán bộ CS Châu Thọ Nhân cũng là không.

Chú tiểu Tâm An cũng là không.

Nhân quả xoay dần và chi phối vạn vật theo thuyết Luân Hồi của nhà Phật.

Đồ tể buông dao thành Phật.

Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận, xuôi tay, buông Thiết Chưởng, quy y trở thành Từ Ân Hòa Thượng, ôm bình bát theo phò Thầy Nhất Đăng Đại Sư (Thần Điêu Đại Hiệp của Kim Dung).

Cán bộ CS "ác ôn" Châu Thọ Nhân buông súng AK, bỏ dao mã tấu, quy y trở thành chú Tiểu TÂM AN.

Nếu nhân duyên, nghiệp quả xoay dần đúng như vậy, xin cộng đồng hãy để chú được... AN TÂM! An tâm từ nay mỏ sớm chuông chiều trên Đồi Tôn Giáo Pulau Bidong!   


Nửa đêm tiếng chuông chùa... Bi-Đông - Chuyện vượt biên - Hưng Việt

Đủ Vừa Đớn Đau - Đỗ Công Luận

Những Câu Nói Hay, Ý Nghĩa Nhất Để Khích Lệ Tinh Thần



1. Quá khứ là nơi bạn đã học được những bài học. Tương lai là nơi bạn áp dụng bài học đó…
Vì thế đừng từ bỏ giữa chừng

2. Nếu bạn sinh ra trong nghèo khó, đó không phải là lỗi của bạn.
Nhưng nếu bạn chết trong nghèo khó, thì đó là lỗi của bạn.
~ Bill Gates

3. Không quan trọng quá khứ bạn khắc nghiệt thế nào, bạn luôn luôn có thể bắt đầu lại. ~ Đức Phật

4. Đôi lúc bạn đối mặt với khó khăn không phải vì bạn làm điều gì đó sai mà bởi vì bạn đang đi đúng hướng.

5. Những điều tốt đẹp đến với ai tin tưởng, những điều tốt hơn đến với ai kiên nhẫn và… những điều tốt nhất chỉ đến với người không bỏ cuộc.

6. Cuộc hành trình ngàn dặm …phải bắt đầu từ những bước đầu tiên.

7. Đừng mơ trong cuộc sống…mà hãy sống cho giấc mơ.

8. Cuộc sống không có nghĩa là dễ dàng. Nó luôn luôn biến động.
Đôi lúc hạnh phúc, có lúc lại khổ đau… Nhưng với tất cả những bước ” THĂNG TRẦM” trong cuộc sống, bạn lại học được những bài học làm cho bạn MẠNH MẼ LÊN.

9. Khi cuộc sống đặt bạn vào tình thế khó khăn…
Đừng bao giờ nói ” Tại sao lại là tôi..?”
Mà hãy nói ” Tôi sẽ cố gắng …!”

10. Rất nhiều người sợ nói ra những gì họ muốn, đó là lý do tại sao họ không có được những gì mình muốn.

11. Bạn không thể chặn những con sóng… nhưng bạn có thể học cách làm thế nào để lướt sóng – Jon Kabat-Zinn

12. Trong cuộc săn đuổi giữa báo và nai… rất nhiều lần con nai dành phần thắng. Bởi vì con báo chạy vì nhu cầu thức ăn còn con nai chạy để tồn tại. Hãy nhớ rằng…”mục tiêu quan trọng hơn nhu cầu”.

13. Thời gian là để tạo ra điều gì đó. Khi bạn nói TÔI KHÔNG CÓ THỜI GIAN đồng nghĩa với việc bạn nói TÔI KHÔNG MUỐN LÀM ĐIỀU ĐÓ.

14. Một trong những điều tốt nhất trong cuộc sống là nhận ra một điều bạn hoàn tòan hạnh phúc mà không cần đến những thứ mà bạn nghĩ rằng bạn cần nó nhất.

15. Mỗi khi mỏi bước trên con đường mình đã chọn, hãy tự nhủ mình: “Tiếp tục đi… đừng dừng lại. Mỗi bước có thể khó khăn hơn nhưng đừng dừng lại. Viễn cảnh đẹp nhất là lúc ở trên đỉnh”. Hãy luôn thúc đẩy mình bằng cách nghĩ về viễn cảnh hạnh phúc ở tương lai bạn nhé.

16. Đừng nghĩ mãi về quá khứ. Nó chỉ mang tới những giọt nước mắt. Đừng nghĩ nhiều về tương lai. Nó chỉ mang lại lo sợ. SỐNG Ở HIỆN TẠI VỚI NỤ CƯỜI TRÊN MÔI. Nó sẽ mang lại niềm vui cho bạn.

17. Khi bạn cảm thấy muốn buông xuôi, hãy nhớ lại rằng tại sao bạn đã đứng ở đó.

18. Nếu bạn hỏi một người giỏi trượt băng làm sao để thành công, anh ta sẽ nói với bạn: ngã, đứng dậy là thành công.
~ISAAC NEWTON

19. Tiến về phía trước không có nghĩa là bạn quên đi những điều đã xảy ra . Nó chỉ nói lên rằng bạn phải chấp nhận và tiếp tục sống.

20. Đừng lãng phí thời gian của bạn để nhìn lại những gì đã mất.
Hãy bước đi tiếp, với cuộc sống không có nghĩa là đi du lịch về miền quá khứ.

21. Nếu tôi chọn suy nghĩ hạnh phúc, tâm trạng của tôi sẽ hạnh phúc sướng vui. Nếu tôi chọn suy nghĩ tiêu cực, tâm trạng của tôi sẽ trở nên tồi tệ. Suy nghĩ của tôi tạo ra tâm trạng. Điều đó thật đơn giản, hãy thử bạn nhé.

22. Càng mất nhiều thời gian chờ đợi một điều gì đó bạn càng hiểu rõ giá trị của nó khi nhận được. Bởi vì bất cứ thứ gì có giá trị, chắc chắn phải bõ công chờ đợi.

23. Mỗi ngày có thể không phải là ngày tốt nhưng chắc chắn sẽ có điều gì đó tốt đẹp mỗi ngày => hãy mỉm cười và đón nhận ngày mới với thái độ hào hứng tích cực

24. Không quan trọng bạn nghĩ cuộc sống này tuyệt vời hay tồi tệ ra sao, Thức dậy mỗi sáng, cảm ơn cuộc đời bời vì vẫn có những người ở một nơi nào đó đang phải chiến đấu để tồn tại.

25. LÀM THẾ NÀO ĐỂ THÀNH CÔNG TRONG CUỘC SỐNG

Nói – ít đi
Thở – sâu hơn
Quần áo – lịch sự
Làm việc – chăm chỉ
Cư xử -đứng đắn-
Tiết kiệm – đều đặn
Ăn uống – hợp lý
Ngủ – đầy đủ
Hành động – dũng cảm
Suy nghĩ – sáng tạo
Kiếm tiền – lương thiện
Để dành – thông minh.


26. Hãy luôn tự nhủ mình:
“Tôi sẽ không dừng lại khi tôi mệt mỏi, tôi chỉ dừng lại khi tôi đã
hòan thành.”

Cố lên nào mọi người.


27. Niềm tin là sức mạnh của thành công.
khê kinh kha


28. Thời điểm mà bạn đã sẵn sàng buông xuôi mọi thứ thường là thời điểm ngay trước khi một phép lạ xảy ra, vì thế đừng từ bỏ.

29. Nếu một quả trứng bị vỡ do ngoại lực bên ngòai thì sự sống kết thúc.
Nếu một quả trứng bị vỡ bởi một lực từ bên trong thì cuộc sống bắt đầu.

Những điều tuyệt vời nhất trong cuộc sống cũng được hình thành từ bên trong mỗi con người.


Sưu tầm

Sunday, June 28, 2026

Những Đứa Trẻ Bị Đánh Cắp Tương Lai

 


Trong khi con cháu của các quan chức cộng sản ung dung bước vào những cánh cổng đại học ở Mỹ, Úc, châu Âu—nơi ánh đèn thư viện sáng suốt đêm và giấc mơ được bảo hộ bằng pháp luật—thì ở quê nhà, những đứa trẻ khác đang bị đẩy ra đường cùng cha mẹ. Chúng không mang vali du học, mà mang theo những xấp đơn khiếu kiện. Không học bổng nào che chở cho các em, chỉ có nắng mưa và sự im lặng.


Một xã hội được gọi là “vì nhân dân” nhưng lại cho phép một tầng lớp nhỏ cướp đất, cướp nhà, cướp sinh kế của hàng triệu người dân để nuôi dưỡng lối sống xa hoa cho con cháu họ ở nước ngoài. Đó không chỉ là sự bất công—đó là một sự phản bội có hệ thống. Những khu đất tổ tiên để lại bị thu hồi bằng một chữ ký. Những mái nhà bị đập bỏ bằng một mệnh lệnh. Và tương lai của cả một thế hệ bị đem đổi lấy những hóa đơn học phí ở xứ người.

“Dân oan” không phải là một thuật ngữ hành chính; đó là một thân phận. Là những gia đình mất đất, mất nhà, mất trường học cho con, phải sống tạm bợ, lang thang từ trụ sở này sang cơ quan khác chỉ để xin một điều rất nhỏ: được lắng nghe. Trong khi đó, những đứa trẻ của quyền lực lớn lên trong môi trường pháp trị, học về nhân quyền, về công lý, về tự do—những khái niệm mà chính cha mẹ chúng đã tước đoạt ở quê hương.

Nghịch lý ấy nhức nhối đến mức tàn nhẫn: một bên học cách bảo vệ quyền sở hữu; một bên bị tước đoạt quyền sống. Một bên nói về công bằng trong lớp học; một bên cầu xin công bằng ngoài cổng cơ quan. Một bên bay qua đại dương để mở rộng tương lai; một bên bị chặn lại ngay trước ngưỡng cửa của chính ngôi nhà mình.

Một đất nước không thể gọi là ổn định khi trẻ em phải ngủ trên vỉa hè vì đất của cha mẹ chúng bị lấy đi. Không thể gọi là phát triển khi học đường của các em bị thay bằng những khu dự án mờ ám. Và không thể gọi là “định hướng xã hội” khi lợi ích xã hội bị dồn về một nhóm đặc quyền, còn nỗi đau thì trải đều lên vai những người yếu thế nhất.

Những đứa trẻ dân oan không đòi hỏi nhiều. Các em không cần du học, không cần hộ chiếu ngoại quốc. Các em chỉ cần một mái nhà để trở về, một ngôi trường để học, và một nhà nước biết đứng về phía công lý. Nếu một chế độ không bảo vệ nổi những điều tối thiểu ấy, thì mọi khẩu hiệu đều trở nên rỗng tuếch.


Một ngày nào đó, lịch sử sẽ hỏi: chúng ta đã làm gì khi trẻ em bị đẩy ra đường để nuôi dưỡng sự xa hoa của quyền lực? Câu trả lời sẽ không nằm ở những bản báo cáo, mà ở ánh mắt của những đứa trẻ đã lớn lên giữa bất công—và vẫn còn đủ can đảm để tin rằng công lý, dù bị trì hoãn, không thể bị chôn vùi mãi mãi. 


Những đứa trẻ bị đánh cắp tương lai Trong khi... - Nhật Ký Yêu Nước | Facebook

Thanh Loan chuyển

Đời Vắng Em Rồi - Nguyễn Duy Phước

Đôi Bờ - BS. Vĩnh Chánh

Cầu Hiền Lương - Vikipedia tiếng Viiệt

Có những dòng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua bãi cát mịn, những bãi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những dòng sông, không hiểu vì sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh Chúa Nguyễn, đứng nhìn nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và những ánh mắt thù nghịch với mã tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh phúc, giáo dục nhân bản và tự do xã hội.  Hai dòng nước ấy, cách nhau hàng trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau. 


Giữa những đôi bờ ấy, dân Việt vẫn đứng đó, với một vết thương đã liền da nhưng vẫn nhói, vẫn buốt. Đặc biệt, sông Bến Hải– cầu Hiền Lương trở thành một nỗi nhớ triền miên, kèm theo mất mác chia lìa mà có khi cả đời vẫn chưa hàn gắn. Câu chuyện Đôi Bờ không chỉ là chuyện về địa lý của vĩ tuyến 17, không chỉ ngăn cách hai miền đất, hai chính thể. Chúng còn chia lìa những điều mong manh nhất của kiếp người. Với những danh từ mới: Bên Dinh Bên Tề, Di Cư Tập Kết, Tàu Há Mõm, Vượt Sông Vượt Tuyến, Bức Màn Sắt, Quốc Gia / Cộng Sản, Tự Do Dân Chủ / Độc Tài Đảng Trị, Khẩn Hoang Lập Ấp / Đấu Tố - Cải Cách Ruộng Đất. Khiến sự chia cách càng thêm éo le. Có những đôi bạn lớn lên cùng nhau, rồi một ngày trở thành hai phía của lịch sử. Có những mối tình vừa chớm nở đã bị dòng nước lạnh lùng cuốn đi, để lại hai trái tim chỉ còn biết thương nhớ nhau bằng ký ức. Có những gia đình, kẻ ở lại người ra đi, dù chỉ cách nhau một dòng sông nhỏ mà lại hóa ra xa đến tận hơn nửa đời người. Có những người chồng vội vả mang hai con lớn, để lại thằng út cho vợ, mà không ngờ thật đắng cay và chua xót khi về sau người cha và thằng con út mình tìm thấy nhau ở hai bên chiến tuyến.

 

Đôi Bờ bổng nhiên trở thành câu chuyện của những trái tim – những trái tim bị chia ly, những trái tim chảy máu, những trái tim tim lặng lẽ giữ lấy một niềm tin rằng, dù chiến tranh ngang trái, dù một dòng sông nhỏ thôi cũng đủ trở thành ranh giới của nhớ thương. Nỗi “thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai”- trong Đôi Bờ của Quang Dũng - như một lời thở than, một vết thương mềm của anh lính nhớ về một hình bóng xa mà gần, gần mà xa. Nỗi nhớ ấy tưởng chỉ là chuyện riêng giữa hai người, nhưng thật ra lại chạm vào mạch ngầm hằng có trong lịch sử Việt Nam - nơi những dòng sông từ lâu mang trong mình số phận chia cắt.


Sau Bến Hải, đến Cầu Trường Tiền bị CS đánh sập khi chúng mưu đồ xé bỏ hiệp định đình chiến Tết Mậu Thân 1968, chia cắt đôi bờ Hữu Ngạn Tả Ngạn của Huế gần cả tháng, đem chiến tranh vào tận thành phố và gieo tang tóc, chết chóc cho mấy ngàn thường dân vô tội. Từ năm 1965 và lần hồi nhiều năm sau đó, ranh giới Bến Hải bị xô lệnh khi miền Bắc cố tình và âm thầm lấn xuống phía Nam qua hẵn vùng phi quân sự. Đến năm Hè Đỏ Lửa 1973, cả ngàn bộ đội Miền Bắc bỏ xác, nhuộm đỏ dòng sông Thạch Hản khi tràn vào đánh vào Quảng Trị

Những sự kiện lấn chiếm phía Nam sông Bến Hải, đánh sập cầu Trường Tiền, tiến đánh Quảng Trị 1972, chủ trương chiến dịch Da Beo, khiến nơi trao đổi tù binh hai bên vào hè năm 1973 không phải là tại sông Bến Hải, mà là tại sông Thạch Hản, cho thấy sự tráo trở giảo quyệt của chế độ vô sản Miền Bắc, gây ra bao cuộc chia ly mà hình ảnh và vết tích đã, đang và mãi mãi còn in dấu trong lịch sử dân tộc.


Tưởng rằng sau 1975 khi đất nước liền một dải thì nỗi chia ly sẽ chấm dứt, đôi bờ ngăn cách sẽ được xóa tan. Thế nhưng lịch sử như muốn thử thách thêm sức chịu đựng của con dân mình, và rằng lịch sử chưa đủ những vết cắt, hay như thể cha ông chúng ta chưa đền đủ nợ oan gia  từ tiền kiếp, biến cố 30 tháng 4, 1975 lại mở ra một cuộc chia lìa khác, khủng khiếp hơn, kinh hãi hơn nhiều, gây nhiều thảm cảnh thương đau, đánh động lương tâm toàn thế giới – vì lần này không phải bởi một dòng sông nhỏ, mà bởi cả một đại dương rộng lớn và hãi hùng. Đại dương mênh mông này trở thành “dòng sông thứ ba”, hàng trăm ngàn người Việt lại đứng ở hai bờ sông – một bên là đất mẹ, một bên là bến bờ xa lạ.

Sóng biển không những nuốt chửng thuyền nhân, mà còn nuốt cả những hy vọng, những lời hẹn thề, những tiếng gọi nhau không bao giờ tới được. Vì vậy khi đọc Đôi Bờ, ta không chỉ thấy một cuộc chia ly của hai người, mà còn thấy luôn  bóng dáng của cả một dân tộc oằn người trong đó – một dân tộc nhiều lần bị đặt ở hai phía đối diện, nhưng trái tim người dân thì chưa bao giờ thôi hướng về nhau - với một người ra đi là cả một gia đình mươi người còn lại bên kia ngày ngày cầu nguyện cho người thân yêu đến được bờ bến tự do. Như vậy mới thấy rõ những Đôi Bờ của lịch sử có thể xa, nhưng những Đôi Bờ của tình người thì vẫn âm thầm mong ước ngày tái ngộ.

Đây là một cuộc vượt tuyến vĩ đại chưa từng được ghi nhận trong lịch sử thế giới, nói lên sự dứt khoát chọn lựa Tự Do trong cuộc sống, thà chết ngoài biển khơi hơn là tiếp tục sống trong nhà tù lớn, nhỏ, của chế độ thù hằn. Văn học xã hội và lịch sử có thêm những danh từ mới: Di Tản, Vượt Biên Vượt Biển, Cướp Biển, Thuyền Nhân Bộ Nhân, HO, ODP, Trại Tỵ Nạn, Trại Chuyển Tiếp, Hoạt Động Cứu Người Vuợt Biển, Định Cư Nhập Cư, Political Asylum Green Card…


Nhưng các bạn ơi, bến bờ lần này xa vời vợi, quá rộng, quá lạnh, quá tàn nhẫn;  Thái Bình Dương hay cả bên kia bờ Thái Bình Dương, rồi khắp vòng quanh thế giới là vạn dặm cách xa quê hương. Ở giữa những bờ ấy là những con thuyền mong manh như số phận người ra đi, là đói khát, là sóng to gió lớn, là chết chóc với con mắt mở lớn khiếp đảm và bàn tay không kịp đưa lên trời cầu xin, với những cơn bão không tên làm chìm thuyền, hay do thuyền của hung thần hải tặc đâm thẳng vào sau khi vét cạn chút tài sản còn lại của nạn nhân… Và giữa hai bờ ấy, cả mấy trăm ngàn người – vì một chữ Tự Do - đã nằm lại, không mộ phần, không bia đá, chỉ có biển cả làm tấm khăn liệm cuối cùng. Những chia ly này, không như những chia ly trước chỉ vì địa lý. Chúng là những tiếng khóc than bay lên tận trời. Là những vết thương âm thầm không ngưng rỉ máu trong từng gia đình, khi cha mất con vợ mất chồng, anh em thất lạc nhau– là những thảm cảnh xã hội trớ trêu, đầy oan trái, đắng cay.


Ta thường tự hỏi có phải lỗi lầm? Hay chỉ định mệnh? Khi một người vợ phải “ôm cầm sang thuyền khác” vì con thơ cần được nuôi, vì miếng cơm manh áo, vì bơ vơ trên xứ người, vì không biết chồng mình còn sống trong tù CS hay đã nằm đâu đó giữa núi rừng, biển khơi. Khi một người chồng cô đơn qua năm tháng, không tin có ngày vợ mình an toàn vượt biển để đoàn tụ, đành phải lấy một người chưa hề quen biết để cùng góp gạo thổi cơm – Thì đó không phải là lỗi lầm. Không ai phụ ai. Không ai phản bội ai. Đó là biến chuyển lịch sử phụ họ. Đó là định mệnh, là sự tàn nhẫn của thời cuộc, là cái giá con người phải trả. Ai trong chúng ta mà không mang một cây thánh giá trên vai?! Không nặng hơn, không nhẹ hơn; khác nhau ở chỗ vác như thế nào!?Chỉ là nhẹ hay nặng thôi! Trong những hoàn cảnh ấy, người ta không có sự lựa chọn. Cuộc sống buộc họ phải sống tiếp.


Phải chăng tiếp tục sống đôi khi cũng là một cách giữ gìn phẩm giá của mình. Để khi gặp lại nhau về sau, với mỗi người một đời sống riêng, thì điều họ trao cho nhau là sự cảm thông và tha thứ. Cảm thông để hiểu rằng định mệnh đã an bài, không ai phản bội ai. Chớ trách móc, chớ kết tội. Cần tha thứ. Tha thứ để nhẹ lòng, để giữ phần đẹp nhất của nhau, phần đã từng thuộc về nhau trước khi lịch sử xé đôi, và để khép lại một chương đời đau thương; chứ tha thứ không có nghĩa là phải quay về lại với nhau. Ta gọi đó là tình nhân bản.

Lỗi đâu ở kẻ đổi thay - Chỉ do định mệnh đẩy ngày xa nhau.

Thương nhau chẳng giữ được nhau - Thì xin giữ lấy nỗi đau dịu dàng.

Mai sau gặp lại muộn màng - Mỗi người một ngả… vẫn mang nghĩa tình.

Tha thứ để nhẹ lòng mình - Tha cho số phận lênh đênh tháng ngày.


Có những Đôi Bờ khắc nghiệt hơn — những gia đình bị xô lệch vì lịch sử. Người tập kết mang người vợ mới về Nam khi người vợ miền Nam vẫn nuôi con thành đạt và mỏi mòn chờ chồng suốt 20 năm, tạo ra hoàn cảnh những trái tim không biết phải trách ai, chỉ biết tự hỏi vì sao số phận lại chia người ta ra làm hai nửa như vậy.

Lại có Đôi Bờ còn đau hơn nữa, khi một người cha vì sợ mất chức, mất danh trong Đảng nên không dám bảo lãnh chính con ruột của mình ra khỏi trại cải tạo, nhưng lại nhận tiền để cứu một người xa lạ. Ở đó, Đôi Bờ không chỉ là khoảng cách, mà là vết cắt của lương tâm, là nơi người ta buộc phải đối diện với chính mình.


Nhưng Đôi Bờ đâu chỉ nằm ngoài xã hội, ngoài lịch sử. Ngay trong một mái nhà nhỏ, đôi khi cũng có những dòng sông lặng lẽ chảy qua. Có những người chồng bước sang một bờ khác của đam mê và phản bội, để lại người vợ đứng bên này với nỗi đau không gọi thành tên. Có những người vợ lạc vào cơn mê đỏ đen, để gia đình dần dần trôi xa như chiếc thuyền đứt neo. Những ranh giới ấy không ai dựng lên bằng tay, nhưng lại hiện ra rất rõ trong ánh mắt, trong bữa cơm, trong khoảng cách của hai người từng nằm sát bên nhau.

Thiếu gì trường hơp Đôi Bờ đâu chỉ chia vợ chồng, cha con. Có khi nó chia cả những người bạn từng lớn lên bên nhau, từng chung một giấc mơ tuổi trẻ. Một người ở lại thành phố, khoác áo sĩ quan miền Nam; người kia vào bưng, trở thành cán bộ của phía bên kia. Đến ngày gặp lại sau 75, khoảnh khắc họ nhìn thấy nhau qua song sắt — một người tù, một người cai tù — là khoảnh khắc mà cả hai đều hiểu rằng tình bạn ngày xưa đã bị lịch sử xé làm đôi, không phải bằng dao, mà bằng những lựa chọn mà họ không còn quyền từ chối. Rồi người bạn trở về ép uổng lấy người vợ của bạn mình, là người con gái mà cả hai từng thương chung thuở học trò. Không phải vì phản bội, mà vì thời cuộc đã đẩy mỗi người trôi sang hai bờ đỏ vàng khác, để khi quay lại, tình bạn ngày xưa chỉ còn là một vết đen trong ký ức, muốn quên nhưng thật khó.

Những Đôi Bờ nói trên— dù âm thầm, dù riêng tư — nhưng chính là những vết thương sâu nhất mà chiến tranh để lại trong lòng người Việt


Các bạn mến, đại dương không những chia đôi đất nước, nó xé nát cả những cuộc đời. Đôi Bờ của biển cả, Đôi Bờ của lịch sử, Đôi Bờ của định mệnh – tất cả đã hoà lại tạo thành một nỗi đau chung của dân tộc. Một vết cắt thứ Ba, quá rộng, quá to, và sâu nhất. Ba lần chia cắt, ba dòng nước – một nhỏ, một hẹp, một mênh mông – nhưng nỗi đau vẫn chỉ có một. Đó là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước. Tuy nhiên, có điều lạ nhất – càng xa quê hương, lòng càng nhớ, càng thấm nghĩa tình người. Lịch sử có thể chia đời ta từng đoạn, kể luôn cả gia đình ta ra từng khúc, nhưng lại không chia được tấm lòng của người Việt với người Việt trên quê hương thứ hai. Và với thời gian, lòng người cũng hiểu điều còn lại sau cùng, không phải là biên giới hay chiến tuyến, mà là bàn tay muốn nắm lấy bàn tay, cho dù, như đã từng – cách một dòng sông – và nay cách một đại dương

Khi viết về Đôi Bờ theo cái nhìn của lịch sử dân tộc, chúng ta không thể không nhắc đến thi văn và âm nhạc Việt qua các Đôi Bờ lịch sử ấy. Nơi lịch sử dựng ra Đôi Bờ, âm nhạc lại mở ra những con đường. Nơi chiến tranh đẩy người ta xa nhau, âm nhạc lại giữ họ lại gần. Nhạc và thơ vượt qua được ranh giới, nối lại những bờ xa vắng bằng một câu thơ nhung nhớ, bằng một câu hò à ơ tình tự. Vì thi ca và âm nhạc là hơi thở, là tiếng thở dài ai oán của cả hai bờ. Thi văn và âm nhạc luôn là nơi mọi người gởi gắm những nỗi chia ly, lòng nhung nhớ, tình yêu thương mà lời nói thường không đủ mạnh, không đủ chiều sâu để cất lên. Mỗi giai đoạn lịch sử đều để lại một dấu mốc cho những Đôi Bờ.

Với dòng sông Bến Hải, Lam Phương đã sáng tác “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” kể về một cô gái đưa người yêu vượt sông Bến Hải trong đêm “ Đêm nay trăng sáng quá anh ơi - Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”. Một bản nhạc mà mỗi câu hát như run lên vì sương khuya và nỗi đợi chờ.

https://music.youtube.com/podcast/cZuC2ACYTnQ


Ngày đất nước bị chia đôi ở vĩ tuyến 17, khi từng đoàn người lặng lẻ rời miền Bắc để tìm Tự Do, nhạc sĩ Anh Bằng đã viết “Nỗi Lòng Ngươi Đi”. Bài hát mang theo tiếng thở dài của hàng trăm ngàn thân phận người lên đường mà còn ngoái lại quê nhà. Bản nhạc không kể chuyện bằng sự kiện, mà bằng nỗi nhớ, bằng tiếng gọi quê hương từ lòng của những kẻ buộc phải rời đi.

https://youtube.com/watch?v=QqXc4vP9Pqo&si=FJDiHlz0_UCQlm4S


Có những bài hát không cần nói đến nỗi đau thương, nhưng chỉ một câu thôi cũng đủ làm tim người nghe thắt lại. Trong “Bên Bờ Đại Dương”, khi nhạc sĩ Hoàng Trọng và Hồ Đình Phương viết “Đất nước tôi màu thắm bên bờ Đại Dương, Bắc với Nam, tình nối qua lòng Miền Trung…”, đó là tiếng vọng của một người vừa trải qua cuộc chia đôi 1954, đứng bên bờ Nam nhớ qua bờ Bắc. Giữa hai miền là dãy Trường Sơn, là những mái tranh nghèo Bắc Giang, là ruộng ngọt phương Nam. Tuy trong bản nhạc không có khóc than, nhưng trong sự hùng tráng của nó có một nỗi sầu sâu đậm: dù chia đôi, dân tộc vẫn giữ niềm tin nghĩa tình có thể được nối qua lòng miền Trung.

https://share.google/ZwYsrXkghxQmFaB9q


Giữa những Đôi Bờ của lịch sử, còn có những đôi bờ riêng – đôi bờ của định mệnh và tôn giáo. “Chuyện Tình Buồn” của Phạm Duy, phổ từ bài thơ của Phạm văn Bình, gốc Đông Hà, Quảng Trị, mang tâm sự một cuộc tình tan vỡ vì người nam và người nữ không thể bước chung qua một cánh cửa tôn giáo – Một cánh cửa luôn rộng mở cho mọi người, nhưng lại khép lại cho đôi tình nhân trẻ tuổi - Đôi Bờ không nằm trên bản đồ, mà nằm trong trái tim, để khi gặp lại nhau chỉ còn “thương người em năm cũ, thương góa phụ bên sông”.

https://youtube.com/watch?v=Kh7e-iM5gDo&si=rHCO8vEyU2ARZrj6


“Chuyện Một Cây Cầu Đã Gảy” được Trầm Tử Thiêng sáng tác ngay trong năm 1968. Bài hát gắn liền với cây cầu biểu tượng cho xứ Thần Kinh, bị đánh sập trong Tết Mậu Thân ở Huế. Sáng tác này xem như một khúc ai điếu. Cấu nối hai phía Hữu Ngạn và Tả Ngạn, nối chợ Đông Ba, phu khố Gia Hội, phố Phan Bội Châu với các trường học Quốc Học, Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, Thiên Hữu, Bình Linh, Đại Học Huế, chợ Bến Ngự; nối Đại Nội, khu Thành Nội, Mang Cá cùng quân y viện Nguyễn Tri Phương với khu hành chánh, tòa Tỉnh Trưởng, khu đại học cùng bệnh viện Trung Ương Huế, nhà Ga Huế, Đập Đá. Một vài nhịp cầu bị nổ mìn và nguyên thành phố Huế chìm trong tang tóc – một phần đời của Huế bị bứng khỏi sự bình yên vốn từng có theo sự lặng lờ của dòng sông Hương. Đặc biệt giai điệu bản nhạc mang âm hưởng Nam Bình – Nam Ai, cổ kính của xứ Thần Kinh, như những tiếng than dài ai oán của thành phố chịu quá nhiều tang thương. Bản nhạc này được nhắc đến như một lời tiễn biệt cho phần linh hồn của Huế, không phải vì một vài nhịp bị sập mà cả một ký ức chung bị vỡ, một nỗi đau mà dân Huế mang theo suốt đời – cho dù về sau cây cầu được sửa lại, tô màu, lên đèn, nhưng tinh thần Đôi Bờ của cây cầu không bao giờ được nối lại. Lịch sử sẽ ghi đầy một trang đen tối.

https://youtube.com/watch?v=LrvkA7fMhG0&si=vj3xvrqc7MapaH_x

 Bạn thân mến, có những nỗi nhớ không hướng về một cá nhân, mà hướng về cả một đời. Trong “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc – mà chúng ta biết đến, qua những công việc giúp người tỵ nạn định cư, cọng tác và hướng dẫn nổi tiếng của chương trình nhạc Asia, người kêu gọi và góp sức trong việc xây dựng Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ tại Westminster, và nhạc sĩ của nhiều tình ca tuyệt vời, kể cả bài Saigon Ơi! Vĩnh Biệt - khi tiếng hát cất lên “Cho tôi xin lại ngọn đồi…Cho tôi xin lại bờ rừng…Cho tôi xin một lần chàoCho tôi xin một mộ phần”, đó không chỉ là lời xin của một người tỵ nạn đơn giản, mà là lời khấn của một người lính đã mất quê hương, mất đồng đội, mất cả nơi để trở về. Những ngọn đồi ấy, bờ rừng ấy, không còn trên bản đồ, nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức – nơi anh em từng nằm chung hầm, chia từng nhúm gạo xấy, từng hơi thở giữa cái sống và cái chết. Và nỗi đau đớn nhất, không phải là lưu vong, mà biết rằng mình không thể trở về để chào những bạn đã khuất. Xin hãy niệm mỗi câu hát là một nén hương thắp cho những đồng đội đã nằm xuống, và ngay cả cho một phần đời của mình đã nằm lại bên kia bờ. Bài hát này, không phải chỉ là ký ức chiến trường, mà còn là ký ức của những người ở lại nhìn bạn bè ra đi mãi mãi - khiến bao chiến sĩ chúng tôi nhỏ lệ.


Mấy chục năm trước, ca nhạc sĩ Nam Lộc trình bày cho cộng đồng người Việt Tỵ Nạn bản nhạc Người Di Tản Buồn rất nhiều lần, không những trên sân khấu mà  trong những công viên, những khuôn viên nhà thờ, nhà hội đoàn…Trong thước phim đen trắng cũ kỹ ấy, Nam Lộc đứng trước cả ngàn người. Không có sân khấu lộng lẫy, không ánh đèn màu, chỉ một đờn guitar và một micro đơn sơ và tiếng hát nghẹn ngào của một người từng sống với nỗi đau của dân tộc. Xung quanh ông là những gương mặt trẻ, nam nữ, đứng chen nhau, mắt mở lớn, lặng đi như bị cuốn vào từng câu hát. Họ là thế hệ vừa rời quê hương, còn nguyên nỗi bàng hoàng của những ngày vượt biển, vượt biên. Phía sau họ, những mái đầu bạc, những cụ ông cụ bà khoác áo len cũ, đứng nép dưới bóng cây. Nhiều người tỏ dấu xúc động. Có lắm cụ chắp tay trước ngực, như muốn chặn cơn nghẹn đang dâng trào trong con tim; có bà cúi mặt, cầm vạt áo lau nước mắt, không phải chỉ vì bài hát buồn, mà vì bài hát nói đúng nỗi lòng của thế hệ lưu vong.

Mọi người đứng yên, như bị giữ lại bởi sức nặng của ký ức. Khi Nam Lộc cất lên đoạn cuối – đoạn từng làm bao trái tim rướm máu – cả đám đông như nín thở, không một lời nói, không một ai nhúc nhích. Chỉ có tiếng hát, tiếng nức nở, cùng tiếng thở dài của những người mang quê hương trong tim suốt một đời.

https://www.facebook.com/watch/?v=975442624207928 


Một người khác, không có số quân, và bạn thân của tôi, cũng đã hát “Người Di Tản Buồn”. Bs. Lương Quang Thịnh chỉ là một người thích hát, với mái tóc dài lãng mạn của thời sinh viên. Nhưng giọng hát lại mang một nỗi xót xa rất thật – do lẽ anh đã lớn lên giữa mùa hè Đỏ Lửa, khi bạn bè trong xóm, và cả người thân bị đôn quân năm 1972, rồi ngã xuống quá sớm. Anh là kẻ may mắn được tiếp tục cắp sách đến trường. Nhưng sự may mắn ấy lại trở thành một vết thương âm ỷ. Là nỗi day dứt của người ở lại nhìn tuổi trẻ của bạn bè mình hóa thành bia mộ.

Có lẽ vì vậy, khi anh hát, mắt anh sâu và buồn đến lạ - như nhìn xuyên qua bao năm tháng thấy lại những gương mặt đã mất. Giọng hát anh vững, không phô trương, nhưng mỗi chữ như mang sức nặng của con người từng chứng kiến chiến tranh từ phía sau cánh cửa gia đình. Anh cùng người yêu vượt biên khi đang còn là sinh viên năm thứ Tư Đại Học YK Saigon, mang theo hành trang, không chỉ là ước mơ của tuổi trẻ, mà còn là hình ảnh của những người nằm lại trên những chiến trường lớn nhỏ, trên các con đường bờ rừng của quê hương. Vì vậy khi anh cất lên “Người Di Tản Buồn”, ta không chỉ nghe tiếng hát của một người tỵ nạn, mà là tiếng thở dài của một thế hệ của những người trai không cầm súng nhưng vẫn mang trong lòng một cuộc chiến chưa chấm dứt. Và tôi nghĩ, chứng kiến những người bạn trẻ đã nằm xuống vĩnh viễn – sự bất lực, sự ray rứt của người ở lại – rất gần với nỗi đau mà Nam Lộc từng viết, từng cất cao tiếng hát.

https://youtu.be/8f4o3mDwMkE?feature=shared


Trong bài “Một Lần Yêu” của Phạm Mạnh Cương, sáng tác năm 1968, câu cuối “Xin nhớ rằng hợp tan có khi – Em gối mộng anh xuôi vạn lý - Hẹn ngày nao trên bến quê hương – Thuyền về đây rũ áo phong sương – Đôi mình chung ngắm mây hoàng hôn” không chỉ là lời hẹn vu vơ của đôi lứa, mà là lời hẹn của những người ly hương với quê hương yêu dấu của mình. Dù đời khi hợp khi tan, dù mỗi chúng ta kẻ ngược người xuôi, chúng ta vẫn còn có chung một bến đợi…trong hoàng hôn của cuộc đời.


Nếu “Một Lần Yêu” mở ra một bến đợi cho ta tìm về, thì trong “Em Còn Nhớ Mùa Xuân”, NS. Ngô Thụy Miên mở ra một giấc mơ hồi hương giữa những ngày lưu lạc. Bài này được Ông viết năm 1978, khi ông một mình đang ở trong trại tỵ nạn Pulau Bidong, xa người yêu. Nỗi nhớ ở đây không chỉ là nhớ mùa Xuân, mà là nhớ một thành phố đã mất, nhớ một quê hương chưa biết bao giờ gặp lại. Qua câu “những thành phố em đã đi qua…nhưng có đâu bằng Saigon hôm qua- nhưng có đâu bằng Saigon mai sau – em có mơ ngày hát câu hồi hương”, đó không phải là chỉ là một nỗi nhớ cho thành phố, mà là luyến tiếc nhớ nhung cho một đời sống đã từng. Và câu hát ấy trở thành lời thì thầm của bao người xa xứ: dù chân bước qua bao nhiêu nơi, đường xa bao vạn dặm, trái tìm ta vẫn hướng về chốn duy nhất để trở về. Bản nhạc này là một trong những bài mến chuộng nhất tại hải ngoại.

https://youtube.com/watch?v=7v1DS5yYzYA&si=yx5XjrYeTOFD3-N5 


Trong hành trình về thăm lại quê hương, có những con đường vẫn nguyên như ngày ta rời, vẫn nắng mai rực rỡ, hàng hoa giấy vẫn đỏ thắm, tiếng chim vẫn gọi nhau. “Con Đường Tôi Về”, một sáng tác bất hủ để đời của NS. Lê Tín Hương khi về thăm cha bệnh nặng sau 15 năm cách biệt, đã được viết lên với những cảm xúc thật khi đối diện với cảnh cũ người xưa. Mặc dù nó không óng ả mượt mà như mấy câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan “Lối xưa xe ngưa hồn thu thảo – Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”, nhưng NS Lê Tín Hương giúp ta nhìn thấy cô gái áo trắng ngày nào nay đã bước vào đời với nụ hồng lã lơi, người thương phế binh lê đôi nạng gỗ giữa chợ đời, người cha trở về thân thể hao gầy sau những năm tù tội, người mẹ quê vá áo đời bằng đôi tay gầy guộc – những hình ảnh lột tả đúng sự thật của một xã hội nuôi nhau trong dối gian và bần cùng tột độ. Những câu ấy không trách móc ai. Chúng chỉ đặt tay lên những vết thương, dù nhẹ, nhưng vẫn đủ để ta thấy nhói, thấy đau. Và để ta nghiệm ra không phải là thấy mái nhà xiêu vẹo, vườn hoang ruộng trống mà xót xa bùi ngùi, mà chính là thấy thân phận người thương yêu của mình đã bị thời gian tiêu hao, xoáy mòn – những người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ - Đôi Bờ vì thế không chỉ là câu chuyện của chia cắt, mà còn là câu chuyện của những bước chân trở lại – trở lại để nhận biết rằng quê hương vẫn đẹp, nhưng đẹp trong một nỗi buồn không thể gọi tên.

https://youtube.com/watch?v=i3a8-_pkJMM&si=S-sYl7k7VTatO4r7


Có những chia ly không phải vì lỗi của ai, mà vì thế sự nghiêng ngữa đẩy đưa. Trong “Đã Một Lần”khi Bác sĩ Nhảy Dù tài hoa Phạm Gia Cổn viết “Trách chi người ai lỗi ai -Trách chi người mi ướt cay -Trách chi người thôi đã xa nhau kiếp này- Thì thôi có trách trăm lời cũng thừa. Mùi thơm khăn áo đi vào cỗ tích tôi”, đó chỉ là một lời thở dài của một người từng hiểu trách móc không làm vơi nỗi đau, mà chỉ làm nặng thêm những gì đã mất. Bởi vậy, Ông chọn cách buông – buông cho nhẹ lòng mình, và nhẹ luôn cả người ấy. Giữa những Đôi Bờ định mệnh, đôi khi điều nhân hậu nhất ta có thể làm cho nhau là không trách cứ gì nhau. Trả lại một khăn tang cho quảng đời của nhau.

https://youtu.be/312lnbyEYV8


Một trong những bản nhạc do bác sĩ quân y Phạm Anh Dũng sáng tác về nỗi nhớ quê hương, “Tình Khúc Hồi Hương”, rất được mến mộ, không những vì âm điệu rất nhẹ nhàng, dỗ dành, quyến rũ mà lời nhạc rất đơn sơ đầy tình quê mộc mạc. Chỉ cần một dòng sông xưa, một con đường cũ, một hàng cây xanh là đủ để đánh thức cả một nỗi niềm quê hương – đã từng tiềm ẩn trong quá khứ - Lời nhắn nhủ “này người yêu dấu, anh muốn đưa em về dòng sông xưa làng cũ…thăm ngôi trường cũ…thăm con đường cũ…” không chỉ là lời hẹn của đôi lứa, mà là lời thì thầm của những kẻ đi quá xa, mong một ngày được trở về nơi mình từng bắt đầu. Dịu dàng chân thật, bài hát nhắc ta quê hương không bao giờ mất – nó chờ đợi ta, trong khói sương chiều, lặng lẽ bình an như hàng cây xanh lá thắm ngàn năm.

https://youtube.com/watch?v=vj2h7PinnLA&si=QjGDMTVVSqBkjn2M


 Trong lời Việt của Lữ Liên, bản nhạc“Đôi Bờ” mang hai nhịp thở: một nhịp của chia lìa tuyệt vọng, và một nhịp của giấc mơ hồi hương. Khi nghe “bóng con thuyền vượt ngàn trùng…Mãi mãi mất nhau”, ta tưởng như đó là một cuộc biệt ly không còn đường trở lại. Thế nhưng, ở cuối bài, hình ảnh “đêm qua anh mơ bóng quê hương…đứng dưới bóng mát…đón em khi tan trường” lại hiện ra như một phép mầu nhỏ. Các bạn ơi! Đó không phải là thực tế - Đó là giấc mơ của những người đã mất quá nhiều, chỉ còn chút ký ức để níu lại. Giữa hai bờ tuyệt vọng và hy vọng, bài nhạc nhắc ta rằng: đôi khi, chính giấc mơ là nơi duy nhất ta còn có thể gặp lại nhau. Người nhạc sĩ nghiệp dư trong bài hát là quân nha sĩ Lý Văn Quý, với giọng hát sống động và truyền cảm.

https://youtube.com/watch?v=xJIfb95kXAE&si=o_6VwBbCYNpWFlf7


Chắc ai trong chúng ta cũng nằm lòng bản nhạc “Tôi Đưa Em Sang Sông” của Nhật Ngân & Y Vũ. Câu hát “Nàng đã thay một lối về. Quên cả người trong gió mưa” làm ta liên tưởng đến câu thơ đầy mộng mơ “Em là gái trong song cửa, anh là mây bốn phương trời”. Là tiếng thở dài của những phận người bị hoàn cảnh đẩy xa nhau, giống như bao đôi lứa bị chia lìa do thời cuộc: một chàng trai lên đường làm nhiệm vụ, một người phải rời quê vì chiến cuộc, như trong câu “Đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Rỏ ràng bài hát trang trải đúng nỗi niềm của những Đôi Bờ định mệnh: yêu nhau mà không đến được với nhau, không phải vì lỗi của ai, mà vì đời đã chọn cho họ một con đường khác. Con đường của trai thời loạn.

https://youtube.com/watch?v=TtigPvU-cLw&si=eWLoZhhpWdomImQw

            

Bạn mến, có những cuộc ra đi tưởng như chỉ là một cơn mộng dữ giữa trùng trùng sóng gió. Từng chúng ta năm ấy bước lên con thuyền không hẹn ngày trở lại, mang theo một niềm tin mỏng manh đến mức chỉ cần một cơn gió ngược cũng đủ làm chao đảo. Giữa biển đời mịt mù, đôi khi chính trái tim cũng mỏi mòn, không biết đâu là bến, đâu là bờ, đâu là nơi mình sẽ gọi “miền đất hứa”.

Thế rồi trời đất vẫn âm thầm nâng đỡ. Sau bao năm bụi mờ phủ lên ký ức, “Tạ ơn đời đã ban, Cám ơn người cưu mang, Thuyền được về bến đỗ – Giữa biển đời ly tan”— Nơi đất nước dang tay rộng đón mình, nơi gia đình được dựng lại từ những viên gạch đầu tiên của hy vọng. Từ một cuộc ra đi vô vọng, từng chúng ta đã tìm thấy một mái ấm, một hạnh phúc không chỉ nở hoa mà còn kết trái, nuôi dưỡng nhau trong tin yêu của những ngày tươi sáng trước mắt “Nhìn hoa trái đẹp đời - 50 Năm đắp xây, hạnh phúc trong tình đầy

Để từ đó trái tim học cách biết ơn. Biết ơn đất nước đã mở cửa đón mình. Biết ơn cuộc đời đã cưu mang mình. Biết ơn người bạn đời đã cùng mình đắp xây một mái nhà đầy ắp tiếng cười. Và biết ơn chính mình — người đã đi qua nửa thế kỷ bụi mờ mà vẫn luôn ráng giữ mình làm một người tốt, trân quý tất cả những gì đã nhận để sẳn sàng chia xẻ cho những kẻ kém may mắn. Vì bạn ơi, trong lớp bụi của năm tháng, có những hạt bụi làm cay mắt, nhưng cũng có những hạt bụi lấp lánh như ánh nắng ấm áp cuối chiều, mà nếu bạn biết nhặt lấy, dành giụm và nâng niu, chúng sẽ thành những câu chuyện đẹp, nhân ái và đáng nhớ.


Mời bạn đọc thưởng thức bản nhạc “50 Năm Bụi Mờ” của nhạc sĩ Lê Tín Hương. Một bản nhạc chan chứa tình cảm, và có lẽ là bản duy nhất được viết ra trong năm 2025 – tặng chung cho bao người buộc phải rời bỏ quê hương mình. Người trình bày bản nhạc là quân y sĩ Phạm Quang Tố. Điều làm người nghe xúc động nhất khi nghe “50 Năm Bụi Mờ “không phải là kỹ thuật hay sự trau chuốt, mà là giọng hát của một người bình thường — một người không đứng trên sân khấu lớn, không mang danh ca sĩ chuyên nghiệp, nhưng lại hát bằng cả trái tim đã đi qua nửa đời phong sương. Trái tim của một đời người từng trải qua di cư 54, nay lại phải một lần nữa xa quê hương. Nên trong từng câu hát của anh, tôi nghe được hơi thở của một kiếp người: ấm và chân thật, mộc mạc mà thấm sâu. Có lẽ chính vì anh không phải ca sĩ chuyên nghiệp nên mỗi chữ, mỗi nốt đều mang một vẻ đẹp rất người. Không có sự phô diễn, chỉ có sự trải lòng. Không có sự hoàn hảo, chỉ có sự chân thành. Và đôi khi, chính sự chân thành ấy lại làm người nghe dễ rơi nước mắt hơn bất kỳ kỹ thuật nào.

Phải chăng qua giọng hát ấy, ta nhìn thấy hình ảnh của chính mình trong đó: một cuộc ra đi tưởng như vô vọng, những năm tháng bão tố dập dồn, những lúc nguyện cầu khi niềm tin quá mong manh. Đồng thời cũng đồng cảm với tấm lòng biết ơn dành cho đất nước đã cưu mang, cám ơn cuộc đời đã cho mình một tương lai, cho mình đắp xây hạnh phúc từ những điều căn bản nhỏ bé nhất.         Để chợt thấy giờ đây “hoàng hôn đến hững hờ - Nghe từ cõi hoang sơ, hồn xưa cũng bụi mờ”

https://youtu.be/0yxMIkn39jo?si=4IWCcDUA5uGEuLM3


Bạn đọc thân mến, khi tôi gần chấm dứt bài viết của mình, tôi nhân được bản nhạc “Đôi Bờ Xa” của NS. Lê Tín Hương. Bản nhạc là một giai điệu nâng niu từng nỗi nhớ, còn ca từ thì như nối dài thêm câu chuyện Đôi Bờ, bất chợt đến và chạm vào nơi sâu nhất, nơi những con sóng ký ức vẫn còn thì thầm. Như một hơi thở dài của biển đêm. Giai điệu mềm, chậm, nhưng không hề buồn rũ vì nó mang cái buồn của người từng trải, của những bước chân đã đi quá nửa đời người nhưng vẫn còn ngoái về phía quê hương. Để biết rằng tình người, tình quê, tình đời… vẫn còn đậm đà. Người nghe có cảm giác như mình đang đứng trước một đại dương thật sự - rộng, sâu, và đầy những điều khó gọi thành tên. Sóng trong bài hát không chỉ là sóng biển, mà là sóng lòng: những đợt nhớ, đợt thương, đợt tiếc nuối của một đời người xa xứ.

Cao trào của cảm xúc nằm ở đoạn “Dẫu đôi bờ xa nhưng tình ta mãi đậm đà”. Ở đây, giai điệu nâng lên nhẹ nhàng, không bi lụy, mà như một lời tự nhủ, một lời hứa âm thầm. Người nghe cảm nhận được một thứ tình cảm rất đẹp: không đòi hỏi, không trách móc, chỉ lặng lẽ tồn tại — như một dòng nước ngầm chảy mãi giữa hai bờ. Khi bản nhạc kết thúc, người nghe không thấy nặng nề. Ngược lại, có một sự bình yên rất lạ. Như thể sau bao nhiêu năm đi qua bão giông, cuối cùng ta cũng hiểu rằng: có những điều không thể gặp lại, nhưng vẫn có thể giữ lại. Có những bờ xa không thể bước tới, nhưng vẫn có thể đứng từ bên này mà thương.

“Đôi Bờ Xa” vì thế không chỉ là một bản nhạc. Nó là một lời tâm sự của cả một thế hệ, là tiếng thở dài của những người đã rời đất nước nhưng tâm hồn vẫn còn gắng bó với quê hương.

https://youtu.be/gL9sQudSY60?si=YkwCIJWp66tAhX-m


Quý bạn thân mến, nhìn lại hành trình nửa thế kỷ phủ bụi mờ, ta chợt hiểu rằng mỗi đời người, dù đi xa đến đâu, cũng mang trong mình một sợi dây vô hình buộc về quê cũ. Những năm tháng lưu lạc tưởng như chỉ là chuyện riêng của một gia đình, một kiếp người, nhưng thật ra lại hòa vào câu chuyện lớn hơn của cả dân tộc - câu chuyện của những đôi bờ đã từng bị chia cắt, của những con tim phải rời nhau trong lặng lẽ, của những bước chân ra đi trong âm thầm mà không biết ngày trở lại.

Và chính trong khoảnh khắc nhận ra mình đã tìm được bến đỗ, ta lại thấy rõ hơn nỗi mong manh của những phận người đứng hai phía dòng sông lịch sử — luôn mang theo niềm tin lúc đầy lúc vơi, mang theo nỗi nhớ lúc sáng lúc mờ, nhưng chưa bao giờ thôi hy vọng một ngày nào đó được nhìn thấy nhau trong bình yên.


Quý bạn đọc thân mến, khi nhìn lại những Đôi Bờ đã đi qua theo thời gian, ta mới hiểu rằng lịch sử Việt Nam không chỉ viết bằng chiến thắng đẩm máu, chiếm đồi này hay đồn bót kia, hoặc những bản hiệp định trên giấy tờ, mà còn bằng những khoảng cách: khoảng cách của một cây cầu bị đánh sập, của một lằn vĩ tuyến phi quân sự vẫn bị mưu mô lấn chiếm trong bóng tối, của một phòng tuyến bị đẩy xuống, của một dòng sông đổi vai trò, và của một đại dương mênh mông. Nhưng điều kỳ lạ hơn nửa là càng nhiều Đôi Bờ, người Việt càng học cách tìm nhau. Từ những người di cư 54, đến những gia đình chờ tin nhau dù đã có con sông Bến Hải và vĩ tuyến 17, rồi những con thuyền vượt biển sau 1975 mang theo hy vọng mong manh…tất cả đều cho thấy một điều: khoảng cách chưa bao giờ đủ lớn để dập tắt khát vọng tự do. Và điều đẹp nhất không phải là khi hai bờ liền lại, mà khi ta nhận ra trong sâu thẳm của trái tim, có những tiếng gọi chào, những nhung nhớ, những thương yêu, tình quê hương, gởi qua âm nhạc và thi ca, là động lực giúp ta hiểu thêm rằng chưa bao giờ tồn tại một dòng sông đủ lớn, đủ mạnh để chia cắt tình người. Những đôi bờ lịch sử rồi sẽ rời xa, thay vào đó là những Đôi Bờ của lòng người, nơi ta vẫn hướng về nhau, dù ở nơi nào cũng tìm đường đến với nhau - như bao trăm ngàn người Việt bên ngoài Việt Nam đã và đang tiếp tục bảo lãnh thân nhân mình đến sống cạnh nình, chung bờ với mình – hay gởi tiền về giúp xóm làng, người quen xưa - là điều sẽ còn mãi.


Mong rằng thi ca âm nhạc, khi đưa vào bài viết Đôi Bờ này, không phải để làm loãng tính chất lịch sử khắc nghiệt của Đôi Bờ, cũng không làm bài viết mềm đi. Nó làm cho trái tim người đọc…ấm lại, đồng thời làm thêm một điều rất nhỏ mà lại rất đẹp: rót vào câu chuyện lịch sử một hơi thở của hối tiếc, của một lời xin  lỗi, của hy vọng và tha thứ độ lượng. Để nói lên rằng, không có dòng sông nào có thể vĩnh viễn làm chia cách tình người, nếu chúng ta nhìn lại những trang lịch sử Đôi Bờ bằng trái tim. Với những hiểu biết vừa lý vừa tình ở trên đã giúp Đôi Bờ, vốn nguyên thủy là một bài viết khô khan, trở thành một bài viết không chỉ để đọc, mà để cảm thông, để nhớ và để thương. Một bài viết về hành trình cho những người đứng giữa đôi bờ, nhưng trái tim thì chưa rời bờ nào. Và rằng âm nhạc luôn là chiếc cầu duy nhất, tình cảm nhất, nhẹ nhàng nhất, giúp nối những linh hồn đã tản mác khắp nơi. Cho thấy CS diệt được mọi thứ nhưng không thể nào cấm được những cái mà chúng từng sợ nhất: Tinh Thần Tự Do Dân Chủ, Nền Giáo Dục Nhân Bản, nền Văn Học Nghệ Thuật và Nhạc Vàng của Miền Nam Việt Nam.


Vĩnh Chánh, tháng 4, 2026