Monday, June 22, 2026

Đặc Sản Tiền Giang Quê Hương Tôi

Bì Bún

image.png

Bì Cuốn

image.png

Bánh Tằm Bì


Thịt Heo Quay

Bún Chả Giò

image.png

Bánh Xèo



Thanh Loan chuyển

Mìền Bắc Nói Bắt Xe - Miền Nam Nói Đón Xe - Cổ Nguyệt


Ở phương Bắc, người ta thường bảo nhau đi "bắt xe". Nghe chữ "bắt", tự dưng thấy cả một sự quyết liệt và hối hả. Chữ "bắt" gợi lên hình ảnh một cánh tay đưa ra dứt khoát, bắt lấy một nhịp sống đang trôi nhanh, bắt lấy một cơ hội để kịp giờ chuyển bánh.

Trong cái bảng lảng của sương mù hay sự tấp nập của phố phường Hà Nội, việc "bắt" được một chuyến xe giống như một kỳ tích nhỏ trong ngày. Nó mang theo sự chủ động, có chút gì đó can trường của người dân xứ lạnh, luôn muốn nắm giữ và điều khiển lịch trình của mình một cách gọn ghẽ nhất. Xe đến, người đi, mọi thứ diễn ra mau lẹ như chính cái tên gọi của nó.

Ngược về phương Nam, cái nắng miền nhiệt đới dường như làm mọi thứ mềm mại hơn. Người miền Nam không "bắt", họ đi "đón xe".

Chữ "đón" nghe sao mà tình nghĩa! Nó không đơn thuần là tìm một phương tiện di chuyển, mà giống như đang đợi chờ một người quen, một người khách quý. Hình ảnh một người đứng bên vệ đường, dưới bóng cây râm mát, tay vẫy nhè nhẹ khi thấy bóng xe từ xa, đó chính là "đón". Nó tượng hình đến lạ kỳ, là sự mở lòng, là tâm thế sẵn sàng đón nhận.

Người miền Nam coi chiếc xe như cái duyên. Xe ghé lại, bác tài nở nụ cười, khách bước lên tay xách nách mang, câu chào tiếng hỏi rôm rả như người trong nhà. Chữ "đón" ấy mang theo cả cái cốt cách hào sảng, thong dong của dân sông nước, nơi mà thời gian dường như trôi chậm lại một nhịp để người ta kịp nhìn mặt nhau, kịp trao nhau một chút tình tâm giao.

Khi ngôn từ là lăng kính văn hóa

Nếu "bắt xe" là một hành động dứt khoát để chinh phục đích đến, thì "đón xe" lại là một nghi thức nhỏ để bắt đầu một hành trình bằng sự tử tế. Một bên là sự năng động, thực tế; một bên là sự lãng mạn, trọng tình.

Có lẽ vì vậy mà khi nghe ai đó nói: "Để tui ra đầu đường đón xe", ta thấy lòng nhẹ nhõm như sắp được đi chơi hội. Còn khi nghe: "Phải ra kia bắt xe ngay cho kịp", ta lại thấy một tinh thần khẩn trương, đầy trách nhiệm.

Dù là "đón" hay "bắt", suy cho cùng đều là để đi về phía trước. Nhưng qua cái cách gọi tên, ta mới thấy yêu thêm tiếng Việt mình – một ngôn ngữ mà chỉ cần thay đổi một chữ thôi, đã thấy cả một bầu trời văn hóa và tính cách của con người mỗi vùng miền hiện ra rõ mồn một.

tiếng miền Nam mình nói ra không chỉ để hiểu, mà là để thương, để thấy cái hình cái bóng của quê cha đất tổ trong từng lời ăn tiếng nói hằng ngày.


Cổ Nguyệt 

Nguồn: FB

Thanh Loan chuyển

#686 - Điều Nên Cân Nhắc Trước Khi Mua Vitamin. Dấu Hiệu Cảnh Báo Bệnh Tim Nhiều Người Chưa Biết - BS. Phạm Hiếu Liêm

Một Người Tội Nghiệp - Nguyên Nhung


Tôi không định viết về ông ta, một người đàn ông bất hạnh, thật tội nghiệp có cái tên là Xẹt, nếu không có hiện tượng những vì sao băng, sao xẹt trong một đêm trời mùa Ðông như năm nay. Tôi bỗng dưng nhớ tới người đàn ông mang tên Xẹt ở Cần Thơ ngày xưa, qua hình ảnh những vì sao nằm rải rác trên giải ngân hà, mà mỗi vị sao hình như đã gắn bó với số phận của mỗi con người nơi trần thế.

    Hồi còn nhỏ, tôi vẫn thường nghe kể câu chuyện về các vì sao, theo tính cách truyện dân gian. Mỗi một vì sao khi băng trên nền trời rồi tắt lịm đi, đấy là dấu hiệu vừa có một người vĩnh biệt cõi đời. Nhưng mỗi lúc ấy, nếu ai ao ước điều gì, mà lại ước kịp với khoảng thời gian ngắn ngủi của một vì sao xẹt thì sẽ được toại nguyện. Ðiều thú vị ấy đã ám ảnh bọn trẻ con, ngồi dưới đất mà mơ tưởng chuyện trên trời, bởi vậy tôi đã nhiều lần ngồi nhìn sao băng mà ao ước những chuyện không bao giờ xảy tới. Nó ám ảnh đến độ khi lớn khôn, hiểu rằng điều ấy chỉ là chuyện hoang tưởng của những mơ ước, thế mà mỗi khi thấy một vì sao rơi, hay băng ngang trên nền trời khuya, tôi vẫn cứ thầm thì nói nhanh những mơ ước của mình.

    Ðấy chỉ là chuyện những vì sao, những kỳ bí của trời đất, cho thế giới thần tiên của trẻ con. Còn chuyện người đàn ông mang tên Xẹt, tôi sẽ lần lượt kể về cuộc đời của ông ta, thì thôi, cứ xem như số phận ông ta đã gắn bó với một vì sao xấu.

    ***
    Không biết tên thật của ông là gì, nhưng vì cái chân không cất bước được bình thường như những cái chân khác, nó cứ lẹt xẹt trên mặt đường, nên lũ trẻ con đều gọi ông là ông Xẹt. Một tay chống gậy, cái thân hình ấy lắc lư đi trong con ngõ nhỏ là nỗi kinh hoàng của lũ trẻ con độ tuổi Mẫu giáo hồi đó. Ðúng ra thì ông ta không dữ như “Ba Bị chín quai, mười hai con mắt, hay bắt trẻ con”, nhưng cũng vì lời hù dọa của người lớn, khiến lũ trẻ con nhìn ông Xẹt qua hình ảnh một người quái đản, chỉ hay ăn thịt con nít. Vì được đem ra làm trò hề để hù dọa lũ trẻ yếu bóng vía, ông Xẹt bỗng dưng quen thuộc với vai trò này, và vì thế bất cứ một đứa trẻ nào được ông nhìn tới, cũng đều nem nép ngồi yên trong lòng mẹ.

    Chả hiểu ông bị tật từ hồi cha sinh mẹ đẻ, hay là qua một cơn bịnh bại liệt, khiến một cái chân bị teo dần đi, thêm một chiếc gậy trong tay, chân này dựa vào chân kia mà bước. Tiếng gậy gõ lộp cộp trên con đường tráng xi măng trong ngõ, dáng xiêu vẹo như một chiếc cột đổ nghiêng, người đàn ông quần áo bẩn thỉu đi đến từng nhà trong xóm, để ăn xin một chút tình thương của đồng loại, những con người có lòng may mắn hơn ông vì còn hai chân đứng ngay ngắn trong cuộc đời.

    Ông ta có cái mặt hơi dị hợm, đôi mắt to, hơi lồi ra trên khuôn mặt đen đủi, mỗi khi nói lại cà lăm cho nên tất cả những cái xấu dường như đã được ông Trời tô điểm thêm thành một cách không bình thường. Nghe người ta kể, ngày xưa gia đình ông ta rất khá giả, nhưng ông bố vì ăn chơi trác táng mà của cải cứ thế lần lượt đội nón ra đi. Ðến lúc ông ta sinh ra thì lại ốm đau tật nguyền, mẹ chết sớm, bởi thế khu vườn rộng và căn nhà lợp ngói âm dương đã lọt vào tay người khác. Chỉ còn lại một cái chái nhỏ ở góc vườn, hồi xưa là chuồng heo, đó là nơi trú ngụ của ông ta để lê lết nốt cuộc đời khốn nạn, trả cho xong cái nghiệp làm người.

    Khi nghe tiếng gậy gỗ lộc cộc đi vào ngõ, bà nội trợ vội vét nốt chút thức ăn thừa vào một chiếc chén đá, với một muỗng to cơm nguội, ông Xẹt đã có một bữa đỡ lòng với những của bố thí ấy. Có nhà rộng rãi và khá giả hơn, cho ông ta đồng bạc rồi xua ngay đi như xua một con chó ốm bẩn thỉu. May ra ông Xẹt chỉ có chút uy dũng đối với lũ trẻ con ba bốn tuổi, đang khóc nhè để ăn vạ, bỗng nín thinh ngay khi thấy bóng dáng xiêu vẹo với chiếc gậy gỗ của ông gõ vào cánh cổng.

    ***
    Không biết ông Xẹt bao nhiêu tuổi, và không biết tại sao người ta cứ gọi ông là “ chú Xẹt”, nhưng dẫu là tuổi gì thì ông Xẹt vẫn có số cầm tinh “bị , gậy”, con cháu nhà cái bang. Thời kỳ đó tương đối người ta còn kiếm được nồi cơm, con cá dễ dàng, chú Xẹt nhờ thế cũng nhận được lòng từ tâm của con người rộng rãi hơn. Bước qua thời kỳ đói kém hơn, người ta không có cơm nguội để ăn thì lấy gì cho chú Xẹt no bụng. Thành thử chú cũng đói, chiếc gậy gỗ vẫn kêu to trong con ngõ đã vắng vẻ hơn trước kia, nhưng ít khi nào người ta mở cổng vẫy chú ta vào cho một bát cơm. Chú Xẹt cố gắng tìm những nhà có trẻ con còn bé hay vòi vĩnh, rồi ra oai cho đứa bé nín khóc, may ra thì được củ khoai. Có khi cũng chẳng được gì, chú lại lê chiếc gậy sang nhà khác, với một dáng điệu tần ngần mà không dám mở lời xin xỏ như dạo trước, vì giữa cảnh đói khổ chung, chú hiểu người ta cũng cực nhọc lắm mới lo nổi ngày hai bữa cơm thường.

    Giữa khi ấy, tự nhiên lại nổi lên chiến dịch giúp đỡ và chăm sóc những người nghèo khổ, giai cấp được coi như bị áp bức trong xã hội, người ta không còn dám coi thường chú Xẹt nữa. Chẳng biết chú được mời tới đâu, tham dự những buổi họp quan trọng nào, nhưng dạo này người ta thấy chú ăn nói đã thay đổi, có lập trường hẳn hoi. Mỗi tháng, chú được cấp phát một số gạo đủ ăn, thêm một vài thứ lặt vặt như ký đường, túi xà bông giặt , cục xà bông cô Ba thơm phức, còn thức ăn và củi lửa mắm muối phải tự túc. Chú Xẹt vẫn phải đi ăn xin, nhưng bỗng dưng thay đổi hẳn tính nết cũng như cách nói năng cho hợp với chỗ đứng của mình trong xã hội, làm như ai cũng phải có bổn phận giúp đỡ chú. Ðó là ảo tưởng sai lầm của một người cùng đinh, bỗng dưng thấy một ngày được đưa vào giai cấp có quyền đòi hỏi sự đối đãi bình đẳng trong xã hội. Nào ai dám làm gì chú, chỉ sự nghèo khổ đã là một bức tường thành bảo vệ " bất khả xâm phạm"

    Trong những buổi lễ nho nhỏ tại địa phương, người ta thấy chú ngồi ngất nghểu ở hàng ghế trên, ăn mặc khá tươm tất, chiếc gậy vẫn gác bên thành ghế, và người ta đã nói năng lễ phép hơn để chú khỏi mếch lòng. Ngay cả những buổi lễ Tôn giáo, khi chú Xẹt tới, người ta vẫn dành cho chú một chỗ ngồi đàng hoàng lắm. Chỗ ấy ngày xưa dành cho những vị chức sắc, những người có của. Nay thời buổi thay đổi, chú Xẹt cũng được tôn trọng và ngồi ngang vai vế với những người khác cho có vẻ bình đẳng.

    Họ đóng kịch cả thôi, chỉ có chú Xẹt là ngây thơ tưởng mình một bước lên tới Giời. Chú sung sướng ngồi ngó quanh ngó quẩn. Kìa bà Bảy chủ đất, cô Tám sạp vải, ông giáo dạy trường cấp Ba, tất cả đều ngồi ở hàng ghế sau, những người không có một mảnh đất cắm dùi như chú, bỗng nhiên hôm ấy leo lên cả hàng ghế trên, những cô những bà những ông đi ngang ai cũng nhoẻn miệng cười thân thiện.

    Chỉ được mỗi hôm đó, hay là mỗi khi cần diễn một màn kịch thì người ta không ngại ngần gì mà không đưa chú Xẹt lên chín tầng trời, như một ngôi sao sáng. Chú Xẹt chưa bao giờ cảm nhận được sự hãnh diện được làm người nghèo khổ xứng đáng như lúc này. Có món gì ngon hôm ấy, người ta cũng dành cho chú, sự dịu dàng ấm áp của những tấm lòng sao nó nhiều thế, khiến chú vừa sung sướng vừa cảm động.

    Nhưng cũng chỉ thế thôi. Sau buổi lễ, khi ra về người ta đi ngang chỗ chú ngồi, có mỉm cười nhưng chỉ là nụ cười giễu cợt sự ngây thơ của chú. Rồi khi tất cả đã ra về, chú Xẹt lại một mình lê cái chân què, lần theo chiếc gậy để trở về cái ổ heo của mình. Nói thế cũng không ngoa, chỗ ở của chú chính là cái chuồng heo ngày xưa, và nó cũng hôi hám, bẩn thỉu như một cái chuồng heo vì chú đâu có bao giờ giặt giũ những màn mùng chăn chiếu ấy.

    ***
    Ðúng ra nếu cuộc đời có được những phút giây le lói như một vì sao, kể cũng hạnh phúc vậy. Những phút giây ngắn ngủi ấy thường in sâu vào tiềm thức, và nó làm cho lắm kẻ bồi hồi mãi khi nhớ lại, chứ chắc gì đã chịu nhìn ra đấy chỉ là một sự bịp bợm.

    Ðối với công việc của nhà nước thì việc giúp cho chú hơn chục ký gạo hẩm đã là chu toàn nhiệm vụ nhân đạo đối với nhân dân, nhưng quần chúng thì không còn nhìn chú với cái nhìn yêu mến như trước. Cái dại lớn nhất của chú Xẹt là chú lại biết yêu, yêu một “con mẹ” vừa ngớ ngẩn , vừa nghèo khổ như chú nên nó là nguyên nhân dẫn tới sự chú bị mọi người hắt hủi, và không còn rộng tay bố thí như trước. Làm như một người đói khổ , nghèo hèn như chú không có quyền yêu, khi tình yêu là sản phẩm độc quyền dành cho những người “no cơm rửng mỡ”, vì càng lắm chức lắm quyền, càng lắm tiền chừng nào thì mới có cơ hội để yêu và để được yêu. Xã hội vốn vẫn bất công như vậy, huống gì chú Xẹt giờ này tự nhiên đang từ ánh đèn leo lét trong đêm tối , nay được biến thành vì sao thì sự dám biết yêu của chú quả là một điều không thể chấp nhận.

    Có khổ có nghèo thì chú Xẹt cũng là một con người, cũng có trái tim bằng thịt, cũng thèm thuồng được ôm ấp một cái gì biết động đậy để sưởi ấm nỗi cô đơn của con người vậy. Nhưng khỉ gió lắm, với tính ích kỷ cuả loài người, người ta không chấp nhận cho chú có quyền yêu. Chú biết lắm chứ, người ta xì xào bàn tán vì thấy chú hay đi ngang nhà con mẹ dở hơi, mắt mũi kèm nhèm, chuyên môn đi làm việc vặt để kiếm cơm như chú. Cứ trông thoang thoáng đằng sau lưng thì chị ta cũng dễ coi, nhưng phải nhìn tận mặt chị ta thì mới thấy đó là một người ngớ ngẩn rất tội nghiệp. Chị ta ở với một người bà con xa từ hồi nhỏ, ngày hai bữa cơm và năm được hai bộ quần áo. Hai người khốn khổ ấy gặp nhau, một anh què quặt, một chị ngớ ngẩn cũng xứng đôi vừa lứa, thế nhưng họ vẫn trở thành trò cười cho lũ người vô tâm kia, và cả hai kẻ cô đơn yếu thế ấy đã bị lên án rằng “cơm không có ăn, áo không có mặc” mà còn động cỡn.

    Chú Xẹt đâu có định sinh ra đời để làm Thánh. Bởi vậy một hôm, có tý tiền lẻ trong túi, chú bèn nghĩ đến chuyện rủ người đàn bà kia đi uống cà phê, với cái giọng cà lăm đặc biệt của chú :

    “ Ði, đi... uống... cà phê hông ? "

    Không biết sao cái con mẹ dở hơi kia nó lại bằng lòng đi uống cà phê với chú Xẹt, và vì thế mà câu chuyện nổ tung ra như quả tạc đạn. Cả xóm xì xào chuyện chú Xẹt và chị ngớ ngẩn kia đi uống cà phê với nhau, thế là tất cả những người hay bố thí cho chú chút cơm thừa, tý tiền lẻ đều dần dần xa lánh chú, xem chú như kẻ đang phạm tội gì ghê gớm lắm. Người ta hà khắc với một kẻ bần cùng thèm khát chút tình yêu ấy làm gì không biết, chỉ thấy rằng từ ngày ấy chú Xẹt cứ gầy rộc đi, chú lê chiếc gậy gỗ đi ngang nhà người đàn bà ngớ ngẩn kia, ngơ ngẩn như một kẻ mất hồn, hay như một thi sĩ thất tình đang tìm người trong mộng. Có người nhiều chữ nghĩa biết đọc sách thì lý luận rằng, ngày xưa Chí Phèo tuy xấu xí, thô lỗ là vậy mà vẫn dám yêu Thị Nở, thì hà cớ gì lại hẹp lòng không chấp nhận tình yêu của chú Xẹt với mụ dở người kia? Chuyện ấy là chuyện cũ, còn thời buổi “ gạo châu củi quế” này, chỉ mỗi việc quản thúc cái bao tử cũng đủ làm đương sự hết vía, không dám tơ tưởng chuyện yêu đương nhăng nhít.

    ***
    Khi gió mùa thổi tới, trời hơi lành lạnh, gió đã thổi hiu hắt qua rặng dừa nước nơi mé sông, tôi gặp chú Xẹt lê tấm thân gầy gò với chiếc gậy gỗ vào xóm nhỏ. Ðầu rối bù, đôi chân đất cáu bẩn, người chú muốn rũ xuống như một tàu lá chuối héo. Bây giờ chú cũng không còn hứng thú để đóng vai một con cọp dữ gầm gừ với lũ con nít hay khóc nhè nữa, con người ấy như muốn gập xuống vì khổ, chữ tình là cái chi chi mà nó hành hạ con người quá sức như vậy. Không mấy người muốn bố thí bát cơm cho con người tội nghiệp đó.

    Chú ngồi xổm bên cạnh chiếc cổng gổ nhà tôi, chỉ nhìn chứ không thốt lên lời xin xỏ nào. Ðầu tiên thì tôi cũng giống như mọi người, cũng cho chú cái nhìn ác cảm “ cơm không có ăn, áo không có mặc” mà lại dám yêu. Nhưng nhìn vẻ thiểu não cuả con người cùng khổ này, cầm lòng không đậu, tôi cho chú một chiếc chăn cũ. Rồi lục trạn cũng không còn gì, tôi lấy cho chú một đĩa cơm nguội với chút cá kho, chú cũng chỉ hờ hững cầm đĩa cơm, ngồi bệt xuống đất rồi xúc từng muỗng vào mồm với vẻ uể oải của một người ốm. Tôi vừa nhìn chú ăn, vừa tò mò muốn biết con người nghèo khổ đến tận cùng bằng số khi yêu như thế nào:

    “ Sao chú dại thế, rủ bà kia đi uống cà phê làm gì cho khổ thân ra.”

    Chú Xẹt đưa cặp mắt lờ đờ nhìn tôi :

    “ Tội nghiệp tui mà... cô hai. Hai đứa chỉ... chỉ...uống chung có một ly “xây chừng”, chứ đâu có tiền mà, mà...mỗi đứa một ly. Cả đời tui đâu có... có bao giờ dám mời ai một ly cà phê. "

    Tôi làm bộ dọ dẫm :
    “ Người ta nói chú muốn lấy chị kia làm vợ, có phải không ?”
    Chú gật đầu :
    “ Con chó cũng có... bạn, con chim cũng... cũng có đôi, vậy tui là con người, sao không cho... tui một người đàn bà để...để...làm bạn...”

    Tôi hiểu được nỗi cô đơn và sự thèm thuồng ở con người tội nghiệp này, dù sống trong tình trạng tồi tệ của con người không ra con người, con vật không ra con vật, chú Xẹt vẫn cần một bếp lửa hồng trong những chiều gió mưa, vẫn cần có người hỏi han khi ốm đau, bệnh tật. Chuyện chia xẻ miếng cơm manh áo cho một người nghèo khổ là điều nên làm, nhưng không vì thế mà hẹp hòi với những nhu cầu cần thiết của tâm hồn, để không khoan dung với những người nghèo khổ, bất hạnh như chú Xẹt. Tôi chưa kịp nói gì thêm thì chú Xẹt đã nói, như một người biết hối hận vì sự dại dột của mình, mà cũng như lời trần tình của một tâm hồn yếu đuối nhất vì yêu :

    “ Tui... buồn lắm cô hai, nhưng tui hứa... tui hổng dám thương ai nữa. Bữa hổm, tui bịnh, “con mẻ” lén qua cạo gió cho tui, hông là tui...tui chết rồi... "

 

 

    Chú Xẹt nghẹn ngào không nuốt nổi miếng cơm trong miệng. Tự nhiên, tôi cũng mủi lòng muốn khóc.

    ***
    Những vì sao xẹt trên bầu trời đêm qua, khiến tôi nghĩ tới người đàn ông tội nghiệp mang tên Xẹt. Hơn hai mươi năm rồi, bây giờ chắc gì chú còn sống. Nếu như tin rằng những vì sao băng trên vòm trời kia, là những linh hồn vừa từ giã cõi đời, thì thôi, cũng ước cho chú là vì sao ấy để giải thoát khỏi kiếp người tội nghiệp. Tôi mong rằng ở một kiếp lai sinh, chú Xẹt có được làm người, xin hãy cho chú một cuộc sống no đủ, một trái tim được tự do yêu thương, vì con người vốn vẫn là một sinh vật yếu đuối..../.

  

  Nguyên Nhung

Đôi Bờ Tử Quy - Đỗ Công Luận

Khi Người Ghét Chiến Tranh Buộc Phải Đánh - Vô Danh

 

Tôi nhớ rõ nhiệm kỳ đầu của tổng thống Trump. Bốn năm. Không một cuộc chiến tranh mới nào. Trong khi mọi đời tổng thống trước đó — dù Cộng hòa hay Dân chủ — đều để lại ít nhất một cuộc xung đột quân sự mới. Trump thì không. Ông đàm phán với Kim Jong-un. Ông ký Hiệp Định Abraham. Ông nói trước toàn dân rằng ông muốn mang lính về nhà, không phải gửi lính đi chết. Đó không phải lời nói suông. Bốn năm không có chiến tranh mới là bằng chứng.

Vậy tại sao, ở nhiệm kỳ hai, người đàn ông ghét chiến tranh ấy lại ra lệnh tấn công Venezuela vào đêm 3 tháng 1 năm 2026, bắt sống Maduro, rồi chưa đầy hai tháng sau đó phối hợp với Israel dội bom hủy diệt kho vũ khi hạt nhân của Iran?

Câu trả lời nằm trong một nghịch lý mà nhiều người không chịu hiểu: đôi khi, để giữ hòa bình, bạn phải sẵn sàng đánh. Và phải đánh trước khi quá muộn.

Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham, trong cuộc phỏng vấn trên Fox News với Sean Hannity, đã nói một câu mà tôi nghĩ mọi người cần nghe kỹ: khi Trump biết Iran sắp có 10 quả bom hạt nhân, ông hành động. Không chần chừ. Không họi ý kiến Liên Hiệp Quốc. Không chờ một nhiệm kỳ nữa để người kế nhiệm giải quyết. Ông hành động.

Nhiều người sẽ hỏi: tại sao phải vội? Tôi xin hỏi ngược: bạn có hình dung được thế giới sẽ như thế nào nếu chế độ Giáo chủ Iran có trong tay mười đầu đạn hạt nhân? Một chế độ thần quyền đã công khai tuyên bố muốn xóa sổ Israel khỏi bản đồ, tài trợ Hezbollah, Hamas, và hàng loạt nhóm khủng bố khắp Trung Đông. Một chế độ có tên lửa đạn đạo tầm xa, và giờ lại sắp có đầu đạn hạt nhân để gắn lên đó.

Graham nói thẳng: “Trump không phải Obama, không phải Biden. Nếu chúng ta chờ thêm, họ sẽ làm giàu uranium lên 90% và cả thế giới sẽ bị bắt làm con tin. Bạn lo giá xăng tăng ư? Hãy tưởng tượng thế giới sẽ ra sao nếu Iran có mười quả bom. Khốn khổ. Họ sẽ giữ cả nhân loại làm con tin, và rồi họ sẽ hủy diệt Israel. Một cuộc diệt chủng là đủ rồi.”

Câu nói ấy nghe tàn nhẫn, nhưng bạn hãy nghiền ngẫm. Obama ký thỏa thuận hạt nhân JCPOA năm 2015, tin rằng ngoại giao sẽ giải quyết. Kết quả? Iran rút khỏi thỏa thuận, tiếp tục làm giàu uranium, và đến cuối năm 2025 đã có lượng uranium làm giàu 60% đủ để chế tạo nhiều đầu đạn. Chỉ cần nâng lên 90% nữa thôi — và với công nghệ họ đã có, việc đó chỉ là vấn đề thời gian. Trump nhìn vào con số ấy và hiểu rằng: cửa sổ hành động đang đóng lại. Nếu không đánh bây giờ, sẽ không bao giờ đánh được nữa.

Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Mỹ và Israel phối hợp tấn công. Giáo chủ tối cao Ali Khamenei thiệt mạng. Cơ sở hạt nhân Natanz và hàng loạt địa điểm hạt nhân khác bị dội bom. Đúng, giá dầu vượt 100 đô một thùng. Đúng, eo biển Hormuz bị Iran đóng. Đúng, Iran bắn trả tên lửa vào căn cứ Mỹ ở Vùng Vịnh. Cái giá là lớn. Nhưng cái giá của việc không làm gì sẽ lớn hơn gấp vạn lần.

Graham nói : “Tiền đầu tư tốt nhất mà Mỹ từng bỏ ra. Phá hủy một chế độ phát xít tôn giáo đang tìm cách chế tạo vũ khí hạt nhân để đe dọa nước Mỹ — đó là một khoản đầu tư xứng đáng.”

Hai tháng trước khi đánh Iran, Trump đã thực hiện một nước cờ mà nhiều người không ngờ tới: đêm 3 tháng 1 năm 2026, lực lượng đặc biệt Mỹ tấn công Caracas, bắt sống Nicolás Maduro và vợ ông ta, đưa về New York để đối mặt cáo buộc buôn ma túy. Trump tuyên bố: “Sự thống trị của Mỹ ở Tây bán cầu sẽ không bao giờ bị nghi ngờ nữa.”

Nhiều người chỉ thấy bề mặt: Mỹ lật đổ một nhà độc tài. Nhưng nếu bạn đọc sâu hơn, bạn sẽ thấy một bàn cờ địa chính trị tiình vi hơn nhiều. Venezuela có trữ lượng dầu mỏ đã được chứng minh lớn nhất thế giới: 300 tỷ thùng, chiếm 17% toàn cầu. Và ai là khách hàng lớn nhất của Maduro? Trung Quốc. Mỗi ngày hơn 600.000 thùng dầu Venezuela chảy về Bắc Kinh. Maduro gặp đặc phái viên Trung Quốc Khâu Tiểu Kỳ chỉ vài giờ trước khi bị bắt. Vài giờ. Nghĩ lại đi.

Maduro không chỉ là nhà độc tài. Ông ta là mắt xích trong cái mà Washington gọi là “mạng lưới năng lượng thù địch”: Venezuela cung cấp dầu cho Trung Quốc, Iran cung cấp xăng tinh chế và linh kiện cho Venezuela, hai chế độ này hỗ trợ nhau lách lệnh trừng phạt của Mỹ, và cả hai đều là đồng minh chiến lược của Bắc Kinh. Bắt Maduro không chỉ là bắt một kẻ buôn ma túy — mà là chặt đứt một cánh tay của Trung Quốc ở Tây bán cầu.

Và bây giờ chúng ta đến phần quan trọng nhất, phần mà Graham đã nói toạc ra trên Fox News và nhiều người vẫn chưa chịu nghe:

“Venezuela và Iran chiếm 31% trữ lượng dầu mỏ toàn cầu. Chúng ta sẽ có quan hệ đối tác với 31% trữ lượng đã biết của thế giới. Đây là cơn ác mộng của Trung Quốc. Đây là một khoản đầu tư tốt.”

Ba mươi mốt phần trăm. Bạn hãy để con số đó ngấm vào. Venezuela có trữ lượng lớn nhất thế giới, khoảng 17%. Iran đứng thứ ba hoặc tư, khoảng 10-14% tùy nguồn. Cộng lại: gần một phần ba trữ lượng dầu đã biết của hành tinh. Và cả hai nước này, cho đến trước khi Trump hành động, đều nằm trong quỹ đạo của Bắc Kinh.

Trung Quốc nhập khẩu gần 75% nhu cầu dầu. Đó là gót chân Achilles của họ. Nếu bạn kiểm soát nguồn cung, bạn kiểm soát người mua. Và đây chính là cái mà Trump đang làm: không cần đánh Trung Quốc trực tiếp — chỉ cần siết năng lượng. Kiểm soát Venezuela để cắt nguồn dầu giá rẻ mà Bắc Kinh đang hưởng. Thay đổi chế độ Iran để đưa Trung Đông vào quỹ đạo Mỹ. Kết quả: các quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới — Saudi Arabia, UAE, Iraq, Kuwait, Venezuela, và nếu thành công, cả Iran — đều nằm trong hệ sinh thái của Mỹ. Sáu trên bảy quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất. Trung Quốc bị bịt thở.

Bạn có thấy không? Đây không phải một cuộc chiến tranh bốc đồng. Đây là một chiến lược năng lượng toàn cầu — và nguồn gốc của nó là sự thấu hiểu rằng: ai kiểm soát dầu, người đó kiểm soát thế kỷ 21.

Mưu Đồ Bá Chủ Của Bắc Kinh — Điều Không Ai Nói To

nhưng ai cũng nhận ra rằng Bắc Kinh không có tham vọng chiếm lãnh thổ bằng quân sự kiểu cũ. Họ chơi một ván cờ khác: kiểm soát bằng kinh tế, bằng năng lượng, bằng cơ sở hạ tầng, bằng nợ. Sáng kiến Vành đai và Con đường không phải là dự án nhân đạo — nó là mạng lưới kiểm soát. Cảng biển, đường ray, đường ống dầu, cáp quang — tất cả dẫn về Bắc Kinh.

Và chìa khóa của toàn bộ bàn cờ ấy là năng lượng. Trung Quốc không có đủ dầu để tự nuôi nền kinh tế khổng lồ của mình. Họ phải mua từ bên ngoài, và ba nguồn cung lớn nhất của họ là: Trung Đông, Nga, và Venezuela. Khi Trump kiểm soát Venezuela và thay đổi chế độ Iran, ông không chỉ đang bảo vệ Mỹ — ông đang chặt hai trong ba nguồn sống của Trung Quốc.

Nghĩ về điều này. Nếu Mỹ kiểm soát dầu Venezuela và đưa Iran vào quỹ đạo thân Mỹ, thì Trung Quốc chỉ còn phụ thuộc vào Nga. Và Nga đang sa lầy ở Ukraine, kinh tế suy kiệt, không còn ở thế mạnh để mặc cả với Bắc Kinh. Kết quả: Trung Quốc bị cô lập về năng lượng. Và một Trung Quốc thiếu dầu là một Trung Quốc không thể đe dọa Đài Loan, không thể bành trướng Biển Đông, không thể thách thức Mỹ. Graham nói đúng: đây là cơn ác mộng của Bắc Kinh.

Và Trump hiểu điều đó từ đầu. Ông không đánh vì thích đánh. Ông đánh vì đó là cách duy nhất để chặn Bắc Kinh mà không cần bắn một phát súng nào vào Trung Quốc.

Tôi biết nhiều người sẽ bảo: “Nói hay lắm, nhưng có người chết.” Đúng. Chiến tranh luôn có người chết. Và đó là lý do tôi muốn bạn hiểu cái logic của người ra quyết định.

Trump đứng trước hai lựa chọn. Lựa chọn một: không làm gì, để Iran hoàn thành chương trình hạt nhân, để Maduro tiếp tục bán dầu cho Trung Quốc và làm cầu nối cho ma túy vào Mỹ, để Bắc Kinh tiếp tục bành trướng âm thầm. Kết quả: năm năm nữa, Iran có bom hạt nhân, Trung Quốc kiểm soát mạng lưới năng lượng toàn cầu, và Mỹ không còn có thể làm gì được nữa.

Lựa chọn hai: hành động ngay. Chịu cái giá ngắn hạn — giá dầu tăng, dư luận chỉ trích, thế giới phản đối — để đổi lấy một thế giới không có Iran hạt nhân, không có Maduro, và Trung Quốc bị kiềm chế về năng lượng.

Trump chọn lựa chọn hai. Và nói thẳng: Obama sẽ không bao giờ dám. Biden sẽ không bao giờ dám. Không phải vì họ nhân hậu hơn, mà vì họ sợ cái giá chính trị hơn sợ hậu quả chiến lược. Trump thì ngược lại: ông chấp nhận bị mắng để làm điều cần làm.

Graham nói : “Donald Trump đang tái lập lại trật tự thế giới theo cách mà không ai có thể mơ được chỉ một năm trước. Quân đội chúng ta là mạnh nhất mọi thời đại.”

Người La Mã có câu: “Si vis pacem, para bellum” — muốn hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh. Hai nghìn năm rồi mà câu nói ấy vẫn đúng như ngày hôm qua.

Trump không muốn chiến tranh. Tôi tin điều đó không phải vì ông nói, mà vì thành tích nhiệm kỳ một của ông chứng minh. Bốn năm không chiến tranh mới là bằng chứng mạnh hơn mọi lời nói. Nhưng ông cũng hiểu rằng hòa bình không tồn tại trong chân không. Hòa bình cần sức mạnh để bảo vệ. Và khi kẻ thù sắp có bom hạt nhân, khi đồng minh của kẻ thù đang tích trữ vũ khí ngay sân sau nhà bạn, thì hòa bình đòi hỏi bạn phải hành động.

Graham mô tả Trump là “người của hòa bình và kinh doanh,” đang cứu thế giới khỏi “hỗn loạn thực sự.” Có người sẽ cười khi nghe câu đó. Nhưng tôi nghĩ năm mươi năm nữa, khi các sử gia ngồi lại và cân nhắc: một thế giới không có Iran hạt nhân, một Tây bán cầu không còn là sân chơi của Bắc Kinh, một Trung Đông đang chuyển mình — họ sẽ phải thừa nhận rằng những quyết định của Trump đầu năm 2026, dù tàn nhẫn, dù gây tranh cãi, đã thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu theo hướng có lợi cho thế giới tự do.

Tôi biết bài viết này sẽ khiến nhiều người khó chịu. Tôi biết có người sẽ bảo tôi biện minh cho chiến tranh. Nhưng tôi không biện minh cho chiến tranh. Tôi giải thích tại sao một người vốn ghét chiến tranh lại buộc phải đánh.

Thế giới không phải là lớp học mẫu giáo nơi mọi người ngồi vòng tròn cầm tay nhau hát. Thế giới là nơi chế độ Giáo chủ Iran chế tạo bom hạt nhân trong lúc tuyên bố sẽ xóa Israel. Là nơi Maduro biến Venezuela thành tiền đồn cho Trung Quốc và trạm trung chuyển ma túy. Là nơi Bắc Kinh âm thầm giăng lưới kiểm soát năng lượng trên khắp hành tinh để một ngày nào đó bóp nghẹt bất kỳ ai dám cản đường.

Trump nhìn vào tất cả những điều đó và nói: không. Không phải dưới thời tôi.

Người ta có thể không đồng ý với cách ông làm. Nhưng không ai có thể nói ông không dám làm. Trong một thời đại mà hầu hết lãnh đạo thế giới chọn an toàn, chọn im lặng, chọn đẩy vấn đề cho người kế nhiệm — Trump chọn đối mặt. Và ông chấp nhận mọi hậu quả.


Giá dầu sẽ hạ, Iran sẽ thay đổi. Venezuela đang thay đổi. Và Bắc Kinh, lần đầu tiên trong hai thập niên, đang mất ngủ.

Năm mươi năm nữa, lịch sử sẽ phán xét. Và tôi tin rằng lịch sử sẽ đứng về phía người dám hành động, không phải người chọn ngoảnh mặt.


TG: Vô Danh

Sunday, June 21, 2026

Live To Be Eighty

 

I recently picked a new primary care physician.

After two visits and exhaustive lab tests, he said

I was doing "fairly well" for my age.

 

A little concerned about that comment, I couldn't resist asking him,

- "Do  you think I'll live to be 80?"

He asked,

- "Well, do you smoke tobacco or drink beer/wine?"

- "Oh no," I replied. "I've never done either".

Then he asked, 

- "Do you eat rib-eye steaks and barbecue ribs?"

I said 

- "No, I've heard that all red meat is very unhealthy!"

- "Do you spend a lot of time in the sun, like playing golf/sailing/ballooning/rock climbing ?"

- "No, I don't," I said.

He said, 

- "Do you gamble, drive fast cars, or sexually fool around ?"

- "No," I said. "I've never done any of those things".

He looked at me and said, 

- "Then why do you give a shit if you live to be 80 ?"

 

Fun Funky

Khi “Đàn Bò Vào Thành Phố” - Quốc Nguyên


Tháng Tư năm đó, trời Sài Gòn không nắng gắt như mọi năm. Không hiểu sao, nắng nhạt như vừa bị ai rút mất linh hồn. Những con đường quen bỗng trở nên xa lạ, như thể thành phố đã linh cảm được điều gì đó đang đến.

Người ta bắt đầu nói nhỏ với nhau. Không còn những câu chuyện ồn ào quán cà phê, không còn tiếng cười tự nhiên. Mọi thứ như bị bóp nghẹt bởi một nỗi chờ đợi nặng nề.

Rồi buổi sáng ấy cũng đến. Không có khải hoàn ca. Không có ánh hào quang như những lời tuyên truyền sau này. Chỉ có tiếng xích sắt nghiến trên đường, tiếng giày dép lẫn lộn, và những đoàn người lạ tràn vào thành phố — ngơ ngác, lấm lem, ánh mắt vừa tò mò vừa chiếm hữu.

Người Sài Gòn đứng nép bên lề. Họ nhìn.

Và họ hiểu.

“Đàn bò vào thành phố” ai đó buột miệng nói nhỏ, rồi im bặt. Không phải để miệt thị, mà là một cách diễn tả sự ngỡ ngàng trước một thế giới va chạm: một bên là đời sống đô thị từng quen với tự do, một bên là những con người bước ra từ chiến tranh, mang theo cả một hệ thống niềm tin khác biệt.

Những ngày sau đó, thành phố thay đổi nhanh hơn người ta kịp nhớ. Những bảng hiệu bị tháo xuống. Những cửa tiệm đóng cửa. Những gia đình lặng lẽ biến mất sau một đêm — người đi “học tập”, người tìm đường vượt biển. Tiếng nhạc cũ không còn vang lên. Thay vào đó là loa phường, là những bài ca mới, là những khẩu hiệu cũ kỹ nhưng lặp lại đến mòn tai.

Ba tôi vẫn ngồi trước hiên nhà mỗi chiều, nhìn con đường từng tấp nập giờ thưa dần. Ông không nói nhiều, chỉ hút thuốc. Mỗi điếu thuốc tàn đi, như một phần ký ức bị đốt cháy.

Má tôi thì lặng lẽ hơn. Bà gói ghém mọi thứ như thể chuẩn bị cho một chuyến đi mà không biết bao giờ trở lại.

Những bữa cơm trở nên đạm bạc, nhưng nỗi lo thì đầy lên. Tôi còn nhỏ, chưa hiểu hết. Chỉ nhớ rõ một điều: người lớn không còn cười như trước.

Một buổi tối, điện cúp. Cả nhà ngồi trong bóng tối. Ngoài kia, thành phố cũng chìm trong im lặng lạ lùng. Ba nói khẽ, như nói với chính mình:

– Có những ngày, một dân tộc mất nhiều hơn một thành phố.

Không ai trả lời. Nhiều năm sau, khi đã rời xa nơi ấy, tôi vẫn nhớ về tháng Tư như một vết cắt không lành.

Không chỉ là mất mát vật chất, mà là sự đứt gãy của một đời sống, một niềm tin, một cách làm người. Người ta có thể gọi đó là “giải phóng”. Nhưng trong ký ức của nhiều người, đó là ngày bắt đầu của những cuộc chia ly.

Và mỗi khi tháng Tư trở lại, tôi vẫn thấy đâu đó trong lòng mình một thành phố cũ, một buổi sáng im lặng, và hình ảnh “đàn bò vào thành phố” không phải bằng chân, mà bằng định mệnh.

Sau đêm mất điện ấy, thành phố như bước sang một đời khác. Sáng hôm sau, người ta xếp hàng.

Xếp hàng mua gạo.

Xếp hàng mua nhu yếu phẩm.

Xếp hàng… để được sống một cách hợp lệ.

Những con người từng quen với lựa chọn, bỗng phải học lại cách chờ đợi. Không ai dạy, nhưng ai cũng hiểu: từ nay, mọi thứ đều phải xin.

Ba tôi không còn ngồi trước hiên nữa. Một ngày, người ta đến gọi tên ông. Không ồn ào, không giải thích dài dòng. Chỉ là một tờ giấy, vài câu nói ngắn gọn: “Đi học tập.” Má tôi đứng chết lặng. Tôi không hiểu “học tập” là gì, chỉ thấy cái cách ba xếp lại chiếc áo sơ mi cũ, chậm rãi như thể ông biết chuyến đi này sẽ rất dài.

Trước khi đi, ông nhìn tôi, đặt tay lên đầu:

– Ở nhà nghe lời má.

Câu nói giản dị nhưng ánh mắt ông lúc đó… như gửi lại cả một đời. Ba đi, rồi không có tin tức, kể từ đó ba không trở về nữa…

Thành phố tiếp tục đổi thay. Những căn nhà bị “quản lý”. Những người lạ dọn vào, nói cười lớn tiếng, dùng những vật dụng mà chủ cũ từng nâng niu.

Có những đêm, tôi thấy má ngồi lặng trước bàn thờ, không khóc, nhưng đôi vai rung nhẹ.

Người ta bắt đầu rời đi.

Ban đầu là vài người. Sau đó là nhiều người. Tin đồn về những chuyến vượt biển lan đi như gió. Nguy hiểm, ai cũng biết. Nhưng ở lại — dường như cũng là một kiểu nguy hiểm khác, âm thầm hơn.

Một tối, má gọi tôi lại.

– Con có sợ không?

Tôi không trả lời. Chỉ nắm chặt tay bà.

Vài tuần sau, chúng tôi lên đường. Không hành lý nhiều. Không lời từ biệt. Chỉ có một đêm tối và một con thuyền nhỏ chờ ở đâu đó ngoài bến nước.

Biển đêm rộng và lạnh. Con thuyền chở đầy người những gương mặt căng thẳng, những ánh mắt không dám nhìn nhau lâu. Mỗi người mang theo một câu chuyện, một mất mát, và một hy vọng mong manh.

Có lúc sóng lớn tưởng chừng lật úp tất cả. Có tiếng trẻ con khóc. Có người cầu nguyện. Có người im lặng như đã giao phó số phận. Tôi nằm sát vào má, nghe nhịp tim bà đập nhanh trong bóng tối.

Lần đầu tiên, tôi hiểu thế nào là sợ. Nhưng cũng là lần đầu tiên, tôi cảm nhận rõ một điều: người ta có thể bị đẩy ra khỏi nhà, khỏi thành phố, khỏi quê hương… nhưng vẫn cố giữ một thứ vô hình — niềm tin rằng ở đâu đó, mình sẽ lại được sống như một con người đúng nghĩa.

Chúng tôi may mắn sống sót.

Nhiều năm sau, ở một đất nước xa lạ, tôi lớn lên. Học một ngôn ngữ khác. Làm quen với một cuộc đời khác.

Nhưng mỗi khi tháng Tư về, ký ức cũ lại trở lại, không cần gọi. Má vẫn giữ thói quen cũ: nấu một bữa cơm đơn giản, thắp nhang, và ngồi rất lâu trước bàn thờ ba.

Phải rất lâu sau, chúng tôi mới biết: ba không bao giờ trở về. Không mộ. Không bia. Chỉ là một cái tên tan vào những trại cải tạo xa xôi, nơi mà thời gian không được đo bằng ngày tháng, mà bằng sự chịu đựng.

Tôi từng tự hỏi: Điều gì còn lại sau tất cả?

Không phải là hận thù, dù nó từng rất gần.

Không chỉ là nỗi buồn, dù nó vẫn còn đó.

Mà là ký ức. Một thứ ký ức không thể xóa, không thể thay thế, và cũng không thể truyền đạt trọn vẹn cho những ai chưa từng sống qua.

Thành phố bây giờ đã khác. Người ta nói nó phát triển, hiện đại, rực rỡ hơn. Có thể đúng. Nhưng với những người như tôi, luôn tồn tại hai Sài Gòn: một của hôm nay, và một của trước tháng Tư. Và giữa hai thành phố ấy là một khoảng lặng không bao giờ lấp đầy.

Nhiều năm trôi qua, tôi bắt đầu hiểu một điều: có những mất mát không ồn ào, nhưng kéo dài suốt một đời.

Ở xứ người, chúng tôi học cách sống lại từ đầu. Má đi làm sớm, về muộn. Những công việc lặng lẽ, không ai hỏi quá khứ. Tôi lớn lên giữa hai thế giới: ban ngày là ngôn ngữ mới, bạn bè mới; ban đêm là những câu chuyện cũ, những cái tên chưa bao giờ được quên.

Có những buổi tối, má kể về Sài Gòn. Không phải Sài Gòn sau này, mà là Sài Gòn trước tháng Tư nơi có tiếng xe, tiếng nhạc, có những quán nhỏ sáng đèn, và con người nói cười không cần dè chừng. Bà kể như giữ lửa, như sợ rằng nếu không nhắc lại, ký ức sẽ bị thời gian xóa mất. Tôi hỏi má:

– Có ngày nào mình quay về không?

Má im lặng rất lâu.

– Quê hương… không phải lúc nào cũng là nơi để trở về.

Câu nói ấy theo tôi suốt những năm trưởng thành. Rồi một ngày, khi đã đủ lớn, tôi trở lại. Má không đi cùng. Bà bảo:

– “Con cứ đi, nếu con cần hiểu.”

Tôi biết, có những vết thương không phải ai cũng muốn chạm vào.

Chiếc máy bay hạ xuống trong một thành phố đông đúc, sáng đèn, ồn ào. Người ta nói đủ thứ ngôn ngữ, nhưng tôi vẫn nhận ra âm điệu quen thuộc đâu đó trong từng câu nói.

Sài Gòn… vẫn là Sài Gòn.

Nhưng cũng không còn là Sài Gòn.

Tôi đi qua những con đường cũ, tìm lại căn nhà năm xưa. Nó vẫn còn đó, nhưng đã đổi chủ từ lâu. Cánh cửa sơn lại, hàng rào khác đi, không còn dấu vết nào của gia đình tôi — như thể chúng tôi chưa từng tồn tại ở nơi này.

Tôi đứng bên kia đường, nhìn. Không trách. Không giận. Chỉ thấy một khoảng trống kỳ lạ, như nhìn vào một bức ảnh mà mình từng ở trong đó, nhưng giờ bị cắt ra.

Tôi tìm đến nghĩa trang cũ. Không có tên ba. Chỉ là những hàng mộ nối dài, những tấm bia vô danh, và gió thổi qua như kể lại những câu chuyện không ai còn nhớ rõ. Tôi thắp một nén nhang, không biết gửi về đâu, chỉ mong rằng ở một nơi nào đó, ba sẽ nhận được.

– “Con đã về.” Tôi nói nhỏ.

Không có câu trả lời, nhưng lòng tôi nhẹ đi một chút.

Những ngày sau, tôi đi nhiều hơn, nghe nhiều hơn. Thành phố này có những con người sinh ra sau mọi biến động, họ sống nhanh, sống gấp, và có khi không mang cùng ký ức với thế hệ trước. Tôi không trách họ.

Ký ức là thứ không thể ép buộc.

Nó giống như một dòng sông ai đã từng trôi qua thì nhớ, còn người đứng trên bờ thì chỉ thấy nước chảy.

Đêm cuối trước khi rời đi, tôi đi dọc con đường cũ. Đèn vẫn sáng. Người vẫn đông. Không ai biết tôi là ai, và tôi cũng không cần ai biết. Chỉ có một điều tôi hiểu rõ hơn bao giờ hết:

Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra, mà là nơi những ký ức của mình còn được giữ lại. Dù ở lại hay ra đi, dù mất hay còn, những gì thuộc về tháng Tư năm ấy… vẫn nằm đó, trong một góc rất sâu của mỗi con người.

Khi máy bay cất cánh, tôi nhìn xuống thành phố lần nữa. Không còn giận dữ. Không còn hoang mang. Chỉ còn một nỗi buồn lặng lẽ và một lời hứa không thành lời:

Rằng tôi sẽ kể lại. Để một ngày nào đó, ai đó nghe được, và hiểu rằng có một thời, một thành phố đã đổi đời trong im lặng, và có những con người đã mang theo cả quê hương mình đi suốt phần đời còn lại…


Ký ức Tháng Tư

Boston, Massachusetts

Quốc Nguyên

Mối Tình Thủy Thủ - Nguyễn Duy Phước

Những Tháng Ngày Không Quên - Hoàng Thị Doãn

 

Đúng là những ngày tháng không quên thật! Sau 30.4.75, tôi bị ở lại Việt Nam là một điều quá ngu xuẩn rồi. Tự mình làm hại mình và hại cả tương lai con cái nữa. Niềm đau này thật không làm sao phôi pha được với thời gian, vết thương trong lòng tôi cứ chua xót ngậm ngùi!


Nhớ lại ngày tôi vào trình diện tại trường SNA cũng là ngày không quên được nữa! Bước chân đến trường với tâm tư hoang mang cùng cực, không biết rồi đây mình sẽ làm gì và sẽ được đối xử như thế nào đây? Vừa vào đến sân trường đã thấy một số bạn bè ngồi sẵn trên các ghế đá, nhìn nhau nhếch mép không nổi; ai còn ai ở lại đều rõ cả rồi.

Nhìn kỹ các bạn đồng nghiệp, tôi thấy có người đã mặc áo bà ba quần đen. Có lẽ phải thay đổi cách ăn mặc như vậy mới thích nghi với hoàn cảnh mới chăng? Và Cộng Sản vào đây chỉ để làm cho con người trở nên quê mùa xấu xí mà thôi?!

Qua bao thủ tục như khai tên họ, nộp lại thẻ căn cước v.v… Chúng tôi trở lại nghề “gõ đầu trẻ” của mình. Ngay hôm khai giảng, nghe bài Quốc Ca dưới sân trường mà tôi rùng mình và muốn khóc! Tôi cứ bàng hoàng không thể ngờ được có một ngày quê hương tôi đều nhuộm đỏ như thế này! Viết đến đây, tôi lại nhớ có một lần phải điều khiển buổi lễ chào cờ, một bạn đồng nghiệp của tôi đã bắt đầu bài Quốc Ca “Này công dân ơi….”. Chúng tôi qua một thoáng sững sờ, muốn cười quá sức mà đành phải nín lặng.

Tôi may mắn hơn các bạn dạy Văn, Sử; môn Khoa học mà tôi phụ trách thì dù ở thời đại nào cũng phải diễn tả trung thực mà thôi. Chỉ tội nghiệp xót xa cho các bạn tôi, giảng bài mà không dám nhìn thẳng vào mặt học sinh, chỉ biết nhìn bức tường trước mặt và cố đóng cho xong vai trò. Nói dối quá sức như vậy làm sao khỏi hổ thẹn lương tâm của một nhà giáo đã chứ!


Những ngày tháng kế tiếp của chúng tôi thật nặng nề, chán nản, hội họp liên miên khiếp quá! Suốt tuần không có ngày nào được ở nhà. Buổi sáng vào lớp dạy, chiều lại họp. Chao ôi! Họp kiểu gì mà họp dữ vậy không biết? Nào là họp Tổ chuyên môn, họp Khối chủ nhiệm, họp Công đoàn, họp Ban đời sống, họp Ban văn nghệ rồi làm sổ sách, cộng điểm, phê học bạ… Trong phòng giáo sư, luôn luôn có một cái bảng đen chia ra 2 phần: Một phần ghi những việc làm tốt, phần kia là những việc chưa tốt. Điều làm tôi đau đầu và chán nhất là buổi họp đầu tháng, không có tháng nào là không có kế hoạch thi đua. Thí dụ “kế hoạch hái hoa dâng Bác” chẳng hạn. Lại còn thi đua giữa học sinh, thi đua giữa các giáo sư, các tổ chuyên môn, đăng ký dạy giờ, dự giờ, ngồi phê bình kiểm thảo lẫn nhau. Ra khỏi phòng họp là chân bước không muốn nổi và chỉ muốn “thua đi” cho nó rồi.


Sau đó lại có mục kết nạp các giáo viên vào Công đoàn; Ban Giám Hiệu cho đó là một vinh dự; còn tôi, tôi lại thấy chính sự kết nạp này nhằm để gây chia rẽ trong hàng ngũ giáo sư. Người chưa được kết nạp sẽ bị coi như là ý thức chính trị chưa tốt; nhưng làm sao tốt được, dù có chẻ đầu óc chúng tôi ra làm hai rồi nhét các chủ thuyết Karl Marx và Lénine vào, cũng thế thôi. Hè đến còn phải học chính trị nữa, năm đầu tiên phải học luôn 3 tháng; những giờ học tập dài lê thê và buồn ngủ quá! Ngoài miệng chúng tôi cũng thảo luận hăng say lắm nhưng thật ra chỉ nói như vẹt, ra khỏi phòng học là không biết mình nói cái gì nữa!

Sống với chế độ Cộng Sản thật đúng là chế độ làm bần cùng hóa nhân dân. Ngày nào các Thầy Cô ăn mặc áo quần sang trọng đẹp đẽ, được đám học sinh coi như thần tượng mà bây giờ mỗi Thầy Cô xách tòn ten mỗi người một túm cá, hay 1 túm thịt, một chút bột ngọt, một gói đường… Thật không còn vẻ hào hoa phong nhã của ngày nào! Một số học sinh thường nói với chúng tôi rằng:

– Chúng em nhìn thấy các Thầy Cô như vậy, thần tượng trong lòng chúng em tiêu tan hết!

Cũng đành tiêu tan thôi các em ơi! Vì chính bao tử của các Thầy Cô cũng cần chúng nó kia mà! Chúng tôi thường gọi loại cá này là cá “long hội“, có nghĩa là ăn vào nó sẽ lôi họng mình ra vì quá xương. Nhớ lại việc chia nhu yếu phẩm này mà buồn, cũng có nhiều vị đâm ra so bì cái này ngon, cái kia dở. Cuộc sống thê thảm quá! Đã vậy, ngay các thức cần dùng hằng ngày cũng không được phân phát đầy đủ: 3 người lãnh chung một ống kem đánh răng, hai người lãnh chung một cái mùng hay một cái vỏ xe đạp (xin nói rõ là phải trả tiền chứ không phải cho không đâu). Còn áo quần thì năm nay chỉ mua được 2 mét vải, chỉ may được cái áo thôi, chờ sang năm mới có quần và khi đó cái áo đã muốn rách rồi! Quá chán chường với chính sách bần cùng này nên có dịp là chúng tôi châm biếm mỉa mai. Có một lần đang trong buổi họp, đến giờ giải lao, các Thầy được cho đi lãnh quần đùi. Lãnh xong mặc luôn vào ngoài quần tây rồi trở vào ngồi họp, xem như không có gì xảy ra, làm cho chúng tôi cười một trận đến nôn ruột luôn.


Cứ thế với thời gian, chúng tôi gầy gò xanh xao dần. Đồng lương không đủ sống, nửa tháng lãnh lương một lần, cầm mấy chục bạc trong tay mà ngao ngán thở dài, không biết làm sao mà sống đủ trong hai tuần đây? Chúng tôi phải bán dần các thứ còn lại trong nhà để phụ thêm vào, theo đúng chủ trương “sạch nhà, sạch cửa”. Có một thời gian chúng tôi ăn toàn bo-bo, bột mì rồi đến khoai mì thay cơm; ăn làm sao cho hết một ngày cả mấy chục kilô khoai mì, mà để lâu thì bị hư thối, tháng đó bị hụt phần lương thực rồi đó. Ăn không đủ no mà lại làm việc quá nhiều, bắt chúng tôi phải soạn giáo án đầy đủ. Thật là một việc làm vô ích khi những bài dạy từ năm này qua năm kia đã nằm sẵn trong đầu óc chúng tôi, vậy mà đêm về phải thức viết lại ra giấy.


Ngoài ra, còn có hai việc khốn nạn nhất là trực đêm và trực cho heo, gà ăn. Gọi là trực đêm chứ nếu có ăn trộm vào gỡ hết gạch ngói của nhà trường, chúng tôi cũng không biết. Mà có biết cũng chẳng dám làm gì vì đàn bà chúng tôi vốn dĩ đã nhát gan rồi. Chỉ việc ban đêm đến trường, leo lên lầu, vào phòng giáo sư bật cho được ngọn đèn lên cũng đã quá mừng rồi. Sau đó, đóng chặt cửa leo lên bàn nằm và trông cho mau sáng; khổ nhất là đứa nào cũng muốn nằm vào phía trong chứ không chịu nằm ngoài gần cửa lớn, cuối cùng đành “oánh tù tì” thôi.

Tuy vậy, trực đêm chưa khốn khổ bằng trực heo, gà. Chủ trương chính sách gia tăng sản xuất, nhà trường đã dùng gầm cầu thang để nuôi; chỉ một đàn gà và hai ba con heo mà mỗi ngày đêm có ba ca trực, mỗi ca hai giáo viên. Chúng tôi thường nói lũ heo gà này thật tốt số, chúng được săn sóc kỹ hơn con cái của chúng tôi nữa. Chúng tôi đi suốt ngày thì giờ đâu mà chăm lo cho con, chúng học được chữ nào hay chữ đó, nhiều khi cơm cũng không kịp nấu mà ăn. Đó là chưa kể ngày lễ hay ngày chủ nhật phải đem học sinh đi dự lễ hay làm vệ sinh phường khóm nữa.

Tắm heo và cho gà ăn mà cũng có bảng nội quy treo sẵn trong phòng giáo sư, ai làm chưa tốt được nêu tên lên bảng đen liền. Cho gà ăn còn đỡ, tôi sợ nhất là tắm heo. Phải xắn quần, chui vào gầm cầu thang, người hơi cao như tôi lại càng khổ thân hơn nữa. Phân heo và nước lẫn lộn, bước vào hai chân cảm thấy ghê ghê làm sao! Việc đầu tiên là nắm ngay lấy vòi nước, nhắm mắt nhắm mũi dội cho phân trôi bớt đi đã, phần thì sợ heo cắn nên cứ xịt tưới vào mình nó rồi muốn cho nó đứng yên thì lấy bàn chải mà chà khắp mình. Có lẽ heo cũng giống người, sau khi tắm rửa mát mẻ xong, nó cũng thích đi dạo. Do đó có một lần sau khi tôi tắm cho nó xong, nó đã xổng chuồng chạy luôn, không làm sao chặn đuổi theo kịp. Cả trường vắng lặng vì đang có giờ học, vậy mà con heo hứng chí chạy ngay vào một lớp học, có lẽ nó cũng muốn “dự giờ”! Tôi vừa chạy theo vừa la lên, làm cho cả lớp hôm đó cười một trận đích đáng; cuối cùng cả thầy lẫn trò phụ nhau dắt nó về chuồng.

Tôi quá chán ngấy việc đi dạy học này rồi, ít ra cũng phải đủ ăn, công sức mình bỏ ra phải được đền bù xứng đáng. Muốn dạy tốt, học sinh phải học tốt; đằng này chính các em cũng chưa đủ no, làm sao học được? Vào lớp các em nằm ngay trên bàn mà ngủ vì 2 giờ sáng đã phải thức dậy phụ với mẹ lo dọn hàng. Nhìn thấy cả một thế hệ trẻ đang đi thụt lùi dần mà đau lòng vô cùng!


Tôi phải kéo lê những ngày buồn chán này vì nếu không có nghề nghiệp gì trong khi chồng đi cải tạo, cả nhà phải dọn đi Kinh Tế Mới. Cuộc sống thật nặng nề ngột ngạt, về địa phương làm gì cũng sợ bị để ý: Năm ba người bạn đến thăm, ngồi quây quần nói chuyện với nhau cho đỡ buồn cũng sợ bị Công an nghi ngờ. Đến trường gặp thêm cái nạn bắt phải bài trừ “văn hóa đồi trụy” như các băng “nhạc vàng” phải xóa hết hoặc cấm không cho nghe các đài ngoại quốc như BBC, VOA… Đầu óc luôn luôn bị căng thẳng, hôm nay đồn đổi tiền, ngày mai nghe đồn chuyện khác mà mỗi lần đổi tiền, nhân dân lại khốn đốn thêm vì vật giá leo thang vùn vụt. Lần đổi tiền đầu tiên tôi sợ quá, mỗi gia đình chỉ đổi được 200 đồng thôi. Cầm số tiền trong tay, tôi đã khóc, cứ sợ làm sao đủ sống, do đó cứ cho các con ăn toàn bí ngô và rau muống triền miên. Công nhân viên mỗi tháng mua được nửa ký thịt giá chính thức, còn ngày Tết mới mua được một ký-lô nhưng phải ra phường khóm xếp hàng từ 3 giờ sáng.


Sau 3 năm không chịu đựng nổi, tôi đã quyết định nghỉ dạy dù chưa biết làm gì để sống? Các bạn tôi cũng muốn nghỉ dạy lắm nhưng phần lớn ai cũng sợ vì ngoài việc đi dạy học có quen làm nghề gì khác đâu!

Tôi thì nhất định liều! Sống gì mà ngày qua ngày chỉ thấy mệt mỏi chán chường, không có gì vui cũng không có gì phấn khởi cho chân muốn bước tới. Tôi nộp đơn xin thôi việc, Ban Giám Hiệu đã nhiều lần đến nhà yêu cầu tôi vì các em học sinh mà ở lại, nhưng ai lo cho bao tử mấy mẹ con tôi đây? Bắt đầu đưa đơn là tôi không đặt chân đến trường nữa, dù chưa có quyết định nghỉ việc. Tôi không nhận thêm gì từ tiền lương cho đến nhu yếu phẩm.

Sau ba tháng thấy tôi không thay đổi lập trường, Ban Giám Hiệu đành chuyển đơn lên Bộ Giáo Dục. Kể từ đó, tôi mới thấy tâm hồn mình được thảnh thơi nhẹ nhàng rất nhiều. Tôi đi theo một nhóm học trò cũ ra đứng bán ở Chợ Trời, các em tập cho tôi buôn bán. Ra đến đây mới thấy thật đáng thương cho nghề giáo của mình, học hành chữ nghĩa thì nhiều nhưng cũng lại nghề đói nhất. Trong khi ở thế giới này, họ có cần văn chương trí thức gì đâu, vậy mà con cái họ được no ấm đầy đủ hơn con chúng tôi.

Những ngày đầu tiên ở đây, tôi cảm thấy tủi nhục quá, khó mà thích nghi với môi trường này, về nhà nằm xuống chỉ muốn khóc. Nhưng các con tôi cần cơm áo, tôi không lo cho chúng thì ai lo đây, chúng cần phải no để mà học. Do đó, tôi chai lì dần với thời gian, đã gọi là Chợ Trời rồi thì Thầy Cô cũng thế thôi, ngang hàng nhau hết.

Ô hô! Mỗi cuộc đời đảo lộn, ai giải phóng ai đây?

Khi đọc “Thương Nhớ Mười Hai” của Vũ Bằng ta thường bâng khuâng tiếc nuối những tháng Tư của dĩ vãng ấu thơ, vào hè của tuổi thơ với những nao nức về ngày nghỉ sắp tới, vội vã trao cho nhau những cuốn lưu bút ngày xanh ép đầy những cánh phượng đỏ thắm! Nhưng đến một tháng Tư kinh hoàng cách đây 30 năm thì những huyền diệu tháng Tư đã sụp đổ tan tành không vương vấn một dư âm nào của khúc nhạc ngày hè năm xưa! Bây giờ mỗi tháng Tư đi qua đời mình là một thẫn thờ hoài niệm khoảng thời gian mở đầu cho những gian nan thử thách với giông bão của cuộc đời.

30.4.75, ngày đau thương tang tóc cho toàn dân miền Nam Việt Nam, ngày sụp đổ của một chế độ không lấy gì làm tốt đẹp lắm để thay thế bằng một chế độ khác biệt trăm lần khác biệt và bạo tàn hung ác hơn.

Cứ mỗi tháng Tư vào hè trên quê hương, tôi không thể nào quên được 14 năm ở lại gian nan cùng cực, một thời gian khủng khiếp, vô hình đã trở thành một ấn tượng bi thảm cho người dân Việt Nam về hai tiếng 30/4.

Tháng Tư của kinh hoàng, của đau thương, của nghèo đói, của thử thách và cũng phải là khởi điểm của tranh đấu, hy vọng, tin yêu để tái tạo lại một quê hương Việt Nam thanh bình tươi sáng, hạnh phúc và tự do.


Hoàng Thị Doãn