Sunday, March 29, 2026

Lụa - Nguyễn Thị Lê Na

Nguyễn Thị Lê Na

Lụa! Lụa ơi! Em đó phải không?” Tôi cuống quýt cả chân tay. Lắp bắp mồm miệng. Không tin vào mắt mình. Căn phòng không đủ rộng, để có thể nhìn nhầm. Căn phòng không đủ bé, để tôi kịp chộp lấy tay em. Giây khắc thần tiên, hay địa ngục? Hiện thực, hay giấc mơ? Tháng năm dằng dặc, dồn lại trong tích tắc? Thượng đế lỡ tay, hay số phận chơi trò ú tim? Ánh sáng căn phòng rất thật. Rất thật cả sự lặng phắc. Thật cả tiếng máy điều hòa ro ro êm ái. Cả tiếng chiếc kim đồng hồ treo tường gõ đều như nhịp tim. Trên mặt tôi biểu lộ thế nào, tôi không biết. Nhưng mặt em tôi rõ như ngày ngỏ lời yêu. Đôi mắt đẹp mở to, kinh ngạc, thốt nhìn tôi sững sờ, bất giác lảo đảo. Căn phòng hóa đá giây lát…


*******

Nơi tôi đến là một ngôi trường chênh vênh trên ngọn đồi vi vút gió. Sau lưng là rừng bạch đàn đang độ xanh lá và những sườn đồi bạt ngàn sim mua, tháng ba nở tím ngan ngát cả một vùng. Những ngày đầu mới đến, tôi mê mẩn lang thang hết khu đồi này đến sườn dốc khác. Hoàng hôn buông xuống, khung cảnh như một bức tranh thủy mặc.


Được phân công làm công tác chủ nhiệm một lớp hơn 40 học sinh, tôi vô cùng lo lắng. Bởi mới ra trường, kinh nghiệm gần như bằng không. Nhưng ngày lại ngày, những cặp mắt ngây thơ nhìn tôi đầy yêu mến và cảm phục. Đôi khi cả ngưỡng mộ nữa giúp tôi tự tin dần lên. Tôi nhớ, tiết học đầu tiên tôi đặt một câu hỏi. Đó là câu hỏi mấu chốt nhằm mở ra nội dung bài giảng. Không có nó, bài giảng cầm chắc thất bại. Thế mà, cả lớp lặng câm, không ai đưa tay xin trả lời. Tôi nhẫn nại gợi ý, bằng những câu hỏi phụ, và bằng cả những lời động viên, nhưng tất cả vẫn lặng im. Có lẽ lúc đó, mặt tôi trông khổ não, tội nghiệp lắm. Tôi sắp rơi vào tuyệt vọng của một giờ giảng không thành, thì ở dãy bàn thứ hai, bên trái, có một cánh tay rụt rè đưa lên. Cánh tay con gái nông quê chớm tuổi dậy thì, sạm nâu nắng gió… Đó là em.

Và tôi có cảm tình với em. Nói đúng hơn, là tôi biết ơn em từ hôm đó.  Một chút dịu dàng và độ lượng len lỏi vào tim. Tôi chợt thấy mình hay xem đồng hồ, mong sớm đến giờ lên lớp. Cảm giác lâng lâng. Trên bục, tôi hào hứng say sưa giảng bài. Dưới kia, có một đôi mắt đen mở to, mê đắm nuốt từng lời tôi nói. Cô học trò nhỏ nhắn thùy mị, ngây thơ nào biết tình cảm của tôi lồng theo trong bài giảng. Có phải sau giờ giảng định mệnh ấy, đã làm nảy nở một tình yêu thầm kín? Đôi khi tôi giật mình lo lắng và cố ý tự ngăn cấm, tự xua đuổi nó, nhưng tình yêu vẫn cứ lớn dần, không cách gì cưỡng được.


Tôi thảng hoặc bất ngờ đi kiểm tra việc học của học sinh ở nhà. Mỗi nơi chỉ dừng độ mười lăm phút. Hôm ấy vừa đến nhà em, đúng lúc trời đổ cơn mưa. Lại gặp được cả bố mẹ em, nên cuộc kiểm tra thành ra cuộc viếng thăm với trà nước thân mật. Tôi thầm nể phục ở chốn quê nghèo lam lủ lại có một gia đình gia giáo. Và hình như bố mẹ em nhen nhóm một sự tin cậy vào thầy giáo trẻ. Thi thoảng bố mẹ em nhắn mời tôi về nhà chơi. Tôi mặc nhiên như người con trai lớn trong gia đình. Những đêm liên hoan văn nghệ ở trường, khuya em đều để tôi đưa về tận nhà…

Đấy là cái thuận lợi, hay lực cản? Đôi khi nghĩ lại, nó như cái phanh, kiềm chế tình yêu của tôi đối với em chăng? Lòng tôi cháy rực khát thèm thổ lộ tình yêu bao nhiêu, lại cố kìm nén bên ngoài bấy nhiêu. Nếu đổ bể, tôi không chỉ mất em, còn mất cả bố mẹ em, gia đình em. Mỗi buổi đến lớp tôi lại như vừa khám phá thêm được một điều gì đó mới mẻ thật đẹp đẽ của cuộc đời. Từ nơi em ngồi như luôn có một vầng sáng lung linh lan tỏa ra cả lớp. Những buổi học nào không có em, bài giảng sao mà khô khan tẻ nhạt. Tôi định bụng đến ngày cuối cấp, khi em thi xong, tôi sẽ ngỏ lời yêu. Nhưng ông trời lại bày ra thử thách mới, bắt chúng tôi xa nhau. Ấy là một chiều, tôi có quyết định chuyển đến một trường điểm của tỉnh.

Ngậm ngùi gói ghém đồ đạc, tôi gói luôn cả mối tình đắm say thầm lặng mang theo. Một cái gì dâng lên nghèn nghẹn khó tả trước ngày lên đường. Nửa nuối tiếc dùng dằng không muốn rời xa, nửa thanh thản vui, nghĩ đến em không bị cuốn vào tình yêu của tôi quá sớm, dễ dang dở học hành, rồi dang dở sự nghiệp.

Tôi đã lên lớp mỗi ngày ở ngôi trường mới. Nhưng không ai hay rằng, mỗi giờ giảng của tôi vẫn dành cho em. Dành cho cô học trò mặc áo hoa ngồi bàn thứ hai bên trái ngước đôi mắt đắm đuối nhìn tôi, gương mặt nhập nhòa sau tấm voan trắng mỏng, ngời lên thánh thiện và trong ngần…


Giờ nhớ lại, cái anh giáo trẻ trong tôi cũng có lúc tầm thường. Ngỡ cao thượng, chín chắn, ai ngờ có lúc bồng bột, lửa rơm. Tôi sợ xa mặt cách lòng, em bị các chàng trai khác quyến rũ. Trách em sao được, khi tôi chưa ngỏ một lời dù xa xôi bóng gió? Tôi chưa bỏ nhánh nè trước ngõ nhà em, thì chí ít, cũng nên ngỏ một lời cho em hay. Tự em coi như trái tim mình đã có chủ… Nghĩ thế, tôi đã suốt đêm hồi hộp thức viết, hồi hộp gửi đi một phong thư. Hồi hộp mong chờ, hồi hộp theo dõi bước chân người đưa thư báo hàng ngày đến trường. Hơn thế nữa, tôi suýt kêu lên, tim muốn văng ra khỏi lồng ngực, khi nhận được thư em. Tôi gấp phong thư nhét sâu vào túi áo. Nó thầm thĩ suốt chiều tôi đứng lớp. Vắng người, là tôi lôi nó ra xem nét chữ, ngắm nghía cái phong bì chỉ một màu mực. Tối, tôi đặt phong thư lên bàn viết trước mặt, cố dành niềm vui mở thư em, sau khi đã soạn xong bài. Tôi chơi ú tim với trái tim mình. Khoái trá tận hưởng cảm giác hồi hộp và thắc thỏm lo lắng ngọt ngào…

Nhưng mọi cái đã đi chiều ngược lại. Thư của em lời lẽ dưng dưng, khiến tôi buồn bã vô cùng. Em bảo em còn nhỏ dại, chưa biết chuyện yêu đương, và không muốn tôi phải buồn khổ vì em. Tôi hụt hẫng, như người mất phương hướng. Mất ăn mất ngủ, miệng đắng mấy hôm. Em chưa biết chuyện yêu đương, hay em đã quá biết? Em không muốn tôi buồn khổ vì em, hay em đã có người khác? Tôi từng cảm giác em như hạt nhân, vây quanh quỹ đạo là các chàng trai trẻ trong trường, trong làng trong xã. Trong khi tôi cũng chỉ là chàng sinh viên ra trường mới đứng lớp hai năm. Nghĩa là chất bồng bột, trẻ trai lửa rơm còn ngự trị.


Tôi đã trẻ con hơn cô học trò bé bỏng, đến mức đã nhảy xe buýt hơn 50 cây số, nói là về thăm gia đình em. Thâm tâm, xin lại lá thư ấy, coi như gửi nhầm địa chỉ. Như xưa, sau cơm nước buổi tối, bố mẹ em cho hai thầy trò đi hóng gió một lúc. Em đi bên tôi, một thầy một trò, nói đủ chuyện trường lớp, nhưng tôi vẫn không sao nói được chuyện của mình. Em khéo léo không nhắc chuyện lá thư, nhưng mùi hương từ mái tóc, từ da thịt con gái nhẹ thoảng, còn hơn cả ngàn bức thư em gửi. Tôi nóng ran cả lồng ngực, bấn loạn cả tâm tư. Gặp quãng vắng, tôi bất đồ cầm lấy bàn tay mềm mại và nóng ấm của em. “Lụa! Thầy yêu…”

Không như mường tượng, câu thổ lộ của tôi bị ngắt quãng phũ phàng. Một cái giật tay bất ngờ và dứt khoát, em vùng chạy bay biến, như chạy thoát cạm bẫy chết người. Tôi chưng hửng tựa con chim quý trong tay vừa vụt bay. Thất thần lặng im trong khuya vắng. Tôi hiểu, cánh cửa trái tim em đã đóng chặt. Tình yêu thứ nhất của tôi cũng khép cửa. Tôi tự trách mình không lường ước mọi việc, rằng đã ngộ nhận, ảo tưởng…

Khi tháng ngày nguội lạnh, mối tình đầu thành xa lắc, tôi bất ngờ có thư. Tôi thậm chí không hào hứng mở nó, dù nét chữ em tôi không quên. Trái tim thành chai sạn chăng? Hay trái tim thất tình của tôi còn hờn dỗi? Sau lời xin lỗi chân thành, là những câu lý giải rất người lớn, rằng em quá bất ngờ, và sợ tôi coi thường, sợ tôi đùa giỡn sự ngây thơ bồng bột của con gái, coi như một chiến tích ăn chơi. Cuối thư, bất ngờ, em bảo rằng em cũng yêu tôi, yêu lặng thầm từ lâu lắm, nhưng không dám phá vỡ giới hạn thầy trò, giới hạn mặc định của người đời từ vạn thuở. Lại nữa, con đường học hành, bến bờ sự nghiệp xa tít mù khơi…


Có lẽ em nói đúng. Tôi dè dặt gửi đi bức thư, xin lỗi em về sự đường đột hôm ấy. Từ đây, đường thư hai đứa khá thường xuyên. Em bảo: “Thầy có biết trên đời này, em ghét nhất điều gì không? Đó là sự thay lòng đổi dạ!” Tôi tự thấy điều em nói quá xa lạ, nên đã thề rằng, suốt đời tôi mãi mãi là của em! Chỉ riêng mỗi em! Và chúng tôi hẹn gặp nhau sau khi em tốt nghiệp phổ thông. Đêm ấy, sương lạnh, trăng mờ. Lần đầu tiên tôi như đứa trẻ thơ, chỉ biết vâng lời khi nhìn ánh mắt tình tứ và nghiêm nghị của em. Thế là chúng tôi yêu nhau. Tất cả cứ như chuyện trẻ con. Nhưng chừng ấy thôi cũng đủ cho tôi hạnh phúc rồi. Em đã không biết rằng, tôi dằn vặt đấu tranh thế nào để rồi chìm nghỉm bất lực trước chính tình cảm của mình, chính em đã đánh thức tất cả sự cuồng nhiệt yêu đương của một người đàn ông trong tôi, bởi vẻ đẹp kín đáo dịu dàng của em…


Tôi lặng thầm chờ đợi em kết thúc quãng thời gian học hành. Gia đình cậu mợ thôi thúc tôi mãi chuyện vợ con. Tôi mồ côi cha mẹ rất sớm, ở với gia đình cậu mợ từ nhỏ. Lời của cậu mợ, là lời cha mẹ. Em đồng ý để tôi đưa em về ra mắt gia đình sau khi nghe tôi dự định kế hoạch mai sau. Rằng sẽ nhờ cậu mợ tôi xin việc ở trung tâm thị xã khi em tốt nghiệp xong đại học. Hôm đó, cậu nhìn em từ đầu đến chân, ra chiều ưng ý. Em nép vào tôi run run, khép nép lo lắng như một kỳ sát hạch. Cậu mợ tôi, ai cũng niềm nở ngọt ngào. Tôi vô cùng mãn nguyện…

Nhưng khi em đi rồi, mợ tôi giọng lạnh tanh, bảo: 

“Không được! Con gái đẹp thế, mày ngài mắt sắc thế, có đi đóng phim làm mẫu, chứ cưới về, khó mà yên ổn!” Tôi nhìn mợ, chưa kịp mở lời thì cậu tôi, vốn chiều vợ một mực, nhẹ nhàng đế theo: 

“Với lại, nếu có xin được việc, thì cậu xin cho các em con trước đã…” 

Thấy tôi chết lặng, cậu phân bua: “Hình như con quan niệm hạnh phúc gia đình đơn giản quá. Đẹp đôi mà ngồi hít không khí, sống được không?” 

Mợ tôi được thể: 

“Thời thế đã khác, không có việc làm, đem nhan sắc mài ra thay cơm được á?”

Tôi cay đắng, vẫn không nguôi hy vọng cậu mợ sẽ nghĩ lại. Nhưng hóa ra, cậu mợ đã bí mật chọn cho tôi một đám khác. Đó là cô con gái rượu vị sếp tổng của cậu. Một cô gái nhan sắc trung bình nhưng lại nắm trong tay mớ cổ phiếu khá lớn của tập đoàn. Một lần, cậu mợ gọi tôi về có việc khẩn. Hóa ra, chỉ để hai trẻ gặp nhau. Trong bữa cơm gia đình, cô ấy thành thượng khách. Cậu mợ tôi lưỡi uốn vồn vã, tay run vồ vập. Cô nàng cố ém cái địa vị cao sang, nói cười rổn rảng, ăn uống tự nhiên. Và kín đáo liếc nhìn tôi mấy lần. Tôi nguội lạnh. Dửng dưng ngồi ăn, dửng dưng lặng thầm, dửng dưng chào ra đi khi xong bữa.


Dường như thấy tôi không có gì lay chuyển, cậu mợ lại gọi tôi về khi chỉ có hai người. Lại rót vào tai tôi những lời dịu ngọt, rằng đàn ông phải có sự nghiệp. Rằng cái nghề gõ đầu trẻ của tôi, lương ba cọc ba đồng, thì sự nghiệp ở đâu? Lấy gì lo đất đai nhà cửa, lo vợ lo con? Và rằng, cậu đã lo cho tôi một suất đi du học ở nước ngoài, mọi thủ tục đã xong, chỉ chờ ngày bay. Ôi, được đi du học nước ngoài, thì còn gì bằng? Thử hỏi, cuộc đời mấy ai được may mắn này? Tôi nhảy cẫng lên vì sung sướng. Ơn cậu mợ như trời như biển, tôi quên sự bực bội vì bị miệt thị cái nghề cao quý của mình. Tôi chỉ lo làm sao giấu em chuyện này, vì sợ em buồn thêm nữa. Lại thấy mình nhỏ bé và vô tích sự trước cuộc đời bao la, không bờ không bến.


Những ngày cuối cùng bên em, là những giây phút căng thẳng nhất, tôi bần thần như kẻ vừa qua cơn hoảng loạn. Tâm trạng ngổn ngang bao nỗi không thể giãi bày, vừa có chút hèn nhát của kẻ trốn chạy, vừa hào hứng trước miền đất hứa. Lại hí hửng của kẻ muốn dành cho em một hạnh phúc to lớn và bất ngờ. Tôi hình dung vài ba năm ở trời tây trở về, tôi thành một người đàn ông khác, với địa vị khác. Hứa hẹn một công việc làm ăn khá giả dư dật cho em lo cuộc sống gia đình. Nhưng phải xa em là một cực hình. Bóng hình em cứ choáng ngợp tâm trí. Ánh mắt em, nụ cười em, và cả bàn tay mềm mại của em như bóp nghẹt trái tim tôi. Biết bao giờ mới gặp lại em đây? Đêm ấy, trăng phủ lên cả triền đê, tôi gieo vào em niềm tin cậy, trái tim choáng ngợp khối tình, em đã không gìn giữ nữa…


Em đã hờn dỗi, khi tôi nén lòng ấp úng thông báo ngày bay. Có thể em quá bất ngờ. Có thể em cho tôi thiếu chín chắn, hão huyền về một cuộc đổi đời xa ngái. “Anh điên rồi sao? Chim đậu không bắt, đi bắt chim bay!” Tôi không tự ái, bởi em còn cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới, làm sao hiếu được nông sâu đường đời? Em vùng vằng bỏ đi. Dáng vẻ quả quyết và dứt khoát. Nhanh đến nỗi tôi không kịp nắm tay kéo lại. Hình ảnh này day dứt tôi không nguôi. Một mình chôn chân trên triền đê, gió hun hút tái tê mặt sông đêm lạnh, tôi rơi vào giữa bủa vây những điều đặt ra và một rừng câu hỏi. Em cạn hẹp trong yêu đương và hạnh phúc vậy sao? Thời đại đã đi qua hàng vạn dặm, còn đâu ai cổ vũ cho kiểu hạnh phúc cam chịu đói nghèo “một túp lều tranh, hai trái tim vàng?”

Ngày bay, giờ bay hiện ra trước mặt. Hình như em có ý lùi lại, tránh mặt. Còn tôi không thể. Tôi dằn lòng ra đi. Nặng trĩu mớ hành lý cậu mợ tôi chuẩn bị. Và nặng trĩu mối tình dở dang ngày chia biệt…


Bất ngờ, ngoài mong ước, là em có mặt tiễn tôi ở sân bay. Nhẹ nhàng và rắn rỏi, như chúng tôi chưa hề có va chạm đêm ấy. Em vẫn hồn nhiên và mềm mại, thậm chí trẻ ngời một vẻ đẹp thuần khiết, khiến bao cặp mắt phải đổ về. Lòng tôi lại réo rắt một niềm hy vọng. Không kịp nhìn rõ trong đôi mắt đẹp thẳm thẳm của em, phản chiếu một thứ ánh sáng mà mãi cho đến sau này tôi vẫn chưa cắt nghĩa được…

Máy bay lơ lửng rời khỏi bầu trời. Tôi lơ lửng trong một mối tình khó thắt buộc. Không thể quay lại. Tôi chậc lưỡi, buông xuôi cho số phận định đoạt. Nhưng mỗi lần nhắm mắt, tâm trí lại ngời lên những đường nét dễ thương của em. Khuôn mặt trái xoan. Đôi mày ngài và đôi mi rợp, thăm thẳm một bầu trời mộng mơ. Đôi mắt như ẩn chứa cả một thế giới huyễn mị. Đôi môi hé nở một bông hồng tươi rói, nơi tôi lúng túng đặt nụ hôn đầu tiên…

Tôi đã già néo đứt dây khi muốn thời gian thử thách tình yêu của em dành cho tôi? Hay tôi bày trò chơi dao, khi mình đang nắm đằng chuôi? Dù quay quắt nhớ, tôi vẫn cố không viết thư cho em. Tôi gặm nhấm một cách thích thú sự chịu đựng nhớ thương của hai kẻ yêu đương say đắm. Một phần vì công việc nơi xứ người không khác trái núi chọc trời mà tôi đơn độc cực nhọc leo lên. Chỉ có em luôn ở trong tim, thầm thĩ dịu dàng, rằng tôi làm được điều ngoài mong đợi ấy.

Tôi may mắn gặp được vị giáo sư hướng dẫn là một người gốc Việt. Và được ông ủng hộ. Nửa ngày vùi đầu vào thư viện, nửa ngày tôi ném mình ra giữa chợ trời. Cái núi ngôn ngữ sừng sững ấy, nhờ thế, tôi đã vượt qua. Cho đến khi hết hạn thời gian, tôi cũng kịp lấy được cái bằng tiến sĩ về ngành quản trị kinh doanh. Đúng như sắp xếp của cậu mợ tôi, tôi bước ra khỏi nghề gõ đầu trẻ, làm lại cuộc đời.


Tôi chưa kịp vui, đã nhận được tin em lấy chồng. Thư do cậu mợ tôi viết. Tôi bần thần mấy hôm. Tôi trách em, rồi lại trách mình. Chính tôi đã làm em tổn thương. Chính tôi đã buông em ra… Đêm sâu, tôi nằm ứa nước mắt một mình. Tôi đã vô tình đẩy tâm hồn trong trắng kia, đôi môi rực lửa kia, vòng ngực căng tròn kia, tấm thân mềm mại kia, cho một gã cha căng chú kiết nào đó. Cuồng lên như một gã điên, tôi lao ra ngoài trời, ngửa mặt cầu cứu thượng đế. Ở đó, chỉ có bầu trời phương xa thẳm đen với triệu triệu vì sao lấp lánh. Tôi dán mắt rất lâu. Ngôi sao nào là em? Ngôi sao nào là tôi? Sao số phận đa đoan đến thế?


******

Đón tôi ở sân bay, bên cạnh cậu mợ, vẫn cô con gái của vị sếp lớn, không khác ngày tôi gặp mặt ở nhà cậu mợ. Nhưng dáng vẻ bây giờ đã khác, phong thái của bà chủ quyền uy. Cô ấy khẽ hất hàm, cậu mợ tôi khúm núm, răm rắp ngồi vào ghế sau. Tôi ngồi ghế trước. Chiếc ô tô giá hàng chục tỉ lao vút đi.

Hai hôm sau, cậu dẫn tôi đến gõ cửa một căn phòng sang trọng, trong cái cơ ngơi đồ sộ, to lớn của tập đoàn. Một người đàn ông độ tuổi năm mươi, béo tốt và đường bệ, nhìn tôi từ đầu đến chân. Ông ta không nói gì, nhưng đôi mắt nheo cười, như muốn nói: “Cậu đấy à?” Rồi ấn ngón tay mủm mỉm vào phím máy điện thoại trên bàn. Tắp lự, một người trung niên xuất hiện. Anh ta ra hiệu cho chúng tôi đi theo. Tôi thì chưa hiểu đầu cua tai heo, nhưng cậu tôi mừng suýt khóc, khi chúng tôi đứng trước căn phòng, trên cửa có biển đề “Trưởng phòng”.


Tôi đã bước chân vào sự nghiệp mới, sang trọng và quyền lực. Một chân trời mới mở ra. Nhưng lòng bộn bề thắc thỏm và áy náy. Thắc thỏm vì sao mình một bước lên ông? Áy náy không biết giờ em ở đâu? Cuối tuần, tôi phóng về nhà trên chiếc xe trưởng phòng bóng lộn. Cậu mợ tôi, vừa kẻ cả vừa khúm núm trước mỗi cử chỉ của tôi. Nhưng tôi không chú ý. Cái tôi cần, là trả lời câu hỏi, em đã lấy ai, giờ ở đâu? 

“Sao con dại dột vấn vương con bé hồ ly tinh đó nữa?” 

Mợ tôi liếc mắt như khua nhát kiếm sang cậu tôi, nhưng tôi vẫn không buông, muốn chính mợ trả lời câu hỏi ấy của tôi. Tôi biết, xưa nay, mọi việc đều do một tay mợ sai khiến cậu. “Con đi được mấy tháng, nó mang cái bụng của thằng nào đến đây, hỏi địa chỉ con…” 

“Trời ơi! Chuyện tày đình, sao cậu mợ không nói với con lúc đó? Bây giờ cô ấy ở đâu?” 

Tôi bất cần, hm hm lao ra khỏi nhà.

Đầu tuần, trên bàn làm việc của tôi, một tờ giấy chi tiết thanh toán, ai đã đặt đó tự bao giờ. Tôi liếc qua, và rụng rời tay chân. Một núi tiền đã chi cho tôi, từ khi lên máy bay sang trời Tây, cho đến chỗ ngồi bây giờ. Tôi dựng cả tóc gáy. Gục xuống trên bàn, gờn gợn một cái gì ở đây. Là tôi ngu ngơ trước viễn cảnh làm nên sự nghiệp đổi đời? Hay chính cậu mợ tôi ngu ngơ trước miếng mồi ngon mà hy vọng mình có thể gặm đôi chút? Nhưng chưa hết, chỉ tuần sau, mợ tôi thỏ thẻ nói: 

“Bên nhà sếp lớn, muốn cậu mợ đi bỏ miếng trầu cho con…” 

Tôi rít lên trong cổ họng: 

“Mọi đánh đổi này, là sắp xếp của cậu mợ, phải không?” 

Mợ đưa mắt nhìn tôi, thoáng sững sờ, rồi chuyển qua giọng thủ thỉ: 

“Cậu mợ không có con trai, nên đặt cả niềm tin vào con. Tương lai sự nghiệp của con, là trăn trở cả đời của cậu mợ, lẽ nào…”  

Rồi mợ thút thít khóc.

Đám hỏi to hơn đám cưới thiên hạ. Xe hơi xếp hàng san sát. Phóng viên các báo, các đài truyền hình, chen nhau lấy tin như chen cướp phết. May mà, người ta quay phim, chớp hình sếp lớn là chủ yếu. Tôi sượng sùng muốn giấu mặt biệt tích.

Đám hỏi rộn ràng, chẳng phải là lời bố cáo với thiện hạ, rằng tôi đã là hôn phu của con gái sếp tổng. Cõ lẽ cô ấy cũng nhạy cảm trước vẻ mặt nguội lạnh của tôi, nhưng, cô đã lỡ lên lưng ngựa mất rồi. Chỉ nửa tháng nữa, đám cưới sẽ được tổ chức. Ngày đã chọn. Thiệp đã in. 

Hồn tôi phảng phất lưỡng lự. Thảng thốt buồn. Có lẽ cô ấy muốn biến tôi từ ủ dột, thành bất tận tươi vui, nên khi vãn cuộc, khách khứa về hết, chỉ còn lại hai người trong phòng, cô ấy đến bên, xòe bàn tay trắng múp ra trước mặt tôi, nói nhỏ: 

“Quà cưới của chúng mình đây. Ta đi xem thôi, anh!”

Tôi choáng ngợp. Không tin được. Khu biệt thự triệu đô, khu vườn khá rộng, bên một hồ nước xanh trong giữa nội đô. Trong khi tôi lạc giữa sự sang trọng choáng lộn, từ phòng khách, phòng nghe nhạc, phòng đọc sách… thì cô đã kéo tôi vào phòng ngủ. Hình như cô ấy muốn sở hữu người đàn ông của mình. Hai cánh tay chắc mập của cô quàng qua cổ tôi như hai gọng kìm, đôi môi mọng bập lấy môi tôi. Giây khắc, cả hai cùng ngả người ra mặt nệm êm ái, thơm tho. Tôi chưa kịp phản ứng, những ngón tay khéo léo của em đã nhanh chóng lột bỏ những gì có trên người... Giá chỉ là một ngôi nhà vài gác bình thường... Và giá cô ấy đừng làm thế, trong tôi đỡ bị đổ vỡ.


Hôm sau nhớ lại, tôi tự thấy mình thông minh đột xuất. Đúng lúc cái thân hình mỡ màng không váy xống của cô trườn lên người mình, tôi chợt rùng mình, co rúm người lại như con tôm, ôm bụng quằn quại. Hai tay úp lên vị trí ruột thừa, mặt nhăn nhó, miệng rền rĩ. 

“Anh đau thế lâu chưa?” 

Cô ấy dừng lại, lo lắng hỏi. 

“Sáng qua, chỉ lâm râm!” 

Tôi nói đúng căn bệnh ruột thừa. Cả hai bật dậy, mặc vội quần áo…

Tôi đã đánh đổi tình yêu của Lụa, để suốt đời bên con gái sếp tổng không chút tình, cùng với cơ ngơi choáng lộn, và sự nghiệp ngất trời ư? Với cậu mợ tôi, là một cuộc buôn bán, đổi chác. Và nữa, như mợ tôi nói, cả vạn đàn ông con trai trên đời, nằm mơ cuộc đổi chác này. Nhưng tôi thấy nhạt nhẽo, vô vị quá chừng. Tựa một món sơn hào hải vị thượng hạng không có muối. Trong núi tiền của ấy, không có vị mồ hôi của tôi. Vả chăng, trên thế gian này, có thứ gì thật sự đổi được tình yêu?


Giật mình sực tỉnh trong đêm, tôi thấy một thằng tôi khốn nạn. Một thằng tôi bỉ ổi, đớn hèn. Lụa ơi! Giờ em ở đâu? Cho dẫu giờ đây, em là một thiếu phụ đài các, đề huề gia thất, tôi vẫn không tha thứ cho mình. Tôi sống sao yên một đời, khi chưa gặp lại em, dù giây lát? Tôi bật dậy, gọi điện cho thằng bạn thân thuở dạy học. Hai đứa kéo nhau vào một nhà hàng hạng trung, nhờ chén rượu bù khú, quên nỗi nông sâu ấm lạnh cõi đời. Hai thằng ê a chờ dọn món trong một phòng VIP yên tĩnh. Vài ba cô gái đồng phục màu lá mạ, nhan sắc khả ái, vào ra bưng bê dọn món. Mặc thằng bạn hào hứng trêu đùa, lòng tôi lạnh băng. Hình như giờ, dù chưa nếm trải, tôi đã trơ lì trước chuyện đàn bà con gái. Chỉ còn chờ mỗi rượu, thứ rượu tôi gọi nhà hàng không có sẵn, đang cho người đi lấy.

“Rượu của anh đây!” 

Tôi giật thót, lạnh buốt thái dương. Tiếng con gái dịu dàng âm sắc, tha thiết cuộc đời, của người xưa cũ? Nhà nghèo, tằn tiện đủ thứ, nhưng em bao giờ cũng trấn an tôi bằng nụ cười giàu có và âm sắc giọng nói bất chấp núi cao vực thẳm. Vừa khẽ lách cánh cửa bước vào, tay cầm chai rượu màu hổ phách. Vẻ mặt tươi rói của người phục vụ cố chiều lòng khách. Chợt khựng lại. Tôi lắp bắp: “Lụa! Lụa ơi…!” 


Chai rượu quý suýt rời đôi tay đẹp. Em cũng suýt khuỵu xuống. Giây khắc đứng lên, em vụt chạy ra khỏi phòng. Tôi như một cái máy, chạy lao theo. Bóng chiếc áo xanh màu lá mạ dừng lại nửa giây, định bế theo con bé chơi một mình giữa sân, nhưng không kịp. Cô lao vào một phòng ở, chốt chặt cửa buồng…

Suốt đêm, hình ảnh em và con bé cứ xoáy vào tôi, như có ngàn vạn kim châm. Con bé chừng 3 tuổi, giống mẹ như đúc. Nó chạy theo tôi, mếu máo khóc: 

“Chú ơi, đừng đánh mẹ cháu!” 

Tôi ngồi xuống bên cạnh: 

“Ba cháu đâu?” 

“Ba cháu mất tích rồi, ở nước ngoài. Mẹ bảo thế…” 

Hả? Một luồng điện chạy dọc sống lưng. Trời ơi, con gái của tôi đây sao?

Trời vừa sáng, tôi đã lao đến nhà hàng hôm trước. Dự dịnh sẽ nhìn em bằng ánh mắt ngày xưa, sẽ nói với em những câu nói ngày xưa. Tôi sẽ lại có em như bao năm trước. Sẽ đưa mẹ con em về. Tôi đã nghĩ kỹ rồi, sẽ xin thôi việc. Và đưa em lên mé đồi có con đường lớn đi vào di sản thiên nhiên thế giới nổi tiếng với vương quốc hang động đẹp có một không hai. Sẽ cùng em kinh doanh hay làm việc gì đó. Khách nước ngoài giờ đông nườm nượp. Với mấy năm từng trải trời Tây, với vốn ngoại ngữ mình có, tôi sẽ cùng em làm nên sự nghiệp. Cái cục nợ chi phí đi học nước ngoài, sẽ là chuyện nhỏ.

Bà chủ nhà hàng ân cần bảo, hai mẹ con dắt díu nhau đi từ tối qua. Tai tôi ù đặc, lại nghe bồi lời sét đánh: “Tội nghiệp con bé, người yêu bỏ rơi khi bụng mang dạ chửa. Gá phải thằng chồng nghiện ngập, suốt ngày bị đánh. May mà rảy ra được. Đúng là hồng nhan…”

Lụa ơi! Tôi có chui vào gầm trời nào thì cũng không thể đền xóa được thói ích kỷ đớn hèn của mình, sao tôi có thể bắt em chứng minh tình yêu của mình? Sao tôi vô tâm không thấy em gầy đi với những đường gân xanh ở cổ hôm tiễn tôi ra sân bay? Sao ngày ấy tôi không lắc đầu từ chối danh vọng? Giờ đây, có ích gì khi tôi chỉ còn biết lấy nỗi dằn vặt của tình yêu em, lấy từng đêm mơ một dáng hình, lấy những lúc giật mình vì thoáng thấy bóng ai giống dáng em xưa ở cuối đường, đêm khuya hồi tưởng lại quá khứ…


Tôi lao lên bờ đê, nơi cất giấu tình yêu của tôi với em. Như thể chính dòng sông đang tha thiết chảy kia, biết về mối tình lưu lạc của tôi. Sương mai đọng lối cỏ dày, đâu rồi người tình bé nhỏ có đôi mắt buồn không bao giờ nhìn thấy đáy, đâu rồi làn môi trinh trắng ngây thơ vừa nóng bỏng vừa sợ sệt khi tôi đặt lên đó nụ hôn. Đâu rồi cô học trò bất ngờ sững sốt, ngây thơ, mở to đôi mắt kinh ngạc khi tôi lí nhí ngỏ lời yêu... Ký ức ùa về, tôi nghẹn ngào, cay đắng: 

“Lụa ơi…  Em ở đâu? Tôi đi tìm em!”

 

NGUYỄN THỊ LÊ NA

Sắc Màu Lưu Luyến - Nguyễn Duy Phước

Mùa Xuân Đầu Tiên Mồ Côi - Lê Xuân Mỹ

Bên mộ bia của mẹ hiền. Ảnh của TG.


Sáng mùng Một Tết năm nay, tôi thức dậy sớm hơn thường lệ. Trời San Jose se lạnh. Nắng đầu năm còn e ấp sau màn sương mỏng. Thành phố vẫn vậy – bình yên và trật tự – chỉ có lòng tôi là khác. Đây là mùa xuân đầu tiên tôi bước vào mà không còn mẹ. Và cũng là năm đầu tiên trong đời, tôi thật sự mồ côi cả cha lẫn mẹ.

Cha mất đã nhiều năm. Khi mẹ còn, tôi vẫn chưa cảm thấy mình mồ côi. Dù tóc đã bạc, dù đã làm ông, làm bà, tôi vẫn còn một nơi để quay về, còn một tiếng “Mẹ ơi” để gọi. Đến khi mẹ ra đi, tôi mới hiểu thế nào là côi cút giữa đời đông.

Tôi lái xe đến Chùa Từ Lâm trong buổi sáng đầu năm. Từ xa đã thấy cờ Phật giáo bay nhẹ trước cổng. Sân chùa đông người. Những tà áo dài đủ sắc màu chen giữa khói hương nghi ngút. Trẻ em trong quần áo mới tung tăng theo cha mẹ. Tiếng chuông chùa ngân từng hồi trầm mặc, lan ra giữa không gian trong trẻo của ngày xuân.

Không khí ở chùa vừa trang nghiêm vừa rộn ràng. Trong chánh điện, ánh đèn vàng hắt lên những pho tượng Phật, tạo nên một vẻ ấm áp lạ thường. Phật tử đứng chắp tay, cúi đầu thành kính. Ở góc sân, quý thầy mỉm cười phát bao lì xì và trái quýt lộc đầu năm cho các em nhỏ. Tiếng tụng kinh hòa cùng tiếng cười trẻ thơ – thiêng liêng mà gần gũi, như một mảnh quê hương còn giữ được nơi đất khách.

Giữa khung cảnh ấy, tôi bỗng thấy cộng đồng người Việt nơi xứ người thật bền bỉ. Bao năm tha hương, mỗi độ xuân về, chúng ta vẫn tìm về chùa, tìm về tiếng chuông và khói hương, như tìm lại một phần cội nguồn chưa từng mất.

Tôi quỳ xuống trước tượng Phật Bà Quan Âm, cầu nguyện. Ngày trước, mẹ tôi cũng thường đi chùa đầu năm. Mẹ cầu bình an cho con cháu, cầu gia đình thuận hòa. Mẹ chưa bao giờ cầu cho riêng mình. Suốt đời mẹ sống lặng lẽ, nhẫn nại, hy sinh.

Năm nay, tôi cầu cho cha và mẹ. Cầu cho linh hồn mẹ thanh thản. Cầu cho cha mẹ gặp lại nhau nơi cõi vĩnh hằng không còn chia cách. Tôi cầu bình an cho con cháu, bạn bè, những người thương yêu.Và cầu cho chính tôi đủ bình tâm để đi tiếp những mùa xuân còn lại.

Viếng chùa cầu nguyện cho thân mẫu. Ảnh của TG.


Rời chùa, tôi ghé nghĩa trang Oak Hill Memorial Park. Bầu trời xám nhạt kèm chút mưa lạnh đầu xuân. Nắng nhẹ phủ lên những triền cỏ xanh mướt. Xa xa, vài gia đình cũng lặng lẽ đứng bên mộ người thân. Không có tiếng khóc lớn. Chỉ có những bước chân chậm rãi, những bó hoa tươi, những cái cúi đầu thật sâu.

Đứng giữa nghĩa trang vào ngày đầu năm, tôi cảm nhận rõ hơn bao giờ hết ý nghĩa của hai chữ “vô thường”. Mùa xuân tượng trưng cho khởi đầu, cho sinh sôi. Nhưng nơi đây lại nhắc ta về kết thúc. Sự im lặng bi thương không quá nặng nề, mà lắng đọng. Nó như nhắc rằng đời người, dù dài hay ngắn, cuối cùng cũng trở về với cát bụi, với đất.

Tôi nhìn tên mẹ khắc trên bia đá. Cái tên từng được gọi lên mỗi ngày trong căn bếp nhỏ, trong những buổi sum họp, trong những cuộc điện thoại hỏi thăm. Giờ đây, cái tên ấy nằm yên giữa bao la của đất trời. Nỗi đau chia ly không còn dữ dội như những ngày đầu, nhưng âm ỉ, và sâu. Nó giống như một vết thương đã lành da, nhưng mỗi khi trái gió trở trời vẫn nhói lên, đau buốt.

Những năm tháng cuối đời của mẹ trôi qua trong sương khói của căn bệnh Alzheimer. Bệnh không làm mẹ đau đớn quằn quại, nhưng từng ngày lấy đi từng phần ký ức của mẹ. Có lần mẹ nhìn tôi thật lâu rồi hỏi: “Cô là ai? Mẹ vẫn lẫn lộn giữa nam và nữ, giữa trẻ và già, giữa con và cháu. Tôi nghe tim mình nhói lại, nhưng vẫn cúi xuống nắm tay mẹ: “Con đây mà, Mỹ, con của mẹ đây.”

Thường mẹ vẫn gọi đúng tên tôi. Nhưng có khi mẹ quên. Quên tên các cháu. Quên tên các con. Quên cả những chuyện vừa xảy ra buổi sáng. Trí nhớ của mẹ rơi rụng như những chiếc lá cuối mùa. Nhưng lạ thay, mỗi khi Tết đến, trong khu vườn ký ức hoang tàn ấy vẫn còn một góc rất sáng, rất rõ ràng. Mẹ nhớ ba dù ba tôi đã mất từ lâu. Mỗi độ xuân về, mỗi ngày Tết đến mẹ lại hỏi: “Ba con đâu rồi? Trong trí nhớ lẫn lộn của mẹ, ba vẫn còn đâu đó – như chỉ vừa đi vắng, như sắp sửa trở về. Có những chiều cuối năm, khi tôi mở vài bản nhạc xuân xưa, mẹ lẩm nhẩm hát theo. Giọng yếu và đứt quãng, nhưng ánh mắt sáng lên.

Trong cái mơ màng lãng đãng của trí nhớ, Mẹ hay kể về những cái Tết quê nhà. Về nồi bánh chưng đỏ lửa suốt đêm. Về những ngày còn trẻ mặc áo dài đi chợ hoa. Về mùa xuân có ba và các con bên cạnh. Alzheimer có thể xóa hiện tại, nhưng không xóa được những mùa xuân đã khắc sâu trong trái tim một người đàn bà Việt Nam nhỏ bé, yêu chồng, thương con.

Có lần tôi hỏi: “Mẹ nhớ gì nhất khi Tết đến?” Mẹ đáp, chậm rãi: “Nhớ ba, nhớ ngoại… nhớ nhà…”. Cặp mắt vốn thường ngây dại chợt như sáng lên, long lanh. Hai chữ “nhớ nhà” làm tôi lặng người. Bao năm sống trên đất Mỹ, quê hương trong mẹ vẫn nguyên vẹn. “Nhà” không chỉ là căn nhà cũ dưới chân núi Ngự Bình, mà là nơi có ba, có ngoại, có tuổi trẻ, có những mùa xuân sum họp.

Giữa nghĩa trang đầu năm, tôi chợt nghĩ đến bao gia đình quanh mình- những người cũng vừa mất cha, mất mẹ, mất người bạn đời. Nếu không yêu thương nhiều, người ta đã không quay về đây, đã không mang theo hoa tươi và những lời thì thầm không ai nghe thấy.

Chia ly là điều không ai tránh khỏi. Nhưng mất mát cũng dạy cho ta biết quý những gì còn lại. Quý bữa cơm còn đủ mặt con cháu. Quý tiếng cười còn vang trong nhà. Quý một cuộc điện thoại hỏi thăm khi người thân vẫn còn nghe được. Ngày trước, khi cha mẹ còn, tôi nghĩ những điều ấy là hiển nhiên. Giờ đây, khi trở thành mồ côi, chợt thấy quá tiếc nuối khi mỗi khoảnh khắc bình thường bỗng trở thành món quà, là hạnh phúc còn có được mỗi ngày.

Tôi đứng thật lâu trước mộ mẹ. Gió xuân thổi nhẹ qua hàng cây. Mưa đầu mùa lâm râm như mưa phùn ở Huế. Trời ngây ngây lạnh. Tôi thầm nói với mẹ rằng tôi sẽ sống chậm lại, sẽ thương yêu nhiều hơn, sẽ không chờ đến khi mất đi mới thấy quý. Bởi mùa xuân rồi cũng sẽ qua. Đời người rồi cũng khép lại. Chỉ có tình yêu là còn ở lại – trong ký ức, trong máu thịt, và trong cách ta đối xử với những người thân yêu đang hiện diện bên mình.

Mùa xuân đầu tiên mồ côi, tôi không chỉ mang theo trong lòng những giọt nước mắt. Tôi mang theo một lời nhắc nhở dịu dàng: hãy yêu khi còn có thể. Hãy nắm tay khi bàn tay kia còn ấm. Và hãy nói những lời yêu thương trước khi chúng ta chỉ còn biết thì thầm trước một tấm bia đá lạnh giữa cơn mưa nhẹ đầu xuân.

 

Lê Xuân Mỹ

Tháng 2/2026

Nguồn: https://vvnm.vietbaoonline.com/a248258/mua-xuan-dau-tien-mo-coi

Saturday, March 28, 2026

Đau Đáu Tình Quê


 

Bắt đầu từ một thời xa xưa lắm, những lời ca theo điệu Nam Bình, đã làm biết bao nhiêu tâm hồn mặc khách, thi nhân chùng lại.

...." Nước non, ngàn dặm ra đi, dù đường thiên lý xa vời, dù tình cố lũy chơi vơi, cũng không bằng tình thương mến người".

Đó là tâm sự của Huyền Trân Công Chúa, một cành quốc sắc thiên hương ,nhưng phần số lắm đoạn trường.

Từ Thăng Long tới Huế bây giờ đâu có quá xa, nhưng ngày xa xưa thì diệu vợi quan san.

Nhìn những cảnh vật thân quen cứ lùi xa dần theo vó ngựa, lòng công chúa đứt đoạn từng cơn.

Đó là đau đáu tình quê.


Và theo dòng lịch sử nam tiến, những người bắt buộc phải đi ,đi vì nhiệm vụ mở mang bờ cõi, lúc ngồi buồn sau những việc công cũng phải thốt lên lời...

..." Từ thưở mang gươm đi mở cõi, ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long"....

Hai câu trên là thơ của một ông việt cộng nào quên mất rồi, nhưng cái gì hay thì mình khen hay.

Võ Tướng mà lòng còn rung động, bởi tình thương nhớ cảnh cũ người xưa, thương nơi chôn nhau cắt rún, thì xá gì những gã giang hồ vặt như Nguyễn Bính nhà thơ.

_ giang hồ, ta chỉ giang hồ vặt, nghe tiếng cơm sôi đã nhớ nhà.( thơ Phạm Hữu Quang).. Cám ơn bạn nhắc nhở)

Mới đi ra khỏi cổng làng đã nhớ, nhớ đủ mọi thứ mà hàng ngày vẫn xem rất thường.

Đó là đau đáu tình quê


Tâm sự đầy vơi, uất hận của các vị Vua nhà Nguyễn : Duy Tân, Hàm Nghi, Thành Thái khi bị thực dân Pháp bắt đi đày ở đảo xa, thần dân có ai hiểu thấu được nỗi đau lòng của các Ngài.

Vua bị đi đày, thần dân bị bắt đem thân làm tôi mọi cho giặc.

Những người lính thợ, những người phu đồn điền bị đưa qua Pháp, bị đày đi cạo mủ cao su ở Tân Đảo

Chiều chiều nơi xứ lạ quê người, giữa trùng khơi đảo vắng, vẳng đâu đây trong tiềm thức của họ là một giọng hò :

"Con cò bay lả bay la, bay qua cửa Phủ bay ra cánh đồng"

.." mình về ta chẳng cho về, ta níu vạt áo, ta đề câu thơ " v.v.v...

Đó là đau đáu tình quê.


Rồi giặc cộng nổi lên chiếm một nửa miền Bắc thân yêu, hàng triệu người phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún, mồ mả tổ tiên, ông bà, bỏ lại, để di cư vào Nam tránh giặc cộng lại đau đáu hồn quê.

...." Hà nội ơi, nhớ về thành phố xa xôi, ánh đèn giăng mắc muôn nơi, thanh bình tiếng guốc reo vui..."

... " Đêm khuya trăng mơ , mắt trông về nơi cõi xa mờ, nơi xa xăm kia ,tôi say nhìn quê cũ mến yêu, ôi tình quê hương, nơi chốn xa có người mẹ hiền, tóc màu hoa bạc, chiều chiều mắt ngấn lệ chờ con"

Đó là đau đáu tình quê.


Vận nước càng đi vào chỗ điêu linh, thì chia lìa tang tóc càng lớn. Giặc cộng chiếm miền Nam.

Hàng triệu thuyền nhân tuôn ra biển, hàng trăm ngàn người vượt núi vượt rừng tìm nơi tránh cộng sản.

...."Sài gòn ơi...ta có ngờ đâu rằng, một lần đi,là một lần vĩnh biệt, một lần đi là mất lối quay về ...

" tôi hay nhớ về quê nhà, nhất là những buổi chiều mưa bay, cũng may Cali trời mưa rất ít, không như Sài Gòn, nếu không tôi đã khóc, đã khóc một giòng sông..."

..."nắng ở đây cũng là nắng ấm, nhưng ấm sao bằng nắng ấm quê hương "

Đó là đau đáu tình quê.

Và bây giờ cho dù đã 47 năm sau, vẫn còn nhiều con người Việt nam sinh ra lớn lên dưới thời cộng sản này ,tìm cách bỏ làng bỏ nước ra đi, tha phương tìm sống,

Họ lang thang thất thểu ở những miền đất nước xa lạ, bị hiếp, bị cướp dọc theo những khu rừng biên giới Pháp và Anh, chết cóng ,chết ngộp trong thùng xe tải, tôi tin rằng, hồn họ vẫn đau đáu tình quê..


Bây giờ mua vé máy bay dễ dàng để quay về, không còn là vĩnh biệt, không là mất dấu quê hương, nhưng..

_Về đi, về để thấy nắng quái trên quê hương, về để thấy quê hương ghẻ lở, về để thấy sông ngòi, biển rộng chết, về để thấy rừng tàn núi lở..

_Về để thấy người chết vì bị xe đụng, đắp chiếu dọc đường số1 hàng ngày , về để thấy đâu đâu trên quê hương cũng đầy rác rưới..

_Về để thấy bịnh viện, tiệm bán quan tài làm ăn phát đạt, về để thấy người đạp lên nhau để sống, về để thấy hung thần sát khí từ ngoài đường vào tới công sở

và rồi sẽ chết nghẹn tình quê..


Về để thấy quê hương đầy bọn giặc tàu, về để thấy những thân hình béo nung núc mở của bọn tự xưng là đầy tớ của nhân dân, về để thấy chúng nhởn nhơ trên sự nghèo đói của đồng bào, hống hách hách dịch cửa quyền

_Về để thấy chúng dùng vũ lực,âm mưu để cướp nhà cướp ruộng, cướp vườn, cướp đất của người dân

_Về để đi cho tận cùng của đất nước ,để chứng kiến bằng mắt của mình, để rồi khi về lại bên này, sẽ thấm hồn đau, rồi lại đau đáu tình quê, chứ còn về cưỡi ngựa xem hoa thì không có gì để nói.


Đất nước chúng mình, xưa kia xinh đẹp vô cùng, chỉ gần 50 năm dưới sự thống trị của lũ giặc cộng này, đã thành

"một mảnh dư đồ rách nát tả tơi "

Và trước sau gì cũng trở thành một tỉnh của bọn tàu cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, nếu bọn cộng sản giáo điều vẫn còn thống trị.

_Với tiềm lực sẵn có của mấy triệu người Việt ở hải ngoại, chỉ cần 20 năm để xây dựng tái thiết quê hương, nếu bọn việt cộng này tỉnh thức, dẹp bỏ chế độ ngu xuẩn, độc tài, nô lệ ngoại bang của chúng

Chúng muốn cầm quân,cầm quần, cầm quyền, cầm cái mảmẹ gì của chúng thì cứ mà cầm, nhưng phải đặt sự tồn vong, quyền lợi, danh dự quốc gia, và phúc lợi của người dân lên trên hết. Họa may quê hương sẽ sống lại

Phải sống và làm việc theo luật pháp rõ ràng, lúc đó tôi tin rằng, người người sẽ trở về, người người sẽ góp một bàn tay.. xây dựng lại xóm làng và đất nước.


Nhưng đó chỉ là mơ, vâng chỉ là mơ tưởng hảo huyền, vì bọn việt cộng sẽ không bao giờ thay đổi..

Chỉ có lòng dân

Thôi , đau đáu tình quê một chút thôi, kẻo thiên hạ nói mình khùng.

Càng già càng thấm Cảm Hoài của Đặng Dung...

...Trẩy binh vô lộ vấn thiên hà...

Đành thôi tự hỏi lòng ta.

Với ai để cạn chén quan hà

Trên bến đò chiều gõ kiếm ca" .

Mời các bạn xem lại những hình ảnh sông nước Thủ Thiêm xưa, lấy từ facebook của bạn Nam Ròm, để đau đáu tình quê...

Thủ Thiêm là một địa danh bên kia Sài Gòn, thời chính phủ Ngô Đình Diệm, đã ban hành một sắc lịnh, phát triển Thủ Thiêm qua kế hoạch của Ông Nguyễn Tấn Đời:

Mỗi Người Dân Một Căn Nhà.


Nhưng tiếc thay, chưa thực hiện được thì xảy ra cuộc đảo chính khốn nạn của bọn phản tướng, giết chết ông và bào đệ.

_ Thủ Thiêm là nơi mà những người Hoa chạy từ Biên Hòa về khi quân Tây Sơn tàn phá Biên Hòa

_Thủ Thiêm cũng là hang ổ của bọn việt cộng trước 75 dùng làm căn cứ, để đêm đêm mò qua Sài Gòn, đặt bom, đặt mìn, giết hại và khủng bố người dân vô tội.

_Thủ Thiêm cũng là nơi mà hàng ngàn người Sài Gòn bị việt cộng chiếm đoạt nhà cửa,sau 1975, trôi dạt về đây.

Công lao hãn mã, bị cộng sản xúi ăn cứt gà của thành phần du kích đó, bây giờ đã được bọn cộng đền đáp bằng cách cướp nhà.

Những tấm bằng khen, bằng liệt sĩ cháy theo ngọn lửa.

Bây giờ sống vật vờ trên chính quê hương mình, có khi nào nhớ lại những ngày xưa êm ả, người dân Thủ Thiêm có đau đáu tình quê.


Ps: Bài này của thằng Quang Caumuoi ...viết 4 năm trước, tôi hiệu đính lại.

Tài liệu Nguyễn Tấn Đời do nó sưu tầm, chứ không đi lấy của ai hết.

Ngày mới bình an các bạn.


Thanh Loan chuyển

Chính Quyền Trump Nói Một Đằng, Làm Một Nẻo - Nguyễn Văn Khánh


Nhiệm kỳ 2 của ông Trump gây ra nhiều tranh cãi trong dư luận, nhất là những người theo dõi chính trị!

Giới ủng hộ Ukraine cực kỳ thất vọng vì ông Trump và chính quyền Mỹ tiếp đón linh đình Putin, một tên xâm lược Ukraine ở Mỹ, rồi ép lên ép xuống Ukraine phải nhượng bộ lãnh thổ lấy hòa bình, có lợi cho Putin xâm lược, điều này gây phẫn nộ cho lực lượng dân chủ, đồng thời giảm viện trợ, đẩy gánh nặng cho EU,

Tưởng vậy nhưng không phải vậy, ông nói ra những điều này trên truyền thông nhưng hành động lại khác hoàn toàn, đây mới là quan trọng nhất.

Ông tăng cường trừng phạt Nga, áp dụng thuế cao nếu nước nào mua dầu Nga, ngay cả Ấn Độ cũng phải nghe lời Mỹ , thực hiện yêu cầu của tổng thống Trump.

Bắt giữ tàu Nga chở dầu cung cấp cho Cuba , chưa ai dám làm việc này như ông Trump.

Cực kỳ quan trọng là bắt giữ tổng thống Venezuela,chặt chém toàn bộ chế độ độc tài toàn trị này, coi như nguồn sống dầu khí sang Cuba chấm dứt, Putin và Tập Cận Bình mất đồng minh chiến lược cùng với Cuba.

Việc Trump gây sức ép ngoại giao, kinh tế một thời gian dài với Iran, nhưng nỗ lực ngoại giao không hiệu quả với  hồi giáo cực đoan này! Bắt buộc phải dùng quân đội tấn công vào sào huyệt và kết quả :

Tên độc tài hồi giáo và hầu hết lãnh đạo bị tiêu diệt, mở ra một thời kỳ mới cho nhân dân Iran thay đổi về dân chủ tự do .

Nhìn ngắn hạn thì chưa có thay đổi gì ở chế độ này, nhưng một thời gian nữa chắc chắn thay đổi theo hướng dân chủ bầu cử tự do.

Những việc làm của chính quyền Trump tưởng như có hại cho Ukraine nhưng bây giờ nhìn lại thấy có lợi cho Ukraine và EU nhiều!

EU từ phụ thuộc Mỹ bây giờ tự mình sản xuất vũ khí hiện đại như Đức, Pháp, Ba Lan, Ukraine, đây mới là quan trọng nhất!

Cả vùng đảo của Đan Mạch cũng được Trump đánh thức, biết tự bảo vệ khi Nga , Trung Quốc tấn công bất ngờ!

Ukraine Zelensky mạnh mẽ hơn hẳn và tự chủ trong cuộc chiến chống Putin!

Mỹ cũng mạnh mẽ hơn khi dùng sức mạnh quân sự và ngoại giao, kinh tế với Nga và Trung Quốc.

Nước Mỹ bây giờ mạnh mẽ hơn trước rất nhiều, Nga, Trung Quốc không dám cùng phe với Iran, Cuba nữa!

Nếu mười năm trước thì Mỹ chết đòn với Nga và Trung Quốc!

Nước Nga hoàn toàn suy yếu bị Ukraine làm mất vị thế, bây giờ Putin chỉ lên tiếng bằng mồm thôi, không có gì ủng hộ Venezuela, Cuba, Iran … Những đồng minh này coi như sụp đổ dưới chính quyền Trump.

Chỉ những người nhìn xuyên suốt sự việc mới nhận ra, còn rất đông u mê chửi bới chính quyền Mỹ, thôi kệ!

Lực lượng dân chủ Việt Nam có cơ hội nhất định khi biết tận dụng lợi thế.


2.3.2026

Nguyễn Văn Khánh | Đàn Chim Việt Online - Thông tin - Chính trị - Nghị luận

#641 - Té Đập Đầu Có Ảnh Hưởng Trí Thông Minh? Tác Hại Khi Uống Kháng Sinh Và Cần Làm Gì? - BS.Phạm Hiếu Liêm

<p> 

Nó & Biến Thiên Cuộc Đời - Lê Phi Ô


Chuyện thật kể về một người Lính VNCH trước và sau 30 tháng 04 năm 1975.


Tôi biết Nó từ khi hai đứa còn cắp sách đến trường ở bậc Tiểu Học, rồi cả hai chúng tôi cùng vào năm Đệ Thất trường Trung Học công lập Phan-Bội-Châu, Phan-Thiết.

Quê Nó tận ngoài xứ Huế xa xôi, Mẹ nó...một Cụ bà khoảng tuổi 50, sở dĩ tôi gọi là Cụ bà vì với tuổi tác của một đứa trẻ hơn 10 tuổi như tôi lúc đó, thì người lớn cở tuổi 50 đối với chúng tôi phải gọi là Bà. Bà cụ dáng vóc nhỏ nhắn, khi ra đường lúc nào cũng mặc chiếc áo dài, đôi khi người ta thấy Bà đeo một chiếc vòng nơi cổ theo như cách phục sức của hầu hết đàn bà xứ Huế. Bà có tài về gia chánh, Bà nấu những món ăn xứ Huế ngon tuyệt, nghe nói Ông Ngoại nó khi xưa làm Quan ở Triều Đình nên con cháu, nhất là con gái phải đi học về nữ công gia chánh. Ba nó lớn hơn Mẹ nó một con giáp, Ông cụ là một nhà Nho và là bạn rất thân với Cụ Tản-Đà Nguyễn-khắc-Hiếu. Trước 1945, Ông Hồ-chí-Minh mời Ba nó làm cố vấn cho Việt Minh ở Liên-khu 5 (Quảng-Nam, Quảng Ngãi, Bình-Định và Phú-Yên), Ông cụ không thích cộng-sản nên từ chối khéo. Khuyến dụ không được, bọn chúng bắt cóc Ông đưa vào vùng "kháng chiến". Mãi cho đến khi Ông lâm trọng bệnh bọn chúng mới cho Ông về Đà-Nẳng để chửa trị...và Ông đã tìm cách trốn vào Sài-Gòn, Ông sống với nghề viết Báo và dạy kèm chử Nho (môn Cổ Ngữ) cho những người chuẩn bị thi Cử Nhân. Thời Pháp thuộc, ở Sài-Gòn có một tờ Nhật Báo "Thần Chung", tên nầy do Ông đặt ra.

Khi Ba nó trốn đi, bọn Việt Minh cộng-sản bắt mẹ con Nó làm con tin và giữ hai mẹ con trong vùng rừng núi Quảng-Nam, dân địa phương gọi nơi đó là trên "Nguồn". Lúc đó Nó chỉ mới 5 tuổi, Chi bộ Việt Minh ở đó, gom tất cả trẻ em từ 5 đến 12 tuổi, dạy cho bọn trẻ cách canh gác và báo động khi thấy lính Lê-Dương đi ruồng bố. Một hôm, vì ham chơi, bọn Lê Dương đến rất gần...Nó vừa kịp đưa nón lá lên quạt (ám hiệu báo động có lính Pháp) thì nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Thằng nhỏ cùng tuổi với Nó trúng đạn chết ngay tại chổ, riêng Nó bị té xuống mương nước nhưng ráng chịu đau...đứng dậy chạy dưới lằn đạn. Bọn lính Lê Dương mang đồ nặng và giày Đinh chạy dưới ruộng nước chậm chạp nên không bắt kịp Nó. Tai nghe văng vẵng tiếng Mẹ nó gào khóc từ xa: "Chạy con ơi !...chạy !". Cả xóm độ vài ba chục người gồm người già, đàn bà và trẻ con chạy trối chết vào sâu trong núi trốn, mấy ngày sau mới dám mò về làng vì đói. Còn Việt Minh CS thì không thấy thằng nào cả, bọn nó bỏ cả dân chúng chạy trước để thoát nạn.

Vì rừng thiêng nước độc, đau yếu không có thuốc men, hai mẹ con bị sốt rét rừng đầu rụng hết tóc, da vàng như nghệ và coi bộ không sống nỗi. Bọn Việt Minh CS mới cho mẹ con Nó về Nam-Ô (Quảng-Nam) để chửa trị, trên đường về phải luồng lách qua nhiều cánh rừng. Khi ngang qua một trảng trống có vài miếng ruộng nhỏ...máy bay Pháp thấy nên sà xuống bắn. Mẹ nó trốn trong bụi Dứa, còn Nó nằm nép sát bờ ruộng giả chết (theo lời dặn trước của Việt Minh). Khi máy bay đi xa, cả hai mẹ con chạy trối chết đến chiều mới ra được bờ sông, từ đây phải chờ ghe của mấy người đi vớt củi trên sông để đi nhờ về chợ Nam-Ô khoảng gần mười cây số.

Lợi dụng cơ hội hiếm có, cả hai mẹ con trốn thoát bằng đường biển vào Phan-Thiết sống nhờ bà con. Thời gian ở Phan-Thiết, mẹ con Nó nhiều lần vào Sài-Gòn tìm Cha. Ông giờ đây già yếu, Nó sống với Cha không bao lâu thì Ông chết. Dạo đó, báo chí Sài-Gòn trên tờ Phân-ưu có viết: "Cụ Lê Cương Ph. nhà Nho cuối cùng của làng báo Việt-Nam không còn nữa !", trong lúc hấp hối, Ông cụ có viết để lại hai câu đối: "Bể trầm luân theo chúng lội ra khơi, sáu mươi năm nào giận...nào cười...nào khóc...nào thương. lăn lóc vở tuồng trên vũ trụ - Cuộc phiền não khiến mình qua đủ cửa, ba thước đất hết dại...hết khôn...hết ngu...hết trí, rỏ ràng hạt bụi giữa tan thương !".

Số phận Nó long đong, ở Phan-Thiết cũng không bao lâu. Người bà con là một viên chức Chính-Phủ bị Việt Minh CS sát hại, người khác bị thương nặng trong một cuộc phục kích. Gia đình ly tán từ đó, mẹ con Nó dìu dắt nhau vào Sài-Gòn sống nhờ một gia đình bà con khác. Ông nầy là dân nhà Binh nên nay chổ nầy mai chổ khác. Nó đã từng theo Ông sống ở Thủ-Đức (trong trường Bộ Binh), rồi Vũng-Tàu, Cà-Mau, Cần Thơ, Mỹ-Tho, Gia-Định rồi Thủ-Đức..v..v.., do đó việc học nhiều lần cũng gián đoạn. Khi hai đứa chúng tôi còn học chung ở bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp, vào những dịp trại hè hoặc liên hoan ở trường, Nó thường lẻn trốn ra ngồi một mình nơi chổ vắng. Tôi hiểu bạn tôi, tâm trạng của kẻ nghèo, mồ côi Cha...nhất là khi nhìn những người khác, cha mẹ đủ đầy, đi có người đưa...về có người đón. Trước khi Mẹ con Nó trốn thoát vào miền Nam, tài sản...tiền bạc bị bọn Việt Minh CS cướp sạch bằng chiêu bài "Ủng hộ khán chiến". Khi vào được trong Nam, tuy sống với bà nhưng Mẹ nó cũng phải làm việc để có tiền nuôi Nó ăn học, lúc nào Nó cũng chỉ đi, về một mình...!

Năm 1962, hai đứa gặp nhau ở Sài-Gòn, Nó cho biết là đã nộp đơn tình nguyện vào Khóa 15 Liên Trường Vỏ-Khoa Thủ-Đức. Mẹ nó già yếu lại mang bệnh suyển, chút it nữ trang dành dụm khi trốn thoát Việi Minh CS vào Phan-Thiết, tuy sống tiết kiệm tối đa nhưng nay cũng đã cạn kiệt...hơn nữa, ở Tỉnh nhỏ lúc đó chỉ có trường dạy đến lớp Đệ Tứ, muốn học Đệ Nhị cấp phải vào Sài-Gòn. Vừa hoàn tất bậc Trung Học ở Sài-Gòn thì mẹ Nó cũng không còn đủ sức để nuôi Nó ăn học. Trước đó 2 năm, Nó đã xin gia nhập vào "Biệt-Kích Nhảy Bắc": Sở Bắc hay SB (Special Branch). Vì nghe đồn, đơn vị nầy trước khi đi vào lòng Địch (ở miền Bắc) sẽ được nhận trước 12 tháng lương tiền Tử-Tuất. Nó nghĩ, đi lính trước sau gì cũng chết...nhưng it ra, trước khi chết Nó đã có 12 tháng lương tiền Tử để lại cho Mẹ nó sống khi không còn có Nó ! Nhưng là người Nam, muốn được chọn thì phải là người miền Bắc và nói giọng Bắc, nên Nó không được tuyển dụng.

Khi còn học ở Vũng-Tàu 1959, Nó quen một cô bạn cùng trường tên Ph....khá xinh. Nhưng không lâu sau đó, ông Chú nhà binh của Nó đổi đi tận Cà-Mau, Nó phải đi theo. Cuộc đời của Nó là cả một chuổi dài bất hạnh nối tiếp nhau, đôi khi muốn viết thư cho cô bạn nhưng sợ gia đình cô ấy biết được sẽ phiền phức cho cô ấy, nên Nó đành câm nín !

Đầu năm 1963, lúc còn đang học trong Quân trường Thủ-Đức, Nó viết thư cho Ph., và chờ đợi với niềm hy vọng mong manh...thời gian xa cách quá lâu, không biết Ph. còn ở Vũng-Tàu hay không, có còn nhớ đến người bạn mà, đã có lần hai đứa đã nép sát vào nhau dưới mái hiên dài vắng lặng trong một đêm mưa nặng hạt, với tiếng sóng biển rì rào và tiếng gió rít rợn người vọng về từ đỉnh núi...khiến Ph. sợ hãi nép sát vào người Nó hơn. Rồi cả hai thẹn thùng...khi nhận ra rằng vòng tay hai người đan nhau không biết tự bao giờ !!!

Hơn một tháng sau, trước giờ ra bãi học chiến-thuật Nó nhận được thư hồi âm của Ph., "May quá Ph. vẫn còn ở chổ cũ !" thảng thốt gọi tên Ph. và với thái độ không được bình tỉnh, Nó mở thư ra xem...bổng người Nó chao nghiêng, lá thư rơi xuống đất. Anh bạn đứng kế bên cúi xuống lượm lên trao cho Nó và, đột nhiên anh ta nói lớn với viên Sĩ-quan cán bộ: "Thưa Chuẩn-Úy, Anh P.O trúng gió !". Tai Nó ù lên, nhiều tiếng nói lao xao...rồi tiếng xe Hồng Thập Tự thắng gấp, Nó được hai anh Quân Y đưa về bệnh xá.

Lá thư trong tay Nó là một thiệp cưới báo tin ngày Ph. lấy chồng !!! cuối thiệp cưới Ph. viết: "Ph. lấy chồng, P.O có buồn lắm không ?!". Từ đó, cho dù những buổi học Chiến-thuật hoặc Địa hình ngoài bãi tập mệt đến nhoài người...Nó vẫn cứ đều đặn mỗi tối xuống Câu-lạc-bộ "Diệm-Song", gọi ly café đen với một gói thuốc lá, ngồi hút liên tục. Trước khi trở về doanh trại, Nó thường yêu cầu cô Cashier cho Nó nghe bản nhạc "Tà Áo Cưới" của Hoàng-thi-Thơ và Nó khe khẻ hát theo: "Bâng khuâng trong gió bay tà áo, gió hỡi làm sao bớt lạnh lùng ! - Tôi đi, đi mãi theo màu nắng, nắng để lòng tôi với quạnh hiu !"

Sau ngày mãn khóa, Nó theo học khóa căn bản Tình Báo ở trường "Cây Mai" Sài-Gòn, và xin về phục vụ tại Phòng 2 Tiểu-khu Phước-Tuy. Lúc đó Vũng-Tàu chưa tách rời thành Thị Xã mà là một Quận của Tỉnh Phước-Tuy. Mỗi cuối tuần Nó thường thơ thẩn ở bãi trước đường ra bãi Dứa gần Dinh Thượng. Nơi đây bãi cát trắng phau xen kẻ những ghềnh đá mà mỗi cơn sóng vỗ làm tung những bọt nước trắng xóa. Nó, vẫn chỉ một mình ngồi cho đến khuya trong không gian tỉnh lặng, nghe sóng nước rì rào, nghe tiếng Thùy-Dương vi vu vọng về từ bãi trước...những vết chân tình in trên cát thuở nào nay đã mất dấu, cảnh cũ vẫn còn nhưng người xưa mãi mãi biền biệt phương nào !!!

Chiến cuộc lan tràn...trận đánh lớn nhất xảy ra tại Làng Bình-Giã, Quận Đức-thạnh đã gây một số tổn thất cho quân của Chánh Phủ VNCH, trong đó Tiểu-đoàn 4 TQLC là thiệt hại nhiều nhất.

Phòng 3 Tiểu-khu Phước-Tuy quyết định thành lập những toán Thám-sát lấy tên là Quyết Tử, lính được tuyển chọn là những quân nhân gan dạ và tình nguyện từ các Đại-đội biệt lập hoặc thành phần cựu binh từ các Quân, Binh Chủng bị báo cáo đào ngũ với nhiều lý do khác nhau như Dù, TQLC, BĐQ..., Nó được chọn để chỉ huy đơn vị Thám-sát "Quyết Tử" nầy, ban đầu quân số chỉ ở cấp Trung-đội sau lên đến Đại-đội (-) khoảng trên 60 người.

Đang phục vụ trong nghành Quân Báo tương đối it nguy hiểm, nhưng không hiểu sao Nó làm đơn xin ra khỏi nghành và tình nguyện phục vụ bất cứ đơn vị tác chiến nào với lý do đơn giản: "Thích đánh giặc" ! Trong thời gian còn làm việc ở ngành Quân Báo, Nó chỉ huy chỉ một Trung-đội, đôi khi một Tiểu-đội Tình Báo, đột kích vào sào huyệt việt cộng như Mật khu Minh-Đạm, Dinh Cố, Long-Mỹ, Núi Đất...nhất là vùng Long-Tân thuộc Quận Long-Lễ Tỉnh Phước-Tuy, nơi mà quân đội Úc hãnh-diện có một trận đánh để đời. Chỉ với một Tiểu-đội 10 người Nó đã gây hoảng loạn và tổn thất đáng kể cho các đơn vị địa phương việt cộng trong vùng mà bọn VC gọi là "Vùng giải phóng", vì thế Nó được chọn chỉ huy đơn vị Thám-sát Quyết Tử.

Tình hình chiến sự trở nên tồi tệ sau ngày đảo chánh 01 tháng 11 năm 1963, những cuộc chỉnh lý tiếp theo của cấp Tướng Lãnh ở trung ương khiến tình hình ở địa phương càng thêm bi đát. Ấp chiến lược bị dẹp bỏ, lính tráng tự động rã ngũ hoặc đào ngũ, mỗi Đại đội quân số lúc đó không tới 40 người. Bọn cộng-sản lợi dụng tình hình rối ren của miền Nam mở rộng hoạt động phá hoại từ "Chiến tranh Du Kích" chuyển sang "Trận Địa Chiến", điển hình là trận đánh Bình-Giã tháng 12 năm 1964. Mẹ nó, đêm đêm hướng mắt về vùng có Hỏa Châu soi sáng hoặc có tiếng Đại-Bác vọng về, Bà cầu nguyện cho đứa con duy nhất của mình được an lành trên đường dài chiến chinh. Trong một trận đánh lớn tại Xuyên-Mộc tháng 03 năm 1965, Nó bị thương nhưng không nặng. Sau khi xuất viện, Mẹ nó thường ước ao mong sao Nó lấy vợ sớm để Bà có cháu nội. Trong thâm tâm Bà, súng đạn vô tình, lỡ có mệnh hệ nào xảy ra cho Nó...Bà sẽ sống với ai ! - Thương Mẹ, Nó lấy vợ và tháng 07 năm 1966...Bà đã có cháu nội để ẳm.

Cũng cùng thời gian đó, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, với một lý tưởng Quốc-gia trong sáng và với bộ quân phục mặc trên người mà Nó luôn luôn hãnh diện. Thì cũng có, một vài cấp chỉ huy phe phái, chèn ép...Nó đã đụng độ với một sĩ-quan đồng cấp "người nhà" của "Xếp" lớn. Và, Nó bị thuyên chuyển đi nơi khác...nơi mà, rừng núi bạt ngàn, nơi mà việt cộng nhiều hơn lính, nơi mà có hai Quận (Chi-khu) hắc ám nhất: Tánh-Linh và Hoài-Đức (Võ-Xu, Võ-Đắt).

Cuộc chiến Việt-Nam chấm dứt ngày 30 tháng 04 năm 1975. Ngày bi thảm của lịch sử ! Theo cùng vận nước nổi trôi...Nó cùng nhiều trăm, ngàn Quân, Dân, Cán, Chính VNCH khác mà con số lên đến hàng triệu người...trở thành người tù của chế độ mới, chế độ cộng-sản man rợ trên tất cả sự man rợ. Bọn việt cộng muốn trả thù người Lính miền Nam qua mỹ từ "Trại cải tạo".

Năm 1978 Tù "cải tạo" được giao cho công an cộng-sản giam giữ. Giáng sinh năm đó, tại trại tù Suối Máu, Biên-Hòa. Anh em tù nổi dậy, phá rào ngăn cách các trại giam, ca nhạc Giáng-sinh và nhạc Chính-Huấn VNCH suốt đêm. Nó tham gia tổ chức trừng phạt Ăng-ten, dạy bài học đích đáng cho những tên phản bội anh em, hoặc những người có thân nhân là việt cộng muốn lập công "để được cho về sớm" ?!.

Vài tuần sau, bọn công an bắt đầu trả thù, Nó cùng 3 người khác, mỗi người bị nhốt riêng trong một thùng sắt Container, trên người chỉ duy nhất một chiếc quần xà-lỏn, ban ngày nóng như thiêu đốt, ban đêm lạnh cắt da của thời tiết mùa Đông. Cứ hai ngày thì bị công an dẫn đi thẩm vấn một lần, thỉnh thoảng bị đánh đập...Công an tha hồ chửi mắng, thoi, đạp bằng tay, chưn và cả báng súng, riêng Nó bị đánh nặng. Anh Trương quang Q. là bạn cùng khóa với Nó, hàng ngày mang cơm nước đến Container cho Nó, và ngày nào cũng mang cơm thiu về vì Nó bị công an đánh ói máu không ăn uống gì được. Anh Q. phải nấu cháo và hòa tan mấy viên thuốc trụ sinh vào trong cháo khuyên Nó ráng ăn để sống. Vài tuần sau, một người trong nhóm có tên là Long Ca-rô, vì anh chỉ có độc nhất một chiếc áo ca-rô mặc trên người, bị đánh bằng báng súng vỡ sọ chết. Từ đó những người còn lại không bị công an đánh nữa.

Chừng vài tháng sau ngày tù nhân Suối Máu nổi dậy, bọn công an thanh lọc những người tù có thành tích chống đối nhiều nhất, trong đó có Nó, giải giao về khám Chí-Hòa Sài-Gòn. Nơi đây, người tự xưng là cán bộ "chấp pháp" có tên là Trạc, lần lượt thẩm vấn từng người. Tù nhân bị dẫn đến phòng hỏi cung ban đêm, đầu bị trùm kín mít chỉ chừa 2 con mắt. Sau nhiều tháng nằm khu xà lim, tù được chuyển ra khu tập thể. Vào một đêm nhà tù Chí-Hòa đang chìm trong giấc ngủ, đám tù nhân nổi dậy ở Suối Máu bị đưa ra xe bít bùng, mỗi người được cấp phát một ổ bánh mì nhỏ với 2 cục đường tán, không có nước uống. Khi đọc đến tên Nó, thằng công an hằng học: "Anh làm tới Tiểu-đoàn Trưởng, chắc là phải giết nhiều người lắm !", nhưng cũng nhờ đứng gần Nó đọc được nơi trang giấy trên tay thằng công an: "Họ, tên 163 can phạm trại Tân-Hiệp (Suối Máu)", đây chỉ là danh sách đợt đi có mặt Nó. Trên đường đi, mỗi khi xe dừng lại để bọn áp tải tù nhân nghỉ ngơi ăn uống, đồng bào nghèo buôn thúng bán bưng biết được xe chở tù "Cải tạo" là họ kêu ầm lên: "Bà con ơi ! xe chở mấy anh tù cải tạo, bà con ơi...!", thế là, đủ loại bánh kẹo, trái cây, bánh tét, bánh ú, đồng bào liệng tới tấp lên xe, kèm theo lời nói làm anh em tù xúc động vì biết được rằng đồng bào vẫn còn thương những người lính miền Nam sa cơ: "Ăn đi mấy anh, ăn đi các con...!", cảm động nhất là các em bé tuổi từ 10 đến 12, trong cái Nia hoặc Rổ nhỏ vỏn vẹn vài chục trái chuối nấu hoặc mía ghim, cả một "gia tài" nuôi sống gia đình trong ngày, các em hất hết lên xe biếu các chú tù !

Xe chạy đến chiều ngày hôm sau thì tới Xuân-Phước thuộc Huyện Đồng-Xuân, Phú-Khánh (tên gọi mới của việt cộng), tù phải lội bộ vài cây số mới đến trại mang bí số A20, còn có tên gọi khác là Trại Trừng-giới hoặc Trại Kiên giam...nơi kiên trì giam giữ những tù nhân "không cải tạo được" từ các trại giam khác (muốn biết trại giam nầy khắc nghiệt và tàn độc đến mức độ nào, xin tìm đọc cuốn sách: "Trại Kiên Giam" của nhà văn Nguyễn-chí-Thiệp cũng là người tù của trại A20).

Nó bị bộ đội cộng-sản bắt lúc 09:00 giờ sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975 tại chợ mới Vũng-Tàu, trước khi Ông DVM tuyên bố đầu hàng. Bị đưa về giam tại hậu cứ Trung-đoàn 43/SĐ18BB tại Long-Khánh. Khi các người khác trình diện "Học tập cải tạo" (theo cách nói của VC) thì Nó bị nhập chung vào và bị giam giữ ở trại Hố-Nai. Giữa năm 1976 Nó bị chuyển về Suối Máu rồi Chí-Hòa. Từ 30 tháng 04 năm 1975 đến giữa năm 1979 (4 năm), Vợ Nó thăm hoặc gởi quà tất cả 6 lần.

Đầu năm 1976, khi còn bị giam tại Hố-Nai, Vợ nó báo tin Mẹ nó chết. Đau đớn đến tận cùng, Nó toan trốn trại mấy lần. Bất ngờ bị chuyển về Suối Máu nên ý định bất thành...và cũng thời gian nầy, những gia đình ở Bà-rịa thăm nuôi chồng, các bà xầm xì với chồng cũng là bạn tù của Nó về Vợ nó...it gởi quà hoặc thăm nuôi Nó, và cuối cùng Nó cũng hiểu được rằng: Vợ nó bây giờ không còn là của Nó nữa, tiếc rằng quá sớm, quá sớm để thay lòng đổi dạ một con người, chuyện xảy ra chỉ hơn một năm kể từ ngày Nó bước chân vào trại tù.

Nó lầm lì it nói hơn, suốt ngày anh em thấy Nó may vá cái ba-lô lấy vải từ chiếc võng nhà binh đã cũ, nếu tinh ý sẽ thấy Nó đang chuẩn bị cho một cuộc trốn trại. Và, lũ chó săn (Ăng-ten) cũng có đứa tinh ý nên...chỉ trong vòng 4 tháng, Nó bị chuyển từ K2 đến K4, rồi K3 và về lại K2 (Trại tù Suối Máu có 5 khu, từ K1 đến K5). Cho đến đêm Giáng-Sinh năm 1978, cuộc nổi dậy của tù nhân Suối Máu khiến cho bọn VC sợ hãi điều động bộ đội và cả Trung-đoàn xe Tăng T54 bao vây bên ngoài...và, Nó có tên trong số tù nhân bị chuyển về nhà tù Chí-Hòa như đã nêu trên.

Ở trại tù A20 Xuân-Phước, mọi tù nhân đều bị lao động khổ sai, đào mương, vét cống, cuốc đất trồng khoai mì, kéo cày thay trâu v..v.. Mỗi người chỉ nhận được 2 chén khoai mì H34 với nước muối cho một bửa ăn, loại khoai mì H34 chỉ để dùng trong kỷ nghệ chế biến, cho heo ăn, Heo cũng không thèm ăn.

Suốt 6 năm tù sau cùng...Nó chỉ ăn toàn bắp, khoai mì H34 với nước muối. Vào dịp tết âm lịch, Nó cũng như mọi tù nhân khác được ăn hai bửa cơm, mỗi bửa 2 chén cơm lưng, với một cục thịt heo lớn bằng ngón tay, và chỉ có thế. Mẹ chết, Vợ bỏ, tứ cố vô thân không ai thăm hỏi, sức lực không còn thêm vết thương tinh thần quá lớn làm Nó suy sụp thấy rỏ. Một hôm đang lao động, Nó ngã gục vì kiệt sức, may nhờ có Bác-sĩ Trần-quý-Nhiếp Thiếu Tá Nhảy Dù ở chung một nhà tù với Nó cứu chửa kịp. Không có thuốc men gì cả, Anh Nhiếp châm cứu Nó bằng những cây kim làm bằng giây điện thoại lượm được khi đi lao động. Tình trạng đói khát và lao động khổ sai nầy nếu kéo dài...có lẽ Nó không thể nào sống nổi.

Một hôm đang đào ao cá trong trại, Nó gặp anh Ph. ở đội Văn Thể (Văn nghệ - Thể thao) rủ Nó xin về đội Văn Thể để đở phải lao động ngoài nắng. Anh Ph. là một kép hát cải lương (hiện còn ở VN), bị án tù 10 năm về tội "Phản cách Mạng" khi tham gia vào một phong trào phục quốc sau 30 tháng 04/1975. Anh Ph. biết rỏ Nó có nghề Ảo thuật, Nó là bạn của Nhạc-sĩ Bảo-Thu tức Ảo-thuật-Gia Nguyễn-Khuyến. Chỉ còn con đường cuối cùng là vào đội Văn Thể may ra mới có thể sống còn để về với 4 đứa con, mà đứa lớn nhất 13 hoặc 15 tuổi (1981).

Gần cuối năm 1981, một anh trong đội Văn Thể gọi Nó lên nhận quà của gia đình gởi. Phản ứng đầu tiên là Nó giận dữ và cay đắng nói với anh ấy: "Anh còn cách nào đùa giởn hay hơn nữa không ?!". Ai cũng biết, nhiều năm nay Nó là "con Bà Phước", những ai không bà con, họ hàng thân thích, không hề nhận được chút quà bánh nào từ bên ngoài gởi vào, anh em đều gọi là con Bà Phước. Nhưng thật tình Nó có quà thật, quà của "Vợ" nó gởi ! một gói quà nhỏ gần 2 ký lô, trong chứa thức ăn để dành được lâu ngày vì người tù không có điều kiện để nấu nướng. Một anh bạn khác nhìn thấy Nó đang mân mê gói quà trên tay, anh mừng rỡ nói: "Mầy cũng có...quà hả ?!", câu nói đầy thiện ý, mừng giùm cho bạn nhưng sao Nó nghe như một lời mĩa mai: "Mầy mà cũng có quà nữa sao ?".

Năm 1982, Nó có tên trong số người được thả về, trại tù cấp phát $70.00 tiền VC lúc đó, số tiền chỉ đủ để đở đói lúc đi đường thôi. Nó được công an trại tù chở bằng xe ra tới Ga xe lửa La-Hai, từ đây Nó đón Tàu về Biên-Hòa. Trên đường đi, mỗi khi Nó ăn uống gì xong, khi gọi tính tiền, những người bán hàng đều trả lời: "Có người trả rồi", năn nỉ mãi người bán hàng cũng không chịu nói là ai đã trả tiền giùm Nó. Nó đành phải cám ơn người bán (người bán hàng có thể là một Ông già, một Chị, một cô Gái hoặc một em nhỏ tuổi chừng 15, 16). Một chút xúc động về tình người làm tim nó cảm thấy ấm áp, cái cảm giác mà Nó tưởng chừng đã tê liệt suốt những năm tháng tù tội. Hành trang của Nó khi ra khỏi trại tù cộng sản chỉ vỏn vẹn một bàn chải đánh răng đã cùn, một bộ đồ mặc trên người với hàng trăm mảnh vá, trên lưng áo cũng như hai bên ống quần còn nguyên dấu hai chử "cải tạo" bằng sơn đen to tướng. Nhưng cũng nhờ thế, ai thấy cũng muốn giúp đở, ăn uống gì xong người bán đều trả lời: "Đã có người trả tiền !".

Về đến chợ Biên-Hòa lúc 04:00 giờ sáng, có người chỉ cho Nó tìm mấy xe hàng chở Dưa Hấu, họ sẽ đi Bình-Giã chở Dưa lúc 06:00 giờ. Người Tài xế tốt bụng cho Nó đi nhờ xe về "quê vợ" Nó ở Bà-Rịa.

Hơn 08:00 giờ sáng xe tới Bà-Rịa, Nó lững thững đi bộ về "Nhà". Khi ngang qua một tiệm bán Bún Bò Huế, một người gọi tên Nó: "Ê, P.O vào đây !", Nó quay lại thấy X. "Pháo-Binh", anh bạn nầy được thả về trước, trên tay cầm xấp vé số. X. lôi Nó vào quán, lần đầu tiên sau 7, 8 năm Nó mới được ăn một tô bún bò ngon như thế. Hai người ăn xong, đang xỉa răng thì X. ngập ngừng: "Trước hết, mầy hảy bình tỉnh nghe tao nói !". Nó biết X. sẽ nói gì...vì từ lâu Nó đã chuẩn bị tinh thần để nghe chuyện nầy. X. tiếp: " Sau khi tao nói xong, mày muốn về thì...về, còn như không muốn về thì...mầy theo tao, ở tạm nhà tao rồi tính sau !"...và, với giọng trầm buồn X. kể những điều nghe, biết về "Vợ" nó. Nó ngồi nghe X. kể với gương mặt giá băng và bất động, duy chỉ có ánh mắt là không thể nào dấu được nét xúc động !

Thằng X. thương bạn nhưng không biết phải làm sao ! X. gọi café sữa đá cho hai đứa. Nó không thể nào uống nổi một hớp dù chỉ là một hớp nhỏ. Không gian như ngừng đọng, khi thằng X. lay khẻ tay Nó như chợt tỉnh, nói nhỏ với X. như nói với chính Nó: "Tao phải về, từ lâu...tao chưa được gặp con tao, tụi nhỏ bây giờ chắc...lớn lắm !"

Gần một tháng sau ngày về "Nhà" gặp được mặt con, người ta thấy Nó khiêng vác ở chợ cá Bà-Rịa. Ban đêm Nó ngủ ngồi ở sạp cá, dù mõi mệt cách mấy Nó cũng không dám nằm, Nó không muốn người ta thấy Nó...tàn tạ như vậy ! Vào những đêm trăng, mấy người đi Chùa ở Xóm Cát, khi ngang qua Nghĩa-địa Việt-Hoa, thỉnh thoảng có người nhìn thấy Nó ngồi...khóc trước Mộ của Mẹ nó...Nhiều người ở Bà-Rịa đều biết cái chết thảm thương của Bà Cụ, nhất là hai mẹ con cô Th..., Y-tá làm việc trong bệnh viện. Người ta nói, khi mẹ nó bị bệnh không biết nặng nhẹ, "Vợ nó" mang vào rồi quay lưng như người xa lạ. Bệnh viện thời việt cộng (tháng 01 năm 1976) không có trách nhiệm nuôi ăn bệnh nhân, các con của Nó thì còn quá nhỏ, đứa lớn nhất chỉ mới 9 tuổi, vài ngày sau Mẹ nó chết...vì đói !!! Đám ma mẹ nó chỉ có một người duy nhất mang hòm đi chôn, đó là Cậu em vợ của Nó. Người hàng xóm cho 4 tấm ván tạp để đóng hòm, tạm gọi là hòm vì 4 tấm ván kích thước, dày, mõng khác nhau.

Đôi khi uất ức về cái chết thảm thương của mẹ nó, Nó đã gói sẳn con dao bén nhọn trong tờ báo...nhưng khi nghĩ đến những đứa con, Nó không muốn các con của Nó mồ côi Mẹ hoặc Cha, hoặc cả hai !

Năm 1988, Nó vượt biên bằng ghe và định cư ở California tháng 03 năm 1989.

Người đàn bà nguồn hy vọng cuối cùng của Nó khi ra khỏi tù, có với nhau 4 đứa con đã phản bội Nó trong tháng ngày tù tội, nghiệt ngã... cùng sống trên mảnh đất nầy. Làm thơ, viết văn...lại được tán dương, ca ngợi hết lời ! Nó im lặng, thở dài, ngao ngán ! Trường hợp của Nó, bạn bè đều biết, đôi lần muốn chia sẻ...nhưng Nó vẫn giữ im lặng!


Lê Phi Ô