Từ lâu, học thuyết chống khủng bố của chúng ta đã có một điểm mù — điểm mù khi nói đến bạo lực cực đoan từ chính trị tả phái.
Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Monday, July 20, 2026
Nước Mỹ Sẽ Không Còn Phớt Lờ Mối Đe Dọa Bạo Lực Cánh Tả Nữa - Marco Rubio
Truyện Giả Tưởng: Một Ngày Trong Đời Của Ông John - Đào Văn Bình
Năm 2050
Lúc
bấy giờ là 8:30 sáng. Sau khi đưa con cái đi học về, cho xe vào nhà xe, Ô. John
vội vã ném hai giỏ quần áo vào chiếc máy giặt, đổ chút xà-phòng, cho máy chạy rồi
nặng nề bước vào nhà bếp. Ông đưa tay lấy tờ giấy gắn trên chiếc tủ lạnh là nơi
mà bà vợ trước khi đi làm muốn dặn dò ông điều gì thì ghi vào rồi để lên đó cho
ông khỏi quên. Ông pha một ly cà-phê, làm một đĩa trứng chiên, lấy một chút bơ,
vài thỏi xúc-xích và bánh mì sandwich rồi cầm mảnh giấy đi về phía bàn ăn. Đây
là lúc ông cảm thấy thanh thản nhất để thưởng thức bữa ăn sáng – dĩ nhiên một
mình và trong yên lặng để nghiền ngẫm những gì vợ ông dặn phải làm trong ngày…
có khi cả tuần không biết chừng. Tờ giấy viết: “ Ăn sáng và giặt quần áo xong
anh nhớ hút bụi mấy tấm thảm (hơn ba tháng rồi nhà mình chưa giặt thảm). Giặt thảm
xong anh coi lại mấy món đồ ăn trong tủ lạnh, thứ nào “quá đát” thì bỏ đi và
chùi sơ sơ tủ lạnh cho khỏi hôi. Sao garage nhà mình lúc này đồ đạc nhiều quá!
Thứ nào không cần thiết anh để qua một bên rồi gọi cho Goodwill. Sau đó nếu trời
nắng ấm nhớ tắm cho mấy con chó, cắt cỏ và tỉa bớt mấy bụi hoa mọc um tùm (anh
ráng chút xíu nhé, weekend này em đưa anh và các con đi ăn nhà hàng). Làm
xong mấy việc này em nghĩ cũng đã hơn mười giờ rồi. À, lúc này em thấy anh lên
cân và yếu đi nhiều. Nhớ tập thể dục cho đều đặn. Bộ đồ tập thể dục mua mấy
ngàn đồng mà để nằm đó thì uổng phí lắm. Ăn trưa xong, nghỉ ngơi chút xíu rồi
chuẩn bị đón các con đi học về. Nhớ đừng cho tụi nó coi TV nhiều quá. Anh chiều
tụi nó, chúng nó hư (Con hư tại bố, cháu hư tại ông nội) cho mà coi! Nhớ
kiểm soát xem chúng nó có làm homework đàng hoàng không (semester vừa rồi
con Jenny không còn straight A nữa đó!). À, tí nữa em quên, anh coi lại xem
đã tới lúc gia đình mình phải check up sức khỏe định kỳ chưa? Nếu tới kỳ thì
anh làm hẹn dùm em. Nhớ lấy thư, bill và giấy tờ quan trọng để qua một bên, quảng
cáo và thứ gì không quan trọng để qua một bên (lúc này trong hãng của em bận
rộn nhiều lắm). Còn về bữa cơm chiều, không hiểu sao tự nhiên em thèm món
thịt bò xào broccolli, cá chim chiên dòn và súp hành tây. Anh nhớ nêm muối ít
muối thôi. Ăn mặn quá coi chừng bị high blood pressure đó. Have a nice
day !!!”
Đọc xong tờ “mệnh lệnh” dài lê thê, ông John
không nén được tiếng thở dài. Đã hơn bảy năm qua, theo lời khuyên của vợ, báo
chí, truyền hình và nhất là bạn bè, ông không đi làm nữa mà ở nhà lo công việc
“tề gia nội trợ”. Đàn ông lúc này xin việc rất khó khăn bởi lý do không sao cạnh
tranh nổi với các bà. Mướn đàn ông làm việc, các hãng xưởng, công ty phải đối đầu
với vấn đề kỳ thị nam-nữ, vấn đề “sexual harrasment” và nhất là hằng trăm các hội
bảo vệ phụ nữ, các hội nhân quyền xía vào khiến công ty nào cũng điên đầu. Thôi
thì thời thế đã thay đổi, mướn các bà an toàn hơn là mướn các ông. Trong công sở,
nơi làm việc mà toàn các bà thì còn gì có chuyện kỳ thị nam nữ và nhất là chuyện
“sách nhiễu tình dục”? Vai trò lịch sử của đàn ông kéo dài hơn năm ngàn năm đã
qua rồi. Các nhà nghiên cứu xã hội cho rằng từ đây cho đến ngày tận thế, vai
trò quản trị đất nước, xã hội, sản xuất thuộc về đàn bà. Các bà cai trị thì mọi
thứ đều êm ru, đâu vào đó. Còn các ông bây giờ xin lui về chức phận của phụ nữ
cách đây vài trăm năm – tức là phòng the, kim chỉ vá may, nuôi dạy con cái, lo
việc tề gia nội trợ và tập luyện thân hình cho khỏe đẹp để trang điểm cuộc đời
cho các bà. Đàn ông ra ngoài đường bây giờ “rụt rè như gà phải cáo”, không còn
dáng vẻ tự tin như nửa thế kỷ trước nữa. Để thông cảm và khuyến khích việc
“tề gia nội trợ và nuôi dạy con cái” chính phủ cũng đã ban hành
quy chế trợ cấp cho đấng phu quân nào tình nguyện ở nhà để làm thiên chức
cao quý đó. Đó cũng là điều Ô. John cứ ray rứt suy nghĩ mãi, nhất là vào những
bữa ăn sáng một mình vắng lặng như thế này.
Sau khi ăn sáng xong. Trong khi chờ đợi quần
áo khô, Ô. John có thói quen mở truyền hình coi tin tức năm mười phút để
rồi sau đó bắt đầu công việc mà vợ giao trong ngày. Đài truyền hình thể thao vừa
bật lên, hai nữ võ sĩ đang quần thảo nhau trong trận vô địch thế giới Kick
Boxing thật gay cấn. Ở hiệp thứ hai, cô thì hai mắt sưng vù, cô thì lỗ mũi ăn
trầu. Cuối cùng ở hiệp thứ ba, cô gầy hơn một chút đá cô mập một cú song phi
trúng cằm, té ngay xuống sàn. Khi trọng tài đếm đến bảy, cô lảo đảo đứng dậy
thì bị đối thủ xông tới đấm tới tấp vào mặt và té quay lơ. Huấn luyện viên,
chuyên viên đấm bóp và ủng hộ viên nhào lên võ đài công kênh nhà nữ vô địch lên
vai trước sự reo hò cuồng nộ của khán giả trong khi cô bị hạ đo ván còn nằm
tênh hênh trên sàn. Tiền thưởng dành cho trận đấu thật kỷ lục. Võ sĩ thắng cuộc
được 7 triệu, võ sĩ thua cuộc 3 triệu. Các nhà bình luận Kick Boxing cho rằng
đây là trận đấu lịch sử của hậu bán Thế Kỷ 21 vì số khán giả cũng như tài nghệ
của hai võ sĩ. Nhìn cô võ sĩ bị hạ đo ván, Ô. John ngớ ngẩn than vãn, “Ngồi
trong phòng the, được người ta cưng chiều như bà hoàng không muốn, lại muốn lên
đây đấm đá, nằm chỏng trơ trên sàn, mặt mày như cái mền rách.”
Trước ý nghĩ chua chát và hình ảnh quá violent
đó, Ô. John chuyển qua xem chương trình sinh hoạt cộng đồng cho đỡ buồn. Một nữ
ứng cử viên trong cuộc bầu cử cấp tiểu bang đang hùng dũng tuyên bố nếu như đắc
cử, bà ta sẽ tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và sẽ đệ
trình một đạo luật trừng trị tối đa các ông chồng “harassment vợ” nói khác đi –
tội “mè nheo” vợ. Để hỗ trợ cho đề nghị của mình, nữ ứng viên đã cho trình chiếu
một đoạn băng ghi lại một phiên tòa trong đó một bà vợ đã lôi chồng ra
tòa vì lý do bà đã mệt mỏi mà ông chồng cứ mè nheo đòi “chiều anh tí!” làm bà bực
mình. Sau khi nghe lời biện hộ và cáo buộc của đôi bên, bà chánh án ra lệnh cảnh
cáo ông chồng, nếu còn tái phạm, bà sẽ cho ông chồng ngoan cố này đi “gỡ lịch”
về tội “sexual harassment”. Nghe đến đây Ô. John choáng váng cả mặt mày, tự hỏi
“Bảo vệ tối đa như vậy rồi còn bảo vệ gì nữa? Mè nheo vợ ? Có con ma nào ở thời
đại này dám mè nheo vợ đâu ? Bả cho cái gì thì hưởng cái đó. Mừng hết lớn! Có
đâu mà mè nheo? Ra đạo luật đó để hù dọa, khủng bố ai đây?”
Vừa buồn vừa thất vọng, Ô. John chuyển qua xem
chương trình tôn giáo cho bớt căng thẳng. Trước bục giảng, một nữ tu sĩ
đang thao thao bất tuyệt “ Thưa các bạn. Các bạn thử nghĩ xem đàn ông có
đẻ được hay không? Dê đực, voi đực, bò đực, gà trống, chim trống, cá trống có đẻ
con, đẻ trứng được không? Chỉ có con mái là sinh con đẻ cái mà thôi. Như vậy
thì đàn ông do đàn bà sinh ra chứ không phải đàn bà do đàn ông sinh ra. Vậy thì
lý thuyết cho rằng đàn bà là do cái xương sườn của đàn ông sinh ra là không
đúng. Từ thuở trời đất hỗn mang, đàn bà do tạo hóa sinh ra trước. Rồi do
thụ bẩm khí thiêng của trời đất mà đàn ông từ nách người đàn bà chui ra. Vậy
thì đàn ông là sản phẩm của đàn bà. Đàn ông có tuân theo mệnh lệnh của đàn bà,
có phục tùng phụ nữ, thế giới có đề cao phụ nữ thì cũng là chuyện “lá rụng về cội”
thôi, có gì lạ đâu các bạn? “ Bà vừa nói hết câu thì cả hội trường vỗ tay vang
dội để tán thưởng một ý nghĩ rất thông minh, sáng tạo và ngộ nghĩnh từ trước đến
giờ mới có. Riêng Ô. John thì choáng váng cả mặt mày. Nhưng ông không dám có ý
kiến chi về vụ này vì nó quá quan trọng. Nó liên hệ đến lý luận triết học về
giá trị thời đại. Nhìn lên tường, bức ảnh bán thân của vợ ông lúc nào cũng nở một
nụ cười hiền hậu. Nhưng riêng ông, ông hiểu rất rõ đằng sau nụ cười dễ thương,
khuôn mặt khả ái đó là cả chiếc núi lửa đang ngủ yên nhưng sẵn sàng nổ tung bất
cứ lúc nào. Và cái môi xinh xắn đó cũng hàm xúc cả lời căn dặn “Này, anh liệu cái
thần hồn đấy nhé. Lộn xộn là tôi cho anh ra homeless đó!” Cho nên Ô. John vội
vã chuyển qua coi một chương trình tin tức thời sự để cho biết chuyện đời,
chuyện xã hội với người ta.
Hôm nay đúng vào ngày trình diện tân nội các
của vị nữ tổng thống mới đắc cử. Bao quanh bà tổng thống là mười bà bộ trưởng.
Chỉ có một đấng “tu mi nam tử” duy nhất là ông phó tổng thống đang đứng co ro,
khúm núm bên cạnh các bậc nữ lưu. Sở dĩ bà tổng thống chọn một ngài đực rựa để
đứng phó – cốt để lấy phiếu của đàn ông và cũng để chứng tỏ mình không kỳ thị
nam giới. Bảnh nhất trong nội các phải kể bà bộ trưởng quốc phòng. Bà này trông
hùng dũng như một nữ tướng. Khoảng gần năm mươi năm nay, quân đội tuyển toàn nữ
quân nhân. Sở dĩ người ta giao nhiệm vụ chinh chiến, đánh đông dẹp bắc cho các
bà, các cô là vì các ông mà làm tướng, cầm súng thì bị gán cho tội hiếu chiến.
Còn các bà mà cầm súng đánh giặc thì cuộc chiến tranh hoàn toàn chính nghĩa. Giặc
đến nhà đàn bà phải đánh mà? Điều này hoàn toàn đúng vì kể từ ngày đó, dù đã có
bao cuộc chiến tranh mà chẳng có phong trào phản chiến nào cả. Quân đội Liên Hiệp
Quốc, quân đội gìn giữ hoà bình của NATO mà toàn nữ quân nhân không thôi thì
không ai dám chống lại. Thế giới sống yên ổn là nhờ các bà. Trong diễn văn nhậm
chức, bà tổng thống cam kết sẽ làm đúng những gì bà hứa trong thời gian tranh cử
như phát triển tài năng của phụ nữ, gia tăng sự đóng góp của phụ nữ trên mọi
lãnh vực xã hội, văn hoá, giáo dục, ngoại giao, kinh tế và quốc phòng. Cuối cùng
để an ủi quý ông, bà hứa sẽ đệ trình quốc hội một đạo luật gia tăng “trợ cấp nội
trợ” cho quý ông đang sống yên ổn trong nhà, lo việc tề gia để quý bà lo toan
việc xã hội, việc làng, việc nước. Nghe bà tổng thống tuyên bố thế, Ông John lại
chép miệng thở dài. Ông thẫn thờ đưa tay tắt chiếc máy truyền hình. Khi ông vừa
đứng dậy thì tiếng điện thoại reo vang. Nhấc chiếc điện thoại cầm tay lên, ông
uể oải hỏi:
-John đây, xin lỗi ai đầu dây đó?
Từ đầu kia có tiếng trả lời:
-Michael đây. Anh khoẻ không? Có gì lạ không?
-Không có gì lạ cả.
Rồi không biết do một nguồn hứng khởi nào,
Ông John bật lên lời ngâm nga:
“Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước…”
Thế nhưng ông kềm chế lại được và hỏi:
-Thế anh có khỏe không? Hội mình có gì
lạ không?
Từ đầu kia có tiếng trả lời:
-Ông hội trưởng mấy hôm nay than phiền nhiều
quá. Đã mấy tháng rồi mà không sao triệu tập được phiên họp. Ông phó hội trưởng
nại cớ bận việc không đi. Anh là tổng thư ký cũng không tới. Thế này thì Hội Bảo
Vệ Quyền Lợi Nam Giới của chúng mình phải giải tán thôi!
Nghe nói thế Ông John rầu rĩ đáp:
-Thì anh đại diện cho anh em cũng đủ rồi.
- Đại diện sao được? Tôi là thủ quỹ. Chỉ có thủ
quỹ họp với ông hội trưởng sao gọi là phiên họp của ban chấp hành? Hiện nay ông
chủ tịch có ý định phát động một chiến dịch lấy chữ ký để yêu cầu chính phủ
quan tâm hơn nữa tới quyền lợi của nam giới. Mình đã vào hội thì phải có
trách nhiệm với hội chứ?
- Đồng ý là có trách nhiệm, nhưng tôi sợ đi họp
nhiều sẽ rắc rối với bà ấy.
- Rắc rối sao được? Mình là nam nhi phải có sĩ
khí chứ?
- Ông hội trưởng vợ chết rồi cho nên mới dám đảm
nhậm chức vụ quan trọng này. Anh còn độc thân cho nên chưa hiểu rõ uy quyền của
các bà. Chuyện của hội mình nó tế nhị lắm. Nó đụng chạm đến các bà, đến xu thế
của thời đại.
-Tôi đồng ý là như thế nhưng mình phải ráng
chứ. Tuần này anh cố đi họp nghe? Cố nghe!
Nghe tới đây thì Ông John, tuy trong lòng rối
bời, nhưng không thể nói khác hơn được:
– Ừ, tôi cố, tôi cố gắng tới xem sao!
Đặt chiếc điện thoại lên bàn, Ông John ngồi
thẫn thờ trong giây lát. Rồi ông mắt ông nhìn vào “tờ mệnh lệnh” vợ dặn như
nhìn vào cõi hư vô, cõi mà ngày xưa đàn ông của ông có một quá khứ oai hùng lắm.
Thế nhưng quá khứ đó nay không còn nữa, rồi miệng ông lẩm bẩm:
- Thà yên phận còn hơn! Càng quậy lại càng bết.
Càng quậy lại càng chết! Có lẽ mình cũng nên nạp đơn xin ra khỏi hội cho rồi!
Nói rồi ông lặng lẽ tiến tới chiếc máy giặt
đem quần áo đã sấy khô ra. Ông cẩn thận gấp từng cái, xếp theo thứ tự
ngăn nắp. Và ông làm công việc đó, không phải ngày hôm nay, mà đã từ lâu lắm rồi,
với tinh thần nhẫn nại, âm thầm, khiên tốn và chịu đựng giống như các cô cung nữ
trong các cung điện của nhà vua ngày xưa.
Đào Văn Bình
(Trích tuyển tập Mê Cung do Ananda Viet
Foundation xb năm 2019 phát hành trên Amazon)
Chuyện Người Thợ Mỏ - Đoàn Xuân Thu
Nhìn lại lịch sử khai thác mỏ, thế giới vẫn
không quên những khoảnh khắc căng thẳng tột cùng, khi con người đối mặt với hiểm
nguy và cái chết cận kề dưới lòng đất.
Ở nước Úc xa xôi, nhiều năm qua, các tai nạn
mỏ vẫn âm thầm diễn ra, để lại những câu chuyện vừa đau lòng vừa cảm phục về ý
chí sinh tồn của những con người lao động nơi sâu thẳm.
Trong số những sự việc nổi bật, phải kể đến
những lần thợ mỏ bị kẹt trong các hầm mỏ than, nơi họ phải vật lộn với bóng tối,
độ ẩm ngột ngạt, và không khí loãng khó thở. Một số trường hợp may mắn được cứu,
nhưng nhiều người khác không thể trở về, bỏ lại gia đình và những giấc mơ dang
dở. Các cộng đồng địa phương, từng chứng kiến bi kịch này, họ tổ chức những buổi
tưởng niệm ngắn nhưng xúc động, thắp nến cho những linh hồn đã khuất, đồng thời
nhắc nhở nhau về tầm quan trọng của an toàn lao động trong ngành khai thác mỏ –
một công việc tưởng chừng bình thường, nhưng luôn tiềm ẩn rủi ro chết người.
Những nỗi đau ấy cũng là minh chứng cho sự gắn
bó, lòng can đảm và tinh thần đồng đội của những người thợ mỏ. Dù trong cảnh hiểm
nguy, họ không bỏ rơi đồng nghiệp. Họ san sẻ nước uống, chia nhau thức ăn, giữ gìn
tinh thần và hy vọng rằng một ngày nào đó, bàn tay cứu trợ sẽ đến với họ.
Chuyện người thợ mỏ bị kẹt tại mỏ San Jose,
Chile. Ngày 13 tháng 10 năm 2010, thế giới thở phào nhẹ nhõm khi 33 thợ mỏ
tại mỏ San Jose, gần Copiapo, Chile, cuối cùng được cứu sau 69 ngày kẹt dưới
lòng đất.
Chuyện bắt đầu vào ngày 5 tháng 8, khi phần
trên của hầm mỏ đồng và vàng bất ngờ sụp đổ, làm 33 con người kẹt ở độ sâu 690
mét. Trong khoảnh khắc ấy, các thợ mỏ hoàn toàn biệt lập với thế giới bên
ngoài, không biết liệu ai có biết họ đã mất tích hay không?
Ban đầu, họ tìm được một khu trú ẩn khẩn cấp,
nơi chỉ còn thức ăn và nước uống đủ cho hai ngày. Không có cách nào liên lạc với
bên ngoài, họ phải tự xoay xở, vượt qua nỗi sợ hãi, đói khát và độ ẩm ngột ngạt.
Một số người mô tả cảm giác bị “ăn mòn từ bên trong,” khi cơ thể bắt đầu tự tiêu
hao năng lượng để tồn tại. Richard Villaroel, một trong những người sống sót, từng
kể lại với tờ Guardian: “Chúng tôi chờ đợi cái chết. Chúng tôi gần như tự ăn
chính mình… cơ thể mòn dần, da bọc xương, đói cồn cào.”
“Cabin cấp cứu” hình hỏa tiễn đưa từng người
một lên mặt đất . nguồnwikinews
Để duy trì trật tự, họ lập một “xã hội thu nhỏ”
ngay trong hầm mỏ. Mỗi người nhận một vai trò: linh mục, bác sĩ, nhà thơ, người
dẫn chương trình truyền hình, và quản đốc. Các công việc được phân chia cẩn thận,
từ duy trì vệ sinh đến giữ nhịp sinh hoạt hàng ngày, nhằm bảo toàn tinh thần và
hy vọng.
Họ chỉ còn một lon cá ngừ duy nhất, phải chia
đều cho 33 người, bổ sung bằng một chiếc bánh quy và một ngụm nước. Bữa ăn kham
khổ này được tiêu thụ mỗi 48 giờ, để kéo dài nguồn lực cạn kiệt. Khi đội cấp cứu
gửi xuống các thiết bị tiếp tế thức ăn, nước uống và thư từ từ người thân, niềm
vui như bùng lên trong lòng từng thợ mỏ.
Hàng nghìn người tụ tập tại mỏ, mắt dán màn
hình, trong khi khoảng 1 tỷ người trên khắp thế giới theo dõi sự kiện qua truyền
hình. Cuối cùng, một chiếc “cabin cấp cứu” hình hỏa tiễn được chế tạo, đưa từng
người một lên mặt đất trong những chuyến đi ngột ngạt kéo dài 15 phút. Khi đặt chân
lên bề mặt, họ được chào đón bởi những tràng pháo tay, nước mắt, và niềm hân
hoan của những người chờ đợi bên ngoài.
Bức ảnh chụp 5 trong số 14 thợ mỏ đã được giải
cứu sau khi bị mắc kẹt trong mỏ Amonate số 31, sau vụ nổ khí mê-tan khiến 11 đồng
nghiệp của họ thiệt mạng vào ngày 27 tháng 12 năm 1957. | Ảnh: facebook
Chuyện người thợ mỏ bị kẹt và chết ở Virginia
– nguồn gốc Father’s Day, Ngày của Cha, Hoa Kỳ
Qua từng câu chuyện, từ hầm mỏ San Jose ở
Chile, những vụ kẹt thợ mỏ tại Úc, đến Virginia của Hoa Kỳ, một sợi dây nhân
văn rõ ràng xuất hiện: ý chí sống còn, lòng dũng cảm, sự hy sinh thầm lặng, và
tình đồng đội. Chúng nhắc nhở con người rằng, dù bị kẹt trong bóng tối, vẫn
luôn có ánh sáng của hy vọng, tình yêu và sự cứu giúp đang chờ đón. Những thợ mỏ
ấy không chỉ là nạn nhân của tai nạn – họ là biểu tượng sống động về nghị lực
phi thường của con người trước thử thách tử sinh .
Đoàn Xuân Thu
Lính Không Có Số Quân - Phạm Sơn Liêm
“Anh tên gì?”
“…”
“Số quân?”
“…”
“Đơn vị?”
Người sĩ quan già dụi tàn thuốc
Bastos xuống gạt tàn. Ông ngước lên. Đôi mắt lạnh như đá.
“Hỏi ít thôi… sống lâu hơn.”
Cả căn phòng im bặt.
Người ta nói… Một người
lính phải có số quân.
Để lãnh lương.
Để lĩnh quân trang.
Để báo tử nếu hy sinh.
Để khắc lên bia mộ.
Nhưng…
Có những người sinh ra trong cuộc
chiến… Lại được huấn luyện để biến mất khỏi mọi hồ sơ công khai.
Không bảng tên.
Không cấp hiệu để khoe.
Không đơn vị để kể.
Chỉ có một mật danh……và một lệnh
hành quân.
“Các anh đi đâu?”
“Không được hỏi.”
“Bao giờ về?”
“Nếu còn.”
“Có ai đón không?”
“Có…”
“Ai?”
Người toán trưởng cười nhạt.
“Thượng Đế.”
Họ là những quân nhân được tuyển chọn vào các công tác đặc biệt, phối
hợp với MACV–SOG và Nha Kỹ Thuật trong những nhiệm vụ bí mật.
Có những chuyến đi…
Không có trên bản đồ.
Có những mục tiêu…
Không có trong bản tin.
Có những chiến
công…Không được công bố
Và cũng có những cái
chết…
Không kèn.
Không trống.
Không vòng hoa.
Trực thăng chỉ xuất
hiện vài phút.
Thả người.
Cất cánh.
Mọi thứ lại chìm vào tiếng của rừng.
Người đi…
Tự sống.
Tự chiến đấu.
Tự tìm đường về.
Nếu còn đường.
“Mất liên lạc!”
“Bao lâu?”
“Ba ngày.”
“Cứu không?”
Viên sĩ quan nhìn tấm bản đồ rất
lâu. Rồi gấp lại.
Giọng ông lạnh đến gai người.
“Không ai biết họ ở đó.”
Chỉ một câu.
Đủ khiến cả căn hầm nặng như chì.
Nhiều năm sau… Một nhà
báo hỏi một cựu quân nhân:
“Ông có thể kể về những ngày ấy
không?”
Ông lắc đầu.
“Đã giải mật rồi mà.”
Ông mỉm cười.
Một nụ cười buồn.
“Giấy tờ có thể giải mật…”
“…nhưng
lời hứa với đồng đội thì không.”
Có người hỏi:
“Điều đáng sợ nhất của
chiến tranh là gì?”
Không phải đạn.
Không phải mìn.
Không phải những cánh
rừng tối.
Mà là… Ngày anh ngã
xuống…
Không ai dám gọi tên
anh.
Không phải vì anh
không xứng đáng.
Mà vì nhiệm vụ của anh
được sinh ra trong bóng tối.
Và có những người lính…
Đã chấp nhận sống cả tuổi thanh xuân
trong bóng tối ấy.
Để khi đất nước cần…
Họ xuất hiện. Khi nhiệm vụ xong… Họ biến mất.
Không đòi một lời tung
hô.
Không cần huân chương.
Chỉ để lại một câu nói
mà những người từng khoác áo trận đều hiểu:
“Có những người lính chiến đấu cho Tổ quốc… nhưng ngay cả
lịch sử cũng không biết hết tên họ.”
Phạm Sơn Liêm
Sunday, July 19, 2026
Nghề - Song Thao
Nói tới nghề chúng ta thường nghĩ tới chuyện làm ăn đứng đắn, bền vững. Nghề gì ổn định, chắc chắn là nhào vô. Nghề gì
lang bang nay có mai không thì chê. Theo lối nói đúng sách vở thì chúng
ta thường trơn miệng cho rằng nghề nào cũng tốt miễn là chính đáng. Nhất nghệ tinh nhất thân vinh. Cứ thành thạo một nghề là OK, cuộc đời đỡ vất vả. Không có nghề nào xấu, chỉ có người xấu. Đó là câu
tung hô sự bình đẳng của nghề nghiệp. Dĩ nhiên nghề nào phải khổ công học, mất nhiều thời gian huấn luyện hơn
thì sẽ được hưởng nhiều quyền lợi vật chất hơn. Điều đó là đương nhiên. Chi ra nhiều thì phải thu về nhiều chứ!
Nghề có thứ chính thống, có thứ không chính thống. Chính thống là những nghề thông thường, có nhiều người làm, nói lên cái tên là ai cũng biết liền nó là cái chi chi.
Nghề không chính thống thì…lang bang hơn. Đó là những thứ nghề lạ. Chẳng ra cái nghề ngỗng chi! Như nghề của bà Svetlana Pavlovna Nhikiforova.
Bà Svetlana
năm nay đã 67 tuổi nhưng vẫn còn ăn diện lắm. Móng tay cắt tỉa bôi xanh bôi đỏ rất cẩn thận, tóc giả rất mốt, mặt mũi son phấn rực rỡ.
Bà làm việc tại trạm dịch tễ Kharcov ở Ukraina. Trông thấy bà mặc áo choàng trắng ngồi nơi bàn làm việc, ai cũng tưởng bà là một nhà nghiên cứu. Thực ra bà làm nghề…thực phẩm cho côn trùng. Phòng thí ngiệm của trạm dịch tễ Kharcov chuyên nghiên cứu về khả năng truyền bệnh và sức chịu đựng của các côn trùng đối với các loại thuốc. “Thân chủ” của bà Svetlana là các chú ve. Không
biết ve loại gì. Có giống như loại ve chó chúng ta thường thấy không? Loại ve này có liên hệ đến căn bệnh lao đang phát triển tại địa phương. Sức đề kháng của chúng rất cao, dễ dàng tiêu hóa các loại thuốc. Công việc của bà Svetlana là ngửa tay ra cho những chú ve này hút máu hàng ngày để nuôi chúng sống! Chúng được đặt vào một vòng kim loại có thành cao, gắn trên da tay bà Svetlana để cho chúng hút máu. Ngày nào như ngày nấy, không một ngày nghỉ , kể cả các ngày lễ tết. Bà đã nuôi đám “con mọn” này được 13 năm rồi. Người “tiền nhiệm” của bà thì đã làm công việc lạ lùng
này được tới 20 năm. Các chú ve thí nghiệm này chỉ hút máu của người khỏe mạnh. Người nào có uống hoặc chích thuốc là bị ve chê! Có một lần, bà Svetlana bị đau và nhờ người hàng xóm thế. Thuyết phục mãi người này mới nhận. Bà này trước đó có dùng thuốc mà không ai biết. Khi cho
ký sinh trùng hút máu, người
bà ta phồng rộp lên phải đi cấp cứu trong khi đám ký sinh trùng nằm ngửa bụng ra hết. Các chuyên viên phải tìm đủ cách mới hồi
sinh được!
Trước khi nghỉ hưu, bà Svetlana là một công nhân trong một nhà máy. Về hưu có nghĩa là thu nhập kém đi, bà đã tới trạm dịch tễ xin làm thêm để kiếm thêm chút đỉnh. Trạm dịch tễ mướn được bà như bắt được vàng. Bà có đủ các “đức tính” cần thiết cho công việc: có bằng sơ cấp y khoa, tận tâm, không ghê sợ ký sinh trùng. Cỡ tôi thì xin kiếu! Chắc bạn cũng vậy. Chỉ giơ tay cho y tá chích
cũng đã khổ sở rồi, lấy đâu…can đảm để cho lũ ngọ nguậy chúng sục sạo vào da thịt ngày này qua ngày khác! Có những ngày mùa đông, trạm xá bị cúp điện, bà phải mang lũ ve về nhà cho ấm. Chúng phải sống trong những chiếc hộp đặc biệt được giữ ở nhiệt độ cơ thể con người, có độ ẩm cao. Có lòng với…con cái như vậy nên trạm xá rất cần bà Svetlana. Bà vừa ngỏ ý muốn nghỉ việc vì tuổi già sức yếu
thì trạm xá đã tìm đủ cách để thuyết phục bà ở lại. Dễ chi tìm được người làm công việc dựng tóc gáy
này!
Vậy mà không khó! Tại Sài gòn có đội săn bắt muỗi thí nghiệm gồm nhiều người tham gia. Nghề của họ còn vất vả hơn nghề của bà Svetlana. Họ làm việc cho Khoa Côn Trùng thuộc Viện Sốt Rét, Ký
Sinh Trùng và Côn Trùng. Công việc của họ là ngồi phơi chân dụ cho muỗi cắn! Họ phải di chuyển đi khắp các vùng muỗi mằng từ Lâm Đồng đến Cà Mau để săn muỗi. Trung bình một chuyến đi săn kéo dài từ vài tuần đến vài tháng với một ê-kíp
gồm khoảng 5 hoặc 6 người. Đêm đêm, từ 6 giờ chiều tới 6 giờ sáng hôm sau, họ thay
phiên nhau ngồi giơ chân ra cho muỗi đốt. Thường thì là muỗi độc. Khi chúng đốt phải ngồi yên chịu trận chờ đến lúc chúng say máu mới dùng ống nghiệm bắt lấy từng con. Cứ mỗi giờ làm việc, họ ngồi 45 phút, sau đó nghỉ 15 phút để…gãi! Đủ thứ ngứa. Một tay…hiến máu kỳ cựu đã thổ lộ: “ Cực nhất là ca từ 12 giờ khuya tới 3 giờ sáng vì đó là thời điểm cơ thể đã mỏi mệt mà vẫn phải canh me bắt muỗi. Chưa kể còn bị côn trùng khác chui vào tóc, tai, cổ cắn tới tấp, rất khó chịu. Khi nào bị kiến, bọ nhọt hay bù mắt cắn mới sợ, xót
và nhức lắm!”. Bù mắt là nỗi…đau thương nhất của những tay săn muỗi. Càng gãi càng nổi mẩn, rửa thì chỉ có nước phèn nên chân sưng đỏ lên rất thê thảm.
Đưa chân ra câu muỗi sốt rét như vậy họ có bị sốt rét không? Có là cái chắc! Có người bị đi bị lại tới mấy lần. Nhất là đi vùng Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Có lần cả nhóm dính sốt rét, phải uống thuốc như điên, có người suýt chuyển sang sốt rét ác tính. Nguy hiểm như vậy tại sao không kiếm ra phương cách khác để bắt muỗi thí nghiệm? Không được! Mồi người là cách chính xác nhất để đánh giá mật độ và tính thích đốt người (ái tính) của muỗi. Một số phương pháp khác như dùng mùng hai lớp ( người nằm trong lớp trong), bẫy bằng đèn chẳng hạn nhưng hiệu quả không cao bằng. Cứ giơ chân ra là tốt nhất! Các tay săn bắt muỗi này, người nào cũng thuộc nằm lòng tên các loại muỗi hơn tên tình nhân! Họ có thể chỉ liếc mắt sơ qua là biết được muỗi đực hay muỗi cái!
Có ai muốn làm nghề dụ muỗi này không? Chắc các bạn cũng như tôi, lắc đầu là cái cẳng! Cực gì mà cực ác.
Vậy mà những người đã quen nghề cũng tìm thấy cái thú vị của nghề. Như cô Thảo Hiền, có bằng Cử Nhân, đã có những nhận xét khá bất ngờ: “Đôi lúc cực thật đấy, nhưng bù lại có cơ hội đi đến nhiều vùng đất khác nhau, xem như một hình thức đi du lịch không tốn tiền, lại vừa có cơ hội tích lũy thêm nhiều kiến thức.” Du lịch với…muỗi như vậy, không khá!
Với chuột thì có khá hơn không? Tiền thì có khá. Thỉnh thoảng người ta bắt gặp
trên internet những mẩu quảng cáo rất hấp dẫn nhắm tới sinh viên, các cái bang nghiện ngập hay các người mới nhập cư. Mới đây, hãng Parexel rao qua hệ thống SMS cho biết họ cần người làm…chuột bạch trong ba
ngày hoặc một tuần. Tiền thưởng là 1300 đô Mỹ cho 3 ngày hoặc 2000 đô cho một tuần. Dĩ nhiên họ tuyển được ngay đủ số “chuột bạch”. Theo nhà báo Tom de Castella mô tả trên tờ The Guardian thì: “ Họ rất thích thú khi được nằm trong bệnh viện một tuần làm vật thí nghiệm. Xong việc, họ có được một số tiền lớn để đóng tiền học Đại Học, mua máy
vi tính hay chi trả cho một chuyến nghỉ trượt tuyết vào mùa đông”. Ngon ăn quá cỡ thợ mộc! Tất cả người ghi danh trong cuộc thí nghiệm của Parexel đều là sinh viên. Họ cần tiền ăn học. Anh sinh viên Raste Khan nói
ngay: “Tôi muốn dành hết thời gian trong năm học chỉ để tới lớp chứ không phải đi làm bán thời gian”. Tháng 3 năm 2006, họ được tập trung tại Bệnh viện Northwick Park ở thủ đô Luân Đôn. Tám người tất cả. Sáu người được tiêm thuốc thật, hai người thuốc giả. Họ là những người đầu tiên nhận vào cơ thể thuốc TGN 1412 có công dụng chống lại bệnh bạch cầu và xơ cứng mô. Thường thì những cuộc thí nghiệm này có một mức an toàn
cao vì trưóc đó họ đã dùng cho các thú vật thí nghiệm rồi. Nhưng đã là thí nghiệm thì hẳn phải có phần rủi ro. Mang
thân ra làm vật thí nghiệm là tám, chín phần ăn nhưng cũng có một hai phần bù trất!
Sáu người được chích thuốc TGN 1412…bù trất! Trong khi đó hai người được tiêm liều thuốc giả phải một phen đứng tim. Mũi chích vừa hoàn tất cho 6 người thì tai nạn xảy ra. Anh Raste Khan may mắn trúng vào liều thuốc giả kể lại bằng cái giọng run rảy: “Người ngồi gần tôi nôn thốc nôn tháo. Anh ấy té nhào. Trông anh có vẻ đau đớn ghê lắm. Theo sau anh, 5 người kia cũng lần lượt té xuống như những quân cờ domino. Tất cả cùng nôn. Một người hét rú lên là rất nhức đầu và không thở được!” Cô Myfanwy
Marshall, người cũng may mắn được chích liều thuốc giả kể tiếp: “Tôi đã muốn xỉu khi nhìn
người ngồi cạnh. Trông anh ấy như một người voi, đầu phồng to gấp ba bình thường, chân cũng to lên. Gương mặt chuyển liên tục giữa màu hoa cà và màu vàng”.
Trên thế gian này có nghề nào…ngu như nghề chọc cho chó cắn không? Vậy mà có thứ nghề này thật! Anh Xuân Toàn giơ ra hai cánh tay chằng chịt vết răng chó, có vết còn rướm máu cho mọi người coi. Anh là huấn luyện viên tại Trung Tâm Huấn Luyện Chó Nghiệp Vụ 119 tại Bình Dương. Anh chuyên huấn luyện chó…câm! Có những con chó sinh ra không biết sủa và cắn. Muốn chúng thành…chó thì phải huấn luyện. Nhiệm vụ của anh Xuân Toàn là chọc cho chúng cắn. Trước hết, những chú chó im lặng
này được cho ở chung với những chú chó “lắm lời”. Sau một thời gian được quan sát và bắt chước đồng bọn, những huấn luyện viên như anh Xuân Toàn mới vào cuộc. Họ đứng từ xa, tay cầm gậy gộc xua lên loạn xạ cốt để khơi dậy bản năng
thú tính tiềm ẩn trong loài chó. Bị chọc giận nhiều lần thì hiền lành đến đâu cũng tức tối. Thế là chó ta xông vào mấy thằng…du côn cắn xé cho hả giận! Mấy tên chọc phá này giẫy giụa, giằng giựt, chọc cho chó thêm hung hãn. Họ lãnh thẹo là cái chắc. Có đau, có máu chảy thịt rơi chứ, nhưng lấy tiền rịt vào
là hết!
Lên cấp cao hơn, chó được huấn luyện để bảo vệ tài sản cho chủ. Một chiếc xe đắt tiền được dựng hờ hững cạnh bụi cây. Một tên trộm tay cầm rựa lầm lũi bước tới gần rồi dắt xe đi. Chú chó bẹc giê bất ngờ lao vào. Cú vồ từ trên xuống của khối thịt nặng 45 kí khiến tên trộm ngã chúi nhào xuống. Không để cho quân gian kịp phản ứng, chó lăn xả cắn vào tay tên trộm, giật qua giật lại cho tới khi hắn nằm bất động, im re. Người đóng vai tên trộm là anh Mạnh Hải, giơ bàn tay bám đầy đất quệt lên khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi
khi bài tập vừa kết thúc. Anh
tâm sự: “Nghề nào cũng có cái cực riêng. Đối với nghề huấn luyện chó phải yêu nghề và yêu những con vật khôn ngoan và có nghĩa này mới có thể bám trụ lâu dài mặc dầu biết hiểm nguy luôn luôn chực chờ!” Giơ thân xác cho chó cắn chơi mỗi ngày, anh Xuân Toàn gọi nghề của anh là nghề “làm thân cho chó nó cắn!” Cái nghề không khá được này không
phải là ai cũng làm được. Phải là những người có “thần kinh thép” vượt qua được nỗi sợ hãi, nếu không chỉ một chút sơ sẩy là mất mạng như chơi! Khi đã có nhiều năm thâm niên…cẩu vụ, họ đã có một số kinh
nghiệm xương máu: biết chó hay nhắm chỗ nào trên người mà cắn. Kinh nghiệm cũng dậy không bao giờ đụng vào hạ bộ của chó đực nhất là trước mặt các nàng
chó cái. Thế ra vật cũng như người nhỉ! Anh Nguyễn Văn Khôi, một huấn luyện viên đã giải nghệ sau khi bị một chú bẹc-giê tấn công xơi tái hai lóng tay của ngón tay út, đã ngậm ngùi: “Làm nghề này là chấp nhận ‘đóng dấu răng’!”
Nghề nuôi rắn cũng…dấu răng vậy! Phủ kín chân tay bằng những vết sẹo do rắn cắn
là nhà nuôi rắn Lê Hùng Minh của xã Thạnh Phú, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng. Năm
1992, sức khỏe yếu, anh Minh
trở về quê làm lại cuộc đời. Anh đã thử nuôi
cá, nuôi tôm rồi nuôi cua, nhưng nuôi thứ nào cũng lỗ. Anh xoay qua nuôi trăn với 72 con trăn giống mua hết 150 triệu đồng. Đùng một cái, giá trăn giống giảm xuống còn một phần tư, anh chạy đôn chạy đáo bán trăn con nhưng không ai thèm mua. Thất bại lớn. Anh xoay
qua nuôi rắn ri voi. Chính những con rắn này đã…vẽ bông hoa trên tay chân anh
bằng những vết cắn tóe máu. Anh tâm sự: “Ai cũng bảo tôi khùng!” Anh lại một lần nữa lãnh thẹo. Rắn ngả ra chết. Một tấn rắn tiêu tùng hết. Anh trở thành chúa chổm. Chỉ nguyên tiền vay đóng lãi mỗi ngày cũng hết 200 ngàn rồi. Anh như cái mền rách! Bạn bè, người thân xa lánh anh như lánh hủi. Thậm chí một ly nước uống cũng không ai mời anh. Vốn là một y sĩ quân y, anh tìm hiểu nguyên do tại sao rắn lăn ra chết…tập thể như vậy. Anh mổ xác rắn và tìm ra nguyên nhân: vì rắn là loài hung dữ nên
khi bắt rắn người thợ bắt thường đập hay dí điện vào rắn. Khi bán họ lại chích nước vào thân rắn cho nặng kí. Biết để mà biết chứ tiền đâu mà…làm lại cuộc đời được nữa. Anh buồn bã đi quanh ao nuôi rắn và bỗng phát hiện ra rắn ri voi con bò ngổn ngang nơi mép ao! Đúng là trời giúp. Anh
thu rắn con lại được 350 kí và quyết giữ để nuôi chứ không bán. Rắn thế hệ thứ hai này không bị đập, dí điện hay bơm nước nên sống hùng sống mạnh. Tết năm 1988, anh bán được 80 triệu đồng rắn thịt và còn giữ lại được 450 kí rắn giống. Thế là anh bén duyên với rắn. Giang sơn của anh
là cái ao rộng 1800 thước vuông um tùm rau muống và cỏ dại nằm khiêm tốn ở phía sau nhà. Gia tài của anh nằm cả ở đó. Anh bán rắn giống và rắn thịt. Rắn của anh
bò sang cả tới bên Trung Quốc mang về cho anh nửa tỷ đồng mỗi năm. Cho rắn cắn tay như vậy kể ra cũng đáng đồng tiền bát gạo!
Nhưng hỏi bạn có muốn làm những cái nghề…đổ máu này không, chắc bạn sẽ ngần ngại. Thứ nhát máu, nhát rắn rết, chó, chuột như tôi thì lắc
là cái chắc. Chẳng dại mà dính vào những thứ rùng mình như vậy. Vậy thì ai làm những nghề…mạt hạng này? Vẫn có người phải làm. Vì lý do này hay lý do
khác.
Ngày xưa làm gì có những thứ nghề…tân tiến như thế này. Những nghề bị coi là mạt hạng
có thể kể nghề đổ thùng chuyên thu dọn những thứ chất thải ra của thiên hạ. Những ngày ở Hà Nội, học sinh chúng tôi vẫn bịt mũi tránh xa những người đàn bà khăn quấn tùm hụp, che mặt che mày, bịt mũi bằng những tấm giẻ bẩn thỉu, kĩu kịt gánh những gánh chất thải bay mùi xú uế, vào những buổi sáng tinh mơ. Đó là những tấm gương sống để các bậc cha mẹ, các cô các thầy răn đe học sinh học hành chăm chỉ. Nếu không thì tương lai sẽ…kĩu kịt như vậy. Họ là những tấm gương mờ tịt, gớm ghiếc. Ai mà muốn như vậy!
Nhưng những ngày tù cải tạo, chúng tôi ai chẳng có lúc đã phải khiêng những thùng phân người đi bón lúa, bón rau. Rồi cũng phải làm, cũng phải quen đi.
Trong làng
trong xóm ngày xưa, nghề nào mạt bằng nghề làm mõ. Thằng mõ là người hèn hạ nhất làng xóm. Mạt hạng mới làm mõ. Vậy mà nghề này cũng…quyền thế!
Mõ này cả tiếng lại dài hơi ,
Mẫn cán ra tay chẳng phải chơi.
Mộc đạc vang lừng trong mấy cõi,
Kim thanh chuyển động khắp đôi nơi.
Trẻ già chốn chốn đều nghe hiệu,
Làng nước ai ai cũng cứ lời.
Thứ bậc dưới, trên quyền cất đặt,
Một mình một chiếu thảnh thơi ngồi.
Mạt hạng như mõ cũng oai ra gì! Dưới chế độ phong kiến tưởng ngôi thứ phân minh, trên dưới đâu ra đó, nhưng trong làng trong xã vẫn có cái chất dân chủ đượm trong tình người. Làm gì có nghề xấu! Thời chúng tôi, nhà trường đã dậy dỗ như vậy ngay từ những lúc vừa chập chững trong những năm đầu tiểu học. Chúng ta
có cần ôn lại với nhau bài
“Người ta cần phải làm việc” trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Dự Bị chăng? “Người làm ruộng có trồng trọt cầy cấy, thì ta mới có thóc gạo mà ăn. Thợ nề, thợ mộc có làm nhà, thì ta mới có nhà mà ở. Thợ dệt có dệt vải, thợ may có may quần áo, thì ta mới có đồ mặc vào mình. Quyển sách ta học cũng phải có người làm, người in. Cái đường ta đi cũng phải có người sửa, người quét. Nói tóm lại, nhất thiết một chút gì ta cần dùng đến, cũng là có người chịu khó làm việc mới nên”.
Có một thời chúng ta đã được giáo dục như vậy!
Song Thao






