Tuesday, August 11, 2026

Gặp Lại Người Xưa - Trầm Vân

Đưa Anh Về Nhà - Trần Như Hùng

 

Th/U Lưu Đc Linh (Phòng TLC) đng bìa trái, kế đó là 3 MX không rõ tên, đng bên bìa phi là Th/U Đng Phm Hùng, Phòng ANQĐ/SĐ.


Đây là bài ghi lại nguyên văn câu chuyện do em gái cố Th/U Lưu Đức Linh, phòng Tâm Lý Chiến Sư Đoàn TQLC thuật lại.

 

******

Th/U Lưu Đức Linh, khóa 3/72 Trừ bị Thủ Đức, đầu tiên được bổ sung về TĐ 9 Mãnh Hổ, sau đó thuyên chuyển về phục vụ tại Phòng Tâm Lý Chiến SĐ. Tháng 3 năm 1975 anh mất tích ở Đà Nẵng khi SĐ/TQLC triệt thoái về Nam. 32 năm sau, các em anh về lại VN tìm được di cốt và cải táng, đưa anh về nằm bên cạnh mồ mẹ.


Cuối tháng Ba 1975, ở Sài Gòn khi nghe tin toàn bộ Sư đoàn TQLC ở Đà Nẵng di tản về Vũng Tàu bằng đường thủy. Ba em có ra đó để đón anh Linh. Chờ hoài không thấy, Ba em hỏi thăm những người về, có người thì nói thấy anh Linh em bơi ra biển nhưng bị chết chìm, người thì nói anh Linh bị chân vịt của tàu chém vào chân nên bị chìm... Oái oăm là có người bà con phía bên Ba em nói chính mắt ông thấy anh Linh chết trên biển. Nghe tin như vậy xong, Ba em trở về SaiGon đi thẳng vào tiệm hớt tóc cạo đầu trước rồi mới về nhà. Đến nhà Ba nói với Má em thằng Linh chết rồi xong ông đi thẳng lên lầu. Má em òa lên khóc vật vã làm cả nhà náo loạn, chúng em còn quá nhỏ cũng chỉ biết ngồi bên cạnh ôm Má khóc theo, không giúp được gì. Cả nhà chìm trong đau thương, dù Ba Má em trong thâm tâm vẫn tin (hay vẫn ước mong?) rằng anh Linh còn sống và thế nào rồi cũng sẽ về với gia đình.

Qua tháng Tư 1975 khi làm sóng di tản ở Sài Gòn bắt đầu ồ ạt, gia đình em cũng có tên trong danh sách đi Mỹ bằng phi cơ qua phi trường Tân Sơn Nhứt nhưng Ba em quyết định chờ xem anh Linh có về không. Và ngày 30/4 đến. Thế là xong.


Sau ngày 30/4/1975 Ba Má và chúng em vẫn tiếp tục chờ, nhưng ngày này sang tháng nọ anh vẫn biệt tăm. Đến năm 1976 thì Má em có lẽ đã tuyệt vọng nên cuối tháng Ba 1976 bà làm mâm cơm cúng rồi bảo tụi em: “Tụi bây cúng anh Linh bây đi”. Thế nhưng chúng em không cúng và cãi lại: “Anh Linh chết hồi nào mà Má kêu tụi con quỳ cúng”. Mặc cho Má khóc tụi em nhứt định không cúng!

Cũng trong năm 1976, một hôm có một anh tới nhà nói với Má em rằng: “Con là bạn của Linh, cùng bị bắt chung. Chúng con có giao với nhau ai trốn thoát về được thì ghé nhà người kia báo tin. Con vừa trốn về được nên ghé đây báo ngay”. Khi tụi em đưa 2 tấm hình, một của anh Linh, một của anh Tư em ra, anh đó chỉ đúng hình anh Linh. Má em mừng lắm, hỏi: “Con có thể chỉ giùm bác chỗ giam để bác đi thăm Linh không?” Anh ấy nói để ghé về Đà Lạt thăm gia đình rồi sẽ quay trở lại cho biết tin chi tiết nhưng rồi từ đó hoàn toàn bặt tin, gia đình em không hề gặp lại. Em không biết tên anh đó là gì.

Có người nữa thì nói với chúng em là trước đó có biết anh Linh (từng cùng nhau đi nhậu ở Huế), khi mất Đà Nẵng thì gặp anh Linh cũng bị bắt tập trung tại một trường học, sau đó phân tán mất tin.


Tháng Tám 1978 chị Ba em sinh bé trai đầu lòng. Được vài tuần, một tối chị nằm mơ thấy anh Linh về. Chị hỏi: “Anh đi đâu đây?” Thì anh trả lời: “Tao nghe mày sanh nên về thăm, nhưng thôi để tao lên lầu thăm Ba Má đã”. Sau đó anh trở xuống nắm tay chị Ba em kéo đi. Chị Ba em không biết gì cứ theo anh Linh, đi, đi mãi. Một lúc sau anh Linh dắt chị Ba em rẽ vào một lùm cỏ tranh, anh đi trước hai tay vẹt cỏ tranh, chị Ba em theo sau. Đi một đoạn thì thấy ngôi mộ có bia đề tên “Lưu Đức Linh”, ngay trước mặt có con suối nhỏ. Rồi chị Ba em tỉnh giấc, kêu cả nhà dậy và kể lại đầu đuôi câu chuyện. Ai cũng nghĩ “nếu đúng vậy thì anh Hai em đã chết trong rừng nhưng biết anh chết ở tỉnh nào, nơi nào mà đi tìm?” Chúng em rất phân vân vì nhớ đến trước đó có nhiều người nói anh Linh em đã chết ngoài biển, mà nay linh hồn anh lại về báo mộng là chết ở đất liền? Sau đó chị Ba em đi coi bói, đưa tấm hình của anh Linh thì người coi nói liền “anh này chết rồi, chết trên đồi núi cao, không chết sông chết biển...”

Thế rồi sau đó trong năm 1978, Má em cố gắng xoay sở cho chúng em lần lượt từng đứa vượt biển. Chuyện này dài dòng, em xin bỏ qua, vì nghĩ chắc mấy anh cũng hiểu, sau khi đến được bến bờ tự do, chúng em, như mọi người, cũng lo bươn chải, vật lộn với cuộc sống nên quên mất việc tìm kiếm tin tức người anh xấu số của mình. (Viết tới đây mà em không cầm được nước mắt vì thấy ân hận đã quá có lỗi với linh hồn anh Linh em)!


******

Bẵng đi một thời gian, đến năm 2006, em Việt gửi thư cho trang web Tổng Hội TQLC nhắn tin nhờ tất cả các bạn của anh Linh hay các anh trong TQLC tìm giúp giùm tin tức về anh. Có một vài anh cùng khóa liên lạc lại và nói để hỏi thăm tìm kiếm, nhưng rồi... cũng chẳng có tin gì. Chúng em buồn vô cùng, vì như vậy, chính các anh cũng không biết tin gì về anh Linh hết.

Đầu năm 2007 chúng em họp lại, bàn bạc và thưa với Ba em xin phép về Việt Nam đi tìm tung tích anh Linh. Ba em gạt đi bảo rằng cát bụi trở về cát bụi, đi tìm làm gì nữa. Chúng em đồng phản đối, thưa với Ba rằng Ba Má cho tụi con qua đây, nay tụi con được sống sung sướng tại sao không quay về tìm cho được xem anh nằm ở đâu để đưa xương cốt anh về chứ tội nghiệp  anh nằm bơ vơ xa gia đình đã 32 năm rồi; và mặc cho Ba nói gì thì nói, tụi em quyết định với nhau là phải làm cho được chuyện này.


Trước đó năm 2006 có người cùng quê với Ba em là chú Lan từng về Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình nhờ được một ông thầy tâm linh tên là thầy Quýt giúp giùm đã tìm được cốt người mẹ vợ của ông trước kia chết vì bị Pháp bắn và chôn sống. Chú Lan liên lạc hứa sẽ giúp giùm đưa chúng em đến tìm ông thầy Quýt để nhờ tìm anh. Chúng em nhờ người bà con ở Huế ra Đồng Hới trước, tìm gặp ông thầy Quýt, đưa ngày tháng năm sanh của anh Linh cho ông ấy xem. Vừa xem xong ông ấy nói ngay “Anh này chết rồi”. Hỏi làm sao chết thì ông ấy nói “Anh ấy là lính bên kia, đang lao động làm cỏ thì có người rủ đi trốn nhưng 5 người trốn thì bị bắt lại 3...” Nghe vậy chúng em háo hức vô cùng mong từng ngày cho đến lúc về đi tìm anh Linh.Khi chúng em lên đường, lúc đó Ba mới nói các con đi kiếm được anh Linh rồi thì thiêu đem về đây cho Ba ôm nó 1 chút, Ba nhớ nó lắm.


Lần đầu về Việt Nam:

Tháng Hai năm 2007, 3 chị em gái tụi em cùng về Việt Nam. Nghỉ một đêm ở nhà trọ, hôm sau chúng em lên thăm mộ bà nội và má rồi bay ra Huế. Phi cơ đáp xuống phi trường Phú Bài lúc gần 17 giờ chiều, chúng em lên taxi đi ngay ra Đồng Hới.

Tới Đồng Hới thì trời đã tối khuya nên chúng em thuê phòng khách sạn ngủ qua đêm để sáng hôm sau sẽ đến nhà thầy Quýt. (Đêm đó cả 3 đứa chập chờn, trằn trọc không ngủ được, mới 2 giờ sáng đã lồm cồm dậy hết ngồi bó gối mong cho trời mau sáng)!

9 giờ sáng chúng em tìm đến nhà thầy Quýt, đến nơi ông đang xem cho 2 gia đình khác nên chúng em phải ngồi chờ. Đến lượt chúng em, đợi chị Ba em thắp nhang trước bàn thờ Phật bà Quan Âm xong thầy Quýt nói: “Tìm gì nữa đây? Bữa trước tôi có mách cho người tới đây tìm anh ấy rồi mà”. Tụi em thưa: “Dạ đúng, tụi con có nhờ người bà con tới hỏi nhưng nghĩ lại nếu đích thân tới hỏi Thầy thì chính xác hơn”. Rồi tụi em đưa hình anh Linh cùng ngày tháng năm sinh của anh và xin thầy “chỉ vẽ giúp anh con còn sống hay chết và chết thì chết ở đâu”. Bàn tay của thầy bỗng run lên, thầy lấy tấm giấy vẽ bản đồ và nói: “Anh ấy chết rồi, chết trong trại học tập”. Thầy vẽ hình “con đường đi lên núi, chú thích con đường rất hẹp, tới đó có một miếng đất hình vuông, đi vào trong thì có nhiều nấm mộ mới của những người mới chết có bia, xong mới tới mộ của anh Linh, kế bên có một cái mộ đã bốc đi rồi, còn lại mộ anh và mộ một người khác nằm gần ngay đó”. (Anh có biết ngôi mộ đã bốc đi là mộ của anh Lê Đình Lời, TQLC không? Người bạn tù chôn anh Lời khi được về đã chỉ cho gia đình anh biết để ra bốc mộ anh).

Thầy nói với tụi em: “Anh ấy muốn về nhà lắm rồi, 32 năm rồi linh hồn của anh vẫn ở giữ cái mộ đó không đi đâu hết, tội nghiệp anh lắm, đưa anh về đi”. Thầy cũng nói rõ là “mộ trên trại Bình Điền, chung quanh có lính gác” và nói thêm “sẽ có 2 người giúp đỡ, một người khoảng 70 tuổi và một người cụt tay”...


Quay về Huế, sáng hôm sau chúng em nhờ một người quen ở Huế cùng đi dẫn lên trại Bình Điền, cô L. này có một người bạn học cũ thời Trung học, bây giờ làm Trại phó trại Bình Điền. Cô L. gọi điện thoại cho hắn thì hắn bảo tới chợ Bình Điền thì ngồi chờ gọi hắn sẽ xuống. Tuy nhiên tới chợ Bình Điền ngồi chờ một lúc lâu hắn lại kêu chúng em lên thẳng Trại. Chúng em thuê honda ôm, 2 người một xe, đến cổng đi bộ vào văn phòng gặp hắn. Bấy giờ hắn bảo sẽ còn phải lục tìm hồ sơ xem có tên Lưu Đức Linh không đã, rồi lấy xe chở đưa chúng em lên núi đến khu nghĩa trang chỉ cho xem nhưng thấy trong đó toàn là mộ có bia của những người mới chết. (Trong thâm tâm em nghĩ nhờ anh Linh phù hộ nên hắn có vẻ dễ chịu với chúng em). Hắn cho xe đưa chúng em xuống núi, bằng con đường khác để tìm hỏi một số người dân lúc trước 1975 sống tại khu vực trại Bình Điền này. Em gặp một gia đình sống ở đó đã rất lâu. Chị chủ nhà nói: “Hồi các anh lính Cộng Hòa bị bắt học tập, mỗi lần các anh bị đi lao động ngang nhà, tui thường luộc mì và khoai lang để sẵn ở một góc nào đó cho các anh”. Em gởi chị này ít tiền, nhờ chị hôm sau lên khu nghĩa trang phát cỏ tranh vì thấy cỏ quá cao. Người CA quen với cô L. chở tiếp chúng em tới một khu trại nữa cùng khu vực này nhưng lúc đó đang giải tỏa làm đường, hắn nói là sẽ mang tất cả hài cốt của lính Cộng Hòa và cả bộ đội cộng quân chôn ở đó sang nơi khác, bởi thế không vào được. Trên đường ra hắn đưa chúng em ghé nhà 1 người cai tù cũ ở trại 4 Bình Điền tên là Bình, hỏi có biết ai ở đó từng là cai tù ở trại 1 hay không. Người tên Bình nói “Tất cả đều đã về hưu, đa số là về Quảng Trị, chỉ có mỗi mình tôi (Bình) sau khi về hưu xin ở lại Bình Điền” rồi chỉ cho chúng em cách đi tìm mấy người cai tù (của trại 1) nay sống ở Quảng Trị.


Về lại Huế nghỉ một đêm, sáng hôm sau chúng em chia làm hai toán, một đi ra Quảng Trị tìm nhà mấy người cai tù cũ như được chỉ, một toán thì trở lại Bình Điền. Khi tới chợ Bình Điền, cô L. lại gọi điện thoại cho viên CA trại phó nhờ giúp thì hắn bảo “Cứ ghé nhà chú Bình chú ấy sẽ đưa đi”. Ông ta dẫn chúng em đi theo một con đường hẹp và dốc khá đứng (y như lời thầy Quýt chỉ). Từ chân núi đi lên chúng em vừa đi vừa thở, vừa than thầm Trời ơi! Từ nhỏ tới lớn có bao giờ đi thế này, bây giờ nghĩ mới thấy thương các anh ngày xưa leo đèo leo núi hành quân cực khổ ra sao... Thiệt là mệt gần chết! Lên tới nơi, ngay chỗ nghĩa trang mà chúng em đã tới hôm trước, mấy đứa chúng em đốt bó nhang lớn chia nhau thắp khắp nơi, vừa cắm vừa van vái thầm anh Linh khôn thiêng chỉ cho chúng em tìm ra mộ phần của anh... Bỗng dưng có tiếng chim rất lạ kêu lên, không hiểu sao em nghe thấy tiếng kêu thiệt thảm thiết và sợ run người. Chúng em lần mò đạp lên đám cỏ tranh (đã nhờ người cắt) len lỏi đi qua khu mộ mới có bia, tới khu trong đường đi khúc khuỷu, khó khăn, lên dốc, xuống đồi, có chỗ phải len lỏi như đang đi xuống vực. Chị Ba của em trượt chân té, cả người chị tuột xuống dốc, chị hoảng hốt đưa tay chụp đám dây leo chằng chịt, nhằm bụi gai bị đâm chảy máu tay ròng ròng... Chúng em tự nhủ “không lẽ đây là máu mủ tình thâm, anh Linh chỉ cho chúng em thấy chỗ chôn rồi hay sao?” Thế nhưng nơi chị Ba em té xuống là đất bằng phẳng, không có dấu vết của ngôi mộ nào hết, đi xuống phía dưới một chút thấy có dòng suối nhỏ. Quanh quẩn mãi đến chiều mà không tìm thấy gì cả, chúng em phần thất vọng, phần mỏi mệt quá nên đành quay về Huế.


Người em họ của em ra Quảng Trị quay về cho hay không tìm được tung tích của những người cai tù trại 1 cũ như được chỉ vì kẻ thì đã chết, người thì đi vào vùng kinh tế mới làm nương rẫy cả rồi... Đêm hôm đó mấy đứa em không ngủ được ngồi bàn với nhau lấy tấm họa đồ thầy Quýt đã vẽ ra xem thì thấy con đường đi lên núi nhỏ hẹp thì đúng rồi,đi vào đám cỏ tranh,ngang qua khu các mộ mới có bia cũng đúng mà đi xuống nữa thì có thấy ngôi mộ nào đã được bốc đi như ông thầy vẽ đâu? Loay hoay tụi em cứ nghĩ hoài mà không ra và lại thêm một đêm mất ngủ (hầu như mấy đêm liền tụi em chẳng đêm nào ngủ được, cứ chừng 2, 3 giờ sáng là mấy chị em lại thức dậy cùng nhau bàn, nghĩ ngợi rồi thở dài)!

Sáng dậy em quyết định trở ra Đồng Hới tìm thầy Quýt. Mấy đứa em quỳ hết xuống năn nỉ thầy cùng đi để tìm giúp mộ anh Linh. Thầy Quýt nói “Nếu như anh chết nằm ngoài CA quản lý thì tôi đi với các anh chị”. Chúng em nghe vậy thì thở dài (chứ biết nói gì) Thầy lại nói “Lúc trước tôi đã đi tìm mộ cho cả 2 bên, tìm được cả ngàn ngôi mộ rồi, tôi là đảng viên, cấp trên thấy vậy tước quyền Đảng viên của tôi, sau này tôi tìm được mộ cán bộ cao cấp hắn đến nói trả lại Đảng viên cho tôi. Nhưng tôi trả lời, tôi không cần nữa, tôi làm việc tìm mộ này là vì lương tâm đạo đức thôi chứ tôi không cần Đảng nữa đâu, mấy ông lấy đem về đi”.Rồi một lần nữa thầy lấy giấy ra vẽ lại sơ đồ giống y lần trước, thầy còn nằm dài xuống nền gạch, nói “Anh ấy nằm đây nè, ở ngay phía dưới là con suối chảy”. Đứng dậy, thầy vỗ hai tay lên đầu, nói “Anh muốn về với gia đình lắm rồi”. Chúng em chẳng biết nói gì hơn đành đứng lên cám ơn để về Huế. Trước khi đi chúng em nhờ thầy coi giùm Ba em ra sao, thầy nói “Ba đang đau đầu đó, đưa anh về đi. Đưa anh về là Ba hết đau đầu liền”. Chúng em nhìn nhau, không biết nói gì mà lòng thì khâm phục thầy (bởi vì trước khi tụi em về Việt Nam 2 tuần Ba bị bệnh đau đầu, mà đau ghê lắm, phải đưa đi Bác sĩ, tới ngày tụi em đi Ba mới đỡ đau đôi chút)!


Trở lại Huế, bữa sau tụi em quyết định trở ra Quảng Trị lần nữa để tìm người cai tù (trại 1), hôm trước người em họ chưa tới được, không ngờ lần này tụi em lại gặp và thấy ông này... bị cụt tay (!). Tụi em nói rõ là đi tìm mộ anh Hai và nhờ giúp. Ông ta kể là về làm ở trại Bình Điền năm 1977 và nói muốn dẫn tụi em tới một ông thầy ở Quảng Trị cũng “hay lắm” để nhờ gọi hồn xem. Tụi em bàn nhau nên đi để xem ông này nói có ăn khớp với thầy Quýt ở Đồng Hới không. Bữa đó ông thầy này không tiếp, hẹn sáng sớm ngày mai quay lại. Tụi em về Huế, sáng hôm sau ra Quảng Trị sớm.


Sáng hôm sau đến nhà ông thầy Quảng Trị sớm lắm, chúng em vào cúng, đưa tên tuổi anh Hai cho thầy. Chờ một lúc thầy thắp nhang, khấn vái rồi nói “Anh đây bị đưa đi tất cả 3 trại tù, trại thứ nhứt là Phong Điền, (trại thứ hai tên gì bây giờ em không nhớ), rồi trại thứ ba là Bình Điền, anh tù, đói và bịnh nên chết”. Rồi ông chỉ cô em thứ chín của em nói “Anh về sẽ vào người cô này nè”. Em Chín của em ngồi im không nhúc nhích hồi lâu rồi cứ lạy bàn thờ và lạy thầy. Thầy nói “Bây giờ anh mở miệng nói đi, người nhà đi tìm anh về đó”. Chúng em ngồi chung quanh mới hỏi “Anh chết ở đâu, nói cho chúng em biết để tụi em đưa anh về nằm gần Má. Má thương nhớ anh lắm nên Má mới chết, còn Ba nữa, Ba cũng nhớ anh lắm và đang đau đầu nặng lắm. Anh nói đi, nếu anh không nói được thì anh viết ra cho tụi em biết...” Em lấy cây viết và tờ giấy đưa cho “anh”. “Anh” viết từng nét một, có nét dài, nét ngắn, rốt cuộc đọc ra chữ Điền,xong buông viết xuống khóc một cách tức tối.. Thầy nói “Có chuyện gì uất ức thì nói ra đi, mở miệng ra nói đi” nhưng “anh” không nói mà chỉ khóc và khóc hoài thôi. Em mới hỏi “Anh có biết em là ai không?” thì không trả lời mà gật đầu, rồi ngả đầu trên vai em và lại khóc nữa. Chúng em cũng khóc và nói “Tụi em xin lỗi anh, xin anh đừng giận nữa, 32 năm chúng em muốn nhưng không biết anh ở đâu mà tìm, hơn nữa thời điểm đó chúng em đều còn nhỏ quá, mà Ba có đi Vũng Tàu rồi lại ra Đà Nẵng tìm anh mà tìm không ra..” Chúng em đứa nào cũng xin lỗi, xin “anh” tha thứ mà “anh” không mở miệng được. Thầy mới nói với anh “Thôi chuyện đã lỡ rồi, đừng buồn nữa, thôi mời các anh chị đây uống bia đi”.“Anh” bèn nín khóc và đưa tay ra mời “uống bia”. Trước khi tụi em rời nhà thầy, “anh” có quỳ lạy bàn thờ.


Tới Bình Điền, tụi em cùng ông Bình đi lên núi theo con đường xe hơi chạy được. Tới ngay nơi bữa trước đã ghé, em gái em nhảy liền xuống xe, đi tới sát bờ vực, tụi em phải giữ chặt sợ em té. Em đứng ngó một hồi rồi quay lại đi vòng vòng... Tụi em đi theo mà chẳng thấy có dấu hiệu gì của một ngôi mộ nào hết. Em Chín ngồi xuống bưng mặt khóc rưng rức một hồi, rồi nói ngộp thở quá, ngộp thở quá và xỉu. Tụi em phải đổ nước cho em tỉnh dậy rồi rủ nhau về Huế. Lúc đó tụi em thất vọng vô cùng, đứa nào cũng rầu rĩ vì nghĩ chẳng lẽ mình đành bó tay? Đêm đó tụi em lại ngồi suốt đêm bàn tính và quyết định sáng bữa sau lên Bình Điền lần nữa.

Lần này tụi em cũng mang theo họa đồ, nhang đèn, trái cây và bông hoa. Nhưng trên mặt đất (chắc vì bao năm mưa đổ kéo theo đất đá trên cao xuống lấp hết dấu) nên không biết đâu là mộ anh hết. Tụi em đi xuống phía dưới chút nữa thì có con suối nhỏ (vậy là đúng như thầy Quýt diễn tả). Quay trở lại thì quả thiệt, tụi em tìm được dấu của ngôi mộ đã bốc đi và cục đá mà thầy Quýt nói giống cái nấm rơm và nhìn thiệt kỹ thì đúng là như có ai chặt chém gì trên cục đá đó. Tụi em bày hoa quả nhang đèn ra cúng (oái oăm là tụi em ngồi cúng ngay trên đầu mộ anh mà không biết!) rồi về lại Huế.


Đêm đó cậu em họ của em bày hôm sau tới nhà 1 ông thầy tên Sinh ở Vỹ Dạ thỉnh ông đi theo cúng thì mới mong tìm ra mộ. Lúc đó tụi em nghe ai có ý kiến gì cũng đồng ý vì có lẽ bối rối quá không biết níu vô đâu. 

3 giờ sáng tụi em mới đi nằm, mà cứ trằn trọc hoài. 

6 giờ sáng cậu em họ chạy qua đập cửa,miệng ú ớ kêu tụi em qua phòng nó.Tới cửa phòng hắn chỉ tay lêncánh cửa thì thấy một con bướm màu nâu đen lớn lắm, bằng nguyên bàn tay mình xòe ra, em chưa thấy con bướm lớn như vậy bao giờ. Cậu em nói hay là anh Linh về?

Tụi em ghé mời thầy Sinh cùng đi lên núi và thầy đồng ý. Khi ra xe, anh biết em thấy gì không? Một con bướm đen cũng lớn bằng con bướm đã thấy hồi nãy bay theo vào trong xe. Và đi cùng chúng em lên núi. (Lúc này thì đứa nào cũng tin là vong linh của anh Hai đã về cùng đi theo tụi em).

Tới nơi thầy Sinh cúng, khấn vái Sơn thần, Thổ địa xin cho phép gặp thân nhân (ông đọc tên tuổi của anh Linh em). Thầy nói thứ tiếng gì tụi em nghe chẳng hiểu gì hết (nghe như tiếng Tàu mà không phải tiếng Tàu). Thầy cầm cây nhang đi vòng quanh, tới 1 gốc cây quơ tay như tóm lấy một vật gì trong không khí và lấy tờ giấy đỏ gói lại. Thầy chỉ một chỗ dưới đất nói đó là nơi mộ của anh và dặn đi đâu cũng phải mang anh theo (tức gói giấy đỏ này). Chúng em đưa thầy về Vỹ Dạ, tạ ơn rồi quay về khách sạn. Lần này thì tụi em quyết định bữa sau nhờ cô L. gặp tên CA Trại phó xin hắn cho đào ngay chứ trễ quá rồi (tụi em xin nghỉ phép về VN được có 2 tuần, mà bữa đó đã là ngày thứ 10).

Gặp viên CA tụi em trình bày là có coi thầy Sinh và được chỉ cho chỗ để đào. Hắn nói, theo họa đồ như thầy Quýt vẽ thì có tới 2 mộ gần nhau, nên bắt tụi em phải sắm 2 cái quách, và nếu đào lên có 2 cốt thì phải chôn lại một chỗ, chờ khi nào họ tìm và liên lạc được với thân nhân người kia mới cho đem về! (Em rủa thầm trong bụng trời ơi, chết mà vẫn không yên, vẫn còn bị nó quản lý)! Nhưng làm sao được? Hắn cũng buộc điều kiện phải để cho tù nhân trong trại ra đào, tụi em đồng ý liền, nên hắn cho đưa 5 người tù ra đào.

Em nhờ chia làm 2 toán, một đào ở trên, phía bên trái, nơi viên cai tù cụt tay ở Quảng Trị nói năm 1977 ông ta về đó đã thấy có hai ngôi mộ), còn toán kia đào ở dưới, phía bên phải. Đất đai gồ ghề, khó đào lắm, họ đào mỗi bên sâu xuống một thước mà chẳng thấy gì. Loay hoay mãi cũng không thấy gì, hết giờ CA đòi đưa mấy người tù về trại.

Đêm đó tụi em nhờ cậu em họ và người cháu ở Huế bữa sau tiếp tục lên coi sóc việc tìm kiếm, còn tụi em phải về Sài gòn để thu xếp ngày mốt về lại Mỹ.

Rời Huế mà đứa nào cũng lòng thì tan nát, còn người thì mệt nhoài vì suốt 10 ngày hết đi ra đi vào, cứ lên núi xuống núi mà không thấy được dấu tích gì hứa hẹn cả.


Về tới Sài Gòn tụi em rã rời, tuyệt vọng như người không còn sức sống, nghĩ tới lúc về Mỹ mà ngao ngán. Không ngờ sáng bữa sau người cháu họ điện thoại vào báo mừng rỡ “Dì ơi tụi con tìm thấy Cậu rồi.”(Em không biết tâm trạng của người trúng số độc đắc ra sao, chứ em lúc đó thì rõ ràng là mừng hết lớn)! Người cháu kể, trước khi đào có gọi điện thoại hỏi lại thầy Sinh, thầy bảo cứ từ phía dưới chân dốc núi bên phải nơi có con suối đào ngược lên, tới gần gốc cây, dưới gốc cây thấy có tảng đá thì đúng chỗ. Đào theo lời thầy chỉ, sâu gần 1 thước, ba con nhảy xuống rờ thấy đất ươn ướt. Đào sâu hơn nữa, ba con rờ và gõ trên mặt đất thấy hơi gồ lên thì nghĩ đó là cái sọ... nên lấy tay cào cào đất ra thì thấy là tấm poncho... kéo hết tấm poncho ra thì tất cả mọi người đều thấy rõ một người nằm nghiêng, co rúm như người bịnh, nhưng chỉ trong tích tắc, bóng người tan đi, xương rã thành bột trắng hết... Công An kêu hốt bỏ hết vô quách, đem lên phía trên núi chôn lại làm dấu chờ quyết định... Con thấy mây đen kéo tới như sắp mưa nên nhảy cuống theo hốt bỏ vô quách, vừa hốt vừa thừa lúc CA ngó lơ bốc một nắm bột bỏ vô túi để đem về cho Dì...” (vì em đã dặn cháu nhớ hốt giùm em một nhúm bột xương để đem về Mỹ thử DNA ). Nghe xong em mừng tới run hết chân tay, nhưng vẫn thấy buồn quá, vì qua bữa sau nữa là em quay về Mỹ lại rồi mà di cốt của anh thì vẫn còn bỏ lại ngoài đó!

Rồi tụi em đi lên Chùa cầu siêu cho anh (tụi em đã có đặt sẵn bài vị cho anh Linh). Hôm sau khi người em họ bay từ Huế vô đưa cho gói bột, chúng em chia hai, một nhúm để lại chùa, một nhúm mang về Mỹ.


*****

Một tháng sau khi về Mỹ, chúng em liên lạc được một phòng Lab ở Arizona, họ nhận phân tích và thử DNA. Gửi đi xong, hơn 3 tuần sau liên lạc lại, họ cho biết trong phần bột xương gửi tới, chỉ có 0, 5% là tro xương, còn lại 99, 5% là đất! Và cho hay chỉ có thể xác nhận kết quả là 10%. (Thì ra người cháu của em, khi hốt vội nắm tro đã bốc lộn nhiều phần đất cát trong đó). Thế nhưng chúng em vẫn tin tưởng rằng đó chính là tro cốt của anh mình vì nhiều lý do, em sẽ kể sau.

Mấy chị em tụi em ngày nào cũng bàn bạc băn khoăn, không biết là tháng 10/2007 sẽ về bốc cốt cải táng hay để sang năm 2008. Chưa kịp quyết định thì một bữa, người cháu em ở Huế gọi sang báo “nói chuyện với thầy Sinh ở Vỹ Dạ thì thầy mới cho biết anh Linh về báo mộng cho thầy, nói rằng nhờ thầy giữ giùm ngôi mộ vì các em sắp về cải táng! Vậy là tụi em quyết định tháng 10/2007 về bốc mộ anh cho xong.Chúng em nhờ người em họ ở Saigon ra Huế tìm gặp tên CA giữ danh sách những người tù trại Bình Điền nộp đơn xin bốc mộ. Hắn xem đơn xong nói rằng “Không có tên Lưu Đức Linh trong danh sách học tập, và lần trước khi đào lên thì chỉ có nắm bột, muốn bốc phải viết đơn rằng xin bốc chiếc quách trong có nắm đất và áo quần rách mới được.” (Anh nghĩ xem nghe vậy có đau lòng không)?


Tháng Tám 2007 ba em trở bịnh nặng phải nằm nhà thương. Chúng em quyết định xin phép Ba để một cô em gái ở lại chăm sóc, còn chúng em tháng 10/2007 về cải táng cho anh.

Về VN lần thứ nhì:

Tuần lễ thứ nhì tháng 10/2007 chúng em về đến Saigon Sau khi thăm mộ Nội Ngoại và má em, chúng em đi Huế. Lúc ấy đang mùa mưa, trời Huế mưa dầm u ám vô cùng não nuột. Tới Huế, chúng em về tận quê Ba cầu xin ông bà tổ tiên phù hộ, sau đó quyết định ra Đồng Hới gặp thầy Quýt, xin ông cùng đi bốc mộ để phối kiểm cho chắc chắn (vì lúc bốc lên không có mặt chúng em, và kết quả thử DNA chỉ có 10% nên nói thiệt tụi em cũng có chỗ bán tín bán nghi)! Lần đầu ông từ chối. Sáng hôm sau đến sớm, định năn nỉ lần nữa thì bất ngờ ông nói liền “Ra xe, tui đi với các anh chị. Đêm qua en về kêu tui đi tìm mộ en. Tui thấy en ở trần, mặc mỗi quần đùi kể với tui là chết vì bị bịnh và đói. Vậy nên tui phải đi với các anh chị!” Em nghe xong vừa mừng, vừa thương anh phải quay đi chùi nước mắt!


Thầy Quýt nói thêm phải ghé nhà một ông già cùng quê nhờ đi cùng để phòng khi anh Linh không nhập vào chúng em được thì sẽ nhập vào ông đó. Gặp ông ta chúng em nhờ đi tìm người thân, ông lặng lẽ lên xe cùng đi. (Nhắc lại cho anh nhớ rằng, lần đầu tiên gặp thầy Quýt ông có nói là có 2 người sẽ giúp chúng em tìm được mộ anh Linh, 1 là viên CôngAn già về hưu tên Nguyễn Thanh Bình ở Bình Điền đó và 1 người cụt tay).

Xe tới Bình Điền, chúng em lại nhờ người tên Bình giúp đưa lên núi. Lúc đó trời đã bớt mưa, chỉ còn lác đác. Bước vào lùm cỏ tranh, bàn tay và đầu thầy Quýt cứ lắc lư không ngừng, tới ngôi mộ thầy ngừng lại nói “Đây rồi, mộ en đây rồi”. Ông Bình nói không phải, cái này là mộ mới chôn, phải đi xuống phía dưới vực kia mới có”. Thầy Quýt lắc đầu, dậm chân và nói không đi đâu nữa. Lúc đó trời tạnh hẳn, thầy kêu bày đồ ra cúng và phải thiệt nhanh vì nếu trời đổ mưa là không tốt cho anh.

Chúng em bày nhang đèn hoa quả ra, thầy thắp nhang, ngồi xổm khấn vái một hồi và kêu chị Ba em ngồi xuống bên cạnh để xem anh Linh có nhập vào không. Một lúc lâu, không thấy gì, thầy Quýt lại kêu đứa em trai ngồi xuống, cầm một cây nhang vái theo thầy. Cũng chẳng xong, thầy bèn nói ông già đi theo cùng ngồi xuống. Ông này mới ngồi chỉ 2, 3 giây thì cây tre treo tấm phướn trắng thầy Quýt đã viết tên họ anh Linh trên đó bỗng dưng bật lên và mảnh vải bay phần phật như là cờ gặp gió mạnh! Bất ngờ ông già đứng bật dậy, mắt nhắm nghiền khiến phản ứng của tụi em là lùi hết về phái sau. Thầy Quýt nói với ông già đi mà nhận người thân đi! Ông đi vòng vòng, tới vỗ vai chị Ba, rồi đến cậu em trai cũng vỗ lên vai nó. Em đang đứng gần cậu em họ, bèn hơi lùi về phái sau thì ông ta đi qua người em họ đến vỗ vai em mấy cái! Vỗ xong, ông quay lại đi tới chỗ tên Bình (từng là cai tù trưởng trại 4 Bình Điền) và đập túi bụi lên người hắn ta. Tên Bình lùi lại và nói thôi thôi, được rồi. (Lúc đó em bỗng có linh tính, hay là ngày xưa tên này hành hạ tù nhân và cả anh Linh nữa nên hồn anh về mới đập hắn ta thay vì vỗ về như đã làm với chúng em)? Sau khi đập thằng cha này xong, ông già đi về phía chị Ba, nắm tay chị, dắt tới đầu ngôi mộ (mới) đưa tay chỉ và nói“tụi bây chôn tao xéo rồi thấy không?”


Thầy Quýt nói với ông già rằng “Thôi nhận vậy đủ rồi, ra đi, không thì mệt người ta”. Nghe vậy, ông già lắc lắc mấy cái rồi mở mắt ra, một lúc sau thì trở lại bình thường. Thầy Quýt lại khấn vái lầm thầm nữa, bỗng dưng thầy kêu lên như đang nói chuyện với ai đó. “Cái gì, đi theo làm gì, ở lại đây đi, cho en đi về với gia đình en, khó khăn lắm mới đưa được en về, đừng theo níu kéo nữa. Sao, tên gì? Họ Phan hả? Nhà ở đâu, cũng ở Sàigòn à?” Và thầy giải thích cho chúng em hiểu rằng có một cái vong chết cạnh anh Linh, quyến luyến nên cứ muốn giữ anh ở lại! Thầy Quýt khấn vái thêm một chút rồi gieo quẻ và nói “Vậy thì xin anh ở lại chơi một đêm rồi sáng mai anh về nghe?” Quẻ ra là được, thầy kêu chị Ba em gieo thêm một quẻ nữa, khấn y như vậy và cũng được, tức anh Linh chịu ở lại một đêm. Thầy Quýt cầm chai rượu rót xuống đất nói “Rượu đây, en đi mời bạn bè uống đi để mai về”. Xong, thầy kêu thu xếp xuống núi, và ngay lúc đó trời lại tối sầm, xuống khỏi núi thì trời đổ mưa trở lại (anh thấy có lạ không?) Thầy Quýt dặn sáng hôm sau khi đào mộ đem quách đi phải tránh không để trúng một giọt nước mưa nào hết. 


Trên đường về ông già đi theo lúc đó mới quay lại hỏi tụi em là gì của người chết. Như thế khi bắt đầu đi, ông ta chẳng biết gì về tụi em hết, vậy mà đến vỗ chính xác từng người, trừ cậu em họ ra. Anh thấy có linh thiêng không? Về tới Huế, chúng em tạ ơn thầy Quýt và ông già, rồi về khách sạn gọi điện thoại cho tên CA trại phó, xin hắn ngày hôm sau lên bốc mộ. Hắn đồng ý nhưng dặn phải lên sớm nếu không hắn đi họp thì không được đào. Đêm ấy trời mưa lớn, em mệt quá nên lên giường ngay, trùm mền đi ngủ lấy sức để sáng hôm sau dậy sớm. Đang nằm lơ mơ chưa ngủ thì nghe tiếng gõ cửa. Em nghĩ bụng chắc hai đứa em trai và em họ ra ngoài chơi quên không đem chìa khóa nên dậy mở cửa. Ai dè mở ra không thấy ai. Em rủa thầm hai thằng quỷ phá đám, đi ra tìm. Đi hết cầu thang xuống dưới nhà cũng chẳng thấy ai, không khí vắng vẻ làm em rùng mình chạy về phòng đóng cửa. 15 phút sau lại có tiếng gõ cửa, chị Ba em dậy mở cửa thì hai thằng em kéo vào. Em la chúng nó tại sao chơi trò gõ cửa rồi đi trốn thì hai đứa trợn mắt ngạc nhiên nói rằng tụi nó mới vừa ở ngoài phố về! Nghe mà lạnh người. Trong khi đó trời đổ mưa tầm tã như trút làm tụi em đâm lo, mưa như vậy sáng hôm sau làm sao bốc anh được? Cả bọn ngao ngán nằm xuống mà không tài nào ngủ được, trằn trọc suốt đêm! 5 giờ sáng chúng em đã dậy chuẩn bị đi. Trời vẫn còn mưa nên xe không dám chạy nhanh. Sau khi mua trái cây hoa quả, tụi em ghé thầy Sinh ở Vỹ Dạ nhờ thầy đi theo để cúng. Lên tới Bình Điền, nhờ tên Bình đi theo lên gặp tên Trại phó. Hắn mắng tụi em như tát nước vì phải chờ lâu, sau đó hắn cho một tên CA dắt lên núi. Tới nơi tên này nói “Các anh chị bốc gì thì bốc cho nhanh rồi đi xuống, ông Trại trưởng đi họp nên mới cho các anh chị bốc, chứ có ông ấy ở nhà là không được đâu”. Rồi hắn bỏ đi, để mặc tụi em lại.


Lúc này thì trời bắt đầu tạnh mưa hẳn nhưng chúng em cũng lấy tấm bạt nylon mang theo căng ra đề phòng mưa bất tử. Chúng em đào rất nhanh, bốc chiếc quách lên, làm dấu đầu đuôi xong bọc vào tấm nylon và vội vã xuống núi. Lúc đó thầy Sinh đang chờ ở dưới chân núi vì ôngtưởng tụi em vào gặp CA sẽ quay xuống đón ông.

Người tái xế của xe hơi tụi em thuê nhứt định không chịu chở chiếc quách nên chúng em phải nhờ xe ôm chở một người đưa xuống, còn tất cả lội bộ. Xuống gặp thầy Sinh ông kêu đem tới chỗ ngã ba đường để ông cúng. Và làm phép để đưa về Saigon. Tới ngã ba, đến khúc rất vắng vẻ, thầy Sinh bảo rẽ vào con đường mòn cho khuất. Thầy Sinh thắp nhang đèn khấn vái rồi làm phép bắt vong hồn anh Linh vào cây nhang để tụi em cầm theo, và tiếp tục khấn vái. Bỗng dưng thầy Sinh lên tiếng quát như nói chuyện với người vô hình (như thầy Quýt hôm qua). Thầy nói “Thôi đưa anh tới đây được rồi, về lại trên núi đi, để anh ấy theo người thân về nhà” Rồi thầy lại hỏi “Họ gì? Họ La hả? Nhà ở đâu, ở Bà Rịa à? Được rồi, nhớ rồi, về đi”. Xong thầy lấy 3 cây nhang vẽ bùa gì đó lên tấm vải trắng, rồi đập chiếc quách, trút mớ cốt vào tấm vải, cột lại giao cho chúng em xách.

Chúng em vẫn thuê 3 chiếc gắn máy, một chiếc chở một người, em ôm quách, 2 chiếc kia chạy kè theo, còn đám đàn bà thì lên xe ôtô. Và như lúc tụi em bắt đầu đi, lúc này trờ lại đổ mưa! Về tới Huế chúng em bàn với nhau là phải đi bằng xe lửa chứ không dám đi máy bay sợ tụi nó scan túi xách thấy gói cốt sẽ làm khó dễ. Thế nhưng khi hỏi thuê được một chiếc xe van chịu chở vào Saigon với giá 7 triệu đồng, chúng em mừng quá ngay chiều hôm đó rời Huế ngay! Xe chạy suốt đêm, chúng em rù rì nói chuyện chứ không ngủ được, khi tới Phan Rang chúng em ghé quán cơm bán khuya ăn cơm rồi đi tiếp. Gần 3g hay 4g sáng cậu em họ buồn ngủ nên em kêu ra băng sau nằm ngủ cho khỏe. Mới chừng nửa tiếng nó chồm dậy nói “Em nằm mơ thấy có người đi theo mình, nhìn không rõ mặt,chỉ thấy mặc quần áo lính màu xanh mà có rằn rằn màu đen”. (Năm 1975 hắn còn rất nhỏ nên không biết chuyện lính tráng đâu, nhưng nghe nó diễn tả em biết ngay đó là áo lính TQLC). 


Trên đường về Saigon, chúng em gọi điện thoại trước liên lạc với ông thầy tu trong ngôi chùa nhỏ tại nghĩa trang (do Hội tương tế mời thầy về tu và coi sóc) nhờ thầy mua hộ trước chiếc quách mới. Chúng em đi thẳng về nghĩa trang, về đến nơi thì trời đã trưa. Cả bọn để hành lý trên xe, đưa gói cốt anh vào chùa ngay. Chúng em chuyển gói cốt vào chiếc quách mới và rũ miếng poncho cùng manh vải đã sờn rách, mỏng tanh để gấp lại, ngờ đâu có 2 chiếc đinh mục rơi ra, chúng em chẳng hiểu đó là đinh ở đâu? Hay là mấy chiếc đinh của cái hòm chôn anh Linh đã bị mục nát thành đất? Chúng em thắp nhang, gửi cốt anh lại cho thầy và xin sáng hôm sau lên làm lễ hạ huyệt.

Buổi lễ hạ huyệt này có rất đông bà con họ hàng và người quen với gia đình em đến dự, như một tang lễ bình thường. Chúng em bỏ theo quách manh poncho và miếng vải áo tù rách để cùng chôn cho anh. Sau đó lấp đất và tráng xi măng để hôm sau xây mộ. Mộ anh nằm ngay bên cạnh Má.

Hôm sau cậu em họ đến kể em nghe ngay đêm đó, nằm mơ thấy anh Linh về, mặc quần áo đàng hoàng. Anh vào nhà ngồi ngay vào ghế, mặt tươi tỉnh. Cậu em hỏi, anh đi đâu đây thì anh Linh trả lời, tao về xây nhà chứ đi đâu!

Liên tiếp mấy ngày sau đó, bữa nào chúng em cũng lên xem việc xây mộ để xong là về lại Mỹ ngay (vì Ba em giục xong thì về liền vì Ba cảm thấy trong người không ổn). Xây mộ xong, chúng em lên cúng, viếng mộ hai bên Nội Ngoại, Má và anh Linh rồi trở về Mỹ.

Buổi trưa ngày em về tới nhà thì sáng hôm đó Ba em nói với em Chín đưa Ba rời bịnh viện về nhà vì Ba đỡ rồi. Mặt mũi Ba tươi tỉnh, vui vẻ và cho hay là đã hết nhức đầu! Anh có nhớ là trước khi tụi em về VN lần đầu tìm mộ, Ba em đau đầu dữ dội lắm, đau tới nỗi Ba nói muốn đập đầu vào tường cho bớt! Thầy Quýt ngay lần đó đã nói, tìm đưa anh về thì Ba hết đau ngay. Lúc đó em nghĩ rằng à thì ra thầy nói là như thế.


Không ngờ sau khi em về lại Mỹ được 2 tuần, một buổi chiều đi làm về thấy Ba còn ngủ chưa dậy. Em vô thăm thì Ba mở mắt, em nói “Thôi Ba dậy đi, trời chiều quá rồi. Con đi nấu cơm xong Ba ra ăn nghe”. Nói xong em về phòng thay đồ, chưa xong thì nghe tiếng Ba kêu, em lật đật chạy trở lại thì thấy Ba đang cầm ống thuốc quăng xuống đất và miệng đang nói một thứ tiếng gì nghe lạ lắm, như đang nói chuyện với người khuất mặt nào đó. Em gọi mấy chị em rồi lật đật chở Ba vào lại nhà thương ngay. Ba nằm nhà thương thêm một đêm một ngày nữa thì ra đi. Lúc ấy em mới hiểu câu nói của thầy Quýt. Chúng em buồn quá vì Má mất đã 23 năm (từ năm 1984) chỉ có Ba ở với tụi em, nay Ba cũng đi theo Má, và theo anh Linh em sau 32 năm xa cách. Rõ ràng cốt nhục tình thâm, Ba em chờ cho đến khi đưa được anh về mới ra đi.


Em có nói rằng dù kết quả thử DNA chỉ có 10% em vẫn tin đó chính là cốt của anh Linh em. Vì những điều trùng hợp với nhau quá rõ ràng, từ những giấc mơ của chị Ba em (2 tháng sau khi sanh đứa con đầu lòng), thấy anh về thăm, dẫn chị đi tới một vùng cỏ tranh, phía dưới có con suối nhỏ, rồi hình ảnh trong mơ của chị Ba, cũng như của thầy Quýt đều thấy anh Linh cởi trần mặc mỗi chiếc quần đùi, dù tụi em không kể gì cho thầy hết. Rồi chuyện thầy Quýt cho hay là phải có 2 người giúp mới tìm ra mộ, một là người Công An già tên Bình ở Bình Điền, người kia cụt tay, tức viên Công An tên Phú ở Quảng Trị. Như vậy rõ ràng anh Linh em đã chết trong oan khuất nên linh thiêng quanh quẩn giữ ngôi mộ của mình rồi về báo mộng cho người nhà máu mủ ruột thịt đi tìm.


Anh ơi, cần nói thêm là anh có biết phần mộ của anh Linh em nằm trong nghĩa trang sát gần căn cứ Sóng Thần TQLC hay không? Năm xưa bà con dòng họ bên Ba em hùn nhau mua một miếng đất để làm nghĩa trang đồng hương và trồng cây ăn trái, nhưng không ngờ lại nằm ngay sát bên căn cứ Sóng Thần. Miếng đất nghĩa trang quá rộng nên bên căn cứ Sóng Thần lúc đó mới qua bên nghĩa trang mượn đất để làm sân tập... Họ có làm giấy mượn đến khi nào nghĩa trang cần đất thì sẽ trả lại... Năm 1975 Cộng sản vô, tịch thu miếng đất đã cho mượn đó luôn... để rồi sau 32 năm anh Linh em lại được về nằm gần ngay căn cứ Sóng Thần. 


Ghi chú của người ghi lại câu chuyện này:

Đêm Đại hội TQLC 2008 tổ chức ở Nam California, mấy người em của Th/U Lưu Đức Linh đến tìm vài người bạn cùng khóa của anh để mời đến nhà nghe chuyện đi tìm anh mình. Nhơn dịp này, Thiếu Tá Lâm Tài Thạnh, ngay lúc đó tình cờ có mặt, nghe nói Linh đầu tiên được bổ nhiệm về TĐ9 nên ông nhơn danh TĐT cuối cùng của TĐ9, thay mặt tất cả anh em trong TĐ cũ chia buồn cùng gia đình. Vài ngày sau đó, số bạn cũ của Linh đã đến nhà để thắp một nén nhang tiễn biệt và nguyện cầu cho anh linh bạn mình vãng sinh nơi chốn vĩnh hằng. Sẵn đó, mọi người cũng được nghe các em Linh kể đầu đuôi chi tiết cuộc đi tìm hài cốt của anh để đưa anh về nhà, về với Mẹ và về với binh chủng!

 

Trần Như Hùng 

Monday, August 10, 2026

Night Thinking Of Sai Gon / ĐÊM NHỚ VỀ SÀI GÒN / Tram Tu Thieng /Version English

Trả Nhớ Về Không - Đỗ Công Luận

Giây Phút Sinh Tử - Khuyết Danh


Ông Minh ngoài 60, mái tóc bạc quá nửa, sống ở Mỹ gần 30 năm. Công việc của ông tại lò hỏa táng công lập San Jose không ồn ào, nhưng ông luôn coi đó là trách nhiệm.
Ông thường nói:
Người sống cần được tôn trọng, người đã mất càng cần hơn.

Chiều hôm ấy, hồ sơ cuối cùng:
Trần Mỹ Linh, 28 tuổi, mang thai 8 tháng
Nguyên nhân tử vong:
Ngừng tim đột ngột tại phòng khám tư ở Oakland. Giấy tờ hợp lệ, chữ ký đầy đủ. Nhưng khi đọc đến dòng thai nhi 32 tuần, lòng ông trĩu xuống.
Quan tài được đưa đến.
Gia đình bên chồng có mặt:
Nguyễn Hoàng Nam, chồng, tầm 30, gương mặt căng thẳng nhưng không biểu lộ đau buồn.
Bà Nguyễn Thị Hạnh, mẹ chồng, dáng cứng cỏi, mắt lạnh.
Jessica, bạn thân gia đình. Không ai tiến lại gần quan tài, không ai muốn nhìn mặt lần cuối, không có lời cầu nguyện.
Nam liên tục xem đồng hồ, bà Hạnh hỏi thời gian, Jessica nhắn tin. Ông Minh ghi nhận điều khác lạ.

Đến bước kiểm tra cuối, ông đặt tay lên nắp quan tài như thói quen. Khoảnh khắc ấy, ông cảm nhận một điều khiến tim chậm lại – hơi ấm nhẹ, và một dao động rất nhỏ. Không phải ảo giác. Ông đã chạm vào hàng nghìn quan tài, ông biết cảm giác của gỗ lạnh. Nhưng đây khác. Ông kiểm tra lại, lần này rõ hơn:
Một chuyển động có nhịp. Ông biết nếu sai sẽ mất việc, nếu đúng thì nhấn nút là sai lầm không thể cứu vãn.

Nam bước tới thúc giục. Bà Hạnh tỏ ý khó chịu. Jessica tiếp tục nhắn tin. Ông Minh đặt tay lên nắp lần thứ ba – dao động rõ ràng hơn. Ông nghĩ đến đứa trẻ chưa chào đời.
Ông quay sang quản lý:
“Cần thêm bước xác minh.”
Nam phản ứng ngay, bà Hạnh yêu cầu không chậm trễ. Họ viện dẫn quyền pháp lý, khẳng định bệnh viện đã xác nhận.
Ông Minh lắng nghe nhưng không thay đổi. Ông không buộc tội, chỉ nói ông cảm thấy bất thường và cần kiểm tra lại. Giọng ông kiên định.
Căng thẳng leo thang. Quản lý nhắc về lịch trình. Nam mất kiên nhẫn, bà Hạnh cho rằng đó là xúc phạm. Ông Minh hiểu mình đang đơn độc, nhưng ông cũng hiểu nếu bỏ qua sẽ ám ảnh cả đời. Ông tuyên bố tạm dừng quy trình. Không nhấn nút, không kích hoạt lò, cho đến khi có xác nhận bổ sung.

Không khí căng cứng. Nam yêu cầu giải thích căn cứ pháp lý. Bà Hạnh cho rằng thiếu tôn trọng. Jessica trao đổi ánh mắt với Nam. Quản lý muốn kết thúc. Ông Minh gọi 911 báo có nghi vấn về tình trạng sinh tồn của sản phụ đã được xác nhận tử vong.

Ngay lúc đó, cha mẹ ruột của Linh – ông Trần Văn Hòa và bà Nguyễn Kim Lan – vừa đáp chuyến bay từ Houston đến, chưa từng gặp gia đình bên chồng. Họ chỉ biết con gái đột ngột qua đời. Khi biết quy trình bị tạm dừng vì nghi ngờ, ông Hòa yêu cầu giải thích.

Ông Minh nói rõ: Ông cảm nhận được chuyển động bất thường. Nam phản đối, bà Hạnh cho rằng làm tổn thương hai bên. Nhưng ông Hòa nói nếu còn một phần nhỏ nghi ngờ, ông muốn kiểm tra.
Tiếng còi xe cấp cứu vang lên. Nhân viên y tế ban đầu hoài nghi, nhưng khi nghe sản phụ 8 tháng, họ trao đổi ánh nhìn. Họ đặt thiết bị cảm biến lên quan tài – một đường dao động mảnh xuất hiện: nhịp tim thai.

Họ kiểm tra mạch người mẹ qua vị trí cổ – có mạch yếu. Bà Lan bật khóc, ông Hòa gần như khuỵu xuống. Ông Minh đứng yên, trong lòng dâng lên sóng mạnh. Nam không giữ bình tĩnh, khẳng định không thể có chuyện đó. Nhân viên y tế thông báo cần chuyển khẩn cấp đến bệnh viện Stanford.
Khi nắp quan tài được mở ra, Linh nằm đó, tái nhợt, nhưng mạch yếu được xác nhận, nhịp tim thai nghe rõ bằng thiết bị. Linh và con được đưa lên cáng, xe cứu thương lao đi.
Ông Minh nhìn theo, nghĩ:
Nếu ông đã nhấn nút, mọi thứ đã chấm dứt.

Tại Stanford, Linh được đưa thẳng vào phòng mổ khẩn cấp. Huyết áp rất thấp, nhịp tim yếu, thai nhi đang giảm cường độ. Bác sĩ quyết định mổ lấy thai ngay.
Ông Hòa ký giấy đồng ý, chỉ hỏi một câu: “Còn cơ hội không?”
Bác sĩ: “Nếu hành động ngay thì có thể .”
Em bé được đưa ra, da tái nhợt, không khóc. Đội hồi sức kích thích, hỗ trợ hô hấp. Nhịp tim dao động, rồi một tiếng khóc yếu ớt vang lên. Bà Lan nghe thấy, quay sang ông Hòa, không dám tin. Nhưng Linh vẫn mất máu nghiêm trọng, các bác sĩ kiểm soát xuất huyết, truyền máu. Sau nhiều nỗ lực, các chỉ số bắt đầu nhích lên. Cả hai mẹ con còn sống.

Sáng hôm sau, hai thanh tra xuất hiện tại trung tâm hỏa táng. Ông Minh kể chi tiết những gì mình cảm nhận. Họ trích xuất camera, thấy sự vội vã của Nam và bà Hạnh. Họ kiểm tra phòng khám Oakland, phát hiện hồ sơ sơ sài, không có siêu âm cuối cùng, không theo dõi tim thai trước khi tuyên bố tử vong. Bác sĩ được mời làm việc, ban đầu khẳng định quy trình đúng, nhưng đối chiếu dữ liệu từ Stanford cho thấy Linh vẫn có mạch. Điều đó có nghĩa tuyên bố tử vong là sai.

Rà soát giao dịch:
200.000 đô la được chuyển từ tài khoản bà Hạnh vào tài khoản bác sĩ vài ngày trước khi Linh nhập viện. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 2 triệu đô, người thụ hưởng ban đầu là hai vợ chồng, một tháng trước được đổi thành duy nhất Nam.
Tin nhắn giữa Nam và Jessica về “cuộc sống mới” và “kế hoạch phải hoàn tất nhanh”. Bác sĩ thừa nhận đã ký giấy chứng tử trong khi biết bệnh nhân vẫn có dấu hiệu sinh tồn.
Nam, bà Hạnh, Jessica bị truy tố về âm mưu giết người chưa đạt và gian lận bảo hiểm.
Tòa tuyên án: bác sĩ 12 năm tù, tước giấy phép hành nghề;
Nam, bà Hạnh, Jessica mỗi người 20 năm tù.

Linh hồi phục chậm nhưng chắc chắn. Con trai cô nằm trong lồng ấp ba tuần, nhịp tim ổn định, tự thở đều. Khi lần đầu được bế con, Linh không nói nên lời.
Cô viết thư cho ông Minh:
“Nếu ông đã làm theo quy trình, tôi và con sẽ không còn cơ hội. Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc một người xa lạ đã chọn tin vào trực giác thay vì áp lực.” Ông Minh cất thư vào ngăn bàn, không kể với ai.

Năm năm sau, Linh đến gặp ông, bế con trai năm tuổi. Cô cúi đầu thật sâu, cảm ơn ông. Cô nói mỗi sinh nhật con đều nhớ đến khoảnh khắc chiếc nút đỏ không được nhấn. Cô đặt vào tay ông một tấm ảnh gia đình: cô, cha mẹ, và con trai. Tất cả đều cười. Ông Minh cầm tấm ảnh rất lâu, đặt cạnh lá thư cũ. Ông quay lại chiếc nút khởi động, vẫn chỉ là nút đỏ bình thường. Nhưng với ông, nó nhắc về trách nhiệm, sự thận trọng và lòng can đảm thầm lặng.

Câu chuyện nhắc nhở:
Đôi khi lòng can đảm không phải là làm điều phi thường, mà là dám dừng lại khi mọi người đang thúc giục tiến lên. Và trong một thế giới mọi thứ bị quyết định quá nhanh, điều quý giá nhất là khả năng chậm lại đủ lâu để lắng nghe sự thật đang khẽ gõ cửa.

 

Người Vợ Việt Mang Th/ai Sắp Bị Hỏa Táng Ở Mỹ, Nhân Viên Bỗng Hét Lớn: “Bụng Cô Ấy Đang Cử Động!”…. - No Blog Title Set

#706 - Chân Ngày Càng Yếu, Có Nên Tiêm Chất Nhờn Trị Thoái Hóa Khớp? - BS. Phạm Hiếu Liêm

10 Thứ Này, Chỉ Cần Buông Bỏ Sẽ Được Nhiều Hơn Mất: Hãy Xem Bạn Đã Bỏ Được Thứ Gì!

Có những điều nếu bạn chấp nhận buông bỏ, bạn sẽ được nhiều hơn mất, đơn cử như 10 điều dưới đây.

1. Buông bỏ thể diện

Có những lúc chúng ta cúi đầu, là vì để nhìn rõ hơn con đường mà ta đang đi. Rất nhiều người cho rằng bản thân mình sống thế là ổn rồi, không cần thiết phải thử những thứ mới. 

Lại có không ít người vì thể diện mà thứ gì cũng không nỡ buông để rồi cuối cùng khốn đốn hoặc chẳng thế thành công vì cái gọi là thể diện đó.


2. Buông bỏ áp lực

Mệt hay không mệt là do tâm thái của mỗi người quyết định. Trái tim ta nếu không được "dọn dẹp" sẽ bị bao phủ bởi rất nhiều bụi bẩn. 

Được "dọn dẹp" sạch, lẽ tự nhiên nó sẽ trở nên sáng hơn, đẹp hơn;  sự việc được xử lý, sắp xếp rõ ràng rành mạch mới có thể đẩy lùi cái lộn xộn, bừa bộn ra xa; tương tự như vậy, ném đi những đau khổ vô nghĩa, trong lòng ta sẽ có thêm không gian để niềm vui đọng lại.


3. Buông bỏ quá khứ

Chỉ có buông bỏ quá khứ, bạn mới có thể sống một cuộc sống hạnh phúc hơn ở hiện tại và tương lại. 

Nỗ lực thay đổi tâm thái, điều tiết cảm xúc, học cách bình tĩnh đón nhận hiện thực, học cách mách bảo bản thân hãy nghe theo tự nhiên, học cách thản nhiên đối diện với vận mệnh, học cách nhìn đời theo hướng tích cực, học cách nghĩ đến mặt tích cực của mọi chuyện, bạn sẽ thấy cuộc sống ý nghĩa hơn rất nhiều.


4. Buông bỏ tự ti

Hãy xóa ngay hai chữ tự ti ra khỏi từ điển của bạn. Không phải bất cứ ai cũng có thể trở thành vĩ nhân song bất cứ ai cũng có thể trở thành một người có nội tâm vững chắc. Tin vào bản thân, tìm đúng vị trí của mình, như vậy bạn sẽ có một cuộc đời giá trị!


5. Buông bỏ sự lười biếng

Tuyệt chiêu cho việc này là: Cho dù đó chỉ là một việc nhỏ rất đỗi bình thường, chúng ta cũng nên làm với thái độ nghiêm túc nhất, làm cho thành thục. 

Hãy luôn nhắc nhở bản thân rằng, cứ nỗ lực hết mình, vui vẻ, khỏe mạnh, lương thiện, bạn nhất định sẽ có một cuộc đời sán lạn.


6. Buông bỏ tiêu cực

Nếu bạn muốn trở thành một người thành công, vậy thì chẳng có lý do gì mà không vì bản thân mình mà cố gắng.

Hãy để những năng lượng tích cực đẩy lùi những suy nghĩ tiêu cực, để sự cao thượng đánh bật sự hèn mọn, để chân thành đánh bại giả tạo, để khoan dung thổi bay hẹp hòi, để vui vẻ thay thế cho lo âu, để chăm chỉ thay thế cho lười nhác, để kiên cường đánh bại yếu đuối…

Chỉ cần bạn muốn, bạn hoàn toàn có thể hoàn thiện bản thân theo cách tốt nhất trong suốt cuộc đời. "Cuộc chiến" của bạn, bạn chứ không ai khác phải là người điều binh bố trận.


7. Buông bỏ oán trách

Thay vì oán trách, đổ lỗi cho hoàn cảnh mỗi khi gặp thất bại, bạn hãy nghiêm túc suy nghĩ rằng, thất bại cũng là một bước chuẩn bị quan trọng cho những thành công sau này, nỗ lực khắc phục thiếu sót, phát huy sở trường thế mạnh, điều đó quan trọng và cần thiết hơn.

Oán trách và tìm cách rũ bỏ trách nhiệm của bản thân sẽ chỉ khiến mỗi bước chân tiến tới thành công của bạn nặng nề hơn, chậm chạp hơn mà thôi.

Buông bỏ oán trách, bình tâm tiếp nhận thất bại, đó chính là tâm thái của một người có đầu óc. Oán trách không thể thay đổi được tình hình, chỉ có nỗ lực vươn lên mới đem lại hy vọng.

Đã là vàng thật, chỉ cần bạn không cố tình vùi lấp bản thân, chỉ cần nghĩ đến việc tỏa sáng, rồi sẽ có ngày bạn tỏa sáng.

Đừng sống một cuộc sống lúc nào cũng chỉ có phiền muộn, cũng đừng cho rằng cuộc sống phụ bạc bạn, thực ra, bạn cũng được trao tặng nhiều tương đương những người khác, muốn có thêm nữa, bạn chỉ còn cách tự mình cố gắng để có được mà thôi!


8. Buông bỏ do dự

Đừng gieo trồng giấc mơ trên cánh đồng do dự, nơi chẳng thứ gì khác mọc lên ngoài cỏ dại "nếu-thì sao".

Khi đã nhận định chuẩn về một việc gì đó, lập tức hành động thành công sẽ vô hạn, đừng do dự thiếu quyết đoán, phương hướng đã được vạch rõ, hãy cứ thế mà chạy, đừng quay đầu.

Lập tức hành động là đặc trưng chung của tất cả những người thành công. Nếu như bạn có cách gì hay, vậy hãy biến suy nghĩ đó thành hành động. Nếu gặp được một cơ hội tốt, vậy hãy lập tức nắm bắt. Lập tức hành động, thành công vô hạn!


9. Buông bỏ hẹp hòi

Lòng người khoan dung, trời đất cũng sẽ tự nhiên mà trở nên rộng mở hơn. Khoan dung là một loại mỹ đức, khoan dung người khác cũng chính là cách mở đường cho tâm hồn mình trở nên nhẹ nhõm, an nhiên. 

Chỉ sống trong một thế giới khoan dung, con người mới có thể tấu lên bài hát cuộc đời hài hòa, êm ái.


10. Buông bỏ hoài nghi

Trong lòng còn nghi ngờ, làm việc khó thành. Người xưa có câu: Dùng người không nghi ngờ, đã nghi ngờ thì không dùng người. Nghi ngờ thiếu căn cứ sẽ làm tổn thương người khác, gây ảnh hưởng đến tình hữu nghị giữa các bên.

Hãy đánh giá mọi chuyện một cách khách quan, minh bạch khi hội tụ đủ những căn cứ cần thiết, như vậy bạn sẽ không phải lo làm tổn thương ai, cũng không phải mệt mói vì những nghi ngờ. 


Diệp Anh (Trí Thức Trẻ)| 

Trường Ca Thương Về Miền Tây - Nguyễn Duy Phước

 

Ai về thăm lại miền Tây

Đồng bằng thẳng cánh cò bay rợp trời

Nhà bè nước chảy chia đôi

Bến phà Mỹ Thuận đưa người sang sông

Một vùng sông nước Cữu Long

Lượn quanh bởi chín dòng sông chan hòa

Tưới bồi dải đất phù sa

Ruộng đồng cày cấy bao la ngút ngàn

Vựa lúa kho gạo miền Nam

Lúa mùa vàng óng, dừa xanh ngát trời

Xum xuê hoa trái đôi bờ

Dân tình hiền hậu, đón mời thiết tha

Câu hò, giọng hát ngân nga

Tiếng sáo văng vẳng đậm đà tình quê

Tiền Giang uốn khúc lê thê

Nhánh sông tả ngạn rẽ về biển xa

 

Bến Tre xứ dừa

Bến Tre xưa gọi Kiến Hòa

Quê hương thờ phụng Đạo Dừa phát sanh

Sông ngòi tươi mát chảy quanh

Vun bồi ruộng lúa, cây cành mênh mang

Mía ngọt, ngô bắp, khoai lang

Sầu riêng, măng cụt, quýt cam thơm lành

Nổi tiếng báng tráng, bánh canh

Thị trấn Chợ Lách, Châu Thành, Cái Mơn

Vĩnh Long, Trà Vinh hậu phương

Xuôi dòng sông Cu về nguồn Hậu Giang

 

Chợ Long Xuyên

Long Xuyên, Châu Đốc, An Giang

Dân số đông nhất đồng bằng Cửu Long

Cheo leo thị trấn Tri Tôn

Chập chùng dãy núi Thất Sơn ngút ngàng

Miếu Bà Chúa Xứ, Núi Sam

Lâm Viên Núi Cấm, rừng Tràm ngàn cây

Trù phú vườn tược miền Tây

Lâm sản, gỗ mộc tràn đầy tài nguyên

Ghe, thuyền chợ nổi Đông Xuyên

Nguyễn Du thơ mộng công viên, thác hồ

Oai linh lăng Thoại Ngọc Hầu

Gái Long Xuyên giỏi thêu thùa, thủ công

Biết bao đặc sản thơm ngon

Đường Thốt Nốt, lẫu mắm, cháo lòng tiếng vang


Chợ nổi Cần Thơ

Cần Thơ miệt dưới Hậu Giang

Ruộng đồng lúa chín bạt ngàn, mênh mông

Có tiếng « gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó lòng không muốn về »

Ninh Kiều bến nước đê mê

Thuyền chài tấp nập đón đưa khách hàng

Bên sông cô gái mơ màng

Thẫn thờ hóng gió đượm ngàn tơ vương

Sông Hậu nước ngọt lạ thường

Kênh ngạch chằng chịt miên trường chảy quanh

Rộn ràng chợ nổi Cái Răng

Bán buôn nông sản chòng chành đò ngang

Ghe xuồng cây bẹo treo hàng

Chợ cổ nhộn nhịp quán hàng, thức ăn

nôi hải sản trứ danh

Cá chạch, cá lóc, cá linh, cá lòng

Bánh hỏi mặt võng Phong Điền

Bánh tét lá cẩm đậm tình nước non

Ba khía, bánh cống chiên dòn

Tầm bì, nem nướng thơm ngon đậm đà

Thủ công nghệ thật hằng hà

Gốm sứ, nón lá, lụa là, chiếu chăn 

Chùa chiền Nam Nhã, Long Quang

Ngôi đình Bình Thủy danh nhân tôn thờ

Long Tuyền cổ miếu ngàn đời

Công trình xây cất rạng ngời dân gian

Nhà cổ Bình Thủy Vuờn lan

Tác phẩm kiến trúc của nhà họ Dương

Di sản lịch sử chùa Ông

Đền Munir Ansay đặc trưng dân Chàm

Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam

Giàn Gừa di tích, Bằng Lăng vườn cò

Miệt vườn rực rỡ đơm hoa

Quanh năm cây trái khách qua mát lòng

Kênh rạch thuyền chèo xuôi dòng

Bên sông thôn nữ mặng nồng duyên quê

Lng lờ mấy nhịp cầu tre

Hàng dừa, khóm trúc vờn che êm đềm

Cần Thơ sông nước dịu hiền

Tây Đô chôn chặt mảnh tình nước Nam


Thắng cảnh Kiên Giang
  

Viếng thăm Rạch Giá, Kiên Giang

Non xanh nước biếc chứa chan tình người

Giáp ranh Cao Miên, Cần Thơ

Vịnh Thái Lan dải biển bờ bọc quanh

Kiên Lương, Phú Quốc, Hà Tiên

Tam giác du lịch khắp miền ngao du

Bà Lụa, Nam Du, Thổ Chu

Biết bao quần đảo ngoài khơi mịt mùng

Chùa Hang thắng cảnh hành hương

Phụ Tử trụ đá vấn vương đôi hòn

Qua lăng Mạc Cữu chạnh lòng

Miền Tây khai phá, công ơn đời đi

Phú Quốc cảnh đẹp như mơ

Bãi dài cát trắng nên thơ ngập hồn

Gành Dầu, Cửa Cạn, Dương Đông

Suối Tiên mờ ảo, suối Tranh, Đá Bài

Nơi phát tích đạo Cao Đài

Dinh Bà, Dinh Cậu nguy nga tuyệt vời

Rừng sim chín mộng lưng đồi

Ngọc trai thủy sản rạng ngời long lanh

Bánh tét lá mật, bánh canh

Hạt tiêu, nước mắm nổi danh khắp miền

Mỏ quạ, hải mã, rượu sim

Hải sản cá bớp, sò biên đặc thù

 

Chùa chén kiểu Sóc Trăng

Công Ty bánh Pía Tân Huê Viên Sóc Trăng

Sóc Trăng mảnh đất luyến lưu

Từng có kho bạc khi xưa hoàng triều

Giáp ranh Cần Thơ, Bạc Liêu

Biển bờ bát ngát, mỹ miều nước non

Nơi sông Hậu ra biển Đông

Mỹ Thanh, An Định cửa sông đón chào

Trần Đề bến cảng xôn xao

Tàu, ghe tấp nập ra vào biết bao

Đất đai màu mỡ dâng cao

Trù phú nông nghiệp rau màu, trái cây

Thủy nguồn tôm cá tràn đầy

Xứ xở của những đền đài trứ danh

Chùa Ông Bổn, chùa Khléang

Đất Sét, Chén Kiểu nằm gần chùa Dơi

Món ngon, đặc sản chào mời

Bánh pía, lạp xưởng để đời tiếng tăm

Bánh phồng, bánh cóng Đại Tâm

Mỹ Xuyên bò nướng, Vũng Thơm bánh mè

Bún riêu, bún nước khỏi chê

Gỏi Bồn Bồn, mắm hóc đê mê, đậm mùi

Ghé thăm miệt vườn xanh tươi

Bốn mùa cây trái xum xuê ngát lòng

Ngọt ngào vú sữa, chôm chôm

Lễ hội « văn hóa xứ giòng » vui chơi

Hàng năm tổ chức tháng mười

Lễ óoc, ngũ âm nhạc Khmer di truyền

Cô gái Sóc Trăng bền duyên

Nụ cười má lúm đồng tiền mơn man

Thương tà áo trắng dịu dàng

Thương vành nón lá che ngang mái đầu

Ba Xuyên tình vẫn đong đầy

Đất Sóc tô thắm miền Tây đời đời


Nhà thờ Cha Diệp Tắc Sậy (Bạc Liêu)


Bạc Liêu đất mặn tình người

Ruộng đồng bát ngát, biển khơi bạt ngàn

Giáp ranh Cà Mau, Sóc Trăng

Biển Đông trùng điệp bọc quanh sơn hà

Việt, Miên, Hoa sống thuận hòa

Ba nền văn hóa giao thoa nghĩa tình

Bao la rừng rậm thiên nhiên

Ruộng mùa lúa chín tươi xinh ánh vàng

Kênh đào, sông rạch thênh thang

Cổ Cò trăm khúc chạy sang Gành Hào

Khu chợ đẹp nhất miền Tây

Cá tôm, hải sản câu đầy ngoài khơi

Đồng muối Ba Thắc tuyệt vi

Chùa chiền đền miếu rạng ngời tiếng tăm

Vĩnh Hưng tháp cổ nghìn năm

Chùa Khmer Xiêm Cán danh lam in hình

Phước Đc lăng miếu thời Minh

Thiêng liêng Hải Tịnh Quán Âm phật đài

Tôn thờ hào kiệt, nhân tài

Lăng mộ cha Diệp, Sáu Lầu vinh danh

« Dạ Lang Hoài Cổ » âm vang

Đờn ca tài tử rộn ràng ngày đêm

Cô Ba Trà thắm tơ duyên

Tình cô xứ Bạc nỗi niềm ấp yêu

Tiếng vang công tử Bạc Liêu

Lừng danh giàu có, phong lưu thỏa tình

Lễ hội nhộn nhịp linh đình

Phát huy văn hoá cổ truyền dân gian

Vườn nhãn da bò nồng nàn

Vườn xoài trăm tuổi chứa chan cội nguồn

Đặc sản cá kèo, óc đuông

Sinh thái động vật, chim muông muôn màu

 


Về miền sông nước Cà Mau

Một vùng Đất Mũi tuyến đầu gian san

Tỉnh cuối miền Nam Việt Nam

Biển Đông cùng vịnh Thái Lan trải dài

Quần đảo Hòn Chuối, Hòn Khoai

Ba hòn Đá Bạc sóng lay bềnh bồng

Có đền Nam Hải Lăng Ông

Nơi thờ tín ngưỡng cá Ông tục truyền

Cà Mau rng nước mặn phèn

Khu U Minh dự trữ sinh quyền thế gian

Thị Tường « hồ giữa đồng bằng »

Bên đầm bóng nước vầng trăng soi mình

Xuôi thuyền đến huyện Thới Bình

Trên dòng sông Trẹm trọn tình lâng lâng

Tàu bè bến cảng Năm Căn

Cùng khu chợ nổi trên sông dập dìu

Phú Tân, Cái Nước yêu kiều

Đầm Dơi, Ngọc Hiển gió chiều lao xao

Đêm về hát khúc ca dao

Vẳng câu vọng cổ gửi trao đậm đà

Tận cùng Đất Mũi bao la

Cà Mau tình thắm mặn mà quê hương

Dạt dào nỗi nhớ niềm thương

Miền Tây tha thiết vấn vương đêm ngày.

 

Nguyễn Duy Phước