Thursday, November 5, 2026

Tại Sao Những Ca Khúc Trước Năm 1975 Vẫn Được Ưa Chuộng? - Nguyễn Văn Tuấn


Hôm nọ, có nghe ông Nguyễn Phú Trọng phàn nàn là Việt Nam không có những bài hát hay. Tôi thì nghĩ khác ông ta, vì Việt Nam có những bài hát hay, có thể ông chưa nghe đó thôi. Chúng ta thử tìm về nhạc thời trước 1975 ở miền Nam xem, có nhiều bài hay lắm chứ, và vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay dù nó bị vùi dập nhiều lần …

Câu hỏi đặt ra là tại sao những bài ca đã được sáng tác hơn nửa thế kỷ trước mà đến nay vẫn còn được giới thưởng ngoạn, từ bình dân đến lịch lãm, đều ưa thích. Tôi nghĩ đến 4 lý do và cũng là đặc điểm của những ca khúc trước 1975 ở miền Nam: tính nhân văn, tự do tư tưởng, tính phong phú, và giàu chất nghệ thuật.


NHÂN VĂN 

Thứ nhất là đậm chất nhân văn. Nếu nhìn lại những bài ca trước 1975 ở miền Nam và so sánh với những sáng tác ở miền Bắc, tôi nghĩ ít ai có thể bác bỏ tính nhân văn trong các sáng tác ở trong Nam. Khi nói “nhân văn”, tôi không chỉ nói đến những sáng tác về thân phận con người, mà còn kể cả những sáng tác thuộc dòng nhạc lãng mạn, trữ tình, nói lên cảm xúc của con người trước thời cuộc.

Người ta thường phân nhóm những sáng tác của Trịnh Công Sơn thành hai nhóm tình yêu và thân phận, nhưng tôi nghĩ cách phân nhóm đó cũng có thể áp dụng cho nhiều nhạc sĩ khác như Từ Công Phụng chẳng hạn. Tình yêu không chỉ là tình yêu đôi lứa, mà còn tình yêu quê hương đất nước (“Tôi đi xem để thấy những gì yêu dấu Việt Nam”) và giữa người với người “Tôi yêu bác nông phu đội sương nắng bên bờ ruộng sâu”).


Thỉnh thoảng cũng có một vài bài có chất “máu” (như câu “nhưng thép súng đang còn say máu thù” trong bài “Lính xa nhà”), nhưng cho dù như thế thì câu kết vẫn có hậu “Hẹn em khi khắp trời nở đầy hoa có tôi về”. Có thể nói rằng cái đặc tính nhân văn và nhân bản của những ca khúc trước 1975 ở miền Nam là yếu tố mạnh nhất để phân biệt so với các ca khúc cùng thời ngoài Bắc, vốn lúc nào cũng có nhiều mùi máu và súng đạn.


NGHỆ THUẬT

Cái đặc điểm nổi bật thứ hai là tính nghệ thuật trong các ca khúc. Khi nói “nghệ thuật” tôi muốn nói đến những lời ca đẹp, giàu chất thơ, và những giai điệu đẹp. Những bài ca mà ngay cả từ cái tựa đề đã đẹp. Những Dấu tình sầu, Giáng ngọc, Mùa thu cho em, Nghìn trùng xa cách, Tuổi biết buồn, Thà như giọt mưa, Giọt mưa trên lá, Hạ trắng, Diễm xưa, Ướt mi, và biết bao tựa đề có ý thơ và sâu lắng như thế đã đi vào lòng người thưởng ngoạn.

Thử so sánh những tựa đề của các sáng tác cùng thời ngoài Bắc như 

Bài ca năm tấn, Em đi làm tín dụng, 

Chào anh giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng, 

Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc, 

v.v… thì chúng ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt.

Lời ca trong những ca khúc trước 1975 ở miền Nam cũng là những lời đẹp. Tôi thán phục những nhạc sĩ như Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Hoài Linh [không phải anh hề], Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên (và nhiều nữa) đã viết ra những lời ca đi vào lòng người. Không phải chỉ đơn giản nhân văn theo kiểu những ý tưởng trừu tượng trong sáng tác của Trịnh Công Sơn (ví dụ như “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi”, hay “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”), nhưng có khi đi thẳng vào vấn đề như Phạm Duy (“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”).

Còn nhiều nhiều bài đã đi vào lòng người qua những lời ca đẹp và giản dị: “Hôm xưa tay nắm tay nhau anh hỏi tôi rằng: ‘Những gì trong đời ta ghi sâu vào tâm tư / Không tan theo cùng hư vô, không theo tháng năm phai mờ / Tình nào tha thiết anh ơi?”. 

Có những lời ca mà tôi nghĩ giới trẻ ngày nay có thể mỉa mai cười khẩy nói sến, nhưng tuổi trẻ thì thường chưa đủ lớn để cảm những câu như “Phút ban đầu ấy / Thư xanh màu giấy viết nhưng chưa gởi em / Ngõ đi chung một lối / Đôi khi định nói với em một lời.”


Không biết từ thuở nào mà tôi đã mê bài Trộm nhìn nhau và đã từng dự báo rằng bài này có ngày sẽ nổi tiếng. Thời đó, tôi mới về thăm nhà sau 20 năm xa cách, và nhìn người xưa, tôi thấy những câu “Ðôi khi trộm nhìn em / Xem dung nhan đó bây giờ ra sao / Em có còn đôi má đào như ngày nào” sao mà hay quá, hợp cảnh quá. Chỉ trộm nhìn thôi. Lời nhạc rất thơ.

Mà, thật vậy, đa số những lời ca trong các sáng tác trước 1975 được viết ra như vẫn vần thơ hoặc phổ từ thơ. Người phổ thơ thành nhạc hay nhất là Nhạc sĩ Phạm Duy, được xem như là một “phù thủy âm nhạc”. Chính vì thế mà âm nhạc trước 1975 có những lời ca sang trọng. Thời nay, trong môi trường những ca khúc dung tục, rất hiếm thấy những ca khúc có những lời ca đẹp như trước.

Lạ một điều là cũng là nhạc tuyên truyền (ở ngoài Bắc gọi vậy) hay nhạc tâm lý chiến (cách gọi trong Nam), nhưng những sáng tác trong Nam thì lại được người dân nhớ và xưng tụng. Sau cuộc chiến, những bài gọi là “nhạc đỏ”, dù được sự ưu ái của nhà cầm quyền văn hóa, chẳng ai nhớ hay muốn nhớ đến chúng.

Ngược lại, những sáng tác về người lính ở trong Nam thời trước 1975 thì lại còn lưu truyền và nuôi dưỡng trong lòng dân, dù nhà cầm quyền ra sức cấm đoán! Ngay cả những người lính miền Bắc cũng thích những bài hát về lính của các nhạc sĩ trong Nam. 

Tại sao vậy? 

Tôi nghĩ tại vì tính nghệ thuật và nhân bản trong những sáng tác ở miền Nam. Người lính, cho dù là lính cộng sản hay cộng hòa, thì vẫn cảm được những câu “Con biết xuân này mẹ chờ tin con / Khi thấy mai đào nở vàng bên nương” hay “Thư của lính, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay”. Những lời ca đó không có biên giới chính trị.


TỰ DO

Đặc điểm thứ ba là tự do. Dù có kiểm duyệt, nhưng nói chung các nghệ sĩ trước 1975 ở miền Nam có tự do sáng tác. Không ai cấm họ nói lên nỗi đau và những mất mát của chiến tranh. Không ai “đặt hàng” họ viết những bài ca tụng lãnh đạo như ngoài Bắc. Thật vậy, nhìn lại dòng nhạc thời đó, chẳng có một ca khúc nào ca tụng ông Nguyễn Văn Thiệu cả. Có một bài ca tụng ông Ngô Đình Diệm, nhưng cũng chẳng ai ca vì nó được dùng trong mấy rạp chiếu bóng là chính. Thay vì ca ngợi “lãnh tụ” dòng nhạc miền Nam ca ngợi con người và dân tộc, nhưng cũng đồng thời nói lên nỗi đau của chiến tranh. 

Trịnh Công Sơn viết hẳn một loạt “Ca khúc Da Vàng” (mà hình như cho đến nay vẫn chưa được phép phổ biến). Trong thời chiến mà họ vẫn có thể phổ biến những sáng tác không có lợi cho chính quyền. Những ca khúc như “Dù anh trở về trên đôi nạng gỗ/ Dù anh trở về bằng chiếc xe lăn” chắc chắn không có cơ may xuất hiện trong âm nhạc miền Bắc thời đó (và ngay cả sau này). 

Một trong những ca khúc nổi tiếng nhất trong thời chiến có lẽ là bài “Kỷ vật cho em” (phổ thơ của Linh Phương) với những lời ca ray rứt, bi thảm: “Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime/ Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã/ Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả/ Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa/ Anh trở về bằng chiếc băng ca/ Trên trực thăng sơn màu tang trắng.” Nghe nói ca khúc này đã làm cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa rất khó chịu với nhạc sĩ.


Tiêu biểu cho tinh thần tự do sáng tác có lẽ là tự sự của Phạm Duy: “Tôi đưa ra một câu nói thôi: ‘Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’ đất nước bơ vơ, nó rối bù đi thì tôi phải khóc thôi. Lúc nào mà đoàn kết thì tôi cười theo. Khóc cười theo mệnh nước. Cái xã hội mình nó rối tung lên như vậy thì làm sao mà mình … Thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề là … Các anh yêu tôi thì nói là tôi có sự nghiệp hơi đầy đủ, hơi lớn một tí đấy, nhưng mà riêng tôi thì tôi thấy cho đến giờ phút này thì tôi hoàn toàn thất bại. Bởi vì đất nước đã thống nhất rồi mà lòng người thì không thống nhất, thành thử đại khái nếu mà tôi có chết đi thì tôi hãy còn gần như là tôi không được thỏa mãn.”


Cái tính tự do còn thể hiện qua một thực tế là chính quyền thời đó không cấm đoán việc phổ biến các nhạc sĩ còn ở ngoài Bắc. Những sáng tác của Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, v.v…đều được phổ biến thoải mái trong Nam. Ngay cả bài quốc ca mà chính quyền vẫn sử dụng bài “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước vốn là một người cộng sản. Ngược lại, nhà cầm quyền ngoài Bắc thì lại cấm, không cho phổ biến các sáng tác của các nhạc sĩ trong Nam hay đã vào Nam sinh sống.

ĐA DẠNG 

Đặc điểm thứ tư của âm nhạc ngày xưa là tính phong phú về chủ đề. Khác với nhạc ngoài Bắc cùng thời tất cả dồn cho tuyên truyền và kêu gọi chiến tranh, các sáng tác trong Nam không kêu gọi chiến tranh nhưng yêu thương kẻ thù. Nhạc thời đó đáp ứng cho mọi nhu cầu của giới bình dân đến người trí thức, từ người dân đến người lính, từ trẻ em đến người lớn quan tâm đến thời cuộc, từ tình yêu lãng mạn đến triết lýhiện sinh, từ tục ca đến đạo ca, từ nhạc trẻ đến nhạc “tiền chiến”, từ nhạc tâm lý chiến (tuyên truyền) đến nhạc chống chiến tranh, nói chung là đủ cả. Không chỉ sáng tác bằng tiếng Việt mà còn trước tác hay dịch từ các ca khúc nổi tiếng ở nước ngoài để giới thiệu cho công chúng Việt Nam.


Tôi nghĩ bốn đặc điểm đó có thể giải thích tại sao những ca khúc dù đã sáng tác hơn nửa thế kỷ trước mà vẫn còn phổ biến và được yêu chuộng cho đến ngày nay. Mai kia mốt nọ, nếu có người viết lại lịch sử âm nhạc, tôi nghĩ họ sẽ ghi nhận những sáng tác thời trước 1975 ở miền Nam là một kho tàng vàng son của âm nhạc Việt Nam. Như là một quy luật, những bài hát tuyên truyền thô kệch và nhồi sọ, những bài ca sắt máu, những sáng tác kêu gọi giết chóc và hận thù sẽ bị đào thải, và thực tế đã chứng minh điều đó. Ngược lại, chỉ có những sáng tác đậm tính nhân văn, giàu chất nghệ thuật, và phong phú xuất phát từ tinh thần tự do, thì mới tồn tại theo thời gian. 


Nguyễn Văn Tuấn

(1) TẠI SAO NHỮNG CA KHÚC TRƯỚC NĂM 1975... - Việt Luận - Viet's Herald | Facebook

Nợ Nần Buông Trôi - Đỗ Công Luận

Mùa Thu Nơi Góc Nhỏ Trời Âu – Ara Phát


Cuộc đời có những quy luật riêng, một trong những quy luật này ai cũng phải trải qua là « Sinh lão bệnh tử », hiển nhiên là sinh ra, lớn lên, già rồi ốm đau bịnh tật và cuối cùng là từ giã cõi đời.

Tôi không bàn quy luật này theo tính cách phong thủy hay tử vi mà nhiều người hay đề cập đến, nhiều khi đưa đến mê tín là bất cứ công việc có tính cách chọn lựa thường muốn có con số cuối cùng rơi vào cung Sinh. Tức là con số chia cho 4 dư 1, vì sinh lúc nào cũng tươi mới , đem lại sự sống trong vạn vật. Mua một sợi vòng tay cũng phải đếm số hạt sao cho rơi vào « sinh» , mà có thoát được già yếu bịnh hoạn đâu. Thiên nhiên là vậy, vạn vật cây cỏ, con người cũng thay đổi theo thời gian vì đây là quy luật. Có sinh ắt phải có tử .

Có mùa xuân đến thì cũng phải ngồi ngắm tuyết mùa đông .
Ngày tôi mới định cư nơi miền ôn đới này có một điều nhận thấy là những người bước vào thế hệ thứ ba là những người điệu đà ưa màu sắc, thích ăn diện . Ban đầu hơi có thành kiến nhưng sống một thời gian thấy đó là điều đáng sống và phù hợp với thiên nhiên, những cửa hàng thời trang dành cho những thế hệ thứ ba này nhiều màu sắc tươi thắm mà nhìn vào, giới trẻ bảo là « gu người già », mà những người già dám vung tay lắm. Quan niệm của họ khác với những người á đông; không cần thiết để dành dụm cho con cháu . Tôi cũng đang ở vào cái tuổi này nên thông cảm và binh vực họ tối đa. Thử nhìn thiên nhiên vạn vật vào mùa thứ ba hay gọi là mùa thu mà xem , đất trời như thay áo mới, màu sắc vàng đỏ rực rỡ thay thế màu xanh cằn cỗi, có ai dám bảo mùa thu không phải là mùa đẹp nhất trong năm .

Mùa thu nơi tôi sống nếu tìm trong « Google map » khu ngoại thành Liège tôi ở chắc chỉ lớn bằng « nửa hạt mè », nước Bỉ đã nhỏ huống chi cái khu vực Angleur tôi sinh sống thì có là bao nhưng cũng may là thiên nhiên thứ gì cũng thấp thoáng, tuy núi không cao, sông không sâu, hang động kém kỳ bí so với muôn vàn nơi khác nhưng nhìn thấp thoáng trên ảnh xem cũng bắt mắt và có lẽ sống lâu nên có cảm tình, thấy nó duyên dáng trong cả bốn mùa. 

Ngày còn đi học, bao nhiêu tác giả, tác phẩm ca ngợi mùa thu Hà Nội nhưng chỉ là những người đã sống và gắn bó lâu dài với nơi này, còn người từ nơi khác đến vào mùa này không có nhiều cảm xúc với cây cơm nguội vàng hay cây bàng lá đỏ, gió thu lãng đãng bờ hồ mà chỉ thấy màu đỏ che rợp phố phường, cái nhộn nhịp ca ngợi cách mạng mùa thu làm mất hết sắc thu vàng, thì ra đảng lúc nào cũng hỗn, muốn hơn  cả đất trời.


Gắn bó vùng Angleur này đã 35 năm, hiện đã ngang bằng thời gian ở Việt Nam mà thời gian sau tuy không cam go như một thời đã qua nhưng chiêm nghiệm cuộc sống nhiều hơn lúc đầu, nghỉ ngơi cũng đã vài năm nhờ vậy có dịp ta bà thế giới, gặp gỡ tìm kiếm bạn bè để ba hoa.
Đi lang thang lúc nào trong túi cũng có máy chụp ảnh, lười thì có chiếc smarphone còn lúc hứng thì dùng loại máy khác nên hay ghi lại hình ảnh .
Tôi chỉ gởi vào đây những hình ảnh của « nửa hạt mè » vào những mùa thu. Có những nơi có dịp đi qua đẹp lắm nhưng thiếu cái tâm tình nên chỉ để riêng thỉnh thoảng có dịp xem lại.

    
Gare xe lửa Guillemins-Liège được xếp loại trong 10 nhà ga đẹp nhất thế giới với mái vòm bằng thép và những vật liệu hiện đại bằng kính và béton trắng, khánh thành năm 2009 để thay thế nhà gare cũ xây dựng năm 1958 với kinh phí 312.000.000 Euro (photo Ara)


Nhà thờ Sacré-Cœur và đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong ở Cointe nằm cách gare vài trăm mét.
Tháng 11 sắp đến ngày lễ Các thánh và chiến sĩ trận vong được tổ chúc trọng thể tại đây,năm truóc vua và thủ tướng có đến dự lễ ngày chiến sĩ trận vong .
Vị trí chụp cách xa hơn cây số mới lấy được toàn cảnh, phải zoom lại 30 lần nên không được nét lắm (photo Ara)

   
Trên con đường đi vào « xóm thuyền » cái tên này là do tôi gọi, những chiếc thuyền lớn không còn được phép lưu hành trên sông nước, họ về khúc sông này, buông neo tạo thành khu xóm, cũng có địa chỉ hợp lệ , có đường gaz, điện, đường dẫn nước và thoát nước để không làm ô uế khúc sông. Những hàng cây che chắn thuyền như bờ rào , ló bên bờ rào ven sông một nhánh cúc báo hiệu mùa thu đến. Nhớ đến một điệu hò tán tỉnh của những chàng trai thương hồ phép tắc lễ nghĩa
Cúc mọc bờ sông kêu là cúc thủy
Saigon xa mà chợ Mỹ cũng xa
Gởi thư thăm hết người nhà
Trước thăm cha mẹ sau là thăm em
(photo Ara)

   
Những chiếc ghe thương hồ một thời tung hoành các bến bãi nay về nằm hưởng nhàn bên dòng sông lơ đãng trữ tình được nhà nước cấp phép « cắm sào » còn có đón khách hay không chỉ có trời biết nước biết thôi.
(photo Ara)

   
Đưa đẩy vài mái chèo trên chiếc xuồng tam bản là đã đến một trung tâm thuơng mại mua sắm đồ dùng cần thiết hoặc la cà nơi quán café bâng quơ vài câu với các cô phục vụ.
(photo Ara)

   
Từ gare đến cầu Fragnée độ hơn cây số, là chiếc cầu đẹp nhất Liège bắc ngang sông Meuse, cặp theo bờ sông vào mùa thu nhìn như tranh vẽ cũng sông núi cảnh sắc hữu tình
(photo Ara)

   
Phải zoom đến 30 lần mới thấy được đồi xanh xanh thoai thoải, đến đây tha hồ rước em lên đồi cỏ xanh ngập lối… hãy vất chiếc dép bước lên trên cỏ mềm.
( photo Ara)
   
Đường vào xóm thuyền
(photo Ara)


Kênh đào Albert I ( Canal Albert I ) nằm ở phía đông bắc Bỉ, là tên vua Albert I của Bỉ , được kết nối các thành phố lớn Anvers và Liège bởi sông Meuse và sông Scheldt. Kênh có độ sâu 3,4 mét và chiều dài tổng cộng 129,5 km, cho phép lưu thông cho một sà lan trọng tải tối đa 10.000 tấn.
(photo Ara)

   
Chiếc thuyền nơi khúc sông được che chắn do một thân cây đổ ngang, trông có nét đẹp nhất là những hôm lãng đãng sương mù
(photo Ara)

   
Con đường đi dạo vào mùa thu nằm trong một cù lao nhỏ mang tên Belle-île
(photo Ara)

    
Dọc theo bờ sông Ourthe hàng cây rực rỡ riêng một góc trời, lá vàng lá đỏ chen nhau như tạo một bức tranh thiên nhiên tuyệt hảo , hàng cây này đẹp vào lúc hai tuần đầu tháng 10. Đến tháng 11 là đã trơ cành.
(photo Ara)

   
Đây là loại cây Tilleul, có lá hình quả tim có răng cưa dùng làm trà uống an thần dễ ngủ, trồng nhiều ở các lối đi ,được đóng gói bán trong các siêu thị , hộp 20 gói cũng khoảng 1,5 Euro
(photo Ara)

   
Cây lá đỏ này tôi chưa biết tên, hay trồng xen với các loại cây lá vàng khác
(photo Ara)

   
Một con đường đi dạo và chạy bộ ven sông mang tên Quai Ardenne hàng cây hai bên đường là Maron dại, hạt maron dại này rụng đẩy đường, không ăn được, học sinh tiểu học đã được dạy cho biết.
(photo Ara)

   
Giống như ao vuông (ao Bà Om) ở Trà Vinh nhưng nhỏ hơn nằm sau lưng château Péralta, gần con đường lên rừng
(photo Ara)

    
Mùa thu giáo đường, đi ngang khi những hồi chuông ngân vang , nhà thờ St. Paul là nhà thờ lớn tại Liège , tọa lạc tại Place Cathédrale , chung quanh toàn quán café vỉa hè , nơi một vỉa hè thấy gác chuông bên cạnh nhánh lá vàng rực nên ghi lại.
(photo Ara)

 
Từ vào thu đến nay
Gió thu hiu hắt
Sương thu lạnh
…..
Khói thu xây thành (Tản Đà)
(photo Ara)

    
Một buổi sáng tinh sương tháng 10 khi nghe dự báo thời tiết là nhiều sương mù, Ara bị cám dỗ bởi hình ảnh này nên dù có se lạnh cũng thức dậy sớm khoác áo tìm một góc được sương mù bao phủ .Cành cây rũ xuống dòng sông được phủ dầy sương
(photo Ara)

   
Sương phủ kín nhà thủy tạ, nơi nghỉ chân của người đi dạo trong Belle-île; không phải lúc nào cũng có nhiều sương mù, cũng không phí một giấc ngủ nướng.

(photo Ara)

   

Một đêm thu, trăng chưa được tròn trịa ,nhưng tôi lại thấy thích cái thiêu thiếu mới thấy cần đòi hỏi,cần tìm kiếm thêm cho được hoàn mỹ ; trăng thu 13 đấy , cũng sáng rực khoảng sân. Ở những nơi bình yên khi nghe  » em không nghe mùa thu, dưới trăng mờ thổn thức, em không nghe rạo rực, hình ảnh kẻ chinh phu, bên lòng người cô phụ » làm sao họ hiểu được ngày xưa mùa thu nước ta là mùa bắt lính , mùa phơi thây trăm họ nên công một người.

 (photo Ara)

   

Hoàng hôn ven sông, vừa mới đỏ đèn, mấy hôm nay đổi giờ,6 giờ rưỡi chiều đã chập choạng tối (photo Ara)

   

Bóng đêm đã tràn ngập dòng sông, dưới nước phản chiếu lại hàng đèn đường

(photoAra)


Nàng thu khoác áo vàng lóng lánh đi dự bữa tiệc trần gian như óng ả hơn lên dưới ánh đèn (photo Ara)

   
Đêm thu lộng lẫy dưới ánh đèn như thế đó mà vắng bóng người chiêm ngưỡng, giờ này mọi người êm ấm quanh bàn ăn hay quây quần bên tách trà, chỉ có gã khờ này loay hoay với ống kính cảnh « áo gấm đi đêm »
(photoAra)

    
Ngập lá thu vàng chung quanh những bậc thềm, tôi la cà nơi này tìm những khoảnh khắc lá rơi để ghi lại, mỗi chiếc lá dường như có tâm tình và cảm xúc riêng , chiếc vẫn đỏng đảnh vương vấn sắc xanh, tươi cười ngạo nghễ bên cạnh chiếc khác kiêu sa gợi tình trong chiếc áo vàng kèm theo chiếc khăn quàng cổ xanh thẫm vẫn còn vương vấn trên cành còn phần đông đã mang nhiều nếp nhăn nơi khóe mắt vành môi, chờ đợi luồng gió mạnh là đáp xuống cạnh bạn bè.
(photo Ara)

   
Không biết đến lúc nào Ara mới học được cái tính kiên nhẫn, tĩnh tâm như những ông »khều Hà Bá » này, cũng là một thú vui tao nhã đấy chứ ! nhưng biết làm sao sinh ra thích cái tính làm người « khôn » như cụ Trạng bàn chuyện nhân tình thế thái, » người khôn người đến chốn lao xao ». Cứ đến chốn lao xao là Ara như « cá gặp nước ».
(photoAra)

   
Chiếc xe đạp chỉ còn trơ khung bỏ lăn lóc, vậy mà vào tay một nghệ sĩ phố phường đem « thếp vàng », đặt vào một thân cây trên bãi lá vàng bỗng trở nên một tác phẩm nghệ thuật, ai đi ngang cũng dùng lại ngắm nghía gật gù.
(photo Ara)

    
» Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá » hai cái nghề vốn trời cho. Lúc ở Bà Rá nghe những tay thợ rừng đi lùng gỗ khi gặp được thứ cần tìm là thông báo cho bạn bè  » hôm nay đạp được 5 gốc cẩm lai », những cây mà họ tìm được đều vạt vỏ cây để lại dấu vết riêng ;họ có luật giang hồ bất thành văn là những kẻ đến sau không được đụng vào, rồi từ từ tìm cách kéo súc gỗ ra khỏi rừng.
Khu rừng Ara đến có những loại gỗ tốt như Chêne( sồi), hêtre. Tủ bàn làm bằng loại gỗ này giá đắt. Khúc gỗ đang ngồi là gỗ chêne cũng dùng làm thùng rượu vin
(photo Ara chụp tự động)

    
Có đến 45 năm mới cầm lại chiếc pipe, quà kỷ niệm của bố tôi tặng lúc đi làm nơi vùng cao nguyên gió lạnh,những hôm se lạnh như hôm nay, nhồi một tẩu thuốc mà thưởng thức mùi thơm lan tỏa, nắm nồi thuốc ấm trong tay thú vị lắm.
Đã vào tháng thứ nhì của mùa thu, ngày đã ngắn dần càng lúc càng lạnh thêm cũng sắp thêm tuổi đời, cũng đã đến lúc cần thu xếp lại cuộc sống cho nhẹ nhàng hơn.(photo Ara chụp tự động)

    
Giàn su trồng sau nhà, là nhà phố nên vườn không rộng, tôi cũng không thích trồng trọt chỉ vì chiều vợ làm tặng người bạn đời một giàn su,việc nặng tôi làm còn săn sóc thì…không có tôi, việc này thích hợp với nhà tôi . Giàn su có trên 20 năm , năm nào cung sai quả, có đến 500 quả mà nhà ăn nhiều lắm cũng chỉ vài ba chục quả, trồng không chút phân hóa học chỉ nhờ vào có nhiều giun đất thôi, biếu tặng nhiều người mà năm nào cũng để làm phân bón cả trăm quả. Quả to, cứ 3 quả là 1 kg (photo Ara)

   
Cứ cuối tháng 10 là phải thu hoạch để tránh bất chợt nhiệt độ xuống âm.(photoAra)

   
Mọi năm còn thả dây bầu chung giàn, bầu su lẫn lộn vui mắt lắm, nhưng năm nay bầu mất mùa,những quả su còn trên giàn.(photoAra)

   
Hoa su bé tí tẹo vậy mà đậu quả to gấp vài chục lần, khu vườn có nhiều ong bướm nên dễ dàng thụ phấn. Chụp lúc sáng sớm quả su còn tươm nhựa (photo Ara)

    
Những cây đâm chồi sớm sẽ vàng lá và rơi rụng sớm theo chu kỳ, trên cành chỉ còn vài ba chiếc lá chờ cơn gió đưa đẩy nằm bên đồng loại( photo Ara)

Chỉ loanh quanh nơi góc nhỏ của Liège cũng ghi lại vài trăm bức ảnh trong carte mémoire(thẻ nhớ) của máy ảnh, khi có dịp đi xa hơn  chỉ ghi lại cái khác lạ ,có thể cảnh sắc đẹp hơn nhưng trong chiều sâu tâm hồn chưa chắc đã bằng nơi gắn bó bao nhiêu năm qua.


0 giờ sáng ngày lễ Các thánh
Toussaint Liège 1/1/2019
Ara Phát

 

Sur le même thème

Của César trả lại cho César - Ara PhatDans "Non classé"

Đường nào cũng dẫn đến La MãDans "Non classé"

Corsica -tên em là nhan sắcDans "Non classé"

Modifier "Mùa thu nơi góc nhỏ trời Âu – Ara Phat"

Bản Rap "Triệu View" Của Tôn Ngộ Không, Gia Cát Lượng, Tào Tháo Phơi Bày Nỗi Đau Người Trung Quốc -

Lê Minh phân tích hiện tượng các nhân vật lịch sử và văn học được AI mô phỏng để rap về những gian truân đương thời. Tác phẩm phản ánh sâu sắc nỗi bế tắc của người trẻ trong guồng quay công việc, áp lực kinh tế và sự tìm về với mạch nguồn văn hóa truyền thống làm điểm tựa tinh thần trước nghịch cảnh.

Wednesday, November 4, 2026

Chuyện Điện Thoại “Đào Lửa-Lừa Đảo” Trên Xứ Mỹ - Chính Vũ


Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 9, 2018. Ông tên thật Trần Vĩnh, thầy giáo hưu trí, định cư tại Hoa Kỳ từ năm 2015, hiện là cư dân Springfield, MA. Tác giả Chính Vũ vừa đoạt giải Đặc Biệt VVNM 2025. Bài viết sau đây là câu chuyện về nạn lừa đảo qua điện thoại mà tác giả đã gặp phải và muốn chia sẻ cùng bạn đọc Viết Về Nước Mỹ.

***

Lúc còn ở quê nhà, thường xuyên đọc trên báo, thấy nhan nhãn những tin cảnh báo, nhiều vụ…”đào lửa” (lừa đảo) qua tin nhắn, điện thoại di động mà phần lớn nạn nhân là người tuổi trẻ hoặc cao niên. Bởi những yếu tố tâm lý: Tuổi trẻ nông nổi, thiều kinh nghiệm, dễ bị dẫn dắt và lừa gạt! Còn người cao tuổi, việc phán xét thường chậm chạp, thích nghe lời dịu dàng, từ tốn và dễ tin người? Điều mà bọn lừa đảo có “thừa kinh nghiệm” khai thác tâm lý một cách bài bản, lại có đông đảo đồng bọn phụ họa, tạo nên một “kịch bản” y như thật. Bọn lừa đảo có thể là người ở ngay trong nước, hoặc ở trong các tổ chức lừa đảo xuyên quốc gia, có “trụ sở” ở những vùng biên giới, đông nhất là Myanma, Campuchia v.v…


Thủ đoạn thường dùng của bọn… “đào lửa” này, là chuyên sưu tầm và đánh cắp thông tin của nạn nhân mà chúng nhắm tới như số điện thoại, tình trạng cuộc sống hiện tại, những mối liên quan đến bạn bè, người thân, gia đình, từ đó khai thác vào những “sơ hở”, điểm yếu của đối tượng mà lên kế hoạch lừa đảo. Và chúng sẽ chọn một khoảng thời gian thích hợp với…” màn I, cảnh I” là một cuộc gọi từ “cơ quan chính phủ” mà thông thường là cơ quan Công an, dưới danh nghĩa là cán bộ điều tra hay phụ trách một vụ án nào đó mà số điện thoại và tên nạn nhân được lồng ghép vào đó, bằng lời lẽ “lịch sự”, “tế nhị”, hỏi han “nạn nhân”, sau đó là “màn II, cảnh II” dẫn dắt nạn nhân tìm cách “thoát” vòng …dính líu, liên quan bằng cách “chứng minh tài khoản”, công việc cụ thể và “khéo léo” đưa ra những “hậu quả” của việc không làm theo yêu cầu “gỡ tội” của chúng như sẽ bị bắt bớ, tù đày… thậm chí là đe dọa ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của người thân và gia đình V.v… Khiến những “nạn nhân yếu bóng vía” dễ dàng sa vào mê hồn trận của chúng mà chuyển giao tiền bạc, tài sản của mình cho chúng một cách dễ dàng và nhanh chóng!


Nhiều người trẻ tuổi, học sinh, sinh viên đã từ một người bình thường, ngoan hiền  trở thành “kẻ cắp” tài sản, tiền bạc của cha, mẹ, thậm chí bạn bè, người thân để “cúng” cho bọn đào lửa. Hoặc những người cao niên, lớn tuổi, ki cóp cả đời, được một món tiền dành dụm cho ngày hưu trí về già, cũng bị bọn này “ngon ngọt” lừa đảo, phải chuyển “sạch sành sanh” cho chúng. Cách đây vài ba năm, báo chí quê nhà cũng đã “sôi sục” với tin một vị “nữ chủ tịch của một huyện ở tỉnh Đồng Nai”, người đáng lẽ rất “dày dặn kinh nghiệm” và được bảo vệ từ 4 phía lại… dễ dàng “mắc bẫy” của bọn lừa đảo với số tiền hơn trăm tỷ đồng Việt Nam, đủ để chúng ta suy ngẫm. Bọn “đào lửa” không từ một ai, và không chừa một thủ đoạn nào, miễn đạt được mục đích…lừa đảo.


Gần đây, ở Hoa Kỳ, một vài tờ báo tiếng Việt, và cả tiếng Anh, cũng đã có những bài viết rải rác “cảnh báo” thủ đoạn lừa đảo qua điện thoại, nhằm vào những người già, lớn tuổi. Người viết bài này, cũng đã đọc và nghĩ thầm: “ Ở một nước Văn minh, hiện đại như Hoa Kỳ, chắc chỉ là lẻ tẻ vài chuyện “hi hữu” thôi, chứ làm gì có bọn… “đào lửa” nào dám mon men, lừa gạt người như ở xứ ta? Và cười ha, ha…

Cho đến, trưa một hôm, vào khoảng 12: 30PM, tôi nhận một cuộc điện thoại từ số…lạ: +1. 202. 271. 4677, gọi đến. Biết 3 số đầu “ 202” là mã của Washington. DC, chắc có liên quan đến cuộc gọi của chính phủ hay quan trọng gì đó, tôi vội bấm nghe. Một giọng nam, trầm ấm, với giọng tiếng Anh chuẩn hỏi tôi: Xin lỗi, có phải số điện thoại này là của ông V.T, đúng không?”. Tôi cũng từ tốn trả lời: “Vâng, đúng rồi! Xin lỗi ở đâu gọi tôi?”. Đầu dây bên kia im lặng một vài giây, và giọng nam lúc nảy lại cất lên bằng tiếng…Việt Nam : “ Dạ, cám ơn ông. Chúng tôi ở cơ quan F.B.C ( hay F.B.T gì đấy, tôi nghe không rõ và cũng chẳng biết cơ quan gì? ), có chuyện liên quan đến số điện thoại của ông. Ông có thể dành ra vài phút để nghe không?”. Tôi hơi thoáng ngạc nhiên, song nghe giọng “người mình” và nghĩ chàng trai này chắc cũng khoảng ngoài 40 tuổi, cách nói, lịch sự, từ tốn, nên cũng… vui vẻ, đồng ý tiếp chuyện.


Chàng trai tiếp tục: “Vừa rồi, cơ quan chúng tôi nhận được thông báo, số điện thoại của ông là 413. xxx. xxx có dùng để đăng ký thêm một số điện thoại mới là 202. 368. 6609, đúng không?”. Tôi khẳng định: “Ồ, không! Trước giờ tôi chỉ sử dụng một số điện thoại duy nhất...”. Chàng trai ngừng lại vài giây, rồi tiếp tục: “Vậy sao, thưa ông? Nhưng rất tiếc, sự việc rất nghiêm trọng, vì số điện thoại mà ông đã đăng ký thêm với công an phi trường Tân Sơn Nhất là 202. 368. 6609 lại liên quan đến một số vụ lừa đảo đến đồng bào Việt Nam mình ở Mỹ, ông...”. Tôi cắt ngang: “Tôi nhắc lại lần nữa, tôi không có số điện thoại nào mới. Xin lỗi, tôi phải ghi âm cuộc gọi này, và báo lại Cảnh sát nơi tôi cư ngụ…”. Chàng trai lại nhẹ nhàng và tiếp tục trao đổi có vẻ… “chân thành” hơn: “Ồ, xin lỗi. Ông có vẻ… căng thẳng và mất bình tĩnh? Ông có thể ghi âm cuộc gọi và báo cáo Cảnh sát sau, à, ông có biết bật ghi âm không? Tôi có thể giúp ông và chờ ông ghi âm...”


Mặc dù trong thâm tâm tôi vẫn nghĩ, đây là cuộc điện thoại lừa đảo, song vẫn thoáng băn khoăn, ngần ngại, bởi chàng trai này khi nghe nói đến việc “ghi âm cuộc gọi, báo Police” vẫn thản nhiên, đồng tình, còn gợi ý giúp. Có thể có sự hiểu lầm, hay liên quan gì không. Thôi cứ thử ráng nghe vài phút nữa xem sao? Tôi dịu giọng: “Không, cám ơn anh. Tôi đã bật ghi âm...”. Chàng trai vẫn nhẹ nhàng nói chuyện: “Ồ, không sao, chắc có sự nhầm lẫn gì đây? Nhưng dù sao, ông cũng nên cho chúng tôi biết cụ thể sự việc. Hay là, tôi chuyển cuộc điện thoại qua bộ phận giải quyết khiếu nại cho ông nhé? Nếu không nhanh chóng giải quyết, ông có thể sẽ bị khóa số điện thoại, cuộc sống và an sinh ở Mỹ của ông sẽ bị ảnh hưởng, rắc rối, ông hiểu chứ?…”. Tôi nghĩ nhanh, và thử cúp máy xem sao?…


Chưa đầy 2 giây sau, tiếng máy điện thoại của tôi lại reo inh ỏi. Cầm máy điện thoại lên, giọng chàng trai lại vang lên: “ Sao ông cúp máy? Tôi đã chuyển cuộc gọi cho bộ phận có trách nhiệm giúp ông đây, ông chớ máy trong giây lát nhé?” Lần này, một giọng nữ, nghe rất mềm mỏng vang lên: “Quý ông cần gì? Tôi có thể giúp gì cho ông?”. Đây có lẽ là “ màn III, cảnh III” trực giác mách bảo tôi cẩn trọng. Và y như rằng, người phụ nữ khéo léo khai thác từng mối quan hệ của tôi, xa gần nhắc đến tài khoản và quyền lợi an sinh xã hội…với giọng “êm êm” như ru… vào cõi mộng. Thỉnh thoảng lại xen vào những lời “hăm dọa” vô cùng…”trìu mến” khiến người… yếu bóng vía, rất dễ hoảng sợ mà… sụp bẫy! Để thị nói huyên thuyên một chặp, tôi hét lớn: “Đủ rồi! Tôi cám ơn quý vị và đi báo Police đây!” rồi cúp máy. Tiếng điện thoại lại vang lên, reo inh ỏi… Tôi mặc kệ và đi nhanh vào phòng tắm để rửa mặt.


Kể lại câu chuyện này, với suy nghĩ, không nhiều thì ít, có độc giả đọc được bài viết, cứ coi như là một… chuyện vui, nhưng cần cảnh giác, nói lại cho những người thân trong gia đình, luôn “tỉnh táo” trước những cuộc gọi “na ná” như thế náy, mà không dễ dàng “cả tin” hay “hoảng sợ” mà sa bẫy bọn “đào lửa” đã bắt đầu xuất hiện ở nước Mỹ, để lừa đảo những người đồng hương cao niên hoặc nhẹ dạ. Nhiều bạn bè, sống lâu năm ở Hoa Kỳ, nhắc tôi rằng: “ Thấy số điện thoại lạ, không nên bắt máy!?” .“ Nhưng lỡ có chuyện gì quan trọng hoặc liên quan đến bản thân mình thì sao?”. Tôi suy nghĩ, và có bạn trấn an: “ Ở Hoa Kỳ, những chuyện có liên quan đến cơ quan chính phủ, thường, các cơ quan gửi thư về địa chỉ của gia đình, chứ không gọi điện thoại, trừ khi có hẹn”… không biết đúng không?

Dù sao, cảnh giác trước vẫn tốt hơn là để sập bẫy rồi mới rút kinh nghiệm và hối tiếc, phải không quý độc giả yêu mến…

 

CHÍNH VŨ

Nguồn: https://vvnm.vietbao.com/a248380/chuyen-dien-thoai-dao-lua-lua-dao-tren-xu-my

Hái Trăng Trên Đồi Cát

 


NINH THUẬN, Những cô gái Chăm bước đi dập dìu "hái trăng" trên đồi cát Nam Cương tạo nên cảm hứng cho những bức ảnh nghệ thuật độc đáo.

Bộ ảnh “Hái trăng trên đồi cát” do nhiếp ảnh gia Nguyễn Tấn Tuấn (TP HCM) thực hiện trong một chuyến tác nghiệp gần đây tại Ninh Thuận.

Rạng đông là thời điểm tuyệt vời để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đồi cát với những mảng màu cam, đỏ, vàng trên bầu trời tương phản với sắc tối của các sóng cát nhấp nhô.

Đồi cát Nam Cương, nằm trên địa bàn thôn Tuấn Tú, xã An Hải, huyện Ninh Phước, cách TP Phan Rang - Tháp Chàm khoảng 8 km. Nếu du khách đi xe máy từ Phan Rang thì mất khoảng 30 phút là đến đây.

Tác phẩm “Vũ điệu nghịch cát” của các cô gái Chăm lúc bình minh. Đồi cát Nam Cương từ lâu là điểm đến yêu thích của du khách, các nhiếp ảnh gia trong hành trình du lịch, sáng tác ảnh tại Ninh Thuận.

Đi trên đồi cát lộng gió, du khách sẽ thấy nhiều hình dạng kỳ thú của thiên nhiên. Mỗi góc đứng cho du khách một cảm nhận khác nhau của các đụn cát trập trùng trải rộng mênh mông.

Bóng trải dài của ba cô gái Chăm in trên nền cát vàng lúc hừng sáng. Nền cát và hình dạng của “đường cong cát” thay đổi theo từng giờ, từng ngày tùy theo sức gió cuốn cát mạnh hay nhẹ.

Đồi cát có diện tích khoảng 700 ha, độ cao từ 20 - 30 m, có nơi cao tới 100 m so với mực nước biển.

Các cô gái Chăm mặc váy áo xanh, đỏ và vàng vui mừng khi thấy "trăng treo" trên đồi cát. Anh Tuấn cho biết đằng sau những bức ảnh nghệ thuật này là sự nhập tâm của các cô gái Chăm đi nhịp nhàng trên cát.

Nam Cương là nơi thỏa sức sáng tạo cho những tác phẩm ảnh. Trong tháng 6 năm nay, anh Tuấn đến đồi cát may mắn vào dịp những ngày trăng hạ huyền lúc 6h sáng, ghi lại hoạt cảnh các cô gái Chăm băng qua đồi cát đi tìm mặt trăng, sau đó "hái trăng" và mang về với quang cảnh dường như chỉ có trong miền cổ tích.

Tùy theo chủ đề ảnh mà có các hoạt động diễn xuất kèm đạo cụ khác nhau trên đồi cát, như trẻ em chạy chơi trên cát, phụ nữ quang gánh, mang bình gốm trên đầu hay mang nhá - một loại vó nhỏ đánh bắt cá đồng.

Người phụ nữ Chăm đi đầu diễn cảnh dùng nhá vớt lấy ánh trăng. Vào những ngày trăng hạ huyền, mặt trăng mọc vào lúc nửa đêm, lặn lúc bình minh và trăng to tròn nhất.

Phụ nữ Chăm sau khi hái trăng thì "đựng" trăng vào bình gốm và mang về.

Ba phụ nữ mỗi người một vẻ biểu cảm, đá nghịch cát khi mang trăng về nhà.

“Hoạt cảnh hái trăng được tái hiện thông qua nhiếp ảnh góp phần tô thêm sắc màu đời sống, văn hóa của dân tộc Chăm. Chúng tôi cảm thấy vui vì điều này, nên góp công chuẩn bị trang phục, đạo cụ diễn xuất để khung ảnh chụp được lung linh nhất”, một phụ nữ Chăm tham gia diễn cảnh hái trăng chia sẻ.

 

Hái trăng trên đồi cát - Báo VnExpress Du lịch