Sunday, November 1, 2026

Cuộc Tình Nghiệt Ngã - Cao H Sơn


Trần Anh Tuấn, chàng Trung úy Sĩ quan Địa Phương Quân Bình Thuận, dáng người cao cao với vầng trán rộng, nước da hơi ngăm đen của trai vùng biển mặn Phan Thiết. Cha Tuấn là một công chức làm việc tại Thị xã này. Tuấn là cựu học sinh trường Phan Bội Châu Phan Thiết, Tuấn yêu người bạn học cùng lớp tên Tuyết Lan, người con gái miền “Dừa xanh cát trắng” Mũi Né. Mối tình học trò nhen nhúm trong tim, nhưng Tuấn chưa bao giờ dám thố lộ.

Tuyết Lan với gương mặt trái xoan, chiếc mũi dọc dừa, vầng trán rộng, nước da ngăm ngăm với mớ tóc dài buông xỏa. Tuyết Lan tuyệt đẹp như đóa Lan rừng khởi sắc. Hôm Tuấn nhận được giấy báo tin nhập ngũ, học khóa Sĩ Quan Trường Bộ Binh Thủ Đức, anh mới dám mạnh dạn tỏ tình cùng Tuyết Lan. Thì ra Tuyết Lan cũng đã yêu anh, nhưng còn e ấp chưa dám nói lên vì là phận gái. Nay Tuấn mở lời trước làm Tuyết Lan cảm thấy lòng ấm áp, nàng nhận lời ngay không chút đắn đo. Hai người hẹn thề sẽ làm đám cưới ngày anh ra trường.


Chiến cuộc càng ngày càng khốc liệt, Tết Mậu Thân, miền Nam tràn ngập trong khói lửa, quê hương anh, Bình Thuận cũng không ngoại lệ. Giặc đã tấn công vào thị xã Phan Thiết hai lần, nhưng dưới sức chiến đấu kiên cường của Quân Dân BìnhThuận, Cộng quân phải rút về chốn rừng sâu, nơi hang ổ của chúng trong ê chề nhục nhã.

Trước tình hình này, ngày ra trường anh chọn về chiến đấu tại quê hương miền biển mặn, để gần gũi gia đình và người mình yêu. Tuấn chọn về Tiểu đoàn đóng gần thị xã để có thời gian chăm sóc cho Tuyết Lan, và sau đó anh kết hôn với nàng. Một đám cưới nhà binh đơn giản nhưng vô cùng trang trọng. Chủ lễ là vị Tiểu đoàn trưởng, khách mời là anh em binh sĩ trong đơn vị. Hơn một năm sau một đứa bé trai kháu khỉnh ra đời được đặt tên Trần Anh Kiệt chỉ trước vài tháng ngày miền Nam bị nhuộm đỏ bởi Cộng Sản Bắc Việt.

Trước đây, gia đình Ông nội Tuyết Lan thuộc gia tộc giàu có tiếng tăm ở Mũi Né. Trong những năm giặc Pháp chiếm đóng quê hương. Cha của Tuyết Lan theo tiếng gọi của quê hương lên đường chống giặc thù như bao chàng trai yêu nước khác thời đó. Ông gia nhập Việt Minh vì lầm tưởng đó là một tổ chức yêu nước Vì là người có học thức nên được tổ chức giao chỉ huy một Đại đội trong đoàn quân kháng chiến.


Tại chiến khu Lê Hồng Phong, Cha của Tuyết Lan yêu một người con gái cùng chí hướng. Nhưng mối tình đó cũng đã đã bị trở ngại vì gia đình của Nội Tuyết Lan không đồng ý. Chỉ vì gia đình ông bà Ngoại Tuyết Lan nghèo nên bị bên Nội Tuyết Lan từ chối cuộc hôn nhân này. Tuy vậy, mối tình của người cha và mẹ của nàng là cả một trang tình sử diễm tuyệt. Hai người yêu nhau tha thiết và quyết định kết hôn mặc dù không có sự đồng ý của cha mẹ. Đám cưới đơn giản diễn ra giữa rừng Chiến Khu Lê Hồng Phong, đồng đội cùng chúc tụng cho đôi uyên ương chấp cánh, ít lâu sau sinh được một bé gái đẹp như đóa Lan rừng nên đặt tên là Tuyết Lan.

Gia đình của cha Tuyết Lan không đồng ý nên cha của Tuyết Lan không dám đem mẹ Tuyết Lan về nhà. Bé Tuyết Lan được sinh ra giữa Chiến khu giữa lúc cuộc chiến đang hồi khốc liệt nhất. Bất chấp trở lực gia thế, đôi trai tài gái sắc là một đôi uyên ương hạnh phúc. Đến khi hòa bình tạm thời lập lại sau Hiệp định Genever 1954, cha nàng phải đi tập kết ra Bắc theo đoàn quân và theo lệnh Đảng Cộng Sản, vì là một đảng viên trung kiên. Trước tình thế này ông đành đem hai mẹ con về gởi gắm cho ông bà nội.

Ngày chia tay thật bùi ngùi, Tuyết Lan còn nhỏ quá chưa biết gì, chỉ có nụ cười hồn nhiên của bé thơ tiễn biệt người cha lên đường. Chiến Khu Lê Hồng Phong một buổi sáng buồn, rừng cây phẳng lặng, những đụn cát trắng chạy dài như vô tận, hàng Thùy Dương rũ bóng bên bờ biển như tiễn đưa. Mẹ Tuyết Lan đưa tiễn chồng lên đường mà lòng bồi hồi chua xót. Không biết đến ngày nào mới gặp lại người mình yêu, và rồi đây sẽ ra sao khi về sống với gia đình chồng. Mẹ của Tuyết Lan đã khóc rất nhiều, khuyên cha của Tuyết Lan nên vứt bỏ tất cả, không đi tập kết ra Bắc ở lại bên vợ con, tiếc gì một ảo tưởng Cộng Sản mơ hồ mà hy sinh tất cả. Nhưng cha của Tuyết Lan vẫn ôm ảo vọng chạy theo một bóng mây chiều. Tin rằng chỉ xa nhau trong 3 năm rồi sẽ đoàn tụ theo lời tuyên truyền của đảng .


Miền Nam, nền Đệ nhất Cộng Hòa được thành lập. Ông Ngô Đình Diệm được bầu làm Tổng Thống VNCH. Một miền Nam phồn vinh dân chủ thật sự ra đời để đối kháng với một chế độ độc tài đảng trị vô nhân rập khuôn theo Tàu Cộng của miền Bắc. Tập đoàn Cộng Sản đã giết hại biết bao nhiêu người qua Cải cách ruộng đất và các cuộc thanh trừng nội bộ đẫm máu.

Cộng Sản Bắc Việt, công cụ của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Nghe theo lời xúi giục của Nga Tàu, làm tên lính xung kích cho Quốc Tế Cộng Sản, tiến hành cuộc chiến tranh tương tàn nồi da xáo thịt, đánh phá miền Nam. Người cha của Tuyết Lan, nay đã là một Sĩ quan cao cấp của quân đội miền Bắc, trong đoàn quân Nam tiến, ông ta nắm quyền chỉ huy một Sư Đoàn với cấp bậc Đại tá.


Ông bà nội của Tuyết Lan lần lượt qua đời trong nỗi tuyệt vọng vì nhớ nhung thằng con trai độc nhất. Các người khác trong gia đình của Tuyết Lan đâu có ưa gì người chị em dâu này. Tiền tài vật chất đã biến đổi con người thành nhỏ nhặt, tiếng bấc tiếng chì đổ lên đầu nàng dâu, mẹ Tuyết Lan. Vì muốn giữ hạnh phúc lâu dài cho con gái, mẹ của Tuyết Lan đành phải hy sinh ra đi vì không sống nổi trong nghịch cảnh, giao lại Tuyết Lan cho ông bà Nội nuôi nấng. Gia đình chồng gia thế, có thể cho Tuyết Lan ăn học nên người, bảo đảm một cuộc sống bình an. Thời gian sau vì tin chồng biền biệt, không biết chết sống ra sao, nên bà đã đi tìm hạnh phúc mới cho mình. Bà đã kết hôn với một Sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa và đã một lần nữa tìm lại được hạnh phúc. Nhưng đâu có ngờ ngày oan nghiệt tháng tư bảy lăm lại đến.


Trước sự bỏ rơi của đồng minh Mỹ, tập đoàn Tư bản, đứng đầu là những ông chủ Do thái bán đứng miền Nam cho Tàu Cộng, để có những hợp đồng béo bở với một tên khổng lồ hơn một tỉ dân còn lạc hậu nghèo nàn. Một phần vì những ông chủ Do thái không muốn nước Mỹ đuối sức vì bị sa lầy trong chiến tranh Việt Nam, lúc này không còn lợi lộc gì cho tập đoàn này, chúng chỉ nghĩ đến lợi ích là duy trì một nước Mỹ hùng mạnh để bảo vệ mẫu quốc Do Thái.

Cộng Sản Bắc Việt tấn công miền Nam, xé rách bản Hiệp định Ba Lê mới ký chưa ráo mực. Với khí tài và hỏa lực cạn kiệt làm sao quân đội miền Nam đương đầu nổi với một tập đoàn xâm lược, được sự giúp đỡ tận tình của Đế quốc đỏ Nga Tàu, và cả một tập đoàn các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Ngày 18/4/75, khi cả Tập Đoàn Quân Cộng Sản chĩa mũi tấn công vào Phan Thiết sau khi thanh toán hết các cánh quân trên đường tiến quân, Trung úy Tuấn theo đoàn quân di tản của Bình Thuận trong đêm 18 ngày 19 vào Vũng Tàu, cũng cố đội ngũ đánh với quân thù trận chiến cuối cùng ngày hai mươi chín tháng tư, để rồi sau đó buông súng theo lệnh của Tổng Thống hai ngày Dương Văn Minh.


Sau khi Phan Thiết lọt vào tay giặc vài ngày, trên chiếc xe Jeep của Quân đội VNCH bỏ lại, một Đại tá VC với hai tùy tùng tìm về Mũi Né, tìm lại mái nhà xưa thăm cha mẹ già và người vợ cùng đứa con bé bỏng thân yêu mà ông nghĩ rằng nay đã khôn lớn.

Bước vào mái nhà xưa không thay đổi nhiều sau bao năm dài, mong nhìn lại cha mẹ già, nhưng nào thấy, trên bàn thờ là bài vị và hình ảnh cha mẹ trên đó, người Sĩ Quan quân đội Cộng Sản chết lặng trong khoảnh khắc. Mái nhà xưa to lớn rêu phong chỉ còn lại người chị Cả già nua ở lại để lo hương khói tổ tiên, cha mẹ. Qua lời kể lại của người chị, được biết vợ mình nay đã là vợ của một Sĩ quan VNCH tại Tiểu Khu Bình Thuận, còn đứa con gái mến yêu lại cũng lấy một Tr/úy Sĩ quan VNCH là một Đại Đội Trưởng với rất nhiều chiến công oai hùng. Thôi thế là hết, hết rồi! cả bầu trời như sụp đổ dưới chân. Hai mươi mấy năm theo Đảng để gặt hái được một gia đình ly tán. Rồi đây làm sao ngẩng mặt nhìn đời, đồng đội, những người cùng tập kết ra Bắc năm nào, nhưng vợ con họ vẫn chờ đợi. Bao nhiêu năm chỉ chờ có ngày này, nhưng đau xót quá. Nỗi căm hờn chồng chất chỉ biết còn đổ lên đầu hai tên “Sĩ Quan Ngụy”.


Bước vào nhà đứa con gái thân yêu tại thị xã Phan Thiết, tim người lính già Cộng sản như khựng điếng. Hình ảnh người xưa hiện ra trước mắt nhưng bóng dáng xưa nay trở thành mơ hồ, một thứ thương nhớ, thù hận cứ chập chờn lẫn lộn. Tuyết Lan ôm chầm lấy người cha đã cách biệt hai mươi năm, dầu sao thì người trước mặt vẫn là người cha mà nàng ước mong gặp mặt. Nỗi ưu tư lo lắng còn hiện rõ trên gương mặt nàng, vì giờ không biết người chồng sống chết ra sao, đang ở đâu? Nghe đâu anh đã lên được tàu thủy xuôi về Nam, nhưng những ngày tháng còn lại thì ra sao? Có thể nay mai, người cha đứng đây sẽ đối mặt với chồng mình. Nghĩ đến đây Tuyết Lan không dám nghĩ tiếp, thôi đành để mặc cho số phận an bài.


Sau ngày 30/4/75, Tuấn tìm mọi phương tiện về lại Phan Thiết, mong gặp người vợ trẻ và đứa con trai mến yêu còn bé bỏng, rồi thì ra sao cũng được. Từ Vũng Tàu về Phan Thiết mất hết hai ngày đường trong gian nan, đến khi gặp lại Tuyết Lan anh mới biết mình có người cha vợ là Sĩ Quan cao cấp của Quân đội miền Bắc. Trước đây Tuấn chỉ biết rằng Cha của Tuyết Lan chết khi Tuyết Lan vừa mới chào đời.

Thế cũng tốt, dầu sao thì Tuyết Lan và con anh sau này sẽ có một nơi nương tựa. Và trận chiến nào rồi cũng phải kết thúc với người thắng kẻ thua, anh hy vọng bên chiến thắng sẽ đối xử một cách anh hùng với những người chiến bại. Tuấn từ ngày về đến nay chưa có dịp gặp người cha vợ Đại tá Cộng Sản vì ông ta còn mãi theo đoàn quân chinh chiến tiến về Sài Gòn. Lệnh tập trung cải tạo đến, anh cùng đồng đội mang hành trang lên đường trình diện để học tập thì tất cả bị tống vào Lao xá Phan Thiết.

Đâu rồi chính sách đối với tù hàng binh địch của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cứ ra rả cả ngày trên đài Phát thanh. Chúng tôi không cần các người khoan hồng, chỉ hy vọng các người một thời đã tự xưng là đỉnh cao trí tuệ của loài người, đối xử một cách mã thượng có chút tình người, như chính quyền Miền Nam đã từng đối xử với tù binh Cộng Sản các người trước đây. Cha của Tuấn cũng bị đưa đi cải tạo, vì ông cũng là một công chức cao cấp của chính quyền miền Nam. Từ ngày Cộng sản thôn tính được miền Nam, hàng triệu gia đình phải đổ vỡ ly tán. Giải phóng gì đây chỉ thấy miền Nam sống trong địa ngục điêu tàn.

Ai nhanh chân chạy thoát được ra nước ngoài, coi như một lần sống lại. Những người hôm qua đây còn cầm chổi quét chợ, hôm nay bỗng dưng là ông bà Chủ tịch oai phong. Một cuộc đổi đời vô cùng bi hài đã diễn ra trên đất nước. Hạnh phúc của dân miền Nam được giữ gìn bằng xương máu bao năm bị bôi lọ bằng những danh xưng thô bỉ ngụy này, ngụy kia. Lớn nhỏ đáng ông bà cũng kêu bằng thằng.


Tuấn cùng đồng đội lần lượt được “cách mạng” cho đi qua các trại tù từ Cà Tót và về đến Sông Mao thì mẹ Tuấn vào thăm cho biết cha Tuấn đã chết tại trại tù Cà Lon vì đói khát và cơn bịnh sốt rét hành hạ thân xác già nua. Xác được dập vùi nơi núi rừng hoang dã không cho mẹ anh nhận vê chôn cất. Mẹ Tuấn cho biết Tuyết Lan cùng đứa con trai đã bị người cha đưa vô Sài Gòn giờ đã đổi tên thành Thành Hồ cho tiếp tục đi học, bắt con gái phải cắt đứt quan hệ với người chồng Sĩ quan Ngụy mà cô một đời yêu quý, vì không muốn con gái của ông có liên quan gì đến “Ngụy quân, Ngụy quyền Sài Gòn” làm cản trở đường thăng tiến quan lộ của y.

Con tim người Sĩ quan trẻ chợt đau nhói. Tuấn không thể tin là trên cõi đời này lại có người cha nào tàn bạo như vậy, chỉ vì chút danh vọng hảo huyền, và chút tự ti, lòng thù hận đã đánh mất lương tri của một con người. Không ai có quyền bắt con anh phải xa anh, một ngày nào đó chỉ cần còn sống sót ra khỏi nhà tù man rợ này thì Tuấn phải tìm lại đứa con trai, con của anh, cho dù cay đắng xót xa, nhưng biết làm sao đây.


Ở Sông Mao chừng ba tháng, một hôm nọ Tuấn được cán bộ Quản giáo trại xuống phòng giam ra lệnh ăn mặc tươm tất lên Ban Chỉ Huy Trại có chuyện cần. Tuấn cảm thấy lờ mờ một điều gì đó không tốt sẽ xảy ra đối với anh, gặp ai đây, chắc là một cấp lớn của bên chiến thắng ? và có việc gì quan trọng lắm nên mới nhận lệnh ăn mặc tươm tất. Bước vào căn phòng được trang trí hoa hòe, nào là cờ xí, tượng của lãnh tụ Cộng Sản Hồ Chí Minh vĩ đại, băng rôn đỏ loét. Giữa phòng là một cái bàn dài đã có một người đàn ông đứng tuổi mặc quân phục với quân hàm Đại tá trên cầu vai ngồi chễm chệ sẵn nơi đầu bàn. Chưa được quản giáo giới thiệu, Tuấn đã biết ông ta là cha của Tuyết Lan, tim anh như thắt lại, đây là giây phút mà anh đã mong đợi từ lâu. Con người ngồi đó có cái nét hao hao giống Tuyết Lan. Ông ta lên tiếng mời Tuấn ngồi và tự giới thiệu:

- Tôi là cha con Lan, lúc này tên Quản giáo đã bỏ đi để lại anh đối diện một mình với người này.

- Thưa ông, tôi biết từ khi mới bước vào đây, vì ông rất giống Tuyết Lan. Tuấn nói tiếp:

- Thú thật tôi không muốn làm mất lòng ông vì tôi cần Tuyết Lan và con trai của tôi.

Ông ta nhìn chằm chằm vào mặt Tuấn như đánh giá đối thủ của mình và cũng để đe dọa, cất cao giọng của kẻ cả, nói như ra lệnh:

- Tôi muốn anh kể từ nay kết thúc với con Lan nhà tôi. Tôi không muốn con tôi có quan hệ với một thằng Ngụy quân gây nhiều tội ác với nhân dân như anh.

Tuấn thật sự choáng váng trước câu nói của ông ta nhưng cố nhỏ nhẹ:

- Thưa ông, mặc dù ông là cha của cô ấy nhưng ông không có quyền ngăn cấm Vợ tôi yêu tôi, và bắt tôi phải xa con trai tôi .

Một tiếng đấm mạnh của nắm tay xuống bàn và ông ta nói lớn:

- Mày là thằng nào mà không biết thân phận lại còn chống trả với tao. Tao cho mày biết, mày sẽ chết rục xương trong tù không ngày về. Tao muốn mày biến mất khỏi thế gian này như đứa con trai của mày.

- Sao? ông vừa nói gì? con trai của tôi nó đã...?

Tuấn hỏi lại với giọng hốt hoảng. Người Đại tá Sĩ quan Quân đội nhân dân lạnh lùng lập lại:

- Nó đã chết!

Tuấn chợt thấy bầu trời như quay cuồng sụp đổ, dòng lệ đã khô trong đôi mắt nay bỗng vụt tuôn trào, Tuấn đấm mạnh xuống bàn quát trả bất chấp tên Đại tá VC ngồi đó:

- Khốn nạn! nó là cháu ngoại của ông mà, tại sao ông lại đối xử với nó như thế ?

- Ông Đại tá Quân đội nhân dân mặt hầm hầm rút khẩu K54 ra tay nhảy bổ tới chĩa ngay họng súng vào màng tang của Tuấn quát:

- Câm họng mày lại, mày còn hó hé tao bắn bễ đầu mày, thằng ngụy quân!

Tên Quản giáo hồi nãy giờ đứng bên ngoài cửa nghe hết mọi chuyện vội lao vào khuyên can:

- Xin đồng chí Thủ trưởng bớt giận, tôi sẽ trừng trị tên cứng đầu này, và kéo vụt anh ra khỏi phòng.

Thời gian rồi cũng qua đi, Mẹ Tuấn càng ngày càng già, những chuyến thăm nuôi thưa dần và một ngày đó, Mẹ của Tuấn đã không còn sức chống chọi với nỗi mất chồng, con thì bị hành hạ trong ngục tù không ngày về nên bà đã qua đời trong niềm uất hận tột cùng .Sau hơn sáu năm trong các trại tù Cộng Sản, bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, nhưng anh không chết, anh phải sống để làm nhân chứng tố cáo tội ác của Cộng Sản. Người con trai miền biển mặn năm nào rồi cũng được trở về mái nhà xưa, nhưng mất hết rồi, mất tất cả, chỉ còn lại tấm thân còm cỏi, với nỗi niềm u uất, chỉ còn lại một tinh thần bất khuất của dòng máu VNCH vẫn còn chảy cuồn cuộn trong người.

Tuấn được biết Tuyết Lan sau khi được đưa đi biệt tích, nàng đã tiếp tục lại việc học hành trước đây bị dang dỡ và đã lấy được mảnh bằng đại học ...và cũng đã tìm được cho mình một người yêu thương lấy làm chồng .


Nay thì mọi chuyện đã rồi, anh cũng không muốn nhắc lại làm gì cái quá khứ đau buồn. Thời gian cứ chầm chậm trôi qua trong dòng đời . Tuấn, chàng Sĩ Quan QLVNCH kiêu hùng năm nào, anh cố quên đi một cuộc tình nghiệt ngã, một bi kịch trong cõi trần lao này. Bây giờ nơi đất khách quê người, hình ảnh người xưa chỉ còn là một bóng mờ, nó đã đi vào dĩ vãng của cuộc đời.....


 Cao H Sơn 

Theo Bước Chân Các Đấng - Lm. Mark Link, S.J.


Khoảng 60 năm sau khi Chúa Giêsu ra đời, một cơn hỏa hoạn khổng lồ đã xảy ra ở thành Rôma.  Đám cháy kéo dài hơn một tuần lễ.  Người ta đồn rằng Hoàng đế Neron đã ra lệnh phóng hỏa.  Ông ta muốn tiêu hủy thành phố Roma cổ xưa, xây dựng lại một thành mới và đặt bằng tên của chính ông ta.


Neron đã cố gắng hết sức để ngăn chận tiếng đồn ấy, nhưng nào có được.  Cuối cùng trong cơn thất vọng, ông ta vội tìm một đối tượng để trút lên đó mọi lời nguyền rủa của dân chúng.  Ông ta liền vu khống cho cộng đòan Kitô hữu ở Roma là đã gây ra cơn hỏa hoạn.  Lời tố cáo của Neron khai mào cho cuộc bắt bớ tôn giáo kéo dài gần 300 năm.  Một sử gia Rôma đã mô tả cuộc bắt bớ dưới thời Neron như sau: "Các Kitô hữu bị đối xử tàn bạo khác thường.  Nhiều người phải khoác lên mình một tấm da thú để rồi bị đàn chó dữ cắn xé ra từng mảnh.  Nhiều người khác bị treo lên thập tự giá và ban đêm bị dùng làm bó đuốc đốt sáng soi cho bóng đêm."


Để tự vệ và duy trì đời sống tôn giáo của mình, nhiều Kitô hữu đã thực sự chui xuống sinh hoạt dưới lòng đất.  Họ đào được hệ thống đường hầm tỉ mỉ trong lòng đất ở vùng có núi lửa tại Roma.  Một số trong những đường hầm nổi tiếng này dài đến nhiều dặm và được thiết kế như những mê lộ để gây khó khăn cho các nhà cầm quyền đương thời.


Hiện nay, một số những hang động này (được gọi là hang toại đạo), là những trung tâm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn du khách đi đến Rôma.  Chính trong những đường hầm này, các Kitô hữu đã từng tổ chức Thánh lễ, rửa tội các cháu bé và chôn cất những người chết.


Trong các tác phẩm của mình, Thánh Jerôme cho biết, khi còn là một chú bé, thánh nhân và các bạn thường hay chơi trong các hang toại đạo.  Sau đó nhiều thế kỷ, các chú bé ở Roma cũng vẫn thường vui chơi trong các hang toại đạo. Một ngày nọ, một nhóm các cậu bé đang đi lang thang qua các mê lộ, dưới đường hầm, đột nhiên chiếc đèn pin duy nhất của chúng bị hỏng.  Các chú hoàn toàn lâm vào bóng tối, không biết lối ra, đang khi cả đám bị kinh hoàng cực độ, thì một chú bé cảm thấy như có một đường rãnh bằng phẳng nơi nền đá của đường hầm; đường này dẫn ra một lối đi đã được bào phẳng nhờ bước chân của hàng ngàn Kitô hữu trong thời kỳ bị bắt bớ ở Roma.  Thế là các chú bé lần theo những dấu chân các vị thánh xưa và tìm được lối thoát khỏi hang sâu tối tăm và bình yên đến vùng có ánh mặt trời.


Chúng ta có hai lý do để suy nghĩ về câu chuyện trên:

Thứ nhất, nó cho ta thấy cái giá khủng khiếp mà tổ tiên những Kitô hữu chúng ta phải trả giá cho đức tin của họ.  Nếu các đấng đã không trả giá đắt như thế, có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ không được là Kitô hữu như ngày hôm nay.


Thứ hai, câu chuyện các cậu bé trong hang toại đạo giống như một loại dụ ngôn cho ta thấy các vị thánh ngày xưa vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời chúng ta như thế nào.

 

Nhiều người trong chúng ta giống những chú bé trong các hang toại đạo: chúng ta bị lạc lối, hoang mang vì những ý kiến xung đột nhau, chúng ta chả biết điều gì đúng điều gì sai, giống như chúng ta đang bị lâm vào bóng tối, không biết rõ đường đi nước bước.  Câu chuyện các chú bé trong hầm mộ quả là một dụ ngôn cho chúng ta.


Các chú bé đã tìm ra con đường trong hầm mà nó được bước chân các vị thánh bào phẳng hằng bao thế kỷ trước.  Nhờ đi thoát khỏi bóng tối trong hang để tới được ánh sáng ban ngày.  Một cách tương tự, chúng ta cũng có thể bước theo các vị thánh để tìm ra con đường dẫn chúng ta khỏi vùng tối tăm và hỗn độn của thời đại chúng ta hầu đến được ánh sáng ban ngày.

Và như thế, là mừng Các Thánh đem lại hai mục đích cho chúng ta:


Trước hết, lễ này nhắc nhở chúng ta công ơn rất lớn lao của các thánh thời xưa là những người đã bảo tồn đức tin Công giáo cho chúng ta.

 

Thứ đến lễ này nhắc chúng ta nhớ nếu chúng ta biết bắt chước các thánh và noi theo gương các đấng chúng ta cũng sẽ tìm ra lối đi dẫn chúng ta từ vùng tăm tối của trần thế bước vào ánh sáng huy hoàng của Chúa.


Các thánh chẳng phải là những người khác thường gì, các đấng cũng bình thường như chúng ta, nhưng đã sống cuộc đời bình thường của các đấng một cách phi thường.  Chúng ta hãy dùng đoạn thơ nhan đề The Way (Con đường) của John Oxenham để kết thúc; đoạn này tóm tắt lời mời gọi và sự thách đố mà ngày lễ các Thánh hôm nay đặt ra cho mỗi người chúng ta:

"Ở đó, có hai con đường mở ra trước mặt mỗi người; một con đường cao và một con đường thấp.  Những linh hồn cao thượng thích leo lên con đường cao mà đi, còn những linh hồn thấp kém lần mò theo con đường thấp mà đi.

Giữa hai con đường ấy là những linh hồn còn lại trôi vật vờ trên những vùng sương mờ vô định.  Nhưng mỗi người phải quyết định xem trong hai con đường ấy linh hồn mình sẽ đi con đường nào."

 

Lễ Các Thánh mời gọi chúng ta hãy can đảm bắt chước các thánh chọn con đường cao để một ngày kia chúng ta cũng sẽ được xum họp với các đấng trên trời để chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu muôn đời.

 


Lm. Mark Link, S.J.


Anh Thập chuyển

Chào Tháng 11 - Đỗ Công Luận

Saturday, October 31, 2026

Lời Cầu Nguyện Buổi Tối



Thanh Loan chuyển 

Chân Lý: Nhỏ Và Lớn

 

1. Khi còn nhỏ, ta thường nghĩ rằng biết níu giữ là khôn ngoan. Nhưng khi lớn lên, ta mới nhận ra rằng biết buông bỏ mới là trí tuệ.

2. Khi còn nhỏ, ta thường nghĩ rằng người giàu có là người lấy về rất nhiều. Nhưng khi lớn lên, ta mới biết rằng người giàu có là người cho đi rất lớn.

3. Khi còn nhỏ, ta thường nghĩ rằng mạnh mẽ là vượt qua người khác. Nhưng khi lớn lên, ta mới biết rằng mạnh mẽ là vượt qua chính mình.

4 Khi còn nhỏ, ta thường nghĩ rằng kẻ nói nhiều là kẻ thông minh. Nhưng khi lớn lên, ta mới biết rằng người biết lắng nghe mới là người thông thái.

5. Khi còn nhỏ, ta thường nghĩ rằng nếu ta thắng phải có hơn người thua. Nhưng khi lớn lên, ta mới biết rằng đến nơi là mọi người cùng thắng.

6. Khi còn nhỏ, ta thường muốn sống thật lâu. Nhưng khi lớn lên, ta muốn sống sao cho có ý nghĩa với cuộc đời .

7. Khi còn nhỏ, ta thường muốn người khác chấp nhận mình. Nhưng khi lớn lên, ta nhận ra rằng chỉ cần mình chấp nhận mình là đủ.

8. Khi còn nhỏ, ta mong muốn thay đổi cả thế giới. Nhưng khi lớn lên, ta mong muốn thay đổi chỉ bản thân mình mà thôi.

9. Khi còn nhỏ, ta thường nghĩ rằng khi trưởng thành, ta sẽ không còn bị tổn thương. Nhưng khi lớn lên, ta mới biết rằng, trưởng thành là biết điều chỉnh tiếng khóc về chế độ im lặng.

10. Và khi còn nhỏ, ta thường nghĩ rằng có tiền sẽ có tình yêu, có vật chất người ta sẽ quý,….Nhưng khi lớn lên, ta mới biết rằng KHI LƯƠNG THIỆN BẠN SẼ CÓ MỌI TRÁI TIM. 


Chân Lý: Nhỏ và Lớn

Kim Duncan chuyển

40 Sự Thật Về Nước Úc - Vùng Đất Điên Rồ̀ Khó Hiểu Nhứt Hành Tinh - Ghiền Địa Lý

Mời xem video khám phá về nước Úc 
 

Tháng 10 Quay Gót - Đỗ Công Luận

Muốn Cộng Sản Ư? Vậy Thì Đừng Đòi Biểu Tình

 



Cuộc biểu tình nội loạn ở Pháp nổ ra suốt tuần qua.

- Viên cảnh sát hỏi cô gái: Tại sao cô tham gia biểu tình?

- Cô gái trả lời: bởi vì chúng tôi chán ghét chế độ CH Pháp. Chúng tôi muốn chế độ Cộng Sản.

- Anh cảnh Sát: Tôi ủng hộ cô, thế thì tôi phải còng cô để đưa về đồn cảnh sát.

- Cô gái: Tại sao lại bắt tôi?

- Anh cảnh sát: vì tôi đang thực hiện luật của cộng sản. Chế độ CS không cho biểu tình. Cô có biết không?

- Cô gái : Vậy thì tôi không thích chế độ CS nữa.

- Cảnh sát: Muộn rồi, thưa cô! Cô vừa yêu cầu một chế độ cộng sản. Tôi chỉ đang giúp cô trải nghiệm điều cô mong muốn!

- Cô gái: Nhưng tôi có quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị mà tôi yêu thích chứ?

- Cảnh sát: Đúng! Trong nền dân chủ, cô có quyền lựa chọn, có quyền biểu tình, có quyền phản đối chính phủ và thậm chí có quyền đòi thay đổi thể chế. Nhưng cô vừa muốn từ bỏ nền dân chủ ấy mà!

- Cô gái: Nhưng tôi tưởng dưới chế độ cộng sản, mọi người đều bình đẳng, ai cũng được tự do và hạnh phúc?

- Cảnh sát: Bình đẳng à? Có thể! Nhưng trước hết, cô phải hiểu sự khác biệt giữa những khẩu hiệu được tuyên truyền và quyền lợi thực tế của người dân.

- Cô gái: Vậy tôi có quyền xuống đường phản đối chính phủ cộng sản không?

- Cảnh sát: Cô có thể thử! Nhưng ở những nhà nước độc đảng đàn áp bất đồng chính kiến, một cuộc biểu tình ôn hòa cũng có thể khiến cô bị bắt.

- Cô gái: Thế nếu chính phủ làm sai thì sao?

- Cảnh sát: Cô có thể viết đơn khiếu nại!

- Cô gái: Nếu họ không giải quyết?

- Cảnh sát: Cô tiếp tục khiếu nại!

- Cô gái: Nếu họ vẫn không giải quyết?

- Cảnh sát: Thì có khi chính cô trở thành đối tượng cần được giải quyết!

- Cô gái: Trời ơi! Vậy báo chí có được lên tiếng không?

- Cảnh sát: Có chứ! Nhưng nếu báo chí bị nhà nước kiểm soát, những điều cô muốn nói chưa chắc được phép đăng.

- Cô gái: Thế tôi lên Facebook chỉ trích lãnh đạo?

- Cảnh sát: Cô có thể viết, nhưng cũng có thể phải trả giá cho những dòng chữ ấy.

- Cô gái: Vậy tôi sẽ lập một đảng đối lập để tranh cử!

- Cảnh sát: Ha ha! Cô vừa muốn một chế độ độc đảng, bây giờ lại đòi lập đảng đối lập? Cô muốn ăn cả hai món trên cùng một thực đơn à?

- Cô gái: Tôi bắt đầu thấy sợ rồi!

- Cảnh sát: Nhưng lúc nãy cô còn hô hào đòi lật đổ nền cộng hòa để xây dựng chế độ cộng sản mà?

- Cô gái: Tôi tưởng cộng sản là thiên đường!

- Cảnh sát: Thiên đường mà cô không được quyền tự do rời bỏ, không được phản đối người cai trị, không được lựa chọn lãnh đạo thì cô có chắc mình muốn đến không?

- Cô gái: Không! Tôi muốn trở lại nền dân chủ!

- Cảnh sát: Ồ! Nhanh thế sao? Mới có mấy phút mà cô đã thay đổi lý tưởng rồi à?

- Cô gái: Vì bây giờ tôi mới hiểu tự do quý giá đến mức nào!

- Cảnh sát: Thế tại sao lúc được hưởng tự do, cô lại muốn phá bỏ nó?

- Cô gái: Vì tôi chỉ nhìn thấy những điều chưa hoàn hảo của nền dân chủ mà quên mất những quyền tự do mình đang có.

- Cảnh sát: Chính xác! Dân chủ không có nghĩa là chính phủ không bao giờ sai. Dân chủ là khi chính phủ sai, người dân có quyền lên tiếng, báo chí có quyền điều tra, tòa án có thể kiểm soát quyền lực và cử tri có thể thay đổi người lãnh đạo bằng lá phiếu.

- Cô gái: Vậy tôi có thể tiếp tục biểu tình chống Tổng thống Macron không?

- Cảnh sát: Tất nhiên! Miễn là cô biểu tình ôn hòa và tuân thủ pháp luật. Cô có quyền phản đối tổng thống, nhưng không có quyền đốt xe, phá cửa hàng hay hành hung người khác.

- Cô gái: Nếu tôi không thích Macron, tôi phải làm gì?

- Cảnh sát: Hãy vận động chính trị, tham gia tranh luận, tổ chức biểu tình hợp pháp và sử dụng lá phiếu khi đến kỳ bầu cử. Đó mới là sức mạnh của một công dân tự do.

- Cô gái: Vậy anh không bắt tôi nữa sao?

- Cảnh sát: Tôi có bao giờ nói sẽ bắt cô thật đâu! Tôi chỉ cho cô thử tưởng tượng cuộc sống dưới một chế độ không dung thứ tiếng nói đối lập.

- Cô gái: Anh làm tôi sợ muốn chết!

- Cảnh sát: Còn cô làm tôi sợ hơn! Vì cô đang hưởng tự do mà lại đòi một thể chế có thể tước đi chính quyền tự do ấy.

- Cô gái: Tôi hiểu rồi! Từ nay tôi sẽ bảo vệ nền dân chủ, nhưng vẫn có quyền chỉ trích chính phủ!

- Cảnh sát: Hoan hô! Bây giờ cô đã hiểu sự khác biệt giữa yêu tự do và chỉ thích tự do khi nó phục vụ ý mình.

- Cô gái: Cảm ơn anh! Tôi đi biểu tình tiếp đây!

- Cảnh sát: Khoan đã! Cô định hô khẩu hiệu gì?

- Cô gái: TỰ DO! DÂN CHỦ! KHÔNG ĐỘC TÀI!

- Cảnh sát: Tốt lắm! Nhưng nhớ một điều…

- Cô gái: Điều gì?

- Cảnh sát: Đừng đốt chiếc xe cảnh sát của tôi. Vì tôi cũng cần nó để bảo vệ quyền biểu tình của cô!

- Cô gái: Ha ha ha! Tôi hứa!

Nghịch lý lớn nhất của tự do là có những người sử dụng chính quyền tự do của mình để đòi một thể chế có thể tước bỏ quyền tự do ấy.

Một nền dân chủ có thể đầy khuyết điểm, có thể có những chính phủ yếu kém, những nhà lãnh đạo thất bại và những chính sách khiến nhân dân bất mãn.

Nhưng sự khác biệt căn bản nằm ở chỗ: Trong nền dân chủ, người dân có quyền đòi thay đổi chính phủ. Trong chế độ độc tài, chính phủ có thể tìm cách thay đổi số phận người dân chỉ vì họ dám đòi quyền ấy.

Đừng nhầm lẫn giữa quyền biểu tình và quyền bạo loạn.

Đừng nhầm lẫn giữa tự do ngôn luận và quyền dùng bạo lực.

Và trên hết, đừng vì thất vọng với một chính phủ mà vội vàng đánh đổi cả nền tự do!

Đối thoại hư cấu mang tính châm biếm, không phải bản ghi lời nói có thật của những người trong hình.


Quốc Nguyên

Người về từ lòng đại dương

Merrimack Valley – Massachusetts, USA

20 tháng 10 năm 2026


(8) Nguyen Quốc - MUỐN CỘNG SẢN Ư? VẬY THÌ ĐỪNG ĐÒI BIỂU TÌNH! Cuộc... | Facebook

Cười Mím Chi

ĐỐI TƯỢNG và ĐIỀU KIỆN DỰ TUYỂN

Là thành viên phái Nga My (môn phái võ toàn phụ nữ) có nhu cầu sử dụng ông xã.
Không phân biệt màu sắc, kích thước, tính chất và thời gian ở không.
Độc thân nhưng không độc ác.
Học giỏi thì tốt, học dốt cũng OK.
Còn trong thời hạn sử dụng.
Hiện đang trong tình trạng "độc lập, tự do" thường có triệu chứng nằm co khi trời lạnh.
Hoặc có tiền sử lên xe bông nhưng bây giờ được ở không.
Chấp nhận cả phụ tùng kèm theo.

HỒ SƠ DỰ TUYỂN

Mỹ nhân nào có nhu cầu sử dụng ông xã thì nộp hồ sơ dự thầu, gồm:

* Giấy chứng nhận đang ở không. 
* Giấy chứng nhận còn trong thời hạn sử dụng. 
* Ảnh mới nhất (ảnh tự sướng hay nhờ người khác sướng giùm cũng được).
- Ảnh một khúc. 
- Ảnh đầy đủ các khúc. 
- Ảnh phải tự nhiên, trung thực. Không nhận ảnh đã qua chỉnh sửa siêu bắt mắt.


LƯU Ý

* Làm bà xã không làm... bà tám. 
* Làm chủ nhà không làm... chủ hụi. 
* Biết nấu nướng không biết... ngủ nướng. 
* Biết ngoại giao không biết... ngoại tình.

 


Kim Duncan chuyển

Ngày Vượt Biên Nhìn Lại - Người Phương Nam


Lời người đăng: Bài đăng lại nhân kỷ niệm ngày này năm xưa, gia đình chúng tôi đã vượt thoát khỏi chế độ cộng sản đi tìm tự do nơi xứ người.

oo00oo

Mỗi năm, cứ tới ngày ba mươi mốt tháng mười là ông xã tôi  nhắc tôi mua dĩa trái cây về thắp nhang cúng Bà Áo Trắng để tạ ơn  Bà đã  phù hộ độ trì cho gia đình chúng tôi nói riêng,  và cả nhóm người chung tàu nói chung được bình yên tới bến bờ trong chuyến vượt biên ba mươi năm về trước. Một ơn phước thiêng liêng tưởng như là bịa đặt nhưng kiểm chứng lại thì quả thật không thể nào phủ nhận.  

Đây ngày kỷ niệm vượt biên

Tháng mười, ba (mươi) mốt vượt biên đường tàu

Xế chiều qua chợ Bãi Xàu

Rồi ra Bãi Giá núp vào chờ đêm…

Năm bảy mươi lăm, trong những ngày hấp hối dãy chết của miền nam, ông xã tôi đã tận sức tìm cách đưa gia đình chạy cộng sản nhưng cuối cùng cuộc di tản bất thành, số mệnh đã cột chân chúng tôi lại nếm mùi cộng sản, sống thời bao cấp thiếu thốn mọi bề cho đến bốn năm sau. 

Khi về lại tỉnh nhà, trong một buổi họp nhân dân, ông xã tôi đã chứng kiến tận mắt  một màn thị oai dằn mặt nhân dân rất ư là ghê rợn bạo tàn của chế độ mới. Trong buổi họp, bọn sắt máu đã cáo buộc hai sĩ quan “ngụy” với tội danh làm tay sai cho Mỹ nguỵ và sau đó đã thẳng tay hành quyết vặn cổ nạn nhân ngay tại hiện trường không một chút do dự cảm xúc như vặn cổ một con gà. 

Luật lệ nào mà xử tử người không có tòa án, không đối chứng, cũng không được quyền biện hộ phân bua lấy một lời. Lụật lệ nào mà muốn lục xét nhà, muốn bắt người ban đêm ban hôm lúc nào thì bắt, muốn  đày ai  đi vùng kinh tế mới lúc nào thì đày. Có chăng là luật rừng, luật  của những kẻ không may sanh ra để làm công cụ cho một chế độ độc tài đảng trị, đã bị nhào nặn, đầu độc ngay  từ trong trứng nước theo tôn chỉ của đảng và nhà nước, không có cái quyền lựa chọn đúng sai hay nói lý lẽ mà chỉ rặt một khuôn là bạo ngược, tham tàn vô nhân tính. Nói theo truyện ngụ ngôn của La Fontaine là lý của kẻ mạnh luôn luôn là phải đúng . Con chó sói một khi đã muốn ăn thịt cừu con  thì cứ lấy cớ bắt tội con cừu là tại sao mày dám uống nước trên dòng suối của tao. Tao phải ăn mày để trị tội…


Thọat đầu, vì phẩn uất và bất khuất, ông xã tôi tìm móc nối với một nhóm phục quốc và thường xuyên đi hội họp khiến ba má tôi  lúc nào cũng phập phồng lên ruột ăn ngủ không yên. Trong thời điểm cộng sản có phong trào tổ chức cho dân đi vượt biển mua bãi công khai bằng số vàng quy định, có vài  ông xì thẩu cũng muốn mời ông xã tôi đi theo để lo chuyện đối ngọai nếu gặp tàu ngọai quốc nhưng lúc ấy ông đang hăng máu phục quốc chưa chịu bỏ cuộc mặc dù ba tôi hết sức khuyên nhủ rằng đã có cơ hội thì nên đem vợ con đi để tìm một lối thoát, một chân trời rộng mở, một tương lai tươi sáng hơn cho gia đình và con cái về sau.

Cho đến một ngày, người thủ lãnh bị bắt và bị xử tử hình, ông xã tôi nhận thấy sự nguy hiểm không chỉ cho bản thân ông mà còn liên lụy cho gia đình và vợ con một cách oan uổng tức tưởi,  ông mới chịu nghĩ đến chuyện vượt biên đào thoát. Đất nước là đất nước chung, nhưng mệnh nước là do trời, cho dù ông có lòng nhiệt huyết yêu nước thương dân nhưng rủi như bị bắt bớ tù tội thì ai sẽ thương dùm gia đình vợ con ông. Tề gia còn chưa xong, tâm tình đâu mà trị quốc, nói chi tới bình thiên hạ. Chí lớn này thôi đành cất lại nhường cho những bậc đại trượng phu, anh hùng cái thế, đội đá vá trời, còn cái thân phận tầm thường nhỏ nhoi như  con kiến con sâu này thì  ba mươi sáu chước, “quậy” không được thì chạy là thượng sách thôi.


Một buổi trưa trên đường từ trường quận đi  dạy về, có một người trạc tuổi ông xã tôi đón ông lại hỏi ngắn gọn một câu “Đi vượt biên không?” Ông xã tôi bỡ ngỡ nhìn anh ta như ngầm hỏi anh là ai. Anh ta  nói là biết ông xã tôi từ lâu. Nhà vợ anh ta ở gần nhà chúng tôi. Anh ta là lính cũ, hạ sĩ Trần Quý. Thế rồi chiều hôm đó anh ta tới nhà chúng tôi bàn chuyện vượt biên như đã ăn ý quen đâu từ trước rồi. Anh ta nói có một chủ ghe ở Bãi Giá (cách tỉnh Sóc Trăng khỏang 12km)  muốn cho vợ chồng thằng con lấy ghe đi (chiếc ghe đánh cá chỉ đủ nuôi gia đình nên rất nhỏ, bề dài  khỏang mười một thước, bề ngang  hai thước rưởi) nhưng với điều kiện để lại cho chủ ghe 25 cây vàng dưỡng già. Và bây giờ thằng con ông chủ ghe đang nhờ anh ta kiếm mối gom vàng. Chỉ đơn giản như vậy. Còn chuyện xăng dầu, nước nôi lương thực, hải bàn, hay gì gì khác thì để anh ta lo.


Ông xã tôi trời sanh có cái tánh lạc quan, lại thật thà dễ tin người, không hề biết dè dặt đề phòng ai cả, mà hình như những người như vậy thì luôn được  quý nhân phù hộ hay sao không biết. Có nhiều chuyện xảy ra chung quanh ông đều là điềm hung nhưng khi tới gần thì tự nhiên đổi hướng, hung thành kiết , bại  thành thắng. Trong trường hợp này, nếu như bị công an gài bẫy thì làm sao có thể chối tội cho được. Hơn thế nữa, khi mọi dự tính sắp đặt xong xuôi, ông xã tôi công khai phơi chanh đường và cơm nguội để làm lương khô cho chuyến đi sắp tới, hàng xóm chung quanh ai cũng biết chúng tôi chuẩn bị vượt biên. Càng đáng kể hơn nữa là nhà chúng tôi lại nằm cạnh bên Ty Công An mà thời VNCH là Ty Cảnh Sát, thằng công an nào đứng trên sân thượng nhìn qua cũng thấy rõ và có thể chạy qua nắm đầu bắt quả tang với chứng cớ rành rành. Còn đối diện với nhà tôi, trước 75 là Ty Điền Địa, nay trở thành nơi cư ngụ của đám cán bộ mặt trận giải phóng miền nam, tai mắt rập rình. Vậy mà không hiểu cái gì đã che mắt bọn chúng làm cho bọn chúng phớt lờ như không biết  không hay. Quả thật lạ lùng!


Cuối cùng ngày khởi hành cũng đến. Vợ chồng chúng tôi và đứa con gái mới lên 5 cùng thằng em tôi 12 tuổi cải trang như những người nhà quê lam lủ chồng chất lên một chiếc Honda dame chở nhau qua chợ quận Bãi Xàu vào một buổi xế chiều (tên quận xuất xứ  từ  người Miên). Từ Bãi Xàu muốn ra Bãi Giá phải đi thêm một chặng đường lồi lõm rất xấu khỏang 6km nữa mới tới nơi. Chúng tôi đã sắp đặt với thằng em chú bác là  khi gần tới điểm hẹn sẽ giao chiếc xe cho  nó mang về. Còn chúng tôi thì có người trong nhóm tổ chức đưa tới nhà ông chủ ghe chờ đêm xuống mới dẫn ra bãi.


Mười ba khá sáng trăng đêm

Công an đâu nghĩ có màn vượt biên

Đêm ấy có đám diễn viên

Công an mê mẩn bỏ phiên canh phòng


Thời may đêm đó có một đám văn công về chợ quận hát hò trình diễn nên đám công an biên phòng mải mê vui chơi, lơ là việc canh gác rất thuận lợi cho việc băng đồng lội  ruộng dẫn đường ra bãi hẹn. Ông xã tôi tay dắt tôi, lưng cỏng đứa con, thằng em chạy lúp xúp theo sau. Từ nhỏ tới lớn tôi chưa từng biết thò chân xuống ruộng nên đi rất chậm chạp khó khăn, trợt lên trợt xuống một hồi rồi mất dép luôn, phải chạy chân không, vừa nhờm gớm, vừa bị gai đâm, miểng chai sốc nhức nhối vô cùng mà cũng không thể dừng lại, ráng cà nhắc nhắm mắt chạy bừa theo cho kịp với những người trước, hơn một giờ sau mới ra tới bãi.

Đám người vượt biên khoảng vài chục người (không biết chính xác là bao nhiêu và cũng không ai biết ai, vì khách đi chỉ biết người trung gian mà thôi). Khi ra tới bãi thì nhằm lúc con nước đang ròng, tàu không thể cặp vào rước người được. Cả đám phải ẩn mình vào trong các lùm cây bụi rậm (nơi mà người tổ chức đã dấu xăng dầu và nước uống từ mấy ngày trước) chờ nước lớn. Khỏang hai giờ sau thì nước mới dâng cao, lập tức anh tài công nổ máy chạy sát vào bờ. Mỗi người một tay phụ nhau chuyền những thùng dầu, nước và lương khô vào khoang tàu, tiếp theo là  phụ nữ và em bé rồi  cuối cùng là  bọn  đàn ông thanh niên. Xong xuôi anh tài công lui ghe rời bến xả hết tốc lực nhắm  hướng đông trực chỉ. 

Đợi khi con nước hết ròng

Cho tàu vào bãi tài công rước người

Lương khô, nước uống, xăng dầu

Lôi từ bụi rậm chuyền vào khoang ghe

Thế rồi tách bến lui ghe

Nhổ neo xả máy hướng về biển đông

Từ đây thành kẻ lưu vong

Quê hương mờ khuất dần trong mắt nhìn


Cuộc hải trình chỉ mới bắt đầu, chưa biết hung kiết thế nào  nhưng mọi người trên tàu đã vội vui mừng nói cười ầm ĩ khiến một người trong đám phải la lên “Trời ơi!, đi vượt biên mà làm như đi  du lịch vậy, đừng có mừng sớm cha nội, đợi ra tới hải phận quốc tế cho chắc ăn rồi hẵng mừng”. Nhưng người nào cũng hừng chí phấn khởi, húyt gió um sùm. Hạ sĩ Trần Quý reo lên “Huy hòang rồi, huy hòang rồi anh em ơi! Ông xã tôi điếc không sợ súng cất tiếng hát vang bài Ra khơi:

Hôm nay ta cùng chuyến thuyền vượt ra khơi

Anh em ơi! xin chớ đừng dừng tay bơi

Một ngày nào ra khơi     

Một ngày nào anh em còn đang xông lướt bên trời

Hôm nay ta cùng chuyến thuyền vượt ra xa

Anh em ơi! sông núi kìa kìa bao la

Một ngày nào ra đi

Đừng buồn vì phân ly đòan ta xa vắng quê nhà…


Mấy anh em còn phụ họa theo “Khoan khoan hò khoan” nữa chớ. Thiệt đúng là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Tàu chạy được một hồi lâu êm thắm, không thấy tàu công an  nào rượt theo, mọi người càng yên chí. Các chị em phụ nữ không có phận sự gì thì dựa vào nhau nhắm mắt thiêm thiếp.  Còn đàn ông trai tráng thay phiên nhau tốp thì ngủ, tốp thì thức nói chuyện tào lao cổ võ tinh thần anh tài công chánh cho anh ta tỉnh ngủ trong lúc anh tài công phụ đi kiếm chỗ nghỉ lưng nhắm mắt một hồi. 

Đến nửa đêm, chị Cẩm, vợ anh tài công chánh (đang mang thai bốn năm tháng gì đó) bỗng thức giấc bò dậy nói với chồng chị là chị vừa nằm mơ thấy một bà mặc tòan trắng hiện ra báo cho biết là trong tàu mình đi có hai mươi chín người, tính luôn hai đứa nhỏ. Bà bảo hãy đốt nhang khấn nguyện thì bà sẽ phù hộ cho đi tới bờ bình an. Chị lại nói rằng đêm qua lúc còn ở nhà, chị cũng đã chiêm bao y chang như vậy nhưng chưa có dịp kể với ai. Hạ sĩ Trần Quý nghe thế vội chui xuống khoang ghe đếm đầu người rồi trở lên báo cáo với ông xã tôi là đúng  thật  hai mươi bảy người lớn và hai đứa con nít, một là con của anh ta và một đứa là con gái chúng tôi. Ông xã tôi vội nói với chị Cẩm đem nhang đèn ra đốt và khấn vái, cầu xin bà áo trắng cho được thuận buồm xuôi gió tới bờ.

Lâm râm khấn nguyện cầu xin

Ơn trên ban phúc an bình đến nơi

Lênh đênh giữa chốn biển khơi

Mênh mông trời nước biết nơi đâu bờ

Cầu xin sóng lặng như tờ

Thuận buồm xuôi gió đến bờ tự do

Cầu xin sẽ được ban cho

Giữa khuya linh ứng trong mơ gặp bà

Uy linh áo trắng ngọc ngà

Bà truyền bảo đốt cho bà nén hương

Bà sẽ phù hộ trên đường

Bình an cho kẻ hiền lương tới bờ

Tàu này hai đứa trẻ thơ

Vị chi tất cả hai mươi chín người

Không tin cứ đếm  thử coi

Quả thật hai mươi chín người đúng bon

Vội vàng thắp nén nhang thơm

Hương trầm khói tỏa kính dâng lên bà


Bất cứ một ai, khi trong lòng đã có một niềm tin mãnh liệt ở đấng thiêng liêng thì hình như người ta không còn cảm thấy sợ hãi một điều gì nữa cả. Mặc dù đang lênh đênh giữa biển cả bao la thăm thẳm không thấy đâu là phương hướng bến bờ nhưng mọi người đều tin chắc rằng mình sẽ được bà áo trắng  độ trì vượt qua mọi tai biến trên bước đường tị nạn. Luôn ba ngày đêm liên tiếp, trời quang mây tạnh, nước xanh biêng biếc, sóng lặng gió êm, đàn cá dolphins lội dọc theo hai bên thành tàu như hai đòan quân hộ vệ khiến tôi có cảm tưởng như đang  ngồi trên du thuyền thảnh thơi nhàn nhã, không chút lo âu, thỉnh thỏang còn thò tay xuống biển vọc nước và nhúng  cái khăn lau mặt cho con. 


Trưa ngày thứ ba thì đòan người vượt biển chúng tôi gặp giàn khoan dầu của Mã Lai. Anh tài công bỏ neo dừng lại, ông xã tôi đứng ở đầu tàu ngước lên kêu gọi cầu cứu, xin tiếp tế nước, lương thực và hỏi thăm đường  tới Mã Lai còn bao xa nữa. Những người trên giàn khoan nhìn xuống chiếc tàu bé xíu trông giống như đồ chơi trẻ con đều lắc đầu thương hại cho những kẻ khốn cùng hết đường chọn lựa, dù biết thập tử nhứt sanh nhưng vẫn cứ liều mạng đi tìm cái sống trong cái chết. Họ cho biết muốn đi  Mã Lai thì đi về hướng bên phải khỏang một ngày một đêm nữa sẽ tới. Rồi họ thả xuống cho một mớ bánh ngọt, nước uống, sữa tươi và một ít trái cây cho đám thuyền nhân đủ cầm cự trong hai ngày. Con tàu bé nhỏ mong manh lại tiếp tục cuộc hải trình tiến về hướng Mã Lai với niềm phấn khởi hy vọng chứa chan.


Đến khỏang hai giờ chiều, bỗng đâu trời chuyển màu âm u, mây đen từ đâu kéo tới che kín mặt trời làm đen ngòm cả một vùng biển mênh mông. Mưa lác đác rồi giông gió nổi lên cuốn theo từng cơn sóng dữ. Lúc đầu sóng còn nhấp nhô như đùa giỡn với con tàu, dần dần bỗng nổi cơn thịnh nộ dâng cao, ngọn sóng bạc đầu chụp phủ lấy con tàu khiến nó quay mòng mòng trồi lên hụp xuống nhừ tử mấy lần súyt chìm. Tử thần như lảng vảng đâu đây. Anh tài công rán chịu trận, cầm cự tay lái thật chặt trong lúc mọi người  lâm râm khấn nguyện với bà áo trắng, cầu xin bà che chở, xua tan đi bao hung hiểm trùng trùng. Trong phút giây thập tử nhứt sinh đó, tôi chợt nghiệm ra  rằng sinh mạng con người là do trời ban, thôi thì cứ giao phó xác hồn cho trời đất. Trời thương thì nhờ, không thương thì chịu. Con người không thể nào cãi được phần số một khi trời  đã muốn lấy lại. Do đó tôi không cảm thấy lo sợ bao nhiêu, dẫu sao khi quyết định ra đi thì ai cũng đã  nghĩ đến trường hợp xấu nhứt và chấp nhận chết là cùng.


Gần hai tiếng đồng hồ sau, bão tố  bắt đầu lắng dịu, con tàu mới lấy lại được thăng bằng tiếp tục chẻ sóng. Ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm thầm tạ ơn bà áo trắng linh thiêng.  Đến lúc này mọi người mới cảm thấy đói cồn cào, giục nhau vét gạo nấu cơm chia nhau mỗi người một miếng lót dạ. Đêm ấy trời  trong vắt, vầng trăng an bình mười sáu tỏa sáng vằng vặc cho đại dương bao la một vẻ đẹp huyền ảo thần kỳ. Sáng hôm sau, đúng như câu “sau cơn mưa trời lại sáng” khi mặt trời lên cao khỏi mặt nước biển,  chúng tôi đã thấy bóng đất liền xa xa. Anh tài công cho mũi tàu tiến về hướng đó và khỏang nửa giờ sau  thì tới  một trại lính.


Trên bờ, hai chú lính thấy tàu lạ xuất hiện liền  xua tay ra dấu đuổi đi và lăm le họng súng như đe dọa. Nhưng hạ sĩ Trần Quý và ông xã tôi đã mau chân lội đến sát bờ lên tiếng cho họ biết mình là thuyền nhân tị nạn, cần họ giúp đỡ. Lúc đầu họ nạt nộ, quyết liệt đuổi xô nhưng một lát sau, một ông tướng tá oai vệ có vẻ là người chỉ huy nghe ồn ào giằng co bên ngòai  đã bước ra dàn xếp. Ông ta tự giới thiệu là thiếu tá Yap, chỉ huy trưởng của đòan thủy quân lục chiến địa phận Kemaman này. Ông xã tôi trình bày hòan cảnh chung của anh em trong tàu và xin ông  hướng dẫn gặp Cao ủy phụ trách vấn đề tị nạn. Ông nói:

- Nếu chúng tôi không mất nước thì giờ này chúng tôi cũng như ông, an nhiên tự tại trên quê hương mình chớ đâu cần phải nổi trôi phiêu bạt, liều chết đi tìm tự do ở xứ người. Đất nước ông đã may mắn không bị chiến tranh thì xin ông rộng lòng chia sớt cái may mắn đó bằng cách cứu vớt những kẻ bất hạnh lỡ đường như chúng tôi. Đường dài trăm dặm, chúng tôi đã tận sức đi được chín mươi, mười dặm còn lại là tùy thuộc vào lòng tốt của ông. Xin  hãy  đưa giúp chúng tôi đi nốt chặng đường còn lại.       

Ông thiếu tá suy nghĩ một chút rồi nói rằng:

- Từ bao tháng qua, đã có rất nhiều con tàu tị nạn  trôi dạt vào đây nhưng lần nào tôi cũng buộc lòng cho lính kéo ra theo lệnh chính phủ, nếu không đi thì chúng tôi sẽ bắn, nhưng hôm nay không biết sao tôi lại thấy mình bị lay chuyển, thuyết phục, hình như có một sự vô hình nào đó thúc giục tôi phải tiếp nhận các anh. Thôi được, anh hãy gọi hết đồng bào của anh lên bờ nghỉ ngơi, tôi sẽ liên lạc với Hội Hồng Nguyệt Mã Lai (Red Crescent Society) đến đây giải quyết trường hợp của các anh.


Rồi ông thiếu tá bảo lính đem mấy thùng mì gói và nước ra cho mọi người ăn trưa. Sau đó, ông về phòng làm việc gọi máy cho Hội Hồng Nguyệt. Sau bốn ngày ngồi bó gối dưới khoang tàu, hôm nay được thỏai mái đi đi lại lại trên bờ và ăn uống khoan thai, mọi người đều cảm thấy  khỏe khoắn nhẹ nhàng từ thể xác đến tinh thần. Dù chưa biết bước kế tiếp sẽ như thế nào nhưng trước mắt là chúng tôi đã hòan tòan thóat khỏi xích xiềng cộng sản, hòan tòan cầm chắc sự tự do mà chúng tôi đã đổi lấy mạng sống đi tìm.  Đến xế chiều, bên ngòai trại lính có một chiếc xe bus dài và to với huy hiệu Trăng lưỡi liềm đỏ đổ lại. Ông thiếu tá cho gọi  đòan người tị nạn ra bàn giao  chúng tôi  cho  nhân viên của hội và chúc chúng tôi được nhiều may mắn trên đường định cư. Ông xã tôi thay mặt mọi người chấp tay cám ơn thiếu tá Yap nói rằng:

- Ơn đức của ông chúng tôi xin ghi nhớ trọn đời. Ông chính là người đầu tiên cho chúng tôi cơ hội trên con đường tìm tự do. Tiền rừng bạc biển ai rồi cũng sẽ hết, chỉ có thi ân bố đức, giúp người họan nạn mới là phương cách đầu tư, tích phước trường tồn. Nguyện xin ơn trên ban phúc lành cho gia đình ông mãi mãi.

Khi lên xe bus, nhân viên của hội cho biết là chúng tôi sẽ được đưa đến  trại chuyển tiếp Marang ngủ qua đêm rồi sáng hôm sau sẽ xuống tàu qua đảo tị nạn Pulau Bidong ở đó trong thời gian chờ Cao Ủy cứu xét cho đi định cư ở đệ tam quốc gia. Như vậy là mục đích đi tìm tự do của chúng tôi đến giai đọan này coi như đã thành công được hai phần ba. Những ngày sắp tới sẽ là những ngày “dưỡng quân” trước khi được chính thức định cư để  làm lại cuộc đời.       

Bà là Đức Mẹ Ma-ria

Quan Âm Bồ Tát hay bà là ai?

Ơn thiêng liêng ấy muôn đời

Bà tiên áo trắng rạng ngời trong tim


Chuyến vượt biển của chúng tôi quả là một chuyến đi suông sẻ an lành hiếm thấy từ lúc khởi đầu cho đến khi tới bến. Không bị đói khát, không bị chết máy bể tàu, không bị cướp biển, sóng gió  cấp tám cũng  lặng lẽ rút lui sau một hồi hòanh hành đe dọa. Không biết đó có phải là nhờ vào đức tin tuyệt đối ở đấng thiêng liêng hay không. Nhưng nếu nói nhờ vào đức tin thì những thuyền nhân khác cũng có thừa đức tin như chúng tôi vậy. Vậy thì  tại sao có biết bao nhiêu vạn người bất hạnh đã gặp biết bao thảm cảnh trong chuyến hãi trình, đói khát, cướp bóc, hãm hiếp, cha con chồng vợ kẻ mất người còn, gia đình tan nát thê lương và khỏang từ 200 - 400 ngàn người đã mất tích hoặc đã bỏ mình chết oan trên biển cả, nuốt hận ngàn thu? (Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc (UNHCR). Hay là phước ai người đó nấy hưởng? Vấn đề thiêng liêng thì có lẽ chỉ có đấng thiêng liêng mới giải thích được, tiêu chuẩn ban ơn của họ là như thế nào.  Còn đối với người phàm như chúng ta thì chỉ biết khấn nguyện, khẩn cầu và…xin vâng mà thôi...



Người Phương Nam