Sunday, March 22, 2026

Cầu Cong Bốn Nhịp - Đỗ Công Luận

Ngày Trước Tôi Bán Xôi Trước Cổng Bệnh Viện


Chỉ là một cái xe đẩy cũ, nồi xôi bốc khói nghi ngút từ 4 giờ sáng.

Trên xe treo tấm bảng viết tay: “Xôi nóng – 10 ngàn một gói.” và

trước mặt dựng 1 tấm bảng rất lớn: "XÔI XÔI XÔI".

Bệnh viện lúc nào cũng đông.

Người ta đi ngang, mua vội một gói rồi chạy.

Có người ăn cho đỡ đói.

Có người ăn cho đỡ buồn.

Tôi bán ở đó gần mười năm.

Một buổi sáng mùa đông, có một cậu bé khoảng mười hai tuổi đứng nhìn xe xôi của tôi rất lâu.

Nó mặc áo khoác rộng thùng thình, tay ôm cái bịch ni lông.

Tôi hỏi:

“Con ăn xôi hông?”

Nó lắc đầu.

“Dạ… con không có tiền.”

Tôi gói một gói xôi, đưa cho nó.

“Ăn đi.”

Nó đứng yên.

“Mai con trả.”

Tôi cười.

“Mai chú vẫn bán ở đây mà.”

Nó cầm gói xôi bằng hai tay, cúi đầu thật thấp.

style="background: white; mso-margin-top-alt: auto; text-align: justify;">“Dạ con cảm ơn.”

Ngày hôm sau, nó lại tới.

Nhưng không mua.

Nó chỉ đứng phụ tôi đưa xôi cho khách, cột dây thun, lấy tiền thối.

Tôi nói:

“Không cần đâu.”

Nó lắc đầu.

“Con ăn nợ… nên con phụ.”

Tôi mới biết nó tên Hùng.

Mẹ nó nằm ở khoa ung thư trên lầu.

Ba nó mất từ lâu.

Nó ngủ dưới gầm ghế ngoài hành lang bệnh viện.

Ban ngày chạy đi phụ người ta bưng nước, tối lên ngồi cạnh giường mẹ.

Từ hôm đó, sáng nào nó cũng xuống phụ tôi bán xôi.

Có hôm khách đông quá, nó la lớn:

“Chú ơi hết đậu rồi!”

Tôi bật cười.

Tự nhiên thấy cái xe xôi bớt cô quạnh.

Một tháng sau, mẹ nó mất.

Hôm đó nó không xuống bán xôi.

Tôi lên khoa tìm.

Nó ngồi một mình ở cuối hành lang, hai chân co lại, mắt nhìn xuống đất.

Tôi ngồi cạnh.

Một lúc lâu nó nói:

“Giờ con không biết đi đâu.”

Tôi im lặng.

Rồi tôi hỏi:

“Con có muốn phụ chú bán xôi không?”

Nó ngẩng lên.

“Thiệt hông chú?”

Tôi gật đầu.

“Nhưng phải đi học.”

Nó nhìn tôi như không tin.

Từ ngày đó, cái xe xôi có hai người.

4 giờ sáng tôi nấu xôi.

5 giờ Hùng đẩy xe ra cổng bệnh viện.

Khách quen hỏi:

“Ủa con ai vậy?”

Nó nhanh miệng:

“Con của chú bán xôi.”

Mỗi lần nghe vậy tôi lại khựng một chút.

Nhưng không sửa.

Hùng học cũng khá.

Tối về nó ngồi ngay cạnh nồi xôi, vừa canh lửa vừa làm bài.

Có lần nó hỏi:

“Chú ơi, học đại học mắc lắm hông?”

Tôi nói:

“Chắc mắc.”

Nó im lặng một lúc.

“Vậy chắc con học nghề thôi.”

Tôi không nói gì.

Nhưng từ hôm đó tôi bắt đầu để dành tiền.

Mười mấy năm bán xôi, tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện lớn.

Chỉ nghĩ đủ sống là được.

Thời gian trôi nhanh.

Ngày Hùng thi đại học, tôi dậy từ 3 giờ sáng.

Tôi gói cho nó hai gói xôi.

Nó cười:

“Con ăn không hết đâu.”

Tôi nói:

“Thi lâu đó.”

Ba tháng sau, nó chạy về từ đầu hẻm, la lớn:

“Chú ơi!”

Tôi đang xúc xôi cho khách, giật mình.

“Con đậu rồi!”

Nó đưa giấy báo trúng tuyển.

Tôi đọc mà tay run.

Khách đứng xung quanh cũng vỗ tay.

Ngày nó lên thành phố nhập học, nó ôm tôi.

Nó nói nhỏ:

“Ba, con đi nha ba .”

Tôi rướm nước mắt, giả bộ bận gói xôi.

Không dám nhìn nó.

Nhiều năm sau, Hùng tốt nghiệp bác sĩ.

Ngày đầu tiên nó mặc áo blouse trắng, nó chụp hình gửi về.

Tin nhắn chỉ có một câu:

“Ba, con đang trực ở bệnh viện.”

Tôi nhìn cái điện thoại thật lâu.

Sáng hôm sau, lòng tôi tràn ngập niềm vui tôi đẩy xe xôi ra cổng bệnh viện như mọi ngày.

Khói xôi bay lên nghi ngút.

Có người khách quen vừa nhận gói xôi vừa hỏi tôi:

“Chú bán ở cổng bệnh viện này mấy chục năm rồi, chắc cũng cực lắm ha?”

Tôi cười.

“Cực thì có… nhưng quen rồi.”

Khách đi rồi, tôi nhìn lên tòa nhà bệnh viện cao trước mặt.

Ở đâu đó trong những dãy phòng kia…

Có một bác sĩ từng đứng trước xe xôi của tôi, nói nhỏ:

“Chú ơi… con không có tiền.”

Ngày đó tôi chỉ cho nó một gói xôi 10 ngàn.

Nhưng nhiều năm sau…

Nó lớn lên, mặc áo blouse trắng, đứng trong bệnh viện này cứu người.

Nghĩ vậy tôi thấy lòng mình ấm lạ.

Một gói xôi năm nào…

Hóa ra không chỉ nuôi một đứa trẻ qua cơn đói.

Mà còn nuôi lớn cả một cuộc đời.....


My Lan Pham - Ngày trước, tôi bán xôi trước cổng bệnh viện. Chỉ là... | Facebook

Tiếc Xuân - Nguyễn Duy Phước

Con Lai - Chi Miên

 

Ông ngoại hắn chỉ có mình mẹ hắn, ngoài ba mươi mà chưa chồng. Thương con gáι mồ côi mẹ, chừ lại gặp chuyện éo le, ông khuyên nhủ con gáι: Thôi, xấu hổ chi con, tại chiến tranh chớ tại chi mình, ai nói chi kệ họ, con ráng giữ rồi đẻ ra để cha nuôi cho. Hắn cũng là con người, lại cũng là hạt мάu của mình, nhà mình lại đơn chiếc một cha một con, biết đâu ông trời ổng cho mình đó con… Nghe lời cha, cô gáι cúi mặt che bụng chịu đựng. Ơn Trời, mẹ tròn con vuông, tọt ra thằng cu gần bốn cân, khóc oang oang. Ông ngoại ngồi ngoài phòng sinh nghe thấy, cười hề hà, bảo: “Thấy chưa, hắn khóc tiếng Việt mình đó, oa… oa, cha tổ thằng cu, ha ha…”


Tới ngày đầy tháng, đích thân ông ra chợ mua sắm đầy đủ lễ vật về, áo dài khăn đóng cúng vái rất kỹ lưỡng, cầu xin mười hai Bà mụ phù hộ cho cháu ông lanh ăn lẹ lớn, lớn lên thành người Việt mình đàng hoàng. Rồi ông đặt tên cho hắn là Phan Lai. Phan là họ nhà ông.

Ông bảo với con gáι: “Ngoại của hắn là đây mà nội của hắn cũng là đây. Con ráng nuôi hắn, sau này về già con nhờ. Rồi ông mà trăm tuổi thì hắn bưng nồi hương cho ông chứ còn ai vô đây?”



Rồi đúng như lòng mong ước của ông ngoại và mẹ hắn, hắn lớn như thổi. Và càng lớn hắn càng giống một lính Mỹ nào đấy. Da trắng như bạch tạng, tóc râu ngô, mắt xanh lơ lơ, mỗi khi hắn nhìn ai thì người đó thấy như hắn dò xét họ điều gì. Được cái là từ ăn mặc cho chí chơi bời thì không khác sắp nhỏ hàng xóm.


Thương nhất là lúc ngồi trong mâm ăn, mới tí tuổi đã biết gắp miếng ngon bỏ chén ngoại, cơm ghế khoai, rau lang luộc chấm mắm cái cứ bưng chén lua ào ào. Buồn cười nhất là khi nói chuyện với hắn, mặt mũi thì rặt thành phố mà giọng nói thì nhà quê một cục, ngó như một thằng bé giả.


Ngày đầu đi học, ông ngoại đưa tới lớp. Cô giáo sợ cháu mặc cảm, e dè, ra tận cửa đón vào. Không ngờ mới thả xuống đã sà vào giành đồ chơi của bạn. Rồi mẫu giáo, cấp I, cấp II cứ mỗi năm một lớp, còn được chọn vào đội học sinh giỏi toán của trường.


Đi học một buổi, một buổi ở nhà quơ củi, chăn bò. Một lần để bò ăn lúa bị người ta dắt bò. Nghe lời ông hắn đến nhà người giữ bò ʋòпg tay cúi đầu:

– Con xin lỗi ông. Con gửi bò cho thằng bạn ngó dùm chạy về nhà coi chừng siêu Ϯhυốc cho mẹ. Không ngờ thằng nớ ham chơi, để…

– Thôi thôi, biết tҺươпg mẹ rứa là tốt, ông tha cho… Rồi ông vào nhà lấy hai cái bánh, bảo: Hôm nay nhà ông có giỗ…

Lai ngửa hai tay nhận bánh:

– Con cảm ơn ông. Rồi dắt bò về.


Cho đến một hôm… Hôm đó, đi học về, vừa bước vào nhà, hắn thấy khang khác.

Ông thì ngồi nhà trên lặng lẽ hút Ϯhυốc, mẹ thì ngồi dưới bếp thút thít, thấy hắn bước vào thì khóc to thành tiếng.

Hắn hoảng sợ, quăng cặp sách chạy đến ôm mẹ:

– Mẹ ơi, có chuyện chi rứa mẹ?

Một chặp lâu, mẹ hắn mới lau nước mắt, hỏi chậm rãi:

– Con ơi, con muốn đi Mỹ không?

– Đi làm chi mẹ?

– Đi tìm cha con…

– Không, không! Không đi mô hết!

Hắn vừa dậm chân sừng sộ vừa khóc rồi vùng vằng ra ngồi dưới gốc cau ở góc sân. Bỏ cơm. Tối hôm đó, hai ông cháu ℓêп gιườпg một lúc thì ông bảo hắn:

– Con nè, chừ chính phủ Mỹ muốn đưa những đứa con lai về Mỹ. Có một nhà ở Sài Gòn muốn đưa mẹ con ba cây vàng để xin con về làm con, cho học tiếng Mỹ để cùng gia đình họ sang Mỹ. Ông tҺươпg hai mẹ con đứt ruột. Nhưng con nè, họ biểu: con có đi luôn đâu, cũng tỉ như đi du học, lâu lâu lại về. Nhà họ cũng rứa ngại chi. Với lại con tính, nhà mình đang khó, mẹ con lại đau ốm, không tiền Ϯhυốc thang.


Thằng bé nghe ông nói, nghe chừng xuôi xuôi, không nói gì, rồi cũng lăn ra ngủ. Sáng hôm sau, hai vợ chồng nhà Sài Gòn đến. Hết vợ đến chồng dịu dàng thuyết phục hắn. Hắn cũng chỉ im lặng. Nhưng mọi việc sau đó diễn ra suôn sẻ.


Và quyển sách đời hắn từ đó, mở qua một trang mới. Năm đó hắn 15 tuổi, đang học dở lớp 9. Vợ chồng nhà Sài Gòn chẳng ai xa lạ, chính là vợ chồng nhà Kim, bạn thân của gia đình tôi, đã mua Lai về làm con, cho học tiếng Anh trong hai năm trước khi qua Mỹ.

Qua Mỹ được vài ba năm chi đó, vợ chồng Kim về Sài Gòn, ra thăm tôi.

– Ông biết không – Kim kể

– Hồi mới qua, vợ chồng tôi cứ phập phà phập phồng lo. Thiếu chi những đứa lai, lúc còn ở nhà cứ má má con con, khi qua đến bên nớ rồi, hắn dở quẻ “bà nớ mô phải má tôi”. Rứa là xôi hỏng bỏng không. Còn thằng này thì tҺươпg lắm. Ở nhà ăn ở với nhà tôi răng thì qua bên nớ vẫn y rứa. Hắn nói với bà xã tôi: “Ở nhà con có mẹ, qua đây con có má, má với mẹ bằng nhau. Ở nhà con không có em, chừ con có đến năm đứa em, ai sướng bằng?”.


Vợ chồng tôi cũng không ρhâп biệt con nuôi con đẻ, ρhâп theo tuổi nó là anh cả, và sắp con tôi cũng “chịu” anh cả lắm. Qua đến đó chúng tôi về định cư ở Houston bang Texas, cho gần gia đình bà xã tôi.

Vừa ổn định chỗ ở xong, cả nhà xáp vô làm ăn luôn: tôi nhận đi cắt cỏ cho các nhà vườn, bà xã làm neo, thằng lớn đi bỏ báo, sắp nhỏ đi học. Thằng Lai lúc thì phụ ba, khi thì giúp mẹ. Hắn í à, khéo tay lắm, mới mấy tháng đã được khách hàng khen, chẳng mấy chốc đã thành thạo.


Khi đã thành thợ chính rồi, má hắn lập cho hắn một cuốn sổ giao hắn tự ghi công, đến cuối tháng trả lương sòng phẳng. Hắn cũng thích vậy, bảo: “Ba má cho con tập tự lập nhé. Rồi còn phải cưới vợ nữa chứ”.


Tưởng hắn nói chơi, không ngờ mới hơn một năm, một hôm hắn ngỏ ý với vợ chồng tôi muốn xin ra ở riêng.

“Chớ con định ở chỗ nào?” – má hắn hỏi. Hắn chỉ nói hai tiếng “có chỗ” rồi dẫn cả nhà ra xem. Một ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo bỏ hoang giữa một khu vườn rộng. Mọi người nhìn ngôi nhà sắp sụp trố mắt nhìn hắn. Chưa kịp hỏi thì hắn đã nói: Con tìm hiểu kỹ rồi. Nhà này là của vợ chồng một người Mỹ, nửa đêm không hiểu vì sao người chồng lăn đùng ra cҺếϮ, người vợ bỏ đi mấy năm nay không thấy trở lại.

Mấy đứa em hắn lè lưỡi:

“Anh định đến ở đây? không sợ hả?”

– “Sợ gì?”.

Mấy đứa em gáι la lên: “Sợ ma!?”

– “Không có ma! Mà có anh cũng chẳng sợ!”.


Má hắn bảo: “Con đã suy nghĩ kỹ chưa?”.

Hắn nói chậm rãi: “Con đã tính rồi. Ở đây về nhà mình chỉ vài tiếng xe đạp. Lúc rảnh rỗi, con tranh thủ đạp xe đến sửa sang dọn dẹp, trồng rau… Con sẽ làm cho ngôi nhà này hồi sinh. Chỉ xin ba má liên hệ nhà chức trách xin phép cho con, xin các em ủng hộ anh”.

Kim bảo:

– Bà xã tôi quá bất ngờ, thậm chí hơi sốc vì lâu nay thấy hắn làm ăn ngon lành, cũng có ý định giúp hắn vừa làm nghề vừa tập quản lý shop, đợi đến lúc đủ lông đủ cάпh thì giao hẳn cho nó lập nghiệp. Nhưng tôi thì không quá bất ngờ như bả. Lâu nay, cứ chiều chiều hắn một mình đạp xe ra ngoại ô, tưởng hắn đi chơi. Không ngờ hắn đã lặng lẽ chuẩn bị trước.


Tôi chú ý hắn ngay từ hồi còn ở nhà, trong cái vóc dáng vị thành niên của hắn đã Ьắt đầu chớm nở, những ý tưởng vượt tuổi tác. Vì thế tôi bàn với bà xã và các em, hết sức giúp hắn. Nhưng hắn bảo: “Con chưa ra ngay đâu, con sẽ làm cho ngôi nhà đó không còn là nhà hoang nữa mới đến ở”.


Và không phải đợi lâu, khoảng năm sáu tháng sau, nhà cửa ϮιпҺ tươm, vườn tược tươi tốt. Sướng mắt nhất là cái giàn bí trước nhà, ngó y chang cái giàn bí của ông ngoại hắn ở quê, những quả bí mập mạp, xanh bóng chen nhau thòng xuống, ăn không hết hắn mang cho những nhà lân cận. Đến cuối năm đó hắn mới đến ở. Đến hôm trước, hôm sau treo biển làm neo, lấy tên shop neo FANLAI. Chưa bao lâu, khách đến nườm nượp, phần lớn khách quen, còn có vẻ nhộn nhịp hơn shop neo của má hắn. Chừ thì ngon lành rồi.


Chưa đầy hai mươi mà ngó cung cách làm ăn của hắn đã khác mình. Tuồng như có sẵn trong мάu hắn một cái gì đấy của xã hội công nghiệp. Hắn bảo với tôi: “Ba thấy con làm ri được không, các bà các chị các em ở Mỹ đến làm móng, con học tiếng của họ, khách hàng nhất là các cô trẻ thích học nghề, con dạy nghề cho miễn phí luôn, nhưng cứ mỗi tháng phải đến làm cho con một ngày, mà cũng chỉ trong năm đầu thôi”.

Tôi hỏi: “Có ai học không?”

– “Khối đứa, có đứa đã thành nghề đến làm cho con rồi đấy”.


Ông tính hắn có ghê không? Lại còn ri nữa: Khi đã có người đến làm rồi, hắn giao shop cho họ coi, tranh thủ làm việc khác. Trồng rau, nuôi gà, đi nhặt vỏ đồ hộp. Một bao tải khoác vai, mũ lưỡi trai hất ngược ra sau, lúc đi bộ lúc đạp xe, lượm vỏ lon về đổ dồn đống ở góc nhà. Không khác chi một thằng ve chai Việt Nam trên đất Mỹ. Các em hắn chê

“Bôi bác quá ông ơi”, hắn chỉ cười.


Hắn rỉ tai tôi:

“Dưới đống vỏ đồ hộp là cái “két” của con đấy, hằng ngày kiếm được đồng nào con bỏ vào một hộp bánh nhét dưới đó, cuối tuần mang về gửi má giữ hộ”.


Kim còn kể nhiều chuyện về thằng con lai của anh ta. Cứ sau mỗi chuyện thú vị, Kim lại lắc đầu kêu:

– Cái thằng kỳ cục hết chỗ nói!

Bẵng đi trên chục năm. Trong thời gian đó, nhà Kim có về nước đôi lần nhưng chỉ ở Sài Gòn rồi đi.


Tết vừa rồi, hai vợ chồng về ăn tết ở Hội An có ra thăm tôi. Chuyện thằng Lai ngày trước Kim kể với tôi, tưởng đã quên đi, nay gặp lại Kim, bật nhớ.

Tôi hỏi: – Thằng Lai răng rồi?

– Kỳ cục lắm, Kỳ cục lắm! Chừ không ai gọi thằng Lai nữa mà là David Phan.

– Vẫn làm neo chứ?

– Chuyện neo niếc để bà xã tôi hôm nào ở Huế vào bả kể. Còn David bây giờ thì…kỳ cục lắm ông ạ – Rồi Kim kể say sưa, phải súc bình trà đến mấy lượt.

Trước hết là chuyện vợ con của hắn. Ra ở riêng không bao lâu, một hôm hắn về bảo

“Xin ba má cho con lấy vợ”

– “Thiệt hay giỡn mi?”

– “Dạ thiệt”

– “Có sớm không?”

– “Dạ, con quá hai mươi rồi. Với lại con cần có vợ sớm, vì mẹ con đau yếu, ông ngoại già quá rồi, con lại ở bên này, phải có người chăm sóc ông và mẹ”

– “Vợ nào mà chăm sóc…!”

– “Dạ, vợ Việt Nam, cưới xong vẫn ở Việt Nam, thỉnh thoảng con về”

– “Bao giờ cưới?”

– “Lúc nào ba má về được, con theo về cưới!”

– “Cái thằng này! Vợ đâu mà sẵn rứa?”

– “Dạ, con đã chuẩn bị một năm nay. Con ra tiêu chuẩn cho mẹ con ở nhà kiếm”

– “Tiêu chuẩn thế nào?”

– “Dạ, đơn giản thôi, ba điều: Một là: không cần đẹp nhưng đừng xấu, phải khỏe để đẻ và nuôi con.

Hai: biết giữ tài sản, biết làm cho tiền đẻ ra tiền.

Ba: biết tҺươпg mẹ và ông ngoại. Dạ chỉ rứa thôi”.

Tôi và má hắn ngã ngửa nhưng phải nghe hắn, chứ biết răng chừ.


Cuối năm đó cưới, cưới là vợ có bầu. Đến chừ hắn đã có ba đứa: hai trai, một gáι. Bốn mẹ con hắn chưa một lần qua Mỹ. Hắn bảo: “Sẽ qua nhưng chừ chưa phải lúc”.

Vợ hắn từ một cô bạn học cùng học một trường, cùng đi chăn bò hồi nhỏ nay trở thành một nàng dâu đảm đang, quản lý cơ ngơi bạc tỉ mà hắn bảo “đáng điểm 10”.


Tôi nghe cũng Ьắt “ngã ngửa”, hỏi chen:

– Hắn làm gì mà giàu nhanh rứa?

– Thì ông tính: ở bên nớ hắn có tiêu chi, tích cóp được đồng nào gửi về nhà, mua đất ở Hội An. Lúc đầu mua miếng nhỏ, được giá bán mua miếng to hơn, đến nay hắn đã có một miếng đất lớn, ở một nơi đắc địa, không bán mà ký hợp đồng cho thuê 10 năm lấy tiền trước, bỏ ngân hàng. Chưa kể đất chung quanh nhà ông ngoại hắn, hắn đã mua thêm nay rộng rãi, vuông vức lắm!

Tất cả hắn chỉ đạo vợ hắn gần như hằng ngày, tiền bạc phải có sổ sách, chứng từ, chi tiêu theo đúng tiêu chuẩn cho người lớn cả trẻ con. Đúng là đâu ra đấy.


À, có một chuyện này tôi quên nói:

Sau việc cưới vợ đẻ con, hắn làm gì ông biết không? Sửa nhà cho ông và mẹ và… làm luôn nhà thờ tộc Phan.

Lần đó hắn về, ra Hội An thuê người vẽ kiểu, có ý kiến đến từng chi tiết – Có một đôi liễn treo trước bàn thờ, theo mẫu: “Ân quốc, ân gia, ân phụ mẫu/ Tạ thiên tạ địa tạ tiền nhân”.

Hắn bảo sửa lại: “Ân quốc, ân gia, ân… hiền mẫu”.

Chứ hắn có cha mô mà… phụ mẫu?

Không biết hắn học ai mà rành vậy!

– Thật hết bất ngờ này đến bất ngờ khác.


Nghe tôi bình luận vậy, Kim bảo, rồi còn bất ngờ với hắn dài dài. Ông tính: Hắn văn hóa chưa hết cấp II mà trí thức của mình chừ nói chuyện với hắn phải cẩn thận. Ban ngày làm “neo”, lượm lon bια, đêm vào máy đọc sách!

Thấy tôi cứ lắc đầu một cách thích thú, Kim bảo:

– Chưa hết. Nghe đây rồi coi có tin được thì tin. Từ hồi qua Mỹ, hắn về nước nhiều lần, nhưng có ba lần gần đây nhất, trước khi lên máy bay hắn đưa cho vợ chồng tôi giữ, cái gì ông biết không, di chúc!

– Trời, di chúc?

– Đúng, di chúc của hắn để lại cho vợ con, ngộ nhỡ…

Đến mức này thì tôi không còn ngạc nhiên nữa mà… tá hỏa! Kim bảo khi nhận cái di chúc đầu tiên, má hắn la dữ và khuyên hắn không nên làm chuyện xui xẻo. Hắn bảo: “Tổng thống mà có lúc còn bị пα̣п, huống chi… Cái gì cũng phải phòng trước là hơn”.

– Có nhớ nội dung các di chúc của hắn? – Tôi hỏi dồn.

– Hai cái trước thì không. Cái gần đây thì nhớ. Hắn chỉ dặn một việc:

Tương lai của ba đứa con hắn.

Thằng đầu Phan Nhất Việt đang học Đại học Nông nghiệp, phải trở thành nhà nông học giỏi, về nhà cưới vợ, chăm sóc ông và ba mẹ, hương khói cho ông bà nhưng quan trọng là phải biến vườn ông thành một nhà vườn kiểu mẫu theo phương pháp hiện đại.


Thằng em Phan Hậu Việt, đang còn học phổ thông trung học, phải vào Đại học Kinh tế, chuyên ngành quản lý du lịch, cưới vợ học du lịch càng tốt, xây khách sạn trên miếng đất Hội An, phải làm cho khách sạn mình thành khách sạn nổi tiếng ở phố cổ.


Bé út Phan Mỹ Duyên đang học phổ thông cơ sở, phải học giỏi để vào ngành sinh hóa ở Đại học Bách khoa, sẽ được sang Mỹ học cao hơn nữa để nghiên cứu chế tạo mỹ phẩm bằng cây cỏ Việt Nam và tiếp quản cơ ngơi của ba, xây dựng thành một mỹ viện ở Houston.

Và…- Kim đột ngột dừng lại như đang có vật gì vướng trong cổ, một lúc sau mới tiếp.

– Câu cuối cùng trong cả ba di chúc đều ghi thế này: “Nếu tôi chết hãy đưa tôi về Việt Nam, nằm ở quê ngoại tôi”.


Chi Miên

Saturday, March 21, 2026

Chuyện Tếu: Một Người Anh Ngủ Dậy Mình Mẩy Xanh Lè Từ Đầu Tới Chân, Phải Vô Cấp Cứu - Hùynh Chiếu Đẳng


Nguồn tin và  chi tiết: https://nypost.com/2026/03/10/worldnews/manhospitalizedafterturningbluefromheadtotoebecauseofbizarrebedroomdiscovery/?utm_source=samsungnews&utm_campaign=nypost&utm_medium=referral&utm_source=snews&utm_medium=referral


HCD : Máy tóm tắt nội dung bài báo (có thể còn sót những « tiếng mới » khó hiểu khó nghe)

Một « bịnh » hy hữu nhưng có thật của anh Tommy Lynch, 42 tuổi, sống ở Anh.

Một người đàn ông đã phải vào bịnh viện cấp cứu vì toàn thân bỗng nhiên chuyển sang màu xanh, từ đầu đến chân. Hóa ra, thủ phạm không phải là bệnh tim hay phổi, mà là... bộ drap  trải giường mới mua của anh ấy.

Anh Tommy được tặng một bộ drap trải giường màu xanh nước biển (navy blue) cỡ kingsize. Anh đã trải lên giường và nằm ngủ hai đêm liền mà không hề giặt trước.

Sáng hôm sau, anh thức dậy và Khám phá da mình bị nhuộm xanh từ đầu đến chân, trông giống như nhân vật trong phim "Avatar". Một người bạn làm trong ngành chăm sóc sức khỏe nhìn thấy đã vội vàng đưa anh đi cấp cứu vì nghĩ anh bị thiếu oxy.

Khi vào viện, các bác sĩ cũng rất hoảng vì chưa từng thấy ai xanh như vậy mà vẫn sống. Họ cho anh nằm giường và thở oxy ngay lập tức. Một lúc sau, bác sĩ dùng cồn sát trùng lau lên tay anh để chuẩn bị lấy máu. Điều kỳ diệu (và cũng là lời giải đáp) đã xảy ra: miếng bông thấm cồn chuyển sang màu xanh.

Lúc này anh Tommy mới chợt nhận ra, màu xanh trên người anh chính là thuốc nhuộm từ bộ drap trải giường mới. Ani thú nhận rằng mình không hề biết là phải giặt drap giường mới mua trước khi sử dụng. Vì anh ngủ khỏa thân, đổ mồ hôi và nằm đè lên drap, thuốc nhuộm đã thấm hết vào da.

Các bác sĩ đã được một trận cười bể bụng. Còn anh Tommy, sau khi rời nhà thương (với tâm trạng vừa xấu hổ vừa nhẹ nhõm), đã phải mất một tuần tắm rửa liên tục, nước trong bồn tắm lúc nào cũng có màu xanh, thì da mới trở lại bình thường.


Huỳnh Chiếu Đẳng (Quán ven đường)

Trùm Cuối



Trong chính trường Mỹ, người ta thường nhìn thấy ánh đèn sân khấu chiếu vào những cái tên lớn như tổng thống/phó tổng, bộ trưởng, thượng nghị sĩ… Nhưng phía sau mỗi chiến thắng chính trị lớn luôn có những bộ óc chiến lược đứng trong bóng tối. Và bên cạnh bác Trump, nếu phải nói đến một người như vậy, nhiều người trong nội bộ chiến dịch đều nhắc đến cái tên Susie Wiles.


Susie Wiles không phải kiểu người thích xuất hiện trước ống kính. Bà không tranh micro, không thích phỏng vấn, và cũng hiếm khi phát biểu những lời hoa mỹ. Nhưng trong thế giới chính trị đầy sóng gió của Washington, có một điều gần như ai cũng công nhận là khi cần một người giữ cho cả chiến dịch vận hành trơn tru, Susie Wiles là người đó.

Sinh năm 1957, bà lớn lên trong một gia đình có truyền thống làm việc trong lĩnh vực truyền thông và thể thao. Cha bà, Pat Summerall, là một bình luận viên thể thao nổi tiếng của NFL. Từ nhỏ, Susie đã quen với môi trường kỷ luật, áp lực và sự chuyên nghiệp những điều sau này trở thành dấu ấn trong phong cách làm việc của bà.
Susie Wiles bước vào chính trị từ rất sớm. Bà từng tham gia chiến dịch của Ronald Reagan năm 1980 khi còn khá trẻ. Nhưng phải nhiều thập kỷ sau, tài năng tổ chức và chiến lược của bà mới thật sự được cả nước chú ý.

Trong chiến dịch tranh cử năm 2016 của Trump tại Florida, một bang được xem là chiến trường quyết định thì Susan Wiles là người đứng sau việc tổ chức bộ máy vận hành cực kỳ kỷ luật. Florida cuối cùng đã nghiêng về Trump, và nhiều nhà phân tích cho rằng công lớn thuộc về chiến lược của bà.
Những người từng làm việc với Susie Wiles thường nói bà có một phong cách rất đặc biệt: ít nói, quan sát nhiều, và khi đã lên tiếng thì mọi người đều lắng nghe. Bà không phải kiểu ngôi sao chính trị, nhưng lại là người mà các chính trị gia lớn thường tìm đến khi cần lời khuyên.

Trong chiến dịch tranh cử gần đây của TT Trump, Susie Wiles được xem như người giữ nhịp cho toàn bộ bộ máy. Trong khi những nhân vật khác xuất hiện trước công chúng, bà lại âm thầm quản lý chiến lược, nhân sự và các quyết định quan trọng phía sau hậu trường.
Có người trong nội bộ chiến dịch từng nói vui rằng: Nếu Trump là vị tướng ngoài chiến trường, thì Susie Wiles là người vẽ bản đồ.

Điều khiến nhiều người nể phục ở bà không phải chỉ là kinh nghiệm, mà còn là sự khiêm tốn. Trong một môi trường mà ai cũng muốn được ghi công, Susie Wiles lại gần như luôn tránh ánh đèn sân khấu. Bà làm việc, đạt kết quả, rồi lặng lẽ bước sang việc tiếp theo.
Chính vì vậy, nếu nhìn vào đội ngũ xung quanh Trump từ JD Vance, Marco Rubio cho đến Pete Hegseth mỗi người đều có vai trò riêng trên mặt trận chính trị. Nhưng phía sau tất cả, có một người ít khi xuất hiện mà ảnh hưởng lại vô cùng lớn.

Susie Wiles không cần danh xưng hào nhoáng. Nhưng trong mắt nhiều người trong nội bộ, bà chính là người giúp giữ cho cả cỗ máy chính trị vận hành đúng hướng.
Và nếu phải nói một cách khiêm tốn nhưng chính xác: Ngoài Trump ra, Susie Wiles có lẽ là một trong những người quyền lực nhất mà công chúng ít khi nhìn thấy. #SusieWiles

Video Voyage Djerba Mars 2026 - Nguyễn Duy Phước

2 tuần đi nghỉ hè ở xứ rệp Tunisia, thuộc các nước gọi là Maghreb (gồm có Tunisia, Morocco, Algeria) ở vùng Bắc Phi. Cũng may là không bị trục trặc về vấn đề máy bay vì rất nhiều chuyến bay đi khu Trung Đông ở gần đó đã bị hoản vì ngài Trump và Do thái gây chiến ở Iran. Trong vài ngày, quên đi chuyện thế sự, mặc cho cha con chúng choảng nhau, cứ tha hồ ăn chơi phè phỡn... 

Hôm nay sắp đến ngày về, vậy gửi các bạn một video youtube về những sinh hoạt ở khách sạn Blue Palm Beach Palace và những phong cảnh của đảo Djerba, một trong những nơi thu hút đông du khách nhất ở vùng biển Địa Trung Hải.


Chuyện Phi Công Mỹ Vượt Trại Tù CS - Nguyễn Thị Mão

 

Trong cuộc chiến chống cộng sản tại Việt Nam trước đây, bên cạnh sự chiến đấu dũng cảm của quân đội Viêt Nam Cộng Hoà, không thể không nói đến sự chiến đấu của những quân đội đồng minh, và đặc biệt sự dũng cảm, can trường của những người lính Mỹ đến từ một quốc gia cách nửa vòng trái đất. Họ là những chàng trai bỏ lại sau lưng mọi niềm vui của tuổi thanh xuân, nhập ngũ và sang giúp bảo vệ miền Nam Việt Nam trước họa xâm lăng của cộng sản. Trên bức tường đá đen tại đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam ở Washington DC có ghi danh hơn 58,000 tử sĩ Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam.


Hơn 40 năm sau cuộc chiến, những cựu chiến binh từng chiến đấu chống cộng tại Việt Nam năm xưa nay đã vào tuổi xế chiều, nhiều người đã ra đi.

Câu chuyện sau đây kể về một phi công người Mỹ là bạn của chồng tôi. Câu chuyện trốn thoát trại tù cộng sản tại Lào của Dengler đã được viết thành sách “Escape from Laos”. Thêm cuốn “Hero Found: The Greatest POW Escape from Vietnam War” kể về cuộc đời của Dengler viết bởi Bruce Henderson, người từng cùng phục vụ trong đội bay với Dengler. Câu chuyện cũng được làm thành phim “Rescue Dawn”, do tài tử Christian Bale đóng vai Trung Úy Dengler..

Bài viết sơ lược này để tưởng nhớ Lieutenant Dieter Dengler, của United Stated Navy

***

Dieter Dengler sinh năm 1938 là một di dân từ nước Đức, tới Mỹ với hoài bão sống trong tự do và có cơ hội thực hiện ước mơ bay bổng.

Ngay khi đủ 18 tuổi, chàng Dieter xin gia nhập không quân Mỹ và được tuyển dụng, nhập ngũ năm 1957.

Sau khi được đào tạo cơ bản tại căn cứ Lackland ở San Antonio, Texas, ông được giao nhiệm vụ là một kỹ thuật viên động cơ, sau đó, được chọn dự khoá đào tạo sĩ quan và trở thành một phi công.

Tại trạm không lực Hải Quân Corpus Christi, Texas, ông được đào tạo như 1 phi công trong Douglas AD Skyraider và gia nhập VA-145 trong khi mãn khóa tại Naval Air Stattion Alameda, Califonia.


Năm 1965, phi đội của Trung úy Dieter Dengler tham gia các tàu sân bay USS Ranger và chiến hạm này được điều động về bờ biển Việt Nam, ông được điều về và đóng tại trạm Dexie, ở Nam Việt Nam và sau đó chuyển về phía bắc tại trạm Yankee để mở những cuộc chống lại sự xâm lược của miền Bắc.

Trong cuộc hành quân phía bắc gần biên giơi Lào, nằm về phía tây của đèo Mụ Giạ, ngày 1 tháng 2 năm 1966, ông được điều tới một phi vụ do Hải Quân AD Skyraider từ VA-15 hoạt đông vận chuyển, ông có nhiệm vụ cùng 3 chiếc máy bay khác ngăn chặn đoàn xe tải quân trang của CS từ Bắc vào Nam. Hôm đó thời tiết không mấy tốt, nên tầm nhìn xa rất khó khăn do những vụ cháy dưới đất từ các mục tiêu, ông mất tầm nhìn với 3 chiếc máy bay khác, ông quyết định lượn chiếc Skyraider vào mục tiêu. Sau hơn 2 tiếng quần thảo trong vùng địch, máy bay ông bị trúng đạn và bốc cháy.

Một tiếng nổ lớn như sét đánh. Cánh phải của chiếc Skyraider rớt xuống. Máy bay lộn nhiều vòng trong bầu trời đầy lửa đạn. Dieter cố điều khiển máy bay vào một khoảng trống trên đất Lào. Khi còn khoảng hơn 100 mét cách mặt đất, ông bị đẩy ra khỏi máy bay, rớt xuống mặt đất, bất tỉnh trong vài phút nhưng ông kịp dậy và biến vào rừng,. Khi phi hành đoàn nhận ra máy bay của ông đã bị bắn hạ, họ tin tưởng rằng ông đã ẩn nấp trong rừng và chờ được cấp cứu.


Ngay khi vào rừng, ông đã nhanh chóng đập vỡ máy vô tuyến điện, và dấu hết các thiết bị tồn tại khác để tránh cho quân cộng sản hay quân Lào có thể tìm thấy. Nhưng chỉ một ngày sau khi máy bay bị bắn ha, ông đã bị quân Pathet lào bắt sống. Họ đã dẫn độ ông xuyên qua các khu rừng, bị trói ghô trên bốn cọc để ngăn chặn ông có thể trốn thoát khi đêm xuống. Nhưng tuy bị cột như thế ông không ngừng nghĩ cách trốn thoát, ông đã cố chạy trốn trên đường họ giải ông đi, và ông đã thoát, trên đường chạy trốn ông ngừng tại một con suối để uống nước và ông bị bắt lại. Lần này ông bị họ tra tấn, đánh đập. Ông đã bị họ treo ngược chân lên, cho mặt ông đụng vào ổ kiến cho đến khi ông ngất đi, và bị treo lơ lửng trong miệng giếng suốt đêm, ông biết ông có thể bị chết đuối nếu dây thừng bị đứt. Ông bị họ buộc vào một con trâu nước và kéo lê qua những làng mạc để làm vui cho quân lính Pathet lào. Quân Pathet Lào bắt ông phải ký vào tài liệu lên án Hoa Kỳ nhưng ông từ chối, lần này ông bị chúng tra tấn bằng roi vót thật nhỏ và sắc bén, những vết roi đã lằn sâu vào da thịt ông đến nưng mủ và đau đớn trầm trọng.

Một lần khác, họ buộc dây thừng quanh hai tay ông quặt ra sau, rồi cột vào một khúc gỗ và vặn dây thừng nhiều vòng cho đến khi cánh tay và thần kinh ông tê dại, tay ông sau đó không thể cử động trong 6 tháng.

Từng được đào tạo tại trung tâm SERE (Survival, Escape, Resistance, and Evasion) nơi ông đã thực tập thuần nhuyễn những kinh nghiệm vượt thoát và sống sót khi phải đối diện với sự đói khát, dù bị hành hạ, nhưng mỗi lần tỉnh lại là ông vẫn nghĩ ngay tới kế thoát thân.

Sau 3 tuần bị cầm tù và tra tấn do quân Pathet lào, họ giải ông cho quân cộng sản Việt Nam khi họ hành quân qua một ngôi làng.

Khi bị đưa đến trại tù gần làng Parkung, nơi đây ông đã gặp thêm 6 tù binh khác, trong số này có 2 người Mỹ: phi công Duane W. Martin và Eugene DeBruin, cùng 3 người Thái: Phisit Intharathat, Prasit Promsuwan, Prasit Thanee và một người Tàu, là Y.C. To.

Duane W. Martin là một phi công trực thăng đã bị bắn rơi trên vùng trời miền bắc năm trước đó, còn những người tù khác là những nhân viên làm cho hãng hàng không dân sự thuộc sở hữu của CIA.

Ông thấy họ trong tình trạng thật thê thảm, người bị thương tích đầy mình với những mảng thịt lở loét, người thì mất răng, người bị nhiễm trùng nướu răng đầy mủ, người dáng đi như bộ bộ xương biết đi. Nhóm tù nhân này đã ở đó hơn hai năm rưỡi.

Sau ngày đến trại tù, chẳng bao lâu tất cả những tù nhân bị di chuyển đến địa điểm khác cách đó hơn 10 cây số. Khi đến trại mới ông bắt đầu bàn tính chuyện trốn trại, ông và người phi công tên Martin bàn cãi là ai sẽ đi với họ.

Trong khi đó thực phẩm của trại tù hầu như cạn kiệt, ngay cả đôi lúc phải ăn thịt như rắn, thịt chuột… sự căng thẳng giữa những bọn coi tù thêm quyết liệt là làm sao giải quyết mấy người tù binh này. Tối đến họ xích các tù binh lại với nhau và bỏ mặc họ với lạnh lẽo và bịnh hoạn.


Sau vài tháng, một trong những tù nhân người Thái tình cờ nghe được bọn coi tù bàn với nhau hãy làm hiện trường như là mấy tù binh tìm cách trốn nên họ phải bắn cho chết, ngay cả họ cũng đói như tù nhân nữa, họ cũng muốn trở về nhà với gia đình họ. Tất cả mấy bạn tù bấy giờ đồng loạt định ngày để trốn.

Dengler đã lập kế hoạch khống chế cai tù, sau đó sẽ nới lỏng các dây thép gai chung quanh trại để tù nhân có thể chui qua dễ dàng, ông sắp đặt cho các bạn tù kế hoạch tước đoạt súng và khống chế các cai tù khi họ đang ăn trưa, trong khi ông sẽ giải thoát những bạn tù bị còng tay.

Ngày ước định ra tay đã đến. Đó là ngày 29 tháng 6 năm 1966. Trong lúc bọn cai tù đang ăn trưa, nhóm bạn tù giải thoát cho mấy bạn bị còng trước, Dengler và một bạn tù khống chế cai tù và đoạt lấy vũ khí của họ gồm súng trường M1, súng trường tự động Trung Cộng, một súng carbine Mỹ, và một khẩu tự động AK47. Ông dùng khẩu AK 47 này trong việc thoát khỏi trại tù binh. Ông Dengler ra ngoài trước, đến túp lều trại lấy thêm một khẩu M1 cho chính mình và trao khẩu súng Carbine Mỹ cho phi công Martin. Bọn cai tù thấy các tù nhân đã làm loạn và trốn thoát, họ vội chạy về phía ông Dengler và bắn AK 47 xối xả. 1 bạn tù, ông Phisit đã bắn chết tên cai tù khi tên này tiến đến ông. Hai cai tù khác bỏ chạy.

Thế là nhóm bảy tù nhân thoát khỏi trại tù, họ chia nhau thành 3 nhóm, ban đầu ông DeBruin được sắp xếp cho đi với ông Dengler và ông Martin nhưng DeBruin quyết định đi với Y. C. To, một tù nhân gốc Hoa. Họ dự định đến sườn núi gần nhất và chờ cứu hộ. Ông Dengler và Martin đi cùng nhau, quyết định sẽ phải đi xa hơn về hướng Thái Lan.

Trốn trại rất là nguy hiểm, nhưng Dengler thà chết trên con đường vượt thoát còn hơn là bị chết trong trại tù binh. Họ đi mãi, nghỉ ngơi trong khoảnh khắc rồi lại đi tiếp. “Cách nhanh nhất là tìm một dòng sông có thể chảy ra sông Cửu Long và từ đó sẽ đưa chúng ta an toàn sang Thái Lan.Trung úy Dengler nói với Martin, người bạn đã cùng ông vượt ngục.

Tới được một con sông, hai ông làm một chiếc bè để trôi cho nhanh theo dòng nước ghềnh chảy xiết, buổi tối họ buôc mình vào thân cây để không bị cuôn trôi bởi dòng nước chảy mạnh, đến sáng họ ẩn mình dưới những tàng cây dày, được bao phủ trong bùn lẩy. Họ nghĩ rằng đang theo dòng ra sông lớn Cửu Long, nhưng rồi khám phá ra là họ chỉ đi vòng lại chỗ hôm qua mới đi qua, may quá họ không bị phát giác. Hai ông dựng tạm lều dưới lùm cây rậm rạp, tìm thức ăn trong cái làng bỏ hoang gần đó, nhưng sự đói rét vẫn vật vã. Ý định dùng ngọn lửa để làm tín hiệu cho máy bay C-130 đến cứu. nhưng hai ông không còn sức Họ dùng thuốc đạn của khẩu súng Carbine mà ông Martin đã bỏ đi làm vật dẫn lửa để đốt tín hiệu. Đêm đó có một chiếc C-130 lượn quanh đó, hai ông đã vẫy ngọn lửa theo hình chử S và S để hy vong được cứu, nhưng vô vọng.


Trên đường đi trốn trong rừng, có lúc họ nhìn thấy một xóm nhỏ có dân quê ra vào. Ông Martin, sức khoẻ quá yếu vì đói và bịnh sốt rét, muốn đến đó để lấy trộm thức ăn. Dengler đã ngăn cản, và không cho ông Martin đến gần làng đó một mình. Có 1 thằng bé đang chơi với 1 con chó gần đó thấy họ rồi nó chạy vào làng hô hoán lên là “người Mỹ”. Trong vài phút một vài người dân xuất hiện họ quỳ và cầu nguyện, nhưng 1 người đàn ông trong bọn vung dao lên và đánh vào chân Martin. Một nhát dao nữa chém đứt đầu của Martin.

Ông Dengler chạy nhanh về phía mấy người dân làng, họ bỏ chạy vào làng kêu cứu. Ông Dengler vội chạy đến chân của Martin và tháo chiếc giày (mà hai ông đã nhặt được trong rừng) rồi chạy hết sức nhanh vào rừng. Thoát chết.

Sau khi thoát chết, ông dự định trở lại ngôi làng bỏ hoang đó sẽ đốt cho tàn rụi đề làm ám hiệu cho đội phi hành đoàn C-130 biết mà đến cứu ông. Ông đã nổi lửa đốt, quả thật phi hành đoàn phát hiện đám cháy và bắn hoả châu lên, nhưng họ lại bay xa, vì không ai nghĩ là có người sống sót bên dưới, họ bay về căn cứ tại Thái Lan.


Sau 23 ngày trốn trong rừng, sáng ngày 20/7/1966, Eugene Peyton Deatrick một phi công lái máy bay lượn trên vòm trời gần dòng sông nơi ông Dengler trốn, ông thấy tín hiệu màu trắng vẫy vẫy hình chữ S&S. Khi cho máy bay quay lại, Eugene thấy một người đàn ông đang vẫy vẫy và quyết định cứu giúp bằng cách liên lạc với đội cấp cứu. Dù được khuyên là nên quên đi vì có thể đó là do VC giả dạng để gài bẫy, nhưng cả Eugene và viên phi công phụ vẫn kiên trì thuyết phục, yêu cầu trung tâm phối kiểm xem có phi công nào bị bắn rơi và mất tích không.

Cuối cùng ông Dengler được cứu lên chiếc máy bay cấp cứu. Sau khi lên được sàn của máy bay, họ kiểm tra người của ông không có vũ khí, ông bảo với họ là ông đã trốn khỏi nhà tù của cộng sản Lào trước đó 2 tháng, họ báo với trung tâm hành quân có một người đàn ông nói ông ta là 1 phi công của phi đoàn Douglas A-1H Skyraider đã bị bắn rơi và tên ông là Dieter Dengler.

Khi toán phi cơ cấp cứu hạ cánh xuống căn cứ Đà Nẵng, tên của ông được xác nhận là đúng.

Trong nhóm 7 người trốn trại, cùng với Dengler, còn thêm được 2 người sống sót là Eugene DeBruin, người Mỹ, và Phisit Intharathat, người Thái.

***

Trung úy Dieter Dengler được đưa về Hoa Kỳ để điều trị và phục hồi sức khoẻ. Sau này ông được thăng thưởng huy chương Navy Cross, Distinguished Flying Cross, Purple Heart, Air Medal. Ông được huấn luyện để trở thành phi công lái máy bay phản lực. Sau thời gian phục vụ, hài lòng với nghĩa vụ, ông chuyển sang làm phi công cho hãng hàng không dân sự Trans World Airlines. Năm 1977 ông có trở lại Lào, được đón tiếp long trọng và được đưa tới thăm lại nơi trại giam mà ông đã bắt đầu một cuộc trốn trại lịch sử trong đời ông.


Dieter Dengler mất ngày 7 tháng Hai năm 2001, lễ an táng được cử hành trọng thể tại nghĩa trang Quốc Gia Arlington National Cemetery tại Hoa Thịnh Đốn. Trong buổi tiễn đưa ông, 3 chiếc máy bay F-5 lượn ba vòng trên vòm trời nghĩa trang để tiễn người cựu phi công can trường lần cuối.


Nguyễn Thị Mão