Thursday, March 26, 2026

Truyện Ngắn Thái Bá Tân


 

TIÊN SƯ THẰNG CHIẾN TRANH

Một cô thanh niên xung phong bị phát hiện đang lén lút làm cái việc “tự sướng” bên con suối nhỏ sâu trong rừng.

Suốt ba đêm liền, từ sau bữa ăn tối cho đến gần sáng, cô bị đồng chí của mình, toàn nữ, kiểm điểm gay gắt và không ngớt lời sỉ vả. “Ghê tởm, thật ghê tởm!” “Một biểu hiện suy đồi đạo đức!” Một hành động bêu xấu hình ảnh người chiến sĩ cách mạng, đi ngược với lý tưởng và lối sống cách mạng tốt đẹp!” “Xử bắn con đĩ tư sản thối nát ấy đi!”. Vân vân.

Sang ngày thứ tư, không chờ đồng đội xử bắn, “con đĩ tư sản thối nát” ấy đã treo cổ tự tử trên cành cây bị bom chặt đứt một nữa.

Chủ trì và cũng lớn tiếng sỉ vả nhất trong ba đêm đấu tố ấy là cô Duyên. Đơn giản vì cô là đội trưởng đội thanh niên xung phong ấy. Duyên là người làng tôi, thậm chí suýt thành chị dâu, nếu anh trai con ông bác tôi không hy sinh ở Quảng Trị năm 68. Tự cô kể tôi nghe chuyện này khi hết chiến tranh trở về nhà.

“Tội nghiệp nó! Người ta bảo thì bọn chị phải làm thế chứ thương lắm!” cô nói, rơm rớm nước mắt. “Khối đứa như nó. Chị biết”.

“Cả chị?” tôi hỏi.

Ngập ngừng một lúc, chị nói, giọng thách thức:

“Thì sao? Chị không là người chắc? Cả bầy con gái thui thủi một mình trong rừng không một mống đàn ông suốt mấy năm trời! Đơn vị chị thì không, nhưng nghe nói ở Đrao, Tây Nguyên, có mấy chục đứa phát cuồng, lúc ôm nhau cười mãi không thôi, lúc xé hết quần áo kéo chạy tồng ngồng gữa rừng như những con điên.
Mắt chị lại rưng rưng.

Về làng được bốn năm, do lỡ thì, và cũng do chẳng còn đàn ông nào nữa mà lấy, chị Duyên xuống tóc đi tu, ở ngay Chùa Mít bên sông Bùng. Vợ chồng bác tôi thương lắm, nhưng chẳng can ngăn. Trong thâm tâm hai cụ vẫn coi chị là con dâu. Có người nói chị bị ai đó trên tỉnh lừa tình. Chuyện này thì tôi không rõ, mà cũng chẳng quan trọng. Tôi chỉ thấy ngỡ ngàng, thậm chí đau nhói trong ngực khi hình dung chị dâu hụt của tôi, - một người xinh đẹp, yêu đời, từng nhiều năm làm đội trưởng đội văn nghệ xã, - lại tự nguyện giam mình trong ngôi chùa hiu quạnh, đổ nát, với bộ quần áo màu nâu nhà Phật. Mấy ngày sau, tôi đến tìm chị, định hỏi cho ra chuyện, nhưng tôi đã không vào chùa khi đứng từ xa nhìn thấy chị đang thẫn thờ đưa chổi quét đi quét lại cái sân vốn đã sạch.

Lặng lẽ ra về, tôi cố lý giải mà không lý giải nỗi cái gì đã biến một cô gái tươi vui, hồn nhiên, tràn trề hạnh phúc và xứng đáng được hưởng hạnh phúc thành một người yếm thế, bất hạnh như vậy.

Chiến tranh? Phải chăng đây là cái giá của chiến tranh?

Bẵng đi nhiều năm, tôi lại vào chùa Mít.

Nó vẫn thế. Hai cây nhãn trước chùa vẫn thế, và vẫn thế, chúng không chịu cho quả.

Đang vắng người, tôi vào thẳng phòng riêng sư trụ trì, sư thầy Đàm Duyên. Sư thầy chứ không phải sư cô như ngày nào.

“Chào chị Duyên,” tôi lên tiếng, không hiểu sao còn cố tình nói to.

“Mô phật. Xin xưng hô với kẻ tu hành này theo đúng cách của nhà phật. Chào chú.”

Đứng chắp tay trước mặt tôi, đầu hơi cúi, là một bà già nhỏ bé, khô đét và không còn tí dấu vết nào của cô Duyên ngày xưa cũng như sư cô Đàm Duyên sau đó tôi gặp. Nét mặt bà không chỉ vô cảm mà bất động như được nặn bằng sáp. Cái đầu trọc bóng loáng cũng có lớp sáp nhờn nhợt ấy.

Bất giác, tôi chợt nghĩ: “Nếu không trọc, không biết tóc chị sẽ bạc đến đâu?”

“Chị khỏe chứ?”

“Mô phật.”

“Người ta nói nay mai chùa Mít bị đập bỏ để xây đường lớn lên Đô Lương và sang Lào?”

“Mô phật,” và chị khẽ cúi đầu.

“Thế chị và mọi người đi đâu?”

Sư thầy Đàm Duyên không đáp. Chất sáp trên mặt và cái đầu trọc của bà càng trở nên rõ nét hơn. Hình như bà đang khóc, dù đôi mắt sâu vô hồn vẫn ráo hoảnh.
Lát sau tôi bỏ về, vô cớ hậm hực với ngôi chùa tội nghiệp sắp bị phá bỏ, với hai cây nhãn xum xuê mà không chịu cho quả. Với cả chính tôi vì mãi vẫn lấn cấn tìm lời giải thích cho số phận chị dâu mình và những người như chị.

Chiến tranh! Ừ, chiến tranh! Tiên sư thằng chiến tranh!

Tôi thấy có cái gì nghèn nghẹn trong cuống họng, muốn văng tục chửi ai đó, đập phá cái gì đó mà không được. Chửi cái thằng gây ra chiến tranh chẳng hạn. Tiên sư thằng gây ra chiến tranh!

Đừng nói với tôi về chiến tranh bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa. Tôi đã đủ khôn lớn để hiểu rằng cái cuộc chiến tranh ấy, nếu quả là bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa như người ta nói, cũng chẳng là gì nếu nó là thủ phạm của hàng triệu cái chết dân Việt, hàng chục triệu cuộc chia ly đau đớn, thủ phạm của một sự đảo lộn triệt để các giá trị truyền thống dân tộc. Nó trở thành nhảm nhí khi vì nó các cô gái của chúng ta phải “tự sướng” và tự treo cổ, khi một người trẻ trung, tươi vui và tràn trề nhựa sống như chị Duyên của tôi phải biến thành một hình sáp vô hồn.

“Ừ, mà nếu không cạo đầu, tóc của chị sẽ bạc đến đâu nhỉ?”

14. 11. 2011

https://www.facebook.com/tan.thaiba/posts/846396622127281

 

CÔ GÁI MÙ 

Đó là một cô gái xinh đẹp, nhỏ nhắn, với chiếc cổ trắng thon dài, mái tóc xoăn tự nhiên có màu nâu vàng nhạt, chắc cũng tự nhiên. Khuôn mặt cô hao hao giống Đức mẹ Đồng trinh ta thường thấy trong nhà thờ. Ở cô toát lên một sự hiền dịu và sạch sẽ đến mức thánh thiện.

Chỉ tiếc cô mù. Cũng có thể vì mù, không phải chứng kiến bao cảnh bẩn thỉu của cuộc đời nên cô có được sự hiền dịu và sạch sẽ thánh thiện ấy.
Tiếc nữa là cô nghèo, và phải tự kiếm sống nuôi mình.

Hàng ngày, từ sáu giờ sáng người ta đã thấy cô ngồi bán hoa bên cột đèn điện ở góc một con phố nhỏ yên tĩnh. Con chó bé xíu màu vàng dắt cô đi về hàng ngày ngồi bên, hếch mõm, nghiêng đầu nhìn mỗi lần có khách dừng lại mua hoa. Nó khôn lắm, chăm chăm nhìn khách đếm tiền, và biết sủa hai tiếng chép chép khi khách quên hay chậm thanh toán.

Khu phố này nghèo, người dân lam lũ, nhưng vì hoa rẻ và chắc muốn giúp cô gái mù dễ thương nên người ta vẫn mua hoa của cô. Nhiều người cẩn thận chọn hoa, trả tiền xong lại lặng lẽ đặt vào chỗ cũ. Cô gái không nhìn thấy, chỉ mỉm cười cảm ơn. Con chó thì biết, nhưng nó im, ngoe nguẩy cái đuôi ngắn tũn. Cây cột điện bê tông đầy giấy dán quảng cáo và những dòng chữ bậy bạ đỡ trơ trẽn hơn nhờ nó. Nhờ chủ nó, người dân ở đây, trong đó có vợ chồng tôi, hình như cảm thấy đời đẹp hơn và ấm áp hơn chút ít.

Mọi việc cứ thế đều đều diễn ra, lặng lẽ, bình dị và quen thuộc.

Bỗng một hôm không thấy cô gái mù bán hoa cùng con chó nhỏ của cô. Hôm sau mọi người nhốn nháo bàn tán. Hôm sau nữa thì cả phố xếp hàng đưa tang cô. Cô gái xinh đẹp, tội nghiệp ấy đã bị ai đó cưỡng hiếp rồi giết chết, vứt xác xuống hồ Thanh Nhàn ngay giữa trung tâm thành phố.

Vợ chồng tôi theo đám đông cùng lặng lẽ đưa tiễn cô. Mọi người cúi mặt bước đi, xấu hổ với cảm giác bất lực không bảo vệ được cô khỏi cái ác đang ẩn nấp đâu đó ngay trong cộng đồng mình. Sao người ta nỡ cướp đi mạng sống của một thiên thần vô hại như cô? Sao người ta nỡ tước đi của chúng tôi một trong số những bông hoa hiếm hoi mang chút hơi ấm cho cuộc đời lạnh lẽo này?

Không còn cô, con phố trở nên vắng hẳn. Hình như rác bụi cũng nhiều hơn.

Không còn cô, con chó nhỏ trở thành chó hoang, để lại cây cột đèn bê tông một mình không bạn. Nó sẽ phải tự vật lộn kiếm sống, cạnh tranh với những con chó hoang như nó nhưng lọc lõi và độc ác hơn. Hơn nữa, nó còn phải luyện chạy thật nhanh, nhìn thật rõ để khộng bị người ta bắt làm thịt. Tội nghiệp nó. Nếu biết suy nghĩ và viết văn như tôi, liệu nó sẽ nghĩ và viết gì nhỉ?

Ai đó đặt chiếc bàn thờ nhỏ bằng gỗ ọp ẹp lên chỗ cô gái mù vẫn hàng ngày thường ngồi bán hoa. Trước nén hương nghi ngút khói là hoa, rất nhiều hoa màu trắng.

Cô trao cho đời những bông hoa đẹp đủ màu, giờ nhận được chỉ toàn hoa màu trắng.

16. 11. 2011

 

NHỤC 

Hay tin, ông bỏ cả việc đang làm giở ở Sài Gòn, vội vàng bay ra Hà Nội.

Vừa đặt va-li xuống nền nhà, ông cao giọng hỏi vợ:

“Làm sao mà người ta trả lễ?”

“Vì con ông làm công an.”

“Công an thì sao mà trả lễ?”

“Ông đi mà hỏi người ta ấy.”

“Nhưng trước đồng ý, người ta đã biết nó là công an rồi cơ mà?”

“Tôi biết đâu đấy. Sao ông cáu với tôi?”

“Nhục!”

*

Con trai ông và con gái gia đình ông giáo phố bên học cùng nhau từ bé rồi yêu nhau và định lấy nhau. Cả hai đều ngoan, lại môn đăng hộ đối, tưởng chẳng còn gì nữa phải bàn. Thế mà khi nghe tin con ông vào Học viện công an, gia đình ông giáo có ý ngãng ra. May hai đứa yêu nhau thực sự nên cuối cùng cũng xuôi xuôi, và tuần trước họ đã đồng ý cho làm lễ dạm hỏi. Thế mà bây giờ... Trả thì trả, thành phố này thiếu gì con gái! ông nghĩ. Đành là thế, nhưng ông thấy bị sĩ nhục. Một gia đình như ông, với một thằng con hiền lành, tử tế như con ông mà bị trả lễ thì thật nhục. Hàng xóm sẽ khối anh được dịp đơm đặt.

Tối đến, ông gọi riêng con trai ra một chỗ, hỏi chuyện.

“Lý bảo bố mẹ cô ấy lần này làm căng, dứt khoát không chịu.” Anh con nói.

“Vì sao?”

Anh ta im một lúc mới đáp:

“Vì có ai đó nhìn thấy con hôm công an dẹp vụ cưỡng chế đất ở Cống Bầu.”

“Con ở đấy thật à?”

“Vâng.”

“Tưởng con lính văn phòng không phải làm những việc đó...”

“Bây giờ cần là người ta điều hết.”

“Thế con làm gì ở đấy?”

Anh con ngước mắt nhìn bố, vẻ ngạc nhiên:

“Làm những việc công an phải làm với bọn phản động. Bọn bị các thế lực thù địch kích động làm loạn...”

Đến lượt ông bố dướn mắt ngạc nhiên:

“Con có đánh người ta không? Thậm chí nổ súng?”

“Con thì không, vì chưa cần.”

“Còn nếu cần?”

Anh con không trả lời.

“Hôm dẹp mấy vụ biểu tình chống Tàu con có tham gia không?

“Có.”

“Có đánh ai không?”

“Không. Chỉ xô đẩy. Mà bố hỏi kỹ thế làm gì nhỉ? Đấy là việc của con. Nhiệm vụ của chúng con là bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân.” Anh con thậm chí cao giọng, là việc xưa nay ông chưa từng thấy, vì nó vốn là đứa hiền và ngoan nhất nhà.

Rồi anh ta nói thêm:

“Trước bố đi bộ đội, cũng để bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước và nhân dân như con bây giờ thôi. Việc bố xưa bố làm. Việc con nay con làm. Thế cả.”

Ông thấy vương vướng trong cuống họng.

“Không, khác hẳn. Xưa bố đánh giặc, đánh Mỹ. Nay chúng mày đánh nhân dân. Xưa nhà nước lấy đất người giàu chia cho người nghèo. Giờ thì ngược lại.”

Ông định nói thế. Thậm chí định tát và mặt thằng con của mình, nhưng nghĩ thế nào, ông im lặng bỏ vào phòng mình.

*

Ông nằm ngửa, mắt nhìn trân trân lên trần nhà.

Vậy là con ông đã thay đổi. Trong nhà với bố mẹ có thể nó vẫn như xưa, nhưng ra ngoài thì đã khác. Mà chỉ sau mấy năm học ở trường cảnh sát. Người ta đã dạy cho nó những gì nhỉ? Chắc các ông thầy ở đấy phải giỏi lắm mới thuyết phục được nó tin mấy ông bà nông dân chân đất mắt toét và mấy vị trí thức già yêu nước là phản động để xô đẩy và đánh họ. Hay đạp vào mặt họ. Hay thậm chí có thể bắn họ. Lúc nãy nó chẳng bảo “chưa cần” đấy thôi.

Láo! Nhục!

Hôm sau, ông nhẹ nhàng bảo vợ:

“Thôi, bà ạ. Người ta đã muốn thế thì mình cũng im đi cho xong. Chắc họ phải có lý do của họ. Nhục cũng phải chịu chứ biết làm thế nào.”

Bà vợ ông chỉ hiểu chữ “nhục’ theo nghĩa bẽ bàng với hàng xóm chứ không biết ông hàm ý cái nhục khác còn lớn hơn.


Thái Bá Tân

Xoài Bằm Nước Mắm Cá Chiên, Món Ngon Gợi Nhớ Về Miền Quê Hương - Đặc Sản Miền Sông Nước

Wednesday, March 25, 2026

Bún Thang - Đỗ Duy Ngọc


Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Trung, cho nên đến năm rời Đà Nẵng đi vào Sài Gòn kiếm con chữ, tôi chưa hề được thưởng thức món bún thang. Tôi được biết món ăn này qua sách vở, qua những đoạn văn của các nhà văn miền Bắc và chưa được nếm mùi vị của bún thang. Bởi miền Trung không có bún thang.


Đến năm 20 tuổi, quen một cô gái Bắc chính gốc Hà Nội di cư vào Nam năm 1954, ở Sài Gòn khu Trương Minh Ký, tôi mới được lần đầu tiên thưởng thức món ăn này. Đã hơn nửa thế kỷ rồi, tôi vẫn không quên bữa ăn hôm ấy. Một căn nhà bài trí đơn giản nhưng thẩm mỹ, một gia đình vẫn giữ được nét đẹp tinh tế và nề nếp của người Hà Nội xưa.

Sau này xem phim Mùi đu đủ xanh của đạo diễn Việt kiều Pháp Trần Anh Hùng, không hiểu sao tôi có cảm giác ngôi nhà trong phim sao rất giống ngôi nhà tôi đã từng đến ăn món bún thang đầu tiên. Dù biết rằng “Mùi đu đủ xanh” được quay tại Paris, Pháp, cụ thể là ở trường quay Bry, số 2 đại lộ Europe, Bry-sur-Marne, Val-de-Marne. Bối cảnh phim là Sài Gòn những năm 1950, việc tái hiện lại khung cảnh Việt Nam đã được thực hiện trên phim trường ở Pháp.

Bát bún thang được dọn ra trong sự háo hức, nóng lòng chờ đợi của tôi. Cảm giác đầu tiên của tôi là bát bún thiếu màu sắc, chỉ toàn màu nhạt điểm màu phơn phớt đỏ của tôm và màu xanh của hành hoa, ngò gai và màu nâu của nấm. Có vẻ không hấp dẫn lắm.

Các nguyên liệu được xếp theo hình vòng tròn trên mặt bát: trứng, giò, thịt gà, ruốc tôm, củ cải, nấm… như những nét cọ đều đặn trong một bức tranh màu trung tính, không rực rỡ, không mập mờ mà ngăn nắp, nhã nhặn, đậm chất Hà thành. Bún rối sợi nhỏ nằm dưới, nước dùng chan ngập nhưng không lấn át. Cạnh mỗi bát bún kèm chút mắm tôm đánh loãng như thêm một nốt nhạc. Và cuối cùng là vài giọt tinh dầu cà cuống, là điểm nhấn khó lẫn. Bạn tôi nói nhỏ với tôi: Mùi thơm nồng nàn, sâu và gợi cảm này có thể khiến người chưa quen cảm thấy kỳ lạ, nhưng với người Hà Nội gốc, đó là mùi của quê nhà.

Bà cụ nội của bạn gái tôi, răng đen, đầu vấn khăn nhung, cổ đeo chuỗi ngọc xanh, giải thích nguồn gốc và thành phần của món bún thang. Theo bà, từ xa xưa người Hà Nội đã có món canh thượng thang, một loại nước dùng nấu rất công phu, thường xuất hiện trong những dịp đặc biệt của gia đình. Và rồi, sau những ngày Tết với nhiều món ăn, còn lại một phần con gà luộc, một khoanh giò, vài quả trứng, chút nấm thừa, những món còn lại ấy làm nên món bún thang.


Có giả thuyết cho rằng, chữ “thang” vốn có nghĩa là canh, là nước dùng, nhưng cũng có thể ám chỉ thang thuốc Bắc, với nhiều “vị” quyện lại như một cách ẩn dụ cho sự hòa quyện khéo léo của bún thang: ít mà đủ, nhẹ mà sâu. Cụ còn bảo bát bún thang truyền thống thường cần đến gần 20 nguyên liệu, trong đó ba thành phần chính làm nên cấu trúc màu đặc trưng là “tam vàng tam bạch”. Tam bạch là thịt gà xé, giò lụa thái sợi, bún sợi nhỏ. Tam vàng: trứng tráng mỏng thái chỉ, ruốc tôm (hoặc ruốc thịt), vài sợi nấm hương khô hoặc củ cải ngâm chua.

Mỗi thứ một ít, nhưng đòi hỏi tay nghề tinh tế: trứng phải tráng mỏng như lụa, giò phải đều mặt cũng thái mỏng lét như gió thổi muốn bay, thịt gà luộc vừa tới để xé không nát. Chỉ riêng việc thái chỉ các nguyên liệu cũng là một bài học về tính kiên nhẫn và thẩm mỹ.

Điều làm nên “phần hồn” của bún thang là nước dùng, thường ninh từ xương gà, xương ống heo, thêm tôm he khô hoặc sá sùng để tăng độ ngọt thanh, cùng hành nướng và gừng cho thơm. Màu nước trong veo như pha lê, nhưng vị ngọt lại có chiều sâu như thể đọng lại từ bao lớp hương.

Nghe bà nói, tôi tưởng tượng chắc hương vị của món ăn này phải ngon lắm, đậm đà lắm, hấp dẫn lắm. Cụ lại bảo món này phải ăn chậm, phải nhâm nhi từng vị, từng mùi, từ cái ngọt âm thầm của nước dùng, cái béo nhẹ của trứng, cái giòn giòn mộc mạc của củ cải khô, cho tới mùi cà cuống vấn vít đầu lưỡi.

Nhưng tôi hơi thất vọng, dù cũng cố gắng ăn rất chậm, nhâm nhi đúng nghĩa. Vẫn thấy nhàn nhạt, thiêu thiếu một cái gì đó không nghĩ ra, có lẽ vì quen khẩu vị đậm đà của ruốc, cay nồng của ớt bột, đậm đà và kiểu chém to kho mặn của quê tôi chăng.

Khi mẹ của bạn tôi biết tôi lần đầu tiên ăn món này liền hỏi tôi có thấy ngon không. Tôi bảo: Dạ…, câu trả lời của tôi chưa dứt thì nghe có tiếng ly vỡ, cậu bé em bạn tôi làm rơi chiếc ly. Cũng may tôi chưa nói hết ý, vì câu trả lời trung thực của tôi là: Chưa thấy ngon, chỉ thấy cầu kỳ, ngăn nắp, tinh tế và kiểu cách. Tôi tự trách khẩu vị của mình chưa đủ tinh để nếm được cái ngon của nó.


Cách đây ba mươi năm, có dịp ra Hà Nội, tôi được người bạn đưa đến nhà hàng Ánh Tuyết, số 25 phố Mã Mây, phường Hàng Buồm, Hoàn Kiếm, Hà Nội của nghệ nhân Ánh Tuyết, người được ca ngợi bằng nhiều mỹ từ như Đầu bếp nguyên thủ, Cuốn sách sống ẩm thực, Đệ nhất ẩm thực Hà Thành,… Tôi lại được khoản đãi bún thang. Tô bún này trông cầu kỳ hơn bát bún tôi ăn lần đầu tiên. Lại do một nghệ nhân ẩm thực khét tiếng Hà Nội thực hiện. Nhưng bực thay, tôi vẫn chưa thấy ngon. Chán thế chứ!

Mấy năm trước, cũng lại một cô bạn gái mời đến nhà ăn bún thang. Cô này có cha người miền Tây tập kết ra Bắc, mẹ chính gốc Hà Nội, cô được sinh ra và lớn lên ở Hà thành. Cô nấu được nhiều món ăn xứ Bắc. Tôi cũng chưa thấy hết cái ngon của món ăn tỉ mỉ này. Tuy thế, do đã có thêm nhiều tuổi rồi nên ăn nói khéo hơn chút, vì vậy tôi vẫn khen ngon cho bạn vừa lòng.

Có người kết luận rằng: “Bún thang không cầu kỳ như những món cung đình, cũng không hồn nhiên như bún riêu hay bún mắm. Nó là sự giao thoa giữa tiết kiệm và sang trọng, giữa thói quen và nghi thức. Ăn bún thang là học cách sống chậm, nhìn kỹ, và biết trân trọng từng chi tiết nhỏ, như cách người Hà Nội xưa đã từng sống và nấu.”


Vậy mà buồn thay, tôi, vốn là người rất mê món ăn Việt, nhất là những món ăn Hà Nội, đến giờ này đã đến tuổi U80 vẫn chưa thấm được cái ngon của món bún thang. Người Hà Nội thường cho rằng có ba món ăn tiêu biểu của Hà Nội, đó là phở, bún chả và bún thang. Tôi là tín đồ của phở, công nhận không có phở ở đâu ngon bằng phở Hà Nội. Bún chả cũng có lẽ thế tuy tôi không mê món này lắm.

Nhưng bún thang thì xin lỗi, tôi vẫn chưa công nhận là ngon. Nhà quê thế đấy. Các bạn Hà Nội của tôi đừng buồn tôi nhé! Cũng do khẩu vị thôi mà. Có thể vì vậy mà phở và bún chả đã đổ bộ vào tràn ngập Sài Gòn, nhưng bún thang vẫn còn vắng mặt.

 

Đỗ Duy Ngọc

Đi Ăn Xin...

 

Hình trước ca tòa Tng lãnh s M  Sài Gòn, ngày nào cũng vy ,dòng người không thay đổi mà ngày càng dài hơn. Ở tòa Đại S M  Hà Ni cũng vy, xếp hàng xin đđông hơn quân Nguyên .

🤣🤣🤣🤣

Hết tết rđi xếp hàng li thôi .

Bn con cháu các quan: mõm thì sa M ,bng thì chi ....CS

🤣🤣


Thanh Loan chuyển 

Mối Tình Già - Hoàng Hải Thủy

 

Ông bà George Sanders


Người sống lâu bị nhục nhiều. Ông cha tôi – các ông Việt ngày xưa – hay dùng thành ngữ “Đa thọ đa nhục.”

Tôi không cho là người già bị nhục. Tôi thấy người ta càng nhiều tuổi càng khổ. Khổ vì không còn hưởng thụ gì được sự đời mà phải chịu những bệnh tật do già yêú sinh ra: Người già không tự lo được cho thân mình, mắt mờ, tai điếc, trí nhớ mất, sống nhờ người khác. Người già vua chúa hay cùng đinh, tỷ phú hay anh nghèo rớt một xu dính túi không có, kẻ quyền uy chấn động thế giới một thời hiển hách hay anh phó thường dân cả đời cơm nhà, quà vợ, khi tuổi già đến đều có những nỗi khổ như nhau.

Người ta qua 60 tuổi được kể là già. Ở Việt Nam những năm 1940-1950 người 50 tuổi được gọi là cụ. Khổng Tử chỉ nói về Người đến tuổi 70: “Thất thập nhi tùy tâm sở dục.”
Tôi nghĩ ông muốn nói : “Người bẩy mươi tuổi muốn làm gì thì làm..” Nhưng người bẩy mươi tuổi còn làm gì được nữa. Người bẩy mươi cả Bốn Tứ Khoái đều không hưởng được, không làm được.
Năm nay – 2013 – tôi tám mươi tuổi. Một ngày đầu Xuân Kỳ Hoa Đất Trích 2013, tôi viết bài này.
Năm 2000, khi chia tay nhau lúc nửa đêm ở trước một Nhà Dành cho Người Già Thu Nhập Thấp – Housing for Old Seniors Low Income – ở San Jose, ông bạn già của tôi nói:
“Đọc những bài viết của toa để nhớ, để thương Sài Gòn của chúng ta.”
Ông cầm tay tôi:
“Viết. Viết nữa. Viết đến năm toa tám mươi. Viết cho bọn moa đọc.”


Đêm mùa đông San Jose lạnh giá bao quanh chúng tôi khi chúng tôi từ biệt nhau, chúng tôi bắt tay nhau lần cuối.
Năm 2000 tôi 68 tuổi. Ông bạn HO già hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi không biết hôm nay ông còn ở cõi đời này hay không. Thời gian và không gian làm chúng tôi không biết nhau sống chết ra sao. Tám mươi tuổi tôi vẫn viết. Tôi không còn viết phóng tác truyện dài. Tôi viết những bài như bài này.
Thời gian Sống, Yêu và Viết của tôi không còn bao lâu nữa, nên với nỗi Buồn vì phải xa mãi những người tôi yêu thương, hôm nay tôi viết những dòng chữ này.
o O o

Tôi bị ám ảnh bởi cái Chết, tôi ghét Chết, tôi sợ Chết, tôi không muốn Chết. Không phải bây giờ trong tuổi già, tuổi gần đất, xa trời, tôi mới sợ Chết, tôi sợ Chết từ những năm tôi năm, sáu tuổi, khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ.
Nhà tôi ở cuối thị xã Hà Đông, nhà có lầu, tiếng Bắc là nhà gác, nhà hai tầng. Trên gác nhìn ra tôi thấy cánh đồng với những nấm mồ rải rác trong những ô ruộng, ở gác sau nhìn ra tôi thấy Nhà Thương Hà Đông và bãi tha ma ở cuối Nhà Thương. Những đêm mưa tôi thấy những chấm lửa lập lòe trong bãi tha ma. Về sau tôi biết đó là những ánh đèn của những người đi soi bắt ếch. Những năm xưa ấy tôi tưởng đó là những đốm lửa ma trơi.
Năm tôi năm, sáu tuổi, mẹ tôi 27, 28 tuổi. Tôi sợ mẹ tôi chết, người ta đem mẹ tôi ra chôn ở ngoài đồng. Mẹ tôi phải nằm một mình giữa cánh đồng vắng, lạnh, cô đơn, nơi mẹ tôi nằm ngập nước, đêm đông, mưa phùn, gió bấc, mẹ tôi khổ biết chừng nào..
Đó là nguyên nhân thứ nhất làm tôi ghét Chết, tôi sợ Chết.
Mời bạn đọc một chuyện Sống, Yêu và Chết tôi thấy trên Internet. *

Trong phiên xử ở Tòa Án Phoenix, Arizona, bị cáo là Ông George Sanders, 86 tuổi, bị xử vì tội giết vợ. Tất cả mọi người có mặt tại toà, từ công tố viên đến chánh án, kể cả con cháu của kẻ bị cáo, đều thấy bị cáo phạm tội giết người, nhưng tất cả đều cho rằng đây là trường hợp pháp luật nên thông cảm, thương hại, tha thứ hơn là trừng phạt kẻ có tội. Anh cháu của bị cáo George Sanderss nói trước tòa:
“Ông tôi sống để thương yêu bà tôi. Suối đời ông tôi làm mọi việc để bà tôi có hạnh phúc. Mối tình của ông bà tôi là mối tình lớn. Tôi tin ông tôi bị bắt buộc phải làm việc ấy vì yêu thương bà tôi, bà tôi chịu đau quá nhiều rồi, ông tôi không thể để bà tôi chịu đau nhiều hơn nữa. “

Ông Sanders bị bắt Tháng Bẩy năm 2012 sau khi ông nói với cảnh sát bà Virginia, vợ ông, 81 tuổi, xin ông làm bà chết. Vì ông Sanders nhận tội nên toà án không dùng đến đoàn bồi thẩm, nhưng ông vẫn có thể bị kết án đến 12 năm tù. Bà Virginia bị bệnh nan y năm 1969, bà liệt bại, bà phải ngồi xe lăn. Năm 1970, ông bà sang sống ở Arizona vì khí hậu ở đây ấm nóng. Ông Sanders là Cựu Chiến Binh Thế Chiến II. Ông là người nuôi và săn sóc bà vợ. Ông nấu ăn cho bà, làm mọi việc trong nhà. Mỗi sáng ông giúp bà trang điểm, mỗi tháng ông đưa bà tới Nhà Thẩm Mỹ để bà làm tóc, làm móng tay. Năm tháng qua, sức khoẻ của ông Sanders suy mòn. Ông phải đặt máy trợ tim, ông không còn săn sóc chu đáo được bà. Rồi bà Virginia bị ung thư phá ra ở chân, bà phải vào một Nursing home để người ta lo cho bà sống qua những ngày tàn cuối đời. Ông Sanders nói với những viên chức điều tra:
“Đây là giọt nước làm tràn ly nước. Virginia nhất quyết không chịu vào Nursing home. Vợ tôi tự cắt những ngón chân bị ung thối.” Ông nói: - “Vợ tôi xin tôi cho bà ấy chết. Tôi nói tôi không thể.” Vợ tôi nói:
“Anh làm được mà. Em biết anh làm được.”

Sanders cầm khẩu súng lục, ông lấy khăn bông quấn ngoài khẩu súng, nhưng ông không sao bóp cò súng được. Ông kể:
- “Vợ tôi nói: “Bắn đi anh. Cho em đươc chết.” Tôi nói lời cuối với vợ tôi:
“Em sẽ không cảm thấy đau.” Và:
“Anh yêu em. Vĩnh biệt em” Tôi nổ súng.”
Trước toà, người con trai của ông Sandsers nói:
- “Tôi muốn quí toà biết rằng tôi yêu thương mẹ tôi, tôi cũng yêu thương bố tôi như thế.” Steve Sandes, anh con, nghẹn ngào kể:
- “Bố tôi yêu thương mẹ tôi trong 62 năm. Những đau đớn thể xác và việc chịu đau vô ích đã làm bố mẹ tôi đi đến quyết định ấy... Tôi không kết tội bố tôi. Với tôi, bố tôi là người, tôi cảm 
phục nhất.”

Ông già George Sanders chỉ nói trong khoảng một phút, giọng ông run run:
“Tôi gặp Viginia năm nàng 15 tuổi, tôi yêu nàng từ năm nàng 15 tuổi. Tôi yêu nàng khi nàng 81 tuổi. Có nàng làm vợ là một ân phúc Thiên Chuá ban cho tôi. Tôi sung sướng được chăm sóc nàng. Tôi làm theo ý muốn của nàng. Tôi xin lỗi các vị vì vợ chồng tôi mà các vị phải bận lòng.”
Ông Công tố đề nghị ông Chánh án không phạt tù giam George Sanders, ông nói toà nên xử án treo. Ông Chánh án John Disworth nói ông đặt nặng tình nhân đạo trong vụ án này. Ông nói:
- “Bị cáo phạm tội giết người, nhưng được toà giảm nhẹ mức án.”
Ông tuyên phạt ông già George Sanders 2 năm tù treo. Tù treo không bị cảnh sát kiểm soát.

o O o

Chuyện ông bà Sanders làm tôi suy nghĩ lan man. Tôi nhớ chuyện Cái Bát Gỗ tôi đọc những năm tôi 10 tuổi. Anh con thấy ông bố già run tay, khi ăn hay đánh rơi bát cơm, bát vỡ. Anh làm cái bát bằng gỗ cho ông già ăn cơm. Ông có làm rơi bát, bát gỗ không bị vỡ.

Một hôm anh thấy thằng con nhỏ của anh hí hoáy đục đẽo một cục gỗ, anh hỏi nó đục gỗ làm gì, con anh nói:
- “Con làm cái bát gỗ, để khi bố già, con cho bố ăn cơm.”
Chuyện – dường như – ở trong sách Quốc Văn Độc Bản – đã 70 năm tôi không quên nó – nó đây là chuyện cái Bát Gỗ – nhưng chẳng có dịp nào tôi nhớ nó. Hôm nay tôi nhớ nó.

Từ sau năm 1975 ở Hoa Kỳ, Nhà Xuất Bản Xuân Thu in lại tất cả những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư. Nhưng sách Quốc Văn Độc Bản – sách có nhiều bài thật hay – thì không thấy in lại. Tôi không biết tại sao Quốc Văn Độc Bản không được in lại ở Hoa Kỳ. Tôi đã đọc lại tất cả những sách Giáo Khoa Thư được in lại ở Hoa Kỳ, tôi muốn đọc lại những bài trong Quốc Văn Độc Bản.
Tôi nhớ lâu rồi, từ những năm 1950 khi tôi chưa gặp Tình Yêu Vợ Chồng, tôi đọc trên trang sách nào đó lời một ông Tầu viết:
- “Vợ chồng như hai con chim tình cờ cùng đậu trên một cành cây. Đến lúc phải bay đi, mỗi con bay đi một phía.”


Năm xưa còn trẻ, tôi muốn phản đối lời diễn tả trên. Ông Tầu muốn nói vợ chồng là chuyện ngẫu nhiên, chẳng có tình nghĩa gì giữa vợ và chồng. Hôm nay tôi mới dịp viết ra lời phản đối.
Ông bác sĩ điều trị cho vợ chồng tôi mỗi tuần một ngày vào chẩn bệnh cho những ông bà già trong một Housing for Old Seniors – Housing này có nhiều ông bà già Mỹ trắng – ông nói:
- “Có những cặp vợ chồng về già không nhìn được mặt nhau.”
Lời kể của ông làm tôi buồn. Vợ chồng sống với nhau đến già, ở chung một nhà già – mỗi người một phòng – sắp ra nghĩa địa, sắp vào hũ sành mà thù hận nhau đến không nhìn mặt nhau?? Thù hận gì dữ dội đến thế? Những người ấy thật khổ.
Bát đại khổ não ghi "8 Nỗi Khổ Lớn" của con người:
Sinh, Lão, Bệnh, Tử: 4 Khổ ai cũng phải chịu.
Muốn có mà không có: Khổ 5
Có mà không giữ được: Khổ 6.
Yêu nhau mà không được cùng sống: Khổ 7.
Ghét nhau mà phải sống gần nhau: Khổ 8.
Có người chỉ phải chịu có 7 Khổ. Đó là những người không yêu ai cả.
Nhiều người Việt phải chịu cả 8 Khổ; đó những người thù ghét bọn Việt Cộng mà cứ phải sống với bọn Việt Cộng.


Mùa thu mây trắng xây thành.
Tình Em mây ấy có xanh da trời.
Hoa lòng Em có về tươi?
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?
Tôi làm bài thơ trên Tháng Bẩy năm 1954 ở Vũng Tầu, ngày chúng tôi yêu nhau. Cuộc Tình của chúng tôi đã dài trong 60 năm. Cuộc Tình Vợ Chồng, trong cuộc đời Tám Khổ này, nàng và tôi chỉ phải chịu có Bẩy Khổ.

Năm 1979 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, nhớ Nàng, tôi làm bài thơ:
Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu
Tình ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ?
Thời gian nào rộng cho vừa Tình ta.
Hoa lòng Em vẫn tươi hoa,
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai.
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em
Mặt trời có lặn về đêm,
Sớm mai Em dậy bên thềm lại soi.
Cuộc đời có khóc, có cười,
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay.
Thu về trời lại xanh mây.
Đầy trời ta thấy những ngày ta yêu.
Càng yêu, yêu lại càng nhiều.
Nhớ Em, Anh nhắn một điều: “Yêu Em.”

******
Năm 2013 tôi đổi hai tiếng trong bài thơ:
“Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Sáu mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.”


o O o
12 giờ buổi trưa tháng Sáu, 2012, Nàng bước hụt, ngã nhào qua bốn bực thềm cửa, nàng ngất đi. Ngồi bên nàng trong nắng trưa mùa hạ Virginia, chờ Ambulance đến, nước mắt tôi ưá ra.
Trong ICU – Ai Si Yu – Intensive Care Unit – tỉnh lại, nàng nói:
- “Xin Thiên Chúa tha tội cho em.”Tôi nói:
- “Em có tội gì. Mà Em có tội gì, thì Thiên Chúa cũng tha cho Em rồi.”

Nàng chỉ bị dập xương nên không bị mổ, không bị ghép xương, không phải bó bột. Về nhà nằm, uống Vitamin D, chờ vết xương nứt lành lại.
Tình trạng bi đát. Nhiều người nói người trẻ khi bị nứt xương mới mong vết xương nứt liền lại, người già 70 thì vô phương. Nếu vết xương nứt không lành, nàng sẽ phải nằm mãi trên giường.

Tôi hầu nàng ngày đêm. Gần như suốt ngày đêm, tôi xin Đức Mẹ Maria cho nàng đi lại được. Tôi chỉ xin Đức Mẹ cho nàng đi được từ giuờng ngủ vào nhà bếp, vào toilet, ra ngồi bàn ăn cơm, nàng tự tắm được.
Bộ Xã Hội cấp cho nàng đủ thứ nàng cần dùng: Xe đẩy, gậy chống, ghế để ngồi tắm.. Chuyên viên y tế – therapist – đến nhà mỗi tuần ba lần, giúp nàng ngồi lên, tập đi.
Một tháng sau nàng đi được.

o O o

Ba năm nay Nàng có tới ba, bốn lần đau nặng, hai ba lần nàng tự nhiên ngã. Một lần nàng hôn mê. Đêm khuya trong bệnh viện, nằm trên cái canapé nghe tiếng nàng thở khò khè, tôi nghĩ:
- “Tiếng thở này tắt là...” Tôi cầu xin:
- “Xin Đức Mẹ cho vợ chồng con được sống với nhau 5 năm nữa.”

Tôi không muốn tôi chết trước nàng, tôi không muốn nàng chết trước tôi.
Nàng chết trước tôi không biết tôi sống ra sao. Tám mươi tuổi, tôi sống với nàng 60 năm, tôi sống dựa vào nàng. Tôi sống bằng Tình Yêu của nàng.

Năm 1976 gặp lại nhau, Lê Trọng Nguyễn nói:
- “Tao không biết mày có đi được không. Tao cứ tưởng mày làm USIS là mày đi được. Hôm tao gặp thằng S. ở trong khu nhà mày, tao hỏi nó mày có đi được không? Nó nói mày không đi được. Tao kêu lên:
“Làm sao nó sống? Nó sống bằng gì? ” S. nó nói:
- “Nó sống bằng Tình Yêu của vợ nó.”
Người bạn cùng tuổi tôi – 80 – lấy vợ cùng năm với tôi – năm 1954 – vợ chồng anh cũng sống với nhau 60 năm, một sáng từ Cali anh gọi phone cho tôi báo tin vợ anh qua đời, tôi hỏi:
- “Đau lắm không?”

Đau thì tôi biết bạn tôi đau, nhưng tôi muốn biết anh đau đến ngần nào. Hỏi dễ, trả lời khó. Bạn tôi nói:
- “Đứt ruột, nát gan.”
Lần cuối tôi gặp ông Lê Văn Ba, ông hơn tôi 10 tuổi, ông nói với tôi:
- “Tôi nói với bà nhà tôi: Bà nên đi trước tôi là hơn, tôi đi trước bà, bà sẽ khổ lắm.”

Năm sau ông đi trước bà. Đứng bên quan tài ông, tôi nhớ lời ông nói.
Ông bạn HO có bà vợ bại liệt, ông phải đưa bà vào Nursing Home. Để bà ở lại ông một mình lái xe về. Dọc đường ông run tay lái, mắt ông mờ. Ông đậu xe bên đường, xuống đi bộ vài vòng lấy lại tinh thần. Khi trở lại tìm xe, ông quên không nhớ ông đậu xe ở đâu. Ông mở cellphone gọi ông bạn đến giúp.

o O o

Người đời chỉ nói “Good bye.”
“See You next week, next time” là cùng.
Đôi ta ngọc nữ, tiên đồng,
Đôi ta Từ Thức vợ chồng Giáng Hương.
Ngàn đời vẫn nhớ, còn thương:
Em yêu, đã đến cuối đường:
“Good bye.See You next Life./.
(the end)


 Hoàng Hải Thủy

Thuận An Nước Mắt - Đỗ Công Luân

Tuesday, March 24, 2026

Triết Lý Giáo Dục - Trần Xuân Thời

 

Sự học cần thiết cho cả đời sống tinh thần lẫn đời sống vật chất. Mục đích của giáo dục chẳng những để đào luyện con người trở nên giỏi giang về kỹ năng (skill) mà còn tạo cho con người trở nên cao thượng hơn. Hình tội học (criminology) chứng minh là đa số những người liên hệ đến tội phạm có trình độ văn hoá kém, hoặc thuở nhỏ không được giáo dục đúng cách. Vì thế người ta thường nói mở thêm một nhà trường sẽ giúp đóng cửa một nhà tù.”He who opens a school door, closes a prison” (Victor Hugo).

Đặc điểm của người có học vấn thường
(1)- Ít lo âu, vì người có văn hóa có thể tiên đoán được sự việc xảy ra và biết cách ứng phó. “Khi vui thì hãy vui nhưng đừng tự kiêu, khi tai họa đến thì phải lo nghĩ mà chớ buồn phiền”. Làm người phải biết tỉnh trí, đừng kinh, mới dễ dàng mưu sinh thoát hiểm. Nhân vô viễn lự, tắc hữu cận ưu”. Người mà không biết lo xa, tai họa ắt sẽ gần kề.


(2)- Thứ đến, người có học thường tránh được lầm lỗi, vì dễ nhận biết được phải, trái trong các quyết định dân sự hay phương cách bày binh bố trận ngoài chiến trường. Đặc điểm của xã hội dân chủ là khó có sự đồng nhất về tư tưởng vì tôn trọng đa nguyên, bá nhân, bá tánh. Tuy vậy, mặc dù phải, trái đôi khi không do chính mình quyết đoán mà được xét định theo tiêu chuẩn phổ quát hầu như được mọi tổ chức chính trị, tôn giáo, xã hội công nhận để tránh sự hỗn loạn. Đó là nguyên tắc đa số (majority rule), còn gọi là nguyên tắc tôn trọng ý chí chung. Ý chí chung (the will of the majority) được áp dụng để phân định khi có sự bất đồng ý kiến xảy ra. Quyết định chọn các vị lãnh tụ trong các hội đoàn, tổng thống trong các quốc gia tự do đều được tuyển chọn theo nguyên tắc đa số. Trong lĩnh vực tôn giáo như Đức Giáo Hoàng cũng được chọn theo nguyên tắc đa số. Vấn đề đúng, sai, do đa số quyết định. “What is right or wrong is being determined by the will of the majority” (John Locke), hoặc theo mẫu mực được truyền bá từ đời này sang đời khác qua phong tục, tập quán hay luật lệ chung của xã hội hoặc lấy quyết định giữa chốn đình trung như Hội Nghị Diên Hồng. Trên thế gian, chỉ có các nước độc tài đảng trị lạc hậu, không áp dụng nguyên tắc nhân dân tấn phong cấp lãnh đạo quốc gia qua các cuộc bầu cử tự do, như Trung Hoa, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam…

(3)- Thứ ba là người có học ít khi sợ sệt. “Úy thủ, uý vĩ", sợ đầu, sợ đuôi, làm gì cũng sợ.!. Sợ sệt thường do sự thiếu hiểu biết tạo nên. Những nhà độc tài sợ không khuất phục được quần chúng nên thường áp dụng biện pháp khủng bố. Sợ vì không biết cách giải quyết vấn đề hay sợ bị chống đối vì không tiên đoán trước được phản ứng của người khác.

Muốn sự phán đoán được công minh, một số tiêu chuẩn cần được lưu ý:

1) Vô ý: Xét việc, đừng lấy ý riêng, tư dục, mà phải xét theo lẽ phải hay lẽ thường tình (common sense).

2) Vô tất: Là không nên quyết đoán là việc đó làm được hay không làm được mà phải tạo cơ hội để thực hiện mới biết dễ hay khó. Không nên chủ quan bác bỏ những ý kiến hữu ích của tha nhân theo ý nghĩ thiển cận của mình mà phải biết chấp nhận thử thách.

3) Vô cố: Vô cổ tức là không cố chấp, phải biết nhìn xa hiểu rộng theo lẽ phải mà thi hành

4) Vô ngã: Vô ngã là quên mình, phải chí công vô tư để phục vụ nhân quần xã hội, hành sự theo lẽ phải, chứ không chỉ làm những việc có lợi cho cá nhân mình. (Luận Ngữ). “Nếu phải cân nhắc giữa công ích và tư lợi, quyền lợi cá nhân và quyền lợi của quốc gia, dân tộc thì kẻ trượng phu phải hy sinh quyền lợi cá nhân cho đại nghĩa.” (Khuất Nguyên).


Sách Luận ngữ có ghi sáu điều tai hại của sự thất học.
1) Người ham điều nhân mà không học thì bị cái hại là ngu muội
2) Người ham đức trí mà không chịu học thì bị cái hại là phóng đãng
3) Người trọng chữ tín mà không chịu học thì có cái hại là dễ bị lường gạt
4) Người thích sự ngay thẳng mà không chịu học thì hoá ra nóng nảy
5) Người dũng cảm mà không chịu học thì dễ biến thành phản loạn
6) Người cương quyết mà không chịu học thì hoá ra cường bạo.

Sự học nói chung không phải chỉ là đọc sách vở mà còn học hỏi qua công việc làm, thu thập kinh nghiệm, giải quyết mọi vấn đề liên quan đến đời sống hằng ngày.

1) Muốn học, trước tiên phải biết phục thiện, biết làm theo điều phải, không tự ái.”Bất sỉ hạ vấn”. Hỏi người nhỏ tuổi hơn mình hoặc người làm việc dưới quyền mình vẫn không cảm thấy hổ thẹn.

2) Phải có thiện chí, tìm hiểu và hỏi han. Khổng Tử khuyên môn sinh “Người nào không hỏi phải làm sao thì ta cũng chẳng có cách nào chỉ bảo cho họ được. Kẻ nào không hăng hái muốn hiểu thì ta cũng không thể giúp cho hiểu được. Kẻ nào không tỏ ý muốn hiểu biết thì ta cũng không thể giúp cho họ phát triển được. Ta vén lên một góc mà chẳng tự tìm được ba góc kia thì ta không giảng thêm nữa”.

3) Thượng Đế tạo nên nhân loại như những cây gỗ quý. Nếu không biết học hỏi thì gỗ quý sẽ biến thành gỗ mục. “Gỗ mục thì không chạm khắc lên được, cũng như vách bằng đất bùn thì không tô vẽ lên được”. Nói khác đi trí tuệ là viên ngọc, nhưng ngọc bất trác sẽ bất thành khí.

Phương pháp học hỏi hiệu nghiệm
1) “Nên nghe cho nhiều, điều gì còn nghi ngờ thì để đó, tìm hiểu thêm, để tránh cái hại là nói sai sẽ bị thiên hạ chê cười. Điều gì biết rõ ràng chắc chắn thì nên nói, nhưng cũng nên nói một cách ôn tồn”.

2) “Nên thấy cho nhiều, những gì thấy chưa được rõ thì để đó đừng làm. Còn những gì biết rõ thì cũng nên làm một cách cẩn thận, như vậy sẽ ít phải ăn năn.

3) Học hỏi được những điều hay lẽ phải cũng cần được áp dụng vào đời sống hằng ngày hay truyền thụ cho người khác. Nếu không, kiến thức sẽ trở thành mai một. Anh ngữ cũng có câu. “The knowledge or wisdom he has in his head is of no use to anyone unless he can communicate it to others”. Có kiến thức mà không áp dụng được vào đời sống hoặc không truyền thông được cho người khác thì kiến thức đó sẽ trở thành vô dụng, chẳng khác nào ăn vào mà không tiêu hoá.

Ở đời có ba hạng thức giả:

1) Không ai dạy mà biết được đạo lý. “Sinh nhi tri giả, thượng giả” là hạng siêu việt.
2) Có đi học mới biết được. “Học nhi tri chí giả, thứ giả” là hạng khoa bảng thường tình.
3) Dốt mà chịu học hỏi. “Khốn nhi học chi, hữu ký giả” là hạng có chí thì nên.
Ngoài ra những người dốt mà không chịu học là hạng “cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu”. “Khốn nhi bất học, ân tư vĩ hạ hỉ“.

Xã hội Tây phương cũng thường phân loại:

1) Professionals with great mind talk about ideas. Chuyên viên 
giỏi thường nêu lên sáng kiến.

2) Professionals with average mind talk about current events. Chuyên viên trung bình thường bàn những sự việc đang xảy ra và 


3) Professionals with small mind talk about people. Chuyên viên thường hay bàn về chuyện thế thái nhân tình.

Dù thuộc hạng nào chăng nữa, mỗi ngày mình nên xét ba điều: “Mình giúp ai việc gì, có giúp hết lòng không; giao du với bạn bè có giữ được sự trung tín không; mình có học hỏi thêm được điều gì mới mẻ trong ngày không”.


Diễn trình giáo dục là diễn trình thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo.
Cách học của người Tây phương và người Á Đông có điểm khác nhau được lưu ý là Á Đông học để lấy bằng cấp, “từ chương, trích cú” (Test- taking skill/ based education on memorization and constant testing), học thuộc lòng để thi test. Giáo dục Tây phương chú tâm giúp sĩ tử biết suy tư, thông đạt, phát minh, áp dụng kiến thức vào đời sống để giải quyết thế sự (how to get their kids to communicate, to think, to solve problems).

Các nhà giáo dục giám định phương pháp giáo dục Đông Tây (International rankings) nhận định nền giáo dục Hoa Kỳ xếp hạng cao trên thế giới nhờ phương pháp giáo dục khích lệ học sinh, sinh viên suy tư, đối thoại với nhau và với thầy, học cách giải quyết vấn đề. Hoa Kỳ đã đầu tư vào nền giáo dục khoảng # 3% GDP hằng năm vào ngân sách giáo dục quốc gia. Tổng Sản lượng (Gross Domestic Product) của Hoa Kỳ năm 2018 là 20.50 ngàn tỷ (trillion).

Một nhà giáo dục Á Đông nhận xét: “When I went to college in the United States, I encountered a different world. While the American system is too lax on rigor and memorization, - whether in math or poetry- it is much better in developing the critical faculty of minds, which is what you need to succeed in life. Other educational systems teach you to take tests; the American system teaches you to think... That is why America produces so many entrepreneurs, inventors, and risk takers. It’s America, not Japan, not China that produces dozens of Nobel Prize Winners... America knows how to use people to the fullest”.

Đặc biệt nền giáo dục Hoa kỳ khuyến khích hoc sinh, sinh viên thách thức kiến thức theo tập quán hay quy ước kể cả thách thức giới hữu trách trong các ngành sinh hoạt nhân sinh. “Most of all, America has a culture of learning that challenges conventional wisdom, even if it means challenging authority”. Có lẽ đó cũng là lý do trẻ em Tây phương thường không hẳn nghe lời người lớn nói. “Children have never been very good at listening to their elders.” (James Baldwin).

Học sinh, sinh viên Tây phương nghiên cứu các môn học qua sách giáo khoa được cập nhật hằng năm và đến lớp dành thì giờ nghe giảng bài, thảo luận và giải quyết vấn đề. Trong lúc đó, trong các trường học Á Đông, không có sách giáo khoa cấp phát hay bán cho học sinh, sinh viên. Học sinh, sinh viên đến lớp dùng hết thì giờ chép bài. không có thì giờ tranh luận, học sinh sợ thầy không dám đặt câu hỏi, lớp học thiếu sinh khí... Thầy thì lấy sách giáo khoa Tây phương dịch ra vài chương đọc cho sinh viên chép lại để học. Có khi sách giáo khoa, gồm 18 chương, dày 600 trang cho mỗi môn học, thầy chỉ dịch một vài chương để đọc cho sinh viên chép. Vì thế, kiến thức của sinh viên, thiếu đầu, thụt đuôi. Khi qua các nước Tây phương, mặc dù có bằng cử nhân, cao học, tiến sĩ nội hoá, nếu không đi học lại để cập nhật kiến thức hay tìm học thêm một nghề chuyên môn “cấp tốc” thì sinh kế khó được hanh thông.

Thu nhận kiến thức để lãnh nhận chứng chỉ, văn bằng, chỉ mới là giai đoạn đầu. Nếu mới đạt được giai đoạn này mà đã tự thỏa mãn thì chỉ mới đạt đến sự hiểu biết vòng ngoài, “cách vật trí tri,” nhưng chưa đạt đến trình độ thành ý, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ.


Học để hiểu biết và giỏi giang hơn về một ngành chuyên môn là điều tốt. Nhưng nếu chỉ để mong được an nhàn, sống lâu, giàu bền, còn việc quốc gia, cộng đồng, xã hội, ái hữu không thèm nghĩ đến thì chưa đạt đến trình độ tri thức. “Có lĩnh hội được nguyên lý của sự vật, nhận thức mới đúng đắn, ý nghĩ mới thành thực, tâm tư mới ngay thẳng, bản thân mới tu dưỡng để chỉnh đốn tốt gia đình, lãnh đạo tốt quốc gia và giữ cho thiên hạ được thái bình


Vì thế, triết lý giáo dục nhân bản không dừng lại ở mức độ thu nhận kiến thức để trở thành chuyên viên mà còn tiến đến chủ đích làm cho con người trở nên cao thượng hơn. “Thượng vì đức, hạ vì dân” để làm gương cho hậu thế. Phối hợp đạo lý làm người và kiến thức để giúp đời là dấu chỉ của kẻ sĩ, như quan niệm của Nguyễn Công Trứ

“Kinh luân khởi tâm thượng,
Binh giáp tàng hung trung.
Vũ trụ chi giai ngô phận sự.
Nam nhi đáo thử thị hào hùng.”

Phải, với tinh thần “Vũ trụ chi giai ngô phận sự” thì “Người chăn cừu xứ Tô Cách Lan và ông bộ trưởng, đều có công trạng đối với quốc gia.” Một người khoa bảng có văn bằng và một người mù chữ cũng có công trạng đối với tổ quốc, miễn là làm xong nhiệm vụ mà tổ quốc giao phó.

Năm 1843, Tướng Quân Nguyễn Công Trứ bị giáng chức làm linh thú ỡ Quảng Ngãi. Ông quan niệm “Khi làm tướng, tôi không lấy làm vinh, thì lúc làm lính có chi mà nhục”. Quan niệm này đúng với cương thường, đạo nghĩa. quyết tâm phục vụ chính nghĩa quốc gia, dân tộc, thể hiện thái độ “tâm“đã định và “tính” đã an. (Tri kỳ tâm, tận kỳ tính).

‘Miển hương đảng đã khen rằng hiếu nghị,
Đạo lập thân, phải giữ lấy cương thường”.

Triết lý giáo dục nhân bản, khai phóng, quan niệm “Cái học khoa cử chỉ là manh áo bên ngoài, là con đường đi vào đạo sống”. Nếu không đạt được chính đạo, nghĩa là không phục vụ chân lý, chính nghĩa, quốc gia, dân tộc, thì khoa bảng chỉ có hiệu lực trang trí, chưa đạt đến trình độ trí thức. Trí thức là người có tài cán và đức độ.

Người ta thường nói: “Tri thức tôn giáo thường do mặc khải (revelation). Tri thức triết học do lý trí quan niệm mà lãnh hội. Tri thức khoa học do thực nghiệm.” Sự học tuy khó khăn, nhưng khi biết áp dụng kiến thức vào đời sống thì thành quả sẽ rất ngọt ngào, là phương cách đầu tư, thâu được nhiều lợi nhuận nhất “An investment in knowledge pays the best interests”, trong sứ mệnh tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

" Học vấn là hành trình suốt cuộc đời, học nhanh hay chậm không quan trọng, miễn là đừng bỏ học”. Điều hay nhất của học vấn là không ai tước đoạt được kiến thức của mình. “The beautiful thing about learning is that no one can take it away from you” (B.B. King).

Triết lý hành động của “trí thức quân tử” là “Nếu phải cân nhắc giữa tư lợi và công ích, kẻ trượng phu phải hy sinh tư lợi để phục vụ công ích”. Cho nên học và áp dụng kiến thức để làm việc nhân nghĩa, xây dựng nhân quần xã hội, quốc gia dân tộc thật là một nguồn vui vô tận.“Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”.

Nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hoà trước năm 1975 là nền giáo dục nhân bản (lấy con người làm gốc); dân tộc (tôn trọng giá trị truyền thống dân tộc); và khai phóng (mở rộng, không bảo thủ, tiếp nhận văn hoá, văn minh nhân bản thế giới. “Education is what remains after one has forgotten everything he learned in school- Văn hoá là những gì còn lại sau khi đã quên hết những gì đã thu nhận ở học đường” (Albert Einstein).

" Il n'y a que deux puissances au monde, le sabre et l'esprit: à la longue, le sabre est toujours vaincu par l’esprit” (There are only two powers in the world, saber and mind; at the end, saber is always defeated by mind). (Napoléon Bonaparte). “Nhân giả vô địch – trí tuệ thắng gươm giáo; tình thương thắng bạo tàn; dân chủ thắng độc tài”.


Nhân thế, dù có phần khác nhau về văn hoá chủng tộc, nhưng đều là tinh hoa Trời ban để quản trị vũ trụ, nên chúng ta có sứ mệnh: (1) phải trân trọng “Nghề nào cũng trọng cũng hay, đi buôn cũng qúy, đi cày cũng sang,” (2) quyết chí bảo toàn ơn Trời cho trọn vẹn.

Các bậc thềm giáo dục từ gia đình đến học đường và trường đời là một đại học. “Đại học chi đạo, tại minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện”. Đại học làm cho đức tính của chúng ta thêm sáng suốt, để phục vụ nhân quần xã hội, nhằm đạt đến mức chí thiện. Bậc thềm nào cũng thần diệu cả “Tout seuil est une sacré chose”.


Trần Xuân Thời