Thursday, August 6, 2026

Gặp Lại Pilot 215 Phi Đoàn Trực Thăng Thần Tượng - Phạm Sơn Liêm

Hình minh hoạ

Ngày đó, giữa rừng sâu, chúng tôi không biết mặt nhau.

Chỉ biết một điều: khi nghe tiếng cánh quạt từ xa vọng lại, là tim bắt đầu đập khác đi. “215 inbound.” 4 chữ ấy, qua làn sóng rè, đối với chúng tôi không chỉ là tín hiệu. Đó là hy vọng. Là con đường về. Là sự sống treo lơ lửng dưới bụng trực thăng.

Tôi chưa từng thấy mặt người lái. Chỉ thấy bóng chiếc chim sắt lượn vòng trên rừng già. Chỉ nghe tiếng rotor quần nát khói và lá cây. Chỉ cảm được sự liều mạng

khi nó hạ thấp hơn mức an toàn, để kéo chúng tôi ra khỏi vòng vây lửa đạn đang rượt đuổi.

Trong đầu tôi, “Pilot 215” là một huyền thoại. Một người không sợ chết. Một thần tượng vô danh của toán lính dưới đất.

Rồi chiến tranh qua... Đơn vị tan...

Thần tượng ở lại trong ký ức như một biểu tượng, không tuổi, không tên, chỉ có tiếng máy và bầu trời.

Tết năm nay 2026. Một buổi họp mặt Tết Bính Ngọ cựu quân nhân vùng Bay Cali.

Tôi đứng lặng nhìn mấy ông già tóc bạc kể chuyện xưa.

Một người nhỏ con, dáng lưng hơi còng, đeo cặp kính dày. Ông nhìn phù hiệu trên ngực tôi, hỏi:

- Anh từng ở bãi bốc rừng năm... đó?

Tôi gật. Ông cười nhẹ:

- Bãi đó... tôi đáp bốc toán xâm nhập về hai lần.

Tôi lạnh tê sững người:

- Anh... bay 215?

Ông không nói ngay, chỉ gật đầu.

Thế giới như thước phim chậm lại....

Trước mặt tôi không phải huyền thoại. Không phải một biểu tượng bất tử giữa trời xanh. Chỉ là một ông lão với đôi tay đã run, với giọng nói trầm và hiền. Tôi nhìn ông mà cổ họng nghẹn cứng.

Ngày đó, khi ông cho máy bay hạ thấp hơn quy định,

khi đạn bắn vạch những vệt lửa ngang thân tàu, khi chúng tôi bám càng leo lên trong khói, tôi nghĩ người Pilot trên buồng lái chắc là một vị thần.

Hóa ra... là một con người. Một con người cũng biết sợ. Cũng có gia đình chờ. Cũng có trái tim đập nhanh khi kim xăng tụt xuống và đạn chạm thân tàu. Tôi nói nhỏ:

- Anh là thần tượng của tụi tôi.

Ông cười, lắc đầu:

- Không. Tôi chỉ làm phần việc của mình. Mấy anh dưới đó mới là người liều mạng.

Câu nói ấy làm tôi quay mặt đi. Vì thần tượng của tôi,

không chỉ từng cứu tôi mà còn khiêm nhường đến mức, không bao giờ nhận mình đã làm điều phi thường.

Chúng tôi bắt tay. Bàn tay ông gầy và ấm. Bàn tay từng giữ cần lái giữa lằn ranh sống chết.

Ngoài kia, Tết rộn ràng....

Còn tôi, đứng trước người phi công năm ấy, chỉ thấy lòng mình mềm ra như đất ướt.

Có những thần tượng không đứng trên sân khấu. Không có huy chương lấp lánh.

Họ chỉ lặng lẽ bay vào lửa đạn, để bốc một toán lính vài ba người dưới đất, còn có ngày, được già đi.

Và Tết này, tôi mới biết mặt người anh hùng của đời mình. Không phải trên trời. Mà ở ngay trước mắt.


Phạm Sơn Liêm

#462 - Dấu Hiệu Sắp Bị Đột Quỵ Ai Cũng Nên Biết !! Đau Rát Ngực, Mụn Thịt Là Ung Thư? U Não, Siêu Âm - BS. Phạm Hiếu Liêm

Những Con Tàu Nam Tiến Năm 1954

 


Cuộc di cư của gần một triệu đồng bào và hành trình tìm một quê hương mới

Mùa hè năm 1954, sau Hiệp định Genève, đất nước Việt Nam bước vào một giai đoạn nhiều biến chuyển. Giữa hoàn cảnh ấy, một cuộc di chuyển dân cư lớn lao đã diễn ra: hàng trăm ngàn người dân miền Bắc rời bỏ quê hương, hướng về miền Nam với mong muốn tìm một đời sống yên ổn và một tương lai mới.

Từ những làng quê Bắc Việt, từ Hà Nội, Hải Phòng, Bùi Chu, Phát Diệm và nhiều vùng khác, từng đoàn người lặng lẽ lên đường. Hành trang của họ thường rất đơn sơ: vài bộ quần áo, chút tiền dành dụm, những kỷ vật gia đình, đôi khi chỉ là một tấm ảnh cũ hay nắm đất quê nhà.

Trên bến tàu Hải Phòng ngày ấy, biết bao cảnh chia ly đã diễn ra. Có người rời mái nhà đã sống qua bao đời, có người xa mồ mả tổ tiên, có những bà mẹ ôm con nhỏ trong vòng tay, những người cha lặng lẽ nhìn lại quê hương lần cuối trước khi bước xuống tàu.

Để giúp cuộc di chuyển này, nhiều lực lượng đã tham dự:


1/- Chính phủ Quốc gia Việt Nam (sau đó là Việt Nam Cộng Hòa)

Chính quyền của Quốc trưởng Bảo Đại và sau này là chính phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã tổ chức việc tiếp nhận, định cư và cấp đất cho người di cư tại miền Nam.

Nhiều vùng đất hoang, vùng kinh tế mới, các khu dinh điền được thành lập để giúp bà con có nơi sinh sống. Các trại tiếp cư được dựng lên tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, Vũng Tàu, Đà Lạt và nhiều nơi khác.

2/- HẢI QUÂN HOA KỲ 

Hải Quân Hoa Kỳ đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyên chở người di cư qua chương trình được gọi là “Operation Passage to Freedom”(Cuộc Hành trình Tự do). Nhiều chuyến tàu của Hải quân Hoa Kỳ đã đưa hàng trăm ngàn người từ miền Bắc vào miền Nam. Bên cạnh đó, tàu Pháp và các phương tiện khác cũng tham gia trong công cuộc di chuyển lớn lao này.

3/-Chính phủ Pháp

Dù Pháp rút khỏi Việt Nam sau thất bại Điện Biên Phủ, quân đội và chính quyền Pháp vẫn tham gia việc di chuyển dân cư trong giai đoạn đầu, vì lúc ấy Pháp còn giữ vai trò quản lý theo các điều khoản chuyển tiếp.

4/- Các tổ chức tôn giáo, đặc biệt là Công giáo

Các linh mục, tu sĩ và giáo hội Công giáo đã giúp đỡ rất nhiều người di cư, nhất là những gia đình Công giáo từ các giáo phận miền Bắc như Bùi Chu, Phát Diệm, Hà Nội, Hải Phòng.

Họ tổ chức:

  • nơi tạm trú,
  • phát lương thực,
  • chăm sóc trẻ em, người già,
  • giúp lập các làng mới.

Các linh mục, tu sĩ và giáo dân tổ chức nơi tạm trú, chăm sóc người già, trẻ nhỏ, giúp đồng bào tìm nơi sinh sống mới. Nhiều làng di cư được thành lập, trở thành những cộng đồng mới trên đất miền Nam.

Khi đặt chân đến vùng đất mới, đồng bào di cư phải bắt đầu lại từ con số gần như hai bàn tay trắng. Khí hậu khác biệt, đất đai xa lạ, cuộc sống ban đầu nhiều thiếu thốn. Nhưng với lòng chịu khó và tinh thần vượt khó, nhiều gia đình đã dần dựng lại mái nhà, khai phá ruộng vườn, mở cửa hàng, xây dựng cuộc sống và góp phần làm phong phú thêm sinh hoạt xã hội miền Nam.

5/- Người dân miền Nam

Một phần rất lớn sự giúp đỡ đến từ chính đồng bào miền Nam. Nhiều gia đình Nam Bộ mở cửa đón người Bắc di cư vào ở tạm, chia sẻ cơm áo và tình nghĩa xóm giềng trong những ngày đầu khó khăn.

Theo các ước tính lịch sử, khoảng gần một triệu người đã rời miền Bắc vào miền Nam trong giai đoạn này. Đây là một trong những cuộc di chuyển dân cư lớn nhất trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.

Cuộc di cư năm 1954 không chỉ là một cuộc chuyển dời từ miền này sang miền khác. Đó là câu chuyện của những con người mang theo ký ức quê hương, những nỗi buồn chia xa, nhưng cũng mang theo niềm hy vọng về một cuộc đời mới.

Những con tàu rời bến Hải Phòng năm ấy đã đi xa, nhưng hình ảnh những đoàn người trên bến cảng, những mái nhà mới dựng lên nơi đất lạ, và những trang đời được viết tiếp trên miền Nam vẫn còn là một dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Việt Nam thế kỷ thứ hai mươi.


(3) BẢO TỒN TIẾNG VIỆT | # **Những Con Tàu Nam Tiến Năm 1954** | Facebook

Thanh Loan chuyển

Nếu Biết Thế - Người Phương Nam


Nếu Biết Thế


Nếu biết thế xin đừng ham cố

Bởi không ai mang được xuống mồ

Một mai khi về cõi hư vô

Của trần gian dù là vô số

 

Nếu biết thế màng chi danh lợi

Lợi danh như bọt biển phù vân

Có gì tồn tại mãi cõi trần

Mà mê muội dốc lòng đeo đuổi

 

Nếu biết thế xin dừng nghiệp chướng

Hãy biết đủ làm kẻ thiện lương

Hãy đầu tư vào quỹ thiên đường

Để một mai được lời an hưởng

 

Người Phương Nam 

Wednesday, August 5, 2026

Đôi Bông Tai - Tim Nguyễn

 


(Một góc khuất của kiếp làm dâu thời phong kiến. Một góc sáng của người phụ nữ Việt Nam: đạo nghĩa, hy sinh, nhẫn nhục, tha thứ)

Năm 1952, làng An Lạc nằm nép mình bên con sông nhỏ. Đất nghèo, người nghèo, nhưng cái tình thì chưa bao giờ thiếu.

Con sông chảy qua làng, mùa nắng cạn trơ đáy, trẻ con xắn quần lội bộ qua được nửa dòng. Mùa mưa thì nước lên láng trắng đồng, cá linh theo nước trôi về đầy sông. Đất thì tốt, lúa chín hạt trĩu xuống ruộng, cá tôm lấp xấp mé bờ. Chỉ có người là không yên. Giặc Tây đi càn hoài, tiếng súng cứ rền rền ngoài đồng xa, như một điềm xui không dứt.

Năm đó, Lan mười chín tuổi, về làm dâu.

Chồng cô là anh Tòng, con trai út nhà ông hương lý. Nhà nền đất mà nề nếp nhà còn cao hơn mái ngói. Má chồng Lan, bà Hai Hương nổi tiếng khắp tổng là người đàn bà khuôn phép, một tay giữ quy luật của một dòng họ khá giả thời phong kiến.

Lan không đẹp. Nước da ngăm ngăm vì dầm nắng, chỉ được cái hiền và khỏe, đôi mắt lúc nào cũng nhìn xuống, như sợ làm phiền đến người khác. Ngày rước dâu, má cô dúi vào tay cô đôi bông tai vàng lá nhỏ xíu và dặn: "Đây là của ngoại cho má lúc lấy chồng, nay má truyền cho con. Ráng giữ đạo làm dâu nghe con."

Ngày cưới, anh Tòng nắm tay vợ, nói nhỏ đủ hai người nghe: "Em ráng chịu với ba má một thời gian. Rồi anh học xong lớp sư phạm, mình xin ra ở riêng. Anh cất cho em cái nhà lá ven sông, mình trồng rau nuôi cá."

Lan gật đầu. Cái gật đầu của người đàn bà quê miền Tây, đã trao thân là trao luôn một đời. Tin chồng là tin cả số phận.

Người xưa nói, làm dâu là làm tôi tớ. Ở cái thời ấy, nói vậy mà không sai.

Gà chưa kịp gáy sáng, cái bóng áo bà ba mỏng của Lan đã lom khom ngoài sân. Trời còn tối mịt, sương còn ướt đẫm lá cau, cô đã quét sân, nhóm bếp, nấu nồi cám heo sôi ùng ục, rồi mới lo nồi cơm cho cả nhà.

Gạo mới trắng thơm, cô bới để phần cho cha chồng và chồng một chén vun có ngọn. Phần của má chồng là lưng chén. Phần của con dâu là những gì còn sót lại trong nồi, những hạt cơm dính đáy. Những ngày gạo trong lu sắp cạn, má chồng đếm từng lon. Đôi khi Lan chỉ dám chan nước cơm cho no bụng. Có lần cô lén bẻ miếng cơm cháy, bà Hai thấy được, bà không chửi lớn tiếng, bà chỉ lườm rồi nói:

"Nhà này phước đức ba đời mới rước được dâu thảo. Ăn cơm cháy mà không biết chừa lại cho chó, mai mốt nó không giữ nhà cho mà coi."

Lan cúi đầu, miếng cơm cháy nghẹn ngang cổ.

Áo quần của ba má chồng phải giặt riêng một chậu, vò cho trắng ngần rồi phơi cho ngay nếp. Chén úp phải úp cùng một chiều, đũa phải để cùng một phía. Nằm, ngồi, đi, đứng, ăn, nói, đều có phép tắc. Bà Hai soi con dâu từng ly từng tí. Có bữa khách tới nhà, Lan bưng nước ra, vì run quá cái tách chạm nhau kêu lạch cạch. Bà Hai cười với khách mà mắt thì liếc Lan sắc như dao: "Con dâu út nhà tôi nó quê mùa, có học được chữ nào đâu mà biết."

Đêm nào Lan cũng khóc thầm. Khóc không dám thành tiếng.

Anh Tòng thương vợ, mà cái thương của người chồng trẻ quê mình vẫn bị vai vế tôn ti trật tự điều khiển. Anh đứng giữa hai bờ: một bên là mẹ, một bên là vợ, mà bờ nào cũng sâu, cũng khó qua. Đợi tối anh lấy trong túi ra một sợi dây chuyền bạc nhỏ, mặt đá xanh đưa cho chị: "Anh dạy thêm cho con ông bá hộ, người ta thưởng. Anh mua cho em. Em cất đi, đừng cho má thấy."

Kiếp làm dâu thời phong kiến là vậy: đau không phải vì roi, mà vì bị im lặng; không phải vì cực, mà vì không được là mình; không phải vì nhà chồng khó hay dễ, mà vì cả xã hội đã quen coi đàn bà như phần phụ của một mái nhà. Và trong cái góc khuất đó, Lan sống lặng như giọt nước mắt rơi xuống đất, không ai nghe tiếng, nhưng vẫn rơi.

Rồi mùa lụt năm 1953 ập tới.

Trời làm lụt lớn, nước ngập quá nóc bếp. Lúa mất trắng. Giặc Pháp lại càn, ruộng bị giày nát hết. Nhà chồng bắt anh Tòng nghỉ học, ở nhà vác cày đi cày thuê và sau đó anh tham gia đội dân quân chống Pháp. Giấc mơ ra ở riêng của hai vợ chồng trẻ đứt ngang, như sợi dây bị nước lũ giật phăng.

Cái đói về làng. Nhà hương lý cũng phải chạy ăn từng bữa. Bà Hai Hương ngày càng cau có. Bà đi coi bói, thầy bói phán Lan nặng vía, tuổi sát phu, tuổi Dần về làm sa sút nhà chồng, làm tuyệt đường học hành của con trai.

Từ đó, bà càng đay nghiến hơn.

Thân Lan gầy rộc như tàu lá chuối héo sau bão. Ban ngày đi làm đồng cho bá hộ để lấy mấy lon gạo, tối về vẫn quét sân, nấu cám, gánh nước, không dám sót một việc gì. Lưng áo bà ba của cô không bao giờ khô.

Có bữa cô sốt rét, nằm mê man ngoài chái bếp, bà Hai đi ngang, chỉ hất hàm: "Đau thì ráng mà dậy. Heo nó đói kêu eng éc từ sáng giờ, bộ cô tính để cho nó chết đói rồi nhà này ăn cám thay heo hay sao?" Lan phải lết dậy, vừa đi vừa vịn vách, nước mắt hòa với mồ hôi.

Thương vợ đứt ruột, anh Tòng cãi má lần đầu tiên trong đời. Bà Hai lăn ra giữa phản khóc, nói con vì vợ mà bất hiếu, bỏ cả tông đường. Cả họ kéo qua khuyên giải. Cuối cùng, anh phải quỳ xuống, lạy má, rồi lạy cả dòng họ để xin tha.

Đêm đó, Lan ngồi vá áo cho chồng dưới ngọn đèn dầu leo lét. Cô nói nhỏ, giọng đứt quãng như sợi chỉ mục: "Má già rồi, đừng cãi nữa anh. Em chịu được mà. Em chỉ sợ... mình bỏ em thôi."

Một tháng trước ngày Pháp thua trận, giấy báo tử gửi về xã. Bom vùi xác anh Tòng ngoài dốc đồi miền trung.

Bữa đó Lan đang lội mương vớt bèo cho heo. Bà Sáu chạy qua bờ, la thất thanh: "Lan ơi! thằng Tòng... thằng Tòng nó chết rồi con ơi!"

Lan không khóc ré lên. Cô chỉ ngồi bệt xuống bờ đất sình, tay còn ôm rổ bèo, nước từ rổ chảy ướt hết vạt áo bà ba. Cô ngồi như người mất hồn, đau đến tận cùng không còn khóc thành tiếng được nữa.

Đám tang không có xác. Chỉ có cái bàn thờ với tấm hình trắng đen anh mới chụp hồi đi học sư phạm. Trong hình, anh cười hiền khô.

Tối đó, hai người đàn bà, một già một trẻ, ngồi hai bên bàn thờ, không ai nói một lời. Ngọn đèn dầu hắt lên thấy áo bà ba của Lan ướt đẫm. Không biết là mồ hôi của trời oi bức, hay là nước mắt đã thấm ngược vào.

Lan tưởng nghĩa vợ chồng hết thì còn nghĩa mẹ con, mình cứ ở vậy thờ chồng, hầu má chồng cho trọn chữ đạo, chữ hiếu. Ai dè, chưa đầy một tháng sau, tình người đã cạn.

Chị dâu hai, chị dâu ba trên thành phố về nói bóng gió gần xa: "Thím út còn trẻ quá, ở đây hoài người ta dị nghị. Thôi về bển mà làm lại cuộc đời cho khỏe tấm thân." Rồi thì nồi cơm tự nhiên nấu ít lại, chén đũa của Lan bị dẹp ra xó bếp.

Ai cũng khuyên cô về lại nhà ba má đẻ mà sống cho khỏe cái thân, nhưng cô nhất quyết không đi. Chạy về nhà mình chỉ làm ba má mang tiếng với xóm giềng.

Một buổi sớm, má chồng gọi Lan lại. Bà ngồi trên phản, mặt lạnh như tiền, không một chút hơi ấm, nói một câu ráo hoảnh, như nhát dao cuối cùng:

"Thằng Tòng mất rồi, cô không còn là dâu nhà này nữa. Cô ở đây thiên hạ cười chê, nói cô ăn bám. Thôi cô về bên tía má cô đi."

Một chữ "ăn bám". Mấy năm làm dâu, lưng áo nào của Lan mà chẳng ướt đẫm mồ hôi vì nhà chồng? Vậy mà giờ thành kẻ ăn bám.

Lan quỳ xuống, líu ríu: "Má... má cho con ở lại tang chồng con, mãn tang rồi con đi..."

Bà Hai quay mặt vô vách, giọng chanh chua, đanh lại: "Ở cái gì mà ở! Cô còn trẻ, ở đây trai làng dòm ngó, xui xẻo cho nhà này lắm! Đi đi cho nhà này nó nhẹ đất!"

Rồi bà chìa tay ra, mắt nhìn trừng trừng vào tai Lan và cổ Lan: "Trả lại đôi bông tai với sợi dây chuyền bữa thằng Tòng nó mua cho cô đó. Đó là của nhà này. Cô đi rồi thì trả lại, cô không có quyền mang theo."

Trời đất như sụp dưới chân Lan. Đôi bông tai vàng lá là của má ruột cô cho. Sợi dây chuyền bạc mặt đá xanh là kỷ vật duy nhất chồng cô để lại, là tình thương câm lặng của anh. Vậy mà bà cũng cố vơ vét.

Lan run run tháo đôi bông tai, máu rỉ ra ở lỗ tai vì tay run quá. "Con... con gửi lại má."

Sáng hôm sau, khi gà chưa gáy sáng, cô dậy sớm hơn mọi bữa ra quét cái sân, nấu nồi cơm để sẵn, rửa hết chén bát, cho heo ăn bữa cuối cùng. Rồi cô gói vài bộ bà ba cũ sờn vai và cái khăn tay thêu dở dang bữa tiễn chồng.

Cô quỳ lạy bàn thờ chồng, rồi lạy ba má chồng ba lạy thật sâu, đầu chạm đất: "Ba má ở lại mạnh giỏi. Con đi."

Má chồng lặng lẽ quay mặt vào vách, thờ ơ không thốt một lời. Ba chồng ngồi bất động ngoài hiên, mắt nhìn theo con sông trước nhà, đỏ hoe và ngấn nước. Căn nhà im phăng phắc, nặng trĩu một nỗi đau không ai đủ sức gọi thành lời.

Lan vừa quay lưng định bước ra khỏi cửa thì bà gọi giật lại: “Khoan đã.”

Giọng bà không còn cứng như lúc nãy. Nó chùng xuống một chút, như sợi dây bị kéo căng quá lâu giờ buông nhẹ. Lan đứng im, hai tay nắm chặt túi vải.

“Cô có tháng chưa? Lần cuối là khi nào? Để coi…thằng Tòng nó đi chuyến cuối là mùng mười tháng năm. Nay là ba mươi tháng bảy…"

Lan sững người. Cô hiểu. Câu hỏi ấy, bình thường là chuyện đàn bà với nhau, nhưng trong hoàn cảnh này, nó như một nhát dao lật ngược, phơi ra nỗi lo sâu kín của bà.

Lan cúi đầu. Một giọt nước mắt rơi xuống đôi dép rách. “Dạ… con có tuần rồi má.”

Bà quay mặt đi, thở ra một cách nhẹ nhõm: “Vậy thì tốt... Thôi, đi đi ”

Lan bước ra khỏi cổng. Con chó mực chạy theo tới bờ tre rồi đứng lại tru lên từng hồi. Ngoài sông, nước lớn đang ròng ròng chảy, như khóc.

Lan không về ngoại cách đó một ngày đường vì sợ tía má buồn. Cô xin ở đậu chái bếp nhà bà Sáu cuối xóm, ai mướn gì làm nấy. Cắt cỏ, cấy mướn, gánh nước, mót lúa. Có bữa đi mót lúa dưới nắng chang chang, cô xỉu ngoài đồng, người ta khiêng vô, chỉ thấy trong túi áo bà ba rách có gói muối hột.

Có người hỏi: "Con có giận nhà chồng không Lan?" Cô nhìn dòng sông, cười héo hắt, cái cười hiền đến tội: "Dạ đâu có. Hồi ảnh còn sống, con được thương. Được làm dâu của má, làm vợ của ảnh mấy năm, vậy là đủ phước cho con rồi. Con đâu dám giận. Con chỉ buồn là mình chưa trọn hiếu với má thôi."

***

Hai mươi năm sau.

Má chồng Lan đã ngoài tám mươi. Nhà sa sút. Hai người con trai lên thành phố làm ăn rồi ở trển luôn. Chồng mất đã mười năm. Nhà cũ chỉ còn bà với mấy gốc cau già xơ xác, mái ngói dột nát.

Một buổi chiều trở gió chướng, bà ra lu nước sau hè múc nước rửa mặt, trượt chân ngã quỵ. Hàng xóm chạy qua đỡ, bà mê man. Khi tỉnh lại miệng cứ gọi hoài một cái tên mà bà đã cố chôn vùi suốt hai mươi năm: "Lan... Lan ơi." vì bà biết lúc này Lan là người gần bà nhất.

Người ta chèo xuồng xuống cuối xóm tìm Lan. Lúc đó Lan đã ngoài bốn mươi, tóc đã lốm đốm bạc, vẫn ở một mình trong chái bếp, vá áo cho trẻ con trong xóm. Nghe nói má chồng bệnh, cô đứng lặng một hồi lâu, rồi vội phủi bùn dưới chân: "Dạ... để con qua với má liền."

Có những tình nghĩa tưởng đã cạn khô như sông mùa hạn tháng tư, nhưng chỉ cần một tiếng gọi là lại đầy ắp như nước sông tháng mười.

Cô bước vào lại căn nhà cũ. Mọi thứ vẫn như ngày cô rời đi nhưng đìu hiu, tan tác hơn. Người đàn bà trên giường tóc bạc trắng hết, da bọc xương, đôi mắt đã mờ đục. Thấy Lan, bà run run đưa tay ra. Hai người đàn bà, một già một trẻ, ôm nhau khóc. Một người khóc vì ân hận muộn màng của cả một đời làm mẹ chồng cay nghiệt. Một người khóc vì cuối cùng, sau hơn hai mươi năm, cũng được gọi lại hai tiếng "Má ơi".

Rồi một đêm cuối mùa gió chướng, gió thổi rít qua vách lá, má chồng trở bệnh nặng. Bà nằm trong vòng tay của cô con dâu út, bàn tay gầy guộc nắm chặt lấy tay Lan không rời.

Bà lần mò dưới gối, lôi ra một cái khăn tay đã ố vàng, run run mở ra. Bên trong có vài món nữ trang, trong đó có đôi bông tai vàng lá và sợi dây chuyền bạc mặt đá xanh năm xưa. Bà đã gói kỹ, giữ kỹ suốt hai mươi năm, vàng đã đổi màu nhưng vẫn còn đó.

Bà dúi vào tay Lan, giọng thều thào, đứt quãng, nước mắt chảy dài trên gò má nhăn nheo:

"Lan… má trả lại cho con. Má ác... má giữ của con bao nhiêu năm nay. Nhiều đêm má thấy thằng Tòng nó về nó đòi...Con ơi xin tha thứ cho má.”

Bà cố gượng dậy. Lan ôm chầm lấy bà, nước mắt cô lúc này mới tuôn nhỏ xuống bàn tay của bà. Cô đẩy món đồ lại, nhét vào tay bà: "Má ơi, con không nhận đâu má. Của má... má cứ giữ."

Bà nói cô không nhận là còn oán hận bà, chết không nhắm mắt được. Cô nhận. Tuy không quan tâm để nhận lại, nhưng không muốn để bà ra đi trong ân hận. Cô muốn bà đi nhẹ nhàng.

Bà Hai nhìn cô hồi lâu, mấp máy môi như muốn nói lời cảm ơn, lời xin lỗi, rồi nhẹ nhàng ra đi trong vòng tay con dâu. Trên khuôn mặt già nua ấy cuối cùng cũng có được sự thanh thản, trút bỏ nợ đời với nước mắt còn đọng ở khóe mi.

Lo tang cho má chồng xong, Lan cắm nén nhang cuối cùng lên bàn thờ còn ấm hơi khói. Cô lẳng lặng quỳ xuống, lạy đủ bốn lạy, không chỉ để tiễn biệt người đã khuất, mà là tháo gỡ cái vòng ân nghĩa gieo neo của một kiếp làm dâu.

Cô gói vài món tư trang ít ỏi vào chiếc túi vải ngả màu thời gian, trong đó có đôi bông tai và sợi dây chuyền. Lan bước ra khỏi khoảng sân ấy lần nữa. Bước chân cô nhẹ tênh, thanh thản.

Cô đi, không mang theo bất cứ thứ gì khác cho riêng mình, bởi bao nhiêu nước mắt, nụ cười và cả tuổi xuân, cô đều đã vắt cạn để trả xong chữ hiếu, vẹn xong chữ tình. Đạo làm người cô giữ trọn, chỉ có bản thân cô là trắng tay, lặng lẽ bước về phía trước trong cô độc, hun hút của một kiếp người.

Sương sớm lạnh phủ mờ con đường làng. Dáng người đàn bà gầy guộc dưới chiếc nón lá bạc màu chìm dần vào những hàng cau lặng gió.


Tim Nguyễn

London 01/08/2026

Buồn Như - Tạ Ký - Trầm Vân

Người Vô Thần Chỉ Tin Vào Khoa Học - Các Nhà Khoa Học Lại Tin Vào Thần Học

Ngày nay, có nhiều người vô Thần, họ chỉ tin vào khoa học thực chứng mà phản đối sự tồn tại của Thần Phật. Tuy nhiên, họ lại không thử nhìn lại rằng, những nhà nghiên cứu khoa học nổi tiếng, những người “cha đẻ của ngành khoa học hiện đại” lại là những người tuyệt đối tin vào Thần.


Hễ  đàm luận đến Thần Phật hoặc Thần học, Phật Pháp, liền có người nói là truyền giảng những điều mê tín, không khoa học. Bộ phận những người này đem cái gọi là “khoa học” đối lập một cách tuyệt đối hóa với Thần học, Phật Pháp, rồi đưa ra một định nghĩa vô trách nhiệm cho bản thân và người khác, cũng từ đây phong bế bản thân mình, không muốn đi ra khỏi bức tường bao quanh để nhận thức trời đất rộng lớn hơn.

Thật ra, những nhà khoa học chân chính sẽ không tùy tiện mà đưa ra kết luận, vũ trụ quan của những khoa học gia chân chính là rộng mở, họ sẽ không dùng “những gì đã biết” có hạn của bản thân để phủ nhận “những điều chưa biết” vô hạn. Những người mang danh “khoa học” tùy tiện đưa ra kết luận, thật ra là những “nhân vật chính trị” bụng dạ khó lường.


Một sự thật không cần phải nghi ngờ là: Mãi cho đến tận bây giờ, khoa học vẫn không thể phủ nhận sự tồn tại của Thần, cũng không thể chứng thực thuyết vô Thần là chân lý tuyệt đối. Trái lại, các nhà khoa học vĩ đại của thời kỳ khoa học phát triển cường thịnh trong lịch sử, bao gồm những người như: Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei, Isaac Newton, James Clerk Maxwell, Albert Einstein, v.v… đều thừa nhận bản thân mình là những tín đồ tuyệt đối tin vào Sáng Thế Chủ, cho rằng thế giới này là kiệt tác của Thần và đang chờ đợi các nhà khoa học đi phát hiện và chứng thực…

Từ trái qua: Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei, Isaac Newton, James Clerk Maxwell, Albert Einstein. (Ảnh: Wikipedia Commons) 

Newton – người được tôn xưng là “cha đẻ của ngành khoa học hiện đại”, vào năm 18 tuổi khi đi vào trường đại học Cambridge đã là một giáo đồ Cơ Đốc thành kính nổi tiếng. Newton thường ghi chép lại lời cầu nguyện của ông trong sách giáo khoa và quyển nhật ký, thậm chí ông đem những tìm tòi nghiên cứu đối với khoa học và lời cầu nguyện đối với Đức Chúa hòa làm một thể. Ông thường ở trong khám phá đối với tín ngưỡng mà nghĩ đến khoa học, trong suy nghĩ tìm tòi đối với khoa học mà nghĩ đến tín ngưỡng.

Vậy nên ông Manuel, giáo sư khoa lịch sử của trường đại học New York trong quyển sách “Newton truyện” của mình đều nói, “khoa học cận đại là bắt nguồn từ mặc tưởng của Newton đối với Thượng Đế”. Newton trước sau tin chắc rằng: “Thần mới chính là chủ nhân thật sự sang tạo nên hệ Mặt Trời vô cùng tinh xảo này”.

(Ảnh: Pixabay/Wikipedia Commons)


Trên thực tế, Newton đã là một nhà khoa học vĩ đại, đồng thời lại vừa là một nhà Thần học thành kính và có kiến giải đặc biệt. Ông một đời đi trong hai điện đường lớn giữa khoa học và Thần học, vừa nghiên cứu khoa học, vừa nghiên cứu Thần học, trước sau chưa từng cảm thấy giữa hai bên có chỗ nào mâu thuẫn lẫn nhau.

Newton tin chắc rằng trong Thánh Kinh có mật mã, thế là đã dùng hết thời gian hơn nửa đời người (gần 50 năm) để chuyên tâm nghiên cứu Thánh Kinh, và đã viết ra cuốn bản thảo nghiên cứu hơn một triệu chữ, mãi đến lúc lâm chung vẫn đang cần mẫn tìm tòi nghiên cứu. Newton thậm chí cho rằng “mật mã Thánh kinh” còn quan trọng hơn cả “lực vạn vật hấp dẫn” – thành quả khoa học mà ông đã từng công bố!

Còn Albert Einstein, nhà khoa học vĩ đại nhất thời cận đại được cả thế giới công nhận, lại nhìn nhận khoa học, Thần học và Phật học như thế nào? Trong một lần phỏng vấn, Einstein nói: “Có người cho rằng tôn giáo không phù hợp với khoa học. Tôi là một người nghiên cứu khoa học, tôi biết sâu sắc rằng, khoa học của hôm nay chỉ có thể chứng minh sự tồn tại của một vật thể nào đó, chứ không thể phán định nó là có tồn tại hay không”.

(Ảnh: Wikipedia Commons) 

Einstein đưa ra ví dụ thêm một bước nữa, nói rằng: 

“Ví như nếu như vào mấy nghìn năm trước, chúng ta chưa thể chứng minh sự tồn tại của hạt nhân nguyên tử, nếu như lúc đó chúng ta tùy tiện kết luận rằng hạt nhân nguyên tử không tồn tại, và hôm nay đã khám phá ra, nếu vậy không phải chúng ta đã phạm phải một sai lầm to lớn rồi hay sao?”.

Sau cuộc trò chuyện, Einstein khẳng định rằng ông tin vào “Thần”: “Vì vậy, khoa học hôm nay không thể chứng minh được sự tồn tại của Thần, là bởi khoa học vẫn còn chưa có phát triển đến trình độ đó, chứ không phải là Thần không tồn tại”. Còn khi Einstein nghiên cứu kinh Phật, càng cảm khái từ tận đáy lòng mà thốt lên rằng: “Sau này nếu như có điều gì có thể thay thế được khoa học, thì đó chính là chỉ có Phật Pháp”.

Hai nhân vật của giới khoa học nổi tiếng khắp thế giới trên, trong lĩnh vực vật lý học hiện đại mãi cho đến nay vẫn không người nào có thể thay thế được địa vị “Thần thánh” của họ. Vậy nên quan điểm và thái độ của họ đối với khoa học,Thần học và Phật Pháp, thì đối với những người theo “thuyết vô thần” hôm nay chỉ tin vào cái gọi là “khoa học” kia mà nói, đây chẳng phải là khải thị tốt nhất và uy tín nhất hay sao?

Tiến sỹ Harriet Zuckerman. (Ảnh: The Scientist)

Theo thống kê trong một cuốn sách có tên “Những thiên tài trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật” xuất bản năm 1977 của tiến sĩ Harriet Zuckerman, giảng viên của trường đại học Columbia: Từ năm 1901 sau khi thành lập giải Nobel đến nay, trong số 286 nhà khoa học giành được giải Nobel trong lĩnh vực này, có 92% người đoạt giải là tin vào Thần (73% người đoạt giải trong đó là tín đồ Cơ Đốc giáo; 19% là tín đồ Do Thái giáo). 

Lại dựa theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, gần 3 thế kỷ trở lại đây, trong số 300 nhà khoa học kiệt xuất trên khắp thế giới, có 242 người xác định rõ bản thân là tin vào Thần, còn những người không tin vào Thần thì chỉ có 20 người. Thậm chí 10 nhà khoa học nổi tiếng nhất trên thế giới, trong đó bao gồm: bậc thầy phát minh Thomas Edison, nhà sáng lập vi trùng học Louis Pasteur, nhà phát thuyết bị truyền tin vô tuyến Guglielmo Marconi, Samuel Morse – người phát minh ra tín hiệu Morse, Erwin Schrödinger – người đặt nền tảng cho lý thuyết cơ học lượng tử, cho đến hai là khoa học nổi tiếng thế giới là Isaac Newton và Albert Einstein mà mọi người đều quen thuộc, toàn bộ đều là những người tin vào Thần.


Từ những căn cứ và con số ở trên có thể thấy được rằng, những nhân vật đại biểu kiệt xuất mở đường cho trào lưu khoa học hiện đại, cho đến rất nhiều khoa học gia nổi tiếng khác, tuyệt đại đa số đều là những người có tín ngưỡng vào tôn giáo. Từ đây cũng đã chứng minh được nghiên cứu khoa học và tín ngưỡng đối với Thần, giữa hai điều này vốn không có gì mâu thuẫn với nhau, và tín ngưỡng đối với Thần không phải là là “mê tín”.

Còn điều khiến người ta không thể hiểu nổi và lại cảm thấy tức cười hơn cả là ở đất nước Trung Quốc, nơi mà “Thuyết vô Thần” được tuyên dương, ở khắp các ngõ ngách trên cả nước đều là khẩu hiệu quảng cáo đánh trống reo hò cho cái gọi là “sùng bái khoa học, phản đối mê tín”; suốt mấy chục năm nay chính quyền Trung Quốc luôn gắng sức nhồi nhét, tuyên dương khoa học “vô Thần luận”.

Vậy mà một quốc gia đông dân nhất thế giới với khoảng 1,4 tỷ người dân như vậy mãi cho đến tận hôm nay vẫn vỏn vẹn có một người giành được giải Nobel trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật này.

(Ảnh: Wikipedia Commons) 

Những sự thật không thể bác bỏ này, lẽ nào còn không đủ để cho những người đã quên mất văn hóa truyền thống của tổ tiên mình, và một mực theo đuổi cái gọi là “tôn sùng khoa học” phải suy nghĩ và phản tỉnh sâu sắc hay sao?

(Ảnh: Wikipedia Commons) 

Lịch sử cũng đã chứng minh, khoa học vốn không phải là vạn năng. Sự không hoàn thiện và tính giới hạn của bản thân khoa học mang đến những nguy cơ nghiêm trọng cho con người ngày nay. Điều này đã khiến cho rất nhiều nhà khoa học nhìn xa trông rộng và những người hiểu biết lo lắng không yên, đồng thời rõ ràng ý thức được rằng:

Khoa học vốn không thể đem đến một tương lai tốt đẹp cho nhân loại; khoa học chỉ là một trong những con đường và biện pháp mà con người tìm kiếm chân tướng của vũ trụ, tìm kiếm phát hiện chân lý mà thôi, chứ không phải là tất cả; càng không phải là bản thân chân lý, nó vốn không thể đại biểu cho chân lý được.

Khoa học trong quá trình phát triển cũng đã không ngừng kiểm chứng, chỉnh lại những sai sót và thành kiến trước đây. Tuy nhiên sự phá hủy về thể hệ đạo đức và môi trường sinh thái mà nó mang đến cho nhân loại hôm nay, lại là điều mà bản thân khoa học căn bản không thể kiểm soát và giải quyết được. Bởi vậy cũng càng hiện lộ ra những chỗ thiếu sót mà bản thân khoa học cố hữu.

(Ảnh: Pixabay/Shutterstock/Đại Kỷ Nguyên minh hoạ) 

Đối diện với hậu quả nghiêm trọng mà khoa học mang đến, đã đủ để khiến cho nhiều nhà khoa học hiện nay và người đời dần dần thức tỉnh và ý thức được rằng: Cần phải giải quyết nguy cơ mà con người ngày nay đang phải đối mặt từ căn bản. Lối thoát duy nhất là, chỉ có gây dựng lại tín ngưỡng đạo đức của con người. Và chìa khóa mở ra cánh cửa hy vọng tương lai của nhân loại là ở đâu đây?

Ngày nay, chẳng phải có rất nhiều nhà khoa học nhìn xa trông rộng đã chỉ ra rằng phát triển khoa học trong tương lai của nhân loại chính là Thần học sao? Và những nhà khoa học vĩ đại như Newton, Einstein chẳng phải từ sớm đã nhận thức được rằng: Thần học, Phật học mới là “khoa học” siêu thường chân chính hay sao? Đây là điều tất cả chúng ta cũng phải suy nghĩ.


Theo Tinhhoa

Ảnh bìa: Adobe Stock/Wikipedia Commons/Đại Kỷ Nguyên minh hoạ

Thiết kế: Tự Minh

7 Quốc Gia Nhỏ Bé Nhất Thế Giới Nhưng Sở Hữu Những Kỳ Quan Lớn

 

Không phải những quốc gia với diện tích rộng lớn mới sở hữu nhiều kỳ quan thu hút du lịch, những quốc gia dưới đây tuy rất nhỏ bé nhưng vẫn giữ được sự quyến rũ khó chối từ của mình.

Nhiều quốc gia tuy không nằm ở những vùng xa xôi hẻo lánh, nhưng có thể bạn chưa bao giờ nghe đến tên của chúng, hoặc bởi vì chúng quá nhỏ bé, hoặc vì chúng bị vây xung quanh bởi những đất nước khổng lồ. Mời bạn hãy cùng đến với những gã tí hon trên bản đồ địa lý thế giới, nhưng vẫn hút một lượng khách du lịch khổng lồ từ những điều đặc biệt của mình.

Vài quốc gia là những vùng thuộc địa cũ đã đấu tranh giành được độc lập, một số khu vực từng rạng danh trong thế giới cổ đại bởi những vị hoàng đế oai phong lẫm liệt của mình, những đất nước khác thì sở hữu những quả ngọt được mẹ thiên nhiên ưu ái ban tặng.

San Marino

Tòa tháp trên đỉnh Guaita là tòa tháp cổ nhất trong số ba tòa tháp của San Marino.
Tòa tháp trên đỉnh Guaita là tòa tháp cổ nhất trong số ba tòa tháp của San Marino. (Ảnh: Leonid Andronov/Shutterstock)
.

Đất nước nhỏ bé xưng nền cộng hòa từ năm 1599, được bao xung quanh bởi xứ sở Italy nức tiếng. Tuy San Marino với diện tích chỉ hơn 62 km vuông cùng dân số vỏn vẹn 33.000 người, nhưng nó sở hữu cảnh quan thiên nhiên đẹp đến nao lòng.

Không chỉ núi rừng hùng vĩ, quốc gia này bảo tồn rất tốt những tòa lâu đài cổ từ thời Trung Cổ và thời Phục Hưng. Những tòa thành sừng sững tọa lạc giữa những khu rừng tĩnh mịch, những câu chuyện huyền thoại được truyền lại về những cánh rừng và tòa lâu đài, tất cả tạo nên sức hấp dẫn không thể chối từ cho du khách khi đến đây.

Trong thực tế, nguồn thu chính của San Marino là từ du lịch. Quốc gia này là điểm sáng du lịch ở khu vực nam Châu Âu. Thủ đô của San Marino là thành phố cùng tên, nằm trong tour du lịch khi du khách ghé qua tham quan nước Ý.

Lesotho

Lesotho nổi tiếng với các thung lũng hẹp và những dãy núi cao.
Lesotho nổi tiếng với các thung lũng hẹp và những dãy núi cao. (Ảnh: Faer Out/Shutterstock).

Có thể bạn chưa bao giờ nghe về quốc gia này, cũng như tên gọi Vương quốc Bầu trời của nó. Lesotho nằm gọn trong lòng nước Nam Phi, điểm thấp nhất ở đây cũng cao hơn mực nước biển đến 804 mét khiến nó mang biệt danh như vậy.

Với diện tích 30.350km vuông, nơi này sẽ được bao phủ hoàn toàn bởi tuyết vào mùa đông và hoạt động du lịch chính ở đây là trượt tuyết hay cưỡi ngựa. Lesotho là nơi tốt nhất ở cả Châu Phi cho hoạt động nghỉ dưỡng mùa đông.

Lịch sử thăng trầm của Lesotho cũng là một điểm thu hút du khách. Quốc gia này từng là nước bảo hộ của Vương quốc Anh, vua của Lesotho lúc đó cần một quốc gia lớn mạnh bảo trợ nhằm tránh bị Nam Phi nuốt chửng do vị trí địa lý đặc thù. Quan hệ ngoại giao của Lesotho với Nam Phi là một chương thú vị trong lịch sử thế kỷ 20.

Brunei

Vương quốc Brunei tuy nhỏ bé nhưng vô cùng thịnh vượng.
Vương quốc Brunei tuy nhỏ bé nhưng vô cùng thịnh vượng. (Ảnh: Nicram Sabod/Shutterstock).

Nằm gọn trên đảo Borneo của Malaysia, vương quốc Brunei tuy với diện tích chỉ 5.765 km vuông nhưng có vị trí chiến lược quan trọng và trở thành một hải cảng lớn trên tuyến đường biển quốc tế. Ngoài khối lượng dầu mỏ dồi dào, nguồn thu đến từ hoạt động cảng biển khiến Brunei nhanh chóng trở thành một quốc gia thịnh vượng.

Vương quốc Brunei được cai trị bởi một gia đình hoàng gia trong suốt 600 năm qua. Các hoạt động kinh tế vĩ mô chủ yếu hoạt động ở cảng và ngoài khơi, khiến phần đất liền của quốc gia này vẫn giữ được vẻ nguyên sơ vốn có, thúc đẩy du lịch sinh thái phát triển. Những ngôi làng nhỏ xen lẫn những nhà thờ Hồi Giáo và chùa Phật Giáo khiến du khách không thể bỏ qua sức hấp dẫn này.

Liechtenstein

Sau hơn 300 năm với bao nhiêu biến cố lịch sử, đường biên giới của Liechtenstein vẫn không thay đổi.
Sau hơn 300 năm với bao nhiêu biến cố lịch sử, đường biên giới của Liechtenstein vẫn không thay đổi. (Ảnh: Boris Stroujko/Shutterstock).

Công quốc Liechtenstein là một quốc gia nói tiếng Đức, xuất hiện như một dấu chấm trên bản đồ giữa Áo và Thụy Sĩ. Được biết đến với phong cảnh sơn thủy tráng lệ, những ngôi làng cũ xưa mang kiến trúc cổ điển nằm trên những ngọn núi cao chót vót, những khu nghỉ dưỡng và khu trượt tuyết hiện đại, khiến đất nước này sở hữu lượng khách du lịch ổn định trong cả năm.

Vì mối quan hệ chính trị và kinh tế mạnh mẽ với Thụy Sĩ, Liechtenstein sử dụng đồng franc Thụy Sĩ làm tiền tệ. Được thành lập vào thế kỷ 18, Liechtenstein là tàn dư cuối cùng của Đế chế La Mã thần thánh, nơi những người cai trị từng kiểm soát phần lớn Trung Âu và Đông Âu.

Luxembourg

Dân số của Luxembourg chủ yếu tập trung ở Luxembourg City.
Dân số của Luxembourg chủ yếu tập trung ở Luxembourg City. (Ảnh: Boris Stroujko/Shutterstock).

Hãy cùng đến một vương quốc nhỏ khác ở Châu Âu - Luxembourg - nằm giữa Pháp, Đức và Bỉ. Đây là một đất nước của những lâu đài giống như trong truyện cổ tích và những ngôi làng nhỏ đầy thơ mộng. Dân cư chủ yếu sống ở khu vực nông thôn, thủ đô Luxembourg và trung tâm du lịch Echternach.

Du khách tìm kiếm phong cảnh thiên nhiên như thung lũng có rừng già và các cao nguyên tuyệt đẹp sẽ bị hút hồn bởi nơi này, trong khi đó, các thị trấn mang nét lãng mạn như trong những câu chuyện cổ tích sẽ thu hút các gia đình có trẻ nhỏ.

Nhờ tài chính, công nghệ và công nghiệp thép phát triển mạnh, Luxembourg là một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới. Dân số vào khoảng 600.000 người và nói rất nhiều ngôn ngữ, họ cùng nhau sống trong vùng đất rộng chỉ 2.590 km vuông.

Monaco

Monte Carlo được biết đến với sự quyến rũ về sòng bạc và ăn chơi.
Monte Carlo được biết đến với sự quyến rũ về sòng bạc và ăn chơi.

Tọa lạc ở bờ biển Côte d’Azur vùng Địa Trung Hải của Pháp và chỉ cách vài cây số đến biên giới Ý, Monaco là quốc gia độc lập nhỏ thứ hai trên Trái Đất và là quốc gia nhỏ bé nổi tiếng nhất thế giới. Không giống những quốc gia nhỏ bé khác kể ở trên, Monaco là một quốc gia với những đô thị lớn với dân số hơn 30.000 người cùng mật độ dân số 39.035 người/km vuông.

Khu vực trung tâm của nó, Monte Carlo, nổi tiếng với văn hóa xe thể thao, các sòng bạc hào nhoáng và những khách sạn đẳng cấp, trong khi khu phố cổ có các chợ truyền thống cùng những quán thức ăn đường phố trên những con đường chật hẹp quyến rũ.

Chưa hết, công quốc Moncaco là vùng đất mơ ước của những người yêu kiến trúc, với các tòa nhà cổ điển và nguy nga ở khắp mọi nơi. Các bảo tàng, phòng trưng bày nghệ thuật (gồm cả Phòng trưng bày Marlborough nổi tiếng) và Bảo tàng Hải dương học Thủy cung Jacques Cousteau cũng nằm trong tour tham quan của du khách.

Thành Vatican

Là nơi đặt Tòa Thánh của Giáo hội Công Giáo Roma, Vatican là một điểm du lịch nổi tiếng dù vô cùng nhỏ bé.
Là nơi đặt Tòa Thánh của Giáo hội Công Giáo Roma, Vatican là một điểm du lịch nổi tiếng dù vô cùng nhỏ bé.

Được bao quanh bởi Rome, Thành Vatican là quốc gia có chủ quyền nhỏ nhất thế giới với diện tích chỉ 0,45 km vuông. Đây là một trong những quốc gia giàu sức hấp dẫn nhất trong danh sách này, nơi có các bảo tàng, phòng trưng bày nghệ thuật, vườn thượng uyển và một số công trình tôn giáo nổi tiếng nhất thế giới.

Nhà thờ thánh Peter và nhiều tòa nhà với bề dày lịch sử tập trung đông đủ ở quảng trường cùng tên, nơi đây thu hút rất đông du khách trong các dịp lễ hội tôn giáo và sự xuất hiện của Đức Giáo Hoàng.

Điểm nổi bật thực sự đối với nhiều du khách là Bảo tàng Vatican, nơi có Nhà nguyện Sistine chứa đựng các tác phẩm của các nghệ sĩ thời Phục Hưng nổi tiếng nhất, cũng như bộ sưu tập các hiện vật Kitô Giáo thời kỳ đầu vào hàng ngàn năm trước.


Sưu tầm

Tuesday, August 4, 2026

Võ Lâm Ngũ Bá - Hoa Kỳ Sơn Luận Kiếm - Vô Danh



Nói về võ lâm Hoa Kỳ 10 năm trở lại đây, sóng gió nổi lên bốn bề, quần hùng tụ hội, cao thủ như mây. Nguyên lai trong thiên hạ có một bộ chân kinh, tên gọi Cửu Âm Chân Kinh MAGA, tương truyền ai luyện được thì hô một tiếng bốn phương hưởng ứng, phất một cái là mấy chục triệu hào kiệt kéo về. Bao nhiêu bang phái lớn nhỏ, bao nhiêu danh môn chính phái, hết thảy đều nhòm ngó bộ kinh ấy. Kẻ muốn cướp, người muốn giành, lại có kẻ muốn đốt bỏ cho khuất mắt — mà rốt cuộc chẳng ai đụng được tới một trang.
Vì sao vậy? Vì bộ kinh ấy đã nằm trong tay một lão già.

TRUNG NGOAN ĐỒNG — TRUMP BÁ THÔNG
Chư vị bằng hữu hẳn còn nhớ, trong Xạ Điêu Anh Hùng Truyện, kỳ Hoa Sơn luận kiếm thứ nhất, người đoạt ngôi Trung Thần Thông là Vương Trùng Dương, đường đường chính chính, quần hùng tâm phục khẩu phục. Nhưng sang tới Thần Điêu Hiệp Lữ, kỳ luận kiếm thứ hai trên đỉnh Hoa Sơn, kẻ ngồi vào ghế chính giữa lại chẳng phải một bậc chính nhân quân tử mặt lạnh như tiền, mà là một lão già tóc bạc phơ, vừa cười hì hì vừa nhảy nhót — Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông. Người đời gọi lão là Trung Ngoan Đồng.

Cái tên nghe qua thì buồn cười, nhưng ngẫm kỹ thì rất thâm thuý . Trong Ngũ Tuyệt, lão là kẻ duy nhất không màng danh vị, không giữ thể diện, không theo phép tắc, ăn nói bừa bãi, thích chọc phá thiên hạ — thế mà rốt cuộc lão ngồi giữa, còn bốn vị kia ngồi bốn góc.
Nay đem chuyện ấy mà đặt lên đất Hoa Thịnh Đốn, ta có Lão Ngoan Đồng Trump Bá Thông.

Bản lãnh của lão có ba điều đáng sợ.

Điều thứ nhất: lão nắm trong tay Cửu Âm Chân Kinh MAGA mà chẳng cần luyện. Chu Bá Thông năm xưa hứa với sư huynh là không luyện Cửu Âm, nên lão chỉ học thuộc lòng chứ không luyện — vậy mà chữ nào cũng thấm vào xương tủy. Trump Bá Thông cũng thế: lão chẳng đọc sách vở lý thuyết bảo thủ nào, chẳng qua trường lớp tư tưởng nào, thế mà mở miệng ra là trúng ngay tâm can mấy chục triệu người.

Điều thứ hai: lão sở hữu Song Thủ Hỗ Bác — phép đánh hai tay tự đấu với nhau, một người hóa thành hai, công lực tăng gấp bội. Trump Bá Thông vừa là kẻ ngồi trong Tòa Bạch Ốc vừa là kẻ đứng ngoài chửi Tòa Bạch Ốc; vừa là đương kim quyền lực vừa là nạn nhân bị vùi dập; tay trái ký sắc lệnh, tay phải đập bàn tố cáo chính cái bộ máy mình đang đứng đầu. Người thường xem thì thấy mâu thuẫn — kẻ trong nghề thì biết đó là tuyệt học.

Điều thứ ba, và là điều then chốt nhất: Kim Dung tiên sinh đã viết rõ, Song Thủ Hỗ Bác chỉ kẻ nào tâm địa đơn thuần mới học nổi. Quách Tĩnh khờ khạo nên học được. Hoàng Dung thông minh tuyệt đỉnh, nghĩ tới nghĩ lui, rốt cuộc học hoài không xong.

ĐÔNG TÀ — RON DESANTIS, chủ nhân Đào Hoa Đảo Florida
Hoàng Dược Sư ngự trên Đào Hoa Đảo giữa biển Đông, bày trận Ngũ Hành kỳ môn độn giáp, khách tới đảo mà không có người dẫn thì lạc chết trong rừng đào. Lão thông kim bác cổ: cầm kỳ thi họa, y bốc tinh tượng, kinh sử bách gia, nông điền thủy lợi — môn nào cũng tinh, môn nào cũng đạt tới bậc thầy. Trong Ngũ Tuyệt, luận về học vấn thì lão đứng đầu, không ai bì kịp.
Chữ “Tà” trong biệt hiệu chẳng phải chữ ác. Ấy là vì lão khinh miệt lễ giáo, coi thường cái đám hủ nho ở trung nguyên, ai đặt ra quy củ thì lão phá quy củ.

Ron DeSantis ngồi trên bán đảo Florida chìa ra Đại Tây Dương — đúng là phương Đông của Hoa Kỳ. Trong tay hắn, Florida hóa thành một Đào Hoa Đảo riêng biệt, luật lệ riêng, trận pháp riêng, ngược hẳn với quy củ của Hoa Thịnh Đốn.
Còn học vấn? Viện Đại Học Yale, tốt nghiệp hạng magna cum laude. Trường Luật Harvard, hạng cum laude. Trong tứ đại cao thủ, đây là bảng vàng sáng chói nhất, chẳng ai sánh nổi.
Nhưng bằng hữu ạ — Hoàng Dược Sư học rộng nhường ấy, tài cao nhường ấy, kiêu ngạo nhường ấy, mà kỳ Hoa Sơn luận kiếm thứ nhất, lão có thắng được Vương Trùng Dương chăng?
Không.
Năm Giáp Thìn, Đông Tà DeSantis từ Đào Hoa Đảo dong thuyền ra khơi, hùng hổ lên Hoa Sơn tranh ngôi. Đánh chưa được bao lâu thì thu chưởng, cúi đầu, quay thuyền về đảo.

TÂY ĐỘC — JD VANCE, chủ nhân Bạch Đà Sơn Ohio
Âu Dương Phong ở Bạch Đà Sơn nơi Tây Vực, nuôi rắn độc, luyện Hàm Mô Công, tính tình âm trầm. Chữ “Độc” cũng chưa hẳn là ác — ấy là lối đi ngược đời.
Bản lãnh ghê gớm nhất của lão là nghịch luyện Cửu Âm Chân Kinh. Lão bị Hoàng Dung lừa cho một bản kinh chép ngược, kinh mạch đảo lộn, đầu óc điên đảo — vậy mà khi lên Hoa Sơn lần thứ hai, lão đảo ngược cả người, chân chổng lên trời, đánh bại hết thảy quần hùng, đoạt ngôi thiên hạ đệ nhất.

JD Vance năm xưa từng là kẻ mạt sát Trump gay gắt nhất trong đám sĩ phu bảo thủ. Chữ nghĩa đanh thép, lý luận sắc bén, chê bai không tiếc lời. Rồi một ngày, hắn đảo ngược toàn bộ kinh mạch. Chân chổng lên trời, tay chống xuống đất — và bước thẳng vào ghế Phó Tổng Thống.
Đó chẳng phải nghịch luyện Cửu Âm thì là gì?

Học vấn của Tây Độc cũng đâu phải tầm thường: Viện Đại Học Tiểu Bang Ohio, hạng summa cum laude — hạng cao nhất. Rồi Trường Luật Yale. Xếp thứ nhì trong tứ đại.
Lại nói, trong Ngũ Tuyệt, kẻ khao khát ngôi Võ Lâm Chí Tôn ráo riết nhất, ăn không ngon ngủ không yên vì hai chữ “đệ nhất”, chính là Tây Độc. Mà kỳ Hoa Sơn luận kiếm kế tiếp thì đã gần lắm rồi — chỉ còn hai năm nữa.

NAM ĐẾ — MARCO RUBIO, hậu duệ Đại Lý quốc
Đoàn Trí Hưng làm hoàng đế nước Đại Lý — một tiểu quốc ở tận phương Nam, đất hẹp người thưa, kẹt giữa các cường quốc, đời đời phải khéo léo mà giữ mình. Tuyệt học của ngài là Nhất Dương Chỉ, môn công phu vừa đả thương được người, vừa cứu sống được người. Về sau ngài rũ áo long bào, khoác cà sa, thành Nhất Đăng đại sư.

Marco Rubio sinh tại Miami, cha mẹ là người Cuba vượt biển — phương Nam của Hoa Kỳ, mà lại là phương Nam đúng nghĩa: một hòn đảo nhỏ, một tiểu quốc, một dân tộc lưu vong mang theo ký ức về quê hương đã mất.

Nay Rubio ngồi ghế Ngoại Trưởng — cái ghế mà việc chính là dùng lời lẽ để chữa những vết thương giữa các quốc gia. Đúng là Nhất Dương Chỉ. Phong thái ôn hòa, giọng nói chừng mực, chẳng bao giờ gầm thét.
Về học vấn: Viện Đại Học Florida rồi Trường Luật Miami. So với Yale–Harvard của Đông Tà, so với summa cum laude và Yale Law của Tây Độc, thì bảng vàng của Nam Đế nhạt hơn cả — xếp chót trong bốn người.
Nhưng bằng hữu thử nghĩ mà xem: Đoàn Trí Hưng có cần bảng vàng nào chăng? Ngài là hoàng đế. Cái uy của ngài không đến từ trường ốc.
Vả lại, trong Ngũ Tuyệt, Nam Đế là kẻ duy nhất tự tay buông ngôi báu. Năm Bính Thân, Rubio từng lên Hoa Sơn tranh ngôi với Trump Bá Thông, bị đánh cho tơi tả, thua thảm ngay trên sân nhà Florida. Rồi hắn cởi giáp, cúi đầu, đi theo phò tá kẻ đã đánh bại mình.
Kẻ tầm thường gọi đó là hèn. Kim Dung tiên sinh thì gọi đó là xuất gia.

BẮC CÁI — PETE HEGSETH, Bang chủ Cái Bang Minnesota
Hồng Thất Công thống lãnh Cái Bang — bang hội đông người nhất thiên hạ, gồm toàn hạng cùng đinh áo rách, chẳng có ai quyền quý. Lão ăn to nói lớn, mê rượu mê thịt, tính tình bộc trực, ghét nhất là bọn quanh co chữ nghĩa. Tuyệt học của lão là Giáng Long Thập Bát Chưởng — mười tám chưởng đường đường chính chính, chẳng có nửa phần xảo diệu, cứ thế mà bổ xuống.

Pete Hegseth sinh tại Minneapolis, tiểu bang Minnesota, giáp biên Gia Nã Đại — phương Bắc chính hiệu, xứ tuyết phủ quanh năm. Xuất thân lính chiến, từng ra trận Iraq và A Phú Hãn. Chỗ dựa của hắn chẳng phải hàng tướng lãnh đeo đầy sao trên vai, mà là đám lính trơn hàng dưới — đúng là Cái Bang.
Ấy thế mà — chao ôi! — bằng hữu có biết cái lão Bắc Cái này học ở đâu ra chăng?
Viện Đại Học Princeton. Rồi Trường Kennedy của Viện Đại Học Harvard, bằng Cao Học Chính Sách Công.
Ghê gớm thay! Té ra Bang chủ Cái Bang, kẻ chửi bới đám tinh hoa trường ốc hăng nhất trong bốn người, lại giắt trong bị hai tấm bằng thuộc hàng danh giá bậc nhất thiên hạ. Xếp hạng ba trong tứ đại.
Người trong võ lâm gọi đó là giấu vàng trong bị rách.

Có bằng hữu đọc tới đây ắt đứng dậy vặn hỏi: “Ohio thì tây cái nỗi gì? Florida với Miami chẳng phải cùng một phương nam cả sao?”
Xin thưa: giang hồ là chuyện của khí chất, chẳng phải chuyện của địa bàn. Bạch Đà Sơn ở Tây Vực đâu phải vì nó nằm bên trái bản đồ, mà vì cái lối luyện công ngược đời của chủ nhân nó. Đại Lý ở phương Nam đâu phải vì vĩ độ, mà vì cái phận nhược tiểu và cái tâm từ bi của bậc quân vương. Chư vị chớ tra bản đồ mà hãy tra tâm địa.


Xin trở lại câu Kim Dung tiên sinh đã viết: Song Thủ Hỗ Bác chỉ kẻ tâm địa đơn thuần mới học nổi. Hoàng Dung thông minh quá nên học mãi không xong.
Đông Tà Yale–Harvard. Tây Độc summa cum laude. Bắc Cái Princeton–Kennedy. Nam Đế cử nhân luật. Bốn vị đều thông minh, đều lắm chữ, đều biết nghĩ tới nghĩ lui, biết cân nhắc lợi hại, biết đắn đo được mất.
Chính vì thế mà chẳng vị nào học nổi Song Thủ Hỗ Bác.
Còn Lão Ngoan Đồng thì cứ hai tay đánh nhau chan chát, cười hì hì, chẳng nghĩ ngợi gì sất.

Kỳ Hoa Sơn luận kiếm lần tới đã gần kề. Bốn phương đều đã mài kiếm. Nhưng chừng nào lão già tóc vàng còn ngồi giữa mà cười, thì bốn vị kia vẫn cứ là bốn góc — dù trong tay có cầm bao nhiêu tấm bằng đi nữa.
Muốn biết sự thể ra sao, xin xem hồi sau phân giải