Friday, February 27, 2026

500 USD - Tg Văn Chương


Tôi lái Uber. Chủ yếu là vào ban đêm.

Tuần trước, lúc 11 giờ đêm, tôi đón một ông cụ.

Ông lên xe rồi nói:

“Tôi cần cậu chở tôi đến năm nơi tối nay. Tôi sẽ trả cậu 500 đô. Tiền mặt. Nhưng cậu không được hỏi lý do cho đến khi chúng ta đi xong tất cả.”

Ông đưa cho tôi năm địa chỉ.

Điểm dừng đầu tiên: một căn nhà ở ngoại ô.

Ông không xuống xe. Ông chỉ ngồi đó, nhìn chằm chằm vào căn nhà suốt mười phút. Nước mắt lặng lẽ chảy xuống.

“Được rồi. Đi điểm tiếp theo.”

Tôi lái đi.

Điểm dừng thứ hai: một trường tiểu học. Trống rỗng. Tối om.

Ông xuống xe. Đi đến khu sân chơi. Ngồi lên một chiếc xích đu. Ngồi đó hai mươi phút.

Rồi ông quay lại xe.

“Tôi đã dạy ở đây. Bốn mươi ba năm. Nghề đẹp nhất cuộc đời tôi.”

Điểm dừng thứ ba: một quán ăn nhỏ.

Ông bước vào. Gọi một ly cà phê. Ngồi một mình trong góc.

Ông không uống.

Ông chỉ ngồi đó, nhìn quanh.

Mười lăm phút sau, ông quay lại xe.

“Vợ tôi và tôi có buổi hẹn đầu tiên ở đây. Năm 1967.”

Điểm dừng thứ tư: nghĩa trang.

Ông xuống xe. Đi đến trước một ngôi mộ.

Ông đứng đó, nói chuyện với nó.

Tôi không nghe được ông nói gì.

Ba mươi phút sau, ông quay lại. Mắt đỏ hoe.

“Vợ tôi. Hôm nay tròn ba năm.”

Điểm dừng thứ năm: bệnh viện.

Ông yêu cầu tôi đậu xe. Chờ.

“Đây là điểm cuối cùng.”

Ông nhìn tôi.

“Bây giờ tôi sẽ nói lý do. Tôi bị ung thư giai đoạn cuối. Chỉ còn vài tuần để sống. Có thể chỉ vài ngày. Tối nay, tôi muốn nhìn lại toàn bộ cuộc đời mình. Lần cuối. Trước khi tôi không còn cơ hội nữa.”

Tôi bật khóc. Ngay trong xe.

Ông nói tiếp:

“Căn nhà — nơi tôi nuôi các con khôn lớn.

Trường học — nơi tôi tìm thấy ý nghĩa đời mình.

Quán ăn — nơi tôi biết thế nào là yêu.

Nghĩa trang — nơi tôi nói lời tạm biệt.

Và bệnh viện… nơi tôi sẽ ở lại từ tối nay. Khu chăm sóc cuối đời. Tôi sẽ không về nhà nữa.”

Ông đưa tôi 500 đô.

“Cảm ơn cậu đã chở tôi đi qua cuộc đời mình. Cậu là người xa lạ cuối cùng đối xử tử tế với tôi. Tôi muốn mọi thứ được nhẹ nhàng. Và cậu đã làm nó trở nên nhẹ nhàng.”

Tôi từ chối.

“Tôi không thể nhận số tiền này.”

Ông khẽ lắc đầu.

“Xin cậu. Tôi không còn ai để lại nó. Các con tôi không còn nói chuyện với tôi nữa. Tôi không còn bạn bè. Cậu đã cho tôi ba giờ tử tế. Với tôi, nó đáng giá hơn 500 đô.”

Ông bước xuống xe. Cầm chiếc vali nhỏ.

Rồi quay lại hỏi:

“Cậu tên gì?”

“Marcus.”

Ông gật đầu.

“Cảm ơn cậu, Marcus. Vì đã là điều đẹp cuối cùng trong đời tôi.”

Ông bước vào bệnh viện.

Tôi ngồi lại trong xe. Khóc suốt một giờ.

Ngày hôm sau, tôi quay lại bệnh viện. Tôi hỏi thăm ông.

“Họ nói: Ông Patterson. Phòng 412.”

Tôi mang theo hoa. Gõ cửa.

Ông nằm trên giường.

Ông mỉm cười khi thấy tôi.

“Marcus. Cậu quay lại.”

“Tôi không thể không quay lại. Ông ổn không?”

Ông khẽ nói:

“Tôi đang chết. Nhưng tôi đã nhìn lại cuộc đời mình tối qua. Vậy nên… tôi ổn.”

Chúng tôi nói chuyện hai giờ.

Về vợ ông. Về học sinh của ông. Về những đứa con đã không còn gọi điện. Về cuộc đời ông đã sống.

Tôi đến thăm ông mỗi ngày trong hai tuần.

Mang cà phê. Đọc tin tức cho ông nghe.

Đôi khi… chúng tôi chỉ ngồi yên.

Một ngày, ông nói:

“Tôi nghĩ mình sẽ chết một mình. Nhưng cậu ở đây. Một người xa lạ trở thành gia đình trong những ngày cuối của tôi. Đó là một món quà.”

Tôi nắm tay ông.

“Ông sẽ không chết một mình. Không còn nữa.”

Ông khóc.

“Cảm ơn cậu đã nhìn thấy tôi. Khi tôi đã trở nên vô hình.”

Ông Patterson qua đời vào một ngày thứ Ba. Lúc 3 giờ 17 sáng.

Tôi ở đó. Nắm tay ông.

Những lời cuối cùng của ông:

“Hãy nói với mọi người. Hãy bảo họ nhìn những người xa lạ. Thật sự nhìn. Ai rồi cũng chết. Có người sớm hơn người khác. Nhưng tất cả chúng ta đều đang đi đâu đó. Hãy tử tế trên đường đi. Cậu đã tử tế. Cậu đã cứu những ngày cuối của tôi.”

Ông nhắm mắt lại.

Máy theo dõi tim trở thành một đường thẳng.

Tôi vẫn ngồi đó. Một giờ nữa. Không thể buông tay ông.

Ông ra đi… nhưng không một mình.

Và điều đó có ý nghĩa.

Trong tang lễ của ông, có sáu người.

Tôi.

Ba y tá.

Một luật sư.

Và một học trò cũ đọc được cáo phó.

Chỉ sáu người.

Một người đàn ông đã dạy học 43 năm.

Yêu một người phụ nữ 52 năm.

Sống 81 năm.

Sáu người.

Tôi đứng lên và nói:

“Ông Patterson đã dạy tôi một điều.

Mỗi người xa lạ… là cả thế giới của ai đó.

Mỗi hành khách Uber… có một câu chuyện.

Mỗi người bạn gặp… đang sống, đang hy vọng, đang chờ ai đó nhìn thấy họ.

Ông đã trả tôi 500 đô để chở ông đi qua cuộc đời mình.

Nhưng ông đã cho tôi thứ quý hơn nhiều.

Sự chắc chắn rằng lòng tử tế với người xa lạ không phải là điều thêm vào.

Nó là điều quan trọng nhất.

Bởi vì tất cả chúng ta đều là người xa lạ.

Cho đến khi có ai đó dừng lại. Nhìn. Lắng nghe. Và ở lại.”

Tôi vẫn giữ 500 đô trong ngăn xe.

Chưa bao giờ tiêu.

Nó là một lời nhắc nhở.

Mỗi hành khách có thể đang đi chuyến cuối cùng.

Mỗi người xa lạ có thể đang nói lời tạm biệt cuối cùng.

Tôi lái xe khác đi từ ngày đó.

Tôi hỏi.

Tôi lắng nghe.

Tôi nhìn thấy họ.

Bởi vì một ông cụ đã cần một đêm cuối thật dịu dàng.

Và một người xa lạ… đã ở lại.

Xin hãy là người xa lạ đó.

Có thể ai đó đang đi chuyến cuối cùng của họ tối nay.

Hãy làm cho nó… dịu dàng.

 

Tg Văn Chương

Giao Thừa Suy Tư - Trần Quốc Bảo

 


 Năm cùng tháng tận,

Lận đận quê người.

Ngoài kia, lặng lẽ… sương rơi.

Trong này, lặng lẽ… tôi ngồi suy tư.

Men say sưởi ấm từ từ,

Lòng nghe lắng đọng, tâm như nhập thiền!

Bao năm chĩu nặng ưu phiền,

Phủi tay buông bỏ, bỗng nhiên thư nhàn


Giữa đêm trừ tịch,

Nghe bước thời gian.

Đâu đây… tiếng pháo nổ ran?

Ôi! muôn thế sự, cũng tan bụi đời!

Hít vào buồng phổi đầy hơi,

Nhẹ nhàng không khí lại rời thân ta!

Nhân sinh ở cõi ta bà,

Lợi-danh mây khói, vào ra vô thường.



Chợt nhớ bạn xưa,



Một thuở chiến trường!


Đã cùng gối đất, nằm sương,


Đêm nay lưu lạc, về phương trời nào?


Đang ngồi, nâng chén rượu đào,


Hay hồn đã lặng lẽ vào hư vô?

 

Sương sa trên chiếc lá khô,


Có-không, còn-mất, mơ hồ cả thôi!


Mịt mù, mây phủ đầy trời,


Suốt đêm trừ tịch, tôi ngồi trầm tư…

 

         

            Trần Quốc Bảo                 

Người Thợ Nhuộm Và 14.000 Mạng Sống

Anh mới 18 tuổi. Vũ khí của anh là một lọ axit. Và anh đã cứu sống 14.000 con người.

​Paris, năm 1943.

​Adolfo Kaminsky là một thợ nhuộm học việc làm tại một xưởng dệt khi phát xít Đức chiếm đóng Pháp. Anh học hóa học thông qua những tấm vải, hiểu cách các loại axit phản ứng với một số loại mực nhất định, dung môi nào hòa tan sắc tố nào, và cách thao túng màu sắc ở cấp độ phân tử.

​Anh không hề biết rằng những kiến thức này rồi sẽ trở thành ranh giới giữa sự sống và cái chết cho hàng ngàn con người.

​Khi lực lượng Gestapo bắt đầu hệ thống hóa việc nhận dạng, lập hồ sơ và trục xuất người Do Thái Pháp đến các trại tập trung, công cụ chủ yếu của chúng là bộ máy hành chính. Chứng minh thư. Thẻ khẩu phần ăn. Giấy phép đi lại. Mỗi tài liệu đều được đóng dấu và xác nhận. Và trên chứng minh thư của người Do Thái, một từ duy nhất được in bằng mực đậm: "JUIF" (Do Thái).

​Từ duy nhất đó chính là một bản án tử hình.

​Lực lượng Kháng chiến Pháp đã tìm đến Kaminsky và đưa ra một thử thách: Liệu anh có thể xóa bỏ mấy chữ đó mà không làm hư hỏng giấy tờ? Hầu hết những kẻ làm giấy tờ giả đều bó tay. Loại mực đó được thiết kế để không thể tẩy xóa. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm xóa nó đi đều sẽ làm rách giấy khiến món đồ giả bị lộ ngay lập tức.

​Kaminsky chăm chú quan sát các giấy tờ dưới ánh đèn. Sau đó, anh nhớ lại một ý tưởng từ xưởng nhuộm: dùng Axit Lactic. Nó có thể hòa tan loại mực xanh đặc biệt mà chính phủ Pháp sử dụng mà không phá hủy các sợi giấy bên dưới.

​Ý tưởng đó đã thành công.

​Nhưng xóa chữ mới chỉ là bắt đầu. Anh cần làm giả thông tin. Những cái tên mới. Ngày sinh mới. Danh tính mới. Mỗi tài liệu phải hoàn hảo đến mức tuyệt đối, bởi vì một sai sót nhỏ, một sự không nhất quán, hay một sắc độ mực hơi lệch màu đều đồng nghĩa với tra tấn và cái chết — không chỉ cho người cầm giấy tờ mà cho cả những người đã giúp đỡ họ.

​Lực lượng Kháng chiến đã bố trí cho anh một phòng thí nghiệm bí mật trên một căn gác áp mái ở bờ trái sông Seine. Các yêu cầu gửi đến dồn dập. 50 giấy khai sinh cho trẻ em được bí mật đưa sang Thụy Sĩ. 200 thẻ khẩu phần cho các gia đình đang ẩn náu dưới hầm và trên gác xép. 300 giấy thông hành để trốn sang Tây Ban Nha.

​Kaminsky làm việc dưới một bóng đèn mờ ảo. Hơi thuốc tẩy và axit bốc lên làm bỏng cổ họng và cay mắt cho đến khi nước mắt lăn dài trên mặt anh. Những ngón tay anh bị mực bám đen vĩnh viễn. Căn phòng nhỏ nồng nặc mùi dung môi.

​Và rồi, anh bắt đầu làm một phép tính.

​Anh tính toán rằng mỗi tài liệu làm giả mất khoảng hai phút. Điều đó có nghĩa là trong một giờ, anh có thể tạo ra 30 tài liệu. 30 cơ hội sống sót. Anh đã lập ra một phương trình tàn khốc luôn ám ảnh tâm trí mình: mỗi giờ ngủ đồng nghĩa với việc 30 người có thể phải chết. Mỗi phút nghỉ ngơi là một phút ai đó vẫn bị mắc kẹt, không nơi nương tựa, và mòn mỏi đợi chờ.

​"Nếu tôi ngủ một giờ, 30 người sẽ chết," anh nói với các đồng đội trong lực lượng Kháng chiến.

​Vì vậy, anh đã ngừng ngủ.

​Trong một tuần kinh hoàng nọ, có tin báo một trại trẻ mồ côi đang nuôi dưỡng 300 trẻ em Do Thái sắp bị đột kích. Các em cần giấy tờ ngay lập tức, nếu không sẽ bị đưa lên tàu đến Auschwitz. Kaminsky tự nhốt mình trên gác mái và làm việc suốt hai ngày hai đêm không nghỉ. Anh làm giả giấy khai sinh cho đến khi mắt nhìn mờ đi và nhòe thành hai. Anh làm cho đến khi bàn tay bị chuột rút, không còn cảm giác ở đầu ngón tay, và phải xoa bóp chúng để có thể tiếp tục làm việc. Cuối cùng, anh lịm đi ngay tại bàn.

​Một giờ sau, anh tỉnh dậy trong hoảng loạn, giận dữ với chính mình. Ba mươi người. Có lẽ anh đã giết chết 30 người chỉ vì lỡ ngủ. Anh không ăn uống gì và quay lại làm việc ngay lập tức.

​Đám trẻ đã trốn thoát thành công.

​Tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, Kaminsky làm việc trong căn gác tối tăm đó. Phát xít Đức ngày càng tinh vi hơn trong việc bảo mật tài liệu. Anh cũng ngày càng tinh vi hơn trong các phương pháp làm giả. Nó trở thành một cuộc chiến thầm lặng được tiến hành bằng hóa học và sự chính xác, nơi chiến thắng được đo bằng bao sinh mạng vẫn tiếp diễn, những đứa trẻ được lớn lên, những gia đình được sống sót.

​Khi quân Đồng minh giải phóng Paris vào tháng 8 năm 1944, Adolfo Kaminsky đã tạo ra những giấy tờ giả giúp cứu sống ước tính 14.000 người gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em khỏi các phòng hơi độc. Anh chưa bao giờ nhận một xu nào cho công việc của mình. Khi được đề nghị trả công, anh từ chối. Với anh, ý tưởng lấy tiền từ việc cứu người là một điều không thể chấp nhận được về mặt đạo đức.

​Sau chiến tranh, Kaminsky trở thành một nhiếp ảnh gia. Anh sống một cuộc đời lặng lẽ, khiêm nhường và kín đáo. Anh không bao giờ kể về những gì mình đã làm. Với hàng xóm. Với đồng nghiệp. Trong nhiều thập kỷ — thậm chí với cả các con mình. Người anh hùng cứu sống hàng ngàn người chỉ đơn giản là hòa mình vào cuộc sống đời thường.

​Mãi đến gần cuối đời, ông mới chia sẻ câu chuyện của mình. Và khi ông làm vậy, thế giới đã học được một điều không bao giờ nên quên: Rằng lòng dũng cảm không phải lúc nào cũng gắn liền với súng đạn, rằng chủ nghĩa anh hùng không phải lúc nào cũng mặc quân phục, và rằng một người được vũ trang bằng kiến thức, niềm tin và một sự từ chối ngủ nghỉ kiên định có thể đứng vững trước cả một đế chế bạo tàn. Và chiến thắng.

​Adolfo Kaminsky qua đời năm 2023 ở tuổi 97. Nhưng 14.000 mạng sống ông cứu đã trở thành những gia đình, những cộng đồng và những thế hệ. Di sản của ông không được đo bằng tượng đài hay huy chương, mà bằng nhịp đập của những trái tim vẫn còn đang sống.

(HatGPT st & dịch)

Nỗi Lòng Xuân Xứ Người - Nguyễn Duy Phước

Thursday, February 26, 2026

Ly Hôn


Thôi đủ rồi, tôi chịu đựng quá đủ rồi. Tôi nộp đơn ly hôn! — bà Petrovna tức giận hét lên.

— Cứ nộp đi, nộp đi, làm tôi sợ quá cơ. Có khi cả đời tôi chỉ mơ đúng một chuyện đó thôi đấy, — Semionych nửa say vừa phì phèo điếu thuốc vừa khoát tay.
— Tôi sẽ nộp đấy, ông nghĩ tôi không dám à? Ngay ngày mai tôi sẽ ra tòa và tự tay đưa cho bà Valentina Ivanovna.
Và họ ly hôn.
Họ đăng tin rao đổi căn hộ ba phòng. Bà Petrovna đã nghỉ hưu. Còn Semionych thì vẫn đi làm và thu nhập cũng khá.
Ngày hôm sau, ngay sau vụ ly hôn, ông vẫn về nhà ăn trưa như thường lệ.
Chỉ đến khi về đến nhà ông mới sực nhớ ra rằng họ đã ly hôn rồi, mà dĩ nhiên ông chẳng bao giờ nấu bữa trưa cho mình.
— Cho tôi ăn với, — ông nói với vẻ thân quen.
— Ông là ai mà tôi phải nuôi ăn? — bà trả lời đầy tự trọng.
— Thì… ít nhất cũng là người quen cũ.
— Ôi, tôi có cả vài chục người quen cũ ấy chứ. Thế tôi phải cho tất cả họ ăn hay sao? Buồn cười thật.
— Thế nếu tôi trả tiền cho bà, bà có cho ăn không?
— Trả tiền à? — Petrovna không ngờ tới cú ngoặt này. — Ờ thì một mình tôi cũng chẳng ăn hết, bán cho ông còn hơn là vứt đi không. Nhưng giá sẽ như trong nhà hàng đấy. Tôi nấu chẳng kém họ đâu.
— Giá nhà hàng thì nhà hàng. Rót đi, nhanh lên, không thì trễ giờ mất.
— Này, sao ông lại cứ sồn sồn lên vậy?
— Thôi nào, bà làm quá lên rồi đấy, — Semionych nói, vừa nhanh nhẹn húp hết bát súp, thứ mà không hiểu sao ông thấy ngon hơn hẳn trước kia, có lẽ vì phải trả tiền cho nó.
Thế là ngày nào ông cũng về nhà ăn trưa và trả tiền như ở nhà hàng.
Ông thấy rất tiện — khỏi phải lỉnh kỉnh đồ ăn, nồi niêu.
Bà cũng thấy tốt — có thêm tiền.
Mà nấu nướng thì dù cho một người hay hai người cũng vẫn phải nấu, có khác gì đâu.
Ngoài bữa trưa, ông còn “sử dụng” căn bếp–nhà hàng tại gia này cả buổi sáng lẫn buổi tối.
Miễn là có tiền…
Ý tưởng về một nhà hàng tại nhà ngày càng cuốn hút Petrovna.
Bà còn đặc biệt đến nhà hàng duy nhất trong thị trấn nhỏ của họ. Xem cách bày bàn, viết thực đơn, cách phục vụ, trang phục của các cô phục vụ. Nói chung, bà ghi nhớ tất cả những gì có thể.
Một hôm, Semionych về nhà và đứng sững trước cửa bếp.
Trên bàn là khăn trải trắng, lọ hoa, bên cạnh đĩa có khăn ăn và một mảnh giấy.
Ông lại gần bàn, cầm mảnh giấy lên đọc: “Thực đơn”.
— Hừm, bà già này đúng là bày vẽ.
Nhưng ông vẫn đọc tiếp, và ánh mắt dừng lại ở dòng cuối: vodka — 100 gram — 40 hryvnia*.
— Ông dùng món gì? — Petrovna hỏi, bước vào bếp.
Semionych ngẩng lên và hơi sững sờ, không nhận ra chính vợ mình.
Chiếc váy đẹp ôm lấy thân hình bà bỗng đâu hiện ra, bên ngoài là chiếc tạp dề trắng gọn gàng, tóc được búi cao thành kiểu lược cài.
Và quan trọng nhất — khuôn mặt bà rạng rỡ nụ cười.
— Cho tôi tất cả những món đắt nhất, và thêm vodka 100 gram… không, 200 gram.
Nhưng Petrovna không giữ được lâu vai diễn mới.
— À ha! — bà reo lên, — hóa ra ông vẫn chưa bỏ được, tôi cứ nghĩ là ông tỉnh ngộ rồi, nên mới thử xem sao.
— Thử à. Ê này! Lại bắt đầu nóng nảy rồi. Còn tôi thì, tôi muốn uống với bà một ly “bruderschaft” kiểu đan khủy tay thân hữu cơ.
— Ôi, tôi mà uống kiểu thân hữu với ông ư. Ông rảnh quá.
Nhưng trong lòng bà lại thấy hơi thương Semionych.
Một lần, Semionych về nhà, nhưng trong bếp không có ai đón.
Petrovna bị ốm.
Buổi tối bà nói:
— Giá mà ông xoa giúp dưới lưng cho tôi.
— Có tiền thì tôi làm.
— Đồ ác. Thôi được, tôi trả. Đây, xoa đi.
— Sao bà lại xưng suồng sả với tôi thế, thưa công dân?
— Ông đùa à?
Thế là họ sống với nhau như vậy.
Chẳng có ai hỏi về tin rao đổi căn hộ.
Buổi tối họ xem tivi, còn đêm thì ai về phòng nấy.
Một tối mùa đông dài, họ ngồi chơi bài.
Semionych nói:
— Nghe này, Petrovna, sao bà cứ một mình mãi thế?
— Còn ông, Semionych, không thấy buồn khi cứ một mình mãi sao?
— Ừ, cũng hơi buồn thật.
— Tôi thì hình như cũng hơi buồn.
— Nghe này, Petrovna, hay bà lấy tôi đi?
— Ờ, chuyện này thì… phải nghĩ đã, — bà trả lời một cách vô cùng duyên dáng…


VietBF@sưu tập

Ngày Tết Cho Và Nhận - Sương Lam


Hằng tuần tôi thường viết bài cho mục Một Cõi Thiền Nhàn của tôi vào ngày thứ hai để gửi đến Ban Biên Tập Oregon Thời Báo ở Portland, Oregon. 

Hôm nay là ngày Thứ Hai Mùng Bảy Tết Bính Ngọ vì vẫn thuộc trong "Tháng Giêng là Tháng Ăn Chơi....... Tết" theo như nếp sống của dân quê Việt Nam ngày xưa.

Nhưng ở chốn thị thành, nếu Tết lại đến trong ngày làm việc thì các hãng xưởng, cơ quan xí nghiệp vẫn tiếp tục làm việc như thường lệ. Nhân viên nào muốn nghỉ ăn Tết thì phải đành chấp nhận "lấy phép nghỉ không ăn lương" ở nhà vui Tết với gia đình, vợ con  như trường hợp Mùng Một Tết Bính Ngọ 2026 năm nay rơi đúng vào ngày Thứ Ba 2-17-2026, cũng phải đành chấp nhận mà thôi.


Tết là dịp để gia đình sum họp vui vẻ nên có nhiều gia đình xin nghỉ phép về Việt Nam ăn Tết, thăm Cha viếng Mẹ. Chúng tôi cũng có đôi lần làm thế khi cha mẹ chúng tôi còn sinh tiền. Nhưng kể từ khi cha mẹ chúng tôi không còn nữa thì chúng tôi không có lý do gì nữa để về Việt Năm ăn Tết.  

Tuy nhiên dù xa quê hương, chúng tôi vẫn cố gắng đón Tết Nguyên Đán Việt Nam với đầy đủ những tập tục mà cha mẹ tôi đã làm: quét dọn bàn thờ tổ tiên, chưng hoa quả, bông trái cúng Tết trên bàn thờ Phật, bàn thờ tổ tiên, đi lễ chùa Mùng Một Tết, lì xì Tết cho con cháu đến mừng tuổi ông bà cha mẹ ngày Tết, ăn chay ngày Mùng Một Tết, không quét nhà đổ rác ngày Mùng Một Tết  v..v... 

Thế hệ chúng tôi cố gắng "Do the best we can" đón mừng Tết Việt Nam với tất cả lòng thành, còn đến thế hệ con cháu chúng tôi thì "Que sera, sera".  

Ngày Mùng Một Tết Bính Ngọ 2026 năm nay, cậu em trai gia đình Nguyễn Hữu chúng tôi  đã đến đón chúng tôi đi lễ Phật đầu năm ở Bửu Hưng Tu Viện ở Vancouver, WA , hội ngộ với Sư Huệ Hương, cô em thứ hai của tôi, đang tu trì ở đấy.

Lễ Phật xong, chúng tôi được ban trai soạn của chùa khoản đãi phở chay ngon tuyệt vời. Kính tri ân Sư Huệ Hương, cảm ơn ban trai soạn chùa Bửu Hưng và cảm ơn cậu Út nhé.

Buổi chiều Mùng Một Tết, cô cháu nội Mya tự lái xe của mình chở ba đến chúc Tết ông bà Nội. Chúng tôi thật cảm động vô cùng vì con cháu gia đình tôi còn nhớ đến viếng thăm ông bà cha mẹ vào ngày Mùng Một Tết.   

Chúng tôi đã có một ngày Tết hạnh phúc và vui vẻ bên nhau. Tạ ân Chư Phật đã ban phúc lành cho vợ chồng già chúng tôi. 

Mời xem 

Youtube Gia Đình Minh Suơng Lam Tết Bính Ngọ 2026

https://www.youtube.com/watch?v=-t1xrzL1zO8

Bây giờ đã bắt đầu một năm mới.  Mọi người dần dần làm quen với những sinh hoạt của năm mới như khi viết “check” trả tiền nhà, tiền điện, tiền  bảo hiểm v..v.. bạn phải để ý đề ngày cho đúng năm 2026 nhé.

Hôm nay người viết vừa mới nghe  xong bài thuyết giảng của Hòa Thượng Tịnh Không trên internet  về đề tài  “Thay đổi cách sống”, xin được chia sẻ cùng các bạn.   

Hòa Thượng đã nêu lên quan niệm giáo dục đạo đức đời sống của Đông Phương Trung Quốc và Tây Phương Âu Mỹ.  

Đông Phương cho rằng đời người có bốn giai đoạn như bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông của đất trời. 

1. Dưới 20 tuổi như Mùa Xuân  con người cần phải được giáo dục đạo đức.

2. Từ 20 - 40 tuổi như mùa Hạ con người cần phục vụ xã hội.

3. Từ 40 - 60 tuổi như mùa Thu con người cần truyền trao kinh nghiệm cho người kế thừa.

4. Sau 60 tuổi như mùa Đông con người cần về hưu để hưởng phước.


Trong khi đó Tây Phương lại quan niệm:

1.  Tuổi trẻ là tuổi để hưởng thụ cho nên tuổi thơ được ví như đang sống trong thiên đàng.

2. Tuổi trung niên sống trong chiến trường tranh đua danh lợi

3. Tuổi già  sống buồn thảm  đi vào phần mộ.

Theo lời trình bày kể trên chúng ta cần phải chọn lựa và thay đổi cách sống như thế nào để có thể sống một cuộc đời an vui hạnh phúc, bạn nhỉ? 

Chúa hay Phật đều dạy rằng: Con người nếu không biết tu phước tích đức thì sẽ tạo ra nhiều nghiệp tội. Những chủng tử thiện ác đó đều được lưu vào A Lại Gia Thức của chúng ta và theo ta từ kiếp này sang kiếp khác rồi tùy duyên mà phát sinh ra để con người được hưởng quả lành hay nhận quả ác do những nghiệp nhân mà chính ta tạo tác từ vô lượng kiếp sống của chúng ta.  Gieo nhân nào thì sẽ gặt quả nấy ví như gieo hạt đậu thì sẽ hái được trái đậu, gieo hạt cam thì hái được trái cam chứ không thể nào gieo hạt đậu mà hái được trái cam.  Bạn đồng ý chứ?

Chúng ta cần phải thay đổi cách sống si mê lầm lỗi của ta, bỏ bớt dần những suy nghĩ, hành động, ngôn ngữ mang tính ác biến đổi thành những suy nghĩ, hành động, ngôn ngữ  mang tính thiện để tạo niềm vui cho người và cũng cho chính mình nữa như câu chuyện dưới đây:


Cho Và Nhận

Một hôm, một sinh viên trẻ có dịp đi dạo với giáo sư của mình. Vị giáo sư này vẫn thường được các sinh viên gọi thân mật bằng tên "người bạn của sinh viên" vì sự thân thiện và tốt bụng của ông đối với học sinh.

Trên đường đi, hai người bắt gặp một đôi giày cũ nằm giữa đường. Họ cho rằng đó là đôi giày của một nông dân nghèo làm việc ở một cánh đồng gần bên, có lẽ ông ta đang chuẩn bị kết thúc ngày làm việc của mình.

Anh sinh viên quay sang nói với vị giáo sư: "Chúng ta hãy thử trêu chọc người nông dân xem sao. Em sẽ giấu giày của ông ta rồi thầy và em cùng trốn vào sau những bụi cây kia để xem thái độ ông ta ra sao khi không tìm thấy đôi giày."

Vị giáo sư ngăn lại: "Này, anh bạn trẻ, chúng ta đừng bao giờ đem những người nghèo ra để trêu chọc mua vui cho bản thân. Nhưng em là một sinh viên khá giả, em có thể tìm cho mình một niềm vui lớn hơn nhiều nhờ vào người nông dân này đấy. Em hãy đặt một đồng tiền vàng vào mỗi chiếc giày của ông ta và chờ xem phản ứng ông ta ra sao."


Người sinh viên làm như lời vị giáo sư chỉ dẫn, sau đó cả hai cùng trốn vào sau bụi cây gần đó.

Chẳng mấy chốc người nông dân đã xong việc và băng qua cánh đồng đến nơi đặt giày và áo khoác của mình. Người nông dân vừa mặc áo khoác vừa xỏ chân vào một chiếc giày thì cảm thấy có vật gì cứng cứng bên trong, ông ta cúi xuống xem đó là vật gì và tìm thấy một đồng tiền vàng. Sự kinh ngạc bàng hoàng hiện rõ trên gương mặt ông. Ông ta chăm chú nhìn đồng tiền, lật hai mặt đồng tiền qua lại và ngắm nhìn thật kỹ. Rồi ông nhìn khắp xung quanh nhưng chẳng thấy ai. Lúc bấy giờ ông bỏ đồng tiền vào túi, và tiếp tục xỏ chân vào chiếc giày còn lại. Sự ngạc nhiên của ông dường như được nhân lên gấp bội, khi ông tìm thấy đồng tiền vàng thứ hai bên trong chiếc giày. Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, người nông dân quỳ xuống, ngước mặt lên trời và đọc to lời cảm tạ chân thành của mình. Ông bày tỏ sự cảm tạ đối với bàn tay vô hình nhưng hào phóng đã đem lại một món quà đúng lúc, cứu giúp gia đình ông khỏi cảnh túng quẫn, người vợ bệnh tật không ai chăm sóc và đàn con đang thiếu ăn. 

Anh sinh viên lặng người đi vì xúc động, nước mắt giàn giụa. Vị giáo sư lên tiếng: "Bây giờ em có cảm thấy vui hơn lúc trước nếu như em đem ông ta ra làm trò đùa không?" Người thanh niên trả lời: "Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà em sẽ không bao giờ quên. Đến bây giờ em mới hiểu được ý nghĩa thật sự của câu nói mà trước đây em không hiểu: "Cho đi là hạnh phúc hơn nhận về".

(Nguồn: sưu tầm trên internet)


Cậu sinh viên này đã thay đổi cuộc sống cho người nông dân và cho ngay cả chính mình.  Người nông dân đã có tiền chữa bệnh cho vợ và mua thức ăn cho đàn con.  Người sinh viên đã thay đổi tính ác đem người ra làm trò đùa thành người làm việc thiện là cho đi đồng tiền của mình để giúp người đang cần sự giúp đỡ và tìm thấy niềm vui trong sự cho đấy. 

Bạn và tôi chắc chắn cũng đã từng gặp nhiều người cho ra thì ít mà muốn nhận lại thì nhiều. Những người này tiết kiệm từng nụ cười, từng lời nói ngọt ngào không chịu trao cho bạn bè thân hữu, thân nhân quyến thuộc mà lại đòi hỏi người khác phải đối xử tốt với mình, phải ngọt ngào với mình. Dĩ nhiên, nếu là một người có lương tâm trong sáng, bạn sẽ cho đấy là không công bằng (unfair) rồi đấy nhỉ? 

Nói theo kiểu bình dân thông thường là “tiền trao cháo múc”, ít ra bạn phải đưa ra một số tiền nào đó thì mới nhận được tô cháo kia, chứ tại sao lại muốn nhận vào mà không chịu đưa ra. Lạ thật!

Cũng vậy, muốn nhận nụ cười, tình thương mến nơi người khác thì chúng ta phải trao cho họ nụ cười và tình thương mến trước chứ đừng đòi hỏi họ phải trao cho mình nụ cười, tình thương mến trước rồi mình sẽ trao lại sau hoặc là không trao lại gì cả. Hãy cho đi rồi bạn sẽ được nhận lại thì đời sống sẽ tốt đẹp hơn như câu chuyện của Mẹ Teresa dưới đây:


Hãy cho nhau nụ cười


Có lần mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại câu chuyện như sau: 

Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ý với tôi: “Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn”.

Tôi liền bảo họ: “Quý vị hãy về và hãy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông. Một nụ cười cho chồng của bà. Một nụ cười cho con cái của ông bà. Hãy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai. Với những nụ cười tươi như thế quý vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương”.

Nghe vậy một người trong nhóm hỏi tôi:

- Bà có lập gia đình không?

Tôi gật đầu và nói:

- Ðôi khi tôi cũng cảm thấy khó nở một nụ cười với vị hôn phu của tôi.

Và mẹ Têrêsa kết luận:

- Ðúng thế, Chúa Giêsu có thể đòi hỏi rất nhiều. Và chính khi Ngài đòi hỏi như thế thì không gì đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài 

Lạy Chúa! Nụ cười không mất tiền mua, không phải vất vả cực nhọc để đi xa mang về… Nụ cười thật dễ dàng để xuất hiện trên môi miệng và trên khuôn mặt nhưng sao con lại thấy thật khó khăn vất vả để trao tặng nụ cười trên khuôn mặt của con cho những người xung quanh… Con đã thay thế nụ cười bằng những cái nhăn mặt méo mó, bằng những ánh mắt giận dữ, bằng những cái lắc đầu xua tay và đôi khi bằng những lời nói làm đau lòng người khác. Xin cho con luôn ý thức rằng: mỗi khi con mang nụ cười đến cho những người xung quanh chính là lúc con dâng lên Thiên Chúa tình yêu và nụ cười, sức sống và hy vọng của đời con. Amen.

(Nguồn: Sưu tầm trên internet)

Nếu năm rồi chúng ta chưa có cơ hội cho nhiều hơn nhận, chưa trao hoặc không trao nụ cười cho ai cả thì trong năm mới chúng ta thử thay đổi cách sống để cuộc đời thêm nở hoa, bạn nhé!

Kính chúc toàn thể quý độc giả và thân hữu nhiều sức khỏe, thân an trí lạc, dứt bớt được nhiều điều phiền não và làm được nhiều chuyện thiện lành.

 


Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 800-2-24-36- ORTB 1241-2-24-26)

 

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

https://www.pinterest.com/suonglamt/

Bất Cứ Một Vết Vỡ Nào Cũng Có Thể Tạo Ra Một Bức Tranh

 

Wednesday, February 25, 2026

3 Người Trên Sân Ga - Hữu Phương

 

Bức thư đến, vô tình chấm dứt bữa cơm tối của đôi vợ chồng già, và tự dưng rẽ họ về 2 phía trái ngược nhau. Bà Cảnh chợt thấy miếng cơm nghẹn đắng ở cổ và một cái gì anh ách ở đâu đó trong bộ ngực lép xẹp khi nhìn sự hồ hởi thái quá cũng như niềm vui đột ngột không thể giấu được trên nét mặt chồng. Bà thừa hiểu đó là thư của Tâm, mẹ cái Gianh, bởi chỉ thoáng qua cái cười lẫn trong râu và cái nháy mắt ranh mãnh của ông bạn già giao thông xã lúc dúi bức thư vào tay ông Cảnh qua hàng rào dâm bụt thì biết rõ.


Ông Cảnh vừa có chén rượu trước lúc xới cơm, nên trong người thấy phấn chấn, và không hiểu sao, lại hứng khởi nhắc đến cái chuyện hồi còn nhỏ của hai người, làm bà Cảnh vừa thích thú cười móm mém, vừa e thẹn đỏ cả mặt. Đấy là cái thời gái 17, trai đôi mươi, trẻ nhất làng, đêm đi tham gia cổ động, đuốc cháy đỏ trời, khi tan cuộc hai người trở về trên lối cũ tối om, đây đó dọc vệ đường còn leo lét những tàn đuốc cháy trong cỏ. Khi đó, không hiểu sao ông nhắc đến chuyện lũ rắn cạp nong hay theo đóm ăn tàn và bà, cũng không hiểu sao đi sát ông hơn và quờ tay nắm lấy khuỷu tay ông, bắt đền phải đưa về tận nhà. Bàn tay của họ tìm nhau trong bóng tối và như có một luồng điện truyền qua, khiến họ lặng đi, nóng rực, chỉ nghe rõ lời của hai trái tim đập dội trong lồng ngực. Đó là cái phần đời đẹp đẽ và duy nhất họ có được với nhau trong hơn 30 năm qua và ông chỉ nhắc khi có hai vợ chồng, muốn làm vui lòng bà. Bà Cảnh nghe ông nhắc lại chuyện ấy không biết bao lần kể từ hồi gặp lại nhau, nhưng lần nào bà cũng thấy mới mẻ và thích thú rơm rớm nước mắt. Hôm nay cái Gianh vắng nhà, nó bận tham gia đợt dã ngoại lên Bạch Mã của học sinh cấp 3, nên ông Cảnh nhắc lại chuyện cũ chẳng cần ý tứ.


Bữa cơm đang vui vẻ và ngon miệng như thế, thì cái thư đến, và họ chẳng thể tiếp tục như cũ được nữa. Bà Cảnh ngồi thừ người, tay chống đũa trong bát cơm ăn dở, và nhìn ông Cảnh một cái nhìn trách móc, tủi hờn của kẻ “chồng chung ai dễ chi nhường cho ai”. Ông Cảnh, có lẽ do quá mừng, đã không chú ý đến điều đó, tay run lẩy bẩy lật đi lật lại phong thư, miệng lẩm bẩm như nói với mình: “Thư của Tâm, thư của Tâm, bà nó ạ”. Và suýt nữa ông hôn lên những nét chữ quen thuộc trên phong bì, nếu không kịp liếc qua mặt vợ. Ông cố lấy lại bình tĩnh bằng câu nói to: “Để xem... thư nói gì nào...” nhưng tay ông luống cuống đến mức bóc rách cả phong bì, và khi dí trang thư vào bên cạnh đèn, ông mới biết là mình lật đật bỏ quên cái kính lão ở đâu......

Bà Cảnh không tài chi ngủ được, cứ rên hừ hừ như mọi lần bà cần rên. Nhưng đêm nay, bà thực sự thấy mình mệt mỏi quá sức, yếu đuối quá sức. Bà trở mình liên tục và thấy đau nhức từng khớp xương ống chân, ống tay. Hình như những đòn tra tấn của giặc xưa kia nó lặn đi đâu, giờ trở lại hành hạ bà. Và điều này lại khiến bà càng hờn giận những “ai” đó gấp bội. Hừ... hừ... “Người ta” sao lại quá sung sướng đến thế! Được tập kết ra Bắc, được sống rong ruổi đây đó ở nơi xa bom đạn, thế chưa đủ sao? Mà “người ta” còn rửng mỡ đèo bòng, còn thêm vợ nọ con kia? Để bây giờ...

Bà Cảnh bực bội trong cơn ghen tức âm thầm khi thấy ông Cảnh vẫn chưa chịu tắt đèn đi ngủ, ngồi lặng lẽ bên bàn trà, thỉnh thoảng mở trang thư ra đọc lại và hình như còn cười thầm 1 mình nữa. Bức thư của Tâm viết có mấy dòng, rằng chị ốm đã mấy hôm nay, rằng không hiểu sao chị thấy nhớ cái Gianh quá. Và lần này xin phép “anh chị trong nớ” cho em nó ra quê chơi ít bữa.

Hừ... Ôi dào, bà thì bà hiểu tâm địa các người, bà đi guốc trong bụng các người, “ốm đã mấy hôm nay”, dễ thường đời này chỉ một mình chị ốm chắc? Hừ... hừ... “Không hiểu sao thấy nhớ cái Gianh quá”. Nhớ cái Gianh hay nhớ “anh Cảnh”? Điều đó thì rõ như ban ngày rồi, lại còn “không hiểu sao”! Mà cái Gianh mới 15 tuổi ranh ấy đi từ trong ni ra ngoài nớ một mình được răng? Khiếp. Thế mới biết người ta nhắn nhe hẹn hò nhau khôn ngoan đáo để chưa, ranh ma chưa! Nhưng không qua nổi mắt gái già này đâu! Bà thì bà biết tỏng tòng tong cái tổ con chuồn chuồn! Hừ... hừ...


Nỗi bực bõ và đau khổ ngấm ngầm cứ giày vò, hành hạ bà. Đầu tiên bà đổ lên đầu ông Cảnh, người chồng đã bội bạc lời nguyền ước xưa: “Chỉ 2 năm thôi, 2 năm là anh lại về... Em ở lại cố...” Bà nhớ lúc đó, bà quàng cái tay nải gạo qua chiếc ba-lô của ông và nói, cố dằn cơn nhớ nhung, tủi hờn đang dâng lên trong cổ: “Anh đi sức gối mạnh chân... chớ lo chi cả. Mọi cái ở lại đã có em...” Bà phải cắn vào ngón tay mình để khỏi bật ra tiếng khóc, tiếng khóc của người vợ vừa mới bén hơi chồng 3 hôm đã phải chia xa. Hừ... hừ... Thế mà ông đi biền biệt, không một mẩu tin, hơn 20 năm mới trở lại. Và khi trở lại, nào phải chỉ có một thân một mình.

Đành rằng, cái chuyện trở về không đúng hạn chẳng phải riêng ông, và cũng chẳng phải lỗi tại ông, nhưng bà vẫn thấy tưng tức. Ông trở về, lại dắt theo một con bé chừng mươi tuổi và tươi cười hơn hớn bảo với bà rằng: “Đây, con chúng ta đây!” Ôi chao rứa có xung máu không? Đã không thấy được cái lỗi của mình, lại còn xưng xưng như thể vừa lập được chiến tích. Té ra, bà phải chịu cảnh tù đày, tra khảo để cho “các người” ở ngoài nớ tha hồ mà... Lần ấy suýt nữa bà đã nổi trận lôi đình ngay giữa họ hàng, chòm xóm cho đã cơn giận. Nhưng cái vẻ ngây thơ con trẻ trên gương mặt phúc hậu sáng sủa và cái vẻ khép nép của người chịu nhún thay mẹ của con bé đã làm dịu đi cơn tam bành của bà.

Nhưng liền đấy, bà thấy tủi thân tủi phận quá thể. Và bà òa khóc. Ông Cảnh ngỡ đấy là những giọt nước mắt mừng rỡ của ngày gặp mặt, nên cứ vuốt mãi mái tóc sớm bạc của bà mà an ủi, rằng đất nước đã trọn vẹn, rằng giờ anh đã trở về đây, em đừng khóc nữa.

Ông Cảnh đâu hay rằng tận sâu thẳm tâm can, bà buồn tủi biết bao, thấy mình mất mát biết bao! Phải. Ngày ấy chia tay chồng chưa được mấy tháng, có kẻ đã rình rập theo dõi. Rồi cái “luật mười năm chín” đẫm máu tràn qua, xóm thôn tan nát, bàng hoàng như vừa qua cơn ác mộng. Bà bị chúng bắt lên bắt xuống, tra khảo, đòi tuyên bố từ bỏ người chồng ngoài Bắc không biết bao lần. Người mẹ chồng già yếu đã không qua nổi đòn thù, để lại một mình bà trơ trọi, cô độc như một nhành cây yếu đuối trước bão tố, với cái tuổi 25 dằng dặc nỗi nhớ chồng nơi xa ngái...


Không biết bà sẽ sống tiếp ra sao, nếu không có tổ chức đến móc nối, và dẫn dắt bà. Và nỗi nhớ chồng, lời nguyền ước lúc chia tay lần ấy của ông, đã thành chỗ nắm vịn, chỗ tựa đỡ cho bà đi qua những tháng năm nghiệt ngã... Lần sơ sảy duy nhất trong quãng đời hoạt động của bà, là lần tổ du kích bố trí giết tên xã trưởng ác ôn giữa ban ngày. Công việc thực hiện trong một khoảnh khắc cực kì mạo hiểm, tới mức khi cài được tờ lệnh thi hành án của Mặt trận lên cái cúc áo giữa ngực của tên bán nước, nơi cạnh đó là một lỗ thủng của viên đạn còn rỉ máu, thì bà nhận được ám hiệu có động. Bà chỉ kịp rút lui một quãng và thay đổi bộ lốt hợp pháp, thì bị bắt. Chúng nghi chính bà đã làm cái việc tày trời đó, nhưng vẫn chưa có cơ sở xác đáng, phần nữa, chắc chúng còn muốn khai thác, đơm nhử đồng đội bà, nên chúng giam bà trong một xà-lim kiên cố. Rồi từ đó, bà bị đẩy từ nhà tù này đến nhà tù khác, với bao nỗi cực nhọc không nhớ hết. Và cái phương cách giúp bà vượt qua những cực hình khủng khiếp của kẻ địch, là trong đầu bà luôn choán ngợp hình ảnh ông, là những đêm gối ấp tay kề ngắn ngủi, là lời trao gửi cho nhau ngày chia biệt...

Cho đến một hôm, nghe súng nổ loạn xạ, rồi xà-lim bật mở, và ngoài sân lố nhố bóng áo xanh mũ tai bèo, bà mới tin là mình thoát chết. Bà đã sống trong niềm vui tràn ngập nụ cười đẫm nước mắt của ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, trong nỗi háo hức chờ đón chồng trở về. Và vợ chồng sum họp như xưa...

Những bực bõ, hờn ghen về sự năm thê bảy thiếp của chồng phút đầu, rồi cũng qua đi. Dẫu sao, giờ đây ông cũng đã trở về với bà, hiển hiện, bằng xương bằng thịt sờ sờ ra đấy, chứ không phải trong mơ như trước. Từ nay bà sẽ giữ riệt lấy chồng, sẽ không để mất ông một lần nữa, không sẻ chia cho bất kì ai nữa...

Nhưng, ngay đêm đầu tiên hai vợ chồng có được sau hơn hai mươi năm trời cách biệt, bà đã khóc tức tưởi, đấy là những giọt nước mắt buồn tủi và thất vọng về niềm hạnh phúc, đến lúc ấy, bà mới chợt nhận ra rằng mình đã quá già, đã ngoài năm mươi, rằng cái tuổi hồi xuân ngắn ngủi của người đàn bà đã qua đi từ hồi nảo hồi nào trong tù. Tiếng khóc của bà rấm rứt mãi khiến ông Cảnh tỉnh giấc. Có lẽ ông không hiểu bà, nên đã kéo bà vào lòng, dỗ dành như một nhà thuyết giáo: “Hoàn cảnh đất nước, hoàn cảnh lịch sử, chứ đâu phải riêng mình ta, em?” Nhưng dẫu sao câu nói trong khuya và cử chỉ khuyên bảo âu yếm của ông cũng làm bà dịu lại. Hoặc giả chính bà cố dịu đi để ông khỏi mất ngủ. Bà thương ông lắm lắm, giận thì giận, bà vẫn thương chiều mọi sở thích của ông như bao người đàn bà biết sống một mực về chồng...


Có một điều, phải, một điều thôi, bây giờ bà không thể vì thương ông, vì nể ông mà gắng chiều được nữa. Với cái tuổi chưa đến sáu mươi, nước da đỏ au nhanh nhẹn và còn tráng lực như ông, đã nói chi chuyện già? Chao ôi, tạo hóa sao nỡ bất công đến thế? Trong khi bà chỉ thua ông vài tuổi. Có thể một phần do bị tù đày tra khảo, phần nữa sống trong trạng thái mòn mỏi mong chờ, đã đẩy bà nhanh qua cái mốc ấy khi nào: để bây giờ người bà chỉ còn như con mắm khô quắt, và hết kiệt mọi ham muốn, mọi thèm khát, nếu không muốn nói là “chuyện ấy” trở nên cực chẳng đã với bà. Ban ngày mọi lo toan làm khuây khỏa, nhưng đêm đến là nỗi lo âm thầm của bà.

Quả thật, với bà, đêm chỉ muốn ngả lưng cho sớm, sau khi đã nhẩm đếm số tiền bỏ ra và số tiền nhặt về của gánh rau mùi trên vai sau mỗi buổi chợ rồi một giấc ngủ êm nhẹ của người già đến từ lúc nào. Cho đến khi thấy mỏi nhừ và đau ở sống lưng biết là trời sắp sáng, bà dậy đỏ lửa, đun cho ông ấm nước pha trà và bắc lên nắm gạo nấu miếng cơm cho cái Gianh đi học.

Cái mong ước ấy của bà ít khi thực hiện được, bởi đêm đêm bên cạnh bà, ông Cảnh hình như không ngủ, cứ hay trở mình, gác tay gác chân, và đôi khi trườn cả người qua người bà. Thương ông bà gắng chiều, nhưng sự gắng chiều ấy đã trở thành một sự chịu đựng...

Rồi bà cũng tìm được cách khéo léo để “cách ly” ông. Đấy là một dịp mùa hè đến, bà bảo ngủ chung nóng lắm và dọn cho ông một giường riêng. Cái nhà ba gian, gian liền sát bếp là chỗ của bà và cái Gianh (buồng bà phía trong, giường cái Gianh ở phía ngoài, cạnh cửa sổ, giữa là lối đi xuống bếp), gian giữa đặt bàn thờ ở phía trong, phía ngoài là bộ bàn trà, gian trên cùng đặt giường của ông. Bà yên tâm vì đã tìm được cách mà bà cho là diệu kế này. Nhưng bà nhầm, bà không tính đến chuyện ông có đôi chân. Một tối, bà đang nằm thiêm thiếp thì chợt nghe tiếng dép nhè nhẹ đi đến, rồi thấy ông quờ tay lên người bà, vuốt tóc bà và khẽ nằm xuống bên cạnh bà...

Từ đấy, bà nín thở và thon thót lo mỗi khi có tiếng dép của ông lê qua, dù có khi ông chỉ đi tiểu tiện. Có một lần, không hiểu vì quá lo lắng, hay vì một lí do gì khác, bà bỗng lên tiếng rên khe khẽ khi có tiếng dép của ông từ xa. Và lần ấy tiếng dép của ông chần chừ một giây rồi xa dần và im hẳn. Bà nín cười... Đấy, cái sự thỉnh thoảng hay rên hừ hừ về đêm của bà, có căn nguyên vậy đó.


Nhưng, hôm nay bà rên không phải vì lí do đó, bà thực sự thấy mình đau yếu, thấy mình bất lực. Bà lo không biết xử trí ra sao trước yêu cầu thế nào cũng nói vào sáng mai của ông, là sẽ đi ra ngoài ấy thăm Tâm. Trước đây, lâu lâu ông xin phép bà đi thăm bạn bè, hay bà con đâu đó dăm bảy bữa, bà không đắn đo cân nhắc, thoải mái chấp nhận ngay, và thậm chí còn chuẩn bị chu đáo cho ông đi xa. Nhưng bây giờ, không hiểu sao bà hoàn toàn không muốn ông đi ra ngoài ấy một chút nào. Trái tim bà như bị ai bóp chặt khi mường tượng rằng ông sẽ được Tâm chăm sóc vồ vập như trời hạn lâu ngày gặp mưa, rằng đêm đêm hai người má ấp vai kề, thầm thì “anh anh, em em” mọi điều nhung nhớ, rồi...

Hừ... hừ... không, không thể được. Ông ấy là chồng bà, là của riêng bà, không ai có quyền... Phải! Bà không chấp nhận chuyện đó. Bà không thể để ông đi. Hừ... hừ...

Và, suốt đêm bà không sao chợp mắt, vừa rên vừa nghĩ kế giữ chân ông.

Sáng hôm sau, ông Cảnh không ngồi nhấm trà như mọi khi, mà xăm xắn đi vào đi ra, khi xếp các thứ rau vào rổ cho bà, khi tìm đôi quang gánh ở chái bếp... Bà Cảnh biết ông định nói điều gì rồi, nhưng bà giả lơ, không đụng đến. Cho đến khi bà cắp nón và ghé vai vào chiếc đòn gánh tre mỏng mảnh, ông Cảnh mới ấp úng, như đứa trẻ có lỗi:

- Mình ạ... Có lẽ... tôi phải đưa cái Gianh ra quê, nhân thể xem mẹ nó ốm đau thế nào...

Biết ngay mà! Bà Cảnh ngừng lại, lấy tay quệt thứ bã trầu dính đỏ bầm khóe miệng, ra chiều cân nhắc một giây, rồi xởi lởi:

- Ờ... Mà để tui coi... Từ hồi được làm chị làm em với mẹ cái Gianh tới chừ, đã khi mô ông cho tui được gặp mặt bà con họ hàng dì ấy ngoài nớ? Thôi chuyến ni nhân có mấy ngày nghỉ, ông để tui đưa cái Gianh đi, chị em gặp nhau lâu lâu.

Bà nói và quày quả đặt gánh lên vai như thể sợ kéo dài chợ trưa, và như thể chuyện không có gì phải bàn lại nữa, khiến ông không kịp phản ứng gì. Khi bà ra khỏi cửa rồi, ông mới ngớ ra, mới kịp hiểu, và đứng ngẩn tò te hồi lâu như đứa trẻ bị cụt hứng, trước cái lí lẽ đơn sơ mà chết cứng ấy của bà...


Bà Cảnh, sau chuyến đi cùng cái Gianh ra thăm “dì nó” trở về, hoan hỉ như sau một chuyến công cán dàn xếp thắng lợi. Bà hồ hởi kể với ông say sưa bao nhiêu thu nhặt được ở quê “ngoài nớ”: Nào cái dòng sông Gianh nước trong và xanh dễ sợ, cứ ngỡ không có đáy, nào chạy dọc hai bờ bãi là tít tắp ngô non và lạc, với bốn bề viền những bờ dâu xanh mướt, nào đi trong đường quê cấm có thấy ánh mặt trời, cam bưởi cứ thả hương quấn quít theo người, nào bến sông chiều con gái tắm đông chi lạ, o mô o nấy tóc dài và da trắng hết chỗ nói...

Bà vô tình, hoàn toàn không hay biết rằng, đã chạm đến nỗi niềm sâu kín nhất trong lòng ông Cảnh. Bà đơn giản nghĩ rằng, tả thực cảnh quê hương ngoài đó, cái quê hương mà quả thật đã khiến bà thích thú, sẽ làm ông vợi nỗi nhớ Tâm. Điều bà luôn luôn mong muốn là làm sao trong ông hình ảnh Tâm không vượt trội bà. Nhưng bà đâu hay rằng chính những điều bà nói, đã thắp bùng lên nỗi nhớ Tâm cháy bỏng trong ông.

Chao ơi, cái làng quê bên bờ sông Gianh ấy cứ như là nơi ngọn nguồn nỗi nhớ của ông. Thuở ấy, ông còn trai tráng lắm. Đơn vị hải quân của ông đóng ở cảng Cửa Gianh, trấn giữ một vùng mặt biển và một cửa sông trên bến dưới thuyền tấp nập. Chiều chiều, dòng sông xanh chở những con tàu trắng đi lại giữa hai bờ làng quê trù phú yên vui. Những cô gái gánh cá lên bờ còn ngoái lại trêu mấy chàng lính thủy trên tàu. Nhưng cảnh thanh bình ấy chấm dứt đột ngột, khi những quả bom đầu tiên của giặc Mĩ ném xuống miền Bắc lại rơi đúng bến cảng này.


Không thể tiếp tục cuộc chiến đấu bất lợi giữa những con tàu chỉ đi lại được trên mặt nước hạn hẹp và trống trải, với lũ diều hâu rộng đường nhào lộn trên không và có vũ khí la-de lợi hại, đơn vị ông chuyển sang lối đánh du kích. Và những con tàu đang đêm lặng lẽ ngược dòng sông Gianh, về neo ẩn dưới những lùm tre cao vút, xanh um vươn ra mặt sông, như từ lâu nó đã chuẩn bị cho cuộc chiến đấu ác liệt này. Rồi từ đó, đêm đêm, dòng sông Gianh lại lặng lẽ tiễn đưa những con tàu ra đi trong nỗi thắc thỏm mong chờ... Để sớm hôm sau, trước khi có ánh ngày, những con tàu lại trở về nằm nghỉ dưới những lùm tre cao vút, xanh um, lim dim nghe sóng sông Gianh vỗ về ru hát, thì trên mặt báo in đậm những chiến công của nó: số tàu chiến giặc bị đánh chìm, số xuồng biệt kích bị bắt gọn ngoài khơi. Đó là nỗi kinh hoàng của bọn giặc biển và nỗi khủng khiếp đến phát điên của bọn giặc trời Mĩ. Và hàng trăm tốp máy bay phản lực ngày càng sục sạo ráo riết khắp nơi mọi chốn, cố tìm cho ra dấu vết những con tàu bé nhỏ của đơn vị ông.

Ông nhớ một lần, những mái hầm của tiểu đội ông chưa kịp ngụy trang trước lúc ra đi, sớm hôm sau trở về đã thấy mọc dày những cây dâu non. Ông không ngờ có một bàn tay con gái đã làm việc đó. Và, cái chàng lính thủy ấy đã “vương phải tơ” của người con gái đất Phù Kinh tơ lụa. Những người lính chuyên đánh trận về đêm, ban ngày cố ngủ. Nhưng ông nào ngủ được đâu khi gót chân của nàng nhẹ êm bên cửa hầm và bàn tay quay xa của nàng như múa? Cái đuôi mắt hình lá dâu của nàng cứ mở to lo lắng và hồi hộp ngóng theo bóng con tàu của ông ra đi lúc hoàng hôn.


Rồi một hôm, ông nhớ rõ là một sáng mùa hạ trời rất trong, trong đến nỗi có thể trông rõ những nhành cây khẳng khiu với những tán lá lưa thưa trên vách lên màu xám của chín mươi chín chóp núi đá vôi của dải Phượng Hoàng chạy dọc phía Nam dòng sông, không hiểu chúng nghi là những con tàu nép hai bờ sông, hay chỉ là sự điên cuồng săn tìm trả thù vu vơ, mà bầu trời yên vui ban mai bỗng chốc đen đặc bóng lũ giặc trời. Thoạt đầu chúng chia thành hai toán bay hàng dọc theo hai hướng đi qua, rồi đột ngột quay ngoặt trở lại, ngỏng những cái cổ ánh bạc lên cao và bất thần đâm bổ xuống dòng sông. Cùng với tiếng rú rít gào thét man dại của hàng chục động cơ máy bay, tiếng nổ váng óc của mưa bom, của rốc - két và tiếng giòn đanh của các ổ đại liên, mười hai ly bảy dân quân vây bủa trên các đỉnh lèn đánh trả quyết liệt, là những cột nước từ lòng sông, những cột lửa từ hai bên bờ dựng vụt lên trời. Tất cả như chìm trong một vùng hỗn chiến của lửa, nước chạy dọc hai triền sông.

Nhưng, như có phép thần, những lùm tre vẫn gan góc vươn ra che chở những con tàu. Và dòng sông Gianh cũng như đất mẹ hai bờ hứng chịu các luồng bom không chút chần chừ. Càng sục sạo săn tìm, lũ giặc trời càng điên cuồng cắt bom hối hả...

Và, trong tiếng đạn nổ bom gào, những người lính thủy nghe rõ cả tiếng trẻ con khóc thét, tiếng của người bị thương kêu rên, tiếng gia súc thét rống, tiếng của những ngôi nhà bốc cháy nổ lốp đốp... Trái tim của họ đau nhức nhối. Không thể được! Không thể để nhân dân vì ta mà mất mát đến tính mạng và tài sản quá thể, con tàu ông xin lệnh nhổ neo, kéo cờ đỏ sao vàng, mặt đối mặt với lũ giặc trời Mĩ, thu hút các luồng bom, để bảo vệ nhân dân và hàng chục con tàu khác.

Phút chốc, con tàu chiến sơn màu nước biển, ở đâu đó lao vút ra giữa dòng sông. Trên boong những người lính, không ai bảo ai, gọn ghẽ trong bộ đồ lính thủy mới nhất của mình: chiếc áo trắng in những con sóng xanh, chiếc mũ xanh có hai đuôi én tung bay, lanh lẹn và bình tĩnh ngồi vào vị trí chiến đấu quen thuộc quanh cỗ pháo hai nòng vươn thẳng lên trời một cách tự tin. Lũ máy bay giặc, như một bầy nhặng, bâu lấy con tàu của ông.


Ông nhớ là lúc đó, ông hoàn toàn không nghe một tiếng bom nào, chỉ thấy loang loáng những bóng đen to nhỏ khác nhau lao thẳng từ trời cao vút xuống hạm tàu. Con tàu khi nghiêng khi ngửa, khi chồm lên khi giật lùi, vừa tránh bom đạn vãi tứ phía, vừa nhả đạn đánh trả quyết liệt. Nước sông Gianh lúc đó cứ sôi lên sùng sục ở hai mạn tàu, và như nhuốm đỏ bởi máu đồng đội.

Về chiều, con tàu như kiệt lực vì thương tích đầy mình mẩy và vì những hòm đạn từ đất liền chuyển ra trên những con thuyền nhỏ nhoi của các cô dân quân với búi tóc tròn và bộ đồ đen nước dính chặt thân người, vừa bơi vừa đẩy dưới mưa bom, có lúc không đủ nạp cho cỗ pháo hai nòng bấy giờ đã đỏ bỏng. Không biết lũ phi công Mĩ nhận biết điều đó, hay chúng sợ tối trời để sổng mất con tàu, đã tập trung đánh đòn cuối cùng xuống con tàu của ông. Ông nhớ là lúc đó, ông thấy chớp lóe trùm con tàu, và mình bị hất tung xuống lòng sông như một tảng đá. Từ đáy sông lắng cát, không biết nhờ một sức mạnh nào: có lẽ là sự sống còn sót lại ở hơi thở cuối cùng trước khi tắt lịm, đã đẩy bật ông lên khỏi mặt nước. Nhưng hai cánh tay ông hình như không còn điều khiển được nữa, và trở nên nặng nề, đau buốt trong sự quẫy đạp của ông. Ông bơi chỉ bằng hai chân, đúng hơn là ông chống chọi tuyệt vọng với thần chết đang nắm hai tay ông từ từ kéo xuống lòng sông ngạt thở...

Ông tỉnh dậy khi hoàng hôn vừa buông xuống mép nước, bên bờ dâu thẫm xanh, nằm ngửa trong vòng tay một cô gái áo quần ướt sũng. Dòng sông và bầu trời yên ắng trong mầu tím sẫm của nó, như chưa từng mấy phút trước đó có cuộc ác chiến nước sôi lửa bỏng. Không biết nước từ mái tóc rối bời của người con gái chảy xuống, hay nước từ cái đuôi mắt hình lá dâu mở to lo lắng của nàng nơi mặn chát môi ông...

Chính tình yêu đã giúp Tâm tìm được ông ở phút hiểm nghèo, và vừa bơi vừa dìu ông từ giữa dòng sông mênh mông vào bờ, trong đôi tay quay xa kéo sợi dẻo mềm của gái Phù Kinh, dưới cái bầu trời mưa bom khủng khiếp ấy.

Sau này, khi cuộc chiến ngày càng ác liệt, có lẽ vì cái thời điểm về Nam của mỗi người đã trở nên không hạn định được cụ thể, ở trên người ta cho phép những người tập kết ra Bắc có thể xây dựng gia đình. Và ông đã cưới Tâm. Để kỉ niệm trận đánh không quên ấy, họ đã chọn tên sông đặt cho con gái của mình.


Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ông trở về thăm quê, không ngờ người vợ thuở ấy, sau bao năm tù tội, giờ vẫn còm cọm chờ ông. Lúc đó theo lời khuyên của Tâm: “Anh sống với em như thế là đủ cho em một đời hạnh phúc rồi, bây giờ anh hãy vì chị ấy... Chị ấy nào đã trọn một ngày gọi là hạnh phúc...” Ông trở về, và mang theo cái Gianh cho đỡ nhớ...

Điều hoàn toàn bất ngờ và khó xử đã xảy ra ngoài suy nghĩ của bà Cảnh (có lẽ cả ông Cảnh nữa) là sự xuất hiện của Tâm ngay sau khi bà từ ngoài ấy trở về được ba hôm. Chiều ấy, ông Cảnh vừa hoàn thành một vòng bơi và vừa mặc quần áo, ông vừa cảm thấy hài lòng vì sự dẻo dai của mình vẫn còn khả dĩ. Ông trở về lòng thư thái. Đó là một điều hiếm hoi. Từ lâu, ông Cảnh đã là một ông già đầy tâm trạng, lặng lẽ mà man mác buồn. Chẳng còn dấu vết gì ở ông của một thuyền trưởng tiếng tăm nữa, ngoài mái tóc đốm bạc thường xuyên cắt cua kiểu lính và nước da mầu đồng hun một đời ăn nắng ăn gió, với thói quen ngày hai buổi, lúc tinh mơ và lúc chiều nhạt nắng là lại ra con sông trước làng bơi một vòng.

Ông vừa bước vào sân, thì ngoài ngõ đã nghe tiếng của Tâm. Thoạt đầu cả ba người cùng lặng đi mấy phút. Với ông Cảnh và Tâm, có lẽ là sự dồn nén của bao ngày mong mỏi, nhớ trông, giờ gặp lại mừng quá nghẹn ngào không nói nên lời, lại nữa bên cạnh họ còn có bà Cảnh đang há hoác miệng vì ngạc nhiên, khiến họ phải dằn lòng. Nhưng bà Cảnh không thể nào tưởng tượng nổi một “nước cờ” táo bạo và khôn ngoan của “đối phương”, khi nghe Tâm, sau phút giây trấn tĩnh, đã tìm được cách lí giải rằng chị đi kí hợp đồng gì đó cho hợp tác xã, tiện thể ghé lại...


Bữa cơm chiều diễn ra bề ngoài vui vẻ, nhưng bên trong nhiều tâm trạng trái ngược nhau. Bà Cảnh lấy cớ “dì nó mới vô, còn lạ nước lạ cái”, giành lấy công việc xới cơm và tiếp thức ăn, để che lấp cõi lòng rối bời đến nỗi không tài chi ăn uống bình thường được. Ngực bà lại như có một cái gì đè chẹn, tưng tức khi thấy ánh mắt chợt trở nên lấp lánh, trẻ trung của ông Cảnh cứ hướng về phía Tâm. Dào ơi, sao ông vẫn chưa chịu yên cái phận già, mà còn tí tởn!

Họ còn gắp thức ăn bỏ vào bát nhau, nài nỉ nhau ăn thêm như một cặp uyên ương còn trẻ, khiến bà Cảnh thấy ngứa mắt. Và liền đấy bà cảm thấy tủi thân tủi phận, cảm thấy mình là người thừa trong mâm cơm, mặc dù họ cùng nhau gắp thức ăn bỏ lên bát bà thúc giục bà ăn. Nhưng bà có nuốt được đâu. Bà nhìn trộm mái tóc dài và mượt chảy phủ cái eo lưng còn thon thả của Tâm mà thèm, và giận. Này cô kia, sao bỗng dưng ở đâu lại ghé lưng vào chỗ chồng bà? Chao ôi, sao người ta hạnh phúc đến thế? Sao các người hạnh phúc đến thế? Bất giác, bà lại bật lên tiếng rên “hừ... hừ...” ngay giữa mâm cơm.

- Chị làm sao thế? - Tâm hơi hốt hoảng và hỏi bà một cách ái ngại, khi chị thoáng nghe tiếng rên.

- Không. Ơ mà... cái hồi bị chúng tra tấn, chừ trở trời cứ hay tức ngực...

Bà Cảnh nói lí nhí và đưa tay vuốt ngực, cố nén cơn hờn ghen đang dâng đầy ứ trong người.

Rồi bà cũng tìm được cách để chống trả “đối phương”. Ấy là đêm đó, trước khi đi ngủ, bà Cảnh nói như phân công.

- Dì nó với cái Gianh ngủ giường của tui trong buồng cho rộng, hai mẹ con tha hồ tâm sự, hỉ!

Đấy là bà nói cho hợp lí thế thôi, chứ cái Gianh đã ý tứ xin phép bà đi học tổ và ngủ lại nhà bạn từ đầu hôm. Rồi trước khi tắt đèn, bà dịch cái giường đơn của Gianh ra chặn cửa buồng, và vừa soạn chỗ nằm cho mình, bà vừa phân bua rằng: “Để hai chị em trò chuyện cho rõ.”

Cứ thế, suốt nửa tháng trời có mặt của Tâm, đêm đêm bà Cảnh nằm canh cửa buồng, mặc cho hai đầu ông Cảnh và Tâm, cứ trở mình thao thức trong khuya... Của đáng tội, mấy lần ông Cảnh có mạnh bạo bước tới, nhưng tiếng dép của ông dù nhẹ nhàng, dù rón rén đến mấy, cũng bị những ăng - ten thính giác của bà phát hiện, và lập tức miệng bà phát ra những tiếng rên “hừ... hừ...” khiến ông phải rụt cổ lại.

Không thể nấn ná, hi vọng tìm kiếm một cơ hội nào được nữa, Tâm đành dằn lòng khăn gói trở về, sau hơn nửa tháng vợ chồng chỉ được phép “kính nhi viễn chi”. Ngày Tâm lên đường là một buổi chiều nắng cuối xuân vàng mong manh trên từng ngọn so đũa ven đường. Ông Cảnh vừa đưa Tâm đi được một quãng, cả hai chưa nói với nhau được một lời riêng tư, đã nghe sau lưng tiếng chân gấp gáp. Không hiểu sao đến phút chót bà Cảnh lại thay đổi ý kiến: bà không muốn để ông Cảnh tiễn chân Tâm một mình, bà đuổi theo họ. Bà vừa thở vừa phân trần về sự cần thiết có mặt của mình rằng: chuyện vé vũng ở bến tàu là phức tạp lắm, dì nó thì lạ, mà ông Cảnh đàn ông đàn ang vô lo, rồi kẻ cắp nó móc sạch...


Thế là cả ba người có mặt ở sân ga, ngồi trơ như ba pho tượng trên một cái ghế băng đặt ở góc phòng đợi, không giấu được vẻ ngượng nghịu và sượng sùng. Cho đến khi cửa nhà ga bật mở và người tuôn vào như nước chảy về phía đoàn tàu đang đợi họ, bà Cảnh như sực nhớ điều gì, liền đi đến mấy quán hàng bày bán dọc ga. Bà mua vội mua vàng mấy gói kẹo, vài ổ bánh mỳ, rồi quay trở lại chỗ cũ, nhưng ông Cảnh và Tâm không còn ở đấy nữa. Bà đuổi theo bóng họ thấp thoáng ở cuối đoàn tàu.

Khi tìm được số ghế của Tâm, nhận ra túi đồ đạc đơn sơ của chị xếp gọn trên giá, mà không thấy hai người đâu, tự dưng bà thấy khó thở. Và một cái gì lại đầy ứ trong cổ họng và anh ách trong lồng ngực vừa khô khát vừa day dứt, thúc giục bà lao đi. Bà lách về phía cuối toa, nơi có phòng vệ sinh nhỏ bé, nhưng ở đấy bọn con buôn đã lèn chặt quá đầu những bao tải lớn hàng hóa. Như con mèo đuổi hút bóng con chuột, bà đảo mắt một lượt dọc các lối đi, phán đoán và lường ước điều gì, rồi bà lao qua phía cửa bên kia, nơi đoàn tàu quay lưng với một bức tường bao bọc sân ga dài và cao có chắn thép gai. Đấy là nơi vắng vẻ nhất hiện giờ. Bà nắm lấy lan can toa tàu, vội vã bước xuống bậc tam cấp bằng sắt cuối cùng, định nhảy xuống đường đá. Nhưng không hiểu vì cái bậc quá cao so với mặt đường lổn nhổn đá khiến bà sợ, hay vì một cái gì khác làm bà khựng lại. Bà thấy bải hoải và con tàu chao đảo dưới chân. Bà tựa người vào thanh vịn bằng sắt rỉ vàng lấm tấm, bên bậc cửa lên xuống của con tàu, và rũ ra.

Không ai thấy cả (người ta còn bận tíu tít với việc tìm chỗ ngồi và xếp hành lí ở phía bên kia), chỉ có một mình bà thấy, Tâm, một tay vòng qua vai ông Cảnh, tay kia lần những ngón tay dài và trắng của gái Phù Kinh tằm tơ xưa kia, xoa vuốt bờ vai và bộ ngực còn vạm vỡ của ông một cách âu yếm. Đầu nàng tựa ngả vào ngực và hướng khuôn mặt phúc hậu với đôi mắt nhắm lơ mơ vào mặt ông Cảnh, để mặc cho nước mắt giàn giụa hai má, miệng nở một nụ cười sung mãn của hạnh phúc. Ông Cảnh đứng như trời trồng một tay vòng qua eo lưng Tâm, tay kia vuốt nhẹ mái tóc dài được búi lại thành trái bưởi sau gáy. Ông gần như quay lưng lại, nên bà không nhìn rõ sắc mặt ông. Rồi bà thấy ông cúi xuống, áp khuôn mặt của mình vào khuôn mặt của Tâm, đôi môi của họ tìm được nhau và hút chặt lấy...


Bà Cảnh như sực nhớ điều gì, đứng bật dậy, và thay vì nhảy phóc xuống, kéo xé hai người ra như bà đã từng tốn công kèm giữ họ lâu nay, không hiểu sao, bà lại lật đật leo lên sàn tàu, và vội vã tụt xuống phía cửa trước, nơi người ta vẫn còn lên xuống đông đúc. Bà sấp ngửa bước qua những con đường đá có những thanh tà vẹt bằng bê-tông bắc ngang và những đường ray sắt chạy dọc một cách vô thức. Hình như bây giờ bà không còn ý thức được thời gian và không gian quanh mình nữa. Bà đi như một cái máy, đôi khi suýt đâm bổ vào người đi ngược. Cứ thế bà đi, bước qua tất cả, bàn chân gầy guộc xương xẩu va vào đá vẫn không biết đau. Bà bước lên cái hành lang rộng có mái che, bước qua cánh cửa phòng đợi, qua những dãy ghế giờ không một bóng người, đầu không ngẩng lên. Có lẽ chính bà cũng không biết bà đi đâu. Cho đến khi nghe tiếng cô nhân viên bán vé giọng miền Trung hỏi thoảng đâu đó rất xa xăm: “Mẹ xuống ga mô?” bà mới sực tỉnh, và nhận ra là tay mình đang chìa tiền qua cửa bán vé. “Lệ Sơn,” bà nói rồi cầm tấm vé quày quả trở lại con tàu, cũng vội vã và vô thức như khi bà đi đến đây: bàn chân gầy guộc rớm máu vượt qua những con đường rải đá, những hàng tà vẹt bê - tông bắc ngang và những đường ray sắt chạy dọc. Hai bên thành tàu chỉ còn lại những người đưa tiễn, mặt hướng về các cửa sổ, và loáng thoáng đó đây những lời dặn dò chúc tụng cuối cùng. Bà gặp ông Cảnh cũng vừa từ trong toa bước xuống bậc tam cấp, mặt ửng đỏ và mi mắt còn ngấn lệ chia phôi. Tự dưng, nước mắt bà cũng trào ra, chảy ào xuống gò má đầy nếp nhăn của lớp da mồi khô đét vì tuổi tác và vì những tháng năm tù đầy cay cực. Bà ngăn ông lại ở bậc cửa và giúi vào tay ông tấm vé tàu.

- Ông đừng quay lại nữa...

- ??

- Nó còn trẻ người non dạ rứa, ông nỡ để nó đi một mình răng đành?

Không hiểu nhờ một sức mạnh nào, một cái gì mới mẻ, bao dung và độ lượng đã giúp bà đứng vững và nói được những lời rắn rỏi đó, khiến ông Cảnh cầm tấm vé lật đật quay vào toa tàu, như thể vừa nhận được một mệnh lệnh không thể thối lui...

Và con tàu chợt giật mình, như thể vừa chứng kiến quá say sưa cuộc đưa tiễn dùng dằng của ba người suýt làm nó trễ giờ, liền hú lên một hồi còi giữa trời hôm sâu thẳm...

Có phải tất cả mọi cái xảy ra trong mơ không? Bà không biết nữa. Chỉ biết rằng, khi cái chấm đen cuối cùng của con tàu nhòa hẳn vào không gian hun hút xa lắc, bà mới quay người lại, chợt nhận ra sân ga vắng lặng, và mình bà đứng trơ giữa những con đường đá với những hàng tà vẹt bê-tông rải ngang, những đường ray sắt chạy dọc vô tận. Bà bỗng bật lên tiếng nấc tủi thân, vì tuồng như con tàu đã bỏ rơi bà, trơ trọi và cô độc giữa đời...

Bà cắm cổ bước như chạy ra khỏi sân ga, lủi thủi một mình và cũng hoàn toàn vô thức. Cho đến khi bàn chân bắt gặp lối bờ sông quen thuộc, nơi chồng bà sớm và chiều hai lần gắng gỏi bơi đủ một vòng, bà cố lấy lại vẻ bình thường để vào nhà, bởi bà biết trong nhà còn có cái Gianh. Nhưng khi đã vào được buồng mình, bà nằm vật ra giường, âm thầm héo rũ đi. Trái tim bà vẫn chưa dễ tha thứ cho hành động mã thượng của bà lúc ở sân ga. Thế là, cơn giằng co giữa lòng vị tha, độ lượng của người mẹ cao cả, với sự hờn ghen tủi phận của người vợ bị cướp mất chồng cứ bám riết, hành hạ bà, chốc chốc lật tấm thân già nua, khô héo của bà từ mép giường bên này sang mép giường bên kia.

Bà mơ hồ có tiếng chân bước nhẹ, và liền đấy cảm nhận được một cái gì mềm mại, mát rượi và êm ái đang lướt trên lớp tóc cằn khô của mình, đã kéo bà dứt ra khỏi cái tâm trạng dằn vặt kia. Và đến lúc đó, bà mới hiểu ra rằng, đó là những ngón tay thon thả của cô gái đang lớn phổng trong nhà bà - cô con gái đã tắm uống cái nguồn nước sông Gianh kia từ thuở lọt lòng.

- Má... Ba đi rồi hả má?

Không biết nhờ tiếng nói khẽ khàng, dịu ngọt, pha giọng của hai vùng đất của Gianh, hay nhờ một cái gì khác, khiến bà thấy mình bỗng chốc khỏe khoắn như không. Và cái cảm giác bị bỏ rơi trên sân ga cũng không còn nữa. Phải rồi, chuyến tàu của bà là chuyến cuối cùng với Gianh, thậm chí cùng con cái của cái Gianh...

Bà nhỏm dậy, kéo cái Gianh vào lòng, và kín đáo lau những giọt nước mắt tấm tức của mình bằng mái tóc mềm mượt của nó.

Lúc đó, căn buồng bỗng rạng lên chốc lát bởi những tia nắng cuối ngày bất chợt rọi qua những song cửa phía Tây. 

 

Hu Phương