Friday, January 23, 2026

Hướng Về Việt Nam

 

Ngoài những bài viết , bài đăng về văn học, lịch sử, tài liệu... đôi khi tôi cũng muốn viết về tình hình chính trị ở Việt Nam . Theo tôi, ngoài tiêu chỉ của trang BTTV là bảo tồn , giữ gìn văn hóa, ngôn ngữ VNCH không bị tha hóa bởi văn hóa VC, chúng ta cũng cần giáo dục cho tuổi trẻ ở VN cũng như ở hải ngoại về ý thức chính trị.

Mong chờ một ngày mai , chúng ta sẽ lấy lại nền văn hóa của một thời hoàng kim, KHÔNG CS !

Chắc quý vị ít nhiều cũng có nghe "xôn xao" dư luận về một sáng tác nhạc với tựa là THƯA ĐẢNG của một tên Cộng con ở VN. Tên này cũng trơ trẽn không kém thầy của hắn là văn nô Tố Hữu ngày xưa. Điều đáng nói là bên cạnh các phản biện chế nhạo về sự "bưng bô" lố bịch của hắn, vẫn còn một số đông tán dương, khen ngợi .

Tôi bồi hồi nghĩ tới các bài chính luận của nhà văn Trần Trung Đạo. Anh viết và đặt nhiều kỳ vọng ở tuổi trẻ VN ở trong nước, sẽ là thành phần nòng cốt trong công cuộc thay đổi chế độ ở VN .

Theo tôi, giới trẻ ở VN có thể chia làm ba thành phần :

_Số thực sự có trình độ hiểu biết, quan tâm tới chính trị và tiền đồ của dân tộc có lẽ chỉ khoảng 30% .

_Số "cuồng " Đảng, luôn bị nhồi sọ "yêu nước là yêu Đảng", được tuyên truyền từ học đường và qua văn thơ, nhạc làm từ những tên "bưng bô" cho Đảng thì chiếm tới 50%

_ Còn lại 20% là những thành phần "an phận". Họ tìm vui bằng ăn nhậu sau những giờ làm việc cực nhọc. Có thể họ có bất mãn hay chán chường nhưng chấp nhận sống cho qua ngày, không quan tâm tới các vấn đề chính trị, xã hội .

Sau bài hát "Thưa Đảng" được truyền bá rộng rãi ở VN thì trên mạng xã hội lại xuất hiện bài hát KIỆN ĐẢNG của một người trẻ ở miền Nam VN . Tôi thích lối giải thích về tựa bài của tác giả : trong miền Nam chúng tôi chữ "thưa" đồng nghĩa với "kiện" !

Từ xưa chúng tôi chỉ biết thưa cha, thưa mẹ, thưa thầy... còn khoanh tay cúi đầu để "thưa Đảng" thì đúng là xứng đáng lảnh giải "Bưng Bô Vàng" !

Đúng vậy, chúng ta không cần phải THƯA mà phải KIỆN Đảng vì những lý do sau :

_Đã đưa miền Nam dưới chính thể VNCH với nền văn hóa, kinh tế phồn thịnh nhất nhì Đông Nam Á trở thành một nước lạc hậu, nghèo nhất , cho dân đi "ở đợ" khắp nơi trên thế giới .

_Nhờ Đảng thống trị mà đã có cả triệu người VN phải bỏ xứ lưu vong. Họ không muốn ở lại để hưởng ơn Đảng mà tìm đủ mọi cách đào thoát khỏi VN . Ngày xưa có "thuyền nhân" , "bộ nhân", sau này lại thêm "xa nhân" , trốn trong các containers, biết bao nhiêu sinh linh đã bỏ mạng trên bước đường trốn Đảng !

_Kiện Đảng đã phá nát văn hóa, ngôn ngữ Việt qua giáo dục, từ ngữ ngốc nghếch của các "thiến sĩ" Đảng viên Hà Nội, thủ đô "ngàn năm văn vật" ( giờ phải sửa là "dâm dật" vì mở miệng ra toàn "đéo" ) . Kiện Đảng đã đào tạo ra lãnh tụ, bí thư với trình độ Cờ Bờ Lờ Mờ, "ma de" VN , thật nhục quốc thể !

Đảng CS giết dân hại nước do tên HCM thành lập ở miền Bắc năm 1930 và đã thống trị toàn nước VN , tính đến nay đã 96 năm .

So với bên Nga, đảng CS Liên Xô từ năm 1917 đến ngày sụp đổ năm 1991 thì chỉ 74 năm .

Năm 2026 , thế giới đã có nhiều biến động lịch sử, CS và độc tài dần dần bị loại trừ khỏi thế giới văn minh . Chúng ta có quyền hy vọng khi hướng về cố quốc VN, không chỉ riêng cho người Việt lưu vong mà cho cả người dân trong nước , cùng chờ đón một ngày mai tươi sáng của quê hương Việt Nam KHÔNG Cộng Sản.


FB Bảo Tồn Tiếng Việt 

Thanh Loan chuyển

Tạp Ghi - Văn Hóa Chửi - Nguyễn Giụ Hùng

Duyên Phận - Thanh Minh


Tôi sanh năm 1929 tại huyện Bãi Xàu, tỉnh Sóc Trăng, Miền Nam Việt Nam.

Ba tôi làm công chức tại Ty Bưu Điện của huyện lỵ Bãi Xàu. Thuở đó, dân ta quen gọi chức vụ của ba tôi là “thầy thông Nhà dây thép”. Ba má tôi sanh được sáu đứa con. Tôi là gái thứ hai, nhưng dân Miền nam quen gọi là “thứ ba”. Tôi theo học Trường Sơ học Bãi Xàu. Thời kì đó, nước Việt Nam còn là thuộc địa của Pháp và hầu hết các môn học đều giảng dạy bằng tiếng Pháp.


Năm 1941, sau khi đậu bằng Sơ học (Certificat d’études primaires), tôi đi Sài Gòn dự thi vào “Collège des jeunes filles indigènes”. Về sau trường nầy được đổi tên là Trường Trung Học Gia Long. Thời may, tôi thi đậu. Thêm một điều may nữa là sau đó ba tôi được điều động lên làm việc tại Sở Bưu điện Sài Gòn. Thế là, cả gia đình chúng tôi dọn lên cư trú tại thành phố Sài Gòn.

Lúc tôi 16 tuổi, một bước ngoặt đau buồn ập đến cuộc đời của tôi. Ba tôi qua đời vì bịnh lao phổi. Trước khi nhắm mắt, ba tôi xin người chị ruột của ba tôi, mà tôi gọi là cô Sáu, đem tôi về nuôi, để có thể tiếp tục việc học hành, lý do là gia đình chúng tôi rất nghèo. Số là, cô tôi có một người con trai duy nhứt, lúc đó là chủ một hãng kem đánh răng lớn ở Sài Gòn. Đó là Hãng kem Perlon, đối diện chợ An Đông, đường An Dương Vương, quận 5, Sài Gòn. Ông Huỳnh Văn Xin, Tổng Giám đốc hãng, chính là anh họ của tôi. Người Miền Nam gọi là “anh cô cậu”, tức là tôi gọi má của anh Xin là “cô”, và anh Xin gọi ba tôi là “cậu”.

Tôi xin nghỉ học và vô làm việc trong văn phòng hãng Perlon. Tôi vừa là nhân viên của hãng, vừa là thân quyến của chủ hãng, cho nên được mọi công nhân trong hãng nể vì. Tôi phụ trách giữ sổ sách xuất nhập kho nguyên liệu và sản phẩm hoàn thành.

Một thời gian sau, hãng tuyển một nhân viên mới với nhiệm vụ là kế toán trưởng (chef comptable). Anh nầy tên là Thạch, 21 tuổi, lớn hơn tôi 5 tuổi, có dáng dấp như một thư sinh, tánh tình hiền lành, khép kín. Chúng tôi làm chung gần ba năm. Sau đó, chúng tôi đã kết hôn, với sự đồng ý của hai bên gia đình đàng trai và đàng gái.

Theo quan niệm duy tâm, qua câu nói: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”, có phải chăng, anh Thạch và tôi đã có duyên nợ từ kiếp trước? Tôi chỉ biết là, trước kia tôi vốn là một cô gái đồng quê, ở một tỉnh lẻ hẻo lánh, khỉ ho cò gáy. Nếu tôi không có “số” di cư lên Sài Gòn hoa lệ, thì làm sao mà tôi gặp được anh Thạch, một cư dân của Sài Gòn, chưa hề bước chân đến tỉnh lẻ, quê hương của tôi?


Sau ngày kết hôn, tôi về làm dâu nhà anh Thạch, ở Tân Định, quận 1, Sài Gòn. Một thời gian sau, chúng tôi ra riêng, thuê lại một tiệm tạp hóa có hiệu là “Vũ Lai”, đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng) đối diện chợ Tân Định, thành phố Sài Gòn. Nhờ thuận vợ thuận chồng và chí thú làm ăn, đầu năm 1952, chúng tôi tậu được một căn phố tại đường Lê Quang Định, gần chợ Bà Chiểu, Gia Định. Nhờ có điều kiện thuận lợi, tôi đem hai đứa em của tôi, một gái và một trai, về ở chung, nuôi chúng nó ăn học. Lúc đó, ba chị em chúng tôi đều mồ côi, cả cha lẫn mẹ.

Lúc đầu chúng tôi buôn bán nhỏ, chỉ mong kiếm sống, độ nhựt qua ngày. Về sau nhờ tích lũy vốn liếng và phát triển cơ sở, chúng tôi nhập cảng dây đàn Argentine từ nước Pháp, phân phối độc quyền trên lãnh thổ Đông Pháp (Indochine Francaise), gồm cả ba nước Việt Nam, Cao Miên và Lào.

Đang làm ăn trôi chảy, tháng 12 năm 1952, chồng tôi được lịnh động viên vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, khóa 2. Chúng tôi đành phải chấm dứt việc kinh doanh, đóng cửa tiệm tạp hóa và ngưng nhập cảng dây đàn. Sau 22 năm phục vụ trong quân đội, năm 1974 đến tuổi hưu, chồng tôi được giải ngũ, với cấp bực “Trung Tá Trừ Bị”. Theo qui chế của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thời đó, nếu là trung tá, tuổi trên 49, mà chưa thăng cấp đại tá, đương nhiên phải giải ngũ. Tiện dịp, hãng kem Perlon của anh tôi đang cần nhân viên, chồng tôi trở lại làm việc tại hãng này. Làm được khoảng một năm thì xảy ra biến cố 30-4-1975.

2. LÀM ĐƠN XIN ở TÙ:

Lúc ấy, tuy chồng tôi là thường dân 100%, nhưng gốc là nhà binh chánh hiệu. Cho nên chồng tôi rất lo âu. Cuối tháng 5 năm 1975, Việt Cộng ra thông cáo kêu gọi “sĩ quan ngụy” phải đi “trình diện đăng ký”. Ngày 11-6-1975, báo “Sài Gòn Giải Phóng” số 31 đăng thông cáo, qui định tất cả “sĩ quan ngụy” phải trình diện đi “học tập cải tạo”. Bảng “Hướng dẫn cho sĩ quan đi học tập trung” đăng trên báo, nguyên văn như sau:

“Mỗi người đến địa điểm học tập cải tạo phải mang theo:

- 1 tháng ăn bằng tiền, mỗi ngày: 300đ x 30ngày = 9.000 đồng.

- 1 ngày 0,7kg gạo, mỗi kí lô bằng: 220đ x 21 kí = 4.600 đồng.

Tổng cộng bằng = 13,610 đồng.

- Ngày tập trung đầu tiên, từng người phải mang theo thực phẩm khô để ăn ngày hôm đó, ngày thứ hai nhà thầu phục vụ cơm nước.”

Hầu hết mọi người đều tin là chỉ phải đi “học” 30 ngày mà thôi và đinh ninh, khi “mãn khóa” sẽ được trở về làm ăn với tư cách là một “công dân chân chính”, theo lời hứa của tập đoàn Việt Cộng gian xảo và tráo trở.

Chồng tôi đưa đơn lên Ban giám đốc Hãng kem Perlon, xin tạm nghỉ việc một tháng, để đi “học tập cải tạo” theo lịnh của Cộng Sản Việt Nam.

Kết quả thảm thương là phần đông sĩ quan quân đội Miền Nam đều bị sập vào cái bẩy do bọn mafia Việt Cộng đã dụng ý ngụy trang với lời lẽ đường mật, gọi là “chính sách khoan hồng”, để tóm gọn những người mà trong thâm tâm họ xem như là kẻ thù không đội trời chung của chúng.


3. GIảI NGŨ RỒI VẪN BỊ ĐI TÙ

Sau ngày chồng tôi đi trình diện “đi học” tại trường Trung Học Don Bosco, quận Gò Vấp, Gia Định được khoảng hai tuần thì nhựt báo “Sài Gòn Giải Phóng” đăng thông cáo bổ túc, cho biết những sĩ quan chế độ cũ, nếu đã giải ngũ trước ngày 30-4-1975 thì được miễn trình diện đi “học tập cải tạo” mà chỉ đi “học tập tại chỗ” trong vòng một tuần (?) mà thôi.

Tôi mừng quá, đến trường Don Bosco, Gò Vấp, xin gặp chồng tôi, nói anh ấy cầm tờ báo, đến văn phòng thủ trưởng, xin được trở về nhà, để theo khóa học tại địa phương. Tôi có đem theo tờ “chứng chỉ giải ngũ” của chồng tôi để làm bằng chứng là chồng tôi đã giải ngũ ngày 31-3-1974, tức là trước ngày 30-4-1975 trên 1 năm.

Tên cán bộ cầm tờ báo vào trình thủ trưởng của y. Một chập sau, anh ta trở ra, phán một câu “xanh dờn”: “Lãnh đạo nói, trình diện học tập là tốt, lỡ đi rồi thì nên đi luôn, cho thông suốt chính sách nhà nước. Trước sau gì cũng sẽ được ra trại mà.” Tôi nghe nói, bủn rủn tay chân. Hy vọng chồng được tha cho về nhà bổng chốc tan tành như mây khói”.


4. KHÔNG MẤT NHÀ NHỜ TẤM LÒNG NHÂN ÁI

Trong thời gian chồng tôi ở tù, ở nhà hai mẹ con tôi sống thui thủi. Con của chúng tôi lúc đó được 11 tuổi. Nhà ba từng lầu, rộng thênh thang khiến tôi cảm thấy cô đơn và lo sợ đủ chuyện.

Đứa em trai kế của tôi, tên Huỳnh Tương Đương, đại úy binh chủng Thiết Giáp cũng đã đi tù “cải tạo” như chồng tôi. Gia đình cậu em nầy gồm hai vợ chồng và tám đứa con, trong suốt thời gian tại ngũ, vì chưa có tiền tậu nhà riêng, nên phải cư trú tại các trại gia binh. Sau ngày 30-4-1975, họa vô đơn chí, vợ của Đương bị bạo bịnh và qua đời. Vì không có nhà cửa cố định, nên tám đứa con sống lây lất tại một gian nhà cất dựng tạm bợ trên lề đường tại Đồng Ông cộ, quận Bình Thạnh, Gia Định.

Nghĩ tình ruột thịt, tôi đem tám đứa cháu, gọi tôi bằng cô, mồ côi mẹ trong lúc cha thì đi tù, về cho tá túc tại nhà tôi. Tôi nào có biết trước được là, về sau tôi gặp một điều may hiếm có trên đời. Điều may đó là: Trong chiến dịch Việt Cộng “cướp” nhà của những nhà tư sản Miền Nam, tôi đã thoát nạn trong đường tơ kẻ tóc. Bọn cán bộ địa phương đến đo diện tích tất cả nhà tư nhân “ngụy” trong phường khóm. Luật lệ của chúng là: Nếu diện tích lớn hơn tiêu chuẩn ấn định so với số người trong “hộ khẩu” (tờ khai gia đình) thì Việt Cộng sẽ áp dụng hai biện pháp như sau: Một là Việt Cộng sẽ ghép cho cán bộ Cộng Sản vào ở chung nhà với mình. Hai là, chúng sẽ tịch thu nhà của mình và cấp cho một căn nhà khác nhỏ hơn. Hú hồn! Nhờ số người trong nhà tôi tăng từ hai lên mười người, cho nên nhà tôi không bị Việt Cộng tịch thu.


5. KHÔNG MẤT NHÀ NHỜ KHÔNG PHảI LÀ TƯ SảN

Nhà tôi ở mặt tiền đường Lê Quang Định, Gia Định. Vào thời điểm 30-4-1975, chúng tôi đang khai thác một tiệm tạp hóa ngay tại nhà. Sau ngày Miền Nam lọt vào tay Cộng Sản, thị trường thương mãi tại Sài Gòn bị tê liệt. Sài Gòn có một bộ mặt tiêu điều, quang cảnh gây cảm giác hoang tàn, trông giống như một thành phố “chết”. Các cơ sở thương mãi của tư doanh (nhà xuất nhập cảng, ngân hàng, nhà hàng, khách sạn, rạp hát, tiệm buôn...) đóng cửa im lìm. Vì ảnh hưởng dây chuyền, các tiểu thương như chúng tôi cũng bị vạ lây. Hàng mua vô không có, lấy gì để bán? Mỗi ngày mở cửa hàng suốt ngày ngồi “ngáp ruồi” sao?


Tôi đến phường xin trả môn bài, để đóng cửa tiệm một cách chánh thức, hợp lệ và hợp pháp. Phường không chấp thuận nhưng không nêu lý do và bảo phải tiếp tục mở cửa tiệm buôn bán bình thường. Sao kỳ vậy? Quyết định vô lý nầy khiến tôi thắc mắc, không hiểu nổi thâm ý của Cộng Sản. Tôi nghĩ, thông thường, việc xin môn bài buôn bán là chuyện khó, vì phải có một số điều kiện. Trái lại, việc nghỉ bán, đóng cửa tiệm là quyền của thương gia.

Tuy cán bộ phường không chấp nhận trả môn bài, tôi nhứt quyết dẹp tiệm. Qua ngày hôm sau, tôi đóng cửa tiệm. Về hàng hóa còn tồn động, tôi dự trử để xài lần hồi. Cả tủ kệ dùng để chưng hàng hóa, một phần đem cho bà con lối xóm, một phần đem vô nhà kho cho khuất mắt bọn cán bộ phường. Phía trước thì trang trí lại, có xa lông tiếp khách, có bàn ăn. Độ một tháng sau, Cộng sản phát động chiến dịch “đánh tư sản”. Các tiệm buôn lớn nhỏ đều bị liệt kê vào danh sách “tư sản mại bản”. Chủ nhân và cả gia đình được lịnh phải ra đi và nạp nhà lại cho phường “quản lý”. Ai không chấp hành lịnh sẽ bị bắt giam như kẻ tù tội. Trong lúc đó, nhà của chúng tôi được xem như nhà ở, không thuộc diện tự sản, nên không hề hấn gì.


Cũng cần nói thêm, dưới chế độ cộng sản, tất cả các hình thức hoạt động kinh tế và thương mãi đều do Nhà nước điều khiển và quản trị. Đó là chánh sách “kinh tế chỉ huy” của cộng sản. Nói cách khác, các nhà tư sản hoạt động trong nền “kinh tế thị trường” (tức là thị trường tự do của các nước tư bản) là kẻ thù mà cộng sản phải tiêu diệt.

Tại khu phố chúng tôi gần chợ Bà Chiểu, vài đại thương gia có tiếng tăm là nạn nhân của chiến dịch “đánh tư sản”. Toàn bộ gia đình của những nhà tư sản đều bị trục xuất ra khỏi nhà:

1/ Ông Tám Yến, chủ nhân một tiệm cầm đồ (vàng, nữ trang).

2/ Ông Lê Văn năm, chủ tiệm Mỹ Hương, bán loại thực phẩm cao cấp.

3/ Ông bà chủ tiệm MIMI, hành nghề uốn tóc.

Tại thành phố Sài Gòn, hầu hết các nhà tỉ phú đều bị “cướp” tài sản và họ phải bỏ chạy ra hải ngoại. Xin kể vài vị tiểu biểu:

1/ Ông Huỳnh Văn Xin, giám đốc hãng kem Perlon.

2/ Ông Nguyễn Tấn Đời, giám đốc Tín Nghĩa Ngân Hàng.

3/ Ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách và nhà xuất bản Khai Trí.

Lúc đó, tôi mới vỡ lẽ, hiểu rõ lý do mà trước kia đơn xin trả môn bài của tôi không được cộng sản chấp thuận.


6. BÁN ĐỒ GIA DỤNG ĐỂ SANH TỒN

Lúc còn trẻ, tôi thường nghe ông bà khuyên bảo: “ở không hoài, ăn mãi thì núi cũng lỡ”. Từ ngày Việt Cộng cướp Miền Nam, tôi thấp thỏm lo âu. Chồng tôi đã đi tù còn tôi thì không có nghề ngỗng gì hết. Buôn bán thì bị cấm đoán, bây giờ phải làm gì để sống đây? Cũng như hầu hết bà con lối xóm, tôi đành bóp bụng, đem đồ đạc trong nhà, thứ gì bán được, lần hồi bán đi, để kiếm chén cơm. Chén bát, son chảo, lò ga, tủ lạnh, đồng hồ đeo tay, đồ nữ trang... từ từ đội nón ra đi. Vừa bán vừa cảm thấy xót xa, đau đớn, thương tiếc mấy thứ tư trang mà trước kia mình đã nưng niu, giữ gìn với một tình cảm yêu quí.


7. LUẬT RỪNG

Năm 1955, lúc làm ăn buôn bán, chúng tôi có sắm một chiếc xe hơi cũ, kiểu du lịch (từ ngữ Miền Bắc gọi là xe con) hiệu volkswagen, để làm phương tiện đi chuyển và chở hàng hóa. Nhờ nhà rộng rãi, gồm ba căn phố, chúng tôi dành riêng phần diện tích phía trước của một căn, làm ga-ra, cất chiếc xe vào nhà.

Thời kì đó, nước ta còn nghèo, rất ít người sắm xe hơi, cho nên những ông chủ địa ốc, xây cất nhà cho thuê, không hề dự trù diện tích riêng cho xe hơi (parking).

Sau ngày 30-4-1975, công an khu vực của phường đi kiểm tra từng nhà để làm hộ khẩu (sổ gia đình), thấy vài ba người ở xóm tôi có để xe hơi trong nhà. Bọn chúng phán ngay một chỉ thị trong “bộ luật rừng” của chúng: “Nhân dân hiện nay, nhiều người không có nhà ở, thế mà “chị” lại để xe trong nhà. Tất cả xe ô-tô của tư nhân phải đem lên phường giao lại cho nhà nước quản lý. Kỳ hạn vài hôm, cá nhân nào không thi hành, phường sẽ cho người đến tịch thu”.

Bà con lối xóm có xe hơi phản ứng mỗi người một cách để đối phó với “luật rừng” của cộng sản. Có hai vị chủ xe tình nguyện xin vào làm việc tại phường với nhiệm vụ là tài xế cho hợp tác xã và cho phường mượn luôn chiếc xe của mình. Phường thấy có lợi nên ưng thuận. Một vị khác đem xe gời thân quyến đã đi theo “cách mạng” (tức cộng sản) giữ giùm. Một vị có sáng kiến rất độc đáo. Ông ấy đội xe lên, tháo gỡ bốn bánh xe và luôn cả bình điện, đem đi gởi nhà bà con ở nơi khác. Cán Bộ đến khám nhà, thấy xe không sử dụng được, đành phải bỏ đi. Riêng tôi, phận đàn bà thua kém, không biết ứng phó cách nào cho thích đáng, đành phải nhờ người giới thiệu, đem bán rẻ cho một anh cán bộ. Thà không có xe đi mà có một ít tiền xài, chớ dại gì đem giao cho phường quản lý, kể như mất toi luôn.


8. ĐAN MÂY TRE TẠI NHÀ

Trong chánh sách cai trị của Việt Cộng, họ luôn luôn chủ trương thể thức sản xuất tập thể. Tất cả người dân làm bất cứ ngành nghề lớn nhỏ gì cũng phải vào nghiệp đoàn. Mục tiêu của họ là kiểm soát lợi tức (từ cộng sản gọi là thu nhập) của từng người dân. ở nông thôn, làm vườn, làm ruộng phải vào tập thể. ở thành thị, làm nghề hớt tóc, chạy xe ôm cũng phải vào nghiệp đoàn. Cộng sản muốn nắm hầu bao của mọi người. Nói nôm na là, cộng sản không muốn cho người dân giàu lên để trở thành nhà tư bản. Đây là chánh sách bần cùng hóa nhân dân của cộng sản Việt Nam. Dân càng nghèo thì cộng sản càng dễ dàng xỏ mũi và sai khiến.

Với chủ trương sản xuất tập thể nói trên, phường tại địa phương tôi thành lập một “tổ hợp sản xuất mây tre” và bắt buộc tất cả vợ của sĩ quan bị bắt đi tù phải gia nhập vào tổ hợp nầy. Trong xóm, tôi là người tương đối khá giả, có nhà rộng rãi mà ít người ở, cho nên phường cho cán bộ đến gặp tôi, nói là “tạm mượn mặt bằng” để cho chị em người dân thấp cổ bé miệng, khó mà từ chối. Với lại, mình giúp cho phường mượn địa điểm, biết đâu chừng sau nầy, mình có cần việc gì, họ có thể dễ dãi với mình chăng. Do đó, bất đắc dĩ, tôi phải ưng thuận.

Sau đó, phường lo tất cả mọi việc, cho người đi mua mây tre tại các vùng quê như là Bà Điểm, Hóc Môn, đem về dự trử tại nhà tôi, cho cán bộ chuyên nghiệp đến huấn luyện chị em trong tổ hợp cách thức đan giỏ. Phường cũng tự lo đem đi bán hàng hóa sản xuất được. Cuối cùng, họ đem tiền phân phát trả công cho chị em, tùy theo số lượng sản xuất của từng người. Họ ban phát bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu, chứ không ai dám hỏi tình hình chi thu ra sao. Tôi nghĩ, đây là một sự bốc lột sức lao động tinh vi của chế độ cộng sản.


9. ÁP LỰC ĐI VÙNG KINH TẾ MỚI

Một thời gian sau, có lịnh bắt buộc “dân ngụy” đi các “vùng kinh tế mới”. Tức là đi khai phá các vùng đất hoang vu trở thành đất đai sử dụng được vào sản xuất để phát triển đất nước. Đây là một mánh khóe của Việt Cộng để diệt tư sản. Một mũi tên nhắm vào hai mục tiêu. Một là đuổi “ngụy” ra khỏi thành phố để tịch thu nhà cửa, hai là để đày đọa và bần cùng hóa dân Miền Nam, mà Việt Cộng cho là kẻ thù truyền kiếp của bọn chúng.

Công an khu vực đến từng nhà khuyến dụ: “Vợ sĩ quan nào có chồng đã đi “cải tạo” nay nếu tự nguyện đi “kinh tế mới” thì “cách mạng” sẽ thả chồng về. Tôi liều mạng trả lời: “Thả chồng tôi về thì tôi sẽ đi liền. Tôi ốm yếu như vầy, đang ở với thằng con 11 tuổi, nay đi “kinh tế mới” làm được việc gì để sống đây?” Kết quả là số đông trong phường không hưởng ứng lời kêu gọi của cán bộ. Thấy sự việc rỉ tai khó thuyết phục, phường ra thông báo, bắt buộc tất cả vợ sĩ quan “ngụy” phải lên phường họp để “đăng ký” đi vùng kinh tế mới. Vợ sĩ quan, ai cũng ngán và sợ cộng sản, nên tất cả đều đi họp rồi tùy cơ ứng biến, chớ không ai dám ở nhà.

Tại phòng họp, tên đại úy công an chủ tọa trình bài mục đích “tốt đẹp” của vùng kinh tế mới và yêu cầu, gần như bắt buộc, mọi người phải lên bàn chủ tọa, ký tên vào mẫu giấy để sẵn trên bàn là đồng ý đi “kinh tế mới” thì nhà nước sẽ cứu xét thả chồng về ngay. Tên công an nhấn mạnh thêm: “Nhà nước nói gì, nhân dân phải thi hành, không được trả giá”. Ý muốn nói là nhân dân không được đặt điều kiện. Một số vợ sĩ quan nghe nói ngọt, cả tin vào lời đường mật của Việt Cộng, lần lượt đi lên bàn của tên chủ tọa, ký tên đồng ý đi.

Riêng tôi, không hiểu sao tôi dám liều lĩnh, rủ vài chị bạn cùng xóm, chẳng những không lên ký tên mà còn lặng lẽ bỏ ra về. Mấy tên công an, gác cửa phòng họp, chận lại và hỏi: “Mấy chị ký tên chưa mà ra về vậy?

“ Tôi dứt khoát trả lời: “Thả chồng tôi về tới nhà thì tôi sẽ đi ngay”. Tôi vừa nói vừa kéo tay mấy chị bạn rảo bước đi nhanh. Bọn công an giữ trật tự nhìn chúng tôi, không phản ứng. Tôi nghĩ bụng, nếu mình cứng cỏi thì họ để yên, bằng không nếu mình yếu thế thì họ sẽ lấn tới.

Kết cuộc, một số đông gia đình đi kinh tế mới, sống lầm than nhiều năm tháng mà người chồng gia trưởng vẫn biệt tăm biệt tích. Trong lúc đó, nhà của mình bị Việt Cộng tịch thu và cấp cho cán bộ đến cư trú. Đây là một cú lừa ngoạn mục mà Việt Cộng đã thành công “vượt chỉ tiêu”, sau khi đã tóm gọn hầu hết sĩ quan “ngụy” vào cái rọ cải tạo.


10. EM TÔI ở PHÁP

Khi mới đi tù, chồng tôi bị giam tại trại Long Giao, tỉnh Long Khánh. Nửa năm sau, được chuyển về trại Tân Hiệp (cũng gọi là Suối Máu), tỉnh Biên Hòa. Sau đó, được chuyển ra Bắc Việt, lần lượt giam tại hai trại Hoàng Liên Sơn và Vĩnh Phú.

Ngày vô tù thì có, trái lại ngày mãn tù thì mù tịt. Trong những tháng năm chồng tôi ở tù, tinh thần tôi suy sụp trầm trọng, ngày đêm chỉ biết vái van, cầu Trời, khẩn Phật cho chồng tôi sớm được ra tù.

Trong lúc tinh thần sa sút, tôi được thơ của cậu em trai, Huỳnh Sĩ Nguyên, định cư tại Pháp từ năm 1976, đang giữ chức vụ Chánh văn phòng của Tổng trưởng Thông tin trong chánh phủ Pháp. Em tôi khuyên tôi nên gởi giấy tờ hộ tịch của tôi và đứa con, để làm thủ tục bảo lãnh qua Pháp. Cậu em lý luận: “Anh Ba (tức chồng tôi) ở tù cộng sản, mình đâu có biết ngày nào được thả, với lại chị làm sao sống nổi với tụi cộng sản được! Tụi nó toàn xài luật rừng” Tôi viết thơ hồi âm, từ chối ngay, không chút lưỡng lự. Tôi nghĩ, chồng mình đang bị hoạn nạn, mình nỡ lòng nào mưu tìm sự sung sướng cho riêng mình.


11. MỘT MỐI TÌNH ĐƠN PHƯƠNG

Năm 1979, lúc chồng tôi ở tù được bốn năm, một hôm, anh Thành, một người bạn học ngày xưa cùng trường tiểu học ở Sóc Trăng, đến nhà tôi cho biết một tin, làm tôi hết sức sững sờ. Số là, hồi tôi còn ở tuổi học trò ở quê nhà, có anh bạn học cùng lớp, tên Nhẫn, đã thầm yêu tôi nhưng chỉ giữ kín trong lòng. Sau biến cố năm 1945, Nhẫn đi theo kháng chiến chống Pháp, nay mang quân hàm Thiếu tá Việt Cộng và đang phục vụ tại Sóc Trăng. Nay, sau trên 30 năm mất liên lạc, Nhẫn đã nhờ Thành, đang cư trú tại Sài Gòn, thăm dò xem tình trạng gia cảnh của tôi để thực hiện mối tình đơn phương năm xưa mà Nhẫn vẫn còn ôm ấp trong lòng.

Hôm đó, sau khi nghe Thành trình bày mục đích của cuộc gặp gỡ, không chút lưỡng lự, tôi trả lời ngay: “Thành về nói lại với Nhẫn là anh ấy nên kiếm vợ, làm ăn với người ta. Còn tôi thì nay đã có chồng con. Chồng tôi đang ngồi tù tận ngoài Bắc và tôi đang chuẩn bị đi thăm nuôi đây. Tối với Nhẫn chẳng có duyên nợ gì hết, xin đừng trông mong hảo huyền nữa”.

Trong thâm tâm, tôi đã có một ý nghĩ dứt khoát. Vợ chồng tôi đã ăn ở với nhau ba chục năm nay, tình nghĩa thắm thiết. Vừa rồi, em ruột tôi tự nguyện bảo lãnh tôi đi Pháp, tôi đã từ chối. Nay, làm sao tôi có thể chia tay với một người chồng đã từng sóng chung rất đầm ấm để đi lấy chồng khác. Theo truyền thống gia giáo từ ngàn xưa, con gái Việt phải chính chuyên, một lòng chung thủy, một chồng một vợ mà thôi.


12. SUÝT BỊ LƯỜNG GẠT

Sau khi chồng tôi được chuyển ra các trại giam ở Bắc Việt khoảng bốn năm, một hôm có một phụ nữ Miền Bắc đến nhà tôi, tự giới thiệu y là một cán bộ đang phục vụ tại trại cải tạo Vĩnh Phú, nơi chồng tôi đang “học tập”. Y nói tiếp là, chồng tôi nhờ y thị, nếu có đi công tác vào thành phố Hồ Chí Minh thì giúp giùm đến nhà tôi, bảo tôi gởi ra anh ấy một cái đồng hồ đeo tay, một vài bộ quần áo ấm, và chút ít tiền, tùy theo khả năng. Y nói thêm, nếu có sẵn thì tốt, bằng không thì cho biết hôm nào có, cô ta sẽ trở lại nhận để đem ra Bắc giao lại cho chồng tôi.

Tôi nghĩ, đúng cô ta là cán bộ phục vụ tại trại mà chồng tôi đang bị giam cho nên mới biết rõ tên họ và địa chỉ của chồng tôi ở Sài Gòn. Tuy nhiên, tôi vẫn bán tín bán nghi. Có thật chồng tôi có nhờ vả cô ta điều mà cô trình bày không? Điểm nầy đáng nghi ngờ. Rất may, tôi chợt nhớ lại, xưa kia, trong thời gian chồng tôi vào quân đội, phục vụ ở xa nhà, chồng tôi thường dặn dò: “Nếu anh có cần gì thì anh viết thơ đàng hoàng. Em phải cẩn thận, xem tuồng chữ và chữ ký. Để đề phòng những người lạm dụng lòng tin, làm những việc không tốt”. Nhờ vậy, tôi từ chối khéo: “Chồng tôi có viết cho tôi một lá thơ nào không?” Cô cán bộ sừng sộ, nói như gây gổ: “Chị không tin tôi là cán bộ tại trại mà anh ấy đang học tập sao?” Tôi điềm đạm đáp: “Tôi tin cô, nhưng tôi cần có vài giòng chữ của chồng tôi để làm bằng cớ”.

Cô cán bộ phân bua om sòm, lối xóm ra xem rất đông. Tôi vẫn giữ lập trường, im lặng, không trả lời. Một chập sau, cô ta bẻn lẻn bỏ đi.

Về sau, được biết lối xóm ở phường tôi, có vài người, có con đi “cải tạo” ở Bắc, đã bị cán bộ đến nhà lừa đảo, tương tợ như cô cán bộ đến gặp tôi.


13. ĐI THĂM NUÔI

Cuối năm 1979, trong lúc chồng tôi đang bị giam tại trại Vĩnh Phú, Bắc Việt, tôi “được phép làm đơn” xin thăm nuôi. Làm đơn xin thăm nuôi, phải chờ có thông báo, không phải lúc nào muốn nộp đơn là được chấp nhận. Ngày nhận được giấy phép cho đi thăm nuôi, tôi quá đổi vui mừng. Nhưng vừa mừng lại vừa lo. Lúc đó, trong nhà đâu còn tiền. Mấy năm vừa qua, tôi đã bán sạch bách tất cả của nổi, tức là đồ đạc và tư trang trong nhà để sống tới nay. May quá, chúng tôi một ít của chìm. tức là chúng tôi đang là sở hữu chủ ba căn phố. Tôi đành bấm vụng, bán bớt một căn cho người hàng xóm, để có tiền đi thăm nuôi.

Tôi đi với đứa con trai và rủ hai chị bạn lối xóm cùng đi. Hai chị nầy có chồng ở tù cùng một trại với chồng tôi. Đi xe lửa xuyên Việt từ Sài Gòn ra Hà Nội mất hết ba ngày hai đêm. Xe lửa chật như nêm, tôi phải ngủ ngồi trên chiếc băng gổ, còn thằng con thì trải bạ, nằm ngủ trên sàn xe. Con tôi, năm đó 15 tuổi, mua vé loại giảm giá cho trẻ em. Khi lên xe, tên công an giữ an ninh, thấy vóc dáng con tôi cao lớn, hỏi con tôi mấy tuổi. Tôi nói, nó 15 tuổi. Tên nầy nghĩ rằng, tôi khai gian tuổi để mua vé giá rẻ dành cho trẻ em. Anh ta sừng sộ, bảo trình “chứng minh nhân dân” để kiểm chứng.

Đến Hà Nội lúc chiều tối, chúng tôi thuê phòng trọ, ngủ một đêm. Sáng hôm sau, tôi đi chợ mua bánh chưng và trái cây tươi, để phụ thêm thực phẩm đem từ Sài Gòn như sữa hộp, cá chà bông, mấm ruốc xào, muối đậu phộng...

Lạ nước lạ cái, không biết chợ búa ở đâu, chúng tôi gọi xe xích lô chở đi. Chú xa phu chở tôi và đứa con, nói một hơi, làm cho tôi ngạc nhiên. Anh ấy nói: “Tôi thấy mấy bà, biết ngay là người Sài Gòn ra đây để thăm mấy ông đi “cải tạo”. ở trong đó, sao mấy ông dở quá? Tụi nầy ở Bắc trông mong mấy ông ấy ra giải phóng Bắc Việt. Thế mà nay có chuyện ngược đời. Thương hại cho mấy ông ấy!” Tôi làm thinh, không biết trả lời thế nào đây.

Chồng tôi bị giam ở trại Vĩnh Phú/K5, ở mạn Bắc Hà Nội. Nghe nói, đi bộ từ Hà Nội đến trại phải mất một ngày trời. Năm đó, tôi 50 tuổi, già yếu nhưng luôn tâm niệm là phải cố gắng. Tôi thuê xe ba gác, chở cái rương sắt đựng thức ăn, quần áo, thuốc men. Anh phu xe đi trước, tôi và thằng con lẻo đẻo theo sau. Đến trại thì trời đã xế chiều. Chúng tôi được phép ngủ đêm lại tại một gian nhà tranh dành riêng cho khách thăm nuôi.

Sáng hôm sau, chúng tôi được hướng dẫn đến phòng thăm nuôi. Tôi trình giấy phép. Cán bộ cầm giấy tờ lên văn phòng. Một chập sau trở lại, cho biết là, chồng tôi đã chuyển đi K1 gần một tháng rồi. Lúc tôi làm đơn xin đi thăm thì chồng tôi còn ở K5. Tôi bàng hoàng, choáng váng, đứng không vững, như muốn té quÿ xuống đất. Cán bộ cho biết, trại K1, nơi chồng tôi đang bị giam, ở cách trại K5 khoảng 10 cây số.

Tôi lại phải thuê xe ba gác, cùng với thàng con lội bộ thêm nửa ngày, đến xế chiều mới tới K1. Lại ngủ thêm một đêm thứ hai tại nhà khách lạnh lẽo. Sáng hôm sau, chúng tôi được hướng dẫn đến phòng thăm nuôi. Tại đây đã có mặt vài anh cán bộ. Nhờ chiều hôm trước, khi vừa đến trại, tôi đã có trình giấy phép thăm nuôi, nên sáng hôm đó, chồng tôi được miễn xuất trại đi lao động và được hướng dẫn đến phòng thăm nuôi để gặp chúng tôi.

Trong phòng, có một bàn gỗ dài cỡ ba thước và 2 cái băng dài. Anh cán bộ ra dấu, bảo tôi và đứa con ngồi một bên và chồng tôi ngồi đối diện. Có nghĩa là hai vợ chồng không được ngồi cạnh nhau. Còn anh cán bộ thì ngồi bên phía chồng tôi để theo dõi cuộc nói chuyện.

Chúng tôi biết ý, chỉ hỏi thăm về sức khỏe, chỉ nói chuyện liên quan đến gia đình mà thôi. Đâu dám nói chuyện gì khác, rủi bị cán bộ đuổi về sớm thì mang họa. Tôi giao cho chồng tôi cái rương sắt nhỏ, đựng đủ thứ thức ăn và đồ dùng. Tôi dặn chồng tôi, có cần gì thì viết thơ cho biết.

Sau gần năm năm đi tù, chồng tôi thay đổi quá nhiều. Thân hình ốm nhom, nước da đen đúa, mặt mày bơ thờ. Trông tội nghiệp quá. Tự nhiên nước mắt tôi trào ra, tôi vội lấy khăn lau. Tôi cố cắn răng, cầm cho khỏi hóc nấc lên. Trời ơi! Sao tôi bị đày đọa, bị bắt phải chịu cảnh sống khốn khổ quá vậy?

Nói chuyện sơ sơ, khoảng nửa giờ thì tên cán bộ nói đã hết giờ qui định rồi. Tôi nói lới chia tay mà nước mắt ràn rụa. Tôi cảm thấy đau nhói trong tim, muốn la lên kêu Trời cho đỡ đau khổ.

Trên đường về Hà Nội, chúng tôi sử dụng nhiều phương tiện di chuyển: đi bộ, đi thuyền và đi xe lửa. Đến Hà Nội, chúng tôi thuê phòng trọ ngủ đêm. Sáng hôm sau, đi xe lửa xuyên Việt về Sài Gòn.


14. SUÝT BỊ LƯỜNG GẠT LẦN THỨ HAI

Thăm chồng về được vài tháng, một hôm có một thanh niên đến nhà tôi, cũng tự xưng là cán bộ tại trại Vĩnh Phú. Cũng giống như cô cán bộ đến nhà tôi lần trước, anh ta nói, chồng tôi nhờ anh ấy, trong dịp đi công tác vào Nam, đến nhắn bảo tôi tiếp tế thực phẩm, quần áo và tiền bạc.

Tôi biết ngay là anh cán bộ này nói dối. Là vì, trong chuyến thăm chồng tôi vừa rồi, tôi đã tiếp tế đầy đủ những thứ mà anh ta vừa mới nói. Tuy nhiên, với bản chất ôn hòa, tôi không muốn tranh cãi với người dưng nước lã làm chi. Có thể, cả đời mình, chỉ gặp họ một lần mà thôi. Tôi từ chối khéo: “Cám ơn anh rất nhiều, đã chịu khó đến nhà tôi. Nhưng tôi sắp sửa đi thăm nuôi chồng tôi cho nên không dám làm phiền anh”. Thế là tôi đã thoát nạn lần thứ nhì. Nếu dễ tin thì đã bị lường gạt.


15. NGÀY TRở VỀ

Buổi tối, ngày 30-4-1980, tôi và đứa con đang ngồi ăn cơm, thì chồng tôi bước vô nhà. Trông chồng tôi gầy ốm, đen đúa, quần áo lếch thếch, lưng đeo ba lô. Đâu còn phong độ của thời huy hoàng ngày xưa. Tôi sững sờ, đánh rơi đủa chén, líu lưỡi, không nói nên lời.

Chồng tôi cho biết, anh ấy đã được trả tự do vài ngày trước đây. Ra trại Vĩnh Phú, anh ấy về Hà Nội, ngủ ngoài trời một đêm tại sân ga xe lửa. Ngay khi tới Hà Nội, anh ấy đã đến bưu điện, gởi điện tín báo tin mừng, một ngày trước lên xe lửa về Na. Xe chạy từ Hà Nội vô Sài Gòn mất thêm hai ngày nữa. Thế mà, điện tín lại đi chậm hơn xe lửa. Do đó, sự xuất hiện của chồng tôi đã đem lại cho tôi một sự mừng rỡ, một hạnh phúc bất ngờ, tưởng chỉ có trong giấc mơ mà thôi.

Tôi đề nghị hai đứa ra phố ăn cơm tiệm để mừng ngày thoát cảnh tù đày. Chồng tôi nói: “Thôi! Ăn cơm tù nhiều năm quen rồi, bây giờ có ăn cơm nguội cũng sướng như tiên rồi”. Đúng là bị méo mó nghề nghiệp ở tù.

Lúc ấy, tiếng nhạc cát-xết nhà bên cạnh vọng sang văng vẳng:

Em vẫn chờ khi nào anh về,

Dù cho bao năm bao tháng lê thê.

Xuân tới, hè sang rồi thu lạnh lùng

Vẫn bền lòng một nỗi nhớ nhung.


Thanh Minh

P/s : Hình ảnh nơi tập trung để trình diện đi học tập cải tạo (nhưng thực chất là đi tù ) dành cho người lính Việt Nam Cộng Hoà . Saigon 5/1975 

Mưa Từ Ký Ức Xa Xôi - Trầm Vân

Thursday, January 22, 2026

Có Một Kiểu Người Rất Quen Thuộc Trên Mạng Xã Hội

 

Mở miệng ra là “Mỹ xấu xa, Mỹ can thiệp, Mỹ đạo đức giả”. Nhưng đóng miệng lại thì...

– Gửi bài bằng Gmail

– Đăng status trên Facebook

– Xem YouTube bằng iPhone

– Và chửi tiếp bằng... mạng Internet do công nghệ Mỹ thống trị.

Chửi Mỹ thì to nhưng tắt Facebook chắc là không..dám.

Thật ra, chuyện không thích Mỹ không có gì sai. Trên đời này, ghét ai cũng là quyền cá nhân. Vấn đề nằm ở chỗ: ghét thì ghét cho trọn gói. Đằng này lại ghét Mỹ bằng miệng, còn tay thì vẫn vuốt màn hình iPhone đều đều, lòng thì cầu cho wifi đừng lag. Nói cách khác, anti Mỹ bằng tinh thần, nhưng sống nhờ Mỹ bằng công nghệ. Có người bảo: “Dùng hàng Mỹ không có nghĩa là yêu Mỹ.” Đúng. Nhưng dùng mọi thứ của Mỹ, hưởng mọi tiện ích của Mỹ, rồi quay lại chửi Mỹ như kẻ thù truyền kiếp thì ít nhiều cũng hơi... khó coi. Giống như vừa ăn cơm nhà người ta, vừa chê cơm dở, lại còn trách chủ nhà sao không nấu theo khẩu vị mình.

Càng buồn cười hơn là nhiều bài chửi Mỹ lại được viết rất “đầu tư”: dài, hùng hồn, đầy cảm xúc. Chỉ tiếc một điều nhỏ: nếu không có nền tảng tự do ngôn luận và công nghệ do Mỹ phát triển, thì những bài chửi đó có lẽ... chẳng có chỗ nào để đăng.

Mỹ có sai không? Có. Quốc gia nào mà chẳng có mặt tối. Nhưng phê phán bằng lý trí khác hoàn toàn với chửi cho sướng miệng. Chửi trong khi vẫn phụ thuộc, đó không phải là phản biện, mà là một dạng tự mâu thuẫn rất "đáng yêu".

Nói cho công bằng, nếu thật sự không thích Mỹ, cách đơn giản nhất không phải là gõ phím chửi, mà là... thử sống một ngày không xài đồ Mỹ xem sao. 

Không Facebook, không Google, không iPhone, không Windows, không YouTube... Nếu làm được, xin ngả mũ. Còn nếu mới nghĩ thôi đã thấy “khó thở”, thì có lẽ nên chửi nhỏ lại một chút cho đỡ... ngượng.


Nguồn: THE SAIGON POST

#610 - Điều Cần Biết Khi Ăn Cá. Vì Sao Huyết Áp Bên Trái Phải Bị Lệch? Statin Gây Suy Thận? - BS. Phạm Hiếu Liêm

Tự Lực Và Tha Lực - Sương Lam

 

Đã từ lâu tôi không còn thích xem phim hành động hay ma quái nữa vì tôi không thích những hình ảnh chém giết lẫn nhau một cách rùng rợn, tàn bạo. Thú thật, khi lỡ thấy những cảnh giết bò, giết heo, giết rắn để ăn nhậu, tôi thường nhắm mắt lại không xem và hỏi chừng ông xã đã hết chưa rồi mới dám xem tiếp  tục khi cảnh giết hại đó chấm dứt. 

 

Không phải vì lòng “chợt từ bi bất ngờ” như lời ca của một bài hát mà tôi đã nghe mà có lẻ vì càng lớn tuổi, con người hình như sống về tâm linh nhiều hơn thuở thiếu thời. Tôi là thế đó.

 

Người viết cũng xin tạ ơn các đấng giáo chủ đã lập ra các tôn giáo dạy con người nên làm lành lánh dữ để cho cõi trần gian này bớt đi những nghiệp tội, nhữg đau khổ do chính con người tạo ra.  Con người nếu có đời sống tâm linh vững chắc sẽ biết sợ nhân quả, tội phước và từ đấy sẽ bớt đi những việc làm tội lỗi, tham lam, sân hận, si mê, sát sanh hại mạng v..v….  Đạo nào cũng tốt cả vì Chúa hay Phật đều dạy con người nên làm lành lánh dữ, sống từ bi hỷ xả, nhân  ái, yêu thương tất cả mọi người, sống thiểu dục tri túc, sống cư trần lạc đạo.  Người viết thiển nghĩ chỉ có người làm hư Đạo chứ Đạo không làm hư người nếu tín đồ tri hành đúng lời dạy của các đấng Cha Lành.

 

Phim ảnh đôi khi cũng đưa lên những bài học rất hay về cuộc đời, về quan niệm sống như thế  nào cho vui cho khỏe, cho hợp với thiên lý,  hợp với nhân đạo.

 

Theo tôi, tác giả viết dựng một bộ phim nào cũng muốn gửi gắm một tâm sự hay đưa lên một bài học nào đó để chúng ta cùng suy ngẫm.  Hình ảnh đẹp trong phim, nội dung hay của cuốn phim sẽ gây cho ta một ấn tượng, một cảm nghĩ khó quên và ít nhiều gì cũng có ảnh hưởng đến quan điểm sống của chúng ta.

 

Người viết nhớ trước đây có xem phim “The Scent of Woman” được dịch là  “Tình Yêu Dối Trá” đã chiếu lâu rồi .


Chuyện phim kể về chuyện cô thư ký tên Lý Yên Trà  nhan sắc trung bình,  tiện tặn trong việc chi tiêu hằng ngày, làm việc giỏi trong một hãng du lịch có một chàng giám đốc trẻ tuổi đẹp trai tên Lưu Chính Quốc. Cô thường bị người trưởng phòng bắt nạt và chịu nhiều áp lực, phiền muộn từ công việc làm, từ những người cộng sự và cấp trên của cô. 


Một hôm đi khám sức khỏe nơi một bệnh viện có người bạn làm bác sĩ ở đó và cũng là bạn học thuở thiếu thời, cô được báo cho biết một tin kinh khủng là cô bị bệnh ung thư  và chỉ còn sống 6 tháng nữa mà thôi.


Ban đầu cô không muốn được chữa và không còn sợ gì nữa. Bắt đầu cô quăng đơn xin nghỉ việc, sửa sang lại nhan sắc, ăn diện hàng hiệu, đi du lịch ở Okinawa với số tiền cô đã tiết kiệm được để tận hưởng những ngày còn lại.  Tại đây, cô lại gặp ông giám đốc trẻ tuổi đẹp trai của cô mà cô muốn cua làm người yêu của cô. Chàng này cũng đến đây công tác.  Rồi từ đấy, cảm tình bắt đầu nở hoa và đưa đến tình yêu giữa hai người.   Cô lập danh sách những việc cần phải làm trước khi chết và bắt đầu thực hiện: trả thù những người đã đối xử xấu với cô, học nhảy tango, lo lắng cho mẹ được tái hôn, chụp hình mặc áo cưới  v..v…

 

Nhiều lần cô muốn trốn chạy tình yêu với người cô yêu nhưng trước tình yêu chân thành của anh giám đốc người yêu của cô, cô thay đổi cách sống,  cô yêu cầu xin được chữa trị để mong được sống lâu hơn bên cạnh người cô yêu, sống lạc quan, yêu đời, yêu người, giúp đỡ và tha thứ những ai đã làm cô đau buồn. 

 

Người yêu của cô dù bị áp lực của người cha nhưng vẫn luôn động viên, khích lệ tinh thần cô nên cuối cùng cô đã kéo dài sự sống thêm hơn một tháng nữa. 

 

Vai chính trong truyện có lẻ muốn nói:  “Dù gặp cảnh ngộ khó khăn, bi thương trong cuộc sống thế nào đi nữa, chúng ta phải chấp nhận sự việc thực tế đó, và tìm cách vươn lên với những ý nghĩ và cách sống lạc quan thì hy vọng biết đâu có sẽ kỳ tích xuất hiện và kết quả cuối cùng sẽ tốt đẹp hơn là buông xuôi cho định mệnh, bi quan than khóc cho số phận.

 

Thức tế sau năm 1975,  chúng ta cũng đã thấy nhiều gia đình mà cuộc đời kể như đã “tiêu tùng” hết hy vọng sống còn rồi, nhưng họ vẫn  khắc phục được những khó khăn, gian khổ đó, vươn lên để mà sống tốt đẹp hơn lên.  Bây giờ ở hải ngoại, cộng đồng người Việt của chúng ta đã có rất nhiều người tài giỏi đã làm cho thế giới phải nể kiêng, mà trước đó cuộc sống của họ thật là gian khổ, thật là đau thương.  Người viết xin được góp vui cùng với  các gia đình đã biết vươn lên để mà sống đẹp này.

 

Nói đến tự lực nhưng chúng ta cũng cần nói đến tha lực.

 

 

Tha lực là sự giúp đỡ, khích lệ của người khác để giúp cho mình thành công tốt đẹp hơn nữa.  Ngày xưa Đức Mục Kiền Liên cũng phải cần oai lực của chư tăng hỗ trợ cầu nguyện trong ngày lễ Vu Lan mà mẹ của Ngài mới thoát khỏi ngục hình nơi chốn Diêm đài.

 

Trong câu chuyện nói trên, cũng chính nhờ sự giúp đỡ tinh thần tận lực của mẹ, của người yêu, của vị bác sĩ chữa trị, cộng chung với tinh thần  lạc quan, ý chí muốn sống còn mạnh mẽ của mình mà cô Lý Yên Trà mới có thể kéo dài thêm sự sống.

 

Đời sống tâm linh, đức tin, sự cầu nguyện cũng quan trọng cho đời sống chúng ta không kém.

 

Khi đi vượt biên, trong những lúc hiểm nguy hay tuyệt vọng, nhiều người trong chúng ta đã cầu nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát hay Đức Mẹ Maria cứu khổ cứu nạn.  “Có cảm tức có ứng” và nhiều người đã thấy được nhiều sự hiển linh của đức tin này. Cũng từ đấy, khi thoát được sự hiểm nguy, an toàn đến được các quốc gia tự do, nhiều người đã tín nguyện vào tôn giáo mà họ hằng cầu nguyện.

 

Khoa học ngày nay dù đã phát minh ra nhiều điều hữu ích cho nhân loại nhưng vẫn chưa có thể giải thích hết mọi sự việc, mọi hiện tượng xảy ra ở cuộc sống thế gian. Chúng ta vẫn phải tiếp tục cầu nguyện, vẫn muốn có một đời sống tâm linh vững mạnh, một tinh thần vững chắc.

 

in mời Bạn đọc một tài liệu về những nhà bác học nói chuyện về đức tin và cầu nguyện do một người bạn gửi đến người viết.

 

Con người chỉ vĩ đại khi cầu nguyện

 

 


Frederic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng Đức Tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học.


Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris  Đứng cuối Nhà Thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quỳ cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère.

 

Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.

 

Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi: “Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?”

Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ: “Thưa Thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép Thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến Đức Tin!”

 

Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn: “Anh lầm rồi, Đức Tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm?”

 

Chàng sinh viên liền hỏi: “Thưa Thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?”

 

Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:

“Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!”

 

Louis Pasteur - Nhà bác học thiên tài - Một tâm hồn khiêm tốn và cầu nguyện



Trên tuyến xe lửa đi về Paris, có một thanh niên trẻ ngồi cạnh một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ rút trong túi áo ra một cỗ tràng hạt và chìm đắm trong cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội.

 

Sau một hồi lâu, xem chừng không thể chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng: “Thưa Ông, Ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?”

 

Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?”

Người thanh niên xấc xược trả lời: “Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi Ông sẽ thấy rằng những gì Ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.”

 

Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên: “Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu được chúng không?”

 

Người sinh viên nhanh nhảu trả lời: “Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gửi sách vở đến cho ông, rồi ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.”


Cụ già từ từ rút ra trong túi ra một tấm danh thiếp và trao cho người sinh viên.

 

Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi: Louis Pasteur, viện nghiên cứu khoa học Paris.

(Nguồn:  Trích trong email bạn gửi)

 

Người viết xin mượn câu chuyện ngắn ngắn dưới đây để làm kết luận cho bài tâm tình hôm nay, Bạn nhé!

 

MUỐI.

Một chàng trai trẻ đến xin học một ông giáo già. Anh ta lúc nào cũng bi quan và phàn nàn về mọi khó khăn. Đối với anh, cuộc sống chỉ có những nỗi buồn, vì thế học tập cũng chẳng hứng thú hơn gì .
Một lần, khi chàng trai than phiền về việc mình học mãi mà không tiến bộ, người thầy im lặng lắng nghe, rồi đưa cho anh một thìa muối thật đầy và một cốc nước nhỏ.

- Con cho thìa muối này hòa vào cốc nước, rồi uống thử đi!

Lập tức chàng trai làm theo rồi uống thử, cốc nước mặn chát. Người thầy lại dẫn anh ra một hồ nước gần đó và đổ một thìa muối đầy xuống nước.
- Bây giờ con nếm thử nước ở trong hồ đi!
- Nước trong hồ vẫn vậy thôi, thưa thầy .Nó chẳng hề mặn chút nào -Chàng trai nói khi múc một ít nước dưới hồ và nếm thử.
Người thầy chậm rãi nói:
- Con của ta, ai cũng có lúc gặp khó khăn nó giống như thìa muối này thôi .Nhưng mỗi người hòa tan nó theo một cách khác nhau. Những người có tâm hồn rộng mở giống như một hồ nước, thì nỗi buồn không làm họ mất đi niềm vui và sự yêu đời. Nhưng với những người tâm hồn chỉ nhỏ như một cốc nước, họ sẽ tự biến cuộc sống của mình trở thành đắng chát và chẳng bao giờ học được điều gì có ích cho bản thân mình!

 

Kính chúc toàn thể quý độc giả và thân hữu nhiều sức khỏe, thân an trí lạc, dứt bớt được nhiều điều phiền não và làm được nhiều chuyện thiện lành.

 

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới 

internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 796 – ORTB 1237-1-21

26)

 

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

https://www.pinterest.com/suonglamt/