Monday, August 31, 2026

Tâm Kiếm - ThaiNC


Trời gần về chiều, nhưng cơn nắng gay gắt vẫn bao trùm vạn vật. Dưới sức cuồng nộ của thần Mặt Trời, ngọn Hồng Lĩnh nằm yên chịu đựng. Thoai thoải ven sườn núi đến con đường mòn tận đằng xa, cả rừng cây rậm rạp bị ngự trị và khuất phục trước uy vũ thiên nhiên lặng yên không di động; ngoại trừ một bóng trắng đang di chuyển an nhiên trên con đường.

Khách bộ hành là một người đàn ông đứng tuổi. Chiếc áo choàng màu trắng dính đầy bụi đường vì quãng đường dài trước khi đến đây. Vầng trán rộng dưới chiếc nón rộng vành lấm tấm vài hạt mồ hôi, nhưng đôi mắt sáng không tỏ vẻ gì nhọc mệt, chân vẫn nhịp bước tiến về phía trước.

Khi đã đến chân núi, khách dừng lại quan sát địa thế. Có hai con đường đi lên núi. Một ở phía đông, và một ở phía tây. Tây lộ thẳng tắp và đầy dốc đá hiểm trở. Đông lộ thoai thoải và ngoằn ngoèo như con rắn uốn mình lên núi. Cả hai đường đều rất hẹp chỉ đủ một người lách qua. Khách dợm mình định lên tây lộ để rút ngắn quãng đường. Bỗng ông chú ý thấy bên đông lộ một làn khói bốc quyện lên. Phía dưới thấp thoáng một mái tranh ẩn mình trong lùm cây sum suê. Té ra ở ngọn núi trơ trọi giữa một vùng hoang vu này cũng có người cư ngụ. Có lẽ gia đình của tiều phu hay thợ săn chi đây. Khách chợt cảm thấy một niềm vui nho nhỏ loé lên trong lòng. Nhìn về phía mặt trời nhẩm tính thời gian vẫn còn rộng rãi, ông quyết định đi con đường phía đông.

Nguời áo trắng khoan thai tiến lên. Càng về phía trên, ông nhận thấy những cụm hoa rừng mọc thành từng hàng thẳng thớm. Đi thêm đoạn nữa, quả nhiên có một căn nhà tranh gọn ghẽ xuất hiện trong tầm mắt. Ông tiến đến đưa tay gõ cửa.

Đợi một chút, đột nhiên cánh cửa bật mở. Một người đàn ông đứng sừng sững bên trong.

Người áo trắng chắp tay nói:

- Đại huynh, tôi có việc lên đỉnh núi đi ngang đây, có thể xin chén nước?

Người đàn ông ngần ngừ trong giây lát, rồi né sang một bên nhường lối:

- Được, mời ông vào nhà nghỉ mệt.

Khách theo gia chủ bước vào trong. Đây là một căn nhà nhỏ ba gian. Phòng ngoài có chiếc bàn gỗ và bốn cái ghế đẩu để tiếp khách, mặc dù ở chốn hoang dã này chắc khách của gia chủ cũng rất hiếm hoi. Chung quanh phòng thật đơn sơ, vài bộ da thú và đôi sừng hươu khá lớn tại góc phòng. Phía bên kia tường treo một chiếc cung sắt và ống tre chứa đầy tên. Sự bày biện trong nhà khiến khách đoán chừng gia chủ sinh sống bằng nghề săn bắn. Không biết ông ta sống một mình hay có gia đình? Khách đang suy nghĩ, gia chủ đã trở ra kéo ghế ngồi đối diện.

- Mời ông đợi trong giây lát. Tiện nội đang châm trà.

Té ra ông ta còn có vợ ở đây

- Không dám làm phiền nhiều. Xin đại huynh chén nước mưa là đủ rồi.

Chủ mỉm cười thân mật

- Chúng tôi ở đây chẳng mấy khi được tiếp khách. Nhưng dù sao cũng cho phải phép, Chẳng hay…đại hiệp có việc gì phải lên núi? Từ đây lên đến ngọn còn khá xa, đường đi rất hiểm trở.

Chủ nhà tinh ý đoán được khách phải là một bậc kiếm khách giang hồ qua dáng cách khoan thai, thái độ trầm hùng, và nhất là thanh kiếm gác bên cạnh.

Khách trả lời

- Tôi có hẹn cùng người bạn trên đỉnh núi đêm nay.

Chủ nhà khá ngạc nhiên khi nghe khách nói. Kể cũng kỳ lạ. Thiên hạ thiếu chi chỗ ấm cúng thoải mái, lại cùng nhau hò hẹn lên ngọn núi trơ trọi. Nhưng nghĩ lại khách giang hồ thường có những hành động mà người thường không thể hiểu được nên cũng không hỏi gì thêm.

Giữa lúc đó, người vợ của gia chủ đã mang trà lên, rót đầy hai chén.

- Mời đại hiệp dùng trà.

- Cám ơn đại tẩu. Khách đáp lễ.

Chủ và khách cùng bưng chén nhấp vài ngụm nhỏ.

Khách bắt chuyện

- Thật không ngờ giữa chốn núi non hoang dã như vầy lại có gia đình huynh cư ngụ. Cảnh trí thật hùng vĩ. Đúng là một nơi lý tưởng.

- Đại hiệp nhận xét đúng đó. Chỉ có điều hơi bất tiện là mỗi lần xuống làng giao dịch đổi chác phải nửa ngày đường. Nhưng rồi cũng quen…

- Đại huynh làm nghề săn bắn ở đây?

Chủ gật đầu

- Đúng vậy. Gia đình tôi mấy đời đều lấy nghề săn bắn làm kế sinh nhai. Đó là lý do chúng tôi phải làm nhà ở đây, cách biệt với xóm làng chung quanh.

- Vậy chẳng hay huynh đã có cháu để nối nghiệp?

Nghe hỏi, gia chủ lộ vẻ phiền muộn, trả lời

- Không giấu gì đại hiệp. Tôi cùng nhà tôi chung sống đã lâu nhưng chỉ có một mụn con trai. Năm nay nó mười tuổi. Kể cũng là hiếm muộn, nhưng nghĩ lại thì dù sao có được đứa con nối dõi tông đường thì cũng mãn nguyện rồi. Vậy mà…Chủ nói tới đây bỗng dừng lại, lặng lẽ lắc đầu

- Chuyện gì xảy ra cho cháu? Khách hỏi.

Chủ buồn bã:

- Tôi cũng không rõ lắm. Cách đây mấy bữa, tôi dẫn nó vào rừng tập bắn, về nhà bỗng lâm ra bệnh nặng.

-Bệnh gì? Chắc là huynh đã mời thầy thuốc?

- Dĩ nhiên. Chỉ một đứa con thôi nên chúng tôi lo lắm. Tôi đã mời hai thầy lang nổi tiếng nhất của hai làng gần đây về chẩn mạch. Vậy mà cả hai đều không rõ bệnh gì. Họ có cho toa hốt thuốc, nhưng vẫn không thấy hiệu nghiệm gì cả. Hà…

Khách lộ vẻ ngạc nhiên,

- Bệnh cháu làm sao?

Chủ rầu rĩ nói:

- Căn bệnh rất lạ đời. Như tôi nói hôm vào rừng tập bắn cung xong về nhà, nó bỗng than lạnh. Đại hiệp thấy lạ lùng không? Giữa trời đang nóng bức như vầy… Càng lúc cơn lạnh càng tăng, hành hạ nó đến chết giấc dù tôi đã đắp chăn ấm và đốt lò sưởi chung quanh cách mấy cũng không giảm.Tội nghiệp, cũng có lúc tỉnh dậy muốn nói gì đó mà không thành lời. Khi tỉnh khi mê. Có lẽ…không qua khỏi. Hà….

Chủ nhà dứt câu, thở dài ảo não làm khách ái ngại. Quả là một điều bất hạnh. Hai vợ chồng đều đứng tuổi, chỉ có một mụn con an ủi lúc về già và để nối dõi. Vậy mà đứa con đó đang bị tử thần đe dọa bằng căn bệnh kỳ lạ..

Một ý nghĩ thoáng qua, khách nói

- Tôi tuy không phải là thầy thuốc, nhưng cũng biết chút ít về y lý. Huynh có thể để tôi xem qua cháu được không?

Chủ nhìn khách nghi ngờ. Bệnh tình của con ông đến thầy lang nổi tiếng còn đành bó tay, huống chi… Nhưng càng nhìn khách, thấy đôi mắt sáng cương nghị, dáng cách ung dung, gia chủ bỗng thấy một niềm hy vọng lóe sáng. Nói cho cùng, gia đình ông đang lúc tuyệt vọng. Đâu còn gì có thể tệ hơn nữa?

Ông phấn khởi

- Thật là may mắn. Nếu đại hiệp chữa được cho cháu thì ơn này chúng tôi không bao giờ dám quên. Mời đại hiệp.

Nói xong, gia chủ đứng dậy dẫn lối cho khách vô phòng bên trong.

Vừa bước vào, khách đã thấy luồng hơi nóng hừng hực từ hai lò sưởi đang đỏ chói than hồng. Trên giường, một thằng bé đang thiu thiu ngủ dưới tấm chăn dày cộm trùm kín từ cổ tới chân, chỉ chừa khuôn mặt trắng bệch. Bên cạnh giường, mẹ đứa bé ngồi yên lặng nhìn con buồn bã. Thấy khách bước vào, bà đứng dậy lùi lại phía sau nhường lối.

Khách áo trắng ngồi xuống. Ông luồn tay dưới chăn nắm lấy cổ tay thằng bé để xem mạch. Trong khi đó, hai vợ chồng người thợ săn tựa cửa nhìn vào dáng diệu hồi hộp. Họ đang tuyệt vọng nên hễ có cơ may nào cứu vãn tình thế đều cố nắm lấy, dù tia hy vọng đó có mong manh.

Cả bốn người, kể cả đứa bé mắc bệnh mê man trên giường đều bất động. Độ chừng tàn nửa nén nhang, khách buông tay chậm chạp đứng dậy. Chủ nhà tiến đến run run hỏi:

- Đại hiệp thấy thế nào?

Khách trầm ngâm chưa trả lời, vợ gia chủ đã quỳ xuống khóc thút thít

- Đại hiệp, xin cứu độ. Chúng tôi nhớ ơn suốt đời.

Khách ngưng luồng tư tưởng đang tranh đấu dữ dội trong đầu, cúi xuống nâng người mẹ đau khổ lên

-Đại tẩu, đừng làm vậy. Tôi sẽ cố gắng.Tôi đang suy nghĩ về bệnh tình của cháu đây mà.

Người chồng dù sao cũng còn bình tĩnh hơn, nắm áo vợ kéo ra ngoài “Để cho đại hiệp suy nghĩ.” Ông thì thầm.

Còn lại một mình khách áo trắng trong phòng. Ông chắp tay sau lưng, trán cau lại, nhìn đứa bé. Nó thật đáng thương. Giữa trời mùa Hạ, lại thêm hai lò sưởi chung quanh, vậy mà thỉnh thoảng răng nó đánh vào nhau nghe cồm cộp.

Mình có nên chữa cho nó không?

Thì ra khách đã rõ nguyên nhân gây ra căn bệnh, và biết mình có thể cứu đứa bé thoát khỏi vòng tay tử thần. Điều làm ông suy nghĩ là có nên ra tay chữa trị đứa bé lúc này hay không mà thôi.

Tại sao?

Khách vốn là một bậc đại hiệp nức tiếng võ lâm, luôn cứu khổn phò nguy. Vậy hôm nay vì cớ gì ngần ngại với đứa bé tội nghiệp này. Muốn biết rõ nguyên nhân, chúng ta phải ngược giòng thời gian khoảng mười năm về trước.

Mười năm trước, chốn giang hồ bỗng xuất hiện hai tay đại cao thủ. Một người hành hiệp ở phương Bắc, người kia ở phương Nam. Cả hai cùng khá trẻ trên dưới ba mươi, và võ công của họ thật cao cường không ai chống nổi. Lấy con sông Trường Giang làm ranh giới, mọi người gọi họ là Nam Kiếm và Bắc Kiếm, vì cả hai đều lấy kiếm làm binh khí. Tất cả mọi phái võ thời bấy giờ đều công nhận hai người có võ công cao nhất. Nhưng ai là người giỏi hơn trong hai người là một câu hỏi không thể trả lời. Cả Nam lẫn Bắc kiếm đều thuộc giới hiệp nghĩa, chung mục đích trừ gian diệt bạo, nên họ chưa bao giờ giao chiến cùng nhau. Thậm chí cũng chưa có kẻ nào được dịp giao đấu với cả hai người để mà bình phẩm, ngoại trừ vài tên đại đạo, nhưng chúng đều đã ra… người thiên cổ. Vì vậy, ngôi vị đệ nhất kiếm võ lâm hơn mươi năm qua vẫn còn để trống.

Đó là những điều giang hồ đồn đãi. Một sự thực mà chỉ có hai người biết rõ, đó là họ đã bí mật thử tài nhau hai lần, và không ai thắng được ai. Mỗi lần thủ huề như vậy, họ đã hẹn thời hạn năm năm cùng nhau tái đấu để quyết định ngôi vị tay kiếm đệ nhất. Hôm nay là ngày hẹn lần đấu thứ ba của họ. Nơi định là đỉnh núi Hồng Lĩnh hoang vu không ai qua lại này. Và khách áo trắng chính là Nam Kiếm trên đường đến nơi quyết đấu.

Chính vì tầm quan trọng của cuộc so tài đêm nay đã làm khách áo trắng suy nghĩ mãnh liệt. Lúc bắt mạch đứa bé xong, ông biết nó bị gió ma xâm nhập. Gió Ma chỉ là tiếng gọi của dân gian chứ thật ra chỉ là một luồng gió chướng cực hàn thỉnh thoảng thổi qua những vùng núi hoang vu và dễ dàng giết hại những ai chẳng may bị nó thổi qua. Vì nguồn gốc hiếm hoi của nó mà những đại phu thường tình của dân gian ít ai rõ căn nguyên, nguồn gốc, và do đó không thể chữa trị bằng những phương thuốc thông thường được. Tuy nhiên đây không phải là căn bệnh bất trị. Những đại phu giỏi và hiểu căn nguyên có thể đặc chế những toa thuốc cực nhiệt và từ từ có thể chữa được. Nhưng ở nơi hoang vu này làm sao có được đại phu giỏi? Hơn nữa bệnh tình thằng bé này đã đến hồi nguy kịch, không còn thì giờ nữa. Ông thấy là nó đã không thể cầm cự được nữa rồi.

Thật là khó nghĩ. Khách áo trắng biết rằng phương pháp duy nhứt ngay bây giờ để cứu sống đứa bé là ông phải dùng công lực bản thân của ông biến thành nhiệt khí thay thế cho thuốc truyền vào đứa bé thì mới có thể hoá giải làn gió ma trong người nó. Dĩ nhiên cứu chữa xong, ông sẽ bị tổn hao công lực nghiêm trọng cần tĩnh dưỡng một thời gian dài để phục hồi.

Nếu là ngày khác, ông nào có sá chi, và sẽ không ngần ngại ra tay ngay. Nhưng hôm nay lại khác. Trước đối thủ đồng sức đồng tài, ông cần bảo tồn chân lực để chiến đấu. Điều khó khăn là không thể để đến ngày mai. Mạch của thằng bé quá yếu ớt. Khó lòng qua khỏi đêm nay. Ông cũng không thể dời lại cuộc chiến. Quân tử nhất ngôn. Một lời hứa nặng tựa Thái Sơn.

Ông phải quyết định. Danh dự hay lương tâm? Hơn mười năm ngang dọc, khách áo trắng chưa bao giờ phải đứng trước tình thế nan giải.

“Cạch… Cạạch...”

Đứa bé đang lên cơn lạnh, răng đánh vào nhau làm tim ông đau nhói. Ông bỗng nhớ lại lúc mẹ nó quỳ xuống van nài. Đôi mắt bà đầy vẻ thiết tha cầu khẩn. Ôi lòng mẹ thương con vô bờ bến. Ông cũng nhớ ánh mắt người cha rực niềm hy vọng khi đưa ông vào chẩn mạch. Ngày xưa ông chỉ là đứa con mồ côi được thầy nuôi nấng dạy dỗ từ thuở ấu thơ, chưa một lần được hưởng tình mẫu tử thiêng liêng. Khi trưởng thành xuống núi, ông là kiếm sĩ cô đơn sống với tha nhân, không có gia đình để được hân hạnh làm cha…

“Cạach… Cạaạch...”

Cơn lạnh đang hành hạ đứa bé mãnh liệt. Ông thấy từ khóe mắt nó hai giọt nước mắt chảy xuống gò má. Hình như nó đang tỉnh, muốn kêu cha kêu mẹ mà không thành tiếng. Hơi thở của nó trở nên mạnh hơn và khò khè dồn dập. Nó đang hấp hối.

Khách áo trắng tuốt kiếm ra khỏi vỏ nâng ngang mày. Mười năm qua thanh kiêm này chưa bao giờ thua. Tuy hai lần nó không thể chiến thắng trước Bắc Kiếm, nhưng nó cũng chưa thua.

Kiếm trong tay, kiếm sĩ quay lại nhìn đứa bé. Ông cảm thấy như người nằm kia không phải là thằng bé con ông thợ săn nữa. Ông thấy rõ ràng là người thầy năm xưa của ông đang hấp hối trên giường bệnh, nói với ông câu sau cùng: “Kiếm để cứu, không phải để thắng. Kiếm có thể giết, nhưng là giết một để cứu mười.” Mười năm qua ông đã luôn luôn vâng lời thầy dạy. Tay kiếm của ông cứu khổn phò nguy. Kiếm của ông đã từng nhúng máu không biết bao nhiêu cường hào ác bá… trừ hại cho nhân gian. Thầy của ông chưa bao giờ dạy ông trở thành đệ nhất kiếm sĩ. Chưa bao giờ.

Ông bừng tỉnh. Là đệ nhất, hay đệ nhị kiếm, hay thậm chí đệ thập kiếm thì ông vẫn là ông, vẫn là một kiếm sĩ trừ gian diệt bạo theo đúng lời thầy dạy. Nhưng nếu bây giờ ông quay lưng thì mạng sống thằng bé chắc chắn sẽ bị tử thần cướp đi, và cuộc đời còn lại của vợ chồng người thợ săn tốt bụng này sẽ là những ngày dài cô quạnh.

Không suy nghĩ gì thêm, khách nhảy phóc lên giường. Một tay đỡ đứa bé dậy, tay kia ấn vào huyệt Mệnh môn, ông tập trung tất cả tinh thần và công lực bắt đầu cuộc chữa trị…

Hai vợ chồng thợ săn kiên nhẫn đợi bên ngoài.

Không biết thời gian là bao lâu, cửa phòng bật mở. Khách áo trắng chậm chạp bước ra, dáng điệu mệt mỏi.

Người chồng đưa tay đỡ khách, run giọng hỏi

-Đại hiệp, ông… không sao chứ?

Người vợ vùng chạy vào bên trong.

Trên giường, đứa con của bà đang thiêm thiếp. Khuôn mặt trắng bệch lúc nãy nay đã ửng hiện vài nét hồng hào. Rõ ràng nhất là nhịp thở. Nhịp thở đều đặn và thông suốt. Trên người nó chỉ còn tấm chăn nhẹ đắp đến ngực. Hai lò sưởi đã tắt tự hồi nào. Làn sinh khí hiện rõ mồn một trên nét mặt đứa bé cho bà biết rằng, nó đã qua cơn bão dữ. Bà muốn chạy lại ôm con nhưng cố dằn, vội chạy ra ngoài hướng về khách áo trắng quỳ lạy liên hồi. Bà muốn nói muôn ngàn tiếng cám ơn nhưng không thể thốt nên lời, chỉ để hai dòng nước mắt tuôn tầm tã. Người chồng tuy chưa vào thăm con, nhưng thấy hành động của vợ cũng đủ hiểu. Bất giác, ông cũng quỳ xuống bên vợ…

Khách áo trắng ngồi xếp bàn yên lặng, không hề biết đến những gì trước mặt mình. Ông đang đi tới cảnh giới vô ngã để phục hồi chân lực đã thất thoát.

Một lúc khá lâu, khách mở bừng mắt. Bên ngoài trời đã tối, chỉ còn ánh nến leo lét duy nhất trong căn nhà. Người chồng mừng rỡ.

- Đại hiệp đã tỉnh.

Khách nhìn ra bên ngoài hỏi:

- Bây giờ là canh mấy?

Người chồng trả lời:

- Độ chừng tàn canh một, sắp sang canh hai.

Khách lẩm nhẩm gật đầu, hỏi tiếp:

- Cháu đã tỉnh chưa?

- Thưa, nó vẫn còn ngủ. Để tôi kêu nó dậy tạ ơn đại hiệp.

Khách xua tay đứng dậy

- Đừng. Cứ để cho cháu ngủ càng nhiều càng tốt. Khí lạnh không còn nữa, nhưng nó vẫn còn yếu. Khi nào cháu dạy, ông anh cứ cho nó ăn cháo loãng, đợi ngày mai vào làng bổ vài thang thuốc bổ. Tịnh dưỡng khoảng nửa tháng là không còn lo gì nữa.Tôi phải đi ngay bây giờ để kịp giờ hẹn cùng người bạn.

Người vợ chủ nhà mới từ phòng con bước ra bỗng lên tiếng,

- Trời đã tối, đường lên núi hiểm trở, đại hiệp lại không quen lối. Hay để ông nhà tôi lên núi mời bạn đại hiệp xuống đây hội ngộ có nên chăng?

Khách mỉm cười

- Cám ơn hai vị. Người bạn tôi tính tình kỳ quái. Ngoài tôi ra không chịu gặp ai đâu.

Nói xong ông cương quyết đi về chiếc bàn nhỏ, cầm thanh cổ kiếm đeo lên lưng. Hai vợ chồng chủ nhà thấy khách đã quyết, không dám ngăn trở, cùng nhau vái vị ân nhân.

- Đại hiệp nhất định phải đi, chúng tôi không dám cản. Ơn cứu mạng cháu chưa có gì đền đáp. Khi xong việc, mời đại hiệp ghé lại đây lần nữa để cháu có dịp bái tạ.

- Xin vâng. Khi trở về tôi sẽ ghé lại thăm cháu, và hai vị.

Đoạn khách chậm rãi bước ra khỏi nhà, tiếp tục trên con đường ngoằn ngoèo dẫn lên đỉnh núi. Hai vợ chồng thợ săn cùng nhìn theo ân nhân cho đến khi bóng ông khuất hẳn trong tầm mắt.

***

Khách áo trắng lầm lũi tiến lên ngọn Hồng Lĩnh. Giờ hẹn với tay kiếm phương Bắc là canh ba. Có lẽ y đã đến và đang chờ. Đêm nay trăng sáng ngời đỉnh núi. Không khí ban đêm mát dịu và tĩnh lặng. Khách áo trắng bước đều trong một tâm hồn thanh thản. Ông nhớ lại lúc dùng dằng chưa dứt khoát chịu cứu trị cho đứa bé. Chỉ chậm trễ chút nữa, ông có thể ân hận suốt đời. Lương tâm đã bình yên, ông trở lại là một kiếm sĩ. Danh dự không cho phép ông hủy bỏ cuộc tranh tài đêm nay dù biết phen này nắm chắc phần thua. Ông sẽ ra tay quyết đấu. Dù đây chỉ là ấn chứng võ học, không phải hận thù quyết tử, nhưng ông cũng hiểu rằng khi đã đến chỗ quyết định tối hậu làm sao tránh khỏi sơ sẩy, mà đao kiếm thì vô tình… Nếu ông có gục ngã, xuống suối vàng cũng không hổ thẹn gặp lại thầy, vì ông đã sống và chết như một kiếm sĩ chân chính.

Chân vẫn nhịp bước chẳng mấy chốc đã lên tới đỉnh. Dưới ánh trăng, một bóng người đứng chờ sẵn. Bắc Kiếm. Áo choàng đen phất phới. Chòm râu quai nón trên gương mặt phong trần, oai vĩ. Người áo đen đứng đó trầm hùng, vững chãi như ngọn Hồng Lĩnh, tựa hồ như không có gió bão nào, không có sức mạnh nào có thể lay chuyển được. Đằng kia, khách áo trắng điềm tĩnh tiến lên. Bước chân ông siêu thoát như nước chảy mây trôi, tưởng chừng không gì trên đời có thể cản được bước tiến của ông. Hai kiếm sĩ, kiếm chưa ra khỏi bao mà khí thế đã đối chọi nhau mãnh liệt bao trùm cả một góc trời.

Hai đối thủ cuối cùng đã đứng đối diện. Họ kính cẩn chào nhau. Người áo đen lên tiếng trước.

- Năm năm cách biệt, bạn vẫn như xưa.

- Bạn cũng vậy. Khách áo trắng cười nhẹ.

- Hai lần trước, chúng ta đều không phân thắng bại. Năm năm trôi qua, sức thành tựu của mỗi người không thể bằng nhau mãi. Đêm nay tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ quyết định được. Nếu còn huề nữa, lời hẹn năm năm xin hủy bỏ, vì ta sẽ vĩnh viễn không thắng được bạn.

Khách áo trắng mỉm cười một mình. Chính ông cũng có ý định như trên trước khi đến đây. Nhưng bây giờ đã khác.

- Bạn yên tâm. Đêm nay chúng ta nhứt định sẽ phân thắng bại.

Người áo đen ngạc nhiên

- Bạn tin tưởng sẽ thắng ta như vậy ư?

Khách áo trắng cười lớn

- Không phải. Ta nói sẽ phân thắng bại, nhưng không có nghĩa là ta sẽ thắng và bạn sẽ bại.

- Hay lắm, vậy chúng ta bắt đầu là vừa.

- Được. Lần trước tôi ra chiêu trước. Lần này mời bạn.

Người áo đen cười sảng khoái

- Được lắm. Công bằng lắm. Ta ra tay đây!

Câu nói vừa dứt, thanh thiết kiếm đã nằm trong tay. Người và kiếm từ từ tiến lại. Khách áo trắng cũng đã hoành thanh cổ kiếm màu bạc chờ đợi. Khi khoảng cách giữa hai người vừa thu ngắn một nửa, người áo đen dừng lại cất tiếng.

- Khoan. Ta có điều muốn hỏi.

- Điều gì?

- Bạn đã lên núi bằng con đường phía Đông hay con đường phía Tây?

- Con đường phía…Tây. Sao?

Người áo đen lắc đầu.

- Bạn đi bằng đường phía Tây thì ta không có điều gì phải nói nữa. Chú ý! Ta ra chiêu đây!

- Sẵn sàng.

Sau một tiếng quát dài, người áo đen và kiếm đã nhập thành một khối, bắn về phía trước. Cùng lúc, vầng sáng bạc trong tay người áo trắng cũng trỗi dậy thành một vòng cầu đón tiếp khối kiếm đen.

Tiếng binh khí bắt đầu chạm nhau dữ dội trong đêm trường. Hai thanh kiếm một trắng một đen xoắn tít lấy nhau. Kiếm khí mịt mù bao phủ cả một góc núi.

Đây là lần giao chiến thứ ba. Họ đã biết tài nhau từ mười năm trước. Mỗi chiêu kiếm đưa ra là một tuyệt học được khổ luyện công phu. Hai đấu thủ lúc thì quấn lấy nhau như nhập thành một, lúc thì người này bị tay kiếm người kia đẩy lùi phía sau. Có khi di chuyển nhịp nhàng dưới đất, có khi lại phi hành qua các tàng cây… Hai thanh kiếm luôn chĩa thẳng vào nhau.

Đang giao đấu kịch liệt, người áo đen Bắc Kiếm bỗng thét to.

- Ngừng tay!

Và kiếm sĩ áo đen vội vàng tháo lui.

- Chuyện gì? Người áo trắng hỏi

- Bạn có bệnh gì trong người không?

- Không. Khách áo trắng cười dài.

- Hay là bạn đã cùng tay cao thủ nào giao chiến trước khi lên đây?

- Cũng không nốt. Tại sao bạn hỏi?

Người áo đen trả lời

- Chưa đến một trăm hiệp mà ta thấy tay kiếm của bạn không còn vững vàng nữa.

- Bạn chỉ tưởng tượng. Ta nhớ nãy giờ bạn chưa thắng ta một chiêu nào cả.

- Đúng vậy. Nhưng tiếp tục thêm một trăm hiệp nữa, có lẽ bạn sẽ thua đó.

- Chưa chắc đâu. Tiếp tục đi. Đừng nhiều lời.

Khách áo trắng nói xong vung kiếm tấn công liền tức khắc không để cho người áo đen suy nghĩ gì thêm. Cuộc chiến lại tiếp tục. Hai thanh trường kiếm vun vút dưới ánh trăng như hai con mãng xà quyện vào nhau kêu thét giữa không trung.

Bỗng cả hai cùng thét lớn và dừng tay lại. Kiếm khí tắt hẳn. Hai đối thủ đứng đối diện nhau bất động. Thanh kiếm đen chĩa thẳng vào cổ khách áo trắng, và thanh kiếm bạc cũng chĩa vào người áo đen, cùng vị trí.

Người áo đen nói trước:

-Đây là chiêu thứ mấy?

-Thứ 199.

-Đúng vậy. Năm năm trước đây, ta với bạn cũng dừng lại ở đây. Ta nhớ là đã quá 200 hiệp.

-208 hiệp. Ta và bạn cùng cách một ly, nên lấy đó làm hòa. Khách áo trắng tiếp lời

-Bây giờ thì sao? Người áo đen hỏi

Hai thanh kiếm vẫn bất động nguyên vị trí khi nó dừng lại. Nhìn kỹ thì thanh kiếm màu đen cách người áo trắng nửa ly. Thanh kiếm bạc cách xa người áo đen… một ly rưỡi.

Khách áo trắng chậm rãi thu kiếm về

-Ta thua rồi. Từ nay bạn là Đệ nhất kiếm.

Người áo đen cũng thu kiếm lại bật tràng cười dài.

-Đệ nhất kiếm… Ha ha ha. Ta là đệ nhất kiếm rồi sao?

Sau tràng cười sảng khoái, người áo đen bỗng ngưng bặt, mắt loang loáng nhìn khách áo trắng.

-Kỳ lạ. Thật là kỳ lạ. Năm năm trôi qua, kiếm của bạn không tiến lên mà hình như sút giảm? Tại sao? Bạn có gì giấu ta chăng?

- Không có gì cả. Ta vẫn vậy. Chỉ vì bạn tiến bộ vượt bực mà thôi.

Người áo đen lắc đầu

- Bạn đừng giấu ta nữa. Tài nghệ của bạn ta đã rõ. Bạn yếu đi so với năm năm trước nên ta mới có thể thắng một cách dễ dàng như vậy.

Người áo đen nói xong lộ vẻ đăm chiêu suy nghĩ trong thoáng chốc, bỗng mắt ngời sáng

- À ! Ta biết rồi! Ta biết rồi…

- Bạn biết gì?

- Thực ra bạn không lên đây bằng con đường phía Tây. Bạn đã lên bằng con đường phía Đông.

-Có gì khác biệt đâu.

Người áo đen nói

-Khác chứ. Trên con đường phía Đông có gian nhà tranh của gã thợ săn. Lúc ta đi ngang qua đó sáng nay đã biết đứa nhỏ con của họ trúng phải âm hàn phong cực độc, bệnh tình trầm trọng. Ta đã định ra tay cứu chữa…

Ông dừng lại, thanh âm trầm xuống

-Nhưng nếu chữa cho nó, công lực sẽ bị hao tổn. Ta nghĩ đến cuộc chiến đấu cùng bạn tối nay nên dùng dằng không định. Cuộc đấu này quyết định danh dự đệ nhất kiếm. Ôi cái danh hiệu này đối với ta quan trọng quá, nên cuối cùng ta quyết định bảo tồn chân lực để chiến đấu trước. Ta định sau trận đấu ta sẽ trở lại cứu trị cho nó sau, mặc dù ta biết mạng nó mong manh chưa chắc đã qua khỏi khi ta trở lại. Bạn cũng lên đây bằng con đường đó, đã gặp đứa bé và đã chữa trị cho nó. Ta biết chắc như vậy vì tay kiếm của bạn không nhanh như xưa nữa. Người luyện võ chúng ta nếu không tiến thì cũng không thể lùi. Thần sắc của bạn an nhiên như vậy chắc không bệnh tật gì. Vừng này hoang vu nghèo nàn, không có đại đạo cao thủ nào khiến cho bạn phải tổn sức. Vậy thì chuyện gì khiến bạn phải hao tổn công lực cho tay kiếm phải chậm đi? Chỉ có thằng bé bị âm hàn cần cứu chữa mà thôi. Bạn đã chữa trị cho nó dù bạn biết rằng như vậy là sẽ thất bại dưới tay ta.

Ta cũng là kiếm sĩ. Ta cũng hiểu rằng kiếm pháp hay thanh danh chỉ là ngoại thân. Cái “TÂM KIẾM” kia mới là cốt tủy của một chân kiếm sĩ. Bạn lấy CỨU làm trọng, lấy THẮNG làm khinh, là kiếm thuật chân chính. Ta lấy CỨU làm khinh lấy THẮNG làm trọng, chẳng mấy chốc sẽ đi vào con đường tà kiếm. Hỡi ơi, trận chiến này thật ra không cần phải đấu. Bạn đã thắng ta tại căn nhà đó rồi. Cái vinh dự Thiên Hạ Đệ Nhất Kiếm này ngoài bạn ra không còn ai xứng đáng hơn. Ta thành thật bái phục… Xin giã biệt.

Khách áo trắng im lặng. Ông không thể nói gì hơn, ngay cả vài lời khiêm tốn cũng là thừa thãi khi mà người đối diện đang cởi mở tấm lòng. Ông hỏi:

-Sao không chờ đến sáng mà bạn phải vội vã đi?

Người áo đen tiến về con đường mé Đông chậm rãi xuống núi.

- Ta xuống nhà thợ săn giúp cho thằng bé chóng phục hồi. Âu cũng là duyên. Bạn đã cứu nó, bây giờ tới phiên ta phải đền bồi. Đợi nó lành bệnh, ta sẽ xin cha mẹ nó thu làm đồ đệ. Mười năm sau sẽ thay ta hành hiệp giang hồ. Nó sẽ sử dụng kiếm của ta, và cái tâm của bạn. Nó sẽ là một kiếm sĩ chân chính… Hahaha!

Người áo đen bỗng trở nên sảng khoái trở lại. Ông đã tìm lại được chân lý, và hài lòng với giải pháp của mình.

Tiếng cười nhỏ dần về phía dưới để lại khách áo trắng một mình trên ngọn Hồng Lĩnh. Vầng thái dương lấp ló từ đằng xa báo hiệu một ngày mới. Vài cơn gió nhẹ ban mai thổi tung chiếc áo choàng trắng phất phơ./.


ThaiNC

 (1) Salut Saigon & Salut Les Copains | TÂM KIẾM | Facebook

Lớp Học Thế Giới


 

- MỸ (USA): là trưởng lớp, giàu nhứt lớp. Nó chính là đứa quyền lực và đặt ra luật chơi cho cả lớp. Tuy thế nó chỉ già nhưng trí óc còn non nớt, đôi khi có những "động thái" ngờ nghệch lắm. Nhưng không ai đoán được là nó ngờ nghệch thiệt hay giả vờ lú lẫn

 

- TRUNG CỘNG: lớp phó tự phong, không ai bầu nhưng nó tự phong là lớp phó. Hầu hết cả lớp ghét nó vì nó có tính tham lam, độc ác và hay bắt nạt những thằng yếu hơn nó. Thằng này có tài copy y chang bài của đứa khác nhanh như chớp. Thằng Sở Lưu Manh này thì khỏi nói, chuyên môn đi dụ cho mấy đứa nghèo trong lớp mượn tiền, khi mắc nợ nhiều quá trả không nổi thì nó xiết nhà, xiết đất. Không nhờ thằng Mỹ ngờ nghệch thì đến giờ nó vẫn còn là thằng khổng lồ với đôi chân bằng đất sét. Mỹ và Âu châu cưng yêu thú vật mà không giỏi chữ Hán nên không hiểu câu "dưỡng hổ di họa" là gì.

 

- DO THÁI (ISRAEL): Thông minh và học giỏi toán nhứt lớp nên giữ chức lớp phó học tập, nhưng hơi có tính keo, không cho ai cóp bài hay mượn tài liệu bao giờ. Thằng này thì thủ đoạn vô lường. Con trai Đức Chúa Trời mà nó còn dám treo lên thập giá luôn, chẳng chút e dè. Dân Ả Rập vừa ghét nhưng lại vừa hãi nó lắm. Nó được võ lâm ban biệt danh là "Nhất Kiếm Trấn... Ả Rập". Ai mà đụng nó thì nó chơi lại tới bến. Mỗi lần có tên Ả Rập nào chọc nó thì trưởng lớp Mỹ phải can muốn chết vì sợ nó chơi quá tay sẽ đưa đến Thế chiến 3.

 

- PHÁP (FRANCE): Bạn này là dân chơi cầu ba cẳng, nổi tiếng thế giới về mỹ phẩm, rất đỏm dáng, điệu đàng lãng mạn khỏi nói, ra đường là xịt nước hoa nồng nặc. Khi vào lớp, nó thích nhất ai hỏi nó câu: “Paris có gì lạ không em?”

 

- ANH (ENGLAND): Thằng này học dẫn đầu lớp môn… tiếng Anh (English), nhưng hay hờn dỗi, suốt ngày đòi nghỉ chơi với mấy đứa bạn thân lâu năm. Nhờ học giỏi nên không thèm để mấy thằng ngu hơn lợi dụng. Nó thà làm đệ tử thằng giàu còn hơn làm sư phụ thằng nghèo để khỏi nuôi báo cô.

 

- BA TƯ (IRAN): Đây là xứ “1001 Đêm” của công chúa Jasmine, Aladdin và cây đèn cầy, ý lộn…, cây đèn thần… Nhưng đó là chuyện xưa. Còn nay, thằng này chỉ lo chăm chú luyện Thẩm Du Đại Pháp, chà chà cây đèn của nó để mong Thần Đèn xuất hiện giúp nó làm giàu uranium nhanh nhanh, bất chấp giáo viên đang dạy cái gì trên bảng.

 

- NGA (RUSSIA): thằng này lạnh lùng và gấu nhứt lớp. Tánh thằng này thô bạo lắm nên có biệt danh là “LA SÁT”, chuyên đi cưỡng hôn gái đẹp hàng xóm. Nó có tật xấu hay say sưa, hở ra là chuốc rượu vodka bạn bè. Hồi Thế Chiến 2, thằng Đức háo thắng lỡ dại đập nó một lần, sau đó bị nó đập lại phù mỏ, ba má thiếu điều nhận không ra, rồi thừa cơ cưỡng hôn luôn mười mấy người đẹp hàng xóm của nó. Hiện tại không ai dám đập nó kể cả trưởng lớp, chỉ có nó lâu lâu say xỉn đập hàng xóm thôi. Cái thằng [muốn làm] Mỹ con [nhưng] không có “đô-na” này chỉ cậy có mấy thứ võ công tà đạo mà hù thiên hạ. Vì sự hèn nhát của võ lâm Tây Âu và công tử trưởng lớp Mỹ nên cũng là mối đe dọa của giang hồ. 

 

- UKRAINE: là một nữ sinh hiền lành, xinh đẹp, học giỏi có hạng ở trường. Trước kia nàng bị thằng Nga La Sát cưỡng hôn. Nhân cơ hội thằng khốn nạn đấu nội công với lớp trưởng bị nội thương suýt chết nên nàng và mười mấy người đẹp khác nộp đơn ly dị thành công. Mấy năm trước nàng hay mặc bộ bikini hiệu Crimea & Donetsk - Luhansk tuyệt đẹp khi bơi ở trường. Thằng La Sát chồng cũ ghen quá nên đã đè ra lột bộ bikini chiếm giữ làm của riêng trước sự bất lực hèn hạ của bọn công tử đồng môn.

 

- THÁI LAN (THAILAND): Em này cứ vài ba bữa thì xin nghỉ học để tổ chức thi Hoa Hậu Tiffany. Nhờ sự khôn ngoan nhất mực nên mấy mươi năm giang hồ loạn thế mà nó vẫn giữ được gia trang yên ổn. Nay tự nhiên luyện môn Quỳ Hoa Bảo Điển, cặp kè với thằng phó lớp rồi khoe đã uống thuốc ngừa thai nên chẳng sợ vướng bầu. Giời ạ! Chơi với thằng Sở Lưu Manh thì bầu bì gì. Chỉ e bị giang mai lậu mủ hay nhẹ lắm cũng bị lây ghẻ tầu rồi lở loét mà chết thôi...

 

- TRIỀU TIÊN (NORTH KOREA): Thằng này bị bệnh tự kỷ nặng, trong lớp không chơi với ai, cộng thêm chứng hoang tưởng, suốt ngày mang hàng nóng rởm ra dọa thằng trưởng lớp để tống tiền. Nó khùng khùng vậy chứ thuộc loại “uy vũ bất năng khuất”, không biết sợ ai hết kể cả trưởng lớp. Vì vậy, cả lớp phải kiêng dè nó. Trong 10 lần nó mang hàng nóng rởm ra dọa thì hết 7 lần trưởng lớp và hàng xóm phải hùn tiền cứu đói nó.

 

- ĐỨC (GERMANY): Thế kỷ trước nó là học sinh cá biệt, hung hãn nhứt lớp, gây nên Thế Chiến 2, khiến sơ sơ khoảng 70-85 triệu người chết. Sau đó bị trưởng lớp và các đồng minh đập hội đồng một trận nhừ tử. Giờ thì biết khôn nghe lời trưởng lớp rồi.

 

- VENEZUELA: Con bé này rất khoái thi sắc đẹp, hiện là hoa khôi của lớp. Nó bị thằng “phó lớp tự phong” dụ tiến lên “thiên đường xếp hàng cả ngày” nên nó tặng "quà" lung tung cho bất cứ thằng nào muốn... Giờ thì bệnh Ếch giai đoạn cuối rồi.

 

- Ả RẬP SAUDI (ARAB SAUDI): Có thể là một con bé xinh đẹp, tuy nhiên chưa ai nhìn thấy mặt nó, chỉ nhìn thấy cặp mắt to tròn, đen láy thôi. Ai nhìn lâu vào cặp mắt ấy bị thôi miên ráng chịu. Có thể trưởng lớp đã bị con bé này thôi miên nên thỉnh thoảng hắn dùng máy bay vận tải loại khủng C-5 Galaxy chở tiền mặt (đô la) qua tặng nàng. 

 

- TÂN GIA BA (SINGAPORE): Lớp phó lao động, vệ sinh. Thằng này khôn ngoan, giữ vệ sinh rất kỹ, tính khó chịu. Đừng bao giờ nhai chewingum với hút thuốc trước mặt nó, hay vẽ bậy lên tường, coi chừng ăn roi của nó vào đít. Đất nhà của thằng này nhỏ xíu, nhỏ đến độ nếu nó có máy bay chiến đấu, vừa đề máy bay lên là đã ra khỏi không phận quốc gia, nên nó không cần có quân đội mà chả có ma nào dám đụng tới nó, giống như nó có bùa hộ mạng. Thằng này thuộc loại "phú quý bất năng dâm", từng chỉ mặt thằng Đông Lào rằng "cút cha bản mặt Mã Giám Sinh của mày và dắt theo luôn con ‘Thúi Kiều’ về xứ Lèo cho tao, ngay. A lê hấp!”

 

- THỤY SĨ (SWITZERLAND): Thằng này tính cẩn thận, nghiêm túc, được giao làm thủ quỹ của lớp. Ai mà gởi tiền cho nó giữ thì không sợ mất tiền, chỉ sợ quên mật mã của tài khoản thôi. Nó khôn ngoan lắm, luôn đứng ngoài các cuộc chiến, chỉ mong thân chủ gởi tiền càng nhiều càng tốt và mau sớm bị bệnh mất trí nhớ (Alzheimer).

 

- Ý ĐẠI LỢI (ITALY): Thằng này đẹp trai, tính tình phóng khoáng, nhà lại có shop hàng hiệu nên hay được mấy đứa con gái trong lớp bu xung quanh. Nhưng thằng nay có sở thích nuôi móng tay dài để cấu mông mấy con bé trong lớp. Mà bọn gái lại khoái ra mặt mới thật là kỳ cục.

 

- ÚC ĐẠI LỢI (AUSTRALIA): Cả trường có mình nó cưỡi kangaroo đi học. Chung quanh nhà nó có nhiều rừng, không biết ai (ở không quá) đốt mà cứ bị cháy hoài. Thằng này giàu có nhờ đất đai cụ cố (vồ được của thổ dân Úc) để lại. Cũng thuộc loại công tử dân chơi, dám đòi điều tra thằng phó lớp về việc thả con cúm Tầu ra tàn hại cả lớp.

 

- BA TÂY (BRAZIL): Thằng này là dân ham chơi hơn ham học, giỏi đá bóng với nhảy nhót nên được bầu làm lớp phó phụ trách văn nghệ thể thao.

 

- CU BA (CUBA): Nhà thằng này cách nhà trưởng lớp một cái ao làng nhỏ, có thể dùng xuồng thúng bơi qua, con nhà nghèo nhưng được cái liên hoan lớp không bao giờ quên đem mía và xì gà nhà trồng vào chiêu đãi các bạn. Thằng này là bạn nối khố của thằng Đông Lào và nhờ được thằng Đông Lào ngậm kỹ khi ngồi canh giữ hòa bình thế giới nên vẫn còn yên tâm ngủ kỹ để... chống đói. Tuy nghèo nhưng nó không ngu: thằng Đông Lào dụ nó đổi nhà hoài để được ở gần nhà trưởng lớp cho dễ vượt biên mà nó đâu có chịu.

 

- BƯỚM MÁ (BURMA): Tên cúng cơm trước đây của nó là MIẾN ĐIỆN, cũng thuộc loại quân phiệt. Vừa vào lớp là bị chọc ghẹo, ghép cặp với thằng Cuba nên nổi sùng tuyên bố một câu xanh dờn: “Không có Cu Ba, Cu Má gì hết. Tao thà ở giá chứ nhất định không lấy tên nghèo kiết xác Cu Ba.”

 

- ĐẠI HÀN (SOUTH KOREA): Nhóm trưởng nhóm nhảy hiện đại của lớp. Nhóm của nó mặt giống nhau y chang (chắc có cùng bác sĩ thẩm mỹ.) Lúc Saigon là Hòn Ngọc Viễn Đông thì mùa đông thằng này còn trùm mền giấu cái lò than be bé trước ngực để sưởi ấm. May nhờ bọn Hàn cộng kiệt quệ sau trận chiến với thằng "đế quốc sen đầm" không còn đòi “phỏng giái” miền Nam nữa nên nó có điều kiện phát triển một mạch. Giờ thì ai nó cũng dám cạnh tranh. 

 

- NHỰT BẢN (JAPAN): Thằng này cũng con nhà giàu, lái Lexus đi học, nhưng được cái lễ phép, chào bạn mà cũng cúi gập đầu. Trong giới giang hồ thì nó xứng đáng được gọi là đại hiệp Phù Tang. Chẳng phải nhờ tài cứu nhân độ thế gì mà nhờ vào đức tính biết bỏ cái sai theo cái đúng, bỏ tự ái vặt để chớp lấy thời cơ và tự cứu mình. Cái sai lầm lớn nhất của thằng này là lỡ dại dám đánh lén trưởng lớp Mỹ trong trận Trân Châu Cảng (Pearl Harbor, Hawaii) hồi Thế Chiến 2. Sau đó bị trưởng lớp đánh lại tả tơi như cái mền rách. Nếu không, giờ này công tử lùn có thể đang ngồi rung đùi cho thằng phó lớp đánh giày bằng lưỡi.

 

- ĐÔNG LÀO (EAST LAOS): Thằng này nghe tên là biết nhà nó ở đâu, thuộc diện con nhà nghèo ăn xin tứ phương nhưng bị bịnh hoang tưởng hay thần kinh gì đó không biết. Lúc nào cũng nghĩ mình đang ở thiên đường và đặc biệt là không biết nó là ai nên cái mặt cứ vênh vênh lên và hay gây hấn với các bạn trong lớp rồi hỏi: “Mày biết bố mày là ai không?” 

 

Nghe võ lâm thiên hạ đồn hồi nhỏ nó bị té giếng nên nó khùng nặng, chửi trưởng lớp hằng ngày, nhưng cứ tìm cách cho bà con dòng họ qua nhà trưởng lớp chơi rồi ở lỳ không về. Ngược lại, nó khúm núm theo bợ thằng “phó lớp tự phong” như bợ đờ-ít ông cố nội nó, không bao giờ dám cãi lời, bảo ăn gì thì nó ăn nấy. Bởi vậy bệnh khùng của nó càng ngày càng nặng vì chỉ thích uống thuốc giả của thằng “phó lớp tự phong” đưa cho. Thằng tiểu lưu manh này từ khi bị trúng Thiết Sa Chưởng của đồng chí Bình Lùn thì chứng hung hăng đã giảm đến chín phần. Chỉ còn cái mồm là hay xoen xoét khoe thành tích tưởng tượng. Nó thuộc loại đầu trọc không có tóc, kèm chứng tửng tửng nên liều mạng nhất lớp, hay đem bom vô lớp để cưa rồi lấy thuốc nổ đi đánh cá. Mỗi lần nó cưa bom thì cả lớp mạnh thằng nào thằng nấy vắt giò lên cổ mà chạy, ai cũng sợ nó…"CHỆT" (phát âm theo tiếng "Huệ").


Kim Duncan chuyển

 

Chợ Nổi Ngã Năm Sóc Trăng - Thanh Lan


Nếu từ Sài Gòn có dịp về miền Tây qua Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau mọi người sẽ dễ dàng gặp rất nhiều chợ nổi. Nào là chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang), chợ nổi Cái Răng, Phong Điền (Cần Thơ), chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp (Hậu Giang), chợ nổi Cà Mau (Cà Mau)… 

Nói chung chợ nổi ở miền Nam khác xa với chợ tỉnh, chợ phiên của miền bắc, bởi chợ nổi không hề có nhà lồng chợ, không có sạp bày bán mà chỉ trao đổi, mua bán ngay trên mặt sông.

Một góc chợ nổi Ngã Năm   

Khi mọi người còn đang ngon giấc, các khu chợ nổi đã bắt đầu hình thành, rộn ràng, ồn ào cho đến sáng, với hàng trăm chiếc ghe, tàu lớn nhỏ đủ loại đậu san sát vào nhau. Ban đêm đứng trên bờ sông nhìn xuống thấy lung linh với đủ loại sắc màu của ánh đèn như đêm hội hoa đăng. Dưới ánh trăng lờ mờ, phảng phất những cơn gió hanh lạnh, cùng với những bóng đèn Led sáng tỏa trong từng chiếc ghe, tàu lớn, nhỏ…Cảnh nhộn nhịp thú vị hơn cả là cách thức gọi hàng, cùng thương lượng giá cả, người bán người mua, người tung người đỡ hệt như những nghệ sĩ xiếc đang biểu diễn trên sông. Do là vùng quê thuần nông nên sản phẩm trao đổi, mua bán chủ yếu là các loại nông sản thực phẩm, trái cây, hoa màu sản xuất tại các địa phương hay những vùng lân cận chuyển đến phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ hoặc đưa đi tiêu thụ các chợ huyện, chợ xã xa hơn…


Riêng Ngã Năm vốn là một huyện của tỉnh Sóc Trăng, cách nay ít lâu được chia tách ra từ huyện Thạnh Trị. Đây cũng là nơi gặp nhau giữa các tuyến kinh: Quản Lộ – Phụng Hiệp, Xẻo Chích, Xáng Chìm, Trà Ban, Phú Lộc. Cũng từ nơi này, có hướng về Cà Mau, Bạc Liêu, đi qua Cần Thơ, Phụng Hiệp hay ra Phú Lộc rồi xuôi dòng Mỹ Thanh qua cửa Trần Đề và hệ rừng ngập mặn ven biển Sóc Trăng. Riêng Ngã Năm là điển hình cho địa bàn vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long với những nét văn hóa riêng vô cùng đặc sắc. Ở đây, chợ nổi luôn đóng vai trò to lớn trong giao lưu thương mại, thúc đẩy sự chuyển động đi lên của một vùng đất.


Mặc dù trên địa bàn huyện Ngã Năm cũng có khá nhiều chợ nổi như chợ nổi Long Tân, chợ nổi Mỹ Quới, chợ nổi Tân Long… Song chợ nổi ngay tại thị trấn Ngã Năm được nhiều người biết tiếng hơn cả. Nghe đâu chợ nổi Ngã Năm được hình thành từ rất lâu và nếu muốn nói thật chính xác thì quả là cũng khó khẳng định lúc nào. Nhiều ý kiến cho rằng có lẽ buổi ban đầu chợ tự phát từ nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa của người dân nông thôn. Dần dần nhận thấy sự tiện lợi, nên chợ nổi ngày càng thêm sầm uất, phồn thịnh như ngày nay.

Kiếp thương hồ

Khi thử hỏi về lai lịch, một cụ già tóc bạc da mồi có tên ông Ba Long ước khoảng hơn 80 tuổi với “gia tài” là chiếc xuồng chèo nhỏ bán tạp hóa trên chợ nổi nhiều năm qua cho chúng tôi biết hồi cụ còn nhỏ xíu vào những ngày giáp Tết Nguyên Đán đã từng được mẹ dắt theo đi chợ nổi. Ông cho biết đó thật sự là những ngày tưng bừng miền thôn dã. Xuồng ghe đan kín cả một khúc sông. Trên thuyền chất đầy ắp các loại hàng hoá, nhiều nhất vẫn là trái cây, mùa nào thức nấy: chôm chôm, xoài, cam, quít, bưởi, măng cụt, sầu riêng… Hoặc những sản vật vùng sông nước kênh rạch như: cá, rùa, rắn, cua, tôm, chim đồng, bông súng, rau tươi… không thiếu một thứ gì. Quang cảnh không khác gì những chợ đầu mối trên bộ mà ta thường hay gặp.


Một anh bạn khác là nhà báo ở Sóc Trăng cho biết vào dịp Tết Nguyên Đán hàng năm về chợ nổi Ngã Năm muốn qua sông khỏi phải lụy đò. Bởi ta cứ việc hỏi xin phép và bước lần từ từ qua các con thuyền đậu ken dày dưới sông là xong, thật là nhất cử lưỡng tiện! Nói điều đó để thấy rằng lượng ghe xuồng và người đi chợ nổi – nhất là vào những ngày lễ Tết – rất đông. Thế nhưng trong những ngày đó, ở chợ nổi Ngã Năm vui nhất phải nói là ngay lúc màn đêm vừa buông xuống.

Khi xung quanh vạn vật đã chìm trong cảnh u tịch thì khu vực chợ nổi đèn sáng giăng giăng. Đây cũng là thời điểm các dịch vụ ăn uống, giải khát, cà phê, bia rượu hoạt động mạnh nhất. Các gian hàng bày bán đồ ăn thức uống đáp ứng đủ mọi nhu cầu của thực khách. Có điều khác ở chỗ các gian hàng đều được bày trí, gói gọn trên những chiếc xuồng cơ động nhỏ cứ len lỏi qua hết chuyến ghe thương hồ này đến chuyến ghe thương hồ khác.

Mùa nào thức ấy

Giống như nhiều chợ nổi khác, tại chợ nổi Ngã Năm cũng có một quy luật bất thành văn. Đó là treo thứ gì bán thức nấy. Thường chủ ghe bán loại hàng hóa gì đều cột lên một ngọn sào cao dựng trước mũi ghe để người mua dễ dàng nhận ra. Ví dụ như ghe bán khoai lang, khoai mì thì người ta treo khoai lang, khoai mì. Ghe bán bầu bí thì treo bầu bí, ghe bán hàng bông, rau cải thì treo rau cải, hàng bông. Tuy vậy, cũng có một tiền lệ. Có thứ treo không bán và cũng có thứ bán không treo. Chẳng hạn như xăng dầu chính là thứ bán không treo. Còn quần áo (cũ) là thứ treo lên để phơi phóng cho khô chứ không ai mang bán.

Một chị chuyên bán cà phê, giải khát ở khu vực này còn cho biết chợ nổi Ngã Năm hiện tại được giới ghe thương hồ chọn làm điểm dừng chân để nghỉ ngơi, mua sắm, chuẩn bị hậu cần cho những chuyến đi dài hơn. Ví dụ như từ Tiền Giang qua thì ghé lại chợ nổi Ngã Năm trước khi đi vào các thôn xóm mua lúa gạo, mua nông sản hàng hóa. Khi đã no hàng thì tiếp tục neo đậu lại chợ nổi vài hôm tạm nghỉ ngơi dưỡng sức trước khi tiếp tục chuyến “hải hành thiên lý”. Mỗi lần như thế lại có thêm nhiều bạn bè mới quen để lúc chia tay ghe đã nhổ sào rồi mà lòng còn bồi hồi lưu luyến. Thôi thì hứa nhau mai này đến hẹn lại lên. Quả tình sinh hoạt chợ nổi không chỉ đơn thuần là một chốn mua bán miền sông nước đặc thù mà còn lưu giữ trong lòng những giá trị văn hóa vô giá.


Nếu như ngày trước, chợ nổi là một phần không thể thiếu được trong đời sống kinh tế, văn hóa xã hội người dân thị trấn Ngã Năm và vùng phụ cận thì ngày nay nó tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong giao thương của khu vực giáp ranh giữa 3 tỉnh Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu. Bởi nơi này còn thuộc diện vùng nông thôn sâu, đường đi lối lại còn nhiều trắc trở nhưng tương đối giàu về các tiềm năng kinh tế. Nào là nông sản hàng hóa, lúa gạo, thủy hải sản, hoa màu. Từ lâu, khu vực này cũng được xem là vựa lúa lớn của mạn nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau. Chợ nổi Ngã Năm vô hình trung trở thành địa bàn trung chuyển quan trọng không thể thiếu được. Chính vì vậy mà hoạt động của chợ nổi Ngã Năm cứ ngày một sung túc, phồn thịnh hơn ngày xưa thập bội…


Bài và hình Thanh Lan

https://baotreonline.com/tin-tuc/phong-su/cho-noi-nga-nam-soc-trang.baotre

Sunday, August 30, 2026

Con Dế Mèn Của Mẹ (Song Ngữ) - Ngọc Ánh


Lời người đăng:
Xin giới thiệu đến quý bạn đọc truyện dài thứ hai của nhà văn Ngọc Ánh (Ngày Tháng Buồn Hiu) viết lại hồi ký trong tù của hai mẹ con tác giả sau khi người chồng tổ chức phục quốc bị án tử hình để lại vợ con bơ vơ gánh chịu trăm đau ngàn khổ trong ngục tù cộng sản. 

Tập hồi ký được chia làm hai phần. 
Phần một:  Hồi Ký Của Con Dế Mèn
Phần hai : Những Chuyến Đi

Quyển sách sẽ được ra mắt vào giữa tháng 9/2026 tại vùng Little Sài Gòn, Nam California.
Hiện tại đang được bán để gây quỹ làm một bộ phim ngắn về Vy Dan, một tù nhân nhỏ tuổi nhất trong trại giam.

Cám ơn Ngọc Ánh


*********

LỜI NGÕ 

“Con Dế Mèn của Mẹ” không phải là một câu chuyện cổ tích. 

Đây là câu chuyện có thật về một đứa trẻ mong manh, mang trong mình những giới hạn của số phận nhưng chưa bao giờ đánh mất nghị lực sống và về một người mẹ đã đi qua chiến tranh, tù đày, mất mát và những cuộc chia ly tưởng như không thể chịu đựng được. 

Qua những ký ức giản dị nhưng chân thành, cuốn sách là lời kể về tình mẫu tử, lòng nhân ái và sức mạnh của tình yêu thương .

Câu chuyện của VyDan, của người Mẹ và tình yêu thương đó như sợi dây xuyên suốt cả cuốn sách. Dù chiến tranh, tù đày, bệnh tật hay khoảng cách nửa vòng trái đất, sợi dây đó chưa bao giờ đứt, những điều đó đã giúp hai mẹ con vượt qua những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của cuộc đời. 

Nếu khi khép lại những trang sách này, người đọc cảm nhận được một chút yêu thương, một chút hy vọng và sự trân quý đối với những người thân yêu bên mình, thì đó chính là điều tác giả mong muốn gửi gắm. 

-Tặng Vy Dân, chú dế nhỏ của tôi, người mang tâm hồn bất khuất trong một cơ thể mong manh.

Ngọc Ánh 23/7/2026

Phần Một

NHẬT KÝ CỦA CON DẾ MÈN


Con là Vy Dân, nghe Mẹ kể rằng con sinh ra trong tháng 7 mưa dầm ở Đà Lạt, con nhỏ xíu vì không đủ ký, trời lạnh mà nhà không có lò sưởi, dì Giao bày cho Mẹ lấy chai thủy tinh đổ nước sôi vào rồi đậy nắp thiệt chặt, ủ quanh giường cho con được ấm, Mẹ quấn tả con kín mít, đặt vừa vặn trong cái giỏ mây xách trên tay khi trở về nhà ba ở Sài Gòn, lúc đó Mẹ còn trẻ lắm, mới ngoài 20 tuổi. Mẹ nâng niu con như chơi búp bê, nhưng con búp bê này chỉ biết cười chớ không biết khóc, người ta nói khi sinh ra ta khóc trong lúc mọi người cười vui, còn con thì ngược lại, con cười thành tiếng trong khi Mẹ lại khóc nấc vì tủi thân. 

Trời Đà Lạt lạnh lắm, quần áo con không đủ ấm, ba phải đi bán máu để mua sữa, thức ăn và khăn tả cho con, nghe nói cái thời đó cả nước đều nghèo. 

Mẹ phải đi buôn trà lậu ở Bảo Lộc để xoay sở mua sữa cho con, thỉnh thoảng bị Cộng Sản bắt và thu hàng mất vốn, mẹ về nhà mắt đỏ hoe khi ôm con vào lòng tức tưởi. 

Rồi mẹ về Sài Gòn tiếp tục công việc với ba, con chậm lớn vì suy dinh dưỡng nhưng không có bệnh tật gì đáng lo, bác sĩ đã nói như vậy.

Ba mẹ và con sống vui vẻ bình an trong nhà ông Nội ở quận 10, Sài Gòn. 

Rồi một ngày biến cố ập đến gia đình, Họ tới xét nhà và bắt Ba Mẹ đi tù, con không thể gởi ông bà Ngoại được dù nhà Ngoại cách nhà Nội chỉ một con đường ngắn, nên mẹ ôm con đi luôn vào trại giam, lúc đó con vừa hơn 1 tuổi ốm yếu như con dế mèn, nhưng con vẫn thích ở với ba mẹ mà người ta không cho gia đình mình ở chung với nhau. Kỳ ha, Ba bị nhốt ở biệt giam cuối trại, còn hai mẹ con ở biệt giam gần ngoài cổng. 

Trời ơi cái phòng nhỏ xíu mà tối thui, con sợ bóng tối nhưng có Mẹ bên cạnh thì ấm áp bình yên làm sao. 

Lần duy nhất con được nhìn thấy Ba trong lúc cả nhà mình chuyển trại từ Sài Gòn ra Phan Thiết, con nhớ cái dáng ba cao gầy, đeo kính cận và hay mỉm cười, ai cũng nói mặt con rất giống ba. 

Mẹ bao nhiêu lần xin bọn họ cho con gặp ba, mà không ai đồng ý. Họ nói tội ba mẹ lớn lắm, phải nhốt cách ly, không cho liên lạc với người thân, nhưng con còn nhỏ xíu mà, có biết gì đâu. Họ ác quá! 


Rồi mấy năm sau Mẹ được ra nhà giam tập thể, người đông ơi là đông nhưng không có đứa con nít nào bị tù như con,vì vậy mà mấy cô bác mới thương có mình con, thỉnh thoảng họ có thăm nuôi và chia chút xíu đồ ăn cho con bồi dưỡng, phải nói là món thịt chà bông con ăn ké ngon ơi là ngon, chớ 2 Mẹ con đâu có ai thăm nuôi, sống trong sự thiếu thốn gian khổ lâu dài, nhìn thấy mẹ già hơn mà thương.

Mẹ thường ru con ngủ bằng những bản nhạc vàng (cái này con nghe mấy cô trong nhà nữ nói thì thầm với nhau, loại nhạc cấm không được hát um sùm) mỗi lần mẹ hát tới câu “ trong tim cô sinh viên hay buồn” thì con chỉ vào Mẹ , Mẹ là cô sinh viên của con, 

Mẹ cũng hay buồn nhưng chưa bao giờ than thở với con về những nhọc nhằn mà mẹ phải chịu đựng. Nhưng con biết lòng Mẹ cũng mỏi mòn, Mẹ từng nói nếu không có con, Mẹ sẽ chết để thoát khỏi cảnh ngục tù. Con sợ quá, nếu không có Mẹ chắc con cũng chết. 

Mẹ là tia nắng sáng, là vầng trăng khuya, là nơi chốn bình an cho con nương tựa trong cuộc sống gian nan này. 

Ban ngày Mẹ lao động rất cực khổ, mệt mỏi, nhưng đêm về chui vô mùng, Mẹ mới ôm con thủ thỉ kể chuyện cổ tích, chuyện ra ngoài lao động, chuyện trên trời dưới biển mà chuyện nào Mẹ kể cũng hấp dẫn trí tò mò của con, và khiến con ao ước có một ngày ra khỏi cái nhà tù chật chội này để nhìn thấy thế giới bao la ngoài kia, nhưng tiếc là con không thể đứng dậy được Mẹ ơi! Con không thể chạy nhảy hay ca hát líu lo, không thể vòng tay ôm Mẹ như người bình thường, mà con chỉ có đôi chân ôm ngang hông Mẹ, cái chân khẳng khiu quơ khăn lau mặt Mẹ, cầm cái lược chải tóc cho Mẹ và đấm lưng cho Mẹ mỗi khi mẹ mệt nhoài. 

Thế giới của con bây giờ là Mẹ, con tưởng tượng ra cánh đồng bao la mà Mẹ cấy gặt lúa ở đó mỗi ngày, có con cò trắng thong dong đậu một chân trên bờ ruộng giống như cán bộ canh tù, con hình dung ra con đĩa máu đen bám trên chân Mẹ trắng ngần đã khiến Mẹ la lên sợ hãi, nếu có con ở đó, thế nào con cũng giúp Mẹ bắt nó liệng lên bờ cho con cò ăn, 

Hôm nào đi làm về Mẹ cũng mang cho con một món quà gì đó, khi thì mấy hòn đá cuội bên bờ suối, lúc vài bông hoa dại bên đường, mấy trái đào bé xíu chưa kịp lớn đã rụng, hay cái lông chim to cả gang tay, Mẹ nói giống cây viết thời cổ đại, nhưng khi con cầm lên ngắm nghía lại tưởng tượng con quạ nào đó đã bay qua vườn đào nơi Mẹ lang thang lặt hột và làm rơi ra chiếc lông để Mẹ lượm về, kể thành câu chuyện cổ tích ăn khế trả vàng cho con nghe, để con mơ ước có ngày nó chở con đi chơi. 

Một hòn đá Mẹ lượm bên bờ suối cũng là câu chuyện dài về Robinson trên hoang đảo với bờ cát hoang vu và mỗi ngày được đánh dấu bằng viên sỏi nhỏ. Nếu Mẹ con mình cũng giữ những cục đá như vầy mà đếm thời gian ở đây chắc chúng ta xây được một lâu đài! .

Mẹ nói “ nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” Con không hiểu những lời ẩn ý trong đó, nhưng con biết thời gian của hai mẹ con mình ở đây rất dài, rất mệt mỏi. 

Rồi một ngày Mẹ đem về con kéc bị gãy cánh, nó không thể bay được nhưng nó hay hơn con là nó biết đi chầm chậm quanh nhà, màu sắc đầu tiên con biết là bộ cánh xanh biếc mềm mại của nó, và còn một màu hồng tươi mát mà con nhớ hoài là cái áo đầm của con bé nào đó xuất hiện trong trại khi mẹ nó dẫn vào chơi, con con bé rạng rỡ như tiên làm con ngơ ngẩn, vì con có bao giờ thấy bóng dáng đứa nào nhỏ như con mà phải ở trong tù đâu, con chỉ thấy toàn là màu xám của những bộ đồ lao động mà các cô chú trong trại giam hay mặc, nó dính mủ, dính phèn và đôi khi bị vá víu vì lam lũ, cái màu tăm tối gì đâu. 

Con kéc là bạn thân duy nhất của con, nhưng mà nó cũng phá dàng trời, nó leo lên dây phơi đồ sau nhà cắn hết những nút áo, mấy dì đi làm về mưa gió lạnh run, bận cái áo nào cũng không có nút, họ bực tức chửi um sùm. 

Mẹ thường lấy nón lá che mặt con mỗi khi nhà nữ đi làm về thay đồ chồng ngồng trong phòng, những lúc đó con cười thầm vì con biết ai là thủ phạm. 

Rồi một hôm con kéc biết nói,(nó cũng hay hơn con ở chỗ này) nó nói lảnh lót “ kéc ăn cháo” đòi ăn khi thấy mẹ đút cho con ăn, nó gào thét “ cấp cứu, cấp cứu” khi nhà nữ có người bịnh. Mẹ nói nó là loài vật thông minh và giỏi tài bắt chước.

Con sống với Mẹ không biết bao nhiêu năm, đối với con thời gian không là cái gì hết, thậm chí con chưa từng biết đồng hồ ra sao cho đến lần nào đó “cán bộ” vào tận trong nhà nữ, ông ta đeo cái đồng hồ lấp lánh ở cổ tay, và chiếc Radio nhỏ xíu dắt vào sợi dây nịch bên hông, con nhìn mấy thứ công nghệ tiên tiến đó bằng đôi mắt lạ lẫm thích thú. 

Mẹ nói đồng hồ cho ta biết thời gian, và cái radio chota biết tin tức khắp nơi trên thế giới bằng giọng nói của ai đó vang lên, con không hình dung được ở ngoài cổng trại kia lại có những điều kỳ lạ mà con chưa từng thấy, chưa từng biết bao giờ.

Mỗi ngày trong trại giam ,người ta tính thời gian mau qua đi “ hết sáng sang chiều tối lại mai” để mong đợi ngày về, còn con chỉ biết mỗi ngày có Mẹ bên cạnh là hạnh phúc nhất trên đời rồi, con không cần biết tuổi của con , tuổi của Mẹ, con không cần biết đã qua bao nhiêu cái Tết trong trại giam 

Nhưng con thích cái không khí Tết rộn ràng và hai mẹ con sẽ có chút thức ăn ngon hơn ngày thường, để con vui khi có dịp ngồi ở dưới nhìn lên sân khấu thấy Mẹ hát cải lương tuồng “Đời cô Lựu”, hổng biết sao mẹ khóc ngon lành như nhân vật chánh trong tuồng, ai cũng vỗ tay rần rần mỗi lần mẹ xuống câu vọng cổ ngọt lịm. 

Mẹ hay thiệt, vai nào cũng đóng được hết, để tối về ôm con, Mẹ lại thút thít khóc nhớ ba, nhớ Tết ở quê nhà xa xôi, ở đó có ông bà ngoại đang chờ mòn mỏi mẹ con mình trở về. 

Mẹ lại kể chuyện Tết xưa với múa lân có pháo nổ rợp trời, có bánh chưng xanh, có dưa hấu đỏ, có tiền lì xì...để con tưởng tượng niềm vui của mẹ một thời đã xa, nhất định ngày về Mẹ sẽ dẫn con đi Chùa vào dịp Tết, để con coi múa lân coi đốt pháo, chắc con cười lăn với ông Địa bụng bự .Ngày trở về của hai mẹ con hình như còn lâu lắm, 

Nhưng có một chuyện xảy ra mà con không muốn chút nào, đó là ngày dì Hai lên thăm Mẹ lần đầu tiên và mang theo lá thư của cơ quan nước ngoài nói về chuyện lãnh con ra khỏi trại giam để đi Châu Âu chữa bệnh.

Con đã quýnh quáng ôm cứng lấy Mẹ, dù Mẹ hết lời dỗ dành là nơi đó con sung sướng như ở thiên đường, có quần áo đẹp, có thức ăn ngon, có nhiều đồ chơi mà đứa trẻ nào cũng thích, con sẽ được chữa bệnh, được đi lại, được học hành và sẽ viết thư gửi cho Mẹ đọc , rồi Mẹ sẽ cố gắng về sớm để gặp con, rồi hai mẹ con mình lại ở bên nhau suốt đời. 

Mẹ mong muốn con ra đi để có cơ hội tìm được cuộc sống tốt đẹp hơn cảnh hiện tại tù đày khốn khổ, nhưng mẹ quên câu hát trong vở cải lương mà mẹ đóng vai cô Lựu: “ Gánh nặng cuộc đời con với Mẹ sớt chia” . 

Con không muốn đi đâu hết, con sẽ ở với Mẹ cho đến khi nào chúng ta chết thì thôi. Mặc cho con đập chân phản đối, Mẹ im lặng ôm lấy con vỗ về, mắt Mẹ buồn thật buồn, con chỉ mong Mẹ khóc là con sẽ được ở lại, Mẹ sẽ yếu đuối vì không thể rời con, nhưng Mẹ đã không khóc chỗ đông người, cũng như Mẹ không hề khóc trước mặt những người xa lạ khi nhận lá thư báo tin Ba mất. 

Con nhớ buổi tối đó khi 2 Mẹ con vào mùng, Mẹ kể về cái chết của ba như một dũng sĩ trong truyện cổ tích, vung gươm giết bọn yêu tinh và bây giờ đã bay về trời, Mẹ vừa kể vừa thút thít trong bóng tối. Lúc đó con cảm nhận được sự mất mát chia lìa, chắc không bao giờ chúng ta gặp lại ba. Nhưng con tự hào khi biết ba con là một anh hùng , ba đã can đảm để đánh nhau với những kẻ xấu, con cũng muốn bắt chước giống ba, nhưng con phải ở lại để bảo vệ Mẹ, con tự nhận mình là một dũng sĩ nhí của Mẹ, vậy mà bây giờ Mẹ lại muốn con rời xa nơi này. 

Ai sẽ lau nước mắt cho Mẹ khi mẹ buồn, ai sẽ đấm lưng cho Mẹ khi đêm về mệt mỏi vì lao động nặng nhọc, cánh tay con yếu ớt nhưng bàn chân con rất mạnh mẽ. Con đã ôm chặt Mẹ bằng đôi chân khẳng khiu vì không muốn phải rời xa Mẹ đêm nay, Nhưng cuộc chia ly đã diễn ra âm thầm lặng lẽ khi con ngủ say trên vai dì Hai rời khỏi trại giam lúc nửa đêm, con kéc cũng im lìm trong cái ba lô dì đeo sau lưng. Cả hai tụi con đã chia tay Mẹ từ đây. Chắc Mẹ sẽ buồn và nhớ con lắm phải không ?

 

RA TÙ & VỀ SÀI GÒN 

Sài Gòn mọi thứ đều mới lạ đối với con, nhà cửa đường xá xe cộ tấp nập, nghe nói đây là thành phố mà gia đình mình đã sống trước kia, nhà Ngoại cũng gần đâu đó, khi con về cả nhà ai cũng thương con hết, mọi người mua sắm quần áo mới cho con, dì Hai dẫn con đi chơi sở thú, khung cảnh với quá nhiều điều lạ lẫm mà con thú vị khi nhìn thấy, chị Thảo chị Huyền thay nhau bồng ẳm con ra chợ mua đồ ăn, anh Tuấn cõng con qua hàng xóm chơi với bạn của ảnh, dì Mai ôm con tới cửa hàng bán gạo để con chơi tới chiều, 

Và Mẹ biết không , lần đầu tiên trong đời con có cái bánh sinh nhật do dì Hai mua cho con, có ngọn nến và bạn bè hàng xóm qua dự tiệc, con kéc cũng được cắn một chút kem, tụi con vui lắm, nhưng con nhớ Mẹ và ao ước phải chi có Mẹ bên cạnh con lúc này. 

Con sống vui vẻ yên ấm trong gia đình Ngoại không bao lâu thì tới ngày con có giấy tờ đi Thụy Sĩ để chữa bệnh, một đất nước xa lạ mà mọi người chỉ cho con coi trong tấm bản đồ. 

Ở nhà ai cũng chuẩn bị đưa con ra phi trường, nhưng con kéc thì ở lại, dì Hai dỗ dành là người ta không cho con kéc lên máy bay, con buồn lắm nhưng không biết nói sao, nó là con vật khôn ngoan thân thiết với con từ hồi trong trại giam, nó là ký ức một trời kỷ niệm của hai mẹ con mình, bây giờ phải bỏ nó lại con thương lắm, 

Con sẽ làm một chuyến đi xa hơn nữa, con nghĩ chắc chừng vài năm thôi, con sẽ hết bệnh và nhất định sẽ quay về với Mẹ, con đã hứa như vậy rồi mà, chúng ta sẽ ở bên nhau cho tới chết. Dù hoàn cảnh khó khăn thế nào, hai mẹ con mình cũng vượt qua để tìm nhau nhe Mẹ.

Đón con ở phi trường là một bà đầm nào đó con không biết, bà đưa tấm hình con để nhận diện và gia đình Ngoại trao con cho họ bồng lên máy bay. Chuyện kết thúc dễ dàng như vậy, không ai nói với nhau lời nào, vì hai bên ngôn ngữ khác nhau, con chỉ quay lại nhìn người thân lần cuối, con cũng không biết nói một câu giã từ, con ú ớ ngây ngô trong vòng tay lạ, nhưng nhìn đôi mắt xanh trong veo của người phụ nữ ngoại quốc, con cảm nhận được sự ấm áp của chuyến đi xa . 

Lần đầu tiên được đi máy bay con thấy thích lắm, nó lớn hơn cái nhà và nó sẽ chở con đi rất xa, như con quạ trong chuyện cổ tích Mẹ kể, nó bay qua những đám mây trắng, qua những ngọn núi và biển xanh ngắt bên dưới. 

Con đã ngủ ngon suốt chuyến bay và trong giấc mơ hẹn ngày trở về gặp Mẹ. Con không hình dung được khoảng cách địa lý là bao xa, nhưng con biết là xa xa lắm từ Sài Gòn qua Thụy Sĩ, và con biết cũng sẽ còn lâu lâu lắm mới gặp lại Mẹ. 

Trời ơi không hiểu sao con lại nghĩ như vậy, chuyến đi lần này lẽ nào lại làm cách biệt chúng ta?

ĐI XA HƠN NỮA 

-Những năm tháng đầu tiên con sống trong gia đình của người bảo trợ, hai vợ chồng chú út và 3 người con nhỏ, các anh chị ấy chắc cũng suýt soát tuổi con, mọi người đều yêu thương con và nhất là thiếm ấy (Madame Vivian) đã chăm sóc con rất chu đáo nhưng không ai nói với con bằng tiếng Việt Nam. 

Con được đi học và hiểu ra con đang ở một đất nước khác Sài Gòn của Mẹ con mình, người ta dạy con bằng tiếng Pháp, con ăn những món ăn cũng lạ, coi Tivi cũng khác, không có chương trình thiếu nhi như ở quê nhà. 

Con đã có một thời gian dài để sống thích nghi với cuộc sống mới này và đôi khi con cũng quên mất con là ai, không ai kể cho con biết về gia đình người thân, về quá khứ của con, tại sao con có mặt ở đất nước này, giống như con sinh ra ở một thế giới mới chỉ có hiện tại và tương lai, nhưng trong trí nhớ mù mờ con biết mình còn có một người Mẹ, nhưng không biết Mẹ ở đâu, Mẹ còn sống hay chết, Mẹ như thế nào trong thời gian dài của mười mấy năm không gặp. 

Con không biết diễn tả được tâm trạng của mình cho người khác hiểu, con không biết nói lên cảm xúc vui buồn của chính con mỗi khi nhớ về Mẹ, dù mỗi ngày qua đi con sống rất yên ấm ở đây.


Khi con 18 tuổi, theo luật con phải rời khỏi nhà người thân để sống trong nhóm khác, nơi đó chỉ có những người bạn bệnh tật giống như con, bại liệt toàn thân, không nói được, không tự cầm nắm được và đầu óc ngây ngô như một đứa trẻ, dù tuổi cũng đã trưởng thành. 

Con may mắn hơn họ một chút là con hiểu tất cả mọi chuyện xảy ra chung quanh (nhờ coi tivi thường xuyên) con biết sử dụng computer dù chỉ bằng 2 ngón chân click chuột. 

Nếu trước đây con có biểu hiện khi nói chuyện với ai đó bằng dấu hiệu đưa chân lên cao là đồng ý, còn đập chân xuống là không, thì bây giờ chân con lại cong queo không thể nhúc nhích được, con chỉ có thể thay bằng dấu hiệu khác là le lưỡi khi muốn nói “Yes” hay ngậm miệng khi muốn nói “No”.

Và những người chăm sóc con đều biết con muốn gì, nhưng họ chỉ hiểu những điều cơ bản trong cuộc sống hàng ngày của con, một cuộc sống thầm lặng giữa những con người bệnh tật, tụi con được chăm sóc chu đáo từ miếng ăn đến giấc ngủ, được đối xử dịu dàng thân tình như một gia đình nhỏ, cuối tuần họ đẩy xe chúng con ra ngoài trời đi xem phim hay uống cà phê.

Thỉnh thoảng mùa hè chúng con được du lịch sang các quốc gia lân cận, tham gia các trò chơi dã ngoại, vì nghe và hiểu được tiếng Pháp nên mỗi lần như vậy là một điều rất tuyệt vời với con. 

Mười lăm năm sống không có Mẹ, thời gian này dài hơn lúc con được ở cùng Mẹ trong trại giam, con đã thành thanh niên trưởng thành, râu ria tóc tai mọc dài nếu một tháng con không đi tiệm cắt tóc, con chừa hàng ria mép vì rất giống ba trong hình mà con thấy lúc ở nhà chú Út (em của ba). Con cũng xăm trên cánh tay trái của mình một chữ Tỵ bằng tiếng Tàu, nó là tuổi con Rắn của con, ai đó nói với con như vậy.


TIN VUI VỀ MẸ 

Rồi một ngày có người đến thăm con, đây là điều bất ngờ mà con sung sướng nhất, 

Dì Hoa, một phụ nữ Châu Á, nói tiếng Pháp rành rẽ, Dì tưởng con không biết tiếng Việt, Dì xưng là bạn của Mẹ ở Việt Nam, có dịp qua Thụy Sĩ, Dì ghé thăm con theo yêu cầu của Mẹ. 

Dì kể bây giờ Mẹ đã ra tù rồi, đang sống ở Sài Gòn cũng vất vả mưu sinh và lúc nào cũng mong ngóng tin con nhưng không biết tìm con ở đâu. May mắn là quen được dì, rồi dì lên mạng tìm mấy tổ chức nhân đạo nuôi trẻ khuyết tật ở nước ngoài (Terre des Hommes) Dì thấy tên con ở đây nên mừng quá, nhân có chuyến công tác nên dì ghé qua thăm. 

Ơn Trời, con sung sướng biết bao nhiêu khi nghe tin Mẹ, và chắc Mẹ cũng hạnh phúc vô cùng khi biết tin con, Dì Hoa như bà tiên cho hai mẹ con mình kết nối với nhau, dì chụp rất nhiều hình con để mang về cho Mẹ yên tâm. 

Dì cho con địa chỉ nhà Mẹ ở Sài Gòn. Và khoảng thời gian này con luôn nôn nao khi nhớ về Mẹ, con biết mình không phải trẻ mồ côi, điều mà bấy lâu nay con cứ anh ách trong lòng. 

Không ai nói cho con biết về Ba về Mẹ, chắc mọi người không muốn nhắc với con về gia đình có một quá khứ đau buồn. Nhưng con biết hết mọi chuyện Mẹ ơi, con hiểu những lời nói xa gần của bà con bên Ngoại, con hiểu sự xót xa của gia đình Nội khi nhìn sự khuyết tật của con, ở đây thỉnh thoảng con gặp Bác hai, Bác ba (người thân lớn nhất của Ba) trong những dịp vui tụ họp bà con, dù sao con cũng là một thành viên trong gia đình của họ Trần Thắng. 

Ở đây con có tất cả cho một cuộc sống mới đầy đủ, nhưng con vẫn ao ước được có Mẹ bên cạnh. Nỗi khát khao được gặp Mẹ nhiều hơn khi có chuyến ghé thăm của dì Hoa cho con biết tin về Mẹ ở quê nhà. 

Nhất định con phải về Việt Nam tìm Mẹ, dù chuyến đi không dễ dàng gì cho một người khuyết tật như con. 

Những lá thư qua lại của hai mẹ con càng thôi thúc con hơn khi nghĩ đến một ngày trở về, con đã cố gắng rất nhiều thời gian để gõ trên computer những dòng emails gởi Mẹ, nhưng con chỉ biết tiếng Pháp thì sao đây? con có nhiều bạn, họ là những nhân viên trong cơ quan Terre des hommer của chính phủ Thụy Sĩ, họ là sinh viên thiện nguyện cho tổ chức xã hội này, mọi người đều là bạn thân thiết của con, họ sẽ giúp con dịch emails ra tiếng Việt cho Mẹ dễ đọc. 

Lá thư đầu tiên gởi qua đường bưu điện từ Thụy Sĩ về Sài Gòn, con kể cho Mẹ nghe đủ thứ chuyện về cuộc sống của con ở đây, con vui lắm vì mọi người ai cũng tốt và thân thiện với con.

Có vài lần con phải vào bệnh viện với chứng viêm phổi nhưng rồi sức khỏe con cũng ok, Mẹ yên tâm nhe. 

Thỉnh thoảng con được du lịch đến các nước Châu Âu quanh đây, con không biết tả cho Mẹ biết thế nào là những cảnh đẹp mà con đã đi qua, từ khi liên lạc được với Mẹ, những lá thư qua bưu điện lâu ơi là lâu, đến khi hai mẹ con mình có emails, phải nói con tràn ngập hy vọng là có ngày nào đó con sẽ về thăm Mẹ. 

Chắc chắn như vậy rồi khi con lên kế hoạch cho một chuyến bay nửa vòng trái đất, kế hoạch không phải một vài tháng mà là mấy năm trời. 

Con kiếm tiền bằng việc bán những mặt hàng Giáng Sinh nho nhỏ, những mẫu thiệp do con thiết kế trên computer và in ra bày bán ở chợ trời vào những ngày cuối năm. 

Nơi con ở họ luôn khuyến khích con sáng tạo bằng ý tưởng của mình, con được đối xử bình đẳng đến độ con quên mình khiếm khuyết rất nhiều phần trên cơ thể, con không biết cầm muỗng tự múc ăn, không biết đứng dậy và ca hát nhảy múa... 

Thời gian ở bên Mẹ, con không nhìn thấy sự khác biệt của mình, nhưng khi con sống với môi trường mới lạ xung quanh, con nhận ra mình không giống những người bạn trẻ khác, con thoáng hụt hẫng nhưng không dám hỏi Mẹ tại sao con phải chịu như vậy, vì con biết là Mẹ sẽ khóc mỗi ngày khi nhìn thấy thân thể con èo uột bệnh tật, nhưng con hứa với Mẹ là con không khiếm khuyết tâm hồn.

Con hồn nhiên vui vẻ với mọi người, con sống như chưa bao giờ biết đến đau buồn trong quá khứ, dù đôi khi con nhớ Mẹ muốn khóc lên được với hình ảnh Mẹ liêu xiêu trở về trại giam sau một ngày lao động mệt mỏi. Mẹ bồng con mà không nhấc nổi cánh tay vì đuối sức,mắt Mẹ buồn như trời sắp mưa. 

Nỗi nhớ Mẹ luôn thôi thúc con phải có tiền để sớm về thăm Mẹ, và con nói nhỏ Mẹ nghe điều này vì con có một chút xấu hổ khi viết thêm dòng chữ đặt trước chỗ bán hàng của con: “Cần tiền về Việt Nam thăm Mẹ”. 

Đó là một sự thật mà con đã can đảm khi viết ra, nhưng kết quả thật bất ngờ khi mọi người đi ngang qua đều dừng lại mua giúp con một cái gì đó và trả tiền nhiều hơn giá trị của món hàng. 

Sự tử tế và lòng yêu thương chân thành luôn được đón nhận vô điều kiện phải không Mẹ, Con cám ơn cuộc sống ở đây biết bao nhiêu.


CUỘC HỘI NGỘ SAU 15 NĂM 

Con có 2 người bạn là Luctine và Jerome, bọn con sẽ lên chương trình cho một chuyến đi xa, con đã email cho Mẹ biết về điều đó, con sẽ về với 2 người bạn, cơ quan giúp con một chiếc xe lăn có thể tháo ráp được dễ dàng khi lên xuống máy bay. 

Jerome chuẩn bị thuốc men quần áo vật dụng cần thiết cho con, kể cả khăn tả và máy nghiền thức ăn, Luctine thì lo Passport, thủ tục ra vào lãnh sự quán, chi phí đi lại cho 3 đứa trong 10 ngày lưu trú ở Việt Nam, thậm chí tụi con phải lên mạng tìm coi khách sạn nào ở gần nhà Ngoại, có thang máy, có ăn sáng free thì đặt chỗ cho tiện. 

Một kế hoạch hoàn hảo phải không Mẹ? 

Con rời Sài Gòn khi 9 tuổi và bây giờ con trở lại nơi này lúc con 24 tuổi, mười lăm năm thay đổi ra sao con không hình dung được nhưng con biết chắc là đã quá lâu để hai mẹ con mình mới gặp lại nhau. 

Máy bay hạ cánh xuống phi trường Sài Gòn, cái tên thành phố mà con mơ hồ nhớ ra Mẹ thường kể cho con nghe về những kỷ niệm của ba mẹ, về ngôi nhà của Nội mà gia đình mình từng ở đó một khoảng thời gian êm đềm. 

Cả bọn chúng con ngơ ngác giữa rừng người đưa đón ở phi trường, nhưng con nhận ra Mẹ ngay khi có người phụ nữ hấp ta hấp tấp bước vội về phía con, trong khi dì Hoa nói chuyện với Luctine và Jerome. 

Trời ơi! Con muốn hét to lên vì mừng rỡ, nhưng chỉ biết ú ớ trong họng. Mẹ thì ôm chầm lấy con mà nước mắt chảy dài. Hạnh phúc nhất có lẽ là lúc này, khi mẹ con mình được gặp lại nhau sau thời gian dài xa cách. 

Mọi người cùng nhau về nhà Ngoại, con gặp lại đầy đủ những người thân hồi nào con ở Sài Gòn 15 năm trước, chỉ thiếu ông Ngoại và con kéc. Ông Ngoại mất sau đó vài tháng và con kéc thì khi vắng con, nó đã buồn bã bỏ ăn rồi chết, chị Thảo chôn nó trong chậu mai trước sân nhà. Ai cũng vui vẻ trong lần gặp lại nhau. 

Con biết thêm sau khi Mẹ rời trại giam, con có thêm đứa em gái, con không quan tâm về người đàn ông sau này của Mẹ, hình như ông ấy cũng đã mất rồi. Thương cuộc đời Mẹ lận đận và cô đơn, nhưng không sao Mẹ à, quá khứ đau buồn đã qua, bây giờ Mẹ đã có con và Phương (tên đứa em gái của con) Chúng con rất yêu thương Mẹ, mãi mãi Mẹ vẫn luôn tuyệt vời trong tim chúng con. 

Luctine kể cho mọi người nghe về “kế hoạch hoàn hảo” trong chuyến đi này, về việc con đã để dành tiền như thế nào và thanh toán mọi chi phí cho cả ba người trong suốt thời gian 10 ngày ở Việt Nam. Con thấy ánh mắt tự hào của Mẹ khi nhìn con. Mẹ biết con làm được tất cả mọi chuyện này, dù con không thể như những người bình thường khác, nhưng con có nghị lực để dám nghĩ và dám làm. Thời gian ở Việt Nam tuy không nhiều, nhưng chúng ta phải sắp xếp cho hợp lý, đầu tiên Mẹ đưa con đi Đà Lạt để biết thành phố nơi con sanh ra, sau đó là về Sóc Trăng quê hương của Mẹ (cũng là nơi chôn nhao của con, lạ hen, tại sao cắt rún và chôn nhao lại ở 2 nơi cách xa nhau dữ vậy, bí mật này chỉ có Mẹ biết thôi)

Trên đường đi chúng ta ghé Bến Tre thăm quê Nội, nguyên quán của Ba, thăm thêm một điểm đặc biệt của Miền Tây là chợ nổi Ngã Bảy, nơi người ta chèo ghe mua bán hàng hóa trên sông. Luctine chụp rất nhiều hình cho quang cảnh độc đáo này, con nghĩ chắc không có nơi nào lạ như ở đây, họ chỉ mua bán thức ăn và trái cây nông sản ở địa phương thôi, nhưng rất vui vẻ và nhộn nhịp.

Lại về Sài Gòn, mỗi ngày đều có một chuyến rong chơi, khi Sở Thú lúc Đầm Sen, con được đi xe lam, xe buýt, phương tiện di chuyển của người nghèo, con thấy những người sống cơ cực, trẻ em và người già đi bán hàng rong , bán vé số mưa nắng dãi dầu. Mọi người đều nhìn con lạ lẫm khi con được 2 người

ngoại quốc đẩy xe lăn, con nghe họ nói Mẹ phải là người giàu có lắm nên con mới được sung sướng như vậy, chớ trong nước người tàn tật chỉ có đi ăn xin thôi. Con nghe Mẹ kể lại mà buồn cho họ.

Rồi 10 ngày cũng trôi qua nhanh chóng, con hiểu tiếng Việt nhiều hơn, Phương cũng bập bẹ được tiếng Anh với Luctine và Jerome, bọn con trao đổi email với nhau, con mua quà cho mọi người hết số tiền còn lại, thời gian ngắn ngủi thôi nhưng con hiểu phần nào cuộc sống ở đất nước chưa được phát triển như Việt Nam, để con so sánh với những nơi mà con đã đi qua ở Châu Âu, những thành phố rộng lớn, gương mặt ai cũng tươi vui, còn quê mình thì thấy có quá nhiều ngôi nhà lụp xụp, trẻ em áo quần xộc xệch, mặt mũi buồn hiu, nghe nói nhiều đứa không được  đi học vì ba mẹ nó nghèo. Thương ghê! 

Mẹ nói con tuổi con rắn tính theo Phương Đông, nhưng con là con rắn không chân mà đi năm rừng bảy rú, con may mắn là được ra nước ngoài, được sống trong sự yêu thương chăm sóc của những tổ chức nhân đạo nhất thế giới, nên con có cơ hội hiểu biết hơn những người khuyết tật kém may mắn khác ở quê nhà. 

Chuyến đi này con vui lắm, nó vượt xa mọi điều tưởng tượng của con. Mẹ đã ra khỏi trại giam đầy kinh khủng đó, Mẹ có cuộc sống riêng ổn định, Mẹ đi học lại rồi đi làm cho một công ty cũng không vất vả lắm, bên cạnh Mẹ lại có bé Phương thay con làm bảo vệ nhí cho Mẹ… 

Con yên tâm khi biết mọi việc đều ổn cho Mẹ và Phương. Từ đây về sau gia đình mình sẽ giữ liên lạc với nhau nhe Mẹ.

Ngày cả nhà đưa con ra sân bay, (con không hiểu tại sao mọi người lại thích đi đưa đón đông như vậy, hình như được ra tới phi trường là niềm vui, là một mơ ước thầm kín nào đó). Sự chia tay lần này chỉ có nụ cười hạnh phúc và những cái ôm chặt quấn quýt yêu thương. Mẹ hứa là sẽ tìm cách qua Thụy Sĩ thăm con. Con tin là Mẹ sẽ làm được điều đó, vì con biết trái tim của Mẹ luôn hướng về con.



TRỞ VỂ THỤY SĨ 

Trở lại Thụy Sĩ lần này, con như một người khác, con không còn băn khoăn về thân phận mình, con biết con còn có một gia đình, còn có những người thân ở đất nước Việt Nam xa xôi, con không còn buồn tủi mỗi khi thấy những đứa khác cuối tuần có người thân đến chở về nhà chơi, mà con thì thui thủi nhớ đến Mẹ, vì con biết Mẹ rất yêu thương con, nhưng hoàn cảnh xa cách thì mẹ con mình đành phải chấp nhận. 

Sau chuyến đi xa về, Luctine và Jerome không còn làm trong chỗ con nữa, họ có công việc khác nhưng thỉnh thoảng vẫn ghé thăm con, có khi lấy xe đẩy con về nhà Luctine ăn tối với gia đình của họ, cùng coi đá banh trên TV, Luctine có 3 đứa con và một con chó, cả nhà thân thiện với con như một gia đình làm con rất cảm động. 

Nơi con ở hiện nay chỉ có 4 đứa, 2 trai 2 gái, mỗi đứa một phòng ngủ gọn gàng sạch sẽ, nhân viên chăm sóc cho tụi con hầu hết đều còn trẻ, chắc cũng suýt soát tuổi con, có những cô gái rất trẻ, rất xinh đẹp, có thể họ là sinh viên thực tập một thời gian thì rời đi, và cũng có những người làm việc chuyên nghiệp lâu dài, nhưng tất cả đều phục vụ với một tấm lòng nhân ái, họ vui vẻ và chăm chỉ trong công việc, từ việc giúp tụi con làm vệ sinh cá nhân đến dọn dẹp phòng ngủ, giặt giũ quần áo, nấu ăn....

Dù bận rộn nhưng họ luôn nở nụ cười và cho chúng con những lời dịu dàng, những cái ôm ấm áp. Con rất biết ơn những con người ở đây Mẹ à, con biết mình thật may mắn khi được sống ở nơi này. Con muốn viết email cho Mẹ thật dài để kể cho Mẹ nghe về tất cả mọi sinh hoạt ở đây để Mẹ yên tâm là con đang sống bình an hạnh phúc, nhưng Mẹ ơi, con đã cố gắng hết sức cũng chỉ có một dòng thôi “con yêu Mẹ rất nhiều”.


LỜI GHI CHÚ CUỐI CÙNG 

Con viết những dòng này không phải để than thở, mà để giữ lại những ký ức của đời mình những điều con đã sống, đã thấy, và đã đi qua. Có những ngày con nghĩ rằng ký ức sẽ mờ đi theo thời gian. Nhưng cũng có những ký ức càng xa lại càng rõ, như một vết khắc không thể xóa trong tim. 

Con không biết tương lai sẽ ra sao. Nhưng con muốn ghi lại tất cả, để nếu một ngày nào đó con không còn ở đây, thì những gì con từng sống vẫn còn tồn tại trong những trang giấy này. 


VyDan Tran Thang

Phần Hai

NHỮNG CHUYẾN ĐI 


Tôi đi mình ên trong chuyến xe lửa từ Paris sang Thụy Sĩ với tâm trạng nôn nao và thoáng lo âu ngần ngại, mặc dù đây không phải là lần đầu thân gái dặm trường xuyên quốc gia như thế này, cách đây 2 năm tôi cũng từng liều mạng mang balô dong ruổi đi Tây mà chữ nghĩa tiếng Tây không rành nửa câu, không cellphone wifi để liên lạc trong trường hợp khẩn cấp, không có quá 200€ trong túi, chỉ theo lời mời thân tình của một gia đình Tây quen biết sơ giao mà hăm hở đi đại với mục đích duy nhất là thăm thằng con tật nguyền đang sống lưu lạc xứ người. 

Cái đất nước Thụy Sĩ giàu có bậc nhất thế giới này đã cưu mang nuôi dưỡng đứa con trai èo uột tội nghiệp của tôi từ hơn 30 năm nay. 

Thật lòng tôi nợ những con người ở đây một lời cám ơn vô hạn. Xe chạy băng qua những đồi thông, những cánh đồng, những thành phố nhỏ bình yên với nóc nhà thờ thấp thoáng trong sương mù, tự dưng thấy nhớ Đà Lạt mấy mươi năm trước, nơi mà tôi đã đến rón rén với cái ba lô mang ngược, bởi cái giọng con nhỏ em họ rù rì “chị mà không đi phá thai để ba chị biết được ổng cạo đầu khô cho coi”. 

Tại sao phải bỏ đứa nhỏ? có thể ba tôi không chấp nhận “tên lính ngụy” trong gia đình “cách mạng” của ông, nhưng tôi yêu anh ấy biết bao nhiêu. Chúng tôi có quá nhiều chuyện để làm phía trước, có thai lúc này là ngoài kế hoạch, nhưng tôi cương quyết giữ lại tình yêu và lý tưởng của mình. 

Vậy là tôi chạy trốn Sài Gòn lên thành phố sương mù, tạm trú trong nhà người quen chờ ngày sinh nở, anh có mặt bên cạnh tôi trong khoảng thời gian khó khăn đó, khi cả nước ăn bo bo thì anh lén lút mang gạo trắng từ miền Tây lên cho tôi, vượt qua không biết bao nhiêu trạm kiểm soát trong cái áo giả dạng bộ đội mà anh phải đổi nhiều quần áo đẹp của anh mới có được nó. 

Tôi sanh sớm hơn 2 tuần nên thằng bé phải nằm lồng kính, tháng 7 mưa dầm, quần áo không khô kịp, tôi không có đủ sữa cho con, anh tất tả đi bán máu mua về mấy hộp sữa bò, khăn áo ấm cho hai mẹ con, nấu cho tôi một nồi súp đầy rau mà ít thịt, giặt dùm tôi mấy cái quần lót dính đầy máu vì thiếu băng vệ sinh. 

Tôi đã bật khóc trong niềm hạnh phúc vô cùng. Đối với tôi, nếu có phải hy sinh cuộc đời mình cho người đàn ông đáng yêu này thì tôi luôn sẵn sàng. Và tôi đã sẵn sàng như vậy suốt hơn 40 năm qua, mặc dù anh ấy nằm xuống lâu lắm rồi. VyDan là kỷ niệm đẹp nhất trong chuyện tình của chúng tôi.

Đẹp mà buồn đến xót xa!. 

Yverdon là một thành phố nhỏ của Thụy Sĩ, nói theo bài hát là đi dăm phút trở về chốn cũ, lúc đầu còn bỡ ngỡ lạ lẫm với những con đường quanh co mà từng viên gạch lót trên quảng trường, những lâu đài nóc nhọn phủ mái ngói rêu xanh nằm bên góc chợ đã có tuổi đời hơn trăm năm trước, xen lẫn giữa những tòa nhà cao tầng hiện đại thì xem ra mấy cái Chateau vẫn còn phảng phất vẻ kiêu sa của một thời quý tộc. 

Hệ thống xe lửa ở các nước Châu Âu đều có chung một quy tắc tuyệt đối, đó là sự đúng giờ, tôi thực sự thoải mái khi sử dụng phương tiện công cộng này. Bước xuống sân ga lúc nào cũng 4 giờ 15 chiều, tôi chỉ báo cho Luctine và VyDan biết thời gian để yên tâm là tôi có đến và sẽ tự đi bộ về, nhưng lần nào thì 2 người đó cũng đều có mặt để đón tô. 

Luctine đẩy xe lăn và VyDan cười vui biểu lộ ra gương mặt muốn hét lên như bất cứ đứa trẻ sung sướng nào được đón Mẹ đi xa về. 

Tôi hạnh phúc khi cúi xuống ôm VyDan, xoa cái lưng gầy gò nhô xương của nó mà rưng rưng cảm xúc. Thương quá con dế mèn còi cọc của tôi. 

Luctine giúp tôi mang cái ba lô nặng trĩu đầy quà của thằng bé để tôi hăm hở đẩy xe cho VyDan, chúng tôi đi bộ về nhà khoảng 2 miles với bao nhiêu câu thăm hỏi dồn dập, vốn liếng tiếng Anh của tôi chỉ có thể ở mức xã giao và anh bạn trẻ gốc Pháp này đối thoại sinh ngữ phụ khá hơn tôi, nên khi gặp câu khó tôi cười trừ, hoặc nói bâng quơ vậy mà nó cũng hiểu tuốt.

Tôi quen biết Luctine cách đây cũng gần 20 năm, khi hắn còn là sinh viên làm thiện nguyện cho tổ chức Terre des Hommes (The leading Swiss child relief agency), hắn chăm sóc cho VyDan và quen Martin cũng trong công việc này, hai đứa yêu nhau rồi ra trường, hôm đám cưới có cả VyDan tham dự. Năm 2002 hắn đẩy VyDan về Việt Nam thăm Mẹ sau 15 năm xa cách, trong khi ở Thụy Sĩ Martin sắp tới ngày sanh đứa con đầu lòng. 

Luctine lớn hơn VyDan chắc vài tuổi, điều đáng nói là sự chân tình của hắn dành cho chúng tôi, những con người xa lạ khác màu da, khác ngôn ngữ nhưng có duyên phận gắn bó tình nghĩa với nhau. 

Lần đầu tiên khi chúng tôi qua Thụy Sĩ ở nhờ nhà đứa cháu họ bên Lausanne, mỗi ngày đi xe lửa đến thăm VyDan, tiền vé đi về của hai vợ chồng hơn 70€, cầm cự mấy tuần chịu không thấu, thì gặp Luctine, hắn nói nhà hắn có dư một phòng, đi bộ đến chỗ VyDan chừng 5 phút, hắn “Welcome, see you next time.” Lại một lần nữa tôi chịu ơn người dưng nước lã đầy hào hiệp này. Hắn hiện ra trong đời sống của mẹ con tôi giống như ông Bụt, cầu được ước thấy. 

Tôi đã ở nhà hắn đây là lần thứ ba, gia đình Luctine đúng là kiểu mẫu của người Tây phương nề nếp nghiêm chỉnh, 3 đứa con đều xinh đẹp ngoan ngoãn, học hành giờ giấc đâu ra đó, không ôm iPhone iPad nấu cháo như kiểu nhà mình, cuối tuần cha mẹ dẫn đi học khiêu vũ, học võ hay đánh banh, đứa nào cũng nói được 2-3 thứ tiếng. 

Nhà khá giả nhưng ăn uống hết sức đạm bạc (!), buổi trưa cả nhà ăn ở ngoài, buổi tối là về đủ mặt cho bữa dinner, có khi chỉ vài đũa spaghetti hay bánh mì chấm chút xíu nước sốt, lâu lâu có miếng cá salmon khiêm tốn cỡ 2 ngón tay. 

Lúc đầu tôi không quen ăn quá ít như vậy nên tối ngủ nghe bụng cồn cào. Hỏi ra mới biết họ không thích ăn thịt các loại hay hải sản, và ăn ít như vậy cũng thành quen nên dáng người ai cũng thon thả. Ở bên Mỹ ăn uống thoải mái như hổ, qua đây ăn rón rén như mèo, nên ngày nào tôi cũng mua bánh mì phô mai ra công viên ngồi nhai như dân homeless... 

Chỗ ở của VyDan cách nhà Luctine chừng 1 miles, đó là khu dân cư nhưng cơ quan thuê hay mua gì đó 2 căn có 4 phòng chung một hành lang riêng biệt để nuôi những đứa trẻ bệnh tật như VyDan, có nhân viên chăm sóc 24/7 từ ăn uống thuốc men thay tã tắm rửa, hình như họ chia ca trực, ban ngày có 3-4 người lăng xăng nấu ăn giặt giũ dọn dẹp không ngơi tay nhưng gương mặt họ lúc nào tươi cười vui vẻ, cử chỉ nhẹ nhàng, nói chuyện với tụi nhỏ thân mật như chị em trong gia đình, lạ một điều không đứa nào biết nói nhưng hiểu những lời họ nói và mỗi đứa đều có lối biểu cảm riêng để giao tiếp với họ dễ dàng. 

Bốn đứa trẻ đó tôi nghĩ là người của các quốc gia khác chớ không phải dân Thụy Sĩ, nói trẻ vì hình dạng mặt mũi ngây ngô như con nít nhưng đứa nào cũng hơn 35-45 tuổi, chung một khuyết tật như nhau, tay chân khều khào, không đi đứng được, không nói được nhưng nghe hiểu, biết cười và đôi khi la hét vu vơ, ăn phải có người đút và mọi chuyện cá nhân phải có người giúp đỡ tất tần tật như đánh răng tắm rửa thay tã mặc quần áo. 

Cuộc sống ở đó thân thiện cho các cháu mang cảm giác thoải mái giống như trong gia đình, phòng khách có sofa tivi trang trí vài chậu hoa, cây xanh trong ánh sáng dịu mát, phòng ăn nhà bếp tươm tất, tới giờ ăn họ trải khăn ăn muỗng nĩa như nhà hàng, thức ăn mang lên thơm lừng, Có đủ thịt bò thịt heo rau củ nhưng tất cả đều được bỏ vào máy cắt nhỏ hay xay mịn tùy theo cách ăn của từng đứa, thật tình tôi không biết tụi nó cảm nhận món ăn ngon dở ra sao trong cái nước sốt sền sệt trộn chung “hầm bà lằng” này, mỗi đứa ngồi một góc có nhân viên bên cạnh, Daniel và Jessica thì tay chân quờ quạng nhưng vẫn thích tự cầm muỗng ăn, dù thức ăn đổ vương vãi. 

Có chứng kiến một buổi ăn trưa với bọn trẻ mới thấy cái tâm và sự chịu đựng của người phục vụ, họ nói huyên thuyên điều gì đó khiến mấy đứa nhỏ cười, họ lấy muỗng gõ xuống bàn chọc ghẹo nhau và các nhân viên ăn ngon lành thức ăn trong dĩa, dù trước mặt họ mấy đứa ăn uống đổ tháo ho khạc đàm nhớt lòng thòng vào chiếc khăn quấn trên ngực. Thú thật tôi nuốt không vô khi ngồi đối diện với Daniel lúc nào cũng ho sù sụ khạc đờm rơi rớt trên cái dĩa của nó. 

Mới biết họ chấp nhận công việc ở đây ngoài chuyện lương bổng là bình thường nhưng cái tâm họ tịnh hơn, tấm lòng của họ bao dung độ lượng hơn nhiều người khác, họ được giáo dục để biết yêu thương và tử tế với những đứa trẻ bất hạnh. 

Bà trưởng phòng ở đây đã từng ôm tôi an ủi -“mày đừng lo lắng, bọn tao đã sống với tụi nhỏ lâu rồi, tao coi mấy đứa như con của tao, nên mày tin rằng tụi nó rất hạnh phúc” 

Tôi lại khâm phục những con người vác thánh giá này, không có lời cám ơn nào đủ giá trị để dành cho họ. Tôi thấy mình nợ nần một đất nước xa lạ, nợ nần những con người xa lạ nhưng trái tim của họ thật gần gũi ấm áp biết bao nhiêu. 

Nếu không có vòng tay dang rộng của chính phủ Thụy Sĩ và tổ chức nhân đạo này, chắc gì con trai tôi sống sót được đến hôm nay. Đó còn là một ơn phước mà Thượng Đế đã ban tặng cho mẹ con chúng tôi. 

Có người hỏi tôi sao không mang VyDan về bên Mỹ cho tiện chăm sóc mà mẹ con cũng được gần nhau, tôi đã thẳng thắn nói không, vì tôi biết nơi nào là quê hương của nó, nơi nào nó sống yên vui mỗi ngày thì đó là thiên đường. 

Định mệnh đã sắp đặt cho nó sống ở đây và có chết thì cũng ở đây, tôi biết cái cây đã èo uột sẵn mà bứng trồng chỗ khác không chắc gì sống nổi. VyDan đã thuộc về nơi này. Trong phòng ăn treo 4 bức ảnh của 4 đứa, năm ngoái tôi qua thì thấy gỡ mất 1 tấm, hỏi thăm mới biết con bé đã về trời, tôi buồn ngẩn ngơ khi nghĩ đến VyDan, nếu lúc nào đó tấm ảnh của nó không còn treo trên tường nữa!

Chỉ nghĩ như vậy thôi mà nghe tim mình như nghẹn thở. Những ngày ngắn ngủi ở bên cạnh con, tôi kể lể cho nó nghe những chuyện này kia về cuộc sống bên Mỹ, về bà con dòng họ ở quê nhà mà hình ảnh và độ thân thiết đã mờ nhạt trong ký ức của thằng bé rời Sài Gòn hơn 30 năm trước. 

Thật tình VyDan không có kỷ niệm gắn bó về quê hương Việt Nam với những địa danh xa lạ, thậm chí nó còn không biết là nó cắt rún ở Đà Lạt và chôn nhao ở Sóc Trăng, một điều lạ lùng chưa từng xảy ra với bất cứ đứa trẻ nào, tôi đã làm điều ấy vì ý tưởng nghịch ngợm của một bà mẹ trẻ lúc đó, đem nhao thai ngâm rượu rồi mang bình rượu đó về quê chôn dưới gốc cây trong vườn nhà ngoại, không có mục đích ý đồ gì khác thường, chỉ muốn là làm vậy thôi. 

Sau này có người biết chuyện lại trách “ngâm rượu hèn gì thằng nhỏ nóng nảy trong người nên còi cọc” 

Tôi làm thinh không phân trần, 7-8 năm trong tù đủ để giết chết tuổi thơ của nó rồi, VyDan còn sống sót tới bây giờ là điều kỳ diệu của Thượng Đế. 

Nó tuổi Tỵ, tôi hay gọi đùa “con rắn không chân mà đi năm rừng bảy rú” Nghe nói mỗi mùa hè là cơ quan đưa những đứa như nó được đi chơi khắp các nước Châu Âu. Ơn Trời, sự bất hạnh của nó đã được đền bù. 

Ở đây VyDan được dạy và nghe tiếng Pháp, lần gặp lại nó ở Sài Gòn sau bao nhiêu năm xa cách, tôi phải nhờ cô bạn làm phiên dịch giữa tôi và nhân viên đi cùng, rồi nhân viên nhìn nó nói điều gì đó, họ truyền đạt lại cho cô bạn. 

Hai mẹ con lúng túng mất mấy ngày, nhưng sau đó tôi nói tiếng Việt thẳng với nó và hỏi có hiểu không? Nó le cái lưỡi nghĩa là Yes, và ngậm miệng lại là No, từ đó chúng tôi bắt đầu nói chuyện với nhau cả ngày như chơi trò trắc nghiệm đố vui. Tôi đặt câu hỏi và nó trả lời yes/ no rất nhanh 

Trong ngôi nhà này VyDan là thằng bé “thông thái” nhất so với 3 đứa còn lại, nó biết đọc sách, xem TV, lên mạng email, Facebook với bạn bè. Người ta gắn cho nó một màn hình nhỏ đặt trên tường hay trên xe lăn, với một bàn phím được thiết kế bằng các ký tự đặc biệt và kỳ diệu hơn khi nó sử dụng 2 ngón chân để click chuột. Chỉ một dòng chữ “Je t’aime maman” mà nó cặm cụi cả nửa tiếng mới xong. 

Tôi đã bật khóc khi nhìn thấy sự cố gắng để diễn đạt ngôn ngữ yêu thương của thằng bé tật nguyền. Thỉnh thoảng tôi thấy nó lên Facebook, cũng viết vài chữ thăm hỏi gởi cho mẹ, nhưng tôi không hình dung được sự khó khăn của nó khi lần mò từng chữ bằng 2 ngón chân run rẩy. 

Tôi nói nickname để VyDan add tên em gái nó vào Facebook, tôi mang cho Vydan mấy món quà nhỏ của của Kaytlyn và Derek, (hai đứa con của Phương) và hẹn khi nào tụi nó lớn một chút sẽ dẫn qua thăm cậu Vydan. Nó hào hứng khi nghe điều này, trong cuộc sống lặng lẽ buồn hiu của nó thì tình yêu thương gia đình gắn bó và ấm áp biết bao nhiêu. 

Cám ơn những thành tựu công nghệ của thế giới ảo nhưng rất thật này, nó kết nối những con người xa xôi gần lại với nhau, mỗi lần tôi thấy hình VyDan trên mạng, tôi yên tâm là thằng bé còn mạnh khỏe bình an. 

Có những buổi chiều trời nắng ấm, tôi đẩy VyDan đi vòng vòng ngoài phố, ngồi trước quảng trường ngập hoa cúc mùa thu, uống cà phê và nhìn người qua lại. Nó thích thú lộ ra mặt, tôi thầm cám ơn những ánh mắt thân thiện của mọi người ở đây dành cho nó, ít ra nó không bị mặc cảm vì hình dạng khuyết tật của mình, đó là yếu tố cần thiết để nó tồn tại và thấy đời đáng sống hơn.

Có lúc hai mẹ con ngồi bên nhau lặng im nhìn ra khung cửa sổ lất phất mưa, tôi hát cho nó nghe những bản nhạc quê hương xưa cũ và thằng bé dựa vào vai tôi thiu thiu ngủ như hồi còn nhỏ, tôi nắm bàn tay bàn chân lạnh ngắt cong queo của nó cố vuốt cho thẳng mà lòng cứ ao ước phép lạ xảy ra cho VyDan, nếu không thể vươn vai như Phù Đổng thì cũng gọi được tiếng Mẹ cho hạnh phúc ngập tràn, nhưng bà Tiên ban phép lạ thì chỉ có trong cổ tích thôi con trai à. 


Khi mang nó ra khỏi nhà tù Cộng Sản thì thằng bé đã kiệt sức, tay chân co quắp, cột sống cong vẹo và các cơ bắp đã teo lại không đủ sức nâng đỡ thân hình xương xẩu. Thụy Sĩ là đất nước có ngành y tế tốt nhất thế giới mà cũng không thể cứu chữa được cho thằng bé trong tình trạng muộn màng. 

Sự thăm viếng VyDan cũng theo quy định của cơ quan, tôi chỉ đến buổi sáng sau 10 giờ và buổi chiều sau 3 giờ, khoảng thời gian còn lại thì tôi lang thang khám phá những ngõ ngách của thành phố yên tĩnh này, tôi thường chọn mùa thu để qua thăm con, không hẳn vì Châu Âu thơ mộng bởi rừng cây đổi sắc đỏ vàng, nước Mỹ cũng có nhiều thành phố lung linh màu thu rạng rỡ vậy, đi chi xa, nhưng thật tình khoảng tháng 9-10 giá rẻ nên đi thôi, sống bằng lương hưu thì chỉ có vậy.

Nhưng ai không biết hoàn cảnh thì trầm trồ “đi du lịch sướng he” Tôi hay nói đùa “Ờ thì tiền bạc gởi bên ngân hàng Thụy Sĩ nên lâu lâu qua coi còn được bao nhiêu” ha ha chảnh bắt ớn! 

Yverdon không có nhiều người Việt như thủ đô tị nạn Bolsa California hay Houston Texas bên Mỹ, hoặc nếu có thì chắc sống rải rác đâu đó không biết, duy nhất có một tiệm phở mà nghe giọng là biết Bắc Kỳ 75, một gian hàng tạp hóa Asian bán đủ thứ từ cọng rau muống, gói mì Hảo Hảo đến cái nón lá và tượng ông Địa China, tất cả đều nhập trực tiếp từ Việt Nam qua bằng đường hàng không mỗi tuần, dĩ nhiên chủ nhân là người Việt nói tiếng Pháp như gió, 

Tôi quen với một chị bạn cũng từ cửa tiệm này, chị mua rau răm về nấu cháo lòng (!) nhưng rủ tôi về nhà để mời món mắm chưng cá mặn. Biết là bên Mỹ mấy món này không phải hiếm hoi nhưng được ăn bên trời Tây mà nghe tiếng Huế líu ríu thì quả là thú vị. 

Tôi nhận ra rằng người Việt dù sống tha hương ở chân trời góc biển nào cũng có chung một nỗi nhớ nhà, “nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương” Quê hương cứ lẩn quẩn trong từng cái chén đôi đũa, từng cọng ngò tép xả, tô mắm chưng dù được đặt trên bàn ăn có nhiều dao nĩa vẫn không thấy huốt cái đặc thù dân dã Việt Nam. 

Thụy Sĩ là quốc gia đắt đỏ cũng nhất thế giới nên giá tô phở 25€ -30€ là chuyện bình thường, tôi thà nhịn thèm để mai mốt về Mỹ ăn “tô xe lửa” ngon lành mà giá có phân nửa. 

California nơi tôi ở nói về món ăn Việt Nam thì không thiếu thứ gì, bún phở chè xôi hay bột chiên bánh ướt đều có đủ. 

Trời thu mưa lất phất lạnh, con đường vắng ngập lá vàng cho tôi cảm giác mình đang đếm bước cô đơn, dù mỗi ngày vẫn gọi phone ríu rít với chồng đủ thứ chuyện, hình như có điều gì đó buồn buồn trong tôi, mỗi lần gặp thằng bé là gợi lại ký ức đau thương đã qua, tôi vẫn thấy ray rứt như mình có lỗi trong sự bất hạnh của nó. 

Tuổi đời càng ngày càng lớn, tôi không biết mình có còn đủ sức để làm một chuyến đi dài qua thăm nó mỗi năm? Thôi thì một ngày được ở bên nhau là hạnh phúc hiện tại của hai mẹ con, câu chuyện buồn đã thuộc về quá khứ xa lắc xa lơ mà tôi cố gắng để quên nhưng sao vẫn thấy chạnh lòng hoài. VyDan là một kỷ niệm khó phai. 

Thời gian thăm nó rồi cũng qua, trước buổi chia tay nó tặng tôi món quà lưu niệm, nghe nói mua đâu bên Ý trong một chuyến đi chơi nào đó, tôi giả bộ háo hức khi tháo gói giấy ra cho thằng bé vui, một con bướm bằng sứ sơn men xanh đã bị gãy một góc cánh, có lẽ không được gói cẩn thận khi vận chuyển, nhìn gương mặt thất vọng của VyDan thấy thương quá, tôi vội trấn an “không sao, Mẹ sẽ lấy keo dán nó lại dễ dàng mà, con bướm thật đẹp, Mẹ cám ơn VyDan đã tặng” Tôi hôn lên vầng trán nhăn nhúm của nó mà nghe lòng dâng lên nỗi xúc động nghẹn ngào. 

Buổi sáng đầy sương, tôi lên tàu về lại Paris để chuẩn bị bay về Mỹ, quê hương thân thiết của tôi cũng như Thụy Sĩ là chốn quê nhà của VyDan, nếu một mai nó nằm xuống nơi này. Tôi nói với nó là trời mưa lạnh đừng ra sân ga, nhưng thật lòng tôi sợ cảnh tiễn đưa bịn rịn, tôi sợ nhìn ánh mắt đỏ hoe của nó sẽ ám ảnh tôi trên suốt đoạn đường dài. Thương quá con dế mèn còi cọc của tôi. 

Thành phố cuối tuần vẫn còn đang ngái ngủ, những hàng cây trút lá ngập lối đi, cái ba lô nhẹ bỗng trên lưng mà sao tôi cứ canh cánh nỗi buồn nặng trĩu. “Au Revoir mon fils”Tôi tập viết câu này trong tin nhắn trên Facebook của Vydan lúc nửa đêm

Tạm biệt con yêu!


KHI NỔI BUỒN VẪN CHƯA NGUÔI NGOAI 

Mấy tháng qua rồi, đám tang Vydan đã được tổ chức rất chu đáo và ấm áp, một chị bạn sống ở gần đó đã kể lại khi mua dùm tôi vòng hoa với dòng chữ bằng tiếng Pháp “ Mon cher Vy Dan, Tu Restes Toujours dans Mon Coeur” mang đến buổi lễ và chụp cho vài tấm hình kỷ niệm giây phút cuối đời của một kiếp người lẻ loi, buồn thảm. 

Vydan nằm trong quan tài với cái đầu nghiêng qua một bên, gương mặt thanh thản, cũng cái dáng tựa đầu vào vai Mẹ như hồi nào khiến tôi không cầm được nước mắt. Thương con quá dế mèn ơi, dù có nhiều bạn bè đến viếng, nhưng tôi biết thằng bé rất cô đơn vì không có Mẹ bên cạnh trong lúc cuối cùng. 

Tôi biết mình sẽ không đủ sức chịu đựng được cảnh chia ly não lòng này. Tôi đợi nỗi đau này lắng xuống. 

Nhưng mấy tháng qua rồi, niềm đau vẫn còn đó, nhưng lòng tôi đã phần nào dịu lại sau những ngày dài đẫm lệ mỗi khi nghĩ về Vydan – chú dế nhỏ bé, yếu ớt của tôi – người đã lặng lẽ rời bỏ thế giới này sau khi gánh chịu vô vàn gian khổ trong hình hài khiếm khuyết. 

Cái chết là sự giải thoát; tôi cố gắng nghĩ như vậy để không tự dằn vặt khi nhớ lại quá khứ đau thương, đứa trẻ ấy phải chịu cảnh tù đày khi mới 17 tháng tuổi, sống trong nghèo khó, thiếu thốn, bệnh tật triền miên mà không được chữa trị, rồi mòn mỏi suốt 8 năm trong ngục tù cho đến khi một tổ chức nhân đạo phương Tây dang tay giúp đỡ, đưa con thoát khỏi cơn ác mộng kinh hoàng. 

Tuy nhiên, đã quá muộn để con có thể hồi phục sức khỏe như một người bình thường. Con đã cam chịu khiếm khuyết cơ thể như một định mệnh nghiệt ngã, sống những ngày bình yên dưới sự chăm sóc đầy yêu thương của những con người khác màu da, khác ngôn ngữ những người mang trái tim Bồ Tát, dành hàng thập kỷ để chăm lo cho những đứa trẻ bất hạnh như con. 

Niềm hạnh phúc và sự bình an luôn hiện rõ trong ánh mắt con mỗi khi chúng tôi gặp gỡ, đó là niềm vui nhỏ bé mà hai mẹ con cùng chia sẻ, dù chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi giữa những chuyến hành trình dài đằng đẵng và mệt mỏi. 

Trong lần gặp cuối cùng cách đây một tháng, tôi đã nắm tay Vydan và nói lời từ biệt: “Sang năm mẹ sẽ lại đến thăm con nữa nhe” Gương mặt Vydan bừng sáng với nụ cười rạng rỡ. 

Vậy mà giờ đây con đã lặng lẽ ra đi...Chú dế nhỏ của tôi đã bay về thiên đường – tôi tin chắc là như vậy, bởi con đã trả xong nghiệp quả kiếp trước, sống trọn vẹn những tháng ngày bình yên ở cõi trần và bây giờ đã ra đi trong thanh thản. Tôi tự hỏi liệu ở chốn vĩnh hằng kia, Vydan có cơ hội đoàn tụ cùng Ba Tài yêu dấu để được Ba dắt tay bước qua cánh cửa thiên đường hay không? Cả hai đều là những thiên thần trong trái tim tôi.

Nỗi buồn đau xót xa cho một kiếp người, tôi vẫn chưa thấm nhuần được triết lý nhà Phật là cõi trần tạm bợ, là mong manh vô thường để chấp nhận sự thật của tử biệt sanh ly. Vy Dân đã được giải thoát khỏi kiếp nạn của nó, thì phải mừng chớ sao lại khóc? Nhiều người đã khuyên nhủ tôi như vậy và chính tôi cũng từng nghĩ đến một lúc nào đó nó sẽ bỏ Mẹ theo Ba mỗi lần nhìn nó thoi thóp trong tù. 

Nhưng thằng bé vẫn kiên cường để sống sót cho đến 47 năm, chẳng phải nó đã cố hết sức để trả nợ đời rồi sao , mà nài ép nó phải sống thêm vài ba năm nữa! Nghĩ vậy mà vẫn thấy nao nao trong lòng, vẫn thấy như mình nợ nần Vy Dân một lời xin lỗi đã để nó gánh nặng kiếp nhân sinh đầy khổ nạn này. 

Chắc chắn sang năm tôi sẽ qua thăm con dế mèn của tôi như lời tôi đã hứa với nó, dù Vydan không còn nữa, nhưng tôi phải đến đó để nhìn một lần cuối cái nơi đã cưu mang đứa con bất hạnh của mình suốt mấy mươi năm, để cám ơn từng con đường, từng góc phố mà Vydan đã đi qua, cám ơn đất nước con người Thụy Sĩ đã hết lòng chăm sóc cho một thằng bé côi cút tật nguyền của tôi, cho đến lúc nó lìa đời trong vòng tay ấm áp của mọi người tuy xa mà không lạ. 

Cám ơn dòng sông con suối nào đó đã mang tro cốt nó ra biển khơi, tìm đường về quê Mẹ xa xôi thăm thẳm. 

Xin hãy nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của tôi gởi đến tất cả bạn bè thân mến. 


TRỞ LẠI YVERDON ĐỂ GIỮ MỘT LỜI HỨA 

Tôi xuống trạm xe lửa lúc 4.15pm. 

Mưa lất phất đủ để ướt những chiếc lá vàng tơi tả bên đường, không có ai đón tôi với con mắt sáng ngời và nụ cười hớn hở. Sân ga vắng vẻ lạnh ngắt. 

Một năm trôi qua rồi, nỗi buồn cũng đã lắng xuống nguôi ngoai, nhưng khi trở lại nơi này, tôi cũng thấy chạnh lòng nhớ về thằng bé, tôi cố nghĩ là nó còn sống, nó hiện đang quanh quẩn trong nhà hay đang coi TiVi ở phòng khách để chờ bữa cơm chiều. 

Kéo chiếc ba lô lọc cọc giữa những con đường yên tĩnh của thành phố nhỏ, tôi chậm rãi đi dưới trời mưa để về ngang chung cư nhìn lên căn phòng cũ của nó, cánh cửa sổ đã khép kín nhưng ký ức trong tôi vẫn đang mở toang về những kỷ niệm còn sót lại của hai mẹ con, chỉ mới một năm thôi mà, lẽ nào nó không còn nhớ đến tôi? 

Tôi đã từng dựa lưng vào khung cửa đó và hứa với Vydan là tôi sẽ trở lại thăm nó vào mùa thu tới, sẽ mang cho nó chiếc lá vàng như một minh chứng của trái tim người Mẹ đã lặng lẽ vượt qua hàng ngàn cây số để đến thăm đứa con côi cút tật nguyền. 

Và bây giờ tôi đã trở lại nơi này để giữ một lời hứa, dù con trai tôi không còn nữa. Nước mắt rơi trong cơn mưa ẩm ướt chiều nay, tôi nhớ câu nói của ai đó “ đi dưới mưa để không ai thấy mình khóc”. 

Tôi đang bước trên những chiếc lá vàng đầy kỷ niệm của ngày hôm qua. Trời chợt mưa chợt nắng và bỗng dưng tôi nhận ra mình vừa lạc mất lối vào khu chung cư rất thân quen, trí nhớ như bị xóa trắng, tôi ngẩn ngơ giữa ngã ba đường, phải nhờ một người đi ngang qua tìm giúp một địa chỉ mà mình đã từng đến gần mười năm nay, căn phòng D7 nằm trong góc khuất của thành phố nhỏ Yverdon. 

Tôi ngập ngừng khi bấm chuông, cánh cửa tự động mở ra, tôi hấp tấp leo lên cầu thang, vào ngay phòng khách, có 2 chiếc xe lăn trước TV, một khuôn mặt lạ nhìn tôi ngơ ngác, chắc thằng bé mới vào đây thế chỗ của Vydan, còn đứa kia tôi biết là Natalie, nó cười ngây ngô khi tôi nắm tay nó, trên đầu tủ phòng khách là hình những đứa đã mất, trong đó có Vydan của tôi. 

Điều mà tôi đã từng lo sợ bâng quơ mỗi lần đến đây, khi nghĩ đến ngày nào đó thằng bé sẽ bỏ Mẹ theo ba... Phòng ngủ của Vydan cũng đã thay đổi cách bày trí, không có mấy bức tranh trên tường và lá cờ vàng biểu tượng của đất nước Việt Nam xa xôi mà Vydan sẽ mãi mãi không bao giờ trở lại. 

Căn phòng đã thuộc về thằng bé lạ mặt ngồi ở phòng khách kia, chắc nó cũng trạc tuổi Vydan, nó có nụ cười ngây ngô đến tội nghiệp, tôi rưng rưng trong cảm xúc của sự vô thường. Thế giới này giống như một vòng quay, xoay tròn tưởng như lập lại, nhưng không, thời gian cứ qua đi và mất hút.

Tôi bước xuống bậc thềm, ngồi ôm mặt khóc như trẻ thơ. Tôi nhận ra một sự thật là con dế mèn đã bay xa rồi, gần một năm nay tôi đã không còn thấy Vydan, dù chỉ là hình ảnh nhạt nhòa trên Facetime. 

Tất cả đã biến mất! 

Có 2 người bạn trẻ từ Paris qua. Chúng tôi hẹn nhau là sẽ cùng đi vào khu rừng thăm Vydan, tôi nghe kể rằng ở đây người ta không còn rải tro xuống sông, suối hay trên đồi núi như bên quê nhà, mà có riêng một khu rừng, họ gọi là “ Khu Rừng Ký Ức “. 

Họ chọn cây cối như người bảo vệ ký ức của gia đình “On choisit un arbre comme gardien de la mémoire. On est au milieu de la nature, de la vie. Cette continuité apporte une sorte d’apaisement aux familles” 

Họ chôn tro cốt dưới gốc cây và đánh dấu lên đó như một bia mộ có thứ tự trong nghĩa trang. Và Vydan cũng có một gốc cây như vậy, dưới bóng mát của rừng lá xanh um, là nơi an nghỉ của một thằng bé Việt Nam xa lạ, cách nơi nó được sinh ra hơn nửa vòng Trái Đất. 

Nếu nó biết thế giới này bao la và sống chết là lẽ vô thường thì sá gì một nơi chốn nương tựa cuối đời nhỏ nhoi cát bụi. 

Nhưng là một người Mẹ với trái tim xúc cảm đời thường, tôi đã không thể nén lại nỗi đau của mình khi nghĩ đến sự cô đơn của thằng bé trong giây phút cuối cùng không có người thân nào bên cạnh. 

Nghe người bảo trợ kể lại nó khó thở, khi đưa vào bệnh viện với chứng suy hô hấp thì Vydan đã ra đi, nhẹ nhàng như tiếng thở dài,như cơn gió thoảng... 

Email của bà ấy chỉ vài dòng báo tin khiến tôi thảng thốt bất ngờ không muốn tin vào sự thật. Ừ mới đây thôi mà, tôi vừa qua thăm nó trở về, hai mẹ con vui vẻ ríu rít bên nhau với những hẹn hò gặp lại vào năm sau. 

Vậy mà bây giờ nó đành đoạn bỏ tôi ra đi. 

Ngẫm lại thì hình như tất cả những người thân yêu của tôi qua đời đều không có tôi bên cạnh, Nội Ngoại, cha mẹ, chị em, chồng con, tất cả đều như khói sương tan biến mà tôi không hình dung được giây phút cuối cùng của họ ra sao. 

Cách đây hơn 40 năm anh ấy cũng mất lặng lẽ cô đơn như vậy. Chỉ có những giọt nước mắt âm thầm xót xa của người vợ trẻ và đứa con thơ còn gian khổ trong chốn lao tù khi biết tin anh đã ra đi mãi mãi, “giọt nước mắt ấy bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho em..” 

Yverdon đang vào mùa mưa bão, khu rừng khép lại như giữ ký ức của hai Mẹ con trong đó. 

Hôm nay, mẹ và hai người bạn đến đây để tưởng niệm một năm ngày mất của Vydan, để thương tiếc đứa con tội nghiệp đã ra đi, và để nói với con lời xin lỗi muộn màng, Mẹ sinh con ra trong hình hài yếu ớt, trong hoàn cảnh nước mất nhà tan mà gia đình ta phải bị đọa đày bởi dã tâm ác độc của chế độ Cộng Sản. 

Họ đã giam cầm con trong một nhà tù tàn nhẫn nhất, khiến con phải chịu đựng đói khổ, thiếu thốn, khiến con mang bệnh tật suốt đời, tuổi trẻ của con gánh chịu quá nhiều bất hạnh, mà Mẹ là người chiu trách nhiệm không thể cho con một cuộc sống ấm no và hạnh phúc như những bạn bè trang lứa với con. 

Có một người anh em mà con chưa bao giờ gặp mặt, chưa bao giờ biết tên nhưng với tình yêu thương tha thiết dành cho con, nên anh ấy đã làm bài thơ và phổ nhạc, cầm theo cây đàn để đến trước “Khu rừng ký ức” đàn và hát cho con nghe. 

Mẹ sẽ chép bài thơ và email của anh ấy cho con 

“Em chỉ có bài hát này dành tặng cho Cô và cũng là cho VyDân, người mà đáng lẽ ra cũng phải được hưởng tất cả những gì bình thường nhất mà tụi em được thụ hưởng. Nhưng em nghĩ, tất cả mọi sự hiện hữu trên thế gian này đều có một sứ mạng nhiệm màu nào đó mà chúng ta không thể nào thấu hiểu. 

Em xin gởi đến Thầy và Cô tình cảm chân thành nhất mà em dành cho Cô, cho Thầy và cho cả người anh em mà em chưa một lần hạnh ngộ. 

Bài hát có tên “ Con dế mèn đáng yêu” Em Đình Đại Viết tặng cô Ngọc Ánh về tình mẫu tử tuyệt vời dành cho Vydan 

“Bay đi như cánh chim Hải Âu Bay về bên kia biển

Nơi có ánh sáng bình yên Với tình yêu chan chứa

Nơi có bóng mát tình yêu Của tình cha hương ngát 

Đón con dế mèn đáng yêu 

Thênh thang cõi diệu hằng 

Dù con đã đến trên thế gian đoạ đầy 

Và dù con đã đến khi quê hương đã chìm trong tăm tối 

Lời nào mẹ hát ru con 

Lời nào mẹ khóc ru con 

Lời nào mẹ cảm ơn con 

Đã đem tình yêu ủi an ngục tối 

Cuộc đời đầy gian nan 

Đi qua quê hương không tiếng người 

Dù chỉ một lần thôi 

Cho môi thơ nụ cười tươi sáng 

Con đi qua cuộc đời 

Như chứng nhân lặng lời 

Con dế mèn đáng yêu 

Hãy rong chơi cuối trời...” 


Vy Dân yêu ơi, giờ đây con đang ở thế giới vĩnh hằng. Mẹ cầu nguyện con sẽ được tái sinh vào một nơi bình yên, ở đó sẽ không có chiến tranh, không có hận thù, chỉ có người và người yêu nhau.. Mẹ hứa là quay lại để gặp con, nhưng con đã bay đi mất rồi. Ôi con dế mèn khẳng khiu của Mẹ, thôi thì hãy rong chơi cuối trời... Mẹ sẽ luôn yêu thương và nhớ con mãi mãi. 

Yverdon, 29 tháng 10/ 2025


Có những giọt nước mắt không cần phiên dịch. 

Có những tình yêu không bị giới hạn bởi ngôn ngữ. 

Và có tình mẹ vượt qua mọi biên giới của thời gian, khoảng cách và lời nói. 

Xin mời quý độc giả tiếp tục đồng hành cùng Con Dế Mèn của Mẹ qua bản tiếng Anh của cùng một câu chuyện có thật.



Mời đọc bản tiếng Anh sẽ đăng ngày mai.
Cám ơn quý bạn đọc.

Bản tiếng Anh 

Some tears need no translation. 
Some love knows no language. 
And a mother’s love reaches beyond time, distance, and words. 

FOREWORD 
Mother’s Cricket” is not a fairy tale.It is a true story about a fragile child, carrying the limitations of fate but never losing the will to live, and about a mother who has gone through war, imprisonment, loss, and separations that once seemed unbearable. 

Through simple yet sincere memories, this book is a story of maternal love, compassion, and the power of love.The story of VyDan, of the mother, and of that love runs throughout the entire book. 
Despite war, imprisonment, illness, or distance across half the globe, that bond has never been broken. These experiences helped the two of them overcome the harshest circumstances of life. 

If, upon closing these pages, the reader feels even a little love, a little hope, and a deeper appreciation for their loved ones, then that is exactly what the author wishes to share and leave behind. For Vy Dân, my little cricket, whose fragile body carried an unbreakable spirit.

Ngoc Anh

PART ONE 

THE CRICKET’S DIARY 

My name is Vy Dân. 
Mother told me that I was born during the long rainy season of July in Đà Lạt. I was tiny because I was underweight. The weather was cold, and our house had no heater. 

Aunt Giao showed Mother how to fill glass bottles with hot water, seal them tightly, and place them around my bed to keep me warm. 
Mother wrapped me snugly in cloth diapers and laid me carefully inside a wicker basket when she carried me home to Father in Sài Gòn. 
Back then Mother was still very young, barely in her twenties. She cherished me as if I were a doll. But this doll could only laugh and never cry. 

People say that when we are born, we cry while everyone around us laughs with joy.I was the opposite. I laughed out loud while Mother sobbed because of the hardships she carried in her heart.

Đà Lạt was terribly cold. I did not have enough warm clothes. Father sold his blood to buy milk, food, and diapers for me. 

They said the entire country was poor in those days. Mother had to smuggle tea from Bảo Lộc to earn money for my milk. Sometimes the authorities caught her and confiscated everything, leaving her without a cent. She would return home with red eyes, clutching me tightly against her chest. 

Later Mother returned to Sài Gòn to continue working with Father. I grew slowly because of malnutrition, but the doctors said there was nothing seriously wrong with me. 

Father, Mother, and I lived peacefully in Grandfather’s house in District 10 of Sài Gòn. 
Then one day disaster struck. 
They came to search the house and arrested both Father and Mother. 
I could not be sent to my maternal grandparents even though their house was only a short distance away. So Mother carried me with her into prison. I was just over one year old then, frail as a little cricket, yet I wanted nothing more than to stay with my parents. 
But they would not allow our family to remain together. Strangely enough! 
Father was locked away in a solitary cell at the far end of the prison camp, while Mother and I were kept in another solitary cell near the entrance.

The room was tiny and pitch black.I was afraid of the dark.Yet with Mother beside me, everything felt warm and safe. 

The only time I ever saw Father was when our family was transferred from Sài Gòn to Phan Thiết. I remember his tall, thin figure, his glasses, and his gentle smile. Everyone said that I looked very much like him. 
Mother begged countless times for permission to let me see Father, but no one agreed. 
They said my parents had committed serious crimes and must remain isolated from their loved ones. But I was only a little child. What did I know? They were so cruel! 

Years later Mother was moved into a communal prison barrack. It was crowded with prisoners, yet there were no other children there. Because of that, everyone loved me. 
 
Sometimes women who received family visits would share a little food with me. 
To this day I still remember how delicious those stolen bites of shredded pork tasted. 

Mother and I had no visitors. We survived through years of deprivation and hardship. I watched Mother grow older and felt my heart ache for her. 
Mother often sang me to sleep with old love songs. I heard the women whisper that those songs were forbidden and should not be sung aloud. Whenever Mother reached the lyric, “In the heart of a melancholy schoolgirl...” I would point at her. ”Mother was my schoolgirl. She was often sad. 

Yet she never complailained to me about the burdens she carried. Still, I knew her heart was weary.
She once told me that if it were not for me, she would rather die than endure prison life. 
That frightened me! Without Mother, I think I would have died too. She was my sunshine, my moonlight, my safe place in a difficult world. 
During the day she worked endlessly under harsh conditions. At night, inside our mosquito net, she would hold me close and tell stories, tell fairy tales, stories from the labor fields, stories about distant lands and endless seas. 
Every story sparked my imagination. 
Every story made me dream of one day leaving this cramped place and seeing the vast world beyond its walls. 
But there was one thing that broke my heart: I could not stand.I could not run.I could not sing.I could not wrap my arms around Mother like other children. 
Instead, I used my thin legs to hug her waist. With my feet I wiped her face, held a comb to brush her hair, and rubbed her back whenever she was exhausted.

My whole world was Mother. 
I imagined the endless rice fields where she worked each day. I imagined the white stork standing quietly on one leg beside the fields. I imagined the black leeches clinging to her pale legs and making her cry out in fear. If I had been there, I would have pulled them off and thrown them away. 

Every day when Mother returned from work, she would brought me a little gift. Sometimes it was a few smooth pebbles from a stream. 
Sometimes it was a handful of wildflowers picked along the roadside. Other times it was a few tiny peaches that had fallen from the tree before they had a chance to ripen, or a large bird feather nearly as long as Mother’s hand. 
Mother said the feather looked like the writing quills people used in ancient times. 
When I held it and examined it closely, I imagined a crow flying over the peach orchard where Mother wandered collecting peach pits. Perhaps it had dropped the feather there for Mother to find and bring home to me. 
Then Mother would turn it into a fairy tale about the magical bird from the story The Starfruit Tree, carrying treasure across the sky. 
I dreamed that one day it would carry me away too.
Even a stone picked up beside a stream became a long adventure about Robinson Crusoe on a deserted island, marking each passing day with a pebble.”If we kept every stone from every day we’ve spent here,” Mother once  laughed, “we could build ourselves a castle.” 

Then she would sigh and say:”One day in prison feels like a thousand years outside.” 
I did not understand the deeper meaning of those words. 
But I knew our time there was very long, very lonely. 
One day Mother brought home a parakeet with a broken wing. It could not fly, but it could do something I could not, it could walk. Slowly. Clumsily. 

Yet it could move around the room. The brilliant green of its feathers was the first vivid color I remember seeing in my life. There was another color I never forgot—a bright pink dress worn by a little girl who came into the prison one day with her mother. She looked like a fairy princess.
I stared at her in amazement. I had never seen another child my age before. 
The prison was filled only with gray uniforms worn by the prisoners. They were stained with mud, sap, and chemicals from the fields. Some were patched and mended so many times they hardly resembled clothing Everything seemed gray. Everything seemed dull.
 
My parakeet became my best friend.
But it was also a terrible troublemaker. It climbed onto
the clothesline behind the barracks and chewed every buttons from prisoners ‘ clothes. 
When the prisoners came back from work, cold and soaked from the rain, not a single shirt still had buttons. 
Everyone shouted in frustration. Mother always covered my face with her conical hat whenever the women returned and changed clothes in the crowded room. I secretly laughed because I knew exactly who the culprit was. 

Then one day the parakeet learned to speak. That made it even more talented than me. Whenever Mother fed me porridge, it would chirp loudly: “Parakeet wants porridge! Parakeet wants porridge!” If someone became sick, it would scream: “Emergency! Emergency!” 
Mother said parrots were intelligent creatures that learned by imitation. 

Years passed.I lived beside Mother for so long that time itself seemed meaningless. I did not know my own age. I did not know how old Mother was. I did not even know what a clock looked like. 

Then one day a prison officer entered the women’s barracks. On his wrist was a shining watch. At his belt hung a tiny radio. I stared at both objects in fascination. Mother explained that a watch told people the ttime. A radio carried voices and news from all over the world.

I could hardly imagine that beyond the prison gates there existed an enormous world full of wonders I had never seen. 

For the prisoners, each day was measured by hope. Morning became afternoon. Afternoon became evening. Evening became another tomorrow. 
Everyone counted the days until freedom. 

But I only cared about one thing: Mother. As long as she was beside me, I was happy. I did not care how many years had passed. 
I did not care how many New Year celebrations came and went behind prison walls. Still, I loved Tết. 
The prison always felt livelier then. Mother and I would receive a little better food than usual. And I would sit below the stage, gazing up proudly as Mother performed in” Cải Lương“ plays. Her favorite role was “Cô Lựu” I never understood how she could cry so convincingly on stage. The audience applauded thunderously whenever she sang the “vọng cổ “passages with her sweet, emotional voice. Mother was amazing.She could become any character.

Yet at night, when the performance ended and she held me in her arms, she would quietly cry for Father. Cry for the distant homeland she missed.  
Cry for my grandparents, who were waiting endlessly for us to return. Then she would tell me stories about the old Tết celebrations:Liondances. Firecrackers exploding across the sky. Green “bánh chưng”, Red watermelons. Lucky money tucked into red envelopes. I listened and imagined the happiness she once knew. 
And I promised myself that when we were finally free, Mother would take me to a temple during Tết. I would watch the lion dances. I would see the firecrackers. And I was certain I would laugh myself silly at the sight of the round-bellied Earth God. 

But the day of our freedom still seemed very far away... Our day of freedom still seemed far away. 

Then something happened that I did not want at all. One day Aunt Hai came to visit Mother for the first time. She brought a letter from a foreign organization about taking me out of prison and sending me to Europe for medical treatment. 
I panicked. I wrapped my thin legs tightly around Mother and refused to let go. Mother tried to comfort me. She told me that the place would be like heaven.There would be beautiful clothes, delicious food, toys that every child dreamed of, doctors who could help me, schools where I could learn, and people who would care for me. 

“You’ll write letters to me,” Mother promised.” And I will come home soon and find you. Then we’ll be together again.” 

Mother wanted me to leave because she hoped I would have a better future than the miserable life we were living inside prison walls. 
But perhaps she forgot the old cải lương lyric she loved so much “The burdens of life are shared between mother and child.” 
I did not want heaven! I did not want toys. I did not want beautiful clothes. I only wanted Mother. I kicked and struggled in protest. 
Mother held me quietly in her arms. Her eyes were filled with sorrow. 
Part of me hoped she would cry. If she cried, perhaps she would become weak. 
Perhaps she would refuse to let me go. 

But Mother never cried in front of strangers. She had not cried when people brought news that Father had died. 
That night, inside our mosquito net, she told me about Father as though he were a hero from a fairy tale. A brave warrior who fought monsters. A noble man who had now flown into the sky. While she spoke, I could hear her quietly sobbing in the darkness. That was when I first understood what loss meant.

I knew we would never see Father again. Yet I felt proud. My father was a hero. 
And I wanted to be like him.I wanted to protect Mother. I imagined myself as Mother’s little knight. So how could she ask me to leave? 
 Who would wipe away her tears when she was sad? Who would rub her aching back after long days of hard labor? My arms were weak. But my feet were strong. 

That night I clung to Mother with all my strength. I wrapped my legs around her and refused to let go. 
But our farewell came silently. 
While I slept on Aunt Hai’s shoulder in the middle of the night, she carried me out of the prison camp. My parakeet sat quietly inside a backpack on her back. Together, we left Mother behind. And that was the beginning of a separation neither of us could truly understand.

RELEASE FROM PRISON and RETURN TO SAIGON 

When I arrived in Sài Gòn, everything seemed new and astonishing.The streets were crowded with people, bicycles, cars, and endless noise. They told me this was the city where my family had once lived before prison took everything away. 
My grandparents’ house was somewhere nearby. 

When I arrived, everyone welcomed me with love. They bought me new clothes. 
Aunt Hai took me to the zoo. The world outside prison was overflowing with wonders. 
My cousins Thảo and Huyền took turns carrying me to the market. 
Anh Tuấn carried me on his back to visit his friends next door. 

Aunt Ba brought me to the rice shop where I spent entire afternoons watching people come and go. 
And Mother, do you know what happened? For the first time in my life, I had a birthday cake. Aunt Hai bought it for me.There were candles.
There were neighbors and friends.

Everyone sang and laughed. Even my little parakeet got a taste of the frosting. 
We were so happy. 
Yet in the middle of all that happiness, I missed Mother terribly.I wished with all my heart that she could have been beside me. 

My peaceful life with Grandmother’s family did not last very long. 
Soon the paperwork was completed, and I received permission to travel to Switzerland for treatment. Switzerland. A distant country that everyone could only point to on a map The whole family prepared to take me to the airport. 

But my parakeet could not come. Aunt Hai gently explained that animals were not allowed on the airplane. My heart broke. That bird had been my companion since prison. It carried so many memories of Mother and me. 
Leaving it behind felt like losing a piece of my past. Still, I believed I would return. Perhaps in a few years.I would recover. I would become strong. 
And then I would come home to Mother. 
Hadn’t I promised her that? We would stay together until the end of our lives. No matter how difficult life became, we would always find our  way back to each other. 

At the airport, a foreign woman waited for me. I had never seen her before. She carried a photograph to identify me. My family handed me over to her care, and she lifted me into her arms. The exchange happened quietly. No one spoke very much.We did not share a common language. I looked back one last time at my family. I wanted to say goodbye. I wanted to tell them I loved them. But no words came out. Only confused sounds. 

Yet when I looked into the woman’s clear blue eyes, I felt warmth and kindness. Perhaps this journey would not be so frightening after all. For the first time in my life, I flew on an airplane. I loved it immediately. It was larger than any house I had ever seen. It would carry me farther than I had ever dreamed possible. 

Like the magical bird in Mother’s fairy tales, it soared above the clouds, above mountains, above the endless blue sea below. 
I slept peacefully during most of the journey. 
And in my dreams, I promised myself that one day I would return to Mother. I could not truly understand how far Switzerland was from Sài Gòn. 
I only knew it was very, very far away. And somehow, deep inside, I sensed that it would be a very long time before I saw Mother again. The thought frightened me. Could this journey really separate us for so many years?


GOING EVEN FURTHER 

The first years in Switzerland were spent with my foster family. There was Uncle Út, his wife, and their three children.
The children were close to my age. Everyone treated me with kindness. Especially “Madame Vivian,” who cared for me with extraordinary patience and love. But no one spoke Vietnamese. 

I went to school.I learned French. 
I gradually understood that I was living in a country completely different from the world Mother and I had known. 
The food was different. 
The television programs were different. 
Everything was different. 
As the years passed, I adapted to my new life. Sometimes I almost forgot who I had once been. No one talked to me about my family. No one explained my past. No one told me why I had come to this country. It was as though I had been born into a new world that contained only the present and the future. 

Yet somewhere in the deepest corner of my memory, I knew there was still a Mother. 
I did not know where she was. I did not know if she was alive.
I did not know what she looked like anymore. 
Years passed.
More than ten years. And still I wondered. I could never find the words to explain to others how much I missed her. 

When I was 18 years old, according to the law I had to leave my relative’s home to live in another group, where there were only friends with illnesses like mine, totally paralyzed, unable to speak, unable to grasp anything, and with minds as innocent as children even though they were already adults. 

I was a little luckier than them because I could understand everything happening around me (thanks to watching TV often). I could use a computer, even if only with two toes to click the mouse. 
Before, when I wanted to communicate, I would raise my leg to mean “yes,” and lower it to mean “no.” But now my legs are completely deformed and cannot move anymore. 

So I had to use a different signal: sticking out my tongue for “Yes,” and closing my mouth for “No.” The caregivers understood what I wanted, but only in basic daily matters. It was a quiet life among people with disabilities. We were well cared for from meals to sleep and treated warmly like a small family.

On weekends, they would push our wheelchairs outside to watch movies or drink coffee. Sometimes in the summer, we traveled to neighboring countries and joined outdoor activities. Because I could understand French, those moments were very wonderful for me.

Fifteen years living without Mother felt even longer than the time I had lived with her in prison. I had become an adult. My hair and beard grew long if I didn’t cut them for a month. I kept a mustache because it reminded me of my father in a photo I saw at my uncle’s house (my father’s younger brother). I also had a tattoo on my left arm of the word “Snake” in Chinese characters, because it was my zodiac sign.


GOOD NEW ABOUT MOM 

Then one day, someone came to visit me. It was the happiest surprise of my life—Aunt Hoa, an Asian woman who spoke fluent French. She thought I did not understand Vietnamese, so she spoke freely. 

She said she was a friend of my Mother in Vietnam, and that she had come to Switzerland at my Mother’s request to visit me. She told me that my Mother had already released from prison and was now living in Saigon, struggling to make a living, and always hoping for news of me but did not know where to find me. 

Fortunately, she met my mother by chance, then searched online for humanitarian organizations caring for disabled children abroad (Terre des Hommes). 
She found my name there and was overjoyed, so during a business trip she came to visit me. Oh God, I was beyond happy when I heard news about my Mother. 
And surely my Mother must have been incredibly happy too knowing about me. 
Aunt Hoa was like a fairy who connected us again. 
She took many photos of me to bring back to my Mother so she could feel reassured, and she gave me my Mother’s address in Saigon. 

From that moment on, I was constantly restless thinking about my Mother. I realized I was not an orphan, something I had always believed deep inside for so long. No one had told me anything about my family—about my father or my mother. 

Perhaps everyone avoided speaking about such a painful past. But I knew everything, Mother. I understood the indirect words from my relatives on my maternal side. 
I understood the sadness of my paternal family when they saw my disability. 
Sometimes I met Uncle Hai, Uncle Ba (my father’s older Brothers) during family gatherings. In any case, I was still a member of the Tran Thang family. 

Here I had everything for a complete new life, but I still longed to have Mother beside me. The desire to meet her became stronger after Aunt Hoa’s visit brought me news about her in Vietnam. 
I was determined to return to Vietnam to find my Mother, even though it would not be easy for someone like me. 

The letters between us made me even more determined. 
I tried very hard to write emails on the computer to send to Mother, but I only knew French, so what could I do? I had many friends, staff members of the Terre des Hommes organization in Switzerland, young volunteers working in this social organization. 
They were all close friends of mine and helped me translate my emails into Vietnamese so my Mother could read them. 

The first letter sent by post from Switzerland to Saigon talked about everything in my life here. I told Mother that everyone was kind and friendly. 
 A few times I had to go to the hospital for pneumonia, but I was okay, she didn’t need to worry. 
Sometimes I traveled to European countries nearby. I didn’t know how to describe those beautiful places to Mother. 
After I reconnected with her, the postal letters took so long, and when we finally switched to emails. 
I was filled with hope that one day I would return to visit her. 

And it became certain when I started planning a journey across half the world. Not for a few months—but over several years. 
I earned money by selling small Christmas items, handmade greeting cards designed on my computer and printed to sell at flea markets during the end of the year. 

Where I lived, they always encouraged me to be creative. I was treated equally to the point that I almost forgot my physical limitations. I could not feed myself with a spoon, could not stand, could not dance or sing like others... When I lived with Mother, I did not see my difference.

But in this new environment, I realized I was not like other young people. I felt a bit lost, but I never asked Mother why I had to be like this, because I knew she would cry every day if she saw my weak and broken body. 
But I promised her I was not broken in spirit. I lived joyfully with everyone, as if I had never known sadness in the past. Even though sometimes I missed Mother so much, I wanted to cry when remembering her exhausted figure returning from prison labor, carrying me while barely able to lift her arms, her eyes as sad as if it was about to rain. 
My longing for Mother pushed me to earn money to visit her soon. 
I even wrote a small sign in front of my stall: -“I need money to return to Vietnam to see my Mother.” T
hat was the truth I bravely wrote, but the result was surprising. 
People passing by stopped to buy things and even paid more than the value of the items. Kindness and love are always received unconditionally, aren’t they, Mother?

A REUNION AFTER 15 YEARS 

I had two friends, Lucine and Jerome. We began planning a long journey. I had already emailed Mother about it. I would return with them. The organization helped me prepare a detachable wheelchair that could be easily assembled and disassembled for boarding and leaving the airplane. 
Jerome prepared medicine, clothes, essential items for me, including diapers and a food grinder. 
Lucine took care of the passport, embassy procedures, travel arrangements, and expenses for all three of us during the 10-day stay in Vietnam. 
We even searched online to find a hotel near my grandmother’s house, with an elevator and free breakfast, so it would be more convenient. A perfect plan, isn’t it, Mother? 

I left Saigon when I was 9 years old, and now I was returning at 24. Fifteen years had passed. I could not imagine how much everything had changed, but I knew for sure it had been far too long before we could meet again. The plane landed at Saigon airport. The city I vaguely remembered from Mother’s stories about my parents’ 

A REUNION AFTER 15 YEARS 
I had two friends, Lucine and Jerome. We began planning a long journey. I had already emailed Mother about it. I would return with them. The organization helped me prepare a detachable wheelchair that could be easily assembled and disassembled for boarding and leaving the airplane. 

Jerome prepared medicine, clothes, essential items for me, including diapers and a food grinder. 
Lucine took care of the passport, embassy procedures, travel arrangements, and expenses for all three of us during the 10-day stay in Vietnam. We even searched online to find a hotel near my grandmother’s house, with an elevator and free breakfast, so it would be more convenient. A perfect plan, isn’t it, Mother? 

I left Saigon when I was 9 years old, and now I was returning at 24. Fifteen years had passed. I could not imagine how much everything had changed, but I knew for sure it had been far too long before we could meet again. 
The plane landed at Saigon airport. The city I vaguely remembered from Mother’s stories about my parents’ memories and the house where my paternal family once lived in peaceful times. We stood confused among the crowd waiting at the airport, but I recognized Mother immediately when a woman hurried toward me. 

At that moment, Aunt Hoa was speaking with Lucine and Jerome. Oh my God! I wanted to scream with joy, but I could only make sounds in my throat. 
Mother embraced me tightly, tears streaming down her face. The happiest moment of my life was right there when Mother and I finally reunited after so many years apart. 
Everyone went back to my grandmother’s house. I met all the relatives I had known 15 years ago in Saigon, except for my grandfather and my little gecko.
 
My grandfather had passed away a few months earlier, and my parakeet had stopped eating and died from sadness when I was gone. 
My cousin Thao buried it in a pot of apricot blossoms in front of the house. 
Everyone was happy at this reunion. I also learned that after Mother left prison, I had a younger sister. I did not care about the man who later became Mother’s husband. 
I heard he had also passed away. I felt sympathy for Mother’s difficult and lonely life, but everything is fine now. The painful past was gone. 

To be continued soon