Monday, July 13, 2026

Vidéo Thành Phố Orléans Và Nơi Tôi Cư Ngụ - Cập nhật - Nguyễn Duy Phước

Mời xem hình ảnh thành phố Orléans và nơi tôi cư ngụ ở ngoại ô thành phố này cùng với phong cảnh của con sông Loire. 

NdP

 

Sunday, July 12, 2026

9 Bài Học Quý Giá Về Cuộc Sống Để Sống Trọn Vẹn Qua Các Thời Đại

“Không biết số phận thì không thể làm quân tử”. 


9 bài học quý giá về cuộc sống” tiếp thu tinh hoa tư tưởng cốt lõi của Nho – Phật – Đạo, dung hợp các lời răn dạy dân gian và trí tuệ truyền thống. Mỗi câu đều ẩn chứa một thái độ sống thấu suốt. Dưới đây là giải thích chi tiết từng bài học:

 
Bài học thứ nhất: Trong mệnh có thì ắt sẽ có, trong mệnh không có thì đừng cưỡng cầu
Câu này bắt nguồn từ tư tưởng Nho gia “tri thiên mệnh” và Đạo gia “thuận theo tự nhiên”. Đây là tục ngữ dân gian, những cách diễn đạt tương tự có thể thấy trong Tăng Quảng Hiền Văn và các tuyển tập cách ngôn khuyên đời thời Minh – Thanh, nhấn mạnh quan điểm sống “an phận tri mệnh”.

Ý nghĩa không phải phủ nhận nỗ lực, mà nhấn mạnh sự cân bằng giữa “làm hết sức người, nghe theo mện trời”. Khi còn trong khả năng thì dốc toàn lực; khi kết quả vượt ngoài tầm kiểm soát của con người thì nên bình thản buông bỏ, tránh tự làm hao tổn nội tâm vì quá chấp trước được–mất. Điều này tương thông với tư tưởng trong Luận Ngữ: “Không biết mệnh thì không thể làm quân tử”, dẫn dắt con người tìm được điểm tựa giữa tiến thủ và thản nhiên.

Bài học thứ 2: Trên đời vốn chẳng có việc gì, kẻ tầm thường tự làm mình rối loạn
Câu này xuất xứ từ Tân Đường Thư – Lục Tượng Tiên truyện, nguyên văn:
“Thiên hạ bản vô sự, dung nhân nhiễu chi vi phiền nhĩ”
(Thiên hạ vốn không có việc gì, chỉ là kẻ tầm thường tự làm rối loạn mà thôi).

Lục Tượng Tiên làm quan chủ trương xử sự khoan hòa, câu nói vốn dùng để răn dạy cấp dưới đừng quá chấp nhặt chuyện vụn vặt. Về sau, nó lan truyền trong dân gian, trở thành một triết lý sống, thể hiện tư tưởng “vô vi” của Đạo gia theo cách bình dân.

Giải nghĩa và trí tuệ: Phần lớn phiền não trong đời không đến từ sự việc, mà từ sự suy nghĩ quá mức, nghi kỵ và tính toán của lòng người. Trang Tử nói: “Con người sinh ra đã cùng lo âu mà sinh”. Kẻ tầm thường dễ bị cảm xúc chủ quan phóng đại nỗi khổ, còn người trí tuệ thì nhìn thấu bản chất sự việc, không để tạp niệm trói buộc, dùng tâm thanh tịnh để tiếp nhận mọi điều.

Bài học thứ 3: Trước khi ngủ hãy tha thứ tất cả, khi tỉnh dậy đừng hỏi chuyện đã qua
Câu này không có nguyên văn tương ứng trong kinh điển cổ, nhưng kết tinh trí tuệ truyền thống về “khoan dung” và “buông bỏ”. Tư tưởng cốt lõi có thể truy về Phật giáo với “buông xả chấp niệm”, Nho gia với “thử Đạo” (khoan dung với người), và tương thông với tâm cảnh thấu đạt của Hoằng Nhất pháp sư: “Đời người tựa nắng chiều núi Tây, phú quý rốt cuộc như sương trên ngọn cỏ”.

Đây là một trí tuệ sinh tồn mang tính tự hòa giải. Cuộc đời vốn không hoàn hảo; những ân oán, tiếc nuối, sai lầm trong quá khứ nếu cứ day dứt suốt đêm chỉ khiến con người mang gánh nặng mà bước đi. Trước khi ngủ hãy “dọn sạch” cảm xúc tiêu cực, tha thứ cho người khác cũng là tha thứ cho chính mình; khi tỉnh dậy, chuyên tâm vào hiện tại, không bị quá khứ trói buộc, mới có thể nhẹ nhàng tiến bước.

Bài học thứ 4: Tâm bình có thể chữa 3.000 bệnh, tâm tĩnh có thể thông suốt muôn lẽ
Tư tưởng này bắt rễ từ học thuyết “tình chí sinh bệnh” (Cảm xúc và trạng thái tinh thần có thể sinh ra bệnh tật) của Đông y và quan niệm “tĩnh sinh tuệ” (bình tĩnh sinh ra trí tuệ) của Đạo gia. Hoàng Đế Nội Kinh nói: “Giận hại gan, lo nghĩ hại tỳ”, nhấn mạnh ảnh hưởng của cảm xúc đối với thân thể; Đạo Đức Kinh có câu “Trí hư cực, thủ tĩnh đốc”, khẳng định rằng sự tĩnh lặng giúp con người nhìn thấu bản chất sự việc.

Tâm thái ôn hòa có thể ngăn ngừa phần lớn bệnh tật thân–tâm, nội tâm tĩnh lặng giúp con người nhận ra quy luật trong sự hỗn tạp. Cảm xúc xao động che mờ lý trí; chỉ khi lắng lòng, ta mới tìm được lối ra trong nghịch cảnh và giữ được bản tâm giữa ồn ào. Đây là cách diễn đạt giản dị của quan niệm “thân tâm hợp nhất”, nhắc nhở con người coi trọng việc tu dưỡng nội tâm.

Bài học thứ 5: Thân ở cõi phàm nhiều phiền não, người “khó mà hồ đồ” mới được nhàn thanh
Trịnh Bản Kiều lúc về già đã đề bốn chữ ‘Khó mà hồ đồ’, kèm lời tựa: “Thông minh đã khó, hồ đồ đã khó, từ thông minh mà chuyển sang hồ đồ lại càng khó hơn”. Câu nói ấy trở thành minh triết sống được lưu truyền rộng rãi.

“Hồ đồ” ở đây không phải ngu dốt thật sự, mà là cái đại trí nhược ngu. Biết “hồ đồ” trong những việc không thuộc nguyên tắc, không sa đà vào tiểu tiết, không cưỡng cầu người khác phải hoàn hảo—nhờ vậy mới giữ được sự thong dong, an nhiên giữa thế sự phức tạp.

Bài học thứ 6: Làm người, phẩm hạnh lộ ở tiểu tiết; đức dày, luôn có lòng biết ơn
Tư tưởng tương tự có thể thấy trong Chu Dịch: “Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật”, có nghĩa là Đất có đức tính mềm mại, khiêm nhường và bao dung, có thể nâng đỡ vạn vật; người quân tử noi theo đó mà lấy đức dày làm nền tảng để gánh vác chúng sinh và sự việc trong đời. Trong Đệ Tử Quy có câu: “Có ơn nên báo, có oán nên quên”—đó là đạo đức truyền thống được diễn đạt một cách mộc mạc trong bối cảnh hiện đại.

Cao thấp của nhân phẩm không nằm ở những lời tuyên bố lớn lao, mà ẩn trong từng lời nói, hành vi nhỏ nhặt. Cách đối nhân xử thế, lựa chọn trước lợi ích, có biết tri ân và đền đáp hay không—tất cả đều là thước đo phẩm hạnh. Chỉ khi nuôi dưỡng đức dày, giữ vững lương tâm, và biết cảm ơn những gì người khác đã trao, ta mới gặt hái được niềm tin lâu dài và phúc báo bền vững—đó chính là nền tảng để đứng vững giữa đời.

Bài học thứ 7: Tu thân lấy thanh tâm làm cốt yếu, bước vào đời lấy thận ngôn làm đầu
Tư tưởng này dung hòa giữa Nho gia “tu kỷ” và Đạo gia “thận ngôn”. “Tu kỷ” xuất phát từ Luận Ngữ · Hiến Vấn: “Tu kỷ dĩ kính”, nhấn mạnh việc tự rèn luyện bản thân; còn “thận ngôn”(Cẩn thận trong lời nói) có thể thấy trong Đạo Đức Kinh: “Đa ngôn sổ cùng, bất như thủ trung”, nhắc nhở về chừng mực trong lời nói.

Cốt lõi của việc tu dưỡng bản thân là giữ cho nội tâm thanh tịnh, không để dục vọng lôi kéo; nguyên tắc hàng đầu khi giao tiếp với đời là cẩn trọng trong lời nói, không buông lời tùy tiện. Nói nhiều ắt sai.

Bài học thứ 8: Đời người sao có thể nhiều điều như ý, vạn sự chỉ cầu nửa phần vừa lòng
Câu này bắt nguồn từ một đôi câu đối ở chùa Linh Ẩn (Hàng Châu), thể hiện sự kết hợp giữa tư tưởng Phật giáo “tri túc thường lạc” (Biết đủ là hạnh phúc) và Nho gia “trung dung chi đạo” (Đạo Trung Dung).

“Nửa phần vừa lòng” không phải là sự thỏa hiệp tiêu cực, mà là thái độ bình thản chấp nhận những khiếm khuyết của đời người. Vạn vật ở đời đều khó trọn vẹn; nếu cứ cố chấp đòi hỏi “mọi sự hoàn hảo”, con người chỉ rơi vào vòng xoáy lo âu và thất vọng. Học cách chấp nhận cái chưa tròn đầy, tìm sự cân bằng giữa được và mất, ta mới có thể nếm trải chân vị của cuộc sống trong sự bình dị.

Bài học thứ 9: Hoa nở hoa tàn hoa không hối tiếc, duyên đến duyên đi duyên như nước
“Hoa nở hoa tàn” thường xuất hiện trong thơ Đường – Tống, như câu của Lý Hậu Chủ: “Nước chảy hoa rơi xuân cũng tàn”, tượng trưng cho sự tuần hoàn của tự nhiên và lẽ vô thường của đời người; còn “duyên đến duyên đi” bắt nguồn từ tư tưởng Phật giáo về nhân duyên hòa hợp, nhấn mạnh rằng mọi sự đều có định số.

Hoa nở hay hoa tàn đều là quy luật tự nhiên, không cần hối tiếc; sự gặp gỡ hay chia ly giữa người với người, giữa người với việc, tựa như dòng nước chảy—đến thì đến, đi thì đi, không nên cưỡng cầu. Điều đó nhắc nhở con người dùng tâm thế ung dung để đối diện với những hợp tan trong đời, và trân trọng từng nhân duyên đang có.

“9 bài học của cuộc sống”, từ việc chấp nhận được – mất, buông bỏ chấp niệm, cho đến tu thân lập đức, chấp nhận sự vô thường của đời người, bao quát cả sự tu dưỡng nội tâm lẫn cách ứng xử ngoài đời. Để mỗi con người đang sống giữa cõi phàm tục, đều có thể tìm thấy sự an yên trong tâm hồn.

Lý Ngọc Theo Vision Times

Đành Thôi - Trầm Vân


Nhớ Cái Bánh Ú Của Ba Tôi - Đàm Ngọc Tuyên


Nhiều năm rong ruổi trên những con đường của đất nước này, mỗi khi nhìn thấy cái bánh ú, bao nhiêu ký ức xưa lại ập đến với tôi, bàng bạc không thể thành lời.

Những hương vị làm nên tuổi thơ tôi, cùng những ký ức về người cha quá cố, là những cái bánh ú mà ông đã đi dọc trên những con đường quê, nuôi lớn những đứa con trong thời khốn khó. Những chiếc bánh ú như phao cứu sinh cho người đàn ông đi tù cải tạo ngơ ngác trước biển đời đổi thay, trở về, đưa cả cuộc đời ông cùng gia đình qua một chương mới.


Ba tôi sinh ra và lớn lên ở vùng quê miền núi trung du, ven con sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1964, khi vừa thi xong Tú Tài bán phần, tức Tú Tài 1, theo lời kêu gọi tổng động viên, ba tôi vào quân đội, cầm súng chống lại quân cộng sản BắcViệt, bảo vệ miền Nam Việt Nam,mà nói gần hơn, là bảo vệ ngôi nhà có mẹ và các anh em của tôi.Lúc đó tiếng súng xâm lược mỗi lúc càng gần kề.

Trong quân ngũ, ông phục vụ ở quân đoàn Thiết Giáp, mặt trận chính là ở Vùng 2 Chiến thuật, đóng quân ở Căn cứ Chu Lai. Đầu năm 1975, quân đoàn của ông được lệnh rút về cố thủ ở thủ đô Saigon. Biến cố 30 Tháng Tư 1975 xảy ra, ba tôi cũng như bao người dân khác ở miền Nam Việt Nam, trở thành người mất nước. Đặc biệt, cái lý lịch “sĩ quan ngụy” với 11 năm ở chiến trường, khiến ba tôi trở thành “giặc,” thành “kẻ thù” trong mắt chính quyền cộng sản. Ông bị đi tù, mà họ gọi là “học tập cải tạo.”


Sau gần 2 năm tù tội, do sức khỏe yếu nên ba tôi được trả về nhà. Quả thật nước mất thì nhà tan. Nhưng người dân miền Nam Việt Nam nói chung, và “lính ngụy” như ba tôi nói riêng, nếu chưa bị giết chết thì vẫn phải tiếp tục sống. Sống như một công dân hạng hai.

Cuộc sống lúc đó vô cùng khó khăn, ba tôi trằn trọc nhiều đêm để nghĩ cách làm sao để nuôi lớn được anh em tôi và giữ được gia đình mình. Dù là công dân hạng hai, dù là thành phần bị coi là kẻ thù của chế độ mới, bị đẩy ra lề xã hội thì con cái vẫn phải làm sao để được đến trường, và gia đình cũng phải có được miếng ăn. Ba hay nói với mấy anh em tôi rằng, gia cảnh mình nghèo, nên gia tài của ông để lại cho chúng tôi chỉ có những bài học nhân nghĩa làm người và con chữ mà thôi. Rồi khi đứa em út của tôi ra đời, khiến cảnh nhà đã khó khăn lại càng thêm lam lũ. Lúc này má tôi đã không còn được buôn bán gạo ở chợ quê, gánh nặng mưu sinh càng đè nặng lên vai ba tôi.

Cái bánh ú từ đó mà ra đời. Để kiếm tiền độ nhật, ba tôi quyết định gói bánh ú để bán hằng ngày. Thứ bánh ú được gói bằng một “bí quyết” riêng mà may mắn thay, ba tôi đã học từ bà nội, mỗi khi bà làm trong những ngày giỗ, chạp, mà khách nào đến, hễ ăn là cứ muốn ăn nữa.


Những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước, bánh trái ngày thường mặc dù rất hiếm, người dân ở quê thắt lưng buộc bụng nên không dễ mà bỏ tiền ra mua ăn. Những cái bánh ú đầu tiên, ông mang đi rao, bán dạo cả ngày trên những con đường quê, mà chẳng được bao nhiêu. Sau đó, ba tôi quyết định mỗi ngày mang bánh ra chợ bán. Chợ thì xa, cách nhà hàng chục cây số, hơn nữa đường sá lại vô cùng khó đi, đầy ổ voi, ổ gà. Nhưng bán được một cái thì nhà lại có thêm được một chút phần ăn cho anh em tôi ngày hôm đó, nên ba tôi không ngại nhọc, chứ sáng sớm là lại lên đường.


Cũng nên nói một chút về chuyện làm bánh ú của ba. Cứ mỗi buổi trưa ba tôi ra vườn cắt lá chuối chát (miền Trung gọi vậy, còn miền Nam là chuối hột). Về sau lá chuối phải đi mua lại từ hàng xóm hoặc ở chợ. Lá chuối sẽ dùng vải (áo cũ) lau sạch, mang phơi nắng cho hơi héo, để khi gói bánh, lá chuối không bị rách. Thời gian phơi nắng, là lúc ba tôi chẻ lạt cột bánh, cũng từ bẹ cây chuối chát. Xong công đoạn này, ông đi làm nhân bánh và “gút” nếp. “Gút” nếp là phương ngữ quê tôi, nói về việc mang nếp ngâm nước nhiều giờ, rồi vớt lên rổ để cho rút nước trước khi gói bánh. Có lẽ tên gọi “gút” do đọc trại từ “rút” mà ra chăng? Tương tự, đậu xanh đã bỏ vỏ cũng đem ngâm nước, rồi nấu tương đối nhuyễn, cho đường vào vừa ăn, sau khi để nguội thì lấy phần vừa đủ vo tròn, để làm nhân bánh. Nhân bánh ú của ba tôi làm luôn có hương vị đặc trưng, là hương quế. Tôi hay phụ giúp ông giã mịn vỏ cây quế, với một lượng nhất định do chính ông lấy. Vì nếu nhiều quá thì nhân bánh sẽ quá nồng, thậm chí bị đắng. Còn ít quá thì bánh không đủ hương thơm.

Mỗi ngày ba tôi gói khoảng 200 cái bánh ú để bán trong một buổi chợ. Lúc bấy giờ, một chục bánh (12 cái) có giá 2,000 đồng. Người dân ở thị xã thường hay mua nửa chục trở lên. Nhờ bánh của ba tôi rất ngon, với hương quế đặc trưng không giống ai. Hơn nữa với thủ thuật gói của ông,khi nấu nước không lọt vào bên trong, bánh vẫn chín đều, dẻo ngọt chứ không bị ướt, nhão.


Cứ thế, trong đêm bánh nấu chín xong, thì ba tôi vớt ra treo cho ráo nước. Tinh mơ, ông thức dậy, một nửa bánh thì treo ở ghi-đông xe đòn-dông, nửa còn lại cho vào giỏ xách cũ, cột ở ba-ga phía sau, rồi đạp ra chợ thị. Trời thương, tiếng lành đồn xa, hàng bánh ú của ba tôi thường bán hết sớm, ông lại tất tả đạp xe trở về, lo gói bánh cho ngày hôm sau.

Cũng từ đó, những khi có giỗ chạp, người ta hay đặt ba tôi gói hàng trăm bánh. Hay những ngày Rằm, Mùng 1, thì lượng bánh gói bán thường gấp đôi. Còn vào những ngày gần Tết Nguyên Đán, cả nhà chúng tôi liên tục gói và nấu bánh cho khách. Nhờ vậy, mà cuộc sống gia đình tôi dần dần ổn định hơn. Ai mà ngờ rằng chuyện gói bánh nhà quê của bà nội tôi, chỉ trong phút chốc truyền lại cho đứa con, mà nhờ đó cả gia đình của tôi đã đi qua được cả một thời khốn khó. Có những hôm trời mưa hay chợ ế, cả nhà hôm đó toàn ăn bánh ú thay cơm. Nhớ lại lúc đó anh em chúng tôi thích lắm vì được ăn bánh thả ga. Sau này lớn lên mới hiểu là ba má tôi khi đó lo biết chừng nào, vì vốn ít, lấy công làm lời cho nên bữa nào ế hàng là đều lo ngay ngáy.


Một hôm, đang gói bánh thì ba tôi nhận tin, em trai của bà Nội tôi qua đời. Má tôi hối thúc ông bỏ mọi việc về quê chịu tang nhưng lo nhà không có tiền cho hôm sau, ông cố nán lại gói bánh cho xong, rồi đội nón đi trong đêm. Ba vừa gói bánh mà vừa khóc. Đôi lúc nhớ lại, tôi cũng không biết là ba khóc thương vì người thân đã mất, hay khóc cho người cuộc đời của mình, hay cho chúng tôi.

******

Gần nhà tôi lúc này, có một bà cụ chiều chiều lại đem bánh ú ra ngồi bán, nhìn cụ tôi lại nhớ biết bao nhiêu điều đã đi qua trong đời mình với hình ảnh chiếc bánh ú đó. Từ những cái bánh ở làng quê nghèo, mà ba tôi đã nuôi chúng tôi khôn lớn, vượt qua nghịch cảnh của đời mình và cũng như của quê hương mình khi tàn cuộc chiến.Về sau dù khôngcòn bán bánh nữa nhưng những ngày đặc biệt của gia đình, ba tôi đều gói một ít bánh ú, để cả nhà cùng ăn, như để ôn về một thời khốn khó.


Từ khi ba mất, tôi đã không còn thú vui được ăn thứ bánh ú có hương vị đặc biệt này nữa.Suốt những tháng năm đó, tôi vẫn mãi đi kiếm tìm nhưng có lẽ không tìm thấy cái bánh ú nào gói ngon bằng thứ bánh mà chính tay ba tôi đã làm. Có thể tôi cố chấp, nhưng cũng có thể hương vị của cái bánh ú trong thời của nhọc nhằn và cay đắng đó đã cộng hưởng thành một ký ức không thể nào quên, mà dẫu đã đi qua, sao vẫn cứ nhớ về.


Đàm Ngọc Tuyên

Nam Kỳ Hào Sảng


"Tôi chả thấy dân Nam hào sảng gì cả, có được cho, được nhận gì bao giờ đâu".

Khi đọc những dòng bình luận về sự hào sảng ở trong Nam, tôi khá buồn và nghĩ có lẽ bạn đang nhìn sai thước đo.

Bạn đang nhầm giữa hào phóng và hào sảng.
Có những thứ không thể  “thấy”, “nhận” theo kiểu thông thường. Nhiều khi phải sống cùng, đi qua vài chuyện, rồi mới cảm được.

Khí chất hào sảng Nam Bộ không chỉ ở tiền.  Ở Sài Gòn, ở miền Tây, nhiều khi nó là không khí.

Một ngày nọ, tôi ngồi ở Starbucks trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Nếu bạn chưa biết thì ở chỗ đó, quán không nhận tiền mặt. Có một cụ lớn tuổi đứng loay hoay muốn mua chút đồ, nhìn có vẻ là mua quà cho con cháu. Cụ lựa rất lâu, trầm ngâm tới lui, cuối cùng cũng ưng được hai món.

Tới lúc thanh toán mới kẹt. Cụ chỉ có tiền mặt, mà quán không nhận tiền mặt. Tôi thấy vậy nên bước tới, nói để cháu quẹt thẻ giúp, cụ đưa lại tiền mặt cho cháu là được.

Chuyện nhỏ thôi, không có gì đáng kể. Nhưng lúc đó, tự nhiên trong tôi bật lên rất nhiều chuyện cũ, như có ai khều nhẹ vô một cái ngăn ký ức đã lâu không mở.

Hồi nhỏ, tôi từng đi học trên những con đường đất sét ở một vùng quê nghèo. Mùa mưa, nước ngập tới đầu gối. Sáng đi rất sớm, chiều về nếu ba mẹ không đón được thì hai chị em cứ đi bộ mấy cây số về nhà. Trên đường thấy cô chú nào chạy ngang, tôi lại học lỏm một câu cửa miệng:

Cô ơi, chú ơi, cho con có giang (quá giang) về nhà.

Đa phần người ta đã chạy huốt qua (chạy lố) rồi mới dừng lại, quay đầu nhìn lại rồi kêu: Lên xe đi con.

Có khi họ chở một đoạn. Có khi không tiện thì thôi. Nhưng chỉ cần một người dừng lại, đoạn đường sình lầy hôm đó tự nhiên ngắn hơn rất nhiều.

Năm tôi mới lớp 3, mẹ tôi bị tật đãng trí đã lâu. Có hôm đưa hai đứa con đi học xong, mẹ quên mất chuyện phải đón. Hai đứa nhỏ cứ đinh ninh rằng mẹ sẽ lấy xe đạp ra rước, nên ngồi đợi miệt mài.

Tới tối khuya, ba tôi đi làm về hỏi: Con đâu em?
Cả nhà mới tá hỏa, hai đứa nhỏ vẫn còn ở trường.

Lúc đó trường đang xây mới mấy dãy phòng. Mấy chú thợ hồ thấy hai đứa nhỏ ngồi đợi tội quá, mới lôi vô căn tin, kêu bà chủ nấu cho hai gói mì con tôm. Các chú định trả tiền, mà bà chủ căn tin cũng không lấy, nói coi như cho con cháu trong nhà ăn.

Hai gói mì con tôm hồi đó, tính bằng tiền thì không đáng bao nhiêu. Nhưng với hai đứa nhỏ ngồi trong một cái trường vắng, chờ hoài không thấy ai tới đón, nó lớn hơn rất nhiều so với giá tiền của nó.

Nó làm mình nhớ hoài.

Tôi hay ăn cơm Má Tư ở Trần Cao Vân.
Tôi gọi má, gọi tía, vì thật sự không khác gì ăn cơm nhà. Nhiều người đi cùng tôi chắc sẽ thắc mắc, sao đi ăn quán mà gọi thân như vậy. Nhưng nếu họ ngồi đó đủ lâu, ăn vài bữa, nghe vài câu chuyện, họ sẽ hiểu.

Có lần tôi ăn cơm gặp mưa, má Tư nói:
Đi vô trong xếp mấy cái ghế lại nằm ngủ trưa tí đi con. Mưa đầu mùa đi mắc mưa là bịnh nha con.

Vậy là tôi ăn cơm xong, vô trong quán xếp ghế nằm ngủ quên luôn tới chiều. Quán mát, trời mưa lả tả, mà tôi thì mất ngủ kinh niên, gặp bữa ngủ được là ngủ sâu. Buồn ngủ gặp chiếu manh.

Nghe rất khó tin, nhưng với tôi lại rất bình thường. Có những chỗ ở Sài Gòn không chỉ bán cho mình một dĩa cơm. Nó cho mình một chỗ để ngồi xuống, nghỉ ngơi, thấy mình không phải người khách lạ.

Ở Sài Gòn, chuyện ăn cơm, uống cà phê xong phát hiện có ai đó đã trả tiền giùm mà mình không biết là ai, cũng không phải chuyện lạ. Tôi từng gặp nhiều lần, và nhiều khi chính tôi cũng làm vậy. Không phải để ai mang ơn. Nhiều khi chỉ thấy hạp thì làm, thấy người ta vui thì mình vui thôi.

Có lần tôi đi ăn bún riêu ngoài Hồ Con Rùa, gần đó có một nhóm anh em thợ xây dựng đang sửa công trình. Trong nhóm có một anh dẫn theo đứa con trai nhỏ đi phụ, nhìn rất tội. Ăn xong, mấy anh gọi tính tiền thì quán nói bàn kia đã thanh toán hết rồi, có để lại lời nhắn: Trả tiền cho thằng cháu nội.

Anh có con nhỏ ngơ ngác hỏi:

Ủa, tui có quen ai đâu mà được tính tiền giùm, thằng cháu nội nào vậy? thằng con tui hả? Ba tui đi bán muối lâu rồi.

Rồi cả nhóm cười khà khà, kiểu cười rất miền Nam. Vui vì cái sự dễ thương ngang hông đó.

Người trả tiền chắc cũng đi mất rồi. Không để lại tên, không cần ai mang ơn. Chỉ có cái câu “thằng cháu nội” ở lại, nghe vừa mắc cười, vừa thương, vừa rất Nam Bộ.

Miền Tây còn rõ hơn nữa. Bạn lỡ đường, ghé đại một nhà xin miếng nước, xin nghỉ nhờ một lát, nhiều khi người ta không hỏi bạn là ai trước, mà hỏi bạn ăn cơm chưa. Cái bụng người miền Tây nhiều khi vậy đó, rộng như cái sân trước nhà, có gì dọn nấy, không giàu cũng không để khách đứng ngoài mưa.

Người xưa nói người Gia Định trọng nghĩa khinh tài. Hồi nhỏ đọc mấy chữ đó tôi thấy xa lắm, tưởng là chuyện trong sách. Lớn lên mới hiểu, có những câu không phải tự nhiên mà sống lâu. Nó sống được vì vẫn còn nằm trong cách người ta đưa cái ly nước, dọn thêm chén cơm, quay đầu xe giữa đường, nấu hai gói mì cho hai đứa nhỏ ngồi đợi mẹ.

Còn ai hỏi hào sảng, khảng khái có từ khi nào, chắc phải hỏi cụ Nguyễn Đình Chiểu, người sinh ra ở đất Gia Định. Cú phán của cụ trong Lục Vân Tiên, tới giờ đọc lại vẫn nghe như một tiếng chân bước thẳng vô chuyện bất bình:

Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.

Không cần nhiều lời. Thấy chuyện không đành lòng thì ghé lại. Có cây thì bẻ cây, có tay thì đưa tay, có một bữa cơm thì mời ăn một bữa cơm.

Cái hào sảng đó không nằm ở chỗ người ta có dư bao nhiêu để cho, bao ai ăn uống. Nó nằm ở chỗ, trong khoảnh khắc thấy người khác bị kẹt, người ta không nỡ để mặc.

Nó cũng khác với câu “lá lành đùm lá rách”.
Lá lành đùm lá rách là một đạo lý đẹp, nhưng trong đó vẫn có hình ảnh người còn lành che cho người đang rách, người có điều kiện hơn đỡ người khó hơn.

Còn hào sảng miền Nam nhiều khi không đặt ai ở trên, ai ở dưới. Nó không cần người kia phải khổ tận cùng mới giúp, cũng không cần người giúp phải dư dả gì. Thấy người ta kẹt thì gỡ giùm một chút, thấy thương thì làm, thấy hợp bụng thì đãi, làm xong cười khà khà rồi thôi.

Người được giúp không thấy mình bị ban ơn, người giúp cũng không thấy mình đang làm chuyện tốt chuyện lớn lao.

Cái hay nằm ở chỗ đó.

Trong người tôi là những ký ức của một đứa nhỏ từng được rất nhiều người lạ chìa tay ra. Một đứa nhỏ từng đứng bên đường sình lầy xin quá giang, từng ngồi trong trường vắng tanh ăn hai gói mì con tôm, từng ở những quán cơm mà chủ quán xem mình như con cái, từng thấy có người trả tiền bữa ăn rồi đi mất, không để lại cái tên nào cho mình mang ơn.

Thành ra sau này, khi thấy ai đó đang kẹt, tôi hay bị một cái quán tính rất lạ: đưa tay ra trước rồi tính sau.

Có lẽ hào sảng miền Nam là vậy.

Nó không ồn ào như một bài học đạo đức, cũng không sang trọng như một lời tuyên bố về lòng tốt. Nó giống hơi nước trong một căn bếp đang nấu cơm, không ai chỉ vô đó để khoe, nhưng bước vô là thấy ấm.

Hào phóng là rộng tay. Hào sảng là rộng lòng, rộng bụng, rộng cái khí chất của con người.
Vậy nên tiền bạc, vật chất chưa bao giờ là thước đo đúng nghĩa cho hai chữ hào sảng.

Hào sảng miền Nam, rốt cuộc, không phải là mình có bao nhiêu tiền, có cho ai cái gì không.

Mà là tới lúc người khác bị kẹt, chuyện đưa tay ra mình thấy nó như chuyện tất yếu, như cần không khí để thở.

Bài này tôi chỉ viết từ một góc nhìn hẹp câu chuyện thật của một người Sài Gòn.

Tôi cũng có một người anh, cũng là người thầy, giai Hà Nội. Mỗi lần em ra ngoài ấy, hễ nói thuê hotel ở là bị mắng liền: “Ra nhà anh mà ở, mày dở hơi à?” 😊

Rồi có cu em cũng dân Hà Nội, biết tôi thích uống nước “đẹp”, nó đem từ tận ngoài đó vào biếu một hũ sấu ngâm. Tôi hỏi: “Bộ trong đây không có hả?”
Nó nói: “Làm sao ngon bằng em đem tận gốc vô biếu anh được.”

Nên tôi nghĩ cái tình, cái nghĩa, cái sự rộng lòng thì vùng nào cũng có. Bài này chỉ là một lát cắt nhỏ về cái không khí tôi đang sống và cảm nhận ở Sài Gòn.


 #byluminhtri

Kim Duncan chuyển

Saturday, July 11, 2026

Small Man. Tall Wife. You’re NOT Ready For This - America's Got Talent (AGT)

Mời xem màn trình diễn thật xuất sắc của người lùn được khán giả nhiệt tình tán thưởng

Trắng Phai Tóc Gầy - Đỗ Công Luận


 

Làm Thế Nào Nhận Ra "Mùi AI" - Hoàng Lan Chi


LGT: sau này tôi quá ngán ngẩm vì đọc bài nhiều người thì … toàn mùi AI. Từ những người “dốt văn” không biết viết đến những người giỏi viết. Người “viết giỏi” lẽ ra nên edit lại để bài viết “thật” hơn. Không nên copy nguyên xì. Lý do, chatgpt có kiểu viết bài rất “đặc trưng” và tôi nhận ra ngay. Đó là dài ngoằng, xuống hàng liên tục, icon tràn lan, bàn tay tá lả. Nội dung thì toàn danh từ nghe nổ lốp bốp..Tôi có thể cung cấp abcd và nhờ AI viết nhưng tôi edit lại và có ghi chú ( AI viết lại) để coi như ( tôi KHÔNG lường gạt độc giả của tôi). Cũng như tôi luôn ghi lời HLC, nhạc AI chứ không bao giờ ghi (nhạc và lời Hoàng Lan Chi) cả!

Dưới đây là đối thoại giữa chatgpt và tôi. Khá thú vị. Vì chính AI sẽ giúp chúng ta nhận ra “mùi vị AI”. Tương tự khi xem clip, hãy từ từ vì có thể là sản phẩm AI!

 

Hoàng Lan Chi hỏi : Chào bạn. Hiện giờ tình trạng nhiều người không viết bài mà cho vài chi tiết abcd rồi nhờ bạn viết. Sau đó đăng. Nếu sau này, có ai đó hỏi về người đó thì chatgpt sẽ search và cuối cùng sẽ căn cứ vào toàn bộ bài của họ nhưng thực chất là của chatgpt viết dùm. Nếu như vậy thì đâu còn đúng nữa, phải không?

Chatgpt: Bạn đang nêu đúng một vấn đề khá “nhức đầu” của thời đại AI: khi nội dung do AI viết ra nhưng lại được gắn như là tiếng nói, quan điểm, hay “chất xám” của một con người cụ thể.

Nói thẳng ra: nếu ai đó chỉ đưa vài ý sơ sài rồi nhờ AI viết thành bài hoàn chỉnh và đăng như sản phẩm cá nhân, thì về bản chất nó không phản ánh đầy đủ năng lực, tư duy hay phong cách thật của người đó. Nếu sau này hệ thống (như tôi hoặc các công cụ khác) tổng hợp thông tin về người ấy dựa trên những bài đó, thì đúng là có nguy cơ tạo ra một “hình ảnh bị lệch”—một phiên bản được “đánh bóng” hoặc thậm chí không thật.

Nhưng có vài điểm cần nhìn cho cân bằng: có thể nhìn hay lúc đầu, nhưng khó tạo uy tín bền vững.         

  • AI không “tự đi search và tin tuyệt đối” vào mọi thứ trên mạng. Nó (khi có truy cập thông tin) sẽ cố gắng tổng hợp từ nhiều nguồn, so sánh độ tin cậy, và nhận diện mâu thuẫn. Những nội dung “na ná nhau”, thiếu chiều sâu, hoặc mang dấu hiệu chung chung thường không có giá trị cao.
  • Việc dùng AI để chỉnh sửa, diễn đạt lại, hay hỗ trợ viết không hẳn là sai. Nó giống như dùng người biên tập. Vấn đề nằm ở chỗ: người dùng có thực sự hiểu, kiểm soát, và chịu trách nhiệm nội dung hay không.
  • Về lâu dài, các hệ thống (và cả người đọc) ngày càng giỏi nhận ra nội dung “rỗng”, viết trơn tru nhưng thiếu trải nghiệm thật. Những bài kiểu đó có thể nhìn hay lúc đầu, nhưng khó tạo uy tín bền vững. 


Nói ngắn gọn: bạn đúng — nếu lạm dụng kiểu “AI viết hộ hoàn toàn”, thì thông tin về con người đó có thể bị sai lệch. Nhưng đồng thời, hệ thống và người đọc cũng không hoàn toàn “ngây thơ” để tin hết.

Nếu bạn muốn, mình có thể phân tích sâu hơn: làm sao để phân biệt bài “có hồn thật” với bài do AI viết, hoặc cách dùng AI mà vẫn giữ được tiếng nói cá nhân.

Hoàng Lan Chi : Cá nhân tôi "đọc" là "biết mùi AI" vì danh từ hay, nghe rất "kêu" nhưng abcd! Tuy vậy, bạn cứ phân tích làm sao phân biết đi

Chatgpt: Bạn “ngửi ra mùi” là có cơ sở đấy, nhưng nói thật: không có dấu hiệu nào chắc 100% để kết luận một bài là do AI viết. Cách tốt nhất là nhìn tổng hợp nhiều dấu hiệu nhỏ. Khi ghép lại, bạn sẽ thấy “cái hồn” của bài viết lộ ra khá rõ.

Trước hết là cách dùng từ. Bài AI thường thích những danh từ, tính từ nghe rất kêu, rất tròn trịa kiểu “giải pháp tối ưu”, “giá trị cốt lõi”, “hành trình bền vững”, “tầm nhìn chiến lược”… nhưng lại thiếu chi tiết cụ thể đi kèm. Người viết thật thì hay có những từ “lệch chuẩn” một chút, đôi khi thô hoặc rất đời, nhưng lại trúng cảm giác.

Tiếp theo là độ cụ thể của trải nghiệm. Bạn thử để ý: người thật thường có những chi tiết rất “lặt vặt” nhưng sống động—một con số không tròn, một tình huống hơi ngượng, một lỗi sai cụ thể, hay một câu nói nguyên văn. AI thì hay nói đúng nhưng… sạch quá. Ví dụ: “tôi gặp khó khăn và học được bài học quý giá” nghe ổn, nhưng không cho bạn hình dung được chuyện gì đã xảy ra.

Một dấu hiệu nữa là cấu trúc quá gọn gàng. AI thường viết rất “đúng bài”: mở–thân–kết rõ ràng, câu nối mượt, ý chuyển rất hợp lý. Nhưng chính vì hợp lý quá nên đôi khi thiếu cái ngập ngừng, thiếu những đoạn “lạc nhịp” rất người. Người thật nhiều khi viết lan man một chút, quay lại, hoặc nhấn mạnh chỗ không ngờ tới.

Ngoài ra là mức độ an toàn trong quan điểm. Bài AI thường né cực đoan, ít khi dám nói một ý kiến “có thể sai” hoặc mang dấu ấn cá nhân mạnh. Nó hay đứng ở giữa, cân bằng, nghe rất đúng nhưng cũng vì vậy mà không sắc. Người thật thì có thể thiên lệch, có khi nói hơi “liều”, nhưng lại nhớ lâu.

Bạn cũng có thể để ý sự lặp lại kiểu mẫu. AI hay dùng lại những cụm cấu trúc giống nhau trong nhiều bài: “Không chỉ… mà còn…”, “Điều quan trọng là…”, “Từ đó cho thấy…”. Một hai lần thì bình thường, nhưng lặp dày thì khá đáng nghi.

Một điểm tinh tế hơn là cảm xúc. AI mô tả cảm xúc khá “đúng từ điển”: vui, buồn, trăn trở… nhưng hiếm khi có cảm giác rất riêng, rất khó gọi tên. Người thật đôi khi diễn đạt vụng về nhưng lại khiến bạn thấy “à, đúng là người này đã trải qua chuyện đó”.

Cuối cùng là khả năng bị hỏi ngược. Nếu bạn có dịp trao đổi với tác giả, đây là cách rõ nhất. Người viết thật có thể đào sâu, kể thêm, thậm chí tự mâu thuẫn rồi sửa lại. Còn nếu nội dung chỉ là “khung AI”, họ sẽ khó đi xa hơn những gì đã viết.

Tóm lại, cái bạn gọi là “mùi AI” thực ra là sự kết hợp của: từ ngữ bóng bẩy + thiếu chi tiết thật + cấu trúc quá trơn tru + quan điểm an toàn. Bạn đã bắt đúng hướng rồi. Nếu muốn, tôi có thể lấy một đoạn văn cụ thể và “mổ xẻ” cùng bạn để thấy rõ từng dấu hiệu xuất hiện như thế nào.

 

Hoàng Lan Chi: Bạn nói đúng. Danh từ nghe rất kêu mà trống rỗng. Rồi "chốt lại là" ...Rồi " nói thẳng ra"..Nói chung một số "ngôn ngữ đặc trưng AI" đọc là nhận ra. OK, bạn làm điều bạn đề nghị nhé

Chatgpt Hay, mình làm luôn một ví dụ cụ thể để bạn “soi mùi” cho rõ.

Đoạn 1 – kiểu dễ bị nghi là AI viết:

“Trong hành trình phát triển cá nhân, tôi nhận ra rằng việc đối diện với khó khăn không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để trưởng thành. Những trải nghiệm đó đã giúp tôi định hình lại tư duy, nâng cao năng lực thích nghi và hướng tới những giá trị bền vững hơn. Chốt lại là, mỗi trở ngại đều mang trong mình một bài học quý giá, giúp chúng ta hoàn thiện bản thân.”

Đọc qua thấy trơn tru, “đẹp”, nhưng bạn thử để ý: toàn là cụm rất kêu như “hành trình phát triển cá nhân”, “giá trị bền vững”, “định hình lại tư duy”… nhưng không có một chi tiết nào thật. Không biết khó khăn là gì, xảy ra lúc nào, liên quan ai. Câu “chốt lại là…” cũng đúng kiểu bạn vừa nhắc—rất hay gặp trong văn AI tiếng Việt hiện nay. Nói chung là đúng… nhưng trống.

Đoạn 2 – cùng ý đó nhưng viết theo kiểu “người thật”:

“Năm ngoái tôi bị mất việc đột ngột, đúng lúc tiền nhà vừa tăng. Tuần đầu tôi gần như không ngủ được, cứ nghĩ mình đã đi sai đường. Nhưng rồi tôi phải ngồi xuống, xem lại từng thứ một: mình làm được gì, thiếu gì, và gọi điện hỏi lại mấy người quen cũ. Nhờ vậy tôi mới nhận ra trước giờ mình khá thụ động, chỉ làm tốt phần được giao chứ không chủ động học thêm. Cái nhận ra đó hơi đau, nhưng cũng là lý do tôi bắt đầu học lại từ đầu.”

Ở đây bạn thấy ngay: có thời gian (năm ngoái), sự kiện cụ thể (mất việc), chi tiết nhỏ (tiền nhà tăng, không ngủ được). Câu chữ không bóng bẩy lắm, thậm chí hơi “thô”, nhưng lại có cảm giác thật. Không cần “chốt lại là” mà người đọc vẫn tự hiểu ý.

Mổ xẻ nhanh cho bạn dễ “bắt mùi”:

  • Đoạn 1 dùng từ to, ý chung chung, đọc đoạn nào cũng áp vào được
  • Đoạn 2 có chi tiết không thể thay thế, nghe là biết chuyện riêng của một người
  • Đoạn 1 kết luận hộ người đọc (“chốt lại là…”)
  • Đoạn 2 để người đọc tự rút ra

Nếu bạn muốn thử thêm cho vui (mà rất hiệu quả): lấy một đoạn bạn nghi là AI, rồi tự hỏi 3 câu:

  1. “Chuyện này xảy ra ở đâu, lúc nào?”
  2. “Có chi tiết nào mình có thể hình dung được không?”
  3. “Nếu đổi tên người viết, đoạn này có vẫn đúng không?”

Nếu cả 3 câu đều mơ hồ → gần như chắc chắn là “mùi AI” hoặc ít nhất là viết rất hời hợt.

Nếu bạn thích, bạn gửi tôi một đoạn cụ thể bạn thấy “có mùi”, tôi sẽ cùng bạn bóc tách từng câu—cái đó còn thú vị hơn nữa 🙂

Hoàng Lan Chi

5/2026

Dễ Sợ !



Lượm trên mạng
 

Đời Lính - NDC


LTG: Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật, cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng.

Anh ạ! tháng tư mềm nắng lụa,

Hoa táo hoa lê nở trắng vườn,

Quê nhà thăm thẳm sau trùng núi,

Em mở lòng xem lại vết thương,

Anh ạ! tháng tư sương mỏng lắm,

Sao em nhìn mãi chẳng thấy quê,

Hay sương thành lệ tra vào mắt,

Mờ khuất trong em mọi nẻo về.


Sau khi đọc bài thơ này của Nhà thơ Trần Mộng Tú, trong lòng tôi chợt cảm thấy bàng hoàng thảng thốt. Đã 37 tháng tư trôi qua, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, vết thương trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ, tôi nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ lành cho tới ngày tôi nhắm mắt. Bốn mươi mốt năm về trước, đám sĩ quan trẻ chúng tôi chỉ mới ngoài 20, đến nay đầu đã lớm chớm bạc, “cùng một lứa bên trời lận đận”, sau cơn Đại hồng thủy tháng tư năm 75, lũ chúng tôi tản mác khắp bốn phương trời: “Thằng thì đang còng lưng trong các Shop may tại Santa Ana Cali, thằng đang làm bồi bàn ở Paris, thằng đang chăn cừu ở New Zealand, thằng thì đang cắt cỏ ở Texas, và cũng có thằng đang đạp xích lô ở Sài gòn”(trích). Mỗi năm đến ngày 30-4, tất cả chúng tôi đều bàng hoàng ngơ ngác như kẻ mất hồn. Không còn ai trách cứ chúng tôi hết, chỉ có chúng tôi tự trách mình, chúng tôi đã làm gì cho Tổ quốc?.


Trước năm 75, tôi là người lính trong hàng ngũ Quân đội Miền Nam, với cấp bậc thấp nhất là Thiếu Úy, với chức vụ nhỏ nhất là Trung đội trưởng, ngoài số lương đủ sống mà tôi lãnh hàng tháng, tôi không hề nhận được bất cứ bổng lộc nào từ phía “triều đình”. Tôi chỉ là một người lính vô danh tầm thường như trăm ngàn người lính khác, ngoài cuộc sống cực kỳ gian khổ và hiểm nguy, chúng tôi không có gì hết, kể cả hạnh phúc riêng tư của chính mình. Cho nên, tôi không hề có một mơ tưởng nào về một hào quang của ngày tháng cũ, và tôi cũng không muốn tiếp tục một hành trình “Việt Nam Cộng Hòa kéo dài”. Tôi viết như để thắp hương tưởng niệm, những đồng đội của tôi đã nằm xuống cho tôi được sống, rộng lớn hơn hàng trăm ngàn người đã chết để chúng ta có cuộc sống ngày hôm nay tại hải ngoại này.

Mùa Hè năm 1972, người Miền Nam thời ấy gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, mượn cái tên từ Tập bút ký chiến trường rất nổi tiếng của Phan Nhật Nam . Mùa Hè đỏ lửa năm 72 là năm Quân đội của hai miền Nam-Bắc dốc sức đánh một trận chiến sinh tử, bên nào kiệt lực bên đó sẽ bại vong. Niên khóa năm 71-72, tôi là Sinh viên Ban Sử Địa thuộc Đại Học Văn Khoa Saigon, năm đó tôi đi học trong một tâm trạng bồn chồn không sao tả được, và tôi cũng không còn tâm trí đâu để mà học hành, tin tức chiến sự từ các mặt trận gởi về dồn dập, lúc đó bạn bè tôi lớp chết lớp bị thương, lũ lượt kéo nhau về. Sau này ngẫm nghĩ lại, tôi thấy miền Nam lúc đó không còn sinh khí nữa, những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn được hỗ trợ bằng tiếng hát ma quái Khánh Ly, đã làm băng hoại chán chường cả một thế hệ thanh niên thời đó. Ngoài ra, còn khá nhiều những bài ca những tiếng hát đã đâm thấu lòng người “anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về bại tướng cụt chân, anh trở về hòm gỗ cài hoa, trên trực thăng sơn màu tang trắng…” Tại sao trong một đất nước đang có chiến tranh mà có những điều kỳ lạ này xuất hiện. Điềm Trời báo trước chăng?.


Chính quyền Miền Nam sau đó ra lịnh tổng động viên, tất cả các nam sinh viên đều phải nhập ngũ, trừ những người xuất sắc. Lúc đó những gia đình có tiền của, họ chạy đôn chạy đáo lo cho con cái của họ chui vào chỗ này chui vào chỗ nọ, miễn sao khỏi ra mặt trận. Đối với họ,chuyện ngoài mặt trận là chuyện của ai khác, không liên quan gì đến gia đình họ Hằng ngày họ xem TV thấy cảnh khói lửa ngập trời, người chết hàng hàng lớp lớp, họ coi đó là chuyện ở đâu đâu, chẳng ăn nhập gì tới họ. Còn tôi thì ngược lại, tôi muốn ra mặt trận càng sớm càng tốt, hình như định mạng đã an bài cho tôi. Trong bài “Đại bác ru đêm” của Trinh Công Sơn có một câu rất “độc”, “đại bác đêm đêm dội về Thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”, tôi chính là người phu quét đường đó. Tiếng đại bác đã làm lòng dạ tôi nôn nao, tôi muốn ra mặt trận để chia lửa với những người bạn cùng thời với tôi, để chịu chung khổ nạn với đồng bào tôi, trong những ngày tháng điêu linh nhất của đất nước. Tiếng đại bác đã ầm ĩ trong lòng tôi, kéo dài mãi từ ngày đó cho tới tận bây giờ.


Thế rồi cũng đến phiên tôi nhập ngũ, giã từ Trường Văn Khoa với Đại Giảng Đường 2 bát ngát, giã từ những bài giảng rất lôi cuốn của Linh Mục Thanh Lãng, của Giáo Sư Nguyễn Thế Anh, thôi nhé giã từ hết những ước vọng của thời mới lớn. Tôi trình diện Khóa 4/72 tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, năm đó quân trường Thủ Đức chứa không xuể các thanh niên nhập ngũ nên đã đưa một số ra thụ huấn ngoài Trường Đồng Đế Nha Trang, toàn bộ tinh hoa của Miền Nam được tập trung vào hai quân trường này, Miền Nam đã vét cạn tài nguyên nhân lực để đưa vào cuộc chiến.


Vào quân trường, Khóa 4/72 toàn là các sinh viên các trường ĐH tụ họp về đây, chúng tôi làng xoàng tuổi nhau nên đùa vui như Tết, tuổi trẻ mà, lúc nào cũng vui cũng phơi phới yêu đời, chuyện ngày mai đã có Trời tính. Thời gian 6 tháng quân trường gian khổ sao kể xiết, bởi vì sự huấn luyện nhằm biến đổi một con người dân sự thành một người lính thực thụ là điều không đơn giản. Không phải chỉ có các kiến thức về quân sự, mà còn tạo dựng một cơ thể gang thép, rèn luyện gian khổ bất kể ngày đêm, bất kể nắng nóng nung người hay mưa dầm bão táp. Trong 5 tuần lễ đầu tiên vào trường, gọi là giai đoạn “huấn nhục”, đây là giai đoạn kinh hãi nhất trong đời lính mới của chúng tôi. Hằng ngày chúng tôi tuân phục sự chỉ huy điều động của các huynh trưởng khóa đàn anh, khi ra lịnh họ hét lên nghe kinh hồn bạt vía, họ nghĩ ra đủ mọi hình phạt để phạt chúng tôi bò lê bò càng, trong giai đoạn này chỉ có chạy không được đi… các huynh trưởng quần chúng tôi từ sáng sớm tới chiều tối, buông ra là chúng tôi ngất lịm, ngủ vùi không còn biết gì nữa hết. Sau 5 tuần lễ huấn nhục, ai vượt qua được, sẽ tham dự lễ gắn Alpha, để chính thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan. Ngày quì xuống Vũ Đình Trường để nhận cái lon Alpha vào vai áo, chúng tôi cảm thấy rất tự hào, vì đã lập một kỳ công là tự chiến thắng chính mình để trở thành một người lính, không còn hèn yếu bạc nhược như xưa nữa.


Khi chúng tôi quá quen thuộc với các bãi tập như: bãi Cây Đa, đồi 30, bãi Nhà Xập, cầu Bến Nọc… cũng là lúc sắp đến ngày ra trường. Gần tới cuối khóa, chúng tôi còn phải vượt qua những bài học cam go như bài đại đội vượt sông, đại đội di hành dã trại… Cuối cùng điều mà chúng tôi mong đợi từ lâu, đó là ngày làm lễ ra trường, tất cả chúng tôi trong quân phục Đại Lễ, xếp hàng ngay ngắn tại Vũ Đình Trường, rồi một tiếng thét lồng lộng của Sinh viên Sĩ quan chỉ huy buổi Lễ: “Quì xuống các SVSQ”, sau khi đọc các lời tuyên thệ và được gắn lon Chuẩn Úy, tiếng thét chỉ huy lại cất lên một lần nũa: “Đứng lên các Tân Sĩ Quan”. Trong số chúng tôi có người muốn ứa nước mắt, cái lon mới được gắn lên vai, đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi gian khổ sao kể xiết.

Ngày hôm sau chúng tôi tụ họp lên hội trường để chọn đơn vị, tới phiên tôi lên chọn có một điều làm tôi nhớ mãi. Đứng trước tấm bảng phân chia về các đơn vị, tôi định chọn về Sư Đoàn 7 cho gần Sài gòn, bỗng cái Ông Thượng sĩ đứng phụ trách tấm bảng bèn đưa ra lời bàn: “Chuẩn Úy nên chọn về Sư Đoàn 9 vì vùng trách nhiệm nhẹ hơn, SĐ 7 trách nhiệm vùng Cái Bè Cai Lậy rất nặng nề”. Oái oăm thay ngày hành quân đầu tiên của tôi là vùng Cái Bè, bởi lẽ đơn vị tôi tăng cường cho SĐ 7.


Tôi trình diện Bộ Tư Lịnh SĐ 9 tại Vĩnh Long. SĐ này có 3 Trung Đoàn: 14,15 và 16. Tôi được đưa về Trung đoàn 14. Tôi lại mang vác ba lô về trung đoàn 14 đang hành quân vùng Cái Bè. Từ Sài gòn qua Ngã ba Trung Lương, chạy thêm một đoạn xa nữa thì tới Cai Lậy rồi tới Cái Bè, xong quẹo mặt, chạy tít mù vào sâu bên trong khoảng 20 cây số, tới cuối đường lộ thì gặp một cái xã mang tên Hậu Mỹ, ngay tại đây chính là cái ruột của Đồng Tháp Mười, lính tráng hành quân vùng này nghe cái tên Hậu Mỹ là đủ ớn xương sống. Không hiểu sao, ở giữa ĐTM lại có một nơi dân cư sinh sống bằng nghề nông rất trù phú. Đám Tân SQ chúng tôi sau khi trình diện Trung Đoàn trưởng thì được giữ lại Bộ Chỉ huy vài hôm để tập làm quen với cách làm việc của nơi này. Sau đó Ban Quân Số phân chia về các nơi. Vị Sĩ quan Quân số hỏi có Chuẩn Úy nào tình nguyện về Đại Đội Trinh Sát hay không? Tôi đáp nhận. Nói theo kiểu Cao Xuân Huy trong “Tháng Ba Gẫy Súng” tôi chọn về đơn vị tác chiến thứ thiệt này, mà trong lòng không có một chút oán thù nào về phía bên kia, mà chỉ vì cái máu ngông nghênh của tuổi trẻ, và kế đó là bị kích thích bởi cảm giác mạnh của chiến trường.


Một Trung Đoàn Bộ Binh có 3 Tiểu Đoàn và 1 Đại Đội Trinh Sát, đám chúng tôi có 12 thằng, được phân chia về các Tiểu Đoàn, chỉ có mình tôi về Trinh Sát. Sau khi chia tay ở sân cờ xong, chúng tôi ra đi biền biệt, hầu như không còn gặp nhau nữa. ĐĐ/TS cho người lên dẫn tôi về trình diện Đại Đội Trưởng, lúc đó đơn vị đóng ở ngoài căn cứ của Trung Đoàn. Trung Úy Đại đội trưởng có biệt danh là Đại Bàng, dáng người cao to trông rất dữ dằn, cặp mắt ti hí luôn luôn nhìn chằm chằm tóe lửa, giong nói gầm gừ trong họng, tất cả đều toát ra một nét uy phong làm khiếp sợ người đối diện (trong đó có tôi). Tôi đứng nghiêm chào trình diện theo đúng quân phong quân kỷ: “Chuẩn úy NĐC, số quân 72/150181, trình diện Đại Bàng”. Ông ta nhướng mắt nhìn tôi, trên gương mặt hình như có nét thất vọng (mãi về sau này tôi biết điều đó đúng như vậy). Nhìn tôi một hồi, rồi ông ta phán cho tôi một câu nhớ đời: “Anh về làm Trung đội Phó Viễn Thám”. Trời đất, tôi nghĩ thầm, cái bằng tốt nghiệp của tôi là Trung đội trưởng, mà giao cho tôi làm Trung đội phó là sao nhĩ? Lúc đó tôi không biết rằng làm Trung đội phó là còn may, các Sĩ quan về sau nữa có khi còn làm Trưởng toán Viễn thám, thiệt là chết dở.

Đai Đội lúc đó có khoảng trên trăm người, được chia làm 2 Trung đội Trinh Sát và 1 Trung đội Viễn Thám. Các Sĩ quan Trung đội trưởng ra trường trước tôi vài khóa mà trông rất ngầu, uống rượu như điên đồng thời nói năng rất bạt mạng. Còn lính tráng nữa chứ, tôi nhìn họ mà sợ lắm, họ được tuyển chọn từ các nơi khác về đây, nên trông rất khiếp hồn, phần lớn họ là gốc nhà nông, chỉ biết đọc biết viết là nhiều. Lạ một điều là tất cả những người lính này đều đối với tôi rất lễ độ, có lẽ phát xuất từ kỷ luật quân đội chăng? Sau một thời gian sống gần gũi với họ, tôi thấy họ là những người rất đáng mến, thật thà chất phác, rất tôn trọng nghĩa tình, một khi họ quí trọng một cấp chỉ huy nào thì họ sẵn sàng xả thân, họ hoàn toàn không dễ sợ như tôi nghĩ lúc đầu.


Vài hôm sau, gặp bữa Đại đội tề tựu đông đủ, Đại Bàng đưa tôi ra giới thiệu trước ĐĐ, rồi bảo tôi phát biểu. Trời đất ơi ! Tôi run quá, hai đầu gối cứ run lẩy bẩy, tôi có bao giờ nói chuyện trước một đám đông trông khiếp hồn như thế này bao giờ đâu, cho nên tôi ngượng nghịu lắm, vừa nói vừa ngó xuống đất, không dám ngó mặt ai, bẽn lẽn như cô dâu mới về nhà chồng, bây giờ nghĩ lại tôi không còn nhớ tôi nói cái gì nữa, nhưng tôi vẫn nhớ tiếng chắc lưỡi bực mình của Đại Bàng đứng sau lưng tôi, nói được chừng 10 phút thì tôi hụt hơi hết sức, Đại Bàng phải ra lịnh giải tán đám đông. Ông giận dữ kéo tôi ra chỗ vắng, rồi hất hàm hỏi tôi:

– Chuẩn Úy tốt nghiệp Trường Sĩ quan nào vậy?

Tôi biết ngay là có chuyện không ổn, bởi vì khi ông xếp gọi mình bằng cấp bậc là tai họa đến nơi rồi. Tôi đáp:

– Tôi tốt nghiệp từ Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Ông ta bèn xáng cho tôi một câu nhớ đời:

– Vậy mà tôi tưởng Chuẩn Úy tốt nghiệp từ Trường Nữ Quân Nhân chứ !

Tôi nghe mà choáng váng mặt mày, ông ta đã điểm trúng tử huyệt của tôi, vì hồi còn là Sinh viên Sĩ quan trong Thủ Đức, chúng tôi coi là điều sỉ nhục, khi bị cấp trên mắng là Nữ Quân Nhân. Tối hôm đó khi đi ngủ tôi buồn lắm, hình như tôi bị quăng vào môi trường sống không phù hợp với mình, một nơi chốn mà tôi chưa từng biết bao giờ, bởi lẽ trước nay tôi chỉ là anh học trò, bấy lâu chỉ làm bạn với sách vở, với bạn bè với trường lớp. Bây giờ giữa chốn ba quân này, tôi bỗng nổi bật lên như cái gì đó không giống ai. Lúc đó, tôi nhớ Ba mẹ tôi ở nhà, và tôi nghiệm ra một điều rằng, ăn chén cơm của Ba Mẹ tôi sao mà sung sướng quá, bởi lẽ Ba Mẹ chớ hề sỉ nhục tôi, còn khi ra đời, ăn chén cơm của người đời sao đầy cay đắng, tôi lặng lẽ ứa nước mắt.


Tôi về làm Phó cho Chuẩn Úy Vương Hoàng Thắng, khóa 3/72. Anh ta là người trí thức có bằng Cử nhân CTKD, thấy tôi cà ngơ cà ngáo, anh ta thương tình kêu đệ tử giúp đỡ cho tôi mọi chuyện. Chiều hôm đó, tôi lại gặp một chuyện khôi hài dở khóc dở cười, không sao quên được. Chiều đến, lính tráng kéo ra bờ sông tắm giặt, tôi cũng đi tắm như họ, thay vì nhảy ào xuống sông bơi lội như mọi người, nhưng tôi lại rất sợ đỉa nên đứng trên bờ cầm nón sắt múc nước sông mà xối lên người. Tắm một hồi, tôi cảm giác có cái gì đó là lạ, nhìn quanh thấy mọi người chăm chú nhìn tôi, và xầm xì bàn tán chuyện gì đó, rồi bỗng nhiên cả đám cười rộ lên, có tên lính lên tiếng: “Sao Chuẩn Úy không xuống tắm như tụi tôi mà đứng chi trên bờ, ý trời ơi! Sao da của Chuẩn Úy trắng nõn như da con gái vậy?”. Tôi ngượng điếng người, máu chạy rần rần trên mặt, muốn chui xuống đất mà trốn cho đỡ xấu hổ. Vậy mà đã hết đâu, có cái ông Thượng sĩ già đứng gần, còn đớp cho tôi thêm một nhát: “Ý cha! cái bàn chân Chuẩn Úy sao mà đẹp quá, bàn chân này có số sung sướng lắm đây!!!” Thiệt là khổ cho cái thân học trò của tôi, hết làm Nữ Quân Nhân, bây giờ lại giống con gái, thiệt là chán.


Miền Tây là vùng đất nổi danh sình lầy. Hậu Mỹ là nơi đã tiếp đón tôi trong những ngày đầu về đơn vị, cũng là nơi sình lầy ghê khiếp. Dân trong xã người ta cất nhà dọc kinh Tổng Đốc Lộc, ra khỏi mí vườn là ruộng lúa sạ ngút ngàn. Sáng sớm, lính tráng lo cơm nước xong xuôi là bắt đầu nai nịt lên đường, súng đạn ba lô trên vai, để tham dự cuộc hành quân thường ngày, bước ra khỏi mí vườn là bắt đầu lội ruộng, trước tiên nước đến ngang đấu gối, rồi khi qua những trãng sâu, nước cao tới ngực, và cứ thế quần áo ướt sũng từ sáng tới chiều, cho nên quần áo tụi tôi nhuộm phèn vàng chạch, trong rất kỳ quái.


Khi ở quân trường tôi tưởng nỗi gian khổ của người lính là cao nhất, sau khi ra đơn vị tôi mới thấy được rằng, nỗi khổ quân trường chỉ là khúc dạo đầu, không thấm thía gì so với ngoài thực tế. Vùng Hậu Mỹ là vùng lúa sạ nên rất ít bờ ruộng, khi đặt chân xuống ruộng là phải đi một mạch tới bờ bên kia cách xa vài cây số, không ngừng giữa đường được. Đất ruộng người dân họ cày xới lên từng tảng to nhỏ như trái dừa, ngổn ngang lỗ chỗ, và nước lấp xấp. Tôi vừa đi vừa lựa thế để đặt chân xuống, sình lầy bám chặt nên rút bàn chân lên thật khó nhọc, mặt trời rọi ánh nắng gay gắt, mồ hôi tuôn ra đầm đìa, lúc đầu tôi còn lấy tay áo gạt mồ hôi, sau cứ để mặc, mồ hôi nhỏ lăn tăn lên mặt ruộng. Đó là tôi mang ba lô rất nhẹ, chỉ có quần áo đồ đạc cá nhân, còn lương thực lều võng đã có đệ tử mang vác phụ. Tôi ngó qua những người lính đi chung quanh, thấy họ mang vác rất nhọc nhằn, họ phải oằn lưng mang lều võng, súng đạn, mìn bẫy, gạo, cá khô, đồ hộp, mắm muối… Người thì đeo trên ba lô cái nồi, người thì mang cái chảo, họ lặng lẽ bước đi, tôi không hề nghe một lời than van nào hết, họ cắn răng lại mà cam chịu, có than van cũng không ai nghe. Khi đi tới bờ kinh ở tít đằng xa, áo tôi ướt sũng mồ hôi, cho đến nỗi, tôi cởi áo ra vắt, mồ hôi chảy ra ròng ròng. Tôi mệt muốn đứt thở, bèn nằm vật xuống đất, tôi mặc kệ hết mọi điều, không còn biết trời trăng gì nữa hết, lúc đó tôi nghĩ có ai bắn cho tôi một phát súng ân huệ, chắc còn sướng hơn, đời lính sao mà khổ quá!

Theo Đặc San Cư An Tư Nguy (câu này là châm ngôn của Trường BB Thủ Đức) phát hành tại San Diego, thì Quân Trường này đã đào tạo 55 ngàn Sĩ quan, trong số đó có 15 ngàn SQ đã tử trận, và không dưới 10 ngàn người đã trở thành Phế-binh thương tật. Trung đội trưởng là chức vụ đầu tiên của Sĩ quan mới ra trường, và là chức vụ duy nhất chỉ huy bằng miệng (các cấp cao hơn thì chỉ huy qua máy truyền tin). Khi xung phong chiếm mục tiêu, Trung đội trưởng cũng ôm súng chạy ngang hàng với lính, khi đóng quân phòng thủ đêm, Trung đội trưởng cũng nằm ngang với lính. Trước mặt Trung đội trưởng không có bạn nữa mà chỉ có phía bên kia. Cho nên lính dễ chết thì Trung đội trưởng cũng dễ chết y như vậy, súng đạn vô tình nên không phân biệt ai với ai, quan với lính đều bình đẳng trước cái chết. Đó là lý do giải thích tại sao Chuẩn úy mới ra trường chết như rạ là vì thế. Vậy mà tôi còn làm Trung đội phó, không biết nói sao nữa.


Có một bữa, tôi lội hành quân với đơn vị, đang bì bõm lội sình, thì tiếng súng nở rộ lên phía trước, Trung đội tản ra, tôi cùng Chuẩn úy Thắng và đám đệ tử tấp vào một lùm chuối khá lớn. Tôi đứng đó nhìn trời hiu quạnh một hồi rồi bỗng thấy làm lạ sao thấy C/U Thắng im lìm không có lịnh lạc gì cả. Bỗng tay lính Truyền tin nói với C/U Thắng: “Đại Bàng kêu C/U lên trình diện gấp.” C/U Thắng bỏ đi một đoạn, thì lính Truyền tin lại bảo tôi: “Đại Bàng muốn gặp C/U Châu”. Tôi cầm ống nghe áp vào tai, thì nghe Đại Bàng chửi xối xả, giọng Ông lồng lộng một cách giận dữ, té ra là do C/U Thắng quá sợ nên không dám tấn công, ông hét lên bảo tôi: ” Nè! C/U Châu, tôi giao Trung đội lại cho ông, ông có dám dẫn quân lên đánh mục tiêu trước mặt hay không?”.Tôi nghe mà sợ muốn “té đái”, run lập cà lập cập, rồi trả lời ông xin tuân lịnh. Tôi tháo ba lô quăng lên bờ ruộng cho nhẹ người, rồi vói tay lấy khẩu súng trường của người lính bên cạnh, miệng chỉ kịp kêu lớn: “Tất cả theo tôi”. Lúc đó tôi “quíu” quá, nên không nhớ bài bản chiến thuật nào mà tôi từng học ở quân trường, tôi xông lên vừa chạy vừa bắn vừa la (không biết la cái gì nữa). Cả trung đội hoảng hốt sợ tôi bị bắn chết, nên cũng vùng dậy chạy theo tôi. Phía người anh em bên kia, thấy tôi chạy dẫn đầu rất hung hãn, tưởng tôi bị điên, bèn lập tức tháo lui, trong lúc vội vã họ còn quăng lại tặng tôi mấy cây súng nữa chứ. Tôi thanh toán mục tiêu chỉ đâu chừng 10 phút, ai cũng tưởng tôi gan dạ, chứ đâu biết rằng tôi làm thế vì quá sợ ông xếp của mình. Thiệt là khôi hài. Đại Bàng kéo quân lên ông nhìn tôi gườm gườm, có lẽ ông chưa thấy một Sĩ quan nào lập chiến công “khùng điên ba trợn” như tôi. Hết cơn giận, ông trả quyền chỉ huy lại cho C/U Thắng, tôi trở về vị trí cũ.


Sau đó tôi được điều qua các Trung Đội khác, phụ trách công việc tạm thời cho các Trung đội trưởng đi phép hay bị thương… Một điều may mắn cho tôi, (hay Trời đãi kẻ khù khờ), khi tôi nắm quyền tạm thời đó, những trận đánh mà tôi tham dự, tôi đều hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt đẹp. Đại Bàng đã nhìn tôi bằng cặp mắt đỡ ái ngại hơn ngày đầu mới gặp tôi. Đại Bàng sau đó được thuyên chuyển qua một đơn vị khác và một Đại Bàng mới đến thay thế. Ông Trung úy mới đến này có dáng dấp thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, khiến tôi rất có cảm tình. Trong bữa nhậu bàn giao chức vụ, Đại Bàng cũ giới thiệu các Sĩ quan trong đơn vị cho ĐB mới được biết. Sau khi điểm mặt 3 Trung đội trưởng, cuối cùng ông ta chỉ tôi là một Trung đội phó, rồi đưa ra một nhận xét làm sửng sốt mọi người: ”Đây là một tay Sĩ Quan xuất sắc, một tay chơi tới bến… “Hai người sửng sốt nhất hôm đó là tôi và ông Đại Bàng mới. Đối với tôi, tôi chỉ cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình và cũng không hề muốn bươn chải về phía trước. Đối với ĐB mới, ông ta lấy làm lạ là phải, bởi vì ông cứ ngỡ SQ xuất sắc nhất phải là mấy ông Trung đội trưởng, sao lại là cái ông Trung đội phó trông hết sức ngớ ngẩn này. Tôi cũng không ngờ, cái lời nhận xét đó đã đẩy tôi vào một khúc ngoặt khác, đầy hung hiểm chết người.


Một thời gian ngắn sau đó, tôi được Đại Bàng mới cất nhắc lên làm Trung Đội trưởng thực thụ. Tham dự hết trận đánh này đến trận đánh khác, để sống còn, không còn con đường nào khác, tôi phải “động não” đến cao độ cho công việc của mình. Càng ngày tôi càng đạt được sự tin cậy cao nơi cấp Chỉ huy, chính điều đó đã đẩy Trung đội tôi vào nơi Tử địa. Khi Đại đội tiến quân vào nơi nguy hiểm, Trung đội tôi được lịnh đi đầu, và khi rút quân từ nơi đó, Tr.đội tôi được lịnh bao chót. Khi tấn công tôi được giao chỗ khó gặm nhất, và khi phòng thủ Trung đội tôi được nằm ở vị trí nặng nề nhất. Người ta thường nói: “Nhất Tướng công thành vạn cốt khô”, tôi không phải là Tướng, chỉ là một Sĩ quan có cấp bậc và chức vụ thấp nhất, nhưng lính tráng dưới quyền tôi đã chết la liệt, có khi chết nhiều đến nỗi, tôi chưa kịp nhớ mặt người lính của mình nữa. Bởi sự tin cậy của Đại Bàng dành cho tôi, mà Trung đội tôi phải gánh chịu những tai ương này. Ông ta rất quí mến tôi, ông chưa hề quát mắng tôi một tiếng nặng lời, có món nào ngon ông sai đệ tử đi mời tôi đến cùng ăn với ông, có Huy chương nào quí giá, ông cũng ưu tiên dành cho tôi. Ông quí tôi như vậy vì ông biết rằng, nếu ông cứ sử dụng tôi như vậy, trước sau gì tôi cũng chết. Làm sao tôi sống nổi, khi xua quân đi hết mặt trận này đến mặt trận khác, mà toàn là những nơi đầu sóng ngọn gió. Vậy mà tôi sống, mới kỳ.


Khi về đơn vị này, tôi có được một sự may mắn là đơn vị lưu động khắp các tỉnh Miền Tây. Khởi đầu của tôi tại Cái Bè -Cai lậy với các địa danh nổi tiếng như Hậu Mỹ, Mỹ Phước Tây, Bà Bèo, Láng Biển… Từ Cai Lậy đi về hướng Bắc khoảng 60 cây số là tới Mộc Hóa, từ Tuyên Nhơn kéo qua Tuyên Bình, có một chỗ tận cùng tên Bình Thạnh Thôn, đây là một trong những chiến trường ác liệt nhất của đồng bằng Sông Cửu Long. Từ nơi này chúng tôi ngồi thiết giáp băng ngang qua Đồng Tháp Mười để tới Hồng Ngự, và chính cái lúc băng ngang này, tôi mới biết rõ về Đồng Tháp Mười, đây là một vùng đầm lầy kinh sợ nhất, đi suốt 1 ngày với xe thiết giáp, tôi không thấy một cây cỏ nào mọc nổi ngoại trừ loại cây bàng (một loại cây họ cỏ dùng dệt chiếu), không có một bóng chim, không có một con cá, nước phèn màu vàng chạch, tóm lại không có 1 sinh vật nào sống nổi trong vùng này, đừng nói chi đến con người. Vùng đầm lầy dài ngút mắt đến chân trời, khung cảnh im lìm đến ghê rợn. Rời Mỹ Tho, chúng tôi băng ngang Sông Tiền bởi phà Mỹ Thuận, rồi băng ngang Sông Hậu với phà Cần Thơ, xuôi theo lộ tới Cái Răng – Phụng Hiệp, rồi rẽ vào Phong Điền – Cầu Nhím, tôi ngạc nhiên trước một vùng đất giàu có tột bực này. Ở đây người dân sinh sống bằng vườn cây ăn trái, sáng sớm ghe chở trái cây chạy lềnh trên mặt sông để đến điểm tập trung giao hàng đi các nơi, nhà cửa ở miệt vườn mà trông rất bề thế. Rồi chúng tôi đến Phong Phú-Ô Môn, tiến sâu vào bên trong chúng tôi đến Thới Lai – Cờ Đỏ, sự trù phú không sao kể xiết, có khi chúng tôi ngồi Tắc-ráng đi từ Thới Lai đến Cờ Đỏ, 2 bên bờ kinh nhà cửa nguy nga tráng lệ, không hề có nhà tranh vách đất nào cả, nhà nào cũng có xe máy cày đậu trước sân. Tuy nhiên vào sâu hơn nữa, chúng tôi cũng gặp những vùng hoang vu như Bà Đầm -Thát Lát, dân chúng tản cư đi hết, nhà cửa hoang phế, trông rất âm u rợn người.


Trong tất cả những vùng mà tôi đã đi qua, có một vùng đất hết sức lạ lùng, và là một nơi đối với tôi đầy ắp kỷ niệm, vừa thích thú vừa buồn rầu. Mỗi khi hồi tưởng về một thời chiến trận, tôi đều nhớ về nơi ấy. Cuộc chiến đã ngừng 37 năm qua, vậy mà tôi chưa hề một lần nào trở về lại nơi chiến trường xưa, để thắp một nén hương tưởng mộ những đồng đội của tôi đã nằm xuống nơi này.

Mùa Khô năm 74, Đại Đội chúng tôi được trực thăng bốc từ phi trường Cao Lãnh, đổ xuống một cánh đồng bát ngát nằm cạnh biên giới Campuchia. Trung đội tôi nhảy líp đầu. Khi xuống tới đất tôi hết sức ngạc nhiên về vùng đất nơi đây. Cánh đồng khô khốc và phẳng lì, không hề có một bờ ruộng nào cả (sau này tôi được biết đây là vùng nước nổi, khi nước từ Biển Hồ tràn về, thì không có bờ ruộng nào chịu đựng nổi, nên người ta cứ để trống trơn như vậy, ruộng của ai người đó biết). Trên cánh đồng lại có rất nhiều gò nổi lúp xúp ở khắp nơi. Khi Trung đội tôi rời khỏi trực thăng, tôi lập tức ra lịnh tiến quân theo thế chân vạc thiệt nhanh nhằm chiếm 1 gò nổi trước mặt, khi cách gò chừng một trăm thước, tôi cho tất cả dừng lại dàn hàng ngang yểm trợ, rồi tôi phóng 3 khinh binh vào lục soát, sau một hồi thấy không có gì, họ khoát tay cho cả Trung đội tiến vào. Khi vào tới nơi, sau khi bố trí xong, tôi thấy trên gò có thật nhiều cây xanh che bóng mát, và có vài đìa cá, lính tráng lội ùa xuống xúm lại tát đìa, khi đìa cạn, cá lộ ra lội đặc lềnh như bánh canh. Một lát sau cả Đại đội theo trực thăng kéo tới kéo vào gò trú ẩn cũng vừa đủ.


Đêm tới, chờ trời tối hẳn, Đại Bàng ra lịnh kéo cả đơn vị ra đồng trống để đóng quân đêm, vì vị trí ban ngày đã bị lộ. Đêm đó chúng tôi không ngủ được gì cả, vì lũ chuột đồng ở đâu kéo tới, chúng bò ngang dọc, lùng sục chỗ đóng quân của chúng tôi, lại còn chui tọt vào mùng gặm nhắm chân tay của chúng tôi nữa chứ. Tờ mờ sáng hôm sau, có 1 đoàn xe bò đông đảo khoảng mười mấy chiếc kéo ngang chỗ đóng quân. Lính tráng hỏi họ đi đâu, họ nói họ kéo nhau đi tát đìa, trời đất, tát đìa mà kéo một đoàn xe bò như thế này ư! Chiều đến, không biết họ đi đến đâu, mà khi kéo xe về, xe nào cũng đầy ắp cá, họ chứa lủ khủ trong thùng trong chậu lớn, sau đó họ kéo ra bờ sông giao cho ghe hàng chờ sẵn, chở cá về Hồng Ngự


Hôm sau chúng tôi kéo vào xóm nhà cất dọc theo bờ rạch, có tên là Rạch Cái Cái. Khi vào đến nơi tôi lại đứng trố mắt ra nhìn, nhà gì mà kỳ dị như thế này. Người dân họ cất nhà cao lêu nghêu theo kiểu nhà sàn, tôi biết ngay là họ phải cất nhà như thế để sống cùng với lũ. Nơi đây đúng là cùng trời cuối đất, tiếng bình dân gọi là hóc-bà-tó. Đây cũng là vùng đất tranh chấp giữa hai bên, chiến trận nổ ra liên miên, nên người dân họ sống rất là tạm bợ. Cả xã có vài ngàn người mà chỉ có vài người biết đọc biết viết. Họ thông thương với bên ngoài bằng các ghe hàng tạp hóa, hay ghe hàng bông (rau quả), được chở tới từ Hồng Ngự. Nhà nào cũng có một lu mắm cá, có nhà còn có lu mắm chuột đồng, đó là thức ăn phòng hờ cho mùa nước nổi. Ghé vào nhà chơi, chủ nhà rất hiếu khách và xởi lởi, bưng ngay ra một chai rượi đế, rồi hối người nhà xé mắm sống trộn giấm tỏi ớt đường, bưng ra mời chúng tôi ăn với khoai lang hay bắp luộc.

Lúc đầu tôi thấy sợ lắm không dám ăn, sau vì nhiều người ép quá nên tôi cũng nếm được. Còn mắm chuột đồng thì cho tôi xá, nhìn thấy đã hãi nói chi tới ăn. Đám lính chúng tôi đang lội sình mệt nghỉ, được đưa về một nơi khô ráo, lại đầy ắp thức ăn, thiệt là đã đời, chúng tôi hành quân mà như đi picnic. Nhưng trong tôi linh cảm điều gì đó không ổn, đơn vị chúng tôi luôn luôn được tung vào những nơi hiểm địa, chớ đâu phải đi chơi như thế này.


Sau một thời gian hoạt động đơn độc, chúng tôi được tăng cường 1 Chi đoàn thiết giáp, có khoảng 12 xe bọc sắt M113. Với sự phối hợp này vùng hoạt động của chúng tôi rộng lớn hơn. Hằng ngày, chúng tôi ngồi trên xe thiết giáp hành quân lục soát nơi này nơi nọ, vẫn yên bình, không hề có tiếng súng. Rồi cái ngày giông bão đó đã đến. Hôm đó, bình thường như mọi ngày, chúng tôi lên xe đi hành quân. Đi đến các điểm đã được chỉ định sẵn trên bản đồ, đi đến chỗ này lục soát, không có gì lại đi đến chỗ khác. Cuối cùng đoàn xe đến 1 điểm, bất chợt đoàn xe dàn hàng ngang ngoài ruộng, hướng về mục tiêu là một bờ vườn rậm rạp. Lính Trinh Sát tụi tôi được lịnh xuống xe, tiến vào bờ vườn. Trung đội tôi tiến về phía bên trái của đội hình Đại đội. Đang đi tôi bỗng lên tiếng: ”Tất cả tản ra mau, đi túm tụm như vầy dễ ăn đạn lắm!” Không ngờ lời nói của tôi “linh như miễu”. Đạn phát nổ vang trời dậy đất, tôi bị trúng đạn, bật người ngã xuống đất, máu ở đâu chảy xuống mặt tôi thành dòng, tôi ra lịnh bắn trả xối xả, nếu không phía bên kia họ thừa thắng xông lên thì thật là nguy khốn. Súng nổ một chập thì im lặng, lúc đó tôi mới rảnh rờ rẩm khắp người xem mình bị thương nơi đâu. Tôi giật mình kinh ngạc và cảm thấy hết sức lạ lùng, bởi vì tôi bị bắn trúng một lượt 2 viên đạn súng tiểu liên AK, một viên bắn trúng vào đầu mũi súng ngắn tôi nhét trước bụng, viên đạn bể ra văng tứ tán lên mặt lên cánh tay, nên máu tuôn ra thành dòng là vì thế, song phần còn lại của viên đạn chui tọt vào đùi, máu tuôn ra khá nhiều nhưng không nguy hiểm. Viên đạn thứ 2, mới thật là ghê rợn, viên đạn bắn trúng vào cái bóp tôi để trên túi áo trái, ở phía trước trái tim, viên đạn quậy nát cái bóp, tôi để rất nhiều tiền vì mới lãnh lương, tiền và giấy tờ đã cuốn viên đạn lại, nằm yên trong đó, có lẽ viên đạn được bắn ra trong khoảng cách quá gần, làm viên đạn không đủ sức xuyên phá. Lúc đó tôi sợ lắm, bởi vì tôi nghĩ phải có một phép lạ thiêng liêng nào đó đã che chở cho tôi, chứ trên đời này hiếm có ai bị bắn trúng một lượt 2 viên đạn mà còn sống như tôi vậy


Cũng ngay lúc ấy, tôi chợt nghe một tiếng rên yếu ớt của người lính đệ tử của tôi: ”Thiếu Úy ơi! cứu em! “ Tôi nghe xong mà sợ điếng hồn, té ra nãy giờ đệ tử của tôi bị trúng đạn mà tôi không hay biết, bởi vì cỏ cao che khuất nên tôi không thấy anh ta nằm trước mặt, cách tôi chừng dăm ba thước. Thông thường các Sĩ quan Trung đội Trưởng có 2 người lính đệ tử, 2 người này có nhiệm vụ lo chỗ ăn chỗ ngủ và lo mang vác đồ đạc cho ông Thầy. Những người lính đệ tử của tôi thường đối với tôi rất chí tình, họ sẵn sàng sống chết vì tôi mà không hề so đo tính toán. Khi tôi dẫn Trung đội xung trận, 2 người lính này theo sát để bảo vệ cho tôi. Hôm nay, một trong hai người đệ tử đã hứng đạn cho tôi, khi ngã xuống đã kêu lên lời cầu cứu đến tôi. Ít lâu sau thì anh ta chết, tiếng kêu thảm sầu của anh ta đã xoáy vào lòng tôi, và ở yên trong đó từ ngày ấy cho đến bây giờ. Vậy mà 37 năm đã trôi qua, tôi chưa có một lần nào về đứng trước mộ anh, để đốt một nén nhang nói lời cảm tạ. Anh ta là Hạ sĩ Nguyễn Văn Đồng, một cái tên vừa bình thường vừa vô danh, nằm lẫn khuất đâu đó trong một triệu người đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh tức tưởi này.


Sau khi tôi bị thương, tôi giao Trung đội lại cho Trung đội phó là Chuẩn Úy Nguyễn Thọ Tường. Tôi ra ngoài, leo lên xe Thiết giáp ngồi nghĩ và ngó vào trận địa, tôi chợt thấy Chuẩn Úy Tường dàn đội hình hàng ngang xung phong vô mục tiêu, tôi kêu lên thảng thốt: ”Đừng làm thế, Tường ơi! “. Sau đó, Trung đội tôi bị bắn tan tác, Chuẩn Úy Tường bị trúng đạn chết tại mặt trận, mắt vẫn mở thao láo, có lẽ anh ta không biết sao mình lại chết như vầy. Trung đội tôi coi như tan hàng xóa sổ. “Tường ơi! Vĩnh Biệt!”


Không biết sao đại đội tôi đóng quân bên bờ Rạch Cái Cái rất lâu. Rồi tới ngày Mùa Nước Nổi kéo về, nước chảy ào ào một chiều duy nhất, không có cảnh nước ròng nước lớn gì nữa hết. Nước mỗi ngày dâng cao cả gang tay, đến lúc này đây mới thấy lúa sạ là một loại lúa kỳ diệu, nước dâng tới đâu thì lúa dâng tới đó, nước sâu 5-6 mét thì cây lúa cũng dài nhằng ra 5-6 mét, tôi chưa thấy nơi nào cây lúa lại kỳ dị như vậy. Rồi đến lượt cá Linh tràn về, cá nhiều đến nỗi không biết cơ man nào kể cho xiết, có khi tôi thấy cá Linh nổi lềnh lên cả một khúc sông, và kỳ lạ một điều nữa là người dân ở đây thà ăn mắm ăn muối chớ họ không ăn cá linh, họ nói họ thấy cá Linh cả đời nên tự nhiên họ đâm ngán tới cổ. Ô! nước cứ dâng lên mãi, khiến chúng tôi kiếm chổ đóng quân khá vất vả, chúng tôi rút lên gò thì rắn với chuột cũng kéo lên gò, ban đêm chúng cứ bò xục xạo trong mùng chúng tôi trông thật ghê khiếp. Cả đơn vị phải chẻ nhỏ ra thành từng toán. Vào hôm đó toán của thầy trò chúng tôi đi tới một cái gò còn khô ráo.


Đêm đó như thường lệ tôi ngủ dưới một mái lều, tới nửa đêm tôi đang ngủ mê mệt, thì cảm thấy có ai đang khều khều đầu mình. Ở chốn trận tiền ai ngủ cũng phải thật nhạy thức, tôi cũng vậy, tôi tưởng lính gác báo động nên vội ngồi dậy ngay. Tôi ngó ra ngoài lều thì thấy dưới bóng trăng sáng vắng vặc một em bé gái khoảng 13-14 tuổi đứng nhìn tôi và mỉm cười thật tươi tắn. Tôi trố mắt nhìn ngẩn ngơ một hồi rồi mới biết đó là hồn ma, tôi sợ quá vội vàng nằm xuống kéo mền trùm kín đầu. Sáng hôm sau, tôi thấy chỗ tôi ngủ nằm kề bên 1 cái bàn thờ bằng gỗ xiêu vẹo mục nát. Tôi bèn rảo bước vào xóm để hỏi thăm về cái gò này, được người dân cho biết, trước kia có một em bé nhà nghèo lắm, hàng ngày chèo xuồng ra đồng nhổ bông súng, đem vô xóm bán dạo. Một hôm em cũng chèo ghe ra đồng như hàng ngày, sau đó súng đạn nổ ran, em bị đạn lạc chết trên gò, em chết trẻ hồn thiêng không siêu thoát, đêm đêm hiện về khóc lóc thảm thiết, dân làng thấy vậy bèn làm cho em một cái bàn thờ gỗ để nhang khói cho em. Câu chuyện thật tội nghiệp. Ở nơi chốn tên bay đạn lạc này, đời sống người dân khốn khổ không sao kể xiết, nếu họ muốn đi đến một nơi chốn an lành khác, họ cũng không biết đi đâu, mà nếu có đi cũng không biết lấy gì mà sống.


Trong đời lính của tôi, tôi sợ nhất là phải đi báo tin tử trận hoặc thăm viếng những gia đình có người thân chết trận, vậy mà có một lần tôi đã phải làm chuyện này một cách bất đắc dĩ. Chuẩn Úy Nguyễn Mạnh Hà ra trường sau tôi khoảng một năm, lúc đó anh ta mới 19 tuổi, còn đặc sệt nét con nít. Tôi nhớ hồi tôi mới ra trường trông đã rất chán, anh chàng này trông còn chán hơn tôi nữa. Mặt của Hà còn đầy mụn trứng cá, suốt ngày chỉ thích ngậm kẹo, có ai rủ nhậu, nể lắm anh ta mới uống, vừa uống vừa chắc lưỡi hít hà như uống thuốc độc. Điều đặc biệt nhất của Hà là anh ta rất sợ tiếng nổ, khi nghe súng nổ anh ta nhắm chặt mắt, bịt kín lỗ tai, và mặt mày thì tái mét. Anh ta về làm Phó cho tôi, làm giọng “chảnh”, tôi hỏi anh ta một cách xách mé: “Sao ông nhát như vậy mà xin về Trinh Sát”. Anh ta bèn phân trần, anh ta đâu có xin xỏ gì đâu. Ban Quân số thấy không có ai tình nguyện nên chỉ định bừa, dè đâu trúng ngay anh ta. Khi đụng trận tôi lo cuống cuồng đủ mọi chuyện, còn phải để ý đến anh ta nữa chứ, anh ta có biết gì đâu, thiệt khổ. Càng về sau các Sĩ quan rơi rụng dần dần, C/U Hà cũng được đưa lên làm Trung đội trưởng. Cái ngày định mệnh dành cho Hà là tại mặt trận Mộc Hóa. Cả đại đội được lịnh tấn công vào mục tiêu. Trung đội của Hà và một trung đội nữa vỗ vào mặt chính diện, trung đội tôi thọc vào bên cạnh sườn. Hà dẫn tổ đại liên chạy đến ẩn nấp vào một gò mả bằng đá ong, ngay lúc ấy phía bên kia phóng ra 1 trái hỏa tiển B40, trúng ngay gò mả, viên đạn nổ tạt ra trúng ngay vào người Hà. Tội nghiệp Hà chết không toàn thây. Lúc Hà còn sống, mỗi khi tôi về phép, Hà thường nhờ tôi ghé qua nhà Hà ở Sài gòn, để mang dùm quà của gia đình xuống cho Hà, vì thế tôi khá thân thuộc với gia đình của anh ta. Hà mất được chừng một tháng, thì tôi xin được cái phép 6 ngày về thăm gia đình. Tôi bèn ghé qua nhà Hà nhằm nói lời chia buồn với gia đính anh ta. Tôi vừa tới, Ba Má của Hà chạy ùa ra nắm lấy tay tôi, rồi hỏi dồn dập:

– Sao cái hôm em Hà nó chết, mà cháu lại không về đưa đám tang em?.

Tôi lúng túng trả lời:

– Thưa, lúc đó chúng cháu đánh nhau tưng bừng, làm sao cháu bỏ đơn vị mà về cho được.


Thế là vừa ngồi xuống ghế, hai ông bà khóc ngất ngất, lúc đầu ông bà còn lấy tay lau nước mắt, lúc sau thì để mặc, nước mắt tuôn ra xối xả làm ướt đầm cả ngực áo. Tôi kinh hoàng ngồi chết điếng, tôi chưa bao giờ gặp phải một trường hợp bi thương tột độ đến như vậy. Ông bà vừa khóc vừa kể lể tiếc thương cho đứa con không sao kể xiết. Cha mẹ nào có con ra mặt trận, coi như đã chết nửa linh hồn, đêm ngày sống trong hốt hoảng lo âu, mong ngóng con mình, mãi về sau tôi mới nghiệm ra được điều này. Nghe ông bà than khóc một hồi, tôi không chịu đựng nổi nữa và tôi cũng không nói một lời phân ưu gì nữa hết, bởi vì lời nói nào cho đủ trước một mất mát quá lớn lao này. Rồi tôi nghĩ đến tôi, đến Ba Mẹ tôi, trong lòng tôi bỗng xộc lên một nỗi buồn khủng khiếp. Tôi lảo đảo đứng dậy từ giã hai ông bà để ra về. Trên đường về tôi ghé vào một quán cóc, ngồi uống rượu một mình, tôi buồn lắm. Tối hôm đó tôi về đến nhà khá muộn, cả nhà chờ cơm tôi quá lâu nên đã dùng trước. Tôi ngồi vào bàn, Mẹ tôi bày thức ăn la liệt trên bàn cho tôi ăn. Vừa ăn tôi vừa nghĩ, mai kia nếu mình có chết, Mẹ cũng bày đồ cúng cho mình như thế này đây. Tôi chợt nhớ đến khuôn mặt đầm đìa nước mắt của cha mẹ Hà, lúc đó bỗng nhiên tôi thương Ba Mẹ tôi vô cùng. Tôi vừa ăn vừa lặng lẽ chảy nước mắt.


Cuối cùng vào tháng 2 năm 75, tôi bị thương một lần nữa tại mặt trận Mộc Hóa. Tôi được đưa về điều trị tại Bịnh xá Tiểu đoàn 9 Quân Y tại Vĩnh Long. Tại Bịnh xá, tôi theo dõi tình hình chiến sự trên cả nước, khi mất Ban Mê Thuột, tôi linh cảm có điều gì đó không lành. Đến ngày 30-4-75, khi nghe lịnh buông súng đầu hàng, trong lòng tôi nát bấy. Sáng ngày 1-5, tôi bước ra khỏi Bịnh xá, đứng trên Quốc lộ 4, tôi nhìn về hướng Cần Thơ, thấy mặt trời lên đỏ rực, báo hiệu một ngày mới. Lúc đó tôi không hề biết rằng, đó là cái ngày đầu tiên của một hành trình bi thảm khác, có tên gọi là “Mạt Lộ”.

Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật, cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng.


Viết xong ngày 1 tháng 6 năm 2012.

NĐC

Kỷ niệm ngày QLVNCH 19/06

https://dongsongcu.wordpress.com/2024/02/06/doi-linhndc/

Đời Lính - Hội Quán Phi Dũng