Wednesday, June 24, 2026

Sự Hy Sinh Thầm Lặng - Loc Duong


Sau khi hai Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và Nguyễn Thanh Long lần lượt bị mất chức và đi tù vì tham nhũng và buôn thuốc tây giả, chính phủ ta đã đưa một người không biết gì về y tế lên làm bộ trưởng.


Đó là bà Đào Hồng Lan, người có khuôn mặt mũm mĩm, xinh ra phết, vốn là một nhà giáo đã có nhiều đóng góp cho ngành giáo dục nhưng rốt cuộc cũng chẳng đi đến đâu.

Vừa lên ngôi, bà tân Bộ trưởng đã phát động cuộc thi viết về “ Sự hy sinh thầm lặng” của ngành y tế. Giải thưởng rất hấp dẫn.

Có nhiều bài viết gửi về. Trong số đó có bài của một em học sinh lớp 6 bị ném ngay vào thùng rác, giống như dân Facebook vẫn hay nói là “bị loại từ vòng gửi xe”. Bài viết của em như sau:

Người ta cứ bảo bác sĩ, y tá là lương y như từ mẫu, là những chiến sĩ thầm lặng, em thấy không đúng. Cả nước đều biết nếu không có phong bì hay tiền ứng trước viện phí, người bịnh sẽ có nhiều cơ hội bị bỏ nằm nhúc nhích ngoài hành lang, vừa thở vừa chờ cho tới sáng. Hay ai cần thay băng mà không lòi tiền bồi dưỡng ra, sẽ được các nhân viên y tế thay mạnh tay còn hơn đô vật…Cho nên em chỉ thấy những bịnh nhân bình thường như mẹ em mới xứng đáng đoạt danh hiệu “ sự hy sinh thầm lặng”.

Mẹ em là một cô giáo, ở trong trường thì được chính phủ gọi là kỹ sư tâm hồn, nhưng lúc mẹ em bị bướu cổ phải đi bịnh viện thì không khác gì một con chuột đang bị cả hệ thống y tế xúm vô hành hạ.

Mẹ em phải dậy sớm đi vô bệnh viện lúc 3 giờ rưỡi sáng để lấy số thứ tự. Ba em nằm trên giường cằn nhằn “ Chỉ có ăn trộm mới đi giờ này”.

Em cũng phải đi “ăn trộm” với mẹ em, vì ba em nói chiều nay mắc nhậu, không giữ em được.

Lấy số xong, mẹ em ngồi chờ tới trưa cũng không thấy đọc tên, trong khi có nhiều người tới sau thì lại được mấy cô y tá vui vẻ nắm tay dẫn vô trước. Có một ông ngồi ngủ gục cạnh mẹ em, lâu lâu mở một con mắt ra nói

“Không có người quen giới thiệu, không có tiền khám dịch vụ thì chị ngủ một giấc đi cho khoẻ tấm thân ngà”.

Tới hồi nghe đọc tên, mẹ em mừng muốn khóc, mẹ chạy lại ô cửa sổ. Cô y tá, khuôn mặt nghiêm khắc, sau khi điền tên tuổi, giấy tờ xong, nói với mẹ em “Đóng viện phí rồi tới phòng khám số 6”.

Mẹ em nhẹ nhàng hỏi “ Phòng số 6 ở đâu chị ?”.

Cô y tá nạt “ Ở trong miệng chị chứ ở đâu. Đi ra ngoài mà hỏi”.

Tại đây, sau khi chờ mòn mỏi thêm nữa tiếng nữa, mẹ em được vô gặp bác sĩ. Ông bác sĩ, mồ hôi đầy trên mặt và nách, chắc tại phải làm việc quá sức. Nhìn ổng, em không thấy giống bác sĩ chút nào, mà thấy giống mấy người bán keo dán chuột.

Bác sĩ hỏi “Bệnh sao?”. Mẹ em đang trình bày thì bác sĩ đã ghi xong toa thuốc, ông nói : “ Đi chụp X quang và mua thuốc”.

Mẹ em dẫn em ra ngoài, im lặng đi như một xác chết.

Em hỏi mẹ :“ Sao mình chờ hết buổi sáng mà chỉ được gặp bác sĩ không tới 3 phút vậy mẹ ?”.

Mẹ thở dài : “Ở đây, bác sĩ là chủ tịch nước. Con đói chưa, ra mẹ mua xôi con ăn rồi mình ghé quầy thuốc tây mua thuốc”. “ Mẹ không đi chụp phim hả mẹ”. “ Không kịp chiều nay đâu con ơi, người ta xếp hàng dài thế kia, để mai mẹ sẽ xin nghỉ dạy thêm một ngày nữa đi chụp”.


Tại quầy bán thuốc tây, cũng lại cảnh xếp hàng và chen lấn. Nhiều người ngồi luôn xuống đất cho đỡ mỏi chân. Em cũng ngồi nhưng mẹ em thì không. Chắc mẹ nghĩ trong bệnh viện mẹ vẫn là cô giáo chứ không phải bệnh nhân bướu cổ. Đứng lâu lắm thì mẹ cũng mua được một loại thuốc, còn hai loại khác người bán bảo rằng “ngành y tế đang thiếu thuốc, chị ra ngoài chợ đen mà mua”.

Mẹ thất vọng, lảo đảo đi ra như người say nắng. Thời may, có một bà tiên mập mạp hiện ra trước mặt cứu nguy. Bà tiên móc từ trong áo ngực ra mấy vỉ thuốc : “Em có hai loại thuốc chị cần nè, chị lấy em để rẻ cho”. Nhưng mẹ em cám ơn và nắm tay em lôi đi. Mẹ bảo mẹ sợ mua nhầm thuốc giả của mấy con buôn.

Ngồi trên xe buýt về nhà, em thấy suốt ngày hôm nay khủng khiếp quá.

Bịnh viện đông như kiến. Đông thế nhưng không kiếm ra một nụ cười. Ai cũng gắt gỏng. Ai cũng lê lết chầu chực để được khám qua loa. Mùi mồ hôi, mùi mấy người bịnh khiến em cũng muốn bịnh theo luôn. Vậy mà mẹ em vẫn im lặng chịu đựng. Lúc gần ra về, có cụ già nuôi bệnh, bị móc túi hết tiền, ngồi khóc lóc thảm thiết, mẹ em lẳng lặng lấy ra cho mấy ngàn, không nói một câu.

Mẹ chỉ đổ quạu khi về tới nhà thấy ba em nằm say xỉn, ói tùm lum. Dọn đống ói xong, mẹ lại hấp tấp chạy đi mua nước chanh về cho ba uống giải rượu.

Nhìn theo bóng dáng mẹ chạy đi mua nước chanh, em thấy thương sự hy sinh thầm lặng của mẹ vô cùng, cho nên em viết bài dự thi này. Mong bà Bộ trưởng cho em được giải để em đưa hết tiền lãnh thưởng cho mẹ em trị bịnh bướu cổ. Chứ bịnh viện kiểu này, không có tiền thì chắc mẹ em chỉ có nước sống và trị bịnh bằng niềm tin.


Kính chúc bà Bộ trưởng dồi dào sức khoẻ, ngồi ghế được lâu, suy nghĩ được gì giúp ích cho dân nghèo bịnh hoạn, chứ đừng như ông Bộ trưởng trước, mới ngồi chưa nóng đít đã tham nhũng, phải vô khám ngồi bóc lịch mà nước mắt ổng cá sấu cứ rưng rưng.


Loc Duong

Gửi Cho Tôi - Nguyễn Duy Phước

Chuyện Tâm Linh Khó Lý Giải - Nguyễn Quang Phúc

 

Chuyện tâm linh không những khó lý giải, nhưng dù sao cũng phải cung kính. Tôi nhớ khi còn ở Hà Nội trước 1954, mỗi khi có đám ma ngoài đường, không ai bảo ai, từ bé đến lớn, từ người phu kéo xe tay, đạp xích-lô, đến khách đi đường, đều ngả mũ nón ra chào.

Bây giờ, người đến định cư trên nghĩa trang, họ vứt xương, sọ, nằm ngổn ngang, họ đục mắt những hình ảnh binh sĩ (Cộng hòa) trên mộ. Lăng Hoàng Cao Khải ở Hà Đông đã được xếp hạng « di tích », bên trong biến thành nhà ở, có cầu tiêu, phòng tắm, gần chỗ trước đây để quan tài của « danh nhân » !

Đ.T.H.

CHUYỆN TÂM LINH KHÓ LÝ GIẢI

Seniors,

Trước khi đọc "Chuyện tâm linh khó lý giải", tôi kể quý seniors nghe câu chuyện người chết có linh hồn không?

Sau tháng 4 năm 1975, tôi trình diện đi học tập cải tạo. Trại tù đầu tiên là ở khu gia binh Long Giao, Long Khánh.

Ở đây chừng hai tháng thì có một người bạn tù nằm chết ở ngoài sân, lúc bấy giờ chưa có khoá phòng để nhốt tù. Nửa đêm anh đi tiểu và nằm chết ở tư thế co ro nằm nghiêng, hai chân co lên ngực và hai tay nhét vào giữa hai đầu gối. Đặc biệt đôi dép lại để ở trên đầu. Vào thời điểm này các trại tù do bộ đội VC quản lý, trại trưởng nghi ngờ anh em trong tù sát hại lẫn nhau, phải chờ Bác Sĩ từ Sài Gòn lên khám nghiệm tử thi mới cho chôn. Anh chết từ lúc nửa đêm đến 5 giờ chiều mới đưọc chôn nên cơ thể anh cứng đơ. Trưởng trại cho một cái hòm gỗ, khi bỏ xác anh vào nằm ngửa thì không đậy nắp được vì hai đầu gối nhô lên, bỏ nằm ngang xác anh không lọt vô hòm. Trại tù không nhang, không đèn, không rượu để bóp cho thân thể mềm lại. Loay hoay mãi có một anh bạn tù, cấp bậc Đại úy, anh là người có đạo Công Giáo đứng ra van vái:

- Anh sống khôn thác thiêng, phò hộ cho chúng tôi đưa thân xác anh đi cho được thanh thản, nhẹ nhàng.

Vái xong anh đến kéo tay chân người bạn tù xấu số, tay chân nó mềm nhũn ra như người còn sống.

Mấy tên vệ binh mang súng đứng chung quanh ngạc nhiên, thảng thốt:

- Sao nạ thế nhỉ.

Hồn của anh bạn có lẽ lẩn quất đâu đó, anh nghe, anh thấy chúng tôi, nhưng chúng tôi chẳng thấy được anh.

Kính mời Quý Seniors xem tiếp câu "Chuyện tâm linh khó lý giải" của Nguyễn Quang Phúc

Thân mến,

Đồng


CHUYỆN TÂM LINH KHÓ LÝ GIẢI

Nguyễn Quang Phúc

Cách nay 15 năm vì thất bại trong công việc, tôi phải quay lại nghề cũ: Sửa đồng hồ tại 18 Lê Công Kiều quận 1 để mưu sinh.

Vào một buổi chiều tối có người đàn ông lại bán cái bình bằng đồng. Bình vuông vức, cao hơn gang tay chạm trổ rất tinh xảo nhìn bắt mắt. Tôi quyết định mua cái bình giá vài trăm ngàn (khoản 5 phân vàng thời điểm đó) với ý định sáng mai sẽ bán lại kiếm lời.

Qua hôm sau tôi đem bình đi bán. Anh Bảo Tâm (tiệm 20 Nguyễn Thái Bình) trả tôi có lời nhưng tôi chưa bán vì hy vọng sẽ bán được giá cao hơn.

Một lát sau tôi lấy bình ra mời anh Sơn đầu bạc (chủ tiệm đồ cổ 5 Lê Công Kiều). Sau một lúc xem xét anh Sơn bảo:

- Đây là cái hũ cốt mày xem liệu mà bán đi.

Tôi ngạc nhiên trả lời:

- Đừng giỡn đại ca, nếu thật thì anh chứng minh đil

Anh Sơn chỉ tay vào góc bình rồi lặng lẽ quay đi. Tôi lấy kính nghề đeo vào và bàng hoàng khi thấy ở góc bình có hàng chữ rất mờ do đã có ai đó cố tình bôi:

Dương Văn Út sanh 1963 ngày mất..... hưởng dương......

Tôi chết lặng vội cất cái bình vào tủ miệng lâm râm vái: Anh Út ở tạm đây đi để từ từ tôi tính (dù tôi chưa biết tính thế nào).

- Đem vào chùa thì tôi không có tiền.

- Đem bán thì vật này không phải để bán.

- Lén vứt đi thì lý trí muốn làm nhưng lương tâm không cho phép.

- Đem về nhà ư? Tôi không dám và không muốn việc đó.

Tôi như người mất hồn làm việc không nổi, ăn không ngon ngủ không yên hai ba ngày. Mặt không có nổi nụ cười trong lòng buồn và rối rắm.

Vợ tôi nhận ra sự khác lạ của chồng nên gặng hỏi mãi. Cuối cùng tôi cũng kể cho vợ nghe sự việc, hai vợ chồng ngao ngán nhìn nhau vì không có số tiền nhỏ để giải quyết việc nhỏ.

Thời gian đó vợ tôi bán mướn quần áo ở chợ An Đông sạp 214. Sáng ra đi làm vợ tôi kể cho chị em tiểu thương câu chuyện của tôi và cô Thủy chủ sạp 214 ra tay giúp đỡ.

Thủy điện thoại cho tôi:

- Anh Phúc, em đã nghe sự việc của anh. Giờ thì anh hãy đem hũ cốt đến tịnh xá Ngọc Vân (ngay chân cầu vượt Suối Tiên hướng đi về cầu Sài Gòn) gửi mọi chi phí em lo hết.

Nghe như người chết đuối vớ được phao. Ngay chiều hôm đó tôi cùng vợ sắm một ít hương hoa và đem hũ cốt đi gửi.

Xong việc trên đường về trong lòng rất sảng khoái vì dù mất một số tiền nhưng tự an ủi là mình đã làm được một việc tốt.

Quay lại cuộc sống hàng ngày tôi dần quên việc đó cho đến 6 tháng sau vào một buổi sáng.

Tôi có cuộc điện thoại trên mà hình hiển thị số nước ngoài gọi đến. Đầu bên kia là giọng nữ Việt

- Chào anh, anh có phải là anh Phúc sửa đồng hồ không?

- Ok Phúc đây. Chị gọi tôi có việc gì vậy?

- Dạ tôi nghe anh có mua được hũ cốt. Không biết anh có biết tên người trong hũ cốt không?

Tim tôi bắt đầu loạn nhịp nhưng vẫn trấn tĩnh:

- Dương Văn Út ngày sanh.... ngày mất...... hưởng dương.... và tôi hỏi lại chị ta:

- Vì sao chị có số ĐT của tôi và làm sao chị biết tôi mua hũ cốt

Người phụ nữ đó bỗng nấc lên vừa khóc vừa nói:

- Dạ tôi là chị ruột của thằng Út đây. Gia đình tôi định cư ở CANADA từ lâu không may em tôi vắn số. Tôi đã hỏa táng và gởi cốt về VN theo ý nguyện của em. Tôi gởi vào chùa ở Gò Vấp (ngay ngôi chùa bị lùm xùm về tro, cốt) không hiểu sao lại thất lạc hũ cốt. Tôi đã cố tìm kiếm, đăng báo rất nhiều lần nhưng không tìm được. Nay tôi tìm được anh đúng là người mua hũ cốt chắc là em tôi linh thiêng mách bảo.

Tôi rất là ngạc nhiên và sợ, tay chân đã ra mồ hôi nhưng vẫn bình tĩnh nói với chị ta:

- Hũ cốt của ông Út tôi đã gởi vào chùa chị hãy nhờ người thân tới liên hệ nhưng làm sao chị biết tôi mua nhầm hũ cốt.

Chị ta chậm rãi kể (thì ra sự việc như vầy).

Khi vợ tôi kể chuyện hũ cốt cho cô Thủy thì câu chuyện lan truyền ra nên nhiều tiểu thương ở chợ An Đông biết

Tình cờ có một chị tiểu thương du lịch CANADA rồi gặp chị ông Út trong siêu thị.

Hai bà Tám VN gặp nhau trên đất khách họ nói với nhau đủ việc trên đời. Vô tình chị ông Út than thở về việc thất lạc hũ cốt ở VN.

Nghe thế chị tiểu thương bảo: Ở An Đông tôi có nghe việc người ta mua nhầm hũ cốt để tôi gọi về VN xin số cho chị rồi chị hỏi thăm thử xem sao? Biết đâu may thầy, phước chủ......

Từ nửa vòng trái đất chỉ một cuộc ĐT chị ta đã tìm được hũ cốt của em mình sau 2 năm thất lạc.

Từ một người thợ sửa đồng hồ ở lề đường (lại đang thiếu nợ) 3 năm sau tôi đã trở thành chủ tiệm đồ cổ khá lớn ở Lê Công Kiều quận 1.

Mỗi lần cô Thủy chủ sạp 214 gặp tôi đều nói:

- Từ khi anh Phúc mua hũ cốt đến nay em thấy anh làm ăn rất khá. Thay đổi từng tháng đó anh, có lẽ ông Út phù hộ anh đó.

Tôi cười và bảo với Thủy:

- Chuyện tâm linh thì khó lý giải nhưng khi anh mua hũ cốt gởi vào chùa thì ở LCK và chợ An Đông nhiều người biết. Họ mến việc làm của mình nên họ giúp đỡ làm ăn. Trong cuộc sống mà nhiều người giúp thì công việc thuận lợi hơn.

Qua câu chuyện này tôi xin nhắn gởi tới những bạn đang khó khăn hoặc chưa thành công:

- Hãy cố gắng hết sức và luôn sống đúng lương tâm, đạo đức. Trời không phụ người tốt.


Sài Gòn 2-10-2020

Tuesday, June 23, 2026

Chiều Trên Đảo Bidong - Cẩm Ngọc

Mời quý bạn lắng nghe một bản nhạc buồn hát lên tâm sự của thuyền nhân tị nạn. 

Họ Đã Nằm Xuống - Để Hôm Nay Chúng Ta Được Gì? - Nhật Ngôn

Hình minh họa

Hình minh họa

Hình minh họa

6 triệu người ngã xuống với niềm tin thiêng liêng rằng thế hệ sau sẽ được sống tự do, no ấm và ngẩng cao đầu kiêu hãnh trên chính quê hương mình.

1. Hiện trạng: Nghịch lý giữa tiềm năng và nỗi bất an

Việt Nam hôm nay là một khối nghịch lý lớn. Trên bản đồ thế giới, chúng ta sở hữu gần như mọi lợi thế để cất cánh với bờ biển dài hơn 3.260 km mở ra đại dương cộng với vị trí địa chính trị chiến lược ngay tâm điểm Đông Nam Á. Bên cạnh đó là lòng đất giàu có với tài nguyên khoáng sản đa dạng từ than, dầu khí đến đất hiếm. Đặc biệt, dòng kiều hối từ “khúc ruột ngàn dặm” đều đặn gửi về 15–19 tỷ USD mỗi năm – nguồn ngoại tệ không hoàn lại, không điều kiện mà nhiều quốc gia hằng mơ ước.

Nhưng lợi thế thiên nhiên không tự biến thành thịnh vượng xã hội. Sau gần 40 năm Đổi mới, người dân vẫn phải đối mặt với quá nhiều bất công và hiểm họa thường trực: từ thực phẩm bẩn, tai nạn giao thông, ô nhiễm không khí, cho đến những rủi ro pháp lý khi cất tiếng phản biện.

Một xã hội mà nỗi sợ đã trở thành mặc định khi nói thẳng bị quy chụp là chống phá; đi khiếu kiện bị khép tội gây rối; người có ý kiến khác biệt bị coi là thế lực thù địch. Khi phản xạ tự nhiên bị bóp nghẹt, thì im lặng trở thành cách sinh tồn phổ biến nhất.

Chúng ta không thiếu tài nguyên, càng không thiếu nhân tài. Thứ chúng ta đang thiếu là một môi trường để nhân tài phát triển, để tài nguyên biến thành phúc lợi chung. Chúng ta thiếu một thể chế giữ chữ “Tín” với dân: biết nói thật, làm thật và dám chịu trách nhiệm thật.


2. Cái giá của độc lập không chỉ nằm trên bia mộ

Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, nhưng những con số vẫn nhói lòng. Theo số liệu chính thức đã có hơn 1,1 triệu liệt sĩ; gần 50.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; hơn 800.000 thương binh; và khoảng 300.000 ngôi mộ liệt sĩ chưa thể khắc tên. Còn có hàng vạn gia đình vẫn miệt mài đi tìm hài cốt người thân bao năm qua.

Nhưng đó mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Một lãnh đạo cấp cao từng phát biểu trước Quốc hội rằng “Chúng ta đã hi sinh hơn 6 triệu nhân mạng…”. Dù chưa có một thống kê toàn diện được công bố, con số ấy phản ánh một sự thật khốc liệt: hai mươi năm nội chiến và bom đạn đã lấy đi sinh mạng của hàng triệu dân thường vô tội ở cả hai phía – những người chết vì bom đạn, vì đói nghèo, bệnh tật và ly tán.

6 triệu nhân mạng là 6 triệu giấc mơ bị cắt ngang. Đó là 6 triệu lý do buộc thế hệ hôm nay phải sống sao cho xứng đáng. Vậy sự hi sinh khổng lồ của xương máu ấy, rốt cuộc đã đổi lấy điều gì cho người đang sống?


3. 14 câu hỏi nhức nhối từ những nấm mồ

Hãy nhìn thẳng vào thực tại để trả lời: Họ nằm xuống, để hôm nay thân nhân của họ và chúng ta “được” những gì?

1. “Được xếp hàng rồng rắn” trước các đại sứ quán từ Mỹ, Nhật, Hàn đến châu Âu để chầu chực xin một suất “xuất khẩu lao động”. Đất nước tự hào giải phóng nhưng lại trở thành nơi xuất khẩu cô dâu, xuất khẩu sức lao động giá rẻ, thay vì xuất khẩu tri thức và công nghệ cao.

2. “Được” bán máu, bán thận để mưu sinh: Khi bị đẩy vào đường cùng, một phần cơ thể trở thành “tài sản” cuối cùng để người nghèo quy đổi ra tiền viện phí hay tiền học cho con.

3. “Được” nô nức đi bỏ phiếu: Trong những kỳ bầu cử mà kết quả dường như đã an bài từ trước. Quyền lựa chọn người đại diện thực sự bị vô hiệu hóa bởi cơ chế mang tính thủ tục “đảng cử, dân bầu”, hiệp thương.

4. “Được” gồng gánh trăm thứ thuế phí: Từ những trạm BOT đặt sai chỗ, phí môi trường ẩn trong giá xăng, cho đến lệ phí vỉa hè. Tất cả để nuôi sống một bộ máy hành chính cồng kềnh, quan liêu – nơi tham nhũng vẫn là một “quốc nạn” chưa có thuốc đặc trị.

5. “Được mãn nhãn ngắm biệt phủ, lâu đài” của quan chức. Những công trình chục tỷ, trăm tỷ mọc lên rồi hoang phế giữa những vùng quê nơi trường học còn làm từ tranh tre, trạm xá còn thiếu thuốc.

6. “Được” phơi nhiễm độc tố mỗi ngày: Sống chung với thực phẩm bẩn, nguồn nước nhiễm kim loại nặng và bầu không khí ô nhiễm thuộc hàng top thế giới, để rồi xếp hàng chờ chết ở các bệnh viện ung bướu.

7. “Được” nhận những bản án oan thấu trời: Những cái tên như Hồ Duy Hải, Huỳnh Văn Nén, Nguyễn Thanh Chấn… không chỉ là những bản án nhức nhối mà là hàng chục năm kêu oan vô vọng, là sự hủy hoại cả ba thế hệ của một gia đình.

8. “Được” quyền sử dụng nhưng mất quyền sở hữu đất: Người dân bỏ tiền mồ hôi nước mắt mua đất, nhưng “sổ đỏ” có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào nhân danh “dự án phát triển kinh tế”. Muốn xây dựng trên mảnh đất của mình, lại phải đi “xin phép” và “bôi trơn”.

9. “Được” chứng kiến Mẹ Việt Nam Anh hùng, cựu chiến binh thành dân oan: Những cựu chiến binh, những người mẹ già nua ôm đơn khiếu kiện đất đai từ xã lên trung ương, đi từ năm này qua năm khác cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.

10. “Được” ngắm khẩu hiệu và biểu ngữ: Những dòng chữ “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” treo khắp nơi, trong khi hứ người dân chạm vào hàng ngày lại là bất công, oan sai, và sách nhiễu…

11. “Được” ra tòa nhưng không thấy công lý: Khi dân kiện quan chức, cán cân công lý luôn nghiêng về phía cán bộ. “Án bỏ túi” vẫn là nỗi ám ảnh kinh hoàng của người thấp cổ bé họng.

12. “Được” nhìn trẻ em và người tàn tật lê la bán vé số: ở mọi góc phố, phơi bày một hệ thống an sinh xã hội rách nát, không đủ sức bảo trợ cho những người yếu thế nhất.

13. “Được” chứng kiến hàng ngàn dự án đắp chiếu: Những tượng đài nghìn tỷ vừa làm xong đã nứt toác, nhà máy bỏ hoang, đường sắt đô thị đội vốn chục năm không thể vận hành… Tất cả đều được làm từ tiền thuế của nhân dân.

14. “Được” đi trên mạng lưới giao thông đầy cạm bẫy: Ổ gà, bẫy hành chính, biển báo đánh đố. Mỗi năm có hơn 6.000 người chết vì tai nạn giao thông – con số tương đương thiệt hại của một cuộc chiến tranh không tiếng súng.


4. Chúng ta nợ họ

Danh sách “được” này có thể kéo dài thêm những con số 15, 16…

Liệt sĩ không cần chúng ta xây thêm tượng đài nhìn tỷ vô hồn. Họ cần một xã hội mà con cháu họ không phải tha hương cầu thực, không phải bán máu để chữa bệnh hay không phải run sợ khi nói thật.

6 triệu người ngã xuống với niềm tin thiêng liêng rằng thế hệ sau sẽ được sống tự do, no ấm và ngẩng cao đầu kiêu hãnh trên chính quê hương mình. Vì vậy nếu hôm nay chúng ta vẫn chọn im lặng, coi bất công là chuyện thường ngày và xem phản biện là mối nguy hiểm, thì chính chúng ta đang phản bội lại sự hi sinh của họ.

Đất nước không tự giàu. Thể chế mới là thứ quyết định. Một thể chế giữ chữ “Tín” với dân: thượng tôn pháp luật, bảo vệ quyền bình đẳng, quyền sở hữu, quyền tự do, quyền truy cầu hạnh phúc như trong Tuyên ngôn Độc lập đã viện dẫn. Bảo vệ quyền tự do ngôn luận, bảo vệ quyền được sai để làm lại. Khi đó, tài nguyên mới thành phúc lợi, kiều hối mới thành vốn đầu tư, người tài mới không bỏ xứ mà đi.

6 triệu người đã trả giá bằng máu. Chúng ta hôm nay chỉ cần trả bằng một thứ đó là sự can đảm.

Can đảm để thay đổi! Can đảm đặt câu hỏi “vì sao”, can đảm đòi quyền được biết, can đảm không cúi đầu trước sai trái!

Nếu không, 50 năm nữa, con cháu chúng ta lại tiếp tục hỏi: “Ông cha nằm xuống để hôm nay chúng ta được gì?” Và câu trả lời vẫn sẽ là một danh sách dài những nỗi đau.

Xin cúi đầu trước các anh linh.

Và xin đứng thẳng vì những người đang sống!


VNTB – Họ đã nằm xuống – để hôm nay chúng ta được gì? – Việt Nam Thời Báo


Thanh Loan chuyển

Cho Làn Gió Mát Phải Lòng Dung Nhan - Trầm Vân

Tan Lớp Mây Mù - Phương Hoa


Chiều muộn của ngày thứ Sáu trước thềm Lễ Cha (Father’s Day). Không khí trên đất Mỹ nhộn nhịp hơn hẳn thường ngày. Những biển hiệu “Happy Father’s Day” rực rỡ treo khắp nơi, các cửa hàng bánh ngọt, sô cô la ngập tràn những chiếc bánh kem trang trí hình chiếc thắt lưng, chiếc mũ nồi duyên dáng, cặp kính tròn vo, hay những bộ râu ngộ nghĩnh.

Jamie bước ra khỏi bệnh viện sau một ca trực dài căng thẳng, chiếc áo blouse trắng gấp vội trong ba lô nhẹ nhàng, nhưng gánh nặng trong lòng thì chẳng thể cất đi. Là một bác sĩ nội khoa, mỗi ngày cô đều phải chứng kiến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, đối diện với những nỗi đau thể xác lẫn tinh thần của bệnh nhân, nên những nỗi buồn vu vơ không có thời gian xuất hiện trong tâm trí. Nhưng hôm nay, khi cởi bỏ chiếc áo blouse trắng, Jamie chợt thấy lòng mình chùng xuống và tim như thắt lại bởi một nỗi niềm riêng. Ngày Lễ Cha năm nay trùng hợp đến nghiệt ngã, là đúng tròn hai năm cô và Đức ký vào tờ đơn ly dị, và gần đúng một năm ngày người cha thân yêu của cô lìa trần. Nghĩ tới đây, Jamie quẹo xe tấp vào siêu thị Safeway gần nhà để mua hoa về dâng lên bàn thờ bố.

Những bước chân Jamie trong siêu thị như bồng bềnh trên cơn sóng, khi cô vừa đi vừa nghĩ về bố. Trong phút chốc, không gian ồn ào của siêu thị Safeway như lùi xa, nhường chỗ cho cuốn phim ký ức trào dâng, đưa nàng trở về với những năm tháng bảng lảng sương mờ quá khứ. Bố cô, ông Luận từng là một Sĩ quan Bộ Binh trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Jamie nghe kể lại, sau biến cố năm 1975, ông bị tù đày biệt tích trong những trại cải tạo khắc nghiệt miền Bắc xa xôi suốt 5 năm trời. Ngày bước ra khỏi trại giam, thân hình ông gầy gò, bước chân xiêu vẹo, và đôi tay chai sần, nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời nghị lực. Sau đó ông tìm đường vượt biển dắt theo Lan người vợ trẻ, khi ấy đang mang thai Jamie được hai tháng, xuống một con thuyền nhỏ cùng vài chục người, đánh cược mạng sống với đại dương song gió để tìm tự do.

Nhưng con tàu định mệnh ấy đã gặp phải hải tặc Thái Lan. Trận cuồng phong của lòng người tham ác và thú tính dã man đã đổ ập xuống con tàu. Lan và tất cả những phụ nữ yếu ớt trên thuyền đã bị chúng vùi dập, làm nhục ngay trước mắt bao người. Còn may là vì Lan ngất xỉu nằm bất động nên bọn chúng tưởng rằng đã chết và không nhớ tới để liệng xuống biển như những phụ nữ và các cô gái bất hạnh khác trên thuyền.

Sau bi kịch đó, khi đặt chân đến đảo tị nạn, Lan đã nhiều lần tìm đến cái chết để rửa sạch nỗi tủi nhục bủa vây. Nhưng mỗi lần nhìn xuống bụng mình, nơi sinh linh bé bỏng đang lớn lên từng ngày, và nhìn vào ánh mắt van nài, đầy xót thương của chồng, bà lại nghẹn ngào ráng nuốt nước mắt vào trong để sống.

Gia đình ba người đặt chân đến Hoa Kỳ với vết thương lòng sâu hoắm. Nhưng định mệnh nghiệt ngã chưa chịu buông tha. Khi Jamie vừa tròn hai tuổi, mẹ cô đổ bệnh nặng. Căn bệnh lạ quái ác nhiễm từ những gã hải tặc năm xưa trên biển như một thứ độc dược âm ỉ phát tác, cướp đi sinh mạng của người mẹ trẻ.

Kể từ ngày đó, bố Jamie ở vậy một mình. Một người đàn ông trí thức, vốn chỉ quen với sách vở và súng đạn, rồi đến đốn cây phá rừng sau khi mất nước, nay phải tự học cách pha sữa, nấu từng bát cháo cho con. Ông làm đủ mọi công việc tay chân nặng nhọc để nuôi Jamie khôn lớn. Chính những giọt mồ hôi và tình yêu bao la của bố đã nuôi dưỡng ước mơ của Jamie. Cô bé học hành thật giỏi, luôn đạt điểm xuất sắc từ Tiểu học cho đến trưởng thành. Jamie nhận bằng Bác sĩ và rồi hoàn tất chuyên khoa nội, thì mái tóc bố đã bạc trắng. Đôi mắt bố nhòe lệ bảo Jamie: “Bố rất hãnh diện về con! Con đi chữa bệnh cứu người, cũng là đang xoa dịu nỗi đau mà mẹ con ngày xưa đã phải gánh chịu!”

Nhớ lại một ngày Lễ Từ Phụ năm Jamie hoàn tất việc học, cô tự tay chuẩn bị một bữa tiệc nhỏ cho hai cha con, và mua tặng bố một chiếc áo len mới. Nhưng bố cô lại lặng lẽ ra chợ mua về một bó hoa hồng vàng và một bó hoa hồng đỏ thật đẹp. Khi Jamie thắc mắc, bố đã cười và nói, “Dù là ngày Lễ Cha, nhưng đây là quà cho mẹ và cho con. Bố luôn muốn mẹ, và nhất là con, được hạnh phúc!”

Nhưng hạnh phúc ngắn ngủi như bọt nước tan mau. Chỉ mấy tháng sau ngày Lễ Cha năm ấy, đại dịch COVID-19 càn quét qua nước Mỹ. Là một bác sĩ, Jamie phải lao vào chữa cho bịnh nhân cùng toàn thể nhân viên bệnh viện. Bố ở nhà rất lo lắng cho con gái, đang vì lương tâm một bác sĩ mà phải lao vào nơi chốn hiểm nguy. Đâu ai ngờ, Jamie thì không sao, mà bố cô ở nhà đã không may nhiễm phải thứ virus quái ác ấy.

Bố được đưa vào bệnh viện, chính nơi Jamie đang làm việc. Nhưng sự nghiệt ngã của số phận ở chỗ, dù là một bác sĩ hằng ngày cứu sống bao người, Jamie lại bất lực nhìn hơi thở của bố cứ yếu dần đi sau bức tường kính cách ly nghiêm ngặt. Cô không thể lao vào ôm bố, không thể nắm lấy bàn tay gầy gộc đã nuôi cô khôn lớn. Trong những giờ phút cuối cùng, qua màn hình điện thoại kết nối nghẹn ngào, bố Jamie đã dùng chút tàn lực, tháo mặt nạ oxy ra trong vài giây. Ông nhìn con gái bằng ánh mắt trìu mến nhất, và đôi môi mấp máy thều thào rất nhỏ: “Bố… yêu con... con hãy sống… thật hạnh phúc!” Rồi màn hình máy trợ tim phẳng lặng một đường dài. Con virus ác độc đã mang bố đi mãi mãi, bỏ lại Jamie bơ vơ giữa cuộc đời rộng lớn.  

Câu nói cuối của bố, mỗi lần nhớ lại, Jamie vẫn thấy tim mình nhói buốt. Những năm tháng trước đó, vì lao vào các ca trực thâu đêm suốt sáng tại bệnh viện, vì bệnh nhân nặng cần cô ngày càng nhiều, Jamie đã vô tình bỏ quên tổ ấm của mình. Tình cảm vợ chồng cứ thế nhạt phai theo những bữa cơm lạnh ngắt. Cho đến một buổi sáng định mệnh, sau một ca trực đêm kiệt sức, Jamie được về sớm. Cô háo hức bước vào nhà, định bụng sẽ tạo cho chồng một sự bất ngờ. Nhưng tạo hóa trớ trêu, thứ chờ đón cô lại là một nhát dao chí mạng: Đức và Mai, người bạn gái thân thiết nhất của cô, đang quấn lấy nhau ngay trên chính chiếc giường ngủ của vợ chồng nàng. 

Cái giá của sự tận hiến cho y học là sự phản bội ê chề từ chồng và người bạn thiết. Ngày hôn nhân đổ vỡ, người đau đớn nhất không phải Jamie, mà là bố cô. Người đàn ông cả đời chịu tủi nhục, một mình gà trống nuôi con chỉ mong con được ấm êm, nay lại phải chứng kiến đứa con gái báu vật bị người ta chà đạp. Ông Luận không trách Đức, cũng không rầy Jamie, ông chỉ ôm con gái vào lòng, đôi bàn tay gầy gộc run lên bần bật vì xót xa. Từ ngày đó, ông luôn đau đáu, tìm mọi cách xoa dịu và khát khao được nhìn thấy nụ cười trở lại trên môi đứa con độc nhất.

Jamie bỗng lắc đầu, đưa tay quẹt trôi đôi dòng lệ nóng vừa tràn ra khóe mắt, và cố xua đi bóng ma của quá khứ khi bước chân vừa tới hàng hoa. Dòng người mua sắm vẫn ngược xuôi hối hả, nào ai biết họ đã đi ngang qua một khách hàng đang bước đi cùng với tâm sự trùng trùng. Jamie tiến về phía thùng hoa, chọn một bó hồng vàng, màu hoa mà lúc sinh thời bố cô thích nhất, để ngày mai đặt lên bàn thờ ông và mẹ.

 

Đúng lúc cô đang nâng niu bó hoa trên tay, một giọng nói trầm ấm thoảng qua sát bên cạnh. Jamie bất giác nhìn sang. Một người đàn ông mang kính trắng trí thức, dáng người cao gầy đang dắt theo một cô con gái nhỏ chừng 5 tuổi mặc áo đầm hồng với hai bím tóc cột nơ đỏ đong đưa, bước lại quầy hoa. Tim Jamie chợt đập loạn lên lỗi nhịp. Đó là một gương mặt vừa thân quen, vừa xa xôi trong ký ức. Tom!


Tom là người bạn học cùng trường y với cô ngày trước. Những năm tháng thanh xuân cùng nhau thức trắng trong những đêm trực, cùng chia sẻ những hộp cơm truyền thống quê nhà do tự tay Jamie nấu bới theo… biết bao kỷ niệm ngọt ngào và thanh khiết đã nảy nở giữa hai người. Tom thương Jamie, Jamie biết. Jamie quý mến Tom, Tom hiểu. Nhưng khi ấy, chiếc nhẫn cưới trên ngón áp út của Jmaie và rào cản lễ giáo Á Đông đã giữ hai người ở hai phía của một lằn ranh vô hình. Họ tôn trọng nhau, giữ trọn sự chừng mực của những người bạn tri kỷ. Sau khi tốt nghiệp, Tom buồn vì chẳng thể làm gì hơn với mối tình tuyệt vọng, nên chuyển về vùng miền Đông làm việc trong một bệnh viện lớn, hai người cũng từ đó mà bặt tin nhau.


Jamie xúc động đến mức đứng chôn chân tại chỗ. Một cảm giác bối rối, tủi hổ, xen lẫn nghẹn ngào trào lên, cô vội quay mặt đi, giả bộ như đang chăm chú chọn hoa để Tom không nhận ra mình trong bộ dạng hốc hác và gần khóc này. Hai cha con Tom tiến lại gần ngay bên cạnh cô. “Daddy!” Cô bé nhỏ bất ngờ níu tay cha khi thấy Tom cầm lên một bó hoa hồng đỏ thắm, rực rỡ và lộng lẫy. “Ngày mai chúng ta làm tiệc mừng lễ Father’s Day, là ngày của ba, nội nói ba sẽ mua bánh kem, sao ba mua hoa hồng chi vậy?”

Tom cúi xuống, chỉnh lại chiếc nơ trên tóc con gái, giọng anh trầm xuống, ấm áp và chứa chan một nỗi niềm sâu kín. Anh nói gần như thì thầm, nhưng Jamie đứng bên cạnh nghe không sót một lời:

“Con gái yêu! Ba mua hoa hồng là để ngày mai hai cha con mình cắm lên bàn thờ tặng mẹ con. Ở trên cao, chắc mẹ cũng đang chờ hoa của chúng ta. Ba chỉ muốn con và mẹ luôn được hạnh phúc. Nhất là con gái ba được hạnh phúc! Là đủ với ba rồi!”


Câu nói của Tom như một luồng điện chạy dọc sống lưng Jamie. Tay cô run rẩy đến mức bó hoa hồng vàng suýt chút nữa rơi khỏi tay. Giọng nói ấy, sự ấm áp đầy truyền cảm ấy… chính là Tom của những đêm trực năm xưa không sai vào đâu được. Nhưng câu nói của anh cũng mang theo một sự thật xót xa. Tom đã lập gia đình, và vợ anh đã không còn nữa. Hóa ra, người đàn ông năm xưa cô từng quý mến cũng đang mang một vết thương lòng rỉ máu. 

Không thể trốn chạy cảm xúc thêm được nữa, Jamie hít một hơi thật sâu để ngăn giọt nước mắt chực trào, cô quay sang, giả bộ như tình cờ ngước mắt lên nhìn người bên cạnh. “Anh… anh Tom?”  Giọng Jamie thảng thốt, run lên.


Tom giật nẩy mình, quay phắt sang. Khi ánh mắt anh chạm vào gương mặt Jamie, thời gian như ngừng trôi, không gian sầm uất của siêu thị Safeway hoàn toàn biến mất. Bó hoa hồng đỏ trên tay Tom rơi tự do xuống thùng hoa bên dưới lúc nào không hay. Chàng sững sờ nhìn Jamie, đôi mắt sau cặp kính trắng mở to, đầy kinh ngạc và hoang mang, như thể nàng vừa từ cung trăng rơi xuống trước mặt mình.

“Jamie? Phải em không, Jamie?” – Giọng Tom lạc đi, đôi môi anh run rẩy.

“Là em, Tom…”


Trong phút chốc, bao nhiêu kìm nén của những năm tháng thăng trầm như vỡ òa. Ánh mắt Tom nhìn Jamie cùng với sự ngạc nhiên là cả một đại dương thương nhớ, lẫn sự xót xa khi nhìn thấy nét mệt mỏi bơ phờ trên gương mặt người con gái mình từng yêu, và cả một tia lửa hy vọng vừa được thắp lên sau chuỗi ngày dài tăm tối. Họ đứng đó, hai tâm hồn cô độc giữa đất Mỹ xa xôi, hai con người từng đi qua đổ vỡ và mất mát, bất ngờ va vào nhau trong một chiều hoàng hôn đầy nắng gió của vùng trời Cali.

Sau những phút giây nghẹn ngào, họ ra ngồi xuống chiếc bàn trước cửa Safeway. Những câu hỏi thăm vội vã về cuộc sống của nhau được trao đổi. Tom kể ngắn gọn về sự ra đi của vợ anh sau một cơn bạo bệnh, còn Jamie chỉ lặng lẽ cười buồn, xót xa cho cuộc hôn nhân đã qua của mình. Họ không cần nói nhiều, áp lực của một bác sĩ và nỗi đau của sự chia ly tự khắc làm họ thấu hiểu nhau hơn ai hết.

Jamie nhìn Tom, nhìn bờ vai đã gánh vác bao giông bão của anh, rồi từ từ cúi xuống nhìn vào đứa bé ngồi gần bên. Cô dịu dàng nắm lấy bàn tay nhỏ bé, mềm mại đứa con gái nhỏ của Tom. Đứa bé ngước đôi mắt tròn xoe, trong veo nhìn cô đầy thiện cảm.

Ngay trong khoảnh khắc bàn tay cô chạm vào hơi ấm của đứa trẻ, trong tâm trí Jamie chợt vang lên một giọng nói quen thuộc, trầm khan, và bao dung của bố cô trước ngày ông mất vì đại dịch: “Con phải cố gắng sống cho thật hạnh phúc! Con hạnh phúc là ba vui rồi!”

Hóa ra, lời di nguyện cuối cùng của bố lại là một lời chúc phúc, một sự giải thoát cho tâm hồn cô khỏi những u uất của quá khứ. Bố muốn cô mở lòng. Bố muốn cô được hạnh phúc. Và biết đâu, sự sắp đặt kỳ diệu của số phận ngày hôm nay, tại quầy hoa này, chính là món quà mà bố từ trên trời cao đã gửi gắm xuống cho cô?


Jamie ngước lên nhìn Tom, lần này, một nụ cười thực sự bình yên và rạng rỡ đã nở trên môi cô. Ngoài kia, nắng chiều California vẫn đang vàng rực rỡ, và mùa đông lạnh lẽo trong lòng Jamie dường như đã bắt đầu tan chảy, nhường chỗ cho một mùa mới. Mùa của sự hồi sinh và hạnh phúc, ngay trong ngày Lễ Father’s Day diệu kỳ.

 

Phương Hoa

 https://vvnm.vietbaoonline.com/a248308/tan-lop-may-mu

Monday, June 22, 2026

Đặc Sản Tiền Giang Quê Hương Tôi

Bì Bún

image.png

Bì Cuốn

image.png

Bánh Tằm Bì


Thịt Heo Quay

Bún Chả Giò

image.png

Bánh Xèo



Thanh Loan chuyển

Mìền Bắc Nói Bắt Xe - Miền Nam Nói Đón Xe - Cổ Nguyệt


Ở phương Bắc, người ta thường bảo nhau đi "bắt xe". Nghe chữ "bắt", tự dưng thấy cả một sự quyết liệt và hối hả. Chữ "bắt" gợi lên hình ảnh một cánh tay đưa ra dứt khoát, bắt lấy một nhịp sống đang trôi nhanh, bắt lấy một cơ hội để kịp giờ chuyển bánh.

Trong cái bảng lảng của sương mù hay sự tấp nập của phố phường Hà Nội, việc "bắt" được một chuyến xe giống như một kỳ tích nhỏ trong ngày. Nó mang theo sự chủ động, có chút gì đó can trường của người dân xứ lạnh, luôn muốn nắm giữ và điều khiển lịch trình của mình một cách gọn ghẽ nhất. Xe đến, người đi, mọi thứ diễn ra mau lẹ như chính cái tên gọi của nó.

Ngược về phương Nam, cái nắng miền nhiệt đới dường như làm mọi thứ mềm mại hơn. Người miền Nam không "bắt", họ đi "đón xe".

Chữ "đón" nghe sao mà tình nghĩa! Nó không đơn thuần là tìm một phương tiện di chuyển, mà giống như đang đợi chờ một người quen, một người khách quý. Hình ảnh một người đứng bên vệ đường, dưới bóng cây râm mát, tay vẫy nhè nhẹ khi thấy bóng xe từ xa, đó chính là "đón". Nó tượng hình đến lạ kỳ, là sự mở lòng, là tâm thế sẵn sàng đón nhận.

Người miền Nam coi chiếc xe như cái duyên. Xe ghé lại, bác tài nở nụ cười, khách bước lên tay xách nách mang, câu chào tiếng hỏi rôm rả như người trong nhà. Chữ "đón" ấy mang theo cả cái cốt cách hào sảng, thong dong của dân sông nước, nơi mà thời gian dường như trôi chậm lại một nhịp để người ta kịp nhìn mặt nhau, kịp trao nhau một chút tình tâm giao.

Khi ngôn từ là lăng kính văn hóa

Nếu "bắt xe" là một hành động dứt khoát để chinh phục đích đến, thì "đón xe" lại là một nghi thức nhỏ để bắt đầu một hành trình bằng sự tử tế. Một bên là sự năng động, thực tế; một bên là sự lãng mạn, trọng tình.

Có lẽ vì vậy mà khi nghe ai đó nói: "Để tui ra đầu đường đón xe", ta thấy lòng nhẹ nhõm như sắp được đi chơi hội. Còn khi nghe: "Phải ra kia bắt xe ngay cho kịp", ta lại thấy một tinh thần khẩn trương, đầy trách nhiệm.

Dù là "đón" hay "bắt", suy cho cùng đều là để đi về phía trước. Nhưng qua cái cách gọi tên, ta mới thấy yêu thêm tiếng Việt mình – một ngôn ngữ mà chỉ cần thay đổi một chữ thôi, đã thấy cả một bầu trời văn hóa và tính cách của con người mỗi vùng miền hiện ra rõ mồn một.

tiếng miền Nam mình nói ra không chỉ để hiểu, mà là để thương, để thấy cái hình cái bóng của quê cha đất tổ trong từng lời ăn tiếng nói hằng ngày.


Cổ Nguyệt 

Nguồn: FB

Thanh Loan chuyển

#686 - Điều Nên Cân Nhắc Trước Khi Mua Vitamin. Dấu Hiệu Cảnh Báo Bệnh Tim Nhiều Người Chưa Biết - BS. Phạm Hiếu Liêm

Một Người Tội Nghiệp - Nguyên Nhung


Tôi không định viết về ông ta, một người đàn ông bất hạnh, thật tội nghiệp có cái tên là Xẹt, nếu không có hiện tượng những vì sao băng, sao xẹt trong một đêm trời mùa Ðông như năm nay. Tôi bỗng dưng nhớ tới người đàn ông mang tên Xẹt ở Cần Thơ ngày xưa, qua hình ảnh những vì sao nằm rải rác trên giải ngân hà, mà mỗi vị sao hình như đã gắn bó với số phận của mỗi con người nơi trần thế.

    Hồi còn nhỏ, tôi vẫn thường nghe kể câu chuyện về các vì sao, theo tính cách truyện dân gian. Mỗi một vì sao khi băng trên nền trời rồi tắt lịm đi, đấy là dấu hiệu vừa có một người vĩnh biệt cõi đời. Nhưng mỗi lúc ấy, nếu ai ao ước điều gì, mà lại ước kịp với khoảng thời gian ngắn ngủi của một vì sao xẹt thì sẽ được toại nguyện. Ðiều thú vị ấy đã ám ảnh bọn trẻ con, ngồi dưới đất mà mơ tưởng chuyện trên trời, bởi vậy tôi đã nhiều lần ngồi nhìn sao băng mà ao ước những chuyện không bao giờ xảy tới. Nó ám ảnh đến độ khi lớn khôn, hiểu rằng điều ấy chỉ là chuyện hoang tưởng của những mơ ước, thế mà mỗi khi thấy một vì sao rơi, hay băng ngang trên nền trời khuya, tôi vẫn cứ thầm thì nói nhanh những mơ ước của mình.

    Ðấy chỉ là chuyện những vì sao, những kỳ bí của trời đất, cho thế giới thần tiên của trẻ con. Còn chuyện người đàn ông mang tên Xẹt, tôi sẽ lần lượt kể về cuộc đời của ông ta, thì thôi, cứ xem như số phận ông ta đã gắn bó với một vì sao xấu.

    ***
    Không biết tên thật của ông là gì, nhưng vì cái chân không cất bước được bình thường như những cái chân khác, nó cứ lẹt xẹt trên mặt đường, nên lũ trẻ con đều gọi ông là ông Xẹt. Một tay chống gậy, cái thân hình ấy lắc lư đi trong con ngõ nhỏ là nỗi kinh hoàng của lũ trẻ con độ tuổi Mẫu giáo hồi đó. Ðúng ra thì ông ta không dữ như “Ba Bị chín quai, mười hai con mắt, hay bắt trẻ con”, nhưng cũng vì lời hù dọa của người lớn, khiến lũ trẻ con nhìn ông Xẹt qua hình ảnh một người quái đản, chỉ hay ăn thịt con nít. Vì được đem ra làm trò hề để hù dọa lũ trẻ yếu bóng vía, ông Xẹt bỗng dưng quen thuộc với vai trò này, và vì thế bất cứ một đứa trẻ nào được ông nhìn tới, cũng đều nem nép ngồi yên trong lòng mẹ.

    Chả hiểu ông bị tật từ hồi cha sinh mẹ đẻ, hay là qua một cơn bịnh bại liệt, khiến một cái chân bị teo dần đi, thêm một chiếc gậy trong tay, chân này dựa vào chân kia mà bước. Tiếng gậy gõ lộp cộp trên con đường tráng xi măng trong ngõ, dáng xiêu vẹo như một chiếc cột đổ nghiêng, người đàn ông quần áo bẩn thỉu đi đến từng nhà trong xóm, để ăn xin một chút tình thương của đồng loại, những con người có lòng may mắn hơn ông vì còn hai chân đứng ngay ngắn trong cuộc đời.

    Ông ta có cái mặt hơi dị hợm, đôi mắt to, hơi lồi ra trên khuôn mặt đen đủi, mỗi khi nói lại cà lăm cho nên tất cả những cái xấu dường như đã được ông Trời tô điểm thêm thành một cách không bình thường. Nghe người ta kể, ngày xưa gia đình ông ta rất khá giả, nhưng ông bố vì ăn chơi trác táng mà của cải cứ thế lần lượt đội nón ra đi. Ðến lúc ông ta sinh ra thì lại ốm đau tật nguyền, mẹ chết sớm, bởi thế khu vườn rộng và căn nhà lợp ngói âm dương đã lọt vào tay người khác. Chỉ còn lại một cái chái nhỏ ở góc vườn, hồi xưa là chuồng heo, đó là nơi trú ngụ của ông ta để lê lết nốt cuộc đời khốn nạn, trả cho xong cái nghiệp làm người.

    Khi nghe tiếng gậy gỗ lộc cộc đi vào ngõ, bà nội trợ vội vét nốt chút thức ăn thừa vào một chiếc chén đá, với một muỗng to cơm nguội, ông Xẹt đã có một bữa đỡ lòng với những của bố thí ấy. Có nhà rộng rãi và khá giả hơn, cho ông ta đồng bạc rồi xua ngay đi như xua một con chó ốm bẩn thỉu. May ra ông Xẹt chỉ có chút uy dũng đối với lũ trẻ con ba bốn tuổi, đang khóc nhè để ăn vạ, bỗng nín thinh ngay khi thấy bóng dáng xiêu vẹo với chiếc gậy gỗ của ông gõ vào cánh cổng.

    ***
    Không biết ông Xẹt bao nhiêu tuổi, và không biết tại sao người ta cứ gọi ông là “ chú Xẹt”, nhưng dẫu là tuổi gì thì ông Xẹt vẫn có số cầm tinh “bị , gậy”, con cháu nhà cái bang. Thời kỳ đó tương đối người ta còn kiếm được nồi cơm, con cá dễ dàng, chú Xẹt nhờ thế cũng nhận được lòng từ tâm của con người rộng rãi hơn. Bước qua thời kỳ đói kém hơn, người ta không có cơm nguội để ăn thì lấy gì cho chú Xẹt no bụng. Thành thử chú cũng đói, chiếc gậy gỗ vẫn kêu to trong con ngõ đã vắng vẻ hơn trước kia, nhưng ít khi nào người ta mở cổng vẫy chú ta vào cho một bát cơm. Chú Xẹt cố gắng tìm những nhà có trẻ con còn bé hay vòi vĩnh, rồi ra oai cho đứa bé nín khóc, may ra thì được củ khoai. Có khi cũng chẳng được gì, chú lại lê chiếc gậy sang nhà khác, với một dáng điệu tần ngần mà không dám mở lời xin xỏ như dạo trước, vì giữa cảnh đói khổ chung, chú hiểu người ta cũng cực nhọc lắm mới lo nổi ngày hai bữa cơm thường.

    Giữa khi ấy, tự nhiên lại nổi lên chiến dịch giúp đỡ và chăm sóc những người nghèo khổ, giai cấp được coi như bị áp bức trong xã hội, người ta không còn dám coi thường chú Xẹt nữa. Chẳng biết chú được mời tới đâu, tham dự những buổi họp quan trọng nào, nhưng dạo này người ta thấy chú ăn nói đã thay đổi, có lập trường hẳn hoi. Mỗi tháng, chú được cấp phát một số gạo đủ ăn, thêm một vài thứ lặt vặt như ký đường, túi xà bông giặt , cục xà bông cô Ba thơm phức, còn thức ăn và củi lửa mắm muối phải tự túc. Chú Xẹt vẫn phải đi ăn xin, nhưng bỗng dưng thay đổi hẳn tính nết cũng như cách nói năng cho hợp với chỗ đứng của mình trong xã hội, làm như ai cũng phải có bổn phận giúp đỡ chú. Ðó là ảo tưởng sai lầm của một người cùng đinh, bỗng dưng thấy một ngày được đưa vào giai cấp có quyền đòi hỏi sự đối đãi bình đẳng trong xã hội. Nào ai dám làm gì chú, chỉ sự nghèo khổ đã là một bức tường thành bảo vệ " bất khả xâm phạm"

    Trong những buổi lễ nho nhỏ tại địa phương, người ta thấy chú ngồi ngất nghểu ở hàng ghế trên, ăn mặc khá tươm tất, chiếc gậy vẫn gác bên thành ghế, và người ta đã nói năng lễ phép hơn để chú khỏi mếch lòng. Ngay cả những buổi lễ Tôn giáo, khi chú Xẹt tới, người ta vẫn dành cho chú một chỗ ngồi đàng hoàng lắm. Chỗ ấy ngày xưa dành cho những vị chức sắc, những người có của. Nay thời buổi thay đổi, chú Xẹt cũng được tôn trọng và ngồi ngang vai vế với những người khác cho có vẻ bình đẳng.

    Họ đóng kịch cả thôi, chỉ có chú Xẹt là ngây thơ tưởng mình một bước lên tới Giời. Chú sung sướng ngồi ngó quanh ngó quẩn. Kìa bà Bảy chủ đất, cô Tám sạp vải, ông giáo dạy trường cấp Ba, tất cả đều ngồi ở hàng ghế sau, những người không có một mảnh đất cắm dùi như chú, bỗng nhiên hôm ấy leo lên cả hàng ghế trên, những cô những bà những ông đi ngang ai cũng nhoẻn miệng cười thân thiện.

    Chỉ được mỗi hôm đó, hay là mỗi khi cần diễn một màn kịch thì người ta không ngại ngần gì mà không đưa chú Xẹt lên chín tầng trời, như một ngôi sao sáng. Chú Xẹt chưa bao giờ cảm nhận được sự hãnh diện được làm người nghèo khổ xứng đáng như lúc này. Có món gì ngon hôm ấy, người ta cũng dành cho chú, sự dịu dàng ấm áp của những tấm lòng sao nó nhiều thế, khiến chú vừa sung sướng vừa cảm động.

    Nhưng cũng chỉ thế thôi. Sau buổi lễ, khi ra về người ta đi ngang chỗ chú ngồi, có mỉm cười nhưng chỉ là nụ cười giễu cợt sự ngây thơ của chú. Rồi khi tất cả đã ra về, chú Xẹt lại một mình lê cái chân què, lần theo chiếc gậy để trở về cái ổ heo của mình. Nói thế cũng không ngoa, chỗ ở của chú chính là cái chuồng heo ngày xưa, và nó cũng hôi hám, bẩn thỉu như một cái chuồng heo vì chú đâu có bao giờ giặt giũ những màn mùng chăn chiếu ấy.

    ***
    Ðúng ra nếu cuộc đời có được những phút giây le lói như một vì sao, kể cũng hạnh phúc vậy. Những phút giây ngắn ngủi ấy thường in sâu vào tiềm thức, và nó làm cho lắm kẻ bồi hồi mãi khi nhớ lại, chứ chắc gì đã chịu nhìn ra đấy chỉ là một sự bịp bợm.

    Ðối với công việc của nhà nước thì việc giúp cho chú hơn chục ký gạo hẩm đã là chu toàn nhiệm vụ nhân đạo đối với nhân dân, nhưng quần chúng thì không còn nhìn chú với cái nhìn yêu mến như trước. Cái dại lớn nhất của chú Xẹt là chú lại biết yêu, yêu một “con mẹ” vừa ngớ ngẩn , vừa nghèo khổ như chú nên nó là nguyên nhân dẫn tới sự chú bị mọi người hắt hủi, và không còn rộng tay bố thí như trước. Làm như một người đói khổ , nghèo hèn như chú không có quyền yêu, khi tình yêu là sản phẩm độc quyền dành cho những người “no cơm rửng mỡ”, vì càng lắm chức lắm quyền, càng lắm tiền chừng nào thì mới có cơ hội để yêu và để được yêu. Xã hội vốn vẫn bất công như vậy, huống gì chú Xẹt giờ này tự nhiên đang từ ánh đèn leo lét trong đêm tối , nay được biến thành vì sao thì sự dám biết yêu của chú quả là một điều không thể chấp nhận.

    Có khổ có nghèo thì chú Xẹt cũng là một con người, cũng có trái tim bằng thịt, cũng thèm thuồng được ôm ấp một cái gì biết động đậy để sưởi ấm nỗi cô đơn của con người vậy. Nhưng khỉ gió lắm, với tính ích kỷ cuả loài người, người ta không chấp nhận cho chú có quyền yêu. Chú biết lắm chứ, người ta xì xào bàn tán vì thấy chú hay đi ngang nhà con mẹ dở hơi, mắt mũi kèm nhèm, chuyên môn đi làm việc vặt để kiếm cơm như chú. Cứ trông thoang thoáng đằng sau lưng thì chị ta cũng dễ coi, nhưng phải nhìn tận mặt chị ta thì mới thấy đó là một người ngớ ngẩn rất tội nghiệp. Chị ta ở với một người bà con xa từ hồi nhỏ, ngày hai bữa cơm và năm được hai bộ quần áo. Hai người khốn khổ ấy gặp nhau, một anh què quặt, một chị ngớ ngẩn cũng xứng đôi vừa lứa, thế nhưng họ vẫn trở thành trò cười cho lũ người vô tâm kia, và cả hai kẻ cô đơn yếu thế ấy đã bị lên án rằng “cơm không có ăn, áo không có mặc” mà còn động cỡn.

    Chú Xẹt đâu có định sinh ra đời để làm Thánh. Bởi vậy một hôm, có tý tiền lẻ trong túi, chú bèn nghĩ đến chuyện rủ người đàn bà kia đi uống cà phê, với cái giọng cà lăm đặc biệt của chú :

    “ Ði, đi... uống... cà phê hông ? "

    Không biết sao cái con mẹ dở hơi kia nó lại bằng lòng đi uống cà phê với chú Xẹt, và vì thế mà câu chuyện nổ tung ra như quả tạc đạn. Cả xóm xì xào chuyện chú Xẹt và chị ngớ ngẩn kia đi uống cà phê với nhau, thế là tất cả những người hay bố thí cho chú chút cơm thừa, tý tiền lẻ đều dần dần xa lánh chú, xem chú như kẻ đang phạm tội gì ghê gớm lắm. Người ta hà khắc với một kẻ bần cùng thèm khát chút tình yêu ấy làm gì không biết, chỉ thấy rằng từ ngày ấy chú Xẹt cứ gầy rộc đi, chú lê chiếc gậy gỗ đi ngang nhà người đàn bà ngớ ngẩn kia, ngơ ngẩn như một kẻ mất hồn, hay như một thi sĩ thất tình đang tìm người trong mộng. Có người nhiều chữ nghĩa biết đọc sách thì lý luận rằng, ngày xưa Chí Phèo tuy xấu xí, thô lỗ là vậy mà vẫn dám yêu Thị Nở, thì hà cớ gì lại hẹp lòng không chấp nhận tình yêu của chú Xẹt với mụ dở người kia? Chuyện ấy là chuyện cũ, còn thời buổi “ gạo châu củi quế” này, chỉ mỗi việc quản thúc cái bao tử cũng đủ làm đương sự hết vía, không dám tơ tưởng chuyện yêu đương nhăng nhít.

    ***
    Khi gió mùa thổi tới, trời hơi lành lạnh, gió đã thổi hiu hắt qua rặng dừa nước nơi mé sông, tôi gặp chú Xẹt lê tấm thân gầy gò với chiếc gậy gỗ vào xóm nhỏ. Ðầu rối bù, đôi chân đất cáu bẩn, người chú muốn rũ xuống như một tàu lá chuối héo. Bây giờ chú cũng không còn hứng thú để đóng vai một con cọp dữ gầm gừ với lũ con nít hay khóc nhè nữa, con người ấy như muốn gập xuống vì khổ, chữ tình là cái chi chi mà nó hành hạ con người quá sức như vậy. Không mấy người muốn bố thí bát cơm cho con người tội nghiệp đó.

    Chú ngồi xổm bên cạnh chiếc cổng gổ nhà tôi, chỉ nhìn chứ không thốt lên lời xin xỏ nào. Ðầu tiên thì tôi cũng giống như mọi người, cũng cho chú cái nhìn ác cảm “ cơm không có ăn, áo không có mặc” mà lại dám yêu. Nhưng nhìn vẻ thiểu não cuả con người cùng khổ này, cầm lòng không đậu, tôi cho chú một chiếc chăn cũ. Rồi lục trạn cũng không còn gì, tôi lấy cho chú một đĩa cơm nguội với chút cá kho, chú cũng chỉ hờ hững cầm đĩa cơm, ngồi bệt xuống đất rồi xúc từng muỗng vào mồm với vẻ uể oải của một người ốm. Tôi vừa nhìn chú ăn, vừa tò mò muốn biết con người nghèo khổ đến tận cùng bằng số khi yêu như thế nào:

    “ Sao chú dại thế, rủ bà kia đi uống cà phê làm gì cho khổ thân ra.”

    Chú Xẹt đưa cặp mắt lờ đờ nhìn tôi :

    “ Tội nghiệp tui mà... cô hai. Hai đứa chỉ... chỉ...uống chung có một ly “xây chừng”, chứ đâu có tiền mà, mà...mỗi đứa một ly. Cả đời tui đâu có... có bao giờ dám mời ai một ly cà phê. "

    Tôi làm bộ dọ dẫm :
    “ Người ta nói chú muốn lấy chị kia làm vợ, có phải không ?”
    Chú gật đầu :
    “ Con chó cũng có... bạn, con chim cũng... cũng có đôi, vậy tui là con người, sao không cho... tui một người đàn bà để...để...làm bạn...”

    Tôi hiểu được nỗi cô đơn và sự thèm thuồng ở con người tội nghiệp này, dù sống trong tình trạng tồi tệ của con người không ra con người, con vật không ra con vật, chú Xẹt vẫn cần một bếp lửa hồng trong những chiều gió mưa, vẫn cần có người hỏi han khi ốm đau, bệnh tật. Chuyện chia xẻ miếng cơm manh áo cho một người nghèo khổ là điều nên làm, nhưng không vì thế mà hẹp hòi với những nhu cầu cần thiết của tâm hồn, để không khoan dung với những người nghèo khổ, bất hạnh như chú Xẹt. Tôi chưa kịp nói gì thêm thì chú Xẹt đã nói, như một người biết hối hận vì sự dại dột của mình, mà cũng như lời trần tình của một tâm hồn yếu đuối nhất vì yêu :

    “ Tui... buồn lắm cô hai, nhưng tui hứa... tui hổng dám thương ai nữa. Bữa hổm, tui bịnh, “con mẻ” lén qua cạo gió cho tui, hông là tui...tui chết rồi... "

 

 

    Chú Xẹt nghẹn ngào không nuốt nổi miếng cơm trong miệng. Tự nhiên, tôi cũng mủi lòng muốn khóc.

    ***
    Những vì sao xẹt trên bầu trời đêm qua, khiến tôi nghĩ tới người đàn ông tội nghiệp mang tên Xẹt. Hơn hai mươi năm rồi, bây giờ chắc gì chú còn sống. Nếu như tin rằng những vì sao băng trên vòm trời kia, là những linh hồn vừa từ giã cõi đời, thì thôi, cũng ước cho chú là vì sao ấy để giải thoát khỏi kiếp người tội nghiệp. Tôi mong rằng ở một kiếp lai sinh, chú Xẹt có được làm người, xin hãy cho chú một cuộc sống no đủ, một trái tim được tự do yêu thương, vì con người vốn vẫn là một sinh vật yếu đuối..../.

  

  Nguyên Nhung

Đôi Bờ Tử Quy - Đỗ Công Luận

Khi Người Ghét Chiến Tranh Buộc Phải Đánh - Vô Danh

 

Tôi nhớ rõ nhiệm kỳ đầu của tổng thống Trump. Bốn năm. Không một cuộc chiến tranh mới nào. Trong khi mọi đời tổng thống trước đó — dù Cộng hòa hay Dân chủ — đều để lại ít nhất một cuộc xung đột quân sự mới. Trump thì không. Ông đàm phán với Kim Jong-un. Ông ký Hiệp Định Abraham. Ông nói trước toàn dân rằng ông muốn mang lính về nhà, không phải gửi lính đi chết. Đó không phải lời nói suông. Bốn năm không có chiến tranh mới là bằng chứng.

Vậy tại sao, ở nhiệm kỳ hai, người đàn ông ghét chiến tranh ấy lại ra lệnh tấn công Venezuela vào đêm 3 tháng 1 năm 2026, bắt sống Maduro, rồi chưa đầy hai tháng sau đó phối hợp với Israel dội bom hủy diệt kho vũ khi hạt nhân của Iran?

Câu trả lời nằm trong một nghịch lý mà nhiều người không chịu hiểu: đôi khi, để giữ hòa bình, bạn phải sẵn sàng đánh. Và phải đánh trước khi quá muộn.

Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham, trong cuộc phỏng vấn trên Fox News với Sean Hannity, đã nói một câu mà tôi nghĩ mọi người cần nghe kỹ: khi Trump biết Iran sắp có 10 quả bom hạt nhân, ông hành động. Không chần chừ. Không họi ý kiến Liên Hiệp Quốc. Không chờ một nhiệm kỳ nữa để người kế nhiệm giải quyết. Ông hành động.

Nhiều người sẽ hỏi: tại sao phải vội? Tôi xin hỏi ngược: bạn có hình dung được thế giới sẽ như thế nào nếu chế độ Giáo chủ Iran có trong tay mười đầu đạn hạt nhân? Một chế độ thần quyền đã công khai tuyên bố muốn xóa sổ Israel khỏi bản đồ, tài trợ Hezbollah, Hamas, và hàng loạt nhóm khủng bố khắp Trung Đông. Một chế độ có tên lửa đạn đạo tầm xa, và giờ lại sắp có đầu đạn hạt nhân để gắn lên đó.

Graham nói thẳng: “Trump không phải Obama, không phải Biden. Nếu chúng ta chờ thêm, họ sẽ làm giàu uranium lên 90% và cả thế giới sẽ bị bắt làm con tin. Bạn lo giá xăng tăng ư? Hãy tưởng tượng thế giới sẽ ra sao nếu Iran có mười quả bom. Khốn khổ. Họ sẽ giữ cả nhân loại làm con tin, và rồi họ sẽ hủy diệt Israel. Một cuộc diệt chủng là đủ rồi.”

Câu nói ấy nghe tàn nhẫn, nhưng bạn hãy nghiền ngẫm. Obama ký thỏa thuận hạt nhân JCPOA năm 2015, tin rằng ngoại giao sẽ giải quyết. Kết quả? Iran rút khỏi thỏa thuận, tiếp tục làm giàu uranium, và đến cuối năm 2025 đã có lượng uranium làm giàu 60% đủ để chế tạo nhiều đầu đạn. Chỉ cần nâng lên 90% nữa thôi — và với công nghệ họ đã có, việc đó chỉ là vấn đề thời gian. Trump nhìn vào con số ấy và hiểu rằng: cửa sổ hành động đang đóng lại. Nếu không đánh bây giờ, sẽ không bao giờ đánh được nữa.

Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Mỹ và Israel phối hợp tấn công. Giáo chủ tối cao Ali Khamenei thiệt mạng. Cơ sở hạt nhân Natanz và hàng loạt địa điểm hạt nhân khác bị dội bom. Đúng, giá dầu vượt 100 đô một thùng. Đúng, eo biển Hormuz bị Iran đóng. Đúng, Iran bắn trả tên lửa vào căn cứ Mỹ ở Vùng Vịnh. Cái giá là lớn. Nhưng cái giá của việc không làm gì sẽ lớn hơn gấp vạn lần.

Graham nói : “Tiền đầu tư tốt nhất mà Mỹ từng bỏ ra. Phá hủy một chế độ phát xít tôn giáo đang tìm cách chế tạo vũ khí hạt nhân để đe dọa nước Mỹ — đó là một khoản đầu tư xứng đáng.”

Hai tháng trước khi đánh Iran, Trump đã thực hiện một nước cờ mà nhiều người không ngờ tới: đêm 3 tháng 1 năm 2026, lực lượng đặc biệt Mỹ tấn công Caracas, bắt sống Nicolás Maduro và vợ ông ta, đưa về New York để đối mặt cáo buộc buôn ma túy. Trump tuyên bố: “Sự thống trị của Mỹ ở Tây bán cầu sẽ không bao giờ bị nghi ngờ nữa.”

Nhiều người chỉ thấy bề mặt: Mỹ lật đổ một nhà độc tài. Nhưng nếu bạn đọc sâu hơn, bạn sẽ thấy một bàn cờ địa chính trị tiình vi hơn nhiều. Venezuela có trữ lượng dầu mỏ đã được chứng minh lớn nhất thế giới: 300 tỷ thùng, chiếm 17% toàn cầu. Và ai là khách hàng lớn nhất của Maduro? Trung Quốc. Mỗi ngày hơn 600.000 thùng dầu Venezuela chảy về Bắc Kinh. Maduro gặp đặc phái viên Trung Quốc Khâu Tiểu Kỳ chỉ vài giờ trước khi bị bắt. Vài giờ. Nghĩ lại đi.

Maduro không chỉ là nhà độc tài. Ông ta là mắt xích trong cái mà Washington gọi là “mạng lưới năng lượng thù địch”: Venezuela cung cấp dầu cho Trung Quốc, Iran cung cấp xăng tinh chế và linh kiện cho Venezuela, hai chế độ này hỗ trợ nhau lách lệnh trừng phạt của Mỹ, và cả hai đều là đồng minh chiến lược của Bắc Kinh. Bắt Maduro không chỉ là bắt một kẻ buôn ma túy — mà là chặt đứt một cánh tay của Trung Quốc ở Tây bán cầu.

Và bây giờ chúng ta đến phần quan trọng nhất, phần mà Graham đã nói toạc ra trên Fox News và nhiều người vẫn chưa chịu nghe:

“Venezuela và Iran chiếm 31% trữ lượng dầu mỏ toàn cầu. Chúng ta sẽ có quan hệ đối tác với 31% trữ lượng đã biết của thế giới. Đây là cơn ác mộng của Trung Quốc. Đây là một khoản đầu tư tốt.”

Ba mươi mốt phần trăm. Bạn hãy để con số đó ngấm vào. Venezuela có trữ lượng lớn nhất thế giới, khoảng 17%. Iran đứng thứ ba hoặc tư, khoảng 10-14% tùy nguồn. Cộng lại: gần một phần ba trữ lượng dầu đã biết của hành tinh. Và cả hai nước này, cho đến trước khi Trump hành động, đều nằm trong quỹ đạo của Bắc Kinh.

Trung Quốc nhập khẩu gần 75% nhu cầu dầu. Đó là gót chân Achilles của họ. Nếu bạn kiểm soát nguồn cung, bạn kiểm soát người mua. Và đây chính là cái mà Trump đang làm: không cần đánh Trung Quốc trực tiếp — chỉ cần siết năng lượng. Kiểm soát Venezuela để cắt nguồn dầu giá rẻ mà Bắc Kinh đang hưởng. Thay đổi chế độ Iran để đưa Trung Đông vào quỹ đạo Mỹ. Kết quả: các quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới — Saudi Arabia, UAE, Iraq, Kuwait, Venezuela, và nếu thành công, cả Iran — đều nằm trong hệ sinh thái của Mỹ. Sáu trên bảy quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất. Trung Quốc bị bịt thở.

Bạn có thấy không? Đây không phải một cuộc chiến tranh bốc đồng. Đây là một chiến lược năng lượng toàn cầu — và nguồn gốc của nó là sự thấu hiểu rằng: ai kiểm soát dầu, người đó kiểm soát thế kỷ 21.

Mưu Đồ Bá Chủ Của Bắc Kinh — Điều Không Ai Nói To

nhưng ai cũng nhận ra rằng Bắc Kinh không có tham vọng chiếm lãnh thổ bằng quân sự kiểu cũ. Họ chơi một ván cờ khác: kiểm soát bằng kinh tế, bằng năng lượng, bằng cơ sở hạ tầng, bằng nợ. Sáng kiến Vành đai và Con đường không phải là dự án nhân đạo — nó là mạng lưới kiểm soát. Cảng biển, đường ray, đường ống dầu, cáp quang — tất cả dẫn về Bắc Kinh.

Và chìa khóa của toàn bộ bàn cờ ấy là năng lượng. Trung Quốc không có đủ dầu để tự nuôi nền kinh tế khổng lồ của mình. Họ phải mua từ bên ngoài, và ba nguồn cung lớn nhất của họ là: Trung Đông, Nga, và Venezuela. Khi Trump kiểm soát Venezuela và thay đổi chế độ Iran, ông không chỉ đang bảo vệ Mỹ — ông đang chặt hai trong ba nguồn sống của Trung Quốc.

Nghĩ về điều này. Nếu Mỹ kiểm soát dầu Venezuela và đưa Iran vào quỹ đạo thân Mỹ, thì Trung Quốc chỉ còn phụ thuộc vào Nga. Và Nga đang sa lầy ở Ukraine, kinh tế suy kiệt, không còn ở thế mạnh để mặc cả với Bắc Kinh. Kết quả: Trung Quốc bị cô lập về năng lượng. Và một Trung Quốc thiếu dầu là một Trung Quốc không thể đe dọa Đài Loan, không thể bành trướng Biển Đông, không thể thách thức Mỹ. Graham nói đúng: đây là cơn ác mộng của Bắc Kinh.

Và Trump hiểu điều đó từ đầu. Ông không đánh vì thích đánh. Ông đánh vì đó là cách duy nhất để chặn Bắc Kinh mà không cần bắn một phát súng nào vào Trung Quốc.

Tôi biết nhiều người sẽ bảo: “Nói hay lắm, nhưng có người chết.” Đúng. Chiến tranh luôn có người chết. Và đó là lý do tôi muốn bạn hiểu cái logic của người ra quyết định.

Trump đứng trước hai lựa chọn. Lựa chọn một: không làm gì, để Iran hoàn thành chương trình hạt nhân, để Maduro tiếp tục bán dầu cho Trung Quốc và làm cầu nối cho ma túy vào Mỹ, để Bắc Kinh tiếp tục bành trướng âm thầm. Kết quả: năm năm nữa, Iran có bom hạt nhân, Trung Quốc kiểm soát mạng lưới năng lượng toàn cầu, và Mỹ không còn có thể làm gì được nữa.

Lựa chọn hai: hành động ngay. Chịu cái giá ngắn hạn — giá dầu tăng, dư luận chỉ trích, thế giới phản đối — để đổi lấy một thế giới không có Iran hạt nhân, không có Maduro, và Trung Quốc bị kiềm chế về năng lượng.

Trump chọn lựa chọn hai. Và nói thẳng: Obama sẽ không bao giờ dám. Biden sẽ không bao giờ dám. Không phải vì họ nhân hậu hơn, mà vì họ sợ cái giá chính trị hơn sợ hậu quả chiến lược. Trump thì ngược lại: ông chấp nhận bị mắng để làm điều cần làm.

Graham nói : “Donald Trump đang tái lập lại trật tự thế giới theo cách mà không ai có thể mơ được chỉ một năm trước. Quân đội chúng ta là mạnh nhất mọi thời đại.”

Người La Mã có câu: “Si vis pacem, para bellum” — muốn hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh. Hai nghìn năm rồi mà câu nói ấy vẫn đúng như ngày hôm qua.

Trump không muốn chiến tranh. Tôi tin điều đó không phải vì ông nói, mà vì thành tích nhiệm kỳ một của ông chứng minh. Bốn năm không chiến tranh mới là bằng chứng mạnh hơn mọi lời nói. Nhưng ông cũng hiểu rằng hòa bình không tồn tại trong chân không. Hòa bình cần sức mạnh để bảo vệ. Và khi kẻ thù sắp có bom hạt nhân, khi đồng minh của kẻ thù đang tích trữ vũ khí ngay sân sau nhà bạn, thì hòa bình đòi hỏi bạn phải hành động.

Graham mô tả Trump là “người của hòa bình và kinh doanh,” đang cứu thế giới khỏi “hỗn loạn thực sự.” Có người sẽ cười khi nghe câu đó. Nhưng tôi nghĩ năm mươi năm nữa, khi các sử gia ngồi lại và cân nhắc: một thế giới không có Iran hạt nhân, một Tây bán cầu không còn là sân chơi của Bắc Kinh, một Trung Đông đang chuyển mình — họ sẽ phải thừa nhận rằng những quyết định của Trump đầu năm 2026, dù tàn nhẫn, dù gây tranh cãi, đã thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu theo hướng có lợi cho thế giới tự do.

Tôi biết bài viết này sẽ khiến nhiều người khó chịu. Tôi biết có người sẽ bảo tôi biện minh cho chiến tranh. Nhưng tôi không biện minh cho chiến tranh. Tôi giải thích tại sao một người vốn ghét chiến tranh lại buộc phải đánh.

Thế giới không phải là lớp học mẫu giáo nơi mọi người ngồi vòng tròn cầm tay nhau hát. Thế giới là nơi chế độ Giáo chủ Iran chế tạo bom hạt nhân trong lúc tuyên bố sẽ xóa Israel. Là nơi Maduro biến Venezuela thành tiền đồn cho Trung Quốc và trạm trung chuyển ma túy. Là nơi Bắc Kinh âm thầm giăng lưới kiểm soát năng lượng trên khắp hành tinh để một ngày nào đó bóp nghẹt bất kỳ ai dám cản đường.

Trump nhìn vào tất cả những điều đó và nói: không. Không phải dưới thời tôi.

Người ta có thể không đồng ý với cách ông làm. Nhưng không ai có thể nói ông không dám làm. Trong một thời đại mà hầu hết lãnh đạo thế giới chọn an toàn, chọn im lặng, chọn đẩy vấn đề cho người kế nhiệm — Trump chọn đối mặt. Và ông chấp nhận mọi hậu quả.


Giá dầu sẽ hạ, Iran sẽ thay đổi. Venezuela đang thay đổi. Và Bắc Kinh, lần đầu tiên trong hai thập niên, đang mất ngủ.

Năm mươi năm nữa, lịch sử sẽ phán xét. Và tôi tin rằng lịch sử sẽ đứng về phía người dám hành động, không phải người chọn ngoảnh mặt.


TG: Vô Danh