Thursday, September 24, 2026

Wednesday, September 23, 2026

Cánh Buồm Nâu Thuở Ấy - Nguyễn Huy Thiệp

 


“Hôm qua dưới bến xuôi đò

Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau

Anh đi đấy, anh về đâu?

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm...”

(Nguyễn Bính)


1)

Cứ chừng dăm ngày một bận là chiếc thuyền chở hàng của ông Cả Giao lại ngược sông. Được gió là thuyền căng buồm lướt sóng. Bọn trẻ xóm chài chạy ùa ra hò reo. Dù bận thế nào, Nhi cũng chạy theo chúng đến đứng ở gốc cây gạo trên đê ngóng nhìn. Cánh buồm nâu lừ lừ trôi ngược. Đến chỗ ngoặt sang làng Cổ Am thì nó mất dạng vào sau lũy tre, rặng nhãn. Nhi ngơ ngẩn quay về. Bà Hân nhìn con gái, thương, bảo con:

– Nhi này, đàn ông bạc lắm, con ơi!

Ông Hân mắng:

– Cái bà này! Đàn ông có dăm bảy loại chứ!

Nhi chạy vào buồng, úp mặt vào đống mền chăn, nước mắt ứa ra ràn rụa.

Thuyền chở mắm của ông Cả Giao cất từ những lò nấu cốt ở tận Cát Hải. Khi nào gió bấc về, cánh buồm nâu no gió, mùi mắm cốt sực nức bay là là ở trên mặt sông, len vào ngõ. Nhi đứng ở bên cửa tò vò trông ra, thấy tấm lưng trần của Bằng quẫy ở trước mặt. Bằng gác sào, giơ tay lên vẫy. Nhi chạy dọc trên đê. Bằng nhảy tùm xuống nước bơi vào.

Bà Hân ngồi bên cạnh vỗ về con gái:

– Dại giai thì khổ con ơi! Nó đi, nó lại về. Dăm bữa nửa tháng chứ lâu la gì...

Ông Hân thập thò ở cửa, vọng vào:

– Nó bảo lần này nó đi Thổ Hà chở hàng cho ông Tị phải không?

Bà Hân quát:

– Tị nào? Làm gì có Tị nào?

– Thì ông Tị Ngoám chứ còn Tị nào?

Ông Tị vẫn bán hàng nước ở chợ Cổ Am. Trẻ con gọi đùa Tị Ngoám là “ngom tí”(!). Bà Hân mắng chồng:

– Nhà Tị Ngoám làm gì có tiền mà hàng với họ! Đã không biết gì lại còn hay nói!

Ông Hân lụi cụi quay lưng ra ngồi ở hè đan sọt. Ông nghĩ bụng:

– Ừ... Mà thuyền ông Cả Giao từ xưa chở tuyền mắm cốt chứ chở gì đâu!

Ông Hân chỉ nghe tiếng ông Cả Giao chứ chưa gặp mặt bao giờ.Ông ấy ở bên HảiThịnh,có tiếng là người nghĩa khí. Bằng là con út, chẳng hiểu thế nào đi lại với Nhi.

– Số con khổ lắm u ơi!

Bà Hân mắng con:

– Phỉ phui! Cô thử xem thầy u nuôi cô thế nào? Có đói không? Có rét không? Chị em trong xóm có ai bằng cô không nào?

Nhi nức nở:

– Con lạy u...

Bà Hân dỗ dành:

– Mới tí tuổi đầu đã than khổ người ta cười cho... Nghe lời u, dậy ăn cơm tối rồi hai mẹ con sang bên Cổ Am xem bói. Cô đồng Xuyến ở trên tỉnh về đang trọ ở nhà dì Thảo, nghe nói bói giỏi như thần.

Ông Hân nghe thấy tiếng được tiếng mất, cằn nhằn:

– Dào ôi... già rồi còn dại, bói với toán gì!

Bà Hân làm ra vẻ giận:

– Thì mặc u con chúng tôi! Ông thì biết gì, cái đồ gàn dở kia!

– Ừ thì tôi gàn! Tiền mất tật mang. Không khéo mua lo vào mình.

– Thì ai lấy tiền của ông! Đồ keo kiệt... Mà cái ngữ ấy làm gì có nổi được đồng cắc nào trong người.

– Thì có đồng nào bà đều lột sạch lại còn già mồm gì nữa.

Bà Hân cười chảy nước mắt. Nhi nghe hai thầy u cãi nhau cũng thấy buồn cười. Ông Hân nổi tiếng thật thà, hiền lành. Lúc nào cũng bị bà vợ bắt nạt. Nhi biết, cả hai thầy u tuy thế rất hợp tính nhau.

– U bảo thầy dọn cơm rồi hai u con mình ra ăn cơm. Nghe u đi nào!

– Thôi, con không ăn đâu, con không đói.

Bà Hân kéo con gái dậy:

– Cha bố cô! Định nhịn à? Tương tư thì cũng phải ăn phải uống... Lão già kia! Bỏ đấy rồi đi dọn cơm đi chứ! Cứ dỏng tai ra nghe trộm cái gì?

– Ai nghe? Ai nghe? 

Ông Hân vội bỏ cái sọt đan dở, vội vội vàng vàng lủm củm xuống bếp, vừa đi vừa lẩm bẩm:

– Nóng như lửa! Đúng là cái đồ giặc cái!


2)

Bà Hân với Nhi vừa ra khỏi nhà một lúc thì gió bấc về. Tiếng gió thổi sáo ở đầu cột hiên thào thào. Ông Hân sốt ruột đi ra đi vào:

– Bảo mặc thêm cái áo bông thì cứ đẩy ra. Lại còn mưa phùn nữa chứ! Con bé tong teo chỉ thổi một cái là bay. Đêm hôm thế này mà đi đường đê thì có rồ không?

Ông Hân đẩy cửa ra ngoài để đóng chuồng gà thì con chó mực sủa nhặng cả lên. Ông Hân xô phải một bóng đen lù lù trước mặt. Sợ hãi, ông định kêu lên thì người kia xua tay, đẩy ông lùi lại.

Trước mặt ông Hân là một người cao lớn, mặc bộ đồ chàm như ở mạn ngược, ông ta đội chiếc nón dấu rộng vành sụp mặt, chéo lưng là cái tay nải với chiếc đao ngắn bên trong, chỉ thò ra cái chuôi đao bịt đồng xỉn bóng. Người kia thì thào:

– Xin đừng sợ! Tôi là Cả Giao ở bên Hải Thịnh! Tôi đến vì chuyện cháu Bằng nhà tôi với con cháu Nhi...

Ông Hân thở phào, khêu ngọn đèn dầu cho sáng. Ông Cả Giao cởi tay nải, cởi đao đặt lên chõng, hai tay ôm ngực. Ông cởi cúc áo để lộ ra một vết chém máu đã đông lại. Nằm vật xuống, ông Cả Giao bảo:

– Phiền ông lấy cho cái gì băng giùm vết thương, mỗ xin đa tạ.

Ông Hân cuống quýt lấy nước nóng, lấy muối rửa vết thương rồi băng bó lại. Vị khách thều thào:

– Tôi đi suốt ngày suốt đêm đã mấy hôm rồi, không có một hột cơm nào vào bụng. Tôi ở tận trên Móng Cái...

Vị khách nói xong thì cứ thế ngủ thiếp đi, có lẽ không làm sao chế ngự được mình. Ông Hân thương hại, lấy tấm dạ mỏng đắp cho khách rồi kéo cái tay nải kê đầu, để thanh đoản đao bên cạnh. Xong xuôi, ông đi xuống bếp bắt gà làm thịt, nấu cho ông khách nồi cháo để chờ khi dậy thì ăn.

Khoảng sang giờ Hợi thì bà Hân về. Cả hai mẹ con rét run cầm cập. Ông Hân ra tận ngoài ngõ đón vào.

Ông Hân rền rẫm:

– Khổ! Bói toán có được gì không?

Bà Hân xuýt xoa vì lạnh, răng đánh vào nhau lập cập:

– Hay quá ông ơi, con Nhi nhà này phúc lộc như giời như biển... Vào nhà rồi tôi kể cho mà nghe.

– Nhà đang có khách. 

Ông Hân kéo 2 mẹ con xuống bếp, sung sướng, đắc ý:

– Có biết ai không? Ông Cả Giao đấy!

Bà Hân ngẩn ra ngờ vực:

– Cả Giao nào? 

– Cả Giao chứ Cả Giao nào! Cả Giao ở bên Hải Thịnh!

Nhi giật mình, mắt long lanh sáng. Ông Cả Giao là thầy anh Bằng, chắc là có chuyện...3 người xuống bếp. Ông Hân chất rơm để lửa bùng lên cho hai mẹ con sưởi ấm. Ông Hân kể chuyện, chẳng câu nào vào với câu nào:

– Cái con chó mục cứ sủa nhặng lên, nó đi giật lùi ra ngõ... Nó biết nó gặp anh hùng nó phải biết thân.

Bà Hân điên tiết:

– Nào, nào! Đầu đuôi xuôi ngược làm sao? Ông ấy nói gì?

– Chẳng nói gì! Tí nữa bà cứ lên cầm cái đao ông ấy mà xem, nặng ơi là nặng. Sức tôi mà cũng phải cử bằng cả hai tay. Như đao Quan Công.

Mùi cháo gà thơm sực. Bà Hân nhìn quanh quất:

– Thôi chết! Cái lão già này mất nết! U con tôi vừa đi vắng là bắt trộm gà làm thịt đánh chén tì tì. Con cái Nhi! Mày thử mở vung xem còn cái xương nào không?

Ông Hân khổ sở, giấu hai bàn tay to tướng sau lưng:

– Con mẹ này! Chỉ tuyền vu oan giá họa... Ông ấy bị thương, đã mấy ngày rồi không ăn uống gì.

– Sao lại bị thương? Con mực nhà này có cắn người bao giờ đâu? Thế ông ở đâu mà để nó cắn người ta hở giời?

– Không phải chó cắn!

Ông Hân dỗi vợ, bỏ đi ra ngoài: 

– Cứ sồn sồn lên! Đã thế tôi chẳng nói nữa cho xong!

Bà Hân lấy thìa nếm thử nồi cháo, cười:

– Cái lão gàn này! Nấu ngon ra phết! Chỉ được mỗi cái ăn chơi là giỏi! Con cái Nhi! mày ra ngoài vườn nhổ ít hành vào đây cho u!

Ông Hân cầm nắm hành đi vào, người ướt lướt thướt:

– Hành đây! Chỉ được cái hay sai vặt! Càng già tính khí càng ác.


3)

Ông Cả Giao ngồi dậy. Bà Hân bưng nồi cháo gà thơm phức lên mời khách. Nhi múc cháo ra bát, hay tay bưng lên. Ông Cả Giao chẳng khách khí gì, húp một lúc hết 3 bát cháo nóng hổi rồi khà một tiếng. Dọn dẹp xong xuôi, ông Hân định đốt thêm ngọn đèn dầu nữa cho sáng thì ông Cả Giao gạt đi:

– Đa tạ ông, mỗ đang rất vội. Xin mời ông bà ngồi đây mỗ xin thưa chuyện.

Ông Cả Giao mở tay nải, lấy ra một vuông vải điều đặt lên bàn, trong đó đựng đầy vàng bạc. Xong xuôi, ông quỳ xuống đất trước mặt hai ông bà Hân, tay chắp vào nhau cung kính:

– Xin nhị vị nhận của mỗ này một lạy!

Ông Hân luống cuống, đỡ khách:

– Không dám! Không dám! Sao ngài làm thế?

Ông Cả Giao đứng lên, đĩnh đạc ngồi xuống rồi nói:

– Thưa ông bà, chẳng là cháu Bằng nhà tôi với con cháu Nhi hai đứa vốn có duyên phận với nhau. Nhẽ ra nhà tôi phải sang hầu chuyện với hai ông bà đã từ lâu rồi. Chẳng may nhà tôi gặp hạn, bọn cướp đốt nhà, cướp của, người còn người mất. Cháu Bằng bị thương, bây giờ vẫn đang lưu lạc ở xa. Cháu chỉ tâm niệm một điều làm sao có được cháu Nhi bên cạnh...Tôi phải phá vây về đây, cũng là thương con, đường đột dâng lễ, muốn đón cháu Nhi nhà ta đi ngay bây giờ. Nhà tôi có hơn mấy chục mạng người, kể cả người làm người ở, tất cả đều bị giặc kia chém sạch, nay còn có mỗi giọt máu này thôi! Xin hai ông bà với con cháu Nhi cứu nó! Cứu một mạng người phúc đẳng hàng sa...

Nói xong ông Cả Giao lại sụp xuống lạy. Ông Hân, bà Hân không biết nói sao cứ lặng người đi. Ông Cả Giao phủ phục dưới đất, không hề nhúc nhích. Tiếng gà trong xóm bắt đầu gáy dạo canh tư.


4)

Đến canh tư, khoảng đầu giờ Dần thì ông Cả Giao với ông bà Hân cũng đã bàn định xong xuôi mọi việc. Trong buồng, Nhi vừa sụt sịt khóc vừa xếp áo quần vào trong tay nải. Bà Hân khóc ròng, vừa dỗ dành con vừa than thở:

– Con mẹ đồng Xuyến nói cấm có sai! “Vội vàng như chẳng kịp”. Nó bảo về nhà là có “hắc long tiếp dẫn” thì đúng còn gì! Ông ấy mặc quần áo đen... Thế là “hắc long” chứ còn gì nữa!

Bà Hân cởi chiếc áo bông trần đang mặc trên người dúi vào tay Nhi:

– Mang cả đi! Ở nhà u sắm cái khác! Trên ấy rét lắm con ơi!

Nhi lắc đầu, ôm cái tay nải vào lòng:

– Không! Con có rồi. U cứ để nhà mà mặc!

Bà Hân mếu máo:

– Phải! Cha bố cô! Cô chê chứ gì! Có chồng, chồng lo cho hết... thiết gì đến u.

Nhi nức nở, sà vào lòng mẹ:

– U ơi! Con đi rồi, chỉ còn thy u ở lại, con biết lấy gì báo đáp thầy u?

Bà Hân khuyên nhủ:

– Đừng lo cho thầy u!Thầy con tuy thế nhưng còn mạnh chán. Con cứ đi đi, phụng sự nhà chồng. U thấy cốt cách bên ấy khác người u cũng mừng thầm, chỉ hiềm cái hạn người ta lớn quá, chẳng biết thế nào. Con đi đi, dăm bữa nửa tháng phải đánh tin về cho thy u biết.

Bên ngoài, ông Cả Giao đã nai nịt xong xuôi gọn gàng, bồn chồn giỏng tai lắng nghe động tĩnh. Có tiếng cú rúc 3 lần giục giã. Ông Cả Giao đứng lên, cầm chắc đoản đao trong tay. Ông Hân vội vội vàng vàng ngó vào cửa buồng:

– U con mày đã xong chưa? Làm gì lâu thế?

Bà Hân khép hờ cửa buồng, quát khẽ:

– Đi ra! Đi ra! Tôi còn cho nó cái này!

Bà Hân đi vào góc buồng, chỗ để mấy cái nồi đất chỏng chơ, với tay lên xà nhà lấy ra một cái gói nhỏ dúi vào tay con gái:

– Đây là đôi hoa tai bạc bà ngoại cho u hồi u mới đi lấy chồng.

Bà Hân cười: 

– U giấu ở ngay dưới mũi lão già mà lão ấy chẳng biết gì. Con cầm lấy, nó là hồi môn của u cho con. Nhớ nhé! Lên đấy thế nào con phải đánh tin về ngay cho thầy u biết.

Bà Hân đưa con gái ra khỏi cửa buồng. Nhi đội khăn vuông, mặc áo bông, khoác tay nải, rực rỡ như một đóa quỳnh trong đêm. Bà Hân gói cả gói vàng bạc sính lễ mà ông Cả Giao mang đến dúi vào tay nải cho cô con gái. Nhi òa khóc, quỳ xuống trước mặt hai ông bà Hân:

– Con lạy thầy u, con bất hiếu... Thầy u ở lại giữ gìn... tha lỗi cho con...

Ông Hân bỗng khóc tu tu. Tiếng khóc vỡ òa ra đột ngột khiến con chó mực ngoài sân cũng giật thót mình, sủa lên mấy tiếng ai oán. Ông Cả Giao xốc Nhi đứng dậy, gỡ tay bà Hân. Mấy người dắt díu nhau ra bến sông. Ông Cả Giao bắt chước tiếng cú rúc. Một chiếc thuyền nhỏ neo ở giữa sông sáp vào đón họ. Ông Cả Giao đỡ Nhi lên thuyền rồi quay lại chắp tay chào ông bà Hân. Mặt sông lạnh. Gío bấc cứ hun hút thổi. Tiếng chèo khua mạnh lạnh lùng. Vầng trăng khuyết cuối trời nhòe đi trong dòng nước mắt.

Thuyền ai trôi, thuyền ai trôi rồi?

Kìa con thuyền trôi, con ơi, nước trôi

Kìa con sông đời, lạnh toát, xa vời

Mênh mông bể cả mưa nguồn xa xôi

Ngẫm sự đời...

Tang thương ngẫm những sự đời

Phù hoa muôn nẻo phương trời

Ai luống ngậm ngùi

Thế gian ai luống ngậm ngùi tình si?

Cái đêm hôm ấy đêm gì,

Để cho ai nhớ khắc ghi trong lòng?

Chân trời góc biển mênh mông

Hỏi ai, ai biết cho không

Não ruột trong lòng

Mẹ cha não ruột trong lòng năm canh

Đêm năm canh, giấc ngủ chẳng thành

Con lấy chồng gần, con lấy chồng xa

Xót lòng nẫu ruột mẹ cha

Những muốn khóc òa

Thương con những muốn khóc òa đêm nay

Nơi xa con hỡi có hay

Thấu gan ruột này?

Trăm đắng ngàn cay

Sầu đong càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê

Xứ người trăm nỗi tái tê

Nào ai biết được đường về nông sâu?

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều...


5)

Nhi đi rồi, ngôi nhà tranh vách đất bên sông tiêu điều như thể không có hồn vía. Bà Hân ốm lử khử đến mấy tháng ròng. Lúc đầu, hai ông bà còn hay nói chuyện với nhau:

– Con mẹ đồng Xuyến nó bảo số của con Nhi phải lấy chồng xa. Tướng nó ích phu, lợi tử, tiền của đầy nhà...

Ông Hân ngậm ngùi:

– Ừ! Tôi chỉ sợ nó dát nước mà nhà người ta làm nghề sông nước...

Bà Hân lặng đi, bùi ngùi:

– Hồi nó 3 tuổi, ông còn nhớ đận dì Thảo bị trâu húc chột mắt không, nó lên sởi, chỉ bị tí nước té vào mà người đỏ rực như than hồng,nó sốt đến bốn năm ngày.

– Cũng chỉ tại bà để cái gáo nước thẻo đảnh mới ra cơ sự thế chứ?

– Vâng! Tôi vụng, tôi ngu, tôi dại!

Hai ông bà ngồi ôn lại ký ức về cô con gái. Họ cãi cọ nhau, hờn dỗi...

3 tháng trôi qua, không hề có tin tức gì của Nhi.

Một hôm bà Hân bảo chồng:

– Thôi chết! Hóa ra mình cho không con gái mình cho người ta. Chẳng cưới cheo gì, có tủi không? Bây giờ chẳng biết ở phương trời nào.

– Thì cứ bảo số nó tốt mãi đi! Cứ nghe con mụ đồng Xuyến rồi bán cả nhà...

Bà Hân dụ chồng:

– Hay là ông đi Hải Thịnh một chuyến xem sao, đi ngóng tin tc nó xem thế nào?

– Nhưng bà đang ốm, tôi đi làm sao được?

– Ốm đau gì? Ông cứ đi đi. Tôi mạng lớn, không chết được đâu!

2 hôm sau, ông Hân tìm đường đi sang Hải Thịnh. Đây là lần đầu ông lão xa nhà. Bà Hân nằm trên ổ rơm, đắp chiếu, ngóng từng giờ một. Con chó mực nhịn đói, nằm ở gốc hè cứ rên ư ử. Sang ngày thứ sáu thì ông Hân về, phờ phờ phạc phạc, hai con mắt lõm sâu vào ở trong hốc mắt, trông lạ hẳn đi. Bà Hân hốt hoảng, chỉ thốt ra được một tiếng hỏi chồng:

– Sao?

Ông Hân ngồi im, thẫn thờ, không nói câu gì. Bà Hân đâm sợ, cũng không dám hỏi. Ông Hân ngồi im một lúc, bỗng òa lên khóc:

– Bà nó ơi, mình mất con bé Nhi rồi.

Bà Hân căn vặn một lúc, chắp nối những câu rời rạc trong tiếng nấc nghẹn của chồng, cuối cùng hiểu ra được đầu đuôi câu chuyện. Ông Hân đi khắp cả vùng Hải Thịnh hỏi han nhưng không ai biết về ông Cả Giao. Ông Hân đi sang Cát hải, người ta cũng nói đến một ông Cả Giao nào đó chuyên cất mắm cốt nhưng nửa năm nay bặt không thấy đến.

Hai ông bà già bàn định, bán tín bán nghi. Ông Hân tính đi Móng Cái nhưng không đủ tiền, đủ sức.

Rồi một năm nữa trôi qua, cũng không có tin tức gì của Nhi. Ông Hân, bà Hân già sọm hẳn đi, mọi việc trong nhà bỏ hết. Cuối năm đó, con chó mực bỗng lăn ra chết trước hiên nhà. Tết năm đó là 1 cái tết hiu quạnh buồn thiu ở trong ngôi nhà trống vắng, nơi mà ngày xưa dù có nghèo túng đến mấy nhưng không hề dứt tiếng cười.

Bà Hân mắt đã mờ đi vì khóc. Ông Hân trở nên lẫn lộn, cứ hay ra ngồi bên sông một mình, lúc nhớ lúc quên.

Sang năm dậu, nạn dịch tả lan tràn khắp nơi, có nhiều người chết. Nạn dịch lan đến làng Cổ Am, lan sang làng Hạ. Ông bà Hân cũng chết về dịch tả, ông đi trước, bà đi sau, chỉ trong một ngày. Khi còn sống, bà Hân vẫn hay đùa chồng:

– Thế nào lão cũng chết trước cho xem. Số lão vẫn sướng, chẳng là vẫn quen có người hầu hạ ngồi mát ăn bát vàng. Chỉ có tôi đây là khổ! Giời không có mắt, những người gàn dở thì giời lại cứ bênh vực là nghĩa lý gì?

Những khi ấy, ông Hân chỉ cười tủm tỉm, chắc là ông nghĩ:

– Cái con mẹ này quái ác! Đã chết thì còn sướng nỗi gì mà còn phân biệt trước sau. Đã gàn dở lại mắng người ta gàn dở!


6)

Tôi sẽ là một người kể chuyện nhẫn tâm nếu tôi không thêm vào một cái kết ra trò cho câu chuyện ấy. “Đa tình kiếm khách, vô tình kiếm”. Nhiều khi ngòi bút vẫn cứ lạnh lùng không theo ý của chủ nhân, dẫu rằng thực ra có hậu hay không có hậu với một kiếm khách hay một văn nhân đôi khi cũng không có ý nghĩa gì quan trọng. Khi lưỡi kiếm đã vung lên rồi cũng như khi ngòi bút đã vung lên thì ai đó trách rằng vô tình cũng đành chịu vậy. Nhưng mà thôi, đây là một câu chuyện giản dị và tôi cũng muốn có một nụ cười giản dị để dành cho bạn khi kết thúc câu chuyện này.

Khoảng 10 năm sau, sau khi hai ông bà Hân chết thì một hôm có một chiếc thuyền buồm nâu ghé vào bến sông giữa làng Cổ Am và làng Hạ. Hôm ấy đang có hội làng. Người ta rước kiệu từ đình làng Cổ Am xuống làng Hạ rồi lại quay về. Khách thập phương kéo đến xem hội đông như kiến cỏ.

Lúc đầu, cũng không có ai chú ý đến người thiếu phụ với 6 đứa con bụ bẫm vừa trai vừa gái ở trên thuyền vừa bước lên bờ. Hai cô hầu gái loay hoay với lũ trẻ con nghịch như quỷ sứ. Thiếu phụ bồn chồn, chân như ríu lại. Thiếu phụ hỏi thăm mấy người đi hội:

– Thưa các bác, ở đây có ai người làng Hạ không? Có ai biết nhà ông bà Hân không?

Một bà cụ già đang ngồi bán củ ấu cho bọn trẻ con vồn vã:

– Có tôi đây! Ai hỏi ông bà Hân đấy? Có đúng bà Hân tính hay đùa nhả nhà gần cây gạo phải không?

Thiếu phụ reo lên mừng rỡ:

– Phải! Cụ ơi, cụ biết ông bà Hân chứ? Cháu là Nhi đây, cháu là con gái ông bà Hân đây!

Bà cụ dừng tay gói nắm củ ấu cho một người đàn ông có vẻ như người mới ở tỉnh về, ngạc nhiên:

– Con cái Nhi! Con nỡm! Thế mày không nhận ra dì mày à? Dì Thảo mày đây!

Nhi như quỵ xuống trước mặt bà cụ. Người đàn ông mặc bộ vét-tông màu trắng đã ngả vàng đang mua củ ấu vội vã đỡ lấy cô.

Bà cụ Thảo kể cho cô cháu nghe chuyện cũ. Mọi người xúm xít lại nghe. Nhi òa lên khóc nức nở khi biết tin thầy u mình mất đã chục năm rồi. Cô xua hai người hầu gái với mấy đứa con đi vào xem hội rồi một mình đi về nền ngôi nhà cũ. Người ta chỉ đường cho cô ra mộ hai ông bà Hân. Người đàn ông trên tỉnh lững thững đi phía sau cô, vừa đi vừa lơ đãng nhìn xuống dòng sông nơi có chiếc thuyền buồm nâu neo đợi.

Nhi loay hoay bên hai ngôi mộ, cô ngồi nhổ cỏ rồi phủ phục ở đấy rất lâu. Người đàn ông lạ lùng kia lặng lẽ mang đến cho cô thẻ hương và đặt nắm củ ấu vừa mua lên mộ. Nhi lau nước mắt:

– Cám ơn ông! Thế ông cũng có người thân chôn ở nghĩa địa này à?

Người ấy gật đầu.

– Thưa ông, ông đã nghe câu chuyện của tôi, vậy ông có khinh tôi là đứa con bất hiếu, phụ bạc cha mẹ mình không?

Người đàn ông tỏ vẻ không vui:

– Sao cô nghĩ thế? Cô nghĩ sai rồi! Cô hạnh phúc, thế là thầy u cô dưới suối vàng mừng lắm còn gì!

– Cám ơn ông. Được ông nói thế, thật tình tôi như trút được gánh nặng trong lòng.

Người đàn ông quay ra đứng ở ngoài đường. Nhi thắp hương, khấn vái một lúc rất lâu rồi về. Cô ngạc nhiên khi thấy người đàn ông kia đứng đó. Người ấy nói:

– Phong cảnh ở đây rất tuyệt. Những cánh buồm nâu là thứ mà tôi thích nhất.

Nhi nói:

– Tôi phải về thuyền. Mấy mẹ con tôi phải về Móng Cái. Chồng tôi là chủ hãng buôn ở đó. Khi nào ông lên Móng cái mời ông ghé chơi. Tôi tên là Nhi, chồng tên là Bằng, hỏi ai cũng biết.

– Có phải Bằng là chữ bằng trong câu “chim bằng bay rợp trời xanh không cùng” không?

– Thưa ông, tôi không biết, tôi dốt lắm. Thưa ông, tôi khó nghĩ quá, việc này tôi không muốn nhờ cậy ai, tôi muốn đường đột nhờ cậy ông liệu có được không?

– Được!

– Thưa ông, ông còn ở đây, tôi muốn nhờ ông khắc giùm cái bia đặt lên trên mộ thầy u của tôi để mà đánh dấu, như thế liệu tôi có phiền ông quá hay không?

– Không sao! Tôi cũng muốn có bia ở vùng đất này.

– Đa tạ ông nhiều. Thầy tôi tên Hân, u tôi tên Lành, cả hai mất vào năm Dậu.

Nhi và người đàn ông kia trở về đám hội. Nhi vào đình làng gửi tiền công đức rồi mấy mẹ con ríu rít xuống thuyền. Cánh buồm nâu quay đầu, lặng lẽ xuôi dòng tìm đường ra biển.

Nhi không biết người đàn ông lạ lùng mà Nhi nhờ cậy hôm ấy là một nhà thơ nổi tiếng. Người ấy đã tìm được một tấm đá khắc bia. Chỉ có điều, người ấy không làm sao nhớ nổi tên hai ông bà già xấu số. Cuối cùng, người ấy đã khắc lên tấm bia đá hình một cánh buồm làm dấu. Bây giờ, nếu ai đến nghĩa địa của làng Cổ Am và làng Hạ, nhìn chếch phía bên phải cây gạo ven sông, vẫn thấy ở đấy có một ngôi mộ đôi trên gắn tấm bia đá sứt sẹo. Trên tâm bia ấy có một cánh buồm. Dưới cánh buồm sau này bọn trẻ chăn trâu nghịch ngợm có khắc thêm hình mấy cái mũi tên xuyên qua trái tim. Người ta gọi đó là mộ “trái tim tan nát”. Bài thơ về những cánh buồm vẫn được lưu truyền ở trong dân gian như một chuyện kể về tình yêu trai gái. Mà tình yêu, bạn biết không, cái món quà tuyệt vời mà Thượng đế hào phóng ban tặng cho con người đời ấy, bao giờ cũng phải trả giá bằng những giọt nước mắt nghẹn ngào, dù muốn hay không cũng vậy.


Nguyễn Huy Thiệp 

Miss World 2026 Fashion Fest FULL SHOW | Best Looks, Runway & Standout Moments

Mời xem giải trí, tạm quên bệnh tật và tuổi già

Họ Đi Vào Bóng Tối Rồi Không Ai Gọi - Phạm Sơn Liêm


Sáng Lễ Chiến Sĩ Trận Vong. Lê Thanh Xuân lái xe đến nghĩa trang.

Nghĩa trang nước Mỹ rộng mênh mông.

Những hàng cờ nhỏ cắm bên từng ngôi mộ.

Những bó hoa.

Những người đứng lặng.

Có người đặt tay lên bia đá.

Có người cúi đầu.

Có người khóc.

Xuân đi chậm giữa những hàng mộ.

Ông không tìm tên ai.

Ông chỉ đứng đó.

Lặng im.

Bởi hôm nay, người Mỹ tưởng niệm những chiến sĩ đã nằm xuống vì đất nước họ.

Còn Xuân …

ông nhớ đến những người của mình. Những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Đặc biệt là những người bạn trong đơn vị Nha Kỹ Thuật. Những toán viên các đơn vị công tác xâm nhập vào vùng địch.

Những người đi vào nơi không ai muốn đi.

Những chuyến đi không có tiếng kèn.

Không có hàng quân danh dự.

Không có vòng hoa.

Không có cả một lời tiễn biệt đàng hoàng.

Có người lên đường trong đêm.

Một chiếc máy bay.

Một chiếc trực thăng.

Một chiếc radio.

Một khẩu súng.

Một mật hiệu.

Và vài người biết họ đi đâu.

Nhiều khi… chỉ có vài người biết họ có tồn tại.

Xuân đứng trước một ngôi mộ của một người lính Mỹ.

Ông đặt bó hoa xuống.

Rồi khẽ nói:

— Anh nằm đây có tên.

— Còn mấy thằng bạn tôi…

Ông ngừng lại.

— Nhiều đứa chẳng biết mình nằm ở đâu.

Gió thổi qua những hàng cờ.

Xuân cúi đầu. Những thước phim từ từ chạy… kéo ông trở về một buổi chiều rất xa.

Ngày ấy, trước một chuyến công tác, một người bạn nói với ông.

— Đi chuyến này xong, về làm một chầu nghen.

Xuân cười.

— Mày lo về được rồi tính.

Người kia cười lớn.

— Tao mà không về, mày phải kiếm tao.

— Kiếm ở đâu?

— Thì… kiếm…

Cả toán 4 thằng cười.

Không ai nghĩ đó là lần cuối cùng họ cười với nhau.

Rồi toán đi.

Có người trở về.

Có người không.

Có người mất tích.

Có người bị bắt.

Có người nằm lại bên kia biên giới.

Nhưng trong trí nhớ của Xuân …

họ vẫn còn nguyên.

Vẫn trẻ.

Vẫn mang chiếc ba lô cũ.

Vẫn quấn khăn nơi cổ.

Vẫn nhìn nhau trước giờ xuất phát.

Vẫn câu nói quen thuộc:

— Đi nghen.

Chỉ hai chữ.

Không ai nói:

“Vĩnh biệt.”

Bởi người lính ngày ấy không quen nói lời cuối.

Xuân ngồi xuống chiếc ghế bên nghĩa trang. Ông lấy trong túi ra một tấm hình cũ.

Bốn người.

Rồi năm người.

Những khuôn mặt trẻ đến đau lòng.

Ông nhìn từng người.

Gọi từng tên.

— Mày…

— Mày nữa…

— Còn mày…

Đến người cuối cùng, ông im lặng.

Rất lâu.

Ông không gọi tên. Bởi cái tên ấy đã nằm quá sâu trong tim.

Nước mắt chảy xuống.

Xuân lấy tay lau.

— Tụi mày thấy không?

— Người Mỹ còn có một ngày để nhớ đến những người đã chết.

Ông cười buồn.

— Còn tụi mình…

— Ai nhớ?

Gió vẫn thổi. Những lá cờ Mỹ bay phấp phới. Xuân nhìn lên trời. Trong khoảnh khắc đó, ông không còn thấy nghĩa trang nước Mỹ nữa.

Ông thấy một vùng rừng.

Một bãi đáp.

Một chiếc trực thăng đang bay thấp.

Khói.

Lửa.

Tiếng súng.

Và những người bạn của ông.

Những toán viên Nha Kỹ Thuật. Những người từng bước qua chiến tranh trong im lặng. Họ không cần người đời biết hết những gì họ đã làm.

Có những công việc… càng bí mật càng tốt.

Có những chiến công…

không thể ghi vào báo chí.

Có những người… đến tên thật cũng không được gọi trong lúc thi hành nhiệm vụ.

Nhưng họ đã đi.

Đã chiến đấu.

Đã chịu đựng.

Và có người đã không trở về.

Xuân gấp tấm hình lại. Ông đứng lên.

Trước khi rời nghĩa trang, ông quay lại nhìn những hàng bia trắng.

Ông nói rất khẽ:

— Hôm nay tôi nhớ các anh.

— Không chỉ những người nằm ở đây.

— Mà cả những người nằm lại trên quê hương Việt Nam.

Ông ngừng một chút.

— Đặc biệt là các toán viên của Nha Kỹ Thuật.

— Những người đã đi vào bóng tối…

— rồi biến mất trong bóng tối.

Xuân cúi đầu. Một giọt nước mắt rơi xuống.

Giọt nước mắt cho quê hương.

Giọt nước mắt cho bạn bè.

Là giọt rơi khi gọi tên nhau…

không còn ai thưa.

Đứa còn.

Đứa mất.

Đứa lưu lạc phương nào.

Tóc bạc hết rồi.

Mà lời hẹn ngày xưa… vẫn còn bỏ dở.

Xuân bước đi. Sau lưng ông, những lá cờ vẫn bay.

Ông biết mình không thể đưa những người bạn trở lại.

Cũng không thể tìm hết những nấm mồ vô danh.

Nhưng ông còn nhớ.

Và đôi khi… đối với một người lính già, nhớ được tên một người đã mất cũng là một cách giữ cho người ấy chưa bao giờ chết.

Một giọt chảy ngược vào tim.

Một giọt chảy xuôi theo năm tháng.

Và có những giọt nước mắt…

không bao giờ rơi hết.

Chúng ở lại.

Cho đến ngày người cuối cùng còn nhớ…

cũng nhắm mắt.

 

Phạm Sơn Liêm

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Tình Hải Hồ - Nguyễn Duy Phước

 

Tuesday, September 22, 2026

Ma Thương, Cưới Khoái - Quianna Duyên Bùi

Hình minh họa


Quianna Duyên Bùi sinh trưởng tại Saigon, sang Mỹ định cư năm 17 tuổi, và hiện cư ngụ tại Bắc California. Cô từng hoạt động trong các lĩnh vực khoa học và giáo dục. Đây là lần đầu tiên cô tham gia Viết Về Nước Mỹ. Bài viết kể về hai sự việc trong sinh hoạt đời thường- đám tang và đám cưới dưới cách nhìn chan chứa tình người của tác giả.  


***

Mới vào hè, tôi có dịp đi dự đám cưới của một đứa cháu gái và đám ma của một cô giáo trong trường tôi. Cả hai đám đều có những điều đáng nhớ; chỉ khác nhau chăng là yếu tố năng lượng đem đến cho người tham dự: đám cưới đem đến không khí rộn ràng và tươi vui, trong khi đám ma diễn ra trong trang nghiêm và tĩnh lặng. Lúc này ngồi viết lại, lòng tôi vẫn còn nao nao.

Đám Cưới

Đám cưới được tổ chức ngoài sân golf của một Câu Lạc Bộ Đồng Quê, cỏ xanh rì, trời xanh biếc, gió mát hây hây, nhìn xuống thấy thung lũng hoa vàng thật là tươi thắm. Lúc ấy tôi giật mình ngẩn người ra say sưa ngắm, thung lũng điện tử nơi mình sống thật sự vẫn rất xinh tươi với những cánh đồng vàng hoa cải trời, mà chỉ vì mình cắm đầu vào công việc “nên em chưa thấy xuân về đấy thôi”. Nay xuân đã qua và trời đang vào hạ, mình mới nhìn ra món quà mà đất trời trao tặng, bèn mở mắt thật to, cố đón nhận cho trọn vẹn. 


Bước vào hàng ghế ngồi, cầm tờ chương trình trên tay lẩm nhẩm đọc, tôi thấy in tên cô dâu, chú rể, rồi phù dâu, phù rể, và có phù rể chính, Best Man, và phù dâu chính… Ủa, nhưng sao phù dâu chính lại để là Man of Honor chứ không phải Maid of Honor?  "Bà mẹ quê" này bèn khều khều con trai ngồi hàng trên hỏi khẽ: 

- Không lẽ thiệp đẹp và quan trọng như vầy mà họ lại in sai, để có cái lỗi to tổ chảng thế sao hả con? 

Con trai thì thào giải thích: 

- Đúng là “Man” đó, ảnh là bạn thân nhất của cô dâu nhưng ảnh là bong bóng (?), you know. 

 

À ra thế, hiểu rồi, khổ thân thằng bé, cố gắng nói tiếng Việt cho “mấy người lớn” hiểu. Trước khi nhạc tà...răng...tăng...tăng trỗi lên, hai đoàn phù dâu, phù rể ngời ngời tiến ra để nghênh đón cô dâu, chú rể. Kìa, mình thấy anh phù dâu chính rồi!  Anh ấy tròn tròn, đi đầu bên đoàn của các cô phù dâu, trông vô cùng duyên dáng trong bộ com-lê màu hồng phấn, cùng màu với áo váy của các cô. Anh ấy thật nhanh nhẹn, chăm sóc cô dâu và đám bạn phù dâu thật chu đáo, hòa nhã, đáng yêu với mọi người, không hề tỏ ra điệu bộ gì ẹo ẹo hết nha, và luôn khiêm tốn, tế nhị đứng lùi về phía sau một chút để không hút hết sự chú ý dành cho cô dâu trong buổi lễ. 

Sau khi chú rể “nói câu thề nguyền” khá bài bản và nghiêm trang, thì cô dâu đã tỉnh bơ phán những câu khiến cử tọa ai cũng cười nghiêng ngả. Tôi nhớ loáng thoáng, xin ghi lại đây cho vui.

- I vow to love you, to be fair and honest with you - in video games as well as in life.  Will you promise to protect me from spiders, rattlesnakes, and United Airlines staff, while loving me with all your heart? (Tạm dịch: “Em xin nguyện yêu anh, công bằng và thẳng thắn với anh trong trò chơi điện tử cũng như trong cuộc đời. Anh hãy hứa sẽ bảo vệ em trước lũ nhền nhện, rắn chuông, nhân viên của United Airlines, và “yêu em bằng nguyên trái tim anh”.)

Nội dung ‘thề nguyền” này đầy tính thời sự vì lúc đó vừa có vụ hành khách của hãng United Airlines bị nhân viên hung hãn lôi xềnh xệch xuống máy bay thật là khiếm nhã! 

Rồi người ta bảo chàng rể bằng tiếng Anh: 

- Anh hãy hôn cô dâu! / You may kiss the bride.


Chàng bèn nâng mặt nàng lên hôn thật trìu mến. Nụ hôn vừa dứt, nàng đã hỏi ngay:

- Sao chưa thấy ai mời tôi hôn chàng? Quên tôi à?

Thế là “không để mất thì giờ quý báu của quan khách”, nàng mau lẹ nhón chân lên vin cổ chàng hôn một cái hôn hết sức tình tứ, ướt chèm nhẹp luôn. 

Và lúc đó, ở đâu bay ra một cái drone có gắn camera lượn vòng vèo thật đẹp mắt trên đầu mọi người. Thì ra là anh phó nhòm đang dùng remote control để điều khiển máy “wai phin” và “chộp hình”. Thấy của lạ, ai cũng ham, già trẻ lớn bé gì cũng reo hò tở mở, vẫy cười toe toét, tạo dáng, làm duyên không biết mệt mỏi.


Đám Ma

Hình minh họa

Duyên đã đưa tôi vào nghề gõ đầu trẻ ở tuổi trung niên và nghiệp đã cho tôi gặp gỡ và cùng học hỏi với hàng trăm thanh thiếu niên mỗi ngày trong một cuộc hành trình 12 năm. 


“Để đến hè” (…rồi sẽ đi khám bệnh, sẽ đi cắt tóc, sẽ đi làm răng, sẽ sửa nhà, v.v..) là câu nói mà hầu như phần lớn các thầy cô giáo ở Mỹ - và có thể là ở nhiều nơi khác - thường hẹn, thường khất cho công việc gì đó, hoặc cho chính bản thân mình. Vì, quả thật, có lẽ bất cứ người thầy cô giáo yêu nghề nào cũng rất sợ phải nghỉ giữa năm học, dù là để đi tu nghiệp, hội nghị, lo việc nhà, hoặc lo cho chính bản thân. Tại sao thế? Có phải chăng vì mỗi khi vắng thầy cô thì bao trẻ thơ sẽ mất bài vở, mất đà học tập, mất thói quen và nề nếp học mà cô thầy đã khổ công giúp các em thiết lập.

Họa hoằn lắm mới có được một thầy cô giáo dạy thế là nhà giáo đã nghỉ hưu, nay chỉ thỉnh thoảng vào giúp, mà lại dạy đúng môn của mình. Còn lại, đa số chỉ là những người dạy thế vào trông giúp để giữ cho lũ trẻ bận rộn làm bài tập gì đó cho qua ngày đoạn tháng và khỏi quậy banh lớp mà thôi. Thế nên soạn bài cho người dạy thế thì phải kỹ lưỡng đến từng chi tiết, tốn gấp ba, gấp bốn lần thời gian soạn bài cho chính mình, hy vọng người dạy thế sẽ giúp các em học được như ý mình muốn.  Bởi một khi học sinh đã có lỗ hổng kiến thức (mất căn bản), việc học lên sẽ vô cùng khó khăn, nhất là ở các môn khoa học tự nhiên, nếu không may mắn gặp được những bậc "đại sư phụ" đủ bản lĩnh và tận tâm để giúp các em củng cố lại nền tảng.


Điều này khiến tôi chạnh nhớ và thầm biết ơn sự tận tâm của nhiều thầy cô thời trung học đã chấn chỉnh lại kiến thức vật lý, hóa học cho cấp lớp chúng tôi. Năm học 1974–1975 của chúng tôi phải kết thúc sớm vào đầu tháng Tư, khi chiến cuộc ngày càng khốc liệt. Trong hoàn cảnh ấy, chúng tôi chẳng còn lòng dạ nào để nghĩ đến chuyện học hành. Đến tháng Chín, chúng tôi được lên lớp thẳng dù kiến thức còn dang dở. Thế là các thầy cô phải cặm cụi bù đắp lại những phần đã mất cho lũ học trò nhỏ. Dẫu thương học trò đến đâu, cũng có lúc các thầy cô phải thốt lên:

- “Mấy người” mất căn bản thê thảm luôn, “mấy người” ơi!

Ngày ấy, nghe thầy cô nói vậy, chúng tôi nhe răng ra cười với nhau. Bây giờ, tôi mới thật sự hiểu những tiếng than ấy chất chứa cả tấm lòng của người thầy. 

Cô Erika ở trường tôi là một trường hợp điển hình của cái điệp khúc “Để đến hè” nói trên. Cô đau cái đầu gối đã lâu, từ sau Giáng sinh, nhưng cứ cố gượng, và hẹn “để đến hè sẽ mổ”.  Cô nhỏ hơn tôi hai tuổi, có ba con, gái đầu 20, trai giữa 17, bị chậm phát triển, và gái út 14.  Năm đó cô bơ phờ vì con trai bị trầm cảm và có thể không đủ điểm các môn để tốt nghiệp trung học. Cũng may là trường của con trai cô bế giảng trước trường chúng tôi một tuần và cuối cùng em cũng xong xuôi. Những tuần cuối của năm học trông cô phờ phạc thấy rõ. Vừa thi cuối học kỳ xong, còn một ngày nữa mới “đến hè”, thì cô phải nghỉ ngay để đi mổ. 


Ngày cuối cùng của năm học, tôi và các đồng nghiệp cùng bộ môn nhận được một tin nhắn, ai nấy nghẹn lời: “Con là Susan, 14 tuổi, con gái út của cô Erika, dùng điện thoại của mẹ con để báo tin cho quý vị biết… mẹ con vừa mới qua đời. Ba con sẽ thông báo tin tức tang lễ ngay, trước khi mọi người đi nghỉ hè tản mác khắp muôn phương.”


Thế là ngay cuối tuần đó, chúng tôi đến viếng và tiễn cô ấy.  Cũng là bãi cỏ xanh rì và bầu trời xanh biếc. Một tấm bạt trắng dựng lên, những chiếc ghế trắng xếp thành nửa vòng tròn quanh một chiếc bàn tròn nhỏ để tấm ảnh cô Erika gầy gầy, mái tóc hoe đỏ dợn sóng xõa ngang vai, nét mặt hiền hòa, nụ cười quen thuộc, mặc chiếc áo đầm vàng đơn giản. Tang quyến có khoảng tám người đứng bên chiếc bàn. Tang lễ thật giản dị. Em gái, em rể, và hai cháu của cô Erika mở đầu bằng những lời cầu nguyện, rồi đến những câu chuyện ghi lại những kỷ niệm lý thú của họ với cô. Những giọt nước mắt nhẹ lăn xen kẽ với những tiếng cười. Con gái lớn của cô đọc một bài thơ em viết cho mẹ qua màn lệ. Con gái nhỏ hát một bài, xen những tiếng nấc, mà em đã hát thi chung với ban thanh nhạc ở trường để tặng mẹ. Con trai giữa vốn bị tự kỷ, không diễn tả được cảm xúc của mình bằng lời, giơ lên tấm tranh em vẽ về tình yêu của em dành cho mẹ rồi đến đặt bên ảnh mẹ.


Cuối cùng thì người bạn đời của cô bước lên và kéo ra cái giỏ kéo (roller bag) của cô và nói: 

- Vật này hẳn không hề xa lạ với quý thầy cô đồng nghiệp của nhà tôi ở đây.

Chiếc giỏ kéo nghề nghiệp. Vâng, chiếc giỏ kéo đã theo gót các thầy cô giáo suốt quãng đời dạy học của họ. Đúng vậy, rất nhiều cô thầy dùng nó để “tha” đống bài vở, đồ đạc từ trường về nhà để chấm, soạn, rồi lại “tha” vào lớp để phát cho học trò. Lúc đó, trong tai tôi như chợt dội lên những tiếng bánh xe lạch cạch khi các đồng nghiệp của tôi và chính tôi kéo những chiếc giỏ trên những hành lang dài hun hút trong khuôn viên trường im vắng, khi bầy chim non đã bay về tổ ấm của các em… 

- Đây là một trong những vật bất khả ly thân của nhà tôi, chồng cô nói tiếp. Nó theo cô ấy vào tới bàn ăn, vô tận phòng ngủ, và cả những chuyến đi chơi xa của gia đình. (Các thầy cô giáo đưa mắt nhìn nhau, chột dạ quá, nghe có vẻ quen quen đối với chính bản thân họ!) Có lần, chúng tôi sắp sửa để đi chơi hồ Tahoe và khi mọi thứ đã chất lên, đóng cửa xe xong, tôi rồ máy, thì nhà tôi chồm dậy, bảo tôi ngừng lại và lật đật chạy vào nhà, lôi cái giỏ kéo ra chất lên xe.

Chuyến đi thật vui. Trên đường, cô ca hát, đố chữ, chuyện trò với cha con tôi. Đến nơi, chúng tôi chèo thuyền, ăn uống ngoài trời, chơi bóng chuyền bên bờ hồ suốt một ngày. Tối về, ai nấy mệt nhoài, chắc hẳn sẽ ngủ thật ngon. Nửa khuya, tôi chợt thấy lành lạnh, thức giấc, trở mình không thấy nhà tôi bên cạnh, nhìn lên, tôi thấy cô ấy ngồi đó bên chiếc bàn, đối diện cửa sổ, trông ra mặt hồ. Tách cà phê một bên, cái giỏ kéo một bên, cô cứ lần lượt lôi ra từng xấp bài vở, đọc và chấm từng trang, từng trang. Ngoài kia, ánh trăng sáng vằng vặc, xuyên qua hàng thông, soi lên mặt hồ lấp loáng. 


Các khách đến viếng lắng nghe đầy xúc động như thể hình dung ra phần nào đêm yên tĩnh của hồ Tahoe mà trong đó cô giáo Erika dáng nghiêng miệt mài bên chiếc đèn với ánh sáng hắt vào xấp bài vở cô đang chấm. Chồng cô ngưng vài giây như dằn cảm xúc trước khi nói tiếp: 

- Hôm qua dọn dẹp bàn phấn nơi nhà tôi thường ngồi chải tóc vội vàng mỗi sáng trước khi đến trường, tôi thấy lọ dầu thơm hoa hồng của cô hẵng còn một ít đây.  Tôi đã xịt lên áo mình và các con để lát nữa, khi người thân và bạn bè của Erika ôm và chia sẻ nỗi niềm này với chúng tôi, thì sẽ thấy như Erika vẫn ở bên chúng ta.


Nói đến đây ông nghẹn ngào đưa vội tay lên che đôi mắt rồi hạ giọng: 

- Ôi, tôi đã làm điều ấy cho mọi người hay cho chính tôi? 

Lặng lẽ, từng người bước đến bàn, ngắm di ảnh cô, thì thầm lời từ giã, ký tên vào sổ lưu niệm, ôm và thăm hỏi bốn cha con.  Rời nghĩa trang, một số người ra về, một số theo tang gia về nhà cô Erika, ngồi quây quần, ăn bánh uống nước, trò chuyện thêm với nhau và với gia đình cô. Chia tay ra về, tôi và các đồng nghiệp nhìn nhau tha thiết và siết chặt tay nhau. Đối mặt với vô thường, những “cái mụ hắc ám”, những “thằng cha khó ưa” thường ngày bỗng nhiên hết hắc ám, hết khó ưa; những xích mích, tị hiềm bỗng trở nên cỏn con và vô nghĩa. Chúng ta có một mục tiêu chung cơ mà, là giúp con trẻ biết cách học hỏi, biết làm việc, biết thương yêu, biết đứng lên làm lại khi vấp ngã và biết sống tử tế. 


Cả hai đám kể trên, không ai phải xin xỏ chúng tôi “niệm tình tha thứ cho những thiếu sót không tránh khỏi” vì quả thật, chúng tôi đã quá thương tang gia và quá vui với hôn quyến, nào có ai còn nhớ là mình đã bị quên giới thiệu, không được ngồi chỗ ngon lành, không được đón tiếp đúng mức, hay gì gì đó, để mà ở đó trách với chê.

 

Trộm nghĩ, thế nhân ơi, xin được đổi “ma chê, cưới trách” thành “ma thương, cưới khoái” nhé, cho ngày vui được thêm rạng rỡ và cho ngày buồn cũng bớt cô liêu. 

  

Quianna Duyên Bùi

Ma Thương, Cưới Khoái - VVNM 2026 - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ

Anh Phước chuyển