Wednesday, October 7, 2026

Kỹ Nghệ "Vặt Lông"


Ông Minh lắp cho thằng Cối chiếc xe đạp, thằng Cối thích thú chạy quanh hỏi hết cái này đến các khác.
Từ lúc mẹ thằng Cối mua chiếc xe về, nó bỏ cả iPad, xem hoạt hình, chỉ mong sáng mai được ra công viên cùng ông nội tập xe.

Hơn mười năm trước, ông mua nhà ở đây cũng chỉ vì trong quy hoạch có cái công viên rộng rãi.
Nghỉ hưu quanh quẩn trong nhà coi như đợi chết.
Bọn trẻ con không có chỗ chơi khác gì bị giam lỏng, đầu to, mắt cận, béo phì, tự kỷ chẳng qua không có không gian cho chúng vận động.

Thằng Cối háo hức, nó dậy từ sớm, thúc giục ông nội đem xe ra công viên tập.
Hai ông cháu đến gần công viên thấy Công an, dân phòng, tự quản, cùng xe ủi, xe xúc, cẩn cẩu và rất nhiều công nhân vòng trong, vòng ngoài.
Họ làm rào chắn không cho ai vào công viên.

Chuyện gì đang xảy ra?
Ông Minh thấy đám bạn thể dục đang túm năm tụm ba, bèn đến hỏi.
Mọi người bức xúc thông tin cho ông biết, Chính quyền thành phố giải phóng mặt bằng công viên thành đất sạch để đấu giá xây dựng chung cư, hay dự án gì đấy.

Dân cư xung quanh thấy công viên bị bỏ đi, đổ ra kín cả đường, họ bức xúc như thế chính quyền chẳng khác gì lừa dân.
Hơn mười năm trước, cái biển quy hoạch cắm ở đằng kia vẽ cái công viên rõ rành rành, bên dưới còn ghi rõ số quyết định phê duyệt quy hoạch của Chủ tịch thành phố. Họ phải mua đất, mua nhà giá cao cũng chỉ vì có cái công viên này.

Hoá ra, họ quy hoạch công viên rộng để giá nhà xung quanh tăng cao, giữ quỹ đất để “ăn thịt” dần.
Quy hoạch, thay đổi quy hoạch, giải phóng lấy đất tất cả đều quyền của họ.
Muốn làm gì, tự họ ra nghị quyết, cả hệ thống chính trị do họ lập ra, cùng nhất trí cao, cùng hưởng lợi, chia chác với nhau thì dân nào chống được, luật pháp có cũng bằng thừa?

Mặt trời bắt đầu lên cao, nắng tháng sáu làm không khí nóng hầm hập, nhưng không ai bỏ ra về.
Ngày mai cuộc sống của bao nhiêu người bị đảo lộn, mọi người không còn chỗ tập, chỗ chơi, tất cả quanh quẩn trong nhà như bị giam lỏng.
Các cụ nằm chờ chết, trẻ con quanh quẩn TV, iPad, điện thoại, chơi bi, đánh đáo trên giường…
Hỏi trẻ em sao không đầu to, mắt cận, béo phì, người cao tuổi không huyết áp, tiểu đường.
Sao họ ác đến như vậy, lúc nào cũng chỉ nghĩ mưu, nghĩ kế móc túi dân, bắt chấp tất cả miễn có tiền.

Tiếng còi của xe cảnh sát hú lên, cảnh sát cơ động 113 xuất hiện, họ mở loa kêu gọi mọi người giải tán.
Đám đông dần dần vãn đi, thất vọng và bất lực…

Mọi lực lượng chuyên chính, hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt thế này đứng đấy bàn cãi, bức xúc chỉ tự hành mình chẳng giải quyết gì, từ trước đến nay dân nào chống được chính quyền.
Ông Minh dắt xe đạp, thằng Cối thất thểu đi sau trở về nhà.
Thằng Cối mồ hôi, mồ kê nhễ nhại, mặt nó buồn rười rượi, vừa đi vừa hỏi:
“Ông ơi, bao giờ được tập xe đạp, hả ông?”
Ông Minh nhìn nó, mắt ông ngấn lệ, ông dỗ dành nó:
“Mai hai ông cháu mình về quê, tha hồ có chỗ tập”.


(1) Anh Quoc - KỸ NGHỆ “VẶT LÔNG” Ông Minh lắp cho thằng Cối chiếc xe... | Facebook

Nhạc AI: “THANK YOU” 29 Thứ Tiếng - Tô Lâm Parody Song

Tượng Đài "The Trail Of The Fallen" - Nhị Độ Hoàng Mai

Ảnh của TG

Tác giả lần đầu tham dự VVNM vào tháng 1-2024 với bài “Một Ngày Thăm Trường Võ Bị West Point”. Bà hiện định cư ở Texas và làm việc trong ngành giáo dục. Nhị Độ Hoàng Mai vừa nhận giải Đặc Biệt VVNM 2025. Sau đây là một bài viết ngắn và cảm động kể về Tượng đài “The Trail of the Fallen –Đường Mòn Tưởng Niệm Những Người Đã Khuất) trên đỉnh núi Popolopen Torne, tiểu bang New York.

***

Mùa hè năm nay, con trai tôi từ trường võ bị West Point về nhà nghỉ hè được hai tuần trước khi đi thực tập ở căn cứ quân sự Fort Hood tại thành phố Killeen, bang Texas. Trong lúc gia đình sum họp, con tôi có cho tôi xem một số hình ảnh về cuộc sống học tập của nó ở trường. Một bức ảnh đã khiến tôi dừng lại rất lâu sau khi con tôi cho biết đó là tượng đài “The Trail of The Fallen”. Con tôi đã chụp bức ảnh này trong một lần tập quân sự leo lên đỉnh núi Popolopen Torne. Có những bức ảnh không để lại ấn tượng nào cho tôi, một số bức ảnh gây cho tôi nhiều ngạc nhiên, thích thú và xúc động. Bức ảnh mà con tôi chụp tượng đài “The Trail of The Fallen” đã gợi lên trong tôi nhiều cảm xúc vì câu chuyện đằng sau bức ảnh này thật sự lay động lòng người.

Sau khi tìm hiểu về tượng đài “The Trail of The Fallen”, tôi quyết định viết về tượng đài này. Lòng biết ơn đối với những người lính Mỹ đã ngã xuống và lòng khâm phục đối với người đặt viên đá đầu tiên cho tượng đài này đã thôi thúc tôi viết về tượng đài “The Trail of The Fallen”.


Nói đến tượng đài hay đài tưởng niệm, chúng ta thường hình dung ra các bức tượng được tạc hoặc điêu khắc bằng đồng hay bằng đá cẩm thạch và thông thường được đặt trên các bệ đỡ cao. Tuy nhiên, tượng đài The Trail of Fallen (Tạm gọi là Tượng Đài Đường Mòn Tưởng Niệm Những Người Đã Khuất) là một tượng đài khác biệt với những gì chúng ta thường hình dung. Đây là một tượng đài độc đáo, được bồi đắp bằng hàng ngàn viên đá, to có nhỏ có, nằm trên đỉnh núi Popolopen Torne. Đỉnh núi này khá nhọn và trọc, với độ cao 942 feet so với mực nước biển, nằm trên một đoạn của tuyến đường mòn Timp-Torne trong công viên tiểu bang Bear Mountain, bang New York.


Tôi ước ao tôi có đủ sức khỏe để leo lên đỉnh núi Popolopen Torne để viếng thăm tượng đài này và để nghiêng mình trước những người lính Mỹ đã ngã xuống cho nước Mỹ thanh bình như ngày hôm nay. Tôi ước ao tôi có thể mang một viên đá khắc tên Bác Hai của tôi, leo lên đỉnh và đặt bên cạnh các viên đá khác bồi đắp nên tượng đài. Tuy vậy, lực bất tòng tâm, tôi biết tôi sẽ mãi không thể leo lên được tới đỉnh núi dù tôi có cơ hội quay trở lại nơi này vào tháng Tám năm nay. Một thanh niên trai tráng như con tôi còn phải ngần ngại khi tôi yêu cầu nó đưa tôi lên đỉnh núi vào tháng Tám này.


The Trail of The Fallen: tượng đài đầy tính nhân văn.

Đài tưởng niệm này được hình thành từ một khối đá xếp chồng khổng lồ do những người leo núi (hikers) và các gia đình quân nhân cùng nhau tạo nên. Họ mang theo những viên đá lên đỉnh núi để tri ân các quân nhân đã hy sinh.


Để đem được các viên đá lên đỉnh núi, người mang chúng phải vượt qua một quãng đường dài khoảng 2km. Quãng đường này tuy ngắn nhưng có độ dốc rất cao, có những đoạn khá gập ghềnh. Người đi cần phải bám vào đá, bám vào các sợi dây thừng được gia cố sẵn trên vách núi để đi. Đài tưởng niệm này được bồi đắp mỗi ngày khi các gia đình, đồng đội và cả những du khách đi ngang qua tiếp tục mang theo những viên đá mới. Nhiều sinh viên sĩ quan tại học viện quân sự West Point cũng đã tự mình leo núi, mang theo đá để bồi đắp cho tượng đài này.

Hàng ngàn viên đá, từ những viên nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay đến những khối đá nặng hàng trăm cân, đều được sơn tên, được viết tiểu sử hoặc viết lời nhắn gửi chân thành “Gone but Not Forgotten” (Ra đi nhưng không bị lãng quên) gửi đến những người lính đã hy sinh. Trên đỉnh núi còn là nơi đặt cờ, quân huy, thẻ bài quân nhân, áo khoác và các vật kỷ niệm chen lẫn giữa các hòn đá. Sát bên tượng đài là hai chiếc ghế bằng đá granite nặng hơn 350–400-pound đã được vận chuyển kỳ công lên đỉnh núi để tưởng nhớ hai cựu học viên West Point thiệt mạng tại Afghanistan: Thiếu tá Thomas Kennedy và Trung úy Daren Hidalgo). Câu chuyện về cuộc đời và sự hy sinh của họ là biểu tượng lớn cho lòng quả cảm tại đài tưởng niệm này.

Thiếu tá Thomas Kennedy là một sĩ quan Lục quân tận tụy, tốt nghiệp Học viện West Point (niên khóa 2000). Ông đã hy sinh bởi một kẻ đánh bom liều chết tại tỉnh Kunar, Afghanistan, vào ngày 8 tháng 8 năm 2012. Còn Trung úy Daren Hidalgo tốt nghiệp Học viện Quân sự West Point (niên khóa 2009), đã hy sinh vào ngày 20 tháng 2 năm 2011 tại tỉnh Kandahar, Afghanistan, do các vết thương gây ra bởi thiết bị nổ tự chế (IED).


Điều cần biết là hai chiếc ghế đá granite này được vận chuyển lên đỉnh núi Popolopen Torne hoàn toàn bằng sức người, không một trực thăng hay máy móc hạng nặng nào được sử dụng. Grant Nawoichyk và các tình nguyện viên từ các tổ chức hướng đạo sinh địa phương và các sinh viên sĩ quan West Point đã đóng góp công sức để khiêng vác các bộ phận rời như chân ghế và mặt ghế lên đỉnh. Họ đã sử dụng dây đai nâng chịu lực, dây thừng và khung gỗ chuyên dụng để khiêng vác. Họ thường xuyên luân chuyển nhân sự để khỏi bị kiệt sức và đảm bảo an toàn khi di chuyển qua những đoạn đường có độ dốc lớn. Sau khi vận chuyển thành công tất cả các bộ phận lên đỉnh núi, cả nhóm đã lắp ráp các kết cấu và bắt bu lông cố định chúng vào nền đá gốc để chịu được điều kiện thời tiết khắc nghiệt trên núi. Việc đưa hai chiếc ghế này lên đỉnh núi cao 942 feet (khoảng 287 mét) với địa hình dốc đá dựng đứng thật sự là một kỳ tích.


Ai là người đặt viên đá đầu tiên?

Ngay sau vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, Đại tá Quân đội về hưu Hank Keirsey đã tự mình thực hiện những chuyến leo núi lên đỉnh Popolopen Torne. Ông lặng lẽ mang theo những viên đá từ dưới chân núi lên đỉnh - mỗi viên tượng trưng cho một nạn nhân của các cuộc tấn công- vừa cầu nguyện vừa mong mỏi sự trở về an toàn của các quân nhân đang làm nhiệm vụ ở nước ngoài.


Khi các cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan ngày càng trở nên khốc liệt, đại tá Keirsey vẫn tiếp tục khuân vác đá lên đỉnh núi dốc cao 942 feet để tri ân những người lính đã hy sinh, đặc biệt là các cựu sinh viên West Point. Hình ảnh người cựu chiến binh luống tuổi miệt mài mang vác những khối đá nặng nhọc lên đỉnh núi đã truyền cảm hứng cho người dân địa phương, các cựu chiến binh, những người leo núi và cả các học viên West Point cùng với gia đình quân nhân. Họ bắt đầu mang theo những viên đá có kích thước lớn hơn lên đỉnh núi, nhiều viên được sơn màu sắc rực rỡ, viết tên hoặc khắc ngày hy sinh của những người đồng đội đã ngã xuống.

Theo thời gian, một đống đá tưởng niệm dần lộ diện và lớn lên ngay trên đỉnh núi hoang sơ. Dù đống đá tưởng niệm đã tồn tại nhiều năm và được cộng đồng đi bộ đường dài biết đến, nơi đây vẫn chỉ là một địa điểm tự phát và chưa được chính quyền công nhận chính thức vào thời điểm đó.


Grant Nawoichyk và sự ủng hộ của đại tá Hank Keirsey

Năm 2014, một hướng đạo sinh kỳ cựu thuộc đội 23 tại West Point, Grant Nawoichyk, đã quyết định chọn nơi nàyđể thực hiện dự  án “Hướng đạo sinh đại bàng” (Eagle Scout Project). Mục tiêu của cậu là cải tạo cung đường, bảo tồn đống đá kỷ niệm và biến nơi đây thành một đài tưởng niệm chính thống. Để thực hiện dự án, Grant Nawoichyk đã phải xin phê duyệt chính thức từ Ủy ban Công viên Palisades (Palisades Park Commission) để hợp pháp hóa khu vực tưởng niệm này.


Ngày 10 tháng 5 năm 2014, đoạn đường mòn leo núi dốc và hiểm trở thuộc tuyến Timp-Torne này chính thức được khánh thành với tên gọi “The Trail of The Fallen”. Trong dự án của mình, Grant Nawoichyk cùng các tình nguyện viên đã bổ sung những chi tiết quan trọng giúp hoàn thiện diện mạo của tượng đài như ngày nay. Họ đã cho đặt thêm các biển báo và đánh dấu lộ trình mòn một cách rõ ràng để đảm bảo an toàn cho người leo núi. Ngoài ra, họ cho dựng một ki-ốt cung cấp thông tin cho du khách ngay tại điểm bắt đầu của đường mòn trên đỉnh Đường Mine (Mine Road). Điều đặc biệt, họ đã vận chuyển kỳ công và bắt vít cố định hai chiếc ghế bằng đá granite nặng 400-pound (khoảng 180kg) lên đỉnh núi.


Đại tá Keirsey đã hết lòng hỗ trợ Grant Nawoichyk. Ngôi nhà của đại tá Keirsey nằm ở đầu đường Mine Road, ngay sát chân đường mòn. Ông vừa là một người gác cổng kiêm người chủ nhà hiếu khách. Ông cho phép các sinh viên sĩ quan tại West Point và các gia đình quân nhân đậu xe trong khuôn viên đất của mình. Ngôi nhà của ông luôn mở cửa làm nơi tụ họp để các gia đình quân nhân chia sẻ về những người thân đã khuất trước khi bắt đầu hành trình gian nan. Ông thường leo lên đỉnh núi cùng các nhóm du khách để thay thế những lá cờ Mỹ đã sờn rách tại đài tưởng niệm trên đỉnh.

Nếu không có việc đại tá Hank Keirsey đích thân mang những viên đá mang tính biểu tượng đầu tiên đó lên sườn dốc thì con đường mòn cùng những chiếc ghế đá granite tại đây đã không tồn tại như ngày nay. Chính sự kết hợp giữa ý nguyện thiêng liêng ban đầu của một cựu chiến binh (Keirsey) và lòng nhiệt huyết gìn giữ lịch sử của một người trẻ như Grant Nawoichyk đã tạo nên một tượng đài "Trail of the Fallen" đầy tính nhân văn, nơi mỗi viên đá mang lên đều mang một câu chuyện và linh hồn riêng. Ngày nay tượng đài “Trail of The Fallen” đã và đang trở thành một đài tưởng niệm có quy mô lớn.

Mỗi một tượng đài đều có một câu chuyện của riêng mình. Riêng câu chuyện của tượng đài The Trail of The Fallen vẫn đang được kể từng ngày và là một câu chuyện chưa có hồi kết. Câu chuyện của tượng đài này sẽ mãi làm lay động lòng người thế hệ hôm nay và những thế hệ trẻ mai sau, như đã từng lay động lòng tôi và gợi lên trong tôi nhiều xúc cảm.


Tôi mong muốn được gửi lời cảm ơn đến các gia đình quân nhân đang có con phục vụ trong quân đội Mỹ và cảm ơn những người lính Mỹ - Thank you for your service! Cuối cùng, tôi không quên cảm ơn Ban Biên Tập Việt Báo đã cho tôi có cơ hội chia sẻ câu chuyện về Tượng Đài “The Fallen of Trail” đến với độc giả người Việt trên toàn thế giới. Xin cảm ơn!

 

Tháng 7, ngày 17, 2026

Nhị Độ Hoàng Mai

https://vvnm.vietbao.com/a248351/cau-chuyen-tu-mot-buc-anh

Bánh Cóng & Bánh Cuốn

 




Thanh Loan chuyển

Tuesday, October 6, 2026

Chờ Em Trọn Đời - Nguyễn Duy Phước

Lời Ngõ Trong Buổi Ra Mắt Sách "Con Dế Mèn Của Mẹ" - Ngọc Ánh

  

Kính thưa các vị khách quý, các bậc trưởng thượng và những bạn bè thân hữu đang có mặt trong khán phòng chiều tối hôm nay.

Lời đầu tiên, tôi xin được gửi tới toàn thể quý vị lời chào trân trọng nhất và lòng biết ơn sâu sắc vì đã dành thời gian đến đây, để cùng tôi lật mở những trang sách vốn được viết nên không phải bằng mực, mà bằng những mảnh vỡ ký ức, bằng máu, nước mắt  và cả tình yêu sâu nặng nhất của cuộc đời tôi.

Nhiều người hỏi tôi: "Cuốn sách 'My Little Cricket' là một câu chuyện cổ tích phải không?". Tôi luôn trả lời rằng: Không. Đây không phải là một câu chuyện cổ tích. Đây là một sự thật nghiệt ngã của số phận, nhưng trong chính sự thật ấy, một tình yêu đã được thử thách và tỏa sáng.

Cuốn hồi ký này kể về Vy Dân – đứa con trai bé bỏng mang hình hài yếu ớt như một con dế mèn của tôi, và hành trình của hai mẹ con chúng tôi xuyên qua chiến tranh, ngục tù, sự ly tán đằng đẵng và  cuối cùng là cái chết của một con người vốn đã mỏng manh yếu ớt về thể xác.


Kính thưa quý vị,

Hơn 40 năm trước, tại vùng đất Đà Lạt lập cập lạnh, tôi đã sinh ra Vy Dân trong cảnh nghèo khó tột cùng của đất nước những năm hậu chiến. Một đứa trẻ thiếu cân, suy dinh dưỡng, chưa một lần được biết đến tấm tã lành hay hơi ấm của chiếc lò sưởi. Cha của Vy Dân đã phải đi bán từng giọt máu của mình để đổi lấy vài hộp sữa, chút thức ăn cho hai mẹ con. Khi đó, chúng tôi còn quá trẻ, nhưng chúng tôi có nhau và có một tình yêu mãnh liệt vì chung một lý tưởng chống CS độc tài

Nhưng giông bão đã không buông tha chúng tôi. Khi Vy Dân mới hơn 1 tuổi, tai họa ập đến. Tổ chức chống Cộng của chúng tôi bị tan vỡ,Cả cha và mẹ đều bị bắt. Đứa con thơ dại của tôi, thay vì được ẵm bồng trong vòng tay ông bà, đã phải theo mẹ bước vào phòng giam tối tăm, chật hẹp và dơ bẩn

Giữa bức tường đá xám xịt của nhà tù, thế giới của con tôi chỉ có màu áo tù sờn rách, có những con vắt đen bám vào chân mẹ ngoài đồng,những bữa ăn thiếu thốn qua ngày. Và những cơn sốt cao không một viên thuốc đã hành hạ thân xác con tôi mòn mỏi.


Thế nhưng, chính trong cái nơi tăm tối ấy, con dế mèn của tôi đã dạy cho tôi biết thế nào là sự kiên cường. Đôi tay con bị bại liệt, vô dụng, nhưng đôi chân con lại vô cùng mạnh mẽ. Con đã dùng đôi chân gầy guộc ấy để ôm lấy eo mẹ, dùng bàn chân nhỏ bé để lau nước mắt cho mẹ, cầm lược chải tóc cho mẹ, và đấm lưng cho mẹ sau những giờ lao động khổ sai kiệt sức. Vy Dân chính là đốm lửa duy nhất giữ cho tôi lòng ham sống, để tôi không buông xuôi trước nghịch cảnh. Mặc dù có những lúc tôi cũng yếu đuối chỉ muốn thắt cổ chết cả hai mẹ con, để thoát khỏi ngục tù khổ nạn nhưng cái đập chân hoảng sợ của Vy Dan đã làm tôi bừng tỉnh. Tôi ôm con tức tưởi Chúng ta phải sống để trở về con trai à.


Rồi một ngày, cuộc chia tay thắt lòng đã diễn ra. Để cứu mạng sống của con, để con có cơ hội được chữa bệnh, tôi đã phải quyết định trao con vào tay một tổ chức nhân đạo phương Tây khi con mới 9 tuổi, với một niềm hy vọng là con sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn , sẽ được chửa bệnh, được học hành, nhưng phải đánh đổi bằng nỗi đau của sự chia cắt mà một đứa trẻ chín tuổi lúc bấy giờ không thể nào hiểu được. Con đã khóc, con nói con không cần thiên đường, con không cần quần áo đẹp, con chỉ cần mẹ. Nhưng vì tương lai của con, tôi đã phải đẩy đứa con tật nguyền của mình đi xa nửa vòng trái đất.


Mười lăm năm đằng đẵng mất liên lạc, mười lăm năm tôi sống trong nỗi dằn vặt nhớ thương con Cho đến một ngày, nhờ sự kỳ diệu của lòng nhân ái và công nghệ, chúng tôi tìm thấy nhau. Vy Dân của tôi lúc này đã là một chàng trai 24 tuổi, đôi chân đã biến dạng hoàn toàn không thể cử động, cách giao tiếp duy nhất là thè lưỡi cho câu trả lời "yes và ngậm miệng cho câu trả lời "No

Nhưng quý vị có biết điều gì đã khiến tôi khóc nghẹn không? Ở đất nước Thụy Sĩ xa xôi ấy, con tôi đã dùng hai ngón chân còn chút cảm giác duy nhất của mình, tỉ mẩn click chuột suốt nửa tiếng đồng hồ chỉ để gõ một dòng chữ gửi cho mẹ: "Je t'aime maman" – Con yêu mẹ. Vy Dan không hề oán trách số phận,con  sống  bình an giữa những người tử tế, con chịu khó học hành trong khả năng giới hạn của mình, Con đã tự tay thiết kế những tấm thiệp Giáng sinh, bán ở chợ trời vào mỗi cuối tuần để gom góp từng đồng xu, với ý chí  mạnh mẽ là phải về lại Việt Nam tìm Mẹ, tự chi trả cho chuyến bay trở về Sài Gòn để đoàn tụ với mẹ sau 15 năm xa cách. Chuyến đi 10 ngày năm ấy chính là khoảnh khắc hạnh phúc nhất, trọn vẹn nhất trong cuộc đời của hai mẹ con chúng tôi. Con đã chứng minh cho tôi và cả thế giới thấy rằng: Hình hài con có thể tật nguyền, nhưng ý chí và tâm hồn con chưa bao giờ bị bẻ gãy. Con giống như biểu tượng của tuổi Tỵ mà con mang – một chú rắn không chân nhưng vẫn có thể bò qua năm cánh rừng, bảy ngọn núi bằng sức mạnh tinh thần bphi thường của lòng dũng cảm


Kính thưa quý vị,

Hôm nay, khi tôi đứng đây để ra mắt cuốn sách này, để kể một câu chuyện về thằng bé đã vượt qua nghịch cảnh để lớn lên, mặc dù Vy Dân của tôi bây giờ không còn nữa. Con đã nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 47 tại Thụy Sĩ, nhẹ nhàng như một tiếng thở dài, như một cơn gió thoảng qua. Con đã rời bỏ chiếc xe lăn, rời bỏ cái thân xác đau đớn để bay về phía cuối cầu vồng, nơi có người cha thân yêu đang chờ đón con, nhưng tôi không nói về cái chết để bi thảm câu chuyện mà nói về  Vy Dan đã sống như thế nào trong 47 năm qua.Nó là thằng bé tuyệt vời, nó cho ta biết thế nào là nghị lực là niềm tin là hy vọng yêu thương để luôn hướng về phía trước. Có một sự thật là sau ngày nó mất, người ta tìm thấy trên computer nó một email viết dang dở với dòng chữ  Con yêu Mẹ ở dòng cuối cùng chưa kịp bấm sent


Tôi viết cuốn sách này, trước hết là để giữ một lời hứa với con. Tôi đã hứa sẽ trở lại Thụy Sĩ vào mùa thu để mang cho con một chiếc lá vàng. Và tôi đã trở lại, dù con không còn ở đó, tôi đã đến "Khu rừng ký ức" nơi tro cốt của con hòa vào thiên nhiên để thắp nén hương và nói lời xin lỗi muộn màng đến con.

Tôi viết cuốn sách này, còn vì một món nợ ân tình lớn lao. Tôi muốn cúi đầu cảm ơn đất nước Thụy Sĩ, cảm ơn tổ chức Terre des Hommes, cảm ơn những người hộ lý, những tình nguyện viên như vợ chồng Lucine, Martin... những người xa lạ khác màu da, khác tiếng nói, nhưng đã chăm sóc đứa con bất hạnh của tôi bằng cả trái tim và tình yêu thương vô điều kiện cho đến hơi thở cuối cùng. Họ đã chứng minh cho tôi thấy: trên thế giới này, lòng nhân ái không có biên giới.


Và cuối cùng, tôi muốn gửi gắm cuốn sách này đến quý vị độc giả. Tôi không muốn quý vị đọc nó để thương hại cho số phận của mẹ con tôi. Tôi mong rằng, khi khép lại những trang sách này, quý vị sẽ tìm thấy một chút niềm tin, một chút hy vọng, và một sự trân trọng sâu sắc hơn dành cho những người thân yêu đang ở bên cạnh mình. Cuộc sống này có thể đầy rẫy bất công và nghiệt ngã, nhưng chừng nào chúng ta còn tình yêu thương, chừng đó chúng ta còn lý do để sống và vượt qua tất cả.

"Có những giọt nước mắt không cần thông dịch.
Có những tình yêu không cần ngôn từ.
Và có một tình yêu của người mẹ vượt lên trên tất cả. 

Mỗi người ra về sẽ mang một cuốn sách trên tay, như một quà tặng của Mẹ con dế mèn, giữ dùm tôi ký ức không thể bị lãng quên, một câu chuyện đã chạm vào trái tim của mọi người có mặt ở đây.

Ngọc Ánh

Chuyện Ngôn Ngữ Chữ Nghĩa - Nguyễn Hoàng Quý

 

Sau 1975, ở miền Nam Việt Nam các Trung tâm Văn hóa ngoại quốc (Hoa Kỳ, Pháp, Ðức…) tại các thành phố lớn phải giải thể. Các trường Tây đóng cửa, học sinh vào học chương trình Việt của  nhà nước mới. Nếu tính từ 1975 thì học sinh trường Pháp thời của người viết học trung học (Lasan Taberd, Marie Curie, Pétrus Ký ở Sài Gòn, Pellerin và Providence ở Huế, Lyceé Yersin, Couvent des Oiseaux (*) ở Ðà Lạt, Lyceé Pascal Ðà Nẵng…) lúc đó đang học lớp Terminale chuẩn bị thi Bac II (Baccalaureat II) tương đương Tú tài ở trường Việt nay đã gần 50 tuổi. (Sau 1975, chỉ còn trường dạy tiếng Pháp IDECAF ở Sài Gòn, việc học sinh ngữ ở các trường trung và đại học có Tiếng Pháp, tiếng Anh và Nga). Việc sử dụng tiếng Pháp hạn chế dần, nhất là không có cơ hội. Tuy nhiên, có một thực tế là những người Việt từ 70 tuổi trở lên đều có thói quen dùng một số từ tiếng Pháp được Việt hóa. Thậm chí, nếu nói tên tiếng Việt của từ đó sẽ có người không biết. 


Bài viết này không có tham vọng nói đủ các từ được dùng từ lâu trong xã hội vì nhiều từ tiếng Việt đã được dùng theo thói quen, có nguồn gốc không chỉ tiếng Pháp mà có cả từ Hán Việt, từ tiếng Anh nhưng chỉ đề cập đến một số được nghe để bạn đọc “Mua vui cũng được một vài trống canh” (Nguyễn Du – Truyện Kiều). 

Trong lãnh vực rau quả, dân Ðà Lạt (trên cao nguyên Lang Biang, nơi được bác sĩ Yersin tìm ra, người Việt gọi là cao nguyên Lâm Viên) quen dùng từ la ghim (legumes) để chỉ chung các loại rau. Sú hoặc bắp sú (choux), rốt hoặc cà rốt (carottes), sú lơ (choux en fleur), ba rô (poireau). (Người chuyển thêm vào Đậu Hòa Lan gọi là Bớ tý poa).   Sau 1975, bắp sú được gọi thành bắp cải. 

Trong lãnh vực giao thông, có từ nhà ga (xe lửa – gare), người lãnh đạo cao nhất của nhà ga là xếp ga (chef de gare). Từ chef này dùng rộng rãi để chỉ cấp trên (“xếp của tôi”). Nói về hàng hóa sản xuất trong ngoài nước, người ta không dùng các từ “nhập cảng” hay “nội địa” mà ưa dùng từ hàng rin (origine) hay hàng lô (local). 


Thời VNCH, nhất là thời TT. Ngô Ðình Diệm, các bộ phận của xe đạp dùng tiếng Pháp được Việt hóa khá nhiều. Tay lái gọi là ghi đông (guidon), bộ truyền động gồm sên (chaines), nhông, đĩa, líp (rollipe) bây giờ gọi là xích, líp, đĩa. Ghế nhỏ phía sau yên chở hàng gọi là bọt ba ga (porte de bagages). Căm xe hồi đó gọi là ray dông (rayon), chắn bùn, chắn sên đều gọi là gạc đờ bu (garde de boue), gạc đờ sên (garde de chaine), bàn đạp thì gọi là bê đanh (pédale), thắng/ phanh xe (frein). Những từ này bây giờ không còn được nghe ở các tiệm sửa xe đạp như ngày xưa hoặc chỉ còn lại rất ít như vỏ ruột xe còn gọi là xăm lốp (chambre – có lẽ là buồng hơi, chứa khí) là ruột xe và lốp là envelope. Xe máy nổ thì còn dùng từ cạc bu ra tơ (carburateur – tức là bình xăng con hoặc bộ chế hòa khí), xú báp (soupape). Pít tông (piston), xy lanh (cyclin) Từ xú báp này được nói vui khi chỉ một việc làm giảm stress là “xả xú báp”! 

Ðiều thú vị là những tay đua xe bây giờ truyền thông vẫn gọi là cua rơ (coureur). 

Trong lãnh vực giao thông, từ được Việt hóa từ tiếng Pháp cũng khá nhiều: nhà ga, xe ba lua, ca nô (canoe), ô bo (hors bord), xe ca (car), xe buýt (bus). Thợ cơ khí gọi các cờ lê (clé) là chìa khóa (số 7, 8, 9, 10…) nhưng tuộc vít thì vẫn dùng từ tiếng Pháp (tourne vis). Tài xế hồi xưa gọi là sốp phơ (chauffeur) nay biến mất hẳn nhưng phụ xe thì còn dùng nhiều, nơi gọi là lơ (controleur – controller (tiếng Anh), cũng có nơi gọi là ét xe, có lẽ bắt nguồn từ động từ tiếng Pháp (aider- giúp đỡ). 

Chuyện Việt hóa từ tiếng ngoại quốc khiến tôi nhớ lại hồi 1968 ở Sài Gòn, khi ghé tiệm bán đồ điện mua một “con chuột” cho bóng đèn néon, anh chủ không hiểu nói là ở đây chỉ bán đồ điện chứ không bán thú vật! Tôi trả lời lại là tôi mua chuột cho néon, anh ta biểu tôi tìm và chỉ cho anh thứ cần mua. Tôi tìm và chỉ, anh ngớ người: “Bạn ơi món này ở đây gọi là công đăng xa tơ (condensateur) hay là tắc te (starter)”. Hết biết!


Trước 1975, ngôn ngữ đá banh dùng nhiều, nay chỉ còn lưu lại ít từ, a ri e (arrière – hậu vệ), cọt ne (corner – phạt góc), gôn (goal – tiếng Anh), ọt rơ (hors de jeu – việt vị). (Trung phong – Avant centre, Hàng trung vệ/Tiếp ứng - Demi, Hàng Tiền đạo – Avant).

Cao bồi (cow boy), bà xơ (Soeur), phe (frère), xi nê (ciné), ô ten (ô teo – hotel), cà phê (café), ba (bar – snack bar), rượu sâm banh (champagne), rượu uýt ki (whiskey), bánh ba tê sô (paté chaud), bơ (beurre), phô mai (fromage), ô liu (olive), xúc xích (saucisse),    xì tin (style), bi da (billard), xe ba lua (xe tải nặng – poids lourds). Culi (coolie), bít tết (beefsteak), xà bong (savon), bót – bàn chải (bross), bia – lade (biere), ga lăng (galant – nịnh đầm) là những từ dùng phổ biến đến ngày nay.


Tưởng cũng nên nhắc lại vài hàng về lịch sử đã dẫn đến việc Việt hóa này. Năm 1884, với hòa ước Giáp thân (Patenôtre), người Pháp đặt nền đô hộ trên toàn cõi Việt Nam, trong đó Bắc kỳ và Trung kỳ là xứ bảo hộ, quyền lực của triều đình Huế vẫn còn nhưng dưới sự chỉ huy của Pháp, Nam Kỳ là xứ thuộc địa (protectorat), Pháp cai trị hoàn toàn, coi toàn bộ Nam kỳ như một tỉnh của mình. Ðó là lý do vì sao Sài Gòn và Nam kỳ có nhiều người lấy quốc tịch Pháp và lý do vì sao nhiều từ tiếng Pháp được Việt hóa như đã bàn trên đây. 


Sẽ là thiếu sót nếu nói chuyện chữ nghĩa, ngôn ngữ (nói và viết) mà không nhắc lại kỷ niệm một thời không mấy vui mà chắc chắn thế hệ 7x, 8x đến sau này, nếu nghe kể lại sẽ gọi là “chuyện hoang đường”. Chuyện là sau 1975, phong trào “Thực hiện trong sáng Việt ngữ” được phát động rầm rộ trên cả nước, từ Hán Việt được thay bằng từ thuần Việt. Rất nhiều từ, cụm từ được thay mới hoàn toàn lạ lẫm đối với dân miền Nam mà người viết không tiện viết ra, để độc giả tự tìm hiểu sẽ thú vị hơn. Bên cạnh đó, không hiểu sao có thêm một số từ mới được nghe ở các chợ trời ví dụ đồng hồ không người lái để chỉ đồng hồ automatic, cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc để chỉ cà phê phin (café filtre). 


Qua thời gian, những từ nói trên tự động biến mất vì không thể áp đặt những tư tưởng bất cận nhân tình, những từ ngữ đã ăn sâu vào cuộc sống lên nhân dân vốn quen hưởng không khí phóng khoáng tự do nhờ hấp thụ văn hóa Ðông – Tây một thời gian dài, không thể đem văn hóa Trường Sơn áp đặt lên người dân mà level văn hóa cao hơn rất nhiều. 

Thập niên 60 thế kỷ trước, chính quyền Ðệ nhị Cộng hòa ở MNVN – có lẽ vì tự ái dân tộc – cũng đã ra sắc lệnh Việt hóa tên các cơ quan, trường học (từ tên ngoại quốc thành tên tiếng Việt). Việc này được hưởng ứng sâu rộng. Do vậy, các “trường Tây” đổi thành tên Việt. Có thể kể, ở Ðà Lạt, Lycée Yersin đổi thành Trung tâm giáo dục Hùng Vương, Domaine de Marie thành Lãnh địa Ðức Bà, ở Ðà Nẵng trường Blaise Pascal thành Trung tâm giáo dục Nguyễn Hiền. Ở Huế, trường Pellerin thành Bình Linh, Providence thành Thiên Hựu... 


Nhạc sĩ Phạm Duy trong bản “Tình ca” (bắt đầu bằng câu “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”) có một câu để đời, như một tiên tri: “Khóc cười theo vận nước nổi trôi”. Ðúng là người Việt “khóc cười theo vận nước nổi trôi” trong suốt dọc dài lịch sử từ thời Hùng Vương cho đến . . . không biết bao giờ! Mà thôi, lịch sử có những lý lẽ riêng của nó kể cả ngôn ngữ, được dùng nhiều sẽ thành phổ thông và xã hội chấp nhận. Không khen, không chê. 


Nguyễn Hoàng Quý 

(*) Trường Jeanne d’Arc ở Huế, Regina Mundi, Regina Pacis Saigon & Domaine de Marie, Couvent des Oiseaux Dalat đều do các soeurs điều hành, có nhiều soeurs dạy ở trường, cũng như có nhiều thầy cô bên ngoài, người Việt lẫn Anh Mỹ Pháp dạy.


Monday, October 5, 2026

Giấc Mơ Giảng Đường - Trầm Vân

Nghệ Sĩ Với Tình Yêu Chung Thủy

 



83 tuổi lên xe hoa lần nữa, nam diễn viên qua đời ngay sau khi biết mối tình đầu đã trở thành vợ mình, câu nói trước lúc mất mới đau xót làm sao.


Đến cuối đời, ngay trước thời khắc từ giã cuộc sống, người đàn ông cũng hoàn thành được tâm nguyện lớn lao mà mình chờ đợi suốt 50 năm.

Có những câu chuyện tình yêu trở thành ám ảnh. Họ yêu nhau ngày chưa tròn đôi mươi và chỉ thật sự được thành vợ chồng khi đã ở những thời khắc cuối cùng của cuộc đời. Đôi lúc, người ta phải đặt câu hỏi tại sao tình yêu lại vừa ngọt ngào lại vừa đau đớn đến như thế.

Mối tình đầu không thể tiến đến. 

Utsui Ken là một nam diễn viên nổi tiếng Nhật Bản. Ông sinh ra trong một gia đình quý tộc ở Tokyo. Gia đình ông sở hữu một nhà hàng ẩm thực nhưng bản thân Utsui đam mê sân khấu từ nhỏ và muốn theo ngành diễn viên. 

Thế nhưng ước mơ này bị người lớn trong nhà phản đối kịch liệt bởi ngành nghề ấy trong mắt những nhà quý tộc là thấp kém. Sau đó, Utsui được đưa đến Đại học Waseda học tập ngành Văn học. 

Chán nản, ông thường xuyên đến Izakaya (quán rượu sake) gần trường để uống vài ly. Không phải vì nhà hàng này cao cấp mà ở đó có cô phục vụ xinh đẹp Fumie Kase.

Kase mới 17 tuổi, xinh xắn và ngọt ngào, vô cùng sôi nổi. Trong mắt Utsui, Kase đến từ vùng nông thôn và có khí chất đáng yêu, khác biệt với nhiều cô gái gò bó, già dặn ông biết. 

Sau đó, Utsui đã tâm sự về câu chuyện của mình cho Kase nghe. Cô gái nhỏ thoải mái đáp lời: "Nếu anh hướng tới ước mơ của mình thì phải kiên trì. Nhất định nó sẽ thành hiện thực".

Sau đó Kase nâng chiếc túi nhỏ trên tay lên và nói: "Ước mơ của tôi là bắt đầu tiết kiệm tiền từ bây giờ để mở cho mình một cửa hàng riêng trong tương lai". 

Lúc đó, Utsui bật cười rồi bỏ vào đó số tiền hơn 1500 Yên (khoảng 330 nghìn đồng) và nói: "Tôi sẽ là người đầu tiên giúp cô".


Vài ngày sau, Utsui quay lại quán nhưng không có Kase ở đó. Nhà hàng yên tĩnh trở nên ảm đạm hơn và trái tim ông trống rỗng. 

Khi ông đang say sưa thì Kase đột nhiên xuất hiện, đưa một đống tài liệu cho ông rồi nói: "Tôi cũng muốn giúp anh trở thành người đầu tiên thực hiện ước mơ của mình". 

Đó là tài liệu tuyển sinh của toàn bộ hội biểu diễn nghệ thuật khu vực Tokyo cũng như các khóa đào tạo. Bà đã tìm kiếm tài liệu khắp nơi ở Tokyo - nơi xa lạ với chính bà để thu thập tất cả. 

Đêm đó, nhìn ánh mắt dịu dàng và thẹn thùng đó, Utsui không kiềm lòng được mà ôm bà vào lòng.

Bà nhìn thẳng với vẻ mơ màng rồi bất chợt thổ lộ: "Em vẫn còn một ước mơ khác đó là làm vợ anh". 

Đột nhiên, gương mặt nghiêm khắc của bố mẹ hiện lên trong đầu Utsui, ông nhận ra rằng người phụ nữ này không bao giờ có thể làm vợ mình. Ông bất ngờ thả tay đang ôm lấy vai bà rồi xoay người bỏ đi.


Utsui sinh ra trong gia đình quý tộc, ông có trách nhiệm thừa kế gia tộc và hiểu rõ ai mới có thể sánh đôi cùng mình, được gia tộc ủng hộ. Nhiều ngày liền Utsui không đến quán rượu đó nữa. Ông nhớ lại nụ cười của bà biến mất khi mình đẩy ra. Ông đau đớn khi cảm nhận thấy mối tình đầu chớm nở đã tan vỡ. Sự đau đớn ấy khiến ông quyết tâm vùng lại và cho rằng khác biệt về địa vị không quan trọng.

Ông quay lại quán rượu nhưng Kase đã rời đi. Lúc đó, ông quyết tâm theo lời bà nói, làm những gì mình muốn làm.


Cuộc hôn nhân vào những ngày cuối cuộc đời

Ông bỏ học và được nhận vào khóa đào tạo của một công ty sân khấu. Sau khi tốt nghiệp, ông đóng hai bộ phim và bắt đầu có tên tuổi.

Năm 23 tuổi, nhờ sự sắp đặt của người khác, ông kết hôn với tiểu thư Abe Chieko và sinh được một người con trai.


Năm 1962, Utsui đến Nagoya để quay phim. Khi rảnh rỗi, đoàn làm phim đã đến một nhà hàng nổi tiếng nhất địa phương để tụ họp. Sau đó, Utsui thấy một bóng dáng quen thuộc. 

Ông không gặp bà 10 năm nhưng nhận ra trong nháy mắt. Bà chủ nhà hàng trưởng thành, xinh đẹp và thanh lịch.

Hôm đó, ông say khướt. Kase đã đích thân chăm sóc, hỏi han nhiều điều. Bà cười nhẹ nói với ông: "Để xứng với anh, em có thể làm bất cứ điều gì". 

Từ số tiền nhỏ ngày xưa ông tặng, bà đã tự mình cố gắng lao động rồi đứng lên làm chủ.

Cuối tuần sau, ông lại đến Nagoya. 

Người vợ nhạy cảm và tinh tế đã cảm nhận thấy sự khác lạ của chồng. Bà ý tứ để bên cạnh Utsui một tờ báo. Nội dung trên đó là chuyện một ngôi sao nổi tiếng đã xin lỗi công khai do bê bối đời tư khiến danh tiếng của anh ta sụt giảm nghiêm trọng.

Điều này thức tỉnh Utsui. Ông là người đàn ông có trách nhiệm nên không thể làm gì có lỗi với gia đình. 


Sau đó, vợ của Utsui mắc bệnh ung thư máu. Ông vừa chăm sóc vợ, chăm con, lo cho sự nghiệp và đành chôn chặt nỗi nhớ Kase vào lòng.

Kase thì càng thành công trong sự nghiệp. Bà có công việc kinh doanh lớn mạnh, có những tập tiểu luận xuất hiện ở báo chí và thậm chí sản xuất phim.

Người phụ nữ ấy chưa từng kết hôn. Bà muốn đợi, không biết có đợi được không nhưng vẫn kiên quyết đợi.

Lúc đó, bà bước vào tình yêu này đơn thuần nhưng ai ngờ, suốt hàng chục năm mối quan hệ ấy vẫn khiến bà không thể quay đầu.

2 năm sau ngày vợ đổ bệnh, Utsui mới có thời gian đến Nagoya. Lúc đó ông thúc giục Kase tìm đàn ông tốt để kết hôn. Bà lắc đầu cười rồi nói đùa: "Mấy ngày nữa phim mới ra mắt. Nếu ngày nào cũng được nhìn thấy anh trên Tivi thì hay đấy".

Câu nói này khiến cho Utsui sự nghiệp đang xuống dốc không phanh tỉnh ngộ. Sau năm 1965, ông chuyển hướng đóng phim truyền hình và đạt đến đỉnh cao khi bước vào tuổi trung niên. Ông và Kase vẫn giữ mối quan hệ tri kỷ, không đi quá giới hạn. Tình cảm ấy gia đình Utsui đều biết cả.


Năm 2006, người vợ hơn 40 năm kết hôn của Utsui qua đời. Ông đã ở bên vợ và chăm sóc cho bà suốt hàng chục năm bệnh nặng như thế.

Sau này, Utsui muốn tiến tới với Kase nhưng gia đình và bạn bè của ông phản đối. Biết được điều ấy, Kase quyết định ra nước ngoài nghỉ ngơi. Trong thời gian ấy, Utsui rơi vào cảnh cô đơn và sức khỏe trở nên tồi tệ.

Kase biết chuyện nên quyết định về nước, đến bên để chăm sóc ông bất chấp những ánh mắt của người khác. Bà đưa ông đến Hawaii với trời biển xanh ngắt và giúp ông quên đi những muộn phiền.

Bà không quan tâm tin đồn, gác lại công việc kinh doanh để đồng hành với ông trên phim trường. Nhờ sự chăm sóc của Kase mà Utsui đã đóng phim đến tận năm 80 tuổi.

Phải mất nửa thế kỷ, hai người mới đường hoàng xuất hiện cạnh nhau mà không lo sợ điều gì nữa. Tình trạng của Utsui ngày càng tồi tệ và thường xuyên phải nhập viện. 

Bà chăm sóc ông cả năm trời ở viện, những điều tiếng hay lời phản đối đều tan biến tất cả trước tình cảm sâu đậm của cả hai.

Tháng 3/2014, Utsui cảm nhận thời gian không còn bao nhiêu nên cầu hôn Kase: "Em lấy anh nhé". 

Câu nói mà bà mong đợi cả đời cũng đã được thốt ra. Nhưng đối mặt với nó là thời gian của Utsui đang ít dần đi. Kase đã bật khóc nức nở.

Ngày 14/3, trong ngày Valentine trắng, Utsui khoác bộ vest đen mới tinh, hoàn thành lễ cưới với Kase dưới sự chứng kiến và ủng hộ nhiệt liệt từ người thân, bạn bè.

Khi nghe tin Kase đã chính thức được nhập khẩu vào gia đình Utsui, trở thành một người trong dòng tộc nhà mình, ông thốt lên với giọng yếu ớt: "Tuyệt vời quá". Sau đó, ông qua đời trong vòng tay của Kase.


Ba ngày sau, Kase tổ chức tang lễ cho chồng. Sau này, bà chia sẻ trong cuộc phỏng vấn: "Đó là ngày Valentine trắng tuyệt vời nhất mà tôi từng trải qua. Cuối cùng tôi cũng có một gia đình tuyệt vời".

Tình yêu mãnh liệt này đi từ tuổi trẻ đến khi đầu bạc trắng. Nó có đủ sự cẩn trọng, tự giác, sâu sắc, dịu dàng và hi sinh. Vào giây phút cuối cùng của cuộc đời, cuối cùng họ đã có câu trả lời cho tình cảm thanh xuân bị bỏ lỡ.


#746 - Men Gan Cao Nên Làm Gì? Uống Vitamin Có Kiêng Bưởi? Mệt Mỏi Không Tìm Ra Bệnh - BS. Phạm Hiếu Liêm

Đi Coi Mắt Vợ - Lê Đức Luận

TG Lê Đức Luận (đứng giữa) nhận giải Danh dự VVNM 2025.


Tác giả sinh năm 1944 tại Tuy Hòa, Phú Yên. Tốt nghiệp Khóa 1, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Cử nhân Chính trị học, Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Trước năm 1975: sĩ quan phục vụ trong ngành CTCT/ QLVNCH. Đơn vị sau cùng: Ủy Ban Binh Thư thuộc Tổng Cục/ CTCT. Sau 1975, ở tù 7 năm. Sang Mỹ định cư tại Virginia vào năm 1986. Đã xuất bản: NGƯỜI MẸ TÌM CON (Truyện ký, 2022). Tác giả đã nhận giải Danh dự Viết Về Nước Mỹ năm 2023 và 2025. Bài viết mới nhất của ông nhắc nhớ vài phong tục Việt về hôn nhân thời trước, cũng như đối chiếu với tình trạng hôn nhân “internet” của thời đại ngày nay.

*** 

Ông Tư là người nhiều chuyện - nhiều chuyện ở đây không phải là “ngồi lê đôi mách”, mà là những chuyện thời sự nóng bỏng “giật gân” ông “lượm” được trên Internet, YouTube hay trên truyền thông, truyền hình, rồi thêm vào những nhận định của mình để nói cho bà con nghe chơi. Trời sinh ông Tư cái tật hay nói. Không được nói, ông cảm thấy bức bối như không khí thiếu oxy, như bữa ăn thiếu nước mắm. Trải qua tám mươi năm cuộc đời, có một thời gian ông phải kiềm chế lời nói. Đó là những ngày sau năm 1975, khi phải sống dưới chế độ Cộng sản ở quê nhà. Nói nhiều mà sai chính sách, chúng nó cho đi “mò tôm” (1) hay đưa vào trại tập trung cải tạo ngồi “bóc lịch” (2) và đi lao động khổ sai mút mùa… thì đời tàn trong ngõ hẹp.


Bởi vậy, ông vừa ngán vừa chán nên tìm đường vượt biên sang Mỹ. Khi được sống trong đất nước tự do, ông tha hồ nói cho thỏa chí bình sinh. Nhưng ngày nay, công nghệ thông tin ở Mỹ tiến bộ quá nhanh. Chỉ cần một chiếc điện thoại cầm tay hay lướt qua bàn phím máy vi tính (computer), Internet cho biết đầy đủ mọi tin tức thời sự, hoặc hỏi “ông Google” hay “ông AI”, người ta sẽ biết được các chuyện đông tây kim cổ.  


Lời nói của ông Tư đâm ra thừa! Nhưng nói là cái tật trời sinh, ông không bỏ được…    Bạn bè gọi ông là nhà bình luận thời sự chính trị. Nhưng ngày nay lại xuất hiện nhiều “nhà bình luận” về thời sự. Họ bình luận theo “đơn đặt hàng”, theo phe nhóm, theo đảng phái. Họ tranh cãi, nhục mạ nhau bằng ngôn từ có khi thiếu văn hóa, qua đó tạo nên tính “bát nháo” trong ngành truyền thông. Dần dà, những lời nói trung thực và tâm huyết của ông Tư hầu như bị lạc lõng. Người ta coi những lời bình luận đó như gió thoảng, mây trôi… đôi khi còn bảo: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi…” Bởi vậy, bây giờ ông Tư chuyển sang kể chuyện đời xưa.


Chuyện đời xưa - ông kể - chỉ cách nay mấy mươi năm thôi, chứ không phải truyện cổ tích. Đó là những chuyện về phong tục, tập quán ở quê hương nghèo khó của ông, mô tả sự nhân nghĩa, đạo đức và cái khôn ngoan thâm thúy của người xưa. Những điều người ta không tìm thấy trên Google, hỏi “ông AI” cũng ú ớ, không trả lời được. Cho nên đám trẻ rất thích nghe ông Tư kể chuyện “đời xưa”. Vậy là có đất dụng võ, ông cảm thấy vui khi biết mình chưa đến nỗi vô dụng.  

Hôm nay, ông kể một chuyện vui - “đi coi mắt vợ”.

Năm ấy, tôi mười hai tuổi, anh tôi mười sáu. Tuy lớn hơn bốn tuổi, nhưng anh tôi vẫn còn khờ lắm. Thời chín năm kháng chiến, ở trong vùng Việt Minh kiểm soát, đa số thanh thiếu niên nam nữ học hết bậc tiểu học thì ở nhà giúp cha mẹ làm công việc đồng áng, chứ không phải như sau này, vào lứa tuổi đó thường ra tỉnh học tiếp bậc trung học.  


Ở làng quê, thời đó, khi xong vụ mùa, được rảnh rang nhưng không có nhiều trò chơi giải trí. Ngoài các trò chơi dân dã như cút bắt, bịt mắt bắt dê, kéo co, nhảy dây, đá cầu…, anh tôi còn thích nhập bọn với mấy đứa con nít trong xóm để chơi đánh đáo, bắn bi, đánh trổng, thả diều. 

Vào một buổi sáng mùa xuân, trời trong, gió nhẹ, anh tôi chơi thả diều ngoài đồng cùng bọn trẻ trong xóm. Diều đang lộng gió lên cao, đám trẻ vỗ tay reo hò tán thưởng… Anh tôi thích lắm, nhưng bị mẹ gọi về. Dù đang vui chơi với buổi thả diều hào hứng, anh tôi vẫn không dám trái lời mẹ, thu dây diều và trở về nhà. Vừa vào đến sân đã nghe mẹ bảo:

- Con rửa mặt, thay đồ, đi với mẹ và bà Năm đến nhà ông Xã Hai. 

- Đến nhà ông Xã Hai làm gì vậy, mẹ? Anh tôi hỏi.

- Vào thay đồ nhanh lên, đi đến đó sẽ biết. Mẹ tôi bảo.

Trông mẹ và bà Năm mặc áo dài và có vẻ chải chuốt, anh tôi lấy làm lạ, không muốn đi cùng, nên nói:

- Thôi, mẹ đi với bà Năm, con không đi đâu.

- Ô hay! Cái thằng này nói ngộ thiệt. Đi là lo việc cho mày, không có mặt mày thì tao với bà Năm sang đó làm gì. Mẹ tôi nói gắt.

Bà Năm là người ở làng bên, chuyên làm công việc mai mối lương duyên, tiếng địa phương gọi đầy đủ là “bà mai dong”. Bà có khiếu ăn nói, thuyết phục lòng người rất tài, nên bà lên tiếng tiếp lời mẹ tôi:

- Hôm nay, mẹ con và bác dẫn con qua nhà ông Xã Hai là “đi coi mắt vợ” đấy. 

Bà tưởng nói thế anh tôi sẽ hăng hái cùng đi, không ngờ bị phản ứng ngược. Anh tôi đổ quạu, mặt mày sưng sỉa, nói cộc lốc:

- Tui không đi đâu hết. Rồi bước ra sân.

Mẹ tôi ngỡ ngàng. Lần đầu tiên nghe thằng con nói hỗn. Bà Năm cũng ngạc nhiên trước thái độ và lời nói của anh tôi. Hôm nay, bà bị tổ trác! 

Ngày xưa, ở làng quê có hai bà được dân làng quý trọng: bà mụ và bà mai. Bà mụ đón một đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời. Thời nay người ta gọi là “nữ hộ sinh” làm việc trong bệnh viện. Bà mai làm mối cho đôi trai gái nên duyên vợ chồng. Thời nay gọi là “chuyên viên tư vấn hôn nhân”. Bà mụ mở cánh cửa cho cuộc sống. Bà mai mở cánh cửa cho hôn nhân. Cả hai đều không treo bảng hiệu, cũng không đăng quảng cáo. Uy tín của họ được gầy dựng bằng cái tâm và lời đồn từ làng trên, xóm dưới. Công việc họ làm không có giá cả hay tiêu chuẩn nào nhất định. Thù lao cho công việc tùy thuộc vào lòng hảo tâm của thân chủ.

Vào dịp mồng Năm, ngày Tết, hai bà nhận được một vài món quà kỷ niệm như xấp vải, bộ đồ trà, cái cơi trầu… hoặc những đặc sản như cân đường, giạ nếp, chai mật ong, gói trà, con gà, trái bí - coi như thù lao cho công khó.  Nhưng niềm vui lớn nhất của hai bà là được đón nhận tấm lòng quý trọng của dân làng.


Hôm nay, anh tôi có thái độ vô lễ, không nghe lời bà Năm đề nghị, lại đổ quạu, định bỏ ra ngoài… Mẹ tôi giận sôi gan trước lời nói và thái độ thiếu tôn trọng của thằng con trai đối với bà Năm. Mẹ tôi quát:

- Mày tính đi đâu đó? Đứng lại, nghe tao bảo. 

Lần đầu tiên thấy mẹ nổi giận với anh. Mẹ tôi cưng anh nhất nhà. Có những lúc anh tôi ngang ngược, mẹ vẫn dịu giọng và chiều theo ý anh tôi, làm tôi phát ghen, vì tôi bị mẹ đánh đòn đôi lần, nhưng anh tôi thì chưa bao giờ. Thế mà lần này, mẹ vừa nói vừa lấy cây chổi lông gà nhịp nhịp lên bàn. Anh tôi không dám bỏ đi, đứng dựa vào cây cột trước hàng hiên, mẹ tôi tiến đến gần, tay vẫn cầm chiếc chổi lông gà, xẵng giọng:

- Mày có đi không thì bảo? 

Khi mẹ đến gần, anh tôi chạy qua ôm một cây cột khác. Cứ thế, mẹ con đuổi theo nhau như đang chơi trò cút bắt. Cha tôi ngồi uống trà, thấy cảnh mẹ con đuổi theo nhau, ông mỉm cười. Nhưng nhớ đến bệnh đau tim của vợ, sợ xảy ra chuyện không hay, cha tôi ôn tồn bảo: “Thôi, bà lại nói chuyện với bà Năm, để tôi khuyên nó.” 

Cha tôi quay qua phía anh tôi, nhỏ nhẹ:

- Hảo này (Hảo là tên anh tôi) - “đi coi mắt vợ” như đi chơi vậy mà. Con đem theo cái ná cao su, đến đó nếu thích thì ngồi nghe người lớn nói chuyện, không thích thì ra ngoài bắn chim. Vườn nhà ông Xã Hai rộng lắm, có rất nhiều chim và cây ăn trái, tha hồ bắn chim và ăn trái cây.

Cha tôi biết thằng con trai thích bắn chim, nên đưa ra đề nghị như vậy. Không ngờ có kết quả. Nét mặt anh tôi không còn cau có, nói:

- Bảo “đi coi mắt vợ” thì con không thích. Con rất ghét nghe tiếng ấy. 

- Tại sao con lại ghét nghe tiếng ấy? Cha tôi hỏi. 

Anh tôi chậm rãi trả lời:

- Con thấy thằng Hùng ở xóm trên, sau khi “đi coi mắt vợ” về, nó cứ ngẩn ngơ như người mất hồn. Nó không còn muốn chơi với đám tụi con nữa. Cái mặt nó câng câng như thằng dở hơi. Cho nên, con không thích “đi coi mắt vợ”.

Cha tôi sành tâm lý, nên cười hiền rồi nói khích: 

- Thì ra thế! Nhưng nó khác với con. Nó khờ khạo, còn con khôn ngoan, lanh lợi hơn nó, làm gì có chuyện ngẩn ngơ sau khi “đi coi mắt vợ”. Con nên đi một lần cho biết với người ta. Vừa cho mẹ con vui, vừa không làm mích lòng bà Năm, lại được bắn chim, ăn trái cây và nhìn con gái đẹp.

Những lời nói khích của cha khiến anh tôi thay đổi thái độ và đồng ý đi theo mẹ và bà Năm. Cả nhà đều vui. Chuyện “đi coi mắt vợ” của anh tôi coi như đã êm xuôi. Nhưng điều đáng nói là những ngày sau đó, anh tôi không còn nhập bọn với đám con nít tụi tôi đánh đáo, thả diều… mà len lén một mình qua vườn nhà ông Xã Hai “bắn chim”. 

Chuyện tình của anh tôi sau đó diễn tiến thế nào, tôi không rõ, chỉ nghe mẹ kể lại: Hôm đến nhà ông Xã Hai, anh tôi ra vườn bắn chim. Con gái ông Xã Hai, lớn hơn anh tôi hai tuổi, cùng ra vườn chơi với anh tôi, cho anh tôi ăn ổi và uống nước dừa xiêm. Không hiểu do mùi thơm của quả ổi, hay vị ngọt của nước dừa xiêm, hay do cái duyên dáng cùng lời nói dịu dàng của người con gái khiến anh tôi lưu luyến…

Những ngày tháng sau đó, không ai bảo, anh tôi tự động đến nhà ông Xã Hai, tự nguyện xin làm việc không lấy tiền công như đập lúa, phơi rơm… Một năm sau, anh tôi đòi mẹ cưới vợ, không ai khác hơn là con gái ông Xã Hai.    


Bây giờ, trên đất khách, vào ngày giỗ, ngày Tết… anh em gặp nhau cùng con cháu sum vầy, tôi thường kể lại chuyện “đi bắn chim” và “đi coi mắt vợ” của anh tôi, cho con cháu nghe chơi. Anh tôi cười hì hì…nói với mọi người: “Chuyện tình yêu, hôn nhân ngày xưa coi vậy mà lãng mạn, lại bền. Thời đó, bà mai có con mắt tinh đời: nhìn chàng trai xách đôi thùng nước hay vác cái cày, cái bừa ra ruộng; rồi nhìn cô gái quang gánh qua sân đình là đoán biết họ có hợp nhau hay không để làm mai, làm mối, se duyên vợ chồng. Kết quả là họ sống với nhau đến đầu bạc răng long, con cháu đầy đàn.”

“Ngày nay, bà mai là cái máy vi tính (computer) - có cả một đội ngũ kỹ sư viết lập trình (programming) - phân tích tinh vi: sở thích, cách suy nghĩ, nghề nghiệp, thu nhập… của đôi trai gái - rồi hứa hẹn tìm người phối ngẫu hoàn hảo. Thế mà ly hôn vẫn xảy ra hà rầm. Có lẽ cái máy vi tính ghép dữ liệu giỏi, nhưng chưa ghép được nhịp đập của hai con tim.”

Anh tôi kể tiếp: “Một ông hàng xóm có thằng con trai đến bốn mươi tuổi đầu mà vẫn còn độc thân. Nghe chuyện hôn nhân của anh tôi do mai mối, ông ta cũng muốn nhờ một bà mai kiếm vợ cho nó. Nhưng thằng con bảo: “Xưa rồi!” Nó sẽ tìm vợ qua máy vi tính, không cần bà mai.”

Chưa có thống kê nào nói rõ tỷ lệ hôn nhân qua Internet, nhưng xem đám con cháu trong nhà thì mười đứa đã có bảy đứa lập gia đình nhờ Internet kết nối. Ông Tư bảo: Đó là những “cuộc hôn nhân Internet”.     

Ông Tư thường nói: Ngày nay, đám trẻ “nhấp chuột” (click mouse) là bắt gặp tình yêu, thực dụng theo kiểu “mì ăn liền”. Ngày xưa, ông bà mình tỏ tình qua lời nói xa gần rất ý nhị - cụ thể như bài ca dao phổ biến trong dân gian: “Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen/ Em được thì cho anh xin/ Hay là em để làm tin trong nhà/ Áo anh sứt chỉ đường tà/ Vợ anh chưa có,mẹ già chưa khâu… Khâu rồi anh sẽ trả công/ Đến khi lấy chồng anh lại giúp cho…”  

Đây đã là một bước tiến bộ - trực tiếp ngỏ lời. Chứ thời xa xưa hơn nữa, muốn tiến đến hôn nhân trước tiên phải nhờ bà mai. Bà mai lặn lội lặn lội hết ngõ này sang xóm khác - dò hỏi gia phong, xem nết ăn, nết ở của đôi trai gái mới đánh tiếng mai mối. Xong việc bà mai, còn phải sang ông thầy bói nhờ xem tuổi, có “hạp tuổi” mới tiến đến hôn nhân.


Trong dân gian, quan niệm chọn tuổi thông thường là: “nhất gái lớn hai, nhì trai lớn một” hoặc “tam hợp”. Tam hợp là sự kết hợp của 3 con giáp trong Thập Nhị Địa Chi được cho là hợp tuổi, dễ hòa thuận và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống hôn nhân.      Có 4 nhóm tam hợp: Thân - Tý - Thìn, Tỵ - Dậu - Sửu, Dần - Ngọ - Tuất, Hợi - Mẹo - Mùi. Nhưng có 3 nhóm khắc tuổi, gọi là “tứ hành xung” - cần xem xét kỹ trước khi tiến đến hôn nhân: Tý - Ngọ - Mẹo - Dậu, Thìn - Tuất - Sửu - Mùi, Dần - Thân - Tỵ - Hợi.


Trong trường hợp đôi trai gái thương nhau mà bị khắc “tứ hành xung” thì phải nhờ ông thầy bói xem tuổi lại. Ông thầy bói kết hợp Thập Thiên Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) với Thập Nhị Địa Chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) và Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thồ) tương sanh, tương khắc để hóa giải cho đôi trẻ tiến đến hôn nhân (3).

Quan niệm dân gian và phong tục truyền thống được rút ra từ kinh nghiệm cuộc sống lứa đôi, khoa học không thể chứng minh được. Bởi vậy, có nhiều truyện ngắn viết về hôn nhân rất tếu: Một chàng tuổi Hợi (con heo) thương nàng tuổi Dần (con cọp). Về nhà, mẹ cản: “Lấy con gái tuổi Dần, tàn đời con ơi!” Nhưng thương quá, ông cưới đại, vậy mà sau đó nên cửa nên nhà, ăn nên làm ra. “Con cọp” không xơi tái “con heo” mà cùng “con heo” sinh bầy con sáu đứa - lớn lên học hành giỏi giang, thành đạt; ông tuổi con heo qua tuổi tám mươi vẫn còn khỏe mạnh, yêu đời.


Ông Tư kể tiếp về lễ nghĩa, sự khôn ngoan thâm thúy của người xưa so với sự thực dụng của người đời nay. Ngày xưa, cha mẹ “đặt đâu con ngồi đó”. Trường hợp những đôi trai gái lén lút thương nhau, không qua sự đặt để của cha, nhưng sợ bị cha mẹ trách mắng, nên trong dân gian có câu ca dao: “Thương nhau cởi áo cho nhau/ Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay” rồi được đưa vào âm nhạc qua làn điệu Quan họ Bắc Ninh nổi tiếng với tên “Qua Cầu gió Bay”: “Yêu nhau cởi áo ối à trao nhau/ Về nhà dối rằng, cha dối mẹ/ rằng a ối a qua cầu, tình tình tình… gió bay…”. Điều đó chứng tỏ cha mẹ vẫn còn cái uy với con cái. 

Ông thêm rằng:  Nhớ lại mà thương các bậc cha mẹ khi sang Mỹ vào khoảng thập niên tám mươi, dẫn theo mấy đứa con đến tuổi cập kê. Lúc ấy, người Việt ở Mỹ chưa đông, khi gặp nhau ở chùa, ở nhà thờ, ngoài chợ, trong shopping mall thì mừng lắm,  tiu tít xin số phone, địa chỉ…  Ngoài việc gắn bó tình đồng hương, còn có ẩn ý là một mai làm đám cưới cho con sẽ mời được năm ba chục khách. Bởi thế, mới có chuyện buồn cười: Một ngày đẹp trời, nhà nọ nhận được một thiệp cưới - vợ hỏi chồng, chồng hỏi vợ: “Người gởi thiệp cưới là ai vậy, quen biết thế nào?” Cả hai vợ chồng đều ú ớ, nhưng đến ngày cũng đến tham dự và nhủ lòng: “Sau này, đám cưới con mình sẽ mời lại.”


Ông Tư kể tiếp một tục lệ ngày xưa: Sau đám cưới 2 ngày, đôi tân hôn dẫn nhau về thăm nhạc gia, gọi là ngày “nhị hỷ”. Chàng rể mang theo lễ vật là cái đầu heo. Cả nhà đều chăm chú nhìn cái đầu heo. Nếu đầu heo còn đủ hai tai, coi như mọi việc tốt đẹp. Nếu nhìn thấy đầu heo bị xẻo mất một tai, ông bà nhạc hiểu rằng con gái mình không còn trinh trắng trước hôn nhân. Đây là “thông điệp” thầm lặng nhưng rất thâm thúy trong lối giáo dục của người xưa. Xấu hổ biết bao khi cả nhà gái nhìn cái đầu heo chỉ còn một tai!? Cho nên người con gái cố giữ trinh tiết cho đến ngày thành hôn.


Ông Tư còn nêu lên những câu tục ngữ có vẻ mộc mạc nhưng mang ý nghĩa sâu sắc, rút tỉa từ túi khôn của người xưa để truyền dạy kinh nghiệm cho con cháu trong việc tìm bạn trăm năm, như: “Chọn vợ xem tông, chọn chồng xem giống” - “xem tông” mang ý nghĩa coi trọng gia phong, nề nếp gia đình; “xem giống” là xem xét dòng dõi, truyền thống.

Ca dao tục ngữ còn có những câu:

“Trai khôn tìm vợ chợ đông.

Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”

Hàm ý: Người con trai nên mở rộng giao tiếp để có cơ hội gặp gỡ nhiều cô gái - chọn người phù hợp; còn người con gái tìm chốn ba quân là nơi quân đội đồn trú hoặc những nơi có những chàng trai có lý tưởng, có chí khí để tìm người bạn đời. 

Ông Tư nói về cách bày tỏ tình yêu qua thơ văn. Ngày xưa Nguyễn Bính làm thơ:  

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi

Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn

Hai người sống giữa cô đơn

Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi

Giá đừng có giậu mồng tơi.

Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng…

Trời ơi! Chỉ cách có một giậu mồng tơi mà Nguyễn Bính không dám sang mà phải nằm mơ nhờ con bướm trắng:

Bướm ơi bướm hãy vào đây

Cho ta hỏi nhỏ câu này chút thôi

Vừa nhờ con bươm bướm trắng vừa lén nhìn nàng:

Mắt nàng đăm đắm trông lên

(thì) Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi

 Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi

 Tôi buồn tự hỏi: hay tôi yêu nàng? 

Ông Tư nhận xét: Nguyễn Bính ngày xưa ngây ngô đến buồn cười - chỉ cách nhau “cái giậu mồng tơi” mà không dám “sang chơi thăm nàng” để tỏ tình. Cuối cùng, tự thán: “Hay tôi yêu nàng?” Không biết ngoài đời Nguyễn Bính có “ ngây ngô” hay không, nhưng khi đọc bài thơ Cô Hàng Xóm, người ta cảm nhận được cái ngây ngô rất duyên dáng của Nguyễn Bính - mang vẻ chơn chất, ngây thơ và vụng về trong tình yêu. Ngày nay, không có cảnh ấy đâu. Một cái “nhấp chuột” đã bắt được tình yêu ở tận bên kia Thái Bình Dương.


Nguyễn Bính còn có mấy câu thơ để đời:

Thôn Đoài ngồi nhớ thông Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.(4) 

Bây giờ, bệnh tương tư và thất tình hầu như đã biến mất trong hồ sơ bệnh lý. Tìm đâu ra một chàng Trương Chi và một nàng Mỵ Nương trong giới trẻ ngày nay? Chỉ có chuyện tình Ngưu Lang-Chức Nữ còn chút hơi hướng giống với những chuyện tình ngày nay. Ngưu Lang-Chức Nữ yêu nhau nhưng bị chia cắt bởi dòng sông Ngân, mỗi năm chỉ gặp nhau một lần vào ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch trên chiếc cầu Ô Thước nhờ đàn quạ bắc qua sông. Tưởng tượng đàn quạ như Internet, kết nối hai kẻ yêu nhau trong thời đại công nghệ thông tin.      


Ông Tư đưa ra nhận định như trên, được đám trẻ đồng tình. Được thể, ông Tư hỏi đám trẻ: 

- Trong bài thơ Hai Sắc Hoa Ti-gôn, TTKH hỏi người tình: 

“Nếu biết rằng tôi đã có chồng.

Trời ơi, người ấy có buồn không? 

Thời bây giờ, nếu người tình bỏ các anh đi lấy chồng, rồi mượn hai câu thơ ấy để hỏi, các anh sẽ trả lời như thế nào?

Một anh trong nhóm trẻ đáp ngay: 

- “Nếu biết rằng em đã có chồng

Anh vào “nhấp chuột” thế là xong. 

Ông Tư xoa tay, nói:

- Vậy thì phũ phàng quá! Ngày xưa, ông Tơ, bà Nguyệt ngồi trên cung trăng, xe sợi tơ hồng. Nếu chỉ đứt, tơ vò còn “hạ thủ lưu tình” nối lại đường tơ. Bây giờ ông Google, bà Internet ở trong mây (cloud), nếu tình duyên trắc trở thì phát ra tín hiệu: “No results found” hay “Connection lost” - coi như chấm dứt một cuộc tình - vậy thì quá bẽ bàng!


Ông Tư tự thán: Ông Google, bà Internet mới xuất hiện mấy mươi năm thôi đã khiến lòng người phũ phàng đến thế. Bây giờ thêm ông AI, không biết trong tương lai “nhân tình thế thái” sẽ như thế nào?

Cảm thấy buồn… ông Tư ra ngoài hiên hút thuốc.   

 

LÊ ĐỨC LUẬN

(Tháng 8 - 2026)   


(1) “Mò tôm” là thủ tiêu người chống đối bằng cách treo cục đá lên cổ, rồi dìm xuống sông.

(2) “Gỡ lịch” là ngồi tù. 

(3) Muốn hiểu rõ, tìm đọc sách coi tuổi. Ở đây chỉ nêu lên vài thí dụ:

Tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.

 (4) Bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính.


Anh Phước chuyển