Tuesday, February 3, 2026

Người Góa Phụ Giờ Thứ 25 - Phạm Tín An Ninh


Tôi gặp chị trong buổi họp mặt của các anh Khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, được tổ chức  tại một nhà hàng ở thành phố Westminster, Nam Cali, nhằm kỹ niệm 55 năm ngày mãn khóa. Vợ chồng tôi có chút cơ duyên được xếp ngồi cùng bàn với chị. Qua đôi lời chào hỏi đầu tiên, chúng tôi biết chị từ Việt Nam mới sang theo lời mời của Ban Tổ Chức, muốn dành cho chị một ân tình đặc biệt để có cơ hội gặp lại những người bạn cùng khóa Lê Lai với phu quân của chị, Cố SVSQ Đoàn Đình Thiệu.


Sau nghi thức chào quốc kỳ là một lễ tưởng niệm những vị đồng môn đã hy sinh trong không khí rất trang trọng, cảm động và mang nhiều ý nghĩa. Trên bàn thờ, phía sau những ngọn nến lung linh là hình phóng lớn của tấm bia đá tưởng niệm có khắc đậm tên 79 vị sĩ quan Khóa 17 đã lẫm liệt hy sinh trong cuộc chiến. Tấm bia này là một kỳ công được các cựu SVSQ Khóa 17 thực hiện và dựng tại Công viên Victor Memorial Veterans Park, thuộc Thành phố Greer, Tiểu Bang South Carolina, Hoa Kỳ từ tháng 6 năm 2008.

Khi chị Thiệu cùng một số cô nhi quả phụ khác của Khóa 17 được mời lên thắp hương trước bàn thờ tử sĩ và nhận món quà lưu niệm của Khóa, qua lời giới thiệu của người điều khiển chương trình, chúng tôi được biết nhiều hơn về chị. Và trong số những cô nhi quả phụ cùng đứng chung với chị chúng tôi còn nhận ra cháu Võ Hải, trưởng nam của Đại Tá Võ Toàn, vị đại tá duy nhất của Khóa, đã hy sinh cũng vào giờ thứ 25 khi Quân Đoàn I di tản, đến bây giờ chưa biết thân xác nằm  ở  nơi đâu;  và phu nhân  của Trung Tá Võ Vàng,  một cấp chỉ huy nổi tiếng trong Binh chủng Biệt Động Quân, đã bị kẻ thù sát hại dã man tại trại tù Kỳ Sơn – Quảng Nam, sau 1975.

Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu tử trận tại Phú Lâm vào khoảng 12giờ 30 trưa ngày 30.4.75, hơn một giờ sau lệnh “buông súng” của Tướng Dương Văn Minh. Khi ấy anh là Tiểu Đoàn Phó của Tiểu Đoàn 86 BĐQ mà Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Trần Tiễn San, một niên đệ Khóa 19 Võ Bị của anh.


Trước khi ra đơn vị này, Thiếu tá Thiệu phục vụ nhiều năm tại TTHL Biệt Động Quân Dục Mỹ với chức vụ Trưởng Khối Yểm Trợ. Do quyết định của Tướng Đỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng Binh chủng Biệt Động Quân, một số sĩ quan phục vụ lâu năm tại quân trường hay giữ những phần hành tham mưu được điều động hoán chuyển ra các đơn vị tác chiến.  Cuối năm 1974, đúng vào lúc Thiếu Tá Thiệu nhận lệnh hoán chuyển,  tại TTHL/BĐQ đang có Liên Đoàn 8/BĐQ vừa mới được thành lập với đa phần quân số từ các Tiểu Đoàn 7, 9, 11 Quân Cảnh giải tán bổ sung cho Binh chủng Biệt Động Quân, nên nhân tiện, ông xin ra phục vụ ở đơn vị tân lập này. Vì ở quân trường và đảm trách một phần hành tham mưu khá lâu, nên khi ra đơn vị tác chiến, ông không thể đảm nhận một chức vụ chỉ huy ngay trong thời gian ban đầu, do đó ông tìm gặp Thiếu Tá Trần Tiễn San, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 86 và ngỏ ý muốn được về làm Tiểu Đoàn Phó cho Thiếu Tá San, một niên đệ Khóa 19, mà lúc còn trong trường Võ Bị Đà Lạt, ông có trách nhiệm hướng dẫn, dạy dỗ với tư cách niên trưởng. Biết ông là niên trưởng lại có thâm niên cấp bậc hơn mình, Thiếu Tá San muốn giúp đỡ, nhưng rất e ngại nên đề nghị ông phải làm đơn gởi lên Thiếu Tướng CHT/BĐQ để trình bày nguyện vọng của mình. Cuối cùng ông được toại nguyện. Để nhận Thiếu Tá Thiệu về làm Tiểu Đoàn Phó cho mình, Thiếu Tá Trần Tiễn San còn phải giải quyết một vài khó khăn tế nhị khác. Vì lúc ấy Tiểu Đoàn đã có Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Phan Trí Viễn. Thiếu Tá San đã năn nỉ Đại Úy Viễn sang làm Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn và xin Liên Đoàn nhận anh Đại Úy Trưởng Ban 3 cũ về giữ một chức vụ tại BCH/ Liên Đoàn. Thông cảm cho anh, tất cả đều vui vẻ chấp nhận sự sắp xếp của anh.


Kính nể một niên trưởng có tư cách, Thiếu Tá San đã dành cho vị Tiểu Đoàn Phó nhiều ưu ái đặc biệt. Có điều đúng vào thời điểm Thiếu Tá Thiệu ra đơn vị, cuộc chiến đang ở giai đoạn khốc liệt nhất. Sau khi Mỹ bất chấp những phản đối của VNCH, đã tự cho mình ngồi ngang hàng với Cộng Sản Bắc Việt và đơn phương nhượng bộ quá nhiều điều trong Hiệp Định Paris ký kết ngày 27.1.1973, chứng tỏ ý định sớm bỏ rơi đồng minh, phủi tay cuộc chiến.  Lợi dụng điều này, Cộng quân đã ồ ạt tung nhiều sư đoàn với lực lượng chiến xa, từ miền Bắc và Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh xâm nhập Nam Việt Nam, đồng loạt mở các cuộc tấn công qui mô vào các đơn vị phòng thủ của ta. Phước Long là tỉnh đầu tiên bị thất thủ vào ngày 6 tháng 1/1975  nhưng không có bất cứ dấu hiệu nào từ phía Hoa Kỳ can thiệp hay phản đối CSBV vi phạm hiệp định,. Điều này đã báo hiệu cho số phận của VNCH.

Liên Đoàn 8 BĐQ ban đầu đặt dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Vũ Phi Hùng, với ba vị tiểu đoàn trưởng  đều là niên đệ Võ Bị của Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nam (K.20) TĐT/TĐ 84, Thiếu Tá Trần Tiễn San (K.19) TĐT/TĐ 86, và Thiếu Tá Nguyễn Hữu Mạnh (K.20) TĐT/TĐ 87. Thiếu Tá Thiệu chọn về làm Tiểu Đoàn Phó cho một niên đệ Khóa 19, là khóa đàn em có nhiều gắn bó và xem như học trò của Khóa 17 thời họ còn là những sinh viên sĩ quan.


Dù chưa được trang bị và huấn luyện đầy đủ, Liên Đoàn nhận lệnh của Bộ TTM di chuyển về Sài gòn để giữ an ninh trong dịp Tết nguyên đán. Liên Đoàn đặc trách phòng thủ khu vực từ QL 1 đến  QL 4, ngoại trừ TĐ 84 đặc trách một khu vực kế cận. Vào những ngày đầu tháng 4/75, Liên Đoàn 8 BĐQ thường phối họp cùng Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù tân lập mở các cuộc hành quân vào Mật khu Lý Văn Mạnh và đã phát giác có sự hiện diện của nhiều đơn vị chính quy Bắc Việt đang hoạt động, ém  quân tại đây.

Để đề phòng cho trường hợp bị tấn công bởi các đại đơn vị này của địch, Đại tá Vũ Phi Hùng, Liên Đoàn Trưởng bàn bạc với các Tiểu Đoàn Trưởng, vạch ra một kế hoạch ứng phó khi tình hình trở nên nguy ngập, được gọi là kế hoạch “Bravo”: Các tiểu đoàn tự rút về Giáo xứ Tân Phú của Linh Mục Đinh Xuân Hải để tái phối trí và tiếp tục chiến đấu tại đây.

Khoảng hai tuần lễ sau đó, Sư Đoàn 106 BĐQ được thành lập, với vị Tư Lệnh là Đại Tá Nguyễn Văn Lộc. Đại Tá Vũ Phi Hùng, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 8 BĐQ được chỉ định giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng, và bàn giao Liên Đoàn cho Trung Tá Chung Thanh Tòng từ BĐQ Vùng I di tản.


Ngày 27/4/75 Cộng quân mở các cuộc tấn công liên tục vào tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 84 và 87. Hai vị Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc cùng xuất thân Khóa 20 VB đã anh dũng điều quân chiến đấu, yểm trợ cho nhau để giữ vững phòng tuyến. Lực lượng địch quá đông và có chiến xa T 54 hỗ trợ, trong khi bên ta đã có nhiều binh sĩ thương vong, đạn dược cạn dần. Đến tối ngày 29/4/75 tình trạng trở nên tồi tệ hơn nên các đơn vị đề nghị thực hiện kế hoạch “Bravo”, rút về Giáo xứ Tân Phú lập tuyến phòng thủ mới như đã dự trù. Nhưng Đại Tá Vũ Phi Hùng từ BTL/SĐ 106 cho biết kế hoạch này không thể thực hiện được nữa, vì nhiều đơn vị Cộng quân đã thâm nhập vào Sài gòn từ các hướng khác.

Trong tình huống này, vẫn không có cách nào khác hơn, sáng sớm ngày 30/4 Liên Đoàn ra lệnh bằng mọi giá phải mở đường máu lui binh về hướng Sài gòn. Tiểu Đoàn 84 của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nam lúc ấy đang bố trí dọc theo xa lộ Đại Hàn, bị áp lực nặng nề nhất do nhiều chiến xa của địch bao vây tấn công liên tục. Tiểu Đoàn 87 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Mạnh rút ra từ Mật Khu Lý Văn Mạnh, mở đường cho BCH/ Liên Đoàn và Tiểu Đoàn 86 của Thiếu Tá Trần Tiễn San vừa rút ra sau cùng, vừa làm lực lượng án ngữ bọc hậu.  Cuộc lui binh rất khó khăn trong lúc bị địch quân bao vây, tấn công  từ mọi phía.


Thiếu Tá San ra lệnh cho Tiểu Đoàn Phó Đoàn Đình Thiệu thu nhặt hết số súng thặng dư bỏ vào ụ súng cối 81 ly để thiêu hủy. Pháo Đội Pháo Binh trong căn cứ BCH/ Liên Đoàn có bốn khẩu đại bác 105 ly, nhưng mỗi khẩu chỉ còn một quả đạn trong nòng. Thiếu Tá San cho lệnh bắn trực xạ vào những điểm địch quân tấn công mạnh nhất, sau đó phá hủy súng, và yêu cầu Pháo Đội rút theo BCH/ Liên Đoàn. Tiểu Đoàn phải mở đường máu để có thể thoát ra khỏi vòng vây của địch, nên tất cả thương binh đành phải bỏ lại phía sau. Trong lúc vừa điều quân vừa chiến đấu, Thiếu tá San bị thương ở mặt, phải bò đến một mô đất tạm ẩn nấp để tự băng bó.  Đúng lúc ấy,  Trung Úy Đoàn Ngọc Lợi (K.26VB), Đại Đội Trưởng ĐĐCH chạy đến báo cáo là Niên trưởng Đoàn Đình Thiệu vừa mới hy sinh bên bờ ruộng. Ông bị bắn đứt động mạch ở chân.  Mấy người lính trung thành ngỏ ý cõng ông theo, nhưng ông khoác tay, bảo “chạy gấp đi, anh không thể sống được!” Trung Úy Lợi còn cho biết, trước khi nhắm mắt ông hỏi Lợi: “Moa chết rồi ai sẽ nuôi vợ con đây?” Lúc ấy khoảng 12 giờ 30 trưa ngày 30/4, sau đúng một giờ Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng!

Sau đó Thiếu Tá San cùng nhiều cấp chỉ huy khác bị bắt đưa vào làng. Vì bị thương ở đầu, máu ra nhiều, nên anh được cho về, gia đình đưa vào điều trị tại Bệnh viện Triều Châu. Một ông chú nghe tin vào thăm, biếu anh 30.000 đồng. Anh cho người nhà tìm gặp gia đình Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu báo tin về cái chết của người niên trưởng. Chị Thiệu tìm đến thăm anh và hỏi kỹ địa điểm anh Thiệu đang nằm để đi tìm. Anh San chỉ dẫn, chia buồn và biếu chị Thiệu 30.000 đồng mà ông chú vừa mới cho anh.


Theo lời kể của chị Thiệu, vì tình hình lúc ấy rất hỗn loạn, tiếng súng vẫn còn nổ khắp nơi, nhiều đơn vị của ta không chịu buông súng và vẫn tiếp chiến đấu, nên chị không dám đi tìm anh Thiệu, hơn nữa chị cũng không rành đường sá ở đây,  đành phải nhờ cậu em trai, dùng xe Honda len lỏi tìm đến vị trí mà Thiếu Tá San chỉ dẫn. Cậu em tìm được xác anh Thiệu, nhưng không thể tìm được bất cứ một phương tiện nào để chuyên chở, và cũng không biết sẽ chở về đâu, trong tình thế lúc này. Cuối cùng, rất may mắn, một anh tài xế xe rác nặng tấm lòng với QLVNCH, đã vui vẻ nhận lời giúp đỡ. Sau khi đổ hết rác trên xe xuống vệ đường, theo sự hướng dẫn của cậu em chị Thiệu, nhưng cũng rất nhiều khó khăn, anh tài xế mới đưa xe đến được vị trí, nơi anh Thiệu nằm. Sau một lúc thảo luận, cuối cùng hai anh chở xác Thiếu Tá Thiệu đến Nhà Thờ Bùi Phát để nhờ giúp đỡ. Và cũng rất may mắn, đã gặp đúng một vị linh mục nhân từ. Cha Trần Quốc Phú vui vẻ nhận lời, đứng ra tẩm liệm và chôn cất Thiếu tá Thiệu ngay trong khu đất của nhà thờ.

Chị Thiệu thường xuyên đưa các con đến đây thăm viếng và xây lại ngôi mộ cho chồng. Mấy năm sau, chị xin hỏa táng, và mang tro cốt anh về thờ tại tư gia ở Mỹ Tho. Lúc Thiếu Tá Thiệu mất, anh chị có ba con, hai trai 9 và 7 tuổi, cô con gái út chưa tròn 12 tháng. Sau này, cháu trai lớn mất, cháu gái định cư ở Úc.  Hiện nay chị sống với cậu con trai thứ tại Mỹ Tho, quê hương của chị. Điều đáng ngưỡng mộ hơn, khi chồng hy sinh, chị còn khá trẻ, nổi tiếng có nhan sắc, nhưng không hề bước thêm một bước nào nữa, ở vậy nuôi dạy các con trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nghiệt ngã. Cả hai cháu đều nên người, thành đạt, hiếu thảo và luôn sống với niềm tự hào về người cha Võ Bị, từng sống rất tư cách và chết hiên ngang.


Cuộc chiến Việt Nam đã gây ra biết bao đau thương tang tóc. Vào giờ thứ 25 của cuộc chiến có biết bao nhiêu người đàn bà trở thành góa phụ, biết bao đứa con thơ  trở thành cô nhi, nhiều cháu chưa hề biết mặt cha mình. Không những không được hưởng bất cứ một ân sũng nào của quôc gia khi chồng, cha hy sinh cho Tổ Quốc mà họ còn bị kẻ thù phân biệt đối xử, nhục mạ và phải đương đầu với muôn vàn khó khăn trong cuộc sống. Những người như chị Đoàn Đình Thiệu rất xứng đáng để chúng ta biết ơn và ngợi ca. Sự hy sinh nào của những người lính, hay vợ con của lính, cũng đều tiềm ẩn những ý nghĩa cao quý, cho dù những cái chết vô danh, không được truy thăng hay chôn cất theo lễ nghi quân cách. Với Tổ Quốc và lịch sử dân tộc, những hy sinh dù trong âm thầm, vẫn mãi mãi là điều bất diệt.


Viết những dòng này, xin được thay bó hoa hồng tươi thắm nhất, gởi đến Chị Đoàn Đình Thiệu và các cháu cũng như những cô nhi quả phụ khác của giờ thứ 25, lòng tri ân và ngưỡng mộ của những người một thời từng là đồng đội, là huynh đệ của phu quân các chị, người cha đáng kính của các cháu. Và xin cầu chúc những điều tốt đẹp nhất cho những người đã sẵn sàng chấp nhận những số phận nghiệt ngã, hy sinh, nhưng vẫn luôn hãnh diện có chồng, cha là lính chiến VNCH, đã dám chết cho quê hương, dân tộc.


Cali, tháng 4/ 2018

Phạm Tín An Ninh

Ngồi Tính Sổ Đời - Đỗ Công Luận

Trong Nỗi Cô Đơn Hoá Thân - Kim Thanh


      Sáng ba mươi Tết năm nay, Trường bỗng dưng lù lù xuất hiện tại cửa nhà tôi. Một cách bất ngờ, không báo trước –do một đệ tam nhân cho địa chỉ, nhưng không biết số điện thoại của tôi. “Để thăm và chúc Tết bạn”, Trường cười nói. Lần đầu tiên, sau ba mươi mốt năm. Tôi quen Trường, một cách sơ giao, từ khi mới đặt chân đến Mỹ, năm 1985. Thỉnh thoảng gặp nhau tại nhà thờ, cũng chào hỏi, à ới vài câu cho đúng thủ tục của người “có văn hóa”, nhưng trong thâm tâm không bên nào muốn bước thêm bước nữa để trở thành bạn, đúng nghĩa. Bởi anh rất đạo đức, đạo mạo, cẩn trọng, mặc dù suýt soát bằng tuổi, ngược hẳn với tôi tính tình bộc trực, bất cần đời, thấy chướng tai gai mắt là đốp chát liền. Thấy tôi đâu, anh không quên mời gia nhập hội này hội nọ trong giáo xứ, lại còn nhắc năng xưng tội, rước lễ  –điều mà tôi luôn hứa, cho qua chuyện, nhưng không bao giờ làm. Riết rồi anh chán, và tôi cũng chán, tìm cách trốn anh.

      Trường sống một mình, không vợ con, kiểu tu tại gia. Nghe nói anh đã được phong vài chức thánh nhỏ, mà tôi cũng chẳng hỏi anh tại sao không thừa thắng xông lên đi làm thầy sáu hay linh mục, cho ấm thân. Công việc chính, âm thầm, mà anh tự đặt, là đi thăm viếng những đồng hương bị bệnh đang nằm điều trị ở nhà thương, hoặc tại gia, để an ủi, nâng đỡ tinh thần, đọc kinh cầu nguyện, có khi đem Mình Thánh Chúa đến cho họ v.v…

      Ngoài ra, Trường còn tình nguyện đi thăm các ông bà già trong những nhà dưỡng lão. Đó cũng là mục đích chính đã khiến Trường đến tôi bất ngờ sáng nay. “Tiện đường, rủ bạn cùng đi cho vui ấy mà”, anh nói. Tôi hỏi vặn: “Bộ hết người để rủ đi hay sao mà ông cứ nhắm tôi hoài vậy cà?” Anh cười, không trả lời. Mặc dù lu bu bởi trăm thứ việc không tên, tôi cũng thấy mềm lòng và mặc cảm tội lỗi với anh. Bèn OK.


      1. Nhà dưỡng lão tư mà Trường chở tôi đến cũng ở cùng khu với nhà tôi. Một căn nhà diện tích trung bình, sạch sẽ, thoáng mát, có một vườn nhỏ đầy hoa muôn sắc, xen lẫn với rau thơm đủ loại mà chủ nhân trồng thêm, cho những bữa ăn thuần túy Việt Nam. Bên trong cải biến thành một gian rộng, chia ra sáu phòng nhỏ vừa đủ cho sáu giường nằm. Có bếp và phòng vệ sinh chung. Bình thường, tổng số “cư dân” –toàn là trên bảy, tám bó– là sáu, hôm nay chỉ còn ba, vì các cụ lần lượt từ giã cõi trần, hoặc con cái muốn “đổi nhà dưỡng lão, với nhiều lý do riêng”, bà chủ nhà nói.

      Hôm ấy, Trường muốn thăm gặp, đặc biệt, một cụ ông 98 tuổi, Công giáo, không thân nhân. Vì vậy, chúng tôi vào thẳng phòng cụ trước, với sự hướng dẫn của bà chủ và một chị chăm sóc viên (caretaker), tên Sang, chuyên giúp các cụ ăn uống, làm vệ sinh, tắm gội, thay tã, dắt đi bộ ngoài vườn v.v…  Thấy có khách, cụ ông đang nằm cố gắng ngồi dậy, mặc dù Trường giơ tay ngăn cản. Trông cụ còn tráng kiện so với số tuổi, nói năng hoạt bát, nhưng đã lẫn, quên hết chuyện mới, ví dụ, vừa được Sang cho ăn đó, mà cụ lại không nhớ, kêu đói. Khiến chị phải cải chính, chỉ chỉ vào bụng của cụ. Trái lại, những chuyện cũ năm xửa năm xưa, cụ nhớ rất kỹ, và kể ra vanh vách, tuy không mạch lạc. Đặc biệt, nhớ cả bài thơ tình tám câu mà cụ nói cụ làm để tán tỉnh cô hàng xóm, thuở còn trẻ, “dễ thương ơi là dễ thương” (lời cụ), rồi cụ hứng chí đọc đi đọc lại bài thơ, lần nào cũng sai vài chữ, vài câu, rồi cười khanh khách, sảng khoái. Cười xong, cụ bỗng rơm rớm nước mắt, như trong lòng mang nặng tâm sự, và nằm vật ra giường. Trong lúc đó, bà chủ và chị Sang, vì bận việc, đã kín đáo bỏ đi, để mặc khách chuyện trò với cụ.

      Rời cụ ông 98 tuổi, chúng tôi thăm viếng xã giao, ngoài chương trình, hai “cư dân” còn lại, gồm một nam, một nữ. Cụ ông này, 85 tuổi, yếu lắm, bỏ ăn, một tuần trước đó, than khó thở, được xe cấp cứu chở đi bệnh viện nằm một ngày, và đưa về lại. Chủ nhà báo tin cho mấy đứa con cụ, nhưng ai cũng trả lời không thể ghé thăm, nại cớ bận đi làm. Nằm bất động trên giường, cụ chỉ lắng nghe, mà không nói, mà có nói cũng thều thào, không thành tiếng. Nửa tháng sau, tình cờ gặp lại Sang, tôi hỏi thăm về cụ, và nghe chị kể: “Mấy hôm sau khi hai anh gặp cụ thì cụ qua đời, lúc bấy giờ con cái mới tới, gọi nhà quàn cho xe đến chở xác cụ đi thiêu”.


      2. Rồi chúng tôi vào phòng cụ bà duy nhất. Cụ đã 86 tuổi, trông rất yếu. những còn tỉnh táo, minh mẫn, không lẫn chút nào. Gương mặt nhăn nheo phảng phất một nét đẹp thanh tú của ngày xưa còn sót lại. Sang nói, cụ được con cái thỉnh thoảng đến thăm.

      Lúc chúng tôi bước vào, cụ đang ngồi trên xe lăn, kế bên là Sang, tay cầm muỗng cơm, khom người dụ dỗ, thiếu điều năn nỉ, cụ mở miệng, để đút cho cụ ăn. Nhưng cụ lắc đầu, nhất quyết tuyệt thực. Chúng tôi nghe lời đối đáp giữa hai người:

      - Cụ ăn vài miếng giùm con đi. Đã hai ngày rồi, mà cụ không có gì trong ruột…

      Cụ òa khóc, nức nở:

      - Tôi nhớ con, nhớ cháu lắm, cô cho tôi về thăm nhà ba ngày Tết đi, rồi tôi trở lại, tôi hứa mà, giúp tôi đi, cô ơi. Con tôi không tới đón tôi về, thì tôi nhất định ngậm miệng…

      Mủi lòng, tôi tiến đến bên, cúi xuống, choàng vai cụ, vỗ nhẹ lưng, và lấy giấy Kleenex lau nước mắt cho cụ, trong khi Sang nói tiếp:

      - Cụ ăn đi, rồi chốc nữa, mấy anh mấy chị sẽ đến đón cụ về…

      Cụ ngừng khóc, vẻ mặt u buồn đổi sang một chút hớn hở, nhưng còn thút thít, hoặc nấc lên, tức tưởi, như trẻ thơ, và hỏi lại:

      - Thật nhé?

      - Dạ thật.

      Lúc đó, cụ mới hả miệng, chịu ăn hết chén cơm, có rau, thịt, và uống hết một ly nước cam vắt. Xong xuôi, như thường lệ, Sang bế cụ lên giường, để cụ nghỉ trưa.

      Ra khỏi phòng, chị khẽ kể cho hai chúng tôi rằng, theo lời yêu cầu của cụ, bà chủ đã gọi các con cháu, khá đông, đến rước cụ về thăm nhà trong dịp Tết, nhưng ai cũng trả lời là bận đi làm, không thể đưa cụ về được. Chị nói: “Khi nãy, em phải nói như thế để cho cụ chịu ăn, chứ thật tình em biết qua bà chủ là họ sẽ không đến. Hóa ra mình nói dối với cụ”. Tôi trả lời: “Chị đừng áy náy. Lúc còn chiến tranh, tại Phan Thiết, tôi cũng đã một lần nói dối với bà mẹ của một người lính ở đơn vị vừa chết trận. Gặp bà mẹ anh đang bị bệnh nặng nằm thoi thóp trên giường, hỏi thăm con, tôi không nỡ, và không thể, nói thật… Trong trường hợp này, chị đã phản ứng không khác chi tôi.”     

      Trường đứng im, lắc đầu, không nói gì. Còn tôi, tự dưng, thấy tái tê, đau đớn, như có trăm nghìn mũi kim vô hình đâm xuyên trái tim. Chợt nghe vọng về bên tai những câu hát quen thuộc, bất hủ, tưởng đã chôn vùi trong ký ức từ lâu:

      “Mẹ mẹ là dòng suối dịu hiền. Mẹ mẹ là bài hát thần tiên. Là bóng mát trên cao. Là mắt sáng trăng sao. Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối. Mẹ mẹ là lọn mía ngọt ngào. Mẹ mẹ là nải chuối buồng cau. Là tiếng dế đêm thâu”… (Phạm Thế Mỹ).

      Hay “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào / Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào / Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào / Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu”… (Y Vân).

      Hay “Maman, Maman jolie (Mẹ ơi, Mẹ xinh đẹp ơi) / Maman tu es la plus belle du monde (Mẹ, mẹ đẹp nhất trần đời) / Aucune autre à la ronde n'est plus jolie (Không ai chung quanh đẹp hơn)”… (Dalida).                       

 

      3. Và tôi bỗng thấy nhớ Mẹ dấu yêu của tôi quay quắt –đã ra đi, về với Tuổi, từ bao thu rồi. Thầm ước mong, và tưởng tượng, một ngày nào Mẹ thức dậy từ giấc ngủ ngàn năm, và cũng bảo tôi đưa về thăm nhà, vì nhớ con, nhớ cháu. Để Mẹ ôm chặt các con, các cháu vào lòng, không rời, trong vòng tay trìu mến. Để cho tôi khóc cạn nước mắt, trên vai gầy của Mẹ, bên trọn cuộc đời này. Khóc cho mẹ tôi, giờ đây vẫn nằm dưới mộ sâu, vô vàn cách trở. Khóc cho tất cả những người mẹ thân xác còn đó mà một nửa hồn đã chết, như hoa tàn trăng khuyết, trong nỗi tuyệt vọng vô bờ và chờ đợi mỏi mòn.


     Trong nỗi cô đơn tột cùng. Trong nỗi cô đơn hóa thân. Qua hình hài của một bà cụ 86 tuổi tội nghiệp, một bà mẹ đáng thương đã bỏ ăn, bỏ uống, vì không được con cái đón về nhà để vui Xuân cùng với gia đình. Một bà mẹ bất hạnh, khổ đau, không quen biết –mà tôi đã không hẹn đến để thăm gặp, để lau hộ những dòng lệ héo hắt tuôn rơi, vào sáng ngày ba mươi Tết, năm nay, tại một nhà dưỡng lão Portland.

 

Portland, 4 tháng 3, 2016

Kim Thanh 

Sớ Táo Việt Nam Năm Ất Tỵ - Nguyễn Duy Phược


Khải tấu Ngọc Hoàng, Thần Táo dương gian,

Tháng Chạp Hăm Ba, « Ô-voa » Táo bà,

Từ chốn quê nhà, Về không chậm trễ,

Dập đầu trước bệ, Kính chúc Thượng Đế,

Long thể an khang, Tâu chuyện thế gian,

Trong năm Ất Tỵ, Gom góp tỉ mỉ,

Không sót một ai, Thề không nói sai,

“Fake News” chẳng xài, Ngài phải rửa tai,

Hầu nghe cho hết, Nghe nhiều phát mệt,


Trước hết Việt Nam, Bao nỗi trái ngang,

Dưới ách cộng sản, Bè lũ bác đảng,

Vẫn cứ huênh hoang, Tổ chức liên hoan,

Cách mạng tháng Tám, Diễn binh Quốc Khánh,

Đánh Mỹ, ngụy quân, Giải phóng miền Nam,

Xuống Hố Cả Nước, Xã Hội Càng Ngược,

Lộng hành cướp giựt, Ngục tù áp bức,

Đàn áp bạo tàn, Tù nhân lương tâm,

Dân oan thống khổ, Tham nhũng hối lộ,

Nô lệ ngoại bang, Một đám Việt gian,

Buôn dân bán nước, Đọa đày dân tộc,

Dân chủ tự do, Độc lập ấm no,

Toàn là bánh vẽ, Công bằng xã hội,

Có thấy chi đâu, Chỉ thấy đám giàu,

Ăn trên ngồi trước, Tóm thâu lơi lộc,

Đem tiền đút lót, Cho bọn chóp bu,

Của cải kếch xù, Nước ngoài đầu tư,

Mua nhà mua cửa, Dân nghèo cưỡng bức,

Lầm than cơ cực, Thật là oan ức,

Chủ tịch Vingroup, Tên Phan Nhật Vượng,

Thao túng chính trường, Ép đám chính quyền,

Ra luật xe điện, Dẹp hết xe xăng,

 

Bí thư “To Lon” (Tô Lâm), Ông trùm công an,

Ăn bò dát vàng, Lên ngai ngang tàng,

Thay thế Trọng lú, Bình mới rượu cũ,

Nối gót đàn anh, Giở thói lưu manh,

Giả vờ cởi mở, Nhưng đừng tưởng bở,

Chúng cùng một lò, Bắt chước giặc Hồ,

Chuyên môn phản trắc, Tin chúng là thác,

Hòa hợp hòa giải, Chót lưỡi đầu môi,

 

Bọn này rất tồi, Cò mồi gian trá,

Dụ khị vồn vã, Việt kiều nhẹ dạ,

Xưa là phản quốc, Giờ là núm ruột,

Buồn thay dân Việt, Tỵ nạn cộng sản,

Xưa chạy có cờ, Nay lại về chơi,

Nhởn nhơ vui thú, Hối đoái kỷ lục,

Giúp chúng tiếp tục, Chế độ ngục tù,

Đi nuôi quân thù, Làm khổ đồng bào,

Lương tâm để đâu, Hãy mau thức tỉnh,

 

Dính thêm kiếp nạn,

Lũ lụt thiên tai, Tính đến hôm nay,

Hăm mốt cơn bão, Thiệt hại biết bao,

Nào là Tây Nguyên, Đắk Lắk, Thừa Thiên,

Cũng vì lũ điên, Tham lam kiếm tiền,

Đốn cây phá rừng, Xây nhà không ngừng,

Không nơi thoát nước, Bốn trăm người chết,

Thiệt bốn tỷ đô, Chúng lại mưu đồ,

Giở thói ăn mày, Kêu gọi phương Tây,

Rộng lòng cứu giúp, Lấy tiền đút túi,

Dân chúng bị gạt,

Tình nghĩa đồng bào, Cũng thấy nao nao

Hè nhau quyên góp, Gửi về cứu trợ,

Tiền chớ thấy đâu, Chúng ăn trên đầu,

Cáo hồ gian xảo, Suốt đời lếu láo,

 

Thần Táo cầu xin, Thượng đế lượng tình,

Anh minh soi sáng, Diệt tan cộng sản,

Giải thoát cơ đồ, Khỏi ách cộng nô,

Toàn dân nô nức, Đoàn tụ hạnh phúc.

 

Đến đây chấm dứt, Hết sức mệt đừ,

Thần xin cáo từ, Hẹn ngài năm tới,

Thánh thượng vạn vạn tuế.


NdP

Monday, February 2, 2026

Chữ Khác Nghĩa - Ngô Du Trung



VC là "vua" mị dân. Dùng “lời khác lẽ”, dùng “chữ khác nghĩa” để mị dân. để tráo trở, bịp bợm:

 Đi xâm lăng nó gọi là “giải phóng”..

Cướp tài sản của dân nó gọi là “đánh tư sản mại bản”.

Nó bỏ tù người ta thì nói là cho đi “học tập”.

Người yêu nước nó gọi là “phản động”.

Mấy thằng bán nước cho Tàu nó gọi là nhà “cách mạng”.

Làm việc gì nó cũng chạy sang hỏi ý kiến Tàu, nó gọi như vậy là “độc lập”.

Dân lên tiếng, bị bịt mồm và bắt bỏ tù (“đi học tập) và đánh đập, nó gọi đó là tự do..
Nó chọn người xong bắt dân bỏ phiếu bầu nó gọi là “dân chủ”.
Phiên toà không cho dân chúng tham dự nó gọi là “phiên toà công khai”.

Tiền tham nhũng nó gọi là tiền “bồi dưỡng”..

Nhận một cô gái làm con nuôi rồi làm cho con nuôi phình bụng và bịt râu giả dạng thường dân đấu tố ân nhân mình cho tới chết nó gọi là “đạo đức cách mạng”.

Xúi con cái đấu tố cha mẹ tới chết nó gọi là “cải cách ruộng đất”.

Giàu có, sung túc như ở miền Nam trước năm 75 nó gọi là “phồn vinh giả tạo”.
Đói nhăn răng như ở miền Bắc  trước 75 nó gọi là “thiên đường XHCN”.
Những tên nằm trên lưng nhân dân bắt nhân dân cõng đi làm cho khỏi ướt chân, nó gọi là “đầy tớ nhân dân”.

Quan VC qua Nhật ăn cắp bị bắt quả tang nó gọi là “gặp sự cố”. Tàu của  bọn Chệt xâm phạm lảnh hải, bắn giết ngư dân ta nó gọi là "tàu lạ".

Những người chiến đấu bảo vệ tự do nó gọi là “tay sai đế quốc”..

Kẻ thù của dân tộc nó gọi là “láng giềng tốt”.

Ân nhân chữa bệnh cho nó, dạy dỗ con cháu nó, nó gọi là “giặc xâm lăng”…..

Bịp bợm, xão quyệt theo "quy trình" là  “đặc sản” của VC.

Ngô Du Trung..

Xuân Về Nhớ Mẹ Nơi Quê Nhà Miền Tây - Mẹ Là Quê Hương - Đặc Sản Miền Sông Nước

Quà Tết Trời Cho - Nguyễn Thạch Giang

Bảo Huân


Một hôm trong dịp dự tang lễ của một người chú họ tại nhà thờ trên đường Senter, lúc ra về ông Hai thấy phía bên kia đường có quán cà phê của người Việt Nam, ông ghé qua uống nước giải khát ngồi nghỉ mệt.

Lâu lắm rồi ông mới tới một quán cà phê kiểu Việt Nam như thế này, khách hàng toàn người Việt cười nói vui vẻ ồn ào, ông Hai chợt có cảm giác gì gần gũi thân thuộc, mà từ lâu ông đánh mất.

Ông Hai góa vợ mấy năm nay, 3 năm về trước vợ ông lâm bệnh nặng chỉ trong vòng 6 tháng thì qua đời. Ông suốt ngày lủi thủi một thân một mình, con gái ông thấy vậy nói ông dọn về ở chung cho đỡ hiu quạnh tuổi già. Nhưng con gái và con rể bận bịu công việc cả ngày, đi làm từ sáng tới chiều, hai đứa cháu ngoại thì đi học xa, lâu lâu mới về nhà một lần.

Buổi sáng ông đi đến phòng gym tập thể dục chừng một tiếng đồng hồ, về nhà tắm rửa ăn uống rồi mở tivi xem tin tức, nếu không thì mở iPad coi đủ thứ chuyện trên đó, thỉnh thoảng ra vườn sau nhà tưới cây làm cỏ coi như tập thể dục. Ngày nào cũng như ngày nấy, bạn bè thân thiết thì mỗi người một hoàn cảnh lại ở xa, lâu lâu hẹn nhau gặp mặt một lần.

Sáng nay ông Hai trở lại cái quán cà phê sân vườn hôm trước ông có lần ghé qua. Ông lựa bàn ngồi ngoài hàng hiên tránh khói thuốc lá bên trong. Ngồi bàn gần bên là một ông khách cũng cỡ tuổi ông đang hào hứng chơi vé số cạo, ông Hai thấy ông này có vẻ quen quen không nhớ là gặp ở đâu.

Có hai ông khách lớn tuổi bước vô quán ngó dáo dác nhìn quanh quay lại hỏi ông ta:

– Ông Hiền có thấy ông Tài tới chưa?

– Chưa.

Nghe vậy hai ông khách vội bước vào trong tìm bàn ngồi.

Người đàn ông này thấy ông Hai ngồi một mình nên mở lời làm quen:

– Anh mới tới quán này lần đầu?

– Lần thứ hai, hôm trước có tới một lần, nhưng tôi ít khi vô quán cà phê lắm.

Anh tên Hiền?

Ông bật cười nói ở đây ai cũng gọi tôi là “chú Hiền”, mà thật ra tên Hiền chỉ là tên giả.

– Tên giả?

– Lần đầu vô quán này, mấy cô tiếp viên không biết tôi tên gì, nói với bà chủ cái chú “hiền hiền” ngồi một mình uống cà phê đen đá. Mấy cô kêu tôi “chú Hiền” lâu ngày quen miệng chết danh cái tên Hiền, tôi thấy tên Hiền cũng tốt nên không đính chánh cứ để vậy nhận mình tên Hiền.

Ông khách lớn tuổi từ trong bước ra nói với ông Hiền:

– Ông Tài gọi phone nói chừng một tiếng nữa ổng mới tới, ông ở đây chờ đừng đi đâu.

– OK

Ông Hiền nói với ông Hai:

– Mấy ổng hẹn rủ chơi đánh bài xập xám, anh có biết chơi không.

– Biết, mà tôi ít khi chơi.

– Giờ còn thiếu một tay, anh chơi chút cho vui khi nào ông kia tới thì anh nghỉ.

Ông Hai bật cười nói OK cũng được.

Hôm nay ông cảm thấy vui vui, nhập bọn mấy ông già xóm nhà lá quán cà phê bình dân này chơi đánh bài.


Lúc rày buổi sáng sau khi tắm rửa ăn uống, ông Hai thường đến quán cà phê nhìn thiên hạ nói cười cho đỡ buồn, chớ ở nhà một mình chèo queo quanh năm suốt tháng rầu thúi ruột. Ông vừa quen một ông bạn già ở quán cà phê đó: “chú Hiền”. Chú Hiền nầy người cũng hiền lành nói năng nhỏ nhẹ, nhưng sở thích hai người thì khác nhau có thể nói là một trời một vực. Trong khi ông Hiền thích cờ bạc, cá độ football với lại mua vé số cạo thì ông Hai ngược lại chẳng dính vô thứ nào, không hề.

Đôi ba lần ông theo ông Hiền mua vé số cạo nhưng không thấy hứng thú nên thôi. Đến quán cà phê nói chuyện đời, chuyện thời sự với bạn bè, nếu không ngồi làm thinh nhìn thiên hạ cũng đủ vui rồi.

Thỉnh thoảng ông Hai rủ ông Hiền qua khu mua sắm của người Việt gần bên ăn trưa. Qua lại nhiều lần thân thiết, ông tình thật kể cho ông Hiền nghe trước kia ông là một sĩ quan trong quân đội VNCH. Ông và gia đình qua đây từ rất sớm, cố gắng làm ăn nên cũng có của ăn của để. Con cái ông học hành rất giỏi, đều là những người thành đạt, công danh lẫn sự nghiệp.

Ông nói vợ ông qua đời bất thình lình mấy năm về trước, ông về sống với gia đình đứa con gái, nhưng ban ngày mọi người đi vắng, ông ở nhà một mình buồn quá chẳng biết làm gì để giải sầu.

Ông Hiền bật cười nói tôi thì trái lại là một phiên bản trái ngược. Là một người thất bại, đúng hơn là một người không nên thân.

Tôi đi làm trong hãng điện tử lương ba cọc ba đồng, có bao nhiêu xài hết bấy nhiêu, lại có tật cờ bạc nên chẳng dành dụm được gì, sống tà tà ngày nào biết ngày đó.

Tôi sống buông thả một phần cũng vì không vợ không con, không có gì để lo, không ai cử nhử cằn nhằn nên muốn làm gì thì làm. Cờ bạc lâu ngày gỡ không ra tôi giờ như một con nghiện hết thuốc chữa.

Tôi sống với gia đình bà chị từ ngày qua Mỹ tới giờ, cũng đã hơn 30 năm rồi. Từ ngày nghỉ hưu, nhiều thì giờ trống trải, tôi hay ra quán cà phê la cà ở đó đôi khi tới chiều mới về.

Ông Hai cùng con cháu chuẩn bị đi Việt Nam chơi một tháng nhân dịp các cháu nghỉ hè. Ông hỏi ông Hiền đã bao lâu rồi chưa về Việt Nam, ông Hiền nói chưa lần nào. Ông trố mắt ngạc nhiên.

– Sao ông không về chơi thăm lại làng quê xứ sở?

Ông Hiền trả lời nửa đùa nửa thật:

– Tại vì tui không có tiền.

Ông Hai bật cười nghĩ ông bạn già nói giỡn chơi.

– Ông còn bà con thân nhân nào ở bên đó không? Trước kia ở Việt Nam ông ở đâu?

– Nhà cha mẹ tôi ở Sa Đéc, tôi còn ông anh lớn và bà chị ở bên đó, họ sống cùng con cháu đông lắm, căn nhà của cha mẹ tôi cũng còn giữ, không bán. Tôi về bên đó không lo chỗ ở.

Ông Hiền hỏi ông Hai:

– Chắc ông là dân Sài Gòn?

– Vâng, nhà cha mẹ tôi trước đây ở Phú Nhuận, nhưng giờ cha mẹ anh em đều qua đây hết, tôi về bên đó ở khách sạn cũng tiện.

Ông Hai mặt trầm ngâm đăm chiêu nghĩ ngợi. Ông hỏi ông Hiền:

– Ông qua đây bao lâu rồi? Có bao giờ ông nhớ về làng quê xứ sở? Có bao giờ ông nhớ lại những buồn vui cùng người thân và bạn bè nơi mình sinh ra và khôn lớn?

Ông Hiền nhìn về dãy núi xa xa ngoài kia, vẻ mặt buồn buồn, giọng nói buồn buồn.

– Tôi qua đây hơn 30 năm rồi. Trước đây lúc còn trẻ, lúc còn đi làm có tiền, có điều kiện, không hiểu sao tôi không nghĩ đến việc về Việt Nam thăm lại làng quê xứ sở, thăm bà con bạn bè thân thiết. Rồi tôi lại vướng vào hết đam mê này đến đam mê khác, tiền bạc có bao nhiêu nướng vào cuộc đỏ đen. Giờ tuổi già trắng tay, đôi lúc cô đơn hiu quạnh bỗng nhớ về làng xóm nơi mình đã sinh ra và lớn lên, nhớ một cách tha thiết, muốn về thăm lại chốn xưa một lần trước khi chết mà không có tiền.

Ông Hai nghe vậy chợt thấy cảm động, tội nghiệp cho ông bạn già mới vừa quen chưa được bao lâu.


Ngày hôm sau ông Hai gặp ông Hiền tại quán cà phê, ông nói con gái ông cho ông Hiền một vé đi Việt Nam cùng tiền xài một tháng.

Ông Hiền nghe qua có hơi bất ngờ.

– Chuyện gì về nhà ông cũng kể cho con gái nghe hết hả? Ông nói với con ông điều gì về tôi vậy hả ông bạn già.

Ông Hai bật cười giòn.

– Tôi không có nói xấu ông điều gì đâu, khi nghe con gái tôi có ý tặng ông một món quà đặc biệt, tôi đồng ý liền mà trong lòng cũng vui khi thấy con mình có lòng thương người, biết thông cảm, biết giúp đỡ người đang gặp hoàn cảnh khó khăn.

Ông Hiền làm thinh không nói gì, đôi mắt nhìn xa xăm, gương mặt lộ vẻ xúc động.

– Tôi thật cảm động khi có người có nhã ý tặng mình vé máy bay về Việt Nam thăm lại làng quê xứ sở. Cảm ơn ông và con gái ông có lòng tốt giúp tôi, nhưng chắc tôi không dám nhận, nay tôi đã già, cuộc đời tôi mang ơn nhiều người quá, cuối đời tôi không muốn mang ơn ai nữa cả, làm sao mà trả.

Ông Hai nghe vậy thấy cảm động ứa nước mắt, trong lòng có chút xót thương ông bạn già mới vừa quen.

– Chuyện nhỏ thôi mà, chỉ là chút quà của cháu tặng ông, ông đừng nghĩ ơn nghĩa gì cả.

Mấy người chơi vé số cạo trong quán cà phê, thường vất bừa bãi mấy tờ vé số trật thay vì vất nó vào thùng rác. Ông Hiền thường lượm mấy tờ vé số đó đem vô máy dò lại cho chắc ăn. Có đôi khi ông nhặt được tờ vé số trúng mà người ta liệng bỏ, không nhiều lắm, vài ba đồng, vài ba chục, có lần được một trăm. Ông nói tiền bạc mà đi vụt vô thùng rác, phí của trời.

Thỉnh thoảng trong quán cũng có người mua vé số cạo trúng lớn, năm mười ngàn, đôi ba chục ngàn. Nhưng bởi một lẽ tế nhị nào đó, thay vì điền đơn đem đến sở xổ số lãnh thưởng, họ tìm người để bán lại tờ vé số đó lấy tiền mặt. Thường là theo tỷ lệ 6/4, nghĩa là họ bán tờ vé số trúng đó chỉ bằng 60% giá trị trúng thưởng.


Đầu tháng 12 xứ Mỹ rộn ràng mùa lễ hội, sáng thứ Bảy quán cà phê đông nghẹt không còn chỗ đậu xe, ông Hai bước vô quán tìm chỗ ngồi, ngó quanh mà không thấy ông Hiền. Chưa kịp uống hết ly cà phê, anh chàng thanh niên trẻ ngồi bàn gần bên trúng vé số cạo mừng rỡ nhảy cà tưng. Anh chàng cầm tờ vé số mà tay run run, miệng nói ái dà trúng lớn, trúng lớn lắm, mười ngàn đô. Anh chàng chắp tay xá xá miệng nói con cảm ơn ông Địa, con cảm ơn ông Thần tài.

Ông Hai nhanh trí kéo anh ta lại nói nhỏ, ông muốn làm một “hợp đồng âm dương” đôi  bên cùng có lợi. Hai người âm thầm dẫn nhau ra nhà bank, ông Hai rút tiền đưa anh ta, ông mua lại tờ vé số trúng đó. Ông căn dặn anh chàng tuyệt đối không nói cho ai biết.

Mấy ngày sau lúc chia tay ông Hiền ở quán cà phê ra về, ông Hai nhẹ để tờ vé số trúng xuống đất chỗ ông Hiền đi qua, cẩn thận nhìn trước nhìn sau không cho ai thấy. Ông núp vào chỗ kín âm thầm theo dõi. Ông Hiền đi ngang thấy tờ vé số ai quăng dưới đất, như thường tình ông lượm lên coi dò lại, ông trố mắt kinh ngạc nhìn cho rõ, ông bỏ tờ vé số vào túi lên xe ra về.

Ông Hai nửa vui nửa hồi hộp, sợ ông Hiền không thấy mà quăng tờ vé số vô thùng rác.

Mấy ngày sau hai ông bạn già gặp nhau ở quán cà phê như thường lệ, ông Hai nói loanh quanh thăm dò coi ông bạn già có nói gì không, nhưng ông Hiền nín thinh không đá động gì đến việc mua vé số hay trúng số. Ông Hai mở lời:

– Tết gần đến, người ta đi Việt Nam quá trời, vé máy bay giờ dễ mua mà cũng rẻ, hổng ấy ông làm một chuyến về quê “ăn Tết”.

Ông Hiền miệng cười cười.

– Vấn đề đầu tiên là tiền đâu.

Ông Hai mỉm cười:

– Thì trời cho.

Cả hai ông bạn già cười khúc khích.

Ông Hiền vẻ mặt trầm ngâm suy nghĩ một điều gì khó nói, ông nhìn ra ngoài sân cắn móng tay nghĩ ngợi, ông nói với ông Hai:

– Tôi tuy mới quen biết ông mấy tháng nay, nhưng tôi thấy ông là người chân thành dễ mến, có lòng tốt, có lòng thương người. Mấy lần tôi thấy mấy người “homeless” vô quán xin thuốc lá ông đều cho họ tiền vì ông không hút thuốc, có một lần ông mua ly cà phê mới cho họ khi họ định lượm uống ly cà phê của ai bỏ dở.

Ông à, tôi nói thật cho ông biết điều này, mấy hôm trước lúc ra về tôi có lượm được một tờ vé số trúng của ai bỏ dưới đất. Nếu trúng ít thì không nói làm chi, không đáng kể, tôi cũng thường lượm được vé số trúng người ta bỏ, nhưng chỉ vài ba đồng, nhiều lắm là vài chục, đằng này trúng tới mười ngàn, một số tiền đâu có nhỏ. Tờ vé số lại cạo sạch sẽ, dễ nhìn, tôi nghĩ chắc có ai làm rớt.

Về nhà tôi cứ suy nghĩ hoài, nếu tôi âm thầm đem đi lãnh, trong lòng tôi sẽ cứ áy náy hoài năm này qua tháng nọ, mà tôi cũng sợ họ biết được sẽ kiện tôi ra tòa về tội ăn cắp.

Mấy ngày nay tôi chờ đợi nghe ngóng, coi có ai trong quán la lên là họ làm mất tờ vé số trúng, tôi sẽ trả lại cho họ. Họ cho tôi chút đỉnh là đủ vui rồi.

Ông Hai có chút ngạc nhiên khi nghe ông bạn già nói. Ông cảm mến ông này tuy nghèo chớ không tham. Ông nói với ông Hiền:

– Ông nói vậy cũng phải, mình chờ coi ai mất thì trả lại cho họ. Nhưng ông cẩn thận đừng nói cho ai biết là ông có lượm được tờ vé số trúng, sợ có đứa tham nhận bừa là vé số của nó làm rớt. Nếu không phải tờ vé số của nó mua, nó không thể biết là tờ vé số loại gì, màu gì, trúng con số mấy và trúng bao nhiêu tiền.

– OK, tôi sẽ chờ thêm một thời gian nữa xem sao, nếu không có ai báo mất tôi sẽ đi lãnh, coi như quà Tết, quà Tết trời cho.

Ông Hai mỉm cười gật gật đầu.

– Để tới hôm đó tôi sẽ chở ông tới sở xổ số điền đơn lãnh tiền, rồi tôi cũng chở ông ra văn phòng du lịch đặt vé máy bay, nhất định kỳ này về Việt Nam “ăn Tết” một chuyến nhe ông bạn già.

Ông Hiền vẻ mặt hân hoan vỗ vai ông Hai nói cảm ơn ông có lòng lo lắng cho tôi.

Hai ông bạn già cười giòn khoái chí, vui quá… vui như Tết.

Nguyễn Thạch Giang

Kinh Hồn Bạt Vía Chó Sợ Mèo

 


Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình

Giới Siêu Giàu Tại Việt Nam - Nguyễn Sinh

Những người siêu giàu của Việt Nam

Giới siêu giàu hay còn được gọi là HNWI (High-Net-Worth Individuals) là nhóm người sở hữu tài sản ròng từ vài trăm triệu đến hàng tỷ USD. Tại Việt Nam, những người này chủ yếu là doanh nhân, nhà đầu tư lớn, hoặc người thừa kế khối tài sản có sẵn từ các tập đoàn gia đình.

Theo báo cáo The Wealth Report 2025, Việt Nam hiện có khoảng 5,459 cá nhân sở hữu tài sản ròng trên 10 triệu USD/người, chiếm 0.2% tổng số triệu phú trên toàn thế giới. Trong khi đó, Knight Frank (Anh quốc) dự đoán đến năm 2028, Việt Nam sẽ có 978 cá nhân siêu giàu, tăng 23% so với năm 2024.  Riêng những người có tài sản từ 1 triệu USD trở lên, cũng sẽ có hơn 112,200 người vào 2027, tương đương mức tăng trưởng 173% trong vòng 10 năm vừa qua.

Dựa trên Bảng xếp hạng tỷ phú thế giới 2025 do tạp chí Forbes (Hoa Kỳ) công bố, VN có 5 tỷ phú siêu giàu nhất nước đang nắm giữ khối tài sản hơn 38 tỷ USD. Xếp đầu tiên là ông Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch Tập đoàn Vingroup tiếp tục giữ vững vị trí người giàu nhất VN. Dữ liệu cập nhật thời gian thực của Forbes đến ngày 30/12/2025 cho biết tài sản của ông này đồng thời là người giữ chức Tổng giám đốc hãng xe điện VinFast, đã lên tới 28.4 tỷ USD, xếp thứ 76 thế giới. Đứng thứ 2, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, Chủ tịch hãng hàng không VietJet Air, với khối tài sản 4.8 tỷ USD. Đứng thứ 3 là “Vua thép” Chủ tịch Hòa Phát Trần Đình Long hiện có 2.6 tỷ USD, tương đương hồi năm 2024. Đứng thứ 4 là ông Hồ Hùng Anh, Chủ tịch Techcombank với khối tài sản 2.3 tỷ USD, tăng 300 triệu USD so với năm trước. Đứng thứ 5 là Chủ tịch Masan Nguyễn Đăng Quang với khối tài sản khoảng 1 tỷ USD.

Hàng không giá rẻ


Họ làm gì để thành siêu giàu?

Nhìn chung, khối tài sản khổng lồ của giới siêu giàu VN không được xây dựng từ một nguồn duy nhất mà đến từ việc nắm bắt và thống lĩnh các ngành kinh tế “huyết mạch” đất nước. Mỗi tỷ phú lại có một “công thức” làm giàu riêng, gắn liền với thế mạnh của doanh nghiệp mà họ đang quản lý. Ở đây không nói về một thế lực nào đó đứng phía sau chống lưng hoặc sử dụng doanh nghiệp như “bức bình phong” che đậy nguồn tiền bẩn (nếu có) của họ thì giới siêu giàu VN thường có những phương cách làm ăn xoay quanh đặc tính chung như sau

Làm giàu từ bất động sản: Xem kỹ thống kê 100 gia đình giàu nhất VN dễ nhận thấy phần lớn số người đã giàu lên từ đất đai, bất động sản. Trong khi đó, với tốc độ đô thị hóa nhanh và nhu cầu nhà ở không ngừng tăng, bất động sản đã dần trở thành một trong những kênh đầu tư chiến lược của rất nhiều doanh nghiệp.

Nắm giữ “huyết mạch” nền kinh tế: Câu chuyện của “vua thép” Trần Đình Long (Tập đoàn Hòa Phát) là minh chứng rõ nét nhất cho việc làm giàu từ ngành sản xuất “huyết mạch” của đất nước khi họ chiếm thị phần số 1 về thép xây dựng tại VN. Không chỉ thép, doanh nghiệp này còn mở rộng các lĩnh vực phụ trợ và nông nghiệp, tạo ra một chuỗi giá trị tích hợp và khẳng định vị thế trong các ngành sản xuất cơ bản.

Sản xuất thép “huyết mạch” của nền kinh tế


Hàng không và tài chính: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo cùng công ty Vietjet đã làm thay đổi thị trường với mô hình hàng không giá rẻ, biến việc đi máy bay trở nên phổ biến hơn với người dân VN và khu vực, từ đó chiếm lĩnh thị phần khổng lồ. Sự kết hợp giữa hàng không, ngân hàng và bất động sản tạo ra một hệ sinh thái dịch vụ tài chính – tiêu dùng vững mạnh, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển.

Lĩnh vực tài chính ngân hàng: Ông Hồ Hùng Anh đã xây dựng nên đế chế tài chính với Techcombank và giữ vai trò chủ chốt trong một hệ sinh thái tài chính – tiêu dùng khi nó trở thành một trong những ngân hàng tư nhân thuộc dạng lớn nhất VN.

Đánh vào nhu cầu tiêu dùng và bán lẻ: Masan Group của ông Nguyễn Đăng Quang hiện là tập đoàn tư nhân hàng đầu VN trong lĩnh vực hàng tiêu dùng và bán lẻ hiện đại, phục vụ mọi nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người Việt, từ đó đưa Masan Consumer trở thành một trong những công ty hàng tiêu dùng lớn nhất nước. Ngoài ra, sự kết hợp giữa hàng tiêu dùng và kênh phân phối trực tiếp đã giúp Masan kiểm soát toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất đến tận tay người tiêu dùng.

Cửa hàng tiện lợi


Người giàu VN liệu có bền vững?

Dù vậy, dường như “độ bền” của giới siêu giàu tại VN vẫn chưa thực sự bền vững. Bởi với những phương cách làm giàu như đã nói ở trên chung quy cũng chỉ là việc tập trung khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc làm dịch vụ. Thậm chí hoạt động chính của các tập đoàn nhà nước cũng chủ yếu là khai thác tài nguyên thiên nhiên (dầu khí, than khoáng sản hoặc đánh bắt chế biến hải sản, nông sản). Còn nếu thử tìm kiếm một thương hiệu VN nào đó về khoa học công nghệ nổi tiếng trên thị trường thế giới hầu như vẫn chưa có!

Chuyên gia kinh tế Minh Phong (Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế) cho biết: “Số người VN giàu tăng là xu hướng tất yếu trong nền kinh tế thị trường và một đất nước có nhiều người giàu thì quá tốt. Tuy nhiên, nếu so với 50 năm thống nhất đất nước, sau hơn 40 năm đổi mới, gần 35 năm mở cửa và so sánh với các quốc gia châu Á khác như Nhật Bản, Hàn quốc, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia… thì con số hơn 500 người Việt siêu giàu hiện hữu còn khá khiêm tốn. Đó là chưa so với tổng thể số dân VN thì con số trên vẫn chưa đáng kể. Tôi cho rằng để có sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước nhà, phải chăng chúng ta cần đội ngũ doanh nhân, một tầng lớp người giàu phát triển đúng quy luật, phát triển bền vững, không chỉ dựa vào đất đai, tài nguyên thiên nhiên, nhân công giá rẻ hay đơn thuần làm dịch vụ mà phải huy động được nội lực, chất xám của con người Việt Nam để có được những sản phẩm trí tuệ thực sự!”.

Thiết lập đế chế ngân hàng

 

Nguyễn Sinh

Sunday, February 1, 2026

Một Bài Thơ Hay Về Chúa (Song Ngữ)

Một Dòng Xuôi Mải Miết - Nguyễn Ngọc Tư


Bữa nhậu gần tàn. Kim đã uống gần hết một lượt để từ giã ra về thì có anh thanh niên hào hển chạy lại hỏi thăm anh Kim nhà văn, còn dò đi hỏi lại có đúng là Kim viết mấy cái truyện về  những người chăn vịt mới được đọc trên đài. Kim gật đầu. Anh ta cười cái phào:

- Vậy thì may quá. Tôi tính xong mùa lúa này sẽ lên trển tìm cho được anh. Vợ tôi cứ biểu hoài...

Kim ngờ ngợ, không biết mình có dây dưa chuyện gì với vợ chồng anh chàng này đây. Anh hỏi, “Tôi giúp gì được cho anh?”. Anh chàng nọ ngần ngừ nhìn quanh rồi hỏi “Tôi có thể nói chuyện này cho một mình anh nghe được không?”, Kim dại gì mà không gật đầu, ở lại, dễ gì rụp một cái có thể rời khỏi chiếu nhậu.

Vậy mà cũng xà quần cả buổi, chờ cho anh chàng nọ uống chào sân hết cả thảy chín ly rượu trắng mới đi được. Hai người xuống cái bến bùm xùm những lùm đậu cộ, Kim chờ tàu Khánh Hội lên .

- Anh viết mấy cái truyện chăn vịt hay thiệt, sành sỏi như người trong nghề, nghe bắt mê. Chắc anh đi nhiều chỗ, gặp nhiều người lắm. Tôi đang suốt lúa, nghe có nhà văn Trần Kim về Rạch Giồng để viết về vụ hè thu, tôi bỏ dãi chạy ra đây. Không biết anh nhà văn có biết người nuôi vịt chạy đồng nào tên Sáng, trạc ba sáu, ba bảy tuổi không? Dà, vợ tôi nó trông gặp anh Sáng này tới mỏi con mắt nhưng trời đất mênh mông, tôi hỏi cùng khắp rồi, mà chưa thấy tăm hơi đâu hết. Chuyện của ba người chúng tôi cũng dài lắm anh à, anh biết, hai người với nhau thì dễ, thêm người thứ ba rắc rối lắm.

Tôi không biết quê Sáng ở đâu, mấy lần nghe loáng thoáng ở An Bình, Phước Long gì đó. Mùa gặt năm nào anh cũng xuôi ghe chở bầy vịt đổi đồng về xóm Rạch Giồng này. Rồi cất cái chòi lợp bằng lá chuối, quây lưới cầm vịt trên khúc đê trồng so đũa. Từ chỗ này, mỗi ngày anh lang thang lùa vịt đi ăn khắp cả vạt đồng, qua tới vườn xóm Lung. Tới khi người ta bừa đất chuẩn bị sạ vụ mới, Sáng lại ra đi.

Tôi thường trông Sáng mỗi khi mùa lúa mới về. Hai mươi hai tuổi, ông già tôi đã giao cho cái máy suốt Bình Thủy, hễ lúa chín là tôi tha thủi một mình ngủ giữ máy giữa đồng khơi. Anh nhà văn không biết chớ, ngủ trên đồng buồn thê thiết lắm. Gió thì hiu hút, gió thổi rơm rạ tả tơi, trời sao vằng vặc, đất mênh mông. Đang thèm hơi người nên gặp được ai là thương, là quý ngay người ấy. Vì vậy mà tôi quý Sáng. Những lần cho vịt đi ăn xa, chạng vạng không về kịp, Sáng cũng hay cầm vịt giữa đồng, hai đứa tôi ôm rơm tụm lại nhóm lửa, đánh bài tiến lên, uống ít ly cho ấm người. Xong rồi ca khơi khơi vài câu vọng cổ. Tôi hay hỏi Sáng chuyện đồng bãi mùa màng này nọ, về những nơi mà anh đã đi qua. Sáng lớn hơn tôi chừng năm tuổi nhưng anh già dặn, chững chạc trầm lặng hơn tôi, hơn cả tuổi của anh nhiều. Ban ngày, anh hay lội lại, khi thì xoắn tay xách lúa tiếp, lúc cho máy ăn để chúng tôi lua vội bữa trưa, có khi giúp vác cái thùng suốt lội ròng rã mươi công đất gò. Tôi ngại lắm, nhưng Sáng chỉ cười, “Một mình cũng buồn, tôi phải kiếm một việc gì đó để làm để khỏi phải mơ biến thành vịt”.

Ai sống một mình cũng buồn hết, anh nhà văn à. Nhưng Sáng ngon hơn tôi nhiều, anh kể đã nuôi vịt chạy đồng bảy năm. Tính ra thì cỡ mười lăm, mười sáu tuổi anh đã dầu dãi giang hồ. Tôi ngẩn ngơ, “Sao ông hay vậy? Sống một mình? Tôi mà lúc cúc một mình trên đồng khơi thể nào cũng điên”. Sáng cười, nhiều người ở cạnh tôi lắm chớ. Ai đâu. Không có ở đây, nhưng tôi luôn nghĩ về họ. Tôi hỏi Sáng nghĩ tới ai. Sáng chỉ cười. Anh để ý coi, những người ít nói thì hay cười, không phải vì vui mà vì để khỏi trả lời. Rồi tự nhiên Sáng hỏi ngược lại rằng tôi đang nghĩ tới ai.

Tôi nói tôi nghĩ tới Xuyến, tên của vợ tôi bây giờ. Cùng xóm mà, thương lúc nào cũng không nhớ, có thể hồi mười bảy hay hai mươi hay chừng tám chín tuổi gì đó… Tôi nói thiệt, hồi thương cổ, tôi lội tới lội lui thiếu điều sạt bờ dừa nhà ông già vợ. Tới lúc chiêm bao cũng thấy Xuyến là đậm lắm rồi. Mà chiêm bao ngộ lắm, lặp đi lặp lại hoài cũng cái cảnh tôi nắm tay em Xuyến xuống bến, nhưng không có chiếc xuồng nào, chờ một hồi thấy có người bơi lại, không thấy rõ mặt (thường thì chiêm bao ít thấy rõ mặt người), chỉ thấy cái lưng hơi khom, vai bè bè… giống như Sáng vậy, tới đó rồi thôi, giấc mơ đứt đoạn. Tôi kể cho Sáng nghe, hơi hồ nghi “Sao trong câu chuyện của tôi và Xuyến lại có ông vậy ta?”. Sáng chỉ cười, cái cười làm tôi quên mau, chuyện chiêm bao mà.

Sáng cũng biết Xuyến, chỗ anh cầm vịt ngang với hậu vườn nhà Xuyến. Sáng hay qua nhà uống trà, nói chuyện mùa màng chơi với ông già vợ tôi. Có bữa anh nằm tâm sự, “Cứ mỗi lần cặp ghe vịt vô bến thấy thím Hai khum cái tay che nắng hỏi ai in thằng Sáng, thấy cô Xuyến chạy ra cửa nhoẻn cười thấy lòng vui như được trở về nhà”. Cũng nghe nhiều người thắc mắc, thằng Sáng chắc có gì với con Xuyến, chớ không sao năm nào cũng cầm vịt ngay trân chỗ đó, năm nào cũng mua cho Xuyến khi thì khúc vải, lúc là cây dù… nhưng tôi ỷ y, cũng biết bao nhiêu người lui tới nhà Xuyến rồi, thấy tôi mài miết còn chịu hổng nổi dạt ra. Sáng thì một năm ở đây chừng ba mươi bữa, tôi đâu có ngán. Với lại tôi tin Sáng lắm, chính anh biểu tôi chỗ đó được, bước tới đi. Tôi bước tới.

Bữa nay, anh nhà văn về gấp quá, nếu không thì lại nhà tôi chơi, cho biết mặt vợ tôi. Cổ đẹp, giỏi mà hiền lắm. Hiền nhưng làm toàn chuyện động trời. Tôi bị một lần, bây giờ đang ngủ nhiều lúc còn bàng hoàng thức dậy, ngồi coi có đúng người nằm cạnh mình là Xuyến không.

Có lần, Xuyến băng đồng tìm tôi, cổ khóc, đã lỡ thương người khác rồi, nên không thể làm đám cưới, không thể lấy tôi làm chồng. Không có đám cưới nào vào rằm tháng Chạp này.

Anh nhà văn không biết cảnh này đâu. Tôi ngồi chết lặng. Cay đắng, bỡ ngỡ, đau đớn, bàng hoàng không sao tả được. Có gì bằng vợ sắp cưới của mình lại hồi hôn. Tôi cứ ngồi lặng, đầu thì tăm tăm cái câu hỏi, “Vậy là sao?”

Đâu biết. Tôi hỏi Xuyến vậy chớ em đã thương ai. Xuyến trả lời, “Anh Sáng”. Tôi thuận miệng hỏi bừa “Sáng nào?”, Xuyến nhìn tôi, “Anh biết mà…”.

Sao lại là Sáng?

Sao lại là cái người mà mới hôm qua thôi tôi còn rủ anh ở lại dự đám cưới, còn nhờ anh làm chú rễ phụ cho bữa đó tôi đỡ run. Sao anh lại nhận lời, rồi bây giờ…?

Dưng không tôi mất đi hai con người mà mình thương yêu nhất, đau lòng vậy mà Xuyến còn thút thít, “Anh đừng giận anh Sáng mà hại ảnh, tại em hết, chớ ảnh có nói gì đâu”. Dường như Xuyến đọc được trong mắt tôi những tia hằn học. Nhưng mà tôi đâu có tử tế, cao thượng dữ vậy, tôi không giận Xuyến, thương quá, không thể giận, nhưng Sáng thì khác…

Mà, anh nhà văn nè, theo anh thì con vịt nó có sinh mạng không? Bà nội tôi nói cỏ cây cũng có sinh mạng vậy là đúng? Anh biết không, có lần vì nóng giận mà tôi hủy đi cả thảy một ngàn hai trăm mười bảy sinh mạng. Anh nhà văn sửng sốt hả, ghê quá phải hôn. Tôi lúc đó cũng vậy, cũng cảm giác như mình đang gây tội ác.

Tôi nhớ hoài cái cảnh mình đứng trong một buổi sáng đầy sương. Xung quanh tôi vịt nằm chết sắp lớp, không khí nồng nặc mùi thuốc trừ sâu. Tôi giở một con vịt lên, dưới đôi cánh nó là một quả trứng vỡ be bét, chắc nó đã từng giãy giụa, đau đớn lắm mới đập nát cả trứng của mình. Sáng đứng tần ngần trong quây lưới, hơi ngơ ngác, như trong lòng bị đổ vỡ cái gì đó quý giá lắm.

Nhưng không phải vì ngủ một đêm thức dậy đã trắng tay, cái cảnh người làm nghề nuôi vịt chạy đồng không lạ. Dường như Sáng xúc động, đau đớn vì những lời tôi nói, cái cây bị đốn thường không ngã về phía có ngàm búa, chắc Sáng cũng không ngờ rằng người bỏ thuốc vô mẻ lúa của bầy vịt là tôi, và vì Xuyến mà tôi làm việc đó.

- Nếu chuyện Xuyến thương tôi là thật, Sáng bảo, thì đó là chuyện buồn nhất đời tôi. Tôi không chờ đợi điều đó.

Tôi không tin. Có lẽ Sáng cũng biết tôi không tin, anh hỏi tôi có muốn nghe chuyện nhà anh không? Tôi bảo không, anh nhà văn biết, hoàn cảnh đó mà ngồi nghe chuyện gì nữa, nhưng Sáng cứ kể.

Sáng mồ côi cha từ mười tuổi, má anh cũng mất đã ba năm. Đó là người đàn bà sống hết đời không được mấy ngày vui, mấy ngày nhàn nhã. Cái xóm Rạch Giồng bé nhỏ này cũng đã giữ lại niềm vui nửa đời còn lại của má anh.

Sáng còn một người em gái (hồi trước anh hay đùa là sẽ gã em cho tôi). Nhưng hai anh em không ở chung nhà, cả một quãng dài không gặp, anh quên cả khuôn mặt của nó. Hôm cúng giáp năm má anh, bày dĩa vịt luộc phay với nải chuối chín lên bàn, lòng Sáng bất chợt cồn cào. Sáng quyết định về Rạch Giồng. Vì nhớ má và vì muốn gặp em.


Hôm gặp, em gái anh đi hái ổi cho một bầy em trai, em gái nhỏ. Nó giống má anh như tạc, giống từ vóc dáng đến cốt cách. Nhìn nó đứng chia ổi cho đám em mà thấy dịu dàng, nồng hậu biết bao.

Nhưng anh chỉ đứng xa xa nhìn. Như hồi còn mạnh giỏi, má Sáng hay xuôi ghe lại trước nhà, lén nhìn. Sáng hỏi sao không chạy lại nói cho nó biết. Má anh biểu, hồi xưa, má hứa là sẽ không trở lại. Sáng nói cần gì phải giữ lời. Má anh nghiêm mặt, “phải giữ chớ, làm người ai lại phản trắc”. Rồi má anh bảo, má nhớ em con thì buồn chút vậy, nhưng còn có thể nhìn nó lớn lên, còn không nhờ người ta, con nhỏ đâu còn.

Đó là đứa em mà Sáng mắc một món nợ lớn. Cái hồi nghèo không đồng xu cạo gió, không cục đất chọi chim, ba anh lại trốn quân dịch nên cả nhà Sáng bồng bế nhau xuống ghe trôi nổi làm mướn khắp nơi. Sáng còn bồng nèo nẹo bên nách thì má anh sinh em bé. Hoàn cảnh khó khăn, Sáng hồi đó ốm đói quặt quẹo, hay đau, mũi lúc nào cũng chảy nước chèm nhẹp. Em nhỏ lại bị sài đẹn, khóc ngằn khóc ngặt, không bú được. Không thể cứu một lúc cả hai, má anh buộc phải cho người ta đứa em gái nhỏ.

Nghe Sáng kể lờ mờ tôi nhận ra một sự thật. Là Xuyến. Không thể tin được, bàng hoàng quá phải không anh nhà văn. Giống như cải lương, ừ tuồng gì mà Vũ Linh đau khổ tới lăn ra đất vừa giãy vừa khóc đó, Hòn Vọng Phu, ờ, hơi giống Hòn Vọng Phu.

Vợ tôi hồi đó cũng khờ quá. Thương thầm Sáng mà không chịu nói thẳng, cứ nói xa nói gần. Hỏi Sáng sao không lấy vợ, anh trả lời, chờ cô Xuyến lấy chồng cái đã. Hỏi sao cứ mỗi lần về Rạch Giồng lại mua quà cho chi vậy, Sáng trả lời, tôi chẳng còn ai, cô Xuyến là người thân nhất. Thân nhất rồi mai mốt em có chồng, anh Sáng có buồn không, Sáng trả lời, Chuyện vui của cô mà, tôi nói buồn coi sao được, nhưng nói thiệt, tôi buồn, cô nhỏ đi rồi, đâu còn gặp nữa, năm tới tôi xuống buồn cho mà coi. Sáng trả lời thật lòng, nhưng cũng thật thận trọng từng chữ để khỏi phải hớ hênh, Xuyến thì cứ tưởng Sáng gửi tình vào trong ấy. Rồi một bữa Xuyến đi gom củi ngoài hậu vườn, gặp Sáng, Sáng bảo, anh cầm vịt ở đây hết mùa nầy rồi chắc lâu lắm mới quay trở lại. Hết mùa gặt nầy, anh sẽ rã bầy để mua cái gì có giá trị một chút làm quà cưới cho Xuyến, anh hứa sẽ ở lại đưa dâu qua tới nhà trai.

Những lời nói đó là Xuyến mủi lòng khủng khiếp, cô quyết định không lấy tôi. Xuyến nói tôi buồn còn nhiều người an ủi, nhưng Sáng buồn chỉ có một mình, tụi vịt tối ngày lạc cạc có biết gì đâu?

Nhưng sau cái hôm đàn vịt của Sáng lăn ra chết không còn một con, Sáng đã đi khỏi Rạch Giồng. Tôi đứng nhìn chiếc ghe khuất mất sau doi dừa nước lặng lẽ làm một cuộc tiễn đưa. Tối lại, Xuyến tuyệt vọng hỏi tôi sao Sáng đi mất tiêu mà không từ giã gì cổ hết? Tôi bảo không biết. Cứ mỗi lần có chiếc ghe bầu nào đi ngang qua, Xuyến lại chạy chấp chới theo triền sông tới khi chiếc ghe khuất dạng mới thôi. Nhớ lại cái cảnh đó, tới bây giờ tôi còn thương.

Không giống như chuyện Mỵ Châu, Trọng Thủy, Sáng đã không còn con vịt nào để rứt lông để lại để tôi với Xuyến lần theo dấu. Vậy mới vất vả.


Anh nhà văn à, anh đi nhiều, nghe truyện, tôi chắc anh lăn lộn trong giới nuôi vịt chạy đồng dữ lắm. Nếu mai nầy anh còn tính đi tiếp, có gặp anh Sáng, nhắn giùm ảnh là vợ chồng tôi chờ ở Rạch Giồng. Hồi đó, Sáng đi là để cho vợ tôi nó khỏi đau đớn, bẽ bàng, để giữ lời hứa muôn năm với ông bà già vợ tôi. Nhưng bây giờ, hết thảy mọi người đều mong anh trở lại, thâm tình cũng như nước dưới sông, có chảy đi đâu, có chém vè ở đâu cũng hợp lại một dòng xuôi chảy mãi./.


Nguyễn Ngọc Tư