Chuyện thật kể về một người
Lính VNCH trước và sau 30 tháng 04 năm 1975.
Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Saturday, March 28, 2026
Nó & Biến Thiên Cuộc Đời - Lê Phi Ô
Những Cánh Dù Không Về Đến Điểm Hẹn - Nguyệt Hằng
Kính tặng các anh chiến sĩ Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù, để hoài niệm đến những cánh Dù không về đến điểm hẹn......
Anh bảo tôi viết lại những kỷ niệm về Tiểu Đoàn 7, về Dương Thuyết Phong , về "Cuối cùng cho một tình yêu"...
Anh Phi thân mến, những năm tháng bình yên nơi xứ người đâu phải
ngắn ngủi, đã gần 30 năm rồi phải không Anh, chiến
tranh đã chấm dứt từ lâu, nhưng mặt trận miền Tây nơi tôi vẫn không... yên tĩnh
nổi.
Thỉnh thoảng tôi vẫn nằm mơ...
Người đi Tây tiến mùa Thu ấy,
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.
Lòng tôi thương nhớ quặn đau khi nghĩ linh hồn Phong còn vất vưởng nơi chiến trường Campuchea xa lạ ấy, người ta nói rằng người chết ở đâu, linh hồn sẽ lẩn quẩn ở mãi nơi đó, như luyến tiếc, như cầu mong cái hình hài ấy thức dậy chuyên chở cho mình về lại kiếp người, để gặp mặt vợ con, thân nhân, bạn bè.
Chiến tranh đi nhanh
và khốc liệt quá, nhiều khi mình không kịp nhận thức được cả tuổi xuân của tụi
mình. Tôi nhìn ảnh Tuấn Phi ngày đó trẻ quá, anh Phong chết khi tuổi đời
chắc cũng độ bằng anh dạo ấy, cũng cấp bậc Thiếu úy, Phong học Trung học
Võ Trường Toản SG, trường sát ngay bên cạnh Trưng Vương. Rồi học năm thứ nhất
ban Khoa học, thi rớt, động viên vào Thủ Đức năm 1968. Về binh chủng Nhẩy Dù, đi
hành quân liên miên, thường vắng nhà đến nỗi, sau khi anh ấy chết, gia đình anh
em xót thương nhưng không cảm thấy trống vắng, đó là sự thiệt thòi của những
người lính ngoài mặt trận, họ vắng mặt nơi mái ấm gia đình quá nhiều nên người
thân cũng quen dần đi. Đâu đó trong tâm tưởng vẫn còn lẫn lộn tưởng chừng như
các anh đang đi hành quân chưa về!!!
Anh Phi ơi, Phong chết tôi không được thấy mặt, nên tôi sống trong hoài nghi đau khổ chập chờn, tôi hy vọng một tối nào đó có tiếng chuông reo cửa của Anh về, tôi hy vọng Anh lạc trong rừng như chuyện kể của những người lính tìm đường về đơn vị sau chiến trận Hạ Lào, sau khi đơn vị đã báo tin chết không tìm thấy xác. Tôi hy vọng ác đức và ích kỷ là xác ấy không phải là Anh Phong mà là của một người nào đó... Tôi chờ đợi mãi, ngày tháng nguội dần, chợt bùng lên như ngún lửa mong manh sau hiệp định ngưng bắn 73, trao trả tù binh đôi bên, tôi mua báo đọc hàng ngày với một hy vọng nhiệm mầu có tên Dương Thuyết Phong trong danh sách trao trả tù binh, ngày qua ngày, tháng qua tháng tiếp nối, và bảng danh sách cứ ngắn dần rồi chấm dứt trong vô vọng. Nỗi trông đợi không tưởng ấy như tôi tự đánh lừa chính tôi. Phong ơi!!!!, dù bạn bè và gia đình Phong xác nhận đúng là Anh đã chết nhưng em vẫn chờ đợi, mỗi một mùi hương, một bài hát là một kỷ niệm nhớ thương. Anh hiền lắm, tụi mình chẳng mấy khi giận nhau, có đôi khi cãi nhau vu vơ, rồi em lại nghĩ ngày phép chẳng có là bao, giận hờn làm chi, giận nhau rồi kẻ ở nhà cũng hối hận, người ra đi cũng chùn bước hoang mang. Hùng Phi cứ nói giỡn với em, “... Anh trở về, viên đạn đồng đen, Em sang sông cho làm kỷ niệm..", em có làm gì cho nó giận không mà Anh cứ thấy nó hát hoài câu ấy nghe rét quá..” Bạn bè trong TĐ7, cấp th/úy, Tr/úy đều biết chuyện, có lần gần ngày thi Tú tài 2, em cúp cua nhiều quá nên bài vở ứ đọng, dịp đó TĐ về SG đóng quân ở Tao Đàn, em phải nhờ Anh giúp, chiều hôm sau em đến tìm Phong, chú lính cười cười, “Thiếu úy mới chép bài cho cô xong rồi, chắc ổng đi uống café bên quán, cô ngồi đợi một chút.” Sau khi anh chết, mỗi lần nhìn lại những trang vở với bút tích của Anh, em không thể nào cầm được nước mắt, nước mắt nhạt nhòa rơi xuống trang giấy, trong bóng đêm em ngậm ngùi mong hư ảnh Anh về, chiếc áo anh mặc cuối cùng em còn giữ, mùi hương vẫn còn đây, nhưng hình hài đã vùi lấp nơi miền gió cát thê lương.
Em không hiểu là Anh có biết mình bị thương, hay cái chết đến quá bén ngọt
đến nỗi Anh chưa kịp nhận thức ra, thì đã vội từ giã cõi đời. Em mong
một lần nào cho em được gặp Anh để hỏi: Anh chết thật rồi sao? Em
không tin là Anh đã xa em...thật xa như vậy!!! Em đi học, những giờ
học trở thành buồn tênh vô nghĩa, em không còn nỗi náo nức nhìn đồng hồ mong
cho sớm hết giờ, em tủi thân khi trên đường nhìn thấy áo hoa nón đỏ đâu đó ở phố
phường... Em có gặp Chuẩn Úy Đàm đứng bâng khuâng nơi đường phố Lê Lợi, một
cánh tay băng vải trắng quàng vai, khuôn mặt ngỡ ngàng của người lính trẻ về
thành phố sau cuộc thử lửa 72 quá kinh hoàng... Sàigòn sống vội sống
cuồng, nhức nhối với tin chiến trận hàng ngày đưa về hậu phương..."Hỡi người
chiến sĩ đã để lại chiếc nón sắt bên bờ lau sậy này"... Không!!! Anh
Phong là người tình bằng xương bằng thịt của em, không phải là ảo ảnh của một
người tình không chân dung!! Em không nghĩ là em đã mất Anh trên cõi
đờì này. Em trông đợi Anh về hằng đêm, em nghe đâu đây tiếng đàn của Anh nơi chỗ
đóng quân vườn Tao Đàn, em nghe mơ hồ bên tai lời Anh hát: "Người
ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi. Tình có ghi lên
đôi môi, Sầu có phai nhòa cuộc đời... "Và em vĩnh
viễn thương tiếc...Những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ. Dù
đã quên lời hẹn hò... Thời hoàng kim xa quá chìm trong phôi pha.
Chờ đến bao giờ tái sinh cho Người..." Vâng, em
chờ, chờ đến bao giờ tái sinh lại cho em một tuổi thanh xuân không ngớt lệ trần vì cuộc
chia tay nghiệt ngã của hai đứa mình.
Anh Tuấn Phi thân mến, những kỷ niệm bao năm ấp ủ, sầu không nguôi, tình không quên, tóc xanh đã phai màu với thời gian, nước mắt vẫn không ngừng rơi khi nhắc đến chuyện của đồng đội Anh, một người trai đã làm tròn bổn phận với núi sông, nhưng lại lỗi hẹn với người tình. Tôi đã đi hết hai phần ba của đoạn đường trần, tôi vẫn còn hoài nghi thắc mắc, có phải chết là hết không? Sao Anh Phong không một lần hiện về trong mơ với hình hài tan vỡ vì mảnh đạn hận thù, để chứng minh với tôi thật sự là Anh đã chết, để tôi yên tâm sống cho hết những ngày cuối đời không day dứt, và chờ gặp lại nhau, nối lại dòng đời của tuổi hai mươi.
Hoài niệm
về Những
Em tiếp tục đi học trường tư, làm thư ký hạng bét cho ngân hàng
Đông Phương và thi đậu tú tài 2, và em lấy chồng không cưới hỏi với một chàng
Thiếu Úy Nhẩy Dù, Sống hùng, Sống mạnh... mà không có sống lâu, chàng tên là
Dương Thuyết Phong, gia đình là dân Công giáo, đạo gốc, gia đình có người làm
linh mục, nên họ quan niệm rất cổ nệ và gia giáo. Ra trường Thủ Đức, Anh Phong
chọn ngay binh chủng Nhẩy Dù rồi Tiểu Đoàn 7, để xa nhà và được sống theo ý
mình.
Lá cờ vàng sọc đỏ phủ quan tài Anh giờ che nắng cho khối đất vô tri ấp ủ hình hài của chàng trai hiền lành không ngoan đạo. Anh nằm đó, bên cạnh người lính truyền tin của anh cùng chết với anh bởi quả đạn pháo kích, anh nằm xuống nước ruộng bùn của xứ Campuchea phủ ngập người anh. Trung Úy Phi chạy đến xốc Anh lên: “Miệng nó còn cười như đang nói chuyện với ai... Tối hôm qua nơi chỗ dừng quân, nằm toòng teng trên võng, tôi còn hỏi nó “mày có thấy lạnh cẳng không Phong?” Bàn tay vỗ lên ngực áo... nó trả lời “tao có bé Hằng đây, đâu có thấy lạnh lẽo gì…”
Anh chết như đi vào giấc ngủ của trẻ nằm nôi. Anh giờ đã
yên phận Anh, còn em thì sao? Người ở lại biết làm gì cho qua những
buổi sáng chờ thư từ mặt trận... 11 tháng làm người yêu lính em chẳng có được mấy
ngày vui, dăm bẩy buổi ciné chạy trốn giả tạo vào Đất trời Phương Tây bình yên
và tự do trong phim xứ người, một vài lần đi nghe nhạc Trả lại em yêu con đường
học trò... với nhiều luyến tiếc, những quán cà phê thịnh hành với lời nhạc Anh
trở về dang dở đời em, Ta nhìn nhau ánh mắt không quen... Không! Ta đã không
còn được nhìn nhau nữa. Số phận đã chia em và Anh mỗi người một nơi, người đi về với
lòng đất vô thức, kẻ ở lại với quay quắt nhớ thương từng kỷ niệm của tháng ngày
đã qua. Em không còn nước mắt để khóc cho anh, em không còn nước mắt để khóc
cho em, một người con gái nhẹ dạ của thời chiến tranh: Túy
ngoạ sa trường quân mạc vấn, cổ lai
chinh chiến kỷ nhân hồi....
Xưa nay chiến trận có
mấy ai về Phong ơi!! Đứng bên cạnh mộ Anh, em không được vật vã khóc như những
người vợ tử sĩ khác, em không được khóc ngã qụy với thân nhân dìu đỡ hai bên. Em
một mình can đảm khóc ngậm ngùi cho sự chia tay quá ngắn
ngủi của tụi mình, em ngước mặt nhìn trời giấu lệ với mọi người, em oán ai bây
giờ!!! Trời cao rất cao, trời xanh rất xanh, nơi khoảng trời trong xanh ấy có
thấy chăng một cánh dù bay mãi không về điểm hẹn Delta, bỏ lại nơi đây cuộc
tình dang dở của mình em, những tưởng được làm lại cuộc đời, chỉ xin một cuộc đời
tầm thường của người vợ lính như bao người khác mà trời chẳng chịu thuận cho.
Liên tiếp 3 năm, để làm tròn một lời hứa, thứ bảy hàng tuần, em một mình đem
hoa lên nghĩa trang Quân Đội, em thắp một tuần hương, em nhổ cỏ dại quanh mồ,
đôi khi em chập chùng với ý nghĩ mình đến đây để làm gì, em tiếc thương anh, điều
ấy không hề phủ nhận, hay em tội nghiệp em còn lại bơ vơ những ngày tháng chẳng
biết làm gì, hay là em "kên" đời thách thức với gia đình anh đã không
chấp nhận em, nên giờ em làm cho nư giận để Chứng Minh tình yêu của em??? Có
khi em lên thăm mộ, gặp lúc gia đình Phong cũng lên thăm, em phải tránh mặt ngồi
xa xa ngồi nhờ nơi ngôi mộ khác, người sống còn có thể đứng trú mưa nhờ nhà người
lạ, đến thăm kẻ chết rồi có còn gì đâu, nhưng em vẫn phải tìm chỗ tránh mặt nơi
ngôi mộ một người không quen...
Những ngôi mộ mới vẫn tiếp nối nhau không phân biệt quan, lính,
những lá cờ Vị quốc Vong thân rồi cũng dãi dầu với nắng mưa ngày tháng, và
em... vẫn một mình lầm lũi đi cho hết đoạn đường trần.
Nguyệt Hằng
Friday, March 27, 2026
Đi Tìm Nhân Cách Đã Mất Của Người Việt - Trần Thành Nam
Hôm nay, trong bài giảng cho những người trẻ về niềm
tin vào con người từ đâu ra – đó là từ những gì họ đã làm trước mắt chúng ta hoặc
cho chúng ta, tôi đã kể lại câu chuyện mình đánh mất niềm tin vào nhân cách người
Việt như thế nào, và từ đó tôi đã phải đi tìm nhân cách người Việt đã bị đánh mất
ra sao?
Câu chuyện bắt đầu cách đây hơn ba mươi
năm. Năm đó, tôi vừa tốt nghiệp cao học kỹ thuật và kinh tế từ Đông Âu, về nước.
Đó là những năm tháng gian khó đặc biệt của đất nước ta dù đã hòa bình, đã sau
chiến tranh nhiều năm, do những sai lầm trong cơn say chiến thắng và sự ngu muội
của “những ngừơi thắng cuộc” chiến là chính những người như ông cha tôi và đồng
đội của họ…
Đối với tôi, đó cũng là những năm tháng mà
tôi phải đấu tranh nội tâm cam go nhất về việc chọn hướng đi cho cả cuộc đời
mình, để sống sao cho ý nghĩa và đáng sống, “để đến khi nhắm mắt xuôi tay có
thể nói rằng tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp
nhất trến đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. ” Vâng, tôi vẫn
thuộc lòng câu đó của Ostrowski qua nhân vật Pavel Korchagin trong cuốn “Thép đã tôi thế đấy”…
Trước đó, cả cuộc đời tôi đã được xắp đặt
trước, rõ ràng: học giỏi, về cống hiến cho đất nước - như với tất cả bạn bè
tôi. Nhưng, khoảng 80% lứa du học sinh chúng tôi đã quyết định không về nước…
Tôi nằm trong số 20% còn lại, đang phân vân… chính vì cái anh chàng Pavel trong
tôi đó!
Lùi lại một chút, thế hệ chúng tôi là thế
hệ lớn lên trong chiến tranh, đã biết rõ, thấy rõ, chứng kiến bom đạn là gì, đổ
xương máu hay mất mạng sống trong bom đạn chiến tranh đó là như thế nào. Và được
học, được sống là một hạnh phúc lớn lao như thế nào.
Từ khi vào lớp 1 chúng tôi đã phải đi học
ban đêm bằng những cái đèn dầu con con, và phải tự đào hào và hầm cá nhân cho
mình để tránh bom, mỗi đứa phải đào 1 mét hào chung và một cái hầm cá nhân của
mình – thầy cô giáo phân công và chỉ chỗ rõ ràng, từng đứa từng chỗ…
Nhưng những đứa trẻ 6-7 tuổi còn thò lò
mũi, cao chưa bằng cái cuốc cái xẻng ấy làm sao đào được hào và hầm (thường sâu
trên 1 mét, rộng 60 đến 80 phân) cho mình?
Thầy cô không quan tâm điều đó, chỉ nói gọn:
đó là “chỉ tiêu” của các em. Tôi hỏi; “Thưa cô, chỉ tiêu là gì ạ? ” Cô
nói: về nhà hỏi bố mẹ! Và đúng là bố mẹ tôi và các bậc phụ huynh đều rất hiểu
chỉ tiêu là gì…
Đến lớp 4 chúng tôi đã tự đào cả lớp học
và hầm hào cho mình, lớp 7 chúng tôi xung phong đi bộ đội và nhiều bạn bè tôi
đã vào thẳng thành cổ Quảng Trị để không bao giờ về học tiếp, cấp 3 chúng tôi
chứng kiến trận chiến B52 trên không, lớp 10 quá nửa bạn bè lớp chúng tôi tham
gia chiến dịch 1975…
Chúng tôi không được đi bộ đội (dù đã tình
nguyện) vì một lý do: học giỏi. Vì thế, học xong là phải trở về cống hiến hầu
như là câu trả lới tất nhiên và bắt buộc đối với tôi. Nhưng sự thực đất nước những
năm tháng đó và sự thực đại đa số bạn bè tôi đã quyết định ở lại trời Âu, với một
sự thực nữa: những gì đã và đang xảy ra với chế độ cộng sản trên các nước Đông
Âu đó, đã làm “con người lý tưởng” hay “cỗ máy Pavel-hồng vệ binh” trong tôi chao
đảo khủng khiếp.
Ở lại hay về nước? Tôi đã về phép với quyết
định được ở lại thực tập sinh thêm 3 năm trong tay, tức là cánh cửa trở lại trời
Âu rồi ở lại đó của tôi vẫn còn mở…
Nhà tôi ở Tp. HCM. Ba tôi, một cán bộ tập
kết và một người cộng sản kiên cường, đang tại chức, khuyên tôi nên trở lại “học
tiếp”. Đó là một bất ngờ, vì tôi thì muốn về đi làm và…”cống hiến”, và tôi cứ
nghĩ ba tôi cũng muốn vậy. Mọi chuyện còn tạm chưa quyết định, và tôi ra Bắc về
thăm quê Ngoại, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Đã có một chuyện rất nhỏ xảy ra
trong chuyến đi Bắc đó làm tôi quyết định dứt khoát quay trở lại Đông Âu.
Tôi và mẹ tôi ra Bắc bằng tàu liên vận.
Hai mẹ con ngồi ở khoang ghế cứng. Vì là tầu chậm, nó đỗ ở tất cả mọi ga và làm
tôi rất thích thú. Ở mỗi ga, khoang tàu biến thành cái chợ hay hàng ăn, tùy vào
thời điểm. Ngoài sự nghèo đói, lộn xộn, mất vệ sinh và nói chung là kém văn hóa
là đặc trưng của những gì xảy ra trên chuyến tàu đó hay cho cả đất nước ta thời
đó, điều tôi nhớ nhất và thất vọng vô cùng là: từ Nam ra Bắc tôi hầu như không
thấy một nụ cười trên gương mặt một ai cả…
Ở một ga miền Bắc Trung bộ, tôi không nhớ ở
đâu, hình như ở xứ Thanh, có một cô bé khoảng 14-15 đội lên tàu bán một rổ tép
khô. Do đông người đi lại bán hàng va chạm, rổ tép khô của cô bé bị rơi đổ hết
xuống sàn tàu, ngay trước mắt tôi và cách chỗ tôi ngồi chừng 1-2 mét.
Cô bé hốt hoảng lo sợ, luốn cuống quì xuống
gom vội tép lại. Theo bản năng “ga lăng”, tôi lao ngay ra giúp cô bé vơ tép khô
lại thành từng đống nhỏ. Cùng lúc đó, nhiều người xung quanh cũng đều xông vào,
đa số cũng là những người bán hàng trên tàu như cô bé, xúm lại làm như tôi: vơ
tép khô của cô bé gọn lại. Tôi cười nhìn mọi người và nghĩ: “Ồ, mọi người tốt
quá! Thế mà mình đã nghĩ dân ta bây giờ không yêu quí nhau như trước nữa…”
Chưa kịp nghĩ hết ý trên thì tôi đã đớ người
ra khi nhìn thấy mọi người không bốc tép khô vào rổ cho cô bé như tôi mà cho
vào những cái túi riêng của họ! Một loáng, sàn tàu đã sạch trơn không còn tí
tép khô nào! Và mọi người thản nhiên bỏ đi với những túm tép khô vơ vét được của
họ, như không có gì xảy ra…
Tôi chẳng thấy nét mặt ai mừng rỡ hay buồn
hay ái ngại gì cả, bình thường… Còn cô bé đứng dậy co dúm thút thít khóc bên cạnh
rổ tép khô nay chỉ còn một vốc. Tôi cứ đứng bên cạnh cô bé, ngơ ngác và lòng
rưng rưng với nắm tép khô còn chưa kịp đưa vào rổ của cô bé, và không hiểu tại
sao mọi người làm như thế! Còn những hành khách trong toa tàu, trong đó có mẹ
tôi, đã chứng kiến toàn bộ chuyện đó, cũng làm ngơ, không ai phản đối gì, cho
là chuyện bình thường…
Cho đến hôm nay tôi vẫn còn khinh ghét con
người mình vì lúc đó đã không làm được việc mình muốn làm nhất là gào thét lên:
“Mọi người! Hãy trả lại tép khô cho cô bé! ”
Cho đến hôm nay, cái câu không được hét ra
ấy vẫn cứ vang lên mãi không tha trong đầu tôi: “Hãy trả lại tép khô cho cô
bé! ”
Để rồi, tôi không còn muốn trở về nước làm
việc để “cống hiến cho đất nước” nữa. Bởi vì, từ hôm đó, ngay lúc đó, một điều
gì lớn lao đã đổ vỡ trong tôi. Tôi đã mất niềm tin vào nhân cách người Việt,
qua những gì tôi chứng kiến và trải nghiệm.
Sự kiện nhỏ đó đã làm tôi mất niềm tin vào
nhân cách người Việt. Tôi không thể tự hào là người Việt nữa. Tôi quyết định
quay lại trời Âu để “học tiếp” theo lời khuyên của ba. Thực sự, đó là một cuộc
bỏ chạy của tôi. Nhưng tôi lại sợ mình sẽ chạy mãi. Sẽ không bao giờ quay trở lại
đất nước này nữa.
Thế là tôi đưa ra một quyết định sai lầm lớn
đầu tiên trong đời. Tôi nói: “Mẹ ơi, con muốn lấy vợ trước khi con quay lại
thực tập tiếp”. Mẹ tôi bị bất ngờ, hỏi: “Tại sao con quyết thế? ” Tôi
nói: “Nếu không lấy vợ thì chắc con sẽ ở lại, không bao giờ về nước nữa?”.
Ngày đó, quyết định học xong ở lại là quyết
định giải thoát lớn lao, giống như người vượt biên vậy, xã hội coi là những kẻ
phản bội, và ai cũng biết ở lại bên đó là chấp nhận xa gia đình mãi mãi, vì hạnh
phúc của những người ra đi.
Ngay trong đợt về phép đó, tôi đã mang quà
về gia đình cho mấy thằng bạn thân đã quyết định ở lại bên ấy, thấy gia đình
chúng nó bị xã hội ghẻ lạnh phải nghỉ việc, bán nhà chuyển chỗ ở, thấy bố mẹ
chúng nó tiếp tôi và nhận quà của con mình gửi về mà phải đi báo công an phường
đến chứng nhận… tôi khiếp quá. Nhưng nay tôi đã quyết quay trở lại châu Âu, và
để ngỏ khả năng ở lại bên đó vĩnh viễn… chỉ vì chứng kiến rổ tép khô bị đổ của
cô bé trên tầu…
Sau khi nghe nói tại sao tôi phải lấy vợ,
mẹ tôi không hỏi gì nữa mà nhất nhất làm theo ý tôi. Bà sợ “mất” con trai hoàn
toàn.
Lúc đó, người tôi yêu, rất yêu thì không
yêu tôi, còn người rất yêu tôi thì tôi chỉ quí trọng. Cả hai đều là bạn học, bạn
thân của tôi thời phổ thông bom đạn. Tất nhiên, tôi chỉ có thể và nói mẹ xin cưới
cho mình người thứ hai. Và ba năm sau thời gian thực tập sinh, tôi đã trở về nước
làm việc, sống với người mình đã cưới vội để thả neo đó. Cái neo đó đúng là đã
giữ tôi không phiêu bạt giang hồ. Nhưng đó là câu chuyện khác…
Câu chuyện chính ở đây là… những cái rổ
tép bị cướp đi kia!
Mấy chục năm nay, sống trên đất nước XHCN
này, chuyện những người đi đường vô tình bị rơi bịch tiền vung vãi ra và bị mọi
người xông vào cướp trắng hết… đã là bình thường, nhưng những giấc mơ và câu
hét “Mọi người! Hãy trả lại tép khô cho cô bé! ” vẫn cứ vang lên trong tôi.
Và tôi hiểu, đó là tôi vẫn còn đang đi đòi
lại cho tôi nhân cách đạo đức người Việt ngày xưa mà tôi từng biết. Tại sao nó
bị mất đi? Làm sao cho nó quay trở lại với người Việt? Tôi có tìm lại được niềm
tin vào nhân cách người Việt như xưa nữa hay không?
Đó là câu hỏi tôi đã thảo luận với các bạn
trẻ sáng nay.
Tôi tin là có. Dù điều đó không dễ, và
không nhanh được, nhưng rồi cũng sẽ tới ngày...
Những hạt giống độc hại nào đó đã nẩy mầm
sau chiến tranh, nhưng đã được gieo từ lâu trước đó vào văn hóa dân tộc, chỉ là
hồi bé tôi không nhận ra những rổ tép khô bị hất đổ và cướp mất mà thôi.
Và bây giờ nó đã là rổ tép khô của tôi rồi.
Mọi người! Hãy trả lại rổ tép khô cho tôi!
Thursday, March 26, 2026
Nắm Tay Lại Và Xòe Tay Ra
Và thế là
tôi gồng mình lên mà chạy.
Những ngày
tháng đó, nghĩ lại vẫn thấy mệt, thật sự đấy. Có những bữa cơm ăn mà không thấy
ngon, có những đêm đặt lưng xuống mà đầu óc vẫn toan tính, suy nghĩ liên miên.
Tôi mải miết
đuổi theo những điều ở phía trước, mà quên mất những thứ bình dị đang ở quanh
mình.
Đến một
lúc, tôi nhận ra mình có nhiều thứ hơn ngày xưa, nhưng trong lòng lại trống rỗng
và bất an hơn. Bàn tay tôi nắm chặt đến mỏi rã rời, mà bên trong, hóa ra lại chẳng
có gì.
Tôi gặp lại
người bạn cũ. Ngày xưa cậu ấy tài giỏi, đầy hoài bão. Giờ cậu mở một tiệm sách
cũ nhỏ ở quê. Tôi hỏi, có tiếc những ước mơ ngày cũ không. Cậu cười, cái cười
thật hiền: “Hồi xưa mình cũng muốn trèo lên cao lắm. Nhưng càng trèo, càng thấy
ngột ngạt. Giờ mình không muốn gì nhiều. Sáng thức dậy thấy lòng yên, tối về ngủ
một giấc không mộng mị. Với mình, vậy là đủ rồi.”
Nhìn nụ cười
của ông, tôi chợt hiểu ra một điều mà trước giờ mình chưa hiểu. Hạnh phúc của họ
không đến từ việc “có thêm”, mà đến từ việc “thấy đủ”. Cái giàu của họ không nằm
trong túi, mà nằm trong lòng. Từ đó, tôi bắt đầu tập một thói quen mới. Tập bớt
“mong” đi một chút.
Hành trình
này không dễ dàng. Nó không phải là buông xuôi, mặc kệ. Tôi vẫn làm việc của
mình mỗi ngày, vẫn cố gắng hết sức. Nhưng tôi học cách không đòi hỏi cuộc đời
phải diễn ra đúng như kịch bản mình viết.
Tôi làm phần
việc của người nông dân: cày cuốc, gieo hạt. Còn chuyện mưa nắng thế nào, tôi học
cách đón nhận. Mùa màng tốt thì biết ơn, thất bát cũng không quá oán than. Và lạ
lùng thay, khi lòng tôi bớt đòi hỏi đi, nó dường như rộng ra.
Cái tâm
mình, có lẽ nó cũng giống như mảnh đất. Ngày trước, tôi cắm đầy cọc rào của sự
“phải có”, nên chẳng còn chỗ cho thứ gì khác mọc lên. Giờ tôi thử nhổ bớt những
cọc rào đó đi. Mảnh đất ấy lại sẵn sàng đón nhận tất cả: một cơn mưa bất chợt,
một hạt giống lạ theo gió bay về. Đến hay đi, được hay mất, tôi học cách nhìn
nó như một phần của tự nhiên.
Bây giờ, tôi bắt đầu nghe được tiếng chim hót sau vườn, thấy được màu hoa dại ven đường, cảm nhận được hơi ấm của nắng sớm. Những thứ đó trước giờ vẫn luôn ở đấy, chỉ tại lòng tôi bận quá, bàn tay tôi nắm chặt quá, nên không cảm nhận được đó thôi.
Một đời
người, có lẽ cũng chỉ là một chuyến đi. Đến cuối cùng, chẳng ai mang theo được
gì. Tôi chỉ mong tâm hồn mình, khi kết thúc hành trình, sẽ là một tâm hồn đã học
được cách sống nhẹ nhàng.
Cuộc sống của
tôi dần nhẹ đi, không phải vì gánh nặng trên vai biến mất, mà vì tôi đã học được
cách đặt nó xuống.
Tôi không dám nói mình đã hiểu hết. Tôi chỉ biết rằng, khi bàn tay nắm lại thì mỏi, mà khi thử xòe ra, thì lại thấy lòng mình nhẹ tênh.
An Hậu
Truyện Ngắn Thái Bá Tân
TIÊN SƯ THẰNG CHIẾN TRANH
Một cô
thanh niên xung phong bị phát hiện đang lén lút làm cái việc “tự sướng” bên con
suối nhỏ sâu trong rừng.
Suốt ba
đêm liền, từ sau bữa ăn tối cho đến gần sáng, cô bị đồng chí của mình, toàn nữ,
kiểm điểm gay gắt và không ngớt lời sỉ vả. “Ghê tởm, thật ghê tởm!” “Một biểu
hiện suy đồi đạo đức!” Một hành động bêu xấu hình ảnh người chiến sĩ cách mạng,
đi ngược với lý tưởng và lối sống cách mạng tốt đẹp!” “Xử bắn con đĩ tư sản thối
nát ấy đi!”. Vân vân.
Sang ngày
thứ tư, không chờ đồng đội xử bắn, “con đĩ tư sản thối nát” ấy đã treo cổ tự tử
trên cành cây bị bom chặt đứt một nữa.
Chủ trì
và cũng lớn tiếng sỉ vả nhất trong ba đêm đấu tố ấy là cô Duyên. Đơn giản vì cô
là đội trưởng đội thanh niên xung phong ấy. Duyên là người làng tôi, thậm chí
suýt thành chị dâu, nếu anh trai con ông bác tôi không hy sinh ở Quảng Trị năm 68.
Tự cô kể tôi nghe chuyện này khi hết chiến tranh trở về nhà.
“Tội nghiệp
nó! Người ta bảo thì bọn chị phải làm thế chứ thương lắm!” cô nói, rơm rớm nước
mắt. “Khối đứa như nó. Chị biết”.
“Cả chị?”
tôi hỏi.
Ngập ngừng
một lúc, chị nói, giọng thách thức:
“Thì sao?
Chị không là người chắc? Cả bầy con gái thui thủi một mình trong rừng không một
mống đàn ông suốt mấy năm trời! Đơn vị chị thì không, nhưng nghe nói ở Đrao,
Tây Nguyên, có mấy chục đứa phát cuồng, lúc ôm nhau cười mãi không thôi, lúc xé
hết quần áo kéo chạy tồng ngồng gữa rừng như những con điên.
Mắt chị lại rưng rưng.
Về làng
được bốn năm, do lỡ thì, và cũng do chẳng còn đàn ông nào nữa mà lấy, chị Duyên
xuống tóc đi tu, ở ngay Chùa Mít bên sông Bùng. Vợ chồng bác tôi thương lắm,
nhưng chẳng can ngăn. Trong thâm tâm hai cụ vẫn coi chị là con dâu. Có người nói
chị bị ai đó trên tỉnh lừa tình. Chuyện này thì tôi không rõ, mà cũng chẳng
quan trọng. Tôi chỉ thấy ngỡ ngàng, thậm chí đau nhói trong ngực khi hình dung
chị dâu hụt của tôi, - một người xinh đẹp, yêu đời, từng nhiều năm làm đội trưởng
đội văn nghệ xã, - lại tự nguyện giam mình trong ngôi chùa hiu quạnh, đổ nát, với
bộ quần áo màu nâu nhà Phật. Mấy ngày sau, tôi đến tìm chị, định hỏi cho ra
chuyện, nhưng tôi đã không vào chùa khi đứng từ xa nhìn thấy chị đang thẫn thờ
đưa chổi quét đi quét lại cái sân vốn đã sạch.
Lặng lẽ
ra về, tôi cố lý giải mà không lý giải nỗi cái gì đã biến một cô gái tươi vui,
hồn nhiên, tràn trề hạnh phúc và xứng đáng được hưởng hạnh phúc thành một người
yếm thế, bất hạnh như vậy.
Chiến
tranh? Phải chăng đây là cái giá của chiến tranh?
Bẵng đi
nhiều năm, tôi lại vào chùa Mít.
Nó vẫn thế.
Hai cây nhãn trước chùa vẫn thế, và vẫn thế, chúng không chịu cho quả.
Đang vắng
người, tôi vào thẳng phòng riêng sư trụ trì, sư thầy Đàm Duyên. Sư thầy chứ
không phải sư cô như ngày nào.
“Chào chị
Duyên,” tôi lên tiếng, không hiểu sao còn cố tình nói to.
“Mô phật.
Xin xưng hô với kẻ tu hành này theo đúng cách của nhà phật. Chào chú.”
Đứng chắp
tay trước mặt tôi, đầu hơi cúi, là một bà già nhỏ bé, khô đét và không còn tí dấu
vết nào của cô Duyên ngày xưa cũng như sư cô Đàm Duyên sau đó tôi gặp. Nét mặt
bà không chỉ vô cảm mà bất động như được nặn bằng sáp. Cái đầu trọc bóng loáng
cũng có lớp sáp nhờn nhợt ấy.
Bất giác,
tôi chợt nghĩ: “Nếu không trọc, không biết tóc chị sẽ bạc đến đâu?”
“Chị khỏe
chứ?”
“Mô phật.”
“Người ta
nói nay mai chùa Mít bị đập bỏ để xây đường lớn lên Đô Lương và sang Lào?”
“Mô phật,”
và chị khẽ cúi đầu.
“Thế chị
và mọi người đi đâu?”
Sư thầy
Đàm Duyên không đáp. Chất sáp trên mặt và cái đầu trọc của bà càng trở nên rõ
nét hơn. Hình như bà đang khóc, dù đôi mắt sâu vô hồn vẫn ráo hoảnh.
Lát sau tôi bỏ về, vô cớ hậm hực với ngôi chùa tội nghiệp sắp bị phá bỏ, với
hai cây nhãn xum xuê mà không chịu cho quả. Với cả chính tôi vì mãi vẫn lấn cấn
tìm lời giải thích cho số phận chị dâu mình và những người như chị.
Chiến
tranh! Ừ, chiến tranh! Tiên sư thằng chiến tranh!
Tôi thấy
có cái gì nghèn nghẹn trong cuống họng, muốn văng tục chửi ai đó, đập phá cái
gì đó mà không được. Chửi cái thằng gây ra chiến tranh chẳng hạn. Tiên sư thằng
gây ra chiến tranh!
Đừng nói
với tôi về chiến tranh bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa. Tôi đã đủ khôn lớn để hiểu
rằng cái cuộc chiến tranh ấy, nếu quả là bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa như người
ta nói, cũng chẳng là gì nếu nó là thủ phạm của hàng triệu cái chết dân Việt,
hàng chục triệu cuộc chia ly đau đớn, thủ phạm của một sự đảo lộn triệt để các
giá trị truyền thống dân tộc. Nó trở thành nhảm nhí khi vì nó các cô gái của
chúng ta phải “tự sướng” và tự treo cổ, khi một người trẻ trung, tươi vui và
tràn trề nhựa sống như chị Duyên của tôi phải biến thành một hình sáp vô hồn.
“Ừ, mà nếu
không cạo đầu, tóc của chị sẽ bạc đến đâu nhỉ?”
14. 11.
2011
https://www.facebook.com/tan.thaiba/posts/846396622127281
CÔ GÁI MÙ
Đó là
một cô gái xinh đẹp, nhỏ nhắn, với chiếc cổ trắng thon dài, mái tóc
xoăn tự nhiên có màu nâu vàng nhạt, chắc cũng tự nhiên. Khuôn mặt cô
hao hao giống Đức mẹ Đồng trinh ta thường thấy trong nhà thờ. Ở cô
toát lên một sự hiền dịu và sạch sẽ đến mức thánh thiện.
Chỉ
tiếc cô mù. Cũng có thể vì mù, không phải chứng kiến bao cảnh bẩn
thỉu của cuộc đời nên cô có được sự hiền dịu và sạch sẽ thánh
thiện ấy.
Tiếc nữa là cô nghèo, và phải tự kiếm sống nuôi mình.
Hàng
ngày, từ sáu giờ sáng người ta đã thấy cô ngồi bán hoa bên cột đèn
điện ở góc một con phố nhỏ yên tĩnh. Con chó bé xíu màu vàng dắt
cô đi về hàng ngày ngồi bên, hếch mõm, nghiêng đầu nhìn mỗi lần có
khách dừng lại mua hoa. Nó khôn lắm, chăm chăm nhìn khách đếm tiền,
và biết sủa hai tiếng chép chép khi khách quên hay chậm thanh toán.
Khu phố
này nghèo, người dân lam lũ, nhưng vì hoa rẻ và chắc muốn giúp cô
gái mù dễ thương nên người ta vẫn mua hoa của cô. Nhiều người cẩn
thận chọn hoa, trả tiền xong lại lặng lẽ đặt vào chỗ cũ. Cô gái
không nhìn thấy, chỉ mỉm cười cảm ơn. Con chó thì biết, nhưng nó im,
ngoe nguẩy cái đuôi ngắn tũn. Cây cột điện bê tông đầy giấy dán quảng
cáo và những dòng chữ bậy bạ đỡ trơ trẽn hơn nhờ nó. Nhờ chủ nó,
người dân ở đây, trong đó có vợ chồng tôi, hình như cảm thấy đời đẹp
hơn và ấm áp hơn chút ít.
Mọi việc cứ thế đều đều diễn ra, lặng lẽ, bình dị
và quen thuộc.
Bỗng
một hôm không thấy cô gái mù bán hoa cùng con chó nhỏ của cô. Hôm sau
mọi người nhốn nháo bàn tán. Hôm sau nữa thì cả phố xếp hàng đưa
tang cô. Cô gái xinh đẹp, tội nghiệp ấy đã bị ai đó cưỡng hiếp rồi
giết chết, vứt xác xuống hồ Thanh Nhàn ngay giữa trung tâm thành phố.
Vợ
chồng tôi theo đám đông cùng lặng lẽ đưa tiễn cô. Mọi người cúi mặt
bước đi, xấu hổ với cảm giác bất lực không bảo vệ được cô khỏi cái
ác đang ẩn nấp đâu đó ngay trong cộng đồng mình. Sao người ta nỡ cướp
đi mạng sống của một thiên thần vô hại như cô? Sao người ta nỡ tước đi
của chúng tôi một trong số những bông hoa hiếm hoi mang chút hơi ấm cho
cuộc đời lạnh lẽo này?
Không
còn cô, con phố trở nên vắng hẳn. Hình như rác bụi cũng nhiều hơn.
Không
còn cô, con chó nhỏ trở thành chó hoang, để lại cây cột đèn bê tông
một mình không bạn. Nó sẽ phải tự vật lộn kiếm sống, cạnh tranh
với những con chó hoang như nó nhưng lọc lõi và độc ác hơn. Hơn nữa,
nó còn phải luyện chạy thật nhanh, nhìn thật rõ để khộng bị người
ta bắt làm thịt. Tội nghiệp nó. Nếu biết suy nghĩ và viết văn như
tôi, liệu nó sẽ nghĩ và viết gì nhỉ?
Ai đó
đặt chiếc bàn thờ nhỏ bằng gỗ ọp ẹp lên chỗ cô gái mù vẫn hàng
ngày thường ngồi bán hoa. Trước nén hương nghi ngút khói là hoa, rất
nhiều hoa màu trắng.
Cô trao
cho đời những bông hoa đẹp đủ màu, giờ nhận được chỉ toàn hoa màu
trắng.
16. 11.
2011
NHỤC
Hay tin,
ông bỏ cả việc đang làm giở ở Sài Gòn, vội vàng bay ra Hà Nội.
Vừa đặt
va-li xuống nền nhà, ông cao giọng hỏi vợ:
“Làm sao
mà người ta trả lễ?”
“Vì con
ông làm công an.”
“Công an
thì sao mà trả lễ?”
“Ông đi
mà hỏi người ta ấy.”
“Nhưng
trước đồng ý, người ta đã biết nó là công an rồi cơ mà?”
“Tôi biết
đâu đấy. Sao ông cáu với tôi?”
“Nhục!”
*
Con trai
ông và con gái gia đình ông giáo phố bên học cùng nhau từ bé rồi yêu nhau và định
lấy nhau. Cả hai đều ngoan, lại môn đăng hộ đối, tưởng chẳng còn gì nữa phải
bàn. Thế mà khi nghe tin con ông vào Học viện công an, gia đình ông giáo có ý
ngãng ra. May hai đứa yêu nhau thực sự nên cuối cùng cũng xuôi xuôi, và tuần
trước họ đã đồng ý cho làm lễ dạm hỏi. Thế mà bây giờ... Trả thì trả, thành phố
này thiếu gì con gái! ông nghĩ. Đành là thế, nhưng ông thấy bị sĩ nhục. Một gia
đình như ông, với một thằng con hiền lành, tử tế như con ông mà bị trả lễ thì
thật nhục. Hàng xóm sẽ khối anh được dịp đơm đặt.
Tối đến,
ông gọi riêng con trai ra một chỗ, hỏi chuyện.
“Lý bảo bố
mẹ cô ấy lần này làm căng, dứt khoát không chịu.” Anh con nói.
“Vì sao?”
Anh ta im
một lúc mới đáp:
“Vì có ai
đó nhìn thấy con hôm công an dẹp vụ cưỡng chế đất ở Cống Bầu.”
“Con ở đấy
thật à?”
“Vâng.”
“Tưởng
con lính văn phòng không phải làm những việc đó...”
“Bây giờ
cần là người ta điều hết.”
“Thế con
làm gì ở đấy?”
Anh con
ngước mắt nhìn bố, vẻ ngạc nhiên:
“Làm những
việc công an phải làm với bọn phản động. Bọn bị các thế lực thù địch kích động
làm loạn...”
Đến lượt
ông bố dướn mắt ngạc nhiên:
“Con có
đánh người ta không? Thậm chí nổ súng?”
“Con thì
không, vì chưa cần.”
“Còn nếu
cần?”
Anh con
không trả lời.
“Hôm dẹp
mấy vụ biểu tình chống Tàu con có tham gia không?
“Có.”
“Có đánh
ai không?”
“Không.
Chỉ xô đẩy. Mà bố hỏi kỹ thế làm gì nhỉ? Đấy là việc của con. Nhiệm vụ của
chúng con là bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân.” Anh con thậm chí
cao giọng, là việc xưa nay ông chưa từng thấy, vì nó vốn là đứa hiền và ngoan
nhất nhà.
Rồi anh
ta nói thêm:
“Trước bố
đi bộ đội, cũng để bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước và nhân dân như con bây giờ
thôi. Việc bố xưa bố làm. Việc con nay con làm. Thế cả.”
Ông thấy
vương vướng trong cuống họng.
“Không,
khác hẳn. Xưa bố đánh giặc, đánh Mỹ. Nay chúng mày đánh nhân dân. Xưa nhà nước
lấy đất người giàu chia cho người nghèo. Giờ thì ngược lại.”
Ông định
nói thế. Thậm chí định tát và mặt thằng con của mình, nhưng nghĩ thế nào, ông
im lặng bỏ vào phòng mình.
*
Ông nằm
ngửa, mắt nhìn trân trân lên trần nhà.
Vậy là
con ông đã thay đổi. Trong nhà với bố mẹ có thể nó vẫn như xưa, nhưng ra ngoài
thì đã khác. Mà chỉ sau mấy năm học ở trường cảnh sát. Người ta đã dạy cho nó
những gì nhỉ? Chắc các ông thầy ở đấy phải giỏi lắm mới thuyết phục được nó tin
mấy ông bà nông dân chân đất mắt toét và mấy vị trí thức già yêu nước là phản động
để xô đẩy và đánh họ. Hay đạp vào mặt họ. Hay thậm chí có thể bắn họ. Lúc nãy
nó chẳng bảo “chưa cần” đấy thôi.
Láo! Nhục!
Hôm sau,
ông nhẹ nhàng bảo vợ:
“Thôi, bà
ạ. Người ta đã muốn thế thì mình cũng im đi cho xong. Chắc họ phải có lý do của
họ. Nhục cũng phải chịu chứ biết làm thế nào.”
Bà vợ ông
chỉ hiểu chữ “nhục’ theo nghĩa bẽ bàng với hàng xóm chứ không biết ông hàm ý
cái nhục khác còn lớn hơn.
Thái Bá Tân
.jpg)








