Tôi là trai út, nhỏ nhất trong
nhà. Ba tôi mất vài tháng trước khi tôi được sinh ra. Măng tôi buộc phải dấn
thân bên ngoài buôn bán kiếm tiền nuôi đàn con dại 6 đứa. Anh đầu tôi vừa qua
11 tuổi, được các cha Đan Viện Thiên An, Huế, nhận vào học nội trú. Chị lớn của
tôi, bấy giờ mới 9 tuổi, đang học tiểu học ở trường Đồng Khánh, đã phải gánh
vác trọng trách coi trong ngó ngoài. Mỗi xế chiều, trên đường đi học về thường
ghé chợ Bến Ngự để mua thức ăn với giá rẻ trước khi chợ vãn, rồi phụ với o người
làm nấu nướng. Ngoài chuyện theo dỏi học hành của 3 người em kế mình, Chị còn
phải lo săn sóc tôi trong những năm đầu tiên. Tôi nghe kể lại, những khi tôi
khóc vì đói mà Măng tôi không có nhà, Chị vội bồng tôi sang nhà Cô tôi ở gần
đó, xin cho tôi được bú vú chung với con trai của Cô cùng lứa tuổi tôi. Chị bồng
ẳm tôi, cho tôi ăn, ru tôi ngủ, tắm rửa cho tôi, may quần áo từ đồ cũ cho tôi mặc
theo kiểu may cho búp bê tuy với cở lớn hơn.
Khi tôi bắt đầu có trí nhớ và đã biết
loanh quanh chạy chơi một mình, Chị vẫn thường dẫn tôi đi tè ngoài sân cỏ bên
hông nhà trước khi ngủ đêm, và đôi khi còn cầm đèn manchon dẫn tôi ra tận cầu
xí ở vườn sau vì tính sợ rắn và sợ ma kinh niên của tôi. Trên bộ ván kê sát cửa
sổ, tôi được nằm giữa Măng và Chị. Vào những đêm trăng, tôi nằm nghiêng hướng về
cửa sổ, theo dỏi mặt trăng khi sáng trong, khi lu mờ vì mây. Bóng cây bên ngoài
và của các song cửa từ từ xoay chuyễn theo hướng ánh trăng, tạo ra những hình ảnh
di động nhảy múa, chập chùng trong đêm khuya, mãi cho đến khi trăng rời dần
khung cửa sổ để bóng tối từ từ chiếm ngự cả căn phòng. Dưới ánh trăng nằm
nghiêng ấy, tôi chơi trò giăng tay đưa chân lên múa trong lúc chờ ngủ.
Trăng luôn là hình ảnh tuyệt đẹp của tuổi
thơ tôi ở bất cứ thời điểm nào, nơi nào. Vui trăng với anh chị em trong nhà,
nghe kể bao câu chuyện thần tiên về trăng, thêu dệt mộng mơ với trăng. Chạy
chơi, trốn núp rượt nhau dưới trăng với bạn bè trong xóm. Cầm lồng đèn rước Ông
Trăng mỗi Trung Thu. Tranh dành trăng chạy theo mình. Nhìn trăng khi trăng vừa
chớm lên, treo ngang đỉnh cây hoặc khi trăng ngã mình vào sáng. Trong tuổi thơ
của tôi, từ tuổi đái dầm cho đến năm 7-8 tuổi, nhìn mặt trăng nằm nghiêng từ
trên bộ ván khi tôi được nằm giữa Măng và Chị luôn là kỷ niệm sâu đậm. Tôi đã hỏi
Chị không biết bao nhiêu câu về trăng, về Ông Trăng, chú Cuội, chị Hằng Nga,
Cây Đa…Hỏi trăng chạy theo mây hay mây chạy theo trăng để được nghe Chị luôn trả
lời mây nhẹ nên mây bị gió thổi phải chạy theo trăng.
Xong cuối năm lớp Nhất tiểu học, Măng
tôi quyết định gởi Chị lên học trường Couvent des Oiseaux, Đà Lạt. Lý do duy nhất
mãi sau này tôi mới rõ là Măng tôi nghĩ Chị sẽ chóng lớn và mập mạnh nhờ được
dinh dưỡng tốt với bơ sữa nếu được học và ở nội trú tại trường nổi tiếng này...
Mỗi lần về thăm nhà trong những dịp trường tạm đóng cửa nhiều ngày như Giáng
Sinh, Tết hoặc hè, Chị luôn để dành tiền mua chút quà , khi thì dâu tây, mận,
cà rốt, khi thì bắp su, khoai lang khô… Đó là những khi nhà tôi vang ngập tiếng
cười. Chị kể không biết bao câu chuyện của đời nội trú, của mấy người bạn nhà
giàu cùng lớp được người nhà đem xe đến rước đi chơi mỗi cuối tuần, hay câu
chuyện của các nàng công chúa xứ Lào, xứ Cao Mên. Toàn những câu chuyện xa lạ
tuyệt vời khiến thằng bé như tôi luôn hả miệng nghe một cách say sưa. Măng tôi
thỉnh thoảng chen vào, nhắc nhở các bà chị tôi đều là công chúa hết đấy vì tên
họ là Công Huyền Tôn Nữ, được láng giềng trong xóm Đường Đá của Phủ Cam kính cẩn
kêu bằng Mụ.
Một trong những câu chuyện thần tiên Chị
kể đã để lại ấn tượng mãnh liệt vào trí tôi trong bao năm là mỗi khi Chị ngồi
trên máy bay từ Đà Lạt về thăm nhà, Chị đưa tay ra bên ngoài cửa sổ với bốc những
cụm mây trắng vào để ăn, thơm ngọt y như kẹo bông gòn nếu nhẹ, hoặc giống như kẹo
kéo sợi nếu nặng hơn vì có mưa. Câu chuyện tôi sợ nhất là mấy con đười ươi vừa
đưa tay đập thình thịch vào ngực chúng vừa hả miệng đỏ như máu cười từng tràng
dài khi nhìn chăm hẳm vào mặt trời lặn. Qua trí tưởng tượng của tôi, tôi hỏi Chị
có thấy Tôn Ngộ Không đằng vân giá vỏ trong mây không? Chị trả lời không thấy
được vì ngồi phía cửa sồ bên này, chứ nếu ngồi ngả bên kia cũng sẽ thấy như con
bạn của Chị đã thấy vậy. Mỗi khi trời nổi gió mang theo nhiều sợi tơ bay trong
bầu trời, Chị giải thích đấy là những tơ trời do mây trên cao bị gió cuốn xuống
đậu trên các cây vườn nhà tôi. Mãi sau này tôi mới biết đó chỉ là những sợi mạng
nhện từ rừng thông bên cạnh nhà bay qua.
Chị từng hứa sẽ đem về cho
tôi một ít mây trên trời lấy từ phi cơ trong lần tới, nhưng chuyện đó đã không
xẩy ra được vì Măng tôi chỉ đủ tiền gởi Chị đi học xa 2 năm thôi, dù Chị học rất
giỏi và có thư giới thiệu từ các cha ở Nhà Dòng Thiên An. Thời gian Chị trở lại
Huế và vào học trường Lycée Francais cũng là thời gian tôi bắt đầu được cho học
lớp Mẫu Giáo của cô Thỏa ở trường Đồng Khánh. Không như Thanh Tịnh viết “mẹ tôi
âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và đẹp…” của ngày đầu
tiên đến trường, Chị là người dẫn tôi đến trường buổi đầu tiên. Tôi nhớ mình
không hề khóc, vật vã hay gây khó khăn mà ngược lại tôi tung tăng vui vẻ đi bên
cạnh Chị, vì tôi đã được Chị mớm cho nghe bao chuyện vui, bao trò chơi, bạn mới
tại trường. Ngoài ra tôi cũng an tâm vì biết Măng tôi bấy giờ đang dạy học ở
đó. Và từ đấy, sáng nào tôi cũng lẻo đẻo theo chân các chị, khi gần đến trường
ĐK Chị tách đi về hướng trường Lycée của Chị, để 2 chị sinh đôi và tôi tiếp tục
đến thẳng trường ĐK.
Một năm sau khi xong phần Rước Lễ Vở
Lòng tại trường tư của các Sơ gần nhà, tôi trở về học tiếp lớp Tư trong niên
khóa mới ở tiểu học Đồng Khánh, cùng lúc Chị được cho vào học lớp Đệ Tứ cũng ở
ĐK vì trường Lycée không mở tiếp lớp Troisième. Nên tôi lại có dịp đi cùng về
cùng với các chị. Đó cũng là thời gian Chị được Măng tôi giao thêm trọng trách
giữ tiền chợ búa và chi tiêu lặt vặt cho gia đình. Song song với sự hãnh diện,
Chị lo lắng toan tính để chắc bóp chi tiêu khi biết Măng tôi bắt đầu mang nợ vì
nuôi cả bầy con 6 đứa.
Năm 1954, gia đình tôi được bà hiệu
trưởng giúp đỡ cho vào ở khu vực dành riêng cho gia đình các giáo sư dạy trong
trường Đồng Khánh. Lần tôi bị bệnh thương hàn thoi thóp nằm liệt giường, cứ sau
mỗi giờ học từ lớp học ở lầu dưới Chị chạy lên tầng 3 của nhà để chăm sóc tôi,
canh chừng người làm không cho tôi ăn đồ đặc vì sợ tôi bị lũng ruột, tôi chỉ được
uống nước cháo, sữa…Đến khi tôi ăn trả bửa, Chị mua gà về để người làm hầm cho
tôi ăn và mua luôn cả nho, loại trái cây tôi rất thích nhưng hiếm và rất mắc. Rồi
tôi chuyễn qua trường Providence theo học chương trình Pháp ngay sau hè lớp Nhì
ở tiểu học ĐK, Chị là người dạy tôi đọc, học tiếng Pháp từ căn bản, và đố chử ngay
trên hình của đầu trang mỗi alphabet từ cuốn tự điển Larousse.
Khi Chị quyết định vào Saigon theo học
trường Dược, Măng tôi lo lắng nhiều nhưng hoàn toàn tin tưởng vào lời giải
thích của Chị rằng tuy học 1 năm nhiều hơn so với 4 năm ở ĐH Huế, nhưng khi tốt
nghiệp Chị có thể làm nghề tư dễ sống hơn dạy học mà Chị cảm thấy không mấy
thích hợp. Anh đầu tôi đang học trường Y Saigon, bây giờ thêm Chị đi học xa nữa,
Măng tôi sẽ khó khăn nhiều về tài chánh. Nhưng rồi Chị cũng vào Saigon học, và
ra trường đúng 5 năm sau. Chị xin vào ở trong cư xá của các Sơ Regina Pacis tại
đường Tú Xương, tằn tiện từng đồng, dành tất cả số tiền nhỏ nhoi cho chuyện học
và mua sách vở. Nếu có dư chút tiền nào, Chị cho người anh đầu vì “con trai bao
giờ cũng có chuyện cần tiêu nhiều hơn con gái” Chị thường giải thích cho trong
nhà như vậy.
Khi con gái đầu của Chị bị đau liên
miên, Chị cầu nguyện Mẹ Maria giúp Chị thêm sức mạnh tinh thần. Hai năm sau khi
khám phá căn bệnh tim làm cho cháu yếu đuối và chướng kinh niên, Chị kiên trì
chầu chực ở Bộ Y Tế xin cho bằng được giấy phép đem con gái mình qua Thụy
Sĩ để mổ tim qua chương trình Terre Des Hommes, dù đang bụng mang dạ chữa đứa
con thứ ba.
Trong thời gian anh rể tôi bị trưng tập
vào Quân Y và làm việc ở Quân Y Viện Nguyễn Huệ, Nha Trang, Chị mở dược phòng
ngay trung tâm chợ Cầu Muối. Đó là thời gian Măng tôi vừa sung sướng vừa hãnh
diện vì tháng tháng bà ra Bưu Điện Huế lãnh mandat mấy chục ngàn do Chị gởi về.
Tôi cũng cảm thấy hãnh diện lây khi được Măng sai đem số tiền lớn đi trả cho từng
chủ nợ mà đa số là những người quen biết trong đại gia đình hay trong giới bạn
làm chung ở trường ĐK. Chưa đến 3 năm thì Măng tôi trả được hết nợ. Bao người
quen thân khen Măng tôi thật có phước khi có con gái đầu không những học hành
kiêm toàn, như lời phê của một cô giáo tiểu học của Chị, mà còn biết thương mẹ
và gia đình, chịu khó tảo tần cho mẹ và giỏi từ khi còn nhỏ tuổi, hiếu thảo trả
hết nợ cho mẹ dù có gia đình riêng.
Sau biến cố Mậu Thân 1968, tôi theo trường
YK Huế di chuyễn vào Saigon tiếp tục học trong 2 niên khóa. Tôi thật xúc động
khi được anh chị mua sẳn một xe Mini Lambretta mới nguyên để tôi có ngay phương
tiện đi học dễ dàng. Bấy giờ Chị đã có 4 đứa con gái và chồng Chị được biệt
phái về Saigon làm việc ở Nha Tiếp Liệu thuôc Bộ Y Tế. Vài năm sau, với tinh thần
luôn học hỏi, anh theo học và đậu Cao Học Quản Trị Kinh Tế, được đưa về làm
giám đốc trường Quản Lý Bệnh Viện. Đó cũng là thời điểm anh chị tôi mở hảng bào
chế thuốc Alpha, nằm ngay trên lầu 2 và lầu 3 của dược phòng của Chị; anh lo về
phần điều hành quản trị, Chị lo về phần chuyên môn nghiên cứu, sản xuất các món
thuốc thông dụng và tiếp thị.
Hảng Alpha chuyên sản xuất những gói bột
chửa trị những bệnh thông thường ở trẻ con như nóng sốt, ho, ban sưởi, thương
hàn, tiêu chảy, ói mữa… Đồng thời hảng sản xuất luôn cả dầu gió xanh, dầu gió
nóng. Những dược phẩm này rất được ưa chuộng và bán hầu như trong mọi chợ, các
tiệm tạp hóa, các bến xe đò. Thương nghiệp tốt dần, cơ sở kinh doanh đang trên
đà phát triển mạnh thì Miền Nam sụp đổ. Anh chị tôi chỉ kịp mang 4 đứa con chạy
ra khỏi nước trong ngày 29 tháng 4, 75, bỏ lại tất cả sự nghiệp xây dựng trong
hơn chục năm qua.
Tại Mỹ, anh rể tôi làm thợ cắt cỏ, chị
tôi làm ở một hãng may kỹ nghệ mà tiền trả lương dựa trên số sản phẩm may được
mỗi giờ. Chị siêng năng làm việc ngày đêm, lúc mới vào nghề được trả 50 cents mỗi
giờ, năm sau lên đến cả $15.00 mỗi giờ và được chủ tin cậy giao chìa khóa hãng
vào may ngày đêm lúc nào cũng được. Sau gần một năm cắt cỏ, anh rể tôi mới xin
được vào làm việc ở hãng Allergan tại Irvine. Và chưa đến 2 năm sau khi rời trại
Pendleton, anh chị mua căn nhà đầu tiên ở Mission Viejo, bắt đầu thực hiện giấc
mơ an cư lạc nghiệp trên xứ người.
Không thoả mãn vì tương lai bấp bênh của
chính mình và nhất là các con kề cận tuổi vào đại học, cả anh chị tôi vừa làm
việc ban ngày vừa thức đêm kèm nhau học lại chuyên môn. Năm 1978 cả hai đều đậu
cùng một lúc chứng chỉ Clinical Lab. Scientist (tức là Medical Technologist sau
này) và nhanh chóng xin được việc làm trong phòng thí nghiệm của bệnh viện,
cùng là khi hãng may của Chị dời đi nơi xa hơn. Anh làm 2 full time jobs
tại 2 bệnh viện khác nhau, Chị làm 2 ½ full time jobs, cũng ở 2 bệnh viện cách
xa nhau cả 50 miles. Như một giàn máy hoạt động nhịp nhàng ăn khớp, anh chị tiếp
tục làm việc không nghỉ, xây dựng và cũng cố tương lai gia đình, chu cấp cho
các con vào các đại học công và tư, CSU Fullerton, UC Riverside, rồi UC San Francisco,
Loma Linda, UOP... ròng rã trong suốt hơn 18 năm, riêng chị vượt thoát 3 tai nạn
giao thông trầm trọng với xe hoàn toàn phá hủy nhưng lại không một chấn thương
nặng.
Dù bận rộn bao nhiêu, từ công việc ở sở,
cho đến việc nhà, nuôi dạy các con, Chị luôn tìm cách cầu nguyện giữa những khi
rảnh rổi, trong ca trực đêm ở bệnh viện, xin Đức Mẹ giúp Chị vượt qua những lúc
đuối sức hay trở ngại căng thẳng trong công việc, cho gia đình bình an và các
con nên người – như Măng tôi từng đưa gia đình đi hành hương nhiều lần tại Nhà
Thờ La Vang, và mỗi tối cùng nhau đọc kinh Đức Mẹ, cầu xin Mẹ ban ơn cho gia
đình qua mọi sự dữ. Như một sắp đặt nhiệm mầu, cứ sau mỗi đứa con tốt nghiệp,
anh hoặc chị mất đi một công việc vì các bệnh viện liên doanh và sát nhập với
nhau. Vài năm sau, khi con gái út tốt nghiệp Nha Sĩ và thành hôn, chị nghĩ hẳn
luôn ở nhà, chỉ anh còn đi làm thêm vài ba năm rồi cũng về hưu luôn.
Vì hoàn cảnh chồng mất sớm, Măng tôi phải
đóng vai vừa của một người cha đi ra bên ngoài làm việc nuôi gia đình, nghiêm
trang cứng rắn dạy dổ con cái bên trong nhà, vừa mang trọng trách của một người
mẹ luôn lo lắng đến phúc lợi của con mình, cảm thông và nhạy cảm với những nhu
cầu của con. Riêng phận tôi là con út, đôi khi tôi cảm thấy thiếu thốn tình
thương. Chị là người san sẻ bù đắp bao thiếu thốn cho tôi, đem đến cho tôi bao
dịu ngọt trong tình thương qua săn sóc lo lắng, kể cả dạy dổ khuyên răn. Từ thưở
còn bé cho đến bây giờ. Khó kể cho hết tình thương Chị đổ xuống cho tôi, từ
chuyện giúp đỡ tiền bạc cho Tôi ăn học trong những năm ĐH, tiền tiêu xài những
khi tôi vào chơi Saigon 4-5 lần mỗi năm, tiền in luận án y khoa, gởi tiền nuôi
vợ chồng chúng tôi sau 1975 khi tôi tù tội cho đến khi chúng tôi đến được bến bờ
tự do… Thời gian gần đây, nhân dịp ghé thăm thân phụ của anh rể ở gần nhà tôi,
anh chị thường tạt ngang nhà chúng tôi một hai lần mỗi tuần, lần nào cũng mang
theo chút quà, ngồi chơi năm mười phút, nói đôi ba câu chuyện thân tình, như để
khích lệ, năng đở tinh thần và sẳn sàng chia xẻ buồn vui. Anh chị nhẹ nhàng nhắc
nhở đến việc cầu nguyện, gìn giữ linh hồn, thật sự quan tâm đến hạnh phúc gia
đình của thằng em út.
Nơi Chị, tôi học đưọc cách ăn ở tử tế
phúc hậu, cách cư xữ ngay thẳng công minh, sự cảm thông và tính rộng lượng. Nơi
Chị, tôi biết được sự cao quý của hy sinh cho gia đình cha mẹ anh chị em song
song với sự đảm đang chu toàn bổn phận làm vợ làm mẹ, vun xới tương lai cho con
cái. Qua Chị tôi thấy được hình ảnh của một người mẹ nhân từ, kiên nhẫn, hiền
hòa nhưng cứng rắn nếu cần. Chị đã từng lập lại câu nói của Măng tôi khi dạy
con mình “Nghèo không phải là cái tội. Học dốt và nhất là không chịu học để
thành người tốt mới là cái tội”.
Và qua Chị, tôi nhìn thấy được sự thiêng
liêng của đức tin và sự tin tưởng vào cầu nguyện khi khổ cực cũng như trong
sung sướng. Cũng bởi lẽ đó, Chị tôi mới có được người chồng đúng theo nghĩa “đằng
sau sự thành công của người vợ là một người chồng vĩ đại”. Và cũng vì vậy, Ơn
Trên mới ban phước cho 4 con gái của anh chị, gồm 3 nha sĩ và 1 bác sĩ, đều là
những công dân ưu tú trên nước Mỹ.
Chị không ngừng khẳng định nước Mỹ là xứ
sở của cơ hội, chỉ cần chịu khó và cầu tiến thì ai cũng sẽ thành công. Đồng thời
Chị luôn nhắc nhở các em và con cái mình, những người di dân được nước Mỹ tiếp
nhận cho làm lại cuộc đời và ân hưỡng sự an sinh xả hội tốt đẹp, nên biết ơn và
trả ơn nước Mỹ. Tôi cũng từng được gặp những người bảo trợ anh chị trước tại
nhiều buổi tiệc Cám Ơn do anh chị tổ chức trong những năm trước đây.
Trong những lúc nhớ đến Măng tôi, những
thoáng nghĩ đến Chị cũng chợt kéo về. Tuyệt diệu, trìu mến và lung linh như ánh
sáng mặt trăng nằm nghiêng của tôi một dạo nào. Bù lại cho sự thiếu vắng hình ảnh
của người cha, tôi luôn nhận thức Thiên Chúa và Mẹ Maria đã cho tôi may mắn có
2 bà mẹ. Hai bà tiên thay phiên cưu mang tôi từ bé cho đến khi thành người. Để
khi Măng tôi mất, chị tôi tiếp tục quan phòng cho tôi.
Ngày Lễ Mẹ 2022.
Vĩnh Chánh