Wednesday, September 9, 2026

30 Lời Nhắc Về Sức Khỏe Càng Lớn Tuổi Càng Nên Đọc

 

1. Ngủ đủ là một trong những cách đơn giản nhất để giữ sức khỏe. Đừng xem thường những đêm thức quá khuya kéo dài.

2. Cơ thể mệt thì hãy nghỉ. Cố thêm một chút hôm nay đôi khi lại phải trả giá bằng nhiều ngày sau đó.

3. Ăn vừa đủ thường tốt hơn ăn thật nhiều. Cơ thể cần dinh dưỡng, không cần sự quá tải.

4. Đừng đợi khát mới uống nước. Cũng đừng ép mình uống quá nhiều chỉ vì nghe ai đó nói càng nhiều càng tốt.

5. Đi bộ mỗi ngày là một thói quen rất đáng giữ. Chậm cũng được, miễn là đều.

6. Ngồi quá lâu không tốt cho cơ thể. Cứ khoảng một lúc, hãy đứng dậy, đi lại và vận động nhẹ.

7. Tuổi càng lớn, cơ bắp càng đáng quý. Hãy duy trì những bài tập sức mạnh phù hợp với thể trạng.

8. Đừng coi đau nhức kéo dài là chuyện “do tuổi tác nên phải chịu”. Có những dấu hiệu cần được kiểm tra sớm.

9. Khám sức khỏe định kỳ giúp phát hiện nhiều vấn đề khi chúng còn dễ xử lý hơn.

10. Đừng tự ý bỏ thuốc chỉ vì cảm thấy khỏe hơn. Việc thay đổi thuốc nên có sự trao đổi với người có chuyên môn.

11. Ăn nhiều rau, trái cây, đạm phù hợp và thực phẩm ít chế biến thường là lựa chọn tốt cho sức khỏe lâu dài.

12. Đường, muối và đồ ăn quá nhiều dầu mỡ nên được tiết chế. Cái ngon trong vài phút đôi khi trở thành gánh nặng cho nhiều năm.

13. Giữ cân nặng hợp lý quan trọng, nhưng đừng ám ảnh với con số trên cân. Sức mạnh, giấc ngủ và khả năng vận động cũng rất đáng quan tâm.

14. Rượu bia càng ít càng tốt. Cơ thể không cần rượu để khỏe mạnh.

15. Đừng hút thuốc. Nếu đang hút, bỏ được ngày nào là cơ thể bắt đầu hưởng lợi từ ngày đó.

16. Đừng bỏ qua sức khỏe răng miệng. Một hàm răng khỏe giúp ăn uống tốt hơn và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống.

17. Mắt và tai cũng cần được kiểm tra khi có dấu hiệu suy giảm. Nghe và nhìn tốt giúp người lớn tuổi sống độc lập và an toàn hơn.

18. Hãy giữ thói quen ra ngoài trời, gặp ánh sáng tự nhiên và vận động. Cơ thể con người không được sinh ra để cả ngày ở trong phòng.

19. Một giấc ngủ ngon quý hơn nhiều thứ thuốc bổ được quảng cáo ngoài kia.

20. Đừng mua thực phẩm chức năng chỉ vì lời quảng cáo hấp dẫn. Thứ phù hợp với người khác chưa chắc phù hợp với mình.

21. Căng thẳng kéo dài làm cơ thể mệt mỏi thật sự. Có những lúc, nghỉ ngơi cũng là một việc cần làm nghiêm túc.

22. Giận dữ lâu ngày trước hết làm mình mệt. Buông được chuyện nào thì lòng nhẹ được chuyện đó.

23. Đừng giữ mọi thứ trong lòng. Một người để trò chuyện, một nơi để chia sẻ, đôi khi cũng là một phần của sức khỏe.

24. Cô đơn kéo dài không tốt cho tinh thần. Hãy giữ liên hệ với gia đình, bạn bè và những người khiến mình cảm thấy được yêu thương.

25. Đừng sống cả ngày trong tin xấu, tranh cãi và những điều làm mình bất an. Tâm trí cũng cần một chế độ ăn lành mạnh.

26. Tuổi lớn hơn không có nghĩa là phải ngừng học. Đọc sách, học một kỹ năng, chơi cờ, học nhạc hay làm điều mới đều giúp đầu óc tiếp tục hoạt động.

27. Đừng quá sợ bệnh, nhưng cũng đừng chủ quan với bệnh. Bình tĩnh và xử lý đúng lúc luôn tốt hơn cả hai thái cực.

28. Khi cơ thể có dấu hiệu bất thường kéo dài, hãy đi khám thay vì tự tìm chẩn đoán trên mạng.

29. Sức khỏe hiếm khi được tạo nên bởi một bí quyết thần kỳ. Nó thường được tạo nên từ những việc bình thường được làm đúng và lặp lại đủ lâu.

30. Và điều cuối cùng: hãy đối xử tử tế với chính cơ thể mình.

Nó đã đưa bạn đi qua rất nhiều năm tháng, rất nhiều niềm vui, những lần buồn đau, những ngày khỏe mạnh và cả những lúc mỏi mệt.

Đừng đợi đến khi cơ thể lên tiếng thật lớn mới bắt đầu quan tâm.

Ăn tử tế hơn một chút.

Ngủ sớm hơn một chút.

Đi bộ nhiều hơn một chút.

Bớt giận một chút.

Bớt lo những điều chưa xảy ra một chút.

Sức khỏe của tuổi về sau thường được góp nhặt từ những lựa chọn rất nhỏ của ngày hôm nay.

Chúc bạn và những người mình thương luôn có một thân thể đủ khỏe, một tinh thần đủ sáng và một đời sống thật bình an. 🌿


(4) DS Thu Thủy - 30 LỜI NHẮC VỀ SỨC KHỎE CÀNG LỚN TUỔI CÀNG NÊN ĐỌC... | Facebook

Thanh Loan chuyển

Đu Càng - Đu Rào


 

Thanh Loan chuyển

Tuesday, September 8, 2026

Ngẫm Chuyện Xưa Nay - Lê Đức Luận


Tác giả sinh năm 1944 tại Tuy Hòa, Phú Yên. Tốt nghiệp Khóa 1, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Cử nhân Chính trị học, Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Trước năm 1975: sĩ quan phục vụ trong ngành CTCT/ QLVNCH. Đơn vị sau cùng: Ủy Ban Binh Thư thuộc Tổng Cục/ CTCT. Sau 1975, ở tù 7 năm. Sang Mỹ định cư tại Virginia vào năm 1986. Đã xuất bản: NGƯỜI MẸ TÌM CON (Truyện ký, 2022). 

Tác giả đã nhận giải Danh dự Viết Về Nước Mỹ năm 2023 và 2025. Sau đây là bài viết mới nhất của ông tản mạn nhiều điều đáng suy ngẫm về đời sống và con người trong cộng đồng Việt ở Mỹ theo chiều dài lịch sử hơn 50 năm qua.

***

Sau ngày 30-4-1975, nhiều người Việt Nam bỏ xứ ra đi, đa số đã xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị nạn chính trị. Trong khoảng mười, mười lăm năm đầu, người Việt khi gặp nhau thường nêu một câu hỏi mà người hỏi có hai ý, còn người được hỏi cảm thấy phân vân, rồi trả lời theo một trong hai ý. Đó là câu: “Anh chị sang đây lâu chưa?” Nếu người hỏi có thái độ kẻ cả, hỏi để phân biệt đẳng cấp, thì câu trả lời sẽ hờ hững, qua loa. Nếu người hỏi tỏ ra thân thiện - có ý muốn giúp đỡ đồng hương đến sau, thì câu trả lời sẽ rất chân tình.


Những người Việt Nam có mặt tại nước Mỹ trong thời gian đầu thường thuộc hai trường hợp - hoặc được di tản trong những ngày Sài Gòn hấp hối, trên những chuyến bay vội vã của chiến dịch “Gió lốc - Operation Frequent Wind” - hoặc lặng lẽ xuống thuyền, rời khỏi Việt Nam, bất chấp hiểm nguy trên biển cả để tránh sự đàn áp, trả thù của chế độ mới. Rồi họ xin định cư ở Mỹ. Người ta gán cho họ cái tên “Thuyền nhân” (Boat people). 

Ai cũng hiểu: Những người Việt Nam đã phải lìa bỏ quê hương sau một biến cố lớn của lịch sử, mỗi bước chân ra đi, dù bằng đường nào, cũng in dấu một mất mát không gì bù đắp được. Nhưng có số ít người tỏ vẻ “ta đây”, kẻ đến trước coi thường người đến sau.  Nôm na là “ma cũ coi thường ma mới”, mặc dù cùng chung cảnh ngộ. 

Cái tật “Ai hơn mình thì ghét, ai kém mình thì khinh. Ai nổi trội hơn thì tìm cách dèm pha, ai kém cỏi thì chê bai” thường xảy ra trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt. Cho nên, câu hỏi: “Anh chị sang đây lâu chưa?” đã làm chạnh lòng một số người.


Câu chuyện tiếu lâm sau đây làm ta suy ngẫm: “Ngoài chợ bày bán hai giỏ cua - một giỏ có nắp đậy, giỏ kia thì không. Khách hỏi lý do. Người bán cua giải thích: “Giống cua Việt Nam, con nào bò lên gần tới miệng giỏ thì bị con khác kéo xuống, chẳng có con nào bò ra khỏi giỏ được, nên không cần nắp đậy. Còn giống cua Mỹ khi bò đến miệng giỏ, không bị con khác kéo xuống, nó có thể bò ra ngoài, nên phải đậy nắp.”

Những chuyện khó quên về người tị nạn Việt Nam trong bước đầu trên đất khách: lo lắng, ngẩn ngơ - như khi lạc đường chưa biết bỏ 25 cent vào cái điện thoại công cộng để gọi người nhà ra đón, cũng chẳng nói được tiếng Anh để nhờ người ta chỉ đường, cứ lòng vòng cả buổi mới tìm ra lối về nhà.


Một câu chuyện khác, mới nghe tưởng đùa, mà có thật, được một người kể lại thế này: “Hồi mới đến Mỹ, tôi thấy cái gì cũng mới lạ, đồ sộ và văn minh quá, làm mình cảm thấy như anh nhà quê lần đầu ra tỉnh. Một hôm, gặp lại chú đàn em, anh ta mừng rỡ, ôm tôi, hai bàn tay vỗ vỗ vào lưng, rồi thốt lên: “Niên trưởng! Niên trưởng! Niên trưởng qua lâu chưa?” Cử chỉ ấy làm tôi cảm động nhưng cũng khiến tôi có chút ngỡ ngàng. Bởi vì trước năm 1975, người miền Nam gặp nhau, dù thân tình, cũng chỉ tay bắt mặt mừng, ít khi “ôm nhau thắm thiết” như vậy. Sau này, ở lâu mới quen cách biểu lộ tình cảm theo kiểu Mỹ là “ôm nhau thắm thiết” - tiếng Anh gọi là “hug”.


Anh ta kể tiếp: Sau ngày “đứt phim 30-4-1975”, người ta gọi tôi là “thằng ngụy”. Tiếng “niên trưởng” như rơi vào cõi âm, chỉ còn mơ hồ trong ký ức. Bây giờ, gặp nhau trên đất khách, chú đàn em chưa quên truyền thống Trường Mẹ, gọi tôi “niên trưởng”, làm tôi bồi hồi nhớ lại những ngày Chủ nhật dạo phố Đà Lạt: đàn em gặp đàn anh chào cái rụp, rồi chờ đàn anh mở lời, đàn em mới vui vẻ tiếp lời.


Truyền thống ấy làm cho chúng tôi tương kính nhau và giữ cho tình huynh đệ luôn tha thiết, chân tình. Mặc dù bây giờ chú ấy trông bảnh bao, hoạt bát, da dẻ hồng hào, bụng phệ… Anh ta mang dây treo quần (suspenders), trông rất sang. Hồi đó chưa có điện thoại di động (cell phone), anh ta kẹp ở thắt lưng cái máy nhỏ bằng bộ bài tây, thỉnh thoảng phát ra tiếng bíp bíp… trông rất lạ. Tôi hỏi cái gì thế? Anh ta giải thích: Đây là cái beeper, còn gọi là pager, dùng để nhận tin nhắn. Rồi anh ta giải thích công dụng và cách dùng. 


Chúng tôi đối với nhau rất chân tình - điều gì chưa biết, tôi hỏi; chú đàn em tận tình chỉ dẫn - không màu mè hay mặc cảm. Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, tôi đã quen với các thiết bị điện tử. Chú cũng nói cho tôi biết cách giao tiếp với người bản xứ sao cho phải phép, trong đó có một chuyện nhớ đời, chuyện đàn bà. Chú bảo: “Người Mỹ ít khi hỏi tuổi nhau, kỵ nhất là với phụ nữ. Trong trường hợp phải nói về tuổi tác, nếu gặp bà bốn mươi, niên trưởng bảo: trông cô khoảng ba mươi - cứ cho các bà trẻ hơn mươi tuổi là ăn tiền!


Tám năm cầm súng ở chiến trường, rồi tiếp theo bảy năm cầm cuốc trong các trại tập trung cải tạo của Việt Cộng; khi đến Mỹ, tôi còn trai tân (độc thân), gặp con gái cứ lúng túng như gà rù mắc tóc, nhưng nhờ “cái mánh” này, tôi cưới được vợ lớn hơn 8 tuổi - hạnh phúc như gặp được bà tiên… Tôi nhớ ơn chú đàn em. Tôi cũng nhận ra rằng những người đến trước đã trải qua nhiều gian nan lúc ban đầu. Họ đã để lại những kinh nghiệm giúp kẻ đến sau bớt bỡ ngỡ. 

Sau mười mấy năm, cuộc sống của đa số người Việt đã bước vào giai đoạn ổn định. Ngày nào, họ đến đây với hai bàn tay trắng, mang theo mấy đứa con thơ - bảy, tám tuổi. Bây giờ, có nhà cửa khang trang, con cái học hành thành đạt, các bậc cha mẹ vui mừng và có chút hãnh diện. Câu hỏi “Anh chị qua đây lâu chưa?” hầu như ít ai nhắc đến.


Nhưng rồi lại nảy sinh một câu hỏi khác cũng làm chạnh lòng người. Một câu hỏi để khoe và nghe để tủi: “Con anh chị học ngành gì? Tốt nghiệp chưa?” Người Việt mình có truyền thống hiếu học nên rất coi trọng bằng cấp và những ngành nghề được xem là “danh giá” như bác sĩ, kỹ sư… Nếu con cái mình tốt nghiệp và làm bác sĩ, kỹ sư… thì có chút hãnh diện để khoe. Những ai có con cái học hành không ra gì, nghề nghiệp không vững vàng thì cảm thấy tủi cho phước nhà.


Từ đầu thập niên 2000, cộng đồng người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ bước vào giai đoạn năng động và phát triển mạnh mẽ. Sau nhiều năm vất vả, cần cù, lớp người tị nạn đến từ sau biến cố 1975 (tạm gọi là thế hệ thứ nhất) đã đứng vững trên vùng đất mới. Những khu phố người Việt như Little Saigon ở California hay Eden Center ở Falls Church, VA trở nên đông đúc, phồn thịnh. Báo chí, đài phát thanh, truyền hình phát triển mạnh, tạo nên đời sống văn hóa phong phú. 

Đó là quãng thời gian nhiều người Việt nỗ lực xây dựng tương lai cho gia đình với nghị lực phi thường và hăng hái tham gia các hoạt động cộng đồng. Ngày nào, những đứa trẻ năm, bảy tuổi theo cha mẹ đến miền “đất hứa” sau năm 1975, nay đã trưởng thành - học hành thành đạt và trở thành thế hệ thứ hai hội nhập vững vàng vào tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ. Chúng tham gia sâu rộng vào đời sống Mỹ, hiện diện trong hầu hết mọi ngành nghề: bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, doanh nhân, viên chức chính quyền, quân đội, truyền thông và cả chính trường… Thế hệ thứ hai vừa giữ được nề nếp văn hóa Việt trong gia đình vừa thích nghi tự nhiên với xã hội Mỹ.


Đây cũng là giai đoạn thế hệ thứ nhất vừa bận rộn vừa bận tâm đến chuyện hôn nhân của con cái. Tuần nào cũng được mời đi dự đám cưới. Có những đám cưới, người dẫn chương trình “kê khai” bằng cấp, chức danh của cô dâu, chú rể, như một cách đánh bóng cho gia đình. Và trong tiệc cưới, câu hỏi thường nghe là: “Con anh chị học ngành gì? Làm việc ở đâu? Lương bỗng bao nhiêu?” Nghe qua tưởng như câu hỏi thăm bình thường, nhưng lại có ẩn ý khoe khoang và cũng kín đáo dò tìm dâu hiền, rể thảo có học thức ngang với con mình.


Những người thuộc thế hệ thứ nhất hồi tưởng về lúc rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng, ra đi để tìm sự sống trong cái chết. Bây giờ cuộc sống trên quê hương thứ hai đã ổn định, con cái cũng yên bề gia thất; họ muốn về thăm cố hương, viếng mồ mả cha ông, thăm gặp bà con thân thích, bạn bè tri kỷ để tỏ lòng thủy chung với nguồn cội và tình yêu quê hương.


Là con người bình thường, ai cũng mong đời mình có được đôi lần sống trong sự huy hoàng như nhà thơ Xuân Diệu đã viết: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.” Và đây là dịp để một số “người Việt hải ngoại” biến ước mơ thành hiện thực. Họ muốn ngày trở về sao cho xôm tụ - được bà con đón tiếp long trọng, nên tổ chức tiệc tùng chiêu đãi tưng bừng. Tiếp theo, xây cất từ đường bề thế, rồi sửa sang mộ phần của cha ông.


Thực ra, đây là việc làm tốt, có ý nghĩa, nhưng một số người nhân cơ hội này để khoa trương, chơi trội quá lố nên đã biến thành trò cười cho thiên hạ. Chuyện rằng: Một ông về trước sửa sang mồ mả cha ông; ông về sau cũng tu sửa mộ phần nhưng “hoành tráng” hơn - “tranh nhau lấy tiếng” nên đã xây rồi phá đi, xây lại, sao cho “hoành tráng” hơn. Và cứ thế tiếp tục tiến lên, khiến nhiều khu nghĩa trang xa trông như một khu phố thu nhỏ.


Ngoài những chuyện nêu trên, cộng thêm lối ăn mặc chảnh chọe, cách nhún vai làm dáng kiểu Mỹ và giả giọng lơ lớ như một người Mỹ mới học tiếng Việt, làm cho mấy người này không giống ai - Mỹ chả ra Mỹ. Việt chả ra Việt. Dân ta bèn đặt cho họ cái tên “áo gấm về làng”. Một dạo “áo gấm về làng” trở thành một phong trào. Các ông, các bà về nước chơi sang, tiệc tùng xôm tụ, tiêu pha vung vít…


Nhưng không phải “người Việt hải ngoại” nào cũng muốn tạo cảnh “áo gấm về làng”. Có nhiều người tự trọng, tỉnh táo, nhận biết được chỗ đứng của mình trên đất khách, đối với quê hương đang nghèo khó. Họ chắt chiu và âm thầm gởi tiền về cứu khổ bà con bên nhà với số tiền không ngờ. Năm 2000, lượng kiều hối gởi về Việt Nam được ước tính từ 1,3 đến 1,6 tỷ đô la và con số này tăng rất nhanh trong những năm sau đó: năm 2010 hơn 8 tỷ đô la, năm 2023 khoảng 14 tỷ đô la (1).


Mới ngày nào những con người đó trốn chui, trốn nhủi - rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng để tìm cuộc sống tự do và tương lai cho con cháu, bị mấy ông quan chức Việt Cộng tìm cách bắt bớ, giam cầm với những lời miệt thị: “Bọn phản quốc, bọn cặn bã xã hội, bọn ôm chân đế quốc …” Nhưng rồi đồng đô la đã làm cho quan chức Việt Cộng đổi giọng, gọi họ là “Việt kiều yêu nước”; một tiếng khác có vẻ bình dân nhưng tha thiết và rất mùi là “khúc ruột ngàn dặm”, làm người ta cứ tưởng có đô la lận lưng là trở thành người yêu nước.


Nhưng sự đời như đóa phù dung - sớm nở tối tàn - “áo gấm” đã phai màu; “khúc ruột dư ngàn dặm” cũng không còn bốc mùi. Bởi vì từ ngày Mỹ dỡ bỏ cấm vận và chạy theo kinh tế thị trường (có thêm cái đuôi: “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”), mấy ông quan Việt Cộng ăn nên làm ra nhờ những đồng tiền hối lộ và tham nhũng… thì những bữa tiệc chiêu đãi hay vòi vĩnh vài ba trăm đô la bồi dưỡng cán bộ còn có ra chi, coi như chuyện nhỏ. Các ông bà “Việt kiều” không còn được trọng vọng, xênh xang áo gấm về làng như trước. Dân ta kháo nhau: Bây giờ “Việt cộng ngon hơn Việt kiều” (chỗ này phải giải thích cho rõ: Việt cộng là những đảng viên cộng sản có quyền thế và giàu sụ. Còn dân ta là những người không phải Việt cộng, cũng chẳng phải Việt kiều, nên bàng quan đưa ra nhận xét như thế) làm mấy ông bà “Việt kiều” cảm thấy mất hứng, mất oai…


Sự đời lắm nỗi oái oăm. Chuyện vui buồn trong cuộc đời tị nạn kể hoài không dứt. Khi “Áo gấm về làng”, “ruột dư ngàn dặm” trở thành chuyện đời xưa, thì xuất hiện những ông già “Việt kiều” nham nhở - dân ta gọi là “già dịch”. Ngôn ngữ Việt có thêm một tiếng mới.


Ngày xưa, dân Bắc Kỳ có tiếng “già chơi trống bỏi” để cười cợt, châm biếm những ông già thích ăn diện, đua đòi, tán tỉnh, yêu đương nhăn nhít, ham vui như thanh niên. “Già chơi trống bỏi” gần giống nghĩa của chữ “già dịch” bây giờ. Nhưng tiếng “già dịch” còn ẩn chứa sự miệt thị đối với những ông già “Việt kiều” vô liêm sỉ về nước ăn chơi đàn đúm trên nỗi khổ đau của những đứa trẻ đáng tuổi con cháu mình - những đứa trẻ đã chịu đựng biết bao tủi nhục vì miếng cơm manh áo dưới một chế độ không nhìn thấy tương lai.


Qua rồi những chuyện buồn vui trong đời tị nạn. Những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất đến Hoa Kỳ sau năm 1975, bây giờ đang bước vào tuổi bảy mươi, tám mươi. Khi gặp nhau, họ đặt những câu hỏi rất thực tế, chân tình. Hỏi để biết, biết để áp dụng hay đề phòng, không còn ẩn ý khoe khoang nữa. Qua rồi những ngày tháng trần ai, tủi nhục dưới chế độ cộng sản; qua rồi những ngày tháng làm việc cần cù và chắt chiu tiền bạc để nuôi con ăn học. Bây giờ họ sống ung dung và hạnh phúc khi nhìn thấy tương lai tươi sáng đang rộng mở cho thế hệ con cháu của mình trên đất nước Hoa Kỳ. 

Dù vậy, những người tị nạn thuộc thế hệ đầu tiên vẫn còn canh cánh bên lòng với quê hương Việt Nam ở bên kia bờ Thái Bình Dương. Một cụ tám mươi tâm sự: Tôi đã chọn nước Mỹ làm quê hương thứ hai, nhưng lòng tôi vẫn cứ cho là đất khách. Tôi mang quốc tịch Mỹ, nhưng cảm thấy chỉ là “Mỹ giấy”


Ôi! Quê hương Việt Nam vẫn còn đau đáu trong lòng người viễn xứ.

    

LÊ ĐỨC LUẬN      

07/08/2026

Ngẫm Chuyện Xưa Nay - VVNM 2026 - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ

Xin Nghe Con Cầu - Joseph Tong - AI Cover - Tống Viết Minh Thực Hiện

Xin mời quí niên trưởng và anh em nghe “Xin Nghe Con Cầu” tôi viết tại trại tỵ nạn Bataan 4/7/1986. 

Bối cảnh Việt Nam ngày ấy tồi tệ và hoản cảnh khác hẳn bây giờ! Bốn mươi năm đã qua. Mau thật!

Tống Viết Minh

Già Rồi Sao Nữa? - Khuất Đẩu



 - Già, rồi sao nữa?

- Già rồi thì chết, chứ trăng với sao gì nữa!
- Ừ, thì chết, nhưng chết ra làm sao, chết rồi đi về đâu?
- Cái chuyện này chưa biết à nghen, chưa chết sao biết được, với lại ai mà không sợ chết, nói tới cái bộ xương có cánh tay cầm lưỡi hái, sợ lắm!

Sáng trưa chiều tối, lúc này thấy nó cứ lẽo đẽo đi theo như hình với bóng, cái hơi lạnh của nó tỏa ra mù mịt còn hơn cảnh sát dã chiến thả hơi cay nữa kìa, nhưng mà trước sau gì ai chẳng chết, thôi thì thử nói một lần này rồi sẽ tịt luôn.
Chết là hết thở, không học trường y ai cũng biết. Chết dễ ợt, nhắm mắt xuôi tay thế là xong. Nhưng cũng chưa xong, còn phải dọn dẹp cái thân tứ đại kia nữa chứ.

Nghe nói, ở vùng núi Hy mã lạp sơn, có một sắc dân, chết không chịu chôn mà lại khiêng lên núi để nuôi lũ chim kền kền. Cả ngàn con chim trời sinh ra chỉ để ăn xác thối làm sạch môi trường cứ bay lượn trên cao hóng mỏ ra chờ, đợi lũ người sống kia gào khóc chán chê, bỏ ra về, chỉ loáng một cái, chúng phủ thành một đống đen kịt, rồi chỉ trong chớp mắt là lóc sạch cả thịt da phèo phổi, chỉ để lại bộ xương trắng hếu, thêm lưỡi hái và đôi cánh nữa là thành thần… chết.
Một bước thành thần, cũng hay!

Nhưng một vài bộ lạc ở châu Phi còn hay hơn. Những lão già cúp bình thiếc như tui, con cháu không nuôi nổi nữa, thế là cụ được mời leo lên cây, rồi cả bọn cùng nhảy múa loạn xạ, chọc quê hả mồm nhíu mũi, làm đủ cách kể cả cầm gậy thọc đít, miễn sao cho cụ rơi xuống, thì lạy chúa tôi, coi cụ như con nai con hoẵng vừa săn được, cả nhà hay cả xóm được no nê (và ngon miệng) một bữa!
Trường hợp nhảy múa hoài mà cụ không rớt xuống thì lại được đem về nuôi, nhưng hiếm khi lắm, gần như không có bao giờ.

Thực là nhanh gọn và tiện lợi. Người chết không để đức mà để thịt cho con cháu, phụ tử tình thâm của xứ đói là như vậy.
Đừng chê cười họ man di mọi rợ. Cái nước Tàu có đến những 5000 năm văn minh kia, trong "thời kỳ đại nhảy zọt", nhà này đổi con cho nhà kia, để ăn cho đỡ chết đói. Văn minh ở chỗ họ không nỡ hay không dám ăn thịt con mình mà thôi. Còn ăn kiểu gì thì khỏi phải nói, không ai chế biến thức ăn ngon bằng người Tàu, nhất là món thịt người rất quý hiếm.

Ở nước Nhựt, xứ sở ưa harakiri, trong những làng quê nghèo, người già phải biết chọn cách chết sớm nhất để bớt đi một miệng ăn cho con cho cháu. Truyện được một nhà văn Nhựt kể lại cảnh anh con trai cõng mẹ lên núi để mẹ nằm chờ chết. Bà cụ rất can đảm, bảo anh con trai đừng quay đầu nhìn lại để mẹ được chết trong lúc tuyết đang rơi là hạnh phúc. Trong khi một lão cùng làng sợ quá tìm cách xuống núi trong sự khinh ghét của mọi người,

Ở nước ta, chỉ có Lục Vân Tiên cõng mẹ, hết chạy ra đến chạy vô, chạy hoài hụt hơi cũng dám chết lắm đó nhưng nếu thế thì cũng đáng mặt là “trai thời trung hiếu làm đầu” lắm đó chứ!
Ở Tàu (lại Tàu!), Quách Cự chôn con để cha mẹ sống cũng thì lại được vinh danh trong nhị thập tứ hiếu
(Ôi cái tội giết người mà được khen thì đúng là luật của Tàu rồi)!.

Còn nhiều cách chết lắm :
Chết trong đồn công an bằng sợi dây thun nè, (sợi dây thun mà sao siết được cổ tới chết nhỉ, chắc là chết vì nuốt dây thun kiểu như gà đúng hơn)!

Rồi chết có thưởng như của Hồi giáo cực đoan nữa nè! Quấn thuốc nổ quanh người, rồi đến chỗ có đông bọn "tư bản rẫy chết" kích nổ, sau khi tan xác pháo chẳng những được lên thiên đàng mà còn được thưởng đến những bốn mươi cô con gái Ả rập mắt đen và to, đẹp không chịu được mà lại còn trinh, thế thì ai mà không ham chết kể cả một số Tây mũi lõ!
Còn chết rồi đi về đâu, thì mấy ai mà biết được.

Sống gửi thác về, ông bà tôi thường nói chết là về quê kiểng, kiểu như đi xa về thăm nhà, hay "Việt kiều yêu nước" về thăm quê hương. Cái khúc ruột ngàn dặm đó (dài đến nỗi có thể quấn quanh trái đất mấy chục vòng), giờ không nên hát bài nối vòng tay lớn nữa mà là hát bài “nối khúc ruột dài”, mới hợp lòng dân ý đảng, lâu nay nó đóng cục đóng hòn (như táo bón) vì nhớ nhung, giờ nở bung ra sướng khỏi chê.

Các nhà văn và thơ hậu hiện đại thì bảo là chết là đi về thế giới người hiền, ý chê cái thế giới này ô trọc và hung dữ quá.
Thực ra, nói thế cũng chỉ là cách nói để làm cho người ta bớt sợ khi nghĩ tới cái chết mà thôi.
Phật và Chúa còn khôn hơn nữa, các ngài vừa dụ khị vừa đe nẹt.
Đứa nào nghe theo lời ta dạy làm điều thiện thì được lên Thiên đàng, đứa nào không chịu nghe, làm điều ác thì phải xuống địa ngục.
Thiên đàng, hay cõi trời Đâu Suất cũng như nhau. Ở đó không làm cũng có ăn, còn địa ngục chẳng những phải ăn dòi mà còn bị cưa xẻ, bị lửa thiêu cháy nhưng không chết (sao lọa vậy cà?).
Nói là vậy chứ có ai ở thiên đàng hay địa ngục trở về kể lại đâu mà biết rằng láo hay thiệt. ?

Thôi thì nói như Bùi Giáng. Rằng :
“Ngày sẽ hết,
tôi sẽ đi
dù chưa biết đi đâu”.
Ở cõi trần, ông ấy đã lúc :
Sài Gòn Chợ Lớn đôi nơi
Đi lên đi xuống đã đời du côn*.
Thì chết rồi ông vẫn tiếp tục đi, dù hình hài không nhứt thiết phải là một ông già khùng vác cây đu đủ đeo đủ thứ lon múa nhảy ở cầu chữ Y hay cầu Nhị Thiên đường.

Có thể là một hạt bụi âm thầm nhớ đất quê, cũng có thể là chút ánh sáng lập lòe trên lưng con đom đóm. Đi đâu thì cũng chỉ trên trái đất này mà thôi, nơi có gái mọi, có chuồn chuồn bươm bướm và những em dê trắng dê vàng.
Bởi sao? Bởi vì ông không thành thần, không thèm gặp cụ Mác cụ Lê, không thèm 40 cô gái trinh, mà chỉ thèm "đã đời du côn" thôi.

Ông chắc chắn sẽ đi vào Văn học và ở mãi trong đó chứ không chịu ra đâu. Có điều, ông luôn mang theo cây gậy (du côn mà), nên chi các “nhà phê bình” mác xít đứng trên lạp xường giai cấp hay phê bình dóc tổ và láo xược, coi chừng ông phang cho một gậy u đầu!

Khuất Đẩu
Viêt trong mùa ôn dịch
Chú thích :
Chớ nhầm chữ ĐI này với chữ ĐI KHÁCH của các "chị em ta "mà mang họa vào thân!- "

Nhỏ Xưa - Trầm Vân

Monday, September 7, 2026

Phụ Nữ Thay Lòng Đổi Dạ - Đàn Ông Muôn Đời Chung Thủy


 
Lượm trên mạng

Cấy Lúa - Repiquage Du Riz


Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình 

Bolero Và Tản Mạn Nhạc Vàng - Niệm Từ

Hình minh họa: Pixabay

1.     Vũ điệu bolero ở Tây Ban Nha

Trong vòng nhiều thập niên, đã có một sự nhầm lẫn về nguồn gốc bolero. Tuy có cùng một tên gọi, nhưng chữ bolero lại thể hiện nhiều điều khác hẳn nhau.

Chữ bolero bắt nguồn là một vũ điệu truyền thống của Tây Ban Nha, khai sinh vào cuối thế kỷ 18. Còn tại Cuba, bolero là một trường phái âm nhạc ra đời vào cuối thế kỷ 19. Phạm trù và ngữ cảnh giúp cho ta phân biệt một bên là vũ điệu của vương triều Tây Ban Nha, còn bên kia là dòng nhạc dân gian đến từ Cuba. Tại Tây Ban Nha, người đầu tiên định hình bolero như một điệu vũ hàn lâm là vũ sư Sebastián Lorenzo Cerezo.

Marcelle Lender nhảy điệu Bolero trong vở “Chilperic”, của Toulouse-Lautrec – Hervé, 1895


Nhờ Sebastián Lorenzo Cerezo mà vũ điệu bolero trở nên thịnh hành dưới triều vua Charles đệ tam (trị vì từ năm 1759 đến 1788). Theo các nhà nghiên cứu, về mặt ngữ vựng, bolero có lẽ xuất phát từ chữ “volero”, biệt danh của vũ sư Tây Ban Nha do mỗi lần biểu diễn các điệu nhảy, ông thường lã lướt tung bay như thể gót chân tha thướt nhẹ nhàng không bao giờ chạm đất. Vũ điệu hàn lâm theo nghi thức truyền thống của Tây Ban Nha, nói cho chính xác thì người ta nhảy điệu rumba trên nền nhạc bolero.

Bất cứ điệu vũ nào cũng cần có tiếng nhạc và người đầu tiên sáng tác nhạc cho vũ điệu hàn lâm bolero là nghệ sĩ tây ban cầm cổ điển Fernando Ferandiere (1740-1816), mở đường sau này cho tác giả Manuel de Falla (1876-1946), một trong bốn gương mặt Tứ Quý của làng nhạc Tây Ban Nha. Lối sáng tác này gợi hứng sau đó cho nhiều nhà soạn nhạc cổ điển, điển hình là Frederic Chopin (1810-1849) hay Maurice Ravel (1875-1937), cho dù các tác phẩm của họ dù mang tên là ‘’bolero’’ nhưng cũng chẳng ăn nhập gì với điệu nhạc bolero mà ta thường nghe thời nay.


2. Dòng nhạc bolero ở Cuba

Nhạc Bolero sản sinh tại Cuba chính là những điệu nhạc mà ta thường nghe thấy hiện nay. Nếu xét đơn thuần về thể loại âm nhạc, thì trường phái bolero nẩy sinh từ Cuba vào cuối thế kỷ 19 và hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng nó có cùng một cội nguồn với điệu nhạc trova, một thể loại ‘‘du ca’’ của Tây Ban Nha. Cha đẻ của dòng nhạc bolero Cubano là nhạc sĩ đàn ghi ta José Sánchez (1856 – 1918), mà nhiều người gọi một cách thân mật là Pepe Sánchez.

Pepe Sánchez cha đẻ dòng nhạc bolero hiện nay. Nguồn: BPB.


Sinh trưởng tại Santiago de Cuba, José Pepe Sánchez xuất thân từ một gia đình nghèo, không được cho ăn học tới nơi tới chốn, cho nên ông chọn học nghề thợ may. Nhờ có năng khiếu âm nhạc và lỗ tai rất thính, ông tự học nhạc bằng cách mò mẫm chơi đàn, ông sáng tác rất nhiều ca khúc nhưng tất cả đều là chơi thuộc lòng, chứ không có bài nào được ghi chép một cách bài bản. Chính cũng vì vậy mà sau ngày ông qua đời, có rất nhiều bài hát bị lãng quên, do không được lưu trữ qua văn bản.


Theo nhà nghiên cứu Luis Antonio trong quyển sách nói về lịch sử của dòng nhạc bolero tại Cuba (Historia del bolero cubano), bản nhạc bolero đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1883 do chính José Pepe Sánchez sáng tác mang tựa đề ‘’Me Entristeces, Mujer’’ mà sau này người ta thường hay gọi một cách ngắn gọn là ‘’Tristezas’’ (Những nỗi buồn).

Khai sinh từ Cuba, dòng nhạc bolero sau đó đã nhanh chóng lan tỏa ra nước ngoài và bén rễ tại các quốc gia Nam Mỹ và ở vùng biển Caribean, tiêu biểu nhất là Puerto Rico. Riêng tại Mexico, dòng nhạc bolero chính thức ra đời vào đầu những năm 1920, thời mà các tác giả Trung Mỹ lao vào phong trào sáng tác theo thể điệu này. Bản nhạc bolero đầu tiên nổi tiếng trên khắp Nam Mỹ là bài “Lágrimas Negras” do nhạc sĩ Miguel Matamoros sáng tác vào năm 1929. Bản thứ nhì là bài “El Manisero”, ghi âm vào năm 1930, cả hai bài này phá kỷ lục số bán với hơn một triệu bản.


3. Dòng nhạc bolero Việt Nam

Tại Việt Nam, dòng nhạc boléro du nhập vào miền Nam Việt Nam vào khoảng thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ; nhiều nhạc sĩ bắt đầu sử dụng nhạc điệu phương Tây thay cho nhạc điệu phương Đông truyền thống. Bolero bao gồm nhiều giai điệu như: Rumba, Chachacha, Valsedanza, habanera, trova, son…Một vài đặc điểm của nhạc bolero ở Việt Nam:

-Những giai điệu bolero Việt Nam pha lẫn chất ngũ cung và cả dân ca của vùng sông nước Nam Bộ. Nhưng đồng thời, nhạc Bolero vẫn giữ nguyên sự nhẹ nhàng, lắng đọng trong ca từ.

-Vì giai điệu nhẹ nhàng, ca từ bình dị, nội dung dễ hiểu nên nhạc bolero dễ dàng tiến nhập trái tim của con người. Đáp ứng nhu cầu về mặt tinh thần của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Chứ không hề mang tính trừu tượng và cần có kiến thức về âm nhạc sâu rộng mới có thể hiểu được như một số thể loại nhạc bác học khác.

-Một đặc điểm quan trọng và không thể thiếu ở bolero chính là tính buồn đặc trưng trong bài hát. Những ca khúc bolero dù hát về chủ đề nào cũng mang đến cho người nghe một chút buồn. Một chút tiếc thương, một chút đồng cảm cho những câu chuyện đời, chuyện người trong bài hát.

          Những nhạc sĩ tiên phong trong phong trào nhạc bolero Việt nam:

Ảnh các nhạc sĩ (theo thứ tự từ trái sang):
– Hàng đầu: Châu Kỳ – Mạnh Phát – Trúc Phương – Lam Phương – Minh Kỳ – Hoài Linh
– Hàng thứ 2: Lê Dinh – Anh Bằng – Hoàng Thi Thơ – Duy Khánh – Hoài An – Phạm Mạnh Cương
– Hàng thứ 3: Tuấn Khanh – Y Vân – Dzũng Chinh – Anh Việt Thu – Lê Trực – Phạm Thế Mỹ

Không có tài liệu nào cho biết chính xác bài đầu tiên dòng nhạc bolerolà bài nào. Tuy nhiên, theo nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển cho rằng bài hát Duyên quê (Chachacha) của Hoàng Thi Thơ có thể là bài đầu tiên. Trong khi đó, nhà nghiên cứu Trần Thị Vĩnh Tường lại cho rằng bài bolero đầu tiên ở Việt Nam là bài Xóm đêm (Rhumba) của Phạm Đình Chương. Nhưng theo ý kiến của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 thì: “Người đầu tiên viết ra bolero là Lam Phương với Kiếp Nghèo (Tango) và Chuyến Đò Vĩ Tuyến (Rhumba) rồi  đến các bài hát của nhạc sĩ Trúc Phương”.


Từ thập niên 1960 đến thập niên 1970 là những năm đỉnh cao của giai điệu này. Lúc đó rộ lên phong trào “Thời trang nhạc tuyển” mà những bài nhạc boléro được được thâu vào băng cassette hoặc đĩa nhựa phát hành rộng rãi. Một số ca khúc tiêu biểu là Những đồi hoa sim (Dzũng Chinh phổ thơ Hữu Loan), Tàu đêm năm cũ, Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương), Thành phố sau lưng (Hàn Châu), Về đâu mái tóc người thương (Hoài Linh), Xuân này con không về (Trịnh Lâm Ngân), Đêm buồn tỉnh lẻ (Bằng Giang – Tú Nhi), Vòng nhẫn cưới, Đêm lang thang, Không giờ rồi (Vinh Sử), Hoa sứ nhà nàng của Hoàng Phương

Như chúng ta đã biết, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 toàn bộ nền văn hóa nghệ thuật miền Nam bị lên án là “độc hại” và “cần xóa bỏ” bởi đảng cầm quyền cộng sản Việt Nam:

Trong “toàn bộ nền văn hóa nghệ thuật” đó, âm nhạc miền Nam được các cán bộ văn hóa “cộng sản” gọi là “nhạc vàng”, do các nhạc sĩ sáng tác ở miền nam VNCH trước 1975. Hai chữ “nhạc vàng” phát xuất từ đâu và được nhà cầm quyền CSVN dùng để “bức tử” nền âm nhạc trữ tình, nhân bản của miền Nam VNCH như thế nào?  Người đề xuất từ ngữ và sự phân loại “nhạc vàng” này là nhạc sĩ Phạm Tuyên, từng là chủ tịch hội âm nhạc Hà Nội, ban chấp hành hội nhạc sĩ Việt Nam của chính quyền CSVN. Đề xuất của Phạm Tuyên đã được chính thức sử dụng theochỉ thị của nhạc sĩ Trần Hoàn, bộ trưởng thông tin văn hóa nước CHXHCNVN. Theo đó, âm nhạc miền Nam Việt Nam (VNCH) trước 1975 được gọi là  “nhạc vàng”(dĩ nhiên bao gồm cả bolero) tượng trưng cho sự“vàng úa”,“ru ngủ”, “đồi truỵ”, “ủy mỵ” và “phản động”… Chắc chúng ta không quên, ngay sau ngày 30 tháng 4, 1975 chính quyền Cộng sản đã áp dụng chính sách “cách mạng văn hóa” rập khuôn của Trung Cộng (Mao Trạch Đông) nhằm tiêu hủy toàn bộ nền văn hóa (bao gồm âm nhạc) của miền Nam VNCH. Hàng trăm văn nghệ sĩ bị học tập cải tạo, vào tù… vì là tác giả của những tác phẩm văn học nghệ thuật trữ tình và nhân bản này.

    Cảnh đốt sách, văn hóa phẩm, băng đĩa nhạc tại Sài-gòn tháng 5 năm 1975. Nguồn: internet.


Điều làm cho chúng ta băn khoăn là nền“nhạc vàng” một thời “ủy mị”, “đồi trụy”, “phản động”… nói trên sống lại mạnh mẽ, rầm rộ từ bắc chí nam trong những năm gần đây? Từ “phản động” trở thành “trữ tình”? Từ “đồi trụy” trở thành “nhân bản” bất ngờ? Nếu không có sự “đồng ý” của đảng và nhà nước CSVN, thì liệu dòng “nhạc vàng” có tự nhiên phục hồi do nhu cầu âm nhạc của quần chúng? Chắc chắn là không. Phải chăng sau bao nhiêu năm xây dựng và phát triển, nhà nước CSVN mới nhận ra cái “nghèo nàn”, “cứng ngắt”, “vô hồn” của văn học nghệ thuật, nhất là lãnh vực âm nhạc. Tính trữ tình, nhân bản gần như là cội nguồn của âm nhạc Viêt Nam, đã vắng mặt? Hay đảng lãnh đạo CSVN đã nhìn thấy giá trị và muốn bảo tồn và phát huy dòng “nhạc vàng” một thời bị lên án đó? Chắc chắn là không! Hay nhà cầm quyền CSVN “sợ” dùng danh từ “nhạc vàng” mà gọi là “bolero” vì họ “mắc cỡ”? Mắc cỡ là tính tình của người biết tự trọng và có liêm sĩ.! Hãy nhìn kỹ những bộ mặt lãnh đạo của chính quyền CSVN, bạn thấy họ là những người biết “tự trọng” và có “liêm sĩ”? Chắc chắn là không! Họ sợ nhưng không phải tên gọi “nhạc vàng” VNCH, mà họ sợ mất đi 16 tỷ US đô-la chảy về Việt Nam hằng năm từ tập thể người Việt nước ngoài; họ sợ sẽ không thu hút được “lượng chất xám” của thế hệ trẻ, con cháu của những “khúc ruột ngàn dặm” bên ngoài đất nước theo nghị quyết 36 của đảng.


Văn học nghệ thuật bao gồm cả âm nhạc là nền tảng văn hóa của một dân tộc. Giá trị văn học nghệ thuật của một dân tộc được đánh giá, bảo tồn bởi chính nhân dân và lịch sử của đất nước họ, không phải của đảng cầm quyền. Những ồn ào, xu hướng và thổi phồng một trào lưu văn nghệ chỉ mang tính “thời sự”, nhất thời và sẽ bị đào thải trong tương lai bởi quy luật phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc. Những ca khúc “nhạc vàng bolero” trữ tình, nhân bản được các bạn trong và ngoài nước, chuyên nghiệp và yêu ca hát, trên sân khấu lộng lẫy và ngoài đường phố bụi bay, ở bất cứ lứa tuổi nào, bất cứ hoàn cảnh nào đang góp phần cất cao tiếng hát hôm nay, ngày mai và mãi những mai này. Họ không hát cho một nhóm người lãnh đạo trong bộ chính trị đảng Cộng sản như “đàn gảy tai trâu”. Họ hát cho đồng bào trong và ngoài nước, người biết trân trọng, yêu quý nền âm nhạc mang âm hưởng trữ tình, đầy tính nhân bản vốn có của dân tộc chúng ta. Với nền khoa học công nghệ hiện đại, thế hệ trẻ Việt Nam không còn bị “bưng bít” bởi nhà câm quyền Cộng sản như trước nữa. Họ sẽ dễ dàng tìm hiểu những bài hát mang giá trị nghệ thuật đó phát xuất từ đâu, do ai sáng tác và trong giai đoạn lịch sử nào của đất nước. Chúng ta hãy và có quyền tin tưởng vào điều này!


Cám ơn các bạn đã cùng tôi “lang thang” với bolero, tản mạn với “nhạc vàng” hôm nay. Tôi xin mượn câu nói của nhà soạn nhạc lừng danh người Ý, Gioachino Rossini nói về ngôn ngữ âm nhạc để khép lại bài viết:

“Ngôn ngữ của âm nhạc là ngôn ngữ chung của tất cả mọi thế hệ và mọi dân tộc; ai cũng hiểu được nó, bởi nó được hiểu bằng trái tim”.


Niệm Từ

Chân Lạnh Và Những Hệ Lụy Về Sức Khỏe


Hai chân là vị trí mà Tim bơm máu đi-về xa nhất cơ thể.

* Hai chân có khối lượng Xương Cốt, Tủy lớn nhất cơ thể.
* Hai chân có khối lượng Cơ Bắp lớn nhất cơ thể.
* Hai chân có số lượng Máu (Hồng cầu) cư trú nhiều nhất cơ thể.
* Hai chân có khối lượng dự trữ khí Oxy nhiều.
* Hai chân, nơi khí Cacbonic (hàn khí) tích tụ nhiều nhất cơ thể 
Mỗi khi tủy ở Chân thiếu nhiệt là nguồn gốc gây ra chuỗi bệnh mãn tính (nhiều bệnh khác nhau).
Do cấu trúc khá đặc biệt, nên hai chân (Chân lý) có hai Ống Xương lớn và dài, bên trong xương, là thế giới biệt lập của tế bào Tủy có chức năng sinh sản tế bào mới thay thế tế bào già chết hoặc hư hỏng do tai nạn. Hệ thống Tủy xương tiếp cận với nguồn máu nuôi dưỡng chúng thông qua các Khớp xương, Khớp xương chính là cửa ngõ xuất nhập, tiếp nhận vật chất nuôi sống, và loại bỏ chất thải.
Chân hỏa 

Cơ thể con người duy trì sự sống bằng nguồn Nhiệt Năng (quy đổi ra nhiệt = 37 độ), Chất béo (Lipid) là nguồn chất đốt để tạo ra nhiệt năng duy trì nhiệt độ. Có rất nhiều người không ăn đủ chất béo, vô hình chung làm cho nguồn nhiệt năng cơ thể yếu, thấp (34-36 độ, 1 độ nhiệt giảm mất thì sức đề kháng bị sụt giảm mất 5 cấp), do đó, nguồn nhiệt thiết yếu này luôn chỉ ưu tiên những nơi quan trọng như cho xương sống, cho não, cho phổi và cho lục phủ ngũ tạng. Còn lại, hai ống Xương chân rất dễ bị thiếu hụt không đủ nhiệt năng cung cấp cho hai chân, nên khi tủy xương bị thiếu nhiệt lượng, thì hai chân sẽ bị lạnh trước tiên.

Biểu hiện hai chân bị thiếu nhiệt năng là:
- Hai bàn Chân Lạnh.
- Khó ngủ hoặc mất ngủ.
- Mau mắc Tiểu, Tiêu lắt nhắt, tiểu đêm nhiều lần.
- Biếng ăn, bụng Chướng hơi, Sụt giảm cân.
- Ung thư.
- Tiểu đường.
- Mắc các bệnh mãn tính khó chữa.
Hệ lụy khi hai chân bị lạnh, sẽ gây ra:

- Máu không xuống hai chân vì khi bị lạnh sẽ không có đủ khí oxy, máu buộc phải dồn về Tim gây mệt tim, máu dồn vô cả ngũ tạng, máu dồn lên não có thể gây đột quỵ (gây vỡ mạch máu não), khi máu dồn nhiều gây rối loạn não dẫn đến não mất kiểm soát (dạng này, giống như quần chúng biểu tình) làm cho toàn bộ sự sống tế bào bị đảo lộn, đỉnh cao của chân lạnh là chứng Nhồi Máu Cơ Tim đối với người cân nặng hoặc người có nguồn máu dồi dào và chất lượng.

- Sức nóng là lực hấp dẫn khí oxy, nên khi hai chân lạnh thì khí oxy không xuống hai chân, dẫn tới hiện tượng khí Cacbonic (Hàn khí) không trao đổi được buột phải dồn chứa (Hàn khí) đầy trong hai ống chân, gây ức chế mạnh tế bào Tủy xương suy yếu, hai chân càng lạnh, làm giảm hoặc mất môi trường ấm nóng để tủy sinh sản tế bào thay thế. Khí lạnh tồn sâu trong hai chân tạo ra một khó khăn trong việc chữa trị các bệnh như bệnh ung thư. 

Để trục nguồn hàn khí ra khỏi hai chân, cần:
* Chạy bộ, tập TD TT cho đổ mồ.
* Xông hơi cho đổ mồ hôi, khi mồ hôi đổ ra sẽ kéo theo khí Cacbonic (Hàn khí) ra ngoài, và đồng thời làm tăng nhiệt năng để thu rút khí oxy xuống cung cấp cho tế bào hai chân.
* Ăn tăng chất Béo, tăng Đạm, tăng gia vị tỏi hành xả gừng riềng, ăn thêm nhóm khoai củ đều mỗi ngày và ăn cho đến khi hai chân ấm lên.
- Khi để cho hai chân lạnh, thì tủy đã yếu do nhiệt độ, sẽ giảm, buộc não phải:
* Loại xả bỏ đường vì đường là chất giải nhiệt không thiết trong lúc chân lạnh.
* Loai xả bỏ nước vì nước cũng giải nhiệt, không cần thiết khi cơ thể bị âm lạnh.
* Hai trái Thận vô can, nhưng nhận lãnh hậu quả việc cơ thể xả bỏ nước nhiều, hiệu quả tất yếu sinh ra các bệnh về Thận (đau thận, thận hư...)


Khi hai chân lạnh, tức là cơ thể đã báo động cho biết: Tủy đã suy yếu. Nhưng trong thực tế thì chúng ta lại không biết ăn để bổ sung các thức bổ tủy mà phó mặc cho hệ thống tế bào Tủy tự sinh tự diệt, việc tủy bị suy kiệt ví như cá mắc lưới là điều không tránh khỏi và gây ra chuỗi bệnh (bệnh mãn) một cách oan uổng. Nếu quý vị đang mắc bệnh mãn tính mà chữa kéo dài hoặc không khỏi thì cần xem lại hai bàn chân ấm hay lạnh, nếu chân luôn bị lạnh thì không có thuốc nào chữa khỏi bệnh cho đến khi ta may mắn ăn đúng, ăn đủ năng lượng để tái tu bổ tủy đầy đủ làm cho hai bàn chân ấm nóng đều lên mỗi ngày thì mới mong khỏi bệnh.

Đọc xong bài, nếu thấy hữu ích, nhớ giới thiệu cho mọi người cùng biết mà phòng tránh giữ cho đôi chân, nhất là hai bàn chân luôn ấm 37 độ.

#123 - Thiếu Ngủ, Khó Ngủ Cần Xem Ngay! Quá Sốc Khi Hiểu Thêm Về Hệ Thống Day Light Saving - BS. Phạm Hiếu Liêm

Mùa Thu Vẫy Chào - Đỗ Công Luận

Tôi Tưởng Mình Văn Minh… - Trúc Tiên

Tôi từng nghĩ mình là một công dân khá gương mẫu. Cho đến khi một cái đèn đỏ ở Shibuya khiến tôi phải xem lại toàn bộ nền giáo dục mà mình được hưởng và tự đào tạo suốt hơn ba mươi năm.


Tôi vốn không phải là người ngoan ngoãn lắm, nề nếp quá. Ở Paris, gặp đèn đỏ mà đường vắng, nhìn phải nhìn trái, không xe, thế là tôi băng qua luôn, không đợi đèn cho phép. Tôi luôn tự an ủi rằng mình không vượt đèn đỏ. Tôi chỉ… “đi trước đèn xanh một chút.”

Nghe qua thì hai việc ấy khác nhau hoàn toàn. Một bên là vi phạm luật giao thông, một bên chỉ là… giúp cái đèn xanh đỡ phải chờ mình. Ngôn ngữ quả là phát minh kỳ diệu nhất của loài người. Nó không chỉ giúp con người giao tiếp với nhau, mà còn giúp mỗi người giao tiếp rất hòa thuận với lương tâm của chính mình.

Không ai nói dối. Người ta chỉ “nói chưa hết sự thật”. Không ai nhiều chuyện. Người ta chỉ “cập nhật thông tin”. Không ai lười. Người ta chỉ “để cơ thể nghỉ ngơi”. Và dĩ nhiên, không ai sai. Chúng ta chỉ… có một cách diễn đạt khác.

Tôi sống rất thanh thản với triết lý ấy suốt hơn ba mươi năm. Thậm chí còn xây dựng được cả một hệ thống lập luận chặt chẽ đến mức nếu đem bảo vệ luận án tiến sĩ, biết đâu dám cũng có người gật gù. Đèn xanh rồi cũng sẽ bật. Mình đi sớm ba mươi giây thì có ảnh hưởng gì đâu. Đằng nào cũng phải qua. Đứng chờ mà giữa con đường không một bóng xe chẳng khác nào bắt thời gian tăng ca vô ích.

Cứ thế, tôi tự chấm mình tám rưỡi trên mười về ý thức công dân. Không xả rác. Không chen lấn. Lên xe công cộng biết nhường ghế cho người già, trẻ em. Tôi còn có thói quen giữ cửa rộng mở cho người đến sau. Có hôm giữ lâu quá, người ta tưởng tôi đứng đó làm nghề mở cửa. Nói chung, nếu có cuộc thi “Công dân tương đối gương mẫu”, tôi tin mình đủ sức vào bán kết.


Cho đến một buổi chiều ở Tokyo.

Shibuya. Ngã tư nổi tiếng mà người ta bảo mỗi lần đèn xanh bật lên có cả nghìn người cùng băng qua. Tôi đứng giữa biển người, lòng háo hức như đứa trẻ sắp xem pháo hoa. Đèn đỏ. Đường phía trước rộng mênh mông. Không xe. Không cảnh sát. Không tiếng còi. Theo phản xạ, tôi nhìn trái. Rồi nhìn phải. Rồi nhìn thêm lần nữa cho chắc ăn. Kinh nghiệm Paris nói với tôi rằng mọi điều kiện đều đã hội tụ đủ đầy. Nếu ở bên Pháp, giờ này tôi đã sang tới vỉa hè bên kia, thậm chí còn kịp quay đầu nhìn những người đứng lại bằng ánh mắt thương cảm, đại loại: “Đường thế này mà cũng đợi!”

Tôi nhấc chân. Đúng lúc ấy, một cảm giác kỳ lạ khiến tôi khựng lại. Hình như có gì đó không ổn. Tôi ngẩng đầu lên. Hàng nghìn người vẫn đứng im. Không ai bước. Không ai sốt ruột. Không ai “tranh thủ” thắng lợi thời gian. Không ai có vẻ muốn tiết kiệm ba mươi giây quý giá của đời mình.

Điều làm tôi bối rối không phải là sự im lặng. Mà là sự bình thản. Họ đứng như thể việc chờ đèn xanh cũng là một phần rất tự nhiên của cuộc sống, giống như hít thở hay chớp mắt. Tôi bắt đầu nghi ngờ thị lực của mình. Hay người Nhật nhìn thấy chiếc xe nào mà mình không nhìn thấy? Tôi nheo mắt quan sát. Không. Đường vẫn trống trơn. Hay họ biết có cảnh sát chìm lẩn quẩn đâu đấy? Tôi đảo mắt khắp nơi. Không. Hay cái đèn giao thông này có gắn trí tuệ nhân tạo, nhận diện khuôn mặt, lưu hồ sơ rồi gửi thẳng về Bộ Nội Vụ? Trong vài giây ngắn ngủi ấy, tôi phát hiện mình suy nghĩ chẳng khác gì một nghi phạm đang tìm đường thoát thân.

Một đám đông đang chờ băng qua giao lộ Shibuya ở Tokyo, Nhật Bản. Photo: Federico Abis, pexels


Điều đau nhất là chẳng ai buồn nhìn tôi. Nếu có người liếc sang, tôi còn đỡ quê. Ít ra tôi cũng là nhân vật chính của câu chuyện. Đằng này, không. Mỗi người đều bình thản đứng như đứng trong thế giới của mình. Chỉ có tôi đang mở một phiên tòa nội tâm để xét xử cái chân phải. “Đi đi!” Bản năng Paris thì thầm. “Đừng!”, một ông Nhật tưởng tượng nào đó trong đầu nhẹ nhàng lắc đầu. Chưa bao giờ tôi thấy một cái đèn giao thông lại có sức mạnh triết học đến thế.

Ba mươi giây sau, đèn xanh bật. Cả biển người cùng bước. Không chen lấn. Không xô đẩy. Không ai chạy nước rút như sợ người phía trước cướp mất vỉa hè. Lúc ấy tôi mới hiểu, hóa ra từ trước đến nay tôi không hề tiết kiệm ba mươi giây. Tôi chỉ tiêu xài sự kiên nhẫn của mình quá hoang phí.

Đó mới chỉ là cú sốc đầu tiên. Nhật Bản dường như có một âm mưu rất lớn nhằm phá hủy toàn bộ hệ thống lý luận mà tôi dày công xây dựng suốt mấy mươi năm. Tôi cứ tưởng mình đã vượt qua được bài kiểm tra khó nhất của Nhật. Hóa ra cái đèn đỏ chỉ là buổi khai giảng. Tiết học thứ hai diễn ra trên xe điện công cộng.


Hôm sau, đứng chờ xe điện. Tàu còn ba phút. Theo thói quen Paris, tôi tiến sát mép đường rầy như thể làm vậy xe sẽ đến nhanh hơn. Người Nhật thì không. Ai cũng đứng sau vạch vàng. Không ai vượt qua lằn vạch. Tôi cũng bắt chước đứng đợi như mọi người. Mười giây. Hai mươi giây. Ba mươi giây. Tôi bắt đầu hiểu. Đứng sát đường rầy, không làm đoàn xe dài ngoằng xúc động hơn.

Nhưng đứng yên mới chỉ là bước đầu. Tôi còn phải học cách… im lặng. Trong xe điện, tôi rút điện thoại ra định gọi cho bạn. Vừa bấm số, tôi chợt nhận ra cả toa tàu im lặng đến mức nghe rõ tiếng bánh sắt nghiến trên đường rầy. Không ai nói chuyện qua điện thoại. Không ai mở loa ngoài. Không ai xem video TikTok với âm lượng đủ để cả toa cùng thưởng thức. Tôi vội vàng cúp máy như vừa bị bắt quả tang quay cóp trong phòng thi.

Thế rồi tôi chợt nhớ đến Paris. Ở đó, chỉ cần lên métro vài ga là đủ nghe một buổi hòa nhạc quốc tế: một cậu thiếu niên xem rap Pháp, một bà cô gọi điện về Maroc, hai anh sinh viên tranh luận bóng đá, phía cuối toa có em bé khóc, còn đâu đó luôn có một nghệ sĩ đường phố kéo đàn với tất cả niềm tin rằng cả toa xe đang mong đợi mình. Chúng tôi gọi đó là cuộc sống.


Ở Nhật thì khác. Có toa dành riêng cho phụ nữ vào giờ cao điểm. Có toa ưu tiên cho gia đình có trẻ nhỏ. Tôi còn tự hỏi, với cái miệng thích buôn chuyện của mình, không biết có toa nào dành riêng cho… những người không biết im lặng không.

Người Nhật gọi đó là… meiwaku, nghĩa là làm phiền người khác. Chữ ấy theo tôi suốt chuyến đi. Nó xuất hiện ở khắp nơi mà chẳng cần ai viết lên tường. Không có bảng ghi “cấm nói lớn”. Không có khẩu hiệu “hãy giữ trật tự”. Không có ai kề tai nhắc nhở. Mỗi người tự biết mình nên thu nhỏ lại một chút để người bên cạnh được yên ổn hơn một chút. Cái triết lý ấy đáng sợ ở chỗ nó không ép buộc. Nó khiến người ta tự nguyện.

Còn tôi thì bắt đầu thấy mình giống người duy nhất quên tắt chuông điện thoại trong một buổi hòa nhạc. Không ai nhắc nhở. Không ai lườm nguýt. Không có ánh mắt trách móc nào cả. Nhưng chính sự im lặng ấy lại khiến người ta tự thấy mình nên khép vào tập thể. Có lẽ đó là điều đầu tiên tôi học được ở Nhật: đôi khi, một xã hội văn minh không cần nhiều bảng cấm. Người ta chỉ cần cư xử sao cho người bên cạnh khỏi phải khó chịu.

Rồi đến chuyện xếp hàng.


Thú thật, tôi luôn nghĩ mình là người rất biết xếp hàng. Ở Paris, tôi vẫn xếp hàng mua bánh mì, xếp hàng vào siêu thị, xếp hàng lên xe buýt. Chỉ có điều… tôi hơi dị ứng với những hàng quá dài. Mỗi lần thấy hai chục người đứng trước mặt, bộ não tôi lập tức kích hoạt một chức năng đặc biệt mang tên “tối ưu hóa”. Tôi bắt đầu quan sát. Có cửa nào ít người hơn không? Có quầy nào vừa mở không? Có ai đứng đợi chứ chưa thật sự xếp hàng không? Có khoảng trống nào đủ rộng để mình lách vào mà vẫn giữ được vẻ mặt vô tội không? Người ta gọi đó là chen hàng. Tôi thích gọi là… tận dụng cơ hội.

Sang Nhật, căn bệnh ấy tái phát rất mạnh.

Trước một quán ramen nổi tiếng ở Shinjuku, tôi thấy gần ba mươi người đứng nối đuôi nhau trên vỉa hè. Phản ứng đầu tiên của tôi không phải là “Quán này chắc ngon”. Phản ứng đầu tiên là: “Không lẽ người Nhật rảnh dữ vậy?” Tôi còn đang âm thầm tính toán xem có cửa sau nào không thì một anh nhân viên bước ra, cúi đầu thật thấp rồi phát cho từng người một tờ thực đơn. Ai nấy im lặng xem món mình sẽ gọi. Không ai sốt ruột. Không ai than thở. Không ai quay sang hỏi câu rất Việt Nam: “Ủa, xếp hàng ở đây để mua cái gì vậy?”


Đến lượt tôi cũng được phát một tờ. Tôi cầm lấy mà thấy hơi áy náy. Người ta phát thực đơn không phải để giết thời gian. Người ta muốn khi bước vào quán, khách gọi món ngay, ăn xong thì nhường chỗ cho người kế tiếp. Hóa ra họ cũng tiết kiệm thời gian. Chỉ khác là họ tiết kiệm thời gian của… tất cả mọi người, chứ không riêng của mình.

Lúc ấy tôi mới giật mình nhận ra lâu nay mình vẫn hay nhầm lẫn giữa hai khái niệm. Tôi tưởng mình là người biết tối ưu hóa. Thực ra, tôi chỉ giỏi tối ưu hóa cho bản thân. Còn người Nhật dường như luôn tính thêm một ẩn số trong mọi phép tính: người bên cạnh.


Tuy nhiên, người Nhật cũng có một cách rất lịch sự để lấy tiền của khách du lịch. Họ gọi đó là… cửa hàng tiện lợi. Ban đầu, tôi chỉ định vào mua một chai nước. Ra quầy tính tiền. Thấy cái bánh nhìn ngon. Lấy luôn. Đứng chờ tính tiền. Thấy hộp kem đang giảm giá. Lấy luôn. Đang móc ví. À quên. Ngày mai có thể mưa. Lấy thêm cái dù. Đi được vài bước. Lại quay vào mua thêm gói khăn giấy. Ra tới cửa. Tôi nhìn hóa đơn. Sáu nghìn yen. Tôi đứng tính nhẩm. Một chai nước đã khéo léo rủ thêm bốn người bạn đi cùng. Tôi nghi ngờ chai nước được hưởng hoa hồng theo doanh số. Từ hôm đó, tôi bắt đầu hiểu vì sao tiếng Anh gọi là convenience store. Nó tiện đến mức, tiền trong ví cũng tiện đường ra đi.


Tôi nhận ra Nhật Bản không chỉ lấy tiền của tôi. Họ còn đang âm thầm sửa từng thói quen của tôi. Tôi thấy mình giống một chiếc điện thoại vừa cài bản cập nhật mới. Vỏ máy vẫn thế. Chỉ có điều hệ điều hành bên trong bắt đầu hoạt động khác trước. Từ đó, tôi đâm ra nghi ngờ toàn bộ nền giáo dục mà mình được thừa hưởng và tự đào tạo suốt mấy chục năm. Những điều trước đây tôi cho là hoàn toàn bình thường, bỗng dưng lại thấy… không bình thường nữa.

Chẳng hạn như chuyện đi thang cuốn.

Ở Paris, trên thang cuốn là nơi người ta biểu tỏ triết lý sống của mình. Người không muốn bước, đứng yên thì tránh sang một bên. Người vội vàng thì lao xuống hoặc lên bên phần thang còn lại, như thể nếu chậm ba giây nữa máy bay sẽ cất cánh mà không đợi. Có lúc tôi cũng hùng hục leo. Lên đến nơi mới nhớ mình chẳng có việc gì gấp. Nhưng đã leo thì phải leo cho hết thang, chứ giữa chừng mà dừng lại thì quê xệ.

Sang Tokyo, tôi cũng ngoan ngoãn nối đuôi mọi người đứng nép về một phía trái, người Nhật đứng bên trái như khi họ lái xe vậy, chứ không bên phải như người Pháp. Được vài hôm xuống Osaka, tôi tiếp tục đứng đúng chỗ ấy. Nhưng chỉ vài giây sau, tôi thấy mọi người nhìn mình với ánh mắt rất lịch sự nhưng cũng rất… tha thiết. Thì ra ở Osaka, người ta đứng bên phải. Chỉ một bước chân thôi mà tôi biến thành chướng ngại vật quốc tế.


Điều đáng lưu ý là không ai cáu gắt. Không ai buông câu: “Ông không có mắt à?” Một anh thanh niên chỉ mỉm cười, khẽ cúi đầu chào rồi đứng sang phía đối diện. Nhận ra sai lầm, tôi cuống cuồng đổi chỗ. Hai người cúi đầu xin lỗi nhau. Một người xin lỗi vì đứng nhầm. Một người xin lỗi vì làm người kia phải xin lỗi. Tôi không biết cuối cùng ai là người có lỗi nữa. Nếu cảnh ấy xảy ra ở Paris, rất có thể chúng tôi đã trao đổi với nhau vài từ vựng mà từ điển của tôi không tiện ghi lại.

Tôi bắt đầu hiểu vì sao ở Nhật người ta gập người cúi đầu hoài như vậy. Không phải vì họ lúc nào cũng có lỗi. Mà vì họ luôn sợ mình đã vô tình làm phiền người khác. Còn chúng ta, nhiều khi làm phiền người khác thật, nhưng lại rất tự tin rằng… chắc cũng không sao (!)


Rồi đến chuyện thùng rác. Nếu có ai hỏi sau chuyến đi Nhật điều gì khiến tôi nhớ nhất, rất có thể tôi sẽ trả lời: “Một cái chai nước suối.” Không phải vì nó ngon. Mà vì tôi đã mang nó đi gần nửa ngày. Ở Paris, uống xong một chai nước, việc tiếp theo đơn giản như một phản xạ có điều kiện: tìm thùng rác. Cách vài mươi mét lại có một cái. Nếu lười quay lại, đi thêm vài bước thế nào cũng sẽ gặp cái khác. Thành phố dường như luôn chuẩn bị trước cho sự bất cẩn của cư dân. Nhật Bản thì khác. Tôi uống xong chai trà lạnh, ngó quanh, không có thùng rác. Tôi đi thêm một đoạn dài, vẫn không. Đi qua hai con phố rồi, cũng không. Tôi bắt đầu nghi ngờ mình bị loạn thị. Hay người Nhật giỏi ngụy trang đến mức ngay cả thùng rác cũng hòa vào cảnh vật? Tôi còn cúi xuống nhìn dưới gốc cây. Không chừng họ giấu dưới đó. Một giờ đồng hồ sau, cái chai vẫn nằm rất ngoan trong ba lô. Lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy mình và một chai nước có mối quan hệ gắn bó đến thế. Chúng tôi cùng lên tàu điện, cùng xuống ga, cùng ngắm cảnh đình đền, cùng dạo phố. Nếu có ai chụp ảnh lưu niệm lúc ấy, đáng lẽ phải ghi chú: “Tôi và người bạn đồng hành bằng nhựa.”


Tôi hỏi một người bạn Nhật: “Sao các anh ít đặt thùng rác thế?” Anh ấy cười: “Vì mọi người mang rác về nhà!” Câu trả lời ngắn gọn đến mức tôi tưởng mình nghe nhầm. Mang… về nhà? Trong đầu tôi lập tức hiện lên một viễn cảnh rất Việt Nam. Nếu áp dụng ở quê mình, có lẽ mỗi người sẽ sở hữu một bộ sưu tập túi ni lông đủ để mở triển lãm. Chúng ta vốn có niềm tin rất mãnh liệt rằng rác là thứ phải thuộc về… nơi khác, thuận tiện trên hết. Nhà mình sạch là được. Ra khỏi cửa, thế giới còn rộng lắm.

Tôi chợt nhớ những lần ở Paris, đang đi trên vỉa hè thì thấy một lon nước nằm chỏng chơ cạnh… thùng rác. Chỉ cách đúng mấy phân. Người vứt có lẽ đã ném rất có tâm. Chỉ tiếc môn bóng rổ không chọn họ vào đội tuyển quốc gia. Điều đáng nói là thế rồi người ấy chắc cũng đã tự nhủ: “Có lao công thu lượm mà!”

Chúng ta rất giỏi chia việc. Có người quét đường thì cứ việc xả. Có người cắt cỏ thì cứ việc dẫm. Có người lau chùi thì cứ việc ngồi vắt vẻo trên lưng ghế và chân giày thượng lên mặt ghế. Miễn là mình đã đóng thuế (!) Chữ “đóng thuế” nhiều khi được sử dụng như một loại bùa hộ mệnh, có thể miễn trừ mọi trách nhiệm còn lại.

Ở Nhật, tôi bắt đầu hiểu một điều hơi khó chịu. Một thành phố sạch không phải vì có nhiều lao công hơn. Mà vì rất ít người tạo thêm việc cho lao công. Đó là một kết luận rất bất tiện. Vì nó không cho phép tôi đổ lỗi cho ai cả.


Một buổi sáng khác, tôi ghé cửa hàng tiện lợi mua một hộp cơm và một lon cà phê. Cô thu ngân cúi đầu, hai tay đưa hóa đơn, hai tay đưa tiền thối, hai tay đưa túi giấy. Tôi cũng líu quíu nhận bằng hai tay như thể đang tiếp kiến Thiên Hoàng. Ra khỏi cửa, tôi gặp một ông cụ đang quét lá. Theo phản xạ lịch sự mới học được hai ngày, tôi cúi đầu chào. Ông cụ cũng cúi đầu. Tôi thấy vui. Đi thêm vài bước, gặp một nhân viên giữ xe. Tôi cúi đầu. Anh ấy cũng cúi đầu. Đến chiều, tôi bước vào khách sạn, cửa tự động vừa mở, tôi theo quán tính… cúi đầu chào luôn cái cửa.

Đó là lúc tôi nhận ra mình đã bắt đầu có triệu chứng “Nhật hóa”. May mà cái cửa không cúi lại. Nếu không, có lẽ tôi đã đứng đó chào qua chào lại đến tối.

Tôi kể chuyện ấy cho một người bạn ở Paris. Anh ta phá lên cười rồi hỏi: “Thế cậu có chào luôn cái máy bán nước tự động không?” Tôi đáp rất thật: “Chưa. Nhưng thêm hai ngày nữa thì tớ cũng không dám chắc.”

Con người đúng là một sinh vật kỳ lạ. Chúng ta mất hàng chục năm để hình thành một thói quen. Nhưng chỉ cần vài ngày sống giữa những người cư xử khác mình, ta bắt đầu nghi ngờ những điều tưởng như hiển nhiên. Điều đó vừa đáng mừng, vừa đáng sợ. Đáng mừng vì chứng tỏ mình vẫn còn khả năng thay đổi, thích ứng. Đáng sợ vì hóa ra bao năm nay, rất nhiều điều mình vẫn gọi là “bình thường” chỉ đơn giản là vì… mình quen với nó. Chỉ đến khi bước sang một xã hội khác, ta mới phát giác có những cái “bình thường” thực ra chẳng bình thường chút nào nơi này.

Đến ngày thứ ba, tôi bắt đầu thấy những thay đổi đáng báo động. Ví dụ như chuyện… nói chuyện. Ở Paris, vào quán cà phê, tôi vẫn gọi rất tự tin:

– Cho tôi một cái espresso!

Đến Tokyo. Tự nhiên giọng tôi nhỏ dần. Nhỏ đến mức chính tôi cũng không nghe rõ mình vừa gọi gì.

Cô phục vụ cúi đầu:

– Xin lỗi, cô nói lại được không ạ?

Tôi bèn… nhỏ hơn nữa. Cuối cùng, cô phải cúi sát xuống. Tôi cũng cúi xuống. Hai người cúi đầu thì thầm với nhau như đang trao đổi mật mã của lực lượng tình báo. Chỉ để gọi… một tách cà phê nóng. Tôi chợt hiểu: lịch sự quá mức cũng có thể làm phiền người khác.


Rồi đến chuyện bấm nút. Ở Nhật, cái gì cũng có nút. Thang máy có nút. Nhà vệ sinh có nút. Máy bán nước có nút. Máy gọi thức ăn có nút. Có hôm tôi bước vào nhà vệ sinh trong một quán ăn. Đóng cửa. Ngồi xuống. Bỗng… một tiếng nhạc du dương vang lên. Tôi giật bắn người. Tưởng mình ngồi nhầm lên hộp điều khiển vô tuyến. Loay hoay tìm mãi mới biết vừa vô tình bấm nút “âm thanh thiên nhiên”. Tiếng suối chảy róc rách, tiếng chim hót, tiếng mưa…; đủ cả. Tôi ngồi đó. Trong nhà vệ sinh. Mà có cảm giác như đang nghỉ dưỡng ở một khu suối nước nóng.

Ra ngoài, đụng đầu anh nhà.

Anh thắc mắc:

– Sao lâu vậy?

Tôi thành thật:

– Em vừa… đi vệ sinh giữa rừng. Thiếu mỗi con nai bước ra uống nước là đủ quay phim tài liệu National Geographic.

Sau bốn ngày ở Tokyo, tôi bắt đầu đánh giá quá cao khả năng thích nghi của bản thân. Con người vốn có một tài rất đặc biệt: chỉ cần sửa được vài thói quen là lập tức tưởng mình đã đổi được cả tính cách. Tôi cũng không ngoại lệ. Cho đến khi Kyoto nhẹ nhàng chứng minh rằng… tôi vẫn còn là tôi nguyên bản.

Tôi đang đi bộ trên một con phố nhỏ. Phía trước có một chiếc xe đạp dựng sát lề. Ở Paris. Tôi sẽ lách qua rất tự nhiên. Ở Kyoto, tôi bỗng sợ mình va vào chiếc xe, rồi xe ngã và rồi chủ nhân chiếc xe phải loay hoay dựng lại. Rồi mình đã làm phiền người ta. Thế là tôi vòng hẳn xuống lòng đường. Đi thêm mười mét. Tôi giật mình. Ủa… Từ bao giờ mình lại đi đường vòng chỉ vì… không muốn làm phiền một chiếc xe đạp dựng bên tường? Tôi bắt đầu nghi ngờ. Nếu ở Nhật thêm một tháng. Có khi trước lúc hắt hơi, tôi cũng sẽ quay sang xin lỗi những người đứng trong chu vi 5 thước.


Một lần tôi đi lạc trong một con hẻm nhỏ ở Kyoto. Theo phản xạ, tôi dừng ngay giữa vỉa hè để mở Google Maps. Vừa lấy điện thoại ra, tôi giật mình. Đằng sau có hai người đang đi tới. Tôi vội né sang một bên. Xem được vài giây, lại thấy mình đứng chắn trước cửa một tiệm bánh. Tôi lại né. Năm phút sau, tôi vẫn chưa biết mình đang ở đâu. Nhưng tôi biết rất rõ… mình chưa làm phiền ai cả. Chỉ có Google Maps là bắt đầu sốt ruột.

Điều kỳ lạ nhất là, không một ai bảo tôi phải làm như thế. Không có cảnh sát dòm chừng. Không có ai ghé mồm nhắc nhở. Không có tiếng còi xe. Không có ánh mắt soi mói. Chỉ có hàng triệu con người mỗi ngày âm thầm cư xử giống nhau. Và chính họ mới là tấm biển báo lớn nhất. Tôi chợt hiểu một điều. Ở nhiều nơi, người ta dùng luật pháp để buộc con người cư xử đúng. Ở Nhật, người ta dùng chính những người cư xử đúng để tạo ra luật.

Máy bay đáp xuống Paris vào một buổi sáng nhiều mây. Sau mười ngày ở Nhật, tôi bỗng thấy tiếng Pháp ồn ào hơn mình nhớ. Trong lúc chờ lấy hành lý, đã có người tranh thủ gọi điện thoại, người cười lớn, người kéo va-li va vào nhau lộc cộc. Tôi mỉm cười. Mới vài ngày trước cuộc viễn du ngắn hạn, tất cả những âm thanh ấy đối với tôi đều là bình thường. Chỉ cần đổi môi trường vài ngày thôi, cái gọi là “bình thường” đã thay đổi lúc nào không biết.


Ra khỏi sân bay, tôi hít một hơi thật sâu. Paris vẫn là Paris. Tiếng va-li lăn trên vỉa hè. Tiếng ghế kéo ngoài quán cà phê. Tiếng người gọi nhau ơi ới từ bên kia đường. Mọi âm thanh ấy bỗng trở nên lớn hơn trong tai tôi. Không phải vì Paris ồn hơn. Mà vì Tokyo vẫn còn ở trong đầu tôi. Tôi bỗng thấy nhớ thành phố này. Người ta vẫn bảo đi xa mới biết yêu nhà. Có lẽ đúng. Bởi dù Tokyo sạch sẽ, ngăn nắp và lịch sự đến đâu, tôi vẫn thấy vui khi nghe ai đó càu nhàu bằng tiếng Pháp. Có cái gì đó rất… quê hương.

Vài ngày sau, tôi đi bộ ra tiệm bánh gần nhà. Đến ngã tư. Đèn đỏ. Con đường nhỏ. Không bóng xe. Tôi nhìn sang trái – theo thói quen – nhìn sang phải – theo kinh nghiệm. Mọi điều kiện đều đủ đầy. Giọng Paris quen thuộc lập tức cất lên:

– Qua đường đi!

Tôi nhấc chân. Rồi dừng lại. Không phải vì sợ cảnh sát lẩn quất đâu đó. Mà vì ở đâu đó trong đầu có một ông Nhật nhỏ thó đang nhìn tôi. Ông ấy không nói gì. Chỉ đứng đó. Im lặng. Cũng giống như hàng nghìn người ở ngã tư Shibuya hôm ấy. Tôi cảm thấy bất an vì ông ấy không có vé máy bay. Thế mà vẫn theo tôi về đến Paris.

Tôi bật cười một mình. Một cái đèn đỏ ở Tokyo, cách đây gần mười nghìn cây số, không hiểu sao vẫn theo tôi về tận Paris. Đèn bộ chuyển sang xanh. Tôi tung tăng băng qua đường. Lần đầu tiên trong đời, tôi không có cảm giác mình vừa tiết kiệm được ba mươi giây. Tôi chỉ thấy mình… bớt phải tranh cãi với lương tâm công dân.

Có lẽ rồi đây, sẽ có lúc tôi lại phạm phải cái tật cũ. Biết đâu một sáng nào đó đường vắng tanh, tôi lại tự nhủ: “Đi trước đèn xanh một chút chắc cũng không sao.” Con người mà. Đổi một thói quen còn khó hơn đổi mật khẩu. Nhưng tôi biết sẽ có một điều khác trước. Trước khi bước xuống lòng đường, tôi sẽ nhớ đến Shibuya. Nhớ đến hàng nghìn con người đã đứng yên bên một con đường trống. Nhớ đến cái chai nước đi theo tôi suốt ngày. Nhớ đến chiếc thang cuốn ở Osaka. Nhớ đến cái cửa khách sạn mà tôi cúi đầu chào.

Rồi tự nhiên… tôi đứng lại.


Đi Nhật về, thứ nặng nhất tôi mang theo không nằm trong va-li. Đó là một ông Nhật bé xíu trong đầu. Ông ấy chẳng bao giờ “lên lớp” tôi. Chẳng bao giờ mắng mỏ. Mỗi lần tôi định tự nhủ: “Chắc cũng không sao…”, ông chỉ khẽ lắc đầu. Thế thôi. Và kỳ lạ thay, nhiều khi chỉ cần một cái lắc đầu rất nhẹ như vậy, con người ta cũng bớt muốn đi trước đèn xanh một chút.


Trúc Tiên
Paris 5 tháng 8 năm 2026
Nguồn: Tạp chí Thế Kỷ Mới

Anh Phước chuyển