Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Wednesday, October 21, 2026
Hà Nội Trong Mắt Tôi...- Xuân Hồng
Sau 1975, ai cũng biết,
đa số người miền Bắc ồ ạt vào Nam hơn là dân miền Nam ra Bắc. Ngoại trừ những
nhân vật đặc biệt với công tác đặc biệt có giấy phép, còn hầu hết thường dân bị
cấm, nhất là đối với thành phần “ngụy quân, ngụy quyền” như tôi.
Cho đến khoảng năm
1979-1980, lịnh cấm ra Bắc vẫn còn hữu hiệu. Tôi, do một nhân duyên, bà con
phía chồng cũng như nhà mình đều ở ngoài Bắc. Tôi có người anh họ bên chồng sau
1975 vào Sài Gòn làm cơ quan nhà nước. Anh lại là trưởng đoàn trong chuyến công
tác ra Bắc năm đó. Nhờ vậy mà tôi xin quá giang anh (xe tải) ra Bắc thăm chồng
cải tạo. Anh làm cho tôi một giấy công nhân gõ rỉ của nhà máy theo đoàn công
tác.
Để có bạn, tôi rủ thêm
chị Nga, con dâu nhà văn Hoàng Đạo (Tự Lực Văn Đoàn). Chị có chồng cải tạo Hà
Nam Ninh, và cũng mang giấy giả mạo như tôi do người nhà tôi giúp chị. Chuyến
xe dong duổi cả tháng trời ngoài đường như du mục từ Sài Gòn ra tới Hà Nội. Tôi
và chị trải một cuộc sống bụi đường lẫn… bụi đời, ngủ trên tấm ván kê trên những
thùng phuy, hay lủng lẳng đu đưa trên chiếc võng máng móc vào thành xe.
Dọc đường, để tiết kiệm
chi phí, và cũng để tỏ lòng cám ơn cho quá giang xe, tôi và chị tình nguyện làm
“chị nuôi” nấu ăn cho đoàn (bảy người). Tôi làm sẵn một xô dưa cải muối mang
theo. Ngoài những lúc bất đắc dĩ vào quán ăn, xe tắp vào một thị trấn, ghé chợ
mua tí thịt, cà chua, củi lửa… rồi tìm một sân vườn nhà dân xin bắt bếp nấu ăn.
Bếp chỉ là ba viên gạch hoặc kiềng sắt ba chân. Thế là chúng tôi có bữa cơm
ngon: Một nồi canh dưa cải chua vàng vàng lẫn màu đỏ của cà chua, tí xanh xanh
của hành ngò; ăn kèm rau sống. Vậy cũng là sang trọng, ở cái thời gạo châu củi
quế.
Ra tới miền Bắc, sau
khi tôi và chị hoàn thành xong việc thăm nuôi chồng, cả hai tự túc đi xe lửa ra
Hà Nội, hẹn với đoàn tại nhà một giáo sư đại học, bà con chị Nga. Hai chúng tôi
tạm ở đó. Trong khi chờ đoàn xe công tác Hải Phòng, Bắc Ninh xong trở lại đón,
chúng tôi lại có công tác mới do đoàn giao phó. Số là khi ra Bắc, để kiếm tí tiền
trang trải ăn tiêu, anh em trong đoàn mua dừa xanh giấu ở lòng xe tải; với một
số khá lớn rổ rá bằng nhựa. Toàn là những tay bất đắc dĩ không biết làm ăn,
không rành thương mại. Dừa xanh ra tới Bắc hư gần hết phải đổ đi. Rổ rá kềnh
càng bán chả được bao nhiêu lời. Số vốn thu được, anh em nhờ tôi và chị Nga ra
chợ Đông Xuân mua khoai tây để khi về mang vào Nam bán. Nhưng rồi khoai tây về
đến nơi, thúi gần hết, lại đổ!
Suốt thời gian ở Hà Nội,
trong nhà bà con chị Nga, tôi có dịp chứng kiến cuộc sống dân miền Bắc dưới chế
độ XHCN. Vợ chồng anh chị Vĩnh, người mà chúng tôi xin tá túc, được đánh giá là
thành phần trí thức của Hà Nội. Anh là giáo sư đại học; chị là giáo viên tiểu học.
Anh chị được cấp một căn phòng ở tầng trệt trong căn nhà tập thể có hai tầng.
Căn nhà không lớn lắm, cũ mèm, dành cho bốn hộ. Tầng trên hai hộ, tầng dưới hai
hộ.
Căn phòng anh chị chỉ
kê được một sofa nhỏ, một bàn con, vài chiếc ghế đẩu vừa tiếp khách vừa dùng ăn
cơm. Anh chị bắc ván gỗ làm thêm gác xép, thấp lè tè, làm phòng ngủ. Lên đó chỉ
có thể ngồi mà không đứng được. Anh chị trải chiếu gần chỗ anh chị nằm dành cho
tôi và chị Nga. Sát vách phòng anh chị là mẹ con bà Huých, hàng xóm, được ngăn
bởi liếp tre. Cứ ở trên căn gác nhìn xuống và qua cái liếp tre là nghe thấy hết
mọi sinh hoạt của hai mẹ con bà.
Một buổi sớm tinh mơ,
trời miền Bắc sắp vào Xuân se lạnh. Nằm cuộn mình trong chiếc chăn ấm, lòng nhẹ
thênh thang, nghe tiếng rao lanh lảnh của người bán rong, tôi cảm nhận được nét
sinh hoạt thực mà bao lâu nay chỉ đọc qua trong sách vở, trong Tự Lực Văn Đoàn.
Bây giờ mới thực sự được thưởng thức: Ai bánh khúc nào? Ai xôi vò nào? Ai bánh
cuốn nào? Ai… Tiếng rao ngọt ngào, trầm bổng, mời gọi như hót, dễ thương làm
sao. Chỉ nghe đã thấy ruột gan lăn tăn réo gọiGiữa lúc tôi và chị Nga còn nằm
nướng, xeo xéo ở góc gác, vợ chồng anh chị Vĩnh hình như cũng đang ngủ vùi, bất
chợt giọng bà Huých cất lên, lanh lảnh: “Tiên sư bố nhà chúng nó. Cứ dòm… dòm…
dòm…! Nhà bà chỉ có mỗi thằng bé. Lâu lâu nó đưa bạn gái về nhà chơi. Chúng có
‘làm ăn’ gì thì cũng như chúng mày làm, có khác gì nào, mà cứ rình mò?!”. Tôi
giật mình đưa mắt nhìn quanh quất xem bà chửi ai. Vẫn không nghe động tịnh. Chỉ
có tiếng bà tiếp tục hung dữ cất lên, phá tan sự tĩnh mịch.
Vẫn điệp khúc: “Tiên sư
bố”… và “dòm… dòm… dòm…”, bà lặp đi lặp lại dai dẳng. Tuy chửi nhưng âm điệu
lên bổng xuống trầm, có vần có điệu. Bỗng nhiên, có tiếng sột soạt chiếu kế
bên. Chị Vĩnh ngồi dậy, quay mặt nhìn xuống nhà hàng xóm: “Này, tôi nói cho mà
biết nhá. Mới sáng sớm hãy để cho mọi người ngủ nhá. Nhà chúng tôi không rỗi
hơi đi dòm con bà đâu nhá. Bà có câm mồm đi không nào?”.
Lời nói của chị Vĩnh
như dầu đổ thêm vào lửa. Bà Huých nổi xung thiên, chửi xối xả một hơi dài:
“Tiên sư bố nhà chúng mày. Chúng mày vễnh tai lên, cái tai dài và cao như tai lừa
ấy mà nghe bà chửi đây này. Con mắt nhà chúng mày là mắt cú vọ. Cú vọ chỉ một
tròng chứ mắt nhà chúng mày đến bốn tròng cơ. Các tròng ấy để mày liếc, mày
xéo, mày xiên, mày soi, mày rọi, mày chiếu vào nhà bà. Mày dòm từ hòn cát, mày
liếc tới hòn than, mày rọi từng hòn sỏi, mày chiếu tới hòn gạch, mày soi tới cả
hòn… thằng con bà…”.
Đến lúc này tôi chưng hửng,
mới biết từ nãy giờ bà chửi nhà anh chị Vĩnh trong khi anh chị qua nay không đụng
chạm gì tới bà. Tôi thở dài nghĩ tới viễn ảnh cái “thế giới đại đồng” mà nhà nước
đang vẽ vời cho miền Nam mình…
“Thế giới đại đồng”
Trước khi ra Hà Nội,
tôi vô cùng háo hức, phần được thăm lang quân sau ba năm không gặp kể từ khi
anh bị tống ra Bắc, phần sắp thưởng thức nền văn minh XHCN như thế nào mà mỗi tối,
sau giờ cơm, tôi cùng lối xóm “được” nhà nước thúc hối mời đi học nếp sống văn
minh mới XHCN. Nhưng tới nơi, tôi chưng hửng, đặc biệt khi chứng kiến cái nhà
xí tập thể của thủ đô ngàn năm văn vật tại nhà anh chị Vĩnh.
Nhà xí nhỏ như một cái
chòi canh bằng gạch, nằm một bên sát tường sân sau, cao tầm một chiếc bàn, có
tam cấp để bước lên. Một khoanh cửa nhỏ thấp lè tè phủ một tấm vải thô làm cửa
vào nhà xí. Khi bước vào phải cúi gập xuống. Mỗi khi vén tấm màn lên để bước
vào thì ruồi xanh, ruồi đen con nào con nấy to bằng móng tay cái bay ào ra. Bên
trong là một ụ tro lớn trải rộng, chừa một cái lỗ vừa đủ để…! Hai bên có hai
viên gạch để người hành sự đặt chân. Những con giòi mập ú trắng hếu bò lúc nhúc
miệng lỗ. Mùi hôi thối nồng nặc.
Không hề có nước dội cầu.
Mà nhà xí như vậy cũng không cần phải dội. Lại nữa, nước vốn không đủ cho bốn hộ
tập thể sống với nhau. Phải tiết kiệm tối đa. Một cái vòi nước khiêm nhường, đặt
trước buồng tắm giữa lối đi song song với nhà xí, nhỏ một cách yếu ớt xuống bốn
cái thùng của bốn hộ xếp chờ sẵn, cứ đầy thùng này thì đẩy sang thùng khác. Ai
muốn tắm phải lo hứng nước trước.
Trở lại cái nhà xí. Bên
dưới cái lỗ, có một thùng lớn hứng phân nằm trong hầm cầu, có một cửa nhỏ để mở
lấy thùng phân. Khi thùng phân đầy sẽ có ban vệ sinh đến lấy đem làm phân bón.
Đường phố Hà Nội thỉnh thoảng gặp những chiếc xe chở phân vung vãi dọc đường.
Phân là một trong những “sản phẩm” quí nộp cho hợp tác xã, nhờ đó được tăng
thêm điểm để nhận thóc, do vậy, khi một con bò hay trâu phóng uế, người “có
duyên” gặp thì hốt ngay bằng tay, chứ chạy về nhà tìm cuốc xẻng, chạy ra là mất.
Một ngày, tôi tìm thăm
người cô ruột, em út của ba, mà tôi chưa hề biết mặt trước đó. Cô tôi ở phố
Khâm Thiên. Cùng huyết thống nên dù lần đầu mới gặp, hai cô cháu đã cảm thấy gần
gũi thân thiết, nhất là cả nhà luôn nói, tôi có khuôn mặt giống cô út. Chồng cô
là cán bộ từng du học Liên Xô. Cả hai được cấp một căn nhà riêng diện tích độ
30 mét vuông nằm trong khu tập thể, tên gọi “Khu tập thể đường sắt Khâm Thiên
Hà Nội”. Nhà cô tôi, không chung chạ như nhà anh chị Vĩnh, nhưng giếng nước và
nhà vệ sinh thì chung với nhiều nhà trong khu.
Dãy nhà xí gồm bốn căn
cho khu tập thể nằm chính giữa một khu đất rộng. Gần đó có một giếng nước
chung, cách nhà cô tôi khoảng 50 mét. Từ sáng sớm, tôi đã nghe tiếng lào xào của
mọi người quanh giếng, kẻ múc nước gánh về, người giặt giũ, tắm rửa… Ì xèo cả
lên. Tôi bước về hướng nhà vệ sinh. Trước mắt tôi, trên hành lang nhỏ dẫn vào
nhà xí, phân đầy lối đi. Mùi khai thối nồng nặc. Nhà xí này “văn minh” hơn, đúc
bằng xi măng, ngồi xổm. Tôi nhìn qua cả bốn nhà xí. Không cái nào khá hơn. Tôi
bịt mũi, nhắm mắt… Chao ôi, không thể tả nổi, thế giới đại đồng là đây sao?
Nhà cô tôi diện tích
không lớn, nhưng để thực thi chính sách “lao động là vinh quang” và để thêm thu
nhập, cô còn nuôi heo. Hai con heo trong chuồng gần sát giường tôi và cô nằm
(khi tôi tới, chồng cô… di cư nơi khác, sáng mới về; như anh chị Vĩnh vậy – anh
chị phải gởi đứa con duy nhất về nhà ông bà nội, ngoại). Con heo ụt ịt cả ngày
lẫn đêm. May mắn là cô tôi tắm rửa heo và chuồng sạch sẽ nên không nghe mùi hôi
lắm. Tuy nhiên, tiếng ụt ịt của heo thì chẳng bao giờ ngưng. Tôi thiếp đi trong
“tiếng ru” của nó, và lại hãi hùng khi nghĩ về cái “thế giới đại đồng” mà tôi
cũng như người miền Nam sắp đón nhận!
Ai “giải phóng” ai?
Niềm háo hức khi sắp ra
Hà Nội là được ngắm “36 phố phường” của Thạch Lam với những quán ăn mệnh danh
“đệ nhất Bắc Hà” mà Thạch Lam khẳng định… xém là đệ nhất Đông Dương; và những
cô gái Hà Thành thanh lịch… Nhưng trước mắt tôi, quán ăn đâu không thấy, chỉ
toàn những căn nhà nhỏ hẹp tối tăm nhiều năm không sơn phết. Rồi vài tiệm tạp
hóa bán lèo tèo vài thứ gia dụng. Người đẹp Hà Thành cũng chẳng thấy đâu. Không
có cảnh “Dập dìu tài tử giai nhân. Ngựa xe như nước áo quần như nêm”. Trên đường
toàn xe đạp, lâu lâu mới thấy vài chiếc Honda được mang từ Nam ra. Nam thanh nữ
tú đâu cả rồi? Sao vắng bóng?
Trước mắt tôi, tất cả,
là những chiếc áo cộc (tập thể mà!) màu trắng hay xanh lơ, cổ bẻ, với quần vải
đen. Hầu hết các cô đều thắt bím. Không một ai mặc áo dài (áo dài như trong
Nam, với hai tà áo “dư thừa”, đã bị kết án là phí phạm, là tư sản). Đã thế, sự
dinh dưỡng không đầy đủ, còn phải “lao động vinh quang”, nên chiều cao đa số rất
khiêm nhường.
Một ngày, khi dạo phố,
gặp người ngoại quốc, anh họ tôi nhắc: “Đừng đến gần họ, sẽ bị qui là CIA, công
an đến còng ngay đấy”. Anh nói thêm: “Ra đây, muốn yên thân, câm mồm là thượng
sách”. Trên đường trở về Nam, chị Nga thủ thỉ với tôi: “Thiên đường Cộng sản là
vậy sao? Đời sống như thế mà… ‘giải phóng’ miền Nam trù phú nghe sao nghịch lý
quá! Đúng là một cuộc chiến ‘chén kiểu đụng chén sành’! Thà trong Nam tụi mình
cứ để ‘Mỹ Ngụy kềm kẹp”.
Ngày nay, sau gần 50
năm, thực tế càng chứng minh rõ hơn bao giờ hết. 30/4 chẳng là ngày “giải phóng
miền Nam” gì cả. Gần nửa thế kỷ nay, người Bắc vẫn vào miền Nam chứ chẳng “ma”
nào trong Nam muốn ra xây dựng sự nghiệp và tìm kiếm cơ hội “đổi đời” ở đất Bắc.
Không chỉ vậy, bọn con ông cháu cha bây giờ thèm được Mỹ “kềm kẹp” hơn bất kỳ
ai khác. Gần 50 năm qua, miền Nam VNCH đã dạy miền Bắc XHCN vô số bài học.
Gần nửa thế kỷ qua, miền
Nam đã giải phóng miền Bắc hoàn toàn ra khỏi cuộc sống tối tăm…
Xuân Hồng
Phan Thế Nghĩa - • HÀ NỘI TRONG MẮT TÔI… Sau 1975, ai cũng biết,... | Facebook
Tuesday, October 20, 2026
Chuyện Tnh Khó Quên – Trần Luyện
Trần Luyện
Video Cuộc Biểu Tình Ngày 17-10- 2026 ở Pháp - Nguyễn Duy Phước
Thói Đố Kỵ - Trọng Bệnh Của Người Việt
![]() |
Người Việt hay để ý nhà kia có gì hay, có gì hơn của nhà mình. Nếu thấy người ta mua được con xe máy đắt tiền thì cũng cố để mua được con xe… đắt tiền hơn. Thấy người ta xây căn nhà mới, nếu sau đó nhà mình cũng xây thì luôn cố gắng làm to hơn một tí, cao hơn một tí… Ngược lại, nếu mình không được như nhà hàng xóm thì sinh ra ganh ghét, so bì.
Nhà văn Tạ Duy Anh
tổng kết rằng, thói tự mãn, nói dối và đố kỵ là ba thứ khiến người Việt không
thể lớn. Trong đó, đố kỵ là bệnh nặng nhất của giới trí thức Việt, đồng thời
cũng là bệnh nặng nhất của dân tộc. Vì sao vậy?
Bệnh nặng nhất
của giới trí thức
Nhà văn Tạ Duy Anh
đau đáu khi bàn về tính đố kỵ của người Việt. Ông bảo, với người Việt thì thói
đố kỵ là “vô cùng kinh hoàng”. “Khi gặp một người nào đó, chỉ cần xác định 3 điều:
Đố kỵ, háo danh, nói dối thì khẳng định luôn là ông không có tài. Người có tài
thì họ chỉ có một trong ba thứ đó thôi: Nói dối thì có thể vì làm thế mới sống
được, chấp nhận được; có tài thì làm gì người ta phải háo danh nữa, vì họ hiểu
danh hay không sẽ chẳng thể liên quan đến việc anh có muốn hay không mà phải là
do sự nỗ lực, cố gắng của bản thân mới “hữu xạ tự nhiên hương”; nhưng đố kỵ là
bệnh nặng nhất của giới trí thức Việt Nam, mà đã là giới trí thức thì đó cũng
là bệnh của cả một dân tộc”, ông khẳng định.
Cũng theo nhà văn,
đáng ra, người ta phải bài trừ những tính xấu này. Đằng này xã hội lại tạo danh
tiếng cho người ta háo danh hơn bằng đủ các thể loại giấy khen, bằng khen, chứng
nhận gia đình văn hóa, làng xã văn hóa… Nhà này thấy nhà kia đạt được danh hiệu
thì cũng ấm ức trong lòng, quyết mua danh bằng được. Cứ thế mà thói đố kỵ đẩy
lên.
Rồi chuyện hai nhà
đang sống cạnh nhau thân thiết. Sau đó một nhà giàu có lên thì nhà kia sẽ không
chơi nữa, nhưng nếu nhà giàu đó mà gặp chuyện tai ương thì nhà kia sẽ quay lại,
chơi rất thật lòng. Trong một tập thể thì không ai ngoi lên được hoặc có ngoi
lên sẽ bị gièm pha, nhòm ngó. Lại có ông giám đốc phấn đấu cả đời mới lên được
chức ấy thì tự cao tự đại, coi mình là nhất. Những người không hợp phe cánh, phấn
đấu mãi cũng chỉ làm cấp phó quay ra chống đối, cốt sao được ngoi lên cái chức
vị ấy.
Ngay trong giới
văn nghệ sĩ, nhiều người đạt được một giải thưởng nào đó thì tự đắc, coi mình
tài giỏi lắm. Người khác thì chậc lưỡi “nó viết có ra cái gì đâu, chẳng qua là
ăn may thôi”… “Thói đố kỵ ăn sâu đến nỗi nhiều khi tôi cũng giật mình xấu hổ vô
cùng khi giả dụ thấy ai trúng vé số mấy tỷ, có một phần triệu giây trong ý nghĩ
mong cho người ta bị vấn đề gì đó. Cực xấu hổ!”, ông chia sẻ.
Đố kỵ vì không
có tiêu chí về đạo đức, tài năng
Theo nhà văn Tạ
Duy Anh, sở dĩ người Việt đố kỵ vì cộng đồng không có tiêu chí về đạo đức, tài
năng. Đó là một cộng đồng trọng tuổi “sống lâu lên lão làng” hơn là trọng tài,
thích được ve vuốt hơn là nói thật. Tất cả những cái đó được tích tụ lại dẫn đến
thói đố kỵ, không muốn ai hơn mình.
“Trong một cộng đồng
không biết tôn vinh thủ lĩnh thì nó sẽ kéo nhau xuống. Có câu “chết cả đống còn
hơn sống một mình” là nét khái quát nhất, thể hiện rõ nhất tính đố kỵ của người
Việt. Thấy người ta viết tác phẩm hay thì nói xấu hòng kéo thanh danh của họ.
Nhiều khi nói xấu chỉ để thỏa mãn bản thân chứ chẳng hại đến người ta, nhưng nó
cũng cho thấy rõ ràng tính đố kỵ đã làm người ta không thể kiểm soát nổi mình”,
nhà văn Tạ Duy Anh nói.
Đố kỵ làm người
Việt nhỏ nhen
Còn theo PGS.TS
Ngô Văn Giá thì cái gốc của thói đố kỵ là cấu trúc xã hội đẳng cấp, trọng tiêu
chí hơn – kém, đúng – sai hơn là biết nhìn ra điểm khác biệt, ưu thế của mỗi cá
nhân. Từ đó mà sinh ra so bì, đố kỵ, thóc mách, rất sợ người ta hơn mình và
không muốn người ta hơn mình, không dám thừa nhận năng lực kém.
Còn ThS Trần
Phương thì chỉ ra rằng, thói đố kỵ, so bì cũng có nguồn gốc “dây mơ rễ má” từ
tính tò mò, tâm lý đám đông của người Việt. Ông phân tích: Người Việt hay để ý
nhà kia có gì hay, có gì hơn của nhà mình. Nếu thấy người ta mua được con xe
máy đắt tiền thì cũng cố để mua được con xe… đắt tiền hơn. Thấy người ta xây
căn nhà mới, nếu sau đó nhà mình cũng xây thì luôn cố gắng làm to hơn một tí,
cao hơn một tí… Ngược lại, nếu mình không được như nhà hàng xóm thì sinh ra
ganh ghét, so bì, thậm chí còn viện lý do để an ủi bằng những suy nghĩ nhỏ nhen
kiểu “chắc nó lại được bố mẹ, anh em cho”, “chắc gì tiền để làm những thứ ấy là
trong sạch”, “trời không cho ai tất cả”…
Cũng theo ông
Phương, chính vì văn hóa làng coi trọng tập thể hơn cá nhân; yếu tố “bản vị”
coi cái gì của làng mình, của dòng họ, gia đình mình cũng là nhất nên khi thấy
người khác hơn mình sẽ cảm thấy khó chịu. Cứ thế, thói đố kỵ làm người Việt
luôn phải nhìn nhau, đề phòng nhau, hơn thua nhau thay vì cùng san sẻ với nhau.
“Song có một điểm đáng chú ý là khi gặp thiên tai, ngoại xâm, tính đố kỵ dường
như không còn chỗ nữa mà người Việt lại tương thân tương ái, lá lành đùm lá
rách. Đó là tính hai mặt của văn hóa làng”, ông Phương bình luận.
Làm sao để người
Việt bớt đố kỵ?
Thừa nhận đố kỵ,
so bì cũng thuộc cơ chế tự vệ của con người, song theo GS Phạm Thành Nghị, Viện
Tâm lý học thì cơ chế ấy ở mức độ nào, có thường xuyên xuất hiện hay không lại
do môi trường xã hội chi phối. Ông nói: Khi môi trường xã hội không an toàn thì
cơ chế này xuất hiện thường xuyên. Ngược lại, môi trường trong lành, mức sống của
người dân ở đó được đảm bảo, con người có thể tồn tại dễ dàng, có thể kết bạn
thì cơ chế ấy sẽ ít xuất hiện. Điều đó lý giải cho việc vì sao người phương Tây
rất cởi mở, ít so bì, đố kỵ nhau hơn người Việt Nam, người miền Nam ít đố kỵ
hơn người miền Bắc, vì ở đó mức sống cao hơn, cơ chế sòng phẳng hơn, đánh giá
con người thông qua năng lực tốt hơn.
Vì thế, để giảm bớt
tính đố kỵ của người Việt, theo ông Nghị, cần phải xây dựng rõ ràng tiêu chí
đánh giá con người. Phải đánh giá bằng năng lực, có thang điểm cụ thể thay vì
kiểu “sống lâu lên lão làng”. Phải khắc phục bằng thiết chế, thể chế, giáo dục.
Tuy nhiên, nói đến
sự đổi mới của giáo dục nhằm hạn chế tính đố kỵ, nhà văn Tạ Duy Anh tỏ ra khá
bi quan khi cho rằng, ngay trong giáo dục cũng đang tồn tại háo danh thông qua
những bằng khen, giấy khen, phiếu bé ngoan, thầy cô giáo nhận tiền của phụ
huynh để sửa điểm cho học sinh… thì thật khó để nghĩ đến sự thay đổi. Bên cạnh
đó, giới trí thức – những người “dẫn đường chỉ lối” cho xã hội cũng mắc phải
căn bệnh đố kỵ thì dường như, để hạn chế tính đố kỵ của người Việt vẫn còn là ước
muốn khá xa vời. Song, “dù gì cũng cần phải làm một cái gì đó, trước hết và căn
bản vẫn phải từ giáo dục”, ông nói.
|
“Người Việt có câu “thà chết cả đống còn hơn sống một
mình” là câu cô đúc nhất về thói đố kỵ, không muốn ai hơn mình mà chỉ muốn
kéo mọi người xuống ngang bằng với mình. Đó chính là nguyên do của việc Việt
Nam bị chậm phát triển. Tất nhiên, ở một góc độ nào đó, tính đố kỵ làm cho
con người ta có động lực để phấn đấu, cố cho bằng bạn bằng bè. Song về cơ bản
nó vẫn kìm hãm sự phát triển, không thúc đẩy được sự sáng tạo cá nhân” – PGS.TS Ngô Văn Giá |
Theo KIẾN THỨC
Anh Phước chuyển
Monday, October 19, 2026
Bí Quyết Pha Các Loại Nước Chấm Ngon
Nước chấm tuy chỉ là gia vị đi kèm nhưng đối với nhiều món ăn, lại là thứ làm nên hương vị chính của món ăn đó.
Galang Ngày Trở Lại - Thi Hạnh
Trở về nơi đây, đứng ở nơi này, cảm giác của
tôi hôm nay vừa quen, vừa lạ. Quen
vì được trở về nơi từng in dấu chân mình trên bước đường tỵ nạn năm xưa. Lạ vì
đã hơn 40 năm trôi qua, ký ức của một cô bé chưa tròn 10 tuổi vốn đã ít ỏi, nay
theo năm tháng càng nhạt nhòa hơn. Dường như có những hình ảnh vẫn còn đâu đó
trong tâm trí, nhưng cũng có nhiều điều chỉ còn là những mảnh ký ức rời rạc, được
ghép lại từ những câu chuyện của những người cùng chung số phận thuyền nhân.
Tôi chậm rãi bước đi trên những con đường nhỏ
của hòn đảo mang cái tên quen thuộc: Galang. Những con đường này, ngày xưa từng
đông đúc người qua kẻ lại, nay cây cối xanh um phủ kín, đến nỗi khó có thể tưởng
tượng rằng nơi đây đã từng in dấu chân của hơn 250,000 thuyền nhân Việt Nam. Tiếng
trẻ con nô đùa, tiếng người gọi nhau, tất cả giờ chỉ còn trong ký ức.
Những gì còn sót lại, như nghĩa trang, nhà thờ, hay ngôi chùa ấy vẫn âm thầm đứng giữa dòng thời gian như những nhân chứng của một giai đoạn lịch sử mà hàng trăm nghìn người Việt sẽ không bao giờ quên.
Galang là một hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Riau
của Indonesia, cách đảo Batam không xa. Sau biến cố tháng Tư năm 1975, hàng
trăm nghìn người Việt đã liều mình vượt biển để tìm tự do. Từ năm 1979 đến năm
1996, Galang trở thành một trong những trại tỵ nạn lớn nhất Đông Nam Á, tiếp nhận
hơn 250,000 thuyền nhân Việt Nam. Đối với thế giới, đây chỉ là một trại tỵ nạn,
nhưng đối với hàng trăm nghìn người Việt, Galang là nơi đánh dấu sự kết thúc của
một hành trình sinh tử và mở ra hy vọng về một cuộc đời mới.
Ngày ấy, Galang chẳng khác nào một thị trấn
thu nhỏ. Trên đảo có những dãy barak làm nơi cư trú, trường học, bệnh viện, nhà
thờ, chùa, đền, sân thể thao, trạm y tế và cả những cửa hàng nhỏ phục vụ nhu cầu
hằng ngày. Cuộc sống tuy còn nhiều thiếu thốn nhưng mọi người đều cố gắng xây dựng
một sinh hoạt bình thường nhất có thể. Điều quý giá nhất mà Galang mang lại
không phải là những mái nhà tạm hay những phần lương thực cứu trợ, mà là sự
bình yên.

Nghĩa trang Galang
Sau nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần lênh đênh
trên biển, đối mặt với bão tố, đói khát, hải tặc và cái chết, đặt chân lên
Galang đồng nghĩa với việc biết rằng mình đã sống sót. Đêm đầu tiên trên đảo,
nhiều người mới có thể ngủ một giấc thật yên mà không còn giật mình vì tiếng
sóng hay nỗi sợ con thuyền sẽ chìm giữa biển khơi. Vì thế nên Galang không chỉ
cứu sống con người, mà còn chữa lành những tâm hồn đã chịu quá nhiều đau
thương.
Tại đây, người lớn học ngoại ngữ để chuẩn bị
cho cuộc sống mới. Họ học tiếng Anh, tiếng Pháp hay ngôn ngữ của quốc gia sẽ tiếp
nhận mình. Nhiều người học nghề, học cách thích nghi với một xã hội hoàn toàn
khác. Trẻ em được đến trường, được vui chơi, được chạy nhảy cùng bạn bè. Ngày ấy,
ngoài những dãy barak và những con đường đất, còn có những khu chợ nhỏ của người
Việt. Chợ không lớn, chỉ là vài sạp hàng đơn sơ, bày bán những thứ linh tinh mà
một gia đình có thể cần trong cuộc sống hằng ngày. Người bán, người mua đều là
những người Việt xa xứ, cùng sống trên một hòn đảo giữa biển, cùng chia sẻ những
ngày tháng trong đợi chờ và hy vọng. Tôi vẫn nhớ, đó cũng là nơi tôi được ăn
trái táo tây (apple) lần đầu tiên trong đời. Một trái táo to, tròn, đỏ mọng,
trông thật lạ và đẹp, mà anh Trung, một người anh họ đã mua cho tôi, mà mãi đến
hôm nay vị ngọt của trái táo đó vẫn còn nguyên trong ký ức.

Trước cổng Quan Âm Tự
Trong gần 20 năm hoạt động, đã rất nhiều em
bé được sinh ra trên hòn đảo này. Có em chưa từng đặt chân lên quê hương Việt
Nam, nhưng Galang lại là nơi cất tiếng khóc chào đời. Nhiều người trong số họ
hôm nay đã ngoài 40 tuổi, có gia đình, có con cái và sự nghiệp riêng. Mỗi khi
trở lại nơi này, họ không chỉ trở về một địa danh lịch sử, mà còn trở về chính
nơi cuộc đời mình bắt đầu.
Thế nhưng, không phải ai cũng có cơ hội rời
khỏi Galang. Có những người vì bệnh tật, vì tai nạn hoặc vì những vết thương
quá nặng sau hành trình vượt biển đã mãi mãi nằm lại trên hòn đảo này. Nghĩa
trang Galang hôm nay vẫn còn những hàng bia mộ lặng lẽ. Có những ngôi mộ ghi đầy
đủ tên tuổi. Có những ngôi mộ chỉ còn vài dòng chữ đã mờ theo năm tháng. Và
cũng có những ngôi mộ vô danh. Mỗi lần đi ngang nơi ấy, người ta không chỉ tưởng
nhớ những người đã khuất, mà còn nhớ đến cái giá rất đắt mà biết bao người Việt
đã phải trả để đi tìm hai chữ «tự do».

Tượng Đức Maria trong khu vực nhà thờ Công
giáo
Đối với những người được định cư tại Hoa Kỳ,
Canada, Úc, Pháp, Đức, Na Uy và nhiều quốc gia khác, cuộc sống mới cũng không hề
dễ dàng.
Họ phải bắt đầu lại từ con số không. Không
ngôn ngữ. Không nghề nghiệp. Không người thân.
Họ đã làm bất cứ công việc nào có thể kiếm sống,
và với sự cần cù và ý chí vươn lên, họ dần ổn định cuộc sống, mua được căn nhà
đầu tiên, nuôi con ăn học và xây dựng tương lai cho gia đình.

Hình ảnh của cuộc biểu tình khi trại tỵ nạn bị
đóng cửa và thuyền nhân bị buộc phải hồi hương. Hình được trưng bày trong
Museum
Nửa thế kỷ trôi qua, thế hệ thuyền nhân năm
xưa nay phần lớn đã bước vào tuổi xế chiều, nhưng con cháu của họ đã có điều kiện
để trở thành những người thành đạt và đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong
xã hội. Mỗi người có một hành trình khác nhau, nhưng đều góp phần xây dựng quê
hương thứ hai của mình, đồng thời vẫn gìn giữ tiếng Việt, văn hóa và truyền thống
dân tộc. Có lẽ đó cũng là điều mà cha mẹ họ hằng mong ước khi quyết định bước
lên con thuyền năm ấy.
Ngày nay, Galang không còn là một trại tỵ nạn.
Thiên nhiên đã dần phủ xanh nhiều dấu tích cũ. Nhưng hòn đảo này vẫn giống như
một bảo tàng ngoài trời, lưu giữ ký ức của một thời kỳ đặc biệt trong lịch sử
người Việt.
Điều khiến tôi xúc động nhất là sau ngần ấy
năm, vẫn có rất nhiều cựu thuyền nhân trở lại Galang.

Họ không trở về để du lịch. Họ trở về để thắp
một nén hương cho những người đã nằm lại nơi đây. Để tìm lại căn barak mình từng
sống. Để đứng trước ngôi nhà thờ hay ngôi chùa năm xưa. Để chỉ cho con cháu
mình biết mình đã từng ở đây.
Không chỉ Galang, mà những trại tỵ nạn khác
trong khu vực cũng là những điểm dừng chân đã làm thay đổi cuộc đời của biết
bao gia đình. Chính từ những nơi ấy, hàng trăm nghìn người Việt đã bước sang một
chương mới của cuộc đời.
Hôm nay, khi đứng giữa hòn đảo yên bình này,
tôi vẫn khó có thể hình dung rằng nơi đây từng là mái nhà của hàng trăm ngàn
con người. Tuy tiếng người đã lặng, những dãy barak phần lớn không còn nữa, cây
rừng đã phủ kín nhiều lối đi, nhưng ký ức thì vẫn còn.
Với nhiều người, Galang chỉ là một địa danh,
một hòn đảo, nhưng với tôi, và với hàng trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam, Galang
mãi mãi là biểu tượng của hy vọng, bởi chính nơi đây, sau những ngày lênh đênh
giữa biển cả và giữa ranh giới của sự sống và cái chết, một cuộc đời mới đã thật
sự bắt đầu.
Thi Hạnh
September 30th, 2026
Nguồn: https://baotreonline.com/tin-tuc/phong-su/galang-ngay-tro-lai.baotre
Anh Phước chuyển
Dinh Dưỡng Với Lão Hóa - Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức
Dinh dưỡng đúng
hoặc sai có ảnh hưởng rất lớn tới toàn bộ cơ thể con người, từ tinh thần tới thể
chất, từ chức năng các cơ quan nội tại cũng như ngoại vi.
Hãy so sánh một
người thiếu dinh dưỡng với một người ăn uống đầy đủ. Một bên thì hồng hào, đầy
sinh lực, yêu đời. Bên kia thì ốm yếu, gầy còm, chậm chạp. Thiếu dinh dưỡng
kinh niên thì làm sao có năng lượng để sống lâu, chẳng khác chi ngọn đèn cạn dầu,
tắt lụi dần dần.
Cho nên biết ăn
để mà sống lâu là cả một nghệ thuật. Các cụ ta vẫn nói “Bệnh tùng khẩu nhập”. Bệnh
gây ra do những thực phẩm mà ta đưa vào miệng, những thực phẩm quá nhiều hoặc
quá ít từ số lượng tới phẩm chất.
Vậy thì ăn như
thế nào để vừa khỏe mạnh, vừa sống lâu?.
Khi ăn, không phải
chỉ để no bụng cho hôm nay, tuần này mà cần nhớ là ăn cho mai sau, cho sức khỏe
của những năm sắp tới.
Từ khi nằm trong
lòng mẹ, sự dinh dưỡng đầy đủ đã có tác dụng tốt cho khi sanh ra và lớn lên.
Thói quen ăn uống
tốt từ tuổi nhỏ, món ăn mà ta tiêu thụ bây giờ có nhiều ảnh hưởng tới sự ta sẽ
sống bao lâu và những năm sống đó sẽ mạnh yếu ra sao.
Nhiều người thắc
mắc rằng có một chế độ ăn uống mẫu mực, chung cho mọi người không: một chế độ
mang lại sức khỏe tổng quát, sức chịu đựng với bệnh hoạn và trì hoãn tuổi gìa.
Câu trả lời sẽ
là không có. Nhưng có một số nguyên tắc, một số hướng dẫn mà ta có thể áp dụng
để đạt được điều ước muốn.
1- Ăn
vừa phải.
Ăn vừa phải,
đúng với nhu cầu, đừng nhiều quá, ít quá. Các cụ ta vẫn khuyên là nên ăn “ba phần
đói, bẩy phần no” là tốt hơn cả, khỏi nặng bụng, lên cân.
Nhu cầu thực phẩm
cũng thay đổi tùy từng người, tùy cấu trúc cơ thể to nhỏ, khi làm việc, khi nghỉ
ngơi. Con người thường có khuynh hướng ăn quá nhiều, bất cứ lúc nào, coi bao tử
như một thùng chứa. Thế là béo phì, tiểu đường, suy tim mạch, giảm tuổi thọ trời
cho. Lên cân vừa phải vào tuổi 60 có thể chấp nhận được vì đó là diễn tiến bình
thường, nhưng “mập mạp” quá không bao giờ là dấu hiệu của sức khỏe.
2- Cân
bằng.
Thực phẩm cần có
sự cân bằng giữa các chất dinh dưỡng căn bản. Không nhất thiết là phải cân bằng
ở mỗi bữa ăn, mà có thể trong ngày, trong tuần.. Các chuyên gia dinh dưỡng vẫn
khuyên nên theo tỷ lệ 30% béo, 15-20% đạm, 45-50% carbohydrat.
3- Đa
dạng.
Đừng sở thích
chi phối hoàn toàn việc chọn lựa món ăn, mà cần phải lưu ý đến việc ăn nhiều
món ăn khác nhau. Mỗi một thực phẩm có chất dinh dưỡng với công dụng riêng mà
những món khác không có và không thay thế được. Bỏ quên một chất dinh dưỡng nào
đó quá lâu sẽ đưa tới thiếu dinh dưỡng.
Sau đây là vài
hướng dẫn về việc sử dụng các chất dinh dưỡng:
a. Chất
đạm.
Đạm gồm có nhiều
các amino acid, trong đó có một số cơ thể không tự tổng hợp được và phải do thực
phẩm cung cấp. Đạm đông vật có hầu hết các amino acid. Thực vật có thể thiếu một
vài loại nhưng khi ăn nhiều rau trái khác nhau ta sẽ bổ sung đầy đủ. Khi sử dụng
đạm động vật, chúng ta cũng cần lưu ý:
- Thịt bò, heo,
cừu thường có nhiều béo;
- Thịt gà, gà
tây ít hơn nếu bỏ da;
- Cá tốt hơn nữa,
tôm hơi nhiều cholesterol;
- Sữa, trứng,
pho mát loại ít chất béo thì tốt hơn;
- Sữa chua giảm
cholesterol.
Hạn chế các món
chiên rán. Hấp, nướng bỏ lò tốt hơn.
b. Chất
béo.
Cơ thể rất cần
chất béo, nhưng nhiều quá thì lại có nguy cơ gây bệnh. vì thế, cần để ý hạn chế
ở mức vừa phải khi ăn, nhất là các chất béo bão hòa.
Chất béo tạo ra
nhiều phản ứng oxy hóa ở tế bào, sản xuất nhiều gốc tự do. Các gốc tự do này
đưa tới nhiều hư hao cho tế bào và được coi như là một trong những nguyên nhân
gây ra bệnh tim mạch, tiểu đường, một vài bệnh ung thư cũng như sự lão hóa..
c.
Carbohydrat.
Carbohydrat gồm
hai nhóm chính là tinh bột và đường, có nhiều trong bánh mì, cơm, rau và trái
cây. Carbohydrat là nguồn cung cấp năng lương chính cho não bộ. Trong cơ thể,
chất dinh dưỡng này được chuyển hóa thành đường glucose. Theo tập quán lâu đời
của nhiều dân tộc Á Đông thì carbohydrat trong cơm gạo là nguồn lương thực
chính.
d. Chất
xơ.
Có nhiều trong
rau trái cây. Khi thiếu chất xơ, ta thường hay bị táo bón, viêm túi ruột, bệnh
túi mật, tăng nguy cơ ung thư ruột già.
Chất xơ giúp giảm
cholesterol trong máu, đại tiện dễ dàng. Nhưng dùng quá nhiều có thể gây đầy bụng,
giảm hấp thụ sắt, kẽm, calcium
đ. Đường
Do sự hấp dẫn của
vị ngọt nên có rất nhiều người ăn quá số lượng mà cơ thể cần.
Đường trắng
không cung cấp các acid amin và sinh tố cho sự dinh dưỡng mà chỉ cho năng lượng.
Khi được cung cấp quá nhiều, năng lượng thừa sẽ chuyển thành ra mỡ béo, dẫn đến
béo phì.
Tiêu thụ nhiều
đường cũng gây sâu răng, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường khi tuổi lên cao,
làm tăng cholesterol và bệnh tim mạch...
e. Muối
ăn
Muối ăn là thành
phần quen thuộc và không thể thiếu trong hầu hết các bữa ăn. Nhưng ăn nhiều muối
quá có thể bị huyết áp cao. Thường thì chúng ta ăn nhiều hơn nhu cầu cần thiết
của cơ thểchỉ để thỏa mãn khẩu vị, và như vậy là buộc thận phải hoạt động nhiều
hơn để bài tiết lượng muối thừa. Khi điều này thường xuyên xẩy ra, thận sẽ suy
yếu, hư hao.
g. Sinh tố và
khoáng chất
Sinh tố và
khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể, nhưng điều đó không có nghĩa là việc bổ
sung các chất này bao giờ cũng tốt cho sức khỏe. Trong thực tế, một người khỏe
mạnh áp dụng chế độ dinh dưỡng cân bằng, đa dạng thì không cần uống thêm sinh tố
và khoáng chất Người ăn chay thuần túy rau trái có thể cần dùng thêm sinh tố
B12; phụ nữ có thai cần thêm sắt, folate.
Một số sinh tố
như sinh tố C, E, Beta carotene hiện nay rất phổ biến. Nhiều người dùng vì tác
dụng chống oxy hóa, nhưng nên tránh dùng liều lượng quá cao.
h. Nước.
Nước rất cần cho
hầu hết các chức năng của cơ thể. Nước điều hòa thân nhiệt, chuyên trở chất
dinh dưỡng và dưỡng khí tới tế bào, thu thập chất phế thải để bài tiết ra ngoài.
Nước cũng là chất đệm cho các khớp xương và bảo vệ các bộ phận.
Nhu cầu nước của
cơ thể được thỏa mãn khi ta uống khoảng 8 ly nước mỗi ngày. Khi uống ít hơn mức
này, cơ thể vẫn hoạt động nhưng nhiều biện pháp “tiết kiệm nước”sẽ được cơ thể
áp dụng dẫn đến giảm khả năng huật động và phát triển bình thường.
Có nhiều loại nước
ống để cung cấp nước hàng ngày cho cơ thể. Sữa là nguồn cung cấp nhiều nước mà
lại kèm theo nhiều calcium, đạm, sinh tố... Nên dùng sữa đã loại bỏ bớt chất
béo.
Các loại nước ngọt
có nhiều đường và chất hơi, nên cần giới hạn. Nước ép trái cây, nước khoáng
thiên nhiên ...đều là các thức uống tốt.
4- Thực
phẩm có tác dụng chống lão hóa
Sau đây là tóm tắt
một số thực phẩm mà kinh nghiệm cho là có thể làm chậm sự lão hóa. Một số thực
phẩm này chủ yếu là có chứa những chất chống sự oxy hóa (anti oxidant). Đây là
chất có khả năng ngăn chận các gốc tự do (free radical), nguồn gốc của tiến
trình oxy hóa các tế bào và là một trong nhiều nguy cơ đưa đến lão suy.
1. Thực phẩm có
nhiều Beta-Carotene (tiền tố sinh tố A) đều từ gốc thực vật như dưa, hồng qua, ớt
đỏ, khoai lang, đu đủ, ớt cay, cà rốt, xoài, bí ngô, cải xanh lục... Dưa hấu,
quít, trái bơ, bắp su, dâu, cam đào, cà chua... chứa một lượng beta carotene ít
hơn nhưng cũng là nguồn cung cấp không kém quan trọng.
2. Thực phẩm có
sinh tố B 5 ( pantothenic acid) có khả năng vừa chống gốc tự do vừa hạ cholesterol,
chống ô nhiễm, bảo vệ gan. Sinh tố B6 có nhiều trong men, gạo lức, hạt bí ngô,
hạt mè...
3-Sinh tố C là
chất chống oxy hóa rất tốt và có trong trái cam, chanh, dâu, cải lá xanh lục,
cà chua, su lơ xanh lục, khoai tây, khoai lang...
4-Sinh tố E có
nhiều trong mầm lúa mạch, đậu nành, bắp su, su lơ xanh lục, các loại cải có lá
xanh lục.Theo nhiều nhà nghiên cứu, sinh tố E làm chậm tiến trình lão hóa và
làm trẻ con người.
5-Thực phẩm chứa
nhiều calcium gồm có sữa gạn bớt mỡ, đậu phụng, sữa chua gạn mỡ, quả óc chó,
phó mát, hạt hoa hướng dương, đậu nành, các loại đậu khô, cá mòi đóng hộp (ăn cả
xương), các loại cải xanh lục, cá hồi, su lơ xanh lục...
6-Khoáng chất
iodine có trong tảo bẹ, hành, hải sản, đa số cải xanh lục...
7-Khoáng chất sắt
có nhiều trong sò hến, quả hạch, đào sấy khô, các loại đậu, thịt tươi không mỡ,
măng tây, gan, mật mía, trứng, bột yến mạch (oatmeal)...
8-Mầm lúa mạch,
cám, cá tuna, hành, cà chua, su lơ xanh lục chứa khoáng chất selenium.
9-Thực phẩm giầu
chất đạm gồm có: cá tươi hoặc đông lạnh, tôm cua, sữa gạn mỡ, sữa chua gạn mỡ,
thịt gà (đút lò hay nướng), thịt cừu, thịt bò lọc bỏ bớt mỡ, hạt cây hướng
dương, hạt bí ngô, đậu phụng rang, bơ đậu phụng không pha đường hoặc muối.
10-Trái cây chống
lão suy gồm có: quả kiwi, nho đen Hylạp, hồng qua, đu đủ, các loại quả thuộc giống
cam quít, dâu ổi, đào lông, quả xuân đào (nectarine) dưa hấu. Những loại quả
này có lượng sinh tố C rất lớn.
Ngoài ra còn phải
kề đến những loại quả có chứa bioflavonoisd, một chất chống oxi-hóa mạnh, như:
quả mơ (apricot), nho, dâu đen, quả anh đào (cherry), quít, bưởi cam...
Kết
luận
Để trì hoãn sự
lão hóa, con người đã thử qua nhiều cách khác nhau. Có những phương thức phải tốn
nhiều tiền, có những loại thuốc có thể mang tới kết quả, cũng có những nghiên cứu
với nhiều hứa hẹn.
Nhưng phương thức
mà mọi người có thể áp dụng được, có kết quả chắc chắn mà lại ít tốn kém. Đó
chính là áp dụng một chế độ dinh dưỡng đúng đắn, hợp lý, cân đối, đa dạng kết hợp
với sự vận động, rèn luyện thể lực.
Bác sĩ Nguyễn Ý
Đức







