Hiện tại cs cũng đưa con cháu ra nước ngoài sống . Như vậy có gọi là "phản động " không ta ?
Thanh Loan chuyển
Hiện tại cs cũng đưa con cháu ra nước ngoài sống . Như vậy có gọi là "phản động " không ta ?
Tháng 11 năm 1968 về trình diện phi đoàn 219 tại hậu cứ Đà Nẵng tôi bắt đầu làm quen với chiến trường cũng như làm quen với các anh em trong phi đoàn. Đối với phi đoàn 219, dùng chử chiến trường không còn mấy đúng nghĩa bởi tất cả các phi vụ đều âm thầm và không số. Thời điểm đó, PĐ 219 là phi đoàn có số thương vong cao nhất trong các phi đoàn Không quân. Và ngay tuần lễ đầu tiên về phi đoàn , tôi được cử đi gác quan tài Đ/U Hướng văn Năm thuộc phi hành đoàn Minh- Năm – Thân. Cho đến nay tôi vẫn tự hỏi là tỷ số thương vong của PĐ 219 mà trong đó có một số phi công trực thăng đầy kinh nghiệm nhưng thiếu may mắn thuộc PĐ 219 có mật hệ gì với chiếc Vespa ? Một huyền thoại !hhh
Giữa năm 1969, trong
một lần biệt phái hành quân tại Kontum, tôi ngồi hoa tiêu phó cho Đ/U Nguyễn
quý An biệt đội trưởng của 4 phi hành đoàn. Đ/U An số 1, Tr/U Sinh số 2,Tr/U
Cung số 3, Tr/U Thắng số 4. Ngày hôm ấy phi hành đoàn số 1 nghỉ.Tôi cùng Đ/U An
đang nhâm nhi cà phê ngoài phố Kontum, một chiếc xe jeep của biệt kích Lôi Hổ
thắng gấp trước cửa tiệm mang đến cho chúng tôi tin không lành: Chiếc H-34 của
số 2 bị bắn, đâm vào núi bốc cháy, PHĐ Tr/U Sinh tử nạn.
Chúng tôi bàng
hoàng, hối hả trở về trại B-15, hậu cứ của biệt kích Lôi Hổ vùng cao nguyên
Pleiku- Kontum mà PĐ 219 làm việc với họ.
Một hôm, tôi đang ngồi trong phòng trực phi đoàn, Đ/U Ngô viết Vượng một trưởng phi cơ kỳ cựu của phi đoàn bước vào, anh nhờ tôi đưa anh ra phi đạo để chuẩn bị cất cánh đi biệt phái Kontum. Anh dùng chiếc Vespa của anh chở tôi ra phi đạo và muốn tôi giúp anh đem chiếc Vespa về cất tại phi đoàn.Trên đường ra phi đạo, anh cho biết là đã mua lại chiếc Vespa này từ gia đình cố Tr/U Tôn thất Sinh. Anh bắt tay cảm ơn tôi với đầy tin tưởng là tôi sẽ cất xe cho anh chu đáo,
Chỉ vài ngày
sau, tôi sửng sốt nhận hung tin từ biệt đội Kontum: Thời tiết xấu, 2 phi hành
đoàn tử nạn vì bị “Vertigo”, PHĐ số 1 gồm Đ/U Vượng, Tr/U Sang,Tr/Sĩ Truật –
PHĐ số 2 có Đ/U Cung, Th/U Đạt, Tr/Sĩ Liên. Buổi chiều tôi nhận tiếp báo cáo từ
biệt đội: Cơ phi chiếc số 2 là Tr/Sĩ Liên, em ruột Đ/U Long sống sót và chỉ bị
thương nhẹ. Riêng Đ/U Trần văn Long bay chiếc số 3 đã quay trở lại Kontum đáp
nên thoát nạn.
Đầu tháng 10
/1971 biệt phái Quản Lợi, Đ/U Thắng bay số 1 là biệt đội trưởng, Tr/U Sâm bay
số 2 và tôi bay số 3, Quản Lợi chỉ cách Sài gòn khoảng hơn 1 giờ bay, và vì lý
do an ninh chúng tôi mổi tối đều về Sài Gòn ngủ. Đặc biệt trong lần biệt phái
này Đ/U Thắng đã mua lại chiếc Vespa của cố Đ/U Vượng và anh đã đem chiếc Vespa
này về Sài Gòn làm phương tiện di chuyển .
Sáng hôm ấy trời còn mờ sương, tôi chuẩn bị sẵn sàng chờ Đ/U Thắng đến đón đi bay. Vừa tính bước ra cửa quyển lịch treo ngay đầu cầu thang đập vào mắt tôi:9 tháng 10 -1971 . Tôi thầm nghĩ còn đúng 1 tháng nữa là mình lên 25 tuổi rồi .
Anh Thắng và
tôi lúc này thân nhau như anh em nên anh không ngần ngại lái Vespa từ Phú Nhuận
sang Khánh Hội đón tôi, rồi ngược vào căn cứ KQ Tân Sơn Nhất. Dọc đường anh ghé
phở Công Lý bao tôi một chầu ăn sáng. Vui miệng, anh đã tâm sự về chiếc Vespa
anh đang sử dụng. Anh cho biết chiếc Vespa khởi thuỷ là của một vị Đ/U nhảy dù.
Trên đường ra miền Trung công tác, chiếc C47 chở vị Đ/U nhảy dù này lâm nạn đâm
vào núi bốc cháy, Không biết trong một liên hệ nào, chiếc Vespa được chuyển qua
cho Tr/U Tôn thất Sinh. Một thời gian sau, Tr/u Sinh tử nạn trong một phi vụ
gần Dakto, phi cơ bị bắn đâm vào núi bốc cháy. Kế tiếp người sử dụng chiếc
Vespa là Đ/U Ngô viết Vượng.rong phi vụ liên lạc Kontum – Đức Cơ do anh hướng
dẫn, phi cơ của anh bị “vertigo” đâm xuống đất. Kể đến đây, anh Thắng muốn tỏ
cho tôi biết anh không hề kiêng kỵ khi mua lại chiếc Vespa của gia đình Đ/U
Vượng. Rồi anh cười hỏi đùa tôi “ Sao chú muốn mua chiếc Vespa của tôi không
?“.
Chúng tôi vào đến Tân Sơn Nhất trời đã sáng và sương chưa tan hẳn. Lúc này tôi được biết vì lý do kỹ thuật, chiếc số 2 cần sửa chữa nên Tr/U Sâm nghỉ bay hôm đó,c hỉ có Đ/U Thắng và tôi số 3 lên trực hành quân tại Quản Lợi.
Trên phi trình
tới Quản Lợi, chúng tôi bình phi ở cao độ 2.500 bộ, Vừa qua khỏi Chơn Thành
khoảng 15 phút, thình lình số 1 giảm cao độ thật nhanh và xà vào một bìa rừng.
Anh Thắng gọi tôi trên tầng số FM: “ Số 2 xuống đi, heo rừng nhiều lắm “. Trời
ơi ! tôi thầm kêu khổ. Anh đã từng biết tôi không thích bắn nai, bắn heo … Lúc
còn ở quân trường, các bạn cùng khoá hay cười tôi vì tối tối trước khi đi ngủ,
tôi bắt từng con muỗi trong mùng bỏ ra ngoài cửa sổ, bây gió bảo bắn heo làm
sao tôi dám. Tôi từ chối, anh tỏ ra giận dữ, đe doạ :”Thôi chú về Sài Gòn đi,
mai anh gửi chú ra Đà Nẵng “Vì đã khá thân và cả nể, tôi chiều ý anh, cắt ga xà
xuống rồi tính nói người cơ phi xạ thủ của tôi đừng bắn gì cả. Hởi ơi Tr/Sĩ
Cần, người xạ thủ của tôi đã lanh tay nỗ hàng loạt đại liên trên đàn heo đang
chạy tứ tung, 2 con nằm tại chỗ.Trong khoảnh khắc, Cần đã chuyển 2 con heo xấu
số lên tàu rồi cùng nhận lệnh từ anh Thắng đến “pick-up” luôn 6 con heo anh đã
bắn được. Vì mãi bắn heo gần 9 giờ sáng chúng tôi mới đáp Quản Lợi. Anh em biệt
kích và cố vấn Mỹ chờ sẵn ngoài phi đạo, Đ/U Miller , cố vấn trưởng tỏ ra bực
tức và hơi to tiếng với anh Thắng vì sự chậm trể của chúng tôi. Hắn đã nhanh
tay rút ra chiếc máy ảnh nhỏ đưa lên chụp liên tiếp chiếc H-34 của tôi với 8
con heo còn nằm chình ình bên trong. Tôi thầm nghĩ: Thôi rồi. chuyến này thế
nào tôi cũng bị vài củ … trọng cấm,
Chúng tôi đưa toán
biệt kích lên Lộc Ninh trực hành quân. Vì nhu cầu khẩn thiết. 1 chiếc H-34 được
điều động tăng cường cho chúng tôi và Đ/U Trần văn Long từ biệt đội Ban Mê
Thuộc đã về Lộc Ninh xế trưa hôm đó trên 1 chiếc H-34 với người cơ phi là Tr/Sĩ
Trần văn Liên, em ruột của Đ/U Long. Đây là lần đầu tiên 2 anh em Đ/U Long cùng
chung một phi hành đoàn. Phi vụ rước toán hoàn tất và 3 chiếc H-34 về đáp an
toàn tại Quản Lợi. Khoảng 8 giờ tối, chúng tôi cất cánh rời Quản Lợi để về Sài
Gòn với đội hình :
Anh Thắng cho biết thời tiết xấu, có mưa cẩn thận trong lúc bay hợp đoàn. Chúng tôi đã bay dưới cơn mưa khá nặng hột trong đêm tối, chẳng khác nào “ đục mây “như Đ/U Vượng ngày trước. Quả nhiên chỉ 5 phút sau tôi không còn thấy gì ngoài bức màn đen trước mặt. Tôi bắt đầu chăm chú bay phi cụ và cảm thấy lo sợ trước viễn ảnh một thảm nạn “Vertigo”. Tôi bấm máy gọi Đ/U Thắng để báo anh biết là tôi không còn thấy anh và số 2. Không nghe anh trả lời, tôi đã thực sự toát mồ hôi, mặc dầu mưa lạnh hắt vào người vì cửa sổ không đóng. Tôi chợt nghĩ có lẽ anh đang hốt hoảng trong trạng thái “Vertigo” quái ác kia nên không còn trả lời tôi được. Nhưng còn Đ/U Long thì sao ? cũng cùng tâm trạng chăng ? Một sự im lặng đến sợ hãi. Tôi biết tôi phải chiến đấu với tử thần “Vertigo” và tôi phải tự quyết định mọi chuyện vào lúc này.Tôi dự định giảm độ cao nhưng tôi cũng kinh nghiệm rằng đang bay phi cụ mọi thay đổi trạng thái của phi cơ rất dể làm cho hoa tiêu bị “ Vertigo” nên tôi lại tiếp tục bình phi.
Không đầy 2 phút sau, tôi phát hiện ánh đèn pha (landing light) vừa được bật lên trong khoảng cách chưa đầy nửa dặm phía bên phải của tôi. Thế rồi ánh đèn pha đó bổng quay cuồng, nhảy múa trước mặt, chẳng khác nào một chiếc đèn pin bật lên trong đêm tối và được cầm trong tay một đứa bé đang tập đi. Tôi hốt hoảng dán mắt vào ánh đèn pha và trong giây lát, ánh đèn lao vút xuống đất theo chiều thẳng đứng đối với chiếc phi cơ của tôi. Rồi một tia lửa loé lên. Tôi định thần trở lại, đúng là chiếc H-34 của chúng tôi vừa chạm mặt đất nổ tung, lửa bốc lên cuồn cuộn.
Từ cao độ 2 ngàn bộ
cách mặt đất, tôi bám chặt lấy đốm lửa và cắt ga, giảm dần độ cao. Cách đốm lửa
khoảng 500 bộ, tôi bắt đầu bớt tốc độ và chuẩn bị bay đứng một chổ
(hovering).Tôi bật đèn đáp (landing light) ánh đèn phản chiếu những hạt mưa làm
tôi loá mắt. Liếc sang bên phải, tôi đã nhìn thấy những ngọn cây và mưa rào lớn
lắm nhưng trời ơi !! Định thần lại thì ngọn cây vẫn còn li ti phía dưới, như
vậy phi cơ tôi còn cao lắm chưa thể bay đứng được. Tôi rùng mình vội đẩy cần lái
(cyclic stick) về phía trước với mục đích cất cánh trở lại. Đột nhiên nghe
tiếng người cơ phi hét lên trong máy: “de, de ,de” Thì ra trong phút hốt
hoảng, tôi không đẩy cần lái về phía trước mà còn kéo thêm vào người, phi cơ
bắt đầu bay lùi và mất độ cao.Tôi đã thực sự bị “Vertigo” May mắn tiếng thét
của người cơ phi đã kéo tôi ra khỏi cơn mê và với tất cả sức mạnh (power) của
chiếc H-34, tôi đã giử được phi cơ đứng trên ngọn cây. Tôi vừa thoát chết trong
gang tấc. Dùng bàn đạp (pedals) tôi xoay con tàu một vòng để tìm lại đốm lửa và
di chuyển phi cơ tới gần hơn. Lửa vẫn cuồn cuộn, bao trùm chiếc H-34 mặc dầu
mưa như trút nước. Tôi tìm bãi đất trống và đặt phi cơ xuống để quan sát. Không
hy vọng có người sống sót trong chiếc H-34 lâm nạn, tôi quyết định rời khỏi
vùng bằng cách bay xà trên ngọn cây với tốc độ chậm và nhắm hướng 180 độ để tìm
thành phố gần nhất. Đêm đó chúng tôi ngủ lại Chơn Thành. Sáng hôm sau Tr/U Sâm,
phi hành đoàn số 2 của biệt đội Quản Lợi đến đón tôi vì phi cơ tôi đã bị
“overtorque” phải chờ toán kỹ thuật từ Biên Hoà lên kiểm máy lại.
Sau gần 3 tiếng đồng
hồ tìm kiếm, tôi được biết chiếc số 1 bị cháy, chiếc số 2 cũng lâm nạn , phi cơ
đâm xuống vùng sình lầy, cách chiếc số 1 khoảng hơn nửa dặm .
Hôm đó gặp chị Cúc ,
phu nhân Đ/U Thắng , tôi giúp chị tìm người mở khoá chiếc Vespa để đem về nhà
chị. Tôi rùng mình nghĩ lại “giai“ thoại của chiếc xe. Cả bốn người chủ xe đều
bị chết cháy trong tai nạn phi cơ !!!
Thêm một điều làm tôi phải
ngẫm nghĩ khi mở bản đồ tìm kiếm phi cơ lâm nạn: cùng là khu vực mà Đ/U Thắng
đã xà xuống bắn heo rừng buổi sáng cùng ngày.
Năm 1975, sau khi “cướp” được miền Nam thì người cộng sản
Việt Nam từ miền Bắc đổi tên thành thành phố Sài Gòn là “Thành phố Hồ Chí
Minh.” – Một sự áp đặt cho thành phố Sài Gòn chứ chẳng có trưng cầu dân ý
gì cả? Nhưng sau năm 1975, người cộng sản vào Sài Gòn thì mọi thứ đổi
khác, Những người đến sau này có lối phát ngôn bừa bãi, đối xử thô bạo của kẻ
chiến thắng khác nhau rất xa người Bắc năm xưa. Nếu quý vị từng sống đủ
lâu ở Sài Gòn trước và sau 1975, thì quý vị sẽ hiểu.
Nhận định này không đơn giản là chống cộng hay ủng hộ chính quyền
cs mà là một câu chuyện rất cũ nhưng đến nay vẫn chưa có ai nói đến cho đầy đủ.
Đó là:
“Người Bắc năm 1954 và người Bắc sau năm 1975 Sài Gòn có
khác nhau không?”
Xin lưu ý rằng bài viết này không phải là để chia phe hay ném bùn
mà để hy vọng sẽ cùng nhau tìm ra trả lời cho câu hỏi nêu trên.
Nhiều người tự dưng thấy thành phố này không còn là thành phố của
mình nữa khi đọc tên gọi “Thành phố Hồ Chí Minh.” Không ai tự nhiên lại nói lên
những lời nặng nề nếu họ không mang trong lòng một điều gì ấm ức đã tích tụ từ
rất lâu. Người từng nghĩ như vậy rất có thể là một người lớn tuổi. Họ từng sống
trong một Sài Gòn trước năm 1975 hoặc từng là người Bắc di cư vào Nam năm
1954. Họ từng chứng kiến sự thay đổi của một thành phố từ tên gọi, phong
cách, cách sống cho tới cách con người đối xử với nhau.
Và trong ký ức của họ có một hình ảnh Sài Gòn rất rõ ràng. Một nơi
cởi mở hòa nhã, một nơi dung chứa mọi miền. Không ai bị ép phải nói và nghĩ
theo một chiều; một nơi mà người Bắc năm 1954 dù là dân di cư vẫn được
tôn trọng vì học thức, vì nếp sống, vì đạo đức gia đình.
Vâng! Mọi thứ đã thay đổi sau năm 1975, khi cái tên Sài Gòn
bị thay thế, khi những người chiến thắng bước vào không chỉ bằng vũ khí mà bằng
cả nhân cách (?).
Nhìn lại đợt di cư lớn của người miền Bắc vào năm 1954, sau hiệp định
Geneve, gần 1 triệu người miền Bắc, chủ yếu là người Công giáo, giới trí thức,
người làm việc trong bộ máy hành chính quốc gia, đã chọn di cư vào Nam thay vì ở
lại miền Bắc do chính quyền cộng sản kiểm soát.
Họ không vào miền Nam với súng ống; cũng không mang theo quyền lực.
Họ đến với với một ít hành lý, sách vở và cả những ám ảnh về sự tự do.
Nhiều người trong số đó là giáo viên, bác sĩ, nhà báo, nhà văn, công chức. Khi
đến Sài Gòn, một thành phố sôi động nhưng còn thiếu tổ chức về hệ thống. Họ trở
thành một bộ phận tích cực của bộ máy giáo dục, hành chính, y tế và báo chí của
miền Nam thời bấy giờ.
Tại sao người Bắc năm 1954 lại được nhắc đến như một điểm son
trong văn hóa Sài Gòn? Bởi vì họ không đến không phải để làm chủ mà để hòa nhập.
Và chính trong quá trình hòa nhập đó, họ mang theo một thứ mà người Sài Gòn khi
ấy rất tôn trọng là “Nề Nếp”: Nề nếp từ giọng nói chuẩn, chậm
rãi, lịch thiệp; Nề nếp từ cách ăn mặc, kín đáo, cẩn thận, không phô trương; Nề
nếp trong cách nuôi dạy con, học hành đạo đức không ngông nghênh. Họ sống với
tinh thần ở nhờ đất Sài Gòn phải giữ cho sạch. Nhờ vậy họ được yêu mến, được sự
tin tưởng.
Dần dà họ trở thành một thành phần của bản sắc Sài Gòn. Không có ai xem họ là người miền Bắc nữa. Vì vậy phải nói là người Bắc di cư năm 1954 đã góp phần phát triển văn hóa, văn chương, nghệ thuật cho Sài Gòn. Không nói quá, đó là một giai đoạn mà sự khác biệt vùng miền không chia rẽ mà bổ sung cho nhau.
Vậy thì người miền Bắc sau năm 1975 là ai? Vì sao họ thường bị gắn
nhãn là “áp đặt,” là “thô bạo?” Những người “cướp” Sài Gòn có áp dặt cái tên
“Thành phố Hồ Chí Minh” hay không? Từ góc nhìn của người viết thì câu trả lời
là: “Vâng! Đúng vậy!” Bởi vì cái tên Sài Gòn không chỉ là một địa
danh. Nó còn là ký ức, là bản sắc, là một phần linh hồn của thành phố. Việc
đổi tên thành “Thành phố Hồ Chí Minh” mà không có một cuộc “Trưng Cầu Dân
Ý” nào (?) khiến họ thấy mình không còn quyền giữ lại tên của chính nơi
mình từng sống.
Sự mất mát đó không phải là chuyện hình thức. Nó là biểu tượng của
một cuộc chuyển quyền hoàn toàn không chỉ về chính trị mà về cả tinh thần. Khác
với người miền Bắc năm 1954 vào Nam để tìm tự do; Người Bắc năm 1975 vào Nam là
người chiến thắng. Họ không đến để hòa nhập mà là đến để quản lý. Họ không đến
để xin việc mà để nhận nhiệm vụ. Và trong mắt người dân Sài Gòn vốn đã quen với
cách sống tự do, văn minh đô thị thì những cán bộ mới từ vùng quê nghèo nói giọng
địa phương nặng nề, thẳng thừng, cách làm việc hành chính khô khan cứng ngắc,
thì dễ bị xem là thô lỗ, thiếu tinh tế và mang tư thế của kẻ áp đặt.
Nhưng có một sự thực cần nói rõ, không phải tất cả người Bắc sau
năm 1975 đều y như vậy. Cũng có những cán bộ giỏi, có tâm tử tế được người dân
quý mến. Cũng có những gia đình người Bắc năm 1975 đã đóng góp cho miền Nam
không kém gì người Bắc năm 1954. Cũng có những người từ Bắc vào thấy choáng ngợp
trước sự phát triển của Sài Gòn; rồi họ phải học cách thay đổi chính mình để
hòa nhập. Vấn đề không nằm ở quê gốc mà nằm ở cách tiếp cận và thái độ tiếp quản.
Sự chênh lệch về văn hóa, tốc độ đô thị hóa và cách hành xử sau chiến thắng mới
là thứ khiến người Sài Gòn cảm thấy mình đang bị thay thế.
Tóm lại, người Bắc sau năm 1975 bị xem là áp đặt không phải vì họ
là người Bắc mà vì họ đại diện cho một chế độ mới, một lối sống mới được khai
triển bằng sức mạnh chứ không phải bằng sự đồng thuận. Điều đó đúng hay sai vẫn
để lại trong lòng nhiều người một cảm giác là mình không còn thuộc về nơi mình
đã từng yêu.
Vậy thì có sự khác nhau rất xa giữa người miền Bắc năm 1954 và người
miền Bắc sau năm 1975. Nghe thì rất có lý và đúng là có sự khác biệt thực.
Nhưng nếu để câu đó đứng một mình, nó dễ trở thành một kiểu chụp mũ rất nguy hiểm.
Vì vậy, chúng ta cần mổ sẻ từng yếu tố để thấy khác nhau đến mức nào và vì sao.
-Thứ nhất, về giáo dục và học thức
Người Bắc năm 1954 hầu hết thuộc từng lớp trung lưu trở lên, có học
hành đàng hoàng. Nhiều người làm trong ngành giáo dục, công chức, văn
hóa, y tế. Họ rời miền Bắc trong bối cảnh xã hội còn phân tán mạnh cho nên việc
được học hành đầy đủ là một đặc quyền. Còn người Bắc sau năm 1975 thì ngược lại.
Nhiều người đến từ nông thôn, vùng quê, vùng căn cứ kháng chiến phần lớn không
được tiếp cận nền giáo dục dân sự căn bản kiểu cũ mà là giáo dục theo mô hình
xã hội chủ nghĩa, chú trọng lý tưởng, đấu tranh giai cấp và lòng trung thành với
đảng. Vậy nên sự khác biệt về trình độ, cách ứng xử trong môi trường đô thị, kỹ
năng giao tiếp là có thật.
Người dân Sài Gòn vốn quen với lối sống tự do, thương mại không chỉ
huy, tôn trọng quyền cá nhân, dễ cảm thấy bị đối xử không đúng mức bởi những
người quản lý mới.
-Thứ hai, về ngôn ngữ và cách nói năng
Người Bắc năm 1954 thường nói giọng Bắc chuẩn, chậm rãi, giàu ngữ
vựng, ảnh hưởng bởi sách vở và truyền thống gia đình. Họ vào Nam nhưng không áp
đặt, cũng không phán xét người địa phương. Trong khi người Bắc sau năm 1975,
nhiều người nói giọng vùng quê âm hưởng nặng, đôi khi nghe như ra lệnh.
Thêm vào đó là cách xưng hô theo kiểu đồng chí, báo cáo, quán triệt… khiến người
dân cảm thấy xa lạ và cứng ngắc. Sự khác biệt này không phải lỗi của cá
nhân mà là do bối cảnh sống khác nhau.
Nếu một người sinh ra giữa chiến tranh trong điều kiện thiếu thốn,
không thể yêu cầu họ nói năng mềm mỏng như người lớn lên đi học ở trường Gia
Long, Pétrus Ký… đọc văn học Pháp, Mỹ mỗi tối.
-Thứ ba, về đạo đức và phong thái
Đây là điểm nhạy cảm nhất vì đạo đức không phải là thứ gắn liền với
vùng miền; mà là gắn với môi trường giáo dục và xã hội. Người Bắc năm
1954 được nuôi và dậy trong nền tảng gia đình truyền thống, coi trọng lễ nghĩa,
phép tắc. Họ sống trong một xã hội đề cao văn hóa Tây Phương, tôn giáo và luật
lệ. Còn người Bắc sau năm 1975 bước ra từ chiến tranh, nhiều người lớn lên
không cha mẹ hoặc cả tuổi thơ chỉ ở trong rừng núi. trong bộ đội… Họ được
dạy rằng hòa bình là chiến thắng, chính trị là lẽ sống và phải tiêu diệt giai cấp
bóc lột.
Không có gì khó hiểu khi thấy họ mang một khí chất khác, cứng rắn,
quyết đoán, không ngại nói thẳng. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ thiếu
đạo đức, chỉ là đạo đức được định nghĩa một cách khác đi.
Tóm lại, nếu ta chỉ đứng ở một bên thì “Khác nhau thì có
nhưng có rất xa nhau không?” Câu trả lời là: “Vâng! Rất xa,”
Còn nếu bước sang một bước để nhìn toàn cảnh thì lúc này quý vị sẽ thấy một bên
là những con người mang theo nề nếp, học thức và nỗi đau di cư. Một bên là những
con người vừa bước ra từ chiến tranh mang trong mình khát vọng xây dựng và lòng
tin vào lý tưởng. Nếu chỉ so sánh về cái vẻ bề ngoài thì đúng, khác rất xa.
Nhưng nếu nhìn vào hoàn cảnh, lý do và cả nỗi niềm bên trong thì có khi không
xa như ta nghĩ.
Một người lớn tuổi từng nói với tôi:
- "Tôi sống ở Sài Gòn trước năm 1975 và tôi sống ở thành phố
Hồ Chí Minh sau đó. Nhưng tôi không biết lúc nào mình ngừng cảm thấy đó là
thành phố của mình.”
Đó là một lời nói buồn, không giận, không trách, chỉ là không còn
thấy mình thuộc về nữa. Vì sao nhiều người dân Sài Gòn thấy mình bị thay thế?
Không phải chỉ vì đổi tên thành phố, mà vì mọi thứ quen thuộc biến mất cùng một
lúc. Tên Đường từ Thống Nhất, Công Lý, Cường Để… thành những tên ba bốn chữ rất
xa lạ.
Về giọng nói. Giọng Bắc “chính trị” đã thay thế cho giọng
Nam “bình dân.” Cách gọi nhau anh-chị thành đồng-chí đã mất đi sự gần gũi
tự nhiên. Những bản nhạc cũ bị cấm, những tiệm sách cũ bị đóng, những từ ngữ
quen dùng bị xem là phản động. Và điều đau nhất không ai hỏi ý kiến người dân,
không ai xin phép họ trước khi xóa đi ký ức của họ. Họ không chống lại người mới.
Họ chống lại cảm giác bị gạt ra khỏi chính quê hương của mình.
Thử tưởng tượng quý vị đang sống trong một ngôi nhà đã 30 năm rồi.
Một ngày có người lạ khác bước vào sơn lại tường, thay lại bàn thờ, đổi lại tên
gọi và nói:
- “Từ bây giờ nhà này là nhà mới nha! Đừng gọi tên cũ nữa."
Quý vị không thể đánh họ; cũng không thể đuổi được họ. Nhưng trong
lòng quý vị vẫn có một điều gì đó bất mãn rất lớn lao. Điều bất mãn đó có chính
đáng không? Rất chính đáng chứ nhỉ! Vì nỗi đau không cần đúng-sai, chỉ cần
đủ-lâu và đủ-thực. Người dân Sài Gòn buồn không phải vì họ thù hận. Họ buồn vì
cái tên Sài Gòn là thứ cuối cùng họ còn giữ được mà cũng không thể giữ nổi. Thật
không dễ gì trả lời. Nó đụng vào những cảm xúc sâu xa, rất thực. Nhưng có một
điều chắc chắn, chỉ vì mình từng tổn thương không có nghĩa là mình có quyền làm
người khác tổn thương lại.
Vậy thì liệu có đúng là người Bắc sau năm 1975 thô bạo, vô văn
hóa, cư xử như kẻ chiến thắng? Sau năm 1975 khi người cán bộ người Bắc
theo chế độ mới vào vào Nam với tư thế của người chiến thắng tiếp quản miền Nam
thật sự đã có những va chạm trên các khác biệt lớn, những cú “sốc” văn
hóa.
Cần nói rõ là không thể lấy một nhóm người để đánh giá cho cả một
tập thể. Có rất nhiều người Bắc sau năm 1975 vào Nam sống tử tế, hòa nhã, làm
việc chăm chỉ, đóng góp thầm lặng. Họ không hung hăng, cũng không thô bạo,
không đòi hỏi gì. Có người làm bác sĩ được người dân quý vì tận tâm; Có người
làm thầy giáo cô giáo giúp học sinh nghèo vùng xa xôi biết chữ; Có cả những người
từng đi bộ đội nhưng sau 1975 hòa bình về sống như bao người dân khác, không
màng chức quyền. Họ không có tội. Họ chỉ sinh ra ở một miền đất khác và sống
theo những gì họ đã được dạy.
Nguy hiểm nhất là mỗi khi đầu đã có sẵn định kiến và định kiến biến
thành lời miệt thị. Chỉ vì một vài cán bộ từng thô bạo mà nói cả một thế hệ vô
văn hóa. Chỉ vì vài người áp đặt mà nói cả một miền là kẻ cướp. Đó là
cách nhanh nhất để biến một cuộc đối thoại thành một cuộc chia rẽ. Và đó cũng
là lý do vì sao suốt gần 50 năm qua người Việt vẫn chưa thể thực sự ngồi lại với
nhau vì cứ mỗi lần vừa mở lời là đã có người bị quy kết tội rồi.
Phản biện không phải là kết tội mà là để gỡ từng lớp hiểu lầm. Quý
vị có quyền chỉ ra những cái sai của bất kỳ ai ở bất kỳ bên nào, nhưng không ai
có quyền nói cả một thế hệ là thô bạo, là kém văn hóa. Chỉ vì họ sinh ra ở miền
Bắc và đến miền Nam sau chiến tranh. Sự thực cần được nói nhưng cách nói
cũng quan trọng như điều ta nói. Điều ta cần lúc này không phải là ai đúng ai
sai? Mà là ai còn đủ bình tĩnh để tránh nói ra sự thực đã làm tổn thương
nhau thêm một lần nữa. Vậy thì sau tất cả những tổn thương, hiểu lầm, định kiến
và ký ức chồng chất, liệu có còn cách nào để người Việt, đặc biệt là người miền
Nam và miền Bắc hiểu nhau hơn không?
Quan trọng nhất là có còn cách nào để giữ được tinh thần Sài Gòn
mà không phủ nhận thực tế “Thành phố Hồ Chí Minh” đang tồn tại hôm nay? Có người
từng nói một câu rất đau đầu:
- “Sài Gòn không cần lấy lại bằng giấy tờ. Sài Gòn chỉ cần được gọi
đúng tên trong tim những người còn thương nó.”
Câu đó nghe qua tưởng là hoài niệm nhưng thật ra là lối thoát cho
rất nhiều mâu thuẫn kéo dài hàng chục năm. Vì thực tế “Thành phố Hồ Chí Minh”
bây giờ là tên hành chính, là một phần của đất nước này là điều không thể phủ
nhận. Nhưng điều đó không có nghĩa là người ta phải quên cái tên Sài Gòn.
Trên giấy tờ quý vị có thể viết “Thành phố Hồ Chí Minh” nhưng trong ký ức,
trong văn chương, trong lời nói hàng ngày, nếu quý vị vẫn gọi đó là Sài Gòn thì
Sài Gòn nó vẫn sống. Nó sống trong tiếng rao hàng vào mỗi buổi sáng. Nó sống
trong những tấm bảng hiệu cũ. Nó sống trong cách người ta lái xe, bấm còi, nói
tiếng “Dạ và Thưa” đầy thân tình.
Cái tên không quyết định hết, cách sống mới là thứ giữ lại một
thành phố. Cũng như vậy, người Bắc năm 1954 và người Bắc sau năm 1975, người miền
Nam, người hải ngoại, người trẻ sinh ra sau hòa bình không cần phải xóa ký ức của
nhau để được tồn tại. Chúng ta chỉ cần một điều nhìn nhau mà không gạt bỏ nhau.
Không ai phải thua cũng không ai cần phải thắng. Chỉ cần biết rằng mỗi
người đều có lý do để thấy đau và không ai có quyền độc quyền nỗi đau đó. Nếu
hôm nay quý vị vẫn gọi là Sài Gòn bằng sự trân trọng thì thành phố đó vẫn chưa
mất. Và nếu quý vị sống giữa “Thành phố Hồ Chí Minh” hôm nay, hãy sống sao cho
người xưa nhìn lại, họ không thấy mình bị lãng quên.
Đó là cách Sài Gòn và “Thành phố Hồ Chí Minh” có thể cùng tồn tại
trong lòng một dân tộc từng chia đôi và đang học cách ngồi lại bên nhau. Điều
còn lại gì sau một cái tên có người gọi nơi này là Sài Gòn, có người chỉ gọi là
“Thành phố Hồ Chí Minh.” chỉ là một cái tên nhưng với mỗi người nó gắn cả một
phần đời. Người thì nhớ một thời áo dài trắng, người thì nhớ một thời hành quân
qua rừng rậm. Người nhớ mẹ dắt đi chợ Bến Thành sáng sớm; người nhớ lần đầu đặt
chân vào thành phố xa lạ mà mình được lệnh “tiếp quản.” Không ai giống
ai, không ai cần phải sống theo ký ức của người khác.
Nhưng nếu ta còn biết lắng nghe nhau thì có thể cái tên Sài Gòn dù
không nằm trên bản đồ vẫn còn sống giữa lòng “Thành phố Hồ Chí Minh.” Không cần
giành giật cũng không cần xóa bỏ. Chỉ cần một chút hiểu biết để bớt đau lòng và
một chút thương tình để còn giữ lấy nhau.
Nếu quý vị vẫn còn thương Sài Gòn, dù gọi tên gì đi nữa thì tôi
nghĩ quý vị vẫn đang sống cùng nó mỗi ngày.
Trần Văn Giang ( HNPD )
Anh Phước chuyển
Hơn 14.400 tỷ đồng, khởi
công từ năm 2016, nhưng dự án chống ngập do triều tại TP.HCM đến nay vẫn chưa
thể vận hành. Gần 10 năm trôi qua, thứ người dân chờ đợi là một thành phố bớt
ngập, chứ không phải thêm những lời giải thích mỗi khi đường phố biến thành
sông.
Tại cuộc họp báo chiều
8/10, ông Phan Quốc Huy, Phó phòng Hạ tầng kỹ thuật thuộc Sở Xây dựng TP.HCM,
cho biết công trình được thiết kế chịu lượng mưa 85,3 mm trong 3 giờ, mực triều
tối đa 1,32 m. Nhưng ngày 28 và 29/9, đỉnh triều đã vượt 1,56 m và 1,51 m; ngày
30/9 và 1/10, nhiều nơi ghi nhận mưa trên 100 mm chỉ trong 45 phút đến một giờ.
Vấn đề là một dự án chống
ngập được đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng nhưng chưa vận hành nổi, trong khi mưa
lớn và triều cường vốn chẳng phải hiện tượng xa lạ với TP.HCM. Nếu điều kiện thời
tiết bất lợi đã có thể dự báo, tại sao năng lực chống chịu của công trình lại bị
giới hạn bởi những thông số dễ bị vượt qua như vậy? Đầu tư công trình chống ngập
mà không tính đủ những tình huống thực tế thì khác nào mua áo mưa nhưng chỉ mặc
được khi trời mưa nhỏ.
Sở Xây dựng còn nêu
tình trạng thi công cản dòng chảy, vận hành cống và kênh thiếu đồng bộ, lòng
kênh bị lấn chiếm. Nhưng đây đâu chỉ là chuyện thời tiết hay những bất cập tự
nhiên. Thi công thiếu phối hợp, quản lý dòng chảy yếu kém, lấn chiếm kéo dài đều
đặt ra vấn đề về năng lực quản lý và trách nhiệm thực thi. Ai phải khắc phục?
Ai chịu trách nhiệm khi những bất cập ấy tồn tại dai dẳng?
14.400 tỷ đồng tiền
công không thể được bảo vệ bằng những lời giải thích, mà phải được chứng minh bằng
hiệu quả thực tế. Người dân có quyền đòi hỏi công khai tiến độ, nguyên nhân
đình trệ, trách nhiệm từng đơn vị và thời hạn đưa công trình vào hoạt động.
Gần 10 năm chờ đợi, điều
người dân cần không phải thêm một cuộc họp để giải thích vì sao ngập, mà là câu
trả lời: bao giờ hết ngập, và ai chịu trách nhiệm nếu lời hứa tiếp tục bị trì
hoãn?
Theo bạn đọc, một dự án
chống ngập hơn 14.400 tỷ đồng gần 10 năm vẫn chưa vận hành thì trách nhiệm thuộc
về ai?
San San
(1) 14.400 TỶ CHỐNG NGẬP: TIỀN ĐÃ ĐỔ, DÂN VẪN... - Chân Trời Mới Media | Facebook
Những người trong làng đều đi
con đường tắt để đến chợ chiếm được chỗ ngồi tốt hơn, bán được nhiều hàng hơn
nhưng cha tôi vẫn một mực lựa chọn con đường chính, ngoằn ngoèo và khúc khuỷu ấy.
Lựa chọn này của cha khiến tôi không thể hiểu được, thậm chí sinh tâm oán hận,
mãi cho đến một ngày tôi bật khóc vì đã tìm được câu trả lời…
Gia đình tôi sống trong một ngôi làng nằm sâu trong một
ngọn núi cao. Để đi ra bên ngoài, chúng tôi phải đi qua một con đường núi uốn
lượn và gập ghềnh. Người dân trong làng tôi, nhà nhà đều dựa vào
hái măng đem bán để trang trải sống. Cứ đến ngày chợ phiên, người lớn, trẻ em ở
trong làng đều địu măng, băng qua con đường uốn lượn, gập ghềnh đó đến chợ bán.
Đáng lẽ ra, tất cả người dân làng tôi mỗi lần xuống
núi đều phải đi qua con đường vừa xa vừa uốn lượn như vậy. Nhưng về sau này, một
vài người vì để chiếm được một vị trí tốt, dễ bán hàng ở chợ nên mở ra một con
đường tắt, gần hơn, nhưng độ nguy hiểm thì cao hơn. Biết là nguy hiểm hơn nhưng
vẫn có nhiều người nguyện ý chọn đi con đường này.
Cha tôi cũng giống mọi người dân trong làng, cứ mỗi
phiên chợ, ông đều địu măng đi bán. Nhưng cha tôi chưa từng đi qua con đường tắt
ấy. Mỗi đợt nghỉ hè, tôi lại về quê lên rừng hái măng đem ra chợ bán cùng cha.
Mồi lần đi trên con đường uốn lượn ấy, trong lòng tôi lại dâng lên nhiều cảm
xúc. Về sau, tôi thường xuyên khuyên nhủ cha: “Cha ơi! Chúng ta cũng đi con đường
tắt kia đi, chẳng phải sẽ nhanh hơn một chút hay sao?”.
Nhưng cha tôi nghe xong vội vàng lắc đầu, kiên quyết
đi con đường cũ. Cứ như vậy, mỗi lần đến chợ chúng tôi đều tìm được một chỗ
không tốt, những chỗ dễ bán hàng đều bị những người đồng hương đi con đường tắt
ngồi mất rồi.
Măng của cha con tôi thường bán hết muộn hơn so với mọi
người, vì thế, tôi thường sinh tâm oán hận. Cha tôi vẫn vậy, không chút để ý đến
nỗi oán hận trong lòng tôi. Và cũng từ đó, câu hỏi “vì sao không đi đường tắt,
mà cứ phải đi con đường uốn lượn xa tít như vậy?” đã trở thành chỗ mê không thể
hiểu nổi trong lòng tôi…
Nhiều năm sau, tôi sinh sống ở thành phố, cách quê tôi
hơn ngàn dặm, vì thế tôi đón cha tôi lên ở cùng. Ngày đi, cha tôi không ngồi
trên xe, khăng khăng đòi đi bộ trên con đường uốn lượn ngoằn ngoèo ấy. Tôi đành
xuống đi bộ cùng cha, cũng muốn nhân cơ hội này để cởi bỏ khúc mắc trong lòng
nhiều năm qua.
Tôi hỏi cha: “Cha! Con muốn biết, vì sao cha luôn muốn
đi trên con đường này, mà chưa từng đi trên con đường tắt kia?”.
Cha nghe xong câu hỏi của tôi, lặng im đứng thật lâu và
đưa ánh mắt nhìn về phía trước con đường. Bất chợt nước mắt cha chảy dài
trên má, rồi cha nói:
“Con trai! Bởi vì cha nhất định phải bảo trì sự bình
an. Cha dựa vào bán măng để nuôi con khôn lớn, hoàn thành việc học, mấy chục
năm qua, cha luôn bình an vô sự. Mấy bác mấy chú của con đều đi đường tắt,
nhưng con thấy đấy, bác Vương bị ngã gãy tay hai lần, măng không biết rơi mất
đi bao nhiêu lần, anh Tư bị nặng nhất, một lần ngã lăn xuống núi và mất… Những
người thường đi con đường tắt ấy, nào có ai thực sự được bình an vô sự đâu!”.
Những lời nói này của cha khiến tôi lặng đi: “Đúng vậy!
Những người đồng hương đi trên con đường tắt ấy, hoặc ít hoặc nhiều đều phát
sinh nguy hiểm!”.
Cha kéo tôi ngồi xuống bên đường, giọng cha trầm lại
nói với tôi:
“Con trai! Con đường này uốn lượn khúc khuỷu nhưng vĩnh viễn là con đường chính xuống núi. Không thể vì một chút lợi ích nhỏ nhoi mà buông bỏ con đường chính của mình. Con đường này là con đường bình an, đi trên con đường này, cả đời sẽ bình an. Con trai, điều này con phải khắc sâu trong lòng, cha hy vọng nó sẽ chỉ cho con một con đường!”
Không thể vì một chút lợi ích nhỏ nhoi mà
buông bỏ con đường chính của mình.
Những lời nói của cha đã khiến tôi bật khóc. Từ con đường
gập ghềnh ấy, tôi cũng hiểu được rất nhiều đạo lý của cuộc đời. Đường đời cũng
tựa như con đường núi này, phải trải qua rất nhiều gập ghềnh khúc khuỷu, nhưng
phương hướng của nó thì không thể nào sai. Mỗi người đều phải thủy chung đi
trên con đường ngay chính, bởi chỉ có đi trên con đường ngay chính ấy thì cuộc
đời mới thực sự bình an.
Không có con đường tắt nào có thể dẫn ta đến thành
công. Chỉ có một thái độ sống tích cực, bền bỉ và chân chính mới đưa ta đến bến
đỗ hạnh phúc của cuộc đời. Và sinh mệnh chính là một quá trình tích lũy lâu dài
và liên tục như thế, không thể hấp tấp, cũng chẳng thể vội vàng.
Vậy nên, đừng vì chút lợi nhỏ mà vội vàng bước chân trên con đường tắt. Hãy lựa chọn cho mình một con đường ngay chính và kiên trì với nó, bạn nhất định sẽ bình an đi đến đích trong cuộc đời này!
Vân Hà biên dịch
Chồng đi làm về mệt
Không ăn, chẳng nói lời
Vợ quắc mắt lên hỏi:
Ăn với con nào rồi?
Hôm sau rút kinh nghiệm
Về nhà ngồi vào mâm
Vợ lại quắc mắt hỏi:
Hôm nay không được ăn?
Một hôm về... vợ thấy
Một sợi tóc trên người
Chị vợ liền nổi đóa:
Đi với con nào rồi?
Hôm khác, chồng xui xẻo
Dính sợi tóc màu vàng
Vợ lên cơn, hét toáng
Đi với gái Tây sang?
Có hôm chồng cẩn trọng
Phủi sạch trước khi về
Vợ săm soi không thấy
Sợi tóc nào... bèn phê:
Chà, hôm nay đi với...
Ni cô ở chùa nào?
........
Để chung sống với lũ
Khổ thế biết làm sao?
Anh Hãn chuyển
Lời giới thiệu
Nhà văn Khuất Đẩu hiện sống ở miền Trung Việt Nam. Với một cái nhìn sâu sắc, hài hước và trầm tĩnh, ông viết nhiều về cuộc sống thực rất cay đắng ở Việt Nam dưới chế độ cộng sản mà ông mô tả là “Ô hô, cả nước bị thiến! Đúng là còn đau như hoạn!" Và "Đó là nỗi nhục!”
Việt Nam đã có một tên thiến heo làm tổng bí thư cái đảng chết tiệt csvn; và hắn đã “vô tư” “thiến” hàng triệu dân Việt rồi còn gì nữa Bác Khuất Đẩu !!!
TRẦN VĂN GIANG
*****
Khi tôi còn bé, những buổi trưa ở thôn quê thật buồn. Chỉ có nắng ngùn ngụt bốc khói. Và gió, những cơn gió hừng hực rượt đuổi nhau khiến lũ rơm rạ phải cuống quít chạy trốn trên đường làng. Cái tiếng gà trưa lúc này nghe ra đúng là thật não nùng. Mà cái tiếng của một ông thợ hoạn lại càng não nùng bi thiết hơn!
“He…o thiến hông?”
Âm “he…o” kéo dài tưởng chừng lê lết bỗng đột ngột vút lên cái âm thiến sắc nhọn như lưỡi dao của ông.
Thế rồi đâu đó có tiếng chủ nhà: Ông thiến ơi, vào đây!
Những con heo bị thiến độ chừng hơn một tháng tuổi. Heo đực, chỉ một nhát là xong ngay. Nhưng heo cái, người thợ hoạn phải treo ngược lên cô ả lên, rạch một đường lên bụng, đưa mấy ngón tay mò mẫm lôi ra một chút thịt sống đẫm máu gọi là hoa sung. Sau đó là may và bôi lọ nghẹ trộn với lá dâm bụt. Thế là xong.
Anh, ả được thả vào chuồng, được chăm chút, chỉ ăn rồi ngủ, để rồi sáu tháng sau hoặc hơn, lại được treo ngược lên một lần nữa, lần này không phải ông thợ hoạn mà là anh đồ tể.
Cái tiếng ụt ịt nũng nịu thầm thì bấy lâu bỗng đổi thành cái tiếng éc chói tai như con tàu kéo hồi còi vĩnh biệt.
Gà, chỉ có gà trống mới thiến. Một khi hai hòn dái giấu kín trong bụng được lấy ra, anh không thèm gáy, không thèm đá lộn, đương nhiên không thèm túc túc cù rủ và nhường con trùn hay con dế cho các chị gà mái nữa, chỉ ăn toàn bắp ngâm nước cho mềm ra để tạo mỡ. Cuối tháng chạp, anh được nhốt trong một chiếc lồng hình con vịt, được các chàng trai khúm núm đem đi tết cha mẹ vợ sắp cưới. Để rồi sau đó anh nằm bảnh chọe trên một chiếc dĩa to kềnh tươm mỡ vàng ai thấy cũng thèm!
Chó bị thiến cũng là chó đực. Thiến để anh không đi tơ, đêm ngày nằm gác mõm trên thềm nhà canh giữ sự an nguy cho chủ. Vì sợ hai hàm răng trắng nhởn có thể ngoặm vào bất cứ ai trong cơn hốt hoảng, nên người ta vuốt ve cho anh ngúc ngoắc đuôi ngoan ngoãn rồi bất ngờ úp một cái cối giã gạo lên đầu anh. Thế là hai hòn dái quý báu của anh cứ việc phơi ra cho người ta xẻo một nhát đi đứt. Khi được thả ra, anh chạy biến, trốn vào một bụi rậm, nằm liếm mãi cái vết thương cho đến khi khô máu mới dám thập thò trở về nhà. Anh được chủ yêu hơn, cưng chiều hơn, trở thành một thành viên tận tụy của gia đình, đến lúc già chết được đeo mấy đồng tiền vào cổ để đi đò qua sông Mịch La.
***
Với con người, ba tiếng “đau như hoạn” nhất định là
thống thiết hơn cái tiếng éc hay tiếng ẳng. Đó là nỗi đau không được làm đàn
ông, không được truyền giống, đau vì “từng người tình bỏ ta đi như những
dòng sông nhỏ…”
Còn hơn đau, đó là nỗi nhục.
Vậy mà có nhiều kẻ sẵn sàng chịu đau chịu nhục để được trở thành hoạn quan.
Carter Stent miêu tả về việc “cát thể” (hoạn) ở Trung Hoa cuối đời Mãn Thanh như sau:
“Trước khi cát thể, người có ý định trở thành thái giám được đặt nằm nghiêng trên một cái giường thấp và được hỏi lần cuối cùng có hối hận gì khi bị thiến hay không. Nếu người đó trả lời không thì một người sẽ giữ chặt bụng người đó, hai người khác banh hai chân ra giữ cho khỏi cục cựa. Băng vải được quấn chặt ở bụng dưới và hai đùi, và bệnh nhân được cho uống một thang thuốc mê (ma phế thang), bộ phận sinh dục của y được chà xát bằng nước ngâm ớt. Cả dương vật lẫn dịch hoàn được cắt xoẹt bằng một nhát dao sát tận đáy, một nút bằng kim loại cắm ngay vào lỗ sinh thực khí và vết thương được băng chặt bằng giấy bản, bên ngoài quấn vải thật chặt.
Người thái giám lập tức được những “đao tử tượng” dìu đi quanh phòng trong hai ba giờ liền trước khi được quyền nằm nghỉ. Người đó vừa đau đớn, vừa khát nước nhưng không được ăn uống và tiểu tiện trong ba ngày. Sau ba ngày, vải băng được cởi ra và cái nút được rút ra và nếu bệnh nhân có thể đi tiểu được ngay thì vụ giải phẫu thành công và qua được thời kỳ nguy hiểm. Nếu người thái giám không tiểu tiện được có nghĩa là đường sinh thực khí đã bị thu hẹp hay bịt kín và chỉ còn đường chờ chết.
Có gia đình chuẩn bị việc cho con mình tương lai sẽ làm thái giám tử khi còn nhỏ. Một bà vú (bảo mẫu) được thuê để đặc biệt chăm sóc cho đứa trẻ ngay từ khi còn nằm trong nôi. Bà vú này có một thủ thuật riêng, mỗi ngày ba lần nắn bóp dịch hoàn đứa trẻ khiến đứa bé đau đến khóc thét lên. Lực bóp cũng tăng thêm và cơ quan sinh dục của đứa bé dần dần bị hủy hoại. Khi lớn lên không những mất khả năng sinh dục mà dương vật còn teo dần khiến đứa trẻ có nhiều nữ tính, không có yết hầu, hai vú nhô cao, mông nở, giọng nói lanh lảnh, dáng điệu ẻo lả và trở thành “ái nam, ái nữ.”
Kinh hoàng như thế nhưng nhiều người vẫn xăm mình chịu trận, đủ biết cái bả vinh hoa nó có một hấp lực còn mạnh hơn cái bản năng gốc đã được tạo hóa cài đặt từ trong bụng mẹ.
Từ khi có chế độ cộng sản thì cái nước Tàu mênh mông không còn tiếp diễn ra cảnh man rợ đó nữa. Nhưng để được đứng dưới ngọn cờ của đảng, có biết bao người đã tự hoạn. Hai tiếng “đồng chí” hết sức trung thành đã thay cho hai tiếng “hoạn quan.” Họ không chỉ phục dịch mỗi hoàng đế Mao Trạch Đông mà cả trăm cả ngàn ông hoàng bà chúa ở Trung Nam Hải.
Nước Nga đâu khác gì.
Bắc Triều Tiên cũng vậy.
Thì thôi, đành một lẽ. Dẫu sao họ cũng tự thiến chứ không
phải bị đè ra thiến.
Ở xứ ta, từ khi thì cả nước bỗng ngớ ra bởi vì có người gọi đích danh “tự do” là cái “con c...,” sao trông nó buồn thiu ỉu xìu đến như vậy. Hóa ra nó đã bị thiến tự bao giờ! Cho dù không bị treo ngược lên như heo hay úp một cái cối giã gạo lên đầu, nhưng hơn nửa thế kỷ nay, từ khi vào mẫu giáo, nó đã bị bóp cho nát bét cái tư tưởng tự do như với cái dịch hoàn, thì còn đâu khí thế mà vùng lên được.
Cho nên dẫu có muốn "ngồi nhìn hòn dái đâm đinh" như nghệ sĩ Pyotr Pavlensky trình diễn Fixation bằng cách đóng đinh bìu dái mình trên Quảng trường Đỏ (xin xem thêm phần phụ lục ở bên dưới) cũng không còn dái đâu mà đóng.
Ô hô, cả nước bị thiến! Đúng là đau như hoạn!
Khuất Đẩu
*******
Phụ Lục
Ngồi nhìn hòn dái đâm đinh
Một người đàn ông đến trước Lăng Lenin tại Quảng trường Đỏ, cởi bỏ hết áo quần, ngồi bệt xuống, dùng búa đóng một chiếc đinh dài xuyên qua bìu dái, găm chặt cặp tinh hoàn của mình xuống nền đá lát địa điểm nổi tiếng này.
Nghệ sĩ Nga Pyotr Pavlensky tuyên bố rằng màn trình diễn
mang tên “Fixation” của mình hôm Chủ nhật tuần trước, nhân Ngày Cảnh
sát Nga, là “ẩn dụ về sự vô cảm, sự thờ ơ với
chính trị và thái độ duy định mệnh của xã hội Nga hiện đại.”
Nước Nga đang trở thành một nhà nước cảnh sát, song thay vì sử dụng sức mạnh của số đông thì dân chúng chỉ bất động ngồi nhìn chính quyền tóm chặt dái mình, đóng đinh mình vào nền tảng của chế độ và phó mặc cho số phận. Một ẩn dụ mạnh. Một chân dung bạo liệt về bạo lực và bất lực. Một tuyên ngôn đau đớn về tuyệt vọng và khuất phục.
Quảng trường Ba Đình cũng là khung cảnh thích hợp cho hành
động nghệ thuật ấy. Một hành động cực đoan. Song trong nghệ thuật, cực đoan bao
nhiêu cũng không đủ.
(Nguồn: pro&contra)
By Phạm Thị Hoài
Tháng 11/ 16/ 2013
Trần Văn Giang (st)
Chế độ công an trị
được áp đặt tại miền Nam ngay từ sau 1975 (ảnh: Jean-Claude LABBE/Gamma-Rapho
via Getty Images)
Những
ai sống ở miền Nam giai đoạn sau 30 Tháng Tư 1975 không thể nào quên những gì từng
trải qua. Đó là những chuỗi ngày không chỉ khốn khổ về vật chất. Biết bao người
không thể cầm được nước mắt khi chứng kiến cảnh hàng đống sách vở và băng đĩa
nhạc bị đốt. Một cuộc thảm sát văn hóa đã xảy ra.
Không
chỉ sản phẩm văn hóa, con người của văn hóa cũng bị tận diệt. Nhà văn bị bỏ tù.
Nhà báo bị “học tập cải tạo”. Nhà thơ đi đạp xích lô… Bất luận bị “tra tấn” và
“truy diệt” tàn bạo như vậy, văn hóa VNCH vẫn không chết!
Trong Hồi
ký dang dở, cựu đại tá VNCH Dương Hiếu Nghĩa (từ trần ngày 14 Tháng Tư
2019) kể:
“Ngày
mồng 3 tháng 5/1975. Không có chuyện gì làm, tôi lang thang tản bộ quanh khu chợ
Sài Gòn, và đi lần về Thư Viện Quốc Gia, trong thâm tâm chỉ muốn gặp lại một
người bạn của tôi là anh Hữu, quản thủ Thư viện Quốc Gia (ông Phan Văn Hữu –
chú thích của MK). Có đến nơi mới thấy được cảnh mà cộng sản Bắc Việt gọi là
bài trừ “văn hóa đồi trụy”: Sau ngày 30/4/75, một ủy ban gọi là “Ủy ban bài trừ
văn hóa đồi trụy” ra đời. Thành phần gồm một cán bộ Đảng CSVN và sinh viên học
sinh chít khăn đỏ trên tay (mà người dân Sài Gòn gọi là mấy con “cọp 30”)…
“Văn
hóa đồi trụy” được định nghĩa là tất cả những ấn phẩm thuộc mọi lãnh vực chánh
trị, kinh tế, lịch sử (nhất là lịch sử), giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn hóa,
văn nghệ, phim, ảnh. v.v… đang được lưu hành và sử dụng tại Việt Nam Cộng Hòa từ
ngày 30/4/1975 trở về trước, được in, chép hay thu vào băng nhựa, bằng tiếng Việt
Nam hay bất cứ loại sinh ngữ ngoại quốc nào (trừ chữ Tàu và chữ Nga). Mục tiêu
mà các “ông cọp 30” nhắm vào trước tiên là Thư viện Quốc gia (National Library)
ở đường Gia Long.
Văn hóa và chính trị cộng sản Liên Xô được
“nhập khẩu” vào miền Nam sau 1975 (ảnh: Jean-Claude LABBE/Gamma-Rapho via Getty
Images)
Tất
cả sách bìa cứng bìa mềm, gáy tím gáy vàng, dày mỏng gì cũng đều được mang ra
đường xé nát và đốt hết. Tội nghiệp cho mấy bộ tự điển và encyclopédia chữ Anh
chữ Pháp (trên 100 cuốn), và rất nhiều bộ sách quý thuộc các ngành công pháp quốc
tế, khoa học kỹ thuật, hàng không và cả khoa học không gian v.v… mà anh Hữu đã
tốn công sưu tầm trên 10 năm dài để làm giàu cho thư viện của đất nước, trong
phút chốc bị “cọp 30” xơi tái hết! Chúng tôi đến gần lượm từng tờ của bộ
encyclopédia lên xem mà ứa nước mắt nhưng không dám hỏi thêm vì bị ngay một “cọp
30” khoảng 16 tuổi tới đuổi: “Đi đi, tiếc gì mà coi, xé bỏ hết, đốt bỏ hết, nó
là tiếng nước ngoài, của thực dân, của đế quốc đồi trụy, ru ngủ đầu độc dân tộc.
Ta độc lập rồi thì ta cần gì ba cái thứ nầy nữa!”…
“Về
văn nghệ thì tất cả các bản nhạc in hoặc thu vào băng nhựa, nếu không phải loại
nhạc lai căn (lai nhạc Tàu) từ nhóm văn công miền Bắc mang vào, đều được liệt
vào loại “nhạc vàng của đế quốc Mỹ và tay sai”, cấm lưu hành, xé đốt, hủy bỏ,
ai lưu giữ sẽ có tội. Các kịch bản hay các vở tuồng cải lương, hát bộ v.v… cũng
phải được duyệt xếp loại lại. Nói tóm lại Bắc Việt chủ trương hủy bỏ tất cả những
gì mà họ cho là tàng tích của “Mỹ Ngụy” từ 75 trở về trước, để đem thay thế vào
đó những gì mà miền Bắc đang có và đang áp dụng… Có nghĩa là thay vì đẩy miền Bắc
tiến lên để theo kịp đà phát triển của miền Nam, họ làm mọi cách nhằm kéo lùi
miền Nam thụt lùi lại vài chục năm, sao cho trình độ văn minh tiến bộ của hai
miền Nam Bắc phải ở cùng nằm ở một trình độ kém phát triển như nhau”…
____________
Câu
chuyện của ông Dương Hiếu Nghĩa là một chi tiết rất nhỏ trên bức tranh kinh khủng
mà miền Nam chứng kiến giai đoạn sau 30 Tháng Tư 1975. Hàng ngàn câu chuyện
khác đã dệt nên tấm thảm kịch mà ngày nay vẫn gây nhức nhối mỗi khi được nhắc lại.
Nhà văn Dương Thu Hương từng thốt lên trong uất nghẹn: “Vào Nam tôi mới hiểu rằng,
chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con
người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ đài nào, Pháp, Anh,
Mỹ… nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi
nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó
là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải” (trích từ Ký
2, Đinh Quang Anh Thái, trang 178).
Tuy
nhiên, văn hóa VNCH đã không chết. Di sản văn hóa của một nền văn minh đã không
hoàn toàn thua “chế độ man rợ”. Sự kéo lùi lại “sao cho trình độ văn minh tiến
bộ của hai miền Nam Bắc phải ở cùng nằm ở một trình độ kém phát triển như nhau”
đã không thành công! Sau gần 50 năm, người ta có thể thấy rõ điều này hơn bao
giờ hết. Chưa bao giờ mà văn hóa VNCH – sản phẩm của nền giáo dục khai phóng, của
tinh thần sáng tạo tự do, của những tinh hoa kết tụ từ ba miền Bắc-Trung-Nam –
lại trỗi dậy mạnh mẽ đến như vậy.
Sau gần nửa thế kỷ cai trị, chế độ cộng sản Việt Nam hoàn toàn bất lực trước sự hồi sinh của văn hóa VNCH. Ảnh: Những cuộc thi hát “nhạc vàng” bolero bùng nổ từ Nam ra Bắc (ảnh: Người Lao Động)
Những
nhà sách lớn giờ đây đầy tác phẩm trước 1975 in lại (dù không ít quyển bị cắt
xén kiểm duyệt). Những quyển sách mới về miền Nam trước 1975 được ghi chép một
cách tỉ mỉ và công phu cũng xuất hiện liên tục. Nhạc “ngụy” đã chẳng còn được
hát và nghe lén lút. Nó được hát trên truyền hình và phát thanh, trong các cuộc
thi “bolero đi cùng năm tháng”. Phải! Văn hóa VNCH chưa bao giờ ngưng “đi cùng
năm tháng” với dân tộc. Nó cho thấy dân tộc luôn lớn hơn cái gọi là “Đảng”. Nó
cho thấy kiểm duyệt chẳng có chút giá trị nào đối với tâm hồn và cảm thụ của
người dân. Nó, cuối cùng, cho thấy một điều lớn nhất mà muốn hay không cũng phải
thừa nhận: Nền văn hóa nào có tính vượt trội hơn thì nó thắng!
Internet và mạng xã hội đã hỗ trợ rất nhiều trong làn sóng hồi sinh văn hóa VNCH. Nhiều trang web sách cũ đã mọc ra. Các “fan page” sách VNCH, nhạc vàng, Sài Gòn xưa… cũng xuất hiện nhan nhản. Việt Nam sau “ngày thống nhất 1975” đã không thể giống miền Bắc sau 1945. Một Việt Nam cộng sản, dù rập khuôn mô hình chính trị Trung Quốc, đã không thể giống Trung Quốc. Chế độ cộng sản Việt Nam không thể biến người dân Việt Nam thành một “đám ngu dân” như cách cộng sản Trung Quốc muốn. Khi thống nhất đất nước, Trung Quốc chẳng có một “miền Nam dân chủ” nào cả. Nỗ lực bắt chước Trung Quốc, đối với cộng sản Việt Nam, là bất khả thi.
Nền dân chủ non trẻ mà miền Nam thụ hưởng, sau “ngày thống nhất”, đã trở thành một thứ “kháng thể” giúp chống lại, bằng cách này cách kia, những áp đặt phi dân chủ và phi tự do, đặc biệt trong văn hóa. Yếu tố kháng thể này đã âm thầm lan rộng. Nó tạo ra những ảnh hưởng nhất định. Nó ngấm ngầm nhưng nó mạnh mẽ. Nó hồi sinh và nó phát triển tự nhiên. Không ai có thể chặn nổi luồng gió trong lành này. Nó tạo ảnh hưởng ngay cả trong hệ thống của chế độ toàn trị. Đã có lúc người ta “kiếm chuyện” bằng cách “đặt vấn đề” rằng “chiến trường anh bước đi là chiến trường nào” (trong ca khúc “Con đường xưa em đi” của nhạc sĩ Châu Kỳ) nhưng rồi cũng bất thành. Khi tuyên bố “cấp phép” cho ca khúc “Ly rượu mừng”, người ta chắc hẳn đã uống một ly cồn đắng nghét bởi phải đầu hàng trước sự tồn tại hiển nhiên không chỉ của một ca khúc mà cả một nền văn hóa.
Ánh sáng văn minh luôn lấn át bóng tối mọi rợ. Bản năng tự
nhiên của con người là luôn tìm đến ánh sáng. Cho đến thời điểm này, khi mà sự
tự do hát, tự do nghe, tự do xem, tự do đọc đã trở thành một sự bình thường
đương nhiên, thì bất kỳ cản trở hay ngăn cấm nào cũng đều vô ích và vô vọng. Dù
muốn hay không, chế độ cũng cần phải thừa nhận một tính chất chính trị căn bản:
Họ có thể cai trị độc tài nhưng họ phải hiểu, trong bất lực, rằng không có bất
kỳ công cụ văn hóa “toàn năng” nào của nhà cầm quyền có thể “chọc mù mắt” và “bịt
lỗ tai con người”!
Mạnh Kim
Lâu lắm rồi, có một lần trong đời tôi tìm lại được những cánh
phượng khô ép giữa những bài thơ, trong tập thơ có những trang giấy “pelure”
màu hồng, màu xanh dễ thương như cái tuổi học trò thơ mộng. Những kỷ niệm thời
học trò bị bỏ quên nằm lẫn lộn với những cuốn sách cũ trên kệ sách, hình như
không ai đụng đến. Rất, rất lâu tôi cũng không đụng đến, cho đến một buổi chiều
mưa tự nhiên tôi lại nhớ, những cánh hoa khô bất ngờ rơi xuống lả tả đã trở màu
nâu xậm là lúc ấy trong trí tôi, cũng rưng rưng những cánh phượng màu đỏ thắm
rơi trên mặt cỏ...
Cảm giác mênh mang buồn khi tìm gặp lại những cánh phượng khô ép
trong trang vở, khiến tôi nhớ đến anh, người “bạn” duy nhất trong đời học sinh,
đã nhặt những cánh phượng rơi trên thảm cỏ gần mé sông, ép vào trang vở bọc
trong giấy kính mờ rồi làm quà cho cô bạn nhỏ. Nét chữ bay bướm của anh nghiêng
nghiêng trên những tờ thư mỏng, anh vẫn thường nhận phần trang trí hay chép hộ
tôi những bài thơ hay. Chỉ vậy thôi, ngày nào trên đường đi học về tôi cũng đã
phải ghé vào nhặt vài bông hoa cầm trên tay để làm duyên với anh bạn chung
đường, hình như từ đó cũng nảy nở một mối tình học trò, be bé xinh xinh như
những cánh phượng đầu mùa ép khô đã đổi màu với thời gian. Mối tình ấy bao lâu
tôi không nhớ, nó bắt đầu khi nào và kết thúc làm sao vẫn chỉ để lại một nỗi
buồn hờn giận nhẹ nhàng mà lại khó nguôi trong trái tim nhỏ bé của tôi. Hai năm
dài đi chung một con đường đến trường, bỡ ngỡ xa lạ lúc ban đầu, êm đềm đằm
thắm lúc về sau, để rồi sau một mùa hè “người ấy” biến mất, như những cơn mưa
mùa hè đã cuốn theo những cánh hoa phượng rã rời trôi theo dòng sông biền biệt.
Tôi chỉ biết anh ở trọ nhà bà con trong suốt thời gian đi học,
bà mẹ quê phải vất vả tằn tiện từng đồng nuôi con đi học xa. Quê anh tít trong
vùng sâu ở bên kia sông, thời chiến tranh nằm giữa hai lằn đạn. Bà mẹ chịu ở
lại với mảnh vườn và ruộng lúa để nuôi các con ăn học, tình hình chiến sự nhiều
khi trở nên rất sôi động đến nỗi con cũng không dám về nhà thăm mẹ cho nguôi
lòng thương nhớ, mẹ cũng phải khó khăn mới chèo chống được với sóng gió, bằng
chiếc ghe nhỏ chở khẳm gạo và thức ăn bơi qua sông lớn để nuôi con ăn học.
Chính vì vậy mà tâm tư anh khắc khoải một nỗi buồn, nhất là những đêm tiếng đại
bác vọng về thành phố, ánh hoả châu soi sáng vùng trời xa bên kia sông, tương
lai tuổi trẻ ngày ấy mịt mờ nặng trĩu những âu lo khiến anh nghĩ tới bà mẹ quê tội
tình mà không an tâm trong việc học. Năm đó anh thi rớt, một là học lại một năm
nữa để thi nốt mảnh bằng tú tài 2, sau đó lên Đại Học, nhưng đúng lúc đó chiến
trận leo thang, anh cũng đang độ tuổi tòng quân nhập ngũ.
Anh biến mất trong tôi kể từ mùa hè năm ấy không một lời từ giã.
Có lúc tôi nghĩ chắc anh đã nghỉ học về quê ở nhà với mẹ để trốn lính, hay có
khi lại chạy theo bên kia vì nhà anh thuộc vùng xôi đậu. Thôi thế là hết, tình
học trò còn non nớt như những bông hoa phượng đỏ, lắm nhớ nhung để rồi tự nhiên
bị đứt như dây tơ chùng xuống nốt nhạc buồn. Trong tâm hồn người con gái tuổi
mộng mơ mới biết yêu vẫn thổn thức khi niên học mới một mình đến trường không
còn ai đưa đón. Lật tập thơ tôi thấy còn nhiều cánh hoa phượng khô của anh tặng
năm xưa nằm xen trong những trang giấy mỏng, lúc ấy tôi đã làm bài thơ “Ngày
Tựu Trường”, ép vào đó một cánh phượng khô với nỗi buồn của tôi, nỗi hờn giận
đã làm tan nát trái tim non nớt tuổi học trò.
Ngày Tựu Trường
Ngày tựu trường lòng
tôi sao trống vắng
Đếm trên đường từng bước với cô đơn
Người ta vui sao chỉ có tôi buồn
Tình êm đẹp bây giờ không còn nữa
Lá phượng xanh, màu xanh nay đã úa
Ngày tựu trường trời sao vẫn nhiều mưa
Đường đi, về tôi cảm thấy bơ vơ
Nên cúi mặt tìm màu hoa đỏ thắm
Một người ra đi nơi nào xa lắm
Cánh phượng hồng khô héo đã từ lâu
Những bông hoa kỷ niệm buổi ban đầu
Vẫn còn đó không một lời hẹn ước
Ngày tựu trường có một mình tôi khóc
Đâu còn anh ai chép hộ bài thơ
Đâu còn anh mình tôi bước thẫn thờ
Trong buổi sáng đầu năm vào lớp học.
Bài thơ dễ thương ấy là một trong những bài thơ tuổi học trò,
với những cánh hoa ngả màu nâu buồn nằm thầm lặng trong góc tủ sách, hay suốt
đời nằm thầm lặng trong đáy hồn tôi.
Khi tôi nghĩ sẽ không bao giờ còn gặp lại “người ấy”, dù chia
tay chỉ vì hoàn cảnh nhưng đã vô tình làm tổn thương trái tim non nớt của tôi.
Vậy mà vài năm sau khi lập gia đình, tôi bồng đứa con gái nhỏ ghé vào tiệm bách
hóa mua đồ chơi cho con thì gặp anh. Trong bộ chinh y còn nhàu bụi đường xa,
hình như anh mới từ đơn vị về nên nét mặt còn hằn dấu phong sương.
Ngỡ ngàng, bối rối, bồi hồi, ba cảm giác ấy trộn lẫn vào nhau
khiến tôi lúng túng thốt ra toàn những câu thật ngớ ngẩn khi hai bên chạm mặt
nhau. Má tôi nóng bừng lên lẫn lộn cảm xúc bất ngờ xung đột trong lòng, khi nhớ
đến chuyện ngày xưa, lại nửa như muốn cho anh nhìn thấy cái hạnh phúc mà tôi
đang có. Vẫn không bỏ được tính trẻ con, bất đắc dĩ tôi phải hỏi, vẫn trống
không như ngày xưa mỗi lần hờn giận:
“Mới về hả?”
Anh cũng mỉm cười gật đầu, ánh mắt nửa thương mến nửa giễu cợt
khi nhớ lại cái tính hay hờn của tôi:
“Ừ, mới về!”
Rồi lặng thinh nhìn tôi rất lâu. Đôi mắt ấy chừng như đâu đó
đọng lại một niềm vui dịu dàng khi biết tôi đã có một đời hạnh phúc, xen lẫn
chút ân hận khi nghĩ đến chuyện cũ. Thời gian qua lâu rồi, những cánh hoa
phượng đã úa rồi vẫn nằm trong tập thơ tôi nhét kín trong kẹt tủ sách.
Trong bấy nhiêu năm trời tôi đâu biết anh đi đâu về đâu, bây giờ nhìn anh trong
màu áo trận, tôi ân hận là đã có lúc nghĩ sai về anh, vì tưởng anh sợ đời lính
nên trốn về quê núp bóng mẹ. Anh nựng đứa bé trên tay tôi rồi hỏi:
“Cháu xinh và giống mẹ ghê, được mấy tuổi rồi?”
Tôi lí nhí trả lời nhưng tự nhiên một nỗi hờn giận dâng lên
trong ánh mắt, tôi có làm gì nên tội để ngày ấy anh bỏ đi không một lời từ giã.
Theo thời gian tình yêu ấy giờ đây đã khâm liệm rồi, nhưng niềm đau thì hình
như vẫn còn đó khi nhớ lại. Nỗi đau tuổi đầu đời, in một dấu hằn trong trái tim
nhỏ bé, chưa kể những giọt nước mắt tủi hờn mỗi lúc lẻ loi trên đường đi học,
tôi vẫn phải đi ngang nhịp cầu và mé sông rưng rưng tàn hoa phượng đỏ mỗi lúc
sang hè. Tự nhiên tôi bật hỏi:
“Hồi đó anh đi đâu?
Anh buồn buồn:
“Anh nhập ngũ, mẹ anh đâu còn bao nhiêu sức lực để nuôi anh học
lại một năm nữa, anh cũng không thể về cày cuốc nơi mảnh đất quê nhà. Đành là
ra đi mà không dám nói lời từ biệt, anh xin lỗi…”
Chúng tôi còn nói thêm vài câu chuyện nữa, đã hết giận anh rồi,
chuyện cũ đã được giải thích, dù sao hiện tại tôi đã ấm êm với một gia đình
hạnh phúc, riêng anh đời lính đẩy đưa qua những miền đất lạ, chỗ nào cũng chỉ
có đạn bom. Anh chưa lập gia đình dù mẹ anh mong mỏi, nhưng đời lính luôn đối
diện với sống chết lại ám ảnh chuyện “những Kinh Kha một sớm chẳng quay về” nên
anh ngại ngùng chưa nghĩ đến hôn nhân.
Tôi bế con ra khỏi tiệm bách hoá, trên tay con bé giữ chặt món
quà của người lính mua tặng, nó toét miệng cười khi anh đặt nụ hôn dịu dàng lên
vầng trán ngây thơ của đứa bé trước khi từ giã. Chuyện năm nao đã lắng xuống
rồi, ít ra cũng có một câu trả lời để “cô bé học trò” ngày ấy khỏi tấm tức vì
nghĩ mình bị bỏ rơi. Nụ hôn dịu dàng anh gửi lại trên vầng trán đưá bé, khiến
tôi chạnh nhớ đến lần cuối cùng, anh cũng giấu kín lời từ biệt với nụ hôn nhẹ
nhàng trên trán tôi rồi ra đi mà không nói một lời. Món đồ chơi trẻ con đứa bé
giữ chặt trong tay, khiến tôi bật cười mà lại cảm động khi nghĩ tới những bông
hoa phượng màu nâu khô ép trong tập thơ nhét trong kẹt tủ, ngày xưa tôi cũng
giơ tay nhận món quà trời cho ấy mỗi độ sang hè, nhớ đôi mắt nồng ấm của anh
nhìn tôi với nụ cười xinh giấu trong vành nón lá.
Kể từ lần gặp ấy tôi không hề gặp lại anh nữa, cuộc đời cứ thế
trôi đi theo cái tan nát của nước non. Tôi may mắn cùng chồng rời khỏi quê nhà
trong những giờ thứ 25 của cuộc chiến, chẳng mang theo được gì, huống chi là
tập thơ tuổi học trò giấu trong kẹt tủ sách có những cánh hoa khô ép trong cuốn
vở.
30 năm sống ở quê người, lòng tôi vẫn chưa nguôi ngoai nỗi nhớ
quê và mong ước một lần trở về. Trở về để làm một người khách lạ trên chính quê
hương của mình, những gì trong quá khứ đã không còn, tôi chẳng tìm đâu ra hai
cây phượng nơi mé sông, tôi cũng không nhìn ra ngôi trường mình đã học ngày xưa
vì nó thay đổi hết rồi. Chị bạn đồng hành mời tôi về thăm sông nước miền Tây
cho biết đời sống và vẻ đẹp của những thôn làng nằm ven bờ sông Hậu, tôi nhận
lời ngay vì chợt nghĩ đến ngày xưa, có lần tôi đã ao ước được theo anh về thăm
nhà, nhưng anh nói:
“Em không biết chèo xuồng, không biết bơi làm sao dám về vùng
sông nước.”
Anh nói vậy nhưng tôi hiểu cái mặc cảm trong lòng anh, một cô gái thị thành “ăn trắng mặc trơn”, sao phù hợp được với cảnh đời của một thanh niên cảnh nhà thanh bạch nơi quê mùa đầy những bất trắc của chiến tranh. Lần trở về này tôi theo người bạn về thăm quê chị, nơi mà có lần mấy chục năm về trước tôi đã nhìn thấy nỗi bồn chồn của người yêu cũ khi nhìn ánh hoả châu phía chân trời bên kia sông, mà nghĩ đến bà mẹ quê nghèo đang lao đao giữa hai lằn đạn.
Đã bao nhiêu khuôn mặt thân hay sơ đi qua đời mình, bạn bè chung trường chung lớp ngày xưa bây giờ mỗi người có một số phận khác nhau và đời sống khác nhau. Tôi gặp một vài người bạn cũ còn sống ở quê nhà, có người thành công có người lận đận an phận sống cho hết kiếp người. Tôi thoáng nhớ đến anh người bạn thuở học trò, không biết bây giờ anh ra sao, chỉ mong sao anh cũng thoát được nỗi vất vả cuộc đời mà qua hai giai đoạn tôi biết, đời học sinh và đời lính tuổi nào anh cũng ắp đầy nỗi khổ.
Chuyến đò xình xịch nổ máy rồi rời bến chở khách về thăm lại
làng quê miền đồng bằng sông Cửu Long, bây giờ cũng có một con đường nhỏ chạy
song song với dòng sông. Đa số người miền quê vẫn thích đi bằng đò vì mát mẻ và
vận chuyển được nhiều hành lý, còn người đi xa trở về lại muốn hưởng cảm giác
thanh bình của những làng mạc nằm dọc theo dòng sông. Lòng tôi êm dịu quá,
những đợt sóng nhỏ vỗ vào mạn đò êm như nhịp võng và tiếng ầu ơ của những trưa
hè trong một xóm nhỏ của miền Nam ngày xưa, tôi để lòng trôi nổi theo những kỷ
niệm một thời đã lắng xuống sau 30 năm tôi sống ở quê người.
Chập chờn theo tiếng sóng vỗ vào con đò tròng trành trên dòng sông, gió mát miền quê ru tôi vào giấc ngủ, lúc ấy đò vừa cập bến nên mọi người lao nhao đứng dậy để lên bờ, tôi mới ngây ngất nhìn thấy hai cây phuợng thắm bên giẻo sông này đang mùa hoa tưng bừng nở rộ. Hoa đỏ chi chít chen lẫn trong những cành lá xanh ly ty xanh biếc, lòng lại bồi hồi xúc cảm vì bất chợt tìm lại những gì mất đã lâu nay bỗng dưng hiện ra trước mắt. Ôi chao! Cũng những cánh hoa tả tơi rơi trên mặt đất, cũng cây phượng hồng bên mé sông, chỉ khác là hôm nay tôi không còn là cô nữ sinh tuổi 17 của những năm tháng trước. Hai cây phượng hồng che bóng mát cho một cái quán nghèo nhà quê, bán trái cây và những thứ kẹo bánh, đồ chơi cho trẻ con, người làng xã mỗi lần ra bến chờ chuyến đò ra tỉnh.
Mỏi chân nên tôi ngồi nghỉ nơi cái bàn của quán nước ở ngoài
hiên, chờ chị bạn lấy hành lý về thăm nhà bà con, bảo người phụ nữ chủ quán có
nét mặt hiền hòa đôn hậu chặt cho tôi một trái dừa xiêm nhỏ. Biết tôi khách
phương xa, chị quày quả gọi vào bên trong lấy cho tôi một trái dừa tươi nhất từ
trên cây phía sau nhà. Khi người đàn ông chống đôi nạng gỗ khập khễnh bước ra
đem trái dừa cho vợ, mắt tôi lòa nhòa một hình ảnh rất thân quen, mặc dù thời
gian và tuổi tác đã cày sâu trên khuôn mặt, nhưng chắc chắn là tôi không lầm.
Trời ơi! Anh đấy ư? Có thể nào như thế nếu như trời vẫn còn bắt tôi gặp lại
người xưa trong cảnh huống này, con người quả có số phận, nhưng nỡ nào chiến
tranh lại lấy đi của anh nhiều như vậy? Một cái chân bỏ lại chiến trường, cộng
thêm một con mắt khiến anh khó lòng nhận ra tôi lúc ấy, chính tôi cũng thay đổi
nhiều rồi, nhưng so sánh giữa hai cảnh đời thì anh đã gánh chịu quá nhiều bất
hạnh.
Không nén được cảm xúc, tôi uống một ngụm nước dừa nhưng lại
không cảm được cái ngọt lừ của nước mát quê hương. Thấy anh đi vào, tôi bật
đứng dậy chạy gọi với theo khiến người vợ cũng ngạc nhiên:
“Anh... anh gì ơi, cho tôi hỏi thăm.”
Anh ngạc nhiên đứng lại, cây nạng gỗ dựa bên khiến dáng anh khập
khiễng làm lòng tôi càng thương cảm. Rồi nhìn tôi chăm chú bằng con mắt còn
lại, linh tính đã nhận ra tôi là người quen năm cũ, anh bình tĩnh mỉm cười, nụ
cười ấy tôi nhận ra ngay như ngày nào gặp lại nhau trong tiệm bách hóa. Anh
hỏi:
“Mới về hả?”
Tôi nhìn anh lòng rộn lên niềm vui, lí nhí nói:
“Ừ, mới về!”
Trong bao nhiêu năm cứ như thời gian không ảnh hưởng gì đến cái
tình năm xưa trong quá khứ, anh nói tiếp:
“Không ngờ quả đất tròn thiệt, tôi không ngờ mình còn sống để có
ngày gặp lại”.
Chúng tôi trở lại bàn dành cho khách uống nước, chờ chị bạn để
về nhà. Vợ anh lăng xăng mừng rỡ:
“Cô đây quen với mình hả?”
Anh gật đầu vui vẻ:
“Quen, hồi anh còn đi học nhưng lâu rồi không gặp, cũng mấy chục
năm rồi mà còn nhận ra nhau. Bữa nay em chuẩn bị làm cơm mình đãi khách quý,
hình như cũng là bạn của cô Út cháu bà Hai trong xóm mới từ nước ngoài về?”
Tôi gật đầu, chị bạn tôi cũng vừa đến, nhất định tôi phải thuyết
phục chị buổi chiều đến nhà anh ăn bữa cơm hạnh ngộ. Thấy anh lom khom với cây
nạng, tôi dò hỏi:
“Sao anh không dùng xe lăn cho khoẻ?”
Anh mỉm cười nhẫn nhục:
“Ở nhà quê đường xá gập ghềnh, chống nạng tiện hơn, cái chân này
cũng vững vì nó biết phải bảo vệ cái chân kia cho mình khỏi té.”
Trời ơi, bao nhiêu năm vốn văn chương vẫn còn nguyên trong trí nhớ của người học trò, vẫn khí phách của người lính dám đứng thẳng đối phó với hoàn cảnh. Chắc anh khổ nhiều mà không nói ra, nhưng tâm tôi đã quyết phải làm một cái gì cho anh. Trả ơn những bài thơ chép trong cuốn vở, trả ơn những cánh hoa khô ép trong thơ đã cho tôi những tháng ngày mộng mơ tuổi học trò, trả ơn người lính đã đánh mất phần thân thể cho tôi được bình yên trong thời chinh chiến.
Hai ngày theo chị bạn về quê, nơi này làng xóm thân cận nên ai
cũng biết nhau, cũng không ai biết gì về sợi dây thân tình của anh thương phế
binh với người phụ nữ trung niên từ xa mới về. Mẹ anh chết lâu rồi, anh trở về
sống trong căn nhà hương hoả của gia đình, an phận với nếp sống đạm bạc rau
trái trong vườn, mãi mới chịu lấy vợ để tuổi già đỡ hiu quạnh. Hai đưá con anh
lớn lên được cho ra tỉnh trọ học y như cha chúng nó ngày xưa, nhưng khá hơn vì
đã hết chiến tranh, ngày nghỉ vẫn theo đò về quê thăm cha mẹ. Anh đối đãi tôi
bằng mối thâm tình của người anh với cô em gái, sau bữa cơm khá thịnh soạn có
món gỏi gà trộn rau răm bắp chuối, chị lưỡng lự chưa dám cầm món quà của tôi
nhét vào túi áo chị dù biết rằng nó sẽ giúp anh chị thực hiện những ước mơ, như
làm lại cái quán nhỏ để mưu sinh qua ngày, bán thêm vài thứ đồ chơi rẻ tiền cho
trẻ con trong xóm.
Anh thở dài rồi cũng phải nhận món quà của người em gái một thời
còn nợ anh những bông hoa phượng ép trong cuốn vở, nhưng vẫn nói:
“Cảm ơn cô đã nghĩ đến anh,sau chiến tranh anh được về với mảnh
đất quê nhà là may mắn rồi, còn biết bao đồng đội của anh què chân cụt tay lê
la ngoài đầu đường xó chợ không có ai giúp đỡ.Nếu có lòng,em cố giúp những
người ấy, phần anh như vậy đã quá đủ, còn có hai cây phượng bên bờ sông nở hoa
mỗi độ hè về, đâu ao ước gì hơn nữa.”
Xế trưa hôm sau nữa tôi và chị bạn trở ra tỉnh để lên Sàigòn
chuẩn bị chuyến bay. Lúc vợ anh bận bịu bán hàng cho khách trong quán, chị bạn
tôi cũng lăng xăng từ biệt gia đình người bà con, mắt ai cũng rươm rướm hẹn lần
tái ngộ. Lúc ấy tôi có dịp đứng một mình với anh dưới tàng cây phượng vĩ, rực
rỡ những bông hoa đỏ lung linh in bóng xuống dòng sông. Vướng một chút hắt hiu
khi nắng chiều rọi vào khuôn mặt đã hằn dấu vết thời gian, anh nói nhỏ:
“Em vẫn còn giữ được nụ cười năm xưa. Bây giờ có hiểu tại sao anh lại trồng hoa phượng, cũng chỉ bởi muốn giữ trong lòng những kỷ niệm thời đi học.”
Tôi gật đầu không nói, nhưng mắt lại rưng rưng khi hiểu rằng
trong trái tim anh thấp thoáng vẫn còn hình ảnh cô bạn nhỏ thời đi học. Chắc
khó gặp lại nhau lần nữa, khi con đò tròng trành rời bến ra giữa sông, bóng anh
nhỏ dần nhưng mắt tôi vẫn ngoái trông những bông hoa phượng rưng rưng nơi bờ
sông lộng gió...
Nguyên Nhung