Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Sunday, October 18, 2026
Tiếu Lâm
Saturday, October 17, 2026
Mại Dâm Dưới Chế Độ Cộng Sản - Nguyễn Tiến Dân
Bài viết "HAY NHẤT
TRONG NĂM"-Mại dâm dưới chế độ Cộng sản”
Trước tiên phải bái phục
sự can đảm của tác giả cho biết rõ dịa chỉ nhà ở, số điện thoại của tác giả một
cách công khai. Thứ hai khâm phục hiểu biết và lý luận thật vững chắc không có
một sơ hở nào để bị đánh bại. Qua hai yếu tố trên, tôi đánh giá bài viết "HAY
NHẤT TRONG NĂM" (vì không thấy đề năm nào) không những của VN mà của cả thế
giới, nhất là THẾ GIỚI CỦA NGƯỜI NGHÈO. Quí vị nghĩ sao?
Ðọc bài này nghe sướng
cái lỗ tai quá. Xin bái phục sự can đảm của tác giả. “Mại dâm dưới chế độ Cộng
sản”
Kính gửi: ông Trương Tấn
Sang,
Chủ tịch nước CHXHCN Việt
nam.
Tên tôi là: Nguyễn Tiến
Dân.
Ðịa chỉ: 208 Ðịnh Công
Thượng – quận Hoàng Mai – Hà nội.
Ðiện thoại:
0168-50-56-430
Như đã viết trong bức
thư trước, lần này, xin hầu chuyện ông với đề tài “Mại dâm dưới chế độ Cộng sản”.
Ðề tài mà rất nhiều người đã đề cập. Tiếc thay, do không có thực tế, nên họ chỉ
đề cập được 1 cách phiến diện.
1/ Phán xét về mại dâm,
chưa có ai cho rằng nó là tốt. Ai cũng cho nó là xấu. Bởi ít nhất, nó chà đạp
lên nhân phẩm của người phụ nữ. Tuy vậy, cũng không thể không thừa nhận: Mại
dâm là 1 thực tế khách quan. Nó hiện diện ở khắp nơi trên trái đất. Nó có từ xa
xưa. Nó tồn tại đến ngày nay và chắc chắn, nó sẽ song hành cùng nhân loại.
Ðừng có mơ cấm được mại
dâm. Mại dâm chỉ không có trong xã hội nguyên thủy và trong thế giới của loài
súc vật.
2/ Viết về mại dâm,
không thể không nhắc đến 2 tác phẩm: Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tiếng hát
sông Hương của Tố Hữu.
a/ Ở truyện Kiều, Nguyễn
Du tố cáo chế độ phong kiến mục nát, suy đồi. Ngay từ “thằng bán tơ” mạt hạng,
cũng biết cách câu kết với quan lại, sai nha để ngang nhiên ăn cướp của dân
lành. Truyện Kiều không nói rõ, nhưng tôi đoán (rất mong là đoán nhầm), chúng
đã ném “2 cái bao cao su đã qua sử dụng” vào nhà Vương viên ngoại, tạo cớ cho
“trận cướp đẹp”. Cướp sạch của nổi, của chìm của người ta rồi, chúng vẫn chưa
thỏa mãn. Chúng tiếp tục “huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc”, để bắt bớ,
đánh đập, tra người, khảo của. Chung cuộc, nàng Kiều dẫu có tài sắc vẹn toàn đến
đâu thì cũng phải tự bán mình vào lầu xanh, lấy tiền mà đút lót tiếp cho lũ
tham quan vô lại. Chỉ dám mong 1 điều thật nhỏ nhoi: Của thì đã mất rồi, nhưng
cha và em được “cốt nhục vẹn toàn". Xét về đạo lí, sự hi sinh ấy, thật là
lớn lao, thật là cao thượng.
Cũng như nàng Kiều, từ
xưa tới nay, bao cô gái khác, khi bước chân vào chốn lầu xanh, phải đâu do họ tự
nguyện. Xã hội phong kiến vô pháp, vô luân đã dồn họ đến bước đường cùng. Thúy
Kiều tuy chỉ là gái lầu xanh. Nhưng từ đầu tới cuối tác phẩm, Nguyễn Du chưa
bao giờ mạt sát, khinh bỉ nàng. Ông mô tả nàng có tình cảnh đáng thương và có
cuộc đời đáng được thông cảm. Sống trong đống bùn, mà nhân cách vẫn tỏa sáng.
Nàng không giống những kẻ đê tiện: Tối chơi gái tràn lan, ngày vẫn lên mặt
“Nghĩ mình phương diện Quốc gia”. Sự khinh bỉ nếu có, Nguyễn Du chỉ dành cho chế
độ phong kiến suy đồi. Một cách nhìn đầy nhân văn, phải không ông?
b/ Trong truyện ngắn
Chí phèo, Nam Cao mở đầu: “Một sáng tinh sương, anh thả ống lươn nhặt được đứa
bé mới đẻ xám ngắt, đùm trong cái váy đụp vứt ở lò gạch cũ”… Cuối cùng: “Thị
nhìn nhanh xuống bụng mình, và thoáng chợt thấy một cái lò gạch cũ bỏ không, xa
nhà cửa, và vắng người lại qua…”. Nam Cao giỏi ở chỗ tuy không trực tiếp nói
ra, nhưng độc giả vẫn hiểu: “Ðó là kiếp luân hồi. Chí Phèo này có chết đi, còn
nhiều thằng Chí Phèo khác đã chuẩn bị mọc lên thay thế. Ðời không thể thiếu vắng
Chí Phèo”.
Với Tiếng hát sông
Hương, ông Tố Hữu cũng dùng thủ pháp tương tự. Mở đầu, hiện thực của thời Thực
dân, Phong kiến: “Trên dòng Hương Giang” là cô gái với bao nỗi nhục nhã, ê chề
khi phải bán thân nuôi miệng… Cuối cùng (nguyên văn trong tác phẩm), ông ta có
cách dòng (ngầm hiểu là đã bước sang trang, đã đến “ngày mai huy hoàng”), rồi
cũng vẫn lại “Trên dòng Hương Giang”.
Riêng về mặt này, Tố Hữu
xứng đáng là bậc tiên tri. “Ngày mai huy hoàng” đã đến, không còn cô gái kia
trên sông, bởi cô đã quá già. Thay vào đó, hằng hà sa số những cô gái trẻ khác,
mọc lên thay thế. Mại dâm đâu có mất đi trong chế độ CS. Thậm chí nó còn phát
triển mạnh mẽ hơn (Khắp hang cùng ngõ hẻm, tìm đâu cũng có), tinh vi hơn (Vì nó
biết cách ứng dụng cả công nghệ thông tin) và trắng trợn hơn (Bởi nó ngang
nhiên tiếp thị ở ngay ngã 3, ngã 4 đường phố. Thậm chí hành nghề ngay tại gốc
cây, sườn đồi)
3/ Thưa ông Chủ tịch,
Trời sinh ra con người. Trên cơ thể mỗi con người, có nhiều bộ phận. Mỗi bộ phận,
đều có chức năng riêng. Nếu không hoạt động, chức năng ấy sẽ bị suy thoái. Một
kẻ, dẫu có mang danh Giáo sư – Tiến sĩ, nhưng đầu óc mà lười suy nghĩ, kẻ đó tất
bị lú lẫn, u mê. Mắt mà không tự nhìn đường, cứ đi theo “định hướng” của ai đó,
lâu dần sẽ bị thong manh.
Ðổ băng keo vào miệng
thiên hạ, sẽ khiến người ta không nói được. Người ta không nói được, khiến ta
không phải tranh biện với ai. Không phải tranh biện với ai, lâu dần lưỡi ta sẽ
cứng lại. Lúc đó, ta ăn nói giống như 1 kẻ ngây ngô, thiểu năng về trí tuệ. “Ðè
đầu cưỡi cổ” thiên hạ, những tưởng mình giỏi giang và lấy làm đắc ý. Ðâu hay:
Ngồi trên lưng người khác, chân tay ta lâu ngày không phải hoạt động, cơ của nó
sẽ teo đi.
Trên con tàu vũ trụ, do
được điều kiện không trọng lượng nâng đỡ, xương của phi hành gia không phải làm
việc như bình thường. Lâu dần, nó sẽ bị thoái hóa. Trở về mặt đất, cần phải có
thời gian và chế độ riêng để nó phục hồi… Khác gì những tổng công ty, những tập
đoàn kinh tế nhà nước. Chúng hoạt động, mà không dựa vào thực lực của mình.
Chúng tồn tại, dựa trên sự bú mớm vào ngân sách nhà nước. Trước sau, chúng cũng
phải chết. Ðó là những sự thực hiển nhiên.
Tương tự, bộ phận sinh
dục của con người, khi già-trẻ; ốm-khỏe có tần suất hoạt động khác nhau. Nhưng
nói chung, nếu không được “cọ xát”, dẫu có thủ dâm thì nó cũng vẫn sẽ bị suy
nhược. Từ đó, u – xơ – ung – nhọt dễ có điều kiện phát sinh. Nghiêm trọng hơn,
“bí hạ (thì phải) phá thượng”. Ối anh sẽ bị suy nhược theo nó. Ðó là thường thức
cơ bản của phép dưỡng sinh.
4/ Chẳng cứ Việt nam,
nhiều nước khác cũng muốn cấm mại dâm. Liệu họ có đạt được mục đích không? Ta
hãy thử xét về mặt đạo lí và qui luật cung – cầu:
a/ Với người đi mua
dâm: Xin không nhắc đến “một bộ phận không nhỏ” những kẻ mê tín, chỉ thích đi
lùng gái trinh như Lương Quốc Dũng. Cũng không xét đến những những bậc nam nhi,
vợ con đề huề, thỉnh thoảng vẫn thích đi ăn vụng như Nguyễn Trường Tô. Ở đây,
chỉ xét những trường hợp có nhu cầu thật sự và mong nhận được sự thông cảm của
những người, mà tối đến, vợ chồng vẫn còn được ôm nhau ngủ. Chẳng hạn: Có người,
vợ chết sớm, để lại cho mình những đứa con thơ dại, kháu khỉnh, thông minh. Tuy
còn trẻ khỏe, nhưng tình yêu mãnh liệt với người vợ, đã khiến ông ta không muốn
đi bước nữa. Ông ta ở vậy để nuôi con. Bởi, chúng là kết tinh tình yêu của họ.
Thỉnh thoảng, ông ta muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên
thông cảm không?
Tôi có quen 2 người cao
tuổi. Vợ họ bị ốm liệt giường hàng chục năm trời. Họ dịu dàng chăm sóc vợ.
Không hề có một lời phàn nàn, cáu gắt trong chừng ấy năm trời. Họ cũng chẳng
ngó ngàng tới bất cứ một người nào khác giới. Nhân cách, tình yêu của họ thật
đáng ngưỡng mộ. Trên thế gian này, hỏi có mấy người được như vậy. Ðặt giả thiết:
Thỉnh thoảng, họ muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có được coi là chính đáng và
có nên thông cảm không?
“Tốt mái, hại trống"
câu này ai cũng biết. Chắc chắn, ông cũng quen nhiều bà quan chức. Họ ăn lắm, tẩm
bổ nhiều, béo như con trâu trương. Gia đình họ, nếu sống thủy chung, ông chồng
“má hóp đít tóp” là điều chẳng phải nghi ngờ. Ngược lại, có những ông chồng khỏe
đến phát sợ. Có thể “nhất dạ, ngũ giao…”. Vợ khỏe cũng chẳng chịu nổi, kể chi đến
những bà hom hem, bệnh tật. Thế nên, ngày xưa có bà phải tự nguyện “tay bưng trầu,
đầu đội lễ” đi hỏi vợ lẽ cho chồng. Mong sao có người, đêm đến nó đỡ đần cho.
Nay, làm gì có chế độ đa thê. Không đưa tiền cho người ta đi xả bớt ra, kẻ bị
thiệt thòi chính là bà vợ. Nhu cầu ấy, đành rằng là không chính đáng, nhưng có
nên thông cảm cho bà vợ của ông ấy không?
Những người nước ngoài
sang công tác lâu dài ở Việt nam, do điều kiện, họ không thể mang vợ con theo
được. Họ khỏe mạnh, họ có tập quán thoáng đãng về tình dục. Thỉnh thoáng, họ muốn
hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?
Có người thiệt thòi
toàn diện: Không bảnh trai, văn hóa lùn, hoàn cảnh gia đình lại khó khăn. Không
cô gái nào chịu lấy anh ta làm chồng. Nhu cầu kia rõ ràng là vẫn có. Thỉnh
thoáng, anh ta muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông
cảm không?
Có những chàng trai, do
phấn đấu cho sự nghiệp, nên họ lập gia đình muộn. Họ không muốn gạ gẫm, bồ bịch
bất chính với bạn học. Không muốn gạ gẫm, bồ bịch bất chính với “con thày-vợ bạn-gái
cơ quan”. Họ cũng không muốn “nhịn” quá lâu. Thỉnh thoáng, họ muốn hòa hợp
âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?
Còn nhiều và rất nhiều
trường hợp khác nữa. Nhưng sợ phải làm mất thì giờ quý báu của ông, nên tôi
không tiện kể thêm.
b/ Với người đi bán
dâm:
Thưa ông, tôi có mở
quán Karaoke và Xông hơi tại 544
đường Láng – Ðống đa – Hà nội. Dĩ nhiên, trong quán của tôi không có dịch vụ
mại dâm. Do đặc thù công việc, tôi phải tiếp xúc hàng ngày với các cháu nhân
viên. Xin khẳng định với ông: Không có cháu nào cảm thấy hãnh diện, khi phải
làm cái nghề này. Phải đi làm, bởi không có con đường nào khác. Tôi kể ông nghe
một trường hợp:
Cách đây hơn chục năm,
có 1 cháu đến làm việc ở chỗ tôi. Cháu nó không đẹp, ăn mặc lại giản dị. Nhưng
nhiều người thích nó. Ai rủ đi ngủ, cháu cũng đi. Lạ nhất là: kiếm được rất nhiều
tiền, nhưng cháu không hề đua đòi, chưng diện.
Tò mò, tôi có hỏi cháu.
Nó khóc, rồi dẫn tôi về thăm nhà. Ðến nơi, tôi bàng hoàng. Nhà nó nghèo. Bố mẹ
đã già yếu, lại bệnh tật. Các em đã đông, lại còn nhỏ. Nhà cửa, trước kia chỉ
là mái lều tranh xiêu vẹo. Ruộng đất không có. Là chị cả, cháu cam chịu hi sinh
thân mình, để cứu cả nhà. Cháu nghiến răng xác định: Ra Hà nội để kiếm tiền.
Bao nhiêu tiền kiếm được, cháu đều gửi về quê. Trước hết, cho tất cả các em được
đi học. Còn lại, để bố mẹ làm ăn và xây được căn nhà cấp 4. Ðối với gia đình
cháu, đó là mơ ước, tưởng như không bao giờ là hiện thực. Chuyện của cháu, chỉ
bố mẹ biết. Nhưng, khác hẳn với thái độ của những người CS các ông. Họ luôn ân
hận, xót xa vì mình không giỏi, nên con cái phải chịu khổ. Sau này, khi nhà
cháu đã qua được bước khó khăn, cháu bỏ nghề. Lập gia đinh, cháu lấy người chồng
biết rõ và thông cảm với hoàn cảnh của cháu. Về nhà chồng, cháu không có của
riêng tư chìm nổi. Trước khi ra đi, cháu nó khóc và nói với tôi: “Con xin vĩnh
biệt bố”. Tôi hiểu, mình không được phép khuấy động cuộc sống riêng tư của cháu
và sẽ tốt hơn, nếu để quá khứ đau buồn, nó chìm vào quên lãng.
Ông ơi, nhân cách của
những CON NGƯỜI ấy, có xứng đáng được ta tôn trọng? Thúy Kiều có vĩ đại bằng
cháu không? Ðứng trước cháu, tôi có cảm giác, mình bị lùn đi. Còn ông, ông thấy
thế nào?
5/ Bây giờ, với tư cách
là người đứng đầu đất nước, xin ông trả lời công khai cho người dân chúng tôi:
Các ông luôn gào thét, đòi để “đảng CS được lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối” xã
hội Việt nam. Các ông lãnh đạo kiểu gì, mà bao nhiêu nam thanh, nữ tú của chúng
ta thất nghiệp. Họ không thể kiếm tiền, để nuôi sống được chính bản thân mình.
Nói chi đến gia đình. Không có tiền, đói các ông có cho họ ăn không? Không có
tiền, con cái của họ có được các ông cho đi học không? Không có tiền, ốm đau
các ông có cho họ được đến bệnh viện không? Không có tiền, lại thất học và vô
nghề nghiệp, các ông có bố trí được công ăn việc làm cho họ không?...
Tất cả các câu hỏi
trên, đều có chung câu trả lời. Ðó là “Không”. Là người Việt, ông Chủ tịch
không thể không biết câu này “Bụng đói, đầu gối phải bò”. Ðường cùng, các cháu
đành mang cái “vốn tự có” ra mà kiếm ăn. Không sung sướng gì đâu, nhục nhã lắm,
ông ạ.
Những người CS các ông,
quả thật là lũ bất tài, vô dụng. Làm lãnh đạo, mà không lo được cuộc sống tối
thiểu về ăn mặc, khám chữa bệnh, học hành, công ăn việc làm cho người dân. Khiến
rất nhiều cháu gái, chúng nó phải đi bán thân (18.000 gái Việt ra nước ngoài
hành nghề mại dâm mỗi năm; còn Bộ Lao động - thương binh & Xã hội ước tính
năm 2013 có 33.000 gái mại dâm, đó là không thèm thống kê ở 2 địa bàn trọng điểm
Quất Lâm, Ðồ Sơn). Lẽ ra, người phải ân hận, phải xấu hổ là các ông, là đảng
CS. Ðã không biết xấu hổ, lại còn nhâng nháo lên mặt đạo đức khi ra lệnh cấm mại
dâm. Ðể mà đổ lỗi, cho rằng mại dâm là tàn dư của chế độ cũ (Chế độ, mà nó sụp
đổ cách đây có nhõn 4 chục năm); cho rằng, các cháu phải đi bán thân, bởi chúng
nó hư hỏng, lười lao động và thích ăn chơi. Ông Chủ tịch và các quí bà to mồm,
ăn no, rửng mỡ ở hội Phụ nữ VN, ở bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có hình
dung ra kịch bản này không: Khi các ông cấm riết, các cháu làm nghề mại dâm
trên toàn quốc, chúng nó kéo về trụ sở hội Phụ nữ và trương biểu ngữ: “Nhiệt liệt
hoan nghênh nhà nước cấm mại dâm (chúng nó hoan nghênh thật lòng đấy, ông ạ) –
Xin hãy bố trí công ăn việc làm cho chúng tôi – Nếu không được, hãy nuôi chúng
tôi – Nếu không nuôi được chúng tôi, hoặc mặc kệ để chúng tôi đi bán dâm; hoặc
các ông, các bà hãy từ chức đi, để chúng tôi bầu những người có tài, có đức lên
làm thay – Họ sẽ lo cho chúng tôi”. Lúc đó, các ông, các bà sẽ “xử lý” như thế
nào?
6/ Ông ạ, đã có ai nói
với ông về những sự thật này chưa:
Nhiều phụ nữ, trẻ em Việt
ở độ tuổi vị thành niên, bị gạ gẫm, rồi bị đem bán vào các động mãi dâm ở
Campuchia, ở Ma cau...? Nhiều phụ nữ Việt bị bắt cởi trần truồng, cho mấy thằng
Ðại Hàn, Trung Quốc, Ðài Loan ngắm nhìn, sờ mó để tuyển… “vợ”? Có phụ nữ Việt bị
đặt trong lồng kính để bán đấu giá tại Mã Lai; bị rao bán công khai trên bích
chương tại Ðại Hàn? Nhiều phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc, Ðài Loan đã bị đánh đập, bị
hành hạ, bị giết. Nhưng, tỉ lệ này còn thấp và ít rủi ro hơn so với lấy chồng
Trung Quốc. Tình trạng lấy chồng Trung Quốc, sau đó bị ngược đãi, bị làm vợ tập
thể, bị sang tay và vứt ra đường khá phổ biến.
Cuối năm 2013, ba cô
dâu Việt Nam là Tô Thị Hà, Trịnh Thị Hoa, Mai Thị Sư được điều trị tại Bệnh viện
thần kinh thành phố Phúc Châu, tỉnh Kiến Phúc (chắc là Phúc Kiến) – Trung Quốc.
Cả ba người đều là nạn nhân của lấy chồng Trung Quốc. Họ bị đày đọa nhiều năm,
cho đến khi thân tàn thì bị đuổi ra khỏi nhà… Có nhiều trường hợp bị đẩy vào động
mại dâm, bị khai thác như súc vật cho đến khi bệnh tật, bị chết hoặc điên dại.”.
Báo Dân trí ngày 18/01/2014 đưa tin: “Sự sỉ nhục nhìn từ những cô dâu bị giết”.
Nhân phẩm người phụ nữ
Việt xuống cấp. Họ chỉ như một món hàng, bị bọn ngoại quốc, công khai giày vò,
làm nhục. Tại ai? Ðó không phải là quốc nhục, thì đối với những người CS, cái
gì đáng bị gọi là quốc nhục? Trước thực trạng ấy, với tư cách là nguyên thủ Quốc
gia, ông có thấy nhục nhã và xấu hổ không?
Ra ngoài đường thì so
vai, rụt cổ, im thin thít, chẳng dám ho he - thể hiện sự hèn hạ vô cùng. Về đến
nhà, múa gậy vườn hoang, tỏ rõ bản lĩnh anh hùng nơi xó bếp. Thần dân trông thấy,
họ khinh bỉ mãi không thôi. Ðó là nói về tư cách của lũ đê tiện, “khôn nhà dại
chợ”.
7/ Cứ coi các cháu phải
đi bán dâm, chỉ là đồ chơi trong tay những thằng đàn ông. Xin hỏi ông:
Làm đồ chơi trong tay
con trai Việt và làm đồ chơi trong tay bọn đàn ông ngoại quốc, đằng nào đỡ nhục
nhã hơn? Không dám mơ có lầu son, gác tía để hành nghề như nàng Kiều. Làm đồ
chơi trong nhà nghỉ kín đáo và ngồi vạ vật bên đường, đằng nào làm cho nhà nước
đỡ xấu mặt hơn?
Không thể cấm được mại
dâm. Vậy, hợp pháp hóa mại dâm + chăm sóc sức khỏe cho các cháu và để mại dâm
lén lút, tự phát nguy cơ truyền nhiễm bệnh tật cao, đằng nào nhân đạo hơn?
8/ Tiếp xúc với những
thứ chướng tai, gai mắt nơi nhà hàng, tôi không hề thích. Chính vì vậy, tôi và
gia đình đầu tư vào làm thủy lợi, vào trồng trọt, vào chăn nuôi. Ai ngờ, tôi bị
chính quyền CS đủ cả 4 cấp: Xã – Huyện – Thành phố - Trung ương câu kết với
nhau lừa đảo, cướp đoạt trắng tay hơn chục tỉ VND. Mĩ miều, thì nói là “cả hệ
thống chính trị” nhà các ông. Còn dân gian, đơn giản hơn nhiều. Chúng tôi nói rằng:
“cả lò cả ổ” nhà các ông là 1 lũ khốn nạn, một lũ cướp ngày. Ông Chủ tịch có
cách gọi nào khác, “đẹp” hơn để thay thế không?
9/ Thưa ông Chủ tịch,
sau khi đọc những loạt bài của tôi, có 1 bác nào đó quan tâm, gọi điện hỏi tôi
có bị cơ quan an ninh làm khó dễ gì không?
Câu trả lời là chưa. Cứ
như thể, chưa bao giờ có những bài như thế. Lí do thật đơn giản. Ðơn từ đòi tiền,
tôi gửi các ông nhiều lần, nhiều cấp trong hơn chục năm rồi. Nhưng, chính quyền
CS của các ông vẫn giả câm, giả điếc. Ðể tránh tiếp xúc, các ông học những con
chuột cống, chui sâu vào trong hang. Bị hun bao nhiêu là khói, nhưng với bản
lĩnh cao cường, các ông vẫn chưa chịu chui ra. Bởi, chui ra tiếp xúc là phải
nói đến chuyện trả tiền. Ðối với các ông, thà bị nghe chửi, thà bị người khác hạ
nhục, thậm chí bị chết vì ngạt khói, còn hơn là phải trả lại những đồng tiền ăn
cướp.
Ðây cũng là nét “đặc
thù” rất riêng về Nhân quyền của chính quyền CS Việt nam.
Tôi tin lần này, lượng
khói mà tôi quạt vào hang vẫn chưa đủ “đô”, nên các ông chưa chịu chui ra đâu.
Các ông vẫn coi như không có nó và hiển nhiên, các ông sẽ không sờ mó đến tôi
cũng như cửa hàng của tôi. Về việc này, xin cảm ơn ông Chủ tịch trước. Nhưng,
những lần sau, lượng khói sẽ tăng lên. Không chịu được thì hãy bò ra. Ðừng cố
thủ. Chết, uổng.
Lần sau, xin hầu chuyện
ông Chủ tịch với đề tài “Dưới giác độ của nền văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ
nghĩa CS ở Việt nam, những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó”. Ðề tài này,
cũng không đến nỗi khô khan lắm đâu. Nội dung của nó, tuy hơi dài, nhưng “Cơm
ngon, (thì hãy) ăn làm nhiều bữa”. Lo gì. Ông có muốn nghe không? Có muốn cử những
tay lí luận hàng đầu của đảng CS vào tranh biện công khai và thẳng thắn không?
Xin ông: Chớ có cho đội ngũ Dư luận viên dốt nát cộng với mớ lí luận cùn nhập
cuộc và nhớ đừng có dùng bạo lực như lũ khùng điên. Bọn chúng, khi đuối lí, chỉ
có mỗi một cách, đó là giơ nắm đấm lên. Ðừng học lũ mất dạy đó, ông ạ.
Chào ông.
Nguyễn Tiến Dân
Vua Rượu Giả - Phạm Sơn Liêm
KHI GIỚI NHÀ GIÀU BỎ
TIỀN MUA DANH TIẾNG, MÀ KHÔNG BIẾT MÌNH ĐANG UỐNG GÌ!
Một chai rượu giá 85.000 USD. Một căn hầm rượu được ca tụng là vĩ đại nhất thế giới. Và một cú lừa khiến giới sưu tập rượu vang thượng lưu phải ê mặt. Có những thứ càng đắt tiền, người ta càng tin là quý giá. Có những thứ càng hiếm, người ta càng khao khát sở hữu. Và có những người chỉ cần khoác lên mình chiếc áo của một đại gia, là đủ khiến hàng loạt người giàu có cúi đầu ngưỡng mộ. Nhưng nếu thứ họ bỏ ra hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn đô la để mua chỉ là một món đồ giả thì sao?
Câu chuyện về Rudy
Kurniawan, người được mệnh danh là “vua rượu vang giả”, chính là một trong
những vụ lừa đảo nổi tiếng nhất từng làm chấn động giới sưu tập rượu vang cao
cấp tại Mỹ. Điều đáng nói không chỉ là số tiền khổng lồ bị lừa. Điều đáng nói
hơn là những nạn nhân của ông trùm này lại chính là những người giàu có, sành
điệu và tự tin nhất vào khả năng thẩm định của mình.
----
Đầu những năm 2000,
Rudy Kurniawan xuất hiện trong giới mua bán rượu vang quý hiếm ở California,
Hoa Kỳ.
Rudy không đơn thuần
là một người mua rượu. Anh ta sẵn sàng chi hàng trăm ngàn đô la trong những
cuộc đấu giá để sở hữu các chai vang nổi tiếng của Pháp.
Anh ta tổ chức những
buổi tiệc nếm rượu xa hoa, mời những nhà sưu tập giàu có đến thưởng thức các
chai vang mà người bình thường cả đời chưa chắc có cơ hội nhìn thấy. Tại những
nơi ấy, Rudy trở thành nhân vật được săn đón. Người ta ngưỡng mộ kiến thức của
anh ta. Người ta thán phục bộ sưu tập của anh ta. Và người ta tin rằng mìnhđang
được giao lưu với một trong những chuyên gia rượu vang xuất sắc nhất thế giới.
Có lần, Rudy phục vụ
khách một loại rượu Domaine de la Romanée-Conti, dòng vang Burgundy cực kỳ danh
giá. Trong giới sưu tập, sở hữu được một chai rượu như thế đã là niềm tự hào.
Được chính Rudy mời thưởng thức lại càng được xem như một đặc quyền.
Biệt danh “Dr. Conti”
từ đó gắn với anh ta. Nhưng đằng sau những ly rượu đắt đỏ ấy, một bí mật đang
lớn dần.
Người ta tưởng mình đang thưởng thức lịch sử trong cái ly pha lê. Nhưng có thể, thứ đang nằm trong ly chỉ là rượu bình dân được pha trộn và khoác lên một cái tên huyền thoại.
Rudy có khả năng thử
rượu, cảm nhận hương vị rượu vang đặc biệt. Anh ta có thể nhận ra nhiều đặc
điểm về hương thơm, độ chát, độ ngọt và phong cách của những loại vang khác
nhau. Chính khả năng này giúp Rudy hiểu điều gì khiến một chai rượu được đánh
giá cao, và điều gì khiến người sành rượu tin rằng họ đang thưởng thức một loại
vang lâu năm. Nhưng thay vì chỉ sử dụng khả năng ấy để trở thành một chuyên gia
chân chính, Rudy đã biến nó thành công cụ phục vụ cho một kế hoạch gian lận.
Theo hồ sơ vụ án, anh
ta mua rượu vang giá rẻ, sau đó pha trộn để tạo ra hương vị gần giống những
loại vang nổi tiếng. Tiếp theo là pha chế biến chai rượu bình thường thành một
món hàng có vẻ ngoài của báu vật hàng chục năm tuổi. Vỏ chai được lựa chọn hoặc
đặt làm cho phù hợp. Nhãn hiệu được in giả. Nút bần, nắp chai và bao bì được
chuẩn bị để bắt chước sản phẩm của hãng. Những nhãn hiệu có thể được làm cho
trông cũ kỹ. Các dấu vết bên ngoài được tạo ra nhằm khiến chai rượu có vẻ như
đã trải qua nhiều thập niên trong một hầm rượu cổ. Một chai vang bình dân, qua
bàn tay của kẻ gian, bỗng mang danh tính của một chai vang huyền thoại. Giá trị
của nó lập tức tăng lên hàng ngàn, hàng chục ngàn đô la. Điều đáng sợ là sự giả
mạo không chỉ nằm trên nhãn chai. Nó được xây dựng thành cả một câu chuyện: năm
sản xuất, nhà làm rượu, nguồn gốc, độ hiếm và lịch sử. Bởi vì trong thị trường
rượu vang quý hiếm, người ta không chỉ mua chất lỏng bên trong chai. Họ mua cả
câu chuyện về chai rượu ấy.
Rudy nhanh chóng bước
vào thế giới của những cuộc đấu giá triệu đô. Anh ta bán đấu giá những chai
rượu được giới thiệu là sản phẩm của các nhà làm rượu danh tiếng, với những
niên kỷ lâu đời và muốn có, khó như bắc thang lên trời. Có chai được bán với
giá hàng chục ngàn đô la. Những cuộc đấu giá do Rudy tham gia mang lại những
khoản tiền khổng lồ. Danh tiếng của anh ta tăng lên nhanh chóng. Các nhà sưu
tập tìm đến. Những người môi giới tin tưởng. Các khách hàng giàu có muốn sở hữu
những chai rượu mà người khác không dễ gì có được.
Trong một giao dịch
được nhắc đến trong vụ án, chai vang được giới thiệu là Château Lafleur đóng
chai vào năm 1947, có giá trị đặc biệt cao. Những chai rượu mang tên các nhà
sản xuất lừng danh khác cũng được đưa ra thị trường với mức giá khó tưởng tượng
đối với người bình thường. Có người sẵn sàng trả hàng chục ngàn đô la cho một
chai vang, không chỉ vì hương vị, mà còn vì sự khan hiếm và uy tín của nhãn
hiệu.
Hãy thử hình dung cảnh
ấy: Một căn phòng sang trọng. Những bộ vest đắt tiền. Những chiếc đồng hồ có
giá bằng cả căn nhà. Một chai vang được đặt cẩn thận trên bàn. Người chủ tự hào
giới thiệu:
- Đây là một chai rượu
khó kiếm. Không phải ai muốn mua cũng có thể tìm được.
Khách nâng ly, ngửi
hương vị rượu, nhấp một ngụm rồi gật gù:
- Tuyệt vời! Đúng là
hương vị khác biệt.
Nhưng nếu chai rượu ấy
là giả, thì điều gì đã khiến người uống tin rằng nó tuyệt vời? Hương vị thật
sự?Hay cái tên được in trên nhãn chai? Và nếu họ biết chai rượu mình đang uống
chỉ được làm từ những loại vang rẻ tiền, liệu họ còn thấy nó ngon như lúc đầu
không?
Đó mới là câu hỏi đáng
suy nghĩ nhất. Bởi đôi khi, thứ đắt đỏ nhất trong cái ly không phải là rượu. Mà
là niềm tin của người uống.
-----
Những kế hoạch tinh vi
nhất cũng có thể sụp đổ chỉ vì một chi tiết nhỏ. Trong trường hợp của Rudy, vấn
đề xuất hiện khi những chai rượu được cho là sản xuất từ những năm rất xa xưa
bắt đầu lọt vào tầm chú ý của các chuyên gia. Một số năm không phù hợp với lịch
sử sản xuất của hãng làm rượu. Có những chai mang tên một loại vang mà nhà sản
xuất cho biết chưa hề được sản xuất vào thời điểm ghi trên nhãn. Một lô rượu
được giới thiệu là vang Château Le Pin đóng chai năm 1962, khiến người ta đặt
câu hỏi, bởi nhà sản xuất cho biết dòng rượu ấy chỉ bắt đầu được đưa ra thị
trường từ năm 1982. Laurent Ponsot, đại diện hãng làm rượu Domaine Ponsot của
Pháp, cũng phản đối những chai vang được gắn với các năm trước thời điểm nhà
sản xuất bắt đầu làm loại rượu đó. Đây không còn là chuyện một chai rượu uống
ngon hay không ngon. Một chai rượu có thể được làm rất khéo. Nhãn có thể cũ kỹ.
Nút bần có thể trông hoàn hảo.Nhưng nếu nhà sản xuất chưa từng làm loại rượu ấy
vào năm ghi trên chai, thì mọi câu chuyện về độ quý hiếm đều có nguy cơ sụp đổ.
Tháng 2/2012, một lô rượu trị giá khoảng 785.000 USD liên quan đến Rudy bị phát hiện là hàng giả trong lúc đấu giá. Những nghi ngờ trước đó nhanh chóng trở thành một cuộc khủng hoảng của sự thật. Những người từng mua rượu bắt đầu đặt câu hỏi. Các nhà môi giới đối mặt với nguy cơ mất uy tín. Những người sưu tập phải nhìn lại các chai rượu họ từng tự hào sở hữu.
Ngày 8/3/2012, FBI bắt
giữ Rudy Kurniawan. Khi khám xét nơi ở của anh ta, các điều tra viên phát hiện
nhiều chai rượu, nguyên liệu và vật dụng phục vụ việc làm giả nhãn hiệu rượu
vang. Một thế giới xa hoa được dựng lên bằng những chai rượu giả bắt đầu tan
vỡ.
Tháng 12/2013, phiên
tòa bắt đầu. Tháng 12/2014, anh ta bị kết án 10 năm tù vì tội gian lận và làm
giả rượu vang. Ngoài án tù, Rudy còn phải bồi thường cho các nạn nhân theo phán
quyết của tòa án. Một người từng được giới thượng lưu ngưỡng mộ, từng xuất hiện
trong những cuộc đấu giá danh giá và được xem là chủ nhân của bộ sưu tập rượu
vang đáng mơ ước, giờ đây trở thành bị cáo trong một vụ lừa đảo gây chấn động.
Năm 2020, sau khi chấp
hành khoảng 8 năm tù, Rudy được trả tự do và bị trục xuất về Indonesia ngay khi
rời cửa nhà giam. Nhưng bản án không thể làm cho tất cả những chai rượu giả
biến mất. Một số chai có thể đã được mở ra và uống hết. Một số khác có thể vẫn
nằm trong hầm rượu tư nhân, được bảo quản cẩn thận như những báu vật gia
truyền. Chủ nhân của chúng có thể vẫn tin rằng mình đang sở hữu những chai vang
hàng vài chục năm tuổi. Hoặc có thể họ đã biết sự thật nhưng không muốn nói ra.
Bởi thừa nhận mình bị lừa không chỉ là mất tiền. Đó còn là mất mặt trước bạn
bè, đối tác và những người từng ngưỡng mộ bộ sưu tập của mình. Hãy thử tưởng
tượng một nhà sưu tập từng khoe với mọi người rằng mình có một chai vang quý
giá trị giá 80.000 USD. Nhiều năm sau, ông phát hiện chai rượu ấy là giả. Ông
sẽ làm gì? Công khai sự thật và chấp nhận bị chế giễu? Hay tiếp tục giữ chai
rượu trong hầm, không nhắc đến nó nữa?
Đôi khi, sự im lặng
của nạn nhân vô tình giúp một vụ lừa đảo tiếp tục tồn tại lâu hơn chính kẻ đã
thực hiện.
-----
Câu chuyện Rudy
Kurniawan không chỉ dành riêng cho những người yêu rượu vang. Nó phản ánh một
quy luật quen thuộc của tâm lý con người. Khi một món đồ được quảng cáo là quý
hiếm, chúng ta dễ tin nó có giá trị đặc biệt. Khi người sở hữu được giới thiệu
là chuyên gia, chúng ta dễ tin lời họ nói. Khi những người giàu có cùng tranh
nhau mua một món hàng, chúng ta có thể cho rằng món hàng ấy chắc chắn phải đáng
giá. Nhưng giá bán không phải bằng chứng tuyệt đối của chất lượng. Danh tiếng
không đồng nghĩa với sự trung thực. Một cuộc đấu giá thành công cũng không bảo
đảm mọi món hàng đều hàng thiệt.
Trong thế giới hàng xa
xỉ, đôi khi người ta mua vì muốn thưởng thức. Nhưng cũng có người mua để chứng
minh rằng mình có tiền, có kiến thức và có vị trí trong xã hội. Kẻ lừa đảo hiểu
rất rõ điều đó. Họ không chỉ bán một món hàng giả. Họ bán cho khách hàng cảm
giác được thuộc về một thế giới đặc biệt, nơi người bình thường không đủ tiền
bước vào. Và một khi người mua quá tin vào danh tiếng của món đồ, họ có thể
quên mất câu hỏi quan trọng nhất: Bằng chứng nào chứng minh thứ tôi đang mua là
thật?
Rudy Kurniawan đã dùng
khả năng cảm nhận rượu, sự am hiểu thị trường và tâm lý của giới sưu tập để xây
dựng một đế chế giả mạo. Nhưng cuối cùng, lịch sử sản xuất và những chi tiết mà
người khác có thể kiểm chứng đã góp phần phơi bày sự thật.
Câu chuyện ấy để lại
một nghịch lý cay đắng: có những người bỏ ra cả gia tài để mua một chai rượu vì
tin rằng mình đang sở hữu thứ không ai khác có được, nhưng thứ họ thật sự mua
chỉ là một lời nói dối được đóng chai rất đẹp.
Người ta thường nói:
tiền không mua được tất cả.
Nhưng trong câu chuyện
này, tiền đã mua được những chai rượu mang nhãn hiệu huyền thoại, mua được sự
ngưỡng mộ của giới thượng lưu và giúp một kẻ lừa đảo bước vào những căn phòng
mà người bình thường khó có cơ hội đặt chân tới. Chỉ có điều, tiền không thể
biến rượu giả thành rượu thật. Và cũng không thể biến một lời nói dối thành sự
thật, dù lời nói dối ấy được đặt trong chai thủy tinh đắt tiền nhất thế giới.
Câu hỏi cuối cùng dành
cho chúng ta: Nếu 1 chai rượu giá 100 đô la được rót vào cái ly pha lê sang
trọng, bạn có thể thấy nó bình thường. Nhưng nếu người ta nói với bạn rằng đó
là chai vang cổ trị giá 100.000 đô la, liệu bạn có cảm thấy hương vị của nó khác
đi không? Và nếu câu trả lời là có, thì trong cái ly ấy, thứ gì đang thật sự
khiến bạn say mê? Rượu ngon, hay chính cái giá mà người ta nói rằng bạn đã trả
cho nó?
Phạm Sơn Liêm
Hãy Đến Với Cha - Nhạc Và Lời Tống Viết Minh - Tiếng Hát Mộng Điệp - AI Cover
Còn Đâu Cơ Hội - Phan
Phan
Friday, October 16, 2026
Mối Tình Đầu Của Doãn - Đào Như
“Em gầy như liễu trong thơ cổ
Từ những năm 62-63... sự quan hệ giữa bọn chúng tôi thường hay mất liên lạc với nhau. Thỉnh thoảng chúng tôi liên lạc với nhau qua Khu Bưu Chính-KBC-chúng tôi thật sự không biết chúng tôi đang ở đâu và đang làm gì, sức khỏe và gia đình ra sao? Chúng tôi hoàn toàn con người của chiến tranh.
Tiễn Biệt! - Kỷ Niệm 5 Năm Ngày Mất 5/10/2021 Cựu Đệ Nhất Phu Nhân Của Nền Đệ Nhị Cộng Hoà - Bà Nguyễn Thị Mai Anh
(Kỷ niệm năm năm ngày
mất 15/10/2021 của phu nhân cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cựu Đệ Nhất Phu
Nhân của nền Đệ Nhị Cộng Hoà bà Nguyễn Thị Mai Anh (1931-2021)
TIỄN BIỆT!
(Thơ đăng lại)
Người về thăm lại phố
xưa
Phố ngày tháng thuở áo
chưa đổi màu
Người về đón ngọn mưa
rào
Mưa trên nỗi nhớ còn
đau tháng ngày
Trăm năm mây trắng còn
bay
Ngàn năm cánh hạc vẫn
hoài cố hương
Tóc xưa khép lại lược
gương,
Hạt sương còn đọng lệ
vương ân tình
Người về soi lại bóng
mình,
Nước nguồn sông cũ trọn
tình núi sông!
Lac Nguyen. Cập nhật
14/10/2026.
(Ảnh share lại trên
Facebook PN)






