Thursday, October 29, 2026

Tuổi Già Muốn Được Con Cái Tôn Trọng: 5 Điều Nhất Định Phải Giữ, Kẻo Về Già Bị Xem Nhẹ

Đêm Đình Chiến - Vũ Thất

Hình minh họa 


Dinh không biết chính xác mỗi đêm, bắt đầu vào lúc nào, các loại côn trùng rủ nhau đồng loạt cất tiếng nhưng có điều anh chú ý đến âm điệu sầu thảm bi thương đó từ sau 10 giờ. Đó là thời điểm Dinh dỗ giấc ngủ khi không nhằm phiên canh gác. Ở hậu cứ, cũng vào giờ này, chừng mươi mười lăm phút là anh đã ngủ say nhưng đêm nào nằm bên bờ kinh Vĩnh Tế âm u hoang vắng tràn ngập tiếng rên rỉ nỉ non của các loài côn trùng anh không tài nào nhắm kín đôi mắt. Có một lần anh lấy bông gòn bịt chặt đôi tai đưa đến giấc ngủ ngon lành, bèn phổ biến kinh nghiệm đó cho Hân, bị Hân chửi là đứa ngu đần. Giữa vùng hành quân mà bịt kín hai tai thì có khác gì tự sát. Từ đó anh chịu khó nghe cái hợp âm chói tai đó cho đến bình minh.

Riêng ba đêm vừa qua, từ sau buổi gặp gỡ người yêu mà nàng gọi là lần gặp cuối cùng, những tiếng kêu đều đều thống thiết của chúng càng tác động mạnh khiến bao ý nghĩ bi quan đổ về tràn ngập. Anh thấy rõ là cuộc tình của anh với Hoàng đã hoàn toàn đến chỗ bế tắc, hoàn toàn đã đến hồi kết cuộc, mãi mãi chia tay. Hoàng cho biết đã năn nỉ ba mẹ hết lời nhưng ông bà cứ khăng khăng lắc đầu. Nàng muốn trốn đi với anh nhưng rồi nghĩ anh cứ đi hành quân hoài, nàng sợ phải bơ vơ…


Ba đêm qua, không đêm nào không có lúc anh muốn bật dậy, muốn nhảy khỏi giang đỉnh, một mình đi sâu vào vùng địch để cùng chết với vài tên địch. Thà thế còn hơn là cứ nằm im nghe con tim nhức nhối vỡ vụn.

Thế mà đêm nay anh lại hoàn toàn quên Hoàng. Đêm nay anh cũng không còn cái ước muốn đi vào vùng địch vì theo thuyền trưởng Hoạt, chắc chắn địch sẽ đến với anh. Hồi chạng vạng, “Thẩm quyền” đã ân cần nhắc nhở là phải hết sức đề cao cảnh giác. Theo tin tình báo, đêm nay nhất định địch sẽ vượt sông tiến chiếm xã Ba Chúc bằng mọi giá trước 8 giờ sáng mai. Đó là thời điểm lệnh ngưng bắn có hiệu lực và địch cần có ít đất ít dân để khoe với thế giới. Dinh ước ao là đêm nay địch xuất hiện thật đông để có dịp chơi xả láng, chơi thẳng tay một lần cuối, rồi có đền nợ nước cũng… sướng thân! Dinh tự đùa với mình: “Chúng mày muốn… sang sông thì phải bước qua xác bố mày!”


Từ 8 giờ tối, ngay sau khi cả giang đoàn vào vị trí phục kích, Dinh đã bắt đầu dỗ giấc ngủ để tỉnh táo nhận phiên trực từ nửa đêm và để có đủ sức đụng trận tới… ngưng bắn. Nhưng cái nôn nao lạ lùng lấn át mọi tạp âm rên rỉ và dù chưa tới phiên, anh cũng ôm khẩu M16 bò lại nằm kề bên Quốc đang thủ khẩu đại liên 50.

Hân cũng đã có mặt ôm khẩu tiểu liên nằm bên thuyền trưởng Hoạt. Ông đang nâng chiếc tinh quang kính ngang mắt. Đây là loại dụng cụ điện tử tối tân, nhìn xuyên qua bóng đêm. Chỉ cần ánh sao xa thẳm, nó biến vùng trời đen tối thành vùng ánh sáng ngà ngọc. Thuyền trưởng chầm chậm quét nửa vòng hết về bên phải rồi về bên trái. Từ hàng cây rõ nét ven bờ, các mảnh ruộng lúa ngăn chia bằng các con đê ngang dọc chạy dài chìm dần vào bóng tối. Dinh hỏi khẽ:
– Có động tịnh gì chăng, thuyền trưởng?
Hoạt lắc đầu, đặt tinh quang kính lên sàn, nhấc khẩu phóng lựu liên thanh M79:
– Có thể còn hơi sớm… 

Bất kể thuyền trưởng khẳng định là tin tình báo khả tín là địch sẽ xâm nhập giành dân lấn đất cấp tiểu đoàn, Dinh vẫn cho rằng khả tín có nghĩa là không phải lúc nào cũng đúng. Phần nào an tâm, Dinh trườn đến bên Hân, thì thầm ý nghĩ lạc quan đó với người bạn tâm giao. Hân gằn giọng:
– Tao thì tin lũ chuột sẽ chường mặt. Đây là dịp cuối cùng chúng cố chiếm vài cái hang…
Dinh ngắt lời, kêu khẽ:
– Hân!
– Gì?
– Ơ hay, bữa nay sao mày ăn nói cộc cằn thế.
Thường mày lịch sự lắm mà!
– Lịch sự cái củ kẹt! Sắp đụng trận lớn đến nơi mà cứ lải nhải chuyện yêu đương. Nàng Hoàng của mày có lý. Hãy quên nàng đi. Mày đã thấy vợ tao khổ cực trăm bề nuôi con…
Dinh vẫn kiên nhẫn:
– Hân à! Ngày mai ngưng bắn, mọi sự rồi đâu vào đấy!
– Chỉ mong thế. Còn mày, mày tìm người… thay thế chứ?
Giọng Dinh buồn buồn:
– Tao không biết. Nhưng nếu thật sự có ngưng bắn, chắc tao sẽ buồn chết được.
Hân rời cò súng, đưa tay xoa đầu bạn:
– Yên chí! Rồi mày sẽ chóng vui. Trai đang thiếu, gái đang thừa mà!
Dinh lắc đầu, thở dài:
– Thừa nhưng vẫn thiếu Hoàng của tao!
Hân rút tay về, lại đặt ngón tay vào cò súng, vừa nói vừa đăm đăm nhìn phía trước mũi:
– Ngưng bắn rồi, không biết họ có cho mình giải ngũ không? Tao chỉ muốn được giải ngũ để lo cho vợ con đầy đủ hơn.
Dinh ngẫm nghĩ rồi nói:
– Mày có nghề cơ khí, giải ngũ làm thợ sửa máy xe, máy tàu, hốt bạc! Còn tao, cái nghề trọng pháo chả biết làm gì. Chẳng lẽ làm nghề… giết mướn!
Hân cười khẽ:
– Làm cái nghề đó thất đức! Tao đề nghị mày xin nhập tịch Mỹ, qua Mỹ sửa súng cho mấy thằng cao bồi! Cũng… hốt bạc!
Dinh không cười nổi trước lời đùa của bạn, cất giọng buồn buồn:
– Tụi nó giờ toàn đi xe hơi, đâu còn ai làm cao bồi! Có lẽ tao nên tận dụng cái nghề của tao… lần cuối!
Hân quay sang bạn:
– Nghĩa là?
– Nghĩa là tao đặt nòng khẩu M16 này dưới cằm và bấm cò…
Hân kêu hốt hoảng:
– Nói bậy mày! Nếu có giải ngũ, tao mở tiệm sửa xe, mày phụ tá tao. Máy tàu thì rắc rối chứ máy xe gắn máy rất dễ ăn. Coi tao sửa vài chiếc là mày rành rẽ.

Dinh lặng thinh nhìn màn đêm âm u. Anh quan sát một lúc, bất chợt nhìn chăm chăm vào con đê hơi chếch về bên phải. Có vài dáng dấp lay động thật chậm ven mép đê, rất gần bờ. Anh nói nhỏ với thuyền trưởng Hoạt:
– Thuyền trưởng! Nhìn kỹ bên phải.
Hoạt nâng tinh quang kính, rồi nói:
– Có công ăn việc làm rồi!
Nói xong Hoạt chụp ống liên hợp:
– Tango đây Hotel, vài con chuột xuất hiện bên phải tôi, xin cho lệnh.
Hân lắng nghe tiếng thẩm quyền:
– Tất cả giữ thật yên lặng cho chúng vượt sông.
Tập trung hỏa lực vào tiểu đoàn sắp xuất hiện. Sử dụng mọi loại súng, bắn tối đa khi có lệnh.
Thuyền trưởng Hoạt đáp khẽ:
– Nhận năm, thẩm quyền!

Hoạt hiểu ý của thẩm quyền. Theo kinh nghiệm, đây chỉ là toán dò đường. Khi họ qua sông trót lọt, cả tiểu đoàn mới cùng vượt sau. Anh thấy rõ chúng đang leo lên xuồng cao su rồi ra sức bơi thật nhanh. Anh nhìn về phía trước. Chừng mười phút sau, rất nhiều bóng dáng lố nhố xuất hiện thành hàng ngang tiến chậm đến bờ sông.
Giọng sắt lạnh của Chỉ huy trưởng:
– Lệnh của Tango. Tất cả bắn!
– Nhận rõ! 


Hân miết cò súng. Hoạt đặt tinh quang kính lên sàn tàu và bắt đầu cho khạc đạn khẩu phóng lựu. Dinh kết hợp với Hân giữ cho khẩu 50 nòng kép nổ liên tục. Hàng chục làn đạn lửa từ ven sông như màn lưới phủ chúc xuống cánh đồng. Chen lẫn âm thanh giòn giã của đủ loại súng lớn nhỏ từ hai phía là tiếng la hét tiến quân của địch. Có tiếng đạn va lụp bụp vào tàu. Dinh siết chặt cò khẩu M16, rải đạn theo hàng dọc. Quốc cũng nhả đều khẩu tiểu liên. Tiếng nổ giòn tan, vang rền phá vỡ không gian. Âm thanh chát chúa ầm ầm rung chuyển đất trời. Đâu đó có tiếng rên la đau đớn…

Dinh bỏ khẩu súng cá nhân, nhoài người nối kết thùng đạn thứ tư vào khẩu đại liên. Hân chưa kịp bắn thì một tiếng ầm đinh tai điếc óc vang lên cùng lúc các mảng lửa và bụi đất bắn tóe lên giang đỉnh. Cùng lúc nhiều tràng AK nối tiếp. Dinh mọp sát lên sàn, cả người chấn động. Anh nằm yên nghe ngóng. Sau khi chắc chắn mình không bị thương, Dinh ngó qua Hân. Hân vẫn ngồi thẳng người say sưa miết cò. Như nhớ đến an nguy của bạn, Hân chợt quay sang ngó Dinh:
– Có sao không?
Dinh lắc đầu, cười gượng:
– Nô xoẹt! (No sweat: không sao)
Hân lại hướng về phía trước bóp cò. Dinh nghe tiếng Hoạt nói như hét:
– Dinh, cho tàu rút ra giữa sông.

Dinh chạy vụt vào phòng lái và hiểu lý do. Thông thường, đang tác xạ mà có lệnh rút ra xa có nghĩa là nhường chiến địa cho pháo binh dập nát địch. Tàu vừa ra đến giữa sông là loạt đạn pháo đầu tiên bay tới. Những tiếng nổ dồn long trời lở đất, từng chập, từng chập. Các đốm lửa tóe lên bùng vỡ không gian. Khi tất cả dịu dần, hai trực thăng võ trang xuất hiện, nhả những tia lửa nghiêng nghiêng, linh động, đẹp mắt. Hỏa châu thả liên tục ngay trên đầu địch, soi rọi mục tiêu cho xạ thủ liên thanh. Dinh nhìn những trái hỏa châu treo lơ lửng, chầm chậm hạ thấp. Trái này chưa kịp tắt đã nối tiếp trái kia. Không một dấu hiệu nào cho thấy địch vượt sông. Không một chiếc bè cao su nào xuất hiện. Mặt sông vàng úa êm đềm, phẳng lặng với hình dạng các giang đỉnh đang lênh đênh bờ đối diện…

Hai trực thăng rời vùng bay xuôi về phía Nam. Khung trời trở lại mịt mùng thăm thẳm đến tận các vì sao bắt đầu mờ nhạt. Loài côn trùng dường chưa hết kinh hoàng để nối lại hợp âm than thở. Không gian im lắng đến rợn người. Dinh nhìn đồng hồ: Gần 2 giờ sáng. Cuộc đụng độ kéo dài không quá nửa tiếng mà như lê thê. Nếu theo đúng lệ thường, sau mỗi cuộc phục kích có đụng độ, chi khu sẽ điều động bộ binh đổ bộ khai thác chiến trường. Lần này chắc chắn họ sẽ đếm xác địch mệt nghỉ. Cả một tiểu đoàn lọt ổ phục kích của cả giang đoàn thì chịu sao thấu. Bộ binh hành quân chỉ mang cấp số đạn giới hạn, nhưng giang đỉnh thì đầy một tàu. Đụng với giang đoàn là chỉ có từ chết tới bị thương. Có rút lui thì cũng không còn người lành lặn. Dinh nghĩ, giờ chót của cuộc chiến mà bắt được một huy chương thì cũng là kỷ niệm đáng quý! Ngôi sao đồng cũng được. Không còn kỷ niệm nào đẹp hơn cho đời lính là được tưởng thưởng huy chương anh dũng. Khi có gia đình, có nhà cửa đàng hoàng anh sẽ cho lộng kính và treo chỗ đẹp nhất ở phòng khách. 

 

Anh thấy vui khi nghĩ đụng trận lớn thế này thì coi như đương nhiên là có huy chương. Nhưng sự việc có phần khẩn thiết hơn là… thu súng địch. Gần đây các sĩ quan Hoa Kỳ thích tìm súng của Việt Cộng mang về Mỹ như là một huy chương thành tích cụ thể. Kể cả cờ đỏ sao vàng. Hoặc tệ lắm là lá cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh. Lần phục kích ba tháng trước, đụng trận nhẹ, Dinh được phép đổ bộ và “chộp” được một khẩu AK, bán cho thằng ‘đối tác” được 50 đô. Càng gần ngày ký hiệp ước, giá càng cao. Tuần trước, vài thằng đặt mua súng ngắn hai trăm đô, súng dài một trăm. Cờ xí giá cũng không rẻ 50 đô. Xem ra sau đêm nay, giá còn lên dài dài cho đến khi Mỹ rút hết về nước. Trận cuối này xem ra được cái may là đụng lớn, chắc súng đang nằm lềnh khênh trên ruộng. Dinh vái thầm là sáng mai đừng có bộ binh. Không có bộ binh, chắc chắn thẩm quyền sẽ cho giang đoàn đổ bộ. Và với chiến trường không còn tiếng súng, mọi người mặc sức chọn lựa chiến lợi phẩm. Dinh nhất quyết sẽ chôm càng nhiều càng tốt. Rồi xin nghỉ phép, ôm tiền về Sài Gòn ăn chơi một phen cho đỡ buồn!

Không hẹn mà Hân cũng đang nghĩ đến các chiến lợi phẩm như Dinh. Từ ngày Liên trốn gia đình về sống với Hân, nàng đã quá vất vả. Rồi thêm sinh nở, ăn uống thiếu thốn nàng ốm nhom. Cái đáng quan tâm là cơ thể nàng không sinh sản đủ sữa cho thằng con vừa đầy tháng. Anh đã mua thêm sữa của quân tiếp vụ mà vì số lượng bán hạn chế nên phải mua thêm ở thị trường. Mà giá sữa ở thị trường thì mắc gấp đôi nên chỉ biết đau lòng nhìn con uống dặm nước cơm. Trận này là trận cuối, là dịp may cuối cùng để anh kiếm chát kha khá bồi bổ cho vợ con…

Tiếng của thuyền trưởng Hoạt vang lên đột ngột:
– Thẩm quyền đang xin trực thăng tản thương. Bên mình một chết, tám bị thương.
Giọng Hân hối hả:
– Thằng nào chết?
– Thằng Thịnh. Thịnh lát!
Dinh ngạc nhiên:
– Thằng dễ thương mà chết à? Tội nghiệp! Nó mới vừa được cô bồ ở Sài Gòn xuống thăm, cùng lúc cô bồ của tao…
Quốc đứng gần, cất giọng buồn buồn:
– Chết yên thân, chỉ tội người sống.
– Mày triết lý dữ! Biết tội cho người sống mà vẫn cứ tán tỉnh… người sống. Cái cô gì ở Tịnh Biên đó, tao mong cô đó đừng thương yêu gì mày!
– Bạn ta mong chi cho … thừa! Nay chỉ còn… buồn trong kỷ niệm!
Tiếng thuyền trưởng Hoạt từ phòng lái:
– Có chỉ thị của xếp! Đúng 8 giờ, tất cả giang đỉnh sẽ ủi bãi. Mỗi tàu được phép cho ba “thằng” đổ bộ lục soát. Tàu mình, tôi làm trưởng toán với Dinh và Quốc. Thằng Hân ở lại tàu, sẵn sàng khẩu đại liên 30 bắn yểm trợ khi có lệnh.
Hân phản đối:
– Tôi muốn đổ bộ. Thuyền trưởng cho tôi theo.
– Mày có vợ có con, ở lại tàu.
Hân xuống giọng:
– Ngưng bắn rồi, thuyền trưởng. Tôi cần kiếm vài khẩu súng. Thuyền trưởng thừa biết là tôi rất cần.
– Tao biết mày cần. Nhưng…
Hân nằn nì:
– Tôi cần lắm, thuyền trưởng!
Hoạt lặng yên một lúc rồi nhìn Dinh và Quốc:
– Thằng nào nhường cho thằng Hân?
Quốc nhìn Dinh. Dinh xua tay. Quốc gật đầu:
– Tôi, tôi ở lại tàu…
Hoạt đổi giọng, ra lệnh:
– Nghe cho kỹ: Chỉ vào sâu tối đa trăm mét. Đó là quy luật tác chiến. Thằng nào phạm luật, tao sẽ cho ngồi chuồng cọp. Đúng 8 giờ, có lệnh xếp là bắn dọn đường rồi đổ bộ. Áo giáp, nón sắt, súng đạn đầy đủ. Bây giờ ráng nghỉ dưỡng sức chờ sáng.
Hân hí hửng đùa:
– Nhận 5, thẩm quyền.

Hân tiếp tục giữ tay lái. Quốc bước về phía mũi, lặng lẽ nằm xuống cạnh khẩu đại liên. Con tàu trôi lềnh bềnh, máy standby kêu lịch bịch. Dinh buồn tình đặt ống dòm lên ngang mắt. Dòng sông hoàn toàn phẳng lặng. Anh hướng vào bờ. Mặt ruộng nhoẹt nhòa như phủ lớp lân tinh. Anh tưởng tượng tên tiểu đoàn trưởng địch nằm phơi xác với khấu súng ngắn bên hông. Thẩm quyền của anh thường kè kè khẩu rouleau, không biết tên vi-xi này mang kiểu súng gì! Súng lục của Liên Xô, Trung Cộng hay Tiệp Khắc? Của nước nào thì xem ra đều được giá, đều được tụi Mỹ hân hoan đón nhận!

Dinh bước lại gần Hân, cằn nhằn:
– Mày giành đổ bộ làm gì? Có mệnh hệ nào, thì vợ con ai lo!
Hân cười nhẹ:
– Tao tính kỹ rồi. 8 giờ là ngưng bắn thì còn… mệnh hệ nào nữa!
– Đâu có tin mấy thằng vi-xi được! Tết Mậu Thân, chính nó tuyên bố ngưng bắn để bất ngờ tấn công khắp nơi.
– Nhưng lần này nó ký hiệp ước hẳn hoi với quốc tế…
– Tao vẫn không tin lũ chuột nhắt này được.
Thuyền trưởng sắp đặt hữu lý. Mày nên ở lại tàu để Quốc cùng tụi tao lục soát phải hơn.
Hân lắc đầu, khăng khăng
– Không!
Dinh đăm đăm nhìn vào mắt Hân. Bóng tối không đủ che khuất những tia cương nghị của bạn. 

 

Anh chợt cảm thông hoàn cảnh của bạn. Tuần rồi dự kỷ niệm con Hân đầy tháng Dinh đã nhìn thấy hoàn cảnh thiếu thốn của bạn. Căn phòng mướn nhỏ hẹp trong một xóm nghèo nàn. Thằng bé xem ra khá èo ọt. Anh choàng tay qua vai Hân:
– Tụi mình như anh em, để tao lo cho mày. Tất cả súng tao lấy được, tao sẽ tặng cho mày. Mày khỏi đi.
– Không!
Dinh kêu khẽ:
– Hân!
– Hân cái củ kẹt!
Dinh nằn nì:
– Hân! Mày đừng đi.
– Đừng cái củ kẹt!

Biết tính cứng rắn của bạn, Dinh chán nản bước về phía lái, ngả lưng lên chiếc võng căng ngang lòng tàu. Những vì sao đã nhạt mờ theo bóng đêm dần tan. Dinh tưởng tượng đến khẩu súng ngắn còn kè bên hông của xác tên tiểu đoàn trưởng. Ngoài ra, anh sẽ còn kiếm được thêm bao nhiêu khẩu AK? Ý định bán súng để giải sầu tan biến. Không chừng sầu không giải được mà còn buồn thêm? Giúp vợ chồng Hân tìm một nơi chốn tử tế là việc phải làm hơn. Dinh miên man chìm vào giấc ngủ…

Lệnh ủi bãi đổ bộ được ban ra khi mặt trời đã lên khá cao và mực nước lớn đã bắt đầu mấp mé các mảng bờ sụp lở. Mảnh ruộng phơi bày từng luống lúa ngã đổ trông như những miếng vá nham nhở. Vừa nhảy lên bờ, Hân đứng thẳng người quét ống dòm qua lại. Anh chợt nhận ra một dáng người mặc đồ đen nằm sấp như nổi trôi trên lúa. Ở phần thắt lưng, một dây đeo súng to bản vòng ngang. Hân quét qua phải. Một xác khác rồi thêm một xác nữa…

Một bàn tay vỗ lên vai anh. Hoạt ra dấu tiến quân. Chỉ chờ có thế, Hân buông thõng ống dòm, cặp cây M16 nhắm xác địch phóng tới. Hoạt ra lệnh Hân bước chậm theo hàng ngang. Dinh cũng hét lên bảo Hân chờ. Anh hét khan cả cổ nhưng Hân làm như không nghe, cố chạy nhanh hơn. Dinh phóng theo bạn đúng lúc một loạt đạn nổ giòn. Nghe nhói đau ở bắp chân, Dinh hốt hoảng sựng lại ngồi hụp xuống. Trước khi anh cúi xuống xem xét chân mình, Dinh chợt thấy người Hân lảo đảo rồi quỵ ngã. Dinh nhìn lui tìm Hoạt đúng lúc Hoạt đã tiến sát anh. Hoạt đang báo cho thẩm quyền biết toán anh vừa bị địch cho một tràng AK. Có thể một bị thương nặng. Thẩm quyền yêu cầu cho biết chắc chắn để xin trực thăng tản thương. Hoạt ra hiệu Dinh cùng tiến lên. Vừa nhả đạn vừa tiến. Một loạt đạn AK khác lại vang rền. Cả hai đáp trả thật giòn. Dinh nạp băng mới rồi nhoài người nằm xuống cạnh Hân. Anh lay động Hân:
– Hân! Hân! Có sao không?

Anh bỗng rùng mình khi thấy máu đang trào qua các lỗ đạn trên lưng áo bạn. Hình ảnh kinh khủng quá. Dinh đã nhiều lần thấy bạn bè bị thương nhưng chưa lần nào ghê gớm như lần này. Qua các lỗ đạn, máu vẫn trào ra có vòi. Thân người Hân giật giật từng lúc nhưng chắc chắn là không còn gì cứu vãn. Dinh không biết phải làm gì, tiếp tục kêu tên bạn như người mất hồn:
– Hân! Hân! Trời ơi!
Từ phía sau tiếng Hoạt thảng thốt:
– Thằng Hân sao ra nông nổi vầy nè!

Âm thanh quen thuộc của các loạt đạn M16 nổ giòn từ hai bên. Tiếng ầm ầm của các quả M79 nhịp vang từ phía trước… Hoạt quỳ xuống, nhẹ nhàng lật ngửa Hân. Ngực Hân nhầy nhụa máu tươi. Mặt Hân bê bết bùn. Dinh trườn lên, nhìn vào mắt bạn. Đôi mắt trắng dã, trợn trừng. Đôi mắt đó, mới đây còn linh động ngay trong bóng đêm. Tiếng cười đùa, tiếng kể chuyện vợ con của Hân còn văng vẳng. Dinh nhắm mắt lại, nước mắt trào lăn. Tại sao không phải là mình? Mình đâu có thiết sống…
Hoạt giận dữ đứng thẳng người ghì chặt báng súng. Từng loạt đạn căm hờn tuôn ra giòn giã. Anh nhả cò súng, cầm ống liên hợp, nói bằng giọng hổn hển, nghẹn ngào:
– Tango. Hotel gọi. Báo cáo thẩm quyền, Hotel có một… giải ngũ!
Dinh ngẩn ngơ ngắm khuôn mặt thân thương của Hân một lúc rồi đưa tay nhẹ vuốt mắt bạn. “Hãy yên nghỉ. Tao hứa sẽ lo cho vợ con mày!”
Khi bàn tay anh qua khỏi, đôi mắt Hân đã hoàn toàn nhắm kín…


Vũ Thất
(Trích “Một Dòng Sông Cho Chiến Đỉnh”, Sài Gòn 1974)

Nhớ Halloween - Đỗ Công Luận

Wednesday, October 28, 2026

Tôi Là Người Miền Bắc, Xin Có Đôi Lời Với Các Bác Miền Nam

Sai lầm của miền Bắc chúng tôi là đi giải phóng miền Nam.

Tôi dân miền Bắc xin có đôi lời với các bác miền Nam

Bởi sau cái ngày 30/4 có quá nhiều những thay đổi ngoài dự kiến của chúng tôi đã xảy ra tại miền Bắc.

Bởi khi đoàn quân miền Bắc kéo về mang theo lỉnh kỉnh toàn hàng tiêu dùng của miền Nam làm dân Bắc chúng tôi sững sờ.

Những chiếc đồng hồ seiko của tư bản Nhật nhìn nó long lanh thẩm mỹ hơn quá nhiều cái anh pôn giốt cục mịch của Nga.

Những chiếc quạt Nhật, Mỹ đứng cạnh anh quạt con cóc của Bắc Việt và anh quạt tai voi của Liên Xô không bảo hiểm trông chẳng khác gì công so với cú.

Những cái đài chạy băng cát sét và băng cối chỉ thấy trong mơ giờ đã hiện ra trước mặt để thay thế cho mấy cái đài VEC206 củ chuối của Liên Xô

Ôi !!!!! còn vô vàn các thứ khác không thể kể hết.

Chúng tôi khi đó tự hỏi:

“Ơ hóa ra dân trong Nam toàn dùng những thứ này à ?”.

Hàng hóa tiêu dùng toàn đồ tốt như vậy chứng tỏ xã hội trong đó phải phát triển hơn chúng tôi và những nhà sản xuất ra thứ đó sẽ phải coi trọng con người hơn những nhà sản xuất của Liên Xô và Bắc Việt.

Tiếp đó lại là nguồn sách và truyện rất phong phú được giấu kín để đưa chui ra Bắc vì chúng tôi chủ trương đốt sạch sách báo trong Nam.

Ôi văn hóa trong Nam phong phú và đa dạng quá.

Rất nhân văn và điều đó làm chúng tôi thấy rất hoang mang bởi làm sao mà tẩy não được người miền Nam bây giờ.

Học tập cải tạo của chúng tôi nhằm mục đích để tẩy não người nam đã thất bại thảm hại bởi thấy các học viên toàn ngủ gật.

Động não mãi chúng tôi cũng nhận ra rằng dùng kiến thức của khỉ thì không thể giáo dục được con người.

Nếu cứ để cái văn minh của miền Nam mà tràn ra Bắc thì vô cùng nguy hiểm cho chế độ của chúng tôi.

Một kế thượng sách là chúng tôi cứ giam mẹ nó lâu dài là các bác miền Nam hết đường về để chúng tôi bớt đi cái lo dân chí.

Chúng tôi vẫn tăng cường nhồi sọ

dân Bắc là văn hóa

miền Nam là đồi trụy,

Vô nhân tính nhưng chúng tôi vẫn cố gắng cóp nhặt tiền để mua những đồ tiêu dùng của miền Nam và chỉ những cán bộ mới đủ tiền sở hữu chúng.

Và nhân dân miền Bắc của chúng tôi cũng dần dần vỡ ra rất nhanh rằng tại miền Bắc đang thực hiện chủ trương ngu dân và thần tượng hóa Đảng cùng lãnh tụ.

Trước 30/4 ngày Bác Hồ mất

dân Bắc chúng tôi đứng dưới mưa bên loa công cộng khóc quá bố đẻ mình chết.

Bác Lê Duẩn nghẹn ngào đọc điếu văn như cảm xúc trào dâng hóa ra sau này mới biết Bác Duẩn giả vờ khóc vì

Bác Duẩn đã hạ bệ Bác Hồ từ những năm 1960 ,

Thế mà Bác Duẩn cũng rớm nước mắt như đúng rồi.

Có lẽ Bác Duẩn đã học Bác Hồ về diễn xuất trong vụ cải cách ruộng đất.

Những người Bắc chúng tôi khi từ Nam ra lại thành một cái loa tuyên truyền kín đáo về văn minh miền Nam và

thế là đồng bào miền Bắc chúng tôi lại nối tiếp con đường của người Nam

thi nhau đu chân vịt tàu vượt biên sang tư bản để được cùng giãy chết với công dân bên đó

Ôi !!!!! vô cùng tồi tệ.

Khi kế hoạch ngu dân của chúng tôi bị phá sản.

Nhân dân nhìn lãnh đạo và công an như nhìn kẻ thù.

Ngồi quán nước thì 99% chửi chế độ quả thật không thể tồi tệ hơn.

Giá mà đừng có giải phóng miền Nam để giờ này lãnh đạo chúng tôi vẫn là những thần tượng của nhân dân và đến đâu cũng được nhân dân vỗ tay sờ mông sờ đít và khóc rưng rức thì hạnh phúc biết mấy dẫu biết rằng đó chỉ là sự biểu cảm của những bộ não đã bị tê liệt vì thuốc lú nhưng như vậy chúng tôi vẫn thấy hạnh phúc dâng trào mặc dù dân chúng tôi khi đó chắc chắn vẫn đang ăn bo bo.

Thật sai lầm khi giải phóng miền Nam !


(1) Tôi là người miền Bắc, xin có đôi lời với các... - Nhật Ký Yêu Nước | Facebook

15 Thị Trấn Mộng Mơ Đẹp Như Cổ Tích Giữa Chốn Trần Gian


Những ngôi làng nhỏ bé lại mang sức hút mê hồn khiến du khách tưởng như đang lạc vào xứ sở thần tiên trong câu chuyện cổ tích vậy.

Xin mời các bạn ghé thăm 15 thị trấn mộng mơ này.

1. Provence, xứ sở hoa oải hương, là một vùng đất thanh bình, nên thơ nằm ở đông nam nước Pháp, bên bờ biển Địa Trung Hải với truyền thống sản xuất rượu.


2. Bibury được mệnh danh là ngôi làng cổ đẹp nhất xứ Anh với những căn nhà được xây bằng đá sa thạch cổ kính tồn tại suốt hàng trăm năm.


3. Thành phố Rothenburg, Đức vẫn còn giữ được dáng vẻ của thời Trung Cổ xa xưa. 


4. Ngôi làng Gásadalur nằm ở phía Tây Vagar, quần đảo Faroe sở hữu quang cảnh tuyệt đẹp nhìn ra Vịnh Stream, Bắc Đại Tây Dương.


5. Hallstatt, Áo thật xứng đáng với danh hiệu thị trấn bên hồ nước đẹp nhất thế giới khi bao quanh bởi dãy núi Alps mờ sương.

 

6. Manarola, Ý nằm chênh vênh trên vách đá hướng ra phía biển, gây ấn tượng bởi những ngôi nhà đầy màu sắc nằm san sát nhau.

 

7. Làng cổ Goyakama nổi tiếng tại Nhật Bản nhờ những ngôi nhà được xây dựng theo kiến trúc gassho-zukuni với mái nhà tranh trông giống như các bàn tay đang cầu nguyện.

 

8. Hamnoy là làng chài lâu đời nhất và cũng sở hữu phong cảnh đẹp nhất vùng Nordland, Na Uy.


9. Ngôi làng Dehang, Hồ Nam là nơi lưu giữ những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Miêu tại Trung Quốc.


10. Eguisheim là một xã thuộc tỉnh Haut-Rhin, vùng hành chính Alsace nước Pháp, với dân số chỉ khoảng 1600 người.

 

11. Tồn tại hơn 300 năm, làng cổ Shirakawa xứ Nhật vẫn giữ nguyên hình dáng kiến trúc ban đầu cũng như lối sinh hoạt và phong tục truyền thống. 

 

12. Người dân vùng núi Trung Quốc cũng có truyền thống làm ruộng bậc thang.

 

13. Oia được coi là thị trấn đẹp nhất Santorini, Hy Lạp. Nhiều nhà văn, họa sĩ đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để chuyển tải vẻ đẹp huyền ảo cũng như khung cảnh hoàng hôn lãng mạn có một không hai nơi đây.

 

14. La Petite-Pierre là một xã thuộc tỉnh Bas-Rhin trong vùng Alsace đông bắc nước Pháp.


15. Bled là một khu tự quản trong vùng Gorenjska của Slovenia với dân số chỉ hơn 8000 người.

 

Sưu tầm

Du lịch thế giới

Phía Cuối Con Đường Có Ai Đó Đợi Em? - Nguyên Lê


Người ta bảo “Chờ đợi là niềm hạnh phúc tuyệt vời nhất khi yêu.” Đợi để gìn giữ, sẻ chia và để biết rằng, trong cuộc đời này, luôn có một người dõi về phía một người, luôn có một người đi tìm kiếm một người…


Năm năm rồi Du không thay số điện thoại. Chỗ ở cũng thế, vẫn căn phòng nhỏ bé nằm trong một con phố ngợp bóng những hàng xà cừ xanh mướt lá. Du mòn mỏi chờ một người trở lại. Mòn mỏi cá cược với trái tim về một người đàn ông ngay từ đầu đã không thuộc về mình.

Du không bao giờ nghĩ sẽ gặp anh nhanh đến như thế. Đó là một ngày bắt đầu mùa mưa; ẩm ướt và se lạnh, một người bạn hẹn Du:

- Tối nay em rảnh không, đi uống nước cùng chị.

Du băn khoăn cũng nhận lời. Giới thiệu, làm quen hững hờ, thế mà “phải lòng” nhau. Sau này anh thường cười trêu, tại Du theo anh nên anh mới bị “sa bẫy”. Nhưng Du không bực mình, cũng chẳng thấy anh đáng ghét, vì anh đã ở trong vòng tay Du, vòng tay anh bảo:

- Anh không chạy đâu, sẽ đứng im mãi đấy.

Du cười, hiền lành và ngoan ngoãn, rúc vào anh như một con mèo. Khi ấy Du vừa tròn 21 tuổi. Và anh - một người đàn ông thành đạt 33 tuổi, đã có gia đình.

Du cũng không bao giờ nghĩ là mình sẽ thuộc về anh nhanh đến như thế. Vẫn một đêm ẩm ướt mùa mưa, trong căn phòng nhỏ bé nhức nhối mùi vôi vữa và hơi mốc của đồ đạc, Du run rẩy đón nhận anh. Du nghe thấy trong mình dòng yêu thương đang vỡ oà tràn vào ngóc ngách của mọi giác quan. Trong cơn say mê mải, anh khẽ cắn vào tai Du thì thầm.

- Em đàn bà lắm em à, vẻ ngây thơ, trong trắng nơi ánh mắt em khiến cho bất cứ người đàn ông nào cũng muốn giữ gìn như sợ đánh vỡ mất đi.

Đàn bà khi vui thường hân hoan, niềm hạnh phúc long lanh trên ánh mắt bờ môi không có tấm màn nào che giấu được. Du không như những người con gái khác, cho đi rồi hối hận hay trách cứ, Du mãn nguyện vì có anh và được là của anh. Sau cùng của những yêu thương, anh lặng lẽ rời xa, Du không giữ anh ở lại, vì Du biết anh không thuộc về mình. Cuộc sống của anh ở nơi có vợ và cô con gái ba tuổi. Tấm ảnh của Du bao giờ anh cũng cất sâu trong ví, phía sau hình của mái ấm nhỏ bé đó.

Dự án của anh kết thúc cách đây 4 năm. Du tiễn anh vào một ngày mùa đông giáp Tết, miền Bắc lạnh tê người. Đêm trước khi chia tay, anh gục trên bờ vai Du, nước mắt họ mặn chát lẫn trong môi hôn khắc khoải, day dứt.

- Anh đi rồi, em nhớ chăm sóc cho mình nhé! Em có trách anh tệ quá vì không dám sống hết mình với tình yêu của chúng ta không?

Du lặng lẽ lắc đầu. Du biết mình yêu con người có trách nhiệm với gia đình trong anh, yêu cả tình thương vô bờ anh dành cho con gái, những thấu hiểu về nỗi vất vả, thuỷ chung khi anh kể chuyện về vợ của mình. Du yêu cách anh chăm sóc vợ con, cách anh gọi điện về nhà với đầy lo toan, trằn trọc. Yêu và tủi hờn đồng hành vì biết đắng cay và đau khổ sẽ đến, Du không thể rời xa anh. Du dụi đầu vào má anh, nói như thì thầm với chính mình:

- Em phải trả anh về cho chị ấy, gia đình nào cũng cần có bờ vai rộng của một người đàn ông. Người ta không thể tham lòng mà bấu víu lấy những thứ mãi mãi không phải của mình.

Anh hôn từ từ lên mắt, lên môi, lên cổ, lên tóc, lên từng tế bào nhạy cảm trên cơ thể Du. Đó là lần cuối cùng, Du cong mình đón nhận tình yêu của một người đàn ông với cả hai thứ cảm xúc đối lập hạnh phúc và buồn tủi. Sân bay nhốn nháo cảnh chia tay ngày đó, anh ôm nghẹt lấy Du. Đau khổ nhất là khi người ta có thể nhìn thấy nhau, biết mình cần nhau, mà phải lẳng lặng chôn vùi yêu thương vì những duyên cớ số phận sắp đặt an bài. Hơi ấm thân thương len lỏi vào lồng ngực nấc lên từng hồi, phút giây đó Du thấy mình khánh kiệt. Để rồi kể từ sau ngày ấy, chưa một lần họ gặp lại nhau. Kể từ ngày anh đi, Du chưa từng yêu một người đàn ông khác. Du vẫn là một người đàn bà trong trắng, yêu và chỉ thuộc về một người đàn ông.

Cho đến sáng hôm nay, tại góc của quán café này, quán café sáu năm về trước họ chạm mặt và chấp nhận khánh kiệt để thuộc về nhau trong một tình yêu biết trước chỉ toàn khổ đau và dằn vặt. Anh ngồi đó, khuôn mặt xạm đen vì sương gió, rắn rỏi và gân guốc; thoáng một chút mệt mỏi. Đôi mắt đen thăm thẳm khuất dưới hàng lông mày đậm nét nhìn Du long lanh. Mùa đông này lạnh hệt như ngày họ xa nhau. Du vừa nhận được điện thoại của anh cách đây 30 phút. Cuộc điện thoại khiến Du nghẹn ngào không nói được lời nào, cố lắm cô mới hỏi anh được đúng một câu:

- Bây giờ anh đang ở đâu?

Du cuống cuồng bỏ mặc cơ quan mà chạy đến, chết trân nhìn cái dáng ngồi hiền lành của anh, nước mắt chảy tràn trên hai khoé mi suốt dọc đường để lại những vệt dài loang bờ má. Du vừa ngồi xuống, tay anh đặt lên tay Du, nóng bỏng và cồn cào. Bao nhiêu năm, Du thèm khát được đụng chạm vào người đàn ông này, thèm khát hoang dại cho những bến bờ tận cùng với anh; bao nhiêu năm Du giữ mình cẩn thận để xuất hiện trong cuộc gặp gỡ cô phải đợi chờ quá lâu này. Bây giờ không phải chờ đợi nữa, không phải đấu tranh và dằn vặt lòng nữa; anh mạnh bạo kéo tay Du chạy như bay về căn phòng nhỏ của họ. Ở đó, họ lại mê mải hoà lẫn vào nhau. Sau cuối của đam mê, sau cuối của những nhịp yêu thươg gấp gáp và thoả mãn; Du khóc nức nở như đứa con gái lần đầu tiên trao đi cái quý giá nhất của cuộc đời. Anh hôn nhẹ lên má Du:

- Bao năm rồi, em vẫn quyến rũ như thế. Anh không thể quên ánh mắt em, không thể chịu nổi khi không nhìn thấy mình trong đó. Em hãy nói là em yêu anh, nói đi em.

Gối đầu trên vai anh, bất giác Du giật mình:

- Bao giờ anh sẽ đi?

Anh lặng yên không nói. Im lặng có nghĩa là kết cục ấy lại xảy ra. Du nghĩ đến những năm tháng tiếp theo của cuộc đời mình, và thấy cổ họng nghẹn đắng. Sống tiếp, sẽ đợi chờ một người, sẽ tiếp tục mòn mỏi, hi vọng nghĩ đến tương lai? Nhưng bản thân mình Du sẽ sống thế nào? Cần phải làm gì để vượt lên những ám ảnh đeo đẳng đó? Du theo đuổi bóng dáng của một người, liệu còn có ai đó đợi chờ cô phía cuối con đường kia không?

Ba tháng sau cuộc gặp gỡ bất ngờ và ngắn ngủi của Du và anh, một buổi sáng, Du nhận được điện thoại của một người phụ nữ. Người đàn bà có chất giọng nhẹ nhàng, cất những lời mỏng manh khó nhọc nhưng khiến Du khuỵu ngã:

- Du phải không? Chị là vợ của anh Nam. Anh Nam… mất rồi em à.

Du không hiểu chuyện gì đang xảy ra nữa; chỉ thấy tiếng gió, tiếng cười khàn đục của anh lào xào đập vào bờ thành lồng ngực mình.

- Anh Nam phát hiện ra mình bị ung thư gan từ 6 tháng nay, nhưng không cho ai biết. Lần anh ấy lặng lẽ ra Hà nội gặp em trở về, bệnh trở nặng nên không giấu được. Những ngày cuối, anh ấy kể cho chị về em.

Du nghe thấy tiếng người khóc nức lên ở đầu dây bên kia, tiếng vỡ tan của những tế bào tan ra trong dòng xoáy mãnh liệt rút kiệt sinh lực của cô. Du không cảm nhận được nước mắt mình có chảy hay không, chỉ có những dòng thác của sợ hãi, đau đớn đổ ập lên bờ vai khiến Du ôm ngực khuỵu xuống.

- Không! Anh? Anh à! Làm sao như thế được!

Bây giờ Du mới hiểu, tại sao bao nhiêu năm nay Du có đủ can đảm, nghị lực đợi chờ. Còn đợi chờ là còn hi vọng, còn tin tưởng. Du chợt nhớ những lời nói nghẹn lại của anh:

- Cuộc đời anh có lỗi với cả hai người đàn bà thương yêu anh nhất. Anh xin lỗi em. Xin lỗi vì để em mòn mỏi quá lâu thế này. Đến một lúc nào đó, em à, em hãy tin tưởng nhé! Ở nơi nào rất xa, anh sẽ chờ em, để trả lại tuổi trẻ, tình yêu và niềm tin trong trái tim em. Anh hứa với em. Nhưng từ giờ đến khi gặp lại, hứa với anh là em phải mở lòng để yêu thương, để sống hạnh phúc. Em hứa chứ?

Du khẽ gật đầu, mắt rưng rưng nước. Bờ môi mềm của anh như còn đang phủ cả cơ thể của Du mà sao khóe miệng Du đắng ngắt.

Tròn một tuần anh mất, Du mới có mặt trước mộ anh, những thảm cỏ xanh thẫm để lại trong mắt Du một vạt buồn hoang lạnh, cô độc. Yêu thương giờ nằm xa tầm với của con người, anh im lặng nằm đó, Du đứng đây mà không có nổi một mối liên hệ mong manh nào. Người phụ nữ nhỏ bé đứng bên Du, khuôn mặt u sầu, mệt mỏi nhìn vào khoảng mênh mông không có vẻ trách cứ, oán thán. “Cuối cùng chúng ta cũng mất anh ấy rồi. Người không ở lại thì mọi điều chẳng có nghĩa lý gì.”

Du châm lửa, những trang nhật ký bén thứ ánh sáng vàng vọt, nhợt nhạt chuyển sang màu tàn tro bay trong gió. Kỉ niệm không đốt được, thiêu cháy tâm hồn Du. Người đàn bà góa bụa ở tuổi 35 lặng lẽ rời đi. Chỉ lúc bấy giờ Du mới đổ khuỵu xuống mộ anh và nức nở khóc.

Du bỏ lại chiều Sài gòn và nắng hoang hoả ngược tàu trở ra Hà Nội, về căn nhà nhỏ bé dưới gốc cây xà cừ rợp lá. Một tuần, sống trong những kỉ niệm khôn cùng, Du thu xếp đồ đạc, chuẩn bị cho hành trình dài của cuộc sống mới. Từ Hà Nội, Du ngược mãi lên Cao Bằng, ở đó có một cơ quan thường trú của tờ báo Du đang làm, chưa ai nhận đảm đương vị trí quản lý. Lần đầu tiên, sau gần 5 năm yêu một người, Du nghĩ về sự thay đổi. Trong cuộc đời một con người, thay đổi cũng là để đợi chờ. Nhưng là đợi chờ để đi đến gần nhau hơn. Mỗi ngày tới, mỗi giờ tới, Du biết là mình sẽ gần anh hơn nữa.

Du đi về phía anh, phía ánh sáng của một tình yêu không bao giờ tắt.

Nguyên Lê

   http://sonvoque.blogspot.com/2011/02/phia-cuoi-con-uong-co-ai-o-oi-em.html 

#756 - Ăn Cá Kho, Thịt Kho Như Thế Nào Để KHÔNG HẠI Sức Khỏe? Uống Cà Phê Trộn Bắp Có Hại Không? - BS. Phạm Hiếu Liêm

 

Tuesday, October 27, 2026

Xóa Đói Giảm Nghèo

NGÀY 17/10 XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO: CÁN BỘ NO NÊ CÒN DÂN ĐƯỢC PHÁT ẢNH BÁC HỒ VỀ THỜ

Hôm nay 17/10, thế giới lại long trọng kỷ niệm Ngày Quốc tế Xóa đói Giảm nghèo và Ngày Vì người nghèo. Ở VN ta thì cũng có lễ, có khẩu hiệu, có báo cáo. Chỉ có điều xóa đói giảm nghèo ở đây được hiểu theo cách rất đặc trưng xã hội chủ nghĩa, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu cho nên người dân mới có thơ rằng:

Mỗi người làm việc bằng hai,

Để cho cán bộ mua nhà mua xe.

Mỗi người làm việc bằng ba,

Để con cán bộ mang tiền sang Tây.

Người cộng sản làm cách mạng là để đem lại hạnh phúc cho người cộng sản. Kết quả sau mấy chục năm thì hạnh phúc chủ yếu nằm ở nhà cán bộ, xe cán bộ, sổ đỏ cán bộ và những dự án trọng điểm nghìn tỷ. Còn nhân dân thì được phát ảnh Bác Hồ và lời dặn cố gắng vượt khó.

Nhìn quanh, đại dự án nào cũng nghìn tỷ, chục nghìn tỷ. Cầu, đường, sân bay, khu đô thị… mọc lên như nấm sau mưa. Rồi khi kiểm toán, thanh tra, điều tra thì con số thất thoát cũng khủng khiếp như vậy. Đến khi ăn chia không đều hoặc thay đổi vua thì cán bộ lại ra tòa với số tiền sai phạm trăm tỷ là bình thường. Thế rồi bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, bỏ tiền ra thế là xong. Án treo, cải tạo không giam giữ, hoặc giảm nhẹ vì thành khẩn, nhẹ như lông hồng. Người dân nhìn vào chỉ biết thở dài khi khắc phục hậu quả cũng là chạy án hợp pháp.

Trong khi đó, người nghèo vẫn nghèo. Lương tối thiểu tăng vài trăm nghìn thì giá điện, giá xăng, giá viện phí, học phí tăng trước. Nhà ở xã hội thì chờ đợi dài cổ. Việc làm ổn định thì như tìm kim đáy biển. Còn cán bộ thì liên tục học tập và làm theo, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng chống tham nhũng. Kết quả là tham nhũng càng lớn thì năng lực lãnh đạo càng được chứng minh bằng số tiền khắc phục.

Vậy nên nhân ngày vì người nghèo, xin được gửi lời chúc chân thành đến những người đang xóa đói giảm nghèo bằng bầu sữa ngân sách. Chúc các vị luôn no đủ, luôn có tiền để khắc phục hậu quả, và luôn được pháp luật nhẹ tay. Còn người nghèo? Hãy cứ tiếp tục cố gắng vì hiện tại cách mạng thành công rồi thì hạnh phúc ưu tiên cho người làm cách mạng trước.

 

Trọng Đức

(2) NGÀY 17/10 XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO: CÁN BỘ NO NÊ... - Chân Trời Mới Media | Facebook

Sắc Màu Lưu Luyến - Nguyễn Duy Phước

Trái Tim Cho Mượn - Trần Mộng Tú


Thành dắt tay Khuê đi dưới những tán lá xanh. Mùa hạ đang về cùng vạn vật, công viên như vừa được thêm một chiếc áo mới, hoa sơn lựu, hoa trà hắt ánh hồng lên áo cả hai người, Thành hỏi: 

“Khuê thực sự khỏe không?” 

“Ồ, em khỏe lắm rồi.”

“Trái tim em thế nào?”

“Nó đập tốt lắm.”


Thành giữ Khuê dừng lại, anh nhặt một chiếc lá bám trên tóc Khuê.

“Như thế thì chúng ta có thể xúc tiến việc cưới, hỏi chứ em.”

Khuê ngước nhìn Thành: 

“Anh cho em thời giờ, em cần yêu anh thật nhiều trước khi đi đến quyết định.”

Thành kêu lên: 

“Em nói gì lạ thế, em chẳng yêu anh từ lâu rồi sao? Chúng ta chưa bàn đến việc cưới hỏi chỉ vì sức khỏe của em. Bây giờ em đã hoàn toàn khỏe mạnh không lẽ tình yêu nó lại giảm theo tỷ lệ nghịch với sức khỏe à?”


Khuê ngồi xuống chiếc băng kê dưới gốc cây olive, những chiếc lá màu xanh lục rơi đầy trên mặt đất, cô cúi xuống nhặt vài quả olive ném ra xa, chậm rãi nói: 

“Anh quên là trái tim em đang mang trong lồng ngực không phải là trái tim nguyên thủy của em à? Nó đang cho em những cảm xúc mới và nhịp đập mới, em cần quen với nó, em phải tập yêu anh lại từ đầu.”

Thành nghe nhói trong lồng ngực. Như thế có nghĩa là Khuê không yêu anh. Trong cái thân thể quen thuộc đó, một trái tim lạ hoắc không còn một mảy may rung động nào cho anh sao!” 

Hai người ngồi yên lặng rất lâu, Thành ngã đầu vào thành băng, ngửa mặt nhìn những đám mây trắng qua khe hở của tàn lá olive. Anh thấy một nỗi thất vọng mênh mông như bầu trời trên đầu mình. Khuê cúi xuống nhặt những trái olive còn xanh chát ném về phía trước. Công viên buổi trưa êm ả và ít tiếng động, chỉ có lòng người là nổi gió từng cơn.


Khuê sinh ra đã mang một trái tim bất thường, một cái lỗ hổng nhỏ trong trái tim nàng. Khuê sang Mỹ năm 10 tuổi và đã giải phẫu ba lần. Vì một lý do nào đó cái lỗ hổng nhỏ đó vẫn làm cho Khuê ngất đi ít nhất là mỗi tháng một lần. Khuê thông minh, học giỏi nhưng mặc cảm về sức khỏe, đến tuổi dậy thì Khuê không thích có bạn trai. Không thích, hay không dám yêu ai vì chỉ sợ làm phiền cho người khác và đôi khi Khuê còn lo sợ mình sẽ chết trẻ. Bác sĩ của Khuê tìm đủ cách để Khuê có một đời sống bình thường và tự tin vào tương lai. Ông hy vọng một ngày nào đó sẽ có người cho Khuê một trái tim lành mạnh, và ông đã ghi tên Khuê vào danh sách chờ tim, ông làm đủ các thí nghiệm cần thiết trước cho một cuộc giải phẫu. Ông theo dõi và khuyến khích Khuê như một phụ huynh. Ông dự những buổi lễ ra trường của Khuê, chính ông chọn cho Khuê làm nghề cô giáo. Và cái ngày ông chờ đợi đã đến. Một người đàn bà ở California bị tử nạn xe hơi, trong thẻ lái xe của bà có ghi “Organ Donor” (*). Và Khuê đã hội đủ điều kiện để nhận trái tim đó.

Khuê lay vai Thành lôi anh về thực tế, cô chậm rãi nói: 

“Anh Thành, anh có nhớ là thời gian trước khi em được thay tim, mặc dù em rất quý mến anh nhưng em luôn luôn tránh anh, em chỉ coi anh như một người anh, một người bạn rất thân vì em biết là em sẽ mang phiền phức đến cho anh nếu em coi anh như một người tình.” 

Thành nói trong buồn bã:

“Anh biết tất cả những điều đó và anh cũng biết rất rõ là anh yêu em.”

“Em xin lỗi anh, nhưng em muốn thành thật, em chưa yêu anh, anh cho em một thời gian.” Khuê trêu Thành cho vui, nói thêm: 

“Bây giờ em đang mang một trái tim của một bà Mỹ 45 tuổi, anh có muốn yêu một trái tim già không?” 

“Em đừng quên là trái tim đó đang ở trong lồng ngực thanh xuân của em. Thôi anh đưa em đi ăn, rồi đưa em về, chắc em đói rồi.” Thành nói với một chút giận hờn. 

Khuê về đến nhà thì trời vừa chạng vạng tối. Cô lục thùng thư, để tìm lá thư cô đang đợi, hôm nay cô may mắn lá thư đó đã đến. Đó là lá thư gia đình bà Donna Zumwalt trả lời Khuê.


Ngay từ hôm đầu tiên tỉnh dậy ở bệnh viện sau cuộc giải phẫu, Khuê đã nghĩ ngay đến việc phải tìm cho được địa chỉ của ân nhân mình để ngỏ lời cám ơn đến gia đình họ, Khuê và bác sĩ của cô đã liên lạc từ bệnh viện đến DMV (*) của hai, ba tiểu bang và cuối cùng thì sau sáu tháng, họ tìm được địa chỉ của bà Donna, và biết qua về hoàn cảnh gia đình của bà. Bà không có chồng và sống với một người con trai bằng tuổi Khuê ở California, Khuê gửi thư cho con trai bà với lời cảm ơn và hy vọng mùa hè này cô có dịp ghé thăm căn nhà của bà Donna cư ngụ khi bà còn sống. Khuê mở thư ra, trong đó ngoài lá thư nhỏ của George, người con trai bà Donna còn có thêm một phong thư dán kín, Khuê đọc lá thư của George trước. 

“Thân gửi cô Khuê 

Đây là lá thư dán kín của mẹ tôi với lời dặn là: Lá thư này phải được chuyển đến người nhận trái tim của bà nếu bà có mất vì tai nạn. Mỗi khi làm lại bằng lái xe mẹ tôi lại viết lá thư này, đề ngày mới. Khi mẹ tôi bất thình lình vì tai nạn xe hơi và trái tim bà đã được bệnh viện ở California chuyển đi, tôi vẫn có lòng trông đợi một sự liên lạc của người nhận trái tim đó. Tôi không được phép nên không mở coi trong thư viết những gì. Chắc mẹ tôi chỉ chúc lành cho người nhận trái tim của bà. Tôi xin gửi lá thư này đến cho cô và cám ơn cô đã nhã ý muốn thăm căn nhà của mẹ con tôi. Tôi chắc còn ở lại đây vài năm nữa, vậy bất cứ mùa hè nào, có dịp xin mời cô ghé qua. Thân mến.”


Khuê gấp lá thư của George lại, cô chưa mở vội lá thư của bà Donna, cô đứng lên đi rót cho mình một ly nước lọc thật đầy. Cô uống từng ngụm nhỏ để nỗi xúc động lắng xuống. Cô cầm lá thư của bà Donna lật đi lật lại, lá thư khá đầy, hình như có cả hình trong đó. Khuê kéo ghế đến gần cửa sổ, đặt lá thư của bà Donna lên lòng, giơ tay tắt đèn, bóng tối ở bên ngoài ùa vào căn phòng nhỏ phủ chụp lấy Khuê, cô nhìn ra bên ngoài, những bóng lá lung linh trong ánh đèn đường, trong bóng tối cô nghe tiếng trái tim của bà Donna đập trong ngực mình, cô lắng nghe với nỗi xúc động riêng của cô, Khuê cố phân biệt nhịp đập của trái tim và tình cảm của tấm lòng, cô càng cố phân biệt càng thấy nó trộn lẫn vào nhau. Có khi Khuê thấy trái tim bà Donna đang làm chủ tất cả cảm xúc của tâm hồn cô, có khi cô thấy bà chẳng có một chút liên hệ gì cả, trái tim đó đã là trái tim của chính cô vì nó đang tiếp nhận lượng máu luân lưu bằng chính những đường dẫn máu của mình. Suy nghĩ liên miên làm Khuê bối rối, cô lắc đầu vài cái, đứng lên, bật đèn, xua bóng tối và những suy nghĩ ra khỏi đầu mình, cô từ tốn mở lá thư. Đúng như Khuê dự đoán trong phong bì có một tấm ảnh và một lá thư ngắn, Khuê đọc lá thư trước khi xem ảnh.


“Gửi người mang trái tim tôi 

“Tôi biết bạn là một phụ nữ vì tôi có lời dặn ở văn phòng DMV là trái tim của tôi chỉ dành cho phụ nữ trẻ hơn hoặc bằng tuổi tôi với điều kiện còn độc thân. 

“Bây giờ bạn đã có trái tim đó, xin bạn hãy tìm đến địa chỉ của người đàn ông trong hình và yêu chàng bằng trái tim của tôi. Chàng là người đáng được yêu.

“Xin cám ơn bạn.

“Donna Zumwalt”

Khuê đọc xong lá thư ngắn đó, cô ngẩn người ra, bàng hoàng, trán cô lấm tấm mồ hôi, trái tim cô đập liên hồi trong lồng ngực. Thật là một sự yêu cầu quá sức tưởng tượng của Khuê. Cô bỗng ân hận, biết thế ta cứ mang trái tim bệnh hoạn của riêng ta thế là lại dễ sống hơn. Hóa ra bà Donna chẳng phải là người nhân đạo, bà chỉ là một người ích kỷ, khi sống vì một hoàn cảnh nào đó bà không thể lấy người mình yêu, khi chết bà vẫn muốn trái tim của bà chui vào lồng ngực người khác để tiếp tục yêu “chàng” của bà, bà đã dùng một hành động dưới danh nghĩa nhân đạo để thực hiện một ý nguyện riêng tư của mình, Khuê tấm tức như một người bị lừa. Cô cầm tấm hình lên ngắm nghía, đó là hình màu, chụp cảnh một người đàn ông đứng khoanh tay trước ngực, trên miệng ông ngậm cái tẩu thuốc, sau lưng ông là một cánh rừng phong mùa thu, lá vàng tươm như mật, hình chụp gần nên khuôn mặt khá rõ. Người đàn ông trạc 50 tuổi, hai con mắt to và sáng, trông khá điển trai với bộ ria mép và mái tóc dầy, đằng sau bức hình có ghi ngày, tháng và tên ông ta là Stuar Kenholz, địa chỉ ghi ở cuối tấm ảnh thuộc tiểu bang Montana, không có số điện thoại. Theo ngày ghi thì hình chụp cách đây hơn một năm. Khuê cho cả lá thư và tấm hình vào lại phong bì, cô không biết mình phải làm gì, cô đi rửa mặt bằng nước lạnh, cô biết đêm nay cô khó mà ngủ được nguyên giấc. Nên không hay nên làm theo lời bà Donna? Có lúc Khuê nghĩ là mình nợ bà Donna trái tim thì mình phải làm theo lời yêu cầu của bà, bà cũng đáng tội nghiệp, chắc khi còn sống bà phải yêu ông Stuar nhiều lắm nên mới nghĩ ra sau khi chết nhờ lồng ngực người khác để giữ sống trái tim mình rồi còn lại bắt người khác sống cái đời trước đây bà ao ước được sống. Có lúc Khuê lại nghĩ bà Donna là một người ích kỷ, Khuê sẽ không làm theo yêu cầu của bà, Khuê không thể yêu hộ cho bà được, Khuê cũng có tình cảm riêng của cô. Còn Thành nữa, anh sẽ nghĩ sao khi Khuê nói câu chuyện này với anh? Khuê thao thức suốt đêm…


Trong một tuần lễ lá thư của bà Donna giống như một lưỡi dao sắc treo trên đầu Khuê, nó treo bằng một sợi dây rất mảnh không biết sẽ rơi xuống lúc nào, Khuê không còn tâm trí đâu mà dạy học. Vào lớp Khuê gọi nhầm tên học trò, đi họp giáo sư Khuê nhớ nhầm ngày giờ, thậm chí Thành gọi cô bốn năm lần trong một ngày Khuê cũng quên không gọi lại, Thành đến nhà đập cửa, lo lắng hỏi:

“Em làm sao vậy, em có ốm không, sao mặt em xanh thế?” 

Khuê chỉ biết trả lời: 

“Vâng, em ốm.”

Thành đưa Khuê đi bác sĩ, bác sĩ bảo Khuê gầy quá, chỉ cần ăn nhiều vào, Thành nấu đồ ăn mang đến cho Khuê mỗi ngày. Khuê bắt đầu lấy lại quân bình, nhưng cô vẫn tuyệt nhiên không kể chuyện lá thư của bà Donna cho Thành nghe. Hai tuần lễ sau, vào một buổi chiều ở sở làm ra, Thành ghé tiệm cơm Thái mua món xúp cay Khuê thích đem đến cho Khuê, anh thấy một phong bì nhỏ dán băng keo trên cánh cửa đề tên anh. Khuê đã đi khỏi cô để lại cho anh mấy chữ ngắn ngủi “Khuê có việc phải đi Montana một tuần, khi về sẽ nói chuyện nhiều với anh.” Thành lủi thủi về với lòng buồn bã. Anh thấy anh chẳng hiểu một tí gì về Khuê cả, thế mà bao nhiêu năm nay anh cứ yêu cô, cứ hy vọng, cứ chờ đợi và cứ hụt hẫng. Cô làm gì mà lại đi đến cái tiểu bang toàn núi đá đó, anh có hề nghe cô nói có họ hàng ở đó bao giờ đâu? Bây giờ anh có muốn đi theo cô cũng chẳng biết địa chỉ nào mà đến. Thành bỗng muốn bỏ cuộc, anh không thể chạy theo hoài mối tình một chiều này.


Khuê nhìn bản đồ, ngôi làng Trout Creek cách thị trấn Helena 250 dặm về phía Tây, một ngôi làng rất nhỏ không có ghi dân số, Khuê thuê xe đi từ phi trường Helena đến đó. Khi Khuê đến thì trời đã xập tối, phải khó khăn lắm Khuê mới tìm ra khách sạn, cái khách sạn duy nhất ở Trout Creek chỉ có sáu buồng và may mắn còn một buồng trống. Khuê đặt chiếc vali lên giường nhìn đồng hồ mới tám giờ tối, Khuê không định gặp Stuart tối nay, cô sẽ đi một vòng chung quanh làng, cô muốn tìm hiểu Stuar qua môi trường ông sống trước khi tiếp xúc với ông, Khuê sẽ đưa cho ông đọc lá thư của bà Donna và Khuê sẽ nói là cô không có ý định thực hiện lời yêu cầu của bà, cô có đời sống riêng cô muốn sống, cô không thể sống đời của bà Donna được. Mặc dù bà Donna đã cho cô trái tim của bà, ông có thể lấy lại tấm ảnh của ông và giữ lá thư của người đàn bà yêu ông làm kỷ vật, Khuê muốn bước hẳn ra ngoài vòng tròn của hai người.

Ngôi làng bao quanh bởi những dãy núi đá xanh biếc, cả làng chỉ có một trường tiểu học, hai siêu thị nhỏ, một tiệm ăn, bưu điện và nhà giặt công cộng thì chia nhau một ngôi nhà hai gian rộng khoảng sáu thước vuông. Khuê lái xe đi loanh quanh độ 20 phút thì hết cả ngôi làng, đã thấy trở về lại chỗ cũ. Con sông Columbia chảy qua làng như một ân huệ của Thượng Đế làm cô nhớ đến cái hồ Washington của thành phố Seattle và nhớ đến Thành. Khuê nghĩ sự ra đi bất thình lình của cô có lẽ lại là hay, nó như một dịp trắc nghiệm tình yêu cho cả hai người. Sau khi trả cái thư của bà Donna cho ông Stuar, Khuê sẽ đi California thăm mộ bà Donna để cám ơn bà và ghé thăm cả George và ngôi nhà của hai mẹ con họ nữa. Học trò đã bắt đầu nghỉ, mùa Hè còn dài cô không cần hấp tấp. Khuê muốn biết thật sự Khuê có yêu Thành không? Hay chỉ yêu anh như yêu một thói quen. 

Khuê ghé vào nhà hàng ăn bữa cơm tối, tiệm ăn nhỏ và thực đơn chỉ có ba món, Khuê gọi một chén xúp rau nhỏ, cốt ăn cho đỡ đói. Trong khi đợi thức ăn, Khuê nhìn chung quanh thì thấy những người chung quanh đang chăm chú nhìn mình, cô lúng túng mỉm cười làm quen, cô nhớ ra cái làng này rất nhỏ chắc người lạ đến là bị nhận diện ngay. Quả nhiên người đàn ông trạc 60 tuổi đang ngồi cách Khuê hai bàn, đứng lên tiến về phía cô chào hỏi, giới thiệu rất tự nhiên: 

“Tôi là Richmond, có phải cô là du khách mới tới không?” 

Khuê lễ phép, thật thà trả lời: 

“Thưa tôi đến không phải để thăm thị xã, mà để tìm một người tên Stuar Kenholz.” 

Ông Richmond đứng suy nghĩ một lúc, lắc đầu: 

“Tôi ở đây từ thời trai trẻ, dân số làng này chưa đến 100 người, tôi không nhớ tên ai là Stuar Kenholz cả.” 

Bà chủ quán góp ý: 

“Hay là cái ông nhà văn mới dọn hẳn về đây sáu tháng nay.” 

“Ông ta đâu phải tên Kenholz, cô có mang theo địa chỉ không?” Richmond nói. 

Khuê mở bóp lấy địa chỉ của Stuar đưa cho ông Richmond. 

“Cái địa chỉ này thì đúng của ông nhà văn rồi nhưng tên thì khác, ông ấy là James Plesko một người rất có tiếng, đã xuất bản vài ba tập truyện, cô có đọc Tiếng Kêu Trong Rừng của ông ấy chưa?”


Khuê ngẩn người ra, không lẽ Stuar của Donna lại là một tác giả mà Khuê khâm phục, Khuê đọc hầu như gần hết các tác phẩm của James Plesko, ông ta không phải chỉ viết vài ba tập truyện như ông Richmond nói, mà đã ra đến tám, chín tập truyện dài, chưa kể thơ và truyện ngắn. James Plesko là một tác giả được giới trẻ ưa thích. Hiện ở nhà Khuê, dưới gối cô vẫn còn một tập thơ của ông, đang đọc. Ông ấy đang dạy học ở Berkeley mà, sao bây giờ ở trong cái làng nhỏ xíu này? 

Khuê hỏi ông Richmond:

“Ông có chắc cái địa chỉ này là của nhà văn James Plesko không?”

Ông Richmond cười: 

“Cô ơi! Tôi biết cái làng này còn rõ hơn là đường chỉ tay của tôi nữa.” 

Khuê lục ví đưa cái hình của Stuar. 

“Có đúng ông này không?” 

“Đúng ông ấy chứ ai, cô đọc sách ông ấy mà không nhận ra à.” 

Khuê cầm lại tấm hình, cô đưa sát ánh đèn như không tin vào đôi mắt tinh anh của mình. Trái tim cô đập rối trong lồng ngực, đúng là nhà văn James Plesko rồi, sao mà lúc ở nhà cô không nhìn ra? Có lẽ vì tức giận bị bà Donna lừa mình nên cô không nhìn rõ bức hình, hơn nữa cái tên Stuar Kenholz không nhắc cho cô một sự quen thuộc nào. Bây giờ thì cô đã nhận ra khuôn mặt quen thuộc này là của nhà văn James Plesko thường in sau bìa sách của ông, Khuê bỗng nhớ thêm một chi tiết, hình ở sách in không có bộ ria mép, có lẽ cái hình này gởi cho bà Donna lúc đó ông chưa cạo râu đi, và cái tên Stuar Kenholz là tên thật, ông ít dùng đến sau khi đã nổi tiếng. Khuê hỏi ông Richmond:

“Thưa ông, địa chỉ này chắc cũng gần đây?” 

“Đằng sau quán ăn này hai chặng đường, cô có thể bước ra ngoài cũng thấy được, nếu là ban ngày, nhưng bây giờ tối rồi, nếu cần tôi có thể đưa cô đến đó.”


Khuê cám ơn ông Richmond, ngỏ ý ngày mai cô mới tới, bây giờ cô muốn về khách sạn ngủ một giấc (hy vọng là mình sẽ ngủ được tối nay). Khuê ra xe cám ơn ông Richmond một lần nữa, trước khi mở máy. Lòng tốt của người tỉnh nhỏ đã ân cần theo cô ra tận xe, ông còn dặn với: 

“Nếu tìm không ra cô cứ quay lại đây, tôi thường xuyên có mặt ở quán này.”

Sáng hôm sau, Khuê đứng im lặng một lúc thật lâu trước hai cánh cửa khép hờ không khóa, cô ngập ngừng chưa muốn đưa tay bấm chuông, cô không biết mình sẽ mở đầu câu chuyện như thế nào để ông Stuar và cô đều tránh được ngại ngùng. Cả đêm hôm qua cô trăn trở mãi, cô ráp hình ảnh ông Stuar và nhà văn cô ngưỡng mộ vào làm một, rồi lại cố tách hai người đó ra thật xa nhau. Cô thấy mình hơi có một chút ghen tỵ với bà Donna, mặc dù cô chưa hề gặp mặt bà và còn mang ơn bà, tự nhiên cô thấy mình bị đưa vào một trạng huống khó xử. Khi ở nhà ra đi Khuê đã dứt khoát với lòng là sẽ trả lại ông Stuar lá thư của bà Donna và bức ảnh của ông, sẽ nói rõ cho ông biết là cô không thể thực hành lời dặn của bà. Nhưng bây giờ khi biết ông Stuar là nhà văn Khuê vẫn khâm phục và đem lòng quý mến, Khuê lại thấy cái ý định đó lung lay trong ngực mình. Khuê tự hỏi: “Mình đã chẳng ao ước từ bấy lâu nay là có dịp được kết thân và tìm hiểu về nhà văn James Plesko này hay sao?” Cô thấy trái tim mình đập nhanh thêm vài nhịp, Khuê giơ tay gõ cửa.

Một người đàn ông dong dỏng cao, hơi gầy có khuôn mặt giống hệt với bức hình in ở sau cuốn Tiếng Kêu Trong Rừng đứng trước mặt Khuê. Khuê cố lấy bình tĩnh vẫn thấy lúng túng, cô nói vụng về: 

“Tôi là Khuê, từ Seattle đến, tôi có lá thư của bà Donna.”

Khuê thấy một thoáng gợn sóng trong mắt người đàn ông, một thoáng rất ngắn, rồi ông mở rộng cánh cửa tránh sang một bên, mời Khuê vào. Căn phòng khách nhỏ, bầy biện giản dị. Cái lò sưởi củi ở giữa phòng, chung quanh là ba chiếc ghế gỗ có dựa lưng, ở góc nhà có kê một cái bàn vuông, cô thấy sách báo đầy mặt bàn, cuốn mở, cuốn đóng. Người đàn ông kéo ghế mời Khuê ngồi, ông hỏi:

“Cô dùng một ly nước cam nghe.” 

“Dạ, cám ơn ông.”

Ông bưng ra một ly nước cam, đến trước mặt Khuê, cô đưa tay đón ly nước, vụng về thế nào mà cô cầm cả vào những ngón tay của ông. Ông từ tốn kéo chiếc ghế khác đối diện với cô, hỏi: 

“Cô Khuê là bạn của Donna hả?” 

“Dạ, không.” 

Khuê mở bóp đem lá thư của bà Donna ra. Cô nói một hơi dài (trước khi đưa thư cho ông Stuar) cô không dám ngừng, như sợ sự gián đoạn không nói được hết thì sẽ không bao giờ nói được nữa.

“Thưa, tôi là người nhận trái tim của bà Donna sau khi bà tử nạn xe hơi. Lá thư này là lời dặn của bà Donna cho người được nhận, tôi không biết tôi sẽ phải làm gì cho đúng, tôi chỉ biết việc đầu tiên tôi phải làm là đưa lại lá thư cho ông đọc.” 

Thật sự thì trước khi ở nhà ra đi Khuê biết rõ mình phải làm gì, nhưng từ khi biết Stuar là nhà văn James Plesko thì Khuê mới ở giữa sự chọn lựa.

Người đàn ông đón cái phong bì ở tay Khuê, ông mở thư ra đọc, Khuê kín đáo nhìn sự thay đổi trên mặt ông. Cô thấy cặp lông mày ông hơi nhíu lại, hai con mắt sáng của ông mờ đi như phủ một lớp sương mỏng, khi ông ngửng lên thì chạm phải ánh mắt Khuê đang nhìn ông, cả hai người cùng giữ bình tĩnh chịu đựng cái nhìn của nhau một lúc. Ông hỏi một câu ngoài dự đoán của Khuê: 

“Trái tim của cô bây giờ đập ra sao?” 

Khuê đỏ mặt, trả lời: 

“Thưa ông, khá đều đặn.” 

Ông đứng lên, đặt lá thư lên kệ lò sưởi nói: 

“Cô Khuê ra xem vườn một chút, ở bên ngoài nắng đang lên, ấm hơn.” 

Khuê như một con thỏ ngoan ngoãn đứng lên theo con sơn dương vào rừng. 

Người đàn ông dẫn cô đi khắp vườn, chỉ cho cô tên những loài hoa, phân tách từng loại dâu (berry), chỉ cho cô những rặng núi chung quanh làng, đọc tên núi một cách thân mật như đọc tên những người bạn. Hai người đi hết cả khu vườn, người đàn ông mở cái cổng ở cuối vườn ra, dẫn Khuê bước hẳn ra bên ngoài. Phía trước hai người là một con đường làng dẫn thẳng ra bờ sông Columbia, người đàn ông nói chuyện về con sông như nói về một người tình, mà ông biết rất rõ tính nết bất thường của nàng. Ông nói:

“Hàng năm cứ vào dịp ngày lễ, nghỉ hè nhà trường đóng cửa thì tôi về đây để viết, nhưng bây giờ thì tôi thôi không đi dạy nữa, dọn hẳn về đây. Dòng sông này, con nước này và những cỏ hoa chung quanh nó thay đổi tùy theo mùa mưa, nắng, thời tiết, tôi đều thuộc như chính những thay đổi trên thân thể của tôi, theo tuổi tác. Dãy núi trên cao kia lúc nào thì nó lên tiếng gọi, lúc nào thì nó tham thiền nhập định tôi đều biết rất rõ.” 

Khuê tò mò hỏi:

“Làm thế nào mà ông biết được lúc núi réo gọi?” 

Người đàn ông dừng lại, nhìn vào mắt Khuê: 

“Đó là lúc chính lòng mình réo gọi.” 

Khuê thấy lồng ngực mình rung lên, cô hạ mắt nhìn xuống bụi cỏ dưới chân mình, trái tim cô rạo rực, cô kêu trong cuống họng:

“James Plesko! James Plesko!” 

Những truyện dài, truyện ngắn, những bài thơ cô đọc của ông bỗng hiện ra như những khúc phim quay nhanh trong đầu của cô. Bên cạnh cô người đàn ông này không phải là Stuar của Donna nữa, ông chỉ còn là nhà văn James Plesko mà cô vẫn thầm ngưỡng mộ.

James chỉ tay vào cánh rừng ở bên kia sông: 

“Ngày mai tôi sẽ đưa cô sang bên kia xem rừng, nếu cô còn ở lại đây ít lâu.” 

Khuê trả lời như những người đang ở trong cơn đồng thiếp: 

“Tôi còn ở đây nguyên tuần.”


Suốt một tuần lễ sau đó, ngày nào James cũng đến đón Khuê, ông đem xe Khuê mướn đi trả, dùng xe của mình đưa Khuê đi chơi. James đưa Khuê vào rừng nghe thông nói chuyện, ông đọc tên mỗi loại thông rồi cắt nghĩa cho Khuê hiểu từng đời sống khác nhau của chúng, ông đem theo thực phẩm để Khuê cho sóc, cho thỏ và những con sơn dương ăn, họ đi câu ở hồ Clark Folk, đi kayak dọc theo sông Columbia. Họ đi ra ngoài ngôi làng từ sáng sớm tinh mơ sao mai chưa mọc và chỉ trở về khi mặt trời đã chìm tận đáy lòng sông. James lúc nào cũng bình tĩnh, điềm đạm, ông nhẹ nhàng trong vai trò hướng dẫn, có lúc ông tỏ ra thật nồng nàn thân mật, đôi khi ông xa vắng như không có mặt trong cuộc chơi, ông đối xử với Khuê vừa như một người tình, vừa như một người lạ. Khuê thì như người lạc vào mê hồn trận, hôm nào cô cũng ra đi với một trái tim khiêu vũ và trở về với một trái tim thổn thức, cô quên bẵng mất cái cảm giác bị lừa hôm đầu tiên sau khi đọc thư bà Donna để lại, cô quên cả Thành, cả thành phố có Thành. Cô không nhớ cái tên Stuar Kenholz và Donna Zumwalt, cô quên họ là người yêu của nhau, Khuê chỉ còn biết James Plesko, một nhà văn cô đem lòng ngưỡng mộ từ lâu, là người đàn ông đầy ma lực quyến rũ đang ở bên cô. Đêm đêm trước khi ngủ Khuê nằm yên lặng, lắng nghe tiếng tim đập trong lồng ngực, cô nói thầm một mình, “Trái tim này là trái tim của chính ta, nó đang đập vì nó biết yêu và nó được yêu. Trái tim của Donna đã chết theo Donna.” Và cũng trong suốt tuần lễ ở bên nhau, không bao giờ James nói đến chuyện tình của ông và Donna cho Khuê nghe, không bao giờ ông kể tại sao yêu ông khi đến chết, vẫn còn yêu mà khi sống bà Donna lại không dọn về ở với ông, lý do nào hai người yêu nhau mà lại ở xa nhau cả mấy trăm dặm, những nơi chốn ông đang đưa Khuê đến có phải là những địa điểm hò hẹn đón đưa cũ của hai người không? Tại sao với Donna ông lại có tên là Stuar Kenholz, cậu thanh niên ở California con của Donna có phải là trở ngại chính cho hai người, và bao lâu thì Stuar và Donna mới được gặp nhau một lần? Điều Khuê muốn biết nhất là: cái điều kiện khi bà Donna cho tim ghi trên giấy bắt người phụ nữ nhận tim của mình phải thay mình đến với ông, ông có được biết trước không? James không nói và Khuê không dám hỏi. Cô không muốn nhắc đến lá thư đó, vì trước đây cô đã tức giận cho rằng cô bị bà Donna lừa mình dưới hình thức một hành động nhân đạo thì bây giờ cô lại thấy cô may mắn được là nạn nhân của bà. Vì nếu không nhận trái tim của bà thì làm sao cô có cơ hội biết đến James Plesko. Tất cả những câu hỏi trên trong những ngày đầu nó cứ xoay tròn trong óc Khuê khi hai người đi chơi với nhau, dần dần nó mờ nhạt và biến mất, Khuê không muốn nghĩ đến gì cả, trước mắt cô chỉ còn lại hai người: Nhà văn James Plesko và Khuê. Ngôi làng Trouk Creek, dòng sông Columbia, cái hồ mang tên Clark Folk, sao mai, sao hôm đang nghe cùng một lúc hai nhịp đập yêu đương của hai người đàn bà trong một trái tim nhỏ. Donna mượn lồng ngực của Khuê để mang trái tim của mình đến với Stuar, hay Khuê mượn trái tim của Donna để rung động với James, làm sao phân biệt được. Có lẽ chỉ có người mang hai cái tên một lúc là biết ông ta đang làm gì. Ông còn yêu trái tim ở trong lồng ngực đó hay ông bắt đầu yêu cái lồng ngực thanh xuân đang mang trái tim đó?


James tiễn Khuê ra phi trường, suốt dọc đường cả hai cùng yên lặng. James nhìn thẳng đằng trước, Khuê không biết ông nghĩ gì, chỉ thấy gương mặt ông xa vắng, ánh mắt ông lạnh lẽo, còn Khuê thì trái tim quặn thắt, cô giơ tay áo lên để giấu một giọt lệ vừa ứa ra ở khóe mắt, James quay sang cô hỏi, câu hỏi giống như câu đầu tiên sau khi ông đọc lá thư của bà Donna. 

“Trái tim của cô bây giờ đập ra sao?” 

Khuê không trả lời, cô bật khóc thành tiếng, James rút chiếc khăn tay trong túi ra đưa cho cô, nói dịu dàng: 

“Em lau nước mắt đi.” 

Cả hai im lặng cho đến phi trường, James gửi hành lý, ghi vé cho Khuê, trước khi Khuê bước vào máy bay, James ôm lấy vai Khuê nói vào tai cô: 

“Anh mong em trở lại, sống với anh.” 

Khuê rung lên vì xúc động, cô gục đầu vào vai James như con thỏ nhỏ ngã vào con sơn dương, cô nói trong nước mắt: 

“Em sẽ trở lại với anh, vĩnh viễn.”  

James ngửa mặt nhìn chiếc máy bay mang Khuê mất hút trên cao, ông nói với đám mây: 

“Donna, em là người đàn bà rất thông minh, cuối cùng em cũng thu xếp được trái tim em đập cạnh anh. Cám ơn em! Cám ơn em!”

 

Trần Mộng Tú

Issaquah, tháng 12/96

(*) Organ Donnor: người hiến những bộ phận cơ thể mình sau khi chết. 

(*) DMV: văn phòng cấp bằng lái xe, thẻ căn cước.

Tranh: Weaving của Shin Jooeun, South Korea 

Acrylic on Fabric- 24 W x 28.3 H in


Trái tim cho mượn | Diễn đàn Câu lạc bộ Văn đoàn Độc lập Việt Nam