|
Look
down at your keyboard. Right now. Around 100 keys are staring back at you.
They aren’t equal. We’ve got numbers for this. A software engineer named
Daniel Stenberg logged every single keystroke he made for an entire year. The
grand total: 6.76 million key presses. |
|
Which one took the crown as the most-pressed key? A) The letter E, B) Enter, C) The space bar or D) Backspace? ⬇️ ⬇️ The
answer: C) The space bar. In that yearlong study, the space bar
racked up about 10% of ALL key presses, and in everyday writing, estimates
run even higher. Makes sense. Roughly every fifth or sixth character you type
is a space. |
Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Thursday, August 20, 2026
Busiest Key On Keyboard
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: "Nhìn Quân Phục Biết Tư Cách" - Đệ Nguyễn
Hình của Bộ thông tin VNCH
Trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, người Quân
Nhân không được đánh giá trước hết bằng lời nói, mà bằng tác phong. Tác phong ấy
biểu lộ qua quân phong, quân kỷ, qua cách đứng, cách đi, cách chào kính và nhất
là qua bộ Quân Phục đang mặc trên người.
Bởi vậy, từ lâu trong quân ngũ đã lưu truyền
một câu nói rất ngắn gọn nhưng hàm chứa cả một nền Giáo Dục Quân Sự: “Nhìn quân
phục biết tư cách.” Câu nói ấy không nhằm ca ngợi vẻ đẹp bên ngoài của bộ Quân
Phục, mà muốn nhắc nhở rằng bộ Quân Phục phản ảnh nhân cách, kỷ luật và danh dự
của người đang khoác nó.
Đối với người quân nhân, quân phục không phải
là y phục thường nhật. Đó là Quốc Phục của người cầm súng bảo vệ Tổ Quốc, là biểu
tượng của lời thề trung thành với Quốc Gia, với Hiến Pháp và với Nhân Dân miền
Nam Tự Do. Vì vậy, ngay từ ngày đầu bước chân vào Quân Trường hay những Trung
Tâm Huấn Luyện, điều đầu tiên mỗi khóa sinh được học không phải là sử dụng vũ
khí, mà là cách mặc Quân Phục cho đúng phép.
Một chiếc nón đội ngay ngắn, cổ áo cài kín,
dây nịt thẳng hàng, giày đánh bóng, quân phục được ủi phẳng phiu… tất cả đều
nói lên tinh thần tự trọng của người lính. Người Chỉ Huy thường dạy rằng:
“Không biết sửa mình thì không thể chỉ huy người khác.” Chính vì vậy, việc kiểm
soát Quân Phục luôn được thực hiện mỗi ngày trước giờ điểm danh hay trước khi
xuất quân. Trong quân đội, mọi người đều bình đẳng trước quân kỷ.
Quân Phục của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được
quy định rõ ràng cho từng hoàn cảnh sử dụng: Quân Phục Tác Chiến, Quân Phục Thường
Nhật, Quân Phục Dã Chiến và Quân Phục Đại Lễ. Mỗi loại đều có quy cách riêng, từ
chiếc nón, cà vạt, giày, dây biểu chương cho đến vị trí gắn cấp hiệu và huy
chương. Người quân nhân tuyệt đối không được tự ý sửa đổi kiểu mẫu hay đeo thêm
những vật không đúng quy định. Kỷ luật bắt đầu từ những điều nhỏ nhất.
Điều nổi bật nhất trên quân phục là cấp bậc.
Chỉ cần nhìn vào cầu vai hay cổ áo, người ta biết ngay quân nhân ấy đang giữ
trách nhiệm gì trong Quân Đội.
Thường thì một Binh Nhì hay Binh Nhất là những
chiến sĩ trực tiếp nơi tuyến đầu. Hạ Sĩ Quan là xương sống của đơn vị, trực tiếp
huấn luyện và dìu dắt binh sĩ. Các cấp Sĩ Quan chỉ huy từ Trung Đội, Đại Đội,
Tiểu Đoàn cho đến những đơn vị lớn hơn.
Trong Quân Đội, không ai kính trọng cấp bậc
chỉ vì quyền hành. Điều đáng kính chính là Trách Nhiệm mà cấp bậc ấy đang gánh
vác. Càng mang nhiều “Hoa Mai” hay nhiều “Sao” trên vai, người Chỉ Huy càng phải
sống gương mẫu hơn, hy sinh nhiều hơn và chịu trách nhiệm lớn hơn trước Quân Đội
và Quốc Gia.
Người Sĩ Quan được giáo dục rằng phải biết thương
yêu thuộc cấp như em ruột của mình. Ngược lại, binh sĩ kính trọng cấp Chỉ Huy
vì tin tưởng nơi sự công bằng, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của người
Lãnh Đạo.
Nếu cấp bậc là biểu tượng cho trách nhiệm thì
huy hiệu Binh Chủng là niềm hãnh diện của mỗi người lính.
Người Thủy Thủ Hải Quân mang chiếc mỏ neo tượng
trưng cho sức mạnh làm chủ biển cả.
Người lính Không Quân mang đôi cánh bạc vươn
lên bầu trời Tự Do.
Binh sĩ Nhảy Dù hãnh diện với cánh dù biểu tượng
cho tinh thần xông pha vào nơi hiểm nguy nhất.
Quân nhân Thủy Quân Lục Chiến mang phù hiệu đầy
khí phách của lực lượng tác chiến đổ bộ tinh nhuệ luôn có mặt nơi chiến trường
khốc liệt.
Các chiến sĩ Biệt Động Quân với biểu tượng Đầu
Cọp, bày tỏ cho lòng dũng cảm và khả năng tác chiến lưu động.
Binh Chủng Thiết Giáp, Pháo Binh, Truyền Tin,
Quân Vận, Công Binh, Quân Y… mỗi Binh chủng đều có huy hiệu riêng, nhắc nhở
Quân Nhân về truyền thống của đơn vị mình.
Đó không chỉ là dấu hiệu để nhận biết.
Đó là niềm tự hào.
Là lời hứa phải giữ gìn thanh danh của Binh
Chủng mà mình đang phục vụ.
Mỗi huy hiệu đều mang theo truyền thống của cả
một Binh Chủng. Người lính luôn giữ gìn danh dự của huy hiệu ấy như giữ gìn
chính danh dự của mình.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nổi tiếng về quân
phong quân kỷ.
Ra đường trong bộ quân phục, người quân nhân
không được hút thuốc khi đang đi, không bỏ tay vào túi quần, không nói năng thô
tục, không gây gổ nơi công cộng, không lợi dụng quân phục để tạo đặc quyền cho
cá nhân.
Khi gặp cấp trên, quân nhân phải đứng nghiêm,
chào kính đúng điều lệnh. Khi Quốc Kỳ được kéo lên hay Quốc Ca cử hành, tất cả
đều quay mặt về phía Quốc Kỳ, đứng nghiêm và chào theo đúng lễ nghi quân cách.
Trong doanh trại, mọi sinh hoạt đều đúng giờ.
Tiếng kèn báo thức, giờ điểm danh, giờ huấn luyện, giờ cơm, giờ giới nghiêm… tất
cả đều được tuân hành nghiêm chỉnh. Người lính học cách tôn trọng thời gian trước
khi học cách chiến thắng ngoài chiến trường.
Chào kính trong Quân Đội không phải là hình
thức xã giao.
Người quân nhân chào Quốc Kỳ trước hết.
Kế đến là chào cấp trên.
Sau nữa là chào những Quân Kỳ của đơn vị.
Đó là cách biểu lộ lòng tôn trọng đối với Quốc
Gia, Quân Đội và trách nhiệm quân vụ.
Ngay cả khi gặp nhau giữa chiến trường, nếu
hoàn cảnh cho phép, quân nhân vẫn thực hiện động tác chào kính đúng điều lệnh.
Đó là nét đẹp của Quân Đội có tổ chức và kỷ luật. Nhiều người ngoài quân đội
thường nghĩ cấp bậc là biểu tượng của quyền hành. Nhưng đối với người lính, cấp
bậc trước hết là gánh nặng trách nhiệm. Vì thế, khi người quân nhân đưa tay
chào cấp trên, anh không chào một con người, mà chào chức vụ và trách nhiệm mà
Quốc Gia đã trao cho vị Chỉ Huy ấy.
Hình của Đinh Trọng Vũ sưu tầm
Trên ngực áo của nhiều quân nhân là những
hàng huy chương và dây biểu chương.
Đó không phải là đồ trang sức.
Mỗi tấm huy chương đều được đổi bằng công
lao, mồ hôi, nước mắt, và nhiều khi bằng cả xương máu.
Anh Dũng Bội Tinh được trao cho những hành động
can đảm trước quân thù.
Chiến Thương Bội Tinh ghi nhận những thương
tích người lính đã chịu trong lúc chiến đấu vì Tổ Quốc.
Quân Phong Bội Tinh dành cho những quân nhân
có tinh thần phục vụ mẫu mực, giữ gìn quân phong quân kỷ và hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ.
Ngoài ra còn có Bảo Quốc Huân Chương, một trong
những phần thưởng cao quý nhất của Quốc Gia dành cho những cá nhân lập công đặc
biệt hoặc có công lao lớn đối với đất nước.
Bên cạnh đó còn có các huy chương chiến dịch,
huy chương phục vụ lâu năm và nhiều loại tưởng thưởng khác dành cho từng công
trạng cụ thể.
Điều đáng quý là người quân nhân chân chính
không bao giờ chiến đấu để tìm huy chương. Họ chỉ làm tròn bổn phận. Khi được
tưởng thưởng, họ xem đó là niềm vinh dự dành chung cho đơn vị và những đồng đội
đã cùng sát cánh chiến đấu.
Một quân nhân làm điều tốt sẽ làm vẻ vang cả
đơn vị.
Ngược lại, một người vi phạm quân kỷ cũng làm
ảnh hưởng đến danh dự của cả Binh Chủng.
Bởi vậy, trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,
hai tiếng Danh Dự luôn được đặt lên hàng đầu.
Người lính Hải Quân luôn cố gắng xứng đáng với
truyền thống của những Chiến Hạm từng tung hoành trên biển Đông.
Người lính Nhảy Dù luôn nhớ đến những đàn anh
và đồng đội đã hy sinh trên các chiến trường.
Người lính Thủy Quân Lục Chiến luôn tự nhắc
mình không được làm điều gì phương hại đến màu cờ của Binh Chủng.
Tinh thần ấy tạo nên sự gắn bó giữa đồng đội.
Họ khác quê quán, khác nghề nghiệp, khác tôn giáo, nhưng khi cùng khoác chung
màu áo, cùng đứng dưới một Quân Kỳ, họ xem nhau như anh em ruột thịt. Trong
quân ngũ, người ta chia nhau từng ngụm nước, từng điếu thuốc, từng khẩu phần
lương khô và cũng sẵn sàng lấy thân mình che chở cho đồng đội giữa lằn tên mũi
đạn.
Sau năm 1975, nhiều quân nhân không còn giữ
được bộ quân phục năm xưa. Có người chỉ còn chiếc nón trận đã bạc màu, một bộ cấp
bậc trên cầu vai cũ, một chiếc huy hiệu Binh Chủng hay vài tấm huy chương được
cất kỹ.
Nhưng mỗi lần nhìn lại những kỷ vật ấy, họ không
nhớ đến quyền lợi hay chức vụ, mà nhớ đến những người bạn đã nằm xuống, những
buổi điểm danh còn thiếu tên người vừa hy sinh, những lá thư nhà còn dang dở
trong ba lô. Nhớ đến những ngày cùng đồng đội giữ đồn, tuần tra trên sông, hành
quân giữa rừng sâu hay lênh đênh trên biển cả. Họ nhớ lời tuyên thệ dưới Quốc Kỳ
và nhớ một thời tuổi trẻ đã hiến dâng cho lý tưởng bảo vệ miền Nam Tự Do.
Bộ Quân Phục có thể cũ theo thời gian, nhưng
danh dự mà nó tượng trưng thì không bao giờ cũ.
Đó là điều mà nhiều cựu Quân Nhân vẫn cố gắng
truyền lại cho con cháu: Hãy sống ngay thẳng, giữ chữ tín, biết tôn trọng kỷ luật
và làm tròn bổn phận trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Bởi lẽ, giá trị lớn nhất của Quân Phục không
nằm ở màu vải, cũng không nằm ở cấp hiệu hay huy chương, mà nằm ở nhân cách của
người mặc.
Ngày nay, dù thời cuộc đã đổi thay, giá trị của
câu nói “Nhìn quân phục biết tư cách” vẫn còn nguyên ý nghĩa. Bởi bộ Quân Phục
chỉ thật sự đẹp khi người mặc biết giữ gìn danh dự; cấp bậc chỉ thật sự cao quý
khi đi đôi với trách nhiệm, huy hiệu chỉ có giá trị khi người mang nó sống xứng
đáng với truyền thống của Binh Chủng. Còn huy chương chỉ thật sự vẻ vang khi được
đổi bằng lòng trung thành, sự hy sinh và tinh thần phục vụ vô vị lợi.
Đó chính là nét đẹp của người Quân Nhân Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa, lấy danh dự làm sự nghiệp, lấy kỷ luật làm sức mạnh, lấy
trách nhiệm làm bổn phận, lấy Tổ Quốc làm lý tưởng và lấy tình đồng đội làm nguồn
sống. Vì thế, chỉ cần nhìn vào bộ quân phục của họ, người ta không chỉ thấy một
người lính, mà còn thấy một tư cách, một truyền thống và một tinh thần bất khuất
đã làm nên Danh Dự của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Cho nên, câu nói “Nhìn quân phục biết tư cách”
không chỉ là một lời nhận xét về dáng vẻ bên ngoài, mà còn là một triết lý sống
của người Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa. Quân Phục có thể làm cho một người trở
nên oai nghiêm trước mắt mọi người, nhưng chỉ có Tư Cách, Quân Phong và Danh Dự
mới làm cho người Quân Nhân được kính trọng lâu dài. Đó chính là di sản tinh thần
quý báu mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã vun đắp, để lại cho các thế hệ mai sau
như một tấm gương về Trách Nhiệm, Kỷ Luật và lòng Tận Trung đối với Tổ Quốc.
Đệ Nguyễn
Nguồn: https://www.facebook.com/groups/1118030728390893
Anh Phước chuyển
Wednesday, August 19, 2026
Ba Thứ Kiwi - Đoàn Xuân Thu
Có một đất nước bé xíu nằm lủng lẳng trên Thái
Bình Dương, cách Úc 2230 km một khúc biển rộng bằng mấy ngày lênh đênh
tàu cá. Người ta gọi nó là New Zealand, mà dân bản xứ thì gọi thân thương hơn:
Aotearoa – “vùng đất của dải dài mây trắng”.
Ừ thì cũng được, nghe văn thơ và lãng mạn như
câu hò của xứ quê mình. Nhưng người ngoại quốc thì không cần dài dòng. Họ gọi tất
cả bọn họ bằng một chữ duy nhất: Kiwi.
Nghe tới đây, người Việt mới băn khoăn: “Ủa
kiwi là trái cây mà? Sao lại gọi người ta là trái cây? Mà trái kiwi có phải là…
trái cây đặc sản New Zealand không?”
Rồi còn con chim kiwi, chim mà không biết bay,
chân ngắn, bụng bự, đi lạch bạch như mấy chú vịt xiêm mới lớn. Vậy rốt cuộc,
kiwi là trái, là chim, hay là người?
Thôi thì bữa nay, ta kể cho rành ba thứ kiwi:
trái chua, chim mập, người hiền.
1. Trái Kiwi – chua chua ngọt ngọt như trái thơm của quê mình.
Trái kiwi, lần đầu tiên tôi thấy là trong siêu thị Coles của Úc ở Footscray –
nó nằm gọn gàng trên khay, vỏ nâu nâu, lông lưa thưa. Ai chưa quen chắc ngán ngẩm,
tưởng trái cây hỏng. Nhưng cắt ra bên trong, ruột xanh mướt như lá non, có mấy
chấm hột đen tí xíu như hột é.
Ăn thử thì vị chua ngọt thanh thanh, mát rượi
cổ họng. Mấy chị người Việt bán trái cây thường bảo: “Ăn kiwi đẹp da, sáng mắt,
khỏi lo táo bón!” Nghe xong, bà nội trợ nào mà không xiêu lòng?
Điều thú vị là trái kiwi không phải gốc New
Zealand. Nó bắt nguồn từ… Trung Quốc, tên gốc là Dương Đào. Nhưng tới tay người
Kiwi, được trồng kỹ càng, chăm sóc chu đáo, nó đổi tên luôn thành “kiwi” – như
thể dân xứ này nhận nuôi, cho ăn học đàng hoàng rồi đặt họ theo mình.
Từ đó, trái kiwi trở thành mặt hàng xuất khẩu
chiến lược. Ai ăn trái kiwi ngon ở đâu đó trên thế giới mà không biết tới New
Zealand là… thiếu hiểu biết!
Trái Kiwi
2. Chim Kiwi – là chim nhưng không biết bay. Nói về con chim kiwi,
mới thiệt là quái lạ. Trong khi thiên hạ đều có cánh, có lông vũ óng ánh, có giọng
hót véo von, thì chim kiwi lại không biết bay, không đuôi, không sắc sảo, cũng
không biết gáy sớm như gà trống quê mình. Nó đi lòng vòng trong bụi rậm, mắt
kém, mũi to, ngửi rất giỏi, và… bới đất siêu hạng.
Người New Zealand quý con chim này lắm, coi
như linh vật quốc gia. Ai dám đụng tới chim kiwi là… không yên với cả nước. Ở mấy
viện bảo tàng hay công viên quốc gia, họ làm chuồng tối om, bắt du khách đi nhẹ,
nói khẽ, thở khều khều để khỏi làm chim kiwi giật mình. Chăm như chăm baby chưa
ăn đầy tháng.
Chim kiwi chỉ sống ở New Zealand. Nó như ông
lão trong chuyện cổ tích – lù khù nhưng bền bỉ, hiền lành nhưng không đầu hàng
hoàn cảnh. Dân Kiwi thương chim kiwi, một phần vì thấy hình ảnh chính mình
trong đó – nhỏ bé, thầm lặng, nhưng cứng đầu không chịu thua ai.
3. Người Kiwi – hiền hòa, không nổ bậy, không nóng nảy. Giờ ta nói
tới người Kiwi, tức là dân New Zealand. Cái tên “kiwi” để gọi người bắt đầu từ
Thế chiến thứ Nhất khi lính New Zealand ra trận chung với lính Úc, lính Anh. Tụi
nó cùng ông cố nội nên không khác nhau mấy. Để dễ phân biệt, người ta gọi lính
Úc là Aussie, còn lính New Zealand là… Kiwi – lấy theo con chim biểu tượng quốc
gia. Không ngờ cái biệt danh thân mật ấy dính luôn tới ngày nay, đến nỗi dân
New Zealand tự nhận mình là Kiwi một cách đầy tự hào. Họ còn in hình chim kiwi
lên tiền, lên tem, lên mũ bảo hiểm. Có nơi còn đặt tên quán là “The Happy Kiwi”
hay “Kiwi Café” nữa kìa.
Về tính cách, người Kiwi hiền hơn người Úc,
nói năng nhỏ nhẹ, không khoe khoang, không nổ, không nói “chuyện lớn tiếng”. Họ
yêu thiên nhiên, chuộng công bằng, và cực kỳ kỵ phân biệt chủng tộc.
Nếu hỏi một người Kiwi: “Mày Úc hay Kiwi?” –
đảm bảo họ sẽ trả lời một cách rõ ràng, không giỡn mặt: “Tôi là Kiwi!”
Một đất nước, ba nghĩa
Kiwi
Trái kiwi, gốc Trung Hoa nhưng lớn lên ở xứ
Đông so với Úc; xứ Đoài (so với Los Angeles) mây trắng lắm, trở thành
trái cây toàn cầu.
Chim kiwi, không biết bay nhưng sống dai, trở
thành biểu tượng tinh thần.
Người Kiwi, hiền lành, không khoe mẽ, sống chậm
mà chắc, trở thành thương hiệu quốc gia.
Ba chữ kiwi, ba chuyện khác nhau, nhưng cùng gom lại thành một hình ảnh: New Zealand – nhỏ mà không nhỏ nhen, nhỏ mà có võ, bé mà không yếu ớt, khiêm tốn nhưng không hèn.
Nếu có dịp ghé xứ Kiwi, bạn hãy thử ăn một trái
kiwi chính hiệu, đi dạo trong rừng đêm để nghe chim kiwi lục lọi, và dừng chân
bên một quán nhỏ để trò chuyện cùng người Kiwi. Có thể bạn sẽ nhận ra rằng:
không cần ồn ào, không cần nổi bật, chỉ cần chân thành – cũng đủ để người ta nhớ
mãi Kiwis.
Đoàn Xuân Thu
Nguồn: https://baotreonline.com/van-hoc/phiem/ba-thu-kiwi.baotre
Phụ Nữ Sinh Ra Vốn Là Hoa Tươi Ngọc Sáng, Nhưng Vì Đâu Mà Hoa Tàn Ngọc Nát?
Phụ nữ sinh ra vốn là hoa tươi ngọc sáng, nhưng vì đâu mà hoa tàn ngọc nát?
Thế nên vẻ đẹp thực sự của người phụ nữ nằm ở hương vị chứ không phải sắc đẹp bên ngoài, giá trị người phụ nữ cũng chẳng phải ở vẻ ngoài mà là ở nét đẹp hàm dưỡng bên trong
Phụ nữ sinh ra vốn như
hoa tươi ngọc sáng, đáng được yêu thương trân trọng. Tuy nhiên có rất nhiều
người lại phải trải qua những ngày tháng hoa tàn ngọc nát mà chẳng hiểu vì sao…
Sông ngắn dài đều có nguồn để chảy, thuyền xuôi ngược đều có bến mà về, tình yêu nông sâu có khởi nguồn của cảm xúc, và vấn đề nào cũng có lời giải cho riêng mình.
Ngọc thì có trăm kiểu nghìn loại, hoa lại có vạn sắc triệu hương, quan trọng chính là bản thân chúng ta muốn trở thành loại hoa như thế nào để người đời nâng niu trân trọng.
Hoa mà có sắc không hương, khác chi phấn đỏ không màu ai yêu? Hoa không hương ong chường bướm chán, phấn không màu ngao ngán người tô.
Và phụ nữ cũng như vậy, muốn được người thương kẻ nhớ, muốn được trân trọng nâng niu, ắt phải biến mình thành thứ hoa thơm, phấn đỏ. Tuy nhiên hoa cũng có cánh đủ màu, hương cũng có hương nồng hương nhạt đủ điều khác nhau. Có câu: “Càng thắm thì càng dễ phai, thoang thoảng hương nhài mà lại thơm lâu”.
“Càng thắm thì càng dễ
phai, thoang thoảng hương nhài mà lại thơm lâu”.
Càng thắm thì càng dễ
phai, thoang thoảng hương nhài mà lại thơm lâu”. (Ảnh: Shutterstock)
Vạn cổ xưa nay, tất cả những người theo đuổi vẻ đẹp bề ngoài đều chỉ là thứ hoa tuy nồng mà không thắm, có sắc mà chẳng có hương. Ngược lại những người phụ nữ trọng hương khinh sắc thì cái thứ hương kia nếu một ai đó đã say hương nhớ vị thì cả đời cũng chẳng thể quên.
Nói về hương thơm cũng chính là nói về nhân phẩm và khí chất của người phụ nữ. Lịch sử luôn là bài học, là tấm gương đáng giá nhất cho mỗi người chúng ta học hỏi.
Liệt nữ truyện – Biện thông kể rằng, vào thời Chiến Quốc, ở Vô Diệm Ấp nước Tề có một người con gái tên gọi Chung Ly Xuân, tướng mạo vô cùng xấu xí, trán cao, mắt sâu, lưng dài, chân thô, vai gù, da đen đúa…
Chung Ly Xuân tuổi đã 40 mà không gả được cho ai, tuy nhiên nàng không vì thế mà lấy làm buồn rầu, ngược lại nàng không ngừng tu dưỡng nhân phẩm và đức hạnh của mình. Sau này Tề Tuyên Vương thay vì lập những giai nhân xinh đẹp làm hoàng hậu, ông lại cảm mộ tài đức của nàng mà đích thân rước nàng vào cung làm hoàng hậu, trở thành bậc mẫu nghi thiên hạ.
Hay như Hoàng Nguyệt Anh, tương truyền bà có dung mạo cực kỳ xấu xí, được liệt vào một trong năm nhân vật xấu nhất Trung hoa - Ngũ Xú Trung Hoa. Nhưng Hoàng Nguyệt Anh lại có trí tuệ và đức hạnh hơn người, trở thành vợ của bậc kỳ tài thiên cổ Gia Cát Lượng. Bà là người vợ tài đức vẹn toàn được người người kính nể, cũng là người góp không ít công lao giúp Gia Cát Lượng thành công trên con đường sự nghiệp của mình.
Nếu phụ nữ chỉ dựa vào dung nhan hay vẻ đẹp bên ngoài, thì thứ đạt được cũng như bọt nước phù vân. Hoa tàn hương hết cũng là lúc bọt tan theo nước, mây trôi theo gió, tình tàn theo hoa.
Thế nên vẻ đẹp thực sự
của người phụ nữ nằm ở hương vị chứ không phải sắc đẹp bên ngoài, giá trị người
phụ nữ cũng chẳng phải ở vẻ ngoài mà là ở nét đẹp hàm dưỡng bên trong. Tương
tự, một người đàn ông chọn vợ vì sắc chứ không vì hương vị, không vì nhân phẩm,
thì kiểu đàn ông đó thật chẳng đáng để cho phụ nữ chúng ta trao thân gửi phận,
lấy rồi cũng như đánh bạc canh khuya, hạnh phúc ngoài tầm tay với.
Dưới đây là đôi nét tạo lên hương vị của một người phụ nữ đẹp chân chính, mong rằng mỗi chị em ta đều có đủ đầy những đức hạnh này:
Bao dung
Cổ nhân thường nói: “Nhân vô thập toàn”, đã là con người thì không thể tránh những sai lầm trong cuộc sống, đặc biệt là trong xã hội xô bồ hiện nay. Đàn ông bước chân vào xã hội ít nhiều đều có vấp ngã, cho nên là một người vợ, người mẹ, điều quan trọng chính là cần biết bao dung cho sai lầm của người khác.
Bao dung không chỉ là
liều thuốc an thần xoa dịu mọi nỗi đau của chính mình mà còn là sự cảm hoá
những tâm hồn tội lỗi.
Một người vợ, người mẹ, điều quan trọng chính là cần biết bao dung cho sai lầm của người khác.
Với một người vợ, người mẹ, điều quan trọng chính là cần biết bao dung cho sai lầm của người khác. (Ảnh: Shutterstock)
Nhẫn nại
Với vai trò là con, là vợ, là dâu, và là mẹ, phụ nữ cần phải học cách nhẫn nại nếu không muốn mọi chuyện rối tinh. Người phụ nữ có vai trò vô cùng quan trọng, là người dung hòa các mối quan hệ trong gia đình.
Nhẫn nại không chỉ là một đức tính tốt mà còn thể hiện một người có hàm dưỡng hay không. Không biết nhẫn nại, phụ nữ không thể quản trị gia đình, dạy dỗ con cái, điều hòa các mối quan hệ.
Dịu dàng
Đã là phụ nữ thì không thể thiếu đi sự dịu dàng. Dịu dàng còn là bộ y phục mỹ lệ nhất của người phụ nữ. Khoác lên mình chiếc áo “dịu dàng”, người phụ nữ có thể đem đến một cảm giác hạnh phúc, êm ái, đem đến cho gia đình hương thơm, mật ngọt bất chấp cuộc đời có phong ba bão táp.
Thiện lương
Thiện lương vốn dĩ là một phẩm đức quý giá của con người, cũng là sức mạnh tiềm ẩn vô biên mà bẩm sinh mỗi người khi sinh ra đều có. Trong bất kể hoàn cảnh khó khăn nào, người phụ nữ hãy cứ kiên trì thiện lương, nhân ái. Khi biết yêu thương người khác, ta mới có thể được sống trong vòng tay ấm áp của tình người. Vì mầm lành thiện lương gieo xuống sẽ cho gặt quả phúc báo.
Làm người, sống thiện
lương khó hơn rất nhiều so với thông minh, khôn lỏi. Vì thông minh là một loại
thiên bẩm còn lương thiện lại là lựa chọn.
Minh Vũ
Chúng Ta Tự Hào Vì Điều Gì?
Chúng ta tự hào vì điều gì?
Người ta đi hoài, đi miết, rồi chợt khựng lại bởi một câu cửa miệng nghe tới mòn tai: “Tự hào là người Việt Nam”.
Lạ kỳ, đi qua mấy xứ Anh, Đức, Pháp, Mỹ, hiếm khi nghe người ta hô câu đó. Họ có thể mang trong mình cái kiêu hãnh ngầm, cái tự tôn ăn sâu vô máu tủy, nhưng họ không có gào lên cho thiên hạ nghe.
Còn mình, ngó lại coi, mình đang tự hào về cái gì?
Nếu nói về chiến tranh, lòng can trường, dân tộc nào xưa nay chẳng có những cuộc can qua khốc liệt, có khi còn kinh điển hơn, mất mát hy sinh gấp bội.
Còn nói về tư tưởng lớn, đặt những bậc hiền triết xứ ta như Lê Quý Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm bên cạnh Plato hay Socrates, nói thiệt lòng, như ngọn đèn dầu đứng cạnh thái dương.
Về tài năng kiệt xuất cỡ Leonardo da Vinci, Newton, Einstein hay Tesla, mình ngó tới muôn đời cũng không thâý ai khả dĩ để mà ví nữa, đừng nói tới so kè.
Những khám phá vĩ đại về lịch sử nhân loại, những cống hiến làm thay đổi thế giới, mình đóng góp bằng không.
Ngó sang người láng giềng Trung Hoa, họ còn có Khổng Tử, Lão Tử, còn có phát minh ra kỹ thuật làm giấy trong tứ đại phát minh làm nền tảng cho văn minh loài người.
Còn mình, ngoài việc tự ru ngủ nhau trong mấy cơn mộng mị, thì tới giờ vẫn gánh chịu nỗi đau chảy máu chất xám, đem sức vóc làm thuê nơi xứ lạ, và mỗi năm vẫn loay hoay với "dềnh nước" mà Thủy Tinh vì cái hận năm xưa tạo ra.
Đau nhứt là cái sự ngạo nghễ dường như đang làm người ta lầm tưởng mình là hiện thân của những điều cao quý, nhưng thực chất chỉ là lớp vỏ bọc che đậy sự mâu thuẫn bên trong.
- Người ta có thể thức trắng đêm mạt sát nhau vì hai cầu thủ đá banh bên Tây, rớt nước mắt dài sọc thương xót cho những phận đời ở tận Palestine. Nhưng ngay trên đất mình, khi mấy đứa nhỏ bị bạo Iực học đườg thì không ai dám lên tiếng, thấy ngư dân bám biển chịu khổ thì lại dửng dưng coi như chuyện thiên hạ.
- Ngược xuôi sẵn sàng đứng xếp hàng từ canh ba chờ mua đồ giảm giá của tư bản, nhưng về tới ngã tư đường nhà mình thì so kè từng centimét, đèn đỏ chưa nhảy tới số 0 đã rú ga vọt đi.
- Sẵn sàng kéo đàn kéo lũ tổng tấn công một ai đó trên không gian ảo chỉ vì một vệt màu cờ cũ trong khung hình, nhưng lại cúi đầu im lặng trước những điều khuất tất đang trực tiếp đè nặng lên chén cơm áo mặc của mình mỗi ngày.
- Ngày đêm bài xích tư bản, giễu dở văn minh phương Tây, nhưng chốn đầu tiên mơ tới khi làm Visa lại là xứ họ, gom góp chắt chiu cả đời cũng là để gửi con vô trường quốc tế, xài đồ Âu Mỹ.
- Mở miệng ra là bắt người này làm từ thiện, người kia phải cống hiến, trong khi bản thân thì vơ vét từng đồng không để lọt ra ngoài.
Người ta hay thao thao bất tuyệt về mấy ngàn năm văn hiến, về lòng hiền hòa yêu chuộng hòa bình, nhưng lại hào hứng và ngất ngây trước những thứ thô bạo, dung tục nhứt trên mạng xã hội; chỉ vì nó giải tỏa được cái cơn khát ức chế và sự hèn nhát dồn nén trong lòng.
Người ta thích dán nhãn "Tây nội địa, tự nhục" để miệt thị những ai khác biệt góc nhìn với mình.
Nhưng ngẫm lại coi, mình là gì khi sống giả tạo, miệng nói một đàng tâm làm một nẻo?
Gieo mình vô giấc mơ ngạo nghễ thì dễ, nhưng thức tỉnh để chấp nhận sự thiệt mới khó.
Đừng quy chụp nữa, biết sống tử tế hơn mới là góp phần xây dựng quốc gia.
Cư sĩ Hắc ám.
(2) Mặc Nhiên Cư Sĩ - Chúng ta tự hào vì điều gì? Người ta đi hoài,... | Facebook
Tuesday, August 18, 2026
Ngài Viện Sĩ - Võ Nhật Thủ
Ngôi trường làng Khuê
Lãnh hôm nay như mở hội. Bởi trường có một sự kiện trọng đại: Đón ngài viện sĩ
từ Anh quốc về thăm trường và khánh thành phòng Lab tiếng Anh do chính ngài tài
trợ.
Mới hơn 6 giờ sáng mà sân trường đã nhộn nhịp. Đội học sinh danh dự duyệt lại đội ngũ lần cuối cùng. Đội trống ếch, tổ dâng băng khánh thành đã sắp xếp đâu vào đó. Một bục sân khấu được dựng lên trước phòng hiệu trưởng, trên nền phông màu đỏ được cắt câu chào mừng trịnh trọng màu trắng:
CHÀO MỪNG NGÀI VIỆN SĨ HOLEY LEE VỀ THĂM TRƯỜNG
Bên dưới là câu tiếng Anh:
“Welcome Mr Holey Lee, The academicians visiting the school!”
Phía trước bục sân
khấu được bố trí dãy ghế danh dự bọc nhung đỏ dành cho viện sĩ và các quan
khách. Sau lưng là các dãy ghế dành cho các thầy cô đương chức và cả các thầy
cô của trường đã nghỉ hưu được mời. Cuối cùng là dãy ghế băng dành cho khối học
sinh lớp chín được phân công tham dự.
Buổi lễ đón tiếp ngài viện sĩ được chuẩn bị chu đáo và trọng thị.
Thầy hiệu trưởng hôm nay mặc bộ veston màu xám tro khả kính. Thầy đến sớm hơn mọi ngày, gật đầu hài lòng với khâu tổ chức. Thầy đứng trước cổng trường đón các quan khách, niềm nở bắt tay và ân cần hỏi thăm từng thầy cô đã nghỉ hưu được mời về tham dự buổi khánh thành phòng Lab như theo đề nghị của ngài viện sĩ. Thầy vui vẻ với tổ phóng viên báo Giáo dục cũng được mời để đưa tin về sự kiện.
Ông Hoàng chia tay với
ông Sự, người chở ông đến bằng chiếc xe Wave cà tàng. Ông xóc lại chiếc ba lô
con cóc, nhìn đồng hồ rồi bước tới nở nụ cười chìa tay với thầy hiệu trưởng.
Thầy chỉ đưa tay bắt xã giao lấy lệ trong khi mắt thầy vẫn hướng về phía đầu
đường chờ mong chiếc xe của ngài viện sĩ.
Một cảm giác kỳ lạ, ông Hoàng nghe như có dòng điện chạy dọc sống lưng. Ngôi trường khác quá! Không còn nét xưa cũ nào đã từng sống trong ông bằng dòng chảy của ký ức. Tất cả đã đổi thay vì ngôi trường ngày ấy đã cũ nát, rệu rã người ta đã đập đi rồi và xây lại bằng ngôi trường mới khang trang hơn, sạch đẹp hơn. Chỉ còn mỗi cây xà cừ năm xưa giờ đã thành cổ thụ là còn nét thân quen.
Đi giữa đám người hối hả và hồi hộp chờ sự xuất hiện của ngài viện sĩ, ông Hoàng chỉ là người xa lạ chẳng ai buồn để ý. Ông đến bên cây xà cừ tỏa bóng trên sân. Ông sờ vào lớp vỏ khô dày mà nghe dội lên từ bàn tay một miền ký ức.
Cái ký ức của tuổi thơ ùa về trong ông.
***
Những ngày cận kết thúc cuộc chiến, ông Quang, ba ông Hoàng không theo dòng người di tản như bao người trong cuộc hỗn loạn dù ông dư sức khi mình là một phi công. Ông đã chọn cho mình con đường ở lại. Ông bảo vợ con: “Nhà mình không đi đâu cả! Đất nước hết chiến tranh, sẽ hòa bình. Mình là người Việt Nam mình ở lại với đất nước này”.
Vậy là ông Quang trút bỏ bộ đồ phi công, đưa vợ con rời thành phố về lại với quê hương trong những ngày đầu giải phóng. Khi ngôi nhà gỗ được dựng lên trên nền ngôi nhà cũ đã bị đổ nát, ông Quang có tên gọi đi học tập cải tạo bởi ông từng lại một trung úy phi công. Ông vui vẻ dặn dò vợ con với niềm tin một tuần sau sẽ về như giấy gọi triệu tập.
Vậy mà đâu chỉ một tuần. Thời gian cải tạo của ông kéo dài tới tận 8 năm!
Tám năm ấy gia đình
ông biết bao thăng trầm. Nhà còn lại ba mẹ con, thiếu đi chỗ dựa của người cha,
phải lo cho cái ăn từng ngày. Hoàng khi ấy mới 13 tuổi đầu nhưng đã phải lo
những việc mà người đàn ông trong nhà phải cáng đáng. Hai anh em Hoàng buổi đi
học, buổi ở nhà giúp mẹ công việc đồng áng. Mẹ Hoàng mong mãn hạn chồng về
nhưng thời gian cứ đằng đẵng trôi.
Rồi Hoàng bị đuổi học vì một bài văn viết về người lính ngụy. Hoàng viết về ba mình, về người cha kính mến với lòng tự hào vì ông Quang là người cha yêu thương, trách nhiệm và yêu nước. Ông là phi công nhưng không bỏ nước ra đi như bao người khác mà quyết tâm ở lại với đất nước này. Hy vọng một ngày kia mãn hạn về, ông sẽ đem tình yêu nghị lực và lòng yêu nước xây dựng quê hương.
Bài văn không những bị điểm 0 mà Hoàng còn bị gọi lên phòng hiệu trưởng chỉnh huấn. Bởi đã là ngụy thì không có ai tốt cả. Đã là ngụy là phải viết về bản chất ác ôn, giết người, là những tên phản động, phải bị cách mạng trừng trị và giáo dục. Hoàng không chịu nổi, đứng dậy cãi tay đôi: “Ba em không phải hạng người như thầy nghĩ! Ba em tuy là phi công nhưng ông chỉ là phi công tải thương, ông không bắn ai, giết ai. Ông chấp nhận ở lại với cách mạng, ông là người yêu nước!”
Thầy hiệu trưởng như bị chạm nọc vì bị thằng con của một tên ngụy quân tát vào mặt không thể chấp nhận được. Vậy là án kỷ luật dành cho Hoàng với mức nặng nhất: Hoàng bị đuổi học.
Giáo viên không một ai
dám hó hé, chỉ có cô giáo Tâm, là giáo viên chủ nhiệm bênh vực Hoàng. Cô không
thể chấp nhận bản kỷ luật quá khắt khe ấy. Một học sinh thông minh như Hoàng
chỉ vì viết về cha, bênh cho cha mà bị đuổi học. Cô phản ứng nhưng sự phản ứng
của cô như ném đá ao bèo, không được hội đồng nhà trường chấp thuận, chẳng một
ai dám giúp cô, giúp Hoàng. Ai cũng sợ.
Buổi sáng dưới cờ, hiệu trưởng tuyên bố kỷ luật, lúc sau Hoàng về lớp lấy sách vở. Im lặng nuốt nước mắt ra khỏi trường. Bạn bè không một ai dám nói với Hoàng một lời an ủi, chỉ có thằng Sự khi ấy choàng cổ tiễn Hoàng đi ra tận cổng bằng dòng nước mắt ấm ức.
***
Giờ ông về lại. Rứa mà đã hơn 35 năm! Đời người nhanh thật! Còn gì thân quen ngoài cây xà cừ như người bạn thủy chung? Ông nhìn lên, cái nhánh ngang ấy ông với thằng Sự cứ thích trèo lên trong những giờ ra chơi đưa hai chân đong đưa, hay cái chạc trên kia lắm lúc hai thằng giành nhau leo lên để tìm một chỗ ngồi cao nhất. Ông tìm trong bóng cây vết chân ngây thơ ngỗ nghịch. Tuổi thơ ông bên ngôi trường này, chính xác hơn là bên bóng xà cừ này đầy những yêu thương nhưng không thiếu phần cay đắng.
Ông đi dọc hành lang, đến phòng Lab, cửa phòng khép hé, ông mở cửa bước vào. Phòng khang trang, các máy vi tính để bàn đời mới nhất với cả hệ thống âm thanh thu - phát đều đúng chuẩn. Ông gật gật đầu. Chợt bên ngoài có tiếng gắt: “Ông kia! Ông vào đây làm gì? Đi ra!”
Ông bước ra, chỉ gật đầu với nụ cười đáp lại vẻ mặt đầy nghi ngờ của người bảo vệ trường. Ông tìm cho mình chỗ ngồi ở hàng ghế cuối.
Chợt người ta xôn xao: “Xe viện sĩ đến, xe viện sĩ đến!”
Tất cả mọi người đứng dậy. Ông hiệu trưởng hối hả đi ra. Cánh cửa xe mở ra, mọi người dán mắt. Phóng viên đang chực sẵn để ghi lại phút giây đầu tiên của vị viện sĩ khả kính. Người ta “ồ” lên, người bước ra khỏi xe với bộ đồ sang trọng lại là vị trưởng phòng giáo dục huyện nhà. Ông bước ra, thầy hiệu trưởng đến chào bằng cái bắt tay khúm núm. Ông hất hàm hỏi:
- Viện sĩ đến chưa?
- Dạ, báo cáo anh, ngài viện sĩ chưa đến, tụi em đang chờ ạ!
- Chuẩn bị tốt chứ?
- Dạ, mọi thứ đều xong
xuôi ạ!
Ông đến trước dãy ghế danh dự, nhìn quanh chào một lượt rồi chỉ thị:
- Khi viện sĩ đến mọi người phải đứng dậy, đội trống ếch phải nổi trống cho nhịp nhàng nhé! - Rồi ông quay sang hiệu trưởng - Ai đảm nhiệm việc tặng hoa?
- Dạ, đây là cô Lan - thầy hiệu trưởng giới thiệu - giáo viên tiếng Anh, là chủ nhiệm phòng Lab sắp tới, sẽ đảm nhiệm tặng hoa và phiên dịch ạ!
- Ừ, vậy là tốt! - Ông quay sang dặn cô Lan - Cô sẽ đi sau tôi để kịp tặng hoa sau khi tôi bắt tay ngài viện sĩ nhé!
Ông Hoàng nhìn lên các dãy ghế trên, cố tìm ra ai là thầy cô cũ. Chợt ông nhận ra người ngồi dãy ghế kề trên. Ông dời lên ngồi cạnh cô giáo cũ có mái đầu bạc trắng.
- Cô Tâm!
Cô giáo Tâm giật mình:
- Xin lỗi, anh là…
Ông Hoàng nói nhỏ đủ để cô nghe:
- Dạ, em là Hoàng đây! Cô nhận ra em không?
- Hoàng nào? Tôi không
nhớ….
- Dạ, Hoàng đây! Hoàng bị đuổi học đây cô!
- Trời ơi, em là Hoàng đó sao! Mấy chục năm trời em đi đâu? Răng không tin tức chi cho cô? Rứa em về hồi nào?
- Em về hồi hôm, em ở lại nhà thằng Sự, cô nhớ thằng Sự không? Dạ, đúng rồi! Thằng ở thôn hai đó! Sáng ni hắn chở em tới.
- Ủa, mà răng em biết bữa ni trường có sự kiện ni mà về thăm?
- Dạ, em có cái hẹn với trường ạ!
- Trường bữa ni đón ngài viện sĩ mà có hẹn chi với em?
- Cô ơi, ông viện sĩ ấy to lắm hả cô?
- Cô không biết nhưng ổng là viện sĩ viện hàn lâm chi đó của Anh quốc, giấy mời cô dự hôm nay viết rứa! Ổng còn đích thân tài trợ cho trường cái phòng Lab hiện đại dạy tiếng Anh nữa! Nghe nói còn tài trợ kinh phí học bổng chi nữa kia!
Chợt người ta xôn xao: “Chắc xe viện sĩ, xe viện sĩ đến!” Cô Tâm cũng nhón người đứng lên nhìn ra cổng thì thào: “Ổng đến rồi kìa!”
Nhưng chiếc ô tô ngang qua trường vẫn không dừng lại. Mọi người thêm một phen chưng hửng. Thầy hiệu trưởng nóng ruột nhìn đồng hồ. Cô Tâm cũng ngồi lại chỗ.
Ông Hoàng thì thầm:
- Cô ơi! Ông nớ có chi mà to! Có khi ổng còn gọi cô bằng cô giáo nữa đó chớ!
Cô Tâm cười:
- Có mà nằm mơ giữa ban ngày hả em?
- Giấc mơ có thật đó cô! Cô đừng ngóng nữa! Ông ấy đang ngồi bên cô nè!
Cô Tâm xô ông Hoàng ra:
- Em khéo giỡn!
- Em thiệt mà! Em là viện sĩ Holey Lee đây!
- Hả! Em là Hoàng, Lê Văn Hoàng…
Ông Hoàng ghé sát vào tai cô Tâm:
- Tên tiếng Việt em là Lê Văn Hoàng, nhưng tên tiếng Anh của em là Holey Lee. Em nhờ cô lên nói giúp là cái ngài viện sĩ mấy ông đang chờ ấy đã đến lúc 6h30 đang ngồi ở dưới.
Cô giáo Tâm đứng dậy
nhìn vào ông Hoàng như không tin có bất cứ sự tồn tại nào trên đời. Ông Hoàng
đưa cho cô cái card visit, cô Tâm đọc cái tên trên tấm card mới tin đây là sự
thật. Cô ôm chầm ông Hoàng: “Hoàng ơi! Là em đó ư!”
Cả trường dồn mắt nhìn cảnh tượng hai cô trò ôm nhau mà không biết chuyện chi. Chợt cô Tâm buông ông Hoàng đi lên trên dãy bàn danh dự nói nhỏ mấy câu làm cả thầy hiệu trưởng lẫn đến các vị quan khách há hốc mồm nhìn về phía ông Hoàng.
Đích thân ông trưởng phòng giáo dục và thầy hiệu trưởng xuống tận chỗ ngồi bắt tay ông Hoàng trong ánh mắt sượng sùng:
- Xin chào ngài viện sĩ! Ngài đến khi nào sao không báo? Chúng tôi thật tắc trách.
- Dạ, tui đến đúng 6h30 như đã hẹn, lúc vào tui có chào thầy hiệu trưởng nhưng thầy không để ý đó thôi!
- Tui thật đáng trách, thật đáng trách! Xin ngài viện sĩ bỏ quá cho.
- Mời, mời viện sĩ lên ghế trên, mời, mời… mời cả cô Tâm nữa! - Ông trưởng phòng giáo dục huyện xởi lởi.
Tình huống xảy ra
ngoài dự liệu, đến nỗi đội trống ếch không biết phải nổi trống thế nào. Cô giáo
Lan tặng hoa cũng đứng như trời trồng. Nói chung chương trình đón tiếp đã bể
toàn bộ không như kịch bản. Các phóng viên lúc này mới ào lên ghi lại khoảnh khắc
hiếm có của vị viện sĩ như người từ trên trời rơi xuống. Các thầy cô, học sinh
tham dự lúc đầu im phăng phắc rồi sau đó bắt đầu ồn ào bàn tán.
Buổi lễ bắt đầu.Thầy hiệu trưởng giới thiệu sự kiện, giới thiệu các vị quan khách, cuối cùng giới thiệu về ngài viện sĩ không khỏi tự hào vì là cựu học sinh của trường. Sau bài phát biểu, thầy mời ngài viện sĩ lên có đôi điều trong buổi lễ trang trọng này trước khi tuyên bố khai mạc và cắt băng khánh thành phòng Lab.
Ông Hoàng bước lên, nhìn ông không ai nghĩ đó là một viện sĩ của một viện hàn lâm về đại dương nổi tiếng đến từ Anh quốc. Bởi với ông lần trở về đầu tiên sau hơn 35 năm này không phải với tư cách của một viện sĩ mà là của một người con quê hương xa quê, của một cậu học trò tên Hoàng với tuổi thơ từng học trường này.
Ông trịnh trọng:
- Kính thưa thầy hiệu trưởng, các thầy cô đã và đang dạy trường này;
Kính thưa các vị quan khách cùng các cháu học sinh,
Lời đầu tiên tôi xin
gửi đến quý vị lời chúc sức khỏe và lời thỉnh cầu, xin mọi người đừng gọi tôi
là ngài viện sĩ mà hãy gọi tôi là Hoàng, Lê Văn Hoàng. Tôi là người con của quê
hương mình, sinh ra ở đây và đã có một thời gian, dù không nhiều đã sống gắn bó
và từng là học sinh của trường mình.
Thưa quý vị!
Trong lá thư tôi gửi cho thầy hiệu trưởng có yêu cầu là được khánh thành phòng Lab đúng vào ngày này. Thật tình tôi lấy làm xúc động vì sự chuẩn bị cho lễ khành thành này, các thầy chu đáo quá!
Vì sao tôi chọn ngày này? Vì đó là của mốc thời gian đầy ý nghĩa. Tôi chắc các vị không biết, hôm nay là đúng 100 năm ngày thành lập trường.
Bên dưới “ồ” lên ngạc nhiên. Mọi người xôn xao. Ông Hoàng tiếp:
- Vì sao tôi nói vậy?
- Rồi ông mở cặp lấy ra trang giấy cũ vàng ố được ép plastic đưa lên - Đây là
bài phát biểu của ông nội tôi trong ngày khai giảng đầu tiên của ngôi trường
này. Ba tôi kể lại, 100 năm trước bằng lòng nhiệt huyết của người trí thức yêu
nước, bằng trí lực của mình, ông tôi đã xin với nhà cầm quyền là chính quyền
thuộc Pháp khi đó được mở ngôi trường này để đem sở học của mình truyền bá chữ
quốc ngữ và khai phóng dân trí người làng mình.
Trường khi ấy nghe ba kể chỉ là ngôi nhà ba gian vách đất, lợp tranh. Sau bao biến động của thời gian và thời cuộc, ngôi trường đã thay đổi mấy lần, sau này được lợp ngói, được mở rộng nhiều phòng, nhiều lớp. Giờ cũng đã thêm một lần thay đổi khang trang hơn, đẹp hơn. Chứng nhân của trường bây giờ chỉ còn mỗi cây xà cừ mà ông nội tôi trồng khi xưa hiện vẫn còn trên sân.
Tôi trở về lần này với tâm thức của người con xa quê, của một học sinh trường cũ, thật sự bồi hồi xúc động mà lòng rất vui.
Có thể nói thế hệ ba
đời gia đình tôi có duyên với trường này. Ông tôi là thầy giáo đầu tiên của
trường, ba tôi là người học trò đầu tiên thành đạt của trường và tôi, người học
trò đầu tiên bị đuổi khỏi trường…
Ông dừng lại mỉm cười. Lại thêm một phen xôn xao, Bên dưới cô Tâm lấy vạt áo chấm dòng nước mắt. Ông tiếp:
- Sự kiện đó với tôi chỉ còn là kỷ niệm, tôi không muốn nhắc lại lý do vì sao tôi bị đuổi. Cũng tiện đây tôi xin gửi đến các thầy cô từng dạy tôi có mặt hôm này lời thăm hỏi và biết ơn sâu sắc vì đã có tháng năm ngắn ngủi dạy dỗ tôi, đặc biệt cô Tâm đã dành cho tôi tình yêu của một người mẹ.
Chắc thầy cô đang thắc mắc số phận của cậu Hoàng bị đuổi học năm ấy đã đi đâu về đâu. Tôi xin vắn tắt.
Năm ấy, sau hai năm gia đình tôi đi kinh tế mới vào Bà Rịa – Vũng Tàu (thực ra ông không muốn nhắc, lúc ấy vì nhục nhã với xóm làng bởi Hoàng bị đuổi học mà mẹ ông đã đi kinh tế mới với gia đình bên ngoại). Ở đó tôi tiếp tục được đi học, học đến năm 12 thì ba tôi mãn hạn cải tạo, sau đó gia đình tôi được chính phủ Mỹ bảo lãnh đi diện HO đầu tiên.
Cũng đau buồn mà thông báo rằng ba tôi đã mất cách đây hai năm. Trước đó ông là chuyên viên cao cấp của NASA Hoa Kỳ.
Còn tôi, được sự tài trợ của chính phủ Mỹ mà tôi đã thành công trong việc học, là tiến sĩ về hải dương học, được Viện Hải dương Hoàng gia Anh mời về nghiên cứu giảng dạy và là thành viên của viện này. Em tôi hiện nay là bác sĩ của một bệnh viện nổi tiếng ở California, Hoa Kỳ. Mẹ tôi giờ đang sống với vợ chồng em gái tôi. Tôi xin vắn tắt đôi dòng về tôi và gia đình từ ngày xa quê là như vậy.
Tôi tài trợ phòng Lab này cho trường thực ra là tâm nguyện của ba tôi trước khi mất. Cả đời ông ông luôn trăn trở, ông muốn quay về nhưng không được. Lực bất tòng tâm, ông gửi gắm cho tôi lời di nguyện là tôi phải trở về, đem tài lực có thể để giúp quê hương. Vì quê hương và mái trường này do ông nội tôi khai sinh, với ông luôn đau đáu mình là người mắc nợ.
Tôi có hai dự án tài trợ. Trường này và trường Phú Tân nơi ngày xưa tôi tiếp tục được học sau khi gia đình vào kinh tế mới trong đó.
Tôi về đây bằng tình yêu của ông tôi, ba tôi và tôi cộng lại, muốn đem một phần tài lực để cống hiến và gửi gắm với quê hương. Ông tôi ngày xưa mở trường mong cho dân làng mình được khai hóa. Tôi và ba tôi mong cho lớp học trò hôm nay và kế cận được sớm tiếp cận với kiến thức của các nền công nghệ trong cuộc cách mạng khoa học 4.0.
Phòng Lab này được đầu tư và trang bị bằng những phương tiện nghe nhìn hiện đại nhất, các buổi tiếng Anh ngoại khóa của học sinh trường này sẽ được học miễn phí trên một giáo trình tiên tiến với mục đích tăng cường kỹ năng nghe nói tiếng Anh.
Quỹ do ba tôi ký thác cùng với sự đóng góp của tôi, sẽ được tài trợ cho phòng Lab về trang thiết bị, chi phí điều hành và trả lương cho giáo viên, tổng thu nhập của giáo viên điều hành tôi cam kết sẽ gấp 10 lần lương của giáo viên ấy được hưởng tại trường này nhưng với các điều kiện làm việc khắt khe và trách nhiệm.
Quỹ còn tài trợ các học bổng hằng năm dành cho học sinh nghèo học giỏi, dành cho các học sinh đoạt giải trong kỳ thi tiếng Anh cấp trường, cấp huyện và trên nữa. Đặc biệt, nếu học sinh trường này ra đời đủ lực du học châu Âu hay Mỹ, Quỹ sẽ tài trợ 100% học phí.
Kính thưa quý vị!
Với mục đích như trên, tôi tin rằng ông tôi, ba tôi rất vui vì chương trình tài trợ này. Mong các cháu hãy cố gắng học tập, các thầy cô hãy ra sức dưỡng dạy, đào tạo. Các thế hệ con em làng mình chúng ta có quyền tin rằng sẽ bay cao hơn, xa hơn.
Hôm nay, trong ngày ý nghĩa này tôi xin trao lại thầy hiệu trưởng bài phát biểu của ông tôi trong ngày khai giảng đầu tiên của trường mà ba tôi luôn xem như báu vật giữ suốt với cuộc đời ông.
Cuối cùng xin chúc các thầy cô, các vị quan khách sức khỏe thành đạt. Chúc các cháu học sinh chăm ngoan, học giỏi. Tôi xin hết.
Tiếng vỗ tay ào ào. Cô Lan ôm hoa tươi cùng ông trưởng phòng giáo dục lên tặng. Cô Tâm bước lên ôm chầm ông Hoàng, dòng nước mắt lăn tròn trên má: “Hoàng ơi! Ngày đó cô cứ giận mình tại sao không đấu tranh cho em được học. Giờ cô vui lắm! Tự hào lắm! Em xứng đáng là con của ba em, là cháu của ông em”.
Thầy hiệu trưởng lên phát biểu với lời cảm ơn trân trọng về sự đóng góp cho nền giáo dục xã nhà và hứa với ông Hoàng sẽ chỉ đạo để phòng Lab được điều hành đúng như tôn chỉ tài trợ. Ông đưa cao trang giấy vàng ố mà ông Hoàng bàn giao, trịnh trọng:
Cũng nhân đây tôi xin tuyên bố: Từ nay trường Khuê Lãnh sẽ lấy ngày này làm kỷ niệm ngày thành lập trường.
Tiếp đến là đến lễ cắt bằng khánh thành và khởi động hoạt động phòng Lab. Cô giáo Lan thành thạo các thao tác hoạt động của thiết bị. Cô giới thiệu trên màn hình các tính năng của chương trình tiếng Anh, các bài test kỹ năng dành cho người học và các tiện ích hiện đại khác.
Ông Hoàng tranh thủ trao đổi với cô giáo Lan bằng tiếng Anh với mục đích vừa kiểm tra kiến thức đào tạo về điều hành chương trình giảng dạy và để test khả năng Anh ngữ cô giáo. Ông hài lòng những gì trao đổi cũng như trình độ tiếng Anh của cô giáo Lan bằng cái bắt tay thật chặt với nụ cười cùng với một từ “good!”
Vậy là xong buổi khánh thành. Thầy hiệu trưởng mời ông Hoàng cùng các quan khách dự buổi chiêu đãi cơm trưa nhưng ông Hoàng từ chối. Ông bảo là phải ra Đà Nẵng gấp vì 2 giờ chiều nay có buổi hội thảo về môi trường biển do chính phủ Việt Nam mời.
Ông đến bắt tay từng người. Đến gặp thầy hiệu trưởng năm xưa ông Hoàng chào tạm biệt. Ông hiệu trưởng cũ không dám nhìn thẳng chỉ gửi một lời nhỏ: “Tôi xin lỗi em!”
Ông Hoàng ôm cô giáo Tâm lần nữa nói nhỏ: “Cô ơi! Em gấp lắm! Không về thăm riêng cô được, gặp cô mạnh khỏe thế này là em mừng lắm rồi! Em có món quà nhỏ nhờ thằng Sự sẽ đến biếu cô, cô nhận cho em vui nhé!”
Ông Hoàng giơ tay chào
tạm biệt lần cuối. Chiếc taxi đang đậu sẵn ngoài cổng trường. Ông lên xe, cô
Tâm nhìn theo không chớp, chiếc xe xa dần rồi khuất hẳn ở khúc quanh cuối làng.
Cô thầm nói với theo: “Em hãy về nhé! Hoàng nhé! Ngài viện sĩ của cô!”









