Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Wednesday, May 13, 2026
Cuộc Ra Đi Lầm Lũi Của Một Vị Tổng Thống - Quốc Việt
50 năm trước, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
đã có ngày lưu vong cô đơn đầu tiên trên đất khách quê người ở Taipei, Taiwan.
Để rồi, ba ngày sau, 29/4/1975, vị tổng thống lưu vong đã cay đắng trả lời một
đại diện không chính thức của chính phủ Mỹ: “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ,
nhưng làm bạn rất khó”. 10 năm lính Mỹ cùng chiến hào binh sĩ Nam Việt có
phải vì Mỹ muốn giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa hay đã dùng chính những người lính
Việt này để thực hiện thế trận ngăn chặn “làn sóng đỏ” ở Châu Á thì lịch sử đã
đủ tường minh rồi!
Từ nhiều tháng trước khi ông Thiệu phải
lầm lũi ra đi trong đêm, chính quyền miền Nam Việt Nam đã đến thế cờ tàn thật
sự sau khởi đầu của chuỗi domino sụp đổ từ Hiệp định Paris 1973. Người bạn
Mỹ, đồng minh chí cốt từng một thời làm quá tải phi trường Tân Sơn Nhất bởi dày
đặc những chuyến không vận tiếp tế cho Sài Gòn, đã quay lưng thật sự.
Bản tin đài VOA tường thuật cuộc bỏ phiếu
kín của Hạ Nghị viện Mỹ ngày 12/3/1975 về việc tiếp tục viện trợ quân
sự cho Sài Gòn đã nhận kết quả cay đắng: chỉ có 49 phiếu thuận trong khi đến
189 phiếu chống. Một ngày sau, Sài Gòn lại tiếp tục nhận tin sét đánh từ Thượng
viện Mỹ: chỉ có 6 phiếu thuận trên 36 phiếu chống việc viện trợ thêm vũ
khí cho Sài Gòn trong năm 1975.
Trong cuốn sách Từ tòa Bạch Ốc đến
Dinh Độc Lập, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của ông Thiệu
đã nhắc lại một đoạn u tối: “Tại nhà thờ Lutheran ở Arlington, bang Virginia,
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng James Schesinger đã khóc cho miền Nam Việt Nam. Ông
được ngài phó giám đốc Cục tình báo Trung ương Vernon Walters kể rằng viên đại
sứ Nam Việt Nam ở Washington nói: “Phía bên kia vùng không có bình minh là
hoàng hôn đang phủ xuống”. Rồi Schlesinger nhớ lại: “Tôi vẫn nhớ lời miêu
tả của Churchill về sự sụp đổ của nước Pháp trong Thế chiến thứ II. Đây là thảm
họa tương tự, dù khác nhau về tầm cỡ. Tôi không trách người Việt Nam đã cố theo
đuổi chút hy vọng mong manh. Tôi cảm thương họ. Tôi buồn cho họ!” …
Tổng thống Ford tháng 4 năm 1975 quyết
định rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp về mặt quân sự nữa. Sẽ không có những hạm
đội đổ bộ đến cứu nguy, cũng không có những chuyến tàu tiếp tế từ phía chân
trời như đã từng có từ 10 năm trước đây …”.
Gặp ông Thiệu ở Dinh Độc Lập, Tổng trưởng
Nguyễn Tiến Hưng đã chứng kiến sự tức giận cùng cực của vị tổng thống suốt 10
năm của nền Đệ nhị Cộng hòa Nam Việt với đồng minh Mỹ: “Điều này không thể tin
được. Trước hết ở Midway, người Mỹ bảo tôi chấp thuận vài ngàn lính Mỹ rút quân
và tôi vẫn còn nửa triệu lính Mỹ ở lại chiến đấu với tôi. Rồi sau đó, khi họ
rút thêm quân, họ đã nói: “Đừng lo, chúng tôi sẽ tăng cường cho ông để bù
cho những sư đoàn đã rút lui”. Khi nhịp độ rút quân gia tăng, và năm 1972
họ lại nói với tôi: “Đừng lo, ông còn có những lực lượng dự bị và chúng
tôi bù đắp cho việc rút quân bằng việc tăng yểm trợ không lực cho bộ binh của
ông”. Sau đó, lính Mỹ rút hết và cũng không còn yểm trợ không lực. Họ lại
nói với tôi: “Chúng tôi sẽ tăng cho ông thêm nhiều quân viện để bù đắp vào
tất cả những cái đó. Xin đừng quên Đệ thất hạm đội Mỹ và những căn cứ không
quân ở Thái Lan sẽ bảo vệ ông trong trường hợp cần thiết”.
Cuối cùng, chẳng còn gì hết, người
Mỹ không hỗ trợ quân sự cũng cắt tiếp viện cho Sài Gòn!
Chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
cố gắng chống chọi bằng mọi giá, từ những lá thư khẩn cầu viện trợ gởi đích danh
đến Tổng thống Ford, Quốc hội, Bộ Quốc phòng Mỹ, kể cả việc đem các mỏ dầu
Hoa Hồng (nay là Bạch Hổ) dù mới ở giai đoạn thăm dò thấy dầu ra “thế chấp” để
vay tiền.
Trong lá thư đầy u buồn với nhiều lời lẽ van
nài của ông Thiệu gửi cho Tổng thống Ford có những đoạn như không thể nào buồn
và cam chịu hơn được nữa: “ … Chúng tôi kêu gọi lương tâm và lòng
thương của nhân dân Mỹ đối với cảnh ngộ của đất nước chúng tôi, một người bạn
đồng minh trung thành của nhân dân Mỹ trong suốt 20 năm sóng gió, một dân tộc
đã chịu nhiều hy sinh và đau khổ to lớn trong hai thập niên để gìn giữ mảnh đất
tự do này. Một dân tộc như vậy xứng đáng với lòng thông cảm và giúp đỡ. Trong
giờ phút vô cùng khẩn thiết, chúng tôi mong muốn Ngài thúc giục Quốc Hội xem
xét dễ dàng và cấp bách lời yêu cầu được vay “số tiền vì tự do” của chúng tôi.
Đây sẽ là hành động cầu xin cuối cùng mà chúng tôi, một người bạn đồng minh,
gửi đến nhân dân Mỹ”.
Giữa tháng 4 cuối cùng của chính thể miền
Nam, Tổng trưởng
Nguyễn Tiến Hưng cầm lá thư “Freedom
Loan” (vay tiền cho tự do) đầy bi thảm này đi Mỹ với trạng thái u uất, không tin
mình sẽ thành công. Chuyến phản lực cất cánh trên đường băng Tân Sơn Nhất trong
một buổi sáng ầm ì tiếng bom đạn. Mặc dù nó không đầy hành khách, nhưng có cảm
giác như nặng nề hơn bình thường với tâm trạng trĩu nặng của Tổng trưởng Hưng.
Cô tiếp viên yêu cầu ông đặt chiếc cặp da lên giá hành lý trên đầu, nhưng ông
ta khư khư giữ chặt trong lòng vì không muốn rời lá thư này.
Về sau, cuốn Từ Tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập
đã thuật lại: “ Cảm thấy lòng ngực nhức nhối và chóng mặt. Hưng có một linh cảm
sắc bén đây là lần cuối cùng ông ta còn nhìn thấy được quê hương mình, và có lẽ
chẳng bao giờ ông còn gặp lại mẹ và các anh chị em của mình. Ông nhìn xuống Sài
Gòn qua cửa sổ máy bay một cách tuyệt vọng. Từ trên cao, Sài Gòn hiện ra thật
đẹp, tràn đầy những kỷ niệm của một thời đã qua … Như hiểu được tâm trạng ông,
máy bay lượn hai vòng quanh Sài Gòn … Bên dưới vẫn là dòng sông Sài Gòn với màu
nước nâu sẫm như Chocolate, với hàng dừa chạy dọc hai bên bờ, nơi đó cuối tuần
nào ông cũng đến câu cá, bắt tôm. Xa xa, Dinh Độc Lập rực sáng và những nỗi đau
khổ trong ba tháng qua lại ập đến với ông”.
Và Tổng trưởng Hưng đã dự cảm đúng. Kế hoạch
“Freedom Loan”, chiếc phao cứu sinh cuối cùng của Sài Gòn, hoàn toàn đổ vỡ. Từ
khẩn cầu vay 3 tỷ USD ban đầu, rút xuống còn 722 triệu có hoàn trả, nhưng Quốc
hội Mỹ vẫn lạnh lùng lắc đầu. Niềm hy vọng mong manh cuối cùng đặt ở nỗ lực của
Chính phủ Mỹ đã bị Henry Kissingger dội gáo nước lạnh: “Việc bàn luận
về Việt Nam đã chấm dứt. Chính phủ sẽ chấp nhận lời pháp quyết của Quốc hội mà
không phản bác lại”.
“Chiều ngày 20/4, Đại sứ Martin đến
thăm Tổng thống Thiệu để hỏi về tình hình và gợi ý ngọt ngào: “Tôi tin rằng một
vài ngày nữa, các tướng lãnh của ông sẽ đến đề nghị ông từ chức”. “Nếu tôi từ
chức thì sẽ có viện trợ quân sự không”, ông Thiệu hỏi. Martin trả lời: “Tôi
không thể hứa với ông nhưng có thể vậy”. Trước khi Martin về, ông Thiệu nói
rằng mình sẽ làm những điều tốt nhất cho đất nước”. Cuốn sách của Nguyễn Tiến
Hưng nhắc lại những ngày cuối sầu thảm trên chiếc ghế Tổng thống Việt Nam Cộng
Hòa của ông Thiệu.
Suốt từ khởi đầu vào thập niên thứ hai
của thế kỷ 20, Tân Sơn Nhất đã là chứng nhân của bao biến động thời cuộc. Từ giai
đoạn phát triển của miền đất phía Nam trù phú, đến cuộc Thế chiến thứ hai tàn
khốc, người Nhật kéo sang, quân Pháp tái xâm lược rồi cũng đến ngày phải rút
lui hoàn toàn, quốc gia hình chữ S bị chia đôi bởi vĩ tuyến 17 và nền Đệ nhất,
Đệ nhị Cộng hòa mong manh như ngọn đèn dầu trong chiến cuộc kéo dài suốt 20
năm. Đến tận cuối tháng 4/1975, phi trường Sài Gòn này lại trở thành chứng nhân
một sự kiện lịch sử thầm lặng nói lên gió đã xoay chiều báo hiệu những trận
cuồng phong dữ dội sắp ập đến.
Trước áp lực chiến sự dồn dập đẩy chính quyền
Sài Gòn vào thế bí, ngày 21/4/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải ngậm ngùi
từ chức, nhường vị trí lãnh đạo lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương, với hy
vọng mong manh sự đổi thay chính trị có thể thay đổi thế cờ quân sự đang sắp
đến hồi “chiếu tướng” miền Nam. “Về vườn” nhưng vị cựu Tổng thống nắm
quyền dài nhất ở miền Nam cũng không thể ở lại quê hương của mình. Lực
lượng cách mạng buộc phải “loại biên” vĩnh viễn ông Thiệu, chính quyền tân
Tổng thống Trần Văn Hương cũng cho rằng không thể làm được gì nếu vị cựu Tổng
thống sắt đá chống cộng và đầy bản lĩnh chính trường còn hiện diện ở Sài Gòn.
Ông Thiệu buộc phải ra đi!
Phi trường Tân Sơn Nhất là chứng nhân
cuộc ra đi thầm lặng, buồn thảm này. Đêm 25/4/1975, một chiếc DC6 thuộc quyền sử
dụng của Đại sứ quán Mỹ bay từ Bangkok sang Tân Sơn Nhất để đón một vị khách
đặc biệt.
Cùng lúc đó, tư dinh Thủ tướng Trần Thiện
Khiêm, trong Bộ Tổng Tham Mưu, âm thầm diễn ra buổi chia tay một vị cựu Tổng
thống như không thể nào sơ sài, giản đơn hơn được nữa. Không có hoa, rượu, cũng
chẳng có lời diễn văn tiễn biệt hoa mỹ nào, ông Thiệu lặng lẽ lên một trong ba
chiếc công xa màu đen của Đại sứ quán Mỹ lầm lũi chạy thẳng vào phi trường.
Ngồi băng ghế sau, vị Tổng thống mà lúc
này đã là cựu của Chính quyền miền Nam Việt Nam lọt thỏm giữa hai người Mỹ to
lớn là tướng Timmes và đặc trách tình báo Polgar. Hộ tống ông Thiệu cũng bằng
vài lính thủy quân lục chiến Mỹ, chứ không hề có một người lính Việt nào trong
quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà ông từng nhiều năm là tư lệnh tối cao của họ.
Đoàn xe chạy qua Đài tưởng niệm chiến sĩ trận
vong với dòng chữ “Những hy sinh cao quý của chiến sĩ đồng minh sẽ không
bao giờ bị quên lãng”. Ông Thiệu thở dài giữa hai người Mỹ ngồi cùng băng
ghế tiễn đưa một cựu Tổng thống mà chẳng khác gì như áp tải. Xe cũng không dừng
lại ở bãi đậu máy bay của Air Việt Nam, mà sang bãi riêng biệt của Air America
với lính thủy quân lục chiến lăm lăm M16 canh gác.
Ở đó, Đại sứ Mỹ Graham Martin đã đợi sẵn với
cái bắt tay xã giao cùng câu chào ngắn gọn. Ông Thiệu trông có vẻ rất buồn và
nhẫn nhịn, nhưng vẫn giữ cố tư cách trang trọng của một Tổng thống, để nói lời
cảm ơn Martin đã tổ chức chuyến ra đi đặc biệt này. Đại sứ Mỹ đáp lời: “Đây là
điều nhỏ nhặt nhất tôi có thể làm. Chào ông và chúc ông may mắn”.
Ít phút sau, chiếc DC6 cất cánh rời khỏi Sài
Gòn rực ánh hỏa châu báo hiệu chiến sự đang đến rất gần và thời điểm Đô thành
thất thủ chỉ còn tính bằng ngày. Ông Thiệu ngậm ngùi dõi mắt qua ô cửa sổ máy
bay, nhìn Sài Gòn bỏ lại sau lưng. Bàn cờ chính trị – chiến cuộc trên mảnh đất
đẫm máu lửa, thương đau đã tàn và ông ta hiểu đây là lần cuối cùng mình được
nhìn thấy quê hương!
Người dân, kể cả nhiều chính khách lớn
nhỏ của miền Nam, cũng không hề biết một cựu Tổng thống của nền Đệ nhị Cộng Hòa
đã rời khỏi đất nước và không hề mang theo một thỏi vàng nào trong 16 tấn vàng
ngân khố như lời đồn thổi đầy ác ý. Nhưng chiến tranh vẫn không hề được tạm
dừng hay một chính phủ liên hiệp nào đó ra đời như một số người hy vọng. Biệt
khu Sài Gòn vẫn đang bị thít chặt lại với tốc độ nhanh đến nỗi không ai ở bên
trong đó có thể ngờ nổi.
Ngày 29 – 4 -1975, một đại diện không
chính thức của Chính phủ Mỹ đã tìm gặp ông Thiệu khi ấy vẫn còn đang ở Đài Loan,
để chuyển lời rằng ông không nên đến Mỹ vào lúc này, nhân dân phản chiến Mỹ
không chào đón ông. Ông Thiệu nhún vai, trả lời một cách ngậm ngùi: “Làm
kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó” …
Đặc biệt, khi vị tổng thống lưu vong cay đắng
thốt lên những lời này, thì ở quê hương Sài Gòn, tướng “độc nhãn” Hoàng Anh
Tuấn – Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ CMLTMNVN đang ở trại Davis, phi
trường Tân Sơn Nhất, đã lệnh cho cấp dưới chuẩn bị một lá cờ cách mạng thật
lớn. Đúng 9 giờ sáng ngày 30 – 4 – 1975, lá cờ hai màu xanh đỏ ấy đã được treo
lên tháp nước ở trại Davis trước khi quốc kỳ ba sọc Việt Nam Cộng Hòa bị hạ
xuống ở Dinh Độc Lập.
50 năm trước, Mỹ đã quay lưng với đồng
minh ngay thời khắc sinh tử nhất. 50 sau, lịch sử đắng cay này lại lặp lại với
Ukraine?
Quốc Việt
(Trích sách 100 năm Phi trường Tân Sơn Nhất – tác giả Quốc Việt)
Nhớ Thi Sĩ Phạm Thiên Thư - Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn
Thi sĩ Phạm Thiên Thư vừa rời
cõi tạm ngày 7/5/2026 tại Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi. Tin ông mất khiến nhiều
người yêu thơ và âm nhạc Việt Nam bùi ngùi, bởi ông là một trong những thi sĩ
mang ý thơ riêng biệt và nhẹ nhàng nhất của văn học miền Nam trước năm 1975.
Thơ ông
mang một ý tưởng rất lạ: vừa tha thiết với đời sống, vừa bảng lảng khói sương
thiền môn. Có lẽ vì từng có thời gian xuất gia với pháp danh Tuệ Không nên
trong thơ ông luôn thấp thoáng tiếng chuông chùa, nỗi buồn vô thường và sự dịu
dàng rất Á Đông.
Tên tuổi Phạm Thiên Thư gắn liền với những bài thơ
được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc
như: “Ngày xưa Hoàng Thị”, “Đưa em tìm động hoa vàng”, “Gọi em là đóa hoa sầu”,
“Em lễ chùa này”… Những ca khúc ấy đã đi qua nhiều thế hệ như một miền ký ức đẹp
của tuổi trẻ Việt Nam.
Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Đôi chân mịt mù
Theo nhau bụi đỏ đường mưa…
Năm
1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm: Hậu truyện Kiều -
Đoạn Trường Vô Thanh.
Năm 2013, nhờ hai em Trần Ngọc Bách và Nguyễn Thanh Phong, chúng tôi có dịp gặp ông tại quán cà phê Hoa Vàng trên đường Hồng Lĩnh, quận 10. Quán nhỏ, yên tĩnh và mang đúng không khí thơ mộng như chính con người ông.
Hôm ấy,
khi được hỏi về nhân vật Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ nổi tiếng “Ngày xưa Hoàng
Thị”, ông chỉ cười hiền. Ông kể đó là một kỷ niệm học trò rất nhẹ nhàng, khi
ông và cô Ngọ học cùng lớp đệ tam ở trường tư thục Kiến Thiết. Những buổi tan
trường, cô lặng lẽ đi về còn ông âm thầm theo phía sau trên con đường bụi đỏ.
Chỉ vậy thôi, mà đủ để thành thơ.
Giờ
đây, người thi sĩ của “động hoa vàng” đã đi xa. Nhưng những câu thơ và giai điệu
ông để lại vẫn còn ở đó, như một tiếng chuông chiều ngân rất nhẹ trong ký ức
người yêu thơ Việt.
12/5/2026
Mai
Khánh Thư - Phạm Doanh Môn
Tuesday, May 12, 2026
Nơi Có Ngôi Đình Cũ - Lâm Chương
“Chuyện khuất lấp ban đêm, chỉ có trời biết. Còn chuyện ban
ngày, đã rõ trắng đen. Bạ ai cũng tán tỉnh. Thượng vàng hạ cám không chừa thứ
nào.”
Thái độ và lời lẽ của chị Ba làm tôi ngạc nhiên. Chị đâu có quyền
nói những lời gay gắt như thế với tôi. Nghĩ tới tình nghĩa anh Ba Canh, tôi
không nỡ phản ứng làm mất lòng chị Ba.
Tôi nói: “Chị hơi nặng lời đấy.” Rồi bỏ đi ra bãi.
Bến Củi không còn ai. Tôi một mình vác củi chất vào từng thước khối theo những cây cọc, Ba Canh đã đóng sẵn từ trước. Hôm nay, anh theo xe ra chợ lấy hàng. Tôi làm mãi đến xế chiều. Mồ hôi đầm lưng áo. Khô cổ, khát nước. Trời oi nồng, đứng gió. Muốn vào quán để uống ly nước đá, nhưng nghĩ lại thái độ khó chịu của chị Ba, tôi ngại. Tôi đi chếch về phía tây Bến Củi, nơi có ngôi đình lâu ngày không được trùng tu.
Ngày tôi mới đến, trông thấy một bên hiên đình quằn xuống sắp đổ. Hình ảnh hư hao tàn tạ cuốn hút lòng tôi. Tìm ở đâu cho xa? Một nơi chốn mà người đời quên lãng, sẽ là nơi trú ngụ an toàn cho con chim tơi tả trước cơn dông thời cuộc. Mái đình xưa, lợp ngói âm dương phủ màu rêu xám. Cuối nóc đình, chỗ giáp với đầu hồi có gắn con hạc bằng đồng thau. Hạc xoãi cánh như đang chấp chới bay lên để thoát khỏi sự sụp đổ của ngôi đình, mà đôi chân tội nghiệp cứ dính chặc vào đầu hồi. Dù không bay trong không gian, nhưng con hạc vẫn bay suốt thời gian gần trăm năm từ ngày dựng đình. Phía sau con hạc, cỏ dại và những cây con mọc đầy trên mái. Lớp lớp rêu phong âm thầm nói lên biết bao điều ý nghĩa. Những ai hăm hỡ xẻ gỗ dựng đình từ thế kỷ trước, đều khuất bóng cả rồi. Thần linh phiêu hốt nơi đâu mà tượng gỗ xiêu xó nơi này? Không được trùng tu, nhưng số phận ngôi đình vẫn còn may mắn. Nhờ ở vào vị thế địa dư hẻo lánh, không có tiếng tăm linh hiển vang xa nên thoát được cái hoạ san bằng bởi chiến dịch triệt hạ những đình chùa lăng miếu, quét sạch nền văn hoá cũ của bao đời cha ông để lại.
Đã bao nhiêu đêm, tôi nằm trăn trở dưới mái hậu liêu. Nghe chim đớp muỗi vỗ cánh chạm xạc xào trong khóm lá ngoài kia. Nghe tiếng dơi chí choé cắn nhau dưới mái ngói bên hàng hiên sắp đổ. Thấm thía nhứt là tiếng vạc kêu sương rớt xuống tự trên lưng chừng trời. Dường như trong tịch mịch lặng im, tiếng vạc lẻ loi làm tôi thấy rõ hơn về nỗi quạnh hiu của mình. Những đêm trăng tỏ, tôi thường đứng trông ra Bến Củi. Những khối củi mập mờ nhìn từ xa, như những chiếc xe tăng đang lổn nhổn tiến về phía bìa rừng. Bồi hồi nhớ lại thời còn chiến tranh. Một binh lực hùng mạnh là thế, bỗng một ngày tán loạn rã tan. Chuyện vô lý tưởng chừng như cơn mơ. Đến khi lủ khủ dắt nhau vào tù, mới bừng ra sự thật. Từ ấy trở đi, lý lịch tôi mang một dấu ấn lớn, không mong gì bôi xoá để làm lại cuộc đời. Tôi về Tầm Lanh như người xưa bất đắc chí quay về sằn dã. Ẩn nhẫn mà sống. Nhưng bất cứ nơi nào, tôi cũng thấy bi đát. Hoàn cảnh một cô Kiều trưa nay, cũng làm tôi suy nghĩ. Tôi có hơn gì cô đâu. Đời đã lâm vào thế bí. Trở lui không được, tiến tới không xong.
(2)
Đêm đã khuya. Sương mù xuống lạnh màu trăng. Hình như có tiếng
chân ai dẵm lên những phiến lá khô ngoài sân đình. Tôi nhỏm dậy. Một người vừa
bước đến bên thềm hậu liêu.
Tôi ngạc nhiên: “Chị Ba. Có gì mà ra đây giờ này?”
“Cũng có chút việc.” Chị nói nhỏ.
“Việc gì? Tôi có thể giúp chị không?” Vừa hỏi, tôi vừa vén tấm
mùng vắt lên nóc.
Chị e dè ngồi xuống mép giường: “Anh có giận tôi không?”
“Giận chuyện gì?”
“Hồi trưa, tôi lỡ lời.”
“Không đâu. Chị nói cũng đúng. Tôi hay rà rê với mấy cô ấy.”
“Tôi biết anh làm thế vì buồn.”
“Vâng. Tán gẫu cho qua ngày.”
“Nhưng anh phải lựa người chứ.”
“Có tính chuyện lâu dài đâu mà chọn lựa?”
“Giữa ban ngày kề vai bá cổ với gái điếm, không sợ người ta cười
sao?”
“Cái thân cùng đinh mạt kiếp như tôi, còn sợ ai cười nữa?”
“Thấy chướng quá, tôi có nặng lời. Anh buồn không?”
“Tôi buồn, nhưng không phải buồn chị.”
Chị ngó tôi, thì thầm: “Buồn ai?”
“Buồn vì… buồn. Thế thôi.” Tôi ngập ngừng lúng túng. Cảm giác có
điều gì bất thường.
“Buồn vì cô đơn hả?” Chị liếc con mắt gợi tình.
Dưới ánh trăng khuya nghiêng rọi vào hậu liêu, nét mặt chị Ba có
sức quyến rũ lạ lùng. Mùi xà bông chanh trên tóc, mùi đàn bà quyện vào nhau
thoang thoảng. Những đêm nằm một mình dưới mái hiên, tôi thèm được hôn hít vuốt
ve một thân thể mềm mại ấm áp của người nữ. Nhưng, chưa bao giờ tôi dám nghĩ
người ấy là chị Ba.
“Nói đi. Có phải buồn vì cô đơn?”
Chị lẵng lơ nhìn tôi và đưa tay vén mớ tóc giạt qua một bên cổ.
Bộ ngực vun đầy phập phồng dưới lớp áo mỏng nghiêng về phía tôi.
“Chị Ba ơi…, còn anh Ba Canh.”
Nói thế, nhưng hình ảnh Ba Canh đã mờ nhạt trong tâm trí tôi rồi.
Giờ đây, chỉ còn chị Ba như một khối nam châm dục vọng có sức thu hút làm
nghiêng đổ những người đàn ông lòng dạ sắt đá.
“Ảnh đi ra chợ. Anh cũng biết mà.”
Chị nói mà không nhìn vào tôi, như một khuyến khích muốn làm gì thì làm đi. Không nhìn là để anh hành động được tự nhiên. Hơi hướm từ cổ chị Ba phả vào mũi tôi cám dỗ. Tôi hồi hộp nghe rõ hơi thở dồn dập của mình, đồng thời với nhịp tim đập liên hồi trong lồng ngực.
Bỗng có tiếng dơi kêu chí choé bên kia hàng hiên. Tôi bàng hoàng
tưởng như tất cả những bức tượng ngả nghiêng đóng bụi trong đình đều chỗi dậy
la ó. Quỷ Thần kéo nhau ra hậu liêu, đứng nhìn chị Ba và tôi. Tôi chợt nhớ lại
ngày còn bé, đọc chuyện Một Vị Quan Thanh Liêm đời xưa, trong sách Giáo Khoa
Thư. Có người mang của hối lộ đến. Vị quan từ chối. Người ấy nói: “Xin quan cứ
nhận. Chuyện này không ai biết.” Vị quan nói: “Sao không? Ông biết. Tôi biết.
Quỷ Thần Trời Đất biết.” Chuyện của Chị Ba và tôi đêm nay, dù Ba Canh không biết,
nhưng chị Ba biết, tôi biết, và Quỷ Thần Trời Đất biết.
Ngọn đèn lương tâm sắp tắt. Tôi cố thắp lên bằng cách bước ra đứng
ngoài hiên. Ánh trăng mờ và lạnh.
“Chị Ba ơi, về đi. Lỡ có người trông thấy thì… chết.” Tôi nói với
chị Ba, cũng như nói với chính mình.
Chị ngỡ ngàng ngồi sững. Tội nghiệp chị. Tội nghiệp luôn cả tôi
nữa. Tôi muốn quay lại ôm lấy cái thân thể chín muồi dục vọng, ngả xuống mặt
giường. Tôi và chị sẽ quấn lấy nhau, sẽ chìm vào nhau, và trong giây phút sẽ
cùng nhau chết đuối trên chiếc giường này. Lúc đó, ngoài tôi và chị, tất cả những
gì chung quanh không còn gì quan trọng.
“Thôi, tôi về. Đã theo tán tỉnh mấy con đĩ, còn lên mặt đạo đức
làm cao.”
Câu nói như một gáo nước lạnh, bất ngờ dội xối vào mặt tôi. Chị
thay đổi thái độ nhanh vô cùng. Từ khuôn mặt hừng hực lửa tình quyến rũ, đôi mắt
lẳng lơ mời gọi, bỗng trở thành lạnh băng. Tôi hụt hẫng, chưa định được phản ứng
thế nào. Chị vùng vằng bỏ đi. Không biết nghĩ sao, chị dừng lại ngập ngừng.
“Anh hứa không nói với ai?”
“Vâng. Tôi hứa.”
Chị quay lưng. Thấp thoáng dưới trăng, bóng chị Ba mờ khuất
ngoài Bến Củi.
Tôi nằm thao thức suốt đêm. Chuyện xảy ra không lường trước được.
Tôi đã bỏ lỡ dịp may. Một con mèo đói vụng về đánh mất miếng mỡ. Tôi thầm tiếc,
nhưng cảm thấy yên lòng. Ngày mai nhìn lại Ba Canh, tôi không xấu hổ với lương
tâm mình.
Bình minh lên. Tôi dậy muộn. Nghe tiếng quạ kêu trên đầu cây sao
già. Tiếng quạ kêu rất thảm. Trong tiếng quạ sáng nay, dường như có pha thêm điều
gì thảng thốt. Có lẽ, lòng tôi bắt đầu nhuốm bệnh?
Mọi sinh hoạt của Bến Củi vẫn bình thường. Chị Ba đối với tôi
cũng bình thường. Nhiều khi tôi tự hỏi, chị còn nhớ gì trong đêm ấy không? Khó
mà biết được ý nghĩ của chị. Trong cái đầu của mỗi người đàn bà, có cả một kho
tàng bí mật.
Anh Ba Canh bao giờ cũng tử tế. Lòng anh đơn giản. Anh tưởng
lòng người cũng đơn giản như anh. Anh thường khuyên tôi nên tìm một người đàn
bà goá để gán ghép hai cuộc đời cô đơn làm một. Vì quá thật thà, anh đâu biết
có những cặp vợ chồng đang đi trên lưỡi dao cạo. Đến một ngày nào đó, hiểu ra
thì con tim đã bị cứa nát rồi. Chừng nào anh Ba Canh mới thấu được lòng dạ chị
Ba? Lúc ấy, liệu anh làm sao với con tim chảy máu của mình?
Ba năm tôi ở Tầm Lanh. Kẻ lạ chợt đến chợt đi. Tình người dưng
nước lã. Tôi nương tựa vào gia đình Ba Canh, coi đây là chỗ thân tình duy nhất.
Đứa con gái lớn của anh, tên Mận, học hành dang dở. Tôi đến chơi, thường vẫn dạy
thêm cho Mận về những môn thường thức của nhà trường. Năm mười lăm tuổi,
Mận nghĩ chuyện gì ở trên đời, tôi cũng thông suốt.
Mận hỏi: “Chú ơi, muối lấy từ đâu?”
Tôi nói: “Từ trong nước biển.”
“Tại sao nước biển có muối nhỉ?”
“Vì nước biển mặn.”
“Tại sao nước biển mặn?”
“Vì nước biển có muối.”
Cái kiểu trả lời theo chu kỳ vòng tròn của tôi, làm hai chú cháu
cười ngất.
Năm mười sáu tuổi, Mận nói: “Chú ngon hơn ông Nguyễn Công Trứ.”
Tôi hỏi: “Tại sao?”
“Ông Nguyễn Công Trứ đang làm quan bị hất xuống làm lính, vẫn chạy
theo sau chiếc xe công danh réo gọi ơi ới. Còn chú, nghe ba cháu nói cũng đang
làm quan gì đó, rồi bị đi tù, trở về đi vác củi, không thèm chạy theo cách mạng.”
“Hoàn cảnh mỗi thời mỗi khác. Không so sánh thế được đâu. Cháu đừng nhắc chuyện cũ để chú yên thân làm nghề vác củi.”
Năm mười bảy tuổi, Mận nói: “Chú ơi, chú giống ông Trần Tế
Xương.”
Tôi hỏi: “Ổng là thi sĩ. Chú là phu vác củi. Sao lại giống
nhau?”
Mận lật quyển sách, đọc:
Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy
Có chăng, chừa rượu với chừa trà.
Rồi ngước lên nhìn tôi: “Chú cũng vậy. Không chừa được đàn bà.”
“Đàn bà đâu? Chú đang sống độc thân mà.”
“Hừm… Cháu thấy mấy cô làm đĩ, bu vào chú nói chuyện hoài.”
“Ừ, thì nói chuyện cho… vui.”
“Không được. Chú phải chừa cái thứ ba luôn.”
Tôi kêu: “Trời ơi! Chú đâu phải thầy tu mà chịu đủ thứ điều răn
giới luật?”
Mận khẳng định: “Người tốt không giao thiệp với người xấu.”
Trong mắt Mận, tôi là người tốt. Mận không muốn tôi lân la gần
gũi những người mà Mận cho rằng xấu. Mận đâu biết trên cõi đời ô trọc này,
không thể nhìn bề ngoài con người mà tỏ được vàng thau. Mận thừa hưởng tấm nhan
sắc mặn mà của mẹ, còn tính nết ra sao, chỉ có trời biết.
Một chiều nghỉ việc sớm, tôi đi thơ thẩn trên sân đình.
Mận đến, nói: “Má cháu bảo đem biếu chú trái dưa hấu đầu mùa.”
Và đặt trái dưa xuống bậc thềm.
Tôi nói: “Tránh chỗ đó. Coi chừng mái hiên sập xuống bất cứ lúc
nào.”
Chúng tôi đi vòng ra đứng trước cửa tiền đình.
Mận nhìn cánh cửa gỗ mối mọt hư hao: “Cái đình này ghê quá.”
“Cháu có vào bên trong bao giờ chưa?”
“Hồi nhỏ, cháu thường vào mỗi khi có dịp cúng đình. Nghe nói Thần
đình được sắc phong của vua. Sắc đựng trong cái hộp gỗ, để bên cạnh bức tượng.”
“Mình vào coi thử đi.”
Tôi mở cửa chính điện. Bụi thời gian lả tả rơi đầy trên tóc,
trên vai. Lâu ngày không ai quét dọn, mùi cứt dơi xông nồng lên mũi. Nền đình
lót gạch Tàu. Dấu chân chúng tôi in trên màu bụi xám. Trong đình âm u. Ánh sáng
bên ngoài hắt qua cửa chính mờ mờ, đủ nhìn thấy bàn thờ và bức tượng. Hai tấm
liễn màu đỏ hai bên, viết bằng Hán tự. Bụi phủ, nhện giăng. Tượng Thần không lớn
mà uy nghiêm. Hộp đựng sắc vua phong làm bằng gỗ mun, được che bởi miếng vải lụa
điều. Tôi giở miếng vải lụa. Trên nắp hộp có hình một cặp giao long khảm xa cừ
lóng lánh
Tôi toan mở, Mận ngăn: “Không được.”
“Sao không?.”
“Chẳng phải ai cũng có thể mở hộp ra coi được đâu.”
“Vậy ai có thể mở?”
“Cháu nghe nói, chỉ những vị chức sắc làm lễ xin phép Thần trước
khi mở hộp.”
“Những vị chức sắc, bây giờ ở đâu?”
“Không biết.”
Mận đứng nép vào tôi, ngó dáo dác chung quanh.
“Mình đi ra, chú! Vào đây, cháu thấy sờ sợ.”
Mùi tóc, mùi của người nữ thoảng vào mũi tôi. Tôi muốn đứng đây
mà hít thở. Và Mận cứ nép vào tôi như thế mãi. Hơi ấm thịt da con gái luồn vào
tôi một nỗi gì êm đềm lâng lâng khó tả. Tôi định nói một câu thân tình âu yếm,
nhưng lại thốt khác đi.
“Mai cháu đem cây chổi cho chú mượn. Chú muốn quét dọn bên trong
ngôi đình.”
Mận ngước nhìn tôi: “Không… Đừng động đến mọi vật trong này.”
Tôi nói thêm một câu thật lảng: “Vì tôn trọng tín ngưỡng, tập tục lễ nghi của ngưới đời trước, chú không mở hộp để coi sắc phong thần vua ban.”
Mận cầm tay tôi lay nhẹ: “Chú!”
Bàn tay Mận đẫm mồ hôi. Xa đàn bà lâu quá, tôi đâm ra ngờ nghệch
vụng về không biết nói lời gì.
“Mình đi ra, chú!” Mận giục.
Tôi nói nhỏ: “Hãy khoan.”
Mận kêu: “Không. Cháu sợ, chú ơi!”
Chẳng biết Mận sợ sự âm u của ngôi đình, hay sợ nỗi gì khác.
Chúng tôi ra tới cửa chính. Bất ngờ, thấy chị Ba đứng sẵn nơi tiền
đình. Tôi gật đầu chào chị.
Mặt chị có vẻ khác thường: “Các người làm gì trong ấy?”
Mận nói: “Chú định coi sắc vua.”
“Hừ… Sắc vua?”
Chị nắm tay Mận lôi về, không thèm ngó đến tôi.
Hôm sau, tôi gặp lại Ba Canh ngoài bãi. Anh không nói gì. Thái độ
rất lạnh.
Tôi hỏi: “Anh có điều gì không vui?”
Anh ngừng tay làm việc, rút thuốc ra hút và đứng suy nghĩ.
Mãi lâu sau, anh nói: “Tôi quý chú em, coi như người nhà. Không
ngờ, chú tệ quá.” Anh thở dài.
“Tôi làm những gì mà anh gọi là tệ?”
“Những gì chú cũng biết rồi. Con Mận còn khờ. Chú là người hiểu
biết. Miếu đình là chốn linh thiêng. Sao lại đem nhau vào trong ấy…?”
“Có phải chị Ba thêu dệt chuyện này?”
“Ai dám thêu dệt chuyện động trời như thế.”
“Anh đã hỏi kỹ lại con Mận chưa?”
“Làm sao nó có thể nhận một hành động tày trời? Nó chối. Khóc
kêu oan.”
Tôi gắt: “Anh cũng tin lời chị sao?”
“Không tin vợ thì tin ai?” Nếu vợ tôi không bắt gặp tại trận, chỉ
nghe lời đồn thì cũng khó tin được.”
“Bắt gặp thế nào?”
“Chú là người trong cuộc, chú biết rõ hơn ai hết. Tôi không nói
là vì còn nể mặt nhau.”
Tôi muốn đấm ngực than trời. Mận khóc kêu oan. Còn tôi, kêu với
ai? Đính chính thế nào?
“Bây giờ anh tính sao?”
“Chuyện xảy ra quá đột ngột, tôi chưa biết đường nào giải quyết.
Đàn bà nhiều khi sáng suốt hơn mình. Vợ tôi nói vì danh dự của chú và con Mận,
không nên làm ồn vụ này. Nó phải giữ danh giá để mai kia còn lấy chồng. Chú nên
rời khỏi Tầm Lanh, cắt đứt ngay mối tình vụng trộm.”
Cái câu “chú nên rời khỏi Tầm Lanh” làm tôi hiểu rõ ý định của
chị Ba. Chị không hiểu lầm. Chỉ vì không muốn tôi còn lảng vảng quanh đây, sợ một
lúc nào đó, tôi sẽ tiết lộ cái đêm trăng cũ chị đến mái lậu liêu. Nếu lần ấy,
tôi đồng tình với chị thì hai người cùng giữ bí mật. Và chị cũng không cần phải
dựng đứng lên một điều không có thật giữa tôi và Mận. Bây giờ, dù tôi có vạch
rõ âm mưu của chị Ba, thì anh Ba Canh cũng sẽ cho rằng tôi đặt điều bêu xấu vợ
anh để chạy tội cho mình.
Tôi nói: “Anh Ba, mai tôi rời Tầm Lanh. Xin anh nhắn với chị rằng,
vì muốn bảo vệ danh giá của mình, chị đã vu oan cho tôi và con Mận.”
“Vu oan? Tôi không nghĩ thế. Và cũng không hiểu ý của chú muốn
nói gì?”
“Hiểu sao được khi anh đang sống ngọt ngào trên lưỡi dao cạo.
Tôi và con Mận đã bị đứt tay rồi. Không biết chừng nào tới anh.”
Trên chuyến xe rời Bến Củi, tôi thấy Mận đứng dưới mái hiên, ngùi trông theo. Chẳng biết Mận có khóc hay không. Bóng xế hắt hiu trên đầu cây sao già. Ngôi đình cũ vẫn im lìm như ngày tôi mới đến. Ba năm. Cây rừng Tầm Lanh mọc rễ trong tôi. Tôi nhổ gốc ra đi. Không có ai vẫy tay làm đưa tiễn./.
Lâm Chương
Những Gì Quan Trọng Nhất Trong Đời Chúng Ta? - BS. Nguyễn Thượng Vũ
Trong 1 forum tiếng Pháp mà tôi là thành viên, mấy ngày trước chúng tôi có bàn về một đề tài quan trong cho tất cả chúng ta: những gì quan trọng nhất trong đời chúng ta?
Có nhiều câu trả lời khác nhau, tùy theo tuổi tác, tùy theo giới tính, tùy theo từng lớp trong xã hội.
Phần lớn không phải là một lựa cọn duy nhất, mà là một nhóm lựa chọn.
Tôi tóm tắt phía
dưới các bàn luận chung cho cuộc bàn luận nhiều ngày này. Tôi ước mong các anh
chị sẽ cho thêm ý kiến cho bài viết đầy đủ hơn
Nguyen Thuong Vu
Phần lớn lựa chọn là: Sức Khòe, Vợ hay chồng, bạn hữu, Tiền Nong, Giáo dục, nghề nghiệp, bằng cấp.
Chúng tôi gạt bỏ lựa chọn như Bố Mẹ, con cái , vì chúng ta không lựa chon được bố, mẹ, con cái hay anh em.
Lựa chọn bạn hữu thì được chứ không lựa chon được anh em.
Mỗi người chúng ta
có những ưu tiên riêng tư cho chính mình.
Không có một tỷ lệ
“đúng tuyệt đối” nào cho tất cả mọi người, vì ưu tiên trong cuộc sống
thay đổi theo tuổi tác, văn hóa, tính cách và hoàn cảnh.
Nhưng các nghiên cứu
về tâm lý học, y học và hạnh phúc lâu dài thường đồng ý với nhau ở một điểm
quan trọng:
Một cuộc sống tốt đẹp thường được xây dựng trên sự cân bằng, / balance/equilibre/ chứ không phải chỉ tối đa hóa một yếu tố như tiền bạc hay sự nghiệp.
Một cách thực tế để nhìn
về các ưu tiên trong đời sống có thể là:
- Sức khỏe (thể chất và tinh thần): 30%.
- Không thể quên/loại bỏ/ coi rẻ/ sức khỏe tinh thần được.
- Quan hệ gia đình và tình cảm (vợ/chồng, gia đình, bạn thân): 25%
- Khổng thể gạt bỏ tính cách quan trọng tình cảm giữa những liên hệ đồng tình luyến ái được
- Những mối quan hệ bền vững là một trong các yếu tố dự đoán mạnh nhất về hạnh phúc và tuổi thọ.
- Giáo dục và học hỏi liên tục: 15%
- Việc học / giáo dục/ kiến thức/ giúp con người có phán
đoán tốt hơn, thích nghi tốt hơn và có nhiều cơ hội hơn trong suốt cuộc
đời.
- Ý nghĩa sống / lý tưởng / giá trị tinh thần: 15%
- Con người cần một lý do để thức dậy mỗi ngày, vượt lên
trên chuyện chỉ kiếm sống hay tiêu dùng.
Đức tin tôn giáo rất quan trọng
- Ổn định tài chính: 10%
- Tiền bạc giúp giảm căng thẳng và tạo sự tự do.
- Nhưng sau khi đã đủ an toàn và ổn định, tác động của tiền đến hạnh phúc giảm dần.
- Giải trí / nghệ thuật / đời sống tinh thần: 5%
- Âm nhạc, nghệ thuật, thiên nhiên, niềm vui hay đời sống tâm linh giúp nuôi dưỡng sự cân bằng nội tâm.
Các bài khảo cứu về
Thi thơ, Âm nhạc cổ điên hay tân nhạc của BS Nguyễn Văn Bảo, BS Phạm Anh Dũng ,
Nguyên Bích, Khanh Phương , thuộc về địa hạt này.
Các tỷ
lệ này không chỉ nói về thời gian, mà còn nói đến:
- mức độ quan tâm,
- năng lượng tinh thần,
- sự đầu tư cảm xúc, (emotional investment)
- và tầm quan trọng lâu dài. ( long-term importance) .Một
người ban quen trong khi du lich thì hường ít có đầu tư cám xúc.
Một điều đáng suy nghĩ
là:
Nhiều
người lớn tuổi thường nói rằng:
- Ít ai hối tiếc vì mình đã không kiếm thêm được một ít tiền.
- Nhưng rất nhiều người hối tiếc vì đã làm hỏng sức
khỏe, đánh mất gia đình hay bỏ quên những người thân yêu.
Điều đó không có
nghĩa tiền bạc không quan trọng.
Thiếu an toàn tài chính
có thể gây áp lực rất lớn. Nhưng tiền bạc khác với sức khỏe và tình cảm:
- Đến một mức nào đó, tiền giúp cuộc sống tốt hơn rất
nhiều.
- Nhưng vượt quá mức cần thiết, hiệu quả tiền
bạc đem lại hạnh phúc sẽ giảm dần.
Có thể hình dung cuộc
sống như một cái bàn có bốn chân:
- Sức khỏe
- Quan hệ tình cảm
- Ý nghĩa sống
- Ổn định tài chính
Nếu một chân gãy hoàn
toàn, cái bàn sẽ mất cân bằng.
Theo tuổi tác, ưu tiên
cũng thay đổi:
- Tuổi trẻ (15–30): học hành, kỹ năng và xây dựng bản
thân có thể chiếm tỷ trọng cao hơn.
- Trung niên (30–55): gia đình, con cái, sự nghiệp và tài
chính trở nên quan trọng hơn.
- Tuổi lớn hơn: sức khỏe và những mối quan hệ ý nghĩa
thường trở thành ưu tiên hàng đầu.
(Health and meaningful relationships usually become dominant)
priorities.)
Một thứ tự ưu tiên mà nhiều người cuối cùng nhận ra là:
- Sức khỏe
- Nhân cách và khả năng phán đoán .
- Tình cảm và gia đình
- Công việc có ý nghĩa
- An toàn tài chính
- Danh vọng và địa vị
Điều đáng chú ý là “địa
vị” thường đứng khá thấp. Nhiều người dành quá nhiều năng lượng để theo
đuổi danh tiếng / địa vị/ tiền bạc/ mà quên mất sức khỏe hoặc gia đình.
Nếu muốn tóm gọn thành
một công thức đơn giản:
- 30% Sức khỏe
- 25% Tình yêu và các mối quan hệ gia đình, bạn hữu
- 20% Học hỏi , giáo duc và phát triển bản thân
- 15% Ý nghĩa sống và cống hiến, giúp đỡ xã hội và nhân
loại
- 10% Tiền bạc , nhà cửa và vật chất
Điều quan trọng không
phải là các con số chính xác, mà là tránh cực đoan:
- chỉ có tiền mà không có sức khỏe,
- chỉ có sự nghiệp mà không có gia đình,
- chỉ hưởng thụ mà thiếu kỷ luật,
- chỉ làm việc mà thiếu ý nghĩa sống tâm linh .
Một cuộc đời cân bằng
thường gồm:
- đủ tiền để sống an ổn,
- sức khỏe tốt,
- có người để yêu thương,
- có việc làm có ý nghĩa,
- và luôn tiếp tục học hỏi. ( nghe âm nhạc hàng ngày, chơi cờ, ca hát, nhẩy múa, đọc sách...)





