Monday, May 4, 2026

Một Người Không Chân Nhưng Đứng Rất Cao - Phan Hoàng My


Đây là câu chuyện của cậu tôi. Một câu chuyện bi thảm với những tình tiết khó có thể tưởng tượng cho dù đường đời muôn nẻo luôn không thiếu những chuyện xúc động lòng người. Chuyện cậu tôi cho thấy nghịch cảnh và định mệnh dù khắc nghiệt tàn nhẫn như thế nào vẫn có khi phải gục đầu khuất phục trước ý chí mãnh liệt của con người.

Xã Bình Đào, Huyện Thăng Bình, Tỉnh Quảng Nam. Một buổi trưa hè định mệnh, năm 1947. Ở cái xứ sở cằn cỗi nóng bỏng da này, sỏi đá nhiều hơn cơm gạo, xương rồng nhiều hơn cây lá. Dân tình nghèo xác xơ, cơm bữa no bữa đói. 


Bình Đào nằm trong vùng thả bom oanh tạc của Pháp, vì có nhiều căn cứ Việt Minh. Nhà nào cũng có cái hầm trú bom để lao xuống núp mỗi khi nghe tiếng máy bay, cái thứ âm thanh chẳng khác gì khúc nhạc hiệu của thần chết.

Vậy mà trưa hôm đó, máy bay tới quá nhanh, bất ngờ, không ai trở tay kịp.

2 trái bom xé toạc không trung với tiếng rú rít ghê hồn, đâm thẳng xuống nơi một nhóm trai làng đang chất rơm. 5 người đàn ông chết tức tưởi. Xương thịt quyện với rơm, máu tươi trộn vào đất. Chưa hết, một mảnh bom văng vào ngôi nhà sát bên, giết thêm một phụ nữ bụng chửa vượt mặt, và một em bé gái mới 2 tuổi. 

Chỉ trong vòng vài phút, 8 sinh linh vô tội, trong đó có một hình hài chưa một lần kịp thấy ánh mặt trời, bỗng chốc trở thành tro bụi. Tất cả đều là người nhà của cậu Hai Nhật tôi, lúc ấy vừa 4 tuổi. Trong chớp mắt, cậu bé nói còn chưa rành phải mồ côi cha mẹ và mất đi luôn 2 người em nhỏ. Từ đó, cậu Hai Nhật về ở với ông bà ngoại của cậu. Trưa hôm đó, cũng nhờ chạy qua nhà ông bà ngoại chơi mà cậu thoát chết.


Năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết. Bình Đào lọt vào tay Cộng sản. Không còn gì níu chân ở quê, cậu lên Sài Gòn, gia nhập quân đội, mang trong tim mối thù không đội trời chung với Cộng sản. Tiểu đoàn 1 của cậu đóng quân tại thị trấn Phú Thứ thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế. Lại một buổi chiều định mệnh. Trên đường hành quân, một trái mìn Cộng sản gài đã nổ tung dưới chân cậu. Tỉnh dậy trong bệnh viện, nhìn xuống tấm drap mỏng đắp trên người, cậu đau đớn nhận ra đôi chân đã bị trái mìn cướp mất. Hai chân bị cưa đến gần háng.

Tủi thân và đau đớn tột cùng, cậu chỉ nghĩ đến cái chết. 20 tuổi, không cha mẹ anh em, chưa một lần nắm tay một người con gái. Tại sao số phận có thể bất công như vậy! 

Nghiệt ngã hơn, khi vết thương bắt đầu khép miệng thì hai cái xương đùi bướng bỉnh lại mọc, chọc thủng da thịt để trồi ra ngoài. Bác sĩ phải cưa, rồi ít lâu sau chúng lại mọc tiếp... Cuối cùng cậu ra bệnh viện, sau vô số lần mổ xẻ tan nát da thịt. Cậu ngồi xe lăn, và tập làm quen với đôi nạng gỗ. Một người bà con giúp cậu có được một căn nhà nhỏ tại chung cư Phạm Thế Hiển ở Sài Gòn và gửi cậu đi học sửa điện tử gia dụng. Cậu ra nghề, mở một tiệm nho nhỏ ngay trong căn nhà mình.


Mỗi ngày cậu ngồi nơi cửa sổ, cặm cụi sửa máy. Cậu lặng lẽ quen với cuộc sống mới. Một ngày kia, số phận vốn khắc nghiệt bắt đầu mỉm cười với cậu. Một cô gái nết na trong xóm sáng nào cũng xách giỏ đi chợ ngang ô cửa sổ cậu ngồi…

Như trong chuyện cổ tích, họ yêu rồi cưới nhau. Cậu không còn thui thủi một mình. Mợ làm ấm áp căn hộ nhỏ. Cậu yêu quý mợ vô vàn vì mợ là tất cả những gì cậu có trên đời này. 


Mợ yêu cậu khôn tả. Rồi những đứa con lần lượt ra đời. 2 cô con gái đầu đẹp như thiên thần. Rồi đến 2 anh con trai. Tên của 2 anh là địa danh mà cậu đã gửi lại đôi chân: Phú và Thứ. Rồi một người con gái nữa. Cậu mợ có tất cả 5 người con.

Sau 1975, như bao nhiêu người miền Nam khác hứng chịu thảm kịch “giải phóng”, cậu mợ xoay sở đủ thứ để nuôi đàn con. Cậu mua máy dệt vải. Nhà cậu lúc nào cũng xoành xoạch tiếng con thoi. Cậu mợ làm thêm kem chuối bán trong xóm. Một tay cậu coi sóc hết tất cả máy móc. Máy dệt, tủ kem, tủ lạnh... cậu sửa được hết. Cậu thoăn thoắt nhảy qua lại giữa xe lăn và chiếc ghế đẩu mà làm đủ việc. Khi cần ra ngoài, cậu có hẳn một chiếc xe máy ba bánh tự chế.


Một đêm nọ, cô con gái giữa – lúc ấy chừng 5-6 tuổi – đột nhiên lên cơn sốt dữ dội. Cậu mợ bế vô bệnh viện thì hôm sau cô bé qua đời. Cậu mợ như muốn điên lên, đau khổ tột cùng. Tôi vẫn còn nhớ rõ bàn thờ nhà cậu có khung ảnh cô bé mặc áo đầm bông xinh như một búp bê, bên cạnh khung hình là đôi giày màu trắng. Mỗi lần đi ngang bàn thờ, tôi len lén nhìn gương mặt bầu bĩnh ấy, đôi giày như giày của búp bê ấy, với một cảm giác sờ sợ chen lẫn cảm thương.


10 năm sau bi kịch 1975, cậu biết mình không thể sống chung với Cộng sản. Cậu xoay sở đủ cách để có thể mua được đủ “vé” cho chuyến tàu vượt biên đi cùng cả nhà. Cuối cùng, gia đình cậu đến được nước Mỹ. Họ định cư ở Seattle. Không tiền bạc, tiếng Anh không rành, hai vợ chồng chỉ có... một đôi chân, với 4 đứa con nhỏ. Cậu mợ làm đủ mọi việc có thể để kiếm tiền. Mợ còng lưng từ sáng đến tối bên chiếc máy may. Cậu ngồi cạnh, dưới sàn, giữa đống áo quần vải vóc. Mợ may xong cái nào thì thảy qua; cậu cắt chỉ xếp lại ngay ngắn.


Như lúc còn ở Việt Nam, cậu tôi, người đàn ông không chân, vẫn là trụ cột của cả gia đình. Cậu xông xáo không nề hà bất cứ việc gì. Để có thể lái xe hơi, cậu có chiếc xe van đặc chế, “đạp” thắng hay ga đều dùng tay. Vậy mà cậu lái bon bon chở mợ đi chợ, đi giao hàng, hay đưa rước các con ở trường. Nhà cậu có 2 chiếc ghế gỗ bóng nhẵn: Đó là “đôi chân” trong nhà của cậu. Cậu dùng tay thoăn thoắt di chuyển thân mình trên 2 chiếc ghế. Thế mà cậu làm được hết, từ cắt cỏ, nấu ăn, rửa chén đến sửa chữa điện nước…


Mấy anh chị không phụ lòng cậu mợ. Tất cả đều học rất giỏi. Đặc biệt anh Thứ. Năm đó khi ra trường, anh được bằng khen của Tổng thống Bill Clinton, và được chọn đọc diễn văn trong lễ tốt nghiệp. Chiều hôm trước lễ ra trường, 3 anh em chở nhau đi mướn complet cho anh Thứ...


Và không ai có thể tin nổi, một lần nữa số phận nghiệt ngã lại giáng xuống gia đình cậu tôi. Một tai nạn giao thông thảm khốc xảy ra. Chiếc xe chở 3 người con của cậu bị một xe khác vượt đèn đỏ tông vào nát bấy. Khi được báo tin, cậu mợ như muốn chết đứng. Khi họ đến bệnh viện, 3 đứa con nằm ở 3 chuyên khoa khác nhau. 

Tôi không biết trong cuộc đời cậu, giây phút nào là kinh hoàng nhất? Khi cha mẹ và 2 em bị thịt nát xương tan vì bom Pháp? Khi nhận ra mình mất đôi chân? Khi ôm xác đứa con gái bé bỏng? Hay cảnh tượng 3 đứa con yêu giờ đang nằm trong bệnh viện? Dường như lịch sử cứ qua một khúc quanh thì cậu lại bị cắt đi một khúc ruột.


Lần qua Seattle thăm cậu mợ, sáng thức dậy, tôi nghe tiếng máy cắt cỏ ngoài vườn. Mợ tôi đang đẩy máy cắt cỏ đi trước; sau lưng mợ là cậu, ngồi bệt trên đôi chân cụt. Cậu di chuyển bằng tay. Cỏ vừa cắt đến đâu, cậu dùng tay quây lại rồi hốt bỏ vào bao đến đó. Trong đời, tôi chưa bao giờ chứng kiến một cảnh tượng nào đẹp hơn vậy, cảm động hơn vậy. 

Tôi nhớ lại lời cô con gái của cậu kể: Trái mìn năm xưa lấy đi đôi chân vẫn không buông tha cậu. Thân thể cậu vẫn còn vô số mảnh kim loại li ti không thể lấy ra hết, khiến thỉnh thoảng làm cậu đau nhức kinh khủng. Nhưng rất ít người biết điều đó, vì chẳng bao giờ cậu than van kể lại. Cô chị họ của tôi nói, trên phim chụp x-quang, có thể thấy vô số mảnh kim loại ấy khắp cơ thể cậu.

*******

Khi tôi đang viết những hàng này, tôi không thể cầm được nước mắt: Số phận cậu tôi vẫn chưa dứt được bi ai. Người vợ yêu quý của cậu đang bị ung thư não giai đoạn cuối! Tôi không dám hình dung gì thêm. Tôi không thể miêu tả cảm giác và tâm trạng hiện tại của cậu, khi cậu ngồi bên mợ cạnh giường bệnh. Tôi không thể viết thêm bất cứ gì về cậu. Điều duy nhất làm tôi nhẹ lòng và có phần an ủi, có lẽ cũng an ủi cậu: Quanh cậu bây giờ là 8 người con, dâu rể, và hơn chục cháu nội ngoại. Cậu tôi – một đứa trẻ mồ côi – giờ đã có một tổ ấm lớn. Cậu như một gốc đa to.


Người đàn ông không chân ấy đã đi một quãng đường rất dài, vượt qua không biết bao nhiêu tai ương nghịch cảnh. Người đàn ông không chân ấy đã đến đích. Trên con đường đời đầy chông gai khốc liệt, cậu cùng mợ cuối cùng cũng gặt hái được thành quả hạnh phúc. Mợ hẳn đã có thể mãn nguyện, mỉm cười tự hào và thanh thản sau bao nhiêu năm tháng thăng trầm với một người chồng luôn đứng cao trên “đôi chân” của sức mạnh ý chí phi thường.

 

Phan Hoàng My

Phố Quê Chạnh Tình - Đỗ Công Luận


Sáng ngày 28/4/1975, đứa bạn cùng trang lứa tôi, nóng lòng sang đơn vị, cố tình chạy qua cầu Gành. Một loạt đạn nổ vang, vì đầu cầu hướng Cù lao Phố đã mất. Nó tử thương té gục, bỏ lại vợ trẻ và 4 đứa con gái, cháu lớn nhất 5 tuổi.

Vợ bạn ở vậy, chăm sóc Cha Mẹ già và 4 cô công chúa nên người.

Bây giờ các con đã có cháu nội ngoại, gia đình an vui. 

Vợ bạn ở vậy thủ tiết thờ chồng nuôi con.

Thời gian đã 51 năm qua. Bạn mất vào những giờ phút cuối của chiến tranh...


ĐCL

Tuổi Già Được Và Mất Gì? - Phạm Quốc Hùng

 

Nói về tuổi già người ta vẫn cho rằng : Tuổi già là tuổi “xế chiều”, chỉ toàn mất mát. Nhưng đi hết một vòng đời ta mới thấy: cái gì cũng có hai mặt. Già, là lúc ta mất nhiều, nhưng cũng được không ít.

Cái “mất” của tuổi già

Mất đầu tiên và rõ nhất là sức khỏe. Mắt mờ, chân chậm, đêm nằm nghe xương khớp lục cục nhói đau khi trở mình. Những bậc thang ngày xưa bước hai bậc một, giờ vịn tay mới qua. Mất sức, kéo theo mất tự do. Muốn đi xa phải tính, muốn ăn ngon phải kiêng.

Mất thứ hai là vai trò trong gia đình. Ngày trước là trụ cột, lời nói có người nghe, đe có người sợ. Về già, con cháu lớn, chúng có thế giới riêng. Họp gia đình, ý mình thành ý tham khảo. Từ “người quyết định” thành “người kể chuyện "cũ” " chuyện xưa ".

Mất thứ ba là bạn bè. Mỗi năm thưa dần một chỗ ngồi cà phê sáng. Đám tang nhiều hơn đám cưới. Điện thoại ít reo, danh bạ nhiều số không còn người nghe máy...

Mất sau cùng là thời gian. Biết chắc quỹ thời gian không còn dài. Mỗi ngày qua đi mang theo một nỗi buồn chênh chao. Mỗi tờ lịch xé đi là một lần giật mình.

Cái “được” của tuổi già

Nhưng cũng chính ở tuổi già, ta được thứ mà tuổi trẻ không có...

Ta thảnh thơi với chính mình không còn phải gồng mình với ai. Ta chẳng cần phải "diễn" Ta được sống thật, nói thật,làm thật mệt thì nghỉ, không vui thì không làm, không gượng ép. Cái quyền “không diễn” ấy tuổi trẻ làm sao có được ?

Sáng ra ta muốn dậy sớm ngắm bình minh vận động thể dục,tắm nắng chiều muốn ngủ vùi... chẳng ai phán xét.

Được hiểu mình. Trẻ thì chạy theo thiên hạ, già rồi mới biết mình thích chén trà đặc, thích bản nhạc xưa, thích ngồi yên không làm gì. Hiểu mình rồi, mới sống cho mình.

Được quyền nhớ và quyền quên. Nhớ chuyện năm 20 tuổi rõ như hôm qua, quên chuyện bực mình hôm kia. Nhớ dai kỷ niệm đẹp, quên nhanh hờn giận. Đó là món quà của trí nhớ già: nó tự lọc.

Được nhìn đời bằng con mắt nhẹ. Tranh hơn thua làm gì, khi cuối cùng ai cũng về với đất. Thấy con cãi nhau, chỉ cười: “Ngày xưa ba mẹ cũng vậy”. Thấy cháu vấp ngã, không hốt hoảng: “Đứng dậy, đi tiếp là được”. Bình thản đó, phải trả bằng cả đời mới mua nổi.

Được thương theo cách khác. Trẻ thương bằng chiếm hữu, già thương bằng buông tay. Thương con là để nó bay, thương cháu là kể chuyện ngày xưa rồi lẳng lặng nhìn nó lớn. Không giữ, nên không mất.

Được – mất, suy cho cùng là một

Ngẫm kỹ, cái mất hôm nay là cái được hôm qua. Mất sức trẻ, được thời gian chiêm nghiệm. Mất vai trò trụ cột, được làm người quan sát. Mất bạn, được hiểu vô thường. Mất thời gian dài, được biết quý từng ngày ngắn.

Tuổi già như mùa đông. Cây rụng lá, trơ cành, trông như mất hết. Nhưng trong thân gỗ đang ủ nhựa cho mùa sau. Người già rụng đi ham muốn, rụng đi sân si, chỉ còn lõi người: hiền, và thật.

Vậy nên, nếu phải chọn, đừng hỏi già “được gì, mất gì”. Hãy hỏi: “Thứ mình mất, có đáng để đổi lấy thứ mình được không?”

Với nhiều người, câu trả lời là: đáng. Đáng lắm. Vì cuối cùng, được bình yên trong lòng, là cái được lớn nhất. Mà bình yên, trẻ mấy ai có.

Tuổi già không phải đoạn kết buồn. Nó là chương cuối, viết chậm, chữ thưa, nhưng mỗi chữ đều rất nặng.


Phạm Quốc Hùng

Nguồn FB

#652 - Có Nên Trị Thoái Hóa Khớp Bằng Tiêm Huyết Tương Giàu Tiểu Cầu, Tế Bào Gốc? - BS. Phạm Hiếu Liêm

Tháng Tư Đen - Nỗi Đau Còn Đó - Danh Dự Còn Đó - BK Lê Văn Năm

Viết với tâm tình của một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa.

Mỗi năm, khi tháng Tư trở lại, lòng tôi lại bàng hoàng như sống lại những ngày cuối cùng của miền Nam tự do. Dù thời gian đã đi qua hơn nửa thế kỷ, biến cố 30 tháng 4 năm 1975 vẫn còn nguyên trong ký ức của những người lính Việt Nam Cộng Hòa như một dấu ấn bi thương không thể phai mờ. Đó không chỉ là ngày tan hàng của một quân đội, mà còn là ngày sụp đổ của một chính thể, ngày quê hương rơi vào tay cộng sản, ngày mở ra một thời kỳ quốc biến đau thương cho hàng triệu người dân miền Nam.

Chúng tôi là những người đã bước vào quân ngũ khi tuổi đời còn rất trẻ. Từ quân trường Quang Trung, Thủ Đức, từ những ngày thao diễn dưới ánh nắng gắt, từ những buổi học tập quân sự trong tiếng kèn, tiếng súng, chúng tôi lớn lên trong kỷ luật, trong tinh thần trách nhiệm, và trong niềm tin phải bảo vệ miền Nam tự do. Chúng tôi ra đơn vị, mang theo lý tưởng của người quân nhân quốc gia: bảo quốc an dân, giữ vững bờ cõi, gìn giữ tự do cho đồng bào mình.

Người lính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu không phải chỉ vì quân lệnh. Chúng tôi chiến đấu vì sau lưng mình là gia đình, là xóm làng, là mái trường cũ, là nghĩa trang tổ tiên, là màu cờ vàng ba sọc đỏ mà chúng tôi đã tuyên thệ trung thành. Bao nhiêu chiến hữu của tôi đã ngã xuống trên khắp bốn vùng chiến thuật, từ cao nguyên gió bụi đến đồng bằng sông nước, từ những tuyến đầu heo hút cho đến những địa danh mà nay chỉ còn tồn tại trong ký ức của người còn sống.

Có người ra đi khi tuổi đời mới đôi mươi. Có người vừa rời quân trường chưa bao lâu đã nằm xuống nơi chiến địa. Có người sáng còn đứng trong hàng ngũ, chiều đã trở thành tử sĩ. Họ hy sinh trong danh dự của người lính chiến. Họ ngã xuống với niềm tin rằng mình đang làm tròn bổn phận đối với Tổ quốc, đối với chính thể, đối với đồng bào miền Nam. Hôm nay, khi nhắc lại tháng Tư năm ấy, tôi không thể không cúi đầu tưởng niệm những chiến hữu đã bỏ mình vì đại nghĩa quốc gia.

Ngày 30 tháng 4 đến với chúng tôi như một nhát cắt oan nghiệt của lịch sử. Bao nhiêu đơn vị bị buộc phải buông súng trong nỗi nghẹn ngào tột cùng. Bao nhiêu quân nhân phải chứng kiến lá cờ mình phục vụ bị kéo xuống trong đau đớn và tủi nhục. Đó là giờ phút mà không một người lính chân chính nào có thể quên. Bởi kể từ giây phút ấy, không chỉ quân đội thất thủ, mà cả một miền Nam tự do cũng bước vào bóng tối.

Nhưng tai họa chưa dừng ở đó. Sau ngày mất nước, người lính Việt Nam Cộng Hòa không được đối xử như những quân nhân của một quốc gia bại trận theo thông lệ chiến tranh. Trái lại, chúng tôi bị lùa vào các trại gọi là “học tập cải tạo,” nhưng thực chất là những năm dài lao tù, khổ sai, đói rét, bệnh tật và nhục nhằn. Biết bao chiến hữu của tôi đã chết dần chết mòn trong rừng sâu núi thẳm, không thuốc men, không thăm nuôi đầy đủ, không hy vọng ngày về. Có người chết âm thầm trong tù ngục, thân xác vùi nơi đất lạ, không một nén nhang của gia đình.

Những năm cải tạo đó là một phần máu xương của đời chúng tôi. Đó là quãng đời bị cướp mất trong tuổi đang còn sức sống. Đó là những ngày tháng mà một người lính quốc gia, vốn quen sống trong danh dự và hàng ngũ, bị đẩy vào cảnh tù đày, bị làm nhục, bị tước đoạt quyền làm người. Nhưng dù phải chịu đựng đến đâu, trong sâu thẳm lòng mình, chúng tôi vẫn biết mình không hề hổ thẹn. Bởi chúng tôi đã chiến đấu cho lý tưởng tự do, và đã thua vì thời cuộc, chứ không thua vì hèn nhát.

Nếu còn một điều gì khiến chúng tôi có thể gượng đứng qua những năm dài ấy, thì đó chính là tình chiến hữu, là niềm tin vào lẽ phải, và là sự hy sinh vô bờ của những người vợ, người mẹ, người con nơi quê nhà. Những chuyến thăm nuôi lặn lội, những gói quà đạm bạc, những giọt nước mắt âm thầm của người thân đã nuôi sống chúng tôi qua những tháng năm đen tối nhất của đời mình.

Rồi một ngày, nhờ chương trình HO, nhiều người trong chúng tôi mới có cơ hội rời khỏi quê hương, đem theo vợ con tìm đường đến bến bờ tự do. Chúng tôi đến nước Mỹ không phải như những người di dân bình thường, mà như những người sống sót sau một cơn quốc nạn. Chúng tôi mang theo trong hành trang không chỉ là ít vật dụng của đời sống, mà còn là cả một trời ký ức: ký ức quân trường, ký ức chiến trường, ký ức lao tù, ký ức về một miền Nam đã mất.

Trên đất mới, chúng tôi làm lại cuộc đời bằng đôi tay đã chai sạn vì chiến tranh và tù ngục. Dù tuổi đời đã lớn, dù ngôn ngữ còn xa lạ, dù hoàn cảnh còn chật vật, chúng tôi vẫn gầy dựng lại mái ấm cho gia đình, nuôi dạy con cháu nên người, và cố giữ cho nhau ngọn lửa của tình chiến hữu năm xưa. Nhưng dù cuộc đời có đi về đâu, trong lòng người lính Việt Nam Cộng Hòa, tháng Tư năm 1975 vẫn là một mốc đau thương không bao giờ khép lại.

Hôm nay, ở tuổi xế chiều, chúng tôi không còn mong gì cho riêng mình. Điều chúng tôi mong chỉ là lịch sử được nhìn lại cho công bình, là sự hy sinh của quân dân cán chính miền Nam được ghi nhận đúng mức, là danh dự của người lính Việt Nam Cộng Hòa được trả về đúng chỗ của nó. Chúng tôi chiến đấu cho tự do. Chúng tôi đã sống đúng với lời thề danh dự. Chúng tôi có thể thua trận, nhưng không thể bị xóa bỏ phẩm giá.

Trong ngày tưởng niệm Tháng Tư Đen, tôi xin nghiêng mình trước anh linh những chiến hữu đã vị quốc vong thân, trước những người đã bỏ xác trong các trại tù cải tạo, trước những gia đình đã tan nát vì cơn quốc biến năm xưa. Tôi cũng xin thắp một nén lòng cho miền Nam Việt Nam tự do – một miền Nam tuy không còn nữa trên bản đồ chính trị, nhưng vẫn còn sống mãi trong trái tim của hàng triệu người con quốc gia.

Tháng Tư Đen là một ngày đau thương. Nhưng trong đau thương ấy, vẫn còn một điều không mất: đó là danh dự của người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Và chừng nào những người lính ấy còn được nhắc nhở, chừng đó chính nghĩa quốc gia vẫn chưa hoàn toàn bị dập tắt trong ký ức dân tộc.

 

BK Lê Văn Năm

Gửi Người Em Gái Phương Xa - Trầm Vân

Sunday, May 3, 2026

Vẽ Trên Xương Lá - Nguyễn Thị Mỹ Thanh

 

“Bởi chữ nghĩa không đủ lớn để tả đời người
Tôi xin một lần vẽ trên xương lá.”
Cuối năm, trời thật lạnh, chỉ có mấy độ F mà thôi. Miền Đông.
Tôi chợt nhớ những ngày còn bé. Trời lạnh, tôi hay hà hơi lên cửa kính, rồi vẽ chữ trên đó. Chữ sẽ mau tan vì hơi nước sớm bay đi. Lúc tôi quen nàng, cũng hay vẽ chữ kiểu đó. Viết lên kính coi bộ dễ hơn nói. Bản tính nàng vốn rụt rè. Mà con gái ngày xưa ai cũng rụt rè như vậy. Tôi thì hùng hổ hơn, nhưng cũng rất ngại ngùng sợ nàng e thẹn, mất lòng. Đành vẽ chữ vậy! “Anh yêu em.”
Tôi muốn trở lại. Vâng, tôi rất muốn trở lại, khoảng thời gian đẹp như mơ đó. Nàng vẫn ở bên tôi. Tôi rủ rê:
– Đi, em!

Nàng hỏi trong khi mở to đôi mắt:
– Đi đâu? 
– Về nơi khi xưa mình hẹn nhau lần đầu.
– Nơi nào?
Nàng hỏi rồi tự trả lời:
– Nhớ rồi… Không đi được.
– Tại sao?
– Chân tôi… đã không thể đi được.
Tôi như vụt thoát ra khỏi giấc mơ. Trong đôi mắt của nàng, lệ đã cạn từ lúc nào.
– Mình nè, “đi” không có nghĩa là phải dùng đôi chân. Tôi giúp mình, tôi đẩy xe lăn cho mình. Mình vẫn có thể lên xe, lên tàu, lên máy bay, mình hiểu không?
Nàng lắc đầu, thở dài:
– Không dễ đâu mình à! Mình cũng đau yếu, tôi không nỡ…
Chúng tôi cùng im lặng. Tôi len lén thở dài, sợ nàng nghe thấy. Mới hồi đêm, tôi trải qua một cơn đau thấu trời. Tôi tưởng mình không đi được nữa. Ban đầu còn ráng vịn tường mà đi, sau thì quỵ xuống, lê lết trên nền nhà. Tôi tưởng mình sẽ nằm luôn trên đất. Nhưng có một tiếng vọng từ đâu thúc giục, nhắc tôi ngày mai đem thức ăn vào cho nàng. Nàng trông ngóng tôi lắm đấy! Tôi lầm bầm nguyền rủa chứng bệnh gout quái ác. Mày không đánh gục được tao đâu! Không bao giờ đâu!

*****

– Ngon không?
– Cái gì ngon?
– Trời!.. Thì thức ăn có ngon không? Tôi nấu đó!
– Biết rồi! Mình nấu. Nhưng tôi nấu mới ngon.
Hôm nay thấy nàng biết trêu đùa, tôi lấy làm mừng. Tôi sợ những lúc nét mặt nàng lạnh tanh không lộ cảm xúc, trông không giống người yêu của tôi khi xưa chút nào. Khi xưa chúng tôi đâu có mấy khi được gần nhau. Và những khi có nhau, nàng vui vẻ, nhiệt thành. Tôi là lính, một thứ lính rất dữ – nói “dữ” là vì chúng tôi chịu quá nhiều nguy hiểm – ở rừng nhiều hơn ở thành phố. Ngay cả ngày đám cưới chúng tôi cũng vội vàng, chú rể mặc bộ quân phục, cô dâu mặc áo dài giản dị, trang điểm đơn sơ. Đám cưới xong, tôi lại đi. Rồi từ đó về sau, nàng cứ phải nói hai chữ “Lại đi!” Như một điệp khúc, không chán.

Tôi lấy chiếc khăn giấy lau cho nàng miếng cơm dính ở phía trên môi. Nàng nhìn tôi, tia mắt lạ lùng. Rồi như chợt hiểu ra – lúc này nàng hiểu khá chậm – nàng lộ vẻ cám ơn. Khi nàng ăn, tôi phải đút. Nếu không thì tôi phải giữ chén cho chắc để nàng múc cơm bằng một tay. Có rất nhiều lúc nàng không muốn ăn. Tôi phải năn nỉ, thậm chí dọa nạt để khiến nàng ăn. Tôi hiểu rằng trong tâm trí của nàng, cuộc sống đã trở nên nặng nề quá đỗi.
Ăn xong tôi đẩy xe cho nàng ra hưởng chút không khí ngoài sân. Có nhiều người đã ở đó. Họ là “hàng xóm” của nàng. Có cả “bà cụ share phòng” với nàng nữa. Khi hơi khỏe trong người, bà cụ tỏ vẻ dễ chịu. Nhưng khi cơn bệnh trở lại, bà cụ sẵn sàng la lối, khóc lóc, nói bậy. Và nàng thì im lặng chịu đựng.

Mọi người chào nhau trong hành lang. Rồi thì hai chúng tôi tìm một chỗ vắng cho mình. Nàng nhìn thấy trời xanh, cây lá, nét mặt sáng lên. Tôi kéo một chiếc ghế, ngồi bên nàng. Nàng nói:
– Mình mệt đó!
– Sao mình biết?
– Mình đau chân, mất ngủ, còn lo nấu ăn cho tôi.
– Thì tại mình chê thức ăn kiểu Mỹ trong này, tôi nấu món Việt cho mình. Cũng đâu có mất công bao nhiêu. Miễn mình vui là được.

Giọng của nàng như chùng xuống:
– Tôi chỉ vui khi được ở trong căn nhà của mình.
Tôi nói nhỏ:
– Tôi sẽ xin cho mình về.
– Đừng, mình! Tôi sẽ không về. Chính tôi muốn ở đây. Mình không săn sóc tôi nổi đâu. Trong đây có bác sĩ, có người tập tành.
– Nhưng…
– Xin mình đừng nói gì hết. Mình hãy để mọi việc như bây giờ, đừng thay đổi gì nữa.

Nghe câu “Đừng thay đổi gì nữa” như một lời cam phận. Từ lúc nàng té xuống, chúng tôi đã mong có sự thay đổi, mong ở phép lạ. Mấy năm qua rồi, phép lạ không đến với chúng tôi. Giải thích sao đây? Tôi bây giờ chỉ còn lại hai chữ “khổ nạn.” Nàng đang gánh khổ nạn. Không ai có thể gánh thay nàng.

*****

Tôi đi xuống tầng hầm. “Xưởng in” của tôi là đây! Rón rén, rón rén… cứ như là đi hành quân. “Chiến trận” của tôi cũng ngổn ngang tệ! Máy in, máy cắt, toàn là do tôi tự chế, giấy má, bì thư… khắp nơi. Những khi ngủ không được, tôi đều đi xuống giang sơn riêng của mình. Lúc nàng còn khỏe, còn ở nhà, cũng đã là như vậy.

Tôi ngồi vào máy computer. Phải “layout” cho xong số tới. Bạn bè, em út gửi bài, sửa bài xong rồi, công việc này là của mình. Ngày mai, ngày mốt cho báo “lên khuôn”, rồi mình tự tay cắt xén, khâu gáy. Trời ơi, những từ ngữ này nghe sao mà thân thiết, sao mà hấp dẫn quá vậy? Tôi thừ người, nhớ ra một điều. Bài của mình đâu? Mình là nhân vật chủ chốt, phải có bài chứ! Ngày xưa băng rừng lội suối mà viết lách cũng dễ dàng làm sao! Bạn bè viết văn, làm thơ, có người bài chưa kịp gửi đăng báo đã ngã xuống mãi mãi. Có bạn gửi bớt thịt da vào trong đất. Chính vì vậy mà tôi đã không mệt mỏi làm cho bạn văn bạn thơ sống lại, trả vinh dự cho những người lính cầm bút, là bởi vì họ xứng đáng được như thế. Và còn nhiều, nhiều nữa, những tạp chí vang bóng một thời mà ngày nay bị quên lãng, tôi đã tìm tòi, làm hồi sinh. Tôi sẽ không làm được chuyện này dễ dàng nếu không có nàng cùng gánh vác. Hai vợ chồng đã đến Thư viện Cornell cách nhà năm, sáu tiếng đồng hồ lái xe, tìm đọc những bài xưa cũ, copy đem về. Sau này thì sắm máy “scan”, công việc nhanh hơn và đỡ tốn tiền hơn một chút. “Khâu vá di sản văn chương miền Nam!” Bạn bè tặng cho chúng tôi câu đó. Nghe mà cảm động.

Bài của mình đâu? Không cần cầm bút, tôi gõ bằng máy computer. “Theo Em.” Ngày xưa theo em trên con đường hoa, nhặt những chiếc lá vàng đẹp mang về ép, ép khô xong chúng tôi vẽ thơ lên đó. Có khoảng đời theo em vào thư viện, là thư viện Cornell. Bây giờ theo em vào nursing home, em ngồi trên xe lăn với nửa thân tê dại. Tự nhiên nước mắt tôi chảy tuôn, dào dạt. Sao tôi thương em, thương thân quá đi!  


Tôi giật mình thức dậy sau giấc ngủ mê thiếp. Hai chân tôi đau nhừ. Bệnh gout lại hành hạ. Nhưng kìa, chồng sách mình hoàn thành đêm qua! Tôi đã ngủ vùi sau đó, ngay trong tầng hầm này. Tôi nâng niu từng cuốn. “Lão gàn!” Tôi tự mắng yêu mình như vậy. Sách chỉ in tặng, không bán. Không phải bạ ai cũng tặng. Ai quý, ai yêu cầu thì mới in, mới tặng. Nghe gàn thật!

Như một quán tính, tôi nghĩ mình sẽ gọi vợ, khoe với nàng là đã xong xuôi, công việc còn lại là của nàng: cho vào bì thư, hoặc gói lại, ghi địa chỉ, đem đi bưu điện, dán tem hay đóng dấu… Nhưng tôi chưng hửng. Nàng không còn làm được cái việc này nữa. Nàng đang nằm trong nursing home, nhớ không? Tôi thở dài, lặng lẽ ôm từng chồng sách ra garage, chất vào thùng xe. Tôi lại phải tự mình làm thôi! Lặng lẽ và chăm chỉ. Như con ong, cái kiến.

Rồi cũng xong việc. Tôi cũng đã quen rồi! Trong thùng xe chỉ còn lại hộp thức ăn cho nàng. Tôi lái xe chạy vào nursing home. Tôi tự khen mình giỏi, mỉm cười.
Nàng vẫn ngồi trên giường, chờ tôi. Đã quen với hình ảnh này rồi, không còn cách nào hơn. Nàng lên tiếng hỏi trước:
– Mình đã gửi sách đi xong?
– Sao mình biết?
– Việc này là của tôi mà! Mình làm tới đâu, tôi cũng đoán ra hết.
– Mình giỏi lắm! Mình vui là được.
– Tôi vui lắm chứ!
– Tôi giúp mình ăn nhé!
Nàng lắc đầu:
– Tôi chưa muốn ăn. Đêm qua tôi ngủ không được, sáng dậy hơi đau mình.
– Tôi báo y tá, xin thuốc cho mình nhé!
– Không cần uống thuốc đâu! Mình ơi, tôi chỉ muốn mình cạo gió cho tôi.
– Được.

Xem ra ở đất Mỹ mấy mươi năm mà nàng vẫn còn giữ thói quen của người Việt thời xưa, thích cạo gió, cũng như thích xông nồi lá giải cảm khi ở nhà. Dĩ nhiên tôi phải ra xin phép y tá. Bà ấy bảo không sao. Với một lọ dầu, một đồng tiền xu, tôi cạo gió cho nàng. Chẳng có ai khác trong phòng để mắc cỡ, “bà cụ share phòng” đã có con đến đẩy ra phòng ngoài chơi.

Tôi giúp nàng xắn lưng áo lên, rồi thoa dầu, dùng đồng xu cạo nhè nhẹ lên đường xương sống, từ đó cạo ra hai bên. Nàng tỏ vẻ dễ chịu. Hình ảnh một bộ gân lá dần dần hiện lên, cùng lúc tôi xót xa nhận ra nàng đã ốm đi nhiều quá! Tôi gượng tay, như sợ đồng xu cọ sát làm đau những vùng xương lộ rõ. Tôi không còn như người cạo gió nữa, mà tôi vẽ. Vẽ trên gánh đời. Vẽ trên cây thập giá mỗi người chúng tôi phải mang vác. Mình ơi, hãy cố gắng. Em ơi, hãy cố gắng. Cho dù ngày mai có ra sao, anh vẫn theo em. Theo em! (*)

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
(*) “Theo Em”: xin mượn tựa đề loạt bài “Theo Em” của Nhà văn Trần Hoài Thư- Blog Trần Hoài Thư

Tình Anh Lính Chiến - Nguyễn Duy Phước

Chân Dung Người Vợ Lính - Phương Lâm

 

Tác giả tên thật là Phương Nguyễn. Sinh năm 1957 tại Phủ Cam, Huế, là cựu học sinh trường Jeanne D’Arc. Bà hiện ở tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Tác giả nhận giải Đặc Biệt năm 2023. Bài viết kỳ này là một câu chuyện buồn về thân phận người vợ lính Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1975.

*** 

Bức chân dung đen trắng không màu mè hoa mỹ của người phụ nữ, trong ngàn vạn  phụ nữ vợ của  lính, thời đất nước ngã nghiêng, họ đã chiến đấu, không súng, không đạn, không huy chương, không khen thưởng, tất cả cho chồng, lót đường cho con bước lên, để rồi, kết thúc như một vở hài kịch.

Được gặp lại chị, tôi vui mừng ôm chặt vai, vào sáng thứ Bảy, tại tiền đường nhà thờ các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam, thuộc Tổng giáo phận Seattle, trước thánh lễ Hôn Phối của người cháu gái gọi tôi bằng Dì, còn Chị, bên họ nhà trai. 

Tôi hỏi:

- Chị lên Oregon mấy ngày rồi, anh đâu hả chị? Để em tới chào anh một tiếng. 

Chị trả lời: 

- Ờ! Ờ! Anh không có đây, vào nhà thờ đã.

Câu trả lời của chị có chút chi không tự nhiên. Tôi đi theo chị vào nhà thờ. Hai chị em ngồi cùng băng ghế dành cho thân nhân. Thánh lễ Hôn Phối của hai cháu hoàn tất sau chín giờ sáng, tiệc rượu mừng được tổ chức buổi trưa tại nhà hàng, vì họ nhà trai ở Portland, tiểu bang Oregon lên. Thời gian còn rất dài, tôi mời chị  về nhà tôi chơi, chờ tới giờ  ra nhà hàng dự tiệc.

Tôi mời chị ấm trà hoa cúc. Chị  ngồi đối diện tôi ở góc ghế sofa. Qua loa vài câu thăm hỏi, rồi chị nhập đề, say sưa chiếu lại cuốn phim, mà chắc bị ức chế nhiều năm chưa cơ hội  trình chiếu, bộ phim dài, nhiều tập, chiếu  về anh, về việc khốn khó của chị, và đoạn kết bộ phim, những hy sinh của người vợ được bù đắp, một nỗi đau xé lòng. Nghe chị kể, mặt tôi nóng bừng, lòng bực bội, tội nghiệp chị quá.

Tôi xin phép chị cho tôi được viết lại việc làm vợ của chị. Chị đồng ý, nói:

- Viết xong cho chị đọc với nghe.

Tôi trả lời:

 -Dạ Chị.   

Bắt đầu câu chuyện.                                                                            

Tiếng gõ cửa dồn dập, anh Phát nhìn qua khe cửa sổ, rồi  mở hé cánh cửa cho Vũ vào, bầu khí gia đình ngột ngạt nặng nề, chị Oanh đặt ngón tay lên  miệng  ra dấu im lặng. Vũ liếc quanh không thấy mẹ, vợ, và hai con. Đoán được ý của Vũ, chị Oanh nói nhỏ:

- Mạ mới đưa cháu vô dỗ ngủ, em ngoài nớ vô hà? Em đã ăn chi chưa?

Vũ trả lời:

- Dạ! Ngoài nớ vô, em không đói, mạ trong nớ, rứa vợ em  mô rồi chị? 

Anh Phát và chị Oanh nhìn nhau không nói, giác quan thứ sáu của Vũ báo động, chuyện chẳng vui đang chờ. Vũ mệt mỏi ngã dài trên nền ca rô phòng khách  nằm đợi câu trả lời, trong sự hồi hộp lo âu. Vũ suy nghĩ, bây giờ chị Oanh nói cũng được không nói cũng được, vì Vũ đoán biết đáp số bài toán này, chỉ cầu mong là chuyện lành.

Chị Oanh khẽ nói:

- Duyên để lại bé Thơ cho Mạ, ẵm cu Lâm theo gia đình nhà bên cạnh, ra bến Bạch Đằng đi từ hôm đó, không biết ra răng, một vài người quay về nói, họ lên tàu thủy đi ngoại quốc cả rồi.

Vũ vui mừng nói:

- Rứa hả chị! Một chọn lựa sáng suốt, tại sao anh chị không đi ở lại đây làm chi?

Chị Oanh không trả lời câu hỏi mà theo giỏi tâm thái của cậu em, chị biết miệng  nói rứa nhưng chắc Vũ đang buồn lắm. Người ta nói “nước mất nhà tan” quả không sai.

Vũ đứng lên nhẹ bước vào phòng ngủ, đứng lặng nhìn Mẹ rồi nhìn con, xót xa suy nghĩ, sáu tháng tuổi, bú mớm thế nào, hai vợ chồng tích cóp đồng nào đưa vô ngân hàng đồng đó, bây giờ lấy chi trang trải cuộc sống hàng ngày cho Mẹ và con nhỏ. Thân phận người lính bại trận, nhìn về phía trước là một khoảng trời mênh mông u tối.

Vũ trở ra phòng khách, anh chị Phát ngồi trầm ngâm nhìn lên bàn thờ có lẽ đang cầu nguyện, một lát anh Phát nói:

- Lệnh gọi trình diện học tập 10 ngày, mấy hôm nay anh chần chừ chưa đi, bây giờ có Cậu vào, luôn thể ngày mai anh em mình cùng đi trình diện, có anh có em an tâm hơn.

 Chị Oanh nói:

- Chính sách chung mà, ở đây hay ngoài nớ, mô cũng phải đi học tập, chỉ 10 ngày thôi, mai Cậu và anh Phát đi trình diện đừng để quá trễ mà rắc rối, Cậu yên tâm Mạ và bé Thơ chị sẽ lo.

Vũ lấy chùm chìa khóa  giao cho chị Oanh nói:

- Đây là chìa khóa nhà ngoài nớ, em chỉ ghé qua nhìn nhà rồi đi liền, khi đi em đã nhờ bác Hoàng coi giúp, em đưa chìa khóa cho chị, lỡ có chuyện chi bất trắc mà xoay xở.


Hai anh em ra phường trình diện, cứ nghĩ, họ ghi danh sách, sắp xếp lớp rồi về  đợi ngày tập trung học tập, nào ngờ ghi tên xong là bị đưa vô phòng đóng kín cửa. Một giờ sau đưa lên xe bít bùng chở về khám, không biết mình bị giam khám nào, vì lên xe ở cửa phòng, rồi xuống xe đưa ngay vào phòng, ngồi trên xe bít bùng không biết chạy đường nào. Mấy hôm sau cũng xe bít bùng đưa ra sân ga, đoàn tàu dài, kéo toàn toa sắt đóng kín. Tất cả bị lùa lên, tàu xập xình chạy, Sài Gòn không có đường sắt về miền Tây, chỉ có đường ra Trung và Bắc, tàu ì à ì ạch chạy mấy ngày đêm, đứng lại nhiều ga, người ngồi trong toa được gọi tên, rải rác xuống dọc đường, Vũ được gọi tên, xuống tàu ban đêm, không biết ga nào, tàu đứng lại vài ba phút rồi tiếp tục chạy, từ đó hai anh em  mỗi người một nơi, núi rừng miền Bắc xa lạ  không biết mình bị dẫn đi đâu.

Chị Oanh  thất thểu chạy nơi này qua nơi khác, dò la tin tức hỏi thăm người  quen, hỏi thăm bạn bè, ai cũng như ai cùng chung đại họa, nước mắt lưng tròng cay đắng nhìn  nhau. Ngày ngày chờ tin trong khắc khoải âu lo. Cô nữ sinh hoa khôi trường Đồng Khánh, con nhà giàu, xếp sách vở theo chồng ở tuổi  mười chín, chưa  khi nào đụng tay bất cứ việc gì, bây giờ phải xắn cao tay áo, tập tễnh xông vào cuộc chiến  kiếm cơm.


Chồng và em trai được lệnh triệu tập đi học 10 ngày, 10 ngày đã qua, họ biệt vô âm tín, bao nhiêu gia đình nhốn nháo chạy đầu này, đầu kia, dò thăm tin tức, nhưng vẫn vô vọng. Thời gian nặng nề trôi, một tháng, năm tháng, bảy tháng rồi một năm, chị mới nhận được tin nhắn, cậu Vũ ở trại tù Thanh Cẩm, Thanh Hóa, Chồng ở tù trại Ba Sao, Hà Nam Ninh. 

Chị vui mừng báo tin cho mẹ “Hai anh em chưa chết”. Chị chạy quanh hỏi thăm cách đi thăm tù. Vừa về tới nhà, mẹ đưa tờ giấy của chính quyền địa phương báo “nhà của chị bị trưng thu”, yêu cầu phải dọn ra trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận giấy báo. Cầm tờ giấy đuổi nhà trong tay, chị không mấy ngạc nhiên, vì chị đã tình cờ gặp người bạn học cũ tại Sài Gòn, anh ta là một Phật Tử thuần thành, anh ta lên Chùa Từ Đàm, rồi đi theo Việt Cộng năm Mậu Thân. Bây giờ trở về không biết anh ta làm chức gì, chỉ thấy vai mang cặp da, người này cho chị biết, theo chính sách, sớm hay muộn nhà của Sĩ Quan cấp Tá trở lên sẽ tịch thu. Nghe tin ấy, mấy lâu nay chị đã từ từ thu xếp mọi chuyện, chuẩn bị trở về quê, về mái ấm,  nơi ông bà tổ tiên đã gầy dựng, nơi đong đầy bao nhiêu kỷ niệm của thời con gái. Chị nôn nóng về gấp để đi thăm hai người tù. Về Huế thì đoạn đường ra Bắc được thu ngắn hơn hai phần.

Bác Hoàng gái người hàng xóm coi giúp nhà, vui mừng đón mẹ con chị từ  đầu  hẻm, bác nói:

- Mệ và Cô về  cháu mừng quá,  giữ nhà của mệ không đơn giản, khô rát cổ họng trả lời với người ta, hôm nay đòi mượn, mai xin cho ở tạm, mốt xin gửi sinh viên ở học. Họ mà vô trong nhà rồi lấy xà beng nạy cũng không ra, đứa nào thấy nhà mệ cũng nuốt nước bọt. Cảnh sát khu vực, nay hăm mai dọa. Hai mẹ con chị Oanh chỉ biết cúi đầu tạ ơn bác Hoàng gái. Mới  về ở  được hai đêm, chưa dọn dẹp xong đồ đạc, đêm thứ ba Cảnh sát khu vực đập cửa kiểm tra hộ khẩu, yêu cầu cho coi giấy tạm vắng. Chị trả lời:

- Anh đợi tôi vô lấy.

Chị vào phòng cầm ra tờ  giấy nói:

- Giấy tạm vắng họ không cấp, họ đưa cho tôi giấy đuổi nhà, yêu cầu trở về quê để lao động sản xuất. Chị giới thiệu:

-  Đây là bà chủ nhà mạ của tôi.

Người Cảnh sát coi tờ giấy rồi bỏ đi. Vài ba hôm sau một toán người, đàn ông, đàn bà, đến vận động bán nhà đi kinh tế mới. Chị ấm ớ không trả lời, họ cho chị thời hạn suy nghĩ, sau một tuần họ sẽ trở lại. Họ đi rồi chị ngồi xuống ghế, đắng cổ họng. Nhà mới dọn về chưa thu xếp xong, lại phải đối đầu với những chuyện như thế này, chị quá mệt mỏi, áp lực nặng nề  đè lên người chị. Trong sự tột cùng, chị chỉ biết cầu nguyện, xin ơn trên soi sáng.

Việc cần phải giải quyết trước nhất, là đi  thăm chồng và em trai, mọi chuyện xếp lại  từ từ  tính liệu sau. Đơn xin thăm nuôi chính quyền địa phương trả lời: “Không giải quyết cho  người tạm trú”. 

Một tuần đã qua, đoàn người hôm trước lại đến, hôm nay có cảnh sát khu vực đi theo, chị vui vẻ đón tiếp miệng xuýt  xoa: 

- Thật xin lỗi nhà kẹt tiền quá phải bán bàn ghế, chưa sắm lại kịp, để khỏi mất thì giờ của các anh chị, tôi xin trả lời việc bán nhà đi kinh tế mới, theo chủ trương các anh chị đã thông báo hôm trước. Tôi xin thưa, tôi  không có quyền quyết định, tôi phải hỏi ý của em trai tôi vì đây là nhà của Tổ Phụ, còn mạ tôi các anh chị đã thấy, bà  không còn minh mẫn, hôm qua tôi lên phường xin giấy phép  thăm nuôi, để ra gặp cậu em bàn chuyện bán nhà, nhưng không được giải quyết, lý do “không giải quyết cho gia đình  tạm trú”.


Sau khi nghe tôi trình bày, Cảnh sát khu vực hứa xem xét lại giấy thăm nuôi , chị  suy nghĩ  “cá đã cắn  câu”. Mấy ngày lặn lội, vai xách nách mang, từ rừng núi Thanh Hóa ra núi rừng Hà Nam Ninh, không cầm được nước mắt. Chỉ hơn một năm mà chị không còn nhận ra họ, tột cùng khổ đau, hằn ghi lên thân xác khô gầy, trên khuôn mặt bọc lớp da nhăn nhúm, đôi mắt trắng dẻ thụt sâu trong hốc xương, vòng mi thâm quầng. Chị báo sơ qua tình hình sinh hoạt gia đình cho hai người biết, nhà ở Sài Gòn bị tịch thu, đã dọn ra Huế được hai tháng rồi, mạ và ba nhóc đều khỏe, chị không nói chi về việc kinh tế mới, vì không muốn đem âu lo đến cho chồng và em, chị tự tin sẽ giải quyết êm xuôi mọi nan đề trước mắt.

Cuộc sống chật vật hơn sau chuyến đi Bắc về, chị đạp xe quanh thành phố tìm nghề thích hợp kiếm cơm, cảnh sống chụp giật, một nói mười, không nói có, chị không làm được. Chị chọn nghề đơn giản, ít vốn, học cách luộc hột vịt lộn, chị bắt đầu bước xuống cuộc sống thành phố này bằng thúng hột vịt lộn, với mấy bao thuốc lá bán lẻ, leo lét cây đèn dầu, tấm ni lông quấn cổ xoay quanh người, khi che mưa, khi chắn gió, tại  góc ngã ba đường, đêm hè oi bức cũng như đêm đông mưa lạnh, ngồi còng lưng, tê nhức đầu gối, thâu đêm gà gáy để bán cho xong 100 cái trứng lộn.     

Vậy mà có được yên đâu. Số người hôm nọ lại đến, hoạnh họe đủ điều, bắt chị phải bán nhà đi kinh tế mới, chị quyết liệt phản đối,  vì khả năng và sức lực của chị không thể phá rừng cuốc đất để nuôi ba đứa con nít và một bà già, nếu không cho ở đây thì viết giấy trả  chị trở  lại Sài Gòn. Họ  nặng lời hăm dọa:

- Muốn người thân cải tạo mau về, thân nhân phải chấp hành triệt để lệnh của chính quyền địa phương, hơn nửa gia đình của chị là gia đình ác ôn, có nợ máu với nhân dân với cách mạng, chồng Sĩ Quan cấp Tá em là Biệt kích, theo chính sách bắt buộc phải rời thành phố nếu không đi sẽ cưỡng chế.

Máu nóng sôi lên, chị đốp chát lại ngay:

- Là sĩ quan cấp Tá, bây giờ đang ở tù ngoài rừng núi Hà Nam Ninh, là Biệt Kích cũng đang ở tù ngoài rừng Thanh Hóa. Nhà này của ba tôi, ông ấy là một nhà giáo, chuyên dạy học, ông đã mất rồi, ông chẳng nợ nần gì với các anh hết. Riêng tôi, tôi không tha thiết sống, nhưng không can đảm tự giết mình, xin giúp giải phóng cuộc đời tôi, tôi sẵn sàng chết nơi đây. Hôm nay các anh chị  không giúp giải quyết mạng sống của tôi, thì ngày mai xin các anh chị hãy quên tên tôi, đừng lui tới nhắc chuyện kinh tế mới, kinh tế cũ nữa. Còn ngôi nhà này không phải nhà của tôi, mà nhà của ông thầy dạy học, ông không phải là Sĩ Quan cấp tướng, cấp tá, nên ông không mắc nợ mắc nần gì với các anh chị hết.

Sau lần nói quyết liệt ấy, chị hồi hộp chờ kết quả, một ngày, hai ngày, một  tuần, một tháng, không nghe họ nói năng chi, vậy là chặng đường gai góc  đã vượt qua.

Cuộc sống đã tụt dốc đến tột cùng, nữ trang, áo, quần, từ từ ra đi, tất cả dồn vào những chuyến thăm nuôi, mỗi năm thăm một lần, quay qua quay lại, kỳ thăm nuôi nữa lại đến, một năm một lần thăm, không thể không đi, chị là liều thuốc bình an của hai người, nhưng biết làm sao đây, nhà không còn gì để bán, con nít mỗi năm một lớn, ăn nhiều hơn, chị quá vụng về không biết làm chi ngoài việc hằng đêm ôm thúng trứng vịt lộn, với mấy gói thuốc lá lẻ, có tối bán hết có tối không, một ngày ăn một bữa chị chịu  được, nhưng ba đứa nhỏ và mẹ già thì không thể, đành phải nhắm mắt ghé lại Trung Tâm Huyết Học đưa tay vào cho họ lấy máu kiếm ít tiền như lần trước chị đã làm.

Thầy Huỳnh thắng xe gấp chạy nhanh vào Trung Tâm Huyết Học gọi: 

- Chị Oanh.

Chị  giật mình quay lại, thầy Huỳnh nói:

- Chị ra đây, em chở chị về. 

Chị đành phải theo thầy Huỳnh rời nơi bán máu, đưa chị vào sân, thầy dặn:

- Chị vô nhà đợi em một chút. 

Mười lăm phút sau Thầy Huỳnh đưa bác Hoàng  gái tới. Thầy Huỳnh là con trai trưởng của bác Hoàng, bác Hoàng trai cũng đang ở tù tại trại Bình Điền. Thầy Huỳnh là con đỡ đầu của Ba chị, thầy Huỳnh đang tu tại đại chủng viện, vì ba đang tù cải tạo, nên chính quyền không cho tiếp tục tu học. Bị đuổi về, thầy giỏi  ngoại ngữ, nhờ người quen giới thiệu, làm công nhân thông dịch. 

 Bác Hoàng vào tới nhà,  ôm vai chị  nói:

- Xin lỗi cô. Tôi nghe thầy Huỳnh nói mà giờ này tim tôi vẫn còn đập, tôi bận lo quán cà phê, sáng đi sớm tối về khuya, lúc nào gặp cô cũng thấy tươi cười cứ tưởng cô chống đỡ qua ngày được, đâu ngờ cô túng quẫn đến độ phải đi bán máu. Người cô xanh xao khô đét như vậy còn máu mô mà đi bán, tội nghiệp cô quá, cô đã bán mấy lần rồi, cô phải giữ gìn sức khỏe để lo cho ba đứa nhỏ và mệ, răng cô liều dữ rứa, cần tiền thì nói với tôi, tiền đây cô cầm đi, cần thêm thì cứ nói, đừng dại dột tới đó nữa nghe chưa. 

Bác Hoàng dúi vào túi chị một nắm tiền, bác nói: 

- Tôi cho cô mượn, khi nào dư dả thì hoàn lại, cô an tâm không lẽ suốt kiếp này mình không ngóc đầu dậy nổi hay sao, lúc đó tôi sẽ tính vốn lẫn lời.

Bác Hoàng nói tiếp:

- Việc bán hột vịt lộn bữa ni cô lấy ít lại bán tới 11 giờ đêm, hết còn chi cũng về nghỉ, bắt đầu ngày mai 5 sáng giờ cô lên quán phụ giúp tôi, tới 11 giờ,  về lo cơm nước cho cả nhà, chiều 2 giờ cô lên lại phụ tôi một lúc đến 6 giờ cô về.

Chị đứng lên theo bác ra cửa nói:

 

- Em cám ơn bác đã lo lắng cho gia đình em.

Chuyến đi thăm tù lần này vội vàng hơn, vì khi đi gạo trong hũ còn quá ít sợ bà cháu ở nhà đói. Vừa  trở vô nhà, cu Tâm thỏ thẻ khoe:

- Mạ nờ! Mấy bữa ni  bà ngoại cho tụi con ăn hai chén cơm lận, sướng quá chừng.

Chị hỏi:

-Gạo mô mà bà ngoại nấu? 

Cu Tâm nói:

-Mệ Hoàng đem qua cho bà ngoại, còn nửa, mấy đứa con bác Huỳnh cũng cho kẹo, sướng  ơi là sướng .


Hàng tuần đều đặn bác Hoàng gửi  gạo.  Chiều đi làm về trên tay thầy Huỳnh lúc nào cũng gói kẹo, hay bao bánh, ngang qua nhà đôi vô cho mấy đứa nhỏ. Chị không biết làm sao diễn đạt lòng biết ơn với gia đình bác Hoàng . Họ là  chiếc phao cứu tử, cứu gia đình chị sắp chìm. Hằng đêm chị vẫn bưng thúng hột vịt lộn ra ngã ba ngồi bán, kiếm thêm  tiền, dồn vào việc thăm nuôi, nhờ gia đình bác Hoàng tận tình giúp đỡ, lòng  chị được bình an, đỡ lo lắng, chị lặng nhìn cây đèn dầu sáng  heo hắt  bên thúng hột vịt lộn, chị rùng mình suy nghĩ không biết kiếp sống  đọa đày này còn bao lâu. Nhiều đêm bụng đói cồn cào, muốn ăn một cái trứng cho ấm bụng, nhưng lại thôi, để dành bán kiếm vài ba hào, chắt chiu, dành dụm, thăm chồng, thăm em.

 

Rồi chị nhận được giấy báo anh Phát được ra tù,  yêu cầu gia đình ra đón. Theo thông tin bên gia đình anh Phát cho biết, sở dĩ có trường hợp đặc biệt này là nhờ sự can thiệp của người thân, làm quan lớn ngoài trung ương, chị suy nghĩ có người thân làm quan to mà mấy năm nay không nghe ai nhắc tới. Chị đưa tờ giấy báo cho bác Hoàng coi, bác cũng có suy nghĩ như chị, chắc chắn có vấn đề, nếu bình thường được ra tù thì chạy ù về nhà mắc chi gia đình phải đi đón.

Bác Hoàng nói:

- Để tôi bàn với Thầy Huỳnh, coi ý của thầy thế nào, nếu được, nhờ thầy xin nghỉ vài ngày đi với cô, lỡ có chuyện chi, chị em người một tay, chứ tôi thấy tình hình ni không xong rồi, lỡ chú nớ có chuyện chẳng lành mần răng mà tính, không chừng ra mang xác về cũng nên. 

Hai chị em vào khu thăm nuôi trình giấy ngồi chờ, một giờ sau, hai người lính xốc nách một người, hay đúng hơn là một sinh vật lạ, đặt nằm trên sạp tre, một người  nói: 

- Đây anh Nguyễn Mạnh Phát, chúng tôi giao cho gia đình.

Chị cầm tờ giấy ra trại coi tên thì đúng là Nguyễn Mạnh Phát. Nhưng không thể nhận ra con người thật của anh. Anh Phát may lắm chỉ còn khoảng ba chục ki lô, toàn thân  giống như tắm trong thùng sơn vàng kéo ra, một thứ màu vàng khủng khiếp không dám nhìn lâu, miệng anh mấp máy muốn nói gì nhưng không nói được. Nhờ có người nhà làm quan to trong trung ương đảng cộng sản can thiệp, khối vàng này may mắn được đưa xác về chôn.

Đường từ trại tù ra quốc lộ quá xa, mà lại  đường rừng, không phương tiện. Thầy Huỳnh nói:

- Mình phải đi liền thôi cô à, bằng mọi cách đưa chú ra khỏi đây đã, chú không nặng lắm đâu, hai chị em mình thay nhau cõng, đi được đoạn nào hay đoạn đó gặp nhà dân tính sau.


Ban đầu thay nhau cõng còn gắng đi nỗi, càng về sau thì không tài nào nhấc chân lên khỏi mặt đất được, cả ba cùng nằm lăn ra thở, một bà chị đi ngang qua thấy cục vàng to tướng, nằm thoi thóp, có lẽ bà chị quen chứng kiến cảnh này, chị mau miệng chỉ tới nhà người có cỗ xe trâu, thuê họ đưa ra liên tỉnh lộ để đón xe.

Khổ này chưa qua khổ khác lại tới, về Huế  Hai chị em mừng quá sức, cõng cục vàng vô bệnh viện trung ương, trình giấy xin nhập viện, phòng nhận bệnh lắc đầu từ chối. Cõng về nhà không biết điều trị bằng cách nào, các nhà thuốc tây bị trận dịch chống tư sản mại bản. Bà con quen biết chỉ thế nào, làm thế đó, nơi nào có lá thuốc, chị tìm tới đó để mua, chị đã ra tới Tân Ấp vùng đất cuối của tỉnh Quảng Bình, giáp ranh với Hà Tĩnh. Tân Ấp là làng người dân tộc Tày, từ ga xe lửa đi bộ khoảng mười cây số đường rừng, trèo lên tụt xuống hai ngọn đồi, mua hai bao lá, thuốc Nam, còng lưng vác hai bao lá ra ga, ngồi suốt đêm đợi tàu, cõng về sắc nước cho anh ấy uống, uống mấy ngày  không thấy nhúc nhích, vàng vẫn vàng, người khác chỉ ngoài làng Cùa, Ba Lòng tỉnh Quảng Trị, có ông thầy người Thượng thuốc Nam rất hay, không có xe tàu gì đến nơi này, chị nghe người ta nói, đây là mật khu của đảng Đại Việt lúc xưa, chị cũng băng rừng lội suối đến đó, vác từng bao lá về. Người khác chỉ lên Nam Đông, A Lưới, chị cũng lên, toàn lá với lá, vàng vẫn cứ vàng không xuống sắc chút nào.


Chị cầu nguyện hằng đêm, xin ơn trên cho chị gặp được thầy, được thuốc cứu chồng, sức con người có hạn, khi lực tận chỉ biết phú dâng và bám víu vào Thượng đế. Chất đốt nhà chị dùng trấu “vỏ lúa” nấu ăn. Hôm nay chị nhắn chú xe kéo, chở cho chị mấy bao trấu, chú xe kéo vác trấu vào bếp, ngang qua thấy khối vàng nằm thiêm thiếp trên võng. Chú quay lại hỏi chị: 

- Ai rứa cô?

Chị trả lời mỉa mai, chua lè:

- Ông xã của tôi ở tù ngoài Hà Nam Ninh, nhờ gia đình, có thân nhân làm quan to ngoài trung ương đảng cộng sản Việt Nam can thiệp, được ưu ái, trại tù  kêu tôi ra nhận, mới đưa khối vàng khè về đó anh à.

Chú xe kéo hỏi: 

- Cô cho chú uống thuốc chi chưa?

- Dạ! Tui chạy thuốc khắp  nơi, nơi nào cũng lá với lá, uống nhiều rồi,  không thấy bớt chút mô hết.

 Chú xe kéo cười nói. 

- Ui cha! Thứ vàng da ni dễ trị lắm, nhiều người quen của tôi đã  được chữa lành, vài ba hôm là đổi sắc, một tuần là lành. 

Chú xe kéo nói tiếp: 

- Chừ Cô chạy ra chợ, mua một bó “chè lá”  và một miếng gan heo, đem về vằm gan ra nấu chung với lá chè, sắc đậm cho chú ấy uống, rồi ngày mai cô đi sớm, khoảng gà gáy lên bến Than, đó là bến đò ngang, bến này có hai bến đỗ, một bến qua điện Hàng Chén, bến này họ ghé ngày rằm và ngày lễ, còn  ngày thường  không qua đó, chỉ đưa  người đi củi, cô lên đò theo mấy người đi củi, nhờ  họ chỉ cây Nắp Ấm, cây này thân mềm dạng dây leo, hoa giống như miệng ấm có nắp đậy, nên có tên là nắp ấm, cây mọc vùng đất trũng, nhiều lắm, tôi đã lên đó hái mấy lần rồi, cô nắm gốc nhổ thì kéo cả chùm, thân bò dài cô quấn từng nắm, đem về nấu chung với lá chè tươi và gan heo, bảo đảm chú uống ba ngày là bớt, chừng một tuần là da sẽ trở lại bình thường. 

Tạ ơn Thiên Chúa! Phương thuốc đơn giản mà quá hay, uống ngày thứ  ba là bắt đầu đổi sắc, từ vàng ra bạc, uống tiếp gần một tuần thì như lời chú  kéo xe nói,  khỏi hẳn.                                              

Anh Phát không ngờ nét tươi vui của vợ chỉ để che dấu một thảm cảnh đau lòng, nhìn thúng hột vịt anh đã khóc, khóc như một đứa trẻ, xót xa thương vợ, đã không tiếc thân mình bán máu, để có tiền nuôi anh. Hằng đêm anh bưng đèn cùng chị ra ngồi ngã ba. Thầy Huỳnh kiếm cho anh Phát một chỗ giữ xe đạp, anh Phát về được một  năm, Chị Oanh chuẩn bị đi thăm nuôi cậu Vũ, thì lễ Quốc Khánh 2 / 9 cậu Vũ và bác Hoàng ba của thầy Huỳnh được thả về.

Gia đình chị Oanh bây giờ thêm bốn cánh tay của hai người đàn ông, cuộc sống  bớt tất bật, cơm mắm tạm ổn qua ngày, ba đứa nhỏ một đứa con của Vũ, hai đứa con của chị được gửi vào trường Mẫu giáo của nhà dòng nữ.


Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai. Ba gia đình, bác Hoàng, cậu Vũ, và gia đình chị Oanh cùng nộp đơn một lần xin xuất cảnh theo chương trình HO. Ba gia đình phỏng vấn thông suốt, cùng được đến định cư tại Hoa Kỳ. Một sự ra đi không ai ngờ, chị không dám quay lại nhìn chặng đường đã qua, không bút mực nào diễn đạt được sự khốn khó đến tột cùng đó, không lời  nào xứng hợp để nói lời tạ ơn gia đình bác Hoàng. Ba gia đình bây giờ đã  kết chặt thành một đại gia đình, dọn về sống gần nhau cùng một thành phố, yêu thương, chăm sóc. Hạnh phúc hơn Thầy Huỳnh tiếp tục vào Chủng Viện nay đang là Linh Mục phó giáo xứ Việt Mỹ. 

Cuộc sống ở Mỹ. Từ ngày cưới  nhau cho tới bây giờ, trải qua bao cay đắng nhọc nhằn, chịu đựng bao gian nan khổ cực, chị Oanh luôn cố gắng vượt qua, vui vẻ chấp nhận nghịch cảnh, hi sinh cho chồng, cho con, đó là niềm vui của người làm vợ, là thiên chức của người mẹ. Mấy chục năm qua chị chưa bao giờ  có ý nghĩ sai lệch về chồng, một mực tôn trọng anh, vì anh là người có chừng mực, nói năng chín chắn, có trước, có sau, lúc nào cũng ôn tồn, hoàn cảnh nào cũng bình tỉnh, sống có nguyên tắc, năng nổ và nhiệt tình, chị tin tuyệt đối sự thủy chung của anh, chị nghĩ nếu trên đời này nếu có ai muốn tìm tấm gương  chung thủy một vợ một chồng,  thì anh chị là người đầu sổ trong số đó.


Mấy tháng nay sau chuyến đi Việt Nam lần thứ hai trở về, chị  cảm nhận ở anh có cái gì khác khác với nguyên tắc sống của anh thường ngày. Chị không phải là người đàn bà mà thiên hạ ví như con gà mái oang oác tối ngày, nhưng những sinh hoạt bất thường của anh, tạo cho chị sự chú ý, tò mò, tiếng thở dài, ngồi tư lự, thì thầm điện thoại, rồi có những lúc hốt hoảng trước mặt chị, đó là những điểm khác lạ mà mấy chục năm qua chị chưa thấy ở anh, hơn nửa giác quan thứ sáu của phụ nữ cũng rất nhạy bén.


Chiều thứ Bảy ngày hôm ấy,  gia đình  bác Hoàng và gia đình chị, lỉnh kỉnh  mang thức ăn, tập trung về nhà Vũ “cậu em trai” để mừng sinh nhật cháu Thơ. Hai chục năm qua, cậu Vũ, người em  tội nghiệp vẫn ku ki một mình, vừa làm cha, vừa làm mẹ, nhiệm vụ nào cũng chu toàn. Hạt giống cậu Vũ ươm, xới, gieo trồng, hôm  nay  đã kết nụ, ra hoa, một cô Nha Sĩ, xinh đẹp, tràn đầy sức sống, đang vươn lên trong niềm tin yêu của gia đình. Thành quả tốt đẹp đó cũng không ít công sức của chị, vừa là Cô, vừa là Mẹ và cũng là Cha.

Tiệc vui bắt đầu, chai rượu lễ của cha Huỳnh mang tới coi như khai vị, bốn anh em lâu nay ít uống rượu, chiều nay không biết vì quá vui hay mắc chứng gì mà họ thi nhau cụng, mới chút xíu mà đã thanh toán xong  chai rượu lễ. Rượu lễ chiết xuất từ trái nho, nên rất ngon và nhẹ độ, ba anh em uống thâm qua chai Cordon Bleu, cha Huỳnh từ chối vì sáng mai phải dâng lễ sớm. Rượu mạnh thấm vào, họ bắt đầu đổi tông, âm thanh lè nhè nhừa nhựa, ngắc nga ngắc nghẻo, một lúc rồi cả ba lăn đùng ra ghế sô pha, hai chị và cháu Thơ  thu dọn  chén dĩa, rồi cũng ngả lưng, đợi  hai ông tỉnh rượu để về.


Tiếng ù ù nho nhỏ ở chế độ rung của điện thoại cầm tay phát ra, lắng tai nghe thì tiếng ấy từ  trong túi quần của anh Phát, bác Hoàng bảo chị Oanh lấy ra nghe thử, không chừng thằng Tâm gọi có chuyện gì chăng. Chị Oanh kéo thẳng chân anh Phát, thọc tay lấy  cái phone trong túi quần, một hàng số lạ hiện ra 091 . 5… chị nói nhỏ với bác Hoàng. Số phone lạ quá, bác Hoàng lấy điện thoại trên tay chị, nhìn số, rồi đi ra ngoài, ngoắc chị Oanh cùng ra. Chị Oanh thấy khó chịu trong lòng, đáng lẽ chị không nên làm vậy, chị chần chừ, nhưng  trước sự đã  rồi chị  đứng dậy đi ra theo, ra tới nơi nghe bác Hoàng nói: 

- Được rồi, đợi cậu ấy tỉnh rượu tôi sẽ nói lại giúp cho cô. Bye cô nghe.. 

Bấm xóa cuộc điện đàm, bác Hoàng bảo chị, đem bỏ lại như cũ, chị trở ra bác ngồi tránh một bên ghế xích đu chờ chị. Chị rùng mình ớn lạnh, không biết do thời tiết về đêm của Cali hay rùng mình vì sắp được nghe bác Hoàng nói, chị chắc chắn là chuyện  không vui, chị nói với bác Hoàng: 

- Mình vô nhà thôi bác, em thấy ớn lạnh quá, hôm nào rảnh em chạy qua nhà, nghe bác nói chuyện cũng được. 

Nhìn sắc mặt của bác Hoàng, chị đoán biết bác sẽ cho chị câu trả lời về những dấu hỏi chị đặt ra với anh Phát, chị thường tâm sự với bác mấy lâu nay, chị suy nghĩ, nghe một lời buồn là thêm một gánh nặng, tại sao lại tìm gánh nặng mà mang vào người, bỏ được cái gì thì bỏ, quăng được cái gì thì cứ quăng, chị cố né tránh  để khỏi nghe. Lòng chị lúc nào cũng bình thản, chị nhớ một câu trong bài hát của TCS … “ Ai nên khôn không có một lần ... dậy mà đi ...”  quả thật vậy, bản lãnh của con người là tự thắng bản năng, tự thắng những đòi hỏi tầm thường của thể xác, bản năng yếu đuối không thoát khỏi cám dỗ bị vấp ngã là chuyện thường, nhưng vấp ngã rồi có biết đứng thẳng người dậy để mà đi, hay vẫn cứ nằm ỳ ra giãy giụa trong vũng bùn, đó là điều đáng nói, là điều chị mong đợi nơi anh, tất cả những suy nghĩ của chị chỉ là đoán mò theo trực giác của phụ nữ, chứ chưa chắc là đúng và chị cầu mong là không đúng. Hơn thế nữa, đều là con nhà đạo hạnh, mọi chuyện trong cuộc sống đều tín thác vào đức tin, chị dành thời gian vào việc suy niệm về tâm linh, cuộc sống…

 

Lại một mùa Chay về, sinh nhật của cháu Thơ cũng đến, câu chuyện hôm sinh nhật cháu Thơ năm ngoái, đã giáp vòng một năm, chị luôn tránh nói chuyện riêng với bác Hoàng, chị sợ phải nghe, chị luôn tạo cho gia đình, một bầu khí ấm cúng vui nhộn như mấy chục năm qua, chị nhắc anh Phát rảnh rỗi không làm gì thì lấy vé về Việt Nam chơi, mùa này vé máy bay hạ giá, nếu chậm qua lễ Phục Sinh, vào mùa hè giá vé cao. Để gỡ bỏ gút thắt trong lòng, chị muốn anh về bên nớ lần nữa, coi như thử lại bài toán, đúng sai sau lần đi này sẽ rõ. Rồi việc gì đến cũng phải đến, trái bom âm ỉ hai năm, sau chuyến đi VN về đã nổ, bao nhiêu hy sinh, bao năm gắn bó, tình nghĩa vợ chồng đã kết thúc, đơn giản trên một trang giấy với hai chữ ký.


Sau hôm tham dự phiên tòa theo lệnh của Tòa án, anh Phát đi bặt tăm. Chị nghe mấy người bạn về Việt Nam qua nói lại, anh Phát về cưới cô vợ trẻ, cô ấy là người cùng giữ xe đạp với anh sau khi anh lành bệnh vàng da. Kết thúc câu chuyện , chị cười rất sảng khoái. 

Tôi hỏi: 

- Em không thấy chị buồn. 

Chị cười nói:

- Cây kim khâu bị rớt mất cũng lấy cục nam châm rà tìm cho bằng được, một người đầu ấp tay gối mấy chục năm, con người mà mình lấy máu đem đổi bánh đường, tụm cá khô, con người mà mình vượt núi, băng rừng, tìm thuốc chữa trị, bây giờ quay lưng lại, không buồn làm sao được. Buồn lắm, đau lắm chứ, nhưng mà một khi họ đã quyết định quay lưng, đi con đường họ chọn, mình biết làm sao. Mình không phải là người hư hỏng, trách nhiệm làm mẹ mình làm xong, bổn phận làm vợ mình cũng chu toàn, mình không có gì hổ thẹn với lương tâm. 

Thời gian sau chị gặp mấy người bạn của anh Phát, mấy anh ấy nói:

- Anh Phát lúc này đã thành ca sĩ rồi, anh trình diễn rất thành công bài hát “Anh đã lầm đưa em sang đây”. 

Câu nói lấp lửng chị không hiểu mấy anh ấy nói gì. Chị nói lại:

- Mấy anh có gặp anh Phát thì xin chuyển giúp lời của tôi. Cửa nhà tôi luôn rộng mở…

Chị là người vợ tuyệt vời.

   

Phương Lâm

Chân Dung Người Vợ Lính - VVNM 2026 - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ

Anh Phước chuyển