Wednesday, December 12, 2018

9 Sự Thật Kỳ Quặc Chứng Minh Cơ Thể Người Là Một Hệ Thống Đầy Bí Ẩn

Cơ thể con người vô cùng đặc biệt. Nó là một cơ chế phức tạp và có nhiều bí ẩn mà các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu hàng thế kỷ.
Dưới đây mà một số sự thật về khả năng kỳ diệu của cơ thể bạn mà chính bạn còn chưa biết.

1. Bộ não của chúng ta là bộ nhớ có dung lượng lớn nhất thế giới


Bóng Thời Gian - Đỗ Công Luận

Nếu Sống Chỉ Để Rồi Chết…!


Cách đây hơn nửa thế kỷ, nhạc phẩm “60 Năm” của cố nhạc sĩ Y Vân ra đời đã thu hút sự quan tâm và mến mộ của rất nhiều người yêu âm nhạc. Với những ngôn từ đơn giản và dòng nhạc Twist mới mẻ khá sôi động và lôi cuốn lúc bấy giờ, tác giả đã đưa vào lòng người những suy ngẫm đậm chất triết lý về sự mong manh, ngắn ngủi của kiếp người. Ca khúc “60 Năm” phần nào diễn tả một sự thật trần trụi về sự sống – cái chết, cũng như thốt lên nỗi niềm nuối tiếc của kiếp nhân sinh: “Em ơi có bao nhiêu – 60 năm cuộc đời. 20 năm đầu – sung sướng không bao lâu. 20 năm sau – sầu thương cao vời vợi. 20 năm cuối – là bao.”

Sống để rồi chết – đó là quy luật có phần nghiệt ngã, nhưng là quy luật bất di bất dịch không ai không phải ngang qua. Chính tác giả Thánh vịnh cũng thốt lên mấy lời vừa như có tính khẳng định, lại vừa có chút nuối tiếc, thêm chút thắc mắc, nhưng cũng đầy ý khuyên răn: “Đời chúng con tàn tạ, kiếp sống thoảng qua, một tiếng thở dài. Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khó, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.” (Tv 90,9-10).

Như vậy, việc sinh ra của bất kỳ con người nào trên trái đất này đều đã sẵn mang một “bản án tử hình”. Bản án ấy luôn treo lơ lửng trên đầu và không ai biết trước được thời điểm thi hành án. Kẻ trẻ – người già, kẻ bệnh – người đang khỏe, kẻ đạo đức – người tội lỗi, kẻ quyền cao chức trọng – người thấp cổ bé họng, kẻ vui – người buồn… tất cả đều có thể ra đi bất cứ thời điểm nào dù muốn dù không.

Như thế, phải chăng cuộc sống quá ư vô nghĩa và hết sức phi lý như chủ nghĩa hư vô phương Tây trong thời đại của triết gia Nietzsche rao giảng mà chính triết gia đã mạnh mẽ tố cáo: Hư vô chủ nghĩa dạy người đời rằng: “Đời không đáng sống. Tất cả mọi sự đều vô ích. Thôi, cứ sống cho qua ngày. Sống chờ đợi. Chờ chết.”[1]

Buông trôi. Có thể gọi những người sống mà không quan tâm đến ý nghĩa cuộc đời, không tìm hiểu tại sao mình lại sống để rồi phải chết là những kẻ buông trôi. Họ bước vào cuộc đời không lý do vì họ chẳng để ý gì đến lý do; và rồi họ kết thúc cuộc sống cũng chẳng cần hỏi tại sao. Ấy vậy mà khi đang sống, họ vẫn lo “chạy”, thậm chí là cật lực chạy từ ngày này qua ngày khác để tích lũy, để thỏa mãn nhu cầu, để nở mày nở mặt với thiên hạ,… và rồi họ chết.
Một số khác khá hơn thì cũng có suy nghĩ, có cật vấn bản thân, cũng tìm hiểu… nhưng rồi cũng chỉ biết “sống để rồi chết”. Họ thấy đời sống thật sự vô nghĩa. Bởi họ tin rằng chết là dấu chấm hết của cuộc sống, nên họ tìm cách đạt cho kỳ được tất cả mọi sự khi đang sống. Tuy nhiên, chắc hẳn rằng chẳng ai – dù đạt được hay nếm hưởng được tất cả mọi sự trên đời có thể có hạnh phúc – khi biết rằng rồi đây mình sẽ chết và tin rằng thế là chấm hết. Đó quả là điều hết sức phi lý. Chết đối với họ là sự phi lý nhất, đau đớn nhất và đáng nguyền rủa nhất. Cho nên, họ nếm hưởng mọi thứ luôn với một cảm giác nuối tiếc và đau khổ kèm theo. Đó là cả một sự dày vò lớn lao cho đến tận cuối cuộc đời.

Thậm chí ngay cả những người cố gắng tìm ý nghĩa sống bằng tu tập nhân đức, bằng việc sống tốt, sống yêu thương, sống vui vẻ… để rồi cũng chỉ để chết thì đời sống vẫn hết sức phi lý, vô nghĩa. Cứ cho là sống tốt sẽ chết đẹp; sống tốt sẽ lưu danh muôn thuở đi nữa, thì những người sống tốt cũng sẽ đi vào cõi hư vô chẳng khác chi bất cứ ai, kể cả những kẻ tàn ác, những bạo chúa,… Bởi vì, nếu sống chỉ để mà chết và chết là dấu chấm hết của con người ấy thì đời tưởng nhớ có được chi, đời tán tụng có thêm gì, hay đời thù ghét nguyền rủa cũng có mất mát chi. Họ đâu bị ảnh hưởng gì từ đời nữa.

Những người vô thần lên tiếng phủ nhận các tôn giáo và cho rằng tôn giáo chỉ như thuốc phiện ru ngủ con người. Họ chủ trương hay nói đúng hơn, họ tuyên truyền việc xây dựng một cuộc sống tươi đẹp ngay tại thế và chỉ trong khi tại thế chứ chết là chấm hết. Tuy nhiên, nếu chết là chấm hết thì hạnh phúc tại thế, sự thụ hưởng tất cả nào còn có lợi ích gì đâu. Rồi cũng đi vào cõi tiêu diệt. Rồi cũng vào chốn hư vô. Còn như tôn giáo: Nếu xét theo một nghĩa thế tục như những người vô thần gán ghép đi nữa, thì dẫu nó là liều thuốc phiện mê hoặc, xoa dịu cơn đau cho con người thì nó vẫn là loại thuốc tốt hơn loại thuốc mà ông tổ vô thần Karl Marx đã kê đơn. Bởi lẽ, nếu tính toán lợi ích theo kiểu thế tục đi nữa thì như triết lý đặt cược của Blaise Pascal[2] cuối cùng vẫn chọn tôn giáo là phần mang lại lợi ích hơn, thực tiễn hơn và đảm bảo hơn.

Sống để mà chết. Nhưng, chọn chết như thế nào để sống ra làm sao mới là chuyện đáng bàn. Socrates, triết gia Hy Lạp vĩ đại từng phát biểu: “Suy cho cùng, triết lý đích thực chỉ là một sự tập luyện, một sự đón trước cái chết.”[3] Nghe một cách thoáng qua có vẻ như triết gia cũng đồng ý với bao người rằng “sống chỉ để mà chết”. Tuy nhiên, xét câu nói đó trong toàn bộ triết lý của ông, cũng như nhìn vào cái cách mà ông đã sống và chết cho triết lý sống của mình, ta lại thấy việc hướng đến cái chết của Socrates mang một ý nghĩa khác. Cái ý hướng của ông không giống như quan niệm của những người theo chủ nghĩa vô thần hay nhiều người khác nhắm tới.

Socrates đã không ngừng tìm kiếm sự thật của chính mình. Triết gia đã cố công suốt cả cuộc đời tìm lời giải đáp cho cuộc sống của chính ông và của con người nói chung. Chính việc đi tìm kiếm ý nghĩa sống chính là cách duy nhất mang lại ý nghĩa cho cuộc sống và sự tồn tại. Để rồi, triết gia dám đối diện với cuộc sống, đối diện với cái chết hầu khám phá ra sự thật trần trụi của kiếp nhân sinh. Từ đó, ông hướng đến cái chết và coi nó như là một cánh cửa mở ra một cuộc sống khác trọn vẹn, viên mãn và bất diệt. Do đó, sống và chết trong thế giới phải làm sao là sự chuẩn bị tốt nhất cho cuộc sống sau cánh cửa sự chết. Hay nói cách khác, việc sống và chết mà Socrates hướng tới mang một niềm hy vọng của sự sống lại, sự sống dồi dào, vĩnh cửu.

Với đức tin Kitô giáo, niềm hy vọng hay khát vọng mà những người như Socrates theo đuổi được giải thích trọn vẹn và thành toàn nơi Đức Kitô Phục sinh. Quả thế, nói như thánh Phaolô khi rao giảng về Đấng Phục sinh thì “nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng.” (1Cr 15,14). Chính sự kiện Phục sinh là câu trả lời đầy đủ nhất cho câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống con người.

Chúa Kitô từ thượng giới đã hạ mình xuống làm người. Ngài đã đi đến tận cùng của kiếp người để chạm đến nỗi đau đớn lớn nhất và khiến con người kinh sợ nhất là cái chết. Qua đó, Ngài khơi dậy ngọn lửa của niềm hy vọng qua việc đánh bại tử thần và Phục sinh khải hoàn. Ngài đã sống và cũng đã chết như một con người, nhưng Ngài đã Phục sinh để tiêu diệt hoàn toàn quyền thống trị của tử thần. Nhờ sự chết và Phục sinh của Chúa Kitô mà chúng ta có thể hy vọng vào sự phục sinh của chính mình trong Ngài. Với niềm hy vọng đó và với sự tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa, chúng ta có thể đối diện với cái sự thật trần trụi của kiếp người: Sống để mà chết. Từ đó, chúng ta thực sự sống một cuộc sống ý nghĩa, hạnh phúc, hầu không dừng lại ở cái quy luật nghiệt ngã kia nhưng đi xa hơn trong niềm hy vọng: Sống để mà chết và chết để được Phục sinh trong Chúa Kitô.

Băng Tâm
http://lamhong.org/

[1] Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, Hà Nội, Nxb. Văn Học, 2008, tr.138.
[2] Triết lý đặt cược của Pascal: Mặc định rằng con người đặt cược cuộc đời mình để xem Thiên Chúa hiện hữu hay không hiện hữu. Sẽ được hoặc mất (cả hai đều có giá trị vô hạn) phụ thuộc vào việc có niềm tin hay không, triết lý đặt cược của Pascal lập luận rằng một người có lý trí sẽ sống như thể Chúa thực sự hiện hữu, vì vậy mà tin Ngài. Còn nếu Chúa không hiện hữu, người ấy sẽ chẳng mất mát gì nhiều (một số lạc thú chóng qua, cuộc sống xa hoa ở trần gian, v.v…). Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Blaise_Pascal.
[3] Plato, Đối Thoại Socratic 1 (Dịch giả: Nguyễn Văn Khoa), Hà Nội, Nxb. Tri Thức, 2017, Phaedo (Về Linh Hồn), tr.288.

Gửi Người Em Phương Xa - Trầm Vân

Hai Cuộc Tình Và Hai Cái Chết Không Giống Nhau - Đinh Tấn Khương


1.    CHUYỆN TÌNH TRÊN MẠNG

Cũng như vài gia đình khác, gia đình anh được đưa đến định cư tại Thụy Điển sau khi được tàu nước nầy cứu vớt, trong lúc chiếc thuyền con vượt biên đang chết máy và lênh đênh trên biển cả nhiều ngày.

Những ngày mới đến, vợ chồng và 2 đứa con sống rất hạnh phúc, nhờ nhận được những giúp đỡ ban đầu của chính quyền và người dân bản xứ. Dần dà thì cuộc sống cũng tạm đi vào ổn định.

Thời gian trôi nhanh, hai đứa con cũng đã trưởng thành và có gia đình riêng tư. Nhưng công việc sinh nhai thì cũng chỉ tàm tạm chứ không mấy khá giả cho lắm, nên chẳng giúp gì cho anh chị.

Anh có đi làm một thời gian nhưng sức khỏe đã hạn chế công việc, cho nên lúc sau nầy anh đành phải nằm nhà. Có lẽ sự eo hẹp về tài chánh là nguyên nhân thầm kín đã dẫn đến sự đổ vỡ của vợ chồng anh, trong độ tuổi ngũ tuần!?

Tiền bạc không nhiều nhưng lại nằm trong tầm kiểm soát của người vợ. Nhất cử nhất động anh đều phải báo cáo mọi chi phí tài chánh. Cuộc sống của anh bị lệ thuộc hoàn toàn vào người vợ của mình. Anh buồn lắm, cho dù nhiều lần chị đã cố giải thích cho anh hiểu:

- Cần phải biết tém khéo mới lo được cho đời sống. Vợ giữ tiền là giữ cho gia đình, chồng mà nắm tiền thì có ngày lại cho người ngoài ăn đấy.

Nghe vậy, nhưng anh không hiểu là chị muốn nói cái gì? Cho người ngoài là ai, đôi lúc anh cũng muốn gởi chút quà tết về cho mấy đứa cháu rất nghèo, còn bỏ lại bên VN mà anh không dám hỏi vợ.

Nói phải tội, có nhiều khi anh nghi rằng, vợ mình đã lén gởi tiền giúp cho bà con bên ngoại của các con anh. Nhưng không có bằng chứng gì cho nên anh chỉ biết ôm lấy một nỗi buồn!

Sự đổ vở kiểu nửa vời. Hai người vẫn sống chung trong một căn hộ để bớt tiền thuê nhà, cũng như giảm bớt tiền điện.. những thứ mà họ có thể dùng chung và chia sẻ với nhau. Ngoài mấy thứ ấy ra, thì cả hai, mạnh ai nấy giữ những gì mà mình đang có, chẳng chịu chia sẻ hay là cho người kia được dùng, mặc dù thật sự có cần đến.

Thời gian cũng trở nên thừa thãi với anh. Anh bèn  dành hết thì giờ lướt mạng, để tìm người tán gẫu cho vơi đi thời gian và nỗi buồn. Thế rồi một hôm anh gặp được người “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, một người phụ nữ đang sống cách anh nửa vòng trái đất. Chị nầy đã ly dị chồng cách đó không lâu, sau khi biết được chồng mình ôm tiền về VN làm ăn và “rước cầm mới lên thuyền cũ”.

Hai người nói rõ hoàn cảnh gia đình cho nhau nghe.. có lẽ tìm được sự cảm thông, cho nên tình cảm đã dần lớn thêm nhiều hơn, giữa hai người.

Chị hẹn gặp anh tại quê nhà. Anh thú thật là không đủ tiền mua vé máy bay. Chị mua vé trên mạng và gởi mã số code cho anh. Căn dặn là đến ngày giờ G.. cứ ra phi trường Z, tới quầy check- in của hãng hàng không XY,  nói số code là mọi thủ tục lên máy bay sẽ được tiến hành.

Anh sắp xếp hành lý, nhưng trong túi lại trống trơn khiến anh lo lắng. Anh gọi người chị gái đang định cư tại Úc mượn đỡ vài ngàn dằn túi. Tình trạng tài chánh bị cô lập của đứa em đã được báo cáo từ lâu nên người chị cũng cảm thông đứa em trai của mình.

Chị gởi hai ngàn dollars, chuyển thẳng về người bạn tại Sài Gòn và nhắn anh về đến đó mà lấy.

Mang cái túi hành lý nhỏ, nói với vợ con là anh cần về thăm nhà vì có việc gấp.Chị và các con cũng đã quen cái cảnh “có anh cũng như không” trong cái căn nhà nầy từ lâu cho nên cũng chẳng có ý kiến đồng tình hay ngăn cản gì cả. Không nghe ai hỏi:

- Bên nhà  có chuyện gì gấp, có ai ốm, ai đau hay là có ai hấp hối mà lại phải về gấp như vậy!?

-  Có cần một ít tiền đi đường hay không!?

Thái độ dửng dưng, lạnh nhạt của vợ con đã làm nhẹ đi cảm giác tội lỗi. Vì anh đã nghĩ rằng, chừng tuổi nầy mà lại bỏ bê gia đình để đi tìm một người tình trên thế giới ảo, trên mạng. Cảm giác ấy đã ray rức anh rất nhiều, trước đó không lâu!

Về đến VN, hai người găp nhau. Mối tình trong thế giới thật đã tiến rất nhanh, nhanh hơn cả cái mối tình khi còn ở trong cái thế giới ảo suốt mấy tháng vừa qua. Có lẽ, những nỗi buồn của từng người đã kéo họ lại gần nhau hơn.

Anh theo chị về Mỹ, phụ chị trong một cái thương vụ nhỏ. Nhờ thế cũng tạm đủ sống và anh cảm thấy thật vui vì không bị lệ thuộc cũng như không còn bị “phong tỏa tài chánh” như trước kia nữa.

Nhờ có tiền, hai năm sau anh quyết định quay về thăm lại người thân, nhìn lại xứ nẫu, nơi mà anh được sinh ra và lớn lên với nhiều kỷ niệm gắn bó trong khu nhà nghèo, nhưng rất thân thiện.

Niềm vui nào cũng qua mau. Hết thời hạn thăm quê anh tính quay về Thụy Điển, hoàn tất giấy tờ ly dị và sẽ bay qua Mỹ để sống trọn khoảng đời còn lại với người yêu.

Bất hạnh thay, anh bị tai biến mạch máu não, gục ngã trong phòng tắm. Rất lâu sau đó, mấy đứa con mới phát giác và đưa anh vào bệnh viện. Nhưng đã trễ!?

Anh chỉ còn sống thực vật và bác sĩ cần gia đình cho quyết định để rút ống dưỡng khí. Mặc dù người chị của anh tại Úc cũng như người tình bên Mỹ, đã xin cho anh được sống thêm một thời gian nhằm hoàn tất thủ tục mang “tro” của anh về Mỹ, với người tình mới.

Nhưng bà vợ cũ và các con đã đưa ra quyết định thật sớm, không chần chờ mặc dù đã có lời yêu cầu khẩn thiết từ người nhà và người tình của anh!

Cuối cùng, thân xác anh đã vĩnh viễn nằm lại cái vùng đất mà anh đã từng chạy trốn.

Chẳng có ai biết, bây giờ linh hồn anh đang ở chốn nào!??


2.     SỐNG ĐỂ TRẢ NGHIỆP!?

Gia đình anh chị định cư tại Úc cũng khá lâu. Nhờ vào tính chuyên cần và chịu khổ chịu khó cho nên công việc kinh doanh của anh chị cũng khá thành công. Các cháu thì học hành lại giỏi và tạo được những thành quả tốt đẹp. Nhờ thế mà hầu hết mọi người biết đến, đều truyền tụng rằng, gia đình của anh chị quả là một gia đình kiểu mẫu trong số những gia đình người Việt tỵ nạn, tại đây. Anh chị rất vui vì những lời khen ngợi không ngớt ấy. Chị mừng, vì có được một người chồng năng nổ, hoạt bát và biết lo cho con cái, biết yêu thương vợ mình.

Ngoài công việc ra, anh không bao giờ la cà với bạn bè, không thuốc lá, không rượu bia... Tiền bạc làm ra thì anh cũng không cần để ý đến, kiếm được bao nhiêu là đưa cho vợ cất. Anh thường nói đùa với vợ:

- Giữ tiền làm chi cho thêm phiền, tiêu mà quên báo cáo thì lại khổ thân tôi!?

Dưới cặp mắt của chị, anh quả thật là một người đàn ông đáng tin và rất có uy tín. Nhiều lần chị đã đề nghị với anh là, cùng về thăm lại quê hương sau nhiều năm xa cách. Anh thường gạt ngang:

- Em cần thăm nhà thì cứ đi một mình cũng được. Anh có đi thì cũng chẳng ích gì mà lại còn bỏ bê công ăn việc làm nữa. Chỉ sợ em buồn khi thiếu anh vậy thôi, nếu thế thì anh đành xin lỗi, em nhé!

Lần nào cũng vậy, anh luôn từ chối cái cơ hội mà rất nhiều người trong độ tuổi như anh, mãi ước ao có được! Chính vì thế mà chị rất yên tâm!? Một vài người bạn đã kể cho chị nghe những mẫu chuyện đổ vỡ gia đình trong độ tuổi ngũ tuần, xảy ra nhan nhản lúc gần đây. Nhất là mấy ông cứ nại cớ là về thăm bố mẹ bệnh nặng, làm mộ cho song thân.., nhưng thật tình là đang bị dính bùa bên ấy!

Những lúc gần đây, các con đã ra riêng. Công việc làm ăn cũng khá ổn định. Chị cũng muốn nghỉ ngơi chút ít, bởi sức khỏe của chị không còn được như xưa. Chứng đau lưng kinh niên cứ hành hạ như tra tấn chị hằng đêm, nhất là vào những ngày của mùa đông.
Về Việt Nam để tránh cái lạnh ở Úc, đã giúp giảm nhẹ cái đau của chứng thần kinh tọa. Chứng bịnh mà bác sĩ đã nói với chị rằng, không có cách nào chữa dứt. Vả lại, cuộc sống tại Việt Nam đã cho chị chút ít niềm vui. Vui với người thân, với bạn bè xưa cũ.. Tất cả, đã khiến chị dành nhiều thì giờ bên đó hơn là tại Úc.

Không có gì để chị phải lo vì chồng chị cũng chẳng than phiền. Chị thầm cám tạ ơn trên đã cho chị một người chồng tốt, với một gia đình rất hạnh phúc.

Nhưng chị đâu có ngờ...

Khoảng thời gian chị về thăm Việt Nam. Một lần anh ghé lại tiệm bán thức ăn nhanh, gặp một cô gái đang đứng xếp hàng trước mình, chờ đến lượt order. Cái hàng dài chờ đợi ấy đã giúp cho họ có dịp để trao đổi, chỉ là những lời hỏi thăm có tính xã giao.
Rồi họ cùng ngồi vào bàn ăn và lắm chuyện được mang ra bàn tán, về đời sống tại Việt Nam bây giờ và những khó khăn gặp phải tại xứ người, coi bộ hai người “tâm đầu ý hợp” lắm. Qua mấy câu chuyện ấy, anh biết được rằng cô là một du học sinh đến từ Việt Nam, không có thân nhân và đang gặp nhiều khó khăn về tài chánh.

Họ trao cho nhau số điện thoại và hẹn cơ hội được gặp lại. Thời gian và hoàn cảnh cô đơn đã giúp cho cả hai xích lại gần nhau thật nhanh chóng, như để làm giảm bớt cái lạnh trong lòng cũng như xua tan khí lạnh ngoài trời, trong những ngày của mùa đông xứ Úc.

Không hề nghi ngờ gì về sự thay đổi của chồng mình, cho đến khi chị phát giác ra được, người chồng  mà chị luôn tin tưởng đã mượn một số tiền khá lớn từ ngân hàng, qua việc thế chấp một trong những bất động sản mà anh đang đứng tên làm chủ.

Kể từ đó, chiến tranh đã bùng nổ, ngay trong căn nhà mà trước kia luôn tĩnh lặng. Anh đòi ly dị, chia tài sản nhưng chị và các con chưa dứt khoát.

Cuộc sống gia đình đã trải qua một khúc quanh đầy nỗi khổ niềm đau. Chị và các con đã khóc thật nhiều nhưng anh đã quyết định cho mình một ngã rẽ..

Anh theo về Việt Nam với người yêu mới. Bỏ một số tiền lớn, xây tổ ấm uyên ương cho cả hai và anh đã hứa là sẽ hoàn tất thủ tục ly hôn để cùng nhau vui hưởng hạnh phúc, trong khoảng đời còn lại.

Anh quay về Úc để hoàn tất ý nguyện đó. Vài hôm sau, nhận được điện thoại của người bạn cũ, người mà anh vừa gặp lại trong lần về mới đây. Người bạn tri kỷ đã được anh mời đến dự buổi tiệc khánh thành cái tổ ấm, cũng như ra mắt người vợ trẻ của mình.

Người bạn gọi anh về lại Việt Nam gấp, vì có vài chuyện cần bàn. Gặn hỏi mãi thì được cho biết, người vợ mới của anh vừa đưa một người đàn ông khác về sống ngay trong cái căn nhà của anh, mới bỏ tiền ra xây.

Bán tín bán nghi, anh mua vé ngay và hôm sau bay thẳng về Sài Gòn. Anh tính tìm gặp thằng bạn nhưng quá nóng lòng, nên thôi. Đi thẳng về tổ ấm, mở cửa vào nhà (vì anh cũng giữ chìa khóa riêng, có lẽ cô người tình đã không nghĩ là anh sẽ trở lại sớm, nên lơ đãng?).

Nghe tiếng cười khúc khích trong phòng ngủ, anh đẩy mạnh cánh cửa khép hờ và nhìn thấy một cảnh tượng, khiến máu trong người anh như sôi sục.

Anh hét toáng lên, đập phá mấy thứ đang ở trong tầm tay mình. Như chưa hả giận, anh vớ lấy cái bình bông gần đó tiến nhanh lại người thanh niên xa lạ, đang cố mặc lại quần áo.

Xung đột bắt đầu, hai người trao nhau những cú đấm. Nhưng chắc chắn là, sức anh không hơn được cái sức đang trong độ tuổi thanh niên kia. Anh bị dồn ra khỏi cánh cửa, lối ra hành lang. Rồi bất ngờ, anh hứng trọn cái xô đẩy rất mạnh của người thanh niên, khiến anh rơi từ tầng một xuống đất.

Nhằm lúc đó, người bạn của anh đang đi ngang qua (như để theo dõi, giống mọi lần) phát hiện sự việc. Người bạn kêu xe chở anh vào bệnh viện để chẩn đoán và điều trị những tổn thương. Anh được cho biết là chỉ gãy một cánh tay mặt và cần băng bột. Vài vết trầy khác không có gì đáng quan tâm, anh được cho xuất viện cùng ngày.

Hôm sau, theo lời khuyên của người bạn anh đã trở về lại Úc. Anh tính sẽ nhờ luật sư mang sự vụ ra tòa xét xử.

Vài ngày sau, bổng dưng cơn nhức đầu bộc phát đột ngột xảy đến với anh. Vợ anh không có nhà, anh gọi điện thoại nhờ con đưa anh đến gặp bác sĩ vì tay đang bó bột, cho nên anh không tự lái xe được như mọi khi.

Mấy đứa con cho biết là đang bận, hẹn chiều sẽ về. Nhắc ba nó lấy đỡ hai viên panadol mà uống cho vơi bớt cơn đau. Anh đoán có lẽ chúng nó giận mà không thèm về sớm, chứ chẳng phải bận rộn chuyện chi!?

Anh đi dần vào hôn mê.

Chiều đến, đứa con gái trở về thấy bố mình nằm yên, sóng sượt trên nền nhà. Vội vàng gọi xe cứu thương và được chở thẳng vào một bệnh viện gần nhất. Được chẩn đoán, anh bị chấn thương sọ não, máu tụ nhiều và đã để quá trễ cho nên phần não chết không thể phục hồi.

Anh đã được cứu sống, nhưng chỉ là “sống thực vật” mà thôi!.

Bác sĩ xin ý của vợ anh (vì vẫn còn là vợ chính thức) cùng các con, để quyết định rút ống thở, cho anh được ra đi trong bình yên. Nhưng bà vợ đã quyết định, hãy cho anh phải sống:

- Sống để trả nghiệp và làm gương cho người đời!?

Mấy đứa con cũng không dám đưa ra quyết định nào khác. Có lẽ chúng nghĩ, mẹ mình có lý!?

Ngày cuối đông 2011

Đinh Tấn Khương

Lời người viết: Hai câu chuyện trên là không thật, nếu có sự trùng hợp xin đừng ngộ nhận, đa tạ.  

Tuesday, December 11, 2018

Bốn Mươi Năm - Đỗ Công Luận


Tấm Lòng Lương Thiện


Nhà văn Mỹ Elbert Hubbard từng nói: Bạn có thể là người làm nên kỳ tích. Là người thông minh ai cũng hiểu được chân lý này: Cách duy nhất để giúp đỡ mình chính là giúp đỡ người khác.


1. Một công ty nọ có truyền thống tổ chức tiệc và rút thăm trúng thưởng vào Giáng sinh mỗi năm. Theo quy định rút thăm trúng thưởng, mỗi thành viên tham gia đều phải đóng góp 10 USD làm lệ phí.. Toàn công ty có 300 người, và phần thưởng chính là tổng số tiền của 300 người gộp lại: 3.000 USD. Ai may mắn sẽ được mang toàn bộ số tiền đó về nhà.

Vào ngày tổ chức lễ bốc thăm, không khí náo nhiệt tưng bừng hơn bao giờ hết, ai nấy cũng mong đợi tới giờ vàng để thử vận may của mình. Mỗi người đều được phát một mẩu giấy để ghi tên mình trước khi bỏ vào thùng bốc thăm trúng thưởng. Và trong lúc chuẩn bị ghi tên, một cậu nhân viên trẻ chợt phân vân suy nghĩ:

“Cô lao công Sarah là người có gia cảnh khó khăn nhất, con cái lại mắc nhiều bệnh tật, mà cô thì không có tiền để phẫu thuật cho con. Giá như cô có được số tiền này thì tốt biết mấy, nhưng cô lấy đâu ra 10 USD để tham gia cơ chứ?”.

 Nghĩ rồi cậu không cần đắn đo mà quyết định sẽ ghi tên cô Sarah thay vì ghi tên mình lên đó. Mặc dù vẫn biết cơ hội quá mong manh, chỉ có 1/300 cơ hội, nhưng cậu vẫn cầu mong vận may mỉm cười với cô.

Tới lúc chuẩn bị rút thăm, không khí hồi hộp không kém phần căng thẳng. Mọi người cùng nhìn lên khán đài khi giám đốc công ty chọn ra tấm phiếu may mắn. Ở bên dưới, cậu thanh niên trẻ không ngừng cầu Chúa, cầu Chúa hãy giúp đỡ cô Sarah…

Vị giám đốc từ từ mở mẩu giấy ra… Tích tắc, tích tắc, mọi người đều nín thở chờ đợi đến mức tiếng kim đồng hồ cũng có thể nghe thấy. Khi nhìn vào cái tên trên tấm phiếu may mắn ấy, giám đốc bất giác mỉm cười… rồi ông đọc to lên. Và… kỳ tích thật sự đã xuất hiện! Khi cái tên Sarah được xướng lên, những tràng vỗ tay chúc mừng vang lên không ngớt tràn ngập cả hội trường. Cô Sarah vừa vui mừng vừa bất ngờ vì không biết mình được tham gia. Khi bước lên bục nhận phần thưởng, cô rối rít cảm ơn: “Tôi thật may mắn, có số tiền này con tôi được cứu rồi, cảm ơn mọi người, cảm ơn mọi người!”.

Buổi tiệc diễn ra trong những tiếng nói cười và tiếng nâng ly chúc tụng. Chàng nhân viên trẻ miên man suy nghĩ về cái kết có hậu của đêm Giáng sinh năm ấy, bởi mọi thứ xảy ra như một kỳ tích. Cậu vừa bước dạo xung quanh vừa chúc tụng mọi người một Giáng sinh vui vẻ. Vô tình đi qua thùng phiếu, thuận tay cậu rút lấy 1 tờ ra xem, và… lạ chưa kìa, trên mảnh giấy đó có tên cô Sarah. Cậu không dám tin vào mắt mình nên vội vàng rút ra thêm một mẩu giấy, và một mẩu giấy nữa, tất đều có tên cô Sarah trên đó.

Một nỗi xúc động dâng trào trong lòng cậu, giống như những cơn sóng thuỷ triều dâng lên mãnh liệt. Hai mắt cậu đỏ lên, những giọt nước mắt hạnh phúc không ngừng tuôn rơi. Cậu nhận ra một điều, thế giới này thực sự tồn tại “kỳ tích đêm Giáng sinh”, chỉ có điều kỳ tích đó không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó được tạo ra bởi những con người có tấm lòng lương thiện quanh ta.

2. Câu chuyện này gợi tôi nhớ đến trải nghiệm của chính bản thân mình.

Đó là một buổi chiều rảnh rỗi, tôi cùng cậu bạn thân đi dạo trong ngoại ô thành phố. Đột nhiên có một cụ già mặc bộ áo nâu cũ kỹ đi tới, gánh một gánh rau chào mời chúng tôi mua hàng. Nhìn những bịch rau đã héo rủ xuống, những chiếc lá dập nát như vừa trải qua một trận phong ba, không những vậy lại còn bị sâu ăn lỗ chỗ rất nhiều. Nhưng cậu bạn đi cùng tôi không hề tỏ ra khó chịu mà còn vui vẻ mua liền một nửa gánh rau cho cụ.

Cụ già ngại ngùng giải thích: “Số rau này do lão tự trồng, mấy hôm trước gặp trận mưa to, rau đều bị dập hết, nhìn thực sự rất xấu, thành thật xin lỗi”. Sau khi cụ già đi rồi, tôi hỏi bạn mình: “Cậu thực sự mang số rau này về sao?” Bạn tôi trả lời rằng: “Không, số rau này chắc không thể ăn được nữa rồi”.

“Vậy cậu mua về làm gì?”

“Vì mình biết sẽ chẳng có ai mua, nếu như mình cũng không mua thì e rằng cụ già sẽ không bán được hàng”.

Tấm lòng lương thiện của người bạn khiến tôi vô cùng xúc động và khâm phục. Tôi chạy theo cụ già mua giúp cụ nửa gánh rau còn lại. Cụ già thấy vậy rất vui mừng: “Lão đi bán cả ngày trời nhưng ngoài hai cậu ra thì không có ai mua cả, thực sự lão rất cảm ơn hai cậu”...

3. Tựa như bản nhạc có nốt bổng nốt trầm, cuộc sống luôn có những thăng trầm khiến ta thấy cần lắm một bờ vai, cần lắm một chỗ dựa. Và khi ta đang chới với giữa dòng đời, nếu như có một bàn tay sẵn sàng nâng đỡ ta lên, cho ta một điểm tựa, giúp ta vượt qua gian khó, thì tấm lòng thiện lương ấy sẽ là nguồn sức mạnh giúp ta vượt qua mọi giông bão của cuộc đời.

Có một bài hát rất hay rằng: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Lòng tốt như ngọn cỏ, dẫu bạn chỉ bắt đầu nó bằng 10 đô la hay 1 mớ rau đã dập nát, nhưng nó sẽ lan toả và bạn sẽ bất ngờ khi thấy cả một thảm cỏ xanh ngát của tình yêu thương, sự đồng cảm, chia sẻ mà chúng ta có thể dành cho nhau.

Và thế giới này sẽ trở thành thiên đường mà không cần bạn phải là vĩ nhân. Đôi khi bạn sẽ thấy những gì mình cho đi quá nhỏ nhoi, đến độ bạn thấy dù có làm nó hay không thì cũng không có gì đáng kể. Đó là lý do nhà Phật căn dặn rằng: “Đừng thấy việc Thiện nhỏ mà không làm”.

Bởi vì ngay cả một cái cây cổ thụ cũng bắt đầu chỉ bằng một mầm xanh bé nhỏ.

Chỉ cần bạn gieo nó, như bắt đầu một câu chuyện nhỏ, nó có thể đi xa tới mức khi nhìn lại bạn sẽ không ngờ rằng nó chính là kiệt tác của cuộc sống.

Chỉ cần bạn bắt đầu bằng một ngọn cỏ, thế giới sẽ trở thành cánh đồng hoa rực rỡ. Vậy nên đừng ngần ngại trao đi ngay cả khi bạn không có gì nhiều nhặn cả. Bạn sẽ nhận thấy sức mạnh của trái tim có thể làm nên kỳ tích như thế nào.

Nguồn: www.hddaminhthanhlinh.net

Chắt Chiu Thương Nhớ - Trầm Vân

Monday, December 10, 2018

PARIS Có Cháy Không? - Từ Thức (Danlambao) -


Với phong trào Gilets Jaunes (Áo Vàng), nước Pháp đang trải qua một khủng hoảng chính trị, xã hội nghiêm trọng. Nhưng mặc dù những hình ảnh bạo động ngoạn mục làm chấn động dư luận, nước Pháp chưa có nội chiến như một số médias ngoại quốc bình luận. Nước Pháp cũng không phải là nước đói khổ, tuyệt vọng cùng cực như báo chí nhà nước VN đã không để lỡ cơ hội nhẩy vào, với thông điệp gởi dân Việt: ở đâu cũng có nghèo đói, bất công; ở VN tốt hơn vì có kỷ luật, có ổn định.

KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ
Phong trào Gilets Jaunes đã bùng nổ, lan tràn một cách bất ngờ. Khởi đầu là một phụ nữ làm một vidéo trên mạng, than phiền: chính phủ lại sắp tăng thuế xăng, nhớt. Và hô hào: phải làm một cái gì, anh em. Con số những người coi, chuyển vidéo lên tới một số kỷ lục. Phong trào Áo Vàng ra đời, lan rộng khắp nước Pháp.

Gilets Jaunes là chiếc áo vàng, bắt buộc phải có trong xe cho mỗi người đi xe, để các tài xế khác có thể nhìn thấy, ngay cả ban đêm, trong trường hợp phải xuống xe giữa đường, để tránh tai nạn.
Người ta nghĩ đó cũng chỉ là một cuộc biểu tình, phản kháng như những cuộc biểu tình khác, diễn ra hầu như mỗi ngày trên nước Pháp, nơi biểu tình là môn thể thao quốc gia, rất được ưa chuộng, như football hay rugby. Sểnh ra là người ta biểu tình. Mỗi người, mỗi nhóm có một hay nhiều lý do để xuống đường. Nông dân biểu tình vì giá nông sản quá thấp, người tiêu thụ biểu tình vì giá thực phẩm quá cao. Nhóm này biểu tình vì nhà nước quá nhu nhược với di dân bất hợp pháp, nhóm khác đòi phải đối xử nhân đạo hơn.

Chính phủ nghĩ phong trào Gilets Jaunes sẽ sớm nở tối tàn. Các chính đảng, các nghiệp đoàn án binh bất động, không muốn tham gia một phong trào hỗn tạp, vô tổ chức, không có yêu sách minh bạch, hay quá nhiều yêu sách, đôi khi mâu thuẫn nhau. Nhưng khi thấy phong trào áo vàng không những không tự tan như dự đoán, trái lại, còn dữ dội hơn, các đảng phái, phe nhóm vội nhẩy vào ăn có, mặc dù phong trào Gilets Jaunes bất cần các đảng phái, nghiệp đoàn. Gilets Jaunes trước hết là dấu hiệu mất niềm tin của dân Pháp đối với các cơ cấu xã hội không thể thiếu trong một chế độ dân chủ.
Đó là một phong trào dân sự tự phát, và được khắp nơi hưởng ứng. Cuộc biểu tình đầu tiên cách đây gần một tháng đã quy tụ gần 300 ngàn người. Những cuộc biểu tình sau đó ít người hơn, nhưng quyết liệt hơn, và nhất là càng ngày càng bạo động.

Phát động vì một quyết định của chính phủ sẽ tăng thuế xăng vài xu mỗi lít, Gilets Jaunes trở thành một phong trào đòi hỏi xét lại toàn bộ phương pháp quản trị nước Pháp, từ chính trị, tới kinh tế xã hội. Một phong trào quy tụ tất cả những ấm ức, những bất mãn, những lo ngại của một dân tộc đầy tiềm năng, nhưng mất tự tin trong thời đại toàn cầu.

Tăng thuế xăng, đúng lúc giá dầu lửa lên cao, là đổ dầu vào lửa. Chính phủ Pháp không nghĩ tới điều đó, vì thực ra giá xăng ở Pháp cao thật, nhưng vẫn thấp hơn nhiều nước Âu châu, như Ý, Đức, Thụy Sĩ và một phần tiền thuế đó, gọi là taxe carbonne, sẽ dùng vào việc bảo vệ môi trường, là điều đa số người Pháp vẫn đồng ý. Đó cũng là quyết định của Nicolas Hulot, bộ trưởng Môi trường có uy tín nhất trong chính phủ, vừa từ chức.
Những người ngồi ở Paris quyết định ngân sách quên rằng giá xăng nhớt là một vấn đề nóng, nhất là đối với những người sống ở các vùng hẻo lánh, phải dùng xe đi làm hay sinh sống.

Mặc dù nước Pháp có hệ thống xe lửa chằng chịt, hệ thống chuyên chở công cộng hữu hiệu, xe hơi vẫn còn là một yếu tố quan trọng. Người Pháp đã bất mãn vì trước đây, nhà nước khuyến khích dân mua xe chạy dầu cặn diesel, giá xe đắt hơn nhưng xài xăng [ít] hơn, và giá diesel rẻ bằng nửa xăng thường. Sau đó, người ta khám phá ra xe diesel còn ô nhiễm hơn xe thường, đã tăng giá diesel gần bằng xăng super.

Người dân có cảm tưởng bị lường gạt, mặc dầu nhà nước đã quyết định nhiều biện pháp để làm êm sự bất mãn đó, thí dụ trợ cấp tiền xăng cho những người phải dùng xe đi làm, cấp 4 bốn ngàn euros cho những người có lợi tức thấp muốn thay xe, mua xe chạy điện.
Thuế xăng chỉ là một giọt nước làm tràn ly. Hay đúng hơn giọt xăng làm bùng ngọn lửa bất mãn đã âm ỉ từ lâu.
Những cuộc “cách mạng” thường khởi đầu bằng những chuyện nhỏ. Lần này là vài xu tiền thuế.

Trước đây, cuộc nổi loạn của sinh viên năm 1968, gọi là biến động “Mai 68”, đã gây hỗn loạn, thay đổi cả đời sống, tư duy của người Pháp, và ảnh hưởng lan tràn khắp thế giới cho tới ngày nay, đã bắt đầu bằng một chuyện còn vớ vẩn hơn nữa: một nhóm sinh viên biểu tình phản đối chuyện cấm nam sinh vào thăm bạn gái, trong các khu nội trú của nữ sinh.

Phong trào Áo Vàng là sự bùng nổ của những bất mãn, ấm ức từ mọi tầng lớp xã hội từ nhiều thập niên, tại một xứ ai cũng nghĩ phải cải cách, nhưng chưa hề có cải cách thực sự, vì ai cũng có lý do để chống lại những biện pháp cải cách khi đụng chạm tới mình.

Hai mươi phần trăm dân Pháp nghĩ “je suis Gilet Jaune” (tôi là áo vàng), 70 % ủng hộ phong trào. Áo vàng là chiếc áo mặc khi có tai nạn, mặc để mọi người thấy mình (être vu), một cách hiện hữu của những người nghĩ mình bị bỏ quên. Rất nhiều người Pháp có cảm tưởng bị bỏ quên trong thời đại thế giới hóa.

PARIS BRÛLE-T-IL?
Báo chí Mỹ chạy tựa lớn “Paris is burning”, một cách nhắc tới cái tựa cuốn phim nổi tiếng của René Clément, “Paris brûle-t-il?” (Paris có cháy không?). Quả thực, hình ảnh trên TV cho thấy một Paris hỗn loạn, xe bị đốt, nhà hàng bị đập phá, cướp bóc, những cảnh giao chiến dữ dội với cảnh sát của những người mang mặt nạ. Những hình ảnh đó vừa cũ, vừa lạ.
Cũ, bởi vì trong bất cứ cuộc biểu tình, hay “tụ tập đông người” nào, những “casseurs” cũng xuất hiện, trà trộn trong đám biểu tình để đốt phá, để giao chiến với nhân viên công lực.
Mới, bởi vì đây là lần đầu, những nhóm “casseurs” tấn công các công sở, nhất là Khải Hoàn Môn (Arc de Triomphe) ở trung tâm Paris, tượng trưng cho quốc gia Pháp, nơi cháy thường trực ngày đêm ngọn lửa tưởng niệm anh hùng vô danh, những người đã hy sinh cho nước Pháp.

Những “casseurs” đó là ai?
Thứ nhất là những phần tử bất mãn, đa số từ các ngoại ô nghèo, thừa nước đục thả câu để đốt phá và ăn cướp.
Thứ hai, nguy hiểm hơn, những nhóm cực đoan, từ cực hữu tới cực tả. Những nhóm này cũng lợi dụng bất cứ cơ hội nào để giao chiến với cảnh sát, để đập phá những cơ sở tiêu biểu cho “tư bản thống trị” như các siêu thị, các ngân hàng, các cơ sở hành chánh.
Những nhóm “anarchists” này có cơ sở tại hầu hết các nước Âu châu.
Mục tiêu của họ là tiêu diệt thể chế dân chủ mà họ coi là một hình thức thống trị của tư bản. Mục tiêu của họ là tạo hỗn loạn để lật đổ trật tự sẵn có.

Những năm 60, 70, các nhóm cực tả đã gieo rắc kinh hoàng khắp Âu châu: ám sát tổng giám đốc hãng Renault ở Pháp, ám sát các quan toà và chủ ngân hàng ở Đức, bắt cóc và hạ sát thủ tướng Ý Aldo Moro ở Ý.
Bị thanh trừng, các nhóm này chui vào bóng tối; những năm sau này, lợi dụng sự bất mãn của dân Âu châu trước hiện tượng thế giới hóa, đã rục rịch hoạt động trở lại.
Bên cạnh, các nhóm cực hữu, bị lùng bắt sau cái chết của Hitler, cũng không bỏ qua cơ hội dân Âu châu lo ngại trước nạn di dân, đã ra mặt trở lại, phát động các phong trào dân túy (populiste), nhiều nơi đã vào quốc hội hay nắm quyền.

Ở những nơi khác, như Ý, Pháp, Đức họ tích cực, len lỏi, xách động trong những cuộc biểu tình.

Cái mới ở Pháp, là trái với những cuộc biểu tình trước đây, có tổ chức, có lãnh đạo, những “casseurs” chỉ là những phần tử ngoài lề, xúm vào để đánh hôi, lần này họ đi hàng đầu. Nhất là khoảng 3000 gilets jaunes, theo nguồn tin cảnh sát, đã đi theo các “casseurs” để đập phá.

NƯỚC PHÁP NGHÈO ĐÓI?
Đọc những bài của báo nhà nước ở VN, người ta có cảm tưởng nước Pháp là một nước nghèo đói, bất công còn hơn cả xã hội chủ nghĩa VN, người dân thấp cổ bé miệng bị đàn áp trăm chiều. Tóm lại, thông điệp là người dân VN không nên than phiền, đụng đậy, vì nếu có cực khổ, thiếu thốn, có là nạn nhân của tham nhũng cướp đất, cướp nhà, họ cũng có cái may là sống trong một nước ổn định.
Với các “nhà báo” đó, xin nhắc lại là những đám biểu tình, đôi khi rối loạn ở Pháp, đáng tiếc thực, nhưng dù sao cũng là dấu hiệu của một xứ dân chủ, của một xứ người dân có quyền bày tỏ nguyện vọng, có tiếng nói.

Cảnh sát Pháp nhiều khi bất lực, chịu trận, vì họ không có quyền nổ súng. Chỉ có quyền bắn đạn cao su nếu tính mạng bị đe doạ. Cái lo sợ lớn nhất của chính phủ là học sinh, sinh viên nhẩy vào phong trào phản kháng. Chỉ một người trẻ thiệt mạng, chính phủ sẽ đổ. Cho tới nay, đã có 4 người thiệt mạng, nhưng không phải lỗi của cảnh sát.
Về cái “cơ cực” của dân Pháp, cũng nên biết đó là một trong những nước có đời sống cao nhất, có hệ thống an sinh tiến bộ nhất thế giới.

Dân Pháp, bất cứ làm nghề ngỗng gì, mỗi năm nghỉ ít nhất 5 tuần lễ đi nghỉ hè. Ngoài lương bổng, có đủ loại trợ cấp cho người già, cho cha mẹ độc thân, người tàn tật, học sinh nghèo, người thất nghiệp… Mặc dù tỷ số thất nghiệp cao, có không dưới 300.000 công việc không kiếm ra người làm, vì dân Pháp chê việc tay chân, nặng nhọc. Người Pháp vẫn là người làm việc ít nhất, 35 giờ một tuần, và về hưu sớm nhất, 62 tuổi, nếu không phải 54, 55 như những người được hưởng quy chế đặc biệt, thí dụ một số nhân viên hỏa xa.

Người Pháp bất mãn, nổi loạn, không phải vì họ cũng nghèo khổ như người Việt, là nạn nhân của bạo hành, của tham nhũng như người Việt. Họ bất mãn vì so sánh với những người Pháp khác, có đời sống cao hơn. Họ bất mãn vì nghĩ họ đáng có một đời sống sung túc hơn ở một xứ giầu có. Họ bất mãn vì có cảm tưởng, với thế giới hóa, đời sống của họ càng ngày càng khó khăn hơn, so sánh với thời Tây phương còn độc quyền về kỹ nghệ, độc quyền sản xuất, độc quyền xuất cảng.
Vật giá lên cao, đời sống đắt đỏ, cuộc sống trở thành khó khăn, con số người nghèo gia tăng, nhưng tất cả những cái đó là đánh giá theo tiêu chuẩn một nước Tây phương, không thể so sánh với một nưóc nghèo.
Đó là cái lo sợ bị xuống cấp (déclassement social) trong bực thang xã hội. Không liên hệ gì, không thể so sánh gì với thân phận của người dân một xứ độc tài, thuộc hàng nghèo đói nhất thế giới.

KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI
Như đã viết, phong trào Gilets Jaunes là một phong trào tự phát, không tổ chức, không lãnh đạo. Rất khó tiên đoán hiện tượng này sẽ diễn tiến thế nào.
Mặc dù Macron đã nhượng bộ, tuyên bố bãi bỏ việc tăng thuế xăng, bãi bỏ việc tăng giá dầu sưởi, như yêu sách khởi đầu của Gilets Jaunes, nhưng nhóm này vẫn chưa bỏ cuộc.

Họ đưa những yêu sách khác, từ việc tăng lương, giảm thuế tới một loạt những đòi hỏi mâu thuẫn của đủ mọi giới. Thí dụ những người đi làm đòi tăng lương, thương gia đòi giảm thuế, trong khi muốn tăng lương cho người này, khó có cách nào khác hơn là đánh thuế những người khác.
Dù sao ông Tổng thống 40 tuổi của Pháp đã trầy vi tróc vẩy trong vụ này. Đó có lẽ là cái giá phải trả sau khi đã lên cầm quyền trước sự ngạc nhiên của mọi người, trong sự điêu tàn của chính trị Pháp. Emmanuel Macron đắc cử Tổng thống trước đây gần hai năm, làm tiêu tan những chính đảng từ tả sang hữu đã ngự trị chính trường Pháp từ một nửa thế kỷ.

Trong năm đầu, Macron đã cải tổ nước Pháp trên nhiều lãnh vực, từ hệ thống hoả xa, hệ thống giáo dục, luật lao động vv… là những lãnh vực không chính quyền nào dám đụng tới, sợ sẽ đẩy dân xuống đường.
Macron hành động gần như chỗ không người, vì trước mặt không còn đối lập. Các chính đảng đã tiêu tan, các nghiệp đoàn đã mất uy tín.
Có lẽ chính vì vậy mà nhiều khi Macron cho người ta cảm tưởng, qua những câu tuyên bố thiếu thận trọng, là người coi thường dư luận.
Các đảng phái đối lập, từ trái sang phải, đã thành công trong việc gán cho Macron hình ảnh “tổng thống của nhà giàu”. Thí dụ, một trong những quyết định đầu tiên của Macron là bãi bỏ ISF (thuế gia sản, impôt de solidarité sur la fortune).
Ở Pháp, người có lợi tức cao, ngoài thuế lợi tức, phải đóng thêm thuế gia sản, nếu có bất động sản đáng giá.

Đó là một trong những lời hứa của Macron khi tranh cử, với lập luận: ISF mang lại cho ngân sách quốc gia một số tiền không đáng kể, với hậu quả tai hại là những người có tiền, để tránh ISF, tiếp tục chạy qua sống ở những nước láng giềng ít thuế má hơn, như Thuỵ Sĩ, Bỉ, Luxembourg hay Anh Quốc, chỉ cách Paris 1,2 giờ máy bay hay TGV (xe lửa tốc hành). Với luật lệ Âu châu, việc lưu hành người và tiền bạc giữa các nước thuộc Liên hiệp Âu châu hoàn toàn hợp pháp.
Macron nghĩ nên thực tế, nên giữ những người có tiền, có cơ sở kinh doanh ở lại, tiêu tiền và tạo công ăn việc làm tại chỗ. Nhưng trong chính trị, hình ảnh tượng trưng nhiều khi quan trọng hơn thực tế.

Mỗi lần có một nhóm than phiền gặp khó khăn kinh tế, thí dụ những người thất nghiệp không được tăng trợ cấp, những người già về hưu phải đóng góp thêm, công chức không được tăng lương, những nông dân gặp khó khăn vì cạnh tranh quốc tế, trong khi giá cả gia tăng, người ta, nhất là các đảng đối lập và các nghiệp đoàn không quên nhắc cho dân hay là Macron đã làm quà bạc tỉ cho những nhà giàu.

Phong trào Gilets Jaunes đã bắt đầu có ảnh hưởng lớn tới kinh tế Pháp.
Những cửa hàng, cơ sở, xe cộ bị đốt phá coi ngoạn mục thực trên màn ảnh TV, nhưng những tổn thất vài triệu hay vài chục triệu, không thấm thía gì với sự tai hại của một quốc gia tê liệt hàng tháng trời. Nhiều hãng xưởng, cơ sở thương mại đã nghĩ tới việc cho nhân viên nghỉ việc. Chỉ riêng kỹ nghệ lương thực, con số tổn thất trong ba tuần xáo trộn đã lên tới 15 tỉ euros.

Hậu quả chính trị còn nặng hơn nữa, ít nhất đối với Macron. Ông ta vẫn chê những người tiền nhiệm quá nhút nhát, không dám cải tổ nước Pháp, theo nhau áp dụng cái gọi là “politique du chéquier”, mỗi lần có một đám biểu tình là lôi ngân phiếu (chéquier) ra ký, phân phát để yên thân, mặc dầu đó chỉ là tiền vay nợ, vì từ ba chục năm nay, ít khi nước Pháp có một ngân sách chi thu quân bình. Pháp là một trong nước mang nợ nhiều nhất trong các nước Tây phương.

NHƯỢC ĐIỂM CỦA MACRON
Trước sự bạo động và quyết tâm của phong trào Áo Vàng, trước áp lực của các lực lượng đối lập, Macron cuối cùng đã phải nhượng bộ, dù biết rằng đã nhượng bộ bước đầu, sẽ nhượng bộ bước sau. Kế hoạch cải tổ nước Pháp sẽ trở thành vạn nan, nếu không vô vọng. Macron có lẽ là chính khách hiếm hoi của Pháp thực sự muốn cải cách nước Pháp, nhưng đã phạm hai lỗi chính trị.

Thứ nhất, vì đã tay không, một sớm một chiều loại tất cả các đối thủ để trở thành Tổng Thống, Macron đã coi thường đối lập, các tổ chức dân sự, các nghiệp đoàn, là những yếu tố không thể thiếu trong một chế độ dân chủ. Nếu không có các tổ chức dân sự đại diện, sẽ phải đương đầu với sự hỗn loạn ngoài đường.
Mặt khác, cũng phải nhìn nhận các đảng phái, nghiệp đoàn của Pháp không có tinh thần trách nhiệm của một quốc gia dân chủ kiểu mẫu, thích chống đối hơn là thương lượng để tìm giải pháp.

Thứ hai, Macron không có kinh nghiệm chính trị, trước khi trở thành tổng thống chưa hề tranh cử, chưa hề lăn lộn với cử tri, và mặc dầu đã mang vào quốc hội đa số dân biểu, chưa có một hạ tầng cơ sở vững chắc, đủ để tiếp tay cho chính phủ. Các chính đảng nắm quyền lâu năm, một phần lớn vì họ có một hạ tầng cơ sở vững chắc trên toàn lãnh thổ.
Macron muốn cải tổ nước Pháp theo mô hình Thụy Điển, nhưng không có những điều kiện cơ chế, dân trí của Thụy Điển.

Tới giờ này, mặc dù Macron đã tuyên bố hủy bỏ việc tăng giá xăng nhớt, tình hình không êm dịu hơn. Trái lại, các nhóm xã hội khác nhẩy vào vòng chiến. Ngày thứ Bảy 8/12 sẽ là ngày quyết định.
Học sinh đã bắt đầu làm náo loạn trong nhiều trường học, giới vận tải sẽ chận các đường giao thông, làm tê liệt nước Pháp để đòi hạ giá xăng nhớt, hạ giá phí tổn xa lộ, nghiệp đoàn nông dân (mặc dù đã nhận những tài trợ khổng lồ) sẽ tham dự phong trào phản kháng. Các nghiệp đoàn CGT, Force Ouvrière, 2 trong 3 nghiệp đoàn lớn nhất kêu gọi đoàn viên xuống đường.

Hàng ngàn Gilets Jaunes chủ trương bạo động, sẽ kéo về Paris thứ Bảy tới “với mục đích đốt phá và giết người”, theo bộ trưởng Nội vụ Castaner. Chính quyền sẽ huy động 89.000 cảnh sát và “gendarmes” để ngăn chặn cuộc tấn công của “những nhóm võ trang” dự tính đổ về Paris cuối tuần này.

Trong không khí sôi sục đó, các đảng đối lập hối thúc Macron nhượng bộ, kể cả chủ tịch đảng Cộng Hòa, hữu phái (LR, Les Républicains) trong khi đảng này vẫn đòi hỏi một chính sách thắt lưng buộc bụng để cứu vãn kinh tế, còn khắc khổ hơn cả chính sách Macron.
Các đảng cực tả, cực hữu đòi Macron từ chức, bầu lại, quên rằng nước Pháp là một nước dân chủ, và nhiệm kỳ của Tổng Thống 5 năm.
Nhóm cực tả của Mélenchon mô tả xã hội Pháp như địa ngục, trong khi Mélenchon không ngớt ca ngợi xã hội chủ nghĩa Venezuela.

Macron và Thủ tướng Edouard Philippe, sau một thời gian cứng rắn, không có đường nào khác hơn là nhưọng bộ và kêu gọi những nhóm chống đối tới gặp chính phủ để thảo luận, thương lượng. Một vài đại diện Gilets Jaunes chấp nhận, một số khác đòi tranh đấu tới cùng, vài người cho hay đã nhận được những đe dọa tới tính mạng từ các nhóm cực đoan nếu nhận lời thương lượng với nhà nước.

Thật khó tưởng tượng trong bối cảnh đó, những cuộc gặp gỡ sắp tới sẽ đưa tới kết quả khả quan. Làm cách nào thảo luận với một phong trào phản kháng sâu rộng nhưng không lãnh tụ, không tổ chức, không đại diện? Thảo luận về cái gì, khi mỗi nhóm, mỗi khuynh hướng đưa một đòi hỏi khác nhau, hay hoàn toàn mâu thuẫn.
Lấy một vài thí dụ, để thấy ngay cả những đòi hỏi có vẻ hợp tình, hợp lý nhất cũng không dễ thực hiện:

Thí dụ 1: Gilets Jaunes đòi hạn chế mức lương cao nhất 25.000 Euros (1 Euros= 1,10 hay 1,20 US dollars) để tránh bất công. Quả thực là giám đốc các hãng lớn lãnh lương lớn một cách thô bạo: 10, 15, 20 triệu Euros / năm. Hạn chế là phải, nhưng lương bổng của các hãng tư là do hội đồng quản trị của họ quyết định, không thuộc thẩm quyền của chính phủ. Lương các chủ hãng lớn ở Đức, Anh còn lớn hơn, chưa nói tới Hoa Kỳ. Nếu chính phủ một nước quyết định hạn chế lương bổng, các chủ hãng lớn sẽ di cư sang nước láng giềng, kéo theo cả nhân viên và công ăn, việc làm.

Thí dụ 2: Tăng trợ cấp cho người nghèo. Rất hay, nhưng lấy tiền đâu ra, khi các dịch vụ xã hội, trợ cấp, nhân đạo đủ loại ở Pháp đã cao nhất thế giới, chiếm 57% PIB, tổng sản lượng quốc gia, trong khi các nước khác, kể cả các nước xã hội kiểu mẫu ở Bắc Âu, dưới 45%.
Lấy tiền đâu ra, ngoài việc tăng thuế, nhưng thuế trực tiếp hay gián tiếp đủ loại ở Pháp cũng đã cao nhất thế giới, 48% tổng số lợi tức. Và chính chuyện tăng thuế là nguyên nhân của phong trào Gilets Jaunes. Biểu ngữ chính của Gilets Jaunes là “Ras-le-bol fiscal” (Ớn tới cổ, thuế má).

Chưa đặt câu hỏi sẽ đánh thuế những ai. Hiện nay, ở Pháp, chỉ có 42% dân đóng thuế, những người khác được miễn vì lợi tức thấp. Đánh thuế nặng nhà giầu? Trên thực tế, đa số những người có lợi tức cao, có gia sản lớn, những thể tháo gia hay nghệ sĩ hàng đầu đều có địa chỉ thuế ở Belgique, Thụy Sĩ.

Bao nhiêu thuê má đổ lên đầu một giai cấp, gọi là giai cấp trung lưu, những người đã bỏ ra trên dưới 10 năm học để có một nghề lương được coi là cao. Đánh thuế những người này dễ, vì lương bổng sở làm khai thẳng với sở thuế, và họ cũng là những người không xuống đường, không biểu tình vì không có tổ chức, không có nghiệp đoàn.

Ngay cả khi có ngân khoản, có nên tăng trợ cấp? Nếu tiền trợ cấp đủ loại không thấp hơn lương tối thiểu, gọi là SMIC, như nhiều trường hợp hiện nay, người ta sẽ ngồi nhà hơn là đi làm lãnh lương tối thiểu.
Nếu tăng SMIC quá độ, giá thành của các sản phẩm Pháp đã cao, so với nhiều nước láng giềng, nhất là Đông Âu, chưa nói tới các nươc nghèo, sẽ cao hơn nữa. Hàng hóa không cạnh tranh nổi, kinh tế sẽ khó khăn, thất nghiệp sẽ lan tràn, và sẽ có nhiều… biểu tình hơn nữa.
Cựu tổng thống Georges Pompidou nói nửa đùa, nửa thực: đừng kiếm giải pháp, bởi vì mỗi giải pháp sẽ đẻ ra 3, 4 vấn đề rắc rối hơn.
Nếu suy nghĩ xa hơn, phải giải thích thế nào về một phong trào, khởi đầu tưởng chỉ là chuyện lộn xộn hàng ngày dưới huyện, đã trở thành một phong trào sâu rộng, không có lối thoát?

Phong trào Gilets Jaunes nói lên ít nhất 2 điều: thứ nhất, mô hình xã hội Pháp đã lỗi thời, không thể tiếp tục; thứ 2: đó là một dấu hiệu cho thấy hiểm họa suy yếu của dân chủ tại các nước Tây phương sẽ dẫn tới khủng hoảng, nếu không tìm ra giải pháp.

MỘT MÔ HÌNH XÃ HỘI LỖI THỜI
Mô hình xã hội Pháp, ít nhất từ Đệ Nhị Thế Chiến, xây dựng trên 2 nguyên tắc: nguyên tắc, hay triết lý bình đẳng (égalitarisme) và nguyên tắc nhà nước vạn năng (État-providence).
Đúng ra, từ Cách mạng 1789, giấc mơ thầm kín của người Pháp là một xã hội bình đẳng. Để thực hiện xã hội đó, một guồng máy trung ương vạn năng. Nhà nước có nhiệm vụ phân phát, thoả mãn các nhu cầu vật chất của mỗi cá nhân, san bằng mọi bất công xã hội.
Mô hình đó tuyệt vời, khi nhà nước mạnh, khi kinh tế thịnh vượng, khi quốc gia độc quyền hay đứng đầu thế giới về kỹ nghệ, xuất cảng. Nhà nước có dư khả năng cấp phát, bù đắp, trợ cấp những phần tử yếu kém của xã hội, để không ai bị gạt ra lề đường.
Dần dần, dân trao cho nhà nước bổn phận, trách nhiệm phải lo cho mình. Mỗi khi có khó khăn, gõ cửa nhà nước. Nếu không thoả mãn, sẽ phản kháng, đình công, bãi thị cho tới khi được thỏa mãn. Mô hình đó đã bắt đầu gặp trở ngại từ khi có thế giới hoá.

Nước Pháp, cũng như các nước Tây phương gặp khó khăn vì cạnh tranh thương mại, vấn đề di dân, nhưng trong khi các nước như Canada, Đức, Thụy Điển v.v… đã thắt lưng buộc bụng, chấp nhận một giai đoạn hy sinh để cải cách, nước Pháp vẫn chưa có cái can đảm đó. Dân vẫn tiếp tục coi nhà nước là État-providence, các chính quyền liên tiếp từ 40 năm nay vẫn tiếp tục những chính sách vá víu, tạm bợ để sống qua ngày, để khỏi thất cử. Nước Pháp năm nào cũng có bầu cử đủ loại, hậu quả là các chính đảng lo chuyện bầu bán hơn là chuyện cải cách.

Chuyện bất mãn không thể tránh khỏi, khi đời sống khó khăn hơn vì thời đại đã thay đổi. Mặc dù những bất công có thực, nước Pháp, theo thống kê, vẫn thuộc những nuớc bình đẳng nhất thế giới. Nhưng Alexis de Tocqueville đã nhận xét, từ giữa thế kỷ 19, xã hội Pháp bình đẳng hơn nơi khác, nhưng càng gần với sự bình đẳng, người ta càng bất mãn với những bất công.

SỰ SUY YẾU CỦA DÂN CHỦ
Điều nhận xét thứ hai, là hình thức dân chủ cổ điển, quyết định từ trên xuống dưới không còn thích hợp nữa. Người dân không chấp nhận đóng vai thụ động.
Những nước đã hiểu điều đó, đã áp dụng hình thức dân chủ hợp tác (démocratie participative), trong đó người dân trực tiếp tham dự vào việc quản trị quốc gia, như tại các nước Bắc Âu, thể chế dân chủ vẫn vững mạnh.

Ở những nơi khác, đã có hỗn loạn. Hậu quả là chính quyền rơi vào tay các nhóm mị dân như ở Áo, ở Ý, dẫn tới Brexit ở Anh.
Cả Âu châu nín thở nhìn diễn biến những ngày sắp tới ở Paris, vì sau khi bà Merkel ở Đức quyết định rời chính trường, sau khi Ý rơi vào tay nhóm cực đoan, sau khi Anh quyết định ra khỏi Liên hiệp Âu châu, dù muốn hay không, Âu châu vẫn trông chờ vào nước Pháp.

Chính phủ, các phe phái chính trị, và dân Pháp, có đủ khả năng, bình tĩnh, sáng suốt, tinh thần công dân, để đi tới một cuộc thảo luận tận gốc của mọi vấn đề, đáp ứng với thực tế của một thế giới đang chuyển mình, như chính phủ Pháp hứa hay không, vẫn là một câu hỏi lớn.

Tới giờ này, người ta vẫn không tiên đoán nổi những gì sẽ xẩy ra ở Pháp trong những ngày, tháng tới.

 Paris 06/12 /2018