Wednesday, March 25, 2026

Mối Tình Già - Hoàng Hải Thủy

 

Ông bà George Sanders


Người sống lâu bị nhục nhiều. Ông cha tôi – các ông Việt ngày xưa – hay dùng thành ngữ “Đa thọ đa nhục.”

Tôi không cho là người già bị nhục. Tôi thấy người ta càng nhiều tuổi càng khổ. Khổ vì không còn hưởng thụ gì được sự đời mà phải chịu những bệnh tật do già yêú sinh ra: Người già không tự lo được cho thân mình, mắt mờ, tai điếc, trí nhớ mất, sống nhờ người khác. Người già vua chúa hay cùng đinh, tỷ phú hay anh nghèo rớt một xu dính túi không có, kẻ quyền uy chấn động thế giới một thời hiển hách hay anh phó thường dân cả đời cơm nhà, quà vợ, khi tuổi già đến đều có những nỗi khổ như nhau.

Người ta qua 60 tuổi được kể là già. Ở Việt Nam những năm 1940-1950 người 50 tuổi được gọi là cụ. Khổng Tử chỉ nói về Người đến tuổi 70: “Thất thập nhi tùy tâm sở dục.”
Tôi nghĩ ông muốn nói : “Người bẩy mươi tuổi muốn làm gì thì làm..” Nhưng người bẩy mươi tuổi còn làm gì được nữa. Người bẩy mươi cả Bốn Tứ Khoái đều không hưởng được, không làm được.
Năm nay – 2013 – tôi tám mươi tuổi. Một ngày đầu Xuân Kỳ Hoa Đất Trích 2013, tôi viết bài này.
Năm 2000, khi chia tay nhau lúc nửa đêm ở trước một Nhà Dành cho Người Già Thu Nhập Thấp – Housing for Old Seniors Low Income – ở San Jose, ông bạn già của tôi nói:
“Đọc những bài viết của toa để nhớ, để thương Sài Gòn của chúng ta.”
Ông cầm tay tôi:
“Viết. Viết nữa. Viết đến năm toa tám mươi. Viết cho bọn moa đọc.”


Đêm mùa đông San Jose lạnh giá bao quanh chúng tôi khi chúng tôi từ biệt nhau, chúng tôi bắt tay nhau lần cuối.
Năm 2000 tôi 68 tuổi. Ông bạn HO già hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi không biết hôm nay ông còn ở cõi đời này hay không. Thời gian và không gian làm chúng tôi không biết nhau sống chết ra sao. Tám mươi tuổi tôi vẫn viết. Tôi không còn viết phóng tác truyện dài. Tôi viết những bài như bài này.
Thời gian Sống, Yêu và Viết của tôi không còn bao lâu nữa, nên với nỗi Buồn vì phải xa mãi những người tôi yêu thương, hôm nay tôi viết những dòng chữ này.
o O o

Tôi bị ám ảnh bởi cái Chết, tôi ghét Chết, tôi sợ Chết, tôi không muốn Chết. Không phải bây giờ trong tuổi già, tuổi gần đất, xa trời, tôi mới sợ Chết, tôi sợ Chết từ những năm tôi năm, sáu tuổi, khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ.
Nhà tôi ở cuối thị xã Hà Đông, nhà có lầu, tiếng Bắc là nhà gác, nhà hai tầng. Trên gác nhìn ra tôi thấy cánh đồng với những nấm mồ rải rác trong những ô ruộng, ở gác sau nhìn ra tôi thấy Nhà Thương Hà Đông và bãi tha ma ở cuối Nhà Thương. Những đêm mưa tôi thấy những chấm lửa lập lòe trong bãi tha ma. Về sau tôi biết đó là những ánh đèn của những người đi soi bắt ếch. Những năm xưa ấy tôi tưởng đó là những đốm lửa ma trơi.
Năm tôi năm, sáu tuổi, mẹ tôi 27, 28 tuổi. Tôi sợ mẹ tôi chết, người ta đem mẹ tôi ra chôn ở ngoài đồng. Mẹ tôi phải nằm một mình giữa cánh đồng vắng, lạnh, cô đơn, nơi mẹ tôi nằm ngập nước, đêm đông, mưa phùn, gió bấc, mẹ tôi khổ biết chừng nào..
Đó là nguyên nhân thứ nhất làm tôi ghét Chết, tôi sợ Chết.
Mời bạn đọc một chuyện Sống, Yêu và Chết tôi thấy trên Internet. *

Trong phiên xử ở Tòa Án Phoenix, Arizona, bị cáo là Ông George Sanders, 86 tuổi, bị xử vì tội giết vợ. Tất cả mọi người có mặt tại toà, từ công tố viên đến chánh án, kể cả con cháu của kẻ bị cáo, đều thấy bị cáo phạm tội giết người, nhưng tất cả đều cho rằng đây là trường hợp pháp luật nên thông cảm, thương hại, tha thứ hơn là trừng phạt kẻ có tội. Anh cháu của bị cáo George Sanderss nói trước tòa:
“Ông tôi sống để thương yêu bà tôi. Suối đời ông tôi làm mọi việc để bà tôi có hạnh phúc. Mối tình của ông bà tôi là mối tình lớn. Tôi tin ông tôi bị bắt buộc phải làm việc ấy vì yêu thương bà tôi, bà tôi chịu đau quá nhiều rồi, ông tôi không thể để bà tôi chịu đau nhiều hơn nữa. “

Ông Sanders bị bắt Tháng Bẩy năm 2012 sau khi ông nói với cảnh sát bà Virginia, vợ ông, 81 tuổi, xin ông làm bà chết. Vì ông Sanders nhận tội nên toà án không dùng đến đoàn bồi thẩm, nhưng ông vẫn có thể bị kết án đến 12 năm tù. Bà Virginia bị bệnh nan y năm 1969, bà liệt bại, bà phải ngồi xe lăn. Năm 1970, ông bà sang sống ở Arizona vì khí hậu ở đây ấm nóng. Ông Sanders là Cựu Chiến Binh Thế Chiến II. Ông là người nuôi và săn sóc bà vợ. Ông nấu ăn cho bà, làm mọi việc trong nhà. Mỗi sáng ông giúp bà trang điểm, mỗi tháng ông đưa bà tới Nhà Thẩm Mỹ để bà làm tóc, làm móng tay. Năm tháng qua, sức khoẻ của ông Sanders suy mòn. Ông phải đặt máy trợ tim, ông không còn săn sóc chu đáo được bà. Rồi bà Virginia bị ung thư phá ra ở chân, bà phải vào một Nursing home để người ta lo cho bà sống qua những ngày tàn cuối đời. Ông Sanders nói với những viên chức điều tra:
“Đây là giọt nước làm tràn ly nước. Virginia nhất quyết không chịu vào Nursing home. Vợ tôi tự cắt những ngón chân bị ung thối.” Ông nói: - “Vợ tôi xin tôi cho bà ấy chết. Tôi nói tôi không thể.” Vợ tôi nói:
“Anh làm được mà. Em biết anh làm được.”

Sanders cầm khẩu súng lục, ông lấy khăn bông quấn ngoài khẩu súng, nhưng ông không sao bóp cò súng được. Ông kể:
- “Vợ tôi nói: “Bắn đi anh. Cho em đươc chết.” Tôi nói lời cuối với vợ tôi:
“Em sẽ không cảm thấy đau.” Và:
“Anh yêu em. Vĩnh biệt em” Tôi nổ súng.”
Trước toà, người con trai của ông Sandsers nói:
- “Tôi muốn quí toà biết rằng tôi yêu thương mẹ tôi, tôi cũng yêu thương bố tôi như thế.” Steve Sandes, anh con, nghẹn ngào kể:
- “Bố tôi yêu thương mẹ tôi trong 62 năm. Những đau đớn thể xác và việc chịu đau vô ích đã làm bố mẹ tôi đi đến quyết định ấy... Tôi không kết tội bố tôi. Với tôi, bố tôi là người, tôi cảm 
phục nhất.”

Ông già George Sanders chỉ nói trong khoảng một phút, giọng ông run run:
“Tôi gặp Viginia năm nàng 15 tuổi, tôi yêu nàng từ năm nàng 15 tuổi. Tôi yêu nàng khi nàng 81 tuổi. Có nàng làm vợ là một ân phúc Thiên Chuá ban cho tôi. Tôi sung sướng được chăm sóc nàng. Tôi làm theo ý muốn của nàng. Tôi xin lỗi các vị vì vợ chồng tôi mà các vị phải bận lòng.”
Ông Công tố đề nghị ông Chánh án không phạt tù giam George Sanders, ông nói toà nên xử án treo. Ông Chánh án John Disworth nói ông đặt nặng tình nhân đạo trong vụ án này. Ông nói:
- “Bị cáo phạm tội giết người, nhưng được toà giảm nhẹ mức án.”
Ông tuyên phạt ông già George Sanders 2 năm tù treo. Tù treo không bị cảnh sát kiểm soát.

o O o

Chuyện ông bà Sanders làm tôi suy nghĩ lan man. Tôi nhớ chuyện Cái Bát Gỗ tôi đọc những năm tôi 10 tuổi. Anh con thấy ông bố già run tay, khi ăn hay đánh rơi bát cơm, bát vỡ. Anh làm cái bát bằng gỗ cho ông già ăn cơm. Ông có làm rơi bát, bát gỗ không bị vỡ.

Một hôm anh thấy thằng con nhỏ của anh hí hoáy đục đẽo một cục gỗ, anh hỏi nó đục gỗ làm gì, con anh nói:
- “Con làm cái bát gỗ, để khi bố già, con cho bố ăn cơm.”
Chuyện – dường như – ở trong sách Quốc Văn Độc Bản – đã 70 năm tôi không quên nó – nó đây là chuyện cái Bát Gỗ – nhưng chẳng có dịp nào tôi nhớ nó. Hôm nay tôi nhớ nó.

Từ sau năm 1975 ở Hoa Kỳ, Nhà Xuất Bản Xuân Thu in lại tất cả những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư. Nhưng sách Quốc Văn Độc Bản – sách có nhiều bài thật hay – thì không thấy in lại. Tôi không biết tại sao Quốc Văn Độc Bản không được in lại ở Hoa Kỳ. Tôi đã đọc lại tất cả những sách Giáo Khoa Thư được in lại ở Hoa Kỳ, tôi muốn đọc lại những bài trong Quốc Văn Độc Bản.
Tôi nhớ lâu rồi, từ những năm 1950 khi tôi chưa gặp Tình Yêu Vợ Chồng, tôi đọc trên trang sách nào đó lời một ông Tầu viết:
- “Vợ chồng như hai con chim tình cờ cùng đậu trên một cành cây. Đến lúc phải bay đi, mỗi con bay đi một phía.”


Năm xưa còn trẻ, tôi muốn phản đối lời diễn tả trên. Ông Tầu muốn nói vợ chồng là chuyện ngẫu nhiên, chẳng có tình nghĩa gì giữa vợ và chồng. Hôm nay tôi mới dịp viết ra lời phản đối.
Ông bác sĩ điều trị cho vợ chồng tôi mỗi tuần một ngày vào chẩn bệnh cho những ông bà già trong một Housing for Old Seniors – Housing này có nhiều ông bà già Mỹ trắng – ông nói:
- “Có những cặp vợ chồng về già không nhìn được mặt nhau.”
Lời kể của ông làm tôi buồn. Vợ chồng sống với nhau đến già, ở chung một nhà già – mỗi người một phòng – sắp ra nghĩa địa, sắp vào hũ sành mà thù hận nhau đến không nhìn mặt nhau?? Thù hận gì dữ dội đến thế? Những người ấy thật khổ.
Bát đại khổ não ghi "8 Nỗi Khổ Lớn" của con người:
Sinh, Lão, Bệnh, Tử: 4 Khổ ai cũng phải chịu.
Muốn có mà không có: Khổ 5
Có mà không giữ được: Khổ 6.
Yêu nhau mà không được cùng sống: Khổ 7.
Ghét nhau mà phải sống gần nhau: Khổ 8.
Có người chỉ phải chịu có 7 Khổ. Đó là những người không yêu ai cả.
Nhiều người Việt phải chịu cả 8 Khổ; đó những người thù ghét bọn Việt Cộng mà cứ phải sống với bọn Việt Cộng.


Mùa thu mây trắng xây thành.
Tình Em mây ấy có xanh da trời.
Hoa lòng Em có về tươi?
Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?
Tôi làm bài thơ trên Tháng Bẩy năm 1954 ở Vũng Tầu, ngày chúng tôi yêu nhau. Cuộc Tình của chúng tôi đã dài trong 60 năm. Cuộc Tình Vợ Chồng, trong cuộc đời Tám Khổ này, nàng và tôi chỉ phải chịu có Bẩy Khổ.

Năm 1979 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, nhớ Nàng, tôi làm bài thơ:
Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.
Từ xanh đến bạc mái đầu
Tình ta nước biển một mầu như xưa.
Yêu bao giờ, đến bao giờ?
Thời gian nào rộng cho vừa Tình ta.
Hoa lòng Em vẫn tươi hoa,
Môi Em thắm đến Em già chưa phai.
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai.
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em
Mặt trời có lặn về đêm,
Sớm mai Em dậy bên thềm lại soi.
Cuộc đời có khóc, có cười,
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay.
Thu về trời lại xanh mây.
Đầy trời ta thấy những ngày ta yêu.
Càng yêu, yêu lại càng nhiều.
Nhớ Em, Anh nhắn một điều: “Yêu Em.”

******
Năm 2013 tôi đổi hai tiếng trong bài thơ:
“Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,
Sáu mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.”


o O o
12 giờ buổi trưa tháng Sáu, 2012, Nàng bước hụt, ngã nhào qua bốn bực thềm cửa, nàng ngất đi. Ngồi bên nàng trong nắng trưa mùa hạ Virginia, chờ Ambulance đến, nước mắt tôi ưá ra.
Trong ICU – Ai Si Yu – Intensive Care Unit – tỉnh lại, nàng nói:
- “Xin Thiên Chúa tha tội cho em.”Tôi nói:
- “Em có tội gì. Mà Em có tội gì, thì Thiên Chúa cũng tha cho Em rồi.”

Nàng chỉ bị dập xương nên không bị mổ, không bị ghép xương, không phải bó bột. Về nhà nằm, uống Vitamin D, chờ vết xương nứt lành lại.
Tình trạng bi đát. Nhiều người nói người trẻ khi bị nứt xương mới mong vết xương nứt liền lại, người già 70 thì vô phương. Nếu vết xương nứt không lành, nàng sẽ phải nằm mãi trên giường.

Tôi hầu nàng ngày đêm. Gần như suốt ngày đêm, tôi xin Đức Mẹ Maria cho nàng đi lại được. Tôi chỉ xin Đức Mẹ cho nàng đi được từ giuờng ngủ vào nhà bếp, vào toilet, ra ngồi bàn ăn cơm, nàng tự tắm được.
Bộ Xã Hội cấp cho nàng đủ thứ nàng cần dùng: Xe đẩy, gậy chống, ghế để ngồi tắm.. Chuyên viên y tế – therapist – đến nhà mỗi tuần ba lần, giúp nàng ngồi lên, tập đi.
Một tháng sau nàng đi được.

o O o

Ba năm nay Nàng có tới ba, bốn lần đau nặng, hai ba lần nàng tự nhiên ngã. Một lần nàng hôn mê. Đêm khuya trong bệnh viện, nằm trên cái canapé nghe tiếng nàng thở khò khè, tôi nghĩ:
- “Tiếng thở này tắt là...” Tôi cầu xin:
- “Xin Đức Mẹ cho vợ chồng con được sống với nhau 5 năm nữa.”

Tôi không muốn tôi chết trước nàng, tôi không muốn nàng chết trước tôi.
Nàng chết trước tôi không biết tôi sống ra sao. Tám mươi tuổi, tôi sống với nàng 60 năm, tôi sống dựa vào nàng. Tôi sống bằng Tình Yêu của nàng.

Năm 1976 gặp lại nhau, Lê Trọng Nguyễn nói:
- “Tao không biết mày có đi được không. Tao cứ tưởng mày làm USIS là mày đi được. Hôm tao gặp thằng S. ở trong khu nhà mày, tao hỏi nó mày có đi được không? Nó nói mày không đi được. Tao kêu lên:
“Làm sao nó sống? Nó sống bằng gì? ” S. nó nói:
- “Nó sống bằng Tình Yêu của vợ nó.”
Người bạn cùng tuổi tôi – 80 – lấy vợ cùng năm với tôi – năm 1954 – vợ chồng anh cũng sống với nhau 60 năm, một sáng từ Cali anh gọi phone cho tôi báo tin vợ anh qua đời, tôi hỏi:
- “Đau lắm không?”

Đau thì tôi biết bạn tôi đau, nhưng tôi muốn biết anh đau đến ngần nào. Hỏi dễ, trả lời khó. Bạn tôi nói:
- “Đứt ruột, nát gan.”
Lần cuối tôi gặp ông Lê Văn Ba, ông hơn tôi 10 tuổi, ông nói với tôi:
- “Tôi nói với bà nhà tôi: Bà nên đi trước tôi là hơn, tôi đi trước bà, bà sẽ khổ lắm.”

Năm sau ông đi trước bà. Đứng bên quan tài ông, tôi nhớ lời ông nói.
Ông bạn HO có bà vợ bại liệt, ông phải đưa bà vào Nursing Home. Để bà ở lại ông một mình lái xe về. Dọc đường ông run tay lái, mắt ông mờ. Ông đậu xe bên đường, xuống đi bộ vài vòng lấy lại tinh thần. Khi trở lại tìm xe, ông quên không nhớ ông đậu xe ở đâu. Ông mở cellphone gọi ông bạn đến giúp.

o O o

Người đời chỉ nói “Good bye.”
“See You next week, next time” là cùng.
Đôi ta ngọc nữ, tiên đồng,
Đôi ta Từ Thức vợ chồng Giáng Hương.
Ngàn đời vẫn nhớ, còn thương:
Em yêu, đã đến cuối đường:
“Good bye.See You next Life./.
(the end)


 Hoàng Hải Thủy

Thuận An Nước Mắt - Đỗ Công Luân

Tuesday, March 24, 2026

Triết Lý Giáo Dục - Trần Xuân Thời

 

Sự học cần thiết cho cả đời sống tinh thần lẫn đời sống vật chất. Mục đích của giáo dục chẳng những để đào luyện con người trở nên giỏi giang về kỹ năng (skill) mà còn tạo cho con người trở nên cao thượng hơn. Hình tội học (criminology) chứng minh là đa số những người liên hệ đến tội phạm có trình độ văn hoá kém, hoặc thuở nhỏ không được giáo dục đúng cách. Vì thế người ta thường nói mở thêm một nhà trường sẽ giúp đóng cửa một nhà tù.”He who opens a school door, closes a prison” (Victor Hugo).

Đặc điểm của người có học vấn thường
(1)- Ít lo âu, vì người có văn hóa có thể tiên đoán được sự việc xảy ra và biết cách ứng phó. “Khi vui thì hãy vui nhưng đừng tự kiêu, khi tai họa đến thì phải lo nghĩ mà chớ buồn phiền”. Làm người phải biết tỉnh trí, đừng kinh, mới dễ dàng mưu sinh thoát hiểm. Nhân vô viễn lự, tắc hữu cận ưu”. Người mà không biết lo xa, tai họa ắt sẽ gần kề.


(2)- Thứ đến, người có học thường tránh được lầm lỗi, vì dễ nhận biết được phải, trái trong các quyết định dân sự hay phương cách bày binh bố trận ngoài chiến trường. Đặc điểm của xã hội dân chủ là khó có sự đồng nhất về tư tưởng vì tôn trọng đa nguyên, bá nhân, bá tánh. Tuy vậy, mặc dù phải, trái đôi khi không do chính mình quyết đoán mà được xét định theo tiêu chuẩn phổ quát hầu như được mọi tổ chức chính trị, tôn giáo, xã hội công nhận để tránh sự hỗn loạn. Đó là nguyên tắc đa số (majority rule), còn gọi là nguyên tắc tôn trọng ý chí chung. Ý chí chung (the will of the majority) được áp dụng để phân định khi có sự bất đồng ý kiến xảy ra. Quyết định chọn các vị lãnh tụ trong các hội đoàn, tổng thống trong các quốc gia tự do đều được tuyển chọn theo nguyên tắc đa số. Trong lĩnh vực tôn giáo như Đức Giáo Hoàng cũng được chọn theo nguyên tắc đa số. Vấn đề đúng, sai, do đa số quyết định. “What is right or wrong is being determined by the will of the majority” (John Locke), hoặc theo mẫu mực được truyền bá từ đời này sang đời khác qua phong tục, tập quán hay luật lệ chung của xã hội hoặc lấy quyết định giữa chốn đình trung như Hội Nghị Diên Hồng. Trên thế gian, chỉ có các nước độc tài đảng trị lạc hậu, không áp dụng nguyên tắc nhân dân tấn phong cấp lãnh đạo quốc gia qua các cuộc bầu cử tự do, như Trung Hoa, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam…

(3)- Thứ ba là người có học ít khi sợ sệt. “Úy thủ, uý vĩ", sợ đầu, sợ đuôi, làm gì cũng sợ.!. Sợ sệt thường do sự thiếu hiểu biết tạo nên. Những nhà độc tài sợ không khuất phục được quần chúng nên thường áp dụng biện pháp khủng bố. Sợ vì không biết cách giải quyết vấn đề hay sợ bị chống đối vì không tiên đoán trước được phản ứng của người khác.

Muốn sự phán đoán được công minh, một số tiêu chuẩn cần được lưu ý:

1) Vô ý: Xét việc, đừng lấy ý riêng, tư dục, mà phải xét theo lẽ phải hay lẽ thường tình (common sense).

2) Vô tất: Là không nên quyết đoán là việc đó làm được hay không làm được mà phải tạo cơ hội để thực hiện mới biết dễ hay khó. Không nên chủ quan bác bỏ những ý kiến hữu ích của tha nhân theo ý nghĩ thiển cận của mình mà phải biết chấp nhận thử thách.

3) Vô cố: Vô cổ tức là không cố chấp, phải biết nhìn xa hiểu rộng theo lẽ phải mà thi hành

4) Vô ngã: Vô ngã là quên mình, phải chí công vô tư để phục vụ nhân quần xã hội, hành sự theo lẽ phải, chứ không chỉ làm những việc có lợi cho cá nhân mình. (Luận Ngữ). “Nếu phải cân nhắc giữa công ích và tư lợi, quyền lợi cá nhân và quyền lợi của quốc gia, dân tộc thì kẻ trượng phu phải hy sinh quyền lợi cá nhân cho đại nghĩa.” (Khuất Nguyên).


Sách Luận ngữ có ghi sáu điều tai hại của sự thất học.
1) Người ham điều nhân mà không học thì bị cái hại là ngu muội
2) Người ham đức trí mà không chịu học thì bị cái hại là phóng đãng
3) Người trọng chữ tín mà không chịu học thì có cái hại là dễ bị lường gạt
4) Người thích sự ngay thẳng mà không chịu học thì hoá ra nóng nảy
5) Người dũng cảm mà không chịu học thì dễ biến thành phản loạn
6) Người cương quyết mà không chịu học thì hoá ra cường bạo.

Sự học nói chung không phải chỉ là đọc sách vở mà còn học hỏi qua công việc làm, thu thập kinh nghiệm, giải quyết mọi vấn đề liên quan đến đời sống hằng ngày.

1) Muốn học, trước tiên phải biết phục thiện, biết làm theo điều phải, không tự ái.”Bất sỉ hạ vấn”. Hỏi người nhỏ tuổi hơn mình hoặc người làm việc dưới quyền mình vẫn không cảm thấy hổ thẹn.

2) Phải có thiện chí, tìm hiểu và hỏi han. Khổng Tử khuyên môn sinh “Người nào không hỏi phải làm sao thì ta cũng chẳng có cách nào chỉ bảo cho họ được. Kẻ nào không hăng hái muốn hiểu thì ta cũng không thể giúp cho hiểu được. Kẻ nào không tỏ ý muốn hiểu biết thì ta cũng không thể giúp cho họ phát triển được. Ta vén lên một góc mà chẳng tự tìm được ba góc kia thì ta không giảng thêm nữa”.

3) Thượng Đế tạo nên nhân loại như những cây gỗ quý. Nếu không biết học hỏi thì gỗ quý sẽ biến thành gỗ mục. “Gỗ mục thì không chạm khắc lên được, cũng như vách bằng đất bùn thì không tô vẽ lên được”. Nói khác đi trí tuệ là viên ngọc, nhưng ngọc bất trác sẽ bất thành khí.

Phương pháp học hỏi hiệu nghiệm
1) “Nên nghe cho nhiều, điều gì còn nghi ngờ thì để đó, tìm hiểu thêm, để tránh cái hại là nói sai sẽ bị thiên hạ chê cười. Điều gì biết rõ ràng chắc chắn thì nên nói, nhưng cũng nên nói một cách ôn tồn”.

2) “Nên thấy cho nhiều, những gì thấy chưa được rõ thì để đó đừng làm. Còn những gì biết rõ thì cũng nên làm một cách cẩn thận, như vậy sẽ ít phải ăn năn.

3) Học hỏi được những điều hay lẽ phải cũng cần được áp dụng vào đời sống hằng ngày hay truyền thụ cho người khác. Nếu không, kiến thức sẽ trở thành mai một. Anh ngữ cũng có câu. “The knowledge or wisdom he has in his head is of no use to anyone unless he can communicate it to others”. Có kiến thức mà không áp dụng được vào đời sống hoặc không truyền thông được cho người khác thì kiến thức đó sẽ trở thành vô dụng, chẳng khác nào ăn vào mà không tiêu hoá.

Ở đời có ba hạng thức giả:

1) Không ai dạy mà biết được đạo lý. “Sinh nhi tri giả, thượng giả” là hạng siêu việt.
2) Có đi học mới biết được. “Học nhi tri chí giả, thứ giả” là hạng khoa bảng thường tình.
3) Dốt mà chịu học hỏi. “Khốn nhi học chi, hữu ký giả” là hạng có chí thì nên.
Ngoài ra những người dốt mà không chịu học là hạng “cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu”. “Khốn nhi bất học, ân tư vĩ hạ hỉ“.

Xã hội Tây phương cũng thường phân loại:

1) Professionals with great mind talk about ideas. Chuyên viên 
giỏi thường nêu lên sáng kiến.

2) Professionals with average mind talk about current events. Chuyên viên trung bình thường bàn những sự việc đang xảy ra và 


3) Professionals with small mind talk about people. Chuyên viên thường hay bàn về chuyện thế thái nhân tình.

Dù thuộc hạng nào chăng nữa, mỗi ngày mình nên xét ba điều: “Mình giúp ai việc gì, có giúp hết lòng không; giao du với bạn bè có giữ được sự trung tín không; mình có học hỏi thêm được điều gì mới mẻ trong ngày không”.


Diễn trình giáo dục là diễn trình thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo.
Cách học của người Tây phương và người Á Đông có điểm khác nhau được lưu ý là Á Đông học để lấy bằng cấp, “từ chương, trích cú” (Test- taking skill/ based education on memorization and constant testing), học thuộc lòng để thi test. Giáo dục Tây phương chú tâm giúp sĩ tử biết suy tư, thông đạt, phát minh, áp dụng kiến thức vào đời sống để giải quyết thế sự (how to get their kids to communicate, to think, to solve problems).

Các nhà giáo dục giám định phương pháp giáo dục Đông Tây (International rankings) nhận định nền giáo dục Hoa Kỳ xếp hạng cao trên thế giới nhờ phương pháp giáo dục khích lệ học sinh, sinh viên suy tư, đối thoại với nhau và với thầy, học cách giải quyết vấn đề. Hoa Kỳ đã đầu tư vào nền giáo dục khoảng # 3% GDP hằng năm vào ngân sách giáo dục quốc gia. Tổng Sản lượng (Gross Domestic Product) của Hoa Kỳ năm 2018 là 20.50 ngàn tỷ (trillion).

Một nhà giáo dục Á Đông nhận xét: “When I went to college in the United States, I encountered a different world. While the American system is too lax on rigor and memorization, - whether in math or poetry- it is much better in developing the critical faculty of minds, which is what you need to succeed in life. Other educational systems teach you to take tests; the American system teaches you to think... That is why America produces so many entrepreneurs, inventors, and risk takers. It’s America, not Japan, not China that produces dozens of Nobel Prize Winners... America knows how to use people to the fullest”.

Đặc biệt nền giáo dục Hoa kỳ khuyến khích hoc sinh, sinh viên thách thức kiến thức theo tập quán hay quy ước kể cả thách thức giới hữu trách trong các ngành sinh hoạt nhân sinh. “Most of all, America has a culture of learning that challenges conventional wisdom, even if it means challenging authority”. Có lẽ đó cũng là lý do trẻ em Tây phương thường không hẳn nghe lời người lớn nói. “Children have never been very good at listening to their elders.” (James Baldwin).

Học sinh, sinh viên Tây phương nghiên cứu các môn học qua sách giáo khoa được cập nhật hằng năm và đến lớp dành thì giờ nghe giảng bài, thảo luận và giải quyết vấn đề. Trong lúc đó, trong các trường học Á Đông, không có sách giáo khoa cấp phát hay bán cho học sinh, sinh viên. Học sinh, sinh viên đến lớp dùng hết thì giờ chép bài. không có thì giờ tranh luận, học sinh sợ thầy không dám đặt câu hỏi, lớp học thiếu sinh khí... Thầy thì lấy sách giáo khoa Tây phương dịch ra vài chương đọc cho sinh viên chép lại để học. Có khi sách giáo khoa, gồm 18 chương, dày 600 trang cho mỗi môn học, thầy chỉ dịch một vài chương để đọc cho sinh viên chép. Vì thế, kiến thức của sinh viên, thiếu đầu, thụt đuôi. Khi qua các nước Tây phương, mặc dù có bằng cử nhân, cao học, tiến sĩ nội hoá, nếu không đi học lại để cập nhật kiến thức hay tìm học thêm một nghề chuyên môn “cấp tốc” thì sinh kế khó được hanh thông.

Thu nhận kiến thức để lãnh nhận chứng chỉ, văn bằng, chỉ mới là giai đoạn đầu. Nếu mới đạt được giai đoạn này mà đã tự thỏa mãn thì chỉ mới đạt đến sự hiểu biết vòng ngoài, “cách vật trí tri,” nhưng chưa đạt đến trình độ thành ý, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ.


Học để hiểu biết và giỏi giang hơn về một ngành chuyên môn là điều tốt. Nhưng nếu chỉ để mong được an nhàn, sống lâu, giàu bền, còn việc quốc gia, cộng đồng, xã hội, ái hữu không thèm nghĩ đến thì chưa đạt đến trình độ tri thức. “Có lĩnh hội được nguyên lý của sự vật, nhận thức mới đúng đắn, ý nghĩ mới thành thực, tâm tư mới ngay thẳng, bản thân mới tu dưỡng để chỉnh đốn tốt gia đình, lãnh đạo tốt quốc gia và giữ cho thiên hạ được thái bình


Vì thế, triết lý giáo dục nhân bản không dừng lại ở mức độ thu nhận kiến thức để trở thành chuyên viên mà còn tiến đến chủ đích làm cho con người trở nên cao thượng hơn. “Thượng vì đức, hạ vì dân” để làm gương cho hậu thế. Phối hợp đạo lý làm người và kiến thức để giúp đời là dấu chỉ của kẻ sĩ, như quan niệm của Nguyễn Công Trứ

“Kinh luân khởi tâm thượng,
Binh giáp tàng hung trung.
Vũ trụ chi giai ngô phận sự.
Nam nhi đáo thử thị hào hùng.”

Phải, với tinh thần “Vũ trụ chi giai ngô phận sự” thì “Người chăn cừu xứ Tô Cách Lan và ông bộ trưởng, đều có công trạng đối với quốc gia.” Một người khoa bảng có văn bằng và một người mù chữ cũng có công trạng đối với tổ quốc, miễn là làm xong nhiệm vụ mà tổ quốc giao phó.

Năm 1843, Tướng Quân Nguyễn Công Trứ bị giáng chức làm linh thú ỡ Quảng Ngãi. Ông quan niệm “Khi làm tướng, tôi không lấy làm vinh, thì lúc làm lính có chi mà nhục”. Quan niệm này đúng với cương thường, đạo nghĩa. quyết tâm phục vụ chính nghĩa quốc gia, dân tộc, thể hiện thái độ “tâm“đã định và “tính” đã an. (Tri kỳ tâm, tận kỳ tính).

‘Miển hương đảng đã khen rằng hiếu nghị,
Đạo lập thân, phải giữ lấy cương thường”.

Triết lý giáo dục nhân bản, khai phóng, quan niệm “Cái học khoa cử chỉ là manh áo bên ngoài, là con đường đi vào đạo sống”. Nếu không đạt được chính đạo, nghĩa là không phục vụ chân lý, chính nghĩa, quốc gia, dân tộc, thì khoa bảng chỉ có hiệu lực trang trí, chưa đạt đến trình độ trí thức. Trí thức là người có tài cán và đức độ.

Người ta thường nói: “Tri thức tôn giáo thường do mặc khải (revelation). Tri thức triết học do lý trí quan niệm mà lãnh hội. Tri thức khoa học do thực nghiệm.” Sự học tuy khó khăn, nhưng khi biết áp dụng kiến thức vào đời sống thì thành quả sẽ rất ngọt ngào, là phương cách đầu tư, thâu được nhiều lợi nhuận nhất “An investment in knowledge pays the best interests”, trong sứ mệnh tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

" Học vấn là hành trình suốt cuộc đời, học nhanh hay chậm không quan trọng, miễn là đừng bỏ học”. Điều hay nhất của học vấn là không ai tước đoạt được kiến thức của mình. “The beautiful thing about learning is that no one can take it away from you” (B.B. King).

Triết lý hành động của “trí thức quân tử” là “Nếu phải cân nhắc giữa tư lợi và công ích, kẻ trượng phu phải hy sinh tư lợi để phục vụ công ích”. Cho nên học và áp dụng kiến thức để làm việc nhân nghĩa, xây dựng nhân quần xã hội, quốc gia dân tộc thật là một nguồn vui vô tận.“Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”.

Nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hoà trước năm 1975 là nền giáo dục nhân bản (lấy con người làm gốc); dân tộc (tôn trọng giá trị truyền thống dân tộc); và khai phóng (mở rộng, không bảo thủ, tiếp nhận văn hoá, văn minh nhân bản thế giới. “Education is what remains after one has forgotten everything he learned in school- Văn hoá là những gì còn lại sau khi đã quên hết những gì đã thu nhận ở học đường” (Albert Einstein).

" Il n'y a que deux puissances au monde, le sabre et l'esprit: à la longue, le sabre est toujours vaincu par l’esprit” (There are only two powers in the world, saber and mind; at the end, saber is always defeated by mind). (Napoléon Bonaparte). “Nhân giả vô địch – trí tuệ thắng gươm giáo; tình thương thắng bạo tàn; dân chủ thắng độc tài”.


Nhân thế, dù có phần khác nhau về văn hoá chủng tộc, nhưng đều là tinh hoa Trời ban để quản trị vũ trụ, nên chúng ta có sứ mệnh: (1) phải trân trọng “Nghề nào cũng trọng cũng hay, đi buôn cũng qúy, đi cày cũng sang,” (2) quyết chí bảo toàn ơn Trời cho trọn vẹn.

Các bậc thềm giáo dục từ gia đình đến học đường và trường đời là một đại học. “Đại học chi đạo, tại minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện”. Đại học làm cho đức tính của chúng ta thêm sáng suốt, để phục vụ nhân quần xã hội, nhằm đạt đến mức chí thiện. Bậc thềm nào cũng thần diệu cả “Tout seuil est une sacré chose”.


Trần Xuân Thời

Anh Về Sau Cuộc Chiến - Vũ Tuấn

 

Anh trở về sau cuộc chiến quê hương

Một chân anh nơi chiến trường gởi lại

Mái tóc xanh theo thời gian bạc mãi

Với gia tài còn lại chiếc giày sô

Bạn bè anh dăm đứa đã xanh mồ

Gởi thân xác trên đồi khô hoang lạnh

Cũng có đứa như anh còn khỏe mạnh

Sống an lành bên ảo vọng phồn hoa

Mấy mươi năm tàn phế cuộc không nhà

Dù còn lại chỉ là đôi nạng gỗ

Vẫn không quên pháo đạn cày loang lổ

Bên chiến hào gian khổ vậy mà vui

Nhớ đêm Mậu Thân....pháo kích đầy trời

Ngăn phiến Cộng Anh-em vững tay súng

Lá thư tình mấy thằng làm hơi vụng

Gởi cô nàng má lún nụ cười xinh

Tháng Tư buồn anh về thành phế binh

Sau nữa cuộc chiến chinh dài bất tận

Tấm thẻ bài anh đeo còn vương vấn

Theo tháng ngày cần mẫn mãi bên anh

Những vết thương theo năm tháng đã lành

Và cả những hy sinh thành bất tử

Dù thời gian trôi dần vào quá khứ

Vẫn còn hoài trong sách sử lưu danh.


Vũ Tuấn

Lượm trên mạng

Mùi Quê - Ngọc Diệp Trần


Con bé muốn khóc khi nhìn bữa trưa chỉ lưng chén khoai độn nhúm cơm. Nó năn nỉ mẹ. Cho con một muỗng cơm, đừng độn khoai khô, chỉ nguyên hạt cơm. Con sợ mùi nắng trong chén khoai khô lắm! Mẹ lặng lẽ nghiêng vá lách qua từng lát khoai cho nó đầy một muỗng. Nhà bốn năm người với một bơ gạo, không độn khoai thì lấy chi đủ bữa. Bao năm rồi nó nhớ, ân hận rồi lại tự nhủ: Vì nó ốm yếu và được ngoại cưng chiều quá đó thôi. Nhưng cậu em trai tóc cháy khét mùi nắng, mới hơn 5 tuổi vẫn háo hức ngồi nhai, mắt nhìn chị như vẻ ngạc nhiên lắm. 


Tôi nhớ mùi nắng trên những ngọn đồi. Những vũng nước xanh khuất dưới vạt lúa non mùi sữa. Mùi nắng trong rơm rạ mới cắt, trong thứ rơm ủ mục cho đến cuối mùa thu. Nhưng mùi nắng trong chén khoai lang phơi khô vẫn làm tôi sợ. Không dám ngoái lại vì những lần rời xa ngôi làng chạy cho kịp chuyến tàu chợ réo còi là nước mắt lưng tròng. Không dám ngoái lại khi những cơn gió bấc đổ về thung lũng cứ làm đám cỏ may rạp xuống, co lại, rét buốt. Ngồi bên cửa sổ con tàu những gồng gánh bao bì chồng chất, tiếng ho, mùi khói thuốc, tiếng mấy gã thợ rừng có mùi men chửi thề, tiếng con nít khóc ré vẫn không sao bứt được ý nghĩ ngoài cánh đồng gió bấc kia trời đang lạnh buốt. Mẹ dầm đôi chân nứt nẻ dưới bùn sâu. Không dám ngoái lại vì tiếng kêu cứ nghẹn đi trong cổ họng. Biết bao giờ ngôi làng dưới thung lũng thấp này mới no đủ vui tươi như bức tranh thôn quê êm đềm trong những bài thơ đã đọc…

Hôm nay, tôi đã cười rất nhiều với bạn đồng hành lúc gặp con đường sắt vừa vượt ngang qua khỏi sườn đồi. Những ruộng lúa non xanh mướt mắt, bờ dọc bờ ngang hoa cánh bướm vàng trắng dập dờn, một chiếc bảng gỗ với hai mũi tên chỉ về phía nhà ga bất ngờ hiện ra. Tôi đang về nhà!

Nhà tôi bên kia đồi. Ngày nào vói trông ngọn đồi cao vút qua những tàng cây bây giờ chỉ giống như một ốc đảo nhỏ um tùm cây cối. Ngọn đồi nhô lên quá tầm hàng hàng lối lối keo tràm xanh tít tắp rồi đổ tràn màu xanh tới những thửa ruộng lúa non dợn sóng. Thấp thoáng giữa vùng cây xanh là những ngôi nhà bề thế khang trang cửa gỗ tường đúc mái ngói đỏ xanh. Có đường lớn rải nhựa vào tận thôn và đường bê tông chạy vào từng ngõ.

Chúng tôi bất ngờ ồ lên khi thấy một cây xăng khá lớn. Một cây xăng cho một ngôi làng! Thật tiện lợi cho việc kinh doanh và sinh hoạt của bà con.

Trên con dốc đổ xuống nhà ga và khu chợ người mua kẻ bán là mấy ngôi nhà xây kiểu biệt thự vườn, hàng rào đầy hoa dây leo, bên vệ đường đám hoa tím rung rinh khoe sắc.

Tôi không tìm ra dấu vết đám trẻ chân trần xua bầy trâu trên con đường bùn đất nhão nhẹt. Tôi không còn nhớ rõ đồng cỏ may cuốn theo chiều gió tấp về phía con tàu đang lăn bánh bây giờ nằm ở đâu. Nhà trẻ, sân phơi, cửa hiệu tạp hóa, trạm xá, ủy ban… Những công trình mới lấp đầy và xóa đi kí ức buồn bã những ngày tôi rời quê lên phố.

Tôi mặc áo dài lụa cùng với các chị em đi dự lễ khánh thành nhà thờ họ. Những tà áo đủ màu bay bay trong nắng. Con đường đến nhà thờ vòng qua chiếc cầu nhỏ giữa hai bờ cỏ hoa xuyến chi dập dờn. Cười nhiều thế mà bỗng dưng nước mắt như trào ra. Là khi không thấy vạt khoai đang độ lá non lại bất giác nhớ đến mùi nắng trong chén cơm độn khoai khô ngày nào…

Trăng mùa thu dịu dàng đổ tràn trên nền sân gạch. Chị em tôi ngồi trong căn bếp rộng có màn hình tivi, bàn ăn bằng gỗ bày biện đủ món. Thịt heo thịt gà nhà nuôi, rau non canh cá vừa bắt từ hồ. Em tôi làm bếp thật khéo. Món nào cũng thơm ngon nguyên vị đồng quê thơm thảo. Tôi dừng đũa trên chiếc mẹt tre trải lá chuối. Những củ khoai vừa nướng nóng hổi.

– Chị còn sợ mùi khoai khô nữa không?

Tôi cắn từng miếng nhỏ. Khoai đất đồi lùi trong than củi sém vàng, vị thơm bùi và ngọt:

– Chị thích khoai nướng, nhất là những củ khoai ngoại nướng dưới than củi cây sim. Nhưng khoai khô độn cơm thì chị vẫn còn sợ.

Mắt mẹ rơm rớm khi nhắc đến ngoại. Chúng tôi như lũ trẻ trở về với củi khô lá non, với đồng xa đồng gần tiếng sáo đêm trăng tiếng chày giã gạo trưa vắng.

Tôi bước ra sân. Bên giếng nhà đã được bắt vòi bơm, chiếc gàu cũ vẫn treo trên nhánh thanh trà. Bầy gà tự giác lên chuồng từ chập tối co chân mắt khép mắt mở…


Chúng ta đã đi quá xa cũng chỉ mong đến hồi được quay trở lại. Những mơ ước chân trời rộng lớn, những diễn ngôn hối hả thường nhật bỗng nhòe mờ đi khi ánh trăng rắc ánh bạc và mùi hương khu vườn thơ ấu dâng đầy lên mắt. Hạnh phúc thay cho những kẻ có nơi chốn để tìm về!


Ngọc Diệp Trần

Nụ Tình Xuân - Nguyễn Duy Phước

Monday, March 23, 2026

Tao Là Ngụy...

 


Nếu ai đó hỏi tao mày là ngụy à? tao sẽ trả lời là phải, nếu ai đó hỏi tao mày là con cháu của ngụy à, tao củng sẽ trả lời là phải. Tao ngán phải thanh minh hay giải thích với chúng mày từ " Ngụy " là như thế nào, xuất xứ từ đâu ra rồi. Bởi vì ngày hôm nay tao tự hào tiếng " Ngụy "

Mày biết không, tao sống trong chế độ Ngụy. Một chế độ đặt Tổ Quốc trên đầu, khi đi khắp các phố phường, các ngõ hẽm, tụi bây sẽ thấy dòng chữ " Tổ Quốc Trên Hết "

Tụi mày biết không tao sống trong chế độ Ngụy rất Nhân văn, Văn minh, Y Tế, Giáo dục đều Miễn phí. Dẫu biết đó là tiền viện trợ hầu như là của Mỹ. Nhưng chế độ của chúng tao biết cách phải sử dụng tiền đó như thế nào để phát triển Đất nước.

Tụi mày biết không tao được Giáo dục bởi chế độ Ngụy, đi học trường Ngụy, nhưng không bao giờ dạy hận thù, hay kích động, dạy sao biết cách làm người, biết cư xử, biết vị tha. Còn nữa tụi bây đâu biết rằng Giáo Dục Ngụy họ tàn nhẫn lắm. Sáng nào củng phát bánh mì và sữa miễn phí. Tụi tao rất ngán tới nỗi phải trốn. Trong lớp thằng nào mà là học sinh giỏi thì hể như kêu thêm chiếc xích lô để khiên quà về nhà.

Tụi mày biết không tao là một công dân của Ngụy, nhưng chúng tao chưa bị ngược đãy bao giờ cả, chúng tao Tự do đi lại không cần hộ khẩu hay bất cứ thứ gì, muốn đi đâu thì đi, được bầu cử, được Tự do biểu tình, được Quyền phản đối, họ đứng ra bảo vệ tao thì là công dân chúng tao sẽ phải làm việc để đóng góp xây dựng Đất nước.

Tụi mày biết không tao là Lính Ngụy, nhưng chúng tao luôn chiến đấu vì Đất nước, vì người dân của tao. Trong những trận chiến, chúng tao luôn đặt mục tiêu phải cứu dân ra hết khỏi vùng giao tranh nguy hiểm. Dẫu biết rằng muôn trùng khó khăn với tụi bây. Lắm lúc tụi bây giả dân thường, lắm lúc dân cấu kết với tụi bây. Lần lượt nhìn đồng đội bị phục kích, rơi bẫy, và chết tức tưởi.. Tao căm thù lắm. Nhưng động lực nào đó khiến tao không thể ngưng lui bước. Chỉ vì một câu " Tổ Quốc - Trách Nhiệm và Danh Dự "

Tụi mày biết không tao là lính Ngụy, nhưng chúng tao luôn vị tha, chúng tao sẵn sàng đón tiếp tụi mày, chúng tao sẵn sàng chiêu hồi tụi mày, để quay lại làm người, làm lại từ đầu, đừng lầm đường lạc lối nũa..... Tụi bây luôn luôn tấn công và chúng tao cũng luôn luôn phòng thủ, nơi nào có tụi bây đi chiếm, thì nơi đó tụi tao sẽ phải tái chiếm.

Dẫu biết rằng. Chế độ Ngụy kia còn non trẻ, còn nhiều khuyết điểm, nhưng tao tin rằng, chế độ Ngụy đó còn hơn cả chế độ tụi bây gấp 10 lần hay cả 100 lần.

Và giờ tao là hậu sinh của tụi Ngụy đây, chúng tao sẽ nối tiếp, sẽ chứng minh, sẽ phơi bày lịch sử, sẽ trả lại danh dự cho họ....
Và Chúng tao tự hào chữ " Ngụy "


Việt Nam Sử Liệu
Nguồn: FB

Chuyện Về Nỗi Khổ Của Người Nghèo VN - Lê Nguyễn


 Anh Sáu thân mến,

     Một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay tại VN là mức phạt vi phạm giao thông đang trở thành cơn ác mộng của giới lao động nghèo. Một bác xe ôm hay một chú shipper với thu nhập khoảng 10 triệu/tháng mà mỗi khi vô ý vi phạm luật giao thông như xe thiếu kiếng chiếu hậu, quẹo phải quên bật đèn signal, có thể bị phạt đến 5-7 triệu đồng! Có người cùng quẩn quá, đã quỳ giữa đường, sụp lạy tên cảnh sát giao thông, có chị quá bi phẫn mà tư lột ... trần truồng ngay giữa chỗ hàng trăm người qua kẻ lại!

     Hôm qua, đọc xong chuyện kể về hai cô bé tuổi teen đi học bằng xe đạp điện bị phạt 7 triệu đồng, tôi đã không kìm chế được sự xúc động, viết một bài đăng trên Facebook, bài ấy chỉ sau 24 giờ, đã nhận được hơn 3.200 lượt “like” của người đọc và hàng trăm bình luận biểu đồng tình.

     Xin được chia sẻ cùng anh Sáu và các anh chị đồng môn chút cảm xúc về một trong những thực trạng đáng buồn của xã hội VN hiện nay.

     Thân kính

Lê Nguyễn (Lê Văn Cẩn – ĐS 10)


****

PHÁP LUẬT CẦN CÓ CÁI ĐẦU,

NHƯNG CŨNG CẦN CÓ MỘT TRÁI TIM

       Mình nay đã trên 80 tuổi, nói vui là đã được liệt vào lớp tuổi U90, nghe mà ... khiếp sợ. May, trời thương, đến nay mình vẫn còn đủ sự minh mẫn và một phản xạ tốt để có thể tự mình đi xe gắn máy từ nhà ra trung tâm Sài Gòn, trên một quãng đường hơn 10 km. Thế nhưng, gần đây, mình không dám dùng xe máy để đi xa như vậy nữa, không phải vì sợ gây tai nạn cho người khác hay bị người khác gây tai nạn cho mình, mà đơn giản vì những mức phạt vi phạm giao thông cao ngút ngàn, có khả năng làm cho mình ... cháy túi. Mỗi lần đi xa, đành bắt taxi, bụng có đau, nhưng cái đầu thanh thản.


      Ai đã từng đi ra nước ngoài, ở trời Âu, trời Mỹ, nơi trật tự giao thông luôn được đưa vào nền nếp, mới thấy rằng tình trạng giao thông ở đất nước chúng ta là vô cùng ... khủng kiếp, xe hai bánh chạy kề xe bốn bánh, thậm chí cả xe container, người đi bộ phải đi xuống lòng đường vì vỉa hè bị chiếm dụng, giờ cao điểm thì nghẹt thở chen nhau từng cm để kịp về nhà nuốt vội chén cơm chiều và tìm chỗ nghỉ ngơi. Thử hỏi, trong điều kiện giao thông khắc nghiệt của một thành phố mà mức cung đường sá quá thấp so với mức cầu cao vòi vọi của hàng triệu phương tiện giao thông đang xuôi ngược trong cảnh mưu sinh tấp nập, làm sao không có những lúc sơ suất mà vướng phải một lỗi giao thông nào đó ngoài ý muốn của mình?


      Nhưng thôi, lỡ mà vi phạm giao thông, chịu phạt để nhớ đời là chuyện đã đành, song vấn đề không dừng ở đó. Nó trở thành cơn ác mộng khi mức phạt cứa đứt cả tháng thu  nhập của một bác xe ôm hay một anh shipper tất bật cả ngày. Hãy tưởng tượng đến một người lao động nghèo chỉ vì một phút sơ hở mà đánh mất những bữa cơm gia đình, dù chỉ là đạm bạc, đẩy đứa con mới lên 7- 8 tuổi vào nguy cơ không thể đến trường, nhìn bà mẹ già còm cõi không còn tiền mua thuốc, để thấy rằng chuyện họ quỳ xuống giữa đường, sụp lạy anh cảnh sát giao thông không còn là chuyện bất ngờ nữa. Sự nghèo khổ bị đẩy đến con đường tuyệt vọng khiến con người không kể gì đến nhân phẩm của mình, đến cái bộ phận ngàn vàng được che chắn


      Trong tình thế hiện nay, nỗi đau không chỉ thể hiện ở cái quỳ lạy của anh shipper, cái tụt q. của người phụ nữ vì quá bi phẫn mà mặc kệ mọi chuẩn mực luân lý ở đời, hôm qua, mình ứa mắt trước hình ảnh trên mạng xã hội diễn tả cảnh 2 cô bé học trò tuổi teen đi xe máy điện đứng lặng lẽ trước bản án phạt 7 triệu đồng vì một lỗi giao thông. Liệu cha mẹ các em có đủ khả năng đóng phạt hay không, nói gì đến các em!

      

       Chợt nhớ câu chuyện đâu đó, ở một xứ sở thần tiên nào, khi anh cảnh sát giao thông vì thông cảm người lái xe homeless (vô gia cư), đã rút tiền trong ví của mình đưa cho người vi phạm giao thông để đóng phạt cho ... mình! Một tình huống vừa bảo vệ tính nghiêm minh của luật pháp, vừa thể hiện cái tình người không thể thiếu trong một xã hội văn minh. Đọc đến đây, bạn đừng ngạc nhiên, khi anh lái xe là người homeless, ở những xứ sở đó, có được một chiếc xe bốn bánh cà tàng để chạy còn dễ hơn kiếm một chiếc xe đạp ở xứ mình. Mình còn được nghe kể, ở những xứ sở đó, trong các vụ kiện dân sự, dù người thua kiện có bị phạt phải đền bù hàng triệu, hàng tỷ  USD, họ vẫn được luật pháp bảo vệ, cho giữ lại tối thiểu một ngôi nhà để gia đình sinh sống, một chiếc xe để làm kế sinh nhai (và tiếp tục trả nợ ... góp), không bao giờ luật pháp tước doạt của họ những phương tiện tối thiểu để tồn tại, cho dù mức phạt đền bù có nặng đến đâu.


     Ở Việt Nam hiện nay, trong cái mớ bòng bong của giao thông tấp nập không còn có chỗ cho những cái đầu tỉnh táo, những mức phạt khủng khiếp không dừng lại ở mức răn đe mà trở thành cơn ác mộng, mình chỉ có một ước mơ đơn giản, mong sao Pháp Luật luôn có một cái đầu đủ sự tinh tế để bảo vệ trật tự xã hội, giáo dục người dân, đồng thời có một trái tim biết rung động trên số phận của hàng triệu người nghèo đang xuôi ngược kiếm sống, đang đổ mồ hôi, sôi nước mắt lo cho cái ăn, cái mặc còn rất thiếu thốn của gia đình. Có như thế, pháp luật mới là cứu cánh của một xã hội đang hoàn thiện trong mục tiêu vừa biến mỗi người dân thành một thực thể biết sống trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời biết trọng đạo nghĩa, biết thương nhau, nhường cơm sẻ áo cho nhau và cảm thông với nhau trước những sơ suất không cố ý của mỗi người.

     Khi bài viết này kết thúc, không biết hai cô bé học trò đã có đủ 7 triệu đồng để đóng phạt hay chưa, mong sao các em hay cha mẹ các em, vượt qua được “kiếp nạn” này.

 Lê Nguyễn

 3.2.2026

                                       https://www.facebook.com/lenguyenpd/posts/pfbid02tp5b4dRgGm8oJuGgbYpJwT4hGRPYe3EE3MNf5wspqhgS7FvTxJjGhuU73ESodcmRl

#636 - Đau Rát Thắt Lưng, Xơ Gan, Triglyceride Quá Cao, Uống Whey Protein Làm Tăng Đường Huyết? - BS Phạm Hiếu Liêm

 

Từ “Bruce Lee” Đến Trung Tá Nhảy Dù - Phạm Sơn Liêm


Có những câu chuyện bắt đầu bằng một tiếng cười chế giễu. Một cậu bé 14 tuổi Việt Nam, không biết một chữ tiếng Anh, bị gọi là “Bruce Lee” giữa lớp học đầy tiếng cười. Nhưng cuộc đời có cách rất lạ để xoay vòng.

15 năm sau... Người bị cười ngày ấy trở thành Trung tá Nhảy Dù, và kẻ từng chế giễu cậu... đứng nghiêm chào kính dưới quyền chỉ huy của anh.

Đây không chỉ là câu chuyện về thành công.

Đây là câu chuyện về bản lĩnh, sự tha thứ, và danh dự của một người lính.

15 năm trước, ngày đầu tiên Nam bước vào trường trung học Jefferson ở California, cậu không hiểu một chữ tiếng Anh nào.

Năm 14 tuổi, Nam đặt chân xuống California với hai bàn tay trắng và... một cái đầu không một tiếng Anh.

Ngày đầu vào Jefferson High School, cậu ngồi trong lớp như một bức tượng gỗ. Thầy nói gì cậu cũng không hiểu. Bạn bè hỏi gì cậu cũng chỉ biết... cười gượng.

Muốn xin cây bút, Nam phải chỉ vào cây bút. Muốn đi vệ sinh, Nam phải vừa chỉ vừa nhăn mặt. Nhiều đứa cười.

Nhưng Tyler cười to nhất.

Một hôm trong lớp sinh học, Tyler đứng lên bắt chước Nam, quơ tay loạn xạ trước mặt cả lớp:

- Hey! Hey everybody! Nhìn này!

Hắn làm bộ vẫy tay loạn xạ:

- Bruce Lee đang truyền công lực!

Cả lớp cười ầm. Tyler nghiêng đầu, nhếch mép:

- Hey Bruce Lee, mày đang múa võ hay đang đuổi ruồi vậy?

Nam đứng im. Hai bàn tay nắm chặt quai cặp đến trắng bệch. Tyler bước tới gần:

- Ê, nói thử coi, mày có biết nói tiếng người không?

Nam nhìn thẳng vào mắt hắn vài giây... rồi cúi đầu.

Không đánh. Không cãi. Không nói một lời.

Tối hôm đó Nam mở cuốn từ điển dày cộp. Cậu tự nói với mình bằng tiếng Việt: “Muốn họ ngừng cười... chỉ có một cách. Phải giỏi hơn họ”.

Đêm đó. Rồi đêm sau. Rồi cả trăm đêm sau nữa.

Đèn phòng Nam sáng đến 2 giờ sáng.

4 năm sau, Nam không còn là thằng nhóc lạc lõng nữa.  Điểm toán đứng đầu trường. Chạy 5 dặm không nghỉ.

Hít đất 120 cái.

Một buổi chiều, phong bì từ United States Military Academy tới. Nam mở ra. Mắt cậu đứng sững:

“Chúc mừng bạn đã được nhận vào học viện quân sự.”

Nam ngồi lặng. Rồi cười. Lần đầu tiên sau nhiều năm.

Cậu nói nhỏ:

“Bruce Lee... sắp đi lính rồi.”

West Point không phải trường học.Nó là lò luyện người.

4 giờ sáng, còi báo thức. Chạy. Leo dây. Bò bùn. Học mưu sinh thoát hiểm. Học chỉ huy.

Một lần trong khóa huấn luyện, huấn luyện viên quát:

- Cadet Nam! Why are you still standing?

Nam thở dốc:

- Sir! Because quitting is not an option, sir!

Viên huấn luyện viên nhìn cậu vài giây, rồi gật đầu:

- Good answer.

15 năm sau.  Căn cứ Fort Bragg. Sở chỉ huy của 82nd Airborne Division.

Trung tá Nam đang xem hồ sơ sĩ quan mới chuyển đến.

Anh lật từng trang, bỗng dừng lại. 1 cái tên:Tyler Vance.

Nam nhếch nhẹ khóe miệng:

“Đời đúng là biết sắp đặt.”

Cửa phòng xịch mở. Một sĩ quan trẻ bước vào, đứng nghiêm:

- Sir! Second Lieutenant Tyler Vance reporting for duty!

Nam vẫn cúi đầu xem hồ sơ rồi ngẩng lên. Hai ánh mắt chạm nhau. Tyler đông cứng. Mặt hắn tái đi:

- ... Nam?

Mồ hôi bắt đầu lăn trên trán hắn. Nam gập hồ sơ lại, giọng bình thản:

- Thiếu úy Vance. Ở đây chúng ta gọi nhau theo cấp bậc.

Tyler nuốt nước bọt:

- Yes... sir.

Nam đứng dậy, bước đến gần. Ánh mắt sắc như dao, nhìn thẳng vào mặt Tyler:

- Anh phục vụ bao lâu rồi?

- 4 năm, thưa Trung tá.

- Afghanistan?

- Yes sir.

Nam gật đầu:

- Tôi xem hồ sơ của anh rồi.

Tyler đứng thẳng, chờ phán quyết. Nam nói chậm rãi:

- Hồ sơ tác chiến tốt. Khả năng chỉ huy ổn. Nhưng... hồ sơ thăng tiến của anh bị kẹt 2 năm.

Tyler cúi đầu:

- Thưa, tôi biết.

Nam quay lại bàn. Ký một cái rẹt. Đẩy tờ giấy sang Tyler:

- Chúc mừng. Anh vừa được đề xuất chỉ huy đại đội.

Tyler sững người:

- Sir... what?

- Anh nghe rõ rồi đấy.

Tyler nhìn chằm chằm Nam, giọng hắn run run:

- Thưa Trung tá... Ngài... không nhớ tôi sao?

Nam nhìn thẳng:

- Nhớ.

Tyler nghẹn:

- Tôi là thằng đã sỉ nhục ngài suốt 2 năm trung học, thằng gọi ngài là Bruce Lee.

Phòng im lặng. Vài giây trôi qua. Nam cười nhẹ:

- Ờ, tôi nhớ.

Tyler cúi đầu:

- Vậy... tại sao ngài vẫn giúp tôi?

Nam bước lại gần, vỗ nhẹ lên vai hắn:

- Vance, Quân đội không phải chỗ cho mấy trò trả thù trẻ con.

Anh nói chậm rãi:

-Tôi cần sĩ quan giỏi. Anh là người phù hợp. Chỉ vậy thôi! Đêm hôm đó, sau buổi tập nhảy dù,Tyler gõ cửa phòng:

- Permission to speak, sir.

- Vào đi.

Tyler đứng trước bàn. Lần này hắn không đứng kiểu sĩ quan. Hắn đứng như một người đang hối hận:

- Nam...

Nam ngẩng lên. Tyler nói khẽ:

- Tôi xin lỗi. Ngày đó tôi ngu ngốc... và kiêu ngạo. Còn anh...

Hắn nhìn quanh phòng chỉ huy:

- ... Anh trở thành Trung tá.

Nam cười:

- Anh biết không, chính anh giúp tôi đấy.

Tyler ngạc nhiên. Nam nói:

- Nếu ngày đó anh không chế giễu tôi, có khi tôi đã không cố gắng đến mức này.

Anh nhìn ra bãi đáp trực thăng:

- Cuộc đời đôi khi cần vài thằng khốn để mình mạnh hơn.

Tyler bật cười, rồi gật đầu:

- Cảm ơn Trung tá.

Nam nhún vai:

- Đừng cảm ơn. Chứng minh đi. Dẫn đại đội của anh cho ra hồn.

Tyler đứng nghiêm. Salute thật mạnh:

- Yes sir.

Ngoài bãi nhảy dù, gió đêm thổi qua những chiếc dù xếp hàng. Nam nhìn theo. Anh không dùng quyền lực để nghiền nát kẻ từng coi thường mình. Anh dùng bản lĩnh của một người chỉ huy. Và đôi khi..sự tử tế của một người mạnh mẽ còn đáng sợ hơn cả quyền lực.

Bầu Trời Trung Đông 3 tháng sau:

Tiểu đoàn của Trung tá Nam được điều động sang Trung Đông. Cát nóng như lửa. Gió sa mạc thổi rát mặt.

Trong căn lều chỉ huy, Nam trải bản đồ ra bàn:

- Chúng ta sẽ hành quân qua thung lũng này lúc 0400.

Tyler, giờ đã là đại đội trưởng, nhìn bản đồ:

- Sir, khu này có thể có phục kích.

Nam gật đầu:

- Đúng. Vì vậy đại đội của anh đi mũi tiên phong.

Tyler cười nhẹ:

- Nghe quen rồi.

Nam nhướng mày:

- Quen?

Tyler nói:

- Hồi trung học... tôi cũng luôn đi đầu... để gây rắc rối.

Nam bật cười:

- Lần này nhớ gây rắc rối cho đúng người.

04:30 sáng. Đoàn xe Humvee tiến vào thung lũng.

Không gian yên tĩnh đến đáng sợ. Đột nhiên, BOOM! Một trái IED nổ tung. Chiếc xe đầu tiên bị hất lên không trung.“AMBUSH!” Đạn từ sườn đồi trút xuống như mưa.

Nam hét vào radio:

- Alpha team, flank left!

- Bravo, suppress fire!

Tyler dẫn đại đội lao xuống khỏi xe. “MOVE! MOVE!”

Tiếng súng nổ chát chúa. Cát bay mù trời. Nam đang chạy qua một bức tường đá thì, Tạch! Một tay súng bắn tỉa trên đồi khóa mục tiêu vào anh. Tyler nhìn thấy tia sáng từ ống ngắm. Mắt hắn mở to: “NAM !!” Không kịp suy nghĩ, Tyler lao tới, đẩy mạnh.Đạn bắn trúng tảng đá ngay chỗ Nam vừa đứng. Nam lăn xuống đất.“Damn it!”

Tyler quỳ xuống bắn trả.

- Sniper! 2 o’clock!

Nam bật dậy, hét:

- Machine gun! Suppress that ridge!

Khẩu M240 gầm lên. Đạn cày nát sườn đồi. Sau 20 phút giao tranh... Sự im lặng trở lại.

Sau trận đánh, Nam ngồi tựa vào bánh xe Humvee. Tyler bước tới, mũ sắt đầy bụi.Nam nhìn hắn vài giây,

rồi nói:

- Anh vừa cứu mạng tôi.

Tyler nhún vai:

- Có lẽ... tôi nợ anh.

Nam cười:

- Không. Chúng ta hòa rồi.

Tyler ngồi xuống cạnh anh. Một lúc lâu sau hắn nói:

- Nam.

- Hmm?

- Ngày xưa... nếu tôi không bắt nạt anh...

Nam ngắt lời:

- Thì có thể tôi đã không mạnh như bây giờ.

Tyler thở ra:

- Còn nếu anh không tha thứ cho tôi...

Nam nhìn lên bầu trời sa mạc:

- ... Thì hôm nay tôi có thể đã chết.

Hai người nhìn nhau, rồi cùng cười. Nam đứng dậy,

phủi cát khỏi áo:

- Được rồi, Captain Vance.

Tyler đứng nghiêm:

- Yes sir.

Nam chỉ tay ra thung lũng:

- Thu quân. Chúng ta còn cả cuộc chiến phía trước.

Tyler quay đi hét lớn:

- Company! Mount up!

Những người lính leo lên xe. Đoàn xe tiếp tục lăn bánh qua sa mạc. Phía sau là khói súng. Phía trước là nhiệm vụ. Và ở giữa... hai con người từng là kẻ thù trong lớp học, giờ trở thành anh em sống chết trên chiến trường.

20 Năm Sau.Căn cứ Fort Bragg một buổi sáng mùa thu.

Sân cờ đông nghẹt sĩ quan và binh lính. Hôm nay là lễ thăng cấp Đại tá cho một sĩ quan nổi tiếng trong 82nd Airborne Division. Tên ông được xướng lên:

- Colonel Tyler Vance!

Tiếng vỗ tay vang khắp sân. Tyler bước lên lễ đài.

Tóc ông giờ đã điểm bạc nhưng dáng đứng vẫn thẳng như ngày còn là thiếu úy.

Vị tướng chủ trì buổi lễ gắn cấp bậc đại tá lên vai ông.

Sau nghi thức, viên tướng nói:

- Colonel Vance, ông có muốn nói vài lời không?

Tyler cầm micro. Ông nhìn xuống hàng quân.

Rồi nhìn ra xa... nơi một người đàn ông đang đứng lặng ở cuối sân. Một Trung tá đã về hưu. Nam.

Tyler hít sâu. Giọng ông trầm lại:

- Trước khi nói về binh nghiệp tôi muốn kể một câu chuyện.

Đám lính bên dưới im lặng. Tyler nói:

- Hồi tôi 14 tuổi, tôi là một thằng nhóc kiêu ngạo. Một ngày, có một cậu bé châu Á vào lớp tôi. Cậu ấy không biết một chữ tiếng Anh.

Vài người lính bắt đầu chú ý. Tyler cười nhẹ:

- Tôi gọi cậu ta là... Bruce Lee.

Cả sân cười khẽ. Nhưng Tyler lắc đầu:

- Không phải vì tôi ngưỡng mộ, mà vì tôi đang chế giễu cậu ấy.

Không khí chùng xuống. Tyler tiếp tục:

- Tôi bắt nạt cậu ta suốt 2 năm. Tôi nghĩ mình mạnh. Tôi nghĩ mình giỏi.

Ông dừng lại vài giây:

- Rồi 15 năm sau... Tôi bước vào phòng chỉ huy của tiểu đoàn mới. Và người ngồi sau cái bàn chỉ huy... Tyler nhìn thẳng về phía Nam: 

- ... Chính là cậu bé đó.

Đám lính bắt đầu xì xào. Tyler nói chậm rãi:

- Anh ấy không trả thù tôi. Anh ấy không hạ nhục tôi. Anh ấy ký quyết định cho tôi chỉ huy đại đội.

Một vài sĩ quan bắt đầu gật đầu. Tyler nói tiếp:

- Sau đó, trong một trận phục kích ở Trung Đông...

Ông cười nhẹ:

- ... Tôi đã cứu mạng anh ấy.

Tyler nhún vai:

- Nhưng sự thật là... Anh ấy đã cứu cuộc đời tôi trước đó rất lâu.

Cả sân im phăng phắc.

Tyler nhìn thẳng về phía Nam. Giọng ông chậm lại:

- Thưa quý vị, người sĩ quan giỏi nhất tôi từng phục vụ..

Người đàn ông đã dạy tôi thế nào là danh dự... đang đứng ngay kia.

Tyler đặt tay lên ngực, rồi quay người, chào theo kiểu nhà binh. Cả sân quay đầu nhìn theo. Nam đứng đó. Ông hơi bất ngờ, rồi cũng giơ tay chào lại.

Một người lính trẻ đứng dưới hàng quân hỏi nhỏ bạn mình:

- Ông ấy là ai vậy?

Người kia trả lời:

- Không biết. Nhưng chắc chắn là một huyền thoại.

Tyler hạ tay chào, nói câu cuối cùng vào micro:

- Cuộc đời đôi khi bắt đầu bằng một trò chế giễu...

nhưng nó có thể kết thúc bằng một lời chào kính trọng.

Gió thổi qua sân cờ. Hai người đàn ông nhìn nhau.

Không cần nói thêm gì, vì cả 2 đều biết, từ một lớp học nhỏ năm nào... cuộc đời đã đưa họ đi một vòng rất xa.


Phạm Sơn Liêm

Facebook