Sunday, October 18, 2026

Tiếu Lâm


Lý do ly hôn
Mẹ à ! con muốn ly hôn với vợ con .
- Sao vậy ! Hai đứa mới cưới nhau chưa được bao lâu mà...
- Tại tối hôm qua con kể chuyện cười của Amanda Phạm cho nó nghe mà nó không cười ...
- Đâu có thế mà con lấy lý do ly hôn với nó được con ?
- Vợ con không có cười nhưng cái thằng chết toi nằm dưới gầm giường nó cười mẹ à .
- Gì hả con ?????Là sao ???

Chọn vợ cho con trai
- Ba cưới con Tuyết xóm dưới cho con nhen
- Xụyt ! Đâu được , nó là em mày đó
- Vậy , con Hoa đầu ngỏ nhà mình ?
- Cũng không luôn , nó cũng là em cùng cha khác Mẹ của mày luôn
- Vậy con Lan ở xóm ngoài ?
- Cũng không được , nó cũng là em của mày
- Mẹ ! Ba lăng nhăng lắm , xử Ba đi Mẹ , mấy con bồ của con , Ba không đồng ý đứa nào hết vì chúng nó đều là em cùng Cha khác Mẹ với con hết
- Trời ơi là Trời ! Mày cưới đại đi ! Mày cũng đâu có phải con của Ổng đâu mà sợ ....👍😀👍...Hìì...


Chế Tạo Đàn Bà
Ông vua xe hơi Henry Ford sau khi chết được đưa lên thiên đàng. Tại cổng thiên đàng có Thánh St Peter chờ sẵn để đón.
Vừa gặp Ford, Thánh Peter cho biết: Ford hồi còn sống, ngươi đã làm nhiều việc công ích cho xã hội, như sáng chế phương pháp làm việc dây chuyền cho kỹ nghệ xe hơi làm thay đổi cả thế giới. Với thành quả như vậy, ngươi sẽ được một ân huệ là có thể chuyện trò với bất cứ ai ở thiên đàng này.
Suy nghĩ vài giây, Ford xin được gặp Thượng Đế. Thánh Peter dẫn Ford đến gặp Thượng Đế. Vừa gặp Thượng Đế, Ford hỏi ngay:
– Thưa Ngài, lúc ngài chế tạo ra đàn bà, ngài đã suy nghĩ gì?
Thượng Đế nghe xong bèn hỏi lại:
– Ngươi hỏi như vậy là ý gì?
Ford liền trả lời:
– Trong sáng chế của ngài có quá nhiều sơ sót. Phía trước thì bị phồng lên, phía sau thì bị nhô ra. Máy thường kêu to khi chạy nhanh. Tiền bảo trì và nuôi dưỡng quá cao. Thường xuyên đòi hỏi nước sơn mới. Cứ đi 28 ngày là lại bị chảy nhớt và không làm việc được. Chỗ bơm xăng và ống xả lại quá gần nhau. Đèn trước thì quá nhỏ. Tiêu thụ nhiên liệu thì nhiều kinh khủng .
Thượng Đế nghe qua liền bảo:
– Ngươi hãy đợi một chốc lát để ta xem lại bản thiết kế.
Ngài bèn cho gọi toàn bộ kỹ sư thiết kế và cơ khí trên thiên đàng lại để xem lại quá trình, sau một thời gian họ đã trình lên cho Thượng Đế bản báo cáo. Xem xong, ngài bèn phán rằng:

– Những lời ngươi vừa nói hoàn toàn đúng, sáng chế của ta thật có nhiều sai sót, nhưng nếu tính trên phương diện kinh tế thì hiệu quả lại rất cao: Có gần 98% đàn ông trên thế giới xài sản phẩm do ta chế tạo, trong khi chỉ chưa đầy 10% đàn ông xài sản phẩm của ngươi.

Ham Ăn Biếng Làm
Trong bữa cơm Bác nắng sớm ngồi ăn một mình ...

Vợ chồng Nắng sớm cãi nhau ầm ĩ, bà vợ tức giận quát:
- Ông là cái đồ ham ăn biếng làm, biết ăn mà không biết nấu.
Nắng sớm cãi lại:
- Bà tưởng bà ngon lắm hả? Ít ra tôi còn đỡ hơn bà.
Bà vợ trợn mắt:
- Ông nói thế là sao?
Nắng sớm liền nói:
- Bà là cái đồ dám nấu mà không dám ăn!


Sưu tầm

Saturday, October 17, 2026

Cuối Đời An Cư - Đỗ Công Luận

Mại Dâm Dưới Chế Độ Cộng Sản - Nguyễn Tiến Dân


Bài viết "HAY NHẤT TRONG NĂM"-Mại dâm dưới chế độ Cộng sản”

Trước tiên phải bái phục sự can đảm của tác giả cho biết rõ dịa chỉ nhà ở, số điện thoại của tác giả một cách công khai. Thứ hai khâm phục hiểu biết và lý luận thật vững chắc không có một sơ hở nào để bị đánh bại. Qua hai yếu tố trên, tôi đánh giá bài viết "HAY NHẤT TRONG NĂM" (vì không thấy đề năm nào) không những của VN mà của cả thế giới, nhất là THẾ GIỚI CỦA NGƯỜI NGHÈO. Quí vị nghĩ sao?

Ðọc bài này nghe sướng cái lỗ tai quá. Xin bái phục sự can đảm của tác giả. “Mại dâm dưới chế độ Cộng sản”

Kính gửi: ông Trương Tấn Sang,

Chủ tịch nước CHXHCN Việt nam.

Tên tôi là: Nguyễn Tiến Dân.

Ðịa chỉ: 208 Ðịnh Công Thượng – quận Hoàng Mai – Hà nội.

Ðiện thoại: 0168-50-56-430

Như đã viết trong bức thư trước, lần này, xin hầu chuyện ông với đề tài “Mại dâm dưới chế độ Cộng sản”. Ðề tài mà rất nhiều người đã đề cập. Tiếc thay, do không có thực tế, nên họ chỉ đề cập được 1 cách phiến diện.


1/ Phán xét về mại dâm, chưa có ai cho rằng nó là tốt. Ai cũng cho nó là xấu. Bởi ít nhất, nó chà đạp lên nhân phẩm của người phụ nữ. Tuy vậy, cũng không thể không thừa nhận: Mại dâm là 1 thực tế khách quan. Nó hiện diện ở khắp nơi trên trái đất. Nó có từ xa xưa. Nó tồn tại đến ngày nay và chắc chắn, nó sẽ song hành cùng nhân loại.

Ðừng có mơ cấm được mại dâm. Mại dâm chỉ không có trong xã hội nguyên thủy và trong thế giới của loài súc vật.


2/ Viết về mại dâm, không thể không nhắc đến 2 tác phẩm: Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu.

a/ Ở truyện Kiều, Nguyễn Du tố cáo chế độ phong kiến mục nát, suy đồi. Ngay từ “thằng bán tơ” mạt hạng, cũng biết cách câu kết với quan lại, sai nha để ngang nhiên ăn cướp của dân lành. Truyện Kiều không nói rõ, nhưng tôi đoán (rất mong là đoán nhầm), chúng đã ném “2 cái bao cao su đã qua sử dụng” vào nhà Vương viên ngoại, tạo cớ cho “trận cướp đẹp”. Cướp sạch của nổi, của chìm của người ta rồi, chúng vẫn chưa thỏa mãn. Chúng tiếp tục “huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc”, để bắt bớ, đánh đập, tra người, khảo của. Chung cuộc, nàng Kiều dẫu có tài sắc vẹn toàn đến đâu thì cũng phải tự bán mình vào lầu xanh, lấy tiền mà đút lót tiếp cho lũ tham quan vô lại. Chỉ dám mong 1 điều thật nhỏ nhoi: Của thì đã mất rồi, nhưng cha và em được “cốt nhục vẹn toàn". Xét về đạo lí, sự hi sinh ấy, thật là lớn lao, thật là cao thượng.

Cũng như nàng Kiều, từ xưa tới nay, bao cô gái khác, khi bước chân vào chốn lầu xanh, phải đâu do họ tự nguyện. Xã hội phong kiến vô pháp, vô luân đã dồn họ đến bước đường cùng. Thúy Kiều tuy chỉ là gái lầu xanh. Nhưng từ đầu tới cuối tác phẩm, Nguyễn Du chưa bao giờ mạt sát, khinh bỉ nàng. Ông mô tả nàng có tình cảnh đáng thương và có cuộc đời đáng được thông cảm. Sống trong đống bùn, mà nhân cách vẫn tỏa sáng. Nàng không giống những kẻ đê tiện: Tối chơi gái tràn lan, ngày vẫn lên mặt “Nghĩ mình phương diện Quốc gia”. Sự khinh bỉ nếu có, Nguyễn Du chỉ dành cho chế độ phong kiến suy đồi. Một cách nhìn đầy nhân văn, phải không ông?


b/ Trong truyện ngắn Chí phèo, Nam Cao mở đầu: “Một sáng tinh sương, anh thả ống lươn nhặt được đứa bé mới đẻ xám ngắt, đùm trong cái váy đụp vứt ở lò gạch cũ”… Cuối cùng: “Thị nhìn nhanh xuống bụng mình, và thoáng chợt thấy một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…”. Nam Cao giỏi ở chỗ tuy không trực tiếp nói ra, nhưng độc giả vẫn hiểu: “Ðó là kiếp luân hồi. Chí Phèo này có chết đi, còn nhiều thằng Chí Phèo khác đã chuẩn bị mọc lên thay thế. Ðời không thể thiếu vắng Chí Phèo”.

Với Tiếng hát sông Hương, ông Tố Hữu cũng dùng thủ pháp tương tự. Mở đầu, hiện thực của thời Thực dân, Phong kiến: “Trên dòng Hương Giang” là cô gái với bao nỗi nhục nhã, ê chề khi phải bán thân nuôi miệng… Cuối cùng (nguyên văn trong tác phẩm), ông ta có cách dòng (ngầm hiểu là đã bước sang trang, đã đến “ngày mai huy hoàng”), rồi cũng vẫn lại “Trên dòng Hương Giang”.

Riêng về mặt này, Tố Hữu xứng đáng là bậc tiên tri. “Ngày mai huy hoàng” đã đến, không còn cô gái kia trên sông, bởi cô đã quá già. Thay vào đó, hằng hà sa số những cô gái trẻ khác, mọc lên thay thế. Mại dâm đâu có mất đi trong chế độ CS. Thậm chí nó còn phát triển mạnh mẽ hơn (Khắp hang cùng ngõ hẻm, tìm đâu cũng có), tinh vi hơn (Vì nó biết cách ứng dụng cả công nghệ thông tin) và trắng trợn hơn (Bởi nó ngang nhiên tiếp thị ở ngay ngã 3, ngã 4 đường phố. Thậm chí hành nghề ngay tại gốc cây, sườn đồi)


3/ Thưa ông Chủ tịch, Trời sinh ra con người. Trên cơ thể mỗi con người, có nhiều bộ phận. Mỗi bộ phận, đều có chức năng riêng. Nếu không hoạt động, chức năng ấy sẽ bị suy thoái. Một kẻ, dẫu có mang danh Giáo sư – Tiến sĩ, nhưng đầu óc mà lười suy nghĩ, kẻ đó tất bị lú lẫn, u mê. Mắt mà không tự nhìn đường, cứ đi theo “định hướng” của ai đó, lâu dần sẽ bị thong manh.

Ðổ băng keo vào miệng thiên hạ, sẽ khiến người ta không nói được. Người ta không nói được, khiến ta không phải tranh biện với ai. Không phải tranh biện với ai, lâu dần lưỡi ta sẽ cứng lại. Lúc đó, ta ăn nói giống như 1 kẻ ngây ngô, thiểu năng về trí tuệ. “Ðè đầu cưỡi cổ” thiên hạ, những tưởng mình giỏi giang và lấy làm đắc ý. Ðâu hay: Ngồi trên lưng người khác, chân tay ta lâu ngày không phải hoạt động, cơ của nó sẽ teo đi.

Trên con tàu vũ trụ, do được điều kiện không trọng lượng nâng đỡ, xương của phi hành gia không phải làm việc như bình thường. Lâu dần, nó sẽ bị thoái hóa. Trở về mặt đất, cần phải có thời gian và chế độ riêng để nó phục hồi… Khác gì những tổng công ty, những tập đoàn kinh tế nhà nước. Chúng hoạt động, mà không dựa vào thực lực của mình. Chúng tồn tại, dựa trên sự bú mớm vào ngân sách nhà nước. Trước sau, chúng cũng phải chết. Ðó là những sự thực hiển nhiên.

Tương tự, bộ phận sinh dục của con người, khi già-trẻ; ốm-khỏe có tần suất hoạt động khác nhau. Nhưng nói chung, nếu không được “cọ xát”, dẫu có thủ dâm thì nó cũng vẫn sẽ bị suy nhược. Từ đó, u – xơ – ung – nhọt dễ có điều kiện phát sinh. Nghiêm trọng hơn, “bí hạ (thì phải) phá thượng”. Ối anh sẽ bị suy nhược theo nó. Ðó là thường thức cơ bản của phép dưỡng sinh.


4/ Chẳng cứ Việt nam, nhiều nước khác cũng muốn cấm mại dâm. Liệu họ có đạt được mục đích không? Ta hãy thử xét về mặt đạo lí và qui luật cung – cầu:

a/ Với người đi mua dâm: Xin không nhắc đến “một bộ phận không nhỏ” những kẻ mê tín, chỉ thích đi lùng gái trinh như Lương Quốc Dũng. Cũng không xét đến những những bậc nam nhi, vợ con đề huề, thỉnh thoảng vẫn thích đi ăn vụng như Nguyễn Trường Tô. Ở đây, chỉ xét những trường hợp có nhu cầu thật sự và mong nhận được sự thông cảm của những người, mà tối đến, vợ chồng vẫn còn được ôm nhau ngủ. Chẳng hạn: Có người, vợ chết sớm, để lại cho mình những đứa con thơ dại, kháu khỉnh, thông minh. Tuy còn trẻ khỏe, nhưng tình yêu mãnh liệt với người vợ, đã khiến ông ta không muốn đi bước nữa. Ông ta ở vậy để nuôi con. Bởi, chúng là kết tinh tình yêu của họ. Thỉnh thoảng, ông ta muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?


Tôi có quen 2 người cao tuổi. Vợ họ bị ốm liệt giường hàng chục năm trời. Họ dịu dàng chăm sóc vợ. Không hề có một lời phàn nàn, cáu gắt trong chừng ấy năm trời. Họ cũng chẳng ngó ngàng tới bất cứ một người nào khác giới. Nhân cách, tình yêu của họ thật đáng ngưỡng mộ. Trên thế gian này, hỏi có mấy người được như vậy. Ðặt giả thiết: Thỉnh thoảng, họ muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có được coi là chính đáng và có nên thông cảm không?

“Tốt mái, hại trống" câu này ai cũng biết. Chắc chắn, ông cũng quen nhiều bà quan chức. Họ ăn lắm, tẩm bổ nhiều, béo như con trâu trương. Gia đình họ, nếu sống thủy chung, ông chồng “má hóp đít tóp” là điều chẳng phải nghi ngờ. Ngược lại, có những ông chồng khỏe đến phát sợ. Có thể “nhất dạ, ngũ giao…”. Vợ khỏe cũng chẳng chịu nổi, kể chi đến những bà hom hem, bệnh tật. Thế nên, ngày xưa có bà phải tự nguyện “tay bưng trầu, đầu đội lễ” đi hỏi vợ lẽ cho chồng. Mong sao có người, đêm đến nó đỡ đần cho. Nay, làm gì có chế độ đa thê. Không đưa tiền cho người ta đi xả bớt ra, kẻ bị thiệt thòi chính là bà vợ. Nhu cầu ấy, đành rằng là không chính đáng, nhưng có nên thông cảm cho bà vợ của ông ấy không?


Những người nước ngoài sang công tác lâu dài ở Việt nam, do điều kiện, họ không thể mang vợ con theo được. Họ khỏe mạnh, họ có tập quán thoáng đãng về tình dục. Thỉnh thoáng, họ muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?

Có người thiệt thòi toàn diện: Không bảnh trai, văn hóa lùn, hoàn cảnh gia đình lại khó khăn. Không cô gái nào chịu lấy anh ta làm chồng. Nhu cầu kia rõ ràng là vẫn có. Thỉnh thoáng, anh ta muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?


Có những chàng trai, do phấn đấu cho sự nghiệp, nên họ lập gia đình muộn. Họ không muốn gạ gẫm, bồ bịch bất chính với bạn học. Không muốn gạ gẫm, bồ bịch bất chính với “con thày-vợ bạn-gái cơ quan”. Họ cũng không muốn “nhịn” quá lâu. Thỉnh thoáng, họ muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?

Còn nhiều và rất nhiều trường hợp khác nữa. Nhưng sợ phải làm mất thì giờ quý báu của ông, nên tôi không tiện kể thêm.

b/ Với người đi bán dâm:

Thưa ông, tôi có mở quán Karaoke và Xông hơi tại 544 đường Láng – Ðống đa – Hà nội. Dĩ nhiên, trong quán của tôi không có dịch vụ mại dâm. Do đặc thù công việc, tôi phải tiếp xúc hàng ngày với các cháu nhân viên. Xin khẳng định với ông: Không có cháu nào cảm thấy hãnh diện, khi phải làm cái nghề này. Phải đi làm, bởi không có con đường nào khác. Tôi kể ông nghe một trường hợp:

Cách đây hơn chục năm, có 1 cháu đến làm việc ở chỗ tôi. Cháu nó không đẹp, ăn mặc lại giản dị. Nhưng nhiều người thích nó. Ai rủ đi ngủ, cháu cũng đi. Lạ nhất là: kiếm được rất nhiều tiền, nhưng cháu không hề đua đòi, chưng diện.


Tò mò, tôi có hỏi cháu. Nó khóc, rồi dẫn tôi về thăm nhà. Ðến nơi, tôi bàng hoàng. Nhà nó nghèo. Bố mẹ đã già yếu, lại bệnh tật. Các em đã đông, lại còn nhỏ. Nhà cửa, trước kia chỉ là mái lều tranh xiêu vẹo. Ruộng đất không có. Là chị cả, cháu cam chịu hi sinh thân mình, để cứu cả nhà. Cháu nghiến răng xác định: Ra Hà nội để kiếm tiền. Bao nhiêu tiền kiếm được, cháu đều gửi về quê. Trước hết, cho tất cả các em được đi học. Còn lại, để bố mẹ làm ăn và xây được căn nhà cấp 4. Ðối với gia đình cháu, đó là mơ ước, tưởng như không bao giờ là hiện thực. Chuyện của cháu, chỉ bố mẹ biết. Nhưng, khác hẳn với thái độ của những người CS các ông. Họ luôn ân hận, xót xa vì mình không giỏi, nên con cái phải chịu khổ. Sau này, khi nhà cháu đã qua được bước khó khăn, cháu bỏ nghề. Lập gia đinh, cháu lấy người chồng biết rõ và thông cảm với hoàn cảnh của cháu. Về nhà chồng, cháu không có của riêng tư chìm nổi. Trước khi ra đi, cháu nó khóc và nói với tôi: “Con xin vĩnh biệt bố”. Tôi hiểu, mình không được phép khuấy động cuộc sống riêng tư của cháu và sẽ tốt hơn, nếu để quá khứ đau buồn, nó chìm vào quên lãng.

Ông ơi, nhân cách của những CON NGƯỜI ấy, có xứng đáng được ta tôn trọng? Thúy Kiều có vĩ đại bằng cháu không? Ðứng trước cháu, tôi có cảm giác, mình bị lùn đi. Còn ông, ông thấy thế nào?


5/ Bây giờ, với tư cách là người đứng đầu đất nước, xin ông trả lời công khai cho người dân chúng tôi: Các ông luôn gào thét, đòi để “đảng CS được lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối” xã hội Việt nam. Các ông lãnh đạo kiểu gì, mà bao nhiêu nam thanh, nữ tú của chúng ta thất nghiệp. Họ không thể kiếm tiền, để nuôi sống được chính bản thân mình. Nói chi đến gia đình. Không có tiền, đói các ông có cho họ ăn không? Không có tiền, con cái của họ có được các ông cho đi học không? Không có tiền, ốm đau các ông có cho họ được đến bệnh viện không? Không có tiền, lại thất học và vô nghề nghiệp, các ông có bố trí được công ăn việc làm cho họ không?...


Tất cả các câu hỏi trên, đều có chung câu trả lời. Ðó là “Không”. Là người Việt, ông Chủ tịch không thể không biết câu này “Bụng đói, đầu gối phải bò”. Ðường cùng, các cháu đành mang cái “vốn tự có” ra mà kiếm ăn. Không sung sướng gì đâu, nhục nhã lắm, ông ạ.

Những người CS các ông, quả thật là lũ bất tài, vô dụng. Làm lãnh đạo, mà không lo được cuộc sống tối thiểu về ăn mặc, khám chữa bệnh, học hành, công ăn việc làm cho người dân. Khiến rất nhiều cháu gái, chúng nó phải đi bán thân (18.000 gái Việt ra nước ngoài hành nghề mại dâm mỗi năm; còn Bộ Lao động - thương binh & Xã hội ước tính năm 2013 có 33.000 gái mại dâm, đó là không thèm thống kê ở 2 địa bàn trọng điểm Quất Lâm, Ðồ Sơn). Lẽ ra, người phải ân hận, phải xấu hổ là các ông, là đảng CS. Ðã không biết xấu hổ, lại còn nhâng nháo lên mặt đạo đức khi ra lệnh cấm mại dâm. Ðể mà đổ lỗi, cho rằng mại dâm là tàn dư của chế độ cũ (Chế độ, mà nó sụp đổ cách đây có nhõn 4 chục năm); cho rằng, các cháu phải đi bán thân, bởi chúng nó hư hỏng, lười lao động và thích ăn chơi. Ông Chủ tịch và các quí bà to mồm, ăn no, rửng mỡ ở hội Phụ nữ VN, ở bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có hình dung ra kịch bản này không: Khi các ông cấm riết, các cháu làm nghề mại dâm trên toàn quốc, chúng nó kéo về trụ sở hội Phụ nữ và trương biểu ngữ: “Nhiệt liệt hoan nghênh nhà nước cấm mại dâm (chúng nó hoan nghênh thật lòng đấy, ông ạ) – Xin hãy bố trí công ăn việc làm cho chúng tôi – Nếu không được, hãy nuôi chúng tôi – Nếu không nuôi được chúng tôi, hoặc mặc kệ để chúng tôi đi bán dâm; hoặc các ông, các bà hãy từ chức đi, để chúng tôi bầu những người có tài, có đức lên làm thay – Họ sẽ lo cho chúng tôi”. Lúc đó, các ông, các bà sẽ “xử lý” như thế nào?


6/ Ông ạ, đã có ai nói với ông về những sự thật này chưa:

Nhiều phụ nữ, trẻ em Việt ở độ tuổi vị thành niên, bị gạ gẫm, rồi bị đem bán vào các động mãi dâm ở Campuchia, ở Ma cau...? Nhiều phụ nữ Việt bị bắt cởi trần truồng, cho mấy thằng Ðại Hàn, Trung Quốc, Ðài Loan ngắm nhìn, sờ mó để tuyển… “vợ”? Có phụ nữ Việt bị đặt trong lồng kính để bán đấu giá tại Mã Lai; bị rao bán công khai trên bích chương tại Ðại Hàn? Nhiều phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc, Ðài Loan đã bị đánh đập, bị hành hạ, bị giết. Nhưng, tỉ lệ này còn thấp và ít rủi ro hơn so với lấy chồng Trung Quốc. Tình trạng lấy chồng Trung Quốc, sau đó bị ngược đãi, bị làm vợ tập thể, bị sang tay và vứt ra đường khá phổ biến.


Cuối năm 2013, ba cô dâu Việt Nam là Tô Thị Hà, Trịnh Thị Hoa, Mai Thị Sư được điều trị tại Bệnh viện thần kinh thành phố Phúc Châu, tỉnh Kiến Phúc (chắc là Phúc Kiến) – Trung Quốc. Cả ba người đều là nạn nhân của lấy chồng Trung Quốc. Họ bị đày đọa nhiều năm, cho đến khi thân tàn thì bị đuổi ra khỏi nhà… Có nhiều trường hợp bị đẩy vào động mại dâm, bị khai thác như súc vật cho đến khi bệnh tật, bị chết hoặc điên dại.”. Báo Dân trí ngày 18/01/2014 đưa tin: “Sự sỉ nhục nhìn từ những cô dâu bị giết”.

Nhân phẩm người phụ nữ Việt xuống cấp. Họ chỉ như một món hàng, bị bọn ngoại quốc, công khai giày vò, làm nhục. Tại ai? Ðó không phải là quốc nhục, thì đối với những người CS, cái gì đáng bị gọi là quốc nhục? Trước thực trạng ấy, với tư cách là nguyên thủ Quốc gia, ông có thấy nhục nhã và xấu hổ không?

Ra ngoài đường thì so vai, rụt cổ, im thin thít, chẳng dám ho he - thể hiện sự hèn hạ vô cùng. Về đến nhà, múa gậy vườn hoang, tỏ rõ bản lĩnh anh hùng nơi xó bếp. Thần dân trông thấy, họ khinh bỉ mãi không thôi. Ðó là nói về tư cách của lũ đê tiện, “khôn nhà dại chợ”.


7/ Cứ coi các cháu phải đi bán dâm, chỉ là đồ chơi trong tay những thằng đàn ông. Xin hỏi ông:

Làm đồ chơi trong tay con trai Việt và làm đồ chơi trong tay bọn đàn ông ngoại quốc, đằng nào đỡ nhục nhã hơn? Không dám mơ có lầu son, gác tía để hành nghề như nàng Kiều. Làm đồ chơi trong nhà nghỉ kín đáo và ngồi vạ vật bên đường, đằng nào làm cho nhà nước đỡ xấu mặt hơn?

Không thể cấm được mại dâm. Vậy, hợp pháp hóa mại dâm + chăm sóc sức khỏe cho các cháu và để mại dâm lén lút, tự phát nguy cơ truyền nhiễm bệnh tật cao, đằng nào nhân đạo hơn?


8/ Tiếp xúc với những thứ chướng tai, gai mắt nơi nhà hàng, tôi không hề thích. Chính vì vậy, tôi và gia đình đầu tư vào làm thủy lợi, vào trồng trọt, vào chăn nuôi. Ai ngờ, tôi bị chính quyền CS đủ cả 4 cấp: Xã – Huyện – Thành phố - Trung ương câu kết với nhau lừa đảo, cướp đoạt trắng tay hơn chục tỉ VND. Mĩ miều, thì nói là “cả hệ thống chính trị” nhà các ông. Còn dân gian, đơn giản hơn nhiều. Chúng tôi nói rằng: “cả lò cả ổ” nhà các ông là 1 lũ khốn nạn, một lũ cướp ngày. Ông Chủ tịch có cách gọi nào khác, “đẹp” hơn để thay thế không?


9/ Thưa ông Chủ tịch, sau khi đọc những loạt bài của tôi, có 1 bác nào đó quan tâm, gọi điện hỏi tôi có bị cơ quan an ninh làm khó dễ gì không?

Câu trả lời là chưa. Cứ như thể, chưa bao giờ có những bài như thế. Lí do thật đơn giản. Ðơn từ đòi tiền, tôi gửi các ông nhiều lần, nhiều cấp trong hơn chục năm rồi. Nhưng, chính quyền CS của các ông vẫn giả câm, giả điếc. Ðể tránh tiếp xúc, các ông học những con chuột cống, chui sâu vào trong hang. Bị hun bao nhiêu là khói, nhưng với bản lĩnh cao cường, các ông vẫn chưa chịu chui ra. Bởi, chui ra tiếp xúc là phải nói đến chuyện trả tiền. Ðối với các ông, thà bị nghe chửi, thà bị người khác hạ nhục, thậm chí bị chết vì ngạt khói, còn hơn là phải trả lại những đồng tiền ăn cướp.

Ðây cũng là nét “đặc thù” rất riêng về Nhân quyền của chính quyền CS Việt nam.

Tôi tin lần này, lượng khói mà tôi quạt vào hang vẫn chưa đủ “đô”, nên các ông chưa chịu chui ra đâu. Các ông vẫn coi như không có nó và hiển nhiên, các ông sẽ không sờ mó đến tôi cũng như cửa hàng của tôi. Về việc này, xin cảm ơn ông Chủ tịch trước. Nhưng, những lần sau, lượng khói sẽ tăng lên. Không chịu được thì hãy bò ra. Ðừng cố thủ. Chết, uổng.


Lần sau, xin hầu chuyện ông Chủ tịch với đề tài “Dưới giác độ của nền văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa CS ở Việt nam, những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó”. Ðề tài này, cũng không đến nỗi khô khan lắm đâu. Nội dung của nó, tuy hơi dài, nhưng “Cơm ngon, (thì hãy) ăn làm nhiều bữa”. Lo gì. Ông có muốn nghe không? Có muốn cử những tay lí luận hàng đầu của đảng CS vào tranh biện công khai và thẳng thắn không? Xin ông: Chớ có cho đội ngũ Dư luận viên dốt nát cộng với mớ lí luận cùn nhập cuộc và nhớ đừng có dùng bạo lực như lũ khùng điên. Bọn chúng, khi đuối lí, chỉ có mỗi một cách, đó là giơ nắm đấm lên. Ðừng học lũ mất dạy đó, ông ạ.

Chào ông.

Nguyễn Tiến Dân

Lan Guangping BALANCES On EGGS Without Cracking Them! - Auditions - BGT 2025 (Đi Trên Trứng)

Vua Rượu Giả - Phạm Sơn Liêm

 


KHI GIỚI NHÀ GIÀU BỎ TIỀN MUA DANH TIẾNG, MÀ KHÔNG BIẾT MÌNH ĐANG UỐNG GÌ!

Một chai rượu giá 85.000 USD. Một căn hầm rượu được ca tụng là vĩ đại nhất thế giới. Và một cú lừa khiến giới sưu tập rượu vang thượng lưu phải ê mặt. Có những thứ càng đắt tiền, người ta càng tin là quý giá. Có những thứ càng hiếm, người ta càng khao khát sở hữu. Và có những người chỉ cần khoác lên mình chiếc áo của một đại gia, là đủ khiến hàng loạt người giàu có cúi đầu ngưỡng mộ. Nhưng nếu thứ họ bỏ ra hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn đô la để mua chỉ là một món đồ giả thì sao?

Câu chuyện về Rudy Kurniawan, người được mệnh danh là “vua rượu vang giả”, chính là một trong những vụ lừa đảo nổi tiếng nhất từng làm chấn động giới sưu tập rượu vang cao cấp tại Mỹ. Điều đáng nói không chỉ là số tiền khổng lồ bị lừa. Điều đáng nói hơn là những nạn nhân của ông trùm này lại chính là những người giàu có, sành điệu và tự tin nhất vào khả năng thẩm định của mình.

----

Đầu những năm 2000, Rudy Kurniawan xuất hiện trong giới mua bán rượu vang quý hiếm ở California, Hoa Kỳ.

Rudy không đơn thuần là một người mua rượu. Anh ta sẵn sàng chi hàng trăm ngàn đô la trong những cuộc đấu giá để sở hữu các chai vang nổi tiếng của Pháp.

Anh ta tổ chức những buổi tiệc nếm rượu xa hoa, mời những nhà sưu tập giàu có đến thưởng thức các chai vang mà người bình thường cả đời chưa chắc có cơ hội nhìn thấy. Tại những nơi ấy, Rudy trở thành nhân vật được săn đón. Người ta ngưỡng mộ kiến thức của anh ta. Người ta thán phục bộ sưu tập của anh ta. Và người ta tin rằng mìnhđang được giao lưu với một trong những chuyên gia rượu vang xuất sắc nhất thế giới.

Có lần, Rudy phục vụ khách một loại rượu Domaine de la Romanée-Conti, dòng vang Burgundy cực kỳ danh giá. Trong giới sưu tập, sở hữu được một chai rượu như thế đã là niềm tự hào. Được chính Rudy mời thưởng thức lại càng được xem như một đặc quyền.

Biệt danh “Dr. Conti” từ đó gắn với anh ta. Nhưng đằng sau những ly rượu đắt đỏ ấy, một bí mật đang lớn dần.

Người ta tưởng mình đang thưởng thức lịch sử trong cái ly pha lê. Nhưng có thể, thứ đang nằm trong ly chỉ là rượu bình dân được pha trộn và khoác lên một cái tên huyền thoại.

Rudy có khả năng thử rượu, cảm nhận hương vị rượu vang đặc biệt. Anh ta có thể nhận ra nhiều đặc điểm về hương thơm, độ chát, độ ngọt và phong cách của những loại vang khác nhau. Chính khả năng này giúp Rudy hiểu điều gì khiến một chai rượu được đánh giá cao, và điều gì khiến người sành rượu tin rằng họ đang thưởng thức một loại vang lâu năm. Nhưng thay vì chỉ sử dụng khả năng ấy để trở thành một chuyên gia chân chính, Rudy đã biến nó thành công cụ phục vụ cho một kế hoạch gian lận.


Theo hồ sơ vụ án, anh ta mua rượu vang giá rẻ, sau đó pha trộn để tạo ra hương vị gần giống những loại vang nổi tiếng. Tiếp theo là pha chế biến chai rượu bình thường thành một món hàng có vẻ ngoài của báu vật hàng chục năm tuổi. Vỏ chai được lựa chọn hoặc đặt làm cho phù hợp. Nhãn hiệu được in giả. Nút bần, nắp chai và bao bì được chuẩn bị để bắt chước sản phẩm của hãng. Những nhãn hiệu có thể được làm cho trông cũ kỹ. Các dấu vết bên ngoài được tạo ra nhằm khiến chai rượu có vẻ như đã trải qua nhiều thập niên trong một hầm rượu cổ. Một chai vang bình dân, qua bàn tay của kẻ gian, bỗng mang danh tính của một chai vang huyền thoại. Giá trị của nó lập tức tăng lên hàng ngàn, hàng chục ngàn đô la. Điều đáng sợ là sự giả mạo không chỉ nằm trên nhãn chai. Nó được xây dựng thành cả một câu chuyện: năm sản xuất, nhà làm rượu, nguồn gốc, độ hiếm và lịch sử. Bởi vì trong thị trường rượu vang quý hiếm, người ta không chỉ mua chất lỏng bên trong chai. Họ mua cả câu chuyện về chai rượu ấy.


Rudy nhanh chóng bước vào thế giới của những cuộc đấu giá triệu đô. Anh ta bán đấu giá những chai rượu được giới thiệu là sản phẩm của các nhà làm rượu danh tiếng, với những niên kỷ lâu đời và muốn có, khó như bắc thang lên trời. Có chai được bán với giá hàng chục ngàn đô la. Những cuộc đấu giá do Rudy tham gia mang lại những khoản tiền khổng lồ. Danh tiếng của anh ta tăng lên nhanh chóng. Các nhà sưu tập tìm đến. Những người môi giới tin tưởng. Các khách hàng giàu có muốn sở hữu những chai rượu mà người khác không dễ gì có được.

Trong một giao dịch được nhắc đến trong vụ án, chai vang được giới thiệu là Château Lafleur đóng chai vào năm 1947, có giá trị đặc biệt cao. Những chai rượu mang tên các nhà sản xuất lừng danh khác cũng được đưa ra thị trường với mức giá khó tưởng tượng đối với người bình thường. Có người sẵn sàng trả hàng chục ngàn đô la cho một chai vang, không chỉ vì hương vị, mà còn vì sự khan hiếm và uy tín của nhãn hiệu.

Hãy thử hình dung cảnh ấy: Một căn phòng sang trọng. Những bộ vest đắt tiền. Những chiếc đồng hồ có giá bằng cả căn nhà. Một chai vang được đặt cẩn thận trên bàn. Người chủ tự hào giới thiệu:

- Đây là một chai rượu khó kiếm. Không phải ai muốn mua cũng có thể tìm được.

Khách nâng ly, ngửi hương vị rượu, nhấp một ngụm rồi gật gù:

- Tuyệt vời! Đúng là hương vị khác biệt.

Nhưng nếu chai rượu ấy là giả, thì điều gì đã khiến người uống tin rằng nó tuyệt vời? Hương vị thật sự?Hay cái tên được in trên nhãn chai? Và nếu họ biết chai rượu mình đang uống chỉ được làm từ những loại vang rẻ tiền, liệu họ còn thấy nó ngon như lúc đầu không?

Đó mới là câu hỏi đáng suy nghĩ nhất. Bởi đôi khi, thứ đắt đỏ nhất trong cái ly không phải là rượu. Mà là niềm tin của người uống.

-----

Những kế hoạch tinh vi nhất cũng có thể sụp đổ chỉ vì một chi tiết nhỏ. Trong trường hợp của Rudy, vấn đề xuất hiện khi những chai rượu được cho là sản xuất từ những năm rất xa xưa bắt đầu lọt vào tầm chú ý của các chuyên gia. Một số năm không phù hợp với lịch sử sản xuất của hãng làm rượu. Có những chai mang tên một loại vang mà nhà sản xuất cho biết chưa hề được sản xuất vào thời điểm ghi trên nhãn. Một lô rượu được giới thiệu là vang Château Le Pin đóng chai năm 1962, khiến người ta đặt câu hỏi, bởi nhà sản xuất cho biết dòng rượu ấy chỉ bắt đầu được đưa ra thị trường từ năm 1982. Laurent Ponsot, đại diện hãng làm rượu Domaine Ponsot của Pháp, cũng phản đối những chai vang được gắn với các năm trước thời điểm nhà sản xuất bắt đầu làm loại rượu đó. Đây không còn là chuyện một chai rượu uống ngon hay không ngon. Một chai rượu có thể được làm rất khéo. Nhãn có thể cũ kỹ. Nút bần có thể trông hoàn hảo.Nhưng nếu nhà sản xuất chưa từng làm loại rượu ấy vào năm ghi trên chai, thì mọi câu chuyện về độ quý hiếm đều có nguy cơ sụp đổ.


Tháng 2/2012, một lô rượu trị giá khoảng 785.000 USD liên quan đến Rudy bị phát hiện là hàng giả trong lúc đấu giá. Những nghi ngờ trước đó nhanh chóng trở thành một cuộc khủng hoảng của sự thật. Những người từng mua rượu bắt đầu đặt câu hỏi. Các nhà môi giới đối mặt với nguy cơ mất uy tín. Những người sưu tập phải nhìn lại các chai rượu họ từng tự hào sở hữu.

Ngày 8/3/2012, FBI bắt giữ Rudy Kurniawan. Khi khám xét nơi ở của anh ta, các điều tra viên phát hiện nhiều chai rượu, nguyên liệu và vật dụng phục vụ việc làm giả nhãn hiệu rượu vang. Một thế giới xa hoa được dựng lên bằng những chai rượu giả bắt đầu tan vỡ.


Tháng 12/2013, phiên tòa bắt đầu. Tháng 12/2014, anh ta bị kết án 10 năm tù vì tội gian lận và làm giả rượu vang. Ngoài án tù, Rudy còn phải bồi thường cho các nạn nhân theo phán quyết của tòa án. Một người từng được giới thượng lưu ngưỡng mộ, từng xuất hiện trong những cuộc đấu giá danh giá và được xem là chủ nhân của bộ sưu tập rượu vang đáng mơ ước, giờ đây trở thành bị cáo trong một vụ lừa đảo gây chấn động.


Năm 2020, sau khi chấp hành khoảng 8 năm tù, Rudy được trả tự do và bị trục xuất về Indonesia ngay khi rời cửa nhà giam. Nhưng bản án không thể làm cho tất cả những chai rượu giả biến mất. Một số chai có thể đã được mở ra và uống hết. Một số khác có thể vẫn nằm trong hầm rượu tư nhân, được bảo quản cẩn thận như những báu vật gia truyền. Chủ nhân của chúng có thể vẫn tin rằng mình đang sở hữu những chai vang hàng vài chục năm tuổi. Hoặc có thể họ đã biết sự thật nhưng không muốn nói ra. Bởi thừa nhận mình bị lừa không chỉ là mất tiền. Đó còn là mất mặt trước bạn bè, đối tác và những người từng ngưỡng mộ bộ sưu tập của mình. Hãy thử tưởng tượng một nhà sưu tập từng khoe với mọi người rằng mình có một chai vang quý giá trị giá 80.000 USD. Nhiều năm sau, ông phát hiện chai rượu ấy là giả. Ông sẽ làm gì? Công khai sự thật và chấp nhận bị chế giễu? Hay tiếp tục giữ chai rượu trong hầm, không nhắc đến nó nữa?

Đôi khi, sự im lặng của nạn nhân vô tình giúp một vụ lừa đảo tiếp tục tồn tại lâu hơn chính kẻ đã thực hiện.

-----

Câu chuyện Rudy Kurniawan không chỉ dành riêng cho những người yêu rượu vang. Nó phản ánh một quy luật quen thuộc của tâm lý con người. Khi một món đồ được quảng cáo là quý hiếm, chúng ta dễ tin nó có giá trị đặc biệt. Khi người sở hữu được giới thiệu là chuyên gia, chúng ta dễ tin lời họ nói. Khi những người giàu có cùng tranh nhau mua một món hàng, chúng ta có thể cho rằng món hàng ấy chắc chắn phải đáng giá. Nhưng giá bán không phải bằng chứng tuyệt đối của chất lượng. Danh tiếng không đồng nghĩa với sự trung thực. Một cuộc đấu giá thành công cũng không bảo đảm mọi món hàng đều hàng thiệt.


Trong thế giới hàng xa xỉ, đôi khi người ta mua vì muốn thưởng thức. Nhưng cũng có người mua để chứng minh rằng mình có tiền, có kiến thức và có vị trí trong xã hội. Kẻ lừa đảo hiểu rất rõ điều đó. Họ không chỉ bán một món hàng giả. Họ bán cho khách hàng cảm giác được thuộc về một thế giới đặc biệt, nơi người bình thường không đủ tiền bước vào. Và một khi người mua quá tin vào danh tiếng của món đồ, họ có thể quên mất câu hỏi quan trọng nhất: Bằng chứng nào chứng minh thứ tôi đang mua là thật?

Rudy Kurniawan đã dùng khả năng cảm nhận rượu, sự am hiểu thị trường và tâm lý của giới sưu tập để xây dựng một đế chế giả mạo. Nhưng cuối cùng, lịch sử sản xuất và những chi tiết mà người khác có thể kiểm chứng đã góp phần phơi bày sự thật.

Câu chuyện ấy để lại một nghịch lý cay đắng: có những người bỏ ra cả gia tài để mua một chai rượu vì tin rằng mình đang sở hữu thứ không ai khác có được, nhưng thứ họ thật sự mua chỉ là một lời nói dối được đóng chai rất đẹp.

Người ta thường nói: tiền không mua được tất cả.

Nhưng trong câu chuyện này, tiền đã mua được những chai rượu mang nhãn hiệu huyền thoại, mua được sự ngưỡng mộ của giới thượng lưu và giúp một kẻ lừa đảo bước vào những căn phòng mà người bình thường khó có cơ hội đặt chân tới. Chỉ có điều, tiền không thể biến rượu giả thành rượu thật. Và cũng không thể biến một lời nói dối thành sự thật, dù lời nói dối ấy được đặt trong chai thủy tinh đắt tiền nhất thế giới.


Câu hỏi cuối cùng dành cho chúng ta: Nếu 1 chai rượu giá 100 đô la được rót vào cái ly pha lê sang trọng, bạn có thể thấy nó bình thường. Nhưng nếu người ta nói với bạn rằng đó là chai vang cổ trị giá 100.000 đô la, liệu bạn có cảm thấy hương vị của nó khác đi không? Và nếu câu trả lời là có, thì trong cái ly ấy, thứ gì đang thật sự khiến bạn say mê? Rượu ngon, hay chính cái giá mà người ta nói rằng bạn đã trả cho nó?


Phạm Sơn Liêm

Hãy Đến Với Cha - Nhạc Và Lời Tống Viết Minh - Tiếng Hát Mộng Điệp - AI Cover

Một câu được cho là của thánh Augustinô nói: ”Hát là hai lần cầu nguyện.” Ước mơ những bản thánh ca qua các video clips như một lời kinh nguyện trong ngày, sẽ mang đến quí vị những giây phút an bình cho tâm hồn trong một xã hội đầy văn minh vật chất và biến động xảy ra khắp nơi trên thế giới.

TVM

Còn Đâu Cơ Hội - Phan

 

Thuở nhỏ ở quê nhà, tôi thường nghe được từ mẹ tôi – người là một kho tàng tục ngữ, ca dao nên bất cứ sự việc gì diễn ra, mẹ tôi cũng dùng một câu tục ngữ hay ca dao để nêu lên ý kiến riêng của mẹ. Ví như bà hàng xóm phê phán một bà hàng xóm khác với mẹ tôi rằng, “Bà ấy từ dạo có con cái ở Mỹ gởi tiền đô về đến nay, cứ câng câng mặt lên đi chợ, đi chùa. Ra chợ thì chê bai mọi thứ từ đầu chợ đến cuối chợ; ra chùa thì ăn mặc như bà hoàng bà chúa, vàng vòng đỏ tay… Tôi có chào hỏi bà ấy thì bà ấy cũng chẳng thèm trả lời, chị ạ!” Mẹ tôi sẽ an ủi bà hàng xóm ta thán, “Ông bà mình đã nói, trưởng giả học làm sang; phú quý sinh lễ nghĩa mà chị”.

Khi tôi trốn học, đi chơi với những đứa trẻ lêu lổng vì chúng không đi học; và khi mẹ tôi biết được thì người sẽ khuyên nhủ tôi: “Con à! Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.” Khi nhà bị nhà cầm quyền tịch thu mọi thứ, tống đi kinh tế mới thì mẹ tôi thở dài cũng ra ca dao, “Con ơi nhớ lấy câu này, cướp đêm là giặc cướp ngày là quan…”

Tôi lớn lên với thể trạng suy dinh dưỡng như cây khoai mì mùa hạn sau hoà bình lập lại, nhưng bụng no đầy, ấp lẫm tục ngữ với ca dao. Có lẽ điều ấy đã giúp tôi có suy nghĩ ngắn gọn về sau; như tiếp xúc với một người lần đầu, hình ảnh người ấy còn lại trong tôi rất ngắn gọn: Đó là con người bề ngoài thơn thớt nói cười, nhưng khẩu phật tâm xà, hành vi có tinh vi cách mấy thì cũng không che đậy được thói kéo áo người che bụng mình; kẻ mượn hoa cúng Phật dù cao tay cách mấy thì cũng có ngày vỏ quýt dầy gặp móng tay nhọn… nên ta không nên giao tiếp với người ấy nữa. Hoặc gặp người khác trong cuộc sống, nhưng về họ đọng lại trong tôi suy nghĩ giản đơn: Đúng là tốt gỗ hơn tốt nước sơn/ xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người. Đó là con người mà ta nên gần gũi, như gần đèn. Chẳng phải mẹ đã nói, ở hiền gặp lành, hữu duyên thiên lý mới tương giao được người tốt…

Không ngờ đến hôm sắp ra trường, người bạn học nói với tôi, “Anh nhớ nhiều tục ngữ, ca dao quá ha? Nhưng khả năng vận dụng vào giao tiếp thì hơi có vần đề…” Tôi trả lời cô bạn cũng rất ngắn gọn, “Cười người hôm trước hôm sau người cười”!

Từ ấy, cuộc sống là vô định vì đâu còn về nhà sau mỗi ngày tan trường, bạn bè chỉ còn là kỷ niệm; để sinh tồn không có cách khác hơn là ở bầu thì tròn ở ống thì dài; nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc… Mẹ. Hôm nào về nhà thì gần. Hứa nhăng hứa cuội cho mẹ vui, để mẹ mắng yêu cái thằng trăm voi không được bát nước xáo… Nhưng xa mẹ chỉ là cách mặt chứ không cách lòng, lòng mẹ bao la trong tôi cả kho tàng tục ngữ ca dao. Mắt sắc như dao cau, mỗi lần gặp con gái đẹp đều nhớ câu ấy của mẹ để cẩn trọng với huấn dụ vợ đẹp là vợ người ta…

Mỗi lần nhìn lại con dao cau với cái ô trầu của mẹ trên bàn thờ, lòng biết ơn người truyền lại cho tôi cả kho tàng nói ít hiểu nhiều thật vô giá. Nhưng ngay cả kỷ vật của mẹ thì giờ cũng chỉ còn được nhìn trên ảnh chụp vì bàn thờ gia tiên còn ở quê nhà.

Ra hải ngoại, nhiều người nói, chúng ta đi mang theo quê hương. Câu nói thật hay, nhiều ý nghĩa. Nhưng mỗi người trong chúng ta mang theo quê hương theo cách riêng; tôi mang theo kho tàng của mẹ tự bao giờ và đến bao giờ? Không khó tìm câu trả lời với người mẹ rỉ rả tục ngữ ca dao như mưa lâu thấm đất vào lòng con trẻ để xa quê như thật gần, quê hương ngay trong lòng mà lại rất xa xôi; quê nhà cách biển nhưng ngay trong lòng với cọng rau răm lẻ bạn trên bàn ăn cũng gợi nhớ câu, gió đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu lời đắng cay…

Nhưng truyền lại cái kho tàng ấy cho đời sau không dễ trong hoàn cảnh người Việt ở Mỹ không có nhiều thời gian gần gũi con cháu, chúng lại dùng tiếng Anh nhiều hơn tiếng Việt do hoàn cảnh hội nhập dòng chính của lớp trẻ Việt lớn lên trên nước Mỹ.

Thật là chuyện cười ra nước mắt. Tôi dạy đứa cháu làm mộc khi cháu muốn tự chế một cái loa để nghe nhạc. Dạy cháu chọn ván phải biết tận dụng hết cái đẹp của hoa văn tự nhiên trên gỗ, rồi đo đạc ra làm sao? Cưa cắt ra làm sao…? Lúc đóng những miếng ván mỏng lại thành cái hộp loa. Tôi đã dặn dò là phải khoan lỗ mồi trước khi đóng đinh, dù lỗ khoan chỉ nhỏ hơn cây đinh chút xíu, nhưng không khoan trước thì khi đóng đinh sẽ tét gỗ vì gỗ quá mỏng…

Rồi thì thằng bé mới hơn mười tuổi đầu thì làm sao đủ kiên nhẫn khi công trình tự làm đầu tiên của nó đã thành hình, chỉ còn một hai mũi đinh nữa là xong. Nó thôi khoan mồi mà đóng thẳng đinh vào gỗ cho hoàn tất. Miếng ván nứt nẻ ra, đường nứt còn ngắn hơn dòng nước mắt tiếc rẻ của thằng bé, phần sợ người chú khó tính cũng làm nó rụt rè câu hỏi, “Xin lỗi chú. Bây giờ con phải làm sao?”

Tôi nói với cháu tôi, “Chú đã nói rồi, dục tốc bất đạt. Chỉ còn cách tháo gỡ miếng gỗ nứt nẻ ấy ra, đi cắt miếng khác thôi cháu ạ!”
Thằng bé không gặp khó khăn nhiều với việc tháo gỡ và đi cắt miếng gỗ khác, nhưng nó rất khó khăn với sự kiên nhẫn, cứ lèm bèm… “Sao mà hôm nay xui quá vậy ta…?”

Tạ ơn trên khi cuối cùng nó cũng hoàn thành được cái bài tập trong trường cho học sinh về nhà tự làm một vật em thích. Trông nó vui làm tôi vui lây. Thằng bé thích nhạc đùng đùng của Mỹ đen, nên khi chỉ nó câu dây vô máy nhạc để nghe thử cái loa; nó cho tôi lại niềm tin là hạnh phúc có thật trên đời khi nhìn nó thả hồn vào loại âm nhạc khủng bố lỗ tai người nghe, và niềm vui sướng với lần đầu trong đời người ta khi hoàn thành được một việc mà mình yêu thích.

Thằng bé cũng biết khi nào nên đặt câu hỏi, và đặt câu hỏi về vấn đề gì?
Nó nói với tôi, “Hồi nãy, chú rầy con câu gì, nghe mắc cười lắm! Chú nói lại cho con nghe được không?”
“À. Chú nói: Dục tốc bất đạt. Thật ra là tiếng Hán, tiếng Tàu, chứ cũng không phải tiếng Việt của mình. Chú chỉ tiện miệng thì nói vậy thôi, cháu đừng nhớ tiếng Tàu…”

Nó gượng hỏi, “Nhưng câu đó có nghĩa là gì?”
“Ý nói, việc gì từ từ làm thì mới có kết quả tốt. Khi làm việc mà thiếu kiên nhẫn, chỉ muốn làm cho xong, mau xong. Công việc sẽ không xong như mong muốn, như cháu không khoan mồi vì muốn mau xong nên đóng đinh vô ván mỏng là bị nứt ván ngay…”
“Chú nói hay. Câu này hay mà vui nữa, con sẽ nhớ…”
…

Nhưng chỉ tuần sau, đứa cháu tôi thích vì cả đám cháu chỉ mình nó thích nói tiếng Việt, có bạn bè người Việt; còn lại toàn những đứa cháu không thích nói tiếng Việt, không thích chơi với bạn bè người Việt; lý do của chúng chỉ có thể tóm tắt lại là cần tôn trọng, nên thông cảm, chứ không hẳn có lý.

Thôi còn thằng cháu thích nói tiếng Việt cũng đủ cho chú nó vui lòng, nhưng niềm hạnh phúc nó cho không chú nó tuần trước thì tuần sau nó lấy lại!
Chuyện là: Chị tôi đi làm ra thì ghé nhà bà coi trẻ đón hai anh em nó về nhà. Thường nó là đứa trẻ hiếu động nên ham chơi, nó không quan tâm chuyện đói bụng. Nhưng thằng em của nó lại trầm tĩnh nên hay đói. Hôm đó, ba mẹ con về đến nhà. Thằng em kêu, “con đói bụng quá rồi mẹ ơi!” Nên chị tôi vội làm cho nó chút gì để ăn. Chị vốn chậm lại hay rối nên hâm được chút thức ăn cho con thì lại làm đổ cả ra sàn nhà bếp. Chị cầu cứu thằng lớn, “anh Hai ơi, con dọn dẹp, lau chùi sàn sếp dùm mẹ đi; để mẹ làm món khác cho em ăn. Nó đói bụng quá rồi! Giúp mẹ nha anh Hai…”

Nó dõng dạc nói với chị tôi, “Con nói mẹ nha! Cái gì cũng từ từ làm thì mới xong. Mẹ đừng có giục cứt bốc giục cho tèm lem, đổ bể hết rồi! Rồi lỡ mẹ bị phỏng thì sao?”
Chị tôi chết trân với thằng con sanh đẻ ở Mỹ, mới hơn mười tuổi đầu; nó nói cái tiếng Việt gì nghe khó hiểu. Chị không biết bây giờ nên rầy con không được ăn nói kỳ cục; hay để tìm hiểu đã, ai dạy con mình ăn nói kỳ cục vậy chứ…?”

Rồi đời sống Mỹ của người mẹ hai con lại còn đi làm, chị quên bẵng đi đến lần sau nó dạy em nó trên bàn ăn, “Mày đừng có giục cứt bốc giục như vậy! Phải từ từ ăn thì mới không bị nghẹn. Lần sau anh Hai không đi lấy nước uống với vỗ lưng cho mày đâu!”

Lần này thì chị tôi truy ra được người dạy con chị ăn nói kỳ cục… là chú nó!
Câu chuyện dục tốc bất đạt được tam sao thất bổn thành giục cứt bốc giục là chuyện vui trong gia đình mỗi khi sum họp. Nhưng lần này gặp lại thằng cháu ít gặp thì nó đã bốn mươi tuổi đời. Nó trả lời câu hỏi thăm của tôi, “Lâu quá không gặp. Cháu bây giờ làm ăn có khá không?”

“Dạ. Con cũng vậy à chú ơi! Số con cực nên cũng cứ… giục cứt bốc giục hoài. Dù ít gặp chú, nhưng cứ nhớ tới chú là con nhớ cái câu nói nghe vui ấy, nhưng câu đúng của chú nói thì con không nhớ…”

Tôi nhìn lại đám cháu là những chú bé ngày nào thì nay đều đã có gia đình riêng; nhìn lại anh chị em đã già, gặp nhau toàn nói chuyện tiền già với bệnh tật; nhìn lại cái kho ca dao tục ngữ trong tôi cũng đã xúc xiểng nhiều vì ít dùng, vì dùng với ai trong đời sống thực sự là nhiều từ bây giờ nói tiếng Anh còn dễ hiểu hơn nói tiếng Việt như nói với người tính tiền ở chợ, “làm ơn cho chú xin cái receipt.” Cô bé, cậu nhỏ làm thêm giờ ở chợ Việt sẽ hiểu ngay. Nhưng nói cho chú xin cái hoá đơn, hay cái biên lai tính tiền… thì nó đực mặt ra, rồi what mình… What… What… What do you want? What do you want from me…

Còn đâu cơ hội cho kho tàng nói ít hiểu nhiều của người Việt phát huy. Theo thời gian định cư, rất nhiều từ hễ nói ra tiếng Anh thì hiểu ngay, như “làm ơn cho chú order hai cái bánh xèo togo.” Người phục vụ chẳng hỏi han gì thêm, chỉ nói gọn lại “đợi con chừng mười phút, được không chú?” Nhưng nói, “làm ơn cho chú đặt hai cái bánh xèo đem về nhà…” thì thằng nhóc nhìn mình như người Mỹ mới học tiếng Việt!

Ngay cơ hội giữ gìn đã mai một thì còn đâu cơ hội phát huy cái kho tàng ca dao tục ngữ vô cùng phong phú và ý nghĩa của người Việt.


 Phan

Friday, October 16, 2026

Đôi Ngã Chia Ly - Nguyễn Duy Phước

Mối Tình Đầu Của Doãn - Đào Như



“Em gầy như liễu trong thơ cổ

Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường”
Nguyên Sa

Mỗi lần nhớ lại NhaTrang, tôi nhớ con đường Alexandre De Rhodes đượm mùi hoa sứ, có bóng mát và  tiếng sóng rì rào của biển, con đường đưa tôi đến trường Kim Yến hàng ngày. Mỗi lần nhớ lại NhaTrang, tôi nhớ Doãn, người bạn cùng lớp, một gã thư sinh đam mê văn chương, triết học và âm nhạc. Doãn mang đôi kính cận dày cộm, một thoáng Doãn trông giống Jean Paul Satre. Doãn rất đam mê đàn dương cầm và một chút tham lam tình yêu...

Mỗi lần nhớ lai NhaTrang, tôi nhớ Phương Dung, người con gái đẹp thôn Phú Vinh ngọai ô phía Tây thành phố NhaTrang, người nữ sinh trường Kim Yến có dáng đi e ấp, mái tóc frisé, thả lơi lã trên hai bờ vai, có đôi mắt đen lánh đẹp và buồn. Phương Dung vừa khiêm tốn vừa sang trọng, quí phái nhưng không hờ hửng với thế giới chung quanh mình. Phương Dung đã làm điêu đứng biết bao chàng trai của thành phố biển này trong đó có Doãn. Năm 1957, Doãn yêu Phương Dung tha thiết và chỉ mong một lần cầm được tay nàng, nhưng vẫn bị Phương Dung từ chối. Doãn biến thành gã si tình. Sau này mỗi khi nhớ lại Phương Dung, Doãn ôm lấy cây đàn dương cầm và thả hồn mình trong những tình khúc cổ điển Tây phương Romance của Robert Schuman, Eva Maria của Franz Schubert. Doãn thường ngợi ca nhan sắc của Phương Dung qua hai câu thơ của nhà thơ Nguyên Sa: “Em gầy như liễu trong thơ cổ/ Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường.”     

Những năm năm mươi của thế kỷ trước, biển NhaTrang, phố Đôc Lâp, trường Kim Yến, trường Võ Tánh, trường bán công Lê Quí Đôn, là những khung trời kỷ niệm đẹp như một bài thơ. Nhóm chúng tôi năm đứa: Đạo, gốc Huế, Định, gốc Quảng Trị, Thuận, người Ninh Hòa, và Doãn, người Nha Trang, còn tôi là dân Phan Rang, chúng tôi cứ nhỡn nhơ đi học, đi dạo biển và rủ nhau đi cinéma cuối tuần. Đôi khi chúng tôi nghe tiếng Đại bác hay nhìn thấy hỏa châu thắp sáng một góc trời, chúng tôi cứ yên tâm đó là những cuộc tâp trận của Trung tâm huấn luyên sỹ quan bộ binh ở Đồng Đế, và chúng tôi quên đi đất nước chúng ta vẫn còn trong tinh trạng chiến tranh. Ở Nha Trang còn có Trung tâm Huấn luyện Sĩ quan Phi Công của Không quân và Trường đào tạo Sỹ quan Hải quân ở Cầu Đá, dọc theo bờ biển phía Nam của thành phố.   
   
NhaTrang thuở ấy thật sự là thành phố của chiến tranh nhưng NhaTrang mang bộ mặt một thành phố của hòa bình, ổn định. Vào thời khoảng này sinh hoạt cuối tuần doc theo đai lộ Duy Tân ven biển, trên phố Đôc Lập thật là vui nhộn phong phú và đa dạng. Nhạc sỹ Văn Phụng vừa di cư vào Nam, anh thường trình diễn âm nhac ngoài trời mỗi cuối tuần trên bờ biển gần khách sạn Beau Rivage. Các trường Trung Học của NhaTrang thuở 55, 56, 57 vẫn tiếp nhận các hoc sinh: Ngoài Bắc mới di cư vào Nam trong đó có cậu hoc trò Phí Ích Nghiễm của trường Bán công Lê Quí Đôn  và sau này trở thành nhà văn thành danh với bút hiệu Dương Nghiễm Mậu; và các hoc sinh từ Liên Khu V- Nam-Ngãi-Bình-Phú- vừa được giải phóng và trở thành các tỉnh của miền Nam tự do. Trong nhóm này có Nguyễn Mông Giác, hoc ban B trường Võ Tánh, sau này là tác giả của những bộ trường thiên tiểu thuyết: Mùa Biển Động,  Sông Côn Mùa Lũ. Với tác phẩm ‘Đường Một Chiều’, Nguyễn Mộng Giác đoạt giải Nhất của cuộc thi tiểu thuyết của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam năm 1974. Nguyễn Đức Sơn từ Phan rang ra học Trường Kim Yến, anh đã sớm phát tiết phong thái như một nhà thơ lập dị với bút hiệu Sao Trên Rừng, hồi ấy Nguyễn Đức Sơn đã sáng tác bài thơ: “Một Mình Nằm Thở Đủ Kiểu Trên Bờ Biển: “Đầu tiên tôi thở cái phào/Bao nhiêu phiền não như trào ra theo/Nín hơi tôi thở cái phèo/Bao Nhiêu Mộng ảo bay vèo hư không/Sướng nên tôi thở phập phồng/Mây bay gió thổi trời hồng muôn năm/Mai sau cái chỗ tôi nằm/Sao rơi lạnh lẽo, âm thầm biển ru..”.

Phải chăng chiến tranh đã là nỗi ám ảnh thuở ấy khiến nhà thơ Nguyễn Đức Sơn sớm thấy số phận hẩm hiu cô đơn của đời người:“Mai sau cái chỗ tôi nằm/Sao rơi lạnh lẽo âm thầm biển ru”. Khi chúng tôi lớn lên đã có chiến tranh. Chiến tranh là một phần đời của chúng tôi. Chiến tranh vây bủa quấn chặt chúng tôi như loài rắn độc quấn chặt lấy con mồi của nó.  Chúng tôi lớn theo hai cuộc chiến. Chiến tranh mang chúng tôi đi muôn phương. Chúng tôi trôi giạt trong chiến tranh...  

Năm 1962, Đạo, Định, Thuận Tốt nghiệp đại học sư phạm Toán Lý Hóa. Đi dạy Trung học được một niên khóa, cả ba đều bị động viên vào thụ huấn quân trường Thủ Đức và sau này là các sĩ quan tác chiến trên 4 vùng Chiến Thuật.  Doãn tốt nghiệp sư phạm triết và là thấy dạy triết cho các lớp 12. (Terminal). Còn tôi thì theo nghiêp Y, là bác sỹ phẫu thuật của thời chiến- (Chirurgien De Guerre).    

Năm 1960, Doãn loan báo cho nhóm chúng tôi hay là Phương Dung vừa đi lấy chồng. Doãn gọi cho chúng tôi trong giọng thản thốt và buồn. Thế mới biết trong suốt những năm qua, Doãn vẫn thầm nuôi mộng với Phương Dung.

Chiến tranh luôn đi trước chúng tôi. Trận đánh lớn ở cấp sư đoàn-trận Ấp Bắc ở Định Tường xảy ra vào ngày 2 tháng 1 năm 1963, đã  làm vỡ tan mộng hòa bình và ổn định lâu dài của Chính Phủ và người dân miền nam Việt Nam. Ai ai cũng xoay lưng lại chiến tranh, nhưng rồi cũng phải chịu đựng cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, lật đổ chính phủ Ngô Đinh Diệm. Sau cái chết của nhà yêu nước Tổng thống Ngô Đinh Diệm và người em trai của ông, chiến tranh bộc phát trở lại, thiêu đốt và tàn phá quê hương Việt Nam của chúng tôi với một tốc độ khốc liệt khủng khiếp hơn bao giờ hết....    
 
Nhưng thân phận người đàn bà trong chiến tranh gánh chịu muôn vàn nỗi truân chuyên. Sau khi lấy chồng được hai năm, Phương Dung sanh được một cháu gái. Có tin đồn rằng: chồng của Phương Dung là sỹ quan Không Quân, chuyên về trinh sát-Observateur-Máy bay trinh sát L.19 của anh bị bắn rơi ở Hạ Lào vào giữa năm 1961. Anh và ngưới sỹ quan phi cô đều bị lực lượng biên phòng của chính phủ Hà Nội bắt sống. Ba tháng sau chính phủ Hà Nôi đem vụ này xử công khai trên đài phát thanh cho cả nước cùng nghe. Họ tố cáo chính phủ Mỹ đã xâm nhập biên giới của họ, ngay cả phía trên vĩ tuyến 17 và vùng Hạ Lào. Chồng Phương Dung và người bạn sĩ quan phi công mỗi người lãnh án 25 năm tù ở. Với bản án 25 năm tù ở của chồng, Phương Dung cảm thấy đời nàng hụt hẩng không biết làm sao chia sẻ sự nhọc nhằng của chồng trong lao tù cộng sản và nuôi con cho đến ngày khôn lớn trong suốt chiều dài 25 năm tới. Nhưng Phương Dung không bao giờ quay lưng lại với cái quá khứ vàng son của mình. Nàng lúc nào cũng là một mênh phụ phu nhân trong cái xã hôi chiến tranh thời đó. Nàng cố vượt lên trên số phận để có đời sống tốt đep nuôi con cho đến ngày chồng về... Nguồn tin đồn đoán cũng nhấn mạnh rằng: hoàn cảnh của Phương Dung  được xem như là quá đặc biệt. Do đó Phương Dung có được sự giúp đỡ và được ‘offered cái job’ làm thư ký tại trung tâm hỗn hợp Không lực Việt Mỹ, phi trường Không Quân-Nhatrang.  Người boss trực tiếp của Phương Dung, là một Trung tá cố vấn Mỹ cũng là vị chỉ huy trực tiếp của chồng Phương Dung trước kia.  Phương Dung đươc ân huệ có được job này thật kín đáo ít người biết đến. Nhưng chẳng bao lâu sau, Phương Dung cũng phải hứng chịu lời ong tiếng ve “gái làm sở Mỹ”.     

 
Sau hơn hai năm làm việc bên cạnh ông boss của nàng, Phương Dung cảm thấy mình được ông boss chăm sóc rất chu đáo. Từ đó một thiên tình sử xuất hiện giữa nàng và vị Trung tá người Mỹ. Có phải chăng họ yêu nhau vì nết trọng nhau vì tài? Một thực tế hiển nhiên vị Trung tá Mỹ vẫn còn độc thân, chưa có vợ, trong khi đó Phương Dung là ‘nhất gái một con’, người đàn bà từng trải. Lửa gần rơm có ngày cũng bén. Trước khi về nước, vị Trung tá người Mỹ ngỏ lời muốn cưới Phương Dung làm vợ. Âu đó cũng là điều Phương Dung không dám mong đợi và ước mơ nhưng thật sự nó đã đến với Phương Dung. Sau khi được sự đồng ý của cha mẹ chồng (cũ), Phương Dung gạt lệ, lên xe hoa một lần nữa. Năm 1967, Phương Dung cùng cô con gái theo chồng về Mỹ. Bao nhiêu quá khứ tình cảm, Phương Dung coi như theo nước sông trôi về dĩ vãng. Cuộc sống của Phương Dung sau năm 1960, dù cho thực hay là ảo, tất cả nói lên thân phận người đàn bà trong chiến tranh cũng nổi trôi theo vận nước, cũng bị cuốn hút theo chiến tranh...

 

Từ những năm 62-63... sự quan hệ giữa bọn chúng tôi thường hay mất liên lạc với nhau. Thỉnh thoảng chúng tôi liên lạc với nhau qua Khu Bưu Chính-KBC-chúng tôi thật sự không biết chúng tôi đang ở đâu và đang làm gì, sức khỏe và gia đình ra sao? Chúng tôi hoàn toàn con người của chiến tranh.      


Sau biến cố Mậu Thân, và trận Khe Sanh năm 1968, bây giờ người Mỹ bắt đầu sử dụng pháo đài bay chiến lược B52, nhất là tại vùng núi rừng Trường Sơn, Đường mòn Hồ Chí Minh. Sau đó, là những trận đánh vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972... Hai phe bốn bên dốc toàn lực đổ quân vào những trân đánh điên cuồng đẩm máu làm áp lực cho hòa đàm Paris ở giai đoạn chót. Những trân đánh tận tình hủy diêt nhau làm rực lửa những trang báo cùng khắp thế giới, thắp sáng lương tri nhân loại.  Hầu hết các gia đình người Mỹ, mỗi chiều tối đều ngóng lên màng ảnh truyền hình, theo dõi chương trình CBS Evening News Reports hớp từng lời tường thuật của Walter Cronkite về chiến tranh Việt Nam-Vietnam-War. Những trận đánh đẩm máu xé nát trái tim của những bà mẹ nước Mỹ. Các sinh viên tại các trường đại học nhất là tại Mỹ, tại Anh, tại các nước Bắc Âu và Tây Âu, tổ chức “truồng chạy” phản đối chiến tranh diệt chủng tại Việt Nam...Trong khi đó tại Sàigòn tiếng hát Thái Thanh thảm thiết trong bài “Kỷ Vật Cho Em”, một kiệt tác phản chiến thời danh của Pham Duy, viết sau Chiến Dịch Lam Sơn-719:  

“Anh trở về trong chiếc poncho
Anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về tật nguyền chai đá
Anh trở về dang dỡ đời em...”      

Rồi cái gì phải đến, đã đến. Hiêp định Paris được ký kết hôm 27-1-năm 1973 giữa Lê Đức Thọ và Henri Kissinger nhằm chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình cho Viêt Nam. Sau đó là cuộc tháo chạy của Mỹ khỏi miền Nam Viêt Nam, bỏ lại sau lưng hàng triệu quân cán chính của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong đó có chúng tôi. Tất cả sau này là đối tượng của chính sách lao tù cải tạo tập trung vô cùng tàn bạo của đảng cộng sản Việt Nam. Cả triệu người miền Nam tổ chức vượt biên, vượt biển, đi tìm vùng đất tự do, bất chấp mọi hiểm nguy.   

Sau chiến dịch “Mùa Xuân Đại Thắng”, người cộng sản Việt Nam không chịu bắt tay, tâp hợp các đảng phái, các lực lượng quốc gia yêu nước khác. Năm 1964, tại một buổi họp báo quốc tế tại Hà Nội, một phóng viên ngoại quốc hỏi ông Hồ Chí Minh: “Thưa Chủ Tịch nghĩ gì khi ông Ngô Đình Diệm, kẻ thù của ông vừa bị sát hại?”. Ông Hồ Chí Minh khẳng định: “Ông Ngô Đình Diệm là nhà yêu nước, nhưng Ông yêu nước theo cách của Ông” . Tai sao, sau 30-4-1975, đảng cộng sản Viêt Nam không chịu bắt tay, tập hợp các lực lượng, các đảng phái quốc gia yêu nước khác? Tại sao người cộng sản Viêt Nam không suy nghĩ như cố Chủ tịch Hồ Chí Minh của họ đã suy nghĩ. Người cộng sản Việt Nam không theo chân lịch sử, họ phản lại lòng tin của người dân miền Nam, họ phản lại tư tưởng của cố Chủ Tịch Hồ Chí Minh của họ!  Chúng tôi đã phải chấp nhận  sự phản bội trắng trợn của người cộng sản Việt Nam. Mặc dầu thế chúng tôi vẫn vượt lên trên người cộng sản với niềm tin vào tinh thần đoàn kết quốc gia của dân tôc.    

   
Tư năm 1979 sau khi mang cả gia đình vượt biển bằng thuyền, tôi và gia đình định cư tai Mỹ vào đầu năm 1980. Sau khi định cư ở Mỹ, việc đầu tiên là tôi cố tìm lại ban bè, ai còn ai mất? Nhưng tôi hoàn không biết Đạo, Định, Thuận và Doãn hiện giờ ra sao? Mãi đến năm 2010, tôi cộng tác với báo Vietnam Daily News. Dưới mỗi tựa đề bài viết tôi có ghi chú: Thân gửi các bạn Phương Dung (Phú Vinh) Thu Nguyệt (phố Đọc Lâp) Mộng Vân (Hà Dừa-Xóm Đạo), Phạm Hữu Đạo, Nguyễn thành Định, Lê Đức Thuận và các cựu học sinh Trường Kim Yến Nhatrang. Chúng ta thất lạc nhau trên 30 năm trong màu khói lửa chiến tranh. Các bạn còn sống? Xin điện thư về Thetrongdao2000@yahoo.com,  Cám Ơn). (*) Hai tuần sau đó được Doãn hồi âm. Doãn cho tôi hay Doãn và gia đình được đưa đến Guam vào ngày 24-4-1975, và sau đó Doãn và gia đình đinh cư tại California. Hiện giờ Doãn vẫn chưa được tin tức gì về Phương Dung, Đạo, Định, Thuận sống chết ra sao? Doãn rất lo họ có thể mất tích trên Biển Đông...

Một tháng sau đó tôi nhân được Email của Thuận, tôi liền tải đến cho Doãn. Thuận cho chúng tôi hay, hiện tại Thuận và gia đình định cư tai Pháp từ năm 1980. Thuận cũng cho chúng tôi hay, Đạo và Định vẫn còn kẹt ở Việt Nam. Thế là sau 30-4-75 trong hàng ngũ anh em của chúng tôi có kẻ đã vượt thoát lao tù cộng sản trở thành người tỵ nạn, có kẻ bị kẹt lại đành chọn quê hương làm chốn lưu đày....     


Bây giờ là đầu tháng 5 năm 2019, mùa xuân đang nở rộ ở California. Doãn đã là một ông già tuổi vừa ngoài 83. Doãn đã nhiều lần bị stroke, hiện phải ngồi xe lăn. Tuy nhiên tâm hồn Doãn vẫn còn nhạy cảm với vẽ đẹp nét buồn khi nắng sớm, lúc mưa chiều. Tiếng đàn dương cầm của Doãn trĩu nặng màu thời gian, hòa lẫn với tiếng lòng nhớ quê hương của kẻ lưu vong luôn vang vọng niềm mơ ước “Trở Về Mái Nhà Xưa -Come Back to Sorrento...”.     

Vào buổi tối hôm ấy, tựa mình vào cây đàn Piano, Doãn đề cập đến tập truyện “Tơ Vương Đến Thác” của Doãn xuất bản năm 2014. Doãn cho tôi hay đó là tiếc nuối cuối đời của Doãn về nghiệp văn chương. Tháng chạp Năm 2014 Doãn tổ chức buổi ra mắt tâp truyện “Tơ Vương Đến Thác” tại một thư viện công lập thuộc vùng San Diego. Trong các quan khách đến tham dự buổi ra mắt sách hôm ấy có một ngươi đàn bà đã lớn tuổi, mặc Jupe Soirée màu tơ vàng óng ả, có dôi mắt đen lánh đẹp và buồn. Doãn cảm thấy thấy gương mặt ấy, đôi mắt ấy rất là thân thương quen thuộc từ một thuở xa xâm nào đó của đời mình.      

Phá bỏ mọi nghi cách, người đàn bà ấy, tiến đến Doãn với tâp truyện “ Tơ Vương Đến Thác” và nói: “Phương Dung xin được đặc ân có được chữ ký đề tặng của tác giả”. Từ chiếc xe lăn, Doãn cố gắng đứng dậy hai tay nắm chặt và gục đầu trên bàn tay của Phương Dung... Doãn thều thào: ” Phải chi 50 năm về trước chúng ta nắm chặt được tay nhau như hôm nay thì cuộc sống của chúng ta đã hoàn toàn đổi thay”. Khi Doãn cuối đầu viết đề tặng Phương Dung tâp truyện với câu thơ của Thế Lữ: “ Cái phút ban đầu lưu luyến ấy. Nghìn năm chưa dễ một ai quên”. Lúc ấy Phương Dung thì thầm: “ngày xưa tôi cũng mến anh vì tính tình còn việc sau này mình có găp lại nhau hay không điều đó không ai biết đươc, vì mỗi người có một hòan cảnh và số phận riêng, nhất là trong thời đại chiến tranh- Vậy coi như chúng ta lạc nhau trong chiến tranh”. Khi từ giã Doãn mắt Phương Dung tràn ngập lệ....     

 
Đến đây, đêm đã khuya, tôi đứng dậy từ giã Doãn. Doãn vẫn ngồi đó bên cạnh cây đàn Piano. Đôi mắt Doãn hầu như ngấn lệ. Doãn nhìn tôi, hai bàn tay Doãn trải dài lướt trên những phiếm đàn, Doãn vẫn một mình thều thào những lời tình tự Come Back to Sorrento của E. Curtis.       

Mở cửa xe ngồi vào ôm tay lái, tôi nghe văng vẳng tiếng hát già nua của Doãn trong đêm thâu với bản nhạc Romance Số 2, của Phú Quang- Thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ:
     “....Em chết trong nỗi buồn
  Chết như từng giọt sương, rơi không thành tiếng.....

 ....Trong xứ sở của anh hiếm hoi niềm vui
  Nỗi cô đơn khao khát đến nặng lòng
  ....Đi bên anh, em còn lạc lối về
  Có đôi khi muốn ngã như chiếc bóng
  Ta lẫn vào đêm không ai nhận ra mình
  Em chết trong nỗi buồn
  Em chết trong nỗi buồn
  Em chết trong nỗi buồn.../.  
Chicago July 14-2020 - (Để nhớ ngày sanh thứ 84 của tác giả)
Ghi Chú

(*) Đây là chuyện hoàn toàn hư cấu. Nếu vô tình có sự trùng lập tên họ với các nhân vật xin quí vị miễn thứ- Vô cùng tri ân - Đào Như.


ĐÀO NHƯ

Tiễn Biệt! - Kỷ Niệm 5 Năm Ngày Mất 5/10/2021 Cựu Đệ Nhất Phu Nhân Của Nền Đệ Nhị Cộng Hoà - Bà Nguyễn Thị Mai Anh

 

(Kỷ niệm năm năm ngày mất 15/10/2021 của phu nhân cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cựu Đệ Nhất Phu Nhân của nền Đệ Nhị Cộng Hoà bà Nguyễn Thị Mai Anh (1931-2021)🙏

TIỄN BIỆT!

(Thơ đăng lại)

Người về thăm lại phố xưa

Phố ngày tháng thuở áo chưa đổi màu

Người về đón ngọn mưa rào

Mưa trên nỗi nhớ còn đau tháng ngày

Trăm năm mây trắng còn bay

Ngàn năm cánh hạc vẫn hoài cố hương

Tóc xưa khép lại lược gương,

Hạt sương còn đọng lệ vương ân tình

Người về soi lại bóng mình,

Nước nguồn sông cũ trọn tình núi sông!


Lac Nguyen. Cập nhật 14/10/2026.

(Ảnh share lại trên Facebook PN)


(2) Sài Gòn Xưa | TIỄN BIỆT! | Facebook