Tuesday, May 26, 2026

Giáng Tiên - Quý Thể

Hình minh họa

Hồi  ấy tôi bắt đầu làm thơ. Làm thơ thực là vất vả, tôi ngồi trước tờ giấy trắng cả giờ chẳng biết viết gì. Tôi thử chọn đề tài trời, trăng, mây, nước, bướm, ong, hoa lá... nhưng không sao viết được bài nào hay. Tôi chẳng khám phá ra tứ thơ nào mới cả. Những điều tôi viết ra đã có người viết cả rồi. Người ta khuyên nên làm thơ tình vì chỉ có thơ tình mới dễ cảm sâu vào lòng người, nhưng muốn làm thơ tình thì phải yêu mà tôi thì chưa yêu. Thế là tôi ráo riết đi tìm người yêu, tôi cần một nàng thơ giống như con tàu vũ trụ cần tên lửa để phóng mình chu du chín tầng hư ảo tìm hái những vần thơ lạ cống hiến cho đời. Người ta lại còn nói mối tình đau thương, trắc trở ngang trái, tuyệt vọng thì mới sản sinh ra được những áng văn thơ sầu não dễ làm dễ hay, nói vắn tắt là "thơ thất tình".Muốn có thất tình thì theo tôi cũng chẳng phải là điều khó. Tôi sẽ chọn cho mình một nàng công chúa cao sang còn tôi tự mình đày đọa mình, hóa thân thành anh chàng bán than xấu xí bần hàn, những "cuộc tình không cân sức" kiểu này thế nào cũng dẫn đến một kết cục não lòng lúc đó tha hồ mà làm thơ, vì sự nghiệp thơ ca tôi quyết định làm cuộc thí nghiệm. Tôi bắt đầu lạnh nhạt với với những niềm vui và hạnh phúc tầm thường. Tôi thèm khát sự đau khổ, tôi tin rằng một sự đau khổ thanh khiết có khả năng thăng hoa thành thơ ca bất tử, tôi phiêu lưu đi tìm cội nguồn của sự khổ đau, tuyệt vọng.


Kế hoạch đã vạch ra, cứ thế mà thi hành.Tôi chẳng mất nhiều thời gian thì đã hoàn thành bước đầu. Mấy ngày sau đã có nàng công chúa, đã có chàng bán than, đã có cuộc tình đơn phương, não lòng. Tôi đã gặp nàng "giáng tiên" đến lần thứ ba thì đã có thể tôn nàng lên ngôi thần tượng, nàng thơ, niềm kiêu hãnh đau thương, niềm hoang lạc tàn nhẫn, sự đau đớn diệu kì. Giáng Tiên là ca sĩ phòng trà, hàng đêm tôi có thể đến chiêm ngưỡng nhan sắc ảo não và nhấm nháp no nê giọng ca thánh thót của nàng. Dưới ánh đèn sân khấu nàng rực rỡ như một bà hoàng. Nàng thanh khiết cao vợi lấp lánh hào quang như khuôn mặt thánh nữ thấp thoáng trong bảy sắc cầu vồng. 


Nhiều hôm tôi thấy chiếc áo kim tuyến nàng mặc trên người sáng lên như một ngọn pháo hoa, đốt cháy một cách ngây ngất mọi giác quan trong tôi. Có khi chiếc áo dài trắng thêu hoa nàng mặc trên người đẹp tới làm cho tiếng đàn dương cầm bỗng chốc hóa thành xanh đỏ chen chúc nhau rơi xuống cõi trần như cơn mưa xác pháo. Nàng đi giống như con rắn nước lượn lờ trôi theo dòng nhạc, bao nhiêu cặp mắt nhìn lên đói khát thèm thuồng, bao nhiêu pháo tay, bao nhiêu hoa tươi... nàng bay thật cao trong một thứ gió hào quang, danh vọng, còn tôi thì tự đày đọa mình trong chốn thấp hèn tối tăm cũng chỉ với mục đích: Làm thơ yêu nàng. Tôi cấm mình không được mon men đến gần, tôi không cho mình yêu theo cái kiểu phàm phu tục tử, tôi sợ nàng thơ mỏng manh như bọt xà phòng tan vỡ vì những ý nghĩ thô tục, thường tình của tôi. Chẳng bao giờ tôi dám tưởng tượng xa xôi nghĩ về một sự chung đụng tầm thường như những cặp trai gái khác. 


Mỗi đêm sau buổi biu diễn, bao nhiêu chàng công tử hào hoa đưa đón nàng , còn tôi dựng chiếc xe đạp cà tàng dưới gốc cây từ xa đứng nhìn nàng lên xe, rồi tôi đi về lòng mang một nỗi buồn thật dễ chịu. Sau đó tôi đắm mình trong sự cô đơn sầu thảm não nề. Tôi cố gắng giữ sự cách biệt giữa tôi và "Giáng tiên", tôi lại cố gắng đẩy thêm cho sư tương phản giữa cao trọng và thấp hèn của nàng và tôi thêm rộng ra. Tôi tin sự tương phản đó sẽ tạo ra một loại phản ứng dây chuyền thúc đẩy những "phân tử thơ" bắn phá nhau mà kết quả là một năng lượng thơ khổng lồ sinh ra. Quả nhiên phản ứng có xảy ra thật. Đêm đêm tôi về viết được những bài thơ trường giang đại hải nhưng lạ quá, thơ thì dài viết thì dễ nhưng vẫn chưa có bài thơ hay. Tôi tin chắc mình không phải là kẻ bất tài, có thể mình còn mắc phải một sai lầm nào đây chỉ vì mình chưa yêu hay đã yêu nhưng chưa yêu đủ liều lượng, hoặc chỉ mới còn đứng giữa ranh giới của lãnh địa thần tình ái chứ chưa hẳn ở trong đó và thế là tôi càng phải cố gắng. Tôi phải dùng chữ "cố gắng" vì tôi thấy yêu người cũng là công việc khó khăn tột bực, tôi đem hết cả năng lực dự trữ ra dùng vào công việc yêu nàng Giáng tiên.

Giai đoạn đầu xảy ra đúng như dự liệu nhưng về sau điều mong mỏi kỳ quặc tưởng đâu dễ dàng thực hiện nhưng cuộc sống lại có những bất ngờ ghê gớm, chính sự ngẫu nhiên phi lý của cuộc sống lại đưa nàng Giáng tiên đến với tôi, lấp hẳn cái hố cách biệt mà tôi cố tình đào ra.


Đó là vào một đêm mưa cuối đông, trời mưa tầm tã, phòng trà vắng tanh, đêm đó mấy vị công tử hào hoa bỏ về trước để lại nàng Giáng tiên bơ vơ một mình, tôi thấy nàng đứng đợi xe rất lâu vẫn không có chiếc xích lô nào đi qua, Giáng tiên nhìn thấy tôi, nàng kêu tôi lại chỉ bằng một nụ cười thân thiện. Không biết đây có phải lần đầu tiên nàng biết có tôi hiện hữu trên cõi đời này không? Chiếc xe đạp của tôi có diễm phúc được nàng chọn, tôi dắt xe lại gần, quanh nàng sực nức hương thơm. Giáng tiên thỏ thẻ: "Anh cho em về nhà đi!" Giáng tiên lên xe, tay nàng vòng qua cái bụng chỉ toàn thơ lép kép của tôi. Tôi cũng cảm tưởng như hai vòng bánh xe trôi theo làn hương quấn quýt sau lưng tôi. Trên đường đi, Giáng tiên làm quen và hỏi tôi nhiều chuyện, tôi nghe giọng nói và giọng hát của nàng khác hẳn nhau, giọng nói thì đầy âm sắc quê mùa mộc mạc thế mà khi lên sân khấu đứng trước micrô nàng bắt chước cái giọng gì nghe lạ quá, giống như tây nói tiếng ta, một thứ giọng nói nửa nam nửa bắc và khi nàng hát lại còn lạ hơn nữa, nàng hát tiếng Pháp, Anh, Hoa, Ấn độ...  Không biết nàng hiểu những điều nàng hát không?

Tới nơi nàng không cho tôi đưa tận nhà. Giáng tiên nói, khuya rồi hàng xóm họ dị nghị. Ban ngày lại chơi. Rồi Giáng tiên chỉ cho tôi căn nhà cuối con hẻm có ngọn đèn vàng ngoài hiên.


Tôi quay xe về, lòng hoang mang vô kể, thực tình thì tôi không muốn có cuộc tiếp xúc vừa qua, cuộc gặp gỡ  chỉ có mấy phút ngắn ngủi đã làm rạn nứt phần nào thần tượng mong manh pha lê của tôi mà tôi vẫn xây một lâu đài cổ tích dành cho nàng công chúa chứ không phải căn nhà nhỏ tồi tàn cuối con hẻm tối tăm đó. Tôi không ngờ da thịt trong trẻo tinh khiết của nàng công chúa lại có thể chạm vào cái bụng phàm phu tục tử nào dù đó là cái bụng chứa đầy tứ thơ của tôi. Thôi đã thế thì hãy thâm nhập vào chốn bồng lai tiên cảnh một chuyến xem nàng tiên sống như thế nào. Và thế là sáng hôm sau, 9 giờ tôi đến gõ cửa nhà nàng.


Tôi gõ hồi lâu mới nghe tiếng dép lê trong nhà, tiếng mở khóa lách cách và một khuôn mặt ngái ngủ hiện ra. Dưới ánh sáng ban ngày chói chang, nét mặt của Giáng Tiên làm cho tôi sững sờ. Đây có phải nàng Giáng Tiên ướt sũng ánh đèn sân khấu mỗi đêm dâng tiếng ca huyền hoặc cho đời? Bộ mặt mà tôi gặp sáng nay khác hẳn. Ôi bao nhiêu sự bê trễ cẩu thả hiện ra rõ mồn một. Đâu rồi hình bóng giai nhân mà tôi vẫn từng chiêm ngưỡng hằng đêm dưới ngọn đèn sân khấu? Hình như tối qua nàng lên giường mà không kịp rửa mặt. May mắn lắm nàng chỉ lau qua khuôn mặt mình bằng chiếc khăn ướt. Tội nghiệp cặp lông mày nàng tỉa tót nhỏ như sợi chỉ rồi bôi đen bằng bút chì than, màu than bôi đen như bị một nhát chổi quét lấy lệ về hướng thái dương để lại vết lọ dài. Màu đỏ son môi cũng chẳng hơn gì, đêm qua nó bị bôi xóa lấy lệ cho nên sáng nay nó bị nham nhở chỗ còn, chỗ mất, trông giống như người bị đánh dập môi. Đâu rồi cặp môi mọng ướt và trông như trái chín mà bây giờ chỉ còn cái miệng vô duyên với cặp môi héo hắt đậu trên khuôn mặt giống mặt hề. Tai hại hơn cả là lớp phấn trắng, phấn hồng, kem lót, kem dưỡng da, đủ thứ sắc màu ô hợp sau một đêm nó trộn lẫn với mồ hôi nhễ nhại trông giống như bức tường ẩm mốc loang lổ. Tệ hơn nữa nhiều chỗ trông như có dòng nước ngấm qua. Chiếc cổ cao mà trước tôi đã làm thơ ca tụng đẹp như cổ thiên nga giờ đây phấn đọng lại trong mấy nếp nhăn giống như có mấy sợi chỉ quấn quanh. Tóc tai nàng bơ phờ có chỗ còn dính mấy cái kẹp, có nơi còn ống xốp cuộn tóc nhưng tất cả tả tơi trông tóc nàng giống như khu vườn sau cơn mưa gió.


Bộ quần áo nàng khoác trên người nhăn và bẩn, nó giống như dưa cải để quá ngày, còn màu của nó thì văn chương một tí gọi là màu hoàng yến. Nhưng đây là con chim hoàng yến bị  ám khói và bị bắn thủng nhiều chỗ! Gần nách áo sứt đường chỉ, nàng gài tạm  bằng chiếc kim găm. Từ đó tôi có thể kết luận rằng trong căn nhà của người phụ nữ này chắc chắn không "tồn tại" cây kim sợi chỉ. Khi nàng cúi xuống, qua cổ áo rộng tôi thấy cặp vú không gì nâng đỡ xẹp lép lòng thòng như vú chó cái nuôi con. Tôi phân vân, nào đâu bộ ngực núi lửa khiêu khích và kiêu hãnh trên sân khấu?

Giáng Tiên mở cửa mời tôi vào nhà. Trong khung cảnh đặc biệt này chúng tôi không cần giữ phép lịch sự kiểu chủ khách. Tôi thấy Giáng Tiên vén mùng. Trong giường giữa đống mền gối lộn xộn có một  khối tròn đầy vết mực xanh đỏ lăn lộn.Sau khi nhìn kỹ thì đó là một cái đầu cạo trọc của thằng bé. Có lẽ nó là con của nàng. Đứa bé có cái đầu ngũ sắc vì nó bị ghẻ chốc, mẹ nó cạo trọc và xức thuốc đỏ, thuốc xanh, chỗ còn tóc, chỗ không, trông thật buồn cười. Thng bé vừa thức dậy, nó lăn lộn đi tìm chỗ khô, đêm qua nó tè ra ướt nhiều chỗ. Thì ra nàng tiên nữ đã có con và không chồng. Phòng nàng trông chẳng khác gì tổ chuột, tới gần đầy mùi nước tiểu. Cạnh giường ngủ là chỗ móc quần áo. Bao nhiêu bộ cánh xanh đỏ, cái thì mỏng như tơ nhện cái lại dày như mo, cái dài cái ngắn, còn kiểu cách thì kỳ quái dị dạng giống như đồ hát tuồng.

Bên dưới giường của nàng tiên phải nói là một thế giới huyền bí, một thứ hang động chẳng có người dám thám hiểm. Tôi chắc cả năm chẳng có cái chổi nào lai vãng đến nơi đó. Nó đầy bụi bặm, váng nhện, rác rưởi, nước tiểu, giày dép đứt, tàn thuốc lá và bao cao su của những người bạn tình.


Đang còn ngẩn ngơ thì Giáng Tiên kêu tôi cuống quít nhờ lấy giấy cho nàng. Tôi đưa mắt nhìn nhưng chẳng có quyển sách báo nào. Nàng bảo tôi dỡ nệm ghế lên. Trời ơi! tôi khui đúng cái "viện bảo tàng của tình yêu", bao nhiêu là thư từ của những người ái mộ gửi cho nàng đều dồn cả vào chỗ này. Tôi nhặt lên một xấp giấy, có cả thơ lẫn thư, màu thiên thanh có mà màu hồng nhạt cũng có, bây giờ thì những áng văn thơ tuyệt tác này sắp sửa chịu sự tuẫn tiết cuối cùng để cho Giáng Tiên làm công tác dọn dẹp vì thằng bé vừa mới bậy ra!

Tôi tần ngần hồi lâu trước chiếc bàn phấn của nàng tiên nữ. Tôi chắc rằng chiếc bàn phấn này cũng là tặng phẩm của một kẻ si tình nào đó. Trước đây chắc nó sang trọng lộng lẫy, nhưng nay thì bệ rạc ngó thấy. Tấm gương nứt làm hai, mặt gương mờ mịt thức mây. Đứng soi vào gương trông thấy bóng dáng mình mờ ảo như nhìn qua màn sương. Tôi tưởng người như Giáng Tiên phải có những dụng cụ trang điểm loại đắt tiền mua ở những cửa hiệu sang trọng nhất. Sự thật thì không phải như thế. Hình như chỗ này cũng là nơi mà cái thằng bé đầu xanh đỏ chơi đùa. Nó chọn chỗ này cũng phải vì có rất nhiều thứ có thể làm đồ chơi. Bao nhiêu là vòng đeo tay đủ kiểu, hoa tai đủ thứ. Phấn son của mẹ nó cũng là thứ đồ chơi rất tốt. Tôi thấy nhiều hộp phấn không, nhiều hộp phấn khô bể ra như bánh in, mấy thỏi son cạn tới đáy mà dù Giáng Tiên với ngón tay út có móng dài cũng không móc ra được. Mấy ống kem thì teo tóp, hộp phấn mi mắt cái còn cái mất, kềm kẹp lông mi đã gãy, chổi quét phấn rụng tả tơi, mặt bàn chỗ nào cũng lem  luốc. Thực là một thế giới hỗn độn của mùi hương và màu sắc. Thằng bé đã chơi chán chê chỗ này. Tôi thấy lọ nước hoa không còn một giọt cắm đầy chân nhang. Với cái chỗ như thế này mà nàng Giáng Tiên có thể tô điểm thành một bà hoàng để hàng đêm ra trước công chúng thì nàng quả thực đáng cấp bằng đại học về khoa trang điểm!


Trên bàn còn nhiều thứ nữa chẳng ăn nhập gì tới việc làm  đẹp. Có một con dao cùn với trái xoài xanh ăn dở cùng với chén mắm ruốc. Nàng tiên có thể vừa nhấm nháp xoài xanh mắm ruốc vừa nhìn vào gương tô điểm dung nhan của mình. Cô ta được nuôi dưỡng bằng loại thực phẩm đặc biệt này nên vẫn giữ được vóc dáng thanh mảnh gọn gàng chứ chưa phát phì. Cạnh giường tôi thấy có dắt một mảnh giấy ghi:

- Hụi chết còn 8 tháng

- Xấp hàng trả góp cho con Lan còn 50

- Trễ kinh 16 ngày!

Ôi thực là những con số rất đáng cho nàng tiên phải quan tâm. Giáng tiên nhờ tôi xuống bếp lấy bình sữa. Tôi lần mò ra phía sau. Trong chạn nhiều chén bát đĩa ăn xong chưa rửa. Bên trong đầy phân gián, phân chuột. Một cái tô đựng thứ nước gì đục lờ lờ nổi váng mỡ không biết từ ngày nào bốc mùi chua. Một chiếc thẩu nhỏ đựng mỡ, m đã đông và đông luôn một chú gián với đầy đủ râu và chân trông giống như một xác ướp trong băng. Trong chạn còn có một chén nước mắm ớt xanh, chắc là phần còn lại của một bữa tiệc bánh bèo, bánh nậm Huế. Tỏi, ớt, đường, muối vung vãi khắp nơi. Cạnh đó là ông lò đất sứt mẻ lạnh lẽo. Điều này cho biết nàng tiên ít khi nấu bữa ăn cho mình. Trong chốn tối tăm nầy cũng có sự hiện hữu của thần thánh. Một vị thần, không rõ là táo quân, thần tài hay thổ địa, ngồi trong chỗ nhang tàn khói lạnh, còn ngài thì giống như từ ống khói vừa mới chui ra.

Tôi chính là kẻ phải ngồi xuống phồng miệng thổi lửa nấu nước sôi pha sữa cho thằng bé đầu xanh đỏ. Tôi không ngờ cuộc phiêu lưu ngỡ là tình cảm trong buổi sáng hôm nay lại có thể đưa tôi đi xa tới thế nầy. Trong khi chờ nước sôi, tôi tiến về "thám hiểm" phía sau nhà. Quang cảnh chỗ nầy càng làm tôi ngao ngán. Trên chiếc dây phơi nối nhiều chỗ cột từ cây chùm ruột tới cây khế là điểm "tập kết" của đồ lót. Xì líp, xú chiêng, đủ kiểu, đủ màu, mới có, cũ có, thủng lỗ, teo tóp... giống như lá cờ của đám tàn quân. Bên dưới là một thau nhôm cũ đựng đầy quần áo trong một thứ nước đục lờ lờ có xác lá vàng rơi. Mấy chiếc áo quần chẳng biết tới lúc nào mới được bàn tay tiên nữ chạm tới giặt giũ phơi lên? Chỗ này cũng là giang sơn của rác rưi, mùi chua của thùng nước cơm và mùi cống rãnh. Cuối vườn cũng có cái thùng rác. Tôi lấy hết can đảm nhìn vào trong. May quá, cái mà tôi tưởng sẽ thấy đã không có. Tôi chợt nhớ lại con số 16 viết trong tờ giấy mà tôi đã đọc từ lúc nãy.


Ngay buổi đó chúng tôi có được một bữa cơm thân mật. Tôi nói rằng thân mật chính vì nồi cơm thì do tôi nấu, Giáng Tiên đi mua thức ăn. Tôi ở lại với nàng suốt buổi sáng, buổi trưa và cả buổi chiều.Tôi muốn cuộc phiêu lưu của mình phải đi tới cùng đường. Tôi biết thêm nhiều điều thuộc về đời thường của Giáng Tiên. Cả cái tên "Giáng Tiên" người ta gán cho nàng, nàng cũng chẳng hiểu ý nghĩa của nó là gì. Nàng đích thị là cô Lê Thị Lụa chuyên đi làm cỏ lúa quê xã Đồng Sơn, huyện Hòa Đồng, tỉnh Gò Công, một cô gái quê chính hiệu. Thời gian đó còn cho tôi cơ hội khám phá thế giới nội tâm của cô gái nầy. Thực là một cô gái hồn nhiên, mộc mạc và thật đáng yêu, còn cô Giáng Tiên trên sân khấu chỉ là cái xác không hồn, là của giả, là cuộc sống giả phù phiếm vô vị. Trong lúc ngồi xổm trên nền nhà  ăn cơm, tôi nhìn nàng không nhịn  được cười. Nàng hỏi:

-  Cười chi?

- Cười sân khấu và cười cuộc đời sao lại khác nhau tới mức độ này.

-  Cái nào hơn?

-  Cuộc  đời!

Trên đường về nhà lòng tôi nao nao. Trong chính chốn sâu thẳm của con tim tôi đã có sự thay bực đổi ngôi. Cô Lụa mộc mạc có cuộc sống vô cùng bê bối luộm thuộm từ cách ăn mặc cho tới mọi sinh hoạt khác đã đè bẹp cô Giáng Tiên lộng lẫy xa hoa nhạt nhẽo và giả tạo.

Tôi phân vân mãi không hiểu tại làm sao cuộc đời thực không mấy khi dành chỗ cho sự lãng mạn, ảo tưởng, mơ mộng. Cuộc đời thực vừa mới trông qua chẳng có gì là đẹp đẽ nên thơ cả thế mà cuộc đời thực, cuộc sống thực đáng yêu biết là dường nào!

Bây giờ thì tôi đã "giác ngộ". Tôi sẽ ra giữa chợ quỳ xuống chiêm ngưỡng cuộc đời và làm thơ...


Quý Thể

Chú Cuội - Tạp Ghi Nguyễn Giụ Hùng - AI Diễn Đọc

 

Sự Ngu Dốt Của Ngày Xưa Và Ngày Nay - Hoàng Quốc Dũng



Ở bất cứ thời đại nào, sự ngu dốt (hay nói nhẹ hơn là sự thiếu hiểu biết) luôn tồn tại song hành với tri thức của con người. Không ai có thể biết hết mọi điều. Nhưng điều đáng nói là hình thức tồn tại và sức mạnh của sự ngu dốt hôm nay đã khác xa ngày xưa.

Ngày trước, sự ngu dốt thường đến từ nghèo đói, thiếu trường học, thiếu sách vở, thiếu thư viện, thiếu cơ hội tiếp cận tri thức. Một người nông dân ở làng quê xa xôi có thể sống cả đời mà chưa từng được cầm một cuốn sách. Nhiều người không hiểu biết đơn giản vì họ chưa từng có điều kiện để học hỏi. Đó là một sự ngu dốt mang tính thụ động và có phần đáng thương.

Nhưng ngày ấy, do phương tiện truyền thông còn hạn chế, sự ngu dốt thường ngủ yên trong phạm vi nhỏ hẹp. Một lời đồn sai có khi phải mất nhiều tháng mới lan sang làng bên. Một kẻ mê tín hay cực đoan khó có thể tác động đến hàng triệu người. Sự ngu dốt khi đó giống như một đốm lửa nhỏ âm ỉ trong đêm tối: nguy hiểm nhưng chưa đủ sức thiêu rụi cả cánh rừng.

Ngày nay thì khác.

Hầu như ai cũng có trong tay một chiếc điện thoại thông minh nối liền với toàn thế giới. Chỉ cần vài giây, một thông tin có thể vượt qua biên giới, đại dương và hàng triệu bộ óc. Khoa học kỹ thuật đã tạo ra một công cụ kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Nhưng cùng lúc, nó cũng mở ra con đường cao tốc cho sự ngu dốt lan truyền với tốc độ ánh sáng.

Ngày xưa, sự ngu dốt thường im lặng vì nó biết mình không biết. Ngày nay, nó nói rất to.

Nó xuất hiện dưới dạng những “chuyên gia” tự phong trên mạng xã hội, những đoạn video vài phút đầy cảm xúc, những “phân tích” ngắn ngủi nhưng khẳng định chắc nịch về những vấn đề vô cùng phức tạp. Nó không còn nói: “Tôi không biết.” Nó khẳng định, kết luận, phán xét và kết án người khác với sự tự tin đáng kinh ngạc.

Đó chính là quyền năng đáng sợ nhất của sự ngu dốt hiện đại: nó khiến con người tưởng rằng mình hiểu biết, trong khi thực ra ngày càng xa rời sự thật.

Ngày xưa, con người đi tìm câu trả lời. Người ta đọc sách, tranh luận, học hỏi, chờ đợi nhiều năm để kiểm chứng một điều gì đó. Hôm nay thì ngược lại: câu trả lời truy đuổi con người. Chỉ cần mở điện thoại lên, hàng nghìn “kết luận” đã chờ sẵn. Người ta không còn thời gian để suy nghĩ, để nghi ngờ hay để tự mình kiểm chứng.

Mỗi phút trôi qua, một dòng thác thông tin ào tới. Tin giả nối tiếp tin giả. Những phản ứng tức thời thay thế cho suy tư. Những phân tích hời hợt dựa trên định kiến có sẵn được tung hô như chân lý.

Thế giới thì mênh mông, tri thức của nhân loại thì vô tận, nhưng thời gian dành cho sự hoài nghi lại ngày càng nhỏ bé. Con người hiện đại không còn kiên nhẫn để nói: “Có lẽ tôi cần tìm hiểu thêm.” Người ta tin ngay, phẫn nộ ngay, kết án ngay.

Đó là một nền văn minh của phản xạ, không phải của suy tư.

Những kẻ sản xuất tin giả(vô tình hay hữu ý)  đã biến sự ngu dốt thành một ngành công nghiệp khổng lồ. Họ hiểu rất rõ rằng một lời nói dối ngoạn mục luôn hấp dẫn hơn một SỰ THẬT phức tạp. Sự thật thường chậm chạp, nhiều sắc thái và đôi khi khó chấp nhận. Trong khi đó, lời dối trá đơn giản, cảm xúc và dễ lan truyền.

Tục ngữ của cha ông ta đã nói rất đúng: “Sự thật mất lòng.” Con người thường thích nghe điều làm mình dễ chịu hơn là điều buộc mình phải suy nghĩ.

Trên các mạng xã hội ngày nay, người ta còn tạo ra cả những “đội quân niềm tin” hoạt động như những phản xạ có điều kiện. Chỉ cần một tín hiệu, một khẩu hiệu hay một mệnh lệnh vô hình nào đó, lập tức hàng nghìn tài khoản lao vào công kích, chửi bới và kết án thay cho suy nghĩ. Ở Việt Nam, dân gian mạng gọi hiện tượng ấy bằng một cái tên rất hình tượng: “bò đỏ”. Nhưng thật ra, hiện tượng đó không chỉ tồn tại ở Việt Nam. “Bò đỏ”, “cuồng Trump, Putin…”, “dư luận viên”, “thánh chiến bàn phím”, “chiến binh công lý mạng”… mỗi thời đại số lại sản sinh ra những đạo quân niềm tin khác nhau. Họ có thể đối lập nhau về ý thức hệ, khẩu hiệu hay màu cờ, nhưng lại giống nhau ở một điểm căn bản: họ không đi tìm sự thật, mà chỉ đi tìm những gì củng cố cho niềm tin có sẵn của mình. Khi ấy, tranh luận không còn là con đường để hiểu nhau nữa, mà trở thành một cuộc chiến bộ lạc, nơi cảm xúc thay thế lý trí và tiếng hò hét, chửi bới lớn hơn mọi lập luận.

Vì thế, sự ngu dốt ngày nay không còn mang bộ mặt thô sơ nữa. Nó được trang điểm bằng những mỹ từ cao đẹp, những khẩu hiệu đạo đức, những lập luận nghe có vẻ rất nhân văn và tiến bộ. Nó khoác áo khoa học, khoác áo yêu nước, khoác áo công lý, thậm chí khoác cả áo hòa bình.

Và chính ở điểm đó, sự ngu dốt hiện đại không còn chỉ là một bi kịch văn hóa nữa. Nó đã trở thành một vũ khí cực kỳ hữu hiệu của độc tài. Bởi không có chế độ nào sợ một dân tộc ngu dốt cả; điều họ sợ là những con người biết hoài nghi và biết tự suy nghĩ.

Người ta có thể biến một cuộc xâm lược thành “giải phóng”, “diệt phát xit”. Có thể biến độc tài thành “ổn định”. Có thể gọi tuyên truyền là “định hướng dư luận”. Có thể dùng những khái niệm mơ hồ để che đậy những nghịch lý hiển nhiên như “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nơi hai khái niệm đối nghịch được buộc phải chung sống bằng khẩu hiệu.

Nguy hiểm hơn nữa là công nghệ số ngày nay không chỉ là công cụ truyền thông, mà đã trở thành một ngành công nghiệp sinh lợi khổng lồ về chính trị và kinh tế. Những thuật toán không quan tâm điều gì đúng hay sai; chúng chỉ quan tâm điều gì gây kích động mạnh nhất để giữ con người ở lại lâu hơn trước màn hình. Càng giận dữ, càng sợ hãi, càng cực đoan, người ta càng dễ bị dẫn dắt và khai thác.

Và như thế, lần đầu tiên trong lịch sử, sự ngu dốt không còn là bóng tối đối lập với ánh sáng. Nó tự nhận mình là ánh sáng.

Nó nói bằng giọng của chân lý, Nó xuất hiện với dáng vẻ của hiểu biết, Nó được chia sẻ hàng triệu lần. Và đôi khi, chính những người có học cũng trở thành nạn nhân của nó.

Có lẽ bi kịch lớn nhất của thời đại chúng ta không phải là thiếu thông tin, mà là sự dư thừa thông tin đến mức con người đánh mất khả năng phân biệt giữa hiểu biết và ảo tưởng hiểu biết.

Tri thức thật sự luôn đi cùng với sự khiêm tốn. Người hiểu biết càng nhiều thường càng ý thức rõ giới hạn của mình.

Và có lẽ vì thế mà nhân loại hôm nay, dù sở hữu trí tuệ nhân tạo, vệ tinh và internet, lại đang xa dần tinh thần của Socrates:

“Điều duy nhất tôi biết là tôi không biết gì cả.”

Bởi sự thông thái luôn bắt đầu từ hoài nghi, còn sự ngu dốt thường bắt đầu bằng sự chắc chắn tuyệt đối.


Hoàng Quốc Dũng

Sự ngu dốt của ngày xưa và ngày nay | Đàn Chim Việt Online - Thông tin - Chính trị - Nghị luận

Trôi Qua Cơn Bão - Trầm Vân

Monday, May 25, 2026

Xin Lỗi, Nước Mỹ Còn Lâu Mới Bằng Trung Quốc! 😂😂


Xuất hiện lần đầu tiên trên mạng xã hội Sina Weibo của Trung Quốc, bài viết này đã nhận được hàng chục ngàn chia sẻ và bình luận.

Tờ Tea Leaf Nation đã trích dịch, biên tập lại những phần cốt lõi nhất của bài viết nói trên. Sau đây là bản chuyển ngữ của Nguyễn Đại Hoàng.

*****

Tôi có thời gian qua Mỹ khá lâu. Và nói thật đến giờ này tôi vẫn còn thấy hối hận vì sự lựa chọn đó! Truyền thông phương Tây đã khiến chúng ta mê muội rằng Hoa Kỳ là một xứ sở hiện đại! Tôi đã từng ôm giấc mộng được học tập ở đó, đã tìm mọi cách để tới được cái xứ sở siêu cường đó.

Nhưng than ôi những gì tôi chứng kiến ở Hoa Kỳ rất đáng thất vọng! 

1. Công nghiệp

Nước Mỹ thật ra chỉ là một làng quê khổng lồ chậm phát triển!

Hồi trung học, chúng ta đã được dạy rằng, công nghiệp càng phát triển bao nhiêu thì môi trường càng bị xâm hại bấy nhiêu.

Chúng ta biết rằng một thành phố công nghiệp tất phải có nhiều ống khói, nhiều nhà máy và khói bụi khắp nơi. Đó là biểu tượng của sự công nghiệp hóa. Thế mà ở tại xứ Cờ Hoa này lại không có một cái ống khói nào! Họa hoằn lắm mới thấy một vài cái nhỏ tí ti để trang trí nhà cửa thôi!

Và ở Mỹ bạn cũng chỉ thấy toàn sông hồ trong sạch thôi. Chả tìm đâu ra những nhà máy giấy, nhà máy luyện thép bên bờ sông! Không khí trong lành thanh khiết này là dấu hiệu của một xã hội sơ khai chứ gì nữa! Chả có dấu vết gì của công nghiệp hóa cả! 

2. Kinh tế

Người Mỹ hầu như không biết làm kinh tế! Bạn biết đấy, nước họ có cơ man nào là xa lộ tỏa đi mọi hướng, vươn đến mọi làng mạc xa xôi, thế mà tịnh không thấy một trạm thu phí nào! Thế là mất toi cả núi vàng! 

Ước gì tôi có thể xây dựng vài cái trạm thu phí nhỉ! Chắc chắn non tháng đã gom đủ tiền mua được cả tòa lâu đài trông ra Đại Tây Dương ấy chứ! 

Hai bên xa lộ còn những cụm hồ hoang sơ tĩnh lặng. Thế mà chính quyền cứ để mặc cho lũ chim trời cá nước thỏa sức vẫy vùng, không nghĩ đến việc xây dựng vườn cảnh để thu lợi. Người Mỹ rõ ràng là không có đầu óc kinh tế tí tẹo nào.

3. Xây dựng

Trình độ xây dựng của người Mỹ còn sơ khai lắm. Ngoài một số ít tòa nhà chọc trời tại các thành phố lớn, tôi dám chắc bạn rất ít gặp những công trình bê tông ở nước Mỹ. Nhà của người Mỹ thường làm bằng gỗ và vài thứ vật liệu nhẹ khác.

Thử nghĩ mà xem, đến giờ này mà gỗ vẫn còn được dùng để xây dựng nhà cửa, thì có thể nói là trình độ kiến trúc của ngoại bang này còn thua xa trình độ của triều đại nhà của chúng ta xưa kia ấy chứ! 

4. Văn hóa 

Người Mỹ có cách suy nghĩ thật là lạc hậu và khờ khạo.

Hồi mới tới Mỹ, tôi thuê một xe chở hành lý giá 3 đô la. Nhưng tôi lại không có tiền lẻ. Một người Mỹ liền trả dùm tôi 3 đô la đó, và thấy tôi lỉnh kỉnh đồ đạc nên còn giúp mang lên xe nữa ! Người Mỹ cũng luôn sẵn sàng mở cửa giúp tôi và hỏi tôi có cần giúp đỡ gì không? Thế đấy!

Ở Trung Quốc, mấy chuyện này chỉ có vào thời Lôi Phong tức là vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước thôi – còn bây giờ lối cư xử đó quá ư lạc hậu. (Lôi Phong là một thanh niên mà thời Mao thường nhắc tới như một tấm gương về đạo đức). 

Hồi đó người ta chuộng lối sống “đạo đức giả” nhưng bây giờ chúng ta không như vậy nữa. Bây giờ chúng ta nên sống thực dụng trần trụi, đó mới là hiện đại chứ ! Tư duy của người Mỹ lạc hậu hơn chúng ta hàng mấy thập kỷ, và không có dấu hiệu nào cho thấy họ có thể bắt kịp chúng ta cả! 

5. Ẩm thực

Người Mỹ làm như không biết thưởng thức thịt thú rừng.

Một đêm nọ, tôi cùng các bạn cùng lớp lái xe đi đến một thành phố khác, thình lình có mấy con nai nhảy xổ ra. Anh bạn tôi lập tức thắng lại và bẻ sang hướng khác để tránh. Ai cũng biết tai nạn loại này có thể làm hỏng cả chiếc xe. Thế mà chính quyền đành bó tay không biết phải xử lý tụi thú hoang này như thế nào cơ đấy! 

Người Mỹ làm như cũng không biết ăn thịt thú rừng, thậm chí không có nhà hàng nào bán thịt thú rừng, họ chả thiết đến loại thịt thú rừng thơm ngon bổ như hươu nai, và cũng chả thiết lấy sừng bọn thú này để kiếm bộn tiền!

Người Mỹ vẫn sống cùng những con thú hoang dã đó, thậm chí còn đưa ra những biện pháp để bảo vệ chúng. Quả thật đó là một xã hội còn quá sơ khai! 

6. Phong cách 

Người Mỹ làm như không biết tự trọng! Các giáo sư Mỹ không quan tâm nhiều đến bề ngoài, họ không hề có cái gọi là phong thái bác học. Giáo sư Davis chẳng hạn, là một giáo sư tâm lý học cực kỳ nổi tiếng thế mà vào giờ nghỉ ông ấy cũng thường ăn bánh bích quy với sinh viên trong văn phòng của mình, và bàn tán xôm tụ với họ về bộ phim 21, hay về minh tinh Trung Quốc Chương Tử Di ! Ông cũng không có phong cách uy nghi của một nhà bác học, và điều đó làm tôi thất vọng ghê gớm! 

Các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ cũng không bao giờ ghi hai chữ Ph.D. lên danh thiếp của mình như ở nước ta. Họ thậm chí cũng không biết cách thể hiện vị thế của mình. Thành ra những người học với những ông thầy như vậy nếu trở thành những quan chức thì làm sao biết cách đi đứng nói năng cho đúng bộ lệ đây!

Còn ở Trung Quốc, giờ đây các công chức dường như rất biết cách để thu hút sự kính trọng của dân chúng, thậm chí đến cả vị giám đốc của một cơ quan tầm tầm ở Trung Quốc có khi còn uy thế hơn cả Tổng Thống Mỹ cơ đấy ! Một công dân hạng ba của Trung Quốc có khi còn xa một công dân hạng nhất của Mỹ là vậy! 

7. Học đường

Học sinh tiểu học Mỹ chả có lý tưởng cao xa gì sất. Chúng không hề có ý định đi học để trở thành ông này bà nọ trong chính quyền! Không hề có học đường nào dành cho chủ tịch, bí thư, ủy viên tương lai, như tôi đã từng thấy hồi còn nhỏ ở quê nhà. Các em không có bài tập về nhà. Bài tập về nhà kiểu như các học sinh như các học sinh Trung Quốc là khá xa lạ ở Mỹ. 

Trường học ở Mỹ chú trọng đến đạo đức, trước hết để giúp cho các đứa trẻ trở nên những công dân có đủ tư cách, sau đó mới tính đến chuyện lý tưởng lâu dài. Trở thành công dân có đủ tư cách ư? Một quan niệm nghe mới cổ hủ làm sao! 

8. Y tế

Người Mỹ làm lớn chuyện một cách kỳ cục khi có bệnh. 

Đầu tiên họ đi bác sĩ khám bệnh, rồi bác sĩ kê toa. Rồi cầm toa đó đi mua thuốc, mua xong còn phải nghe dược sĩ hướng dẫn sử dụng … ôi chao mọi việc chẳng thể nhanh gọn như ở Trung Quốc… Tôi chả hiểu tại sao ở Mỹ lại phân biệt việc khám bệnh với việc bán thuốc… mà lẽ ra nên tách rời lợi nhuận với trách nhiệm!

Rõ ràng là các bệnh viện ở Hoa Kỳ không biết kiếm tiền mà! Sao lại phải nói tên thuốc cho bệnh nhân biết chứ?… chỉ có như vậy họ mới độc quyền bán thuốc với giá cao gấp cả chục lần cơ mà! Có quá nhiều cơ hội làm ăn béo bở thế mà họ không biết tranh thủ khai thác, rõ ràng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở Mỹ đã chết rồi! 

9. Báo chí

Ý kiến của công chúng Mỹ thật chả ra làm sao! 

Đôi khi tôi hoàn toàn mất kiên nhẫn với sự ngu dốt và khờ khạo của người Mỹ.

Chẳng hạn khi họ biết Trung Quốc có đài truyền hình và báo chí, họ đã hỏi tôi một câu ngu dốt như thế này: Hóa ra Trung Quốc cũng có báo chí à? Nghe mà bực cả người!


Chúng ta có những tờ báo tiếng Trung được Bộ Truyền Thông cho phép ấn hành sau khi đã rà soát một cách cẩn mật đấy chứ. Báo của chúng ta toàn là những bài ca tụng lãnh tụ lên mây cả, có đâu như báo Mỹ, công chúng đóng góp phê bình loạn cả lên, thậm chí còn dám “chửi” cả tổng thống nữa cơ đấy! 

Báo chí chúng ta đâu có chuyện công khai mấy vụ bê bối của quan chức, bởi nếu cứ tung hê lên thì sau này ai mà muốn làm lãnh đạo nữa chứ ! 

10. Tâm linh

Người Mỹ có đời sống tinh thần hết sức vô vị nhạt nhẽo. 

Tôi chả hiểu tại sao trước mỗi bữa ăn họ lại lẩm bẩm mấy câu kinh thánh nghe hết sức khờ khạo: “Cầu Chúa phù hộ nước Mỹ”.

Thật là buồn cười quá đi: Nếu Chúa phù hộ nước Mỹ thì làm sao lại để nước Mỹ lạc hậu, sơ khai, đơn giản đến thế này? Cầu Chúa có ích lợi gì chứ? Thực tế nhất là bạn nên dành thời gian đó để đi lễ thủ trưởng như ở nước ta!

Đó mới đúng là hiện đại chứ lỵ! 

11. Lối sống

Người Mỹ chả có khái niệm về thời gian.

Bất luận chuyện lớn chuyện nhỏ, người Mỹ đều ngoan ngoản đứng vào hàng chờ đợi… Còn chúng ta – như bạn biết đấy – khôn hơn nhiều! 

Bất kể đám đông như thế nào, chúng ta vẫn có kỹ năng chen lấn tuyệt vời, điều này giúp tiết kiệm thời gian, và tránh được sự mệt mõi khi đứng chờ !

Nếu ai đó biết đi cổng sau thì kết quả tiết kiệm thời gian còn tuyệt hơn nữa.. 

Thế mà những người Mỹ lẩm cẩm lại không biết đến những điều hay ho đó cơ chứ! 

12. Mua bán 

Những cửa hàng ở Mỹ có một phong cách buôn bán hết sức vô lý: bạn có thể đem trả lại hàng hóa vài tuần sau khi đã mua về mà thậm chí cũng không cần nêu lý do. Ở ta thì làm gì có chuyện cho đổi hàng mà không hò hét quát tháo nhau ra trò chứ!  

13. An toàn 

Nước Mỹ không an toàn chút nào! Tôi nói điều này bởi có tới 95% nhà dân không cần tới lưới chống trộm và lại không có hàng rào xung quanh, và điều kỳ lạ này nữa là: chả biết mấy tên trộm đi đâu hết rồi nhỉ? Có nhiều ngôi nhà đẹp đẽ sang trọng mà ban đêm nhiều người Mỹ không biết khóa cửa lúc họ đi ngủ nữa. Thật mất an toàn hết sức!

14. Giao thông

Người Mỹ sao mà nhút nhát và yếu đuối quá vậy không biết! Tôi nói điều này cũng bởi có tới 95% tài xế không dám vượt đèn đỏ! Ở nước ta thì phần lớn tài xế đều có thừa dũng cảm vượt đèn đỏ.

Và mặc dầu 99% dân Mỹ có xe hơi, vậy mà cách lái xe của họ thật lạ: bao nhiêu là xe cộ lưu thông nhưng không mấy khi nghe tiếng còi xe, phố xá vì thế vắng lặng đến nỗi cứ ngỡ không phải là phố xá nữa, tại sao người lái xe lại không bóp còi inh ỏi cho sướng tay như ở bên ta nhỉ? Phố xá bên Mỹ làm sao mà bì được với phố xá ồn ào náo nhiệt ở Trung Quốc cơ chứ!

15. Tình cảm

Người Mỹ rất là thiếu tình cảm và hình như không có cảm xúc. Có tới 95% nhân viên người Mỹ không nghĩ tới việc phải làm gì cho tiệc cưới của sếp hoặc của con cái xếp, họ chẳng bao giờ phải vắt óc tìm ra lý do để chăm sóc sếp của mình. Ở Trung Quốc liệu có ai điên đến mức bỏ qua cơ hội chăm sóc sếp của mình không? Nói cách khác, có ai dám làm điều đó không? Hãy xem, người Trung Quốc chúng ta có biết bao nhiêu là tình cảm thương mến đối với lãnh đạo! 

16. Nhạy bén 

Người Mỹ không nhạy bén chút nào! 99% người Mỹ đều đi học, đi làm, và thăng quan tiến chức, mà không hề biết

đến sự cần thiết của “phong bì” để có thể mở ra một cánh cửa... sau để giúp cho họ được thăng quan tiến chức nhanh hơn, giống như người Trung Quốc chúng ta!

Vậy thì còn đi Mỹ để làm gì nữa cơ chứ??!!!!


Xin lỗi, nước Mỹ còn lâu mới bằng Trung Quốc! |

Bác Sĩ IRAN - Bác sĩ Houman David Hemmati

 
Bác sĩ Houman David Hemmati

Bác sĩ Houman David Hemmati đã chứng kiến toàn bộ Iran và giờ đây? 

Ông viết…

47 năm trước, tôi đứng bên cửa sổ tại Tehran khi mới 3 tuổi, ngửi thấy mùi lốp xe cháy và nghe những tiếng hô khẩu hiệu sẽ cướp mất đất nước của tôi. Lúc đó tôi chưa có từ ngữ để diễn tả những gì đang xảy ra. Hôm nay, tôi đang nhìn khói bốc lên trên cùng thành phố ấy — nhưng lần này, khói không phải là dấu chấm hết cho Iran. Theo ý Chúa, đó là khởi đầu cho sự hồi sinh của đất nước.

Vài tuần trước, tôi đã viết rằng cơn sốt của năm 1979 cuối cùng đang tan biến. Tôi chưa từng tưởng tượng mình sẽ thức dậy và chứng kiến cơn sốt ấy bị đối đầu trực diện đến vậy. Israel — với sự ủng hộ rõ ràng từ Hoa Kỳ — đã tiến hành một cuộc tấn công phủ đầu sâu vào Tehran và nhắm vào bộ máy quân sự của chế độ. Những vụ nổ tại thủ đô. Các mục tiêu quân sự bị tấn công. Áura bất khả xâm phạm của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC), vốn đã rạn nứt, giờ đây đang vỡ vụn ngay trước mắt.

Tôi không ăn mừng chiến tranh. Không một người tử tế nào làm vậy. Điều tôi ăn mừng — điều hàng triệu người Iran trong nước và hải ngoại đã thầm cầu nguyện suốt hàng thập kỷ — là khả năng một chế độ không có quyền tồn tại cuối cùng có thể bị buộc phải ra đi.

Đây chính là chế độ đã:

•  Vũ trang và reo hò cho vụ thảm sát ngày 7 tháng 10 nhằm vào Israel chỉ vì lòng thù hận diệt chủng thuần túy.

•  Giết hại hàng chục nghìn con trai con gái của chính mình, những người dám bước đi hòa bình trên đường phố đòi hỏi những tự do cơ bản nhất.

•  Khoét mắt các cô gái trẻ vì “tội” trang điểm.

•  Treo cổ thiếu niên trên cần cẩu vì đăng một dòng tweet.

•  Xuất khẩu khủng bố, nghèo đói và bóng tối đến mọi nơi có thể tiếp cận, bao gồm cả Hoa Kỳ.

Không dân tộc nào, không người dân nào đáng phải sống dưới ách thống trị ấy. 

Không phải người Israel. Không phải người Mỹ. Không phải người Lebanon. Không phải người Syria. Và chắc chắn không phải người Iran.

Tôi là một bác sĩ đã dành cả đời để chữa lành cơ thể và là một người con của Iran đã dành cả đời để thương tiếc quê hương bị cướp mất. 

Những gì chúng ta đang chứng kiến không phải là sự xâm lược — đó là phẫu thuật. Một ca phẫu thuật đau đớn nhưng cần thiết để loại bỏ khối u đã di căn suốt 47 năm. Khối u ấy chính là Cộng hòa Hồi giáo đã cướp đoạt Iran.

Gửi đến những phi công dũng cảm và các đặc nhiệm của Không quân Israel cùng các nam nữ quân nhân Hoa Kỳ đang thực hiện sứ mệnh này: Tôi cầu nguyện cho các bạn bằng tất cả những gì mình có.

Cầu mong Chúa che chở các bạn khỏi mọi nguy hại. Cầu mong mọi tên lửa tìm đúng mục tiêu và mọi chiến sĩ trở về nhà an toàn với những gia đình yêu thương họ. 

Các bạn không phải là kẻ xâm lược. Các bạn là câu trả lời cho lời cầu nguyện của hàng triệu người đã thì thầm “đủ rồi” trong bóng tối kể từ năm 1979. 

Các bạn đang trao cho bạn bè chúng tôi cơ hội hít thở không khí tự do một lần nữa. Toàn bộ khu vực sẽ nợ các bạn một nền hòa bình mà chúng tôi chưa từng biết đến trong suốt cuộc đời tôi.

Gửi đến đồng bào Iran đang theo dõi từ trong nước lúc này, tim đập thình thịch, có lẽ đang ẩn náu trong tầng hầm hoặc trên mái nhà: Hãy kiên trì. Kết thúc đã rõ ràng hơn bao giờ hết. Nỗi sợ hãi của chế độ là có thật. 

Đôi mắt của chúng — những đôi mắt từng nhìn xuống chúng ta với quyền lực tuyệt đối — giờ đây đang thể hiện điều mà chúng chưa từng lộ ra trong hàng thập kỷ: hoảng loạn. Phương trình đã thay đổi. Cánh cửa năm 1979 cuối cùng đang khép lại.

Gửi đến cậu bé ba tuổi ngày xưa là tôi — và đến mọi cậu bé cô bé tại Tehran, Isfahan, Shiraz và Tabriz hôm nay đang nghe tiếng nổ thay vì lời ru: Lần này, những âm thanh ấy không phải là đóng cửa. Chúng là mở cửa.

Con đường phía trước sẽ không dễ dàng. Chuyển tiếp chưa bao giờ dễ dàng. Nhưng hướng đi là không thể nhầm lẫn. Một Iran thế tục, thịnh vượng, tự do không còn là giấc mơ — nó đang trở thành điều tất yếu.

Tôi đã sống một cuộc đời bị cướp đoạt để người khác không phải chịu như vậy. 

Hôm nay, lần đầu tiên sau 47 năm, tôi cho phép mình tin rằng việc cướp đoạt ấy sắp kết thúc.

Cảm ơn Israel. Cảm ơn Mỹ. Người dân Iran — Iran thực sự — sẽ không bao giờ quên.
Cơn sốt đang tan biến.

Bình minh năm 2026 đã đến.
Và lần này, ánh sáng chiến thắng.

Bác sĩ Houman David Hemmati


Chị Nguyệt


Chị tên Nguyệt, lúc đó chị khoảng 13 tuổi, còn tôi khoảng 11. Theo lời người ta kể thì chị mồ côi cha mẹ được vợ chồng người hàng xóm đem về nuôi. Ông Bà Chín không có con nên họ xem chị như con cái trong nhà, cho chị đi học. Đổi lại, chị phải dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc Ông Bà Chín. Chị học trên tôi hai lớp, tôi đệ thất, còn chị lớp đệ ngủ. Theo như chị kể lại, quê chị ở vùng xôi đậu bị cộng quân về chiếm làng, ba má chị mất tích chỉ hai ngày sau đó. Người cậu của chị phải dẫn cả gia đình chạy di tản ra Quận lỵ nơi tôi ở. Họ dẫn chị theo nhưng không đủ điều kiên nuôi cả gia đình gần 10 người nên cho Ông Bà Chín làm con nuôi.


Nhà chị đối diện nhà tôi trên đường dẫn ra bờ sông Tiền Giang. Buổi sáng đầu tiên tôi gặp chị trong bộ bà ba đen củ đã ngả màu phèn vàng úa và đôi dép đứt quay phải nối lại bằng dây kẽm. Chị đang quét nhà từ trong ra ngoài thì bị bà Chín rầy, bảo phải quét từ ngoài vào trong. Bà giải thích quét ra là đẩy hết cái phước ra ngoài, phải quét vô để nhận được phước. Tôi thấy hai mắt chị long lanh nước mắt như muốn khóc nên vội chạy tới hỏi:

- Bộ mầy mới tới đây làm cho bà Chín hả?

Chị trả lời:
- Hông phải, tao là con nuôi của ba má Chín.

Tôi nói với chị:
- Tui tên Bình, nhà tui bên đó.

- Tao tên Nguyệt, mầy mấy tuổi?
- 11

- Tao 13, mầy phải gọi tao bằng chị.
- Ừ, chị Nguyệt hé.

Vậy là tôi làm quen được với chị từ đó. Năm chị học hết đệ tứ thì phải thôi học do Ông Chín bịnh nặng rồi qua đời, Bà Chín một mình không đủ điều kiên cho chị tiếp tục đi học. Mỗi ngày chị ra sạp vải ngoài chợ tiếp Bà Chín buôn bán. Năm tôi 15 tuổi phải xa nhà lên Tỉnh tiếp tục học thi Tú Tài một, rồi Tú Tài hai nên ít khi được gặp lại chị. Sau khi đậu Tú Tài hai chuẩn bị vào đại học thì nghe tin Bà Chín cũng vừa qua đời, bỏ lại ngôi nhà củ nát vì không có người đàn ông chăm sóc. Lúc này tôi đang rảnh rang nên tình nguyện giúp chị sửa sang lại căn nhà của chị được thừa hưỡng. Mỗi ngày, trước khi chị ra sạp vải, chị hay hỏi tôi cần mua vật dụng gì để chị gọi người đem tới, tôi khỏi phải mua. Sau ba tháng hè, tôi cũng tạm sửa lại căn nhà của chị, tuy không khéo nhưng cũng không dột trước hỏng sau.

Khi cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, tôi bị động viên, vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Ngày ra trường về thăm ba má thì gặp lại chị Nguyệt. Lúc nầy chị đã là gái đôi mươi, có rất nhiều chàng trai đang theo đuổi nhưng chị vẫn phòng không gối chiếc. Nhiều lần chị tâm sự với má tôi:
- Con trai cái Quận nầy sao mà như công tử bột, tối ngày chỉ biết lo tán gái, nhậu nhẹt, nhìn như cọng bún thiu cô nào vô phước mới rước họ về làm chồng.

Hai tuần phép qua rất nhanh. Ngày tôi chuẩn bị trình diện Sư Đoàn, chị đem tượng Phật nhỏ qua đưa cho tôi, bảo giữ trong người làm vật hộ thân. Hai mắt chị long lanh nước mắt như muốn khóc. Tôi vội nói:
- Vài bửa có phép thường niên tôi về thăm chị. Chị ráng giữ gìn sức khoẻ.
- Bình đi mạnh giỏi, Nguyệt mỗi đêm sẽ đọc kinh cầu xin Trời Phật che chở cho Bình.

Tôi hơi giật mình khi chị xưng Nguyệt chứ không còn mầy tao như ngày xưa. Thật sự mà nói, lúc nào tôi cũng vẫn xem chị như người thân trong gia đình, không có một chút tình cảm trai gái giửa tôi và chị.
- Cảm ơn chị lo lắng cho tôi.

Tôi ra đi biền biệt. Hơn mười tháng sau tôi trở về thăm nhà sau khi xuất viện do bị thương chân phải. Đêm đầu tiên vừa về tới nhà là chị qua thăm, hỏi như muốn khóc:
- Sao Bình bị thương mà không cho Nguyệt hay để đi thăm?
- Vết thương không có gì trầm trọng lắm đâu chị, vả lại tôi không muốn chị lo lắng, lặn lội đường xá xa xôi nguy hiểm cho chị.
- Bình nói vậy coi Nguyệt như người dưng sao?

- Đâu phải vậy chị, tôi thương chị như người thân trong nhà mà.

- Ừ nhớ đó nhe, thương như người thân trong nhà.

Trong những ngày phép dưỡng thương đó nhiều khi chị làm bộ gọi tôi qua sửa dùm cây đèn dầu hay đóng lại chân bàn bị lung lay. Chị nấu đủ món cho tôi ăn, bảo là tẩm bổ để khi trở lại đơn vị có đũ sức đi hành quân. Có ngày chị đóng cửa sạp vải, lấy cớ mệt về nhà nghỉ. Chị bảo muốn về để gần gủi, tâm sự với tôi trước khi về đơn vị. Không biết ba má tôi nghỉ gì mà cứ thỉnh thoảng hỏi khi nào tôi lập gia đình. Tôi viện cớ đang thời chiến tranh chưa muốn lập gia đình.

Lần lượt hai đứa em gái tôi lấy chồng phương xa, bỏ lại ba má tôi già yếu. Tôi thì ra đi biền biệt, cả năm mới về thăm nhà. Mỗi lần về chỉ năm ba hôm rồi lại ra đi. Chị Nguyệt thường xuyên qua chăm sóc ba má tôi va chị vẫn phòng không đơn chiếc!. Có lần tôi hỏi:
- Sao chị chưa chịu lấy chồng để có người lo lắng trước sau cho chị?
- Bình nhìn chung quanh đây xem ai là người xứng đáng cho Nguyệt nâng khăn sửa túi? Nguyệt thà ở giá suốt đời chứ không muốn chung chăn với những người h;èn nhát, chạy chọt giấy tờ trốn quân dịch.
- Vậy thì người đàn ông như thế nào chị mới chịu?
- Người ấy phải giống như Bình, sống đời trai hiên ngang lo giúp nước, diệt giặc, bảo vệ quê hương.
- Vậy để tôi tìm ông nào trong đơn vị giới thiệu cho chị nhe.
- Đồ quỉ, đùng có chọc Nguyệt như vậy nữa, Nguyệt nói thiệt mà.

Cuộc đời cứ thế trôi đi. Ngày 30 tháng 4/1975. Tôi bị bắt rồi đi tù trại cải tạo Vườn Đào. Năm sau chị đến thăm tôi. Chị cho biết hai đứa em gái theo chồng vượt biên không tin tức gì cho đến nay. Ba má tôi quá đau buồn bịnh nặng không đi thăm tôi được nên nhờ chị đi dùm. Chị còn kể là sạp vải của chị đã bị xung vào hợp tác xã. Bây giờ chỉ sống nhờ chăm sóc khu vườn nhỏ của ba má tôi, kiếm huê lợi nuôi sống ba má tôi và chị. Nhìn chị già đi khá nhiều so với ngày xưa. Mắt chị quầng đen, hốc hác, tiều tụy. Tôi cũng không hơn gì chị sau một năm tù đày, lao động, thiếu ăn.

Ba má tôi lần lượt qua đời không có một đứa con về để t;ang. Chị phải bán ngôi nhà của chị để có tiền ch;ôn cất ba má tôi. Đều dặn mỗi ba tháng là chị đến thăm một lần, tiếp tế cho tôi thêm chút thức ăn phụ vào phần ăn ít ỏi của người lính t;ù th;ất trận. Bốn năm sau thì họ thả tôi. Ngày ra trại với vài chục đồng chi phí xe cộ và mảnh giấy ra trại. Tôi với năm người bạn tù đi bộ ra đến chợ Mỹ Phước Tây đón xe ra Cai Lậy. Mấy bà bán hàng trong chợ nhìn chúng tôi trong bộ quần áo rách bươm liền gọi:
- Mấy cậu vô đây ăn sáng rồi hãy đi, 2 tiếng nữa xe mới chạy.

Họ đem cho chúng tôi 6 dỉa cơm sườn bì và sáu ly cà phê đen đá. Đó là bửa cơm ngon nhất trong bốn năm đời tù cãi tạo của tôi. Mọi người chung quanh bu nhau kẻ cho trái bắp, người cho gói xôi bảo là để dành đi đường ăn đở đói. Chúng tôi nhìn họ mà nước mắt cứ tuôn tràn không nói nên lời, dù chỉ một tiếng cám ơn. Khi đến giờ xe chạy, người tài xế xe nhất định không lấy tiền cho dù chúng tôi cố dúi tiền vào tay anh. Tôi nhớ lại tên quản giáo Ba Phần lên lớp chúng tôi:
- Các anh có tội rất lớn với nhân dân. Chúng tôi giữ các anh trong vòng rào kẻm gai là để bảo vệ các anh vì nhân dân sẽ trả thù cho những tộ iác các anh đã gây ra.

Nhân dân chợ Mỹ Phước Tây đã tr;ảth ù chúng tôi với những lời thăm hỏi ân cần, dĩa cơm sườn, ly cà phê đá, những gói xôi, những trái bắp mà họ có thể để dành cho người thân của họ trong lúc cả nước phải thắt lưng buột bụng trong thời kỳ bao cấp, củi quế gạo châu này.

Khi xe đến Cai Lậy thì khoảng 2 giờ chiều. Năm người bạn tù chờ xe về Sài Gòn, còn tôi về miền Tây. Anh lơ xe chạy ra ngã ba Cai Lậy ngoắc xe lại gởi tôi lên chuyến xe cuối cùng. Trước khi lên xe, anh đưa cho tôi một ổ bánh mì thịt rồi chào tay kiểu quân đội. Như cái máy, tôi chào lại vì theo phản ứng tự nhiên của một người lính Việt Nam Cộng Hoà dù đã th;ất trận. Anh nói vội rồi chạy vào trong chợ Cai Lậy:
- Ông thầy đi đường bình an.

Tôi nhìn theo anh lơ xe, cố nhớ gương mặt anh để khi nào có dịp tôi sẽ trả lại ơn nghĩa anh đã dành cho chúng tôi. Một lần nữa, anh tài xế nhất định không chịu lấy tiền xe. Mấy người đàn bà trên xe nhìn tôi với ánh mắt thông cảm. Họ nhường cho tôi một chổ ngồi hàng ghế cuối xe.Tôi về đến nhà khoảng 8 giờ tối. Ngôi nhà cũ kỷ cửa đóng im lìm. Tôi gõ cửa.

- Ai mà gõ cửa đêm hôm tối tăm vậy?

Tiếng chị Nguyệt đang ngáy ngủ từ bên trong.
- Bình đây chị.

Tôi nghe tiếng chân trần chạy hấp tấp ra cửa. Chị Nguyệt mở cửa rồi ôm lấy tôi khóc:
- Nguyệt không biết Bình về hôm nay. Có đói không để Nguyệt hâm cơm lại cho Bình ăn?

- Trên đường về tôi được người ta cho ăn nhiều lắm, đến giờ còn no.

Tôi đến trước bàn thờ ba má, quì lạy xin lỗi tội bất hiếu không về chịu tang ngày hai người mất. Tôi nhìn khói nhang quyện vòng theo cây đèn dầu le lói như ba má về thăm thằng con xấu số mới ra tù. Tôi quì trước bàn thờ mà nước mắt cứ tuôn tràn.
- Ba má tha tội cho con, vì hoàn cảnh tù đày mà con không về để tang cho ba má.

Chị đặt tay lên vai tôi:
- Hai bác rất hiểu cho Bình, đừng quá đau buồn, hãy ráng lên để đối đầu với những ngày sắp tới.

Và những ngày sắp tới đến với tôi trong khổ cực của “thằng sĩ quan Ngụy”. Họ bắt tôi trình diện hàng tuần, không được đi xa khỏi Xã. Tất cả những hành vi của tôi đều bị theo dõi. Đôi khi bọn conan xã đến gõ cửa ban đêm để kiểm tra, xét nhà và muốn biết chắc chắn là có tôi trong nhà. Tôi sống như người bị giaml ỏng trong nhà t;ù lớn.

Tôi nhìn chị chăm sóc cho tôi từng miếng ăn, giấc ngủ như một người vợ lo cho chồng mà nghĩ đến cái vô tình của tôi.

- Chị Nguyệt.
- Gì đó Bình?

- Tôi muốn hỏi chị chuyện nầy.
- Ừ, Bình nói đi.

Ngập ngừng một hồi tôi nói:
- Chị nhớ lúc mới quen, chị bảo tôi phải gọi chị hay không?
- Nhớ chớ sao không. Những ngày vui đó qua mau quá.
- Chị còn muốn tôi gọi chị nữa hay không?
- Vậy Bình muốn gọi tôi gì đây?
- Tôi gọi chị là vợ tôi được không?

Chị Nguyệt nhìn tôi với ánh mắt rất ngạc nhiên rồi đổi sang mừng rỡ:
- Em chờ câu nói đó của anh lâu lắm rồi.

Hai tháng sau chúng tôi làm đám cưới. Tiệc cưới rất đơn giản, chỉ mời bà con lối xóm. Hai năm sau Nguyệt cho tôi đứa con trai đầu lòng. Tôi đặt tên Nhẩn để nói lên cái nhẩn nại của chị dành cho tôi. Năm sau nữa thì chị cho tôi thêm đứa con gái, chị đặt tên nó là Cam để nói đến cái cam khổ của vợ chồng chúng tôi.

Một hôm đầu năm 1990, chị chạy hớt hãi về nhà:
- Anh ơi! Họ muốn cho mình đi định cư bên Mỹ.
- Em lại mơ tưởng viễn vong. Ai lại cho thằng sĩ quan Ng;ụy như anh đi khỏi Việt Nam.

- Đây nè, coi đi.

Chị đưa cho tôi xem tờ báo cho biết Bộ Ngoại Giao và Quốc Hội Mỹ chấp thuận cho t;ùnhân chính trị được đi định cư tại Mỹ ký ngày 30/7/1989. Lòng vòng lo nạp đơn, lót tiền cho phía VN ký giấy cũng hơn hai năm. Tôi bốc mộ đem xương cốt ba má thiêu rồi đem gởi vô chùa vì tôi biết là sẽ lâu lắm mới trở lại quê hương nầy. Tuy đã nuôi tôi lớn lên, tuy nhiều người vẫn còn tình người sẳn sàng đùm bọc che chở người th;ất trận. Nhưng tôi phải ra đi để con tôi có tương lai hơn, có nhiều cơ hội để vươn lên với đời hơn, để khỏi sống kiếp sống tật nguyền! nơi quê cha đất tổ.

Bao nhiêu tiền chúng tôi dành dụm đều cạn sạch. Ngày gia đình tôi lên máy bay đi Mỹ, trong túi còn đủ 200 đô la sau khi bán nhà, bán đất của cha mẹ để lại. Đáp xuống phi trường JFK thành phố New York. Cả gia đình hai đứa em gái tôi có mặt đầy đủ đón gia đình tôi. Ba anh em chúng tôi ôm nhau khóc sau hơn 17 năm xa cách. Mấy đêm đầu tiên tôi không ngủ được, vừa lạ chổ, vừa lo lắng cho tương lai sắp đến. Mình phải làm gì lo cho gia đình, cho con cái đi học, và đủ mọi chuyện cứ liên tục hiện lên trong đầu. Từ quê hương bỏ lại sau lưng, từ quê hương thứ hai sẳn sàng bao dung cho người lính thất trận.

26 năm sau, nhìn lại từ ngày đến đất nước Mỹ giàu lòng nhân đạo nầy, hai đứa con tôi đã ra trường đi làm xa. Vợ chồng tôi nghĩ hưu dời về vùng đất ấm Florida. Chị Nguyệt nay đã gần 70 nhưng vẫn còn nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam luôn lo cho chồng, cho con. Sáng nào tôi cũng có ly cả phê sữa nóng ít sữa, còn chị thì vẫn một ly trà cúc đường phèn. Nhiều lần tôi nói lời cảm ơn chị đã cưu mang ba má tôi khi tôi còn trong tù cải tạo. Chị chỉ cười đưa hàm răng khểnh rồi nói:
- Em kết anh từ lúc mình mới gặp nhau lần đầu.

- Vậy tại sao bắt người ta kêu bằng chị?

- Làm chị cho nó oai chút chơi mà…

- Lúc nào em cũng là CHỊ NGUYỆT của anh.

 

Ghi lại

Trần Khắc Tường