Thursday, April 16, 2026

Mùa Xuân Đến Muộn - Thiên Lý


Chuyện bắt đầu vào những năm tháng khó khăn nhất trong gia đình tôi. Những ngày mẹ tôi bị ốm, mọi việc hầu như rối tung cả lên khi thiếu vắng sự lo toan và bàn tay điều khiển của mẹ trong nhà.


Năm ấy, tôi hai mươi mốt tuổi, lần đầu tiên tôi được mẹ giao phó nhiệm vụ đi thăm cha tôi một mình ở trại “cải tạo” Suối Máu, Biên Hòa. Thường thì những lần thăm nuôi trước thỉnh thoảng tôi đi với mẹ, có khi mẹ tôi cho các em tôi theo mỗi đứa thay phiên nhau theo mẹ đi thăm cha một lần. Nhưng lần này, mẹ tôi đang bị bệnh, tiền vé tàu xe lại càng ngày càng lên giá nên việc hạn chế số người đi thăm cha tôi là điều tôi phải hiểu… Mẹ căn dặn tôi đủ điều và quan trọng hơn là hỏi ý kiến cha tôi về chuyện mẹ sẽ …gả chồng cho tôi. Nghĩ đến đó, lòng tôi lại hoang mang, bối rối. Hai hôm trước, mẹ sốt mê man, tôi biết chắc là mẹ đau trong người lắm, mẹ không ăn gì cả chỉ nằm rên khe khẽ.Tôi đến gần mẹ, lúng túng, lo sợ, hết sờ trán rồi nắm tay gọi mẹ cuống cuồng. .. Mẹ ơi, mẹ đừng làm con sợ, mẹ ráng khoẻ lên nhé. Tôi nghe tiếng mẹ thều thào bên tai một dự định như lời trăn trối:

– Trân này, mẹ yếu lắm rồi… không biết sẽ còn sống được bao lâu… trước khi mẹ nhắm mắt, mẹ muốn con …lấy chồng, mẹ muốn …thấy được đám cưới của con.


Tôi run rẩy, lo lắng lẫn xúc động làm tôi không nói được lời nào. Lấy chồng, đám cưới, những chữ ấy nghe thật bình thường mà sao nó lại xa lạ với tôi quá chừng. Xa lạ là vì tôi chưa hề gặp mặt người đàn ông mà mẹ chọn cho tôi tuy biết ông là người châm cứu hằng ngày cho mẹ. Tôi chỉ nghe nói ông ta trước kia đi lính, lại lớn hơn tôi tới mười tuổi và nghe Châu, em gái tôi thường nhắc tên ông ta là chú Định. Châu biết ông Định nhiều hơn tôi vì nó có nhiệm vụ chở mẹ tôi đi châm cứu mỗi ngày. Mẹ ông và mẹ tôi quen nhau trong một chuyến đi thăm chồng rồi trở thành bạn bè. Do đồng cảnh ngộ hai bà mẹ đã thân thiết nhau hơn và chuyện làm sui đã được trao đổi qua lại. Một ngày, trước lúc mẹ tôi bị bệnh, câu chuyện dự tính hôn nhân với ông Định đã làm tôi giật mình, e ngại. Tôi giẫy nảy lên rằng, con không biết người ta là ai, sao mà chịu được rồi vùng vằng bỏ đi. Mẹ đã níu tôi lại ôn tồn bảo:

– Ngồi xuống nghe mẹ bảo đây. Ngày xưa mẹ với bố mày cũng không có biết nhau mà đã ăn ở với nhau thuận hòa đẻ ra một lũ tám đứa chúng mày đấy thôi.

Thấy tôi sụ mặt không nói mẹ lại dỗ dành:

– Mẹ xem ra anh ta là người tốt đấy, thời buổi khó khăn thế này mà đi làm châm cứu từ thiện. Con có thấy ai làm được như thế không? Bác Khánh người bắc mà lại hiền lành, phúc hậu, vụng về như mày về làm dâu nhà bác cũng không phải lo bị quở mắng nặng nhẹ.

Tôi vẫn lắc đầu nguầy nguậy, lần này mẹ tôi bực bội gắt:

– Mày cứ tự do yêu đương vớ vẩn rồi lại bỏ nhau sớm thôi. Mà có đứa nào thương mày chịu đến hỏi cưới mày chưa? Con gái có một thời thôi, vài năm nữa già đi còn ai hỏi nữa.

Tôi im lặng ngồi nghe mẹ thuyết giảng. Lấy chồng, dù không yêu thương nhưng rồi sinh con làm mẹ, bổn phận với con cái gia đình cũng làm mình vui ra biết chưa?

Tôi nhìn mẹ nằm thiêm thiếp trên giường, nghĩ đến cảnh nghèo của gia đình tôi, những ngày thiếu ăn, thiếu mặc. Lấy chồng rồi có khá hơn không? Hay vẫn rơi vào cảnh nghèo muôn thuở. Tôi thở dài buồn bã…


Buổi sáng tôi dậy thật sớm, chuẩn bị hai giỏ đồ ăn và một chai nước đi thăm cha tôi. Mỗi lần đi thăm cha là giỏ đồ ăn nhẹ đi một chút. Có lẽ cha tôi cũng biết được sự khổ cực của vợ con ở nhà nên cha chẳng xin gì nhiều. Chỉ có ba thứ cần thiết là một ký đậu phọng rang, một ký đường tán, vài bánh thuốc rê vớí một hũ mắm ruốc. Tôi cũng mua thêm mấy thứ bánh kẹo lặt vặt và nắm hai nắm cơm cho cha tôi. Để tiết kiệm tiền, thay vì đi xích lô, tôi đi bộ từ nhà ra ga Sài gòn, rồi mua vé xe lửa đi Biên Hoà. Ngồi trên tàu lòng tôi nóng như lửa đốt, mong sao cho tàu chạy nhanh để tôi gặp cha, tôi sẽ nói với cha nhiều chuyện lắm. Tàu ngừng ở nhiều ga nhỏ để đón khách càng lúc tàu càng thêm đông người.

Ga Biên Hoà cũng tấp nập người không kém gì ga Sài gòn. Hành khách tranh nhau xuống ga, những bà buôn bán lỉnh kỉnh rổ, thúng, quang gánh to tiếng nạt nộ người chen lấn. Tôi chán ngán nhìn cảnh tượng ấy rồi để mặc sự chen lấn, tôi cũng bị đẩy theo dòng người chen chúc đó ra khỏi tàu…Sau đó, tôi lại lẽo đẽo theo mấy người đàn bà đón xe lam đi Suối Máu, ngồi trên xe lam với tôi cũng có vài người đi thăm thân nhân làm tôi cảm thấy yên tâm hơn…

Đến nơi phải ngồi chờ một lúc lâu, ai cũng sốt ruột. Khi cánh cổng rào xiêu vẹo được kéo ra một người cán bộ xuất hiện với bộ mặt quan trọng vẫy tay ra lệnh cho mọi người vào trình giấy thăm nuôi. Tôi đợi tới phiên mình mà lòng hồi hộp vô cùng, khi thủ tục giấy tờ đã kiểm xong, những người thăm nuôi được chuyển vào ngồi trên những chiếc ghế băng dài …lại …chờ. Tôi nhìn cảnh vật chung quanh toàn những cây lá khô héo, mặt đất thì bụi mù. Không biết cha tôi sẽ đi từ đâu ra. Chợt tôi nghe tiếng một người đàn bà nói: “Kìa, mấy ổng ra kìa”, không ai bảo ai, mọi người đều tự động đứng lên, nhớn nháo nhìn. Tôi cũng đứng lên theo cố chen lên phía trước để tìm bóng dáng cha. Tôi chợt ứa nước mắt khi thấy cha tôi đi sau cùng, dáng cha vốn đã thấp và gầy người, giờ cha ốm yếu trông càng nhỏ hơn. Cha tôi chưa nhìn thấy tôi ngay, tôi phải đưa tay lên vẫy vẫy gọi to: “Bố ơi, bố ơi, con đây nè!”

Cha tôi bước đi xiêu vẹo đến gần bên tôi, hỏi ngay:

– Mẹ đâu?

– Mẹ ốm không đi thăm bố được, có một mình con thôi. Tôi nghẹn ngào nói.

Hai cha con tôi ngồi xuống một chiếc ghế băng sát tường, tôi run giọng hỏi:

– Bố có khỏe không? Lần này con thấy bố ốm đi nhiều quá.

Tôi vừa nói vừa nắm lấy tay cha, nhìn khuôn mặt khắc khổ, mái tóc bạc trắng và chòm râu dài gần tới ngực của cha. Tôi cảm thấy xót xa, nước mắt lại rơi tiếp… Cha hỏi tôi chuyện ở nhà, chuyện mẹ tôi đau ốm…Rồi cha thở dài, mắt nhìn mông lung xa vắng, tôi nói:

– Tụi con mong bố về từng giờ từng phút, mấy đứa ở nhà đi học, hôm nào gặp bài toán khó không ai giảng lại nhắc đến bố…

Cha ngắt lời tôi, giọng buồn đau:

– Thôi mày đừng khóc nữa, cán bộ nó thấy là mệt lắm. Hôm nọ bố bị nó tịch thu mấy bài thơ “Nhớ Nhà” còn bị đưa ra “kiểm điểm trước tập thể” nữa đấy.

Tôi nhìn cha sửng sốt:

– Trời ơi, nhớ nhà là cảm xúc tự nhiên của con người mà sao họ lại cấm.

– Chúng nó là những người không có trái tim… thôi, không nhắc nữa, ở nhà chị em cố đùm bọc, thương yêu nhau, đừng làm gì cho mẹ mày buồn đấy.Trong này ai cũng khao khát được về mà biết đến bao giờ mới về.

Cha tôi nói trong tiếng thở dài nẫu ruột.

Tôi đưa giỏ đồ tiếp tế về phía cha:

– Mẹ mua những thứ bố dặn trong giỏ này…

Cha tôi gật đầu bảo để đấy. Tôi kể sơ cho cha tôi nghe về chuyện đi làm của tôi, chuyện học hành của các em ở nhà. Tôi dự định sẽ nói bao nhiêu điều mà bấy giờ ngồi gần cha, tôi lại ấp úng cứ nói chuyện nọ xọ chuyện kia, chẳng có đầu đuôi gì hết. Cha tôi chỉ ngồi im lặng nghe…Tôi hỏi cha:

– Bố có đói không? Con cắt cơm nắm cho bố ăn nha, có gói muối mè lục vị con làm nữa.

Cha tôi xua tay giọng buồn cay đắng:

– Thôi, thôi, có thì giờ đâu mà ăn, nó đánh kẻng đi vào bây giờ. Ở trong này thiếu thốn đủ mọi thứ, nhưng mà cứ luyện mãi chữ “khắc phục” của chúng nó thì cũng xong.

Tôi nhìn cha, lòng dâng lên một sự thương cảm dạt dào. Tôi biết cha tôi là người sống mẫu mực, giỏi chịu đựng. Ngày trước khi còn ở nhà, cơm dù ngon hay dở lúc nào cha cũng chỉ ăn có hai chén đều đặn. Cha rất ít uống rượu, chỉ thích hút thuốc lá Ruby Queen, cha còn dặn mẹ tôi thời buổi chiến tranh, một tuần phải cho các con ăn cực vài bữa để thích ứng với thời cuộc, lỡ có chạy giặc, thiếu ăn, thiếu uống thì cơ thể sẽ quen đi. Tôi còn nhớ những bữa ăn đạm bạc của gia đình tôi có khi chỉ là cháo đậu xanh với đường, hoặc cơm đậu đen với dưa giá, hay bí đỏ xào với khoai lang. Những ngày tháng gần tàn chiến cuộc, món ăn thường xuyên chúng tôi ăn mỗi ngày là su su xào với mì gói. Cha tôi cũng ăn như thế mà không hề phàn nàn gì trong khi tôi và các em thì cứ than ngán ứ lên. Thời đó, tuy còn nhỏ tuổi, tôi đã thầm mơ ước cho mình một người bạn đời sau này sẽ phải có tính liêm khiết, cương trực và dễ chịu như cha tôi… Tiếng người cán bộ nhắc nhở còn khoảng mười lăm phút nữa là hết giờ thăm làm tôi giật mình. Tôi nhớ đến chuyện lấy chồng mà mẹ dặn phải nói với cha tôi. Tần ngần một lúc tôi mới ngập ngừng:

– Bố ơi.. Mẹ dặn con… báo với bố là …mẹ sẽ …gả chồng cho con, ý bố thấy sao?

– Lấy chồng? Cha tôi trợn mắt hỏi lại.

Tôi ứa nước mắt tức tưởi nói:

– Bố ơi, con chưa muốn lấy chồng đâu, bố nói với mẹ giùm con đi.

– Thằng đó làm gì?

Tôi lắc đầu:

– Con không biết, con chưa bao giờ gặp.

– Ôi giời, thế thì lấy làm sao được?

– Bố viết mấy chữ cho mẹ bây giờ đi, để con cầm về…

Cha tôi im lặng, đôi mắt cha như trũng sâu xuống. Tôi sụt sịt một lúc, rồi nắm tay cha lắc nhẹ:

– Bố, bố thương con, bố giúp con đi, con không muốn làm cho mẹ buồn, nhưng nếu bố nói không thì mẹ phải chịu.

– Tại sao?

Tôi nói trong nước mắt:

– Ở nhà khổ lắm bố biết không, bữa đói bữa no, con không yên tâm để đi lấy chồng, sợ đói khổ cứ tiếp nối hoài. Con thấy mình kiệt sức nếu lấy phải một ông chồng không có việc làm, phải nai lưng ra đi làm nuôi chồng, khổ lắm. ..con … con sợ khổ quá rồi…

Cha tôi thở dài không nói, tôi nức nở tiếp:

– Con cũng không biết ông ta là ai, tính tình ra sao. Nếu không có tình cảm thì không thể chịu đựng hay đối xử tốt với nhau được…

Cha tôi ôm vai tôi vỗ về:

– Đừng nói thế, hồi xưa bố với mẹ mày cũng không biết nhau nhiều…

Tôi nhìn cha ngắt lời giận dỗi:

– Sao bố nói giống như mẹ quá. Bố không có ý kiến gì sao?

Cha tôi lắc đầu:

– Bố chịu thôi, bây giờ bố không quyết định được điều gì bằng mẹ mày ở nhà. Nói với mẹ mày cứ sắp xếp sao cho thuận tiện thì làm..

Nghe cha nói, tôi nấc lên nghẹn ngào. Cha tôi vuốt tóc tôi tiếp:

– Bố trông con mới ở tuổi đôi mươi mà tiều tụy quá, cứ điệu này thì tuổi xuân biến đi nhanh lắm, thôi thì cố gắng vậy, bố chẳng muốn nhìn con gái mình chết già đâu.

Tiếng kẻng bỗng vang lên báo hiệu giờ thăm nuôi đã hết. Cha con tôi còn chần chừ, tôi cảm nhận sự run rẩy từ bàn tay cha đang nắm lấy bàn tay tôi như không muốn rời. Giờ thăm sao qua nhanh quá, giây phút chia tay nặng trĩu nỗi buồn lưu luyến. Không chỉ riêng gì cha con tôi, nhiều người đi thăm nuôi khác ai cũng chần chừ. Sự dùng dằng của cha con tôi rồi cũng phải chấm dứt. Cha tôi xách lấy giỏ đồ buồn rầu dặn tôi:

– Thôi bố vào đây, chị em ở nhà cố đùm bọc nhau mà sống, đừng làm gì để mẹ mày buồn đấy. Con đi đường về cẩn thận nhé!

Tôi nghẹn ngào:

– Bố giữ sức khoẻ nha bố. Tụi con lúc nào cũng mong bố được về sớm.

Cha tôi gật gù rồi lững thững bước theo đoàn người vào phía trong hàng rào. Tôi nhìn theo dáng người nhỏ bé của cha khuất dần mà nước mắt cứ rơi rơi… Không biết rồi sau hàng rào kia, cuộc sống của cha tôi và còn bao nhiêu người cha khác sẽ tiếp diễn ra sao trong cảnh khổ đọa đầy. Nỗi nhớ thương gia đình, nỗi khao khát tự do cứ thiêu rụi tâm hồn con người cháy đen mòn mỏi, đầy ám khói tối thui … Tôi không nhớ mình đã đứng bất động bao lâu thì bị xua đuổi. Tôi quệt nước mắt bỏ đi lê từng bước chân nặng như đeo đá trên con đường đầy bụi cát. Hình dáng cha tôi với giỏ đồ trong tay vẫn chập chờn quanh tôi dưới ánh nắng chiếu lấp loé từ phía mặt trời xa đang sắp ngả dần về hướng tây.

Dự tính về chuyện hôn nhân cho con giữa hai bà mẹ đã không thành vì bệnh tình của mẹ tôi ngày càng trầm trọng thêm. Ngày cuối cùng mẹ tôi hấp hối trên giường bệnh cũng là ngày đầu tiên tôi gặp Định. Đó là một người đàn ông khoảng ngoài ba mươi tuổi, gầy, dong dỏng cao, ông có tật ở chân hay sao mà dáng đi trông khập khiễng. Định ghé qua thăm hỏi mẹ tôi về việc lâu không thấy Châu chở mẹ đi châm cứu. Tôi thấy được sự ngạc nhiên trên khuôn mặt ông toát ra từ cái nhìn lạ lẫm về phía tôi, và một sự xót xa trong ánh mắt không ngờ mẹ tôi bị trở bịnh nặng đột ngột như thế. Hôm đó ông cũng lấy kim và điếu ngải ra châm cứu thêm cho mẹ. Chúng tôi luôn có những cái nhìn tò mò len lén qua lại. Định có khuôn mặt hơi dài với hàm râu quai nón bao quanh, đôi mắt sâu sâu dưới cặp chân mày hơi rậm, cái miệng rộng kiêu kỳ ít cười làm cho gương mặt ông nhìn có vẻ khó. Tôi thất vọng ngẫm nghĩ, người có tật này sẽ là chồng mình sao? so với ông ta mình còn quá nhỏ bé. Không biết mẹ tôi đã chấm ông ở điểm nào cho tôi? Nhớ đến những trận đánh nhau của vài cặp vợ chồng trong xóm, tôi liên tưởng đến khuôn mặt khó khăn của Định trước mắt. Khuôn mặt khó và hơi dữ này mà nổi giận thì thế nào tôi cũng bị ăn tát tai như chơi… tôi chợt rùng mình! Tôi cầu mong ông cũng chê tôi, một đứa con gái ốm nhom, xơ xác, tiều tụy… Mỗi khi ông bảo tôi giúp ông cầm cây ngải đưa qua đưa lại trên người mẹ để ông đốt kim thì tôi lại cụp mắt xuống để tránh cái nhìn kỳ quặc từ đôi mắt sâu của ông. Bởi tôi có mặc cảm về đôi mắt lãng mạn của mình như mẹ tôi vẫn hay cảnh cáo. Theo mẹ, lãng mạn là một tính xấu của người con gái mà nó lại hiện trong đôi mắt tôi. Hồi ấy, tôi chẳng biết đôi mắt lãng mạn có cái nhìn ra sao nên tôi không dám nhìn ai lâu. Có người khen mắt tôi đẹp, có người thì chê mắt buồn quá.


Mọi sự cố gắng của Định hôm ấy đều thất bại, mẹ tôi yếu dần trong từng hơi thở. Mẹ nhướng mắt lên, nắm lấy tay Định rồi nhẹ nhàng đặt tay ông lên bàn tay tôi. Môi mẹ mấp máy khó nhọc:

– Mẹ mong…mẹ mong … hai đứa …sẽ …

Mẹ tôi chưa nói hết câu thì đã nấc lên một tiếng rồi nghẹo đầu sang bên trái…Tôi rút nhanh tay mình ra khỏi tay Định, nắm hai vai mẹ lay mạnh, tôi banh mắt mẹ tôi lên, tôi lắc khuôn mặt mẹ. Tôi vẫn còn chút hy vọng mong manh rằng, mẹ tôi sẽ mở mắt ra, mẹ sẽ mỉm cười với tôi, sẽ nói với tôi một lời nào đó. Nhưng, mẹ đã chìm vào giấc ngủ thiên thu thật rồi! Thật rồi! Tôi nghe tiếng gào thét của chính tôi như một người điên, tôi khóc la trong sự tuyệt vọng hãi hùng… Có bàn tay ai đã kéo tôi ra xa mẹ mặc cho tôi cố vùng vẫy, chống trả để lại gần mẹ tôi, tôi gọi mẹ đến khản cổ …và tôi lịm đi vài phút…


oooo0oooo

Nếu không có sự giúp đỡ tận tình của bác Khánh và Định thì tôi không thể hoàn tất được nhiều việc cho ngày mai táng mẹ, còn bao nhiêu phong tục cúng tế mà tôi chưa hề biết đến. Định giúp tôi đi đánh điện tín cho cha tôi, nhưng những con người cộng sản sắt đá, tàn ác kia đã không cho cha tôi về với chúng tôi để tiễn mẹ đi. Một bầy con nhỏ đi theo chiếc xe tang ra nghĩa trang, trời hôm ấy chuyển mưa mỗi lúc một lớn. Phần huyệt của mẹ tôi bị nước ngập một nửa, những người đào huyệt phải tát nước bớt đi để hạ áo quan xuống…Ngày tang lễ của mẹ ngập nước mắt các con và đầy nước mưa đến nhũn cả đất…

Mọi việc tạm ổn sau ngày cúng mở cửa mả cho mẹ. Định vẫn thường xuyên ghé qua thăm chúng tôi mỗi chiều, dần dần ông như người thân quen trong nhà. Tuy gần gũi như thế, giữa tôi và Định vẫn chẳng nảy nở được chút tình cảm đặc biệt nào. Tôi xem Định như một ân nhân với món nợ ơn nghĩa canh cánh bên lòng. Còn ông, vẫn cái nhìn xa lạ, thái độ lạnh lùng, cách xưng hô “tôi với Trân” khô khan. Các em tôi gọi Định bằng chú, tôi gượng gạo gọi ông bằng anh.Tôi không tin rằng tôi có thể yêu được một người đàn ông như Định cho dù ông là một người tốt.

Cuộc sống cơm áo vất vả làm cho tuổi xuân của tôi ngày càng tàn tạ nhanh hơn giữa cuộc đời khô khốc như buổi tàn thu. Lúc đó, tôi đang làm việc ở một lò bánh in đậu xanh, lương lãnh công nhật chẳng có là bao nhiêu. Tôi phải xin ông chủ cho tôi đi bỏ mối bánh dạo để có thêm tiền. Đồng thời, tôi cũng lấy bánh về cho hai đứa em gái đang học trung học đem vào trường bán trong giờ ra chơi. Mấy đứa em tôi xúm xít nhau mỗi đứa một tay tự đi kiếm tiền bằng đủ mọi cách sau giờ học. Thằng Tú, em út tôi mới lên 10 tuổi đã lang thang theo nhóm trẻ bụi đời đi bán quạt ở rạp hát. Tôi lo lắng sợ em hư đốn vậy mà nó không bỏ học một ngày nào, lại được cô giáo khen. Có lẽ tất cả chúng tôi đều thừa hưởng cái “ gene” hiền hậu của cha mẹ dẫu ra đời sớm, đứa nào cũng ý thức được chỉ học điều tốt và phải tránh điều xấu. Mẹ con Định hay khen các em tôi ngoan…Vài tháng sau, Định bỏ nghề châm cứu từ thiện để làm thư ký cho một tổ hợp làm dầu thoa, như là dầu Cù là, dầu Khuynh Diệp, dầu Nhị Thiên Đường… Chủ tổ hợp là một người bạn cũ của cha Định. Nhờ Định xin giúp, ông cũng cho Báu, đứa em trai lớn của tôi vào làm chung tổ hợp với Định và nó được ưu tiên chỉ làm buổi chiều ở khâu đóng nút chai… Càng ngày tôi càng mang nợ Định, món nợ tình nghĩa không biết bao giờ mới trả hết được.

Đúng một năm sau ngày mẹ tôi mất, cha tôi trở về. Sự vui mừng không sao tả xiết. Bác Khánh ghé đến thăm cha tôi cùng với Định, biết chuyện hai mẹ con bác đã giúp đỡ chúng tôi tận tình trong thời gian mất mẹ, vắng cha. Cha tôi cảm động lắm, những giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo, đau khổ. Chắc bác Khánh hiểu được nỗi buồn của cha tôi và bấy giờ cũng không phải là lúc để nói chuyện đính ước giữa tôi với Định. Hơn nữa, cha Định cũng chưa được thả về, vì thế chuyện ấy đã được xếp vào lãng quên. Bác Khánh đến thăm cha tôi thêm vài lần, sau đó những cuộc thăm viếng thưa dần rồi mất hút…Cha con tôi lăn lộn làm đủ mọi nghề để cầm cự với cuộc sống rách nát. Bận rộn vì sinh nhai, chúng tôi chẳng còn thì giờ để nhớ đến bác nữa, đành chịu thôi! Tuy vậy, tôi vẫn cầu nguyện vong linh mẹ phù hộ cho chúng tôi có được một dịp nào đó để đền ơn, đáp nghĩa mẹ con bác Khánh… Mười mấy năm sau, cũng như bao gia đình quân nhân khác, chúng tôi được định cư ở Mỹ theo diện H.O.

oooo0oooo


Thấm thoát đã hai mươi mấy năm lặng lẽ trôi qua kể từ ngày mẹ tôi mất… Một sự tình cờ kỳ diệu đẩy đưa cơ hội cho tôi chuyển từ công ty “Institute on Aging – Older Adult Care” ở Morgan Hill vào làm công ty “Home Health Agencies” ở Santa Clara vào những ngày cận tết. Đây là một công ty cung cấp những y tá phụ đến săn sóc cho bệnh nhân tại nhà. Chính công việc này đã cho tôi gặp lại bác Khánh, một bệnh nhân mà tôi được công ty cử đến chăm sóc. Tôi đã ngờ ngợ nhận ra bác khi thấy tên Bùi thị Khánh trên hồ sơ. Quả là trái đất tròn, gia đình tôi và bác cùng định cư ở một tiểu bang Cali này bao lâu rồi mà lại không biết để liên lạc. Tôi thật mừng rỡ cho dịp may gặp gỡ này để tôi có thể trả món nợ ơn nghĩa ngày trước, nhưng phải đền đáp bằng cách nào thì tôi chưa biết được. Bác Khánh bị yếu hai chân khi di chuyển phải có walker chống đỡ. Nhiệm vụ của tôi đến thăm bác mỗi ngày là đo áp huyết, giúp bác uống thuốc và phụ công việc vệ sinh cá nhân cho bác.

Sau một ngày đầu làm việc, tôi mới gợi chuyện để bác nhận ra tôi. Tuy bác đã ở tuổi ngoài tám mươi bác nói chuyện hãy còn minh mẫn. Trong sự mừng vui với nhiều cảm xúc đầy nước mắt, bác cho tôi biết chồng bác đã bị chết trong tù, thời gian đó bác rất buồn và có nhiều chuyện phải lo trong gia đình nên đã mất liên lạc với chúng tôi. Sau đó, Định đi vượt biên, rồi ông đã bảo lãnh bác và các em qua Mỹ. Nhắc đến Định, bác vẫn không quên chuyện đính ước ngày xưa, liền nói:

– Này, cháu biết không, tội nghiệp Định lắm, cứ mải lo cho mẹ với các em đến giờ đầu bạc rồi mà hãy còn độc thân đấy! Giá như hồi ấy mẹ cháu khoẻ mạnh thì chuyện hai đứa cũng xong rồi. Còn gia đình cháu thì sao? Bố vẫn khoẻ chứ?

– Dạ bố cháu mất đã bốn năm rồi ạ…

Bác Khánh hỏi giọng hốt hoảng:

– Ô, ông mất rồi à, tội chưa! Ở VN hay ở bên Mỹ này?

– Dạ ở bên Mỹ này ạ. Hồi sang đây, bố cháu mới phát giác ra nhiều bịnh, cao máu, rồi tim…

Bác Khánh ngắt giọng:

– Rõ khổ. Ông nào đi tù về cũng sinh ra hàng tá bịnh trong người đấy cháu ạ, thế còn cháu với mấy đứa em?

– Dạ các em cháu thì cũng đi học rồi đi làm, mỗi đứa một nghề. Em Châu lập gia đình có hai đứa con, còn cháu thì…vẫn độc thân.

Giọng bác Khánh chợt vui vui:

Ồ, thế hả, cháu còn độc thân, thế thì hai đứa vẫn có cơ hội để làm bạn với nhau đấy. Có người vợ như cháu Định đỡ vất vả hơn.

Tôi ngượng ngùng không nói, thấp thoáng trong trí nhớ tôi hình ảnh ngày nào trên giường bịnh, mẹ tôi tay run run nắm lấy tay Định đặt vào tay tôi…. Ngày ấy đã lâu quá rồi, sự mơ ước của mẹ đã tàn phai. Có thể nào bây giờ…lắc đầu, tôi tò mò hỏi:

– Bao nhiêu năm nay anh Định vẫn không quen ai hả bác?

Bác Khánh buồn buồn nói:

– Cháu xem, bao nhiêu năm cứ đi làm hai “gióp”, dành dụm tiền để lo cho bác và các em nó sang đây. Chuyện lập gia đình, bác giục mãi mà nó cứ chần chừ.

Bác ngừng một chút rồi thở dài tiếp:

– Mà cũng tội cho Định, nó mặc cảm mang tật cái chân cháu ạ, hồi bác sinh nó ra khỏe mạnh, lành lặn đó chứ. Tại đi lính rồi bị thương. Hồi đó Định bị thương nặng lắm, bao nhiêu mảnh đạn ghim nát cái đùi trái, tưởng phải cưa đấy cháu, may mắn sao lại chữa được nhưng đi khập khiễng một chút. Bây giờ trời mà lạnh thì vết thương cũ vẫn bị nhức nhức đấy.

Tôi xót xa hỏi:

– Ủa, anh Định bị thương vậy rồi có phải đi tù không bác?

– Làm gì không, cũng tù hết 5 năm đấy, trước kia Định là trung úy Biệt Động Quân mà. Nó được thả về cuối năm 80, bác phải chạy chọt cho Định học nghề châm cứu đông y để được ở lại Sài gòn không thì bị tống đi kinh tế mới phát rẫy rồi. À này, bác thật lòng nói nhé thỉnh thoảng Định cũng nhắc cháu đấy, nó cứ bảo kiếm ai mà nhẫn nại được như cháu. Giờ mà nghe cháu còn độc thân Định mừng lắm.

Tôi cười nhẹ, nghĩ rằng bác chỉ nói xã giao theo tấm lòng của người mẹ muốn tìm hạnh phúc cho con trai. Tôi nói nhỏ:

– Cháu tin vợ chồng là duyên nợ hết bác à, nếu anh Định với cháu có nợ thì chắc thế nào trời cũng cho gặp.

– Bác cũng mong thế, cháu biết không, bác có 3 cô con dâu mà chẳng ở được với cô nào, phải ở với Định thôi. Nói nào ngay, Định cũng lo cho bác lắm, từ ngày bác bị yếu cái chân, Định bớt làm một “gióp”rồi, nó lo tìm người đến chăm sóc cho bác lúc nó đi làm đấy.


Tôi ngồi im lặng nghe bác kể say sưa về Định, niềm tự hào của bà mẹ về người con trai trưởng trong nhà. Theo lời bác Khánh kể, tôi cảm nhận Định là một người con trai hiếu thảo. Bác còn nói thêm, Định rất muốn gặp tôi để xem “dung nhan ấy bây giờ ra sao” nhưng thời giờ làm việc của tôi cứ bị trùng lắp vào cuối tuần do đó không thể nào gặp nhau được. Tôi đến chăm sóc mẹ của Định mỗi ngày 4 tiếng, sau đó tôi phải đi đến nhà bệnh nhân khác. Đôi khi có thì giờ rỗi rảnh, tôi ghé qua nhà bác để phụ giúp thêm những việc vặt trong nhà. Suốt một tuần lễ chăm sóc bác tôi vẫn chưa gặp lại Định lần nào. Nghe nói ông làm 12 tiếng một ngày, cuối tuần thì Định hay đi tham gia sinh hoạt cộng đồng ở San Jose. Ông cũng hay chở mẹ vào chơi trong hội người già hoặc đi chùa vào ngày lễ lớn. Bác Khánh dặn tôi phải sắp xếp một ngày nghỉ cuối tuần để đến chơi ăn cơm với bác và Định.


Một ngày cuối tuần tôi được nghỉ, chưa kịp sắp xếp thời giờ để đến thăm bác Khánh thì bất ngờ Định đã tìm đến nhà tôi mang theo một túi trái cây to cùng kẹo mứt trước sự ngạc nhiên của cả nhà. Không đứa nào trong các em tôi nhận ra Định và Định cũng không thể nhận rõ ai với ai. Trước hết là Báu, lúc đó nó ra mở cửa cho Định, từ khi ông hết liên lạc với gia đình tôi thì Báu chỉ vừa 15 tuổi mà nay Báu đã gần bốn mươi. Dù đã quên mặt Định, Báu vẫn còn nhớ công việc Định giúp nó làm trong tổ hợp dầu thoa cho đến khi Báu học xong trung học. Các em khác của tôi như Giang, Sơn, Cẩm và Tú thuở đó hãy còn nhỏ lắm nên chỉ nhớ Định qua câu chuyện. Tuy thế, đứa nào cũng vui vẻ, mừng rỡ khi gặp Định. Ông hỏi thăm từng đứa và dĩ nhiên Định không quên được Châu là người vẫn thường chở mẹ tôi đến cho Định châm cứu. Riêng tôi thì đã nhận ra Định ngay từ phút đầu ông bước chân vào nhà. Vẫn bộ râu quai nón bao quanh khuôn mặt hơi dài với cái nhìn khó đăm đăm. Mái tóc muối tiêu trên vầng trán cao đã có nhiều nếp nhăn và cả hai bên khoé mắt, bây giờ lại thêm cặp kính trắng .Vóc dáng Định hơi mập ra chút xíu, Định không nhìn ra tôi, ông lầm lẫn tôi với Ngọc, đứa em gái thứ ba kế Châu làm Châu cười châm chọc:

– Trời ơi, chú Định phải đi thay mắt kính đi, nhìn chị thành em hà.

Rồi Châu kéo tay tôi ra trước mặt Định tiếp:

– Chị Trân đây nè chú.Tôi giằng tay lại gắt nhẹ:

– Làm gì kỳ vậy, từ từ chú cũng biết chị mà!

Định tròn mắt nhìn tôi vài giây rồi mỉm cười nói:

– Ồ, Trân đây à, Trân trẻ quá, nhìn Trân đâu có ai biết là chị lớn. Mấy chục năm rồi mà Trân không khác gì hồi xưa là mấy. Châu nói đúng đấy, mắt tôi kém rồi phải đi đổi mắt kính để nhìn cho rõ thôi.

Định đưa túi trái cây cho tôi nói thêm:– Gửi các em ít trái cây thắp hương bố mẹ với ít kẹo mứt để mai cúng ông Táo nhé.

Tôi đón lấy túi trái cây nói nhỏ: – Dạ, cám ơn …chú Định.

Châu đon đả xã giao theo giọng người lớn:

– Trời ơi, mấy chục năm nay được chú đến thăm là quý lắm rồi, chú còn mua nhiều thứ lỉnh kỉnh làm chi xách cho nặng tay.

Định lại cười:

– Này, Châu học câu khách sáo đó ở đâu ra thế? Cứ coi tôi như người nhà đi.

Báu chen vào:

– Chị Châu phải nói vầy nè, chú Định mấy chục năm gặp lại mà đem lễ vật ít quá, mai mốt đem nhiều hơn một chút mới quí đó nghe. hahaha

Châu gõ đầu Báu:

– Thằng khỉ, mày nói thế không sợ chú ngại sao, mai mốt chú hết dám tới thăm mình đó.

Định cười vui:

– Không sao, lần sau đến chơi với mấy em tôi sẽ mang nhiều thứ hơn. À mà này, đừng gọi tôi bằng chú nữa, gọi là anh đi cho vui. Mình cũng như người nhà với nhau rồi còn gì.

Châu đùa:

– Ý chà, chú muốn thành người nhà là tụi Châu phải hỏi chị Trân cái đã.Định kín đáo nhìn tôi mỉm cười lần đầu tiên tôi thấy nụ cười trên môi ông tràn đầy thân thiện. Không khí trò chuyện thật vui nhộn, Báu và Châu cứ thi nhau góp những câu tếu đùa giỡn với Định. Tôi tưởng như ông đã đem một luồng gió xuân mới đến với chúng tôi, sau cả mấy tiếng đồng hồ hàn huyên bao nhiêu chuyện cũ mới. Định mời tất cả chúng tôi đến nhà ông dùng cơm ngày mai, Định nhấn mạnh:

– Ngày mai cúng ông Táo tôi đặt nhiều thức ăn lắm. Các em đến chơi nhé, đưa ông Táo xong là mình nhập tiệc, nhớ nhé. Phải đến hết đó Mẹ tôi gặp lại các em là bà mừng lắm.Châu hỏi:

– Nhà anh ở đâu lận?

– Ở Santa Clara chứ đâu.

Châu lắc đầu:

– Xa quá vậy, từ đây lên đó phải tới hai mươi mấy gần ba chục miles.

Đâu có tới, mà đừng lo, ngày mai tôi lái xe Van 12 chỗ đến đón mấy em đi đàng hoàng.

Tú cười thích thú:

– Wow, chú Định điệu ghê, mời đi ăn còn đến đón đưa mình nữa, thích quá, vậy là phải đi chứ.

Cẩm hỏi tôi:

– Vậy ngày mai mình cúng ông Táo sớm hả chị Trân?

Châu nhanh nhẹn trả lời:

– Ừ cúng buổi sáng để trưa tụi mình còn đi ăn cơm khách. Mấy giờ hả anh Định?

– Khoảng chừng trưa trưa đó. Mấy chị em đi hết nhé.Cả mấy cái miệng cùng đồng thanh: – Đi chứ, đi chứ.

Định kiếu từ ra về rồi mà dư âm của những kỷ niệm xưa hãy còn vương vấn. Những kỷ niệm của một thời cơ cực, gian khổ có sự bảo bọc giúp đỡ của mẹ con ông. Các em tôi cũng nao nức gặp lại mẹ Định ngày đưa ông Táo.

oooo0oooo


Bữa cơm sum họp chiều ba mươi trong gia đình tôi năm nay vui hơn vì có thêm bác Khánh và Định. Niềm vui làm cho bác khoẻ ra, bác nói chuyện huyên thuyên, bác thắp nhang trên bàn thờ ông bà nhà tôi và cầu nguyện như là bác đang nói chuyện với cha mẹ tôi vậy. Bác nói, điều bác mong muốn nhất là xin cha mẹ tôi hãy chứng giám cho chuyện đính ước giữa tôi và Định năm xưa để hai đứa được nên duyên. Bác nói to cho cả nhà đều nghe khiến tôi mắc cỡ vô cùng, còn các em tôi thì che miệng cười khúc khích…Hên cho tôi lúc đó, Định lại vừa ra ngoài hút thuốc với Báu chứ nếu có mặt Định ở đây thì tôi càng bối rối đến độ nào. Tôi thấy lòng mình có chút gì lo lắng, hồi hộp lẫn bâng khuâng mỗi khi nghĩ đến Định. Tôi không hiểu rõ được tình cảm của mình và cũng không biết được lòng Định đối với tôi ra sao? Chúng tôi không còn trẻ để có những ước mơ lãng mạn cho tình yêu nữa, mà phải là tình thương mến trong bổn phận và trách nhiệm để nương tựa, san sẻ cùng nhau cho phần đời còn lại.


Bước đến gần bên cửa sổ, tôi nhìn ra ngoài trời đã buông màn tối. Tôi lại nhớ đến hình ảnh mẹ tôi trên giường bịnh… tay Định trên tay tôi…môi mẹ mấp máy yếu ớt… mẹ mong…mẹ mong…hai đứa sẽ…Tôi lắc mạnh đầu chợt nghe chút xót cay trong mắt. Dựa đầu vào khung cửa, tôi nghe như có tiếng cười vui của mẹ. Tôi thấy mẹ nhẹ nhàng đưa bàn tay lên vuốt tóc tôi, con đã sống hơn nửa đời người rồi đấy, hãy tìm cho mình một hạnh phúc cuối đời đi con ạ! Tiếp lời mẹ là tiếng của cha tôi, bố không muốn con gái mình chết già trong cô độc đâu nhé! và rồi một tiếng nói trầm ấm quen thuộc bên tai tôi:

– Trân có nghe lời cầu mong của mẹ tôi không? Mẹ tôi rất muốn chuyện chúng mình kết thúc tốt đẹp đấy.Tôi đang chờ đợi câu trả lời của Trân đây… Trân biết không? Khi tôi gặp lại em, lòng tôi chợt xao xuyến khó tả, một tình cảm quí mến dạt dào mà trước đây khi còn trẻ, nhìn em tôi chỉ có đầy những mặc cảm, lo âu. Lúc đó, tôi rất buồn cho phận mình, một thằng lính thất trận, một tên tù tàn tạ, một thương binh khốn khổ. Cảnh ngộ em cũng thật đáng thương, tôi thấy mình quá kém cỏi nếu lấy em mà không bảo bọc được đời em. .. Trân ạ, hoàn cảnh bây giờ khác rồi, tôi đang trên đường đến tuổi già không muốn nấn ná chờ đợi, tôi thương em và khao khát có em bên cạnh… Trân, Trân có nghe không?

Bàn tay ai đã ve vuốt mãi trên mái tóc tôi, và lay nhẹ vai tôi. Ngước lên, tôi bỗng giật mình trước đôi mắt sâu thăm thẳm của Định. Ông cúi gần lại khuôn mặt tôi hỏi:

– Trân làm sao thế, có nghe tôi nói không?

Tôi gật đầu lí nhí:

– Dạ … em nghe.

– Thế em nghĩ gì về những điều tôi nói?

Tôi cảm giác mắt mình sao càng thêm xót cay, những giọt nước mắt từ từ lăn chậm trên má. Tôi ấp úng như mơ:– Em … cảm động quá… em nghĩ anh … đã mang đến cho em …một…mùa xuân đẹp… dù có muộn màng …

Tôi vừa dứt câu thì Định đã kéo tôi sát vào bên ông. Tôi gục đầu lên ngực Định để cho nước mắt mình cứ tiếp tục rơi trong hạnh phúc. Xa xa tôi nghe có tiếng pháo đón mừng năm mới, mừng một mùa xuân thật sự đang đến cho đời tôi.


Thiên Lý

Wednesday, April 15, 2026

Thời Kỳ Đấu Tố Lên Ngôi


TỐ GIÁC BÁN HÀNG KHÔNG LẬP HÓA ĐƠN SẼ ĐƯỢC THƯỞNG LÊN ĐẾN 10 TRIỆU ĐỒNG, THỜI KỲ ĐẤU TỐ LÊN NGÔI

Có một nghề mới đang nở rộ, đó là nghề tố giác. Không cần vốn, không cần kỹ năng chuyên môn, chỉ cần một chiếc điện thoại và một chút tinh ý, là có thể kiếm tiền.

Hết Bộ Công an khuyến khích chụp ảnh người vi phạm giao thông để nhận thưởng, giờ đây Bộ Tài chính cũng treo thưởng lên đến 10 triệu đồng cho việc tố người bán hàng không xuất hóa đơn. Một xã hội mà việc canh nhau sai sót trở thành cơ hội kiếm tiền.

Với mục tiêu khuyến khích người dân tham gia giám sát, chống thất thu thuế. Nhưng hệ lụy thì rất lớn, nó đang biến quan hệ giữa người với người thành quan hệ nghi kỵ, canh me lẫn nhau.

Người mua không còn đơn thuần là khách hàng, mà có thể trở thành người giám sát có thưởng. Người bán không chỉ lo phục vụ, mà còn phải đề phòng từng giao dịch như thể đang đứng trước một cái bẫy.

Nguy hiểm hơn, cơ chế này mở ra đất cho cạnh tranh bẩn. Người bán có thể bị đối thủ chơi xấu bằng những thông tin sai lệch.

Đáng nói nhất là sự đối lập đầy chua chát, tố giác dân thường thì được khuyến khích, có thưởng rõ ràng. Còn tố cáo tham nhũng, sai phạm của cán bộ thì lại là một hành trình đầy rủi ro. Không ít người lên tiếng rồi phải đối mặt với áp lực, thậm chí là ngồi tù.

Một xã hội lành mạnh cần niềm tin, cần sự minh bạch từ trên xuống, chứ không phải kích thích người dân soi nhau để đổi lấy vài triệu đồng.

Khi con người bắt đầu nhìn nhau như cơ hội kiếm tiền từ sai sót của nhau, thì xã hội chẳng khác nào đang bị đẩy vào thời kỳ đấu tố.

 

Nguồn FB

Xa Quê Con Nhớ Lắm Rồi, Nhớ Ơ KHO QUẸT MẶN MÒI Vị Quê - Đặc Sản Miền Sông Nước

Hồ Kiều Hay Việt Kiều Hay Khúc Ruột Ngàn Dặm


Vì cuộc sống nghèo khổ, ko được làm con người tự do tại VN mà họ chọn đi Mỹ. Đi Mỹ được thời gian, trở thành công dân Mỹ, có nhà có xe có công ăn việc làm tại Mỹ có nguồn thu ổn định rồi về VN chơi lại khen VN sướng. Trong khi nhà nước có hệ thống tập trung quyền lực thì ko lo cho dân, lương thì thấp nhưng giá hàng hoá thì cao. Người sống ở VN rất mệt mỏi, áp lực. Chỉ có một bộ phận thuộc hệ thống là sống khoẻ. Họ kiếm tiền đô la về VN xài nhưng lại ko đồng cảm với người có thu nhập thấp. Làm sao họ sống sướng. Những hồ kiều này tỏ vê yêu nước bằng việc khen giả tạo rằng VN phát triển, VN sướng nhưng kêu họ bỏ hẳn quốc tịch Mỹ thì họ lặng im. Bản chất con người họ là gì?


1. Bản chất kinh tế: Sức mạnh của sự chênh lệch tỷ giá

Cảm giác "Việt Nam sướng" của những người từ Mỹ về thường không bắt nguồn từ hệ thống an sinh hay quản lý xã hội, mà bắt nguồn từ túi tiền của họ:

Kiếm tiền đô, tiêu tiền đồng: Với mức lương trung bình tại Mỹ, khi đổi sang tiền Việt, họ nghiễm nhiên trở thành tầng lớp thượng lưu hoặc trung lưu cấp cao tại Việt Nam.

Dịch vụ giá rẻ: Ở Mỹ, chi phí nhân công rất cao (cắt tóc, đi ăn nhà hàng, thuê người giúp việc là xa xỉ). Khi về Việt Nam, họ tận hưởng cảm giác được phục vụ "tận răng" với giá rẻ mạt so với thu nhập của họ.

Trạng thái "Du khách": Họ về Việt Nam để tiêu tiền và hưởng thụ, không phải để kiếm tiền và sinh tồn. Họ không phải đối mặt với áp lực lương thấp, giá cả leo thang hay những khó khăn khi làm việc với hệ thống hành chính công như người dân bản địa.


2. Sự mâu thuẫn trong tâm lý "Yêu nước từ xa"

Tại sao họ khen Việt Nam phát triển nhưng không bao giờ từ bỏ quốc tịch Mỹ?

Tấm hộ chiếu là "bảo hiểm": Họ hiểu rõ giá trị của quyền tự do, hệ thống y tế, giáo dục và sự minh bạch pháp lý tại Mỹ. Việc giữ quốc tịch Mỹ là giữ một "đường lui" an toàn.

Nhu cầu khẳng định bản thân: Một số người khi ở Mỹ chỉ là những lao động bình thường, ít được chú ý. Khi về Việt Nam với tư cách "Việt kiều thành đạt", họ nhận được sự ngưỡng mộ và biệt đãi. Lời khen "Việt Nam sướng" đôi khi là một cách để họ tự trấn an rằng lựa chọn quay về chơi của họ là đúng đắn, hoặc để thể hiện sự hào sảng giả tạo.

Sự thiếu đồng cảm: Vì đã thoát khỏi cảnh nghèo khổ từ lâu, họ dần quên đi cái "mệt mỏi, áp lực" mà bạn nhắc tới. Họ nhìn Việt Nam qua lăng kính của những quán cafe sang trọng, những khu nghỉ dưỡng, chứ không phải qua sấp hóa đơn tiền điện hay nỗi lo cơm áo gạo tiền của người công nhân.


3. "Việt Nam sướng" - Một khái niệm mang tính tương đối

Thực tế, cái "sướng" mà họ ca ngợi thường là:

Sướng về giải trí: Đồ ăn ngon, cuộc sống về đêm nhộn nhịp, sự kết nối bạn bè/họ hàng.

Sướng về chi tiêu: Như đã nói, đồng USD giúp họ đứng trên đỉnh của tháp tiêu dùng tại Việt Nam.

Tuy nhiên, họ lờ đi (hoặc cố tình không thấy) những giá trị nền tảng mà một người dân cần: Quyền tự do, sự công bằng xã hội, hệ thống phúc lợi thực chất và môi trường sống minh bạch.

Bản chất thực sự là gì?

Bản chất của nhóm người này thường là chủ nghĩa thực dụng kết hợp với sự thiếu hụt chiều sâu về nhận thức xã hội.

Họ tận dụng tối đa lợi thế kinh tế của nước tư bản (Mỹ) để hưởng thụ tại nước đang phát triển (Việt Nam).

Họ nhầm lẫn giữa "khả năng hưởng thụ cá nhân" và "chất lượng sống của xã hội".


Không phải tất cả Việt kiều đều như vậy, có rất nhiều người vẫn trăn trở với những bất cập trong nước. Nhưng nhóm "hồ kiều" này thường là những người chọn cách sống bề nổi, thích nịnh nọt thực tại để nhận được sự chào đón hoặc đơn giản là để thỏa mãn cái tôi cá nhân.

Lời khen "giả tạo" từ người có túi tiền đầy đô la đôi khi lại là một sự xúc phạm đối với những người đang phải gồng mình mưu sinh trong một hệ thống còn nhiều khiếm khuyết.

 

🌹🌹 Vì cuộc sống nghèo khổ, ko được làm con... - Đoàn Thị Thùy Dương | Facebook

Chẳng Chừa Riêng Ai - Đỗ Công Luận

Tuesday, April 14, 2026

Chuyện Ba Người Lính Thời Chinh Chiến - Quan Dương

Những người lính VNCH (Hình internet)

Tôi tốt nghiệp khoá 6/69 sĩ quan trừ bị vào ngày 7/7/70. Sau khi nghĩ 10 ngày phép cuối khoá, ngày 17/7 tôi đến tiểu khu Darlac trình diện và được điều động về Đại đội 398 vừa mới thành lập. Cùng với tôi còn có 2 chuẩn uý khác cùng khoá là Phạm văn Hậu và Lê Huy Yết. Hậu làm trung đội trưởng trung đội 1, tôi làm trung đội trưởng trung đội 2 và Yết làm trung đội trưởng trung đội 4. Đại đội trưởng là trung uý Đỗ Hồng Phúc.


Vì là đại đội mới thành lập với 3 tên chuẩn uý mặt còn búng ra sữa không có một tí gì kinh nghiệm chiến trường ngoài một mớ lý thuyết được học nên đại đội được đưa về Buôn M’Rê cách Ban Mê Thuột 12 cây số về hướng nam là một nơi tương đối an toàn để đóng đồn. Cách đại đội 2 cây số là cầu 14 với một đơn vị bạn lót lưng. Đại đội đóng quân trong buôn, chung quanh được bao bọc bởi những khẩu pháo 105 ly của tiểu khu sẳn sàng yểm trợ. Tính ra thì buôn M’Rê là nơi tương đối an toàn nếu đem so với những nơi khác trong lúc tình hình chiến sự xảy ra khốc liệt hàng ngày.


Đêm 20/7/70 việt cộng chọn buôn M’Rê tấn công. Như vậy có nghĩa là chỉ 3 ngày sau khi ra đơn vị thì tôi được nếm mùi khói lửa. Đó là lần đầu tiên tôi được cối 82 ly của địch quân bắn từ trên đầu bắn xuống. Cuộc hỏi thăm sức khoẻ không báo trước này quả là bất ngờ. Đạn nổ trên miệng hầm và giao thông hào. Thay vì núp dưới giao thông hào thì tôi lại leo một cái nhà sàn vì tò mò muốn nhìn xem đạn bắn từ hướng nào. Người lính mang máy PRC 25 tên Thành thấy tôi đang đụng trận mà giống như đang ngước nhìn trời tìm một ánh sao băng nào đó để làm thơ thì la oải oải. Chắc là hắn ngạc nhiên vì tưởng ông chuẩn uý vừa rời vú mẹ này gan lì điếc không sợ súng. Tôi không điếc, còn súng thì ai mà chả sợ nhưng vì chưa biết đánh đấm là gì cho nên muốn nhìn xem đạn bay trong đêm tối hình dáng nó ra sao. Tội nghiệp Thành nhiệm vụ mang máy truyền tin nên lúc nào cũng phải bò sát theo sau lưng tôi. Tiếng Ak 47 của việt cộng bắn trực diện bay trên đầu nghe chát chúa chứ không giòn giã êm tai như tiếng M16. Trước mặt buôn qua vòng rào phòng thủ là quốc lộ 14. Bên kia quốc lộ là một con suối và rừng. Sương đêm mờ mịt lẫn vào ánh hoả châu soi sáng từ tiểu khu bắn lên vòm trời khiến cho tôi có một cảm giác nôn nao. Nhưng không hiểu sao tôi cảm thấy không hồi hộp hay sợ hãi mặc dù đó là lần đầu tôi trực diện bắn nhau. Tính nhẩm ra từ lúc tôi được gắn lon chuẩn uý đến khi đụng trận chỉ có 13 ngày. Ôi con số 13.


Phía bên ngoài việt cộng pháo 82 ly dữ dội vô phía bên trong, từng tràng súng nổ dồn dập. Qua máy truyền tin, Kỳ Phùng tức trung uý đại đội trưởng ra lệnh cho tôi dẫn một tiểu đội bò sát ra bờ rào phía bắc dùng kềm cắt kẽm gai cắt cho một khoảng trống phòng khi tụi nó đông đánh không lại còn có đường rút. Vừa điều động cả 3 tên chuẩn uý mới ra trường như 3 con chim mới ra ràng trấn giữ 3 mặt buôn, vừa gọi trực thăng và pháo binh yểm trợ, Kỳ Phùng thiệt là chì. Đêm không trăng dưới ánh sao lờ mờ tôi thấy nhiều bóng người thấp thoáng đang chạy lúp súp băng qua đường và tôi nổ súng. Đó cũng là lần đầu tiên tay tôi bóp cò khi đối đầu với địch kể từ ngày cởi chiếc áo thư sinh khoác lên người bộ đồ lính. Tôi gọi qua máy báo cáo tình hình đến Kỳ Phùng xin pháo binh. Chỉ trong vòng 15 phút sau trực thăng xuất hiện và súng lại nổ giòn giã. Tôi lại leo lên nhà sàn để nhìn. Khi còn đi học, đọc những bút ký chiến trường của các nhà văn quân đội tôi cứ nghĩ đánh nhau thì phải ghê gớm và khủng khiếp lắm nhưng té ra giống như chẳng có gì. Sau khi trực thăng lên tôi không còn nghe súng bên địch nổ nữa. Kế tiếp là đạn pháo binh nổ ầm ỉ bắn chận đầu bên kia suối và trời đang sáng dần. Địch đã rút quân.


Đánh đấm nhẹ nhàng như thế tưởng không có gì, vậy mà sáng hôm sau khi ra khỏi buôn lục soát thì phía việt cộng bỏ lại 5 cái xác không kịp kéo đi. Trung đội 1 của chuẩn uý Hậu tử trận 2 người vì ngày hôm đó trung đội của Hậu trực nên có nhiệm vụ cử 1 tiểu đội làm tổ báo động nằm ngay bờ suối. Khi địch mở cuộc tấn công đụng phải tổ báo động này và 2 người binh sĩ đã hy sinh. 3 tên chuẩn uý mới ra trường mặt mày tèm nhem vì bụi đất đỏ nhìn nhau cười chỉ thấy lòi mấy cái răng. Chuẩn uý Hậu nói, tao thấy đạn bay léo nhéo về phía nhà sàn nơi mày núp mà mày không dính viên nào chắc là do mày ốm nhom mõng như lá lúa nên đạn không biết ghim vào đâu. Tôi nghĩ hắn nói tầm bậy nhưng cũng có thể trúng tầm bạ.


Sau này có kinh nghiệm trận mạc hơn, tôi lại đâm ra sợ chứ không “gan” như lúc mới ra trường. Nhiều khi tôi thấy đánh trận giống như đi casino kéo máy. Lúc đầu không rành cờ bạc lắm thì kéo đâu trúng đó nhưng khi sành sõi rồi thì kéo đâu trật đó. Khi tôi biết thế nào là mùi vị của súng đạn thì bị thương mấy lần. Đôi khi trong đời lính cũng cần bị thương miễn là đừng bị cưa tay, cưa chân hay thẹo thọ trên mặt để được nằm quân y viện đọc chưởng của Kim Dung. Súng đạn muôn đời không có mắt. Chấp nhận đời lính nghĩa là chấp nhận bán cái số mạng cho hên xui may rủi. Đời lính tài giỏi gì cũng không qua số mạng trời định


Trung uý Đỗ Hồng Phúc, đại đội trưởng 398 vị sĩ quan chỉ huy trận đánh đầu đời lính của tôi tại Buôn M’Rê sau này lên đại uý và năm 1973 đã tử trận tại Quãng Nhiêu được vinh thăng cố thiếu tá. Anh là người anh, người thầy của tôi và cho dù đã nửa thế kỷ trôi qua tôi vẫn xin thắp nén hương lòng để tưởng nhớ đến anh.

Cố thiếu tá Đỗ Hồng Phúc

Cố thiếu tá Đỗ Hồng Phúc


Chuẩn uý Phạm Văn Hậu sau này cũng đã lên trung uý. Đầu năm 2022 khi tôi đưa truyện kể về lần đầu đụng trận lên trang quân đội VNCH thì có một người sống ở Đà Lạt đọc được. Người đó liên lạc qua messenger của facebook nói cho tôi biết là có biết Phạm Văn Hậu và đang cố gắng liên lạc để dàn xếp cho tôi và Hậu nói chuyện với nhau. Tôi còn đang chờ thì bất ngờ tháng 4/22 tôi đọc được trên một trang phân ưu mà người mất đúng là trung uý Phạm Văn Hậu. Tấm hình trên trang phân ưu là khuôn mặt của người đồng đội từng chia xương xẻ thịt với tôi trong những ngày 2 tên mặt còn búng ra sữa gặp nhau trong trận đầu đời lính. Tôi nghẹn lòng. Mất tin tức về nhau 50 năm đến khi biết tin thì chẳng vui chút nào. Dù vẫn biết bước vào tuổi thất thập rồi thì xem như một chân trên bờ trần gian và một chân đang lơ lững trong cõi vô minh nhưng tôi không làm sao tránh khỏi buồn.

Cố trung uý Phạm Văn Hậu

Cố trung uý Phạm Văn Hậu


Chuẩn uý Lê Huy Yết cấp bậc cuối cùng là trung uý. Cũng từ bài viết trên có một đồng môn khoá 1/70 hiện sinh sống ở Ban Mê Thuột đọc được và lần này thì hên hơn là người tìm ra nhà của Yết. Đầu tháng 7/22, lần đầu tiên sau 50 năm hai người đồng đội năm xưa nói chuyện bằng facetime qua phone. Nhớ lại tháng 10/72 khi tôi cầm tờ sự vụ lệnh để rời Buôn Hô thì ánh mắt trên khuôn mặt người sĩ quan đẹp trai nhất đại đội bồi hồi nhìn theo và tôi ngoái lại. Bốn mắt nhìn nhau. Qua cuộc biển dâu mất tin tức cứ nghĩ đó là lần cuối. Đâu nghĩ 50 năm sau bốn mắt đó lại nhìn nhau trên màn hình và cả hai cùng giật mình vì suýt nhìn không ra. Lê Huy Yết người bạn từng chia lửa cùng tôi nay râu dài khỏi cằm, tóc thì đã bạc còn tôi thì hai con mắt đã sụp xuống theo tuổi già rượt đuổi. Điều đau lòng là Yết đang ngồi trên chiếc xe lăn vì phải trải qua một cơn tai biến mạch máu não đã 2 năm nay. Một dây thần kinh não bên trái bị liệt nên lỗ tai bên phải của Yết không nghe được. Lỗ tai còn lại nghe cũng rất khó khăn. Hai người đồng đội năm xưa nói chuyện với nhau phải nhờ thông dịch viên đó là Dung, bà xã của Yết mà 50 năm xưa 3 thằng sĩ quan trẻ tụi tôi gọi là cô bé tám dại khờ. Gọi là cô bé bởi vì tháng 9 năm 1970 khi đại đội di quân đến Buôn Hô thì cô tám này còn đang tuổi vị thành niên. Ba má cô tám có một tiệm tạp hoá nhỏ trước chi khu. Cô tám đứng trước quầy bán những món đồ lặt vặt. Vào ngày đó tháng đó cô tám hiền lành ngây thơ và chơn chất đâu biết là mình vừa hạ gục một tay đẹp trai gan lì nhất đơn vị là Lê Huy Yết lúc anh chàng này dẫn quân đi ngang tình cờ chạm phải khuôn mặt từ trong tiệm nhìn ra. Vì cô tám còn nhỏ nên khi đứng bán quán luôn có cặp mắt canh chừng của ông già cô ấy. Tôi và Hậu những hôm không dẫn quân đi mở đường thường thay phiên nhau đến quán để trấn an ông bà già và vừa làm mai cô tám với bạn mình. Yết thì nôn nóng chờ cô bé đủ 18 tuổi. Tôi và chuẩn uý Hậu cua gái thì dở chứ làm chim xanh thì khá mát tay. Đó là khởi đầu một mối lương duyên cho cặp Dung-Yết từ ngày ấy đến giờ vừa tròn đủ nửa thế kỷ bên nhau. Mới đó mà cứ tưởng như ngày hôm qua. Cô bé tám ngày xưa hiện giờ đã ngoài lục tuần, là một bà nội ngoại của đám cháu, có một tiệm tạp hoá buôn bán nhỏ tại Ban Mê Thuột để chăm sóc ông chồng đang bệnh tật.

Qua màn hình của chiếc i phone nhỏ xíu cô tám cũng không ngờ còn được nhìn thấy lại tôi. Hoài niệm vì thế mà cứ tràn ùa về như thác lũ. Tuy bị tai biến tai nghe hơi khó khăn nhưng giọng nói của Yết khá rõ ràng. Tôi và Yết kể nhau nghe lần 3 thằng tôi cùng đại đội mở đường dọc theo quốc lộ 14 qua khỏi địa phận Buôn Hô. Hôm đó trung đội tôi trực nên đi đầu, trung đội Hậu đi sau, Yết thì bao chót. Khi tôi qua khỏi khúc quanh trên quốc lộ thì nghe tiếng B40 phía sau lưng. Giọng Hậu la oai oái trong máy PRC25 bảo tôi quay lại chận bìa rừng để Hậu rượt địch. Tôi cho trung đội bọc vô bìa rừng và nhìn xuống phía Hậu. Súng nổ dồn dập chừng 30 phút sau thì im. Chỉ còn nghe cối 60 ly của Lê Huy Yết bắn chận đầu vô rừng. Không biết Yết bắn kiểu gì mà mấy tên du kích bỏ lại 2 xác không kịp kéo đi. Khi 3 thằng tôi bắt được tay nhau thì lần này tôi chọc quê Hậu, “mày cũng mõng như lá lúa nên mảnh B40 không biết trúng vào đâu”. Lần đó trung đội của Hậu có 1 binh sĩ bị B40 cắt mất hai chân. 3 người bạn giờ chỉ còn tôi may mắn thoát ra nước ngoài sau 6 năm ở tù. Hậu thì đã mất ở Đà Lạt. Yết thì ngồi trên chiếc xe lăn sống âm thầm ở Ban Mê Thuột để đợi ngày đi trong lặng lẽ. 3 chuẩn uý cùng khóa mới ra trường tên là: Quan - Yết - Hậu trình diện đại đội trưởng tên Phúc. Sau cuộc biển dâu thì đại đội trưởng Phúc và trung đội trưởng Hậu nay đã thành người thiên cổ. Lão tử thần cũng khéo chọn tên Phúc Hậu để dành ưu tiên đi chơi cùng lão.


Dù sau này tôi đi nhiều gặp nhiều bạn mới nhưng trong tôi vẫn nhớ nhất là 3 người cùng khoá lần đầu đụng trận cùng nhau trong khi kinh nghiệm chiến trường chưa có. Tôi hỏi Yết có thấy hối tiếc những tháng năm cầm súng hay không khi mà sự kết thúc chúng ta là những người thua trận bị lịch sử vứt sang bên lề. Yết trả lời là không hối tiếc. Một ngày là lính thì suốt đời là lính. Câu trả lời y chang trong ý nghĩ giống tôi.


Quan Dương

Đi Qua Nửa Đời Sống Vợ Chồng Mới Cảm Nhận Được Sự Lãng Mạn Tột Cùng Của Tình Yêu


Nhiều người nghĩ rằng vợ chồng sống không hợp sẽ dẫn đến kết cục ly hôn. Tuy nhiên, cặp vợ chồng già trong bài viết này lại khác. Mặc dù cãi vã mỗi ngày vì những điều nhỏ nhặt nhưng họ vẫn có thể nắm tay nhau đi đến cuối con đường; hơn thế nữa, họ còn cảm nhận được sự lãng mạn tột cùng của tình yêu.

Một đôi vợ chồng già sống với nhau gần trọn cuộc đời nhưng thường hay cãi vã vì những chuyện nhỏ nhặt. Bà là người ưa sạch sẽ nhưng người chồng lại luộm thuộm bẩn thỉu, không thích làm việc nhà. Bà vẫn thường mắng ông ở bẩn, lười biếng và hôi thối. Mặc dù bà đã dùng hết những lời khó nghe để cằn nhằn ông nhưng chồng bà vẫn không có chút thay đổi. Những tưởng họ sẽ chia tay vì cuộc sống không hòa hợp, nhưng thật kỳ lạ, họ vẫn chịu đựng và sống cùng nhau đến mấy chục năm.


Vào ngày thứ 2 sau lễ kỷ niệm đám cưới bạc của họ, cụ bà đột nhiên phải nhập viện và được bác sĩ chẩn đoán mắc hội chứng parkinson. Các con của họ khuyên cha đưa mẹ vào viện dưỡng lão bởi vì họ nhìn thấy mẹ đã phải chăm cha suốt cả quãng thời gian dài. Các con của cụ nghĩ rằng, ngay cả việc vệ sinh sạch sẽ cho bản thân người cha còn không muốn làm thì sao có thể chăm sóc cho người bệnh. Nhưng thật không ngờ, người cha đã quyết định đưa vợ ra khỏi viện dưỡng lão và đem về nhà chăm nom.


Nhiều năm trôi qua, khách đến nhà chơi không khỏi kinh ngạc bởi vì họ thấy nhà cửa gọn gàng ngăn nắp, khuôn mặt cụ bà vẫn hồng hào khỏe mạnh. Mặc dù cụ bà phải ngồi trên xe lăn với đôi mắt đờ đẫn và miệng chảy nước dãi nhưng cụ ông không ngần ngại ngồi bên cạnh lau khô hết lần này tới lần khác. Quần áo của hai vợ chồng vẫn sạch sẽ thơm tho toát lên mùi hương mà cụ bà yêu thích. Thậm chí, cụ ông còn trồng mấy chậu hoa trong phòng để màu xanh cây cối làm cho khung cảnh căn nhà tràn đầy sức sống.


Nhìn thấy điều kỳ lạ này, mọi người nghĩ rằng cụ ông đã thuê người giúp việc hoặc có nhân viên vệ sinh trợ giúp. Nhưng sau khi nói chuyện với cụ, họ mới biết cụ ông không nhờ ai giúp mà quyết tự mình làm tất cả, từ chăm sóc bệnh nhân, dọn dẹp phòng, nấu cơm, giặt quần áo… Cái gì không biết cụ ông liền hỏi con gái hoặc người hàng xóm. Thậm chí, cụ ông còn lên mạng internet tìm công thức nấu ăn và mẹo làm vườn. Trong những năm này, nhờ việc cố gắng chăm sóc tốt cho vợ, tự nhiên cụ ông cũng thay đổi thói quen sống của bản thân trước đây.


Bạn bè và người thân đều ngưỡng mộ ông nhưng cụ ông đã điều chỉnh lại: “Vợ tôi mới là người đáng được ngưỡng mộ. Tôi nghĩ lại trước kia bản thân sống dơ bẩn như vậy nhưng bà ấy lại có thể chịu đựng tôi trong nhiều năm, tôi lại càng cảm thấy tình yêu bà dành cho tôi thật sâu sắc. Cho nên việc tôi làm trong khoảng thời gian mấy năm này có đáng kể gì đâu”.

Cụ ông vân vê bàn tay vợ rồi nói với mọi người: “Bà ấy chịu đựng tôi nửa đời người, tôi sẽ nhịn bà ấy trong nửa đời còn lại để cùng nhau đi đến cuối cuộc đời, đó mới thực sự là cuộc sống vợ chồng hoàn hảo”.

Ban đầu, tình yêu là mật ngọt khiến con người tìm đến với nhau, say trong tình yêu, họ dám chấp nhận mọi khổ ải, dốc toàn tâm hy vọng xây dựng cuộc sống hạnh phúc.


Tuy nhiên, khi thời gian trôi qua, mật ngọt cạn dần, cơn đau do thống khổ sẽ được nhận thức sâu sắc hơn. Điều quan trọng là, sự nhẫn nại chịu đựng đã trở thành thói quen, trong lặng lẽ mà tạo nên hương vị cuộc sống. Giống như chúng ta uống một tách trà vậy, ban đầu thấy đắng nhưng sau đó mới cảm nhận được sự ngọt ngào. Điều này khiến các cặp vợ chồng không thể từ bỏ nhau. Nó làm cho mỗi người trong cuộc không thể thoát ra mà cam tâm tình nguyện vì nửa còn lại mà hy sinh hết thảy.

Giống như cặp vợ chồng già này, cụ bà nguyện ý chịu đựng thói quen lười vệ sinh của chồng và cụ ông cũng nguyện ý chịu đựng thói quen hay cằn nhằn của vợ. Điều quan trọng là, khi thấy bạn đời đau khổ vì những thiếu sót của mình thì chúng ta có thể nguyện ý sửa đổi để hoàn thiện bản thân và cùng nhau xây dựng mối quan hệ hôn nhân hòa hợp đầy chất thơ. Cuộc sống như vậy tuy chưa hoàn hảo nhưng trong quá trình này, nó sẽ mang đến cho các cặp đôi cảm giác lãng mạn nhất của tình yêu.


Theo secret China
San San biên dịch

Tháng Tư Đen 1975 - Nguyễn Duy Phước

Monday, April 13, 2026

Đây Là Nơi Tập Trung Rác


 

Thanh Loan chuyển

30/4 Của 51 Năm Sau - Sỏi Ngọc

Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy

Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm


 Lại một tháng Tư đen

Quê người ta tạm trú
Bao giờ về cố thổ
Như máu chảy về tim?

Cuộc chiến đã qua lâu
Lòng ta còn hậu chấn
Hỡi ơi ! Trời biển rộng
Dằng dặc một cơn sầu.  (Hoàng Song Liêm)

Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.

Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.

Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại sứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.

Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những  cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh,  ánh sáng rạng rỡ, hy vọng  mở ra cho bà một tương lai mới!

Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân

Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay

Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college

 

Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.

Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.

Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:

- "Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?"

Một người khác góp ý:

- "Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản."

Đạo diễn Robbie nói:

- "Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay."

Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:

- "Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!"

 

Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!

Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.

Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân  năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,

Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang,  cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.

Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại minh chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.

 

Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :

- "Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này."

Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:

Tháng Tư về, gió chạm hư vô
Ký ức cũ rơi rụng không bờ
Người ở lại quen dần im lặng
Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ

Một dòng sông chia hai bờ nhớ
Nửa quê hương trôi dạt phương nào
Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi
Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.

 

Sỏi Ngọc

Montreal 4/4/2026


https://vietbao.com/p113a324969/30-thang-tu-cua-51-nam-sau-