Monday, September 14, 2026

Peaceful Nature Farm Life Harvesting Herbs, Drying Bundles & Cooking On The Farm 🌿 Simple Countrysid

Đời Sống Và Tâm Tư Người Lính Qua Văn Học Nghệ Thuật Miền Nam Trước 1975 - Phạm Sơn Liêm

 

Chiến tranh luôn để lại những vết thương. Nhưng trong văn học nghệ thuật miền Nam trước năm 1975, người lính không chỉ hiện lên qua tiếng súng, mà còn qua những khoảng lặng rất đời thường.

Họ là những chàng trai vừa rời ghế nhà trường, những người con của miền quê, những công chức gác bút nghiên khoác lên mình bộ quân phục. Sau lưng họ là cha mẹ già, là người yêu, là người vợ trẻ và những đứa con còn thơ dại. Trước mặt họ là những cánh rừng, ngọn núi, dòng sông và những cuộc hành quân không biết ngày trở về.

Văn học miền Nam không chỉ ca ngợi lòng dũng cảm, mà còn dám nói về nỗi cô đơn của người lính.

Đó là nỗi nhớ nhà trong đêm gác giữa rừng sâu. Là tiếng đàn guitar cũ bên bếp lửa tiền đồn. Là lá thư nhà đã nhàu vì đọc đi đọc lại. Là tấm hình người yêu ép trong chiếc ví đã bạc màu.

Trong âm nhạc, biết bao ca khúc đã trở thành tiếng lòng của cả một thế hệ. Người lính hiện lên không phải là con người không biết sợ, mà là người biết sợ, biết nhớ, biết yêu, nhưng vẫn bước tiếp vì bổn phận.


Trong văn chương, nhiều tác giả đã viết về người lính với sự chân thực. Có những trang viết đầy chất bi tráng, có những đoạn văn bình dị như lời tâm sự. Người đọc bắt gặp những cuộc hành quân dài bất tận, những cơn mưa rừng, những đôi giày sũng nước, những bữa cơm vội, những người đồng đội vừa cười nói hôm qua, hôm sau đã nằm lại nơi chiến địa.

Điều làm nên giá trị của văn học nghệ thuật miền Nam không chỉ nằm ở chiến trận, mà ở tính nhân bản.

Người lính biết thương dân.

Biết đau khi chứng kiến làng xóm tan hoang. Biết rơi nước mắt trước cái chết của đồng đội. Biết nâng niu một cành hoa dại ven đường hay tiếng cười của trẻ nhỏ giữa vùng chiến sự.

Đó là những chi tiết rất nhỏ, nhưng làm cho hình tượng người lính trở nên gần gũi và chân thật.

Nghệ thuật miền Nam cũng không né tránh sự mất mát. Có những bài thơ viết về chiếc ba lô còn nằm lại trên đỉnh núi. Có những truyện ngắn kể về người vợ trẻ mòn mỏi chờ tin chồng. Có những bản nhạc chỉ cần vài câu hát đã gợi cả một trời chia ly.

Chính vì vậy, người lính trong văn học nghệ thuật miền Nam không chỉ là biểu tượng của chiến đấu, mà còn là biểu tượng của tình người.

Ngày nay, khi đọc lại những tác phẩm ấy, điều còn đọng lại không phải chỉ là khói lửa chiến tranh, mà là khát vọng rất bình dị của con người: được sống trong hòa bình, được trở về bên gia đình và được yêu thương.

Lịch sử có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Nhưng những trang văn, bài thơ và ca khúc viết bằng cảm xúc chân thành vẫn có giá trị như những chứng nhân của một thời đại. Chúng giúp các thế hệ sau hiểu rằng, phía sau mỗi bộ quân phục là một con người với trái tim biết yêu, biết nhớ và biết hy sinh.


Đó cũng chính là giá trị lâu bền của văn học nghệ thuật miền Nam trước năm 1975: lưu giữ hình ảnh người lính không chỉ như một chiến binh, mà trước hết là một con người.

 

Phạm Sơn Liêm

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Joke: Bob Bob Bob Bob...

 

A reporter hears of a woman in his town that has the highest welfare payments, and he was curious as to why.

So he went to her house to interview her.

He got to a little house and after she opens, introduces himself and asks her, "How old are you?" He asked.

"27." she said. "And how many children do you have?" "Ten," she replied.

 "Wow, ok that explains a lot." He said, taken a back.

 "And what are their names?" he asked.

 "Well there's Bob, then there's Bob, and Bob, Bob, Bob, Bob, Bob, Bob, Bob, and of course Bob." 

"They're ALL named Bob?" he asked, even more bewildered. "What if you want them to come in from playing outside?"

"Oh, that's easy," she explained, "I just call 'Bob,' and they all come running inside."

"And if you want them to come to the table for dinner?" "I just say, 'Bob, come eat your dinner,' and they do." She answered.

"But what if you want just ONE of them to do something?" he asked.

"Oh, that's easy," she said. "I just use their last name."


[FunFunky]

6 Cây Cầu Treo Dài Nhất Thế Giới

Cầu Akashi Kaikayo Nhật Bản

Cây cầu nối liền lục địa Á - Âu soán ngôi cầu Akashi Kaikyo của Nhật Bản để trở thành cầu treo có nhịp dài nhất thế giới.

Cầu treo là một trong những kiểu công trình kiến trúc lâu đời nhất trên thế giới. Dây thừng và gỗ là vật liệu chính ban đầu được sử dụng để xây dựng cầu treo. Ngày nay những vật liệu đó được thay thế bằng bê tông cốt thép và cáp có độ bền cao. Dưới đây là danh sách 6 cây cầu treo dài nhất thế giới, tính theo chiều dài nhịp chính của cầu.

6. Cầu Hamber, 1.410 m, Anh

Ảnh: Outdooractive.

Hamber là một cây cầu treo dài 2.220 m nằm ở thành phố Kingston upon Hull, kết nối North LinconInshire và East Riding of Yorkshire. Nhịp cầu dài 1.410 m của Hamber là nhịp cầu treo dài nhất ở Vương quốc Anh. Cây cầu được khánh thành vào năm 1981 và cho đến năm 1998, Hamber vẫn là cây cầu treo một nhịp dài nhất thế giới.

Cây cầu treo ở Hull được Nữ hoàng Elizabeth II chính thức cho thông xe vào ngày 17/7/1981. Cầu Hamber có thể chịu được sức gió thổi lên đến gần 130 km/giờ và có thể chịu được chuyển động liên tục. Nhịp trung tâm của cầu cũng cho phép tàu bè qua lại. Cầu Hamber có lưu lượng 12.000 xe mỗi tuần.

5. Cầu Nam Kinh Dương Tử 4, 1.418 m, Trung Quốc

Ảnh: Mageba.

Cầu Nam Kinh Dương Tử 4 là công trình có nhịp cầu treo dài thứ 3 ở Trung Quốc. Cây cầu này nằm trên sông Dương Tử, ở Nam Kinh, tỉnh Giang Tô. Nhịp dài nhất của cầu có độ dài 1.418 m.

Chi phí xây dựng cây cầu này là 6,8 tỷ nhân dân tệ. Công trình được thông xe vào ngày 24/12/2012. Cây cầu có 6 tuyến giao thông kép, cho phép các phương tiện di chuyển với tốc độ 100-125 km/h.

4. Cầu Great Belt, 1.624 m, Đan Mạch

Ảnh: Henrik Sendelbach.

Cầu Great Belt là một trong những cây cầu thuộc hệ thống giao thông liên kết cố định nối đảo Zealand và Funen của Đan Mạch. Hệ thống cầu gồm cầu treo đường bộ, hầm đường sắt và cầu dầm hộp.

Sau hàng thập kỷ bàn bạc, năm 1986 quốc hội Đan Mạch đã quyết định việc xây dựng cầu và đường hầm giao thông, thay thế cho việc di chuyển mất hàng giờ để qua eo biển Storebaelt bằng tàu phà từ hàng trăm năm trước. Ngày nay, xe chạy qua cầu chỉ mất dưới 15 phút.

Việc xây dựng cây cầu bắt đầu vào năm 1989 và mở cửa cho công chúng vào năm 1998. Cây cầu Great Belt có độ cao 254 m trên mặt nước, là điểm cao nhất ở Đan Mạch. Nhịp dài nhất của cây cầu là 1.624 m và là nhịp chính dài thứ 4 trên thế giới.

3. Cầu Xihoumen, 1.650 m, Trung Quốc

Ảnh: Trip.com.

Cầu Xihoumen (cầu Cổng Tây) là cây cầu có nhịp chính dài nhất ở Trung Quốc và là cây cầu treo dài thứ 3 trên thế giới, nằm ở quần đảo Chu San. Chiều dài nhịp trung tâm của cây cầu này là 1.650 m.

Cầu Xihoumen dài 5,3 km, bao gồm phần nối phụ dài 2,7 km và cầu chính dài 2,6 km. Được khởi công xây dựng vào năm 2005 và hoàn thành vào năm 2007, cây cầu được thông xe vào ngày 25/12/2009. Thiết kế cầu có 4 tuyến đường cao tốc, cho phép xe chạy với tốc độ 80 km/h.

2. Cầu Akashi Kaikyo, 1.991 m, Nhật Bản

Ảnh: Tabi-nal.

Cầu Akashi Kaikayo là cây cầu treo có nhịp dài nhất thế giới trong một thời gian dài trước khi cầu Canakkale 1915 của Thổ Nhĩ Kỳ khánh thành gần đây.

Cầu Akashi Kaikayo nối thành phố Kobe với đảo Awaji ở Nhật Bản. Cầu có 3 nhịp, nhịp chính ở giữa dài 1.991 m và 2 nhịp còn lại dài 960 m. Hệ thống dầm cứng hai bản lề giúp cây cầu chịu được sức gió lên tới 286 km/giờ và động đất có cường độ lên tới 8,5 độ richter.

Việc xây dựng cầu Akashi Kaikyo bắt đầu vào năm 1988 và mất 10 năm để hoàn thành. Người ta ước tính rằng 181.000 tấn thép được sử dụng để xây dựng công trình. Cầu được khánh thành vào ngày 5/4/1998 và có 6 tuyến giao thông. Các dây cáp chính của cây cầu cũng bao gồm các ống phóng điện với nhiều màu sắc khác nhau, được chiếu sáng trong những dịp quan trọng như quốc khánh, ngày tưởng niệm hoặc các dịp lễ khác.

1. Cầu Canakkale 1915, 2.023 m, Thổ Nhĩ Kỳ

Ảnh: Altanakin.

Giữa tháng 3 vừa qua, Thổ Nhĩ Kỳ khánh thành cây cầu treo dài nhất thế giới - Canakkale 1915. Cây cầu là tuyến giao thông mới giúp rút ngắn thời gian di chuyển giữa hai bờ phía châu Âu và châu Á của eo biển Dardanelles chỉ còn 6 phút. Đây là một tuyến đường thủy quan trọng của đất nước nằm giữa 2 châu lục này.

Với trụ cầu cao 318 m, nhịp cầu chính giữa dài 2.023 m và tổng chiều dài 4,6 km bao gồm cả đường dẫn, cầu Canakkale 1915 đã soán ngôi cầu Akashi Kaikyo của Nhật Bản để trở thành cây cầu treo dài nhất thế giới.


Zing News

Chị Lấy Chồng Trẻ, Thiên Hạ Còn Lo Hơn Chị - Jymmy Nguyen


Hôm trước ngồi uống bia với mấy ông bạn, có ông kể chuyện bà chị họ gần năm mươi lấy anh chồng kém mười tuổi. Cả bàn đang vui tự nhiên một ông phán: “Lấy thằng trẻ thế rồi nó bỏ thì nhục mặt.” Tôi hỏi: “Thế lấy thằng già thì đảm bảo không bị bỏ à?” Ông ấy ngồi im. Tôi nói tiếp: “Hay cứ phải lấy đúng tuổi thì được cấp giấy bảo hành hôn nhân?”

Cái chuyện buồn cười nhất ở đời là người ta rất thích quản lý chuyện tình cảm của thiên hạ. Hai đứa yêu nhau thì soi tuổi. Cưới nhau thì soi tiền. Đẻ con thì soi trai hay gái. Vợ kiếm nhiều tiền hơn chồng thì bảo thằng chồng ăn bám. Chồng kiếm nhiều tiền hơn vợ thì bảo vợ sướng. Đến lúc người ta cãi nhau thì lại ngồi phán: “Tôi nhìn là biết ngay, kiểu này chẳng bền.” Ơ hay, nhìn qua cái Facebook mà biết được đời tư người ta thì chắc các nhà tâm lý học thất nghiệp hết.

Có một sự thật hơi mất lòng: đàn ông lớn tuổi không tự động biến thành đàn ông trưởng thành. Cũng giống như đàn bà nhiều tuổi không tự nhiên thành người khôn ngoan. Có những ông năm mươi tuổi vẫn dỗi vợ vì vợ không đưa tiền đúng giờ. Có những bà bốn mươi tuổi vẫn kiểm tra điện thoại chồng mỗi tối. Tuổi tác chỉ làm tóc bạc đi chứ không đảm bảo cái đầu sẽ khôn lên.

Ngược lại, có những cậu trai mới ngoài ba mươi nhưng sống đàng hoàng hơn khối ông “đầu hai thứ tóc”. Đi làm về biết phụ vợ một tay. Vợ mệt thì biết hỏi một câu. Có chuyện không vừa ý thì nói chuyện, không đập bàn đập ghế. Vợ kiếm tiền giỏi hơn thì không tự ái. Vợ biết việc gì hơn thì chịu khó học. Thế mà thiên hạ vẫn bảo: “Trẻ con biết gì mà lấy vợ hơn tuổi?”

Ơ, nó không biết gì thì nó mới phải học. Chứ có những ông tưởng mình biết hết rồi, cuối cùng sống với vợ hai chục năm mà vẫn không biết vợ mình thích ăn gì, sợ điều gì và đang buồn chuyện gì.

Tôi biết một chị ngoài bốn mươi, từng lấy chồng hơn tuổi. Hồi cưới ai cũng khen “đẹp đôi, đúng chuẩn”. Chị làm lụng, chăm con, lo trong lo ngoài. Ông chồng thì cái gì cũng cho là việc của đàn bà. Đi làm về ngồi rung đùi, ăn cơm xong xem điện thoại, con khóc thì gọi vợ, nhà có việc thì gọi vợ. Chị có ý kiến thì ông ấy bảo: “Tôi là đàn ông, cô phải biết nghe.” Nghe riết rồi chị cũng… hết muốn nghe.

Sau cùng họ chia tay.

Mấy năm đầu chị khổ lắm. Người ta lại được dịp xì xào: “Đấy, đàn bà mà không biết giữ chồng.” Tôi nghe mà chỉ muốn hỏi: “Giữ cái gì? Người muốn đi thì trói vào cột điện chắc nó ở à?”

Sau này chị gặp một anh trẻ hơn. Anh làm việc đàng hoàng, tính tình vui vẻ, không có cái kiểu mở mồm ra là “anh là đàn ông”. Hai người quen nhau một thời gian rồi cưới. Cưới xong anh vẫn đi làm, chị vẫn đi làm. Cuối tuần hai người chia nhau nấu ăn. Ai rảnh thì làm, ai mệt thì người kia gánh. Chị kiếm tiền nhiều hơn thì anh chẳng tự ái. Anh giỏi công nghệ thì chị hỏi. Chị nhiều kinh nghiệm sống thì anh nghe. Hai đứa con chị ban đầu cũng ngại, sau lại quý ông bố dượng trẻ này hơn cả bố ruột.

Có lần tôi hỏi chị: “Chênh tuổi thế có ngại không?”

Chị cười: “Lúc đầu ngại chứ. Sau nghĩ lại, người sống với mình là anh ấy chứ có phải hàng xóm đâu mà hàng xóm duyệt.”

Nghe xong thấy đúng.

Hôn nhân mà cứ phải sống theo ánh mắt thiên hạ thì mệt lắm. Sáng mở mắt ra không biết vợ mình vui hay buồn nhưng lại biết rất rõ hàng xóm đang nghĩ gì. Tối hai vợ chồng chẳng nói với nhau được câu nào tử tế nhưng lên Facebook vẫn đăng ảnh kỷ niệm ngày cưới, caption “mãi mãi bên nhau”. Mãi mãi gì thì chưa biết, nhưng cái mặt trong ảnh thì cười rất tươi.

Thế nên phụ nữ lấy chồng trẻ, tôi chẳng thấy có gì ghê gớm. Miễn là anh ta tử tế, có trách nhiệm, biết làm ăn, biết thương vợ, biết cư xử với gia đình. Còn trẻ hay già thì để lịch và đồng hồ nó lo.

Đàn ông lấy vợ hơn tuổi cũng chẳng có gì phải xấu hổ. Nếu một người phụ nữ khiến anh ta muốn trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình thì xin chúc mừng. Cưới được người làm mình trưởng thành lên còn hơn cưới một người đúng tuổi mà ngày nào cũng khiến mình muốn bỏ nhà đi bụi.

Nói thật, đời người ngắn lắm.

Ăn một bữa cơm ngon còn phải tranh thủ. Ngủ một giấc ngon còn chưa chắc có. Sáng mở mắt ra đã phải đi làm, đóng tiền điện, tiền nước, tiền học cho con, tiền đủ thứ trên đời. Vậy mà tối về còn phải ngồi nghe thiên hạ phán mình yêu ai, cưới ai, hơn kém nhau bao nhiêu tuổi.

Thôi, mệt.

Ai hạnh phúc thì cứ để người ta hạnh phúc.

Ai đang yêu thì cứ yêu.

Ai đang cưới thì cứ cưới.

Miễn đừng vay tiền tôi là được.

Còn chuyện chị hơn chồng mười tuổi, anh hơn vợ mười tuổi hay hai người bằng tuổi nhau… thật ra chẳng quan trọng bằng chuyện về đến nhà có còn muốn ngồi cạnh nhau hay không.

Bởi người làm mình khổ thì dù bằng tuổi cũng vẫn già.

Người làm mình vui thì dù kém mười tuổi vẫn thấy… trẻ.

Cuối cùng, lấy ai không quan trọng bằng lấy một người khiến mình được sống đúng là mình mà không phải ngày nào cũng diễn vai “người vợ tốt”, “người chồng chuẩn” cho thiên hạ xem.

Thiên hạ thích nói gì thì nói.

Miệng thiên hạ mà đem nấu cơm được thì chắc nhà mình giàu từ lâu rồi.


Jymmy Nguyen

 title

Lo Sợ “Tam Cao” Ít Ăn Thịt Thực Sự Đúng không? Cẩn Thận Hội Chứng Thiểu Cơ!

 Lo sợ “tam cao” ít ăn thịt thực sự đúng không? Cẩn thận hội chứng thiểu cơ!


 
Trong xã hội hiện đại, “tam cao” (huyết áp cao, đường huyết cao, mỡ máu cao) đã trở thành kẻ giết người thầm lặng trong tâm trí nhiều người. 

Để kiểm soát các chỉ số sức khỏe, nhiều người áp dụng những điều chỉnh chế độ ăn uống khắc nghiệt, một trong những cách làm phổ biến nhất là “kiêng thịt nghiêm ngặt” hoặc “chế độ ăn cực ít béo, ít protein”. Tuy nhiên, chiến lược ăn uống “chữa lợn lành thành lợn què” này lại thường bỏ qua nguồn nguyên liệu cơ bản nhất cho sự vận hành của cơ thể — protein. Khi chúng ta kiêng khem ăn uống quá mức vì sợ tam cao, chúng ta thường rơi vào một cuộc khủng hoảng sức khỏe khác: hội chứng thiểu cơ (sarcopenia).


Một, Không cần phải “biến sắc” khi nhắc đến thịt

Nhiều bệnh nhân tam cao tránh thịt như tránh tà, cho rằng hàm lượng chất béo và cholesterol trong thịt cao, là thủ phạm gây tắc nghẽn mạch máu và rối loạn chuyển hóa. Tuy nhiên, quan điểm này thực chất đã nhầm lẫn giữa “protein chất lượng cao” và “thịt đỏ chế biến sẵn/thịt nhiều mỡ”.

1. Protein là nền tảng của cơ bắp Cơ bắp không chỉ là đặc quyền của vận động viên, nó còn là cỗ máy cốt lõi trong quá trình trao đổi chất của cơ thể con người. Khối lượng cơ bắp đủ thì tỷ lệ sử dụng lượng đường trong máu mới cao, vì cơ xương là nơi chủ yếu để cơ thể xử lý lượng đường trong máu. Khi bạn cắt đứt hoàn toàn việc tiêu thụ thịt trong thời gian dài để tránh cholesterol, cơ thể do thiếu hụt axit amin sẽ bắt đầu tự phân giải các mô cơ của chính mình để lấy năng lượng.


2. Thay thế chất dinh dưỡng sai lầm Nhiều người sau khi kiêng thịt, để tăng cảm giác no, thường chuyển sang dùng một lượng lớn tinh bột tinh chế (như bánh mì, cơm trắng, đồ uống có đường) để thay thế. Sự thay đổi cấu trúc chế độ ăn uống này không những không cải thiện được tam cao mà ngược lại, do nạp quá nhiều carbohydrate, khiến insulin dao động mạnh, làm trầm trọng thêm các vấn đề về chuyển hóa.


Hai, Hội chứng thiểu cơ còn nghiêm trọng hơn cả tam cao

Hội chứng thiểu cơ không chỉ đơn thuần là cơ bắp nhỏ đi, ảnh hưởng sâu xa hơn của nó là sự suy thoái toàn diện các chức năng của cơ thể.

1. Sự sụp đổ của khả năng trao đổi chất Khi khối lượng cơ bắp giảm xuống, tỷ lệ trao đổi chất cơ bản của cơ thể cũng giảm theo. Điều này sẽ tạo thành một vòng luẩn quẩn: khả năng vận động kém đi, quá trình trao đổi chất chậm lại, việc kiểm soát tam cao trở nên khó khăn hơn. Nhiều người lớn tuổi cho rằng “tuổi già cơ bắp giảm sút là chuyện bình thường” — đây là một quan niệm sai lầm nghiêm trọng trong y học. Sự lão hóa tự nhiên sẽ đi kèm với việc mất cơ, nhưng nếu tốc độ mất cơ quá nhanh, sẽ dẫn đến tăng tải trọng cho xương, nguy cơ té ngã tăng vọt, từ đó kéo theo các rủi ro tàn phế như gãy xương.


2. Suy giảm hệ miễn dịch và khả năng phục hồi Cơ bắp không chỉ là bộ khung cho các hoạt động mà còn là căn cứ quan trọng lưu trữ kháng thể (immunoglobulin) và tham gia vào quá trình sửa chữa của cơ thể. Việc thiếu hụt protein nghiêm trọng sẽ dẫn đến vết thương chậm lành và khả năng miễn dịch suy giảm. Đối với bệnh nhân tam cao, điều này có nghĩa là một khi xảy ra nhiễm trùng hoặc viêm nhiễm, sức chịu đựng của cơ thể sẽ kém xa so với trước đây.


Ba, Làm thế nào để ăn thịt mà vẫn đảm bảo sức khỏe?

Lo lắng về tam cao không có nghĩa là phải trở thành người ăn chay, vấn đề không nằm ở việc “ăn thịt”, mà là “ăn loại thịt nào” và “ăn như thế nào”.

1. Lựa chọn nguồn protein chất lượng cao Để tránh nỗi lo tiềm ẩn về tam cao, khuyên bạn nên ưu tiên chọn các loại protein sau:

  • Thịt trắng: Ức gà, các loại cá (đặc biệt là cá biển sâu giàu Omega-3, giúp điều hòa mỡ máu).
  • Sản phẩm từ đậu nành: Đậu phụ, đậu khô, sữa đậu nành là những lựa chọn protein thực vật rất tốt.
  • Phần thịt nạc ít béo: Thịt lợn hoặc thịt bò nên chọn phần thịt nạc và loại bỏ phần mỡ có thể nhìn thấy.

2. Phương pháp chế biến quyết định chìa khóa sức khỏe Cùng là một miếng ức gà, nhưng hiệu quả của việc chiên rán ngập dầu so với hấp, luộc là hoàn toàn khác nhau. Giảm thiểu việc chiên rán, nướng ở nhiệt độ cao, chuyển sang các phương pháp như hấp, luộc, hầm, trộn salad có thể giảm đáng kể việc nạp vào chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa. Đây mới là chìa khóa để ổn định tam cao, chứ không phải là hoàn toàn không động đến các loại thịt.


3. Kiểm soát khẩu phần và phân bổ Việc nạp protein không nên tập trung vào một bữa ăn. Khuyên bạn nên chia đều lượng protein cần thiết mỗi ngày cho ba bữa ăn, khẩu phần protein mỗi bữa ăn khoảng bằng một lòng bàn tay. Như vậy sẽ giúp cơ thể liên tục tiến hành tổng hợp cơ bắp và ổn định lượng đường trong máu.


Bốn, Rèn luyện sức mạnh cơ bắp và chế độ ăn uống quan trọng như nhau

Chế độ ăn uống tuy quan trọng, nhưng để chống lại hội chứng thiểu cơ và tam cao, bắt buộc phải kết hợp với việc tập luyện sức bền (kháng lực) một cách phù hợp.

1. Sự cần thiết của tập luyện kháng lực Thông qua các bài tập kháng lực như squat, nâng tạ hoặc dùng dây đàn hồi, có thể truyền tín hiệu kích thích cơ bắp phát triển. Đối với bệnh nhân tam cao, tập thể dục có thể trực tiếp làm tăng độ nhạy cảm của cơ bắp với insulin, giúp lượng đường trong máu đi vào tế bào một cách hiệu quả hơn để tiêu thụ, điều này mang lại hiệu quả rõ rệt hơn nhiều so với việc chỉ đơn thuần ăn kiêng.


2. Sự kết hợp vàng giữa dinh dưỡng và vận động Khuyên bạn nên bổ sung protein chất lượng cao trong vòng 30 đến 60 phút sau khi tập thể dục, điều này có thể tối đa hóa hiệu quả phục hồi cơ bắp. Đối với người lớn tuổi hoặc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính, nên tham khảo ý kiến của chuyên gia dinh dưỡng hoặc bác sĩ vật lý trị liệu để lên kế hoạch thực đơn ăn uống và vận động cá nhân hóa, tuyệt đối không chạy theo cường độ một cách mù quáng.


Kết luận

Kiểm soát tam cao là để theo đuổi chất lượng cuộc sống tốt hơn, chứ không phải để sống trong cảnh nơm nớp lo sợ. Nhiều bệnh nhân vì sợ mỡ máu cao mà để cơ thể đói đến gầy mòn, hậu quả là dẫn đến mất sức mạnh cơ bắp, ngược lại làm mất đi khả năng vận động và chất lượng cuộc sống.

Đạo lý của một chế độ ăn uống lành mạnh nằm ở sự “cân bằng” chứ không phải “cắt đứt”. Nạp một lượng vừa đủ protein chất lượng cao, đồng thời kết hợp với các bài tập kháng lực thường xuyên, bạn hoàn toàn có thể đồng thời sở hữu những mạch máu khỏe mạnh và những khối cơ bắp cường tráng. Xin hãy nhớ rằng, cơ bắp là tài sản lớn nhất bảo vệ cuộc sống tuổi già của chúng ta. Đừng vì kiểm soát tam cao mà hy sinh cơ bắp nữa, hãy tìm lại phương pháp ăn uống đúng đắn để “cỗ máy” cơ thể này vận hành mạnh mẽ và bền bỉ hơn.


Theo Vision Times

Ngàn Sau Nước Chảy - Đỗ Công Luận

Sunday, September 13, 2026

2 Tháng 9, Nhìn Từ Phòng Xuất Cảnh - Nguyễn Việt Hùng


Ngoài phố, cờ đỏ rợp trời. Biểu ngữ giăng ngang những đại lộ. Sân khấu sáng choang. Truyền hình phát lại những trang sử hào hùng. Những bài hát quen thuộc vang lên giữa tiếng trống, tiếng loa và những lời nhắc nhở về lòng tự hào dân tộc.

Tám mươi mốt năm độc lập.  Một chặng đường đủ dài để một đứa trẻ sinh ra năm ấy đã thành một cụ già.  Nhưng hôm nay, tôi không muốn đứng giữa quảng trường để nhìn ngày Quốc khánh. Tôi muốn thử đứng ở một nơi khác.  Nơi đó là Phòng xuất cảnh.

Ở đó cũng đông lắm. Chỉ khác một điều:

Ngoài quảng trường, người ta đứng nhìn lá cờ.  Còn ở sân bay người ta kéo “vali,” cầm “passport,” nhìn bảng các chuyến bay, và chờ đến lượt mình bước qua cánh cửa dẫn ra nước ngoài.


1. Một Bên Là Cờ, Một Bên Là “PASSPORT”

Tôi cứ tưởng một đất nước đã trải qua bao nhiêu năm chiến tranh để giành độc lập thì sau ngày độc lập, điều sung sướng nhất của người dân phải là “Được ở lại quê hương mình.” 

Nhưng lịch sử đôi khi có chuyện hài hước khá cay đắng.  Có những thời kỳ, người ta vượt biển. Có người đi bằng thuyền nhỏ, mang theo vài bộ quần áo, chút vàng giấu trong người và một tương lai chẳng biết nằm ở đâu ngoài đường chân trời. Có nhiều người bỏ mạng giữa biển.

Rồi thời thế thay đổi.  Người ta không còn nhất thiết phải đi bằng thuyền nữa. Vâng! Bây giờ văn minh hơn nhiều vì:

Có passport. 

Có visa. 

Có vé máy bay.

Có công ty tư vấn du học.

Có chương trình xuất khẩu lao động.

Có hồ sơ đoàn tụ. 

Có định cư diện đầu tư.

Có cả những người dành nhiều năm, nhiều tiền và nhiều quan hệ chỉ để có thêm một cánh cửa dẫn ra bên ngoài.

Phương tiện đã thay đổi.  Nhưng có một câu hỏi nhức nhối vẫn còn nằm đó: “Tại sao nhiều người cứ muốn đi khỏi Việt Nam?


2. “Đi Tha Phương Cầu Thực”

Có một nhóm chữ nghe rất buồn mà ông bà ta thường nói: “Tha phương cầu thực,” tức là “Đi xa để kiếm ăn.”  Ngày xưa, người nông dân chỉ bỏ làng lên tỉnh đã buồn lắm rồi.  Sau này, người Việt còn đi xa hơn:  Nhật,  Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Châu Âu, Mỹ, Úc, Canada…

Nay, người trẻ rời làng quê, vay một khoản tiền (có khi là cả gia tài của cha mẹ) để đổi lấy cơ hội đi lao động ở nước ngoài.

Họ làm nhà máy.

Làm nông trại.

Làm công trường.

Làm nhà hàng.

Chăm nom người già. 

Làm những công việc mà đôi khi chính người bản xứ cũng chẳng thấy mặn mà gì.

Rồi cuối tháng, họ chắt chiu gửi tiền về quê. Tiền ấy để:

Xây nhà.   

Cho cha mẹ.

Cho em đi học.

Trả nợ.

Và đôi khi dựng lên giữa một làng quê một căn nhà thật đẹp để chứng minh rằng: “Nó đi nước ngoài thành công rồi.”

Nghe thoáng qua thấy vui. Nhưng nghĩ kỹ lại hơi buồn.

Bởi có những vùng quê, giấc mơ lớn nhất của một thanh niên không phải là làm được điều gì trên chính mảnh đất mình sinh ra.  Mà là: “Làm sao đi khỏi nơi này.”


3. Rồi Đến Những Cô Gái “ĐỔI ĐỜI”

Có một hoàn cảnh khác còn cay đắng hơn.  Đã có những thời kỳ tại nhiều vùng quê, người ta nghe quen những câu:

“Lấy chồng Hàn.”

“Lấy chồng Đài Loan.”

“Lấy chồng Việt kiều.”

Bốn chữ cuối cùng (“Lấy chồng Việt kiều.”) ngày nay nghe sang lắm.

Có những cuộc hôn nhân bắt đầu bằng tình yêu thật sự. Có những gia đình đa quốc tịch sống rất hạnh phúc.  Không ai có quyền gom tất cả họ vào chung một chiếc giỏ. Nhưng cũng không thể giả vờ cho rằng chưa từng có những cô gái nhìn hôn nhân như một chiếc vé để bước ra khỏi cảnh nghèo khó. Có cô gái chưa từng biết người đàn ông kia là ai.

Không cùng ngôn ngữ. 

Không cùng văn hóa.

Có khi chênh nhau rất nhiều tuổi.

Nhưng phía sau cô là căn nhà nghèo, cha mẹ già, những đứa em và một tương lai quá hẹp.  Thế là người ta gọi đó bằng hai chữ rất đẹp: “Đổi Đời.”

Nghe như chuyện cổ tích. Chỉ khác rằng cô bé Lọ Lem ngày xưa đánh rơi chiếc hài pha lê.  Còn có những cô gái thời hiện đại cầm thật chặt cái… “Passport.”  Bởi phía sau cái “passport” ấy có thể là một hy vọng: “Mình sẽ gửi được tiền về má.

Đó không phải chuyện đọc để cười vào những người phụ nữ ấy.  Nếu có điều gì đáng để châm biếm, thì có lẽ phải hỏi:

Tại sao trên một đất nước được ca ngợi bằng biết bao mỹ từ, từng có những cô gái nghèo phải đặt cả cuộc đời mình vào một cuộc hôn nhân chưa biết tương lai ra sao; chỉ để hy vọng có một cuộc sống khá hơn?


4. Người Nghèo Đi Kiếm Việc, Người Giàu Cho Con Đi Du Học

Nhưng khoan khoan, chờ chút…

Đừng tưởng chỉ có người nghèo mới thích đi.  Người có tiền cũng đi.  Chỉ khác là họ đi bằng cách… đẹp hơn.  Con nhà nghèo đi xuất khẩu lao động. Con nhà khá giả đi du học.  Con nhà rất giàu có thể học trường Mỹ, Anh, Úc, Canada từ rất sớm.

Không có gì sai với vấn đề du học cả. Đi học để mở mang kiến thức là điều đáng quý.  Điều thú vị chỉ xuất hiện khi người ta bắt đầu hỏi: “Học xong có trở về không?

Câu hỏi ấy đôi khi làm bữa cơm bớt vui.  Bởi vì ước mơ của gia đình không dừng ở chuyện con mình lấy được tấm bằng nước ngoài. Ước mơ đẹp hơn là: “Ở lại được thì càng tốt.”  Thế là có một nghịch lý rất Việt Nam xuất hiện:

Cha mẹ có thể tự hào về quê hương.

Con cái có thể đăng hình Quốc khánh.

Cả nhà có thể yêu đất nước tha thiết.

Nhưng hồ sơ định cư vẫn cứ phải chuẩn bị thật kỹ.


5. Lúc Này, Người Muốn Đi Lại là Người Có quyền Thế?

Đây mới là chuyện khó nói. Bởi người nghèo muốn đi thì dễ hiểu; Họ cần việc làm. Người trẻ muốn đi thì cũng dễ hiểu: Họ muốn học hỏi và khám phá thế giới.  Nhưng nếu ngay cả những gia đình có tiền bạc, địa vị hay quyền lực cũng tìm cách cho con học tập, sinh sống hoặc xây dựng tương lai ở những quốc gia mà đôi khi trên diễn đàn lại được chính họ mô tả bằng những lời chẳng mấy thiện cảm, thì câu chuyện bắt đầu trở nên… thú vị.

Miệng có thể luôn luôn nói về những khuyết điểm của phương Tây.  Nhưng con học ở đâu lại là một câu hỏi khác. Tài sản đặt ở đâu lại là câu hỏi khác nữa.  Và tương lai của gia đình muốn gửi vào đâu lại là một câu hỏi rất khác.

Suy cho cùng, khẩu hiệu là thứ người ta chỉ dùng để nói trước đám đông thôi.  Còn nơi gửi con cái và tài sản mới thường tiết lộ điều người ta tin khi trở về nhà. Bởi vì nếu anh thật sự tin vào tương lai mà anh đang kêu gọi hàng triệu người khác tin, tại sao tương lai của chính gia đình anh lại được chuẩn bị thêm một lối thoát ở nơi khác?


6. Có lẽ Vì “ĐỘC LẬP” và “ĐÁNG SỐNG” Là Hai Chuyện Khác Nhau

Đến đây có lẽ cũng phải nên công bằng một chút. 

Độc lập dân tộc là một giá trị. Thoát khỏi sự cai trị của ngoại bang là một giá trị.  Nhưng độc lập không tự động bảo đảm được thịnh vượng. Độc lập cũng không tự động tạo ra một xã hội công bằng.  Nó không tự động tạo việc làm tốt; Không tự động tạo trường học tốt; Không tự động tạo bệnh viện tốt. Không tự động khiến người tài muốn ở lại; Và càng không tự động khiến một cô gái nghèo tin rằng cô có thể xây dựng tương lai ngay tại quê mình mà không cần gửi số phận sang một đất nước xa lạ.

Độc lập chỉ trả lời một câu hỏi: “Ai cai trị đất nước này?”Còn một đất nước có đáng sống hay không lại phải trả lời hàng trăm câu hỏi khác như:

Người dân kiếm sống thế nào?

Con cái họ được học hành ra sao?

Người bệnh được chữa trị thế nào?

Người yếu thế có được bảo vệ không?

Người tài có cơ hội không? 

Luật pháp có đối xử với người có quyền và người không có quyền giống nhau không?

Và quan trọng nhất:

Một người bình thường có nhìn thấy tương lai của mình ngay trên quê hương hay phải nhìn nó qua cửa kính của phòng xuất cảnh?


7. Nhân Ngày 2 Tháng 9, Thử Đứng Nhìn ở Một Nơi Khác Xem Sao

Vậy năm nay, trong ngày Quốc khánh “2 Tháng 9,” nếu đã xem đủ cờ hoa, duyệt lễ, sân khấu và những bài diễn văn, thử làm một việc nhỏ là “Đừng đứng ở quảng trường nữa. Hãy tưởng tượng mình đứng ở sân bay.  Nhìn dòng người kéo vali đi qua cửa xuất cảnh.

Có một sinh viên sang Mỹ.

Một kỹ sư sang Úc.

Một người lao động sang Nhật.

Một cô gái sang Hàn Quốc bắt đầu cuộc hôn nhân với một người đàn ông ở một nền văn hóa khác.

Một gia đình sang Canada.

Một người trẻ vừa nhận được visa, chụp tấm hình rồi cười rạng rỡ.

Không phải tất cả họ đều bỏ quê hương. Nhiều người rồi sẽ trở về.  Nhiều người ra đi chỉ để học tập, làm việc hoặc trải nghiệm. Và rất nhiều người ở nước ngoài vẫn yêu Việt Nam sâu sắc. Nhưng giữa một ngày mà cả nước nói rất nhiều về “Độc lập,” dòng người ấy vẫn đặt ra một câu hỏi đáng suy nghĩ:

Một đất nước thành công nhất có phải chỉ là đất nước đã giành được độc lập?  Hay còn phải là một đất nước mà người dân bình thường cảm thấy họ có thể xây dựng một cuộc đời tử tế ngay tại đây.


8. Lời cuối

Tám mươi mốt năm trước, người Việt mong có một đất nước của mình.  Tám mươi mốt năm sau, có lẽ câu hỏi không nên chỉ là: “Chúng ta đã độc lập chưa?”  Mà nên hỏi thêm một câu: “Chúng ta đã xây dựng được một nơi khiến người dân muốn ở lại chưa?

Ngoài đường, cờ vẫn bay.

Nhạc vẫn vang.

Những lời chúc mừng vẫn chạy đầy màn hình.

Còn ở sân bay, loa thông báo một chuyến bay quốc tế sắp khởi hành.  Dòng người lại kéo “vali” về phía cửa.

Không thấy ai hô khẩu hiệu.

Không thấy ai tranh luận.

Không ai cần giải thích.

Chỉ có cánh cửa xuất cảnh lặng lẽ mở ra.

Và đôi khi, một cánh cửa im lặng lại đặt được những câu hỏi mà hàng ngàn chiếc loa không trả lời nổi.


HVN

Trần Văn Giang (ghi lại). 

Ngày 2/9/2026

Tình Người - Vasily Bazlov




Cố vấn quân sự Liên Xô, Đại úy Nikolai Demin, ngồi tại một bàn ăn được bày biện sang trọng trong một biệt thự thuộc địa cũ ở ngoại ô Phnom Penh. Đó là năm 1981. Campuchia đang dần hồi phục sau khi chế độ Pol Pot bị quân đội Việt Nam và quân nổi dậy địa phương lật đổ. Đất nước, bị tàn phá bởi Khơ mê đỏ, chìm trong nghèo đói cùng cực, nhưng đối với các vị khách nước ngoài và giới quân sự ưu tú mới, bàn ăn đầy ắp thức ăn. Nikolai, kiệt sức sau nhiều tháng phục vụ ngoài chiến trường, khẩu phần ăn khô khan và cái nóng ẩm ngột ngạt, đã gục ngã. 


Trước mặt ông là những đống cua tươi Campuchia, tôm sú, cá nướng và trái cây lạ. Rượu được phục vụ thoải mái: bia lạnh, rượu vang nhập khẩu và rượu mùi địa phương. Đến cuối buổi tối, Demin đã say khướt, no căng bụng và cảm thấy thư thái dễ chịu.Các sĩ quan Campuchia đón tiếp ông gật đầu với nhau, cười tươi. Một người vỗ tay, và một bé gái được dẫn vào sảnh. Cô bé chắc không quá mười một tuổi. Gầy gò, da ngăm đen, đôi mắt to tròn sợ hãi và mái tóc đen cắt ngang vai. Họ mặc cho cô bé một chiếc váy lụa rộng thùng thình, rõ ràng là đồ cũ.

“Đây là dành cho đồng chí Nikolai. Món quà của chúng tôi vì đã giúp chúng tôi giải phóng”, viên thiếu tá quân đội Campuchia nói bằng tiếng Nga bập bẹ, cười nhăn nhó trong cơn say. “Đồng chí có thể làm bất cứ điều gì mình muốn với cô bé. Đưa cô bé vào phòng ngủ.”

 

Sự kinh hoàng, tàn bạo và ghê tởm của lời đề nghị này ngay lập tức khiến Nikolai tỉnh táo lại. Cơn buồn nôn ập đến do ăn quá nhiều, rượu và cú sốc tâm lý. Viên đại úy nôn mửa ngay lên sàn nhà trơn nhẵn của biệt thự, ngay dưới chân một đứa trẻ đang đứng gần đó. Các sĩ quan lầm bầm thất vọng, và Nikolai, thở hổn hển, lấy tay che mặt. Nhưng giây phút tiếp theo đã đẩy anh vào nỗi kinh hoàng lớn hơn. Cô gái, kiệt sức vì nhiều năm chết đói dưới thời Pol Pot và không biết gì ngoài cuộc đấu tranh sinh tồn, quỵ xuống. Đối với cô, đây không phải là bụi bẩn. Đây là thức ăn, gồm những miếng thịt cua và tôm. Cô bắt đầu điên cuồng, nước mắt chảy dài trên cánh tay, vơ lấy và ăn thứ nôn mửa ngay trên sàn nhà.


Nikolai hét lên. Tiếng hét là sự pha trộn giữa giận dữ, đau đớn và bất lực tột cùng. Anh đẩy những sĩ quan Khmer đang xông tới và cố gắng nâng cô gái lên để trấn an vị khách sang một bên, rồi quỳ xuống trước mặt đứa trẻ.


"Đừng! Ôi Chúa ơi, đừng, bé con..." anh khàn giọng nói, nắm lấy cổ tay cô, mỏng manh như que diêm.Cô gái đông cứng người, cuộn tròn lại, chờ đợi cú đánh. Toàn thân cô run rẩy, ngước nhìn người đàn ông da trắng to lớn. Nikolai quay sang những người Campuchia, chết lặng vì kinh ngạc. Ánh mắt anh ta hoang dại đến nỗi viên thiếu tá vô thức nắm chặt bao súng.


"Ra ngoài! Tất cả ra khỏi đây!" Demin gầm lên.

Các sĩ quan, quyết định không đối đầu với "cố vấn" Liên Xô ngang ngược, vội vã rời đi, lẩm bẩm những lời chửi rủa bằng tiếng Khmer. Nikolai bị bỏ lại một mình trong phòng với cô gái.


Anh ta nặng nhọc đứng dậy, tìm một bình nước sạch và một chiếc khăn sạch. Quay lại, anh ta cẩn thận, cố gắng không cử động đột ngột, lau mặt và tay cho đứa trẻ. Cô gái vẫn bất động, tê liệt vì sợ hãi. Sau đó, Nikolai đi đến bàn, vẫn còn đầy ắp những món ăn chưa được đụng đến. Anh ta lấy một chiếc đĩa lớn, sâu, chất đầy những miếng thịt cua bóc vỏ ngon nhất, cơm trắng và trái cây, rồi đặt xuống sàn trước mặt cô. "Ăn đi. Sạch sẽ lắm. Ăn đi con yêu," ông nói khẽ, nước mắt lưng tròng, vừa nói vừa chỉ tay. Nhận ra mình sẽ không bị đánh đập hay hãm hiếp, cô bé lao vào ăn. Cô ăn với tốc độ như thú vật, vừa ăn vừa nghẹn và liên tục liếc nhìn về phía cửa. Nikolai ngồi bệt xuống sàn gần đó, ôm đầu cầu nguyện – lần đầu tiên trong đời làm Komsomol của mình. Anh nhận ra rằng không vũ khí, không chính trị, và không sự "giúp đỡ" nào có thể nhanh chóng xóa bỏ những gì bọn lưu manh này đã gây ra cho đất nước và những đứa trẻ này.


Khi đĩa thức ăn đã hết, cô bé rụt rè nhìn Nikolai. Nỗi sợ hãi trong mắt cô nhường chỗ cho sự khó hiểu sâu sắc, như của một người trưởng thành. Nikolai đứng dậy, đi đến ba lô của mình, lấy ra một cuốn sổ và một cây bút chì. Anh vẽ một bức tranh về mặt trời, một ngôi nhà và hai người đang nắm tay nhau, rồi đưa cho cô bé. Cô bé cẩn thận nhận lấy bức tranh. Ngày hôm sau, Đại úy Demin nộp đơn xin chuyển công tác từ trụ sở chính đến một trung tâm phân phối cấp tỉnh, nơi phái đoàn Liên Xô phân phát viện trợ nhân đạo và thực phẩm. Trong suốt thời gian còn lại của nhiệm kỳ, ông đã quyên góp phần lớn lương thực và khẩu phần ăn của mình cho một trại trẻ mồ côi địa phương do các bác sĩ Việt Nam điều hành. Ông cũng đã giúp một bé gái tên Khema được nhận vào đó. Ông không bao giờ đụng đến rượu hay những bữa ăn sang trọng nữa, và buổi tối hôm đó ở Phnom Penh vẫn là một cơn ác mộng ám ảnh ông suốt đời.


Ba năm sau, Đại úy Nikolai Demin trở về Liên Xô. Nhiệm kỳ của ông kết thúc, nhưng Phnom Penh vẫn mãi in sâu trong ký ức ông, không phải là một thành phố của những ngôi chùa cổ kính, mà là một nơi mà bi kịch của con người được phơi bày đến tận cùng. Nikolai trở về Minsk, quê hương của mình. Bề ngoài, cuộc sống của anh đã trở lại như thường lệ: phục vụ tại trụ sở quận, mang quân hàm thiếu tá, những buổi tối yên bình bên gia đình. 


Tuy nhiên, những người thân cận nhận thấy một sự thay đổi ở Nikolai. Anh kiên quyết từ chối mọi cuộc tụ họp xã giao. Ngay khi vợ anh chuẩn bị một bữa tối thịnh soạn hoặc mở một chai rượu vang, Nikolai sẽ tái mặt, xin lỗi và ra ban công hút thuốc. Sự xa hoa, dư dả và mùi thức ăn đắt tiền giờ đây khiến anh cảm thấy buồn nôn, ngột ngạt. Trong tủ đựng đồ của anh, giữa những đồ pha lê, có một vật lạ - một bức tượng gỗ nhỏ, được chạm khắc thô sơ hình một cô gái Khmer, mà anh đã mang theo như kỷ vật quý giá nhất của mình.


Suốt thời gian đó, Nikolai luôn nhớ về Khem. Trước khi sang Liên Xô, anh đã làm mọi thứ có thể để bảo vệ cô bé. Sử dụng các mối quan hệ của mình với các bác sĩ quân y Việt Nam, anh đã đưa cô bé vào một trại trẻ mồ côi ở ngoại ô thủ đô, được hỗ trợ bởi các tổ chức nhân đạo quốc tế. Hàng tháng, Nikolai đều bí mật mang những bao gạo, sữa đặc và thuốc men đến đó, đổi lấy séc tại cửa hàng quân nhu Liên Xô.Trong trại trẻ mồ côi, cuộc sống của Khema dần dần thay đổi. 


Trong vài tháng đầu, cô bé hầu như không nói chuyện và giấu thức ăn dưới nệm, một hội chứng tâm lý khủng khiếp từ thời Pol Pot, khi việc giấu một quả chuối xanh cũng có thể dẫn đến cái chết. Nhưng sự chăm sóc của các nữ y tá người Việt và những bữa ăn đều đặn đã có tác dụng. Khema không còn trông như một bộ xương di động nữa. Đôi má rám nắng của cô bé trở nên đầy đặn hơn, và một ánh nhìn sống động, thông minh xuất hiện trong đôi mắt to đen láy. Hóa ra cô bé có trí nhớ phi thường: cô bé học đọc và viết tiếng Khmer nhanh hơn bất kỳ ai cùng tuổi, và cũng nhanh chóng học được những cụm từ cơ bản bằng tiếng Việt và tiếng Nga.


Nikolai thường nhớ lại lời tạm biệt của họ. Khema không khóc – những đứa trẻ thời chiến hiếm khi khóc thành tiếng. Cô bé chỉ nắm tay anh thật lâu, rồi đưa cho anh bức tượng gỗ mà chính cô bé đã tự tay khắc. Nhiều năm trôi qua. Liên Xô sụp đổ, và Nikolai đã nghỉ hưu từ lâu. Ông sống bằng lương hưu, trông nom các cháu và nghĩ rằng mối liên hệ của mình với quá khứ đã mất đi mãi mãi. Nhưng một ngày nọ, có tiếng gõ cửa.


Một phụ nữ trẻ người châu Á, dáng người trang nhã trong bộ vest công sở đứng ở ngưỡng cửa. Khuôn mặt cô ấy có vẻ quen thuộc với Nikolai, nhưng khi cô ấy mỉm cười và nhìn ông bằng đôi mắt to tròn, sâu thẳm, trái tim người lính già bắt đầu đập thình thịch.

"Chào bác Kolya," cô ấy nói nhỏ nhẹ, bằng tiếng Nga hoàn hảo với giọng điệu dịu dàng.

Đó là Khema. Nhờ sự quyết tâm và sự giúp đỡ của nhân viên trại trẻ mồ côi, cô đã nhận được học bổng, tốt nghiệp đại học ở Phnom Penh và tìm được việc làm tại một tổ chức nhân quyền và bảo vệ trẻ em quốc tế. Cô đến châu Âu dự hội nghị và đã dành toàn bộ tiền tiết kiệm để tìm người đàn ông đã cứu cô khỏi cú ngã tồi tệ nhất. Họ ngồi rất lâu trong căn bếp giản dị của Nikolai. Trên bàn chỉ có trà và bánh quy đơn giản, Khema biết và hiểu điều cấm kỵ thầm lặng của anh. Cô nói về việc Campuchia đang dần trở lại hòa bình, các trường học đang mở cửa trở lại, và bản thân cô giờ đây đang giúp đỡ những trẻ mồ côi.


Nikolai nhìn cô và cảm thấy gánh nặng đè nặng lên tâm hồn anh suốt nhiều năm cuối cùng cũng bắt đầu tan biến. Buổi tối kinh hoàng ở biệt thự tại Phnom Penh đã không làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn, nhưng đêm đó Nikolai đã có thể cứu được một mạng sống cụ thể. Và giờ đây, mạng sống ấy đang ở trước mặt anh, tự do, mạnh mẽ và biết ơn.

 

Vasily Bazlov