Hình trên internet
Nói về tiếng Việt của bọn Việt Cộng, nhất là dân Bắc kỳ 2 nút, thì nói suốt năm cũng không hết chuyện. Bọn họ đang phá hoại tiếng Việt truyền thống của ông cha từ xưa đến giờ bằng cách đi dùng một loại ngôn ngữ dị hợm, quái đản, lai căng.
Trải qua 1000 năm Bắc Thuộc, tổ tiên chúng ta đã không để mất gốc, mà Việt hóa tinh hoa của ngôn ngữ Trung Hoa, biến chuyển thành tiếng Hán-Việt và không ngớt vun bồi khiến tiếng Việt ngày càng trở nên phong phú.
Nhưng cái ngôn ngữ đẹp đẽ, thanh tao và trong sáng này đang bị đe dọa, lũng đoạn bởi một thứ tiếng thô lậu, suy đồi, ngoại lai, “man di mọi rợ” của bọn Bắc cộng, ngu dốt mà cứ tự cho là “đỉnh cao trí tuệ”, đem vào miền Nam sau năm 1975.
Ôi thôi nào là chúng đi chế chữ không có trong tự điển tiến Việt thuần túy, rất thô kệch (thí dụ “ùn tắc”), nào là đi lộn ngược chữ (thí dụ "quan cảnh" thì chúng nói "cảnh quan"), nào là đi lấy 2 chữ ghép thành một (thí dụ "lột quần" nghĩa là "bóc lột quần chúng"), nào là đi rút ngắn chữ (thí dụ "bang" thay vì "tiểu bang”), nào là đi du nhập tiếng ngoại quốc Anh hay Pháp, nào là không thích xài tiếng Hán mà lại dùng những chữ Việt rất ngây ngô, hạ cấp…
Nhưng những chuyện này thì thật ra chúng ta đã nghe nhiều rồi qua biết bao bài viết chế giễu những chữ dị hợm, quái đản của chúng nên trong bài viết này điều mà tôi muốn nói và nhấn mạnh liên quan đến những chữ mà chúng ta ngày càng nghe nhiều và thấy nhan nhản trong báo chí người Việt hải ngoại, những chữ mà khi xưa trước 1975 ở miền Nam chúng ta không hề dùng hoặc không dùng như nghĩa hiện nay. Sở dĩ như vậy là vì những chữ này nghe không kinh tởm, “rợn tóc gáy”, chói tai cho lắm, so với những chữ như “xưởng đẻ”, “nhà ị” rất bình dân giáo dục mà chúng ta dẹp qua một bên liền, không bao giờ dùng.
Những chữ mà tôi nêu lên đây là tôi đã có nghe nhiều rồi hiện nay, ngay cả từ chính miệng của những người thường hay đi chê trách tiếng V.C. Cho đến nỗi mà nhiều khi họ nói mà họ không ngờ đang xài tiếng V.C, điều này mới là đáng ngại.
Những chữ rất thông dụng ngày càng thấy báo chí và dân Việt hải ngoại dùng này có thể phân chia thành nhiều loại được phân tích sau đây.
1/ Có trong tự điển tiếng Việt nhưng dùng sai nghĩa
Những chữ loại này thật ra thì cũng không có gì đến nỗi tai hại lắm cho tiếng Việt thuần túy vì có chứ không phải là chế bậy bạ, nhưng cũng nói lên vấn đề là chúng bị dùng sai không đúng với định nghĩa thuần túy chúng ta biết trước 1975.
Sau đây là vài thí dụ:
- "Người" thay vì "Dân"
Đây là một thí dụ rất là thông thường đến nỗi riết rồi không ai để ý, nhưng thật ra theo tôi thì trước 1975 chúng ta thường nói chẳng hạn "Dân Sài Gòn" thay vì "Người Sài Gòn" như bây giờ.
- "Xây dựng" thay vì "Xây cất"
V.C nói "Xây dựng cái nhà" thay vì "Xây cất cái nhà". Đối với tôi "Xây dựng" có nghĩa là "to develop" còn "Xây cất" là "to construct" hay "to build". Do đó, có thể nói "Xây dựng một thế hệ" hay “Xây dựng một nền tảng” chẳng hạn nhưng không "Xây dựng một cái nhà hay một bức tường" mà phải nói "Xây cất", hoặc ngắn gọn hơn “Xây” hay “Cất”.
- "Ngỡ ngàng" thay vì "Ngạc nhiên", “Kinh ngạc”
Cái tĩnh từ "Ngỡ ngàng" theo tôi là để dùng trong những trường hợp có ít nhiều liên hệ với tình cảm, khiến con tim dao động, theo tiếng Pháp là "ému" hoặc tiếng Anh là "moved, touched". Thí dụ: "Tôi ngỡ ngàng gặp lại người yêu", nếu không thì phải dùng chữ "Ngạc nhiên", theo tiếng Pháp là "étonné" hoặc tiếng Anh là "surprised". Thí dụ: "Tôi ngạc nhiên thấy cái tòa nhà cao như vầy" chứ không nói "Tôi ngỡ ngàng thấy cái tòa nhà cao như vầy".
- "Khách tây" thay vì "Khách ngoại quốc"
V.C gọi chẳng hạn những người du lịch ở V.N là "Khách tây" dù trong đó có loạn xà ngầu người gốc Á, da vàng mũi tẹt, người Mỹ, người Úc v.v… trong khi đó thì chữ "Tây" có nghĩa là "Pháp", chẳng hạn “dân Tây”, "ông tây bà đầm".
- "Chế độ"
V.C hay lấy một chữ ngoại quốc rồi dịch ra để sử dụng không đúng chỗ. Chúng dịch "Chế độ" từ chữ "Régime" tiếng Pháp, chẳng hạn "Régime politique" hay "Régime alimentaire". Nhưng nếu có thể nói "Chế độ chính trị", « Chế độ độc tài » thì không ai nói "Chế độ ăn uống" như V.C mà sẽ nói "Cách thức ăn uống" hay « Cách ăn kiêng cữ ».
- "Có khả năng"
Nghĩa thật của chữ này là “năng lực của một người” (tiếng Anh, Pháp là “capable”), thí dụ “Ông ta không có khả năng làm việc này”, nhưng V.C lại dùng để muốn nói “Có thể” (tiếng Anh là “possible”, “may happen”), thí dụ: “Trời có thể mưa” thì chúng nói “Trời có khả năng mưa”.
- "Tiêu cực", “Tích cực”
V.C bây giờ dùng chữ “Tiêu cực” để muốn nói là “Xấu » và ngược lại “Tich cực” để muốn nói là « Tốt », trong khi đó thì định nghĩa thật của “Tich cực” là “hăng hái, hưởng ứng hết mình một việc gì đó ” và “Tiêu cực » là ngược lại.
- "Dương tính", « Âm tính »
Đây là chúng lấy từ tiếng Anh, Pháp (« positive » : có dấu hiệu, như ung thư chẳng hạn), rồi dịch ra thành « Dương tín » trong khi đó chữ này có nghĩa là “tính chất mạnh của giống đực”. Và ngược lại là « Âm tính » (từ chữ « negative »).
- "Liên hệ" thay vì "Liên lạc"
Chữ “liên hệ” có và có nghĩa là “dính dáng” nhưng chúng lại dùng để muốn nói “Liên lạc”, thí dụ « Anh hãy mau liên hệ với cô ấy ».
- "Biển" thay vì “Bảng”
Tôi cứ tự hỏi tại sao V.C lại dùng chữ “Biển” nghe như “biển cả” thay vì “Bảng”, thí dụ “Biển số xe” thay vì “Bảng số xe” như khi xưa trước 1975.
- "Tên lửa" thay vì “Hỏa tiển”
Chữ này cũng thuộc loại ngây ngô, lập dị mà chúng muốn dùng thay chữ Hán.
2/ Có trong tự điển tiếng Việt nhưng không dùng ở miền Nam trước 1975
Những chữ loại này bây giờ cũng nghe thấy hàng ngày và sau đây là vài thí dụ:
- "Chú chó, chú mèo" thay vì "Con chó, con mèo"
Tôi cứ thắc mắc là tại sao V.C lại đi gọi súc vật là “Chú, bác”, hay là chúng trước kia là khỉ chuyên sống trong rừng (vì vậy rất ngu dốt) nên có họ hàng với loài vật ? Cái gì cũng chú, nào “chú chim”, “chú heo”, « chú chuột » loạn xà ngầu trong khi đó thì ở miền Nam luôn gọi thú vật là “con”.
- "Sở hữu"
Bất cứ có một cái gì đó thì V.C gọi một cách rườm rà, không đúng chỗ là “Sở hữu” thay vì « Có » rất ngắn gọn, thí dụ: “Hoa hậu ABC sở hữu một sắc đẹp khó cưỡng”, « Bà đó sở hữu một ông chồng rất sợ vợ »…
- “Đá bóng" thay vì "Đá banh", “Túc cầu”
Trước 1975, ở miền Nam, dù là Bắc kỳ hay Nam kỳ, đều nói "đá banh", chẳng hạn "chơi đá banh", "đi coi đá banh" hay « sân đá banh » chứ chẳng ai nói "đá bóng”, « chơi đá bóng » hay « sân đá bóng » (hay có thể một số người Bắc di cư vào năm 1954 còn dùng nhưng không phải là thông dụng). Một chữ nữa văn hoa hơn mà chúng ta cũng thường dùng là « Túc cầu ».
- "Vận động viên" thay vì "Lực sĩ" hay "Thể tháo gia"
Thật ra "sân vận động" thì có nhưng dùng "Vận động viên" để chỉ những ai vận động tay chân thì không đúng và còn tạo hiều lầm vì "Vận động viên" có thể hiểu là « một người đi vận động cho một ứng cử viên nào đó ». Nếu nói theo chúng thì những người cắt cỏ, quét rác chẳng hạn đều là « vận động viên » hết.
- "Trạm trung chuyển" thay vì "Trạm tạm dừng" hay “Trạm chuyển tiếp”
Chữ này rất thông dụng trong giới dân Việt du lịch hiện nay, thay vì dùng chữ "Trạm chuyển tiếp" để chỉ một cái nơi phải ghé tạm trước khi đi tiếp tục.
- "Tư duy" thay vì "Suy nghĩ"
Đây lại thêm một thí dụ chữ Hán mà V.C dùng thay vì "Suy nghĩ" hay “Suy luận” như khi xưa ở miền Nam.
- "Sự cố" thay vì « Trục trặc, trở ngại, có vấn đề »
Không biết chữ này do chúng lấy hai chữ “Sư việc” và “Biến cố” ghép lai hay không?
- "Kịch tính" thay vì « Hấp dẫn, sôi nổi, hào hứng »
Bây giờ trong nước bất cứ cái gì, chẳng hạn như buổi trình diễn văn nghệ, trận đá banh v.v…, thậm chí như cuộc tranh luận của các ứng viên có tính cách hấp dẫn, sôi nổi, hào hứng đều được gán cho chữ “Kịch tính”.
- "Lý giải", « Giải mã » thay vì « Giải thích »
Cũng không biết chúng lấy những chữ này từ đâu, có thể là chúng ghép hai chữ « lý luận » và « giải thích » thành « Lý giải », để thay những chữ « giải nghĩa, giải thích, cắt nghĩa » chúng ta dùng khi xưa.
Còn chúng dùng chữ « Giải mã » là để muốn nói « Tìm hiểu », đi xa hơn là « bẻ khóa mật mã để đọc một tải liệu ».
Và cũng từ đó lai sanh ra những chữ như « Đáp án » để nói « Bài giải, giải đáp, đáp số, câu trả lời ».
- "Hộ chiếu" thay vì "Thông hành"
Chữ này bây giờ cũng nghe rất nhiều trong giới dân Việt thường đi về V.N chơi.
- "Căn hộ" thay vì "Căn nhà"
3/ Không có trong tự điển tiếng Việt thuần túy và không biết nguồn gốc từ đâu
Những chữ « đầu Ngô mình Sở » loại này bây giờ cũng nghe thấy nhan nhản mà thật ra thì không phải tiếng Việt thuần túy, không biết được móc đâu ra, hoặc là từ chữ Hán, hoặc ngược lại là những chữ chúng chế thật là ngô nghê để ra vẻ ta đây, không xài tiếng Hán, chẳng hạn như: “Lầu năm góc” thay vì “Ngũ giác đài”, « Phần cứng » thay vì « Cương liệu », “Phần mềm” thay vì “Nhu liệu”, “Lính gái” thay vì “Nữ quân nhân”, « Người phát ngôn » thay vì « Phát ngôn viên » và nhiều khi còn rất thô tục, hạ cấp làm nhơ nhuốc tiếng Việt, chẳng hạn như « Nhà ỉa, nhà đẻ », “Khóa môi, Bú mồm” thay vì “Hôn miệng”.
Sau đây xin trích dẫn vài thí dụ :
- "Khẩu trang" thay vì "Mặt nạ"
Đây là một thí dụ tiếng Hán mà V.C dùng và nghe rất nhiều trong thời bệnh dịch Covid. Nhưng theo tôi để nói về cái miếng vãi che mặt nhằm phòng ngừa vi trùng thì không đúng vì chữ "Khẩu" có nghĩa là "cái miệng" thế thì cái mũi để đâu, không che à ? Một vị B.S đã xác nhận với tôi là khi xưa dùng chữ "Mặt nạ" giống như Tây phương họ dùng chữ "Masque" hay “Mask".
- "Diễu binh" thay vì "Diễn binh", “Duyệt binh”
Tôi chẳng biết tại sao V.C dùng chữ "Diễu”, nghe cứ tưởng như "Giễu cợt", để nói về một sự việc nghiêm trọng, trong khi đó thì khi xưa trước 1975, chúng ta gọi là "Diễn binh, diễn hành hay duyệt binh". Riêng về chữ “Diễu” thì có thể tôi có nghe dùng khi xưa, chẳng hạn “Diễu phố”.
- "Tham quan" thay vì "Thăm viếng”, “Du lịch”, “Ngắm cảnh"
Đây lại là một thí dụ chữ Hán nữa mà V.C dùng và hiện nay cứ nghe không ngớt, ngay cả trong giới Việt kiều hay đi về V.N. Có người còn tưởng lầm là chúng nói "thăm quan" nghĩa là "thăm viếng" và "quan sát". Nhưng không chúng giải thích "Quan" thì đúng là "quan sát" còn "Tham" cũng là một chữ Hán rặc thì chúng không hoàn toàn đồng ý với nhau. Có tên thì cắt nghĩa là "can dự, tham gia vào, dự vào", có tên lại nói lại là "kiểm tra, khảo sát, tìm tòi, xác minh", chẳng biết đâu mà lần... Riêng tôi thì thích dùng chữ này lắm nhưng để chỉ “đám quan chức V.C tham nhũng” đầy rẫy và nhiểu nhương trong ĐCSVN.
- “Bức xúc”
V.C dùng chữ này để muốn nói "bực bội, bứt rứt, xốn xang, khó chịu...".
4/ Cũng không có trong tự điển tiếng Việt thuần túy và được du nhập từ tiếng ngoại quốc Anh, Pháp
Đây lại thêm một bằng chứng về đầu óc ngoại lai của bọn V.C. Những chữ này ngày càng nhiều và thường được chúng lấy từ tiếng Anh, tiếng Pháp, rồi nhiều khi chuyển âm qua thành chữ Việt. Theo chúng thì để làm giàu thêm tiếng Việt nhưng thử hỏi đã có nhiều chữ có rồi trong tiếng Việt thuận túy của chúng ta rất là phong phú không ai bằng thì cần gì phải đi du nhập thêm tiếng ngoại quốc ? Đồng ý là có vài từ ngữ kỹ thuật, chẳng hạn trong lãnh vực y tế, cần phải du nhập vì không có trong tiếng Việt, nhưng nhiều khi chúng lấy xong rồi phiên âm ra một cách rất là quái đản.
Thật ra việc này là do bọn chúng “dốt đặc cán mai” mà thích lấy le, giống như “một cái thùng rỗng nên kêu to”, tên nào càng xài ngoại ngữ nhiều là tên đó ngon lành. Vấn đề này rất là quan trọng vì thế mà tôi nguyền rủa tất cả những tên đi “lai căng hóa” tiếng Việt thuần túy riết rồi những chữ đã có dần dần bị thay thế bởi những chữ ngoại lai.
Sau đây xin trích dẫn vài thí dụ :
- "Vắc-xin" thay vì "Chủng ngừa"
Chữ này cũng nghe rất nhiều vào thời Covid và là một chữ ngoại lai, du nhập từ "Vaccin, Vaccine". Trước 1975 ở miền Nam thì dùng chữ "chủng ngừa" hay “thuốc chích ngừa”.
- "Vi-rút"
Chữ này cũng nghe rất nhiều vào thời Covid, (lấy từ chữ “virus”) để nói “Vi khuẩn, vi trùng”.
- « Mát-xa » (lấy từ chữ tiếng Pháp « massage ») thay vì “Đấm bóp, xoa bóp”.
- Hầu hết những từ ngữ liên quan đến các đơn vị đo lường như: “Mét" (từ chữ Pháp “mètre”) thay vì “Thước” rồi “milimét, xentimét, đềximét” cho đến “Kílômét” thay vì “Cây số”.
Rồi còn “Mét vuông” (từ chữ Pháp “mètre carré”) thay vì “Thước vuông”, “Mét khối” loạn xà ngầu.
- Hầu hết những từ ngữ có liên quan đến các phương tiện di chuyển như: “Xe mô-tô” thay vì “Xe gắn máy”, “Xe ô-tô” thay vì “Xe hơi”, “Ca-nô” thay vì “Xuồng máy”, “Vô-lăng” (từ chữ “volant”) thay vì “Tay lái”, “Phanh” (từ chữ “frein”) thay vì “Thắng” v.v…
- Hầu hết những từ ngữ có liên quan đến bảng hiệu như: “Pa-nô” (từ chữ “panneau”) thay vì “Tấm bảng”, “Áp phich » (từ chữ “affiche”) thay vì “Bích chương, quảng cáo”, “Băng-rôn” (từ chữ “banderole”) thay vì “Biểu ngữ” v.v
- Hầu hết những từ ngữ có liên quan đến nhạc cụ như: “Guitar” thay vì “Tây ban cầm”, “Piano” thay vì “Dương cầm”, “Violin/Violon” thay vì “Vĩ cầm” v.v…
- Hầu hết những từ ngữ có liên quan đến thể thao như: “World Cup” thay vì “Giải túc cầu thế giới”, “Olympic” thay vì “Thế Vận Hội”, “Cua- rơ” (từ chữ “coureur”) thay vì “Người chạy xe đạp” v.v…
- “Nude” thay vì “Khỏa thân, lõa thể”.
- “Hot”
Cai gì cũng ”Hot“, chẳng hạn “Hot girl” thay vì “Gái ăn mặc hở hang, khiêu dâm”, “Ảnh hot”, “Nhạc hot”. Một thí dụ sau đây:
“Hội chứng hot girl nude giữa thiên nhiên” thay vì “Cái tật dâm ô chụp hình cởi truồng ngoài trời”.
- “Gu” (từ chữ “goût”) thay vì “Sở thích”.
- “Tiền boa” (từ chữ tiếng Pháp “pourboire”) thay vì “Tiền thưởng”, “Tiền trà nước”.
5/ Có trong tự điển tiếng Việt nhưng lại là nghĩa khác một trời một vực.
Thường những chữ thuộc loại này là vì V.C rút chữ, nghĩa là 2 chữ thì chỉ còn 1, cho nên cái nghĩa không được trong sáng và gây hiểu lầm. Và đây cũng là một cách chúng phá hoại tiếng Việt thuần túy qua việc chúng dùng lộn tùng phèo danh từ, động từ hay tĩnh từ, không còn biết phân biệt từ loại gì hết.
Sau đây là một vài thí dụ:
- "Lái xe"
Khi nghe thì tưởng là động từ "lái xe" nhưng chúng muốn nói "tài xế".
- "Điện"
Khi nghe thì tưởng là danh từ "điện" như "điện nước" nhưng chúng muốn nói "gọi điện thoại.
- "Tuyển"
Khi nghe thì tưởng là động từ "tuyển chọn, tuyển lựa" nhưng chúng muốn nói là "đội tuyển, hội tuyển".
- "Đầm"
Khi nghe thì tưởng là "bà đầm hay tây đầm" nhưng chúng muốn nói là "cái váy đầm", chẳng hạn "mặc đầm".
- "Phí"
Khi nghe thì tưởng là động từ "phí phạm" nhưng chúng muốn nói "chi phí, lệ phí, sở phí, học phí…”.
- “Kỷ luật”
Danh từ này có nghĩa là “Quy củ, phép tắc phải theo” nay trở thành động từ “Trừng phạt”.
- "Lệnh"
Danh từ này có nghĩa là “được cấp trên truyền xuống cho cấp dưới để thi hành”, chẳng hạn “Lệnh ân xá” nhưng nay trở thành động từ “Ra lệnh” như “Tòa lệnh phải bắt người này”.
6/ Những chữ bát nháo, hổ lốn, nhiều nghĩa
Những chữ “hầm bà lằng xán cấu” này được V.C dùng rất nhiều và gom tụ rất nhiều nghĩa khiến cho tiếng Việt ngày càng nghèo và mất đi nét phong phú.
Sau đây là một vài thí dụ:
- "Khủng"
Chữ này tuy có nghĩa chính là “Sợ hải” nhưng V.C dùng theo nghĩa “Khủng khiếp, khủng long” để chỉ định tất cả những gì “quá sức tưởng tựng, đồ sộ, to lớn v.v”.
Cùng với chữ này chúng cũng hay dùng chữ "Siêu".
- "Sốc"
Chữ này lấy từ tiếng “shocked hay choqué” để muốn nói “Sửng sốt, choáng váng, bàng hoàng v.v…”.
- "Ấn tượng"
Ớ Việt Nam bây giờ cái gì cũng ấn tượng, hoành tráng…, cả nước nói như con vẹt và cho thấy một ngôn ngữ rất nghèo nàn, rập khuôn.
Thực ra chữ “ấn tượng” có nghĩa là “Đáng ghi nhớ, lưu luyến, thích thú, lưu lại nhiều kỷ niệm vv…”, thí dụ “Để lại một ấn tượng đẹp”, nhưng bây giờ thì là một chữ “tạp pín lù” được V.C dùng chẳng hạn như: “Trận đấu thật ấn tượng”, “Cô ấy trông thật ấn tượng” v.v…
- "Hoành tráng"
Cũng như chữ trên, chữ này cũng thuộc loại “tạp pín lù”. Thật ra chữ này có nghĩa là “Quy mô, đồ sộ”, nhưng riết rồi V.C dùng để muốn nói tùm lum "Nguy nga, tráng lệ, lộng lẫy v.v...". Ngày nay ở Việt Nam cái gì cũng “hoành tráng” làm cho một số tính từ diễn tả vẻ đẹp lần hồi trở nên bị “tuyệt chủng” chẳng hạn như: Một ngôi nhà bề thế, một kiến trúc trang nhã, một lâu đài tráng lệ, một cung điện nguy nga, một ngọn núi hùng vĩ v.v…
- "Xử lý”
Cái gì cũng “xử lý”. Lau chùi, quét dọn, thanh toán, giải quyết công việc đều là “xử lý”.
Cũng tương tự, chúng xài chữ “Quản lý” một cách bừa bãi. Chữ này thật ra có nghĩa là “điều hành, cai quản một công ty, hãng xưởng v.v…” thì chúng lại đi dùng một cách ngu dốt, chẳng tình tự tí nào, như “Anh muốn quản lý đời em”.
- "Văn hóa"
Chữ này có nhiều nghĩa vì là một tổng hợp bao gồm rất nhiều lãnh vực của xã hội như: Hội hè, nghi lễ, nghi thức, cách ăn mặc, ăn ở, cách nói năng, cách cư xử v.v…, chẳng hạn như: văn hóa Trung Hoa, văn hóa Mỹ, văn hóa Việt Nam...
Nhưng hiện nay chữ này được dùng tràn lan, rất là « ba xí ba tú », thí dụ: văn hóa nói dối, văn hóa tham nhũng, văn hóa đi trễ, văn hóa chửi thề, văn hóa ỉa bậy v.v…
Việc này cũng làm cho chữ nghĩa tiếng Việc nghèo đi, chẳng hạn phải nói “Cách cư xử” thay vì “Văn hóa ứng xử”, “Thói quen đi trễ” thay vì “văn hóa đi trễ”, “Bệnh hay tật chửi thề” thay vì “văn hóa chửi thề”…
7/ Những chữ bị lộn ngược
Không biết bọn V.C bị đẻ ngược đầu hay đẻ lỗ đít mà chúng cứ muốn chơi ngược đời hay chơi nổi bằng cách đi lộn ngược chữ. Chẳng hạn “sinh sản” thành “sản sinh”, “đơn giản” thành “giản đơn”, “tang lễ“ thành “lễ tang”, “khai triển” thành “triển khai” và còn nhiều lắm. Những chữ này lúc đầu thì nghe chói tai vì không quen nhưng nếu nghe riết rồi có thể trở thành quen thuộc.
8/ Những chữ có I ngắn và I dài (Y)
Chúng lại chơi ngược ngạo khi thay vì “I” thì lại viết “Y” và ngược lại. Chẳng hạn “Bác sĩ, Ca sĩ” thì viết “Bác sỹ, Ca sỹ”, “Bánh mì” thì viết “Bánh mỳ”, ngược lại “Cũ kỹ” thì viết “Cũ kĩ”, “Nước Mỹ” thì viết “Nước Mĩ”, “Hy vọng” thì viết “Hi vọng”, “Lý do” thì viết “Lí do”, “Kỳ cục” thì viết “Kì cục” v.v…, riết rồi sẽ đến lúc không còn biết phân biệt I ngắn với Y dài.
9/ Tên các quốc gia
Đây cũng là bằng chứng
chúng có đầu óc ngoại lai, tiếng Việt chúng ta có tên gọi các nước nhưng chúng
thì đi lấy nguyên tên các nước này dùng hoặc còn tệ hại hơn nữa là đi lấy xong
rồi chuyển âm theo lối ngu dốt và quê mùa của chúng.
Chẳng hạn chúng gọi nguyên
tên của những nước như Philippines (thay vì Phi hay Phi Luật
Tân), Indonesia (thay vì Nam Dương), Malaysia (thay
vì Mã Lai), Singapour (thay vì Tân Gia Ba), Italy (thay
vì Ý hay Ý Đại Lợi), Australia (thay vì Úc hay Úc Đại Lợi) và
còn nhiều nữa, và riết rồi cũng nghe dân Việt hải ngoại dùng, nhiều nhất là
trong giới báo chí…
Chưa hết, chúng thường dùng
cách phiên âm rất ngô nghê, quái dị, khác với cách phiên âm Hán-Việt của chúng
ta trước 1975,
thí dụ: “Niu-Oóc”
(thay vì Nữu Ước, New York), “Oa-xinh-tơn” (thay vì Hoa Thịnh
Đốn, Washington), “Mátx-cơ-va” (thay vì Mạc Tư Khoa, Moscow),
“Mê-hi-cô” (thay vì Mễ Tây Cơ, Mexico), “Ác-hen-ti-na” (thay
vì Á Căn Đình, Argentina) v.v…
Cũng còn may là những tiếng
kinh tởm này chỉ có chúng dùng.
Chúng ta cũng phiên âm để
gọi nước Hòa Lan trước 1975 (từ Holland tên gọi của nước này
khi xưa bây giờ đổi thành Netherlands hay Pays Bas),
còn bây giờ thì V.C lại cắt cớ đi sửa thành Hà Lan (có thể chúng
gọi vậy vì “Hà” có nghĩa là “song biển”).
Ngoài ra chúng chứng tỏ cái
ngu dốt về địa lý khi gọi Nam Hàn là Hàn Quốc và Bắc Hàn là Triểu Tiên vì bán
đảo Triều Tiên gồm cả 2 nước. Do đó hoặc phải gọi Nam/Bắc Hàn hoặc Nam/Bắc
Triều Tiên để chỉ định 2 nước. Và cái điều rất là hài hước là cứ để ý hiện nay
hầu hết các báo chí hải ngoại đều bắt chước chúng gọi một cách ngu xi như thế
này.
Kết luận
Chúng ta thấy đó, những loại chữ nêu trên ngày càng thông dụng, phổ biến và dần dần thấm vào đầu dân Việt hải ngoài.
Do dó tiếng Việt thuần túy mà chúng ta dùng ở miền Nam trước 1975 có nhiều nguy cơ rồi sẽ mai một không sớm thì muộn, trước thảm họa bị xú hóa tràn lan và sa đọa trầm trọng bởi một loại ngôn ngữ lai căng, thổ tả.
Đây là điều mà bọn V.C vẫn mong ước vì tiếng Việt truyền thống của ông cha mà chúng ta ráng bảo tồn là cái gai trong mắt của bọn ngoại lai này.
Chúng không ngừng đả phá, chê bai qua những luận điệu hợm hĩnh như “tiếng Việt cũ kỹ, lạc hậu, không thực dụng”, và vẫn cho là “thiểu số (nghĩa là 4 triệu người Việt hải ngoại) phải phục tòng đa số (nghĩa là 100 triệu dân ở V.N)” khi tuyên bố chẳng hạn: “có nhiều người Việt tại hải ngoại vẫn không chấp nhận chữ Việt mà gần 100 triệu người trong nước hiện đang sử dụng hằng ngày".
Và còn nhiều nữa như:
“Có thể nói, tiếng Việt trước năm 1975 ở miền Nam, giờ đã là ngôn ngữ không có tương lai. Không còn cơ quan công quyền nào sử dụng nó, không mấy ai dùng nó để sáng tác, và số người dùng nó ngày một ít đi.
Tại Mỹ bây giờ, việc dịch tiếng Anh ra tiếng Việt trong các tài liệu của cơ quan chính quyền, trường học, bệnh viện… cũng được dịch theo cách tiếng Việt trong nước đang dùng.”
Thật ra theo ý tôi thì chúng chẳng cần gì phải tốn công đưa bọn cò mồi nặc danh ra bôi bác một cách rất ngu si, ấu trĩ vì chính dân Việt hải ngoại sẽ tiếp tay với chúng để hủy hoại tiếng Việt thuần túy. Tôi nói điều này có thể khiến một số dân Việt sẽ nhảy xổm lên nhưng chúng ta phải mở mắt ra để nhìn sự thật phũ phàng trong CĐNV hải ngoại ngày nay.
Tất cả cũng vì:
1/ Các cơ quan truyền thông báo chí hải ngoại
Hầu hết những cơ quan này, điển hình là BBC và VOA, vô tình tiếp tay ít nhiều bon V.C, đi phổ biến ngôn ngữ của chúng. Phài thú thật là nhiều khi đọc những báo chí hải ngoại mà tôi có cảm tưởng như đang đọc báo V.C với một thứ tiếng Việt xa lạ, cẩu thả, kém cỏi của những người không biết học tiếng Việt ở đâu.
Điều này có thể giải thích như sau:
- Những ký giả khi xưa có sống ở bên nhà và thấm nhuần tiếng Việt thuần túy ngày càng già và càng ít đi nên để thay vào đó những cơ quan này phải đi trưng dụng những tay viết còn trẻ, phần đông là sanh ở nước ngoài, không hề biết tiếng Việt khi xưa trước 1975. Những “tay mơ” này hoặc chỉ đọc toàn báo chí V.C nên hấp thụ tiếng của chúng, hoặc là đi lấy tin tức từ các nguồn thông tin truyền hình ngoại quốc (như AP, Reuters, CNN v.v…) rồi dịch ra theo lối V.C. Hoặc nếu lười lắm thì xài máy dịch (hiện nay đầy rẫy trên mạng với sự phát triển của trí khôn nhân tạo AI) và hầu hết là được dịch theo tự điển V.C.
- Các cơ quan này không đủ tài chánh và nhân sự để thông báo và bình luận các tin tức nhanh chóng, đầy đủ và kịp thời như báo chí bên nhà, luôn được tài trợ bởi chánh quyền V.C vì là công cụ tuyên truyền của chúng, nên nhiều khi phải đi “sao chép” những tin tức, bài viết của chúng và dĩ nhiên là với đầy rặc chữ V.C.
2/ Dân Việt hải ngoại
Việc này có thể giải thích nhu sau:
- Dù biết rằng hiện nay có một số dân Việt hải ngoại vẫn bỏ tâm huyết để duy trì và phát huy tiếng Việt thuần túy trước 1975 qua những sáng tác thi văn, âm nhạc, nhưng không ngăn mãi được tiếng V.C sẽ ngày càng bành trướng. Lý do là rồi họ sẽ già đi, thế hệ của họ sẽ không còn và thay thế bởi con cháu của họ, thường là sanh ở nước ngoài, không thông thạo tiếng Việt thuần túy, mặc dù có người cũng bỏ thì giờ dạy tiếng Việt cho chúng. Và hiển nhiên là với giới trẻ này, việc dùng những chữ ngoại lai lấy từ tiếng Anh, tiếng Pháp thực tiển hơn.
- Ngày càng đông Việt kiều, những người xưa kia đã chạy thục mạng, trối chết để tỵ nạn C.S, hiện lũ lượt kéo nhau về chơi nhà (nhất là trong những dịp Tết nhất), vô tình nuôi béo chúng (cứ thấy hối đoái không ngớt tăng kỷ lục thì đủ biết), gíúp chúng tồn tại và phá hoại tiếng Việt thuần túy thêm.
Ôi thôi đủ hạng người hết, ngoài mặt thì làm bộ nói nhớ nhà, nhớ quê, nhớ ông bà cha mẹ nhưng thật ra là thích hưởng thụ, ai chết mặc ai cứ nhởn nhơ vui thú. Không những về mặc tình ăn nhậu thỏa thích, kiếm gái tơ, đào nhí (như các ngài “yamaham”), mà tôi còn biết có đám rủ nhau về V.N để đi chơi golf, làm như ở nước ngoài không có, khiến chúng lại đi xây thêm nhiều sân chơi để thu hút giới đại gia và du khách và càng đẩy dân nghèo vào cảnh màn trời, chiếu đất.
Và điều rất tai hại là họ càng về nhiều, càng ở lâu thì càng hấp thụ và bắt chước cái tiếng V.C bên nhà.
- Điều tệ hại nữa là, không những dân ở V.N, mà dân Việt hải ngoại cũng chạy theo bắt chước xu hướng dùng chữ ngoại lai, có thể vì thấy thực tiển, hoặc thích “có mới, nới cũ”, a dua theo thời, hoặc nói trắng ra là có “đầu óc vọng ngoại” thường thấy ở người dân các nước nhược tiểu…
Nhiều khi tôi tự hỏi có rất nhiều người đã sống ở miền Nam bao nhiêu năm mà tại sao bây giờ dường như đã mất hết trí nhớ, quên hẳn tiếng Việt trước 1975.
Tôi chỉ đơn cử một thí dụ nhỏ thường thấy ờ một số Việt kiều bên Úc, khi hỏi họ ở đâu thì họ trả lời “tôi ở Australia”, không biết khi xưa bên nhà họ gọi “Úc” hay “Australia” ? Đừng lấy cớ là vì chữ này thông dụng vì nếu vậy thì V.C hoàn toàn đúng khi chúng đi du nhập những tiếng ngoại quốc thường được dùng.
Học giả Phạm Quỳnh có nói "Tiếng Việt còn, đất nước còn", có nghĩa là chúng ta đã mất miền Nam thân yêu, nhưng nay nếu lại để mất tiếng Việt thuần túy bởi sự phá hoại của bọn V.C thì sẽ hết thuốc chữa.
Đến lúc đó thì không còn hy vọng gì để khôi phục đất nước trong tương lai và chỉ còn nước mắt, nói theo tiếng Pháp là “il ne reste que les yeux pour pleurer", để khóc và tiếc nuối cho một ngôn ngữ biểu tượng cho nền văn hóa và văn học có từ ngàn năm đi dần vào quên lãng và tuyệt tự.
Nguyễn Duy Phước
Orléans, Pháp
***
Tài liệu tham khảo
- Tự điển Tiếng Việt Đổi Đời của Đào Văn Bình
- BÀI TRANH LUẬN VỀ TIẾNG VIỆT VỚI BÀ VÕ NGỌC ÁNH về Tiếng Việt VNCH vs Tiếng V.C
của Trang Anh Thạc, Quản trị viên trang Facebook Quốc Ngữ Việt Nam Văn Hiến tại Hoa Kỳ.