Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Tuesday, August 11, 2026
Đưa Anh Về Nhà - Trần Như Hùng
Th/U Lưu Đức Linh (Phòng TLC) đứng bìa trái, kế đó là 3 MX không rõ tên, đứng bên bìa phải là Th/U Đặng Phạm Hùng, Phòng ANQĐ/SĐ.
Đây là bài ghi lại nguyên văn câu
chuyện do em gái cố Th/U Lưu Đức Linh, phòng Tâm Lý Chiến Sư Đoàn TQLC thuật
lại.
******
Th/U Lưu Đức Linh, khóa 3/72 Trừ bị
Thủ Đức, đầu tiên được bổ sung về TĐ 9 Mãnh Hổ, sau đó thuyên chuyển về phục vụ
tại Phòng Tâm Lý Chiến SĐ. Tháng 3 năm 1975 anh mất tích ở Đà Nẵng khi SĐ/TQLC
triệt thoái về Nam. 32 năm sau, các em anh về lại VN tìm được di cốt và cải
táng, đưa anh về nằm bên cạnh mồ mẹ.
Cuối tháng Ba 1975, ở Sài Gòn khi
nghe tin toàn bộ Sư đoàn TQLC ở Đà Nẵng di tản về Vũng Tàu bằng đường thủy. Ba
em có ra đó để đón anh Linh. Chờ hoài không thấy, Ba em hỏi thăm những người
về, có người thì nói thấy anh Linh em bơi ra biển nhưng bị chết chìm, người thì
nói anh Linh bị chân vịt của tàu chém vào chân nên bị chìm... Oái oăm là có
người bà con phía bên Ba em nói chính mắt ông thấy anh Linh chết trên biển.
Nghe tin như vậy xong, Ba em trở về SaiGon đi thẳng vào tiệm hớt tóc cạo đầu
trước rồi mới về nhà. Đến nhà Ba nói với Má em thằng Linh chết rồi xong ông đi
thẳng lên lầu. Má em òa lên khóc vật vã làm cả nhà náo loạn, chúng em còn quá
nhỏ cũng chỉ biết ngồi bên cạnh ôm Má khóc theo, không giúp được gì. Cả nhà
chìm trong đau thương, dù Ba Má em trong thâm tâm vẫn tin (hay vẫn ước mong?)
rằng anh Linh còn sống và thế nào rồi cũng sẽ về với gia đình.
Qua tháng Tư 1975 khi làm sóng di
tản ở Sài Gòn bắt đầu ồ ạt, gia đình em cũng có tên trong danh sách đi Mỹ bằng
phi cơ qua phi trường Tân Sơn Nhứt nhưng Ba em quyết định chờ xem anh Linh có
về không. Và ngày 30/4 đến. Thế là xong.
Sau ngày 30/4/1975 Ba Má và chúng em
vẫn tiếp tục chờ, nhưng ngày này sang tháng nọ anh vẫn biệt tăm. Đến năm 1976
thì Má em có lẽ đã tuyệt vọng nên cuối tháng Ba 1976 bà làm mâm cơm cúng rồi
bảo tụi em: “Tụi bây cúng anh Linh bây đi”. Thế nhưng chúng em không cúng và
cãi lại: “Anh Linh chết hồi nào mà Má kêu tụi con quỳ cúng”. Mặc cho Má khóc
tụi em nhứt định không cúng!
Cũng trong năm 1976, một hôm có một
anh tới nhà nói với Má em rằng: “Con là bạn của Linh, cùng bị bắt chung. Chúng
con có giao với nhau ai trốn thoát về được thì ghé nhà người kia báo tin. Con
vừa trốn về được nên ghé đây báo ngay”. Khi tụi em đưa 2 tấm hình, một của anh Linh, một
của anh Tư em ra, anh đó chỉ đúng hình anh Linh. Má em mừng lắm, hỏi: “Con có
thể chỉ giùm bác chỗ giam để bác đi thăm Linh không?” Anh ấy nói để ghé về Đà
Lạt thăm gia đình rồi sẽ quay trở lại cho biết tin chi tiết nhưng rồi từ đó
hoàn toàn bặt tin, gia đình em không hề gặp lại. Em không biết tên anh đó là
gì.
Có người nữa thì nói với chúng em là
trước đó có biết anh Linh (từng cùng nhau đi nhậu ở Huế), khi mất Đà Nẵng thì
gặp anh Linh cũng bị bắt tập trung tại một
trường học, sau đó phân tán mất tin.
Tháng Tám 1978 chị Ba em sinh bé
trai đầu lòng. Được vài tuần, một tối chị nằm mơ thấy anh Linh về. Chị hỏi:
“Anh đi đâu đây?” Thì anh trả lời: “Tao nghe mày sanh nên về thăm, nhưng thôi
để tao lên lầu thăm Ba Má đã”. Sau đó anh trở xuống nắm tay chị Ba em kéo đi.
Chị Ba em không biết gì cứ theo anh Linh, đi, đi mãi. Một lúc sau anh Linh dắt
chị Ba em rẽ vào một lùm cỏ tranh, anh đi trước hai tay vẹt cỏ tranh, chị Ba em
theo sau. Đi một đoạn thì thấy ngôi mộ có bia đề tên “Lưu Đức Linh”, ngay trước
mặt có con suối nhỏ. Rồi chị Ba em tỉnh giấc, kêu cả nhà dậy và kể lại đầu đuôi
câu chuyện. Ai cũng nghĩ “nếu đúng vậy thì anh Hai em đã chết trong rừng nhưng
biết anh chết ở tỉnh nào, nơi nào mà đi tìm?” Chúng em rất phân vân vì nhớ đến
trước đó có nhiều người nói anh Linh em đã chết ngoài biển, mà nay linh hồn anh
lại về báo mộng là chết ở đất liền? Sau đó chị Ba em đi coi bói, đưa tấm hình
của anh Linh thì người coi nói liền “anh này chết rồi, chết trên đồi núi cao,
không chết sông chết biển...”
Thế rồi sau đó trong năm 1978, Má em
cố gắng xoay sở cho chúng em lần lượt từng đứa vượt biển. Chuyện này dài dòng,
em xin bỏ qua, vì nghĩ chắc mấy anh cũng hiểu, sau khi đến được bến bờ tự do,
chúng em, như mọi người, cũng lo bươn chải, vật lộn với cuộc sống nên quên mất
việc tìm kiếm tin tức người anh xấu số của mình. (Viết tới đây mà em không cầm
được nước mắt vì thấy ân hận đã quá có lỗi với linh hồn anh Linh em)!
******
Bẵng đi một thời gian, đến năm 2006,
em Việt gửi thư cho trang web Tổng Hội TQLC nhắn tin nhờ tất cả các bạn của anh
Linh hay các anh trong TQLC tìm giúp giùm tin tức về anh. Có một vài anh cùng
khóa liên lạc lại và nói để hỏi thăm tìm kiếm, nhưng rồi... cũng chẳng có tin
gì. Chúng em buồn vô cùng, vì như vậy, chính các anh cũng không biết tin gì về
anh Linh hết.
Đầu năm 2007 chúng em họp lại, bàn
bạc và thưa với Ba em xin phép về Việt Nam đi tìm tung tích anh Linh. Ba em gạt
đi bảo rằng cát bụi trở về cát bụi, đi tìm làm gì nữa. Chúng em đồng phản đối,
thưa với Ba rằng Ba Má cho tụi con qua đây, nay tụi con được sống sung sướng
tại sao không quay về tìm cho được xem anh nằm ở đâu để đưa xương cốt anh về
chứ tội nghiệp anh nằm bơ vơ xa gia đình đã 32 năm rồi; và mặc cho Ba nói
gì thì nói, tụi em quyết định với nhau là phải làm cho được chuyện này.
Trước đó năm 2006 có người cùng quê
với Ba em là chú Lan từng về Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình nhờ được một ông thầy tâm linh tên là thầy Quýt giúp giùm đã
tìm được cốt người mẹ vợ của ông trước kia chết vì bị Pháp bắn và chôn sống.
Chú Lan liên lạc hứa sẽ giúp giùm đưa chúng em đến tìm ông thầy Quýt để nhờ tìm
anh. Chúng em nhờ người bà con ở Huế ra Đồng Hới trước, tìm gặp ông thầy Quýt,
đưa ngày tháng năm sanh của anh Linh cho ông ấy xem. Vừa xem xong ông ấy nói
ngay “Anh này chết rồi”. Hỏi làm sao chết thì ông ấy nói “Anh ấy là lính bên
kia, đang lao động làm cỏ thì có người rủ đi trốn nhưng 5 người trốn thì bị bắt
lại 3...” Nghe vậy chúng em háo hức vô cùng mong từng ngày cho đến lúc về đi
tìm anh Linh.Khi chúng em lên đường, lúc đó Ba mới nói các con đi kiếm được anh
Linh rồi thì thiêu đem về đây cho Ba ôm nó 1 chút, Ba nhớ nó lắm.
Lần đầu về Việt Nam:
Tháng Hai năm 2007, 3 chị em gái tụi
em cùng về Việt Nam. Nghỉ một đêm ở nhà trọ, hôm sau chúng em lên thăm mộ bà
nội và má rồi bay ra Huế. Phi cơ đáp xuống phi trường Phú Bài lúc gần 17 giờ
chiều, chúng em lên taxi đi ngay ra Đồng Hới.
Tới Đồng Hới thì trời đã tối khuya
nên chúng em thuê phòng khách sạn ngủ qua đêm để sáng hôm sau sẽ đến nhà thầy
Quýt. (Đêm đó cả 3 đứa chập chờn, trằn trọc không ngủ được, mới 2 giờ sáng đã
lồm cồm dậy hết ngồi bó gối mong cho trời mau sáng)!
9 giờ sáng chúng em tìm đến nhà thầy
Quýt, đến nơi ông đang xem cho 2 gia đình khác nên chúng em phải ngồi chờ. Đến
lượt chúng em, đợi chị Ba em thắp nhang trước bàn thờ Phật bà Quan Âm xong thầy
Quýt nói: “Tìm gì nữa đây? Bữa trước tôi có mách cho người tới đây tìm anh ấy
rồi mà”. Tụi em thưa: “Dạ đúng, tụi con có nhờ người bà con tới hỏi nhưng nghĩ
lại nếu đích thân tới hỏi Thầy thì chính xác hơn”. Rồi tụi em đưa hình anh Linh
cùng ngày tháng năm sinh của anh và xin thầy “chỉ vẽ giúp anh con còn sống hay chết
và chết thì chết ở đâu”. Bàn tay của thầy bỗng run lên, thầy lấy tấm giấy vẽ
bản đồ và nói: “Anh ấy chết rồi, chết trong trại học tập”. Thầy vẽ hình “con
đường đi lên núi, chú thích con đường rất hẹp, tới đó có một miếng đất hình
vuông, đi vào trong thì có nhiều nấm mộ mới của những người mới chết có bia,
xong mới tới mộ của anh Linh, kế bên có một cái mộ đã bốc đi rồi, còn lại mộ
anh và mộ một người khác nằm gần ngay đó”. (Anh có biết ngôi mộ đã bốc đi là mộ
của anh Lê Đình Lời, TQLC không? Người bạn tù chôn anh Lời khi được về đã chỉ
cho gia đình anh biết để ra bốc mộ anh).
Thầy nói với tụi em: “Anh ấy muốn về nhà lắm rồi, 32 năm rồi linh hồn của anh
vẫn ở giữ cái mộ đó không đi đâu hết, tội nghiệp anh lắm, đưa anh về đi”. Thầy
cũng nói rõ là “mộ trên trại Bình Điền, chung quanh có lính gác” và nói thêm
“sẽ có 2 người giúp đỡ, một người khoảng 70 tuổi và một người cụt tay”...
Quay về Huế, sáng hôm sau chúng em
nhờ một người quen ở Huế cùng đi dẫn lên trại Bình Điền, cô L. này có một người
bạn học cũ thời Trung học, bây giờ làm Trại phó trại Bình Điền. Cô L. gọi điện
thoại cho hắn thì hắn bảo tới chợ Bình Điền thì ngồi chờ gọi hắn sẽ xuống. Tuy
nhiên tới chợ Bình Điền ngồi chờ một lúc lâu hắn lại kêu chúng em lên thẳng
Trại. Chúng em thuê honda ôm, 2 người một xe,
đến cổng đi bộ vào văn phòng gặp hắn. Bấy giờ hắn bảo sẽ còn phải lục tìm hồ sơ
xem có tên Lưu Đức Linh không đã, rồi lấy xe chở đưa chúng em lên núi đến khu
nghĩa trang chỉ cho xem nhưng thấy trong đó toàn là mộ có bia của những người
mới chết. (Trong thâm tâm em nghĩ nhờ anh Linh phù hộ nên hắn có vẻ dễ chịu với
chúng em). Hắn cho xe đưa chúng em xuống núi, bằng con đường khác để tìm hỏi
một số người dân lúc trước 1975 sống tại khu vực trại Bình Điền này. Em gặp một
gia đình sống ở đó đã rất lâu. Chị chủ nhà nói: “Hồi các anh lính Cộng Hòa bị
bắt học tập, mỗi lần các anh bị đi lao động ngang nhà, tui thường luộc mì và
khoai lang để sẵn ở một góc nào đó cho các anh”. Em gởi chị này ít tiền, nhờ
chị hôm sau lên khu nghĩa trang phát cỏ tranh vì thấy cỏ quá cao. Người CA quen
với cô L. chở tiếp chúng em tới một khu trại nữa cùng khu vực này nhưng lúc đó
đang giải tỏa làm đường, hắn nói là sẽ mang tất cả hài cốt của lính Cộng Hòa và
cả bộ đội cộng quân chôn ở đó sang nơi khác, bởi thế không vào được. Trên đường
ra hắn đưa chúng em ghé nhà 1 người cai tù cũ ở trại 4 Bình Điền tên là Bình,
hỏi có biết ai ở đó từng là cai tù ở trại 1 hay không. Người tên Bình nói “Tất
cả đều đã về hưu, đa số là về Quảng Trị, chỉ có mỗi mình tôi (Bình) sau khi về
hưu xin ở lại Bình Điền” rồi chỉ cho chúng em cách đi tìm mấy người cai tù (của
trại 1) nay sống ở Quảng Trị.
Về lại Huế nghỉ một đêm, sáng hôm
sau chúng em chia làm hai toán, một đi ra Quảng Trị tìm nhà mấy người cai tù cũ
như được chỉ, một toán thì trở lại Bình Điền. Khi tới chợ Bình Điền, cô L. lại
gọi điện thoại cho viên CA trại phó nhờ giúp thì hắn bảo “Cứ ghé nhà chú Bình
chú ấy sẽ đưa đi”. Ông ta dẫn chúng em đi theo một con đường hẹp và dốc khá
đứng (y như lời thầy Quýt chỉ). Từ chân núi đi lên chúng em vừa đi vừa thở, vừa
than thầm Trời ơi! Từ nhỏ tới lớn có bao giờ đi thế này, bây giờ nghĩ mới thấy
thương các anh ngày xưa leo đèo leo núi hành quân cực khổ ra sao... Thiệt là
mệt gần chết! Lên tới nơi, ngay chỗ nghĩa trang mà chúng em đã tới hôm trước,
mấy đứa chúng em đốt bó nhang lớn chia nhau thắp khắp nơi, vừa cắm vừa van vái
thầm anh Linh khôn thiêng chỉ cho chúng em tìm ra mộ phần của anh... Bỗng dưng
có tiếng chim rất lạ kêu lên, không hiểu sao em nghe thấy tiếng kêu thiệt thảm
thiết và sợ run người. Chúng em lần mò đạp lên đám cỏ tranh (đã nhờ người cắt)
len lỏi đi qua khu mộ mới có bia, tới khu trong đường đi khúc khuỷu, khó khăn,
lên dốc, xuống đồi, có chỗ phải len lỏi như đang đi xuống vực. Chị Ba của em
trượt chân té, cả người chị tuột xuống dốc, chị hoảng hốt đưa tay chụp đám dây
leo chằng chịt, nhằm bụi gai bị đâm chảy máu tay ròng ròng... Chúng em tự nhủ
“không lẽ đây là máu mủ tình thâm, anh Linh chỉ cho chúng em thấy chỗ chôn rồi
hay sao?” Thế nhưng nơi chị Ba em té xuống là đất bằng phẳng, không có dấu vết
của ngôi mộ nào hết, đi xuống phía dưới một chút thấy có dòng suối nhỏ. Quanh
quẩn mãi đến chiều mà không tìm thấy gì cả, chúng em phần thất vọng, phần mỏi
mệt quá nên đành quay về Huế.
Người em họ của em ra Quảng Trị quay về cho hay không tìm được tung tích của những người cai tù trại 1 cũ như được chỉ vì kẻ thì đã chết, người thì đi vào vùng kinh tế mới làm nương rẫy cả rồi... Đêm hôm đó mấy đứa em không ngủ được ngồi bàn với nhau lấy tấm họa đồ thầy Quýt đã vẽ ra xem thì thấy con đường đi lên núi nhỏ hẹp thì đúng rồi,đi vào đám cỏ tranh,ngang qua khu các mộ mới có bia cũng đúng mà đi xuống nữa thì có thấy ngôi mộ nào đã được bốc đi như ông thầy vẽ đâu? Loay hoay tụi em cứ nghĩ hoài mà không ra và lại thêm một đêm mất ngủ (hầu như mấy đêm liền tụi em chẳng đêm nào ngủ được, cứ chừng 2, 3 giờ sáng là mấy chị em lại thức dậy cùng nhau bàn, nghĩ ngợi rồi thở dài)!
Sáng dậy em quyết định trở ra Đồng
Hới tìm thầy Quýt. Mấy đứa em quỳ hết xuống năn nỉ thầy cùng đi để tìm giúp mộ
anh Linh. Thầy Quýt nói “Nếu như anh chết nằm ngoài CA quản lý thì tôi đi với
các anh chị”. Chúng em nghe vậy thì thở dài (chứ biết nói gì) Thầy lại nói “Lúc
trước tôi đã đi tìm mộ cho cả 2 bên, tìm được cả ngàn ngôi mộ rồi, tôi là đảng
viên, cấp trên thấy vậy tước quyền Đảng viên của tôi, sau này tôi tìm được mộ
cán bộ cao cấp hắn đến nói trả lại Đảng viên cho tôi. Nhưng tôi trả lời, tôi không
cần nữa, tôi làm việc tìm mộ này là vì lương tâm đạo đức thôi chứ tôi không cần Đảng nữa đâu, mấy ông lấy đem về đi”.Rồi một lần
nữa thầy lấy giấy ra vẽ lại sơ đồ giống y lần trước, thầy còn nằm dài xuống nền
gạch, nói “Anh ấy nằm đây nè, ở ngay phía dưới
là con suối chảy”. Đứng dậy, thầy vỗ hai tay lên đầu, nói “Anh muốn về với gia
đình lắm rồi”. Chúng em chẳng biết nói gì hơn đành đứng lên cám ơn để về Huế.
Trước khi đi chúng em nhờ thầy coi giùm Ba em ra sao, thầy nói “Ba đang đau đầu
đó, đưa anh về đi. Đưa anh về là Ba hết đau đầu liền”. Chúng em nhìn nhau,
không biết nói gì mà lòng thì khâm phục thầy (bởi vì trước khi tụi em về Việt
Nam 2 tuần Ba bị bệnh đau đầu, mà đau ghê lắm, phải đưa đi Bác sĩ, tới ngày tụi
em đi Ba mới đỡ đau đôi chút)!
Trở lại Huế, bữa sau tụi em quyết
định trở ra Quảng Trị lần nữa để tìm người cai tù (trại 1), hôm trước người em
họ chưa tới được, không ngờ lần này tụi em lại gặp và thấy ông này... bị cụt
tay (!). Tụi em nói rõ là đi tìm mộ anh Hai và nhờ giúp. Ông ta kể là về làm ở
trại Bình Điền năm 1977 và nói muốn dẫn tụi em tới một ông thầy ở Quảng Trị
cũng “hay lắm” để nhờ gọi hồn xem. Tụi em bàn nhau nên đi để xem ông này nói có
ăn khớp với thầy Quýt ở Đồng Hới không. Bữa đó ông thầy này không tiếp, hẹn
sáng sớm ngày mai quay lại. Tụi em về Huế, sáng hôm sau ra Quảng Trị sớm.
Sáng hôm sau đến nhà ông thầy Quảng
Trị sớm lắm, chúng em vào cúng, đưa tên tuổi anh Hai cho thầy. Chờ một lúc thầy
thắp nhang, khấn vái rồi nói “Anh đây bị đưa đi tất cả 3 trại tù, trại thứ nhứt
là Phong Điền, (trại thứ hai tên gì bây giờ em không nhớ), rồi trại thứ ba là
Bình Điền, anh tù, đói và bịnh nên chết”. Rồi ông chỉ cô em thứ chín của em nói
“Anh về sẽ vào người cô này nè”. Em Chín của em ngồi im không nhúc nhích hồi
lâu rồi cứ lạy bàn thờ và lạy thầy. Thầy nói “Bây giờ anh mở miệng nói đi, người
nhà đi tìm anh về đó”. Chúng em ngồi chung quanh mới hỏi “Anh chết ở đâu, nói
cho chúng em biết để tụi em đưa anh về nằm gần Má. Má thương nhớ anh lắm nên Má
mới chết, còn Ba nữa, Ba cũng nhớ anh lắm và đang đau đầu nặng lắm. Anh nói đi,
nếu anh không nói được thì anh viết ra cho tụi em biết...” Em lấy cây viết và
tờ giấy đưa cho “anh”. “Anh” viết từng nét một, có nét dài, nét ngắn, rốt cuộc
đọc ra chữ Điền,xong buông viết xuống khóc một cách tức tối.. Thầy nói “Có
chuyện gì uất ức thì nói ra đi, mở miệng ra nói đi” nhưng
“anh” không nói mà chỉ khóc và khóc hoài thôi. Em mới hỏi “Anh có biết em là ai
không?” thì không trả lời mà gật đầu, rồi ngả đầu trên vai em và lại khóc nữa.
Chúng em cũng khóc và nói “Tụi em xin lỗi anh, xin anh đừng giận nữa, 32 năm
chúng em muốn nhưng không biết anh ở đâu mà tìm, hơn nữa thời điểm đó chúng em
đều còn nhỏ quá, mà Ba có đi Vũng Tàu rồi lại ra Đà Nẵng tìm anh mà tìm không
ra..” Chúng em đứa nào cũng xin lỗi, xin “anh” tha thứ mà “anh” không mở miệng
được. Thầy mới nói với anh “Thôi chuyện đã lỡ rồi, đừng buồn nữa, thôi mời các
anh chị đây uống bia đi”.“Anh” bèn nín khóc và đưa tay ra mời “uống bia”. Trước
khi tụi em rời nhà thầy, “anh” có quỳ lạy bàn thờ.
Tới Bình Điền, tụi em cùng ông Bình
đi lên núi theo con đường xe hơi chạy được. Tới ngay nơi bữa trước đã ghé, em
gái em nhảy liền xuống xe, đi tới sát bờ vực, tụi em phải giữ chặt sợ em té. Em
đứng ngó một hồi rồi quay lại đi vòng vòng... Tụi em đi theo mà chẳng thấy có
dấu hiệu gì của một ngôi mộ nào hết. Em Chín ngồi xuống bưng mặt khóc rưng rức
một hồi, rồi nói ngộp thở quá, ngộp thở quá và xỉu. Tụi em phải đổ nước cho em
tỉnh dậy rồi rủ nhau về Huế. Lúc đó tụi em thất vọng vô cùng, đứa nào cũng rầu
rĩ vì nghĩ chẳng lẽ mình đành bó tay? Đêm đó tụi em lại ngồi suốt đêm bàn tính
và quyết định sáng bữa sau lên Bình Điền lần nữa.
Lần này tụi em cũng mang theo họa
đồ, nhang đèn, trái cây và bông hoa. Nhưng trên mặt đất (chắc vì bao năm mưa đổ
kéo theo đất đá trên cao xuống lấp hết dấu) nên không biết đâu là mộ anh hết.
Tụi em đi xuống phía dưới chút nữa thì có con suối nhỏ (vậy là đúng như thầy
Quýt diễn tả). Quay trở lại thì quả thiệt, tụi em tìm được dấu của ngôi mộ đã
bốc đi và cục đá mà thầy Quýt nói giống cái nấm rơm và nhìn thiệt kỹ thì đúng
là như có ai chặt chém gì trên cục đá đó. Tụi em bày hoa quả nhang đèn ra cúng
(oái oăm là tụi em ngồi cúng ngay trên đầu mộ anh mà không biết!) rồi về lại
Huế.
Đêm đó cậu em họ của em bày hôm sau
tới nhà 1 ông thầy tên Sinh ở Vỹ Dạ thỉnh ông đi theo cúng thì mới mong tìm ra
mộ. Lúc đó tụi em nghe ai có ý kiến gì cũng đồng ý vì có lẽ bối rối quá không
biết níu vô đâu.
3 giờ sáng tụi em mới đi nằm, mà cứ
trằn trọc hoài.
6 giờ sáng cậu em họ chạy qua đập
cửa,miệng ú ớ kêu tụi em qua phòng nó.Tới cửa phòng hắn chỉ tay lêncánh cửa thì
thấy một con bướm màu nâu đen lớn lắm, bằng nguyên bàn tay mình xòe ra, em chưa
thấy con bướm lớn như vậy bao giờ. Cậu em nói hay là anh Linh về?
Tụi em ghé mời thầy Sinh cùng đi lên
núi và thầy đồng ý. Khi ra xe, anh biết em thấy gì không? Một con bướm đen cũng
lớn bằng con bướm đã thấy hồi nãy bay theo vào trong xe. Và đi cùng chúng em
lên núi. (Lúc này thì đứa nào cũng tin là vong linh của anh Hai đã về cùng đi
theo tụi em).
Tới nơi thầy Sinh cúng, khấn vái Sơn
thần, Thổ địa xin cho phép gặp thân nhân (ông đọc tên tuổi của anh Linh em).
Thầy nói thứ tiếng gì tụi em nghe chẳng hiểu gì hết (nghe như tiếng Tàu mà
không phải tiếng Tàu). Thầy cầm cây nhang đi vòng quanh, tới 1 gốc cây quơ tay
như tóm lấy một vật gì trong không khí và lấy tờ giấy đỏ gói lại. Thầy chỉ một
chỗ dưới đất nói đó là nơi mộ của anh và dặn đi đâu cũng phải mang anh theo
(tức gói giấy đỏ này). Chúng em đưa thầy về Vỹ Dạ, tạ ơn rồi quay về khách sạn.
Lần này thì tụi em quyết định bữa sau nhờ cô L. gặp tên CA Trại phó xin hắn cho
đào ngay chứ trễ quá rồi (tụi em xin nghỉ phép về VN được có 2 tuần, mà bữa đó
đã là ngày thứ 10).
Gặp viên CA tụi em trình bày là có
coi thầy Sinh và được chỉ cho chỗ để đào. Hắn nói, theo họa đồ như thầy Quýt vẽ
thì có tới 2 mộ gần nhau, nên bắt tụi em phải sắm 2 cái quách, và nếu đào lên
có 2 cốt thì phải chôn lại một chỗ, chờ khi nào họ tìm và liên lạc được với
thân nhân người kia mới cho đem về! (Em rủa thầm trong bụng trời ơi, chết mà
vẫn không yên, vẫn còn bị nó quản lý)! Nhưng làm sao được? Hắn cũng buộc điều
kiện phải để cho tù nhân trong trại ra đào, tụi em đồng ý liền, nên hắn cho đưa
5 người tù ra đào.
Em nhờ chia làm 2 toán, một đào ở
trên, phía bên trái, nơi viên cai tù cụt tay ở Quảng Trị nói năm 1977 ông ta về
đó đã thấy có hai ngôi mộ), còn toán kia đào ở dưới, phía bên phải. Đất đai gồ
ghề, khó đào lắm, họ đào mỗi bên sâu xuống một thước mà chẳng thấy gì. Loay
hoay mãi cũng không thấy gì, hết giờ CA đòi đưa mấy người tù về trại.
Đêm đó tụi em nhờ cậu em họ và người
cháu ở Huế bữa sau tiếp tục lên coi sóc việc tìm kiếm, còn tụi em phải về Sài
gòn để thu xếp ngày mốt về lại Mỹ.
Rời Huế mà đứa nào cũng lòng thì tan
nát, còn người thì mệt nhoài vì suốt 10 ngày hết đi ra đi vào, cứ lên núi xuống
núi mà không thấy được dấu tích gì hứa hẹn cả.
Về tới Sài Gòn tụi em rã rời, tuyệt
vọng như người không còn sức sống, nghĩ tới lúc về Mỹ mà ngao ngán. Không ngờ
sáng bữa sau người cháu họ điện thoại vào báo mừng rỡ “Dì ơi tụi con tìm thấy
Cậu rồi.”(Em không biết tâm trạng của người trúng số độc đắc ra sao, chứ em lúc
đó thì rõ ràng là mừng hết lớn)! Người cháu kể, trước khi đào có gọi điện thoại
hỏi lại thầy Sinh, thầy bảo cứ từ phía dưới chân dốc núi bên phải nơi có con
suối đào ngược lên, tới gần gốc cây, dưới gốc cây thấy có tảng đá thì đúng chỗ.
Đào theo lời thầy chỉ, sâu gần 1 thước, ba con nhảy xuống rờ thấy đất ươn ướt.
Đào sâu hơn nữa, ba con rờ và gõ trên mặt đất thấy hơi gồ lên thì nghĩ đó là
cái sọ... nên lấy tay cào cào đất ra thì thấy là tấm poncho... kéo hết tấm
poncho ra thì tất cả mọi người đều thấy rõ một người nằm nghiêng, co rúm như
người bịnh, nhưng chỉ trong tích tắc, bóng người tan đi, xương rã thành bột
trắng hết... Công An kêu hốt bỏ hết vô quách, đem lên phía trên núi chôn lại
làm dấu chờ quyết định... Con thấy mây đen kéo tới như sắp mưa nên nhảy cuống
theo hốt bỏ vô quách, vừa hốt vừa thừa lúc CA ngó lơ bốc một nắm bột bỏ vô túi
để đem về cho Dì...” (vì em đã dặn cháu nhớ hốt giùm em một nhúm bột xương để
đem về Mỹ thử DNA ). Nghe xong em mừng tới run hết chân tay, nhưng vẫn thấy
buồn quá, vì qua bữa sau nữa là em quay về Mỹ lại rồi mà di cốt của anh thì vẫn
còn bỏ lại ngoài đó!
Rồi tụi em đi lên Chùa cầu siêu cho
anh (tụi em đã có đặt sẵn bài vị cho anh Linh). Hôm sau khi người em họ bay từ
Huế vô đưa cho gói bột, chúng em chia hai, một nhúm để lại chùa, một nhúm mang
về Mỹ.
*****
Một tháng sau khi về Mỹ, chúng em
liên lạc được một phòng Lab ở Arizona, họ nhận phân tích và thử DNA. Gửi đi
xong, hơn 3 tuần sau liên lạc lại, họ cho biết trong phần bột xương gửi tới,
chỉ có 0, 5% là tro xương, còn lại 99, 5% là đất! Và cho hay chỉ có thể xác
nhận kết quả là 10%. (Thì ra người cháu của em, khi hốt vội nắm tro đã bốc lộn
nhiều phần đất cát trong đó). Thế nhưng chúng em vẫn tin tưởng rằng đó chính là
tro cốt của anh mình vì nhiều lý do, em sẽ kể sau.
Mấy chị em tụi em ngày nào cũng bàn
bạc băn khoăn, không biết là tháng 10/2007 sẽ về bốc cốt cải táng hay để sang
năm 2008. Chưa kịp quyết định thì một bữa, người cháu em ở Huế gọi sang báo
“nói chuyện với thầy Sinh ở Vỹ Dạ thì thầy mới cho biết anh Linh về báo mộng
cho thầy, nói rằng nhờ thầy giữ giùm ngôi mộ vì các em sắp về cải táng! Vậy là
tụi em quyết định tháng 10/2007 về bốc mộ anh cho xong.Chúng em nhờ người em họ
ở Saigon ra Huế tìm gặp tên CA giữ danh sách những người tù trại Bình Điền nộp
đơn xin bốc mộ. Hắn xem đơn xong nói rằng “Không có tên Lưu Đức Linh trong danh
sách học tập, và lần trước khi đào lên thì chỉ có nắm bột, muốn bốc phải viết
đơn rằng xin bốc chiếc quách trong có nắm đất và áo quần rách mới được.” (Anh
nghĩ xem nghe vậy có đau lòng không)?
Tháng Tám 2007 ba em trở bịnh nặng
phải nằm nhà thương. Chúng em quyết định xin phép Ba để một cô em gái ở lại
chăm sóc, còn chúng em tháng 10/2007 về cải táng cho anh.
Về VN lần thứ nhì:
Tuần lễ thứ nhì tháng 10/2007 chúng
em về đến Saigon Sau khi thăm mộ Nội Ngoại và má em, chúng em đi Huế. Lúc ấy
đang mùa mưa, trời Huế mưa dầm u ám vô cùng não nuột. Tới Huế, chúng em về tận
quê Ba cầu xin ông bà tổ tiên phù hộ, sau đó quyết định ra Đồng Hới gặp thầy
Quýt, xin ông cùng đi bốc mộ để phối kiểm cho chắc chắn (vì lúc bốc lên không
có mặt chúng em, và kết quả thử DNA chỉ có 10% nên nói thiệt tụi em cũng có chỗ
bán tín bán nghi)! Lần đầu ông từ chối. Sáng hôm sau đến sớm, định năn nỉ lần
nữa thì bất ngờ ông nói liền “Ra xe, tui đi với các anh chị. Đêm qua en về kêu
tui đi tìm mộ en. Tui thấy en ở trần, mặc mỗi quần đùi kể với tui là chết vì bị
bịnh và đói. Vậy nên tui phải đi với các anh chị!” Em nghe xong vừa mừng, vừa
thương anh phải quay đi chùi nước mắt!
Thầy Quýt nói thêm phải ghé nhà một
ông già cùng quê nhờ đi cùng để phòng khi anh Linh không nhập vào chúng em được
thì sẽ nhập vào ông đó. Gặp ông ta chúng em nhờ đi tìm người thân, ông lặng lẽ
lên xe cùng đi. (Nhắc lại cho anh nhớ rằng, lần đầu tiên gặp thầy Quýt ông có
nói là có 2 người sẽ giúp chúng em tìm được mộ anh Linh, 1 là viên CôngAn già
về hưu tên Nguyễn Thanh Bình ở Bình Điền đó và 1 người cụt tay).
Xe tới Bình Điền, chúng em lại nhờ
người tên Bình giúp đưa lên núi. Lúc đó trời đã bớt mưa, chỉ còn lác đác. Bước
vào lùm cỏ tranh, bàn tay và đầu thầy Quýt cứ lắc lư không ngừng, tới ngôi mộ
thầy ngừng lại nói “Đây rồi, mộ en đây rồi”.
Ông Bình nói không phải, cái này là mộ mới chôn, phải đi xuống phía dưới vực
kia mới có”. Thầy Quýt lắc đầu, dậm chân và nói không đi đâu nữa. Lúc đó trời
tạnh hẳn, thầy kêu bày đồ ra cúng và phải thiệt nhanh vì nếu trời đổ mưa là
không tốt cho anh.
Chúng em bày nhang đèn hoa quả ra,
thầy thắp nhang, ngồi xổm khấn vái một hồi và kêu chị Ba em ngồi xuống bên cạnh
để xem anh Linh có nhập vào không. Một lúc lâu, không thấy gì, thầy Quýt lại
kêu đứa em trai ngồi xuống, cầm một cây nhang vái theo thầy. Cũng chẳng xong,
thầy bèn nói ông già đi theo cùng ngồi xuống. Ông này mới ngồi chỉ 2, 3 giây
thì cây tre treo tấm phướn trắng thầy Quýt đã viết tên họ anh Linh trên đó bỗng
dưng bật lên và mảnh vải bay phần phật như là cờ gặp gió mạnh! Bất ngờ ông già
đứng bật dậy, mắt nhắm nghiền khiến phản ứng của tụi em là lùi hết về phái sau.
Thầy Quýt nói với ông già đi mà nhận người thân đi! Ông đi vòng vòng, tới vỗ
vai chị Ba, rồi đến cậu em trai cũng vỗ lên vai nó. Em đang đứng gần cậu em họ,
bèn hơi lùi về phái sau thì ông ta đi qua người em họ đến vỗ vai em mấy cái! Vỗ
xong, ông quay lại đi tới chỗ tên Bình (từng là cai tù trưởng trại 4 Bình Điền)
và đập túi bụi lên người hắn ta. Tên Bình lùi lại và nói thôi thôi, được rồi.
(Lúc đó em bỗng có linh tính, hay là ngày xưa tên này hành hạ tù nhân và cả anh
Linh nữa nên hồn anh về mới đập hắn ta thay vì vỗ về như đã làm với chúng em)?
Sau khi đập thằng cha này xong, ông già đi về phía chị Ba, nắm tay chị, dắt tới
đầu ngôi mộ (mới) đưa tay chỉ và nói“tụi bây chôn tao xéo rồi thấy không?”
Thầy Quýt nói với ông già rằng “Thôi nhận vậy đủ rồi, ra đi, không thì mệt người ta”. Nghe vậy, ông già lắc lắc mấy cái rồi mở mắt ra,
một lúc sau thì trở lại bình thường. Thầy Quýt lại khấn vái lầm thầm nữa, bỗng
dưng thầy kêu lên như đang nói chuyện với ai đó. “Cái gì, đi theo làm gì, ở lại
đây đi, cho en đi về với gia đình en, khó khăn lắm mới đưa được en về, đừng
theo níu kéo nữa. Sao, tên gì? Họ Phan hả? Nhà ở đâu, cũng ở Sàigòn à?” Và thầy
giải thích cho chúng em hiểu rằng có một cái vong chết cạnh anh Linh, quyến
luyến nên cứ muốn giữ anh ở lại! Thầy Quýt khấn vái thêm một chút rồi gieo quẻ
và nói “Vậy thì xin anh ở lại chơi một đêm rồi sáng mai anh về nghe?” Quẻ ra là
được, thầy kêu chị Ba em gieo thêm một quẻ nữa, khấn y như vậy và cũng được,
tức anh Linh chịu ở lại một đêm. Thầy Quýt cầm chai rượu rót xuống đất nói “Rượu đây, en đi mời bạn bè uống đi để mai về”. Xong, thầy kêu thu xếp xuống núi, và ngay lúc đó
trời lại tối sầm, xuống khỏi núi thì trời đổ mưa trở lại (anh thấy có lạ
không?) Thầy Quýt dặn sáng hôm sau khi đào mộ đem quách đi phải tránh không để
trúng một giọt nước mưa nào hết.
Trên đường về ông già đi theo lúc đó
mới quay lại hỏi tụi em là gì của người chết. Như thế khi bắt đầu đi, ông ta
chẳng biết gì về tụi em hết, vậy mà đến vỗ chính xác từng người, trừ cậu em họ
ra. Anh thấy có linh thiêng không? Về tới Huế, chúng em tạ ơn thầy Quýt và ông
già, rồi về khách sạn gọi điện thoại cho tên CA trại phó, xin hắn ngày hôm sau
lên bốc mộ. Hắn đồng ý nhưng dặn phải lên sớm nếu không hắn đi họp thì không
được đào. Đêm ấy trời mưa lớn, em mệt quá nên lên giường ngay, trùm mền đi ngủ
lấy sức để sáng hôm sau dậy sớm. Đang nằm lơ mơ chưa ngủ thì nghe tiếng gõ cửa.
Em nghĩ bụng chắc hai đứa em trai và em họ ra ngoài chơi quên không đem chìa
khóa nên dậy mở cửa. Ai dè mở ra không thấy ai. Em rủa thầm hai thằng quỷ phá
đám, đi ra tìm. Đi hết cầu thang xuống dưới nhà cũng chẳng thấy ai, không khí
vắng vẻ làm em rùng mình chạy về phòng đóng cửa. 15 phút sau lại có tiếng gõ
cửa, chị Ba em dậy mở cửa thì hai thằng em kéo vào. Em la chúng nó tại sao chơi
trò gõ cửa rồi đi trốn thì hai đứa trợn mắt ngạc nhiên nói rằng tụi nó mới vừa
ở ngoài phố về! Nghe mà lạnh người. Trong khi đó trời đổ mưa tầm tã như trút
làm tụi em đâm lo, mưa như vậy sáng hôm sau làm sao bốc anh được? Cả bọn ngao
ngán nằm xuống mà không tài nào ngủ được, trằn trọc suốt đêm! 5 giờ sáng chúng
em đã dậy chuẩn bị đi. Trời vẫn còn mưa nên xe không dám chạy nhanh. Sau khi
mua trái cây hoa quả, tụi em ghé thầy Sinh ở Vỹ Dạ nhờ thầy đi theo để cúng.
Lên tới Bình Điền, nhờ tên Bình đi theo lên gặp tên Trại phó. Hắn mắng tụi em
như tát nước vì phải chờ lâu, sau đó hắn cho
một tên CA dắt lên núi. Tới nơi tên này nói “Các anh chị bốc gì thì bốc cho
nhanh rồi đi xuống, ông Trại trưởng đi họp nên mới cho các anh chị bốc, chứ có
ông ấy ở nhà là không được đâu”. Rồi hắn bỏ đi, để mặc tụi em lại.
Lúc này thì trời bắt đầu tạnh mưa
hẳn nhưng chúng em cũng lấy tấm bạt nylon mang theo căng ra đề phòng mưa bất
tử. Chúng em đào rất nhanh, bốc chiếc quách lên, làm dấu đầu đuôi xong bọc vào
tấm nylon và vội vã xuống núi. Lúc đó thầy Sinh đang chờ ở dưới chân núi vì
ôngtưởng tụi em vào gặp CA sẽ quay xuống đón ông.
Người tái xế của xe hơi tụi em thuê
nhứt định không chịu chở chiếc quách nên chúng em phải nhờ xe ôm chở một người đưa xuống, còn tất cả lội bộ. Xuống gặp
thầy Sinh ông kêu đem tới chỗ ngã ba đường để ông cúng. Và làm phép để đưa về
Saigon. Tới ngã ba, đến khúc rất vắng vẻ, thầy Sinh bảo rẽ vào con đường mòn cho khuất. Thầy Sinh thắp nhang đèn khấn vái
rồi làm phép bắt vong hồn anh Linh vào cây nhang để tụi em cầm theo, và tiếp
tục khấn vái. Bỗng dưng thầy Sinh lên tiếng quát như nói chuyện với người vô
hình (như thầy Quýt hôm qua). Thầy nói “Thôi đưa anh tới đây được rồi, về lại
trên núi đi, để anh ấy theo người thân về nhà”
Rồi thầy lại hỏi “Họ gì? Họ La hả? Nhà ở đâu,
ở Bà Rịa à? Được rồi, nhớ rồi, về đi”. Xong
thầy lấy 3 cây nhang vẽ bùa gì đó lên tấm vải trắng, rồi đập chiếc quách, trút
mớ cốt vào tấm vải, cột lại giao cho chúng em xách.
Chúng em vẫn thuê 3 chiếc gắn máy, một chiếc chở một
người, em ôm quách, 2 chiếc kia chạy kè theo, còn đám đàn bà thì lên xe ôtô. Và
như lúc tụi em bắt đầu đi, lúc này trờ lại đổ mưa! Về tới Huế chúng em bàn với
nhau là phải đi bằng xe lửa chứ không dám đi máy bay sợ tụi nó scan túi xách
thấy gói cốt sẽ làm khó dễ. Thế nhưng khi hỏi thuê được một chiếc xe van chịu
chở vào Saigon với giá 7 triệu đồng, chúng em mừng quá ngay chiều hôm đó rời Huế ngay! Xe chạy suốt đêm, chúng em
rù rì nói chuyện chứ không ngủ được, khi tới Phan Rang chúng em ghé quán cơm
bán khuya ăn cơm rồi đi tiếp. Gần 3g hay 4g sáng cậu em họ buồn ngủ nên em kêu
ra băng sau nằm ngủ cho khỏe. Mới chừng nửa tiếng nó chồm dậy nói “Em nằm mơ
thấy có người đi theo mình, nhìn không rõ mặt,chỉ thấy mặc quần áo lính màu
xanh mà có rằn rằn màu đen”. (Năm 1975 hắn còn
rất nhỏ nên không biết chuyện lính tráng đâu, nhưng nghe nó diễn tả em biết
ngay đó là áo lính TQLC).
Trên đường về Saigon, chúng em gọi
điện thoại trước liên lạc với ông thầy tu trong ngôi chùa nhỏ tại nghĩa trang
(do Hội tương tế mời thầy về tu và coi sóc) nhờ thầy mua hộ trước chiếc quách
mới. Chúng em đi thẳng về nghĩa trang, về đến nơi thì trời đã trưa. Cả bọn để
hành lý trên xe, đưa gói cốt anh vào chùa ngay. Chúng em chuyển gói cốt vào
chiếc quách mới và rũ miếng poncho cùng manh vải đã sờn rách, mỏng tanh để gấp
lại, ngờ đâu có 2 chiếc đinh mục rơi ra, chúng em chẳng hiểu đó là đinh ở đâu? Hay là mấy chiếc đinh của cái
hòm chôn anh Linh đã bị mục nát thành đất? Chúng em thắp nhang, gửi cốt anh lại
cho thầy và xin sáng hôm sau lên làm lễ hạ huyệt.
Buổi lễ hạ huyệt này có rất đông bà
con họ hàng và người quen với gia đình em đến dự, như một tang lễ bình thường.
Chúng em bỏ theo quách manh poncho và miếng vải áo tù rách để cùng chôn cho
anh. Sau đó lấp đất và tráng xi măng để hôm sau xây mộ. Mộ anh nằm ngay bên
cạnh Má.
Hôm sau cậu em họ đến kể em nghe
ngay đêm đó, nằm mơ thấy anh Linh về, mặc quần áo đàng hoàng. Anh vào nhà ngồi
ngay vào ghế, mặt tươi tỉnh. Cậu em hỏi, anh đi đâu đây thì anh Linh trả lời,
tao về xây nhà chứ đi đâu!
Liên tiếp mấy ngày sau đó, bữa nào
chúng em cũng lên xem việc xây mộ để xong là về lại Mỹ ngay (vì Ba em giục xong
thì về liền vì Ba cảm thấy trong người không ổn). Xây mộ xong, chúng em lên
cúng, viếng mộ hai bên Nội Ngoại, Má và anh Linh rồi trở về Mỹ.
Buổi trưa ngày em về tới nhà thì
sáng hôm đó Ba em nói với em Chín đưa Ba rời bịnh viện về nhà vì Ba đỡ rồi. Mặt
mũi Ba tươi tỉnh, vui vẻ và cho hay là đã hết nhức đầu! Anh có nhớ là trước khi
tụi em về VN lần đầu tìm mộ, Ba em đau đầu dữ dội lắm, đau tới nỗi Ba nói muốn
đập đầu vào tường cho bớt! Thầy Quýt ngay lần đó đã nói, tìm đưa anh về thì Ba
hết đau ngay. Lúc đó em nghĩ rằng à thì ra thầy nói là như thế.
Không ngờ sau khi em về lại Mỹ được
2 tuần, một buổi chiều đi làm về thấy Ba còn ngủ chưa dậy. Em vô thăm thì Ba mở
mắt, em nói “Thôi Ba dậy đi, trời chiều quá
rồi. Con đi nấu cơm xong Ba ra ăn nghe”. Nói
xong em về phòng thay đồ, chưa xong thì nghe tiếng Ba kêu, em lật đật chạy trở
lại thì thấy Ba đang cầm ống thuốc quăng xuống
đất và miệng đang nói một thứ tiếng gì nghe lạ
lắm, như đang nói chuyện với người khuất mặt nào đó. Em gọi mấy chị em rồi lật
đật chở Ba vào lại nhà thương ngay. Ba nằm nhà thương thêm một đêm một ngày nữa
thì ra đi. Lúc ấy em mới hiểu câu nói của thầy Quýt. Chúng em buồn quá vì Má
mất đã 23 năm (từ năm 1984) chỉ có Ba ở với tụi em, nay Ba cũng đi theo Má, và
theo anh Linh em sau 32 năm xa cách. Rõ ràng cốt nhục tình thâm, Ba em chờ cho
đến khi đưa được anh về mới ra đi.
Em có nói rằng dù kết quả thử DNA
chỉ có 10% em vẫn tin đó chính là cốt của anh Linh em. Vì những điều trùng hợp
với nhau quá rõ ràng, từ những giấc mơ của chị Ba em (2 tháng sau khi sanh đứa
con đầu lòng), thấy anh về thăm, dẫn chị đi tới một vùng cỏ tranh, phía dưới có
con suối nhỏ, rồi hình ảnh trong mơ của chị Ba, cũng như của thầy Quýt đều thấy
anh Linh cởi trần mặc mỗi chiếc quần đùi, dù tụi em không kể gì cho thầy hết.
Rồi chuyện thầy Quýt cho hay là phải có 2 người giúp mới tìm ra mộ, một là người
Công An già tên Bình ở Bình Điền, người kia cụt tay, tức viên Công An tên Phú ở
Quảng Trị. Như vậy rõ ràng anh Linh em đã chết trong oan khuất nên linh thiêng
quanh quẩn giữ ngôi mộ của mình rồi về báo mộng cho người nhà máu mủ ruột thịt
đi tìm.
Anh ơi, cần nói thêm là anh có biết
phần mộ của anh Linh em nằm trong nghĩa trang sát gần căn cứ Sóng Thần TQLC hay
không? Năm xưa bà con dòng họ bên Ba em hùn nhau mua một
miếng đất để làm nghĩa trang đồng hương và trồng cây ăn trái, nhưng không ngờ
lại nằm ngay sát bên căn cứ Sóng Thần. Miếng đất nghĩa trang quá rộng nên bên
căn cứ Sóng Thần lúc đó mới qua bên nghĩa trang mượn đất để làm sân tập... Họ
có làm giấy mượn đến khi nào nghĩa trang cần đất thì sẽ trả lại... Năm 1975
Cộng sản vô, tịch thu miếng đất đã cho mượn đó luôn... để rồi sau 32 năm anh
Linh em lại được về nằm gần ngay căn cứ Sóng Thần.
Ghi chú của người ghi lại câu chuyện
này:
Đêm Đại hội TQLC 2008 tổ chức ở Nam
California, mấy người em của Th/U Lưu Đức Linh đến tìm vài người bạn cùng khóa
của anh để mời đến nhà nghe chuyện đi tìm anh mình. Nhơn dịp này, Thiếu Tá Lâm
Tài Thạnh, ngay lúc đó tình cờ có mặt, nghe nói Linh đầu tiên được bổ nhiệm về
TĐ9 nên ông nhơn danh TĐT cuối cùng của TĐ9, thay mặt tất cả anh em trong TĐ cũ
chia buồn cùng gia đình. Vài ngày sau đó, số bạn cũ của Linh đã đến nhà để thắp
một nén nhang tiễn biệt và nguyện cầu cho anh linh bạn mình vãng sinh nơi chốn
vĩnh hằng. Sẵn đó, mọi người cũng được nghe các em Linh kể đầu đuôi chi tiết
cuộc đi tìm hài cốt của anh để đưa anh về nhà, về với Mẹ và về với binh chủng!
Trần Như Hùng
Monday, August 10, 2026
Giây Phút Sinh Tử - Khuyết Danh
10 Thứ Này, Chỉ Cần Buông Bỏ Sẽ Được Nhiều Hơn Mất: Hãy Xem Bạn Đã Bỏ Được Thứ Gì!
Có những điều
nếu bạn chấp nhận buông bỏ, bạn sẽ được nhiều hơn mất, đơn cử như 10 điều dưới
đây.
1. Buông bỏ thể diện
Có
những lúc chúng ta cúi đầu, là vì để nhìn rõ hơn con đường mà ta đang đi. Rất
nhiều người cho rằng bản thân mình sống thế là ổn rồi, không cần thiết phải thử
những thứ mới.
Lại
có không ít người vì thể diện mà thứ gì cũng không nỡ buông để rồi cuối cùng khốn
đốn hoặc chẳng thế thành công vì cái gọi là thể diện đó.
2. Buông bỏ áp lực
Mệt
hay không mệt là do tâm thái của mỗi người quyết định. Trái tim ta nếu không được
"dọn dẹp" sẽ bị bao phủ bởi rất nhiều bụi bẩn.
Được
"dọn dẹp" sạch, lẽ tự nhiên nó sẽ trở nên sáng hơn, đẹp hơn; sự
việc được xử lý, sắp xếp rõ ràng rành mạch mới có thể đẩy lùi cái lộn xộn, bừa
bộn ra xa; tương tự như vậy, ném đi những đau khổ vô nghĩa, trong lòng ta sẽ có
thêm không gian để niềm vui đọng lại.
3. Buông bỏ quá khứ
Chỉ
có buông bỏ quá khứ, bạn mới có thể sống một cuộc sống hạnh phúc hơn ở hiện tại
và tương lại.
Nỗ
lực thay đổi tâm thái, điều tiết cảm xúc, học cách bình tĩnh đón nhận hiện thực,
học cách mách bảo bản thân hãy nghe theo tự nhiên, học cách thản nhiên đối diện
với vận mệnh, học cách nhìn đời theo hướng tích cực, học cách nghĩ đến mặt tích
cực của mọi chuyện, bạn sẽ thấy cuộc sống ý nghĩa hơn rất nhiều.
4. Buông bỏ tự ti
Hãy
xóa ngay hai chữ tự ti ra khỏi từ điển của bạn. Không phải bất cứ ai cũng có thể
trở thành vĩ nhân song bất cứ ai cũng có thể trở thành một người có nội tâm vững
chắc. Tin vào bản thân, tìm đúng vị trí của mình, như vậy bạn sẽ có một cuộc đời
giá trị!
5. Buông bỏ sự lười biếng
Tuyệt
chiêu cho việc này là: Cho dù đó chỉ là một việc nhỏ rất đỗi bình thường, chúng
ta cũng nên làm với thái độ nghiêm túc nhất, làm cho thành thục.
Hãy
luôn nhắc nhở bản thân rằng, cứ nỗ lực hết mình, vui vẻ, khỏe mạnh, lương thiện,
bạn nhất định sẽ có một cuộc đời sán lạn.
6. Buông bỏ tiêu cực
Nếu
bạn muốn trở thành một người thành công, vậy thì chẳng có lý do gì mà không vì
bản thân mình mà cố gắng.
Hãy
để những năng lượng tích cực đẩy lùi những suy nghĩ tiêu cực, để sự cao thượng
đánh bật sự hèn mọn, để chân thành đánh bại giả tạo, để khoan dung thổi bay hẹp
hòi, để vui vẻ thay thế cho lo âu, để chăm chỉ thay thế cho lười nhác, để kiên
cường đánh bại yếu đuối…
Chỉ
cần bạn muốn, bạn hoàn toàn có thể hoàn thiện bản thân theo cách tốt nhất trong
suốt cuộc đời. "Cuộc chiến" của bạn, bạn chứ không ai khác phải là
người điều binh bố trận.
7. Buông bỏ oán trách
Thay
vì oán trách, đổ lỗi cho hoàn cảnh mỗi khi gặp thất bại, bạn hãy nghiêm túc suy
nghĩ rằng, thất bại cũng là một bước chuẩn bị quan trọng cho những thành công
sau này, nỗ lực khắc phục thiếu sót, phát huy sở trường thế mạnh, điều đó quan
trọng và cần thiết hơn.
Oán
trách và tìm cách rũ bỏ trách nhiệm của bản thân sẽ chỉ khiến mỗi bước chân tiến
tới thành công của bạn nặng nề hơn, chậm chạp hơn mà thôi.
Buông bỏ oán trách, bình tâm tiếp nhận thất bại, đó chính là tâm thái của một người có đầu óc. Oán trách không thể thay đổi được tình hình, chỉ có nỗ lực vươn lên mới đem lại hy vọng.
Đã
là vàng thật, chỉ cần bạn không cố tình vùi lấp bản thân, chỉ cần nghĩ đến việc
tỏa sáng, rồi sẽ có ngày bạn tỏa sáng.
Đừng
sống một cuộc sống lúc nào cũng chỉ có phiền muộn, cũng đừng cho rằng cuộc sống
phụ bạc bạn, thực ra, bạn cũng được trao tặng nhiều tương đương những người
khác, muốn có thêm nữa, bạn chỉ còn cách tự mình cố gắng để có được mà thôi!
8. Buông bỏ do dự
Đừng
gieo trồng giấc mơ trên cánh đồng do dự, nơi chẳng thứ gì khác mọc lên ngoài cỏ
dại "nếu-thì sao".
Khi
đã nhận định chuẩn về một việc gì đó, lập tức hành động thành công sẽ vô hạn, đừng
do dự thiếu quyết đoán, phương hướng đã được vạch rõ, hãy cứ thế mà chạy, đừng
quay đầu.
Lập
tức hành động là đặc trưng chung của tất cả những người thành công. Nếu như bạn
có cách gì hay, vậy hãy biến suy nghĩ đó thành hành động. Nếu gặp được một cơ hội
tốt, vậy hãy lập tức nắm bắt. Lập tức hành động, thành công vô hạn!
9. Buông bỏ hẹp hòi
Lòng
người khoan dung, trời đất cũng sẽ tự nhiên mà trở nên rộng mở hơn. Khoan
dung là một loại mỹ đức, khoan dung người khác cũng chính là cách mở đường cho
tâm hồn mình trở nên nhẹ nhõm, an nhiên.
Chỉ
sống trong một thế giới khoan dung, con người mới có thể tấu lên bài hát cuộc đời
hài hòa, êm ái.
10. Buông bỏ hoài nghi
Trong
lòng còn nghi ngờ, làm việc khó thành. Người xưa có câu: Dùng người không nghi
ngờ, đã nghi ngờ thì không dùng người. Nghi ngờ thiếu căn cứ sẽ làm tổn thương
người khác, gây ảnh hưởng đến tình hữu nghị giữa các bên.
Hãy đánh giá mọi chuyện một cách khách quan, minh bạch khi hội tụ
đủ những căn cứ cần thiết, như vậy bạn sẽ không phải lo làm tổn thương ai, cũng
không phải mệt mói vì những nghi ngờ.
Diệp Anh (Trí Thức Trẻ)|
Trường Ca Thương Về Miền Tây - Nguyễn Duy Phước
Ai về thăm lại miền Tây
Đồng bằng thẳng cánh cò
bay rợp trời
Nhà bè nước chảy
chia đôi
Bến phà Mỹ Thuận đưa
người sang sông
Một vùng sông nước Cữu
Long
Lượn quanh bởi chín dòng
sông chan hòa
Tưới bồi dải đất phù
sa
Ruộng đồng cày cấy
bao la ngút ngàn
Vựa lúa kho gạo miền Nam
Lúa mùa vàng óng, dừa
xanh ngát trời
Xum xuê hoa trái đôi bờ
Dân tình hiền hậu, đón mời thiết
tha
Câu hò, giọng hát ngân
nga
Tiếng sáo văng vẳng đậm đà tình
quê
Tiền Giang uốn khúc lê
thê
Nhánh sông tả ngạn rẽ về
biển xa
Bến Tre xưa gọi Kiến Hòa
Quê hương thờ phụng Đạo Dừa
phát sanh
Sông ngòi tươi mát
chảy quanh
Vun bồi ruộng lúa, cây
cành mênh mang
Mía ngọt, ngô bắp, khoai
lang
Sầu riêng, măng cụt, quýt
cam thơm lành
Nổi tiếng báng tráng,
bánh canh
Thị trấn Chợ Lách, Châu Thành, Cái Mơn
Vĩnh Long, Trà Vinh hậu phương
Xuôi dòng sông Cữu về nguồn Hậu Giang
Long Xuyên, Châu Đốc,
An Giang
Dân số đông nhất đồng
bằng Cửu Long
Cheo leo thị trấn Tri
Tôn
Chập chùng dãy núi Thất Sơn ngút ngàng
Miếu Bà Chúa Xứ, Núi Sam
Lâm Viên Núi Cấm, rừng
Tràm ngàn cây
Trù phú vườn tược miền Tây
Lâm sản, gỗ mộc tràn đầy
tài nguyên
Ghe, thuyền chợ nổi Đông
Xuyên
Nguyễn Du thơ mộng công
viên, thác hồ
Oai linh lăng Thoại Ngọc Hầu
Gái Long Xuyên giỏi thêu
thùa, thủ công
Biết bao đặc sản thơm
ngon
Đường Thốt Nốt, lẫu mắm, cháo lòng tiếng vang
Cần Thơ miệt dưới Hậu Giang
Ruộng đồng lúa
chín bạt ngàn, mênh mông
Có tiếng « gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn
về »
Ninh Kiều bến nước đê
mê
Thuyền chài tấp nập đón
đưa khách hàng
Bên sông cô gái mơ màng
Thẫn thờ hóng gió đượm
ngàn tơ vương
Sông Hậu nước ngọt lạ thường
Kênh ngạch chằng chịt
miên trường chảy quanh
Rộn ràng chợ nổi Cái Răng
Bán buôn nông sản chòng chành đò ngang
Ghe xuồng cây bẹo treo
hàng
Chợ cổ nhộn nhịp quán hàng, thức ăn
Là nôi hải sản
trứ danh
Cá chạch, cá lóc, cá linh, cá
lòng
Bánh hỏi mặt võng
Phong Điền
Bánh tét lá cẩm đậm
tình nước non
Ba khía, bánh cống chiên dòn
Tầm bì, nem nướng thơm ngon đậm đà
Thủ công nghệ thật hằng hà
Gốm sứ, nón lá, lụa là, chiếu chăn
Chùa chiền Nam Nhã, Long Quang
Ngôi đình Bình Thủy danh nhân tôn thờ
Long Tuyền cổ miếu ngàn đời
Công trình xây cất rạng ngời dân gian
Nhà cổ Bình Thủy Vuờn lan
Tác phẩm kiến trúc của nhà họ Dương
Di sản lịch sử chùa Ông
Đền Munir Ansay đặc
trưng dân Chàm
Thiền viện Trúc Lâm Phương
Nam
Giàn Gừa di tích, Bằng
Lăng vườn cò
Miệt vườn rực rỡ đơm hoa
Quanh năm cây trái
khách qua mát lòng
Kênh rạch thuyền chèo xuôi dòng
Bên sông thôn nữ mặng nồng
duyên quê
Lững lờ mấy nhịp cầu tre
Hàng dừa, khóm
trúc vờn che êm đềm
Cần Thơ sông
nước dịu hiền
Tây Đô chôn chặt mảnh tình nước Nam
Viếng thăm Rạch Giá,
Kiên Giang
Non xanh nước biếc chứa chan tình người
Giáp ranh Cao Miên, Cần
Thơ
Vịnh Thái Lan dải biển bờ
bọc quanh
Kiên Lương, Phú Quốc, Hà
Tiên
Tam giác du lịch khắp miền
ngao du
Bà Lụa, Nam Du, Thổ Chu
Biết bao quần đảo
ngoài khơi mịt mùng
Chùa Hang thắng cảnh
hành hương
Phụ Tử trụ đá vấn vương đôi
hòn
Qua lăng Mạc Cữu chạnh
lòng
Miền Tây khai phá, công ơn đời đời
Phú Quốc cảnh đẹp như mơ
Bãi dài cát trắng nên thơ
ngập hồn
Gành Dầu, Cửa Cạn, Dương Đông
Suối Tiên mờ ảo, suối
Tranh, Đá Bài
Nơi phát tích đạo Cao
Đài
Dinh Bà, Dinh Cậu nguy
nga tuyệt vời
Rừng sim chín mộng
lưng đồi
Ngọc trai thủy sản rạng ngời
long lanh
Bánh tét lá mật, bánh canh
Hạt tiêu, nước mắm nổi
danh khắp miền
Mỏ quạ, hải mã, rượu sim
Hải sản cá bớp, sò
biên đặc thù
Sóc Trăng mảnh đất luyến lưu
Từng có kho bạc khi xưa
hoàng triều
Giáp ranh Cần Thơ, Bạc
Liêu
Biển bờ bát ngát, mỹ miều
nước non
Nơi sông Hậu ra biển Đông
Mỹ Thanh, An Định cửa sông
đón chào
Trần Đề bến cảng xôn xao
Tàu, ghe tấp nập ra vào biết
bao
Đất đai màu mỡ dâng
cao
Trù phú nông nghiệp rau
màu, trái cây
Thủy nguồn tôm cá
tràn đầy
Xứ xở của những đền đài trứ
danh
Chùa Ông Bổn, chùa Khléang
Đất Sét, Chén Kiểu nằm gần
chùa Dơi
Món ngon, đặc sản chào mời
Bánh pía, lạp xưởng để đời
tiếng tăm
Bánh phồng, bánh cóng Đại
Tâm
Mỹ Xuyên bò nướng, Vũng
Thơm bánh mè
Bún riêu, bún nước khỏi
chê
Gỏi Bồn Bồn, mắm
hóc đê mê, đậm mùi
Ghé thăm miệt vườn xanh
tươi
Bốn mùa cây trái xum xuê
ngát lòng
Ngọt ngào vú sữa, chôm
chôm
Lễ hội « văn hóa xứ
giòng » vui chơi
Hàng năm tổ chức tháng mười
Lễ óoc, ngũ âm nhạc Khmer
di truyền
Cô gái Sóc Trăng bền duyên
Nụ cười má lúm đồng tiền
mơn man
Thương tà áo trắng dịu
dàng
Thương vành nón lá che
ngang mái đầu
Ba Xuyên tình vẫn đong đầy
Đất Sóc tô thắm miền Tây đời
đời
Bạc Liêu đất mặn tình người
Ruộng đồng bát ngát, biển
khơi bạt ngàn
Giáp ranh Cà Mau, Sóc
Trăng
Biển Đông
trùng điệp bọc quanh sơn hà
Việt, Miên, Hoa sống thuận
hòa
Ba nền văn hóa giao thoa
nghĩa tình
Bao la rừng rậm thiên
nhiên
Ruộng mùa lúa chín tươi
xinh ánh vàng
Kênh đào, sông rạch thênh thang
Cổ Cò trăm khúc chạy sang Gành Hào
Khu chợ đẹp nhất miền
Tây
Cá tôm, hải sản câu đầy ngoài khơi
Đồng muối Ba Thắc tuyệt
vời
Chùa chiền đền miếu rạng ngời tiếng tăm
Vĩnh Hưng tháp cổ nghìn năm
Chùa Khmer Xiêm Cán
danh lam in hình
Phước Đức lăng
miếu thời Minh
Thiêng liêng Hải Tịnh
Quán Âm phật đài
Tôn thờ hào kiệt,
nhân tài
Lăng mộ cha Diệp, Sáu Lầu
vinh danh
« Dạ Lang Hoài Cổ » âm vang
Đờn ca tài tử rộn ràng
ngày đêm
Cô Ba Trà thắm tơ duyên
Tình cô xứ Bạc nỗi niềm ấp yêu
Tiếng vang công tử Bạc Liêu
Lừng danh giàu có, phong lưu thỏa tình
Lễ hội nhộn nhịp
linh đình
Phát huy văn hoá cổ truyền
dân gian
Vườn nhãn da bò nồng nàn
Vườn xoài trăm tuổi chứa chan cội nguồn
Đặc sản cá kèo, óc
đuông
Sinh thái động vật, chim muông muôn
màu
Về miền sông nước Cà
Mau
Một vùng Đất Mũi tuyến đầu gian san
Tỉnh cuối miền Nam Việt Nam
Biển Đông cùng vịnh
Thái Lan trải dài
Quần đảo Hòn Chuối, Hòn
Khoai
Ba hòn Đá Bạc sóng
lay bềnh bồng
Có đền Nam Hải Lăng
Ông
Nơi thờ
tín ngưỡng cá Ông tục truyền
Cà Mau rừng nước mặn phèn
Khu U Minh dự trữ sinh
quyền thế gian
Thị Tường « hồ giữa đồng
bằng »
Bên đầm bóng nước vầng trăng soi
mình
Xuôi thuyền đến huyện Thới
Bình
Trên dòng sông Trẹm trọn
tình lâng lâng
Tàu bè bến cảng Năm Căn
Cùng khu chợ nổi trên sông
dập dìu
Phú Tân, Cái Nước yêu kiều
Đầm Dơi, Ngọc
Hiển gió chiều lao xao
Đêm về hát khúc ca dao
Vẳng câu vọng cổ gửi
trao đậm đà
Tận cùng Đất Mũi bao la
Cà Mau tình thắm mặn mà quê
hương
Dạt dào nỗi nhớ niềm thương
Miền Tây tha thiết vấn
vương đêm ngày.
Nguyễn Duy Phước













