Cầu Hiền Lương - Vikipedia tiếng Viiệt
Có
những dòng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua bãi cát mịn,
những bãi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những
dòng sông, không hiểu vì sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả
số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông
Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh
Chúa Nguyễn, đứng nhìn nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ
gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và
những ánh mắt thù nghịch với mã tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh
phúc, giáo dục nhân bản và tự do xã hội. Hai dòng nước ấy, cách nhau hàng
trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một
nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ,
nhìn nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau.
Giữa
những đôi bờ ấy, dân Việt vẫn đứng đó, với một vết thương đã liền da nhưng vẫn
nhói, vẫn buốt. Đặc biệt, sông Bến Hải– cầu Hiền Lương trở thành một nỗi nhớ
triền miên, kèm theo mất mác chia lìa mà có khi cả đời vẫn chưa hàn gắn. Câu
chuyện Đôi Bờ không chỉ là chuyện về địa lý của vĩ tuyến 17, không chỉ ngăn
cách hai miền đất, hai chính thể. Chúng còn chia lìa những điều mong manh nhất
của kiếp người. Với những danh từ mới: Bên Dinh Bên Tề, Di Cư Tập Kết, Tàu Há
Mõm, Vượt Sông Vượt Tuyến, Bức Màn Sắt, Quốc Gia / Cộng Sản, Tự Do Dân Chủ / Độc
Tài Đảng Trị, Khẩn Hoang Lập Ấp / Đấu Tố - Cải Cách Ruộng Đất. Khiến sự chia
cách càng thêm éo le. Có những đôi bạn lớn lên cùng nhau, rồi một ngày trở
thành hai phía của lịch sử. Có những mối tình vừa chớm nở đã bị dòng nước lạnh
lùng cuốn đi, để lại hai trái tim chỉ còn biết thương nhớ nhau bằng ký ức. Có
những gia đình, kẻ ở lại người ra đi, dù chỉ cách nhau một dòng sông nhỏ mà lại
hóa ra xa đến tận hơn nửa đời người. Có những người chồng vội vả mang hai con lớn,
để lại thằng út cho vợ, mà không ngờ thật đắng cay và chua xót khi về sau người
cha và thằng con út mình tìm thấy nhau ở hai bên chiến tuyến.
Đôi
Bờ bổng nhiên trở thành câu chuyện của những trái tim – những trái tim bị chia
ly, những trái tim chảy máu, những trái tim tim lặng lẽ giữ lấy một niềm tin rằng,
dù chiến tranh ngang trái, dù một dòng sông nhỏ thôi cũng đủ trở thành ranh giới
của nhớ thương. Nỗi “thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai”- trong Đôi Bờ của
Quang Dũng - như một lời thở than, một vết thương mềm của anh lính nhớ về một
hình bóng xa mà gần, gần mà xa. Nỗi nhớ ấy tưởng chỉ là chuyện riêng giữa hai
người, nhưng thật ra lại chạm vào mạch ngầm hằng có trong lịch sử Việt Nam -
nơi những dòng sông từ lâu mang trong mình số phận chia cắt.
Sau
Bến Hải, đến Cầu Trường Tiền bị CS đánh sập khi chúng mưu đồ xé bỏ hiệp định
đình chiến Tết Mậu Thân 1968, chia cắt đôi bờ Hữu Ngạn Tả Ngạn của Huế gần cả
tháng, đem chiến tranh vào tận thành phố và gieo tang tóc, chết chóc cho mấy
ngàn thường dân vô tội. Từ năm 1965 và lần hồi nhiều năm sau đó, ranh giới Bến
Hải bị xô lệnh khi miền Bắc cố tình và âm thầm lấn xuống phía Nam qua hẵn vùng
phi quân sự. Đến năm Hè Đỏ Lửa 1973, cả ngàn bộ đội Miền Bắc bỏ xác, nhuộm đỏ
dòng sông Thạch Hản khi tràn vào đánh vào Quảng Trị
Những
sự kiện lấn chiếm phía Nam sông Bến Hải, đánh sập cầu Trường Tiền, tiến đánh Quảng
Trị 1972, chủ trương chiến dịch Da Beo, khiến nơi trao đổi tù binh hai bên vào
hè năm 1973 không phải là tại sông Bến Hải, mà là tại sông Thạch Hản, cho thấy
sự tráo trở giảo quyệt của chế độ vô sản Miền Bắc, gây ra bao cuộc chia ly mà
hình ảnh và vết tích đã, đang và mãi mãi còn in dấu trong lịch sử dân tộc.
Tưởng
rằng sau 1975 khi đất nước liền một dải thì nỗi chia ly sẽ chấm dứt, đôi bờ
ngăn cách sẽ được xóa tan. Thế nhưng lịch sử như muốn thử thách thêm sức chịu đựng
của con dân mình, và rằng lịch sử chưa đủ những vết cắt, hay như thể cha ông
chúng ta chưa đền đủ nợ oan gia từ tiền kiếp, biến cố 30 tháng 4, 1975 lại
mở ra một cuộc chia lìa khác, khủng khiếp hơn, kinh hãi hơn nhiều, gây nhiều thảm
cảnh thương đau, đánh động lương tâm toàn thế giới – vì lần này không phải bởi
một dòng sông nhỏ, mà bởi cả một đại dương rộng lớn và hãi hùng. Đại dương mênh
mông này trở thành “dòng sông thứ ba”, hàng trăm ngàn người Việt lại đứng ở hai
bờ sông – một bên là đất mẹ, một bên là bến bờ xa lạ.
Sóng
biển không những nuốt chửng thuyền nhân, mà còn nuốt cả những hy vọng, những lời
hẹn thề, những tiếng gọi nhau không bao giờ tới được. Vì vậy khi đọc Đôi Bờ, ta
không chỉ thấy một cuộc chia ly của hai người, mà còn thấy luôn bóng dáng
của cả một dân tộc oằn người trong đó – một dân tộc nhiều lần bị đặt ở hai phía
đối diện, nhưng trái tim người dân thì chưa bao giờ thôi hướng về nhau - với một
người ra đi là cả một gia đình mươi người còn lại bên kia ngày ngày cầu nguyện
cho người thân yêu đến được bờ bến tự do. Như vậy mới thấy rõ những Đôi Bờ của
lịch sử có thể xa, nhưng những Đôi Bờ của tình người thì vẫn âm thầm mong ước
ngày tái ngộ.
Đây
là một cuộc vượt tuyến vĩ đại chưa từng được ghi nhận trong lịch sử thế giới,
nói lên sự dứt khoát chọn lựa Tự Do trong cuộc sống, thà chết ngoài biển khơi
hơn là tiếp tục sống trong nhà tù lớn, nhỏ, của chế độ thù hằn. Văn học xã hội
và lịch sử có thêm những danh từ mới: Di Tản, Vượt Biên Vượt Biển, Cướp Biển,
Thuyền Nhân Bộ Nhân, HO, ODP, Trại Tỵ Nạn, Trại Chuyển Tiếp, Hoạt Động Cứu Người
Vuợt Biển, Định Cư Nhập Cư, Political Asylum Green Card…
Nhưng
các bạn ơi, bến bờ lần này xa vời vợi, quá rộng, quá lạnh, quá tàn nhẫn; Thái
Bình Dương hay cả bên kia bờ Thái Bình Dương, rồi khắp vòng quanh thế giới là vạn
dặm cách xa quê hương. Ở giữa những bờ ấy là những con thuyền mong manh như số
phận người ra đi, là đói khát, là sóng to gió lớn, là chết chóc với con mắt mở
lớn khiếp đảm và bàn tay không kịp đưa lên trời cầu xin, với những cơn bão
không tên làm chìm thuyền, hay do thuyền của hung thần hải tặc đâm thẳng vào
sau khi vét cạn chút tài sản còn lại của nạn nhân… Và giữa hai bờ ấy, cả mấy
trăm ngàn người – vì một chữ Tự Do - đã nằm lại, không mộ phần, không bia đá,
chỉ có biển cả làm tấm khăn liệm cuối cùng. Những chia ly này, không như những
chia ly trước chỉ vì địa lý. Chúng là những tiếng khóc than bay lên tận trời.
Là những vết thương âm thầm không ngưng rỉ máu trong từng gia đình, khi cha mất
con vợ mất chồng, anh em thất lạc nhau– là những thảm cảnh xã hội trớ trêu, đầy
oan trái, đắng cay.
Ta
thường tự hỏi có phải lỗi lầm? Hay chỉ định mệnh? Khi một người vợ phải “ôm cầm
sang thuyền khác” vì con thơ cần được nuôi, vì miếng cơm manh áo, vì bơ vơ trên
xứ người, vì không biết chồng mình còn sống trong tù CS hay đã nằm đâu đó giữa
núi rừng, biển khơi. Khi một người chồng cô đơn qua năm tháng, không tin có
ngày vợ mình an toàn vượt biển để đoàn tụ, đành phải lấy một người chưa hề quen
biết để cùng góp gạo thổi cơm – Thì đó không phải là lỗi lầm. Không ai phụ ai.
Không ai phản bội ai. Đó là biến chuyển lịch sử phụ họ. Đó là định mệnh, là sự
tàn nhẫn của thời cuộc, là cái giá con người phải trả. Ai trong chúng ta mà
không mang một cây thánh giá trên vai?! Không nặng hơn, không nhẹ hơn; khác
nhau ở chỗ vác như thế nào!?Chỉ là nhẹ hay nặng thôi! Trong những hoàn cảnh ấy,
người ta không có sự lựa chọn. Cuộc sống buộc họ phải sống tiếp.
Phải
chăng tiếp tục sống đôi khi cũng là một cách giữ gìn phẩm giá của mình. Để khi
gặp lại nhau về sau, với mỗi người một đời sống riêng, thì điều họ trao cho
nhau là sự cảm thông và tha thứ. Cảm thông để hiểu rằng định mệnh đã an bài,
không ai phản bội ai. Chớ trách móc, chớ kết tội. Cần tha thứ. Tha thứ để nhẹ
lòng, để giữ phần đẹp nhất của nhau, phần đã từng thuộc về nhau trước khi lịch
sử xé đôi, và để khép lại một chương đời đau thương; chứ tha thứ không có nghĩa
là phải quay về lại với nhau. Ta gọi đó là tình nhân bản.
Lỗi
đâu ở kẻ đổi thay - Chỉ do định mệnh đẩy ngày xa nhau.
Thương
nhau chẳng giữ được nhau - Thì xin giữ lấy nỗi đau dịu dàng.
Mai
sau gặp lại muộn màng - Mỗi người một ngả… vẫn mang nghĩa tình.
Tha
thứ để nhẹ lòng mình - Tha cho số phận lênh đênh tháng ngày.
Có
những Đôi Bờ khắc nghiệt hơn — những gia đình bị xô lệch vì lịch sử. Người tập
kết mang người vợ mới về Nam khi người vợ miền Nam vẫn nuôi con thành đạt và mỏi
mòn chờ chồng suốt 20 năm, tạo ra hoàn cảnh những trái tim không biết phải
trách ai, chỉ biết tự hỏi vì sao số phận lại chia người ta ra làm hai nửa như vậy.
Lại
có Đôi Bờ còn đau hơn nữa, khi một người cha vì sợ mất chức, mất danh trong Đảng
nên không dám bảo lãnh chính con ruột của mình ra khỏi trại cải tạo, nhưng lại
nhận tiền để cứu một người xa lạ. Ở đó, Đôi Bờ không chỉ là khoảng cách, mà là
vết cắt của lương tâm, là nơi người ta buộc phải đối diện với chính mình.
Nhưng
Đôi Bờ đâu chỉ nằm ngoài xã hội, ngoài lịch sử. Ngay trong một mái nhà nhỏ, đôi
khi cũng có những dòng sông lặng lẽ chảy qua. Có những người chồng bước sang một
bờ khác của đam mê và phản bội, để lại người vợ đứng bên này với nỗi đau không
gọi thành tên. Có những người vợ lạc vào cơn mê đỏ đen, để gia đình dần dần
trôi xa như chiếc thuyền đứt neo. Những ranh giới ấy không ai dựng lên bằng
tay, nhưng lại hiện ra rất rõ trong ánh mắt, trong bữa cơm, trong khoảng cách của
hai người từng nằm sát bên nhau.
Thiếu
gì trường hơp Đôi Bờ đâu chỉ chia vợ chồng, cha con. Có khi nó chia cả những
người bạn từng lớn lên bên nhau, từng chung một giấc mơ tuổi trẻ. Một người ở lại
thành phố, khoác áo sĩ quan miền Nam; người kia vào bưng, trở thành cán bộ của
phía bên kia. Đến ngày gặp lại sau 75, khoảnh khắc họ nhìn thấy nhau qua song sắt
— một người tù, một người cai tù — là khoảnh khắc mà cả hai đều hiểu rằng tình
bạn ngày xưa đã bị lịch sử xé làm đôi, không phải bằng dao, mà bằng những lựa
chọn mà họ không còn quyền từ chối. Rồi người bạn trở về ép uổng lấy người vợ của
bạn mình, là người con gái mà cả hai từng thương chung thuở học trò. Không phải
vì phản bội, mà vì thời cuộc đã đẩy mỗi người trôi sang hai bờ đỏ vàng khác, để
khi quay lại, tình bạn ngày xưa chỉ còn là một vết đen trong ký ức, muốn quên
nhưng thật khó.
Những
Đôi Bờ nói trên— dù âm thầm, dù riêng tư — nhưng chính là những vết thương sâu
nhất mà chiến tranh để lại trong lòng người Việt
Các
bạn mến, đại dương không những chia đôi đất nước, nó xé nát cả những cuộc đời.
Đôi Bờ của biển cả, Đôi Bờ của lịch sử, Đôi Bờ của định mệnh – tất cả đã hoà lại
tạo thành một nỗi đau chung của dân tộc. Một vết cắt thứ Ba, quá rộng, quá to,
và sâu nhất. Ba lần chia cắt, ba dòng nước – một nhỏ, một hẹp, một mênh mông –
nhưng nỗi đau vẫn chỉ có một. Đó là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng
ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước. Tuy nhiên, có điều lạ nhất – càng xa quê
hương, lòng càng nhớ, càng thấm nghĩa tình người. Lịch sử có thể chia đời ta từng
đoạn, kể luôn cả gia đình ta ra từng khúc, nhưng lại không chia được tấm lòng của
người Việt với người Việt trên quê hương thứ hai. Và với thời gian, lòng người
cũng hiểu điều còn lại sau cùng, không phải là biên giới hay chiến tuyến, mà là
bàn tay muốn nắm lấy bàn tay, cho dù, như đã từng – cách một dòng sông – và nay
cách một đại dương
Khi
viết về Đôi Bờ theo cái nhìn của lịch sử dân tộc, chúng ta không thể không nhắc
đến thi văn và âm nhạc Việt qua các Đôi Bờ lịch sử ấy. Nơi lịch sử dựng ra Đôi
Bờ, âm nhạc lại mở ra những con đường. Nơi chiến tranh đẩy người ta xa nhau, âm
nhạc lại giữ họ lại gần. Nhạc và thơ vượt qua được ranh giới, nối lại những bờ
xa vắng bằng một câu thơ nhung nhớ, bằng một câu hò à ơ tình tự. Vì thi ca và
âm nhạc là hơi thở, là tiếng thở dài ai oán của cả hai bờ. Thi văn và âm nhạc
luôn là nơi mọi người gởi gắm những nỗi chia ly, lòng nhung nhớ, tình yêu
thương mà lời nói thường không đủ mạnh, không đủ chiều sâu để cất lên. Mỗi giai
đoạn lịch sử đều để lại một dấu mốc cho những Đôi Bờ.
Với
dòng sông Bến Hải, Lam Phương đã sáng tác “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” kể về một cô gái
đưa người yêu vượt sông Bến Hải trong đêm “ Đêm nay trăng sáng quá anh ơi -
Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”. Một bản nhạc mà mỗi câu hát như
run lên vì sương khuya và nỗi đợi chờ.
https://music.youtube.com/podcast/cZuC2ACYTnQ
Ngày
đất nước bị chia đôi ở vĩ tuyến 17, khi từng đoàn người lặng lẻ rời miền Bắc để
tìm Tự Do, nhạc sĩ Anh Bằng đã viết “Nỗi Lòng Ngươi Đi”. Bài hát mang theo tiếng
thở dài của hàng trăm ngàn thân phận người lên đường mà còn ngoái lại quê nhà.
Bản nhạc không kể chuyện bằng sự kiện, mà bằng nỗi nhớ, bằng tiếng gọi quê
hương từ lòng của những kẻ buộc phải rời đi.
https://youtube.com/watch?v=QqXc4vP9Pqo&si=FJDiHlz0_UCQlm4S
Có
những bài hát không cần nói đến nỗi đau thương, nhưng chỉ một câu thôi cũng đủ
làm tim người nghe thắt lại. Trong “Bên Bờ Đại Dương”, khi nhạc sĩ Hoàng Trọng
và Hồ Đình Phương viết “Đất nước tôi màu thắm bên bờ Đại Dương, Bắc với Nam,
tình nối qua lòng Miền Trung…”, đó là tiếng vọng của một người vừa trải qua
cuộc chia đôi 1954, đứng bên bờ Nam nhớ qua bờ Bắc. Giữa hai miền là dãy Trường
Sơn, là những mái tranh nghèo Bắc Giang, là ruộng ngọt phương Nam. Tuy trong bản
nhạc không có khóc than, nhưng trong sự hùng tráng của nó có một nỗi sầu sâu đậm:
dù chia đôi, dân tộc vẫn giữ niềm tin nghĩa tình có thể được nối qua lòng miền
Trung.
https://share.google/ZwYsrXkghxQmFaB9q
Giữa
những Đôi Bờ của lịch sử, còn có những đôi bờ riêng – đôi bờ của định mệnh và
tôn giáo. “Chuyện Tình Buồn” của Phạm Duy, phổ từ bài thơ của Phạm văn Bình, gốc
Đông Hà, Quảng Trị, mang tâm sự một cuộc tình tan vỡ vì người nam và người nữ
không thể bước chung qua một cánh cửa tôn giáo – Một cánh cửa luôn rộng mở cho
mọi người, nhưng lại khép lại cho đôi tình nhân trẻ tuổi - Đôi Bờ không nằm
trên bản đồ, mà nằm trong trái tim, để khi gặp lại nhau chỉ còn “thương người
em năm cũ, thương góa phụ bên sông”.
https://youtube.com/watch?v=Kh7e-iM5gDo&si=rHCO8vEyU2ARZrj6
“Chuyện
Một Cây Cầu Đã Gảy” được Trầm Tử Thiêng sáng tác ngay trong năm 1968. Bài hát gắn
liền với cây cầu biểu tượng cho xứ Thần Kinh, bị đánh sập trong Tết Mậu Thân ở
Huế. Sáng tác này xem như một khúc ai điếu. Cấu nối hai phía Hữu Ngạn và Tả Ngạn,
nối chợ Đông Ba, phu khố Gia Hội, phố Phan Bội Châu với các trường học Quốc Học,
Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, Thiên Hữu, Bình Linh, Đại Học Huế, chợ Bến Ngự;
nối Đại Nội, khu Thành Nội, Mang Cá cùng quân y viện Nguyễn Tri Phương với khu
hành chánh, tòa Tỉnh Trưởng, khu đại học cùng bệnh viện Trung Ương Huế, nhà Ga
Huế, Đập Đá. Một vài nhịp cầu bị nổ mìn và nguyên thành phố Huế chìm trong tang
tóc – một phần đời của Huế bị bứng khỏi sự bình yên vốn từng có theo sự lặng lờ
của dòng sông Hương. Đặc biệt giai điệu bản nhạc mang âm hưởng Nam Bình – Nam
Ai, cổ kính của xứ Thần Kinh, như những tiếng than dài ai oán của thành phố chịu
quá nhiều tang thương. Bản nhạc này được nhắc đến như một lời tiễn biệt cho phần
linh hồn của Huế, không phải vì một vài nhịp bị sập mà cả một ký ức chung bị vỡ,
một nỗi đau mà dân Huế mang theo suốt đời – cho dù về sau cây cầu được sửa lại,
tô màu, lên đèn, nhưng tinh thần Đôi Bờ của cây cầu không bao giờ được nối lại.
Lịch sử sẽ ghi đầy một trang đen tối.
https://youtube.com/watch?v=LrvkA7fMhG0&si=vj3xvrqc7MapaH_x
Bạn
thân mến, có những nỗi nhớ không hướng về một cá nhân, mà hướng về cả một đời.
Trong “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc – mà chúng ta biết đến, qua những
công việc giúp người tỵ nạn định cư, cọng tác và hướng dẫn nổi tiếng của chương
trình nhạc Asia, người kêu gọi và góp sức trong việc xây dựng Tượng Đài Chiến
sĩ Việt Mỹ tại Westminster, và nhạc sĩ của nhiều tình ca tuyệt vời, kể cả bài
Saigon Ơi! Vĩnh Biệt - khi tiếng hát cất lên “Cho tôi xin lại ngọn đồi…Cho
tôi xin lại bờ rừng…Cho tôi xin một lần chào…Cho tôi xin một mộ
phần”, đó không chỉ là lời xin của một người tỵ nạn đơn giản, mà là
lời khấn của một người lính đã mất quê hương, mất đồng đội, mất cả nơi để trở về.
Những ngọn đồi ấy, bờ rừng ấy, không còn trên bản đồ, nhưng vẫn còn nguyên
trong ký ức – nơi anh em từng nằm chung hầm, chia từng nhúm gạo xấy, từng hơi
thở giữa cái sống và cái chết. Và nỗi đau đớn nhất, không phải là lưu vong, mà
biết rằng mình không thể trở về để chào những bạn đã khuất. Xin hãy niệm mỗi
câu hát là một nén hương thắp cho những đồng đội đã nằm xuống, và ngay cả cho một
phần đời của mình đã nằm lại bên kia bờ. Bài hát này, không phải chỉ là ký ức
chiến trường, mà còn là ký ức của những người ở lại nhìn bạn bè ra đi mãi mãi -
khiến bao chiến sĩ chúng tôi nhỏ lệ.
Mấy
chục năm trước, ca nhạc sĩ Nam Lộc trình bày cho cộng đồng người Việt Tỵ Nạn bản
nhạc Người Di Tản Buồn rất nhiều lần, không những trên sân khấu mà trong
những công viên, những khuôn viên nhà thờ, nhà hội đoàn…Trong thước phim đen trắng
cũ kỹ ấy, Nam Lộc đứng trước cả ngàn người. Không có sân khấu lộng lẫy, không
ánh đèn màu, chỉ một đờn guitar và một micro đơn sơ và tiếng hát nghẹn ngào của
một người từng sống với nỗi đau của dân tộc. Xung quanh ông là những gương mặt
trẻ, nam nữ, đứng chen nhau, mắt mở lớn, lặng đi như bị cuốn vào từng câu hát.
Họ là thế hệ vừa rời quê hương, còn nguyên nỗi bàng hoàng của những ngày vượt
biển, vượt biên. Phía sau họ, những mái đầu bạc, những cụ ông cụ bà khoác áo
len cũ, đứng nép dưới bóng cây. Nhiều người tỏ dấu xúc động. Có lắm cụ chắp tay
trước ngực, như muốn chặn cơn nghẹn đang dâng trào trong con tim; có bà cúi mặt,
cầm vạt áo lau nước mắt, không phải chỉ vì bài hát buồn, mà vì bài hát nói đúng
nỗi lòng của thế hệ lưu vong.
Mọi
người đứng yên, như bị giữ lại bởi sức nặng của ký ức. Khi Nam Lộc cất lên đoạn
cuối – đoạn từng làm bao trái tim rướm máu – cả đám đông như nín thở, không một
lời nói, không một ai nhúc nhích. Chỉ có tiếng hát, tiếng nức nở, cùng tiếng thở
dài của những người mang quê hương trong tim suốt một đời.
https://www.facebook.com/watch/?v=975442624207928
Một
người khác, không có số quân, và bạn thân của tôi, cũng đã hát “Người Di Tản
Buồn”. Bs. Lương Quang Thịnh chỉ là một người thích hát, với mái tóc dài
lãng mạn của thời sinh viên. Nhưng giọng hát lại mang một nỗi xót xa rất thật –
do lẽ anh đã lớn lên giữa mùa hè Đỏ Lửa, khi bạn bè trong xóm, và cả người thân
bị đôn quân năm 1972, rồi ngã xuống quá sớm. Anh là kẻ may mắn được tiếp tục cắp
sách đến trường. Nhưng sự may mắn ấy lại trở thành một vết thương âm ỷ. Là nỗi
day dứt của người ở lại nhìn tuổi trẻ của bạn bè mình hóa thành bia mộ.
Có
lẽ vì vậy, khi anh hát, mắt anh sâu và buồn đến lạ - như nhìn xuyên qua bao năm
tháng thấy lại những gương mặt đã mất. Giọng hát anh vững, không phô trương,
nhưng mỗi chữ như mang sức nặng của con người từng chứng kiến chiến tranh từ
phía sau cánh cửa gia đình. Anh cùng người yêu vượt biên khi đang còn là sinh
viên năm thứ Tư Đại Học YK Saigon, mang theo hành trang, không chỉ là ước mơ của
tuổi trẻ, mà còn là hình ảnh của những người nằm lại trên những chiến trường lớn
nhỏ, trên các con đường bờ rừng của quê hương. Vì vậy khi anh cất lên “Người Di
Tản Buồn”, ta không chỉ nghe tiếng hát của một người tỵ nạn, mà là tiếng thở
dài của một thế hệ của những người trai không cầm súng nhưng vẫn mang trong
lòng một cuộc chiến chưa chấm dứt. Và tôi nghĩ, chứng kiến những người bạn trẻ
đã nằm xuống vĩnh viễn – sự bất lực, sự ray rứt của người ở lại – rất gần với nỗi
đau mà Nam Lộc từng viết, từng cất cao tiếng hát.
https://youtu.be/8f4o3mDwMkE?feature=shared
Trong
bài “Một Lần Yêu” của Phạm Mạnh Cương, sáng tác năm 1968, câu cuối “Xin
nhớ rằng hợp tan có khi – Em gối mộng anh xuôi vạn lý - Hẹn ngày nao trên bến
quê hương – Thuyền về đây rũ áo phong sương – Đôi mình chung ngắm mây hoàng hôn”
không chỉ là lời hẹn vu vơ của đôi lứa, mà là lời hẹn của những người ly hương
với quê hương yêu dấu của mình. Dù đời khi hợp khi tan, dù mỗi chúng ta kẻ ngược
người xuôi, chúng ta vẫn còn có chung một bến đợi…trong hoàng hôn của cuộc đời.
Nếu
“Một Lần Yêu” mở ra một bến đợi cho ta tìm về, thì trong “Em Còn Nhớ
Mùa Xuân”, NS. Ngô Thụy Miên mở ra một giấc mơ hồi hương giữa những ngày
lưu lạc. Bài này được Ông viết năm 1978, khi ông một mình đang ở trong trại tỵ
nạn Pulau Bidong, xa người yêu. Nỗi nhớ ở đây không chỉ là nhớ mùa Xuân, mà là
nhớ một thành phố đã mất, nhớ một quê hương chưa biết bao giờ gặp lại. Qua câu
“những thành phố em đã đi qua…nhưng có đâu bằng Saigon hôm qua- nhưng có đâu
bằng Saigon mai sau – em có mơ ngày hát câu hồi hương”, đó không phải là chỉ
là một nỗi nhớ cho thành phố, mà là luyến tiếc nhớ nhung cho một đời sống đã từng.
Và câu hát ấy trở thành lời thì thầm của bao người xa xứ: dù chân bước qua bao
nhiêu nơi, đường xa bao vạn dặm, trái tìm ta vẫn hướng về chốn duy nhất để trở
về. Bản nhạc này là một trong những bài mến chuộng nhất tại hải ngoại.
https://youtube.com/watch?v=7v1DS5yYzYA&si=yx5XjrYeTOFD3-N5
Trong hành trình về thăm lại quê hương, có những
con đường vẫn nguyên như ngày ta rời, vẫn nắng mai rực rỡ, hàng hoa giấy vẫn đỏ
thắm, tiếng chim vẫn gọi nhau. “Con Đường Tôi Về”, một sáng tác bất hủ để
đời của NS. Lê Tín Hương khi về thăm cha bệnh nặng sau 15 năm cách biệt, đã được
viết lên với những cảm xúc thật khi đối diện với cảnh cũ người xưa. Mặc dù nó
không óng ả mượt mà như mấy câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan “Lối xưa xe ngưa hồn
thu thảo – Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”, nhưng NS Lê Tín Hương giúp ta
nhìn thấy cô gái áo trắng ngày nào nay đã bước vào đời với nụ hồng lã lơi, người
thương phế binh lê đôi nạng gỗ giữa chợ đời, người cha trở về thân thể hao gầy
sau những năm tù tội, người mẹ quê vá áo đời bằng đôi tay gầy guộc – những hình
ảnh lột tả đúng sự thật của một xã hội nuôi nhau trong dối gian và bần cùng tột
độ. Những câu ấy không trách móc ai. Chúng chỉ đặt tay lên những vết thương, dù
nhẹ, nhưng vẫn đủ để ta thấy nhói, thấy đau. Và để ta nghiệm ra không phải là
thấy mái nhà xiêu vẹo, vườn hoang ruộng trống mà xót xa bùi ngùi, mà chính là
thấy thân phận người thương yêu của mình đã bị thời gian tiêu hao, xoáy mòn –
những người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ - Đôi Bờ vì thế không chỉ là câu chuyện
của chia cắt, mà còn là câu chuyện của những bước chân trở lại – trở lại để nhận
biết rằng quê hương vẫn đẹp, nhưng đẹp trong một nỗi buồn không thể gọi tên.
https://youtube.com/watch?v=i3a8-_pkJMM&si=S-sYl7k7VTatO4r7
Có
những chia ly không phải vì lỗi của ai, mà vì thế sự nghiêng ngữa đẩy đưa.
Trong “Đã Một Lần”khi Bác sĩ Nhảy Dù tài hoa Phạm Gia Cổn viết “Trách
chi người ai lỗi ai -Trách chi người mi ướt cay -Trách chi người thôi đã xa
nhau kiếp này- Thì thôi có trách trăm lời cũng thừa. Mùi thơm khăn áo đi vào cỗ
tích tôi”, đó chỉ là một lời thở dài của một người từng hiểu trách móc
không làm vơi nỗi đau, mà chỉ làm nặng thêm những gì đã mất. Bởi vậy, Ông chọn
cách buông – buông cho nhẹ lòng mình, và nhẹ luôn cả người ấy. Giữa những Đôi Bờ
định mệnh, đôi khi điều nhân hậu nhất ta có thể làm cho nhau là không trách cứ
gì nhau. Trả lại một khăn tang cho quảng đời của nhau.
https://youtu.be/312lnbyEYV8
Một trong những bản nhạc do bác sĩ quân y
Phạm Anh Dũng sáng tác về nỗi nhớ quê hương, “Tình Khúc Hồi Hương”, rất
được mến mộ, không những vì âm điệu rất nhẹ nhàng, dỗ dành, quyến rũ mà lời nhạc
rất đơn sơ đầy tình quê mộc mạc. Chỉ cần một dòng sông xưa, một con đường cũ, một
hàng cây xanh là đủ để đánh thức cả một nỗi niềm quê hương – đã từng tiềm ẩn
trong quá khứ - Lời nhắn nhủ “này người yêu dấu, anh muốn đưa em về dòng
sông xưa làng cũ…thăm ngôi trường cũ…thăm con đường cũ…” không chỉ là lời hẹn
của đôi lứa, mà là lời thì thầm của những kẻ đi quá xa, mong một ngày được trở
về nơi mình từng bắt đầu. Dịu dàng chân thật, bài hát nhắc ta quê hương không
bao giờ mất – nó chờ đợi ta, trong khói sương chiều, lặng lẽ bình an như hàng
cây xanh lá thắm ngàn năm.
https://youtube.com/watch?v=vj2h7PinnLA&si=QjGDMTVVSqBkjn2M
Trong
lời Việt của Lữ Liên, bản nhạc“Đôi Bờ” mang hai nhịp thở: một nhịp của
chia lìa tuyệt vọng, và một nhịp của giấc mơ hồi hương. Khi nghe “bóng con
thuyền vượt ngàn trùng…Mãi mãi mất nhau”, ta tưởng như đó là một cuộc biệt
ly không còn đường trở lại. Thế nhưng, ở cuối bài, hình ảnh “đêm qua anh mơ
bóng quê hương…đứng dưới bóng mát…đón em khi tan trường” lại hiện ra
như một phép mầu nhỏ. Các bạn ơi! Đó không phải là thực tế - Đó là giấc mơ của
những người đã mất quá nhiều, chỉ còn chút ký ức để níu lại. Giữa hai bờ tuyệt
vọng và hy vọng, bài nhạc nhắc ta rằng: đôi khi, chính giấc mơ là nơi duy nhất
ta còn có thể gặp lại nhau. Người nhạc sĩ nghiệp dư trong bài hát là quân nha
sĩ Lý Văn Quý, với giọng hát sống động và truyền cảm.
https://youtube.com/watch?v=xJIfb95kXAE&si=o_6VwBbCYNpWFlf7
Chắc
ai trong chúng ta cũng nằm lòng bản nhạc “Tôi Đưa Em Sang Sông” của Nhật
Ngân & Y Vũ. Câu hát “Nàng đã thay một lối về. Quên cả người
trong gió mưa” làm ta liên tưởng đến câu thơ đầy mộng mơ “Em là gái
trong song cửa, anh là mây bốn phương trời”. Là tiếng thở dài của những
phận người bị hoàn cảnh đẩy xa nhau, giống như bao đôi lứa bị chia lìa do thời
cuộc: một chàng trai lên đường làm nhiệm vụ, một người phải rời quê vì chiến cuộc,
như trong câu “Đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Rỏ ràng
bài hát trang trải đúng nỗi niềm của những Đôi Bờ định mệnh: yêu nhau mà
không đến được với nhau, không phải vì lỗi của ai, mà vì đời đã chọn cho họ một
con đường khác. Con đường của trai thời loạn.
https://youtube.com/watch?v=TtigPvU-cLw&si=eWLoZhhpWdomImQw
Bạn mến, có những cuộc ra đi tưởng như chỉ là một cơn mộng dữ giữa trùng trùng
sóng gió. Từng chúng ta năm ấy bước lên con thuyền không hẹn ngày trở lại, mang
theo một niềm tin mỏng manh đến mức chỉ cần một cơn gió ngược cũng đủ làm chao
đảo. Giữa biển đời mịt mù, đôi khi chính trái tim cũng mỏi mòn, không biết đâu
là bến, đâu là bờ, đâu là nơi mình sẽ gọi “miền đất hứa”.
Thế
rồi trời đất vẫn âm thầm nâng đỡ. Sau bao năm bụi mờ phủ lên ký ức, “Tạ ơn đời
đã ban, Cám ơn người cưu mang, Thuyền được về bến đỗ – Giữa biển đời ly tan”—
Nơi đất nước dang tay rộng đón mình, nơi gia đình được dựng lại từ những viên gạch
đầu tiên của hy vọng. Từ một cuộc ra đi vô vọng, từng chúng ta đã tìm thấy một
mái ấm, một hạnh phúc không chỉ nở hoa mà còn kết trái, nuôi dưỡng nhau trong
tin yêu của những ngày tươi sáng trước mắt “Nhìn hoa trái đẹp đời - 50 Năm đắp
xây, hạnh phúc trong tình đầy”
Để
từ đó trái tim học cách biết ơn. Biết ơn đất nước đã mở cửa đón mình. Biết ơn
cuộc đời đã cưu mang mình. Biết ơn người bạn đời đã cùng mình đắp xây một mái
nhà đầy ắp tiếng cười. Và biết ơn chính mình — người đã đi qua nửa thế kỷ bụi mờ
mà vẫn luôn ráng giữ mình làm một người tốt, trân quý tất cả những gì đã nhận để
sẳn sàng chia xẻ cho những kẻ kém may mắn. Vì bạn ơi, trong lớp bụi của năm
tháng, có những hạt bụi làm cay mắt, nhưng cũng có những hạt bụi lấp lánh như
ánh nắng ấm áp cuối chiều, mà nếu bạn biết nhặt lấy, dành giụm và nâng niu,
chúng sẽ thành những câu chuyện đẹp, nhân ái và đáng nhớ.
Mời
bạn đọc thưởng thức bản nhạc “50 Năm Bụi Mờ” của nhạc sĩ Lê Tín Hương. Một
bản nhạc chan chứa tình cảm, và có lẽ là bản duy nhất được viết ra trong năm
2025 – tặng chung cho bao người buộc phải rời bỏ quê hương mình. Người trình
bày bản nhạc là quân y sĩ Phạm Quang Tố. Điều làm người nghe xúc động nhất khi
nghe “50 Năm Bụi Mờ “không phải là kỹ thuật hay sự trau chuốt, mà là giọng hát
của một người bình thường — một người không đứng trên sân khấu lớn, không mang
danh ca sĩ chuyên nghiệp, nhưng lại hát bằng cả trái tim đã đi qua nửa đời
phong sương. Trái tim của một đời người từng trải qua di cư 54, nay lại phải một
lần nữa xa quê hương. Nên trong từng câu hát của anh, tôi nghe được hơi thở của
một kiếp người: ấm và chân thật, mộc mạc mà thấm sâu. Có lẽ chính vì anh không
phải ca sĩ chuyên nghiệp nên mỗi chữ, mỗi nốt đều mang một vẻ đẹp rất người.
Không có sự phô diễn, chỉ có sự trải lòng. Không có sự hoàn hảo, chỉ có sự chân
thành. Và đôi khi, chính sự chân thành ấy lại làm người nghe dễ rơi nước mắt
hơn bất kỳ kỹ thuật nào.
Phải
chăng qua giọng hát ấy, ta nhìn thấy hình ảnh của chính mình trong đó: một cuộc
ra đi tưởng như vô vọng, những năm tháng bão tố dập dồn, những lúc nguyện cầu
khi niềm tin quá mong manh. Đồng thời cũng đồng cảm với tấm lòng biết ơn dành
cho đất nước đã cưu mang, cám ơn cuộc đời đã cho mình một tương lai, cho mình đắp
xây hạnh phúc từ những điều căn bản nhỏ bé nhất.
Để chợt thấy giờ đây “hoàng hôn đến hững hờ - Nghe từ cõi hoang sơ, hồn xưa
cũng bụi mờ”
https://youtu.be/0yxMIkn39jo?si=4IWCcDUA5uGEuLM3
Bạn
đọc thân mến, khi tôi gần chấm dứt bài viết của mình, tôi nhân được bản nhạc “Đôi
Bờ Xa” của NS. Lê Tín Hương. Bản nhạc là một giai điệu nâng niu từng nỗi nhớ,
còn ca từ thì như nối dài thêm câu chuyện Đôi Bờ, bất chợt đến và chạm vào nơi
sâu nhất, nơi những con sóng ký ức vẫn còn thì thầm. Như một hơi thở dài của biển
đêm. Giai điệu mềm, chậm, nhưng không hề buồn rũ vì nó mang cái buồn của người
từng trải, của những bước chân đã đi quá nửa đời người nhưng vẫn còn ngoái về
phía quê hương. Để biết rằng tình người, tình quê, tình đời… vẫn còn đậm đà.
Người nghe có cảm giác như mình đang đứng trước một đại dương thật sự - rộng,
sâu, và đầy những điều khó gọi thành tên. Sóng trong bài hát không chỉ là sóng
biển, mà là sóng lòng: những đợt nhớ, đợt thương, đợt tiếc nuối của một đời người
xa xứ.
Cao
trào của cảm xúc nằm ở đoạn “Dẫu đôi bờ xa nhưng tình ta mãi đậm đà”.
Ở đây, giai điệu nâng lên nhẹ nhàng, không bi lụy, mà như một lời tự nhủ, một lời
hứa âm thầm. Người nghe cảm nhận được một thứ tình cảm rất đẹp: không đòi hỏi,
không trách móc, chỉ lặng lẽ tồn tại — như một dòng nước ngầm chảy mãi giữa hai
bờ. Khi bản nhạc kết thúc, người nghe không thấy nặng nề. Ngược lại, có một sự
bình yên rất lạ. Như thể sau bao nhiêu năm đi qua bão giông, cuối cùng ta cũng
hiểu rằng: có những điều không thể gặp lại, nhưng vẫn có thể giữ lại. Có những
bờ xa không thể bước tới, nhưng vẫn có thể đứng từ bên này mà thương.
“Đôi
Bờ Xa” vì thế không chỉ là một bản nhạc. Nó là một lời tâm sự của cả một thế hệ,
là tiếng thở dài của những người đã rời đất nước nhưng tâm hồn vẫn còn gắng bó
với quê hương.
https://youtu.be/gL9sQudSY60?si=YkwCIJWp66tAhX-m
Quý
bạn thân mến, nhìn lại hành trình nửa thế kỷ phủ bụi mờ, ta chợt hiểu rằng mỗi
đời người, dù đi xa đến đâu, cũng mang trong mình một sợi dây vô hình buộc về
quê cũ. Những năm tháng lưu lạc tưởng như chỉ là chuyện riêng của một gia đình,
một kiếp người, nhưng thật ra lại hòa vào câu chuyện lớn hơn của cả dân tộc -
câu chuyện của những đôi bờ đã từng bị chia cắt, của những con tim phải rời
nhau trong lặng lẽ, của những bước chân ra đi trong âm thầm mà không biết ngày
trở lại.
Và
chính trong khoảnh khắc nhận ra mình đã tìm được bến đỗ, ta lại thấy rõ hơn nỗi
mong manh của những phận người đứng hai phía dòng sông lịch sử — luôn mang theo
niềm tin lúc đầy lúc vơi, mang theo nỗi nhớ lúc sáng lúc mờ, nhưng chưa bao giờ
thôi hy vọng một ngày nào đó được nhìn thấy nhau trong bình yên.
Quý
bạn đọc thân mến, khi nhìn lại những Đôi Bờ đã đi qua theo thời gian, ta mới hiểu
rằng lịch sử Việt Nam không chỉ viết bằng chiến thắng đẩm máu, chiếm đồi này
hay đồn bót kia, hoặc những bản hiệp định trên giấy tờ, mà còn bằng những khoảng
cách: khoảng cách của một cây cầu bị đánh sập, của một lằn vĩ tuyến phi quân sự
vẫn bị mưu mô lấn chiếm trong bóng tối, của một phòng tuyến bị đẩy xuống, của một
dòng sông đổi vai trò, và của một đại dương mênh mông. Nhưng điều kỳ lạ hơn nửa
là càng nhiều Đôi Bờ, người Việt càng học cách tìm nhau. Từ những người di cư
54, đến những gia đình chờ tin nhau dù đã có con sông Bến Hải và vĩ tuyến 17, rồi
những con thuyền vượt biển sau 1975 mang theo hy vọng mong manh…tất cả đều cho
thấy một điều: khoảng cách chưa bao giờ đủ lớn để dập tắt khát vọng tự do. Và
điều đẹp nhất không phải là khi hai bờ liền lại, mà khi ta nhận ra trong sâu thẳm
của trái tim, có những tiếng gọi chào, những nhung nhớ, những thương yêu, tình
quê hương, gởi qua âm nhạc và thi ca, là động lực giúp ta hiểu thêm rằng chưa
bao giờ tồn tại một dòng sông đủ lớn, đủ mạnh để chia cắt tình người. Những
đôi bờ lịch sử rồi sẽ rời xa, thay vào đó là những Đôi Bờ của lòng người, nơi
ta vẫn hướng về nhau, dù ở nơi nào cũng tìm đường đến với nhau - như bao trăm
ngàn người Việt bên ngoài Việt Nam đã và đang tiếp tục bảo lãnh thân nhân mình
đến sống cạnh nình, chung bờ với mình – hay gởi tiền về giúp xóm làng, người
quen xưa - là điều sẽ còn mãi.
Mong
rằng thi ca âm nhạc, khi đưa vào bài viết Đôi Bờ này, không phải để làm loãng
tính chất lịch sử khắc nghiệt của Đôi Bờ, cũng không làm bài viết mềm đi. Nó
làm cho trái tim người đọc…ấm lại, đồng thời làm thêm một điều rất nhỏ mà lại rất
đẹp: rót vào câu chuyện lịch sử một hơi thở của hối tiếc, của một lời xin
lỗi, của hy vọng và tha thứ độ lượng. Để nói lên rằng, không có dòng sông nào
có thể vĩnh viễn làm chia cách tình người, nếu chúng ta nhìn lại những trang lịch
sử Đôi Bờ bằng trái tim. Với những hiểu biết vừa lý vừa tình ở trên đã giúp Đôi
Bờ, vốn nguyên thủy là một bài viết khô khan, trở thành một bài viết không chỉ
để đọc, mà để cảm thông, để nhớ và để thương. Một bài viết về hành trình cho những
người đứng giữa đôi bờ, nhưng trái tim thì chưa rời bờ nào. Và rằng âm nhạc
luôn là chiếc cầu duy nhất, tình cảm nhất, nhẹ nhàng nhất, giúp nối những linh
hồn đã tản mác khắp nơi. Cho thấy CS diệt được mọi thứ nhưng không thể nào cấm
được những cái mà chúng từng sợ nhất: Tinh Thần Tự Do Dân Chủ, Nền Giáo Dục
Nhân Bản, nền Văn Học Nghệ Thuật và Nhạc Vàng của Miền Nam Việt Nam.
Vĩnh Chánh, tháng 4, 2026