Friday, March 20, 2026

Xuân Về - Nguyễn Duy Phước

Xóm Cô Hồn - Kha Tiệm Ly



“Xóm Cô Hồn!” Không biết vì xóm đó có cái miếu thờ cô hồn nên người ta gọi vậy hay bởi đó là nơi sinh sống của  nhiều người mà người ta gọi là bất lương, là lũ âm binh. Bất lương hay không thì chưa biết, nhưng xóm đó rõ ràng là nơi bá nạp, chứa nhiều thành phần lao động ở tứ xứ kéo về. Họ làm đủ thứ nghề khác nhau. Có nghề được ghi trong sổ bộ nhà nước như xích lô, ba bánh, phụ hồ, hàng rong, bán vé số, mua ve chai, nhưng có “nghề” phải viết trong ngoặc kép vì không được chấp nhận của nhà cầm quyền như bán bia ôm, đá gà, ghi đề, cho vay! Đặc biệt ở xóm nầy có một nhà văn và một “thằng khùng”!


Sự ồn ào có thể nói không ngừng ở xóm cô hồn và nó cứ lập đi lập lại từ ngày nầy qua ngày khác: Tiếng cãi cọ của băng đá gà, tiếng chửi rủa của bà Hai cho vay (cũng là chủ dãy nhà trọ), tiếng karaoke mở hết công suất của Thủy bia ôm, tiếng “Dzô! Dzô!” và tiếng cười điếc tai của băng ăn nhậu, tiếng của mấy chục con gà nòi thay phiên nhau gáy dậy trời!

Không phải ngẫu nhiên mà “trường gà” lại được chọn ngay trước cửa nhà của anh nhà văn, mà chỉ vì những nơi khác không thể: Nếu đặt trước nhà của các người khác thì sẽ bị vướng xe ba bánh, xe xích lô, xe mua ve chai, hay xe bán hàng rong; đặt trước nhà Thủy bia ôm thì vướng cái hàng rào; còn đặt trước nhà bà Hai Cho Vay thì chỉ có mấy thằng điếc mới không sợ...cái “ô bạc lưa” của bả! Vậy chỉ còn nhà của anh Cao nhà văn là thoáng, chủ nhà “hiền như cục bột”,là nơi lý tưởng nhất!

“Trường gà” nói cho oai chơi chứ nó chưa đủ... tư cách là một trường gà thứ thiệt, bởi nó chỉ mang tính bộc phát nhiều hơn tổ chức. Tuy không quy mô, vì một độ cũng chỉ vài “chai”; nhưng “tần số” có lẽ vượt hẳn bởi tuần nào cũng có ba bốn lần. Người coi thì vài chục, phần  đông là lứa tuổi  choai choai  trong xóm, với mấy người mặn việc ăn thua.

Thời gian từ khi Chín Trọng Tài cân gà, rồi thu tiền bắt độ đến lúc kết thúc trận đấu cũng không hơn 20 phút, (đôi khi vài phút vì một trong hai con gà bị dính cựa chỗ nhiệt). Tuy không lâu, nhưng thời gian đó cũng quá ồn ào với đủ loại ngôn ngữ của giới... đá gà!


Một tháng xỉu xỉu cũng trên dưới 20 lượt ăn thua mà băng đá gà vẫn “mạnh giỏi” vì chưa bị công an phường hốt bao giờ! Đừng nói “chắc có  ăn chia” mà oan cho mấy ảnh, nếu không muốn nói là mang tội vu khống nhà cầm quyền! Hốt sao được mà hốt, khi con hẻm chỉ có hai lối vào thì đã có 2 “cảnh vệ” canh ở hai đầu, hễ thấy bóng công an từ xa, ngoài nầy chỉ việc “a lô” thì bên trong trong tích tắc đã “xóa hiện trường”! Nhưng đi đêm có ngày gặp ma. Công an có hàng trăm thì làm sao “cảnh vệ” nhớ mặt cho hết? Mấy tên chủ chốt thì “bỏ... gà chạy lấy người”, còn lại đám người coi và bắt độ thì mạnh ai nấy làm đủ thứ kiểu giả đò coi như mình vô can vậy! Công an dõng dạc hỏi mọi người: 

– Ai đá gà? 

– Tui có biết đâu? Tui đi ngang qua đây thôi! 

– Thì cũng phải biết mặt người đá gà chớ! 

– Họ ở đâu đó lại làm sao tui biết!

Đến trước cửa anh Cao, một công an hỏi: 

– Sao ông cho tụi nó đá gà trước nhà ông vậy ông? 

– Tôi làm sao cấm họ được! 

– Sao ông không báo công an? 

– Cố nội tôi cũng không dám! 

Thế là chỉ có...2 con gà bị bắt về đồn còn ai về nhà nấy! Và cứ như đám bèo, khỏa nước thì tan ra, hết khỏa nước thì tụ lại!Băng đá gà vẫn “mạnh giỏi” như thường!

Băng nhậu trước thềm nhà Tư Ba Gác,Sáu Thợ Hổ chỏ mỏ qua nhà Chín Trọng Tài (kiêm “kê thủ”) cười  hà hà:

– Tao nói con gà đó có cái vảy hường tâm đâu có sai! Ha ha!...

Chín Trọng Tài đá gà phát quạu:

– Đừng có dô diêng ông ơi!

– Vậy chớ không phải sao mậy?Nếu không hường tâm, hầm tương, thì cũng kì ra... cà ri! Chớ hỏng lẽ mấy chả đem về nuôi để đá sao mậy?

Tư Ba Gác khều Sáu Thợ Hồ, giục:

– Uống đi cha nội! Ở đó mà chọc tức con người ta. Tụi nhỏ nó làm gì thì làm. Uống đi!

– Nói chơi cho vui chớ chọc tức gì anh! Tại nó mất gà rồi nó nói sảng đó chớ! Hihi.

Sáu Thợ Hồ cầm ly rượu, đánh “trót”, “khè” một cái nghe thiệt đã! Vừa để ly xuống thì Thủy Bia Ôm cũng vừa thắng xe tay ga trước cửa. Sáu Thợ Hồ nói với Tư Ba Gác nhưng cố ý cho Thủy Bia Ôm nghe:

– Nhìn nó ăn mặc nhậu khỏi cần mồi anh Tư hén?

Tư Ba Gác phụ họa:

– Nhểu nước miếng luôn! Haha!

Thủy Bia Ôm liếc cái dài ngoằn:

– Nhậu không lo nhậu, nói bậy gì đó mấy cha nội?

Sáu Thợ Hồ:

– Thì thấy em đẹp, tụi anh khen vậy mà!

Thủy Bia Ôm dựng xe rồi bước qua. Sáu Thợ Hồ đổi sắc:

– Thấy em vui tánh tụi anh nói chơi, có chi mà em giận vậy?

– Ai không biết mấy anh nói chơi! Lâu lâu em biếu mấy anh hai hộp gà xối mở nhậu vậy thôi!

Thủy lấy từ trong giỏ, bày ra hai hộp ăm ắp thịt gà vàng lươm. Sáu Thợ Hồ thở phào. Tư Ba Gác:

– Em làm chi hao tốn vậy? Em làm cũng cực khổ.

– Hai anh cứ nhậu đi mà! Chẳng phải em mua đâu. Của mấy thằng dư tiền cho em đó.

Sáu Thợ Hồ:

– Em uống với tụi anh chút cho vui!

Thủy Bia Ôm cười ngất:

– Được thôi! Nhưng có em ngồi đây thì anh khỏi gắp mồi đó nghe! Ha ha…

Cả ba cùng cười vui. Tư Ba Gác, nói vừa đủ nghe:

– Thủy nè! Anh thấy em làm ăn coi bộ khá, sao em không rủ con Dung theo làm với em. Anh thấy nó tội nghiệp quá!

Thủy ngó qua nhà Dung, buồn buồn:

– Chỉ vẫn còn chút hương sắc, nhưng quá đát rồi anh à. Người ta có tiền, họ luôn chọn những người trẻ đẹp. Có những ông khách nếu thấy ai không vừa ý, họ đuổi ra bàn với lời lẽ làm cho người ta xấu hổ. Nghề của em cũng chua xót lắm mấy anh! Em ráng làm để trả nợ cho cha mẹ, vì năm ba năm nữa, khi hết thời, em cũng “về quê cắm câu” mà thôi!...


Gọi nó là “thằng khùng” không biết có quá đáng hay không. Thực ra là nó bị hội chứng đao (dawn) điếc gì đó. “Dạng nhẹ” nên hơi đần độn hơn so với các trẻ bình thường. Lưỡi nó làm như trám hết lỗ miệng nên dù nó nói từng tiếng một nhưng lại rất khó nghe! Ba nó không biết là ai, còn mẹ nó thì suốt ngày đội bánh cam đi bán, bỏ nó một mình ở nhà nên nó mặc tình lê la từ nhà này sang nhà khác. Nó “dễ sai”, ai bảo gì cũng làm, và thù lao thường là trái cam, vài trái mận hay một ít bánh kẹo có sẵn ở nhà. Mối xộp của nó vẫn là băng nhậu của Tư Ba Gác và Sáu Thợ Hồ với vài chục đồng lẻ, hay tô cháo, tô lẩu không đến nỗi kém chất lượng để trả công sau mỗi lần sai nó mua rượu về. Dân nhậu thảo ăn thảo uống là vậy! Chẳng biết ăn uống như vậy có đầy đủ không mà nó lại mập ú. Người ta chưa thấy nó mở miệng xin ai bao giờ, cũng không hề thấy nó đòi tiền công - dù tiếng cám ơn - từ người sai vặt nó. Khùng mà, biết gì! Lạ một điều là thằng khùng rất mến trẻ con. Khi thấy mấy bé còn đi lũn đũn, thì dù đang đi “công tác”... sai vặt, nó cũng phải ngồi xuống nựng với ba câu ú ớ trong họng cho bằng được. Khổ nỗi mỗi lần như vậy là bé lại khóc ré lên bởi nhìn thấy cái thân mập thù lù và cái áo thùng thình dài tới gối, cộng thêm giọng ồ ồ như hù dọa của nó! Và cũng mỗi lần như vậy nó đều bị chửi tắt bếp và bị đuổi như đuổi tà!

Một lần Xóm Cô Hồn náo nhiệt hơn hẳn mọi ngày khi lũ trẻ từ ngoài đường hơ hải chạy vào báo tin: “Thằng... thằng khùng bị xe cán chết rồi!” Mọi người ùa ra hẻm, thì thấy nó đầy máu me, nằm sõng sượt trên tay Sáu Thợ Hồ. Mọi người lao nhao:

– Sao không chở nó đi nhà thương?

– Chết queo rồi chở nhà thương chi, bà nội?

– Ai kiếm má nó về đi! Tội nghiệp quá!

– Sao vậy, Sáu?

Đặt nó xuống hiên nhà, Sáu Thợ Hồ vừa quẹt mồ hôi vừa trả lời:

– Tui đi làm về, tui thấy rõ ràng: Không biết con cháu ai ngoài đó đi lũn đũn giữa đường. Tui thấy nó vừa chỉ tay, rồi vừa chạy ra, vừa ú ớ. Đứa bé nhìn thấy nó, vừa khóc vừa chạy nhanh vô lề nên thoát; còn nó chậm chạp, bị xe tông, nằm im luôn!...   

Nói chút về anh Cao nhà văn và Dung: Anh Cao... cao cao, ròm ròm. Anh viết văn không biết hay dở ra sao nhưng chắc mẫm anh là người nghèo nhứt với cái xóm chẳng ai được coi là giàu nầy! Gia sản “có giá” vỏn vẹn là mớ báo chí đủ loại và cái máy vi tính “đời Bảo Đại còn...ở truồng!”Vợ con không biết có hay không, mà khi hỏi tới, anh đều ỡm ờ: “Có, mà còn ở nhà... người ta”!

Dung là phụ nữ, tuy “quá đát” như Thủy Bia Ôm nhận xét nhưng nhan sắc vẫn còn khá mặn mòi. Không chồng, không con, Dung ví như bông hoa dại trong vườn, mặc tình bướm ong lui tới. Một hôm, Dung hốt hoảng chảy xộc vào nhà Cao, lấp bấp nói:

– Anh cứu em! Họ định giết em!

Cao còn ngỡ ngàng thì Dung đi nhanh ra nhà sau. Bên nhà Dung giọng nói đàn bà oang oang:

– Ông giấu nó chỗ nào? Tui xé xác nó cho ông coi!

Cao nhìn qua,một mụ khá sang trọng cùng 2 thanh niên dáng hung hăng đứng trước cửa nhà Dung. Mụ quát:

– Tụi bây lục nhà, rạch mặt nó cho tao. Ở tù tao chịu!

Giọng người đàn ông dù nhỏ nhưng cũng nghe được:

– Bà đừng làm bậy nghe! Ở đây còn có lối xóm, có chánh quyền...

Một tên trong bọn kề tai mụ nói gì đó rồi cả ba người hùng hổ kéo qua nhà Cao. Mụ nhìn Cao, lớn tiếng hỏi trổng:

– Con đĩ đó trốn đây phải không?

– Bà hỏi ai? Bà nên lịch sự một chút! Bà có thái độ như vậy, tôi không tiếp bà.

Một tên trong bọn bặm môi, nói với Cao:

– Để tránh lôi thôi cho ông, ông lôi nó ra cho tôi!

– Cái gì lùm xùm vậy anh Cao?

Tiếng Tư Ba Gác vừa dứt thì anh cũng vừa tới cửa. Cao nói:

– Không biết sao mà mấy người nầy lại đòi lôi vợ tôi ra mà hành hung!

Tư Ba Gác từ từ quét ánh mắt vào mụ mập và hai thanh niên, giả bộ hỏi:

– Bộ chị Cao thiếu nợ mấy người hả? Nợ thì người ta sẽ trả. Mấy người làm gì phải hành hung?

Một tên trong bọn:

 – Ông là ai mà xía vô chuyện của tụi tui?

Tư Ba Gác nghiến răng, giật phăng nút áo, vỗ mạnh vào ngực:

– Tao là ai hả? Là Tư Ba Gác vựa cá nè!

Nhìn thấy những vết sẹo ngang dọc trên ngực Tư Ba Gác, rồi nhìn quanh thấy cả xóm bu nghẹt xung quanh,  2 thanh nhiên lấm lét nhìn nhau.Tư Ba Gác nói với Cao:

– Anh gọi chị lên coi tụi nầy làm gì cho biết!

Dung đi lên, bình thản hỏi Cao:

– Có chuyện gì không anh?

Cao làm mặt giận:

–Em có thiếu nợ người ta không mà họ đến làm dữ kìa!

Dung lắc nhẹ. Mụ mập nhìn hai thanh niên thầm hỏi như có phải là “đối thủ” không. Hai thanh niên nhẹ nhàng lắc đầu, rồi một tên nói với Tư Ba Gác:

– Xin lỗi anh Tư. Đây là hiểu lầm thôi. Nay hân hạnh được biết mặt anh!

Cả bọn kéo đi. Ai cũng về nhà nấy, thì Chín Trọng Tài xách con gà bị trọng thương vào, vui vẻ nói:

– Mừng chị... Cao... hì hì... thoát nạn. Mình làm con gà nầy nhậu chơi mấy anh hén!

Tiệc nhậu chiều hôm đó ở nhà Cao, có đủ Chín Trọng Tài, Dung, Thủy, và tất nhiên không thiếu Tư Ba Gác và Sáu Thợ Hồ. Tư Ba Gác hỏi Dung:

– May mà em chay qua đây sớm. Nếu không thì không biết ra sao! Sao em biết trước mà né vậy?

Dung chỉ Chín Trọng Tài:

– Cậu Chín thấy họ vừa vô hẻm thì điện thoại cho em!

Sáu Thợ Hồ cười ngất:

– Cảnh giác là nghề của nó mà! Ha ha!

Tư Ba Gác nghiêm giọng nói với Dung:

– Tụi nó biết mặt em mà giả đò là “hiểu lầm”. Tạm thời em nên cắt đứt quan hệ với lão già đó đi để tránh phiển phức.

Dung lí nhí “dạ”, Tư Ba Gác đưa ly rượu cho Chín Trọng Tài:

– Em uống đi rồi anh xin phép nói chuyện nầy.

Chín Trọng Tài bỡ ngỡ đón lấy ly rượu uống cạn. 

Tư Ba Gác nói:

– Cái nghề đá gà không có tương lai đâu em. Làm cái gì phạm pháp sớm muộn gì cũng bị vướng thôi! Em nên suy nghĩ lại.

Sáu Thợ Hồ:

– Tối ngày tụi bây tụ họp làm ồn ào trước nhà anh Cao làm sao ảnh làm việc, phải không? Hay là theo tao làm hồ chắc ăn mầy ơi!

Chín Trọng Tài chưa trả lời thì bà Hai Cho Vay bước vào. Cao ngần ngừ một lát rồi nói:

– Dì Hai thông cảm. Nửa tháng nữa cháu sẽ đóng tiền nhà cho dì, kể cả 2 tháng trước!

Dung:

– Dạ, con cũng còn thiếu dì Hai...

Bà Hai xụ mặt:

– Bộ tao lại đòi tiền nhà sao bây nói vậy? Điều tao muốn nói là xóm mình dù nghèo, nhưng cả thảy đều đoàn kết thương yêu nhau, chí đến “thằng khùng” mà nó cũng biết cứu người, nên tao cũng nghĩ lại mình! Thôi! Gần Tết rồi, cậu Cao với con Dung đừng lo nghĩ về tiền nhà nữa. Dì Hai tặng tụi bây để ăn tết đó!

Chín Trọng Tài khôi hài:

– Hay là anh Cao và chị Dung ở chung một nhà có phải đỡ tốn tiền nhà không? Hè hè!...

Cao ngượng ngùng. Dung đỏ chín mặt. Sáu Thợ Hồ cười cười nhìn Thủy:

– Hay là em dọn qua anh ở để đỡ tốn tiền nhà luôn đi em! Hì hì…

Thủy nguýt dài:

– Tui thấy ông nãy giờ gắp lia lịa đó nghen! Vậy mà nói có tui ông uống không cần mồi! Hihi!

Bà Hai nhìn ra cửa:

– Cháu ngoại dì nó bưng nồi thịt kho tàu qua kìa! Dì tặng cho cậu Cao và con Dung ăn Tết với người ta.

Ngọn gió lùa vào mát rượi. Dường như trời đã vào xuân.  


Kha Tiệm Ly 

Nguồn VanDanViet 


Chuyện Hai Người Lính - Lê Phi Ô


Đơn vị tôi nhận được lệnh hoán chuyển vùng hoạt động với đơn vị bạn, mấy ngày liên tiếp lo tu sửa hệ thống phòng thủ. Hôm nay rảnh rỗi, tôi và Trường rủ nhau vào Câu lạc bộ uống café.

Một anh lính ngồi gần bên nói: 

– Thưa hai ông thầy! (lính trẻ thường gọi cấp chỉ huy như thế) em thấy cách đây vài trăm thước trên đường xuống chợ có một quán café, cô chủ quán... đẹp ơi là đẹp!

Anh ta vừa dứt lời là Trường vội hỏi ngay: 

– Ê, Long! đẹp bằng bồ của Thiếu úy Phi... không mậy?

Long cười cười không nói. Tánh thằng Trường là như thế, hễ nghe tới gái là mắt nó sáng lên.. có lẽ tôi cũng giống nó ở điểm này.

Tôi và Trường ở cùng xóm, thân nhau khi 2 đứa còn con nít. Năm Đệ ngũ, trong lớp có cô bạn tên Sương, cả 2 đứa tôi cùng mê, nhưng khi thấy thằng Trường “đắm đuối” quá nên tôi tự động rút lui “nhường” cho bạn. Tình yêu học trò thật ngớ ngẩn, hai đứa gặp nhau chẳng biết nói gì ngoài các chuyện vớ vẩn như hỏi nhau mượn sách vở, mấy ngày nghỉ ở nhà làm gì, v.v... và v.v... chỉ bấy nhiêu chuyện mà mỗi lần gặp nhau nói chuyện hằng giờ cũng không hết. Có hôm thằng Trường trả cuốn vở cho Sương, 2 đứa lỡ chạm tay nhau... mặt thằng Trường cứ nghệch ra còn Sương thì cúi mặt xuống bàn suốt cả buổi học.

Nhà tôi và Trường cách nhà Sương một con sông, nước chỉ sâu tới ngực. Người dân qua lại bằng đò, đến 8 giờ tối đò hết đưa, muốn qua sông chỉ có cách lội xuống nước. Thằng Trường thường rủ tôi qua thăm Sương, ban đêm trời tối om, tôi đang ngần ngừ không biết phải qua sông bằng cách nào cho quần áo khỏi ướt.

Thằng Trường lôi tôi vào một bụi rậm, cả 2 cởi hết quần áo và, 2 con nhộng bắt đầu lội sông. Qua bên kia sông, 2 đứa lại mặc quần áo vào và tiếp tục đi đến nhà Sương.

Chiến cuộc lan tràn đến tận làng quê của chúng tôi, gia đình Sương dọn lên Sài Gòn, Trường và tôi 2 đứa cũng theo gia đình mỗi đứa một nơi, rồi một hôm chúng tôi gặp lại nhau cùng một đơn vị. Sương thì Trường không biết giờ này ở đâu, cuộc tình học trò... rồi xa... rồi quên!


Sáng sớm còn đang ngủ thì Trường đã dựng đầu tôi dậy: 

– Ê, Phi, dậy uống café mậy! 

Tôi càu nhàu nhưng cũng nhảy xuống khỏi võng. 2 đứa tôi tà tà đi xuống quán người “đẹp”, quán lá thật xinh xắn nằm sâu trong vườn cau, trên vách treo vài giỏ Lan rừng. Cả 2 đứa chọn cái bàn kê tận trong góc, ở đây rất gần quầy tính tiền của cô hàng café. Cô hàng nghe tiếng động khoát màn bước ra, cả 2 chúng tôi cùng choáng váng. Một thân hình eo thon trong chiếc áo bà ba bằng lụa tím, gương mặt thanh tú dễ thương, mái tóc dài buông xõa... làm dáng nàng có vẻ liêu trai!
– Thưa... hai ông dùng gì?

Nghe chữ “dùng” tôi ngạc nhiên, à... thì ra cô nàng ở tỉnh thành nào dọn về đây chứ không phải dân địa phương, giọng nói nhỏ nhẹ thật dễ thương!
– Cô cho xin 2 ly café đá.
2 đứa tôi nhìn quanh một vòng trong quán,mắt tôi chạm vào hàng chữ viết cạnh bàn chúng tôi ngồi:

“Phận em bưng nước, rửa ly
kính xin quý khách... đừng ghi sổ vàng! – Quán nghèo”.
Có lẽ quán này có người ăn chịu rồi quỵt luôn nên cô hàng mới viết như vậy. 

Tôi ghi thêm phía dưới:
“Mai vàng nở khắp thôn trang
Quán không bán thiếu tôi càng buồn... hơn! – Lính nghèo”.

Ngồi một lát tôi để ý thấy thằng Trường cứ thỉnh thoảng liếc nhìn cô hàng, anh chàng này có vẻ “chịu đèn” rồi. Bỗng nhiên thằng Trường khe khẽ hát:
“Gặp em trong quán nhỏ
Bên kia mưa sông dài
Tóc em vương màu mắt
Khi Xuân về sớm mai
Tôi ngồi đan khói thuốc
Mưa…..” *
Giọng nó hay quá, lời nhạc như một bài thơ! Cô hàng cũng bị giọng hát thằng Trường lôi cuốn, tiếng hát tiếp tục đều đều:
“....... Đời mình đâu dám hẹn
Mơ lại phút... tương phùng!”
– Giọng Thiếu úy hay quá! Trâm chưa bao giờ nghe ai hát hay như vậy!

À, thì ra cô hàng tên Trâm (tôi và thằng Trường cùng la thầm như thế). 


Rồi từ đó, thằng Trường thường rủ tôi xuống quán uống café, đôi khi nó đi một mình, mấy lúc gần đây nó đi một mình thường xuyên hơn. Tôi thương nó như anh em ruột, nó chỉ có mẹ già và cô em nhỏ, nó thường tâm sự với tôi: “Mẹ tao muốn tao có vợ sớm để có cháu cho bả ẵm, không có tao bả nhìn thấy cháu nội cũng như thấy tao”. 

Một hôm thằng Trường lôi tôi ra chỗ vắng, mặt có vẻ nghiêm trọng, nó nói: 

– Lâu nay tao giấu mầy, vì khi nào chắc ăn... tao mới nói.

Ngập ngừng một lát nó tiếp: 

– Tao và Trâm yêu nhau... cách đây một tháng tao có hỏi ý kiến Trâm và tao đã viết thư cho má tao, bả mừng rỡ vô cùng! Sau cuộc hành quân này, tao xin phép vài ngày về rước má tao xuống nhà Trâm dạm hỏi... có thể chúng tao sẽ cưới nhau vào đầu Xuân năm tới. 

Tôi ôm chặt hai vai bạn mình, chia sẻ niềm hạnh phúc đang dâng trào trong nó.

—–o0o—–


Đơn vị tôi hành quân bước sang ngày thứ ba thì chạm nặng, địch quân cấp Tiểu đoàn đang vây chặt chúng tôi vào giữa, thiệt hại của ta mỗi lúc một tăng. Chúng tôi cố thủ trên một ngọn đồi, qua hôm sau được 2 Tiểu đoàn bạn cứu viện, địch bị đánh bật trở ra, bỏ chạy quên mang theo xác của đồng bọn. Đại đội của tôi thiệt hại trung bình, trong đó có 2 sĩ quan bị thương nặng, tôi lo lắng cho Trường, linh tính như báo cho tôi tin chẳng lành. Tôi gọi máy liên tục và cuối cùng được biết sĩ quan bị nặng nhất đó là Trường.

Một dáng người nằm im lìm như xác chết, mặt tái nhợt, máu nơi ngực vẫn còn rỉ ra. Tôi hoảng hốt nhào lại quỳ xuống bên cạnh. Khi biết chắc đó là Trường tôi hét lớn, xô ngã người y tá qua một bên và gọi tên Trường rối rít. Một tay bịt chặt vết thương, một tay làm hô hấp nhân tạo, hai hàng nước mắt nhạt nhòa, tôi thảng thốt gọi tên Trường khan cả cổ họng. Bỗng nhiên Trường khẽ cựa mình mắt từ từ mở, tôi mừng rỡ bật lên tiếng cười trong vỡ òa nước mắt. Môi Trường mấp máy... tôi cúi xuống kê tai sát vào miệng Trường nhưng cũng không nghe được tiếng nói, tay Trường sờ soạng nơi ngực đầy máu và dừng lại nơi tấm thẻ bài, miệng nó mấp máy gọi tên người yêu nhẹ như gió thoảng. Tôi hiểu ý, đưa tay gỡ nhẹ bớt một tấm thẻ bài dính máu bỏ vào túi áo giáp của mình, Trường mỉm cười rồi thở hắt ra. Đôi mắt mờ lệ... tôi đứng thẳng người đưa tay chào vĩnh biệt người bạn của mình!

“... Có lẽ tao và Trâm sẽ cưới nhau vào đầu Xuân năm tới...”
Mùa xuân sẽ mãi mãi không đến với mầy và Trâm... Trường ơi!

—–o0o—–


Về đến hậu cứ tôi ngủ vùi cho đến hôm sau, thay quân phục chỉnh tề, nhìn lại trong gương lần chót, tôi bước ra khỏi cổng đồn đi về hướng quán café của Trâm. Trên đường đi tôi suy nghĩ miên man... không biết phải nói với Trâm như thế nào, phải khởi đầu ra sao? Cổ họng tôi nghèn nghẹn, tội nghiệp cho Trâm quá... Trâm ơi!!!

Khi nghe tiếng Trâm tôi giật mình mới hay mình đã tới quán tự lúc nào: 

– Anh Phi, anh về hồi nào vậy? Còn anh Trường đâu?

Tôi bối rối... lí nhí trong cổ họng: 

– Tr..ư..ờng có chút việc sẽ... tới sau.

Trâm hơi biến sắc: 

– Nghe mấy chị vợ lính nói đơn vị anh đụng nặng lắm phải không?
– Ờ, đụng nặng, à không, không... nặng lắm. 

Tôi bước vội vào quán tới chỗ tôi và Trường thường hay ngồi:
– Trâm cho xin hai ly café đá.

Nghe hai ly café mặt Trâm tươi tỉnh trở lại, mắt cứ nhìn ra ngõ như trông chờ Trường. Nhìn chiếc ghế chỗ Trường bỏ trống lòng tôi buồn vô hạn, tiếng Trâm làm tôi chợt tỉnh: 

– Anh Phi, anh làm sao vậy, trông anh hình như... bịnh?

Và Trâm đưa tay ngăn tay tôi lại: 

– Anh đừng khuấy nữa... ly café chưa bỏ đường. 

Trâm xoay người đi vào trong, vừa đi vừa nói: 

– Để Trâm vào trong lấy thuốc cảm cho anh.

Đến bây giờ tôi mới biết được rằng... tôi không thể nào báo tin Trường chết cho Trâm, tôi không đủ can đảm làm việc đó, không thể nào báo cái tin khủng khiếp đó, nó tàn nhẫn quá... tôi không thể nhẫn tâm giết chết cả niềm tin và hy vọng của một người con gái đáng thương như Trâm. Người tôi như run lên: “Trường ơi, mày tha thứ cho tao... tao không thể làm nổi ước nguyện của mày lúc lâm chung, tha thứ cho tao!” Toàn thân tôi run rẩy, nghe tiếng bước chân của Trâm đi lên tôi vờ cúi xuống cột lại dây giày để Trâm không nhìn thấy cặp mắt đỏ hoe của tôi như chực khóc.
– Thuốc cảm đây, anh uống đi!
Tiếng Trâm nhỏ nhẹ... nghe như tiếng hát của Trường:
........“Đời mình đâu dám hẹn
Mơ lại phút..... tương phùng!”
Tiếng hát mượt mà của Trường như lớn dần... lớn dần, cuối cùng như một khối thuốc nổ nặng ký nổ tung trong đầu tôi... tan tác... bi thương! Tôi đứng bật dậy và như người chạy trốn, lảo đảo bước ra khỏi quán vóc dáng xiêu vẹo, bỏ lại sau lưng người con gái mắt tròn xoe, ngơ ngác trông theo!


*Viết để tặng bạn tôi, cố Trung úy Lê Đức Trường.
*Tặng những “Góa Phụ” chưa một lần lên xe hoa!


Lê Phi Ô

Thursday, March 19, 2026

Nâng Niu Tuổi Già - Đỗ Công Luận

Thoi Thóp Miền Châu Thổ - Đoàn Xuân Thu


Một dòng sông bị bức tử, một vùng đất dân bị ép phải bỏ ra đi.
Sông Cửu Long, còn gọi là sông Lớn, sông Cái, khởi nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc, Lào, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, mang theo khối lượng phù sa khổng lồ để bồi đắp vùng châu thổ trù phú trước khi đổ ra Biển Đông bằng chín cửa. Bởi vậy mà tổ tiên ta gọi dòng sông ấy là Cửu Long – chín con rồng, biểu tượng cho sự sung mãn, phồn sinh và bền bỉ của miền đất cuối nguồn.


Từ Phnom Penh, sông Cửu Long chia làm hai nhánh lớn: Tiền Giang và Hậu Giang. Tên gọi mộc mạc ấy xuất phát từ bước chân lưu dân Ngũ Quảng vào Nam vào nửa sau thế kỷ XVII: gặp con sông lớn đầu tiên thì gọi là Tiền Giang, gặp con sông lớn thứ hai thì gọi là Hậu Giang – giản dị mà thấm đẫm tinh thần khai phá.
Trên sông Tiền có sáu cửa: Tiểu, Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu. Trên sông Hậu có ba cửa: Định An, Ba Thắc, Tranh Đề. Đó là hình hài nguyên thủy của chín con rồng xuôi ra biển lớn.


Thế nhưng lịch sử cận đại đã chứng kiến từng con rồng gãy cánh.
Cửa Ba Thắc bị bồi lấp từ thập niên 1960, chỉ còn là một con rạch nhỏ mang tên Cồn Tròn, nằm sâu trong cửa Tranh Đề. Rồi đến cửa Ba Lai, bị chặn đứng bởi hệ thống cống đập mang danh “ngọt hóa”. Cửu Long từ đó chỉ còn Thất Long – bảy cửa sông thông ra biển Đông.


Sự mất mát ấy không chỉ là địa lý. Đó là sự suy kiệt của cả một vùng sinh tồn.
Ngày nay, đồng bằng sông Cửu Long là nơi sinh sống của khoảng 17 triệu người dân. Vậy mà gần 2 triệu người đã buộc phải rời bỏ quê nhà, nước mắt lưng tròng, đứt ruột ly hương. Rời bỏ “vùng mật ngọt” gạo trắng nước trong, ruộng đồng đầy tôm cá, để tha phương cầu thực.


Đàn ông lên Bình Dương làm thuê cho các hãng xưởng Đài Loan, Nam Hàn. Phụ nữ trung niên đi làm osin tận Đài Loan, Trung Đông, có người sang tới cả Ả Rập Saudi. Phụ nữ trẻ, nếu có chút nhan sắc, thì trở thành món hàng để “chú Chệt” lựa chọn, nắn bóp như lựa thú cưng. Thân phận người phụ nữ Việt Nam bị bức hiếp, bạo hành, tiếng kêu cứu tan biến trong cõi hư vô.

Câu hỏi nhức nhối đặt ra là: Ai đang bức tử dòng sông đã nuôi sống đồng bào ta bao đời?
Trước hết là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, với các con đập khổng lồ ở Vân Nam, ngang nhiên khống chế thượng nguồn. Kế đến là Lào, xây liền chín đập thủy điện để bán điện cho Thái Lan. Campuchia cũng góp thêm hai đập. Hệ quả thấy ngay trước mắt: dòng chảy bị bóp nghẹt, phù sa bị giữ lại, bờ sông sạt lở, nhà cửa trôi sông, bờ biển tan nát, nước mặn lấn sâu.


Dòng sông là của chung. Không thể có chuyện sông chảy qua đất ai thì người đó muốn làm gì cũng được.
Lịch sử nước ta từng có tiền lệ. Ông Thái Hữu Kiểm ở Ba Tri từng kiện lên tận vua Minh Mạng chỉ vì một con rạch chung bị đắp đập ngăn ghe thuyền. Triều đình phán quyết dỡ bỏ đập vì “rạch là rạch chung, đường giao thông chung”. Đó là tư duy pháp lý tiến bộ của tiền nhân.


Vậy mà ngày nay, trước hành vi bá quyền của nước lớn, giới học giả và trí thức môi trường của ta lại im lặng. Ít nhất cũng phải đưa vấn đề này ra Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, để thiên hạ thấy rõ dã tâm Đại Hán mà dè chừng.


Chưa hết. Nội họa còn tàn khốc không kém.
Sau năm 1975, các “chuyên gia thủy lợi” CS miền Bắc mang nguyên mô hình đắp đê ngăn lũ sông Hồng áp vào vùng trũng Tứ giác Long Xuyên. Đê chặn nước để làm lúa ba mùa. Lúa thì nhiều thật, nhưng đất thì chết. Không còn lũ, không còn phù sa, đất cạn kiệt, phải bón phân hóa học, xịt thuốc sâu, tiền vốn cao mà giá lúa rẻ mạt, nông dân từ nghèo thành mạt.
Cao điểm là cống đập Ba Lai. Quan trên đánh trống thổi kèn ngăn mặn, giữ ngọt cho hàng trăm ngàn hecta đất. Dân Bến Tre mỉa mai bằng câu thơ chửi thề: “Ba Lai là cái cửa mình. Trung ương đem lấp dân tình ngẩn ngơ!


Kết quả: sông Ba Lai ngừng chảy, biến thành hồ nước tù. Nước mặn vẫn mặn hơn xưa, nước ngọt thì phải mua giá cắt cổ. 

Không tiền mua nước, dân khoan giếng ngầm sâu tới 80–120 mét, gây sụt lún, mặn xâm nhập nặng hơn. Nước tù ô nhiễm, cá trắng chết sạch, chỉ còn cá lóc, cá trê, cá rô phi. Dừa nước biểu tượng vùng nước lợ héo rũ rồi chết.
Bên trong cống, không còn nước lớn nước ròng, lục bình phủ kín sông rạch. Dân phải phun thuốc diệt cỏ để còn đường thủy, càng làm nước độc thêm.
Các nhà khoa học nông nghiệp từng cảnh báo: đừng độc canh cây lúa, đừng ôm con tôm ghì cây lúa cho cả hai cùng chết. Đừng ngăn mặn vì nước mặn, nước lợ cũng là sinh kế. Nhưng tiếng nói ấy bị bỏ ngoài tai.


Người dân miền châu thổ xưa kia không cần nha khí tượng, nha địa chất, vẫn biết trời mưa nắng, biết đa canh, biết để lũ rửa phèn, diệt sâu, bồi phù sa. Lũ không phải tai họa, mà là ân huệ của thiên nhiên.


Ông bà ta đã dạy: “Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm Hà Bá.”
Phá rừng và bức tử dòng sông là hai tội trời không dung đất không tha.
Ở các nước dân chủ phương Tây, đụng tới môi trường là đảng Xanh lôi cổ ra xử liền. Không ai dám làm ẩu như vậy.
Miền châu thổ đang thoi thóp. Không phải vì trời, mà vì người.


Đoàn Xuân Thu
Melbourne

Đâm Chồi Xót Xa - Trầm Vân

Mục Tiêu Cuối Cùng Của Ông Trump Không Phải Panama, Không Phải Greenland, Cũng Không Phải Iran, Mà Là Trung Quốc - Phan Đình Đạo


Nếu nhìn bề mặt, người ta dễ cho rằng tổng Thống Donald Trump là một chính khách ồn ào, bốc đồng, thích gây sốc. Nhưng nếu bóc từng lớp quyết định, sẽ thấy một trục chiến lược rất rõ: mục tiêu cuối cùng của ông Trump không phải Panama, không phải Greenland, cũng không phải Iran – mà là Trung Quốc.


Khi vừa quay lại Nhà Trắng, việc đầu tiên ông Trump nhắc đến không phải Ukraine hay Gaza, mà là kênh đào Panama và đảo Greenland. Hai địa danh tưởng như xa xôi, nhưng lại là hai “nút cổ chai” sống còn của trật tự địa chính trị phương Tây. Panama là cửa ngõ thương mại, là mạch máu hàng hải của Tây Bán Cầu. Greenland là bàn đạp quân sự – kiểm soát Bắc Cực, tuyến đường mới của tương lai. Và điều quan trọng hơn cả: Trung Quốc đã thọc sâu vào cả hai nơi đó.

Từ nhiều năm nay, Bắc Kinh âm thầm mua cảng, cho vay, xây hạ tầng, đặt ảnh hưởng tại Panama. Với Greenland, họ không cần quân đội, chỉ cần công nghệ, khai khoáng và tiền. Mỹ hiểu rất rõ một điều: nếu để Trung Quốc xiết được các cửa ngõ này, thì “sân nhà” của Mỹ sẽ không còn là sân nhà nữa. Vì thế ông Trump không vòng vo – ông đánh thẳng vào nơi Trung Quốc đang cắm rễ.

Sau Tây Bán Cầu, đến năng lượng. Venezuela và Iran không phải kẻ thù vì ý thức hệ, mà vì dầu mỏ. Đây là hai vạc dầu lớn, là nguồn cung chiến lược cho Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh cần đảm bảo an ninh năng lượng dài hạn. Đánh Venezuela là khóa van phía Tây, xử Iran là khóa van phía Trung Đông. Khi hai nguồn này bị bóp nghẹt, Trung Quốc sẽ không chết ngay, nhưng sẽ thở khó hơn, sản xuất đắt hơn, và dễ tổn thương hơn.


Còn Nga? Nga phải sống. Không phải vì Mỹ yêu Nga, mà vì Mỹ cần Nga để kìm châu Âu. Một châu Âu không có Nga làm áp lực an ninh sẽ bắt đầu nghĩ đến “tự chủ chiến lược”, bắt đầu nói chuyện ngang hàng với Washington. Chỉ khi Nga còn là cái bóng đe dọa phía Đông, châu Âu mới còn cần Mỹ bảo trợ, cần NATO, cần Washington đứng đầu cuộc chơi.


Triều Tiên thì chưa cần diệt. Một Triều Tiên tồn tại để Hàn Quốc phải luôn là đồng minh trung thành với Mỹ, vừa đủ nguy hiểm là một cái gai cắm vào sườn Trung Quốc. Khi Trung Quốc suy yếu, Triều Tiên sẽ tự cạn nguồn chống lưng mà suy tàn theo. Đánh sớm chỉ tốn lực, không mang lại lợi ích chiến lược tương xứng.

Cuba thì khác. Cuba chẳng có dầu, chẳng có công nghệ, chẳng có vị thế quyết định. Nó sống được là nhờ các “anh lớn” nuôi. Khi các trụ đỡ bên ngoài không còn khả năng hoặc không còn nhu cầu chống Mỹ, Cuba sẽ tự khô héo. Không cần đánh, chỉ cần chờ.


Nhìn toàn cục, ông Trump không chơi cờ cảm tính. Ông ta không đánh tất cả, mà chọn đúng mắt xích. Không cần tiêu diệt Trung Quốc bằng chiến tranh nóng. Chỉ cần bóp không gian sinh tồn: cửa ngõ, năng lượng, chuỗi cung ứng, và vùng ảnh hưởng.

Địa chính trị chưa bao giờ là câu chuyện đúng – sai. Nó là câu chuyện ai thở được lâu hơn trong một căn phòng đang dần cạn oxy. Và trong ván cờ này, ông Trump không đấm vào mặt đối thủ – ông khóa cửa, tắt đèn, và rút không khí ra từng chút một.

Lịch sử sau này có thể phán xét ông Trump bằng đạo đức hay cảm xúc. Nhưng hiện tại, có một điều khó phủ nhận: ông ta hiểu rất rõ Trung Quốc đang sống nhờ những gì – và ông ta đang lần lượt rút từng chiếc phao cứu sinh đó ra khỏi tay Bắc Kinh.


Ký giả Phan Đình Đạo

Muôn Kiểu Nhào Lộn

 


Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình 

#630 - Sai Lầm Khi Bị Sỏi Mật. Loại Đường Có Hại Cho Não Mà Nhiều Người Chưa Biết - BS. Phạm Hiếu Liêm

Wednesday, March 18, 2026

Làm Cha Mẹ


Có những thứ trong đời, nếu thấy không hợp nữa, ta có thể dừng. Kinh doanh lỗ thì đóng cửa. Làm việc chán thì nghỉ. Kết bạn không vui thì tránh mặt. Kể cả những mối quan hệ từng rất quan trọng, nếu không còn phù hợp, ta vẫn có thể chọn cách buông tay.

Nhưng làm cha mẹ – thì không có “nút thoát”.

Một khi đứa trẻ đã đến với thế giới này, cũng là lúc bạn bước vào một hành trình không thể quay lui. Bạn không thể viết đơn xin nghỉ, không thể tìm người thay vai, cũng không thể bấm nút “tạm dừng” để nghỉ ngơi một tháng cho lại sức.

Làm cha mẹ là công việc duy nhất mà dù bạn mệt đến đâu, vẫn phải tiếp tục. Dù bạn có đang tổn thương, đang bế tắc, hay chính bản thân bạn còn chưa hiểu mình là ai – bạn vẫn phải chăm lo từng bữa ăn, từng giấc ngủ, từng cơn sốt giữa đêm của con.

Không có hợp đồng nào để nhắc bạn phải có trách nhiệm. Không ai đứng đó kiểm tra bạn làm đúng hay sai. Nhưng cũng chính vì vậy, nó là một vai trò thiêng liêng nhất, và đôi khi – cô đơn nhất.

Có những ngày bạn cảm thấy mình đã làm hết sức, mà con vẫn không nghe lời. Dạy con tử tế, con vẫn nóng nảy. Nhắc con học hành, con vẫn làm ngơ. Có những buổi tối, bạn gục xuống bàn ăn khi cả nhà đã đi ngủ, nước mắt rơi mà không ai thấy. Không phải vì bạn yếu đuối, mà vì bạn không có chỗ để than thở.

Làm cha mẹ là thế: những việc bạn làm giỏi nhất, thường không ai khen. Những điều bạn kiên trì nhất, thường chẳng ai nhớ. Con lớn lên, không nhớ ai đã bế ru mỗi đêm. Không nhớ ai từng đọc đi đọc lại một quyển sách cho đến khi bạn thuộc lòng từng dòng. Nhưng bạn vẫn làm. Không phải để được ghi công. Mà vì bạn hiểu: nếu không phải bạn, thì không ai khác.

Và rồi, cũng chính bạn là người chịu đựng nỗi đau khi con rời xa. Khi con bước vào tuổi dậy thì và đóng cửa lại mỗi lần bạn gõ. Khi con lớn hơn và có thế giới riêng, nơi bạn chỉ là một phần nhỏ. Có khi bạn ghen tị với cả bạn thân của con, người mà con kể hết mọi điều, còn bạn thì không được biết.

Bạn cũng phải học cách không tổn thương khi con phản ứng. Học cách buông tay vừa đủ. Học cách chấp nhận mình không thể bảo vệ con mãi mãi.

Bởi vì làm cha mẹ không chỉ là nuôi nấng, mà còn là quá trình tiễn con đi.

Không ai dạy bạn trước những điều này. Không có lớp học nào chuẩn bị cho bạn cảm giác hụt hẫng khi con không cần mình nữa. Cũng không ai nhắc rằng, bạn có thể làm tất cả đúng, và vẫn không thể đảm bảo điều gì.

Làm cha mẹ là công việc âm thầm nhất, dài hơi nhất, không có hồi kết – và không có nút “thoái lui”.

Và rồi một ngày, giữa bộn bề lo toan, bạn bắt gặp con lặng lẽ đắp mền cho em khi trời lạnh. Nhường miếng cá ngon cuối cùng cho ông bà. Tự xin lỗi sau một lần nổi nóng. Những khoảnh khắc nhỏ đến mức tưởng như vụn vặt ấy, bỗng khiến bạn đứng lặng.

Không ai thấy hết những điều bạn đã làm. Nhưng trong một cách rất riêng, chúng đã ngấm vào con người mà con bạn đang lớn lên từng ngày.

Làm cha mẹ là một cuộc hành trình không thể “bán lại”, không thể “chuyển nhượng”, không có lối rút lui. Nhưng chính vì không thể bỏ giữa chừng, nên mỗi bước đi – dù chậm, dù mệt – đều là một minh chứng cho thứ tình cảm không gì thay thế được: một tình yêu lặng lẽ, nhưng bền bỉ nhất trên đời.


Nguồn: FB

Tháng Ba Định Mệnh - Võ Đức Nhuận

ĐỊA NGỤC MAN RỢ NHỨT MANG TÊN "TÙ CẢI TẠO"

Những ngày cuối tháng 3, trời mưa như trút nước, cả ngày lẫn đêm, như xót thương cho số phận non sông Bình Định đã rơi vào tay của lũ vô thần. Qua hơn 2 ngày đêm, chúng tôi không có gì để ăn, ruột đói cồn cào, quần áo ướt sũng, thiệt đói và lạnh. Chúng tôi đi ngang qua những đám gò trồng đậu phộng, nhổ lên hy vọng kiếm củ ăn cho đỡ đói lòng, nhưng vào mùa đó cuối tháng 2 Âm Lịch, củ còn rất non. Chúng tôi rửa bằng nước mưa, nhai lấy nước mà thôi. Chúng tôi qua những cánh đồng bắp cũng thế, chỉ ngậm lấy nước. Qua ngày thứ ba, cả 3 chúng tôi đều bị tiêu chảy, kiệt sức không còn đi nổi. Tôi thấy tình hình như vậy, chắc là số phận tôi không xong rồi, nên nói với 2 anh bạn đồng hành:

- Tôi không đi nổi nữa rồi, hai anh còn sức cứ đi theo hướng Đông ra biển may ra còn tàu của hải quân của quốc gia bốc các anh về Sài Gòn.

Thiệt là cảm động, tuy không cùng đơn vị nhưng 2 anh lính nói:

- Đại úy đi thì chúng tôi đi, ông ở lại chúng tôi ở lại. Chúng tôi không nỡ bỏ ông ở đây!

Không còn cách nào khác, chúng tôi đành vào làng, may ra xin được thức ăn và dưỡng bịnh sau đó tiếp tục cuộc hành trình. Sau đêm thứ ba, chúng tôi đến 1 ngôi làng, trước vài thửa ruộng của ngôi làng có 1 cái chòi, chúng tôi vào chòi khoảng 2, 3 giờ sáng. Chúng tôi vắt cho khô quần áo, nằm ngủ đợi trời sáng. Sau những ngày đói lạnh, bịnh tật, chúng tôi nằm thiếp đi cho đến khi mặt trời mọc. Sáng hôm đó chúng tôi vào một nhà dân gần đó, để nhờ họ cho cơm ăn và dưỡng bịnh, để có sức mà đi. Chủ nhà là 1 người đàn bà nhà quê trông cũng bình thường như những bà nông dân khác, không có gì phải nghi kỵ. Sau khi nấu cơm cho chúng tôi ăn xong, chủ nhà chỉ cho chúng tôi bộ ván để lên nằm nghỉ lưng. Ôi thiệt là một bữa cơm ngon nhứt trong đời, dầu chỉ có cơm trắng với bầu luộc và mắm ruốc. Nửa giờ sau, du kích đã vào nhà, súng AK chĩa vào đầu, bắt chúng tôi trói ké dẫn đi. Tâm trạng tôi lúc này chỉ còn biết tới đâu hay tới đó mà thôi. Sự sống còn phó mặc cho số mệnh. Chúng tôi bị dẫn đi nhiều nơi, đôi khi là trụ sở của làng, đôi khi là trường học, có khi là ngôi đình làng. Dần dần số người bị bắt cứ tăng lên. Nhiều khi một ngôi trường Tiểu học nhỏ, mà nhốt số người lên đến hàng trăm. Đêm đến không có chỗ nằm, chỉ ngồi mà thôi. Ôi thiệt là những ngày ghê gớm nhứt của cuộc đời, không biết còn có cảnh khổ nào hơn không?


Chúng tôi không được cho ăn uống chi cả. Tự ai có gì nấy ăn mà thôi. Ngày hôm sau, chúng tôi bị dẫn về hướng Tây, không gian vô định, ai biết mình sẽ bị đưa về đâu, và sống còn đến ngày nào. Khoảng thời gian này, không có một quy ước hay chính sách gì cả, hễ ai bất tuân bọn chúng, thì coi như bị bắn bỏ. Trong đoàn chúng tôi đi, có một binh sĩ còn trẻ, không dè dặt với chúng, đôi khi anh ta đi ngoài hàng một chút thì bị bọn chúng lôi ra bắn ngay. Thiệt là dã man! Chúng muốn bắn để khủng bố tinh thần của mọi người. Ôi sinh mạng con người nhỏ hơn là con ong, con kiến. Dọc đường quốc lộ 19, từ Bình Khê lên đến chưn đèo An Khê, trước kia có lực lượng của SĐ 22 Bộ Binh trấn đóng. Tôi không nhớ rõ là Tiểu Đoàn nào, nhưng thuộc Trung Đoàn 41. Trước đây có 1 trận đánh thiệt là ác liệt, 2 bên vệ đường tử thi của các chiến sĩ VNCH nằm la liệt, có lẽ đã xảy ra gần nửa tháng rồi, cơ thể bắt đầu sình thúi, chỉ thấy quân phục và sọ người trắng hếu. Một số tử thi khác thì còn loang lổ một ít tóc trên phần sọ đã rữa. Mùi tử khí xông lên nồng nặc khắp trời. Ôi chiến tranh và thân phận con người, tôi lại nhớ đến mấy câu thơ của bà Đoàn Thị Điểm:

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi,

Chinh phu tử sĩ mấy người,

Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn…..


Vào thời gian này, tôi không còn nhớ rõ là mình đã nghĩ gì, chỉ có một con đường, chúng muốn đưa mình đi đâu thì mình theo đó thôi, mặc cho số phận đẩy đưa, cuối cùng là giải thoát kiếp người. Chúng tôi đi đến ngày thứ ba thì đến một trại trước kia là mật khu của chúng. Trại này nằm trong rừng sâu, cách đèo An Khê khoảng 50 km từ hướng Bắc. Cả mấy ngày đi chỉ ăn được một lần, chúng tôi đi ngang một địa phương thì được đồng bào nấu cơm gói sẵn bằng lá chuối phát cho chúng tôi mỗi người một gói không biết là lịnh của họ hay lòng tự nguyện của đồng bào. Đến gần phạm vi của trại, chúng dừng lại để nghỉ và chuẩn bị cho chúng tôi nhập trại, trong lúc này tôi gặp lại một số anh em binh sĩ trong Pháo Đội, thiệt mừng và thiệt tủi cho thân phận những kẻ chiến bại. Thời điểm này chúng bắt giao nộp hết tư trang như đồng hồ, bút máy, nhẫn..Tôi thấy chúng dùng nón để thu, không ghi sở hữu của ai cả. Tôi biết bọn này muốn lấy không rồi, tôi làm dấu cho anh thường vụ Pháo Đội giấu chiếc đồng hồ Boulevard Sport của anh, khi đi đến bờ sông có một số người Thượng đứng bán chuối hoặc cơm. Chúng tôi đổi chiếc đồng hồ lấy 1 nắm cơm muối mè gói lá chuối, 2 thầy trò chia nhau ăn cho qua cơn đói lòng. Thiệt là: “Đoạn đường ai có qua cầu mới hay”, vật chất chỉ có giá trị khi thời gian thích hợp. Còn với thời gian này, vật chất dù cao quý thế nào cũng không qua nổi một gói muối mè.


Thế là chúng tôi lần lượt vào trại. Sĩ Quan đều bị đem đi cùm, từ Thiếu Úy trở lên là bị cùm. Số lượng SQ bị bắt mỗi ngày một đông, chúng thả cấp nhỏ, cùm cấp lớn. Bắt được Đại Úy cùm Đại Úy thả Thiếu Úy. Cứ như là cấp số cộng. Phải nói bạn nào có thời gian ở trại Vĩnh Thạnh khi đọc dòng hồi ký này, không thể nào quên được một nơi gọi là ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN đúng nghĩa của nó, không nơi nào ghê sợ hơn. Vì trại nằm trong rừng sâu lam sơn chướng khí. Tổng số binh sĩ bị bắt vào thời điểm cao nhất ở đây có thể lên đến cả ngàn người, nhưng sau hơn 4 tháng, số tử vong lên đến cả trăm. Sốt rét chết, đói mà chết, bị đánh mà chết... Các đơn vị bộ đội cộng sản ở đây đa số đều là những cán binh CS trở về từ Côn Đảo, lòng nung nấu thù hận. Họ muốn trả những trận đòn thù trên các người lính Cộng Hòa còn chút sĩ khí đã ở lại chiến đấu để bảo vệ quê hương. Có một anh Trung Úy người miền Nam trước kia nguyên là giáo sư bị bắt vào trại cùng thời gian với chúng tôi, vì quá căm phẫn trước sự hành hạ của bọn chúng, nên chạy ra vọng gác giựt súng AK của tên bộ đội đang gác cổng nhưng không thành công vì cơ thể suy nhược, ăn uống thiếu thốn làm sao khoẻ bằng chúng. Sau khi giựt súng không được, anh ta bị rượt chạy vòng vòng trong trại. Vì trại quá đông người nên chúng không bắn được. Vì không còn đường thoát, anh ta chạy đến bên những chảo nước đang nấu để cho tù uống và nhảy vào chảo! Thiệt là rùng rợn và thương tâm! Chúng dập tắt lửa, mang anh ta ra ngoài, nhưng anh ta vẫn còn sống. Anh ta chửi rủa bọn Cộng Sản luôn mồm:

- Đả đảo Cộng sản. Quân dã man khát máu.

Chúng cho khiêng anh vào trạm xá. Thiệt ra chỉ là một cái nhà nhỏ, vài lọ thuốc, vài lọ cồn mà thôi. Anh ta vẫn chửi liên hồi. Chúng lấy đất sét cho vào miệng, lấy cây dọng cho đến khi hết thở. Ôi! các bạn có hình dung được con người hay là ác quỷ nhỉ. Tôi có người bạn ở cùng quê tên Phan Duy Liêm,cấp Tr/Úy ĐĐT/ĐPQ cũng bị bắt vào trại này, tôi không nhớ anh đã làm gì phật ý chúng mà buổi chiều hôm đó, tôi chứng kiến tận mắt, 3 tên bộ đội đứng 3 góc đánh anh từ góc này văng sang góc kia, như là người ta chuyền bóng. Là thân phận tù sao dám chống trả chúng. Sau khi anh được thả ra, lục phủ đã bị dập nát, đã bị tổn thương. Mặc dù thời gian sau được gia đình tiếp tế thuốc men chữa chạy, sau hai năm hao tổn, anh đã lìa đời, bỏ lại một vợ và một con thơ, là bà con họ hàng với gia đình tôi.


Ở đây khí hậu chưa có một nơi nào dễ sợ hơn. Danh từ sơn lam chướng khí thiệt là đúng nghĩa của nó. Các nhà giam (lán) được cất dưới những tàng cây cổ thụ, suốt ngày ít khi thấy ánh sáng mặt trời, sương buổi sáng rất nặng và dày đặc, 9 hay 10 giờ mới thấy mặt trời, máy bay thám thính cũng chỉ thấy toàn màu xanh của rừng. Khoảng hơn tháng đầu chúng chưa cho đi làm, mỗi ngày chỉ phát 2 nắm cơm bằng một bát trung bình, vơi chứ không đầy, mì khô hết 80%, vài hột gạo có thể đếm được, tất cả chúng tôi đều đói và sốt rét.


Ở đây trung bình 1 tuần sốt rét 3 lần. Sốt thì nằm, dậy được thì đi lao động, xuống trạm xá khai bệnh, cặp nhiệt độ 40 độ C, cho vài viên Nivaquine, 39 độ trở lui, thì chúng cho uống một thứ rễ cây tên là “mật nhân”. Trên đời này chưa có thứ nào đắng như thứ này, uống xong quay đi là nôn thốc, nôn tháo, nôn đến mật xanh, mật vàng, lần sau sốt hoặc nằm liệt không dám khai bịnh nữa, hết sốt thì dậy đi làm. Con người thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng, sốt rét triền miên, nên chúng tôi trông như những thây ma còn sống. Da mặt thì vàng bệt, xám ngoét, mắt trũng sâu, chân đi xiêu vẹo, quần áo tả tơi. Ôi! chúng tôi thật là tới tận cùng của địa ngục.Chúng tôi nào có tội tình gì, chỉ biết cầm súng bảo vệ quê hương không có một ý đồ bất chính, không có một tham vọng nào làm tổn thương đến giá trị vật chất hay tinh thần của con người, tại sao chúng tôi lại phải bị trừng phạt một cách khủng khiếp như thế? Có những lúc tuyệt vọng, anh em nói đùa:

- Chúa hay Phật gì cũng bỏ chạy hết rồi còn đâu mà cầu nguyện.


Sau hơn 3 tháng tôi bị bắt, gia đình tôi mới được tin tức. Vợ tôi từ Phan Thiết ra Bình Định đến trại 3 Vĩnh Thạnh để thăm, thiệt là một chặng đường vất vả. Vì xe cộ không có, vợ tôi phải đi bộ khoảng 50 km đường rừng, phải ngủ lại ở trại 2 rồi mới lên trại 3 được. Biết bao nhiêu gian nan và sợ hãi, khi được gặp mặt, vợ chồng tôi nhìn nhau nước mắt lưng tròng, hỏi thăm vài câu sức khỏe, đâu còn lời nào để nói.Và biết nói gì hơn khi mỗi bàn có 2 bộ đội ngồi bên cạnh, súng AK lăm lăm, nói được gì đây. Về nhà, vợ tôi bị sốt rét chữa trị gần 2 năm mới bình phục. Thời gian ấy, vợ tôi phải truyền sérum liên tục, thế mới biết rừng thiêng nước độc đến cỡ nào. Sau đó thân phụ tôi đi thăm một lần, về cũng bị sốt rét liên tục. Từ đó về sau, chỉ có em trai tôi còn khỏe mạnh đi thăm mà thôi.


Có những lúc đói quá, mắt đổ đom đóm vàng khi nhìn thấy các anh em khác có người tiếp tế, có đồ ăn. Muốn quên đi, tôi chỉ còn biết ra gốc cây ngồi luyện Yoga cho quên đi nỗi đói khát, bịnh tật. Ai có biết sách lược triệt hạ kẻ thù, không sợ chúng phản kháng là làm cho chúng đói triền miên, không bao giờ cho chúng ăn đủ no. Suốt ngày tư tưởng lẩn quẩn, mong có cái gì bỏ vào miệng, vào bụng mà thôi, không còn nghĩ được thứ gì khác trên đời. Ôi con người có những lúc phải như thế này ư? Tôi có đọc cuốn Tiểu Đoàn Trừng Giới của Erich Maria Remark, nhà văn Đức, tù binh Đức, cũng bỏ vào các trại tập trung cũng đói như chúng tôi, nhưng thời gian ngắn hạn và không bịnh tật. Còn chúng tôi đói dài hạn và bịnh tật triền miên.Tôi còn nhớ vào thời gian còn ở quân ngũ, tướng độc nhãn Mó Dayan của Do Thái có qua thăm trường Võ Bị Đà Lạt, đã nói:

- Muốn chiến thắng Cộng Sản, phải sống với Cộng Sản.

Xin những ai, có làm chính khách, chưa bao giờ biết ngục tù Cộng Sản, thì xin nghĩ đến bao nhiêu anh hùng đã hy sinh, bao nhiêu triệu đồng bào còn đang sống vất vưởng nơi quê nhà, vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày vì phương châm “làm cho tập thể, hưởng theo nhu cầu” của chúng. Và cả một thế hệ chúng tôi tù đày oan khiên, khổ nhọc, thì chớ nên phụ quá khứ một thời tự do, dân chủ, thanh bình của miền NamViệt Nam.


Ở trại này có những cách giết người rất dã man. Các bạn có biết, một cái nhà cùm kín mít, bên trong là một dãy khóa lại, tất cả việc ăn uống vệ sinh đều tại chỗ, đó là cùm thông thường. Nếu chúng muốn tra tấn ai, cho hai chưn vào hai lỗ chéo nhau, chân phải lỗ bên trái, chân trái lỗ bên phải,dưới mông ngồi có 1 cây đà vuông thông ra ngoài, xuyên qua 1 cây trụ thẳng đứng khoét một lỗ hình chữ nhựt, để cây đà vuông có thể di chuyển được từ thấp lên cao, chúng gọi là cùm yên ngựa. Mỗi lần nâng cây đà lên là ống quyển bị ép vào lỗ cùm. Bên ngoài chúng dùng 1 miếng nêm hình tam giác để đóng, mới đầu đóng là tù nhơn la thất thanh sau đó im dần... im dần, tù nhơn đã hết thở. Ôi địa ngục ở đâu, có lẽ còn ít sợ hãi hơn nơi này. Chúng tôi bị nhốt trong một cái lán gần bên nhà cùm. Đêm đêm nghe tiếng la thất thanh xé tâm can, rồi im dần, im dần và tắt hẳn... Thế là một người đã ra đi không biết là tốt hay xấu với chúng tôi, biết đâu vài hôm đến lượt mình.


Ở đây có những cái chết rất kỳ lạ, buổi sáng còn ngồi chơi nói chuyện, vì là ngày Chúa Nhựt, anh bạn ở cùng quê, Đ/Úy Dậu TĐT/CB, ngồi ngã ra, quay quay như gà mắc toi, đem xuống bịnh xá, chừng 1 giờ đồng hồ sau thì chết. Khí hậu thật là rùng rợn, sinh mạng con người còn thua những loài côn trùng. So với tù binh của Đức Quốc Xã thời Đệ Nhị Thế Chiến đâu có khác gì nhau.


Sau 1 tháng nhốt 1 chỗ,chúng tôi được chia ra để đi lao động. Những công việc chính là nhổ mì, trồng mì và làm cỏ mì.Buổi sáng tù tập trung do 1 hoặc 2 tên bộ đội dẫn đi tới những bãi mì trong núi hoặc trên đồi cao. Chúng tôi dàn hàng ngang, mỗi người 1 cái cuốc dùng để cuốc cỏ xung quanh cây mì. Cây mì mới mọc cao chừng 5cm hay 1 tấc, rất dễ lẫn lộn với cỏ. Chúng tôi đâu phải nhà nông chuyên nghiệp, từ nhỏ cha mẹ đã hy sinh gian khổ, nuôi con ăn học, mong con sau này thành đạt, đâu nghĩ đến việc phải dùng cái cuốc, cái cày. Ôi công lao của cha mẹ lo lắng nuôi con trong thời điểm này hình như đã sai đường. Nếu chẳng may chúng tôi cuốc gãy cây mì chúng thấy được, thì báng súng AK vào đầu, vào cổ, mũi súng thọc vào sườn, vào bụng.


Anh bạn tôi là Đ/Úy Dậu có lẽ bị đòn thù trong trường hợp này, nên đã mất đi vài tuần sau đó, trong bữa sáng Chủ Nhật mà tôi vừa nói ở trên.Thiệt là thê thảm, những tù nhân chẳng may mà mất đi, chúng quấn bằng miếng vải ni lông, dùng để làm áo mưa, xung quanh kẹp 7 nẹp tre quấn lại như 1 khúc dồi lớn.2 người khiêng, 2 người đào lỗ ngoài rừng rồi lấp đi. Xong chúng cắm 1 cái bảng nhỏ viết tên tù nhân bằng sơn.Với 2,3 tháng nắng mưa, thì không còn biết ai là ai nằm đó nữa. Vì thế gia đình anh Dậu đã cố gắng nhiều lần, nhưng vẫn không tìm thấy xác anh ở đâu để đem hài cốt của anh về mai táng nơi quê nhà. Rất may là khoảng tháng thứ 5 chúng tôi chuyển trại, lúc này đại đa số là Quân, Cán, Chính VNCH đã bị bắt hoàn toàn, không còn 1 lực lượng nào trong nước có thể đối kháng và phá hoại chúng được. Chúng thành lập những Tổng Trại Tù Binh để quản lý. 


Một Tổng trại như thế do cấp Trung Đoàn chính quy quản lý do Thủ Tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng ký, mục đích là để trấn an dân chúng và để trình làng với Quốc Tế. Giai đoạn cuối ở địa ngục này, tôi bị sốt rét hành hạ liên tục, có lẽ đã xâm nhập vào gan, lá lách hay thận. Người tôi vàng vọt, xám ngoét, mắt trũng sâu, bụng ỏng, chân thì dần dần to ra như chân voi bước đi không nổi nữa. Chúng tôi được đưa xuống Tổng trại 4 An Trường. Ôi, thiệt là một cuộc di chuyển có khác nào như chở heo chở gà ra chợ để bán! 1 chiếc xeMotolova như vậy chở xấp xỉ cả trăm người, người sau phải bám người trước cho chặt, nếu không khi xe quẹo, quán tính của trọng lượng sẽ làm văng những người sau ra ngoài mà chết. Súc vật đem bán cần sống, cần khoẻ chứ chúng tôi thì không….


Tôi được đưa xuống trại 1 của Tổng Trại 4,nhờ gia đình tiếp tế, thuốc men đầy đủ, và ở trại này, chế độ ăn uống có phần dễ thở hơn, nên tôi đã dần dần hồi phục và giữ được cái mạng còm cho đến hôm nay. Phải nói rằng 6 năm tù đày thời gian ở trại này là tươngđối dễ chịu nhứt so với các trại khác. Vào thời điểm này, đa số anh em đều tin rằng sau 3 năm rồi thì thế nào cũngđược thả về, nhưng thiệt là 1 sự lầm lẫn to lớn. Lời nói của chúng như những bó cỏ treo trước đầu con ngựa đang kéo xe, cỏ thì nhìn thấy đó nhưng con ngựa có bao giờ ăn được đâu? Những ngày kêu thẩm vấn, tự khai, ui thực.. là khổ sở. Nói thế nào chúng cũng không tin. Hỏi:

- Từ ngày anh tham gia ngụy quân, ngụy quyền đến giờ giết bao nhiêu cách mạng?

Tôi trả lời:

- Tôi là đơn vị Pháo Binh yểm trợ, họ yêu cầu tác xạ ở đâu, chúng tôi bắn ở đó. Kết quả do các đơn vị Bộ Binh tham gia họ ghi nhận và báo cáo, chúng tôi đâu có trực tiếp tham dự.

Hỏi:

- Anh nói anh không giết cách mạng sao họ cho anh mang lon Đ/Úy sớm như vậy?

Tôi trả lời:

- Theo chế độ đào tạo SQ tại miền Nam, có bằng cấp mới được chọn, 1 năm Chuẩn Úy được thăng Thiếu Úy, 2 năm Thiếu Úy được thăng Trung Úy. Sau đó khoảng 3 năm đủ điểm thì lên Đ/Úy.

Nhưng dù có nói thế nào chúng cũng chẳng tin. Và cứ như thế hết ngày này đến ngày khác, tôi cứ bị kêu liên tục, hỏi hơn cả tháng, chúng cứ xoáy vào một điểm là giết hại bao nhiêu cách mạng. Cuối cùng tôi phải moi một trận yểm trợ nhớ mang máng theo kết quả của Bộ binh báo cáo, là địch quân tổn thất vài chục chúng mới hết hỏi. Ai có ngờ đâu đó là cái giá treo cổ mà mình tự gánh vào, sau này chúng cho là thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân….


Thời gian ở Tổng trại này hơn 1 năm, sau đó có lẽ tình hình thanh lọc tù nhơn giảm dần, chúng tôi chuyển từ tổng trại này sang tổng trại 5 thuộc các đơn vị tỉnh Phú Yên quản lý. Trại này cũng là 1 trại sắt máu, chúng tôi làm việc như lao động khổ sai, và cơm thì không bao giờ được ăn no. Có một vài anh em bỏ mạng vì đốn cây rừng cho chúng, cây đè mà chết hoặc thương tật suốt đời. Các bạn từng xem những phim La Mã thời Cesar, các nô lệ kéo gỗ hay kéo đá, chúng tôi cũng vậy. Một khúc gỗ súc dài 4 hoặc 5 mét,đường kính khoảng 7 tấc, xỏ 4 dây thừng, mỗi bên 4 người khiêng. Đường từ trên núi, leo dốc, xuống ghềnh hiểm trở, nếu rủi ro mà té ngã thì coi như cái mạng đi đoong.Súng AK thì lăm lăm, sẳn sàng nhả đạn nếu chúng tôi tìm đường chạy trốn. Ôi, nếu so sánh, chúng tôi và nô lệ thời Trung Cổ của La Mã có khác gì nhau đâu.


Tôi còn nhớ nằm cạnh tôi có ông bạn già là Tr/Tá ĐN Thanh trước 75 là CHT Quân Cảnh Quân Khu 2, và có thời gian Tr/Tá Thanh đã từng làm Trưởng trại giam tù phiến cộng ở Phú Quốc. Có một ngày họ phân công tôi và bác Thanh là 1 cặp trong toán chặt gỗ làm nhà, chỉ tiêu dài 6 mét, đường kính từ 1.5 đến 2 tấc, phải là gỗ tốt, lá nhỏ, vỏ mỏng. Tôi và bác Thanh phải lên núi cao tìm gỗ vì dưới thấp không còn nữa. Sau khi chặt xong, tôi và bác Thanh khiêng về trại. Vì lúc đó tôi còn trẻ nên nghĩ rằng mình khiêng phần gốc để bác Thanh phần ngọn nhẹ hơn. Từ trên triền núi cao, tôi lao xuống dốc vì nặng quá, không kềm được, nên đã té ngã nhiều lần. Rốt cuộc để khỏi tai nạn, bác Thanh dành khiêng phần gốc vì thật sự mà nói, bác rất khỏe và rất đô con. Tối về sinh hoạt kiểm điểm xong, bác nằm và than sao đau lưng và khổ quá. Bên cạnh tôi có anh bạn Luật sư Lê Đình Khang nói nhỏ:

- Bác khổ là vì hồi đó bác hà tiện quá mà.

Bác càu nhàu hỏi:

- Hà tiện gì?

Anh bạn Khang nói:

- Nếu hồi đó bác sắm bao tải cho nhiều, cứ mỗi chuyến C130 chở tù phiến cộng từ Sài Gòn ra Côn Đảo, bác bỏ hết vào bao ném xuống biển, thì đâu có ngày hôm nay.

Bác và chúng tôi cùng cười, quên đi nỗi đau đớn nhọc nhằn. Trong thời gian ở trại này, chúng tôi chứng kiến một cảnh thương tâm. Có 1 số anh em trốn trại nhưng không thoát được, tôi chỉ nhớ tên 2 người là T/Tá Giang và T/Tá Phước, 2 người còn lại tôi không nhớ được. Chúng cho làm mỗi người một cái lều, như lều cắm trại, sát mặt đất, có khung bằng ván để nằm, làm hệ thống cùm dưới chân bằng gỗ, khóa lại suốt ngày đêm, trông giống như những chiếc nhà mồ nằm ngay tại vọng gác trước mặt trại. Chúng tôi ngày nào lao động cũng phải đi ngang qua, trông thật đau xót và thương tâm, nhưng đâu biết làm sao khác hơn….


Vào một đêm, bỗng dưng lửa cháy các chòi, chòi của T/Tá Giang là nặng nhất. Họ được đưa đi bệnh viện Tuy Hòa để cấp cứu. T/Tá Giang phải cưa hai chân đến đầu gối. Các bạn khác đều bị phỏng nhưng cũng được lành. Chúng tôi đều nhận định rằng chúng muốn đốt cho chết rồi cho là tai nạn, vì các chòi nằm giữa miếng đất trống thì sao lại có hỏa hoạn?!!!

Khoảng 5 tháng sau, họ thả anh Giang về. Gia đình từ miền Nam phải lo phương tiện di chuyển anh, sau 1975 gạo còn không đủ ăn, làm sao mà sắm xe lăn. Tôi nghe sau này hình như anh đã quyên sinh vì nghịch cảnh gia đình. Ôi thân phận con người, thân phận của những kẻ chiến bại, dưới nanh vuốt của một lũ bạo tàn nhứt và dã thú nhứt trong lịch sử của nhơn loại.


Và cuộc đời chúng tôi cứ kéo dài như thế thôi, niềm tin được thả về còn xa lắm, chỉ khi nào sức cùng lực kiệt, chúng bảo gì nghe đó, sự đối kháng không còn nữa, may ra mới được về, lúc đó liệu còn sống sót bao nhiêu người đây. Phần cá nhân tôi, có một hôm, tôi bị sưng chân phải đi cà nhắc, xuống trạm xá được cho làm việc nhẹ. Buổi sáng 1 tên bộ đội vào kêu chúng tôi đi làm, thấy tôi không chuẩn bị, hắn hỏi tại sao, tôi trả lời đau chân, trạm xá cho làm việc nhẹ. Hắn trừng mắt, giơ súng lên và bắt tôi đi làm với đội. Tôi phải cà nhắc theo đội để đi làm. Đứng cuốc đất suốt ngày bằng 1 chân, ngày hôm sau chân kia sưng phù lên. Thế là tôi phải nằm liệt mấy ngày. Ôi, bạn có hình dung được chúng tôi phải chịu đựng như thế không?


Sau hơn 3 năm chúng tôi được chuyển giao cho ngành Công an quản lý. Chúng tôi thuộc loại tù chuyên nghiệp, được chuyển đến trại A30 ở Tuy Hòa. Trại này tập trung đủ các thành phần, hình sự, vượt biên, những người bị bắt năm 78, 79 họ gọi là phản động, và chúng tôi từ các tổng trại 5, tổng trại 8, Trại Lam Sơn, Trại Thanh Bình, v.v..Cảm nghĩ của tôi khi đến trại này là thôi, thế là cuộc đời gắn liền với chữ Tù, giống như nhân vật Papillon của Henri Charrière. Ở tù không biết tại sao mình ở tù, ngoại cảnh đưa đến mà mình không tài nào vùng vẫy được. Hay gần giống như nhân vật chính trong tác phẩm “Giờ thứ 25″ của một nhà văn Nga tôi không nhớ rõ tên. Hết ở tù bởi quân Đức, rồi đến Nga, rồi đến Đồng Minh, khi ra đi thì mới lấy vợ, khi về vợ đã 3 con rồi, mỗi quốc gia một đứa.


Dưới tay Công An quản lý, thiệt là một sự xảo quyệt của con người, tinh vi đến mức không thể nào diễn tả được. Ở đây cũng thiếu thốn và đói như những trại khác, nhưng ở đây thì gia đình thăm nuôi, tiếp tế cho nhận thoải mái. Mục đích của chúng, cứ cho người nhà thăm nuôi ăn cho no, làm việc cho chúng vượt chỉ tiêu, thì đâu có gì tốt bằng đâu nào. Các trại khác thì thân nhân thăm nuôi chỉ cho đem quà, bánh, thức ăn, không cho nhận gạo. Ở trại A 30 này, không tiếp tế gạo cho tù nhơn là một thiếu sót lớn. Lần thăm ban đầu gia đình tôi không biết, sau mới hiểu ra gạo là chính. Đến A 30, chúng tôi khai phá những cánh đồng ngút ngàn. Tất cả những cánh đầm lầy biến thành ruộng xanh ngút tầm mắt, và những cánh đồng mía chỉ thấy đường chân trời, tầm mắt không thể nhìn hết. Chúng lại lên lớp:

- Ta làm ta hưởng. Lao động là vinh quang.

Ôi thiệt là bực lỗ tai. Sao có những con người, chỉ biết nói và không cần thái độ của người nghe. Chúng tôi làm cho họ hưởng, nếu gia đình chúng tôi không nuôi thì chúng tôi đã chết đói rồi.


Ở đây có một trường hợp, anh Đ/Úy Thức đơn vị Dù, tôi không biết Lữ Đoàn mấy vì ở khác lán. Buổi chiều đi lao động về, anh gặp tên Tr/Tá Hạnh Công An Giám Thị trưởng Trại A 30 hỏi thăm và nói gì đó, sau lên lớp... Vì hắn quá trâng tráo và dối trá nên anh Thức dằn không nỗi nhảy vào đánh tên Giám Thị trại. Công an phòng vệ đã nhào vô bắt và đánh anh Thức, không thể nào diễn tả được. Chỉ biết sau khi đánh xong, chúng bỏ anh vào xe cút kít đẩy vào chỗ biệt giam thì thấy anh như một đống thịt, máu me đầy mình! Ôi con người đến thế thì thôi! Tôi nghe sau đó họ đưa anh xuống bệnh viện Tuy Hòa để điều trị và nghe đâu hình như có người bà con làm lớn ở Hà Nội lãnh anh đem về nhà. Từ đó đến nay, không còn được nghe gì hơn nữa, không biết anh có còn sống, và nếu như có đọc những dòng này của tôi, thì xin anh nghĩ, lúc đó chúng tôi rất căm phẫn chúng nó và xót thương anh nhưng chúng tôi đành bất lực...


Tôi cũng không biết nói sao, vì mỗi con người có trình độ nhận thức khác nhau, phải nói rằng nếu nghị lực không đầy đủ thì sẵn sàng làm tay sai cho chúng. Có một ngày, chúng tôi đang cuốc cỏ thì tên Công An quản giáo kêu tôi ra giữa đám mì, giở trò giáo đầu là tôi lao động lấy lệ, sinh hoạt không chịu phát biểu, ù lì, là thành phần chống đối ngấm ngầm, như vậy làm sao tiến bộ, cách mạng xét cho các anh về. Tôi muốn bật cười nhưng không dám, vì nó đã nhàm với chúng tôi, nghe bao nhiêu năm rồi. Tôi lặng thinh, hắn nói tiếp:

- Bây giờ anh muốn thể hiện cho chúng tôi thấy sự tiến bộ của anh thì anh phải theo dõi báo cáo tư tưởng của anh nào chống đối cách mạng, ai phát biểu những gì bất lợi cho cách mạng. Báo cáo trực tiếp với tôi, hay bỏ vào hòm thư trước trại.

Tôi phải trả lời hắn theo sách vở:

- Thưa cán bộ, nhiệm vụ chúng tôi ngoài việc học tập lao động, tôi còn phải báo cáo ngay nếu phát hiện được những thành phần nào trốn trại.

Hắn nói:

- Tôi yêu cầu anh báo cáo những anh nào phát biểu chống đối kìa.

Tôi vâng lấy lệ. Khoảng tháng sau, hắn kêu tôi ra lần nữa vì không thấy báo cáo của tôi, hắn hỏi:

- Tôi không thấy báo cáo nào của anh hết, anh là thành phần ngoan cố, chống đối.

Tôi nói:

- Tôi có để ý một hai bữa, thấy anh em ai cũng an tâm, đâu có nói gì, thành tôi không có gì để báo cáo.

Hắn đơn cử một vài lời nói mỉa mai của vài anh em. 

Tôi nói:

- Anh em vui miệng nói đùa, tôi không để ý.


Thế là hắn lôi tôi ra, dùng báng súng đập cho một trận. Tôi mang thương tích và nước mắt căm hờn về trại, cơm nuốt không vào. Không phải đau mà khóc nhưng uất hận làm cho nước mắt tuôn trào. Tối hôm đó một vài anh em mang thuốc giảm đau và dầu xoa bóp cho tôi, thật là an ủi. Dầu sao chúng tôi cũng còn có nhiều anh em nghĩa khí và có tình người.

Bọn hắn cũng có mắt chọn người lắm. Mỗi ngày chúng tôi đi cuốc đất, cả đội dàn hàng ngang, chỉ tiêu mỗi người 4 mét chiều rộng và 200 mét chiều dài, chúng chọn một tên kêu ra nói nhỏ:

- Anh ráng cuốc 250 mét, kỳ sau gia đình anh lên thăm nuôi tôi sẽ can thiệp với trại để cho anh được gặp gia đình ban đêm.

Ôi, một sự hứa hẹn tuyệt vời. Tù nhân nào lại không muốn hàn huyên với gia đình sau bao nhiêu năm dài ngăn cách, bao nhiêu biến cố vật đổi sao dời. Có người suy nghĩ chín chắn thì thấy là chuyện đau khổ thêm cho vợ mình, có người chuộng vật chất thì cho đó là 1 đặc ân của Cộng Sản. Thật là 1 thủ đoạn quá tinh vi. Thế là hôm sau, tên được kêu cuốc vượt trội hơn anh em khác. Tối về họp kiểm điểm chúng nêu ra:

- Anh A cũng như các anh, cùng sức vóc, cùng tiêu chuẩn ăn uống như nhau.Người ta cuốc được 250 mét, các anh cuốc có 200 mét, lại kêu không đủ giờ, chứng tỏ các anh làm cầm chừng, lười lao động. Bao giờ các anh mới tiến bộ đây?

Bắt đầu từ ngày đó, chỉ tiêu là 250 mét/ngày. Chúng tôi cuốc từ sáng sớm đến chiều tối, tay chân rã rời, tai như bốc khói. Trên đường đi về trại, thân thể rã rời ngất ngưỡng như người mộng du, vì sức đã cạn rồi. Chúng tôi chửi thầm, ôi những thằng ngu, nào dám chửi thẳng vào mặt, nó mà báo cáo một phát là biệt giam, hai chưn vào cùm, làm bạn với gián...


Ở đây cũng có tổ chức những đêm văn nghệ, diễn viên là các em vượt biên bị bắt. Các em còn rất trẻ, có em đã bị bắt vào đây đến 3 lần, thật đáng thương. Họ cho tập dượt, và cho trình diễn những đêm thứ 7, chủ nhật hay các ngày lễ của chúng. Nội dung hình như chúng tôi gần như thuộc lòng vì xem đi xem lại, tháng này qua tháng khác. Khi nào tổ chức văn nghệ là chúng lùa hết ra sân vận động, không được ở lại trong trại. Tôi và anh bạn Thắng đem áo mưa ra để nằm ngủ, chúng bắt gặp. Thế là hôm sau chúng họp kiểm điểm là chúng tôi không chịu tiếp thu văn hóa cách mạng, thành phần bướng bỉnh ù lì. Có những trò khác, bọn chúng mị dân, mà ngay cả một số gia đình chúng tôi cũng nghĩ chúng là nhân đạo. Thí dụ sau khi cho vợ con thăm nuôi, tiếp tế, tối còn cho gặp. Ngày hôm sau, gia đình về, chúng đưa sổ cho thân nhân viết cảm tưởng. Chúng đem trình làng với đồng bào ở ngoài hay các phái đoàn quốc tế viếng thăm. Chúng đem khoe khoang cũng như phổ biến trong trại, thế thì nhân đạo quá đi chứ, thử hỏi có thân nhân nào dám viết lời không tốt cho chúng đâu.


Ở trại này, trước khi chúng tôi chuyển đến, có nghe kể lại một chuyện thương tâm. Là có một số anh em giựt súng tên Công An định bỏ chạy nhưng bị 1 tên Tr/Tá của ta ôm lại để cho Công An bắn chết 1 hay 2 đồng đội của ta. Cả trại rất căm phẫn và khinh bỉ tên này. Khi chúng tôi đến trại A 30 thì tên này đã được bọn Cộng Sản cho định cư vùng kinh tế mới Mai Liên do trại quản lý và được đem gia đình đến sinh sống vì hắn có công với cách mạng. Tên này là Tr/Tá Lập trước kia làm Quận Trưởng quận Vạn Ninh, tôi biết vì vợ của hắn có chút bà con xa với gia đình tôi. Những năm sau, khi được phóng thích về, có một lần tôi ghé thăm gia đình cha mẹ vợ hắn, thì mới hay việc đời có vay, có trả, thời gian sau vợ hắn đã bỏ hắn, sống với người khác rồi.


Những khổ hình ở trại làm sao mà nói cho hết, tôi chỉ ghi lại những điều mình nghe, mình chứng kiến để bạn đọc suy nghĩ thấy cái bạo tàn, quỷ quyệt của chế độ để đem một chút ánh sáng cho những ai vì một chút quyền lợi riêng tư mà muốn cái gọi là “hòa hợp hòa giải với Cộng Sản”. Các bạn có biết, cảnh đời tù tội là đắng cay, khổ nhọc nhưng cũng có lắm chuyện cười ra nước mắt. Chúng tôi là những thành phần gồm sinh viên, giáo chức, cán sự hay hành chính bị động viên. Dẫu sao, với xã hội miền Nam thời đó chúng tôi cũng là thành phần gọi là trí thức chút ít. Từ nhỏ cha mẹ sinh ra đã hy sinh cho con ăn học những mong cho con mình đỗ đạt, cho cuộc sống vững vàng, chúng tôi nào có quen cái cuốc, cái cày. Khi bị bắt vào đây chúng xem bọn tôi như một lũ ăn hại, vô tích sự.


Có một ngày đội chúng tôi đi cày lần đầu, các bạn có biết, trâu bò cũng quen với ngôn ngữ địa phương. Ở miền Trung từ Bình Định trở vào, muốn bò quẹo trái thì gọi Thá, muốn bò quẹo phải thì gọi Dí, muốn chúng dừng lại thì gọi Dò. Còn ở vùng Quảng Trị muốn quẹo trái thì gọi Tắc, muốn quẹo phải thì dùng Rị, và muốn dừng lại thì dùng Họ. Hôm đó mỗi người được phát một cặp bò và 1 cái cày, có 1 anh người Quảng Trị cầm cày và cầm roi điều khiển bò, cứ dùng hết Tắc rồi Rị, bò nó không biết đi đâu, nó quẹo lung tung. Bò đi mãi gần đến bờ rào đụng nhà dân, anh la Họ...Họ... bò vẫn đi, hoảng quá anh la: “Stop, stop, stop”. May có vài anh em ra chận bò lại, chúng tôi có dịp cười nghiêng ngửa. Khi anh chàng trở lại, chúng tôi nói:

- Bò nó đâu có đến trường mà biết tiếng Anh, ông bạn.

Những kỷ niệm đau khổ cũng như là hạnh phúc của con người đều có giá trị ngang nhau trong tiềm thức, người ta khó mà quên được. Có những ngày chúng tôi đi làm ruộng tại cánh đồng tên là Đầm Sen. Cánh đồng đầm lầy bạt ngàn, bỏ hoang lâu ngày từ thời Pháp thuộc, thật xa xôi và hẻo lánh, bèo lát, điên điển, cỏ dại mọc như rừng, mỗi lần nhảy xuống ruộng, có chỗ sình ngập lên tới cổ. Và có những đám ruộng nước đĩa ơi là đĩa... lội như bánh canh. Từ nhỏ tôi cũng như nhiều anh em khác, nói chung môi trường sống là thành phố, nên thấy đĩa rất là sợ. Lần đầu tiên nhảy xuống ruộng, thấy nhột nhột nhảy lên, là một vài con bám chân bám đùi, máu chảy tùm lum. Úi trời ơi, thật là hãi hùng, bắt chúng xong lại nhảy xuống vì nhảy lên bờ thì AK chĩa vào đầu.


Ngày ấy làm ruộng về, mặc dù đói, nhưng cơm nuốt không nổi vì tinh thần căng thẳng và hãi hùng quá mức. Mấy hôm sau, chúng tôi rút kinh nghiệm, chọn bộ quần áo nào mới nhất, không có chỗ rách, bỏ áo vào trong quần, cột 2 ống chân cho chặt, cột quanh lưng, cột hai khuỷu tay, nhờ thế mà khi nhảy xuống ruộng, thấy đĩa bơi quanh người nhưng chúng không bám được nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, chúng vào tận chỗ kín để cắn, về nhà máu me tùm lum phát khiếp. Cũng có những chuyện vui đáng nhớ. Số là sau khi khai hoang xong, những đám ruộng bùn quậy lên rất nhiều cá nên anh em tha hồ bắt. Tôi thì chạm cá rất nhiều, nhưng chẳng bao giờ bắt được cả. Bắt nó lên là nó vuột, bắt 1 tay cũng vuột, 2 tay cũng không xong. Chiều về hỏi mấy anh bạn chuyên nghiệp chỉ giùm cho một chiêu làm sao để bắt mà nó không vuột, anh bạn cười:

- Bắt cá cũng như đi cua gái vậy, khi đụng nó phải từ từ mò từ đuôi lên tới đầu, khi vị trí của đầu nằm trong lòng bàn tay rồi, thì dịu dàng nắm lại, thật chặt và thật êm thì không bao giờ bị mất cả.


Thế là hôm sau theo cách chỉ dẫn của anh bạn, tôi được mấy bữa bồi dưỡng ngon lành. Có những ngày làm cỏ ở những thửa ruộng cạn, chúng tôi không tìm được thứ gì để ăn. Vài ba người, mỗi người vài chú nhái, chiều về “cải thiện”, 1 vài con không đáng là bao, người nọ dồn cho người kia để ăn cho đủ. Các bạn biết sao không? Cho thì tiếc, bèn oảnh tù tì ai thắng thì ăn hết, ai thua thì nhịn. Ôi con người khi tới tận cùng đất đen rồi thì mới nhận chân được giá trị của nó. Chuyện đã 28 năm rồi, nhiều khi tôi nghĩ mình cũng nên quên đi để sống những ngày còn lại của cuộc đời. Nhưng thỉnh thoảng quá khứ lại hiện về, không sót 1 chi tiết nhỏ nào. Có những đêm ác mộng hãi hùng, bị đánh, bị tra tấn và những cơn trốn chạy dưới lằn đạn AK của chúng. Khi tỉnh dậy tinh thần bàng hoàng, đầu óc ngây ngô. Và không biết đến bao giờ tâm trí mới được bình yên đây. Đọc qua lịch sử biết bao sự hưng vong của chế độ Đinh, Lý, Trần, Lê... Biết bao nhiêu thi nhân đã tiếc thương một thời quá khứ êm ấm, thanh bình.....

Tạo hóa gây chi cuộc hý trường,

Đến nay thắm thoát mấy tinh sương.

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương,

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Hay:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc.

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia…

(Bà Huyện Thanh Quan)

Hoặc:

Khắc khoải đưa sầu giọng lửng lơ

Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ

Năm canh, máu chảy đêm hè vắng

Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ

Có phải tiếc Xuân mà đứng gọi

Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ

Đêm đêm ròng rã kêu ai đó

Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.

(Nguyễn Khuyến)


Vận nước đã đổi thay, quê nhà chìm đắm trong cảnh bất công. Giới thống trị thì vàng son rủng rỉnh, xe pháo dập dìu, người dân còn lại phải vật lộn với cuộc sống đầy gian nan mới đủ cơm ngày hai bữa, và còn phải lo thuốc thang khi đau yếu. Không hiểu tiền nhân có đau khổ như chúng ta không? Nếu có thì chỉ có sự thay đổi thể chế xã hội và đau nỗi mất nước, không đến nỗi phải lưu vong như chúng ta, trên 15.000 dặm đường chim bay, xa hơn một nữa vòng trái đất. Muốn tìm một chút tình cảm thân thương nơi cha, nơi mẹ, nơi anh em, nơi bạn bè hay người thân thật là khó vô vàn. Thật là:

Đau lòng tử biệt sinh ly,

Muốn cho tái ngộ chỉ nhờ mộng trung...


Chúng ta đã may mắn thoát khỏi ách bạo tàn, dung thân ở xứ tự do. Tuy không dễ, nhưng chúng ta có đầy đủ quyền tự do của một con người được pháp luật bảo vệ. Quê nhà còn biết bao người thân đang trầm luân với cuộc sống đọa đày và bất công, chỉ hy vọng chút tin vui khi có con cái, hay anh em gửi về chút ít quà hay tiền để mạch máu đang chảy không bị cạn... bởi một lũ vô thần, tham lam, ích kỷ và tàn bạo.....


Với những dòng này, mong đóng góp chút ít tư liệu về cuộc chiến, và những gương hy sinh của các Sĩ Quan QLVNCH, những anh hùng không tên tuổi đã nằm xuống trong cuộc chiến, để giữ gìn miền Nam êm ấm thanh bình gần 3 thập niên từ sau 1945-1975. Và để cho thế hệ sau phân tích sự hy sinh gian khổ của cha ông. Và cũng mong quê hương dân tộc sớm khỏi ách bạo tàn của một lũ người vô thần thống trị, và mãi mãi thanh bình trong chiều hướng tự do dân chủ.....


Võ Đức Nhuận

(Đây là những nhân vật có thiệt trong chặng đường chiến đấu cuối cùng, và những trại tù man rợ nhứt đã đi qua).