Sunday, August 30, 2026

Có Một Người Lính Vẫn Chưa Ra Khỏi Nhà Tù - Phạm Sơn Liêm


“Tại sao ông ấy đã được thả mà vẫn chưa ra khỏi nhà tù?”

(Người ta có thể nhốt một con người, nhưng không có quyền lực nào có thể nhốt một linh hồn. ST)

Ngày người ta đưa Trung úy Trần Minh Quang vào trại tù cải tạo, anh chỉ mang theo một bộ quần áo cũ, chiếc khăn tay của vợ và một cuốn sổ nhỏ.

Cuốn sổ ấy không có gì đặc biệt. Bìa màu nâu. Vài chục trang giấy học trò.

Trên trang đầu, Quang viết một dòng:

“Nếu một ngày tôi không còn được nói, tôi sẽ viết.”

Rồi anh gấp cuốn sổ lại.

Không ai biết anh viết câu ấy cho ai.

Có thể cho vợ.

Có thể cho những đứa con còn nhỏ.

Cũng có thể cho chính mình.

Trại nằm sâu trong một vùng rừng núi.

Buổi sáng, tiếng kẻng đánh thức tù nhân.

Buổi trưa, tiếng cuốc bổ xuống đất.

Buổi chiều, tiếng điểm danh.

Ngày nào cũng giống ngày nào.

Một người lính từng quen với tiếng máy bay, tiếng pháo, tiếng đạn, nay lại phải học cách sống với tiếng kẻng.

Ở đây, người ta không cần biết anh từng mang cấp bậc gì.

Không cần biết anh từng chỉ huy bao nhiêu người.

Không cần biết anh đã chiến đấu ở đâu.

Anh chỉ là một con số trong danh sách. Quang hiểu rất nhanh:

Trong trại tù, người ta có thể lấy đi tên tuổi của một người trước khi lấy đi sức lực của người ấy.

Nhưng có một thứ họ không lấy được. Đó là ký ức.

Một đêm mưa, sau giờ điểm danh, Quang lôi cuốn sổ ra.

Ngọn đèn dầu ngoài hành lang hắt vào qua khe cửa.

Anh viết:

“Ngày thứ 427.”

Rồi ngừng lại.

Anh không biết phải viết gì.

Cuối cùng, anh viết:

“Hôm nay tôi nhớ Sài Gòn.”

Chỉ vậy… Anh ngồi nhìn câu chữ rất lâu.

Rồi viết tiếp:

“Tôi nhớ một buổi chiều có nắng. Nhớ tiếng xe chạy ngoài đường. Nhớ quán cà phê nhỏ. Nhớ tiếng con gái tôi cười. Nhớ vợ tôi đứng ở cửa, không nói gì khi tôi bước lên xe đi trình diện.”

Đến đây, tay anh run. Một giọt nước rơi xuống trang giấy.Quang đưa tay lau. Nhưng càng lau, chữ càng nhòe.

Anh gấp sổ lại. Không viết nữa.

Một người nằm bên cạnh hỏi:

— Anh viết gì đó?

Quang im lặng.

Người kia cười khẽ:

— Viết thư cho vợ hả?

— Không.

— Vậy viết gì?

Quang nhìn ra ngoài cửa.

— Viết để nhớ mình là ai.

Người kia không hỏi nữa. Đêm ấy, cả buồng im lặng.

Chỉ còn tiếng mưa rơi trên mái tranh.

Từ hôm đó, Quang bắt đầu viết mỗi đêm. Anh viết về những người lính nằm cạnh mình.

Người từng là đại úy.

Người từng là trung sĩ.

Người từng là giáo viên.

Người từng là bác sĩ.

Người từng có một cửa hàng nhỏ.

Có người nói nhiều.

Có người gần như không nói.

Có người mỗi đêm nhìn lên mái nhà rồi thở dài.

Có người đã quên ngày tháng.

Có người nhớ từng ngày.

Quang viết tất cả. Anh không viết để tố cáo. Cũng không viết để trả thù. Anh chỉ viết.

Bởi anh sợ một ngày nào đó những người này sẽ biến mất. Không phải biến mất khỏi trại. Mà biến mất khỏi ký ức của thế gian.

Một lần, cán bộ quản giáo phát hiện cuốn sổ. Ông ta cầm lên. Lật từng trang.

— Viết cái gì đây?

Quang đứng im.

— Dạ, chuyện riêng.

— Ai cho phép viết?

Quang không trả lời.

Cuốn sổ bị lấy đi.

Quang tưởng mọi thứ chấm dứt.

Tối hôm đó, anh nằm quay mặt vào vách. Lần đầu tiên sau nhiều tháng, anh thấy mình thật sự sợ.

Không phải sợ bị phạt.

Không phải sợ đói.

Không phải sợ bệnh.

Anh sợ những chữ của mình sẽ chết.

Ba ngày sau, cuốn sổ được trả lại. Một góc bìa bị rách.

Vài trang bị xé mất.

Quang cầm nó trong tay. Anh không nói gì. Đêm ấy, anh viết một câu:

“Họ có thể xé giấy. Nhưng không thể xé ký ức.”

Rồi anh tiếp tục viết.

Năm tháng trôi qua.

Có người chết trong trại.

Có người được tha về.

Có người đi Mỹ.

Có người mất khỏi cuộc đời của những người còn lại.

Quang vẫn viết.

Mỗi khi có người rời trại, anh hỏi:

— Anh có nhớ tên những người nằm cùng buồng không?

Người kia thường gật đầu.

Quang nói:

— Vậy thì tốt. Đừng để họ chết lần thứ hai.

— Chết lần thứ hai là sao?

Quang nhìn người ấy.

— Khi không còn ai nhớ họ.

Một buổi sáng, Quang được gọi lên. Anh tưởng mình lại bị hỏi cung.

Nhưng người cán bộ chỉ đưa cho anh một tờ giấy.

— Anh được về.

Quang đứng im. Anh không vui như mình tưởng.

Anh chỉ hỏi:

— Bao giờ?

— Hôm nay.

Anh quay về buồng. Mấy người bạn nhìn anh. Không ai nói được câu gì.

Một người ôm lấy anh.

Một người quay mặt đi.

Có người cười.

Có người khóc.

Quang lấy cuốn sổ trong ba lô. Nó đã cũ. Các trang giấy vàng đi. Một nửa số trang đã mất.Anh mở trang cuối cùng.

Viết:

“Ngày hôm nay tôi được trả tự do.”

Anh suy nghĩ một lúc rồi viết tiếp:

“Nhưng tôi biết tự do không phải là bước ra khỏi cánh cổng này.”

“Tự do là khi một người vẫn còn quyền giữ lấy những điều mình tin là đúng.”

Anh gấp sổ lại.

Nhiều năm sau. Ở một thành phố xa lạ bên kia Thái Bình Dương, Quang ngồi trước chiếc bàn nhỏ.

Ngoài cửa sổ là một buổi chiều mùa thu. Anh đã già. Tóc bạc. Đôi bàn tay từng cầm súng nay cầm cây bút.

Trên bàn là một chồng giấy.

Anh viết lại những câu chuyện của những người đã nằm cạnh mình trong trại.

Không phải để kể rằng họ đã khổ thế nào. Mà để kể rằng họ từng sống như thế nào.

Họ từng yêu.

Từng có gia đình.

Từng có ước mơ.

Từng có một quê hương.

Từng mặc một bộ quân phục.

Từng gọi nhau bằng những cái tên thân thuộc.

Anh đặt tên cho tập bản thảo:

“Những Người Không Có Ngày Trở Về.”

Vợ anh bước vào. Bà nhìn chồng.

— Ông còn viết nữa sao?

Quang mỉm cười.

— Ừ.

— Viết hoài không mệt à?

Anh nhìn xuống trang giấy.

— Mệt chứ.

— Vậy sao không nghỉ?

Quang im lặng một lúc.

Rồi nói:

— Vì nếu tôi không viết, họ sẽ chết thêm một lần nữa.

Bà đứng phía sau ông rất lâu.

Không nói gì.

Đêm đó, Quang viết dòng cuối cùng.

“Người ta có thể nhốt một người trong bốn bức tường.”

Anh dừng bút. Ngoài kia, gió thổi qua những hàng cây.

Anh viết tiếp:

“Có thể lấy đi cấp bậc.”

“Có thể lấy đi căn nhà.”

“Có thể lấy đi những năm tháng đẹp nhất của đời người.”

“Có thể bắt một người im lặng.”

Anh đặt bút xuống… Rồi viết dòng cuối:

“Nhưng không có quyền lực nào có thể nhốt một linh hồn.”

Quang nhìn câu viết. Ông mỉm cười.

Bởi ông hiểu ra điều mà mình đã biết từ ngày còn trong trại:

Có những cánh cửa được làm bằng sắt. Và có những cánh cửa chỉ mở bằng một câu viết.

Người lính năm nào đã bước qua cánh cổng nhà tù từ rất lâu. Nhưng linh hồn ông chưa bao giờ bước ra. Nó vẫn ở lại.

Trong những trang giấy.

Trong ký ức của những người còn sống.

Và trong văn chương.

Bởi văn chương là nhà tù mà không một cai tù nào có thể khóa.

 

Phạm Sơn Liêm

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Saturday, August 29, 2026

Không Cần Đi Nữa



Một buổi sáng Tô Định và đoàn tuỳ tùng vi hành ngang qua số 4 Lê Duẩn, ông ngạc nhiên thấy dòng người xếp hàng dài dằng dặc.

Tô Thái thú thắc mắc, đất nước trong kỷ nguyên vươn mình giàu đẹp, mà sao vẫn còn cảnh xếp hàng như thời bao cấp? Ông lệnh cho ngừng xe và cùng đoàn tùy tùng bí mật xếp hàng nối đuôi xem mọi người mua gì?

Người cuối hàng nhận ra Tô Thái thú và rỉ tai người phía trước và phía trước nữa nhường chỗ cho Thái thú. Rồi mọi người lẳng lặng bỏ hàng đi về.

Tô Thái thú phấn khởi: Bách tính biết chúng ta là ai và cho chúng ta ưu tiên xen hàng các đồng chí ạ...

Một người đàn ông cuối cùng trước khi rời đi, quay lại nói:

"Tào lao, nếu các ông đều xin đi định cư luôn thì chúng tôi không cần đi nữa!”

 

Facebook Mạnh Đăng

Ngày Má Mãn Phần - Người Phương Nam

Lời người đăng: Bài đăng lại nhân mùa Vu Lan. Xin mời đọc nếu bạn chưa lần đọc. Đa tạ.

******

Chuyện đời có ai biết được ngày mai, có ai lường được chuyện gì sẽ xảy ra trước đó vài giây, một phút hay một giờ. Có ai ngờ rằng mới vừa gặp nhau đây, nói nói cười cười mà qua ngày sau lại chia lìa vĩnh viễn không kịp trối trăn...

Chúa nhựt tuần rồi, tôi đi thăm má, mang đôi giày mới mua khoe với má, hỏi má màu này coi được không. Má nói đẹp lắm, hạp với màu chân tôi. Tôi nói tôi thích màu đen cho dễ mặc đồ nhưng vì chỉ còn có màu này mới có size vừa cho tôi. Rồi tôi hỏi má, hôm qua em Lan, em tôi cho hay là má bị đau bụng, bữa nay má đỡ chưa. Má nói, con Lan cho má uống hai thứ thuốc rồi mà không bớt, đau kỳ cục lắm, không phải cái kiểu ăn không tiêu hoặc đầy hơi mà nó cứ quặn lên từng hồi làm má ngồi dậy không muốn nổi. Hôm qua tới giờ má chỉ ăn cháo trắng chớ có dám ăn cái gì khác đâu.  

Qua sáng thứ hai, em Lan đưa má đi bác sĩ. Bác sĩ khám không ra bịnh nên bảo vào nhà thương. Ở nhà thương, người ta làm CT scan ổ bụng mới phát hiện má bị sạn mật, cục sạn to lớn hơn bình thường làm nghẽn cuống mật gây nhiễm trùng bao tử, thận, gan trầm trọng khiến cái bụng trương lên như là úp thúng.

Người ta truyền nước biển và trụ sinh loại mạnh cho má, má bị phản ứng thuốc ói mữa không ngừng dù được cho uống thuốc chống ói. Sau đó má bị nghẹt đàm, thở không được, sắc mặt tím ngắt. Họ hút đàm cho má, má thở lại được và có vẻ khỏe lên. Lúc đó là đã quá nửa đêm, chị em chúng tôi theo má từ trưa tới lúc đó đã quá mệt nên cùng nhau đi về. Về nhà mới tắm gội xong, tóc tai chưa kịp ráo thì nhà thương gọi báo cho hay má làm mệt, mực oxy xuống thấp, có thể đứt thở bất cứ lúc nào. Chúng tôi lập tức trở vô thì thấy má đã hôn mê, người ta đưa má qua ICU (Intensive Care Unit). Hai đứa cháu bật khóc ròng ròng gọi ngoại ơi ngoại à, đứa thì nói ngoại nói sẽ dạy con làm chuối chưng, đứa thì nói ngoại muốn đi dự lễ tốt nghiệp của con, coi con đội nón nghe mà đứt ruột. Em Lan vừa khóc vừa lay má nhè nhẹ nói bên tai má, má ơi má niệm A Di Đà Phật để được bình an về bên Đức Phật đi má. Má tôi chợt choàng tỉnh, thều thào niệm Phật theo Lan một hồi như cái máy rồi lại chìm vào hôn mê. Chúng tôi ở đó với má cho tới sáng. Bác sĩ lại thăm, nói rất tiếc không cứu được vì nội tạng của má đã nhiễm trùng quá nặng, tuy nhiên họ vẫn tiếp tục truyền nước biển và trụ sinh cho tới khi nào cơ thể má buông xuôi mà theo họ nghĩ thì chỉ trong vòng hai ngày nữa là tối đa.  


Họ dời má vào một phòng riêng để thân nhân có thể tụng niệm hay chuyện trò riêng tư với má. Họ nói rằng dù má trong tình trạng hôn mê, nhưng trong tiềm thức vẫn nghe và nhận ra được ai đang nói chuyện với mình. Cứ nói nhiều vào thử coi má có tỉnh lại hay  không.

Chiều hôm sau, ông em rể chở ba vào thăm má lần cuối, giây phút sau cùng  mới đau đớn làm sao! Nhìn dáng ba thật đau khổ, ba già sọm, gầy gò run run nắm lấy tay má  nói "bà ơi, tui vô thăm bà nè, bà rán ăn, rán uống thuốc cho mau mạnh rồi về nhà với tui nghe bà". Ba tôi già yếu, lưng còng, đầu gối cứng đơ khó xê dịch, tai điếc, mắt đã mù một bên, ba như ngọn đèn sắp cạn hết dầu, tưởng rằng sẽ tắt trước má nhưng ai ngờ. 

Lúc đó chúng tôi vẫn chưa cho ba biết là má không qua khỏi, nhưng có lẽ ba cũng cảm giác được rằng má sẽ không về nữa rồi nhưng ba vẫn cố tự gạt mình. Chúng tôi đứa nào cũng nước mắt như mưa, thương cho má một, thương cho ba mười, má chết thì đã yên phần, còn ba rồi đây  làm sao chịu nổi những ngày tháng không có má bên cạnh. Ba má tôi như hình với bóng suốt 66 năm nay từ khi cưới nhau cho đến bây giờ. Hai người chung sống bên nhau rất hạnh phúc, không lời qua tiếng lại gây gổ giận hờn nhau bao giờ. 


Gần nửa đêm, nghe chúng tôi nói chuyện bàn tán về tang lễ, má tôi bỗng nhúc nhích tay chân và nhướng nhướng mắt. Em Lan thấy vậy mừng rỡ reo lên "bà ngoại thức rồi con ơi!". Cháu Mai chạy đến bên giường lên tiếng "con nè ngoại, Tú Mai nè, ngoại nhận ra con hông?" Cháu Mẩn cũng hỏi "còn con là ai, ngoại biết hông? Má nói "Ờ ờ biết, mà bây giờ là mấy giờ rồi Lan?" Lan đáp "3 giờ sáng rồi má".  Má kêu lên "Trời đất địa ơi, giờ này mà tụi con còn ở đây rồi mai sáng làm sao đi học? Còn thằng Thành đâu, nó có lại thăm má không mà sao không nghe tiếng nó vậy?"
Thằng em tôi nói "Con theo má hai ngày nay, má cứ ngủ hoài làm sao thấy con được, còn có anh Bé, Chế Hai, con Dung với vợ con nữa nè má". 

Má tôi không phải tỉnh lại luôn mà đó là giây phút hồi dương của một người sắp chết. Má thức dậy nói với con cháu được vài lời sau cuối để rồi hôn mê vĩnh viễn và qua đêm sau thì trút hơi thở cuối cùng...

Trong lúc chờ ngày tống táng, sợ vong linh má lang thang vất va vất vưởng đói lạnh, em Lan dựng tạm một bàn thờ nhỏ để mỗi ngày cúng cơm mời má về ăn với gia đình cho ấm cúng. Chúa nhựt vừa rồi, tôi mua đồ chay tới cúng má, nhìn chỗ má thường ngồi, tôi bất giác ngậm ngùi rưng rưng. Chỉ trước sau có một tuần, tuần trước tôi mang giày mới tới khoe với má, má còn ngồi đó vừa ăn cháo vừa than đau bụng mà tuần này má đã lên bàn thờ, người mẹ thương yêu của tôi đã ra người thiên cổ về bên kia thế giới muôn đời để lại  biết bao đau thương tiếc tiếc nhớ cho con cháu không biết đến bao giờ cho nguôi.

Má ơi, hết kiếp này, má với con đã hết duyên nợ mẹ con, không còn liên hệ thâm tình  cốt nhục gì nữa nhưng con chắc rằng sẽ nhớ má hằng ngày và mãi mãi những khi con nấu nướng. Lúc má còn sống, món nào má thích con cũng làm cho má ăn. Bây giờ má chết rồi, ngồi nhìn thức ăn mà nghẹn ngào, nuốt sao  cho trôi, ăn món nào cũng nhớ tới má! Đêm đêm con thường gọi thăm má, nói chuyện trên trời dưới đất cho má vui, giờ đây má không còn nữa, con biết gọi ai để lấp vào nỗi mất mát hụt hẫng trong lòng như rơi xuống vực sâu! Má ơi! Má có nghe, có thấu cho lòng con không....?

Song song với nỗi đau mất má, con cũng rất mừng cho  má đã được ra đi nhẹ nhàng thanh thản, ấm áp bên cạnh người thân, con cháu quây quần đủ mặt như lời khẩn cầu hằng đêm của con với Đức Mẹ Maria linh hiển trên trời. Xin tạ ơn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã ban hồng ân sau cuối cho người mẹ trần gian này của con.

  Người Phương Nam

Tạc Dạ Ngàn Sau - Thơ Kim Oanh - Nhạc & Thực Hiện Hoàng Dũng - Ca Sĩ AI

Tuổi Ngoài Bảy Mươi - Đỗ Công Luận

Chuyện Tình Buồn - Phạm Thị Kim Dung


Những chuyến xe ngập ngừng, chậm chạp lăn trên con đường gập ghềnh để chuyên chở đoàn người đi thăm cha, anh, em, con, chồng ở khắp nơi trong những trại tù, nơi mà lớp người mới gọi là “Trại Học Tập Cải Tạo” nghe ngược ngạo, chua chát nhiều đắng cay.


Từ Quốc Lộ 1, phải đi khoảng chừng 2 cây số, trên một con đường mòn, xuyên qua rừng cây gỗ quý cẩm lai là đến trại tù cải tạo Hàm Tân. Xe dừng lại tại một điểm đã được quy định, mọi người xuống xe, ai nấy đều nhận lại hành lý rồi phải đi bộ thêm một quãng rất xa nữa mới gặp được thân nhân. Giọng oang oang, càm ràm của người lơ xe nhắc nhở mọi người đang còn ngồi lại trên xe chưa kịp bước rời khỏi chiếc xe đò làm Trâm giật mình vội vã lách rời khỏi chiếc xe, cùng theo đoàn người quảy gánh đi thẳng về những dãy nhà lá thật xa lờ mờ ở phía trước.

Đôi chân nàng bước nhanh như những điệp khúc thăng trầm của cuộc đời, cõi lòng nặng trĩu nỗi lo âu ngại ngần, nghẹn lời khi phải nghĩ cách nói dối chồng, biết nói và kể lể gì đây khi đời mình đã trải qua một khúc rẽ quanh co, cũng chỉ vì quá lo cho chồng lại thương con, muốn cho chúng có một đời sống tốt và khỏi phải đương đầu với học đường “Học tài, thi lý lịch” như những năm qua.


Trong lúc cha của chúng bị gông xiềng, mỗi lần khi biết tin được đi thăm nuôi người tù, mặc cho làn nước mắt nàng đã nhiều lần tuôn rơi, cạn khô, đầy lại vơi, xót lòng nghĩ đến tiền bạc dành dụm đã không còn nữa, thậm chí thùng gạo ở nhà đã gần nhẵn quẹn, việc buôn bán cò con lại bị bắt bớ thua lỗ, có hôm còn bị xét bắt hết cả vốn chứ tiếc chi đến đồng lời. Mẩu truyện ngắn của Khái Hưng chợt trở về với tâm trí nàng trong khoảnh khắc… Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!… Không!… Anh phải sống!

Nhìn đàn con vô tội Trâm mềm lòng, nàng đã mạnh dạn quyết định hy sinh nốt cuộc đời còn lại của mình, một lần dấn thân như những dây leo tầm gửi đã cuốn chặt đời nàng, không lối thoát. Đâu thể ngờ được lần này thăm Dũng là lần cuối cùng, nàng sẽ cùng các con theo một người đăng ký đi tàu bán chính thức. Trâm thầm nghĩ sanh ly còn hơn tử biệt, như chị Thư ở xóm trong gần khu nhà nàng đã cùng năm đứa con uống thuốc chuột quyên sinh để tâm hồn khỏi bị dằn vặt suy nghĩ đến ngày được tin thăm nuôi chồng trong khi túi rỗng tếch, lại thêm cái bao tử dằn vặt từng ngày.


Trước khi từ biệt người thân để đi vượt biên bán chính thức, Trâm đã trao gởi cho người anh họ một số tiền và vài khâu nhẫn vàng y, để cậy nhờ anh lo đi thăm nuôi người trong tù cải tạo; Nhờ vậy mà Cha của bầy trẻ vẫn được tiếp tế lương thực mỗi khi có phép đi thăm nuôi.

Lần đầu tiên gặp lại anh Hưng sau bao nhiêu năm xa cách Dũng mừng lắm, nhưng điểm chính yếu là nhận được những món thực phẩm, thuốc men mà chàng cần thiết và ưa thích nhất như: Sữa hộp hiệu ông thọ, keo thịt ba rọi kho xả ớt, gói đường cục thốt nốt, keo nước mắm tóp mỡ hành, vài xâu lạp xưởng, bao thịt chà bông, vài gói mì ăn liền, gói thuốc đau bụng, thuốc đau đầu cảm cúm, thuốc sốt rét, thuốc bôi ghẻ ngứa và nhiều món lặt vặt khác nèn đầy cả cái bao nặng trĩu. Dũng bối rối, chợt nhớ ra điều gì hơi là lạ, trầm buồn hỏi anh Hưng.

“Nhà em đau ốm sao vậy anh?”

Anh Hưng chưa kịp chuẩn bị câu hỏi chất vấn ấy, tần ngần một chút rồi mới chậm rãi trả lời cho qua lệ.

“Nghe nói cô ấy cùng với ba đứa nhỏ đi thăm dò tìm đường vượt biên nên mới nhờ tôi đi thăm chú đấy”.

Niềm nghi ngại vẩn vơ thoáng chốc chợt đến trong tâm hồn, Dũng khe khẽ hỏi:

“Gia đình em làm gì còn tiền mà tìm đường đi vượt biên”.

Anh Hưng không cần phải suy nghĩ thêm chi cho đau lòng, phần thì anh cũng muốn kết thúc những vặn hỏi nên anh đã để dành câu trả lời đó lại cho Trâm.

“Tôi chỉ biết có vậy thôi. Hay chú đợi lần sau cô ấy lên thăm, chú hỏi thì rõ hơn”.


Sự hững hờ của Trâm làm Dũng không khỏi ngờ vực, cảm nghiệm có điều gì chẳng lành, chàng thầm nghĩ có bao giờ Trâm giấu mình điều gì đâu, hay là… Đầu óc chàng phân vân nghi ngại muốn tìm ra câu giải đáp cho chính mình, bỗng có tiếng kẻng đánh dồn dập kêu vang dội tựa hồi chuông thúc giục muốn dồn cải tạo viên tập họp để trở lại nơi nhà tù của mình. Dũng vội vã chào người anh họ của vợ rồi hấp tấp đứng dậy theo người đang canh chừng mình cùng đi thẳng một lèo về phía những người đang xếp hàng mà lòng chưa dứt hoang mang se sắt, chớm thấy rạn nứt…

***

Cơn mưa đầu mùa rả rích ngoài hiên nhà nơi xứ người, vẫn rơi đều mỗi lúc thêm nặng hạt. Mưa như gột xoá hương nồng một thời yêu xưa khát khao nghe giá buốt tận đáy lòng nàng. Cuộc đời của mẹ con Trâm chẳng khác gì lục bình trôi theo dòng nước thủy triều mà tạo hoá đặt để. Dòng đời nghiệt ngã đã cuốn đi tất cả dấu yêu một thời xưa, chỉ còn kỷ niệm viễn ảnh nhạt nhoà xót thương ghép lại trong tim người, một lần quyết tâm để rồi nghìn trùng vấn vương cách xa.


Sau mười hai năm trời Trâm và các con vẫn sống trong hoài mong mòn mỏi cùng với những ràng buộc tỵ hiềm của “Người Ơn”, vì không được trọn vẹn niềm yêu, nên không khí trong nhà nóng lạnh bất thường; Người ấy thầm hiểu rằng mình chỉ là diện thêm… ké, hay cũng là thảm trải cho người bước qua thôi, nên vẫn lặng thinh để mặc cho thực diện trôi dần theo thời gian.

Cố nhân ơi có thấu chăng

Rằng ta đây đã phụ lòng người xưa

Bốn mẹ con Trâm và người ơn được gia đình người bảo trợ, bảo lãnh từ Kuala Lumpur Malaysia về cư ngụ ở Erie USA là một thành phố nhỏ, nơi mà những bậc cha mẹ rất muốn nuôi dạy con cái của mình lớn lên và trưởng thành ở đó. Bởi vì, theo thống kê thì mức học vấn của người dân Mỹ trưởng thành ở Erie thì cao hơn trung bình một chút. Phần đông người sống ở thành phố cho đến tỉnh nhỏ, ít nhất họ đều có văn bằng Bachelor’s Degree.

Đời sống ở Erie rất là dễ chịu và thoải mái về vấn đề nhà cửa, những đồ đạc thiết dụng và phần thực phẩm cho đời sống hằng ngày thì giá cả nhẹ nhàng phải chăng, mọi người dân có thể lo toan được.

Những khi rảnh rỗi, Trâm thường hay dẫn các con đến Square Park là old town của Thành Phố Erie để xem những màn trình diễn thật sống động và nghe nhạc hoà tấu miễn phí ngoài trời, cho vơi đi bao nỗi buồn sầu lắng đọng trong lòng nàng từ dạo xa người… và xa Quê Hương Việt Nam thân yêu.

Hằng năm, cứ đến tháng cuối năm, vào mỗi buổi chiều ngày thứ năm từ bốn giờ cho tới sáu giờ, tại bờ hồ Erie, có nhóm tài tử hoà tấu và một số Giáo Sư cùng các sinh viên nghành âm nhạc nghệ thuật của Đại Học Gannon thuộc Tiểu Bang Pennsylvania. Họ tụ họp đến trình diễn với những nhạc cụ như Kèn Tây, Vĩ Cầm, Đàn Accordion, Harp và đánh trống giúp vui cho những người dạo chơi ở Erie Square thưởng thức trong ba tháng hè.

Họ hoà tấu những bản nhạc cổ điển của Chopin, Bethevon, Bach, Mozart, Tchaikovsky và Haydn… là những dòng nhạc tình cảm lãng mạn vượt thời gian và không gian. Thật khó mà giải thích được, vì sao nó đã cuốn hút Trâm thả hồn theo tiếng nhạc du dương trầm bổng, mà tạm quên đi bao nỗi đắng cay thực trạng đang dày xéo tâm hồn nàng.

***

Được trả tự do ra về vào một chiều thu phai với buồn sầu hiu hắt, Dạ Khúc “Serenade” quen xưa vang vọng lại trong hồn chàng, bây giờ Dũng mới thấy thấm thía.

Cho tình cứ úa phai màu

Cho người cứ mãi phụ nhau

Chàng đến thăm những người bạn tù để tìm an ủi và muốn xin ở tạm trú một thời gian đầu, nhưng thấy không ổn vì mỗi người có cảnh khổ khác nhau. Có gia đình bạn đói meo, cả nhà chỉ có vài củ khoai để chia nhau mỗi ngày, có bạn thì cũng chẳng hơn gì chàng. Vợ anh ta bây giờ trở thành mệnh phụ lớn lắm!! Nghẹn ngào cười ra nước mắt. Không còn đường nào hơn, Dũng đã đánh bạo tìm đến nhà của anh Hưng cậy nhờ sự giúp đỡ, anh Hưng vui vẻ nhận lời giúp thật chu đáo tận tình, ngoài những bữa cơm đạm bạc cùng với gia đình của anh, anh Hưng còn đưa chút ít tiền để chàng tiêu vặt; Người mới ra khỏi ngục tù, trong lòng rất đơn giản như ăn những hạt bo bo với muối hoặc khoai mì luộc mới tự đào về, phơi khô cất giấu đi để dành ăn hoài cả năm vẫn không dám chê. Anh Hưng không dám thổ lộ đó là tiền của Trâm gởi về để nhờ anh lo cho Dũng, sợ lỡ chàng biết được từ chối lại hỏng việc.

Khi người tù trở lại

Nhìn mái ấm nhà xưa

Những mất mát đớn đau

Cảnh cũ vẫn còn đây

Người xưa nào tìm thấy

Trẻ thơ giờ ở đâu?

Trong đôi tuyến trận chiến, niềm thất bại

Tình trường, chiến trường!! Ngọt ngào… đắng cay

Xưa kiêu hùng trong chiến trận dọc ngang

Nay buông xuôi niềm hoài vọng mong manh


Một điều không thể quên khi vô tình bất chợt nhìn thấy khung ảnh treo trong phòng ảnh gia tộc của gia đình anh Hưng. Một tấm ảnh Trâm chụp chung với Dũng vào ngày lễ ra trường của chàng, theo truyền thống Trường Võ Bị Quốc Gia SVSQ Đà Lạt hàng năm mãn khoá học vào ngày Lễ Giáng Sinh, sau khi đã được rèn luyện trong bốn năm dài. Còn nhớ ngày ấy, Mẹ đã đem sính lễ trầu cau đến gặp Cha Mẹ Trâm để dạm hỏi cho chàng và cũng để xin phép cho nàng cùng đi với gia đình chàng dự ngày lễ ra trường đông vui hiếm quý ấy. Bức ảnh này đánh dấu nhiều kỷ niệm đẹp khó quên, nó đã được treo ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách nhà chàng khi xưa, bây giờ mọi vật đã đổi thay theo nghịch cảnh của đời người.

Cơ cực thiếu thốn nhiều năm đã quen, nay được ăn không ngồi rồi, sao thấy ngại ngần quá! Vào một buổi cơm tối, Dũng đã nói khó với anh chị Hưng mượn một ít tiền làm vốn để theo một người bạn đã cùng ở trong tù cải tạo, đi bán vé số và thuốc lá lẻ kiếm sống qua ngày; Chàng hứa sẽ hoàn vốn trả lại anh chị Hưng. Tuy trong lòng không mấy ưng ý lắm, anh Hưng vẫn vui vẻ chấp thuận, nhưng thầm trộm nghĩ: “Cần phải cho chú học bài học mới, đắt giá như chúng tôi đã trải qua”.

Ở xã hội này cần gì phải cầu, mánh mung gạt gẫm, chăng dây kết rào để bắt bớ xảy ra thường xuyên như cơm bữa, hết vốn như trở bàn tay. Đó là chưa kể nạn lừa đảo để cướp giật trắng trợn vào ban ngày ở chỗ đông người nữa; Một đứa đâm xẹp bánh xe ở phía sau, lại còn dám lớn tiếng cho biết là “Bánh xe đạp sau của chị bị xẹp rồi”, mình lo quay đầu lại phía sau để xem, lúc ấy đã có sẵn mấy đứa đồng bọn đứng ở phía trước giựt giỏ xách treo ở ghi đông xe đạp, đồ để ở giỏ xe hoặc nón đang đội ở trên đầu, v.v… thoáng chốc đã chuyền tay nhau cao bay xa chạy mất dạng, có khi chúng còn hùa nhau để cướp luôn xe đạp nữa đấy.


Lại còn có những băng tuổi trung niên ngầu hơn, cướp giựt vàng vòng nữ trang đồng hồ, cũng may dạo này con buôn không thâu vòng ngọc thạch đã bị bể vào, nên các bà đeo vòng ngọc thoát nạn. Giựt được thứ nào bán cũng có tiền, chẳng phải nhọc tâm đi xa xôi đâu cả, chỉ cần chạy ù qua đường kế bên là bán được ngay. Người buôn bán ở chợ trời mua bán tạp lục, mua ở đó lại bán ngay tại đấy không chê món nào hết. Hàng giả bán với giá như đồ thiệt, miễn sao họ kiếm được nhiều lợi nhuận, chỉ tội nghiệp cho khách tiêu dùng bị lãnh hết hậu quả gian xảo lừa gạt của những con buôn thất đức.

Cơn sốt rét nóng lạnh hoành hành toàn thân Dũng còn có thể chịu đựng, sự hụt hẫng đau đớn chất ngất trong tâm hồn chàng khó chữa lành. Mỗi ngày Dũng lần bước qua khắp đường phố lớn của Thành Phố SàiGòn ghé chào mời khách thập phương mua giúp vé số và thuốc lá lẻ để kiếm sống chờ thời, trong khi chờ đợi đi Hoa Kỳ theo diện Hát Ô và đoàn tụ với các con thân yêu của mình. Hôm nọ, Dũng ghé mua thuốc sốt rét ở đường Nguyễn Huệ, trong lúc chờ đợi nhận thuốc, qua cuộc đối thoại trao đổi qua lại, chị bán thuốc Tây “chui” nhận biết ra chị đang tiếp chuyện với một người sắp xuất ngoại đơn độc diện Hát Ô, “Dược Sỹ De La Hiên không bằng cấp” đã kê toa thuốc cho chàng không bỏ lỡ cơ hội tỏ bày thẳng vào đề luôn.

“Anh cho mẹ con tôi ghép hộ theo anh xuất ngoại được không?”

Dũng bỡ ngỡ chưa hiểu rõ điều chị ta muốn nhờ nơi mình. Nên chị lại dịu dàng, nhỏ nhẹ tiếp lời cho rõ hơn.

“Anh cho em lập hôn thú làm vợ thiệt theo anh đi cũng được, nếu không thì làm vợ giả em sẽ gởi anh một số tiền hay vàng, như vậy là công bằng. Nếu anh bằng lòng giúp, tối nay mời anh ghé nhà em..mình sẽ bàn thêm tiếp nhé!”


Gương mặt người đàn bà rạng rỡ, giọng ngọt ngào khẩn khoản chứa ẩn lời mời gọi như muốn thu cuốn người đối diện. Bây giờ chàng mới hiểu được sự trao đổi, mánh mung của dân tình, khó khăn lắm mới thốt lên lời từ chối với chị bán thuốc Tây. Cũng tội nghiệp chị, song lòng chàng đang rối bời, phải tránh hệ lụy níu kéo để rời khỏi đất nước này được yên thân thanh thản, không muốn quàng vào người sự trần trược trong những ngày cuối còn tạm trú nơi đây.

Từ ngày Dũng bị chận bắt giam tạm ở Quận 1 từ sáng đến chiều mới được thả, lại còn bị tịch thu hết khay thuốc lá đủ loại và cả chiếc túi sách bằng vải đựng vé số đeo ở trên vai. Tuy mất sạch vốn, vẫn còn may là chưa bị tống giam luôn vào tù. Đã nhìn thấy sự bắt bớ này quen thường ngày, hôm nay mới đến hạn xui của mình, mặc dầu đã nhanh chân chạy nhưng không thoát nạn, một lần tởn cho đến già.

Sau lần xui xẻo này, chàng lại cảm thấy tâm mình an bình hơn trước, trong sự xui lại có cái may, một nghịch lý đổi thay khó đoán trước được trong tâm hồn của chàng.

Trâm nào dám so bì với những vị anh hùng xưa bất khuất, lòng nàng chỉ đơn thuần với việc nho nhỏ mà mình có thể thực hiện được “Mạnh thì dùng sức, yếu dùng mưu!!” Nàng chẳng dám xin nơi Dũng điều gì, chỉ mong mỏi một ngày nào đó, việc làm của mình sẽ được chứng giám những cất giấu trong tim vẫn còn là niềm yêu thiết tha thuở ban đầu. Sự sống còn của Dũng và sự thành công trong đời sống của các con cùng việc trùng phùng với cha chúng là hạnh phúc của chính nàng. Mặc dầu đã có đôi lần chàng ngỏ lời mong muốn nối kết lại tình xưa, hãy quên đi quá khứ u buồn. Đó chỉ là những áng mây huyền mộng mỵ trôi thoáng qua, nhưng nàng đã khước từ tấm thiện tình ấy làm Dũng bâng khuâng ngỡ ngàng .


Kỷ niệm đưa Trâm về ngày tháng cũ, cung đàn xưa lỗi nhịp, nàng không còn xứng đáng với lòng tin yêu để níu lại những gì đã mất mát, thay màu “Nghĩa tào khang”. Nối lại sẽ phải chịu đựng dày vò đọa đày suốt khoảng đời còn lại, có lúc vui buồn lẫn lộn khó ai hay, một lần xa chân là chấp nhận nỗi xót xa nuối tiếc cho cuộc tình buồn dở dang.

Hai cuộc tình buồn

Hai lần dang dở

Đôi đời tao ngộ

Đôi lần chia xa

Muôn kiếp phôi pha

Muôn đời ngỡ ngàng

Như loài hoa vỡ

Như hạt sương mai

Tạ ơn cùng người

Tạ tình cùng ai


Phạm Thị Kim Dung

Chuyện tình buồn - Truyện / Ký - Việt Báo Foundation – A Nonprofit 501 (c)(3) Organization

Tiếu Lâm

 

Con dâu ăn mặc khá " mát mẻ " đang ngồi nhặt rau. Vô tình ngước lên thấy bố chồng đang ngồi xem thời sự quốc tế gần đó cứ nhìn trộm mình, con dâu bực mình hỏi: Tình hình thế giới có gì không ba? Ba chồng giật mình nhưng cũng kịp trả lời: Áo đang tuột dốc, Mông Cổ sơ hở, Cu Ba căng thẳng.

================================

Cô gái bán ví rao như sau: bóp đi, bóp đi, bóp trên 5 ngàn, bóp dưới 7 ngàn, bóp bên trái và bóp bên phải cùng giá, bóp da 7 ngàn, bóp lông 13 ngàn, bóp ngoài 3 ngàn, bóp trong 8 ngàn, bóp đi bóp đi.....Thấy vậy 1 thanh niên hỏi, ủa bóp ở đâu là rẻ nhất. Cô gái trả lời: bóp em là rẻ nhất rồi! Bóp đi, bóp đi!

================================ 

Đang ngồi thiền trong chùa đột nhiên phương trượng khóc lớn. Các đệ tử thấy vậy xúm vào hỏi: - Vì sao thầy khóc? - Ta khóc vì chừng này tuổi đầu rồi mà … chưa biết… đàn bà là gì. Các đệ tử ồ lên: - Ôi xời ... tưởng chuyện gì....chuyện nhỏ! Các đệ tử vì muốn lấy lòng sư phụ nên đã xuống núi bắt 1 em "cave" lên cho sư phụ xơi để biết thế nào là đàn bà. Sáng hôm sau, phương trượng lại khóc to hơn, các đệ tử hoảng hốt xúm vào hỏi: - Vì sao thầy lại khóc nữa ? Trụ trì mếu máo trả lời: - Hu hu .... ta cứ tưởng đàn bà là thế nào ... hóa ra giống hết các ni cô trong chùa.! Thiện tai, thiện tai!

==================================

Vợ phát hiện ra chồng mèo mỡ ghen tuông, chồng thanh minh: Em biết không, gì em cũng hơn nó hết, đây nhà to em ở với anh cả đời, nó chỉ ở với anh phòng khách sạn mấy chục mét vuông có 1 đêm, chấp nó làm gì, tiền lương anh đưa em hết, chỉ đưa nó vài vé thôi, chấp nó làm gì, em hàng trăm bộ quần áo, nó nghèo lắm quần áo không đủ mặc đâu, có vài mảnh che thân, chấp nó làm gì, còn.... còn về nhan sắc hả, nó phải kêu em bằng...cụ, chấp nó làm gì !!! 

====================================

Một girl trẻ trung trắng trẻo đi xe ôm, đang đi girl ta bổng nói với tài xế: - Chà! Sài gòn mới có 10 năm mà thay đổi quá ! Ông tài xế tưởng vô mánh gặp Việt kiều nên mới hỏi: - Dạ ! vậy chứ Cô ở nước nào mới về vậy ? - À ....Em ở tù mới ra..

====================================

Ai cũng biết là Việt Nam, Lào là anh em. Nhưng một sự thật phũ phàng là: Cái gì tệ ở Việt Nam cũng gán cho cái mác Lào. - Đôi dép mang gớm nhất, rẻ nhất là đôi dép Lào (15k 2 đôi). - Bệnh thì có bệnh lang ben, hắc Lào. - Cái thứ thuốc hút gớm nhất cũng là thuốc Lào. - Cơn gió khắc nghiệt nhất cũng gọi là gió Lào. Và ....... Có một ông doanh nhân nọ người Lào sang Việt Nam làm việc cũng đã lâu.. Trong một chuyến đi công tác Hà Lội, trên xe buýt, ông ta ngồi chung với 1 người Hà Lội. Sau khi đến trạm dừng, người Hà Lội kia phát hiện là đôi dép mình không cánh mà bay. Ông ta la lên: "thằng lào, thằng lào lấy ?" 

============================

Chàng và nàng ngồi trong công viên tại Ha Noi. Chàng rất thẹn thùng còn cô gái muốn được chàng hôn bèn nói: "Ôi! má em đau quá!" Chàng trai bèn hôn vào má cô gái. - Em thấy thế nào? Còn đau không? - Úi, hết đau rồi. Ít phút sau... - Ôi! Cổ em lại đau! Chàng lại hôn vào cổ nàng. - Còn đau không em? Cô gái bẽn lẽn: Hết... rồi... Cụ già ngồi gần đó cáu tiết liền hỏi: - Hỡi chàng trai có đôi môi thần kì, cháu có thể chữa được bệnh trĩ không?

 

Kim Hoa Bà Bà chuyển

Một Lời Xin Lỗi - Lê Như Đức



Thu năm 1990, nhóm tôi gồm sáu người được hãng General Dynamics (GD) ở Dallas, nay là Lockheed, gửi qua Nhật để huấn luyện các kỹ sư Nhật cách tính toán bảo trì máy bay chiến đấu cơ F16. Bốn nhân viên người Mỹ trong số chúng tôi ký với hãng sẽ ở lại Nhật làm 2 năm. Tôi chỉ qua một tháng. Người còn lại là Mỹ gốc Đại Hàn, thông thạo tiếng Nhật, cũng chỉ ký ở lại làm 6 tháng.


Năm đó cũng là năm kỷ niệm 45 năm hai quả bom nguyên tử bỏ xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki. Các đài TV của Mỹ đánh hơi được người Nhật tổ chức lễ truy điệu rất quy mô nên gửi nhiều phóng viên qua Nhật làm phóng sự. Phóng viên nổi tiếng nhất của đài NBC là Tom Brokaw bay qua Tokyo để phỏng vấn Thủ Tướng Nhật Bản. Ông Thủ Tướng trông rất thư sinh nhưng ăn nói hung hăng vô cùng. Ông đòi tổng thống Mỹ phải qua Nhật, tới đền thờ những người dân vô tội đã chết qùy thắp nhang xin lỗi chứ không chỉ gửi thư qua xin lỗi và phóng viên qua hỏi lung tung.


Nhân viên gốc Đại Hàn thông dịch cho chúng tôi trong khách sạn rồi kể cho chúng tôi chuyện do người thân của anh ta nói lại những gì lính Nhật đã làm ở Đại Hàn năm xưa. Nhật Hoàng khi đó không có đủ tiền trả lương nên thưởng cho lính Nhật tự do muốn làm bất cứ gì trong 10 ngày mà không bị xử phạt. Những cuộc giết người, cướp bóc, hãm hiếp đã xảy ra khắp mọi góc trong nhiều thành phố ở Đại Hàn khủng khiếp tới độ không có ngòi bút nào có thể tả xiết được.


Cách sắp xếp làm việc của người Nhật thập niên 90 như trong quân đội. Ông sếp lớn ngồi đầu một cái bàn thật dài. Hai bên là các kỹ sư theo cấp bậc ngồi hai bên dọc theo bàn. Hai cái bàn nhỏ đặt sau hai góc phòng cho hai cô thư ký phụ giúp mang giấy tờ, trà hay cà phê cho các nhân viên. Hai bên bờ tường có treo nhiều tấm bảng nhỏ cho từng nhân viên ghi chú mỗi khi muốn rời khỏi bàn đi vệ sinh, nghỉ giải lao, hay nghỉ ngang vì có công chuyện riêng…


Ngày đầu tiên thấy cách sắp xếp chỗ ngồi làm việc tôi bất mãn, cự ngay với ông sếp Nhật. Tôi đòi phải có chút riêng tư để mỗi lần chúng tôi chỉ cho hai, ba nhân viên của ông chứ không thể nói trước cả nhóm hơn ba chục mạng. Thấy ông ngần ngừ, tôi dọa thêm chúng tôi sẽ về lại Mỹ và nói hãng mở lớp ở Mỹ. Ông nói chuyện với hãng rồi hứa với chúng tôi sẽ có hai phòng cho sáu chúng tôi ngồi riêng làm việc vào tuần tới.


Ngày hôm sau, ông mang tờ báo có hình ông Thủ Tướng và phóng viên Tom để một góc bàn, cố ý cho chúng tôi thấy. Chúng tôi im lặng tới trưa, ông mới lên tiếng hỏi: Nghĩ sao về hai trăm ngàn người dân Nhật vô tội chết.

Tôi hỏi lại: Ông nghĩ sao khi hai triệu người dân VN vô tội chết đói năm 1945 vì lính Nhật không cho dân miền Bắc trồng gạo mà bắt phải trồng đay. Trong khi đó miền Nam dư gạo thì cũng bị chính quân Nhật tịch thu hết và cấm mang gạo ra Bắc cứu đói.


Tôi hỏi tiếp: Ông nghĩ sao về cái chết từ từ vì đói và nằm cả mấy ngày nhìn xác vợ con mình thối rữa sẽ khủng khiếp và đau khổ ra sao so với cái chết tức thời vì bom nguyên tử.

Ông im lặng. Cả nhóm ông cũng im lặng.


Những ông Thủ Tướng sau thấu hiểu hơn nhiều khi nói về hai trái bom nguyên tử. Chính vì bị hạn chế xây dựng quân đội và ngân sách cho quốc phòng của Liên Hiệp Quốc trong 50 năm sau đại chiến đã giúp cho dân Nhật dồn mọi nổ lực lẫn tiền của vào kinh tế để đưa Nhật Bản thành cường quốc hôm nay.

Dân Mỹ cứ bị è cổ ra đóng thuế để lính Mỹ tới Nhật gìn giữ an ninh quốc gia trong 75 năm qua.

Cha ông họ đã gây tội ác nên phải lãnh lấy hậu quả trong chiến tranh nhưng con cháu họ lại được hưởng quá nhiều lợi nhuận.


Cha ông Việt Nam chúng ta sống rất đạo đức, hiền lành, không hề gây bất cứ tội ác nào mà cũng phải lãnh hậu quả chết gấp mười lần và chúng ta chưa hề nhận được một lời xin lỗi chính thức từ chính phủ Nhật.

Ngay chính các sử gia Nhật Bản cũng phải khâm phục: “Một nạn đói lớn như thế mà không hề xảy ra những hiện tượng mà những nơi khác có: Người không ăn thịt lẫn nhau, người nghèo không tranh đoạt lẫn nhau. Trái lại có rất nhiều giá trị đạo lý truyền thống của dân tộc được phát huy: Tình làng nghĩa xóm, dòng họ xã hội cưu mang”.


Vì đại dịch nên Thu những năm nay dân Nhật không tổ chức họp mặt truy điệu những người chết do bom nguyên tử trong đền thờ quốc gia. Hy vọng vì không đi lại, họ có thêm giờ cầu nguyện cho những người dân vô tội đã chết ở các nước khác.



Lê Như Đức

TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM | MỘT LỜI XIN LỖI | Facebook


Friday, August 28, 2026

HOA ĐỒNG Nấu Bữa CƠM QUÊ, Món Ngon Dân Dã Mà Mê Suốt Đời - Đặc Sản Miền Sông Nước

Thật Ra Ông Trump Không Tốt Như Mình Đã Nghĩ - Ryan Phan


Đó giờ đa số bài viết của mình đều khen Tổng thống Trump, thôi bữa nay mình thử đi sâu vào những cái không tốt của ổng thử coi, cho công bằng, cho khách quan, cho đúng tinh thần báo chí đàng hoàng.


Trước hết, phải nói thẳng: ông này không biết cách nói chuyện ngoại giao. Một tổng thống bình thường, khi ngồi trước một nhà lãnh đạo nước ngoài từng gây bao nhiêu rắc rối cho nước Mỹ, sẽ chọn cách nói vòng vo, dùng những cụm từ được cố vấn soạn sẵn, tránh mọi khả năng gây hiểu lầm. Ông Trump thì không. Ông cứ thẳng vào vấn đề, đôi khi còn nói ngay trước mặt đối phương những điều mà giới ngoại giao chuyên nghiệp phải mất cả đêm để nghĩ cách diễn đạt "khéo léo" hơn. Kết quả của cách nói chuyện "thiếu tinh tế" này là hàng loạt cuộc gặp thượng đỉnh chưa từng có tiền lệ, những thỏa thuận hòa bình ở các khu vực mà nhiều thế hệ ngoại giao trước đó chỉ dám mơ tới. Thật là đáng tiếc khi một người không biết ăn nói lại cứ liên tục đạt được kết quả mà những người biết ăn nói suốt bảy mươi năm qua chưa từng làm được.


Ông cũng bị chê là quá tự tin, không chịu nghe lời khuyên của giới chuyên gia. Vô số nhà kinh tế học, nhà phân tích địa chính trị, và cả một dàn cựu quan chức đã lên tiếng cảnh báo về gần như mọi quyết định lớn mà ông từng đưa ra — từ cắt giảm thuế, đến áp thuế quan, đến việc đàm phán trực tiếp với những nhân vật mà giới học thuật cho là "không nên tiếp xúc." Đáng buồn thay, ông vẫn cứ làm theo ý mình, bỏ ngoài tai phần lớn những lời cảnh báo đó, và kết quả kinh tế, dù không hoàn hảo, vẫn không đi theo kịch bản thảm họa mà phần lớn những lời cảnh báo kia đã vẽ ra. Một người biết nghe lời khuyên đúng đắn của giới chuyên gia có lẽ đã không bao giờ ký những thỏa thuận mà giới chuyên gia đó từng gọi là "bất khả thi."


Một điểm trừ khác: ông làm việc quá nhiều. Lịch trình của ông dày đặc đến mức khiến cả đội ngũ trợ lý trẻ hơn ông vài chục tuổi phải than thở không theo kịp. Ở độ tuổi mà phần lớn người ta đã nghĩ đến việc nghỉ hưu, chăm sóc vườn tược, hay đơn giản là ngồi yên tĩnh đọc báo buổi sáng, ông vẫn duy trì một guồng quay công việc dày đặc — ký sắc lệnh, gặp gỡ nguyên thủ, tổ chức họp báo, giám sát đàm phán thương mại, đôi khi tất cả trong cùng một ngày. Thật là một thói quen làm việc tệ hại, nếu tiêu chuẩn đánh giá là sự thảnh thơi cá nhân. Nhưng nếu tiêu chuẩn là số lượng chính sách được ban hành trong một nhiệm kỳ, có lẽ đây lại là điểm mà không nhiều tiền nhiệm nào của ông theo kịp.

Ông còn bị chê là quá thẳng thắn trên mạng xã hội, không biết giữ ý tứ như một nguyên thủ quốc gia nên làm. Thay vì để đội ngũ truyền thông soạn sẵn từng câu phát ngôn, kiểm duyệt kỹ lưỡng trước khi công bố, ông thường tự mình gõ những dòng suy nghĩ ngay khi vừa nảy ra, đôi khi vào lúc nửa đêm, đôi khi ngay giữa một cuộc họp căng thẳng. Giới phê bình gọi đây là "thiếu chuẩn mực nguyên thủ." Nhưng cũng chính thói quen "thiếu chuẩn mực" này khiến công chúng biết được chính xác ông đang nghĩ gì, tại đúng thời điểm ông nghĩ ra nó, thay vì phải chờ một bài phát biểu được chỉnh sửa qua tay mười lăm cố vấn truyền thông trước khi đến được với công chúng.


Rồi có một điều mà cả những người ghét ông nhất cũng phải thừa nhận là kỳ lạ: ông này hình như không biết sợ chết là gì. Từng bị ám sát hụt ngay giữa một buổi vận động tranh cử, viên đạn sượt qua tai trong gang tấc, máu chảy ngay trước ống kính hàng triệu người xem trực tiếp — một trải nghiệm mà phần lớn con người, nếu may mắn sống sót, sẽ chọn cách rút lui, giảm bớt xuất hiện công khai, tăng cường an ninh đến mức gần như không ai còn nhìn thấy mặt. Ông thì làm điều ngược lại hoàn toàn: đứng dậy ngay giữa đám đông an ninh đang hoảng loạn, giơ nắm đấm lên trời, và tiếp tục lịch trình vận động chỉ vài ngày sau đó như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Rồi vụ ám sát hụt tiếp theo, lần này ở một sân golf, cũng không khiến ông thay đổi thói quen sinh hoạt là bao. Thật là một sự bất cẩn đáng lo ngại về an toàn bản thân, nếu nhìn theo góc độ của một chuyên gia bảo vệ yếu nhân. Nhưng cũng chính sự "bất cẩn" đó lại vô tình trở thành thứ khiến hàng triệu người, kể cả những người trước đó còn dửng dưng với ông, phải dừng lại và nhìn nhận lại: đây có lẽ là kiểu người sẵn sàng trả giá cao nhất cho những gì mình theo đuổi, chứ không phải kiểu chính trị gia chỉ giỏi diễn thuyết an toàn sau lớp kính chống đạn.


Ông cũng bị gọi là hiếu chiến, đặc biệt sau khi ra lệnh không kích các cơ sở hạt nhân của Iran — một quyết định mà nhiều nhà phân tích cảnh báo có thể kéo cả khu vực Trung Đông vào một cuộc chiến tranh toàn diện, gây bất ổn kéo dài nhiều thập kỷ. Đây là một lời chỉ trích nghiêm túc, xứng đáng được cân nhắc kỹ lưỡng, vì chiến tranh chưa bao giờ là chuyện nên bị xem nhẹ. Nhưng điều mà những lời cảnh báo đó không lường trước được là kết quả thực tế: chương trình hạt nhân của một trong những chính quyền thù địch nhất với phương Tây bị đình trệ nghiêm trọng, trong khi cuộc chiến toàn diện được dự đoán rộng khắp lại không xảy ra như kịch bản. Một tổng thống ngần ngại hành động có lẽ đã để lại vấn đề đó cho người kế nhiệm giải quyết, giống như đã từng xảy ra qua nhiều đời chính quyền trước. Ông chọn hành động ngay, chấp nhận rủi ro bị gọi là hiếu chiến, để giải quyết một mối đe dọa mà nhiều người tiền nhiệm chỉ dừng lại ở việc tuyên bố "quan ngại sâu sắc."


Với đồng minh, ông bị chê là quá tính toán, quá thực dụng, đối xử với các mối quan hệ ngoại giao lâu đời như thể đó là những hợp đồng kinh doanh cần được đàm phán lại liên tục. Ông yêu cầu các nước NATO phải đóng góp ngân sách quốc phòng nhiều hơn, đe dọa áp thuế lên chính những đồng minh thân cận nếu họ không nhượng bộ trong các cuộc đàm phán về khoáng sản, về hòn đảo băng giá ở Bắc Cực, về hàng loạt vấn đề khác. Giới ngoại giao truyền thống gọi đây là cách hành xử "thiếu tình nghĩa đồng minh," một sự lạnh lùng hiếm thấy trong quan hệ quốc tế. Nhưng nhìn theo một cách khác, sau nhiều thập kỷ để các đồng minh giàu có tiếp tục dựa dẫm vào sự bảo trợ quân sự của nước Mỹ mà không đóng góp tương xứng, có lẽ một chút "tính toán thực dụng" lại chính xác là thứ cần thiết để buộc mọi bên phải chia sẻ gánh nặng công bằng hơn, thay vì tiếp tục dựa vào lòng tốt vô điều kiện của một quốc gia.


Về thuế quan, ông bị mô tả là người theo đuổi một chính sách "lạc hậu, gây tổn hại thương mại toàn cầu." Mỗi lần công bố mức thuế mới, dàn chuyên gia kinh tế lại đồng loạt cảnh báo về nguy cơ lạm phát, đứt gãy chuỗi cung ứng, đồng minh quay lưng. Rồi sau mỗi đợt cảnh báo đó, doanh thu thuế quan lại tăng vọt, mang về hàng trăm tỷ đô la cho ngân khố, các cuộc đàm phán thương mại được đẩy nhanh theo hướng có lợi hơn cho nước Mỹ, và phần lớn thảm họa kinh tế được dự báo trước đó vẫn chưa xảy ra ở quy mô được cảnh báo. Một chính sách "lạc hậu" đến vậy, mà sao vẫn liên tục mang về kết quả mà những chính sách thương mại tự do "hiện đại" suốt ba mươi năm trước đó chưa từng làm được.


Với Trung Quốc, ông bị chỉ trích là khiêu khích không cần thiết, đẩy hai nền kinh tế lớn nhất thế giới vào một cuộc đối đầu căng thẳng có thể gây bất ổn cho cả hệ thống thương mại toàn cầu. Ông áp thuế mạnh tay, công khai gọi thẳng những hành vi thương mại không công bằng mà nhiều đời tổng thống trước đó chỉ dám nhắc đến một cách vòng vo trong các văn kiện ngoại giao dài dòng. Kết quả của sự "khiêu khích" này là những cuộc đàm phán trực tiếp ở cấp cao nhất, những nhượng bộ thương mại mà giới quan sát cho là chưa từng đạt được trong nhiều năm đàm phán trước đó, cùng cam kết chuyển dịch chuỗi cung ứng chiến lược quay trở lại đất Mỹ. Một chính sách đối ngoại thận trọng hơn có lẽ đã giữ được sự hòa hoãn bề ngoài, nhưng chưa chắc đã buộc được đối phương phải ngồi vào bàn đàm phán với những điều khoản nghiêm túc như vậy.


Cuối cùng, và đây có lẽ là điều bị chê nhiều nhất trong suốt sự nghiệp chính trị của ông: ông không bao giờ chịu thừa nhận mình sai, ngay cả khi đối mặt với bằng chứng rõ ràng. Ông luôn giữ vững lập trường ban đầu, hiếm khi lùi bước trước áp lực dư luận, và gần như không bao giờ đưa ra một lời xin lỗi công khai theo kiểu mà giới quan sát chính trị vẫn mong đợi từ một chính khách. Một phẩm chất đáng lo ngại, nếu nhìn theo góc độ khiêm tốn truyền thống. Nhưng trong suốt một thập kỷ bị tấn công từ mọi phía — từ truyền thông, từ các cuộc điều tra pháp lý, từ chính những người trong đảng của mình, thậm chí từ hai viên đạn suýt lấy đi mạng sống của ông — chính sự "cứng đầu không chịu lùi bước" đó lại là thứ khiến ông vẫn đứng vững, trở lại Nhà Trắng lần thứ hai sau khi gần như mọi nhà bình luận chính trị từng tuyên bố sự nghiệp chính trị của ông đã kết thúc.


Nhìn lại toàn bộ danh sách những điều "không tốt" này — thiếu ngoại giao, không nghe chuyên gia, làm việc quá sức, thẳng thắn quá mức, không biết sợ chết, hiếu chiến với Iran, tính toán với đồng minh, cứng rắn về thuế quan, khiêu khích Trung Quốc, và không bao giờ nhận sai — có một điều khá lạ: mỗi khuyết điểm được liệt kê ra, khi đặt cạnh kết quả thực tế mà nó mang lại, đều khiến người đọc phải dừng lại một chút để suy nghĩ xem đó thực sự là khuyết điểm, hay chỉ là một phẩm chất bị gọi bằng cái tên tiêu cực bởi những người không quen với cách một người như vậy vận hành.

Còn điều gì không tốt của Ông Trump mà Bạn muốn thêm không ... cmt cho mình biết nha.


 Ryan Phan