Saturday, May 2, 2026

Ma Ăn Phở - Nguyễn Minh Chí



Sài gòn những năm đầu thập niên 60, còn thưa dân và có những nơi vắng vẻ đến lạnh người. Chung quanh khu vực nhà thương Đồn Đất - tức Bệnh viện Nhi Đồng II bây giờ, những người yếu bóng vía thường không dám lui tới vào ban đêm. Ngay góc Mạc Đỉnh Chi và Nguyễn Du, là nơi lính Pháp tử trận trong năm 1859 khi hạ thành Gia Định được vùi tạm trước khi chuyển “hộ khẩu chính thức” về Đất Thánh Tây (công viên Lê văn Tám bây giờ). 

Bởi lẽ đó, những câu chuyện huyền hoặc và rùng rợn xảy ra không ít ở khu vực này, khiến những kẻ nhát gan xem là “vùng cấm”. Câu chuyện bác xích lô gặp cô gái đẹp đón và trả tiền xe bằng một bộ ruột bỏ vào chiếc rổ mang theo, dân Sài Gòn háo chuyện đồn đại khằp nơi. 

Rồi câu chuyện chú lính tây đen cụt đầu ngồi dưới gốc me vào những đêm mưa dầm ngay góc tòa đại sứ Anh càng khiến nơi này trở nên vắng ngắt.

     

Sau trận Bình Giã, gia đình thiếu tá Ph.  Pháo binh diện địa quân đoàn III chế độ Sài gòn, được cấp một căn nhà khá xinh xắn có cả mảnh vườn nho nhỏ, nằm ngay trên đường Đồn Đất (Thái văn Lung bây giờ). 

Ngày qua ngày, gia đình thiếu tá Ph. quen dần với cuộc sống trong ngôi nhà trên con đường tịch mịch vắng vẻ này. Bạn bè cùng khóa ngày càng thăng quan tiến chức do lao vào chính trị trong khi thiếu tá Ph. chấp nhận làm một người lính sống kiếp công chức, sáng cắp ô đi tối cắp ô về nên vẫn cứ là một viên sĩ quan quèn không có cả lính hầu và xe Jeep cấp riêng. Nguyễn văn Thiệu trở thành chủ tịch Hội đồng lãnh đạo quốc gia, tức quốc trưởng và Nguyễn cao Kỳ chủ tịch Hội Đồng Hành Pháp trung ương tức vai trò thủ tướng, đã khiến thiếu tá Ph. đổi đời. Vẫn mang hàm thiếu tá nhưng ông Ph. được cử về làm biệt khu thủ đô và bắt đầu có lính, có thực quyền. Thiếu tá Ph. bằt đầu giao thiệp trở lại với những sĩ quan hào hoa cùng cánh hẩu với tướng râu kẽm Kỳ và Nguyễn ngọc Loan. Những cuộc chơi theo kiểu trưởng giả càng lúc càng nhiều và có những hôm thiếu tá Ph. không về nhà. Bà vợ thoạt đầu còn chì chiết, trách móc thái độ bỏ bê gia đình của chồng nhưng chỉ sau đó một thời gian ngắn, bà cũng bắt được nhịp với những vị phu nhân của tướng tá khác. Bà cũng bắt đầu sửa soạn quần là áo lượt, túm tụm mua sắm kim cương, bàn chuyện làm ăn nuôi lính ma lính kiểng.

     

Một buổi chiều nọ mưa nhỏ hạt nhưng dai dẳng, bà thiếu tá Ph. đi từ thương xá TAX về trên chiếc taxi. Trả tiền xong chợt bà lảo đảo như trúng gió khiến người tài xế không khỏi ngạc nhiên. “Thưa bà…bá có sao không? Hình như bà không được khỏe?” người tài xế hỏi và nhận được cái xua tay lắc đầu thay cho câu trả lời. Bà chạy vội vào nhà khi người giúp việc ra mở cổng mà không buồn mang theo đống hàng hóa trị giá hàng chục ngàn đồng mua từ thương xá. Người tài xế bưng vội vào giúp và còn dặn người giúp việc: “Hình như bà chủ của chi 5 bị trúng gió…chị vô coi bả có bị gì không?”.

Vào đến nhà không thèm trả lời trả vốn gì những câu chào hỏi của 2 đứa con gái và thằng con trai út, bà đi nhanh vào phòng riêng đóng sập cửa lại. Ngay cả cô giúp việc đến gõ cửa để hỏi việc, bà thiếu tá Ph. vẫn im lặng không nói năng gì.

Ngày đó, thiếu tá Ph. lại khác với lệ thường, về nhà hơi sớm. Chẳng là ông nhận lời đi dự đám cưới của con trai một tay tư bản Chợ Lớn đang hùn hạp thầu rác Mỹ ở Cát Lái với ông. Ông hỏi đứa con gái lớn: “Má mày đâu?”. Đứa con gái chỉ vào phòng trong không buồn giải thích trong khi vẫn chúi mũi vào cuốn tiểu thuyết của bà Tùng Long.

Đến tận phòng gõ cửa, cũng không nghe vợ trả lời, thiếu tá Ph. ngạc nhiên đẩy cửa bước vào. Cô giúp việc cúm rúm theo sau. Bà vợ ngồi trên chiếc giường nệm, vẫn trong bộ quần áo đi chợ của mình, nhưng quay mặt vào nhìn chăm chăm vào vách.

“Bà làm cái gì vậy? Ra thay đồ lát đi đám cưới với tui…”. Không nghe trả lời, thiếu tá Ph. cau mày gắt: “Bà sao vậy?”. Cũng chẳng nghe trả lời., thiếu tá Ph. tiến lại gần hơn đặt tay vào vai vợ. “Giận tui cái gì hả?”. Cũng vẫn im lặng. Phát cáu, thiếu tá Ph. nạt luôn: “Bà muốn gì?”. Câu trả lời của bà vợ làm thiếu tá Ph. chưng hửng: “Tao muốn ăn phở!”. Trố mắt nhỉn vợ, thiếu tá Ph. bối rối khi bà chỉ quay đầu lại nhìn chồng thật nhanh rồi tiếp tục quay mặt vào vách. Có điều chỉ trong tic tac ấy, thiếu tá Ph. thoáng rùng mình vì ánh mắt vô hồn và gương mặt lạnh tanh của vợ. “Cái gì nữa đây? Bà nghe ai nói tào lao cái gì rồi về sinh sự phải không?” Ông chồng cáu tiết gắt.

“Tao muốn ăn phở!” Bà vợ vẫn trả lời bằng điệp khúc gồm 4 từ.

Bực mình, thiếu tá Ph. bỏ ra ngoài. Ông quát với lũ con và bắt chúng vào hỏi vợ “muốn gì?”. Lũ con thay nhau vào và cả 3 đều mang ra đúng một câu: “Tao muốn ăn Phở!”. Ông chồng tức điên người nhưng cố dằn vì con cái đã lớn và cương vị của ông ta không cho phép có chuyện lùm xùm trong gia đình. Ông lại vào và tiu nghỉu quay ra, vì sau một hồi thịnh nộ cũng chỉ được nghe vợ nói đúng 4 chữ: “Tao muốn ăn phở!”.


Ngồi ghế bành một lúc cho dịu cơn nóng giận, thiếu tá Ph. sực nghĩ ra một giải pháp. Ông điện thoại cho gia đình người bạn thân mà vợ ông ta là người gần gũi vợ thiếu tá Ph. nhất. Sau khi trao đổi, thiếu tá Ph. ngồi xuống ghế chờ đợi. Lát sau 2 vợ chồng trung tá Nguyễn Khắc Bình đến. Sau khi nghe thiếu tá Ph. thuật lại, vợ trung tá Bình lãnh sứ mạng vào “khuyên nhủ”. Nửa giờ trôi qua, vợ trung tá Bình quay ra mặt hoang mang. “Sao? Chị ấy nói gì?”Trung tá Bình hỏi. Bà vợ nhún vai: “Tao muốn ăn phở!”. 

Bàn bạc một lúc, vợ trung tá Bình chợt nêu ý kiến: “Trước đến giờ, thần kinh chị ấy ổn định không hả anh?”. Hai người đàn ông im lặng. Hơn ai hết, trung tá Bình là người đi hỏi vợ cho bạn nên biết gia đình giòng họ bên vợ của thiếu tá Ph. quả có hai trường hợp bị điên.

Thiếu tá Ph. đắn đo một lúc rồi mở miệng nhờ trung tá Bình: “Anh giúp dùm, tôi rối quá rồi…”. Sau vài cuộc điện thoại nhờ vả, trung tá Bình quay qua trấn an bạn: “Thằng Quy sẽ cử xe đến đưa chị ấy vào nhà thương Chợ Quán, khám xem sao…Toa(Toi) yên tâm, để Moa(Moi) giải quyết vụ này cho…”

     

Đêm hôm đó, trong khu dành riêng cho bệnh nhân loại VIP, các bác sĩ tay nhau khám bệnh, định bệnh. Các phương tiện tối tân, phương pháp khoa học và những bác sĩ trình độ nhất đưa đến kết luận: “Vợ thiếu tá Ph. hoàn toàn tỉnh táo, khỏe mạnh!”. Tuy nhiên các bác sĩ đều ngạc nhiên khi bệnh nhân luôn trả lời mọi câu hỏi bằng  câu: “Tao muốn ăn phở!”…

Bà vợ được đưa về nhà và không chịu ăn uống gì. Thiếu tá Ph. bắt đầu hoảng, điện thoại cho hàng loạt bạn bè. Bất ngờ thiếu tá Phạm Kim Quy, bạn cùng khóa của thiếu tá Ph. nêu ý kiến: “Hay là ma nhập?”. Cả nhà đang đông đúc bạn bè đến thăm hỏi, bỗng lặng ngắt như tờ. Vợ trung tá Bình rụt rè: “Hổng chừng đúng đó…chiều đến giờ em có nghĩ đến mà đâu dám nói ra…”. Trung tá Bình nạt ngang: “Căn cứ vô cái gì mà bà nghĩ vậy?”. Bà vợ trả lời tỉnh rụi nhưng câu trả lời làm mọi người rùng mình như bước ra gió lạnh: “Giọng nói này đâu phải giọng của chị ấy?”. Thiếu tá Ph.cau mày suy nghĩ một thoáng rồi quày quả đi luôn vào phòng vợ. Ông đứng sau lưng vợ hỏi gằn: “Mày là ai?”

     

Lần này thì ông không còn nghe câu trả lời quen thuộc mà thay vào đó là một giọng đàn ông lạ hoắc: “Ờ, vậy chớ! Chiều đến giờ mệt mấy người quá…”. Lặp lại câu hỏi lần nữa, trong lúc mọi người cùng kéo nhau vào đứng chung quanh, thiếu tá Ph. nghe mà bủn rủn cả người: “Tao là trung sĩ nhất Đoàn thiện Hùng, số quân 50/ 789…phục vụ ở phòng 3 Tổng tham mưu…”.

Sau khi nghe “sơ yếu lý lịch” của một gã nào đó đòi ăn phở thông qua vợ mình, thiếu tá Ph. cùng mọi người lui ra ngoài bàn bạc.

Một linh mục quen biết lập tức được mời đến cầm theo cả sợi giây 7 buộc và quyển thánh kinh bọc bìa da đỏ. Ông vào phòng cùng thiếu tá Ph. và bắt đầu rảy nước thánh. “Thôi cha về đi, tui đâu có theo đạo đâu mà nghe lời cha! Tui chỉ muốn ăn phở thôi mà…gì mà rắc rối quá vậy?”. Chiêu thứ nhất coi như thất bại. 

     

Cũng ngay trong đêm, vị sư trụ trì chùa trong quân trường Quang Trung, tên thật là Đặng Thành Tậm (quên mất pháp danh) được vời đến vì nghe nói ông đã từng trị khỏi nhiều ca ma quỷ nhập xác. Ông vừa đến nơi đã khoác mảnh y và cầm tràng hạt đi vào.

Sau một lát, ông tiu nghỉu quay ra, lắc đầu: “Nó biểu nó cũng không theo phật giáo, chỉ muốn ăn phở!”.

Sáng hôm sau, thiếu tá Phạm Kim Quy điện thoại cho một người bạn để vời cấp tốc một thầy pháp lừng danh Sài Gòn-Gia Định-Chợ lớn là thầy Chín Củi. 

Trong lúc chờ thầy và sắm sanh đủ lễ vật lập đàn cúng, trung tá Bình điện thoại cho một loạt bạn bè ở Tổng Tham Mưu. Lý lịch của con ma đòi ăn phở hóa ra có thật 100%! Gã trung sĩ nhất này chết vì tai nạn giao thông cách đây tròn 1 năm và được chôn ở nghĩa trang quân đội Gò Vấp.

 Xế trưa, “thầy Chín” đến trên xe Jeep có còi hụ đường hoàng. Bàn cúng được cấp tập bày biện. Đặt “ông tướng thầy ba”(một loại linh tượng nhỏ) lên bàn, thầy Chín bắt đầu xõa tóc vung gươm gỗ làm phép. Chưa kịp đốt xong lá bùa trừ tà thì con ma đòi ăn phở đã tuột xuống giường, xấn xổ vào thầy pháp giật thanh gươm gỗ chém nát cả đàn tràng! Sợ xanh mặt, thầy Chín lật đật cuốn tượng dông tuốt ra đường bắt taxi “quy hồi cố quận”!

Hết nước, thiếu tá Ph. bèn ngồi phịch xuống đất vái “vợ” như tế sao. Thiếu tá Quy và mọi người lắc đầu rút dần ra ngoài sân. Lúc này con ma đòi ăn phở đưa ra một yêu cầu thương lượng: “Nếu cho ăn 10 tô phở, sẽ hứa đi luôn không làm phiền gia đình nữa!”

     

Một ngày nữa trôi qua, thiếu tá Ph. lo sợ khi thấy vợ không ăn uống gì mà cứ ngồi trên giường “tôi nhìn tôi trên vách”. Bí thế, thiếu tá Ph. bàn với 2 ông bạn chí cốt là thiếu tá Quy và trung tá Bình: “Phải thua con ma này thôi!”.

Thế là “thể theo lời yêu cầu”, thiếu tá Ph. sai cô giúp việc đi mua phở. Vừa mang vào phòng, không buồn quay lại nhìn, con ma đã nạt: “Nhà giàu mà bần tiện quá vậy? Nói mua 10 tô mà sao mua có 2 tô?”. Cả nhà giật bắn mình vì quả thực là mua chỉ 2 tô.

Sá gì 10 tô phở, nhưng chỉ sợ “vợ”bị bội thực do con ma tham ăn nên thiếu tá Ph. cũng chỉ mua 5 tô, sớt ra 10 cái chén nhỏ.

Cũng không thể qua mặt con ma, gã nhấn mạnh: ”Mười tô là mười tô! Chín tô cũng không đi…”

Mười tô phở được sắp hàng trước mặt con ma trung sĩ nhất, gã hít một hơi rồi mỉm cười hài lòng. Thiếu tá Quy nghĩ sao chặn lại: “ Lỡ mai mốt ông ăn xong, quay lại nữa thì sao?” Con ma tỉnh rụi: “Tui hứa!”. Thiếu tá Quy mang giấy bút ra bắt con ma làm bản-cam-đoan. Dường như vì quá thèm nên con ma lật đật cầm giấy bút nguệch ngoạc mấy chữ rồi ký tên. Đoạn, gã cầm đũa thọc vào tô thứ nhật khiến cả nhà hồi hộp. Hóa ra gã chỉ nhúng đũa vào cả 10 tô rồi đưa lên mũi hít một cái!

Vừa xong, chợt bà vợ thiếu tá Ph. như lên cơn co giật rồi ngã ra bất tỉnh.

Khi tỉnh lại bà vợ hoàn toàn ngơ ngác không biết chuyện gì và ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều người trong nhà. Được dặn dò trước, mọi người đều nói cho bà biết bà bị trúng gió mấy ngày nay và bác sĩ đã trị cho bà thuyên giảm.

Số lượng phở của con ma dùng qua, đưa cho người làm và tài xế đều bị trả lại vì chẳng hiểu sao tất cả đều bị sình chương và đổ nhớt!

Đáng ngạc nhiên hơn khi hôm sau, thiếu tá Quy mang về một số tài liệu có chữ viết của trung sĩ  nhất Đoàn thiện Hùng. So tự dạng thì…giống hệt! Ba ông bạn nối khố gồm: thiếu tá Ph., thiếu tá Quy và trung tá Bình đi lên tận nghĩa trang quân đội Gò Vấp và đứng trước ngôi mộ của con ma đòi ăn phở, cả 3 đều có cảm giác rờn rợn.

     

Chuyện qua đi cho đến 2 tháng sau, một buổi chiều u ám, tên trung sĩ nhất lại trở về đòi ăn phở. Bực mình, thiếu tá Ph. đưa tờ giấy có bút tích của gã ra. Đọc lướt qua thật nhanh, gã “à há” một câu rồi xuất ra khỏi bà vợ ngay lập tức. Hóa ra, đây là một con ma hết sức trọng chữ tín và khá hài hước…

     

Cho đến giờ phút này, tất cả những người liên quan đã xuất cảnh sinh sống ở phương trời khác, có kẻ còn người mất, ngay cả căn nhà năm xưa bây giờ cũng đã phá bỏ để  xây lên một khách sạn cỡ 2, 3 sao…nhưng câu chuyện về con ma đòi ăn phở vẫn là một câu chuyện ma ngộ nghĩnh nhất, theo nhận định của khá nhiều tướng tá của chế độ cũ, đặc biệt là của người trong cuộc-kẻ liên quan, cũng là người thuật lại câu chuyện: đại tá Phạm Kim Quy…

      

MA ĂN...PHỞ! - Tác Giả Nguyễn Minh Chí | Truyện Ma Có Thật

Industria Alimentar


Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình 

Đã Từng Có Đàn Ông Việt Như Thế ! - Ku Búa


Hiện tại đàn ông Việt Nam không phải là đàn ông mà là những con vật có dương vật trong thể hình đàn ông. Nếu nói nhẹ hơn thì họ chỉ là những đứa trẻ non nớt, không hơn không kém. Đàn ông Việt hiện tại thực sự quá tệ. Họ sống không có phương hướng và tối ngày nhậu nhẹt và tự cho rằng mình thật vĩ đại. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Trước đây, đã từng có những đàn ông Việt đúng nghĩa và chính nghĩa.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai tử tế. Anh ta sẵn lòng nhường cho phụ nữ, sẵn sàng giúp cụ già qua đường và sẵn sàng che chở cho trẻ em. Anh ta làm vì từ nhỏ anh ta đã được dạy như thế. “Lá lành đùm lá rách.” Mình là phái mạnh thì tại sao phải ăn thua đủ với mấy chị em phụ nữ làm gì.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai có trách nhiệm. Đi làm xong là anh ta về nhả để ăn tối với vợ con. Dù thời gian ăn tối bên gia đình rất ngắn, nhưng anh ta biết rằng tất cả những sự thay đổi trong xã hội đều bắt đầu trong gia đình. Và tất cả những sự thay đổi trong gia đình đều bắt đầu bằng những bữa ăn tối. Đó là thời gian anh ta dùng để dạy con hoặc tâm sự với vợ về những hoài bão trong lòng mình.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai thật thà chất phát. Anh ta không thích thói dối, không thích ai nói dối và anh ta căm ghét sự gian dối. Anh ta gần như không thể nào nói dối và cũng không biết nói dối là sao. Anh ta chân thật nhưng không biết mình chân thật.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai được ăn học tử tế. Đúng, không phải ai cũng được ăn học đầy đủ. Nhưng những người dù không được ăn học đến nơi đến chốn cũng cư xử và ăn nói không khác gì một người trí thức. Anh ta rất nhẹ nhàng.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai lễ phép với ông bà và cha mẹ. Anh ta đã được dạy từ nhỏ rằng phải “kính trên nhường dưới.” Nếu anh ta là trai trưởng thì anh ta sẽ gánh phần nặng của công việc gia đình và che chở cho đàn em. Anh ta biết trách nhiệm của mình và sống theo chân lý đó.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai hiếm khi nào nhậu nhẹt. Anh ta chỉ nhậu khi ăn mừng gì đó với bạn bè chứ không có nhậu như ăn cơm. Anh ta biết rượu bia rất có hại và nó chỉ đốt tiền chứ chẳng giúp ích thì. Thay vì lãng phí công sức của mình vào những thứ vô bổ đó thì anh ta sẽ tích lũy cho vợ con và dành dụm cho gia đình.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai khiến tôi cảm thấy an toàn. Nếu họ thấy tôi bị cướp thì sẽ ngay lập tức đứng ra ngăn chặn. Đối với họ, đó là nghĩa vụ của một người nam nhi. Anh ta là cảnh sát nhưng không làm cảnh sát. Xã hội vì thế mà luôn an toàn vì có anh ta che chở.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai ham học hỏi. Anh ta lúc nào cũng đọc sách. Đọc sách là niềm đam mê của anh ta. Anh ta có thể trích thơ Nguyên Sa, Nguyễn Bính, Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử. Đối với anh ta, văn học Việt Nam là một kho tàng và anh ta phải biết đến những tinh hoa đó.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai chăm chỉ và siêng năng làm ăn. Vì bản chất cần cù và thật thà nên anh ta dù chỉ là một anh chở xe lam nhưng cũng tích lũy đủ tiền để mua đất, xây nhà và làm ăn.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai khiến các cô gái Việt luôn cảm thấy mình được tôn vinh và tôn trọng. Anh ta tỏ tình rất thơ mộng và trí thức. Anh ta còn không dám nói tục dù chỉ một lời. Anh ta cũng không dùng những từ hết sức thô tục để miêu tả phụ nữ.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai sẵn lòng gia nhập quân lực để bảo vệ đất nước. Anh ta không mong sự oai hùng, anh ta cũng chẳng cần huân chương, anh ta cũng chẳng quan tâm đến phúc lợi. Anh ta đứng lên, anh ta xung phong và anh ta chiến đấu vì lý tưởng. Anh ta coi bản thân mình là một người bảo vệ tự do và đất nước. Đối với anh ta, đó mới là lý tưởng sống.

Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai mà tôi gọi là những anh hùng. Anh ta nhìn thật vĩ đại trong bộ quân phục. Đôi mắt anh ta nói lên tất cả. Anh ta sẵn lòng chết, anh ta sẵn lòng hy sinh vì đất nước. Những anh chàng đó là những người tôi gọi là những người hùng của đất nước. Dù trong thời chiến nhưng tôi luôn cảm thấy an toàn.


Các bạn không tin những gì tôi nói sao? Ngày xưa Việt Nam đã có những chàng trai lý tưởng, những chàng trai chính nghĩa, những chàng trai khiến tôi cảm thấy tự hào. Tôi không hề hoang tưởng. Tôi biết là ngày xưa đất Việt Nam đã có những chàng trai chính nghĩa như thế. Tôi biết, vì ông tôi, bác tôi và ba tôi là những người chính nghĩa như thế. Thời của họ là thời chiến tranh nhưng họ luôn sống thật và và lý tưởng. Họ biết rằng nhiệm vụ của đàn ông là phải đứng lên bảo vệ lẽ phải như bao thế hệ trước đã làm cho bản thân, cho gia đình và cho đất nước.


Nhưng bây giờ đất nước Việt Nam đã không còn những chàng trai như thế nữa. Bây giờ nước Việt Nam chỉ có những chàng trai hám nhậu, lười biếng, thụ động, vũ phu, gia trưởng và gian dối. Tôi không hề nói tất cả nhé, nhưng đa số là vậy. Xung quanh tôi là những người như vậy. Các bạn nam của Việt Nam à, đã đến lúc các bạn thức tỉnh và nhận ra trách nhiệm của mình là gì. Hãy sống vì lý tưởng thay vì vô phương hướng. Hãy sống vì tất cả thay vì bản thân. Đất nước này tồn tại đến ngày này là vì ngày xưa đất nước Việt Nam đã từng có những chàng trai thà chết chứ không khuất phục trước cường quyền. Đất nước Việt Nam đã từng có những chàng trai chính nghĩa như thế.

Còn bạn, bạn có phải là một chàng trai Việt Nam chính nghĩa không?


Ku Búa @ Cafe Ku Búa

Friday, May 1, 2026

Còn Những Thứ Tang IV - Tâm Tiễn

 

Giờ Phút Cuối Cùng Của Một Đơn Vị QLVNCH Tại Sài Gòn - Chi Lan

 

Xác xe tăng T-54 của cộng sản bị bắn cháy trên đường Trương Minh Ký (gần Lăng Cha Cả) vào ngày 30-4-75.


Không bao giờ chúng ta có thể ngờ được có ngày 30/4/1975 và không bao giờ, trước đó, chúng ta nghĩ rằng ngày 30/4/1975 chính là ngày vành khăn tang phủ lên đầu Bà Mẹ Việt Nam.

Đơn vị chúng tôi đang đùa giỡn với địch quân tại vùng ngoại ô Sài Gòn, khu xa lộ Đại Hàn nối liền từ ngã tư Quân Vận (Trung tâm Huấn luyện Quang Trung) đến xa cảng Phú Lâm. Được lệnh, nguyên Tiểu Đoàn phải về phòng thủ dọc theo Quốc lộ 1 từ ngã tư Quân Vận đến ngã ba Bà Quẹo trong đêm 27/4/1975. 


Thưa quý vị độc giả, vì vài lý do riêng mà lý do chính vẫn là anh em đồng ngũ của chúng tôi, một số đông vẫn còn trong vòng kềm tỏa của bọn Cộng sản khát máu, vậy những tên tuổi trong cốt truyện này chỉ là tên giả cũng như tên của đơn vị chúng tôi xin được tạm quên, trong câu chuyện đầy đau thương thống khổ, cười ra nước mắt mà nước mắt lại là máu huyết của chúng tôi, vì chúng tôi tan hàng trong lúc địch quân đang bạt vía kinh hồn không hiểu chúng tôi đang ở đâu, không hiểu chúng tôi còn hay rã nên bước chân vào Sài Gòn mà vẫn còn run rẩy. Nếu không được bọn ăn cơm Quốc gia thờ ma cộng sản chỉ lối đưa đường thì chúng cũng chưa có hoàn hồn khi bước chân vào Dinh Độc Lập.Và sau đó nhân loại đâu có ngờ được những sự dã man, tắm máu khô, khủng khiếp đang bao trùm lên dân tộc tôi, những đơn vị Mũ Đỏ, những đứa con chỉ biết sống chết cho vinh quang của đất nước, chết để bảo vệ Quê hương “Quê Mẹ Việt Nam”, đành phải gạt nước mắt tan hàng trong ngỡ ngàng, trong đau đớn tột cùng, trong tiếng cười khan pha lẫn máu bạn bè, đồng đội.

Với 15 Tiểu đoàn tác chiến (chắc có người lấy làm lạ): Vâng đúng như vậy, 15 Tiểu đoàn tác chiến, 4 Tiểu đoàn pháo binh, 4 Đại đội Trinh sát, 15 Đại đội đa năng với kỷ luật cao độ, tác phong đứng đắn, lúc nào cũng hiên ngang đùa giỡn với tử thần, và châm ngôn “thân dân, bảo vệ dân và giúp đỡ dân” được chúng tôi ghi khắc trong tâm hòa khẩu hiệu “CỐ GẮNG” để hoàn thành mọi vấn đề khó khăn trầm trọng.

Chúng tôi không sao quên được những cánh tay gầy guộc của bà mẹ Trị Thiên đã ôm chúng tôi run run dâng lệ vì sung sướng khi thấy chúng tôi trở lại Trị Thiên năm 1972. Các bà mẹ, các em gái đón chúng tôi tại đầu đường, không do chính quyền tổ chức mà do tình cảm của con người đối với con người: của các bà mẹ, của các em gái đón những đứa con yêu, những người anh can trường mang thân mình để bảo vệ đồng bào, quê hương đọa đày. 

Ôi những em bé Huế dưới làn mưa đạn của quân thù đã đem đến cho chúng tôi những nắm cơm sấy trong biến cố Mậu Thân. Những vòng hoa chiến thắng của nữ sinh Quảng Ngãi đã choàng cho chúng tôi trong dịp Xuân 1966 sau Liên Kết 81, miền Trung đậm đà, miền Nam thương yêu, ở bất cứ chiến trường nào chúng tôi cũng tôn trọng kỷ luật của Quân đội và kỷ luật sắt thép của Binh chủng là phải tôn trọng dân, được dân mến, dân thương, thì chiến thắng quân thù chỉ còn là bước chân nhẹ nhàng để đón nhận vinh quang. Tại những vùng tiền tuyến, đi đâu dân cũng mến, dân cũng thương đoàn quân Mũ Đỏ.


Tại chiến trường cam go Quy Nhơn, Bình Định, đoàn quân nào ngoại quốc tới đó cũng khựng lại, nhưng đoàn quân Mũ Đỏ dễ dàng lấn chiếm các mật khu mà chúng tự cho là đời đời bền vững. Tại miền Đông chiến khu D, tam giác sắt trở thành những vùng quang đãng, thanh bình, sau khi những cánh Thiên Thần lướt qua. Tại miền Tây Cầu Kè đến U Minh, Đông Tháp, nơi nào ngập lụt, nơi nào khó khăn nhất, chúng tôi ít nhất cũng qua đó một lần trong vinh quang.


Vậy mà năm 1975, chúng tôi phải tan hàng, phải tù tội, phải chịu đựng mọi sự trả thù thấp hèn đốn mạt dã man mà loài người không tưởng tượng nổi. Chúng tôi không một oán hờn với những người lầm đường lạc lối nhưng nay đã thức tỉnh. Chúng tôi không một ngạo mạn với những bạn bè cùng chung chí hướng, những ân tình của dân chúng đã vun đắp chúng tôi thành một ý chí sắt đá nguyện đem tấm thân còn lại trở về quê hương.

Xin hãy đừng vơ đũa cả nắm, xin hãy dành một ý niệm tốt cho những thanh niên miền Nam Việt Nam, những người đã dâng hiến cả cuộc đời thanh xuân của mình cho Quốc gia Dân tộc, quyết không bao giờ lừa dối, man trá được. Xin hãy dùng tất cả mánh lới thủ đoạn, dù lớn hay nhỏ, dù hời hợt hay sâu xa cho quân thù. Xin linh hồn bạn bè hãy soi sáng cho đường đi lối về của những người con yêu của đất nước, xin hãy bỏ bớt những trò múa may quay cuồng, để gồm thâu tình nghĩa gần lại với quê hương dân tộc, xin hãy lấy tâm gan cộng tác với nhau, xin đừng dèm pha xấu xa, con đường trở về Thiên nan, vạn nan, đầy dẫy những chướng ngại của quân thù. Xin đừng giúp quân thù cài thêm chướng ngại cho chiến hữu, bạn bè.


***

Đúng 10 giờ sáng ngày 30/4/1975, tôi nhận được lệnh rút lui, lúc đó Đại đội của tôi là tuyến đầu của Tiểu đoàn tại vùng ngã tư Quân vận đến cầu Tham Lương cách hãng dệt Vinatexco 300 mét về hướng Hóc Môn. Cùng lúc đó đứa con đầu đàn của tôi báo cáo đoàn xe địch đang di chuyển vào phòng tuyến xin lệnh tôi. Tôi xin lệnh trên, được lệnh vắn tắt (“Tiêu diệt xong rút về Lăng Cha Cả chờ lệnh kế tiếp. Không thu chiến lợi phẩm, bảo toàn lực lượng”). Tôi cũng xin nói thêm Tiểu đoàn chúng tôi rải quân như sau: Đại đội thứ 4 của tôi từ ngã tư Quân Vận đến cầu Tham Lương, Đại đội thứ 3 khu Bình Thới đến ngã ba Bà Quẹo, Đại đội thứ 2 từ ngã ba Bà Quẹo đến ngã tư Bảy Hiền, Đại đội thứ 1 từ ngã tư Bảy Hiền đến Lăng Cha Cả và Trương Minh Ký.

Tôi cho lệnh chi tiết cho Chuẩn úy Nhiên, Trung đội Trưởng Trung đội 1 của tôi, Nhiên nhanh nhẹn trả lời “Hiểu và thi hành.”

Đoàn xe địch dẫn đầu bằng 3 chiếc PT-76 thư thả tiến vào Sài Gòn không gặp một sức kháng cự nào, qua ngã tư Quân Vận, qua Khu gia binh của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Tôi đưa ống dòm theo dõi từng vết xích của Chiến xa dẫn đầu đang nghiền nát Quê hương tôi. Hai cột khói nâng bổng 2 chiến xa dẫn đầu kèm theo tiếng nổ của mìn chống chiến xa, một loạt hỏa tiễn M72 phóng ra, 3 chiến xa dẫn đầu tan nát, kèm theo 10 xe vận tải chở đầy bộ đội Bắc việt bị lật nghiêng. Đoàn xe sau đụng nhau dồn cục gây thêm một số thương vong cho chúng. Những cán ngố chỉa súng bắn loạn xạ, nhưng chúng không thấy chúng tôi. Chúng tôi rút về tới ngã ba Bà Quẹo, một giờ vất vả và vô sự. Đúng lúc đó địch quân cũng đã hoàn hồn và tiếp tục di chuyển, lần này chúng thận trọng di chuyển thật chậm, vừa đi vừa bắn những chỗ chúng khả nghi. Đơn vị chúng tôi tiếp tục di chuyển về ngã tư Bảy Hiền.


Một số phóng viên ngoại quốc bu lấy tôi hỏi đủ chuyện. Lúc đầu tôi trả lời bằng tiếng của họ “Tôi không biết”, nhưng sau đó một phóng viên ngoại quốc hỏi tôi bằng tiếng Việt:

- Anh thuộc đơn vị nào?

- Nhảy Dù

- Tôi muốn hỏi anh thuộc Tiểu Đoàn nào?

- Anh cứ biết một Tiểu Đoàn Nhảy Dù đủ rồi.

Thấy tôi không muốn trả lời họ không hỏi nữa. Họ thi nhau chụp hình đơn vị đang rút của tôi rồi bỏ đi về hướng tiền quân.

Nhảy Dù! Không hiểu ai đặt ra cái luật khắt khe, “Không được tự ý trả lời phóng viên dù là tên của mình”. Quý vị thấy những đơn vị bạn có những tên thật đẹp như Cọp Vằn, Hắc Báo, Kình Ngư... Nhưng Nhảy Dù có những tên vô cùng đẹp như: Con Gà tử mị, Sư Tử mắc nước, Con Cù lần v.v... Còn tên các Tiểu Đoàn Trưởng như: Trưởng ấp, Xã trưởng, Bồi bàn, Cao bồi v.v... Đại Đội Trưởng: T... sốt rét, N. Lai H... ghẻ v.v... Có một Đại Đội Trưởng may mắn hơn có cái tên đẹp Út Bạch Lan. Thường những tên như vậy cấp dưới biết nhưng không ai dám gọi cả.

Mặc dầu địch quân tiến thật chậm, và thận trọng nhưng chúng tôi nhất định không tha, nếu chúng nắm vững tình hình tiến chậm 2 giờ nữa để đơn vị chúng tôi rút lui xong, thì chắc chắn chúng sẽ vào Dinh Độc Lập như vào chỗ không người. Khi tới gần Vinatexco, 2 Thiết giáp đi đầu bắn xả vào những “Lô cốt” trong phi trường, nhưng các lô cốt này đã bỏ trống, đơn vị phòng thủ phi trường đã bỏ ngõ từ lúc trưa ngày 29/4/75. Các loại súng trên thiết giáp thi nhau nhả đạn vào những chỗ chúng nghi ngờ. Chúng đâu có ngờ một pháo đội ngụy trang kín đáo tại vị trí vãng lai của TĐ1 PB đang sẵn sàng tiêu diệt chúng, 4 viên đạn chống chiến xa ra khỏi nòng súng 105 ly, các pháo thủ đầy kinh nghiệm chiến trường rang muối thêm 2 con cua sắt và 2 vận tải. Lần này chúng có kinh nghiệm, chúng không bị dồn cục nên không bị tổn thất thêm, nhưng đau cho chúng là chúng không biết từ đâu để bắn lại trả thù. Xong nhiệm vụ các pháo thủ Mũ Đỏ cũng rút lui sau khi phá hủy súng.


Đối với chúng tôi, đánh giặc phải tiêu diệt chúng xong, chiếm mục tiêu, thu chiến lợi phẩm thì đơn vị mới có tổn thất, còn diễn trò như hôm nay, gây cho chúng tổn thất rồi mình chạy làng thì không bao giờ anh em chúng tôi phải hy sinh. Nhưng trò đùa này của chúng tôi cũng làm chúng điên đầu nhức óc, mỗi lần như vậy, chúng lại phải điều quân lại, tổ chức lại đội hình thật lâu chúng mới dám dè dặt tiến quân tiếp. Chúng bắn tứ tung, mất tinh thần thấy rõ, chính vì vậy mà những đơn vị của chúng ta trước đây mỗi khi đi hành quân bảo vệ đồng bào, nếu không cẩn thận dễ bị tổn thất, vì địch không đương đầu chống lại, chúng vừa đánh vừa rút, hoặc phải đương đầu với ta là vì chúng không còn ngõ để chạy nữa. Nhất là những vùng rừng núi rộng rãi chỗ cho chúng chạy thì: Kỹ thuật tác chiến yếu, tinh thần suy sụp là đơn vị hành quân rất dễ bị nướng lắm.

Từ ngã 3 Bà Quẹo dân chúng còn lại, hối hả chạy dọc theo đường hướng về phía Sài Gòn, sự sợ hãi, hốt hoảng lộ ra trên nét mặt, không còn một nụ cười trên môi các thiếu nữ, không còn tiếng nô đùa trên miệng các em bé vui tươi. Nhìn những khuôn mặt ngây thơ đầy u uất, lòng tôi se lại trong đớn đau nát da, đứt ruột. Đồng bào tôi đây, đang cần sự che chở của Quân đội, của chúng tôi, nhưng chúng tôi lại “Khiếp nhược” rút lui! Không thể được, việc trước mắt như cứu lửa, phải bảo vệ đồng bào như một phản ứng tự nhiên. Có bao giờ chúng tôi phải rút lui cay đắng như thế này đâu? Có bao giờ đồng bào nhìn chúng tôi xong lặng lẽ chạy tiếp đâu? Bây giờ giặc đã đến ngõ cụt của Thủ Đô. Những giọt mồ hôi quái ác làm mắt tôi cay cứng lấy tay áo quệt mồ hôi; mặc dù chưa rõ tình hình chung, nhưng tôi biết đây là trận chiến cuối cùng để dân tộc này, quê hương này sẽ đi vào con đường u tối miên man, không một ánh sáng cuối đường hầm.


Chúng tôi cố tình trì hoãn rút lui để đồng bào chúng tôi đi được một khoảng cách xa an toàn, tôi cho lệnh rút lui tiếp tục, đứa con đầu của tôi, trước cổng Hoàng Hoa Thám chậm chạp di chuyển về phía sau đồng bào. Tôi đang từ Trung đội 4 trước Hội đồng xã Tân Sơn Hòa lướt qua Trung đội 3, những anh em chiến hữu của tôi đã xả thân tại khắp các chiến trường đất nước, từng làm quân thù bạt vía kính hồn từ trận nhỏ đến trận lớn. Tôi nhìn vào tận mắt của từng người như cầu van tha thứ cho tôi, “Vì đã cho lệnh họ rút lui trước quân thù”; nhưng những ánh mắt nhìn tôi như oán hờn, như trách móc.Tôi cúi mặt tránh những ánh mắt thân thương, lầm lũi bước đi trên đường Lê Văn Duyệt quen thuộc, trước cổng trại Thạch Văn Thịnh (TĐ2 Nhảy Dù), con đường rộng thênh thang không còn bóng người dân di chuyển, chỉ còn lại chúng tôi và một số phóng viên ngoại quốc. Tới cổng Hoàng Hoa Thám tự nhiên chân tôi chùn lại, tưởng như một khối chì nặng nề níu chân lại.

Đứng lại trong thế nghiêm tự nhiên, cay đắng nhìn cổng trại thân yêu, cách đây 10 năm tôi vui mừng rạng rỡ bước qua để chính thức trở thành một Quân nhân Mũ Đỏ, chiếc cổng vô tri này nhưng ma lực của nó đã có sức hút vô cùng mạnh mẽ đối với biết bao thanh niên anh hùng ở lứa tuổi đôi mươi. Hình ảnh chiếc cổng hoang tàn với hàng rào Concertina ngổn ngang như hoang phế lâu ngày, nhìn sâu vào trong trại, tôi thấy thấp thoáng những bạn bè, chiến hữu chúng tôi đang vội vã di chuyển trong đó. Tôi không hiểu tôi đang là một thứ người gì, nhưng tôi đang đứng sững nghiêm chỉnh trước chiếc cổng như đại diện cho đơn vị, đơn vị tôi tôn thờ như thánh thần trong tâm khảm. Những ngày tung hoành ngang dọc nào có mơ ước gì hơn là tiêu diệt kẻ thù để đồng bào được yên ổn làm ăn.

Tôi đưa tay chào chiếc cổng thân yêu, các phóng viên muốn thu hình này nhưng quá muộn, tôi lững thững bước đi như xác không hồn. Nước mắt tôi dàn dụa xen lẫn mồ hôi cay đắng, cơn nấc nghẹn ngào làm tôi nghẹt thở. Giã từ Hoàng Hoa Thám, giã từ đơn vị thân yêu, đơn vị đã được chúng tôi dâng trọn cuộc đời thanh niên cho Hoàng Hoa Thám,dâng trọn cho đoàn quân Mũ Đỏ.


Bây giờ với cái thân tàn tạ, hèn nhát này, dẫn đơn vị rút lui, dù theo lệnh trên, nhưng trước sức tấn công ào ạt của địch quân vào Thủ Đô. Ôi những chiến tích nức lòng dân như: A Châu, A Lưới, Tân Cảnh, Quảng Ngãi, Chương Thiện, Tây Ninh, Kiến Phong, Bình Long, Kom Tum, Quảng Trị v.v... có chăng chỉ còn là một cơn gió thoảng qua trong cơn nóng nung lửa của tâm hồn. Sự dằn vặt tột cùng của sự tháo lui. Ôi cấp Chỉ huy của tôi ơi! Ôi bạn bè của tôi ơi! Ôi những chiến hữu Mũ Đỏ kiêu hùng của tôi ơi! Chúng ta đã chạy thật hay sao đây? Đồng bào của chúng ta kia! Quê hương của chúng ta đó! Doanh trại của chúng ta đây! Hồn thiêng của bạn bè ẩn hiện đâu đây có ai cảm thông nỗi thống khổ này? Những khuôn mặt của Hiền, Được, Khiêm, Nhượng, Tống, Hùng, Hòa và hàng ngàn các Chiến hữu Mũ Đỏ đã ra đi, giận dữ nhìn tôi.

Tôi nhắm mắt bước đi theo đoàn quân chậm chạp rút lui như tử tội nặng nề bước chân lên bực thang máy chém. Tôi cố gắng im lặng để thanh thản bước đi nhưng hình ảnh anh em bạn bè, họ là những Chiến sĩ vô danh cứ soi mói nhìn tôi như oán trách, như căm hờn. 7 điều tâm niệm khi mới bước chân vào quân ngũ tôi vẫn còn thuộc lòng từng câu từng chữ:

Luôn nêu cao danh dự của Quân Đội.....

Phải thân dân bảo vệ dân và giúp đỡ dân.


Nhưng giờ đây lúc này không phải một điều nào chúng tôi cũng giữ được, thế hệ sau sẽ nguyền rủa. Chúng tôi không phủ nhận, xin nhận tất cả tội lỗi nhưng phải làm gì khác hơn đây. Từ ngày bước chân vào Quân ngũ là đã sẵn sàng chấp nhận tấm Poncho gói ghém thân mình, hay vinh hạnh hơn nữa là “lá Quốc kỳ phủ lên thân”, sống chết chẳng qua là cuộc đổi đời, quan niệm như vậy nên sự sống, sự chết đối với những người Mũ Đỏ thật cụ thể và nhiệm vụ Quân đội, nhân dân giao phó mới đáng kể, nhưng bây giờ nhiệm vụ của Quân đội giao phó là rút lui hay sao đây? Lằn tên nào cản được bước chân chúng tôi, bom đạn nào làm chùn chân chúng tôi, quân thù nào ngang cấp số với đơn vị dám đương đầu. Thân xác chúng tôi ai mà chẳng có vết tích của chiến tranh để lại trên thân thể. Thương xót cho bạn bè, cho đồng bào, cho dân tộc không biết sẽ phải đi về đâu đây?

- Thưa Đích Thân, “Ba” vừa đánh cháy thêm 2 chiến xa nữa. 

Tiếng của Hòa người mang máy cho tôi. (Hiện nay Hòa đang ở Úc Châu.) Tôi hỏi vắn tắt:

- Ở đâu?

- Ngã ba Bà Quẹo.

Tôi vừa băng qua Đại đội 1 của đơn vị, được lệnh trực chỉ theo đường Trương Minh Giảng về hướng Sài Gòn đến ngã 3 Trương Tấn Bửu chờ lệnh.

Dọc theo bên đường dân chúng ngơ ngác nhìn chúng tôi, người chạy theo lên hướng Sài Gòn, người ngơ ngác đứng nhìn. Tôi vừa dừng chân tại Trương Tấn Bửu, trước bót Cảnh sát.

- “Hai” đánh cháy 1 chiến xa và 3 xe vận tải tại ngã tư Bảy Hiền, “Ba” đã qua Lăng Cha Cả, cùng Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn. “Một” còn nằm tại chỗ.

Tôi im lặng nghe Hòa báo cáo:

- Thưa Đích Thân, “Hai” đã qua Lăng Cha Cả.

Cùng lúc đó tôi nhận được lệnh kiếm chỗ trống trải để tập họp cả Tiểu Đoàn. Trung đội 4 của Hạnh cho biết có sân trường Đại Học Vạn Hạnh có thể tập họp được. 

5 phút sau Hạnh báo cáo có 1 xe Jeep mang Huy hiệu Biệt Động Quân nhưng do bọn mang băng đỏ bên tay trái lái. Tôi cho lệnh chận xe đó lại khai thác tin tức.

Trung đội 4 báo cáo xe đó là của một Trung tá BĐQ nhà gần đó bị bọn mang băng đỏ (sau này đồng bào gọi là bọn 30-4) cướp xử dụng, trên xe có 6 tên đa số là Sinh viên của Đại học Vạn Hạnh. Chúng xử dụng súng của Nhân dân tự vệ.


Đồng bào thấy chúng tôi mồ hôi nhễ nhãi, người tiếp tế nước đá lạnh, người mang ra bình trà, có người mang cả đồ ăn. Lúc đó mặc dầu khát dữ dội nhưng cầm ly nước lạnh, không sao tôi có thể nuốt trôi được. Tôi đang căm tức bọn băng đỏ, bọn đê tiện phản bội. Ý tưởng thịt bọn chúng lẩn quẩn trong đầu tôi, nhưng tôi nghĩ sau này có thể bị xuyên tạc và dân chúng sẽ hiểu lầm đơn vị, hiểu lầm Binh chủng. Một điều chúng tôi tối kỵ, làm gì cũng được, nhưng nếu danh dự Binh chủng bị xúc phạm, dù có chiến thắng hay lợi lộc mấy đi chăng nữa, chúng tôi cũng phải suy xét lại. Tôi nhớ Tết Mậu Thân, đơn vị chúng tôi trên đường về giải cứu cố đô Huế, Tiểu Đoàn của tôi bị Tiểu đoàn VC bố trí trên Cổ Thành Huế chận lại; trong khi chúng tôi ở dưới thấp lại còn vướng một dẫy lạch sâu trồng sen chung quanh Cổ Thành này. Thành cao không thể leo lên dễ dàng, khó khăn không thể nào vượt qua, nhưng vị Chỉ huy của chúng tôi cầm chiếc “nón đỏ” và nói: “Đây là lần đầu tiên nón đỏ này bị ô nhục.” Đơn vị nghe thấy máu nóng bừng bừng ai cũng tưởng như mình thêm cánh, thêm sức. Không đầy 30 phút sau sức lực huyền bí dũng mãnh của tinh thần bảo vệ danh dự đơn vị bùng lên, những Thiên Thần sát Cộng đã hiên ngang bay qua từng chốt của địch diệt trọn phòng tuyến chính để vào Thành nội Huế. Chính nhờ vậy chúng tôi tiếp cứu được Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB trong trại Mang Cá Huế.


Cùng lúc đó Hòa báo cáo “1 vừa đánh cháy 1 chiến xa tại Lăng Cha Cả và 2 xe vận tải”. Vào khu Đại học Vạn Hạnh, tôi cho lệnh đứa con thứ tư của tôi đóng chốt giữ an ninh chung quanh khu Đại học và từng đơn vị vào sân Đại học Vạn Hạnh tập họp chờ lệnh. Tôi thấy bọn băng đỏ lố nhố trong khuôn viên ĐHVH, chúng có vũ khí nhưng không một tên nào dám nhố nhăng, vì sau chúng có anh em của tôi kềm súng sẵn sàng hỏi tội chúng. Ý tưởng phải thanh toán hết bọn này lại hiện ra trong trí. Nhưng vị anh cả của chúng tôi im lặng, lầm lì quan sát, tôi thấy môi anh mím chặt, cặp mắt giận dữ nhìn chúng nhưng chưa một phản ứng, thì một tên mặc áo tu hành Phật Giáo tay cầm loa đưa ngang miệng dõng dạc trong câu nói điên rồ: “Đất nước đã thống nhất, yêu cầu các anh em Nhảy Dù hãy buông súng trở về với Cách mạng, cách mạng sẽ khoan hồng cho anh em”. Phản ứng tự nhiên, tôi rút súng chĩa về phía hắn, hắn thụt lùi vào trong hành lang, và hàng trăm cây súng sẵn sàng nhả đạn. Nhìn lên những anh em trên cao ốc, tôi thấy anh em đều chĩa súng sẵn sàng chờ lệnh. Tôi biết rằng nếu tôi siết cò súng là súng nổ rền trời ngay lập tức, để đưa bọn Cộng con về với thiên đường Cộng sản. Nhưng thấy chúng cụp đuôi khiếp vía chạy trốn tôi cho súng vào bao, thầm nghĩ may mắn cho chúng gặp tôi, chứ gặp đơn vị khác thì hẳn là ĐHVH này chắc chắn phải trở thành ĐH “Bất Hạnh” ngay lập tức...


Anh cả của chúng tôi im lặng, đứng sững như trời trồng, sau đó anh cho lệnh Đại đội 1 tìm bãi đất trống trải để tập họp Tiểu Đoàn, và cả đơn vị rút ra khỏi khu ĐHVH. Đơn vị tôi là đơn vị sau cùng ra khỏi khu Vô hạnh này. Tôi không thể hiểu nổi ngay tại nơi huấn luyện đào tạo ra lớp người Tổ Quốc mong cho mai sau lại có đuôi chồn đỏ như thế này hay sao? Thua địch quân không đau, buông súng không tủi bằng phải thua ngay những người mình hằng quý mến. Người tình lang mất người yêu chắc cũng chỉ đau đớn thấm thía như chúng tôi lúc này.

Quê Hương ơi! Tổ Quốc ơi! Đồng bào ơi! Lỗi tại ai đây? Tại chúng tôi hèn nhát? Tại chỉ huy tồi? Tại vận nước suy đồi? Hay nó đã ruỗng ra từ bên trong...! Chúng tôi chỉ còn là cái vỏ mỏng bên ngoài làm sao chống đỡ nổi đây? Đại đội tôi đi sau cùng và vừa ra khỏi khu phản bội được 3 Trung đội, Trung đội sau cùng và tôi rút ra khỏi khu Vô Hạnh mà phải đi giật lùi như trong vùng địch, cẩn tắc biết đâu chúng giở trò cắn trộm. Tâm hồn tôi chùng xuống xen lẫn cơn giận vô bờ. Bọn chồn đỏ lại ló đầu ra, tôi định cho đơn vị khai hỏa, vì cơn giận trong tôi lại bừng lên, nhưng cùng lúc đó danh dự của đơn vị trồi lên lấn át, tôi cho súng vào bao cho lệnh đơn vị tiếp tục rút lui ra vùng tập trung mới.


May cho bọn chúng nếu không nghĩ đến danh dự có thể sẽ bị hiểu lầm, bị nguyền rủa thì chắc chắn chúng phải đền tội. Nếu không thì tôi, phải chính tôi, vì căm hận chắc chắn không thù hằn, nhưng vì uất ức trước sự phản bội phũ phàng, một phút không kềm hãm được sự nóng giận, tôi chỉ cần nhẹ nhàng vẫy tay thôi bọn chúng sẽ phải theo Cáo Hồ của chúng. Ôi danh dự của đơn vị sao cao siêu quá, sao dũng mãnh quá, chế ngự được tất cả. Tôi không hiểu bọn chúng có biết rằng chúng vừa thoát chết hay không? Chúng có hiểu rằng nếu danh dự của đơn vị không chế ngự được chúng tôi thì hậu quả sẽ đến với chúng như thế nào?! Những dòng chữ này chắc chắn sẽ được một hay nhiều tên trong bọn chúng tại chốn Vô Hạnh hôm đó đọc được, để chúng hiểu rằng hôm đó không may súng nổ: Chính là vì chúng đã không khôn ngoan, đã phản bội trắng trợn, đã ngoại tình đê tiện hèn hạ trước mặt người yêu thương quý mến mình.


Bước ra khỏi khu đê hèn, 2 Trung đội Trưởng của tôi có ý trách móc tại sao tôi không giết bọn chúng. Tôi im lặng, tôi muốn anh em giải bày để vơi đi niềm uẩn ức của những anh em đang bị phản bội trắng trợn đê hèn. Bọn vô lương tâm đó ngày nay không hiểu chúng có còn được như Trịnh Công Sơn hay đang lần mò trong những trại giam cầm cho đáng đời bọn xảo trá gian manh.

Vùng tập họp mới của chúng tôi ngay tại ngã tư Yên Đổ và Trương Minh Giảng. Chúng tôi vừa vào hàng ngũ, đơn vị nghiêm chỉnh trình diện anh cả của đơn vị.

Huynh Trưởng của đơn vị gương mặt thểu não nói trong nghẹn ngào. Tôi có cảm tưởng như tiếng nói của anh bị đứt đoạn nhiều lần vì tiếng nấc đau thương: 

“Tôi xin chào tạm biệt các anh em. Xin báo cho các anh em biết chúng ta đã nhận được lệnh buông súng đầu hàng từ cấp chỉ huy tối cao của chúng ta. Cấp chỉ huy trực tiếp của chúng ta hoàn toàn mất 1/1 từ ngày hôm qua. Nhưng chúng ta không thể đầu hàng chúng được, vì danh dự của đơn vị tôi điều động anh em đến đây để bảo với anh em một lệnh cuối cùng: Chúng ta chào tạm biệt nhau tại đây ai về nhà nấy; tất cả Quân trang, Quân dụng tùy anh em định liệu; quyền Chỉ huy của tôi đến đây đã chấm dứt.”

Cả đơn vị im lặng không một tiếng xì xào bàn tán.

Chúng tôi lặng người trong ngỡ ngàng tột độ, những lời lẽ thiếu mạch lạc của vị huynh trưởng phát ra từ xúc động. Tiếng nói của anh chấm dứt sau 5 phút đơn vị vẫn đứng im, từ trên xuống dưới không ai muốn xa nhau, không ai muốn tan hàng. Cái im lặng xa vắng, cái im lặng khủng khiếp. Tôi cũng đã biết giờ phút này phải đến, nhưng không ngờ nó đến trong bẽ bàng thế này! Nhìn hàng quân oai hùng, súng đạn còn đủ dùng, mặt mũi âu sầu. Cặp mắt mọi người đỏ hoe, tất cả đều gục mặt như mặc niệm bạn bè, mặc niệm đơn vị. Cơn đau đớn ê chề xâm chiếm dần dần như làn hơi thổi vào chiếc bong bóng tới độ không chịu được phải phát nổ. Sự phản bội từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài như cơn lốc bạt ngàn tạt vào mặt chúng tôi, cả hàng quân đang im lặng; vị huynh trưởng vẫn còn đứng đó, anh đang cúi mặt chận cơn đau đại nạn.


Tôi biết hàng ngày anh ăn nói rất văn hoa, nhưng hôm nay làm sao lời anh cộc lốc. Anh còn muốn nói nhiều, có lẽ anh còn muốn nói thật to, gào thét thật lớn, để một lần, một lần thôi rồi không bao giờ được tâm sự nữa. Thình lình Trâm, một Trung đội Trưởng của tôi, nước mắt dàn dụa nhảy ra ngoài hàng quân. Trâm dơ cao trái lựu đạn quát to: “Xin các vị huynh trưởng kính mến của tôi hãy ra về. Các anh em của tôi hãy tan hàng, để một mình Trâm ở lại thôi. Tôi đã thề không đội trời chung với bọn vô thần, chúng vào đây thì tôi phải đi.” Trâm vừa nói xong thì khoảng 10 anh em vừa bước tới chỗ Trâm vừa nói: “Để tụi tao (tụi em) chơi chung với. Chúng ta không đầu hàng và cũng không tan hàng. Nhảy Dù chỉ có tiến không có lùi.”

Hoàng Đại đội Trưởng đại đội thứ nhất la lớn:

- Để tao chơi chung với tụi bây.

Vị huynh trưởng cũng chạy lại chỗ Trâm. Tiếng Trâm sang sảng nhưng nghẹn ngào đứt quãng:

- Không được, Đích Thân còn nhiều việc phải lo, còn nhiều việc phải làm, nhất là gia đình của Đích Thân.

- Ai cũng có gia đình, tao chỉ biết có Gia Đình Mũ Đỏ, Gia Đình của Mũ Đỏ là gia đình của chính tao.


Một số anh em khác từ từ rời bỏ hàng ngũ, súng đạn, Quân phục vứt ngổn ngang. Nhất là những anh em lớn tuổi, từ từ rời bỏ bãi tập họp mỗi người một phương, tôi không biết họ có mang theo vũ khí hay không, hay bỏ lại những gì? Còn lại từng tốp một ôm nhau nói chuyện. Tôi không biết họ đang nói gì nhưng nhìn khuôn mặt ai ai cũng chứa đựng đầy uất hận hiện rõ ràng trên khóe mắt đỏ ngầu rực lửa. Trên bãi, súng đạn, ba lô, nón sắt nằm ngỗn ngang và trãi dọc theo bốn hướng ngả tư. Con phố hiền hòa của Đô thành nay lại chứng kiến cảnh tan hàng của một đơn vị. Tôi chắc rằng đây là một đơn vị lớn nhất và là đơn vị sau cùng của Biệt Khu Thủ Đô giã từ vũ khí, đi theo mệnh lệnh của dân tộc. Đơn vị đã tan hàng có trật tự và kỷ luật của đơn vị thực sự bãi bỏ sau tiếng nói nghẹn ngào của một Huynh trưởng đơn vị. Tôi quyết định phải khuyên Trâm và anh em chúng tôi đang bu lại quanh Trâm. Tôi linh cảm thấy, chậm trễ sẽ xảy ra hậu quả không lường được. Tôi chen vào đám đông và la lớn:

- Chúng ta đàng nào cũng chết, nhưng phải chết cho xứng đáng mới được. Chúng ta hãy 1/1 với nhau trở về Long Khánh, Lâm Đồng rồi cùng chiến đấu. Trâm đưa trái lựu đạn cho anh.


Trâm đưa trái lựu đạn cho tôi sau một hồi giằng co. Chúng tôi cùng thỏa thuận hãy tan hàng rồi kiếm kế sau. Bất chợt hai tiếng lựu đạn nổ chát chúa ở gần bức tường cuối bãi. Chúng tôi chạy vội lại quan sát. Tổng cộng 11 anh em đã ôm nhau từ giã, mắt người nào cũng mở như gửi lại những thông điệp bất khuất, không đội trời chung với Cộng sản. Trong số 11 anh em cấp bậc lớn nhất là Thiếu úy Trung đội Trưởng, người cấp bậc nhỏ nhất là Binh nhì khinh binh. Không có thì giờ cùng địa điểm để chôn cất họ, chúng tôi chỉ còn biết sắp xếp họ nằm ngay ngắn, cùng nhau nghiêm chỉnh chào họ. Anh em đã tự chọn con đường vinh quang cho mình, tôi thầm khấn nguyện trước mặt anh em: “Chúng tôi cần phải sống, vì chắc chắn chúng tôi vẫn còn phải tranh đấu với bọn quỷ hại nước hại dân”.

Sau này tôi được tin Trâm về Bảo Lộc hoạt động nhưng bị nội phản, bị xử tử tại đó. Hoàng về Xuân Lộc hoạt động cũng bị tử thương, còn tôi lưu lạc khắp nơi, nhất quyết không trình diện bọn chúng, tôi vượt biên bằng đường bộ qua Khe Sanh, Lao Bảo, Hạ Lào. 


Hỡi các bạn trong Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam. Thưa các bạn Quân Nhân QLVNCH. Bạn bè chúng ta đã chết, một số đang bị đày đọa cực hình, Quê hương chúng ta còn trong tay bọn quỷ đỏ. Xin các bạn đừng vì xe hơi, nhà cao cửa rộng, ham chơi phù phiếm, mà quên đi những người thân yêu, những Vong Hồn bạn bè đã khuất, những cô nhi tử sĩ đang đón chờ từng giờ từng phút, mong mỏi bước chân nhịp nhàng của quý bạn tiến về Quê hương. Hỡi các bạn thanh niên, lịch sử 4.000 năm văn hiến không lúc nào, không thời đại nào dân tộc chúng ta khiếp vía trước móng vuốt tàn ác của quân thù, không khi nào thanh niên Việt Nam lại đê hèn, quên đi gông cùm đỏ dã man đang siết chặt dân tộc ta. Xin hãy cùng nhau bước lên tiến tới và đừng bao giờ quên bọn quỷ đỏ đang lẩn khuất đâu đây, đang ra sức ngăn cản bước chân oanh liệt của chúng ta.


Nghiêm ơi, Trâm ơi, Hoàng ơi, linh hồn các bạn có linh thiêng hãy soi sáng bước chân chúng tôi, máu của các bạn đã chảy, thân xác của các bạn đã nằm xuống, nhưng tấm gương can đảm của các bạn sẽ còn mãi mãi.Trận chiến vừa qua chúng ta tạm lùi, tạm thua giặc. Nhưng chúng ta không đầu hàng giặc, đơn vị chúng ta không buông súng để qui hàng giặc. Tinh thần chúng ta còn đó, chúng ta bỏ nước ra đi bằng áp lực của ma quỷ. Xin hãy hứa cùng nhau “Chúng Ta Sẽ Trở Về.”

 

Chi Lan

Tưởng Nhớ Người Chiến Sĩ VNCH - Nguyễn Duy Phước

Có Những Ngày


Có những ngày trong năm

nhắc người ta nhớ

nhưng cũng có những ngày,

không cần gọi tên

ký ức vẫn trở về…

30 tháng 4,

với nhiều người,

là một ngày kết thúc chiến tranh,

nhưng với nhiều người khác

lại là khởi đầu của một hành trình xót xa,

mất mát,

ra đi,

và không bao giờ trở lại.

Có những con thuyền rời bến trong đêm,

không mang theo gì ngoài hy vọng.

Có những gia đình bị chia cắt, người ở lại,

người ra đi,

và đôi khi không còn gặp nữa.

Có những câu chuyện chưa kịp kể, bị bỏ lại giữa biển,

giữa rừng,

và giữa những năm tháng lặng im.

30 tháng 4,

với nhiều người,

không nằm trong sách giáo khoa,

mà nằm trong ký ức của cha

của mẹ,

của ông,

của bà,

những câu chuyện đau thương, được chôn vùi dưới lòng biển cả,

những câu chuyện tưởng chừng như xa lạ,

lại thuộc về thế hệ con cháu chúng ta

hôm nay.

Ừ thì cũng là một ngày,

nhưng có nhiều tên gọi khác nhau

nhiều cách nói khác nhau,

nhiều cách nhớ khác nhau…

Có người ăn mừng.

Có người tưởng niệm.

Có người chọn lặng im…

không phải vì họ đã quên

mà vì có những nỗi đau

không dễ nói thành lời…

30 tháng 4, vì thế,

không chỉ là một cột mốc thời gian, mà là một vết đen trong lịch sử

chia đôi ký ức,

thân phận,

con người,

và cả cách họ nghĩ về quê hương.

30 tháng 4, vì thế,

chưa bao giờ thực sự kết thúc, mà kéo dài qua nhiều thế hệ…

qua những giấc mơ…

qua những câu hỏi không có câu trả lời.

Và rồi sau tất cả…

điều quan trọng hôm nay

không phải là tranh cãi đúng sai,

mà là một ngày nào đó…

khi nhắc về quá khứ

người ta có thể lắng nghe nhau nhiều hơn,

cảm thông nhau nhiều hơn,

bớt xát muối vào những vết thương…

đã cũ.


(3) Tỵ Nạn Bidong | THÁNG 4! | Facebook

Thanh Loan chuyển

Thursday, April 30, 2026

Tháng Tư Có Nhớ Gì Không - Đỗ Công luận

Ngày Cuối Cùng 30/4/1975: Những Trận Chiến Đẫm Máu Tại Thủ Đô Sài Gòn

Lực Lượng VNCH Tử Chiến Tại Thủ Đô Sài Gòn

SÀI GÒN ƠI VĨNH BIỆT!
Ngày 30/4/1975, trên các cửa ngõ vào thủ đô Sài Gòn, những người lính Bộ binh, Nhảy Dù, Biệt kích Nhảy Dù, Biệt động quân, Thiết giáp, Thủy quân Lục chiến... đã đánh trận cuối cùng trong đời lính của họ ...

Tại cụm phòng tuyến khu vực từ ngã tư Quân Vận (gần trung tâm huấn luyện Quang Trung) đến cầu Tham Lươn Bà Quẹo; Bình Thới- Ngã ba Bà Quẹo; Bảy Hiền- Lăng Cha Cả, đơn vị Nhảy Dù phòng ngự tại đây đã nỗ lực ngăn chận Cộng quân. Những người lính Dù không hề nao núng, bình tĩnh chuẩn bị .

LIÊN ĐOÀN 81 BIỆT CÁCH DÙ TRẤN THỦ SÀI GÒN - HỔ XÁM PHẠM CHÂU TÀI:

Đầu năm 1975 vì nhu cầu chiến trường, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù phải chia ra làm hai cánh quân hoạt động cách xa nhau. Đại Tá Phan Văn Huấn và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 1 và Số 2 đang hành quân nhảy toán trong khu vực Bắc Tân Uyên, Biên Hòa. Riêng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy tăng phái cho Sư Đoàn 25 Bộ Binh hành quân tại Tây Ninh. Giữa Tháng Tư 1975, lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu gọi toàn bộ liên đoàn rút về trấn giữ Saigon, và được trải ra để hoạt động trong một vùng khá rộng chung quanh đô thành Saigon – Chợ Lớn – Gia Định.

Ngày 26 Tháng Tư, Đại Tá Phan Văn Huấn – Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn, sau khi nhận lệnh từ Bộ Tổng Tham Mưu, đã ra lệnh cho Thiếu Tá Phạm Châu Tài – Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn, đem toàn bộ cánh quân do Thiếu Tá Tài chỉ huy, gồm 1 ngàn quân thiện chiến về phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu. Thiếu Tá Phạm Châu Tài chuyển quân xong thì trời đã về chiều. Tại Bộ Tổng Tham Mưu Thiếu Tá Tài được Đại Tá Tòng Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Mưu đón tiếp niềm nở.

Kế đó Đại Tá Tòng giao việc phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu lại cho Trung Tá Đức, Chỉ Huy Phó Tổng Hành Dinh phối hợp với quân số tăng phái của Thiếu Tá Phạm Châu Tài. Đó lần duy nhất Thiếu Tá Phạm Châu Tài được tiếp xúc với Đại Tá Tòng .
Thiếu Tá Phạm Châu Tài khựng lại trước đề nghị cố thủ bên trong vòng đai. Dường như cả hai vị sĩ quan của Bộ Tổng Tham Mưu mà ông tiếp xúc không một ai nắm vững khả năng của lực lượng Biệt Cách Dù, bởi vì cố thủ hay tử thủ gì đó không phải là chiến thuật sở trường của Biệt Cách Dù.. Từ Mậu Thân cho đến Mùa Hè 72, Biệt Cách Dù nổi danh nhất là đánh đêm trong thành phố.

Thiếu Tá Phạm Châu Tài thẳng thắn trình bày ý niệm phòng thủ của ông là tấn công địch trước, và được Trung Tá Đức đồng ý để Thiếu Tá Tài hoàn toàn tự do bố trí, trải quân của Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.
Ngay từ khi mới ngừng xe ở trước cổng chính của Bộ Tổng Tham Mưu, Thiếu Tá Phạm Châu Tài đã nhìn thấy một điều, ông phải bung quân ra xa. Phải chặn địch quân CS ngay trên những con đường chính dẫn về Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc đó trời đã nhá nhem tối, Thiếu Tá Tài tạm thời cho quân tập trung vào sân banh của Bộ Tổng Tham Mưu, và đó có lẽ cũng là một đêm hiếm hoi mà binh sĩ của ông tạm có thể coi là có dịp nghỉ ngơi, để lấy lại hơi thở cho chính họ, trước khi phải lao vào trận đánh cuối cùng ...

Trong thâm tâm Thiếu Tá Phạm Châu Tài, ông sinh ra ngay tại đất Gia Định này, lớn lên tại Sài Gòn nên ông có thể nhắm mắt cũng biết, để có thể ngăn chặn địch xung phong vào Bộ Tổng Tham Mưu, đơn vị của ông phải bung ra xa. Phải chặn đánh địch xâm nhập ngay từ khi chúng mới ló đầu ra ở Bà Quẹo, Ngã Tư Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, Trung Tâm Tiếp Huyết, đường Võ Di Nguy… Với một địa bàn quá rộng như thế, phải cần quân số của cả Liên Đoàn, nghĩa là 3 ngàn người. Thế nhưng toàn thể Liên Đoàn được đưa về Sài Gòn không phải chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là phòng thủ cho Bộ Tổng Tham Mưu. Rất nhiều nơi quan yếu khác cần đến những người lính Biệt Cách Dù, những người lính chuyên về đánh đêm trong thành phố.

Buổi chiều 28/4/1975 Biệt đội phòng thủ tại Lục Quân Công Xưởng được trả về cho Thiếu Tá Tài.
Đêm 29 Tháng Tư súng nổ ở nhiều nơi vọng về chỗ đóng quân của Thiếu Tá Tài. Binh sĩ dưới quyền ông chạm súng lẻ tẻ với địch ở nhiều nơi, nhưng các binh sĩ được bung ra, không bị một thiệt hại nhỏ nhoi nào.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài cảm nhận được một điều là tinh thần chiến đấu cũng như hàng ngũ của đơn vị vô cùng vững chãi.
Một đêm trôi qua nhanh chóng ...

Tờ mờ sáng ngày 30 Tháng Tư 1975, Cộng quân tiến và Sài Gòn qua nhiều ngả. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thầm nhủ là giờ phút cuối cùng đã điểm.
Ông liên lạc với các thuộc cấp, dặn dò họ những khẩu lệnh cuối. Qua các máy truyền tin, ông biết bộ binh của CS đã được các xe tăng dẫn đầu bứng các chốt kháng cự một cách nhanh chóng.

Phía trước của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, những khóa sinh chưa kịp ra trường đã tiến ra mặt trận, mặt trận đâu có xa xôi gì.
Bên ngoài vòng đai trung tâm huấn luyện chính là nơi trận chiến cuối cùng đang diễn ra.
Những người lính trẻ này đã có một bài thực tập tốt về chống chiến xa. 2 chiến xa T-54 của CS đã bị bắn hạ tại đây.
Nhưng những chiếc khác vẫn cứ thẳng đường tiến về Saigon. Núp theo sau những chiến xa này, là những chiếc xe vận tải chuyển quân, trên đó chất đầy những cán binh CS, với quần áo còn có lá cây ngụy trang trên nón.

Tới Ngã Tư Bảy Hiền, cánh quân này bắt đầu đụng độ với Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, và bị bắn hạ 1 chiếc dẫn đầu tại Ngã Tư Bảy Hiền.

Những chiếc sau vẫn tuần tự tiến tới, thậm chí Cộng quân cũng không hề ngừng lại phản công tại những địa điểm có ổ kháng cự của những binh sĩ Biệt Cách Dù 81. Cánh quân này lướt qua để tiến về trung tâm thủ đô. Các binh sĩ Biệt Cách Dù vừa đánh vừa rút theo với đà tiến của địch. 2 chiếc tăng T-54 khác của Cộng quân bị bắn hạ ở cổng Phi Long, 1 chiếc bị bắn hạ ở Lăng Cha Cả. Và bây giờ thì Cộng quân đã có mặt tại vòng đai của Bộ Tổng Tham Mưu.

Chớp nhoáng... 2 phát M-72 nhá lửa... 2 chiếc tăng T-54 Cộng quân bị hạ ngay gần cổng Bộ Tổng Tham Mưu. Các đơn vị VNCH đang nỗ lực đẩy lùi Cộng quân ra khỏi bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

Trước đó vài phút, chiến đoàn Biệt Cách Dù đang tung các đợt phản công để đánh bật địch quanh vòng đai. Các binh sĩ Biệt Cách Dù 81 cũng đã rút về, tập họp khá đầy đủ chung quanh cấp chỉ huy của họ, và tuyến phòng thủ cuối cùng cũng đã thiết lập xong. Mấy trăm người lính Biệt Cách Dù 81 hướng súng về phía trước, mắt căng ra chờ địch quân CS tiến vào...
Vào khoảng hơn 9 giờ sáng của ngày 30 Tháng Tư 1975, qua tần số của máy truyền tin, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nhận được lệnh của một sĩ quan Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu ngưng bắn. Ông đã khước từ tuân hành lệnh này, và trả lời cho vị sĩ quan này là ông chỉ nhận lệnh trực tiếp với ông Tổng Tham Mưu Trưởng mà thôi.
Những người lính Biệt Cách Dù 81 vẫn giữ nguyên vị trí phòng thủ trong vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu...

AI CÔNG HẦU - AI KHANH TƯỚNG - TRÊN TRẦN AI,  AI DỄ BIẾT AI !
THẾ CHIẾN QUỐC - THẾ XUÂN THU - THẾ THỜI THẾ, THẾ THỜI PHẢI THẾ !
Tại Củ Chi, sau khi triệt thoái từ Tây Ninh, lực lượng bộ chiến Sư đoàn 25 Bộ binh đã cố gắng lập tuyến chận địch quân CS tại Củ Chi. Tại vòng đai Sài Gòn, Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, đã tổng điều động toàn bộ lực lượng cơ hữu và tăng phái để lập các cụm điểm chận địch tại các yết hầu trọng yếu vào Sài Gòn.

Sáng ngày 27 tháng 4/1975, tình hình Thủ đô Sài Gòn đã trở nên sôi động khi Cộng quân bắt đầu pháo kích vào vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt...

Trưa ngày 29 tháng 4/1975, các vị tướng có thẩm quyền tại Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH đã ra đi. Đại tướng Viên rời Việt Nam từ chiều 28/4/1975 cùng với Chuẩn tướng Thọ (trưởng phòng 3); Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng Liên quân Bộ Tổng tham mưu kiêm Tổng cục trưởng Tiếp vận ra đi vào lúc 11 giờ 30 ngày 29/4/1975. Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Biệt khu Thủ đô cũng đã "chia tay" với các cộng sự viên của mình từ sáng ngày 29/4/1975.

Tại phòng tuyến Củ Chi, tối 29/4/1975, toàn bộ quân trú phòng và bộ Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh mở đường máu về Hóc Môn. Riêng Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn và một Thượng sĩ cận vệ tên Ngọc đã phải thay nhau làm khinh binh với chiến thuật cá nhân để thoát khỏi vòng vây của Cộng quân. Cuối cùng vị tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh bị lọt vào tay địch quân CS khi ông và người cận về gần đến Hóc Môn.

Tại mặt Nam của Sài Gòn, ngay từ ngày 28/4/1975, bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô không còn quân trừ bị để giải tỏa áp lực của Cộng quân. Một liên đoàn Biệt động quân đang hành quân dọc theo quốc lộ 4 phía nam Bến Tranh đã được điều động về quận lỵ Cần Đước theo liên tỉnh lộ 5A vào buổi trưa và đặt dưới quyền điều động của bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Liên tỉnh lộ nối liền Chợ Lớn và Cần Đước cũng bị cắt nhiều đoạn nên các lực lượng VNCH không thể phá vỡ được các chốt chận của Cộng quân tại cầu Nhị Thiên Đường (khu vực này bị Cộng quân chiếm từ rạng sáng ngày 29/4/1975).
Trong khi trận chiến xảy ra tại nhiều nơi thì kho đạn Thành Tuy Hạ lại bị pháo kích nặng nề nên phát nổ nhiều nơi. Hệ thống truyền tin liên lạc với bộ chỉ huy Kho đạn bị mất vào lúc 1 giờ chiều. Xe tăng Cộng quân xuất hiện tại Cát Lái và bắn vào cầu tàu chất đạn chưa được bốc dỡ.

Từ sáng sớm ngày 30 tháng 4, tại các mặt trận quanh Sài Gòn và Biên Hòa, các đơn vị của Sư đoàn 5BB, Sư đoàn 18BB, Lữ đoàn 3 Thiết kỵ, các đơn vị Dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân... đều đặt trong tình trạng sẵn sàng ứng chiến để chận đánh Cộng quân.
Tại bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, Thiếu tướng Lâm Văn Phát từ sáng sớm đã dùng trực thăng bay quan sát tình hình, vừa đáp xuống bộ Tư lệnh ông gọi máy liên lạc với Chuẩn tướng Tần, sĩ quan cao cấp nhất của Không quân vào lúc đó. Tướng Phát yêu cầu Tướng Tần cho các phi tuần khu trục liên tục oanh kích Cộng quân đang chuyển quân dọc theo con đường từ ngả tư Bảy Hiền lên đến Hóc Môn.

NGƯỜI ANH HÙNG PHI CÔNG PHI CƠ TRANG VĂN THÀNH VÀ 7 DŨNG SĨ KHÔNG QUÂN:
TRẬN CHIẾN CHƯA TÀN - Phi đoàn Tinh Long 821, AC119K - Không Lực VNCH tại Tân Sơn Nhứt.

Sau 2 tiếng đồng hồ chịu đựng trận mưa pháo long trời lỡ đất do Cộng sản dội vào phi trường Tân Sơn Nhứt. Khơi dậy cơn phẫn nộ của dũng sĩ Trang Văn Thành, con người không khuất phục định mệnh, không khoanh tay chờ địch đập pháo sát hại, không ngồi yên đợi kẻ thù tràn đến tàn sát. “Còn nhân viên, còn phi cơ, còn súng đạn, phải còn chiến đấu” .

Thành đã phân tích, so sánh và quyết định: Chết vì bị đạn pháo kích của địch ở phi trường hoặc chết vì đạn phòng không của giặc trên không trung cùng ý nghĩa của sự chết. Nhưng chiến đấu để chết là cái chết oanh liệt, vô cùng ý nghĩa của một quân nhân gan dạ có tránh nhiêm bảo vệ quê hương, vì dân, vì nước, vì sự an nguy của người thân, bằng hữu và bá tánh.

Thức trắng thâu đêm bay trên toàn cõi quê hương, trên không phận đường mòn HCM, để săn đuổi và diệt địch. Giờ đây, giặc đã tìm đến nhà. Tại sao lại phải cuối đầu rút cổ chờ chết trong bốn bức tường phi đoàn nhục nhã này? Trang Văn Thành đã quyết định phải bay lên không, chiến đấu và diệt địch trước khi ông gục ngã vì kẻ thù. Trung úy Phi công Trang Văn Thành mạnh dạn đứng lên, dõng dạc kêu gọi đồng đội, tự điều động phi hành đoàn dự bị của ông để bay lên không quyết tử chiến.
Dù thời điểm đó, Bộ Tư Lệnh Không quân, Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Quốc Phòng và Chính phủ VNCH đã tê liệt và bất lực.

Trung úy Thành đã xung phong quyết chiến với địch quân CS chứ không chịu thua dễ dàng. Tinh thần của ông đã vực dậy tinh thần cho một số binh sĩ khác, quyết sống chết cùng vị sĩ quan can đảm trong giờ phút lâm chung của Sài Gòn…
Khi mọi chuyện đã chuẩn bị sẵn sàng, Trung úy Trang Văn Thành, Trung sĩ nhất Phan Quốc Tuấn, Trung úy Trần Văn Hiền, 1 Sĩ quan điều hành viên, Sĩ quan Hồng ngoại tuyến, 1 Hạ sĩ quan hỏa châu, Trung sĩ Chín và 1 Hạ sĩ quan vũ khí phi hành khác thành lập phi đội chiến đấu cùng chung chí hướng. Trung úy Trang Văn Thành đã tự điều động một phi hành đoàn còn đầy đủ tinh thần chiến đấu và tự nguyện hiến thân cho đất nước.

Một phi hành đoàn duy nhất còn sót lại của Không Quân VNCH và của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Họ đã làm nên trang chiến sử oanh liệt cuối cùng trong giây phút kết thúc chiến tranh Việt Nam.
Trung úy Phi công Trang Văn Thành – Phi vụ bay cuối cùng cùng “hắc đại bàng” AC-119K Tinh Long – Trận tử chiến lưu danh muôn thuở!

Trung úy Thành mồ côi cha từ nhỏ, vì cha ông là người làm việc cho chính phủ đã bị cộng quân phục kích trên sông... Mẹ của Thành đã gửi cậu bé vào trường thiếu sinh quân và nơi đó đã đào tạo nên người con anh hùng cho đất nước.

Những giây phút sau cùng tại phi trường Tân Sơn Nhứt là thời khắc thật kinh hoàng và khó mà cảm nhận được nếu không trực tiếp đối mặt với tử thần, những đợt pháo kích như mưa của cộng quân, khi chúng đã rút kinh nghiệm từ thất bại nặng nề tết Mậu Thân 1968, khi chúng bị tiêu diệt tại những quãng đồng vắng ngoại ô Sài Gòn. Lần này, chúng chọn khu dân cư làm lá chắn, vì biết chắc “diều hâu” và “đại bàng” sẽ không nã đạn vào dân.
Chiếc AC119K đã xuất phát, đảo nhiều vòng thăm dò và bắt đầu bao vùng Sài Gòn.
Hòa lẫn tiếng động cơ là những loạt đạn pháo kích dữ dội của Cộng sản rơi vào sân bay Tân Sơn Nhứt.

Một bầu không khí hãi hùng của chiến tranh, Cộng sản tàn phá dữ dội cho mục tiêu cuối cùng, để đoạt lấy chính quyền từ tay của Chính phủ VNCH, hầu áp đặt một chế độ độc tài gian tham tại Miền Nam VN.

Sau khi đã quần thảo, quan sát và kiểm tra tình hình, Trung úy Thành quyết định đánh lên mạn Bắc của những cánh rừng ngoại ô gần khu Xóm Mới, Gò Vấp. Với độ cao 2000 bộ, phi cơ đã nằm gọn trong tầm bắn trả của địch nhưng Trung úy Thành vẫn cố gắng đáp trả quyết liệt và hạn chế ảnh hưởng tới người dân vô tội. Trước đó chiến đấu cơ đã tiêu diệt một số lượng khá lớn cộng quân đang mai phụ ở khu vực này. Phi cơ của Trung úy Thành rời khỏi phi đạo, rẽ mũi bay về bên trái, hướng tây của Thủ đô Sàigòn, tránh né dân phòng không dầy đặc ở phía đông bắc phi trường Tân Sơn Nhứt. Ông nhanh nhẹn cho phi cơ bay lên cao độ, làm các vòng chờ ở phía tây Thủ đô yên tĩnh, hầu quan sát tình hình chiến sự. Vừa mới bay lên không ông cần nhiều thời gian để quan sát, theo dõi và chọn lựa các mục tiêu trước khi ra tay xạ kích... Mất gần 2 tiếng đồng hồ bay lượn trên bầu trời Đồng Tháp Mười ven đô, phía tây của thành phố Sài gòn chờ trời sáng, đồng thời quan sát kỹ lưỡng các mục tiêu.

Rồi con “Hắc đại bàng dũng mãnh” lại xuất hiện trên bầu trời trong sáng Tân Sơn Nhứt. Bấy giờ, đã 7 giờ hơn. Mặt trời đang lên, thành phố Sài Gòn đang bừng sáng ở phía đông. Sân bay Tân Sơn Nhứt đang bị san bằng, mịt mù khói lửa. Vài đám khói trắng để lộ các mục tiêu dàn đại pháo của địch đang rót vào phi trường. Tọa độ phát hiện tại những cánh rừng thưa gần xóm mới, hướng Bắc của quận Gò Vấp ven đô...

Giờ hành động đã điểm. Trước khi cho phi cơ bay vào mục tiêu, chuẩn bị trận đánh không địa của chiến đấu cơ AC119K, Trung úy Thành đã hội ý cùng phi hành đoàn lần cuối truớc khi ông quyết định đưa vào trận chiến.

Tất cả những gương mặt đều tự tin trong im lặng. Tất nhiên họ đã hiện diện trên phi cơ là họ chấp nhận một cuộc tử chiến, quần thảo với địch, cứu nguy thành phố Sài Gòn đang trong cơn sốt sụp đổ, sắp rơi vào tay địch.
Chính vợ con và thân nhân của họ cũng sẽ gánh chịu hậu quả của sự trả thù thê thảm sau một cuộc bại trận, do phe Cộng sản nham hiểm, độc ác sẽ chiến thắng. Không còn chọn lựa nào khác, nếu phải hy sinh.

Một giọng phát ra từ máy liên thoại phi hành đoàn:
"Quyết định thi hành phi vụ này là chúng tôi đã chấp nhận sự hy sinh. Tùy theo quyết định của Trung úy. "
Trung úy Trang Văn Thành lái chiếc phi cơ bay bọc từ phái nam thủ đô Sài Gòn vòng lên hướng bắc để đánh vòng bay đầu tiên vào các mục tiêu đã được phi hành đoàn ghi nhận.

Một tràng liên thanh ầm ỹ, nòng súng minigun xoay tròn, khói bốc lên, lửa đỏ lóe sáng, 6.000 viên đạn tua tủa bay ra khỏi các nòng súng trong một phút, tạo thành những vệt đạn lửa trãi rộng gần một cây số, nằm trong tầm tác xạ của loại vũ khí độc hại này, địch sẽ không còn cơ hội sống. Tiếp nối các vòng bay tấn công và diệt địch thứ hai rồi thứ ba. Tiếp tục cuộc chiến đấu đầy dũng cảm, cam go để bảo vệ thủ đô. Mỗi một vòng bay trút hàng ngàn trái đạn đại bác 20 ly xuống đầu địch nơi ven đô. 3 vòng bay tác xạ đầu tiên của phi cơ vào các tọa độ đặt dàn trọng pháo và hỏa tiễn của địch... Cộng quân đã phải im bặt trong hơn nữa tiếng đồng hồ, kể từ khi AC-119K Tinh Long xuất hiện và phản công trên bầu trời Sài Gòn. Chiến sĩ Không quân đang hiện diện trong phi trường Tân Sơn Nhứt tìm được một ít phấn khởi, ngơi ra khỏi hầm trú ẩn ngộp ngạt, tìm những giây phút thoải mái. Hàng triệu đôi mắt hướng về chiếc phi cơ Tinh long đang bay lượn ở hướng đông, sắp sửa nhả đạn, tác xạ vòng bay thứ tư xuống đầu địch quân Cộng sản. Phi hành đoàn đã chiến đấu không mỏi mệt, không đầu hàng, không bỏ chạy... Mỗi lúc chiếc phi cơ AC119K lại tiến sâu vào trận đại dày đặc phòng không, trọng pháo của địch quân đang cố xâu xé Thủ đô Sàigòn.

60 GIÂY ĐỐI DIỆN TỬ THẦN:
Trung úy Thành đã hạ phi cơ xuống thấp hơn các vòng bay trước, để đánh địch quân và điều chỉnh. Ông hy vọng cao độ 2.000 bộ, với tầm tác xạ và hiệu quả hơn. Nhưng cao độ này khá nguy hiểm cho một loại vận tải cơ bay chậm chạp, nó nằm trong tầm bắn trả của phòng không và hỏa tiễn tầm nhiệt của địch. Trung úy Thành dự định sẽ rải 2 thùng đạn đại bác liên thanh 20 ly để phá hủy và dập tắt các nòng súng thuộc dàn đại pháo của Cộng quân., Những tọa độ ông vừa mới phát hiện được trong vòng bay đã qua. Phi cơ của Trang Văn Thành chưa kịp tiến gần mục tiêu của địch.

Nó đã bay và lọt vào ổ phòng không bí mật phía đông phi trường. Địch đã im lặng, giữ bí mật đặt dàn phòng không này trong quận Gò Vấp, một khu phố nghèo nàn phía đông, bên ngoài vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt.

8 nhân viên phi hành đoàn AC119K hiện diện trên phi cơ cùng một cảm nhận những tiếng nổ rung chuyển không gian, xung quanh chiếc phi cơ của họ. Dàn phòng không của địch đã đồng loạt nả đạn lên không, tấn công chiếc AC119K nổ rợp trời như pháo bông nổ giữa ban ngày. Đợt tấn công đầu tiên gồm 4 trái phòng không đã không gây thiệt hại nào cho phi cơ.

Mấy giây tử thần ngắn ngủi trôi qua. Phi hành đoàn lại cảm nhận một tiếng nổ đơn độc khác, ảnh hưởng trầm trọng trực tiếp đến phi cơ. Toàn thân chiếc máy bay rung chuyển dữ dội theo tiếng nổ. Họ đã kinh hoàng nhìn thấy lửa đỏ lẫn miếng đạn phòng không phóng ra, kèm tiếng nổ ấm và bịt kín từ trong lòng động cơ bên trái... Không còn nghi ngờ gì nữa! Họ đã biết chắc chắn chiếc phi cơ đã bị trúng đạn phòng không SA-7 của Cộng quân. Phi công Trưởng dũng cảm, 28 tuổi. Trung úy Trang Văn Thành không hề nao núng. Ông rất tin tưởng vào kinh nghiệm lái máy bay của ông, với hơn 2.000 giờ bay, ông đã trãi qua không biết bao nhiêu lần phi cơ bị hư hỏng phải đáp khẩn cấp an toàn.

Một trách nhiệm đặt trên vai người Trưởng phi cơ, phải làm mọi cách để đoàn viên phi hành của ông được toàn mạng. 8 sinh mạng trên phi cơ hiện đang nằm trong bàn tay tài nghệ của viên phi công trưởng phi cơ. Trung úy Trang Văn Thành bình tĩnh, một bản tánh chung của những người phi hành, họ đã được trui luyện lòng can đảm, ngay từ những giờ bay đầu tiên, đó là sự bình tĩnh, hành động chính xác và phải làm mọi cách để được đáp bình an và toàn mạng. Trung úy Thành vội vã hạ mũ và nghiêng phi cơ về bên trái, theo hướng phi đạo Tân Sơn Nhứt, đang nằm ở hướng 3 giờ của chiến phi cơ. Trong ý nghĩ của Trung úy Thành đã có sẵn một quyết định rõ rệt. Ông bình tĩnh dặn dò các nhân viên trong phòng lái:
"Bằng mọi giá chúng ta phải mang phi cơ ra khỏi vùng đông đúc dân cư của Quận Gò Vấp. Nếu phi cơ của chúng ta không lết kịp đến phi đạo, tôi sẽ quyết định cho phi cơ làm crash ngay tại các cánh đồng vắng xung quanh phi trường."
Thương ôi! Gãy cánh Đại bàng... Anh đi... Anh về đất! Anh đi... Anh về nước!


Cánh ngoài, bên trái của phi cơ đột nhiên gãy xấp lên không, lôi động cơ trái gãy đổ theo, rồi rã ra. Nó giựt mạnh những đường dây cáp điều khiển cánh lái nghiêng của phi cơ, làm đứt lìa, khiến cần lái phi cơ vuột khỏi tầm tay của viên phi công, rồi đập mạnh về phía trước bảng phi cụ. Chiếc phi cơ không còn trong tầm tay điều khiển an toàn của ông nữa. Đồng lúc, 2 chiếc bàn đạp điều khiển cánh lái đuôi phương hướng cũng đập mạnh về trước, khi những dây cáp điều khiển nối liền từ cánh lái đuôi đến bàn đạp cũng bị giựt đứt lìa và rời khỏi phi cơ. Thân phi cơ bắt đầu nghiêng đổ hẳn về một bên. Các đồng hồ ngưng hoạt động, tốc độ phi cơ đứng hẳn giữa bầu trời và chuyển đổi sang trạng thái rơi tự do. Hệ thống điện bị cắt đứt. Tất cả bắt đầu im lặng theo sự rơi chao đảo...

Các động cơ đã hỏng vì sự rối loạn, tan rã của phi cơ. Tất cả kim đồng hồ dàn phi cụ, đồng loạt rớt xuống số 0. Cánh trái, thân nối liền đuôi phi cơ đã gãy đổ và rời khỏi phi cơ đang bay lơ lững trên không. Hệ thống điều khiển tê liệt...
Tâm hồn phi hành đoàn chìm vào bóng tối theo tiếng nổ long trời, hồn biến, xác tan, để đi vào cõi an lạc, chấm dứt một đời người kiêu dũng trên không trung. Để rồi tên tuổi các anh vẫn sống mãi trong lòng người và lịch sử của Quân đội VNCH, với ý chí sắt đá “hiến thân cứu nước” và quyết tâm “vì dân diệt bạo”. 

Những người con anh hùng của VNCH về với lòng đất Mẹ Việt Nam .
Có thể thấy những giây phút cuối đã thực sự viết nên những dòng lưu danh cho chiến sử không quân VNCH nói riêng và cả những nỗ lực của tất cả các binh chủng QLVNCH nói chung, đã thể hiện tinh thần chiến đấu cho quê hương vô cùng mãnh liệt, không sờn lòng khi vận nước lâm nguy. Các anh đã chấp nhận hy sinh thay vì đầu hàng số phận, dẫu biết trước kết cuộc nhưng trách nhiệm của một người quân nhân VNCH nhắc nhở các anh phải tiếp tục chiến đấu.

Tại vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu, một chiến đoàn thuộc Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù do thiếu tá Phạm Châu Tài chỉ huy đã dàn quân chận địch, từ đêm cho đến 10 giờ sáng, chiến đoàn 81 Biệt Cách Dù đã bắn cháy 6 chiến xa Cộng quân và nỗ lực đánh bật địch ra khỏi trận địa...

Từ sáng sớm đến 10 giờ ngày 30/4/1975, trên các cửa ngõ vào thủ đô Sài Gòn, những người lính Bộ binh, Nhảy Dù, Biệt kích Nhảy Dù, Biệt động quân, Thiết giáp, Thủy quân Lục chiến... đã đánh trận cuối cùng trong đời lính của họ: 32 chiến xa và gần 30 quân xa Cộng quân bị bắn cháy, hơn 1,000 Cộng quân tan xác... Đó là chiến tích của người lính VNCH tại mặt trận Thủ Đô Sài Gòn trong buổi sáng cuối cùng của cuộc chiến. Trong những giờ phút cuối cùng này, tại Sài Gòn, trái tim của Việt Nam Cộng Hòa, có rất nhiều sự kiện diễn ra dồn dập, những trận đánh hào hùng và bi tráng của một số đơn vị QLVNCH.

Cảm ơn anh, người chiến sĩ QLVNCH!
ANH HÙNG TỬ - KHÍ HÙNG BẤT TỬ.
( Phi đoàn Tinh Long 821 AC-119K sống sót Trung sĩ Chín bị chấn thương cột sống).