Wednesday, April 29, 2026

Cuộc Chiến Buồn - Khanh Phương


Nhân 51 năm kể từ ngày 30 tháng Tư 1975 đau buồn, xin được hân hạnh giới thiệu bài thơ Cuộc Chiến Buồn đầy ý nghĩa và cảm động của nhà thơ Khanh Phương (tức Cựu Trung Tá Bác sĩ Trần Văn Khang)  

Tôi thăm Sài Gòn Nhỏ

Đi trên đường Bolsa

Gặp người chiến sĩ Cộng Hòa

Tóc xanh giờ điểm bạc

Da anh còn sạm nắng

Giọng trầm buồn kể chuyện ngày xưa

Những ngày chinh chiến quê nhà

Tôi đi thăm Hà Nội

Tình cờ gặp người bộ đội

Ngày xưa từng tham dự trận Cao Nguyên

Giờ đây, với chiến thương và nạng gỗ hai bên,

Đứng cạnh người con bên bờ hồ Hoàn Kiếm

Rao bán những bản đồ đất nước ba miền

Cho những người du khách

Đã một thời mang tội vượt biên

Tôi trở về thăm Huế

Chân bước lại trên cầu Tràng Tiền

Bên sông Hương, người thiếu phụ bán hàng giải khát

Mắt còn buồn man mác

Nhớ cha, anh vào dịp Tết Mậu Thân

Chôn trong mồ tập thể Ngoại Thành…/

Vô trong Thành Nội

Vết đạn xưa còn hằn trên cây cối

Những tượng đá lặng im không hề nói

Chắc cũng buồn như những hậu sinh thôi

Tôi thăm lại Sài Gòn

Thành phố giờ đã đổi tên

Những đường nhỏ không đủ ánh đèn

Phố xưa thân mà bây giờ bỗng lạ

Chợt thoáng mờ đôi hình bóng nào quen…/

 

Bên một cột đèn, cạnh Tòa Đô Sảnh

Tôi gặp người đạp xích lô ba bánh

Anh kể từng tham gia trận đánh

Chiếm Sài Gòn “giải phóng nhân dân”

Giờ đây, lao động đạp xe

Anh than không đủ nuôi mình !

Tôi đi về xứ Mỹ  

Gặp người cựu chiến binh Hoa Kỳ   

từng đặt chân ở Long Bình, Khe Sanh và Cát Lái

Anh vô gia cư, râu tóc để dài

Đứng góc ngã tư, xin những người qua lại

Tôi dừng xe, tặng  anh một đô la

Để cám ơn anh, và cám ơn xứ Cờ hoa,

Đã giúp đồng minh rồi tháo chạy !

Ôi! Cuộc chiến Việt Nam, kết quả buồn !

 

Khanh Phương (TVK )

Họ Vẫn Sống Dù Đã Thua Một Cuộc Chiến - Phạm Sơn Liêm

 

Sau tháng Tư năm 1975, chiến tranh khép lại trên bản đồ.

Nhưng trong thân thể nhiều người lính cũ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, chiến tranh chưa từng chịu lui binh.

Họ sống giữa những con đường mang tên mới.

Sống giữa những khẩu hiệu mới.

Sống giữa những người từng đứng bên kia chiến tuyến, nay là “bên thắng cuộc”.

Và họ sống… bằng cách của mình.

Những bước chân không còn nguyên vẹn

Buổi sáng ở một góc chợ nhỏ, tôi gặp ông Tư.

Một chân cụt ngang gối, ống quần xếp gọn, chống nạng gỗ đã mòn tay cầm.

Ông trải xấp vé số ra tấm nylon.

“Chú mua giùm tôi tờ, lấy hên,” ông cười.

Nụ cười hiền, nhưng mắt sâu như đáy giếng.

Tôi hỏi nhỏ:

— Chân chú… mất hồi nào?

Ông nhìn xuống phần chân không còn đó.

— Năm bảy hai. Quảng Trị. Bị pháo. Lúc đó tưởng chết rồi. Ai dè còn sống để bán vé số.

Ông nói như kể chuyện của ai khác. Không oán, không kể công.

Một người khách trẻ bước lại, cầm tờ vé số, lẩm bẩm:

— Thời đó mấy ông thua mà.

Ông Tư cười nhẹ:

— Ờ, thua. Nhưng lúc đó tôi đâu có nghĩ chuyện thắng thua. Tôi nghĩ tới thằng bạn nằm bên cạnh, máu chảy ướt áo.

Câu nói rơi xuống, không nặng, mà chìm.

Dưới gầm cầu, có một đời lính

Có những người không bán vé số.

Họ sửa xe lề đường.

Chiếc hộp đồ nghề cũ.

Cái bơm tay xì xì.

Tấm bảng viết nguệch ngoạc: “Vá xe – 10.000”.

Anh Ba cụt một tay. Tay còn lại đầy dầu nhớt.

Một đứa nhỏ hỏi:

— Chú ơi, sao chú mất tay?

Anh Ba ngẩng lên, nhìn dòng xe chạy ngược xuôi.

— Hồi trẻ chú nghịch dại.

Tôi biết anh không muốn nói.

Sau này anh kể riêng:

— Trận đó tôi ôm máy truyền tin. Đạn cối rơi. Tỉnh dậy thì tay không còn. Thằng truyền tin phụ chết ngay bên cạnh.

Tôi hỏi:

— Anh có buồn không?

Anh im lặng lâu lắm.

— Buồn gì nữa. Còn sống là may. Có người còn không có mộ.

Sống giữa kẻ chiến thắng

Có những ngày lễ lớn, cờ đỏ treo kín phố.

Những đoàn diễu hành đi qua.

Loa phóng thanh kể về “ngày toàn thắng”.

Ông Năm, thương phế binh cụt hai chân, ngồi trong căn chòi tạm ven sông.

Mỗi khi nghe nhạc hành khúc vang lên, ông lặng lẽ tắt radio.

Đứa cháu hỏi:

— Ông nội, sao ông không coi tivi diễn binh?

Ông xoa đầu nó:

— Thời ông… khác lắm con.

— Ông có phải người thua không?

Ông cười buồn:

Ông là người lính. Hết chiến tranh rồi, đừng chia thắng thua nữa.

Đứa nhỏ không hiểu. Nó chỉ thấy ông nội mỗi lần trái gió trở trời lại ôm phần thân mình đau nhức, như thể chiến tranh vẫn nằm đâu đó trong xương.

Không phải ai cũng khổ

Nói vậy không có nghĩa tất cả thương phế binh VNCH đều sống dưới gầm cầu.

Có những người ra nước ngoài, con cái thành đạt.

Có người mở tiệm nhỏ, sống an ổn tuổi già.

Có người được con cháu kính trọng, chăm sóc đủ đầy.

Nhưng ngay cả trong căn nhà khang trang ấy, nhiều ông vẫn giật mình giữa đêm.

Vẫn mơ thấy tiếng pháo.

Vẫn nghe tiếng gọi của đồng đội.

Một người con hỏi cha mình:

— Ba có hối hận không?

Người cha nhìn lên bàn thờ, nơi tấm hình chụp thời trai trẻ mặc quân phục.

Hối hận gì con? Ba làm điều ba tin lúc đó là đúng. Lính mà. Được lệnh thì đi.

Câu trả lời không có hận thù.

Chỉ có một đời đã qua.

Điều họ mất không chỉ là chân tay

Có người mất chân.

Có người mất tay.

Có người mất cả tuổi trẻ.

Nhưng điều họ mất nhiều nhất là danh phận.

Họ không được gọi là anh hùng.

Không được truy tặng.

Không được vinh danh.

Họ chỉ là những ông già bán vé số, sửa xe, ngồi lặng lẽ bên lề đời.

Nhưng trong ánh mắt họ, nếu nhìn kỹ, vẫn còn một thứ không ai lấy được:

Lòng tự trọng

Chiều xuống, tôi mua thêm vài tờ vé số của ông Tư.

Ông cười:

— Mua nhiều vậy làm chi?

Tôi đáp:

— Để nhớ.

Ông nhìn tôi lâu, rồi nói khẽ:

— Nhớ thì nhớ luôn mấy thằng không còn sống nghe chú.

Giữa dòng người hối hả, giữa thành phố của “kẻ chiến thắng”,

những người lính già ấy vẫn sống.

Không ồn ào.

Không đòi hỏi.

Chỉ mong một điều giản dị:

Được nhìn như con người.

 

Phạm Sơn Liêm

Tạc Dạ Nghìn Sau... - Kim Oanh


Anh vẫn đứng đó giữa ngàn mây gió
Nơi non cao hun hút bóng trăng gầy
Tôi em gái nhỏ của ngày xưa ấy
Nợ một tiếng chào theo gió xa bay

Lời chưa ngỏ đã hóa thành hương nhẹ
Gửi tâm tình vào thăm thẳm ngàn sao
Dẫu bụi đời có nhuốm bạc mái đầu
Ký ức cũ vẫn dạt dào như mới

Mảnh áo chinh nhân sờn vai bạc lối
Màu gió sương in dấu vết thời gian
Nhưng tình em giữa thế sự ngổn ngang
Vẫn son sắt chưa một lần phai nhạt

Khoảng cách xa xôi trùng dương bát ngát
Chẳng ngăn được lòng hướng phía non cao
Mãi mãi là người yêu lính năm nào
Vẫn trọn một đời ...tạc dạ nghìn sau...!


Kim Oanh

28.4.2026 

Tuesday, April 28, 2026

Vận Dụng Chiến Thuật AQ, IRAN Đánh Bại Mỹ? - BS. Lê Bá Vận

 

Cuộc chiến giữa Iran và liên quân Israel- Mỹ khởi phát từ ngày 28/2/2026 là ác liệt. Iran bị thấm đòn, thiệt hại nặng. Tuy nhiên mỗi khi bị đánh đau thì Iran – tương tự nhân vật AQ của Lỗ Tấn -  lại cứ nghĩ "chúng đang đánh bố của chúng", tự an ủi, sử dụng “Phép thắng lợi tinh thần”, chuyển bại thành thắng.

_____

Bối cảnh tác phẩm:

+ AQ chính truyện của Lỗ Tấn được đăng tải lần đầu từ năm 1921 đến 1922.

Chiến thuật cốt lõi của nhân vật A Q sử dụng trong A Q Chính Truyện (Q) (Lỗ Tấn, Lu Xun) là "Phép thắng lợi tinh thần" (精神胜利法) Tinh Thần Thắng Lợi Pháp Spiritual Victory Method: (AQ-ism hoặc Ah Q-ism): tư duy tự huyễn hoặc bản thân, để biến nhục nhã thành "thắng lợi" nhằm che đậy sự hèn nhát và thực tại bi đát. 


Xích mích, gây sự, bị người khác đánh, AQ thua đậm song cho rằng nó đánh mình chẳng khác gì nó đánh bố nó, hoặc "bị thú vật đánh", coi kẻ đánh mình không đáng kể để tự cảm thấy cao thượng hơn. 

Đây là trạng thái tâm lý của những kẻ thất bại, song không chịu thừa nhận thất bại, hơn thế còn tìm cách trốn tránh vào những ảo giác thắng lợidốt nhưng lại tự nhận mình thông minh hơn người, đểu giả, bẩn tính nhưng lại tự nhận mình là tốt bụng. hay nói theo cách khác đó chính là thói tự phong. AQ bợm rượu và cờ bạc hay bắt nạt kẻ kém may mắn hơn mình.


Về gia thế của AQ không ai biết, nhưng AQ luôn luôn huênh hoang: Nhà tao xưa kia có bề có thế bằng mấy mày kia, thứ mày thấm vào đâu. AQ thường nói về tương lai: Con tớ ngày sau làm nên chẳng bằng năm, bằng mười lũ ấy à, AQ luôn mang trong mình phép thắng lợi tinh thần như là một lá bùa hộ mệnh, như là một thứ vũ khí tùy thân để phản ứng, chống trả mọi đối thủ trong xã hội.

Nói chung, AQ dù thất học, dù đi làm thuê, dù bị đòn nhiều lần vẫn là… cha của thiên hạ. Bởi AQ hiểu mình là… con ông trời (thiên tử) mà.

____

+ Cộng hòa Hồi giáo Iran là một nước ở Vịnh Ba Tư, Trung Đông, có diện tích 1.650.000 km2 (rộng 5 lần Việt Nam) và dân số 92 triệu. Về kinh tế, Iran là nhà sản xuất dầu lớn thứ 3 trong Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC))


Iran là một nước theo chế độ thần quyền (theocracy) từ sau Cách mạng Hồi giáo năm 1979. Dưới hình thức Cộng hòa Hồi giáo, hiến pháp Iran đặt nền tảng trên luật Hồi giáo Sharia, nơi Lãnh tụ Tối cao (một giáo sĩ) nắm quyền lực cao nhất, kiểm soát các nhánh hành pháp, lập pháp và tư pháp. Lãnh tụ Tối cao (Giáo chủ) là người có quyền lực tuyệt đối, định hướng chiến lược quốc gia, và là tổng tư lệnh quân đội.

Giáo chủ (Ayatollah) hiện tại là Mọjtaba Khamenei, kế nhiệm cha là Ali Khamenei.


Quân đoàn Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) là lực lượng quân sự tinh nhuệ, thành lập năm 1979 nhằm bảo vệ chế độ và lợi ích chiến lược của Iran. IRGC hoạt động độc lập với quân đội chính quy, sở hữu tên lửa, UAV, hải quân và lực lượng đặc nhiệm Quds, đóng vai trò trụ cột trong việc thực thi chính sách đối ngoại và ảnh hưởng tại Trung Đông cũng như dập tắt các mầm mống phản kháng trong nước.


Iran dã từng bắt nạt các nước nhỏ trong vùng. Đối vơi phương Tây thì Iran có thái độ thù nghịch, đặc biệt không ngớt hô hào: Death to America. Death to Israel. (Giết chết Mỹ. Giết chết Israel).

Để có uy lực thực hiện các mục tiêu, Iran đang ngầm chế bom hạt nhân, và trên đà thành công. Iran mấy chốc sẽ “Như hổ thiêm dực”, (như cọp mọc thêm cánh).

____ 

+ Chiến tranh giữa liên quân Israel-Mỹ chống Iran đột ngột xảy ra ngày 28/2/2026, kéo dài cho đến nay, diễn tiến qua 4 giai đoạn:

1. Cuối tháng 2/2026, các cuộc tấn công chớp nhoáng phủ đầu, quy mô lớn, nhắm mục tiêu vào giới lãnh đạo. Giáo chủ Ali Khamenei và nhiều viên chức thiệt mạng. Nhiều cơ sở quân sự san bằng.

2. Leo thang căng thẳng lẫn nhau (Tháng 3 năm 2026).Iran trả đũa bằng các cuộc tấn công tên lửa vào các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ trong khu vực và các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái. Đồng thời Iran kích động các lực lượng ủy nhiệm, Hezbollah ở Lebanon và Houthis ở Yemen tập kích quấy nhiễu các căn cứ quân sự của Israel và Mỹ trong vùng.

3. Hải quân Mỹ phong tỏa eo biển Hormuz, đòn chí tử, bóp nghẹt kinh tế Iran (Tháng 4 năm 2026)

4. Thỏa thuận ngừng bắn mong manh và xung đột kéo dài (Tháng 4 năm 2026 - Hiện tại).

Diễn biến ngoại giao trao đổi qua, lại với các vòng đàm phán hòa bình chờ được khai thông (TBD).


Tinh thần luôn được xem quan trọng hơn vật chăt. Đặc biệt tinh thần đoàn kết, tạo sức mạnh vô địch, thường được coi là yếu tố quan trọng nhất, là "chìa khóa" quyết định mọi sự thành công.

Đoàn kết tạo cơ sở, làm nền tảng cho “Phép thắng lợi tinh thần”, quan trọng không kém, đòi hỏi nhẫn nhục, kiên trì, nghị lực. Nước Iran (Ba Tư) đã dùng chiến thuật này: “Phép thăng lợi tinh thần” của A Q và đại công cáo thành, năm 2026 đánh bại Mỹ. Mỹ vật chất mạnh hơn thập bội, song tinh thần dễ dao động? chùn bước, ngã lòng vì những bất đồng và chống đối chiến tranh trong nước và quốc tế..


Tương quan giữa A Q và Iran như sau:

Nhân vật AQ là một cá nhân hèn yếu, sống ở một làng nhỏ tại Trung Hoa đầu thế kỷ 20, nói chung không thể đem so với Cộng hòa Hồi giáo Iran, một nước lớn ở Trung Đông, được tnành lập vào cuối thế kỷ 20.

Tuy nhiên, thực tế là đối chiếu giữa 2 người, giữa AQ và vị Giáo chủ quyền uy tối thượng tuyệt đối, định hướng chiến lược quốc gia của Iran. 

Hai bên cũng có một vài điểm tương đồng.

AQ tự hào về có gốc gia thế cao quý, Giáo chủ Iran về thần quyền. Cả hai đều muốn quy phục thiên hạ.

AQ và Giáo chủ Iran đều thấm nhuần tư duy “Phép thắng lợi tinh thần” huyễn hoặc.

Cả hai lúc gặp cảnh ngộ có xung đột , đều hành xử giống nhau.

AQ đi gây sự, yếu sức, bị thấm đòn nhừ tử, song không cho là thất bại, mà đã thắng lợi tinh thần.

Iran đụng độ với Mỹ và Israel cũng bị thấm đòn nặng. Thiệt hại về nhân mạng, về chương trình hạt nhân, dầu mỏ. Trên 80% vũ khí: tên lửa đạn đạo, máy bay không người lái (UAV) bị phá hủy,

Iran kiên trì chịu đựng, ‘cố đấm ăn xôi’. Kho vũ khí tối tân, đắt tiền của Mỹ đang hao hụt. Mỗi ngày Mỹ chi phí chiến tranh ở Iran trung bình gần 1 tỷ ÚSD - chống đối gia tăng trong nước. Eo biển Hormuz vận chuyển 20% dầu mỏ thế giới bị phong tỏa đẩy giá xăng, dầu lên cao gây suy thoái kinh tế toàn cầu. Thiệt hại về kinh tế của Iran sau 6 tuần chiến sự, ước lượng 270 tỷ USD. Nay mỗi ngày mất thêm tiền.bán dầu. 

Iran không chút nao núng, chẳng còn gì để mất. Vật chất là ngoại thân, mất đi sẽ gầy dựng lại. Mỹ mặc tình đấm đá. Cuộc chiến đi vào ngõ cụt? thì Iran mặc nhiên thắng lợi tinh thần chung cuộc.

Afghanistan, giáp Iran ở phỉa Tây, cũng có chế độ thần quyền. Rộng chỉ bằng 2/5 của Iran, dân số bằng một nửa, nhưng Afghanistan đã đánh bại cả Liên Xô (1979-1989) lẫn Mỹ.(2001-2021).

Việt Nam không kém, đánh bại Pháp, Mỹ với sự giúp đỡ toàn diện của Liên Xô và Trung Quốc. 

Xưa tiền nhân đánh thắng vẻ vang quân Nguyên, quân Minh, quânThanh thì tự lực, chẳng nhờ ai giúp. 

 

Liên Xô thất bại, chọn rút quân khỏi Afghanistan trong vòng trật tự. Chỉ thiệt hại 14.453 nhân mạng.

Hoa Kỳ sau 20 năm chiến sự, tử thương 2.352 binh sĩ cọng thêm 1.144 binh sĩ NATO (Anh, Canada, Pháp, Đức… ) Tuy nhiên Hoa kỳ tháo lui hỗn loạn, để lại 7,2 tỷ USD khí tài và quân Taliban tiếp quản chúng, gồm máy bay, tên lửa, xe cộ, vũ khí đủ loại, thiết bị linh tinh.

Năm nay 2026, Hoa Kỳ đánh Iran, kéo dài chỉ vài tháng. Hoa kỳ nay không đem quân lấn đất làm gì, chỉ không kích với máy bay, có hoặc không người lái và hỏa tiển đạn đạo, phá nát Iran, hủy diệt cơ sở quân sự lẫn công cụ làm giàu uranium tiến đến vũ khí hạt nhân, chắn đường ra biển, đánh sập kinh tế. Số binh sĩ Hoa Kỳ tử thương đếm trên đầu ngón tay, và tai nạn thường do bất cẩn. Thấm nhừ đòn, Iran cũng vớ chẳng được gì, ngoài thắng lợi tinh thần. Bất kể kết quả do đàm phán hoặc chiến cuộc.


Lời Kết.

Trong AQ Chính truyện, kết cục bi thảm. AQ bị bắt giam, đem ra xét xử và bị kết án tử hình. AQ chỉ phạm sơ suất nhỏ song những người có quyền thế đang cần một vật tế thần.

Ở Iran, kết cục rồi cũng na ná số phận hẩm hiu kết liễu sinh mạng của AQ. Cuộc chiến này, chống liên quân Israel-Mỹ khiến chế độ hà khắc, hống hách của vị Giáo chủ Cộng hòa Hồi giáo Iran suy yếu trầm trọng, rạn nứt, nay mai, không chóng thì chầy, sẽ sụp đổ. Iran sẽ là một nước thân thiện, yêu chuộng hòa bình, sánh bước cùng năm châu.

 
Lê Bá Vận

Cuộc Tình Lỡ - Nguyễn Duy Phước

Tài Liệu: Chuyện Chưa Kể Lúc TT Nguyễn Văn Thiệu Rời Khỏi Sài Gòn - Nguyễn Tiến Hưng

 

    Sau khi Tổng thống Thiệu từ chức, tân Tổng thống Hương vẫn để ông lưu lại trong Dinh Độc Lập. Nhưng rồi có nhiều áp lực đòi ông Thiệu phải rời khỏi Việt Nam, nếu không thì phía Cộng sản không chịu điều đình với “một chính phủ Thiệu không Thiệu.” Nhơn dịp có tang lễ Tổng thống Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, Đại sứ Martin báo cáo về Washington: 

  - Ông Hương nói ông ta sẽ đề cử cả hai ông Thiệu và Khiêm làm Đại sứ Lưu động và gửi hai người sang Đài Loan mệnh danh là một phái đoàn đại diện ông để phúng điếu tang lễ ông Tưởng Giới Thạch. Tôi nghĩ rằng mọi chuyện đã được sắp xếp với phía Đài Loan. 

Thực ra, ngoài việc ông Thiệu phải ra đi để dễ hơn cho việc đàm phán về một giải pháp chính trị, Tổng thống Hương còn lo ngại cho sự an toàn của ông. Ông Đại sứ thêm: 

  - Tổng thống Hương nói với tôi là ông ta lo ngại cho sự an toàn của cựu Tổng thống Thiệu… Bởi vậy ông Hương yêu cầu chúng ta giúp cho ông Thiệu ra đi thật kín đáo và sớm nhứt có thể. 

Ngoài những mưu toan nguy hiểm cho ông Thiệu từ các phe phái, Tổng thống Hương còn để ý tới một khía cạnh cá nhân: Sự bất hòa giữa hai tướng lãnh Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh. Sự bất hòa đã có mầm mống từ lâu và mọi người đều biết. Như chúng tôi đã đề cập tới trong Chương 11, chính ông Thiệu đã cố vấn Tổng thống Hương là chớ đề cử Tướng Minh làm Thủ tướng vì sẽ rất nguy hiểm. Việc ông Minh không ưa gì ông Thiệu thì cũng đã công khai. Bởi vậy vào giờ chót, Tổng thống Hương muốn đưa ông Thiệu ra khỏi Việt Nam trước khi ông Minh lên nắm chính quyền. Ông Martin viết:

   - Tổng thống Hương nhứt quyết là ông Thiệu phải ra khỏi nước đã rồi lúc đó ông ấy mới đi tới quyết định cuối cùng là trao quyền cho ông Big Minh.

Đó là về sự cần thiết và thời điểm ra đi, nhưng còn cách ra đi thì làm sao cho được an toàn? 

Chi tiết chuyến đi của hai ông Thiệu và Khiêm từ Bộ Tổng Tham Mưu ra phi trường Tân Sơn Nhứt thì nhân viên CIA là Frank Snepp đã kể lại và chúng tôi cũng có đề cập tới trong cuốn KĐMTC. Ông Snepp và một nhân viên khác là Joe đã giấu vũ khí dưới chỗ ngồi trong xe vì lo sợ tái diễn vụ sát hại như trường hợp hai anh em Tổng thống Diệm. 


Mới đây, câu chuyện từ lúc Tổng thống Thiệu rời bỏ Dinh Độc Lập tới Bộ TTM và ra phi trường được Thiếu tá Nguyễn Tấn Phận kể lại rất chi tiết. Ông Phận là một trong đoàn tùy tùng tám người (cuối cùng chỉ có bảy người) của Tổng thống Thiệu và bốn người của Thủ tướng Khiêm được Tổng thống Hương cho đi tháp tùng theo như yêu cầu của ông Thiệu. Diễn biến có thể tóm tắt như sau:

  - Vào khoảng 7 giờ 30 tối, Tổng Thống Thiệu thay bộ đồ bốn túi trong phòng ngủ rồi qua phòng nhỏ bên cạnh nghiêng đầu qua cửa sổ nhìn xuống. Dưới sân, bên cạnh thềm tam cấp một xe Mercedes màu xanh đậm đã đậu sẵn. Người lái xe là Đại tá Nhan Văn Thiệt. Thấy mọi việc đã sẵn sàng, Tổng thống Thiệu vội vã rút trong hộc tủ cây Browning đã lắp đạn, ông khóa chốt an toàn rồi cho vào túi áo. Ông xuống lầu trệt bằng thang máy. Khi cánh cửa mở ra thì Đại tá Trần Thanh Điền đã túc trực tại đó. Ông vừa bước xuống bậc tam cấp thì lại cũng vào lúc có hai binh sĩ (tên là Sanh và Khình) xuất hiện làm ông dựt mình. Thực ra là họ chỉ đến để đổi gác. Ông Thiệu và ông Điền lanh lẹ bước vào xe. Đại tá Điền ngồi bên phải của Tổng thống Thiệu ở băng sau. Như vậy là ông Điền đã ngồi vào chỗ chánh thức của Tổng thống và chịu làm Lê Lai cứu Chúa! 

Vừa ngồi vào xe, ông Thiệu hỏi:

   -  Có mấy cây súng?

 Đại tá Điền đáp: 

   -  Có hai cây, một cây dài, một cây ngắn.


 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong lễ tang tập thể đồng bào bị sát hại những ngày Tết Mậu Thân, tổ chức tại Huế ngày 15 Tháng Mười 1969 (sau khi loạt hố chôn tập thể được tìm thấy) – ảnh: David Turnley/Corbis/VCG via Getty Images.

 

     Theo như vậy thì vào lúc đó Tổng thống Thiệu đã nhận thấy ông bị nguy hiểm trên đường tới Bộ Tổng Tham Mưu (ta nhớ lại là Tổng thống Diệm đã bị sát hại trên đường tới Bộ TTM). Việc ông Điền ngồi vào chỗ chính thức của Tổng thống thì cũng trùng hợp với câu chuyện ông Thiệu kể cho chúng tôi là khi đi xe tới dự nghi lễ bên Quốc Hội hay nơi khác, ông thường ngồi ngay bên cạnh tài xế lái xe chứ không ngồi chỗ dành cho tổng thống ở băng sau.


Khi đoàn xe tới phi trường Tân Sơn Nhứt, Thiếu tá Phận kể lại là đã “dựt mình khi nhận ra cả khu vực phi trường tối om. Dường như hệ thống điện hoàn toàn bị cắt… Đoàn xe chạy vòng qua khu dành riêng cho hãng Air America của cơ quan tình báo Mỹ. Khi sắp tới phi đạo, tất cả xe đều tắt đèn di chuyển trong bóng đêm. Sau đó một chiếc phi cơ lù lù hiện ra dưới chân trời nhờ đèn trong buồng máy cháy sáng, một loại phi cơ giống như DC6. Khi tới gần chiếc phi cơ, đoàn xe bất thần thắng gấp vì thấy có bóng người… Xe Tổng thống Thiệu bị bao vây bởi ba chiếc xe Chevrolet to lớn. Xa xa trong bóng đêm, xung quanh chúng tôi xuất hiện nhiều người Mỹ vạm vỡ, vận thường phục, súng M16 dựng đứng bên hông, trong thế tác chiến. Rồi hình ảnh ông Đại sứ Graham Martin hiện ra tại chưn cầu thang máy như một vị thần hộ mạng.


Chuyện này làm cho chúng tôi mới hiểu được tại sao khi nói về chuyến ra đi của Tổng thống Thiệu, Đại sứ Martin cứ nói úp úp mở mở là “Ông Thiệu đã ra đi trong điều kiện hết sức khó khăn,” và “chúng tôi đã để ý và cố gắng sắp xếp mọi chi tiết.”


Thì ra, mọi chi tiết được sắp xếp gồm cả việc cắt điện để phi trường tối om và việc đoàn xe phải di chuyển trong bóng đêm. Khi phi cơ đáp xuống thì đã có sẵn một toán lính Mỹ canh gác để đề phòng những biến động có thể xảy ra vào phút chót, thí dụ như việc ngăn chận không cho phi cơ cất cánh. Vì sao như vậy? Vì một việc xảy ra trước đó mấy ngày. Vào lúc 10 giờ đêm ngày Chúa Nhựt 20 tháng Tư tại Tân Sơn Nhứt, một nhóm binh sĩ với võ trang nặng bao vây, định ngăn chận chiếc C-141 của Mỹ chở người di tản không được cất cánh.


Thiếu tá Phận cũng kể lại là “Trung tá Nguyễn Phú Hiệp, phi công chiếc phi cơ Air Viet Nam 727 có lịnh ứng trực, chuẩn bị sẵn sàng, chỉ dành riêng cho Tổng thống Thiệu xử dụng… và cũng vào thời gian này thì một vài đơn vị trưởng các đơn vị phòng thủ thủ đô, và các đơn vị đóng quân gần khu vực phi trường Tân Sơn Nhứt lại được nghe dư luận rỉ tai là ‘ông Thiệu sẽ dùng Air Viet Nam để ra khỏi nước.’ ”


Thực rõ ràng là lịnh cho phi công Hiệp ứng trực chiếc phi cơ Air Viet Nam 727 và tin đồn về ‘ông Thiệu sẽ dùng Air Viet Nam ra khỏi nước’ là những sắp xếp để đánh lạc hướng những kẻ mưu sát vì khi đó ông Martin đã nhận được nhiều thông tin tình báo về âm mưu sát hại ông Thiệu ở ngoài khơi. 

Theo kế hoạch này thì chiếc phi cơ Air Vietnam mà ông Thiệu định dùng để ra đi sẽ bị bắn rơi khi ra khỏi không phận Việt Nam. Bởi vậy, trong vòng bí mật, ông Martin đã gọi ngay chiếc phi cơ riêng của mình từ Thái Lan sang Tân Sơn Nhứt để bốc ông Thiệu. Để bảo mật tối đa thì dù có dùng điện thoại đặc biệt an toàn của tòa Đại sứ để báo cáo về Tòa Bạch Ốc, ông Martin cũng vẫn không tiết lộ chi tiết mà chỉ nói mập mờ. Tuy nhiên, lúc tới sát nút rồi thì ông phải nói cho rõ. 

Ngày 25 tháng 4, Đại sứ Graham Martin gửi về Tòa Bạch Ốc: Số 250420 – Chỉ mình ông xem và qua đường dây Martin. 

Sàigòn số 0736 – FLASH (Cấp tốc)

 Chuyển Ngay. 

Ngày 25, tháng 4, năm 1975.

Gửi tới: Tướng Brent Scowcroft.

 -- Phụ Tá An Ninh Tổng Thống Ford.

 

Thông điệp này xác nhận câu chuyện tôi nói vòng vèo qua điện thoại vừa mới đây. Lúc muộn chiều hôm qua, Tổng thống Hương nói với tôi là ông ta lo ngại cho sự an toàn của cựu Tổng thống Thiệu. Nói chung, dường như ông ta cũng đã biết về một thông tin mà chúng tôi đã nhận được nhiều lần, đó là có một số phần tử của Không Quân Việt Nam là những người có ý kiến hết sức chống đối Thiệu và Khiêm, đã nói rằng hai ông này sẽ không rời khỏi Việt Nam mà còn sống nguyên vẹn (gạch dưới là do tác giả). Chúng tôi biết rằng những phần tử này đang để ý chiếc phi cơ thường dùng để chuyên chở các nhân vật cao cấp VIP của chánh phủ đi ngoại quốc…

 

    _ Tôi đã xếp đặt với Tướng Hunt ở NKP (Nakhom Phanom, Thái Lan) để ông ta gửi một chiếc C-118 tới Sài Gòn sẵn sàng chiều nay. Chúng tôi cũng sẽ sắp xếp hết sức kín đáo để đưa hai ông Thiệu và Khiêm lên phi cơ và cất cánh thật nhanh. Chúng tôi đã suy nghĩ về việc này và chúng tôi chắc chắn rằng sẽ có thể làm hết sức nhanh để nếu có sự can thiệp nào thì chiếc phi cơ đó cũng đã (cao bay xa chạy) ra quá tầm có thể truy kích được rồi…

 

    _ Bởi vậy, trừ phi có chỉ thị ngược lại và ngay tức khắc từ chính ông Ngoại trưởng, tôi sẽ tiến hành theo như trình bày trên đây. Ông Bộ trưởng không cần phải có hành động nào vào lúc này, trừ khi có người đặt vấn đề (tại sao lại) dùng phi cơ quân sự, một điều tôi nghĩ khó có thể xảy ra.…

Trân trọng

Martin.


- TT Nguyễn Văn Thiệu trước thời điểm rời Sài Gòn sang Đài Loan.

    

Về việc này chúng tôi có hỏi Đại tá Nguyễn Quốc Hưng hiện ở Salem, Oregon. Khi đó, ông là Phó Trưởng phòng Đặc trách Khu trục, thuộc Phòng Tham Mưu Phó Hành Quân tại Bộ Tư lệnh Không quân. Ông Hưng xác nhận là có chuyện này và nay vẫn còn nhiều nhân chứng. Chúng tôi hy vọng quý vị còn lại trong Không quân có thể giúp thêm chi tiết xác thực, nơi đây thì chỉ có thể trình bày lại ý kiến của Đại tá Hưng.


Ông Hưng cho biết là có một nhóm trong Không Quân thực sự có âm mưu này và đã theo sát chiếc phi cơ Boeing 727 là chiếc lãnh đạo cao cấp thường dùng trong những chuyến đi xuất ngoại. Sau cùng thì họ giao cho một sĩ quan ở Cần Thơ thuộc Sư Đoàn 4 Không Quân lo việc này. Ở phi trường Cần Thơ có loại phi cơ khu trục A-37 và cả phản lực F5. Kế hoạch là tại Tân Sơn Nhứt có những người được chỉ định theo dõi thật sát các chuyến bay, đặc biệt là chiếc Air Vietnam Boeing 727. Khi nào thấy hai ông Thiệu và Khiêm lên phi cơ thì sẽ báo cho Cần Thơ để phản lực cất cánh bay thẳng ra khơi và sẽ bắn rơi chiếc phi cơ chở ông Thiệu và ông Khiêm, ở khoảng 100 cây số cách bờ biển.


Nếu như vậy thì cũng chẳng có tang tích, chẳng có chứng cớ gì về vụ sát hại. Trừ một số người rất nhỏ trực tiếp dính líu thì không ai biết tin tức gì về việc này. Lúc ấy là đêm 25 rạng ngày 26 Tháng Tư rồi, khi dầu sôi lửa bỏng đã lên tới đỉnh điểm, mọi người chỉ còn có thể lo cho chính bản thân, nên cũng chẳng ai để ý tới chuyện gì xảy ra cho ông Thiệu.


Đại tá Hưng cũng cho biết lúc ấy ở ngoài khơi cũng có những phi cơ luôn luôn thay nhau theo dõi. Chúng tôi hỏi ông xem nhóm người nào ra lịnh cho phi công ở Cần Thơ? Ông trả lời là do một phe nhỏ chống ông Thiệu ở ngay Bộ Tư Lệnh Không Quân. Đại tá Hưng thêm rằng: Về vấn đề đảo chánh nói chung thì chính hai Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Ngọc Loan ( ông Loan ở bên Mỹ ?) đều không đồng ý và đã khuyên không được làm như vậy.

 

TT Nguyễn Văn Thiệu và PTT Trần Văn Hương.

 

   Sau cùng thì hai ông Thiệu, Khiêm lại không đi chuyến Boeing 727 mà đi chiếc C-118 của Đại sứ Martin. Đại tá Hưng kể là vài ngày hôm ấy cứ thấy Đại sứ Martin ra ra vào vào phi trường Tân Sơn Nhứt.


Tối muộn cùng ngày 25 tháng 4 năm 1975, ông Martin báo cáo về Tòa Bạch Ốc:

Số 251510Z – Chỉ mình ông xem và qua đường dây Martin 

Sàigòn – C738 – Cấp tốc 

Chuyển ngay.

Ngày 25 tháng 4 năm 1975.

Gửi tới: Tướng Brent Scowcroft.

Người gửi: Đại sứ Graham Martin. 

Tham chiếu: Sàigòn 0736.

 

Vào lúc 21 giờ 20 phút tối nay, một chiếc C-118, có đuôi số 231 đã cất cánh từ Tân Sơn Nhứt cùng với cựu Tổng thống Thiệu và cựu Thủ tướng Khiêm. Họ đã bay sang Đài Loan nơi mà anh ông Thiệu làm đại sứ VNCH. Công việc sắp xếp rất suôn sẻ. Tôi đã tháp tùng họ lên phi cơ và tôi cho rằng sự vắng mặt của họ ở đây sẽ giảm bớt được sự xôn xao có thể xảy ra.


Chúng tôi sẽ không bình luận gì về việc này ở đây. Phi hành đoàn từ NKP (Nakhon Phanom, Thái Lan) bay chiếc C-118 của tôi tới Davis-Montohn và tới nơi nghĩa trang. Tôi nghĩ rằng hai ông cũng sẽ không tuyên bố gì cả trừ phi và cho tới khi chuyện này lộ ra ở Đài Loan.

Trân trọng

Martin.


Khi chiếc phi cơ có đuôi số 231 sửa soạn cất cánh, Đại sứ Martin đã có mặt tận cửa phi cơ để tiễn ông Thiệu. Dù buồn thảm và cam chịu số phận, ông Thiệu vẫn đi thủng thẳng, cố giữ phong độ. Ông quay lại cám ơn ông Martin đã dàn xếp chuyến đi. Với một giọng xúc động, ông Martin đáp lại: 

   - Thưa tổng thống, đó là điều tối thiểu tôi có thể làm. Xin tạm biệt và chúc ngài may mắn.

 Douglas C118 tương tự chiếc phi cơ CIA (Aie America) đã đưa hai ông Thiệu Khiêm và tùy tùng đi Đài Bắc.

 

       Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và phu nhân lên phi cơ tại Phi trường Andrews AFB, Maryland, ngày 7 Tháng Tư 1973 để đến Austin, Texas gặp Tổng thống Lyndon B. Johnson tại LBJ Ranch (Getty Images)

Nhìn lại lịch sử thì thấy ông Thiệu đã thật may mắn. Không những chính ông, ông Khiêm mà cả chuyến Air Vietnam 727 cũng may mắn. Nếu như không có sự can thiệp của ông Martin thì những người khác cũng đã cùng chịu chung một số phận. Đó là phi công Hiệp, các nhân viên khác trong phi hành đoàn, và 12 người trong phái đoàn của cựu tổng thống và thủ tướng, họ đều đã bị chôn vùi dưới đáy biển cùng với chiếc Boeing 727.


Trong số này có Đại tá Cầm, Chánh Văn Phòng và là người chúng tôi làm việc gần gũi, có Đại tá Đức, người đã ôm hồ sơ mật Dinh Độc Lập đưa đến tư gia trao chúng tôi vào đêm ngày 22 Tháng Ba. Rồi cả Thiếu tá Phận, người vừa kể lại câu chuyện về những ngày cuối của TT Thiệu ở Sài gòn. Những người khác gồm mấy sĩ quan gần gũi Tổng thống Thiệu (Đại tá Điền, Thiệt; Trung tá Chiêu, Bác sĩ Minh, Đại úy Hải, và binh sĩ Nghị); và phái đoàn của Thủ tướng Khiêm (Trung tá Châu, Thiếu tá Thông, và ông Đăng Vũ).

 

Nguyễn Tiến Hưng