Saturday, April 25, 2026

Cuối Đời Nhìn Lại - Song Vũ

 Old soldiers never die; they just fade away.

Gen. Douglas MacArthur

Bức tượng Thương tiếc tại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa cũ. Tác giả: Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu. Nguồn: internet

Một nửa thế kỷ trôi qua sau ngày mất nước. Những cay đắng chua xót đau đớn một thời cũng phai nhạt dần. Thời gian qua đã là liều thuốc chữa những ưu phiền khổ đau một thời. Tôi nhớ lại những ngày đầu bước chân gia nhập quân ngũ. Ở lứa tuổi 20 ngoài suy nghĩ về nghĩa vụ công dân, tôi không có ý niệm sâu sắc gì về tình tự yêu nước thương nòi. Xách chiếc túi nhỏ trong đó có chứa hai bộ đồ lót, một ít vật dụng vệ sinh cá nhân hàng ngày và chục trái cam mẹ cho để ăn khi lên tàu lửa. Tôi đón taxi đến trại Lê Văn Duyệt để trình diện nhập ngũ. Hình ảnh mang theo cùng hành lý chỉ còn lại những giọt nước mắt thương con của Mẹ tôi. Khi tôi từ giã mẹ. Ở lứa tuổi 20, trải qua nhiều dông bão qua chuyến vượt tuyến đầu tiên vào năm 1957 thất bại, cả gia đình bị bắt giữ lại tại gần Hòn Ông Hổ Cửa Tùng rồi thời gian ở trại giam Trần Phú Hải Phòng là những trải nghiệm đầu tiên về sự khổ đau của cuộc sống mà tôi có. Trước đó chỉ là chuỗi ngày sống êm đềm bên mẹ cha cho dù phải chạy tản cư xê dịch tới nhiều nơi nhưng tôi vẫn hồn nhiên vui vẻ chẳng hề bận tâm lo nghĩ gì.


Hôm nay, ngày 10 tháng 11. 1960, tôi thực sự vào đời tạo dựng sự nghiệp cho chính mình. Trên chuyến xe lửa từ Sài Gòn đi Đà Lạt, ngồi chung cùng các bạn bè đồng trang lứa, lần đầu tiên gặp mặt nhau nên cũng chẳng biết tâm sự điều gì. Không khí tĩnh lặng trên toa tầu vừa nặng nề vừa đượm một chút u buồn của những chàng trai phần lớn lần đầu xa nhà khiến cho chúng tôi càng ít trao đổi tâm sự với nhau hơn.


Rồi những ngày học tập rèn luyện tại quân trường, chúng tôi có biết bao nhiêu kỷ niệm không thể quên. Từ cách xưng hô giữa các khóa đàn anh đàn em, những hành vi cử chỉ, tất cả đều mới lạ, quần áo trang phục, cách đi đứng chào hỏi…. tất cả đều đổi khác. Tám tuần lễ sơ khởi huấn nhục đã biến đổi chúng tôi thành một con người khác trước đó. Những tập tành quân sự hàng ngày khiến cho giấc ngủ là thời gian duy nhất chúng tôi có thể coi là nghỉ ngơi. Thời gian còn lại lúc nào cũng bận bịu không chuyện nọ thì chuyện kia, chẳng còn tâm trạng nào mà suy ngẫm lý giải về cuộc đời.

Những người lính VNCH. Hình chụp năm 1970


Cuối năm thứ hai, chúng tôi được chuyển qua trường mới. Một ngôi trường khang trang hiện đại, chỗ ăn ngủ sinh hoạt cũng sạch sẽ thoáng mát rộng rãi hơn. Khoảng thời gian đó có tới 4 khóa cùng hiện diện 15 -16, 17-18. Vị chỉ huy trưởng cũng được bàn giao từ Thiếu tướng Lê văn Kim cho Đại tá Trần Ngọc Huyến. Chương trình huấn luyện cũng được cập nhật thay đổi theo hướng trang bị cả tri thức văn hóa lẫn quân sự cho lớp sĩ quan tưong lai để đáp ứng nhu cầu của một đội quân quốc gia non trẻ trong tình hình mới. Chúng tôi bắt đầu được học tập chính trị về sự tha hóa của chủ nghĩa cộng sản và nguy cơ trước cuộc chiến tranh xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Những giờ Dẫn đạo chỉ huy do chính thầy Huyến giảng dậy là những bài học đầu tiên cho chúng tôi ý thức trách nhiệm và bổn phận của một công dân đối với tiền đồ dân tộc.


Khóa 15 ra trường đầu năm 1961 và cuối năm 1962 là khóa 16; trước đó ít ngày là khóa 19 nhập học. Tình hình quân sự trong nước ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do cộng sản Miền Bắc dàn dựng ra đời vào ngày 20 tháng 12. 1960. Nhu cầu chiến trường ngày càng đòi hỏi sĩ quan chỉ huy tham gia cuộc chiến. Khóa chúng tôi theo kế hoạch dự trù 4 năm nay có lệnh rút ngắn gần một nửa thời gian dự trù để làm lễ tốt nghiệp sớm hơn – thậm chí không có đủ thời gian 3 năm như hai khóa đàn anh trước đó. Ngày 30 tháng 3 1963, Lễ mãn khóa của chúng tôi được Tổng thống Ngô Đình Diệm chủ tọa. Buổi chiều cùng ngày, Tổng Thống đã nói chuyện với khóa về hiện tình thời sự trong nước cùng nhiệm vụ của các tân sĩ quan trước tình thế . Đầu tháng 11 cùng năm, bản thân tôi cùng một số bạn đồng môn đã có mặt trong số các đơn vi quân đội tham gia làm cuộc đảo chánh chính vị Tổng thống đang ngồi nói chuyện với chúng tôi hôm ấy. Sự trớ trêu ấy mở màn cho những cuộc binh biến hỗn loạn sau này đã khiến cho Miền Nam bị cuốn hút vào cơn lốc xoáy nghiệt ngã của lịch sử không thể gượng dậy được nữa.


Tháng 4. 1963 tôi cùng 10 bạn cùng khóa trình diện BTL/SĐ 7 tại Mỹ Tho. Cuộc đời quân ngũ thực sự bắt đầu. Đơn vị tác chiến đầu tiên của tôi là đại đội 1 tiểu đoàn 3/11. Tiểu đoàn có 4 sĩ quan xuất thân từ VB là hai niên trưởng Ngô Gia Tiến cùng đại đội; Hoàng Lê Cường khóa 16 chung đại đội 2 với bạn cùng khóa 17 Nguyễn Tiến Mão. Tiểu đoàn 3/11 lúc đó là đơn vị hành quân lưu động trên toàn lãnh thổ thuộc khu chiến Tiền Giang nên đơn vị chúng tôi di chuyển hầu như liên tục. Mỹ Tho, Gò Công, Long An , Hậu Nghĩa, Vĩnh Long, Cần Thơ, Kiến Tường Kiến Phong… Những ngày lang thang lội nước trên những cánh đồng ngút ngàn dưới những cơn mưa trên chiến trường Đồng Tháp, người lính như thể bị bủa vây bốn bề là nước là những hình ảnh không thể xóa nhòa trong ký ức của tôi cho tới tận lúc ngồi viết lại những dòng chữ này.


Năm 1968 sau trận đánh Tết Mậu Thân, tôi được đề cử đi học lớp Chỉ huy tham mưu trung cấp ở Đà Lạt. Tháng 9 ra trường, vị Chỉ huy trưởng trường muốn giữ tôi ở lại làm huấn luyện viên nhưng tôi từ chối. Có thể là do lời yêu cầu của vị Trung  tá Trung đoàn trưởng 11 lúc đó mong tôi trở về lại đơn vị cũ giữ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/11. Niên trưởng Nguyễn văn Tạo Khóa 16 bị tử thương trong một trận đánh nội công ngay tại căn cứ Đồng Tâm và là  tôi là tiểu đoàn phó trước khi đi học. Cũng có thể là tình đồng đội ở một đơn vị đã có cùng tôi qua nhiều trận đánh oanh liệt trên chiến trường Đồng Tháp. Cũng có thể là những tình cảm huynh đệ đồng môn mà chúng tôi đối xử với nhau như tình ruột thịt khiến cho tôi muốn trở về; nhưng có điều chắc chắn không phải vì chức vụ tiểu đoàn trưởng bởi vì tôi cũng sẽ đảm nhiệm chức vụ này nếu tôi thuyên chuyển về SĐ 23 theo lệnh từ Bộ TTM. Đời quân ngũ cho tôi một kinh nghiệm, mười điều mình mong muốn thực hiện thì có tới chín điều không theo ý mình mong ước. Hơn 5 năm lăn lộn với SĐ 7, đi đủ 3 tiểu đoàn 1, 2 và 3 của Trung đoàn 11; đảm nhiệm chức vụ từ trung đội trưởng, đại đội trưởng rồi trinh sát tới tiểu đoàn phó, làm sao không quyến luyến.

 

Định mệnh lại thay đổi lối đi của cuộc đời tôi thêm một lần. Tôi được lệnh thuyên chuyển ra Sư Đoàn 23 BB ở Ban Mê Thuột vào tháng 9 1968. Những quen thuộc của chiến trường trên đồng bằng sông Cửu Long giờ đây thay đổi bằng những rừng núi chập chùng của dẫy Trường Sơn khiến tôi có một chút ưu tư, liệu rằng mình có thể thích nghi được với chiến trường mới này hay không? Những chiến hữu mới, đồng đội mới có còn những thân thiết chan hòa như ngày nào ở đơn vị cũ?


Tháng 10 tôi nhận bàn giao Tiểu đoàn 2/44 từ Đại Úy Trần văn Anh một niên trưởng Khóa 8 VB. Các cuộc hành quân trong mật khu Lê Hồng Phong cùng các vùng núi non giữa tam biên Phan Thiết – Lâm Đồng – Đà Lạt lâu dần rồi cũng trở nên quen. Có khác chăng là hình thức hành quân có chút khác biệt. Tiểu đoàn thường được chỉ định một vùng hành quân rộng rồi tùy thuộc vào tin tức tình báo, tiểu đoàn sẽ thiết lập một căn cứ hỏa lực, sau đó đổ bộ các đại đội xuống các mục tiêu lục soát, tìm và tiêu diệt địch. Thời gian sử dụng máy bay trực thăng đổ quân nhiều hơn cuốc bộ leo núi. Tiểu đoàn trưởng cũng có thể tự hoạch định kế hoạch hành quân theo chủ ý của mình. Kiểu cách hành quân có chút tương tự với các đơn vị Hoa Kỳ khác hẳn với cách hành quân cũ.


Cuối năm 1971 tôi được giao chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn 44 thay thế Trung tá Đặng Bất. Trung đoàn trưởng lúc đó là Trung tá Điều Ngọc Chánh khóa 8 VB. Nhận nhiệm vụ được 2 tuần, tôi dẫn chiến đoàn 44 A đi Pleiku trình diện BTL/QĐ 2 làm lực lượng tổng trừ bị cho Quân đoàn. Mặt trận Cao nguyên bắt đầu sôi động. Các đơn vị chính quy cộng sản miền Bắc đã vào thay thế cho các đơn vị miền Nam bị tổn thất nặng nề sau trận đánh tết Mậu Thân 1968. Sư đoàn 308 Miền Bắc cùng các đơn vị trực thuộc, xe tăng thiết giáp hỏa tiễn rầm rập kéo vào Cao nguyên theo đường mòn Hồ Chí Minh cùng lúc với kế hoạch quân đội Mỹ rút ra khỏi Việt Nam theo kế hoạch Việt Nam Hóa chiến tranh của tổng thống Mỹ Nixon. Những bàn thảo bàn vuông bàn tròn ở Paris ngày càng làm cho tình hình chiến sự trên toàn 4 vùng chiến thuật thêm khó khăn. Cộng sản đổ thêm quân và tiếp liệu vào chiến trường vì họ tin rằng chỉ có chiến thắng mới có cơ hội họ đạt được mục đích mong muốn. Về phía chúng ta thì ngược lại, hoàn toàn bất lợi trước sự mệt mỏi và tổn thất qua hơn 5 năm tham chiến của người bạn đồng minh Hoa Kỳ. Với kiểu vừa đánh vừa run lo ngại đụng đầu với Trung/ Nga khiến cho cuộc chiến không thể thắng ngày càng rõ nét. Kinh nghiệm ngày nào của chiến tranh Triều Tiên khi Tổng thống Truman không nghe lời đề nghị của tướng Macarthur tiêu diệt lực lượng quân đội Trung Quốc lúc đó đang tập trung tại vùng bắc sông Áp Lục trong khi tràn vào Bắc Hàn đáng để chúng ta suy ngẫm. Chiến tranh từ cổ chí kim đều coi giả trá là điều kiện cần, còn phải tàn bạo mới đủ để chiến thắng. Cộng sản đã chứng thực điều đó cho ngay đến lúc này một nửa thế kỷ sau, trong cuộc chiến Nga/ Ukraine. Putin đã chẳng do dự chút nào khi sử dụng mọi loại vũ khí tàn độc để tiêu diệt quân dân Ukraine, và luôn lớn tiếng sẽ sử dụng bom nguyên tử nếu cần. Nếu Putin không lo bụi phóng xạ theo chiều gió kéo vào làm tổn hai ngay chính nước Nga, ông ta đã làm ngay sau màn chiến tranh chớp nhoáng đánh chiếm, Kiev thất bại rồi. Nhân đạo lấy tiếng là quân tử để nhận lãnh thảm bại bị tiêu diệt sau đó chỉ xẩy ra ở nước Trung Hoa cổ. Còn dùng tàn bạo và giả trá mang đến những chiến thắng vang dội thì điển hình là đạo quân Mông Cổ thế kỷ 13.


Trận đánh Mùa Hè đỏ lửa tháng 4/1972 là trận đánh chính quy hào hùng nhất tôi được tham dự trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Tháng 9 tôi bị thương lần thứ 3 trong đời lính chiến và  sau khi nghỉ dưỡng thương một tháng, đầu năm 1973 tôi trở về giữ chức vụ trưởng phòng hành quân Sư Đoàn. 

Tình hình ngày càng xấu đi. Các đơn vị chủ lực của Hoa Kỳ rút ra khỏi Việt Nam để lại không chỉ khoảng trống phòng thủ mà tệ hại hơn là những cảm giác bỏ rơi đồng đội khi đang chiến đấu. Quân nhu đạn dược cũng bị cắt giảm tới mức vô lý trong khi quân Bắc Việt ngày càng được bổ sung trang bị hiện đại hơn về vũ khí trang dụng, quân số. Ở vị trí Trưởng Phòng Hành Quân, qua các chuyến bay quan sát chiến trường, Tôi dần nhận ra sự thất bại tất yếu phải đến của cuộc chiến tàn khốc này. Những người lính Việt Nam đang chiến đấu trong tuyệt vọng. Những chính trị gia đầu não của chúng ta đã phó mặc đất nước cho giặc. Hòa đàm Ba Lê, hậu quả đưa đến một kết quả hòa bình nửa dơi nửa chuột, chiến không ra chiến hòa chẳng ra hòa. Chỉ có những ai từng đang cầm súng trong khoảng thời gian ấy mới thấu hiểu được tâm trạng của người lính VNCH lúc đó. Chúng ta đã thua ngay sau khi bị cưỡng ép đặt bút ký vào tờ hiệp định đầy cạm bẫy bất lợi này.

Những hình ảnh về cuộc chiến tranh Việt Nam.


Từ cuối năm 1973 đến hết năm 1974, trong các chuyến bay trinh sát tìm vị trí thả các toán trinh sát phối hợp giữa phòng 2 và 3 SĐ, tôi đã chứng kiến những đoàn xe khổng lồ dài vài cây số nối đuôi nhau chạy dọc theo dẫy Trường Sơn khu tam biên trong lúc các đơn vị đồng minh lần lượt rút ra khỏi Việt Nam. Cái hiệp định Paris tồi tệ ấy là cuộn dây thiết chặt cổ họng người lính VNCH để cho kẻ thù hành hạ. Chẳng ai trong những người lính ở thời điểm đó còn có lòng tin về một chiến thắng hay hòa bình thật sự trong danh dự.


Cuộc chiến đã qua đi 50 năm nhưng những di họa của nó thì chắc vài thế hệ nữa mới mong xóa nhòa. Chiến tranh mang đến nỗi thống khổ vô biên không thể phai trong tâm trí những người từng tham chiến. Cuộc chiến tạo nên sự gắn kết tình đồng đội vào sinh ra tử xác thực, đồng thời cũng biểu lộ bộ mặt phản trắc trí trá của bạn và thù. Khi cuộc chiến qua đi tôi nhìn ra nhiều điều, trong chiến đấu bầu không khí hừng hực khói lửa chiến trường, giữa tên bay đạn réo, khi sinh mạng của mình có thể bị lấy đi bất cứ thời điểm nào lúc đó sẽ lộ diện cái mà chúng ta thường nói tới: Tình đồng đội, sự dũng cảm, tài chỉ huy. Tình cảm đồng đội vượt lên trên mọi tị hiềm ganh ghét, đố kỵ cay cú tranh giành điều mà trong cuộc sống hòa bình bầy ra nhan nhản trước mắt. Trường Võ Bị có truyền thống là tôn sư trọng đạo. Trong chiến tranh các sĩ quan đồng môn luôn gìn giũ nền nếp này. Suốt cuộc đời binh nghiệp của mình tôi chưa một lần đánh mất niềm tin đó. Các niên trưởng, đàn anh, các niên đệ khóa nhỏ mỗi lần gặp gỡ đều vui vẻ tay bắt mặt mừng. Dù tôi là cấp chỉ huy của họ hay được một đàn anh chỉ huy, tôi cũng đều nhận được ở đó sự thân thiết đùm bọc anh em. Cuộc chiến qua đi, những thử thách chiến trường không còn. Cuộc sống cơm áo gạo tiền đòi hỏi một kỹ năng khác hẳn những hy sinh mạng sống trước kia nên chi cái từng được trân trọng nâng niu “ chung mái trường Mẹ” trở nên lạc lõng bơ vơ. Những mưu mánh thủ đoạn chính trị được ẩn danh dưới nhiều hình thức miệt thị lẫn nhau để cố tranh đoạt một danh hiệu mà mình không còn thực tâm tôn kính gìn giữ. Tôi thầm nghĩ, chỉ cần 20 năm nữa thôi, những cựu SVSQ từng xuất thân Võ Bị có còn lại bao nhiêu đủ để ngồi chung một bàn tròn Tổng Hội? Điều chúng ta nên làm là xây dựng đội ngũ kế thừa từ con em cháu chắt của mình cho một đoàn thể VBQG mai sau qua những tấm gương của chúng ta đang làm hiện tại. Những ai đã từng sống sót qua bao thử thách của cuộc chiến đều hiểu rằng sở dĩ chúng ta hãnh diện về ngôi trường Mẹ chỉ bởi vì chúng ta coi đó là nơi đã tạo nên dáng vóc và khả năng chỉ huy lãnh đạo để cùng chung tay đánh giặc cộng sản, bảo vệ quê hương đất nước. Chúng ta từng tự hào vì là những sĩ quan tình nguyện gia nhập quân đội, được đào tạo bài bản về cả văn hóa lẫn quân sự nên đã làm nên bao chiến công hiển hách trên khắp các mặt trận trên bốn quân khu, vùng chiến thuật.

 

Lòng dũng cảm, khả năng chỉ huy trên chiến trường, sự hy sinh, xương máu của các đồng môn không chỉ làm nên danh dự của đội ngũ chúng ta mà còn làm rạng danh cho cả quân đội quốc gia non trẻ của chúng ta nữa.  Chúng ta đã từng tự hào về những sĩ quan tốt nghiệp thủ khoa của nhiều khóa Võ Bị đã chọn cho mình những đơn vị chiến đấu để phục vụ thay vì họ có cơ hội để tìm những đơn vị yểm trợ nơi hậu phương; những cấp chỉ huy nhảy vào chảo lửa chiến trường, thực hiện những nhiệm vụ thập tử nhất sinh trong những trận đánh khốc liệt nội biên và ngoại biên đã nêu gương sáng cho các thế hệ đàn em, đâu có thời gian để suy nghĩ tranh giành hiềm khích đố kỵ lẫn nhau? Hoàn cảnh đổi thay, khi những người lính già từng trải chiến trường ngày nào, qua lao tù đầy đọa bởi kẻ thù khi buông súng giờ đây trên đất khách quê người ngậm ngùi nhìn một số đàn em dùng những thủ đoạn mà các chính trị gia cơ hội thường dùng để làm những điều mà một SVSQ/VB không nên làm. Trường VBQG là nơi đào tạo sĩ quan chỉ huy cho quân đội. Chiến trường là nơi biểu tỏ khả năng trình độ của một sĩ quan. Chiến công qua những trận đánh, tinh thần quả cảm và sự hy sinh anh dũng trên chiến trường khi giáp mặt kẻ thù, theo tôi nghĩ mới là điều đáng hãnh diện và tự hào của một sĩ quan quân đội chứ không phải là những phù phiếm hào nhoáng khác. Chẳng một sĩ quan đúng nghĩa nào lại tự cho mình là giỏi hơn thiên hạ vì những tiêu chí vớ vẩn nào đó ngoài những trải nghiệm đã được thử thách sinh tử trên chiến trường. Giá trị đích thực của một sĩ quan phải được đánh giá khách quan từ những người từng cùng chung trận chiến, hoặc từ đơn vị bạn chứ không phải từ những nhận xét chủ quan của người “tự đánh giá.”


Tháng 4 năm 1992 gia đình tôi di cư qua Hoa kỳ theo chương trình HO 11. Khi bước chân lên phi cơ tôi mang tâm trạng nửa mừng vì chắc chắn bản thân gia đình con cái sẽ có một tương lai tươi sáng—một sự đổi đời– nửa lo về những khó khăn chắc chắn sẽ gặp trong thời gian sắp tới; thêm một chút lưu luyến về quê hương đất nước với biết bao kỷ niệm vui buồn sướng khổ đã từng. Gia đình tôi ở lại Thái Lan 1 tuần để làm giấy tờ rồi sau đó lên phi cơ vào Mỹ. Bước chân xuống phi trường Los Angeles cả gia đình choáng ngợp về sự hiện đại tráng lệ của phi trường. Có điều kỳ lạ là ngay ngày hôm sau, một cuộc động đất lớn rung lắc bàn ghế chỗ chúng tôi tạm trú tại thành phố Santa Ana thuộc Orange county—lần đầu tiên trong đời tôi được biết động đất là gì. Cả ngày theo dõi cảnh đốt phá cướp bóc trên đường phố Los lại càng làm cho tâm trạng tôi rối bời những ý tưởng buồn chán. Cuộc sống thì ra ở đâu cũng có những bất hạnh và khổ đau do thiên nhiên mang đến. Tôi tự an ủi mình những tai ách ấy là không thể tránh được nhưng ít ra cũng không tệ hại bằng chính những tai ách do con người tạo nên cho nhau. Cuộc sống mới bắt đầu với những biến động như thế từ trong thâm tâm tôi đã nghĩ tôi cũng sẽ phải cố gắng nhiều hơn để hy vọng có thể tồn tại được trên mảnh đất tự do nhiều cơ hội này.


Tháng 5 gia đình dời đi lên vùng Bắc Cali – thành phố Campbell. Một thành phố nhỏ nằm lọt trong lòng một thành phố lớn hơn San Jose. Những ngày đi tìm việc mưu sinh, vào đúng thời điểm kinh tế suy trầm khiến cho công việc càng gay go khó kiếm hơn. Rồi mọi thứ cũng đi dần vào quỹ đạo ổn định đúng lúc tháng trợ cấp cuối cùng đáo hạn vào tháng 10 cùng năm. Tết năm 1992 là cái Tết đầu tiên tôi được sum vầy cùng cả gia đình kể từ khi bước chân vào lính. Suốt 12 năm từ khi nhập ngũ cho tới lúc ra trường, Tết đối với tôi là chuỗi ngày xa nhà, hoặc đóng tại các địa điểm quan yếu trên quốc lộ, hoặc túc trực 100% tại đơn vị sẵn sàng hành quân. Mười ba năm còn lại kể từ sau tháng 4/75 là những năm đón Tết trong các trại cải tạo hết Nam rồi Bắc. Một trong những cái Tết u buồn nhất là Tết Nguyên Đán 1982 tại trại Nam Hà. Đêm Giao thừa gió rét căm căm, cả căn phòng rộng chừng 100m vuông chứa hơn 50 chục người lặng lẽ đón Tết trong nỗi tuyệt vọng ê chề khi nghĩ về gia đình và tương lai. Những năm trước đó bản thân tôi không có những cảm xúc kỳ lạ như vậy, không hiểu sao Tết năm ấy, không chỉ riêng tôi mà kể cả các bạn đồng cảnh ngộ cũng có chung một tâm trạng như thế. Có lẽ do áp lực quốc tế khiến cho cộng sản phải mang dần các tù cải tạo trở lại Miền Nam sau khi đã đưa toàn bộ tù cải tạo ra Bắc nhằm hủy diệt số tù nhân này theo kế hoạch của Lê Đức Thọ không thành. Các bạn tù đã về Nam từ Tết trước còn lại chúng tôi chẳng biết bao giờ mới trở lại Miền Nam. Bản thân tôi nằm trong nhóm đầu tiên đi Bắc và đi chuyến chót về Nam. Khoảng tháng 5 1982 tôi được chuyển từ Nam Hà về trại A Z30A rồi tiếp tục ở lại đó cho đến Tết 1988 mới ra trại.


Tháng 4/ 1975 ập đến. Một hệ quả tất nhiên phải có của cuộc chiến bất cân sức này. Giờ đây tôi đã mất đi cảm xúc đau đớn của nửa thế kỷ trước. Tôi cũng chẳng muốn quy kết trách nhiệm cho ai và nhận ra, chính bản thân cũng có phần trách nhiệm. Có nhiều điều vượt ra khỏi sự hiểu biết của con người mà có lẽ chỉ cách nói vận nước phải thế là có thể chấp nhận được. Sự phân ly chia rẽ dân tộc có thể đã bắt đầu từ huyền sử Lạc Long Âu Cơ khi chia đôi bầy con nửa lên rừng nửa xuống biển. Rồi phân tranh đất nước Bắc Nam cũng đâu chỉ có một lần thời Pháp thuộc hoặc sau hiệp đình chiến Genève 1954 ? Có khác chăng là cuộc thống nhất Nam Bắc lần đầu bắt nguồn từ Miền Nam với đạo quân của Quang Trung. Còn Bắc vào Nam trong năm 1975 thì ngược lại? Lịch sử dân tộc chúng ta là như thế. Lịch sử có quy luật của nó theo đúng quy trình Sinh Trụ Hoại Diệt không thể khác được. Hình thù địa lý đất nước có nút thắt giữa chừng rất hẹp nên luôn có mối đe dọa cắt ngang. Với hơn 3000 cây số bờ biển trong khi không có một lực lượng hải quân đủ mạnh để bảo vệ luôn là miếng mồi ngon cho ngoại xâm. Chưa nói tới những nhà lãnh đạo khôn nhà dại chợ chỉ lo thu vén cho cá nhân dòng họ thay vì quyền lợi đất nước.


Nếu có chút suy ngẫm gì chăng có thể chỉ là tại sao dân tộc chúng ta không đủ minh mẫn để tìm ra một phương cách khác thống nhất đất nước trong hòa bình thịnh vượng như một nước Đức tùng làm? Trong sử sách chúng ta luôn tự hào về sự thông minh, chịu thương chịu khó, rừng vàng biển bạc mà trong thực tế thì trái ngược hẳn. Sau chiến tranh chúng ta mất cả biển lẫn rừng, mang tiếng là thống nhất nhưng nhân tâm chia rẽ hơn bao giờ hết. Bắc nam/ Trong nước ngoài nước, kẻ thắng / người bại…cuộc chiến kéo dài bất tận giữa những người cùng mang dòng máu Việt. Năm mươi năm chưa đủ dài để cho những người cộng sản hiểu ra rằng nguy cơ đang dần dần mất nước vào tay Trung cộng là rất lớn. Ông cha ta đã từng bị Bắc thuộc một ngàn năm còn lần này sẽ kéo dài bao lâu mới có cuộc khởi dậy của Ngô Quyền mười thế kỷ sau đó để dõng dạc tuyên bố chủ quyền độc lập dân tộc?


Năm mươi năm kể là khá dài đối với một kiếp sống con người, nhưng lại là quá ngắn kho so sánh với cuộc trường tồn của một dân tộc. Đất nước đã đổi thay từng ngày và luôn đổi thay không ngừng nghỉ. Con người cũng thế. Từng thế hệ luân phiên nhau có mặt trong cuộc đời này rồi lần lượt lìa xa cuộc sống để tiếp tục phiêu du  ở một thế giới khác, một kiếp khác.

 

Những ngày gần đây chúng ta đã chứng kiến nhiều đổi thay đổi nghịch thường trong nước. Những vụ tranh ăn giựt ghế của nội bộ đảng cộng sản Việt Nam  ngày càng trắng trợn hơn tàn khốc hơn. Sự phân hóa trong giới lãnh đạo chóp bu của chúng cũng ngày càng lộ rõ nét không thể che mắt thiên hạ như họ đã từng làm trước đây nữa. Những chuyển biến ấy có cho chúng ta một hy vọng gì không cho tương lai đất nước? Chắc chắn là có. Chỉ có điều, vì hình thể địa lý, sự lệ thuộc quá chặt với Trung Cộng khiến cho cuộc thay đổi ấy chậm chạp lề mề, tình hình sẽ khá hơn khi mẫu quốc Trung Cộng đột biến quay ngang. Bản thân Trung Quốc cũng đang trong cùng quẫn trở mình. Ngoại biên, Hoa Kỳ cũng trong thời gian đổi thay mãnh liệt. Với chủ trương Nước Mỹ trên hết, tổng thống Trump có khuynh hướng áp dụng học thuyết Nước Mỹ Trên Hết (MAGA). Điều này sẽ dẫn đến những đổi thay không ai biết được trong những ngày sắp tới. Chúng ta cũng không thể đoán định được tình hình thế giới sẽ chuyển biến ra sao trước chủ trương tránh can dự vào các cuộc tranh chấp thế giới của chính quyền Hoa Kỳ tương lai trước khuynh hướng bành trướng ngày càng tăng của các nước cộng sản còn sót lại đặc biệt là hai cường quốc Trung Cộng và Nga.

 

Cuộc chiến dang dở giữa Nga và Ukraine cùng số phận của quốc đảo Đài Loan sẽ ra sao? Cũng chẳng ai biết được. Chỉ có điều tôi tin tưởng thế chiến thứ ba hy vọng sẽ không xẩy ra ít nhất trong thời gian này bởi vì cuộc chiến hủy diệt ấy là bản án cáo chung của nhân loại chứ không phải là một tai họa cho riêng một quốc gia tham chiến nào. Tham gia hay không đều chết vì các loại bom hạt nhân và bụi phóng xạ. Chắc hẳn cho dù những tên cầm đầu hung hăng cách mấy cũng phải nghĩ tới số phận của chính chúng cùng gia đình. Hoa Kỳ sẽ chuyển mình là điều chắc chắn. Với một chính phủ bao gồm hầu hết các tỷ phú đô la cộng thêm mang sẵn ý tưởng “ Dọn sạch đầm lầy” ý muốn nói tới việc dọn dẹp những cơ chế cổ lổ sỏi đá cũ đã từng là nền tảng của đất nước trong suốt gần 249 năm qua như việc bãi bỏ bộ Giáo dục cho một bà bộ trưởng chẳng có mấy kinh nghiệm về giáo dục; trao cơ quan chăm sóc sức khỏe cho một người có tư tưởng chống vắc-xin kịch liệt, một cơ quan thuế vụ cho một thương gia đòi bãi bỏ Sở thuế; cơ quan FBI cho một người sẵn sàng dùng cơ quan này làm theo ý tổng thống để truy quét các kẻ mà tổng thống cho là nội thù; một cơ quan tình báo trung ương cho một nữ nghị sĩ Dân chủ từng đổi đảng và có khuynh hướng thân Nga….và bộ quốc phòng cho một thiếu tá vệ binh quốc gia thì chắc chắn phải có thay đổi mà chúng ta không cần phải tốn công dự đoán!. Sự thay đổi triệt để ấy như lời hứa hẹn của Tổng thống Trump “Drain swamp and demolish deep states” chắc chắn sẽ làm xáo trộn cả thiên hạ từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc. Một đặc điểm nổi bật trong nhiệm kỳ thứ 2 của Tổng thống Trump là sự tham gia rất đông đảo các đại gia kỹ nghệ thương mại và tài chánh trong chính phủ Trump. Với cung cách suy nghĩ đặt lợi nhuận cá nhân trên mọi thứ khác cho chúng ta có chút bận tâm. Liệu rồi đây một nước Mỹ đại diện cho tự do và nhân quyền, luôn đứng ra bảo vệ các quốc gia yếu kém, chống lại mọi chủ trương xâm lăng của các đế quốc cộng sản trên toàn thế giới có còn giữ được lý tưởng của mình? Chỉ có điều chắc chắn rằng những xáo trộn tương lai cũng sẽ là cơ may tạo nên một luồng sinh khi mới cho mọi quốc gia đang bị nhấn chìm trong ảo giác về một thế giới biệt lập không có sự tương liên nối kết với nhau. Sau cơn mưa trời sẽ sáng. Một chu kỳ mới lại bắt đầu và đó là điều chúng ta sẽ có cơ hội nhìn thấy trong tương lai gần thôi.


Năm 2025 là năm có nhiều điều đặc biệt. Năm này có tới 2 ngày lập xuân trong cùng năm Dương lịch 2025. Là năm kế tiếp của một loạt 8 năm liên tiếp không có ngày 30 Tết Âm lịch.  Cho dù biết rằng lịch đại chỉ là sản phẩm của con người tạo ra. Nhưng nguồn gốc của lịch đại hoàn toàn dựa trên quan sát sự xoay vần ngày đêm, thời tiết, dưới tác động của mặt Trăng mặt Trời. Năm nay là năm con Rắn và vì có tới hai ngày Lập xuân nên cổ nhân còn cho nó cái tên Năm Rắn hai đầu. Điều kiện để có một năm có hai ngày lập xuân là năm đó phải là một năm nhuận để tháng Chạp kéo dài đủ để chứa thêm một ngày lập xuân. Năm 2025 có tháng 6 là tháng nhuận. Thường thì khoảng cách thời gian từ 9 tới 19 năm mới có một năm như thế. Năm gần nhất có 2 ngày lập xuân là năm 2015 (vào hai ngày 16 tháng Giêng /4 tháng 2 2015 Dương lịch và 26 tháng Chạp âm lịch/ 4 tháng 2 2016 dương lịch ). Nếu có sự đáng nghiền ngẫm hơn có lẽ đó là năm Trump đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 1. Cách quãng đi 4 năm nhiệm kỳ của Biden, năm nay là nhiệm kỳ 2 của Trump. Năm Rắn 2 đầu 2025 lần này có là một điềm báo gì không? Tôi thực sự không biết.


Tôi tin vào sự bí nhiệm của Trời Đất, Lẽ huyền vi của Tạo Hóa. Có biết bao điều chúng ta không thể giải thích hoặc hiểu được trên đời. Những bất khả tri ấy là của ông Trời, Chúa Phật tạo ra hay một đấng thiêng liêng nào khác tùy thuộc vào đức tin của mỗi người nhưng chắc chắn phải có một đấng Sáng Tạo. Khi khoa học phát triển, đã có lúc con người tự huyễn hóa mình rằng bộ óc có  thể giải thích được mọi hiện tượng. Nhưng giờ đây họ đã hiểu ra rằng có những giới hạn con người không thể vượt qua cho dù là siêu nhân đi nữa. Điều ấy làm cho cuộc sống thi vị hấp dẫn hơn nếu so với mọi thứ đều có thể cắt nghĩa rạch ròi biết trước.

 

Tết Nguyên Đán Ất Tỵ đã cận kề. Tổng thống Trump cũng vừa chính thức làm Lễ Đăng Quang. Một kỷ nguyên mới bắt đầu cho nước Mỹ và cho thế giới. Suy ngẫm từ chính bản thân mình, qua thời gian đã biến đổi như thế nào từng thời kỳ. Những thăng trầm khổ ải, những đau buồn, những hoan lạc, vinh nhục tôi đều đã nếm mùi. Giờ đây bước vào tuổi U90, tôi luôn cảm tạ Đất Trời đã cho tôi sống sót qua cuộc chiến đẫm máu ngày nào. Đọc trên báo chí hàng ngày khi nhìn thấy tên tuổi những người thân quen, đồng đội đồng môn, niên trưởng niên đệ trên các trang cáo phó lòng tôi có chút u buồn vì chia ly nhưng rồi nghĩ lại thân phận mình cũng sẽ có một lần như thế. Lẽ tử sinh là chuyện thường tình và bản thân đã chẳng biết bao lần vào sinh ra tử đó sao. Sống dài ngắn đâu có nghĩa gì bằng mình đã sống như thế nào. Sống như một công dân có trách nhiệm với đất nước, thủy chung với bạn hữu, gia đình vợ con đã đủ làm cho tôi hài lòng với cuộc đời mình. Lúc cuối đời, lâu lâu bắt gặp lại những chiến hữu từng sống chết trên chiến trường xưa, ngồi nhâm nhi bên ly trà, cà phê nhắc lại những câu chuyện cũ, những kỷ niệm xương máu cũ lại thấy lòng rộn ràng sức sống. Những buồn đau vì sự phân hóa chia rẽ không thể hàn gắn được giữa bạn hữu cùng chung lý tưởng nhưng khác cách suy nghĩ và hành động chẳng còn làm tôi thao thức mất ngủ vì tự thân đã nhận ra sự khác biệt là đương nhiên giữa con người với nhau. Nỗi nhớ quê hương nguồn cội có lẽ là niềm ưu tư duy nhất không phai mờ trong lúc tuổi xế chiều. Lìa xa đất nước, sống phiêu bạt quê người cho dù cuộc sống tự do no ấm thoải mái nơi đây vẫn không xóa nhòa hình ảnh về một quê hương ngày nào nơi đó có ông bà tổ tiên của mình đã từng sinh sống. Cảnh quan, môi trường quen thuộc của thời niên thiếu, đồng lúa, lũy tre làng, những khu phố tiệm ăn của thành phố Cảng nơi tôi được sinh ra. Những ngôi trường, các thầy giáo hết lòng yêu thương truyền dậy kiến thức làm người….lũ bạn cùng phố đá bóng, đánh bi đánh đáo ….Tất cả những hình ảnh ấy đúc kết lại thành một quá khứ gắn chặt với ký ức để mang theo cả cuộc đời. Có đôi lúc tôi lúc thiển nghĩ, quê hương là nơi cho mình cơ hội làm người và sống với tư cách một con người theo nghĩa cao đẹp của nó. Quê hương hiểu theo định nghĩa đó để tự an ủi bản thân rằng quê hương không chỉ bó hẹp trong giới hạn địa lý trên bản đồ, nhất là khi thế giới đã đi vào kỷ nguyên trí thông minh nhân tạo và hệ thống liên lạc truyền thông đã trải khắp trên mọi nơi trên hành tinh này để rồi thanh thản chấp nhận nơi này cũng là quê hương.


Năm mươi năm nhìn lại cuộc đời, những điều đắc /thất, có được/ mất không, nhục vinh xướng khổ tôi đã nếm trải. Chút thời gian còn lại tôi tự nhủ đã đến lúc buông bỏ tất cả để ra đi trong nhẹ nhàng thư thái như bao bạn hữu xa gần đã ra đi. Ở lớp tuổi ngồi đợi trên sân ga chờ chuyến tầu lên đường trở về cõi hư không như những bạn đồng môn khác nếu có chăng còn chút ưu tư suy ngẫm về cuộc đời của mình, có lẽ chỉ là ao ước mọi bất hòa giữa các đồng môn Võ Bị sớm chấm dứt để hình ảnh đẹp đẽ của những chàng trai Võ Bị một thời chỉ mờ dần theo thời gian như hình ảnh những người lính già trong câu nói của tướng Macarthur “Old soldiers never die; they just fade away”


Con người ai cũng chỉ sống có một lần. Hãy cố gắng sống sao cho khỏi phải ân hận vì đã sống hoài sống phí và đừng để hổ thẹn về dĩ vãng ti tiện hèn đớn của mình.


Song Vũ

Tháng Giêng 2025

Một Vòng Phù Vân - Đỗ Công Luận

Chuyện Tình Buồn: Huy - Nguyễn Văn Tới



Có những tình cảm không cần nói thành lời mà vẫn hiện hữu rất rõ trong tim. Có những tình yêu lặng lẽ, rất âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Tôi yêu em như thế, yêu theo cách lặng lẽ nhất mà một người có thể yêu; có lẽ và sẽ chẳng bao giờ em biết được những gì tôi giữ trong lòng.

Huy đến trong đời tôi như một làn gió mát giữa trưa hè, không ồn ào, không phô trương, nhưng khiến tôi xao động đến tận tâm đáy tâm hồn. Em có nụ cười dịu dàng, ánh mắt trong trẻo như mặt nước hồ thu, và giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng chuông khẽ vang trong buổi chiều tĩnh lặng. Mỗi lần nhìn em lặng lẽ ngắm mưa ngoài cửa sổ, mái tóc nhẹ bay, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác yêu thương ngập tràn.

Tôi giữ tình cảm ấy cho riêng mình, như giữ một bí mật thiêng liêng. Không phải vì tôi sợ bị từ chối, mà vì tôi sợ làm xáo động thế giới yên bình của em và tôi. Tôi sợ rằng một lời thú nhận vụng về sẽ khiến nụ cười ấy vụt tắt, khiến ánh mắt trong veo kia trở nên xa lạ. Dù sao, tình yêu của tôi với Huy lúc nào cũng như dòng nước ngầm chảy sâu dưới lòng đất, âm thầm nhưng bền bỉ.

Tôi không muốn và không dám cho em biết những gì tôi giữ trong lòng, để tôi cứ giữ kín nỗi buồn một mình; chỉ cần được nhìn thấy em bình yên, được thấy em cười, được ở gần em trong thinh lặng: vậy là đủ cho một trái tim yêu trong lặng lẽ. Tôi sẽ tiếp tục yêu Huy theo cách của riêng mình: kín đáo, dịu dàng, và vĩnh viễn không thành lời.

Huy không đẹp lộng lẫy lôi cuốn bao cặp mắt nhìn, nàng đẹp theo một cách rất riêng, rất hiền dịu, thứ sắc đẹp thấm vào lòng người ta như giọt mưa thấm vào đất khô cằn. Mỗi lần nàng cười, hai má lúm đồng tiền nhỏ xíu, xinh xắn đến nao lòng. Nụ cười ấy không rực rỡ như nắng, mà mềm như ánh trăng non, chỉ lần đầu nhìn thấy, tim tôi đã lạc nhịp.

Tôi đứng bên cuộc đời nàng bao năm, lặng lẽ, tử tế, chăm chút nàng từng điều nhỏ nhặt nhất, chỉ cần nàng vui là tôi vui; nhưng số phận chỉ để nàng tình cờ đi ngang đời tôi thoảng như cơn gió nhẹ mà để lại cho tôi một nỗi buồn rất sâu. Trái tim nàng không có ngăn nào để dành cho tôi.
Tôi hiểu, tình yêu đơn phương cũng có vẻ đẹp riêng của nó, không cần được đáp lại để tồn tại, chỉ cần một trái tim đủ kiên nhẫn để giữ gìn, đủ can đảm để chấp nhận rằng đôi khi, yêu một người chính là đứng phía sau ánh sáng của họ, lặng lẽ và chân thành.

                                                ***
Tên tôi nghe giống như tên của một đứa con trai, nhưng tôi lại là một đứa con gái nhút nhát, hay mắc cở, có phần hơi khép kín và thích chơi một mình. Sau này ba má tôi hay nhắc lại, khi mới chào đời, tôi trông xấu lắm, đầu trọc lóc, không có nhiều tóc, không giống con gái tí nào. Vì thế ông bà đặt cho tôi cái tên nghe rất là con trai: Huy.

Nhưng càng lớn tôi càng xinh đẹp hơn. Tuổi trăng rằm, cái tuổi mà lòng tôi vẫn còn trong veo như giọt sương mai long lanh trên cành lá. Con đường hẻm nhỏ dẫn về nhà tôi, trong ánh nắng chiều oi ả tiếng ve sầu, dù không để ý, tôi vẫn biết có những bước chân im lặng, nhẹ nhàng của những đứa con trai lẽo đẽo theo sau, họ lặng lẽ như những cái bóng, chỉ sợ một tiếng động sẽ làm vỡ tan cái cảm giác mong manh được nhìn thấy tà áo dài trắng trong mơ; để rồi dừng lại, lén nhìn khi tôi đẩy cánh cổng nhỏ bước vào khoảng sân rực rỡ hoa Giấy trước sân nhà.

Trong lớp học, tôi thường thả hồn bay cao ra ngoài khung cửa sổ, ánh nắng buổi sớm đậu lại trên tóc tôi, khiến những sợi tơ mềm ánh lên mầu mật ong dịu nhẹ. Tôi vô tình không biết bao đứa bạn trai cùng lớp mãi ngắm nhìn quên cả nghe giảng bài; nhiều lần, tiếng phấn lách cách trên bảng đen cũng chợt ngừng lại, một ánh nhìn lỡ nhịp, một giây ngẩn ngơ rồi vội vàng quay đi của người thày giáo trẻ.

Tôi vẫn hồn nhiên như cánh hoa mới nở, trong tâm hồn trong trắng ấy, tình yêu vẫn là một điều gì đó mơ hồ như mây trời cuối hạ; mỗi buổi tan trường, con đường quen thuộc lại dài hơn với những bước chân lặng lẽ phía sau, và mỗi sáng đến lớp, những ánh mắt vụng về lại bối rối quay đi.

Trong sự bình yên, tràn đầy hạnh phúc tuổi hoa niên, tôi chưa bao giờ có một ước mơ bình thường như những đứa con gái cùng trang lứa; tôi vẫn tìm kiếm một điều gì đó có thể đánh thức trong tôi niềm say mê khó gọi thành tên. Tôi dịu dàng, nhưng lại không rung động trước những lời nói hoa mỹ, không thích những bài thơ tình kẹp trong trang giấy học trò thơm mùi lá Thuộc Bài, không hay nghe những tình khúc “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, chim non giấu mỏ, dưới cội hoa vàng” của nhà thơ Phạm Thiên Thư, Phạm Duy phổ nhạc.

Trái tim tôi, tựa như cánh cửa khép hờ trước cơn gió nhẹ, chỉ thực sự mở ra khi một bình minh ngày mới, với tia nắng ấm áp cuộn trào sức sống mãnh liệt có thể tràn vào. 
Tôi yêu một hình ảnh nam nhi lãng mạn, trong sáng, hào hùng pha chút mạo hiểm, và có thể chở che người con gái mình yêu. Tôi thích mẫu người đàn ông từng trải, gai góc, gương mặt phong sương, vết sẹo mờ nơi khóe mắt, có chút máu giang hồ, lãng tử; tôi tin đằng sau những vết hằn cuộc đời in trên gương mặt họ, là những ước mơ cháy bỏng mà tôi vẫn giữ kín cho riêng tôi, một khao khát phiêu lưu, tung cánh bay vào trời xanh.
                                                                                      ***
Số phận đưa chúng tôi đi trên hai con đường song song với nhau, tưởng sẽ không chung một đích đến, nhưng đoạn cuối con đường, số phận nghiệt ngã đưa chúng tôi gặp lại nhau. Bao năm trôi qua, tôi đã tưởng trái tim mình đã ngủ yên, tình cảm tôi với nàng dù không thành nhưng vẫn theo tôi suốt một đời. Tôi trở về Việt Nam. Tôi kiếm về thăm Huy ở Thủ Đức. Tôi hẹn gặp Điệp, em gái của Huytại một tiệm cà phê vắng khách trước khi tìm gặp nàng.
Ngày còn ở Mỹ, qua một người quen, tôi hay tin về Huy. Nàng hiện đang bệnh rất nặng và sống nghèo khổ ở Thủ Đức, nơi căn nhà cũ của cha mẹ mình, cùng đứa em gái và đứa con trai của Huy, đã trưởng thành. Cha mẹ nàng qua đời khá lâu, chỉ còn ba bóng hình âm thầm sống trong căn nhà cũ kỹ, bức tường rêu phong, loang lổ như chính thân phận của những con người trong căn nhà, trong thời cuộc này.

Tôi vẫn nhớ đôi má lúm đồng tiền ấy đến day dứt. Nhớ nụ cười khiến tôi vừa hạnh phúc, vừa đau đớn. Có lẽ, suốt đời tôi đã yêu trong thầm lặng như thế này. Nhưng dù không nói thành lời, tình cảm ấy vẫn sống trong từng nhịp thở của tôi, mãnh liệt, dai dẳng, và khắc khoải như chính cuộc đời sau năm 1975: nghèo khổ mà kiên cường, đau đớn mà vẫn khát khao yêu thương.
Điệp kể tôi nghe về cuộc đời đầy nước mắt của chị mình, bắt đầu từ sau khi tôi đã vượt biển ra nước ngoài: 

Ngày đó, mỗi lần buồn vui, Huy đều đến tìm tôi để thổ lộ tâm sự vì tôi biết lắng nghe nàng và đưa ra những lời khuyên rất chân tình.  Điệp biết tôi yêu Huy nhưng không dám nói, Điệp là chứng nhân duy nhất hiểu mối tình câm lặng tôi dành cho Huy dù nhiều lần Điệp đã khéo léo tỏ tình với tôi mà tôi vẫn không muốn biết vì tim tôi đã thuộc về Huy.

Chuyện là tôi và Ninh, thằng bạn thân, cả hai đều thích Huy và muốn tán tỉnh nàng. Tôi thầm lặng và không một xu dính túi, nên mặc cảm; Ninh lại gàn dở như một triết gia. Nó con nhà giàu ở thành phố về, thường dẫn tôi và Huy đi cà phê, và lúc nào nó cũng là người trả tiền. Tôi tin rằng nó là một mẫu thần tượng mà các cô gái đều yêu thích trong thời buổi khốn cùng sau năm 1975. Huy chắc cũng không ngoại lệ.
Nhưng trớ trêu thay, Huy không yêu đứa nào trong hai thằng tôi, Huy yêu Lâm, đứa em trai út của Ninh, thằng nhóc này có máu giang hồ, thua chúng tôi 6 tuổi và nhỏ hơn Huy 3 tuổi. 

Trong một dịp, Lâm từ thành phố, phải trốn về đây vì nó chơi dao và đâm một tay anh chị nào đó trọng thương. Công an đang truy nã gắt gao, nên nó phải lánh về nơi đây, chờ tình hình lắng dịu.
Chẳng hiểu bằng cách nào mà Huy và nó vừa gặp nhau, đã yêu nhau. Trong thời gian đó, hai đứa biến đi đâu mất một thời gian ngắn khiến chúng tôi hoang mang. Tôi lo lắng cho em thật nhiều. Hỏi Điệp, Điệp lắc đầu không biết; đến nhà ba má nàng, họ cũng đang cuống cuồng đi kiếm. Rồi hai đứa lại trở về bình an như không có gì xảy ra. Tôi hỏi. Huy nói không có gì, chỉ đi là một chuyến đi xa ngẫu hứng.

Một hôm, Ninh cho tôi hay ba má nó đang lo đường vượt biển cho cả gia đình. Nó dặn dò tôi giữ kín vì nó cũng không rõ ngày nào sẽ khởi hành. Cho đến một ngày, nó không trở lại gặp tôi, tôi hiểu; lần lượt anh chị em nó đều biến mất, ba má nó đi chuyến sau cùng. Tôi ở lại, lòng trống rỗng, buồn ghê gớm, tủi phận nghèo. Huy lại càng buồn hơn. Mây đen như phủ kín đôi mắt trong veo ngày nào của em.

Rồi tôi cũng xoay sở tìm đường. Tôi rủ Huy theo, có một chỗ cho nàng, tôi hứa sẽ bảo bọc cho nàng khi qua đến bến bờ tự do. Sau nhiều ngày suy nghĩ đắn đo, Huy cho tôi hay nàng đã mang trong mình đứa con của Lâm, nàng cám ơn tình cảm đặc biệt tôi dành cho nàng, nhưng nàng không thể lợi dụng tôi để làm nhịp cầu qua bên kia. Nàng tâm sự, Lâm có hứa sẽ bảo lãnh nàng và con khi ổn định cuộc sống nơi xứ người.
Thời gian qua mau, tôi có cuộc sống riêng của mình bên kia bờ đại dương. Tôi quên dần những kỷ niệm, quên mối tình của tôi với nàng. Tôi không hề biết gì về cuộc đời của Huy. Tôi không hề hay nàng đang chật vật với đứa con bị bỏ rơi, lo vất vả mưu sinh hằng ngày, chỉ im lặng gánh lấy phận mình như bao phụ nữ khác trong thời buổi khốn cùng.

Bằng giọng nghẹn ngào, Điệp tiếp tục câu chuyện về Huy. Nàng đã đi qua nhiều cuộc tình. Không phải vì buông thả, mà vì nàng mệt mỏi, cô độc, và khao khát được nương tựa vào một bờ vai nào đó giữa cuộc đời bấp bênh. Nhưng số phận đã không thương nàng, con vi khuẩn thời đại tìm đến.

Khi gặp lại Huy, tôi bàng hoàng, suýt nữa không nhận ra nàng. Dung nhan dịu dàng năm xưa vẫn còn đó, nhưng như một bông hoa đã bị gió mưa quật ngã tơi bời. Đôi má lúm đồng tiền không còn hiện rõ mỗi khi nàng cười; nụ cười giờ mỏng manh như khói. Làn da nàng nhợt nhạt, ánh mắt sâu hơn, buồn hơn, như chứa cả một biển ký ức lặng lẽ chìm sâu trong đáy mắt nàng. Vóc dáng nàng hao gầy như ngọn đèn dầu cạn bấc.

Huy ngồi bên cửa sổ, nhìn ra khoảng trời xám, một tay đặt lên thành cửa, một tay hờ hững trên đùi. Tôi đứng ngoài hiên mà tim thắt lại. Tôi thấy rõ căn bệnh thế kỷ đang gặm nhấm nàng từng ngày, không ồn ào, dữ dội, chỉ âm thầm bào mòn sức sống như dòng nước lặng mài mòn tảng đá.
Mỗi lần ho nhẹ, nàng quay mặt đi, trán hơi nhăn lại vì đau, nhưng trong ánh mắt nàng, vẫn còn sự dịu dàng không mất đi, chỉ lắng sâu lại.

Tôi không dám đến gần hơn. Tôi sợ làm nàng buồn. Tôi sợ chính mình không chịu nổi khi nhìn người tôi từng yêu đang dần tàn úa như chiếc lá cuối thu. Nàng ngước lên nhìn tôi, má lúm đồng tiền vẫn còn đó, và nụ cười vẫn hiền dịu đến xót xa. Tôi đứng lặng rất lâu như tượng đá, thấy rõ thời gian đang âm thầm đem nàng ra đi khỏi thế giới này.

Đêm đó trở về, tôi không ngủ. Tôi nghĩ về Huy, về cô gái tôi từng yêu tha thiết với hai lúm đồng tiền ngày nào, về mối tình câm nín đã trôi xa, về người mẹ lặng lẽ ôm con trong căn nhà cũ, về số phận sao quá nghiệt ngã với nàng.

Tôi ước gì ngày xưa mình đủ can đảm để nói một lời, ước gì mình không nghèo, không yếu đuối, không im lặng, ước gì tôi có thể bảo bọc nàng khỏi tất cả những bão tố ấy. Nếu không có những khúc quanh trong cuộc đời và tôi đừng bỏ đi xa. Hằng ngàn câu hỏi mà không có câu trả lời khiến tôi trăn trở suốt đêm. Giờ chỉ còn niềm đau thương, khắc khoải về người con gái một thời tôi yêu mà cuộc đời đã quá đỗi bạc bẽo. 
Tôi trở lại một lần nữa, không dám đối diện nàng, tôi gặp riêng Điệp, tận tay trao nàng một số tiền, dặn dò Điệp cố gắng săn sóc cho Huy trong những ngày còn lại, bắt Điệp phải hứa cho tôi hay về sức khỏe của Huy thường xuyên. Hai anh em ôm nhau, mắt rưng rưng lệ. Tôi về lại Mỹ, tiếp tục cuộc sống của mình, lòng dằn vặt, rối bời một cảm giác không yên.

Hơn một năm sau, tôi nhận thư của Điệp, vỏn vẹn vài giòng ngắn ngủi: “Huy bỏ nhà đi mất rồi. Không ai biết đi đâu. Đêm trước, chị ngồi ở cái bàn giữa nhà, ngọn đèn vàng hắt bóng chị lên tường. Chị ngồi đó bất động thật lâu, lâu hơn mọi ngày. Sáng ra, không thấy chị thức giấc như thường lệ, em vén màn, nhìn vào giường, chăn gối vẫn còn nguyên nếp gấp, không có dấu vết gì là chị đã nằm đây đêm qua”. 


NGUYỄN VĂN TỚI. 2026

Friday, April 24, 2026

Tạo Hình Xếp Từ Những Cánh Hoa

Bridget Beth Collins thu thập hoa lá, các loại quả nhỏ để xếp thành hình người, động vật hay các công trình kiến trúc.

 u1-5244-1428661721.jpg

Nghệ sĩ Bridget Beth Collins người Seattle (Mỹ) pha trộn các loại hoa, lá để xếp nên những hình ảnh rực rỡ sắc màu.

 da-4219-1428721989.jpg

Collins cho biết, nhiều ý tưởng xếp hình đến với cô rất tình cờ, như khi đi dạo, đi chợ. Cô có thể nhìn ra đuôi cá voi từ cỏ ba lá hay vân của rắn từ những chiếc lá trên cây sen đá chuỗi ngọc.

 u4-1949-1428661721.jpg

u5-1589-1428661722.jpg

u7-6049-1428661722.jpg

u2-3515-1428661721.jpg

u8-7913-1428661722.jpg

u9-6514-1428661722.jpg

u10-1535-1428661723.jpg

u12-7815-1428661723.jpg

 u20-6616-1428661724.jpg

 u25-2695-1428661725.jpg

 u16_1428661280.jpg

 u17_1428661281.jpg

u21_1428661281.jpg

 u22_1428661281.jpg

 u23_1428661281.jpg

 u24_1428661281.jpg

 u3_1428661250.jpg

u15-4206-1428661723.jpg

 

Hải Lan

Ảnh: Bridget Beth Collins

Lai Rai Đỡ Buồn


Các em bò đỏ, nói cho thầy nghe xem cái gì làm các em bị Mỹ ám ảnh nặng đến mức vậy. Hễ bàn chuyện gì: từ FDI, nợ công, điện hạt nhân, uranium, kinh tế là các em lại lôi Mỹ ra làm thước đo. Đến thằng trưởng chuồng Tingvsi còn khoe được Cornell University nhận vào học. Trong đầu các em lúc nào cũng có Mỹ, tội ghê.

1. Phân tích cho bò đỏ hiểu rằng Việt Nam không đủ năng lực vận hành điện hạt nhân thì các em lại cãi: đến Mỹ còn dùng điện hạt nhân kia kìa. Ủa rồi óc bòa tụi em để đâu? Mỹ nó có mỏ uranium, tự làm giàu được U-235, có chuyên gia, có quy trình xử lý rác thải và phóng xạ, có lịch sử vận hành hàng chục năm. Nó làm chủ toàn bộ chuỗi công nghệ.

Còn VN thì bước nào trong số đó làm nổi? Uranium chưa có, làm giàu không biết, chuyên gia không có, xử lý rác thải bằng niềm tin, ứng phó thảm họa thì cầu trời. Vậy mà boo đỏ vẫn so sánh VN với Mỹ được thì đúng là đỉnh cao của bộ 0'c nhai cỏ.

2. Rồi vài con boo vào cãi tiếp: Mỹ còn phải đi nhập uranium từ Nga kìa, không có uranium làm giầu của Nga đố nhà máy điện hạt nhân Mỹ chạy được. Em này thì ngô tuyệt vời rồi.

Mỹ nó có nhiều mỏ Uranium. Mỹ đã từng là nước sản xuất uranium hàng đầu thế giới. Chỉ riêng mỏ ở Utah đã có công suất tơi 3600 tấn/năm rồi. Nhưng tội gì không đi nhập để không bị ô nhiễm môi trường, để mỏ luôn có mức dự trữ mức cao trong khi chi phí nhập khẩu lại rẻ?

Các em b0 có thấy Mỹ nhập khẩu dầu thô không? mặc dù nó không thiếu dầu thô nhưng nó vẫn làm vậy đó. Uranium cũng vậy, Mỹ nhập không cứ gì của Nga mà còn của Kazakhstan, Canada và Australia. Em boo nào nói không có uranium của Nga thì Mỹ không chạy được nhà máy điện thì chắc các em uống thuốc và luyện tập mới ngô được như thế chứ ngô bẩm sinh thì đâu đến mức độ đó. Trước 1990 Mỹ với Nga làm gì có giao thương, không có nguồn Uranium từ Nga đó, thế các em có thấy nhà máy điện hạt nhân của Mỹ nó đứng hình không?

Từ sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ đi mua uranium làm giàu từ đầu đạn hạt nhân Nga để về chạy điện hạt nhân. Nếu là Nga nô thì các em phải thấy nhụk chuyện này. Chỉ vì tiền mà Nga phải tháo uranium giầu trong vũ khí hạt nhân ra bán cho Mỹ. Có khác gì Mỹ nó chỉ dùng tiền đã làm yếu Nga đi mà không cần dùng đến súng đạn.

Nói thêm để các em bò đỏ bớt ngv chuyện này:

Lò phản ứng hạt nhân cần Uranium235 giầu ở mức 3% thôi (nghĩa là thanh nhiên liệu đó 3% là Uranium đồng vị 235, phần còn lại 97%là các đồng vị khác của Uranium vd: 238 hoặc tạp chất khác).

Nhưng trong vũ khí hạt nhân thì Uranium 235 cần ở mức > 90% mới tạo ra phản ứng hạt nhân nhanh, nhiều và bùng nổ lớn được. Nên phải đi lấy Uranium235 giầu ở mức > 90% đem bán cho thằng chỉ có nhu cầu 3% chạy điện thôi thì nó là sự sinhuc cực kì lớn các em bò đỏ à. Vì làm giầu Uranium235 đã khó, làm giầu từ mức 3% lên tới > 90% là cực cực khó đám Nga nô à.

Mà năng lực chế tạo bom hạt nhân dùng uranium 235 >90% thì cả thế giới đã kiểm chứng bọn Mỹ từ 1945 rồi, nên các em đừng ngu dot mà nghĩ nó không làm giầu được Uranium 235.

 

Nguồn Thông não bò đỏ 

Hồn Nước Với Cờ Vàng - Tâm Tiễn

Bóng Ma Trong Sòng Bài - Nguyễn Mộng Giang

Hình minh họa

Sau những lần ốm đau bịnh hoạn rề rề mà không rõ lý do vào những tháng cuối hồi năm ngoái, Trang bỗng dưng trở nên chậm chạp và nhút nhát hẳn đi. Đầu óc cũng ù lì kém tinh nhanh, làm trước quên sau. Ai dặn cái gì cũng chẳng nhớ. Phải chăng đó là triệu chứng của bịnh… “đã toan về già”?

Cách chữa đúng nhất là phải có một người bạn đời để nâng đỡ và chăm sóc nhau trong những lúc trái gió trở trời như thế. Nhưng nếu rủi người bạn đời của mình sức khoẻ không thành vấn đề mà lại bị bịnh (nói theo phim bộ của Tàu) là “si khờ người già” trước mình thì chỉ có nước cùng nhau nắm tay trực chỉ… viện dưỡng lão cho rồi chứ con cái làm sao có thì giờ mà chăm sóc cho nổi. Ôi! Viển ảnh cuối đời người sao mà thê thảm.


Để đề phòng mình đừng bị rơi vào tình trạng thê thảm như vậy, cách duy nhất là phải siêng tập thể dục và năng vận dụng đầu óc, học hỏi không ngừng. Trí óc có làm việc thì mới tránh được bịnh si khờ người già. Trang nghe nói đến chữ học là sợ muốn chết. Có một lần, cách đây gần mười năm rồi, lúc đó Hiền, ông xã Trang còn đang dạy học thêm buổi tối ở trường Điện Tử Bác Ái. Sẵn Hiển đi dạy, Trang đi theo Hiển ghi tên học “Technician” ở đó luôn cho tiện. Thời gian đầu Trang siêng năng hăm hở lắm! Đi học về là mở ra ôn lại liền, một chốc sau Trang hoa mắt, chóng mặt buồn nôn. Kết quả bịnh hết mấy ngày mới lấy lại được quân bình. Trang định trốn học, Hiển la quá chừng, Chàng nói Trang lười biếng, không chịu cho đầu óc làm việc về già sẽ dễ bị bịnh lẫn thẫn. Nhưng rồi Trang cũng học được hết khoá, lấy được cái bằng đem về treo trước cổng nhà cho ông đi qua bà đi lại ngó chơi chứ Trang đâu có “được” đi làm. Hiển muốn Trang ở nhà lo việc nhà cửa và chăm sóc con cái. Để không bị chồng la, Trang bắt đầu viết truyện, làm thơ trở lại. Trang lấy cái cớ đó nói với Hiển:

- Em viết văn cũng phải vận dụng đầu óc, để tưởng tượng và hư cấu thành một câu truyện chứ bộ khơi khơi là viết được sao.

Hiển la còn bạo hơn nữa:

- Cứ tưởng tượng vớ vẩn, viết láo viết lếu mua vui cho thiên hạ rồi nó vận vào người cho em xem. Để thì giờ đó mà đọc những sách có giá trị, như kinh Phật chẳng hạn. Anh lúc nào cũng thích học hỏi, cái gì càng khó anh càng thích học. Anh mà không như vậy thì giờ này anh “tiêu” lâu đời rồi cho em hay.

Ý Hiển muốn nói là tạo dựng cho vợ con một cuộc sống tuy chẳng bằng ai nhưng cũng còn hơn chán vạn người trên đất Mỹ này. Mà Trang cũng phục chồng thật, cứ mỗi một lần đổi sở làm là một lần phải học chết bỏ. Vậy mà chàng chỉ cần vài tháng là “nắm” được hết, lại còn đem chuông đi đánh xứ người nữa chớ, đi “overseas” lia liạ, không có lần nào là không thành công. Trang vừa kính phục vừa thương Hiển đi làm cực khổ để kiếm tiền lo cho vợ con được đầy đủ, nhưng nếu bảo Trang học một cái gì đó thì Trang sợ lắm! Cứ tìm cách tảng lờ. Khuyên bảo Trang hoài không được riết rồi Hiển cũng thôi để mặc Trang muốn làm cái gì thì làm.

 

Tháng vừa qua vợ chồng Trang phải đi viếng đám tang một người thân quen bên phía nhà Hiển. Bình thường đi viếng đám tang nào, sau khi lễ bàn thờ xong Trang cũng đều đến trước quan tài để “chiêm ngưỡng” và cầu cho người quá cố được siêu thoát. Nhưng không hiểu sao lần này Trang bỗng sợ, nàng ghé vào tai Hiển thì thầm:

- Em chỉ lễ bàn thờ thôi chứ không đến gần quan tài đâu nhé! Em sợ…

Hiển gật đầu nói:

- Em lạy xong rồi ra ngoài chờ anh không cần phải đứng đây.

Sau khi làm xong nghi thức lễ lạy, Trang bước ra khỏi phòng đứng quan sát. Nhà quàn “Oak Hill” này chẳng xa lạ gì đối với Trang mà còn mang nhiều kỷ niệm đau thương khó phai mờ. Biết bao lần thăm viếng người quen, và đã hai lần an nghỉ cho bố mẹ. Sao hôm nay nhìn xung quanh nhà quàn Trang bỗng thấy ghê ghê thế nào ấy, Hiển chắc còn đang tíu tít vì tang gia là người thân quen, lâu lắm mới có dịp gặp đông đủ như vầy, và lát nữa còn phải dự khóa lễ cầu siêu cho nên chắc còn lâu lắm mới ra. Nghĩ thế nên Trang đẩy cửa bước ra khỏi căn nhà quàn để đi xuống những thảm cỏ xanh ngoài kia.

Nghĩa trang buổi chiều bao giờ cũng buồn hiu hắt, tuy trời mùa hè phải đến 8, 9 giờ mới tối hẳn. Nhưng mặt trời đã không còn nắng tạo cho nghĩa trang một màu âm u, lạnh lẽo. Kỳ lạ, ở trong nhà quàn thì Trang cảm thấy sợ, nhưng ra đến phía ngoài, đi giữa hai hàng mộ bia Trang lại không thấy sợ một chút nào hết. Có lẽ đây là nơi cuối cùng của một đời người, ai cũng phải đến. Cát bụi rồi lại trở về với cát bụi, rồi mình cũng phải “dọn” đến đây mà thôi! Trang bước từng bước chầm chậm, mắt tò mò chăm chú đọc những dòng chữ trên những tấm mộ bia đặt chìm trên mặt đất. Trang chợt phát hiện hình như cái tên này quen quá: “Lâm Ngọc Phùng”. Trang lật đật đưa mắt liếc nhanh lên tấm hình bên trên rồi buộc miệng kêu lên:

- Hả! Thì ra “thầy” nằm ở đây. 

***

Dạo ấy hình như Trang vừa tròn đôi chín. Lâm Ngọc Phùng không biết bao nhiêu tuổi, chỉ biết là lớn hơn Trang, đang học Văn khoa, sắp sửa lấy cử nhân Anh văn. Trang có một ông bác tu ở một ngôi chùa gần nhà, mẹ hay dắt Trang lên chùa lễ Phật và luôn tiện thăm bác. Nghe Trang nói muốn học thêm Anh văn, ông bác đã nắm tay Trang lôi ra phía sau chái chùa, chỗ đặt bàn ping pong cho mấy “thầy” chơi thể thao. Bác chỉ vào một ông thầy tu rất lạ đời (không mặc áo nâu, chỉ mặc áo màu lam và không cạo đầu) nói:

- Này cháu! Vào đây bác giới thiệu cho một người, nó đang học cử nhân An văn đấy! Cháu có muốn học thì nhờ nó đỡ tốn tiền đi trường. Tên nó là Ngọc Phùng.

Trang lí nhí:

- Cháu không quen tiếp xúc với thầy tu.

Ông bác phá ra cười:

- “Nó” không phải là sư, nó không có đi tu. Nó mồ côi cha mẹ, các thầy nuôi làm phước lâu rồi. Nó mặc áo lam để dễ xin được hoãn dịch học cho xong ấy mà.

Nghe ông bác nói một hơi về “nó”. Trang mắc cười quá nhìn Phùng tủm tỉm quan sát, tên gì mà như con gái, lại còn mắc cỡ đỏ mặt sượng sùng nhìn Trang luống cuống đánh rơi cả vợt ping pong khiến Trang nổi máu lí lắc ghẹo:

- “Thầy” Ngọc Phụng có hai cái má lúm đồng tiền “ngộ” quá hé!

Phùng càng đỏ mặt lúng túng:

- Tui tên Phùng chứ không phải Phụng. Tui không phải nhà tu hành, đừng gọi tui bằng “thầy”.

Trang vẫn không tha, có ông bác Trang đứng đây mà Trang sợ gì:

- Uả vậy hả? Tại thấy thầy… ủa quên anh… cười có hai má lúm giống con gái quá nên tưởng anh tên là Ngọc Phụng chớ.

Rồi chỉ vì tiếng khen hai má lúm đồng tiền “ngộ” quá mà từ đó Ngọc Phùng đâm ra “mết” Trang. Lâu lâu “thầy” chạy Honda đến nhà Trang nhấn chuông. Trang ra mở cửa, “thầy” nhăn răng cười, “móc” trong bụng ra khi thì một nải chuối, khi thì vài trái cam hay trái bưởi đưa cho Trang nói:

- Cho Trang nè!

Rồi chạy mất tiêu, Trang không kịp phản ứng gì hết đành phải nhận món quà nóng hổi “hơi người” thấy mà ghê đó! Bỏ thì tội, mà ăn thì Trang gớm. Những lần như vậy, Trang cứ để trên bàn rồi thì ai ăn thì ăn, Trang không đụng đến. Thế là từ đó, hể rảnh giờ nào là “nó” lại chạy đến nhà Trang đòi dạy Trang học Anh văn. Mặc dù Phùng không phải là nhà sư, không phải cạo đầu, nhưng vì ở trong chùa, lại mặc áo lam nên Trang thấy kỳ kỳ không chịu học. Thế là Phùng đành phải ngồi đấu khẩu bằng sinh ngữ với thằng em trai của Trang lúc đó đang học Anh văn ở hội Việt Mỹ, và đây là cái dịp để nó thực tập đàm thoại Anh văn. Có một lần Trang nghe nó hỏi “thầy” Ngọc Phùng rằng:

- Tại sao anh thích chị Trang? Đó có phải là tình yêu không? Và anh có thể định ngnào là yêu không?

Cái thằng đúng là ranh mãnh hỏi cắc cớ, Ngọc Phùng đã trả lời như thế này:

- Đừng hỏi tôi tại sao thích, chỉ biết thích là thích thế thôi! Bảo tôi định nghĩa về tình yêu thì tôi không dám vì tôi chưa từng yêu ai bao giờ. Đây là lần đầu tiên tôi biết thích một người con gái. Định nghĩa thì tôi không biết, nhưng tôi hiểu khi mà mình yêu thích một người nào đó thì lúc nào mình cũng muốn gặp mặt người đó.

Phùng kín đáo liếc qua Trang nói tiếp: “Vắng “người đó” mình nhớ lắm! Dù là gặp mặt chẳng biết để nói cái gì nhưng chỉ cần nhìn thấy mặt thôi cũng đủ thoả lòng mong nhớ rồi.”

Thằng em của Trang vẫn không buông tha:

- Như vậy là yêu rồi còn gì?

Ngọc Phùng gật gù ngó sang Trang “tỏ tình” kín đáo:

- Có lẽ vậy, nhưng đó là về phía tôi, không biết phía “bên kia” như thế nào?

Thằng em Trang vỗ tay khen hay. Những câu đối thoại trên dĩ nhiên là bằng tiếng Anh rồi. Lúc đó Trang đâu có hiểu mô tê gì, chỉ hiểu lõm bõm và biết là hai người đang nói về mình. Đã mấy lần Trang ngắt ngang đòi dịch nghĩa mà hai người cứ phớt lờ, Trang phải nổi cáu lên thằng em mới chịu dịch lại cho Trang nghe. Nghe xong Trang “phang” một câu liền. 

- Dễ ợt! Tình yêu là những… nải chuối, những trái cam, những trái bưởi ướp… hơi người thấy mà ghê!

“Thầy” Ngọc Phùng đỏ mặt tía tai sượng trân. Sao lúc đó Trang đanh đá thế nhỉ? Có lẽ tại tức hai người cứ xổ Anh văn không cho Trang nghe. Vậy chứ mà Trang vẫn đâu có bị mất điểm, dưới mắt “thầy” Ngọc Phùng lúc nào Trang cũng là “number one”. Ông bác Trang kể lại thầy tâm sự rằng:

- Con vì không muốn đi lính mới nhờ các thầy che chở. Mai sau quá tuổi lính rồi, học xong con sẽ xin đi dạy học và nhờ bác xin cưới Thiên Trang cho con. Con sẽ đưa Trang về quê nhà con ở Quảng Trị, nơi đó có bà dì ruột của con vẫn còn giữ cho con ngôi nhà ngói ba gian rất đẹp của cha mẹ con để lại với đầy đủ tiện nghi, đất rộng bao quanh và ruộng vườn cò bay thẳng cánh. Nếu Trang không thích ở đó, con sẽ bán hết ruộng vườn đưa Trang trở lại Sài Gòn lập nghiệp.

Đúng là “thầy tu”, ngây thơ thế thì thôi! Hắn cứ tưởng hắn yêu là được. Rồi thời gian cứ trôi, nước mất nhà tan, tu cũng chẳng được yên. Đa số các thầy tu trẻ giải tán, lớp ra đời lấy vợ, lớp vì dính vào “Nha Tuyên Uý Phật Giáo” đóng lon sĩ quan nên bị đi “học tập” mút chỉ cà tha. Chùa chỉ còn ông bác Trang và các thầy lớn tuổi. Thầy Ngọc Phùng cũng về quê “làm ruộng” và từ đó mất liên lạc luôn. Thời gian sau thì mạnh ai nấy lo thân chẳng còn ai liên lạc với ai nữa cả. Ông bác Trang bỗng đâm nghi ngờ lẩm cẩm:

- Không khéo cái thằng nó là “Việt cộng” cũng nên. Tại sao sau khi mất nước nó “tếch” về Quảng Trị mà lại sống yên thân được? May mà cháu không ưng nó, chứ nếu ưng mà nó là Việt cộng thì thật bỏ mẹ.

Nhưng bác đã lầm. Khi Trang đã có chồng con đùm đề và định cư ở San Jose rồi. Bác viết thư sang kể, Ngọc Phùng cũng định cư ở Mỹ và làm cho một sóng bài nào đó. Ngọc Phùng vừa mới liên lạc lại được với các thầy ở quê nhà, trong đó có ông bác của Trang. Từ đó thỉnh thoảng Ngọc Phùng gởi tiền về trợ cấp cho bác. Trang nghe bác kể vậy thì biết vậy chứ không hỏi thêm gì nữa.

Thấm thoát thế mà đã hai, ba chục năm. Câu chuyện tưởng trôi vào quên lãng, nào ngờ hai năm trước vợ chồng Trang cùng bạn bè đi Las Vegas chơi. Sau khi nhận phòng xong, mạnh ai nấy đi chơi. Trang cũng ham vui, xông xáo một lát là thua sạch bách. Kiếm hoài không thấy Hiển đâu hết, Trang lại không giữ chìa khoá phòng và cũng không đem cell phone, không biết đám bạn chơi ở chỗ nào. Trang đành phải lên phòng gõ cửa đại, may ra có ai về ngủ sớm mở cửa cho Trang vô… mượn tiền. Bởi có bao nhiêu tiền Trang giao cho Hiển giữ hết, Trang không thích giữ tiền, trang chỉ thích xài tiền mà thôi!

Gõ hoài mà chẳng có ai ra mở cửa, đi trở xuống mà tìm chồng và đám bạn trong đám người đông như kiến vậy Trang bắt chóng mặt, trong túi lại không có tiền thì chơi cái gì? Thôi thì ngồi đại xuống hành lang này mà nghỉ mệt coi bộ còn khoẻ hơn. Nghĩ thế Trang ngồi bó gối xuống thảm trước cửa phòng mình, lưng và đầu ngữa dựa vào tường nhắm mắt nghĩ ngợi lung tung. Đang lim dim như vậy, Trang bỗng “feeling” như có ai đang nhìn mình, Trang mở choàng mắt dậy bẻn lẻn đứng lên khi thấy xế xế cửa phòng đối diện có một người đàn ông, ăn mặc rất là lịch sự, Nguyên bộ đồ “vét” đen và áo sơ mi trắng, đang nhìn Trang mỉm cười và gật nhẹ đầu chào Trang rồi đi khuất sau cua quẹo của hành lang khi thấy Trang mở mắt ra nhìn. Đầu óc Trang đánh dấu hỏi dữ dội, nụ cười này quen lắm đây. Trang đứng lên chạy theo cua quẹo thì đụng phải Hiển đi lên, Trang mừng quá níu lấy Hiển xoè tay:

- Em hết tiền rồi, đi lên phòng chẳng có ai ở trong phòng ra mở cửa cả, chìa khóa anh giữ em đành phải ngồi ngoài hành lang chờ.

Hiển nhăn mặt trách:

- Ai bảo không chịu mang cell phone. Em thật lạ đời có phôn mà không chịu xài thì mở làm gì?

Trang có cái tật hay quên, đi đâu mà xách theo lỉnh kỉnh đủ thứ đồ phụ tùng trong bóp, móc ra móc vô một hồi thế nào Trang cũng làm mất cho nên Trang cứ vờ “quên” như thế cho nó khoẻ tấm thân. Sợ Hiển giảng “moral” Trang đánh trống lãng:

- Cho em tiền em xuống chơi tiếp. Anh lên ngủ hả?

Hiển gật đầu móc trong túi ra một nắm tiền đưa cho Trang nói:

- Đừng có chơi khuya quá hại sức khoẻ. Liệu mà chơi giải trí thôi chứ đừng có đam mê sát phạt đỏ đen anh không có thích đâu đấy!

Trang cầm nắm tiền “dạ” một tiếng rồi chạy đến thang máy bấm nút, nói là một nắm tiền cho oai chứ thực ra chỉ là giấy năm, mười đồng và giấy một đồng là nhiều nhất, hoặc cao lắm là giấy hai chục đồng trở lại mà thôi. Vợ chồng Trang không có máu mê cờ bạc, lần đi chơi nào cũng thủ sẵn chỉ vài trăm, chơi hết bao nhiêu đó là thôi chứ không có cố đấm ăn xôi để gỡ. Mỗi lần đi mấy chỗ giải trí này, Trang thích nhất là cái máy kéo 5 xu, chỉ tốn có 5 xu một lần  mà kéo hoài không hết. Có lần Trang trúng “đắp bồ” được vài lần lên đến một trăm mấy đồng “đã” ơi là đã. Không phải Trang hà tiện, tại dốt chẳng biết đánh bài, và cũng tại cái máy này nghe vui tai và dễ trúng. Mỗi lần máy ra lệnh cho Trang phải “dí” vào cái con vật gì đó đang bay qua bay lại thật nhanh trên màn hình là Trang khoái nhất. Phải thật lẹ tay, mỗi lần Trang “dí” trúng nó một cái là nghe “chéo, chéo” bên tai và đồng thời máy đếm tiền cũng hoạt động nghe rào rào thấy “thương” gì đâu.

Đang say sưa “dí, dí” như vậy. Một người đàn ông ngồi xuống bên cạnh cái máy trống kế bên Trang, bỏ tiền vào làm một hơi “chéo, chéo” đinh cả tai, nhức cả mắt khiến Trang phải ngừng chơi, tò mò đưa mắt theo dõi. Phải công nhận hắn nhanh tay thật. Trang hoa cả mắt, mà tay hắn thì cứ như phù thủy dí qua dí lại như làm “magic”, miệng thì kêu “chít chít! Chít chít!” theo tiếng máy đếm tiền nghe mà bắt ham. “Game over”, hắn kéo cái biên nhận ra hai trăm mấy chục đồng Trang phục quá trời! Hắn cười nói với Trang (vẫn nụ cười quen thuộc khi nãy mà Trang chưa nghĩ ra):

- Chơi cò con như thế này chỉ được bây nhiêu thôi! Muốn ăn lớn thì phải vô sòng bài. Thiên Trang có muốn thử không?     

Thấy hắn kêu tên mình ngon ơ, Trang ngạc nhiên ngó thẳng vào mặt hắn, lần này hắn cười “hết cỡ”, hai cái má lúm đồng tiền hằn sâu hai bên má khiến Trang buột miệng kêu lên:

- Thầy… Ngọc Phụng…

Hắn xụ mặt:

- Bao năm rồi sao Trang vẫn không thay đổi? Tôi là Phùng và tôi không phải là “thầy”.

Trang cười xin lỗi:

- Sorry! Tại quen miệng làm anh buồn, xin lỗi anh.

Hắn hình như ít nói đi, chỉ có Trang là tía lia. Trang hỏi câu nào hắn trả lời câu nấy không thêm không bớt. Được biết trước kia hắn có làm cho sòng bài ở đây (Las Vegas) nhưng bây giờ thì không còn nữa, hôm nay là hắn trở lại đây để chơi. Hắn còn nói hắn đã dọn về San Jose lâu rồi và ở rất gần Trang. Trang chỉ gật gù nghe thôi chứ cũng không hỏi địa chỉ và xin số phôn làm gì. Hắn nhắc lại chuyện đánh bài, Trang nói Trang không biết đánh bài, không nhớ được lá nào là ách, cơ, chuồng, bồi, đầm, già gì hết nhưng lại cứ thích chơi cái gì mà “cù lũ, cù lũ” đó! Hắn cười nói:

- Binh xập xám.

Trang cũng cười theo:

- Phải rồi, binh xập xám. Nhưng mà chơi cái đó dễ bị “cụt vốn” lắm đó! Chỉ thua vài lần là hết chơi, Trang chỉ có bao nhiêu đây thôi!

Trang xoè “nắm” tiền ra cho hắn coi, Ngọc Phùng cười kéo Trang đi theo hắn và nói:

- Bao nhiêu đó đủ rồi. Tin tôi đi, tôi sẽ giúp Trang có một kỷ niệm nhớ đời. Đi lên đây mà không thắng được một chút tiền đem về thì buồn lắm!

Hắn lôi Trang đến khu “baigow”, chọn một cái bàn trống nhất đẩy Trang ngồi xuống, rồi kéo ghế ngồi cạnh Trang và dặn Trang cứ yên lặng đừng nói gì hết, để một mình hắn nói thôi. Trang nghe theo sự sắp xếp của hắn. Một lát sau Trang chẳng hiểu mô tê gì nữa, chỉ nghe bên tai mình tiếng “rét rét, rẹt rẹt” thật nhanh. Và đôi tay hắn “múa” trên những lá bài của Trang thật lẹ mà sao người chia bài hình như chẳng thấy gì. Kết quả hôm đó Trang… “thắng” được hai ngàn rưỡi đô la. Lần đầu tiên trong đời Trang đi chơi mà còn được tiền đem về. Những lần trước ăn được chút xíu, chơi lại là thua sạch bách, chưa lần nào được tiền mang về, dù là một hai đồng chứ đừng nói chi đến hai ngàn rưỡi. Trang mừng quá cám ơn hắn rối rít và “good night” hắn để đi ngủ, hắn không say “good night” lại với Trang mà lại nói:

- Vĩnh biệt Trang.

Trang nhăn mặt thắc mắc:

- Tại sao lại vĩnh biệt?

Hắn cười:

- Không phải là Trang chẳng bao giờ muốn gặp lại tôi hay sao?

Thấy hắn nói trúng tim đen của mình, Trang tảng lờ:

- Nói bậy không hà! Trang còn ở đây đến ngày mốt mới về. Rồi Trang nói nhanh trước khi chạy ù đi: Ngày mai gặp.

Nhưng ngày mai và mãi mãi chẳng bao giờ Trang gặp được hắn nữa. Khi Trang điện thoại về Việt Nam kể cho bác nghe cuộc gặp gỡ với hắn tại sòng bài. Bác Trang yên lặng một hồi rồi chậm rãi:

- Cháu phải thật là bình tỉnh đừng có “xỉu” khi nghe bác nói. Thằng Phùng nó chết cách đây đã năm năm rồi cháu ạ! Cái thằng thật là có tình có nghĩa, tuy mất đi nhưng vẫn gởi lại danh sách các thầy cho một người khác lo dùm. Bác vẫn nhận được trợ cấp đều hằng năm, vẫn với danh nghĩa cái tên “Ngọc Phùng”.

Nghe bác nói mà Trang hãi hùng. Suốt một buổi tối đi chơi với “ma” mà không biết. Sao Trang không nhận thấy gì khác lạ nơi Phùng ngoài cặp mắt hơi buồn buồn, và đôi tay giá lạnh khi hắn kéo Trang đi. Ở nơi đó máy lạnh chạy suốt ngày ai mà không lạnh nên Trang đâu có để ý làm chi. Cho đến hôm nay, Trời xui đất khiến sao Trang lại được “gặp” Phùng ở đây! Thì ra Phùng nói đã dọn về San Jose và “ở” rất gần Trang, tức là ở nghĩa trang “Oak Hill”. Trang chắp hai tay cúi đầu khấn xin cho Phùng được siêu thoát và cũng không quên thì thầm:

- Trước không biết thì thôi, bây giờ đã biết anh không còn trên thế gian này nữa. Trang rất là nhát gan, anh sống khôn thác thiêng thì xin âm thầm mà phò hộ cho Trang chứ đừng bao giờ “hiện” ra lần nữa Trang sẽ chết mất. Mỗi tối Trang hứa đọc kinh một tháng để cầu nguyện cho anh được siêu thoát. 

Một cơn gió nhẹ lướt qua làm cây lá rung xào xạc, Trang ngước mặt nhìn lên bầu trời trong xanh mà có cảm tưởng như hồn của Phùng đã nương theo gió mà bay bổng lên tít tận chín tầng mây xanh biếc đó rồi. Trang tin tưởng như vậy khi chợt nhớ lại câu “vĩnh biệt Trang” của Phùng hôm ở sòng bài. Thì ra đó là hôm cuối cùng Phùng muốn gặp Trang để rồi vĩnh biệt thật. Trước khi bước trở lại nhà quàn, Trang đưa mắt nhìn vào tấm hình của Phùng đưa tay vẫy và thì thầm:

- Vĩnh biệt Phùng. Chúc anh an giấc ngàn thu…


Nguyễn Mộng Giang