Monday, August 3, 2026

Husband Store

 

Did you hear about the new store that's opened in NY City?  It's called the Husband Store.

It's where you go to shop for a husband.  It has 6 floors; there are strictly enforced rules stating you can visit each floor only once.  You cannot go back or revisit a floor. 

You read the signage for what's available on each floor only when the elevator door opens on that floor.  That's when you must make your decision to exit or continue up.  At this point, you do not know what's on the next floor; but hopes are building.


Here are the signs as they appear on each floor:

Floor #1 - These men all have jobs.

Floor #2 - These men all have jobs and love kids.

Floor #3 - These men all have jobs, love kids and are very good looking.

Floor #4 - These men all have jobs, love kids, are very good looking, and will help with housework.

Floor #5 - These men all have jobs, love kids, are very good looking, will help with housework, and have a very strong romantic streak.     

Floor #6 - There are no men on this floor.  You are visitor #31,684,322.  This floor exists only to prove that women are really impossible to please.      


From: Kim Duncan    

Sunday, August 2, 2026

Dù Bị Tù, Dù Bại Trận, Họ Vẫn Là Người Lính Của Chúng Tôi - Phạm Sơn Liêm

 

Có những buổi chiều trên đất Mỹ, trong một công viên nhỏ, một nhà thờ, một hội trường cộng đồng hay chỉ là góc quán cà phê đơn sơ, người ta bắt gặp những mái đầu bạc trắng ngồi bên nhau. Họ cười, họ kể chuyện đời, chuyện con cháu, chuyện bệnh tật tuổi già. Nhìn họ hôm nay, ít ai biết rằng đã có một thời họ là những người lính, những sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những người đã gửi cả tuổi thanh xuân của mình cho chiến tranh và số phận của quê hương.

Rồi tháng Tư năm ấy đến.

Chiến tranh chấm dứt. Nhưng đối với họ, những tháng năm khổ đau mới bắt đầu.

Từ những quân trường, doanh trại, phi trường, phi cảng, họ bước vào các trại tù cải tạo. Có người đi vài năm. Có người mười năm. Có người hơn mười năm. Có những người cha khi bị đưa đi, con còn bế trên tay. Đến ngày trở về, đứa con ấy đã thành thiếu niên, thậm chí không còn nhận ra khuôn mặt cha mình nữa.

Sau những hàng rào kẽm gai ấy là những tháng ngày đói rét, lao động kiệt sức, bệnh tật, cô đơn và chờ đợi. Chờ một lá thư. Chờ một lần thăm nuôi. Chờ một ngày được trở về. Chờ đến mức nhiều người không còn nhớ nổi mình đã chờ bao nhiêu mùa mưa nắng.

Có người trở về với đôi mắt đã mờ.

Có người trở về với tấm thân đầy bệnh tật.

Có người trở về mà cha mẹ đã mất.

Có người trở về mà mái nhà xưa không còn nữa. Và đau nhất là có những người không bao giờ trở về!

Họ nằm lại đâu đó trong những cánh rừng sâu, trên những sườn núi heo hút, chỉ còn lại một cái tên trong ký ức của vợ con và đồng đội.

Rồi chương trình HO mở ra.

Những người tù năm xưa lại một lần nữa gói ghém cuộc đời mình lên đường. Họ đến một đất nước xa lạ với hai bàn tay trắng, với vốn tiếng Anh gần như bằng không, với tuổi đời không còn trẻ.

Người từng chỉ huy cả đơn vị đi làm hãng.

Người từng là phi công đi quét dọn.

Người từng là sĩ quan tham mưu đi bốc hàng.

Người từng là hạm trưởng đi làm đêm.

Họ bắt đầu lại từ đầu trong lặng lẽ. Không than trách.

Không oán hờn. Không đòi hỏi. Chỉ âm thầm làm việc để nuôi gia đình, cho con được học hành, cho cháu có một tương lai tốt đẹp hơn.

Ngày hôm nay, nhiều người trong số họ đã đi xa. Những hàng ghế danh dự trong các lễ tưởng niệm mỗi năm lại thưa thêm vài mái đầu bạc.

Những cái bắt tay năm nào giờ đã trở thành những nén nhang tưởng nhớ. Những bộ quân phục được treo yên lặng trong tủ kính. Những huy chương nằm bên cạnh tấm ảnh cũ đã ngả màu thời gian.

Nhưng có một điều chưa bao giờ mất đi:

Đó là lòng biết ơn. Bởi nếu không có những người lính ấy, những người đã chấp nhận đứng giữa lằn tên mũi đạn, đã chấp nhận hy sinh tuổi trẻ, gia đình và cả tương lai của mình vì trách nhiệm mà họ tin tưởng, thì làm sao có được những tháng năm thanh bình cho biết bao người dân miền Nam ngày ấy.

Có thể chiến tranh đã lùi xa.

Có thể mỗi người có cách nhìn khác nhau về lịch sử.

Nhưng sự hy sinh luôn xứng đáng được kính trọng.

Lòng can đảm luôn xứng đáng được ghi nhớ. Và những năm tháng tù đày mà họ đã gánh chịu luôn xứng đáng được cảm thông.

Kính thưa quý vị thuộc chương trình HO, những người lính năm xưa của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Có thể quý vị từng bị gọi là người bại trận. Nhưng trong trái tim của rất nhiều người Việt Nam hôm nay, quý vị chưa bao giờ là người thất bại. Người thất bại không thể sống hiên ngang như thế. Người thất bại không thể đứng dậy sau những năm dài lao tù như thế. Người thất bại không thể hy sinh cả cuộc đời để con cháu mình có tương lai như thế.

Xin được cúi đầu trước những mái đầu bạc ấy.

Xin được nghiêng mình trước những tháng năm tù ngục ấy.

Xin được nói một lời mà có lẽ nhiều người đã mang trong lòng từ rất lâu:

Chúng tôi không quên quý vị.

Chúng tôi nhớ ơn quý vị.

Và chúng tôi ngưỡng mộ quý vị.

Những người lính già năm ấy đã đi qua chiến tranh, đi qua lao tù, đi qua lưu vong… để cuối cùng đi vào lòng của biết bao thế hệ người Việt Nam mãi mãi về sau.

 

Phạm Sơn Liêm

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Anh Phước chuyển

Mai Tôi Đi - Nguyễn Duy Phước

Câu Chuyện Ma Cảm Động - Vân Anh Mai

 


Hân tan ca tầm tám giờ, từ khu chế xuất Tân Thuận theo đại lộ Nguyễn Văn Linh rẽ trái đường Nguyễn Hữu Thọ đến cuối đường là gần tới nhà Hân. Đoạn đường Nguyễn Hữu Thọ là hai trục đường một chiều ở giữa là lau sậy, ngay khúc giữa thường xảy ra tai nạn do làn xe ô tô và xe máy không có giải phân cách, người ta phải dựng một ngôi miếu cho những oan hồn.

Hôm nay trời mưa lất phất, Hân chạy đến gần đoạn giữa bỗng thấy có xe chạy ngược chiều, đường thì tối mà xe đó không bật đèn, Hân chạy đến thì thấy xe vụt qua, chạy như bay, dường như lướt trên mặt đất, giọng rỉ rả trong không khí: "Đằng kia có tai nạn đau lắm cô ơi!" Hân hơi rùng mình, chỉ nghe vậy nhưng mà cô đoán là phụ nữ, còn đoán được chị là công nhân ở khu công nghiệp Hiệp Phước.

Hân chạy lên ngay đoạn có miếu thờ thì thấy đông người. Chiếc xe tải cuốn một người vào gầm xe. Hân không dám nhìn, chỉ thấy mấy con tôm văng ra đường, một ít rau muống, lòng Hân bỗng dấy lên sự xúc động: Người chết kia có thể mới lãnh lương nên mua vài con tôm cho gia đình, chắc cũng đang trên đường trở về nhà!

Hân rẽ đám đông chạy về nhà lòng nặng trĩu mà xe cô cũng nặng trĩu. Rồi cô nghe loáng thoáng: Người chết là nữ công nhân làm ở khu công nghiệp Hiệp Phước, hình như mới đi chợ về.


Về đến nhà, Hân vào bếp làm cơm tối, chồng cô dẫn xe vô nhà hỏi: Em làm gì cái yên sau toàn đất không vậy?" Hân ngạc nhiên hay lúc nãy ghé đám đông có người quăng đất lên xe cô. Chắc tại trời mưa.

Tối đó Hân thức làm mớ sổ sách cần giải quyết xong. Bỗng Hân nghe có tiếng thút thít ngoài cửa phòng, Hân nghĩ không lẽ giờ này hai đứa nhỏ còn thức. Hân mở cửa phòng ngó qua phòng con, thấy cửa đóng im lìm. Hân nhìn xuống thì thấy dấu chân lấm lem bùn đất đi dọc từ cửa phòng xuống tới bếp. Hân nghĩ trộm, cô quay lại gọi chồng. Anh dậy ra nhìn tới lui bảo có gì đâu. Chồng cô trở vào là ngủ như chết.

Hân nằm kế bên chồng bỗng nghe tiếng thút thít lần nữa, cô rón rén dậy, lần này cô thấy rõ dấu chân đầy bùn. cô rón rén bước theo dấu bùn xuống nhà bếp. Tiếng rên rỉ thê lương ngày càng lớn, Hân thấy lành lạnh. Nhưng đây là nhà cô, nơi gia đình cô ở cô phải bảo vệ gia đình cô. Hân bước xuống tới nhà bếp, trong ánh sáng le lói của chiếc đèn cà na trên bàn thờ ông táo, cô thấy bóng dáng một phụ nữ, mặc áo công nhân, úp mặt khóc. Tiếng kì lạ, âm u, vang vang, lạnh lẽo. Hân linh cảm giống người chạy ngược đường mà cô thấy, cô hỏi to: "Ai đó!". Rồi cô với tay định vặn đèn lên, cái bóng ngẩng đầu dậy, van xin: "Cô Hai đừng vặn đèn, tui xin cô, tui không làm hại cô đâu."


Hân giật mình, chị ta còn biết người nhà hay gọi Hân là hai. Hân nhìn rõ là cái bóng nhàn nhạt, chơm chớp kiểu lúc ẩn lúc hiện. Hân hỏi: "Chị là ai, sao vào nhà tôi?" Cái bóng nói mà giọng như vang từ lồng ngực: " Tui theo cô Hai từ chỗ bị tai nạn. Trong đám đông đó, tui chỉ thấy có mình cô Hai là hiểu tui. Cô xúc động, cô thương tui nên tui theo cô."

Hân rùng mình nhớ đến cái ớn lạnh khi chạy qua chỗ chị bị tai nạn rồi cảm giác cái yên xe nặng trịch khi chạy về. Hân hỏi: "Chị muốn gì?"


Cái bóng đứng dậy, nó cứ vật vờ trong không khí, Hân lùi lại, hơi lạnh phát ra, Hân nổi gai óc. Cái bóng như hiểu, nó đứng một khoảng cách, rồi tiếp tục cái giọng vang vang trong không trung: " Tui chết ngoài đường, tui không biết đường về cô hai. Bữa đó tui lãnh lương, tui mua mấy con tôm định luộc, tại thằng lớn nhà tui thèm lâu lắm rồi. Con gái nhỏ nó thích ăn canh chua rau muống. Tui hứa với hai đứa con tui nấu cho nó trong ngày sinh nhật mình. Mà giờ tui quên đường về nhà rồi cô Hai."

Nói xong nó lại khóc rên rỉ. Nghe cái bóng nói, Hân xúc động nghẹn ngào, Hân cũng là mẹ nên cô hiểu nỗi khắc khoải day dứt đó chứ. Chết trong chính ngày sinh của mình còn gì đau đớn hơn. Chết khi chưa nấu được cho con bữa ăn đã hứa sao mà ra đi cho được. Hân hứa giúp chị, đêm đó Hân trằn trọc mãi: Ranh giới giữa người và ma suy cho cùng là giữa thực tại và ảo ảnh.


Sau một ngày tìm kiếm, Hân cũng tìm được chỗ chị ở là một phòng trọ nằm sâu hút trong hẻm. Người ta để quan tài chị ngoài đường vì phòng trọ đâu đủ chỗ để chứa quan tài. Đám ma hiu quạnh, không kèn trống, không bà con thân thuộc. Chỉ có hai đứa con, đứa con trai đang học đại học năm thứ nhất, đứa con gái đang học lớp mười, chồng chị bị bệnh mất cách đây mấy năm. Mấy người hàng xóm, ai cũng thương tiếc chị bảo chị giỏi giang, nghèo mà sạch, nghèo mà ráng cho con ăn học. Hân nghe tê tái trong lòng. Hân bảo với hai đứa là bạn của mẹ, cô ở lại phụ lo đám tang.


Đêm đó chỉ còn ba cô cháu, Hân bảo hai đứa lại đây, Hân dọn cho hai đứa đĩa tôm luộc, cơm nóng và nồi canh chua rau muống. Hân bảo mẹ con nhờ cô nấu, mẹ con muốn nấu cho hai con ăn trong ngày sinh nhật mình. Hai đứa gật đầu, chúng vừa ăn vừa khóc. Có lẽ trong cuộc đời, chúng sẽ không bao giờ ăn được một bữa cơm ngon, mặn chát nước mắt như thế. Hân ôm hai đứa khóc, Hân nói: " Dì dẫn mẹ về nhà rồi. Mẹ con chỉ mong hai con cố gắng thương yêu, bảo ban nhau ăn học cho nên người." Hai đứa gật đầu, chúng nấc lên từng cơn, còn nỗi đau nào hơn nỗi đau mất mẹ. Hân quay sang chiếc quan tài, chị đang đứng đó, Hân nói: " Chị đi đi, em sẽ giúp hai cháu. Chị yên tâm ra đi nhé!" Cái bóng gật đầu, từ lúc thằng con lớn vừa lột tôm vừa khóc, chị đã nấc nghẹn ngào, đến lúc đứa con gái lùa muỗng canh chua rau muống mà miệng gọi: " Mẹ ơi!" chị đã biết mình toại nguyện. Giờ Hân hứa giúp hai con chị, chị nghĩ mình đã siêu thoát.


Bỗng Hân thấy hàng ngàn ngôi sao lấp lánh vỡ ra từ cơ thể chị, lung linh, bàng bạc từ bay lên lên cao. Chị mỉm cười dù nụ cười đầy nước mắt. Người ta hay nói, người phàm chỉ thấy ma khi họ bắt cùng tần số. Chị và Hân có cùng một tần số: Đó là tình mẹ và lòng trắc ẩn.


Ngày mai là ngày đưa chị về hư không.

 

Vân Anh Mai

Saturday, August 1, 2026

Những Ly Chè Hấp Dẫn







Thanh Loan chuyển

Chọn Những Nụ Cười - BS. Đỗ Hồng Ngọc


Có câu đúc kết “Năm năm / Sáu tháng / Bảy ngày”, nghĩa là ở tuổi 50, nên có kế hoạch năm; đến tuổi 60 thì chỉ nên làm kế hoạch tháng; còn đến 70 thì tốt nhất nên có kế hoạch… ngày! Cho nên “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui! Chọn những bông hoa và những nụ cười!” (TCS) là phải quá! Vấn đề là ở chỗ chọn lựa. Thiên đàng Địa ngục hai bên… Một cụ già trên trăm tuổi được nhà báo hỏi bí quyết sống lâu, sống khỏe, ông nói có gì đâu, mỗi sáng, thức dậy, tôi tự hỏi hôm nay mình nên ở thiên đàng hay địa ngục đây… rồi tôi chọn thiên đàng.

   

Có những vùng khí hậu lạ. Một ngày mà có đủ cả bốn mùa: xuân hạ thu đông! Còn muốn gì hơn? Ở một tuổi quá cao nào đó, không phải chỉ cần có kế hoạch ngày mà nhiều khi còn phải có kế hoạch giờ! Sáng khác, trưa khác, chiều khác, tối khác rồi. Làm được gì thì làm ngay. Lát sau mọi thứ sẽ khác. Cần có phương án hai, phương án ba. Cẩm nang để sẵn trong các túi gấm, đến đâu giở ra đến đó!


Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. Dĩ nhiên có tiểu tiện và đại tiện khi các bộ phận thải chất bả này hình thành và hoạt động. Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. Thở mà không xong thì tiêu đời! Bác sĩ sẽ xịt alcool hoặc đét vào đít cho ta khóc thét lên. Khóc càng to càng tốt. Khóc to có nghĩa là thở mạnh. Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Rồi phải bú nữa trời ạ. Bú mẹ còn đỡ, cứ vùi đầu mà nút, chả cần ai chỉ dạy! Nhưng nhiều khi phải níu lấy cái bình bú cứng ngắc, ai đó nhét vào miệng vì không có sữa mẹ. Cứ thế mà chùn chụt để nuôi thân. Rồi biết lật, biết ngồi, biết bò, biết đứng chựng, biết đi, biết chạy nhảy, leo trèo… Rồi biết nói năng, suy nghĩ. Nhớ, tiếc, giận hờn, giành giựt, đấu đá, ghen tuông, ích kỷ, thất tình lục dục đủ thứ không lúc nào ngưng. Và dĩ nhiên vẫn thở và vẫn ăn. Rồi nam tu nữ nhũ. Rồi chọn lựa. Rồi giao cấu. Rồi đẻ ra một lô một lốc chẳng biết từ đâu ra.


Đến một hôm, ta từ hùng hục chạy, ta… lững thững đi, rồi chập chững đứng, vật vựa, nghiêng ngả, rồi ngồi một chỗ, mắt lờ đờ nhìn xa xăm, rồi lồm cồm, bò lê, bò lết… Từ chùn chụt, ngấu nghiến, ừng ực, dô dô 100%… ta bỏ ăn bỏ uống, thấy cái gì cũng rệu rạo, nhóp nhép vì xệu xạo răng cỏ. Rồi thở cũng cà giật, cà hước… Ta trở lại cái hồi thai nhi trong bụng mẹ, bây giờ là “mẹ Như Lai”, một vòng khép kín. Thì ra, ta đã từ đó mà đến để rồi loay hoay một vòng về lại chốn xưa. Cứ y như đàn cá hồi, cứ bốn năm lại “hồi” về chốn cũ, đẻ xong rồi chết, sau khi đã làm xong nhiệm vụ truyền giống. Con thiêu thân thì nhào vào ánh lửa. Con bọ ngựa giao cấu xong thì chết ngay trên bụng con cái, làm thức ăn cho con… Con bọ hung hùng hục chui vào đống phân, giành giựt đấu đá để vo tròn một cục phân mang về cho bọ hung cái nuôi con. Cá ếch nhái bò sát chim đều vậy. Cây cỏ cũng vậy. Hoa nở chẳng những đẹp mà còn thơm, lôi kéo lũ bướm ong dập dìu lui tới để mang phấn đi muôn phương.


Nhìn suốt cuộc hành trình đó, có cái gì tức cười, vừa tàn nhẫn vừa thương tâm. Cái hiện hữu chỉ là thị hiện, trình hiện chút chơi vậy thôi. Nó giả. Nó tạm. Vậy mà sao ta cứ tưởng thiệt mới đáng thương làm sao. Gieo rắc và sinh sôi. Cứ vậy. Như Lai thọ lượng. Như Lai thần lực. Cứ vậy. Người tỏ ngộ tủm tỉm cười, vui vẻ chui vào tháp báu, gặp Như Lai Đa Bảo của mình ngồi đó, tay bắt mặt mừng. Schopenhauer nói cô con gái liếc mắt đưa tình, tìm kiếm chàng trai râu hùm hàm én mày ngài, oai vũ là để trao thân vì chắc hẳn sẽ là giống tốt; chàng trai thì tìm giai nhân chân dài, đáy thắt lưng ong, ngực nở, mông to để mắn đẻ. Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống là vậy. Con người thông minh hiện đại  làm phiền Như Lai hết sức, vì chỉ muốn tìm vui mà quên nhiệm vụ thiêng liêng!


Đất (Nitrogen) nước (Hydrogen) gió (Oxygen) lửa (Carbon) cùng 62 nguyên tố đồng chì sắt kẽm được vo cục lại, nắn nót, thêm thắt, vẽ bày, hà hơi tiếp sức rồi thảy vào Ta-bà nhộn nhạo theo một cái duyên, cái nghiệp nào đó. Mãi mới nhận ra “bổn lai vô nhất vật”. À há, nó là không, nó là chân không diệu hữu. Nó bày trò, vờ vịt, vớ vẩn, giỡn chơi thôi. Không muốn ngộ rồi cũng ngộ. Không muốn giác rồi cũng giác.


Sanh bệnh lão tử hay sanh lão bệnh tử thì cũng vậy. Lập trình nó vậy rồi. Nhưng “tử” dễ nghe hơn “chết”. Chết khó nghe và thấy sợ. Tại sao sợ? Không biết. Tại vì không biết cho nên sợ. Nhưng lạ, cũng là chết mà có nhiều từ khác nhau để gọi. Vua chết gọi là “băng hà”. Sư chết gọi là “viên tịch”. Phật chết gọi là nhập Niết-bàn. Lính chết gọi là “hy sinh”… Dân chết có khi gọi là “mất” là “qua đời” là “lìa trần”, v.v…


Người ta sợ chết mà không sợ sanh. Vì sanh có biết đâu mà sợ. Nhưng có phải tự nhiên mà sanh ra không? Nếu ba mẹ ta mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Nếu ông bà nội ông bà ngoại mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Vậy ta từ đâu ra? Có phải chỉ tinh cha huyết mẹ là đủ hay còn cần phải có một điều kiện nào khác? Có cái gì khác đó chui vào, can thiệp vào để có ta chứ? Cái đó gọi là “thức tái sanh” ư? Là “nghiệp” dẫn dắt ư? Chính điều nầy làm ta thấy có trách nhiệm sống, vì sống cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Ta có trách nhiệm hơn. Ta có tự do hơn. Để tự chọn lựa.


Một cặp thai song sanh sợ hãi khi sắp tới ngày sanh, muốn ở lại trong thiên đàng lòng mẹ càng lâu càng tốt. Hai cái thai tranh cãi quyết liệt không ai chịu ra đời trước, vì không biết chuyện gì chờ đón họ ngoài kia. Cuối cùng dù giằng co thế nào thì cũng có một cái thai chui ra trước. Hóa ra… đời vui quá! Người ta đón chào rôm rả. Thai kia thấy thế cũng vội vã ra theo. Rồi oa oa chào đời. Rồi hít thở, rồi bú mớm. Rồi lớn như thổi, rồi yêu thương, rồi ganh tỵ, hờn ghen, đấu đá, giành giật… rồi cuối cùng cả hai cùng một lần nữa lại bị kéo ra… khỏi cuộc đời. Cũng lại quyết liệt tranh cãi không chịu, cũng lo lắng, sợ hãi, đòi ở lại càng lâu càng tốt… Không có sự khác biệt giữa cái chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cái chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy.

Rồi cùng mà mỉm cười. Nụ cười của Phật. Của Bayon. Của La Joconde…

 

     Đỗ Hồng Ngọc 

CHỌN NHỮNG NỤ CƯỜI

Vì Sao Miền Bắc Càng Nể Miền Nam? - Nước Úc Channel

Chuyện Đời

Hình internet minh họa

Bạn ăn lòng lợn ngon lành - dù nó từng là chỗ chứa phân. Nhưng đưa bạn cái bát từng đựng phân, dù rửa sạch cỡ nào - đố bạn dám dùng.

Nước rửa chân mình - không ai lấy để rửa mặt. Nhưng nước hồ bơi ngâm hàng ngàn cái chân thiên hạ - bạn vẫn ngụp lặn cười đùa.

Đũa người khác dùng qua - ta chê mất vệ sinh (ai chê nhỉ?) 

Môi người khác từng hôn người cũ - ta lại hôn say đắm (phổ biến nhưng không phải 100% đâu nhé).

Nhà có người chết - cho tiền cũng không dám ở.

Đồ cổ đào từ mộ người chết - lại bỏ tiền tỷ tranh nhau mang về trưng.

Hóa ra, trên đời chẳng có gì là sạch sẽ tuyệt đối.

Sạch hay bẩn không nằm ở vật chất. Nó nằm ở việc bạn có chấp nhận hay không mà thôi.

KHI BẠN NUÔI MỘT CON CÁ, nó chết - bạn buồn cả ngày.

Nhưng khi bạn nuôi một ao cá, vài con chết - bạn thậm chí không hề biết.

Tôi đứng ở tầng 1, có người chửi - tôi giận run.

Tôi đứng ở tầng 10, có người mắng - tôi ngỡ họ đang chào mình.

Tôi đứng ở tầng 100, có người mắng - tôi chỉ thấy.... thành phố quá đẹp đi.

Cùng một chuyện. Chỉ khác vị trí. Và cảm xúc thay đổi.

Nếu bạn nói: “Tôi thích vợ người khác.” → nghe rất thiếu đạo đức.

Nhưng nếu bạn nói: “Người tôi thích... đã trở thành vợ của người khác.” → Nghe lại thấy rất... đáng thương.

Nếu bạn nói: “Tối nay anh muốn ngủ với em.” → bạn bị gọi là đồ lưu manh.

Nhưng nếu bạn nói: “Sáng mai anh muốn cùng em thức dậy, ngắm bình minh.” → bạn trở thành chàng trai lãng mạn (thích rồi thì nói sao chả được nhỉ?).

Nếu bạn nói: “Một nữ sinh viên ngày đi học, đêm làm tay vịn.” → người ta nghĩ cô ấy sa đọa.

Nhưng nếu bạn nói: “Cô ấy tối làm tay vịn, ngày vẫn đi học đại học.” → người ta lại thấy cô ấy... nghị lực.

Đánh mãi vẫn thua - nghe như kém cỏi.

Thua mãi vẫn đánh - nghe như dũng cảm.

Sự việc vẫn y như vậy thôi. Chỉ cần đổi cách gọi tên, kết quả cảm nhận đã khác.

Sói săn mồi vì gia đình - người ta gọi là ác thú.

Ông chủ sa thải nhân viên - người ta gọi là tối ưu hóa.

Bạn đi mua hàng - bạn ghét người bán “cắt cổ”.

Bạn đi bán hàng - bạn ghét người mua mặc cả.

Bạn đi làm thuê - bạn thấy chủ bóc lột.

Bạn khởi nghiệp - bạn thấy nhân viên lười.

Vị trí khác nhau, lợi ích khác nhau, nên “đúng - sai” trong đầu mỗi người cũng đổi khác.

Và có một thứ rất hay:

Khi bạn đi nhầm đường, Google không bao giờ mắng bạn. Nó chỉ bình tĩnh nói: “Đang lập lại lộ trình.”

Đời cũng nên như vậy. Đừng tốn thời gian hối hận chuyện đã qua. Việc của bạn là tiếp tục đi. Hãy cho phép mình đi sai. Nhưng đừng đứng lại để tự trách.

Vì dù đúng hay sai... bạn vẫn phải đi tiếp.

Đúng sai chỉ là trò chơi của góc nhìn.

Khi bạn giàu, lỗi lầm là trải nghiệm.

Khi bạn nghèo, nỗ lực cũng chỉ là vùng vẫy.

Muốn thiên hạ bớt khắt khe?

Thay vì giải thích, hãy thay đổi vị thế.


Kim Duncan chuyển

Khúc Củi - Guy De Maupassant (1850-1893) - Thân Trọng Thủy Dịch

 

Phòng khách nhỏ, phủ đầy màn cửa dày, kín đáo thoảng mùi hương thơm. Trong lò sưởi lớn lửa đang cháy và một ngọn đèn với cái chao viền rua đăng–ten cũ đặt bên góc lò sưởi chiếu ánh sáng lờ mờ lên hai người đang trò chuyện.

Người đàn bà, chủ nhà, là một bà già tóc bạc, môt trong những bà già khả kính, làn da không có nếp nhăn, mịn màng như một tờ giấy láng mỏng và thơm, do từ lâu bà tắm bằng nước tẩm tinh dầu nguyên chất để làm đẹp da; môt bà già mà mỗi khi hôn tay bà người ta cảm thấy mùi thơm nhẹ xông lên mũi như khi mở một hộp mùi hoa diên vĩ của Florence.

Người đàn ông là một bạn cũ, sống độc thân, một người bạn gặp gỡ hàng tuần, một bằng hữu thông thường, không hơn không kém.

Họ đã ngưng nói chuyện khoảng một phút, cả hai đang vừa nhìn vào ngọn lửa vừa suy nghĩ vẩn vơ, trong một khoảnh khắc yên lặng thân tình của những người mỗi khi ngồi bên nhau không cần phải nói liên miên cho vui.

Bỗng một thanh củi to, một khúc gốc rễ dựng đứng đang cháy tự nhiên rớt xuống, nẩy khỏi vĩ lò, văng qua phòng khách, lăn trên thảm làm văng tàn lửa tung tóe khắp chung quanh.

Bà già khẽ kêu lên một tiếng, bật đứng dậy như muốn bỏ chạy, còn ông già thì đá thanh cũi lớn vào lại trong lò sưởi và dùng đế giày đùa hết những tàn lửa nóng đang rơi vãi chung quanh.

Khi "tai họa" đã được ngăn chận thì một mùi khét tỏa ra và ông già đến ngồi lại trước mặt bà bạn của mình, nhìn bà và cười. Ông vừa chỉ vào thanh cũi vừa được bỏ vào lò sưởi vừa nói : "Đó chính là lý do tại sao tôi không bao giờ lấy vợ."

Rất ngạc nhiên, bà nhìn ông bằng con mắt thích tìm hiểu của phụ nữ, con mắt của những phụ nữ không còn trẻ, phản chiếu tính tò mò phức tạp, thường là tinh nghịch, và bà hỏi: "Sao thế?"


Ông trả lời : "Ồ, đó là cả một câu chuyện dài, rất buồn và khó chịu.

Các bạn cũ của tôi thường ngạc nhiên về sự lạnh nhạt đột ngột xẩy ra giữa một trong những anh bạn thân nhất của tôi là Julien và tôi. Họ hoàn toàn không hiểu vì sao hai đứa tôi vẫn luôn thân thiết chẳng bao giờ rời nhau bỗng chốc lại có thể trở nên xa lạ với nhau như thế. Đây, bí mật của chuyện chúng tôi xa nhau là như thế nầy:

Hồi trước, anh ấy và tôi, chúng tôi ở chung với nhau. Chúng tôi chẳng bao giờ rời nhau và tình bạn giữa chúng tôi khắng khít đến nỗi không gì có thể chia cắt được.

Một tối khi về nhà anh tuyên bố sắp cưới vợ.

Tôi bị nhói trong ngực như bị anh ta đánh cắp hay phản bội. Khi một đứa bạn thân lấy vợ, thế là hết, hết tất cả.Tình yêu pha với tính ghen tuông của một người đàn bà, thứ tính ngờ vực, lo âu và đầy nhục dục sẽ chẳng bao giờ chịu khoan nhượng tình bạn thắm thiết và trung thực, xuất phát từ tâm hồn, từ sự tin cậy lẫn nhau giữa hai người đàn ông đâu!


Thưa bà, bà có thấy không, cho dù tình yêu có gắn kết hai người lại với nhau chăng nữa, người đàn ông và người đàn bà vẫn luôn xa cách nhau về tâm hồn và trí tuệ,, họ luôn là hai kẻ đối đầu nhau, họ thuộc những dòng giống khác nhau, luôn luôn phải có một kẻ chinh phục và một kẻ bị chinh phục, khi một người là chủ thì người kia là nô lệ và ngược lại, chứ họ chẳng bao giờ bình đẳng cả. Họ siết tay nhau, bàn tay họ run lên vì tình cảm nồng nàn chứ họ không bao giờ bắt tay nhau bằng một cái bóp tay chân thật, lâu và chặt, cái bóp tay như mở lòng ra với nhau, phô bày tình thương chân thật, bền bỉ và rắn rỏi. Các nhà hiền triết, để an ủi tuổi già của mình, thay vì lập gia đình, sinh con đẻ cái, để rồi chúng có thể bỏ rơi họ,có lẽ nên tìm một người bạn tốt đáng tin cậy, sống già với nhau và cùng chia sẻ những tư tưởng chỉ có thể có giữa hai người đàn ông với nhau mà thôi.

Tóm lại anh bạn Julien của tôi cưới vợ. Người vợ rất xinh đẹp, duyên dáng, tóc vàng và quăn, lanh lợi, mũm mĩm, tỏ ra rất yêu chồng.

Lúc đầu tôi ít qua lại nhà hắn, sợ làm vướng víu họ, tự thấy mình thừa thải. Nhưng dường như họ lại có ý lôi kéo tôi, mời mọc tôi luôn và có vẻ mến tôi.

Dần dà tôi bị cuốn theo nếp sinh hoạt chung đáng yêu đó, tôi thường ăn tối tại nhà họ, và buổi tối lúc về nhà, tôi thường nghĩ đến chuyện bắt chước anh ấy, cưới một cô vợ, vì tôi thấy căn nhà trống trải của mình giờ đây buồn tẻ quá.

Bọn họ tỏ ra rất yêu nhau, chẳng bao giờ rời nhau. Thế rồi một hôm, Julien biên thư mời tôi đến ăn tối. Tôi đến liền. Anh ta nói: "Bạn hiền, sau bữa ăn, tôi có công chuyện phải đi ngay. Trước mười một giờ thì tôi chưa về được nhưng tôi sẽ về lúc mười một giờ đúng.Tôi nhờ anh ở lại đây với Bertha cho có bạn, nhé!.

Người đàn bà trẻ mỉm cười,nói: " Chính em đã đưa ý kiến mời anh đó."Tôi bắt tay chị ta : "Chị tử tế quá!" và tôi cảm thấy một cái siết chặt, thân mật và hơi lâu ở đầu mấy ngón tay tôi. Tôi chẳng quan tâm đến điều đó. Chúng tôi ngồi vào bàn và đến tám giờ thì Julien tạm biệt chúng tôi.


Ngay khi anh ta vừa đi khỏi, một sự ngượng ngùng kỳ lạ đột ngột nẩy sinh giữa vợ anh ta và tôi. Chúng tôi chưa bao giờ chỉ ngồi hai người với nhau, và mặc dầu càng ngày chúng tôi càng thân mật, cuộc giáp mặt nầy đã đặt chúng tôi vào một tình huống mới. Thoạt đầu tôi nói những chuyện vu vơ, những chuyện vô nghĩa để khỏa lấp những khoảnh khắc im lặng bối rôi ngượng nghịu. Chị ta chẳng trả lời gì, chỉ ngồi trước mặt tôi, phía bên kia lò sưởi, đầu cúi xuống, cái nhìn bất định, một bàn chân đưa về phía ngọn lửa, kiểu như đang mải miết suy nghĩ về một việc khó khăn nào đó. Khi tôi không còn chuyện để nói, tôi nín lặng. Thật ngạc nhiên là nhiều khi khó tìm ra chuyện để nói. Rồi thì tôi bỗng cảm thấy một cái gì đó trong không khí, cảm thấy một cái vô hình, một cái không biết gọi là gì, không giải thích được, cái linh cảm báo cho ta biết trước những ý định thầm kín, tốt hoặc xấu, của người kia đối với ta.

Sự im lặng nặng nề ấy kéo dài một lúc. Rồi Bertha nói với tôi: "Anh bỏ thêm một khúc củi vào đi. Anh thấy lửa sắp tàn rồi đó" Tôi mở thùng chứa củi, để ngay ở chỗ giống như thùng củi của bà đây và tôi lấy ra một khúc củi, khúc to nhất, rồi tôi để chồng lên những khúc khác đã cháy hết hai phần ba.

Rồi lại im lặng.


Sau ít phút, khúc củi cháy mạnh đến nỗi mặt chúng tôi nóng ran. Người đàn bà trẻ ngước nhìn tôi bằng cặp mắt rất lạ. Chị ta nói; "Nóng quá, ta lại đằng kia ngồi trên xô-pha đi."

Chúng tôi đến ngồi trên xô-pha.

Đột nhiên chị ta nhìn thẳng vào mặt tôi: "Anh sẽ làm gì nếu có một phụ nữ nói với anh rằng cô ta yêu anh?"

Tôi khá sững sờ, liền đáp: "Trường hợp nầy đôt ngột quá, và cũng còn tùy thuộc vào người phụ nữ."

Thế là chị ta phá lên cười, tiếng cười khô khốc, kích động và run rẩy, một kiểu cười giả tạo như có khả năng làm vỡ kính, và chị ta nói tiếp:

" Đàn ông chẳng bao giờ táo bạo, cũng chẳng láu lỉnh." Chị ta ngừng lại, rồi nói tiếp:

" Ông đã từng yêu ai chưa, ông Paul?"

Tôi thú nhận : "Có, tôi đã từng yêu."

Chị ta nói: " Kể em nghe đi!"

Tôi kể một chuyện bất kỳ. Chị ta chăm chú nghe, thỉnh thoảng tỏ dấu hiệu không tán thành và coi thường. Bất thình lình chị ta nói: "Không, anh chẳng hiểu gì cả. Đối với em, tình yêu đích thực là phải làm đảo lộn con tim, làm rối tung thần kinh và giày vò đầu óc, tình yêu thực sự phải – nói sao nhỉ - nguy hiểm, thậm chí khủng khiếp, gần như là phạm tội, gần như là phạm thánh, phải là một thứ phản bội, em muốn nói là cần phá vỡ mọi trở ngại thiêng liêng, mọi luật lệ, mọi quan hệ anh em; khi mà tình yêu được yên bình, dễ dàng, không có hiểm họa, hợp pháp, thì đó có thực là tình yêu không?"

Tôi không biết phải trả lời sao.và trong lòng thầm thốt lên một câu triết lý : " Ôi! Thật đúng là đầu óc đàn bà!"

Trong khi nói chị ta tỏ vẻ thờ ơ, giả bộ ngây thơ; rồi chị ta dựa lưng vào gối, duỗi người ra, đầu tựa vào vai tôi, cái váy bị kéo lên cao để lộ bít tất lụa màu đỏ mà thỉnh thoảng lửa trong lò làm cho sáng rực lên.

Sau khoảng một phút, chị ta nói: "Em làm anh sợ à? Tôi phản đối. Chị ta tựa hẳn vào ngực tôi và nói mà không nhìn tôi : "Nếu chính em nói em yêu anh thì anh sẽ làm gì?" Trước khi tôi có thể tìm ra câu trả lời, hai tay chị ta đã vòng qua cổ tôi, đột ngột kéo đầu tôi xuống và đặt đôi môi lên môi tôi.


A! bà bạn thân mến của tôi, tôi xin trả lời bà là tôi không đùa! Sao? Lừa dối Julien à? Trở thành tình nhân của người đàn bà điên khùng, tai quái và quỷ quyệt, có lẽ là dâm đãng nữa, trong lúc người chồng không còn đáp ứng đầy đủ nữa à? Không ngừng phản bội, luôn luôn lừa dối, đùa cợt với ái tình chỉ vì sự quyến rũ của trái cấm, bất chấp nguy hiểm, phản bội tình bạn? Không! Việc nầy không thích hợp với tôi. Nhưng tôi biết làm sao? Bắt chước Joseph (1) ư? Vai tuồng nầy quá ngu ngốc , hơn nữa, quá khó khăn, bởi vì lúc phản bội chị ta thật đáng sợ, nào là hừng hực táo bạo, nào là phập phồng, nào là phấn khích. Ôi, ai chưa từng cảm nhận nụ hôn dài trên miệng một người đàn bà sẵn sàng hiến dâng, xin hãy ném viên đá đầu tiên vào người tôi…

… Cuối cùng, một phút nữa thôi…bà hiểu tôi nói gì chứ, phải không? Một phút nữa thôi và ….tôi đã là….không…chị ta đã là…xin lỗi, là anh ấy đã…hay đúng hơn ai sẽ có thể là…thì bỗng nhiên một tiếng động lớn làm chúng tôi nhảy đựng lên.

Khúc củi, phải, thưa bà, khúc củi đã văng vào phòng khách, sau khi hất đổ cái xẻng và thanh chắn, vụt qua như môt cơn bão lửa, làm cháy sém cái thảm rồi mắc kẹt dưới một chiếc ghế bành và không chừng sẽ bốc cháy.

Tôi chạy lại như điên và trong lúc tôi ném thanh củi cháy cứu mạng vào lại trong lò sưởi thì cửa phòng bỗng sịch mở! Julien tươi cười bước vào. Anh ấy reo lên: " Tôi rảnh rồi, đã xong việc sớm hai tiếng!"

Vâng, bà ạ, nếu không có khúc củi thì tôi đã bị bắt quả tang phạm tội và hậu quả sẽ ra sao chắc bà cũng biết.


Vậy nên tôi đã cố hết sức tránh để không còn xẩy ra trường hợp tương tự, không bao giờ, không bao giờ nữa. Sau đó tôi thấy Julien tỏ ra lạnh nhạt với tôi, như người ta nói. Rõ ràng là vợ anh ta đã hủy hoại tình bạn của chúng tôi và dần dà anh ta gạt tôi ra khỏi nhà; và chúng tôi đã ngưng gặp nhau.

Bây giờ hẳn bà đã biết vì sao tôi không hề lập gia đình.

—————-

(1) Joseph: Theo Cựu ước (sách Sáng thế ký) Joseph là một tên nô lệ được người Ishmaelite cho Potiphar, chỉ huy trưởng thị vệ của Pharaoh, Thấy Joseph siêng năng và có tài quán xuyến, Potiphar đặt chàng làm người quản lý nhà cửa và tài sản của ông. Vợ Potiphar thấy Joseph đẹp trai nên ưa thích và tìm đủ cách chinh phục trái tim của Joseph nhưng chàng cương quyết khước từ.


THÂN TRỌNG THỦY
" La bûche "
Guy De Maupassant
26 janvier 1882__._,_.___

Chia Đường Tử Quy - Đỗ Công Luận

Friday, July 31, 2026

Lẩm Cẩm Tuổi Già

 

Thật buồn khi về già! ..... Tôi bước ra khỏi siêu thị và tìm chìa khóa xe. Nó không có trong túi của tôi. Tôi vào trong lục tung cà chua khoai tây tất cả các kệ hàng mà chẳng thấy gì. Đột nhiên tôi nhận ra có thể tôi đã để nó trong xe và nó có thể đã bị đánh cắp.


Tôi chạy ra bãi đậu xe và XE ĐÃ MẤT! Tôi đã gọi cho cảnh sát và cho họ vị trí của tôi, mô tả xe, biển số,... , vân vân... , và tôi thú nhận rằng tôi đã để quên chìa khóa bên trong. 

Sau đó tôi đã đưa ra một cuộc gọi khó khăn nhất... gọi vợ tôi. Em yêu.... (Giọng rung rung) Anh để quên chìa khóa trong xe và nó đã bị đánh cắp! 

 

Đã có một khoảng lặng dài...

Sau đó cô ấy hét lên: Em chở anh và đưa anh đi siêu thị trước khi đi làm tóc! Đồ ngốc! 

 

Không xấu hổ nhưng hạnh phúc, tôi nói: Thật ngọt ngào! Vậy em có đến đón anh không?

 

Cô ấy lại hét lên, em không thể, đồ ngốc! Em đang ở đồn cảnh sát và em phải thuyết phục họ rằng em không ăn cắp chiếc xe!


CANG HUỲNH lược dịch từ Le canard Enchainé 

Một Nén Hương Lòng Dành Cho Ngày 27/7 - Nguyễn Doãn Đôn


TÔI CẢM ƠN ANH, MỘT CỰU CHIẾN BINH CỘNG SẢN. ANH ĐÃ HIỂU RÕ BẢN CHẤT CUỘC CHIẾN HAI MIỀN NAM BẮC . *Kiến Thiết Gia*

Từ trang Facebook anh Nguyễn Doãn Đôn - người cựu chiến binh cộng sản đã viết bài công khai xin lỗi đồng bào miền Nam.

MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG DÀNH CHO NGÀY 27.07

Tưởng nhớ đến các Anh hùng, Liệt sỹ của Dân tộc là đúng, nhưng phải trong một tâm thế thương đau, chứ không nên theo Tuyên giáo của đảng CS dẫn dắt để tự cao, tự đại, tự hào và cho là cuộc chiến "thắng hai Đế quốc to là Pháp và Mỹ" do đảng lãnh đạo là đúng đắn.

Thắp nén hương để tưởng nhớ tới người đã khuất trong cuộc chiến sai lầm không cần thiết để xảy ra, do Chính phủ và Nguyên thủ không chính danh ích kỷ, hám danh dẫn dắt, thì chúng ta cần phải có tư duy sáng láng và sự hiểu biết nhất định.

Nén hương được thắp lên đó phải thấm đượm một tình yêu bao la, mang tính nhân bản và nhân văn sâu sắc.

Hãy thể hiện từ tâm can mình bằng sự nuối tiếc và chia sẻ thương đau và mất mát to lớn hơn là sự mỉm cười, tự hào một cách hão huyền với những chiến công "hiển hách, rực rỡ, huy hoàng". Mà người ta gọi là "ăn mày dĩ vãng"...

Đáng buồn là nhiều nhà Chùa và các Hội đoàn trong nước và ngoài nước đã biến ngày 27.07 này thành ngày vui chơi và kinh doanh. Một số nơi thì tổ chức ca hát diễn kịch vui đến nổ trời với những chủ để đầy máu lửa và kích động bạo lực, nhằm ca ngợi cuộc chiến do đảng và bác quang vinh lãnh đạo thành công trong quá khứ.

Bản thân tôi đã từng là người lính vượt Trường Sơn vào Nam tham chiến cho đến tận ngày Sài Gòn thất thủ. Được sống, trở lại Miền Bắc và được tuyên dương, được kết nạp vào Đảng lao động VN (Đảng CS VN bây giờ). Ngày đó vào Đảng rất khó, không dễ như bây giờ...

Nhưng tôi không tự hào, vì tôi thấy con đường của tôi và đồng đội của tôi đi là sai. Cũng may cho tôi là tôi đã sống để được trở về. Chứ ngày đó tôi chết trong trận đánh Đồng Xoài, ngầm Sông Bé thì tôi cũng sẽ như đồng đội của tôi nằm lại đó mà đinh ninh tưởng rằng cuộc chiến này chúng tôi theo đảng và bác hô hào là đúng; là yêu nước, thương Dân. Và là Chính nghĩa.

Ngày đó chúng tôi đã hăng hái, hăm hở và vô tư đến quên mình. Nên rất sẵn sàng tin theo mấy vần thơ Chế Lan Viên viết để lên đường:

"Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi con sông

Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng"

(Trích trong bài "Sao chiến thắng")

Thực tế hiện nay đã chứng minh cho tôi biết một cách rõ ràng rằng: Sự hy sinh cống hiến của đàn anh và của Thế hệ tôi đã uổng công, vô ích, vì sai lầm nghiêm trọng về bản chất.

Vâng, thưa Bạn Đọc kính quý, đáng tiếc tôi bắt buộc phải LẬT SỬ để rồi ân hận, phải cúi đầu xin lỗi Đồng bào Miền Nam.

Chúng tôi thắng họ để họ từ người được tự do sung sướng văn minh trở thành kẻ nghèo hèn và rừng rú như ngoài Bắc chúng ta.

Và kết quả đó được đảng và bác định nghĩa là "giải phóng"!

Cuộc chiến mà tôi tham gia cùng với bao Thế hệ để viết "bài thơ trên báng súng" đó là một cuộc chiến phi nghĩa, chứ không phải chính nghĩa như đảng và bác đã cố ý nhập nhèm, đánh lộn con đen!

Chúng tôi đã u minh bị ăn phải bả tuyên truyền, nên một lòng tin theo phe CS độc tài tàn ác và rừng rú để đi xâm lược đánh lại phe Dân chủ văn minh. Thời đó chúng tôi không phải là đoàn quân phơi phới "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" mà là lũ khỉ rừng đói khát đi giải phóng ngược. Chúng tôi hệt như đội quân Nga sang xâm lược Ukraine bây giờ.

Thế hệ chúng tôi thật không ngờ rằng, sự cống hiến và hy sinh to lớn ấy lại nhắm sai mục đích. Làm cho Dân tộc chúng ta càng thêm bi đát hơn!

Thế hệ đàn anh và Thế hệ chúng tôi ngày đó đáng tiếc đã tin vào Ba Đình và ông Hồ kêu gọi trích máu viết quyết tâm thư, gác bút nghiên, vác súng hồ hởi lên đường. Tưởng đó là yêu nước, yêu Tổ quốc và yêu Đồng bào.

Nhưng thực ra chúng tôi đã hại Dân, hại Dân tộc.

Sau này mới nhận ra là chúng tôi chiến đấu hy sinh là chẳng qua vì đảng mà thôi. Đúng như Nguyễn Văn Linh tổng Bí thư nói:

"Thà mất nước còn hơn mất Đảng"

Hay như Lê Duẩn từng thổ lộ:

"Chúng ta đánh Mỹ là chúng ta đánh cho Trung Quốc và Liên Xô."

Đúng như Nhà thơ Bùi Minh Quốc viết:

"Cả cuộc đời ta hy sinh cuồng nhiệt

Lại dựng nên chính cỗ máy này"

Hay Nguyễn Duy chia sẻ:

"Rút cho cùng trong các cuộc Chiến tranh

Bên nào thắng thì Nhân dân đều bại"

Theo tôi thì ngày 27 tháng 7 là ngày để chúng ta buồn và thương nhớ tới những Liệt sỹ đã ra đi. Chứ không nên biến thành như ngày hội, ngày ghi công, ngày thể hiện cái tôi nhỏ mọn của mỗi người.

Tôi đã nhiều lần tự hỏi tôi rằng, tôi từng là đảng viên, là người lính Trường Sơn năm xưa, ở đó tôi đã chiến đấu vì ai? Để rồi sau này nhận ra tôi đứng trước đoàn người Miền Nam họ tưởng nhớ đến "Ngày quốc hận", mình tôi cô đơn, trống trải nghe họ hô vang nơi trời Âu "Đả đảo CS VN"-Họ đang đả đảo chính tôi; Mà lạy Chúa, tôi đã can đảm đứng lên nhận ra mình sai, để thốt lên lời xin lỗi muộn màng...


Thủ đô Berlin, 27.07.2026

Nguyễn Doãn Đôn

Video Hình Ảnh Trận Hỏa Hoạn Tàn Khốc Ở Tỉnh Gironde Và Quận Cap-Ferret, Nước Pháp - Nguyễn Duy Phước

Nước Pháp dạo này không những bị những cơn nắng nóng cực độ mà còn bị hỏa hoạn nhiều nơi đã tiêu huỷ gần 45 000 ha rừng rậm, trầm trọng nhất là ở tỉnh Gironde và quận Cap-Ferret nằm cạnh thành phố Arcacgon mà tôi thường viếng thăm.

Mời xem video về những hình ảnh của  thành phố Arcachon và quận Cap-Ferret bị những cơn lửa tàn phá: 

NdP

Đi Nhận Xác Thầy - BS Tôn Thất Sang



 Kính dâng hương hồn các vị Giáo Sư Đức Quốc:

Giáo Sư Gunther Krainick và Phu Nhân:

- Thạc sĩ Y Khoa Đại Học Greifswald 1943

- Thạc sĩ Y Khoa Đại Học Freiburg    1951

- Giáo Sư Nhi Khoa Đại Học Freiburg 1954

- Giáo Sư Nhi Khoa Đại Học Y Khoa Huế


Giáo Sư Raymund Discher:

- Giáo Sư Bệnh Lý Nội Thương Đại Học Y Khoa Huế

- Trưởng Khu Bệnh Lý Nội Thương Đại Học Y Khoa Huế


Bác Sĩ Alterkoster:

- Phụ Tá Giáo Sư Bệnh Lý Nội Thương

- Bác Sĩ thường trú khu Truyền Nhiểm

 ...là những vị đã đóng góp công lao và tâm trí rất nhiều vào việc khai sáng Đại Học Y Khoa Huế...


Những vị, với lương tâm chức nghiệp cao quí và lòng vị tha vô bờ đối với bệnh nhân, đã mãi là gương sáng của chúng tôi.

Những vị đã bỏ mình nơi quê người vì tâm hồn bác ái và tình nhân loại (Tết Mậu Thân 1968)


Lần giở những trang trân trọng đầu tiên của cuốn luận án Y Khoa; nhìn tên, tước vị của các Giáo Sư người Đức, bỗng nhiên tôi thấy lòng bồi hồi dâng lên niềm đau xót vô vàn với những tiếc nuối khôn nguôi. Những thương yêu, kính mến, với biết bao kỷ niệm và lòng tri ân với các vị; đã vì thiện tâm, chấp nhận hy sinh, xa gia đình, xa bạn bè, xa tổ quốc thân yêu, để đem sở học và nguyện ước của mình, đi truyền rao để khai hóa tận một xứ sở kém mở mang, xa xôi hẻo lánh, đầy dẫy hiểm nguy, ở tận bên kia bờ Đại Dương. Ước nguyện của quí vị thật dễ thương và hiền hòa là làm sao tạo dựng những bác sĩ Y Khoa tài năng, để đem sở học phục vụ bệnh nhân, phục vụ con người, phục vụ Y đạo ở ngay xứ sở họ.


Thế nhưng, những hy sinh cao quí, từ những con người nhân ái đó, đã bị trả một giá quá đắt -  bằng chính mạng sống của họ -  bởi những tên cộng phỉ xâm lược man rợ đầy thú tính từ phương bắc; đã lạnh lùng và tàn nhẫn ra lệnh thủ tiêu họ, không một chút tiếc thương, trong biến động do chính bọn chúng gây ra, trong lần bọn xâm lược này tấn công xâm chiếm cố đô Huế; trong dịp Tết Mậu Thân 1968.


Hạ tuần tháng 4, năm 1968.

Khoảng gần hai tháng, sau Tết Mậu Thân, cố đô Huế đã được Quân Đội VNCH tái chiếm (25 tháng 2 – 1968 dựng lại cờ tại kỳ đài chính của cố đô Huế)

Huế, sau những ngày bị bọn quỉ đỏ tràn ngập, đã nhuộm máu đào tang thương và đẫm nước mắt khóc than!

Không có phường nào, xã nào, không có xóm nào, không có gia đình nào, là không có người thân ngã gục, cha xa con, vợ mất chồng hoặc bằng viên đạn, hoặc bằng con dao, hoặc bằng cán cuốc...Có hàng loạt ngưòi bị chôn sống, sau khi bị cột thành từng “xâu người”, nối kết lại bằng dây dừa, dây điện thoại...

- Nào Phú Thứ oán khí ngất trời, với tiếng khóc và màu tang phủ trắng cánh đồng! 

- Nào chùa Áo Vàng (Tăng Quang Tự), nào lăng Tự Đức. 

- Nào Trung Học Gia Hội, với hầm chôn tập thể, nơi mà trường học biến thành lò sát sinh, nơi mà bọn súc sinh “phản sư diệt tổ” Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm, Tống Hoàng Nguyên, Hoàng Lan, Nguyễn Thiết, Nguyễn Bé, Nguyễn Hữu Vấn, Trần Văn Linh, Lê Văn Hảo (Chủ Tịch của “cái- gọi- là” Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình tại Huế), Thích Đôn Hậu, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu …..


Tất cả những tên ác thú này đã chứng tỏ bản chất khát máu, man rợ, đê hèn, tiểu nhân của bọn cộng phỉ để chôn sống hàng loạt con người bằng xương bằng thịt với nỗi đau kinh khiếp, rợn người mà oán khí chất ngất của họ chắc chắn sẽ đời đời theo níu chân bọn chúng và gia đình mà đòi món nợ xưong máu ngút trời này!

- Nào Khe Đá Mài, Bãi Dâu, Tây Lộc..., mà mỗi địa danh là một chứng tích không thể chối cãi về những tội ác man rợ, kinh khiếp đến rợn người, gây ra bởi loài quỉ đỏ cộng phỉ uống máu người không biết tanh!!

Huế tang thương lầy lội

Huế rách như xơ mướp!

Huế tiêu điều với tường xiêu, mái đổ

Huế với thép gai giăng mắc

Huế như mặt kẻ bị đậu mùa!!

Huế với B40, với AK47, với CKC báng đỏ,

Huế đầy nước mắt với khăn tang,

Máu đỏ tanh hôi chảy ngập đàng,

Hoa cúc, mai vàng sau chẳng thấy?

Chỉ còn hoang lạnh với ly tan?!!

Các nạn nhân vô tội đã bị bọn sát nhân khát máu mang ra sau chùa bắn theo kiểu hành quyết KGB với một viên đạn vào đầu. Thiếu Tá Từ Tôn Khoáng thì bị bọn chúng ra lệnh bắn nát thây với hơn 200 viên đạn vào người!

Sở dĩ tìm được các xác chết tại khe Đá Mài là do oan hồn của một thanh nữ Phật Tử bị bọn ác thú việt cộng thủ tiêu để diệt khẩu, đã chết oan uổng, tức tưởi, nên đã hiển linh về báo mộng cho mẹ đi tìm xác và đưa đẩy bà mẹ này đến khe Đá Mài. 

Trong cái cảnh hỗn mang ấy, tôi đi giữa kinh thành Huế tang thương, đổ vỡ, lạc lõng, bơ vơ, không định hướng như bị mộng du. Tôi đi mà lòng ngậm ngùi thương tiếc như lạc mất người yêu xưa! Tôi đi, nhìn, nghe, phân vân, bồng bềnh như đang sống trong một cơn ác mộng khủng khiếp!


Bỗng tôi hoảng hồn vì tiếng Vespa rít lên bên cạnh, đồng thời với cái vỗ vai làm tôi giật bắn người:

- Đã biết tin gì chưa?

Tôi định thần nhìn lại, thì ra Đặng Ngọc Hồ, tôi hỏi.

- Tin gì mà có vẻ gấp rút thế?

- Tìm thấy xác của các thầy Krainick, Discher, Alterkoster và cả xác bà Krainick nữa!

- Trời ơi, có chắc không, ở đâu?

- Nghe đâu gần chuà Tường Vân, phía trên giốc Nam Giao. Rồi Hồ nói luôn:

- Ban đầu dân họ tưởng người Mỹ, họ báo với tiểu khu. Tiểu khu liên lạc với Lãnh Sự Mỹ, thì được biết phía Mỹ tuy có thiệt hại khá nhiều, nhưng không có mất tích. Sau liên lạc với viện Đại Học mình và với Lãnh Sự Quán Tây Đức thì biết Đức bị mất tích 4 công dân: 3 nam và 1 nữ. Bây giờ thì hoàn toàn trùng khớp.

Tôi chưa kịp đình thần, thì trong tiếng còi inh ỏi, đã trông thấy Bùi Hữu Út xuất hiện như một cơn lốc trên chiếc xe gắn máy, lạng và thắng nhanh như chớp! Tôi và Hồ vừa vội vàng nhảy tránh cú lạng vừa nói cho Út biết... Đằng xa lại thấy Lê Đình Thiềng, chở Nguyễn Quang trờ tới... 

Bọn tôi, vội vàng làm cuộc họp “bỏ túi” trên lề đường Trần Hưng Đạo, gần Chi Thông Tin ở chân múi cầu Trường Tiền, bay giờ đã gãy một nhịp do đạn pháo kích của bọn cộng phỉ xâm lược từ phương bắc – vết ô nhục do đoàn cán binh cộng phỉ bắc việt để lại, khắc một vết nhơ sâu đậm trong lòng người dân xứ Huế có lẽ đến muôn đời sau.

Khi đó vào khoảng mười giờ sáng, cái lạnh của những ngày đầu Xuân len lén như dao cắt vào da thịt, lại thêm cái nắng quái của ngày Xuân, sao hôm nay lại khác thường, nó nhợt nhạt, vàng vàng, tai tái như da của một xác chết. Nó như bàng bạc mùi tử khí của một thành phố đang ung mủ, đã có lắm người chết oan khiên uất hận; chúng tôi chợt nghĩ đến các thầy và thương quá là thương.

Tôi đề nghị anh Hồ qua tiểu khu hỏi lại tình hình an ninh vùng đó đã ổn chưa, rồi sau đó, chúng tôi lên xe, chở nhau, nhắm vùng Nam Giao trực chỉ.


Một hồi sau, Tiểu Khu cho một tiểu đội, trên chiếc xe Dodge, với vũ khí đầy đủ đi mở đường, nhắm hướng vùng chùa Tường Vân. Anh Thiếu Úy bảo bọn tôi ngồi chờ ở ngã ba đường Nam Giao, ngã rẽ vào chùa Tưòng Vân để chờ họ báo tin. Khoảng nửa giờ sau, viên sĩ quan trở lại bảo tình hình an ninh an toàn, ụ không có mìn bẫy và hiện tiểu đội ông vẫn bám sát địa hình. 

Đột nhiên ông buồn bã, ngậm ngùi nói:

- Quân tôi, cùng một số dân trong xóm, đang đào đất, thấy nhô lên bốn cái đầu tóc, trong đó có một đầu tóc màu bạch kim. Thật tội nghiệp quá! 

Bọn tôi nhìn nhau thở dài:

- Chắc là thầy Discher rồi!

Mái tóc màu bạch kim, hơi dợn sóng của người thầy tài ba thưong mến học trò, xem học trò như con, không ngừng ám ảnh tâm hồn chúng tôi đến xót xa.

Bọn tôi cám ơn viên Sĩ Quan và tất cả lên xe, nhắm hướng chùa Tường Vân trực chỉ. 

Chùa Tưòng Vân nằm về hưóng tây nam núi Ngự Bình (hưóng Nam Giao, từ phố đi lên), đi quá chùa Sư Nữ một quãng xa thì rẽ phải, con đường mòn đất đỏ, thoai thoải dốc với nhiều ổ gà và nhiều bụi rậm.


Ngôi chùa với mái rêu phong, cỗ kính, chung quanh sân rộng là những ngọn trúc la đà. Ở giữa là ngọn giả sơn Ngư Tiều Canh Độc. Xa xa, về phía dưói ruộng là hàng tre bao phủ, xanh ngắt một màu, xen kẽ mấy cây lồ ô, thân vàng có sọc xanh, dịu dàng lay động trứoc gió. Cảnh chùa tuy đẹp, nhưng bọn tôi không còn lòng dạ nào thưởng ngoạn khung cảnh nên thơ!

Vừa xuống xe tại sân chùa, đã nghe tiếng cuốc xẻng và thấy vài người dân địa phưong tụm năm tụm ba, cùng một vài anh em quân nhân đang xúm xít đào bới tận bờ hào tre, cách sân chùa khoảng 200 mét. Bọn tôi vội vàng chạy lại:

  - Tội quá các anh ôi, 3 ông, 1 bà. Tất cả đều bị bắn giống nhau. Tụi việt cộng thật quá dã man, tán ác! Tiếng một quân nhân phát biểu.

“... Trong chiếc hầm chật hẹp đó, 4 ngưòi ngoại quốc đều bị trói thúc ké, hai tay bị bẻ quặt ra sau lưng, bị siết chặt bằng giây điện thoại truyền tin...”

Tôi vội vàng nhìn theo tay anh chỉ, thấy ba quân nhân đang cùng một vài ngưòi dân, tay cuốc, tay xẻng, nhẹ nhàng xúc đất và cát lên từ một chiếc hầm đào vội; bề dài khoảng 3.0m, bề ngang khoảng 1.0m và bề cao khoảng 1.0m, vừa đủ cho thế quì thẳng đứng của một ngưòi ngoại quốc! Trong chiếc hầm chật hẹp đó, 4 ngưòi ngoại quốc đều bị trói thúc ké, hai tay bị bẻ quặt ra sau lưng, bị siết chặt bằng giây điện thoại truyền tin.

Nhìn mặt họ đều bị biến dạng thê thảm. Thái dưong trái là lỗ đạn vào, thái dưong phải là lỗ đạn ra, nên bị phá ra toang hoát; mắt lồi hẳn ra ngoài! Đưòng đi ngọt xớt của viên dạn do chính kẻ luôn luôn miệng trơ trẽn và lố bịch rêu rao lấy lưọng khoan hồng và nhân đạo làm nền tảng để xử thế, đã làm méo mó, biến dạng những khuôn mặt hiền hoà của các vị thầy chúng ta.


Các Thầy đã “được giải phóng” bởi những tên tay sai man rợ ác ôn của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của bọn Bắc Bộ Phủ dựng nên! Chúng đã đang tâm đi “giải phóng” những con ngưòi chỉ biết đem tình thương và lòng nhân ái ra cứu chữa cho mọi ngưòi bệnh tật, nghèo đói..

Sau đó, chúng tôi cùng nhau, ngươi một tay phụ giúp anh em chuyển xác quí thầy lên xe của tiểu khu và đưa vào nhà xác của Bệnh Viện Trung Ương Huế.


Cả thành phố Huế xôn xao, cả bệnh viện xôn xao! Nhiều ngưòi đã khóc nức nở. Có nhiều tiếng khóc thầm lặng ở khu nội thưong, phòng cấp cứu, khu truyền nhiểm, khu nhi đồng….. 

  - Ôi, còn đâu nữa vị Bác Sĩ trưỏng đoàn, luống tuổi, hồn nhiên, thưong yêu sinh viên, đã luôn luôn tận tụy trong bài giảng, trong lâm sàn, suốt đêm ngày khám bệnh ở khu Nhi Đồng. Thân mật với sinh viên, vui đùa, xem như con; chúng tôi thưòng gọi ông là Bon Papa.

Có lần, trong khi chuông reo, chờ giáo sư đổi giờ vào giảng, chúng tôi thuờng nghịch ngợm “câu giờ”; mặc dầu chuông reo, nhưng chưa chịu vào lớp. Tôi cùng Lê văn Mộ, Trần Xuân Thắng, Hoàng Thế Định…đứng cheo leo trên mép thành cửa sổ lầu hai, nói chuyện phiếm. Ông đi lại nhắc nhở:

- C’est l’heure! 

Chúng tôi giả bộ không nghe, ông vội trờ tới, nheo mắt, lo lắng mĩm cưòi nói:

  - N’avez vous pas peur de tomber du ciel?

Tôi làm bộ sắp rơi từ cửa sổ đáp:

  - Si, mais je veux voler dans le ciel plein de beaux nuages, mon bon papa. 

Ông vội vàng chạy lại, hai tay nhẹ nhàng nhất bỗng tôi lên, đặt xuống sàn nhà, hào hển nói:

- Oh, Il faut faire attention, mon pauvre enfant!

Bọn chúng tôi cười sảng khoái vì câu đựoc giờ, ù chạy vào phòng học. Bon Papa mệt nhọc theo sau!


Còn đâu những kỷ niệm êm đềm bên ngưòi Thầy yêu quí, ngưòi đã đem hết cuộc đời tận tuỵ để phụng sự khoa học. Lẽ ra Thầy phải về nước dưõng bệnh một thời gian, sau khi bị cơn bệnh “Japanese Encephalitis” vật vã một thời, tưỏng như gần “đi đứt”. Tuy nhien ông đã ở lại vào dịp Tết Mậu Thân nghiệt ngả và bọn quỉ đỏ đã bắt Thầy cùng vị phu nhân can đảm, yêu thưong chồng, xin được đi theo để chăm sóc chồng cho đến ngày cuối cuộc đời thì Bà cũng bị xử bắn luôn!

Xin vĩnh biệt thầy cùng phu nhân.

Nguyện cầu Thầy cùng phu nhân thanh bình trong cõi vĩnh hằng, ở nơi không còn hận thù, ở nơi mà bọn quỉ đỏ phải lánh xa.

  - Ôi, còn đâu nữa, Bác Sĩ Raymund Discher -  ngưòi BS trẻ tuổi, điềm đạm và trầm tĩnh, vui tính và nhân hậu nhưng nghiêm khắc, ngày đêm ở khu truyền nhiễm, với tương lai đang rực sáng, Nhớ lại những “Family Party” thầy và cô thỉnh thoảng mở ra, mời sinh viên một vài lớp đến dự trong căn apartment nhỏ ấm cúng, bên bờ sông Bến Ngự. Thầy và cô hạnh phúc bên nhau như đôi vợ chồng mới cưói, thức ăn nhẹ, ruợu chát đỏ, vừa chuyện trò với đám sinh viên và nghe những tấu khúc bất hủ của Mozart trong không gian của buổi chiều đang tắt nắng, chỉ còn lại ánh đèn vàng của gian phòng ấm cúng.. Hạnh phúc của thầy cô bình yên và miên viễn đến chừng nào.

  Tuy nhiên định mệnh năm Mậu Thân đã khắc nghiệt cướp đi mạng sống của người chồng tài hoa. Thầy vừa mới đưa vợ về nước, và đáng lẽ thầy còn được nghỉ, mọi ngưòi đều khuyên nên ở lại, nói tình hình ngoài Huế không an ninh, nhưng thầy lại tìm đủ mọi cách ra Huế để giảng dạy sinh viên cho kịp thời khoá biểu riêng mà thầy đã lập sẵn!

Bọn quỉ đỏ đã nhẫn tâm hành quyết thầy bằng viên đạn xuyên thái dương đầy thù hận! 

Nguyện cầu linh hồn Bác Sĩ Raymund Discher sẽ mãi mãi bình yên ở chốn vĩnh hằng.

- Ôi, còn đâu nữa Bác Sĩ Alterkoster, ngưòi Bác Sỉ trẻ tuổi, đẹp trai, tận tâm ở khu truyền nhiễm. Alterkoster với bộ râu quai nón đầy vẻ giang hồ của một tay hải tặc khí phách “Le Viking”, đôi mắt xanh biếc ánh lên nét thông minh và nhân từ; nhìn chung rất lôi cuốn và nhất định phải là một “good guy”. Alterkoster rất thân mật và hoà đồng với sinh viên, ông thưòng rũ sinh viên lên Kim Long, Thiên Mụ ăn chè, ăn bánh bèo.. Tướng ông rất tốt, xem qua không thể chết yểu được, ngờ đâu lại bại dưới tay “sát thủ” của đảng và bác!


Tối hôm đó, chúng tôi, hầu như tất cả các sinh viên Y khoa còn tại Huế, đều tề tựu đến bệnh viện trung ưong. Từ Đại Học Xá Nam Giao, trung tâm Xavier, trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, Cán Sự Y Tế... các bạn ở mọi nơi trong thành phố, lần lượt biết tin, tập trung tại phòng trực bệnh viện để phân chia công việc và trực xác quí thầy, đang tạm quàng tại nhà xác bệnh viện. 

Mờ sáng hôm sau, quan tài quí thầy được đưa lên quàn tại Toà Viện Trưỏng Viện Đại Học Huế.

Sinh viên Y khoa chúng tôi, quần sẩm, áo chemise trắng dài tay, cravat đen; nghiêm trang vòng tay đứng thành hai hàng, trực bên quan tài quí thầy. Những tràng hoa phúng điếu rải rác của các Toà Lãnh Sự, các Trưòng, các Hội Đoàn, Đoàn Thể, các Phân Khoa bạn... 

Không khí lắng đọng, cảm xúc và trang nghiêm. Mắt mọi ngưòi đều rưng rưng, tiếng máy quay phim đều đều, âm thanh trầm buồn như lời nguyện cầu. Đột nhiên, có tiếng thổn thức ở phía cửa chính, mọi ngưòi xôn xao nhìn ra; nhiều ống kính hưóng theo, ánh sáng máy ảnh lập loè: Một thiếu nữ, trong bộ đồ đen tuyền, khăn tang trắng bịt ngang đầu, nức nở lão đảo tiến vào; hai tay ôm chặc vòng hoa tím – Couronne Mortuaire – kết cườm đen có đính dãi băng màu tím với giòng chữ trắng “To You With All My Sacred And Humble Love” Đức Tổng Giám Mục lặng lẽ nhìn, nét mặt ngài dịu đi. Mọi ngưòi xúc động bàng hoàng cùng với nhiều tiếng nức nở. Ai đây? Ngưòi thiếu nữ nhẹ đặt vòng hoa trước linh cữu của BS. Alterkoster rồi phủ phục xuống, ôm quan tài khóc nức nở!


Mắt tôi mờ đi, cảm xúc đến lặng ngưòi; nhìn người thiếu nữ, không còn trẻ lắm, với nét thuỳ mị, đoan trang và kín đáo, kín đáo như trong tình yêu thiêng liêng của chị, thắm thiết và buồn như màu tím của vành Couronne mortuaire. Những giọt nước mắt xót thương chị đang gởi cho ngưòi mình yêu vừa ngã gục trên mãnh đất của quê hương nầy. Máu đào của anh, vô tình đã tô thắm lên quê hưong Việt Nam mến yêu của chị!

Tình yêu của hai người kín đáo và thầm lặng như giòng sông xứ Huế, rất ít người được biết.


Ở đây, tôi xin phép chị Thảo – vâng, người ấy chính là chị – cho tôi viết ra điều; phải chăng đó là những kỹ niệm cao quí nhất và thiêng liêng nhất của cả cuộc đời chị; mà tôi tin rằng, nếu mọi người biết đến, cũng sẽ làm tâm hồn họ thăng hoa, bâng khuâng và xúc động, như khi họ khám phá ra một khu vườn hoa đầy hương sắc, kỳ bí, mong manh, dễ vở. Họ sẽ ngạc nhiên thích thú và trân trọng giữ gìn...

(Chị là chuyên viên phòng thí nghiệm trường Y, nhưng chị thường lên thư viện để tìm sách đọc nghiên cứu, và trò chuyện cùng chị Hưòng nên nhiều người cứ tưởng chị là quản thủ thư viện -  là chị Hường).


Sáng hôm sau, hai chiếc máy bay màu trắng bạc “Air America” đưa bốn quan tài vào phi trường Tân Sơn Nhứt. Ở đó, ngoài phái đoàn Đại Học Y Khoa Huế, còn có phái đoàn của sinh viên Đại Học Y Khoa Saigon chờ đón với vòng hoa phân ưu và biểu ngữ lên án bọn quỉ đỏ khát máu xâm lược từ phương bắc đã ra tay thảm sát một cách hèn hạ và man rợ những người làm công việc y tế, chỉ biết phụng sự khoa học và phụng sự nhân loại.

(**) Linh cữu của bốn vị được đưa ra phi cơ về cố quốc trên chiếc xe có bốn ngựa kéo, theo sau là 250 sinh viên Y Khoa Huế và Saigon, đội đưa tang và đội quân danh dự của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Sinh viên cầm biểu ngữ nói lên lòng biết ơn công lao của quí vị...


Một biểu ngữ ghi “Đại Học Huế không quên các giáo sư người Đức”. Trước khi linh cữu được đưa lên máy bay, nghi lễ tiễn biệt diễn ra thật cảm động. Ông Trân, Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục và Kỹ Thuật phát biểu: “Bao nhiêu năm, tôi đã từng tham dự nhiều buổi lễ ghi nhớ các anh hùng hy sinh cho tổ quốc, nhưng chưa bao giờ cảm động như hôm nay, khi tiễn biệt những người Bác Sĩ dân sự này đã chết cho lý tưởng cao cả vì tha nhân và nhân loại.”

(**) Trích “Cái chết của Bác Sĩ Krainick” của Elje Vannema, trang 98 – 99 (Cuốn Thảm sát Mậu Thân ở Huế)


Máy bay rời phi đạo, cất cánh lên cao dần và mất hút, mọi người vẫy tay tiễn biệt lần cuối, ánh mắt đỏ hoe, mờ lệ...

Vĩnh biệt từ nay bóng dáng thầy

Tình sư nghĩa phụ sáng trời mây

Thương người viễn xứ thân tan nát

Lưu lại danh thơm với tháng ngày!

 

Tôn Thất Sang