Friday, April 10, 2026

Tự Hào Dân Tộc - Phan Văn Hưng - Đinh Tuấn


Nhớ lúc Hà Nội mới bắt đầu đổi mới sau 15 năm tình cũ với xã hội chủ nghĩa, ngăn sông cấm chợ. Có một tên Việt kiều ở Bolsa về Việt Nam kiếm cách đầu tư làm tiền. Hắn đem theo một thằng mỹ, thợ sửa ống nước, in danh thiếp là chủ tịch, còn hắn là phó chủ tịch. Hắn kể với mình, phải đem theo một thằng mỹ dù là loại ngu lâu nhưng người Việt rất nễ nang, dễ làm việc vì người Việt rất quý, ngại đám tây mũi lỏ còn người Việt hải ngoại thì chúng khinh như chó.

Trong tập hồi ký của ông BT, có kể khi Mao Trạch Đông cho các cố vấn sang Việt Nam, giúp Hà Nội thực hiện Cải Cách Ruộng Đất, giết bao nhiêu người vô tội. Ông kể mấy cố vấn ngồi gát chân lên bàn, khạc nhổ tùm lum trong khi các lãnh đạo Hà Nội của phong trào này, ngồi như học trò, một thưa Triết cố vấn, hai thưa Tổng cố vấn... Ngược lại đối với dân an nam thì chúng chửi rũa, đem bắn không nương tay. Đọc sách Hà Nội, thấy họ thần thánh hoá Mao Chủ tịch vĩ đại, Lê Nin vĩ đại, Hegel vĩ đại,..., nhưng không thấy dùng "hcm vĩ đại".

Đọc báo Hà Nội, khi nào có tin gì hay ở Sàigòn thì họ dùng cụm từ "thành phố HCM" để khen tặng như đội bóng của "thành phố HCM" đã thắng vô địch,... Nhưng ngược lại những tin tức tiêu cực thì họ lại dùng từ "Sàigòn" như chiều nay công an đã bắt bao nhiêu trộm cướp, đĩ điếm tại "Sàigòn".

Mình đọc báo tàu thì thấy có nhiều người mỹ gốc tàu muốn dạy anh ngữ tại Trung Quốc thì bị chê không nhận hoặc được trả lương thấp hơn mấy ông tây, ông mỹ mặc dù mấy người này có khả năng dạy anh ngữ cho người Mỹ chính gốc tại Hoa Kỳ, trong khi người Mỹ thì chưa chắc đã có trình độ tương xứng. Mình đoán chắc cũng tương tự ở Việt Nam.
Nghe kể mấy ông Việt kiều về Việt Nam xổ tiếng tây, tiếng Anh rùm trời nhưng khi ngồi với nhau thì nói tiếng việt ra nước mắm thì không hiểu, đến khi mình về Việt Nam thì mới giác ngộ. Vào khách sạn mình đến lễ tân hỏi bằng tiếng Việt thì chúng bắt mình chờ, nhiều khi không thèm nhìn nhưng ngoại quốc vào là chúng đưa nụ cười với hàm răng vẫu ra chào từ khi mới bước vào cửa.

Khi mình hỏi bằng tiếng Anh thì cha con chúng xúm lại, nụ cười tươi như hoa, lòi hàm răng vẫu, một hai Yes Sir, tanh kiu ve ri mút. Sáng ra ăn sáng mà xổ tiếng an nam mít là tiếp viên cho ngồi cuối phố nhưng chỉ cần Good morning là được xếp chỗ ngồi đàng hoàng, họ đến dọn ba thứ lỉnh kỉnh khi lấy thêm đồ ăn. Lần sau mình hỏi bằng tiếng tây thì có tên có ả còn bặp bẹ, rồi để chọc, mình hỏi bằng tiếng đức hay ý là cha con đứng như ngỗng ị.

Tại sao một Việt kiều về Việt Nam làm ăn phải trả tiền cho một tên thợ ống nước mũi lõ, thuộc dạng ngu lâu, đóng kịch để được Hà Nội xem là có người Mỹ làm ăn, hay Việt kiều phải nói tiếng mỹ mới được phục vụ tận tình. Không phải chỉ có người Việt khinh thường người Việt mà chính các công ty ngoại quốc cũng hiểu vấn đề này nên họ gửi nhân viên gốc Tây sang Việt Nam thay vì chuyên viên gốc Việt hay mướn chuyên gia Việt Nam rẻ hơn.
Ra hải ngoại, người Việt mình cũng đem theo tinh thần "trọng ngoại khinh nội". Có lần mình nhận được cú điện thoại của một tên Việt Nam, hỏi có phải mình vẽ và xây căn nhà số...., ở đường...., thành phố....? Mình trả lời đúng vậy. Tên này nói không ngờ có người Việt vẽ và xây đẹp như vậy rồi mướn mình vẽ nhà cho hắn. Mình vẽ và xây nhà, đa số cho khách hàng ngoại quốc nên hơi bực mình về câu nói khá lễ độ của tên mít này.

Có lẻ đó là DNA truyền kiếp của tên nô lệ da vàng gốc Việt. Một khi văn hoá của anh là nô lệ thì coi như tận cùng bằng số, nên anh xem đồng loại cũng ngu như anh thêm tinh thần Khổng giáo cho thấy chỉ có kẻ cai trị, vua chúa hay đảng là thông minh, sáng suốt còn dân bị trị như mình chỉ toàn loài ngu khu đen.

Mỗi lần đọc bài của mình, nói về người Việt làm xấu ở hải ngoại như cán bộ ăn cắp, cháu nội của cựu tổng bí thư buôn lậu bị bắt, gái Việt sang Mã Lai, Tân Gia Ba làm điếm đứng đường,..., thì có tên bạn không ưa vì chạm tự ái dân tộc của hắn. Hắn nói cứ bêu xấu Tàu còn Việt Nam thì đừng vì con sâu làm rầu nồi canh. Khi mình nói về người Việt là mình cũng là một nhân tố trong cộng đồng người Việt. Mình không muốn làm con đà điểu, rút cổ trong cát. Xấu tốt gì cũng là Việt Nam, mình đều nhận hết.
Nếu có tin người Việt làm xấu quốc thể thì muốn ém nhẹm ngược lại, nếu có tin tức ai gốc Việt mà thành công thì ai nấy cũng hồ hởi, nhắc đến như ông bộ trưởng gốc việt, được vợ chồng người đức, nhận làm con nuôi, hay người tỵ nạn làm thứ trưởng Hoa Kỳ, tác giả bộ luật Patriot.
Có đạo diễn Kim Nguyen, công dân Gia Nã Đại, phim của ông ta đạo diễn được đề cử cho giải Oscar thì người Việt ai nấy cũng hùa theo, hãnh diện như đạo diễn Trần Anh Hùng, ở Pháp. Báo chí Việt Nam thấy người sang bắt quàng làm họ, không cần tìm hiểu lí do vì sao những người ngoại quốc gốc việt phải bỏ nước ra đi, hỏi ông Kim Nguyen là trong tương lai có làm việc với Việt Nam thì ông này trả lời là Không, không có gì liên kết ông ta với Việt Nam. Lại viết báo chửi ông này mất gốc. Họ cướp tài sản, ép người ta phải tìm con đường sống, vượt biển, bị hải tặc cướp để tìm một tương lai. Nay thấy họ thành công ở nước ngoài thì kêu gọi Khúc ruột nghìn dậm, ai không theo thì chụp mũ phản động, mất gốc.

Ơ Lỗ Ma Ni có một cầu thủ gốc việt tên Florentin Pham Huy, 19 tuổi, cha gốc Việt, mẹ người Lỗ đá rất khá cho đội Bucarest. Báo chí Việt Nam nhảy vào tung hô mình cũng có cầu thủ thuộc đẳng cấp quốc tế. Họ phỏng vấn cầu thủ này thì anh này tuyên bố là không về Việt Nam đấu cho Việt Nam dù có trãi thảm đỏ. Cha anh ta là gốc việt nhưng anh ta cảm nhận có 10% việt còn 90% là Lỗ Ma Ni và hy vọng sẽ tranh tài cho Lỗ Ma Ni ở giải vô địch túc cầu thế giới.

90 triệu người mà không đào tạo được một cầu thủ với đẳng cấp quốc tế trong khi người gốc Việt ở Lỗ Ma Ni, chỉ đếm trên đầu ngón tay vì nước này đã bỏ chế độ kỳ thị của đảng cộng sản do gia đình Ceaucescu nắm giữ vài thập niên trước đây. Ngô Bảo Châu ra khỏi Việt Nam mới đoạt được giải Fields chớ ở Việt Nam thì chắc ngồi chơi xơi nước.
Người việt có cái bệnh buôn thành tích, muốn đạt đẳng cấp quốc tế nên đã không nghĩ đến thực tại của đất nước. Từng cá nhân hay nhóm đã cố nhòi người ra để chứng minh là người có đẳng cấp quốc tế. Có ông nào mua cái giường mấy triệu đô la để khẳng định đẳng cấp, nói cho thế giới biết là người Việt cũng có thể mua cái giường đắc giá.
Có bà nào mướn ca sĩ hạng siêu sao cho đám cưới, đón dâu bằng Roll Royce, tốn mấy trăm ngàn đô để rồi trốn qua mỹ ở, xù tiền nợ chưa trả cho các nông dân nuôi cá cho bà ta bán qua mỹ. Tại sao người ta có thể nhẫn tâm, khoe mẻ không trả tiền người nuôi cá giúp họ ăn sung mặc sướng.

Lí do mình viết, nêu cái xấu của người Việt để cùng nhau xem xét để tự cải thiện chức năng, đạo đức, giúp nhau hướng thiện. Mình không muốn chỉ đưa cái hay, cái tốt của người Việt còn cái xấu thì dấu như mèo dấu kít. Nếu người việt có tự hào dân tộc nhất là các cán bộ được nhà nước cử hải ngoại, phải giữ gìn danh dự, quốc thể cho Việt Nam.
Nhớ dạo ở New York, ông đại sứ Hà Nội ở Liên Hiệp Quốc đi câu cá với đám nhân viên của sứ quán, không có giấy phép, bị cảnh sát hỏi thì ông đại sứ tên B, đóng vai Chí Phèo, kêu "lô xì pít ing liềng". Đến khi cảnh sát đòi tóm về bóp thì mới rút thẻ ngoại giao ra khiến báo chí đăng tải. Tên này dạo ấy được xem là ngôi sao của đảng cộng sản Việt Nam nhưng bị cú đó nên cuộc đời chính trị của hắn tàn theo thời gian.

Thật ra cả thế kỷ trước, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Chu Trinh, Nguyễn Bá Học,..., đã nêu lên những vấn đề này, những tật hư thoái xấu của người Việt cần được thay đổi. Khi con người nhận thức vấn đề, cố gắng sửa đổi và học tập những kỷ năng mới để trở thành thói quen và thói quen sẽ thay đổi tương lai cuộc đời và dân tộc.

Người Tân Gia Ba, đa số là gốc tàu, khạc nhổ tùm lum nhưng sau khi dành độc lập, chính phủ mới của xứ này ra sức giáo dục thay đổi văn hoá từ ngàn xưa, nay đi xứ này không còn thấy khạc nhổ, xã rác,…

Nhiều người Việt, mình gặp cứ kêu là họ là người Nhật vì được người Tây Phương kính nể nhưng khi mình hỏi họ bằng tiếng Nhật thì họ ú ớ. Đọc báo có người nói là rất nhục khi ra hải ngoại với thông hành của Hà Nội vì bị xét rất kỹ, nhân viên sở di trú sở tại, xét họ như thú vật bị bệnh. Tại sao người Việt lại phủ nhận nguồn gốc của mình ở hải ngoại, không tự hào về nguồn gốc của mình.
Về Việt Nam lại nghe kể Việt kiều về nước dù mới đi có vài năm, nói tiếng việt như tây ăn mắm ruốc. Có nhiều người ngạc nhiên khi nghe mình nói tiếng việt, họ kêu răng mi còn nhớ tiếng việt. Chán mớ đời!

Nói cho đúng thì lòng yêu nước có thật nhưng nó chỉ đóng vai trò phụ trong sự chọn lựa của chúng ta. Ở âu châu, người Việt sinh đẻ tại bản xứ vì cha ông di dân sang trước thế chiến. Dù họ nay thành công, bác sĩ, kỹ sư nhưng vẫn luôn luôn mang mặc cảm con cháu của người thuộc địa. Một số không muốn nói tiếng việt hay quan hệ với người gốc việt.

Mình nhớ khi xưa, mình có tham gia xin chữ ký của người Mỹ để nhờ quốc hội mỹ can thiệp, không dẫn độ các người Việt vượt biển về Việt Nam vì Liên Hiệp Quốc chấm dứt chương trình giúp người vượt biển, định cư ở nước thứ 3 sau khi ông Lý Quang Diệu gửi thư cho Bà Thatcher, nói về Hà Nội cho người Việt ra đi để làm giàu, vớt hết tài sản của họ,....
Một số người lạy lục, kêu nếu bị dẫn độ về thì sẽ bị Việt Cộng sát hại,... Sau khi sang định cư ở nước thứ 3 thì vài năm sau, họ lại chạy về Việt Nam làm ăn, đút lót cho cán bộ mặc kệ những người thiếu may mắn còn kẹt lại trên các trại tỵ nạn. Mình có tên bạn khi xưa học chung nhưng từ ngày thấy hắn về làm ăn với Hà Nội thì mình không thích dây dưa.
Người Việt mình có một dân tộc tính khác thường đó là đặt quan hệ, trao đổi với nhau trên một căn bản giả dối. Không ai nói thật những gì mình suy nghĩ nhưng lại muốn tất cả mọi người tin mình. Những câu nói như "mời nhưng lạy trời đừng ăn", họ khen nhau nhưng trong bụng lại chửi nhau. Mấy hội đoàn cứ kêu gào đoàn kết nhưng với ý nghĩ là dưới sự lãnh đạo của tôi vì tôi là thông minh nhất, là minh chủ.

Mình nhớ đọc báo việt ở hải ngoại nghe thiên hạ chửi nhau là đồ bán nước, mất gốc,... Những người viết hồi ký thì có cảm tưởng nếu họ cầm quyền thì hệ luỵ mất nước chắc chắn sẽ không bao giờ xẩy ra. Họ mang cái bệnh vĩ cuồng. Có người nói sao mình viết tuồng ruột ra hết, không son phấn che đậy, vì mình biết mình thuộc loại ngu lâu đốt sớm nên tự nhận mình thuộc thành phần đại ngu. Ngu thì nói ngu vì mọi người đều biết nhưng không nói ra. Cả đời mình chưa bao giờ gặp một người Việt Nam nhận xét mình là không ngu cả. Đồng chí gái còn kêu mình là đại ngu thì người ngoài cũng rứa.

Người Việt không yêu nước hay có yêu thì cũng rất tương đối. Người Cộng Sản yêu chủ nghĩa của họ hơn là yêu Việt Nam. Người Công Giáo yêu đạo của họ hơn là yêu nước vì nhất Chúa nhì Cha thứ ba Ngô Tổng thống. Họ chỉ lên tiếng khi Thái Hà bị cưỡng chế. Nhóm phật tử Ấn Quang yêu quyền lợi của họ hơn là yêu nước nước hay nhóm Cao Đài, họ tranh đấu cho quyền lợi của họ hơn là cho Việt Nam... Người dân thì lo cho quyền lợi cá nhân và an toàn của gia đình họ hơn Tương lai Việt Nam. Ai chết mặc bây!

Có dạo đọc báo thì nghe thấy khán giả Việt Nam ném chai vào các cầu thủ Nhật sau khi đá thắng đội tuyển Việt Nam, trong khi khán giả, cổ động viên của đội Nhật Bản lặng lẻ rũ nhau lượm rác do cổ động viên quăn xuống đất. Việc cổ động viên ghét kẻ hơn mình là hậu quả của sự đấu tranh giai cấp điên cuồng, tự khoác lên mình chiếc áo chủ nghĩa ái quốc cực đoan. Lịch sử nhân loại gần đây cho thấy việc coi mình phải giỏi hơn kẻ khác đã dẫn đến những chủ nghĩa phát xít, đã diệt chủng biết bao triệu người. Sau 75, Hà Nội tự cho mình là giỏi, là thiên tài đã nhanh chóng biến Việt Nam thành một trong những nước nghèo đói nhất thế giới, lạc hậu.

Nhớ dạo đó nghe kể, Hà Nội cần mua bánh xe cũ để dùng cho các xe trong nước nên hỏi mua một công ty Nhật. Công ty này hỏi lý do thì họ là thiên tài nên trả lời để làm dép râu cho bộ đội khi xưa vượt Trường Sơn, để bán cho du khách. Ngừoi Nhật thì muốn bớt tốn tiền cước chuyên chỡ nên nói họ sẽ cắt dùm dép cho để khỏi tốn chỗ. Thế là Hà Nội nhận mấy tấn kiện hàng, dép cao su được Nhật Bản cắt. Chỉ biết câm như hến vì cái tính tự ái dân tộc dỗm.

Ra hải ngoại, người ta nhìn về cá nhân, làng xã của họ hơn là nhìn tầm quốc gia. Những hội thân hữu Sóc Trăng, Cà Mau, Cà Ná,..., thay phiên nhau ra đời, gặp mặt để nhảy đầm, ăn uống, quên những lời thề khi còn ở trại tỵ nạn. Có lẻ chúng ta thuộc phe bại trận nên cố gắng quên đi quá khứ đau buồn của kẻ thua cuộc. Những người thuộc thành phần Việt kiều yêu nước khi xưa, giúp Hà Nội trong cuộc chiến nay bổng lặng câm, cố quên đi một thời ngu dại mà họ từng hãnh diện.

Gần đây, cá chết hàng loạt tại bờ biển Việt Nam mới thấy một thiểu số rất ít, chợt nhận ra là quyền lợi của họ đang bị đe doạ nên bước theo lời kêu gọi của những nhà tranh đấu dân chủ tại Việt Nam. Ngay mấy chũng sinh thừa sai cũng phải lên tiếng. Khi Hà Nội cưỡng chế đất đai thì mới thấy giáo xứ Thái Hà lên tiếng còn những người khác bị cướp đất thì không ai lên tiếng, chỉ lo quyền lợi của mình không bị phá rối. Hy vọng sự tàn phá khốc liệt của môi trường sẽ giúp mọi người nhận thức là quyền lợi của họ liên đới với nhau và sẽ đoàn kết tranh đấu cho tương lai của họ và con cháu.
Nói đúng hơn thì lòng yêu nước của người Việt tuy có nhưng rất mờ nhạt, lờ mờ. Làm sao người ta có thể nói là yêu nước mà lại đầy đoạ cả triệu người miền nam vào trại cải tạo, kinh tế mới, để cướp đất, nhà cửa. Người ta nhân danh tình yêu tổ quốc để giết nhau chớ không phải để tha thứ, nhường nhịn nhau. Làm sao yêu nước khi họ ngăn cấm con cháu của "ngụy quân" không được học lên cao, không được đóng góp tài năng của họ cho đất nước.

Họ chỉ yêu quyền lợi của họ, họ sợ để đám giỏi, có trình độ được ăn học thì sẽ lòi cái dốt của họ ra. Họ chạy chọt bằng cấp tiến sĩ nhưng dốt đặc cán mai. Họ khoe bằng cấp lấy từ Hoa Kỳ mà không khạc được một câu ngoại ngữ. Họ sợ mất sổ lương hưu của họ nên ủng hộ đảng đến cùng như một ông tướng về hưu tuyên bố.

Làm sao họ yêu nước khi họ sẳn sàng bỏ hoá chất tẩy thịt heo cũ thành trắng, làm gà chết thành vàng óng, lấy Cá chết nấu cho dân ăn. Làm sao có thể gọi họ yêu nước khi họ chỉ đứng đường hay núp trong góc để bắt người lái xe, phạt kiếm tiền hay chôm đồ của xe bị họ bắt giam.

Làm sao gọi yêu nước khi mấy ông tây kêu gọi làm Hà Nội sạch (keep Hà Nội clean), dạy anh ngữ, cuối tuần rũ nhau đi vét mương cống thì họ lại kêu mấy ông Tây, Nhật không xin phép trước khi vét mương là phạm luật. Thay vì cám ơn ông Tây bà Nhật thì lại lên tiếng nạt nộ, sao không xin phép làm những việc mà chính họ phải làm theo bổn phận đầy tớ nhân dân. Tây sang Việt Nam làm việc nhưng thấy gần nhà dơ dáy bẩn thiểu nên rũ nhau đi vét mương cho bớt muỗi. Người Việt thay vì giúp mấy ông Tây một tay, chỉ đứng chỉ chỏ xem như người bàng quang còn chủ tịch phường thì la hét bảo sao không xin phép ông ta. Chắc là do bọn phản động xúi.

Nếu người ta yêu nước thì người ta phải yêu nhau, đùm bọc nhau như câu ca dao mình học khi xưa "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng". Gần đây, các ghe đi đánh cá bị tàu TC đánh phá, giết ngư phủ nhưng Hà Nội vẫn một mặt kêu là tàu lạ nên không bố ráp, giữ gìn an ninh cho ngư phủ trong khi Nam Dương bắn chìm mấy tàu đánh cá của TC để bảo vệ lãnh thổ và cơm ăn áo mặc cho ngư dân của họ.

TCkéo dàn khoan đến thì Hà Nội không làm gì cả. Khi những người yêu nước chân chính bày tỏ sự căm phẩn thì bị công an quản thúc tại gia. Ai đi biểu tình là bị đánh như kẻ thù. Điểm ngạc nhiên là những vụ biểu tình vừa qua, không thấy người dân cầm cờ đỏ sao vàng đi nữa. Họ không tin vào tổ quốc nữa, họ chỉ tin vào chính họ vì tổ quốc sẽ không bao giờ bảo vệ họ. Ngừoi dân chỉ muốn có một môi trường trong sạch nhưng cũng giam, đánh đập tàn nhẫn đến du khách ngoại quốc phải quay phim.

Lòng yêu nước yêu quê hương tuy mập mờ với người Việt nhưng là một mẫu số chung để giúp Việt Nam thoát khỏi cảnh diệt vong rất gần, thôn tính của TC. Làm sao để giúp cường độ yêu nước của người Việt khi họ không thương nhau, kỳ thị nhau,...?

Niềm tự hào dân tộc nằm trong trái tim của mỗi người nhưng người Việt tự giam nó bởi sự hào nhoáng bên ngoài. Sự hào nhoáng tập tễnh ấy cho thấy sự thiếu trưỡng thành của dân tộc, chỉ rêu réo những câu tuyên bố sáo rỗng như 20 năm tới, Việt Nam sẽ thành một cường quốc về kinh tế như Nhật, Nam Hàn trong khi một bộ trưởng khác chia sẻ là nếu không thay đổi Việt Nam sẽ thua cả Lào và Cao Miên trong hai năm tới.
Làm sao chúng ta có thể bằng Nam Hàn khi 90,000 hàn kiều tại Việt Nam làm ông chủ trong khi 90,000 Việt kiều tại Nam Hàn là lao công, dâu xứ Hàn. Thậm chí còn di dân lậu để kiếm tiền nuôi gia đình ở Việt Nam.

Niềm tự hào dân tộc, nếu có, sẽ đánh thức từng người, cuộc sống không chỉ cần riêng cho chính mình và gia đình được no ấm, hạnh phúc còn thì vô tâm với thế giới xung quanh mình.
Mình nghĩ người Việt thật sự có đẳng cấp quốc tế, khi biết đau xót từ những chuyện bốc hốt trong các tiệm ăn buffet, biết tức giận khi thấy bạo hành con nít, phụ nữ, quan tâm đến những bất công xã hội, những người già chịu những oan khiên của bạo quyền.

Từ quê hương tôi chợt nghe tiếng gọi
Của giống nòi đang quằn quại đau thương
Trăm phố phường vang lên nghìn lời nói
Nói tôi nghe nỗi khổ của dân tôi
Sống lầm than, tại sao phải lầm than?
Bom thôi rơi, tiếng súng cũng im rồi
Sao dân tôi vẫn còn trong đói khổ
Cho nụ cười vẫn chưa nở trên môi
Cho oán hờn đang sôi sục tim tôi
Trong tim anh, và tim của mọi người
Con tim này đạn bom cày không nát
Sẽ quật cường và mãi mãi hiên ngang
Từ quê hương tôi chợt nghe tiếng gọi
Của giống nòi đang phẫn uất vùng lên
Trăm phố phường là nghìn cây đuốc sáng
Sẽ bóp tan dấu vết của bạo tàn

(Phan Văn Hưng - Đinh Tuấn)

#646 - Ăn Phá Lấu, Nội Tạng Có Hại Không? Ăn "Thịt Nhân Bản / Cloned Meat" Có Hại Không? - BS.Phạm Hiếu Liêm

Tản Mạn Về Thơ Việt Nam - Phần 3 - Nguyễn Duy Phước


Thể thơ tám chữ, còn gọi là Bát Ngôn, nghĩa là mỗi câu trong đoạn thơ sẽ có tám chữ. Thơ loại này ít nổi tiếng hơn những thể thơ nói trên, và thường được dùng để có thể diễn tả nhiều ý (vì có đến 8 chữ).

Thể thơ 8 chữ linh hoạt trong sáng tác và không bị gò bó bởi niêm luật như nhiều thể thơ khác.

Cũng bởi chẳng bị trói buộc bởi luật thơ nên tác giả có thể dễ dàng hơn trong việc thể hiện cảm xúc thật trọn vẹn trong từng câu chữ.

Hơn thế nữa, vì thơ 8 chữ mang đặc trưng của chất nhạc nhờ vần nhịp uyển chuyển nên người đọc sẽ cảm nhận được những tâm tư, tình cảm qua bài thơ.

Nếu là một người yêu thi văn, quí vị hoàn toàn có thể lựa chọn thể thơ 8 chữ để sáng tác. Sự đơn giản trong niêm luật và vẫn điệu sẽ giảm bớt những khó khăn trong quá trình sáng tác thơ, đặc biệt là với những người mới bắt đầu làm thơ. 

C1/ Luật thơ

- Luật Bằng Trắc:

Như đã nói, không có luật gì chắc nịch về thanh âm cho loại thơ này, cứ đọc lên nghe “lọt tai” là được. Vì cách làm thơ 8 chữ không yêu cầu bắt buộc phải tuân thủ niêm luật gắt gao nên ai cũng có thể sáng tác một các tự do. Còn nếu muốn làm thơ 8 chữ đúng chuẩn niêm luật thì dưới đây sẽ là luật thơ 8 chữ

Để nói về luật thơ 8 chữ cơ bản ở các chữ cuối của các câu như sau:

  • Chữ cuối của câu hai và ba phải theo cùng vần là trắc trắc, hoặc bằng bằng, cứ 2 cặp trắc lại đến 2 cặp bằng cho đến hết bài thơ.
  • Câu cuối cùng cũng tương tự câu đầu, không cần vần với câu nào hết, nhưng nếu chữ cuối của câu cuối vần được với chữ cuối câu đầu thì sẽ hay hơn.


 - Luật Vần:

Có nhiều loại gieo vần như trong các thí dụ sau đây:

Luật vần thường thấy nhất: 

(Các vần được tô màu đỏ)

Anh Muốn Nói

Anh muốn nói dù trời đông giá lạnh

Rét da ngoài khôn sánh (1) rét tim côi (2)

Bàn thiên nhìn mâm quả với chè xôi (2)

Lòng xáo động bồi hồi (1) trong tâm tưởng (2)

Anh muốn nói dù chúng mình đôi hướng (2)

Điệu đàn tơ âm hưởng (1) vẫn rung người

Qua đại dương hoà nhịp sóng trùng khơi

Vượt sa mạc gởi lời (1) muôn khát vọng

Ái Hoa

Chú thích :

- (1) Trong thí dụ trên, chữ thứ năm của câu 2 có vần với chữ cuối của câu đầu, cũng như vần giữa chữ thứ năm của câu 4 với chữ cuối của câu 4.

- (2) Ngoài ra chữ chót của câu hai có vần với chữ chót của câu ba và chữ chót của câu 4 có vần với chữ chót của câu năm và cứ tiếp tục như vậy

Đây là bài thơ rất đúng điệu về luật vần vì nhiều khi không cần có vần cho chỉnh lắm cũng được, hoặc không nhất thiết là chữ thứ năm mà chữ thứ sáu theo vần cũng được như trong chú thích (1) trên.  

Luật vần chéo (Vần giãn cách)

Một vần bằng rồi mới tới một vần trắc. Như vậy, câu 1 vần với câu 3, câu 2 vần với câu 4. Ví dụ:


Đêm Xuân Sầu

Trời xuân vắng, cỏ cây lay xào xạc

Bóng đêm chợt hoảng hốt mãi không thôi

Gió xuân lạnh, ngàn sâu, thì ca t

Trăng xuân sầu, sao héo, đã thôi cười.

Chế Lan Viên


Luật vần ôm

Câu 1 vần với câu 4, câu 2 vần với câu 3. Ví dụ:


Tuổi mười ba

Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng?

Mưa thôi chẳng về bong bóng vỡ đầy tay

Trời nắng ngọt ngào… thôi ở lại đây

Như một buổi hiên nhà nàng bừng sáng.

Nguyên Sa


Và sau đây xin trích vài câu trong một bài thơ 8 chữ rất nổi tiếng của thi sĩ Thế Lữ, trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn:   


Nhớ rừng

(Lời con hổ ở vườn Bách thú)

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng

Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém

Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn năm cao cả, âm u...


Chú thích: Trong bài thơ trên, tác giả đã không bị gò bó bởi quy luật về vần như trong những chữ được tô đỏ nhưng không vì thế mà kém hay.

C2/ Vài bài thơ 8 chữ tôi sáng tác

 

Xuân Đã Đến

Xuân đã đến khiến lòng thêm nao nức

Đem an lành, hạnh phúc đến mọi nhà

Vườn xuân tươi rực rỡ muôn đóa hoa

Nở bừng sắc, dáng kiêu sa ngào ngạt

Mừng năm mới lòng rộn ràng câu hát

Mối tình quê vang khúc nhạc cung đàn

Chúa xuân về cảnh sắc đã sang trang

Đẹp rạng ngời  trong tiết xuân êm ấm

Ươm nóng mãi cuộc tình thêm đằm thắm

Ý xuân nồng say đắm ngạt trời mơ

Trọn ái ân cho vơi nỗi mong chờ

Thỏa giấc điệp xây mộng đời tươi đẹp

Nhặt cánh hoa gợi tình xuân thắm thiết

Những nỗi niềm gói ghém ngát vần thơ

Nắng hong vàng dào dạt rắc hương đời

Vương đôi má ửng hồng người em gái

Tung tăng trời đàn én giăng cánh xoải

Hoa bướm vờn lơi lả mãi vườn xuân

Gió giao mùa xao xuyến thổi lâng lâng

Lay mái tóc tuyệt ngần bay lõa xõa

Lòng bâng khuâng trong chiều xuân êm ả

Chốn dương trần rộn rã nỗi hân hoan

Người người vui cùng chào đón xuân sang

Và tận hưởng ánh xuân quang mãi mãi.

===

Người Yêu Muôn Thuở

Anh nhớ mãi phút ban đầu lưu luyến

Phút ban đầu ôi xao xuyến lòng anh

Mái tóc thề phảng phất nét đan thanh

Dáng tha thướt như bức tranh trong mộng

Em hẳn là người tình anh ước vọng

Tháng ngày mơ một hình bóng thân yêu

Giờ gặp đây người em gái mỹ miều

Với màu áo chắt chiu niềm cảm xúc

Áo nàng vàng, màu vàng như hoa cúc

Màu anh yêu, màu hun đúc nhớ thương

Gieo hồn anh bao kỷ niệm yêu đương

Lúc hò hẹn nơi góc trường, cuối ngõ

Vai kề vai dìu nhau trên lối nhỏ

Lòng nhủ lòng nguyền gắn bó duyên tơ

Luôn bên anh người em gái mộng mơ

Để anh mãi dệt vần thơ ca ngợi.

***

Em vẫn là người em yêu muôn thuở

Bao xuân qua anh ngỡ mới hôm nào

Tháng năm trôi bàng bạc tựa chiêm bao

Đôi môi đó vẫn ngạt ngào hương nhụy

Ánh mắt kia luôn mơn man tình ý

Gợi lòng anh bao kỷ niệm xa xưa

Mặc cho thời gian, sương gió, nắng mưa

Cuộc tình vẫn mặn nồng chưa phai nhạt

Tâm hồn anh nghe lâng lâng rào rạt

Khi gần em như thoạt mới quen nhau

Con tim anh còn rung động khát khao

Như những lúc ban đầu mình hò hẹn

Anh mơ ước cho tình ta trọn vẹn

Bước đường trần luôn đẹp mộng trăng sao

Hương ái ân nồng thắm đến bạc đầu

Em nhớ nhé, mình yêu nhau trọn kiếp.

===

Quê Tôi Đó

(bài thơ rất dài)


Tôi vẫn sống trong niềm thương nỗi nhớ

Nhớ thương quê bao khắc khoải chờ mong

Một bài thơ tôi viết mãi chưa xong

Sao tả hết nỗi lòng khi xa cách

 

Quê tôi đó, đồng ruộng xanh bát ngát

Trời thênh thang, cánh vạc lững lờ bay

Dải phù sa vun màu mỡ luống cày

Cho mạch đất tràn đầy bao nguồn sống

 

Quê tôi đó, những bình minh nắng sớm

Gà gáy vang bên khóm trúc sau hè

Tiếng chim cu vui hót nhộn bụi tre

Bừng dậy buổi ban mai nghe rộn rực

 

Quê tôi đó, bác nông phu lao lực

Sáng tinh sương đã ra sức cày bừa

Áo vá vai không quản ngại nắng mưa

Giọt mồ hôi tưới bồi mùa lúa mới

 

Quê tôi đó, khí trong lành thơ thới

Đượm rạt rào tình cỏ nội hương đồng

Mùi mạ non ngai ngái ngập cõi lòng

Màu lúa chín ngất ngây hồn thôn dã

 

Quê tôi đó, ấp yêu tình mái lá

Có mẹ già vẫn vất vả gian truân

Có dân làng vẫn khuya sớm tảo tần

Tuy khó nhọc nhưng ân cần, gắn bó

 

Quê tôi đó, lối mòn về xóm nhỏ

Khúc khuỷu gập ghềnh, đất đỏ bụi mờ

Vẳng đâu đây lời tha thiết ru hời

Cùng tiếng võng ầu ơ nghe dây dứt

 

Quê tôi đó, con kinh dài uốn khúc

Lặng lờ trôi ven ngõ trúc quanh co

Mái chèo khua bên mạn gỗ con đò

Vọng câu hát, giọng hò ôi xao xuyến

 

Quê tôi đó, cây cầu tre mấy nhịp

Chuyến đò ngang, đò dọc tiễn đưa ai

Dìu bước nhau qua cầu áo tung bay

Hương bồ kết làn tóc mây thơm ngát

 

Quê tôi đó, những chiều buông nắng nhạt

Tiếng tiêu buồn man mác trỗi mông lung

Hồn chơi vơi, chân bước thoáng ngập ngừng

Chừng mơ ảo, cõi không trung đọng lắng

 

Quê tôi đó, mục đồng bên đê vắng

Trên lưng trâu, văng vẳng tiếng sáo diều

Lắng tâm tư theo ngọn gió hiu hiu

Khúc trầm bổng làm xiêu lòng viễn khách

 

Quê tôi đó, túp lều tranh mái rách

Bữa cơm rau, dưa muối thật đơn sơ

Tuy thanh đạm nhưng tình tự, nên thơ

Quanh bếp lửa bập bùng hơ sưởi ấm

 

Quê tôi đó, cành khế hoa lấm tấm

Hàng dừa xanh bóng trải rậm thôn làng

Cây bàng cội sừng sững với thời gian

Bờ lau sậy gió ngàn xua xào xạc

 

Quê tôi đó, gió lam chiều bàng bạc

Lửa đốm lung linh, phảng phất rạ rơm

Thoảng lâng lâng mùi gạo chín nồi cơm

Cơm hai buổi, khắc đền ơn mưa móc

 

Quê tôi đó, ao dù trong dù đục

Lá mồng tơi chen súng, bụt, loa kèn

Lục bình bên đầm vẫn sạch hương sen

Tình mộc mạc với hoa hèn cỏ dại

 

Quê tôi đó, rẫy vườn tươi bông trái

Giàn mướp vàng len bờ dậu nương khoai

Mùi hoa ngâu lẫn hoa bưởi, hoa nhài

Nghe thâm thúy, đậm đà tình non nước

 

Quê tôi đó, gió nhẹ rung lả lướt

Thôn nữ dịu dàng, tha thướt vương tơ

Áo bà ba trong trắng nét ngây thơ

Vành nón lá mộng mơ vờn e ấp

 

Quê tôi đó, khi hoàng hôn dần tắt

Ánh trăng treo giăng mắc tận đầu gành

Tiếng chày khua giã gạo dưới trăng thanh

Câu vọng cổ lảnh lanh trong đêm vắng

 

Quê tôi đó, khi hoàng hôn dần tắt

Ánh trăng treo giăng mắc tận đầu gành

Tiếng chày khua giã gạo dưới trăng thanh

Câu vọng cổ lảnh lanh trong đêm vắng

 

Quê tôi đó, bức tranh thôn đằm thắm

Lòng đất thiêng hòa đậm với lòng người

Mối thân tình như bát nước chè tươi

Sông với núi vẫn ngàn đời chung thủy

 

Quê tôi đó, đời nông dân bình dị

Vui vầy cùng bầu bí, luống ruộng nương

Sống an lành trong giấc mộng bình thường

Không ảo vọng, không mơ vương phù phiếm

 

Quê tôi đó, bốn nghìn năm văn hiến

Bao cuộc bể dâu, chinh chiến buồn vui

Khiến mẹ già dòng lệ mãi sụt sùi

Khóc vận nước, ngậm ngùi cho số kiếp

 

Quê tôi đó, giờ đây đành ly biệt

Sầu hoài hương sao kể xiết nỗi niềm

Lòng ngổn ngang bao nhung nhớ triền miên

Ôm ấp mãi mối tình quê muôn thuở. 


Nếu muốn xem video về bài thơ này (có hình và nhạc) thì xin click vào link sau đây:


Quê Tôi Đó 

Lời kết

Qua những nhận xét và bình luận về thi văn V.N với hầu hết những thể loại thơ nói trên, chúng ta thấy là nền văn học thi phú tiếng Việt quả thật là tuyệt vời và độc đáo, với tình ý chứa chan, hồn thơ lai láng khiến những ai có một tâm hồn dễ cảm xúc và cảm nhận lời hay ý đep không thể nào không yêu và say mê. Cái tiếng Việt thật giàu và phong phú đã khiến cho biết bao thi sĩ có thể diễn tả một cách trung thực tâm tình qua những vần thơ trữ tình, bay bướm và đã khiến tôi như một người đã vực được đạo, tìm thấy chân lý cuộc đời.

Điều này khác với một số người Việt hiện nay lại quay lưng với tiếng mẹ đẻ truyền thống từ ngàn đời để chạy theo một ngôn ngữ lai căng, dị hợm, khiến tôi phải thảng thốt như thi sĩ Tú Xương ngày nào: 

"Tiếng Việt ngày nay đã hỏng rồi

Văn chương hổ lốn nhảy lên ngôi

Cái học ngàn xưa còn đâu nữa

Đầu Ngô mình Sở loại tây bồi."

NdP


Cũng còn may là cái tiếng man di, mọi rợ do bọn bắc kỳ 2 nút du nhập nhằm phá hoại tiếng Việt thuần túy chưa có lũng đoạn nền thi văn nhiều, có thể vì loại chữ ngây ngô, thô kệch của chúng không thể nào dùng được trong các vần thơ tình tự, thanh nhã, tuy rằng đã có mòi nhen nhúm bởi một vài tay tự cho là thi sĩ, bắt đầu làm những bài thơ có xen lẫn tiếng V.C. 

Để kết thúc, tôi xin được bày tỏ tâm tình của tôi về thơ qua bài thơ sau đây: 

Vần Thơ Tự Tình


Thơ là tiếng nói cõi lòng

Là lời ru ngọt mặn nồng thiết tha

Thơ là cây lá đươm hoa

Cánh hoa âu yếm tình trao ngút ngàn

Mặn mà hương nhụy ngập tràn

Đượm men tình ái mơn man ngập hồn

Thơ là mật ngọt bướm ong

Ngạt ngào mơn trớn khiến lòng chơi vơi

Con tằm còn biết giăng tơ

Riêng tôi thì biết làm thơ cho đời

Tằm đan áo lụa tặng người

Thơ tôi bày tỏ bao lời chứa chan

Thơ là gió núi mây ngàn

Bềnh bồng phiêu lãng cưu mang tình đời

Chở tình bay khắp muôn nơi

Vần thơ quyến rũ tỏa ngời sắc hoa

Thơ là tiếng nhạc ngân nga

Là muôn điệp khúc chan hòa xuyến xao

Thơ là dòng suối ngọt ngào

Nguồn thơ tuôn chảy dâng trào ước mơ

Vượt ngàn sông núi biển khơi

Sóng tình lai láng thẫn thờ nao nao

Hồn thơ thi vị dạt dào

Tình thơ lai láng xôn xao nỗi niềm

Ý thơ rạo rực buồng tim

Nhờ thơ bày tỏ tình riêng tặng người.


Hết

Nguyễn Duy Phước 

Người Lính Của Ngày Cũ - Phạm Sơn Liêm


Chiều mùng 3 Tết.

Trời California lạnh nhẹ. Ánh nắng vàng mỏng như một lớp bụi rơi trên những bãi cỏ mùa đông. Tôi đang ngồi uống cà phê thì điện thoại reo. 

Là Hùng. Thằng bạn cùng đơn vị ngày xưa.

Trong đoàn có 3 liên toán, mỗi liên toán có 3 toán, 10 người tùy theo nếu đầy đủ. Thường thì không đủ quân số. Tôi ở toán 2. Hùng ở toán 3.Còn anh Phước “Rừng” ở toán 1. Chúng tôi không cùng toán, nhưng cùng sống chung đoàn, những năm tháng mà mạng người nhẹ như chiếc lá. Giọng Hùng hôm đó chậm lạ:

– Liêm hả...?

– Ừ, tao đây.

Nó nói nhỏ:

– Tao vừa vô viện dưỡng lão thăm ông anh vợ. Đi ngang hành lang... thấy một ông già ngồi xe lăn nhìn ra cửa sổ. Tao nhìn kỹ... giống anh Phước lắm.

Tôi ngừng tay:

– Sao mày không lại hỏi?

Hùng im lặng một chút:

– Tao cũng định hỏi, nhưng đứng nhìn một hồi, tự nhiên thấy không dám.

– Sao vậy?

Nó thở dài:

– Ông già quá rồi Liêm. Tóc bạc trắng. Lưng còng. Gầy lắm. Tao đứng phía sau nhìn hoài, mà không chắc nữa. Mấy chục năm rồi còn gì.

Rồi nó nói nhỏ:

– Tao sợ nhận lầm, làm người ta khó xử. Nên tao gọi mày. Mày qua coi thử.

Tôi hiểu. Có những gương mặt từng rất quen, nhưng sau nửa đời người, mình không còn dám tin vào ký ức nữa. Tôi nói:

– Gửi địa chỉ cho tao.

Cái tên Phước “Rừng” làm ký ức bật mở.

Ngày đó anh lớn hơn tụi tôi vài tuổi. Dáng cao, vai gầy, da đen sạm vì nắng rừng. Ánh mắt lúc nào cũng bình tĩnh, như người đã quen nhìn cái sống cái chết ở rất gần. Anh ít nói. Nhưng mỗi lần toán anh từ rừng trở về, anh thường ghé qua chỗ tụi tôi uống cà phê. Ngồi đó.

Cười hiền. Có lần tôi hỏi:

– Anh Phước đi rừng hoài vậy, có sợ không?

Anh cười, một nụ cười rất hiền:

– Sợ chứ.

Rồi anh nói chậm:

– Nhưng lính mà. Chỉ mong mỗi lần trực thăng quay lại, mình còn đủ người để bước lên.

Lúc đó tụi tôi còn trẻ. Nghe xong chỉ cười.

Không ai nghĩ có ngày mình sẽ sống tới già.

Sau năm 1975. Các toán tan. Người đi tù. Người vượt biển. Người bặt tin. Những gương mặt ngày đó... lần lượt biến mất khỏi cuộc đời nhau. Tôi không nghe tin anh Phước nữa. Cho đến cuộc điện thoại chiều hôm ấy.

Hôm sau tôi lái xe tới viện dưỡng lão. Hành lang dài, im lặng. Mùi thuốc sát trùng và mùi quần áo vừa giặt trộn lẫn trong không khí.

Cuối hành lang, cạnh cửa sổ nhìn ra bãi cỏ mùa đông, một ông già ngồi trên xe lăn. Tóc bạc trắng. Vai gầy.

Hai bàn tay gân guốc đặt trên thành ghế. Ông đang nhìn ra ngoài trời, một mình. Tôi bước lại gần, tim tự nhiên đập hơi nhanh, tôi khẽ hỏi:

– Dạ... xin lỗi... bác có phải là anh Phước... Phước “Rừng” không?

Ông quay lại, đôi mắt già nua nhìn tôi rất lâu rồi ông hỏi:

– Anh... ở đơn vị nào?

Tôi nói:

– Dạ... Liêm. Toán 757... liên toán 3 đoàn công tác 75 ngày xưa.

Ông nhìn tôi thêm một lúc. Rồi đôi mắt chợt sáng lên:

– À...

Ông gật đầu chậm:

– Nhớ rồi... thằng lính trẻ hay cười.

Tôi bật cười, mắt tự nhiên cay:

– Dạ... đúng em đó anh.

Chúng tôi ngồi cạnh cửa sổ suốt buổi chiều.

Hai người lính già nói chuyện của một thời rất xa.

Anh hỏi từng người:

– Thằng Hải sao rồi?

– Mất lâu rồi anh.

– Còn thằng Lộc?

– Ở Texas, chạy xe tải.

Anh gật đầu. Nghe từng cái tên... như nhặt lại từng mảnh đời đã trôi mất. Một lúc lâu anh nói khẽ:

– Vậy là... mình còn sống tới giờ... cũng là may.

Tôi hỏi anh về cuộc đời sau chiến tranh. 

Anh kể chậm rãi:

– Ra tù... anh vượt biển. Qua Mỹ làm đủ nghề. Vợ anh mất mười năm trước.

Anh nhìn ra cửa sổ:

– Con cái thì mỗi đứa một tiểu bang. Nhưng tụi nó thương anh lắm.

Giọng anh bình thản. Không một lời than. Nhưng tôi thấy trong ánh mắt anh... có một khoảng trống rất sâu.

Khi tôi đứng lên ra về, tôi nói:

– Cuối tuần em ghé thăm anh nữa.

Anh gật đầu:

– Ừ, ghé.

Tôi bắt tay anh. Bàn tay lạnh, khô. Một bàn tay từng cầm súng, từng bước qua bao cánh rừng.

Khi tôi quay lại nhìn lần cuối, anh vẫn ngồi đó, nhìn ra cửa sổ. 

Một người lính già... giữa buổi chiều rất yên tĩnh.

Hai ngày sau Hùng gọi. Giọng nó thấp xuống:

– Liêm... Anh Phước đi rồi.

Tôi không nói được gì....

Đám tang tổ chức trong một nhà quàn nhỏ.Không đông.

Nhưng không cô đơn. Hai người con của anh bay về.

Mấy đứa cháu đứng quanh, im lặng.

Chúng tôi, vài người lính cũ đứng phía sau.

Người con trai nói về cha mình. Anh nói:

– Ba tôi ít khi kể về chiến tranh. Nhưng ông luôn nhắc đến những người bạn lính.

Hùng đứng cạnh tôi quay mặt lau nước mắt. Tôi nhìn lên di ảnh anh Phước. Nụ cười hiền của anh vẫn vậy.

Giống như buổi chiều nào trong trại... khi anh ngồi uống cà phê với tụi tôi....

Khi linh cữu được đưa ra nghĩa trang, trời bắt đầu mưa.

Mưa nhỏ thôi, nhưng lạnh. 

Con cháu anh đứng gần mộ. Chúng tôi đứng phía sau. Tôi nhìn quan tài từ từ hạ xuống.

Trong đầu chợt hiện lại những cánh rừng xa xưa. Những chuyến trực thăng. Những gương mặt lính trẻ của các toán trong liên toán ngày cũ.

Bao nhiêu người đã nằm lại. Bao nhiêu người trôi dạt khắp nơi. Và hôm nay... thêm một người nữa ra đi.

Tôi cúi đầu, nói thật khẽ:

– Anh Phước... Hết công tác hành quân rồi. Anh nghỉ đi.

Gió thổi qua bãi cỏ ướt.

Những người lính còn sống đứng lặng, nhìn theo một người đồng đội của ngày xưa...vừa đi hết chặng đường cuối cùng của đời mình.


Phạm Sơn Liêm