Monday, April 20, 2026

Một Bác Sĩ Biệt Động Quân Chẳng Giống Ai - letamanh




Lời bạt: Năm 2015 tôi viết bài nầy và cố tình không viết về vợ con của Lê Văn Thại. Nhưng sau khi Hắn mỉm cười ra đi, tôi viết bổ sung câu chuyện cho tròn cái nghiệp mà Hắn đã trả xong. Mời quý vị xem đoạn cuối Hắn cưới vợ như thế nào và khúc quanh đời Hắn như cái "nghiệp" phải mang!


Tôi và Hắn cùng quê hương Tam Quan, vùng đất trải dài rộng lớn những rừng dừa và hệ thống sông ngòi chằng chịt! Hắn là cháu nội một phú hộ vùng Cấm An Sơn thuộc xã Hoài Châu; còn tôi thì sanh ra và lớn lên trong thôn Cữu Lợi xã Tam Quan nổi tiếng sản xuất dầu dừa và dây dừa. Ông nội của Hắn là chủ những ruộng vườn cò bay thẳng cánh. Ông nội tôi thì là chủ ghe bầu buôn bán dọc ven biển và các thành phố từ Nam chí Bắc một thời.

Tôi và Hắn cũng cùng chung số phận sống 9 năm trong vùng Cộng Sản Liên Khu 5, thời kháng chiến chống Pháp, 1945-1954. Cũng có những tháng năm ngồi học trong các đình chùa bị đục vách phá bàn thờ để làm nhà kho và lớp học. Chung số phận là cháu con nhà địa chủ, sắp có chính sách đem ra tòa án nhân dân đấu tố!


Thế nhưng cuộc đổi đời năm 1954, sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, chúng tôi cởi bỏ được lớp bùn đất "Thiếu nhi Bác Hồ"; bắt đầu được học trong các trường công lập, được ca hát tự do! Hắn và tôi sau cùng vào học trường Tăng Bạt Hổ Bồng Sơn. Hắn nhỏ hơn tôi 1 tuổi nhưng học trên tôi 1 lớp. Gia Đình Hắn có tiệm bán thuốc tây (Pharmacy), vì thế, vài năm sau, Hắn bỏ trường huyện, vào học Tabert ở Saigon. Thẳng cánh cò bay, xong Trung Học, Hắn vào trường thuốc. Đến năm 1970, Hắn ra Bác Sĩ và được động viên vào binh chủng Biệt Động Quân.


Còn tôi, đang học Văn Khoa thì bị động viên năm 1967 vào khóa 26 SQTB Thủ Đức. Năm 1970, lúc đang đóng quân ở Pleiku thì lính vào báo: "Thẩm quyền, có một số sĩ quan BĐQ đi xe Jeep trông dữ dằn lắm, tìm thẩm quyền!" Tôi cũng vừa từ đơn vị tác chiến tiểu khu Bình Định đổi lên vùng đất đỏ chưa được mấy tháng, chưa quen biết nhiều, làm sao có BĐQ là bạn tìm tôi! Trong khóa 26, ra trường có hơn 80 tên về BĐQ, nhưng chưa biết tụi nó ở đơn vị nào. Chưa quyết định thế nào thì đám rằn ri mũ nâu chạy sộc vào văn phòng: "Ê! Dũng Lùn đâu, trình diện thượng cấp!"


Dân mũ nâu rằn ri, đi tới đâu là ồn ào vang trời! Tôi nhìn lên, hóa ra tên dẫn đầu là Bác Sĩ Lê Văn Thại, tên thứ hai là Huỳnh Thọ Huyên, Khóa 26, tên thứ ba là Trần Tấn Đỡm, khóa 26, tên thứ tư là Lâm Đạo Đụng, khóa 26. Tôi bật dậy khỏi ghế như chiếc lò xo, mừng quá, bắt tay từng thằng. Hóa ra là Hắn - Lê Văn Thại - ra trường nghề thầy thuốc năm 1970 với 7 năm chương trình Bác sĩ dân sự. Sau đó được động viên về BĐQ, lên Pleiku chăm sóc Liên Đoàn 2 BĐQ, Y Sỹ Trưởng, đóng hậu cứ ở Biển Hồ.


Cuộc hội ngộ "lính" vô cùng ồn ào và mùi "quân trường" còn thoảng hơi chưa phai! Chúng tôi kéo nhau ra cà phê Dinh Điền nhâm nhi và từng thằng khai "tình trạng quân ngũ", những gương mặt mới xa, nhưng cứ tưởng không có cơ hội nào gặp lại. 3 thằng Khóa 26 Thủ Đức búng ra sữa,bây giờ trông rất "ngầu".Bộ quân phục Biệt Động Quân, chiếc mũ nâu đội lệch, phù hiệu.... Thằng nào cũng hiên ngang và tự tin! 3 thằng cùng đang phục vụ Liên đoàn 2 BĐQ. Bác Sĩ Lê Văn Thại, Y Sĩ Trưởng với bộ vía tác chiến Biệt Động trông rất "lính". Hồi còn đi học, Hắn rất giỏi võ Bình Định, sở trường Hầu Quyền; vô Sài Gòn học thêm Taekwondo, Hapkido... Mỗi khi Hắn nổi hứng, nắm tay ai bóp nhẹ là người đó la làng. Hắn uống rượu như uống nước, lần nào ngồi với Hắn và mấy trự BĐQ, tôi chỉ là thằng phá mồi!


*****

Rồi thời gian trôi! Chiến trường các nơi sôi động. Cánh Biệt Động hành quân rày đây mái đó. "Mùa Hè Đỏ Lửa" năm 1972, tôi và đơn vị trấn thủ thành phố Pleiku để cho vợ con và dân chúng "di tản". Sau đó, các đơn vị Biệt Động phải di chuyển xuống giải tỏa Tam Quan Bồng Sơn, hành quân liên miên, nên tụi tôi ít khi gặp nhau; dù là ở thành phố trấn biên như Pleiku, mệnh danh là "thành phố của lính", dù hậu cứ của tụi nó ở ngay Biển Hồ! Mỗi thằng mỗi khung trời nhỏ trong guồng máy chiến tranh. Đã mang danh hiệu là "Biệt Động" thì có khi nào đơn vị được yên tịnh đóng ở một chỗ đâu! Cả "Vùng 2 Quân Khu 2" đều là địa bàn in vết giày Biệt Động Quân; có biết bao anh hùng ngã xuống! Cuộc di tản tháng 3 năm 1975 là những ngày Quân Dân Cán Chính Pleiku - Kontum - Phú Bổn không thể nào quên. Tôi được may mắn thoát khỏi cuộc di tản trong gang tấc nhờ cái lệnh thuyên chuyển về Đặc Khu Cam Ranh chỉ trước một tháng! Cánh BĐQ của BS Lê Văn Thại, Huỳnh Thọ Huyên cùng số phận kẹt cứng trong đoàn người và quân trang quân dụng trên Tỉnh Lộ 7b. Mấy thằng Khóa 26, lúc bấy giờ vừa được thăng cấp Đại úy, đều bị "tóm" ở gần Sông Ba - Phú Bổn! Đại úy Huỳnh Thọ Huyên cùng chung số phận với đơn vị. Vợ và 3 con của Hắn thì lạc mất trong rừng. Vợ của Huyên lạc luôn 3 đứa con, 1 trai 5 tuổi và 2 gái, đứa 3 tuổi và đứa chưa tròn một năm sanh. Sau nầy nhờ tìm kiếm, vợ của Huyên tìm được đứa con trai từ một gia đình người Thượng, cháu được nuôi để chăn trâu! Hai cháu nhỏ thì không còn dấu vết! Mấy tay BĐQ, bạn Khóa 26 của tôi bị nhốt ở nhiều nơi, sau rốt nằm ở Z30 A Tuy Hòa. Riêng tên Bác Sĩ lì Lê Văn Thại thì thoát được về Sai Gòn.


Cuối tháng 3 năm 1975, từ Cam Ranh tôi về Saigon bằng đường bộ đến Phan Rang rồi đi ghe ở Bình Tuy về Vũng Tàu, vợ con gởi lại phía ngoại ở Ninh Hòa. Tôi và Lê Văn Thại lại gặp nhau, nhậu quên đời. Hai thằng quanh quẩn hũ rượu của ông già tôi ngâm. Rượu thuốc có thêm mùi trái ô môi vừa cay vừa ngọt. Ba tôi thấy hai đứa buồn chán nên cũng thường làm mồi cho hai đứa nhậu đưa cay!

Thê thảm nhất là ngày 30 tháng tư năm 1975, Khu xóm tôi ở trên đường Bà Hạt - Chung Cư Ấn Quang - rần rần người ra đi và rậm rật những đứa mang băng đỏ. Nếu ngày ấy hai đứa ra bến Bạch Đằng thì có lẽ đời sẽ rẽ qua hướng khác. Đàng nầy, hai đứa ngồi nhìn nhau không nói gì nhưng tay thì cầm ly! Tôi có hơi men, thỉnh thoảng còn bày đặt khóc nhớ vợ con chưa biết ra sao...


Cho đến một ngày cuối tháng 5/1975, Ba tôi làm cơm đải 2 đứa ngày mai "Trình Diện Học Tập" 10 ngày bằng 1 chai rượu tây đem về từ Embassy Hotel. Lúc nâng ly, Lê VănThại đặt tên cuộc nhậu nầy là: "Đăng Trình Tửu". Hôm sau, hai đứa xách bị áo quần và cái mền mỏng, đem theo tiền ăn 10 ngày, mấy bao thuốc lá, đôi dép Nhật hai quai... Hai đứa hí ha hí hửng "trình diện" tại trường Petrus Ký. "Học tập 10 ngày" thì nhằm nhò gì! Ông hàng xóm nói với tụi tôi khi thấy hai đứa khăn gói gỏ cửa nhà ông chào từ giã!


Tôi làm ra vẻ sành đường đi nước bước trong trường, dắt Lê Văn Thại lên lầu bên trái, chỉ vào lớp gần cuối: "Tao mài quần chưa rách trong phòng nầy!" Thế là hai đứa tôi và mấy chục người trải nilon nằm dưới sàn. Có thằng leo nằm trên bàn học trò. Tôi tìm chỗ ngồi năm xưa, phía dưới hộc, quả nhiên còn tên của mình đã khắc bằng dao!

Ở "khách Sạn" Petrus Ký, ăn cơm ngày 3 bữa do các nhà hàng nổi tiếng ở Chợ Lớn cung cấp. Mọi người hí ha hí hửng cho rằng "Cách Mạng" đối đải "Kẻ Đầu Hàng" sao mà tử tế quá!

Nửa đêm, sau mấy ngày nằm chờ đợi "việc gì sẽ xảy ra", chúng tôi được gọi tên từng thằng, sắp hàng một, ôm hành lý leo lên xe bít bùng đang đậu hàng dài trước cổng trường. Cứ 20 thằng leo lên, trên xe có sẵn 2 chú nhóc bộ đội gườm súng bên hông. Xe phủ bạt kín mít, xe chạy rần rật trên các đường trong thành phố, chẳng ai biết nó về hướng nào mà đoán!


2 chú nhóc tì mặt hầm hầm, luôn gườm súng hăm dọa: "Không được nhìn ra ngoài, không được ồn ào nhúc nhích..." Xe chạy miết đến xế chiều, chúng tôi được phát lương khô "made in China". Cuối cùng rồi cũng đến nơi, xe ngừng trong một trại lính của VNCH gần núi Bà Đen, Trảng Lớn Tây Ninh! Doanh Trại nầy, không biết trước kia làm gì mà có những gian trống trơn, chỉ có sàn xi măng quá to, quá dài, rất nhiều căn trại như thế chứa chúng tôi. Cứ 20 thằng là một B, "cán Bộ" chỉ định B Trưởng, chia nhau trải chiếu hay bao nilon nằm san sát bên nhau cho có hơi ấm! Cứ thế ở đó tự phân chia nấu ăn, tự biên tự diễn. Nếu có đứa nào bịnh thì "Bác Sĩ Cách Mạng" đến khám và bôi dầu cù là, chứ không có thuốc gì hết!


BS Lê Văn Thại tìm được trong đám đông thêm bạn, đó là BS Lê Văn Một, người miền Nam, râu quai nón. 2 tên Bác Sĩ bắt đầu ngứa nghề. Trong đám ngàn người ngủ giống như ngoài trời suốt 2-3 tháng trời, chuyện bệnh hoạn xức dầu cù là được chúng tôi âm thầm chuyển qua "Bệnh Viện Một - Thại". 2 tên nầy kể cũng mát tay nên ít khi phải gọi Bác Sĩ "Dầu Cù Là"!


Nhưng khi "biên chế", một số về trại lính Sư Đoàn 18 ở Long Khánh, B19 của tôi, B20 có Thại và Một, đều xách gói lên xe.Ở trại mới một thời gian, đang "được lên lớp" bài đầu tiên: "Ba Dòng Thác Cách Mạng" của Lê Duẫn thì có 4 thằng trốn trại trong đêm. 2 ngày sau thì tụi nó bị bắt, trong túi xách có một số thuốc tây, chúng khai là của BS Lê Văn Thại cho! Thế là nửa đêm, rần rật súng ống và cả đám đông bộ đội bao vây nơi BS Thại nằm, lôi hắn xuống sàn, còng số 8, đọc lệnh nhốt vào co néc (conex). Khung sắt nầy hình khối vuông, trước kia "Xâm Lược Mỹ" dùng loại nầy chở quân trang quân dụng, chuyên chở từ Hoa Kỳ bằng tàu thủy cung cấp cho chiến trường... Hắn bị thẩm vấn và nhốt vào cái khung sắt "kiên cố" đó bằng một khóa bự! Trời Long Khánh nắng đổ lửa mà ngồi trong cái thùng sắt dày, không có lổ thông hơi, bị khóa trái, ăn ngủ, tiêu tiểu một chỗ... do Bác Sĩ Lê Văn Một được "đặc trách" chăm sóc. Chúng tôi cứ tưởng chừng mấy ngày là Hắn chết khô! Thế mà nhờ ngồi thiền, Hắn không chết...


Mấy tháng sau đó, một buổi trưa hè nóng gắt, kho đạn kế bên trại giam chúng tôi, không biết sao phát nổ. Toàn bộ bom, hỏa tiển, đạn 81 ly, 60 ly, M79 không những nổ mà còn bay đầy trời! Vụ nổ kéo dài đến tối. Trong trại chết một ít nhưng bị thương thì hơi nhiều. Ngoài dân chúng, những trái hỏa tiễn bay xa làm sập nhà và chết nhiều hơn chúng tôi. Vòng thiệt hại ở xa trung tâm nổ, nhiều hơn vòng trong gần với kho đạn!

Trong lúc kho đạn nổ bay đầy trời, mấy anh chàng nhát gan nhảy xuống các hố hay giếng khô trốn thì đạn lại rơi vào chết thảm. Những thằng sợ quá mất khôn lấy đôi guốc gỗ che lên đầu đi lững lơ như người điên, thế mà chẳng sao. Có thằng lấy miếng carton che đầu. Riêng BS Lê Văn Thại an toàn ngồi trong khung sắt nghe tiếng nổ bên ngoài. Riêng tôi chui vào một cái lổ trong đống gạch, hai chân lòi ra ngoài chịu trận!

Sau vụ nổ, một thời gian ngắn, chúng tôi được leo lên xe đến "Khu gia binh" ở Long Giao. Lê Văn Thại được "tháo cũi sổ lồng" lên xe cùng chúng tôi. Hắn vốn đã là người ốm cao lêu nghêu, bấy giờ xác xơ đi không muốn nổi. Hồi còn sinh viên, tôi đặt tên Hắn là "Khô trúc Đại Sư". Hai đứa ở Long Giao một thời gian ngắn thì tôi "được thuyên thuyển" ra Bắc trên con tàu chở xi măng, để nổi trôi Hoàng Liên Sơn, Lào Cay, Yên Báy, Vĩnh Phú... Còn Hắn, "được tha về" vì có cái made in Bác Sĩ! Làm việc dưới quyền các Bác Sĩ vốn xuất thân từ trường thuốc "Dầu Cù Là".

 

******

Tôi được "Cách Mạng khoan hồng" lệnh tha về từ trại tù K2 Tân lập Vĩnh Phú, phải mất 10 ngày từ nhà tù, vượt qua con sông Đà, ngồi tàu lửa chen lấn, từ ga Ấm Thượng về Hà Nội và con tàu suốt xuyên Việt. Về đến Sài Gòn thì mới hay là ông nội tôi đã qua đời 10 ngày trước, vì nghe tin tôi được ra tù; mừng quá lên máu đứng tim! Bước vào nhà cha mẹ tôi, Ba tôi chờ bên bàn thờ chít khăn tang cho thằng cháu đích tôn. Bác Sĩ Lê Văn Thại cũng có mặt. Hắn kể lể một loạt từ khi hai đứa xa nhau. Lúc Ông Nội tôi bị đứng tim thì cũng có Hắn đưa cấp cứu nhà thương Chợ Rẫy và ẵm xác ông nội tôi về lại nhà. Hắn thay tôi trực lo chôn cất, sát cánh với gia đình thằng bạn còn trong tù ngục.


Mấy tháng sau Hắn dẫn đến nhà một cô gái trẻ đẹp, có duyên và nói tiếng Bắc Kỳ ngọt xớt giọng Hà Nội. Hắn giới thiệu tên cô là Dung đang làm nữ y tá ở Bệnh Viện Chợ Rẫy. Ba tôi xách một chai đế ngâm thuốc và má tôi thì xào dĩa thịt bò hành tây đãi khách. Dung uống rượu cũng rất là tâm đắc với Thại. Tôi ngồi chuốc rượu mà ngạc nhiên là Hắn tìm đâu ra kỳ phùng dịch thủ.


Một năm sau thì Hắn mời vợ chồng tôi mừng đám cưới Hắn với Dung. Năm đó Hắn 40 tuổi, là Bác Sĩ mà hàm răng cái mất cái còn trông tội nghiệp. Cô Dung y tá năm đó 25 xuân xanh! Một trời thơ mộng hạnh phúc mở ra cho thằng bạn tôi. Đám cưới ngoài vườn cây của ba mẹ Hắn trên Phú Lâm. Ngồi dưới tàng cây nhậu là hết ý.

Tôi nổi hứng đứng lên trước hàng bao nhiêu Bác Sĩ, bạn bè tứ phương tụ tập vui chuyện chúc mừng. Tôi ra câu đối chúc mừng tân Lang và tân Giai nhân. Vế đầu tôi đọc lên: "Bốn mươi tuổi tròn, răng không còn, Thầy Lang cưới vợ!" Nếu ai đối hợp ý thì được toàn thể cử tọa vỗ tay và cụng ly với một chai rượu tây chính cống!

Thế là một không khí ồn ào náo nhiệt bàn tán về ý của câu đối và rất nhiều tài danh viết nạp câu đối. Cuối cùng một anh bạn, nay đã quy tiên, có câu đối như thế này: "Hai mươi tuổi lẻ, vẫn còn trẻ, Y Tá vu quy". Câu đối được chấm xuất sắc!


Tôi và gia đình không được nhập cư SàiGòn với cha mẹ tuy trước năm 1975 chúng tôi có tên trong hộ khẩu. Vì thế nên chúng tôi phải đi vùng "KinhTếMới" ở ĐồngNai. Thời gian nầy Thại làm việc tại Bệnh Viện "Bệnh Nhiệt Đới" Chợ Quán. Cha Mẹ vợ Thại có con ở Hoa Kỳ đang làm bảo lãnh cho toàn thể gia quyến sang Mỹ. Lê Văn Thại lúc đó đã có được 1 con gái kháu khỉnh dễ thương tên Ngọc. Hắn không muốn ra đi "Tùy theo quê vợ" nên cứ dùng dằng "em chả"! Nhưng cuối cùng thì cũng phải vì tương lai con gái mà "theo em xuống thuyền".


Về phần tôi, năm 1990, cả gia đình tôi được giải thoát theo HO3 tháng 7 năm 1990 và định cư ở Nam Cali. Gia đình Thại, vì không đủ 3 năm ở tù nên được đoàn tụ với đại gia đình vợ, định cư tiểu bang Oregon! Hắn quyết tâm học và quyết tâm lấy cho được bằng Bác Sĩ ở Hoa Kỳ, dù Hắn lúc đó đã lớn tuổi và sau năm 1990 thì chuyện học lấy BS rất khó! Vì nhiều lý do mà Hắn không thể theo học nghề thầy thuốc sau 2 năm gắng sức! Trước kia Hắn học trường Pháp, 7 năm mài quần trong Y Khoa Đại Học Sài Gòn, đậu bằng Bác Sĩ theo chương trình Pháp ở VN. Qua Hoa Kỳ hóa ra Hắn trở thành một tên "lộn chuồng"!

Lúc Hắn than là học khó quá, tôi khuyên Hắn: "Mầy bỏ ý định thành BS ở đây, mầy mở võ đường dạy võ Bình Định Thiếu Lâm hoặc cùng với BS Phạm Gia Cổn dạy võ Hàn Quốc thì tốt hơn". Hắn mĩm cười làm thinh tiếp tục hành hạ thân xác vì sĩ diện (?!).

Chính vì thế mà Hắn chán đời, chán vợ, chán con, lặn sâu qua tiểu bang Delaware với mấy bạn Biệt Động Quân chán đời, cùng ở dưới hầm nhà hơn 8-9 năm trời để săn bắn và nhìn trời chiều bảng lảng!  Khi con gái Hắn đậu bằng Bác Sĩ, hắn lên tinh thần và về lại Cali ở với con gái. Bác Sĩ Ngọc rất có hiếu và chăm sóc tận tình, chiều chuộng ông cha già ương ngạnh!


Tháng 3 năm 2019, Hắn được xe cấp cứu ò e, chở vào Fountain Valley nằm đã gần 10 ngày. Tôi vào thăm, Hắn nhìn tôi cười đểu: "Ê Lùn! sao không xách theo chai nào mà đi không vậy?" Cầu mong Hắn chóng qua cơn "bệnh viện", tôi sẽ nói với bà xã đúc bánh xèo "dõ" (chỉ có bột gạo) kiểu Tam Quan, hắn rất thích, chấm với mắm nêm; đải Hắn một bữa với vài ly xây chừng! Bây giờ Hắn cũng không còn uống được mấy ly, nhưng gà vẫn còn nhớ tiếng "gáy" một thời vang bóng!


Sau 3 năm ở với con gái tối ngày đi trực bệnh viện vì dịch Covid-19 và là Bác Sĩ chuyên khoa, con gái Hắn ít khi ở nhà với Hắn. Nơi ở của Hắn và con gái xa Westminster 2 giờ lái xe trên xa lộ, chung quanh rất ít người Việt Nam sinh sống. Hắn không dùng Iphone, không chơi internet, không lấy bằng lái xe... Bao năm tháng ở cái xứ Hoa Kỳ nầy mà như Hắn thì có phải chính Hắn tự hủy hoại mình và hành hạ thân xác dẫn đến chỉ một đường... tự giải thoát!

Được vợ Hắn báo tin Hắn đã được giải thoát ngày 3 tháng 3 năm 2022, tôi đang lái xe, phải dừng lại bên lề đường vì xúc động. Bây giờ Hắn nằm xuống, con gái Hắn không thể làm gì hơn là ngồi khóc, vợ Hắn thì đã sang ngang từ bao nhiêu năm rồi. Nhưng phút cuối cùng Hắn cũng được gục chết bên vợ con với những lời trăn trối sau cùng nhắn với bạn bè chào vĩnh biệt!

Một người tài hoa không giống ai, một Bác Sĩ không giống ai, một người bạn mà mọi người đều cảm mến! Hắn là Lê Văn Thại!


Tháng 3 năm 2022

letamanh

 

Chỉ Mành Treo Chuông - Đỗ Công Luận

Bữa Cơm Gia Đình


Hồi nhỏ, tôi đã từng nghĩ mâm cơm gia đình là một điều hiển nhiên, một nghi lễ bất biến. Chiều nào cũng vậy, cứ tầm năm sáu giờ, cả nhà chúng tôi lại quây quần bên chiếc bàn gỗ cũ. Mùi cá kho tộ của mẹ thơm lừng gian bếp. Ba tôi, sau một ngày làm việc, sẽ kể vài câu chuyện vui. Chị Hai thì líu lo về những chuyện ở trường.

----
Bữa cơm không chỉ để no bụng, nó là một cái hẹn, một điểm dừng sau một ngày dài, nơi mọi người trút bỏ những lo toan và kết nối với nhau. Ngọn lửa trong bếp của mẹ không chỉ làm chín thức ăn, nó còn giữ ấm cho cả gia đình.
Tôi không rõ sự rạn nứt bắt đầu từ khi nào. Có lẽ, nó bắt đầu từ chiếc điện thoại. 

Đầu tiên, chị Hai mang điện thoại lên bàn ăn. Chị vừa ăn vừa cắm mặt vào màn hình, cười một mình với những tin nhắn. Những câu chuyện của chị về trường lớp thưa dần, thay vào đó là sự im lặng và những câu trả lời nhát gừng.
Rồi đến ba tôi, ông cũng bắt đầu xem tin tức, trả lời email công việc ngay trong bữa ăn. Không khí trên bàn ăn loãng dần. Những cuộc trò chuyện bị cắt vụn.
Rồi những chiếc ghế bắt đầu trống

"Tối nay con không ăn cơm nhà, con đi học thêm."
"Ba có hẹn tiếp khách, cả nhà cứ ăn trước đi."

Những lý do nghe có vẻ rất chính đáng. Cuộc sống hiện đại mà, ai cũng bận rộn. Nhưng tần suất lời từ chối ngày một dày hơn. Mâm cơm cứ vơi dần, không phải vì nhà thiếu thốn, mà vì thiếu người ăn.

Mẹ tôi vẫn nấu, nhưng bà bắt đầu nấu ít lại. Những món cầu kỳ ngày xưa được thay bằng các món đơn giản hơn. Bà nói cho đỡ mất công, nhưng tôi biết, trong lòng bà có một nỗi buồn không nói thành lời. Ngọn lửa trong bếp dường như cũng bớt nồng nhiệt hơn trước.                                  

Mâm cơm từ một nơi sum vầy, dần trở thành một nghĩa vụ. Khi có đủ người, không khí cũng không còn như xưa. Ba tôi, mệt mỏi vì công việc, dễ cáu gắt vì những chuyện nhỏ nhặt.

Chị Hai thì chê món này mặn, món kia nhạt, chị nói trên mạng thấy người ta nấu ngon mà sao mẹ mình nấu không ra gì.

Sự im lặng bao trùm, nặng nề đến mức có thể nghe rõ tiếng nhai, tiếng bát đũa va vào nhau. Mọi người ăn thật nhanh, như để trốn thoát khỏi chính bữa cơm của gia đình mình.

----- 

Đỉnh điểm là vào ngày sinh nhật của Mẹ
Tối tôi thấy mẹ nằm trằn trọc suy nghĩ gì đó. Tôi không hiểu chuyện gì.

Hôm sau, tôi thấy mẹ đi chợ từ rất sớm, nấu một bàn đầy những món mà cả nhà đều thích, hy vọng sẽ có một bữa tối ấm cúng như xưa.

Mẹ không báo trước để cho cả nhà bất ngờ, tôi thì thấy nghi nghi. Ngồi nhớ lại thì biết hôm nay sinh nhật mẹ. Mà nghĩ lại, ba với chị tệ thật, sinh nhật mẹ cũng không nhớ.

Buổi chiều hôm đó, chị Hai gọi điện báo có hẹn đi sinh nhật bạn thân đột xuất. Gần tối, ba cũng báo bận một cuộc họp quan trọng không về kịp.

Chỉ còn lại tôi và mẹ, ngồi trước một bàn đồ ăn thịnh soạn đang nguội dần. Mẹ không nói gì, chỉ lẳng lặng xới cho tôi một chén cơm. Nhưng khi mẹ quay đi, tôi thấy bờ vai gầy của mẹ rung lên. Bà đang khóc.

Bà gạt vội nước mắt, nhìn tôi cười gượng: "Mẹ không sợ cực, mẹ chỉ sợ nấu ra không có ai ăn... Cái nhà này, đến nỗi ăn với nhau một bữa cũng khó vậy sao?"

Câu hỏi của mẹ như một nhát dao cứa vào lòng tôi. Tôi chợt nhận ra, chúng tôi đã để mọi thứ đi quá xa. Chúng tôi đã xem sự hiện diện của nhau, sự chăm sóc của mẹ là điều hiển nhiên, để rồi mải miết chạy theo mối bận tâm của riêng mình.

-----

Sự tan vỡ của một gia đình không phải lúc nào cũng bắt đầu từ những xung đột lớn lao, từ những lời chì chiết, mắng nhiếc.

Đôi khi, nó lại bắt đầu từ chính mâm cơm, khi người ta không còn muốn ăn cùng nhau nữa. Người ta xem đó là một thói quen cứng nhắc, một nghĩa vụ, chứ họ không nghĩ rằng đó là sự tự nguyện, sự trân quý, sự yêu thương mà mỗi người cần có để kết nối với người thân trong nhà mình.

Bởi vì khi họ từ chối một bữa ăn, thực ra là họ đang từ chối dành thời gian, sự quan tâm và lắng nghe cho những người thân nhất.

Tối hôm đó, tôi không nói gì nhiều. Tôi chỉ ngồi xuống, ăn hết phần cơm của mình, và khen đồ ăn mẹ nấu rất ngon. Tôi nói chuyện với mẹ nhiều hơn, về những điều nhỏ nhặt nhất, điều mà đã lâu rồi tôi không làm.
Tôi thấy mẹ cười nhiều hơn, tôi cũng vui hơn.

Hóa ra, để hàn gắn một gia đình, đôi khi chẳng cần điều gì lớn lao. Nó bắt đầu đơn giản bằng việc, chúng ta đặt điện thoại xuống, nhìn vào mắt nhau, và cùng nhau ăn bữa cơm. Thường xuyên. Hỏi han. Quan tâm. Thế là đủ!

 

Nguồn: Vandieuhay.net

Sunday, April 19, 2026

Viếng Thăm Nhà Hàng Les Grands Buffets Pháp - Nguyễn Duy Phước

Lần này mời quí vị đi viếng thăm nhà hàng Les Grands Buffets ở thành phố Narbonne, nằm ở phía Nam nước Pháp, ven biển Địa Trung Hải và cách biên giới Tây Ban Nha gần 100 km. 

Tuy mang tên "Buffet" nhưng không phải là một nhà hàng thuộc loại bao bụng Tàu từng thấy. Không đâu, đây là một nhà hàng không thua gì loại 3 sao của Michelin, với một chương trình ẩm thực gồm cả trăm món ăn đặc sắc của Pháp, với một cách thiết kế và trang trí bên trong lộng lẫy không kém gì các cung điện, và với một cách tiếp đãi nồng hậu của toàn thể nhân viên. Để tóm tắt, đây là một nhà hàng độc nhất vô nhị ở Pháp và ngay cả trên thế giới. 

Nguyễn Duy Phước

Quá Tam Ba Bận - Ngọc Thanh Thi



Trên đời này chắc trong mười người thì hết chín người phản đối câu nói này của tôi: “Đàn ông cưới vợ lần thứ ba là đại phúc. Đàn bà lấy chồng lần thứ ba là đại họa”


Cũng có thể tôi “suy bụng ta ra bụng... mình” nên mới nói thế, nhưng trên có trời, dưới có đất giữa có... bà vợ thứ ba của tôi xin thề tôi đang nói hết sức thành thật. Thiên hạ khoan lên án tôi cổ suý cho cái thói đa thê, đa tình, đa... gì gì đó bởi vì chính tôi rất ghét sự ngoại tình. Thật sự thì dù cưới vợ ba lần nhưng tôi vẫn là một người đàn ông chung thủy có đóng dấu của ba bà vợ hẳn hoi. Người ngoại tình với tôi là một kẻ rất yếu đuối, vì sao? Họ không dám dứt bỏ sự chán nản bên cạnh bởi vì những quyền lợi và những sự ràng buộc quá lớn. Họ cũng không muốn dứt bỏ sự êm ái, vui vẻ mà họ đang hưởng bởi vì lòng tham cũng chẳng kém gì điều thứ nhất. Thế nên bốn nhân vật nổi bật trong truyện Kiều thi hào Nguyễn Du tôi phục nhất là Kim Trọng và khinh thường nhất là Thúc Sinh. Sở Khanh đối với tôi lại không đáng lên án vì đó là “nghề nghiệp” của anh ta, còn Từ Hải mang tiếng anh hùng hảo hán mà thiếu thông minh đến nỗi mang họa vì đàn bà thì cũng chẳng đáng khâm phục. Chính vì tư tưởng chung thủy đàng hoàng đó mà tôi phải lấy vợ... ba lần, thay vì ngoại tình... ba chục lần.

 

Người vợ đầu tiên của tôi là một cô bạn cùng lớp. Quê cô hình như ở một địa danh gì đó tên Chắc Là Bí Đao hay Chắc Cà Đao gì đó. Cha cô tập kết ra Bắc không hẹn ngày trở về, mẹ cô dắt con lên Sài Gòn lập nghiệp. Hồi đó cô học giỏi lại khá xinh đẹp nên lắm người theo đuổi. Hồi đó chả ai quan trọng chuyện ”sơ yếu lý lịch”, kỳ thị con cộng sản hay con quốc gia, hễ ai học giỏi có đạo đức thì được mọi người thương mến.Vậy thôi! Bằng chứng ba tôi là sĩ quan trong chế độ cũ, tôi theo đuổi cô mà chẳng nghĩ ngợi gì. Trong mắt tôi, cô là người con gái đẹp, thông minh, xứng với tôi vì trong lớp tôi cũng là một nhân vật thuộc hạng “con nhà giàu, học giỏi, viết chữ đẹp”. Tôi lại có tài đàn hát nữa nên dễ dàng đánh bật các đối thủ khác để chiếm được trái tim người đẹp. Cuộc tình đang đến hồi du dương thì cô đột nhiên mất tích để đến sau 30/4/75, lúc đưa ba tôi ra phường đi trình diện học tập cải tạo tôi mới thất kinh nhìn thấy người yêu cũ ngày nào trở thành “đồng chí Chủ tịch Ủy ban Nhân dân” với mái tóc thắt bím, áo trắng, quần đen, mặt mày đằng đằng sát khí. Thôi rồi còn chi đâu em ơi! Tôi than thầm tiếc cho một yểu điệu thục nữ trong tà áo trắng học trò tinh khôi ngày nào giờ, trở thành... bà la sát. Hú vía! Thấy mặt tôi xanh mét như các đồng chí đồng rận của cô lúc bị sốt rét rừng, cô động lòng thương nhỏ nhẹ nói với cha con tôi là đừng lo chỉ đi học tập có 10 ngày rồi về thôi. Cô còn khuyên tôi cố gắng học tiếp chương trình đại học y khoa đang dang dở vì “nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đang cần những người như tôi. Cha con tôi trở về tâm hồn khá xúc động đậy trước thái độ tử tế của cô. Mẹ tôi an tâm chuẩn bị hành lý cho chồng đi học tập gì đó trong 10 ngày. Hai tuần sau chẳng thấy tăm hơi bố tôi đâu cả. Hai mẹ con hốt hoảng lên phường định chất vấn lũ ”đầy tớ nhân dân” láo toét thì thấy “quân ta” cũng đang đứng đầy ở đó để hỏi tin tức người nhà, ai cũng có vẻ tiều tụy, đầy nét lo âu, sợ hãi, chán chường. Lần này tôi chẳng thấy đồng chí “chủ tịt” người yêu cũ đâu, chỉ có một gã “phó chủ tịt” ốm đói ho hen, răng vẩu, mở miệng ra là sặc mùi thuốc lào. Tên “đầy tớ” rống lên trước bao nhiêu “nhân dân” đang đứng trước mặt:

 

– Đồng bào đừng có no cứ để đảng, nhà lước no! Những thành phần ngụy quân ngụy quyền phản động lày phải được đi tẩy lão một thời gian để chúng ló biết được tội ác của mình chống lại đảng và nhân dân. Sau đó chúng ló sẽ được khoan hồng trở về đoàn tụ gia đình.

 

Mọi người ngơ ngác, vì chả hiểu thằng cha này đang nói tiếng người hay tiếng... dã nhân nhưng cuối cùng cũng đành tiu nghỉu ra về vì chẳng làm được gì. Tối đó, “đồng chí người yêu cũ” đến thăm. Tôi giật mình nhìn quanh, mẹ tôi vừa nhác thấy đã bỏ lên lầu chẳng thèm nói câu nào.

 

– Huyền tìm tôi có việc gì không?

 

– Lâu rồi không gặp lại. Thắng khác nhiều quá! Bộ có người mới rồi sao?

 

Câu nói có vẻ hờn dỗi của cô làm tôi chạnh lòng nhớ lại những kỷ niệm êm ái xa xưa lúc tôi chở cô trên chiếc xe máy và cố ý đạp ga thật mạnh để em sợ áp sát vào tôi, cả hai đều có cảm giác đê mê lạ lẫm của tình yêu đầu của tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống. Tôi mời cô vào nhà. Tối đó cúp điện, dưới ánh đèn dầu lờ mờ tôi thấy cô khác xưa nhiều lắm. Nét hồn nhiên, trong trắng ngây thơ dường như hoàn toàn biến mất, trước mặt tôi là một cô gái dày dặn, thoang thoảng mùi... sát thủ làm tôi hơi ớn ớn.

 

Tôi ngập ngừng:

 

– Từ hồi Huyền mất tích, tôi hỏi thăm khắp nơi nhưng chẳng có tin tức gì. Nghe nói Huyền... Huyền... vào bưng.

 

Cô nhìn tôi đăm đăm, tất cả con người cô chỉ còn lại cái nhìn này, không che giấu được một thuở yêu đương say đắm.

 

– Đúng vậy! Thế thì Thắng có ghét Huyền không?

 

Tôi thở dài tự nhiên một khoảng cách mênh mông hiện ra trước mắt tôi. Tương lai sẽ ra sao, tôi không biết nữa. Rồi một câu hỏi chợt bật ra mà tôi đã không kìm chế được:

 

– Bố của Thắng sẽ ra sao? Người ta có trả thù ông không?

 

Huyền trầm ngâm một lát rồi khẽ nói:

 

– Chuyện này.,, chuyện này... Huyền cũng không thể nói được gì. Bố của Thắng đã gây tội ác với nhân dân quá nhiều, giờ phải đến lúc phải đền tội thôi.

 

Tôi căm phẫn nhìn cô trừng trừng, kỷ niệm xưa, tình yêu cũ chợt biến sạch trong tôi như một cơn bão lớn cuốn đi cả cánh rừng xanh tốt.

 

– Có nghĩa là bố tôi bị đem đi…

 

Hiểu ý tôi, Huyền vội trấn an:

 

– Không! Nhưng những thành phần ngụy quân ngụy quyền này sẽ được đưa vào các trại cải tạo một thời gian. Đó là chính sách đứng đắn của đảng và nhà nước…

 

Tôi giơ tay, nghẹn giọng:

 

– Đủ rồi!

 

Huyền đứng dậy nhìn tôi một thoáng ái ngại:

 

– Nếu Thắng thật sự cần Huyền giúp đỡ thì cứ nói nhưng Thắng cũng phải thay đổi lập trường chính trị của mình đi!

 

Cô đi rồi, mẹ tôi lật đật xuống lầu hỏi tin, tôi kể lại, bà khóc nức nở:

 

– Làm sao bây giờ hả con? Mẹ biết tính bố con quật cường, ngang bướng lắm, chắc sẽ bị chúng nó…

 

Bà không nói tiếp được nữa, ngồi phịch xuống ghế khóc to hơn. Tôi an ủi mẹ mà cảm thấy lòng mình cũng đau như cắt.

 

– Mẹ đừng lo! Để con ráng xoay sở.

 

– Xoay sở cách nào hả con?

 

Tôi ấp úng:

 

– Con định nhờ... cô bạn học cũ của con bây giờ là chủ tịch phường can thiệp thử.

 

Mẹ tôi ngập ngừng hỏi:

– Nhưng mà... Việt Cộng có tin được không con? Chúng nó nói đưa bố đi có 10 ngày thì về thế mà bây giờ... biệt tích luôn.

 

– Nhưng cũng đành phải nhờ vả thôi mẹ ạ! Bây giờ mình còn đường nào đâu.

 

Tôi định nói: ngay cả cái nhà đang ở đây cũng không biết có giữ được không nhưng sợ mẹ buồn hơn nên đành im lặng. Tuy an ủi mẹ như thế nhưng tính tôi cũng chả khác gì bố tôi cho lắm, nghĩa là cũng tự ái ngất trời. Quỵ lụy đàn bà đối với cha con tôi là một cái nhục không biết rửa mấy sông cho hết. Nam nhi đầu gối có vàng ròng mà! Chần chừ lần lữa cả tháng, mẹ tôi hối thúc mãi tôi đành vác mặt và cả cái đầu gối chẳng có tí vàng nào đến gặp “đồng chí chủ tịch người yêu cũ”. Tôi như một bị cáo đứng giữa ba bàn làm việc dàn ba phía, gã phó chủ tịch, gã thư ký phường ngồi hai bên làm tôi chẳng biết nói gì. Huyền cũng ”trở mặt” trắng trợn nói tôi phải cẩn thận với tụi phản động CIA Mỹ còn cài đặt tại đây (mặc dù tôi biết chắc chính cô ta cũng chẳng biết CIA đang ở đâu nữa). Tôi đứng im nghe cô giảng dạy về chính sách “diều tha quạ mổ” gì gì đó của nhà nước “chó ngáp phải ruồi” để cuối cùng bị đuổi thẳng cánh với câu nói:

 

– Thôi anh về đi! Trường hợp của bố anh sẽ được cứu xét tùy theo tội ác mà ông ta đã gây ra cho nhân dân.

 

Bố tôi, một bác sĩ quân y cả đời cứu người không phải chỉ cứu người quốc gia mà cứu cả những người cộng sản nữa trong chiến tranh, không biết ông sẽ được “cứu xét” thế nào đây? Tôi về nhà ấm ức mà chẳng biết làm sao chỉ biết cằn nhằn mẹ đổ thừa cho bà hối thúc làm tôi nhục nhã trước bàn dân thiên hạ mặc dù lúc đó chỉ có... ba người ở đó. Mẹ tôi buồn rầu bỏ vào phòng im lặng cả ngày, tôi hối hận vội chạy vào xin lỗi. Bà chỉ nhìn tôi dịu dàng nói:

 

– Mẹ hiểu tính con hệt như bố nhưng rồi con xem, cuộc đời từ nay sẽ khác, cả hai bố con sẽ khổ vì cái tính cao ngạo này.

 

Trên đời này tôi ghét nhất hạng thầy bói nhưng từ khi mẹ tiên đoán tương lai của cha con tôi thì tôi tin mẹ tôi mà làm “bà bói” là trúng phóc. Những ngày sau đó, tôi vừa đi học vừa đi đào kinh đắp đất. Mẹ tôi mở tiệm trà nước, làm bánh trái lặt vặt để bán. Bà khéo tay lại chăm chỉ, cách ăn nói hòa nhã nên “cửa tiệm” khá phát đạt. Ít lâu sau, Huyền lại đến thăm, lần này tôi nhất quyết không mời vào nhà.

 

– Huyền có tin của bác trai.

 

Câu nói ngắn gọn này kéo cả hai mẹ con tôi sát lại gần cô. Khi biết bố tôi bị đẩy tuốt luốt ra tận miền Bắc xa xôi, mẹ tôi oà lên khóc còn tôi đứng chết lặng. Huyền nói nhỏ:

 

– Thắng bình tĩnh! Để Huyền nghĩ cách giúp cho.

 

Ít lâu sau, cô đến thăm vào buổi tối, bữa đó cũng vào ngày cúp điện hình như cô đến toàn vào những ngày cúp điện thì phải? Lần này, mẹ tôi thân hành mang trà bánh ra mời, còn tôi vội gỡ  bỏ lớp vàng ròng trên đầu gối để tiếp cô. Huyền nói gần nói xa than thở bị gã phó chủ tịch phường rồi đến lão chủ tịch quận theo đuổi làm cô đau đầu quá. Cô kể lại những kỷ niệm của ngày xưa rồi nói bóng nói, nói gió: bố tôi có thể ra tù cải tạo nếu ông là người... có công với cách mạng. Trời đất! Bố tôi, người cùng anh em binh sĩ ở lại liều chết với tụi Việt Cộng đến giờ chót mà công cán gì với tụi nó? Tôi vốn thông minh nhưng tìm mãi trong gia phả ba đời nhà tôi cũng chẳng thấy có công gì với cách mạng. Ông bà nội ngoại tôi là địa chủ, cường hào, người bỏ của chạy vào Nam, người ở lại bị đấu tố đến chết. Ông cố tôi làm việc cho Pháp. Hiền lành nhất là mẹ tôi, cô giáo dạy sử trong một trường công lập.

 

– Nói thật với Huyền, nhà tôi toàn là người “có tội” với cách mạng giờ mới làm sao?

 

– Thì… Thắng tìm cho mẹ cô con dâu... có công với cách mạng là được rồi.

 

Ối giời ơi! Lần đầu tiên tôi mới biết “cọc tìm trâu” là như thế nào? Mặt cô nàng tỉnh bơ nhưng tôi biết má mình đang nóng bừng bừng vì... mắc cỡ giùm. Thấy tôi ngồi yên lâu quá, cô nàng hơi ngượng nên vội vàng cáo từ.

 

Thời gian sau mẹ tôi thu xếp đi thăm nuôi chồng, lúc về bà bỏ ăn khóc sưng cả mắt. Bà bảo với tôi:

 

– Bố con chắc chết mất! Trời ơi! Tụi Việt Cộng này nó ác quá!

 

Bà kể lể cho tôi nghe tình trạng thảm thương của bố tôi và các bạn tù ra sao làm tôi cũng rơi nước mắt. Bố tôi thảm thế nào thì đã rõ nhưng tôi sợ mẹ lo nghĩ quá hóa điên nên cuối cùng đành phải nói thật hết với mẹ ý định của Huyền. Mẹ nắm chặt lấy cánh tay tôi khẩn khoản:

 

– Con thấy sao? Thôi thì... cứu bố trước đã, được không con? Dù sao ngày xưa con cũng yêu nó mà.

 

Thế là tôi cưới vợ, vậy mà mãi đến cả năm sau bố tôi mới ra tù. Sợ bố về sẽ có chuyện với “đồng chí con dâu”, mẹ bàn với tôi về bên nhà vợ ở một thời gian để bà khuyên ông đã. Biết tính bố, tôi năn nỉ Huyền với lời hứa sẽ thuyết phục mẹ bán nhà mua cho hai vợ chồng một căn nhà nhỏ ra riêng. Tham lợi, cô vợ mới đồng ý ngay. Dù quả thật là lấy được người mình đã từng yêu và người đó cũng yêu mình nhưng đời sống vợ chồng tôi thật... kinh hoàng! Mỗi lần nói chuyện với nhau tôi toàn nghe cô nói về đảng và nhà nước, chính sách này, chế độ nọ. Cô thường đi họp hành, công tác. “Đồng chí đồng rận” của cô ta toàn là một lũ “đỉnh cao trí tuệ” của... con bò. (Ấy chết! Nói thế là còn xúc phạm con bò đấy!) Mỗi lần gần gũi, từ người cô cứ như tỏa ra... mùi sát khí làm tôi ghê ghê rờn rợn mất cả hứng thú. Cuối cùng, bố mẹ tôi bán nhà thật, bố gọi tôi về rồi nghiêm trang bảo:

 

– Bố mẹ có đường dây “đi”. Nếu bố mẹ có mệnh hệ gì con cứ lấy 30/4 làm ngày giỗ.

 

Tôi nhìn bố thật lâu rồi kiên quyết nói:

 

– Cho con đi! Con cũng muốn chết chung với bố mẹ. Đời sống này con không thể chịu đựng được nữa rồi

 

– Nhưng ông bà nội chỉ có mình con là cháu đích tôn.

 

– Nếu cô ta có con thì con cũng có thể suy nghĩ lại. Đằng này, không biết nhà ai... vô phúc.

 

Cuối cùng, tôi viết cho Huyền một lá thư dài với tờ đơn ly dị ký sẵn rồi lặng lẽ ra đi, chấm dứt cuộc hôn nhân đầu đầy cay đắng tủi nhục.

 

Chuyến đi may mắn trót lọt, chắc ông bà phù hộ cho nhà tôi không tuyệt tự. Đến đảo, tôi bắt buộc phải lấy vợ... lần hai. Lần này thì tôi là người ra ơn. Người vợ thứ hai nhan sắc trung bình. Chồng cô là lính Việt Nam Cộng Hoà, mất tích trong những ngày loạn lạc cuối cùng. Bố mẹ chồng chết sớm, bố mẹ đẻ cũng bị pháo kích Việt Cộng chết. Cô về ở với anh trai, chị dâu nhưng hoàn cảnh khó khăn khắc nghiệt quá nên cuối cùng cô đành phải đi theo một người bà con xa về vùng biển tìm cách mưu sinh bằng nghề bán cá. Tình cờ, cô phát hiện ra một chuyến vượt biên, sợ bị lộ, họ đành cho cô đi theo. Đến đảo, tứ cố vô thân lại hiền lành chất phác chẳng biết làm gì, ngày nào cô cũng ra ngồi trước lều nhìn ra biển và khóc. Mẹ tôi thương cảm, hỏi han ra mới hay chồng cô xưa cũng là lính dưới quyền bố tôi. Bố mẹ tôi thấy  tội nghiệp bèn khuyên tôi cưới cô... làm phúc. Chuyện này thì cả nhà tôi đều giống nhau, khẳng khái với kẻ thù nhưng lại động lòng trắc ẩn với người khốn khổ. Cô tuy ít học không xinh đẹp nhưng hiền lành chân chất nên tôi cũng thương. Tôi đồng ý lấy để cô có cơ hội ra đi đến xứ sở tự do làm lại cuộc đời. Qua Mỹ, cô chẳng biết nương tựa vào đâu nên đành lẽo đẽo theo gia đình tôi. Bản tính chăm chỉ chịu khó, nhẫn nhịn nên cô được lòng cả nhà, năm dài tháng tận, chúng tôi cũng thành vợ chồng thật sự. Dù sau đó có một đứa con với nhau, không hiểu sao tôi cũng chẳng thể yêu được cô. Trong tôi luôn có điều gì đó bất như ý, có lẽ vì cô quá hiền lành đến mức khù khờ, “tháng tám cũng ư, tháng tư cũng gật”. Hình như ngoài chuyện làm cá và... kho cá ra, cô chẳng còn biết chuyện gì khác nữa. Tôi học tiếp ra trường thành một bác sĩ nhưng không cứu được bố mình.  Ông đã mất vì căn bệnh ung thư có lẽ trong thời gian đi tù cải tạo, ông đã suy nhược quá từ thể xác đến tinh thần. Bố mất, cả nhà như con thuyền giữa biển bị gãy mất cột buồm chính. Năm sau, cô vợ chất phác của tôi ngập ngừng nói với tôi rằng đã có tin tức người chồng cũ, cũng vượt biên, hiện đang ở bên đảo.

 

– Con có còn thương chồng cũ nữa không? –  Mẹ tôi hỏi.

 

– Dạ có! Con thương ảnh lắm, chắc con không bao giờ quên được ảnh.

 

Cô thật thà đến mức tội nghiệp làm tôi cũng cảm động thay vì ghen tuông bực tức. Thủ tục ly dị được tiến hành nhanh chóng, tôi giúp cô làm giấy tờ đám cưới bảo lãnh anh chồng bên đảo. Mẹ tôi ngỏ ý xin cô để lại thằng cháu nội đích tôn cho bà nuôi, cô gạt nước mắt đồng ý vì hiểu rằng đứa con này được sinh ra để trả ơn cho gia đình tôi một cách xứng đáng. Cuộc hôn nhân thứ hai chấm dứt nhẹ nhàng, tôi không vui mà cũng chẳng buồn bởi vì đôi lúc tự hỏi lòng tôi biết chắc mình chưa từng yêu người đàn bà này và ngược lại. Cả hai lấy nhau vì lòng thương hại, vì ơn nghĩa mà thôi. Đời sống chung lại quá khập khiễng về trình độ, tư tưởng, nếu cố níu kéo cũng chẳng hạnh phúc. Tuy vậy, tôi vẫn chung thủy làm tròn bổn phận, dù tôi thừa sức ngoại tình mà vợ tôi cũng chẳng dám nói gì. Thiên hạ bình phẩm lời ra tiếng vào, kẻ khen người chê thân phận hai đời vợ của mình, tôi cũng mặc kệ, lương tâm tôi thanh thản, thế là đủ!

 

Tuy chưa đến tuổi trung niên nhưng tôi đã bắt đầu cảm thấy chán ngán chuyện tình yêu, chuyện hôn nhân gia đình với tôi hình như chẳng có ý nghĩa gì cả. Mẹ tôi cũng chẳng nỡ nhắc nhở vì hai lần hôn nhân vừa qua, tôi toàn theo ý bố mẹ mà làm nên lần này, bà để yên cho tôi tự định đoạt lấy duyên phận của mình. Từ ngày bố tôi qua đời, mẹ tôi trở nên một tín đồ Phật giáo thuần thành, bà hay nghe kinh, nghe pháp, đi chùa. Tự nhiên, tôi giật mình nghĩ lại mình phải chăng cũng “vô thần” như tụi Việt Cộng? Đến lượt thằng con vào gia đình Phật tử rồi về nhà nheo nhéo kể cho bố nghe nghe lịch sử Đức Phật rồi hết lời khen ngợi cô Diệu Hoa nào đó dễ thương thế này, thế nọ.

 

– Cô Diệu Hoa là sư cô hả? –  Tôi tò mò hỏi nó.

 

Mẹ tôi phì cười thay cháu nội trả lời:

 

– Cô Diệu Hoa là huynh trưởng gia đình Phật tử của chùa. Cô chỉ là Phật tử tại gia thôi. Tên thật của cô hình như là Tuyến Hoa thì phải?

 

– Bà nội ơi! Tên cô là Tuyết Hoa.

 

Thằng cháu vội sửa lại, bà nội mắng yêu:

 

– Ừ! Thì bà nói sai, gớm! Thằng bé này để ý quá đi mất!

 

Cuộc trò chuyện của hai bà cháu làm sự tò mò của tôi càng lên cao độ. Tôi hỏi thằng con:

 

– Bé Huy nè! Bố có được vào gia đình Phật tử với con không?

 

– Để con hỏi cô Diệu Hoa “của con” đã.

 

Thằng bé nói với vẻ đầy quan trọng, mẹ tôi quay mặt đi tủm tỉm cười. Từ đó, tôi siêng năng đến chùa vào cuối tuần, nhờ thằng con... mai mối, tôi làm quen được với nàng. Tôi không thể diễn tả được cảm xúc của mình lúc đó vì trước tôi, nàng vừa dễ thương, xinh xắn như người tình đầu tiên, vừa thông minh nhẹ nhàng như mẹ tôi, vừa hiền lành thật thà như người vợ thứ hai. Nàng có cảm tình với tôi ngay lần đầu tiên gặp gỡ vì tôi đã nói về lịch sử xuất gia của Đức Phật (từ thằng con dạy lại!) và hết lời ca tụng Ngài.

 

Khi tôi tham gia chương trình văn nghệ Vu Lan ở chùa, tôi ôm đàn cho nàng hát bài “Bông hồng cài áo”, rồi bài “Lòng mẹ” thì tôi chợt nhận ra mình đã yêu nàng mất rồi. Khi tôi học đến tứ diệu đế rồi bát chánh đạo thì bao nhiêu những chánh niệm, chánh tư duy tôi dồn hết...   vào nàng. Qua mẹ, tôi biết nàng vẫn là một bông hoa trắng như tuyết: nàng đi diện bán chính thức, vì học rất giỏi nên qua Mỹ không lâu đã tốt nghiệp đại học hạng xuất sắc, sau đó bảo lãnh cho bố và hai em rồi đi làm lo cho cả gia đình ổn định. Mẹ mất sớm, sợ bố buồn, nàng thường xuyên đưa ông đi chùa. Từ đó, nàng cũng ảnh hưởng và tích cực tham gia mọi Phật sự, thành lập gia đình Phật tử. Mùa Vu Lan thứ hai tham gia chương trình văn nghệ thì tôi biết nàng cũng có cảm tình sâu đậm với mình qua ánh mắt, cử chỉ ân cần mỗi khi nàng đem đồ ăn thức uống đến cho. Tôi thuộc lòng chú đại bi chỉ vì một mục đích: cầu nguyện cho con lấy được nàng. Đến bây giờ thì tôi dám khẳng định: chú đại bi linh lắm nếu ai chịu thành tâm trì tụng.

 

Mẹ tôi vui một, con tôi vui mười thì tôi vui... vô tận. Nàng đáng yêu, nhân từ nhưng không nhu nhược. Nàng thông minh, giỏi giang nhưng không độc đoán  kiêu ngạo. Nàng chân thật, biết lắng nghe nhưng không nịnh bợ, a dua. Đức Phật dạy rằng có năm loại vợ tốt, một  trong năm đó là vợ như bạn. Và tôi đã tìm thấy được một người bạn tri âm tri kỷ tuyệt vời của riêng mình. Cảm động nhất là nàng nói với tôi không muốn có con để dồn hết tình thương cho bé Huy vì nó thiếu mẹ từ lúc còn thơ. Nàng còn khuyên tôi bỏ qua mọi chuyện cũ cho Huyền vì dù sao cô cũng có công giúp đỡ bố tôi trong lúc nguy nan. Nàng đề nghị làm một chuyến du lịch đến tiểu bang nơi mẹ ruột bé Huy đang sinh sống với gia đình để mẹ con gặp nhau một lần. Tôi tán thành. Đời sống gia đình của tôi hạnh phúc êm ấm không thể nào tưởng tượng được.

 

Lần mới nhất về Việt Nam cùng nàng, tình cờ gặp lại Huyền, tôi sửng sốt: cô thiếu nữ yêu kiều ngày nào trở thành một người đàn bà phục phịch, núc ních. Dù khá giả giàu có nhưng thẩm mỹ viện cũng chẳng làm gì được cho gương mặt cô ta đẹp hơn. Nghe nói cô ta cũng qua một đời chồng nữa (sau tôi) rồi lại ly dị và bây giờ đang sống với người chồng thứ ba trẻ hơn cô ta tận mười mấy tuổi. Nhưng đó là chuyện bình thường ở xã hội Việt Nam hiện tại, những tên đảng viên có chức có quyền thì tham dâm vô độ, vợ các gã này cũng hăng hái đi ăn chả ăn nem như Huyền. Con cái những kẻ này cũng ăn chơi sa đọa không kém. Không ngờ đảng và nhà nước lại đào tạo ra những tên đầy tớ thoái hóa đến như thế. “Cha già” dân tộc Hồ Chí Minh nếu có sống lại chắc cũng sẽ nói rằng: “Con hơn cha là nhà vô phúc đấy!”

 


Ngọc Thanh Thi