Kim Duncan chuyển
Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Monday, October 26, 2026
Những Công Dụng Kỳ Lạ Của Bia Chắc Chắn Bạn Chưa Biết
Thường khi nói đến “bia”, là chúng ta chỉ nghĩ đến “uống”. Nhưng
những công dụng sau đây, sẽ thay đổi suy nghĩ này của chúng ta.
Tuyển tập công dụng kỳ lạ của bia
- Bia
nuôi dưỡng tóc và giúp tóc nhanh dài
- Bia
giúp da chắc khỏe và mượt mà
- Bia
giúp ngủ ngon hơn
- Giúp
thư giãn chân
- Giúp
tẩy các tế bào da chết
- Để
ướp thịt bò
- Giúp
làm sáng đồ gỗ
- Bẫy
côn trùng
- Giúp
kim loại sáng bóng hơn
- Giúp
tháo gỡ ốc vít dễ dàng
- Bia
giúp nấu cơm ngon hơn
- Bia
giúp dập lửa nhanh chóng
- Dùng
bia thay sữa tắm
- Dùng
bia làm mồi nhử để bắt chuột
Sau
đây là những công dụng của bia, được trang Bright Side tổng hợp.
Bia
nuôi dưỡng tóc và giúp tóc nhanh dài
Bia
rất giàu vitamin B và silicon, những thành phần chủ yếu đối với một mái tóc khỏe
và để kích thích tóc mọc. Chỉ cần rót một ly bia vào tóc của bạn, matxa da đầu,
để thế trong 5 phút, sau đó gội sạch lại bằng nước lạnh. Tóc bạn sẽ bóng mượt
chưa từng có.
Bia giúp da chắc khỏe và mượt mà
Bia
chứa các chất chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa lão hóa da. Nhưng, thật đáng ngạc
nhiên, thức uống có cồn này có một lợi ích tuyệt vời, đó là làm tăng khả năng tự
phục hồi của da, giúp da se lại, làm giảm các nếp nhăn nhỏ.
Hãy
thử làm loại mặt nạ này: trộn 1 thìa bia, một lòng trắng trứng, và 3 giọt tinh
dầu hạnh nhân. Rửa sạch mặt sau đó đắp mặt nạ này lên, để trong 10 phút.
Bia
giúp ngủ ngon hơn
Hoa
bia là một trong những thành phần quan trọng của bia. Đó là một loại thuốc an
thần tự nhiên được biết đến như một phương thuốc thảo dược có hiệu quả chữa chứng
mất ngủ.
Bạn
có thể thử mẹo đơn giản này: giặt sạch gối bằng một lượng nước và bia tương
đương nhau. Các sợi vải sẽ hấp thụ mùi thơm của hoa bia và giúp bạn đi vào giấc
ngủ nhanh hơn.
Giúp
thư giãn chân
Ngâm
chân trong bia lạnh trong vài phút. Các hiệu ứng sủi bọt của
bia sẽ giúp đôi chân của bạn thư giãn sau một ngày dài vất vả.
Giúp
tẩy các tế bào da chết
Ngoài
làm khỏe da, bia còn giúp loại bỏ các tế bào da chết. Hãy lấy một ít dâu tây và
một vài thìa bia, trộn các thành phần với nhau cho đến khi bạn có được một hỗn
hợp keo sệt. Thoa lên mặt để loại bỏ các tế bào chết và các tạp chất, kích
thích tái tạo tế bào.
Để
ướp thịt bò
Bia
là một lựa chọn tuyệt vời nếu bạn muốn ướp thịt mà không thay đổi hương vị của
nó. Ướp bia với thịt và để tủ lạnh. Ngày hôm sau, bạn sẽ có thể tận hưởng món
thịt thơm ngon mà mềm mại.
Giúp
làm sáng đồ gỗ
Rót
một ít bia ấm vào vải mềm, lau lên bất kỳ bề mặt gỗ nào cần được chăm sóc. Kết
quả là đồ đạc của bạn sẽ sáng bóng và trông như mới.
Bẫy
côn trùng
Bia
khiến ruồi không dám lại gần thức ăn của bạn. Chỉ cần đổ một ít bia vào ly, bọc
ngoài bằng giấy nhôm, và chọc thủng một vài lỗ nhỏ. Những con ruồi bị thu hút bởi
mùi của thức uống, sẽ chui vào, nhưng chúng sẽ không bao giờ có thể quay ra.
Bạn
cũng có thể thử cách này với gián.
Giúp
kim loại sáng bóng hơn
Bia
có độ axit thấp, rất hoàn hảo để đánh bóng kim loại, như chậu nhôm và đồ trang
sức. Chỉ cần đổ một ít bia vào một miếng vải và chà xát lên các vật bằng kim loại.
Bạn cũng có thể thử ngâm trong một vài phút. Sau khi sấy khô bằng một miếng vải
bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy các vật dụng kim loại của bạn trở nên sáng bóng trở
lại.
Giúp
tháo gỡ ốc vít dễ dàng
Các
axit trong bia có thể phá vỡ các loại rỉ sét, giúp bạn tháo gỡ ốc vít dễ dàng
hơn. Đổ một ít bia trên ốc vít, chờ một vài phút, và thử lại.
Bia
giúp nấu cơm ngon hơn
Thay
vì dùng nước lã, bạn hoàn toàn có thể dùng bia để nấu cơm như bình thường. Do
được làm từ nhiều hợp chất đặc biệt nên bia sẽ giúp cơm dẻo và có mùi vị thơm
ngon hơn hẳn.
Bia
giúp dập lửa nhanh chóng
Về
cơ bản, bia vẫn là nước nên trong trường hợp nhà không có bình cứu hỏa, bạn vẫn
có thể tận dụng luôn bia để dập lửa khi sự cố bất ngờ xảy ra.
Dùng
bia thay sữa tắm
Ngâm
mình bằng bia thay vì dùng sữa tắm cao cấp không chỉ tiết kiệm tiền mà còn khiến
làn da của bạn mịn màng và sáng hơn hẳn đấy.
Dùng bia làm mồi nhử để bắt chuột
Không
chỉ có con người mà chuột cũng đặc biệt thích mùi thơm của bia nên nếu dùng bia
để làm mồi nhử, bạn sẽ tóm gọn được lũ động vật đáng ghét này thôi.
Những công dụng kỳ lạ của bia chắc chắn bạn chưa biết - KhoaHoc.tv
Sài Gòn Tứ Đổ Tường - Nguyễn Ngọc Chính
Một số người Việt, đặc biệt là người Sài Gòn xưa, thường có trong mình dòng máu ‘đỏ đen’ của thần đổ bác. Ngày xưa, các cụ thường ngồi ‘xoa’ mạt chược, chơi tổ tôm, đánh chắn hoặc chơi tứ sắc, đánh tam cúc… Rồi văn minh hơn với bộ bài tây 52 lá dùng để chơi xì phé, xì dzách, xì-lác, các-tê sang đến binh xập-xám.
Có một dạo, người ta đánh bạc ngay tại ngoài đường: Đánh cá bảng số xe chạy qua trước mặt với tổng số cao nhất là 9 nút và thấp nhấp là ‘bù’ (10 nút). Ngay cả những hiện tượng như mưa nắng trong ngày, dân Chợ Lớn cũng có thể cá cược ăn tiền với nhau.
Theo tôi, xổ số cũng là một hình thức “cờ bạc
có tổ chức” mặc dù trên danh nghĩa ‘từ thiện’ như Trần Văn Trạch ngày nào vẫn
thường hát: “Kiến thiết quốc gia, giúp đồng bào ta, xây đắp bao người, dựng nên
cửa nhà… Triệu phú đến nơi, chỉ mười đồng thôi, mua lấy xe nhà, giàu sang mấy hồi…”.
Chúng tôi cũng may mắn sưu tầm trên mạng được
tấm vé số loại 5-A6 mang tên “Tình mẫu tử” trên đó có ghi ngày xổ: 3/5/1975.
Đây là vé số “không bao giờ xổ” vì Sài Gòn đã đổi chủ ngày 30/4/1975. Có nghĩa
là tấm vé số cuối cùng này không có người trúng lô độc đắc 5 triệu đồng tiền
VNCH hồi đó.
Từ xổ số lại biến thể sang số đề, đây là hình
thức cờ bạc rõ nét nhất. Trước năm 1954, ở Sài Gòn – Chợ Lớn, có hai chỗ đánh bạc
rất nổi tiếng, đó là các sòng Kim Chung (Casino Cloche d’Or) và sòng Đại Thế Giới
(Casino Grande Monde). Trong số các trò chơi đỏ đen đó, có một trò gọi là Xổ số
đề, tức là xổ các cặp số đã được đề trên các tấm vé.
Mỗi vé có hai con số, từ 00 đến 99. Cứ sau
khi bán hết một đợt vé người ta lại “xổ”, có nghĩa là bắt thăm xem vé nào trúng
và nếu trúng thì một đồng ăn bảy mươi đồng. Như vậy là người tổ chức (nhà thầu
hay nói khác đi là nhà cái) thu lợi 30% mỗi lần xổ. Giả sử mỗi vé ghi giá 1 đồng
thì thu được 100 đồng, nhà cái chỉ phải trả 70 đồng cho người trúng và thu về
30 đồng tiền lời.
Khi thông báo số trúng, để tăng thêm phần hấp
dẫn, người ta treo những tấm bảng thật lớn đã cuộn tròn sẵn giống như những cuộn
lịch, treo thật cao trên các cây cột để mọi người nhìn thấy. Chẳng hạn, xổ ra số
35 trúng, họ hô lên trên loa bằng cả tiếng Tàu lẫn tiếng Việt: “Xám Xập Ửng… Ba
Mươi Lăm…”. Lúc đó, một người ở trên cao dùng kéo cắt hoặc đốt sợi dây cột tấm
bảng mang số 35, dưới hai con số đó có kèm theo hình vẽ một con dê đực, hai sừng
cong lên cùng với chòm râu dê!
Kim Chung và Đại thế giới đều có Xổ Đề mỗi
ngày. Cứ mỗi chiều vào khoảng bốn, năm giờ, tuy kết quả xổ đề không được thông
báo trên đài phát thanh nhưng chỉ độ nửa giờ sau khi đề xổ, người dân toàn
thành phố đã biết đích xác đề xổ con nào qua ‘đài phát thanh truyền miệng’. Đề
vừa xổ, chỉ cần hai, ba ông đạp xích lô đi ngang là cả một đường phố dài, kể cả
những khu lao động trong các hẻm, đều đồng loạt biết hai con gì được xổ trong
ngày.
Số đề chỉ là một hình thức cờ bạc ‘tép riu’ trong khu Đại Thế Giới, tên Tây là Casino Grand Monde, một trong những sòng bạc lớn nhất Đông Dương trong thế kỷ 20 do người Pháp lập ra vào năm 1937. Mãi đến năm 1955 mới bị đóng cửa dưới thời Đệ nhất Cộng Hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Trước khi Đại Thế Giới xuất hiện, người Tầu
thao túng việc bài bạc tại khu vực Chợ Lớn. Để giành lại mối lợi này, chính quyền
Pháp tại Nam Kỳ đứng ra bảo trợ và thành lập sòng bạc Đại Thế Giới nhằm thu hút
các con bạc khắp khu vực Saigon-Cholon. Hàng năm chính quyền bảo hộ thu được
nguồn thuế rất lớn từ sòng bạc này. Ngoài bài bạc, Đại Thế Giới còn là tụ điểm
ăn chơi, hút sách, trai gái nổi tiếng khắp cả nước thời Pháp thuộc.
Đại Thế Giới được người Pháp chính thức cho thành lập với các lý do: Thà cho cờ bạc công khai, có lấy thuế, còn hơn để kiểu cờ bạc lén lút nhưng tràn lan vừa thất thu thuế, vừa xúc phạm đến quyền lực của chính phủ bảo hộ Pháp. Đồng lúc thành lập Đại Thế Giới còn có sòng bạc Kim Chung ở khu vực Cầu Muối (nay là Khu Dân Sinh, phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1). Kim Chung có qui mô kém hơn, đối tượng chơi thuộc loại bình dân, nên mỗi khi nhắc tới casino tiêu biểu của Saigon, người ta hay nói đến Đại Thế Giới.
Đại Thế Giới ngày xưa nằm trên đường Gallieni
chiếm một khuôn viên rộng lớn của Trung tâm Văn hóa ngày nay. Khu đất rộng mênh
mông, vòng rào xây tường cao, cửa ra vào có bảo vệ mặc đồng phục canh gác cẩn mật.
Người ta ra vào tự do, nhưng không phải ai cũng mạnh dạn bước vào, bởi muốn bước
vào phải có tiền và bởi cái ‘Sát Khí’ của Thần Đỏ Đen luôn vừa quyến rũ thiên hạ,
lại vừa hù dọa mọi người.
Trên cổng lớn sáng rực ánh đèn néon, hàng chữ
Grand Monde như một lời xác nhận với mọi người dân Sài Gòn thời đó rằng nơi đây
là sòng bạc được nhà nước bảo trợ, cứ mặc tình mà sát phạt. Giấy phép hoạt động
là của nhà nước bảo hộ cấp, nhưng sòng bạc lại do tư nhân điều hành.
Ngay từ đầu khai trương, chủ thầu là một tay
đầu nậu casino, Lâm Giống, từ Hồng Kông đến. Sở dĩ người Pháp cho các tay Hồng
Kông trúng thầu vì họ hiểu rằng, chỉ những người từng am tường về tổ chức sòng
bạc tầm cỡ thì mới có khả năng đưa Đại Thế Giới lên ngang tầm với các sòng bạc ở
Á Châu.
Lâm Giống vốn xuất thân từ các sòng bạc ở
Macau, đã sành sỏi về tổ chức casino, do đó ông ta đã rập khuôn từ mọi hình thức
đến mọi mánh khóe. Cùng kéo sang ‘miền đất hứa’ Sài Gòn với chủ còn có những cô
‘hồ lì’, người đứng điều khiển cuộc chơi của từng môn đỏ đen, theo cách gọi của
người Trung Hoa. ‘Hồ lì’ lúc nào cũng xinh đẹp và sành điệu, thừa sức làm vui
lòng khách chơi, dù có bị thua cháy túi.
Đại Thế Giới như rồng gặp mây khi Đức Quốc
Trưởng Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều Nguyễn, được người Pháp giao lại nguồn lợi
như một món quà ân thưởng. Phòng Nhì Pháp sau khi chiêu hồi Bảy Viễn (Lê Văn Viễn),
thủ lĩnh Bình Xuyên, về thành đã gắn cho ông lon đại tá.
Theo hồ sơ về tỷ phú Hoa kiều Lý Long Thân do Cảnh sát Việt Nam Cộng Hòa lập, hiện lưu trữ tại Cục lưu trữ Việt Nam, thì để cầu thân với Bảy Viễn, Lý đã bỏ số tiền hơn 4 triệu franc để tổ chức tiệc chiêu đãi Bảy Viễn và đàn em tại hý trường Đại Thế Giới. Sau đó, Lý còn đề nghị Bảy Viễn đứng ra thầu lại sòng bạc Đại Thế Giới dưới sự hỗ trợ về tài chánh của chính mình (500 ngàn đồng Đông Dương một ngày) và sự bảo trợ của Quốc trưởng Bảo Đại.
Năm 1951, Bảo Đại đặt mua một chiếc Jaguar
Mark II to đùng, phía trước mũi xe có gắn một con báo Nam Mỹ bằng đồng. Đây là
chiếc ‘con báo’ duy nhất có mặt tại Việt Nam trong cùng thời điểm. Bảo Đại mua
nó vì thích, sau đó dự định sẽ để dành làm quà sinh nhật cho hoàng tử Bảo Long.
Nhưng cuối cùng lại nổi hứng, ông đã đem tặng nó cho viên tướng lục lâm Lê Văn
Viễn, như quà mừng vì tay này đã thâu tóm được sòng bạc Đại Thế Giới ở Chợ Lớn,
hàng tháng đem lại cho Bảo Đại một số tiền cống nộp kếch xù.
Vào năm 1955, nhằm thống nhất các lực lượng
Quốc gia, cắt đứt nguồn tài trợ của Bảy Viễn cũng như xóa bỏ lối sống đồi trụy
tại đây, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ra lệnh đóng cửa Đại Thế Giới. Đầu năm
1955 đánh dấu ngày tàn của Grande Monde, khi ông Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh dẹp
sòng bạc lớn nhất Đông Nam Á. Phần đông người Sài Gòn thở phào nhẹ nhõm mỗi khi
đi ngang qua nơi xưa kia vốn vừa là Thiên Đàng vừa là Địa Ngục. Tuy nhiên, các
đệ tử của Thần Đổ Bác chắc hẳn phải… buồn năm phút!
Ngày nay, Việt Nam có một casino duy nhất tại Quảng Ninh mang tên Casino Đồ Sơn chỉ dành riêng cho người nước ngoài. Đây là casino được tổ chức theo tiêu chuẩn quốc tế và theo luật mới, muốn đầu tư vào casino phải có tối thiểu 4 tỷ đô cho một dự án. Tại các khách sạn lớn ở Sài Gòn như New World, Equatorial, Duxton, Legend… giải trí đỏ đen được tổ chức dưới dạng câu lạc bộ (club) trang bị các loại slot machines để phục vụ nhu cầu khách quốc tế.
Ngày xưa, người ta gọi những máy đánh bạc này
qua một cái tên khá ngộ nghĩnh, One-armed Bandit, vì mỗi máy có cần gạt để kéo.
Bây giờ tiến bộ hơn, máy chỉ dùng toàn nút bấm. Không biết giới đỏ đen đã có từ
nào để thay thế cho ‘tướng cướp một tay’?
Các club đánh bạc tại khách sạn chỉ hoạt động
cầm chừng vì khách đến Việt Nam chủ yếu là khách du lịch, nếu ghiền cờ bạc thì
họ đến những casino ở Macau, Monte Carlo hay Las Vegas chứ loại ‘tép riu’ như
các club ở Việt Nam đâu có gì hấp dẫn. Trái lại, người Việt ta vốn mang trong
người dòng máu ‘đỏ đen’ nên nhìn các club trong khách sạn sang trọng một cách…
thèm thuồng.
Ông chủ các câu lạc bộ cũng nhận thấy điều đó
nên họ ‘xé rào’ để các con bạc Việt Nam vào nướng tiền. Công an cũng thấy chuyện
đó (nghề của chàng mà!) nên có những vụ đột kích club đánh bạc tại khách sạn và
cất được những ‘mẻ lưới’ lớn. Báo chí cho biết, có con bạc đã hơn 40 lần ‘lạc’
vào đây, đổi tổng cộng trên 1,6 triệu đô ra ‘phỉnh’, ngoài vô số lần ‘cháy
túi’, lần thắng cao nhất chỉ khoảng 7.000 đô!
Cấm trong nước thì họ đem tiền ra nước ngoài
chơi. Người ta còn ‘vượt biên’ sang Campuchia, gần cửa khẩu Mộc Bài (Tây Ninh)
hoặc Xà Xía (Hà Tiên) để đánh bạc. Hơn 95% người đánh bài ở đây là người Việt.
Trong tương lai sẽ có hàng loạt nước láng giềng mở casino và người Việt chắc chắn
sẽ siêng đi du lịch nước ngoài hơn…

Nài và ngựa trên đường đua
Từ năm 1932, Sài Gòn đã có trường đua ngựa
Phú Thọ nổi tiếng vùng Đông Dương và cũng là một trong những ‘tử địa’ của dân
máu mê cờ bạc. Dân chơi đua ngựa thuộc nằm lòng câu hát ‘Đường vào trường đua
có trăm lần thua, chỉ một lần huề…’ và một tay chơi có thâm niên đã khẳng định:
“Bắt độ ngựa mà chỉ tin vào may rủi thì… không còn quần xà lỏn mà mặc!“.
Cách làm độ như sau: Có bốn ông chủ ngựa lớn
đại diện cho các vùng Đức Hòa – Long An, Bà Điểm – Hóc Môn, Gò Vấp và CLB đua
ngựa sẽ họp nhau để… ‘bàn về ngựa’. Con nào được cả bốn ông bầu chọn về nhất sẽ
được gọi là ngựa “4 sao”. Nếu có một ông không đánh giá cao, con ngựa đó sẽ rớt
xuống “3 sao”.
Các chủ ngựa khi làm độ muốn ngựa mình thua
cũng áp dụng nhiều trò xấu với ngựa của mình như: Chích thuốc ngủ cho ngựa, phải
là tay chuyên nghiệp mới làm được điều này vì nếu canh thuốc không chuẩn, con
ngựa chưa vào đường đua đã xỉu thì rất dễ bị phát hiện và trừng phạt nặng theo
luật đua; có ngựa còn bị chích ma túy, cho uống thuốc xổ, bỏ đói…
Còn muốn ngựa thắng thì người ta chích thuốc
bổ, thuốc kích thích… Bởi vậy sau mỗi cuộc đua, ngựa bị nghi ngờ có thể sẽ phải
thử nước tiểu để rõ trắng đen. Cũng có trường hợp chủ ngựa đã nhận bán độ, cố
làm cho ngựa thua nhưng con ngựa do quá sung vẫn phóng ầm ầm, lúc đó nài ngựa sẽ
ghì cương cho nó chạy chậm lại. Theo luật của thế giới ngầm, nếu đã nhận độ
nhưng không ‘làm tròn trách nhiệm’ sẽ phải bồi thường gấp 3, nếu ‘chống án’ sẽ
bị xử theo luật giang hồ!
Nạn cá lậu hiện chiếm 2/3 doanh số cá cược ở mỗi độ đua, một mặt gây thất thu ngân sách hoạt động của trường đua, mặt khác gây phức tạp như làm cho các cuộc đua mất đi giá trị đích thực của hoạt động thể thao, gây tâm lý bất ổn cho người làm nhiệm vụ trọng tài, nài ngựa và cả chủ ngựa. Vó ngựa trường đua, đối với những người ham mê cá độ, có sức quyến rũ chẳng khác gì ma túy!
Cờ bạc là bác thằng bần, thế nhưng lời răn đe
đó hình như không có tác động nào đối với những người trót mang trong mình dòng
máu đỏ đen. Thời nào cũng vậy, hình như cờ bạc là một con đường ngắn nhất để
làm giàu đối với một số người. Có điều đó là một con đường của ảo tưởng, của
thân bại danh liệt và của thất vọng ê chề…
Nguyễn Ngọc Chính
Nguồn: https://www.facebook.com/baovietluan
Những Bức Tường Biên Giới
Với số lượng người nhập cư ngày càng tăng, hoạt động khủng bố, buôn bán ma túy, và các cuộc chiến kéo dài đã châm ngòi cho việc xây dựng các hàng rào biên giới tạm thời và vĩnh viễn ở nhiều khu vực trên toàn thế giới. Trong số 51 ranh giới kiên cố được xây dựng giữa các quốc gia kể từ khi kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến, khoảng một nửa được xây dựng từ năm 2000 đến 2014. Dưới đây là một số ít rào cản nổi tiếng được biết đến trên thế giới.
Làm Sao Tâm An Giữa Cõi Đời Nhiều Bất An? - Như Nhiên
Tâm
an là trạng thái sáng suốt tĩnh lặng của sự ôn hòa thư thái.
Khi phiền muộn, chúng ta nên thực hành phương pháp chánh niệm và
chuyển tâm, xem “ nghịch cảnh ” như người thầy, khơi dậy nguồn năng lượng tích
cực, định hướng và tu sửa bản thân. Có nhiều người sống mà không hề vui vẻ, và
tự bản thân họ cũng không biết tại sao phải sống trong thế giới này! Điều này mới
chính là căn nguyên của sự phiền muộn.
Trong xã hội hiện đại này, làm thế nào để tâm mình được bình an, giảm bớt những phiền muộn, cuộc sống được nhẹ nhàng tự tại? Điều đầu tiên cần là “tâm an”.
🍀 Đi tìm sự bình an ở nội tâm
Một là phải bằng lòng với thực tại để có được hạnh phúc.
“Biết đủ thì được an vui”, mặc dù đây là câu nói của người xưa, nhưng hôm nay nó vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa vô cùng. Trên thực tế, những thứ mà con người có được trong tay thì rất ít, song những thứ mà họ ham muốn thì lại quá nhiều. Từ đó, dẫn đến sự căng thẳng, bận rộn, gây nhiều áp lực cho bản thân mình. Thật sự, chúng ta chỉ cần sống hết mình, còn kết quả thế nào, thành công được bao nhiêu cũng vui vẻ, không cưỡng cầu thì lòng không khổ.
- Biết đủ chẳng phải là từ bỏ trách nhiệm công việc, càng chẳng phải là từ bỏ cơ hội của sự nỗ lực thăng tiến, mà biết đủ là tập sống thuận theo tự nhiên, thích ứng với xã hội, môi trường sinh hoạt. Hạnh phúc tùy thuộc vào thái độ sống chứ không do hoàn cảnh sống. Bạn có tất cả trong tay mà trong lòng không có chút Bình An, cuộc đời bạn không có ngày thảnh thơi, thì bạn vẫn là một người hành khất nghèo nàn dù đang khoát trên mình chiếc áo gấm đắc tiền!
☘️ Sư an tĩnh tâm hồn ngọt ngào hơn mọi lạc thú trên đời!
Muốn chạm đến hạnh phúc, bình an thực sự thì tâm tư ta cần phải hướng nội, đừng chạy theo ngoại cảnh. Vì khi tâm luôn hướng ra bên ngoài thì sẽ khó có cảm giác an bình, bởi vì sự an bình đích thực không nằm ở ngoài tâm, và hơn nữa không gian, thời gian ngoại cảnh vốn vô thường, cũng không thể bảo đảm sự an bình tuyệt đối.
Thế nên, đừng hy vọng vào hoàn cảnh sẽ giúp cho chúng ta an bình,
và cũng không hy vọng vào người khác ban cho chúng ta sự bình an không lay chuyển
. Hạnh phúc đến từ sự truy cầu ở thế giới bên ngoài hầu hết bạn đều phải trả một
cái giá.. rất đắc đỏ. Khi một người biết quay về tu tập, bạn có thể an trụ
trong thời gian và không gian hiện tại, từ đó tâm bạn sẽ dễ dàng đạt được trạng
thái an tịnh và bình yên thực thụ.
Không
thể xin bốn mùa
Đất
trời ngưng lặng gió.
Mong
mình nhẫn nhục có
Chịu
gió đời, an nhiên.
Không
thể xin bình yên
Giữa
dòng đời xao động
Chính
mình không cuồng vọng
Trên
sóng ngồi nhẹ tênh.
(1) Thich Tanh Tue - Làm sao tâm an giữa cõi đời nhiều bất an? Tâm an... | Facebook
Sunday, October 25, 2026
Video Cảnh Sắc Mùa Thu Thế Giới - Nguyễn Duy Phước
Màn Kịch Đã Hạ - Người Lính Già Oregon
Trong vở hài kịch nổi
tiếng của Molière, Tartuffe ou l’hypocrite (1664), nhân vật chính, Tartuffe, là
một gã vô lại, cơ hội chủ nghĩa, được Orgon, thuộc giới trung lưu (bourgeois), rước
về nhà với sự chấp thuận của bà mẹ mộ đạo cuồng tín, Mme Pernelle, và hai mẹ
con xem gã như một thánh sống. Trong khi ngược lại, cả gia đình, từ Elmire, vợ
kế của ông, đến Damis, con trai, đến Mariane, con gái, đến người anh vợ, đến cô
người làm trực tính, trực ngôn, đều khinh ghét gã.
Orgon, mỗi lần đi đâu về,
đều ân cần vấn an Tartuffe trước tiên. Và dự tính gả Mariane cho gã, mặc dù cô
đã có người yêu, là Valère. Trước mọi người, Tartuffe có thái độ khiêm cung,
nói năng nhỏ nhẹ, dáng vẻ nghiêm trang, miệng lúc nào cũng kêu tên Chúa.
Một hôm, có dịp gặp
riêng Elmire, gã thả lời ong bướm. Từ phòng bên, Damis nghe được, liền báo cho
bố biết, nhưng Tartuffe chối bay chối biến và tố ngược Damis vu khống, khiến Orgon,
vì quá mê gã, bèn từ con, đuổi đi, và viết giấy tặng hết nhà cửa, tài sản cho
gã. Còn Elmire giả vờ nói với gã, sẽ không tiết lộ việc này nếu gã chịu từ bỏ
Mariane để cho cô lấy Valère. Rồi bày mưu, hẹn gặp Tartuffe tại phòng, làm như
muốn đáp lại tình yêu của gã, nhưng trước đó, đã sắp xếp cho Orgon núp dưới
bàn, nghe hết. Orgon bèn nổi giận lôi đình, đuổi gã ra khỏi nhà, trong khi Mme
Pernelle vẫn không tin. Nhưng Tartuffe lại đuổi ngược gia chủ, sau khi trưng ra
đầy đủ giấy tờ. Vua biết được câu chuyện, ra lệnh bắt gã.
Vở kịch kết thúc có hậu
cho gia đình Orgon với tin loan báo đám cưới của Mariane với Valère.
I.
Tartuffe trong bối cảnh Portland, Oregon:
Tôi
kể sơ về nội dung vở hài kịch Pháp, thế kỷ XVII, của Molière, để nhắc đến một vở
hài kịch tương tự, đương thời, mà nhân vật là người thế kỷ XXI, đang sống giữa Cộng
đồng của chúng tôi, tức Portland, Oregon. Anh là một nhạc sĩ nổi tiếng, đối với
người Việt tỵ nạn trên thế giới, mặc nhiên trở thành người của quần chúng
(public figure), nhưng tôi tạm gọi “không tên”, cho có vẻ lập dị như những bài
hát của anh. Từ lúc chưa thành phó tế, anh nhạc sĩ không tên này luôn cư xử với
mọi người còn hơn một nhà tu hành thứ thiệt: lễ độ, tươi cười, nhã nhặn, dáng vẻ
e ấp như cô dâu mới về nhà chồng, và nhũn như con chi chi. Một lần, trong bữa
ăn tại nhà một người bạn tôi, vốn mê những bài không tên, anh nhạc sĩ tuyên bố
rằng anh đã có lời hứa với Chúa là sẽ không bao giờ hát và làm nhạc đời nữa. Liền
sau đó, anh cầm đàn, hát một bài sặc mùi đạo, mà anh nói mới sáng tác. Tôi quên
tựa đề, nhưng nhớ mang máng nội dung, đầy tính tượng trưng: một người leo lên dốc
đá cheo leo, trượt chân ngã xuống mấy bận, cuối cùng cũng thành công, nhờ Chúa
giơ tay dắt lên. Và kết thúc là một coda cao vút, ngân vang như tiếng kinh cầu,
ai nghe cũng cảm động.
Nhiều
lần, trước đây, bạn bè, người quen, và đồng hương Portland, Công giáo hay
không, vốn dị ứng với anh nhạc sĩ kiêm thầy tu này, cho anh là một tên đạo đức
giả thật. Biết tôi là con chiên trong giáo xứ Mỹ mà anh đang phục vụ, họ đã mớm
ý cho, và thúc giục, tôi viết một bài tố anh ta về ba tội: làm ăng-ten trong trại
tù cải tạo, làm thầy sáu mà không thuộc giáo lý, lợi dụng tiền bá tánh để làm
giàu cá nhân… Tôi từ chối, bác bỏ những lời buộc tội mà tôi cho hoặc quá cũ, hoặc
thiếu bằng chứng cụ thể, hoặc không đủ thuyết phục. Và qua đó, vô tình đóng vai
luật sư bào chữa cho anh ta – điều mà anh chưa hề biết. Như sau:
A.
Làm ăng ten trong tù?
Tôi
nói với họ rằng tôi cũng đã ở tù tám năm ngoài Bắc, nhưng không chung trại,
chung đội với anh ta, nên không chứng kiến tận mắt, và bởi vậy, không dám lên
tiếng bàn bạc về điều gì mình không rõ, không thấy, mặc dù đã đọc nhức mắt nhiều
bài viết ký tên tác giả đường hoàng, và nghe rát tai những tin đồn nặc danh, nửa
thực nửa hư, thuộc loại tabloids, rất tiêu cực về anh. Tuy nhiên, tôi thắc mắc,
về từ ngữ, khi các tác giả, độc giả, và tù nhân cải tạo gọi anh là ăng-ten,
không biết có đúng (lắm) không. Bởi một lý do đơn giản: hệ thống ăng-ten trong
tù được bố trí ngầm – không, hoặc khó, có ai phát giác được, và làm sao? – và
đôi khi ăng-ten chính là thằng bạn tù tử tế, hiền như ma sơ, nằm cạnh bên.
Thông thường, bọn ăng-ten được giao phó nhiệm vụ theo dõi và báo cáo, một cách
bí mật, cho cán bộ trại về những hành động, và tư tưởng, của đồng đội, đặc biệt
âm mưu trốn trại – là điều mà bọn cai tù lo sợ nhất. Nhưng để lập công, chúng
báo cáo, hoặc bịa ra, đủ thứ chuyện, thượng vàng hạ cám, kể cả thở dài trong
đêm, ngủ gật trong giờ “học tập”, hay lén hôn vợ trong nhà thăm nuôi..v..v…
Riêng
anh nhạc sĩ, qua lời của nhiều nhân chứng, có thời gian được cử làm thi đua, và
đội trưởng một đội, với nhiệm vụ báo cáo một cách công khai, hợp pháp, về người
và việc trong trại, trong đội, và mặc tình hành hạ đồng tù. Tôi nghĩ, đã là
công khai thì không còn bị gọi ăng-ten nữa. Phải chăng vì hành động hắc ám, muốn
lấy điểm với cai tù, mà anh đã bị những nạn nhân và nhân chứng quen miệng gán
cho cái nickname ăng-ten, là danh xưng nặng nề và bỉ ổi nhất, mặc dù về hậu quả,
tội làm ăng-ten hay làm đội trưởng, mà ác ôn, cũng ngang nhau, bên tám lạng bên
nửa cân? Hoặc giả, có thể ở trại này, anh ta làm ăng-ten, ở trại nọ, làm đội
trưởng ác ôn? Hoặc có thể ở cùng một trại, có lúc anh làm đội trưởng ác ôn, có
lúc làm ăng-ten, cho nên lẫn lộn về chữ dùng chăng?
B.
Làm thầy sáu dỏm?
1)
Năm 1992, tôi đang nghỉ hè ở San José. Anh nhạc sĩ không tên, lúc ấy mới qua Mỹ,
dự định tổ chức buổi tái ngộ với những fans của mình trong một hội trường gần đó
và anh ta bị một số cựu quân nhân cảnh cáo, tẩy chay, và dọa hành hung, và cửa
hội trường bị họ chận, cấm không cho ai vào dự, bởi bất mãn với thành tích
“ăng-ten” của anh. Cho nên, tôi biết rất rõ. Anh bèn chạy lên Portland, để tỵ nạn.
Tại đây, theo tin đồn miệng, hay phổ biến trên Mạng, nhưng không ai dám xác nhận:
đầu tiên, anh ta vô chùa xin quy y. Bị chùa từ chối, anh bèn nhảy sang nhà thờ
Tin Lành. Bị từ chối nữa, anh chưa biết đi đâu, thì bất ngờ được tiến cử lên
Linh mục chánh xứ La Vang bởi những người thân cận của ông. Biết anh là nhạc sĩ
nổi tiếng, Linh mục chánh xứ nhận ngay, cho vào ca đoàn và sau giữ chức “sứ vụ
tông đồ mục vụ” (?), nhưng anh rất mù mờ về giáo lý, khiến giáo dân bàn tán,
khó chịu. Về sau, không biết bằng cách nào, anh thuyết phục được ông Linh mục
chấp thuận cho học làm thầy sáu, mà không qua thủ tục bắt buộc cho tất cả ứng
viên phó tế khác: phải đi học lấy bằng MA về Thần học (theology) tại University
of Portland. Vì kém Anh văn, lại không có BA ở Mỹ, anh được Tòa Tổng Giám Mục
Portland – thời đó, còn quá dễ dãi- châm chước cho tham dự các lớp Kinh Thánh
căn bản do giáo phận tổ chức và học thần học “hàm thụ” tại chỗ với một Linh mục
trẻ, đệ tử của Linh mục chánh xứ, và với sự giúp đỡ làm homework của một giáo
viên dạy giáo lý tại La Vang. Năm 2001, anh được phong chức phó tế. Theo thiển
ý, anh làm thầy sáu ngang, tức là tắt, cũng như làm quan tắt, chứ không phải
làm thầy sáu chui hay dỏm, như dư luận dị nghị. Lúc ấy, Linh mục chánh xứ đã đổi
đi và một Linh mục khác lên thay, và với ý kiến của giáo dân, ông cha xứ mới
này từ chối, không nhận anh về giáo xứ La Vang, mặc dù đang rất cần một phó tế
người Việt.
2)Rồi
thầy sáu Việt Nam này được Tòa Tổng Giám Mục Portland bổ nhiệm về phục vụ một
giáo xứ Mỹ, từ 2001 cho đến hôm nay.
a.
Trong buổi lễ chiều Chúa Nhật, có tôi, anh được cha xứ Mỹ mời đứng lên tự giới
thiệu, trước giáo dân Mỹ và thiểu số, gồm khá đông người Mễ, Phi, Nga… và lèo
tèo vài bổn đạo Việt Nam. Vì thế, anh tha hồ bốc phét, khiếp quá, tuy không ác
liệt như kho đạn Long Bình, hoặc văng miểng tới mây xanh như vài vị thuộc hàng
cự phách trong Làng Nổ Oregon, về thân thế và lý lịch. Anh ta nói, và tôi còn
nhớ rõ, tuy là một Trung úy Phật tử, nhưng anh đã có ơn gọi đi tu theo Công
giáo, từ lúc còn ở Việt Nam trước 1975, sau khi một cô bạn gái dạy anh học kinh
Kính Mừng, và đi đánh trận [hồi nào?], nhờ đọc kinh Kính Mừng, anh đã nhiều lần
thoát chết, và sau 1975, trong tù Việt cộng, cũng nhờ đọc kinh ấy, anh đã khỏi
bệnh mất ngủ [sic]. Nào là qua Mỹ, bị bệnh gần chết, anh đã nhờ Chúa và Đức Mẹ
Maria cứu khỏi. Nào là anh có bằng Cử Nhân Luật ở Việt Nam, đặt nhạc trữ tình,
nhưng, anh thêm, với thiên chức thầy sáu, từ nay anh sẽ quên đi “quá khứ sai lầm”
đó. Nào là, động trời hơn, chức vụ cuối cùng của anh, trước ngày Sài Gòn sụp đổ,
là chỉ huy Bộ Thông Tin của chính phủ miền Nam và dùng chữ minister – bởi, tôi
tự hỏi, anh cố tình nổ sảng hay không hiểu chữ đó có nghĩa “bộ trưởng”? Nào là anh
bị giam nhiều năm tại những trại tù khắc nghiệt của Việt cộng, và ở đó được bạn
bè rửa tội cho… Giáo dân Mỹ tò mò lắng nghe, không phản ứng, một phần vì lịch sự,
một phần vì không ở trong chăn nên anh nói hươu nói vượn gì cũng tin tuốt luốt,
một phần vì chỉ hiểu lõm bõm, cũng như tôi, tiếng Anh đầy accent An Nam Mít của
anh.
b.
Trung bình mỗi tháng, anh đến nhà thờ một lần để phụ giúp cha xứ làm lễ, và mỗi
lần, trước và sau lễ, thấy tôi, anh ta gật đầu chào, và ngược lại, nhưng không bắt
tay nhau, bởi mặc cảm từ cả hai phía. Tiếp xúc với anh, tôi cảm thấy khó thoải
mái, nếu không muốn nói khó chịu, vì cử chỉ và lời ăn tiếng nói, khiêm nhường,
hay nhún nhường quá đáng, của anh, có cái vẻ gì đó không thật, nếu không muốn
nói giả tạo, làm tôi nghĩ đến vở kịch và nhân vật của Molière. Càng khó chịu
hơn khi, sau này, nghe tin về một phép lạ, được ai đó đồn ầm trên báo và Mạng
Việt Nam, đã xảy ra cho cặp kính mát của anh, nghĩa là giơ nó lên ánh mặt trời
người ta thấy có hình Đức Mẹ hiện ra rõ ràng. Phép lạ nhảm nhí, lố bịch đó, ít
lâu sau, không còn được ai nhắc nữa, nhưng nhiều người vẫn nhớ, để kể lại với
ít nhiều châm biếm, mỉa mai.
C.
Làm giàu từ những hoạt động từ thiện?
Tòa
Tổng Giám Mục Portland và cha chánh xứ cho anh thời gian rộng rãi để lo cho Hội
Từ Thiện, mà anh sáng lập năm 2005, và quảng cáo rầm rộ trong một flyer (đính
kèm).
Phải
công nhận anh điều hành Hội một cách khoa học và qui mô, gồm cả việc bán điện
thoại V247 và dược thảo chữa bách bệnh (trong đó có thuốc “tăng cường hạnh phúc
gia đình”) và đã kiếm được tiền một cách hợp pháp, ít ra theo giấy tờ và báo
cáo. Được tờ The Sentinel của Giáo phận và cha xứ nhiệt liệt ca ngợi, và anh mặc
nhiên trở thành thầy sáu cưng của Tòa Giám Mục Portland. Thậm chí, cũng năm
ngoái, 2016, cha xứ đã đi Manila, Philippines làm từ thiện, cùng với anh ta.
Có
một điều làm đồng hương chê bai: thành công như thế, nhưng anh không bao giờ
tham gia sinh hoạt Cộng Đồng, không đóng góp tài năng hay tài chánh cho Cộng Đồng
khi cần. Nhưng sau hai mươi năm, vẫn né, vẫn núp dưới chiếc veste đen và cổ cồn
trắng, và những ngày Chúa Nhật, dưới lễ phục – được sử dụng như một áo giáp vững
chắc. Và rất tự tin, tưởng rằng người ta đã quên.
Nhưng
người ta vẫn nhớ. Tôi thành thật nói với những kẻ còn căm ghét anh rằng, dù có
tội gì chăng nữa, anh đã cải tà qui chánh và chọn con đường tu rồi thì hãy cho anh
ta một cơ hội làm lại cuộc đời. Bằng cách để yên cho anh tu hành, leave him
alone, như người Mỹ thường nói. Và tôi im lặng. Kiên nhẫn chờ đợi, và cầu mong,
một ngày anh sớm thành “chánh quả”.
II. Áo gấm về làng:
Đùng
một cái, có tin anh nhạc sĩ kiêm thầy tu này trở về Việt Nam làm một tua ra mắt
và bán sách (Chuyện tình không tên) viết kể lại chuyện tình “hàm thụ” ngày xưa một
cách vô duyên, lẩm cẩm, vớ vẩn (đối với một người trên bảy bó, quá tuổi hồi
xuân, nếu không vớ vẩn, lẩm cẩm, vô duyên thì còn là cái gì?), đồng thời tổ chức
hát những bài không tên cũ rích, cùng với những ca sĩ hải ngoại cóc nhái, vô
liêm sỉ, mùa chay nào cũng có nước mắt, cộng với vài ca sĩ lô-can quốc nội, suốt
tháng 8 này, tại Hà Nội, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Quảng Ngãi, và Sài Gòn. Tin được
tung ra, chuyền đi nhanh như tên bắn, làm mọi người sửng sốt, thất vọng, nhưng
không ngạc nhiên, vì bản chất là bản chất, ở đây, giả dối, và, như Việt cộng
nói, không bao giờ thay đổi. Đối với anh ta, vấn đề chỉ là thời gian cho vở kịch
bịp bợm, có lớp lang, dài đến hai mươi năm, hạ màn, trót lọt.
Hôm
nay, tôi không còn chọn lựa, vì anh nhạc sĩ kiêm phó tế này đã vượt qua lằn
ranh đỏ (red line). Nhìn những bức ảnh của anh chụp ngày 28/7 tại phi trường Nội
Bài, và phổ biến tràn ngập trên Mạng, mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao, hớn hở,
khác xa hồi mới đến Portland, vào đầu thập niên 90, còn lẻ loi, lêu bêu, bèo
nhèo, và cười nói tươi rói với các ca sĩ địa phương, bạn bè và thân nhân ra
đón, tặng hoa, níu lấy tay, khiến những người tỵ nạn chống Việt cộng và các cựu
tù binh cải tạo hiện ở hải ngoại không khỏi thấy ngứa mắt và ứa gan.
Mặt
nạ rơi xuống, anh ta hiện nguyên hình một Tartuffe bằng xương bằng thịt đã đóng
vai trò của mình quá xuất sắc, và bây giờ, cụ thể hơn, đã trở thành một công cụ
ngu ngốc, nhưng hãnh diện, của Việt cộng, trong việc thực thi Nghị quyết 36,
cũng như hơn bốn mươi năm trước, tại các trại tù, trong việc đối xử ác độc với
các sĩ quan VNCH đồng đội của anh. Vì sao?
1)
Thời điểm trở về (tự nguyện, hay được Việt cộng mời dụ?) của anh rất phù hợp với
“ý đồ” và kế hoạch thâm độc của Việt cộng và tình thế hiện tại trong nước. Xin nhắc,
tháng 8 là tháng Việt cộng kỷ niệm Hà Nội khởi nghĩa (19/8/1945), còn gọi là
“Cánh mạng tháng 8”. Không phải bởi trùng hợp, ngẫu nhiên, hay tự phát, mà có đến
hơn hai trăm người dân (ở không, rảnh quá sao?), được gọi là fans, đội mưa hàng
giờ để đón nhạc sĩ thần tượng, tại phi trường, theo tin báo chí quốc nội – một
vinh dự hãn hữu mà từ trước đến nay, không có Việt Kiều nào được nhận lãnh… Việt
cộng là một lũ lưu manh, xảo quyệt, biết tận dụng mọi thủ đoạn. Khi cần đàn áp
biểu tình, hay đập phá nhà thờ, tu viện, chúng điều động hàng trăm côn đồ, thay
vì công an, và tuyên bố đó là “hành động tự phát” của nhân dân. Làm sao có một
“hành động tự phát” nào dưới chế độ độc tài, đảng trị hiện nay, mà không được bọn
lãnh đạo cho phép, sắp xếp, cổ võ, hoặc ngược lại, mà không bị ngăn chận, trừng
phạt, đàn áp dã man?
Vai
trò của anh này rất cần thiết cho Việt cộng trong giai đoạn và bối cảnh hiện tại
bởi anh ta là một phó tế Công giáo và một nhạc sĩ nổi danh. Nhất cử lưỡng tiện.
Như sau:
a.
Về mặt nổi, anh ta trở về trong tư cách nghệ sĩ trình diễn, được nhiều người
hâm mộ tiếp đón – theo dàn dựng của Việt cộng, là chuyện thường tình đối với
công luận. Ngoài ra, Việt cộng ngu gì mà không biết anh là cựu sĩ quan bị tù cải
tạo nổi tiếng, nhưng vẫn cho phép về trình diễn, mà không qua thủ tục kiểm duyệt
khắt khe, cấm cản gì ráo, không bắt “cởi quần áo khám nghiệm” như những ca sĩ,
nhạc sĩ hải ngoại khác (nghĩa bóng) về nước trình diễn, hay những cô gái quê
(nghĩa đen) muốn lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan, kể cả những thằng ngưòi nửa điên
nửa khùng, đui què sứt mẻ. Qua việc dành mọi ưu đãi cho anh nhạc sĩ này, phải
chăng chúng muốn tuyên truyền, một lần nữa, chính sách “hòa hợp hòa giải”, “xóa
bỏ hận thù” bịp bợm, mà chúng đã khổ công khua chiêng gõ mõ ầm ỉ, nhưng vẫn thất
bại, suốt bao năm qua?
b.
Về mặt chìm, là phó tế, anh bị dùng như một đối trọng (contrepoids) với những vị
linh mục và giáo dân dũng cảm trong nước, từ mấy tháng nay, đã và đang ngày đêm
xuống đường biểu tình chống tập đoàn Formosa và bọn lãnh đạo tham nhũng bán nước
cầu vinh, cũng như, ở hải ngoại, chúng đang sử dụng những linh mục trẻ, quốc
doanh, bố lếu bố láo, hay giả mạo, tại Texas, Florida hay Connecticut – đã lợi
dụng bục giảng để công khai tuyên bố những lời mất dạy về VNCH và ngày Quốc Hận
30/4. Cho phép một nhà tu hành Công giáo, dù chỉ là phó tế, chức nhỏ nhất trong
hàng giáo phẩm, về nước ca hát, Việt cộng muốn chứng tỏ cho cả thế giới thấy rằng
chúng không kỳ thị tôn giáo, và qua đó, và cùng với sự im lặng của Hội đồng
Giám mục Việt Nam, chúng có thêm đồng minh và phương tiện để tiêu diệt một cách
tinh vi và mạnh mẽ hơn những linh mục và giáo dân đang biểu tình phản kháng
chúng. Đã không ủng hộ họ thì chớ, mà vô tình (hay nhận lệnh) anh thầy tu tắt
này cũng không nhiều thì ít đã đồng lõa, tiếp tay triệt tiêu sự chiến đấu đầy
chính nghĩa của họ, trước công luận?
2)
Ngoài ra, khi về Việt Nam trình diễn nhạc đời, mà là nhạc tình sa đọa, đương
nhiên anh ta đã tự lột bỏ chức thánh cao quý và chiếc áo tu hành mà anh, một
Xuân Tóc Đỏ mới, đã may mắn vớ được – đã tạm thời che chở anh trước cơn thịnh nộ
của những đồng hương tỵ nạn và các sĩ quan tù nhân cải tạo, một thời là nạn
nhân trực tiếp, hay gián tiếp, của anh.
Thêm
nữa, phải chăng vì chóa mắt trước danh và lợi, và lòng trần chưa dứt bỏ được
tham sân si, anh ta đã vi phạm trầm trọng lời thề hứa, với Chúa, mà trong vai
trò Tartuffe, anh thường lớn tiếng rêu rao, khi có dịp, là từ bỏ những bài trữ
tình, dù có tên hay không tên, của anh?
Nhân
tiện, NLGO tôi, trong tư cách một khách thưởng ngoạn, xin có lời bàn nhỏ về những
bài không tên: nhạc thì ủy mị, rên siết, sướt mướt, nghĩa là tầm thường, và nội
dung bài nào, nhất là bài không tên cuối cùng, cũng xúi giục người đàn bà có chồng
ngoại tình, trong tư tưởng, với thằng bồ cũ rất bựa, rất nham nhở, rất cà chớn
và rất độc ác đã công khai khoe khoang thành tích chơi gái, không biết giữ gìn
thanh danh, bảo vệ hạnh phúc gia đình cho người đã (lỡ dại) trao thân cho nó.
Tôi thực tình không hiểu nổi, về mặt nghệ thuật, và nhất là đạo đức, não trạng
nào đã khiến người ta, ở hải ngoại hay trong nước, có thể mê mẩn những bài hát
có nội dung vô luân đến thế, đến nỗi phải tiến cử anh ta học làm thầy sáu, hoặc
phải đứng hàng giờ dưới mưa, chờ đón anh ta trở về nước, hoặc phải tranh nhau để
được hát chung trong cuộc lưu diễn này. Trước 1975, chẳng hạn, một con bé hàng
xóm của tôi, mới mười tuổi, thường nghêu ngao hát những câu, “mưa bên chồng có
làm em khóc… có làm em nhớ những khi mình mặn nồng…”. Đúng là bệnh hoạn!
Tôi
nghĩ rằng Tòa Tổng Giám Mục Portland và cha xứ họ đạo Mỹ chưa biết mục đích thật
sự về Việt Nam lần này của anh. Nhưng tôi tin rồi họ cũng sẽ biết, kể cả việc làm
“ăng-ten”, bức hại đồng đội trong tù, và việc rửa tội chui, còn là một nghi vấn
đối với nhiều người. Vì tôi tin vào công lý tuyệt đối của Thiên Chúa, hay luật
nhân quả (karma) trong đời thường. Còn anh dại gì mà khai thật. Họ cứ tưởng anh
về Việt Nam lần này, cũng như mọi lần trước (và chắc chắn đã được nêu lên trong
đơn xin phép của anh), là để làm từ thiện.
III.
Thay cho lời kết:
Có
lẽ sau bài viết này, tôi sẽ phải đi lễ tại một nhà thờ khác trong khu vực. Lý
do duy nhất là để tránh nhìn thấy bộ mặt tởm lợm của một kẻ mà từ nay sẽ tiếp tục
là chỗ trú ẩn an toàn cho sự lừa bịp và gian dối hóa thân. Một Tartuffe thời đại,
mà những hành vi vừa qua tại Việt Nam có hậu quả rất khốc hại và lâu dài trên cả
nước – còn tồi tệ hơn chính nhân vật đạo đức giả trong vở kịch của Molière.
Portland, 24/8/2017
NLGO
Anh Hòa chuyển































