Friday, November 6, 2026

Di Sản VNCH: Nền Văn Minh Đã Thắng “Chế Độ Man Rợ”! - Mạnh Kim

Chế độ công an trị được áp đặt tại miền Nam ngay từ sau 1975 (ảnh: Jean-Claude LABBE/Gamma-Rapho via Getty Images)

Những ai sống ở miền Nam giai đoạn sau 30 Tháng Tư 1975 không thể nào quên những gì từng trải qua. Đó là những chuỗi ngày không chỉ khốn khổ về vật chất. Biết bao người không thể cầm được nước mắt khi chứng kiến cảnh hàng đống sách vở và băng đĩa nhạc bị đốt. Một cuộc thảm sát văn hóa đã xảy ra.

Không chỉ sản phẩm văn hóa, con người của văn hóa cũng bị tận diệt. Nhà văn bị bỏ tù. Nhà báo bị “học tập cải tạo”. Nhà thơ đi đạp xích lô… Bất luận bị “tra tấn” và “truy diệt” tàn bạo như vậy, văn hóa VNCH vẫn không chết!

Trong Hồi ký dang dở, cựu đại tá VNCH Dương Hiếu Nghĩa (từ trần ngày 14 Tháng Tư 2019) kể:

“Ngày mồng 3 tháng 5/1975. Không có chuyện gì làm, tôi lang thang tản bộ quanh khu chợ Sài Gòn, và đi lần về Thư Viện Quốc Gia, trong thâm tâm chỉ muốn gặp lại một người bạn của tôi là anh Hữu, quản thủ Thư viện Quốc Gia (ông Phan Văn Hữu – chú thích của MK). Có đến nơi mới thấy được cảnh mà cộng sản Bắc Việt gọi là bài trừ “văn hóa đồi trụy”: Sau ngày 30/4/75, một ủy ban gọi là “Ủy ban bài trừ văn hóa đồi trụy” ra đời. Thành phần gồm một cán bộ Đảng CSVN và sinh viên học sinh chít khăn đỏ trên tay (mà người dân Sài Gòn gọi là mấy con “cọp 30”)…

“Văn hóa đồi trụy” được định nghĩa là tất cả những ấn phẩm thuộc mọi lãnh vực chánh trị, kinh tế, lịch sử (nhất là lịch sử), giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn hóa, văn nghệ, phim, ảnh. v.v… đang được lưu hành và sử dụng tại Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 30/4/1975 trở về trước, được in, chép hay thu vào băng nhựa, bằng tiếng Việt Nam hay bất cứ loại sinh ngữ ngoại quốc nào (trừ chữ Tàu và chữ Nga). Mục tiêu mà các “ông cọp 30” nhắm vào trước tiên là Thư viện Quốc gia (National Library) ở đường Gia Long.

Văn hóa và chính trị cộng sản Liên Xô được “nhập khẩu” vào miền Nam sau 1975 (ảnh: Jean-Claude LABBE/Gamma-Rapho via Getty Images)


Tất cả sách bìa cứng bìa mềm, gáy tím gáy vàng, dày mỏng gì cũng đều được mang ra đường xé nát và đốt hết. Tội nghiệp cho mấy bộ tự điển và encyclopédia chữ Anh chữ Pháp (trên 100 cuốn), và rất nhiều bộ sách quý thuộc các ngành công pháp quốc tế, khoa học kỹ thuật, hàng không và cả khoa học không gian v.v… mà anh Hữu đã tốn công sưu tầm trên 10 năm dài để làm giàu cho thư viện của đất nước, trong phút chốc bị “cọp 30” xơi tái hết! Chúng tôi đến gần lượm từng tờ của bộ encyclopédia lên xem mà ứa nước mắt nhưng không dám hỏi thêm vì bị ngay một “cọp 30” khoảng 16 tuổi tới đuổi: “Đi đi, tiếc gì mà coi, xé bỏ hết, đốt bỏ hết, nó là tiếng nước ngoài, của thực dân, của đế quốc đồi trụy, ru ngủ đầu độc dân tộc. Ta độc lập rồi thì ta cần gì ba cái thứ nầy nữa!”…

“Về văn nghệ thì tất cả các bản nhạc in hoặc thu vào băng nhựa, nếu không phải loại nhạc lai căn (lai nhạc Tàu) từ nhóm văn công miền Bắc mang vào, đều được liệt vào loại “nhạc vàng của đế quốc Mỹ và tay sai”, cấm lưu hành, xé đốt, hủy bỏ, ai lưu giữ sẽ có tội. Các kịch bản hay các vở tuồng cải lương, hát bộ v.v… cũng phải được duyệt xếp loại lại. Nói tóm lại Bắc Việt chủ trương hủy bỏ tất cả những gì mà họ cho là tàng tích của “Mỹ Ngụy” từ 75 trở về trước, để đem thay thế vào đó những gì mà miền Bắc đang có và đang áp dụng… Có nghĩa là thay vì đẩy miền Bắc tiến lên để theo kịp đà phát triển của miền Nam, họ làm mọi cách nhằm kéo lùi miền Nam thụt lùi lại vài chục năm, sao cho trình độ văn minh tiến bộ của hai miền Nam Bắc phải ở cùng nằm ở một trình độ kém phát triển như nhau”…

____________

Câu chuyện của ông Dương Hiếu Nghĩa là một chi tiết rất nhỏ trên bức tranh kinh khủng mà miền Nam chứng kiến giai đoạn sau 30 Tháng Tư 1975. Hàng ngàn câu chuyện khác đã dệt nên tấm thảm kịch mà ngày nay vẫn gây nhức nhối mỗi khi được nhắc lại. Nhà văn Dương Thu Hương từng thốt lên trong uất nghẹn: “Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ… nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải” (trích từ Ký 2, Đinh Quang Anh Thái, trang 178).

Tuy nhiên, văn hóa VNCH đã không chết. Di sản văn hóa của một nền văn minh đã không hoàn toàn thua “chế độ man rợ”. Sự kéo lùi lại “sao cho trình độ văn minh tiến bộ của hai miền Nam Bắc phải ở cùng nằm ở một trình độ kém phát triển như nhau” đã không thành công! Sau gần 50 năm, người ta có thể thấy rõ điều này hơn bao giờ hết. Chưa bao giờ mà văn hóa VNCH – sản phẩm của nền giáo dục khai phóng, của tinh thần sáng tạo tự do, của những tinh hoa kết tụ từ ba miền Bắc-Trung-Nam – lại trỗi dậy mạnh mẽ đến như vậy.

Sau gần nửa thế kỷ cai trị, chế độ cộng sản Việt Nam hoàn toàn bất lực trước sự hồi sinh của văn hóa VNCH. Ảnh: Những cuộc thi hát “nhạc vàng” bolero bùng nổ từ Nam ra Bắc (ảnh: Người Lao Động)


Những nhà sách lớn giờ đây đầy tác phẩm trước 1975 in lại (dù không ít quyển bị cắt xén kiểm duyệt). Những quyển sách mới về miền Nam trước 1975 được ghi chép một cách tỉ mỉ và công phu cũng xuất hiện liên tục. Nhạc “ngụy” đã chẳng còn được hát và nghe lén lút. Nó được hát trên truyền hình và phát thanh, trong các cuộc thi “bolero đi cùng năm tháng”. Phải! Văn hóa VNCH chưa bao giờ ngưng “đi cùng năm tháng” với dân tộc. Nó cho thấy dân tộc luôn lớn hơn cái gọi là “Đảng”. Nó cho thấy kiểm duyệt chẳng có chút giá trị nào đối với tâm hồn và cảm thụ của người dân. Nó, cuối cùng, cho thấy một điều lớn nhất mà muốn hay không cũng phải thừa nhận: Nền văn hóa nào có tính vượt trội hơn thì nó thắng!


Internet và mạng xã hội đã hỗ trợ rất nhiều trong làn sóng hồi sinh văn hóa VNCH. Nhiều trang web sách cũ đã mọc ra. Các “fan page” sách VNCH, nhạc vàng, Sài Gòn xưa… cũng xuất hiện nhan nhản. Việt Nam sau “ngày thống nhất 1975” đã không thể giống miền Bắc sau 1945. Một Việt Nam cộng sản, dù rập khuôn mô hình chính trị Trung Quốc, đã không thể giống Trung Quốc. Chế độ cộng sản Việt Nam không thể biến người dân Việt Nam thành một “đám ngu dân” như cách cộng sản Trung Quốc muốn. Khi thống nhất đất nước, Trung Quốc chẳng có một “miền Nam dân chủ” nào cả. Nỗ lực bắt chước Trung Quốc, đối với cộng sản Việt Nam, là bất khả thi.

Nền dân chủ non trẻ mà miền Nam thụ hưởng, sau “ngày thống nhất”, đã trở thành một thứ “kháng thể” giúp chống lại, bằng cách này cách kia, những áp đặt phi dân chủ và phi tự do, đặc biệt trong văn hóa. Yếu tố kháng thể này đã âm thầm lan rộng. Nó tạo ra những ảnh hưởng nhất định. Nó ngấm ngầm nhưng nó mạnh mẽ. Nó hồi sinh và nó phát triển tự nhiên. Không ai có thể chặn nổi luồng gió trong lành này. Nó tạo ảnh hưởng ngay cả trong hệ thống của chế độ toàn trị. Đã có lúc người ta “kiếm chuyện” bằng cách “đặt vấn đề” rằng “chiến trường anh bước đi là chiến trường nào” (trong ca khúc “Con đường xưa em đi” của nhạc sĩ Châu Kỳ) nhưng rồi cũng bất thành. Khi tuyên bố “cấp phép” cho ca khúc “Ly rượu mừng”, người ta chắc hẳn đã uống một ly cồn đắng nghét bởi phải đầu hàng trước sự tồn tại hiển nhiên không chỉ của một ca khúc mà cả một nền văn hóa.


Ánh sáng văn minh luôn lấn át bóng tối mọi rợ. Bản năng tự nhiên của con người là luôn tìm đến ánh sáng. Cho đến thời điểm này, khi mà sự tự do hát, tự do nghe, tự do xem, tự do đọc đã trở thành một sự bình thường đương nhiên, thì bất kỳ cản trở hay ngăn cấm nào cũng đều vô ích và vô vọng. Dù muốn hay không, chế độ cũng cần phải thừa nhận một tính chất chính trị căn bản: Họ có thể cai trị độc tài nhưng họ phải hiểu, trong bất lực, rằng không có bất kỳ công cụ văn hóa “toàn năng” nào của nhà cầm quyền có thể “chọc mù mắt” và “bịt lỗ tai con người”!


Mạnh Kim

Một Đêm Đông- Nhạc Và Lời Tống Viết Minh - Ca Sĩ Bích Huyền - Mộng Điệp

Những Cánh Phượng Khô Ép Trong Trang Vở - Nguyên Nhung


 

Lâu lắm rồi, có một lần trong đời tôi tìm lại được những cánh phượng khô ép giữa những bài thơ, trong tập thơ có những trang giấy “pelure” màu hồng, màu xanh dễ thương như cái tuổi học trò thơ mộng. Những kỷ niệm thời học trò bị bỏ quên nằm lẫn lộn với những cuốn sách cũ trên kệ sách, hình như không ai đụng đến. Rất, rất lâu tôi cũng không đụng đến, cho đến một buổi chiều mưa tự nhiên tôi lại nhớ, những cánh hoa khô bất ngờ rơi xuống lả tả đã trở màu nâu xậm là lúc ấy trong trí tôi, cũng rưng rưng những cánh phượng màu đỏ thắm rơi trên mặt cỏ...


Cảm giác mênh mang buồn khi tìm gặp lại những cánh phượng khô ép trong trang vở, khiến tôi nhớ đến anh, người “bạn” duy nhất trong đời học sinh, đã nhặt những cánh phượng rơi trên thảm cỏ gần mé sông, ép vào trang vở bọc trong giấy kính mờ rồi làm quà cho cô bạn nhỏ. Nét chữ bay bướm của anh nghiêng nghiêng trên những tờ thư mỏng, anh vẫn thường nhận phần trang trí hay chép hộ tôi những bài thơ hay. Chỉ vậy thôi, ngày nào trên đường đi học về tôi cũng đã phải ghé vào nhặt vài bông hoa cầm trên tay để làm duyên với anh bạn chung đường, hình như từ đó cũng nảy nở một mối tình học trò, be bé xinh xinh như những cánh phượng đầu mùa ép khô đã đổi màu với thời gian. Mối tình ấy bao lâu tôi không nhớ, nó bắt đầu khi nào và kết thúc làm sao vẫn chỉ để lại một nỗi buồn hờn giận nhẹ nhàng mà lại khó nguôi trong trái tim nhỏ bé của tôi. Hai năm dài đi chung một con đường đến trường, bỡ ngỡ xa lạ lúc ban đầu, êm đềm đằm thắm lúc về sau, để rồi sau một mùa hè “người ấy” biến mất, như những cơn mưa mùa hè đã cuốn theo những cánh hoa phượng rã rời trôi theo dòng sông biền biệt.


Tôi chỉ biết anh ở trọ nhà bà con trong suốt thời gian đi học, bà mẹ quê phải vất vả tằn tiện từng đồng nuôi con đi học xa. Quê anh tít trong vùng sâu ở bên kia sông, thời chiến tranh nằm giữa hai lằn đạn. Bà mẹ chịu ở lại với mảnh vườn và ruộng lúa để nuôi các con ăn học, tình hình chiến sự nhiều khi trở nên rất sôi động đến nỗi con cũng không dám về nhà thăm mẹ cho nguôi lòng thương nhớ, mẹ cũng phải khó khăn mới chèo chống được với sóng gió, bằng chiếc ghe nhỏ chở khẳm gạo và thức ăn bơi qua sông lớn để nuôi con ăn học. Chính vì vậy mà tâm tư anh khắc khoải một nỗi buồn, nhất là những đêm tiếng đại bác vọng về thành phố, ánh hoả châu soi sáng vùng trời xa bên kia sông, tương lai tuổi trẻ ngày ấy mịt mờ nặng trĩu những âu lo khiến anh nghĩ tới bà mẹ quê tội tình mà không an tâm trong việc học. Năm đó anh thi rớt, một là học lại một năm nữa để thi nốt mảnh bằng tú tài 2, sau đó lên Đại Học, nhưng đúng lúc đó chiến trận leo thang, anh cũng đang độ tuổi tòng quân nhập ngũ. 


Anh biến mất trong tôi kể từ mùa hè năm ấy không một lời từ giã. Có lúc tôi nghĩ chắc anh đã nghỉ học về quê ở nhà với mẹ để trốn lính, hay có khi lại chạy theo bên kia vì nhà anh thuộc vùng xôi đậu. Thôi thế là hết, tình học trò còn non nớt như những bông hoa phượng đỏ, lắm nhớ nhung để rồi tự nhiên bị đứt như dây tơ chùng xuống nốt nhạc buồn. Trong tâm hồn người con gái tuổi mộng mơ mới biết yêu vẫn thổn thức khi niên học mới một mình đến trường không còn ai đưa đón. Lật tập thơ tôi thấy còn nhiều cánh hoa phượng khô của anh tặng năm xưa nằm xen trong những trang giấy mỏng, lúc ấy tôi đã làm bài thơ “Ngày Tựu Trường”, ép vào đó một cánh phượng khô với nỗi buồn của tôi, nỗi hờn giận đã làm tan nát trái tim non nớt tuổi học trò.


Ngày Tựu Trường 

Ngày tựu trường lòng tôi sao trống vắng
Đếm trên đường từng bước với cô đơn
Người ta vui sao chỉ có tôi buồn
Tình êm đẹp bây giờ không còn nữa
Lá phượng xanh, màu xanh nay đã úa
Ngày tựu trường trời sao vẫn nhiều mưa
Đường đi, về tôi cảm thấy bơ vơ
Nên cúi mặt tìm màu hoa đỏ thắm
Một người ra đi nơi nào xa lắm
Cánh phượng hồng khô héo đã từ lâu
Những bông hoa kỷ niệm buổi ban đầu
Vẫn còn đó không một lời hẹn ước
Ngày tựu trường có một mình tôi khóc
Đâu còn anh ai chép hộ bài thơ
Đâu còn anh mình tôi bước thẫn thờ
Trong buổi sáng đầu năm vào lớp học.


Bài thơ dễ thương ấy là một trong những bài thơ tuổi học trò, với những cánh hoa ngả màu nâu buồn nằm thầm lặng trong góc tủ sách, hay suốt đời nằm thầm lặng trong đáy hồn tôi.

Khi tôi nghĩ sẽ không bao giờ còn gặp lại “người ấy”, dù chia tay chỉ vì hoàn cảnh nhưng đã vô tình làm tổn thương trái tim non nớt của tôi. Vậy mà vài năm sau khi lập gia đình, tôi bồng đứa con gái nhỏ ghé vào tiệm bách hóa mua đồ chơi cho con thì gặp anh. Trong bộ chinh y còn nhàu bụi đường xa, hình như anh mới từ đơn vị về nên nét mặt còn hằn dấu phong sương.

Ngỡ ngàng, bối rối, bồi hồi, ba cảm giác ấy trộn lẫn vào nhau khiến tôi lúng túng thốt ra toàn những câu thật ngớ ngẩn khi hai bên chạm mặt nhau. Má tôi nóng bừng lên lẫn lộn cảm xúc bất ngờ xung đột trong lòng, khi nhớ đến chuyện ngày xưa, lại nửa như muốn cho anh nhìn thấy cái hạnh phúc mà tôi đang có. Vẫn không bỏ được tính trẻ con, bất đắc dĩ tôi phải hỏi, vẫn trống không như ngày xưa mỗi lần hờn giận:

“Mới về hả?”

Anh cũng mỉm cười gật đầu, ánh mắt nửa thương mến nửa giễu cợt khi nhớ lại cái tính hay hờn của tôi:

“Ừ, mới về!”

Rồi lặng thinh nhìn tôi rất lâu. Đôi mắt ấy chừng như đâu đó đọng lại một niềm vui dịu dàng khi biết tôi đã có một đời hạnh phúc, xen lẫn chút ân hận khi nghĩ đến chuyện cũ. Thời gian qua lâu rồi, những cánh hoa phượng đã úa rồi vẫn nằm trong tập thơ tôi nhét kín trong kẹt tủ sách. Trong bấy nhiêu năm trời tôi đâu biết anh đi đâu về đâu, bây giờ nhìn anh trong màu áo trận, tôi ân hận là đã có lúc nghĩ sai về anh, vì tưởng anh sợ đời lính nên trốn về quê núp bóng mẹ. Anh nựng đứa bé trên tay tôi rồi hỏi:

“Cháu xinh và giống mẹ ghê, được mấy tuổi rồi?”

Tôi lí nhí trả lời nhưng tự nhiên một nỗi hờn giận dâng lên trong ánh mắt, tôi có làm gì nên tội để ngày ấy anh bỏ đi không một lời từ giã. Theo thời gian tình yêu ấy giờ đây đã khâm liệm rồi, nhưng niềm đau thì hình như vẫn còn đó khi nhớ lại. Nỗi đau tuổi đầu đời, in một dấu hằn trong trái tim nhỏ bé, chưa kể những giọt nước mắt tủi hờn mỗi lúc lẻ loi trên đường đi học, tôi vẫn phải đi ngang nhịp cầu và mé sông rưng rưng tàn hoa phượng đỏ mỗi lúc sang hè. Tự nhiên tôi bật hỏi:

“Hồi đó anh đi đâu?

Anh buồn buồn:

“Anh nhập ngũ, mẹ anh đâu còn bao nhiêu sức lực để nuôi anh học lại một năm nữa, anh cũng không thể về cày cuốc nơi mảnh đất quê nhà. Đành là ra đi mà không dám nói lời từ biệt, anh xin lỗi…”

Chúng tôi còn nói thêm vài câu chuyện nữa, đã hết giận anh rồi, chuyện cũ đã được giải thích, dù sao hiện tại tôi đã ấm êm với một gia đình hạnh phúc, riêng anh đời lính đẩy đưa qua những miền đất lạ, chỗ nào cũng chỉ có đạn bom. Anh chưa lập gia đình dù mẹ anh mong mỏi, nhưng đời lính luôn đối diện với sống chết lại ám ảnh chuyện “những Kinh Kha một sớm chẳng quay về” nên anh ngại ngùng chưa nghĩ đến hôn nhân.

Tôi bế con ra khỏi tiệm bách hoá, trên tay con bé giữ chặt món quà của người lính mua tặng, nó toét miệng cười khi anh đặt nụ hôn dịu dàng lên vầng trán ngây thơ của đứa bé trước khi từ giã. Chuyện năm nao đã lắng xuống rồi, ít ra cũng có một câu trả lời để “cô bé học trò” ngày ấy khỏi tấm tức vì nghĩ mình bị bỏ rơi. Nụ hôn dịu dàng anh gửi lại trên vầng trán đưá bé, khiến tôi chạnh nhớ đến lần cuối cùng, anh cũng giấu kín lời từ biệt với nụ hôn nhẹ nhàng trên trán tôi rồi ra đi mà không nói một lời. Món đồ chơi trẻ con đứa bé giữ chặt trong tay, khiến tôi bật cười mà lại cảm động khi nghĩ tới những bông hoa phượng màu nâu khô ép trong tập thơ nhét trong kẹt tủ, ngày xưa tôi cũng giơ tay nhận món quà trời cho ấy mỗi độ sang hè, nhớ đôi mắt nồng ấm của anh nhìn tôi với nụ cười xinh giấu trong vành nón lá.

Kể từ lần gặp ấy tôi không hề gặp lại anh nữa, cuộc đời cứ thế trôi đi theo cái tan nát của nước non. Tôi may mắn cùng chồng rời khỏi quê nhà trong những giờ thứ 25 của cuộc chiến, chẳng mang theo được gì, huống chi là tập thơ tuổi học trò giấu trong kẹt tủ sách có những cánh hoa khô ép trong cuốn vở. 


30 năm sống ở quê người, lòng tôi vẫn chưa nguôi ngoai nỗi nhớ quê và mong ước một lần trở về. Trở về để làm một người khách lạ trên chính quê hương của mình, những gì trong quá khứ đã không còn, tôi chẳng tìm đâu ra hai cây phượng nơi mé sông, tôi cũng không nhìn ra ngôi trường mình đã học ngày xưa vì nó thay đổi hết rồi. Chị bạn đồng hành mời tôi về thăm sông nước miền Tây cho biết đời sống và vẻ đẹp của những thôn làng nằm ven bờ sông Hậu, tôi nhận lời ngay vì chợt nghĩ đến ngày xưa, có lần tôi đã ao ước được theo anh về thăm nhà, nhưng anh nói:

“Em không biết chèo xuồng, không biết bơi làm sao dám về vùng sông nước.”

Anh nói vậy nhưng tôi hiểu cái mặc cảm trong lòng anh, một cô gái thị thành “ăn trắng mặc trơn”, sao phù hợp được với cảnh đời của một thanh niên cảnh nhà thanh bạch nơi quê mùa đầy những bất trắc của chiến tranh. Lần trở về này tôi theo người bạn về thăm quê chị, nơi mà có lần mấy chục năm về trước tôi đã nhìn thấy nỗi bồn chồn của người yêu cũ khi nhìn ánh hoả châu phía chân trời bên kia sông, mà nghĩ đến bà mẹ quê nghèo đang lao đao giữa hai lằn đạn.

Đã bao nhiêu khuôn mặt thân hay sơ đi qua đời mình, bạn bè chung trường chung lớp ngày xưa bây giờ mỗi người có một số phận khác nhau và đời sống khác nhau. Tôi gặp một vài người bạn cũ còn sống ở quê nhà, có người thành công có người lận đận an phận sống cho hết kiếp người. Tôi thoáng nhớ đến anh người bạn thuở học trò, không biết bây giờ anh ra sao, chỉ mong sao anh cũng thoát được nỗi vất vả cuộc đời mà qua hai giai đoạn tôi biết, đời học sinh và đời lính tuổi nào anh cũng ắp đầy nỗi khổ.


Chuyến đò xình xịch nổ máy rồi rời bến chở khách về thăm lại làng quê miền đồng bằng sông Cửu Long, bây giờ cũng có một con đường nhỏ chạy song song với dòng sông. Đa số người miền quê vẫn thích đi bằng đò vì mát mẻ và vận chuyển được nhiều hành lý, còn người đi xa trở về lại muốn hưởng cảm giác thanh bình của những làng mạc nằm dọc theo dòng sông. Lòng tôi êm dịu quá, những đợt sóng nhỏ vỗ vào mạn đò êm như nhịp võng và tiếng ầu ơ của những trưa hè trong một xóm nhỏ của miền Nam ngày xưa, tôi để lòng trôi nổi theo những kỷ niệm một thời đã lắng xuống sau 30 năm tôi sống ở quê người.

Chập chờn theo tiếng sóng vỗ vào con đò tròng trành trên dòng sông, gió mát miền quê ru tôi vào giấc ngủ, lúc ấy đò vừa cập bến nên mọi người lao nhao đứng dậy để lên bờ, tôi mới ngây ngất nhìn thấy hai cây phuợng thắm bên giẻo sông này đang mùa hoa tưng bừng nở rộ. Hoa đỏ chi chít chen lẫn trong những cành lá xanh ly ty xanh biếc, lòng lại bồi hồi xúc cảm vì bất chợt tìm lại những gì mất đã lâu nay bỗng dưng hiện ra trước mắt. Ôi chao! Cũng những cánh hoa tả tơi rơi trên mặt đất, cũng cây phượng hồng bên mé sông, chỉ khác là hôm nay tôi không còn là cô nữ sinh tuổi 17 của những năm tháng trước. Hai cây phượng hồng che bóng mát cho một cái quán nghèo nhà quê, bán trái cây và những thứ kẹo bánh, đồ chơi cho trẻ con, người làng xã mỗi lần ra bến chờ chuyến đò ra tỉnh.


Mỏi chân nên tôi ngồi nghỉ nơi cái bàn của quán nước ở ngoài hiên, chờ chị bạn lấy hành lý về thăm nhà bà con, bảo người phụ nữ chủ quán có nét mặt hiền hòa đôn hậu chặt cho tôi một trái dừa xiêm nhỏ. Biết tôi khách phương xa, chị quày quả gọi vào bên trong lấy cho tôi một trái dừa tươi nhất từ trên cây phía sau nhà. Khi người đàn ông chống đôi nạng gỗ khập khễnh bước ra đem trái dừa cho vợ, mắt tôi lòa nhòa một hình ảnh rất thân quen, mặc dù thời gian và tuổi tác đã cày sâu trên khuôn mặt, nhưng chắc chắn là tôi không lầm. Trời ơi! Anh đấy ư? Có thể nào như thế nếu như trời vẫn còn bắt tôi gặp lại người xưa trong cảnh huống này, con người quả có số phận, nhưng nỡ nào chiến tranh lại lấy đi của anh nhiều như vậy? Một cái chân bỏ lại chiến trường, cộng thêm một con mắt khiến anh khó lòng nhận ra tôi lúc ấy, chính tôi cũng thay đổi nhiều rồi, nhưng so sánh giữa hai cảnh đời thì anh đã gánh chịu quá nhiều bất hạnh.

Không nén được cảm xúc, tôi uống một ngụm nước dừa nhưng lại không cảm được cái ngọt lừ của nước mát quê hương. Thấy anh đi vào, tôi bật đứng dậy chạy gọi với theo khiến người vợ cũng ngạc nhiên:

“Anh... anh gì ơi, cho tôi hỏi thăm.”

Anh ngạc nhiên đứng lại, cây nạng gỗ dựa bên khiến dáng anh khập khiễng làm lòng tôi càng thương cảm. Rồi nhìn tôi chăm chú bằng con mắt còn lại, linh tính đã nhận ra tôi là người quen năm cũ, anh bình tĩnh mỉm cười, nụ cười ấy tôi nhận ra ngay như ngày nào gặp lại nhau trong tiệm bách hóa. Anh hỏi:

“Mới về hả?” 

Tôi nhìn anh lòng rộn lên niềm vui, lí nhí nói:

“Ừ, mới về!”

Trong bao nhiêu năm cứ như thời gian không ảnh hưởng gì đến cái tình năm xưa trong quá khứ, anh nói tiếp:

“Không ngờ quả đất tròn thiệt, tôi không ngờ mình còn sống để có ngày gặp lại”.

Chúng tôi trở lại bàn dành cho khách uống nước, chờ chị bạn để về nhà. Vợ anh lăng xăng mừng rỡ:

“Cô đây quen với mình hả?”

Anh gật đầu vui vẻ:

“Quen, hồi anh còn đi học nhưng lâu rồi không gặp, cũng mấy chục năm rồi mà còn nhận ra nhau. Bữa nay em chuẩn bị làm cơm mình đãi khách quý, hình như cũng là bạn của cô Út cháu bà Hai trong xóm mới từ nước ngoài về?”

Tôi gật đầu, chị bạn tôi cũng vừa đến, nhất định tôi phải thuyết phục chị buổi chiều đến nhà anh ăn bữa cơm hạnh ngộ. Thấy anh lom khom với cây nạng, tôi dò hỏi:

“Sao anh không dùng xe lăn cho khoẻ?”

Anh mỉm cười nhẫn nhục:

“Ở nhà quê đường xá gập ghềnh, chống nạng tiện hơn, cái chân này cũng vững vì nó biết phải bảo vệ cái chân kia cho mình khỏi té.”

Trời ơi, bao nhiêu năm vốn văn chương vẫn còn nguyên trong trí nhớ của người học trò, vẫn khí phách của người lính dám đứng thẳng đối phó với hoàn cảnh. Chắc anh khổ nhiều mà không nói ra, nhưng tâm tôi đã quyết phải làm một cái gì cho anh. Trả ơn những bài thơ chép trong cuốn vở, trả ơn những cánh hoa khô ép trong thơ đã cho tôi những tháng ngày mộng mơ tuổi học trò, trả ơn người lính đã đánh mất phần thân thể cho tôi được bình yên trong thời chinh chiến.


Hai ngày theo chị bạn về quê, nơi này làng xóm thân cận nên ai cũng biết nhau, cũng không ai biết gì về sợi dây thân tình của anh thương phế binh với người phụ nữ trung niên từ xa mới về. Mẹ anh chết lâu rồi, anh trở về sống trong căn nhà hương hoả của gia đình, an phận với nếp sống đạm bạc rau trái trong vườn, mãi mới chịu lấy vợ để tuổi già đỡ hiu quạnh. Hai đưá con anh lớn lên được cho ra tỉnh trọ học y như cha chúng nó ngày xưa, nhưng khá hơn vì đã hết chiến tranh, ngày nghỉ vẫn theo đò về quê thăm cha mẹ. Anh đối đãi tôi bằng mối thâm tình của người anh với cô em gái, sau bữa cơm khá thịnh soạn có món gỏi gà trộn rau răm bắp chuối, chị lưỡng lự chưa dám cầm món quà của tôi nhét vào túi áo chị dù biết rằng nó sẽ giúp anh chị thực hiện những ước mơ, như làm lại cái quán nhỏ để mưu sinh qua ngày, bán thêm vài thứ đồ chơi rẻ tiền cho trẻ con trong xóm.

Anh thở dài rồi cũng phải nhận món quà của người em gái một thời còn nợ anh những bông hoa phượng ép trong cuốn vở, nhưng vẫn nói:

“Cảm ơn cô đã nghĩ đến anh,sau chiến tranh anh được về với mảnh đất quê nhà là may mắn rồi, còn biết bao đồng đội của anh què chân cụt tay lê la ngoài đầu đường xó chợ không có ai giúp đỡ.Nếu có lòng,em cố giúp những người ấy, phần anh như vậy đã quá đủ, còn có hai cây phượng bên bờ sông nở hoa mỗi độ hè về, đâu ao ước gì hơn nữa.”

Xế trưa hôm sau nữa tôi và chị bạn trở ra tỉnh để lên Sàigòn chuẩn bị chuyến bay. Lúc vợ anh bận bịu bán hàng cho khách trong quán, chị bạn tôi cũng lăng xăng từ biệt gia đình người bà con, mắt ai cũng rươm rướm hẹn lần tái ngộ. Lúc ấy tôi có dịp đứng một mình với anh dưới tàng cây phượng vĩ, rực rỡ những bông hoa đỏ lung linh in bóng xuống dòng sông. Vướng một chút hắt hiu khi nắng chiều rọi vào khuôn mặt đã hằn dấu vết thời gian, anh nói nhỏ:

“Em vẫn còn giữ được nụ cười năm xưa. Bây giờ có hiểu tại sao anh lại trồng hoa phượng, cũng chỉ bởi muốn giữ trong lòng những kỷ niệm thời đi học.”


Tôi gật đầu không nói, nhưng mắt lại rưng rưng khi hiểu rằng trong trái tim anh thấp thoáng vẫn còn hình ảnh cô bạn nhỏ thời đi học. Chắc khó gặp lại nhau lần nữa, khi con đò tròng trành rời bến ra giữa sông, bóng anh nhỏ dần nhưng mắt tôi vẫn ngoái trông những bông hoa phượng rưng rưng nơi bờ sông lộng gió...

 

Nguyên Nhung

Chớm Thu Thương Nhớ - Hàn Thiên Lương

Thursday, November 5, 2026

Tại Sao Những Ca Khúc Trước Năm 1975 Vẫn Được Ưa Chuộng? - Nguyễn Văn Tuấn


Hôm nọ, có nghe ông Nguyễn Phú Trọng phàn nàn là Việt Nam không có những bài hát hay. Tôi thì nghĩ khác ông ta, vì Việt Nam có những bài hát hay, có thể ông chưa nghe đó thôi. Chúng ta thử tìm về nhạc thời trước 1975 ở miền Nam xem, có nhiều bài hay lắm chứ, và vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay dù nó bị vùi dập nhiều lần …

Câu hỏi đặt ra là tại sao những bài ca đã được sáng tác hơn nửa thế kỷ trước mà đến nay vẫn còn được giới thưởng ngoạn, từ bình dân đến lịch lãm, đều ưa thích. Tôi nghĩ đến 4 lý do và cũng là đặc điểm của những ca khúc trước 1975 ở miền Nam: tính nhân văn, tự do tư tưởng, tính phong phú, và giàu chất nghệ thuật.


NHÂN VĂN 

Thứ nhất là đậm chất nhân văn. Nếu nhìn lại những bài ca trước 1975 ở miền Nam và so sánh với những sáng tác ở miền Bắc, tôi nghĩ ít ai có thể bác bỏ tính nhân văn trong các sáng tác ở trong Nam. Khi nói “nhân văn”, tôi không chỉ nói đến những sáng tác về thân phận con người, mà còn kể cả những sáng tác thuộc dòng nhạc lãng mạn, trữ tình, nói lên cảm xúc của con người trước thời cuộc.

Người ta thường phân nhóm những sáng tác của Trịnh Công Sơn thành hai nhóm tình yêu và thân phận, nhưng tôi nghĩ cách phân nhóm đó cũng có thể áp dụng cho nhiều nhạc sĩ khác như Từ Công Phụng chẳng hạn. Tình yêu không chỉ là tình yêu đôi lứa, mà còn tình yêu quê hương đất nước (“Tôi đi xem để thấy những gì yêu dấu Việt Nam”) và giữa người với người “Tôi yêu bác nông phu đội sương nắng bên bờ ruộng sâu”).


Thỉnh thoảng cũng có một vài bài có chất “máu” (như câu “nhưng thép súng đang còn say máu thù” trong bài “Lính xa nhà”), nhưng cho dù như thế thì câu kết vẫn có hậu “Hẹn em khi khắp trời nở đầy hoa có tôi về”. Có thể nói rằng cái đặc tính nhân văn và nhân bản của những ca khúc trước 1975 ở miền Nam là yếu tố mạnh nhất để phân biệt so với các ca khúc cùng thời ngoài Bắc, vốn lúc nào cũng có nhiều mùi máu và súng đạn.


NGHỆ THUẬT

Cái đặc điểm nổi bật thứ hai là tính nghệ thuật trong các ca khúc. Khi nói “nghệ thuật” tôi muốn nói đến những lời ca đẹp, giàu chất thơ, và những giai điệu đẹp. Những bài ca mà ngay cả từ cái tựa đề đã đẹp. Những Dấu tình sầu, Giáng ngọc, Mùa thu cho em, Nghìn trùng xa cách, Tuổi biết buồn, Thà như giọt mưa, Giọt mưa trên lá, Hạ trắng, Diễm xưa, Ướt mi, và biết bao tựa đề có ý thơ và sâu lắng như thế đã đi vào lòng người thưởng ngoạn.

Thử so sánh những tựa đề của các sáng tác cùng thời ngoài Bắc như 

Bài ca năm tấn, Em đi làm tín dụng, 

Chào anh giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng, 

Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc, 

v.v… thì chúng ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt.

Lời ca trong những ca khúc trước 1975 ở miền Nam cũng là những lời đẹp. Tôi thán phục những nhạc sĩ như Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Hoài Linh [không phải anh hề], Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên (và nhiều nữa) đã viết ra những lời ca đi vào lòng người. Không phải chỉ đơn giản nhân văn theo kiểu những ý tưởng trừu tượng trong sáng tác của Trịnh Công Sơn (ví dụ như “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi”, hay “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”), nhưng có khi đi thẳng vào vấn đề như Phạm Duy (“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”).

Còn nhiều nhiều bài đã đi vào lòng người qua những lời ca đẹp và giản dị: “Hôm xưa tay nắm tay nhau anh hỏi tôi rằng: ‘Những gì trong đời ta ghi sâu vào tâm tư / Không tan theo cùng hư vô, không theo tháng năm phai mờ / Tình nào tha thiết anh ơi?”. 

Có những lời ca mà tôi nghĩ giới trẻ ngày nay có thể mỉa mai cười khẩy nói sến, nhưng tuổi trẻ thì thường chưa đủ lớn để cảm những câu như “Phút ban đầu ấy / Thư xanh màu giấy viết nhưng chưa gởi em / Ngõ đi chung một lối / Đôi khi định nói với em một lời.”


Không biết từ thuở nào mà tôi đã mê bài Trộm nhìn nhau và đã từng dự báo rằng bài này có ngày sẽ nổi tiếng. Thời đó, tôi mới về thăm nhà sau 20 năm xa cách, và nhìn người xưa, tôi thấy những câu “Ðôi khi trộm nhìn em / Xem dung nhan đó bây giờ ra sao / Em có còn đôi má đào như ngày nào” sao mà hay quá, hợp cảnh quá. Chỉ trộm nhìn thôi. Lời nhạc rất thơ.

Mà, thật vậy, đa số những lời ca trong các sáng tác trước 1975 được viết ra như vẫn vần thơ hoặc phổ từ thơ. Người phổ thơ thành nhạc hay nhất là Nhạc sĩ Phạm Duy, được xem như là một “phù thủy âm nhạc”. Chính vì thế mà âm nhạc trước 1975 có những lời ca sang trọng. Thời nay, trong môi trường những ca khúc dung tục, rất hiếm thấy những ca khúc có những lời ca đẹp như trước.

Lạ một điều là cũng là nhạc tuyên truyền (ở ngoài Bắc gọi vậy) hay nhạc tâm lý chiến (cách gọi trong Nam), nhưng những sáng tác trong Nam thì lại được người dân nhớ và xưng tụng. Sau cuộc chiến, những bài gọi là “nhạc đỏ”, dù được sự ưu ái của nhà cầm quyền văn hóa, chẳng ai nhớ hay muốn nhớ đến chúng.

Ngược lại, những sáng tác về người lính ở trong Nam thời trước 1975 thì lại còn lưu truyền và nuôi dưỡng trong lòng dân, dù nhà cầm quyền ra sức cấm đoán! Ngay cả những người lính miền Bắc cũng thích những bài hát về lính của các nhạc sĩ trong Nam. 

Tại sao vậy? 

Tôi nghĩ tại vì tính nghệ thuật và nhân bản trong những sáng tác ở miền Nam. Người lính, cho dù là lính cộng sản hay cộng hòa, thì vẫn cảm được những câu “Con biết xuân này mẹ chờ tin con / Khi thấy mai đào nở vàng bên nương” hay “Thư của lính, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay”. Những lời ca đó không có biên giới chính trị.


TỰ DO

Đặc điểm thứ ba là tự do. Dù có kiểm duyệt, nhưng nói chung các nghệ sĩ trước 1975 ở miền Nam có tự do sáng tác. Không ai cấm họ nói lên nỗi đau và những mất mát của chiến tranh. Không ai “đặt hàng” họ viết những bài ca tụng lãnh đạo như ngoài Bắc. Thật vậy, nhìn lại dòng nhạc thời đó, chẳng có một ca khúc nào ca tụng ông Nguyễn Văn Thiệu cả. Có một bài ca tụng ông Ngô Đình Diệm, nhưng cũng chẳng ai ca vì nó được dùng trong mấy rạp chiếu bóng là chính. Thay vì ca ngợi “lãnh tụ” dòng nhạc miền Nam ca ngợi con người và dân tộc, nhưng cũng đồng thời nói lên nỗi đau của chiến tranh. 

Trịnh Công Sơn viết hẳn một loạt “Ca khúc Da Vàng” (mà hình như cho đến nay vẫn chưa được phép phổ biến). Trong thời chiến mà họ vẫn có thể phổ biến những sáng tác không có lợi cho chính quyền. Những ca khúc như “Dù anh trở về trên đôi nạng gỗ/ Dù anh trở về bằng chiếc xe lăn” chắc chắn không có cơ may xuất hiện trong âm nhạc miền Bắc thời đó (và ngay cả sau này). 

Một trong những ca khúc nổi tiếng nhất trong thời chiến có lẽ là bài “Kỷ vật cho em” (phổ thơ của Linh Phương) với những lời ca ray rứt, bi thảm: “Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime/ Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã/ Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả/ Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa/ Anh trở về bằng chiếc băng ca/ Trên trực thăng sơn màu tang trắng.” Nghe nói ca khúc này đã làm cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa rất khó chịu với nhạc sĩ.


Tiêu biểu cho tinh thần tự do sáng tác có lẽ là tự sự của Phạm Duy: “Tôi đưa ra một câu nói thôi: ‘Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’ đất nước bơ vơ, nó rối bù đi thì tôi phải khóc thôi. Lúc nào mà đoàn kết thì tôi cười theo. Khóc cười theo mệnh nước. Cái xã hội mình nó rối tung lên như vậy thì làm sao mà mình … Thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề là … Các anh yêu tôi thì nói là tôi có sự nghiệp hơi đầy đủ, hơi lớn một tí đấy, nhưng mà riêng tôi thì tôi thấy cho đến giờ phút này thì tôi hoàn toàn thất bại. Bởi vì đất nước đã thống nhất rồi mà lòng người thì không thống nhất, thành thử đại khái nếu mà tôi có chết đi thì tôi hãy còn gần như là tôi không được thỏa mãn.”


Cái tính tự do còn thể hiện qua một thực tế là chính quyền thời đó không cấm đoán việc phổ biến các nhạc sĩ còn ở ngoài Bắc. Những sáng tác của Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, v.v…đều được phổ biến thoải mái trong Nam. Ngay cả bài quốc ca mà chính quyền vẫn sử dụng bài “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước vốn là một người cộng sản. Ngược lại, nhà cầm quyền ngoài Bắc thì lại cấm, không cho phổ biến các sáng tác của các nhạc sĩ trong Nam hay đã vào Nam sinh sống.

ĐA DẠNG 

Đặc điểm thứ tư của âm nhạc ngày xưa là tính phong phú về chủ đề. Khác với nhạc ngoài Bắc cùng thời tất cả dồn cho tuyên truyền và kêu gọi chiến tranh, các sáng tác trong Nam không kêu gọi chiến tranh nhưng yêu thương kẻ thù. Nhạc thời đó đáp ứng cho mọi nhu cầu của giới bình dân đến người trí thức, từ người dân đến người lính, từ trẻ em đến người lớn quan tâm đến thời cuộc, từ tình yêu lãng mạn đến triết lýhiện sinh, từ tục ca đến đạo ca, từ nhạc trẻ đến nhạc “tiền chiến”, từ nhạc tâm lý chiến (tuyên truyền) đến nhạc chống chiến tranh, nói chung là đủ cả. Không chỉ sáng tác bằng tiếng Việt mà còn trước tác hay dịch từ các ca khúc nổi tiếng ở nước ngoài để giới thiệu cho công chúng Việt Nam.


Tôi nghĩ bốn đặc điểm đó có thể giải thích tại sao những ca khúc dù đã sáng tác hơn nửa thế kỷ trước mà vẫn còn phổ biến và được yêu chuộng cho đến ngày nay. Mai kia mốt nọ, nếu có người viết lại lịch sử âm nhạc, tôi nghĩ họ sẽ ghi nhận những sáng tác thời trước 1975 ở miền Nam là một kho tàng vàng son của âm nhạc Việt Nam. Như là một quy luật, những bài hát tuyên truyền thô kệch và nhồi sọ, những bài ca sắt máu, những sáng tác kêu gọi giết chóc và hận thù sẽ bị đào thải, và thực tế đã chứng minh điều đó. Ngược lại, chỉ có những sáng tác đậm tính nhân văn, giàu chất nghệ thuật, và phong phú xuất phát từ tinh thần tự do, thì mới tồn tại theo thời gian. 


Nguyễn Văn Tuấn

(1) TẠI SAO NHỮNG CA KHÚC TRƯỚC NĂM 1975... - Việt Luận - Viet's Herald | Facebook

Nợ Nần Buông Trôi - Đỗ Công Luận

Mùa Thu Nơi Góc Nhỏ Trời Âu – Ara Phát


Cuộc đời có những quy luật riêng, một trong những quy luật này ai cũng phải trải qua là « Sinh lão bệnh tử », hiển nhiên là sinh ra, lớn lên, già rồi ốm đau bịnh tật và cuối cùng là từ giã cõi đời.

Tôi không bàn quy luật này theo tính cách phong thủy hay tử vi mà nhiều người hay đề cập đến, nhiều khi đưa đến mê tín là bất cứ công việc có tính cách chọn lựa thường muốn có con số cuối cùng rơi vào cung Sinh. Tức là con số chia cho 4 dư 1, vì sinh lúc nào cũng tươi mới , đem lại sự sống trong vạn vật. Mua một sợi vòng tay cũng phải đếm số hạt sao cho rơi vào « sinh» , mà có thoát được già yếu bịnh hoạn đâu. Thiên nhiên là vậy, vạn vật cây cỏ, con người cũng thay đổi theo thời gian vì đây là quy luật. Có sinh ắt phải có tử .

Có mùa xuân đến thì cũng phải ngồi ngắm tuyết mùa đông .
Ngày tôi mới định cư nơi miền ôn đới này có một điều nhận thấy là những người bước vào thế hệ thứ ba là những người điệu đà ưa màu sắc, thích ăn diện . Ban đầu hơi có thành kiến nhưng sống một thời gian thấy đó là điều đáng sống và phù hợp với thiên nhiên, những cửa hàng thời trang dành cho những thế hệ thứ ba này nhiều màu sắc tươi thắm mà nhìn vào, giới trẻ bảo là « gu người già », mà những người già dám vung tay lắm. Quan niệm của họ khác với những người á đông; không cần thiết để dành dụm cho con cháu . Tôi cũng đang ở vào cái tuổi này nên thông cảm và binh vực họ tối đa. Thử nhìn thiên nhiên vạn vật vào mùa thứ ba hay gọi là mùa thu mà xem , đất trời như thay áo mới, màu sắc vàng đỏ rực rỡ thay thế màu xanh cằn cỗi, có ai dám bảo mùa thu không phải là mùa đẹp nhất trong năm .

Mùa thu nơi tôi sống nếu tìm trong « Google map » khu ngoại thành Liège tôi ở chắc chỉ lớn bằng « nửa hạt mè », nước Bỉ đã nhỏ huống chi cái khu vực Angleur tôi sinh sống thì có là bao nhưng cũng may là thiên nhiên thứ gì cũng thấp thoáng, tuy núi không cao, sông không sâu, hang động kém kỳ bí so với muôn vàn nơi khác nhưng nhìn thấp thoáng trên ảnh xem cũng bắt mắt và có lẽ sống lâu nên có cảm tình, thấy nó duyên dáng trong cả bốn mùa. 

Ngày còn đi học, bao nhiêu tác giả, tác phẩm ca ngợi mùa thu Hà Nội nhưng chỉ là những người đã sống và gắn bó lâu dài với nơi này, còn người từ nơi khác đến vào mùa này không có nhiều cảm xúc với cây cơm nguội vàng hay cây bàng lá đỏ, gió thu lãng đãng bờ hồ mà chỉ thấy màu đỏ che rợp phố phường, cái nhộn nhịp ca ngợi cách mạng mùa thu làm mất hết sắc thu vàng, thì ra đảng lúc nào cũng hỗn, muốn hơn  cả đất trời.


Gắn bó vùng Angleur này đã 35 năm, hiện đã ngang bằng thời gian ở Việt Nam mà thời gian sau tuy không cam go như một thời đã qua nhưng chiêm nghiệm cuộc sống nhiều hơn lúc đầu, nghỉ ngơi cũng đã vài năm nhờ vậy có dịp ta bà thế giới, gặp gỡ tìm kiếm bạn bè để ba hoa.
Đi lang thang lúc nào trong túi cũng có máy chụp ảnh, lười thì có chiếc smarphone còn lúc hứng thì dùng loại máy khác nên hay ghi lại hình ảnh .
Tôi chỉ gởi vào đây những hình ảnh của « nửa hạt mè » vào những mùa thu. Có những nơi có dịp đi qua đẹp lắm nhưng thiếu cái tâm tình nên chỉ để riêng thỉnh thoảng có dịp xem lại.

    
Gare xe lửa Guillemins-Liège được xếp loại trong 10 nhà ga đẹp nhất thế giới với mái vòm bằng thép và những vật liệu hiện đại bằng kính và béton trắng, khánh thành năm 2009 để thay thế nhà gare cũ xây dựng năm 1958 với kinh phí 312.000.000 Euro (photo Ara)


Nhà thờ Sacré-Cœur và đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong ở Cointe nằm cách gare vài trăm mét.
Tháng 11 sắp đến ngày lễ Các thánh và chiến sĩ trận vong được tổ chúc trọng thể tại đây,năm truóc vua và thủ tướng có đến dự lễ ngày chiến sĩ trận vong .
Vị trí chụp cách xa hơn cây số mới lấy được toàn cảnh, phải zoom lại 30 lần nên không được nét lắm (photo Ara)

   
Trên con đường đi vào « xóm thuyền » cái tên này là do tôi gọi, những chiếc thuyền lớn không còn được phép lưu hành trên sông nước, họ về khúc sông này, buông neo tạo thành khu xóm, cũng có địa chỉ hợp lệ , có đường gaz, điện, đường dẫn nước và thoát nước để không làm ô uế khúc sông. Những hàng cây che chắn thuyền như bờ rào , ló bên bờ rào ven sông một nhánh cúc báo hiệu mùa thu đến. Nhớ đến một điệu hò tán tỉnh của những chàng trai thương hồ phép tắc lễ nghĩa
Cúc mọc bờ sông kêu là cúc thủy
Saigon xa mà chợ Mỹ cũng xa
Gởi thư thăm hết người nhà
Trước thăm cha mẹ sau là thăm em
(photo Ara)

   
Những chiếc ghe thương hồ một thời tung hoành các bến bãi nay về nằm hưởng nhàn bên dòng sông lơ đãng trữ tình được nhà nước cấp phép « cắm sào » còn có đón khách hay không chỉ có trời biết nước biết thôi.
(photo Ara)

   
Đưa đẩy vài mái chèo trên chiếc xuồng tam bản là đã đến một trung tâm thuơng mại mua sắm đồ dùng cần thiết hoặc la cà nơi quán café bâng quơ vài câu với các cô phục vụ.
(photo Ara)

   
Từ gare đến cầu Fragnée độ hơn cây số, là chiếc cầu đẹp nhất Liège bắc ngang sông Meuse, cặp theo bờ sông vào mùa thu nhìn như tranh vẽ cũng sông núi cảnh sắc hữu tình
(photo Ara)

   
Phải zoom đến 30 lần mới thấy được đồi xanh xanh thoai thoải, đến đây tha hồ rước em lên đồi cỏ xanh ngập lối… hãy vất chiếc dép bước lên trên cỏ mềm.
( photo Ara)
   
Đường vào xóm thuyền
(photo Ara)


Kênh đào Albert I ( Canal Albert I ) nằm ở phía đông bắc Bỉ, là tên vua Albert I của Bỉ , được kết nối các thành phố lớn Anvers và Liège bởi sông Meuse và sông Scheldt. Kênh có độ sâu 3,4 mét và chiều dài tổng cộng 129,5 km, cho phép lưu thông cho một sà lan trọng tải tối đa 10.000 tấn.
(photo Ara)

   
Chiếc thuyền nơi khúc sông được che chắn do một thân cây đổ ngang, trông có nét đẹp nhất là những hôm lãng đãng sương mù
(photo Ara)

   
Con đường đi dạo vào mùa thu nằm trong một cù lao nhỏ mang tên Belle-île
(photo Ara)

    
Dọc theo bờ sông Ourthe hàng cây rực rỡ riêng một góc trời, lá vàng lá đỏ chen nhau như tạo một bức tranh thiên nhiên tuyệt hảo , hàng cây này đẹp vào lúc hai tuần đầu tháng 10. Đến tháng 11 là đã trơ cành.
(photo Ara)

   
Đây là loại cây Tilleul, có lá hình quả tim có răng cưa dùng làm trà uống an thần dễ ngủ, trồng nhiều ở các lối đi ,được đóng gói bán trong các siêu thị , hộp 20 gói cũng khoảng 1,5 Euro
(photo Ara)

   
Cây lá đỏ này tôi chưa biết tên, hay trồng xen với các loại cây lá vàng khác
(photo Ara)

   
Một con đường đi dạo và chạy bộ ven sông mang tên Quai Ardenne hàng cây hai bên đường là Maron dại, hạt maron dại này rụng đẩy đường, không ăn được, học sinh tiểu học đã được dạy cho biết.
(photo Ara)

   
Giống như ao vuông (ao Bà Om) ở Trà Vinh nhưng nhỏ hơn nằm sau lưng château Péralta, gần con đường lên rừng
(photo Ara)

    
Mùa thu giáo đường, đi ngang khi những hồi chuông ngân vang , nhà thờ St. Paul là nhà thờ lớn tại Liège , tọa lạc tại Place Cathédrale , chung quanh toàn quán café vỉa hè , nơi một vỉa hè thấy gác chuông bên cạnh nhánh lá vàng rực nên ghi lại.
(photo Ara)

 
Từ vào thu đến nay
Gió thu hiu hắt
Sương thu lạnh
…..
Khói thu xây thành (Tản Đà)
(photo Ara)

    
Một buổi sáng tinh sương tháng 10 khi nghe dự báo thời tiết là nhiều sương mù, Ara bị cám dỗ bởi hình ảnh này nên dù có se lạnh cũng thức dậy sớm khoác áo tìm một góc được sương mù bao phủ .Cành cây rũ xuống dòng sông được phủ dầy sương
(photo Ara)

   
Sương phủ kín nhà thủy tạ, nơi nghỉ chân của người đi dạo trong Belle-île; không phải lúc nào cũng có nhiều sương mù, cũng không phí một giấc ngủ nướng.

(photo Ara)

   

Một đêm thu, trăng chưa được tròn trịa ,nhưng tôi lại thấy thích cái thiêu thiếu mới thấy cần đòi hỏi,cần tìm kiếm thêm cho được hoàn mỹ ; trăng thu 13 đấy , cũng sáng rực khoảng sân. Ở những nơi bình yên khi nghe  » em không nghe mùa thu, dưới trăng mờ thổn thức, em không nghe rạo rực, hình ảnh kẻ chinh phu, bên lòng người cô phụ » làm sao họ hiểu được ngày xưa mùa thu nước ta là mùa bắt lính , mùa phơi thây trăm họ nên công một người.

 (photo Ara)

   

Hoàng hôn ven sông, vừa mới đỏ đèn, mấy hôm nay đổi giờ,6 giờ rưỡi chiều đã chập choạng tối (photo Ara)

   

Bóng đêm đã tràn ngập dòng sông, dưới nước phản chiếu lại hàng đèn đường

(photoAra)


Nàng thu khoác áo vàng lóng lánh đi dự bữa tiệc trần gian như óng ả hơn lên dưới ánh đèn (photo Ara)

   
Đêm thu lộng lẫy dưới ánh đèn như thế đó mà vắng bóng người chiêm ngưỡng, giờ này mọi người êm ấm quanh bàn ăn hay quây quần bên tách trà, chỉ có gã khờ này loay hoay với ống kính cảnh « áo gấm đi đêm »
(photoAra)

    
Ngập lá thu vàng chung quanh những bậc thềm, tôi la cà nơi này tìm những khoảnh khắc lá rơi để ghi lại, mỗi chiếc lá dường như có tâm tình và cảm xúc riêng , chiếc vẫn đỏng đảnh vương vấn sắc xanh, tươi cười ngạo nghễ bên cạnh chiếc khác kiêu sa gợi tình trong chiếc áo vàng kèm theo chiếc khăn quàng cổ xanh thẫm vẫn còn vương vấn trên cành còn phần đông đã mang nhiều nếp nhăn nơi khóe mắt vành môi, chờ đợi luồng gió mạnh là đáp xuống cạnh bạn bè.
(photo Ara)

   
Không biết đến lúc nào Ara mới học được cái tính kiên nhẫn, tĩnh tâm như những ông »khều Hà Bá » này, cũng là một thú vui tao nhã đấy chứ ! nhưng biết làm sao sinh ra thích cái tính làm người « khôn » như cụ Trạng bàn chuyện nhân tình thế thái, » người khôn người đến chốn lao xao ». Cứ đến chốn lao xao là Ara như « cá gặp nước ».
(photoAra)

   
Chiếc xe đạp chỉ còn trơ khung bỏ lăn lóc, vậy mà vào tay một nghệ sĩ phố phường đem « thếp vàng », đặt vào một thân cây trên bãi lá vàng bỗng trở nên một tác phẩm nghệ thuật, ai đi ngang cũng dùng lại ngắm nghía gật gù.
(photo Ara)

    
» Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá » hai cái nghề vốn trời cho. Lúc ở Bà Rá nghe những tay thợ rừng đi lùng gỗ khi gặp được thứ cần tìm là thông báo cho bạn bè  » hôm nay đạp được 5 gốc cẩm lai », những cây mà họ tìm được đều vạt vỏ cây để lại dấu vết riêng ;họ có luật giang hồ bất thành văn là những kẻ đến sau không được đụng vào, rồi từ từ tìm cách kéo súc gỗ ra khỏi rừng.
Khu rừng Ara đến có những loại gỗ tốt như Chêne( sồi), hêtre. Tủ bàn làm bằng loại gỗ này giá đắt. Khúc gỗ đang ngồi là gỗ chêne cũng dùng làm thùng rượu vin
(photo Ara chụp tự động)

    
Có đến 45 năm mới cầm lại chiếc pipe, quà kỷ niệm của bố tôi tặng lúc đi làm nơi vùng cao nguyên gió lạnh,những hôm se lạnh như hôm nay, nhồi một tẩu thuốc mà thưởng thức mùi thơm lan tỏa, nắm nồi thuốc ấm trong tay thú vị lắm.
Đã vào tháng thứ nhì của mùa thu, ngày đã ngắn dần càng lúc càng lạnh thêm cũng sắp thêm tuổi đời, cũng đã đến lúc cần thu xếp lại cuộc sống cho nhẹ nhàng hơn.(photo Ara chụp tự động)

    
Giàn su trồng sau nhà, là nhà phố nên vườn không rộng, tôi cũng không thích trồng trọt chỉ vì chiều vợ làm tặng người bạn đời một giàn su,việc nặng tôi làm còn săn sóc thì…không có tôi, việc này thích hợp với nhà tôi . Giàn su có trên 20 năm , năm nào cung sai quả, có đến 500 quả mà nhà ăn nhiều lắm cũng chỉ vài ba chục quả, trồng không chút phân hóa học chỉ nhờ vào có nhiều giun đất thôi, biếu tặng nhiều người mà năm nào cũng để làm phân bón cả trăm quả. Quả to, cứ 3 quả là 1 kg (photo Ara)

   
Cứ cuối tháng 10 là phải thu hoạch để tránh bất chợt nhiệt độ xuống âm.(photoAra)

   
Mọi năm còn thả dây bầu chung giàn, bầu su lẫn lộn vui mắt lắm, nhưng năm nay bầu mất mùa,những quả su còn trên giàn.(photoAra)

   
Hoa su bé tí tẹo vậy mà đậu quả to gấp vài chục lần, khu vườn có nhiều ong bướm nên dễ dàng thụ phấn. Chụp lúc sáng sớm quả su còn tươm nhựa (photo Ara)

    
Những cây đâm chồi sớm sẽ vàng lá và rơi rụng sớm theo chu kỳ, trên cành chỉ còn vài ba chiếc lá chờ cơn gió đưa đẩy nằm bên đồng loại( photo Ara)

Chỉ loanh quanh nơi góc nhỏ của Liège cũng ghi lại vài trăm bức ảnh trong carte mémoire(thẻ nhớ) của máy ảnh, khi có dịp đi xa hơn  chỉ ghi lại cái khác lạ ,có thể cảnh sắc đẹp hơn nhưng trong chiều sâu tâm hồn chưa chắc đã bằng nơi gắn bó bao nhiêu năm qua.


0 giờ sáng ngày lễ Các thánh
Toussaint Liège 1/1/2019
Ara Phát

 

Sur le même thème

Của César trả lại cho César - Ara PhatDans "Non classé"

Đường nào cũng dẫn đến La MãDans "Non classé"

Corsica -tên em là nhan sắcDans "Non classé"

Modifier "Mùa thu nơi góc nhỏ trời Âu – Ara Phat"