Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Thursday, August 27, 2026
Giữa Biển Đời... Một Chòi Gà Bỏ Trống Làng Budi Thái Lan - Đỗ Xuân Quý
“Trong buổi gặp anh bạn từ Canada qua, anh gợi lại những kỷ niệm thời chúng tôi ở cuối lot 5 của trại tỵ nạn Songkhla vào năm 1979 rồi cười nhẹ: “Chuyện anh suýt làm rể làng chài Budi, Thái Lan... tới đâu rồi?”
Vì lời nhắc ấy, tôi ngồi xuống, lần giở từng mảnh ký ức tưởng đã ngủ yên gần nửa thế kỷ... và viết lại câu chuyện này như một món quà nhỏ để trân trọng gửi tặng anh Phạm Phú Đạo, Wilson, Canada, người bạn đã cùng tôi sống với một đoạn đời không thể nào quên. Và cũng để như một cách trả nợ mối ân tình của người dân làng chài Budi ấy”.
--------
47 năm trôi qua, tưởng chừng mọi thứ đã lùi vào dĩ vãng. Nhưng có những ký ức càng xa lại càng rõ, như vừa mới hôm qua.
Năm 1979, tôi rời quê hương trên một chiếc ghe nhỏ, mang theo nỗi sợ hãi, một chút hy vọng và một ước mơ giản dị: được sống như một con người đúng nghĩa, và có thể làm được điều gì đó để giúp gia đình còn ở lại.
Chuyến đi ấy không chỉ có sóng gió,chúng tôi gặp cướp biển, mất hết, trắng tay, tưởng chừng như đã mất luôn cả đường sống. Nhưng rồi, giữa tận cùng tuyệt vọng, chúng tôi được vớt lên và thả vào một làng chài nhỏ tên Budi, thuộc tỉnh Pattani, Thái Lan, gần ranh giới Mã Lai.
Nơi đó, một chiếc chòi nuôi gà xiêu vẹo, bỏ hoang, còn vương mùi phân ẩm và hơi tanh của biển, lại trở thành chốn nương thân hơn một tháng cho 16 con người vừa thoát chết.
Gia đình người Thái nghèo nhưng đầy lòng nhân đã dang tay giúp đỡ. Họ cho chúng tôi chổi lá dừa, chiếu cũ để dọn dẹp, che lại nền đất còn nhơ nhớp.
Mỗi sáng tôi theo họ ra biển, phụ kéo ghe, lựa cá. Công việc nặng nhọc nhưng tôi tình nguyện, bởi sau đó là những bữa ăn có cá, có mực, đủ để sống qua ngày. Trong hoàn cảnh ấy, đó không còn là lao động mà là một ân huệ. Bởi tôi đã từng đi qua những ngày kiệt sức vì đói và khát ở quê nhà. Từ những ngày đào kinh Cần Đước, chân trần đạp lên bờ ruộng khô cằn bật máu tươi...đến những bữa ăn tập thể ở cư xá sinh viên NN4, chỉ vài cọng rau muống loe hoe, vài lát sắn khô sượng, hay tô nước lỏng lềnh bềnh vài màng mỡ. Rồi những ngày đi bộ từ quốc lộ 13 vào nông trường Bến Cát, bụi đỏ mù mịt, những chiếc máy cày cũ kỹ gầm gừ, xới tung đất đá và những hàng cao su hoang dại... đến nơi mệt lã vì đói... cái đói theo sát từng bước chân.
Tất cả những ký ức đó khiến tôi hiểu rằng, được kéo một mẻ lưới, được lựa vài con cá... cũng đã là một may mắn. Bởi tôi biết, chỉ sau vài giờ, mình sẽ có một bữa cơm tử tế, có cá tươi, thứ mà nhiều năm trước, ngay cả trong mơ tôi cũng không dám nghĩ tới.
Giữa cảnh trắng tay nơi xứ lạ, tôi nhận được những tình cảm chân thành từ người dân bản xứ. Có người cho thức ăn, có người cho nước uống. Cũng có những gia đình muốn nhận tôi làm người thân, mong tôi ở lại, trở thành một anh thợ đánh cá, với mái nhà lợp lá, chiếc ghe nhỏ bềnh bồng theo con nước... Nhưng có một điều mà đến tận hôm nay, tôi vẫn không thể quên.
Gia đình đã cưu mang chúng tôi trong chiếc chòi gà năm ấy... ngỏ ý gả cô con gái tên Chelma cho tôi, mong tôi ở lại làm rể. Họ còn sẵn sàng trao cho tôi 5,000 baht để lo đám cưới. Số tiền ấy, với họ, là cả một gia tài, là mồ hôi, là nước mắt của một gia đình nghèo miền biển.
Với họ, đó là một cuộc sống tốt, một tương lai đã sẵn có dành cho tôi: một mái nhà, một chiếc ghe, một gia đình, một người con gái và một cuộc đời yên ổn.
Nhưng với tôi, đó lại là điều tôi không thể chọn. Tôi đã đánh cược mạng sống của mình với biển cả. Đã chấp nhận đói khát, cướp biển, và cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, chỉ để tìm một điều rất giản dị: tự do, phẩm giá của một con người, và cơ hội để quay về, giúp đỡ những người tôi đã phải bỏ lại phía sau. Vì thế, trước lời đề nghị chân thành ấy, tôi không thể vui mà chỉ thấy lòng mình nặng trĩu. Không phải vì tôi không trân trọng, mà chính vì tôi hiểu quá rõ tấm lòng của họ.
Họ không thể hiểu và có lẽ cũng không bao giờ hiểu ý nghĩa của sự ra đi mà tôi đã chọn. Và chính sự chân thành ấy lại là điều khiến tôi khó xử nhất.
Chelma, cô con gái lớn trong gia đình, lúc ấy vừa tròn 18. Cô ít nói, giọng nhẹ và ấm như mang theo hơi thở của biển. Cô dạy tôi nói tiếng Thái, day tôi cách quấn xà rông, chỉ tôi cách hái dừa... nhìn tôi bơi xa kéo lưới, dạy tôi cách lựa cá... cách nướng mực trên bãi cát...
Cô không có vẻ đẹp rực rỡ, mà là một vẻ đẹp hiền hòa, mộc mạc, càng nhìn, càng thấy thương... hơn là yêu.
Còn tôi, không có rung động của tình yêu.Trong mắt tôi, Chelma giống như 1 đứa em, một người cần được chở che, chứ không phải là người để tôi gửi gắm đời mình.
Nhưng từ giây phút cha mẹ cô ngỏ lời, mọi thứ bắt đầu thay đổi.Một khoảng cách vô hình xuất hiện. Cô trở nên dè dặt hơn. Còn tôi thì lúng túng, không biết mình đang đứng ở đâu trong mối quan hệ ấy. Trong tôi không phải là tình yêu, nhưng cũng không còn là sự vô tư ban đầu.
Những ngày sau đó dài như một thế kỷ. Chúng tôi, 16 người chỉ quanh quẩn bên chiếc chòi gà, không được rời khỏi làng, không được hòa nhập với người bản xứ, chỉ biết chờ đợi, hy vọng một ngày nào đó sẽ được đưa vào đất liền.
Và tôi hiểu, khi ngày đó đến, tôi sẽ rời khỏi nơi này,
rời khỏi sự ngượng ngùng, rời khỏi nỗi áy náy, và rời khỏi ánh mắt của một người con gái mà tôi biết cũng đang lặng lẽ bối rối như tôi.
Tiếng sóng ngoài khơi vẫn đều đều như nhắc rằng biển đã đưa tôi đến đây... và cũng đang gọi tôi đi tiếp.
Ở lại, là một cuộc sống nghèo nhưng yên ổn. Ra đi, là một conđường chưa biết ngày mai nhưng là con đường tôi đã chọn. Không phải cho riêng tôi, mà cho những người tôi đã để lại phía sau. Người tôi đã hứa hẹn!
Tôi nhìn Chelma. Cô không nói gì, chỉ lặng lẽ nhìn tôi. Có lẽ cô hiểu, người thanh niên trước mặt cô không thuộc về nơi này.
Đêm đó, tôi không ngủ. Tôi không biết phải nói lời từ biệt như thế nào... cho đủ.
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa nhô lên khỏi biển, mọi người ra bến đò. Dân làng đứng tiễn. Tôi bước đến trước cha mẹ của Chelma, không nói được gì, chỉ cúi đầu tạ ơn. Bà khẽ đưa tay lau nước mắt. Tôi quay mặt ra biển cố giấu đi sự nghẹn lại trong lòng. Trong thoáng chốc tôi không thấy Chelma đâu. Tôi cúi đầu bước theo những người cuối cùng rời khỏi chiếc chòi gà năm ấy.
Đi được vài bước, mẹ của Chelma lặng lẽ theo sau. Đến cuối bến, bà nắm chặt vai tôi, như muốn giữ tôi lại.
Tôi cắn chặt môi. Không nói một lời.
Tôi tháo chiếc nhẫn trên tay mình, kỷ vật duy nhất, quý giá nhất của đời tôi, trao cho bà, như một lời cảm ơn và cũng là lời từ biệt duy nhất tôi có thể nói.
Tôi không nhận 5,000 baht. Vì nếu nhận, có lẽ tôi sẽ không còn đủ can đảm để ra đi.
Chiếc ghe rời bến. Tôi không dám quay lại.
Phía sau là một cuộc sống bình yên tôi đã từ chối.
Phía trước là một hành trình chưa biết ngày mai.
Nhưng tôi đã chọn. Chọn ra đi, để một ngày nào đó, nếu còn sống, tôi có thể quay lại, không phải với hai bàn tay trắng...
Và ở một nơi làng Budi đó, phía sau lưng tôi... có một người con gái, tên Chelma, mà suốt đời này, tôi không bao giờ biết cuộc đời cô đã rẽ về đâu.
Đỗ xuân Quý
30 tháng 4 lần thứ 51
Nhạc Thiền Tĩnh Tâm - Phi Nhung - Lời : Thích Nữ Minh Viên
Giàu Nghèo Việt Nam Hôm Nay Thật Lố Bịch - Lâm Văn Bé
Sau
50 năm Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam để thống nhứt thành một nước Việt Nam Cộng
Sản, nhiều người đặt câu hỏi là “Việt Nam hôm nay giàu hay nghèo”.
Câu trả lời tùy vị trí và kiến thức của người trả lời. Đối với
người Việt trong nước, câu trả lời tương đối dễ dàng qua cảm nhận và quan sát từ
cuộc sống của họ và đồng bào của họ. Đối với người Việt xa xứ từ lâu và người
ngoại quốc đến Việt Nam lần đầu, câu trả lời có thể khó hơn và phiến diện bởi lẽ
tùy thuộc vào sở thích và quan điểm chính trị sàng lọc qua truyền thông, sách
báo.
Rời Việt Nam khi Cộng quân tiến vào Saigon và chưa bao giờ trở về
thăm đất tổ vì Cộng Sản vẫn còn đó, người viết cũng như một số đồng hương đồng
cảnh ngộ chỉ biết Việt Nam qua chuyện kể và chuyện đọc. Bởi lẽ chuyện đọc là
nghề nghiệp và cũng là thú tiêu khiển, người viết xin trình bày với độc giả một
số tài liệu gọi là chọn lọc, cập nhật để giúp độc giả khả dĩ có một
câu trả lời. Nói gọi là vì trong thời đại bùng nổ truyền thông và các
xảo thuật biến hóa bởi con người và máy móc, sự trung thực hoàn toàn phải hiểu
là rất khó, đặc biệt với tài liệu xuất phát từ Cộng sản Việt Nam. Trong nhận định
ấy, những con số thống kê có khi xem như độ lớn do đó bài viết
coi như một tổng quan hay toàn cảnh (panorama).
Vài ý niệm và định nghĩa về
danh từ nghèo
Trước tiên phải có ý niệm sao gọi là nghèo. Từ những công trình
nghiên cứu của nhà kinh tế Benjamin S. Rowntree vào đầu thế kỷ XX đến kinh tế
gia người Ấn đoạt giải Nobel năm 1998 là Amartya Sen, rất nhiều nghiên cứu của các kinh tế gia
đã đưa ra những lý thuyết và định nghĩa về hiện tượng nghèo, nhưng không một lý
thuyết nào được sự đồng thuận.
Một cách tổng quát, Sen chủ trương đời sống của người dân không
đo lường bằng tài sản mà bằng bất bình đẳng (inégalité) và khả năng hành động
(capabilité). Một quốc gia, dù cho giàu có, phong phú tài nguyên mà người dân vẫn
cảm nhận nghèo khổ, thiếu thốn, nếu sống trong một môi trường bất bình đẳng, bất
an. Trái lại người dân một quốc gia kém tài nguyên mà vẫn có thể hưởng được một
cuộc sống khả quan nếu chính phủ biết sử dụng khéo léo tài nguyên và nhân lực.
Quan điểm nghèo đói theo thuyết bình đẳng như trên của Sen đối nghịch với lý
thuyết của John Rawls trong Théories de la justice theo
đó tự do con người gắn liền với lợi tức, và phát triển kinh tế gắn liền với sự
giàu có của người dân (Dictionnaire des notions. Éditions Universalis, 2006, p.
595).
Tuy nhiên, nền kinh tế quốc gia và quốc tế cần có một căn bản đo
lường để từ đó các chính sách quốc gia và trao đổi kinh tế thế giới được qui định,
do đó các cơ quan quốc tế như Ngân Hàng Thế giới (World Bank/WB), Quỹ Tiền Tệ
Quốc Tế (International Monetary Fund /IMF)), Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp
Quốc (United Nations Development Programme/ UNDP) thường dựa vào các tài liệu
nghiên cứu riêng và chuẩn hóa các thống kê của các quốc gia để qui định tiêu
chuẩn giàu nghèo.
Mặt trái của giàu có Việt Nam
GDP viết tắt từ Gross Domestic Product (tiếng Pháp là PIB /
Produit intérieur brut), tiếng Việt là Tổng sản lượng quốc nội, quen gọi là Tổng
sản lượng quốc gia, gồm trị giá sản xuất hàng hóa và dịch vụ của toàn dân trong
nước. GDP dùng để đo lường cơ cấu kinh tế, mức độ phát triển và mức sống của
người dân. Thông thường có 3 cách tính GDP, Viện Thống Kê VN sử dụng một trong
3 cách ấy, nhưng áp dụng không đúng các nguyên tắc quốc tế cốt để thổi phồng trị
giá thực sự. GDP Việt Nam bị nghi ngờ thiếu trung thực, bị các chuyên gia thế
giới và ngay cả trong nước chỉ trích.
Sau đây là công thức tính GDP của Việt Nam và một số chỉ trích.
– Từ hàng chục năm nay, các đảng viên quyền lực, các đại gia làm
ăn với đảng đã tẩu tán tài sản tham nhũng ra nước ngoài để mua bất động sản, đầu
tư, chi tiêu xa xỉ… tất cả đều được tính vào mục chi tiêu của chính
phủ, nhưng thực tế số tài sản nầy đã ra nước ngoài. «Theo Hiệp hội Quốc Gia Địa Ốc Hoa Kỳ (National Association of
Realtors /NAR), tính từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2017, công dân mang quốc tịch
VN đã mua địa ốc ở Mỹ 3 tỉ đô la, đứng hạng 9 trong số các công dân nước ngoài
thuộc loại nầy » (Báo Lao Động 23/7/2017). Đó là chưa kể các đại
gia chuyển tiền chính thức và phi pháp đầu tư ở các quốc gia lân bang và Đông
Âu, vừa làm thất thoát tài sản, vừa thổi phồng PIB. (trong bài nầy, người viết
dùng danh từ tiếng Pháp là PIB thay vì GDP tiếng Anh)
– Các chi phí xây lăng, xây tượng, đám tang, lễ hội, họp đảng đều
được tính vào chi phí của chính phủ. Thí dụ đám tang của Trần Đại Quang, Chủ Tịch
Nước, tốn hơn 100.000 USD không kể chi phí của đại diện khắp nước về Hà Nội xếp
hàng để lạy cái xác người đã bị đảng đầu độc vì tranh quyền. Để chuẩn bị Đại Hội
Đảng lần thứ 14, đảng viên các tỉnh, thành phố và trung ương đã nhóm họp liên
miên hầu chọn đại biểu, học tập chính sách, và 1586 đại biểu về Hà Nội trong 7
ngày từ 19/01/2026 để tấn phong 5 tên đầu đảng đã được chọn lựa trước. Tất cả
phí tổn nầy đều được tính vào chi tiêu của chính phủ.
– Ngoài ra, mỗi năm chính phủ phải nuôi “11 triệu người gồm công chức,
quân đội, công an, đảng viên có công tác, chiếm 11% dân số”. Đó
là thông tin chính thức của Viện Trưởng Kinh tế đăng trên báo điện tử của đảng (11 triệu người hưởng tiền ngân
sách/vietnamnet.vn ngày 13/06/2019). Như vậy, cứ
6 người ở tuổi lao động phải nuôi một công nhân viên chính phủ mà đại đa số nằm
trong số 5.2 triệu đảng viên. Báo điện tử Vietnamexpress ngày 13/11/2017 cũng của đảng đã tự
hào khoe “VN có công chức, viên chức
nhiều nhất Đông Nam Á”. Năm 2019, VN có 22 bộ nhưng có đến 120 thứ
trưởng, riêng bộ Quốc Phòng và Bộ Công An mỗi bộ có 9 thứ trưởng, không kể vài
trăm tổng cục, cục, vụ … có cả ngàn cấp trưởng và phó mà lương cấp trung ương
là một bí mật. Tất cả tiền nuôi 11 triệu người sáng vác ô đi chiểu vác ô về, và
đám công an bộ đội hà hiếp dân đều tính trong PIB.
– Một nguồn tài sản béo bở đem lại ngoại tệ cho PIB
là ngành du lịch. Năm 2024, với 20 triệu du khách quốc tế thu vào được 33
tỉ USD, chiếm 7% PIB. Mặc dù tính vô PIB, nhưng thực tế đa số khách sạn và
resort cao cấp đều là sở hữu của ngoại bang, tiền lời họ chuyển về xứ họ.
– Trong khi cộng sản và tham nhũng chuyển dollar ra khỏi nước
thì khoảng 5 triệu người tị nạn và khoảng 700 000 dân xuất khẩu lao động lại
chuyển dollar về nước. «Khúc ruột ngàn dậm» nầy đa số phải cật lực lao động
ở xứ người, chắt chiu dành dụm để gởi về cho thân nhân nghèo khổ hay sống
chùm gởi, không kể số tiền chi tiêu của “Việt Kiều về quê ăn Tết”. Năm 2024, số tiền dân tị nạn
gởi về VN là 17 tỉ MK và dân xuất khẩu lao động khoảng 7 tỉ MK. Theo nghiên cứu
của TS Nguyễn Văn Tuấn (Úc châu) «Kiều bào gởi bao nhiêu tiền về VN» câu trả lời
là: Tính từ 1976 đến 2025 là
344 tỉ. Trung bình, số tiền nầy chiếm khoảng 7-10 % PIB, chính phủ
dùng một phần số ngoại tệ nầy để trả nợ vay của thế giới. Chuyện gởi tiền dai dẳng
về Việt Nam như trên xác nhận hai điều: thứ nhứt là VN vẫn còn nghèo nên phải
nhờ thân nhân ở ngoại quốc gởi tiền về để tạm sống, thứ hai là dân VN đã thấm
nhuần các bài học gian xảo của “Bác” xin tiền thân nhân với đủ mưu chước đề hưởng
thụ. Chuyện gởi tiền nầy đã làm gia đình người Việt trong và ngoài nước ly tán,
từ thương yêu đùm bọc đến nghi ngờ, lạnh nhạt rồi thù ghét nhau.
Đó chỉ là vài điều dễ nhận biết về PIB. Chuyện PIB và tăng trưởng
kinh tế của VN chỉ là trò ma giáo, ảo thuật. Đọc đoạn văn sau đây, độc giả sẽ
thấy chế độ Cộng sản đã nhồi nặn các con số thống kê, các tin tức như cục bột.
«Hồi tháng 8/2019, người dân VN
đột nhiên có thu nhập bình quân của mình tăng từ 2.600 USD lên 3.000 USD/ năm,
tức 15%. Đó là nhờ đảng sáng suốt tìm ra “cách tính GDP mới». Vài
tuần sau, Tổng cục Thống kê lại thông báo «GDP Việt Nam bất ngờ tăng thêm 25,4%/năm khi tính lại, do đó Quốc
Hội cho phép Chính phủ được thâm hụt ngân sách 3.6% GDP.» (Nguyễn Xuân Phúc tính lại GDP để đi mưọn nợ /
Dân Làm Báo, 10/07/2020).
Lợi tức trung bình đầu người
theo thống kê của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế
Để đo lưởng mức độ giàu nghèo của người dân, các nhà kinh tế thường
dùng lợi tức trung bình đầu người. (PIB moyen par habitant ).
Thống kê PIB đầu người khối
ASEAN
|
Hạng |
Quốc gia |
PIB (USD) |
|
8 |
Singapore |
90.674 $ |
|
51 |
Brunéi |
33.948 |
|
99 |
Mã Lai |
12.619 |
|
120 |
Thái Lan |
7.493 |
|
142 |
Indonésia |
4.968 |
|
145 |
Việt Nam |
4.536 |
|
153 |
Phi Luật Tân |
4.079 |
|
166 |
Cambodge |
2.683 |
|
177 |
Lào |
2.107 |
|
192 |
Miến Điện |
122 |
Nguồn: FMI 2024
Mặc dù xào nấu thống kê của Việt Nam, so với 10 quốc gia trong
khối ASEAN (Association des Nations de l’Asie du Sud-Est), PIB đầu người của VN chỉ cao
hơn chút ít Phi Luật Tân, Cambodge, Lào, Miến Điện là những quốc
gia kém phát triển hơn Việt Nam trước 1975 và cả hôm nay. Chẳng vẻ vang gì con
cháu của dép râu nón cối, sau 50 năm cai trị, VN hôm nay vẫn thua Singapore, Brunei, Mã Lai,
Indonésia, Thái Lan, vốn khi xưa là những quốc gia đồng đẳng
hay kém hơn Việt Nam Cộng Hòa, mặc dù chiến tranh xâm lược diễn ra trên lãnh thổ
VNCH. Càng xấu hỗ hơn khi so với Hàn Quốc, nay là một tiểu cường quốc (hạng
45è, $36.239), với Taiwan chỉ là một hòn đảo mà luôn bảo vệ được lãnh thổ chống
lại Trung Quốc (hạng 50è, $34.060), với Cuba đã bị Mỹ cấm vận từ 1962 mà vẫn có
nền y tế, giáo dục không tồi tệ như đất nước của bác (hạng 80e, $18.326). Đa số
VN đứng hạng gần với Phi Châu là các quốc gia nghèo, độc tài, chậm tiến,
Đặc biệt với đồng chí Bắc Hàn đứng gần chót (hạng 211, $640).
ODA và nợ công
Để cứu giúp VN thoát ra tình trạng chậm tiến và nghèo đói, tháng
11 năm 1993, một số quốc gia phát triển và các quỹ tiền tệ quốc tế (WB, IMF,
ADB…) họp tại Paris để chấp thuận tài trợ cho VN theo chương trình ODA (Official Development
Assistance) tiếng Việt gọi là Chương Trình Hỗ Trợ Phát Triển Chính Thức. Số tiền
tài trợ dưới hai hình thức: viện trợ và cho vay với lãi suất thấp, thường
dưới 3% và thời gian trả nợ dài hạn (30-40 năm). Trong 10 năm đầu chỉ phải trả
tiền lời, kể từ năm thứ 11 mới bắt đầu trả tiền lời lẫn vốn. Từ 1993 đến 2020,
ODA đã tài trợ cho VN 78 tỉ USD trong đó có 12 tỉ viện trợ và 66 tỉ cho vay (Vốn ODA ở VN/ tạpchitaichanh.vn 07/11/2020).
Nhưng từ năm 2021-2024, vốn ODA sụt giảm trầm trọng, nhiều nhà tài trợ rút lui
vì VN trả nợ thiếu, chính quyền tham nhũng, chỉ còn khoảng 1 tỉ mỗi
năm. Đúng như tờ báo đảng viết tựa chế nhạo: Đã đến lúc VN tốt nghiệp ODA (Thanh niên 10/07/2025).
Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất (40%), sau đó là Ngân Hàng Thế Giới, Hàn Quốc,
Liên Hiệp Âu Châu…
Chuyện khôi hài là chính phủ dùng tiền viện trợ và tiền vay nợ của
ODA với lãi xuất thấp đem cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), các địa phương
vay với lãi xuất cao hơn để lấy lời. Cộng Sản xem ODA như của trời cho hay nghĩ
rằng phải chờ đến 30-40 năm sau mới trả, do đó các đảng viên “có chức” tha hồ
tham nhũng, thi nhau lập dự án để ăn chia từ trung ương đến địa phương. Việt
Nam có hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước mà vốn do nhà nước bơm vào hay do nhà nước
bão lãnh nợ vay, khi làm ăn thua lỗ vì thiếu khả năng, vì tham nhũng rồi khai
phá sản, quịt nợ. Đó là lý do giải thích tại sao nợ của DNNN Việt Nam
không tính vào nợ công, trái với cách tính của nhiều quốc gia trên thế giới.
Không trả nợ đúng thời hạn, tiền lời chồng chất, mượn nợ mới để
trả nợ cũ, bù vào ngân sách thâm hụt, nợ công của Việt Nam đã lên đến mức báo động.
Đối với ngành ngân hàng còn là mối nguy hiểm nghiêm trọng cho tài chánh quốc
gia. VN có 9 ngân hàng nhà nước (NHNN), 7 ngân hàng liên doanh và gần 50
ngân hàng tư nhân. Chính phủ phải thường xuyên bơm tiền vào các ngân hàng liên
doanh vì khách hàng ăn chia với đảng viên quịt nợ (nợ xấu). Chỉ năm
2020 và chỉ 3 ngân hàng liên doanh lớn (BIDV, Vietcombank, Vietinbank), nợ xấu
lên đến 41.265 tỉ đồng (tương đương với 470 triệu USD). (Nợ xấu tại 3 ông lớn ngân hàng)
FDI và giàu ảo
FDI là chữ tắt của Foreign Direct Investment, tiếng Việt gọi là Chương
trình Ngoại quốc đầu tư trực tiếp
khi VN ban hành Luật Đầu Tư nước ngoài năm 1987 và sau khi Mỹ bỏ cấm
vận VN vào tháng 2/1994 dưới thời Clinton. Lúc ban đầu, từ 1998 đến 2003, FDI
thường hoạt động với số vốn đầu tư nhỏ khoảng 10 triệu USD, nhưng kể từ sau năm
2003, khi chính phủ VN tu chính Luật Đầu Tư giành nhiều ưu đãi cho đầu tư nước
ngoài, số vốn tăng lên trăm triệu và gần đây tới tỉ. Có 2 hình thức đầu tư: nước
ngoài liên doanh với VN, vốn 100% của nước ngoài.
Theo Cục Đầu Tư Nước Ngoài, cho đến ngày 20/12/2020, VN có tổng
số vốn FDI đăng ký là 384 tỉ USD của 137 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đứng đầu là
Hàn Quốc (70.6 tỉ), kế đó là Nhật Bản (60.3 tỉ) tiếp theo là Singapore, Đài
Loan, Hong Kong, Trung Quốc…
FDI đã làm bộ mặt VN sáng sủa hơn từ 20 năm nay, nhưng VN cũng
phải trả một giá rất đắt. Sau đây là vài thí dụ:
– FDI có tạo công ăn việc làm cho khoảng 4.5 triệu nhân công VN
tính đến 2024, nhưng không phải là nhân công mới tạo thêm mà chỉ là sự chuyển đổi
từ các ngành thủ công nghệ, nông nghiệp. Điều tác hại hơn là đa số nhân công nầy
là phụ nữ, giá nhân công rẻ, thậm chí còn sử dụng nhân công tập sự để dễ dàng
sa thải, khỏi phải trả lương cao. Một số hãng xưởng thiết lập trên vùng đất
nông nghiệp, nông dân buộc phải bán nhà, bán đất cho chinh phủ với giá rẻ mạt để
rồi chính phủ bán lại cho tư bản gấp chục lần, nông dân mất đất canh tác, mất
nhà trở nên vô gia cư, vô nghề nghiệp. Chính sách gọi là kỹ nghệ hóa
nông thôn nhưng thực ra là bần cùng hóa nông dân, tạo thêm một lớp người nghèo
đói di cư sống vất vưởng ở ven đô và tạo nên một giai cấp tỉ phú địa ốc mà
đa số là đảng viên hay họ hàng. Hãng xưỡng càng phát triển, tư bản đỏ càng gia tăng, dân càng
nghèo khổ. Đó là mặt trái của FDI.
– FDI đầu tư nhiều vào các ngành dễ sinh lợi mau chóng, đặc biệt
ngành xây cất và địa ốc.Tính đến tháng 11/2024, VN có 940 cao ốc hơn 100 m ở
Saigon, Hà Nội, Đà Nẳng và gần như tại mỗi tỉnh đều có một vài cao ốc. (Wikipedia. Danh sách cao ốc VN).
Đó là tài sản 100% của tư bản Á Châu và tư bản đỏ. Đừng thấy cao ốc mà cho rằng
VN hôm nay văn minh, giàu có.
– FDI có khuynh hướng sản xuất cho thị trường tiêu thụ VN vì dễ
cạnh tranh với các sản phẩm nội địa bởi lẽ phẩm chất của ngoại quốc cao hơn do
đó bán giá cao hơn để thu nhiều lợi nhuận. Làm như vậy, chẳng những FDI làm hại
các ngành kỹ nghệ, thủ công nghệ của VN mà còn làm mất đi ngoại tệ xuất cảng,
trái với mục tiêu tối hậu khi VN hợp tác với FDI.
– FDI thực hiện công cuộc chuyển giao kỹ thuật (transfert
technologique) cho VN rất hạn chế, chỉ chuyển giao những kỹ thuật trung bình
hay lỗi thời. Với những đại công trình, họ đem các chuyên gia lãnh đạo và thừa
hành, kể cả kỹ thuật viên sang VN lập kế hoạch và thực hiện.
Trường hợp Công Ty Samsung là một thí dụ điển hình cách làm ăn của
FDI. Thành lập tại Bắc Ninh năm 2008, hiện nay Việt Nam có 6 nhà máy thu dụng
110.000 nhân công (Thái Nguyên: 65.000, Bắc Ninh: 39.000, TP HCM: 6.000) cung cấp
hơn 20% số hàng hóa xuất cảng của VN. Khu vực Bắc Ninh là cứ điểm chủ lực, sản
xuất phân nửa số điện thoại thông minh trên thế giới. Sở dĩ Samsung chọn VN là
cơ sở đầu tư quan trọng vì VN là trung tâm thị trường phân phối trong vùng, ưu
đãi luật đầu tư và nhứt là nhân công khéo tay và cực kỳ rẻ. Lương công nhân
hàng tháng chỉ có từ 230 – 280$ (có một bữa cơm miễn phí và xe bus chuyên chở)
như vậy chỉ đủ nuôi thêm được 1-2 người; 90% là thợ, chỉ có 10% là kỹ thuật
viên và kỹ sư (lương từ 600$-1000$). Samsung VN là một nhà máy khổng lồ «cheap
labor» chỉ làm công việc lấp ráp, lao công, chuyên chở.
Đó là một hình thức khai thác sức lao động thời thực dân khi xưa
mà VN hôm nay vẫn chấp nhận. Năm 2024, công nhân Samsung Việt Nam vẫn nghèo «mạt rệp», trong khi
Tập đoàn Samsung toàn cầu thu vào 225 tỉ USD và Samsung VN 62 tỉ. (tóm lược từ
tài liệu của Samsung).
Nói tóm lại, dẫu biết VN là một quốc gia đại tham nhũng, nhưng
giới đầu tư ngoại quốc vẫn rót tiền vào VN, thỏa hiệp với tham nhũng để hưởng lợi
theo lối win-win hay bất chính. Họ vay tiền ngân hàng VN thay vì mang tiền vào,
vay tiền ngân hàng một số cao hơn trị giá tài sản rồi khai phá sản hay bỏ trốn,
khai lỗ liên miên để xin miễn thuế và chuyển giá, tình trạng mà giới doanh
thương VN gọi là “lỗ giả, lãi thật”, lập nhà máy qua loa, thu nhân công
sản xuất rồi bán nhà máy, quịt lương nhân công.
Vỏ quýt dầy thì có móng tay nhọn, Cộng sản VN đâu phải là siêu
việt hơn các FDI da trắng, da nâu, nhứt là FDI có máu Chệt trong các trò ngang
ngược, lưu manh.
Mặt thật của nghèo đói Việt Nam
Căn cứ vào số liệu của các cơ
quan quốc tế (WB, UNPD, World Wealth, Knight Frank, Forbes) người viết tổng
hợp và tóm tắt tình trạng giàu nghèo ở VN theo 3 giới (nhóm) như sau:
– Giới giàu:
– Theo tạp chí Forbes, tính đến ngày 15/2/2026, VN có 8 tỉ phú với khối
tài sản chung là 43 tỉ USD mà đứng đầu là Phạm Nhật Vương với tài sản là 26,1 tỉ
USD, hạng 88 trên thế giới. Những người còn lại là Nguyễn thị Phương Thảo
(VietJet 4,1 tỉ), Phạm Thị Hương (Vingroup, vợ ông Vuợng 2,8 tỉ), Trần Đình
Long (Hòa Phát 2,7 tỉ), Hồ Hùng Anh (2,4 tỉ Techcombank), Phạm Thúy Hằng (2 tỉ,
em gái bà Hương), Ngô chí Dũng (1,1 tỉ VPBank), Nguyễn Đăng Quang (1 tỉ,
Masan). Điều đáng nói là phân nửa số tỉ phú nầy khởi nghiệp bằng nghề sản xuất
mì gói tại Đông Âu trước khi vể VN làm ăn như vợ chồng ông Vượng ở Ukraine với
mì gói hiệu Mivina, ông Ngô chí Dũng ở Nga với mì hiệu Rollton, cả ông Hồ Hùng
Anh và Nguyễn Đăng Quang cũng đã là vua mì gói.
Cần nói thêm là các tỉ phủ gia tăng hay sụt giảm tài sản
chứng khoán có thể hàng ngày tùy theo biến động của thị trường (như trường hợp
ông Phạm Nhật Vượng tăng tài sản gấp đôi chỉ sau 1 năm. 2025. Ngày 15/2 ông
khai có tài sản là 26,1 tỉ đứng hạng 88, nhưng đến ngày 04/3 ông mất 2,4
tỉ rớt xuống hạng 93).
– Theo báo cáo của New World Wealth, tính đến năm 2024, VN có 58 người sở hữu trên 100 triệu
USD (nhóm cent millionaire), 5.450 người sở hửu trên 10 triệu USD và 19.400 triệu phú sở hữu trên 1
triệu USD. Cơ quan World Wealth nhấn mạnh đây là con số những người
cho phép kiểm chứng tài sản, nhưng VN còn có nhiều người giàu vì “tâm lý chung xã hội” nên
họ giấu kín. Ai mà chẳng biết những người giàu giấu kín nầy là những siêu tham
nhũng trong cái lò Bộ Chính Trị Trung Ương
– Theo Knight Frank Report 2024, để được gọi là siêu giàu tại
Việt Nam phải sở hữu ít nhứt 30 triệu USD kể cả bất động sản. Số siêu
giàu kể như sau: năm 2016: 589 người; năm 2021: 1234 người; phỏng định năm
2026 : 1551 người.
– Theo tài liệu World Inequality Report 2026,
tại Việt Nam, 10% dân trong nhóm giàu chiếm hữu 59% tài sản của cả nước trong
khi 50% người dân trong nhóm nghèo chỉ nhận được có 4.6%. Về lợi tức, người dân
trong nhóm siêu giàu 1% sở hữu lợi tức trung bình là 141.665 euro, trong khi
người nghèo chỉ có 1 448 euro (cách nhau 9783 lần). UNDP (United Nations
Development Programme (Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc) cơ quan soạn thảo
Bản Phúc trình xác nhận Việt Nam tuy là môt quốc gia có lơi tức dầu người quá
thấp, nhưng chênh lệch bất bình đẳng giàu nghèo thật quá cao. Người dận Việt
Nam cần biết «thành
tích»
Lợi tức và Tài sản Việt Nam
2026
|
|
Lợi Tức |
Tài Sản |
||
|
|
$ (euro) |
% |
$ (euro) |
% |
|
Giàu 1% |
141.660 |
15.5 |
954.768 |
24.7 |
|
Giàu 10% |
39.382 |
43.2 |
228.062 |
59 |
|
Trung lưu 40% |
9.398 |
41.1 |
35.059 |
36.3 |
|
Nghèo 50% |
1.448 |
15.8 |
1.778 |
4.6 |
(Source: World Inequality
Report 2026.- UNDP, Dec. 2025, table p. 198)
– Giới trung lưu: gồm
hai nhóm: nhóm trung lưu cao và nhóm trung lưu thấp.
Nhóm trung lưu cao gồm cán bộ nhà nước trung cấp, giới
chuyên nghiệp (bác sĩ, kỷ sư, luật sư…), doanh nhân, nhân viên các công ty nước
ngoài. Công cuộc đô thị hóa và kỹ nghệ hóa VN từ 20 năm nay đã gia tăng lớp
trung lưu đô thị mỗi năm khoảng 1-1.5% dân số, dự trù sẽ tăng lên 26% năm 2026. «Lợi tức của nhóm nầy dao động
từ 1400 USD – 3400 USD mỗi tháng, gia đình 3-4 người, sống ở đại đô thị (Hà Nội,
TP HCM, Đà Nẳng…), có nhà riêng (nhà tầng, chung cư hiện đại» (Tầng lớp trung
lưu VN, généré par IA). Đa số giới trung lưu nầy có trình độ
văn hóa, chính trị nhưng an phận, giả câm giả điếc vì chén cơm manh áo, nhưng khi cần chọn lựa, họ sẽ đứng
về phía giai cấp thống trị vì họ đã trưởng thành trong giáo dục của kẻ thống trị.
Nhóm trung lưu thấp gồm những người thoát nghèo sau khi
đã cật lực làm việc với tay nghề và tiểu thương, phát triển ở các đô thị nhỏ kể
cả ở nông thôn, những người có lợi tức một ngày trên 15 USD theo Ngân Hàng Thế Giới.
Nói chung, giới trung lưu cao có lơi tức mỗi người có thể lên đến
5000 USD mỗi tháng, và trung lưu thấp khoảng 1000 USD.
– Giới nghèo:
Theo Ngân Hàng Thế Giới, ngưỡng nghèo là lợi tức cần có mỗi người mỗi ngày.
NHTG cập nhật hóa thưởng xuyên số tiền nầy: 1 dollar năm 1985; 1,25$ năm 2001;
1,90$ năm 2015; 2,15$ năm 2022; và 3,00$ năm 2025. Đối với các quốc gia vừa
phát triển, số tiền nầy là 4,20$ -8,40$. Như vậy, ngưỡng nghèo áp dụng cho VN
năm 2025 là:
Nói chung, Viêt Nam có khoảng 40% người nghèo thuộc ba trạng
thái nầy. Người nghèo ỏ vùng ven đô làm lao động chân tay, ở vùng nông
thôn cày cấy mướn, họa hoằn còn giữ được miếng ruộng, ở vùng sâu vùng xa dân tộc
thiểu số sống nghèo cùng cực.
Thí dụ người công nhân Samsung có lương mỗi tháng 230$- 280$ chỉ
nuôi được 2 đứa con với tiền thu nhập theo ngưỡng nghèo (90$X3 =270$). «…Tính đến năm 2024, thu nhập
bình quân đầu người hằng tháng chỉ dạt được 4,5 triệu đồng…» (Nông
dân VN hiện tại và tương lai /20/10/2025). Không kể thời tiết bị bị mất mùa,
người nông dân VN với thu nhập mỗi tháng tương đương với 170 USD chỉ nuôi
đựơc 1-2 người nghèo. Theo Nghị đinh 73/2024/ND của chính phủ, lương cơ sở của Việt Nam năm
2024 là 2.340.000 đồng/tháng (90 USD). Như vậy, tiền lương của
công nhân VN chỉ nuôi đủ người công nhân nghèo trong cùng cực.
Theo báo cáo của NHTG, tỉ lệ người nghèo cùng cực ở VN như sau: 2010: 20.7%; 2012: 17.2%; 2014: 13.5%; 2016 : 9.8%; 2018: 6.7%. Thực ra, tỉ số người nghèo cùng cực vẫn
còn rất cao so với báo cáo láo của
Thống Kê Việt Nam (3%).
Nhớ lại, thời Việt Nam Cộng Hòa, người dân nghèo khổ vì
chiến tranh do đạo quân áo bà ba đen khăn rằn và dép râu nón cối gây ra, chớ
không có nghèo đói. Sau
50 năm bị trị, người dân sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Sản bị đói. Trang
mạng báo điện tử của chính phủ (hanoimoi.com.vn
ngày 04/02/2021 ) đăng tin: “Đến nay đã có 17 tỉnh đề nghị Thủ Tướng chính phủ hỗ trợ gạo từ
nguồn dự trữ quốc gia hơn 12.416 tấn cho 707.535 nhân khẩu hỗ trợ dịp Tết
Nguyên Đán”.
Trong khi khắp nước tưng bừng nở hoa ăn Tết thì có gần 1 triệu
người dân trên 17 tỉnh xin gạo ăn đỡ đói, như vậy Việt Nam hôm nay giàu hay
nghèo?
Kết luận
Việt Nam hôm nay có nhiều xa lộ, nhiều nhà chọc trời tối tân,
nhiều con đường tráng nhựa và nhiều nơi có điện lực dẫn đến làng xã. Tuy nhiên,
bởi lẽ đa số người dân trong nước phải quần quật với cuộc sống trong thiếu thốn,
trong bất an, họ thờ ơ với những thay đổi nầy vì họ vẫn quen thuộc với cái đảng
Hồ-Tô (Hồ Chí Minh – Tô Lâm).
Việt Nam hôm nay là đất của ngoại bang. Họ xây cất với vốn và
nhân công của họ rồi bán hay cho VN thuê, họ sản xuất sản phẩm của họ trên nước
VN hay đem từ nước họ rồi bán cho dân VN với giá họ định. Họ lập đặc khu của họ
trên đất VN mà không cho dân VN đến gần. Những xa lộ thênh thang với những chiếc
xe giá “khủng” của giới
nhà giàu, những khu giải trí hiện đại mà hàng đoàn xe bus đầy nhúc du khách nối
đuôi vào, đó là những món nợ truyền kiếp mà người dân VN nhiều thế hệ phải trả.
Tóm lại, Việt Nam hôm nay chẳng còn chủ quyền và chẳng còn gì đáng
giá.
Tuy nhiên, Việt Nam có rất nhiều tài sản của ngoại bang làm cho
đảng nở mặt nở mày với thế giới. VN còn có cả triệu Việt Kiều gởi tiền và mang
ngoại tệ về quê ăn Tết để đảng có tiền trả nợ và để quảng cáo cho đảng là đất
nước hôm nay văn minh tiến bộ, thậm chí còn hơn cả đất nước đã cưu mang họ mà
khi xưa họ đã tìm cái sống trong cái chết để vượt thoát rồi hôm nay họ trở về
trầm trồ khen ngợi. Họ có biết chăng những cửa hàng lộng lẫy, những cao ốc cực
kỳ sang trọng là tài sản của tư bản đỏ liên doanh với / hay 100% của Nhật Bản,
Hàn Quốc, Đài Loan, nói chung là của tư bản đủ các sắc dân, nơi mà đám mệnh phụ
phu nhân, cậu ấm cô chiêu của các vua chúa đỏ, quần thần đỏ, tư bản đỏ lũ lượt
đến để đốt tiền tham nhũng và các du khách ngoại quốc đến để mua hàng rẻ hơn ở
xứ họ.
Nhưng trong cái rực rỡ “hoành tráng” ở các khu phố sang trọng ấy,
VN hôm nay vẫn còn có người cụt chân lê lết trên đường đưa nón xin tiền, có đứa
trẻ lem luốt chạy theo khách mời mua vé số, có bà già dựng chiếc xe đạp bên lề
đường với cái giỏ đựng những đồ chơi trẻ con bằng nhựa. Đâu đó, trước cửa hàng
Vutton, một nhóm người tay cầm Iphone nhi nhô tiếng Việt tiếng Anh lơ lớ, nhưng
ngập ngừng không dám vào “tham quan” vì thấy… mình không giống ai từ túi tiền
đến y phục. Đó là mặt thật của giàu nghèo ở VN hôm nay và cái phũ phàng đổi đời
của “áo rách về làng”.
Không !… Việt Nam hôm nay không giàu mà chỉ có đảng “Hồ-Tô” giàu. Đảng viên và bọn “ăn
theo” đảng càng giàu thì người dân càng nghèo. Thành phố càng mọc lên nhiều cao
ốc, ngoại ô càng xây thêm nhiều hãng xưởng thì người dân càng mất nhà mất dất,
và người dân nhiều thế hệ sẽ không bao giờ trả hết nợ ngoại bang….!!!
Đó là câu trả lời của một người tị nạn không về quê ăn Tết và vẫn
luôn tưởng niệm ngày Quốc Hận 30 tháng Tư.
Lâm Văn Bé
Quốc Hận năm 51

