Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Monday, February 16, 2026
Giao Thừa - Nguyễn Ngọc Tuyết
Chuyện Vui Vui Về Dưa Hành Muối Ngày Tết - Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn
Nhân dịp vợ chồng bạn già của tui làm hơn hai trăm hũ dưa hành muối vừa để
ăn, để cho, để tặng … vừa gửi bán. Xin được thán phục bạn tui quá. Xin gửi bài
viết ngắn, dzui dzui dưới đây về dưa hành muối tặng bạn tui.
——-
Cứ mỗi độ Tết đến, trong mâm cơm người
miền Bắc mà thiếu đĩa dưa hành thì coi như… chưa đủ lễ. Bánh chưng có to mấy,
thịt mỡ có nhiều cỡ nào, ăn vài miếng là bắt đầu thấy ngấy, lúc đó dưa hành xuất
hiện như “ân nhân cứu mạng”.
Dưa hành vừa chua, vừa cay, vừa giòn
– giống tính mấy bà vợ ngày Tết: bận rộn, hơi nóng nảy nhưng thiếu là thấy
không xong.
Tết này, gia đình bạn tôi – anh Ngô
Đình Thiệp – hiện định cư tại Garden Grove, Nam California, đã muối hơn hai
trăm hũ dưa hành. Muối nhiều đến mức mấy ông hàng xóm nhìn vô tưởng nhà chuẩn bị
mở… đại lý dưa hành. Trước là để gia đình ăn cho đỡ nhớ quê, sau là biếu bà
con, bạn bè, người thân. Số còn lại được gửi ra chợ, ra siêu thị Việt để bà con
xa xứ vẫn có cái vị Tết “ăn vô là nhớ nhà liền”.
Xung quanh hũ dưa hành ngày Tết là cả
một kho chuyện vui, mà nhân vật chính không ít lần là… mấy ông chồng:
Những câu chuyện quanh hũ dưa hành
nghe qua thì vui, nhưng nghĩ kỹ lại thấy rất đời. Tết có thể khác xưa, nhưng mấy
ông chồng vẫn vậy: ăn thì nhiều, than thì dữ, mà thiếu dưa hành thì lại thấy…
thiếu Tết liền.
Vợ chồng bạn tôi – anh Ngô Đình Thiệp
– nay cũng đã ngoài “thất thập cổ lai hy”, vậy mà vẫn đều đặn lo dưa, lo hành mỗi
độ xuân về. Xa quê, nhưng Tết vẫn còn nguyên mùi vị trong từng hũ dưa, từng câu
chuyện cười.
Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn
Tết, Nhớ - Nguyễn Hưng Quốc
Sống ở hải ngoại, cứ mỗi lần tết đến, tự dưng tôi hay thấy buồn buồn và mơ hồ thoáng một chút gì như tiếc nuối.
Cảm giác buồn buồn của những cái tết tha
hương thì có lẽ chả có gì khó hiểu. Tết, trong tâm thức của người Việt, trước hết,
là đoàn tụ ; và đoàn tụ, trước hết, là với gia đình, láng giềng, và hơn nữa,
quê quán, nơi để lại những hình ảnh đẹp nhất trong ký ức và hầu như gắn liền với
tuổi thơ.
Sống ở hải ngoại, cả ba điều ấy đều chỉ là những
giấc mơ. Quê quán hay quê hương nói chung thì xa lắc ; với riêng tôi, thì không
thể về được ; (đại) gia đình thì mỗi người một ngả ; còn hàng xóm thì ngó
quanh, chỉ thấy toàn... Tây !
Tết, ngoài sự đoàn tụ, cần có không khí. Mà
cái không khí ấy lại hoàn toàn thiếu vắng ở hải ngoại.
Tôi nhớ hoài cái tết đầu tiên của tôi ở Pháp.
Lúc ấy tôi làm trong một nhà hàng của người anh ở Nice, một thành phố du lịch nằm
ở phía nam, gần biên giới Ý. Giữa tháng chạp, nhân ghé một tiệm Tàu, tôi mua sẵn
một phong pháo để dành. Tối 30, tôi thấy lòng nôn nao vô hạn. Vừa làm việc vừa
chờ đợi phút giao thừa. Cuối cùng, phút giao thừa đến. Tôi mang phong pháo ra
sân trước định đốt. Mọi người can ngăn. Lý do : một, luật pháp cấm ; hai, phiền
hàng xóm ; ba, có thể bị cảnh sát bắt.
Lúc ấy, tôi mới qua Pháp được hơn một tháng,
còn ngơ ngác lắm. Nhìn quanh, thấy đường xá vắng ngắt và mọi nhà đều đã đóng cửa
tắt đèn im ắng, tôi chột dạ, cầm phong pháo vào nhà. Mấy anh em và bạn bè ôm
nhau, chúc tết nhau. Tất cả diễn ra trong vòng vài phút. Là xong. Sau đó, mọi
người ngồi nán lại chuyện trò. Có người đề nghị mang bài ra đánh. Nhưng không
ai hưởng ứng. Khuya rồi. Ngày mai, mọi người còn phải làm việc. Lại cụt hứng.
Không khí lặng đi. Rồi ai về nhà nấy. Tối đó, tôi nằm trằn trọc suốt đêm.
Thương cho cái tết đầu tiên ở hải ngoại.
Rồi tôi sang Úc.
Ở Úc, người Việt sống tập trung hơn, không
khí tết coi bộ cũng náo nhiệt hơn. Năm đầu tiên, tôi háo hức kéo vợ con và rủ bạn
bè, cả Việt lẫn Úc, đi chợ tết. Nhưng chỉ thấy thất vọng. Tôi không còn trẻ để
chơi các trò chơi ; không quá già để có thể chịu đựng nổi những màn trình diễn
cúng tổ đầy kịch tính và những bài hát, những điệu múa và những vở kịch rất kém
nghệ thuật trên sân khấu. Cuối cùng, hầu như chỉ có một hoạt động dễ tham gia
nhất : ăn uống. Nhưng ăn uống trong các hội chợ như thế thì phải chấp nhận... bụi.
Mà tôi thì ngại bụi bặm. Nên chỉ quanh quẩn một lát thì lại về nhà.
Về nhà lại thấy tiếc là mình sinh ra trong một
gia đình theo đạo Công giáo. Mà là đạo dòng nữa. Tôi nhớ, hồi nhỏ, tối 30 tháng
chạp, cả nhà kéo nhau đến nhà thờ xem lễ. Rồi về nhà ăn uống, tán gẫu, chờ đến
đúng 12 giờ khuya, chạy ra trước sân đốt một phong pháo. Nghe nổ lẹt đẹt một
lát thì chui vào mùng... ngủ.
Chưa bao giờ tôi thấy ba mẹ hay ông bà tôi tiễn
ông Công ông Táo về trời vào ngày 23 ; cũng chưa bao giờ thấy ai thắp một nén
hương hay đặt một món ăn gì trên bàn thờ. Tuyệt đối không có cúng. Và, riêng
trong gia đình tôi, cũng không ai nghĩ đến chuyện đi hái lộc hay xuất hành vào
đêm giao thừa cả. Khuya, đốt pháo xong, mọi người lục đục đi ngủ.
Hồi nhỏ, tôi thấy đó là chuyện bình thường.
Sau, lớn, hơn nữa, sống ở nước ngoài, xa cách hoàn toàn không khí tết ở quê
hương, tự dưng tôi thấy thèm một cảnh cúng kiếng hay ít nhất, một vài nén
nhang. Không hiểu sao càng ngày tôi càng thích mùi nhang. Nó làm mình tự dưng
thấy ấm áp và nhẹ nhàng. Không khí chung quanh như lắng lại. Tâm hồn mình cũng
thấy yên ả hơn một chút.
Thật ra thì bây giờ tôi có thể làm những điều
đó dễ dàng. Thứ nhất, tôi không còn đi nhà thờ nữa ; thứ hai, ngay cả khi tôi
còn tin đạo thì luật Giáo hội sau này cũng rất cởi mở trong việc cúng kiếng và
nhang đèn trong nhà ; và thứ ba, già rồi, tôi có thể muốn làm gì thì làm.
Nhưng tôi vẫn không làm được. Một phần vì
không quen ; phần khác, vì thiếu một niềm tin.
Cho nên thỉnh thoảng, vào tối giao thừa, tôi
lại vào... chùa.
Thường, tôi đến là do lời mời của các vị sư
trụ trì để tham dự một số sinh hoạt văn hóa vào đêm giao thừa. Chưa bao giờ tôi
tham gia các buổi tụng kinh hay cầu nguyện. Tuy nhiên, tôi lại rất thích lảng vảng
ở những nơi có bàn thờ.
Để làm gì ?
- Để nghe mùi hương của đèn và nhang !
Đêm giao thừa, đến chùa, với tôi, chủ yếu là
để ngửi ké một mùi hương.
Của quá khứ.
NGUYÊN HƯNG QUỐC 14.02.2026
Thụy My RFI: Nguyễn Hưng Quốc – Tết, nhớ
(Anh Phước chuyển)
Sunday, February 15, 2026
Chúc Mừng Năm Mới Bằng Chữ T - Nguyễn Khắc Sơn
Thưa toàn thể thân thuộc !
Trước thềm Tết tới, tôi trang trọng tạm thời thay thế toàn tôi, trao tới toàn thể thân thuộc trọn Tết tươi tắn, trẻ trung, tinh thần thanh thản, trí tuệ thâm trầm, thân thể tròn trịa tựa trăng thu tháng tám, thêm tiền tài tuỗi thọ tăng tiến theo thời tiết.
Thưa toàn thể thân thuộc !
Tháng tháng từ từ trôi, tưởng tới tháng Tư tăm tối từ tân Tổng thống truyền tin thôi tử thủ, ta thất trận, tụi tham tàn thắng thế, tiếp thu từ thành thị tới thôn trang, tiếp theo thì trả thù tập thể, thôi thì thủ tiêu thanh toán tứ tung.
Trẻ thơ thôi tới trường trau trỉa trí tuệ, thả trôi theo tiệm trà, tiệm thuốc, tìm thùng thiếc, thau tét, tìm tiền tiêu tạm.
Trai tráng tới tuổi trưởng thành thì tin theo tin tuyên truyền thất thiệt, tạ từ thê thiếp, tất tả tìm tới trại tập trung, tưởng tới trăng tròn thì thôi, trăng tròn tới trăng tàn, tàn trăng tới tròn trăng, tại tư thất thê thiếp trông tin, tâm tư thắt thẻo tông tích thì thăm thẳm !
Thoạt tiên tư trang tiền tài tiếp theo tủ thờ từ từ tiêu tán, thêm tệ trạng tổ trưởng tống tình tống tiền tới tấp, tiếng than thấu trời thanh.
Tại trại tập trung, từ trung tá, thiếu tá, tỉnh trưởng, thợ thuyền, thầy thuốc, thượng toạ, thầy tu, thảy thảy tìm tre thiết trại, trồng tỉa tự túc. Tốp thì tê, tốp thì thũng, tốp thì trướng, tốp thì teo, tốp trĩ, tốp thì thòng. Tấm thân tám thước trở thành tiều tụy trong tình trạng thiếu thốn trầm trọng.
Thỉnh thoảng tụi tham tàn trả thù, thằng thì thoi, thằng thì tống, thằng thì thụi, thằng thì tát tai tới tấp, thân thể thân tù tơi tả trong tay tụi tham tàn, trông thật tàn tệ thương tâm.
Tối tối toàn thấy tử thần túc trực, tinh thần thật thấp. Tuy thế thỉnh thoảng thân thế tới thăm, tiếp tế trà thuốc thư từ, tình thương thật thắm thiết, thành thử thân tù thêm tin tưởng tới thời thắng trận, tụi tham tàn tận thế.
Trong tình trạng thê thảm, tụi tôi thu thập tư trang, tạ từ tổ tiên tìm thuyền tàu trốn tránh.
Trời trải thênh thang, thuyền trôi thong thả, từ thủy thủ tới thuyền trưởng toàn thứ tài tử, thêm trọng tải to tát, thôi thì tan tành thây trôi tới tấp !
Thuyền tốt, trời thương thì trơn tru tới trại, trớ trêu trúng tụi tặc Thái thì tiêu tùng, thân thể tan tác, thảm trạng thật thê thảm.
Thôi, Tết thì ta tránh truyện thương tâm, ta tường thuật truyện thực tại. Trời Tây thương tình tương trợ thật thắm thiết. Tại trời Tây thịt thà “tạt tin” thừa thãi. Tuy thế Tết ta tại trời Tây, tiết trời thật tê tái, từ thành thị tới thôn trang trải toàn tuyết trắng, tâm tư thắt thẻo ta tụ tập tại tựu trường, tiệc tùng trà thuốc, ta tưởng tới thân thích thê thảm trong tay tụi tham tàn.
Tuy thế tôi tin tưởng toàn thể thân thuộc thôi tiếc thương, tay trong tay thâu thắt tình thân trong tinh thần trang trải.
Tôi tin tưởng thời thế từ từ trở thành tươi tắn, ta thắng trận, tạ từ trời Tây tạm trú, tìm tới tình thương thất thoát thuở trước. Thế thôi.
Tiệc tùng trà thuốc thật tươm tất, tôi thấy tâm tư tựa thoát trần, tiếng trống thùng thùng thêm tiêu thổi, Tết ta toàn thể thắt tình thân.
Thâm tạ.
Nguyễn Khắc Sơn
Chọn Tuổi Xông Nhà - Đặng Xuân Xuyến
Tục chọn tuổi người xông đất đầu năm (sau
giao thừa) đã có từ xa xưa, với niềm tin người đầu tiên xông nhà sẽ mang đến những
may mắn, phúc lộc cho gia chủ, để mọi chuyện trong năm mới được hanh thông, vừa
ý. Vì thế, cứ mỗi độ xuân về, chuẩn bị đón chào năm mới, người Việt ta thường rất
cẩn trọng trong việc chọn tuổi người xông đất, để kỳ vọng một năm mới gia đình
được đắc lộc, sai tài…
Thường thì người ta chọn con trai xông nhà,
ít ai lại chọn phụ nữ xông nhà vào ngày tết (kể cả về nhà mới) vì người ta tín
đàn ông là khí dương, khí thịnh, là mặt trời, là biểu tượng cho sự cương cường,
dũng mãnh nên sẽ đem đến sự sung túc no đủ, sinh sôi cường thịnh về công danh,
tài lộc… viên mãn trọn năm cho cả gia đình.
Câu ngạn ngữ “Gái Thập Tam Nam Thập Lục”
ngoài việc phản ánh về độ tuổi sinh sản của từng giới (tính) cũng là quan niệm
của dân gian về độ tuổi của người được tính sẽ “linh nghiệm” trong việc xông đất.
Người xưa cho rằng dưới tuổi 13 nếu là con gái, dưới tuổi 16 nếu là con trai
thì vẫn còn là trẻ con, chưa có khả năng sinh sản nên nếu xông đất sẽ không đem
lại sự sinh sôi nảy nở về tài lộc cho gia chủ mà còn đem đến những phiền nhiễu,
hao hụt, thay đổi do tính nhõng nhẽo, thất thường của con trẻ, vì thế, dân gian
kiêng kỵ người xông nhà chưa đến độ tuổi sinh sản. Do không biết nên nhiều người
thường bảo con mình hoặc nhờ đứa trẻ hàng xóm xông đất vì tin rằng đứa trẻ còn
ngây thơ, trong sáng, đang độ tuổi phát triển sẽ đem đến những may mắn cho gia
đình mà không biết rằng đó là độ tuổi không đẹp cho việc xông nhà mà dân gian
kiêng kỵ.
Việc kén người (tuổi) xông nhà thường được chọn
trong Tam Hợp Tuổi, ví dụ: Người tuổi Ngọ thì nhờ người tuổi Dần,
tuổi Tuất (Dần – Ngọ – Tuất), người tuổi Tỵ thì nhờ người
tuổi Dậu, tuổi Sửu (Tỵ – Dậu – Sửu), người tuổi Hợi thì
nhờ người tuổi Mão, tuổi Mùi (Hợi – Mão – Mùi), người tuổi Thân thì
nhờ người tuổi Tý, tuổi Thìn (Thân – Tý – Thìn)… xông nhà sẽ đem
lại những may mắn, cát hỷ theo sở cầu của gia chủ.
Theo tín ngưỡng dân gian thì những người
trong tam hợp tuổi khi kết hợp với nhau thường đem lại những may mắn,
lợi lộc… vượt trội cho nhau ở nhiều lĩnh vực như kết bạn, làm ăn, tình duyên,
hôn nhân… chứ không riêng việc xông nhà và đây cũng là cách chọn tuổi (người)
xông nhà đơn giản, dễ tìm mà “kết quả” lại dễ ưng ý.
Về cách chọn người xông nhà trong tam hợp tuổi,
người viết lưu ý: không phải cứ trong tam hợp tuổi là năm nào xông nhà cũng đẹp
mà phải tránh những năm thuộc TAM TAI, ví dụ:
– Người tuổi Dần – Ngọ – Tuất kỵ
các năm Thân – Dậu – Tuất
– Người tuổi Tỵ – Dậu – Sửu kỵ
các năm Hợi – Tý – Sửu
– Người tuổi Hợi – Mão – Mùi kỵ
các năm Tỵ – Ngọ – Mùi
– Người tuổi Thân – Tý –
Thìn kỵ các năm Dần – Mão – Thìn
Vì thế, những năm tam tai không nên nhờ người
tam hợp tuổi xông nhà sẽ rước thêm họa hoạn, xui xẻo cho bản thân và gia đình.
Vì chưa thấy tài liệu nào đề cập đến việc
tránh người tam hợp tuổi xông nhà vào những năm tam tai nên
người viết thiển nghĩ, những năm thuộc tam tai vốn dĩ đã là năm xấu cho Mệnh chủ
mà người xông nhà cũng có bản Mệnh không được tốt đẹp, cũng đen đủi như gia chủ
thì việc kén người xông nhà trong tam hợp tuổi chẳng khác gì tự chuốc thêm sự rủi
ro, đen đủi cho bản thân và gia đình, vì thế trong các năm tai tai nên chọn người
thuộc nhị hợp hoặc người được tuổi xông nhà, nhất là người tuổi được sao Thái
Dương chiếu hạn, tránh nhờ người tam hợp tuổi xông nhà để giảm thiểu vận xấu
cho bản Mệnh.
Cũng lưu ý bạn đọc: đây là quan điểm riêng của
người viết, bạn đọc chỉ nên coi đó là gợi ý, tham khảo khi kén tuổi xông
nhà cho ngày đầu năm mới.
Ngoài việc chọn tuổi người xông nhà trong tam
hợp tuổi, tín ngưỡng dân gian cũng chọn người có tuổi nhị hợp xông
nhà cho nhau, ví dụ: Người tuổi Ngọ với người tuổi Mùi, người tuổi Tý với
người tuổi Sửu, người tuổi Tỵ với người tuổi Thân, người tuổi Dần với
người tuổi Hợi… Người ta tín rằng những người có tuổi nhị hợp xông nhà cho
nhau thì công việc sẽ thuận buồm xuôi gió, hạnh phúc gia đạo sẽ được ấm êm, như
ý… nên mọi người thường tự xem, tự nhờ người nhị hợp (tuổi) xông nhà mà không cần
tìm đến tư vấn của các ông thầy, bà thầy hành nghề lý số. Tuy vậy, người viết
cũng lưu ý bạn đọc nên tránh mượn tuổi người (tuổi) nhị hợp xông nhà vào các
năm thuộc năm tam tai của họ để lộc tài được vẹn toàn hơn.
Bên cạnh việc nhờ người trong tam hợp tuổi hoặc
nhị hợp tuổi xông nhà, dân gian còn chọn người có sao (hạn) Thái
Dương chiếu bản Mệnh (năm mới), sau phút giao thừa là người đầu tiên bước
chân vào nhà (đất) để tăng lộc, tiếp tài cho gia chủ thêm thịnh vượng. Đây là
cách mà dân gian tín nhất vì ít có những điểm hạn chế, kiêng kỵ khi chọn là người
xông đất.
Để chọn người có sao Thái Dương chiếu
bản Mệnh trong năm, bạn đọc tra cứu theo bảng hạn sao Cửu Diệu sau:
Ngoài các cách chọn tuổi (người) xông nhà
theo Thập Nhị Chi như tôi trình bày, dân gian còn nhiều cách chọn tuổi xông
nhà, ví dụ như căn cứ vào các quy luật tương sinh, tương hòa của ngũ hành như Mệnh
Kim với Mệnh Thủy, Mệnh Thủy với Mệnh Mộc, Mệnh Mộc với Mệnh Hỏa, Mệnh Hỏa với Mệnh
Thổ, Mệnh Thổ với Mệnh Kim … hoặc căn cứ vào mối quan hệ tương sinh của THẬP
CAN để chọn người xông nhà, ví như Bính với Tân, Ất với Canh, Đinh với Nhâm, Mậu
với Quý, Kỷ với Giáp… để chọn người xông nhà, cầu mong một năm mới được bình
an, tăng tài phát lộc cho cả gia đình.
Dù chọn tuổi người xông nhà theo cách nào thì
người xông nhà phải đáp ứng những yêu cầu sau:
– Tuổi không được xung khắc, tương hại hoặc
hình phạt với tuổi của chủ nhà.
– Năm mới không thuộc năm tam tai của tuổi
người xông nhà.
– Người xông nhà là người khỏe mạnh, may mắn,
con cái đề huề, đặc biệt không đang trong thời gian vận áo xám.
Thực ra, tục chọn tuổi người xông đất chỉ giải
quyết ý niệm tâm linh, cầu mong phúc lộc đến với bản thân và gia đình cho tinh
thần được thoải mái vì thế cũng không nên quá câu nệ, cầu kỳ trong việc chọn tuổi
người xông nhà, nếu chọn được tuổi người xông nhà ưng ý thì tốt còn nếu không chọn
được tuổi người xông nhà như ý muốn hoặc người xông nhà đến ngẫu nhiên, tuổi
không được đẹp cho việc xông nhà thì cũng đừng vì điều đó mà buồn bực, làm cho
không khí ngày tết kém vui, kẻo lại như các cụ đã nói sẽ “giông cả năm” về niềm
tin, tình cảm.
Chỉ còn vài ngày nữa sẽ tiễn biệt năm cũ, chuẩn
bị đón chào năm mới, xin gửi tới quý bạn đọc và gia quyến lời chúc một năm mới
an khang thịnh vượng!
Đặng Xuân Xuyến
(Bài viết này dùng cho các năm, không
riêng cho năm Bính Ngọ.)
Cứ Tết Là Vui - Biển Cát
Tranh Bảo Huân
Chiều hai mươi lăm Tết, căn nhà 3 thế hệ rộn
ràng mùi cơm chiều. Trên bàn là nồi canh chua cá hú, dĩa rau luộc xanh mướt, nồi
cá kho tộ vẫn còn sôi lục bục. Mấy đứa nhỏ vừa gắp rau vừa thì thầm chuyện trường
lớp, thỉnh thoảng lại phá lên cười. Thằng Bi gắp miếng cá rồi gấp gáp nuốt vội
để còn chạy ra phòng khách coi ti vi, trong khi con bé Ly – chị cả mới 12 tuổi
– nghiêm nghị nhắc:
– Ăn tử tế đi, đừng làm đổ cá!
Bên kia bàn, vợ chồng con trai bà Lộ thì khác
hẳn. Vẻ mặt ai cũng hằn rõ nét mệt mỏi. Dù công ty đã cho nghỉ Tết, nhưng cả chồng
tài liệu vẫn được mang về nhà. Con dâu vừa ăn cơm vừa thở dài, mắt vẫn liếc về
tập hồ sơ dày cộp đặt bên ghế:
– Cuối năm mà công việc cứ dồn dập. Chưa xong
kết toán thì chẳng yên lòng được. Báo cáo thanh tra mà sai sót chút thôi là phiền
lắm…
Con trai cũng gật gù, vừa ăn vừa gõ nhẹ đầu
bút xuống bàn, như thể tính toán điều gì trong đầu.
Không khí bữa cơm vốn phải rộn ràng trước Tết
lại chùng xuống. Những tiếng thìa gõ vào chén nghe khẽ khàng, ngập ngừng. Đám
trẻ cũng im bặt, chỉ còn tiếng thở dài của người lớn xen với tiếng mưa bụi lất
phất ngoài hiên.
Bà Lộ ngồi đầu bàn, lặng lẽ nhìn. Dáng bà nhỏ
nhắn, tóc bạc nhưng đôi mắt vẫn sáng long lanh. Bà vốn quen với cảnh nhà rộn rã
ngày Tết: nếp thơm ngào ngạt, tiếng gói bánh tét, tiếng cười í ới gọi nhau. Vậy
mà năm nay, trước mắt bà chỉ thấy con cháu bận rộn, mệt mỏi, chẳng còn hơi sức mà
nghĩ đến chuyện Tết nhất.
Đặt bát xuống, bà hắng giọng. Mọi ánh mắt đều
hướng về bà. Bà nhìn từng gương mặt, ánh mắt vừa kiên quyết vừa ấm áp:
– Thôi, năm nay cỗ Tết 3 ngày để bà lo. Một
mình bà thôi, không ai phải bận tâm gì hết!
Cả bàn ăn sững lại. Đũa đang gắp dừng giữa
không trung. Con dâu tròn mắt ngạc nhiên:
– Mẹ ơi, 3 ngày Tết bao nhiêu món, một mình
sao lo xuể?
Bà xua tay, giọng nghiêm nhưng vẫn dịu:
– Các con lo công việc, để Tết cho bà. Thời
buổi công nghệ rồi, máy móc làm hết. Bà coi kỹ trên mạng rồi, chỉ cần bấm nút
thôi!
Bà lôi từ trong túi áo ra một cuốn sổ nhỏ chi
chít chữ. Trong đó ghi đầy những cái tên nghe vừa lạ vừa… oai: “máy gói bánh
tét 5 phút”, “nồi nấu đa năng”, “máy làm giò thủ tự động”, “máy hút chân
không”. Bà đọc rành rọt, như thể vừa đi hội thảo về công nghệ bếp núc về.
Mấy đứa trẻ tròn mắt. Thằng út Tin, 8 tuổi, đập
tay xuống bàn reo lên:
– Hoan hô bà! Thế bà có mua máy nấu mì gói
không? Có món mì gói không hả bà?
Câu hỏi ngây ngô làm cả nhà bật cười. Tin vốn
mê mì gói, món mà mẹ nó thường cấm tiệt. Nghe bà nói “máy móc lo hết”, nó hí hửng
tưởng tượng cả nhà sẽ ăn mì gói thỏa thích trong 3 ngày Tết.
Trong tiếng cười còn lẫn chút hoang mang. Người
lớn nhìn nhau, ai cũng lo thầm: Tết mà giao hết cho bà, lại còn “công nghệ hiện
đại”, liệu sẽ ra sao? Nhưng nhìn ánh mắt rạng rỡ của bà, không ai nỡ cản.
Bà đã tính kỹ rồi. Tiền lương hưu cả năm, bà
góp lại, đặt những máy móc trên mạng, đi chợ mua thức ăn. Vẫn còn dư chút đỉnh
để lì xì cho mấy đứa cháu ngày Tết.
Chiều hai mươi tám, mấy thùng carton to tướng
xếp đầy lối đi. Bà Lộ hí hửng lôi dao rọc giấy, từng thùng một được khui ra,
phát sáng bóng loáng: nồi áp suất điện tử, robot hút bụi thông minh, máy xay thịt
“công suất khủng”, nồi chiên không dầu to bằng cái lò nướng mini, rồi cả một chiếc
máy hút chân không kèm bộ khuôn giò.
Bà vừa mở vừa xuýt xoa như lượm được vàng.
– Đấy nhé, có hết cả rồi. Tết này tha hồ
nhàn, chỉ cần bấm nút.
Con dâu đứng nép bên cửa, nhìn cảnh đó mà vừa
buồn cười vừa lo. Mấy đứa cháu thì háo hức xúm xít, nhưng chưa kịp sờ vào thì
bà đã nghiêm mặt:
– Không được đụng vào! Đây là “vũ khí bí mật”
của bà, để bất ngờ, chờ tới Tết rồi hẵng hay!
Bi và Ku Tin nhìn đống thùng la liệt của bà,
lo lắng:
– Bà ơi, sao bà mua nhiều đồ thế ?
– Bà còn tiền lì xì cháu không bà ?
Bà gật gù, vỗ vào túi áo:
– Các cháu không phải lo. Bà còn đủ cho 3 đứa
đây này.
Bà ngồi xuống ghế, lôi từng quyển hướng dẫn
ra. Trang nào cũng chi chít chữ tiếng Anh, bảng biểu toàn thuật ngữ. Bà nhíu
mày, lẩm bẩm đọc:
– Pressure… cooker… cái này chắc là “bếp nấu
có áp lực”… Hừm, nguy hiểm ghê.
Rồi bà bỏ qua chữ, chăm chú nhìn hình minh họa.
Ở một trang, thấy cái mũi tên tròn, bà gật gù:
– À, chắc cái nút này là để mở nhanh.
Trang khác vẽ cái nồi chiên với mấy cái biểu
tượng: con gà, cái bánh mì, củ khoai. Bà ngẫm nghĩ:
– Nồi này chiên gà, chiên khoai, bánh mì được
thì chiên chả giò chắc cũng được.
Đám trẻ rúc rích cười, nhưng bà nghiêm nghị:
– Các cháu nhỏ biết gì. Máy móc là phải suy
luận, quan sát. Bà học nhiều trên YouTube rồi, yên tâm!
Chiếc robot hút bụi được bà lôi ra đầu tiên.
Nhưng thay vì cho nó chạy lòng vòng hút bụi, bà chất lên một chồng lá chuối, hí
hửng bật nút:
– Như trong nhà hàng Nhật, người ta cho robot
chở thức ăn tới bàn. Bà cho robot chở lá chuối vào bếp.
Con robot vừa chạy, lá rung rung rồi… bay
tung tóe khắp sân. Con mèo thấy lá bay thì nhảy bổ ra vồ, làm cả chồng lá tả
tơi. Bà hốt hoảng đuổi theo:
– Ôi thôi thôi, đứng lại! Đồ hư hỏng này!
Một hồi vật lộn, bà mới ôm được robot cùng mớ
lá te tua vào bếp. Ngoài phòng khách, cả nhà ngơ ngác, chỉ nghe bà vẫn cố hét vọng
ra:
– Ổn mà! Mọi chuyện ổn hết!
Con trai nhăn trán, con dâu thì ngập ngừng
quay lại bàn giấy tờ. Đám trẻ thì ôm bụng cười, riêng thằng Tin mắt long lanh
thì thào:
– Con nói rồi mà, y như robot nhà hàng Nhật.
Nhưng mai mốt bà nhớ cho robot chở mì gói nhé!
Sau màn “robot chở lá chuối”, bà quyết định
thử chiếc nồi áp suất điện tử. Bà mở sách hướng dẫn, thấy một vòng tròn đỏ có
mũi tên chỉ sang phải, gật gù:
– À, chắc cái này là nút mở nhanh.
Bà cho ít nước vào, vặn mạnh. Xìiiiiii! – hơi
nóng phụt ra, nắp nồi bật tung, bay vèo qua bàn, rơi “choang” xuống đất. Bà giật
mình nhảy lùi cả mét, tay che mặt, mồ hôi túa ra.
Ngoài phòng khách, cả nhà hốt hoảng. Con dâu
đánh rơi cây bút, con trai suýt đổ cả ly nước. Mấy đứa trẻ tái xanh mặt, nhưng
rồi nghe tiếng bà vọng ra, vẫn đầy kiêu hãnh:
– Ổn! Không sao đâu! Máy này mạnh quá, bà
chưa quen thôi!
Thằng Tin bĩu môi thì thầm:
– Con thề, đó là nồi nước sôi mì gói.
Cả bọn cười rúc rích.
Bà lau mặt, hít một hơi rồi chuyển sang “trận
giò thủ”. Tai heo, lưỡi heo, mộc nhĩ, nấm mèo được bà cẩn thận bỏ vào máy xay.
Bà nhấn nút, tiếng máy gầm rú như động cơ máy bay:
– Grừừừừừừừ…
Chưa kịp thốt lời thì bụp! – nắp máy bật
tung, tai heo và nấm mèo bắn lên trần, dính đầy những vệt loang lổ. Một miếng
tai heo nóng hổi rơi trúng đầu bà, bà nhăn mặt kêu “ối giời ơi!” rồi vội tắt
máy.
Ngoài phòng khách, con dâu tái mét, thì thầm:
– Chắc mẹ làm nổ cầu chì mất thôi…
Con trai thì đứng bật dậy, định chạy vào,
nhưng tiếng bà lại cất lên, kiêu hãnh đến lạ:
– Ổn mà! Bà lo được hết!
Đám trẻ nhìn nhau, vừa run vừa cười. Riêng
Tin gãi đầu:
– Cầu trời cho mì gói đừng bị đổ hết.
Sau “thất bại giò thủ”, bà chuyển qua chả
giò. Bà hí hoáy cuốn cả chục cuốn chả giò, đặt vào nồi chiên không dầu mới
tinh. Trên bảng điều khiển có hình con gà, củ khoai, cái bánh mì. Bà suy nghĩ một
lát:
– Chả giò chắc giống bánh mì giòn. Vậy bấm
nút bánh mì thôi!
Bà bấm, ngồi chờ. Mười phút sau, khói đen bốc
lên, mùi khét lan khắp bếp. Bà mở nắp, ôi thôi: cả chục cuốn chả giò đen sì như
than tổ ong. Bà bẻ thử một cuốn, giòn đến mức vụn nát thành tro bụi.
Ngoài kia, mấy đứa nhỏ bịt mũi nhăn nhó. Con
trai ho sặc, con dâu lẩm bẩm:
– Khói thế này hàng xóm lại tưởng nhà mình đốt
vàng mã.
Nhưng ngay lập tức, giọng bà lại vang vọng:
– Không sao! Chả giò này… ăn cũng lạ miệng đấy
chứ!
Tin thì cười toét miệng:
– Lạ miệng y như mì gói vị mới!
Cả nhà cười rũ, rồi im bặt ngay khi lại nghe
trong bếp vang lên cạch cạch… bụp!
Bà Lộ vẫn không nản. Bà tin rằng “át chủ bài”
sẽ là chiếc máy gói bánh tét tự động. Trong quảng cáo trên YouTube, bà thấy người
ta chỉ cần bỏ nếp, đậu, thịt ba rọi vào, rồi bấm nút là hiện ra chiếc bánh tét xanh
mướt, tròn vo.
Bà hí hửng cho hết nguyên liệu vào, sắp sẵn
lá chuối hai bên, miệng lẩm bẩm:
– Cái này chắc chắn thành công, không thể sai
được!
Nhưng bà đâu biết mình bấm nhầm chế độ… xay
nhuyễn. Tiếng “grừ grừ” vang lên, chỉ mấy chục giây sau, hỗn hợp nếp, đậu, thịt
nhuyễn nát, trào ra ngoài, dính từ tay bà tới cả mặt bàn. Lá chuối bà xếp gọn
gàng cũng bị cuốn vào, nát nhừ thành thứ bầy nhầy xanh lè.
Bà thẫn thờ nhìn đống hỗn độn, thở dài một tiếng:
– Thôi… chắc cái này chỉ để làm nhân thôi…
Ngoài phòng khách, cả nhà nghe tiếng máy “grừ
grừ” rồi tiếng bà “ôi trời ơi” thì chỉ biết đưa mắt nhìn nhau. Con trai lắc đầu,
con dâu thở dài, còn mấy đứa nhỏ thi nhau đoán:
– Lần này là bánh tét nổ tung!
Cu Tin lại lầm rầm điệp khúc “ Cầu trời…”
Ngày đầu tiên, bà nấu nướng tới tận khuya.
Căn bếp nhỏ sáng đèn suốt đêm, thỉnh thoảng vang lên tiếng máy rền rĩ, tiếng “bụp
bụp” nổ lách tách. Cả nhà đi ngủ mà vẫn nửa thức nửa chờ, dỏng tai nghe ngóng.
Tới gần sáng, bà mới lên phòng chợp mắt vài tiếng, rồi chưa đầy 5 giờ sáng, tiếng
dép lẹp xẹp lại vang trên cầu thang.
Mỗi lần rời bếp, bà cẩn thận khóa cửa, giữ bí
mật đến cùng. Ai lén định nhòm vào, bà liền gọi vọng ra:
– Không được vào! Để bất ngờ, rồi cả nhà sẽ
thấy!
Ngày thứ hai, bà tiếp tục “trận chiến”. Càng
thất bại, bà càng quyết tâm. Bánh tét nát nhừ, giò thủ bay tung tóe, chả giò
cháy đen… bà vẫn cắn răng, gạt mồ hôi, lẩm bẩm:
– Chưa được thì làm lại. Máy móc sao dám bắt
nạt bà!
Tiếng động lạ nối tiếp nhau, mùi khét lúc nồng,
lúc hăng, len lỏi khắp gian nhà. Ngoài phòng khách, vợ chồng con trai cặm cụi với
chồng tài liệu, nhưng chẳng tập trung nổi. Cứ mỗi khi nghe “bụp!”, bút trên tay
lại run rẩy. Con dâu lo đến mức đọc nhầm cả số liệu.
Mấy đứa cháu thì thi nhau đếm:
– Hôm nay đã tiếng nổ thứ 7 rồi!
– Không, phải 8 chứ!
Riêng Ku Tin thì mơ màng, ngồi bó gối, mắt
sáng rỡ:
– Bà chắc đang thử mì gói vị bò hầm!
Anh chị nó lườm:
– Suốt ngày mì gói!
Nhưng đúng là nhờ Tin, cả nhà bớt căng thẳng,
thi thoảng bật cười giữa những phút thót tim.
Sau bao nhiêu trận “thí nghiệm”, bà cuối cùng
cũng buông tay. Không phải vì chịu thua, mà vì… trong bếp chẳng còn nguyên liệu
nào. Thịt hết, nếp cũng hết, tai heo, lưỡi heo, mộc nhĩ… tất cả đều sạch bách.
Bà ngồi thừ xuống ghế, thẫn thờ nhìn đống máy
móc lem nhem khói bụi, rồi nhìn sang chồng xoong nồi khét lẹt. Trong lòng bà se
sắt lại:
– Trời ơi, giờ làm sao đây… Cả nhà đang trông
chờ mâm cỗ của bà…
Bà mở tủ bếp lần cuối, hy vọng còn sót thứ
gì. Và trong góc, một thùng mì gói hiện ra. Bà khựng lại, đôi mắt sáng lên như
tìm được cứu tinh.
– Ừ nhỉ… vẫn còn mì gói. May thật!
Và còn may nữa, là có vài quả trứng gà sót lại
trong tủ lạnh.
Bà vội vàng gom nồi niêu, bắc nước, rọc hành
lá, đập trứng. Những gói mì lần lượt được xé ra, xếp ngay ngắn như thể bà đang
chuẩn bị một “mâm cỗ nghiêm túc” nhất đời mình.
Ngoài phòng khách, lũ trẻ bỗng nghe tiếng “xoẹt
xoẹt” đặc trưng của gói gia vị, lập tức ồ lên:
– A! Bà nấu mì gói thật rồi!
Tin nhảy cẫng, reo như trúng số:
– Hoan hô bà! Năm nay mình tha hồ ăn mì gói rồi!
Cả nhà nín thở, không biết nên khóc hay cười.
Chiều Ba Mươi, sau hai ngày đóng kín cửa bếp,
cuối cùng cũng nghe tiếng lạch cạch. Cả nhà ngồi ngoài phòng khách nín thở, vợ
chồng con trai buông bút, mấy đứa trẻ dừng cả trò chơi, mắt dán chặt vào cánh cửa.
Cửa bếp từ từ hé mở. Bà Lộ bước ra, áo lấm tấm
bột, tóc rối, gương mặt phờ phạc. Bà cười gượng, giọng có chút ngượng ngập:
– Xong rồi… vào đi, cả nhà vào… ăn mì thôi.
Mọi người ùa vào. Trên bàn, thay vì bánh tét,
giò thủ, chả giò, chỉ có một dãy tô mì gói bốc khói nghi ngút. Mỗi tô bà đều cẩn
thận cho thêm trứng, hành lá, vài lát chả lụa còn sót lại. Bên cạnh, bà còn đặt
một chai tương ớt đỏ au, như điểm nhấn trang trọng cho “mâm cỗ công nghệ”.
Cả nhà sững sờ. Không ai nói nổi lời nào.
Con dâu bước đến gần, tay run run cầm khăn
lau mồ hôi trên trán bà, giọng nghẹn lại vì thương:
– Mẹ vất vả quá…
Con trai vội ngồi xuống, gắp mì, xuýt xoa:
– Ngon lắm mẹ ạ, đói bụng lắm rồi!
Thằng Bi xịu mặt, vừa định buông lời chê,
nhưng vừa liếc thấy ánh mắt lườm sắc lẹm của chị gái Ly thì vội im bặt. Con bé
mới 12 tuổi mà đã ra dáng chị cả, ngoan và hiểu chuyện, chỉ khẽ gật đầu ra hiệu
bảo em ăn đi.
Không khí đang chùng xuống, bỗng vang lên tiếng
reo lanh lảnh:
– Hoan hô bà! Con biết ngay mà! Năm nay mình
tha hồ ăn mì gói rồi!
Ku Tin nhảy cẫng, hai mắt sáng rực, giơ đôi
đũa lên trời. Cả nhà bật cười, tiếng cười vang dội át cả mùi khói bếp còn phảng
phất.
Bà Lộ nhìn quanh, thấy con cháu vui vẻ, ăn
ngon lành, nỗi lo ban nãy bỗng tan biến. Bà ngồi thẳng lưng hơn, gương mặt bừng
sáng, trong lòng trào lên niềm hạnh phúc.
Mọi người ngồi quanh bàn, gắp mì, vừa ăn vừa
cười. Tiếng đũa chạm vào tô leng keng, tiếng trẻ con hít hà. Thật lạ, bữa mì
gói ấy lại làm căn nhà ấm áp hơn bất kỳ mâm cao cỗ đầy nào.
Khi mọi người còn đang xuýt xoa, bà bỗng
nghiêm mặt, chống đũa, tuyên bố rành rọt:
– Năm nay chưa quen… Sang năm bà sẽ rút kinh
nghiệm, làm tốt hơn!
Cả nhà lập tức nghẹn lại, miếng mì còn dang dở
chưa kịp nuốt
Rồi một tràng cười bùng nổ. Riêng Tin giơ cao
đôi đũa, hét to, mắt sáng long lanh:
– Hoan hô bà! Sang năm mình lại được ăn mì
gói nữa!
Tiếng cười vang khắp gian bếp, hòa cùng mùi
hành, mùi mì đơn sơ, mà ấm áp lạ thường.
Dư
âm báo Xuân
Ngoài hiên, cành mai đã hé nụ vàng, gió xuân
se se thổi. Trong gian bếp nhỏ, mùi mì gói đã bay hết, nhưng tiếng cười, tiếng
nói vẫn còn vương trên từng kẽ gạch.
Người ta vẫn nghĩ Tết phải có bánh tét thơm dẻo,
chả giò vàng ruộm, giò thủ dai giòn… Nhưng đôi khi, Tết cũng có thể bắt đầu từ
một thùng mì gói giản dị, từ nỗi ngượng ngập của bà, từ tiếng hít hà của lũ trẻ,
từ ánh mắt chan chứa thương yêu của con dâu lau giọt mồ hôi trên trán mẹ chồng.
Một bữa ăn không mâm cao cỗ đầy, nhưng giàu
tình. Một năm mới bắt đầu bằng nụ cười.
Đó chẳng phải chính là hạnh phúc, là ấm áp,
là Tết sao?
Biển Cát
Saturday, February 14, 2026
Giữ Lại Phẩm Giá Cho Người Khác Bằng Cách Nào?
Tôi nói dối ông chủ tôi mỗi ngày.
Tôi năm nay 72 tuổi. Tôi là một chức sắc trong nhà thờ, đóng thuế đàng hoàng, chưa bao giờ bị phạt nguội lần nào. Nhưng suốt chín năm nay, tôi đang thực hiện một kiểu "lừa đảo" ngay dưới mũi của ban quản lý tiệm đồ cũ "Cơ Hội Thứ Hai" này.
Nếu họ biết được, họ sẽ
đuổi việc tôi ngay lập tức, chẳng kịp cho tôi cởi cái tạp dề ra. Nhưng tôi kệ.
Bởi vì trong một xã hội cứ thích tước đoạt đi lòng tự trọng của người khác, tôi
đã tìm ra cách để trả lại nó cho họ.
Công việc của tôi đơn giản lắm: phân loại đồ quyên góp. Tôi dán nhãn giá cho quần jeans, mấy cái áo khoác mùa đông nặng trịch, mấy đôi giày bảo hộ còn dùng tốt. Hầu hết khách hàng chẳng thèm nhìn tôi. Đối với họ, tôi chỉ là một phần của cảnh vật: một ông già lụ khụ, mắt đeo kính, tay bị đau khớp, cứ cắm cúi định giá mấy món đồ có mùi băng phiến và mùi ký ức của người lạ.
Tôi thấy mấy bà mẹ đơn thân cứ so đi so lại giá đôi giày đi học của con với tiền mua thức ăn. Tôi thấy mấy chú cựu chiến binh cứ nhìn chằm chằm vào bộ vest họ cần để đi phỏng vấn, nhìn vào cái ví tiền rồi lặng lẽ quay lưng đi.
Và tôi nhớ nhất là thằng
bé đó.
Lúc đó là giữa tháng Mười Một, ở cái thị trấn rỉ sét, lạnh lẽo của chúng tôi. Gió lùa qua phố sắc như dao cắt. Thằng bé bước vào với cái áo nỉ mỏng dính, đến nỗi nhìn rõ cái áo thun bên trong. Nó chắc chưa tới mười bốn tuổi. Gầy gò, run cầm cập, với cái nhìn vô hồn mà những đứa trẻ hay mang khi chúng bị xã hội bỏ rơi quá nhiều lần.
Nó đi thẳng đến khu áo khoác. Nó tìm thấy một chiếc áo parka xanh hải quân, rất ấm, hàng hiệu, gần như mới. Giá là 25 đô la. Nghe thì bèo, nhưng đối với nó là cả một gia tài.
Tôi lén nhìn. Nó chạm vào ống tay áo, như muốn cảm nhận hơi ấm mà chiếc áo hứa hẹn. Nó nhìn cái nhãn giá. Vai nó xụ xuống khoảng chục phân. Nó không rên rỉ, không than thở. Nó chỉ cẩn thận treo chiếc áo lên lại và đi thẳng ra cửa.
Tim tôi đập thình thịch. Tôi không thể đơn giản là cho không nó. Tôi học được rằng, việc bố thí có thể mang lại vị đắng cho những người đang cố gắng sống sót. Nếu bạn đưa tiền bố thí, họ cảm thấy mình nhỏ bé. Họ cảm thấy mình như một trường hợp cần giúp đỡ xã hội.
Thế là tôi cầm chiếc áo, đi ra quầy tính tiền để chặn nó lại.
"Ê, nhóc," tôi gọi.
Nó đứng khựng lại, sẵn sàng chạy trốn. "Con không có ăn cắp gì hết!"
"Tao biết," tôi càu nhàu, đóng vai ông già khó tính. "Nhưng tao đang có rắc rối. Cái áo này hả? Nó bị lỗi. Cái khóa kéo dưới cùng nó bị kẹt. Mà theo quy định của cửa hàng, đồ bị lỗi thì không thể bán quá ba đô la. Mày có ba đô la không?"
Nó nhìn tôi, bối rối. "Nhãn ghi hai mươi lăm mà."
"Nhãn ghi sai đấy," tôi nói dối, giật phắt cái nhãn đi. "Tao là người quản lý kho. Tao nói nó ba đô la. Mày lấy không hay để tao quăng nó đi?"
Nó do dự, dò xét gương mặt tôi xem có bẫy gì không. Rồi nó lục túi, lôi ra ba tờ tiền nhăn nhúm.
"Dạ, có," nó thì thầm. "Con lấy."
Nó mặc chiếc áo vào ngay lập tức. Kéo khóa lên tận cổ — khóa vẫn hoạt động trơn tru, dĩ nhiên rồi — và nó thẳng lưng lên. Nó không còn trông như một thằng bé co ro vì lạnh nữa. Nó trông như một thanh niên vừa mới làm một phi vụ hời. Nó trông có vẻ được che chở.
"Cảm ơn ông," nó nói.
"Quy định cửa hàng thôi," tôi lầm bầm, quay lưng đi để nó không thấy mắt tôi hơi ướt.
Mọi chuyện bắt đầu từ đó.
Nhiều năm qua, cái "quy định cửa hàng" đó đã trở thành vũ khí bí mật của tôi.
Khi bà Miller, một góa phụ sống bằng đồng lương hưu ít ỏi, cần một cái máy nướng bánh mì mới nhưng chỉ có 5 đô la trong túi, thì cái máy 20 đô la bỗng nhiên bị dán nhãn là "dây điện bị hở".
Khi một ông bố trẻ cần đôi giày bảo hộ để bắt đầu công việc xây dựng đầu tiên, tôi tự động "giảm giá đặc biệt sáng thứ Ba".
Tôi tự nhớ trong đầu. Tôi tự bỏ tiền túi bù vào nếu tiền mặt bị hụt, hoặc tôi khai báo những món đồ đó là "không bán được/đã tiêu hủy" trong hệ thống. Tôi sợ bị bắt lắm chứ.
Thế rồi một buổi chiều, một người phụ nữ đeo khăn choàng cashmere đã bắt quả tang tôi. Cô ta thấy tôi bán một chiếc xe đẩy em bé gần như mới cho một cô gái trẻ đang sợ hãi với giá 10 đô la.
Khi cô gái đi khỏi, người phụ nữ đó bước đến. Tôi chuẩn bị tinh thần bị mắng té tát hoặc bị dọa gọi quản lý.
Thế nhưng, cô ta lại đặt một tờ 100 đô la gấp gọn lên quầy.
"Cho mấy cái... sai sót kiểm kê của ông," cô ta nháy mắt.
Và chuyện này bắt đầu
lan ra. Một cách kín đáo. Những khách quen bắt đầu hiểu. Họ không bao giờ nói một
lời. Họ mua một món đồ lặt vặt giá 5 đô la, đưa tôi tờ hai mươi, rồi nói:
"Giữ lại tiền thối cho lần sau... hệ thống gặp trục trặc nhé."
Chúng tôi đã xây dựng nên một nền kinh tế bí mật chỉ dựa trên phẩm giá. Chúng tôi không bố thí; chúng tôi đang cân bằng lại cơ hội.
Thứ Ba tuần trước, tiếng chuông trên cửa kêu leng keng.
Một người đàn ông bước vào. Cao lớn, vai rộng, mặc bộ đồng phục nhân viên cấp cứu chỉnh tề. Anh ta đi đứng tự tin, nhưng không phải để mua sắm.
Anh đi thẳng đến quầy của tôi.
"Ông là Arthur," anh ta khẳng định.
Tôi chỉnh lại kính. "Đúng là tôi."
Anh ta cười, và đột nhiên, tôi thấy lại hình ảnh cậu bé mười bốn tuổi gầy gò trong chiếc áo nỉ xám mỏng manh ngày nào.
"Ông bán cho tôi cái áo parka xanh hải quân cách đây mười năm," anh ta nói. "Ông bảo cái khóa kéo nó bị hỏng."
Tôi cảm thấy má mình nóng ran. "Tôi xử lý nhiều áo khoác lắm, cậu bé."
"Khóa kéo không hề hỏng đâu, Arthur." Anh ta cúi xuống, giọng nghẹn lại vì xúc động. "Tôi biết ông nói dối. Ngay cả lúc đó tôi cũng biết. Nhưng ông đã không bắt tôi phải đi xin xỏ. Ông để tôi được mua nó. Ông để tôi là một khách hàng, chứ không phải một kẻ ăn xin. Tôi bước ra khỏi đây với cảm giác như một người đàn ông."
Anh ta rút ra một phong bì từ túi áo.
"Giờ tôi là nhân viên cấp cứu. Tôi cứu người. Nhưng tôi không nghĩ tôi đã sống sót qua mùa đông năm đó nếu không có chiếc áo khoác đó. Hoặc nếu không biết rằng có người thực sự quan tâm đến mình."
Anh ta đặt phong bì lên quầy.
"Trong đây có 500 đô la," anh ta nói. "Ông dùng nó đi. Tôi biết cái 'quy định cửa hàng' của ông tốn kém lắm."
Tôi run rẩy cố gắng trả lại. "Tôi không thể..."
"Cái này không phải cho ông," anh ta nói dứt khoát. "Nó dành cho đứa trẻ run rẩy tiếp theo bước vào đây. Hãy đảm bảo rằng khóa kéo của nó cũng bị hỏng, nhé."
Rồi anh ta quay lưng
bước đi, đầu ngẩng cao, hòa vào ánh nắng mùa thu.
Tôi đã 72 tuổi. Lưng tôi đau, chân tôi sưng vù sau một ngày dài. Nhưng tôi có công việc tuyệt vời nhất trên đời.
Chúng ta đang sống trong một đất nước nói rằng giá trị của bạn phụ thuộc vào số tiền trong tài khoản. Người ta bảo nhau phải tự lực cánh sinh, ngay cả khi họ không có gì.
Nhưng tôi đã học được một điều trong cái cửa hàng bụi bặm cũ kỹ này: Phẩm giá quan trọng hơn việc bố thí.
Đôi khi, giúp đỡ một người không chỉ là cho họ thứ họ cần. Mà là cách bạn trao nó cho họ.
Nếu bạn có thể giúp đỡ ai đó mà vẫn giữ được lòng tự trọng của họ — nếu bạn có thể giúp họ mà không làm họ cảm thấy nhỏ bé — bạn không chỉ nuôi dưỡng thân thể họ, bạn còn đang cứu rỗi cả tâm hồn họ nữa.
Vì vậy, tôi sẽ tiếp tục
nói dối. Tôi sẽ tiếp tục lách luật. Tôi sẽ tiếp tục bịa ra những quy định không
hề tồn tại.
Bởi vì cái mác giá chẳng có ý nghĩa gì. Điều quan trọng là người mặc nó.
Nhưng cái việc vô hình này lại
có cái lợi của nó. Nó cho phép tôi nhìn thấy hết mọi thứ.
TG Văn Chương
Mùa Xuân Ngọt Ngào - Trần C. Trí
Tháng Chạp bắt đầu với những làn gió nhẹ, đã nghe
thoang thoảng mùi hương xuân, chẳng biết có phải là vì cô Thuỷ Tiên giàu tưởng
tượng hay không. Cả ấp Trà Cuôn đã rộn ràng chuẩn bị đón Tết, làm cô cũng thấy
nao nao trong dạ. Nhạc xuân tưng bừng cất tiếng từ những máy truyền thanh bên
hàng xóm. Bên thì réo rắt tân nhạc, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa/Một
chiều xuân ai đã hẹn hò...1, bên thì bùi ngùi vọng cổ, Tết
năm nay chắc nhà mình buồn lắm/Ngõ trước vườn sau tiêu điều vắng lặng/Xuân đã về
chưa mà con của Mẹ vẫn chưa về...2 Tết sắp về ai lại
chẳng nôn nao, nhưng riêng cô Thuỷ Tiên còn thêm nỗi niềm xa nhà nên nghe mấy
bài hát đó cô cũng buồn nẫu ruột. Mùa xuân sắp tới, đánh dấu một năm tròn hương
lửa mặn nồng giữa Minh Anh và cô, tình yêu còn phơi phới như đoá hoa bừng thắm.
Nhưng mùa xuân cũng gợi cho cô những ngày Tết thời con gái vui tươi, hồn nhiên
với gia đình ở Sài Gòn. Năm nay là năm đầu tiên cô ăn Tết bên nhà chồng, buồn
vui lẫn lộn, nụ cười của cô lúc nào cũng thoáng chút trầm tư.
Nghĩ cũng lạ, chuyện tình duyên là điều không bao giờ
cô Thuỷ Tiên hiểu nổi. Nhiều lúc cặm cụi nấu ăn trong căn bếp của ngôi nhà nhỏ ở
miền Tây này, vừa làm việc cô vừa lẩn thẩn suy nghĩ, tại sao một người ở chốn
phồn hoa đô hội như cô lại thành duyên với kẻ ở miền quê sông nước như chồng
mình bây giờ. Có ai ngờ trong giảng đường đại học rộng lớn ngày nào mà anh và
cô đã gặp nhau, quen nhau rồi đem lòng tương cảm, trở thành vợ chồng như bây giờ.
Những lúc ấy cô cứ tủm tỉm cười một mình, chắc ai tình cờ thấy được tưởng trong
lòng cô có điều gì bí mật mà thú vị lắm.
Năm năm về trước, Minh Anh—chàng trai miền Tây—lên Sài
Gòn, vào Đại Học Sư Phạm, tiếp tục dồi mài kinh sử sau khi học xong bậc trung học
ở quê nhà. Anh mang trong người hai dòng máu Miên-Việt, cha anh là người Khmer
chính gốc, còn mẹ là người Việt thuần tuý. Vì vậy mà anh có một nét đẹp là lạ,
hay hay. Da anh ngăm ngăm, mắt sâu, mày rậm, mũi cao dọc dừa. Còn Thuỷ Tiên thì
trắng trẻo, má thắm, môi tươi, thêm hai cái núng đồng tiền duyên dáng. Ngày cưới
của hai người, thân bằng quyến thuộc ai cũng tấm tắc khen cô dâu chú rể xứng
đôi hết biết. Cha mẹ hai bên ai nấy đều vui lòng đẹp dạ.
Nếu như hồi trước Minh Anh lên Sài Gòn thấy choáng
váng trước nhịp sống hào nhoáng của chốn đô thành, thì bây giờ cô Thuỷ Tiên
cũng thấy ngỡ ngàng không kém trong khung cảnh sống động của miền quê vùng Trà
Vinh này. Về đây, cô thấy mình như bước vào một thế giới rất riêng tư, mới lạ,
cũng là trong nước Việt Nam mà thấy khác nhiều lắm. Minh Anh nói rành cả hai thứ
tiếng Việt, Miên, cũng như hầu hết người dân địa phương ở đây. Anh dạy cô nhiều
chữ, nhiều câu tiếng Miên, nghe thiệt vui tai. Anh giải thích cho cô rằng tên
Trà Cuôn là từ tiếng Miên tro-kuôn, có nghĩa là “rau muống”. Tiếng
Miên nghe vậy mà cũng khá rắc rối. Minh Anh cho cô biết là chữ “có” không phải
chỉ nói có một kiểu, đàn ông nói là bat, còn đàn bà thì nói
là cha. Tuy vậy, khi nói “không” thì đàn ông hay đàn bà gì cũng đều
dùng tê để trả lời. Minh Anh còn nheo mắt, dặn dò cô:
“Ở đây, khi ra ngoài mà có chàng trai nào hỏi em “On
sro-lanh bon tê?” thì em nhớ trả lời “Tê” cho chắc ăn
nghen!”
“Sao vậy anh?” Cô Thuỷ Tiên trố mắt hỏi.
“Đó là y muốn nói ‘Em có thương anh không?’ em à,”
Minh Anh cười ngặt nghẽo.
Nhưng điều thật sự làm cô Thuỷ Tiên thấy thán phục nhất
không phải là vấn đề tiếng này tiếng nọ, mà thiệt ra là chuyện bánh trái. Ôi
thôi, cha sanh mẹ đẻ tới giờ cô chưa từng thấy ở đâu mà có nhiều loại bánh như ở
đây. Về ở ngôi ấp miền Tây này mới mấy tháng, cô đã được nếm qua không biết bao
nhiêu là thứ bánh. Nào là bánh in, bánh bò rễ tre, bánh da lợn, bánh ống lá dứa,
bánh tằm bì, bánh phồng dừa... nhưng phổ biến nhất phải kể tới bánh tét, mà có
tới cả chục loại chớ không chỉ một thứ. Đặc biệt, bánh tét Trà Cuôn, quê chồng
của cô, nổi danh khắp nơi, nhiều người từ xa chịu khó lặn lội tới đây cũng chỉ
để được thưởng thức đặc sản có một không hai này.
Những món bánh ngon lành, lạ miệng đó, cô Thuỷ Tiên được
biết tới do mua ngoài chợ về thì ít, mà do bà Ba, mẹ chồng cô, tự tay làm ra
thì nhiều. Bà Ba nổi tiếng khắp trong cái ấp nhỏ bé này về tài bánh trái bao
nhiêu, cô Thuỷ Tiên càng thấy ngại ngùng bấy nhiêu. Lúc còn là cô sinh viên ở
Sài Thành hoa lệ, cô chỉ biết ngày hai bữa đi học, về nhà phụ mẹ nấu nướng qua
loa, cuối tuần rảnh rỗi thì đi chơi với bạn bè, còn thì giờ đâu mà học nữ công
gia chánh. Bà Ba, tuy không nói ra, cô Thuỷ Tiên đoán thấy bà coi nặng chuyện nội
trợ lắm. Chắc bà cũng không lấy làm hài lòng mấy về cô dâu tỉnh thành ăn trắng mặc
trơn như cô. Trong thâm tâm, cô Thuỷ Tiên lòng hẹn với lòng rằng sẽ cố gắng học
nấu nướng trong những tháng ngày sắp tới cho vui cửa vui nhà.
Hai vợ chồng cô về đây, có được mảnh bằng Đại Học Sư
Phạm trong tay, cả hai cùng may mắn kiếm được mỗi người một chân làm giáo viên ở
một trường trung học cách Trà Cuôn gần bốn cây số. Ngày ngày, hai vợ chồng đạp
hai chiếc xe đi sóng đôi, phấn chấn tới trường lớp, vừa đạp xe vừa nói với nhau
những mẩu chuyện về công việc, về gia đình, tưởng như không bao giờ cạn hết đề
tài. Hai vợ chồng cùng mơ đến ngày có được một mụn con để ẵm bồng, nuôi nấng,
tưng tiu như hầu hết những cặp vợ chồng trẻ ở cái ấp xa xôi hẻo lánh này.
Trong ấp, rất nhiều bà nội trợ làm bánh tét Trà Cuôn
ngon nức tiếng, và dĩ nhiên bà Ba phải được kể tới trong số đó. Món bánh tét
này làm quanh năm, nhưng tới Tết nó mới trở thành món ăn vừa ý nghĩa, vừa thơm
ngon đặc biệt ít nơi nào bì kịp. Lần đầu tiên được thấy những khoanh bánh tét cắt
ra bằng sợi chỉ dài chớ không dùng dao, cô Thuỷ Tiên không khỏi trầm trồ khen
ngợi. Cô thấy mỗi khoanh bánh tét chẳng khác nào một tác phẩm nghệ thuật vô
cùng khéo léo. Nó y như một bức tranh ba chiều, nhỏ nhắn mà có sức lôi cuốn thiệt
mãnh liệt. Ai đời nếp mà có tới bốn màu khác nhau: lớp nếp ở vòng ngoài có màu
trắng, màu xanh, màu đỏ cam và màu tím. Ở giữa là màu vàng của nhưn đậu xanh
đãi vỏ, màu đỏ của hột vịt muối, bên cạnh màu nâu lợt của miếng thịt ba chỉ ngó
thiệt là muốn chảy nước miếng. Bánh thơm tho và đẹp đẽ đã đành, ăn vô tới đâu lại
càng thấy thấm tháp tới đó. Cái dẻo của nếp, độ mềm của đậu, vị mặn của trứng,
chất béo của mỡ, tất cả quyện vô nhau, hoà tan trong miệng, thiệt tình là còn
miệng ăn mà hết miệng nói!
Đã hơn một lần, cô Thuỷ Tiên nói xa nói gần, ngỏ ý muốn
được học tài làm bánh tét của bà Ba. Mà bà cũng ngộ, một mặt thì có vẻ như mong
con dâu biết làm bánh làm trái, một mặt lại như muốn giấu nghề. Vì vậy mà mỗi lần
cô Thuỷ Tiên ướm lời, bà lại đánh trống lảng, lái qua đề tài khác, khiến cô
cũng nhiều phen cụt hứng. Nhưng cô đâu có bỏ cuộc dễ dàng như vậy. Cô cố nghĩ
ra cách để làm mẹ chồng xiêu lòng mà bày vẽ cho cô làm món bánh gia truyền đó,
như nhiều lần bà đã khoe với chòm xóm.
Tết càng lúc càng kề cận, cô Thuỷ Tiên nhắc bà Ba:
“Má, chừng nào má mới bắt đầu làm bánh tét đây? Má cho
con phụ má với nghen!”
“Ờ, chắc nay mai gì thôi con,” bà Ba đáp, giọng ỡm ờ,
“mà công việc này có nhiều nhặn gì đâu để con phải phụ. Má làm quen rồi, mấy chục
năm nay chớ ít ỏi gì.”
“Ậy, có con phụ má cũng đỡ một tay chớ!” Cô Thuỷ Tiên
vui vẻ nói. “Phụ má là một chuyện, con còn có dịp học hỏi tay nghề của má nữa.”
Bà Ba ậm ừ cho qua chuyện, y như những lần trước. Cô
Thuỷ Tiên nghĩ trong bụng, lần này thế nào cô cũng phải học nghề, chẳng lẽ bà
không cho mình vô bếp hay sao. Hai mươi sáu tháng Chạp, bà Ba đi chợ mua đồ về
nấu ăn Tết, tất nhiên là có cô Thuỷ Tiên xách giỏ đi theo. Kỳ này, cô quyết tâm
học hỏi mẹ chồng, từ A tới Z, kiểu nói mà cô đã học được trong những
ngày còn ngồi ghế nhà trường sư phạm ở Sài Gòn.
Đi chợ về, bà Ba bắt tay vô làm bánh tét trước tiên,
còn những món khác như mứt, dưa món, món kho, món xào, món canh, bà có thể từ từ
làm sau, miễn là xong xuôi trước đêm giao thừa đặng kịp làm mâm cơm đón ông bà
về ăn Tết là ổn rồi. Cô Thuỷ Tiên lăng xăng giúp mẹ chồng, bà Ba sai tới đâu,
cô te tái làm tới đó. Cô rửa lá chuối, lau sạch sẽ, xếp tươm tất bên mớ dây tre
lạt, sẵn sàng để gói bánh. Trong lúc đó, bà Ba luộc đậu xanh, đãi sạch vỏ để
làm nhưn. Cô Thuỷ Tiên chăm chú theo dõi nhất cử nhất động của bà. Cô để ý thấy
bà nhuộm màu nếp bằng những nguyên liệu tự nhiên. Bà dùng lá dứa để nhuộm nếp
màu xanh, lá cẩm để nhuộm màu tím và thịt trái gấc để nhuộm màu cam đỏ. Màu còn
lại là màu trắng ngà tự nhiên của nếp, loại nếp cái bông vàng mà bà Ba đã cẩn
thận lựa chọn. Vừa làm với con dâu, bà vừa thủ thỉ:
“Con biết không, má của má, tức là bà ngoại của chồng
con, ngày xưa khéo tay lắm. Má bây giờ thua xa! Từ nhỏ, má đã được bà dạy dỗ ‘Học
ăn, học nói, học gói, học mở’, rồi má học thêu thùa, học nấu nướng. Bao nhiêu lời
hay ý đẹp, công dung ngôn hạnh học được, bà dạy lại hết cho má. Bây giờ, má chỉ
có thằng Minh Anh mà không có con gái, nên má coi con cũng như con gái mình vậy.”
Cô Thuỷ Tiên nghe mà mủi lòng, cảm động hết sức, nhưng
chưa biết phải nói ra sao, thời bà Ba đã tiếp:
“Thằng Minh Anh kém phước kém phần nên mất cha sớm, để
má phải một mình nuôi nó cho tới lúc thành nhơn chi mỹ. Giờ thì má đã tạm bớt
lo, vì đã có con làm bầu làm bạn với nó, má chỉ còn mong có được vài đứa cháu nội
thì thiệt là mừng hết lớn.”
Cô Thuỷ Tiên đỏ mặt khi bà Ba nhắc tới chuyện con cái.
Cô cũng mong có con không kém, nhưng chuyện trước mắt là cô mong được có tài
làm bánh trái như mẹ chồng cái đã. Bà Ba lại tỉ tê tâm sự:
“Con thấy cơ ngơi của hai mẹ con má bây giờ, đừng tưởng
là hồi giờ cũng vậy. Lúc nhỏ, má cực lắm, cha mẹ nghèo, làm gì được thảnh thơi
như bây giờ. Má phải phụ bà ngoại làm bánh làm trái, đem ra chợ bán mỗi ngày.
Có bữa bán hết sạch, mừng không kể xiết, nhưng cũng có ngày trời mưa, không bán
được cái bánh nào. Hai mẹ con phải đem rổ bánh ế về nhà, cùng ông ngoại ăn trừ
cơm. Nhưng cũng nhờ vậy mà má có tay làm bánh, lớn lên lấy chồng, tiếp tục nhờ
đó mà đắp đỗi qua ngày. Ba thằng Minh Anh thì lo chuyện vườn tược, trồng cây trồng
trái, cũng đem bán ngoài chợ, làm nhiều, ăn ít, vậy mới từ từ có vốn mà sắm sửa
chỗ ở, chỗ ăn như con thấy ngày nay...”
Tới lúc này, cô Thuỷ Tiên mới bắt đầu góp chuyện:
“Ba má thiệt là giỏi. Con thấy anh Minh Anh may mắn được
ba má nuôi nấng, dạy dỗ đàng hoàng. Lần đầu tiên con gặp ảnh trên Sài Gòn, con
đã cảm mến ảnh ngay vì tánh tình hiền lành, chân chất của ảnh.”
Đây là lần đầu tiên mẹ chồng con dâu mới có dịp tâm
tình, kể từ ngày cô Thuỷ Tiên theo chồng về làm dâu xứ lạ. Nghe con dâu thổ lộ
những lời đơn sơ mà đầy cảm xúc, bà Ba chợt thấy tới bây giờ bà mới thiệt sự cảm
được mối quan hệ mới mẻ này giữa hai người đàn bà, một già một trẻ. Sực nhớ ra
một điều, bà chặc lưỡi:
“Ờ, má cũng quên là Tết năm nay con không về thăm nhà
được, ba má con chắc cũng nhớ con lắm! Thôi, rảnh rồi vợ chồng con liệu thu xếp
về trển thăm ổng bả mấy bữa. Con thấy không, tiền bạc, sự nghiệp mà chi, nếu
trên đời này thiếu đi tình gia đình, tình cha mẹ, vợ chồng... Tụi con có ăn có
học, má nghĩ bây còn thấm thía điều này hơn má nữa.”
Miệng nói, tay bà Ba vẫn thoăn thoắt làm, còn cặp mắt
của cô Thuỷ Tiên cũng không lúc nào rời hai bàn tay đó, coi bà Ba làm ăn ra
sao. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, bà Ba bắt đầu gói bánh. Tới lúc này, cô Thuỷ Tiên
mới nhận ra là bà Ba tâm sự nhiều hơn là chỉ vẽ mình làm bánh, nhưng bù lại cô
cũng đã quan sát mọi thứ thiệt kỹ càng, hy vọng sẽ có lúc làm được món bánh gia
truyền này.
Bà Ba gói bánh tét thiệt nhanh và đều tay. Chẳng bao
lâu, từng đòn bánh tét chắc nịch, tròn lẵn đã nằm tú ụ, ngay ngắn trên mấy cái
mẹt bằng tre. Được chừng quá nửa số bánh đã định, bà Ba vươn vai than:
“Ui da, sao má mỏi quá vầy nè! Chắc phải nghỉ chút rồi
mới làm tiếp được đa!”
Cô Thuỷ Tiên mừng khấp khởi:
“Dạ, má đi nằm một chút cho khoẻ đi. Chỗ còn lại con
gói được mà.”
Bà Ba ngó con dâu, giọng nghi ngờ:
“Con gói được không đó?”
“Dạ, được mà má,” cô Thuỷ Tiên đáp, giọng cương quyết.
“Nãy giờ con coi cách má gói bánh kỹ lắm rồi.”
Bà Ba quay đi, khẽ nhún vai một cái, tỏ ý chưa thiệt sự
bị thuyết phục. Cô Thuỷ Tiên ngó theo, kín đáo cười một nụ rồi khởi sự gói cái
bánh tét năm màu đầu tiên trong sự nghiệp bếp núc của mình. Tới bây giờ cô mới
bắt đầu khớp, thấy đây là chuyện đại sự chớ không phải giỡn chơi. Ngồi ngó bà
Ba gói bánh là một chuyện, mà tự tay gói thì lại là chuyện khác. Cô xếp lá chuối
xuống cái mẹt, run run trải từng lớp nếp đã nhuộm màu sẵn cho nằm song song với
nhau, đoạn cô rải một lớp đậu xanh lên trên mặt nếp rồi để một miếng thịt ba chỉ
cùng một tròng đỏ trứng muối đã luộc chín vào chính giữa. Nhớ lại cách cuốn lá
chuối của bà Ba, cô hồi hộp, chậm rãi làm. Cuốn bánh tới đâu, cô ém tay tới đó
cho bánh được chắc. Rốt cuộc, sản phẩm bánh tét đầu tiên của cô Thuỷ Tiên cũng
được hoàn tất sau khi cô cột sợi lạt tre cuối cùng. Lẽ tất nhiên là cái bánh
tét không được tròn trịa như bánh của bà Ba, nhưng cô nghĩ nó cũng không đến nỗi
tệ. Cô thấy tự tin hơn một chút, bắt tay vào gói cái bánh kế tiếp. Lần lượt,
cái bánh sau ngó được hơn cái bánh trước, cứ vậy cho tới cái bánh tét sau chót.
Cô Thuỷ Tiên cao giọng kêu chồng vô bếp, vì tới giai
đoạn này là phận sự của anh lo chất bánh vô nồi, khiêng ra sân sau để bắt lên
lò nấu. Buổi chiều đang xuống chậm chạp. Cô Thuỷ Tiên cũng bắt đầu thấy hai bàn
tay mỏi nhừ. Để mặc chồng lễ mễ đem nồi bánh ra sau, sửa soạn châm lửa, đốt lò,
cô lững thững trở lên nhà trên, nhẹ nhàng ngồi xuống cái ghế dài bằng mây. Những
ngày cuối năm ở miền quê cũng êm ả như mọi ngày quanh năm suốt tháng, có khác
chăng là tiếng lũ trẻ đã bắt đầu được nghỉ học, cười vui ngoài ngõ, và văng vẳng
lời ca ở đâu thoảng bay tới, Mùa xuân sang ngàn nơi ngát niềm tin yêu đời/Bầy
chim non lượn bay hót lời ca vang trời/Đàn bé hé môi cười ngọt ngào tình thương
áo xanh, vàng/Chào đón Chúa Xuân huy hoàng...3 Cô
Thuỷ Tiên ngả đầu vào thành ghế, lim dim hai mắt, trong lòng nghe rất đỗi bình
yên.
o O o
Trong tiếng gà lao xao gáy sáng, gia đình nhỏ của cô
Thuỷ Tiên, Minh Anh và bà Ba đang tíu tít bận rộn với một ngày mới, một trong
những ngày còn lại của năm cũ. Tối hôm qua, hai vợ chồng cô Thuỷ Tiên đã thức
suốt đêm canh nồi bánh tét. Năm nay, lần đầu tiên Minh Anh có cô bạn đời cùng
chia ngọt xẻ bùi bên nồi bánh Tết, rủ rỉ chuyện trò bên tiếng củi kêu lách tách
lẫn tiếng côn trùng rả rích đều đều ở sân sau. Buổi sáng hôm đó, hai người thức
giấc trễ hơn thường lệ, còn bà Ba đã dậy từ lúc nào, đang lúi húi châm trà, đốt
nhang ở bàn thờ gia tộc phía nhà trên. Theo lệ thường, bà Ba cắt một cái bánh
tét coi năm nay làm ra sao. Cô Thuỷ Tiên lo lắm, không biết số phận của mấy cái
bánh mình gói như thế nào. Cô nhìn qua hai mẹt bánh, biết ngay những cái nào là
do mình gói. Bà Ba liếc nhìn mấy cái bánh rồi cầm lên một cái... do cô Thuỷ
Tiên gói! Cô nhìn theo cái bánh trong tay bà, gần như nín thở. Minh Anh đứng
bên cô cũng hồi hộp không kém. Mấy chục giây im lặng nặng nề trôi qua, sau cùng
bà Ba mới đủng đỉnh lên tiếng:
“Hừm, con gói bánh lần đầu tiên như vầy là cũng không
tệ lắm!”
Cô Thuỷ Tiên muốn thở phào một cái mà kịp kềm lại, vì
bánh vẫn chưa mở ra. Minh Anh nhanh nhẩu nói:
“Để con lấy sợi chỉ giúp má tét bánh ra nghen!”
Nói xong, anh chạy đi trong tích tắc rồi trở lại với một
sợ chỉ dài gấp làm tư trong tay. Lúc này, bà Ba đã gỡ hết lớp lá chuối bên
ngoài cái bánh. Minh Anh, một tay đỡ lấy đòn bánh tét, miệng ngậm một đầu chỉ,
tay còn lại cầm đầu kia, anh quấn chỉ quanh khúc bánh rồi khéo léo tét ra
khoanh đầu tiên, cho nó rớt nhẹ xuống cái dĩa đang nằm chờ sẵn trên bàn. Cô Thuỷ
Tiên lặng người ngó tác phẩm đầu tay của mình. Lớp nếp bốn màu, thiệt là may mắn
cho cô, nằm bao quanh phần nhưn đậu xanh cùng thịt mỡ và trứng. Nói nào ngay,
các lớp nếp bốn màu cũng không thiệt đều đặn cho lắm, mà miếng thịt cùng cái trứng
cũng không nằm ngay chính giữa cái nhưn, nhưng... cô Thuỷ Tiên đã tưởng tượng
ra nó còn tệ hơn như vậy nữa. Bà Ba nhoẻn một nụ cười rộng lượng:
“Bánh ngó được lắm, con à!” Bà nói, giọng dịu
dàng. Cô Thuỷ Tiên mừng muốn ứa nước mắt. Minh Anh cũng vui lây, tay anh thoăn
thoắt siết chỉ để tét ra những khoanh bánh còn lại. Trong một thoáng, các
khoanh bánh tròn trĩnh, đủ màu nằm trên đĩa, rực rỡ như niềm vui cô Thuỷ Tiên vừa
tìm thấy.
Ba mẹ con ngồi xuống bàn, mời nhau thưởng thức mấy miếng
bánh mẫu. Tình cờ, cô Thuỷ Tiên lại thích ăn bánh tét theo kiểu mẹ chồng, tức
là ăn bánh với đường cát, còn Minh Anh thì lại khoái ăn với nước mắm. Cô Thuỷ
Tiên nếm lát bánh tự tay mình gói, vị ngọt của nếp, vị mặn của trứng và vị béo
ngậy của thịt tan ra trong miệng cô. Cả người cô như ngây ngất trong những
hương vị tuyệt vời đó.
Tiếng bà Ba đều đều, cô nghe như trong một giấc chiêm
bao êm ái:
“Con gói bánh đẹp nên ăn mới ngon được như vầy. Nhưng
có một điều còn quan trọng hơn cả những món ngon vật lạ nữa, đó chính là tình
thương của chúng ta đối với nhau, lưu truyền từ đời trước qua đời này và những
đời về sau nữa, phải không bây?”
Tết sắp tới. Còn biết bao nhiêu món ăn ngon đang chờ đợi
nữa, nào mứt, nào bánh, nào trái, nhưng cô Thuỷ Tiên chỉ thấy có một thứ ngọt
ngào hơn hết thảy, đó chính là mùa xuân vừa khẽ khàng bước vào căn nhà ấm cúng ở
miền quê yên tĩnh này.
Trần C. Trí
2026
_________________________________
1 Đón
Xuân Này Tôi Nhớ Xuân Xưa (1967) – Anh Châu & Châu Kỳ
2 Xuân
Này Con Không Về (1969) – Trịnh Lâm Ngân – Loan Thảo
3 Chúc Mừng Xuân (1969) – Thanh Sơn
Mùa Xuân Ngọt Ngào - Truyện / Ký - Việt Báo Foundation – A Nonprofit 501 (c)(3) Organization
Anh Phước chuyển











