Saturday, March 28, 2026

Nó & Biến Thiên Cuộc Đời - Lê Phi Ô


Chuyện thật kể về một người Lính VNCH trước và sau 30 tháng 04 năm 1975.


Tôi biết Nó từ khi hai đứa còn cắp sách đến trường ở bậc Tiểu Học, rồi cả hai chúng tôi cùng vào năm Đệ Thất trường Trung Học công lập Phan-Bội-Châu, Phan-Thiết.

Quê Nó tận ngoài xứ Huế xa xôi, Mẹ nó...một Cụ bà khoảng tuổi 50, sở dĩ tôi gọi là Cụ bà vì với tuổi tác của một đứa trẻ hơn 10 tuổi như tôi lúc đó, thì người lớn cở tuổi 50 đối với chúng tôi phải gọi là Bà. Bà cụ dáng vóc nhỏ nhắn, khi ra đường lúc nào cũng mặc chiếc áo dài, đôi khi người ta thấy Bà đeo một chiếc vòng nơi cổ theo như cách phục sức của hầu hết đàn bà xứ Huế. Bà có tài về gia chánh, Bà nấu những món ăn xứ Huế ngon tuyệt, nghe nói Ông Ngoại nó khi xưa làm Quan ở Triều Đình nên con cháu, nhất là con gái phải đi học về nữ công gia chánh. Ba nó lớn hơn Mẹ nó một con giáp, Ông cụ là một nhà Nho và là bạn rất thân với Cụ Tản-Đà Nguyễn-khắc-Hiếu. Trước 1945, Ông Hồ-chí-Minh mời Ba nó làm cố vấn cho Việt Minh ở Liên-khu 5 (Quảng-Nam, Quảng Ngãi, Bình-Định và Phú-Yên), Ông cụ không thích cộng-sản nên từ chối khéo. Khuyến dụ không được, bọn chúng bắt cóc Ông đưa vào vùng "kháng chiến". Mãi cho đến khi Ông lâm trọng bệnh bọn chúng mới cho Ông về Đà-Nẳng để chửa trị...và Ông đã tìm cách trốn vào Sài-Gòn, Ông sống với nghề viết Báo và dạy kèm chử Nho (môn Cổ Ngữ) cho những người chuẩn bị thi Cử Nhân. Thời Pháp thuộc, ở Sài-Gòn có một tờ Nhật Báo "Thần Chung", tên nầy do Ông đặt ra.

Khi Ba nó trốn đi, bọn Việt Minh cộng-sản bắt mẹ con Nó làm con tin và giữ hai mẹ con trong vùng rừng núi Quảng-Nam, dân địa phương gọi nơi đó là trên "Nguồn". Lúc đó Nó chỉ mới 5 tuổi, Chi bộ Việt Minh ở đó, gom tất cả trẻ em từ 5 đến 12 tuổi, dạy cho bọn trẻ cách canh gác và báo động khi thấy lính Lê-Dương đi ruồng bố. Một hôm, vì ham chơi, bọn Lê Dương đến rất gần...Nó vừa kịp đưa nón lá lên quạt (ám hiệu báo động có lính Pháp) thì nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Thằng nhỏ cùng tuổi với Nó trúng đạn chết ngay tại chổ, riêng Nó bị té xuống mương nước nhưng ráng chịu đau...đứng dậy chạy dưới lằn đạn. Bọn lính Lê Dương mang đồ nặng và giày Đinh chạy dưới ruộng nước chậm chạp nên không bắt kịp Nó. Tai nghe văng vẵng tiếng Mẹ nó gào khóc từ xa: "Chạy con ơi !...chạy !". Cả xóm độ vài ba chục người gồm người già, đàn bà và trẻ con chạy trối chết vào sâu trong núi trốn, mấy ngày sau mới dám mò về làng vì đói. Còn Việt Minh CS thì không thấy thằng nào cả, bọn nó bỏ cả dân chúng chạy trước để thoát nạn.

Vì rừng thiêng nước độc, đau yếu không có thuốc men, hai mẹ con bị sốt rét rừng đầu rụng hết tóc, da vàng như nghệ và coi bộ không sống nỗi. Bọn Việt Minh CS mới cho mẹ con Nó về Nam-Ô (Quảng-Nam) để chửa trị, trên đường về phải luồng lách qua nhiều cánh rừng. Khi ngang qua một trảng trống có vài miếng ruộng nhỏ...máy bay Pháp thấy nên sà xuống bắn. Mẹ nó trốn trong bụi Dứa, còn Nó nằm nép sát bờ ruộng giả chết (theo lời dặn trước của Việt Minh). Khi máy bay đi xa, cả hai mẹ con chạy trối chết đến chiều mới ra được bờ sông, từ đây phải chờ ghe của mấy người đi vớt củi trên sông để đi nhờ về chợ Nam-Ô khoảng gần mười cây số.

Lợi dụng cơ hội hiếm có, cả hai mẹ con trốn thoát bằng đường biển vào Phan-Thiết sống nhờ bà con. Thời gian ở Phan-Thiết, mẹ con Nó nhiều lần vào Sài-Gòn tìm Cha. Ông giờ đây già yếu, Nó sống với Cha không bao lâu thì Ông chết. Dạo đó, báo chí Sài-Gòn trên tờ Phân-ưu có viết: "Cụ Lê Cương Ph. nhà Nho cuối cùng của làng báo Việt-Nam không còn nữa !", trong lúc hấp hối, Ông cụ có viết để lại hai câu đối: "Bể trầm luân theo chúng lội ra khơi, sáu mươi năm nào giận...nào cười...nào khóc...nào thương. lăn lóc vở tuồng trên vũ trụ - Cuộc phiền não khiến mình qua đủ cửa, ba thước đất hết dại...hết khôn...hết ngu...hết trí, rỏ ràng hạt bụi giữa tan thương !".

Số phận Nó long đong, ở Phan-Thiết cũng không bao lâu. Người bà con là một viên chức Chính-Phủ bị Việt Minh CS sát hại, người khác bị thương nặng trong một cuộc phục kích. Gia đình ly tán từ đó, mẹ con Nó dìu dắt nhau vào Sài-Gòn sống nhờ một gia đình bà con khác. Ông nầy là dân nhà Binh nên nay chổ nầy mai chổ khác. Nó đã từng theo Ông sống ở Thủ-Đức (trong trường Bộ Binh), rồi Vũng-Tàu, Cà-Mau, Cần Thơ, Mỹ-Tho, Gia-Định rồi Thủ-Đức..v..v.., do đó việc học nhiều lần cũng gián đoạn. Khi hai đứa chúng tôi còn học chung ở bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp, vào những dịp trại hè hoặc liên hoan ở trường, Nó thường lẻn trốn ra ngồi một mình nơi chổ vắng. Tôi hiểu bạn tôi, tâm trạng của kẻ nghèo, mồ côi Cha...nhất là khi nhìn những người khác, cha mẹ đủ đầy, đi có người đưa...về có người đón. Trước khi Mẹ con Nó trốn thoát vào miền Nam, tài sản...tiền bạc bị bọn Việt Minh CS cướp sạch bằng chiêu bài "Ủng hộ khán chiến". Khi vào được trong Nam, tuy sống với bà nhưng Mẹ nó cũng phải làm việc để có tiền nuôi Nó ăn học, lúc nào Nó cũng chỉ đi, về một mình...!

Năm 1962, hai đứa gặp nhau ở Sài-Gòn, Nó cho biết là đã nộp đơn tình nguyện vào Khóa 15 Liên Trường Vỏ-Khoa Thủ-Đức. Mẹ nó già yếu lại mang bệnh suyển, chút it nữ trang dành dụm khi trốn thoát Việi Minh CS vào Phan-Thiết, tuy sống tiết kiệm tối đa nhưng nay cũng đã cạn kiệt...hơn nữa, ở Tỉnh nhỏ lúc đó chỉ có trường dạy đến lớp Đệ Tứ, muốn học Đệ Nhị cấp phải vào Sài-Gòn. Vừa hoàn tất bậc Trung Học ở Sài-Gòn thì mẹ Nó cũng không còn đủ sức để nuôi Nó ăn học. Trước đó 2 năm, Nó đã xin gia nhập vào "Biệt-Kích Nhảy Bắc": Sở Bắc hay SB (Special Branch). Vì nghe đồn, đơn vị nầy trước khi đi vào lòng Địch (ở miền Bắc) sẽ được nhận trước 12 tháng lương tiền Tử-Tuất. Nó nghĩ, đi lính trước sau gì cũng chết...nhưng it ra, trước khi chết Nó đã có 12 tháng lương tiền Tử để lại cho Mẹ nó sống khi không còn có Nó ! Nhưng là người Nam, muốn được chọn thì phải là người miền Bắc và nói giọng Bắc, nên Nó không được tuyển dụng.

Khi còn học ở Vũng-Tàu 1959, Nó quen một cô bạn cùng trường tên Ph....khá xinh. Nhưng không lâu sau đó, ông Chú nhà binh của Nó đổi đi tận Cà-Mau, Nó phải đi theo. Cuộc đời của Nó là cả một chuổi dài bất hạnh nối tiếp nhau, đôi khi muốn viết thư cho cô bạn nhưng sợ gia đình cô ấy biết được sẽ phiền phức cho cô ấy, nên Nó đành câm nín !

Đầu năm 1963, lúc còn đang học trong Quân trường Thủ-Đức, Nó viết thư cho Ph., và chờ đợi với niềm hy vọng mong manh...thời gian xa cách quá lâu, không biết Ph. còn ở Vũng-Tàu hay không, có còn nhớ đến người bạn mà, đã có lần hai đứa đã nép sát vào nhau dưới mái hiên dài vắng lặng trong một đêm mưa nặng hạt, với tiếng sóng biển rì rào và tiếng gió rít rợn người vọng về từ đỉnh núi...khiến Ph. sợ hãi nép sát vào người Nó hơn. Rồi cả hai thẹn thùng...khi nhận ra rằng vòng tay hai người đan nhau không biết tự bao giờ !!!

Hơn một tháng sau, trước giờ ra bãi học chiến-thuật Nó nhận được thư hồi âm của Ph., "May quá Ph. vẫn còn ở chổ cũ !" thảng thốt gọi tên Ph. và với thái độ không được bình tỉnh, Nó mở thư ra xem...bổng người Nó chao nghiêng, lá thư rơi xuống đất. Anh bạn đứng kế bên cúi xuống lượm lên trao cho Nó và, đột nhiên anh ta nói lớn với viên Sĩ-quan cán bộ: "Thưa Chuẩn-Úy, Anh P.O trúng gió !". Tai Nó ù lên, nhiều tiếng nói lao xao...rồi tiếng xe Hồng Thập Tự thắng gấp, Nó được hai anh Quân Y đưa về bệnh xá.

Lá thư trong tay Nó là một thiệp cưới báo tin ngày Ph. lấy chồng !!! cuối thiệp cưới Ph. viết: "Ph. lấy chồng, P.O có buồn lắm không ?!". Từ đó, cho dù những buổi học Chiến-thuật hoặc Địa hình ngoài bãi tập mệt đến nhoài người...Nó vẫn cứ đều đặn mỗi tối xuống Câu-lạc-bộ "Diệm-Song", gọi ly café đen với một gói thuốc lá, ngồi hút liên tục. Trước khi trở về doanh trại, Nó thường yêu cầu cô Cashier cho Nó nghe bản nhạc "Tà Áo Cưới" của Hoàng-thi-Thơ và Nó khe khẻ hát theo: "Bâng khuâng trong gió bay tà áo, gió hỡi làm sao bớt lạnh lùng ! - Tôi đi, đi mãi theo màu nắng, nắng để lòng tôi với quạnh hiu !"

Sau ngày mãn khóa, Nó theo học khóa căn bản Tình Báo ở trường "Cây Mai" Sài-Gòn, và xin về phục vụ tại Phòng 2 Tiểu-khu Phước-Tuy. Lúc đó Vũng-Tàu chưa tách rời thành Thị Xã mà là một Quận của Tỉnh Phước-Tuy. Mỗi cuối tuần Nó thường thơ thẩn ở bãi trước đường ra bãi Dứa gần Dinh Thượng. Nơi đây bãi cát trắng phau xen kẻ những ghềnh đá mà mỗi cơn sóng vỗ làm tung những bọt nước trắng xóa. Nó, vẫn chỉ một mình ngồi cho đến khuya trong không gian tỉnh lặng, nghe sóng nước rì rào, nghe tiếng Thùy-Dương vi vu vọng về từ bãi trước...những vết chân tình in trên cát thuở nào nay đã mất dấu, cảnh cũ vẫn còn nhưng người xưa mãi mãi biền biệt phương nào !!!

Chiến cuộc lan tràn...trận đánh lớn nhất xảy ra tại Làng Bình-Giã, Quận Đức-thạnh đã gây một số tổn thất cho quân của Chánh Phủ VNCH, trong đó Tiểu-đoàn 4 TQLC là thiệt hại nhiều nhất.

Phòng 3 Tiểu-khu Phước-Tuy quyết định thành lập những toán Thám-sát lấy tên là Quyết Tử, lính được tuyển chọn là những quân nhân gan dạ và tình nguyện từ các Đại-đội biệt lập hoặc thành phần cựu binh từ các Quân, Binh Chủng bị báo cáo đào ngũ với nhiều lý do khác nhau như Dù, TQLC, BĐQ..., Nó được chọn để chỉ huy đơn vị Thám-sát "Quyết Tử" nầy, ban đầu quân số chỉ ở cấp Trung-đội sau lên đến Đại-đội (-) khoảng trên 60 người.

Đang phục vụ trong nghành Quân Báo tương đối it nguy hiểm, nhưng không hiểu sao Nó làm đơn xin ra khỏi nghành và tình nguyện phục vụ bất cứ đơn vị tác chiến nào với lý do đơn giản: "Thích đánh giặc" ! Trong thời gian còn làm việc ở ngành Quân Báo, Nó chỉ huy chỉ một Trung-đội, đôi khi một Tiểu-đội Tình Báo, đột kích vào sào huyệt việt cộng như Mật khu Minh-Đạm, Dinh Cố, Long-Mỹ, Núi Đất...nhất là vùng Long-Tân thuộc Quận Long-Lễ Tỉnh Phước-Tuy, nơi mà quân đội Úc hãnh-diện có một trận đánh để đời. Chỉ với một Tiểu-đội 10 người Nó đã gây hoảng loạn và tổn thất đáng kể cho các đơn vị địa phương việt cộng trong vùng mà bọn VC gọi là "Vùng giải phóng", vì thế Nó được chọn chỉ huy đơn vị Thám-sát Quyết Tử.

Tình hình chiến sự trở nên tồi tệ sau ngày đảo chánh 01 tháng 11 năm 1963, những cuộc chỉnh lý tiếp theo của cấp Tướng Lãnh ở trung ương khiến tình hình ở địa phương càng thêm bi đát. Ấp chiến lược bị dẹp bỏ, lính tráng tự động rã ngũ hoặc đào ngũ, mỗi Đại đội quân số lúc đó không tới 40 người. Bọn cộng-sản lợi dụng tình hình rối ren của miền Nam mở rộng hoạt động phá hoại từ "Chiến tranh Du Kích" chuyển sang "Trận Địa Chiến", điển hình là trận đánh Bình-Giã tháng 12 năm 1964. Mẹ nó, đêm đêm hướng mắt về vùng có Hỏa Châu soi sáng hoặc có tiếng Đại-Bác vọng về, Bà cầu nguyện cho đứa con duy nhất của mình được an lành trên đường dài chiến chinh. Trong một trận đánh lớn tại Xuyên-Mộc tháng 03 năm 1965, Nó bị thương nhưng không nặng. Sau khi xuất viện, Mẹ nó thường ước ao mong sao Nó lấy vợ sớm để Bà có cháu nội. Trong thâm tâm Bà, súng đạn vô tình, lỡ có mệnh hệ nào xảy ra cho Nó...Bà sẽ sống với ai ! - Thương Mẹ, Nó lấy vợ và tháng 07 năm 1966...Bà đã có cháu nội để ẳm.

Cũng cùng thời gian đó, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, với một lý tưởng Quốc-gia trong sáng và với bộ quân phục mặc trên người mà Nó luôn luôn hãnh diện. Thì cũng có, một vài cấp chỉ huy phe phái, chèn ép...Nó đã đụng độ với một sĩ-quan đồng cấp "người nhà" của "Xếp" lớn. Và, Nó bị thuyên chuyển đi nơi khác...nơi mà, rừng núi bạt ngàn, nơi mà việt cộng nhiều hơn lính, nơi mà có hai Quận (Chi-khu) hắc ám nhất: Tánh-Linh và Hoài-Đức (Võ-Xu, Võ-Đắt).

Cuộc chiến Việt-Nam chấm dứt ngày 30 tháng 04 năm 1975. Ngày bi thảm của lịch sử ! Theo cùng vận nước nổi trôi...Nó cùng nhiều trăm, ngàn Quân, Dân, Cán, Chính VNCH khác mà con số lên đến hàng triệu người...trở thành người tù của chế độ mới, chế độ cộng-sản man rợ trên tất cả sự man rợ. Bọn việt cộng muốn trả thù người Lính miền Nam qua mỹ từ "Trại cải tạo".

Năm 1978 Tù "cải tạo" được giao cho công an cộng-sản giam giữ. Giáng sinh năm đó, tại trại tù Suối Máu, Biên-Hòa. Anh em tù nổi dậy, phá rào ngăn cách các trại giam, ca nhạc Giáng-sinh và nhạc Chính-Huấn VNCH suốt đêm. Nó tham gia tổ chức trừng phạt Ăng-ten, dạy bài học đích đáng cho những tên phản bội anh em, hoặc những người có thân nhân là việt cộng muốn lập công "để được cho về sớm" ?!.

Vài tuần sau, bọn công an bắt đầu trả thù, Nó cùng 3 người khác, mỗi người bị nhốt riêng trong một thùng sắt Container, trên người chỉ duy nhất một chiếc quần xà-lỏn, ban ngày nóng như thiêu đốt, ban đêm lạnh cắt da của thời tiết mùa Đông. Cứ hai ngày thì bị công an dẫn đi thẩm vấn một lần, thỉnh thoảng bị đánh đập...Công an tha hồ chửi mắng, thoi, đạp bằng tay, chưn và cả báng súng, riêng Nó bị đánh nặng. Anh Trương quang Q. là bạn cùng khóa với Nó, hàng ngày mang cơm nước đến Container cho Nó, và ngày nào cũng mang cơm thiu về vì Nó bị công an đánh ói máu không ăn uống gì được. Anh Q. phải nấu cháo và hòa tan mấy viên thuốc trụ sinh vào trong cháo khuyên Nó ráng ăn để sống. Vài tuần sau, một người trong nhóm có tên là Long Ca-rô, vì anh chỉ có độc nhất một chiếc áo ca-rô mặc trên người, bị đánh bằng báng súng vỡ sọ chết. Từ đó những người còn lại không bị công an đánh nữa.

Chừng vài tháng sau ngày tù nhân Suối Máu nổi dậy, bọn công an thanh lọc những người tù có thành tích chống đối nhiều nhất, trong đó có Nó, giải giao về khám Chí-Hòa Sài-Gòn. Nơi đây, người tự xưng là cán bộ "chấp pháp" có tên là Trạc, lần lượt thẩm vấn từng người. Tù nhân bị dẫn đến phòng hỏi cung ban đêm, đầu bị trùm kín mít chỉ chừa 2 con mắt. Sau nhiều tháng nằm khu xà lim, tù được chuyển ra khu tập thể. Vào một đêm nhà tù Chí-Hòa đang chìm trong giấc ngủ, đám tù nhân nổi dậy ở Suối Máu bị đưa ra xe bít bùng, mỗi người được cấp phát một ổ bánh mì nhỏ với 2 cục đường tán, không có nước uống. Khi đọc đến tên Nó, thằng công an hằng học: "Anh làm tới Tiểu-đoàn Trưởng, chắc là phải giết nhiều người lắm !", nhưng cũng nhờ đứng gần Nó đọc được nơi trang giấy trên tay thằng công an: "Họ, tên 163 can phạm trại Tân-Hiệp (Suối Máu)", đây chỉ là danh sách đợt đi có mặt Nó. Trên đường đi, mỗi khi xe dừng lại để bọn áp tải tù nhân nghỉ ngơi ăn uống, đồng bào nghèo buôn thúng bán bưng biết được xe chở tù "Cải tạo" là họ kêu ầm lên: "Bà con ơi ! xe chở mấy anh tù cải tạo, bà con ơi...!", thế là, đủ loại bánh kẹo, trái cây, bánh tét, bánh ú, đồng bào liệng tới tấp lên xe, kèm theo lời nói làm anh em tù xúc động vì biết được rằng đồng bào vẫn còn thương những người lính miền Nam sa cơ: "Ăn đi mấy anh, ăn đi các con...!", cảm động nhất là các em bé tuổi từ 10 đến 12, trong cái Nia hoặc Rổ nhỏ vỏn vẹn vài chục trái chuối nấu hoặc mía ghim, cả một "gia tài" nuôi sống gia đình trong ngày, các em hất hết lên xe biếu các chú tù !

Xe chạy đến chiều ngày hôm sau thì tới Xuân-Phước thuộc Huyện Đồng-Xuân, Phú-Khánh (tên gọi mới của việt cộng), tù phải lội bộ vài cây số mới đến trại mang bí số A20, còn có tên gọi khác là Trại Trừng-giới hoặc Trại Kiên giam...nơi kiên trì giam giữ những tù nhân "không cải tạo được" từ các trại giam khác (muốn biết trại giam nầy khắc nghiệt và tàn độc đến mức độ nào, xin tìm đọc cuốn sách: "Trại Kiên Giam" của nhà văn Nguyễn-chí-Thiệp cũng là người tù của trại A20).

Nó bị bộ đội cộng-sản bắt lúc 09:00 giờ sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975 tại chợ mới Vũng-Tàu, trước khi Ông DVM tuyên bố đầu hàng. Bị đưa về giam tại hậu cứ Trung-đoàn 43/SĐ18BB tại Long-Khánh. Khi các người khác trình diện "Học tập cải tạo" (theo cách nói của VC) thì Nó bị nhập chung vào và bị giam giữ ở trại Hố-Nai. Giữa năm 1976 Nó bị chuyển về Suối Máu rồi Chí-Hòa. Từ 30 tháng 04 năm 1975 đến giữa năm 1979 (4 năm), Vợ Nó thăm hoặc gởi quà tất cả 6 lần.

Đầu năm 1976, khi còn bị giam tại Hố-Nai, Vợ nó báo tin Mẹ nó chết. Đau đớn đến tận cùng, Nó toan trốn trại mấy lần. Bất ngờ bị chuyển về Suối Máu nên ý định bất thành...và cũng thời gian nầy, những gia đình ở Bà-rịa thăm nuôi chồng, các bà xầm xì với chồng cũng là bạn tù của Nó về Vợ nó...it gởi quà hoặc thăm nuôi Nó, và cuối cùng Nó cũng hiểu được rằng: Vợ nó bây giờ không còn là của Nó nữa, tiếc rằng quá sớm, quá sớm để thay lòng đổi dạ một con người, chuyện xảy ra chỉ hơn một năm kể từ ngày Nó bước chân vào trại tù.

Nó lầm lì it nói hơn, suốt ngày anh em thấy Nó may vá cái ba-lô lấy vải từ chiếc võng nhà binh đã cũ, nếu tinh ý sẽ thấy Nó đang chuẩn bị cho một cuộc trốn trại. Và, lũ chó săn (Ăng-ten) cũng có đứa tinh ý nên...chỉ trong vòng 4 tháng, Nó bị chuyển từ K2 đến K4, rồi K3 và về lại K2 (Trại tù Suối Máu có 5 khu, từ K1 đến K5). Cho đến đêm Giáng-Sinh năm 1978, cuộc nổi dậy của tù nhân Suối Máu khiến cho bọn VC sợ hãi điều động bộ đội và cả Trung-đoàn xe Tăng T54 bao vây bên ngoài...và, Nó có tên trong số tù nhân bị chuyển về nhà tù Chí-Hòa như đã nêu trên.

Ở trại tù A20 Xuân-Phước, mọi tù nhân đều bị lao động khổ sai, đào mương, vét cống, cuốc đất trồng khoai mì, kéo cày thay trâu v..v.. Mỗi người chỉ nhận được 2 chén khoai mì H34 với nước muối cho một bửa ăn, loại khoai mì H34 chỉ để dùng trong kỷ nghệ chế biến, cho heo ăn, Heo cũng không thèm ăn.

Suốt 6 năm tù sau cùng...Nó chỉ ăn toàn bắp, khoai mì H34 với nước muối. Vào dịp tết âm lịch, Nó cũng như mọi tù nhân khác được ăn hai bửa cơm, mỗi bửa 2 chén cơm lưng, với một cục thịt heo lớn bằng ngón tay, và chỉ có thế. Mẹ chết, Vợ bỏ, tứ cố vô thân không ai thăm hỏi, sức lực không còn thêm vết thương tinh thần quá lớn làm Nó suy sụp thấy rỏ. Một hôm đang lao động, Nó ngã gục vì kiệt sức, may nhờ có Bác-sĩ Trần-quý-Nhiếp Thiếu Tá Nhảy Dù ở chung một nhà tù với Nó cứu chửa kịp. Không có thuốc men gì cả, Anh Nhiếp châm cứu Nó bằng những cây kim làm bằng giây điện thoại lượm được khi đi lao động. Tình trạng đói khát và lao động khổ sai nầy nếu kéo dài...có lẽ Nó không thể nào sống nổi.

Một hôm đang đào ao cá trong trại, Nó gặp anh Ph. ở đội Văn Thể (Văn nghệ - Thể thao) rủ Nó xin về đội Văn Thể để đở phải lao động ngoài nắng. Anh Ph. là một kép hát cải lương (hiện còn ở VN), bị án tù 10 năm về tội "Phản cách Mạng" khi tham gia vào một phong trào phục quốc sau 30 tháng 04/1975. Anh Ph. biết rỏ Nó có nghề Ảo thuật, Nó là bạn của Nhạc-sĩ Bảo-Thu tức Ảo-thuật-Gia Nguyễn-Khuyến. Chỉ còn con đường cuối cùng là vào đội Văn Thể may ra mới có thể sống còn để về với 4 đứa con, mà đứa lớn nhất 13 hoặc 15 tuổi (1981).

Gần cuối năm 1981, một anh trong đội Văn Thể gọi Nó lên nhận quà của gia đình gởi. Phản ứng đầu tiên là Nó giận dữ và cay đắng nói với anh ấy: "Anh còn cách nào đùa giởn hay hơn nữa không ?!". Ai cũng biết, nhiều năm nay Nó là "con Bà Phước", những ai không bà con, họ hàng thân thích, không hề nhận được chút quà bánh nào từ bên ngoài gởi vào, anh em đều gọi là con Bà Phước. Nhưng thật tình Nó có quà thật, quà của "Vợ" nó gởi ! một gói quà nhỏ gần 2 ký lô, trong chứa thức ăn để dành được lâu ngày vì người tù không có điều kiện để nấu nướng. Một anh bạn khác nhìn thấy Nó đang mân mê gói quà trên tay, anh mừng rỡ nói: "Mầy cũng có...quà hả ?!", câu nói đầy thiện ý, mừng giùm cho bạn nhưng sao Nó nghe như một lời mĩa mai: "Mầy mà cũng có quà nữa sao ?".

Năm 1982, Nó có tên trong số người được thả về, trại tù cấp phát $70.00 tiền VC lúc đó, số tiền chỉ đủ để đở đói lúc đi đường thôi. Nó được công an trại tù chở bằng xe ra tới Ga xe lửa La-Hai, từ đây Nó đón Tàu về Biên-Hòa. Trên đường đi, mỗi khi Nó ăn uống gì xong, khi gọi tính tiền, những người bán hàng đều trả lời: "Có người trả rồi", năn nỉ mãi người bán hàng cũng không chịu nói là ai đã trả tiền giùm Nó. Nó đành phải cám ơn người bán (người bán hàng có thể là một Ông già, một Chị, một cô Gái hoặc một em nhỏ tuổi chừng 15, 16). Một chút xúc động về tình người làm tim nó cảm thấy ấm áp, cái cảm giác mà Nó tưởng chừng đã tê liệt suốt những năm tháng tù tội. Hành trang của Nó khi ra khỏi trại tù cộng sản chỉ vỏn vẹn một bàn chải đánh răng đã cùn, một bộ đồ mặc trên người với hàng trăm mảnh vá, trên lưng áo cũng như hai bên ống quần còn nguyên dấu hai chử "cải tạo" bằng sơn đen to tướng. Nhưng cũng nhờ thế, ai thấy cũng muốn giúp đở, ăn uống gì xong người bán đều trả lời: "Đã có người trả tiền !".

Về đến chợ Biên-Hòa lúc 04:00 giờ sáng, có người chỉ cho Nó tìm mấy xe hàng chở Dưa Hấu, họ sẽ đi Bình-Giã chở Dưa lúc 06:00 giờ. Người Tài xế tốt bụng cho Nó đi nhờ xe về "quê vợ" Nó ở Bà-Rịa.

Hơn 08:00 giờ sáng xe tới Bà-Rịa, Nó lững thững đi bộ về "Nhà". Khi ngang qua một tiệm bán Bún Bò Huế, một người gọi tên Nó: "Ê, P.O vào đây !", Nó quay lại thấy X. "Pháo-Binh", anh bạn nầy được thả về trước, trên tay cầm xấp vé số. X. lôi Nó vào quán, lần đầu tiên sau 7, 8 năm Nó mới được ăn một tô bún bò ngon như thế. Hai người ăn xong, đang xỉa răng thì X. ngập ngừng: "Trước hết, mầy hảy bình tỉnh nghe tao nói !". Nó biết X. sẽ nói gì...vì từ lâu Nó đã chuẩn bị tinh thần để nghe chuyện nầy. X. tiếp: " Sau khi tao nói xong, mày muốn về thì...về, còn như không muốn về thì...mầy theo tao, ở tạm nhà tao rồi tính sau !"...và, với giọng trầm buồn X. kể những điều nghe, biết về "Vợ" nó. Nó ngồi nghe X. kể với gương mặt giá băng và bất động, duy chỉ có ánh mắt là không thể nào dấu được nét xúc động !

Thằng X. thương bạn nhưng không biết phải làm sao ! X. gọi café sữa đá cho hai đứa. Nó không thể nào uống nổi một hớp dù chỉ là một hớp nhỏ. Không gian như ngừng đọng, khi thằng X. lay khẻ tay Nó như chợt tỉnh, nói nhỏ với X. như nói với chính Nó: "Tao phải về, từ lâu...tao chưa được gặp con tao, tụi nhỏ bây giờ chắc...lớn lắm !"

Gần một tháng sau ngày về "Nhà" gặp được mặt con, người ta thấy Nó khiêng vác ở chợ cá Bà-Rịa. Ban đêm Nó ngủ ngồi ở sạp cá, dù mõi mệt cách mấy Nó cũng không dám nằm, Nó không muốn người ta thấy Nó...tàn tạ như vậy ! Vào những đêm trăng, mấy người đi Chùa ở Xóm Cát, khi ngang qua Nghĩa-địa Việt-Hoa, thỉnh thoảng có người nhìn thấy Nó ngồi...khóc trước Mộ của Mẹ nó...Nhiều người ở Bà-Rịa đều biết cái chết thảm thương của Bà Cụ, nhất là hai mẹ con cô Th..., Y-tá làm việc trong bệnh viện. Người ta nói, khi mẹ nó bị bệnh không biết nặng nhẹ, "Vợ nó" mang vào rồi quay lưng như người xa lạ. Bệnh viện thời việt cộng (tháng 01 năm 1976) không có trách nhiệm nuôi ăn bệnh nhân, các con của Nó thì còn quá nhỏ, đứa lớn nhất chỉ mới 9 tuổi, vài ngày sau Mẹ nó chết...vì đói !!! Đám ma mẹ nó chỉ có một người duy nhất mang hòm đi chôn, đó là Cậu em vợ của Nó. Người hàng xóm cho 4 tấm ván tạp để đóng hòm, tạm gọi là hòm vì 4 tấm ván kích thước, dày, mõng khác nhau.

Đôi khi uất ức về cái chết thảm thương của mẹ nó, Nó đã gói sẳn con dao bén nhọn trong tờ báo...nhưng khi nghĩ đến những đứa con, Nó không muốn các con của Nó mồ côi Mẹ hoặc Cha, hoặc cả hai !

Năm 1988, Nó vượt biên bằng ghe và định cư ở California tháng 03 năm 1989.

Người đàn bà nguồn hy vọng cuối cùng của Nó khi ra khỏi tù, có với nhau 4 đứa con đã phản bội Nó trong tháng ngày tù tội, nghiệt ngã... cùng sống trên mảnh đất nầy. Làm thơ, viết văn...lại được tán dương, ca ngợi hết lời ! Nó im lặng, thở dài, ngao ngán ! Trường hợp của Nó, bạn bè đều biết, đôi lần muốn chia sẻ...nhưng Nó vẫn giữ im lặng!


Lê Phi Ô

Người Xa Có Về - Đỗ Công Luận

Những Cánh Dù Không Về Đến Điểm Hẹn - Nguyệt Hằng

 

Kính tặng các anh chiến sĩ Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù, để hoài niệm đến những cánh Dù không về đến điểm hẹn......

Anh bảo tôi viết lại những kỷ niệm về Tiểu Đoàn 7, về Dương Thuyết Phong , về "Cuối cùng cho một tình yêu"... 

*****

Anh Phi thân mến, những năm tháng bình yên nơi xứ người đâu phải ngắn ngủi, đã gần 30 năm rồi phải không Anh, chiến tranh đã chấm dứt từ lâu, nhưng mặt trận miền Tây nơi tôi vẫn không... yên tĩnh nổi.

Thỉnh thoảng tôi vẫn nằm mơ...

Người đi Tây tiến mùa Thu ấy, 

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Lòng tôi thương nhớ quặn đau khi nghĩ linh hồn Phong còn vất vưởng nơi chiến trường Campuchea xa lạ ấy, người ta nói rằng người chết ở đâu, linh hồn sẽ lẩn quẩn ở mãi nơi đó, như luyến tiếc, như cầu mong cái hình hài ấy thức dậy chuyên chở cho mình về lại kiếp người, để gặp mặt vợ con, thân nhân, bạn bè.


Chiến tranh đi nhanh và khốc liệt quá, nhiều khi mình không kịp nhận thức được cả tuổi xuân của tụi mình. Tôi nhìn ảnh Tuấn Phi ngày đó trẻ quá, anh Phong chết khi tuổi đời chắc cũng độ bằng anh dạo ấy, cũng cấp bậc Thiếu úy, Phong học Trung học Võ Trường Toản SG, trường sát ngay bên cạnh Trưng Vương. Rồi học năm thứ nhất ban Khoa học, thi rớt, động viên vào Thủ Đức năm 1968. Về binh chủng Nhẩy Dù, đi hành quân liên miên, thường vắng nhà đến nỗi, sau khi anh ấy chết, gia đình anh em xót thương nhưng không cảm thấy trống vắng, đó là sự thiệt thòi của những người lính ngoài mặt trận, họ vắng mặt nơi mái ấm gia đình quá nhiều nên người thân cũng quen dần đi. Đâu đó trong tâm tưởng vẫn còn lẫn lộn tưởng chừng như các anh đang đi hành quân chưa về!!!


Anh Phi ơi, Phong chết tôi không được thấy mặt, nên tôi sống trong hoài nghi đau khổ chập chờn, tôi hy vọng một tối nào đó có tiếng chuông reo cửa của Anh về, tôi hy vọng Anh lạc trong rừng như chuyện kể của những người lính tìm đường về đơn vị sau chiến trận Hạ Lào, sau khi đơn vị đã báo tin chết không tìm thấy xác. Tôi hy vọng ác đức và ích kỷ là xác ấy không phải là Anh Phong mà là của một người nào đó... Tôi chờ đợi mãi, ngày tháng nguội dần, chợt bùng lên như ngún lửa mong manh sau hiệp định ngưng bắn 73, trao trả tù binh đôi bên, tôi mua báo đọc hàng ngày với một hy vọng nhiệm mầu có tên Dương Thuyết Phong trong danh sách trao trả tù binh, ngày qua ngày, tháng qua tháng tiếp nối, và bảng danh sách cứ ngắn dần rồi chấm dứt trong vô vọng. Nỗi trông đợi không tưởng ấy như tôi tự đánh lừa chính tôi. Phong ơi!!!!, dù bạn bè và gia đình Phong xác nhận đúng là Anh đã chết nhưng em vẫn chờ đợi, mỗi một mùi hương, một bài hát là một kỷ niệm nhớ thương. Anh hiền lắm, tụi mình chẳng mấy khi giận nhau, có đôi khi cãi nhau vu vơ, rồi em lại nghĩ ngày phép chẳng có là bao, giận hờn làm chi, giận nhau rồi kẻ ở nhà cũng hối hận, người ra đi cũng chùn bước hoang mang. Hùng Phi cứ nói giỡn với em, “... Anh trở về, viên đạn đồng đen, Em sang sông cho làm kỷ niệm..", em có làm gì cho nó giận không mà Anh cứ thấy nó hát hoài câu ấy nghe rét quá..” Bạn bè trong TĐ7, cấp th/úy, Tr/úy đều biết chuyện, có lần gần ngày thi Tú tài 2, em cúp cua nhiều quá nên bài vở ứ đọng, dịp đó TĐ về SG đóng quân ở Tao Đàn, em phải nhờ Anh giúp, chiều hôm sau em đến tìm Phong, chú lính cười cười, “Thiếu úy mới chép bài cho cô xong rồi, chắc ổng đi uống café bên quán, cô ngồi đợi một chút.” Sau khi anh chết, mỗi lần nhìn lại những trang vở với bút tích của Anh, em không thể nào cầm được nước mắt, nước mắt nhạt nhòa rơi xuống trang giấy, trong bóng đêm em ngậm ngùi mong hư ảnh Anh về, chiếc áo anh mặc cuối cùng em còn giữ, mùi hương vẫn còn đây, nhưng hình hài đã vùi lấp nơi miền gió cát thê lương. 

Em không hiểu là Anh có biết mình bị thương, hay cái chết đến quá bén ngọt đến nỗi Anh chưa kịp nhận thức ra, thì đã vội từ giã cõi đời. Em mong một lần nào cho em được gặp Anh để hỏi: Anh chết thật rồi sao? Em không tin là Anh đã xa em...thật xa như vậy!!! Em đi học, những giờ học trở thành buồn tênh vô nghĩa, em không còn nỗi náo nức nhìn đồng hồ mong cho sớm hết giờ, em tủi thân khi trên đường nhìn thấy áo hoa nón đỏ đâu đó ở phố phường... Em có gặp Chuẩn Úy Đàm đứng bâng khuâng nơi đường phố Lê Lợi, một cánh tay băng vải trắng quàng vai, khuôn mặt ngỡ ngàng của người lính trẻ về thành phố sau cuộc thử lửa 72 quá  kinh hoàng... Sàigòn sống vội sống cuồng, nhức nhối với tin chiến trận hàng ngày đưa về hậu phương..."Hỡi người chiến sĩ đã để lại chiếc nón sắt bên bờ lau sậy này"... Không!!! Anh Phong là người tình bằng xương bằng thịt của em, không phải là ảo ảnh của một người tình không chân dung!! Em không nghĩ là em đã mất Anh trên cõi đờì này. Em trông đợi Anh về hằng đêm, em nghe đâu đây tiếng đàn của Anh nơi chỗ đóng quân vườn Tao Đàn, em nghe mơ hồ bên tai lời Anh hát: "Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi. Tình có ghi lên đôi môi, Sầu có phai nhòa cuộc đời... "Và em vĩnh viễn thương tiếc...Những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ. Dù đã quên lời hẹn hò... Thời hoàng kim xa quá chìm trong phôi pha. Chờ đến bao giờ tái sinh cho Người..." Vâng, em chờ, chờ đến bao giờ tái sinh lại cho em một tuổi thanh xuân không ngớt lệ trần vì cuộc chia tay nghiệt ngã của hai đứa mình. 


Anh Tuấn Phi thân mến, những kỷ niệm bao năm ấp ủ, sầu không nguôi, tình không quên, tóc xanh đã phai màu với thời gian, nước mắt vẫn không ngừng rơi khi nhắc đến chuyện của đồng đội Anh, một người trai đã làm tròn bổn phận với núi sông, nhưng lại lỗi hẹn với người tình. Tôi đã đi hết hai phần ba của đoạn đường trần, tôi vẫn còn hoài nghi thắc mắc, có phải chết là hết không? Sao Anh Phong không một lần hiện về trong mơ với hình hài tan vỡ vì mảnh đạn hận thù, để chứng minh với tôi thật sự là Anh đã chết, để tôi yên tâm sống cho hết những ngày cuối đời không day dứt, và chờ gặp lại nhau, nối lại dòng đời của tuổi hai mươi.

Hoài niệm về Những Cánh dù không về đến điểm hẹn.


Em tiếp tục đi học trường tư, làm thư ký hạng bét cho ngân hàng Đông Phương và thi đậu tú tài 2, và em lấy chồng không cưới hỏi với một chàng Thiếu Úy Nhẩy Dù, Sống hùng, Sống mạnh... mà không có sống lâu, chàng tên là Dương Thuyết Phong, gia đình là dân Công giáo, đạo gốc, gia đình có người làm linh mục, nên họ quan niệm rất cổ nệ và gia giáo. Ra trường Thủ Đức, Anh Phong chọn ngay binh chủng Nhẩy Dù rồi Tiểu Đoàn 7, để xa nhà và được sống theo ý mình.

Tụi em vừa gặp lại nhau (vì Phong là bạn của Anh ruột em, cùng ở xóm cũ) rồi lấy nhau chỉ có 11 tháng, và Phong tử trận ngày 29 tháng 11 năm 1971 tại chiến trường Campuchea khi tuổi đời vừa được 24, trong khi em một người, nửa đàn bà nửa nữ sinh, mới vừa 19, em không được đến nhà nhìn mặt Phong lần cuối. Em nhờ Mỹ và Tuệ Tâm, là hai chứng nhân của cuộc đời em, mang hộ em vòng hoa đến viếng tang chỉ vỏn vẹn hai chữ Thương Tiếc trên băng vải tím buồn.
Em nhớ lá thư cuối cùng Phong viết về cho em, thầy bói nói là Anh không có số Xuất ngoại, vậy là sai rồi... Anh vẫn xuất ngoại không những vậy mà còn mang theo cả em, đó là tấm ảnh của em lúc nào anh cũng để nơi túi áo ngực... Đâu thể ngờ rằng Anh đã đi vĩnh viễn không về nữa. Kỷ vật cho em là một tấm thẻ bài và hai tấm ảnh của em, loang thẫm máu của Anh vào mặt sau tấm ảnh, mặc dù bạn của anh là Trung Úy Võ hùng Phi đã cố gắng phơi khô nhưng vẫn không hết mùi tanh của máu. Và ngày đưa Anh Phong đi về lòng đất, em đi lặng lẽ như bao người khách khác, bạn bè Anh, những người lính mà em cùng sống trong trại gia binh nơi Tam Hiệp, họ không có mặt ở đó vì họ còn đang miệt mài hành quân nơi sình lầy đất ruộng của xứ Campuchea xa lạ, chỉ có hai người bạn thuở còn đi học của Phong là biết chuyện của em và Phong.

Đám tang xong, mọi người đi về hết. Em một mình đứng lại ngẩn ngơ với cây thánh giá gỗ chơ vơ: Như vậy là Anh chết  thật rồi sao Phong???? Tại sao Anh chết? Em và anh, chẳng ai dám nghĩ có ngày hai đứa mình phải xa nhau oan nghiệt như thế này, vậy mà hôm nay anh lại là kẻ đào nhiệm vĩnh viễn khi cuộc hành trình của em và Anh mới chỉ ở bước khởi đầu!!!! Tại sao mảnh áo đài trang của người nữ sinh bỗng chốc lại trở thành màu áo tang bay phất phới nơi đồi trọc với hàng hàng lớp lớp tuổi trẻ trong khoảng khắc bỗng ngưng đời...?

Lá cờ vàng sọc đỏ phủ quan tài Anh giờ che nắng cho khối đất vô tri ấp ủ hình hài của chàng trai hiền lành không ngoan đạo. Anh nằm đó, bên cạnh người lính truyền tin của anh cùng chết với anh bởi quả đạn pháo kích, anh nằm xuống nước ruộng bùn của xứ Campuchea phủ ngập người anh. Trung Úy Phi chạy đến xốc Anh lên: “Miệng nó còn cười như đang nói chuyện với ai... Tối hôm qua nơi chỗ dừng quân, nằm toòng teng trên võng, tôi còn hỏi nó “mày có thấy lạnh cẳng không Phong?” Bàn tay vỗ lên ngực áo... nó trả lời “tao có bé Hằng đây, đâu có thấy lạnh lẽo gì…”


Anh chết như đi vào giấc ngủ của trẻ nằm nôi. Anh giờ đã yên phận Anh, còn em thì sao? Người ở lại biết làm gì cho qua những buổi sáng chờ thư từ mặt trận... 11 tháng làm người yêu lính em chẳng có được mấy ngày vui, dăm bẩy buổi ciné chạy trốn giả tạo vào Đất trời Phương Tây bình yên và tự do trong phim xứ người, một vài lần đi nghe nhạc Trả lại em yêu con đường học trò... với nhiều luyến tiếc, những quán cà phê thịnh hành với lời nhạc Anh trở về dang dở đời em, Ta nhìn nhau ánh mắt không quen... Không! Ta đã không còn được nhìn nhau nữa. Số phận đã chia em và Anh mỗi người một nơi, người đi về với lòng đất vô thức, kẻ ở lại với quay quắt nhớ thương từng kỷ niệm của tháng ngày đã qua. Em không còn nước mắt để khóc cho anh, em không còn nước mắt để khóc cho em, một người con gái nhẹ dạ của thời chiến tranh: Túy ngoạ sa trường quân mc vn, c lai chinh chiến k nhân hi....


Xưa nay chiến trận có mấy ai về Phong ơi!! Đứng bên cạnh mộ Anh, em không được vật vã khóc như những người vợ tử sĩ khác, em không được khóc ngã qụy với thân nhân dìu đỡ hai bên. Em một mình can đảm khóc ngậm ngùi cho sự chia tay quá ngắn ngủi của tụi mình, em ngước mặt nhìn trời giấu lệ với mọi người, em oán ai bây giờ!!! Trời cao rất cao, trời xanh rất xanh, nơi khoảng trời trong xanh ấy có thấy chăng một cánh dù bay mãi không về điểm hẹn Delta, bỏ lại nơi đây cuộc tình dang dở của mình em, những tưởng được làm lại cuộc đời, chỉ xin một cuộc đời tầm thường của người vợ lính như bao người khác mà trời chẳng chịu thuận cho. Liên tiếp 3 năm, để làm tròn một lời hứa, thứ bảy hàng tuần, em một mình đem hoa lên nghĩa trang Quân Đội, em thắp một tuần hương, em nhổ cỏ dại quanh mồ, đôi khi em chập chùng với ý nghĩ mình đến đây để làm gì, em tiếc thương anh, điều ấy không hề phủ nhận, hay em tội nghiệp em còn lại bơ vơ những ngày tháng chẳng biết làm gì, hay là em "kên" đời thách thức với gia đình anh đã không chấp nhận em, nên giờ em làm cho nư giận để Chứng Minh tình yêu của em??? Có khi em lên thăm mộ, gặp lúc gia đình Phong cũng lên thăm, em phải tránh mặt ngồi xa xa ngồi nhờ nơi ngôi mộ khác, người sống còn có thể đứng trú mưa nhờ nhà người lạ, đến thăm kẻ chết rồi có còn gì đâu, nhưng em vẫn phải tìm chỗ tránh mặt nơi ngôi mộ một người không quen... 


Những ngôi mộ mới vẫn tiếp nối nhau không phân biệt quan, lính, những lá cờ Vị quốc Vong thân rồi cũng dãi dầu với nắng mưa ngày tháng, và em... vẫn một mình lầm lũi đi cho hết đoạn đường trần.


Nguyệt Hằng

Nhạc Chế - Xăng Ơi Đừng Tăng Nữa - Lee HT TopHits

 

Friday, March 27, 2026

Đi Tìm Nhân Cách Đã Mất Của Người Việt - Trần Thành Nam

 

Hôm nay, trong bài giảng cho những người trẻ về niềm tin vào con người từ đâu ra – đó là từ những gì họ đã làm trước mắt chúng ta hoặc cho chúng ta, tôi đã kể lại câu chuyện mình đánh mất niềm tin vào nhân cách người Việt như thế nào, và từ đó tôi đã phải đi tìm nhân cách người Việt đã bị đánh mất ra sao?

 

Câu chuyện bắt đầu cách đây hơn ba mươi năm. Năm đó, tôi vừa tốt nghiệp cao học kỹ thuật và kinh tế từ Đông Âu, về nước. Đó là những năm tháng gian khó đặc biệt của đất nước ta dù đã hòa bình, đã sau chiến tranh nhiều năm, do những sai lầm trong cơn say chiến thắng và sự ngu muội của “những ngừơi thắng cuộc” chiến là chính những người như ông cha tôi và đồng đội của họ…

 

Đối với tôi, đó cũng là những năm tháng mà tôi phải đấu tranh nội tâm cam go nhất về việc chọn hướng đi cho cả cuộc đời mình, để sống sao cho ý nghĩa và đáng sống, “để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trến đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. ” Vâng, tôi vẫn thuộc lòng câu đó của Ostrowski qua nhân vật Pavel Korchagin  trong cuốn “Thép đã tôi thế đấy”

 

Trước đó, cả cuộc đời tôi đã được xắp đặt trước, rõ ràng: học giỏi, về cống hiến cho đất nước - như với tất cả bạn bè tôi. Nhưng, khoảng 80% lứa du học sinh chúng tôi đã quyết định không về nước… Tôi nằm trong số 20% còn lại, đang phân vân… chính vì cái anh chàng Pavel trong tôi đó!

Lùi lại một chút, thế hệ chúng tôi là thế hệ lớn lên trong chiến tranh, đã biết rõ, thấy rõ, chứng kiến bom đạn là gì, đổ xương máu hay mất mạng sống trong bom đạn chiến tranh đó là như thế nào. Và được học, được sống là một hạnh phúc lớn lao như thế nào.

 

Từ khi vào lớp 1 chúng tôi đã phải đi học ban đêm bằng những cái đèn dầu con con, và phải tự đào hào và hầm cá nhân cho mình để tránh bom, mỗi đứa phải đào 1 mét hào chung và một cái hầm cá nhân của mình – thầy cô giáo phân công và chỉ chỗ rõ ràng, từng đứa từng chỗ…

 

Nhưng những đứa trẻ 6-7 tuổi còn thò lò mũi, cao chưa bằng cái cuốc cái xẻng ấy làm sao đào được hào và hầm (thường sâu trên 1 mét, rộng 60 đến 80 phân) cho mình?

 

Thầy cô không quan tâm điều đó, chỉ nói gọn: đó là “chỉ tiêu” của các em. Tôi hỏi; “Thưa cô, chỉ tiêu là gì ạ? ” Cô nói: về nhà hỏi bố mẹ! Và đúng là bố mẹ tôi và các bậc phụ huynh đều rất hiểu chỉ tiêu là gì…

 

Đến lớp 4 chúng tôi đã tự đào cả lớp học và hầm hào cho mình, lớp 7 chúng tôi xung phong đi bộ đội và nhiều bạn bè tôi đã vào thẳng thành cổ Quảng Trị để không bao giờ về học tiếp, cấp 3 chúng tôi chứng kiến trận chiến B52 trên không, lớp 10 quá nửa bạn bè lớp chúng tôi tham gia chiến dịch 1975…

 

Chúng tôi không được đi bộ đội (dù đã tình nguyện) vì một lý do: học giỏi. Vì thế, học xong là phải trở về cống hiến hầu như là câu trả lới tất nhiên và bắt buộc đối với tôi. Nhưng sự thực đất nước những năm tháng đó và sự thực đại đa số bạn bè tôi đã quyết định ở lại trời Âu, với một sự thực nữa: những gì đã và đang xảy ra với chế độ cộng sản trên các nước Đông Âu đó, đã làm “con người lý tưởng” hay “cỗ máy Pavel-hồng vệ binh” trong tôi chao đảo khủng khiếp.

 

Ở lại hay về nước? Tôi đã về phép với quyết định được ở lại thực tập sinh thêm 3 năm trong tay, tức là cánh cửa trở lại trời Âu rồi ở lại đó của tôi vẫn còn mở…

 

Nhà tôi ở Tp. HCM. Ba tôi, một cán bộ tập kết và một người cộng sản kiên cường, đang tại chức, khuyên tôi nên trở lại “học tiếp”. Đó là một bất ngờ, vì tôi thì muốn về đi làm và…”cống hiến”, và tôi cứ nghĩ ba tôi cũng muốn vậy. Mọi chuyện còn tạm chưa quyết định, và tôi ra Bắc về thăm quê Ngoại, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Đã có một chuyện rất nhỏ xảy ra trong chuyến đi Bắc đó làm tôi quyết định dứt khoát quay trở lại Đông Âu.

 

Tôi và mẹ tôi ra Bắc bằng tàu liên vận. Hai mẹ con ngồi ở khoang ghế cứng. Vì là tầu chậm, nó đỗ ở tất cả mọi ga và làm tôi rất thích thú. Ở mỗi ga, khoang tàu biến thành cái chợ hay hàng ăn, tùy vào thời điểm. Ngoài sự nghèo đói, lộn xộn, mất vệ sinh và nói chung là kém văn hóa là đặc trưng của những gì xảy ra trên chuyến tàu đó hay cho cả đất nước ta thời đó, điều tôi nhớ nhất và thất vọng vô cùng là: từ Nam ra Bắc tôi hầu như không thấy một nụ cười trên gương mặt một ai cả…

 

Ở một ga miền Bắc Trung bộ, tôi không nhớ ở đâu, hình như ở xứ Thanh, có một cô bé khoảng 14-15 đội lên tàu bán một rổ tép khô. Do đông người đi lại bán hàng va chạm, rổ tép khô của cô bé bị rơi đổ hết xuống sàn tàu, ngay trước mắt tôi và cách chỗ tôi ngồi chừng 1-2 mét.

 

Cô bé hốt hoảng lo sợ, luốn cuống quì xuống gom vội tép lại. Theo bản năng “ga lăng”, tôi lao ngay ra giúp cô bé vơ tép khô lại thành từng đống nhỏ. Cùng lúc đó, nhiều người xung quanh cũng đều xông vào, đa số cũng là những người bán hàng trên tàu như cô bé, xúm lại làm như tôi: vơ tép khô của cô bé gọn lại. Tôi cười nhìn mọi người và nghĩ: “Ồ, mọi người tốt quá! Thế mà mình đã nghĩ dân ta bây giờ không yêu quí nhau như trước nữa…”

 

Chưa kịp nghĩ hết ý trên thì tôi đã đớ người ra khi nhìn thấy mọi người không bốc tép khô vào rổ cho cô bé như tôi mà cho vào những cái túi riêng của họ! Một loáng, sàn tàu đã sạch trơn không còn tí tép khô nào! Và mọi người thản nhiên bỏ đi với những túm tép khô vơ vét được của họ, như không có gì xảy ra…

 

Tôi chẳng thấy nét mặt ai mừng rỡ hay buồn hay ái ngại gì cả, bình thường… Còn cô bé đứng dậy co dúm thút thít khóc bên cạnh rổ tép khô nay chỉ còn một vốc. Tôi cứ đứng bên cạnh cô bé, ngơ ngác và lòng rưng rưng với nắm tép khô còn chưa kịp đưa vào rổ của cô bé, và không hiểu tại sao mọi người làm như thế! Còn những hành khách trong toa tàu, trong đó có mẹ tôi, đã chứng kiến toàn bộ chuyện đó, cũng làm ngơ, không ai phản đối gì, cho là chuyện bình thường…

Cho đến hôm nay tôi vẫn còn khinh ghét con người mình vì lúc đó đã không làm được việc mình muốn làm nhất là gào thét lên: “Mọi người! Hãy trả lại tép khô cho cô bé! ”

 

Cho đến hôm nay, cái câu không được hét ra ấy vẫn cứ vang lên mãi không tha trong đầu tôi: “Hãy trả lại tép khô cho cô bé! ”

 

Để rồi, tôi không còn muốn trở về nước làm việc để “cống hiến cho đất nước” nữa. Bởi vì, từ hôm đó, ngay lúc đó, một điều gì lớn lao đã đổ vỡ trong tôi. Tôi đã mất niềm tin vào nhân cách người Việt, qua những gì tôi chứng kiến và trải nghiệm.

 

Sự kiện nhỏ đó đã làm tôi mất niềm tin vào nhân cách người Việt. Tôi không thể tự hào là người Việt nữa. Tôi quyết định quay lại trời Âu để “học tiếp” theo lời khuyên của ba. Thực sự, đó là một cuộc bỏ chạy của tôi. Nhưng tôi lại sợ mình sẽ chạy mãi. Sẽ không bao giờ quay trở lại đất nước này nữa.

 

Thế là tôi đưa ra một quyết định sai lầm lớn đầu tiên trong đời. Tôi nói: “Mẹ ơi, con muốn lấy vợ trước khi con quay lại thực tập tiếp”. Mẹ tôi bị bất ngờ, hỏi: “Tại sao con quyết thế? ” Tôi nói: “Nếu không lấy vợ thì chắc con sẽ ở lại, không bao giờ về nước nữa?”.

 

Ngày đó, quyết định học xong ở lại là quyết định giải thoát lớn lao, giống như người vượt biên vậy, xã hội coi là những kẻ phản bội, và ai cũng biết ở lại bên đó là chấp nhận xa gia đình mãi mãi, vì hạnh phúc của những người ra đi.

 

Ngay trong đợt về phép đó, tôi đã mang quà về gia đình cho mấy thằng bạn thân đã quyết định ở lại bên ấy, thấy gia đình chúng nó bị xã hội ghẻ lạnh phải nghỉ việc, bán nhà chuyển chỗ ở, thấy bố mẹ chúng nó tiếp tôi và nhận quà của con mình gửi về mà phải đi báo công an phường đến chứng nhận… tôi khiếp quá. Nhưng nay tôi đã quyết quay trở lại châu Âu, và để ngỏ khả năng ở lại bên đó vĩnh viễn… chỉ vì chứng kiến rổ tép khô bị đổ của cô bé trên tầu…

 

Sau khi nghe nói tại sao tôi phải lấy vợ, mẹ tôi không hỏi gì nữa mà nhất nhất làm theo ý tôi. Bà sợ “mất” con trai hoàn toàn.

 

Lúc đó, người tôi yêu, rất yêu thì không yêu tôi, còn người rất yêu tôi thì tôi chỉ quí trọng. Cả hai đều là bạn học, bạn thân của tôi thời phổ thông bom đạn. Tất nhiên, tôi chỉ có thể và nói mẹ xin cưới cho mình người thứ hai. Và ba năm sau thời gian thực tập sinh, tôi đã trở về nước làm việc, sống với người mình đã cưới vội để thả neo đó. Cái neo đó đúng là đã giữ tôi không phiêu bạt giang hồ. Nhưng đó là câu chuyện khác…

 

Câu chuyện chính ở đây là… những cái rổ tép bị cướp đi kia!

 

Mấy chục năm nay, sống trên đất nước XHCN này, chuyện những người đi đường vô tình bị rơi bịch tiền vung vãi ra và bị mọi người xông vào cướp trắng hết… đã là bình thường, nhưng những giấc mơ và câu hét “Mọi người! Hãy trả lại tép khô cho cô bé! ” vẫn cứ vang lên trong tôi.

Và tôi hiểu, đó là tôi vẫn còn đang đi đòi lại cho tôi nhân cách đạo đức người Việt ngày xưa mà tôi từng biết. Tại sao nó bị mất đi? Làm sao cho nó quay trở lại với người Việt? Tôi có tìm lại được niềm tin vào nhân cách người Việt như xưa nữa hay không?

 

Đó là câu hỏi tôi đã thảo luận với các bạn trẻ sáng nay.

 

Tôi tin là có. Dù điều đó không dễ, và không nhanh được, nhưng rồi cũng sẽ tới ngày...

 

Những hạt giống độc hại nào đó đã nẩy mầm sau chiến tranh, nhưng đã được gieo từ lâu trước đó vào văn hóa dân tộc, chỉ là hồi bé tôi không nhận ra những rổ tép khô bị hất đổ và cướp mất mà thôi.

 

Và bây giờ nó đã là rổ tép khô của tôi rồi.

Mọi người! Hãy trả lại rổ tép khô cho tôi!


 

Trần Thành Nam
danlambaovn.blogspot.com

Cánh Thiệp Đầu Xuân - Nguyễn Duy Phước

 

Thursday, March 26, 2026

Nắm Tay Lại Và Xòe Tay Ra

Ngày trước, bàn tay tôi lúc nào cũng nắm chặt.
Tôi đã từng nghĩ rằng, hạnh phúc là phải có thật nhiều thứ trong tay. Phải có được sự công nhận, phải có một vị trí nào đó, phải có những thứ mà người khác ao ước. Tôi đã từng tin rằng, càng giữ được nhiều, mình sẽ càng an toàn.

Và thế là tôi gồng mình lên mà chạy.

Những ngày tháng đó, nghĩ lại vẫn thấy mệt, thật sự đấy. Có những bữa cơm ăn mà không thấy ngon, có những đêm đặt lưng xuống mà đầu óc vẫn toan tính, suy nghĩ liên miên.

Tôi mải miết đuổi theo những điều ở phía trước, mà quên mất những thứ bình dị đang ở quanh mình.


Đến một lúc, tôi nhận ra mình có nhiều thứ hơn ngày xưa, nhưng trong lòng lại trống rỗng và bất an hơn. Bàn tay tôi nắm chặt đến mỏi rã rời, mà bên trong, hóa ra lại chẳng có gì.

Rồi cuộc đời đưa đẩy cho tôi gặp lại vài người, thấy vài chuyện.

Tôi gặp lại người bạn cũ. Ngày xưa cậu ấy tài giỏi, đầy hoài bão. Giờ cậu mở một tiệm sách cũ nhỏ ở quê. Tôi hỏi, có tiếc những ước mơ ngày cũ không. Cậu cười, cái cười thật hiền: “Hồi xưa mình cũng muốn trèo lên cao lắm. Nhưng càng trèo, càng thấy ngột ngạt. Giờ mình không muốn gì nhiều. Sáng thức dậy thấy lòng yên, tối về ngủ một giấc không mộng mị. Với mình, vậy là đủ rồi.”


Câu nói của cậu ấy, lúc đó, thật sự làm tôi phải suy nghĩ.
Lại có những buổi chiều, tôi thấy một ông cụ đẩy xe tàu hũ đi bán. Dáng ông chậm rãi, nụ cười móm mém. Người ta hỏi sao ông không nghỉ ngơi, ông chỉ nói: “Còn đi được là còn vui. Ngày làm dăm ba đồng, không phải phiền con cháu. Vậy là được rồi.”

Nhìn nụ cười của ông, tôi chợt hiểu ra một điều mà trước giờ mình chưa hiểu. Hạnh phúc của họ không đến từ việc “có thêm”, mà đến từ việc “thấy đủ”. Cái giàu của họ không nằm trong túi, mà nằm trong lòng. Từ đó, tôi bắt đầu tập một thói quen mới. Tập bớt “mong” đi một chút.


Hành trình này không dễ dàng. Nó không phải là buông xuôi, mặc kệ. Tôi vẫn làm việc của mình mỗi ngày, vẫn cố gắng hết sức. Nhưng tôi học cách không đòi hỏi cuộc đời phải diễn ra đúng như kịch bản mình viết.

Tôi làm phần việc của người nông dân: cày cuốc, gieo hạt. Còn chuyện mưa nắng thế nào, tôi học cách đón nhận. Mùa màng tốt thì biết ơn, thất bát cũng không quá oán than. Và lạ lùng thay, khi lòng tôi bớt đòi hỏi đi, nó dường như rộng ra.


Cái tâm mình, có lẽ nó cũng giống như mảnh đất. Ngày trước, tôi cắm đầy cọc rào của sự “phải có”, nên chẳng còn chỗ cho thứ gì khác mọc lên. Giờ tôi thử nhổ bớt những cọc rào đó đi. Mảnh đất ấy lại sẵn sàng đón nhận tất cả: một cơn mưa bất chợt, một hạt giống lạ theo gió bay về. Đến hay đi, được hay mất, tôi học cách nhìn nó như một phần của tự nhiên.

Bây giờ, tôi bắt đầu nghe được tiếng chim hót sau vườn, thấy được màu hoa dại ven đường, cảm nhận được hơi ấm của nắng sớm. Những thứ đó trước giờ vẫn luôn ở đấy, chỉ tại lòng tôi bận quá, bàn tay tôi nắm chặt quá, nên không cảm nhận được đó thôi.


Một đời người, có lẽ cũng chỉ là một chuyến đi. Đến cuối cùng, chẳng ai mang theo được gì. Tôi chỉ mong tâm hồn mình, khi kết thúc hành trình, sẽ là một tâm hồn đã học được cách sống nhẹ nhàng.


Cuộc sống của tôi dần nhẹ đi, không phải vì gánh nặng trên vai biến mất, mà vì tôi đã học được cách đặt nó xuống.

Tôi không dám nói mình đã hiểu hết. Tôi chỉ biết rằng, khi bàn tay nắm lại thì mỏi, mà khi thử xòe ra, thì lại thấy lòng mình nhẹ tênh.


An Hậu

Truyện Ngắn Thái Bá Tân


 

TIÊN SƯ THẰNG CHIẾN TRANH

Một cô thanh niên xung phong bị phát hiện đang lén lút làm cái việc “tự sướng” bên con suối nhỏ sâu trong rừng.

Suốt ba đêm liền, từ sau bữa ăn tối cho đến gần sáng, cô bị đồng chí của mình, toàn nữ, kiểm điểm gay gắt và không ngớt lời sỉ vả. “Ghê tởm, thật ghê tởm!” “Một biểu hiện suy đồi đạo đức!” Một hành động bêu xấu hình ảnh người chiến sĩ cách mạng, đi ngược với lý tưởng và lối sống cách mạng tốt đẹp!” “Xử bắn con đĩ tư sản thối nát ấy đi!”. Vân vân.

Sang ngày thứ tư, không chờ đồng đội xử bắn, “con đĩ tư sản thối nát” ấy đã treo cổ tự tử trên cành cây bị bom chặt đứt một nữa.

Chủ trì và cũng lớn tiếng sỉ vả nhất trong ba đêm đấu tố ấy là cô Duyên. Đơn giản vì cô là đội trưởng đội thanh niên xung phong ấy. Duyên là người làng tôi, thậm chí suýt thành chị dâu, nếu anh trai con ông bác tôi không hy sinh ở Quảng Trị năm 68. Tự cô kể tôi nghe chuyện này khi hết chiến tranh trở về nhà.

“Tội nghiệp nó! Người ta bảo thì bọn chị phải làm thế chứ thương lắm!” cô nói, rơm rớm nước mắt. “Khối đứa như nó. Chị biết”.

“Cả chị?” tôi hỏi.

Ngập ngừng một lúc, chị nói, giọng thách thức:

“Thì sao? Chị không là người chắc? Cả bầy con gái thui thủi một mình trong rừng không một mống đàn ông suốt mấy năm trời! Đơn vị chị thì không, nhưng nghe nói ở Đrao, Tây Nguyên, có mấy chục đứa phát cuồng, lúc ôm nhau cười mãi không thôi, lúc xé hết quần áo kéo chạy tồng ngồng gữa rừng như những con điên.
Mắt chị lại rưng rưng.

Về làng được bốn năm, do lỡ thì, và cũng do chẳng còn đàn ông nào nữa mà lấy, chị Duyên xuống tóc đi tu, ở ngay Chùa Mít bên sông Bùng. Vợ chồng bác tôi thương lắm, nhưng chẳng can ngăn. Trong thâm tâm hai cụ vẫn coi chị là con dâu. Có người nói chị bị ai đó trên tỉnh lừa tình. Chuyện này thì tôi không rõ, mà cũng chẳng quan trọng. Tôi chỉ thấy ngỡ ngàng, thậm chí đau nhói trong ngực khi hình dung chị dâu hụt của tôi, - một người xinh đẹp, yêu đời, từng nhiều năm làm đội trưởng đội văn nghệ xã, - lại tự nguyện giam mình trong ngôi chùa hiu quạnh, đổ nát, với bộ quần áo màu nâu nhà Phật. Mấy ngày sau, tôi đến tìm chị, định hỏi cho ra chuyện, nhưng tôi đã không vào chùa khi đứng từ xa nhìn thấy chị đang thẫn thờ đưa chổi quét đi quét lại cái sân vốn đã sạch.

Lặng lẽ ra về, tôi cố lý giải mà không lý giải nỗi cái gì đã biến một cô gái tươi vui, hồn nhiên, tràn trề hạnh phúc và xứng đáng được hưởng hạnh phúc thành một người yếm thế, bất hạnh như vậy.

Chiến tranh? Phải chăng đây là cái giá của chiến tranh?

Bẵng đi nhiều năm, tôi lại vào chùa Mít.

Nó vẫn thế. Hai cây nhãn trước chùa vẫn thế, và vẫn thế, chúng không chịu cho quả.

Đang vắng người, tôi vào thẳng phòng riêng sư trụ trì, sư thầy Đàm Duyên. Sư thầy chứ không phải sư cô như ngày nào.

“Chào chị Duyên,” tôi lên tiếng, không hiểu sao còn cố tình nói to.

“Mô phật. Xin xưng hô với kẻ tu hành này theo đúng cách của nhà phật. Chào chú.”

Đứng chắp tay trước mặt tôi, đầu hơi cúi, là một bà già nhỏ bé, khô đét và không còn tí dấu vết nào của cô Duyên ngày xưa cũng như sư cô Đàm Duyên sau đó tôi gặp. Nét mặt bà không chỉ vô cảm mà bất động như được nặn bằng sáp. Cái đầu trọc bóng loáng cũng có lớp sáp nhờn nhợt ấy.

Bất giác, tôi chợt nghĩ: “Nếu không trọc, không biết tóc chị sẽ bạc đến đâu?”

“Chị khỏe chứ?”

“Mô phật.”

“Người ta nói nay mai chùa Mít bị đập bỏ để xây đường lớn lên Đô Lương và sang Lào?”

“Mô phật,” và chị khẽ cúi đầu.

“Thế chị và mọi người đi đâu?”

Sư thầy Đàm Duyên không đáp. Chất sáp trên mặt và cái đầu trọc của bà càng trở nên rõ nét hơn. Hình như bà đang khóc, dù đôi mắt sâu vô hồn vẫn ráo hoảnh.
Lát sau tôi bỏ về, vô cớ hậm hực với ngôi chùa tội nghiệp sắp bị phá bỏ, với hai cây nhãn xum xuê mà không chịu cho quả. Với cả chính tôi vì mãi vẫn lấn cấn tìm lời giải thích cho số phận chị dâu mình và những người như chị.

Chiến tranh! Ừ, chiến tranh! Tiên sư thằng chiến tranh!

Tôi thấy có cái gì nghèn nghẹn trong cuống họng, muốn văng tục chửi ai đó, đập phá cái gì đó mà không được. Chửi cái thằng gây ra chiến tranh chẳng hạn. Tiên sư thằng gây ra chiến tranh!

Đừng nói với tôi về chiến tranh bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa. Tôi đã đủ khôn lớn để hiểu rằng cái cuộc chiến tranh ấy, nếu quả là bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa như người ta nói, cũng chẳng là gì nếu nó là thủ phạm của hàng triệu cái chết dân Việt, hàng chục triệu cuộc chia ly đau đớn, thủ phạm của một sự đảo lộn triệt để các giá trị truyền thống dân tộc. Nó trở thành nhảm nhí khi vì nó các cô gái của chúng ta phải “tự sướng” và tự treo cổ, khi một người trẻ trung, tươi vui và tràn trề nhựa sống như chị Duyên của tôi phải biến thành một hình sáp vô hồn.

“Ừ, mà nếu không cạo đầu, tóc của chị sẽ bạc đến đâu nhỉ?”

14. 11. 2011

https://www.facebook.com/tan.thaiba/posts/846396622127281

 

CÔ GÁI MÙ 

Đó là một cô gái xinh đẹp, nhỏ nhắn, với chiếc cổ trắng thon dài, mái tóc xoăn tự nhiên có màu nâu vàng nhạt, chắc cũng tự nhiên. Khuôn mặt cô hao hao giống Đức mẹ Đồng trinh ta thường thấy trong nhà thờ. Ở cô toát lên một sự hiền dịu và sạch sẽ đến mức thánh thiện.

Chỉ tiếc cô mù. Cũng có thể vì mù, không phải chứng kiến bao cảnh bẩn thỉu của cuộc đời nên cô có được sự hiền dịu và sạch sẽ thánh thiện ấy.
Tiếc nữa là cô nghèo, và phải tự kiếm sống nuôi mình.

Hàng ngày, từ sáu giờ sáng người ta đã thấy cô ngồi bán hoa bên cột đèn điện ở góc một con phố nhỏ yên tĩnh. Con chó bé xíu màu vàng dắt cô đi về hàng ngày ngồi bên, hếch mõm, nghiêng đầu nhìn mỗi lần có khách dừng lại mua hoa. Nó khôn lắm, chăm chăm nhìn khách đếm tiền, và biết sủa hai tiếng chép chép khi khách quên hay chậm thanh toán.

Khu phố này nghèo, người dân lam lũ, nhưng vì hoa rẻ và chắc muốn giúp cô gái mù dễ thương nên người ta vẫn mua hoa của cô. Nhiều người cẩn thận chọn hoa, trả tiền xong lại lặng lẽ đặt vào chỗ cũ. Cô gái không nhìn thấy, chỉ mỉm cười cảm ơn. Con chó thì biết, nhưng nó im, ngoe nguẩy cái đuôi ngắn tũn. Cây cột điện bê tông đầy giấy dán quảng cáo và những dòng chữ bậy bạ đỡ trơ trẽn hơn nhờ nó. Nhờ chủ nó, người dân ở đây, trong đó có vợ chồng tôi, hình như cảm thấy đời đẹp hơn và ấm áp hơn chút ít.

Mọi việc cứ thế đều đều diễn ra, lặng lẽ, bình dị và quen thuộc.

Bỗng một hôm không thấy cô gái mù bán hoa cùng con chó nhỏ của cô. Hôm sau mọi người nhốn nháo bàn tán. Hôm sau nữa thì cả phố xếp hàng đưa tang cô. Cô gái xinh đẹp, tội nghiệp ấy đã bị ai đó cưỡng hiếp rồi giết chết, vứt xác xuống hồ Thanh Nhàn ngay giữa trung tâm thành phố.

Vợ chồng tôi theo đám đông cùng lặng lẽ đưa tiễn cô. Mọi người cúi mặt bước đi, xấu hổ với cảm giác bất lực không bảo vệ được cô khỏi cái ác đang ẩn nấp đâu đó ngay trong cộng đồng mình. Sao người ta nỡ cướp đi mạng sống của một thiên thần vô hại như cô? Sao người ta nỡ tước đi của chúng tôi một trong số những bông hoa hiếm hoi mang chút hơi ấm cho cuộc đời lạnh lẽo này?

Không còn cô, con phố trở nên vắng hẳn. Hình như rác bụi cũng nhiều hơn.

Không còn cô, con chó nhỏ trở thành chó hoang, để lại cây cột đèn bê tông một mình không bạn. Nó sẽ phải tự vật lộn kiếm sống, cạnh tranh với những con chó hoang như nó nhưng lọc lõi và độc ác hơn. Hơn nữa, nó còn phải luyện chạy thật nhanh, nhìn thật rõ để khộng bị người ta bắt làm thịt. Tội nghiệp nó. Nếu biết suy nghĩ và viết văn như tôi, liệu nó sẽ nghĩ và viết gì nhỉ?

Ai đó đặt chiếc bàn thờ nhỏ bằng gỗ ọp ẹp lên chỗ cô gái mù vẫn hàng ngày thường ngồi bán hoa. Trước nén hương nghi ngút khói là hoa, rất nhiều hoa màu trắng.

Cô trao cho đời những bông hoa đẹp đủ màu, giờ nhận được chỉ toàn hoa màu trắng.

16. 11. 2011

 

NHỤC 

Hay tin, ông bỏ cả việc đang làm giở ở Sài Gòn, vội vàng bay ra Hà Nội.

Vừa đặt va-li xuống nền nhà, ông cao giọng hỏi vợ:

“Làm sao mà người ta trả lễ?”

“Vì con ông làm công an.”

“Công an thì sao mà trả lễ?”

“Ông đi mà hỏi người ta ấy.”

“Nhưng trước đồng ý, người ta đã biết nó là công an rồi cơ mà?”

“Tôi biết đâu đấy. Sao ông cáu với tôi?”

“Nhục!”

*

Con trai ông và con gái gia đình ông giáo phố bên học cùng nhau từ bé rồi yêu nhau và định lấy nhau. Cả hai đều ngoan, lại môn đăng hộ đối, tưởng chẳng còn gì nữa phải bàn. Thế mà khi nghe tin con ông vào Học viện công an, gia đình ông giáo có ý ngãng ra. May hai đứa yêu nhau thực sự nên cuối cùng cũng xuôi xuôi, và tuần trước họ đã đồng ý cho làm lễ dạm hỏi. Thế mà bây giờ... Trả thì trả, thành phố này thiếu gì con gái! ông nghĩ. Đành là thế, nhưng ông thấy bị sĩ nhục. Một gia đình như ông, với một thằng con hiền lành, tử tế như con ông mà bị trả lễ thì thật nhục. Hàng xóm sẽ khối anh được dịp đơm đặt.

Tối đến, ông gọi riêng con trai ra một chỗ, hỏi chuyện.

“Lý bảo bố mẹ cô ấy lần này làm căng, dứt khoát không chịu.” Anh con nói.

“Vì sao?”

Anh ta im một lúc mới đáp:

“Vì có ai đó nhìn thấy con hôm công an dẹp vụ cưỡng chế đất ở Cống Bầu.”

“Con ở đấy thật à?”

“Vâng.”

“Tưởng con lính văn phòng không phải làm những việc đó...”

“Bây giờ cần là người ta điều hết.”

“Thế con làm gì ở đấy?”

Anh con ngước mắt nhìn bố, vẻ ngạc nhiên:

“Làm những việc công an phải làm với bọn phản động. Bọn bị các thế lực thù địch kích động làm loạn...”

Đến lượt ông bố dướn mắt ngạc nhiên:

“Con có đánh người ta không? Thậm chí nổ súng?”

“Con thì không, vì chưa cần.”

“Còn nếu cần?”

Anh con không trả lời.

“Hôm dẹp mấy vụ biểu tình chống Tàu con có tham gia không?

“Có.”

“Có đánh ai không?”

“Không. Chỉ xô đẩy. Mà bố hỏi kỹ thế làm gì nhỉ? Đấy là việc của con. Nhiệm vụ của chúng con là bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân.” Anh con thậm chí cao giọng, là việc xưa nay ông chưa từng thấy, vì nó vốn là đứa hiền và ngoan nhất nhà.

Rồi anh ta nói thêm:

“Trước bố đi bộ đội, cũng để bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước và nhân dân như con bây giờ thôi. Việc bố xưa bố làm. Việc con nay con làm. Thế cả.”

Ông thấy vương vướng trong cuống họng.

“Không, khác hẳn. Xưa bố đánh giặc, đánh Mỹ. Nay chúng mày đánh nhân dân. Xưa nhà nước lấy đất người giàu chia cho người nghèo. Giờ thì ngược lại.”

Ông định nói thế. Thậm chí định tát và mặt thằng con của mình, nhưng nghĩ thế nào, ông im lặng bỏ vào phòng mình.

*

Ông nằm ngửa, mắt nhìn trân trân lên trần nhà.

Vậy là con ông đã thay đổi. Trong nhà với bố mẹ có thể nó vẫn như xưa, nhưng ra ngoài thì đã khác. Mà chỉ sau mấy năm học ở trường cảnh sát. Người ta đã dạy cho nó những gì nhỉ? Chắc các ông thầy ở đấy phải giỏi lắm mới thuyết phục được nó tin mấy ông bà nông dân chân đất mắt toét và mấy vị trí thức già yêu nước là phản động để xô đẩy và đánh họ. Hay đạp vào mặt họ. Hay thậm chí có thể bắn họ. Lúc nãy nó chẳng bảo “chưa cần” đấy thôi.

Láo! Nhục!

Hôm sau, ông nhẹ nhàng bảo vợ:

“Thôi, bà ạ. Người ta đã muốn thế thì mình cũng im đi cho xong. Chắc họ phải có lý do của họ. Nhục cũng phải chịu chứ biết làm thế nào.”

Bà vợ ông chỉ hiểu chữ “nhục’ theo nghĩa bẽ bàng với hàng xóm chứ không biết ông hàm ý cái nhục khác còn lớn hơn.


Thái Bá Tân