Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Saturday, June 20, 2026
Tị Nạn Và Việt Kiều 50 Năm Sau Chiến Tranh - Lâm Văn Bé
Người tị nạn đông như kiến và sinh hoạt bắt đầu từ sáng sớm đến chiều. Nhà ăn mở cửa ba buổi, sáng, trưa, chiều tối. Tôi nhớ có một lần đứng xếp hàng để lãnh đồ ăn. Tôi nói với người phát đồ ăn:
- Give me chicken legs.
Và những đùi gà thơm ngon được bỏ vô đầy dĩa. Người đàn ông đi sau thấy ngon cũng xin đùi gà, nhưng không hiểu sao người phát đồ ăn cứ lắc đầu và bỏ đầy cổ gà lên dĩa của người đàn ông nọ. Ông ta trả lại và muốn nói đùi gà… Người phát đố ăn lại lấy cổ gà bỏ lên dĩa.
Bực mình quá ông ta la lớn:
- Give me chicken negs.
- What? Người phát đồ ăn hỏi to:
- Chicken negs? Người đàn ông lập lại.
- Chicken negs? Người phát đồ ăn hỏi lại.
- Yes, chic-ken-negs. Người đàn ông gằn giọng.
- Okay, here your chicken necks.
- Đù… Thằng Mễ nầy nó khùng rồi ta. Người đàn ông bực tức nói. Tôi thấy vậy nên phải lên tiếng: Anh phải nói là chicken legs chứ không phải chicken negs. Anh nói như vậy nó hiểu là cổ gà. (Đồng Sa Băng. Dấu chân người tị nạn. Pendleton).
Câu chuyện cổ gà, đùi gà là điển hình một hoạt cảnh trong một trại tị nạn người Việt ở Pendleton. Vào tháng 4/1975, trong khi quân sĩ Việt Nam Cộng Hòa còn đang chiến đấu trên khắp các mặt trận thì tại Pendleton (California), 958 chiếc lều vải màu xanh quân đội và 140 lều Quonset đã được thiết lập trên một thung lũng bên cạnh những ngọn đồi thơ mộng để chờ đón người tị nạn Việt Nam. Đó là trại tiếp cư đầu tiên cùng với 3 trại tiếp cư khác là Fort Chaffee ở Arkansas, Eglin Air Force Base ở Florida và Fort Indiantown Gap ở Pennsylvania lần lượt được thiết lập sau đó để đón nhận 130.000 người Việt di tản, mở đầu cuộc di cư và lập cư vĩ đại của người Việt trên đất Mỹ và thế giới.
Người tị nạn
Người tị nạn là người di dân, nhưng người di dân không tất nhiên là người tị nạn. Theo điều 1, chương 1 của Hiến Chương Geneva của Phủ Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner Refugees = UNHCR), “người tị nạn là người lo sợ một cách chính đáng bị ngược đãi, bị áp bức, hiểm nguy đến mạng sống vì lý do tôn giáo, chủng tộc, quốc tịch, tham gia hiệp hội quan điểm chính trị, phải rời bỏ quốc gia cư trú, và khi trở vể không có bảo đảm an ninh”. Trong ý nghĩa ấy, khi Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, một số người Việt phải bỏ nước ra đi để tránh sự trả thù của Cộng sản, và số khác, sau khi bị Cộng sản cầm tù, đày đọa trong các trại cải tạo cũng phải tìm cách trốn chạy.
Tùy thời điểm, hoàn cảnh lúc ra đi cũng như luật pháp của các quốc gia đón nhận, người tị nạn đến được bến bờ tự do bằng ba cách: Di tản, Vượt biển Vượt biên, Ra đi có trật tự. Đan xen vào 3 hình thức ấy, chính phủ một số quốc gia chấp nhận người “di cư- tị nạn” theo diện nhân đạo.
1 - Giai đoạn đầu tiên (1975-1978): di tản
Từ tháng 4/1975, một số người VN có tiền, có thế lực đã âm thầm rời VN bằng các phương tiện cá nhân hay nhờ không vận Mỹ. Theo ký giả Philippe Franchini trong Les guerres d’Indochine, thì “trước khi Cộng sản chiếm Saigon đã có 22.300 người đã rời VN (tr.431).
Với đạo luật Indochina Migration and Refugee Act, Hoa Kỳ chấp nhận cho 200.000 người Việt và người Miên (trong đó có 130.000 người Việt) được nhập cảnh vào Hoa Kỳ với qui chế tạm dung (parole). Đối với Canada, theo lời yêu cầu của Mỹ, chính phủ Canada cũng chấp thuận 2.000 người Việt nhập cư đã được Mỹ di tản đến các trại tiếp cư Subic Bay, Guam, Wake, Pendleton.
Tuy không chuẩn bị cuộc ra đi, nhưng những di dân trong đợt nầy làm lại cuộc sống tương đối dễ dàng nhờ có người mang theo được tài sản, có trình độ học thức, có ý chí tái xây dựng và nhất là có sự giúp đỡ của chính phủ cũng như các cơ quan thiện nguyện lúc ban đầu. Đến nay, đa số lớp người nầy đã lần lượt ra đi, hay chờ ra đi trong các viện dưỡng lão.
2 - Giai đoạn 2 (1979 -1990): Vượt biển
Chính sách tù đày, thù hận và kinh tế suy sụp của Cộng sản đã khiến người Việt tìm đủ mọi cách ra đi dù phải hi sinh mạng sống. Số thuyền nhân đến Mỹ (và các quốc gia khác trên thế giới) đa dạng, từ trí thức đến thợ thuyền, nhưng tất cả đều trắng tay sau khi bị Cộng sản cướp đoạt tài sản từ trong nước cho đến lúc xuống thuyền vượt biển, và tả tơi khi đặt chân lên đất mới. Đứng lên sau bao năm khổ lụy, họ phải tận dụng sức cần lao, khối óc và tinh thần chịu đựng trong trường học cũng như trên trường đời để tái xây dựng. Nói chung, đa số họ là lớp người thành công trong nhiều lãnh vực, đặc biệt trong thương trường.
3 - Giai đoạn 3 (1990-2000): Ra đi trong trật tự
Những người ra đi trong giai đoạn nầy thuộc thành phần cựu tù nhân cải tạo đến Mỹ theo diện HO (Humanitarian Operation) hay HR (Humanitarian Resettlement Program) và những người tị nạn được thanh lọc. Họ là những người kém may mắn nhất khi còn ở trong nước cũng như khi ở ngoài nước. Trong nước, họ đã gian khổ chiến đấu chống kẻ thù và nếu may mắn không chết trên chiến trận thì chết trong nhà tù hay bị kẻ thù hành hạ tàn tệ. Ngoài nước, khi đến đất Mỹ, thể xác họ đã suy yếu vì tuổi đời, tìm việc khó khăn vì kinh tế suy thoái. Một số người lại kém may mắn hơn khi bị người thân, bạn hữu ngoảnh mặt, có khi còn bị ruồng bỏ, khinh khi. Dù trong mỏi mệt vật chất và tinh thần, đa số tập thể di dân nầy tham gia nhiệt thành với các người đến trước vào các sinh hoạt cộng đồng và các phong trào tranh đấu cho nhân quyền tại VN. Tuy nhiên, vẫn có một thiểu số người bỏ cuộc, sống trong yếm thế, có khi còn đi đi về về VN để bớt đi những ngày tháng lạc lõng trên một đất nước mà họ mơ ước trước khi họ chưa đến.
Số người tị nạn VN (thuyền nhân và ODP) trên thế giới từ 1975 đến 1996
1975-1978: Thuyền nhân: 107.613 người
1979: Thuyền nhân: 202.121 (cao điểm) + ODP: 1.979 (mới bắt đầu)
1975 - 1996: Thuyền nhân: 805 950 + ODP: 604 598
Tổng cộng Thuyền nhân + ODP = 1.410.648 người
Ngoài ra phải kể thêm 42.918 người Việt vượt thoát qua Thái Lan bằng đường bộ.
(Statistiques du UNHCR dẫn bởi Patrick Gubry, Population et développement au Vietnam. p. 288)
Số người tị nạn VN định cư tại các quốc gia trên thế giới từ 1975 đến 1996
Mỹ: 878.341; Canada: 162.777; Úc: 157.729; Pháp; 46.331; Đức: 28.896; Anh: 24.240;
Na Uy: 10.024; Hòa Lan: 9.538; Thụy Điển: 9.091; Nhựt: 8.126; Thụy Sĩ: 7.300;
Đan Mạch: 7 004; Tân Tây Lan: 6 077; Bĩ: 5 158; Phần Lan: 2 601; Ý: 678; Áo: 605;
Taiwan: 263; Côte d’Ivoire: 262; Nouvelle-Calédonie: 233; Ái Nhĩ Lan: 203; Hong Kong: 162; Hi Lạp: 125; Luxembourg: 114; Các nước khác: 105 . Tổng cộng 1.373.389 người
Statistiques du UNHCR dẫn bởi Patrick Gubry. Population et développement au Vietnam p.289).
4 - Giai đoạn 4 (từ sau 2000 đến nay): di dân kinh tế và nhân đạo
Từ sau năm 2000, di dân tị nạn gần như không còn, những người đến định cư trong thời gian sau nầy tại Mỹ và các quốc gia Tây phương là những di dân kinh tế và nhân đạo; tại các quốc gia Đông Âu và Đông Á là những xuất khẩu lao động dưới nhiều dạng khác nhau.
Tại Mỹ, đa số những di dân định cư và tạm cư thuộc các thành phần có thế lực của chế độ Cộng sản, đến Mỹ với tài sản hợp pháp và bất hợp pháp. Họ mua nhà, mua đất ở các khu sang trọng, các cơ sỏ kinh doanh lớn nhỏ, lần lần tạo thành một lớp người “Việt mới” mà người tị nạn gọi là Việt cộng.
Nhà báo, nhạc sĩ Tuấn Khanh, trong bài viết tựa là “Khu định cư mới của Việt cộng ở Quận Cam, USA” có những đoạn như sau: Trên con đường dài dẫn ra Huntington Beach có những khu nhà rất đẹp mà chủ nhân hầu hết là người Việt… Bạn tôi, một người đã sống ở nơi nầy, gần bằng thế hệ người Việt đầu tiên đặt chân đến Mỹ sau tháng 4/1975, nói rằng đó là những khu định cư mới của Việt cộng. Những ngôi nhà đó được mua rất nhanh trong khoảng vài năm gần đây, mỗi căn từ 450.000 cho đến hơn 1 triệu USD, cho thấy có một nguồn ngoại tệ khổng lồ được chuyển ra khỏi ngoài nước Việt Nam, để xây dựng một ước mơ thầm kín và khác biệt bên ngoài tổ quốc của mình. Phần lớn những người này đều nói giọng miền Bắc mới. Họ có một lối diễn đạt thời thượng thật ấn tượng. Anh bạn tôi, một người làm real estate, môi giới mua bán bất động sản kể lại cuộc trò chuyện với một khách hàng như vậy, và được biết nhà được mua bằng tiền mặt, mà người khách dằn giọng “tiền tươi”. Không chỉ ở nơi đó, nhiều năm gần đây, cộng đồng Việt Nam ở Texas cũng hay nói với nhau rằng khu Bellaire đang càng ngày càng nhiều những người chạy khỏi Việt Nam hợp pháp như vậy. Thậm chí, không chỉ xùy tiền nhanh để mua nhà, lớp này rất nhiều tiền, họ mua luôn cả cơ sở thương mại. Từ các tiệm nail với giá vài chục ngàn cho đến các siêu thị vài chục triệu USD…”
Đa số những người Việt mới đến đất Mỹ và các nước Tây Phương giàu thật, nhưng họ nghèo tư cách. Hầu hết họ là những người ít học, làm giàu bằng tham nhũng và làm ăn bất chánh trên một đất nước càng ngày càng cạn kiệt tài nguyên và gia tăng nghèo đói. Bằng cách ứng xử thô lỗ và trịch thượng của người Cộng sản, họ làm tổn thương uy tín của tập thể người Việt tị nạn đã trưởng thành trong tinh thần tự do dân chủ và được sự nể trọng của các quốc gia định cư.
Tị nạn và Việt kiều
Trong một hội nghị với các cán bộ tại Hà Nội năm 1975, Trần Phương, Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học Xã hội đã ví von một cách thô tục dân miền Nam là “những con điếm cho Mỹ làm tình để đổi lấy viện trợ”. Cùng trong tư tưởng dâm ô ấy, Lê Duẩn mạt sát những người di tản là “một bọn ma-cô, đĩ điếm”, Phạm văn Đồng chửi người ra đi là bọn phản quốc, và các nhà báo, nhà văn Cộng sản, kể cả bọn Cộng sản 30 cũng chửi hùa theo là “đồ rác rưởi trôi dạt khắp năm châu bốn bể, cặn bã xã hội, trây lười lao động, chạy theo bơ thừa sữa cặn“. Nguyễn Trọng Nhân, Bộ Trưởng Y tế còn ác độc hơn khi tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn năm 1993 tại Amsterdam: “Nên treo cổ hết bọn phản động ấy”.
Nhưng từ năm 1990, khi Cộng sản bắt đầu nhận tiền của người tị nạn gởi về, “bọn đĩ điếm” được cộng sản “nâng cấp” lên là Việt kiều, và ân tình hơn, Đỗ Mười tuyên bố “ Việt Kiều là những khúc ruột ở bên ngoài ngàn dặm của dân tộc.”
Bởi lẽ chính sách chiêu dụ người Việt ở hải ngoại không thành công với những lời phỉnh nịnh hạ cấp vì chỉ lôi kéo được một thiểu số người háo danh và vô dụng, năm 2004, Phan Diễn, Ủy Viên Bộ Chính trị xảo quyệt hơn ghi trong Nghị Quyết 36:“Đảng và Nhà Nước luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam”.
Từ đó, các nhà lãnh đạo cũng như giới truyền thông Cộng sản ra rả một cách trơ trẽn và lố bịch cái câu nầy để dụ dỗ Việt Kiều, nhưng đối với người tị nạn, họ đã quá rõ bản chất dối trá và phản bội của Cộng sản nên họ để ngoài tai.
Tưởng cần hiểu từ nguyên chữ Việt kiều để thấy rõ thâm ý của Cộng sản. “Kiều” chữ Hán có nghĩa là ở nhờ, ở làng khác hay nước khác được dùng làm tĩnh từ cho những danh từ như “kiều dân” là người sống ở ngoài lãnh thổ mà người đó đã được sinh ra, “kiều bào” là đồng bào ở nước ngoài. Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, người Hoa sống ở VN được gọi là Hoa Kiều và chế độ Hà Nội gọi những người Việt sống ở nước ngoài và ủng hộ họ là “Việt kiều yêu nước”.
Người Việt bỏ xứ ra đi tị nạn không phải là Việt kiều, kiều bào, vì những người nầy đã không chấp nhận chế độ Cộng Sản, đã sinh cơ lập nghiệp vĩnh viễn trên một quốc gia khác, đã có quốc tịch của một quốc gia khác. Gọi người tị nạn là Việt kiều, Cộng sản có gian ý là muốn “tóm thâu” cái khối chất xám nầy là “con dân” của họ, vẫn còn đặt dưới quyền sinh sát của họ.
Nghị định số 78/2009/NĐ về Luật Quốc tịch Việt Nam xác định rõ quan niệm nầy, theo đó bao giờ người mang quốc tịch VN chưa được chính phủ VN cho phép từ bỏ quốc tịch, người ấy vẫn còn quốc tịch VN dù rằng người ấy đã có quốc tịch Mỹ, Canada, Úc… Càng lộng ngôn và ngang ngược hơn, với con cháu của người Việt tị nạn, dù sinh ra và lớn lên tại các quốc gia định cư của ông cha họ, cộng sản cũng xem những người nầy vẫn có quốc tịch Việt Nam nếu chưa làm đơn xin bỏ quốc tịch và chưa được chính phủ VN chấp thuận.
Về điểm nầy, chúng ta thấy rõ chánh sách trơ tráo, đánh lận con đen của Cộng Sản.
Theo điều 13, khoản 2, Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2008 quy định rằng: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch VN theo qui định của pháp luật VN thì vẫn còn quốc tịch VN và trong thời hạn 5 năm phải đăng ký với cơ quan đại diện VN ở nước ngoài để xin giữ quốc tịch, nếu không, sau ngày ngày 1/7/2014 sẽ mất quốc tịch”.
Sau 5 năm, chỉ có khoảng 6.000 người ghi tên xin giữ quốc tịch. Trái với dự tính vì số người xin giữ quốc tịch quá ít, tháng 7/2014, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký luật gia hạn cho người muốn giữ quốc tịch thêm 5 năm nữa, tức là sẽ chấm dứt ngày 1/7/2019.
Ngôn từ Cộng Sản thật lươn lẹo, lật lọng. Sau ngày 1/7/2019, người Việt ở hải ngoại mặc nhiên vẫn còn quốc tịch VN, vẫn bị chi phối bởi Luật quốc tịch VN giải thích “rộng rãi” theo luật rừng.
Chính bà Ngô Bá Thành, chuyên viên xách động xuống đường thời VNCH, được Cộng sản phong chức Chủ nhiệm Ủy Ban Pháp Luật Quốc Hội đã ví von: Việt Nam có một rừng luật và áp dụng luật rừng.
Đối với những Việt Kiều yêu nước, Cộng Sản muốn gọi tên gì thì cứ gọi và sai bảo điều gì thì cứ làm. Nhưng đối với người Việt tị nạn Cộng sản, họ không phải là Việt kiều, Kiều bào, mà là người Mỹ, người Canadian, người Pháp, người Úc, người Đức gốc Việt… Phải gọi chính danh như vậy. Người tị nạn nào tự nhận là Việt Kiều hay Kiều Bào là vô tình hay cố ý tự nhận mình thiên Cộng hay thân Cộng, nếu không, là ngu xuẩn.
Nhân dịp tham dự hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Asean vào tháng 5/2022. Thủ tướng Phạm Minh Chính đã phát biểu trước một “nhúm Việt Kiều” của ông là: “Thủ tướng giao trách nhiệm cho Đại sứ quán thúc đẩy, tạo điều kiện cho Cộng đồng người Việt với tinh thần tốt nhất, phát triển nhanh nhất” (Báo Thanh Niên online 14/2/2022).
Thật là láo khoét, hợm hĩnh và lố bịch. Ông Thủ tướng có biết chăng khi đến các nước Tây Phương, nhất là đến Mỹ thì các ông phải cúi mình trước các nhà lãnh đạo để xin xỏ, bị người Mỹ gốc Việt biểu tình phản đối. Các ông dụ dỗ chất xám về nước giúp đỡ thì chỉ có một thiểu số tiến sĩ được đảng gởi đi mới trở về . Một đất nước dẫy đầy tham những từ trung ương đến tận làng xã, giáo dục đại học lạc hậu vì tiến sĩ giấy thì thử hỏi, toà đại sứ các ông là các đảng viên ngu dốt, thiếu tư cách thì có tài cán gì mà giúp Cộng đồng người Việt ở Mỹ phát triển nhanh nhất?
Cũng ông Thủ Tướng gốc công an của chế độ công an trị nầy, nhân buổi gặp mặt một số “kiều bào” tại San Francisco ngày 17/9/2023, ông đã tuyên bố: “Mong 2.2 triệu kiều bàotiếp tục đóng góp cho đất nước và quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ” (Báo điện tử Chính phủ 18/9/2023).
Từ lời phát biểu trên, tưởng cần xác định với chính quyền Cộng sản ai là Việt kiểu, Kiều bào:
1- Tại Pháp
Trước năm 1975 có Hội Việt Kiều Yêu Nước của chế độ Cộng sản miền Bắc với Cờ Đỏ Sao Vàng và Tổng Hội Sinh Viên của chế độ Việt Nam Cộng Hòa với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Sau năm 1975, Hội Việt Kiều Yêu Nước đổi tên là Hội Người Việt tại Pháp (Union Générale des Vietnamiens en France – UGVF) tập hợp tất cả người Việt sinh sống tại Pháp xem như là kiều bào của nước Việt Nam Cộng Sản. Hội Ngưởi Việt tại Pháp có phương tiện nhân lực và tài lực của Toà Đại sứ CS nên họ bao sân, tổ chức nhiều sinh hoạt các loại, đặc biệt là tuyên truyền cho chế độ trong nước. Tuy nhiên, số người tham dự càng ngày càng ít vì hội viên già yếu và các hội viên trẻ lần lần xa lánh chế độ vì bất tài thối nát. Trong bài tường thuật của ông Nguyễn Tuấn Anh, Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương của Mặt Trận Tổ Quốc VN nói chuyện với Việt kiều tại Pháp có đoạn:”… Tuy số hội viên không nhiều nhưng số tình cảm viên không giới hạn… Đang say sưa câu chuyện thì đổng chí cán bộ Đại Sứ quán vào thông báo đã hết giờ”. Không phải hết giờ, Việt Kiều tại Pháp đã hết thời rồi. (Hội Ngưởi Việt tại Pháp: kết nối và đồng hành, Tạp chí Mặt Trận 26/2/2018).
Về phía người tị nạn, họ tổ chức nhiều hội đoàn để tập hợp những Cộng đồng người tị nạn nhằm mục đích ưu tiên là chống Cộng sản, trong đó có Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tự Do. Tại Pháp, bởi lẽ các hội đoàn bị chi phối bởi Đạo luật 1905 cấm không cho hoạt động chính trị, do đó các hội đoàn lập ra “Văn Phòng Liên Lạc các Hội Đoàn người Việt Quốc Gia tại Pháp” để tổ chức các sinh hoạt văn hóa xã hội và có khi biểu tình phản đối các đán áp bạo lực trong nước.
Như vậy, phát sinh từ bối cảnh lịch sử, danh từ Việt kiều, Kiều bào là tên gọị những người Việt thân Cộng và theo Cộng sinh sống tại Pháp. Vào năm 2015, dựa vào số thống kê các loại, có khoảng 300.000 ngườ i VN gồm 200.000 người sinh sống ở Pháp trước năm 1975 và người tị nạn lần lượt đến Pháp sau năm 1975 đã nhập tịch và 70.000 người chờ có quốc tịch, không kể 20.000 di dân tạm trú trong đó có khoảng 6.000 sinh viên (Giá Tự Do / Lâm Vĩnh Bình, p.203).
2- Tại Anh
Người Việt tại Anh là những người tị nạn khốn khổ nhất khi đến nước Anh. Họ là những thuyền nhân ra đi từ miền Bắc đến Hong Kong bị giam trong các trại, được Thủ tướng Anh Margaret Thatcher ký nhận 10 000 người. Năm 2011, UK Census cho biết số người Việt là 28.978 người nhưng có ít nhất là 70.000 người sống bất hợp pháp bằng di cư lậu qua eo biển Manche, visa du lịch rồi ở lại. Người Việt tại Anh bị nỗi bất hạnh ở hai đầu: giới trí thức chuyên nghiệp bị xấu lây là đồng hương của bọn bất lương, người nghèo khổ trở thành nạn nhân và đồng bọn (trồng cannabis, buôn người, mại dâm, trộm cướp). Tất cả bị Tòa Đại sứ Cộng sản khống chế, họ thật sự là kiều bào của Việt cộng.
3- Tại Đức
Người Việt tại Tây Đức là người tị nạn, công dân của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, hội nhập vào xã hội và văn hóa Đức, nói thông thạo tiếng Đức và con cháu họ thường có học thức cao, đóng góp vào dòng chính của nước Đức. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ (tháng 11/1989) và nước Đức thống nhất, tại vùng Đông Đức cũ có 60.000 người xuất khẩu lao động và du sinh VN cộng sản được chính phủ Đức cấp tiền để hồi hương, nhưng phân nửa số người không chịu về, họ cùng với những đồng hương ở Liên Sô và Đông Âu tràn qua Đức xin tị nạn chính trị, tạo thành một khối 50.000 người cư trú và sinh hoạt bất hợp pháp (bán thuốc lá lậu, trồng cần sa, tổ chức mại dâm, làm băng dĩa lậu…). Họ thành lập nhiều hội lớn nhỏ sống ghetto với nhau dưới trướng của hội Liên Hiệp Người Việt toàn Liên Bang Đức trực thuộc Tòa Đại sứ VN (danh xưng gian xảo: toàn Liên Bang Đức). Như vậy, vào năm 2019, tại Đức có khoảng 150.000 người trong đó có khoảng 50.000 Việt kiều là những người xuất khẩu lao động, nhập cư lậu, dĩ nhiên là những người theo Cộng sản.
4- Tại các quốc gia Tây Âu và Bắc Âu
Đa số người Việt đến các quốc gia nầy từ năm 1978 đến năm 2000 là những người tị nạn và đoàn tụ gia đình (riêng với Bĩ và Thụy Sĩ có một số sinh viên đến trước 1975 là những người định cư vĩnh viễn, phần lớn đã nhập tịch). Những người đến sau năm 2000 là những người tạm cư gồm du sinh, xuất khẩu lao động và những người nhập cư bất hợp pháp. Cả hai nhóm nầy có quan điểm chính trị đối lập nhau: nhóm trước chống Cộng, nhóm sau thân Cộng.
Tổng cộng số người Việt tai 8 quốc gia: Thụy Sĩ, Bĩ, Ý, Hoà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan và vài quốc gia khác khoảng 125.000 người.
5- Tại các quốc gia ở Á Châu
* Đài Loan là quốc gia bị tai tiếng nhất ở Á Châu về chánh sách bóc lột người Việt xuất khẩu lao động và bạc đãi các cô dâu thông qua các công ty môi giới trá hình của bọn buôn người. Từ hàng chục năm qua, thảm cảnh nầy đã đánh động lương tâm thế giới, nhưng chính phủ VN vẫn thờ ơ, để mặc cho bọn môi giới thỏa hiệp với tham nhũng phe đảng của nhà nước bóc lột người nghèo đói. Có khoảng 220.000 người Việt trong đó thường xuyên 80.000 xuất khẩu lao động luân chuyển mỗi năm và 120.000 phụ nữ kết hôn với đàn ông Đài Loan (Wikipedia).
- Đại Hàn cũng giống như Đài Loan là quốc gia nhận xuất khẩu lao động và cô dâu VN, nhưng tương đối khả quan hơn Đài Loan về chính sách đối xử.Theo Korea Immigration Service năm 2.020 dẫn bởi KBS World Vietnamese, có 220.000 người Việt.
- Nhật Bản là quốc gia đầu tư và viện trợ hàng đầu cho VN và cũng là quốc gia chấp nhận người xuất khẩu lao động nhiều nhất sau Trung Quốc. Tháng 6 năm 2.024, số lượng người Việt tại Nhật là 600.348 người có qui chế tạm trú (theo Wikipedia) dưới nhiều dạng từ nghiên cứu sinh, kỹ sư, nữ điều dưỡng đến làm vệ sinh nhà cầu. Nhật Bản cần rất nhiều lao động chân tay, chỉ có Trung Quốc và VN là được “ưu tiên”. Ngoài ra phải kể chỉ có khoảng 5.000 người có quốc tịch Nhật là những người kết hôn với người Nhật. Người Việt ở Nhật có nhiều đặc điểm nhất: lao động siêng năng nhất, nhưng ăn cắp nhiều nhất, tội phạm nhiều nhất, sinh viên giả dạng nhiều nhất (trong số 60 000 người đến Nhật với visa học vấn chỉ có 5.000 đi học, số còn lại đi làm chui), di dân bất hợp pháp nhiều nhất qua các các công ty xuất khẩu lao động làm ăn với chính phủ, và nếu phải kể thêm là nhân viên các tòa lảnh sự, sứ quán bị trục xuất nhiều nhất vì phạm pháp.Chưa có quốc gia nào bị người dân và chính phủ khinh rẻ như Việt Nam.
- Miên, Lào, Thái: Người Việt tại Cao Miên đa số là vô tổ quốc. Trừ một thiểu số đã di cư đến từ lâu đời, đã nhập quốc tịch, đa số người di cư cũ mới đều bị chính phủ Miên kỳ thị không có hộ tịch, bị tước đoạt giấy tùy thân, sống lang bạt trên sông rạch làm nghề đánh cá hay trên ruộng rẩy làm nghề nông, nhà cửa thô sơ, tuơng lai bất định. Đó là những người Việt có số phận bi đát nhất, Không có thống kê, dân số chỉ là phỏng định. Theo RFA, năm 2.016 có 156.000, nhưng theo CIA chỉ có 10% (16.000), số còn lại không đươc Miên công nhận. Tình trạng người Việt ở Thái và Lào tương đối dễ dàng hơn, mỗi nơi có chừng 100.000 người.
6- Tại một số quốc gia ở Đông Âu
Người Việt tại Đông Âu gồm 3 thành phần:
- Người đã có quốc tịch hay có giấy chứng nhận thường trú: đó là những người XKLĐ hay sinh viên đã lâu đời đã được hợp thức hóa cùng với các hậu duệ
- Người XKLĐ theo hợp đồng
- Người di cư bất hợp pháp: ở lại sau khi hết hợp đồng, nhập cư lậu, trở thành phạm pháp tràn lan ở Đông Âu và cả Âu Châu (tổ chức đưa di dân lậu qua Đức, Pháp và điểm đến sau cùng là Anh bởi luật pháp về ma túy ở Anh nhẹ hơn các nơi khác). Ba Lan hiện nay là trung tâm sản xuất cần sa lớn nhất ở Đông Âu mà các người cầm đầu đường dây đa số là người Việt.
Các quốc gia có đông đảo người Việt:
- Nga: có giấy phép lao động chính thức là 14.700 người (2018) nhưng ở lậu có thể đến 100.000 người (Wikepedia)
- Tiệp Khắc: sau 1993 chia thành 2 nước: Tchécoslovaquie (Séc) thừa kế Tiệp Khắc về phương diện pháp lý: 35 000 (2014) (Wikepedia)
Tổng cộng người Việt tại Đông Âu khoảng 250 000 ngưởi gồm dân hợp lệ khoảng 100.000 và dân tạm cư gồm XKLĐ, du sinh, nhập cư lậu khoảng 150.000.
Tổng kê số người Việt ở hải ngoại(số chẵn, phỏng định)
Quốc gia | Số người | Nguồn (chú thích) |
Hoa kỳ | 2.350.000 | US Census 2023 |
Canada | 275.000 | Canada Census 2021 |
Úc | 300.000 | Australian Census 2023 |
Pháp | 300.000 | 2020 (tổng hợp nhiều thống kê) |
Đức | 150.000 | 2019 (100.000 tị nạn, 50.000 XKLĐ) |
Anh | 100 000 | 2011 (trong đó 70 000 bất hợp pháp) |
Tây & Bắc Âu | 125 000 | 2020 (trong đó 30 000 bất hợp pháp |
Tổng cộng tị nạn | 3.600.000 | trong đó có 150.000 bất hợp pháp, XKLĐ |
Định hợp pháp - tạm cư (XKLĐ, du sinh, bất hợp pháp | ||
Đài Loan | 230.000 | (XKLĐ: 80.000, cô dâu: 120.000) |
Đại Hàn | 220.000 | XKLĐ, cô dâu |
Nhât Bản | 600.000 | XKLĐ (Wikipedia 6/2014) |
Miên, Lào, Thái | 300.000 | Đa số không hộ tịch |
Đông Âu | 250.000 | 100.000 định cư, 150.000 bất hợp pháp XKLĐ |
Phi Châu, Trung Đông | 100.000 | XKLĐ |
Tổng cộng định cư … | 1.600.000 | |
Tổng cộng người Việt ở hải ngoại: khoảng 5, 2 triệu người | ||
Chú thích
- Ba quốc gia có số người tị nạn đông nhất là Mỹ, Úc, Canada. Đó là thành trì của người Việt quốc gia chống Cộng, tôn trọng Cờ vàng ba sọc đỏ, bào vệ và phát huy dòng văn học và văn hóa Việt Nam hải ngoại. Số người Việt tại 3 quốc gia nầy là 2.925.000 người gồm có Hoa Kỳ: 2.350 000 (2023), Úc: 300.000 (2023), Canada: 275.500 (2021).
- Về người xuất khẩu lao động (XKLĐ), trừ những người XKLĐ được miền Bắc gởi đi trước 1975 và sau 1975 đến các quốc gia thuộc khối Liên Sô (cũ) là theo Cộng sản. Trái lại, những người XKLĐ là những người dân vì nghèo đói trong nước phải chấp nhận đi nước ngoài để kiếm sống bằng cách trả tiền cho các công ty môi giới lao động từ 5000 đến 15 000 Mỹ kim gọi là lệ phí. Họ hay thân nhân họ phải bán nhà, bán đất hay thế chấp tài sản cho ngân hàng (gọi là sổ đỏ). Số phận họ bị đong đưa theo vận may, hi vọng trả hết nợ để có chút vốn khi về nước. Nhưng thế giới Cộng sản là thế giới của lừa đảo. Nhiều công ty môi giới đưa người ra nước ngoài rồi phủi tay, hành xử theo lối đem con bỏ chợ. Người XKLĐ bị áp bức, bị bóc lột, không được trả lương như hợp đồng, bị hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn, bơ vơ nơi xứ người không biết liên lạc với ai. Thảm cảnh của những người XKLĐ cũng như những cô dâu kết hôn với Đài Loan, Đại Hàn… không bút mực mà nói hết được. Chính sách XKLĐ của Công sản đã phơi bày bản chất vô trách nhiệm, vô nhân đạo, lợi dụng sự nghèo đói của người dân để chia chác với những công ty quốc doanh hay phe nhóm của cấp lãnh đạo nhẫn tâm bóc lột người nghèo. Đó là một tội ác của bọn vô học, vô đạo.
- Về người di cư, định cư bất hợp pháp
Nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối diện với tình trạng định cư bất hợp pháp do nhập cư lậu, người đến với visa du lịch rồi ở lại sau khi hết hạn, người XKLĐ ở lại sau khi hết hợp đồng, các tổ chức mafia và buôn người đưa người nhập cảnh lậu qua Nga hay Trung Quốc rồi đến Pháp, Đức và sau cùng là Anh Quốc. Ngoài ra, tại Nga, Tiệp Khắc, Ba Lan, Đông Đức (cũ) , mỗi nước có từ vài ngàn đến vài chục ngàn người Việt nhập cư lậu, tập trung tất cả các tội phạm tổn hại đến uy tín của người Việt Nam.
Nói tóm lại, Cộng Sản thật ác độc, chúng cướp miền Nam rồi đẩy dân Việt Nam ra ngoại quốc gồm 3, 6 triệu người tị nạn và 1, 6 triệu người xuất khẩu lao động và nhập cư bất hợp pháp.
Việt Kiều, Việt Cộng và Nghị Quyết 36
Nhiều người Việt tị nạn không biết hay xem thường những tác hại của Nghị Quyết 36 viện lẽ không làm chính trị. Ban hành vào tháng 3 năm 2004, Nghị Quyết 36 nhằm mục đích chiêu dụ người Việt ở hải ngoại và đem tài sản về nước để gọi là đầu tư, đồng thời tìm cách khống chế lực lượng người Việt ngoài nước. Nói chung, Nghị Quyết 36 có thể tóm lược trong 5 điểm:
- Giúp người tị nạn trong việc sinh sống
- Giúp người tị nạn đoàn kết lẫn nhau
- Thu góp tiền bạc và chất xám
- Biện pháp đối với các thành phần ở hải ngoại chống lại Đảng và Chánh phủ
- Tổ chức văn hóa vận và tình báo ở hải ngoại
Nhận định từng điểm, NQ 36 mang bản chất láo khoét, gian manh, thù nghịch và trịch thượng.
1- Giúp người tị nạn trong việc sinh sống
Trong một buổi gặp mặt với các “kiều bào” tại California ngày 17/05/2022, cũng ông Thủ tướng Phạm Minh Chính ra chỉ thị: “Thủ tướng yêu cầu các cơ quan đại diện ngoại giao tiếp tục chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của bà con, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt sinh sống, làviệc…” (https://www.vietnamplus.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-gap-mat-kieu-bao-tai-california)
Thật là lố bịch và sống sượng. Các ông có uy tín, có khả năng gì mà giúp cho người Việt ở Mỹ sinh sống. Các ông đã và đang biến người dân trong nước, nhất là miền Nam, trước kia trù phú thì nay trở nên bần cùng, xã hội mất đạo lý, các tiến sĩ mua bán như ở chợ trời, giáo dục tụt hậụ, tham nhũng từ ông đảng trưởng đến ông xã trưởng. Các ông xuất cảng đủ thứ tệ trạng gian manh tại những nơi mà nhân công cán bộ các ông đi qua, làm xấu xa dân tộc. Tại Nhật, Mã Lai, Thụy Điển, nhiều cửa hàng treo bảng hiệu: “Cảnh cáo ăn cắp / No dog, no Vietnamese”
Một đất nước mà sinh viên vừa tốt nghiệp là… thất nghiệp, nhưng chính phủ các ông lại tự hào công bố “giai đoạn 2017-2023, gần 860.000 lao động VN ra nước ngoài làm việc…” ( https://vnbusiness.vn/viet-nam/gan-860-000-lao-dong ). Trên thế giới, có quốc gia nào lùa hằng triệu người dân nước mình đi làm lao động cho nước ngoài rồi buộc nguời lao động chia lương?
2- Giúp người tị nạn đoàn kết lẫn nhau
Khuynh đảo, lừa gạt, xảo trá là sở trường của Cộng Sản. Chúng áp dụng kỹ chiến thuật tuyên truyền của Goebbels: Nhắc đi nhắc lại hoài một sự việc không đúng sự thật, ban đầu người ta không tin, lần lần người ta bán tín bán nghi, sau cùng người ta tin là sự thật. Internet và báo chí là những phương tiện hữu hiệu để chúng bôi lọ những người quốc gia tranh đấu chân chính, làm yếu đi lực lượng chống Cộng để từ đó chúng đưa người của chúng vào các hội đoàn. Nhiều tổ chức tranh đấu chính trị đã bị chẻ làm đôi, làm ba và khi các cộng đồng hay tổ chức này bị chúng đánh cho yếu đi hay tan vỡ thì chúng dùng tiền để mua chuộc đám Việt kiều, Việt gian nhảy ra làm bình phong cho chúng hoạt động. Mặc dù chúng dùng mọi mưu chước nhưng cho đến nay, chúng vẫn không thành công lắm trong công tác vận động quần chúng ở Bắc Mỹ, Úc và vài quốc gia ở Tây Âu.
Tuy nhiên, chính sách vừa chiêu dụ vừa khủng bố của Cộng sản có gây tác hại tại Bắc Âu và Đông Âu. Trong các thập niên qua, các tòa đại sứ hay lãnh sự Cộng sản đã nỗ lực thiết lập và củng cố 13 cộng đồng người Việt theo chủ trương của NQ 36: “… Nếu chúng ta phát huy cao độ các lợi thế của các lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài để phân hóa, cô lập các lực lượng phản động thì chúng ta có thể hạn chế một cách hiệu quả thiết thực các thế lực thù địch…”. Mười ba cộng đồng Cộng sản nầy là: 4 tại các quốc gia trước đây là cộng sản (Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga, Đông Đức), 4 tại các quốc gia có nhiều xuất khẩu lao động (Đại Hàn, Đài Loan, Qatar, Angola), 5 tại các quốc gia ít có người tị nạn (Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Sĩ).
3 - Thu góp tiền bạc và chất xám
Chuyện chiêu dụ người Việt nước ngoài gởi tiền về trong nước và thu góp tiền của những người xuất khẩu lao động thì quá rõ.
Theo Migration Policy Institute (MPI) dựa vào biểu đồ thống kê Annual Remittance flows by Vietnam, 2000 - 2023, tổng cộng số ngoại tệ người Việt gởi về VN (Cộng sản gọi là kiều hối) là 177 tỉ mỹ kim (năm 2000: 1.60 tỉ, năm 2023: 14 tỉ). Theo bài viết của Mặt trận Đại Đoàn Kết tựa là Cộng Đồng Người Việt ở nước ngoài đăng ngày 09/02/2024: “Dòng kiều hối đổ về Việt Nam đã có sự dịch chuyển từ tiêu dùng, hỗ trợ gia đình sang đầu tư, kinh doanh trong nước. Kiều hối năm 2023 đạt 16 tỉ USD, tăng 32% so với năm 2022. Tổng lượng kiều hối từ 1993 – 2023 đạt khoảng 230 tỉ USD, tương đương với nguồn vốn FDI đã giải ngân trong cùng kỳ”.
Thực ra, số tiền chính phủ Cộng sản thu góp về từ năm 1980 đến nay phải cao hơn rất nhiều, vì ngoài số thống kê chính thức như của MPI kể trên, còn phải kể thêm tiền gởi chui, tiền tiêu xài của gần nửa triệu người VN về “thăm quê hương”, tiền đóng góp của khoảng 1 triệu người xuất khẩu lao động trước khi đi và suốt thời gian làm việc.
Về phía người tị nạn, thật là khó hiểu khi nhiều người đã ra đi tìm cái sống trong cái chết để vượt biển, vượt biên sau những ngày đói rách, khổ nhục hay bị lao tù trong nước. Chẳng bao lâu sau đó, họ lại quay trở về để tiếp tục luồn cúi, nịnh bợ công an, cán bộ phường xã, những người trước đó không lâu là kẻ thù của họ. Vui thú, vinh quang gì? Cứ mỗi lần Tết đến, có khoảng nửa triệu người về VN ăn Tết, mỗi người mang về VN quà tặng và chi tiêu trung bình khoảng 4000 mỹ kim, như vậy Cộng sản có được dễ dàng ít nhất 2 tỷ mỹ kim ngoại tệ chỉ trong hai tháng. Ngoài ra, việc gởi tiền về VN triền miên từ hơn 40 năm qua để gọi là giúp đỡ thân nhân cũng là hiện tượng cần suy nghĩ, bởi lẽ chính số ngoai tệ khổng lồ nầy đã nuôi dưỡng, củng cố chế độ và duy trì một lớp thân nhân ỷ lại lười biếng, thỏa hiệp với công an để được dễ dàng trong cuộc sống. Dưới lăng kính nầy, người tị nạn có khác gì những Việt kiều yêu nước hay xuất khẩu lao động thân Cộng? Có gì phi lý hơn, khi người Việt ở Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Tây Đức là thành trì chống Việt Cộng, nhưng đồng thời cũng là đại ngân hàng tài trợ cho Việt Cộng.
4- Biện pháp đảng Cộng Sản đối với “thế lực thù địch” ở hải ngoại
Ngay từ đầu năm 1976, những Cộng Đồng Người Việt (hay còn gọi là Hội Người Việt) đã bắt đầu được hình thành để phát triển tinh thần ái hữu, tương trợ, hỗ trợ và tổ chức các sinh hoạt tranh đấu cho tự do và nhân quyền trong nước và ngăn chận các sinh hoạt tác hại đến tinh thần quốc gia ngoài nước. Đối với Cộng sản, các Cộng đồng nầy là một lực lượng chính trị nguy hiểm mà họ phải triệt hạ bằng nhiều mưu chước theo Nghị Quyết 36.
Tập san Cộng sản, cơ quan chính thức của đảng đã viết:
“… Tính đến nay, có hơn 100 tổ chức chính trị phản động người VN ở hải ngoại đang nuôi chí phục thù nhằm thực hiện ý đồ đen tối phục quốc. Cầm đầu các hội, các nhóm trên là những phần tử cực đoan, từng là ngụy quân ngụy quyền cũ, có nhiều nợ máu với cách mạng. Chúng đã, đang móc nối, cấu kết chặt chẽ với nhau và với bọn phản động trong nước để hoạt động chống phá cách mạng nước ta…” (Tạp chí Cộng sản. Phát huy vai trò của Cộng Đồng ( http://tapchicongsan.org.vn ngày 28/05/2013).
Đến năm 2018, chúng vẫn còn giữ nguyên giọng hằn học: “Hơn 40 năm sau ngày phải bỏ xứ ra đi, sống đời lưu vong vất vưởng ở nơi đất khách quê người, một số kẻ chống Cộng cực đoan vốn là tàn dư của một chế độ bán nước hại dân vẫn không tỉnh ngộ để kết thúc bẽ bàng của số phận, vẫn nuôi ảo vọng về ngày phục quốc...” (Mặt thật chống Cộng của người Việt nước ngoài / Tuyên giáo, 25/10/2018).
Sở dĩ chính quyền Cộng sản hằn học như vậy vì cho đến nay, không một người lãnh đạo nào của chính phủ Cộng sản đến các quốc gia Tây phương mà không bị các Cộng đồng tị nạn biểu tình phản đối, có khi phải nhục nhã vô ra bằng cửa đặc biệt không có nghi thức ngoại giao.
Theo một nghiên cứu của Như Ngọc T. Ông và David Meyer, chỉ trong vòng 25 năm, từ 1975 đến 2001, Cộng Đồng người Việt tại Mỹ đã tổ chức hơn 200 cuộc biểu tình hợp pháp chống lại chánh sách cai trị của Cộng sản, vi phạm nhân quyền hay sự có mặt của những nhân vật cao cấp của VN đến Mỹ (Protest and Political Incorporation. Vietnamese American Protest in Orange County, California 1975-2001).
Ngoài ra, bởi lẽ VN không có chính nghĩa, tại nhiều quốc gia trên thế giới, Cờ vàng ba sọc đỏ được công nhận tượng trưng là quốc kỳ của Việt Nam Cộng Hòa hay là Cờ Tự Do và Di Sản (Freedom and Heritage Flag).
5 - Tổ chức văn hóa vận và tình báo
- Trường dạy tiếng Việt và sinh hoạt tập thể cho thanh thiếu nhi là lò huấn luyện, tuyên truyền. Tại những nơi có đông đảo người Việt, cán bộ Cộng sản chủ động hay hợp tác với các đoàn thể, tư nhân mở trường dạy tiếng Việt, đưa sách báo từ VN sang, hay soạn sách theo quan điểm tuyên truyền cho Cộng sản. Những buổi sinh hoạt tập thể là những cơ hội thuận lợi để cán bộ hay thầy cô thân Cộng rỉ tai, hướng dẫn những măng non theo tư tưởng Cộng sản. Tùy mức độ ảnh hưởng, chính sách văn hóa vận nầy tạo một tư tưởng chống đối của giới trẻ với ông cha trong công cuộc chống Cộng. Trong đại hội “Tổng kết 10 năm thực hiện NQ36” ngày 22 tháng 5, 2014, Thứ Trưởng Giáo Dục Trần Quang Quý đã có chỉ thị rõ rệt “… Cần sớm có quy chế về việc dạy tiếng Việt cho người Việt nước ngoài, đặc biệt thế hệ thứ ba, thứ tư để việc kết nối giao lưu được thuận lợi…”
- Xâm nhập các cơ quan truyền thông
Cộng Sản đã tung ra hàng triệu mỹ kim để thành lập, hùn vốn mua chuộc các cơ sở truyền thông ở hải ngoại, bề mặt chửi bới Cộng Sản linh tinh, nhưng thỉnh thoảng gài vào những bản tin, bài viết vận động chính trị chiến lược có lợi cho Cộng sản. Trong bản tổng kết Hội nghị Người Việt nước ngoài lần thứ hai từ ngày 27-29 tháng 09 năm 2012 ở TP Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã nói rõ chương trình hành động: “Tăng cường công tác thông tin đối ngoại, tăng cường đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt ở nước ngoài như đài phát thanh, TV, báo chí, thông qua tổ chức các buổi giao lưu văn hóa, nghệ thuật, triển lãm tranh ảnh về đất nước, các hoạt động”. - Gởi sư quốc doanh ra hải ngoại lập chùa, tu viện
- Chùa là nơi gia đình người Việt tị nạn gặp nhau để lễ Phật, niệm kinh, và còn là nơi sinh hoạt xã hội, văn hóa. Biết như vậy, Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã ký kết với Hòa Thượng Thích Thanh Tứ (Tứ chớ không phải Thích Thanh Từ) Phó Chủ tịch Hội Đồng Trị sự Giáo Hội Phật giáo VN ngày 16 /07/2009 một văn kiện nhằm “ phối hợp cộng tác phât sự ở nước ngoài, mở rộng quan hệ, hoạt động của giáo hội sang các nước có đông kiều bào sinh sống”. Từ hàng chục năm nay, tại hải ngoại có nhiều chùa, tu viện được thành lập, mà sinh hoạt chùa không theo truyền thống tôn nghiêm của Phật pháp. Những ngôi chùa nầy tổ chức đại nhạc hội, du lịch, thi hoa hậu và nhiều sinh hoạt của đời thường. Một số thầy chùa, sư nữ gốc là công an, tác phong không phù hợp với người tu hành, làm người phật tử chân chính chán ngán. Ngôi chùa trở nên cơ sở kinh tài cho cá nhân và đảng, sư quốc doanh làm công tác báo cáo, tuyên truyền cho chế độ. Nghị Quyết 36 đã làm tổn hại rất nhiều đời sống tâm linh của người tị nạn.
Kết luận
Ngay từ khi đặt chân trên đất mới, người Việt tị nạn đã mang theo mối thù với Cộng Sản. Trực diện với khó khăn, con người cần tìm gặp nhau để đùm bọc che chở cho nhau, do đó các Hội ái hữu, Hội người Việt (còn có tên là Cộng đồng người Việt) lần lượt ra đời ngay từ 1976 để điều hợp và phát triển các sinh hoạt ái hữu, hội nhập và chính trị của người Việt trong vùng.
Ngoài sinh hoạt riêng theo mục đích của từng hội, mẫu số chung của tất cả các hội là chủ trương quốc gia, hay nói khác là chống Cộng Sản. Mỗi người có mỗi cách chống Cộng khác nhau: có người hăng hái đi biểu tình chống đối những vi phạm nhân quyền của Cộng sản tại quê hương, có người nhất định không về VN, không giúp đỡ VN dưới mọi hình thức, có người viết văn viết báo chống đối chế độ, nhưng đa số, dù không tham gia các sinh hoạt nổi hay chìm, tâm tư của gần như tất cả người Việt là không chấp nhận chế độ Cộng sản.
Nói đến thế hệ con cháu là nói đến một nỗi ưu tư khác. Đa số thế hệ người Việt thứ hai và đặc biệt thế hệ thứ ba đã quá hội nhập vào xã hội định cư đến độ quên mất gốc nguồn. Không có một dân tộc nào xóa bỏ căn cước (identité) một cách nhanh chóng như dân tị nạn Việt Nam.
Tuy nhiên, phải hiểu rằng hoàn cảnh lập cư đặc biệt của người Việt, đa số phải bắt đầu làm lại cuộc đời lúc nửa đời người. Họ phải học hỏi và tìm cách hội nhập vào một nền văn hóa xa lạ cùng lùc với con cháu họ, và bởi lẽ ước muốn tạo dựng lại một thế đứng, một quân bình đã khiến họ phó thác cho xã hội mới và văn hóa mới đào tạo đám con cháu họ. Thanh thiếu niên cũng phải phấn đấu tìm chỗ đứng, chúng cũng không muốn suy nghĩ và hành động khác biệt với bạn hữu của chúng là người da trắng, chủ nhân đất nước đã đón nhận chúng. Trong một hoàn cảnh như vậy, nếu đa số người Việt, sau một thời gian làm việc cật lực có thể ổn định được đời sống kinh tế, mua sắm được gia cư, và trẻ con Việt Nam đa số là những học sinh, sinh viên giỏi, những chuyên viên lành nghề, thì chuyện giới trẻ không nói được tiếng Việt, thờ ơ hay quên gốc nguồn cũng là chuyện dễ hiểu. Đó là cái giá hội nhập phải trả của một dân tộc vô tổ quốc, thiếu cơ cấu cộng đồng để nương tựa, thiếu cơ cấu gia đình để gìn giữ giềng mối, đành phải khuất phục hay có khi tự nguyện khuất phục trước sự đàn áp của một ngôn ngữ và văn hóa mạnh hơn.
Ngoài ra, phải kể thêm một yếu tố khác là trong số người Việt ở ngoài nước trên thế giới không phải chỉ có người tị nạn chống Cộng mà còn có người Viêt thân Cộng và Việt cộng. Sau 50 năm định cư trên các quốc gia Tây phương, với nỗ lực học hỏi và xây dựng, đại đa số 3, 6 triệu người tị nạn đã an cư lạc nghiệp, hội nhập vào dòng chính xã hội và trở thành giới trung lưu trở lên. Bất hạnh thay, trong số người Việt đổng hương còn có 1, 6 triệu người không cùng chính hướng. Đó là những người xuất khẩu lao động hợp pháp và bất hợp pháp, những người nhập cư bất hợp pháp, những người phạm pháp. Họ là những nạn nhân của chế độ bạo ngược, thất nhân tâm, buôn người, vì họ phải đóng tiền cho lãnh đạo và đồng bọn để đi làm thuê ở xứ người. Họ cũng là tác nhân tự nguyện làm điều bất phải. Nói cho cùng, so với hàng mươi triệu người nghèo cùng cực ở Việt Nam mà lợi tức mỗi ngày chỉ có 1, 25 mỹ kim, những người thương phế binh lê lết trên đường phố hay phải bán vé sồ, những người ăn ngủ dưới gầm cầu xó chợ, những nông dân không có ruộng phải đi gặt cấy mướn, thì các người XKLĐ vẫn có nhiều cơ may hơn vì các XKLĐ còn có thể đóng 5.000 -15.000 mỹ kim để mua vé đi nước ngoài. Nhìn dưới góc cạnh nầy, người tị nạn Cộng sản không cùng một phía với người XKLĐ đa số gốc là thân Cộng hay theo Cộng.
Trên thế giới, không có quốc gia nào có toàn bộ giới lãnh đạo là công an và quân đội.
- Đại tướng Tô Lâm, gốc là lính công an, dốt đặc cán mai, tự xưng có tiến sĩ, trở thành Bộ trưởng Công an rồi nay là Tổng Bí thư của cả nước. Nhân chuyến công du ở Anh Quốc, vào tháng 11/2021, ông đã hả họng để cho đầu bếp một nhà hàng sang trọng nhất ở Luân Đôn cầm một que sắt dài đút cục steak trát vàng vô miệng ông giống như cảnh người cho dã thú ăn qua lưới sắt trong Sở Thú. Bức ảnh được phổ biến khắp thế giới, nhiều hí họa vẽ con chó VN táp thịt bò.
- Đại Tướng Lương Cường (quân đội), vừa được phong là Chủ tịch nước hồi tháng 10, đi công du lần đầu tiên ở Chile ngày 10/11/2024 dẫn theo tên Lại Đức Tuấn, bác sĩ cận vệ, thì đêm hôm ấy, Tuấn bị kết tội xâm phạm tình dục trong một khách sạn của chính phủ, bị chính phủ Chile ra lịnh trục xuất ngay (thay vì bị ra tòa còn nhục nhã quốc thể hơn).
- Trung Tướng Công an Phạm Minh Chính, nay là Thủ tuớng, người được giới trí sĩ chân chính VN nhận định là “nói như Vẹm, phô trương và khoác lác”. Ông nầy lại ăn nói theo kiểu côn an (đồ), trong một buổi gặp mặt Việt kiều ở San Francisco ngày 17/9/2023, ông đã nói với một thuộc cấp ngoài hành lang bị thu âm: “rõ ràng, sòng phẳng, mẹ nó sợ gì”.
Nhìn những gương mặt và thành tích “không giống ai” của các lãnh đạo chóp bu nầy, nầy, người Việt Nam phải xấu hổ với thế giới về kiến thức và cung cách của đám con cháu của “Bác”.
Chỉ Có Ở XHCN Việt Nam
60 Năm Trước & Bây Giờ?
60 năm trước, ai cũng
mong có con, đông con là có phúc.
Bây giờ nhiều người lại
e ngại chuyện sinh con.
60 năm trước, con cái một
lòng kính trọng cha mẹ.
Bây giờ cha mẹ lại phải
học cách lắng nghe và tôn trọng con.
60 năm trước, người ta
dễ nên duyên nhưng lại khó rời bỏ nhau.
Bây giờ gặp nhau đã
khó, giữ nhau còn khó hơn… nhưng buông lại rất nhanh.
60 năm trước, người ta
nói ít nhưng sống tình nghĩa.
Bây giờ nói rất nhiều…
mà lòng người lại xa cách.
60 năm trước, hàng xóm
tối lửa tắt đèn có nhau.
Bây giờ ở sát căn hộ
chung cư… mà chẳng biết tên nhau.
60 năm trước, người ta
rời làng quê nghèo khó để lên phố mưu sinh.
Bây giờ nhiều người rời
phố đủ đầy… để tìm lại bình yên.
60 năm trước, bữa cơm
gia đình là điều giản dị mỗi ngày.
Bây giờ muốn ăn cùng
nhau một bữa cơm… cũng phải sắp lịch.
60 năm trước, ai cũng
mong đầy đặn để chứng tỏ ấm no.
Bây giờ lại cố gắng gầy
đi để giữ sức khỏe và hình ảnh.
60 năm trước, người có
của thường sống giản dị.
Bây giờ không ít người
sống vì vẻ ngoài hào nhoáng.
60 năm trước, một người
làm việc đủ nuôi cả nhà.
Bây giờ cả nhà cùng
làm… vẫn thấy chưa đủ.
60 năm trước, người ta
đọc sách để mở mang hiểu biết.
Bây giờ lướt màn hình để
giết thời gian.
60 năm trước, hạnh phúc
là đủ ăn, đủ mặc, gia đình sum vầy.
Bây giờ có nhiều thứ
hơn… nhưng lại khó cảm thấy đủ.
Có lẽ, thứ chúng ta thiếu
không phải là vật chất, mà là cảm giác “đủ”
Nguồn FB
Tưởng Nhớ Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa - Nguyễn Duy Phước
Viết Về Người Lính Địa Phương Quân - Nguyễn Hữu Nghĩa
"Nhân ngày 19 tháng 6, tôi xin ghi nhận sơ khởi một vài nét về sắc lính Địa Phương Quân mà tôi đã trực tiếp dự phần, như một cách bù đắp cho họ trong muôn một. Mong rằng bài viết này sẽ là một gợi ý nhỏ bé để có thêm nhiều người khác cùng viết, giúp điểm xuyết cho bức tranh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được đầy đủ hơn.“
Nguyễn Hữu Nghĩa
Ngày QL/19/6/2024
*******
Trước nay tôi rất ít khi viết về đời lính. Thứ nhất, vì không tránh được cái tôi (đáng ghét). Thứ hai, vì tôi chỉ là lính con so (10 tháng quân trường, 8 tháng chiến trường), là cấp chỉ huy thấp nhất (chuẩn úy) ở binh chủng “mạt” nhất (Địa Phương Quân), công trận chưa có gì để hãnh diện. Tôi vẫn nghĩ rằng, muốn viết về lính, tác giả nên là một quân nhân có binh nghiệp lớn (cao cấp, thâm niên), xuất thân từ những Binh chủng oai hùng (Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân), vào sinh ra tử (Biệt Kích), bay bướm (Không Quân) hay pha chút lãng mạn (Hải Quân). Tác phẩm nên đề cập những mặt trận lớn (Hạ Lào, Bình long, Xuân lộc, Dakto), những địa điểm danh tiếng (Khe Sanh, Charlie).
Trong gần hai mươi năm ở hải ngoại, tôi đọc nhiều sách viết về người lính Việt Nam [Cộng Hòa], biết thêm những chiến tích hào hùng, sự làm việc cần mẫn tận tụy và sự hy sinh anh dũng của nhiều chiến hữu lớp trước, với lòng ngưỡng phục và biết ơn tác giả. Tuy nhiên, bên cạnh đó, tôi vẫn thấy thiếu thiếu một cái gì nhỏ bé nhưng gần gũi và thân thuộc. Gần đây, đọc bài của Nguyễn Văn Thông trên Làng Văn số 166, tôi nhìn ra sự thiếu vắng ấy. Đó là chưa có, hay hiếm có, sách vở viết về đời sống nhọc nhằn và sự hy sinh âm thầm của người lính Nghĩa Quân, Địa Phương Quân (mà họ chua chát gọi tắt là Nghĩa Địa).
Riêng tôi, trong mấy tháng ngắn ngủi ngoài chiến địa, tôi có đầy ắp kỷ niệm với họ, đã chứng kiến họ sống và chiến đấu, đã nhìn thấy họ dũng cảm hy sinh như những anh hùng. Nhân ngày 19 tháng 6, tôi xin ghi nhận sơ khởi một vài nét về sắc lính Địa Phương Quân mà tôi đã trực tiếp dự phần, như một cách bù đắp cho họ trong muôn một. Mong rằng bài viết này sẽ là một gợi ý nhỏ bé để có thêm nhiều người khác cùng viết, giúp điểm xuyết cho bức tranh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được đầy đủ hơn.
Như trên đã nói, kiến thức quân sự của tôi chỉ là những gì thu thập được ở quân trường, và qua thực tế hạn hẹp của một đơn vị nhỏ ở một tỉnh. Tôi ước mong đón nhận những ý kiến xây dựng, những chỉ bảo cần thiết để bổ túc, sửa chữa đoạn bài viết về sắc lính này.
Lần đầu tiên ra nhận đơn vị, đứng trước hàng quân, tôi hơi ngỡ ngàng. Trước mặt tôi là Trung Đội 1, Đại Đội 1, Tiểu Đoàn Bạch Hổ 401, chủ lực Địa Phương Quân thuộc Tiểu khu Kiến hòa, tập hợp ở một góc sân cờ ở trại gia binh, hậu cứ tiểu đoàn. Trừ những người nghỉ bệnh, bị thương, đi phép, trễ phép, nằm quân lao, còn lại tất cả 16 người lính tuổi từ mười tám tới ngoài năm mươi và hai hạ sĩ quan. Ai nấy mắt hơi lạc thần vì mệt mỏi, thân thể hầu hết gầy gò, quần áo rách rưới, tóc tai bờm xờm, có người râu dài lưa thưa, có người mặt mày dớn dác như sợ hãi, có người lầm lì dữ tợn.
Tôi đứng trước họ, có cảm tưởng đứng trước những "anh hùng" Lương Sơn Bạc, vừa hơi e dè, vừa hơi ngại ngùng và vừa hơi thất vọng. Họ cũng hơi thất vọng và phân vân. Sự phân vân trước một cấp chỉ huy trực tiếp mới ra trường, không một chút kinh nghiệm lãnh đạo chỉ huy và tác chiến. May mà năm đó tôi đã 22 tuổi tây, "già" hơn vài tuổi so với phần lớn các chuẩn úy mới ra trường. Trừ đầu tóc hớt ngắn và bộ quân phục còn khá mới với dấu alpha ở bâu và dấu hiệu "Cư An Tư Nguy" của Trường Bộ Binh Thủ Đức bên vaị. Mặt mày tôi cũng có vẻ phong sương chút chút nhờ nắng gió quân trường.
Một cách vắn tắt, tôi giới thiệu vài điều về tôi: gốc thầy giáo, tình nguyện nhập ngũ, tuổi tác, vợ con. Tôi yêu cầu họ lần lượt xưng tên, và tôi bắt tay từng ngườị Tay họ phần lớn chai sạn và khô như củị Có người nắm chặt tay tôi như sắp sửa đấu vật, có người đưa tay cho tôi nắm. Mắt họ nhìn vào khoảng không hay nhìn xuống đất. Có người cười cười, nụ cười lợt lạt, có người mím chặt môi như bị tra tấn. Tôi nói với họ vài điều sơ sài về tình hình đất nước, Hiệp Định Đình Chiến Paris đã ký, về ngưng bắn tại chỗ, ngưng bắn da beo, về việc Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vi phạm lệnh ngưng bắn hàng ngày, luôn luôn giành dân lấn đất để mong chiếm ưu thế nông thôn, lấy nông thôn bao vây thành thị...
Gió chiều hiu hắt thổi, tôi thấy những chiến hữu của tôi lim dim chống lại cơn buồn ngủ. Tôi biết họ không quan tâm những điều tôi nói. Là quân nhân, họ chờ lệnh, tuân lệnh và thi hành lệnh. Đối tượng của họ là Việt Cộng . Đời họ là sự tiếp nối của những cuộc hành quân càn quét, truy kích, đột kích, giải vây, tiếp tế đồn bót, giữ cầu, giữ đường. Họ không cần biết những chuyện cao xa hơn lệnh lạc trực tiếp: tập hợp, tan hàng, cấm trại hay xả trại, nếu xả trại thì được đi bao lâu, một ngày hai ngày, nếu cấm trại thì có thể chui rào trốn ra trong mấy giờ?
Tôi không phải là sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị, tôi là sĩ quan tác chiến, tôi không nên bắt họ nghe chuyện chính trị, mà nên cho họ tan hàng, nghỉ ngơi hay vui chơi trong khi chờ lệnh hành quân. Tôi hiểu Tôi vắn tắt hơn, yêu cầu họ thực lòng hợp tác với tôi trong những ngày sắp tới, hãy coi tôi như anh em, giúp đỡ lẫn nhaụ Tôi nhắc họ giữ đúng quân kỷ, thi hành lệnh một cách đầy đủ và nghiêm chỉnh. Tôi tiết lộ cho họ biết tôi từng là Sinh Viên Sĩ Quan Kỷ Luật Đại Đội ở quân trường, tôi từng... hét ra lửa và họ có thể kiểm chứng điều này với mấy ông chuẩn úy học cùng đại đội với tôi ở quân trường và nay cùng về đơn vị với tôi Vài phút sau khi tan hàng, một ông lính tới bá vai tôi, cười cười:
Tôi thấy ông hiền quá, đúng là thầy giáo, chắc ông không chỉ huy được đâu!
Đó là những giây phút đầu của tôi ở một đơn vị Địa Phương Quân.
Sự thất vọng của tôi qua mau khi tôi sống với họ qua một vài ngày ngoài chiến trường. Sự già dặn của họ về kinh nghiệm chiến đấu, sự gan dạ của họ khi đối diện với địch quân và nhất là sự chịu đựng của họ trước nghịch cảnh khiến tôi cảm thấy nhỏ bé và non dại trước họ hơn bao giờ hết. Mặc cảm này cũng phôi pha nhanh trong tôi, một phần nhờ sự độ lượng và tinh thần đồng đội của họ.
Họ sung sướng chỉ cho tôi cách chạy qua một cái cầu khỉ cong queo, không tay vịn, gập ghềnh có khi dài mười mấy thước và ghê gớm hơn hết là nhớp nháp bùn sình, trơn như thoa mỡ. Họ nhắc cho tôi khi nào phải bắt đầu nấu nước sôi ngâm bọc gạo sấy để nó kịp nở trước khi ăn.
Thấy tôi lóng cóng nhóm lửa theo kiểu hướng đạo sinh, họ mỉm cười sẻ cho tôi một ít nước sôị. Thấy tôi ăn cơm với muối vừng, họ mời tôi những thức tươi nóng mà họ tìm được đâu đó trong lúc di chuyển. Họ chỉ cho tôi những dấu vết tình nghi của mìn bẫy, trái nổ cài khắp nơi trong vườn tược, chỗ lên mương xuống mương, bếp núc, cầu đường. Tôi đã học kỹ điều này trong quân trường, nhưng thực tế ngoài chiến trường còn phong phú và phức tạp gấp trăm lần.
Họ bày cho tôi cách căng võng sao cho khỏi sương mưa, tránh bớt đường đạn bắn sẻ, tránh tầm lựu đạn. Họ dạy cho tôi khi ngủ súng ống, dây mang đạn để đâu; khi ngủ lúc nào thì phải bỏ võng nhảy xuống hố cá nhân sũng nước, khi nào thì cứ tỉnh bơ dù nghe tiếng "đề pa" của súng cối Việt Cộng. Họ bày cho tôi cách giữ súng cho khỏi hóc, khỏi ướt khi qua sông, qua suốị. Họ truyền kinh nghiệm tháo súng chùi súng cấp thời ngoài chiến trường, để khi cần, có thể ráp lại được trong vòng 15 giây.
Họ hướng dẫn cho tôi cả cách... đi đại tiện sao cho an toàn, tránh gây hôi thối chỗ đóng quân mà không phải đi xa ra ngoài vọng gác, vừa nguy hiểm vừa làm lộ vị trí đóng quân. Họ biết đủ thứ, hơn tôi đủ thứ và sung sướng dạy bảo tôi về mọi thứ! Tôi chỉ hơn họ có mỗi cái bằng trung đội trưởng, cái bản đồ kèm phóng đồ hành quân và cái máy truyền tin để nhận lệnh từ thượng cấp.
Họ thường ngập ngừng hỏi tôi với sự nể nang:
Còn bao xa nữa chuẩn úy?
Liệu tối nay mình ngủ đâu chuẩn úy?
Chừng bao lâu thì mình bắt tay được cánh quân bạn?
Liệu đụng lớn không?
Tất nhiên đó là những câu hỏi thuộc bí mật quân sự, tôi chỉ có thể trả lời lơ mơ rằng: "gần tới rồi," "còn xa," "chưa biết," "có thể lắm!" v.v. Các chiến hữu của tôi chỉ chấp nhận tôi hoàn toàn sau hai tháng hành quân, khi thấy tôi định điểm đứng chính xác, điều chỉnh tác xạ cho pháo binh một cách hữu hiệu, không sợ sệt khi nghe Việt Cộng hô xung phong cả ba mặt, và còn cười đùa được khi dàn hàng ngang trên tuyến xung phong. Họ chấp nhận vị trí đóng quân do tôi định, đào hầm hố đúng chỗ tôi bảo và khi trung đội đi tiền đồn, cách xa đơn vị lớn có khi hàng cây số, họ tỏ ra yên tâm.
Tôi đã thực sự vào đời lính, hãnh diện trở thành một Địa Phương Quân khi các chiến hữu của tôi không còn gọi tôi là "chim uyên" (ngụy thoại của chuẩn úy), mà đổi thành "thẩm quyền", một danh từ riêng có tính cách nể nang hơn...
Tôi không ở một đơn vị tham mưu nên không biết gì về cách tổ chức Địa Phương Quân trên toàn quốc. Theo cách sắp xếp tiểu khu Kiến Hòa, nơi tôi phục vụ, mà suy đoán, thì mỗi tiểu khu có một số tiểu đoàn Địa Phương Quân (một số lưu động, một số đóng đồn). Ngoài ra có một Đại đội Trinh sát, tất cả do phòng 3 (Hành quân) của Tiểu Khu điều động. Đơn vị của tôi là Tiểu Đoàn Bạch Hổ 401, lực lượng chủ lực trong số 11 tiểu đoàn Địa Phương Quân thuộc tỉnh Kiến hòa, dưới quyền chỉ huy của Đại tá Kim, Tiểu Khu Trưởng, gốc Sư Đoàn 7.
Tất cả những gì tôi viết trong bài này, căn cứ vào cơ cấu tổ chức của đơn vị nơi tùng sự từ ngày ra trường đến ngày Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng. Vì Địa Phương Quân trực thuộc các tiểu khu, nên tùy tình hình, phương tiện và nhân sự địa phương, cách tổ chức có thể được các tiểu khu linh động thay đổi nên khác nhau ít nhiềụ Tiểu đoàn trưởng đầu tiên tôi làm việc với là Trung tá Sáng (sau khi tôi về đơn vị được vài tuần thì ông tử trận, được vinh thăng đại tá). Các tiểu đoàn trưởng kế tiếp cao nhất ở cấp thiếu tá, còn là đại úỵ. Chỉ trong tám tháng, đơn vị tôi thay tiểu đoàn trưởng tới bốn lần, một chết, một bị thương.
Mỗi tiểu đoàn có năm đại đội gồm bốn đại đội tác chiến và một đại đội chỉ huỵ Mỗi đại đội có bốn trung đội gồm một trung đội đại liên và ba trung đội vũ khí nhẹ. Quân số mỗi đại đội, trên cấp số là 108 người, nhưng trên thực tế có mặt ngoài chiến trường chỉ vào khoảng 50 ngườị Số còn lại lớp nghỉ bệnh, lớp đi phép, lớp bị thương, lớp tử trận chưa kịp bổ sung (tôi không thấy có dấu hiệu lính ma, lính kiểng ở đơn vị tôi). Quân số hành quân của tiểu đoàn tôi trung bình khoảng 300, lúc thấp nhất dưới 200; nhưng so với một tiểu đoàn Việt Cộng thì đông gấp đôi.
Tôi không biết các tiểu đoàn Việt Cộng ở vùng 1, vùng 2 đông cỡ nào, khi họ tới Vĩnh Bình, Kiến Hòa, thực lực của họ chỉ còn bấy nhiêu, vì rất khó bổ sung quân số hao hụt. Cho nên khi muốn bao vây tấn công tiểu đoàn tôi, như trận phục kích xe ở Trúc Giang, Trung Tá Sáng tử trận, Việt Cộng phải tập trung ít nhất hai trung đoàn.
Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, ngoài tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó còn có các sĩ quan Ban 1 (Quân Số), Ban 2 (An Ninh), Ban 3 (Hành Quân), Ban 4 (Tiếp Liệu), Ban 5 (Chiến Tranh Chính Trị), Pháo Binh và Quân Y Trừ Ban 1, Ban 4 và Ban 5, các Ban khác đều đi theo đơn vị khi hành quân. Đó là cách tổ chức của đơn vị tôi, các tiểu đoàn khác có thể không được hùng hậu như vậy.
Tôi không thấy đơn vị tôi có ban Truyền Tin riêng, nhưng máy PRC-25 được trang bị đầy đủ, do chính các binh sĩ trong tiểu đoàn đảm trách. Tiểu đoàn trưởng có hai hiệu thính viên đi theo, một máy liên lạc với Tiểu Khu, Chi Khu và đơn vị bạn. Một máy liên lạc 5 đại đội và tiểu đoàn phó (đi theo đại đội trực nhật). Mỗi đại đội trưởng cũng có hai hiệu thính viên, một liên lạc với tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó cùng các đại đội bạn, và một liên lạc với các trung độị Mỗi trung đội trưởng chỉ có một hiệu thính viên để liên lạc với đại độị Đại đội phó không có máy riêng, mà dùng máy của trung đội trực nhật.
Trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn có sĩ quan Trợ Y, thuộc cấp số đơn vị, có đơn vị gia cư trong hậu cứ. Mỗi đại đội có một hạ sĩ quan làm y tá đại độị Sĩ quan Pháo Binh không thuộc cấp số đơn vị, chỉ khi nào tiểu đoàn đi hành quân, sĩ quan Pháo Binh mới có mặt. Hành quân xong, ông ta trở về căn cứ Pháo Binh. Sĩ quan Pháo Binh có hiệu thính viên riêng để liên lạc trực tiếp với Pháo Binh yểm trợ. Trong trường hợp cần không yểm, tiểu đoàn phải liên lạc qua tiểu khu, và tiểu khu liên lạc với căn cứ Không Quân Cần Thơ.
Mỗi tiểu khu có một số tiểu đoàn lưu động, một số có hậu cứ, số còn lại sau những ngày hành quân, kéo ra đóng dài theo các trục lộ, vừa dưỡng quân vừa giữ an ninh khu vực. Các tiểu đoàn cố định khác chịu trách nhiệm hẳn một vùng, coi đồn, giữ cầu đường hay đóng chốt trên các trục chuyển quân của Việt Cộng. Tôi sẽ đề cập nhiệm vụ đóng chốt ở phần sau, phần này trình bày về các đơn vị lưu động.
Gọi là "lưu động" vì các tiểu đoàn này không chịu trách nhiệm một quận hạt nào, mà cần đâu đánh đó, bao tất cả các quận trong tỉnh, kể cả Trúc Giang, Bình Đại, Ba Tri, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Hàm Long, Thạnh Phú, Hương Mỹ... Mỗi cuộc hành quân của đơn vị ngắn là ba ngày, lâu nhất có khi hàng sáu tuần. Giữa hai cuộc hành quân, đơn vị được về hậu cứ nghỉ ngơi vài ngàỵ Ở hậu cứ có trại gia binh, quân nhân có vợ con mỗi người được một đơn vị gia cư tường gạch, nền đất, lợp tôn. Quân nhân độc thân sống chung với nhau trong một khụ Trong hậu cứ có quán bi da, quán nhậu, tiệm tạp hóa.
Đơn vị nào có trại gia binh, binh lính được dưỡng quân ở hậu cứ, "vù" về thăm nhà nửa buổi, một ngày; hay chơi với vợ con trong trại, tụ họp nhậu nhẹt, tán dóc, chơi bi da giải trí, tu bổ, sửa chữa vũ khí trong khi chờ lệnh hành quân. Thương cho những tiểu đoàn lưu động không hậu cứ. Sau mỗi cuộc hành quân, họ đóng vất vưởng dọc theo các trục lộ giao thông, vừa dưỡng quân vừa giữ đường sá.
Mỗi lần lính kéo ra là một đạo binh thân nhân từ đâu phục sẵn, kéo tới đông nghịt, phần lớn là các bà vợ trẻ đèo theo con mọn. Họ đi bằng xe đò, xe lam, xe lôi và nhiều nhất là xe "ôm." Họ mang theo gạo sấy, cá khô và muối ớt, muối sả cho chồng. Đôi khi họ nhận lại và mang về một ít gạo trắng, thuốc men và cả thức ăn tươi, nếu đơn vị của chồng họ vừa hành quân qua vùng hậu cần của Việt Cộng.
Vào những ngày đầu tháng, đạo binh vợ lính càng xuất hiện đông đảo cùng lúc với xe tiếp tế và phát lương. Không biết các bà nhận tin tình báo từ đâu mà nhiều khi tiểu đoàn vừa kéo ra đường, đã thấy các bà chực sẵn hàng nửa ngày! Các bà phải tới để bảo vệ đồng lương lính còm cõi, mang về nuôi con. Nếu không, chỉ trong vài buổi, các ông có thể nướng sạch. Chỉ cần với một bộ bài cũ rách sờn nát, họp sòng vội vã và lén lút ở một góc sân kín đáo nào đó, tránh sự giám thị của sĩ quan, thế là tiêu tán hết. Dù bám sát như vậy, không một buổi phát lương nào vắng nước mắt của các bà. Hoặc họ tới trễ một chút, hết sạch. Hoặc họ đến sớm, đến trước cả xe phát lương, kết quả vẫn không có gì, khi các anh chồng mặt nghệt ra, gãi đầu gãi tai phân bua: phải trả những đầu nợ ấp lẫm do tiền rượu, nợ cờ bạc...
Thăm nuôi chồng tại các vị trí đóng quân cũng là cách bảo vệ mái ấm gia đình. Nhiều ông lính rất tài về chuyện kiếm bồ lẻ. Đóng yên chỗ chừng nửa ngày là họ đã bắt bồ xong. Và sau vài ba ngày nhổ trại lên đường, đã có người giọt vắn giọt dài quyến luyến tiễn đưa. Các bà vợ trẻ vì thế càng phải tới chỗ dừng quân để vừa giữ chồng, vừa nhóm chút hương lửa trong đời sống vợ chồng.
Cấp chỉ huy bao giờ cũng để cho các ông lính có vợ con tới thăm sự thoải mái tối đa: một góc nhà, góc vườn kín đáo; được gác đầu hay gác cuối, có khi miễn gác; không bị rầy rà khi phạm những lỗi nhỏ, v.v. Nhìn các cậu có vợ tới thăm nuôi trông rất buồn cười. Mặt họ ửng đỏ, miệng cười chúm chím, đi đứng ăn nói lóng cóng như chú rể mới Cấp chỉ huy mỗi khi chạm mặt họ, mỉm cười chia sẻ những nụ cười hiếm hoi trong đời lính và họ rất sung sướng.
Trong đạo binh vợ lính ở đơn vị tôi, có hai bà rất lạ kỳ. Một bà còn trẻ, hễ chui vào mùng với chồng chừng vài phút là rú lên cười ngằn ngặt không nín nổi. Trong không khí thanh vắng ở đồng quê, tiếng cười của bà ta vọng đi rất xa, khiến cả đại đội phải khúc khích cười theo không tài nào nhịn được.
Khi bà vợ trẻ biểu diễn tiếng cười lần thứ hai lúc nửa đêm, người lính gác phải lên tiếng tằng hắng nhiều lần, anh chồng mới thò tay bịt miệng vợ, tiếng cười trở thành tiếng âm ư, bứt rứt. Gần sáng, lại nghe cười! Sáng hôm sau anh chồng thế nào cũng bị trêu chọc cho tới khi anh ta nổi điên lên mới thôi, và bà vợ mặt mày đỏ lơ đỏ lưỡng, ngồi chết một góc sân không dám nhìn ai. May mà cả đơn vị chỉ có một bà như vậy và cũng không hại gì, chỉ lưu lại kỷ niệm vui vui mỗi khi nhớ tới.
Một bà vợ lính khác lớn tuổi hơn, khi ngủ say thì ngáy khủng khiếp. Tiếng ngáy của bà vừa to, vừa dài hơi, vừa giống hệt như tiếng chó tru. Ở vùng đóng quân, tiếng ngáy của bà khiến chó trong xóm sợ hãi tru theo và dân làng một phen bở víạ. Ở trại gia binh, tiếng bà ngáy vọng ra xa hàng chục dãy nhà và hàng xóm phải lâu lắm mới làm quen nổi và chịu đựng. Đêm đầu tiên ngủ trong trại gia binh, nghe bà ta ngáy, tôi tưởng là tiếng chó dại tru, suốt đêm trằn trọc không cách nào ngủ được, khó chịu quá phải bò dậy xách súng đi lùng. Một người lính tuần phòng nội doanh trông thấy dáng điệu của tôi, anh ta hiểu ngay, gọi tôi lại chỉ trỏ giải thích. Tôi ôm súng trở lại chỗ ngủ, và lạ lùng thay, vài phút sau tôi đã ngủ ngon lành! Cho tới bây giờ, chúng tôi, những người từng sống trong hậu cứ Tiểu Đoàn Bạch Hổ 401, kể cả Nguyên Hương, chưa ai quên tiếng ngáy độc nhất vô nhị của người đàn bà đó.
Dưỡng quân ở hậu cứ bao giờ cũng yên ổn hơn, dù doanh trại lúc nào cũng ồn ào như họp chợ từ khi đơn vị hành quân về tới cho đến khi chiếc quân xa cuối cùng rời trại, mang họ vào một chuyến đi khác. Sống trong trại chỉ khổ nhất khi đơn vị có người chết trận, và thân nhân người chết sống trong trạị. May mà những tiếng than khóc, vật vả ấy không kéo dài lâụ Thân nhân người quá cố được xe đón ra Chung sự vụ ở tiểu khu, nơi quàn xác và hoàn tất việc chôn cất các chiến sĩ trận vong.
Tuy nhiên, những phút giây ngắn ngủi ấy đã để lại trong tôi những cảm xúc khó quên, như cái chết của anh Lâm... Trung Sĩ nhất.
Lâm gốc Biệt Kích Thám Báo, sau về Tổng Tham Mưu, cuối cùng không hiểu sao lại về Địa Phương Quân, làm trung đội phó cho tôi. Anh Lâm nhỏ người, nhỏ tiếng, ít cười, lúc nào cũng buồn buồn. Lâm có vợ, vợ chồng anh có một con nhỏ và đang chờ đứa thứ hai, đang bầu bảy tám tháng gì đó. Anh đánh giặc rất giỏi, nhiều kinh nghiệm hành quân và bố trí phòng thủ.
Mỗi chiều dừng quân, tôi bàn bạc với anh về cách sắp xếp hầm hố nếu ý anh khác tôi, anh giải thích cặn kẽ, thấy hợp lý, bao giờ tôi cũng nghe anh. Hố của anh bao giờ cũng ở vào chỗ nguy hiểm nhất và gần một vọng gác. Ban đêm anh tự đảm nhiệm phần đốc canh, bảo vì mắc tật khó ngủ. Lâm chỉ lay tôi dậy khi cảm thấy có chuyện gì bất tường, còn thì cứ để tôi ngủ thẳng giấc, anh làm việc với các tiểu đội trưởng, thay phiên nhau kiểm soát lính gác. Khi trung đội tới phiên trực, dẫn đầu một cánh quân tiến về phía địch, anh Lâm bao giờ cũng đi trước. Anh dẫn lính đi rất đúng hướng và nhanh vừa phải, phía sau không bị đứt quãng hay dồn ứ lại.
Mỗi khi chạm địch, tôi vừa lên tới nơi, anh đã bố trí xong đội hình tác chiến. Anh Lâm dũng cảm nhất ở những trận chống đột kích ban đêm. Cách bố trí của Lâm và lệnh "hầm chắc hố sâu" của tôi khiến trung đội đủ sức chịu đựng những cuộc quần thảo với Việt Cộng hầu như suốt đêm. Lâm giữ chặt liên lạc với các hố. Giữa hai đợt xung phong của địch, anh bò nhanh một vòng để kiểm soát tình hình, san sẻ đạn dược và ủy lạo thương binh trong khi tôi bận báo cáo lên thượng cấp và trực tiếp liên lạc với sĩ quan pháo binh qua máy truyền tin. Anh Lâm là một chiến sĩ xuất sắc. Nếu được thưởng huy chương, tôi sẽ rất sung sướng đề cử anh thay đơn vị mà nhận...
Một lần, trước khi đơn vị hành quân, Lâm nói cho tôi biết là anh bị ho ra máu và muốn ở lại để vào Quân Y viện khám bệnh. Theo nội lệ của đơn vị, phép tắc do đại đội trưởng quyết định, tôi không dám tự chuyên. Cấp trên của tôi lúc đó là một ông trung úy rất thô lỗ và không thân với tôi. Lâm cho biết đã hỏi ông ta nhưng không được, anh quyết định trốn lại trại nhưng phải báo cho tôi biết để lo liệu cho anh em.
Tôi tin là anh đang đau ốm, và tôi cũng có thể khỏa lấp, che chở cho anh để đại đội trưởng không biết anh ở lại trại. Nhưng nhìn vào phóng đồ hành quân, biết đơn vị sẽ đi vào một vùng đất cực kỳ nguy hiểm, tôi phân vân ra mặt, do dự không biết xử trí ra sao. Anh Lâm kiên nhẫn chờ đợi, cuối cùng tôi cho anh biết tình hình, khuyên anh "cố gắng" và hứa sẽ cho anh theo xe tiếp tế để trở lại trại sau khi đơn vị hoàn thành công tác và kéo ra tới đường cái.
Anh Lâm chào tay, quay lưng đi và chỉ vài phút sau khi ra tới địa điểm tập hợp, tôi đã thấy anh đang ở đó với đầy đủ trang bị và đang kiểm soát đạn dược của từng binh sĩ. Chuyến hành quân đó, tôi đi cùng chiếc GMC cuối cùng. Trông coi cho binh sĩ lên xe đầy đủ, tôi bấm Lâm:
- Anh về nghỉ đi, chờ xe tiếp tế rồi theo vô, mọi chuyện để tôi lo!
Lâm cười nhanh:
Chuẩn úy đừng lo, tôi thấy đỡ rồi. Tôi sẽ theo xe tiếp tế mà về!
Hai ngày sau Lâm tử trận. Giữa cuộc hành quân, lúc đơn vị dừng quân ngồi nghỉ, anh trúng một tràng đạn bắn sẻ, hai viên chui vào cổ và buồng phổi. Lâm nằm ngửa, mắt mở hé chỉ thấy lòng trắng, miệng ngáp từng chập như cá lóc bị đập đầụ Tôi thương cảm vuốt mắt anh, mắt tôi ráo hoảnh nhưng lòng như ứa máu. Nửa phút sau, anh qua đời. Hai người lính khiêng xác Lâm, bảo nhau chưa có xác nào nhẹ đến thế! Hôm sau, anh đã "theo xe tiếp tế mà về," đúng như lời đã bảo.
Đợt hành quân đó không thành công, địch kịp thời đưa quân sang vùng khác, tiểu đoàn được lệnh về trại để bổ sung khí giới rồi lên đường hành quân ở một hướng khác. Xác anh Lâm về chung sự vụ và chúng tôi về hậu cứ. Tôi bắt gặp chị Lâm bụng cao vượt mặt, tay cầm nắm rau thơm, cười hớn hở:
- Em mới xin được nắm rau tần dày lá! Canh chua mà thiếu rau tần, anh Lâm không thích!
Lòng tôi thắt lại, chết điếng. Ông thượng sĩ thường vụ đại đội chưa kịp báo tin cho chị. Trông thấy vẻ mặt bất thường của tôi, chị Lâm tái mặt, lấp bấp:
Anh Lâm... bị thương?
Tôi nhẹ giọng:
Anh Lâm chết rồi! Chị dắt cháu lên Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn. Tôi lo xe cho chị ra chung sự vụ.
Chị Lâm ngồi phệt xuống đất, không khóc, không nấc được tiếng nào. Tôi không dám nhìn chị nữa. Trời đất như phủ một màn sương. Một người vợ lính nào đó nâng chị dậy, dìu đi. Tôi lửng thửng vào nhà, nhìn Nguyên Hương chua xót. Một ngày nào đó, biết đâu ông Thượng sĩ Thường vụ lại chẳng phải nói với Hương một câu tương tự: "Anh Nghĩa..."
Nguyễn Hữu Nghĩa













