Người Phương Nam
Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Saturday, August 8, 2026
Một Định Nghĩa Về Hạnh Phúc - BS. Nguyễn Ý Đức
Mấy
năm gần đây, những nghiên cứu về hạnh phúc nở rộ trong lãnh vực khoa học xã
hội, và chính phủ của nhiều quốc gia trên thế giới, để bổ xung cho những đo
lường có tính cách truyền thống trước đây như sự sung túc và mức sản xuất, càng
ngày càng có xu hướng đo lường và định lượng mức hạnh phúc của một quốc gia, để
từ đó có được cái nhìn rõ hơn, chính xác hơn về cuộc sống của người dân của
quốc gia đó. Kết quả của những cuộc nghiên cứu trên gây được nhiều sự chú ý,
nhưng thiết tưởng để nghiên cứu về một đề tài quan trọng như sự hạnh phúc có lẽ
cần phải có thêm nhiều thời gian để biết chắc là kết quả của những cuộc nghiên
cứu trên đạt được độ chính xác. Tuy nhiên, ngoài những dữ liệu khoa học, chúng
ta vẫn có thể dựa trên kinh nghiệm bản thân cũng như sự phản ánh từ chính cuộc
sống để có thể tìm thấy một phần sự thật về mức độ hạnh phúc trong cuộc sống
của mỗi chúng ta.
Bóng Người Trong Sương Mù - Nhất Linh (Tự Lực Văn Đoàn)
Ở ngoài, đêm tối như mực. Trong toa hạng nhì, riêng tôi ngồi đối diện với Trạch- một người bạn cũ, tình cờ gặp vì đi cùng trong một chuyến xe. Mười năm trước, bạn tôi còn là một người cầm lái xe lửa, cũng hàn vi như tôi; bây giờ gặp lại nhau trong toa hạng nhì, hai người cùng ngạc nhiên và cùng mừng cho nhau.
Lúc nói chuyện, tôi thấy bên bạn có cái hộp khảm rất đẹp liền cầm lấy xem, rồi tình cờ mở hộp ra; bạn tôi có ý không bằng lòng nhưng vì nể tôi nên không nói gì. Tôi nhìn vào hộp thấy lạ: hộp bịt kín, ở trong có một con bướm rất to, hai cánh đã xơ xác. Tôi hỏi bạn:
- Con bướm này vùng tôi thường thấy luôn, quý gì mà anh giữ cẩn thận thế này?
- Vâng, bướm thường, nói cho đúng thì là một con ngài, nhưng đối với tôi... Vừa nói đến đấy, xe rầm rập đi qua một cái cầu sắt. Bạn tôi lắng tai nghe rồi nói:
- Xe đi qua cầu N.G. Tôi bắt con bướm chính ở giữa cái cầu này đã mười năm nay...
Thấy bạn có vẻ khác, tôi đoán có chuyện gì, liền hỏi:
- Con bướm này chắc cũng có sự tích gì đây?
- Vâng, những sự tích buồn... Chuyện đã ngoài mười năm trước độ anh đi Sài Gòn thì tôi còn là anh cầm lái tàu hoả. Chính độ ấy tôi chạy con đường này, tình cảm tôi độ ấy anh đã rõ.
- Cũng như tình cảnh tôi...
- Nhưng có một việc tôi không nói cho anh hay là độ ấy tôi có lấy
một người vợ, nhưng giấu nhà, giấu mọi người, giấu anh. Chúng tôi sống trong
cảnh nghèo khổ mà thật lấy làm sung sướng. Nhưng vì cảnh nghèo, vì nhà tôi
không quen chịu được kham khổ nên người mỗi ngày một yếu dần.
Về sau, nhà tôi bị bệnh nặng mà tôi thì vẫn phải đi làm, không ai trông nom ở nhà. Một đêm nhà tôi yếu quá ngất người mấy lần, mà chính đêm ấy là đêm tôi được ông Chánh cử đi cầm lái chuyến xe riêng chở quan an toàn quyền. Thật là một dịp rất hay cho tôi. Nhưng tôi biết không thể nào đi được, liền thưa với ông Chánh, nói là vợ ốm. Ông Chánh đập bàn, đập ghế, gắt:
- Tôi không biết! Một là mười giờ đêm nay anh phải có mặt ở ga, hai là từ giờ này trở đi anh đừng bước chân tới đây nữa. Thôi anh ra.
Lời ông Chánh nói quả quyết, tôi phân vân không biết nghĩ sao: lúc về nhà, ngồi ở đầu giường, nhìn đến vợ mới biết rằng không đi được, dẫu mất việc làm cũng không cần.
Nhà tôi thấy tôi có vẻ lo nghĩ, hỏi duyên cớ vì sao, tôi liền đem việc ấy ra kể cho nhà tôi nghe. Nhà tôi nghe xong, vẻ mặt tươi hẳn lên, bảo tôi rằng:
- Thế cậu đi chứ! Việc gì phải ngần ngừ! Tôi không việc gì đâu, đã thấy đỡ nhiều. Chiều mai về nhớ mua cái gì làm quà cho tôi đấy.
Tôi thấy nhà tôi cười vui vẻ, tôi vững tâm, thay quần áo ra ga.
Ðến ga đúng mười giờ. Nhưng khi cho xe chạy rồi tôi mới thấy lo, tôi mới biết
là tôi liều. Lúc đó tôi có cảm giác lạ lắm: hình như tôi đi thế này, lúc về
chắc không nhìn thấy mặt vợ nữa. Tôi cố định trí để cầm lái nhưng chỉ được một
lúc thôi.
Bỗng cả chuyến xe lửa nghiêng về một bên, rồi lắc lư như muốn đổ. Người "ét" của tôi vội bỏ cái xẻng xúc than, níu lấy tôi, nói:
- Ô hay! Hôm nay ông làm sao sao thế? Chỗ ấy đường cong nguy hiểm thế mà ông không hãm máy. Ông ngủ à?
Tôi không ngủ nhưng người tuy ở đây mà trí còn nghĩ tới người vợ nằm đợi chết một thân, một mình trong gian nhà nhỏ kia. Mắt tôi hoa lên, mồ hôi ướt đẫm cả người.
Xe đi vào khe núi, hết lên cao lại xuống thấp như có vẻ nhọc nhằn. Tôi thò đầu ra cửa nhìn thẳng trước mặt, nhưng đêm ấy, sương mù đầy trời, không nhìn rõ gì cả, chỉ một màu trắng xoá dưới ánh hai cái đèn ở đầu toa. Bỗng tôi thấy ... rõ ràng, tôi thấy in trên sương mù một cái hình người đàn bà mặc áo rộng đứng dang tay. Tôi dụi mắt tưởng mình trông hoảng, nhưng không, hình người đàn bà vẫn đấy. Tôi gọi người "ét" lại cửa toa, bảo ông ta nhìn rồi hỏi:
- Bác có thấy gì không?
Vừa nói xong, hình người vụt biến mất. Bác "ét" thò đầu ra và bảo tôi:
- Chỉ thấy sương mù! Ông lại mê ngủ rồi.
- Không, rõ ràng tôi thấy có hình người đàn bà in trên sa mù nhưng vừa biến mất.
Người "ét" cười ra vẻ không tin, lấy xẻng xúc thanh cho vào lò, còn tôi vẫn đứng nguyên chỗ cũ đăm đăm nhìn thẳng trước mặt. Ðược một lát, hình người đàn bà hiện ra, lần này rõ ràng hơn, hai tay vẫn dang thẳng như muốn ngăn đường, không cho xe chạy lên nữa.
Tôi gọi người "ét" nhưng bác ta làm bộ không nghe thấy, cứ cắm đầu xúc than cho vào lò. Tôi biết tôi không mê, tôi biết là cái hình người ấy có thật, mà ai nhìn cũng phải thấy. Tôi đến cầm tay bác "ét" kéo bác ra xem rồi bảo, quả quyết:
- Nhìn xem.!
Bác ta há hốc mồm giương to đôi mắt hốt hoảng nói:
- Lạ thật!... Ma ông ạ!
Xe tiến đến đâu, cái hình bóng người lui đến đấy, có lúc mờ, có lúc rõ, lơ lửng giữa lưng chừng trời.
Rồi cái hình người ấy vẫy hai tay một cách thong thả, như có ý bảo chúng tôi đừng tiến lên nữa, có sự nguy hiểm.
Tôi bảo bác "ét":
- Bác này, lại có sự gì lại sắp xảy ra.
- Vâng, sao cái hình lại như lấy tay làm hiệu bảo ta đứng lại.
Cái hình người trước còn vẫy tay thong thả, sau vẫy thật nhanh như người tỏ ra ý thất vọng vì bảo chúng tôi không nghe.
- Hay ta dừng xe lại xem sao, chắc là ma!
- Không được, tự nhiên vô cớ.
Còn tôi lúc bấy giờ tai ù như người mất trí khôn, tôi văng vẳng như có tiếng người ở thật xa đưa lại, tiếng một người đàn bà bảo tôi:
- Ðỗ lại! Ðỗ lại!
Tôi lắng tai, tay nắm chặt lấy cái phanh như định hãm lại rồi lại không dám hãm.
Một lát sau, tôi lại nghe thấy tiếng người đàn bà, rõ hơn lần trước, giục tôi:
- Hãm lại! Hãm ngay lại!
Lúc bấy giờ tôi không biết nữa, nhắm mắt hãm phanh thật mạnh. Các toa rùng một cái, bánh xe kêu rít lên trong đêm thanh vắng, xe chạy từ từ một quãng rồi đỗ hẳn. Tôi chưa kịp bước xuống, đã thấy người "xếp tanh" cầm đèn chạy lên hỏi:
- Việc gì thế?
Tôi luống cuống không biết trả lời làm sao, vì nói thật ai tin mình. Tôi trả lời một cách mập mờ:
- Chắc có sự gì lạ. Ðể tôi cầm đèn đi xem trước đã.
Lúc bấy giờ mấy ông hầu quan Toàn quyền cũng vừa đến, rồi thấy lạ,
đi theo chúng tôi. Vừa đi được một quãng thì nghe có tiếng nước chảy ầm ầm. Tôi
định tâm mới nhớ ra rằng đó là cầu N.G
Mấy đêm ấy mưa lũ, nước chắc chảy xiết, nên mới réo to như vậy. Ðến bờ sông, giơ đèn lên soi, mấy người đều kinh hoảng: cái cầu N.G bị nước nguồn chảy về xoáy gãy làm đôi.
Một tý nữa, nếu không hãm kịp thì cả một chuyến xe riêng chở Toàn quyền đâm nhào xuông sông sâu, chắc không sống sót một ai: tưởng không có cái tai nạn nào ghê gớm hơn, thế mà chính nhờ tôi, nên mới không có cái tai nạn ấy. Tôi đứng ngẩn người không hiểu ra sao cả.
Người "xếp tanh" mừng cuống quít hỏi tôi:
- Sao ông biết mà hãm?
- Tôi cũng không hiểu.
Mấy người quan hầu có vẻ mừng lộ ra mặt, xúm xít quanh tôi hỏi
dồn, tôi không biết trả lời ra sao, một lát mọi người đứng dãn ra. Quan Toàn
quyền đến: ngài không nề tôi là người lao động, trong lúc mừng quá, ngài giơ
tay bắt tay tôi, cái bắt tay đầu bụi than rồi ngài tỏ lời khen.
Tôi chắc rồi sau thế nào cũng được trọng thưởng, nhưng trọng thưởng lúc đó đối với tôi cũng như không, tôi chỉ nghĩ đến nhà tôi ở nhà, không biết ra sao. Tôi đi trở lại và thoáng thấy con gì bám ở cái đèn để ở đầu toa, nhìn kỹ thì ra một con bướm thật to, vướng vào đèn đương đập cánh để tìm đường thoát. Chính là con bướm trong cái hộp này đây.
Trông thấy con bướm, tôi thốt nghĩ ra ngay. Chính phải rồi, chính cái hình người đàn bà lúc này là cái bóng con bướm này in lên trên sương mù, đầu con bướm là đầu hình người mà hai cánh con bướm đập là hai cánh tay người vẫy.
Tôi bắt con bướm rồi định thả nó bay đi; sau nghĩ con bướm đã giúp mình được việc, nên giữ lại làm kỷ niệm. Tôi nhìn vào đồng hồ trong toa, thấy kim chỉ đúng hai giờ đêm...
Hôm sau tôi vừa về đến cổng nhà thì thằng nhỏ chạy ra báo tin nhà tôi mất, mất vào khoảng một giờ đêm qua.
Tôi không tin nhảm, tôi chắc đó là một sự tình cờ, một sự ngẫu nhiên, nhưng tôi vẫn yên trí là linh hồn nhà tôi đã nhập vào con bướm này để phù hộ cho tôi tránh được tai nạn đêm hôm ấy. Nhưng tránh được tai nạn mà làm gì, tôi thoát được thân tôi mà làm gì, giàu sang phú quý bây giờ đối với tôi cũng như không, tôi cũng chỉ như con bướm này, xác đấy mà hồn tận đâu đâu.
Bạn tôi kể xong chuyện, đậy cái hộp khảm lại rồi thẫn thờ nói:
- Bây giờ chỉ còn lại cái xác bướm không hồn.
Nhất Linh
Bà Nà Người Hà Lội
Buổi sáng sớm
2 chiếc "bồ câu" cùng vài anh trật tự nhanh chóng đỗ chặn đầu một chiếc xe con đang đậu, cao giọng "xe ai đây?". Hỏi đến câu thứ 3 mới thấy chị chủ nhà ra và hỏi ”gì đấy? Xe đỗ đấy thì làm sao?".
- Đề nghị chị mang giấy tờ cho chúng tôi kiểm tra.
+ Tao đéo mang đấy (rút điện thoại, quay phim). Xe đậu trước cửa nhà tao ảnh hưởng cc gì chúng m.🙄
- Đề nghị chị lịch sự. Chị không đưa giấy tờ chúng tôi sẽ lập biên bản.
+ Biên bản cái cc. Mày đã chào tao chưa mà đòi lịch sự. Chúng mày thích bắt nạt dân hả 😉😉😉muốn làm tiền hay gì ?
- Chị cẩn thận cái thái độ
+ Thái độ cái cc🙈🙈🙈
Đội trưởng mặt nóng
ran "Gọi xe cẩu!!!"
+ Gọi đi. Mày tưởng mày hù được tao, mày lại đây nhìn kĩ thử Trán tao có chữ "nhùng" không ? Đ. mẹ tụi bây chứ, có giỏi cẩu xong thì giam luôn, đừng có quỳ xuống xin tao nhận lại.
Xe cẩu đến, bếch luôn rồi bỏ đi.
😳 Mọi người trong xóm ái ngại nhìn chị chủ nhà ối ôi sao chị dại thế 😰
Chị chủ nhà nhếch mép
cười nhạt, có phải xe tao đéo đâu 🙄, đ.mẹ thằng nào sáng mới mở mắt ra là đã thấy
đậu xe trước nhà tao, mấy hôm nay rồi, bực đéo chịu được, để cẩu mẹ nó đi cho
rồi.
🤣🤣🤣🤣🤣
Nguồn FB
"Trùm Cuối" - Kẻ Làm Đảo Điên Nước Mỹ - Obama Thao Túng Nước Mỹ Như Thế Nào - Jymmy Nguyen Nguyen
MỜI BẠN ĐỌC ĐỂ THẤY
OBAMA THAO TÚNG NƯỚC MỸ NHƯ THẾ NÀO.
Trong bài bình luận
hôm nay, tui tìm hiểu tại sao ông Trump nêu đích danh “Cộng Hoà Nhân Dân Trung
Hoa” vào cái vụ gian lận bầu cử. Tháng 9 năm nay, bác Tập sẽ sang Mỹ theo lời
mời. Dượng làm như vậy có mất mặt bác không? Coi chừng bác từ chối. Mới hôm qua,
Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ đã đổ bộ khám xét một tầu mang cờ TQ. Không nể nang chút
nào. Để thấy đừng giỡn mặt với ông già 80. Khi không còn gì để mất.
Tát cái đầm lầy không
phải dễ, không phải nói miệng là xong. Mà phải có chiến lược.
Ai cũng biết Obama cực
tả, đưa nước Mỹ vào chia rẽ. Nhưng để luận tội ổng không phải dễ. Vì ông ta là
luật sư, bà Clinton cũng là luật sư. Cả một rừng phụ tá cho họ toàn những luật
sư thượng thặng. Họ đã có nhiều thời gian lúc đảng DC nắm quyền, cài cắm các thẩm
phán từ toà nhỏ đến toà lớn.
Bạn từng xem tiểu
thuyết Bố Già. Nhân vật Tom Hagen là con nuôi của Corleone (ông Trùm). Thấy Tom
thông minh, ông Trùm đưa đi học luật để trở thành luật sư chớ không cho tham
gia bắn giết, thanh toán. Để thấy mafia coi trọng cái nghề này như thế nào. Một
luật sư như một đội quân chớ không vừa.
Mỹ Úc gì cũng vậy.
Không cần biết đúng sai, khi đưa nhau ra toà, người ít tiền hơn khó thắng. Vì
một rừng luật lệ nên bên nào cũng phải cần luật sư. Kiện qua kiện lại, toà dưới
lên toà trên, không có tiền sẽ không theo đuổi được.
Từ lúc ông Trump tố có
gian lận bầu cử, mấy trăm người ủng hộ ổng đã vào tù, bị tước bằng hành nghề.
Bản thân ông bị 4 truy tố, bị khám nhà, bị làm nhục. Bị phán quyết phạt nửa tỷ
đô bằng tiền mặt trong vòng 30 ngày. Họ chuẩn bị niêm phong tài sản của ông.
Ngay cả khi ông tái
đắc cử . Trong vòng ba tháng, ông ký sắc lệnh nào là bị kiện sắc lệnh đó. Thu
thuế xong họ đòi lại còn được mà. Có vị tổng thống nào gian khổ như ông không?
Trump xạo, Trump ngu… là chết với cái đầm lầy này từ đời nào rồi mấy con bò ạ!
Đau khổ nhất mà tui
nhớ đó là tướng Flynn. Ông bị toà nó đánh cho phá sản, bán nhà và ở trong xe.
Ở Mỹ có những công ty
luật lớn. Gọi là Big Law. Tài sản của họ khổng lồ. Trí thông minh của họ vượt
bực. Người dân thấp cổ bé miệng suốt đời nằm dưới tay của họ. Công lý ở cấp nhỏ
thôi. Lên thượng tầng chính trị, họ là đội quân bất khả chiến bại. Và buồn
thay, cánh tả nắm được họ.
Nhưng cái vận nước Mỹ
chưa tắt. Ông Trời ban cho Mỹ một Trump. Một tỷ phú. Đã từng ra toà kiện tụng
như cơm bữa, tiền tài bao la, mày tới đâu tao theo tới đó. Ông sẵn sàng theo
đuổi các vụ kiện đến cùng. Ý chí này khiến người dân tin tưởng và bầu cho ông
thêm một nhiệm kỳ nữa. Vì mười mấy ứng cử viên khác, người dân không thấy ai đủ
bản lãnh, dù mặt “đạo đức” , họ sáng giá hơn Trump.
Khi trở lại Bạch Cung,
trong hàng trăm sắc lệnh hành pháp, ông đã ký một sắc lệnh “nhỏ nhẹ”. Rằng các
tập đoàn luật sư nào tham gia các vụ kiện chính trị, thì mất quyền đấu thầu các
công việc luật pháp của chính phủ. Đây là miếng bánh thơm phức cho mọi công ty
luật. Nên họ bắt đầu e dè, suy nghĩ. Có nên đánh đổi vài vụ kiện để mất miếng
bánh kia không? Ông Trump dùng đầu óc của một tỷ phú, đó là đánh vào “TIỀN”.
Không “lý sự” với bọn chúng mày.
Chiến lược này hiệu
quả. Qua năm nay mấy toà “quận” im re, hết sung như năm ngoái. Bây giờ các công
ty lớn của Mỹ, họ chỉ muốn làm ăn, không muốn dính dáng vào chính trị. Nên các
tập đoàn luật nào hay thích kiện tụng chính phủ là họ tẩy chay, không ký hợp
đồng cho nó lành. Kết quả là tự các tập đoàn luật sư quay sang… giế t nhau để
sống còn. Cũng còn vài tên ngoan cố, nhưng không còn hùng mạnh như trước.
Sau khi từng bước
“chặt” các cánh tay của deep state. Bây giờ mới có Nhân Hoà, Địa Lợi. Thiên
Thời cũng tới. Kinh tế Mỹ đã phục hồi, lạm phát đã giảm, công ăn việc làm đầy
rẫy, chỉ không muốn làm mới thất nghiệp thôi. Đây là lúc đưa câu chuyện này ra
ánh sáng. Từ hôm qua đến giờ, mọi người có thể vào các trang của chính phủ xem
các giải mật. Giấy trắng mực đen. Hằng hà sa số các bằng cớ kinh khủng. Xem các
tờ báo lớn của TQ chi tiền cho các ký giả có bài viết chống Trump. Nên ông
Trump hăm mấy vị này lo luật sư là vừa, không phải lời doạ suông.
Có điều “trùm cuối” là
Obama, không dễ dàng đụng tới. Từ năm ngoái dượng đã đăng hình AI, Obama mặc áo
màu cam. Đâu phải ông đùa chơi. 26 phút phát biểu thông điệp cho dân Mỹ, tui
chưa thấy bao giờ ông nghiêm trang đến thế. Từ hình thể, giọng nói, lời văn…, nó
không phải là Trump thường ngày. Ông chuẩn bị bao nhiêu năm trời, nó còn lớn
hơn chuyện chiến tranh Iran. Và JNN cùng các bạn đồng hành mấy năm qua với hàng
trăm bài viết, vẫn mong đợi một cái kết có hậu. Chúng ta đã thất vọng 4 năm
trời, đến độ không dám xem tin tức. May là Trời không phụ. Dẫu biết sẽ còn gian
nan, vì sự “giãy chế t “ cũng rất mạnh.
Thế nên, “gài độ” bác
Tập vào mớ bùng nhùng này, để có thể lập một toà án khác với sắc lệnh thiết
quân luật. Lúc đó mới có thể tặng Obama một cặp lắc bạc.
Đừng xem thường Trump.
JIMMY NGUYEN NGUYEN
Câu Chuyện Nhỏ Và Bài Học Nhẫn Nại - Người Phương Nam
Bà bạn tôi hôm nay gọi cho tôi kể chuyện đi bác sĩ chuyên khoa tim mạch khám định kỳ hằng năm của bà.
Vì con cái bận đi làm không có ai đưa đi nên trước đó một tuần, bà đã book xe Community Transport tới chở. Bà book đi và về trong vòng hai tiếng đồng hồ trừ hao phải chờ đợi người trước mình. Cái hẹn với Cardiologist là 11 giờ rưởi, thì 1giờ rưởi hoặc trể hơn vài phút, tài xế sẽ tới rước về. Bà định đi một mình nhưng ông xã bà xung phong nói sẽ đi với bà cho có bạn.
Lần tái khám này, bác sĩ chỉ làm siêu âm chớ không test Stress Echo, lại không nhiều bệnh nhân trước phải đợi nên 12 giờ rưởi là hoàn tất. Còn sớm 1 tiếng, bà bạn nói với cô thư ký cho ngồi lại chờ pick up time. Nhưng ông chồng bà nóng tính nói để gọi văn phòng dịch vụ chuyên chở yêu cầu họ tới sớm hơn chớ chẳng lẽ mình ngồi đây nguyên một tiếng đồng hồ.
Bà bạn ngăn ông chồng nói giờ giấc người ta đã sắp xếp theo lịch trình như vậy thì mình phải chịu vậy, tài xế làm việc theo nguyên tắc, rước người khác trước mình, làm sao bảo họ chạy tới ngay cho được. Chừng nào đến giờ hẹn mà tài xế chưa tới thì mình complain mới hợp lý.
Ông chồng không nghe, mở cửa bước ra ngoài bấm máy gọi. Nhân viên trực họ nói để họ cố gắng liên lạc với tài xế coi sao. Ông chồng trở vào ngồi chờ. Hai chục phút trôi qua, không thấy tài xế liên lạc với ông, ông lại ra ngoài gọi tiếp tục. Ông than phiền với cô nhân viên là nãy giờ đã chờ hai chục phút rồi, nếu phải đợi thêm nữa là hết cả tiếng đồng hồ vậy thôi cho chúng tôi cancel pick up time, chúng tôi sẽ tự túc đi về.
Rồi ông vào bảo bà bạn ra đón xe bus về với ông. Bà bạn trách ông sao quá hồ đồ. Mình ráng chờ thêm nửa giờ nữa, mau lắm thôi, người ta đưa mình về tới tận nhà, tại sao ông lại cancel bắt tôi lội bộ ra trạm xe bus, đây ra đó cũng mất hết 7- 8 phút và chờ xe bus thì không biết tới chừng nào. Rồi khi xuống xe lại phải đi bộ thêm 10 phút nữa trong khi hai cái đầu gối của tôi đau nhức đi khập khiểng, cộng thêm hồi khuya thức giấc gấp đi toilet, tôi vấp cái chân ghế cạnh bên giường làm ngón chân cái bầm tím sưng vù ông cũng biết rồi mà. Sao ông không nghĩ cho tôi, cứ muốn làm theo ý ông không hà.
Về tới nhà thì đã 2,10' chớ nếu chịu nán lại chờ rước đúng giờ thì đã về nhà sớm hơn nửa giờ, lại khỏi khổ thân đứng ngoài trời lạnh lẽo đón xe và lội bộ với hai cái chân nhức nhối, lê từng bước, từng bước một chậm như rùa.
Kể xong câu chuyện, bà bạn tôi nói bà coi có tức không, tôi đã sợ đi bộ, book xe đưa tới nơi rước tới chỗ vậy mà ổng tự ý cancel không hỏi tôi một tiếng rồi vô bảo tôi ra đón xe bus với ổng khiến cô thư ký cũng thấy ái ngại hỏi "Are you going now?"
Đúng là nóng nảy mất khôn, tính già hóa non, dục tốc bất đạt, sai một li đi một dặm.
Câu chuyện cho thấy rằng phàm ở đời, muốn giải quyết một tình huống nào cũng đừng nên hấp tấp, hãy đắn đo suy đi nghĩ lại, nhẫn nại là hơn, nhứt là khi mình ở vào cái tuổi không thể tự làm chủ tình hình mà phải dựa dẫm lệ thuộc vào sự giúp đỡ của người khác, dù là người thân trong gia đình.
Đưa Em Xuống Thuyền (Hoàng Thi Thơ) PBN 119 - Trình Diễn Áo Dài
Friday, August 7, 2026
Chửi Mỹ Để “Yêu Nước” Nhưng Sống Hoàn Toàn Nhờ Mỹ: Sự Thật Đáng Xấu Hổ!
Kịch tính và châm biếm đến mức buồn nôn! Khi máy bay Mỹ bị bắn hạ, phi công mất tích, cả cõi mạng tiếng Việt hả hê reo hò, share clip ăn mừng như thắng trận bóng. “Mỹ cút đi!”, “Đế quốc sụp đổ!”… đủ kiểu bình luận hả giận. Thế nhưng khi Mỹ triển khai chiến dịch giải cứu thành công, đưa phi công về an toàn, thì im re như tờ. Không một tiếng khen, không một lời công nhận. Chỉ toàn sự im lặng đáng xấu hổ.
Hàng triệu người Việt đang sống trong mâu thuẫn trớ trêu nhất. Túi xách hiệu Mỹ, điện thoại iPhone, mặc quần jeans Mỹ, xem Netflix, nghe nhạc Mỹ, gửi con du học Mỹ, nhận lương bằng đô la Mỹ, thậm chí đầu tư chứng khoán Mỹ… nhưng miệng thì ngày đêm chửi Mỹ là “đế quốc”, “xâm lược”, “sụp đổ đi cho rồi”. Họ mê tiền đô, mê công nghệ Mỹ, mê tự do Mỹ, nhưng thích giả vờ căm thù Mỹ để thể hiện lập trường “yêu nước”.
Đây là kiểu “yêu” rất lạ: vừa hưởng lợi từ Mỹ, vừa mong Mỹ sụp đổ. Nếu ngày mai Mỹ thật sự suy tàn, kinh tế Mỹ khủng hoảng, chuỗi cung ứng sụp, thì ai sẽ là những đứa ngáp ruồi đầu tiên? Chính là đám đang hả hê hôm nay. Không Mỹ, không iPhone, không Google, không Boeing, không chip bán dẫn, không thị trường xuất khẩu khổng lồ. Giấc mơ “thoát Mỹ” của họ chỉ là ảo tưởng rẻ tiền trên mạng xã hội.
Họ không ghét Mỹ vì lý tưởng, họ ghét Mỹ vì ghen tị và não trạng nô lệ ngược. Chửi Mỹ để che đậy sự lệ thuộc, để thỏa mãn cảm giác “bá đạo” mà không tốn đồng nào. Nhưng thực tế phũ phàng: Mỹ càng mạnh, Việt Nam càng có thêm lựa chọn và không gian thở. Mỹ sụp đổ, Việt Nam sẽ là một trong những đứa đầu tiên chết đói theo.
Cõi mạng Việt Nam đang chứng kiến một vở kịch bi hài: vừa ăn vừa chửi, vừa hưởng lợi vừa nguyền rủa.
Chửi Mỹ để “yêu nước” nhưng sống hoàn toàn nhờ Mỹ: Sự thật đáng xấu hổ! - Thời báo
Nhà Có Hoa Anh Đào - Tưởng Năng Tiến
Khi mở cửa bước ra sân sau, cả hai bố con tôi
đều đứng sững, mở lớn mắt nhìn.
Tôi đáp nhỏ rồi đứng lặng ngắm bầy ong bé tí
đang lượn quanh những bông hoa vừa hé nở. Dạo ấy, khoảng giữa tháng Hai, mận
đào ở Mỹ đang độ khai hoa. Những cánh hoa hồng thắm, mong manh trong nắng sớm
gây trong tôi một niềm xúc cảm êm đềm và nhẹ nhàng nhưng sâu đậm. Lâu lắm, tôi
mới lại nhìn thấy hoa đào.
Trí tưởng của tôi bỗng quay nhanh về một
thành phố cũ, nơi mà tôi đã lớn lên và đã ướp đẫm tuổi thơ của mình bằng hàng
trăm loại hương hoa: hoa hồng, hoa ngũ sắc, hoa rẽ quạt, hoa bìm bìm, hoa dạ
lý, hoa mận…; và tất nhiên là phải có hoa đào. Nói một cách hơi quá ướt át, người
ta vẫn gọi đó là “xứ hoa đào” mà.
Tôi thấy rõ ràng là mình đang lơn tơn, hớn hở
trên đường đến trường vào một buổi sáng tinh mơ. Con đường Thủ Khoa Huân nhỏ hẹp,
thoai thoải dốc, cần cận những viên đá bạc đầu dưới mỗi bước chân đi. Hai bên
đường, chen lẫn giữa những bụi hoa quỳ man dại, là những cành mai mềm mại ẻo lả
vươn cao – lấm tấm điểm những cánh hoa còn ướt đẫm sương đêm.
Cùng lúc, bố tôi (chắc) cũng đang đi lại trên
một con đường nào đó của riêng ông. Rất có thể đó là một con đường rừng rực rỡ
mai vàng – giữa vùng biên giới Hoa Việt – khi mà ông chưa lập gia đình, và vào
lúc mà chuyện đánh đuổi thực dân còn là điều làm say lòng cả một thế hệ người.
Mẹ tôi cũng kêu lên thích thú :
– Có cả cây hoa đào và cây chanh nữa hả con!
– Vâng…
Tôi nói “vâng” lí nhí mà lòng thì sung sướng hãnh diện, như thể chính mình là kẻ đã gieo trồng vun xới hai cây đào và cây chanh đó vậy. Sự thực, trước đó một tuần, khi đi xem nhà vào ban đêm, tôi không hề biết rằng vườn sau có cây trái gì cả. Tìm được một căn nhà ở khu yên tĩnh, giá thuê vừa phải, và người ta không để ý đến sự dị biệt màu da hay màu tóc đã đủ làm tôi mừng quýnh đi rồi.
Bữa cơm đầu tiên nơi căn nhà mới chúng tôi ăn
với thịt gà luộc chấm muối tiêu và lá chanh thái chỉ. Mẹ tôi xuýt xoa khen ngon
và quên bẵng đi cái tội “mềm nhũn” của những con gà Mỹ.
Như thường lệ, bố tôi vẫn giữ im lặng nhưng chỉ cần nhìn ánh mắt của ông là tôi đã nhận thấy có sự hài lòng. Cả ngày hôm ấy, và nhiều ngày tháng kế tiếp nữa, chúng tôi đều rất bận và vui – sự vui thích mà đã có lúc tôi ngỡ rằng sẽ không bao giờ còn tìm lại được trên nét mặt của bố mẹ già nữa.
Trước đó một năm, cũng đã có lúc gia đình tôi
sống rất an vui. Đó là thời gian tôi vừa đón bố mẹ từ quê nhà sang, theo chương
trình đoàn tụ gia đình. Nhưng rồi sau đó không lâu là những ngày tháng buồn bã,
tẻ nhạt khiến tôi vô cùng bối rối và khổ sở.
Vì không lường trước, và cũng vì sự giới hạn
của tiền bạc, tôi đã “nhốt” bố mẹ già gần cả năm dài, sau bốn bức tường, trong
một chung cư ở thành phố San Jose, California. Khi niềm vui đoàn tụ đã qua đi,
và khi mà cả hai người đều bắt đầu có triệu chứng chết héo giữa đất lạ xứ người
thì tôi đâm hoảng.
Việc đầu tiên là tôi vội vàng đưa bố mẹ đi
chùa. Trời Phật ơi, chùa ở Mỹ sao mà nhỏ xíu và vắng ngắt vậy nè. Vào ngày lễ lớn
chùa có đông người thì bên ngoài không còn chỗ đậu xe, và bên trong thì không đủ
chỗ ngồi.
– Sao chùa chiền ở đây giống y như nhà ở thế
hả con?
Sự thực thì đó đúng là cái nhà chứ còn “giống
như” gì nữa. Tôi không hiểu, và cũng không dám hỏi xem, căn nhà đó thuê hay mua
trả góp. Và dù mua hay thuê, bằng cách nào mà vị sư trụ trì trả nổi một số tiền
cho căn nhà bốn phòng – đối với riêng tôi – đúng là một điều “mầu nhiệm”.Sau đó,
tôi đưa bố mẹ đi phố Tàu, với lời giải thích ba hoa rằng “vào đây bố mẹ sẽ thấy
thoải mái y như thể là mình đang đi trong Chợ Lớn ở Sài Gòn vậy.”
Kể cả vào mùa Hè, thời tiết của thành phố San
Francisco dường như vẫn cứ hơi quá lạnh đối với sức khỏe mong manh của bố mẹ
tôi. Nhìn hai ông bà già co ro, ngơ ngác giữa những hè phố luôn luôn chen chúc
người đi mà không dưng ruột tôi muốn… đứt.
Rõ ràng là bố mẹ tôi không thấy “thoải mái” một
tí nào cả. Không bao lâu cả hai người đều than là nhức đầu và chóng mặt. Chính
tôi, tôi cũng cảm thấy … y như vậy!
Vì thiếu đất nên Chinatown ở San Francisco chỉ
có thể phát triển theo chiều cao. Cùng với cái lối kiến trúc dọc này là cái
tính hay bày biện lộn xộn và hay chưng hoa kết đèn của người Trung Hoa khiến
cho đôi mắt của du khách lạc vào khu phố của họ phải điều tiết quá nhiều nên ai
cũng phải chóng mặt – kể cả những người họ Tưởng!
Nếu bố mẹ tôi biết được rằng trong một phạm
vi chỉ có hai mươi bốn lốc đường mà chứa lúc nhúc đến bốn chục ngàn người, mật
độ cao nhất thế giới, lúc nào cũng nói năng ồn ào xí xa xí xồ (cứ y như là họ
đang cãi nhau vậy) thì hai người còn nhức đầu dữ nữa.
Chúng tôi vội vã chạy ra khỏi khu rừng người
vô duyên đó. Loanh quanh một lát, tôi đưa bố mẹ đi khoe cầu treo Golden Gate,
nơi mà vẫn theo lời tôi là “to và dài nhất hoàn cầu.”
Bố tôi nhìn cái cầu với đôi mắt lãnh đạm như
thể là người ta nhìn thấy cây viết hay cục tẩy trên bàn. Mẹ tôi thì quan sát trầm
ngâm một lúc rồi lẩm bẩm :
– Theo mẹ thì mình cứ xây độ một trăm cái cột
chống cho nó an toàn, con ạ. Chả tội gì phải để nó chông chênh như thế.
– Vâng, mẹ dạy như thế là phải!
Tôi đáp cho qua chuyện rồi lặng lẽ đưa hai
người trở lại xe. Trên đường về tôi câm như hến vì lòng buồn quá. Bố mẹ tôi thì
mệt quá nên cũng chả ai nói năng gì.
Trong xe, tôi đã mua sẵn mấy băng nhạc cải
lương. Điều đáng tiếc là tuy hai ông bà cũng thích nghe cổ nhạc miền Nam nhưng
không thích lắm. Hai người có vẻ ưa nghe ngâm thơ giọng Bắc hơn.
Tôi lại chỉ tìm được mỗi một cuốn băng của Hồ
Điệp thôi nên đã có lúc “đành” phải vào phòng, đóng kín cửa lại, vừa dạo đàn, vừa
ngâm một số những bài thơ (do chính tôi sáng tác) để “cống hiến” cho bố mẹ già,
vào lúc mà không khí gia đình buồn tẻ hay nhạt nhẽo.
Khi còn trẻ, mỗi lần uống rượu say, ở bất cứ
nơi đâu, tôi cũng đều bắt mọi người “phải” im lặng nghe tôi ngâm thơ. Dù chưa
bao giờ bị ai đánh vì chuyện này, không hiểu sao, từ khi qua tuổi bốn mươi tôi
“bỗng” trở nên biết điều hơn. Tôi vẫn say rượu, thỉnh thoảng, nhưng cái vụ ngâm
thơ hay ca hát thì bỏ hẳn.
Tuy thế, tôi vẫn không từ bỏ niềm tin vào
“làn hơi thiên phú” của mình. Nếu nó không giúp tôi hái ra tiền thì ít nhất nó
cũng đủ làm cho bố mẹ tôi vui. Tôi đã tưởng thế, vì cũng như bao nhiêu bà mẹ
“điên khùng” khác trên cuộc đời này, mẹ tôi rất thích bất cứ cái gì do con mình
làm ra. Bà cụ cứ nghe đi nghe lại mãi cuộn băng này.
Điều may mắn là bố tôi thì khác. Ông tỉnh táo
và khách quan hơn. Đợi vào lúc mẹ tôi không có mặt, ông nhỏ nhẹ nói :
– Con ngâm thơ bố thấy cũng hay, nhưng giá
con đừng làm như vậy nữa thì …hay hơn nhiều.
Vậy là những cuộn băng “đặc biệt” ấy phải
chìm vào quên lãng. Sau vụ đó, tôi chuyển sang băng nhựa video. Không phải là
tôi làm hề rồi tự thu băng để chiếu lại cho bố mẹ già giải trí như Lão Lai bên
Tàu đã làm hồi xưa đâu. Nói thiệt tình là tôi chơi không tới cỡ đó. Chỉ vì thấy
truyện chưởng Kim Dung được quay thành phim video và chuyển âm sang tiếng Việt nên
tôi vội vàng đi mua máy, mướn phim về để cả đống ở nhà.
Những tác giả ngoại quốc tôi ít khi để ý, trừ
Kim Dung. Nếu không tình cờ gặp ông vào năm mười tuổi, có lẽ tôi (cũng) đã thi
đậu vào đệ thất của một trường công lập ngay từ keo đầu rồi.
Tôi hy vọng không khí trong gia đình sẽ đỡ tẻ
nhạt hơn nếu bố mẹ tôi chịu ngồi xem phim chưởng suốt ngày. Tối đến, tôi sẽ ba
hoa liếng thoắng bàn thêm cảnh Tạ Tốn cướp đao trên Bàn Sơn Đảo. Nếu bố mẹ tôi
chưa hiểu rõ về công phu Sư Tử Hống hay về sự khác biệt giữa phe Kiếm Tông và
Khí Tông trong phái Hoa Sơn thì đúng là những cơ hội bằng vàng để tôi có dịp
khoe khoang về kiến thức (trời biển) của mình.
Tiếc thay, bố mẹ tôi chả hề để mắt đến những
cuộn phim thổ tả đó. Theo lời ông cụ thì “chúng nó nói một thứ tiếng Việt không
phải của người Việt.” Còn mẹ tôi thì chỉ sau một show ác đấu ngắn ngủi của Kiều
Phong, ở Tụ Hiền Trang, bà đã vội vã chạy ngay vào phòng đọc … kinh cầu siêu –
từ trưa cho đến tối.
Dù vẫn bị mang tiếng là hơi chậm hiểu, cuối
cùng, tôi cũng nhận ra được sự thiếu thốn, mất mát lớn lao trong đời sống của
hai người – nơi xứ lạ quê người. Họ cần một miếng đất. Họ phải sống trên đất, gần
đất và với đất. Trải thảm, tráng xi măng, lót nhựa đường để che hết đất là giết
chết con người – Giời ạ.
Tôi nhớ đến hôm đi San Francisco về, mẹ tôi
đã nhìn những đồi cỏ bát ngát và chép miệng:
– Đất bỏ hoang nhiều quá, hoài của thật con
nhỉ ?
Tôi vội vàng cải chính:
– Đâu có, mẹ. Nông trại cả đấy chứ. Mẹ không
thấy người ta nuôi bò và ngựa trên đó sao?
Thời gian sau đó, gia đình tôi sống rất yên
vui và ổn thỏa. Vào mùa Hè, khi tôi từ sở làm về trời vẫn còn nắng chói chang.
Mở cửa vào nhà xong là tôi bước ngay ra sau vườn. Bao giờ bố tôi cũng đang ngồi
uống trà dưới gốc cây đào. Mẹ tôi thì lui hui bận rộn với những luống rau bé bỏng
của bà. Gần như từ sáng sớm cho mãi đến khi chiều tối, lúc nào bố mẹ tôi cũng sống
ở ngoài vườn.
Chả hiểu bố tôi có kỷ niệm gì với loài hoa
cúc đại đóa hay không; riêng tôi, hai loài hoa vừa kể đều là những hoài niệm
(thê thảm) về hai mối tình te tua và bầm dập của mình. Cho mãi đến bây giờ, tôi
vẫn không hiểu sao, “đường tình duyên” của mình lại ít may mắn thế.
Nguyên cả mảnh vườn sau là giang sơn riêng của
mẹ tôi, một giang sơn nhỏ hẹp nhưng vô cùng phong phú. Tôi cuốc một luống đất
dài để mẹ trồng đủ loại rau thơm: rau húng quế, húng lủi, húng trắng, tía tô,
kinh giới … Tất nhiên phải có hành, ngò với sả nữa.
Người ta không mấy khi có dịp làm được một
món ăn với sả ở Hoa Kỳ. Nhưng có hề chi. Đâu ai cố gây và giữ cho được môt bụi
sả chỉ vì nó cần cho nồi cà ry hay cho món thịt bò kho. Điều cần là thỉnh thoảng,
khi buồn, mình có thể ngắt một lá sả vò nhẹ trong tay, rồi đưa lên mũi để hít
thở được hương vị của (cả) quê hương thoang thoảng, nhẹ nhàng trong đó.
Mẹ tôi còn thích có một hàng cải bẹ xanh,
xanh thật là xanh, để vào những lúc nắng nhạt bà có dịp nhìn thấy vài đôi bướm
trắng chờn vờn trên những luống hoa vàng. Luống đất còn lại chúng tôi gieo hạt
rau dền, rau cúc, và rau muống – những thứ rau mà tôi biết rằng nếu thiếu đi
thì cuộc đời mẹ tôi kể như là… vô nghĩa.
Phần đất sát với bờ rào của nhà bên cạnh thì
tôi làm giàn cây để cho khổ qua, bầu, và mướp có chỗ leo. Tôi không ưa hoa bầu
và hoa mướp đâu. Coi vô duyên thấy mẹ. Nhưng với giàn khổ qua thâm thấp, lá
xanh sắc, nhỏ nhắn, xinh xắn, điểm những hoa vàng nhỏ li ti thì trông xinh và
thương lắm.
Tôi “dọa” mẹ rằng :
– Bầu ở Mỹ tốt lắm mẹ nhá. Quả nào cũng dài
lê thê đến chấm đất luôn.
– Hay quá, hả con.
– Dạ.
Tôi “dạ” ngọt như đường cát, mát như đường
phèn. Thế là bữa cơm tối nào gia đình tôi cũng có chuyện để nói. Và toàn những
chuyện vui. Mẹ tôi có lúc xuýt xoa:
– Bắp của Mỹ lạ lắm con nhá. Mẹ mới gieo có
hai hôm mà đã lên cao cả gang tay.
– Dạ.
Tôi lại “dạ” dịu dàng rồi vội vã thêm:
– Ở đây nó thế mẹ ạ.
– Hay nhỉ.
Tôi thấy hãnh diện cho giàn bầu và mấy cây bắp
con con quá. Sau hơn một năm ở Mỹ, mọi thứ đều bị mẹ tôi coi thường, kể cả “cái
cầu treo dài nhất thế giới”; chỉ riêng có hai giống thực vật vừa kể là nhận được
hai câu khen tặng “hay quá” và “hay nhỉ” ngắn ngủi hiếm hoi thôi.
Có hôm đang bữa cơm bỗng mẹ tôi buông đũa, hốt
hoảng kêu :
Tôi bỏ dở bữa cơm, hùng hổ lái xe ngay đến
Kmart vác mấy hộp thuốc trừ sên về rải khắp vườn. Thỉnh thoảng, còn có dịp chứng
tỏ cho mẹ thấy là mình chưa hoàn toàn vô dụng khiến tôi thấy … khỏe trong người
hết sức.
Bố tôi vẫn thường giữ im lặng như bản tính
xưa nay của ông; tuy thế, khi nhìn thấy rau thơm trồng ở ngoài vườn đã được ông
cụ chiếu cố làm cho tôi thực sự thấy rất yên lòng.
Tôi nhớ mãi ngày đầu tiên đưa bố mẹ đi ăn phở
ở California. Ông cứ cầm cọng rau húng quế mãi trên tay, ngắm nghía thật lâu,
vò nát một góc lá, đưa lên mũi ngửi rồi vứt xuống bàn. Tôi đã thấy nhiều người
tỏ sự thất vọng và khó chịu vì mùi vị nhạt nhẽo của những cây rau thơm trồng ở Mỹ,
nhưng chưa thấy ai biểu lộ một thái độ chán chường đến thế.
Chao ơi, ngay cái giây phút đó sao tôi khổ
quá. Tôi chỉ muốn chết cho rồi. Tôi thương bố tôi đến chảy nước mắt và thấy ái
ngại cho những cây rau thơm mọc ở xứ người. Lá của chúng cứ mỗi ngày một lớn,
và hương thơm thì cứ theo thời gian mà nhạt dần đi. Cứ y như đám Việt kiều vậy,
mỗi lúc một thêm béo tốt và … nhạt nhẽo!
Chỉ cần cố gắng thêm một thời gian nữa, thời
gian đủ cho chúng tôi để dành được một số tiền thế chân chừng mười phần trăm là
có thể nói chuyện mua bán được rồi.
Tôi cũng đã mường tượng trước là sẽ trồng
thêm cho mẹ một cây bơ, và mấy cây anh đào che kín vườn sau cho bố. Rồi ra, căn
nhà của chúng tôi sẽ rực rỡ hoa đào – vào mỗi độ xuân về.
Cái mùa xuân rực rỡ đó, tiếc thay, đã không
bao giờ đến. Biến cố đến trước mùa hoa đào nở. Có hôm, người quản lý khu phố điện
thoại vào tận chỗ tôi làm việc, với giọng gắt gỏng:
– Ê, daddy của mày sao kỳ quá?
– Kỳ cái gì?
– Ổng cứ mặc đồ ngủ đi vòng vòng hoài hà.
Hàng xóm họ nghi ông điên.
Mà ổng có “bị sao” không vậy?
Tôi ngọng. Sự thực là bố tôi rất hay mặc một
bộ quần áo pyjama trắng, đội cái nón nỉ, khoác thêm chiếc áo bành, và cầm một
cây gậy đi dạo mỗi sáng “cho nó khỏe người”.
Hình ảnh này đối với tôi bình thường và quen mắt quá. Tôi quen với nó ngay từ ngày bố tôi chưa phải cầm gậy, và thay vào đó là ông cầm bàn tay bé bỏng của tôi kìa. Tôi thấy như vậy “có sao” đâu?
Sau đó đến chuyện của mẹ tôi. Bà cụ có hàm
răng đen. Và cũng cứ theo lời thằng cha quản lý khu phố thì bà cụ hay cười, và
nụ cười của bà “khiến nhiều người sợ hãi.”
Hắn làm tôi nghĩ ngay đến một bà cụ quê mùa,
nhỏ bé loắt choắt, lúc nào cũng đội xùm xụp chiếc khăn mỏ quạ, thỉnh thoảng đi
lại ngoài đuờng, gặp ai cũng nở một nụ cười … ngờ nghệch. Hình ảnh này đối với
một số người Hoa Kỳ quả là “khó coi,” đó là chưa kể đến hàm răng đen.
Tôi không hề nghĩ đến điều đó vì – trong những
năm dài xa cách – mỗi khi nhớ đến mẹ tôi chỉ thấy hình ảnh của bà khi mình còn
bé tí, đi đâu cũng nắm chặt chéo áo của mẹ thôi. Thuở ấy, răng của mẹ tôi đen
huyền, môi hồng cắn chỉ. Dù có thêm bao nhiêu ngàn năm nữa qua đi thì mẹ tôi vẫn
cứ mãi mãi đẹp đẽ và xinh tươi như thế, chứ vĩnh viễn chả bao giờ có gì “khó
coi” cả.
Cuối cùng là chuyện mấy con gà. Đàn gà mà mẹ
tôi vô cùng hãnh diện vì lúc khởi đầu nuôi chỉ có mấy con thôi mà chả bao lâu
nhà tôi đã biến thành “trại gia cầm.”
Hàng xóm than phiền là họ không ngủ được vì
tiếng gà gáy sáng. Thế mà cả hai mẹ con tôi vẫn cứ ngỡ là mình đã mang lại cho
cả khu phố cái không khí thôn dã, êm đềm nhờ vào tiếng gà gáy (trong trẻo) vào
mỗi sáng.
Tôi có thể thuyết phục bố tôi thôi đừng đi dạo
với bộ quần áo ngủ, năn nỉ mẹ tôi đừng tiếp tục nuôi gà nhưng tôi không biết
làm thế nào ngăn được ác cảm và thành kiến của người dân bản xứ. Và rồi chuyện
phải đến, đã đến.
Người quản lý báo cho tôi biết họ cần lấy lại
nhà để sửa. Tôi hiểu đó chỉ là một cái cớ nên năn nỉ xin ở lại và đề nghị trả
tiền thêm. Tôi cũng cố giải thích cho hắn hiểu là bố mẹ tôi sẽ… chết nếu sống
không có đất.
Cuối cùng hắn đành nói thực:
– Từ khi tụi mày dọn tới đây khu phố ngó bộ
muốn xuống giá. Chủ nhà, chủ đất nó đâu muốn như vậy. Tao chỉ là thằng làm mướn
cho tụi nó thôi. Nó biểu sao là tao làm vậy hà.
Thế là thôi. Thôi giã từ căn nhà có hoa anh
đào, có hương hoa chanh thoang thoảng mỗi sáng, có bầy ong nhỏ loanh quanh bên
giàn khổ qua xanh lá mỗi trưa, có đôi bướm trắng chờn vờn trên những luống cải
lấm tấm điểm bông vàng vào những buổi chiều nhạt nắng. Người ta không thể mượn một
mảnh đất để làm quê hương, dù chỉ là mượn tạm để cho bố mẹ già nương náu cho hết
những ngày tàn còn lại.
Tưởng Năng Tiến
Thursday, August 6, 2026
Gặp Lại Pilot 215 Phi Đoàn Trực Thăng Thần Tượng - Phạm Sơn Liêm
Ngày đó, giữa rừng
sâu, chúng tôi không biết mặt nhau.
Chỉ biết một điều: khi
nghe tiếng cánh quạt từ xa vọng lại, là tim bắt đầu đập khác đi. “215 inbound.”
4 chữ ấy, qua làn sóng rè, đối với chúng tôi không chỉ là tín hiệu. Đó là hy
vọng. Là con đường về. Là sự sống treo lơ lửng dưới bụng trực thăng.
Tôi chưa từng thấy mặt
người lái. Chỉ thấy bóng chiếc chim sắt lượn vòng trên rừng già. Chỉ nghe tiếng
rotor quần nát khói và lá cây. Chỉ cảm được sự liều mạng
khi nó hạ thấp hơn mức
an toàn, để kéo chúng tôi ra khỏi vòng vây lửa đạn đang rượt đuổi.
Trong đầu tôi, “Pilot
215” là một huyền thoại. Một người không sợ chết. Một thần tượng vô danh của
toán lính dưới đất.
Rồi chiến tranh qua...
Đơn vị tan...
Thần tượng ở lại trong
ký ức như một biểu tượng, không tuổi, không tên, chỉ có tiếng máy và bầu trời.
Tết năm nay 2026. Một
buổi họp mặt Tết Bính Ngọ cựu quân nhân vùng Bay Cali.
Tôi đứng lặng nhìn mấy
ông già tóc bạc kể chuyện xưa.
Một người nhỏ con,
dáng lưng hơi còng, đeo cặp kính dày. Ông nhìn phù hiệu trên ngực tôi, hỏi:
- Anh từng ở bãi bốc
rừng năm... đó?
Tôi gật. Ông cười nhẹ:
- Bãi đó... tôi đáp
bốc toán xâm nhập về hai lần.
Tôi lạnh tê sững
người:
- Anh... bay 215?
Ông không nói ngay,
chỉ gật đầu.
Thế giới như thước
phim chậm lại....
Trước mặt tôi không
phải huyền thoại. Không phải một biểu tượng bất tử giữa trời xanh. Chỉ là một
ông lão với đôi tay đã run, với giọng nói trầm và hiền. Tôi nhìn ông mà cổ họng
nghẹn cứng.
Ngày đó, khi ông cho
máy bay hạ thấp hơn quy định,
khi đạn bắn vạch những
vệt lửa ngang thân tàu, khi chúng tôi bám càng leo lên trong khói, tôi nghĩ
người Pilot trên buồng lái chắc là một vị thần.
Hóa ra... là một con
người. Một con người cũng biết sợ. Cũng có gia đình chờ. Cũng có trái tim đập
nhanh khi kim xăng tụt xuống và đạn chạm thân tàu. Tôi nói nhỏ:
- Anh là thần tượng
của tụi tôi.
Ông cười, lắc đầu:
- Không. Tôi chỉ làm
phần việc của mình. Mấy anh dưới đó mới là người liều mạng.
Câu nói ấy làm tôi
quay mặt đi. Vì thần tượng của tôi,
không chỉ từng cứu tôi
mà còn khiêm nhường đến mức, không bao giờ nhận mình đã làm điều phi thường.
Chúng tôi bắt tay. Bàn
tay ông gầy và ấm. Bàn tay từng giữ cần lái giữa lằn ranh sống chết.
Ngoài kia, Tết rộn
ràng....
Còn tôi, đứng trước
người phi công năm ấy, chỉ thấy lòng mình mềm ra như đất ướt.
Có những thần tượng
không đứng trên sân khấu. Không có huy chương lấp lánh.
Họ chỉ lặng lẽ bay vào
lửa đạn, để bốc một toán lính vài ba người dưới đất, còn có ngày, được già đi.
Và Tết này, tôi mới
biết mặt người anh hùng của đời mình. Không phải trên trời. Mà ở ngay trước
mắt.
Phạm Sơn Liêm
Những Con Tàu Nam Tiến Năm 1954
Cuộc di cư của gần một triệu đồng bào
và hành trình tìm một quê hương mới
Mùa hè năm 1954, sau Hiệp định Genève, đất nước Việt Nam bước
vào một giai đoạn nhiều biến chuyển. Giữa hoàn cảnh ấy, một cuộc di chuyển dân
cư lớn lao đã diễn ra: hàng trăm ngàn người dân miền Bắc rời bỏ quê hương, hướng
về miền Nam với mong muốn tìm một đời sống yên ổn và một tương lai mới.
Từ những làng quê Bắc Việt, từ Hà Nội, Hải Phòng, Bùi Chu, Phát
Diệm và nhiều vùng khác, từng đoàn người lặng lẽ lên đường. Hành trang của họ
thường rất đơn sơ: vài bộ quần áo, chút tiền dành dụm, những kỷ vật gia đình,
đôi khi chỉ là một tấm ảnh cũ hay nắm đất quê nhà.
Trên bến tàu Hải Phòng ngày ấy, biết bao cảnh chia ly đã diễn
ra. Có người rời mái nhà đã sống qua bao đời, có người xa mồ mả tổ tiên, có những
bà mẹ ôm con nhỏ trong vòng tay, những người cha lặng lẽ nhìn lại quê hương lần
cuối trước khi bước xuống tàu.
Để giúp cuộc di chuyển này, nhiều lực lượng đã tham dự:
1/- Chính phủ Quốc gia Việt Nam (sau đó
là Việt Nam Cộng Hòa)
Chính quyền của Quốc trưởng Bảo Đại và sau này là chính phủ của
Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã tổ chức việc tiếp nhận, định cư và cấp đất cho
người di cư tại miền Nam.
Nhiều vùng đất hoang, vùng kinh tế mới, các khu dinh điền được thành lập để giúp bà con có nơi sinh sống. Các trại tiếp cư được dựng lên tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, Vũng Tàu, Đà Lạt và nhiều nơi khác.
2/- HẢI QUÂN HOA KỲ
Hải Quân Hoa Kỳ đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyên chở người di cư qua chương trình được gọi là “Operation Passage to Freedom”(Cuộc Hành trình Tự do). Nhiều chuyến tàu của Hải quân Hoa Kỳ đã đưa hàng trăm ngàn người từ miền Bắc vào miền Nam. Bên cạnh đó, tàu Pháp và các phương tiện khác cũng tham gia trong công cuộc di chuyển lớn lao này.
3/-Chính phủ Pháp
Dù Pháp rút khỏi Việt Nam sau thất bại Điện Biên Phủ, quân đội và chính quyền Pháp vẫn tham gia việc di chuyển dân cư trong giai đoạn đầu, vì lúc ấy Pháp còn giữ vai trò quản lý theo các điều khoản chuyển tiếp.
4/- Các tổ chức tôn giáo, đặc biệt là
Công giáo
Các linh mục, tu sĩ và giáo hội Công giáo đã giúp đỡ rất nhiều
người di cư, nhất là những gia đình Công giáo từ các giáo phận miền Bắc như Bùi
Chu, Phát Diệm, Hà Nội, Hải Phòng.
Họ tổ chức:
- nơi tạm trú,
- phát lương thực,
- chăm sóc trẻ em, người già,
- giúp lập các làng mới.
Các linh mục, tu sĩ và giáo dân tổ chức nơi tạm trú, chăm sóc
người già, trẻ nhỏ, giúp đồng bào tìm nơi sinh sống mới. Nhiều làng di cư được
thành lập, trở thành những cộng đồng mới trên đất miền Nam.
Khi đặt chân đến vùng đất mới, đồng bào di cư phải bắt đầu lại từ con số gần như hai bàn tay trắng. Khí hậu khác biệt, đất đai xa lạ, cuộc sống ban đầu nhiều thiếu thốn. Nhưng với lòng chịu khó và tinh thần vượt khó, nhiều gia đình đã dần dựng lại mái nhà, khai phá ruộng vườn, mở cửa hàng, xây dựng cuộc sống và góp phần làm phong phú thêm sinh hoạt xã hội miền Nam.
5/- Người dân miền Nam
Một phần rất lớn sự giúp đỡ đến từ chính đồng bào miền Nam. Nhiều
gia đình Nam Bộ mở cửa đón người Bắc di cư vào ở tạm, chia sẻ cơm áo và tình
nghĩa xóm giềng trong những ngày đầu khó khăn.
Theo các ước tính lịch sử, khoảng gần một triệu người đã
rời miền Bắc vào miền Nam trong giai đoạn này. Đây là một trong những cuộc di
chuyển dân cư lớn nhất trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.
Cuộc di cư năm 1954 không chỉ là một cuộc chuyển dời từ miền này
sang miền khác. Đó là câu chuyện của những con người mang theo ký ức quê hương,
những nỗi buồn chia xa, nhưng cũng mang theo niềm hy vọng về một cuộc đời mới.
Những con tàu rời bến Hải Phòng năm ấy đã đi xa, nhưng hình ảnh những đoàn người trên bến cảng, những mái nhà mới dựng lên nơi đất lạ, và những trang đời được viết tiếp trên miền Nam vẫn còn là một dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Việt Nam thế kỷ thứ hai mươi.
(3) BẢO TỒN TIẾNG VIỆT | # **Những Con Tàu Nam Tiến Năm 1954** | Facebook
Thanh Loan chuyển












