Sunday, September 6, 2026

Sân Ga Tiễn Em - Nguyễn Duy Phước

Gà Xé Phay - Đoàn Xuân Thu

 
Gỏi gà xé phay và cháo gà – nguồn youtube 

Chữ “phay” xuất hiện trong cụm từ “dao phay” và “gà xé phay”. Dao phay, ở Úc gọi là “cleaver”, cũng được gọi là “butcher knife” hoặc “chopping knife”. Dao phay có bản dao to, rộng, hình chữ nhật, cứng và nặng, có thể dùng để nghiền tỏi hoặc đập nát tiêu hột. Dao phay để chặt thịt, xương. Lưỡi dao rộng giúp bằm nhuyễn tỏi, hành, cũng như cắt các loại rau củ lớn như bắp cải hay bí rợ.

Chữ “phay” còn có trong món ‘gà xé phay’, xé phay là xé nhỏ thịt gà ra để làm món này. Sau năm 1975, khi CSBV tràn vào miền Nam, chữ “nộm gà” mới lù lù xuất hiện. ‘Nộm’, hay ‘gỏi’ ở miền Nam, thường được trộn với nước mắm chua ngọt. Ở Úc và nhiều nước phương Tây, món này thường được gọi là ‘salad’, rau trộn. Ví dụ như nộm hoa chuối (ở miền Nam gọi là bắp chuối) bào mỏng, lỗ tai heo, rau thơm; nộm đu đủ với cà rốt và thịt bò khô; nộm rau muống luộc với đậu phộng rang; nộm xoài xanh với tôm khô và rau thơm. Đặc biệt, món nộm gà xé phay của dân miền Tây không có tên “nộm” gì ráo mà được gọi là gỏi gà hay gà xé phay.

Hồi xưa, khi còn ở trong gông cùm của CS, năm bảy tháng, tui mới được bà chằn của tui làm món gà xé phay cho tui nhâm nhi với một ly rượu đế (thời VC đói nghèo thấy mẹ, tiền đâu mà mua rượu xị?). Rau răm, chanh, ớt, bắp chuối hột sau vườn đã có. Tỏi, đường, tiêu, bột ngọt thì khỏi mua vì nhà còn. Em viết ra một cái toa, sai tui chạy ù ra chợ Tham Tướng, đầu đường Mạc Tử Sanh, Cần Thơ, kế chân cầu đúc để mua dưa leo, cà rốt, hành, giá.

Nhớ mua ở sạp rau của bà Tư Ú, có ông chồng là ông Hai Ốm. Chồng như cây tre miễu đứng cạnh bà vợ là con voi. Như số một đứng cạnh số không (zéro). Số 10, bù, nghèo là phải.

Nhớ đừng lân la, rề rà lại sạp rau của con Chín Ú, ngựa bà, dụ mấy thằng dê mà bán mắc, lời nhiều.


Em rải lúa, kêu túc túc, cho tui chụp bắt một con gà tơ. Tui chụp hụt, té bò lăn, bò càng rồi cuối cùng cũng được một con cho em. Nửa con, em nấu cháo, nửa con, em kho gừng dành để ăn cơm.

Tui làm nước mắm ăn gà xé phay: gồm nước cốt chanh, đường mỗi thứ 2 muỗng canh và nước lã 4 muỗng.

Em vớt trong nồi cháo, sôi ùng ục, ra một cái ức gà và một cái đùi gà. Sau đó, nhúng với nước lạnh để thịt gà có màu trắng đẹp, rồi xé thành sợi.

Bắp chuối hột em bào mỏng, ngâm trong nước muối pha chanh để không bị thâm và giữ độ giòn. Em sai tôi xắt mỏng củ hành, ngâm trong nước cho bớt mùi hăng; bào cà rốt thành sợi. Rau răm rửa sạch, xắt nhỏ.

Em lấy một nồi lớn, cho thịt gà xé, cà rốt, dưa leo, củ hành và giá vào, lấy đũa đảo đều nhẹ nhàng. Rồi em thêm một muỗng tỏi băm, nửa muỗng bột ngọt, tiêu, một phần tư muỗng cà phê đường và nước cốt chanh. Sau đó em lấy hai tay (búp măng, ngòi viết lá tre, từng bóp cổ tui mắt trợn trắng, trợn ngược lúc em lên cơn giận), trộn món gỏi gà thấm đều gia vị. Tiếp theo, cho một nửa rau răm vào, rồi lại đảo đều lên.

Cuối cùng, em yêu cho món gỏi gà này lên đĩa và rắc phần rau răm còn lại lên trên. Em rưới nước trộn gỏi lên, trộn đều; rắc đậu phộng rang giã nhỏ lên trên. Em bày gỏi gà ra đĩa, thêm rau răm và ớt tươi. Tôi rất thích ăn cay.

Có lẽ thời kỳ VC, dân miền Tây bị CS cướp sạch bách, vợ chồng tui thiếu, ăn gì cũng thèm. Thịt gà đối với dân ngụy như tui đã trở thành cao lương mỹ vị. Đói quá, tương lai đen thùi lùi như mõm chó. Không lẽ ở lại chịu trận, chịu đói cho bọn chúng hành hạ, nên tui tìm cách dẫn vợ con bỏ nước ra đi dù lòng đau như kim châm muối xát.

Qua Úc, so với thịt bò và thịt cừu, thịt gà rẻ hơn nhiều. Muốn ăn thịt gà thì cứ tới KFC, “Kentucky Fried Chicken,” tức là gà rán Kentucky. (Úc, nó không ăn đầu gà, chân gà, lòng mề gà là phần ngon nhất của con gà. Thiệt là ngu thấy ớn hè!)

Kentucky Fried Chicken


Ba ke hai nút gọi món nầy là gà rán, nhưng tui nghĩ gọi như vậy là không đúng. Mặc dù “chiên” và “rán” đều là các phương pháp nấu ăn dùng dầu, nhưng có sự khác biệt. Chiên là nhúng cánh gà, ức gà, đùi gà ngập hoàn toàn trong dầu. Chiên làm thịt gà chín vàng đều và giòn hơn, nhai nghe rốp rốp. Còn rán thường sử dụng ít dầu hơn và gà chỉ ngập được một phần. Rán thường không làm thực phẩm giòn bằng chiên.

Ở Úc, có nhiều loại gà khác nhau, dựa theo cách nuôi. Như gà công nghiệp (Commercial Chicken) nuôi cả trăm ngàn con trong các trang trại bao la, chủ yếu để làm thịt gà KFC.


Ngày xưa, món gà xé phay là món ăn quý giá, nhưng ở Úc, thịt gà trở nên rẻ hơn nhiều. Nhà nghèo ăn riết phát ghiền ‘fast food’ như McDonald’s, Hungry Jack’s hoặc KFC. Dần dần, vợ chồng con cái bị Úc hóa, mập thù lù như cái lu hứng máng xối nước mưa!

Tui khoái gà xé phay nhưng con cháu tui đã bị Úc hóa, tụi nhỏ khoái KFC hơn. KFC ở gần, tôi thèm thịt gà, chỉ cần lái xe chưa tới 10 phút là mua về ăn cho lòi bản họng. Tốn khoảng 20 đến 30 đô Úc đủ cho hai con khỉ già và mấy con khỉ nhỏ, cháu nội kêu khẹt khẹt, no bụng tối ngày.

Còn gà của em yêu là loại nuôi tự nhiên (Pasture-raised Chicken) thịt ngon hơn gà nuôi công nghiệp. Nhưng ngặt nỗi là: bà chằn của tui ít làm gà xé phay cho tui ăn nữa. Tôi nhớ quay quắt dĩa gà xé phay 40 năm thời đói cơm, rách áo. Đêm ngủ chảy nước miếng, nghiến răng như đang nhai rau ráu món gà xé phay. Vợ tôi đi ‘pharmacy’ mua thuốc xổ lãi về bắt tôi uống vì em nghĩ bụng tôi có lãi. Lãi đâu mà lãi nè? Bụng bự vì tui uống nhiều bia. Tui chảy nước miếng tới rún; tui nhai nhóp nhép trong mơ vì tui vẫn thèm món gà xé phay hồi năm nẳm.


Đoàn Xuân Thu

Gà xé phay

Saturday, September 5, 2026

VNCH Chính Danh


 

Thanh Loan chuyển

Trời Sắp Mưa - Nguyễn Văn Sâm


Nhà bếp rộng, sạch. Trên lò, nồi giò heo hầm lửa riu riu phun khói nhè nhẹ, nắp nồi khua động bằng một âm thanh đều đều, xì xọp, vui vui. Trên tường đồng hồ thánh thót đổ một hồi kẻng dài. Dì Tư ngó lên rồi lại cúi xuống tiếp tục từ tốn cắt cắt thái thái mấy miếng thịt lấy ra từ cái oven. Trong góc bếp, nút nồi cơm điện nhảy từ chữ "nấu" sang nút "giữ ấm" nghe cái "cắc" một tiếng dòn tan, Dì lại ngước lên ngó về phía đó. Bực mình. Già cả nên lẩn thẩn, biết trong bụng là không có chuyện gì mà cứ giựt mình, cứ coi đi coi lại cho chắc. Vô ích hết sức. Như là ba cái vụ điện thoại, reng reng trong tivi mà cứ giựt mình lại coi phải ai gọi không, mặc dầu nếu có người hỏi cũng chỉ biết nói "Họ không có ở nhà", ngay ý muốn hỏi tên để về nói lại cũng ngại ngùng. Dì giở nắp nồi cơm ra coi. Hơi gạo

chín tỏa một mùi thơm dễ chịu. Dì nghĩ tới món thịt kho dưa chua đứa con gái ưa thích từ hồi còn nhỏ tới giờ, thỉnh thoảng được ăn vẫn chắc lưỡi hít hà khen ngon liền miệng.

Trí Dì miên man nghĩ tới đứa cháu ngoại chắc chắn nó sẽ bới nửa chén cơm và ba hột rồi ôm đủa ngó, đợi không ai chú ý đem chén đủa để trong chậu rửa chén rồi tới mở tủ lạnh lục bánh trái gì đó ăn dằn bụng qua loa. Tội con nhỏ không ăn được những món Việt Nam nghèo thuần tuý, món của quê nhà đồng ruộng. Dì lấy gói thịt bầm làm hai cái hamburger. 


Trong khi nướng Dì nghĩ vẫn vơ về hai đứa con gái trong nhà.

Con Trinh không gần gũi thân mật là bao nhiêu mặc dầu đã sống với nó từ mười năm nay, mến chân mến tay từ hồi còn nhỏ. Dễ thương thì dễ thương thiệt, nhưng nhiều khi nó ngồi yên cả giờ đồng hồ không nói, chăm chú trước máy truyền hình, hay cười như nắc nẻ lúc nghe được chuyện gì hay. Gợi chuyện với nó thì nó dạ dạ mà coi bộ cũng hững hờ lắm, không có gì tha thiết. Nhiều lúc vui vui buột miệng kể chuyện lúc nó còn nhỏ ở Việt Nam, thì lần nào cũng như lần nấy nó chận họng: Chuyện này bà ngoại kể hoài, bộ bà ngoại hổng nhớ sao. Con nhỏ giống má nó in hịt càng ngày càng thấy xa lạ, như tụi nó không là con cháu mình nữa. Tụi nó lúc này và lúc trước ở Việt Nam là những người khác.

Cũng mắt mũi đó, cũng tên họ đó, cũng bộ điệu đó, nhưng mà như là uống nước ở xứ này nên bị rửa ruột thành người khác. Nói năng không lựa lời lựa vốn, bạ đâu xâu đó, nhiều khi nghe muốn tức cành hông. 


Còn con Chuyên mắc giống gì không biết lại thương mến. Có lẽ nhờ nhỏ nhẹ dịu dàng. Có lẽ nhờ mới qua. Có lẽ chịu nghe, chịu góp chuyện. Ở đây có khi cả tuần, có khi cả tháng, trong nhà mới có vài câu nói, trả lời ngắn gọn, lạnh tanh, ngoài ra là thời khoảng im lặng ai lo chuyện nấy. Người trong nhà như những cái bóng dật dờ đi làm - về- ăn- ngủ. Một chu trình trôn ốc liên tục tiến lên theo thời gian bất tận. Hai vợ chồng là hai vòng trôn ốc ngoài nhau, không có điểm chung nào. Dì là đường thẳng đơn côi riêng biệt với họ. Lặng lẽ, cô đơn, thèm được chuyện trò. Rồi Chuyên, đứa con riêng của chồng của con Dì, xuất hiện tưởng không thể thân thiện được lại đến như một niềm vui, một sự khơi dậy ánh lửa đèn cây tươi mát trong lòng Dì. Dì còn nhớ ngày đầu tiên gặp gỡ, bữa ba người kia rước Chuyên từ phi trường về, được giới thiệu với Dì, Chuyên đã chào thật cung kính, thật tươi,

Thưa Ngoại. Dì cảm động rớt nước mắt. Dì đã hồi hộp chờ ngay từ lúc "họ" ra xe lên phi trường. Cái giòng con gái cỡ trong ngoài hai mươi khó chịu lắm. Con nào hỏng thương mẹ, qua đây thấy chuyện ba nó thế nào cũng nầy kia. Bị ghét lây cũng đành chịu. Không dè mọi chuyện xảy ra khác với bình thường. Ánh mắt Chuyên không biểu lộ một sự gượng gạo, khó chịu, trái lại là một nụ cười thân thiện. Hai bà  cháu bà con chống bảy sào không tới từ đó lại thương nhau hơn cật ruột.. Người dưng nước lã đã biến  thành máu mủ. Bây giờ tình thương càng ngày càng chất chồng, nó đi đâu một chút thì nhớ thì trông.


Nghe mùi thịt nướng thơm thơm, Dì Tư gắp xuống để trong dĩa, sửa soạn pickle, cà tô mách, củ hành, tất cả xếp trong một cái dĩa kiểu, các thứ rau cải xanh đỏ trắng nổi lên trên nền men trắng màu ngà coi thiệt đẹp mắt.

Dì đi lại phòng, gõ cửa ló đầu vô gọi cháu:

- Trinh ra ăn hamburger con!

Con nhỏ đương nằm lơ mơ nghe nhạc, con gấu để trên bụng, một tay ôm, một tay vuốt ve, nghe kêu, nhíu mày lại một giây trước khi chểnh mãng ngồi dậy.

Dì Tư dọn "cơm" mà lòng dửng dưng, không mấy thích thú vì đã làm một điều lợi ích cho cháu con, cũng không thấy khó chịu vì bận bịu. Lòng Dì trống rỗng, như lúc mở cái cửa, lúc xoay lại cái ghế cho ngay ngắn hay lấy cái nùi giẻ lau những miếng thức ăn vụn nho  nhỏ rơi rớt trên bàn sau buổi ăn, những công chuyện bình thường  không tên ngày này qua ngày khác của một đời không bước ra khỏi ngõ...


Tiếng xe quen thuộc ngừng trên  con đường dẫn vô nhà xe, tiếng đóng cửa xe  cũng quen quen, tiếng gót giày  đều đều mà Dì mường  tượng đã nghe rất nhiều lần trong đời tiến lần về phía cửa.

Dì lên tiếng với cháu:

- Chắc mẹ mày về đó. Tao nghe có tiếng xe, sao bữa nay về sớm vậy cà.

Con Trinh không lấy làm lạ về câu nói của bà ngoại mặc dầu nó không nghe gì hết. Chuyện trong nhà bà rất thính mũi thính tai đoán không bao giờ trật. Ít nhứt cũng có người tới.

Bên ngoài Hoa ngó khung cảnh sân cỏ  trước nhà xanh mướt, bằng phẳng, sang trọng như một minh tinh. Mùi cỏ mới cắt phảng phất trong không gian một hơi hướm thiên nhiên tươi mát tinh khiết, khiến chị nín hơi hít những hơi thật dài, đầy phổi. 

Hoa giật mình ngỡ ngàng  khi  cửa mở  cùng lúc với cái bấm chuông của chị: 

- Ồ má! Sao má biết con về hay vậy? Ngó sự chậm chạp  già nua của mẹ, nhớ lại chuyện thực tế, chị cằn nhằn: Má mở cửa mà không check coi người lạ hay quen, nguy hiểm lắm. Ở đây coi vậy chớ tụi cướp tới lúc nào không biết đó. Cái điệu má cà rịch cà tang nếu là người lạ thì trở tay đâu kịp. Chị cố gắng hạ giọng để câu nói có vẻ thật bình thường.

- Con nói với má hoài mà má cứ thờ ơ. Có chuyện gì rồi ngồi đó than trời trách đất.

- Ối tao già rồi đâu còn sợ gì nữa. Nhà đâu có để tiền mặt đâu mà sợ.

Hoa nhăn mặt không vừa ý.

- Má nói vậy sao được! Má già, nhưng còn con Trinh mần chi, nó lớn trọng cải rồi, má có một mình nó là cháu ngoại đó.

Dì Tư nghe xốn xang trong lòng. Đã đành, nhưng cách nói của nó như là mẹ người ta! Lúc nó còn  nhỏ, làm bậy, nhà cửa để bầy hầy  bề hề  mình cũng không rầy kiểu đó. Dì buồn hiu đóng cửa lại sau lưng đứa con, gài sợi xích an toàn rồi bước theo sau.

Già rồi, ở tạm ăn nhờ phải chịu. Nhứt là xứ này, mọi chuyện đảo điên. Tiếng Mỹ tiếng Tây dốt đặc cán mai nói không được như câm, như điếc. Mọi chuyện đều lạ lùng, ngơ ngơ ngác  ngác,  như thằng  lác mắc phong, chết lúc nào sướng lúc đó. Nghe nó cằn nhằn cưởi  nhưởi hoài, tủi quá.

Con Trinh ngó mẹ và ngoại, nó chào cho có:"Hi !  mom", rồi tiếp tục vừa  ăn vừa ngó xéo qua vai má nó, theo dõi chương trình tivi ở góc nhà.

Chị Hoa liếc lên bàn ăn, chị hỏi con, sự không vừa ý lộ ra rõ ràng trong âm điệu:

- Sao con không ăn cơm, ăn có thứ này thứ kia mới đủ chất bổ, hamburger chỉ là fast food để cho mấy người đi làm ăn cho mau vì không đủ thì giờ. Con phải tập ăn cơm Việt Nam cho quen chứ. Chị nắm đôi đủa  lên lật miếng hamburger lên mặt sau săm soi. Sao con không nhờ ngoại dọn cho. Đồ ăn thiếu gì trong tủ lạnh đó.

Dì Tư chen vô, dì thấy cần phải giải thích. Con nhỏ có vẻ muốn đổ thừa mình. Con nó là cháu mình, không thân với nó thiệt, nhưng đâu đến nỗi ghét bỏ.

- Tao thấy nó ưa ăn món đó thì tao làm cho nó. Có dọn cơm nó cũng không ăn. Bữa nay tao nấu thịt kho ăn với dưa chua. Còn món giò heo hầm tao tính để cho chiều nay. Dì nói như phân bua. Chưa được mềm, còn dai nhách.

Con Trinh giờ mới lên tiếng:

- Con chỉ ưa ăn hamburger thôi à ! Mấy thứ khác con ăn không được.

- Mày biết gì! Ăn uống để tẩm bổ chớ đâu phải để chết. Day qua Dì Tư, chị Hoa nói thiệt nhỏ nhẹ. Má làm ơn ép nó ăn dùm con. Nó đương sức lớn ăn bậy bạ nữa sau èo uột. Mình lớn mình biết chuyện nào trúng chuyện nào bậy, chứ nó con nít con nôi biết khỉ gì. Ở Mỹ mà, nhỏ con quá coi đâu được.

Dì Tư buồn hiu, nói xuội  lơ:

- Ừ để tao rán coi, biểu nó, nó không cãi ngang cãi dọc, nhưng nó vô buồng đóng cửa lại thì tao cũng thúc thủ thôi chứ làm gì được.

- Má,  còn con Chuyên đâu hỏng thấy?

- Nó đi lợi đằng trường ghi tên rồi. Nó ghi sớm nữa khỏi phải chen lấn.

- Nó đi một mình hay có ai tới rủ?


Khó nói quá, mình là cha mẹ nói láo với con coi sao được. Mà nói ra tội nghiệp con nhỏ. Dì giả đò không nghe câu hỏi kiếm chuyện gì đó làm, tiện tay dì mở tủ lạnh. Bình sửa để ở ngoài cùng. Bỗng nhiên Dì muốn rót một ly sữa cho con. Coi vậy chớ tội nghiệp nó, buôn bán tối ngày về còn phải coi chừng coi đổi chuyện nhà cửa. Mỗi ngày cầu nó uống hai ba ly sữa mới lấy lại sức. Dì đem ly sữa để trước mặt con rồi quay lưng tính đi rót một ly khác cho cháu. Mắt Dì rưng rưng, không biết sao kỳ vậy. Đâu có buồn gì lắm đâu. Tánh nó chót chét  vậy thôi chớ không để bụng. Nó sẽ quên ngay. Như con cọp ngủ một giấc dậy vung vai,  mọi chuyện xảy ra trước đó sẽ đi vào quên lãng. Thương con cũng muốn mời nó một câu thân mật. Chẳng hạn như con uống ly sữa nghỉ mệt rồi ăn cơm, nhưng không nói được. Khó quá ! Mẹ con lớn hết rồi, biểu lộ bằng cử chỉ săn sóc lo lắng thì được, nhưng nói dịu ngọt thiệt khó còn hơn lên trời. Nó, chồng con đùm đùm đề đề chứ còn nhỏ nhít gì  nữa đâu.


Chị Hoa ngó ly sữa, cảm động đưa mắt theo bàn tay khô cằn của mẹ. Chị hiểu lòng mẹ và cảm thấy mình vô lý, có vẻ như hỗn hào. Già rồi đâu còn lanh lợi như mấy người trẻ. Nói thì nói vậy, chớ tội nghiệp, có bà cũng đỡ chuyện cơm nước giặt dịa, nhà cửa cũng được vén khéo tươm tất. Cả nhà bỏ đi hết, trấn ba cái đồ đạc lại cho ông Táo, biết đâu chừng có bữa tụi nó vô dọn  không còn miếng giẻ rách. Tụi thất nghiệp, xì ke ma tuý, bụi đời chung quanh khu này thiếu giống gì. Dân nào cũng có. Tứ xứ. Thấy có người ra vô tụi nó cũng ngại chứ. Cũng tội, bà lâu nay lủi thủi trong nhà, quanh quẩn với cơm nước, quần áo và con nhỏ Trinh, có biết nước Mỹ là cái gì đâu.

Chị giả lả với mẹ:

- Phải con Chuyên nó đi với thằng Khoa không má?

- Ừa.

Nghe câu trả lời  như nhẹ hẫng nhẹ tênh, chị Hoa không nói ra nhưng cảm thấy giận ngang trong bụng. Như là có một sự đồng loã  nào đó trong nhà này, không đếm xỉa tới chị. Nó là con chồng, lớn đại rồi, thêm ở Mỹ này, có thân muốn đi với ai thì đi. Ba nó không rầy thì thôi, mắc mớ gì mình nói ra nói vô thêm mắc oán. Nhưng mà tại sao má lại dấu dấu diếm diếm, giống như chấp nhận thằng kia, giống như ở về phe với nó mà không đếm xỉa gì tới mình. Chị bực bội, nhưng không biết sao cho đúng, chị đưa ly sữa lên miệng, uống mấy hớp. Con Trinh thinh không mở miệng khoe:

- Anh Khoa có cho con một con beat đẹp lắm.

Chị Hoa lườm con, trút tất cả bực bội nảy giờ.

- Đồ con gái hở ai cho gì cũng lấy là con gái hư mầy biết không. Từ rày sắp tới mày mà còn lấy cái gì của thằng Khoa thì mày biết tay tao. Con Chuyên đi với nó, muốn lấy cái gì thì lấy, mày có ăn nhằm gì vô đó mà lấy.

Dì Tư nóng mũi binh cháu:

- Trinh ăn mau bà dẹp. Con còn đi học bài nữa, mai đi học rồi.

Con nhỏ ngồi xụ mặt một chút rồi bỗng nhiên nó xô nửa cái hamburger còn lại ra trước mặt đứng dậy cái rột, đi thẳng vô phòng đóng cửa cái rầm trước mặt mẹ và ngoại nó. Hai người đàn bà ngó theo, mỗi người theo đuổi tư tưởng của riêng mình, chị Hoa lắc đầu ngán ngẫm.

- Con cái, cứng đầu cứng cổ. Má nữa ! Má đừng binh nó. Con tui má để tui dạy, má cứ xử bỉ hoài nó được mòi  làm tới nữa, nó hư thì ai vô đây chịu đây? Má đâu có sống đời để lo cho nó đâu. Còn con Chuyên nay thằng này tới, mai thằng  kia tới tui đã bực lắm rồi. Bây giờ mà bắt thang cho con Trinh trèo nữa thì có nước tui bỏ nhà tui đi.


Nói xong một hơi dài, coi bộ chừng đã mệt, chị Hoa ngồi xuống bàn ăn, ngó chén đủa  đã dọn sẵn, lòng chị dịu xuống, làm thinh ngó những miếng dưa chua được xếp đặt gọn ghẽ trên cái đĩa sứ.

Dì Tư múc tô thịt kho, đem đến để trước mặt con. Mùi mỡ rục nóng mời mọc nhưng Dì thấy nó hơi ngang.

- Tao chút nữa ăn sau, bây ăn đi.


Không đợi trả lời, Dì kéo cửa kiếng  bước ra patio. Trời trong mát đầu Thu với từng cơn gió nhẹ phe phẩy mời gọi,  Dì ngồi xuống một cái ghế cũ đặt gần cụm hồng cạnh tường. Mấy chiếc lá vàng rơi rụng loả xoã  đầy sân, mấy bụi hoa cúc và nhiều thứ hoa khác nữa, trồng mấy tháng trước bây giờ coi bộ xum xuê. Vườn sau coi cũng đẹp ớn, nhưng mà trong nhà thiệt là khó thở. Một cụm mây đen phía chân trời từ từ trôi tới, Dì Tư buột miệng: Trời sắp mưa.

Lòng Dì nặng trĩu như đám mây đe dọa trên kia.

 

Nguyễn Văn Sâm 

Trích SÓNG ĐỜI TRÔI GIẠT (1987) 

3 Phút Vui Cười


 Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình

Quốc Khánh 2 Tháng 9: Độc Lập & Tự Do Cho Ai? (Song Ngữ Việt Pháp) - Ngọc Châu






Nhân ngày 2 tháng 9, ngày được chính quyền Việt Nam gọi là ngày Quốc khánh, chúng tôi – những người Việt Nam tị nạn cộng sản tại Pháp – một lần nữa lên tiếng tại Montreuil.

Hôm qua, ngày 1 tháng 9, chúng tôi đã có mặt tại công viên Montreau, nơi đặt bức tượng Hồ Chí Minh, để bày tỏ quan điểm của mình về lịch sử, về những đau thương mà chế độ cộng sản đã gây ra cho dân tộc Việt Nam, và về lý do tại sao chúng tôi yêu cầu chính quyền thành phố Montreuil tháo gỡ bức tượng này.

Đối với chúng tôi, Hồ Chí Minh không chỉ là một nhân vật lịch sử được một phía tôn vinh. Đằng sau biểu tượng ấy là cả một giai đoạn đầy đau thương của dân tộc: sự áp đặt của chế độ độc đảng, những cuộc đàn áp, những bi kịch lịch sử, sự chia rẽ kéo dài và làn sóng người Việt phải rời bỏ quê hương để đi tìm tự do.

Chúng tôi đến Montreuil không phải để gieo thù hận. Chúng tôi đến để nói lên sự thật, để tưởng nhớ những nạn nhân đã không có tiếng nói, và để bảo vệ quyền được nhìn nhận lịch sử dưới nhiều góc độ khác nhau. Chúng tôi đặc biệt không thể im lặng khi một biểu tượng chính trị gây nhiều đau thương cho một bộ phận lớn người Việt lại được đặt tại một thành phố của nước Pháp – đất nước luôn tự hào về các giá trị Tự do, Bình đẳng và Bác ái.

2-9-1945: Độc lập và Tự Do cho ai ?

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 thường được tuyên truyền như ngày Việt Nam giành được độc lập. Nhưng sau hơn tám mươi năm, vẫn còn một câu hỏi mà chúng ta không thể né tránh:

Một quốc gia có thể có chủ quyền trên danh nghĩa. Nhưng nếu người dân không có quyền lựa chọn chính quyền; có Quốc hội nhưng không có cạnh tranh chính trị thực sự; có pháp luật nhưng quyền lực có thể đứng trên pháp luật; có báo chí nhưng không có tự do báo chí; có bầu cử nhưng người dân không có quyền lựa chọn thực sự — thì nền độc lập ấy có ý nghĩa gì đối với chính người dân?

Một đất nước không thể được gọi là thực sự tự do chỉ vì đã thoát khỏi sự thống trị của ngoại bang, nếu chính người dân của đất nước ấy lại tiếp tục sống dưới sự kiểm soát của một chế độ độc đoán.

Độc lập của quốc gia phải đi cùng tự do của con người. Chủ quyền của đất nước phải thực sự thuộc về nhân dân. Vì vậy, ngày 2 tháng 9 không nên chỉ là ngày để ca ngợi quá khứ. Đó cũng phải là dịp để mỗi người Việt Nam đặt câu hỏi về tương lai: Bao giờ người Việt Nam mới thực sự được làm chủ đất nước của mình? Bao giờ người dân mới được tự do nói lên suy nghĩ mà không sợ hãi? Bao giờ người Việt Nam mới có quyền lựa chọn những người lãnh đạo đất nước? Bao giờ Việt Nam mới có một nền độc lập mà trong đó nhân dân là chủ nhân của đất nước, chứ không phải là đối tượng để quyền lực cai trị?

Chúng tôi, những người đã phải rời bỏ quê hương vì không chấp nhận chế độ cộng sản, hiểu rất rõ giá trị của tự do.

Chúng tôi đã mất quê hương và mang theo những ký ức đau thương của một đất nước bị chia cắt bởi chiến tranh và ý thức hệ. Nhưng chúng tôi không muốn truyền lại hận thù cho thế hệ mai sau.

Điều chúng tôi mong muốn là sự thật được tôn trọng, lịch sử được nhìn nhận một cách trung thực và quyền tự do của người dân Việt Nam được bảo vệ.

Sự hiện diện của chúng tôi tại Montreuil là một lời nhắc nhở rằng lịch sử Việt Nam không chỉ có một tiếng nói, không chỉ có một cách kể.

Có những người tôn vinh Hồ Chí Minh. Nhưng cũng có hàng triệu người Việt Nam, đặc biệt là những người tị nạn cộng sản và gia đình của họ, mang trong lòng những ký ức hoàn toàn khác.

Tiếng nói của họ cũng phải được lắng nghe.

Chúng tôi yêu cầu tháo gỡ bức tượng Hồ Chí Minh tại Montreuil không phải vì muốn xóa bỏ lịch sử.

Ngược lại, chúng tôi muốn lịch sử được trả lại cho sự thật và cho tất cả những tiếng nói của người Việt.

Một dân tộc chỉ thực sự độc lập khi người dân được tự do.

Một đất nước chỉ thực sự mạnh khi quyền lực thuộc về nhân dân.

Và một tương lai tốt đẹp cho Việt Nam chỉ có thể được xây dựng trên nền tảng của Tự do, Dân chủ và Nhân quyền.

Ngày 2 tháng 9, chúng tôi không chỉ nhìn về quá khứ. Chúng tôi nghĩ đến những người Việt Nam hôm nay. Và chúng tôi hướng về một tương lai mà trong đó người dân Việt Nam thực sự được sống tự do, được nói lên sự thật, được làm chủ vận mệnh của mình và được tự hào về một đất nước độc lập không chỉ trên danh nghĩa, mà cả trong cuộc sống của mỗi con người.

Một dân tộc chỉ thực sự độc lập khi người dân được tự do, được làm chủ và được sống trong một nhà nước pháp quyền dân chủ.


Ngọc Châu

Montreuil. 01.09.2026

=====================================

FÊTE NATIONALE DU 2 SEPTEMBRE : INDÉPENDANCE ET LIBERTÉ, POUR QUI ?

À l’occasion du 2 septembre, jour que les autorités vietnamiennes désignent comme la Fête nationale, nous – les réfugiés Vietnamiens du communisme vivant en France – avons une nouvelle fois fait entendre notre voix à Montreuil.

Hier, le 1er septembre, nous étions présents au Parc Montreau, où se trouve le buste de Ho Chi Minh, afin d’exprimer notre point de vue sur l’histoire, sur les souffrances que le régime communiste a infligées au peuple vietnamien, et sur les raisons pour lesquelles nous demandons aux autorités de la ville de Montreuil de retirer ce monument.

Pour nous, Ho Chi Minh n’est pas seulement un personnage historique honoré par certains. Derrière ce symbole se trouve toute une période douloureuse de l’histoire de notre peuple : l’instauration d’un régime à parti unique, les répressions, les tragédies historiques, les divisions qui se sont prolongées pendant des décennies, ainsi que les vagues de Vietnamiens contraints de quitter leur pays à la recherche de la liberté.

Nous ne sommes pas venus à Montreuil pour semer la haine. Nous sommes venus pour faire entendre notre vérité, pour rendre hommage aux victimes qui n’ont pas eu la possibilité de s’exprimer et pour défendre le droit de regarder l’histoire sous différents angles.

Nous ne pouvons tout particulièrement pas rester silencieux lorsqu’un symbole politique, associé pour une grande partie des Vietnamiens à tant de souffrances, est installé dans une ville française – dans un pays qui se réclame des valeurs de Liberté, Égalité et Fraternité.


2 SEPTEMBRE 1945 : INDÉPENDANCE ET LIBERTÉ, POUR QUI ?

Le 2 septembre 1945 est généralement présenté comme le jour où le Vietnam a obtenu son indépendance. Mais, plus de quatre-vingts ans après, une question demeure et ne peut être évitée : Indépendance pour qui ? Et liberté pour qui ?

Un pays peut être souverain sur le papier. Mais si ses citoyens n’ont pas le droit de choisir librement leur gouvernement ; s’il existe un Parlement mais pas de véritable compétition politique ; s’il existe des lois mais que le pouvoir peut se placer au-dessus d’elles ; s’il existe une presse mais pas de liberté de la presse ; s’il y a des élections mais que les citoyens ne disposent pas d’un véritable choix — alors, que signifie réellement cette indépendance pour le peuple ?

Un pays ne peut pas être considéré comme véritablement libre simplement parce qu’il s’est affranchi d’une domination étrangère, si son propre peuple continue à vivre sous le contrôle d’un régime autoritaire.

L’indépendance d’une nation doit aller de pair avec la liberté de chaque être humain. La souveraineté d’un pays doit véritablement appartenir à son peuple.

C’est pourquoi le 2 septembre ne devrait pas être seulement une journée consacrée à célébrer le passé. Ce devrait aussi être l’occasion, pour chaque Vietnamien, de s’interroger sur l’avenir :

Quand les Vietnamiens pourront-ils réellement devenir maîtres de leur propre pays ?

Quand les citoyens pourront-ils exprimer librement leurs opinions sans crainte ?

Quand les Vietnamiens auront-ils le droit de choisir librement les dirigeants de leur pays ?

Quand le Vietnam connaîtra-t-il une véritable indépendance, dans laquelle le peuple sera le véritable propriétaire de son destin, plutôt que l’objet d’un pouvoir qui le gouverne ?

Nous, qui avons dû quitter notre pays parce que nous ne pouvions accepter le régime communiste, connaissons profondément la valeur de la liberté.

Nous avons perdu notre patrie et nous portons avec nous les souvenirs douloureux d’un pays déchiré par la guerre et les idéologies. Mais nous ne voulons pas transmettre la haine aux générations futures.

Ce que nous souhaitons, c’est que la vérité soit respectée, que l’histoire soit regardée avec honnêteté et que les libertés du peuple vietnamien soient protégées.

Notre présence à Montreuil est un rappel : l’histoire du Vietnam n’a pas une seule voix et ne peut pas être racontée d’une seule manière.

Certains honorent Hồ Chí Minh. Mais des millions de Vietnamiens, en particulier les réfugiés ayant fui le communisme et leurs familles, portent en eux une mémoire profondément différente.

Leur voix doit également être entendue.

Nous demandons le retrait du buste de Hồ Chí Minh à Montreuil non pas parce que nous voulons effacer l’histoire.

Au contraire, nous souhaitons que l’histoire soit rendue à la vérité et qu’elle puisse accueillir toutes les voix du peuple vietnamien.

Un peuple n’est véritablement indépendant que lorsque ses citoyens sont libres.

Un pays n’est véritablement fort que lorsque le pouvoir appartient au peuple.

Et un avenir meilleur pour le Vietnam ne pourra être construit que sur les fondements de la liberté, de la démocratie, des droits humains et de l’État de droit.

Le 2 septembre, nous ne regardons pas seulement vers le passé.

Nous pensons aux Vietnamiens d’aujourd’hui.

Et nous regardons vers un avenir dans lequel les citoyens vietnamiens pourront réellement vivre libres, dire la vérité, être maîtres de leur destin et être fiers d’un pays indépendant, non seulement en théorie, mais aussi dans la vie quotidienne de chaque être humain.

Un peuple n’est véritablement indépendant que lorsque ses citoyens sont libres, maîtres de leur destin et vivent dans un État de droit démocratique.


Ngọc Châu

Montreuil, le 1er septembre 2026

Chuyện Ngày Xưa… Thật Xưa - MX Nguyễn Đức Hùng


Tôi đã sống những buổi sáng mù sương nơi Tam thôn Hiệp, Rừng Sát. Ngày nắng hè chói chang ở Giồng Trôm, Bến Tre. Những đêm đen lạnh buốt người với mùa đông ở Đông hà, Quãng Trị và nhiều vùng đất nữa của quê hương Việt Nam. Thời gian trãi dài trôi theo từng miền trên những phần đất của quê mẹ tôi đã đi qua. Cố quên đi hận thù chiến tranh, không nghĩ đến những trận chiến điêu tàn, tôi chỉ muốn nhắm mắt để hình dung lại hình ảnh, những khuôn mặt thân yêu của đám bạn bè ngày xưa của một thời áo rằn mũ xanh, kỷ niệm kéo nhau về chập chùng trong tâm trí như những đoạn phim rời, trở lại vây kín trong hồn tôi.....


******

Định nói:

- Hùng, tụi mình dzọt về Sàigòn chơi, nhân tiện tao lên Củ Chi thăm bà già tao luôn, lâu quá tao chưa về thăm nhà.

Tôi bảo:

- Được rồi để tao hỏi thằng Tòng và thằng Chúc có dzù theo không?

Định tiếp:

- Thôi mày ơi, đi hết cả đám HSQ, lại những cái mặt của tụi mình “Già Đông” sẻ chửi ùm lên cho mà xem. Tao với mày đi thôi, nếu mày không đi thì tao nói với “Bố Lai” một tiếng rồi một mình tao dzọt.

Tôi nói:

- Tao biết thằng Chúc thìch em gái mày thế nào cũng đi theo mà,thằng Tòng thì nhất định đi rồi để gặp nhỏ Thơ. Còn tao thì mày khỏi lo, có tao hay không “Bố Lai” hay “Già Đông” cũng chẳng thắc mắc, mấy ổng thấy tao như thấy ma, muốn tao chết bờ chết bụi cho khuất mắt mà tao cứ sờ sờ ra báo mấy ổng.

Thằng Định nói:

- À mày kiếm cho mỗi thằng cái giấy phép 24 tiếng nhen, mày là vua mấy cái vụ này mà. 

Tôi trả lời:

- Ừ tao lo cho, giấy phép thường niên thì tao chịu thua, chứ 24 tiếng tao nói một tiếng thằng “Khiêm mập” văn phòng trưởng pháo đội, nó sẽ đưa tao liền, lại có cả sẵn chữ ký của “Già Đông” nữa kìa..

Chỉ vài giờ, sau khi cả bọn vù qua mặt đám quân cảnh ở xa lộ, với 4 cái giấy phép 24 tiếng do thằng “Khiêm mập” cung cấp, 4 thằng lính TQLC, tôi, Định, Chúc, và Tòng đã có mặt ở Sài gòn.

Sài gòn sáng thứ bảy, thành phố vẫn tưng bừng nhộn nhịp, không khí chiến tranh hình như ở một nơi nào, ở một đất nước nào trên trái đất này chứ không phải trên phần đất, của quê hương khốn khổ này. Tôi bảo: 

- Thôi bọn mình vô Thanh Thế kiếm cái gì dằn bụng rồi tính đi đâu thì đi. 

Thằng Chúc xen vào nói:

- Ăn xong rồi thì về nhà bà già thằng Định chơi cho rồi còn đi đâu nữa.

Thằng Tòng lên tiếng đùa: 

- Thằng Chúc nó chỉ muốn về gặp em thằng Định thôi chứ nó thiết tha đi đâu. À Định, hay là tụi mình ghé về Phú thọ rủ nhỏ Thơ và nhỏ Cúc về nhà bà già mày chơi luôn. 

Thằng Định tiếp lời: 

- Hôm nay thứ bảy nhưng nhỏ Thơ vẫn còn đi dạy buổi chiều, còn nhỏ Cúc phải coi cửa hàng tạp hóa cho bà chị phải lấy cớ gì đi, nếu không bà chị nhỏ Cúc ca vọng cổ thì tội cho nhỏ Cúc lắm, ngày mai chúa nhật thì được. 

Thằng Chúc lại xía vô: 

- Sao tụi mình không chia làm hai, thằng Hùng thì đi với thằng Tòng là hợp lý, nó chỉ muốn theo thằng Tòng về nhà cô thằng Tòng để gặp em gái thằng Tòng. Còn tao đi với thằng Định. 

Tôi bảo:

- Sư tụi mày, thôi vô Thanh thế ăn rồi tính sau…


Thế mà đã thấm thoát hơn 40 năm qua rồi, tụi mày giờ này ở nơi phương nào hở? Có còn nhớ hay đã quên những ngày xưa... thật xưa... Thằng Chúc chẳng biết trôi về đâu,đã nằm xuống ở xó xỉnh nào nơi quê hương “bác”, hay mày tìm về Cái Bè kiếm lại nhỏ Trâm hoặc đã nổi trôi nơi xứ nào? Thằng Tòng thì tao biết nó về lại Diên Khánh, Nha Trang, hiện sống lây lất bám víu cho những ngày cuối đời trên mãnh đất khô cằn của ông già nó để lại. Riêng tao thì trôi dạt theo giòng người lưu lạc, lang thang nơi xứ người đã gần 38 năm rồi. Còn thằng Định như tụi mày biết, nó đã nằm xuống vào một ngày cuối đông ở Cửa Việt. Định ơi, mày và các thằng bạn mũ xanh tụi mình có biết bao thằng nằm xuống, có nhiều thằng thì để lại một phần thân thể trước giờ ngưng bắn cho cái hiệp định tủi nhục ngày nào, trong giờ phút ấy thế mà tụi mũ xanh mình vẫn còn cố giành giựt thêm một ít phân đất vô tri, có cần như thế không hở Định? Để rồi mày có biết vào cái ngày oan khiên sầu thảm của đất nước, tụi tao cũng đành phải ngoảnh mặt bỏ đi không thể giữ lại được những gì mà tụi mày đã hy sinh mạng sống để giành giựt nó!!!


Nhớ lại ngày đó tao đã bật khóc như thằng con nít, khi hay tin thằng Định mất, rồi khi trở về Sài gòn tao nào có đủ can đảm về Củ Chi thăm mẹ nó, tao sợ phải nhìn vào đôi mắt đẫm lệ của mẹ, sợ phải nhìn đôi mắt như trách móc của nhỏ Tuyết, lại càng sợ không khí lạnh lẽo của căn nhà ăm ắp đầy kỷ niệm của tụi mình, sẽ không còn những đầm ấm rộn rã tiếng cười của mẹ, của nhỏ Tuyết, của Cúc, Thơ và của đám con TQLC của mẹ..., và bây giờ ngôi nhà chỉ còn mẹ và đứa em, sẽ cô đơn lủi thủi trong những tháng ngày buồn hiu sắp đến... Tao cũng chẳng dám ghé Phú thọ thăm nhỏ Cúc, vì tao lại càng sợ thêm khi phải nhìn những giọt nước mắt của nhỏ Cúc, người con gái mà nó hẹn ước sẽ cưới vào đầu xuân sắp đến. Tao có tệ quá không hở Định, sao lạ thế, tao vẫn thường tự nghĩ tụi mình vốn dĩ coi sự sống chết không ra gì, thế mà lúc đó tao lại sợ, thật sự sợ hãi những giọt nước mắt từ những người tao thương yêu, tao biết mày hiểu và ở nơi nào lúc đó trong cõi hư vô chắc mày không trách tao phải không Định?! Thật buồn cười ghê đi, tụi mình vẫn cứ thường bông đùa sẽ “không bao giờ chết người trai khói lửa, chỉ chết người em gái nhỏ hậu phương” thế mà mày lại ra đi hở Định?! Mày có biết cái chết mày đã làm cho bài hát trở nên nhạt nhẽo vô duyên mỗi khi tao nghe nó….


Thời gian qua lẹ quá, những ngày mới lớn, những ngày vui, buồn, sống, chết với tụi mày, chừng như một giấc mơ. Những khổ cực, hiểm nguy, cay đắng, nhưng sao nhớ chi lạ, sao vui và hạnh phúc khôn cùng, nếu thời gian có thể quay ngược lại, nếu có được một phép mầu, tao vẫn cứ mong sẽ được trở lại như ngày xưa, được đội trên đầu chiếc nón xanh, được gặp lại tụi bây, được một lần say khướt cùng thằng Chúc bên bến phà Neak luong, Kampuchia thuở nào, để được nghe lại giọng cười sảng khoái của thằng Định khi tụi mình chạy thoát đám QC.202 sau khi choảng nhau cùng tụi thiết giáp ở cái quán gần sân vận động Huế ngày xa xưa...


Tao cứ nhớ và mãi nhớ tụi mày, tao vẫn nhớ như in từng khuôn mặt, từng những cá tánh ngỗ ngáo nhưng thật dễ thương của tụi bây, rồi lại nhớ nét mặt nhăn nhó, rên rỉ của “Bố Lai” thường vụ dành cho tụi mình, nhưng coi tụi mình như con cái. Rồi nhớ tiếng lè nhè của “Hiệp sĩ Bốn say”, lại nhớ cái tật lúc nào cũng lèng èng của Hạ sĩ Tặc. Còn “Ông già Lê Khắc” thì “Khổ” hơn vì các thằng tụi mình, vì lúc nào cũng làm “gương xấu” cho các binh sỉ! Tất cả giờ đây đã trở thành những kỷ niệm nhạt nhòa khó quên, “Bố Lai”, ông Khánh, thằng Cường và tài xế Thạch Chiêu cũng đã ra đi trong lần bị trái mìn của bọn khốn nạn gài lúc theo đoàn xe từ “Cùa” ra Đông Hà. Các ông anh thì tan tác phương trời, có người đã nằm xuống, sau những năm dài trong ngục tù của kẻ thù phương bắc, người ra tù về thì thân thể đã tàn tạ cùng một tinh thần quá suy nhược xuống thấp sau những đòn thù đê tiện của đối phương sau ngày miền nam của mình quấn khăn tang.....


******

- ... Anh Hùng ơi ra phụ tụi tui một tay đi, cái “Anten dù” chỉ có tui và thằng Oanh dựng khó quá, gió lại mạnh.

Tiếng thằng “Hai xích lô” léo nhéo trên nóc hầm của toán liên lạc TQLC đi bên cạnh LĐ Dù.

- Từ từ tao biết rồi, thôi làm lẹ lên! 

Trời lại gió mạnh, cát thổi rát cả mặt xen lẩn những tiếng nổ đạn pháo 130 của bắc phương rớt ngoài bờ rào phòng thủ của LĐ Dù, đâu đây vọng lại những tiếng nổ của pháo binh Dù, họ cũng đang phản pháo lại.

“Hai xích lô” hỏi tôi:

- Anh Hùng, sao tụi TQLC mình chưa nhảy dzô, mà lại còn biệt phái đám tụi mình theo tụi Dù dzậy anh Hùng?

Tôi nói:

- Tao biết cái con mẹ gì đâu mà mày hỏi, ông Phương nhận lịnh đâu ở trên rồi kéo toán mình đi thôi, tao chỉ biết chừng ấy, chỉ nghe tụi SĐ3 bộ binh đang rút về từ Ái Tử, Đông Hà, và tụi LĐ147 của tụi mình cũng đang lui về tận Mỹ Chánh rồi. Thôi nhanh tay lên, léng phéng ở ngoài hầm rồi lãnh một trái, tụi mày không còn mạng đi Huế mua kẹo mè xửng và nón lá về thăm vợ con tụi mày lúc trở về Sài gòn đó.

Thằng Oanh lại rên rỉ:

- Chỗ này anten mẹ anten con tùm lum chỉ tổ ăn pháo của tụi nó, nằm chịu pháo kiểu này chắc hổng thọ đâu anh Hùng ơi!

Tôi bảo:

- Kệ thây nó chứ, mới tới hầm hố kiểu này chịu sao thấu đạn 130 của tụi nó, cứ coi như phước chủ may thầy, hên xui thằng nào xui thì chịu đi. Xong rồi mày và thằng Oanh nấu chút nước sôi làm chút gạo xấy ăn nhen, từ sáng tới giờ này chẳng có con mẹ gì trong bụng, còn tao đi kiếm ông Phương coi ổng có cần gì nữa không…..

Toán sĩ quan liên lạc của PB/SĐTQLC vừa đến phi trường Phú Bài liền được lịnh đi biệt phái nằm cùng LĐ Dù ở An Lỗ, Th/Tá Phương, tôi cùng 2 quân nhân được lệnh di chuyển đến nơi này, trong khi được tin SĐ3/BB và LĐ147 đang lui dần về phía nam đánh dấu những ngày đẫm máu cho mùa hè 1972….


Và những ngày bên LĐ Dù tôi đã có thêm những người bạn mũ đỏ, những tên bạn với những khuôn mặt và kỷ niệm cùng họ đã theo mãi trong tôi cho đến tận bây giờ. Một “Quang đui” tinh nghịch nhanh nhẹn, một “Hùng điếc” điềm đạm và đầy chân tình, rồi một Trần văn Tàu Em HLV Teawondo cho PB/SĐ Dù, vui vẻ khôi hài, không biết tụi bây giờ trôi dạt về đâu?! Những người anh em mũ đỏ cùng các mũ xanh tụi tao đã sống chết và thắm máu trên phần đất khốn khổ này, máu anh em tụi mình đã nhuộm thắm và trải dài cho đến ngày mà anh em mũ xanh tụi tao dựng lại ngọn cờ trên hoang tàn đổ nát của cổ thành Đinh Công Tráng. Tao viết một lần để được nhớ đến tụi mày đó “Tàu em”, “Hùng điếc” và “Quang đui”, tao mãi nhớ những lần theo thằng “Tàu em” về Bao Vinh với những cơn say cùng Tuấn, anh của Phúc để rồi tao đã có đêm “Trăng Khuyết” thuở nào, tao vẫn nhớ, tao cùng “Hùng điếc”, một thằng mũ đỏ lang thang cùng một thằng mũ xanh say quên cả trời đất ở quán thịt cầy Xóm Mới, rồi hai thằng lại làm “Lưu Nguyễn lạc thiên thai” ở Hạnh Thông Tây, rồi buổi tối ở một quán bar Thoại Ngọc Hầu Bảy Hiền, mà mày nói cùng tao đó là giang sơn của tụi mũ đỏ tụi bây ít có những thằng binh chủng khác dám đi lạc đến đây, đêm đó chung quanh đám mũ đỏ chỉ có một thằng mũ xanh lẻ loi nhưng tao không cảm thấy đơn độc vì có tụi mày đó “Hùng điếc”, “Quang đui” ơi. Rồi tao lại miên man nhớ, tao cùng thằng “Quang đui” đã có những ngày thật hạnh phúc thênh thang với Hân và Phúc ở Thiên Mụ, không hiểu rồi ngày tụi mình bỏ Huế mày có còn gặp lại Hân không hở Quang? Còn Phúc thì mãi mãi lạc mất sau những ngày tất tả ngược xuôi tìm tao trong tang thương hỗn loạn của tháng ba ở Đà nẵng. Thời gian trôi không ngừng nghỉ, thế mà đã hơn 40 năm, mà tao cứ ngỡ như mới ngày hôm qua tụi bây ơi và nổi nhớ cứ mãi day dứt khôn nguôi.


Nơi tao đang sống, cây lá sau vườn nhà tao đang thay màu, mùa thu đã sang, chút nắng hè còn sót lại vẫn không làm lòng tao ấm khi nỗi nhớ về tụi bây cứ mãi đong đầy. Chút tình ngày cũ cứ theo mãi đâu đây. Năm tới 2014 tụi mũ xanh mình sẽ làm ĐH-TQLCVN ở Atlanta GA, để nhớ lại ngày nào thuở xưa anh em tụi mình đã nhìn lá cờ vàng bay nơi thành cổ, và cứ mỗi lần đại hội về tao càng quay quắt nhớ đến tụi mày nhiều hơn, và nhớ những thằng bạn mũ đỏ của tao, tụi nó cũng đã thắm máu cho Cổ thành của chuyện ngày xưa... thật xưa và... thật nhớ.

 

MX Nguyễn Đức Hùng

Viết để nhớ những người bạn sống và chết của một thời đã qua....

* “Già Đông” cố Th/tá Lê Khắc Đông

* “Bố Lai” cố Th/s1 Quách Văn Lai

* “Khiêm Mập” Ts1 Khiêm và các bạn

Cố Th/s Trương Văn Định

Th/s Nguyễn Văn Chúc

Ts1 Huỳnh Tòng

Old Soldiers Never Die; They Just Fade Away

Một Năm Học Mới - Đỗ Công Luận

Hôm nay 5/9/2026, 

20 triệu học sinh cả nước bước vào năm học mới.

Trong đó, cháu nội gái của tôi vào lớp một, hành trình cõng chữ...

Đỗ Công Luận


 

Trái Tim Người Cha

 
Lời người đăng:
Mỗi năm, chúa nhật đầu tháng chín là Father Day ở nước Úc. Xin đăng truyện ngắn này để vinh danh Tình Cha.

*******

Một ngày nọ, Cha tới mượn tiền tôi. Cha nói sức khỏe không tốt, cần phải tới bệnh viện để kiểm tra tổng quát, vậy nên tôi đã gửi tiền cho Cha.

Không ngờ, chưa được bao lâu, Cha lại gọi điện tới, nói muốn mua một chiếc xe điện 3 bánh. Tôi lưỡng lự một lúc, Cha dường như nghe thấy sự do dự của tôi bèn nói:

“Con cho Cha một nửa, Cha tự bỏ ra một nửa, đem bán mấy con dê nhà nuôi”.

Nghe thấy vậy, tôi liền mềm lòng. Mấy năm gần đây, Cha tôi đã nuôi hơn chục con dê, nuôi lớn rồi lại đem bán để trang trải chi tiêu hàng ngày. Sau khi Mẹ tôi mất đi, tôi muốn đón Cha lên thành phố ở chung, Cha quyết không chịu đi.

Thằng em trai đang sống ở thị trấn cũng muốn đón Cha tới, nhưng Cha nói đã quen với cuộc sống ở quê, quen với những người trong thôn nên không muốn rời đi.

Không có cách nào thuyết phục, đành theo ý Cha. Tuy nhiên, muốn biếu Cha chi phí sinh hoạt hàng ngày ông cũng không lấy, lần nào cũng nói, cuộc sống thôn dã đơn giản, chi phí ít, cũng không tiêu gì. Mà bây giờ… chuyển tiền cho Cha, nhưng tôi vẫn cảm thấy có gì đó không đúng.


3 tháng trôi qua, tôi quyết định đưa con gái về nhà thăm Cha.

Cửa nhà khóa, chú hàng xóm nói Cha tôi đang đi chăn dê. Tôi bèn dắt con gái xuống dốc, từ xa đã nhìn thấy đàn dê, tới gần mới thấy Cha đang ngồi ngủ bên gốc cây, bên cạnh trải một tấm vải, trên tấm vải có một cái bánh đã ăn được một nửa, một túi dưa muối nhỏ, còn có một bình nước… Trong lòng chợt thấy chua xót, tôi liền gọi: “Cha ơi”!

Cha giật mình tỉnh giấc, hồi lâu sau mới nói:

“Con bé này, sao về nhà mà không báo trước?”.

Con gái tôi liền giành nói trước: “Mẹ con nói muốn cho ông ngoại một bất ngờ”.

Cha tôi thực sự rất vui mừng, không nói thêm với tôi điều gì, chỉ kéo cháu gái tới làm quen với bầy dê bảo bối của mình. Một bầy dê nho nhỏ có trên chục con, Cha tôi vui vẻ nói:

“Đợi thêm một khoảng thời gian nữa có thể bán được rồi, chắc chắn sẽ bán được rất nhiều tiền! Bây giờ giá dê đang tăng”.

Về tới nhà, trong sân có chút bừa bộn, chiếc xe 3 bánh Cha tôi đã đi nhiều năm nằm ở một góc sân.

Tôi thuận miệng liền hỏi:

“Cha, chiếc xe 3 bánh Cha mới mua đâu rồi?”.

Ông bối rối trả lời:

“Cha… vẫn chưa mua! Nghe người ta nói tháng sau giá sẽ giảm”.

Trong lúc tôi dọn dẹp ngoài sân, nghe thấy Cha gọi điện cho thằng em trai nói:

“Chị gái con về nhà, tối nay con cũng về nhà cùng ăn cơm đi!”.

Sau đó Cha còn dặn nhỏ một câu:

“Mua thêm nhiều đồ ăn ngon nhé”!

Tôi định nói vài câu, rồi lại thôi. Hồi trước, tôi luôn để ý tới sự thiên vị của cha mẹ. Bởi vì sự đố kỵ lúc còn nhỏ mà tôi luôn xa cách thằng em trai, sau đó thì giận dỗi quyết định thi vào một trường đại học thật tốt, cuối cùng có thể hãnh diện rời khỏi nhà.

Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi vào làm việc ở một công ty nước ngoài khá tốt, còn em trai tôi miễn cưỡng cũng học xong trung cấp nghề, trở thành một công nhân làm trong một dây chuyền lắp ráp tại thị trấn, thằng út lại càng ngưỡng mộ và tôn kính tôi hơn.


Buổi chiều, thằng em trai mang theo con về nhà, còn mua rất nhiều đồ.

Cha tôi đích thân xuống bếp, cùng với em trai làm rất nhiều món ngon, đều là những món tôi ưa thích. Lúc Mẹ tôi còn sống, Cha tôi chưa từng nấu ăn. Thật kỳ lạ là mỗi món ăn Cha làm đều giống y như mùi vị thức ăn Mẹ nấu. Ăn từng miếng, tôi dường như sắp khóc.

Buổi tối, tôi ngồi nói chuyện với Cha trong sân, chỉ là không ngờ tới, ông vòng vo một hồi lâu, nói từ chuyện trong thôn, nói tới việc lúc còn sống Mẹ tôi muốn xây lại nhà,… cuối cùng mới nói tới vấn đề chính:

“Các con, nếu như không quá khó khăn, có thể… con biết đấy, thằng em của con…”

Tôi ngắt lời ông, hỏi:

“Cha, sửa nhà cần bao nhiêu tiền”, trong lòng đột nhiên có một nỗi buồn không thể diễn đạt bằng lời.

“Khoảng, khoảng 200 triệu …..”, giọng của ông nhỏ lại, liền lập tức bổ sung, “nếu bán được bầy dê cũng sẽ được vài chục triệu”.

Tôi ngạc nhiên một lúc, 200 triệu với tôi cũng không phải là con số nhỏ, tôi ngập ngừng nói: “Cha, đợi con về nhà tính lại rồi nói, cũng không phải vấn đề quá lớn”.

Ông cúi thấp đầu nói:

“Con gái, làm khó con rồi. Con xem có thể được bao nhiêu, Cha già rồi, sẽ không tiêu tốn khoản nào nữa….”.

Tôi cười nhẹ. trong ánh trăng mờ ảo, chắc chắn Cha không thấy được sự cay đắng trong nụ cười đó.


Bàn bạc với chồng về chuyện của Cha, cả nửa ngày, anh ấy cũng không nói gì, chồng tôi không phải một người nhỏ mọn, nhưng năm nay, tình cảnh của anh ấy còn tệ hơn tôi. Chồng tôi mở một công ty xuất khẩu nhỏ, bây giờ đến tiền lương cũng trở thành vấn đề.

Cuối cùng anh ấy nói:

“Em đưa tiền cho Cha đi, chúng ta tự thắt chặt chi tiêu chút, vẫn có thể chịu được”.

Nửa tháng sau khi tôi chuyển tiền cho Cha, tôi gặp được một người họ hàng tới thành phố làm việc, trong lúc trò chuyện tôi liền thuận miệng hỏi:

“Nhà của con đã bắt đầu sửa lại chưa ạ”?

Ông ấy hơi ngạc nhiên:

“Không thấy Cha con nói tới việc sửa lại nhà!”, nghĩ một lúc người đó nói, “Đúng rồi, Cha con đem dê bán hết rồi, giúp em trai con mua một chiếc xe giao hàng nhỏ, em trai con không còn làm ở chỗ cũ nữa, đã tự lái xe đi giao hàng rồi. Kiếm được kha khá...".

Trái tim tôi giống như bị ném vào băng vậy, cảm thấy thực sự lạnh lẽo.

Hoá ra Cha đã nói dối tôi, từ đầu tới cuối luôn đứng về phía thằng em trai, thiên vị tới mức nói dối tôi lấy tiền giúp đỡ nó, không thể oán hận Cha nhưng có bao nhiêu bất mãn chính tôi cũng không rõ.

Về tới nhà, tôi không thể chịu đựng được nữa, nhốt mình trong phòng vệ sinh, vừa mở nước vừa khóc một trận.

Vài ngày sau đó, tôi đều không chủ động gọi điện thoại cho Cha. Cuối cùng cũng làm Cha gọi trước, tôi chỉ trả lời lấy lệ, Cha cũng đành phải cúp máy. Nhưng không ngờ rằng, đó lại là lần cuối cùng tôi được nghe giọng của ba..

3 ngày sau, tôi nhận được điện thoại của thằng em trai, nói rằng Cha đã qua rồi vì bị nhồi máu cơ tim... bỗng nhiên nhớ lại cuộc điện thoại 3 ngày trước, những lời dặn dò vụn vặt cùng sự lạnh lùng của tôi, khiến tôi không thể nhớ nổi.

Lập tức trở về nhà, lần đầu tiên tôi và thằng em trai ôm nhau khóc, lúc Mẹ mất tôi vẫn có thể dựa vào vòng tay Cha, còn bây giờ... tất cả những oán trách đối với Cha đều bị sự ra đi đột ngột này làm tan đi hết, chỉ còn sự đau thương bao trùm lấy tôi.

Sau khi lo liệu xong hậu sự của Cha, lúc rời đi, thằng em trai tiễn tôi tới bến xe rồi nói:

"Chị gái, hãy thường về nhà nhé, Cha Mẹ đều không còn, nhưng nhà của chúng ta vẫn còn".

Một câu nói đó đã khiến cho tôi vốn đã khóc tới cạn nước mắt lại dâng lên dòng lệ. Nắm tay thằng em trai tôi dặn dò nó giữ gìn sức khỏe rồi lên xe đi. Tôi đã nghĩ rằng, có thể sau này tôi sẽ không thường về nơi được gọi là nhà của chúng tôi nữa!

Trải qua vài ngày, tôi mới có thể bình tĩnh lại sau việc Cha qua đời...


Nhưng cuộc đời con người, quả thật là hoạ vô đơn chí, chuyện bất hạnh lại tiếp tục xảy tới, công ty của chồng tôi gặp sự cố, anh ấy bị khách hàng lừa mất toàn bộ tài sản.

Chồng tôi lúc đó gần như sụp đổ, từ một người không bao giờ uống rượu lại thành kẻ say sưa tối ngày. Tôi vô cùng lo lắng, sốt ruột, lại không có cách nào có thể giúp đỡ, suy nghĩ một đêm, cuối cùng quyết định bán nhà.

Trưa ngày hôm đó thằng em trai gọi điện tới, sau khi Cha mất, thằng em ngược lại rất thường xuyên gọi điện thoại tới. Tôi không có tâm trạng nói chuyện với nó, nó cũng hiểu được sự nôn nóng của tôi, nhẫn nại hỏi, tôi cố gắng mới nói được hết cho thằng út nghe.

Không ngờ được rằng, em trai tôi ngồi tàu hỏa, sáng hôm sau liền tới, bước vào nhà không nói gì hết, từ trong tay lấy ra một xấp tiền. "Chị, đây là 500 triệu, không nhiều, dùng giải quyết trước đã".

Tôi vô cùng ngạc nhiên hỏi:

"Tiền này em lấy ở đâu?". "Một phần từ mấy tháng nay em chở hàng kiếm được 300 triệu, nhà trên thị trấn không được bao nhiêu, chỉ có điều có được từng này...".

Tôi cảm động, cầm tiền đưa lại cho em trai, nói:

"Chị không thể cầm tiền của em".

Nó vội vã nói:

"Chị gái, năm ngoái xưởng đóng cửa, em và vợ bị mất việc, muốn nói một chiếc xe chở hàng nhưng không có tiền, chị đã đưa ba 400 triệu, nói Cha đưa cho em, còn dặn Cha không được cho tụi em biết là tiền của chị".

Tôi ngây người, em trai nói tiếp:

"Cha nói, hồi nhỏ, đều là chị nhường em, bởi vì em là em, bây giờ em phải bảo vệ chị, bởi vì chị là con gái. Cha còn nói, tới lúc Cha không còn nữa, em chính là nhà của chị...".

"Cha"!

Tôi quay đầu, nước mắt rơi xuống như mưa. Tôi là đứa con bất hiếu! Sao lại không hiểu cho sự khổ tâm của Cha. Cha đã biết trước không còn sống được bao lâu, lại càng biết tôi vốn là đứa kiêu ngạo, ngay cả người thân cũng sẽ không nhờ vả dựa dẫm, chính vì vậy đã để lại sự yêu thương, dành cho tôi sau này.

Lúc đầu, khi Cha mượn tiền tôi, trong lòng Cha đã biết khó xử, đã phải dùng bao nhiêu dũng khí. Nhưng Cha vẫn làm vậy, chỉ để khi ông mất đi, chúng tôi còn có chỗ dựa, còn có người thân.

Thì ra đứa con mà ông yêu thương nhất lại chính là tôi. Tôi quay lại ôm lấy em trai, không thể nói một lời nào, chỉ ôm thật chặt nó.


Giây phút này, Cha tôi đang ở trên thiên đường cũng cảm thấy an lòng, bởi vì đứa con được sống trong tình yêu của ông mà hoàn toàn không biết, cuối cùng đã hiểu được tất cả.

Hãy yêu thương cha mẹ khi còn có thể..! 💖


Nguồn FB