Lời người đăng:
Xin giới thiệu đến quý bạn đọc truyện dài thứ hai của nhà văn Ngọc Ánh (Ngày Tháng Buồn Hiu) viết lại hồi ký trong tù của hai mẹ con tác giả sau khi người chồng tổ chức phục quốc bị án tử hình để lại vợ con bơ vơ gánh chịu trăm đau ngàn khổ trong ngục tù cộng sản.
Tập hồi ký được chia làm hai phần.
Phần một: Hồi Ký Của Con Dế Mèn
Phần hai : Những Chuyến Đi
Quyển sách sẽ được ra mắt vào giữa tháng 9/2026 tại vùng Little Sài
Gòn, Nam California.
Hiện tại đang được bán để gây quỹ làm một bộ phim ngắn về Vy Dan, một
tù nhân nhỏ tuổi nhất trong trại giam.
Cám ơn Ngọc Ánh
*********
LỜI NGÕ
“Con Dế Mèn của Mẹ” không phải là một câu chuyện
cổ tích.
Đây là câu chuyện có thật về một đứa trẻ mong manh,
mang trong mình những giới hạn của số phận nhưng
chưa bao giờ đánh mất nghị lực sống và về một người
mẹ đã đi qua chiến tranh, tù đày, mất mát và những cuộc
chia ly tưởng như không thể chịu đựng được.
Qua những ký ức giản dị nhưng chân thành, cuốn
sách là lời kể về tình mẫu tử, lòng nhân ái và sức mạnh
của tình yêu thương .
Câu chuyện của VyDan, của người Mẹ và tình yêu
thương đó như sợi dây xuyên suốt cả cuốn sách. Dù
chiến tranh, tù đày, bệnh tật hay khoảng cách nửa vòng
trái đất, sợi dây đó chưa bao giờ đứt, những điều đó đã
giúp hai mẹ con vượt qua những hoàn cảnh khắc nghiệt
nhất của cuộc đời.
Nếu khi khép lại những trang sách này, người đọc
cảm nhận được một chút yêu thương, một chút hy vọng
và sự trân quý đối với những người thân yêu bên mình,
thì đó chính là điều tác giả mong muốn gửi gắm.
-Tặng Vy Dân, chú dế nhỏ của tôi, người mang tâm
hồn bất khuất trong một cơ thể mong manh.
Ngọc Ánh
23/7/2026
Phần Một
NHẬT KÝ CỦA CON DẾ MÈN
Con là Vy Dân, nghe Mẹ kể rằng con sinh ra trong tháng
7 mưa dầm ở Đà Lạt, con nhỏ xíu vì không đủ ký, trời lạnh
mà nhà không có lò sưởi, dì Giao bày cho Mẹ lấy chai thủy
tinh đổ nước sôi vào rồi đậy nắp thiệt chặt, ủ quanh giường
cho con được ấm, Mẹ quấn tả con kín mít, đặt vừa vặn
trong cái giỏ mây xách trên tay khi trở về nhà ba ở Sài Gòn,
lúc đó Mẹ còn trẻ lắm, mới ngoài 20 tuổi. Mẹ nâng niu con
như chơi búp bê, nhưng con búp bê này chỉ biết cười chớ
không biết khóc, người ta nói khi sinh ra ta khóc trong lúc
mọi người cười vui, còn con thì ngược lại, con cười thành
tiếng trong khi Mẹ lại khóc nấc vì tủi thân.
Trời Đà Lạt lạnh lắm, quần áo con không đủ ấm, ba
phải đi bán máu để mua sữa, thức ăn và khăn tả cho con,
nghe nói cái thời đó cả nước đều nghèo.
Mẹ phải đi buôn trà lậu ở Bảo Lộc để xoay sở mua sữa
cho con, thỉnh thoảng bị Cộng Sản bắt và thu hàng mất vốn, mẹ về nhà mắt đỏ hoe khi ôm con vào lòng tức tưởi.
Rồi mẹ về Sài Gòn tiếp tục công việc với ba, con chậm
lớn vì suy dinh dưỡng nhưng không có bệnh tật gì đáng
lo, bác sĩ đã nói như vậy.
Ba mẹ và con sống vui vẻ bình an trong nhà ông Nội
ở quận 10, Sài Gòn.
Rồi một ngày biến cố ập đến gia đình, Họ tới xét nhà
và bắt Ba Mẹ đi tù, con không thể gởi ông bà Ngoại được
dù nhà Ngoại cách nhà Nội chỉ một con đường ngắn, nên
mẹ ôm con đi luôn vào trại giam, lúc đó con vừa hơn 1
tuổi ốm yếu như con dế mèn, nhưng con vẫn thích ở với
ba mẹ mà người ta không cho gia đình mình ở chung với
nhau. Kỳ ha, Ba bị nhốt ở biệt giam cuối trại, còn hai mẹ
con ở biệt giam gần ngoài cổng.
Trời ơi cái phòng nhỏ xíu mà tối thui, con sợ bóng tối
nhưng có Mẹ bên cạnh thì ấm áp bình yên làm sao.
Lần duy nhất con được nhìn thấy Ba trong lúc cả nhà
mình chuyển trại từ Sài Gòn ra Phan Thiết, con nhớ cái
dáng ba cao gầy, đeo kính cận và hay mỉm cười, ai cũng
nói mặt con rất giống ba.
Mẹ bao nhiêu lần xin bọn họ cho con gặp ba, mà
không ai đồng ý. Họ nói tội ba mẹ lớn lắm, phải nhốt cách
ly, không cho liên lạc với người thân, nhưng con còn nhỏ
xíu mà, có biết gì đâu. Họ ác quá!
Rồi mấy năm sau Mẹ được ra nhà giam tập thể, người
đông ơi là đông nhưng không có đứa con nít nào bị tù
như con,vì vậy mà mấy cô bác mới thương có mình con,
thỉnh thoảng họ có thăm nuôi và chia chút xíu đồ ăn cho
con bồi dưỡng, phải nói là món thịt chà bông con ăn ké
ngon ơi là ngon, chớ 2 Mẹ con đâu có ai thăm nuôi, sống
trong sự thiếu thốn gian khổ lâu dài, nhìn thấy mẹ già hơn mà thương.
Mẹ thường ru con ngủ bằng những bản nhạc vàng (cái này con nghe mấy cô trong nhà nữ nói thì thầm với
nhau, loại nhạc cấm không được hát um sùm) mỗi lần mẹ
hát tới câu “ trong tim cô sinh viên hay buồn” thì con chỉ
vào Mẹ , Mẹ là cô sinh viên của con,
Mẹ cũng hay buồn nhưng chưa bao giờ than thở với
con về những nhọc nhằn mà mẹ phải chịu đựng. Nhưng
con biết lòng Mẹ cũng mỏi mòn, Mẹ từng nói nếu không
có con, Mẹ sẽ chết để thoát khỏi cảnh ngục tù. Con sợ
quá, nếu không có Mẹ chắc con cũng chết.
Mẹ là tia nắng sáng, là vầng trăng khuya, là nơi chốn
bình an cho con nương tựa trong cuộc sống gian nan này.
Ban ngày Mẹ lao động rất cực khổ, mệt mỏi, nhưng
đêm về chui vô mùng, Mẹ mới ôm con thủ thỉ kể chuyện
cổ tích, chuyện ra ngoài lao động, chuyện trên trời dưới
biển mà chuyện nào Mẹ kể cũng hấp dẫn trí tò mò của
con, và khiến con ao ước có một ngày ra khỏi cái nhà
tù chật chội này để nhìn thấy thế giới bao la ngoài kia,
nhưng tiếc là con không thể đứng dậy được Mẹ ơi! Con
không thể chạy nhảy hay ca hát líu lo, không thể vòng tay
ôm Mẹ như người bình thường, mà con chỉ có đôi chân
ôm ngang hông Mẹ, cái chân khẳng khiu quơ khăn lau
mặt Mẹ, cầm cái lược chải tóc cho Mẹ và đấm lưng cho
Mẹ mỗi khi mẹ mệt nhoài.
Thế giới của con bây giờ là Mẹ, con tưởng tượng
ra cánh đồng bao la mà Mẹ cấy gặt lúa ở đó mỗi ngày,
có con cò trắng thong dong đậu một chân trên bờ ruộng
giống như cán bộ canh tù, con hình dung ra con đĩa máu đen bám trên chân Mẹ trắng ngần đã khiến Mẹ la lên sợ
hãi, nếu có con ở đó, thế nào con cũng giúp Mẹ bắt nó
liệng lên bờ cho con cò ăn,
Hôm nào đi làm về Mẹ cũng mang cho con một món
quà gì đó, khi thì mấy hòn đá cuội bên bờ suối, lúc vài
bông hoa dại bên đường, mấy trái đào bé xíu chưa kịp
lớn đã rụng, hay cái lông chim to cả gang tay, Mẹ nói
giống cây viết thời cổ đại, nhưng khi con cầm lên ngắm
nghía lại tưởng tượng con quạ nào đó đã bay qua vườn
đào nơi Mẹ lang thang lặt hột và làm rơi ra chiếc lông
để Mẹ lượm về, kể thành câu chuyện cổ tích ăn khế trả
vàng cho con nghe, để con mơ ước có ngày nó chở con
đi chơi.
Một hòn đá Mẹ lượm bên bờ suối cũng là câu chuyện
dài về Robinson trên hoang đảo với bờ cát hoang vu và
mỗi ngày được đánh dấu bằng viên sỏi nhỏ. Nếu Mẹ con
mình cũng giữ những cục đá như vầy mà đếm thời gian ở
đây chắc chúng ta xây được một lâu đài!
.
Mẹ nói “ nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” Con
không hiểu những lời ẩn ý trong đó, nhưng con biết thời
gian của hai mẹ con mình ở đây rất dài, rất mệt mỏi.
Rồi một ngày Mẹ đem về con kéc bị gãy cánh, nó không
thể bay được nhưng nó hay hơn con là nó biết đi chầm
chậm quanh nhà, màu sắc đầu tiên con biết là bộ cánh
xanh biếc mềm mại của nó, và còn một màu hồng tươi mát
mà con nhớ hoài là cái áo đầm của con bé nào đó xuất
hiện trong trại khi mẹ nó dẫn vào chơi, con con bé rạng rỡ như
tiên làm con ngơ ngẩn, vì con có bao giờ thấy bóng dáng đứa nào nhỏ như con mà phải ở trong tù đâu, con chỉ thấy
toàn là màu xám của những bộ đồ lao động mà các cô chú
trong trại giam hay mặc, nó dính mủ, dính phèn và đôi khi
bị vá víu vì lam lũ, cái màu tăm tối gì đâu.
Con kéc là bạn thân duy nhất của con, nhưng mà nó
cũng phá dàng trời, nó leo lên dây phơi đồ sau nhà cắn
hết những nút áo, mấy dì đi làm về mưa gió lạnh run, bận
cái áo nào cũng không có nút, họ bực tức chửi um sùm.
Mẹ thường lấy nón lá che mặt con mỗi khi nhà nữ đi
làm về thay đồ chồng ngồng trong phòng, những lúc đó
con cười thầm vì con biết ai là thủ phạm.
Rồi một hôm con kéc biết nói,(nó cũng hay hơn con ở
chỗ này) nó nói lảnh lót “ kéc ăn cháo” đòi ăn khi thấy mẹ
đút cho con ăn, nó gào thét “ cấp cứu, cấp cứu” khi nhà
nữ có người bịnh.
Mẹ nói nó là loài vật thông minh và giỏi tài bắt chước.
Con sống với Mẹ không biết bao nhiêu năm, đối với con
thời gian không là cái gì hết, thậm chí con chưa từng biết
đồng hồ ra sao cho đến lần nào đó “cán bộ” vào tận trong
nhà nữ, ông ta đeo cái đồng hồ lấp lánh ở cổ tay, và chiếc
Radio nhỏ xíu dắt vào sợi dây nịch bên hông, con nhìn mấy
thứ công nghệ tiên tiến đó bằng đôi mắt lạ lẫm thích thú.
Mẹ nói đồng hồ cho ta biết thời gian, và cái radio chota biết tin tức khắp nơi trên thế giới bằng giọng nói của ai
đó vang lên, con không hình dung được ở ngoài cổng trại
kia lại có những điều kỳ lạ mà con chưa từng thấy, chưa
từng biết bao giờ.
Mỗi ngày trong trại giam ,người ta tính thời gian mau
qua đi “ hết sáng sang chiều tối lại mai” để mong đợi ngày
về, còn con chỉ biết mỗi ngày có Mẹ bên cạnh là hạnh
phúc nhất trên đời rồi, con không cần biết tuổi của con ,
tuổi của Mẹ, con không cần biết đã qua bao nhiêu cái Tết
trong trại giam
Nhưng con thích cái không khí Tết rộn ràng và hai mẹ
con sẽ có chút thức ăn ngon hơn ngày thường, để con vui
khi có dịp ngồi ở dưới nhìn lên sân khấu thấy Mẹ hát cải
lương tuồng “Đời cô Lựu”, hổng biết sao mẹ khóc ngon
lành như nhân vật chánh trong tuồng, ai cũng vỗ tay rần
rần mỗi lần mẹ xuống câu vọng cổ ngọt lịm.
Mẹ hay thiệt, vai nào cũng đóng được hết, để tối về
ôm con, Mẹ lại thút thít khóc nhớ ba, nhớ Tết ở quê nhà
xa xôi, ở đó có ông bà ngoại đang chờ mòn mỏi mẹ con
mình trở về.
Mẹ lại kể chuyện Tết xưa với múa lân có pháo nổ rợp
trời, có bánh chưng xanh, có dưa hấu đỏ, có tiền lì xì...để
con tưởng tượng niềm vui của mẹ một thời đã xa, nhất định
ngày về Mẹ sẽ dẫn con đi Chùa vào dịp Tết, để con coi múa
lân coi đốt pháo, chắc con cười lăn với ông Địa bụng bự
.Ngày trở về của hai mẹ con hình như còn lâu lắm,
Nhưng có một chuyện xảy ra mà con không muốn
chút nào, đó là ngày dì Hai lên thăm Mẹ lần đầu tiên và
mang theo lá thư của cơ quan nước ngoài nói về chuyện
lãnh con ra khỏi trại giam để đi Châu Âu chữa bệnh.
Con đã quýnh quáng ôm cứng lấy Mẹ, dù Mẹ hết lời
dỗ dành là nơi đó con sung sướng như ở thiên đường, có quần áo đẹp, có thức ăn ngon, có nhiều đồ chơi mà đứa
trẻ nào cũng thích, con sẽ được chữa bệnh, được đi lại,
được học hành và sẽ viết thư gửi cho Mẹ đọc , rồi Mẹ sẽ
cố gắng về sớm để gặp con, rồi hai mẹ con mình lại ở bên
nhau suốt đời.
Mẹ mong muốn con ra đi để có cơ hội tìm được cuộc
sống tốt đẹp hơn cảnh hiện tại tù đày khốn khổ, nhưng mẹ
quên câu hát trong vở cải lương mà mẹ đóng vai cô Lựu:
“ Gánh nặng cuộc đời con với Mẹ sớt chia” .
Con không muốn đi đâu hết, con sẽ ở với Mẹ cho đến
khi nào chúng ta chết thì thôi.
Mặc cho con đập chân phản đối, Mẹ im lặng ôm lấy
con vỗ về, mắt Mẹ buồn thật buồn, con chỉ mong Mẹ khóc
là con sẽ được ở lại, Mẹ sẽ yếu đuối vì không thể rời con,
nhưng Mẹ đã không khóc chỗ đông người, cũng như Mẹ
không hề khóc trước mặt những người xa lạ khi nhận lá
thư báo tin Ba mất.
Con nhớ buổi tối đó khi 2 Mẹ con vào mùng, Mẹ kể về
cái chết của ba như một dũng sĩ trong truyện cổ tích, vung
gươm giết bọn yêu tinh và bây giờ đã bay về trời, Mẹ vừa
kể vừa thút thít trong bóng tối. Lúc đó con cảm nhận được
sự mất mát chia lìa, chắc không bao giờ chúng ta gặp lại ba.
Nhưng con tự hào khi biết ba con là một anh hùng ,
ba đã can đảm để đánh nhau với những kẻ xấu, con cũng
muốn bắt chước giống ba, nhưng con phải ở lại để bảo
vệ Mẹ, con tự nhận mình là một dũng sĩ nhí của Mẹ, vậy mà bây giờ Mẹ lại muốn con rời xa nơi này.
Ai sẽ lau nước mắt cho Mẹ khi mẹ buồn, ai sẽ đấm
lưng cho Mẹ khi đêm về mệt mỏi vì lao động nặng nhọc,
cánh tay con yếu ớt nhưng bàn chân con rất mạnh mẽ.
Con đã ôm chặt Mẹ bằng đôi chân khẳng khiu vì không
muốn phải rời xa Mẹ đêm nay,
Nhưng cuộc chia ly đã diễn ra âm thầm lặng lẽ khi con
ngủ say trên vai dì Hai rời khỏi trại giam lúc nửa đêm, con
kéc cũng im lìm trong cái ba lô dì đeo sau lưng.
Cả hai tụi con đã chia tay Mẹ từ đây. Chắc Mẹ sẽ buồn
và nhớ con lắm phải không ?
RA TÙ & VỀ SÀI GÒN
Sài Gòn mọi thứ đều mới lạ đối với con, nhà cửa đường
xá xe cộ tấp nập, nghe nói đây là thành phố mà gia đình
mình đã sống trước kia, nhà Ngoại cũng gần đâu đó, khi
con về cả nhà ai cũng thương con hết, mọi người mua sắm
quần áo mới cho con, dì Hai dẫn con đi chơi sở thú, khung
cảnh với quá nhiều điều lạ lẫm mà con thú vị khi nhìn thấy,
chị Thảo chị Huyền thay nhau bồng ẳm con ra chợ mua đồ
ăn, anh Tuấn cõng con qua hàng xóm chơi với bạn của ảnh,
dì Mai ôm con tới cửa hàng bán gạo để con chơi tới chiều,
Và Mẹ biết không , lần đầu tiên trong đời con có cái
bánh sinh nhật do dì Hai mua cho con, có ngọn nến và
bạn bè hàng xóm qua dự tiệc, con kéc cũng được cắn
một chút kem, tụi con vui lắm, nhưng con nhớ Mẹ và ao
ước phải chi có Mẹ bên cạnh con lúc này.
Con sống vui vẻ yên ấm trong gia đình Ngoại không
bao lâu thì tới ngày con có giấy tờ đi Thụy Sĩ để chữa bệnh, một đất nước xa lạ mà mọi người chỉ cho con coi
trong tấm bản đồ.
Ở nhà ai cũng chuẩn bị đưa con ra phi trường, nhưng
con kéc thì ở lại, dì Hai dỗ dành là người ta không cho
con kéc lên máy bay, con buồn lắm nhưng không biết nói
sao, nó là con vật khôn ngoan thân thiết với con từ hồi
trong trại giam, nó là ký ức một trời kỷ niệm của hai mẹ con mình, bây giờ phải bỏ nó lại con thương lắm,
Con sẽ làm một chuyến đi xa hơn nữa, con nghĩ chắc
chừng vài năm thôi, con sẽ hết bệnh và nhất định sẽ quay
về với Mẹ, con đã hứa như vậy rồi mà, chúng ta sẽ ở bên
nhau cho tới chết.
Dù hoàn cảnh khó khăn thế nào, hai mẹ con mình
cũng vượt qua để tìm nhau nhe Mẹ.
Đón con ở phi trường là một bà đầm nào đó con không
biết, bà đưa tấm hình con để nhận diện và gia đình Ngoại
trao con cho họ bồng lên máy bay. Chuyện kết thúc dễ
dàng như vậy, không ai nói với nhau lời nào, vì hai bên
ngôn ngữ khác nhau, con chỉ quay lại nhìn người thân
lần cuối, con cũng không biết nói một câu giã từ, con ú
ớ ngây ngô trong vòng tay lạ, nhưng nhìn đôi mắt xanh
trong veo của người phụ nữ ngoại quốc, con cảm nhận
được sự ấm áp của chuyến đi xa .
Lần đầu tiên được đi máy bay con thấy thích lắm, nó
lớn hơn cái nhà và nó sẽ chở con đi rất xa, như con quạ
trong chuyện cổ tích Mẹ kể, nó bay qua những đám mây
trắng, qua những ngọn núi và biển xanh ngắt bên dưới.
Con đã ngủ ngon suốt chuyến bay và trong giấc mơ
hẹn ngày trở về gặp Mẹ.
Con không hình dung được khoảng cách địa lý là bao
xa, nhưng con biết là xa xa lắm từ Sài Gòn qua Thụy Sĩ,
và con biết cũng sẽ còn lâu lâu lắm mới gặp lại Mẹ.
Trời ơi không hiểu sao con lại nghĩ như vậy, chuyến đi
lần này lẽ nào lại làm cách biệt chúng ta?
ĐI XA HƠN NỮA
-Những năm tháng đầu tiên con sống trong gia đình
của người bảo trợ, hai vợ chồng chú út và 3 người con
nhỏ, các anh chị ấy chắc cũng suýt soát tuổi con, mọi
người đều yêu thương con và nhất là thiếm ấy (Madame
Vivian) đã chăm sóc con rất chu đáo nhưng không ai nói
với con bằng tiếng Việt Nam.
Con được đi học và hiểu ra con đang ở một đất nước
khác Sài Gòn của Mẹ con mình, người ta dạy con bằng
tiếng Pháp, con ăn những món ăn cũng lạ, coi Tivi cũng
khác, không có chương trình thiếu nhi như ở quê nhà.
Con đã có một thời gian dài để sống thích nghi với
cuộc sống mới này và đôi khi con cũng quên mất con
là ai, không ai kể cho con biết về gia đình người thân,
về quá khứ của con, tại sao con có mặt ở đất nước này,
giống như con sinh ra ở một thế giới mới chỉ có hiện tại và
tương lai, nhưng trong trí nhớ mù mờ con biết mình còn
có một người Mẹ, nhưng không biết Mẹ ở đâu, Mẹ còn
sống hay chết, Mẹ như thế nào trong thời gian dài của
mười mấy năm không gặp.
Con không biết diễn tả được tâm trạng của mình cho
người khác hiểu, con không biết nói lên cảm xúc vui buồn
của chính con mỗi khi nhớ về Mẹ, dù mỗi ngày qua đi con
sống rất yên ấm ở đây.
Khi con 18 tuổi, theo luật con phải rời khỏi nhà người
thân để sống trong nhóm khác, nơi đó chỉ có những người
bạn bệnh tật giống như con, bại liệt toàn thân, không nói
được, không tự cầm nắm được và đầu óc ngây ngô như
một đứa trẻ, dù tuổi cũng đã trưởng thành.
Con may mắn
hơn họ một chút là con hiểu tất cả mọi chuyện xảy ra
chung quanh (nhờ coi tivi thường xuyên) con biết sử
dụng computer dù chỉ bằng 2 ngón chân click chuột.
Nếu trước đây con có biểu hiện khi nói chuyện với ai
đó bằng dấu hiệu đưa chân lên cao là đồng ý, còn đập
chân xuống là không, thì bây giờ chân con lại cong queo
không thể nhúc nhích được, con chỉ có thể thay bằng dấu
hiệu khác là le lưỡi khi muốn nói “Yes” hay ngậm miệng
khi muốn nói “No”.
Và những người chăm sóc con đều biết con muốn gì,
nhưng họ chỉ hiểu những điều cơ bản trong cuộc sống
hàng ngày của con, một cuộc sống thầm lặng giữa những
con người bệnh tật, tụi con được chăm sóc chu đáo từ
miếng ăn đến giấc ngủ, được đối xử dịu dàng thân tình
như một gia đình nhỏ, cuối tuần họ đẩy xe chúng con ra
ngoài trời đi xem phim hay uống cà phê.
Thỉnh thoảng mùa hè chúng con được du lịch sang
các quốc gia lân cận, tham gia các trò chơi dã ngoại, vì
nghe và hiểu được tiếng Pháp nên mỗi lần như vậy là một
điều rất tuyệt vời với con.
Mười lăm năm sống không có Mẹ, thời gian này dài
hơn lúc con được ở cùng Mẹ trong trại giam, con đã thành
thanh niên trưởng thành, râu ria tóc tai mọc dài nếu một tháng con không đi tiệm cắt tóc, con chừa hàng ria mép vì
rất giống ba trong hình mà con thấy lúc ở nhà chú Út (em
của ba). Con cũng xăm trên cánh tay trái của mình một
chữ Tỵ bằng tiếng Tàu, nó là tuổi con Rắn của con, ai đó
nói với con như vậy.
TIN VUI VỀ MẸ
Rồi một ngày có người đến thăm con, đây là điều bất
ngờ mà con sung sướng nhất,
Dì Hoa, một phụ nữ Châu Á, nói tiếng Pháp rành rẽ,
Dì tưởng con không biết tiếng Việt,
Dì xưng là bạn của Mẹ ở Việt Nam, có dịp qua Thụy
Sĩ, Dì ghé thăm con theo yêu cầu của Mẹ.
Dì kể bây giờ Mẹ đã ra tù rồi, đang sống ở Sài Gòn
cũng vất vả mưu sinh và lúc nào cũng mong ngóng tin
con nhưng không biết tìm con ở đâu. May mắn là quen
được dì, rồi dì lên mạng tìm mấy tổ chức nhân đạo nuôi
trẻ khuyết tật ở nước ngoài (Terre des Hommes) Dì thấy
tên con ở đây nên mừng quá, nhân có chuyến công tác
nên dì ghé qua thăm.
Ơn Trời, con sung sướng biết bao nhiêu khi nghe tin
Mẹ, và chắc Mẹ cũng hạnh phúc vô cùng khi biết tin con,
Dì Hoa như bà tiên cho hai mẹ con mình kết nối với nhau,
dì chụp rất nhiều hình con để mang về cho Mẹ yên tâm.
Dì cho con địa chỉ nhà Mẹ ở Sài Gòn.
Và khoảng thời gian này con luôn nôn nao khi nhớ về
Mẹ, con biết mình không phải trẻ mồ côi, điều mà bấy lâu
nay con cứ anh ách trong lòng.
Không ai nói cho con biết về Ba về Mẹ, chắc mọi người không muốn nhắc với con về gia đình có một quá
khứ đau buồn.
Nhưng con biết hết mọi chuyện Mẹ ơi, con hiểu những
lời nói xa gần của bà con bên Ngoại, con hiểu sự xót xa
của gia đình Nội khi nhìn sự khuyết tật của con, ở đây
thỉnh thoảng con gặp Bác hai, Bác ba (người thân lớn
nhất của Ba) trong những dịp vui tụ họp bà con, dù sao
con cũng là một thành viên trong gia đình của họ Trần
Thắng.
Ở đây con có tất cả cho một cuộc sống mới đầy đủ,
nhưng con vẫn ao ước được có Mẹ bên cạnh. Nỗi khát
khao được gặp Mẹ nhiều hơn khi có chuyến ghé thăm
của dì Hoa cho con biết tin về Mẹ ở quê nhà.
Nhất định con phải về Việt Nam tìm Mẹ, dù chuyến đi
không dễ dàng gì cho một người khuyết tật như con.
Những lá thư qua lại của hai mẹ con càng thôi thúc
con hơn khi nghĩ đến một ngày trở về, con đã cố gắng rất
nhiều thời gian để gõ trên computer những dòng emails
gởi Mẹ, nhưng con chỉ biết tiếng Pháp thì sao đây? con
có nhiều bạn, họ là những nhân viên trong cơ quan Terre
des hommer của chính phủ Thụy Sĩ, họ là sinh viên thiện
nguyện cho tổ chức xã hội này, mọi người đều là bạn thân
thiết của con, họ sẽ giúp con dịch emails ra tiếng Việt cho
Mẹ dễ đọc.
Lá thư đầu tiên gởi qua đường bưu điện từ Thụy Sĩ
về Sài Gòn, con kể cho Mẹ nghe đủ thứ chuyện về cuộc
sống của con ở đây, con vui lắm vì mọi người ai cũng tốt và thân thiện với con.
Có vài lần con phải vào bệnh viện với chứng viêm
phổi nhưng rồi sức khỏe con cũng ok, Mẹ yên tâm nhe.
Thỉnh thoảng con được du lịch đến các nước Châu
Âu quanh đây, con không biết tả cho Mẹ biết thế nào là
những cảnh đẹp mà con đã đi qua, từ khi liên lạc được
với Mẹ, những lá thư qua bưu điện lâu ơi là lâu, đến khi
hai mẹ con mình có emails, phải nói con tràn ngập hy
vọng là có ngày nào đó con sẽ về thăm Mẹ.
Chắc chắn như vậy rồi khi con lên kế hoạch cho một
chuyến bay nửa vòng trái đất, kế hoạch không phải một
vài tháng mà là mấy năm trời.
Con kiếm tiền bằng việc bán những mặt hàng Giáng
Sinh nho nhỏ, những mẫu thiệp do con thiết kế trên
computer và in ra bày bán ở chợ trời vào những ngày
cuối năm.
Nơi con ở họ luôn khuyến khích con sáng tạo bằng ý
tưởng của mình, con được đối xử bình đẳng đến độ con
quên mình khiếm khuyết rất nhiều phần trên cơ thể, con
không biết cầm muỗng tự múc ăn, không biết đứng dậy
và ca hát nhảy múa...
Thời gian ở bên Mẹ, con không nhìn thấy sự khác
biệt của mình, nhưng khi con sống với môi trường mới lạ
xung quanh, con nhận ra mình không giống những người
bạn trẻ khác, con thoáng hụt hẫng nhưng không dám hỏi
Mẹ tại sao con phải chịu như vậy, vì con biết là Mẹ sẽ
khóc mỗi ngày khi nhìn thấy thân thể con èo uột bệnh tật,
nhưng con hứa với Mẹ là con không khiếm khuyết tâm hồn.
Con hồn nhiên vui vẻ với mọi người, con sống như
chưa bao giờ biết đến đau buồn trong quá khứ, dù đôi khi
con nhớ Mẹ muốn khóc lên được với hình ảnh Mẹ liêu
xiêu trở về trại giam sau một ngày lao động mệt mỏi. Mẹ
bồng con mà không nhấc nổi cánh tay vì đuối sức,mắt Mẹ
buồn như trời sắp mưa.
Nỗi nhớ Mẹ luôn thôi thúc con phải có tiền để sớm về
thăm Mẹ, và con nói nhỏ Mẹ nghe điều này vì con có một
chút xấu hổ khi viết thêm dòng chữ đặt trước chỗ bán
hàng của con:
“Cần tiền về Việt Nam thăm Mẹ”.
Đó là một sự thật mà con đã can đảm khi viết ra,
nhưng kết quả thật bất ngờ khi mọi người đi ngang qua
đều dừng lại mua giúp con một cái gì đó và trả tiền nhiều
hơn giá trị của món hàng.
Sự tử tế và lòng yêu thương chân thành luôn được
đón nhận vô điều kiện phải không Mẹ, Con cám ơn cuộc
sống ở đây biết bao nhiêu.
CUỘC HỘI NGỘ SAU 15 NĂM
Con có 2 người bạn là Luctine và Jerome, bọn con sẽ
lên chương trình cho một chuyến đi xa, con đã email cho
Mẹ biết về điều đó, con sẽ về với 2 người bạn, cơ quan
giúp con một chiếc xe lăn có thể tháo ráp được dễ dàng
khi lên xuống máy bay.
Jerome chuẩn bị thuốc men quần áo vật dụng cần thiết
cho con, kể cả khăn tả và máy nghiền thức ăn, Luctine thì
lo Passport, thủ tục ra vào lãnh sự quán, chi phí đi lại cho
3 đứa trong 10 ngày lưu trú ở Việt Nam, thậm chí tụi con
phải lên mạng tìm coi khách sạn nào ở gần nhà Ngoại, có
thang máy, có ăn sáng free thì đặt chỗ cho tiện.
Một kế hoạch hoàn hảo phải không Mẹ?
Con rời Sài Gòn khi 9 tuổi và bây giờ con trở lại nơi
này lúc con 24 tuổi, mười lăm năm thay đổi ra sao con
không hình dung được nhưng con biết chắc là đã quá lâu
để hai mẹ con mình mới gặp lại nhau.
Máy bay hạ cánh xuống phi trường Sài Gòn, cái tên
thành phố mà con mơ hồ nhớ ra Mẹ thường kể cho con
nghe về những kỷ niệm của ba mẹ, về ngôi nhà của Nội
mà gia đình mình từng ở đó một khoảng thời gian êm đềm.
Cả bọn chúng con ngơ ngác giữa rừng người đưa đón
ở phi trường, nhưng con nhận ra Mẹ ngay khi có người phụ nữ hấp ta hấp tấp bước vội về phía con, trong khi dì
Hoa nói chuyện với Luctine và Jerome.
Trời ơi! Con muốn hét to lên vì mừng rỡ, nhưng chỉ
biết ú ớ trong họng. Mẹ thì ôm chầm lấy con mà nước
mắt chảy dài. Hạnh phúc nhất có lẽ là lúc này, khi mẹ con
mình được gặp lại nhau sau thời gian dài xa cách.
Mọi người cùng nhau về nhà Ngoại, con gặp lại đầy đủ
những người thân hồi nào con ở Sài Gòn 15 năm trước,
chỉ thiếu ông Ngoại và con kéc. Ông Ngoại mất sau đó vài
tháng và con kéc thì khi vắng con, nó đã buồn bã bỏ ăn
rồi chết, chị Thảo chôn nó trong chậu mai trước sân nhà.
Ai cũng vui vẻ trong lần gặp lại nhau.
Con biết thêm sau khi Mẹ rời trại giam, con có thêm đứa
em gái, con không quan tâm về người đàn ông sau này
của Mẹ, hình như ông ấy cũng đã mất rồi. Thương cuộc
đời Mẹ lận đận và cô đơn, nhưng không sao Mẹ à, quá
khứ đau buồn đã qua, bây giờ Mẹ đã có con và Phương (tên đứa em gái của con) Chúng con rất yêu thương Mẹ,
mãi mãi Mẹ vẫn luôn tuyệt vời trong tim chúng con.
Luctine kể cho mọi người nghe về “kế hoạch hoàn hảo”
trong chuyến đi này, về việc con đã để dành tiền như thế
nào và thanh toán mọi chi phí cho cả ba người trong suốt
thời gian 10 ngày ở Việt Nam. Con thấy ánh mắt tự hào của
Mẹ khi nhìn con. Mẹ biết con làm được tất cả mọi chuyện
này, dù con không thể như những người bình thường khác,
nhưng con có nghị lực để dám nghĩ và dám làm.
Thời gian ở Việt Nam tuy không nhiều, nhưng chúng ta phải sắp xếp cho hợp lý, đầu tiên Mẹ đưa con đi Đà Lạt để biết thành phố nơi con sanh ra, sau đó là về Sóc Trăng quê hương của Mẹ (cũng là nơi chôn nhao của con, lạ hen, tại sao cắt rún và chôn nhao lại ở 2 nơi cách xa nhau dữ vậy, bí mật này chỉ có Mẹ biết thôi)
Trên đường đi chúng ta ghé Bến Tre thăm quê Nội, nguyên quán của Ba, thăm thêm một điểm đặc biệt của Miền Tây là chợ nổi Ngã Bảy, nơi người ta chèo ghe mua bán hàng hóa trên sông. Luctine chụp rất nhiều hình cho quang cảnh độc đáo này, con nghĩ chắc không có nơi nào lạ như ở đây, họ chỉ mua bán thức ăn và trái cây nông sản ở địa phương thôi, nhưng rất vui vẻ và nhộn nhịp.
Lại về Sài Gòn, mỗi ngày đều có một chuyến rong chơi, khi Sở Thú lúc Đầm Sen, con được đi xe lam, xe buýt, phương tiện di chuyển của người nghèo, con thấy những người sống cơ cực, trẻ em và người già đi bán hàng rong , bán vé số mưa nắng dãi dầu. Mọi người đều nhìn con lạ lẫm khi con được 2 người
ngoại quốc đẩy xe lăn, con nghe họ nói Mẹ phải là người giàu có lắm nên con mới được sung sướng như vậy, chớ trong nước người tàn tật chỉ có đi ăn xin thôi. Con nghe Mẹ kể lại mà buồn cho họ.
Rồi 10 ngày cũng trôi qua nhanh chóng, con hiểu tiếng Việt nhiều hơn, Phương cũng bập bẹ được tiếng Anh với Luctine và Jerome, bọn con trao đổi email với nhau, con mua quà cho mọi người hết số tiền còn lại, thời gian ngắn ngủi thôi nhưng con hiểu phần nào cuộc sống ở đất nước chưa được phát triển như Việt Nam, để con so sánh với những nơi mà con đã đi qua ở Châu Âu, những thành phố rộng lớn, gương mặt ai cũng tươi vui, còn quê mình thì
thấy có quá nhiều ngôi nhà lụp xụp, trẻ em áo quần xộc
xệch, mặt mũi buồn hiu, nghe nói nhiều đứa không được đi học vì ba mẹ nó nghèo. Thương ghê!
Mẹ nói con tuổi con rắn tính theo Phương Đông,
nhưng con là con rắn không chân mà đi năm rừng bảy rú,
con may mắn là được ra nước ngoài, được sống trong sự
yêu thương chăm sóc của những tổ chức nhân đạo nhất
thế giới, nên con có cơ hội hiểu biết hơn những người
khuyết tật kém may mắn khác ở quê nhà.
Chuyến đi này con vui lắm, nó vượt xa mọi điều tưởng
tượng của con. Mẹ đã ra khỏi trại giam đầy kinh khủng
đó, Mẹ có cuộc sống riêng ổn định, Mẹ đi học lại rồi đi làm
cho một công ty cũng không vất vả lắm, bên cạnh Mẹ lại
có bé Phương thay con làm bảo vệ nhí cho Mẹ…
Con yên tâm khi biết mọi việc đều ổn cho Mẹ và
Phương. Từ đây về sau gia đình mình sẽ giữ liên lạc với nhau
nhe Mẹ.
Ngày cả nhà đưa con ra sân bay, (con không hiểu tại
sao mọi người lại thích đi đưa đón đông như vậy, hình
như được ra tới phi trường là niềm vui, là một mơ ước
thầm kín nào đó). Sự chia tay lần này chỉ có nụ cười hạnh
phúc và những cái ôm chặt quấn quýt yêu thương. Mẹ
hứa là sẽ tìm cách qua Thụy Sĩ thăm con.
Con tin là Mẹ sẽ làm được điều đó, vì con biết trái tim
của Mẹ luôn hướng về con.
TRỞ VỂ THỤY SĨ
Trở lại Thụy Sĩ lần này, con như một người khác, con
không còn băn khoăn về thân phận mình, con biết con
còn có một gia đình, còn có những người thân ở đất nước
Việt Nam xa xôi, con không còn buồn tủi mỗi khi thấy
những đứa khác cuối tuần có người thân đến chở về nhà
chơi, mà con thì thui thủi nhớ đến Mẹ, vì con biết Mẹ rất
yêu thương con, nhưng hoàn cảnh xa cách thì mẹ con
mình đành phải chấp nhận.
Sau chuyến đi xa về, Luctine và Jerome không còn
làm trong chỗ con nữa, họ có công việc khác nhưng thỉnh
thoảng vẫn ghé thăm con, có khi lấy xe đẩy con về nhà
Luctine ăn tối với gia đình của họ, cùng coi đá banh trên
TV, Luctine có 3 đứa con và một con chó, cả nhà thân
thiện với con như một gia đình làm con rất cảm động.
Nơi con ở hiện nay chỉ có 4 đứa, 2 trai 2 gái, mỗi đứa
một phòng ngủ gọn gàng sạch sẽ, nhân viên chăm sóc
cho tụi con hầu hết đều còn trẻ, chắc cũng suýt soát tuổi
con, có những cô gái rất trẻ, rất xinh đẹp, có thể họ là sinh
viên thực tập một thời gian thì rời đi, và cũng có những
người làm việc chuyên nghiệp lâu dài, nhưng tất cả đều
phục vụ với một tấm lòng nhân ái, họ vui vẻ và chăm chỉ
trong công việc, từ việc giúp tụi con làm vệ sinh cá nhân
đến dọn dẹp phòng ngủ, giặt giũ quần áo, nấu ăn....
Dù bận rộn nhưng họ luôn nở nụ cười và cho chúng con
những lời dịu dàng, những cái ôm ấm áp.
Con rất biết ơn những con người ở đây Mẹ à, con biết
mình thật may mắn khi được sống ở nơi này. Con muốn
viết email cho Mẹ thật dài để kể cho Mẹ nghe về tất cả
mọi sinh hoạt ở đây để Mẹ yên tâm là con đang sống bình
an hạnh phúc, nhưng Mẹ ơi, con đã cố gắng hết sức cũng
chỉ có một dòng thôi “con yêu Mẹ rất nhiều”.
LỜI GHI CHÚ CUỐI CÙNG
Con viết những dòng này không phải để than thở, mà
để giữ lại những ký ức của đời mình những điều con đã
sống, đã thấy, và đã đi qua.
Có những ngày con nghĩ rằng ký ức sẽ mờ đi theo
thời gian. Nhưng cũng có những ký ức càng xa lại càng
rõ, như một vết khắc không thể xóa trong tim.
Con không biết tương lai sẽ ra sao. Nhưng con muốn
ghi lại tất cả, để nếu một ngày nào đó con không còn ở
đây, thì những gì con từng sống vẫn còn tồn tại trong
những trang giấy này.
VyDan Tran Thang
Phần Hai
NHỮNG CHUYẾN ĐI
Tôi đi mình ên trong chuyến xe lửa từ Paris sang Thụy
Sĩ với tâm trạng nôn nao và thoáng lo âu ngần ngại, mặc
dù đây không phải là lần đầu thân gái dặm trường xuyên
quốc gia như thế này, cách đây 2 năm tôi cũng từng liều
mạng mang balô dong ruổi đi Tây mà chữ nghĩa tiếng
Tây không rành nửa câu, không cellphone wifi để liên lạc
trong trường hợp khẩn cấp, không có quá 200€ trong túi,
chỉ theo lời mời thân tình của một gia đình Tây quen biết
sơ giao mà hăm hở đi đại với mục đích duy nhất là thăm
thằng con tật nguyền đang sống lưu lạc xứ
người.
Cái đất nước Thụy Sĩ giàu có bậc nhất thế
giới này đã cưu mang nuôi dưỡng đứa con trai èo uột tội
nghiệp của tôi từ hơn 30 năm nay.
Thật lòng tôi nợ những con người ở đây một lời cám
ơn vô hạn.
Xe chạy băng qua những đồi thông, những cánh
đồng, những thành phố nhỏ bình yên với nóc nhà thờ
thấp thoáng trong sương mù, tự dưng thấy nhớ Đà Lạt
mấy mươi năm trước, nơi mà tôi đã đến rón rén với cái
ba lô mang ngược, bởi cái giọng con nhỏ em họ rù rì “chị mà không đi phá thai để ba chị biết được ổng cạo đầu khô
cho coi”.
Tại sao phải bỏ đứa nhỏ? có thể ba tôi không chấp
nhận “tên lính ngụy” trong gia đình “cách mạng” của ông,
nhưng tôi yêu anh ấy biết bao nhiêu. Chúng tôi có quá
nhiều chuyện để làm phía trước, có thai lúc này là ngoài
kế hoạch, nhưng tôi cương quyết giữ lại tình yêu và lý
tưởng của mình.
Vậy là tôi chạy trốn Sài Gòn lên thành phố sương mù,
tạm trú trong nhà người quen chờ ngày sinh nở, anh có
mặt bên cạnh tôi trong khoảng thời gian khó khăn đó, khi
cả nước ăn bo bo thì anh lén lút mang gạo trắng từ miền
Tây lên cho tôi, vượt qua không biết bao nhiêu trạm kiểm
soát trong cái áo giả dạng bộ đội mà anh phải đổi nhiều
quần áo đẹp của anh mới có được nó.
Tôi sanh sớm hơn 2 tuần nên thằng bé phải nằm lồng
kính, tháng 7 mưa dầm, quần áo không khô kịp, tôi không
có đủ sữa cho con, anh tất tả đi bán máu mua về mấy hộp
sữa bò, khăn áo ấm cho hai mẹ con, nấu cho tôi một nồi
súp đầy rau mà ít thịt, giặt dùm tôi mấy cái quần lót dính
đầy máu vì thiếu băng vệ sinh.
Tôi đã bật khóc trong niềm hạnh phúc vô cùng. Đối với
tôi, nếu có phải hy sinh cuộc đời mình cho người đàn ông
đáng yêu này thì tôi luôn sẵn sàng. Và tôi đã sẵn sàng
như vậy suốt hơn 40 năm qua, mặc dù anh ấy nằm xuống lâu lắm rồi.
VyDan là kỷ niệm đẹp nhất trong chuyện tình của
chúng tôi.
Đẹp mà buồn đến xót xa!.
Yverdon là một thành phố nhỏ của Thụy Sĩ, nói theo
bài hát là đi dăm phút trở về chốn cũ, lúc đầu còn bỡ ngỡ
lạ lẫm với những con đường quanh co mà từng viên gạch
lót trên quảng trường, những lâu đài nóc nhọn phủ mái
ngói rêu xanh nằm bên góc chợ đã có tuổi đời hơn trăm
năm trước, xen lẫn giữa những tòa nhà cao tầng hiện đại
thì xem ra mấy cái Chateau vẫn còn phảng phất vẻ kiêu
sa của một thời quý tộc.
Hệ thống xe lửa ở các nước Châu Âu đều có chung
một quy tắc tuyệt đối, đó là sự đúng giờ, tôi thực sự thoải
mái khi sử dụng phương tiện công cộng này.
Bước xuống sân ga lúc nào cũng 4 giờ 15 chiều, tôi
chỉ báo cho Luctine và VyDan biết thời gian để yên tâm là
tôi có đến và sẽ tự đi bộ về, nhưng lần nào thì 2 người đó
cũng đều có mặt để đón tô.
Luctine đẩy xe lăn và VyDan
cười vui biểu lộ ra gương mặt muốn hét lên như bất cứ
đứa trẻ sung sướng nào được đón Mẹ đi xa về.
Tôi hạnh phúc khi cúi xuống ôm VyDan, xoa cái lưng
gầy gò nhô xương của nó mà rưng rưng cảm xúc. Thương
quá con dế mèn còi cọc của tôi.
Luctine giúp tôi mang cái ba lô nặng trĩu đầy quà của
thằng bé để tôi hăm hở đẩy xe cho VyDan, chúng tôi đi
bộ về nhà khoảng 2 miles với bao nhiêu câu thăm hỏi dồn
dập, vốn liếng tiếng Anh của tôi chỉ có thể ở mức xã giao
và anh bạn trẻ gốc Pháp này đối thoại sinh ngữ phụ khá
hơn tôi, nên khi gặp câu khó tôi cười trừ, hoặc nói bâng
quơ vậy mà nó cũng hiểu tuốt.
Tôi quen biết Luctine cách đây cũng gần 20 năm, khi
hắn còn là sinh viên làm thiện nguyện cho tổ chức Terre
des Hommes (The leading Swiss child relief agency), hắn
chăm sóc cho VyDan và quen Martin cũng trong công
việc này, hai đứa yêu nhau rồi ra trường, hôm đám cưới
có cả VyDan tham dự.
Năm 2002 hắn đẩy VyDan về Việt Nam thăm Mẹ sau
15 năm xa cách, trong khi ở Thụy Sĩ Martin sắp tới ngày
sanh đứa con đầu lòng.
Luctine lớn hơn VyDan chắc vài
tuổi, điều đáng nói là sự chân tình của hắn dành cho chúng
tôi, những con người xa lạ khác màu da, khác ngôn ngữ
nhưng có duyên phận gắn bó tình nghĩa với nhau.
Lần đầu tiên khi chúng tôi qua Thụy Sĩ ở nhờ nhà
đứa cháu họ bên Lausanne, mỗi ngày đi xe lửa đến thăm
VyDan, tiền vé đi về của hai vợ chồng hơn 70€, cầm cự
mấy tuần chịu không thấu, thì gặp Luctine, hắn nói nhà
hắn có dư một phòng, đi bộ đến chỗ VyDan chừng 5 phút,
hắn “Welcome, see you next time.”
Lại một lần nữa tôi chịu ơn người dưng nước lã đầy
hào hiệp này. Hắn hiện ra trong đời sống của mẹ con tôi
giống như ông Bụt, cầu được ước thấy.
Tôi đã ở nhà hắn đây là lần thứ ba, gia đình Luctine
đúng là kiểu mẫu của người Tây phương nề nếp nghiêm
chỉnh, 3 đứa con đều xinh đẹp ngoan ngoãn, học hành
giờ giấc đâu ra đó, không ôm iPhone iPad nấu cháo như
kiểu nhà mình, cuối tuần cha mẹ dẫn đi học khiêu vũ, học
võ hay đánh banh, đứa nào cũng nói được 2-3 thứ tiếng.
Nhà khá giả nhưng ăn uống hết sức đạm bạc (!), buổi trưa cả nhà ăn ở ngoài, buổi tối là về đủ mặt cho bữa
dinner, có khi chỉ vài đũa spaghetti hay bánh mì chấm
chút xíu nước sốt, lâu lâu có miếng cá salmon khiêm tốn
cỡ 2 ngón tay.
Lúc đầu tôi không quen ăn quá ít như vậy nên tối ngủ
nghe bụng cồn cào. Hỏi ra mới biết họ không thích ăn thịt
các loại hay hải sản, và ăn ít như vậy cũng thành quen
nên dáng người ai cũng thon thả.
Ở bên Mỹ ăn uống thoải mái như hổ, qua đây ăn rón
rén như mèo, nên ngày nào tôi cũng mua bánh mì phô
mai ra công viên ngồi nhai như dân homeless...
Chỗ ở của VyDan cách nhà Luctine chừng 1 miles, đó
là khu dân cư nhưng cơ quan thuê hay mua gì đó 2 căn
có 4 phòng chung một hành lang riêng biệt để nuôi những
đứa trẻ bệnh tật như VyDan, có nhân viên chăm sóc 24/7
từ ăn uống thuốc men thay tã tắm rửa, hình như họ chia
ca trực, ban ngày có 3-4 người lăng xăng nấu ăn giặt giũ
dọn dẹp không ngơi tay nhưng gương mặt họ lúc nào
tươi cười vui vẻ, cử chỉ nhẹ nhàng, nói chuyện với tụi nhỏ
thân mật như chị em trong gia đình, lạ một điều không
đứa nào biết nói nhưng hiểu những lời họ nói và mỗi đứa
đều có lối biểu cảm riêng để giao tiếp với họ dễ dàng.
Bốn đứa trẻ đó tôi nghĩ là người của các quốc gia
khác chớ không phải dân Thụy Sĩ, nói trẻ vì hình dạng
mặt mũi ngây ngô như con nít nhưng đứa nào cũng hơn
35-45 tuổi, chung một khuyết tật như nhau, tay chân khều khào, không đi đứng được, không nói được nhưng nghe
hiểu, biết cười và đôi khi la hét vu vơ, ăn phải có người đút và mọi chuyện cá nhân phải có người giúp đỡ tất tần
tật như đánh răng tắm rửa thay tã mặc quần áo.
Cuộc sống ở đó thân thiện cho các cháu mang cảm
giác thoải mái giống như trong gia đình, phòng khách
có sofa tivi trang trí vài chậu hoa, cây xanh trong ánh
sáng dịu mát, phòng ăn nhà bếp tươm tất, tới giờ ăn họ
trải khăn ăn muỗng nĩa như nhà hàng, thức ăn mang lên
thơm lừng,
Có đủ thịt bò thịt heo rau củ nhưng tất cả đều được bỏ
vào máy cắt nhỏ hay xay mịn tùy theo cách ăn của từng
đứa, thật tình tôi không biết tụi nó cảm nhận món ăn ngon
dở ra sao trong cái nước sốt sền sệt trộn chung “hầm bà
lằng” này, mỗi đứa ngồi một góc có nhân viên bên cạnh,
Daniel và Jessica thì tay chân quờ quạng nhưng vẫn thích
tự cầm muỗng ăn, dù thức ăn đổ vương vãi.
Có chứng kiến một buổi ăn trưa với bọn trẻ mới thấy
cái tâm và sự chịu đựng của người phục vụ, họ nói huyên
thuyên điều gì đó khiến mấy đứa nhỏ cười, họ lấy muỗng
gõ xuống bàn chọc ghẹo nhau và các nhân viên ăn ngon
lành thức ăn trong dĩa, dù trước mặt họ mấy đứa ăn uống
đổ tháo ho khạc đàm nhớt lòng thòng vào chiếc khăn
quấn trên ngực.
Thú thật tôi nuốt không vô khi ngồi đối diện với Daniel
lúc nào cũng ho sù sụ khạc đờm rơi rớt trên cái dĩa của nó.
Mới biết họ chấp nhận công việc ở đây ngoài chuyện
lương bổng là bình thường nhưng cái tâm họ tịnh hơn,
tấm lòng của họ bao dung độ lượng hơn nhiều người khác, họ được giáo dục để biết yêu thương và tử tế với
những đứa trẻ bất hạnh.
Bà trưởng phòng ở đây đã từng ôm tôi an ủi
-“mày đừng lo lắng, bọn tao đã sống với tụi nhỏ lâu rồi,
tao coi mấy đứa như con của tao, nên mày tin rằng tụi nó
rất hạnh phúc”
Tôi lại khâm phục những con người vác thánh giá này,
không có lời cám ơn nào đủ giá trị để dành cho họ. Tôi
thấy mình nợ nần một đất nước xa lạ, nợ nần những con
người xa lạ nhưng trái tim của họ thật gần gũi ấm áp biết
bao nhiêu.
Nếu không có vòng tay dang rộng của chính phủ Thụy
Sĩ và tổ chức nhân đạo này, chắc gì con trai tôi sống sót
được đến hôm nay. Đó còn là một ơn phước mà Thượng
Đế đã ban tặng cho mẹ con chúng tôi.
Có người hỏi tôi sao không mang VyDan về bên Mỹ
cho tiện chăm sóc mà mẹ con cũng được gần nhau, tôi
đã thẳng thắn nói không, vì tôi biết nơi nào là quê hương
của nó, nơi nào nó sống yên vui mỗi ngày thì đó là thiên
đường.
Định mệnh đã sắp đặt cho nó sống ở đây và có chết
thì cũng ở đây, tôi biết cái cây đã èo uột sẵn mà bứng
trồng chỗ khác không chắc gì sống nổi. VyDan đã thuộc
về nơi này.
Trong phòng ăn treo 4 bức ảnh của 4 đứa, năm ngoái
tôi qua thì thấy gỡ mất 1 tấm, hỏi thăm mới biết con bé
đã về trời, tôi buồn ngẩn ngơ khi nghĩ đến VyDan, nếu lúc nào đó tấm ảnh của nó không còn treo trên tường nữa!
Chỉ nghĩ như vậy thôi mà nghe tim mình như nghẹn
thở.
Những ngày ngắn ngủi ở bên cạnh con, tôi kể lể cho
nó nghe những chuyện này kia về cuộc sống bên Mỹ, về
bà con dòng họ ở quê nhà mà hình ảnh và độ thân thiết
đã mờ nhạt trong ký ức của thằng bé rời Sài Gòn hơn 30
năm trước.
Thật tình VyDan không có kỷ niệm gắn bó về quê
hương Việt Nam với những địa danh xa lạ, thậm chí nó
còn không biết là nó cắt rún ở Đà Lạt và chôn nhao ở Sóc
Trăng, một điều lạ lùng chưa từng xảy ra với bất cứ đứa
trẻ nào, tôi đã làm điều ấy vì ý tưởng nghịch ngợm của
một bà mẹ trẻ lúc đó, đem nhao thai ngâm rượu rồi mang
bình rượu đó về quê chôn dưới gốc cây trong vườn nhà
ngoại, không có mục đích ý đồ gì khác thường, chỉ muốn
là làm vậy thôi.
Sau này có người biết chuyện lại trách “ngâm rượu
hèn gì thằng nhỏ nóng nảy trong người nên còi cọc”
Tôi làm thinh không phân trần, 7-8 năm trong tù đủ để
giết chết tuổi thơ của nó rồi, VyDan còn sống sót tới bây
giờ là điều kỳ diệu của Thượng Đế.
Nó tuổi Tỵ, tôi hay gọi đùa “con rắn không chân mà đi
năm rừng bảy rú”
Nghe nói mỗi mùa hè là cơ quan đưa những đứa như
nó được đi chơi khắp các nước Châu Âu.
Ơn Trời, sự bất hạnh của nó đã được đền bù.
Ở đây VyDan được dạy và nghe tiếng Pháp, lần gặp lại nó ở Sài Gòn sau bao nhiêu năm xa cách, tôi phải nhờ cô
bạn làm phiên dịch giữa tôi và nhân viên đi cùng, rồi nhân
viên nhìn nó nói điều gì đó, họ truyền đạt lại cho cô bạn.
Hai mẹ con lúng túng mất mấy ngày, nhưng sau đó
tôi nói tiếng Việt thẳng với nó và hỏi có hiểu không? Nó
le cái lưỡi nghĩa là Yes, và ngậm miệng lại là No, từ đó
chúng tôi bắt đầu nói chuyện với nhau cả ngày như chơi
trò trắc nghiệm đố vui. Tôi đặt câu hỏi và nó trả lời yes/
no rất nhanh
Trong ngôi nhà này VyDan là thằng bé “thông thái”
nhất so với 3 đứa còn lại, nó biết đọc sách, xem TV, lên
mạng email, Facebook với bạn bè. Người ta gắn cho nó
một màn hình nhỏ đặt trên tường hay trên xe lăn, với một
bàn phím được thiết kế bằng các ký tự đặc biệt và kỳ diệu
hơn khi nó sử dụng 2 ngón chân để click chuột. Chỉ một
dòng chữ “Je t’aime maman” mà nó cặm cụi cả nửa tiếng
mới xong.
Tôi đã bật khóc khi nhìn thấy sự cố gắng để diễn đạt
ngôn ngữ yêu thương của thằng bé tật nguyền. Thỉnh
thoảng tôi thấy nó lên Facebook, cũng viết vài chữ thăm
hỏi gởi cho mẹ, nhưng tôi không hình dung được sự khó
khăn của nó khi lần mò từng chữ bằng 2 ngón chân run
rẩy.
Tôi nói nickname để VyDan add tên em gái nó vào
Facebook, tôi mang cho Vydan mấy món quà nhỏ của của
Kaytlyn và Derek, (hai đứa con của Phương) và hẹn khi
nào tụi nó lớn một chút sẽ dẫn qua thăm cậu Vydan. Nó
hào hứng khi nghe điều này, trong cuộc sống lặng lẽ buồn hiu của nó thì tình yêu thương gia đình gắn bó và ấm áp
biết bao nhiêu.
Cám ơn những thành tựu công nghệ của thế giới ảo
nhưng rất thật này, nó kết nối những con người xa xôi gần
lại với nhau, mỗi lần tôi thấy hình VyDan trên mạng, tôi
yên tâm là thằng bé còn mạnh khỏe bình an.
Có những buổi chiều trời nắng ấm, tôi đẩy VyDan đi
vòng vòng ngoài phố, ngồi trước quảng trường ngập hoa
cúc mùa thu, uống cà phê và nhìn người qua lại. Nó thích
thú lộ ra mặt, tôi thầm cám ơn những ánh mắt thân thiện
của mọi người ở đây dành cho nó, ít ra nó không bị mặc
cảm vì hình dạng khuyết tật của mình, đó là yếu tố cần
thiết để nó tồn tại và thấy đời đáng sống hơn.
Có lúc hai mẹ con ngồi bên nhau lặng im nhìn ra
khung cửa sổ lất phất mưa, tôi hát cho nó nghe những
bản nhạc quê hương xưa cũ và thằng bé dựa vào vai tôi
thiu thiu ngủ như hồi còn nhỏ, tôi nắm bàn tay bàn chân
lạnh ngắt cong queo của nó cố vuốt cho thẳng mà lòng cứ
ao ước phép lạ xảy ra cho VyDan, nếu không thể vươn
vai như Phù Đổng thì cũng gọi được tiếng Mẹ cho hạnh
phúc ngập tràn, nhưng bà Tiên ban phép lạ thì chỉ có
trong cổ tích thôi con trai à.
Khi mang nó ra khỏi nhà tù Cộng Sản thì thằng bé đã
kiệt sức, tay chân co quắp, cột sống cong vẹo và các cơ bắp đã teo lại không đủ sức nâng đỡ thân hình xương
xẩu.
Thụy Sĩ là đất nước có ngành y tế tốt nhất thế giới mà
cũng không thể cứu chữa được cho thằng bé trong tình trạng muộn màng.
Sự thăm viếng VyDan cũng theo quy định của cơ
quan, tôi chỉ đến buổi sáng sau 10 giờ và buổi chiều sau
3 giờ, khoảng thời gian còn lại thì tôi lang thang khám phá
những ngõ ngách của thành phố yên tĩnh này, tôi thường
chọn mùa thu để qua thăm con, không hẳn vì Châu
Âu thơ mộng bởi rừng cây đổi sắc đỏ vàng, nước Mỹ
cũng có nhiều thành phố lung linh màu thu rạng rỡ vậy,
đi chi xa, nhưng thật tình khoảng tháng 9-10 giá rẻ nên đi
thôi, sống bằng lương hưu thì chỉ có vậy.
Nhưng ai không biết hoàn cảnh thì trầm trồ “đi du lịch
sướng he”
Tôi hay nói đùa “Ờ thì tiền bạc gởi bên ngân hàng
Thụy Sĩ nên lâu lâu qua coi còn được bao nhiêu” ha ha
chảnh bắt ớn!
Yverdon không có nhiều người Việt như thủ đô tị nạn
Bolsa California hay Houston Texas bên Mỹ, hoặc nếu có
thì chắc sống rải rác đâu đó không biết, duy nhất có một
tiệm phở mà nghe giọng là biết Bắc Kỳ 75, một gian hàng
tạp hóa Asian bán đủ thứ từ cọng rau muống, gói mì Hảo
Hảo đến cái nón lá và tượng ông Địa China, tất cả đều
nhập trực tiếp từ Việt Nam qua bằng đường hàng không
mỗi tuần, dĩ nhiên chủ nhân là người Việt nói tiếng Pháp
như gió,
Tôi quen với một chị bạn cũng từ cửa tiệm này, chị mua rau răm về nấu cháo lòng (!) nhưng rủ tôi về nhà để
mời món mắm chưng cá mặn. Biết là bên Mỹ mấy món
này không phải hiếm hoi nhưng được ăn bên trời Tây mà nghe tiếng Huế líu ríu thì quả là thú vị.
Tôi nhận ra rằng người Việt dù sống tha hương ở chân
trời góc biển nào cũng có chung một nỗi nhớ nhà, “nhớ
canh rau muống nhớ cà dầm tương” Quê hương cứ lẩn
quẩn trong từng cái chén đôi đũa, từng cọng ngò tép xả,
tô mắm chưng dù được đặt trên bàn ăn có nhiều dao nĩa
vẫn không thấy huốt cái đặc thù dân dã Việt Nam.
Thụy Sĩ là quốc gia đắt đỏ cũng nhất thế giới nên giá
tô phở 25€ -30€ là chuyện bình thường, tôi thà nhịn thèm
để mai mốt về Mỹ ăn “tô xe lửa” ngon lành mà giá có phân
nửa.
California nơi tôi ở nói về món ăn Việt Nam thì không
thiếu thứ gì, bún phở chè xôi hay bột chiên bánh ướt đều
có đủ.
Trời thu mưa lất phất lạnh, con đường vắng ngập lá
vàng cho tôi cảm giác mình đang đếm bước cô đơn, dù
mỗi ngày vẫn gọi phone ríu rít với chồng đủ thứ chuyện,
hình như có điều gì đó buồn buồn trong tôi, mỗi lần gặp
thằng bé là gợi lại ký ức đau thương đã qua, tôi vẫn thấy
ray rứt như mình có lỗi trong sự bất hạnh của nó.
Tuổi đời càng ngày càng lớn, tôi không biết mình có
còn đủ sức để làm một chuyến đi dài qua thăm nó mỗi
năm? Thôi thì một ngày được ở bên nhau là hạnh phúc
hiện tại của hai mẹ con, câu chuyện buồn đã thuộc về quá
khứ xa lắc xa lơ mà tôi cố gắng để quên nhưng sao vẫn
thấy chạnh lòng hoài. VyDan là một kỷ niệm khó phai.
Thời gian thăm nó rồi cũng qua, trước buổi chia tay nó
tặng tôi món quà lưu niệm, nghe nói mua đâu bên Ý trong
một chuyến đi chơi nào đó, tôi giả bộ háo hức khi tháo gói giấy ra cho thằng bé vui, một con bướm bằng sứ sơn
men xanh đã bị gãy một góc cánh, có lẽ không được gói
cẩn thận khi vận chuyển, nhìn gương mặt thất vọng của
VyDan thấy thương quá, tôi vội trấn an “không sao, Mẹ
sẽ lấy keo dán nó lại dễ dàng mà, con bướm thật đẹp, Mẹ
cám ơn VyDan đã tặng” Tôi hôn lên vầng trán nhăn nhúm
của nó mà nghe lòng dâng lên nỗi xúc động nghẹn ngào.
Buổi sáng đầy sương, tôi lên tàu về lại Paris để chuẩn
bị bay về Mỹ, quê hương thân thiết của tôi cũng như
Thụy Sĩ là chốn quê nhà của VyDan, nếu một mai nó nằm
xuống nơi này. Tôi nói với nó là trời mưa lạnh đừng ra
sân ga, nhưng thật lòng tôi sợ cảnh tiễn đưa bịn rịn, tôi
sợ nhìn ánh mắt đỏ hoe của nó sẽ ám ảnh tôi trên suốt
đoạn đường dài. Thương quá con dế mèn còi cọc của tôi.
Thành phố cuối tuần vẫn còn đang ngái ngủ, những
hàng cây trút lá ngập lối đi, cái ba lô nhẹ bỗng trên lưng
mà sao tôi cứ canh cánh nỗi buồn nặng trĩu.
“Au Revoir mon fils”Tôi tập viết câu này trong tin nhắn
trên Facebook của Vydan lúc nửa đêm
Tạm biệt con yêu!
KHI NỔI BUỒN VẪN CHƯA NGUÔI NGOAI
Mấy tháng qua rồi, đám tang Vydan đã được tổ chức
rất chu đáo và ấm áp, một chị bạn sống ở gần đó đã kể lại
khi mua dùm tôi vòng hoa với dòng chữ bằng tiếng Pháp
“ Mon cher Vy Dan, Tu Restes Toujours dans Mon Coeur”
mang đến buổi lễ và chụp cho vài tấm hình kỷ niệm giây
phút cuối đời của một kiếp người lẻ loi, buồn thảm.
Vydan nằm trong quan tài với cái đầu nghiêng qua
một bên, gương mặt thanh thản, cũng cái dáng tựa đầu
vào vai Mẹ như hồi nào khiến tôi không cầm được nước
mắt. Thương con quá dế mèn ơi, dù có nhiều bạn bè đến
viếng, nhưng tôi biết thằng bé rất cô đơn vì không
có Mẹ bên cạnh trong lúc cuối cùng.
Tôi biết mình sẽ không đủ sức chịu đựng được cảnh
chia ly não lòng này. Tôi đợi nỗi đau này lắng xuống.
Nhưng mấy tháng qua rồi, niềm đau vẫn còn đó,
nhưng lòng tôi đã phần nào dịu lại sau những ngày dài
đẫm lệ mỗi khi nghĩ về Vydan – chú dế nhỏ bé, yếu ớt của
tôi – người đã lặng lẽ rời bỏ thế giới này sau khi gánh chịu
vô vàn gian khổ trong hình hài khiếm khuyết.
Cái chết là sự giải thoát; tôi cố gắng nghĩ như vậy để
không tự dằn vặt khi nhớ lại quá khứ đau thương, đứa
trẻ ấy phải chịu cảnh tù đày khi mới 17 tháng tuổi, sống trong nghèo khó, thiếu thốn, bệnh tật triền miên mà không
được chữa trị, rồi mòn mỏi suốt 8 năm trong ngục tù cho
đến khi một tổ chức nhân đạo phương Tây dang tay giúp
đỡ, đưa con thoát khỏi cơn ác mộng kinh hoàng.
Tuy nhiên, đã quá muộn để con có thể hồi phục sức
khỏe như một người bình thường. Con đã cam chịu khiếm
khuyết cơ thể như một định mệnh nghiệt ngã, sống những
ngày bình yên dưới sự chăm sóc đầy yêu thương của
những con người khác màu da, khác ngôn ngữ những
người mang trái tim Bồ Tát, dành hàng thập kỷ để chăm
lo cho những đứa trẻ bất hạnh như con.
Niềm hạnh phúc và sự bình an luôn hiện rõ trong ánh
mắt con mỗi khi chúng tôi gặp gỡ, đó là niềm vui nhỏ bé
mà hai mẹ con cùng chia sẻ, dù chỉ là khoảnh khắc ngắn
ngủi giữa những chuyến hành trình dài đằng đẵng và mệt
mỏi.
Trong lần gặp cuối cùng cách đây một tháng, tôi đã
nắm tay Vydan và nói lời từ biệt:
“Sang năm mẹ sẽ lại đến thăm con nữa nhe”
Gương mặt Vydan bừng sáng với nụ cười rạng rỡ.
Vậy mà giờ đây con đã lặng lẽ ra đi...Chú dế nhỏ của
tôi đã bay về thiên đường – tôi tin chắc là như vậy, bởi
con đã trả xong nghiệp quả kiếp trước, sống trọn vẹn
những tháng ngày bình yên ở cõi trần và bây giờ đã ra đi
trong thanh thản.
Tôi tự hỏi liệu ở chốn vĩnh hằng kia, Vydan có cơ hội
đoàn tụ cùng Ba Tài yêu dấu để được Ba dắt tay bước
qua cánh cửa thiên đường hay không?
Cả hai đều là những thiên thần trong trái tim tôi.
Nỗi buồn đau xót xa cho một kiếp người, tôi vẫn chưa
thấm nhuần được triết lý nhà Phật là cõi trần tạm bợ, là
mong manh vô thường để chấp nhận sự thật của tử biệt
sanh ly. Vy Dân đã được giải thoát khỏi kiếp nạn của nó,
thì phải mừng chớ sao lại khóc? Nhiều người đã khuyên
nhủ tôi như vậy và chính tôi cũng từng nghĩ đến một lúc
nào đó nó sẽ bỏ Mẹ theo Ba mỗi lần nhìn nó thoi thóp
trong tù.
Nhưng thằng bé vẫn kiên cường để sống sót cho đến
47 năm, chẳng phải nó đã cố hết sức để trả nợ đời rồi sao
, mà nài ép nó phải sống thêm vài ba năm nữa! Nghĩ vậy
mà vẫn thấy nao nao trong lòng, vẫn thấy như mình nợ
nần Vy Dân một lời xin lỗi đã để nó gánh nặng kiếp nhân
sinh đầy khổ nạn này.
Chắc chắn sang năm tôi sẽ qua thăm con dế mèn của
tôi như lời tôi đã hứa với nó, dù Vydan không còn nữa,
nhưng tôi phải đến đó để nhìn một lần cuối cái nơi đã cưu
mang đứa con bất hạnh của mình suốt mấy mươi năm,
để cám ơn từng con đường, từng góc phố mà Vydan đã
đi qua, cám ơn đất nước con người Thụy Sĩ đã hết lòng
chăm sóc cho một thằng bé côi cút tật nguyền của tôi, cho
đến lúc nó lìa đời trong vòng tay ấm áp của mọi người tuy
xa mà không lạ.
Cám ơn dòng sông con suối nào đó đã mang tro cốt
nó ra biển khơi, tìm đường về quê Mẹ xa xôi thăm thẳm.
Xin hãy nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của tôi
gởi đến tất cả bạn bè thân mến.
TRỞ LẠI YVERDON ĐỂ GIỮ MỘT LỜI HỨA
Tôi xuống trạm xe lửa lúc 4.15pm.
Mưa lất phất đủ để ướt những chiếc lá vàng tơi tả bên
đường, không có ai đón tôi với con mắt sáng ngời và nụ
cười hớn hở. Sân ga vắng vẻ lạnh ngắt.
Một năm trôi qua rồi, nỗi buồn cũng đã lắng xuống
nguôi ngoai, nhưng khi trở lại nơi này, tôi cũng thấy chạnh
lòng nhớ về thằng bé, tôi cố nghĩ là nó còn sống, nó hiện
đang quanh quẩn trong nhà hay đang coi TiVi ở phòng
khách để chờ bữa cơm chiều.
Kéo chiếc ba lô lọc cọc giữa những con đường yên
tĩnh của thành phố nhỏ, tôi chậm rãi đi dưới trời mưa để
về ngang chung cư nhìn lên căn phòng cũ của nó, cánh
cửa sổ đã khép kín nhưng ký ức trong tôi vẫn đang mở
toang về những kỷ niệm còn sót lại của hai mẹ con, chỉ
mới một năm thôi mà, lẽ nào nó không còn nhớ đến tôi?
Tôi đã từng dựa lưng vào khung cửa đó và hứa với
Vydan là tôi sẽ trở lại thăm nó vào mùa thu tới, sẽ mang
cho nó chiếc lá vàng như một minh chứng của trái tim
người Mẹ đã lặng lẽ vượt qua hàng ngàn cây số để đến
thăm đứa con côi cút tật nguyền.
Và bây giờ tôi đã trở lại nơi này để giữ một lời hứa, dù
con trai tôi không còn nữa. Nước mắt rơi trong cơn mưa
ẩm ướt chiều nay, tôi nhớ câu nói của ai đó “ đi dưới mưa để không ai thấy mình khóc”.
Tôi đang bước trên những
chiếc lá vàng đầy kỷ niệm của ngày hôm qua.
Trời chợt mưa chợt nắng và bỗng dưng tôi nhận ra
mình vừa lạc mất lối vào khu chung cư rất thân quen, trí
nhớ như bị xóa trắng, tôi ngẩn ngơ giữa ngã ba đường,
phải nhờ một người đi ngang qua tìm giúp một địa chỉ mà
mình đã từng đến gần mười năm nay, căn phòng D7 nằm
trong góc khuất của thành phố nhỏ Yverdon.
Tôi ngập ngừng khi bấm chuông, cánh cửa tự động
mở ra, tôi hấp tấp leo lên cầu thang, vào ngay phòng
khách, có 2 chiếc xe lăn trước TV, một khuôn mặt lạ nhìn
tôi ngơ ngác, chắc thằng bé mới vào đây thế chỗ của
Vydan, còn đứa kia tôi biết là Natalie, nó cười ngây ngô
khi tôi nắm tay nó, trên đầu tủ phòng khách là hình những
đứa đã mất, trong đó có Vydan của tôi.
Điều mà tôi đã từng lo sợ bâng quơ mỗi lần đến đây,
khi nghĩ đến ngày nào đó thằng bé sẽ bỏ Mẹ theo ba...
Phòng ngủ của Vydan cũng đã thay đổi cách bày trí,
không có mấy bức tranh trên tường và lá cờ vàng biểu
tượng của đất nước Việt Nam xa xôi mà Vydan sẽ mãi
mãi không bao giờ trở lại.
Căn phòng đã thuộc về thằng bé lạ mặt ngồi ở phòng
khách kia, chắc nó cũng trạc tuổi Vydan, nó có nụ cười
ngây ngô đến tội nghiệp, tôi rưng rưng trong cảm xúc của sự vô thường.
Thế giới này giống như một vòng quay, xoay tròn
tưởng như lập lại, nhưng không, thời gian cứ qua đi và
mất hút.
Tôi bước xuống bậc thềm, ngồi ôm mặt khóc như trẻ
thơ. Tôi nhận ra một sự thật là con dế mèn đã bay xa rồi,
gần một năm nay tôi đã không còn thấy Vydan, dù chỉ là
hình ảnh nhạt nhòa trên Facetime.
Tất cả đã biến mất!
Có 2 người bạn trẻ từ Paris qua.
Chúng tôi hẹn nhau là sẽ cùng đi vào khu rừng thăm
Vydan, tôi nghe kể rằng ở đây người ta không còn rải tro
xuống sông, suối hay trên đồi núi như bên quê nhà, mà
có riêng một khu rừng, họ gọi là “ Khu Rừng Ký Ức “.
Họ
chọn cây cối như người bảo vệ ký ức của gia đình
“On choisit un arbre comme gardien de la mémoire.
On est au milieu de la nature, de la vie. Cette continuité
apporte une sorte d’apaisement aux familles”
Họ chôn tro cốt dưới gốc cây và đánh dấu lên đó như
một bia mộ có thứ tự trong nghĩa trang.
Và Vydan cũng có một gốc cây như vậy, dưới bóng mát
của rừng lá xanh um, là nơi an nghỉ của một thằng bé Việt
Nam xa lạ, cách nơi nó được sinh ra hơn nửa vòng Trái Đất.
Nếu nó biết thế giới này bao la và sống chết là lẽ vô
thường thì sá gì một nơi chốn nương tựa cuối đời nhỏ
nhoi cát bụi.
Nhưng là một người Mẹ với trái tim xúc cảm đời
thường, tôi đã không thể nén lại nỗi đau của mình khi
nghĩ đến sự cô đơn của thằng bé trong giây phút cuối
cùng không có người thân nào bên cạnh.
Nghe người bảo trợ kể lại nó khó thở, khi đưa vào bệnh viện với chứng suy hô hấp thì Vydan đã ra đi, nhẹ
nhàng như tiếng thở dài,như cơn gió thoảng...
Email của bà ấy chỉ vài dòng báo tin khiến tôi thảng
thốt bất ngờ không muốn tin vào sự thật.
Ừ mới đây thôi mà, tôi vừa qua thăm nó trở về, hai
mẹ con vui vẻ ríu rít bên nhau với những hẹn hò gặp lại
vào năm sau.
Vậy mà bây giờ nó đành đoạn bỏ tôi ra đi.
Ngẫm lại thì hình như tất cả những người thân yêu
của tôi qua đời đều không có tôi bên cạnh, Nội Ngoại, cha
mẹ, chị em, chồng con, tất cả đều như khói sương tan
biến mà tôi không hình dung được giây phút cuối cùng
của họ ra sao.
Cách đây hơn 40 năm anh ấy cũng mất lặng lẽ cô đơn
như vậy. Chỉ có những giọt nước mắt âm thầm xót xa của
người vợ trẻ và đứa con thơ còn gian khổ trong chốn lao
tù khi biết tin anh đã ra đi mãi mãi, “giọt nước mắt ấy bây
giờ và còn hằng đêm cho anh cho em..”
Yverdon đang vào mùa mưa bão, khu rừng khép lại
như giữ ký ức của hai Mẹ con trong đó.
Hôm nay, mẹ và hai người bạn đến đây để tưởng niệm
một năm ngày mất của Vydan, để thương tiếc đứa con tội
nghiệp đã ra đi, và để nói với con lời xin lỗi muộn màng,
Mẹ sinh con ra trong hình hài yếu ớt, trong hoàn cảnh
nước mất nhà tan mà gia đình ta phải bị đọa đày bởi dã
tâm ác độc của chế độ Cộng Sản.
Họ đã giam cầm con trong một nhà tù tàn nhẫn nhất, khiến con phải chịu đựng đói khổ, thiếu thốn, khiến con
mang bệnh tật suốt đời, tuổi trẻ của con gánh chịu quá
nhiều bất hạnh,
mà Mẹ là người chiu trách nhiệm không thể cho con
một cuộc sống ấm no và hạnh phúc như những bạn bè
trang lứa với con.
Có một người anh em mà con chưa bao giờ gặp mặt,
chưa bao giờ biết tên nhưng với tình yêu thương tha thiết
dành cho con, nên anh ấy đã làm bài thơ và phổ nhạc,
cầm theo cây đàn để đến trước “Khu rừng ký ức” đàn và
hát cho con nghe.
Mẹ sẽ chép bài thơ và email của anh ấy cho con
“Em chỉ có bài hát này dành tặng cho Cô và cũng là
cho VyDân, người mà đáng lẽ ra cũng phải được hưởng
tất cả những gì bình thường nhất mà tụi em được thụ
hưởng. Nhưng em nghĩ, tất cả mọi sự hiện hữu trên thế
gian này đều có một sứ mạng nhiệm màu nào đó mà
chúng ta không thể nào thấu hiểu.
Em xin gởi đến Thầy và Cô tình cảm chân thành nhất
mà em dành cho Cô, cho Thầy và cho cả người anh em
mà em chưa một lần hạnh ngộ.
Bài hát có tên “ Con dế mèn đáng yêu” Em Đình Đại
Viết tặng cô Ngọc Ánh về tình mẫu tử tuyệt vời dành
cho Vydan
“Bay đi như cánh chim Hải Âu Bay về bên kia biển
Nơi có ánh sáng bình yên
Với tình yêu chan chứa
Nơi có bóng mát tình yêu
Của tình cha hương ngát
Đón con dế mèn đáng yêu
Thênh thang cõi diệu hằng
Dù con đã đến trên thế gian đoạ đầy
Và dù con đã đến khi quê hương đã chìm trong tăm tối
Lời nào mẹ hát ru con
Lời nào mẹ khóc ru con
Lời nào mẹ cảm ơn con
Đã đem tình yêu ủi an ngục tối
Cuộc đời đầy gian nan
Đi qua quê hương
không tiếng người
Dù chỉ một lần thôi
Cho môi thơ nụ cười tươi sáng
Con đi qua cuộc đời
Như chứng nhân lặng lời
Con dế mèn đáng yêu
Hãy rong chơi cuối trời...”
Vy Dân yêu ơi, giờ đây con đang ở thế giới vĩnh hằng.
Mẹ cầu nguyện con sẽ được tái sinh vào một nơi bình yên, ở đó sẽ không có chiến tranh, không có hận thù, chỉ
có người và người yêu nhau.. Mẹ hứa là quay lại để gặp
con, nhưng con đã bay đi mất rồi.
Ôi con dế mèn khẳng khiu của Mẹ, thôi thì hãy rong
chơi cuối trời...
Mẹ sẽ luôn yêu thương và nhớ con mãi mãi.
Yverdon, 29 tháng 10/ 2025
Có những giọt nước mắt không cần phiên dịch.
Có những tình yêu không bị giới hạn bởi ngôn ngữ.
Và có tình mẹ vượt qua mọi biên giới của thời gian,
khoảng cách và lời nói.
Xin mời quý độc giả tiếp tục đồng hành cùng Con Dế
Mèn của Mẹ qua bản tiếng Anh của cùng một câu chuyện
có thật.
Mời đọc bản tiếng Anh sẽ đăng ngày mai.Cám ơn quý bạn đọc.
Bản tiếng Anh
Some tears need no translation.
Some love knows no language.
And a mother’s love reaches beyond time, distance,
and words.
FOREWORD
Mother’s Cricket” is not a fairy tale.It is a true story
about a fragile child, carrying the limitations of fate but
never losing the will to live, and about a mother who has
gone through war, imprisonment, loss, and separations
that once seemed unbearable.
Through simple yet sincere memories, this book is
a story of maternal love, compassion, and the power of
love.The story of VyDan, of the mother, and of that love
runs throughout the entire book.
Despite war, imprisonment, illness, or distance across
half the globe, that bond has never been broken. These
experiences helped the two of them overcome the
harshest circumstances of life.
If, upon closing these pages, the reader feels even a
little love, a little hope, and a deeper appreciation for their
loved ones, then that is exactly what the author wishes to
share and leave behind.
For Vy Dân, my little cricket, whose fragile body carried
an unbreakable spirit.
Ngoc Anh
PART ONE
THE CRICKET’S DIARY
My name is Vy Dân.
Mother told me that I was born during the long rainy
season of July in Đà Lạt. I was tiny because I was
underweight. The weather was cold, and our house had
no heater.
Aunt Giao showed Mother how to fill glass bottles with
hot water, seal them tightly, and place them around my
bed to keep me warm.
Mother wrapped me snugly in cloth diapers and laid
me carefully inside a wicker basket when she carried me
home to Father in Sài Gòn.
Back then Mother was still very young, barely in her
twenties.
She cherished me as if I were a doll. But this doll could
only laugh and never cry.
People say that when we are born, we cry while
everyone around us laughs with joy.I was the opposite.
I laughed out loud while Mother sobbed because of the
hardships she carried in her heart.
Đà Lạt was terribly cold. I did not have enough warm
clothes.
Father sold his blood to buy milk, food, and diapers for
me.
They said the entire country was poor in those days.
Mother had to smuggle tea from Bảo Lộc to earn
money for my milk. Sometimes the authorities caught her
and confiscated everything, leaving her without a cent.
She would return home with red eyes, clutching me tightly
against her chest.
Later Mother returned to Sài Gòn to continue working
with Father. I grew slowly because of malnutrition, but the
doctors said there was nothing seriously wrong with me.
Father, Mother, and I lived peacefully in Grandfather’s
house in District 10 of Sài Gòn.
Then one day disaster struck.
They came to search the house and arrested both
Father and Mother.
I could not be sent to my maternal grandparents even
though their house was only a short distance away. So
Mother carried me with her into prison. I was just over one
year old then, frail as a little cricket, yet I wanted nothing
more than to stay with my parents.
But they would not allow our family to remain together.
Strangely enough!
Father was locked away in a solitary cell at the far
end of the prison camp, while Mother and I were kept in
another solitary cell near the entrance.
The room was tiny and pitch black.I was afraid of the
dark.Yet with Mother beside me, everything felt warm and
safe.
The only time I ever saw Father was when our family
was transferred from Sài Gòn to Phan Thiết. I remember
his tall, thin figure, his glasses, and his gentle smile.
Everyone said that I looked very much like him.
Mother begged countless times for permission to let
me see Father, but no one agreed.
They said my parents had committed serious crimes
and must remain isolated from their loved ones. But I was
only a little child. What did I know?
They were so cruel!
Years later Mother was moved into a communal prison
barrack. It was crowded with prisoners, yet there were no
other children there. Because of that, everyone loved me.
Sometimes women who received family visits would
share a little food with me.
To this day I still remember how delicious those stolen
bites of shredded pork tasted.
Mother and I had no visitors.
We survived through years of deprivation and
hardship. I watched Mother grow older and felt my heart
ache for her.
Mother often sang me to sleep with old love songs. I heard the women whisper that those songs were forbidden
and should not be sung aloud. Whenever Mother reached the lyric, “In the heart of a melancholy schoolgirl...” I would
point at her. ”Mother was my schoolgirl.
She was often sad.
Yet she never complailained to me about the burdens
she carried.
Still, I knew her heart was weary.
She once told me that if it were not for me, she would
rather die than endure prison life.
That frightened me!
Without Mother, I think I would have died too.
She was my sunshine, my moonlight, my safe place in
a difficult world.
During the day she worked endlessly under harsh
conditions.
At night, inside our mosquito net, she would hold me
close and tell stories, tell fairy tales, stories from the labor
fields, stories about distant lands and endless seas.
Every story sparked my imagination.
Every story made me dream of one day leaving this
cramped place and seeing the vast world beyond its walls.
But there was one thing that broke my heart: I could
not stand.I could not run.I could not sing.I could not wrap
my arms around Mother like other children.
Instead, I used my thin legs to hug her waist.
With my feet I wiped her face, held a comb to brush her
hair, and rubbed her back whenever she was exhausted.
My whole world was Mother.
I imagined the endless rice fields where she worked
each day. I imagined the white stork standing quietly on
one leg beside the fields. I imagined the black leeches
clinging to her pale legs and making her cry out in fear. If I
had been there, I would have pulled them off and thrown
them away.
Every day when Mother returned from work, she would
brought me a little gift. Sometimes it was a few smooth
pebbles from a stream.
Sometimes it was a handful of
wildflowers picked along the roadside. Other times it was
a few tiny peaches that had fallen from the tree before
they had a chance to ripen, or a large bird feather nearly
as long as Mother’s hand.
Mother said the feather looked like the writing quills
people used in ancient times.
When I held it and examined it closely, I imagined
a crow flying over the peach orchard where Mother
wandered collecting peach pits. Perhaps it had dropped
the feather there for Mother to find and bring home to me.
Then Mother would turn it into a fairy tale about the
magical bird from the story The Starfruit Tree, carrying
treasure across the sky.
I dreamed that one day it would carry me away too.
Even a stone picked up beside a stream became a long
adventure about Robinson Crusoe on a deserted island,
marking each passing day with a pebble.”If we kept every
stone from every day we’ve spent here,” Mother once laughed, “we could build ourselves a castle.”
Then she would sigh and say:”One day in prison feels
like a thousand years outside.”
I did not understand the deeper meaning of those
words.
But I knew our time there was very long, very lonely.
One day Mother brought home a parakeet with a
broken wing. It could not fly, but it could do something I
could not, it could walk. Slowly. Clumsily.
Yet it could move around the room.
The brilliant green of its feathers was the first vivid
color I remember seeing in my life.
There was another color I never forgot—a bright pink
dress worn by a little girl who came into the prison one day
with her mother. She looked like a fairy princess.
I stared
at her in amazement. I had never seen another child my
age before.
The prison was filled only with gray uniforms worn
by the prisoners. They were stained with mud, sap, and
chemicals from the fields.
Some were patched and mended so many times they
hardly resembled clothing
Everything seemed gray. Everything seemed dull.
My parakeet became my best friend.
But it was also a terrible troublemaker. It climbed onto
the clothesline behind the barracks and chewed every buttons from prisoners ‘ clothes.
When the prisoners came back from work, cold and
soaked from the rain, not a single shirt still had buttons.
Everyone shouted in frustration.
Mother always covered my face with her conical hat
whenever the women returned and changed clothes in
the crowded room. I secretly laughed because I knew
exactly who the culprit was.
Then one day the parakeet learned to speak. That
made it even more talented than me. Whenever Mother
fed me porridge, it would chirp loudly:
“Parakeet wants porridge! Parakeet wants porridge!”
If someone became sick, it would scream:
“Emergency! Emergency!”
Mother said parrots were intelligent creatures that
learned by imitation.
Years passed.I lived beside Mother for so long that
time itself seemed meaningless. I did not know my own
age. I did not know how old Mother was. I did not even
know what a clock looked like.
Then one day a prison officer entered the women’s
barracks. On his wrist was a shining watch.
At his belt hung a tiny radio. I stared at both objects in
fascination.
Mother explained that a watch told people the ttime. A radio carried voices and news from all over the world.
I could hardly imagine that beyond the prison gates
there existed an enormous world full of wonders I had
never seen.
For the prisoners, each day was measured by hope.
Morning became afternoon. Afternoon became
evening. Evening became another tomorrow.
Everyone counted the days until freedom.
But I only cared about one thing: Mother.
As long as she was beside me, I was happy. I did not
care how many years had passed.
I did not care how many New Year celebrations came
and went behind prison walls.
Still, I loved Tết.
The prison always felt livelier then.
Mother and I would receive a little better food than usual.
And I would sit below the stage, gazing up proudly as
Mother performed in” Cải Lương“ plays. Her favorite role
was “Cô Lựu”
I never understood how she could cry so convincingly
on stage.
The audience applauded thunderously whenever she
sang the “vọng cổ “passages with her sweet, emotional
voice.
Mother was amazing.She could become any character.
Yet at night, when the performance ended and she
held me in her arms, she would quietly cry for Father.
Cry for the distant homeland she missed.
Cry for my grandparents, who were waiting endlessly for us to return.
Then she would tell me stories about the old Tết
celebrations:Liondances.
Firecrackers exploding across the sky. Green “bánh
chưng”, Red watermelons. Lucky money tucked into red
envelopes.
I listened and imagined the happiness she once knew.
And I promised myself that when we were finally free,
Mother would take me to a temple during Tết. I would
watch the lion dances. I would see the firecrackers. And
I was certain I would laugh myself silly at the sight of the
round-bellied Earth God.
But the day of our freedom still seemed very far away...
Our day of freedom still seemed far away.
Then something happened that I did not want at all.
One day Aunt Hai came to visit Mother for the first time.
She brought a letter from a foreign organization about
taking me out of prison and sending me to Europe for
medical treatment.
I panicked. I wrapped my thin legs tightly around
Mother and refused to let go. Mother tried to comfort me.
She told me that the place would be like heaven.There
would be beautiful clothes, delicious food, toys that every
child dreamed of, doctors who could help me, schools
where I could learn, and people who would care for me.
“You’ll write letters to me,” Mother promised.” And I will come home soon and find you. Then we’ll be together
again.”
Mother wanted me to leave because she hoped I
would have a better future than the miserable life we were
living inside prison walls.
But perhaps she forgot the old cải lương lyric she
loved so much
“The burdens of life are shared between mother and
child.”
I did not want heaven! I did not want toys. I did not
want beautiful clothes.
I only wanted Mother. I kicked and struggled in protest.
Mother held me quietly in her arms. Her eyes were
filled with sorrow.
Part of me hoped she would cry. If she cried, perhaps
she would become weak.
Perhaps she would refuse to let
me go.
But Mother never cried in front of strangers. She had
not cried when people brought news that Father had died.
That night, inside our mosquito net, she told me about
Father as though he were a hero from a fairy tale. A brave
warrior who fought monsters. A noble man who had now
flown into the sky.
While she spoke, I could hear her quietly sobbing in the darkness.
That was when I first understood what loss meant.
I knew we would never see Father again. Yet I felt
proud. My father was a hero.
And I wanted to be like him.I wanted to protect Mother.
I imagined myself as Mother’s little knight. So how could
she ask me to leave?
Who would wipe away her tears when she was sad?
Who would rub her aching back after long days of hard
labor?
My arms were weak. But my feet were strong.
That night I clung to Mother with all my strength.
I wrapped my legs around her and refused to let go.
But our farewell came silently.
While I slept on Aunt Hai’s shoulder in the middle of the
night, she carried me out of the prison camp. My parakeet
sat quietly inside a backpack on her back.
Together, we left Mother behind.
And that was the beginning of a separation neither of
us could truly understand.
RELEASE FROM PRISON and
RETURN TO SAIGON
When I arrived in Sài Gòn, everything seemed new
and astonishing.The streets were crowded with people,
bicycles, cars, and endless noise. They told me this was
the city where my family had once lived before prison took
everything away.
My grandparents’ house was somewhere nearby.
When I arrived, everyone welcomed me with love.
They bought me new clothes.
Aunt Hai took me to the
zoo.
The world outside prison was overflowing with wonders.
My cousins Thảo and Huyền took turns carrying me to
the market.
Anh Tuấn carried me on his back to visit his friends
next door.
Aunt Ba brought me to the rice shop where I spent
entire afternoons watching people come and go.
And Mother, do you know what happened? For the
first time in my life, I had a birthday cake.
Aunt Hai bought it for me.There were candles.
There were neighbors and friends.
Everyone sang and laughed. Even my little parakeet
got a taste of the frosting.
We were so happy.
Yet in the middle of all that happiness,
I missed Mother terribly.I wished with all my heart that
she could have been beside me.
My peaceful life with Grandmother’s family did not last
very long.
Soon the paperwork was completed, and I received
permission to travel to Switzerland for treatment.
Switzerland. A distant country that everyone could only
point to on a map
The whole family prepared to take me to the airport.
But my parakeet could not come. Aunt Hai gently
explained that animals were not allowed on the airplane.
My heart broke. That bird had been my companion since
prison. It carried so many memories of Mother and me.
Leaving it behind felt like losing a piece of my past.
Still, I believed I would return. Perhaps in a few years.I
would recover. I would become strong.
And then I would come home to Mother.
Hadn’t I promised her that?
We would stay together until the end of our lives. No
matter how difficult life became, we would always find our way back to each other.
At the airport, a foreign woman waited for me. I had never seen her before. She carried a photograph to identify
me. My family handed me over to her care, and she lifted
me into her arms. The exchange happened quietly. No one
spoke very much.We did not share a common language.
I looked back one last time at my family. I wanted to say
goodbye. I wanted to tell them I loved them. But no words
came out. Only confused sounds.
Yet when I looked into the woman’s clear blue eyes, I
felt warmth and kindness. Perhaps this journey would not
be so frightening after all. For the first time in my life, I flew
on an airplane. I loved it immediately. It was larger than
any house I had ever seen. It would carry me farther than
I had ever dreamed possible.
Like the magical bird in Mother’s fairy tales, it soared
above the clouds, above mountains, above the endless
blue sea below.
I slept peacefully during most of the journey.
And in my dreams, I promised myself that one day I
would return to Mother.
I could not truly understand how far Switzerland was
from Sài Gòn.
I only knew it was very, very far away.
And somehow, deep inside, I sensed that it would be
a very long time before I saw Mother again. The thought
frightened me. Could this journey really separate us for so many years?
GOING EVEN FURTHER
The first years in Switzerland were spent with my
foster family. There was Uncle Út, his wife, and their three
children.
The children were close to my age. Everyone
treated me with kindness. Especially “Madame Vivian,”
who cared for me with extraordinary patience and love.
But no one spoke Vietnamese.
I went to school.I learned French.
I gradually understood that I was living in a country
completely different from the world Mother and I had known.
The food was different.
The television programs were different.
Everything was different.
As the years passed, I adapted to my new life.
Sometimes I almost forgot who I had once been. No
one talked to me about my family. No one explained my
past. No one told me why I had come to this country. It was
as though I had been born into a new world that contained
only the present and the future.
Yet somewhere in the deepest corner of my memory, I
knew there was still a Mother.
I did not know where she was. I did not know if she was alive.
I did not know what she looked like anymore.
Years passed.
More than ten years. And still I
wondered. I could never find the words to explain to others
how much I missed her.
When I was 18 years old, according to the law I had to
leave my relative’s home to live in another group, where
there were only friends with illnesses like mine,
totally paralyzed, unable to speak, unable to grasp
anything, and with minds as innocent as children even
though they were already adults.
I was a little luckier than them because I could
understand everything happening around me (thanks to
watching TV often). I could use a computer, even if only
with two toes to click the mouse.
Before, when I wanted to communicate, I would raise my
leg to mean “yes,” and lower it to mean “no.” But now my
legs are completely deformed and cannot move anymore.
So I had to use a different signal: sticking out my tongue
for “Yes,” and closing my mouth for “No.” The caregivers
understood what I wanted, but only in basic daily matters.
It was a quiet life among people with disabilities.
We were well cared for from meals to sleep and treated
warmly like a small family.
On weekends, they would push our wheelchairs
outside to watch movies or drink coffee. Sometimes in the
summer, we traveled to neighboring countries and joined
outdoor activities. Because I could understand French,
those moments were very wonderful for me.
Fifteen years living without Mother felt even longer
than the time I had lived with her in prison.
I had become an adult. My hair and beard grew long if
I didn’t cut them for a month. I kept a mustache because
it reminded me of my father in a photo I saw at my uncle’s
house (my father’s younger brother). I also had a tattoo
on my left arm of the word “Snake” in Chinese characters,
because it was my zodiac sign.
GOOD NEW ABOUT MOM
Then one day, someone came to visit me. It was the
happiest surprise of my life—Aunt Hoa, an Asian woman
who spoke fluent French. She thought I did not understand
Vietnamese, so she spoke freely.
She said she was a friend of my Mother in Vietnam, and
that she had come to Switzerland at my Mother’s request
to visit me. She told me that my Mother had already
released from prison and was now living in Saigon,
struggling to make a living, and always hoping for news of
me but did not know where to find me.
Fortunately, she met my mother by chance, then
searched online for humanitarian organizations caring for
disabled children abroad (Terre des Hommes).
She found my name there and was overjoyed, so
during a business trip she came to visit me.
Oh God, I was beyond happy when I heard news about
my Mother.
And surely my Mother must have been incredibly
happy too knowing about me.
Aunt Hoa was like a fairy
who connected us again.
She took many photos of me to bring back to my
Mother so she could feel reassured, and she gave me my Mother’s address in Saigon.
From that moment on, I was
constantly restless thinking about my Mother.
I realized I was not an orphan, something I had always
believed deep inside for so long.
No one had told me anything about my family—about
my father or my mother.
Perhaps everyone avoided speaking about such a
painful past. But I knew everything, Mother.
I understood the indirect words from my relatives
on my maternal side.
I understood the sadness of my
paternal family when they saw my disability.
Sometimes I met Uncle Hai, Uncle Ba (my father’s
older Brothers) during family gatherings. In any case, I
was still a member of the Tran Thang family.
Here I had everything for a complete new life, but I
still longed to have Mother beside me. The desire to meet
her became stronger after Aunt Hoa’s visit brought me
news about her in Vietnam.
I was determined to return to
Vietnam to find my Mother, even though it would not be
easy for someone like me.
The letters between us made me even more
determined.
I tried very hard to write emails on the computer to send to Mother, but I only knew French, so what could I
do? I had many friends, staff members of the Terre des
Hommes organization in Switzerland, young volunteers
working in this social organization.
They were all close friends of mine and helped me translate my emails into
Vietnamese so my Mother could read them.
The first letter sent by post from Switzerland to Saigon
talked about everything in my life here.
I told Mother that everyone was kind and friendly.
A few times I had to go to the hospital for pneumonia,
but I was okay, she didn’t need to worry.
Sometimes I traveled to European countries nearby.
I didn’t know how to describe those beautiful places to
Mother.
After I reconnected with her, the postal letters took so
long, and when we finally switched to emails.
I was filled with hope that one day I would return to
visit her.
And it became certain when I started planning a
journey across half the world. Not for a few months—but
over several years.
I earned money by selling small Christmas items,
handmade greeting cards designed on my computer and
printed to sell at flea markets during the end of the year.
Where I lived, they always encouraged me to be
creative.
I was treated equally to the point that I almost forgot my
physical limitations. I could not feed myself with a spoon,
could not stand, could not dance or sing like others...
When I lived with Mother, I did not see my difference.
But in this new environment, I realized I was not like other
young people. I felt a bit lost, but I never asked Mother
why I had to be like this, because I knew she would cry
every day if she saw my weak and broken body.
But I promised her I was not broken in spirit.
I lived joyfully with everyone, as if I had never known
sadness in the past. Even though sometimes I missed
Mother so much, I wanted to cry when remembering her
exhausted figure returning from prison labor, carrying me
while barely able to lift her arms, her eyes as sad as if it
was about to rain.
My longing for Mother pushed me to earn money to
visit her soon.
I even wrote a small sign in front of my stall:
-“I need money to return to Vietnam to see my Mother.”
T
hat was the truth I bravely wrote, but the result was
surprising.
People passing by stopped to buy things and even
paid more than the value of the items. Kindness and love
are always received unconditionally, aren’t they, Mother?
A REUNION AFTER 15 YEARS
I had two friends, Lucine and Jerome. We began
planning a long journey. I had already emailed Mother
about it. I would return with them. The organization helped
me prepare a detachable wheelchair that could be easily
assembled and disassembled for boarding and leaving
the airplane.
Jerome prepared medicine, clothes, essential items
for me, including diapers and a food grinder.
Lucine took care of the passport, embassy procedures,
travel arrangements, and expenses for all three of us
during the 10-day stay in Vietnam.
We even searched
online to find a hotel near my grandmother’s house,
with an elevator and free breakfast, so it would be more
convenient.
A perfect plan, isn’t it, Mother?
I left Saigon when I was 9 years old, and now I was
returning at 24. Fifteen years had passed. I could not
imagine how much everything had changed, but I knew
for sure it had been far too long before we could meet
again.
The plane landed at Saigon airport. The city I vaguely
remembered from Mother’s stories about my parents’
A REUNION AFTER 15 YEARS
I had two friends, Lucine and Jerome. We began
planning a long journey. I had already emailed Mother
about it. I would return with them. The organization helped
me prepare a detachable wheelchair that could be easily
assembled and disassembled for boarding and leaving
the airplane.
Jerome prepared medicine, clothes, essential items
for me, including diapers and a food grinder.
Lucine took care of the passport, embassy procedures,
travel arrangements, and expenses for all three of us
during the 10-day stay in Vietnam. We even searched
online to find a hotel near my grandmother’s house,
with an elevator and free breakfast, so it would be more
convenient.
A perfect plan, isn’t it, Mother?
I left Saigon when I was 9 years old, and now I was
returning at 24. Fifteen years had passed. I could not
imagine how much everything had changed, but I knew
for sure it had been far too long before we could meet
again.
The plane landed at Saigon airport. The city I vaguely
remembered from Mother’s stories about my parents’ memories and the house where my paternal family once
lived in peaceful times.
We stood confused among the crowd waiting at the
airport, but I recognized Mother immediately when a
woman hurried toward me.
At that moment, Aunt Hoa was speaking with Lucine
and Jerome.
Oh my God! I wanted to scream with joy, but I could
only make sounds in my throat.
Mother embraced me tightly, tears streaming down
her face.
The happiest moment of my life was right there when
Mother and I finally reunited after so many years apart.
Everyone went back to my grandmother’s house. I
met all the relatives I had known 15 years ago in Saigon,
except for my grandfather and my little gecko.
My
grandfather had passed away a few months earlier, and
my parakeet had stopped eating and died from sadness
when I was gone.
My cousin Thao buried it in a pot of
apricot blossoms in front of the house.
Everyone was happy at this reunion. I also learned that
after Mother left prison, I had a younger sister. I did not
care about the man who later became Mother’s husband.
I heard he had also passed away.
I felt sympathy for Mother’s difficult and lonely life, but
everything is fine now.
The painful past was gone.
To be continued soon