Thursday, March 19, 2026

Đâm Chồi Xót Xa - Trầm Vân

Mục Tiêu Cuối Cùng Của Ông Trump Không Phải Panama, Không Phải Greenland, Cũng Không Phải Iran, Mà Là Trung Quốc - Phan Đình Đạo


Nếu nhìn bề mặt, người ta dễ cho rằng tổng Thống Donald Trump là một chính khách ồn ào, bốc đồng, thích gây sốc. Nhưng nếu bóc từng lớp quyết định, sẽ thấy một trục chiến lược rất rõ: mục tiêu cuối cùng của ông Trump không phải Panama, không phải Greenland, cũng không phải Iran – mà là Trung Quốc.


Khi vừa quay lại Nhà Trắng, việc đầu tiên ông Trump nhắc đến không phải Ukraine hay Gaza, mà là kênh đào Panama và đảo Greenland. Hai địa danh tưởng như xa xôi, nhưng lại là hai “nút cổ chai” sống còn của trật tự địa chính trị phương Tây. Panama là cửa ngõ thương mại, là mạch máu hàng hải của Tây Bán Cầu. Greenland là bàn đạp quân sự – kiểm soát Bắc Cực, tuyến đường mới của tương lai. Và điều quan trọng hơn cả: Trung Quốc đã thọc sâu vào cả hai nơi đó.

Từ nhiều năm nay, Bắc Kinh âm thầm mua cảng, cho vay, xây hạ tầng, đặt ảnh hưởng tại Panama. Với Greenland, họ không cần quân đội, chỉ cần công nghệ, khai khoáng và tiền. Mỹ hiểu rất rõ một điều: nếu để Trung Quốc xiết được các cửa ngõ này, thì “sân nhà” của Mỹ sẽ không còn là sân nhà nữa. Vì thế ông Trump không vòng vo – ông đánh thẳng vào nơi Trung Quốc đang cắm rễ.

Sau Tây Bán Cầu, đến năng lượng. Venezuela và Iran không phải kẻ thù vì ý thức hệ, mà vì dầu mỏ. Đây là hai vạc dầu lớn, là nguồn cung chiến lược cho Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh cần đảm bảo an ninh năng lượng dài hạn. Đánh Venezuela là khóa van phía Tây, xử Iran là khóa van phía Trung Đông. Khi hai nguồn này bị bóp nghẹt, Trung Quốc sẽ không chết ngay, nhưng sẽ thở khó hơn, sản xuất đắt hơn, và dễ tổn thương hơn.


Còn Nga? Nga phải sống. Không phải vì Mỹ yêu Nga, mà vì Mỹ cần Nga để kìm châu Âu. Một châu Âu không có Nga làm áp lực an ninh sẽ bắt đầu nghĩ đến “tự chủ chiến lược”, bắt đầu nói chuyện ngang hàng với Washington. Chỉ khi Nga còn là cái bóng đe dọa phía Đông, châu Âu mới còn cần Mỹ bảo trợ, cần NATO, cần Washington đứng đầu cuộc chơi.


Triều Tiên thì chưa cần diệt. Một Triều Tiên tồn tại để Hàn Quốc phải luôn là đồng minh trung thành với Mỹ, vừa đủ nguy hiểm là một cái gai cắm vào sườn Trung Quốc. Khi Trung Quốc suy yếu, Triều Tiên sẽ tự cạn nguồn chống lưng mà suy tàn theo. Đánh sớm chỉ tốn lực, không mang lại lợi ích chiến lược tương xứng.

Cuba thì khác. Cuba chẳng có dầu, chẳng có công nghệ, chẳng có vị thế quyết định. Nó sống được là nhờ các “anh lớn” nuôi. Khi các trụ đỡ bên ngoài không còn khả năng hoặc không còn nhu cầu chống Mỹ, Cuba sẽ tự khô héo. Không cần đánh, chỉ cần chờ.


Nhìn toàn cục, ông Trump không chơi cờ cảm tính. Ông ta không đánh tất cả, mà chọn đúng mắt xích. Không cần tiêu diệt Trung Quốc bằng chiến tranh nóng. Chỉ cần bóp không gian sinh tồn: cửa ngõ, năng lượng, chuỗi cung ứng, và vùng ảnh hưởng.

Địa chính trị chưa bao giờ là câu chuyện đúng – sai. Nó là câu chuyện ai thở được lâu hơn trong một căn phòng đang dần cạn oxy. Và trong ván cờ này, ông Trump không đấm vào mặt đối thủ – ông khóa cửa, tắt đèn, và rút không khí ra từng chút một.

Lịch sử sau này có thể phán xét ông Trump bằng đạo đức hay cảm xúc. Nhưng hiện tại, có một điều khó phủ nhận: ông ta hiểu rất rõ Trung Quốc đang sống nhờ những gì – và ông ta đang lần lượt rút từng chiếc phao cứu sinh đó ra khỏi tay Bắc Kinh.


Ký giả Phan Đình Đạo

Muôn Kiểu Nhào Lộn

 


Mời click vào ô vuông bên phải để mở lớn màn hình 

#630 - Sai Lầm Khi Bị Sỏi Mật. Loại Đường Có Hại Cho Não Mà Nhiều Người Chưa Biết - BS. Phạm Hiếu Liêm

Wednesday, March 18, 2026

Làm Cha Mẹ


Có những thứ trong đời, nếu thấy không hợp nữa, ta có thể dừng. Kinh doanh lỗ thì đóng cửa. Làm việc chán thì nghỉ. Kết bạn không vui thì tránh mặt. Kể cả những mối quan hệ từng rất quan trọng, nếu không còn phù hợp, ta vẫn có thể chọn cách buông tay.

Nhưng làm cha mẹ – thì không có “nút thoát”.

Một khi đứa trẻ đã đến với thế giới này, cũng là lúc bạn bước vào một hành trình không thể quay lui. Bạn không thể viết đơn xin nghỉ, không thể tìm người thay vai, cũng không thể bấm nút “tạm dừng” để nghỉ ngơi một tháng cho lại sức.

Làm cha mẹ là công việc duy nhất mà dù bạn mệt đến đâu, vẫn phải tiếp tục. Dù bạn có đang tổn thương, đang bế tắc, hay chính bản thân bạn còn chưa hiểu mình là ai – bạn vẫn phải chăm lo từng bữa ăn, từng giấc ngủ, từng cơn sốt giữa đêm của con.

Không có hợp đồng nào để nhắc bạn phải có trách nhiệm. Không ai đứng đó kiểm tra bạn làm đúng hay sai. Nhưng cũng chính vì vậy, nó là một vai trò thiêng liêng nhất, và đôi khi – cô đơn nhất.

Có những ngày bạn cảm thấy mình đã làm hết sức, mà con vẫn không nghe lời. Dạy con tử tế, con vẫn nóng nảy. Nhắc con học hành, con vẫn làm ngơ. Có những buổi tối, bạn gục xuống bàn ăn khi cả nhà đã đi ngủ, nước mắt rơi mà không ai thấy. Không phải vì bạn yếu đuối, mà vì bạn không có chỗ để than thở.

Làm cha mẹ là thế: những việc bạn làm giỏi nhất, thường không ai khen. Những điều bạn kiên trì nhất, thường chẳng ai nhớ. Con lớn lên, không nhớ ai đã bế ru mỗi đêm. Không nhớ ai từng đọc đi đọc lại một quyển sách cho đến khi bạn thuộc lòng từng dòng. Nhưng bạn vẫn làm. Không phải để được ghi công. Mà vì bạn hiểu: nếu không phải bạn, thì không ai khác.

Và rồi, cũng chính bạn là người chịu đựng nỗi đau khi con rời xa. Khi con bước vào tuổi dậy thì và đóng cửa lại mỗi lần bạn gõ. Khi con lớn hơn và có thế giới riêng, nơi bạn chỉ là một phần nhỏ. Có khi bạn ghen tị với cả bạn thân của con, người mà con kể hết mọi điều, còn bạn thì không được biết.

Bạn cũng phải học cách không tổn thương khi con phản ứng. Học cách buông tay vừa đủ. Học cách chấp nhận mình không thể bảo vệ con mãi mãi.

Bởi vì làm cha mẹ không chỉ là nuôi nấng, mà còn là quá trình tiễn con đi.

Không ai dạy bạn trước những điều này. Không có lớp học nào chuẩn bị cho bạn cảm giác hụt hẫng khi con không cần mình nữa. Cũng không ai nhắc rằng, bạn có thể làm tất cả đúng, và vẫn không thể đảm bảo điều gì.

Làm cha mẹ là công việc âm thầm nhất, dài hơi nhất, không có hồi kết – và không có nút “thoái lui”.

Và rồi một ngày, giữa bộn bề lo toan, bạn bắt gặp con lặng lẽ đắp mền cho em khi trời lạnh. Nhường miếng cá ngon cuối cùng cho ông bà. Tự xin lỗi sau một lần nổi nóng. Những khoảnh khắc nhỏ đến mức tưởng như vụn vặt ấy, bỗng khiến bạn đứng lặng.

Không ai thấy hết những điều bạn đã làm. Nhưng trong một cách rất riêng, chúng đã ngấm vào con người mà con bạn đang lớn lên từng ngày.

Làm cha mẹ là một cuộc hành trình không thể “bán lại”, không thể “chuyển nhượng”, không có lối rút lui. Nhưng chính vì không thể bỏ giữa chừng, nên mỗi bước đi – dù chậm, dù mệt – đều là một minh chứng cho thứ tình cảm không gì thay thế được: một tình yêu lặng lẽ, nhưng bền bỉ nhất trên đời.


Nguồn: FB

Tháng Ba Định Mệnh - Võ Đức Nhuận

ĐỊA NGỤC MAN RỢ NHỨT MANG TÊN "TÙ CẢI TẠO"

Những ngày cuối tháng 3, trời mưa như trút nước, cả ngày lẫn đêm, như xót thương cho số phận non sông Bình Định đã rơi vào tay của lũ vô thần. Qua hơn 2 ngày đêm, chúng tôi không có gì để ăn, ruột đói cồn cào, quần áo ướt sũng, thiệt đói và lạnh. Chúng tôi đi ngang qua những đám gò trồng đậu phộng, nhổ lên hy vọng kiếm củ ăn cho đỡ đói lòng, nhưng vào mùa đó cuối tháng 2 Âm Lịch, củ còn rất non. Chúng tôi rửa bằng nước mưa, nhai lấy nước mà thôi. Chúng tôi qua những cánh đồng bắp cũng thế, chỉ ngậm lấy nước. Qua ngày thứ ba, cả 3 chúng tôi đều bị tiêu chảy, kiệt sức không còn đi nổi. Tôi thấy tình hình như vậy, chắc là số phận tôi không xong rồi, nên nói với 2 anh bạn đồng hành:

- Tôi không đi nổi nữa rồi, hai anh còn sức cứ đi theo hướng Đông ra biển may ra còn tàu của hải quân của quốc gia bốc các anh về Sài Gòn.

Thiệt là cảm động, tuy không cùng đơn vị nhưng 2 anh lính nói:

- Đại úy đi thì chúng tôi đi, ông ở lại chúng tôi ở lại. Chúng tôi không nỡ bỏ ông ở đây!

Không còn cách nào khác, chúng tôi đành vào làng, may ra xin được thức ăn và dưỡng bịnh sau đó tiếp tục cuộc hành trình. Sau đêm thứ ba, chúng tôi đến 1 ngôi làng, trước vài thửa ruộng của ngôi làng có 1 cái chòi, chúng tôi vào chòi khoảng 2, 3 giờ sáng. Chúng tôi vắt cho khô quần áo, nằm ngủ đợi trời sáng. Sau những ngày đói lạnh, bịnh tật, chúng tôi nằm thiếp đi cho đến khi mặt trời mọc. Sáng hôm đó chúng tôi vào một nhà dân gần đó, để nhờ họ cho cơm ăn và dưỡng bịnh, để có sức mà đi. Chủ nhà là 1 người đàn bà nhà quê trông cũng bình thường như những bà nông dân khác, không có gì phải nghi kỵ. Sau khi nấu cơm cho chúng tôi ăn xong, chủ nhà chỉ cho chúng tôi bộ ván để lên nằm nghỉ lưng. Ôi thiệt là một bữa cơm ngon nhứt trong đời, dầu chỉ có cơm trắng với bầu luộc và mắm ruốc. Nửa giờ sau, du kích đã vào nhà, súng AK chĩa vào đầu, bắt chúng tôi trói ké dẫn đi. Tâm trạng tôi lúc này chỉ còn biết tới đâu hay tới đó mà thôi. Sự sống còn phó mặc cho số mệnh. Chúng tôi bị dẫn đi nhiều nơi, đôi khi là trụ sở của làng, đôi khi là trường học, có khi là ngôi đình làng. Dần dần số người bị bắt cứ tăng lên. Nhiều khi một ngôi trường Tiểu học nhỏ, mà nhốt số người lên đến hàng trăm. Đêm đến không có chỗ nằm, chỉ ngồi mà thôi. Ôi thiệt là những ngày ghê gớm nhứt của cuộc đời, không biết còn có cảnh khổ nào hơn không?


Chúng tôi không được cho ăn uống chi cả. Tự ai có gì nấy ăn mà thôi. Ngày hôm sau, chúng tôi bị dẫn về hướng Tây, không gian vô định, ai biết mình sẽ bị đưa về đâu, và sống còn đến ngày nào. Khoảng thời gian này, không có một quy ước hay chính sách gì cả, hễ ai bất tuân bọn chúng, thì coi như bị bắn bỏ. Trong đoàn chúng tôi đi, có một binh sĩ còn trẻ, không dè dặt với chúng, đôi khi anh ta đi ngoài hàng một chút thì bị bọn chúng lôi ra bắn ngay. Thiệt là dã man! Chúng muốn bắn để khủng bố tinh thần của mọi người. Ôi sinh mạng con người nhỏ hơn là con ong, con kiến. Dọc đường quốc lộ 19, từ Bình Khê lên đến chưn đèo An Khê, trước kia có lực lượng của SĐ 22 Bộ Binh trấn đóng. Tôi không nhớ rõ là Tiểu Đoàn nào, nhưng thuộc Trung Đoàn 41. Trước đây có 1 trận đánh thiệt là ác liệt, 2 bên vệ đường tử thi của các chiến sĩ VNCH nằm la liệt, có lẽ đã xảy ra gần nửa tháng rồi, cơ thể bắt đầu sình thúi, chỉ thấy quân phục và sọ người trắng hếu. Một số tử thi khác thì còn loang lổ một ít tóc trên phần sọ đã rữa. Mùi tử khí xông lên nồng nặc khắp trời. Ôi chiến tranh và thân phận con người, tôi lại nhớ đến mấy câu thơ của bà Đoàn Thị Điểm:

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi,

Chinh phu tử sĩ mấy người,

Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn…..


Vào thời gian này, tôi không còn nhớ rõ là mình đã nghĩ gì, chỉ có một con đường, chúng muốn đưa mình đi đâu thì mình theo đó thôi, mặc cho số phận đẩy đưa, cuối cùng là giải thoát kiếp người. Chúng tôi đi đến ngày thứ ba thì đến một trại trước kia là mật khu của chúng. Trại này nằm trong rừng sâu, cách đèo An Khê khoảng 50 km từ hướng Bắc. Cả mấy ngày đi chỉ ăn được một lần, chúng tôi đi ngang một địa phương thì được đồng bào nấu cơm gói sẵn bằng lá chuối phát cho chúng tôi mỗi người một gói không biết là lịnh của họ hay lòng tự nguyện của đồng bào. Đến gần phạm vi của trại, chúng dừng lại để nghỉ và chuẩn bị cho chúng tôi nhập trại, trong lúc này tôi gặp lại một số anh em binh sĩ trong Pháo Đội, thiệt mừng và thiệt tủi cho thân phận những kẻ chiến bại. Thời điểm này chúng bắt giao nộp hết tư trang như đồng hồ, bút máy, nhẫn..Tôi thấy chúng dùng nón để thu, không ghi sở hữu của ai cả. Tôi biết bọn này muốn lấy không rồi, tôi làm dấu cho anh thường vụ Pháo Đội giấu chiếc đồng hồ Boulevard Sport của anh, khi đi đến bờ sông có một số người Thượng đứng bán chuối hoặc cơm. Chúng tôi đổi chiếc đồng hồ lấy 1 nắm cơm muối mè gói lá chuối, 2 thầy trò chia nhau ăn cho qua cơn đói lòng. Thiệt là: “Đoạn đường ai có qua cầu mới hay”, vật chất chỉ có giá trị khi thời gian thích hợp. Còn với thời gian này, vật chất dù cao quý thế nào cũng không qua nổi một gói muối mè.


Thế là chúng tôi lần lượt vào trại. Sĩ Quan đều bị đem đi cùm, từ Thiếu Úy trở lên là bị cùm. Số lượng SQ bị bắt mỗi ngày một đông, chúng thả cấp nhỏ, cùm cấp lớn. Bắt được Đại Úy cùm Đại Úy thả Thiếu Úy. Cứ như là cấp số cộng. Phải nói bạn nào có thời gian ở trại Vĩnh Thạnh khi đọc dòng hồi ký này, không thể nào quên được một nơi gọi là ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN đúng nghĩa của nó, không nơi nào ghê sợ hơn. Vì trại nằm trong rừng sâu lam sơn chướng khí. Tổng số binh sĩ bị bắt vào thời điểm cao nhất ở đây có thể lên đến cả ngàn người, nhưng sau hơn 4 tháng, số tử vong lên đến cả trăm. Sốt rét chết, đói mà chết, bị đánh mà chết... Các đơn vị bộ đội cộng sản ở đây đa số đều là những cán binh CS trở về từ Côn Đảo, lòng nung nấu thù hận. Họ muốn trả những trận đòn thù trên các người lính Cộng Hòa còn chút sĩ khí đã ở lại chiến đấu để bảo vệ quê hương. Có một anh Trung Úy người miền Nam trước kia nguyên là giáo sư bị bắt vào trại cùng thời gian với chúng tôi, vì quá căm phẫn trước sự hành hạ của bọn chúng, nên chạy ra vọng gác giựt súng AK của tên bộ đội đang gác cổng nhưng không thành công vì cơ thể suy nhược, ăn uống thiếu thốn làm sao khoẻ bằng chúng. Sau khi giựt súng không được, anh ta bị rượt chạy vòng vòng trong trại. Vì trại quá đông người nên chúng không bắn được. Vì không còn đường thoát, anh ta chạy đến bên những chảo nước đang nấu để cho tù uống và nhảy vào chảo! Thiệt là rùng rợn và thương tâm! Chúng dập tắt lửa, mang anh ta ra ngoài, nhưng anh ta vẫn còn sống. Anh ta chửi rủa bọn Cộng Sản luôn mồm:

- Đả đảo Cộng sản. Quân dã man khát máu.

Chúng cho khiêng anh vào trạm xá. Thiệt ra chỉ là một cái nhà nhỏ, vài lọ thuốc, vài lọ cồn mà thôi. Anh ta vẫn chửi liên hồi. Chúng lấy đất sét cho vào miệng, lấy cây dọng cho đến khi hết thở. Ôi! các bạn có hình dung được con người hay là ác quỷ nhỉ. Tôi có người bạn ở cùng quê tên Phan Duy Liêm,cấp Tr/Úy ĐĐT/ĐPQ cũng bị bắt vào trại này, tôi không nhớ anh đã làm gì phật ý chúng mà buổi chiều hôm đó, tôi chứng kiến tận mắt, 3 tên bộ đội đứng 3 góc đánh anh từ góc này văng sang góc kia, như là người ta chuyền bóng. Là thân phận tù sao dám chống trả chúng. Sau khi anh được thả ra, lục phủ đã bị dập nát, đã bị tổn thương. Mặc dù thời gian sau được gia đình tiếp tế thuốc men chữa chạy, sau hai năm hao tổn, anh đã lìa đời, bỏ lại một vợ và một con thơ, là bà con họ hàng với gia đình tôi.


Ở đây khí hậu chưa có một nơi nào dễ sợ hơn. Danh từ sơn lam chướng khí thiệt là đúng nghĩa của nó. Các nhà giam (lán) được cất dưới những tàng cây cổ thụ, suốt ngày ít khi thấy ánh sáng mặt trời, sương buổi sáng rất nặng và dày đặc, 9 hay 10 giờ mới thấy mặt trời, máy bay thám thính cũng chỉ thấy toàn màu xanh của rừng. Khoảng hơn tháng đầu chúng chưa cho đi làm, mỗi ngày chỉ phát 2 nắm cơm bằng một bát trung bình, vơi chứ không đầy, mì khô hết 80%, vài hột gạo có thể đếm được, tất cả chúng tôi đều đói và sốt rét.


Ở đây trung bình 1 tuần sốt rét 3 lần. Sốt thì nằm, dậy được thì đi lao động, xuống trạm xá khai bệnh, cặp nhiệt độ 40 độ C, cho vài viên Nivaquine, 39 độ trở lui, thì chúng cho uống một thứ rễ cây tên là “mật nhân”. Trên đời này chưa có thứ nào đắng như thứ này, uống xong quay đi là nôn thốc, nôn tháo, nôn đến mật xanh, mật vàng, lần sau sốt hoặc nằm liệt không dám khai bịnh nữa, hết sốt thì dậy đi làm. Con người thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng, sốt rét triền miên, nên chúng tôi trông như những thây ma còn sống. Da mặt thì vàng bệt, xám ngoét, mắt trũng sâu, chân đi xiêu vẹo, quần áo tả tơi. Ôi! chúng tôi thật là tới tận cùng của địa ngục.Chúng tôi nào có tội tình gì, chỉ biết cầm súng bảo vệ quê hương không có một ý đồ bất chính, không có một tham vọng nào làm tổn thương đến giá trị vật chất hay tinh thần của con người, tại sao chúng tôi lại phải bị trừng phạt một cách khủng khiếp như thế? Có những lúc tuyệt vọng, anh em nói đùa:

- Chúa hay Phật gì cũng bỏ chạy hết rồi còn đâu mà cầu nguyện.


Sau hơn 3 tháng tôi bị bắt, gia đình tôi mới được tin tức. Vợ tôi từ Phan Thiết ra Bình Định đến trại 3 Vĩnh Thạnh để thăm, thiệt là một chặng đường vất vả. Vì xe cộ không có, vợ tôi phải đi bộ khoảng 50 km đường rừng, phải ngủ lại ở trại 2 rồi mới lên trại 3 được. Biết bao nhiêu gian nan và sợ hãi, khi được gặp mặt, vợ chồng tôi nhìn nhau nước mắt lưng tròng, hỏi thăm vài câu sức khỏe, đâu còn lời nào để nói.Và biết nói gì hơn khi mỗi bàn có 2 bộ đội ngồi bên cạnh, súng AK lăm lăm, nói được gì đây. Về nhà, vợ tôi bị sốt rét chữa trị gần 2 năm mới bình phục. Thời gian ấy, vợ tôi phải truyền sérum liên tục, thế mới biết rừng thiêng nước độc đến cỡ nào. Sau đó thân phụ tôi đi thăm một lần, về cũng bị sốt rét liên tục. Từ đó về sau, chỉ có em trai tôi còn khỏe mạnh đi thăm mà thôi.


Có những lúc đói quá, mắt đổ đom đóm vàng khi nhìn thấy các anh em khác có người tiếp tế, có đồ ăn. Muốn quên đi, tôi chỉ còn biết ra gốc cây ngồi luyện Yoga cho quên đi nỗi đói khát, bịnh tật. Ai có biết sách lược triệt hạ kẻ thù, không sợ chúng phản kháng là làm cho chúng đói triền miên, không bao giờ cho chúng ăn đủ no. Suốt ngày tư tưởng lẩn quẩn, mong có cái gì bỏ vào miệng, vào bụng mà thôi, không còn nghĩ được thứ gì khác trên đời. Ôi con người có những lúc phải như thế này ư? Tôi có đọc cuốn Tiểu Đoàn Trừng Giới của Erich Maria Remark, nhà văn Đức, tù binh Đức, cũng bỏ vào các trại tập trung cũng đói như chúng tôi, nhưng thời gian ngắn hạn và không bịnh tật. Còn chúng tôi đói dài hạn và bịnh tật triền miên.Tôi còn nhớ vào thời gian còn ở quân ngũ, tướng độc nhãn Mó Dayan của Do Thái có qua thăm trường Võ Bị Đà Lạt, đã nói:

- Muốn chiến thắng Cộng Sản, phải sống với Cộng Sản.

Xin những ai, có làm chính khách, chưa bao giờ biết ngục tù Cộng Sản, thì xin nghĩ đến bao nhiêu anh hùng đã hy sinh, bao nhiêu triệu đồng bào còn đang sống vất vưởng nơi quê nhà, vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày vì phương châm “làm cho tập thể, hưởng theo nhu cầu” của chúng. Và cả một thế hệ chúng tôi tù đày oan khiên, khổ nhọc, thì chớ nên phụ quá khứ một thời tự do, dân chủ, thanh bình của miền NamViệt Nam.


Ở trại này có những cách giết người rất dã man. Các bạn có biết, một cái nhà cùm kín mít, bên trong là một dãy khóa lại, tất cả việc ăn uống vệ sinh đều tại chỗ, đó là cùm thông thường. Nếu chúng muốn tra tấn ai, cho hai chưn vào hai lỗ chéo nhau, chân phải lỗ bên trái, chân trái lỗ bên phải,dưới mông ngồi có 1 cây đà vuông thông ra ngoài, xuyên qua 1 cây trụ thẳng đứng khoét một lỗ hình chữ nhựt, để cây đà vuông có thể di chuyển được từ thấp lên cao, chúng gọi là cùm yên ngựa. Mỗi lần nâng cây đà lên là ống quyển bị ép vào lỗ cùm. Bên ngoài chúng dùng 1 miếng nêm hình tam giác để đóng, mới đầu đóng là tù nhơn la thất thanh sau đó im dần... im dần, tù nhơn đã hết thở. Ôi địa ngục ở đâu, có lẽ còn ít sợ hãi hơn nơi này. Chúng tôi bị nhốt trong một cái lán gần bên nhà cùm. Đêm đêm nghe tiếng la thất thanh xé tâm can, rồi im dần, im dần và tắt hẳn... Thế là một người đã ra đi không biết là tốt hay xấu với chúng tôi, biết đâu vài hôm đến lượt mình.


Ở đây có những cái chết rất kỳ lạ, buổi sáng còn ngồi chơi nói chuyện, vì là ngày Chúa Nhựt, anh bạn ở cùng quê, Đ/Úy Dậu TĐT/CB, ngồi ngã ra, quay quay như gà mắc toi, đem xuống bịnh xá, chừng 1 giờ đồng hồ sau thì chết. Khí hậu thật là rùng rợn, sinh mạng con người còn thua những loài côn trùng. So với tù binh của Đức Quốc Xã thời Đệ Nhị Thế Chiến đâu có khác gì nhau.


Sau 1 tháng nhốt 1 chỗ,chúng tôi được chia ra để đi lao động. Những công việc chính là nhổ mì, trồng mì và làm cỏ mì.Buổi sáng tù tập trung do 1 hoặc 2 tên bộ đội dẫn đi tới những bãi mì trong núi hoặc trên đồi cao. Chúng tôi dàn hàng ngang, mỗi người 1 cái cuốc dùng để cuốc cỏ xung quanh cây mì. Cây mì mới mọc cao chừng 5cm hay 1 tấc, rất dễ lẫn lộn với cỏ. Chúng tôi đâu phải nhà nông chuyên nghiệp, từ nhỏ cha mẹ đã hy sinh gian khổ, nuôi con ăn học, mong con sau này thành đạt, đâu nghĩ đến việc phải dùng cái cuốc, cái cày. Ôi công lao của cha mẹ lo lắng nuôi con trong thời điểm này hình như đã sai đường. Nếu chẳng may chúng tôi cuốc gãy cây mì chúng thấy được, thì báng súng AK vào đầu, vào cổ, mũi súng thọc vào sườn, vào bụng.


Anh bạn tôi là Đ/Úy Dậu có lẽ bị đòn thù trong trường hợp này, nên đã mất đi vài tuần sau đó, trong bữa sáng Chủ Nhật mà tôi vừa nói ở trên.Thiệt là thê thảm, những tù nhân chẳng may mà mất đi, chúng quấn bằng miếng vải ni lông, dùng để làm áo mưa, xung quanh kẹp 7 nẹp tre quấn lại như 1 khúc dồi lớn.2 người khiêng, 2 người đào lỗ ngoài rừng rồi lấp đi. Xong chúng cắm 1 cái bảng nhỏ viết tên tù nhân bằng sơn.Với 2,3 tháng nắng mưa, thì không còn biết ai là ai nằm đó nữa. Vì thế gia đình anh Dậu đã cố gắng nhiều lần, nhưng vẫn không tìm thấy xác anh ở đâu để đem hài cốt của anh về mai táng nơi quê nhà. Rất may là khoảng tháng thứ 5 chúng tôi chuyển trại, lúc này đại đa số là Quân, Cán, Chính VNCH đã bị bắt hoàn toàn, không còn 1 lực lượng nào trong nước có thể đối kháng và phá hoại chúng được. Chúng thành lập những Tổng Trại Tù Binh để quản lý. 


Một Tổng trại như thế do cấp Trung Đoàn chính quy quản lý do Thủ Tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng ký, mục đích là để trấn an dân chúng và để trình làng với Quốc Tế. Giai đoạn cuối ở địa ngục này, tôi bị sốt rét hành hạ liên tục, có lẽ đã xâm nhập vào gan, lá lách hay thận. Người tôi vàng vọt, xám ngoét, mắt trũng sâu, bụng ỏng, chân thì dần dần to ra như chân voi bước đi không nổi nữa. Chúng tôi được đưa xuống Tổng trại 4 An Trường. Ôi, thiệt là một cuộc di chuyển có khác nào như chở heo chở gà ra chợ để bán! 1 chiếc xeMotolova như vậy chở xấp xỉ cả trăm người, người sau phải bám người trước cho chặt, nếu không khi xe quẹo, quán tính của trọng lượng sẽ làm văng những người sau ra ngoài mà chết. Súc vật đem bán cần sống, cần khoẻ chứ chúng tôi thì không….


Tôi được đưa xuống trại 1 của Tổng Trại 4,nhờ gia đình tiếp tế, thuốc men đầy đủ, và ở trại này, chế độ ăn uống có phần dễ thở hơn, nên tôi đã dần dần hồi phục và giữ được cái mạng còm cho đến hôm nay. Phải nói rằng 6 năm tù đày thời gian ở trại này là tươngđối dễ chịu nhứt so với các trại khác. Vào thời điểm này, đa số anh em đều tin rằng sau 3 năm rồi thì thế nào cũngđược thả về, nhưng thiệt là 1 sự lầm lẫn to lớn. Lời nói của chúng như những bó cỏ treo trước đầu con ngựa đang kéo xe, cỏ thì nhìn thấy đó nhưng con ngựa có bao giờ ăn được đâu? Những ngày kêu thẩm vấn, tự khai, ui thực.. là khổ sở. Nói thế nào chúng cũng không tin. Hỏi:

- Từ ngày anh tham gia ngụy quân, ngụy quyền đến giờ giết bao nhiêu cách mạng?

Tôi trả lời:

- Tôi là đơn vị Pháo Binh yểm trợ, họ yêu cầu tác xạ ở đâu, chúng tôi bắn ở đó. Kết quả do các đơn vị Bộ Binh tham gia họ ghi nhận và báo cáo, chúng tôi đâu có trực tiếp tham dự.

Hỏi:

- Anh nói anh không giết cách mạng sao họ cho anh mang lon Đ/Úy sớm như vậy?

Tôi trả lời:

- Theo chế độ đào tạo SQ tại miền Nam, có bằng cấp mới được chọn, 1 năm Chuẩn Úy được thăng Thiếu Úy, 2 năm Thiếu Úy được thăng Trung Úy. Sau đó khoảng 3 năm đủ điểm thì lên Đ/Úy.

Nhưng dù có nói thế nào chúng cũng chẳng tin. Và cứ như thế hết ngày này đến ngày khác, tôi cứ bị kêu liên tục, hỏi hơn cả tháng, chúng cứ xoáy vào một điểm là giết hại bao nhiêu cách mạng. Cuối cùng tôi phải moi một trận yểm trợ nhớ mang máng theo kết quả của Bộ binh báo cáo, là địch quân tổn thất vài chục chúng mới hết hỏi. Ai có ngờ đâu đó là cái giá treo cổ mà mình tự gánh vào, sau này chúng cho là thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân….


Thời gian ở Tổng trại này hơn 1 năm, sau đó có lẽ tình hình thanh lọc tù nhơn giảm dần, chúng tôi chuyển từ tổng trại này sang tổng trại 5 thuộc các đơn vị tỉnh Phú Yên quản lý. Trại này cũng là 1 trại sắt máu, chúng tôi làm việc như lao động khổ sai, và cơm thì không bao giờ được ăn no. Có một vài anh em bỏ mạng vì đốn cây rừng cho chúng, cây đè mà chết hoặc thương tật suốt đời. Các bạn từng xem những phim La Mã thời Cesar, các nô lệ kéo gỗ hay kéo đá, chúng tôi cũng vậy. Một khúc gỗ súc dài 4 hoặc 5 mét,đường kính khoảng 7 tấc, xỏ 4 dây thừng, mỗi bên 4 người khiêng. Đường từ trên núi, leo dốc, xuống ghềnh hiểm trở, nếu rủi ro mà té ngã thì coi như cái mạng đi đoong.Súng AK thì lăm lăm, sẳn sàng nhả đạn nếu chúng tôi tìm đường chạy trốn. Ôi, nếu so sánh, chúng tôi và nô lệ thời Trung Cổ của La Mã có khác gì nhau đâu.


Tôi còn nhớ nằm cạnh tôi có ông bạn già là Tr/Tá ĐN Thanh trước 75 là CHT Quân Cảnh Quân Khu 2, và có thời gian Tr/Tá Thanh đã từng làm Trưởng trại giam tù phiến cộng ở Phú Quốc. Có một ngày họ phân công tôi và bác Thanh là 1 cặp trong toán chặt gỗ làm nhà, chỉ tiêu dài 6 mét, đường kính từ 1.5 đến 2 tấc, phải là gỗ tốt, lá nhỏ, vỏ mỏng. Tôi và bác Thanh phải lên núi cao tìm gỗ vì dưới thấp không còn nữa. Sau khi chặt xong, tôi và bác Thanh khiêng về trại. Vì lúc đó tôi còn trẻ nên nghĩ rằng mình khiêng phần gốc để bác Thanh phần ngọn nhẹ hơn. Từ trên triền núi cao, tôi lao xuống dốc vì nặng quá, không kềm được, nên đã té ngã nhiều lần. Rốt cuộc để khỏi tai nạn, bác Thanh dành khiêng phần gốc vì thật sự mà nói, bác rất khỏe và rất đô con. Tối về sinh hoạt kiểm điểm xong, bác nằm và than sao đau lưng và khổ quá. Bên cạnh tôi có anh bạn Luật sư Lê Đình Khang nói nhỏ:

- Bác khổ là vì hồi đó bác hà tiện quá mà.

Bác càu nhàu hỏi:

- Hà tiện gì?

Anh bạn Khang nói:

- Nếu hồi đó bác sắm bao tải cho nhiều, cứ mỗi chuyến C130 chở tù phiến cộng từ Sài Gòn ra Côn Đảo, bác bỏ hết vào bao ném xuống biển, thì đâu có ngày hôm nay.

Bác và chúng tôi cùng cười, quên đi nỗi đau đớn nhọc nhằn. Trong thời gian ở trại này, chúng tôi chứng kiến một cảnh thương tâm. Có 1 số anh em trốn trại nhưng không thoát được, tôi chỉ nhớ tên 2 người là T/Tá Giang và T/Tá Phước, 2 người còn lại tôi không nhớ được. Chúng cho làm mỗi người một cái lều, như lều cắm trại, sát mặt đất, có khung bằng ván để nằm, làm hệ thống cùm dưới chân bằng gỗ, khóa lại suốt ngày đêm, trông giống như những chiếc nhà mồ nằm ngay tại vọng gác trước mặt trại. Chúng tôi ngày nào lao động cũng phải đi ngang qua, trông thật đau xót và thương tâm, nhưng đâu biết làm sao khác hơn….


Vào một đêm, bỗng dưng lửa cháy các chòi, chòi của T/Tá Giang là nặng nhất. Họ được đưa đi bệnh viện Tuy Hòa để cấp cứu. T/Tá Giang phải cưa hai chân đến đầu gối. Các bạn khác đều bị phỏng nhưng cũng được lành. Chúng tôi đều nhận định rằng chúng muốn đốt cho chết rồi cho là tai nạn, vì các chòi nằm giữa miếng đất trống thì sao lại có hỏa hoạn?!!!

Khoảng 5 tháng sau, họ thả anh Giang về. Gia đình từ miền Nam phải lo phương tiện di chuyển anh, sau 1975 gạo còn không đủ ăn, làm sao mà sắm xe lăn. Tôi nghe sau này hình như anh đã quyên sinh vì nghịch cảnh gia đình. Ôi thân phận con người, thân phận của những kẻ chiến bại, dưới nanh vuốt của một lũ bạo tàn nhứt và dã thú nhứt trong lịch sử của nhơn loại.


Và cuộc đời chúng tôi cứ kéo dài như thế thôi, niềm tin được thả về còn xa lắm, chỉ khi nào sức cùng lực kiệt, chúng bảo gì nghe đó, sự đối kháng không còn nữa, may ra mới được về, lúc đó liệu còn sống sót bao nhiêu người đây. Phần cá nhân tôi, có một hôm, tôi bị sưng chân phải đi cà nhắc, xuống trạm xá được cho làm việc nhẹ. Buổi sáng 1 tên bộ đội vào kêu chúng tôi đi làm, thấy tôi không chuẩn bị, hắn hỏi tại sao, tôi trả lời đau chân, trạm xá cho làm việc nhẹ. Hắn trừng mắt, giơ súng lên và bắt tôi đi làm với đội. Tôi phải cà nhắc theo đội để đi làm. Đứng cuốc đất suốt ngày bằng 1 chân, ngày hôm sau chân kia sưng phù lên. Thế là tôi phải nằm liệt mấy ngày. Ôi, bạn có hình dung được chúng tôi phải chịu đựng như thế không?


Sau hơn 3 năm chúng tôi được chuyển giao cho ngành Công an quản lý. Chúng tôi thuộc loại tù chuyên nghiệp, được chuyển đến trại A30 ở Tuy Hòa. Trại này tập trung đủ các thành phần, hình sự, vượt biên, những người bị bắt năm 78, 79 họ gọi là phản động, và chúng tôi từ các tổng trại 5, tổng trại 8, Trại Lam Sơn, Trại Thanh Bình, v.v..Cảm nghĩ của tôi khi đến trại này là thôi, thế là cuộc đời gắn liền với chữ Tù, giống như nhân vật Papillon của Henri Charrière. Ở tù không biết tại sao mình ở tù, ngoại cảnh đưa đến mà mình không tài nào vùng vẫy được. Hay gần giống như nhân vật chính trong tác phẩm “Giờ thứ 25″ của một nhà văn Nga tôi không nhớ rõ tên. Hết ở tù bởi quân Đức, rồi đến Nga, rồi đến Đồng Minh, khi ra đi thì mới lấy vợ, khi về vợ đã 3 con rồi, mỗi quốc gia một đứa.


Dưới tay Công An quản lý, thiệt là một sự xảo quyệt của con người, tinh vi đến mức không thể nào diễn tả được. Ở đây cũng thiếu thốn và đói như những trại khác, nhưng ở đây thì gia đình thăm nuôi, tiếp tế cho nhận thoải mái. Mục đích của chúng, cứ cho người nhà thăm nuôi ăn cho no, làm việc cho chúng vượt chỉ tiêu, thì đâu có gì tốt bằng đâu nào. Các trại khác thì thân nhân thăm nuôi chỉ cho đem quà, bánh, thức ăn, không cho nhận gạo. Ở trại A 30 này, không tiếp tế gạo cho tù nhơn là một thiếu sót lớn. Lần thăm ban đầu gia đình tôi không biết, sau mới hiểu ra gạo là chính. Đến A 30, chúng tôi khai phá những cánh đồng ngút ngàn. Tất cả những cánh đầm lầy biến thành ruộng xanh ngút tầm mắt, và những cánh đồng mía chỉ thấy đường chân trời, tầm mắt không thể nhìn hết. Chúng lại lên lớp:

- Ta làm ta hưởng. Lao động là vinh quang.

Ôi thiệt là bực lỗ tai. Sao có những con người, chỉ biết nói và không cần thái độ của người nghe. Chúng tôi làm cho họ hưởng, nếu gia đình chúng tôi không nuôi thì chúng tôi đã chết đói rồi.


Ở đây có một trường hợp, anh Đ/Úy Thức đơn vị Dù, tôi không biết Lữ Đoàn mấy vì ở khác lán. Buổi chiều đi lao động về, anh gặp tên Tr/Tá Hạnh Công An Giám Thị trưởng Trại A 30 hỏi thăm và nói gì đó, sau lên lớp... Vì hắn quá trâng tráo và dối trá nên anh Thức dằn không nỗi nhảy vào đánh tên Giám Thị trại. Công an phòng vệ đã nhào vô bắt và đánh anh Thức, không thể nào diễn tả được. Chỉ biết sau khi đánh xong, chúng bỏ anh vào xe cút kít đẩy vào chỗ biệt giam thì thấy anh như một đống thịt, máu me đầy mình! Ôi con người đến thế thì thôi! Tôi nghe sau đó họ đưa anh xuống bệnh viện Tuy Hòa để điều trị và nghe đâu hình như có người bà con làm lớn ở Hà Nội lãnh anh đem về nhà. Từ đó đến nay, không còn được nghe gì hơn nữa, không biết anh có còn sống, và nếu như có đọc những dòng này của tôi, thì xin anh nghĩ, lúc đó chúng tôi rất căm phẫn chúng nó và xót thương anh nhưng chúng tôi đành bất lực...


Tôi cũng không biết nói sao, vì mỗi con người có trình độ nhận thức khác nhau, phải nói rằng nếu nghị lực không đầy đủ thì sẵn sàng làm tay sai cho chúng. Có một ngày, chúng tôi đang cuốc cỏ thì tên Công An quản giáo kêu tôi ra giữa đám mì, giở trò giáo đầu là tôi lao động lấy lệ, sinh hoạt không chịu phát biểu, ù lì, là thành phần chống đối ngấm ngầm, như vậy làm sao tiến bộ, cách mạng xét cho các anh về. Tôi muốn bật cười nhưng không dám, vì nó đã nhàm với chúng tôi, nghe bao nhiêu năm rồi. Tôi lặng thinh, hắn nói tiếp:

- Bây giờ anh muốn thể hiện cho chúng tôi thấy sự tiến bộ của anh thì anh phải theo dõi báo cáo tư tưởng của anh nào chống đối cách mạng, ai phát biểu những gì bất lợi cho cách mạng. Báo cáo trực tiếp với tôi, hay bỏ vào hòm thư trước trại.

Tôi phải trả lời hắn theo sách vở:

- Thưa cán bộ, nhiệm vụ chúng tôi ngoài việc học tập lao động, tôi còn phải báo cáo ngay nếu phát hiện được những thành phần nào trốn trại.

Hắn nói:

- Tôi yêu cầu anh báo cáo những anh nào phát biểu chống đối kìa.

Tôi vâng lấy lệ. Khoảng tháng sau, hắn kêu tôi ra lần nữa vì không thấy báo cáo của tôi, hắn hỏi:

- Tôi không thấy báo cáo nào của anh hết, anh là thành phần ngoan cố, chống đối.

Tôi nói:

- Tôi có để ý một hai bữa, thấy anh em ai cũng an tâm, đâu có nói gì, thành tôi không có gì để báo cáo.

Hắn đơn cử một vài lời nói mỉa mai của vài anh em. 

Tôi nói:

- Anh em vui miệng nói đùa, tôi không để ý.


Thế là hắn lôi tôi ra, dùng báng súng đập cho một trận. Tôi mang thương tích và nước mắt căm hờn về trại, cơm nuốt không vào. Không phải đau mà khóc nhưng uất hận làm cho nước mắt tuôn trào. Tối hôm đó một vài anh em mang thuốc giảm đau và dầu xoa bóp cho tôi, thật là an ủi. Dầu sao chúng tôi cũng còn có nhiều anh em nghĩa khí và có tình người.

Bọn hắn cũng có mắt chọn người lắm. Mỗi ngày chúng tôi đi cuốc đất, cả đội dàn hàng ngang, chỉ tiêu mỗi người 4 mét chiều rộng và 200 mét chiều dài, chúng chọn một tên kêu ra nói nhỏ:

- Anh ráng cuốc 250 mét, kỳ sau gia đình anh lên thăm nuôi tôi sẽ can thiệp với trại để cho anh được gặp gia đình ban đêm.

Ôi, một sự hứa hẹn tuyệt vời. Tù nhân nào lại không muốn hàn huyên với gia đình sau bao nhiêu năm dài ngăn cách, bao nhiêu biến cố vật đổi sao dời. Có người suy nghĩ chín chắn thì thấy là chuyện đau khổ thêm cho vợ mình, có người chuộng vật chất thì cho đó là 1 đặc ân của Cộng Sản. Thật là 1 thủ đoạn quá tinh vi. Thế là hôm sau, tên được kêu cuốc vượt trội hơn anh em khác. Tối về họp kiểm điểm chúng nêu ra:

- Anh A cũng như các anh, cùng sức vóc, cùng tiêu chuẩn ăn uống như nhau.Người ta cuốc được 250 mét, các anh cuốc có 200 mét, lại kêu không đủ giờ, chứng tỏ các anh làm cầm chừng, lười lao động. Bao giờ các anh mới tiến bộ đây?

Bắt đầu từ ngày đó, chỉ tiêu là 250 mét/ngày. Chúng tôi cuốc từ sáng sớm đến chiều tối, tay chân rã rời, tai như bốc khói. Trên đường đi về trại, thân thể rã rời ngất ngưỡng như người mộng du, vì sức đã cạn rồi. Chúng tôi chửi thầm, ôi những thằng ngu, nào dám chửi thẳng vào mặt, nó mà báo cáo một phát là biệt giam, hai chưn vào cùm, làm bạn với gián...


Ở đây cũng có tổ chức những đêm văn nghệ, diễn viên là các em vượt biên bị bắt. Các em còn rất trẻ, có em đã bị bắt vào đây đến 3 lần, thật đáng thương. Họ cho tập dượt, và cho trình diễn những đêm thứ 7, chủ nhật hay các ngày lễ của chúng. Nội dung hình như chúng tôi gần như thuộc lòng vì xem đi xem lại, tháng này qua tháng khác. Khi nào tổ chức văn nghệ là chúng lùa hết ra sân vận động, không được ở lại trong trại. Tôi và anh bạn Thắng đem áo mưa ra để nằm ngủ, chúng bắt gặp. Thế là hôm sau chúng họp kiểm điểm là chúng tôi không chịu tiếp thu văn hóa cách mạng, thành phần bướng bỉnh ù lì. Có những trò khác, bọn chúng mị dân, mà ngay cả một số gia đình chúng tôi cũng nghĩ chúng là nhân đạo. Thí dụ sau khi cho vợ con thăm nuôi, tiếp tế, tối còn cho gặp. Ngày hôm sau, gia đình về, chúng đưa sổ cho thân nhân viết cảm tưởng. Chúng đem trình làng với đồng bào ở ngoài hay các phái đoàn quốc tế viếng thăm. Chúng đem khoe khoang cũng như phổ biến trong trại, thế thì nhân đạo quá đi chứ, thử hỏi có thân nhân nào dám viết lời không tốt cho chúng đâu.


Ở trại này, trước khi chúng tôi chuyển đến, có nghe kể lại một chuyện thương tâm. Là có một số anh em giựt súng tên Công An định bỏ chạy nhưng bị 1 tên Tr/Tá của ta ôm lại để cho Công An bắn chết 1 hay 2 đồng đội của ta. Cả trại rất căm phẫn và khinh bỉ tên này. Khi chúng tôi đến trại A 30 thì tên này đã được bọn Cộng Sản cho định cư vùng kinh tế mới Mai Liên do trại quản lý và được đem gia đình đến sinh sống vì hắn có công với cách mạng. Tên này là Tr/Tá Lập trước kia làm Quận Trưởng quận Vạn Ninh, tôi biết vì vợ của hắn có chút bà con xa với gia đình tôi. Những năm sau, khi được phóng thích về, có một lần tôi ghé thăm gia đình cha mẹ vợ hắn, thì mới hay việc đời có vay, có trả, thời gian sau vợ hắn đã bỏ hắn, sống với người khác rồi.


Những khổ hình ở trại làm sao mà nói cho hết, tôi chỉ ghi lại những điều mình nghe, mình chứng kiến để bạn đọc suy nghĩ thấy cái bạo tàn, quỷ quyệt của chế độ để đem một chút ánh sáng cho những ai vì một chút quyền lợi riêng tư mà muốn cái gọi là “hòa hợp hòa giải với Cộng Sản”. Các bạn có biết, cảnh đời tù tội là đắng cay, khổ nhọc nhưng cũng có lắm chuyện cười ra nước mắt. Chúng tôi là những thành phần gồm sinh viên, giáo chức, cán sự hay hành chính bị động viên. Dẫu sao, với xã hội miền Nam thời đó chúng tôi cũng là thành phần gọi là trí thức chút ít. Từ nhỏ cha mẹ sinh ra đã hy sinh cho con ăn học những mong cho con mình đỗ đạt, cho cuộc sống vững vàng, chúng tôi nào có quen cái cuốc, cái cày. Khi bị bắt vào đây chúng xem bọn tôi như một lũ ăn hại, vô tích sự.


Có một ngày đội chúng tôi đi cày lần đầu, các bạn có biết, trâu bò cũng quen với ngôn ngữ địa phương. Ở miền Trung từ Bình Định trở vào, muốn bò quẹo trái thì gọi Thá, muốn bò quẹo phải thì gọi Dí, muốn chúng dừng lại thì gọi Dò. Còn ở vùng Quảng Trị muốn quẹo trái thì gọi Tắc, muốn quẹo phải thì dùng Rị, và muốn dừng lại thì dùng Họ. Hôm đó mỗi người được phát một cặp bò và 1 cái cày, có 1 anh người Quảng Trị cầm cày và cầm roi điều khiển bò, cứ dùng hết Tắc rồi Rị, bò nó không biết đi đâu, nó quẹo lung tung. Bò đi mãi gần đến bờ rào đụng nhà dân, anh la Họ...Họ... bò vẫn đi, hoảng quá anh la: “Stop, stop, stop”. May có vài anh em ra chận bò lại, chúng tôi có dịp cười nghiêng ngửa. Khi anh chàng trở lại, chúng tôi nói:

- Bò nó đâu có đến trường mà biết tiếng Anh, ông bạn.

Những kỷ niệm đau khổ cũng như là hạnh phúc của con người đều có giá trị ngang nhau trong tiềm thức, người ta khó mà quên được. Có những ngày chúng tôi đi làm ruộng tại cánh đồng tên là Đầm Sen. Cánh đồng đầm lầy bạt ngàn, bỏ hoang lâu ngày từ thời Pháp thuộc, thật xa xôi và hẻo lánh, bèo lát, điên điển, cỏ dại mọc như rừng, mỗi lần nhảy xuống ruộng, có chỗ sình ngập lên tới cổ. Và có những đám ruộng nước đĩa ơi là đĩa... lội như bánh canh. Từ nhỏ tôi cũng như nhiều anh em khác, nói chung môi trường sống là thành phố, nên thấy đĩa rất là sợ. Lần đầu tiên nhảy xuống ruộng, thấy nhột nhột nhảy lên, là một vài con bám chân bám đùi, máu chảy tùm lum. Úi trời ơi, thật là hãi hùng, bắt chúng xong lại nhảy xuống vì nhảy lên bờ thì AK chĩa vào đầu.


Ngày ấy làm ruộng về, mặc dù đói, nhưng cơm nuốt không nổi vì tinh thần căng thẳng và hãi hùng quá mức. Mấy hôm sau, chúng tôi rút kinh nghiệm, chọn bộ quần áo nào mới nhất, không có chỗ rách, bỏ áo vào trong quần, cột 2 ống chân cho chặt, cột quanh lưng, cột hai khuỷu tay, nhờ thế mà khi nhảy xuống ruộng, thấy đĩa bơi quanh người nhưng chúng không bám được nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, chúng vào tận chỗ kín để cắn, về nhà máu me tùm lum phát khiếp. Cũng có những chuyện vui đáng nhớ. Số là sau khi khai hoang xong, những đám ruộng bùn quậy lên rất nhiều cá nên anh em tha hồ bắt. Tôi thì chạm cá rất nhiều, nhưng chẳng bao giờ bắt được cả. Bắt nó lên là nó vuột, bắt 1 tay cũng vuột, 2 tay cũng không xong. Chiều về hỏi mấy anh bạn chuyên nghiệp chỉ giùm cho một chiêu làm sao để bắt mà nó không vuột, anh bạn cười:

- Bắt cá cũng như đi cua gái vậy, khi đụng nó phải từ từ mò từ đuôi lên tới đầu, khi vị trí của đầu nằm trong lòng bàn tay rồi, thì dịu dàng nắm lại, thật chặt và thật êm thì không bao giờ bị mất cả.


Thế là hôm sau theo cách chỉ dẫn của anh bạn, tôi được mấy bữa bồi dưỡng ngon lành. Có những ngày làm cỏ ở những thửa ruộng cạn, chúng tôi không tìm được thứ gì để ăn. Vài ba người, mỗi người vài chú nhái, chiều về “cải thiện”, 1 vài con không đáng là bao, người nọ dồn cho người kia để ăn cho đủ. Các bạn biết sao không? Cho thì tiếc, bèn oảnh tù tì ai thắng thì ăn hết, ai thua thì nhịn. Ôi con người khi tới tận cùng đất đen rồi thì mới nhận chân được giá trị của nó. Chuyện đã 28 năm rồi, nhiều khi tôi nghĩ mình cũng nên quên đi để sống những ngày còn lại của cuộc đời. Nhưng thỉnh thoảng quá khứ lại hiện về, không sót 1 chi tiết nhỏ nào. Có những đêm ác mộng hãi hùng, bị đánh, bị tra tấn và những cơn trốn chạy dưới lằn đạn AK của chúng. Khi tỉnh dậy tinh thần bàng hoàng, đầu óc ngây ngô. Và không biết đến bao giờ tâm trí mới được bình yên đây. Đọc qua lịch sử biết bao sự hưng vong của chế độ Đinh, Lý, Trần, Lê... Biết bao nhiêu thi nhân đã tiếc thương một thời quá khứ êm ấm, thanh bình.....

Tạo hóa gây chi cuộc hý trường,

Đến nay thắm thoát mấy tinh sương.

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương,

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Hay:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc.

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia…

(Bà Huyện Thanh Quan)

Hoặc:

Khắc khoải đưa sầu giọng lửng lơ

Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ

Năm canh, máu chảy đêm hè vắng

Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ

Có phải tiếc Xuân mà đứng gọi

Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ

Đêm đêm ròng rã kêu ai đó

Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.

(Nguyễn Khuyến)


Vận nước đã đổi thay, quê nhà chìm đắm trong cảnh bất công. Giới thống trị thì vàng son rủng rỉnh, xe pháo dập dìu, người dân còn lại phải vật lộn với cuộc sống đầy gian nan mới đủ cơm ngày hai bữa, và còn phải lo thuốc thang khi đau yếu. Không hiểu tiền nhân có đau khổ như chúng ta không? Nếu có thì chỉ có sự thay đổi thể chế xã hội và đau nỗi mất nước, không đến nỗi phải lưu vong như chúng ta, trên 15.000 dặm đường chim bay, xa hơn một nữa vòng trái đất. Muốn tìm một chút tình cảm thân thương nơi cha, nơi mẹ, nơi anh em, nơi bạn bè hay người thân thật là khó vô vàn. Thật là:

Đau lòng tử biệt sinh ly,

Muốn cho tái ngộ chỉ nhờ mộng trung...


Chúng ta đã may mắn thoát khỏi ách bạo tàn, dung thân ở xứ tự do. Tuy không dễ, nhưng chúng ta có đầy đủ quyền tự do của một con người được pháp luật bảo vệ. Quê nhà còn biết bao người thân đang trầm luân với cuộc sống đọa đày và bất công, chỉ hy vọng chút tin vui khi có con cái, hay anh em gửi về chút ít quà hay tiền để mạch máu đang chảy không bị cạn... bởi một lũ vô thần, tham lam, ích kỷ và tàn bạo.....


Với những dòng này, mong đóng góp chút ít tư liệu về cuộc chiến, và những gương hy sinh của các Sĩ Quan QLVNCH, những anh hùng không tên tuổi đã nằm xuống trong cuộc chiến, để giữ gìn miền Nam êm ấm thanh bình gần 3 thập niên từ sau 1945-1975. Và để cho thế hệ sau phân tích sự hy sinh gian khổ của cha ông. Và cũng mong quê hương dân tộc sớm khỏi ách bạo tàn của một lũ người vô thần thống trị, và mãi mãi thanh bình trong chiều hướng tự do dân chủ.....


Võ Đức Nhuận

(Đây là những nhân vật có thiệt trong chặng đường chiến đấu cuối cùng, và những trại tù man rợ nhứt đã đi qua).

Ôi Tiếng Việt Cộng - Nguyễn Duy Phước

Tuesday, March 17, 2026

50 Câu Châm Ngôn Của Do Thái

 

1. Tài sản có thể trở về số 0 nhưng kiến thức phải càng ngày càng mở rộng.
2. Thời gian tốt nhất để trồng cây là vào 20 năm trước. Thời gian tốt thứ hai là ngay bây giờ.
3. Điếc, nhưng không phải là không biết gì bởi còn có thể đọc được sách báo.
4. Nếu không học tập, cho dù đi vạn dặm đường xa thì mãi vẫn chỉ là người đưa thư mà thôi.
5. Ai cũng than vãn thiếu tiền nhưng chả ai than thở thiếu trí khôn cả.
6. Trên đời có 3 thứ không thể bị ai cướp mất: Đầu tiên là thức ăn đã vào trong dạ dày, hai là ước mơ đã ở trong lòng, ba là những kiến thức đã học trong đầu.
7. Người lớn dạy trẻ con học nói, còn trẻ con dạy người lớn im lặng.
8. Một người chỉ ra sai sót của bạn chưa chắc đã là kẻ thù của bạn; một người luôn luôn ca ngợi bạn chưa hẳn đã là bạn của bạn.
9. Hãy sợ con dê húc phía trước, con ngựa đá phía sau, còn kẻ ngu thì phải đề phòng tứ phía.
10. Kinh nghiệm là cái từ mà mọi người dùng để gọi các sai lầm của mình.
11. Khi bạn khóc vì không có giày để đi, hãy nhìn những người không có chân.
12. Khi già đi người ta thị lực kém đi nhưng nhìn thấy nhiều hơn.
13. Đừng sợ đi chậm. Chỉ sợ đứng yên.
14. Ta không cầu xin cho gánh nặng sẽ nhẹ hơn. Nhưng cho đôi vai hãy vững vàng hơn.
15. Bông lúa càng nhiều hạt, đầu nó càng rủ xuống. Người giỏi thường hay khiêm tốn.
16. Mất tiền chỉ là mất nửa đời người, mất lòng tin là mất tất cả.
17. Phần lớn người ta thất bại không phải do họ không có khả năng, mà là vì ý chí không kiên định.
18. Đừng nói gì trừ khi bạn đã học được cách im lặng.
19. Giúp người thì sẽ làm tăng tài sản, ki bo chỉ làm nghèo đi.
20. Một hành trình ngàn dặm cũng chỉ khởi đầu từ bước đi đầu tiên.
21. Nếu vấn đề nào giải quyết được bằng tiền, thì đó không phải là vấn đề mà là chi phí.
22. Nếu bạn bị vấp ngã, điều đó chưa chắc có nghĩa bạn đang đi sai đường.
23. Có tiền cũng không tốt lắm, cũng như thiếu tiền cũng chẳng tồi lắm.
24. Không có tình huống vô vọng, chỉ có giải pháp không chính xác.
25. Chúa trời cho con người hai tai và một miệng để nghe nhiều nói ít.
26. Luôn luôn nhìn vào mặt tươi sáng của sự vật. Nếu không thấy, hãy đánh bóng cho đến khi nó tỏa sáng.
27. Nếu cuộc sống không dần dần tốt lên thì nó sẽ kém đi.
28. Đừng sợ rằng bạn không biết một cái gì đó. Hãy sợ rằng bạn không chịu tìm hiểu về nó.
29. Con người phải sống tối thiểu là vì sự tò mò.
30. Một khi bạn mắc một sai lầm, điều tốt nhất bạn có thể làm là cười vào nó.
31. Nếu mà làm từ thiện chẳng tốn kém gì thì ai cũng làm từ thiện cả.
32. Hầu như những loại hoa có màu trắng đều rất thơm, hoa có màu sắc đẹp đẽ thường không thơm. Người cũng vậy, càng mộc mạc giản dị, càng tỏa hương thơm từ bên trong.
33. Chết vì cười còn hơn là chết vì hoảng sợ.
34. Một người đàn ông có thể chuyển núi bắt đầu từ việc mang đi những viên đá nhỏ.
35. Khi chúng ta đem hoa tặng cho người khác thì người ngửi được mùi hương đầu tiên là chính chúng ta. Khi chúng ta nắm bùn ném vào người khác, thì người bị làm bẩn đầu tiên là bàn tay chúng ta.
36. Ngủ trên gối êm không có nghĩa có giấc mơ đẹp.
37. Nếu bạn không thể xử lý những việc nhỏ thì những việc lớn của bạn sẽ trở nên vô nghĩa.
38. Khi bồ câu kết bạn với quạ, mặc dù cánh của nó vẫn còn màu trắng nhưng trái tim thì dần dần chuyển sang màu đen.
39. Lúc nào vô công rỗi nghề thì người ta sẽ làm những việc long trời lở đất.
40. Khi còn trẻ phải làm những việc bạn nên làm, thì khi về già mới có thể làm những việc bạn muốn làm.
41. Cái khuy áo đầu tiên sai, cái sau cùng khó mà chữa được.
42. Hạnh phúc chỉ đến khi cánh cửa đã được mở.
43. Một ngôi nhà nhỏ đầy ắp tiếng cười có giá trị hơn một cung điện đầy nước mắt.
44. Cười là loại mỹ phẩm rẻ nhất, vận động là loại y dược rẻ nhất, chào hỏi là loại chi phí giao tiếp rẻ nhất.
45. Kinh nghiệm giống như một chiếc lược mà cuộc đời chỉ ban tặng sau khi chúng ta đã mất hết cả tóc.
46. Nếu bạn thực sự có tài năng thì bạn sẽ không sợ mình kém may mắn.
47. Tình yêu có ngọt ngào đến đâu cũng chẳng lấy ra nấu chè được.
48. Chúa trời bảo vệ kẻ nghèo ít nhất là không sa vào những thói hư tật xấu xa hoa.
49. Chúa không thể có mặt đồng thời khắp nơi nên Người đã tạo ra các bà mẹ.
50. Adam quả là tay gặp may đầu tiên vì chẳng có mẹ vợ.


Sưu tầm

Những Mảnh Hồn Phiêu Bạt - Bùi Thượng Phong

Hình minh họa

Tôi gặp và quen với chị Trâm trong một tiệm phở hiếm hoi của thành phố Columbus thuộc tiểu bang Ohio, vào một ngày hè năm 2010.

Thấy tôi có vẻ giống một người Việt, chị tự ý đến bàn tôi trước để làm quen. Chị than là ở cái tỉnh bơ vơ giữa lòng nước Mỹ này, thật không phải là dễ khi kiếm được một người đồng hương để nói chuyện! Tôi đồng ý với chị, mời chị ngồi và ngỏ lời khen, vì chị đã biết tìm đúng chỗ: một tiệm phở!

Quả thật tình đồng hương đã gắn kết chúng tôi thân mật với nhau thật dễ dàng. Qua những câu chuyện và lời tự giới thiệu, tôi biết chị sinh trưởng trong 1 gia đình "có-công-với-cách-mạng". Năm 1977, khi chị mới 2 tuổi, cha chị đã hy sinh tại mặt trận Tây-Nam (Campuchia). Mẹ chị là đảng viên, có chức, có quyền tại tỉnh nhà. Ngay từ những ngày còn rất trẻ, chị đã được gửi đi du học tại Úc . Và khi trưởng thành, chị nhanh chóng trở thành một giáo sư ngoại ngữ, căn bản là Anh Văn, môn học mà chị có năng khiếu nhiều nhất.

Bình thường, tôi không thấy hào hứng lắm khi phải nói chuyện với một người có một lý lịch như của chị Trâm. Nhưng với vẻ hồn nhiên của chị ngày hôm đó, nhất là sự thành thực, cởi mở và vô tư của một người sinh ra sau chiến-tranh - một cuộc chiến mà chị không biết gì nhiều - đã làm thay đổi cảm nghĩ của tôi, và tôi đã phải nhìn chị như là một, trong những người trẻ tương lai của đất nước. 

Là một giáo sư xuất sắc trong thành phố, chị còn góp phần không nhỏ trong việc truy tìm hài cốt các liệt sĩ. Nhờ vậy, cộng thêm sự vận động của bà mẹ, một lần nữa chị lại nhận được một học bổng du học, lần này tại Hoa Kỳ. Chị rất phấn khởi, để hết tâm theo học và cho đến hôm nay, chị đã qua được gần hết 2 năm đầu cho chặng đường tiến đến một psychology degree.

Tôi có hỏi đùa tại sao chị lại chọn 1 môn học "bí-hiểm"  tại 1 tiểu bang xa xôi này? Chị cho biết phải chọn Ohio University là vì ở đây, học phí tương đối thấp so với các tiểu bang khác. Chị lại tình cờ có một người bà con ở ngay đây, không xa khu học xá của chị là bao. Còn chị chọn  psychology, vì nó có liên hệ đến cái công việc tay trái của chị. Tại Việt Nam, người ta quí mến chị,̣ vì chị không chỉ đơn thuần là một giáo sư Anh ngữ, mà chị  còn là một "nhà ngoại-cảm".    

"Nhà-ngoại-cảm"! Chà! Tôi có quen một vài nhà báo, một vài nhà giáo, nhiều nhất là... nhà binh, nhưng tôi phải thú thực với chị Trâm là tôi rất mơ hồ với cái "nhà ngoại-cảm" này của chị, và mong chị giải thích. Chị Trâm vui vẻ cắt nghĩa cho tôi, một cách rất khái quát: Vũ trụ như ta thấy, là tổng hợp bởi những eidos, tạm gọi là những thực thể. Thực thể có 2 loại: thực thể tinh tế hay còn gọi là linh hồn, không nhìn thấy được và có trước thực thể vật lý, còn được gọi là thể xác, có thể nhìn thấy và cảm nhận được. Con người là kết hợp bởi hai thực thể nói trên. Khi chết đi, linh hồn rời bỏ thể xác, nhưng vẫn tiếp tục sống trong một thế giới không nhìn thấy, tồn tại song song với thế giới chúng ta. Tuy sang thế giới khác, linh hồn vẫn còn ít nhiều liên hệ với con người trên thế gian và chỉ có một số rất... rất ít người có khả năng tiếp xúc được với những linh hồn. Những người này, hoặc vì có "duyên nợ", hoặc là được trao một "sứ mệnh" nào đó, có thể trò chuyện, giao tiếp được với những linh hồn, thường là trong giấc ngủ... Người ta gọi những người như vậy là "nhà ngoại-cảm" . Ở Việt Nam sau năm 1975, nhu cầu tìm kiếm hài cốt của các thân nhân có con em bị hy sinh trong chiến tranh lên rất cao, nhất là tại miền Bắc. Công việc truy tìm này thường dẫn đến những vụ lên đồng lên bóng, gọi hồn, cầu cơ...và cũng từ đó, phát sinh ra những nhà ngoại-cảm giả mạo; lợi dụng lòng khao khát và sự mê tín của những thân nhân nhẹ dạ, họ đã dùng đủ mọi mánh khóe để làm giâàu một cách rất vô lương tâm!

Chị Trâm tự hào chị là 1 nhà ngoại-cảm, 1 nhà "ngoại-cảm chân-chính", vì tất cả những công việc chị làm, đều thực sự có sự giao tiếp và giúp đỡ của những linh hồn, hiệu quả chính xác và đều là bất vị lợi. Chị chỉ làm để giúp người, không hề nhận của ai một đồng một cắc nào. Chị đã tìm được cho vợ chồng 1 ông xã đội trưởng ở Đức Hòa hài cốt người con du kích của họ, đã hy sinh hồi Tết Mậu Thân. Chị đã tìm được 1 mồ chôn tập thể 17 liệt sĩ tại Nam Lào... Gần đây nhất, trước khi sang Mỹ du học, chị đã góp phần tìm được cho hai vợ chồng người chủ căn nhà trọ của chị, hài cốt người con trai đã hy sinh tại chiến trường Quảng Trị năm 1972.

Cơ duyên nào đã khiến chị trở thành 1 nhà ngoại-cảm là một chuyện khá dài dòng - chị nói - Riêng về chuyện tìm kiếm hài cốt người bộ đội đã hy sinh trong trận Quảng Trị, biết  tôi là một cựu quân nhân của quân đội VNCH, chị muốn kể lại cho tôi nghe, vì chị nghĩ  nó có thể có ý nghĩa hơn, là kể lại cho những người xung quanh chị, ở trong nước. Chị hẹn tôi thứ bẩy tuần sau, chị được nghỉ cả ngày, có nhiều thì giờ hơn.

Tôi đến thành phố Columbus lạ hoắc này để thăm một bà chị họ bị đau nặng. Bà đã hồi phục, mạnh khỏe trở lại và tôi có thể ra về nhưng tôi đã quyết định ở lại thêm 1 tuần nữa, vì không hiểu sao, câu chuyện tìm hài cốt một người bộ đội này của chị, nó đã khích thích sự tò mò của tôi khá nhiều!

Đó là một buổi sáng thứ bẩy thật đẹp! Tôi đến chỗ hẹn đúng giờ, chị Trâm cũng đến rất đúng giờ. Sau những trao đổi xã giao thường tình, chúng tôi ngồi nhâm nhi hai ly cà phê, và đây, là câu chuyện của chị...

-------

Sau một vài thành công về việc tìm kiếm và thâu hồi hài cốt liệt sĩ,các báo chí trong nước đua nhau tường thuật, nhiều đài truyền hình xin được phỏng vấn... Tôi bỗng dưng nổi tiếng! Có rất nhiều người tìm đến nhà cậy cục, nhờ vả... Tuy vậy, tôi không dám nhận lời giúp bất cứ một ai, nếu như tôi không nhận được những tín hiệu, hoặc là sự giúp đỡ của linh hồn những người quá cố. Trong số những người nhờ vả, gần nhất có Dì An. An là tên vợ chồng người chủ căn nhà tôi đã mướn tại quận 12, để tiện việc dạy học. Hai vợ chồng Dì An - tôi thân mật gọi là Dì - đều đã lớn tuổi, người miền Bắc. Ông chồng làm công an,thuyên chuyển vào Sàigòn sau năm 75 và trở nên rất giàu có, làm chủ 1 dẫy nhà trọ. Dì An tâm sự với tôi, là vào khoảng đầu tháng sáu năm 1972, khi đứa con trai thứ nhì của vợ chồng dì vừa được 16 tuổi, nó đã được nhà nước "mượn tuổi" trước để gia nhập bộ đội, tăng cường cho mặt trận Quảng Trị lúc đó đang trong giai đoạn cực kỳ sôi động. Vào khoảng cuối tháng 9 năm 1972, có tin là Cổ Thành Đinh Công Tráng cũng như toàn thể thị xã Quảng Trị đã bị quân đội miền Nam tái chiếm, mà đứa con thì vẫn bặt vô âm tín, vợ chồng chị hết sức hoang mang, lo sợ... Và cuối cùng thì điều lo sợ đó đã tàn nhẫn trở thành sự thực: đích thân Chính ủy Trung Đoàn đến gặp vợ chồng chị, trao tặng rất nhiều huân chương cùng những lời động viên,ủy lạo ...Tất cả, chỉ là để đổi lại sự vĩnh viễn ra đi của đứa con 16 tuổi, mà xác của nó vẫn chưa ai biết là nằm ở nơi đâu, xung quanh khu Thành Cổ! Cho đến ngày gia đình dì vào Nam, dì vẫn không nhận được thêm một tin tức nào! Dì An đã khóc khi cho tôi xem những hình ảnh, và các vật dụng hàng ngày của đứa con bạc mệnh...

Mặc dù trong lòng tha thiết muốn giúp, nhưng tôi không dám hứa hẹn gì nhiều, mà chỉ mượn dì vài hình ảnh và vật dụng của người quá cố, hy vọng với sự cầu nguyện chân thành của tôi, sẽ có một sự đáp ứng nào chăng?! 

Và... hơn cả điều ước nguyện, khoảng 2 tháng trước khi đi du học, trong một giấc mộng, tôi đã nhìn thấy và nhận được đầy đủ tất cả các địa danh, địa hình, các con đường mòn, cây cỏ, các mô đất... Tóm lại là tất cả các chi tiết cần thiết cho một cuộc truy tìm mà tôi và Dì An đã bao ngày mong đợi!  

Biết được chuyện này, Dì An hối hả giục tôi lên đường ngay, nhưng vì còn kẹt một vài giấy tờ cần thiết phải hoàn tất cho việc du học sắp tới, nên hơn 1 tuần sau chúng tôi mới khởi hành được.

Dì An và tôi đến thị xã Quảng Trị thì đã tối hẳn. Trời lại mưa dai dẳng suốt mấy ngày liền... Chúng tôi phải tìm nhà trọ nghỉ ngơi, để ngày hôm sau sẽ tiếp tục cuộc tìm kiếm sớm. Sáng hôm sau, từ nhà trọ gần khu nhà thờ làng Trí Bưu, Dì An đã phải mượn cuốc xẻng của nhà thờ, mua 1 vài vật dụng cần thiết, và thuê 2 anh xe ôm nguyên ngày để chuyên chở và phụ giúp chúng tôi trong những việc cần đến bắp thịt! Chúng tôi phải đi trên những con đường làng quê nhỏ hẹp, rồi băng qua một cánh đồng lớn, theo hướng tây bắc để tìm đến một làng có tên là Triệu Thành, nằm ngay sát bờ Nam sông Thạch Hãn. 2 anh xe ôm cho biết làng này xưa kia nghèo lắm, cả làng lèo tèo chỉ có độ vài mươi căn nhà lá. Sau trận chiến kinh hoàng năm 1972, người ta đồn là các làng quanh khu Thành Cổ này đều có rất nhiều ma! Vào những đêm mưa cuồng gió lạnh, các oan hồn tử sĩ đã tụ tập về quanh đây, tiếng khóc than hòa lẫn trong mưa gió, nghe thật rợn người... Ngày nay, nhiều nhà gạch, mái ngói đỏ đã được dựng lên, làm đẹp cho làng, nhưng chủ nhân những ngôi nhà gạch này, hầu hết đã phải lên phường, xã để khai báo là trong khi đào móng xâynền nhà,họ đã gặp rất nhiều bộ xương người. Theo lối đường mòn nhỏ và rất trơn trượt, chúng tôi phải đi một quãng khá xa đến cuối làng về hướng cực bắc. Khu này không có người ở, và con đường mòn bị chắn bởi 1 con lạch nhỏ, có lẽ chảy vào từ sông Thạch Hãn. Nhìn quanh quất, tôi đã tìm thấy bụi chuối dại và cây trứng cá. Tất cả cảnh vật đều đúng y như những gì tôi đã thấy trong giấc mộng! Thật là huyền diệu!!!

Chúng tôi căng 1 tấm bạt che mưa gió, lập 1 hương án nhỏ để thắp mấy nén nhang cầu nguyện. Sau đó chúng tôi 4 người, hì hục đào, xới, xúc đất... Được cái đất ở đây cũng mềm, dễ đào, như là đã có người dọn dẹp và xới lên từ trước, có lẽ bởi trời mưa mấy ngày nay. Khi đã đào được khá sâu, 2 anh xe ôm bỗng reo lên mừng rỡ... Những ống xương người bắt đầu hiện ra, xương chân, tay, xương chậu, rồi thì hộp sọ. Dì An đã bắt đầu mếu máo, rồi khóc lên thành tiếng, trông thật tội! Chúng tôi làm việc như những nhà khảo cổ,nưng niu từng lóng xương, vuốt ve,chải chuốt rồi được rửa sạch bằng rượu trắng trước khi đặt nhẹ vào một chậu lớn bằng nhựa.

Trong lúc mọi người đang phấn khởi thì bỗng nhiên, tôi có một cảm giác thật lạ, có lẽ giác quan thứ sáu đã cho tôi biết: có một cái gì không ổn!? Tôi bắt đầu nhìn thấy dấu vết của 1 đôi bottes de saut bên cạnh những lóng xương chân. Chỉ mềm nhũn như bùn, nhưng cái đế giày bằng loại cao xu thật tốt, thân giày bằng da và vải nylon còn nhận ra được... có một cái ví cũng bằng da, nhưng không một hình ảnh, giấy tờ nào còn tồn tại, tất cả đều nát ra như bùn, đất... Ngang bộ xương chậu, là dấu tích của 1 ceinturon, 1 hộp quẹt zippo đã nham nhở rỉ sét. Không thấy có súng ống, mà chỉ thấy một vài quả lựu đạn đã hoen rỉ mà chúng tôi phải tránh xa. Ngang phía xương cổ, một miếng kim loại nhỏ hình chữ nhật, bằng hai ngón tay, ố rỉ màu nâu sậm, đụng vào là gẫy nát ra từng miếng nhỏ rớt lả tả xuống mặt đất. Xa hơn một chút là 1 cái nón sắt, cũng đã hoen rỉ, một nửa vẫn còn ngập trong lòng đất, không ai muốn đào tiếp. Dì An đã ngừng mếu máo, dì cũng đã nhìn thấy những gì tôi thấy. Ngoài một bộ xương ra, không 1 dấu vết gì chứng tỏ đây là đứa con thân yêu của bà! Chúng tôi hoàn toàn thất vọng. Không lẽ tôi đã được chỉ dẫn... sai?!

Trước những chứng cớ khá rõ rệt, Dì An và tôi đành phải chấp nhận là mình đã tìm lầm phải hài cốt của một người lính phía bên kia! Nhưng phải làm gì với bộ hài cốt này đây? 2 anh xe ôm cho chúng tôi biết là gần đây có một ngôi chùa, phía sau chùa là một khu đất hoang, đã có đâu chừng gần chục ngôi mộ vô danh đã được hòa thượng trụ trì cho phép chôn ở đó. Thật là một giải pháp tuyệt hảo và đã làm thì làm cho trót. Chúng tôi cho tất cả bộ hài cốt vào 1 cái tiểu sành mà Dì An đã mang theo và tìm đến ngôi chùa. Cúng dường cho nhà chùa 1 số tiền, sau đó tôi và Dì An ra sức đắp lên một nấm mộ nhỏ. Xong xuôi, chúng tôi thắp 3 nén nhang, khấn vái... Và sau cùng là một tấm bia nhỏ, cắt ra từ 1 miếng tole do 2 anh xe ôm làm giúp, trên đề: "Người lính Vô Danh - VNCH"...                     

Đêm hôm ấy tại nhà trọ, quá mệt mỏi sau 1 ngày quanh co tìm kiếm, đào xới, đắp mộ...vừa nằm xuống là tôi mơ màng vào giấc ngủ ngay. Trong lúc còn nửa mê nửa tỉnh, tôi chợt thấy thấp thoáng có một bóng người đang bước tới gần chỗ tôi nằm. Trong phòng chỉ có Dì An và tôi, tôi cất tiếng hỏi:

- Dì An chưa ngủ được sao?

Bóng đen đứng dừng lại, một giọng đàn ông còn trẻ, hơi bối rối:

- Dạ... không, là... tôi đây... xin chị đừng sợ! Tôi không thể làm hại được ai, chị cứ an tâm. Tôi... tôi chỉ muốn đến để cám ơn 2 chị đã cho tôi một mái nhà. Một mái nhà tuy sơ sài, tạm bợ, nhưng vẫn còn hơn là... cứ mãi mãi nằm sâu dưới lòng đất lạnh!

Tôi ngồi bật dậy, tối quá, không thể nhìn rõ mặt người lạ! Hơi sợ sợ, nhưng tôi vẫn giữ được bình tĩnh:

- Vậy anh là... là...

- Vâng, tôi chính là người... lính vô danh mà hôm nay đã được 2 chị đắp cho một ngôi mộ!

Đến đây thì tôi  hiểu ra rồi. Chỉ chiếc ghế gần đó, tôi mời anh:

- Anh ngồi đi, và... anh có thể cho tôi biết một chút về anh được không?

Anh ta không ngồi lên chiếc ghế, mà ngồi bệt xuống nền nhà, hai tay ôm đầu gối, dựa lưng vào tường:

- Dạ!... Mà... phải bắt đầu từ đâu nhỉ?... À, tôi nhớ ra rồi ... chắc chị đã biết tôi là 1 người lính miền Nam, lính gì thì tôi cũng không nhớ nữa, Nhẩy Dù hoặc Thủy Quân Lục Chiến gì đó... Chỉ nhớ là khi vẫn còn đang trong tuổi đi học, một hôm tôi bỗng nổi khùng, tự động đăng vào lính, một thứ lính mặc quần áo màu hoa rừng... Thế rồi được huấn luyện và ra mặt trận! Mấy trận đầu, cũng khủng khiếp lắm, nhưng không sao, còn được thăng dần đến chức Hạ sĩ nữa, nhưng từ khi được chuyển  lên đến vùng Quảng Trị này thì căng thẳng thấy rõ, ngày đêm chỉ toàn bom và đạn, máu với lửa...

- Thế còn gia đình anh thì sao, anh tên chi?

- Tên hả? Nói ra chị đừng cười nhé, tôi quên cả... tên của chính mình rồi! Sáng nay, các chị đã đề trên nấm mộ của tôi là "Vô Danh" thật quá đúng! Tôi còn độc thân, và vẫn nhớ là tôi còn 1 bà mẹ và 2 đứa em. Nhà gia đình chúng tôi ở đâu đó trong Sàigòn, không nhớ rõ chính xác là ở đâu, hoàn toàn không nhớ nổi... Đến mặt mũi của mẹ và 2 em của tôi, tôi cũng còn không nhớ là như thế nào... Chỉ hình dung là một khuôn mặt thật đẹp, thật dịu hiền... Nếu như có một phép lạ nào đó, cho mẹ và em tôi xuất hiện ngay tại đây, thì lập tức tôi sẽ nhận ra ngay! Nhưng bảo tả lại hình dáng của bà thì tôi đành chịu, không thể...

- Anh bị mất trí nhớ từ hồi nào?

- Từ hồi tôi bị... chết chị ạ! Ngay khi vừa chết, tôi hoàn toàn không nhớ, không biết gì hết, lơ lơ lửng lửng, trí óc như một tờ giấy trắng... Thời gian qua đi, ký ức dần dần phục hồi lại, từng mảnh, từng mảnh... không theo một thứ tự nào! Tôi đã phải bận rộn suốt ngày, để sắp xếp nó lại theo đúng với quá trình của đời mình.. nhưng việc này coi vậy mà thật không dễ dàng chút nào! Một bức tranh mà tổng quát đã không rõ ràng, thì 1 vài chi tiết cũng chẳng biết phải để vào đâu! Nhưng sao lạ quá chị ạ, có những cái thật quan trọng, thật riêng tư thì tôi vẫn... quên mà những gì không cần thiết, thật... vớ vẩn thì lại hiện lên, rõ mồn một! Tôi có thể đọc lại những bài "học-thuộc-lòng" từ hồi còn nhỏ, không sai một chữ!

Ngừng một phút, anh buồn rầu nói tiếp:

- Chị coi, hồn phách nào mà chịu nổi, bom đạn từ bốn phương tám hướng cứ dồn dập đổ xuống như mưa, ngày này qua ngày khác. Hết pháo từ Cao Hy, từ Tân Vĩnh, Ái Tử... của Bắc Việt dập xuống, rồi pháo của TQLC, của SĐ Dù từ La Vang bắn lên, của QĐ1, của Hạm Đội 7 HoaKỳ ngoài khơi câu vào..B52 thì trải thảm bất cứ lúc nào, dữ dội nhất là ở hành lang từ Nhan Biều lên đến Ái Tử, mặt đất cứ rung lên như động đất! Ngày này qua ngày khác chị ạ, cả ngày lẫn đêm, toàn những loại bom đạn giết người tối tân nhất, hiệu lực nhất... Lại còn phi pháo, bom xăng đặc, bom lửa lân tinh từ những phản lực cơ nữa chứ! Thật tình là ngay cả những linh hồn như chúng tôi, cũng không thể nào kham nổi...

- Các anh chịu đựng như vậy, trong bao lâu?

- Cho đến khi tàn cuộc chiến... riêng tôi thì khoảng hơn 2 tháng! Hơn 2 tháng với trên 1 triệu viên đại pháo: hải pháo, phi pháo, sơn pháo... Hơn 328 ngàn tấn bom đạn đủ loại... một khối lượng bằng 7 lần trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima, đã dội xuống, từ ngoài vào trong, có khi lại từ trong ra ngoài khu Cổ Thành này, nó chỉ rộng khoảng hơn 3 cây số vuông thôi!... Vâng, trận tái chiếm Quảng Trị này là trận chiến ác liệt nhất, làm thiệt hại cho phía Bắc Việt nhiều nhất, trong lịch sử chiến tranh của cả vùng Đông Nam Á đấy chị ạ!  

- Làm sao các anh biết được những điều này?

- Thế chị tưởng chúng tôi không biết những gì đang xẩy ra trên thế gian ư? Chúng tôi biết hết chị ạ! Nhưng biết chỉ để biết thôi, nhất là không thể và không được phép làm bất cứ điều gì xâm phạm đến dương thế... À, mà đáng lẽ tôi phải nói ngay với 2 chị, là khu đất mà các chị khai quật sáng nay là đúng chỗ rồi đấy! Anh ấy là lính thông tin, thuộc Trung Đoàn Triệu Hải, E27- SĐ 320B. Chẳng hiểu đi nối dây điện thoại thế nào, lại lò mò lạc vào đúng tổ kích của tụi tui, bị bắt! Lúc đó bất chợt bom đạn rơi xuống như mưa, tôi phải vội đẩy anh ấy chạy vào cùng núp chung trong 1 cái hầm. Đó là 1 loại hầm chữ A đã cũ, do Việt Cộng đào từ trước và bỏ lại khi đã xâm nhập vào sâu hơn trong nội địa. Loại hầm này khá an toàn với loại đạn bắn thẳng, nhưng xui là đúng lúc đó, một trái pháo không biết của bên nào, đã đổ xập xuống ngay cửa hầm, và chỉ nội sức ép công phá của nó thôi, cũng đủ kết liễu cuộc đời của cả hai đứa! Chưa hết, rồi bom, pháo cứ tiếp tục cày lên, cày lên mãi... cuối cùng là 2 đứa nằm dưới mặt đất đến vài ba thước! 

Ngừng lại một vài giây, anh tiếp:

- Rồi cuộc chiến cũng qua đi... trên mặt đất chỗ chúng tôi nằm, cỏ hoang lan cùng khắp, các bụi cây dại mọc lên chằng chịt, thêm vào là mấy ụ mối... Thế gian lại chìm vào sự thinh lặng dễ sợ! Chỉ riêng trong đầu óc chúng tôi, những tiếng rít của đầu đạn xé không gian, những tiếng bom nổ long trời lở đất... vẫn không bao giờ ngừng nghỉ! ...

- ... Anh làm tôi cảm động quá!... À, anh nói cả 2 anh cùng núp chung một chỗ, mà sao sáng nay chúng tôi lại chỉ tìm thấy có một mình anh?

- Dạ đúng vậy! Trước các chị gần 1 tuần, có một nhóm chừng 8, 9 người đã đến khu chúng tôi ở. Đó là 1 đội Quy Tập của nhà nước, họ khai quang, đào xới một khoảng chừng 50 mét vuông. Là những người khá chuyên nghiệp, với đầy đủ dụng cụ, máy dò... Chỉ cần quan sát thật kỹ thôi, là họ biết phải thâu gom những gì, và để lại những gì... Cuối cùng, 4 bộ hài cốt trong đó có anh ấy, đã được tìm thấy và mang đi... Chỉ còn mình tôi thì nằm ở lại...

- Có phải họ biết anh là người lính miền Nam, nên để lại?

- Dạ, 2 bộ xương nằm gần nhau, xương cốt người Việt thì cũng sàn sàn một cỡ, giống nhau cả, nhưng những vật dụng cá nhân nằm kề 2 bộ cốt thì lại hoàn toàn khác hẳn. Dưới những lóng xương bàn chân anh ấy là tàn tích của một đôi dép râu, ngang chỗ xương chậu là dấu vết của 1 võng bộ đội bằng nylon... Ngoài ra, có những vật dụng mà thời gian chưa tiêu hủy được, như là một nanh heo rừng mà anh ấy đã đeo làm bùa hộ mệnh, một lọ thủy tinh nhỏ đựng thuốc trị thương (?) mà các bộ đội thường có... Và thuyết phục nhất là một bi-đông nước làm tại Trung Quốc, tuy cũng đã hoen rỉ nhiều, nhưng trên đó vẫn nhận ra được dấu khắc tên và nơi sinh quán của anh ấy tại Hà Tây, miền Bắc...Còn những hình ảnh hoặc giấy tờ cá nhân, nếu có thì cũng đều biến thành tro bụi hết...  

- Sao họ lại đang tâm để anh ở lại một mình như thế nhỉ !? Anh có buồn không?

- Cũng phải thông cảm cho họ thôi, họ cũng đã quá bận rộn với mấy trăm ngàn bộ hài cốt trên toàn quốc. Hơn nữa, công việc chính của họ không phải là lo cho chúng tôi, mà là lo cho các liệt sĩ của họ! Còn có vì thế mà buồn không ư? Không chị ạ, có cả hàng ngàn những linh hồn khác, vẫn còn đang chập chờn, phiêu bạt khắp quanh đây...  

- Vậy chứ dưới đó, có sự... kỳ thị, phân biệt gì giữa các anh với nhau không?

Nhìn về phía xa xôi, hình như anh ta hơi mỉm cười:

- Chị làm tôi nhớ lại 2 câu thơ cổ của thi hào Hoàng đình Kiên đời nhà Tống: Hiền ngu thiên tải tri thùy thị, Mãn nhãn bồng cao cộng nhất khâu!...Hoàn toàn không chị ạ! Đã là người chết, cùng chung 1 gò hoang đầy cỏ bồng dại,biết ai là người hiền, ai là người ngu, ai sai, ai đúng làm gì nữa?Vâng, chỉ có những người trên dương thế, đời sống còn phải lệ thuộc rất nhiều vào vật chất, nên mới sinh ra tranh giành, phân biệt nhau thôi. Dưới này, chỉ là những linh hồn, chúng tôi đều coi nhau như anh em, bình đẳng, không hận thù... Và tất cả cùng có chung một nuối tiếc, đó là: chỉ vì áp lực của những siêu cường trên thế giới,mà Việt Nam mình đã trở thành một con cờ thí, đất nước phải trải qua một cuộc chinh chiến tương tàn, nồi da xáo thịt, để biết bao nhiêu triệu người phải hy sinh một cách rất oan uổng!..

- Vậy là ở dưới đó, anh có rất nhiều bạn?

- Rất nhiều chị ạ! Hồi trước thì... thật là nhiều! Ngoài đám thường dân vô tội, chết vì bom rơi đạn lạc, còn thì đều là lính tráng thuộc cả 2 phía: Nhẩy Dù có, Thủy Quân Lục Chiến có, rồi Biệt động Quân, Sư Đoàn 1 BB, SĐ3 BB, Liên Đoàn 81 Biệt kích Dù, Kỵ Binh Thiết Giáp ... Bộ đội Bắc Việt thì đông hơn nhiều, chủ lực có Sư Đoàn 304, SĐ 308, 312, 320, 324, 325, K3-Tam Đảo, một vài Trung đoàn địa phương và tiểu đoàn đặc công.. Có đến cả chục ngàn đứa chúng tôi, vẫn còn ngơ ngẩn vì bom đạn, cứ lang thang vật vờ trên những ngọn cỏ bụi cây, rừng hoang đồi trọc vài cây số vuông xung quanh khu Thành Cổ, hoặc hai bên bờ sông Thạch Hãn này... Đứa nào cũng mong ước một ngày nào đó, được về lại với gia đình, với cố hương!... Sau này thì cứ bớt dần, bớt dần...

- Sao lại như vậy, họ đi về đâu?

- Nhà nước bây giờ là "bên thắng cuộc", đầy quyền lực, tiền bạc và phương tiện. Họ muốn trả ơn những người đã chết, để cho họ và gia đình họ có được cuộc sống trên nhung lụa ngày hôm nay, nên tổ chức rất nhiều đội Quy Tập. Các đội này, chuyên đi khai quật những nơi đã từng là chiến địa đẫm máu ngày xưa, trên toàn quốc kể luôn cả Miên, Lào... để thâu gom những hài cốt mà khi xưa đã được vùi lấp một cách rất sơ sài, qua quít bởi các đồng chí của họ, đang rất vội vã trên con đường bôn tẩu... Và cũng nhờ những nhà ngoại-cảm chân chính như chị, đã có biết bao nhiêu nấm mồ hoang, mồ chôn tập thể đã được khám phá. Một số hài cốt có lẫn hình ảnh, giấy tờ hoặc những vật dụng cá nhân mà thân nhân nhận diện được, thì về đoàn tụ với gia đình; nếu không, phải về nằm tạm trong các lô đã được sắp xếp trước theo quê quán, đơn vị... tại những nghĩa trang liệt sĩ địa phương, chờ!...

- Chắc là nhiều lắm ?

- Nghe nói có đến hơn 300 ngàn bộ hài cốt thuộc tất cả các mặt trận, đang trong tình trạng chờ đợi như vậy, vì chưa tìm ra lý lịch. Rồi tự nhiên phát sinh ra 1 lô những nhà ngoại-cảm "dổm", họ còn dám lấy cả xương súc vật, ngụy tạo là xương người để lừa đảo, trục lợi... Mọi việc từ đó cứ loạn cả lên, giờ thì chẳng còn phân biệt được ai là thực, ai là giả nữa!

- Giờ này họ có còn tìm kiếm nữa không anh?

- Vẫn tiếp tục chị ạ! Họ ước tính là phải còn hơn 200 ngàn bộ nữa!Đây là chỉ riêng liệt sĩ của họ thôi nhé, còn lính miền Nam hoặc là dân đen thì chị biết đấy: tự lo!

Ngừng một giây, anh tiếp: 

- Chị tính đi, chỉ riêng cái tỉnh Quảng Trị này cũng có đến 72 nghĩa trang liệt sĩ! Trên toàn quốc tỉnh nào cũng có, lớn nhỏ ít nhất cũng phải từ dăm bẩy đến vài chục cái. Đáng kể nhất là cái nghĩa trang vĩ đại,"hoành tráng" nhất nước, là nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Nghe đâu nó rộng đến hơn 140 ngàn mét vuông, nằm trên 3 ngọn đồi lớn cạnh thượng nguồn sông Bến Hải. Cho đến bây giờ, đã là nơi an nghỉ của những 10,333 liệt sĩ của họ... Biết bao nhiêu là linh hồn đã tìm được về nhà hoặc một nơi ổn định, để rồi sẽ được giải thoát?...Chỉ riêng chúng tôi, những người lính miền Nam...

Câu cuối cùng anh nói nhỏ quá như lẫn với tiếng khóc,  cố gắng lắm tôi mới nghe được! Biết anh đang quá xúc động, tôi giữ im lặng... Phải mấy phút sau, anh mới lấy lại được một giọng nói bình thường:

- Mà nói thực ra, nhiều anh em như chúng tôi, cũng chẳng biết là nếu về được, thì về đâu? Gia đình ly tán hết sau chiến tranh, người thì buộc phải rời bỏ nơi tổ ấm từ bao đời, để đi vào chốn rừng thiêng nước độc "kinh-tế-mới", người thì vào tù cải tạo, nhà cửa bị chiếm đoạt, vợ con nheo nhóc bị đuổi ra sống nơi đầu đường xó chợ... Lại còn một số không ít, dắt díu nhau đi vượt biên, vượt biển...để rồi phải bỏ thây nơi rừng sâu nước độc đầy thú dữ, hoặc làm mồi cho cả cá biển lẫn hải tặc ... Người nào may mắn thoát đi được thì cũng lâm vào cảnh ruột thịt chia lìa, ngàn trùng xa cách... Về đâu bây giờ? Ngay cả cái nghĩa trang quân đội của miền Nam ở Biên Hòa đó, bây giờ chỉ còn là 1 bãi đất đầy cỏ hoang với nhấp nhô những nấm mồ vô chủ, bia mộ, tượng đài bị đập phá... chẳng còn ai được phép ngó ngàng tới!  Nói chung là chỉ vì những người trên dương thế vẫn còn đắm chìm trong thù hận, phân biệt, nên chúng tôi vẫn còn bị lạc lõng, bơ vơ...

Lúc này, tôi chẳng còn biết nói gì hơn là một câu an ủi thật... vô duyên:

- Thời nào cũng thế anh nhỉ, đầy những bất công!

Anh ta mỉm cười, rồi nhìn xa vời về phía trước:

- Cũng đúng thôi chị ạ, vì chẳng nơi nào tự nhiên mà có sự công bình hết. Để trái đất này và loài người tồn tại được, Thượng đế chỉ cho chúng ta sự quân bình thôi, còn công bình thì không! Con người phải tự tranh đấu dành sự công bình cho chính mình, tùy theo trình độ văn minh của họ! Những câu như "ở hiền gặp lành" hoặc "ác giả ác báo" chỉ có giá trị cho việc răn dạy con trẻ mà thôi...

- À này, vậy chứ ở dưới đó, anh có thấy thiên đàng hay địa ngục gì không?

- Thiên đàng, địa ngục hả? Tôi không thấy, hoặc là chưa thấy gì chị ạ! Những danh từ ấy, nó thật là trừu tượng! Theo tôi nghĩ: thiên đàng, địa ngục, thánh thần hay ác quỷ gì, thì cũng đều ở cả trên mặt đất mà thôi.  Nơi nào người ta sống thật sự tự do, hạnh phúc... thì nơi đó là thiên đường, mà trái lại thì là địa ngục! Cũng ngay trên mặt đất, thiếu gì người cả một đời hiến thân làm việc từ thiện, cứu nhân độ thế, họ đều là tiên là thánh cả. Lại có nhiều người khác, buôn dân bán nước, sống trên xương máu của lương dân, giết hại cả triệu đồng bào... không gọi họ là ác quỷ thì phải gọi là cái gì?

- Vâng, anh nghĩ như vậy cũng không có gì là sai lắm đâu! Nhưng thôi, trở về thực tại. Hôm nay, đắp cho anh được một nấm mộ nhỏ, 2 đứa chúng tôi cứ thắc mắc, không hiểu là như vậy có giúp được gì cho anh hay không ?

- Tốt lắm chị ạ! Chị quên là tôi đang phải lần mò đến đây để cám ơn 2 chị rồi sao? Nấm mồ tuy nhỏ, nhưng nó cũng đủ để làm một dấu hiệu cho những người trên dương thế biết rằng, ở dưới đó có tàn tích của một con người, dù chỉ là một người... "vô danh"!

- Vâng... nhưng ý tôi muốn nói là: nó có giúp gì cho anh trong cái gọi là... là "siêu thoát" hay không?

- Đáng tiếc là không chị ạ! Sớm muộn gì thì tất cả mọi linh hồn cũng đều được giải thoát thôi.Sớm hoặc muộn. Cũng như trên dương gian, tuổi thọ của con người không ai giống ai, có người thọ, đại thọ... Ngược lại, có người lại bị chết yểu, chết non...Đều là số mệnh cả, vẫn còn nằm trong sự huyền bí của Thượng Đế mà chúng ta không thể biết được. Ngay cả ở dưới này, lâu lâu chúng tôi lại thấy có một số anh em... biến mất!... Chúng tôi ngờ rằng họ đã được siêu thoát, giải thoát, hoặc là "đầu thai" gì đó, không ai biết! Chắc là phải... chết thêm một lần nữa mới biết được chị ạ!!! ...

Suy nghĩ một lúc, anh tiếp:

- Vấn đề là phải kiên nhẫn chờ, chờ đến ngày mình được giải thoát! Mà trong khi chờ đợi như vậy, còn gì đẹp hơn là được nằm trong một nghĩa trang gia đình, nghĩa trang làng mình hoặc thành phố mình. Được nhìn thấy những người thân yêu đi lại ở xung quanh, được nhìn thấy những hàng cau,lũy tre làng,những cánh diều của tuổi thơ... Lại còn mùi trầm hương, nhang khói nữa chứ... Những câu kinh, tiếng mõ, tiếng chuông chùa... Tất cả đã hòa quyện vào nhau, tạo thành một chất xúc tác rất mơ hồ, rất huyền ảo, làm cho âm và dương gần gũi nhau hơn... Người công giáo thì họ ao ước được nghe lại những tiếng kinh cầu, những bản thánh ca, hồi chuông giáo đường... đều là những gì rất cần thiết để làm ấm lại, những linh hồn giá lạnh... Vâng! chúng tôi sợ lắm, sợ phải lang thang vất vưởng ở những nơi đồng không mông quạnh, núi non bạt ngàn như chỗ chúng tôi đã bị gục ngã...

Đến đây, anh từ từ đứng dậy, cố gắng đứng thẳng người, làm như đang sửa soạn để chào một vị thượng cấp:

- Biết là 2 chị vừa trải qua 1 ngày thật mệt nhọc, nhưng tôi không thể không đến đây, để nói một lời cảm tạ chân thành tự đáy hồn của tôi. Không tìm được người thân,  2 chị có thể lặng lẽ  bước đi, như bao người khác... Nhưng 2 chị đã không làm thế, ngay cả với một người vô danh như tôi đây! Tôi chắc chắn sẽ không bao giờ quên ơn 2 chị... Và bây giờ... chị có thể tiếp tục giấc ngủ của chị, tôi xin phép...

Nói xong, anh ta lặng lẽ quay lưng bước ra cửa, đầu như hơi cúi xuống...

Một làn gió lạnh tràn vào, tôi giật mình bừng tỉnh dậy! Biết là mình vừa mới qua 1 giấc mơ... Có phải 1 giấc mơ không, mà sao tôi vẫn còn nhớ rất rõ, từng chi tiết? Nhìn vội ra phía cửa, hình như tôi còn thấy thấp thoáng cái bóng của anh, đang nhạt nhòa lẫn vào một màn sương càng lúc càng dầy đặc...

-----

Đầu năm 2011, vào 1 ngày Xuân trong tiết Thanh Minh, tôi nhận được 1 lá thư của chị Trâm từ Việt Nam. Lá thư khá dài, ngoài một vài thông tin, còn có cả những lời như "tâm sự" của chị nữa. Chị cho biết là gia đình Dì An đã chính thức nhận được đầy đủ bộ hài cốt của người con, có DNA xác nhận và đã được mai táng tại nghĩa trang của dòng họ tại Hà Tây, Bắc Việt. Còn về phần chị, chị đã có được mảnh bằng mà chị mơ ước, tuy nó chỉ là một associate degree, nhưng ở Việt Nam, nó là quý lắm! Chị dự định sẽ chỉ dùng sự hiểu biết của mình cho việc giáo dục thôi, vì chị đã tạm ngưng công việc của một "nhà ngoại-cảm" rồi. Nhiều lúc chị bâng khuâng tự hỏi: không biết là vì có "duyên nợ", hay là vì được trao một "sứ mệnh", mà bỗng dưng chị lại có khả năng của 1 nhà ngoại-cảm, sau 1 trận ốm liệt giường? ... Cho dù vì bất cứ một lý do gì, chị cũng nghĩ là mình phải dùng năng khiếu thiên phú này để giúp người. Mà người đây có nghĩa là tất cả mọi người, chứ không phải chỉ riêng cho 1 nhóm cùng chung một phe, một đảng!  Những người "ngã ngựa" thì đã nhận lãnh đầy đủ các kiểu đòn thù rồi, có cần phải tiếp tục với những bộ hài cốt nữa hay không?Thực tế đã khiến chị phải tạm dừng lại, để chờ! Chờ và hy vọng... Đã từng du học ở những nước tiền tiến, chị thất vọng khi thấy những người lãnh đạo trong nước, lòng nhân bản của họ hầu như là không có, mà tiến trình văn minh của họ thì lại đi quá chậm! Tệ hơn nữa, nhiều khi họ còn đi cả... giật lùi! Ngược dòng lịch sử, chúng ta đã từng chê trách hành động quá đáng, không quân tử của vua Gia Long, là trả thù cả với hài cốt của vị anh hùng áo vải Quang Trung. Thế mà ở thế kỷ thứ 21 này,chuyện tương tự xấu xa đó cũng đã đang được tái diễn, trên toàn thể nước Việt!!! Cuối thư, chị có viết là: Để tránh khỏi phải đau lòng, nhiều khi thà không làm gì hết, còn hơn là chỉ được làm có phân nửa công việc!

Gấp lá thư của chị và để trong túi áo, tôi nhìn ra nghĩa trang mênh mông ngoài kia; có những ngôi mộ thật là đẹp, và trên đó, có những bó hoa cũng thật là đẹp, cho những linh hồn may mắn. Tôi chợt nghĩ đến, ở nhiều nơi xa xôi, hoang vắng cuối một vùng trời nào đó, có biết bao nhiêu là mảnh hồn khác, vẫn đang còn âm thầm phiêu bạt, lạc lõng, bơ vơ... vì vẫn chưa tìm được con đường về với mái ấm gia đình!   


Bùi Thượng Phong