Thursday, April 18, 2024

Nỗi Buồn Cuối Đời Của Một Người Lính Già Lưu Lạc - Phạm Tín An Ninh


(Viết tặng Song Vũ Ngô Văn Xuân và những người vợ lính trung hậu)


Dạo sau này, anh không thường gọi tôi để hàn huyên như những năm trước. Ở cái tuổi trên 80, chồng chất bao nỗi đau buồn từ sau ngày gãy súng, tan hàng, tù tội, ly hương, rồi trải qua bao nhân tình thế thái, mới đây lại phải chứng kiến cảnh chiến hữu, huynh đệ đồng môn, chỉ vì có chút bất đồng mà nặng lời nhau, rồi quay lưng, chia ba xẻ bảy, nỗi chán chường càng đè nặng trong lòng, cộng thêm một vài chứng bệnh tuổi già, làm cho anh không còn thiết tha một điều gì nữa. Nói chuyện với anh, tôi cũng trở nên dè dặt, chỉ nghe giọng nói để đoán anh đang vui hay buồn và không dám nhắc lại những biến cố nào có thể làm vết thương trong lòng anh nhói đau trở lại, dù biết anh vẫn luôn quí mến tôi như ngày xưa, cả một thời cùng vui buồn, sống chết bên nhau. Đặc biệt, chúng tôi ở cạnh nhau trong khu cư xá của đơn vị, nên hai gia đình lại càng thân tình, gắn bó. Sau này trở thành cấp chỉ huy trực tiếp của tôi, nhưng lúc nào anh cũng xem tôi như em hay một người bạn nhỏ. Anh lớn hơn tôi đúng ba tuổi. Lúc ấy chúng tôi đều còn khá trẻ, cả hai vừa mới có hai đứa con đầu. Vợ anh là người đàn bà trẻ xuân sắc, hiền thục, đảm đang, hết mực lo lắng, chăm sóc chồng con, và cũng như những người vợ lính khác, luôn âm thầm cầu nguyện và hồi hộp trông chờ chồng bình an trở về sau các cuộc hành quân.


Buổi sáng ngày 6 tháng 12 năm 2023, đang giữa mùa đông Cali, ngoài trời mưa lạnh, tôi thức dậy sớm nhưng vẫn còn trùm chăn nằm nán trên giường. Nghe tiếng điện thoại reo, nhìn trên mặt điện thoại, đồng hồ chỉ 6 giờ kém 15 phút và tên anh hiện ra, tôi nghĩ chắc phải có điều gì đặc biệt lắm anh mới gọi vào giờ này. Tôi ngần ngừ với một chút lo âu và nghe giọng nói đầy cảm xúc:

– Bà xã anh vừa mới mất. Anh báo tin em biết.

Dù đã đoán trước có điều không lành, nhưng tôi vẫn mất chút bình tĩnh, khựng lại giây lát rồi buột miệng:

– Chị mất lúc nào, anh?

– Mới sáng sớm hôm nay, khoảng gần 2 giờ trước.

Hình dung đến hình ảnh của anh chị trong lần vợ chồng tôi mới đến thăm cách đây hơn một tháng, muốn hỏi đôi điều về sự ra đi của chị, nhưng tôi nghẹn ngào nên chỉ nói thêm được một câu:

    -Vợ chồng em xin chia buồn với anh và các cháu. Anh cố gắng giữ gìn sức khỏe để lo cho chị!

Hai hôm sau tôi gọi lại để được nghe anh nói về nguyên nhân sự ra đi của chị và chương trình dự trù cho ngày tang lễ,


Sáng ngày 26.12.2023, cùng vài người bạn đơn vị xưa, từ nhiều nơi, chúng tôi có mặt tại Oak Hill Memorial Park ở thành phố San Jose để tiễn đưa chị về cõi vô cùng và trực tiếp nói lời phân ưu đến anh cùng các cháu.

Đứng bên di ảnh của chị đặt phía trước quan tài, đầu bịt khăn tang trắng, trông anh thật tiều tụy, làm chúng tôi đau xót, nghẹn lời. Định tâm tình với anh nhiều điều nhưng rồi cũng chỉ thốt được đôi câu trong nghẹn ngào, nước mắt. Anh đứng bất động, tôi có cảm giác như nhìn thấy được bao đau đớn, xót xa đang tràn ngập trong lòng anh. Hướng về phía chúng tôi, nhưng chắc trong sâu thẳm từ ký ức, anh đang hình dung đến chị, với cả một đời hy sinh, thua thiệt, đặc biệt khi chồng mình bất ngờ trở thành người bại trận, tù tội oan khiên, và chị cùng các con cũng trở thành nạn nhân trả thù hèn hạ của đám người thắng trận.


Tháng 9 năm 1983, tôi ra tù trước anh. Trước khi về quê ở miền Trung tôi ghé vội lại Sài gòn tìm thăm chị và các cháu. Sau nhiều năm nên trí nhớ khá mơ hồ, nhưng rồi tôi cũng tìm đến đúng nhà của anh chị. Một ngôi nhà nhỏ trong khu Khánh Hội, bên kia cầu Calmette, mà bà cụ, mẹ anh đã để lại sau lúc qui tiên. Cửa đóng. Tôi gõ nhẹ, ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà lạ bước ra, nói giọng Bắc rất khó nghe. Tôi bảo đến tìm thăm bà chị, nhưng không ngờ nhà đã đổi chủ. Người đàn bà lắc đầu, nhưng lại bảo mẹ con bà ấy vẫn còn ở đây, và chỉ tôi xuống cái chái bếp phía sau nhà. Tôi ngỡ ngàng khi trông thấy chị và bốn đứa con nhỏ sống chật chội trong căn bếp, chỉ đủ kê một cái giường nhỏ. Chị bảo căn nhà trên đã bị tịch thu và mẹ con chị bị đuổi xuống xó bếp này. Chị nở một nụ cười chua chát: “cũng còn may là không phải đi vùng kinh tế mới, nhờ mấy đứa con còn quá nhỏ!”


Mồ côi cha khá sớm. Năm 1954, gia đình anh kẹt lại miền Bắc. Mãi đến năm 1957, anh cùng mẹ và cậu em trai mới rời quê Hải Phòng, theo một vài người bà con, vượt biển vào Nam bằng chiêc thuyền buồm. Khi đến Quảng Bình, tưởng đã qua khỏi sông Bến Hải, cặp vào bờ thì bị bắt. Nhờ sự khôn khéo của mẹ, cả ba mẹ con được thả sớm. Năm sau mẹ lại quyết tâm đưa các con ra đi lần nữa, và lần này may mắn đã đến Cửa Việt. Ba mẹ con được sắp xếp tạm cư ở thành phố Huế. Anh tiếp tục đến trường. Cậu học trò vừa tròn 18 gặp cô học trò hàng xóm, nhỏ hơn mình một tuổi, từ xứ Quảng ra Huế trọ học ở nhà bà chị có chồng làm công chức. Thấy cô bé xinh xắn dễ thương nên chàng trai Hải Phòng đem lòng cảm mến, chứ khi ấy cả hai đang còn đi học nên đâu dám tính chuyện yêu đương, Nhưng chỉ hơn một năm sau, vì không thuận tiện cho việc sinh nhai, bà mẹ lại dẫn hai con vào Sài gòn tái nghiệp. Thời ấy phượng tiện liên lạc khó khăn nên hai người mất tin nhau. Sau khi đậu tú tài, anh tình nguyện vào Khóa 17 Trường Võ Bị Đà Lạt. Ngày nhập học, anh bất ngờ gặp lại một người bạn học cùng xóm cũ lúc còn ở Huế, và bất ngờ hơn khi nghe anh bạn cùng khóa này nhắc tới cô bé học trò xứ Quảng ngày xưa, bảo “con bé bây giờ xinh lắm” rồi cho địa chỉ khuyên anh nên viết thư thăm “mi cố giữ đừng để mất con bé này, uổng lắm!” Người bạn đồng môn ấy sau này là Đại Tá Võ Toàn, đã ra đi trong những giờ phút cuối cùng theo vận nước.

Nhờ người bạn này mà anh gặp lại người xưa. Rồi theo tiếng gọi của con tim, chị rời miền Trung vào Sài gòn trọ học ở nhà một bà chị khác có chồng đang là Trưởng ty Cảnh Sát Gia Định. Anh ghé thăm vội vã trong bộ quân phục SVSQ khi về thủ đô tham dự cuộc diễn hành nhân ngày Quốc Khánh 26.10 năm ấy.


Cuối tháng 3-1963 ra trường, anh về trình diện Sư Đoàn 7.BB để chính thức bắt đầu cuộc đời lính chiến. Anh làm đám cưới khi đang là đại đội trưởng trinh sát, và chị bắt đầu cuộc đời làm người vợ lính. Đơn vị anh hoạt động quanh vùng Mỹ Tho, Kiến Phong, Hậu Nghĩa, Bình Dương…Thời gian hạnh phúc ngắn ngủi là những lần anh trở về vội vã sau các cuộc hành quân, để sau đó là những ngày đêm triền miên nhớ nhung, âu lo, cầu nguyện. Sau khi sanh đứa con đầu lòng, theo lời khuyên của mẹ chồng, chị bồng con theo anh từ đó. Hết miền Tây sông nước, đến miền Trung nắng gió, rồi cuối cùng là Cao Nguyên bụi đỏ, mưa mùa. Sống trong các trại gia binh, chia sớt khổ nhọc lo âu với vợ con đồng đội đang cùng chiến đấu với chồng mình. Cũng lại xa vắng, đợi chờ và cầu nguyện theo bước chân chồng trong các cuộc hành quân, và đau đớn mỗi lần trong trại gia binh có thêm những vành tang trắng.


Anh làm đại đội trưởng, tiểu đoàn truởng rồi trung đoàn phó cho một đơn vị tác chiến lưu động, đêm ngày sống chết cùng đồng đội anh em. Lần điều động đơn vị tạo được nhiều chiến công hiển hách trong trận chiến Mùa Hè 1972 tại chiến trường ngập đầy khói lửa Kontum, anh được thăng cấp đặc cách và lên nắm trung đoàn.

Trước kia, khi cuộc chiến chưa khốc liệt thì đơn vị có khá nhiều thời gian sinh hoạt tại bản doanh, các vị trung đoàn trưởng có nhiều thời gian hơn để sống yên ả bên gia đình, nhưng giờ thì cả trung đoàn miệt mài nơi trận tuyến Kontum, Pleiku, trong khi hậu cứ cùng trại gia binh lại ở tận Ban Mê Thuột, xa tít mịt mùng. Nếu thi thoảng có dịp ghé thăm vợ con, cũng chỉ trong chốc lát. Cuộc chiến ngày một khốc liệt, đặc biệt sau ngày Hoa Kỳ đơn phương cùng CSBV ký Hiệp Định Paris quái đản vào cuối tháng 1/1973, cắt giảm gần hết viện trợ quân sự cho đồng minh VNCH, người chỉ huy như bị trói cả hai tay, đau đớn nhìn đồng đội phải chiến đấu trong cam go thiếu thốn. Đạn dược, phương tiện, Không yểm bị hạn chế tối đa, cấp chỉ huy lại càng đau đớn hơn khi em út phải hy sinh ngày một nhiều hơn trong ngậm ngùi, tức tưởi.


Trong mấy năm đi tìm chiến thắng tại các chiến trường khốc liệt Tây Nguyên này, anh đã mất khá nhiều những đàn em, những sĩ quan niên đệ và cả những người lính trung thành, từng bao năm cùng bên nhau sống chết mà anh hết lòng yêu thương, tin cậy, xem như anh em trong một đại gia đình. Giờ mỗi lúc nhìn lại đơn vị với nhiều khuôn mặt mới, anh cảm thấy buồn, xót xa vô hạn. Ngay từ thời điểm ấy, mỗi khi hai anh em có dịp ngồi tâm tình, anh đã buồn bã nhìn ra viễn cảnh bất hạnh, đau buồn về số phận những người lính chúng tôi cùng với cả quê hương đất nước. Dù vậy, anh vẫn âm thầm, kiên định một lòng chiến đấu bên cạnh đồng đội cho đến giờ phút cuối cùng. Trong giờ khắc tuyệt vọng nhất, đôi lần anh thoáng nghĩ đến cái chết, nhưng lại không đành lòng khi nhớ tới vợ con.


Ngày 11.3.1975 Ban Mê Thuột mất vào tay giặc. Trại gia binh trở nên bất an. Những người vợ lính vừa lo lắng cho sự an nguy của con cái vừa lo lắng cho chồng, không biết thân phận mình rồi sẽ ra sao. Được tin cả trung đoàn sẽ trở về tái chiếm Ban Mê Thuột, những người vợ lính lại thấp thỏm lo âu. Họ cũng có ít nhiều hiểu biết về kẻ thù và tìm cách đối phó. Họ nghĩ, sau khi chiếm được Ban Mê Thuột, chắc chắn Cộng quân sẽ cô lập và cho người trà trộn vào trại gia binh để theo dõi tin tức, tình hình, và biết đâu có cả nội tuyến. Có thể bọn họ biết anh đang chỉ huy đại đơn vị trở về tái chiếm, nên tìm bắt vợ con anh để làm con tin hầu gây áp lực, một số các chị đã âm thầm đưa chị và các cháu đi ẩn trốn, rồi sau đó tìm cách ra khỏi vùng Cộng quân tạm chiếm.


Sau một thời gian vất vả đói khát, chị và các cháu về đến nhà sau khi Sài gòn đã nằm trong tay giặc. Sau này, có dịp gặp lại các chị vợ của một số hạ sĩ quan và binh sĩ, tôi rất cảm kích khi nghe họ kể về lòng kính quí mà họ đã dành cho chị, vì chị sống rất bình dị, thân thiện và luôn giúp đỡ mọi người, cho dù chồng chị đang là cấp chỉ huy của trên dưới ba ngàn quân sĩ dưới quyền. Họ còn biết anh là một cấp chỉ huy trẻ tuổi, thao lược, liêm khiết, và cuộc sống của mẹ con chị cũng rất bình dân, đạm bạc.

Rồi hơn 13 năm anh bị tù đày, chị phải bươn chải từng ngày nuôi đàn con nhỏ giữa vòng vây thù hận chất chồng. Trong hoàn cảnh này, người vợ lính còn khốn cùng khổ nhục hơn so với chồng mình đang phải sống trong tù ngục. Ngày xưa, chắc người phụ nữ Việt nam chưa có thời nào phải khốn khổ bằng lúc này, vậy mà nhà thơ Hồ Dzếnh đã vinh danh bằng mấy câu thơ để đời:

Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt nam tươi

Nếu còn sống đến bây giờ, không biết ông nhà thơ sẽ nạm những gì cho xứng đáng với tấm lòng của những người vợ lính miền Nam trung hậu thủy chung?

Rồi anh cũng được trở về với tấm thân tiều tụy và một tương lai mờ mịt. May mắn nhờ có chương trình HO, anh đưa chị cùng các cháu, đành lòng rời bỏ quê hương cùng mồ mả mẹ cha để sang vùng đất hứa. Mang theo bao thương tích đang còn trên thân xác lẫn trong tâm hồn, với cái tuổi đã hơn nửa đời, người ta sẽ chẳng dễ dàng gì để làm lại cuộc đời trên vùng đất lạ – lạ từ con người, ngôn ngữ, đến khí hậu lẫn tập quán. Khi cố gắng hội nhập và lo cho các con tạm ổn định đời sống, học hành, thì tuổi già cũng vừa ập đến. Niềm vui vừa mới lóe lên thì nỗi buồn vì bệnh hoạn và những ký ức từ quá khứ trỗi dậy, đau nhói trong lòng.

Anh giải sầu bằng cách đọc sách, viết lách và nghiên cứu về thiền học. Niềm an ủi duy nhất là sự thành đạt của các cháu nội ngoại cùng tình huynh đệ đồng môn, chiến hữu. Anh thường bảo với tôi là, bọn mình đã mất hết giờ chỉ còn lại cái tình này. Nhưng rồi cách nay mấy năm, bất ngờ xảy ra chuyện bất hòa giữa những đồng môn mà anh từng xem trọng như huynh đệ một nhà, giờ quay lưng, chia ba xẻ bảy.

Sự kiện đau buồn này như một nhát dao cuối cùng chém vào tim óc vốn đã đớn đau già cỗi, làm anh muốn quỵ ngã. Có lần anh  bảo nhỏ tôi: đừng nhắc lại chuyện đau lòng này nữa. Anh không chịu được!


Hôm nay, nhìn anh đứng thẫn thờ trước linh cữu của chị, chúng tôi biết anh buồn và đau xót lắm, bởi từ ngày đón cô con gái xinh đẹp xứ Quảng về làm vợ, anh đã trót nặng với lời thề quyết “không mưu cầu an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”, để rồi khi “chí vẫn còn mong tiến bước mà sức thì không kham nổi đoạn đường”, nên cả cuộc đời chị cũng phải vì anh, khổ lụy.

Bây giờ chị đã ra đi, bỏ anh ở lại với sự cô đơn, cùng bao tiếc thương, trăn trở. Vết thương cũ trong lòng vẫn chưa lành, giờ đớn đau trở lại.

Vốn là một Phật tử thuần thành, chắc chắn anh đã ngộ được cái nghĩa “sắc không” của lẽ vô thường, nhưng tôi biết là anh vẫn đang xót xa đau đớn lắm, bởi từ lý thuyết, giáo lý, tới cảm xúc thực tế luôn là một khoảng cách khá xa. Thương và nhớ anh, nhưng tôi không dám gọi, ngại phải khuấy động thêm những con sóng ngầm còn lại đâu đó trong lòng anh. Cần có một thời gian nhất định nào đó để anh có thể bình ổn được tâm hồn.

 Hình dung mai này, đặc biệt về đời sống tinh thần của anh sau ngày chị ra đi, lòng tôi bỗng lặng xuống khi nhớ tới một đoạn anh viết ở đâu đó trong “Sau Cơn Binh Lửa”, tác phẩm đầu tay của anh, xuất bản trước đây đúng mười năm:

“Tuổi đời chồng chất, sức khỏe và những hăng say của tuổi thanh xuân ngày tháng nguội dần. Tôi thấy cuộc sống mình hụt hẫng hoang mang. Mỗi năm lại vắng thêm đồng đội và rồi một ngày nào đó, cũng sẽ tới lượt mình. Điều tự nhiên này, thực chất chẳng phải là nỗi ưu tư bởi vì đó là quy luật. Nhưng điều làm tôi suy ngẫm là ý nghĩa về cuộc đời của chính mình, thế hệ chúng tôi, qua những việc đã làm, những đau thương đã trải…thực sự là gì? Hoặc chẳng là gì hết?”

Cầu xin ông Trời ban cho anh, và cho cả những người lính già lưu lạc chúng tôi, thêm nhiều nghị lực, để tiếp tục sống nốt những tháng ngày còn lại, dù chỉ trong vô vị khi bất lực nhìn quê hương, dân tộc mình tiếp tục điêu linh


Đầu năm 2024
Phạm Tín An Ninh

Posted by: lpk 116

Wednesday, April 17, 2024

Tiểu Bonsai
































Anh Thập chuyển 

Mẹ Tôi- Người Vợ Lính Miền Nam


Mẹ tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu có, ông bà ngoại là điền chủ ruộng cò bay thẳng cánh ở miệt Phú Xuân Nhà Bè. Mẹ được ăn học ở thành phố, sau thời trung học ở trường Gia Long rồi đến Đại học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt.

Ba tôi lại sinh trưởng trong gia đình nông dân nghèo khó, gia đình lại đông anh em, nhưng được cái Ba tôi học giỏi, hiền lành và rất có hiếu. Cũng vì gia đình bên ngoại ngăn cản nên Ba tôi "thất tình", đăng lính dù cổng trường Đại học Văn Khoa, Sư Phạm đang rộng mở. Bà Ngoại làm mối cho Mẹ nhiều người nhưng Mẹ đều lắc đầu. Khi Ba tôi học xong khóa sĩ quan Thủ Đức 16 và được thăng cấp bậc Đại Úy, và Mẹ tôi thì cũng "chưa có ai" khi tuổi gần ba mươi. Có thể vì vậy mà bà ngoại tôi xiêu lòng và đồng ý cho Ba Mẹ tôi lấy nhau vào những ngày cuối năm 1969.

Dù bị ngăn cản từ đầu và phải qua nhiều khó khăn, thử thách, Ba Mẹ tôi mới đến được với nhau, nhưng sau đó, Ba tôi lại là người con rể được bà Ngoại yêu quý nhất.

Cưới xong là Ba tôi ra mặt trận, đi khắp các chiến trường miền Nam từ Quảng Trị, Khe Sanh đến Long Giao, Long Khánh, Bình Long, Phước Long. Ngày tôi chào đời, Ba tôi còn chiến đấu tận bên Lào, bên Cam Bốt. Ôi! Những người vợ lính thời chiến!

Chiến tranh leo thang trong giai đoạn 70-74 thật khốc liệt. Mùa hè đỏ lửa 72, những trận đánh dữ dội ở Khe Sanh, Bình Giã, Đồng Xoài..., tin tử trận dồn dập về từng giờ, từng ngày. Mẹ như ngồi trên đống lửa. Mẹ vừa đi làm ở Tòa Đô Chánh vừa nuôi dạy chúng tôi và trông ngóng tin tức của Ba ngoài mặt trận, đứng ngồi không yên.

Ngày mất miền Nam, Ba tôi đi tù. Mẹ bụng mang dạ chửa, một mình sinh nở. Thằng em tôi ra đời vào tháng Sáu năm đó, đúng lúc gia đình đau thương và túng quẫn nhất. Mẹ một thân một mình, mấy đứa con còn nhỏ xíu, không tiền bạc. Với cái lý lịch "ngụy quyền" và có chồng đi "học tập cải tạo" không còn nơi nào dám nhận Mẹ vào làm. Mẹ xoay sở mọi cách để chúng tôi có cái ăn hàng ngày, đồ đạc trong nhà lần lượt ra đi đến khi không còn gì có thể bán được, Mẹ phải đi bán hàng rong cực nhọc đủ điều, nhưng Mẹ không có nửa lời than van.

Tôi còn nhớ, mỗi lần tết đến, vì không có tiền mua quần áo mới cho chúng tôi, Mẹ ngồi cắt từng chiếc áo dài của Mẹ khi xưa để may cho chúng tôi những bộ đồ mới đi chúc Tết họ hàng. Mẹ không muốn chúng tôi buồn và tủi thân, một mình Mẹ cam chịu.

Sau vài năm bặt tin của Ba, gia đình nhận được tin về người ở tận trại tù vùng Hoàng Liên Sơn Yên Bái, mẹ tôi lại lo khăn gói lên đường thăm Ba. Thời đó, từ Nam ra Bắc quả là "gian khổ chập chùng", phải đổi bao nhiêu chuyến tàu, chuyến xe, băng rừng lội suối mới tới chỗ Ba tôi bị giam giữ. Thân trong lao tù, nhưng Ba luôn an ủi khích lệ gia đình, cứ mỗi độ xuân về Ba lại gởi cho chúng tôi những bài thơ Ba làm, khuyên nhủ dạy bảo chúng tôi.

Suốt tám năm ròng, Mẹ tôi tảo tần nuôi con, nuôi chồng không quản thân mình. Có thời ngăn sông cấm chợ, Mẹ phải gởi chúng tôi cho bà Nội, đi buôn chuyến Sài Gòn Phan Thiết. Sau mấy lần bị tịch thu hàng, Mẹ tôi không còn vốn liếng đi buôn nữa nên tiếp tục việc chạy hàng rong ngoài chợ. Tôi cũng ôm thùng cà-rem ngồi bán ở góc đường đầu ngõ cùng mấy thứ bánh kẹo lặt vặt bán cho mấy đứa con nít trong xóm để kiếm thêm ít tiền phụ mẹ phần nào.

Khi tới mùa lúa, Mẹ tôi về Nhà Bè làm ruộng với gia đình cô tôi để được chia chút gạo trắng cho chúng tôi có những bữa cơm không độn khoai mì, bo bo. Từng là tiểu thư thành phố, có ăn có học, nhưng công việc nặng nhọc đã cướp đi vẻ quý phái của Mẹ tự khi nào. Nhìn mái tóc điểm sương, đôi tay thô ráp, gương mặt hằn nỗi nhọc nhằn sớm tối của Mẹ, chúng tôi thấy thương Mẹ vô cùng.

Hàng đêm trước khi ngủ, mấy mẹ con trên một chiếc giường chật như nêm nhưng chúng tôi rất thích, không ai chịu đi ra chỗ khác ngủ. Chúng tôi lớn dần theo những câu chuyện cổ tích của Mẹ kể. Mẹ tôi đã bươn trong rác rưởi đọa đày mà đi, nhưng Mẹ vẫn dành cho chúng tôi những niềm vui trẻ thơ, con cái vẫn là tài sản quý giá và quan trọng nhất đối với Người. Mẹ muốn chị em chúng tôi biết yêu thương nhau, biết hy sinh chia xẻ cho nhau; có ký ức tốt đẹp về tuổi thơ của mình; có kỷ niệm về gia đình êm ấm. Mẹ nói "Con người ta nghèo nàn về vật chất không sao, nhưng ai nghèo nàn về tâm hồn và tâm linh thì đáng tiếc lắm các con ạ. Mẹ muốn các con dù trong hoàn cảnh hiện tại khó khăn đói nghèo, nhưng tâm hồn mình không nghèo nàn". Mẹ là người đi góp nhặt từng niềm vui, tiếng cười cho chúng tôi trong những hoàn cảnh bi thương nhất của cuộc đời.

Cuối cùng, sau bao nhiêu năm mỏi mòn trông ngóng, Ba tôi trở về từ trại tù. Nhưng gia đình chúng tôi đoàn tụ chẳng bao lâu thì Ba tôi từ trần, khi Mẹ mới vào cái tuổi bốn mươi hai. Nhiều tai nạn dồn dập đổ xuống gia đình tôi, nhưng một lần nữa, vì chúng tôi, Mẹ không ngã gục.

Sau khi chúng tôi tới được đất Mỹ, một lần nữa, vì con cháu, Mẹ đành bỏ lại quê hương, nơi Mẹ đã sống gần bảy mươi năm; sang một đất nước xa xôi, lạ lẫm, bất đồng ngôn ngữ, văn hóa. Lòng Mẹ đau đáu nhìn về nơi chôn nhau cắt rốn, đau xót; nơi ấy Ba tôi đã nằm xuống, mồ im mả lạnh.

Cuộc đời của Mẹ tôi, cũng như của tất cả những bà Mẹ Việt Nam cùng thời, buồn nhiều hơn vui. Thời chiến thì mất chồng, mất con, sống trong cảnh đạn bom khói lửa và những cuộc di cư lánh nạn triền miên; đến “thời bình” thì bị giam cầm, nghèo khổ trong trại tù lớn là cả quê hương Việt Nam. Sang đến Mỹ, một đất nước giàu có, tự do thì lại làm những công việc chân tay cực khổ, nuôi con ăn học. Nhưng khi con khôn lớn, lập gia đình, thì cũng chỉ một mình mẹ trong căn nhà trống vắng.

Trong mùa lễ Vu Lan, tôi tự hứa với lòng mình là sẽ làm mọi thứ để giữ nụ cười và chút niềm vui còn sót lại trên gương mặt đã già nua và hằn những vết đau khổ của Mẹ.

Cầu mong cho những tháng ngày còn lại của các bà mẹ được yên bình, vui vẻ bên cháu con.


Trang Diệp

Share Lại Quê Mẹ

Chúc Mạnh Khỏe Vui Tươi - Minh Lương

Hỏi đáp: Nên Ăn Trái Cây Lúc Nào, Tắm Nước Nóng Hay Nước Lạnh Tốt, Tắm Khuya Phổi Có Nước? - BS Phạm Hiếu Liêm

Tuesday, April 16, 2024

Trình Độ Nói Dóc Của Việt Cộng Vẹm - Nguoiviettudo

Hình trên Google

 

Hồi trước năm 75, nhiều khi không làm gì mà lại ngủ không được vì vừa đi ca phê với bạn bè, tôi thường hay táy máy chiếc radio của ba tôi và tìm nghe Đài Hà Nội . Tò mò muốn biết họ nói cái gì và thường thường  tôi hay rơi vào những giờ đọc tin tức. Người nữ Xướng ngôn viên có giọng nói như người Tàu nói tiếng Việt rất sắt đá . Ngày nào cũng nghe cac "Chiến Sĩ Giai Phóng" đại thắng và tiêu diệt quân Mỹ Nguỵ. Hèn gì họ rất mừng vi hầu như chiến thắng đã ở trong tầm tay. Chỉ khi ngồi buồn không biết làm gì Tôi táy máy làm vài bài toán cộng chơi . Và tôi tim thấy những kết quả rất đáng hồ hởi. Thí Dụ :

- Chiến sĩ Giải Phóng Bắn rơi 50 máy bay Mỹ ( ngày...)

- Tiêu diệt gọn  các chiến đoàn thuộc SƯ 25 của Mỹ ở CỦ chi (Trong hai tuần từ dưới đia đạo bắn lên)

- Bắn chìm và thiệt hai nặng nhiều tàu chiến Mỹ (ở Cam Ranh, nhờ các đơn vị thuyền thúng giả dạng đi câu mực)

- Tiêu diệt hai lữ Doàn quân Dù Ngụy

Những ngày sau, số thiệt hại của Mỹ Nguỵ cao hơn một chút. Sau một tháng lực lượng Giải Phóng cộng lại các thiệt hại của Mỹ tôi tìm ra kết quả là ...không còn tên lính Mỹ nào còn sống ở Việt Nam, Máy bay và tàu chiến đấu Mỹ rớt và chìm nhiều đến nổi  lính Mỹ phải xử dụng những phương tiện như xe tấc xi, hay xích lô đạp , xích lô máy của Việt Nam . Các bà me ở Mỹ không đẻ con theo nhip chiến trương (vì lính Mỹ đã chết hết theo tính toán của quân Giải Phóng). Tình hình ở Mỹ rất nguy ngập đến nổi các bà mẹ ở Mỹ phải ở nhà để phụ chồng ...tăng gia sản xuất em bé . Tình hình Nguỵ còn nguy khốn hơn vì bị tiêu diệt gần hết (mỗi sư đoàn chỉ còn vài chục ngoe làm thuốc...


Mới đầu nghe thì cũng vui vui vì như vậy chiến tranh sẽ sớm kết thúc, nhưng vẫn thấy có gì đó sai sai : Lính Mỹ vẫn còn đầy trên đường phố Sàigòn và những bạn lính của tôi vẫn sinh hoạt bình thường và vẫn quậy mấy quán nhậu mỗi lần về phép.

Hoá ra VIỆT CỘNG nói dóc . Hồi đó nói dóc cũng dễ vì dân theo Việt Cộng không có phương tiện để kiểm chứng và để nuôi hy vọng chiến tranh sớm chấm dứt để chồng cha anh em còn sống trở về. Với tôi thì chử VẸM ( VIỆT MINH - tiền thân của VIỆt CỘng) bao gồm hết triết lý sống của VC- NÓI LÁO- Bắt đầu từ TRÙM NÓI LÁO là HỒ Bả CHÓ học được từ trùm Phát XÍt GOebel ( nói riết thì lời nói láo sẽ biến thành sự thực).

Nhưng sau khi đã chiếm được miền Nam bằng vũ lực , thấy vẫn còn ngon ăn nên đảng và nhà nước vẫn duy trì chính sách nói dóc: và tôi sưu tập được một ít nghe chơi :

Chính mắt tôi đọc được từ một tờ báo quân đội của VC vài ngày sau 30/4/1975

- Để tiết kiệm đạn dược một lính Giải Phóng đã dùng B40 Bắn Xuyên Táo  cháy ba xe tăng Mỹ.

- Mỹ đã hết quân nên con của Đô Đốc Hải Quân Mỹ là John McCain bi bắt lính sang Viet Nam và bị bắn rơi làm tù binh.

- Máy bay Mỹ sản xuất không kịp nên phải dùng giấy bồi, do đó Các  nữ dân quân du kích ở các tỉnh miền Bắc bắn hạ nhiều máy bay MỸ  rơi đầy cửa mình.


Hồi trở về nhà sau tù tội , CAKV mời họp tổ Dân Phố, . Để tỏ ra dân chủ, CA mời một bà già , chắc có con em cách mạng lên phát biểu ý kiến. Bà me anh hùng sau khi nhổ toẹt một bải trầu ngoài sân đã cám ơn cách mang như sau :

- Cám ơn các chiến sĩ Giải Phóng vào Sàigòn sớm , chứ không thôi, tụi VIỆt CỘng pháo kích chết hết dân nghèo tụi tui. (sau này mới biết nhà bả ở trong khu nghèo Quận Tư nên 122ly Việt Cộng pháo vào SG hết đà rớt xuông chết bộn dân nghèo.

CAKV chụp miệng không kịp mà cũng không ai ngồi họp dám cười

Còn chuyện này thì tôi nghe chính Đại uý Công An trại giam B 5 Biên Hoà nói với đám CSĐẶCBIỆT(Thiếu Uý) và các CBXDNT:

- Các phi công Giải Phóng tìm ra phương thức phục kích máy bay Mỹ, do dó các phi công ta bắt sống vô số máy bay Mỹ . Đó là cho phi cơ Mig17 núp vào trong mây , tắt máy ( để tiết kiệm xăng) rồi chờ máy bay F4 cánh cụp cánh xoè bay ngang thì dùng K59 chỉa màng tang bắt sống vô số:

Không ai dám cười mà bảo nhau vổ tay kịch liệt (không ai muốn phải bị cải tạo thêm ba năm nửa) , Toàn là những tài nguyên trẻ có Tú tài phần Một trở lên


Tôi tình cờ theo dỏi youtube của Việt Cộng và nhìn thấy cái tên " Anh Hung (hay anh khùng) Không quân Nguyễn Văn Bảy người miền Nam . Và theo lý lịch tạm trích, đây là một anh du kích , tập kết ra Bắc và được đưa vao biên chế Không Quân và được huấn kuyện lái Mig 15, sau đó được lái Mig 17. Có hai điểm người ta phải suy nghĩ về anh hùng ( hay anh khùng ) NV Bảy ở chổ Bảy học trong một tuần lễ và tốt nghiệp luôn sáu lớp, sau đó được cho làm phi công, điểm thứ hai là anh đã tham chiến  các trận không chiến , hạ được 7 máy bay Mỹ (trong đó có bốn Fantom F4 Con Ma của Mỹ ) . Chổ này thì tui xém xỉu vì mức độ kinh dị của câu chuyện . Các bác Không quân làm ơn mở mắt cho em. Theo em biết, Phi công Mỹ hàng đầu về kinh nghiệm không chiến (qua chiến tranh thế giói thứ Hai và chiến tranh Triều Tiên đã bắn hạ rất nhiều Mig 15, 17 do các phi công Bắc Hàn và Trung quốc và Liên xô lái), Vậy mà bị anh Bảy miệt vườn lái Mig 17 bắn hạ trong không chiến, Các phi công thế giới ơi , cho tui biết có tin được không? thời chiến tranh Việt Nam F4 Phantom ( cách cụp cánh xoè là tân tiến nhất của Mỹ kèm với dàn hoả tiển không đối không . ( Toi nghĩ là anh bảy người Nam nên lây tính nói dóc của Bac Ba Phi Nam Bộ)


Mà không chỉ có anh Bảy, không quân Bác Hồ Bả Chó còn chế ra nhiều phi công lái phản lực ( mig 17, mig21) bắn rơi máy bay Mỹ như ruồi: nhờ youtube tôi biết thêm ít nhất ba anh khác là : Phạm Tuân , Vũ Xuân Thiều, Vũ Đình Rạng, Ba anh sau này anh nào cũng mang lon tướng và bắn rơi máy bay Mỹ như ruồi kể cả B52 , mà các phi công này chuyên đánh đêm mới ghê chứ. Biết rằng mấy anh phải nói dóc ( vì chuyện  thực thì các anh không có, không lẽ khoe bị phi công bắn Mig rơi như ruồi, thì còn đâu là thành tích dâng bác bả chó) . Nhưng tới chuyện phi công miền Bắc không kích làm chìm vô số chiến hạm thuộc Hạm Đội 7 thì tôi ...bị một trận mửa không kìm được suýt phải gọi 911 cấp cứu.


Việt Cộng nói dóc ngon trớn (chỉ cần bọn dư luận viên và bọn cờ đỏ) tin là được bèn sắm sửa tuồng Không quân miền Bắc cho máy bay tấn công hạm đội 7 của Mỹ  làm chìm nhiều tàu và trong khi không quân ta hạ cánh vô sự: VC gọi đó là cuộc tấn công 17 phút trên biển do không quân HỒ Bả Chó thực hiện với những chiếc Mig 17.

VC  không cần biết rằng nhắc tới Hạm Đội 7 thì Trung Cộng , Liên Xô, Bắc Hàn nghe tới là muốn xỉu, vậy mà Không Quân Bả Chó thực tập dưới sự chỉ dẫn của phi công Cu Ba cũng chẳng có kinh nghiệm gì. Tới đây thì thực sự bọn Vẹm nó nói Láo đến nổi chắc Hồ bả Chó cũng không tin được ( VC không cần biết Hạm Đội Mỹ Phòng thủ như thế nào, chỉ cần học chiến thuật thả bom của Nhật ở Trân Châu Cảng rồi thêm chút mắm chút muối) .


Sau khi nghe VC nói dóc qua youtube tôi thấy toàn bộ phi công và toàn bộ không quân , hải quân Mỹ nên gác mọi chuyên lại mà ghi danh đi học lại về không chiến và Hải chiến chứ với tôi thì họ qúa dở, không xứng đáng là cường quốc số một trên thế giới vì để cho mấy anh Vẹm ( thit chó thuốc lào) qua mặt được thì làm sao chống cự nổi với các đàn anh như Trung Quốc, Liên Xô hay Bắc Hàn ?

Mấy anh Không Quân làm ơn giải thích cho tụi BÒ Đỏ và Dư luận Viên biết chứ tụi nó tưởng thiệt lại xin tình nguyện gia nhập không và hải quân Hồ Bả Chó thì tội nghiệp các cháu vì tưởng dể ăn ( lúc đó xác cũng không có để truy điệu). Bả Chó nói dóc rồi lan lây xuống đám bò. Nếu sự này có thật. Có một youtube nói la hoả tiển Sam của Nga qua sự chế biến của các khoa học gia Việt Cộng như Trần Đại Nghĩa vẫn có thế xài được và đã bắn rơi B52.  Nếu chuyện này có thật thì mình cũng mừng cho miền Bắc đỡ khổ, nhưng khốn nổi  toàn là chuyện ba láp ba sàm kiểu Tề Thiên Đai Thánh của Chi Na. Tôi nghi mấy anh Bắc Kờ 75 ăn qúa nhiều thit chó lại bắn thuốc "nào" làm đầu óc bấn loạn nói láo không sợ Bà vật.


Coi youtube của VC , tình cờ tôi tìm thấy vài điểm mà thực sự muốn chia sẻ với mọi người :

- Tôi thực sự biết ơn những người lính trẻ Úc, Mỹ và các đồng minh đã hy sinh tuổi trẻ ( với những ưu điểm của tuổi trẻ đến đất nước chúng tôi để giúp chúng tôi chống cộng sản miền Bắc, Thậm chí có đến gần 60,000 lính Mỹ chết,) chúng tôi luôn luôn nhớ ơn họ . Nhưng cũng có những trường hợp, chúng tôi không hiểu họ đến quê hương chúng tôi để làm gì, khi hình như họ cũng không phân biệt được đâu là kẻ thù và đâu là bạn cùng chiến đấu và chiến tuyến . Nhiều cựu quân nhân trở lại Việt Nam thăm lại những gia đình cựu chiến binh miền Bắc đã chết trên chiến trường gửi trả lại những thư từ hình ảnh họ đã thu lượm được ( như một lời xin lổi, theo đúng công thức của Jane fonda hay John kerry.  Họ không phân biệt được hay hiểu rằng sang Việt Nam để ra trận và bắn giết những người không từ bỏ bất cứ cơ hội nào để gài mìn, plastic , hầm chông để giết (bọn da trắng) và đã từng xãy ra đối với những toán lính Biệt Kích nhảy toán bị bắt và xử tử rồi cắt bộ "sinh duc " nhét vào miệng để hạ nhục tuy chuyện băn giết nhau trên chiến trường là chuyện tự nhiên như ăn với uống.


Tôi không cám ơn cái đám Cựu quân nhân không có một lập trường như những tay này. Họ làm  chuyên tôi cho là ruồi bu vì chắc họ cũng biết rằng có cả một bộ máy nhà nước và quân đội làm chuyện đó . Trong khi người bạn đồng đội chia lửa và thậm chí liều cả thân mình của những người lính miền Nam để cứu họ bây giờ nhiều người vẫn còn biệt vô âm tín không còn cơ hội trở về với gia đình. Không ai lo cho họ và những đồng đội của họ đang lê la sống những tháng ngày cuối cùng cuộc đời với những đòn thù trên  thân xác không còn nguyên vẹn.

Quý vị có thể lên án tôi là vô ơn, nhưng với đám cựu quân nhân kiểu tào lao như thế này thì tôi chẳng thấy "biết ơn " chút nào ( có ơn gì mà "Biết " , ngoại trừ "ơn" với đám Hồ Bả Chó ?


Nguoiviettudo

Tháng Tư, Và Mưa - Đỗ Công Luận

Còn Chăng Lối Quay Về? - Ngân Bình

 

Mình ơi! mười một giờ rồi, ngủ đi. Có gì thì để mai làm. Thức khuya hoài không tốt cho sức khỏe đâu! 

– Ừ! gõ cái này xong anh vào liền. Mình ngủ trước đi. 

Tiếng dép xa dần. Lần ra ngoài, nhìn theo cho đến lúc bà vợ bước hẳn vào phòng, ông Hiền mới khép cửa, khóa chốt lại. Ông làm đúng theo lời căn dặn của anh bạn già “nhớ khóa cửa cẩn thận, kẻo bà xã đột nhập, đứng lù lù phía sau, đọc hết nội tình thì bỏ mạng”. Ông Hiền lẩm bẩm “Yes Sir” với nụ cười hóm hỉnh rồi háo hức ngồi xuống ghế, bật máy. Tim ông như run lên khi nhìn những hàng chữ đầy nghịt trên màn ảnh – những hàng chữ mà ông thấp tha, thấp thỏm chờ đợi mấy ngày nay. Vói tay lấy cặp kính lão đeo vào mắt, ông chậm rãi đọc từng chữ, từng câu, như nuốt từng giọt hạnh phúc ngọt lịm vào cổ họng đang khô khát. Thứ hạnh phúc nồng cháy mà sống với vợ gần hết đời người, ông chưa lần nếm trải.


Anh yêu dấu,

Mấy ngày nay chắc anh chờ thư em lắm phải không? (Nếu anh trả lời “không” em sẽ khóc suốt đêm nay đó nha!!!). Xin lỗi anh, cơn cảm cúm đã quật ngã em ba ngày liền không ngóc đầu dậy nổi. Nằm trên giường bệnh mà em cứ mãi nghĩ về anh và nhớ anh vô hạn. Chắc anh đang cười “chưa biết mặt mũi ra sao thì nhớ cái gì?”. Anh có cười em cũng đành chịu, vì đó là chuyện của trái tim, làm sao giải thích được. 

Không biết anh nghĩ thế nào về em, chứ còn em, qua lời thư nồng nàn, tình tứ, em đã hình dung ra anh, một người đàn ông đa tình với đôi mắt thiết tha, với dáng dấp phong trần, quyến rũ. Chỉ tưởng tượng thôi mà em đã cảm thấy yêu anh thật nhiều (anh có nhớ, em đã từng nói, em là người phụ nữ lãng mạn nhất thế giới không?).

Ghét anh lắm! tự dưng ở đâu lại tìm đến, rồi nhốt người ta vào nỗi nhớ như cào xé ruột gan. Anh ơi! có lẽ đã đến lúc mình phải hủy bỏ lời cam kết buổi ban đầu Hãy mãi mãi là người tình ảo, đừng tìm gặp nhau. Biết đâu… nhờ thế mà mình có thể nói với nhau tất cả: những cảm xúc, những mơ ước, những khát khao thầm kín… ” 

Cho em hỏi “sẽ có một ngày nào mình được mặt đối mặt, tay trong tay, trao nhau lời yêu thương, không phải bằng những dòng chữ vô tri mà bằng ngôn ngữ ngọt ngào không anh?” 

Anh yêu! em đang chờ một câu trả lời tựa như lòng em mong ước!

Honey! I love you.

Mỹ Nữ

 

Lời tình thư như ướp hương mật ngọt, ông Hiền đọc biết bao nhiêu lần mà trái tim rộn ràng vẫn chưa ngơi nhịp đập. Trong giây phút choáng ngợp với tình yêu mới, không hiểu sao hình ảnh vợ ông lại thoáng hiện. Một người vợ xinh đẹp, hiền hậu và đoan trang. Nhưng chính cái đoan trang mà ngày xưa mẹ ông thường ca tụng lại khiến vợ ông không dám biểu lộ tình cảm. Chưa bao giờ bà dành cho ông một cử chỉ âu yếm. Chưa bao giờ bà bày tỏ tình yêu bằng lời thì thầm, êm ái như ông hằng mong muốn. Ngược lại, “người tình ảo”, dù chỉ mới “trò chuyện” vài lần qua “email” nhưng đã cho ông tất cả. Không e thẹn. Không ngại ngần. Ông mê mệt, đắm đuối trong trò chơi như ảo, như thật, cuốn hút khó rời. Có đôi lúc, ông cũng chột dạ khi nhớ đến lời mình thường nhắc nhở mấy thằng em “ráng sống đàng hoàng, tử tế, để làm gương cho con cháu”, nhưng rồi ông tự bào chữa “đùa một chút cho cuộc đời thêm hương vị, chứ mình có ý phụ rẫy vợ con đâu mà sợ”. Thế là ông lại tiếp tục dùng cái khiếu viết thư tình sẵn có từ lúc còn đi học, để tán tỉnh yêu đương với người phụ nữ của xứ Huế mộng mơ.


''Em yêu của anh, 

Có thể, em sẽ không tin khi đọc dòng chữ này “anh vô cùng lo lắng và xót xa khi biết tin em bị bệnh”. Nhưng đó là sự thật. Như cái thật của nỗi nhớ niềm thương – mà anh tin là tiếng nói từ trái tim – em đã dành cho anh. Em yêu, ước gì ngay giây phút này anh được tận tay mang cho em viên thuốc nhỏ, nấu cho em chén cháo nóng và hơn hết… một ao ước rất con người đang đốt cháy lòng anh, là được ôm em vào lòng, hôn lên đôi môi hồng phụng phịu, dỗi hờn của người tình trong mộng anh rất yêu thương. 

Cám ơn em đã trải lòng để anh được nhìn thấy tình cảm thắm thiết, đậm đà em vừa trao cho anh. Ôi! còn hạnh phúc nào hơn nữa…'' 

Những ngón tay của ông Hiền miên man gõ đều trên bàn phiếm. Bao nhiêu từ ngữ mượt mà, trau chuốt, ông mang ra dùng hết để chinh phục người phụ nữ – ông chưa hề biết khuôn mặt và vóc dáng ra sao- đang ngự trị trong trái tim mềm yếu của ông và cũng để thỏa mãn niềm khát khao của riêng mình mà không chút đắn đo, ngại ngùng. Ngay giây phút này, ông chẳng khác nào chàng thanh niên tuổi đôi mươi với ngọn lửa tình đang ngùn ngụt cháy.

 

Một giờ sáng, ông rón rén đi vào phòng giữa tiếng thở đều đặn, vô tư đến tội nghiệp của người vợ tấm mẳn, mấy mươi năm cận kề bên ông, từ khi ông còn chức tước, cho đến lúc gian nan, khốn khó trong thân phận tù đày. Ông nằm xuống thật nhẹ nhàng, nhưng cũng đủ cho bà thức giấc để nhắc nhở ông bằng giọng ngái ngủ: 

– Mình uống thuốc cholesterol chưa? 


o O o 

– Ba à! tháng này ba gọi điện thoại cho ai mà bị lố phút quá trời. Hơn hai trăm đô, con trả tiền muốn ẹo xương sống. 

Ðang theo dõi trận football trên TV, Kim quay sang, nháy mắt với cô em gái, giọng đùa cợt: 

– Em phải theo dõi cho kỹ, coi chừng ba gọi điện thoại cho bồ nhí giống ba của Chúc đó nha. Mới tuần rồi, ổng đưa đơn ly dị cho má Chúc ký. Chị em nó khóc quá chừng. 

Bà Hiền đặt tờ báo đang xem xuống bàn, gỡ kính ra, giọng nghiêm nghị: 

– Sao con lại đem ba ra mà so sánh với hạng người đó. 

Hai đứa con gái rút vai, le lưỡi. Ông Hiền cảm thấy nhột nhạt, nên sau vài câu giả lả, chẳng ăn nhập vào đâu, ông cười gượng gạo rồi đi vào phòng. Bây giờ, tâm trí ông đang tập trung vào cuộc gặp gỡ cuối tuần, hơi đâu mà để ý ba câu nói vặt vãnh của tụi nhỏ. 

Lần trước, khi Mỹ Nữ đề nghị gặp mặt, ông Hiền đã viện cớ không nghỉ phép được để né tránh. Vì trót nói dối về tuổi tác, nên ông sợ khi đối mặt, Mỹ Nữ sẽ khám phá ra sự thật. “Ðể ‘câu con ‘ghệ’ trẻ thì mình cũng phải trẻ lại chứ”. Nghe lời ông Niên cố vấn, ông Hiền cho phép mình sụt tuổi từ hàng sáu xuống hàng năm. “Có gặp nhau đâu mà sợ!?”. Mấy tháng trước ông cũng nghĩ như thế, nhưng bây giờ ông mới thấy, mười con số chênh lệch giữa thật và giả có thể nhận ra dễ dàng, dù ông đã đề phòng bằng câu than thở “nhiều người nói anh trông già hơn tuổi”. Viễn ảnh tan vỡ “cuộc tình net” làm cho ông lo sợ, nên cố gắng thuyết phục Mỹ Nữ “Hãng vừa ký thêm mấy cái hợp đồng, nên ngưng cấp phép cho nhân viên. Vậy, tạm thời mình liên lạc bằng điện thoại để có thể nghe được tiếng nói của nhau nghe em. Khi công việc bớt bận rộn, anh hứa sẽ sắp xếp một cuộc gặp gỡ thật lãng mạn cho hai đứa mình”. Từ đó, đêm nào ông cũng chờ vợ ngủ say rồi khe khẽ bước ra hiên ngoài trò chuyện với người tình trong mộng cho đến nửa khuya. Càng trò chuyện ông càng mê mẩn cái giọng Huế nũng nịu, êm ái – dù trước kia ông thường chê giọng Huế nặng nề. Và khi sự đam mê làm lu mờ lý trí, thì ông là người náo nức muốn diện kiến cái dung nhan mà ông hằng ôm ấp bằng trí tưởng tượng.

 

Ngoài kia, tiếng cười vui tươi, rộn rã của ba mẹ con vẫn vang đều với câu chuyện thú vị nào đó. Thông thường, những lúc như thế này, ông sẽ nhanh chân chạy ra để nhập cuộc. Nhưng hôm nay còn một chuyện quan trọng hơn mà ông phải làm, là chọn sẵn bộ quần áo trẻ trung, hợp thời trang để chuẩn bị cho cuộc tao ngộ thật ly kỳ mà vừa nghĩ đến ông đã cảm thấy nôn nao. Ông Hiền ướm thử lên người chiếc áo khoác thật kẻng, quay một vòng trước tấm gương lớn, rồi nở nụ cười tự tin khi tự chấm điểm cho mình “vẫn còn phong độ như thuở nào”.

 

o O o 

Ông Hiền lảo đảo bước vào nhà. Nhìn căn phòng “family room” vắng tanh, người ông bỗng nhiên lạnh toát. Hơn bao giờ hết ông thèm nghe tiếng nói nhẹ nhàng của vợ, tiếng cười giòn tan của con. Ông nhớ bầu không khí ấm cúng, quen thuộc đó đến chảy nước mắt, khi thầm hỏi “sẽ còn không những ngày vui vẻ, hạnh phúc?”. Tựa đầu vào chiếc ghế bành rộng lớn, ông Hiền nhắm nghiền đôi mắt, muốn ngủ một giấc cho quên đời, nhưng sao tất cả những gì vừa xảy ra, như một cuốn phim quay chậm, cứ lần lượt trôi qua trí nhớ của ông.

… Khi người phụ nữ với chiếc áo đầm màu hồng tím quay lại thì bàn tay ông Hiền vừa chạm phía sau vai cô ta cũng rơi xuống một cách ngỡ ngàng, hoảng hốt. Ai đây? Mỹ hay Mỹ Nữ? Hai tên chỉ là một người sao? Ðôi mắt ông như đứng tròng và nụ cười trên đôi môi đỏ chót của người phụ nữ cũng tắt ngúm. Ông Hiền vịn tay vào thành ghế mà thấy trước mắt mình mọi vật như quay cuồng. Cúi đầu xuống, khép mắt lại, ông nghe tiếng giày cao gót nện trên nền gạch một cách vội vã rồi xa dần. Oan gia nghiệp chướng gì đây, hỡi trời? Ông Hiền than thầm khi thất thểu lê từng bước chân nặng nề ra bãi đậu xe, lòng không dám tin những gì vừa xảy ra là sự thật. Cái giọng Huế đặc sệt của Mỹ Nữ khác xa với giọng Nam ông vẫn nghe khi tiếp xúc với Mỹ, nên làm sao ông có thể ngờ được Mỹ Nữ chính là Mỹ, người đàn bà ông vẫn thường gặp, khi hai người cùng đến chùa làm công quả. Bây giờ, ông Hiền mới nhớ lại lời nhận xét của ông Vịnh về trò chơi nguy hiểm này.

 

“Viết nhăng, viết cuội, gửi qua, gửi lại, bằng địa chỉ email thì không ai biết tung tích của mình. Khổ nỗi, lâu ngày lại động tâm, rồi mê mê, muội muội, cứ muốn đến với nhau cho thỏa tình. Nhưng trăm phần nguy hiểm là ở chỗ gặp mặt. Vì “người tình ảo” mà ta không hề biết tên thật, tuổi thật có thể là “bà tám” nào đó trong sở làm mà ta rất ghét. Có thể là vợ của bạn ta. Mà cũng có thể là bà mẹ vợ hồi xuân của ta, nếu những người này cũng có máu thích “tìm của lạ” như ta. Nói thiệt, ai còn biết xấu hổ thì khi ấy chỉ muốn độn thổ cho xong. 

Lúc đó, không những không tin, ông Hiền còn trêu ghẹo:

 “Kinh nghiệm bản thân của anh đó hả? Mà thôi, lo chi xa quá cho cuộc đời mất thú vị”. 

Giờ thì… cái thú vị mà ông đang nếm sao nó cay xé lưỡi, đắng chát môi.


Ông Hiền vò đầu, bứt tai khi nghĩ đến ông Niên. Ðúng là cái xui không hẹn giờ nó cũng lù lù đến. Có một hôm, ông Hiền vào quán café để chờ vợ đi chợ thì gặp ông Niên ngồi trong đó với chiếc laptop trên bàn. Sau một hồi chuyện vãn, ông Niên mở máy, khoe những email của “người tình ảo” gửi cho ông với lời văn ướt át, mùi mẫn. Ông Hiền tỏ ý khâm phục khi biết ông Niên không phải chỉ có một, mà có đến ba “người tình ảo”. Một tuần sau, ông Niên gọi điện thoại ngỏ ý “Tôi ‘sang’ lại cho ông một em, ông chơi cho biết mùi đời”. Ông Hiền quyết liệt từ chối. Nhưng sau nhiều lần nghe bạn thuyết phục ông xiêu lòng với ý nghĩ “Ừ! thì chơi một chút cho vui, có ai biết ai đâu mà sợ”. Nhưng ông đâu ngờ cái vui ngắn ngủi đã trở thành đại họa lâu dài khi người tình trong mộng của ông là người nằm ở vế thứ nhất trong thí dụ của ông Vịnh – có thể là “bà tám” nào đó mà ta rất ghét. 

Ðúng! ông Hiền không ưa Mỹ. Lý do khiến ông có ấn tượng không tốt về người đàn bà đã một lần ly dị này là cách ăn mặc không phù hợp với môi trường đang sinh hoạt. Làm việc trong khâu nhà bếp, nên Mỹ thường xuyên ra vào chùa vào cuối tuần. Mà cứ đến mùa Hè là cô ta lại mặc áo hai dây, hở ngực, trống lưng. Người ngoài đời, đôi khi còn phải ngượng ngùng khi ánh mắt vô tình chạm vào cái mình không muốn nhìn mà phải thấy, huống chi các thầy là bậc tu hành. Ðã có nhiều người nhắc khéo, nhưng cô nàng để ngoài tai, đôi khi còn nghênh mặt thách thức “Tôi mặc vậy đó, ai làm gì được tôi?”. Lần đó, trước mặt thầy, Mỹ còn cúi xuống sửa dây giày, khiến ông Hiền không ngăn được sự bực tức, nên xẵng giọng “Ðây là chùa, chứ đâu phải quán bar mà cô ăn mặc hở hang như thế ”. Mỹ quay đi, không trả lời. Nhưng sau đó, ông nghe có người kể lại giọng điệu cong cớn của cô ta “Ổng hổng nhìn sao thấy tôi hở. Cho ngắm miễn phí còn bày đặt lên giọng đạo đức”. 


Ngoài việc ăn mặc, Mỹ còn thể hiện khả năng “buôn chuyện”. Chuyện đời tư của ông A làng trên, bà B xóm dưới, Mỹ kể vanh vách như người trong cuộc, lại còn thêm mắm, giặm muối, cho thêm phần hấp dẫn, khiến ai cũng ngao ngán tránh xa, sợ sẽ có ngày tới phiên mình. Vậy mà… lần này, coi như ông Hiền rơi vào ổ kiến lửa. Vốn đã “cay” ông từ trước, nay Mỹ sẽ có dịp rêu rao khắp cùng thiên hạ. Tệ hơn nữa, nếu cô ta cho vài người bạn cùng dạng “loa phóng thanh” đọc những lời tình tứ táo tợn – trong đó, có lúc hứng chí ông còn đề cập cả chuyện phòng the, thì… ông không dám nghĩ thêm nữa. Dù ông Hiền tự an ủi “miệng mồm cô ta ai cũng biết, nên chắc chẳng mấy người tin”, nhưng ruột gan ông lại rối bời khi nghĩ đến tâm lý con người là thích nghe chuyện giật gân, nhất là chuyện ấy lại liên quan đến nhân vật mình quen biết. Như vậy… không sớm thì muộn, bạn bè, hàng xóm, anh em, vợ con ông sẽ biết hết. Lúc đó, ông giấu mặt đi đâu? Nghĩ đến đây, mồ hôi ông vã ra như tắm. Sao mình có thể ngu dại đến mức không nghĩ đến hậu quả của trò chơi quái quỷ này chứ! Mấy mươi năm qua, ông đã sống một cuộc sống gương mẫu, cẩn thận trong từng lời ăn tiếng nói, từng cử chỉ hành động – những thứ thể hiện tư cách của một con người – giờ đây, chỉ một phút mê muội tất cả đã tan thành mây thành khói. Rồi… những người xưa nay vẫn kính trọng, quý mến ông, họ sẽ nghĩ gì ngoài ánh mắt ngỡ ngàng, thất vọng. Còn những ai từng có thái độ ganh tỵ đối với ông vì lý do nào đó, chắc sẽ ném cho ông nụ cười chế giễu. Ông Hiền ôm đầu trong nỗi khổ đau và hối tiếc – tựa như sự hối tiếc của đứa con gái trẻ người, non dạ khi đắng cay tự trách mình “Ðúng là khôn ba năm, dại một giờ” .


Và cũng chính lúc này ông Hiền mới nhận ra sự tàn nhẫn của mình. Nhiều khi ngồi cạnh vợ mà hồn vía ông bay tận đâu đâu, mắt cứ nhìn chầm chập vào chiếc điện thoại trên tay. Khi tiếng kêu báo hiệu một cái text vừa gửi tới, thì ông vội vội, vàng vàng mở ra đọc, miệng tủm tỉm cười, những ngón tay hí hoáy gõ những lời tán tỉnh yêu đương. “I love you. I miss you”. Những lúc ấy, đã không cảm thấy áy náy, ông còn ngầm thích thú, vì dễ dàng qua mặt bà vợ dốt nát, không biết gì về kỹ thuật điện tử, lại còn tin tưởng ông một cách tuyệt đối. Nhưng bây giờ ông cảm thấy lạnh xương sống. Nếu chuyện tồi tệ này đến tai con gái ông, nó sẽ đoán được ông gọi cho ai, đến nỗi vượt quá số thời gian hãng điện thoại quy định theo hợp đồng đã ký, để nó phải còng lưng trả thêm tiền bằng đồng lương ít ỏi. Còn vợ ông nữa, người vợ hiền lành, nhưng rất cương quyết đã từng nói với ông “Lỗi lầm nào của anh, em cũng có thể bỏ qua, nhưng tội ngoại tình thì em không bao giờ tha thứ”.


Mấy mươi năm chung sống, vợ ông chưa một lần lớn tiếng cãi vã, cằn nhằn ông như những người đàn bà khác. Ông có khác chi một ông vua không ngai, được chìu chuộng, phục tùng hết mức. Vậy mà ông không biết tận hưởng cái hạnh phúc đang có trong tay, lại bày đặt đèo bồng, thả mồi bắt bóng. Rồi đây số phận của ông sẽ ra sao? Ông Hiền cảm thấy trên cổ mình như có một bản án nặng trịch đang treo trên đó. Án tử hay án tù ông vẫn chưa biết, nhưng chỉ nghĩ đến những giọt lệ đau đớn, bẽ bàng của vợ và ánh mắt oán trách của con, ông thấy mọi vật chung quanh mình dường như đang sụp đổ tan tành ./.

 

Ngân Bình