Bài viết này lấy cảm hứng từ tựa đề của một tác phẩm nổi tiếng
trong nền văn học Việt Nam Cộng Hoà. Đó là tựa đề “Những người không chịu chết”
(1972), một trong những vở kịch nổi tiếng của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Lúc
vở kịch ra đời, tôi hãy còn nhỏ lắm, nhưng cũng phần nào đủ trí khôn để thưởng
thức vở kịch này. Tôi được đọc vở kịch trước rồi sau mới xem kịch trên truyền
hình. Đã mấy mươi năm rồi nên bây giờ tôi chỉ còn nhớ lờ mờ rằng vở kịch đó nói
về một nhóm tượng người mẫu, cứ đêm đêm đêm lại trở thành người, sống, ăn nói
và sinh hoạt như bao con người bình thường khác, với đầy đủ tham, sân, si, hỉ,
nộ, ái, ố, thất tình lục dục. Bài viết này mượn cảm hứng đó để nói về - không
hẳn chỉ là những con người - mà còn là những thực thể khác, cũng không hề chịu
chết, qua dòng lịch sử nghiệt ngã của nước Việt, tính từ ngày 30 tháng Tư năm
1975.
(Hôi Nghị Quốc Tế Bandung, Indonesia, 2015)
LÁ CỜ
KHÔNG CHỊU CHẾT! Đó là
lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ tượng trưng cho tinh thần dân chủ và tự do của mọi
người Việt khao khát một cuộc sống an lành, hạnh phúc, xứng đáng với nhân phẩm.
Lá cờ này không nhất thiết đại diện cho một chế độ hay một chính phủ nhất thời
mà là một sự tiếp nối truyền thống lâu đời của một dân tộc hào hùng.
Nền vàng của lá cờ bắt nguồn từ cả ngàn năm
trước, thuở Hai Bà Trưng quyết đánh đuổi quân Hán xâm lược, “đầu voi phất ngọn
cờ vàng”. Một số vì vua sau đó cũng dùng cờ vàng để làm biểu hiệu cho quốc gia.
Lá cờ vàng được thêm thắt, sửa đổi về sau để thành cờ Long Tinh (triều Nguyễn
1920-1945), cờ quẻ ly (chính phủ Trần Trọng Kim) và cuối cùng là cờ quẻ càn,
hay lá cờ vàng ba sọc đỏ mà chúng ta có ngày nay, được dùng trong thời kỳ Quốc
Gia Việt Nam (1949-1955) và Việt Nam Cộng Hoà (1955-1975).
Xem như thế đủ hiểu rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ là
lá cờ của một dân tộc, thấm đẫm hồn thiêng của tổ quốc từ đời này qua đời khác.
Ngày
30 tháng Tư năm 1975, lúc cả trăm ngàn người miền Nam bỏ chạy ra khỏi nước để
trốn tránh một chế độ độc tài sắp áp đặt xuống phần đất phương nam, lá cờ vàng
ba sọc đỏ cũng cùng mọi người đi tìm tự do. Lúc ấy, lá cờ vàng như vị
thần hộ mệnh, đi theo đoàn người viễn xứ để bảo bọc, che chở họ, đồng thời giữ
vững, hâm nóng ngọn lửa tự do dân chủ trong lòng họ.
Trong lịch sử nhân loại từ trước đến nay, chưa
có lá cờ dân tộc nào tồn tại dai dẳng và kiêu hùng nơi xứ người như lá cờ vàng
ba sọc đỏ, tính đến nay đã hơn bốn mươi năm trời, và còn biết bao nhiêu năm
tháng trước mặt nữa. Không những sống vững, sống mạnh trong các cộng
đồng người Việt tự do khắp thế giới, lá cờ vàng ba sọc đỏ còn tiếp tục “sinh
sôi nẩy nở” khắp nơi trên những phần đất tự do của các quốc gia sở tại.
Cách đây vài năm, như một phép lạ diệu kỳ, tại hội nghị quốc tế Bandung ở Indonesia vào tháng
4-2015, lá cờ vàng ba sọc đỏ lại hiên ngang sánh vai với các các lá quốc kỳ
khác với tư cách là lá cờ của một quốc gia hội viên. Đây là một ngoại lệ vô tiền khoáng hậu! Trên nguyên
tắc, một hội nghị quốc tế không bị ràng buộc phải trưng một lá cờ của một quốc
gia không tồn tại về mặt pháp lý. Ấy vậy mà hội nghị Bandung đã làm một việc mà
ngay cả những nguyên tắc ngoại giao quốc tế cũng khó mà giải thích. Riêng ở Hoa Kỳ, đã có khoảng
14 tiểu bang, 7 quận hạt và 88 thành phố chính thức công nhận lá cờ vàng ba sọc
đỏ là lá cờ chính thức đại diện cho cộng đồng người Việt tự do sinh sống nơi
đây.
Hằng năm, vào các dịp lễ lạt cổ truyền hay sinh
hoạt cộng đồng, lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn phất phới tung bay như góp vui với mọi
người. Nơi tôi ở—Little Saigon, Orange County—cứ mỗi độ 30 tháng Tư về là các
đường phố chính rợp bóng cờ vàng, xen lẫn với lá cờ của nước sở tại. Mỗi buổi
sáng trong mùa tháng Tư Đen, vừa lái xe ra khỏi cổng tôi đã thấy những lá cờ
vàng tung bay bên lá cờ sao Hoa Kỳ. Tôi vừa vui vừa buồn khi nhìn những lá cờ
thân yêu ấy. Hy vọng một ngày nào đó không xa, khi đất nước Việt Nam trở thành
một quốc gia tự do, dân chủ, toàn dân sẽ đồng lòng chọn lá cờ vàng truyền thống
để làm biểu tượng cho tinh thần bất khuất ngàn năm của người Việt Nam.

THÀNH PHỐ KHÔNG CHỊU CHẾT! Thành phố Sài Gòn, cho dẫu
trong hiện tại có phải “mang tên xác người”, cũng như lá cờ vàng ba sọc đỏ, là
một “thành phố không chịu chết”. Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng tên gọi Sài
Gòn không bao giờ mất đi trên môi những người Việt xa xứ. Không những vậy mà
ngay tại Sài Gòn, tên gọi này cũng không những không mai một đi mà còn tồn tại
song song với cái tên xác người. Đối với người dân thành phố, người ta vẫn nói
“mưa Sài Gòn, nắng Sài Gòn” chẳng hạn—nghe vừa thân mật lại vừa thơ mộng— chứ
chẳng ai biết “nắng mưa thành phố hồ chí minh” là cái chi chi! Một buổi sáng
thức dậy trong lòng thành phố, bạn có thể nghe tiếng người cười nói lao xao
ngoài ngõ, tiếng xe cộ, tiếng kèn xe, mùi khói xe lẫn với mùi cà-phê và hủ
tiếu.
Và bạn bảo tất cả những âm thanh cùng những mùi
khác nhau trộn lẫn lại đó là một cái gì rất đặc trưng của thành phố này, rất
“Sài Gòn”; chứ chẳng có ma nào nói, tất cả những điều đó là một cái gì rất
“thành phố hồ chí minh”! Loại ngôn ngữ khiên cưỡng đó tự nó đã sượng sùng,
ngượng nghịu nên không bao giờ có dịp thoát ra khỏi đôi môi người nói. Thêm
nữa, không biết bao nhiêu công ty, cửa tiệm, nhãn hiệu hàng hoá ngày nay vẫn
còn ưu ái mang tên Sài Gòn trong thành phố (bị xui xẻo) mang tên “người… chết”
này! Thành
phố có thể đang tạm mất tên nhưng cái hồn Sài Gòn vẫn còn đó, trong từng con
người đang thở mỗi ngày ở đó, chờ dịp thực sự hồi sinh.

Ở hải ngoại, Sài Gòn không những không chết đi
trong lòng những người dân Việt lưu vong mà còn thoát thai sống lại thành những
Sài Gòn mới trên đất nước tự do xứ người. Đây là những “Little Saigon” đã mọc
lên ở những nơi có đông người Việt cư ngụ. Những nơi có tên Little Saigon chính
thức có thể kể đến là ở Westminster (California), San Jose (California), San
Francisco (California), Sacramento (California), San Diego (California),
Houston (Texas), Vancouver (Canada), v.v. Đó là chưa kể những khu Little Saigon
mang tên chưa chính thức khắp nơi trên Hoa Kỳ và thế giới mà sinh hoạt thương
mại, văn hoá, chính trị cũng rộn rịp không kém gì những Little Saigon chính
thức.
Những bảng tên đường tiếng Việt nhắc nhở đến Sài
Gòn có thể tìm thấy ở Houston (Texas) hay Little Saigon (California), hay những
bảng chỉ đường vào Little Saigon trên các xa lộ ở California đã đánh dấu sự
“sinh sôi nẩy nở” của Sài Gòn không khác chi trường hợp của lá cờ vàng ba sọc
đỏ. Sài Gòn không những không chết đi mà còn tiếp tục nở rộ ra như những bông
hoa biểu hiện cho dân chủ, nhân quyền trên khắp các vùng đất tự do trên thế
giới. Một mai không xa, những Sài Gòn nhỏ này sẽ sum vầy cùng Sài Gòn lớn, như
những dòng sông hân hoan đổ về biển rộng, cùng hát bài “Hội trùng dương” trong
ngày hội lớn của dân tộc.

…VÀ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CHỊU CHẾT!
Những người không chịu chết này là những người phải bỏ xứ ra đi vì không chấp
nhận sống dưới một chế độ phi nhân, độc tài. Về chủ nghĩa cộng sản, rất nhiều
danh nhân thế giới đã phát biểu những danh ngôn vô cùng sâu sắc, thấm thía. Tuy
nhiên, không gì hay bằng nghe chính những người đã từng là cộng sản nói về nó.
Một trong những người này là ông Boris Yeltsin, vị tổng thống đầu tiên của nước
Nga hậu cộng sản (nhiệm kỳ 1991-1999). Ông Yeltsin đã từng là đảng viên Đảng
Cộng Sản Nga trong 29 năm (1961-1990) và từng giữ những chức vụ quan trọng
trong chính quyền Xô-viết.
Vào năm 1989, một trong những năm cuối cùng của
Liên Bang Xô-viết, ông Yeltsin thực hiện một chuyến công du sang Hoa Kỳ. Trên
danh nghĩa, lúc này ông vẫn còn là một người cộng sản. Trong chuyến công du,
ông phát biểu như sau, do tạp chí The Independent của Anh tường thuật lại: “Let’s not talk about
communism. Communism was just an idea, just pie in the sky”. (Xin tạm dịch:
“Đừng nhắc đến chủ nghĩa cộng sản nữa. Chủ nghĩa cộng sản chỉ là một ý tưởng,
chỉ là một cái bánh vẽ trên nền trời”). Những người trốn chạy cộng sản—hay trốn chạy
“cái bánh vẽ” này—ở tất cả những nước đã từng bị hiểm hoạ này, kể cả ở Việt
Nam, giờ đây đã trở thành những người không chịu chết. Nói như vậy là nói với
một ý nghĩa có tính cách biểu tượng.

Người viết muốn nhấn mạnh rằng đa số những
người tị nạn cộng sản không bao giờ quên được vì sao họ đã trốn chạy. Khi đã an
thân ở chốn tự do, họ không chịu chấp nhận một lối sống mòn, sống cho qua ngày
đoạn tháng, cho hết kiếp lưu vong. Sống như vậy cũng không khác gì đã chết. Vì
vậy, đa số vẫn hướng lòng về quê hương, vẫn xót xa khi thấy đồng bào trong nước
bị đàn áp dưới chế độ của bạo quyền. Mỗi người trong họ vẫn làm một điều gì đó,
bằng cách này hay cách khác, để góp phần vào công cuộc tranh đấu chung của dân
tộc cho một ngày mai không còn hiểm hoạ cộng sản trên quê hương. Cũng cần phải
thấy rằng những người “không chịu chết” này là những người “không sợ chết” khi
họ đã liều mình ra khơi, nơi mạng sống chỉ như sợi chỉ mành treo chuông. Ngày nay, những người không
chịu chết này không chỉ là bậc ông, cha, chú của thế hệ lưu vong đầu tiên mà
còn là cả thế hệ thanh niên gốc Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại. Thế hệ trẻ này không cam
tâm, ích kỷ hưởng thụ cuộc sống tự do dân chủ mà mình đã may mắn có từ được lúc
ra đời. Họ đã cùng đứng lên, sát cánh với cha ông đấu tranh cho tự do, dân chủ
ở quê nhà bằng nhiều hình thức khác nhau.
Ở Việt Nam, ngoài thiểu số được hưởng đặc quyền
đặc lợi, sẵn sàng làm lơ trước đau khổ của đồng bào, hay thậm chí đàn áp, hành
hung người dân vô tội, đa số người Việt Nam cũng là những người không chịu
chết, không chịu thua trước cường quyền. Họ là những nhà dân chủ sẵn sàng hy
sinh sự an toàn của bản thân và gia đình để cất lên tiếng nói phản đối những
điều trái tai gai mắt do chế độ gây ra trong xã hội. Họ là những người dân oan
bị tước đoạt nhà cửa, đất đai, dám chấp nhận cảnh lấy trứng chọi đá để bảo vệ
tài sản mồ hôi nước mắt của mình. Họ là tất cả những người nghe tiếng gọi của
dòng máu Lạc Hồng trong huyết quản, đặc biệt là thế hệ trẻ, dám đứng lên để cất
tiếng đòi lại những phần đất nước máu thịt của tổ quốc đang bị bọn cầm quyền
“hèn với giặc, ác với dân” nhượng bộ cho chủ nghĩa bành trướng Đại Hán từ mấy
ngàn năm nay.
Bốn mươi lăm năm đã trôi qua, kể từ khi miền Nam
lọt vào tay bạo quyền cộng sản. Đó là một thời gian dài đối với một đời người
ngắn ngủi, nhưng lại chỉ như là một khoảnh khắc phù du trong lịch sử, nhất là
lịch sử của một đất nước có gần năm ngàn năm văn hiến. Lá cờ không chịu chết -
thành phố không chịu chết - những người không chịu chết, tất cả những thực thể
không chịu chết đó chính là biểu hiện của một đất nước không chịu chết. Đất
nước chúng ta như đang trải qua một căn bệnh ngặt nghèo. Nhất định đất nước sẽ
hồi phục một ngày không xa. Với niềm tin vào lịch sử, vào thực tế và vào
tinh thần bất khuất của mỗi người dân Việt, chúng ta có quyền chờ đón một ngày
đất Việt sẽ lại được thái bình thịnh trị như xưa.
Trần C. Trí
No comments:
Post a Comment