Chị Mè không biết chữ, nhưng chị thuộc kinh Chúa, đêm nào chị cũng đọc kinh trước khi ngũ. Cha mẹ tôi gốc đạo Phật, nhưng tôi chưa có dịp đi chùa lần nào, cũng chưa biết ông Phật là ai, nhưng qua chị Mè, tuổi thơ tôi thấm nhuần rất nhiều về đạo lý của Thiên-chúa do chị kể. Chị đã dạy cho tôi thuộc kinh Kính Mừng, Kinh Lạy cha và tôi đã được nghe chuyện rước mình Thánh chúa, nếu ai nhận mình Thánh chúa không để tự tan trong miệng, nuốt liền vô bụng thì mình Thánh chúa sẽ biến thành lửa đốt cháy ruột để trừng phạt. Chị khuyên tôi làm điều tốt, không nên làm điều ác, làm điều tốt sẽ được lên Thiên-đàng gặp Đức-chúa Trời, làm điều ác sẽ bị đọa vào Hỏa-ngục, bị quỷ ăn thịt, bị đốt thành lửa.
Mỗi sáng Chúa-nhật,
chị được cha mẹ tôi cho phép đi dự thánh lễ ở nhà thờ Con gà. Khi trở về nhà,
chị thường kể lại cho tôi nghe những gì chị được nghe cha xứ đã giảng. Có một
buổi sáng Chúa nhật chị chuẩn bị đi lễ nhà thờ, lúc bước xuống cầu thang thì guốc
chị bị đứt quai, chị không có guốc khác thay thế, chị không đi dự lễ nhà thờ
được, chị ngồi khóc bên chân cầu thang.Tôi phải xin phép mẹ tôi cho chị mượn
guốc thay thế. Chị mừng quá, ôm tôi hôn rất nhiều lần vào má và không quên lắp
bắp lời cám ơn. Có lẽ nhìn cảnh chị mừng rỡ khi có guốc tạm thay thế vào buổi
sáng hôm đó nên vào lúc chị từ nhà thờ về nhà, cha tôi bảo mẹ tôi cho tiền chị
mua đôi guốc mới. Tôi nghe cha tôi nói với mẹ:
- Mình cho con Mè tiền
mua đôi guốc mới, guốc nó mòn và đứt quai không đi được".
Chị Mè không biết chữ, thời đó chính quyền của ông Ngô-đình-Diệm khuyến khích dân chúng đi học trong kế hoạch xóa nạn mù chữ, vì vậy có những lớp học Bình-dân giáo-dục mở ban đêm cho dân chúng không biết chữ, bận công việc ban ngày, đêm có thời giờ đi học. Cha mẹ tôi cho chị đi học lớp Bình-dân giáo-dục trong đình của khu phố. Lúc đầu chị không chịu đi, tôi hỏi, chị nói: "chị lớn cái đầu rồi mà còn đi học, mắc cỡ chết đi được".
Rồi trước tết năm đó mấy ngày, cha mẹ tôi cho chị về quê thăm gia-đình và phải trở ra làm việc những ngày tết. Sau tết, chị xin được đi hoc lại lớp bình dân giáo dục. Cha mẹ tôi cũng không hỏi lý do tại sao trước đây chị từ chối nay lại đòi đi. Nhưng sau tối đầu tiên đi học trở về nhà, tôi cắc cớ hỏi chị: "Hôm nay chị Mè vào lớp có mắc cỡ không?"
Chị đập khẽ vào đầu tôi nói: "Có mà ít ít thôi, không bằng hôm trước Tết chị về quê, khi vào làng, bị mấy thanh thiếu niên giăng giây chận đường xem giấy tờ, bắt đọc chữ trước khi cho vào làng. Chị đâu có đọc được, mấy đứa đó đưa chị vào trụ sở hội-đồng xã, họ bắt chị làm ký giấy cam kết phải đi học cho biết đọc biết viết. Nếu kỳ sau chị về làng mà bị kiểm soát, không đọc được chữ thì họ không cho vào làng. Hôm đó chị mắc cỡ muốn chun đầu xuống đất luôn. Gặp toàn mấy thanh niên thiếu nữ và người quen trong làng, họ khuyên chị nên theo lớp Bình-dân học vụ. Kỳ sau về làng, bị kiểm soát, không đọc chữ được chắc là họ không cho vô làng quá, xấu hổ lắm ! ".
Bên cạnh nhà tôi có một hẽm nhỏ, đầu hẻm có một tiệm hớt tóc. Người hớt tóc thuê mái hiên của một căn nhà để mở tiệm. Mấy anh em trai tôi là thân chủ của anh chủ tiệm hớt tóc nầy. Mỗi một tháng rưỡi, anh em tôi được chị Mè dẫn ra đây giao cho anh chủ tiệm, rồi trở lại trả tiền để đón về. Chủ tiệm là anh Cường, người ta gọi anh Cường chay, bởi vì anh ăn chay, không ăn thịt cá. Theo lời của một bà bán rong bún ốc kể cho mẹ tôi nghe nhân một buổi sáng cả nhà tôi ăn bún của bà. Anh Cường chay ngoài việc hớt tóc anh còn biết nghề xem chỉ tay, được nhiều người tin cậy, trong đó có bà. Anh xem chỉ tay chứ không nhận tiền của một ai. Anh là người cùng làng với bà ở An-cựu thành phố Huế.
Anh Cường chạy có một
người cậu đi tu ở chùa Từ Hiếu. Anh học hết năm đệ lục trường Quốc-học thì bỏ
học vì nhà quá nghèo. Anh là con trai một nên không bị đi lính. Anh học nghề
hớt tóc của người cậu và được người dì em của mẹ đem vào Đà nẵng hành nghề, vì ở
An-cựu có nhiều người làm nghề hớt tóc nên khó kiếm sống. Do tiết lộ của bà bán
bún, thỉnh thoảng mẹ tôi mời anh Cường qua nhà nhờ xem chỉ tay. Mẹ tôi thường
khen anh Cường chay với cha tôi:
- Thằng Cường chay xem
chỉ tay hay thật, nó nói tôi trúng như gần hết".
Mẹ tôi còn nhanh nhẩu
mời mấy bà bạn đến nhà để nhờ anh Cường chay xem chỉ tay nữa. Những lúc như
vậy, cha tôi không vui, mặt ông nhăn nhó, bỏ đi khỏi cửa hàng đang buôn bán.
Tuy nhiên, những lúc cha tôi đi Sài-gòn mua hàng trở về đều có quà cho anh Cường
chay, có lẽ để trả ơn những lúc anh đã xem chỉ tay cho mẹ tôi.
Khi tôi bắt đầu vào năm học lớp đệ thất, chị Mè cũng đã biết đọc. Không biết ai cho chị quyển Thánh kinh, chị nâng niu, giữ gìn rất kỹ. Chị để quyển Thánh kinh trên đầu tủ, buổi tối, trước khi đi ngủ, chị rửa tay rồi mới lấy xuống đọc. Có lúc tò mò muốn biết trong Thánh kinh viết những gì, tôi hỏi mượn để xem, chị đồng ý cho mượn nhưng bất tôi phải rửa tay và nhiều lần nhắc tôi không được để sách trên ghế ngồi, như vậy sẽ bị Chúa phạt.
"Nó lớn rồi tự đi hớt tóc một mình, khỏi cần đưa đi."
Tôi trả lời:
- Cha em nói em
lớn rồi không cần chị Mè đưa đi..
Tôi nghe anh Cường thở
dài. Suốt buổi hớt tóc hôm đó, anh Cường không nói thêm với tôi một lờI nào..
Khi từ tiệm hớt tóc về nhà, chị Mè gội đầu cho tôi, chị hỏi:
Tôi lại lắc đầu.Tôi
lại nghe chị thở dài và chờ mãi không thấy chị dội nước lên đầu khiến tôi phải
nhắc chị. Mãi đến tối hôm đó tự nhiên tôi nhớ lại lời anh Cường có hỏi tôi vừa
lúc tôi đến hớt tóc. Tôi xuống bếp tìm chị. Chị đang đọc quyển kinh thánh.
Mấy hôm sau, ngày
Chúa-nhật, sau khi chơi đá banh trở về, lúc đi ngang nhà thờ Con Gà, chen lẫn
giữa những người dự Thánh lễ ra về, trên đường đi, tôi nhìn thấy anh Cường chở
chị Mè sau xe đạp. Buổi trưa khi chị Mè gọi cửa để vô nhà, tôi mở cửa. Chị vừa vào
trong cửa, tôi cười và nói lớn:
- Lúc nãy, em thấy anh
Cường chở chị sau xe đạp !".
Chị nhào tới đưa
tay bịt miệng tôi, nhưng cha mẹ tôi đã nghe và đã thấy. Mặt chị đỏ gay, cúi đầu
đi một mạch vào trong. Vừa lúc đó mẹ tôi nói với cha tôi:
- Hèn chi mấy tháng ni
nó cứ thẩn thờ, quên trước, quên sau, nó thương thằng Cường chay rồi...mới có
bấy nhiêu tuổi!
- Hay ghê! chớ bà yêu
tôi lúc bao nhiêu tuổi ? Con Mè năm ni nó mười bảy tuổi rồi, lúc đó bà còn nhỏ
thua nó một tuổi..bộ quên rồi sao ?
Tôi chỉ nghe mẹ tôi
"hừ” một tiếng rồi bỏ lên lầu.
Chuyện anh Cường chay và chị Mè thương nhau những ai ở trong hẽm gần tiệm hớt tóc của anh Cường đều biết. Bà chủ nhà cho anh Cường thuê mái hiên trước nhà để làm tiệm hớt tóc đã có lần kể cho mẹ tôi nghe lúc đó có tôi bên cạnh. Mấy ngày trước đó, ông thầy tu, cậu anh Cường ngoài Huế vào thăm anh Cường, có đến tiêm hớt tóc chơi, bà nghe người cậu nói chuyện với anh Cường: "Cậu và có thể cả mẹ cháu cũng không chấp nhận cuộc hôn nhân nầy. Cháu, con nhà thờ Phật bao nhiêu đời nay rồi mà cưới con Mè gốc đạo Thiên chúa đến khi cháu chết thì ai cúng cơm cho, bộ cháu muốn làm ma đói?”
- Hết người thương sao
lại thương con nhà theo đạo Chúa!.
Ông hỏi anh Cường tuổi của chị Mè, bấm đốt ngón tay, miệng lẩm nhẩm: "Tuổi hai đứa không có gì xung khắc, nhưng cái đạo của ông Chúa và ông Phật xung khắc...không biết tính sao đây ?"
Không bao lâu sau khi
nghe lõm được chuyện anh Cường chay muốn cưới chị Mè, chị xin phép cha mẹ tôi
nghỉ vài hôm để về Trà-kiệu chờ ngày gia-đình anh Cường từ Huế vào xin lẽ hỏi.
Thời gian đó anh Cường cũng nghỉ hớt tóc.
Ngày trở lại làm việc,
chị Mè buồn thiu, chị không nói chuyện với ai, ngay cả tôi chị cũng không nói
một lời. Ngày Chúa-nhật chị cũng không đi lễ nhà thờ. Càng ngày chị càng thẩn
thờ hơn.Mẹ tôi cũng la rầy chị nhiều hơn vì chị lơ là công việc hàng ngày, đến
nổi cha tôi phải ngăn mẹ tôi nặng lời với chị:
"Mình hãy thông cảm cho con Mè, gia-đình nó không cho thằng Cường chay cưới nó vì thằng Cường chay không chấp nhận bỏ Phật theo Chúa, nó mất tinh thần nên sao lãng công việc nhà, lần hồi tinh thần nó sẽ ổn định, làm việc bình thường trở lại.
Định kỳ hớt tóc của
tôi tháng đó bị gián đoạn, anh Cường chay đóng cửa tiệm không rõ lý do. Ngày
anh mở cửa làm việc trở lại cũng là ngày bà chủ nhà cho anh Cường chay thuê mái
hiên làm tiệm hớt tóc qua nhà nói chuyện với mẹ tôi và tối hôm đó mẹ tôi kể lại
cho cha tôi trong bữa cơm: "Thằng Cường chay đã đổi ý, chịu bỏ Phật theo
Chúa để được cưới con Mè. Mẹ thằng Cường chay không chịu, đòi cắn lưỡi tự tử và
bà ta đã làm thật. Gia-đình thằng Cường chay phải chở bà vào nhà thương Huế cấp
cứu, may mà cứu kịp."
Rồi không hiểu sao, chị Mè vui vẻ trở lại,công việc nhà chị làm không còn bị mẹ tôi quở trách nửa. Chị tiếp tục đi lễ nhà thờ mỗi Chúa nhật, anh Cường chay chở chị đi lễ và đón chị trở về bằng chiếc xe đạp đầm mới mua. Chị Mè tiết lộ cho tôi biết, buổi tối hết công việc, chị sẽ xin phép cha mẹ tôi tập đi xe đạp, chị nhờ tôi: "Tối nào chị tập đi xe đạp, em giúp chị đóng của và mở cửa cho chị được không ?"
Tôi đồng-ý, hỏi chị:
"Xe đạp đâu mà chị tập ?"
Chị trả lời không đắn
đo: "Xe đạp anh Cường mới mua".
Biết được chuyện chị
Mè được anh Cường chay đưa đón đi lễ nhà thờ mỗi sáng chúa nhật bằng xe đạp, mẹ
tôi nói với cha tôi:
- Từ đây ra nhà
thờ Con gà chỉ có hai trăm thước mà đưa với đón, bày đặt!
Cha tôi lại cười:
- Nguời ta yêu nhau mà em !"
Tối hôm đó chị Mè đưa
mẹ qua xin phép cha mẹ tôi cho ngủ nhờ để sáng hôm sau trở lại quê. Anh Cường
chay đứng ngoài cửa, tôi nghe anh thở dài, còn chị Mè hai mắt đỏ hoe.
Mấy ngày liên tiếp sau
đó tiệm hớt tóc của anh Cường chay đóng cửa, bà chủ nhà lại qua nói chuyện với
mẹ tôi:
"Hôm con Mè đưa
mẹ về quê, khi qua đò, con Mè nhảy sông tự tử, nhờ nước sông cạn nên con Mè
được vớt lên, chở vô bịnh xá quận Điện-bàn cứu chữa. Bác sĩ nói cái thai trong
bụng con Mè không bị ảnh hưởng gì. Thằng Cường chay không làm việc mấy bữa ni,
nó đi thăm con Mè ở bịnh xá."
Bà lại thở ra:
"Trai gái thời nầy loạn rồi, chưa thành vợ thành chồng mà đã ăn nằm với
nhau để có chửa!".
Từ đó, tôi không còn
được gặp hay được nghe tin tức nào liên hệ đến anh Cường chay và chị Mè.
Khi biết thầy Giác-Miên bị ngất xỉu, phản ứng theo thói quen của một bác-sĩ, tôi bước nhanh đến bàn thờ Phật. Thượng-tọa Giác-Miên đang quỳ, nhưng cả phần thân người bên trên gục xuống hàng chuông mõ phía trước. Tôi nâng mặt thầy lên, quàng tay sau lưng thầy, đỡ nhẹ thầy nằm xuống mặt thảm trước chánh-điện. Tôi thực hiện những tác động cấp cứu dành cho một người bị ngất xiủ. Vài phút sau thầy bắt đầu tỉnh lại. Một vài Phật-tử giúp tôi dìu thầy về phòng riêng. Tôi tiếp tục theo dõi huyết áp và nhịp tim của Thầy. Tôi nghe hơi thở của thầy dần dần bình thường trở lại, nhưng hai mắt của thầy vẫn nhắm như ngủ. Tôi căn dặn vị thị-giả những điều cần thiết phải săn sóc khi thầy tỉnh hẳn. Vừa quay người định ra khỏi phòng, tôi nghe tiếng thầy Giác-Miên thều thào: "Bác sĩ, bác sĩ có phải là chú Kính ở Đà Nẳng không?"
Tôi quay người lại,
thầy thều thào tiếp:
- Chú không nhớ thầy
sao ? Nghe cái giọng đặc biệt Quảng-nam Đà-nẵng của chú, thầy nhận ra
ngay...Thầy là Cường chay, ngày xưa hớt tóc cho chú đó .
Tôi cúi xuống nhìn kỹ mặt thầy: hai mắt đã mở, hai bên khóe mắt có vài giọt nước chảy dọc theo hai bên sóng mũi. Tôi nhận ra được thầy Giác-Miên là anh Cường chay. Tôi ngối xuống bên cạnh thầy, hai tay nắm tay của thầy.. Xúc động làm tôi ứa nước mắt...mới đó mà đă hơn hai mươi lăm năm. Cái âm thanh Theresa Hứa thị-Mè vừa được đọc lên trong lễ cầu siêu lại hiện trong đầu tôi..và tôi chợt hiểu, có thể đó là lý do thầy Giác-Miên ngất xỉu!
Thầy không trả lời,
mặt trở nên suy-tư, xa vắng. Tôi hỏi tiếp:
- Hồi đó, sau khi chị
Mè nhảy sông tự-tử, thầy có găp được chị ấy không?
Thầy bối rối và do dự
khá lâu rồi mới bắt đầu nói chuyện của thầy với giọng buồn rầu:
- Mô Phật! Mấy mươi
năm nay thầy đã chôn quá khứ của thầy trong lời kinh, tiếng chuông tiêng mõ mà
hình như nghiệp vẫn chưa dứt được, còn theo mãi cho đến ngày nay...
Ngày hôm đó đồng bào
trong quê gồng gánh cùng gia-súc lũ lượt từ trong xóm làng xa xôi tràn ra quốc
lộ. Người ta kể cho nhau nghe trận chiến đã xẩy ra đêm hôm trước ở làng
Trà-kiệu. Giải-phóng quân Cộng -sản Việt-nam đã tấn công làng, đốt phá cơ sở
chính-quyền địa-phương bắt dẫn đi chỉ điểm những viên chức chính quyền. Đạn
pháo binh từ trong đồn địa phương quân cũng như từ quận bắn vào làng. Gần sáng,
máy bay từ Đã-nẵng bay vào yểm trợ. Bom đạn quân đội hai bên làm làng Trà-kiệu
tang-hoang. ..Không biết dân làng ai chết ai sống, mạnh ai nấy chạy. Cái gì lấy
được thì mang theo. Cả mấy ngày tiếp theo, thầy đi đến các làng xã quanh làng
Trà-kiệu, vào các bịnh-viện lớn, bịnh-xá nhỏ tìm Mè, Mè vẫn biệt tăm. Nửa tháng
sau thầy theo chân dân làng được cho phép trở về đến trước nhà Mè, ngôi nhà đã
bị cháy rụi. Mấy tháng chờ đợi sau đó, tin-túc về sự sống của Mè vô vọng, thầy
trở về Huế và thầy xin xuất gia với người cậu...
"Không !.Do một
phật-tử chuyên trách từ thời còn thầy Như-Hóa."
"
Thầy không trả lời câu
hỏi của tôi, thầy chỉ gật đầu...rồi lắc đầu...rồi thở dài.
Một tuần sau đó tôi đến thăm con gái chị Mè. Nhà nằm trong một trang trại nuôi gà công-nghiệp. Con gái chị Mè tự giới thiệu tên là Michelle, có chồng là người Pháp chủ trại gà và có ba con. Sau những bỡ ngỡ ban đầu hai chúng tôi trở nên thân thiện rất nhanh. Tôi đã kể cho Michelle kỷ niệm giữa tôi và chị Mè ngày xưa lúc chị giúp việc cho gia-đình tôi.Tôi cũng đã giới thiệu cuộc sống hiện tại của tôi...và cả buổi sáng ngày cuối tuần hôm đó tôi đã được nghe Michelle kể về mẹ của mình, chị Mè.
Khi hỏi về cha của mình, chị được mẹ nói là thất lạc trong chiến tranh không biết chết sống thế nào. Tên cha được ghi trong giấy khai-sinh là Lê-chí-Cường, sinh-quán tại Huế.. Năm 1975, khi miền Nam Việt-nam bị thay đổi chính quyền, mẹ chị vẫn sống bằng nghề may. Michelle được nhận làm tiếp-viên cho khách-sạn Caravelle nhờ thông thạo Pháp ngữ. Tại đây, Michelle quen biết với một du-khách Pháp và một năm sau hai người cưới nhau. Chồng của Michelle là đảng-viên đảng Xã-hội Pháp, làm xã trưởng của một xã nhỏ vùng ngoại ô thành-phố Marseille.
Michelle và mẹ cùng
qua Pháp một ngày. Mẹ được nhận phụ giúp việc săn sóc các nữ tu Thiên chúa giáo
về hưu tại địa phương. Năm 1999, mẹ chị bị phát hiện ra bịnh ung-thư lá lách ở
giai đoạn cuối. Trong chống chọi với căn bịnh ngặt nghèo, biết là mình không thoát
khỏi sự chết, mẹ đã kể lại một phần đoạn đời của mẹ....
Sau cái đêm làng
Trà-Kiệu bị giặc tấn công chiếm đóng, gia-đình mẹ tản-cư vào tạm trú nhà một
người bà con tại thị-xã Tam-kỳ. Cuộc chiến trở nên ác-liệt, gia-đình mẹ không
trở về làng cũ. Cháu được mẹ sinh ra vài tháng sau đó. Cuộc sống cơ cực, hai mẹ
con bị gia-đình đối xử lạnh nhạt vì mẹ sinh con trước có phép cưới. Quá đau
khổ,quẩn-trí, một đêm mẹ định để cháu lại cho bà ngoại, lén ra sông tìm cái
chết. Trên đường đi khi ngang qua một căn nhà trong một xóm nhỏ, mẹ nghe tiếng
khóc, tiếng của một đứa trẻ: “Mẹ ơi! mẹ đâu rồi ?. Mę đi đâu rồi? Con sợ
quá..." Trong đêm khuya, tiếng khóc đòi mẹ của đứa trẻ như xé lòng mẹ,
đánh thức lương tâm và trách nhiệm của mẹ mà trong một phút giây nông nổi mẹ đã
định làm chuyện dại dột... Và mẹ đã quay trở về nhà.
Trong cùng cực của
cuộc sống, một may mắn đến với mẹ...người bạn cùng may chung với mẹ ở Đà-nẵng
trước đây, vừa có chồng là lính phục vụ trong quân-trường Sĩ-quan trừ bị
Thủ-Đức, gặp lại mẹ, rủ mẹ cùng hợp tác may chung tại quán may ở Chợ Nhỏ mà bạn
mẹ theo chồng dọn về đây. Cuộc sống bắt đầu ổn-định,mẹ đã nhiều lần về Đà-nẵng,
về Huế tìm ba, nghe nói ba đã đi tu ở nơi xa và ba đã như một cánh chim lạc
trong bốn phương trời vô-định..
“ Cháu đã làm
theo lời mẹ, đem di-ảnh của mẹ thờ tại chùa Tây-Phương mấy năm nay, từ khi cha
mẹ chồng cháu nghỉ hưu, giao cơ-sở chăn nuôi cho chồng cháu quản lý vừa lúc
chồng cháu hết nhiệm-kỳ xã trưởng."
Chờ Michelle bớt xúc
động, tôi đến ngồi bên cạnh, giúp nhặt lên thư và hình ảnh bị rơi xuống
đất.Trong một tấm hình, tôi nhìn thấy anh Cường chay và chị Mè chụp chung bên
bờ con sông Hàn ở Đà-nẵng, hai người âu yếm choàng vai nhau... và bản sao thẻ
căn-cước bằng tiếng Pháp có in hình anh Cường chay ghi: Lê-chí-Cường sinh năm
1940 tại Huế... Việt-nam....

No comments:
Post a Comment