Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Thursday, April 30, 2026
Ngày Cuối Cùng 30/4/1975: Những Trận Chiến Đẫm Máu Tại Thủ Đô Sài Gòn
Thằng Bé Mắt Xếch - Trần Mộng Tú
Khi quân Bắc tràn vào miền Nam, tôi còn độc thân và ở chung với cha mẹ và gia đình anh tôi. Tôi ở trong quân ngũ nên ít khi về nhà.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ sót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợi được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyến sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Tôi lang thang mãi cuối cùng một người bạn thân từ thời trung học cho tôi một cái ghế bố nhỏ kê bên chái hiên nhà anh, chái hiên khá rộng cho một cái ghế bố và một góc sát bếp có thể treo quần áo và hai cái thùng cạc-tông đựng đồ cá nhân. Ngôi nhà trên thì cán bộ ngoài Bắc vào chiếm, cho gia đình anh, hai vợ chồng và hai đứa con gian nhà ngang sát bếp. Anh tử tế vừa chỉ bảo vừa giúp tôi thuê ngày (thuê ngày nào trả tiền ngày đó) một chiếc xích lô để kiếm sống. Tôi đã mất hết chẳng còn gì nhưng còn mạng sống là còn muốn tìm lại gia đình mình.
Tôi gặp thằng bé trong một buổi chiều nhá nhem tối, khi tôi ghé vào cái quán cơm bình dân để ăn bữa cơm chiều. Cái quán chuyên bán thức ăn cho người lao động, những anh xe ôm, anh xích lô, những thằng bé lem luốc, mồ côi tại chỗ, chạy đầy đường kiếm sống mà thường không biết chúng làm gì để kiếm sống. Thằng bé bước vào quán với những bước đi không vững, nó ghé sát bà bán quán, chìa tay ra một số tiền, chắc là vừa đủ cho một bát cơm hẩm không thịt, cá. Tôi nhìn cái lưng áo rách bươm của nó mà chạnh lòng, nó còn khổ hơn mình. Thằng bé nhận phần cơm quay ra, tôi chết sững khi chạm mắt mình vào đôi mắt nó, đôi mắt của anh tôi, tôi không thể nào nhầm được, đó là thằng con thứ hai của anh tôi, nó có đôi mắt giống hệt mắt của anh tôi… không thể nào nhầm được. Tôi nhớ khi người miền Bắc tràn vào Nam tôi bị đi cải tạo, cháu tôi lên 8. Bây giờ nó khoảng 11,12 tuổi, tên nó là Hòa. Thằng bé ngửng đầu lên chạm vào mắt tôi, nó sựng lại một giây, rồi cúi nhìn xuống đất, tay cầm bát cơm đi nhanh ra cửa. Tôi đứng phắt dậy chạy theo nó, nhưng hình như nó biết có người đuổi theo, nó trốn ngay vào một con đường hẻm nào đó gần nhất mà tôi tìm không ra.
Tôi lủi thủi bỏ cả bát cơm tìm về chỗ trọ của mình. Cả đêm lăn qua lăn lại trên cái ghế bố, tôi không thể ngủ lại được. Nếu nó đúng là cháu mình thì sao nó phải chạy trốn, nó phải vui vì nó gặp lại được một người thân chứ? Cả trăm câu hỏi cứ trong đầu tôi, lăn qua lăn lại mãi, tôi vẫn không thể ngủ được, hình ảnh thằng bé với đôi mắt rất đẹp cứ hiện ra trước mặt tôi. Đôi mắt to và hơi xếch của anh tôi và cháu tôi chỉ hai người trong gia đình có. Cha tôi nói: Họ thừa hưởng đôi mắt của Ông Cố, nhưng ông Cố chúng tôi mất từ khi Cha tôi còn rất trẻ mà nhà tôi chỉ có hình ông Nội, chứ không có hình ông Cố.
Sau lần gặp đó thằng bé biến mất, không hề thấy nó tìm đến quán cơm. Tôi hỏi mấy thằng bé lang thang cũng cỡ tuổi nó về “một thằng bé có đôi mắt xếch” thì mấy đứa nhỏ này cũng không biết tại sao nó biến mất. Chúng cho biết là “thằng mắt xếch” đó ít chơi với chúng và thường đi một mình. Thỉnh thoảng lại biến mất, rồi lại hiện về, nhưng nó thích nhất là đi về phía biển. Hay Chú ra đó tìm thì may ra thấy nó.
Tôi cứ ngày ngày vừa chạy xe kiếm sống vừa dáo dác tìm cháu, thấy
đứa trẻ nào trạc tuổi nó, tôi cũng cố vượt lên nhìn tận mặt, rồi thất vọng.
Từ chỗ tôi ra biển cũng gần một cây số, nếu tôi muốn đi tìm cháu, thì không thể ở đây được, mà ở đây thì không thể vừa đạp xe kiếm sống vừa tìm cháu.
Cuối cùng tôi trả xe, giắt một ít tiền còn sót lại, đi về phía biển. Muốn ra sao thì ra, phải đi tìm cháu đã. Bây giờ cả thế giới này chỉ còn hai chú cháu, tôi phải tìm cho ra, vì tôi không biết gia đình anh tôi có thoát được tới bờ bến an bình nào không, hay đã làm mồi cho cá?
Tôi đi về phía biển mất hai ngày, tôi may mắn kiếm được việc dọn dẹp bãi cho những quán ăn sát bờ biển. Nhờ chăm chỉ và sạch sẽ nên tôi không bị thất nghiệp. Các quán ăn giới thiệu tôi cho nhau.
Tôi vừa làm việc vừa để ý tìm cháu. Một hôm tôi đang lúi húi dọn rác, khi ngửng lên tôi thấy một cặp vợ chồng trẻ, chắc vừa ở xa tới, họ bước vào quán, theo sau có một thằng bé rách rưới xách cái vali to hơn người, đi xiêu vẹo, Tôi nhìn kỹ thì đúng là “thằng bé mắt xếch”. Tôi vội vàng nghiêng người đi một chút để nó không nhìn thấy tôi, rồi vơ đống rác vào thùng, xong tôi chuồn vào trong bếp, nhìn qua khe cửa và nhìn ngắm từng nét trên mặt nó: “Thằng mắt xếch”. Nó đúng là cháu tôi.
Cứ thế trong hai tuần liền tôi ngắm nghía nó làm việc qua khe bếp, đôi khi tôi bị la vì không nghe thấy tiếng chủ gọi. Tôi đi tìm cháu nhưng lại sợ cháu biết mình đi tìm sẽ chạy trốn như lần trước.
Bẵng đi vài hôm tôi không thấy nó làm công việc đón khách, xách hành lý nữa. Tôi hỏi bà chủ quán, thì bà nói:
Thằng bé mắt xếch đó nghe đâu nó có gia đình vượt biên chết ở ngoài khơi nên nó lâu lâu lại bỏ việc vài ba ngày ra ngồi nhìn sóng biển gọi tên những người thân trong gia đình và ngủ ngay trên bãi. Muốn tìm nó thì cứ đi vòng về phía bãi sau, nơi đó trước kia người ta khởi hành ra biển.
Tôi xin bà chủ cho nghỉ hai ngày. Tôi ra bãi sau tìm cháu….
Vào một buổi chiều biển rất êm, những con sóng nhỏ vỗ nhẹ vào bờ rồi lại rút ra. Tôi nhìn thấy cái lưng gày gò trong chiếc áo cũ rách. Cái lưng quay vào bờ, cái đầu còn xanh tóc bù xù úp mặt vào hai đầu gối.
Tôi ôm cháu vào ngực mình bằng cả hai tay, ngực áo tôi đầm đìa thấm những giọt lệ chẩy ra từ đôi mắt xếch, đôi mắt của ông Cố, của anh tôi và của cháu.
Tôi hỏi cháu:
– Tại sao con lại chạỵ trốn Chú?
– Tại Chú giống Ba con và rồi Chú cũng sẽ bỏ con nên con không muốn mình lại bị bỏ thêm một lần nữa. Nó vừa nói vừa khóc.
Tôi ôm chặt cháu vào lòng, nóí:
– Không, không bao giờ Chú bỏ con, Chú sẽ ở lại đây, trên bờ biển này mãi mãi với con và nếu có đi đâu thì hai chú cháu mình đi với nhau. Đừng khóc nữa.
Sóng cứ theo nhau xô mãi vào bờ. Thằng bé nắm chặt tay chú bằng
cả hai bàn tay nhỏ. Đôi mắt xếch rất đẹp của nó, đầm đìa lệ.
Trần Mộng Tú
https://thekymoi.media/truyen-ngan-tran-mong-tu-doi-mat-xech-23090/
Có Thể Bạn Đã Biết - Tháng Tư Xưa - Người Phương Nam
Đã 51 năm trôi qua kể từ ngày miền nam thất thủ nhưng cái cảm giác hãi hùng kinh khiếp ấy vẫn còn lãng vãng quanh đây khi tháng tư lại về.
Miền nam đã thật sự sụp đổ sau hai mươi mốt năm đau thương nội chiến từng ngày. Muốn không tin cũng không được khi mà từ vị nguyên thủ quốc gia, những ông tai to mặt bự cho đến tướng lãnh, sĩ quan các cấp, kẻ thì cao bay xa chạy, người thì buông súng quy hàng theo lệnh cấp trên. Những ai có dũng khí cố thủ là đồng nghĩa với tự sát thì sá gì người dân, chỉ có nước bó tay gục đầu chấp nhận làm kẻ thua cuộc xuôi theo mệnh nước mà thôi. Một ngàn năm nô lệ giặc tàu, một trăm năm nô lệ giặc tây nhưng giặc tàu hay giặc tây gì cũng không đáng sợ bằng giặc cộng sản mà theo nhạc sĩ Tô Hải, một đảng viên cộng sản gộc khi tỉnh ngộ nhận ra được chân tướng của chủ thuyết này đã cho đó là một tà giáo đại bịp nhứt trong lịch sử loài người. Vì vậy mà hàng hàng lớp lớp người dân lần hồi ai cũng lăm le tháo củi xổ lồng cao bay đưa đến những cuộc băng rừng vượt biển tháo chạy tìm tự do bằng mọi cách ở khắp nơi trên quả địa cầu…
Wednesday, April 29, 2026
Văn Hóa Rợ Hồ Sau Ngày "Giải Phóng"
Xưa nay khi nghe tới “đẻ”
là người ta hay liên tưởng đến con vật bốn chân. Hay là vì muốn tranh thủ đưa
văn hoá ngoài ấy vào “trồng đại trà” lên vùng đất màu mỡ mới được giải phóng,
nên thay vì “bảo sanh” mạng sống con người vừa chào đời, nhưng lại dẹp “viện”
đi làm cái “xưởng”.
Xưởng Đẻ. Nghe “xưởng đẻ”,
đã “sao mà đau lòng”, lại còn bị nhồi thêm tên bà Thái hậu triều đại Nhà Nguyễn
nổi tiếng xinh đẹp, thông minh và hiền thục , “Xưởng Đẻ Từ Dũ”. Sao không lấy
tên “Xưởng Đẻ Thị Mầu Thi Nở, Thị Khai Thị Lạc, Thị Tuyết Thị Xuân.
Trong ngôn ngữ Việt Nam
cũng như loài người, chữ “Xưởng” xưa nay dùng để chỉ nơi người ta sản xuất ra
các đồ vật; và giả dụ có “nền văn minh” nào đó gọi “sản xuất” là “đẻ” thì xưởng
cũng chi đẻ ra đồ vật, chứ xưởng không đẻ ra đồ… người.
Chuyện “xưởng đẻ” có thật
nhưng không tài nào tin được. Hay là vì chưa biết lý luận theo logic “Duy vật
biến chứng”. Đúng rồi, thế giới này hiện hữu và chi phối hoàn toàn bởi vật chất.
Con người cũng chỉ là một thứ đồ vật, Đồ vật là trên hết. Không có gì qúy hơn đồ
vật.
Phiếm Luận: Thảm Sát Sau 30/4/1975 Việt Nam Đối Chiếu Cách Mạng Iran 1979 - BS. Lê Bá Vận
Nước Iran từ lâu không nghe nói đến trên diễn đàn quôc tế, đột nhiên là tin nóng bỏng hằng ngày, hằng giờ, kể từ ngày 28/2/2026. Iran bị liên quân Israel – Mỹ chủ động tấn công, đánh đòn phủ đầu. Tương quan lực lượng rất chênh lệch, Mỹ là siêu cường quân sự hạng đầu thế giới. Hiện tại tình trạng cuộc chiến đang ở thế giằng co,
____
Việt Nam cũng đối đầu với Mỹ giống Iran và đã thành công đánh đuổi Mỹ tháo chạy về nước, ngày 30/4/1975 kết thúc thắng lợi hoàn toàn.
Tuy nhiên khía cạnh tương tự nổi bật, sắc nét nhất là cuộc thảm sát đẫm máu ở Việt Nam sau ngày chiến thắng 30/4, đối chiếu hành xử tàn bạo của Cách mạng ở Iran năm 1979.
Iran ở vịnh Ba Tư, Trung Đông, có diện tích 1.650.000 km2 với dân số 92 triệu, là một nước giàu dầu mỏ. Thủ đô là Tehran. Trước năm 1979 Iran là một vương quốc của triều đại dòng Pahlavi cổ kính hơn 2.000 năm. Quốc vương (Sahr) nắm giữ nhiều quyền hành vả Vương quốc Iran có chính sách thân thiện với phương Tây.
Đầu năm 1978 khởi phát các cuộc biểu tình lan rộng, lớn dần chống đối chính quyền. Chính phủ đán áp thẳng tay, giải tán, bắt bớ, gây nhiều thương vong.
Tháng giêng năm 1979 quốc vương Sahr và gia quyến chấp nhận ra nước ngoài. Giáo chủ Ruhollah Khomeini (giáo phái Hồi giáo Shia) lưu vong ở Pháp, về nước thành lập nước Cộng hòa Hồi giáo, theo chế độ Thần quyền (theocracy). Hiến pháp Iran đặt nền tảng trên luật Hồi giáo Sharia. Lãnh tụ Tối cao R. Khomeini nắm quyền lực tuyệt đối, định hướng chiến lược quốc gia, và là tổng tư lệnh quân đội.
Việt Nam thì Hiên pháp điều 4 dựa trên chủ thuyết Cộng sản.
Sau ngay Cách mạng Hồi giáo Iran thành công vào tháng 2/1979, một loạt các cuộc thanh trừng đẫm máu đã diễn ra. Đây là giai đoạn củng cố quyền lực của Ayatollah Khomeini, trong đó chế độ mới loại bỏ các đối thủ chính trị, quân đội cũ và những người từng cùng tham gia cách mạng nhưng khác biệt về tư tưởng.
+ Xử tử quan chức chế độ cũ (Shah): Trong những tháng đầu tiên, hàng trăm quan chức cao cấp, tướng lĩnh quân đội và cảnh sát dưới thời Shah Mohammad Reza Pahlavi (tên vị Shar cuối cùng) bị bắt giữ và xử tử ngay lập tức bởi các tòa án cách mạng, đứng đầu là giáo sĩ Sadegh Khalkhali (được mệnh danh là "thẩm phán treo cổ").
+ Thanh trừng các nhóm đối lập (Cánh tả, Cộng sản, Thế tục): Các nhóm cộng sản (đặc biệt là ĐCSTudeh), các tổ chức XHCN, và những nhóm Hồi giáo cải cách.
+ "Cách mạng Văn hóa" và trấn áp trí thức: Các trường đại học bị đóng cửa từ năm 1980 đến 1982 để loại bỏ những người có tư tưởng phương Tây, cánh tả hoặc không ủng hộ thần quyền.
+ Đàn áp sắc tộc và biểu tình: Các cuộc nổi dậy của người Kurd, Turkmen và các dân tộc thiểu số khác đòi quyền tự trị bị trấn áp dã man.
Số lượng nạn nhân:
Các ước tính cho rằng số người bị xử tử có thể lên tới hàng nghìn, thậm chí cao hơn . .
Năm 1988, sau chiến tranh Iran-Iraq, dưới lệnh trực tiếp của Khomeini, ít nhất 4.000 đến 5.000 tù nhân chính trị – phần lớn là cộng sản hoặc cánh tả – đã bị hành quyết trong vòng vài tuần. Con số thực tế cao hơn. Đây là cuộc hành quyết tù nhân chính trị lớn nhất trong lịch sử hiện đại Trung Đông, được Tổ chức Ân xá Quốc tế mô tả là “tội ác chống lại loài người”., quy mô và tính chất ngang với diệt chủng Khmer Đỏ ở Campuchia.
Về lý luận, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan của Khomeini và chủ nghĩa Marx vô thần là hai hệ tư tưởng không đội trời chung. Khomeini coi cộng sản là: Vô thần”, “phản Thượng đế”
Chính sách Kinh tế - Khomeini rất ít quan tâm, Ông khẳng định mình coi trọng "tinh thần hơn vật chất".[135] Ông cũng đã nói rằng: "Tôi không thể tin rằng mục đích của tất cả những sự hy sinh này chỉ là để mua được những quả dưa rẻ tiền hơn".[136] Trong một dịp khác, ông nói: "Có ai muốn con cháu chúng ta tử vì đạo để có được một ngôi nhà tử tế không? Nó không phải là vấn đề quan trọng. Vấn đề quan trọng là thế giới bên kia".[137] Ông cũng đã tuyên bố thẳng thừng rằng "kinh tế là dành cho những con lừa" [138][Note 1]
Tỉ lệ nghèo đói đã tăng gần 45% trong 6 năm đầu cầm quyền của Khomeini.[141] Ước tính hai đến bốn triệu doanh nhân, chuyên gia, kỹ thuật viên và thợ thủ công lành nghề" của Iran đã di cư sang các nước khác.[143][144]. Họ ra đi, không hề bị cấm đoán.
Luật Sharia rất khắt khe đối với phái nữ. Ly hôn bị cấm đoán, đa thê chấp nhận. Ngoại tình là trọng tội. Tuổi hôn nhân được hạ xuông, là 13 tuổi đối với các bé gái.…
_____
Việt Nam Cộng sản sau chiến thắng 30/4/1975 đã hòa quyện thám sát chính trị và thảm sát (cướp bóc) kinh tế.
Về chính trị Cộng sản CS) lập ra những trại tù học tập cải tạo.
Tổng số người bị giam giữ: Ước tính trên 1.000.000 người, bao gồm quân đội, công chức, cảnh sát, nhân viên các cấp của chính quyền cũ và các nhà lãnh đạo tôn giáo, nhân viên làm việc cho người Mỹ bị tập trung học tập. Khoảng 165.000 người tử vong, chết vì bệnh tật, suy dinh dưỡng, lao động khổ sai hoặc hành quyết.
Các trại giam thường nằm ở những khu vực hẻo lánh, khắc nghiệt (thường là miền Bắc hoặc vùng cao nguyên), thiếu vệ sinh, đói khát, thiếu thuốc men và phải lao động rất nặng nhọc. Tra tấn là điều phổ biến trong các trại cải tạo.[6]. Nhân cách và sinh mạng của trại tù viên được các cai tù xem không bằng súc vật.
Thời gian: Tình trạng giam giữ được xem vừa là một phương tiện trả thù, vừa là một kỹ thuật tinh vi của đàn áp chính trị và nhồi sọ. Các tù nhân bị giam giữ trong khoảng thời gian từ vài tuần cho đến 18 năm.[7],"học tập về đường lối của chính phủ mới.". Nhiều trí thức, khoa bảng miên Nam thực ra chỉ cần học trong nửa ngày là quán triệt hơn các ông CS gộc.
Về kinh tế thì Cộng sản (CS) xem miền Nam thuần túy là một chiến lợi phẩm mang tính ‘toàn diện’, quân sự lẫn dân sự.
Từng đoàn xe con, xe tải sau ngày 30/4, chất đầy xe đạp, xe gắn mây và các phụ tùng, TV, tủ lạnh, quạt máy, máy may, máy giặt, vải vóc, gạo trắng… cùng với các máy móc thiết bị trong xí nghệp sản xuất, trong các bệnh viện, hóa chất, dược liệu… thi đua chở ra Bắc.
Bước kế tiếp với quy mô là đánh tư sản”, “xóa tư bản”, “cải tạo công thương nghiệp”:
+ Đợt một (X-2), ngày 10/9/1975, nhiều nhà tư sản bị bắt, tài sản bị thu giữ.
+ Đợt hai chiến dịch đổi tiền (X-3), ngày 22–23/9/1975. Mỗi hộ gia đình chỉ được đổi một số tiền rất hạn chế. Số còn lại gởi ngân hàng, và mất bặt tin tức.
+ Đợt ba “Nhất võng đả tận”. Một mẻ hốt gọn, bắt hết tóm cổ cả bọn, toàn bộ sa lưới.
Năm 1976 và đặc biệt năm 1978, hàng chục ngàn hộ kinh doanh ở Sài Gòn đột ngột bị kiểm kê, niêm phong, tịch thu hoặc buộc chuyển giao tài sản. Không chỉ đại tư sản, cả tiểu thương, chủ xe, chủ xưởng nhỏ, người làm ăn vừa và nhỏ cũng bị cuốn vào vòng “cải tạo”.
CS tịch thu được một số lượng rất lớn vàng, đá quý, đô la Mỹ, bất ngờ, không kịp tẩu tán.
Trên 130.000 hộ dân và cán bộ miền Bắc vào Nam được phân phối nhà cửa được tịch thu.
Lời Kết:
Cách mạng Hồi giáo Iran năm 1979 giết người như ngóe, tạo thảm sát tàn khốc, không đâu sánh bằng. Song họ thực thà, ngay thẳng, không huênh hoang. Họ chỉ bắt buộc tuân thủ luật Sharia và đã thẳng tay xử tử vài ngàn người. CSVN đã tẩm ngầm giết 165.000 người trọng trại tù cải tạo, cọng thêm gần nửa triệu thuyên nhân bỏ mình trên biển cả, "Ta không giết Bá Nhân, song Bá Nhân vì ta mà chết". CSVN rất xảo quyệt, ngụy biện, đạo đức giả.
Chiến thắng 30/4/1975 của CSVN có 2 khuyết điểm, là lỗ thủng lớn.
+ Một là chiến thắng đó là ủy nhiệm, do sự giúp đỡ toàn diện của Liên Xô và Trung Quốc. Xưa tiền nhân đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, mới là do tự lực.
+ Hai là chiến thắng đó đã đánh mất ý nghĩa, bị hoen ố vì thực chất là một vụ cướp bóc sạch của cải đồng bào miền Nam trù phú.
Ngày nay, mỗi độ ngày 30/4 CSVN kỷ niệm thấm dần những hành vi sai trái, ngày càng bị phanh phui. Về phía chúng ta, những nạn nhân còn sống sót và nay định cư ở nước ngoài thì chung ta kỷ niệm, ôn lại những giây phút đau lòng khi bất lực nhìn thấy cua cải bị vơ sạch, nhà cửa bị chiếm đoạt, bản thân bị uy hiếp ,,,,
Năm nay ngày 30/4 lại đến, lần thứ 51, vẫn là ngày Quốc hận trong tháng tư đen rùng rợn..Song nay gió đã đổi chiều và chúng ta từ nay đón nhận ngày 30/4 trong tinh thần phấn khởi. Những lỗi lầm xưa của CS ngày càng bộc lộ rõ nét thông qua phân tích các hô sơ mật, vạch mặt những khuất dấu.
Đặc biệt chứng cứ quan trọng là lời thú nhận ngây ngô của cố Tổng bí thư Đỗ Mười.
Cố Tổng Bí Thư Đỗ Mười (nhiệm kỳ 1991-1997) lúc ông đang là ủy viên ban bí thư Trung Ương Đảng phụ trách đánh tư sản, kiểm kê và tịch thu tài sản nhân dân miền Nam, ngày 20 Tháng Hai, 1976 vào lúc 10 giờ 15 phút, trước sân tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, được kể lại là đã từng tuyên bố: “Giải phóng miền Nam chúng ta có quyền tịch thu tài sản trưng dụng nhà cửa, hãng xưởng, ruộng đất chúng nó [ám chỉ người dân miền Nam], xe chúng nó ta đi, vợ chúng ta lấy, con chúng nó ta bắt làm nô lệ, còn chúng nó thì ta đày đi kinh tế mới và nơi rừng sâu nước độc, chúng nó sẽ chết lần mòn.”
Lê Bá Vận
Cuộc Chiến Buồn - Khanh Phương
Nhân 51 năm kể từ ngày 30 tháng Tư 1975 đau buồn, xin được hân hạnh giới thiệu bài thơ Cuộc Chiến Buồn đầy ý nghĩa và cảm động của nhà thơ Khanh Phương (tức Cựu Trung Tá Bác sĩ Trần Văn Khang)
Tôi thăm Sài Gòn Nhỏ
Đi trên đường Bolsa
Gặp người chiến sĩ Cộng Hòa
Tóc xanh giờ điểm bạc
Da anh còn sạm nắng
Giọng trầm buồn kể chuyện ngày
xưa
Những ngày chinh chiến quê nhà
Tôi đi thăm Hà Nội
Tình cờ gặp người bộ đội
Ngày xưa từng tham dự trận Cao Nguyên
Giờ đây, với chiến thương và
nạng gỗ hai bên,
Đứng cạnh người con bên bờ hồ Hoàn Kiếm
Rao bán những bản đồ đất nước ba
miền
Cho những người du khách
Đã một thời mang tội vượt biên
Tôi trở về thăm Huế
Chân bước lại trên cầu Tràng
Tiền
Bên sông Hương, người thiếu phụ bán hàng giải
khát
Mắt còn buồn man mác
Nhớ cha, anh vào dịp Tết Mậu Thân
Chôn trong mồ tập thể Ngoại
Thành…/
Vô trong Thành Nội
Vết đạn xưa còn hằn trên cây cối
Những tượng đá lặng im không hề nói
Chắc cũng buồn như những hậu
sinh thôi
Tôi thăm lại Sài Gòn
Thành phố giờ đã đổi tên
Những đường nhỏ không đủ ánh đèn
Phố xưa thân mà bây giờ
bỗng lạ
Chợt thoáng mờ đôi hình bóng nào quen…/
Bên một cột đèn, cạnh Tòa Đô
Sảnh
Tôi gặp người đạp xích lô ba bánh
Anh kể từng tham gia trận đánh
Chiếm Sài Gòn “giải phóng nhân dân”
Giờ đây, lao động đạp xe
Anh than không đủ nuôi mình !
Tôi đi về xứ Mỹ
Gặp người cựu chiến binh
Hoa Kỳ
từng đặt chân ở Long Bình, Khe Sanh và Cát Lái
Anh vô gia cư, râu tóc để dài
Đứng góc ngã tư, xin những người qua lại
Tôi dừng xe, tặng anh
một đô la
Để cám ơn anh, và cám ơn xứ Cờ hoa,
Đã giúp đồng minh rồi tháo chạy
!
Ôi! Cuộc chiến Việt Nam, kết quả buồn !
Khanh
Phương (TVK )
Tôi thăm Sài Gòn Nhỏ
Đi trên đường Bolsa
Gặp người chiến sĩ Cộng Hòa
Tóc xanh giờ điểm bạc
Da anh còn sạm nắng
Giọng trầm buồn kể chuyện ngày
xưa
Những ngày chinh chiến quê nhà
Tôi đi thăm Hà Nội
Tình cờ gặp người bộ đội
Ngày xưa từng tham dự trận Cao Nguyên
Giờ đây, với chiến thương và
nạng gỗ hai bên,
Đứng cạnh người con bên bờ hồ Hoàn Kiếm
Rao bán những bản đồ đất nước ba
miền
Cho những người du khách
Đã một thời mang tội vượt biên
Tôi trở về thăm Huế
Chân bước lại trên cầu Tràng
Tiền
Bên sông Hương, người thiếu phụ bán hàng giải
khát
Mắt còn buồn man mác
Nhớ cha, anh vào dịp Tết Mậu Thân
Chôn trong mồ tập thể Ngoại
Thành…/
Vô trong Thành Nội
Vết đạn xưa còn hằn trên cây cối
Những tượng đá lặng im không hề nói
Chắc cũng buồn như những hậu
sinh thôi
Tôi thăm lại Sài Gòn
Thành phố giờ đã đổi tên
Những đường nhỏ không đủ ánh đèn
Phố xưa thân mà bây giờ
bỗng lạ
Chợt thoáng mờ đôi hình bóng nào quen…/
Bên một cột đèn, cạnh Tòa Đô
Sảnh
Tôi gặp người đạp xích lô ba bánh
Anh kể từng tham gia trận đánh
Chiếm Sài Gòn “giải phóng nhân dân”
Giờ đây, lao động đạp xe
Anh than không đủ nuôi mình !
Tôi đi về xứ Mỹ
Gặp người cựu chiến binh
Hoa Kỳ
từng đặt chân ở Long Bình, Khe Sanh và Cát Lái
Anh vô gia cư, râu tóc để dài
Đứng góc ngã tư, xin những người qua lại
Tôi dừng xe, tặng anh
một đô la
Để cám ơn anh, và cám ơn xứ Cờ hoa,
Đã giúp đồng minh rồi tháo chạy
!
Ôi! Cuộc chiến Việt Nam, kết quả buồn !
Khanh Phương (TVK )
Họ Vẫn Sống Dù Đã Thua Một Cuộc Chiến - Phạm Sơn Liêm
Sau tháng Tư năm 1975, chiến tranh
khép lại trên bản đồ.
Nhưng trong thân thể nhiều người
lính cũ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, chiến tranh chưa từng chịu lui binh.
Họ sống giữa những con đường mang
tên mới.
Sống giữa những khẩu hiệu mới.
Sống giữa những người từng đứng bên
kia chiến tuyến, nay là “bên thắng cuộc”.
Và họ sống… bằng cách của mình.
⸻
Những bước chân không còn nguyên vẹn
Buổi sáng ở một góc chợ nhỏ, tôi gặp
ông Tư.
Một chân cụt ngang gối, ống quần xếp
gọn, chống nạng gỗ đã mòn tay cầm.
Ông trải xấp vé số ra tấm nylon.
“Chú mua giùm tôi tờ, lấy hên,” ông
cười.
Nụ cười hiền, nhưng mắt sâu như đáy
giếng.
Tôi hỏi nhỏ:
— Chân chú… mất hồi nào?
Ông nhìn xuống phần chân không còn
đó.
— Năm bảy hai. Quảng Trị. Bị pháo.
Lúc đó tưởng chết rồi. Ai dè còn sống để bán vé số.
Ông nói như kể chuyện của ai khác.
Không oán, không kể công.
Một người khách trẻ bước lại, cầm tờ
vé số, lẩm bẩm:
— Thời đó mấy ông thua mà.
Ông Tư cười nhẹ:
— Ờ, thua. Nhưng lúc đó tôi đâu có
nghĩ chuyện thắng thua. Tôi nghĩ tới thằng bạn nằm
bên cạnh, máu chảy ướt áo.
Câu nói rơi xuống,
không nặng, mà chìm.
⸻
Dưới gầm cầu, có một đời lính
Có những người không bán vé số.
Họ sửa xe lề đường.
Chiếc hộp đồ nghề cũ.
Cái bơm tay xì xì.
Tấm bảng viết nguệch ngoạc: “Vá xe –
10.000”.
Anh Ba cụt một tay. Tay còn lại đầy
dầu nhớt.
Một đứa nhỏ hỏi:
— Chú ơi, sao chú mất tay?
Anh Ba ngẩng lên, nhìn dòng xe chạy
ngược xuôi.
— Hồi trẻ chú nghịch dại.
Tôi biết anh không muốn nói.
Sau này anh kể riêng:
— Trận đó tôi ôm máy truyền tin. Đạn
cối rơi. Tỉnh dậy thì tay không còn. Thằng truyền tin phụ chết ngay bên cạnh.
Tôi hỏi:
— Anh có buồn không?
Anh im lặng lâu lắm.
— Buồn gì nữa. Còn sống là may. Có người còn không có mộ.
⸻
Sống giữa kẻ chiến thắng
Có những ngày lễ lớn, cờ đỏ treo kín
phố.
Những đoàn diễu hành đi qua.
Loa phóng thanh kể về “ngày toàn
thắng”.
Ông Năm, thương phế binh cụt hai
chân, ngồi trong căn chòi tạm ven sông.
Mỗi khi nghe nhạc hành khúc vang
lên, ông lặng lẽ tắt radio.
Đứa cháu hỏi:
— Ông nội, sao ông không coi tivi
diễn binh?
Ông xoa đầu nó:
— Thời ông… khác lắm con.
— Ông có phải người thua không?
Ông cười buồn:
— Ông là
người lính. Hết chiến tranh rồi, đừng chia thắng thua nữa.
Đứa nhỏ không hiểu. Nó chỉ thấy ông
nội mỗi lần trái gió trở trời lại ôm phần thân mình đau nhức, như thể chiến
tranh vẫn nằm đâu đó trong xương.
⸻
Không phải ai cũng khổ
Nói vậy không có nghĩa tất cả thương
phế binh VNCH đều sống dưới gầm cầu.
Có những người ra nước ngoài, con
cái thành đạt.
Có người mở tiệm nhỏ, sống an ổn
tuổi già.
Có người được con cháu kính trọng,
chăm sóc đủ đầy.
Nhưng ngay cả trong căn nhà khang
trang ấy, nhiều ông vẫn giật mình giữa đêm.
Vẫn mơ thấy tiếng pháo.
Vẫn nghe tiếng gọi của đồng đội.
Một người con hỏi cha mình:
— Ba có hối hận không?
Người cha nhìn lên bàn thờ, nơi tấm
hình chụp thời trai trẻ mặc quân phục.
— Hối
hận gì con? Ba làm điều ba tin lúc đó là đúng. Lính mà. Được lệnh thì đi.
Câu trả lời không có
hận thù.
Chỉ có một đời đã qua.
⸻
Điều họ mất không chỉ là chân tay
Có người mất chân.
Có người mất tay.
Có người mất cả tuổi trẻ.
Nhưng điều họ mất
nhiều nhất là danh phận.
Họ không được gọi là
anh hùng.
Không được truy tặng.
Không được vinh danh.
Họ chỉ là những ông
già bán vé số, sửa xe, ngồi lặng lẽ bên lề đời.
Nhưng trong ánh mắt
họ, nếu nhìn kỹ, vẫn còn một thứ không ai lấy được:
Lòng tự trọng
⸻
Chiều xuống, tôi mua thêm vài tờ vé
số của ông Tư.
Ông cười:
— Mua nhiều vậy làm chi?
Tôi đáp:
— Để nhớ.
Ông nhìn tôi lâu, rồi nói khẽ:
— Nhớ thì nhớ luôn mấy thằng không
còn sống nghe chú.
Giữa dòng người hối
hả, giữa thành phố của “kẻ chiến thắng”,
những người lính già
ấy vẫn sống.
Không ồn ào.
Không đòi hỏi.
Chỉ mong một điều giản
dị:
Được nhìn như con người.
Phạm Sơn Liêm










