Thursday, April 30, 2026

Tháng Tư Có Nhớ Gì Không - Đỗ Công luận

Ngày Cuối Cùng 30/4/1975: Những Trận Chiến Đẫm Máu Tại Thủ Đô Sài Gòn

Lực Lượng VNCH Tử Chiến Tại Thủ Đô Sài Gòn

SÀI GÒN ƠI VĨNH BIỆT!
Ngày 30/4/1975, trên các cửa ngõ vào thủ đô Sài Gòn, những người lính Bộ binh, Nhảy Dù, Biệt kích Nhảy Dù, Biệt động quân, Thiết giáp, Thủy quân Lục chiến... đã đánh trận cuối cùng trong đời lính của họ ...

Tại cụm phòng tuyến khu vực từ ngã tư Quân Vận (gần trung tâm huấn luyện Quang Trung) đến cầu Tham Lươn Bà Quẹo; Bình Thới- Ngã ba Bà Quẹo; Bảy Hiền- Lăng Cha Cả, đơn vị Nhảy Dù phòng ngự tại đây đã nỗ lực ngăn chận Cộng quân. Những người lính Dù không hề nao núng, bình tĩnh chuẩn bị .

LIÊN ĐOÀN 81 BIỆT CÁCH DÙ TRẤN THỦ SÀI GÒN - HỔ XÁM PHẠM CHÂU TÀI:

Đầu năm 1975 vì nhu cầu chiến trường, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù phải chia ra làm hai cánh quân hoạt động cách xa nhau. Đại Tá Phan Văn Huấn và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 1 và Số 2 đang hành quân nhảy toán trong khu vực Bắc Tân Uyên, Biên Hòa. Riêng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy tăng phái cho Sư Đoàn 25 Bộ Binh hành quân tại Tây Ninh. Giữa Tháng Tư 1975, lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu gọi toàn bộ liên đoàn rút về trấn giữ Saigon, và được trải ra để hoạt động trong một vùng khá rộng chung quanh đô thành Saigon – Chợ Lớn – Gia Định.

Ngày 26 Tháng Tư, Đại Tá Phan Văn Huấn – Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn, sau khi nhận lệnh từ Bộ Tổng Tham Mưu, đã ra lệnh cho Thiếu Tá Phạm Châu Tài – Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn, đem toàn bộ cánh quân do Thiếu Tá Tài chỉ huy, gồm 1 ngàn quân thiện chiến về phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu. Thiếu Tá Phạm Châu Tài chuyển quân xong thì trời đã về chiều. Tại Bộ Tổng Tham Mưu Thiếu Tá Tài được Đại Tá Tòng Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Mưu đón tiếp niềm nở.

Kế đó Đại Tá Tòng giao việc phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu lại cho Trung Tá Đức, Chỉ Huy Phó Tổng Hành Dinh phối hợp với quân số tăng phái của Thiếu Tá Phạm Châu Tài. Đó lần duy nhất Thiếu Tá Phạm Châu Tài được tiếp xúc với Đại Tá Tòng .
Thiếu Tá Phạm Châu Tài khựng lại trước đề nghị cố thủ bên trong vòng đai. Dường như cả hai vị sĩ quan của Bộ Tổng Tham Mưu mà ông tiếp xúc không một ai nắm vững khả năng của lực lượng Biệt Cách Dù, bởi vì cố thủ hay tử thủ gì đó không phải là chiến thuật sở trường của Biệt Cách Dù.. Từ Mậu Thân cho đến Mùa Hè 72, Biệt Cách Dù nổi danh nhất là đánh đêm trong thành phố.

Thiếu Tá Phạm Châu Tài thẳng thắn trình bày ý niệm phòng thủ của ông là tấn công địch trước, và được Trung Tá Đức đồng ý để Thiếu Tá Tài hoàn toàn tự do bố trí, trải quân của Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.
Ngay từ khi mới ngừng xe ở trước cổng chính của Bộ Tổng Tham Mưu, Thiếu Tá Phạm Châu Tài đã nhìn thấy một điều, ông phải bung quân ra xa. Phải chặn địch quân CS ngay trên những con đường chính dẫn về Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc đó trời đã nhá nhem tối, Thiếu Tá Tài tạm thời cho quân tập trung vào sân banh của Bộ Tổng Tham Mưu, và đó có lẽ cũng là một đêm hiếm hoi mà binh sĩ của ông tạm có thể coi là có dịp nghỉ ngơi, để lấy lại hơi thở cho chính họ, trước khi phải lao vào trận đánh cuối cùng ...

Trong thâm tâm Thiếu Tá Phạm Châu Tài, ông sinh ra ngay tại đất Gia Định này, lớn lên tại Sài Gòn nên ông có thể nhắm mắt cũng biết, để có thể ngăn chặn địch xung phong vào Bộ Tổng Tham Mưu, đơn vị của ông phải bung ra xa. Phải chặn đánh địch xâm nhập ngay từ khi chúng mới ló đầu ra ở Bà Quẹo, Ngã Tư Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, Trung Tâm Tiếp Huyết, đường Võ Di Nguy… Với một địa bàn quá rộng như thế, phải cần quân số của cả Liên Đoàn, nghĩa là 3 ngàn người. Thế nhưng toàn thể Liên Đoàn được đưa về Sài Gòn không phải chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là phòng thủ cho Bộ Tổng Tham Mưu. Rất nhiều nơi quan yếu khác cần đến những người lính Biệt Cách Dù, những người lính chuyên về đánh đêm trong thành phố.

Buổi chiều 28/4/1975 Biệt đội phòng thủ tại Lục Quân Công Xưởng được trả về cho Thiếu Tá Tài.
Đêm 29 Tháng Tư súng nổ ở nhiều nơi vọng về chỗ đóng quân của Thiếu Tá Tài. Binh sĩ dưới quyền ông chạm súng lẻ tẻ với địch ở nhiều nơi, nhưng các binh sĩ được bung ra, không bị một thiệt hại nhỏ nhoi nào.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài cảm nhận được một điều là tinh thần chiến đấu cũng như hàng ngũ của đơn vị vô cùng vững chãi.
Một đêm trôi qua nhanh chóng ...

Tờ mờ sáng ngày 30 Tháng Tư 1975, Cộng quân tiến và Sài Gòn qua nhiều ngả. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thầm nhủ là giờ phút cuối cùng đã điểm.
Ông liên lạc với các thuộc cấp, dặn dò họ những khẩu lệnh cuối. Qua các máy truyền tin, ông biết bộ binh của CS đã được các xe tăng dẫn đầu bứng các chốt kháng cự một cách nhanh chóng.

Phía trước của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, những khóa sinh chưa kịp ra trường đã tiến ra mặt trận, mặt trận đâu có xa xôi gì.
Bên ngoài vòng đai trung tâm huấn luyện chính là nơi trận chiến cuối cùng đang diễn ra.
Những người lính trẻ này đã có một bài thực tập tốt về chống chiến xa. 2 chiến xa T-54 của CS đã bị bắn hạ tại đây.
Nhưng những chiếc khác vẫn cứ thẳng đường tiến về Saigon. Núp theo sau những chiến xa này, là những chiếc xe vận tải chuyển quân, trên đó chất đầy những cán binh CS, với quần áo còn có lá cây ngụy trang trên nón.

Tới Ngã Tư Bảy Hiền, cánh quân này bắt đầu đụng độ với Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, và bị bắn hạ 1 chiếc dẫn đầu tại Ngã Tư Bảy Hiền.

Những chiếc sau vẫn tuần tự tiến tới, thậm chí Cộng quân cũng không hề ngừng lại phản công tại những địa điểm có ổ kháng cự của những binh sĩ Biệt Cách Dù 81. Cánh quân này lướt qua để tiến về trung tâm thủ đô. Các binh sĩ Biệt Cách Dù vừa đánh vừa rút theo với đà tiến của địch. 2 chiếc tăng T-54 khác của Cộng quân bị bắn hạ ở cổng Phi Long, 1 chiếc bị bắn hạ ở Lăng Cha Cả. Và bây giờ thì Cộng quân đã có mặt tại vòng đai của Bộ Tổng Tham Mưu.

Chớp nhoáng... 2 phát M-72 nhá lửa... 2 chiếc tăng T-54 Cộng quân bị hạ ngay gần cổng Bộ Tổng Tham Mưu. Các đơn vị VNCH đang nỗ lực đẩy lùi Cộng quân ra khỏi bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

Trước đó vài phút, chiến đoàn Biệt Cách Dù đang tung các đợt phản công để đánh bật địch quanh vòng đai. Các binh sĩ Biệt Cách Dù 81 cũng đã rút về, tập họp khá đầy đủ chung quanh cấp chỉ huy của họ, và tuyến phòng thủ cuối cùng cũng đã thiết lập xong. Mấy trăm người lính Biệt Cách Dù 81 hướng súng về phía trước, mắt căng ra chờ địch quân CS tiến vào...
Vào khoảng hơn 9 giờ sáng của ngày 30 Tháng Tư 1975, qua tần số của máy truyền tin, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nhận được lệnh của một sĩ quan Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu ngưng bắn. Ông đã khước từ tuân hành lệnh này, và trả lời cho vị sĩ quan này là ông chỉ nhận lệnh trực tiếp với ông Tổng Tham Mưu Trưởng mà thôi.
Những người lính Biệt Cách Dù 81 vẫn giữ nguyên vị trí phòng thủ trong vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu...

AI CÔNG HẦU - AI KHANH TƯỚNG - TRÊN TRẦN AI,  AI DỄ BIẾT AI !
THẾ CHIẾN QUỐC - THẾ XUÂN THU - THẾ THỜI THẾ, THẾ THỜI PHẢI THẾ !
Tại Củ Chi, sau khi triệt thoái từ Tây Ninh, lực lượng bộ chiến Sư đoàn 25 Bộ binh đã cố gắng lập tuyến chận địch quân CS tại Củ Chi. Tại vòng đai Sài Gòn, Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, đã tổng điều động toàn bộ lực lượng cơ hữu và tăng phái để lập các cụm điểm chận địch tại các yết hầu trọng yếu vào Sài Gòn.

Sáng ngày 27 tháng 4/1975, tình hình Thủ đô Sài Gòn đã trở nên sôi động khi Cộng quân bắt đầu pháo kích vào vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt...

Trưa ngày 29 tháng 4/1975, các vị tướng có thẩm quyền tại Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH đã ra đi. Đại tướng Viên rời Việt Nam từ chiều 28/4/1975 cùng với Chuẩn tướng Thọ (trưởng phòng 3); Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng Liên quân Bộ Tổng tham mưu kiêm Tổng cục trưởng Tiếp vận ra đi vào lúc 11 giờ 30 ngày 29/4/1975. Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Biệt khu Thủ đô cũng đã "chia tay" với các cộng sự viên của mình từ sáng ngày 29/4/1975.

Tại phòng tuyến Củ Chi, tối 29/4/1975, toàn bộ quân trú phòng và bộ Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh mở đường máu về Hóc Môn. Riêng Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn và một Thượng sĩ cận vệ tên Ngọc đã phải thay nhau làm khinh binh với chiến thuật cá nhân để thoát khỏi vòng vây của Cộng quân. Cuối cùng vị tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh bị lọt vào tay địch quân CS khi ông và người cận về gần đến Hóc Môn.

Tại mặt Nam của Sài Gòn, ngay từ ngày 28/4/1975, bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô không còn quân trừ bị để giải tỏa áp lực của Cộng quân. Một liên đoàn Biệt động quân đang hành quân dọc theo quốc lộ 4 phía nam Bến Tranh đã được điều động về quận lỵ Cần Đước theo liên tỉnh lộ 5A vào buổi trưa và đặt dưới quyền điều động của bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Liên tỉnh lộ nối liền Chợ Lớn và Cần Đước cũng bị cắt nhiều đoạn nên các lực lượng VNCH không thể phá vỡ được các chốt chận của Cộng quân tại cầu Nhị Thiên Đường (khu vực này bị Cộng quân chiếm từ rạng sáng ngày 29/4/1975).
Trong khi trận chiến xảy ra tại nhiều nơi thì kho đạn Thành Tuy Hạ lại bị pháo kích nặng nề nên phát nổ nhiều nơi. Hệ thống truyền tin liên lạc với bộ chỉ huy Kho đạn bị mất vào lúc 1 giờ chiều. Xe tăng Cộng quân xuất hiện tại Cát Lái và bắn vào cầu tàu chất đạn chưa được bốc dỡ.

Từ sáng sớm ngày 30 tháng 4, tại các mặt trận quanh Sài Gòn và Biên Hòa, các đơn vị của Sư đoàn 5BB, Sư đoàn 18BB, Lữ đoàn 3 Thiết kỵ, các đơn vị Dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân... đều đặt trong tình trạng sẵn sàng ứng chiến để chận đánh Cộng quân.
Tại bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, Thiếu tướng Lâm Văn Phát từ sáng sớm đã dùng trực thăng bay quan sát tình hình, vừa đáp xuống bộ Tư lệnh ông gọi máy liên lạc với Chuẩn tướng Tần, sĩ quan cao cấp nhất của Không quân vào lúc đó. Tướng Phát yêu cầu Tướng Tần cho các phi tuần khu trục liên tục oanh kích Cộng quân đang chuyển quân dọc theo con đường từ ngả tư Bảy Hiền lên đến Hóc Môn.

NGƯỜI ANH HÙNG PHI CÔNG PHI CƠ TRANG VĂN THÀNH VÀ 7 DŨNG SĨ KHÔNG QUÂN:
TRẬN CHIẾN CHƯA TÀN - Phi đoàn Tinh Long 821, AC119K - Không Lực VNCH tại Tân Sơn Nhứt.

Sau 2 tiếng đồng hồ chịu đựng trận mưa pháo long trời lỡ đất do Cộng sản dội vào phi trường Tân Sơn Nhứt. Khơi dậy cơn phẫn nộ của dũng sĩ Trang Văn Thành, con người không khuất phục định mệnh, không khoanh tay chờ địch đập pháo sát hại, không ngồi yên đợi kẻ thù tràn đến tàn sát. “Còn nhân viên, còn phi cơ, còn súng đạn, phải còn chiến đấu” .

Thành đã phân tích, so sánh và quyết định: Chết vì bị đạn pháo kích của địch ở phi trường hoặc chết vì đạn phòng không của giặc trên không trung cùng ý nghĩa của sự chết. Nhưng chiến đấu để chết là cái chết oanh liệt, vô cùng ý nghĩa của một quân nhân gan dạ có tránh nhiêm bảo vệ quê hương, vì dân, vì nước, vì sự an nguy của người thân, bằng hữu và bá tánh.

Thức trắng thâu đêm bay trên toàn cõi quê hương, trên không phận đường mòn HCM, để săn đuổi và diệt địch. Giờ đây, giặc đã tìm đến nhà. Tại sao lại phải cuối đầu rút cổ chờ chết trong bốn bức tường phi đoàn nhục nhã này? Trang Văn Thành đã quyết định phải bay lên không, chiến đấu và diệt địch trước khi ông gục ngã vì kẻ thù. Trung úy Phi công Trang Văn Thành mạnh dạn đứng lên, dõng dạc kêu gọi đồng đội, tự điều động phi hành đoàn dự bị của ông để bay lên không quyết tử chiến.
Dù thời điểm đó, Bộ Tư Lệnh Không quân, Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Quốc Phòng và Chính phủ VNCH đã tê liệt và bất lực.

Trung úy Thành đã xung phong quyết chiến với địch quân CS chứ không chịu thua dễ dàng. Tinh thần của ông đã vực dậy tinh thần cho một số binh sĩ khác, quyết sống chết cùng vị sĩ quan can đảm trong giờ phút lâm chung của Sài Gòn…
Khi mọi chuyện đã chuẩn bị sẵn sàng, Trung úy Trang Văn Thành, Trung sĩ nhất Phan Quốc Tuấn, Trung úy Trần Văn Hiền, 1 Sĩ quan điều hành viên, Sĩ quan Hồng ngoại tuyến, 1 Hạ sĩ quan hỏa châu, Trung sĩ Chín và 1 Hạ sĩ quan vũ khí phi hành khác thành lập phi đội chiến đấu cùng chung chí hướng. Trung úy Trang Văn Thành đã tự điều động một phi hành đoàn còn đầy đủ tinh thần chiến đấu và tự nguyện hiến thân cho đất nước.

Một phi hành đoàn duy nhất còn sót lại của Không Quân VNCH và của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Họ đã làm nên trang chiến sử oanh liệt cuối cùng trong giây phút kết thúc chiến tranh Việt Nam.
Trung úy Phi công Trang Văn Thành – Phi vụ bay cuối cùng cùng “hắc đại bàng” AC-119K Tinh Long – Trận tử chiến lưu danh muôn thuở!

Trung úy Thành mồ côi cha từ nhỏ, vì cha ông là người làm việc cho chính phủ đã bị cộng quân phục kích trên sông... Mẹ của Thành đã gửi cậu bé vào trường thiếu sinh quân và nơi đó đã đào tạo nên người con anh hùng cho đất nước.

Những giây phút sau cùng tại phi trường Tân Sơn Nhứt là thời khắc thật kinh hoàng và khó mà cảm nhận được nếu không trực tiếp đối mặt với tử thần, những đợt pháo kích như mưa của cộng quân, khi chúng đã rút kinh nghiệm từ thất bại nặng nề tết Mậu Thân 1968, khi chúng bị tiêu diệt tại những quãng đồng vắng ngoại ô Sài Gòn. Lần này, chúng chọn khu dân cư làm lá chắn, vì biết chắc “diều hâu” và “đại bàng” sẽ không nã đạn vào dân.
Chiếc AC119K đã xuất phát, đảo nhiều vòng thăm dò và bắt đầu bao vùng Sài Gòn.
Hòa lẫn tiếng động cơ là những loạt đạn pháo kích dữ dội của Cộng sản rơi vào sân bay Tân Sơn Nhứt.

Một bầu không khí hãi hùng của chiến tranh, Cộng sản tàn phá dữ dội cho mục tiêu cuối cùng, để đoạt lấy chính quyền từ tay của Chính phủ VNCH, hầu áp đặt một chế độ độc tài gian tham tại Miền Nam VN.

Sau khi đã quần thảo, quan sát và kiểm tra tình hình, Trung úy Thành quyết định đánh lên mạn Bắc của những cánh rừng ngoại ô gần khu Xóm Mới, Gò Vấp. Với độ cao 2000 bộ, phi cơ đã nằm gọn trong tầm bắn trả của địch nhưng Trung úy Thành vẫn cố gắng đáp trả quyết liệt và hạn chế ảnh hưởng tới người dân vô tội. Trước đó chiến đấu cơ đã tiêu diệt một số lượng khá lớn cộng quân đang mai phụ ở khu vực này. Phi cơ của Trung úy Thành rời khỏi phi đạo, rẽ mũi bay về bên trái, hướng tây của Thủ đô Sàigòn, tránh né dân phòng không dầy đặc ở phía đông bắc phi trường Tân Sơn Nhứt. Ông nhanh nhẹn cho phi cơ bay lên cao độ, làm các vòng chờ ở phía tây Thủ đô yên tĩnh, hầu quan sát tình hình chiến sự. Vừa mới bay lên không ông cần nhiều thời gian để quan sát, theo dõi và chọn lựa các mục tiêu trước khi ra tay xạ kích... Mất gần 2 tiếng đồng hồ bay lượn trên bầu trời Đồng Tháp Mười ven đô, phía tây của thành phố Sài gòn chờ trời sáng, đồng thời quan sát kỹ lưỡng các mục tiêu.

Rồi con “Hắc đại bàng dũng mãnh” lại xuất hiện trên bầu trời trong sáng Tân Sơn Nhứt. Bấy giờ, đã 7 giờ hơn. Mặt trời đang lên, thành phố Sài Gòn đang bừng sáng ở phía đông. Sân bay Tân Sơn Nhứt đang bị san bằng, mịt mù khói lửa. Vài đám khói trắng để lộ các mục tiêu dàn đại pháo của địch đang rót vào phi trường. Tọa độ phát hiện tại những cánh rừng thưa gần xóm mới, hướng Bắc của quận Gò Vấp ven đô...

Giờ hành động đã điểm. Trước khi cho phi cơ bay vào mục tiêu, chuẩn bị trận đánh không địa của chiến đấu cơ AC119K, Trung úy Thành đã hội ý cùng phi hành đoàn lần cuối truớc khi ông quyết định đưa vào trận chiến.

Tất cả những gương mặt đều tự tin trong im lặng. Tất nhiên họ đã hiện diện trên phi cơ là họ chấp nhận một cuộc tử chiến, quần thảo với địch, cứu nguy thành phố Sài Gòn đang trong cơn sốt sụp đổ, sắp rơi vào tay địch.
Chính vợ con và thân nhân của họ cũng sẽ gánh chịu hậu quả của sự trả thù thê thảm sau một cuộc bại trận, do phe Cộng sản nham hiểm, độc ác sẽ chiến thắng. Không còn chọn lựa nào khác, nếu phải hy sinh.

Một giọng phát ra từ máy liên thoại phi hành đoàn:
"Quyết định thi hành phi vụ này là chúng tôi đã chấp nhận sự hy sinh. Tùy theo quyết định của Trung úy. "
Trung úy Trang Văn Thành lái chiếc phi cơ bay bọc từ phái nam thủ đô Sài Gòn vòng lên hướng bắc để đánh vòng bay đầu tiên vào các mục tiêu đã được phi hành đoàn ghi nhận.

Một tràng liên thanh ầm ỹ, nòng súng minigun xoay tròn, khói bốc lên, lửa đỏ lóe sáng, 6.000 viên đạn tua tủa bay ra khỏi các nòng súng trong một phút, tạo thành những vệt đạn lửa trãi rộng gần một cây số, nằm trong tầm tác xạ của loại vũ khí độc hại này, địch sẽ không còn cơ hội sống. Tiếp nối các vòng bay tấn công và diệt địch thứ hai rồi thứ ba. Tiếp tục cuộc chiến đấu đầy dũng cảm, cam go để bảo vệ thủ đô. Mỗi một vòng bay trút hàng ngàn trái đạn đại bác 20 ly xuống đầu địch nơi ven đô. 3 vòng bay tác xạ đầu tiên của phi cơ vào các tọa độ đặt dàn trọng pháo và hỏa tiễn của địch... Cộng quân đã phải im bặt trong hơn nữa tiếng đồng hồ, kể từ khi AC-119K Tinh Long xuất hiện và phản công trên bầu trời Sài Gòn. Chiến sĩ Không quân đang hiện diện trong phi trường Tân Sơn Nhứt tìm được một ít phấn khởi, ngơi ra khỏi hầm trú ẩn ngộp ngạt, tìm những giây phút thoải mái. Hàng triệu đôi mắt hướng về chiếc phi cơ Tinh long đang bay lượn ở hướng đông, sắp sửa nhả đạn, tác xạ vòng bay thứ tư xuống đầu địch quân Cộng sản. Phi hành đoàn đã chiến đấu không mỏi mệt, không đầu hàng, không bỏ chạy... Mỗi lúc chiếc phi cơ AC119K lại tiến sâu vào trận đại dày đặc phòng không, trọng pháo của địch quân đang cố xâu xé Thủ đô Sàigòn.

60 GIÂY ĐỐI DIỆN TỬ THẦN:
Trung úy Thành đã hạ phi cơ xuống thấp hơn các vòng bay trước, để đánh địch quân và điều chỉnh. Ông hy vọng cao độ 2.000 bộ, với tầm tác xạ và hiệu quả hơn. Nhưng cao độ này khá nguy hiểm cho một loại vận tải cơ bay chậm chạp, nó nằm trong tầm bắn trả của phòng không và hỏa tiễn tầm nhiệt của địch. Trung úy Thành dự định sẽ rải 2 thùng đạn đại bác liên thanh 20 ly để phá hủy và dập tắt các nòng súng thuộc dàn đại pháo của Cộng quân., Những tọa độ ông vừa mới phát hiện được trong vòng bay đã qua. Phi cơ của Trang Văn Thành chưa kịp tiến gần mục tiêu của địch.

Nó đã bay và lọt vào ổ phòng không bí mật phía đông phi trường. Địch đã im lặng, giữ bí mật đặt dàn phòng không này trong quận Gò Vấp, một khu phố nghèo nàn phía đông, bên ngoài vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt.

8 nhân viên phi hành đoàn AC119K hiện diện trên phi cơ cùng một cảm nhận những tiếng nổ rung chuyển không gian, xung quanh chiếc phi cơ của họ. Dàn phòng không của địch đã đồng loạt nả đạn lên không, tấn công chiếc AC119K nổ rợp trời như pháo bông nổ giữa ban ngày. Đợt tấn công đầu tiên gồm 4 trái phòng không đã không gây thiệt hại nào cho phi cơ.

Mấy giây tử thần ngắn ngủi trôi qua. Phi hành đoàn lại cảm nhận một tiếng nổ đơn độc khác, ảnh hưởng trầm trọng trực tiếp đến phi cơ. Toàn thân chiếc máy bay rung chuyển dữ dội theo tiếng nổ. Họ đã kinh hoàng nhìn thấy lửa đỏ lẫn miếng đạn phòng không phóng ra, kèm tiếng nổ ấm và bịt kín từ trong lòng động cơ bên trái... Không còn nghi ngờ gì nữa! Họ đã biết chắc chắn chiếc phi cơ đã bị trúng đạn phòng không SA-7 của Cộng quân. Phi công Trưởng dũng cảm, 28 tuổi. Trung úy Trang Văn Thành không hề nao núng. Ông rất tin tưởng vào kinh nghiệm lái máy bay của ông, với hơn 2.000 giờ bay, ông đã trãi qua không biết bao nhiêu lần phi cơ bị hư hỏng phải đáp khẩn cấp an toàn.

Một trách nhiệm đặt trên vai người Trưởng phi cơ, phải làm mọi cách để đoàn viên phi hành của ông được toàn mạng. 8 sinh mạng trên phi cơ hiện đang nằm trong bàn tay tài nghệ của viên phi công trưởng phi cơ. Trung úy Trang Văn Thành bình tĩnh, một bản tánh chung của những người phi hành, họ đã được trui luyện lòng can đảm, ngay từ những giờ bay đầu tiên, đó là sự bình tĩnh, hành động chính xác và phải làm mọi cách để được đáp bình an và toàn mạng. Trung úy Thành vội vã hạ mũ và nghiêng phi cơ về bên trái, theo hướng phi đạo Tân Sơn Nhứt, đang nằm ở hướng 3 giờ của chiến phi cơ. Trong ý nghĩ của Trung úy Thành đã có sẵn một quyết định rõ rệt. Ông bình tĩnh dặn dò các nhân viên trong phòng lái:
"Bằng mọi giá chúng ta phải mang phi cơ ra khỏi vùng đông đúc dân cư của Quận Gò Vấp. Nếu phi cơ của chúng ta không lết kịp đến phi đạo, tôi sẽ quyết định cho phi cơ làm crash ngay tại các cánh đồng vắng xung quanh phi trường."
Thương ôi! Gãy cánh Đại bàng... Anh đi... Anh về đất! Anh đi... Anh về nước!


Cánh ngoài, bên trái của phi cơ đột nhiên gãy xấp lên không, lôi động cơ trái gãy đổ theo, rồi rã ra. Nó giựt mạnh những đường dây cáp điều khiển cánh lái nghiêng của phi cơ, làm đứt lìa, khiến cần lái phi cơ vuột khỏi tầm tay của viên phi công, rồi đập mạnh về phía trước bảng phi cụ. Chiếc phi cơ không còn trong tầm tay điều khiển an toàn của ông nữa. Đồng lúc, 2 chiếc bàn đạp điều khiển cánh lái đuôi phương hướng cũng đập mạnh về trước, khi những dây cáp điều khiển nối liền từ cánh lái đuôi đến bàn đạp cũng bị giựt đứt lìa và rời khỏi phi cơ. Thân phi cơ bắt đầu nghiêng đổ hẳn về một bên. Các đồng hồ ngưng hoạt động, tốc độ phi cơ đứng hẳn giữa bầu trời và chuyển đổi sang trạng thái rơi tự do. Hệ thống điện bị cắt đứt. Tất cả bắt đầu im lặng theo sự rơi chao đảo...

Các động cơ đã hỏng vì sự rối loạn, tan rã của phi cơ. Tất cả kim đồng hồ dàn phi cụ, đồng loạt rớt xuống số 0. Cánh trái, thân nối liền đuôi phi cơ đã gãy đổ và rời khỏi phi cơ đang bay lơ lững trên không. Hệ thống điều khiển tê liệt...
Tâm hồn phi hành đoàn chìm vào bóng tối theo tiếng nổ long trời, hồn biến, xác tan, để đi vào cõi an lạc, chấm dứt một đời người kiêu dũng trên không trung. Để rồi tên tuổi các anh vẫn sống mãi trong lòng người và lịch sử của Quân đội VNCH, với ý chí sắt đá “hiến thân cứu nước” và quyết tâm “vì dân diệt bạo”. 

Những người con anh hùng của VNCH về với lòng đất Mẹ Việt Nam .
Có thể thấy những giây phút cuối đã thực sự viết nên những dòng lưu danh cho chiến sử không quân VNCH nói riêng và cả những nỗ lực của tất cả các binh chủng QLVNCH nói chung, đã thể hiện tinh thần chiến đấu cho quê hương vô cùng mãnh liệt, không sờn lòng khi vận nước lâm nguy. Các anh đã chấp nhận hy sinh thay vì đầu hàng số phận, dẫu biết trước kết cuộc nhưng trách nhiệm của một người quân nhân VNCH nhắc nhở các anh phải tiếp tục chiến đấu.

Tại vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu, một chiến đoàn thuộc Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù do thiếu tá Phạm Châu Tài chỉ huy đã dàn quân chận địch, từ đêm cho đến 10 giờ sáng, chiến đoàn 81 Biệt Cách Dù đã bắn cháy 6 chiến xa Cộng quân và nỗ lực đánh bật địch ra khỏi trận địa...

Từ sáng sớm đến 10 giờ ngày 30/4/1975, trên các cửa ngõ vào thủ đô Sài Gòn, những người lính Bộ binh, Nhảy Dù, Biệt kích Nhảy Dù, Biệt động quân, Thiết giáp, Thủy quân Lục chiến... đã đánh trận cuối cùng trong đời lính của họ: 32 chiến xa và gần 30 quân xa Cộng quân bị bắn cháy, hơn 1,000 Cộng quân tan xác... Đó là chiến tích của người lính VNCH tại mặt trận Thủ Đô Sài Gòn trong buổi sáng cuối cùng của cuộc chiến. Trong những giờ phút cuối cùng này, tại Sài Gòn, trái tim của Việt Nam Cộng Hòa, có rất nhiều sự kiện diễn ra dồn dập, những trận đánh hào hùng và bi tráng của một số đơn vị QLVNCH.

Cảm ơn anh, người chiến sĩ QLVNCH!
ANH HÙNG TỬ - KHÍ HÙNG BẤT TỬ.
( Phi đoàn Tinh Long 821 AC-119K sống sót Trung sĩ Chín bị chấn thương cột sống).

Thằng Bé Mắt Xếch - Trần Mộng Tú


Khi quân Bắc tràn vào miền Nam, tôi còn độc thân và ở chung với cha mẹ và gia đình anh tôi. Tôi ở trong quân ngũ nên ít khi về nhà.


Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ sót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợi được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyến sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có. 

Tôi lang thang mãi cuối cùng một người bạn thân từ thời trung học cho tôi một cái ghế bố nhỏ kê bên chái hiên nhà anh, chái hiên khá rộng cho một cái ghế bố và một góc sát bếp có thể treo quần áo và hai cái thùng cạc-tông đựng đồ cá nhân. Ngôi nhà trên thì cán bộ ngoài Bắc vào chiếm, cho gia đình anh, hai vợ chồng và hai đứa con gian nhà ngang sát bếp. Anh tử tế vừa chỉ bảo vừa giúp tôi thuê ngày (thuê ngày nào trả tiền ngày đó) một chiếc xích lô để kiếm sống. Tôi đã mất hết chẳng còn gì nhưng còn mạng sống là còn muốn tìm lại gia đình mình.

Tôi gặp thằng bé trong một buổi chiều nhá nhem tối, khi tôi ghé vào cái quán cơm bình dân để ăn bữa cơm chiều. Cái quán chuyên bán thức ăn cho người lao động, những anh xe ôm, anh xích lô, những thằng bé lem luốc, mồ côi tại chỗ, chạy đầy đường kiếm sống mà thường không biết chúng làm gì để kiếm sống. Thằng bé bước vào quán với những bước đi không vững, nó ghé sát bà bán quán, chìa tay ra một số tiền, chắc là vừa đủ cho một bát cơm hẩm không thịt, cá. Tôi nhìn cái lưng áo rách bươm của nó mà chạnh lòng, nó còn khổ hơn mình. Thằng bé nhận phần cơm quay ra, tôi chết sững khi chạm mắt mình vào đôi mắt nó, đôi mắt của anh tôi, tôi không thể nào nhầm được, đó là thằng con thứ hai của anh tôi, nó có đôi mắt giống hệt mắt của anh tôi… không thể nào nhầm được. Tôi nhớ khi người miền Bắc tràn vào Nam tôi bị đi cải tạo, cháu tôi lên 8. Bây giờ nó khoảng 11,12 tuổi, tên nó là Hòa. Thằng bé ngửng đầu lên chạm vào mắt tôi, nó sựng lại một giây, rồi cúi nhìn xuống đất, tay cầm bát cơm đi nhanh ra cửa. Tôi đứng phắt dậy chạy theo nó, nhưng hình như nó biết có người đuổi theo, nó trốn ngay vào một con đường hẻm nào đó gần nhất mà tôi tìm không ra. 

Tôi lủi thủi bỏ cả bát cơm tìm về chỗ trọ của mình. Cả đêm lăn qua lăn lại trên cái ghế bố, tôi không thể ngủ lại được. Nếu nó đúng là cháu mình thì sao nó phải chạy trốn, nó phải vui vì nó gặp lại được một người thân chứ? Cả trăm câu hỏi cứ trong đầu tôi, lăn qua lăn lại mãi, tôi vẫn không thể ngủ được, hình ảnh thằng bé với đôi mắt rất đẹp cứ hiện ra trước mặt tôi. Đôi mắt to và hơi xếch của anh tôi và cháu tôi chỉ hai người trong gia đình có. Cha tôi nói: Họ thừa hưởng đôi mắt của Ông Cố, nhưng ông Cố chúng tôi mất từ khi Cha tôi còn rất trẻ mà nhà tôi chỉ có hình ông Nội, chứ không có hình ông Cố.


Sau lần gặp đó thằng bé biến mất, không hề thấy nó tìm đến quán cơm. Tôi hỏi mấy thằng bé lang thang cũng cỡ tuổi nó về “một thằng bé có đôi mắt xếch” thì mấy đứa nhỏ này cũng không biết tại sao nó biến mất. Chúng cho biết là “thằng mắt xếch” đó ít chơi với chúng và thường đi một mình. Thỉnh thoảng lại biến mất, rồi lại hiện về, nhưng nó thích nhất là đi về phía biển. Hay Chú ra đó tìm thì may ra thấy nó. 

Tôi cứ ngày ngày vừa chạy xe kiếm sống vừa dáo dác tìm cháu, thấy đứa trẻ nào trạc tuổi nó, tôi cũng cố vượt lên nhìn tận mặt, rồi thất vọng.


Từ chỗ tôi ra biển cũng gần một cây số, nếu tôi muốn đi tìm cháu, thì không thể ở đây được, mà ở đây thì không thể vừa đạp xe kiếm sống vừa tìm cháu.

Cuối cùng tôi trả xe, giắt một ít tiền còn sót lại, đi về phía biển. Muốn ra sao thì ra, phải đi tìm cháu đã. Bây giờ cả thế giới này chỉ còn hai chú cháu, tôi phải tìm cho ra, vì tôi không biết gia đình anh tôi có thoát được tới bờ bến an bình nào không, hay đã làm mồi cho cá?

Tôi đi về phía biển mất hai ngày, tôi may mắn kiếm được việc dọn dẹp bãi cho những quán ăn sát bờ biển. Nhờ chăm chỉ và sạch sẽ nên tôi không bị thất nghiệp. Các quán ăn giới thiệu tôi cho nhau. 

Tôi vừa làm việc vừa để ý tìm cháu. Một hôm tôi đang lúi húi dọn rác, khi ngửng lên tôi thấy một cặp vợ chồng trẻ, chắc vừa ở xa tới, họ bước vào quán, theo sau có một thằng bé rách rưới xách cái vali to hơn người, đi xiêu vẹo, Tôi nhìn kỹ thì đúng là “thằng bé mắt xếch”. Tôi vội vàng nghiêng người đi một chút để nó không nhìn thấy tôi, rồi vơ đống rác vào thùng, xong tôi chuồn vào trong bếp, nhìn qua khe cửa và nhìn ngắm từng nét trên mặt nó: “Thằng mắt xếch”. Nó đúng là cháu tôi.

Cứ thế trong hai tuần liền tôi ngắm nghía nó làm việc qua khe bếp, đôi khi tôi bị la vì không nghe thấy tiếng chủ gọi. Tôi đi tìm cháu nhưng lại sợ cháu biết mình đi tìm sẽ chạy trốn như lần trước.

Bẵng đi vài hôm tôi không thấy nó làm công việc đón khách, xách hành lý nữa. Tôi hỏi bà chủ quán, thì bà nói:

Thằng bé mắt xếch đó nghe đâu nó có gia đình vượt biên chết ở ngoài khơi nên nó lâu lâu lại bỏ việc vài ba ngày ra ngồi nhìn sóng biển gọi tên những người thân trong gia đình và ngủ ngay trên bãi. Muốn tìm nó thì cứ đi vòng về phía bãi sau, nơi đó trước kia người ta khởi hành ra biển.

Tôi xin bà chủ cho nghỉ hai ngày. Tôi ra bãi sau tìm cháu….


Vào một buổi chiều biển rất êm, những con sóng nhỏ vỗ nhẹ vào bờ rồi lại rút ra. Tôi nhìn thấy cái lưng gày gò trong chiếc áo cũ rách. Cái lưng quay vào bờ, cái đầu còn xanh tóc bù xù úp mặt vào hai đầu gối.

Tôi ôm cháu vào ngực mình bằng cả hai tay, ngực áo tôi đầm đìa thấm những giọt lệ chẩy ra từ đôi mắt xếch, đôi mắt của ông Cố, của anh tôi và của cháu.

Tôi hỏi cháu:

– Tại sao con lại chạỵ trốn Chú? 

– Tại Chú giống Ba con và rồi Chú cũng sẽ bỏ con nên con không muốn mình lại bị bỏ thêm một lần nữa.  Nó vừa nói vừa khóc.

Tôi ôm chặt cháu vào lòng, nóí:

– Không, không bao giờ Chú bỏ con, Chú sẽ ở lại đây, trên bờ biển này mãi mãi với con và nếu có đi đâu thì hai chú cháu mình đi với nhau. Đừng khóc nữa.

Sóng cứ theo nhau xô mãi vào bờ. Thằng bé nắm chặt tay chú bằng cả hai bàn tay nhỏ. Đôi mắt xếch rất đẹp của nó, đầm đìa lệ.


Trần Mộng Tú

https://thekymoi.media/truyen-ngan-tran-mong-tu-doi-mat-xech-23090/

Có Thể Bạn Đã Biết - Tháng Tư Xưa - Người Phương Nam


Đã 51 năm trôi qua kể từ ngày miền nam thất thủ nhưng cái cảm giác hãi hùng kinh khiếp ấy vẫn còn lãng vãng quanh đây khi tháng tư lại về. 

Ngày 30/4/75, ngày mệnh chung của đất nước,  sáng hôm đó, mặt trời lên rực lửa như màu máu, nhuộm đỏ cả miền nam tội tình. Mười một giờ trưa, tổng thống Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Bọn cộng sản Bắc Việt và bè lủ mặt trận giải phóng miền nam như ong rừng vỡ tổ, như một bầy quỷ dữ chui lên từ địa ngục a tỳ đầu trâu mặt ngựa đầy nanh vuốt hung hăng, man rợ ùa ngập vào thành phố gieo kinh khiếp hỏang lọan cho người dân hơn bất cứ một trận thiên tai ghê gớm nào. Thà là thiên tai mà sau đó, người ta có thể tái thiết xây dựng, cải cách nhưng với chế độ bần cùng hóa nhân dân, đất nước sẽ càng ngày càng lụn bại để rồi cuối cùng đi đến chỗ sụp đổ diệt vong.  

Không ai muốn nhìn nhận sự thật nhưng vẫn phải đối đầu với thực tế, miễn cưỡng đón mừng “hòa bình” về trên quê hương, Nam Bắc từ đây thống nhứt một nhà, miễn cưỡng tung hô chào đón cái lũ rợ Hồ sau hai mươi năm trốn chui trốn nhủi phục kích trong rừng thẳm hang sâu giờ đây đã về thành lên ngôi đưa nước nhà đến “đỉnh cao vinh quang” xã hội chủ nghĩa, có nghĩa là người dân từ nay sẽ mất hết tự do nhân quyền, sẽ trắng tay thành vô sản để đảng và nhà nước dễ bề khống chế cai trị. Kẻ nào phản động chống trả thì chỉ có tù đày mọt gông và tử hình, liên lụy đến người thân. Cuộc sống của người dân từ đó vô cùng thống khổ bi thương như rơi xuống chín từng địa ngục.

Miền nam đã thật sự sụp đổ sau hai mươi mốt năm đau thương nội chiến từng ngày. Muốn không tin cũng không được khi mà từ vị nguyên thủ quốc gia, những ông tai to mặt bự cho đến  tướng lãnh, sĩ quan các cấp, kẻ thì cao bay xa chạy, người thì buông súng quy hàng theo lệnh cấp trên. Những ai có dũng khí cố thủ là đồng nghĩa với tự sát thì sá gì người dân, chỉ có nước bó tay gục đầu chấp nhận làm kẻ thua cuộc xuôi theo mệnh nước mà thôi. Một ngàn năm nô lệ giặc tàu, một trăm năm nô lệ giặc tây nhưng giặc tàu hay giặc tây gì cũng không đáng sợ bằng giặc cộng sản mà theo nhạc sĩ Tô Hải, một đảng viên cộng sản gộc khi tỉnh ngộ nhận ra được chân tướng của chủ thuyết này đã cho đó là một tà giáo đại bịp nhứt trong lịch sử loài người. Vì vậy mà hàng hàng lớp lớp người dân lần hồi ai cũng lăm le tháo củi xổ lồng cao bay đưa đến những cuộc băng rừng vượt biển tháo chạy tìm tự do bằng mọi cách ở khắp nơi trên quả địa cầu…  

 Tháng Tư Xưa 

  Là người Việt bạn còn có nhớ?
Tháng tư xưa rả ngũ tan hàng
Tháng tư xưa nước mất nhà tan
Giặc cộng về miền nam nhuộm đỏ


Khiến quê hương máu trào lệ đổ
Gieo tóc tang dâu bể lầm than
Khắp nơi nơi hỗn lọan kinh hòang
Đổ xô nhau ùn ùn di tản



Tháng tư xưa tận cùng bi thảm
Bỗng về đây bạo ngược hung tàn
Tưởng chừng như địa ngục trần gian
Mạnh ai nấy tìm phương lánh nạn


Tháng tư xưa miền nam thất thủ
Khiến dân tình xấc bấc xang bang
Đầu trên xóm dưới tới cuối làng
Bỏ, bỏ hết chạy thôi kẻo chết



Tháng tư xưa sinh ly tử biệt
Người xa người tức tưởi nghiệt oan
Ta không thua sao bắt quy hàng
Để nhục nhằn chiến binh bất khuất
 

Tháng tư xưa Saigon mạt vận
Sao đổi ngôi lịch sử sang trang
Để uất hờn đá nát vàng tan
Để từ đó gọi Ngày Quốc Hận !!

Kính mời quý vị xem lại những hình ảnh tháng tư xưa để nhớ vì sao chúng ta phải lưu vong khắp bốn phương trời và người còn ở lại phải sống cuộc đời vô vọng không có tương lai.


Để mở lớn màn hình, xin vui lòng click vào hai mũi tên ở góc bên phải.


Người Phương Nam

Wednesday, April 29, 2026

Văn Hóa Rợ Hồ Sau Ngày "Giải Phóng"



Bảo sanh viện Từ Dũ, sau 1975 “được” đổi tên thành Xưởng Đẻ Từ Dũ.

Xưa nay khi nghe tới “đẻ” là người ta hay liên tưởng đến con vật bốn chân. Hay là vì muốn tranh thủ đưa văn hoá ngoài ấy vào “trồng đại trà” lên vùng đất màu mỡ mới được giải phóng, nên thay vì “bảo sanh” mạng sống con người vừa chào đời, nhưng lại dẹp “viện” đi làm cái “xưởng”.

Xưởng Đẻ. Nghe “xưởng đẻ”, đã “sao mà đau lòng”, lại còn bị nhồi thêm tên bà Thái hậu triều đại Nhà Nguyễn nổi tiếng xinh đẹp, thông minh và hiền thục , “Xưởng Đẻ Từ Dũ”. Sao không lấy tên “Xưởng Đẻ Thị Mầu Thi Nở, Thị Khai Thị Lạc, Thị Tuyết Thị Xuân.

Trong ngôn ngữ Việt Nam cũng như loài người, chữ “Xưởng” xưa nay dùng để chỉ nơi người ta sản xuất ra các đồ vật; và giả dụ có “nền văn minh” nào đó gọi “sản xuất” là “đẻ” thì xưởng cũng chi đẻ ra đồ vật, chứ xưởng không đẻ ra đồ… người.

Chuyện “xưởng đẻ” có thật nhưng không tài nào tin được. Hay là vì chưa biết lý luận theo logic “Duy vật biến chứng”. Đúng rồi, thế giới này hiện hữu và chi phối hoàn toàn bởi vật chất. Con người cũng chỉ là một thứ đồ vật, Đồ vật là trên hết. Không có gì qúy hơn đồ vật.

 



Thanh Loan chuyển

Phiếm Luận: Thảm Sát Sau 30/4/1975 Việt Nam Đối Chiếu Cách Mạng Iran 1979 - BS. Lê Bá Vận


Nước Iran  từ lâu không nghe nói đến trên diễn đàn quôc tế, đột nhiên là tin nóng bỏng hằng ngày, hằng giờ, kể từ ngày 28/2/2026. Iran bị liên quân Israel – Mỹ chủ động tấn công, đánh đòn phủ đầu. Tương quan lực lượng rất chênh lệch, Mỹ là siêu cường quân sự hạng đầu thế giới. Hiện tại tình trạng cuộc chiến đang ở thế giằng co, 

____ 

Việt Nam cũng đối đầu với Mỹ giống Iran và đã thành công đánh đuổi Mỹ tháo chạy về nước, ngày 30/4/1975 kết thúc thắng lợi hoàn toàn.

Tuy nhiên khía cạnh tương tự nổi bật, sắc nét nhất là cuộc thảm sát đẫm máu ở Việt Nam sau ngày chiến thắng 30/4, đối chiếu hành xử tàn bạo của Cách mạng ở Iran năm 1979. 

Iran ở vịnh Ba Tư, Trung Đông, có diện tích 1.650.000 km2 với dân số 92 triệu, là một nước giàu dầu mỏ. Thủ đô là Tehran. Trước năm 1979 Iran là một vương quốc của triều đại dòng Pahlavi cổ kính hơn 2.000 năm. Quốc vương (Sahr) nắm giữ nhiều quyền hành vả Vương quốc Iran có chính sách thân thiện với phương Tây. 


Đầu năm 1978 khởi phát các cuộc biểu tình lan rộng, lớn dần chống đối chính quyền. Chính phủ đán áp thẳng tay, giải tán, bắt bớ, gây nhiều thương vong.

Tháng giêng năm 1979  quốc vương Sahr và gia quyến chấp nhận ra nước ngoài. Giáo chủ Ruhollah Khomeini (giáo phái Hồi giáo Shia) lưu vong ở Pháp, về nước thành lập nước Cộng hòa Hồi giáo, theo chế độ Thần quyền (theocracy). Hiến pháp Iran đặt nền tảng trên luật Hồi giáo Sharia. Lãnh tụ Tối cao R. Khomeini nắm quyền lực tuyệt đối, định hướng chiến lược quốc gia, và là tổng tư lệnh quân đội. 

Việt Nam thì Hiên pháp điều 4 dựa trên chủ thuyết Cộng sản.


Sau ngay Cách mạng Hồi giáo Iran thành công vào tháng 2/1979, một loạt các cuộc thanh trừng đẫm máu đã diễn ra. Đây là giai đoạn củng cố quyền lực của Ayatollah Khomeini, trong đó chế độ mới loại bỏ các đối thủ chính trị, quân đội cũ và những người từng cùng tham gia cách mạng nhưng khác biệt về tư tưởng. 

+ Xử tử quan chức chế độ cũ (Shah): Trong những tháng đầu tiên, hàng trăm quan chức cao cấp, tướng lĩnh quân đội và cảnh sát dưới thời Shah Mohammad Reza Pahlavi (tên vị Shar cuối cùng) bị bắt giữ và xử tử ngay lập tức bởi các tòa án cách mạng, đứng đầu là giáo sĩ Sadegh Khalkhali (được mệnh danh là "thẩm phán treo cổ").

+ Thanh trừng các nhóm đối lập (Cánh tả, Cộng sản, Thế tục): Các nhóm cộng sản (đặc biệt là ĐCSTudeh), các tổ chức XHCN, và những nhóm Hồi giáo cải cách.

+ "Cách mạng Văn hóa" và trấn áp trí thức: Các trường đại học bị đóng cửa từ năm 1980 đến 1982 để loại bỏ những người có tư tưởng phương Tây, cánh tả hoặc không ủng hộ thần quyền.

+ Đàn áp sắc tộc và biểu tình: Các cuộc nổi dậy của người Kurd, Turkmen và các dân tộc thiểu số khác đòi quyền tự trị bị trấn áp dã man. 


Số lượng nạn nhân:

Các ước tính cho rằng số người bị xử tử có thể lên tới hàng nghìn, thậm chí cao hơn . .

Năm 1988, sau chiến tranh Iran-Iraq, dưới lệnh trực tiếp của Khomeini, ít nhất 4.000 đến 5.000 tù nhân chính trị – phần lớn là cộng sản hoặc cánh tả – đã bị hành quyết trong vòng vài tuần. Con số thực tế cao hơn. Đây là cuộc hành quyết tù nhân chính trị lớn nhất trong lịch sử hiện đại Trung Đông, được Tổ chức Ân xá Quốc tế mô tả là “tội ác chống lại loài người”., quy mô và tính chất ngang với diệt chủng Khmer Đỏ ở Campuchia.

Về lý luận, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan của Khomeini và chủ nghĩa Marx vô thần là hai hệ tư tưởng không đội trời chung. Khomeini coi cộng sản là: Vô thần”, “phản Thượng đế”


Chính sách Kinh tế - Khomeini rất ít quan tâm, Ông khẳng định mình coi trọng "tinh thần hơn vật chất".[135]  Ông cũng đã nói rằng: "Tôi không thể tin rằng mục đích của tất cả những sự hy sinh này chỉ là để mua được những quả dưa rẻ tiền hơn".[136] Trong một dịp khác, ông nói: "Có ai muốn con cháu chúng ta tử vì đạo để có được một ngôi nhà tử tế không? Nó không phải là vấn đề quan trọng. Vấn đề quan trọng là thế giới bên kia".[137] Ông cũng đã tuyên bố thẳng thừng rằng "kinh tế là dành cho những con lừa" [138][Note 1]  

Tỉ lệ nghèo đói đã tăng gần 45% trong 6 năm đầu cầm quyền của Khomeini.[141]  Ước tính hai đến bốn triệu doanh nhân, chuyên gia, kỹ thuật viên và thợ thủ công lành nghề" của Iran đã di cư sang các nước khác.[143][144].  Họ ra đi, không hề bị cấm đoán.

Luật Sharia rất khắt khe đối với phái nữ. Ly hôn bị cấm đoán, đa thê chấp nhận. Ngoại tình là trọng tội. Tuổi hôn nhân được hạ xuông, là 13 tuổi đối với các bé gái.…

_____

Việt Nam Cộng sản sau chiến thắng 30/4/1975 đã hòa quyện thám sát chính trị và thảm sát (cướp bóc) kinh tế.

Về chính trị Cộng sản CS) lập ra những trại tù học tập cải tạo.

Tổng số người bị giam giữ: Ước tính trên 1.000.000 người, bao gồm quân đội, công chức, cảnh sát, nhân viên các cấp của chính quyền cũ và các nhà lãnh đạo tôn giáo, nhân viên làm việc cho người Mỹ bị tập trung học tập. Khoảng 165.000 người tử vong, chết vì bệnh tật, suy dinh dưỡng, lao động khổ sai hoặc hành quyết. 

Các trại giam thường nằm ở những khu vực hẻo lánh, khắc nghiệt (thường là miền Bắc hoặc vùng cao nguyên), thiếu vệ sinh, đói khát, thiếu thuốc men và phải lao động rất nặng nhọc. Tra tấn là điều phổ biến trong các trại cải tạo.[6]. Nhân cách và sinh mạng của trại tù viên được các cai tù xem không bằng súc vật.


Thời gian: Tình trạng giam giữ được xem vừa là một phương tiện trả thù, vừa là một kỹ thuật tinh vi của đàn áp chính trị và nhồi sọ. Các tù nhân bị giam giữ trong khoảng thời gian từ vài tuần cho đến 18 năm.[7],"học tập về đường lối của chính phủ mới.".  Nhiều trí thức, khoa bảng miên Nam thực ra chỉ cần học trong nửa ngày là quán triệt hơn các ông CS gộc. 


Về kinh tế thì Cộng sản (CS) xem miền Nam thuần túy là một chiến lợi phẩm mang tính ‘toàn diện’, quân sự lẫn dân sự.

Từng đoàn xe con, xe tải sau ngày 30/4, chất đầy xe đạp, xe gắn mây và các phụ tùng, TV, tủ lạnh, quạt máy, máy may, máy giặt, vải vóc, gạo trắng… cùng với  các máy móc thiết bị trong xí nghệp sản xuất, trong các  bệnh viện, hóa chất, dược liệu… thi đua chở ra Bắc. 


Bước kế tiếp với quy mô là đánh tư sản”, “xóa tư bản”, “cải tạo công thương nghiệp”:

+ Đợt một (X-2), ngày 10/9/1975, nhiều nhà tư sản bị bắt, tài sản bị thu giữ.

+ Đợt hai chiến dịch đổi tiền (X-3), ngày 22–23/9/1975. Mỗi hộ gia đình chỉ được đổi một số tiền rất hạn chế. Số còn lại gởi ngân hàng, và mất bặt tin tức.

+ Đợt ba “Nhất võng đả tận”. Một mẻ hốt gọn, bắt hết tóm cổ cả bọn, toàn bộ sa lưới.

Năm 1976 và đặc biệt năm 1978, hàng chục ngàn hộ kinh doanh ở Sài Gòn đột ngột bị kiểm kê, niêm phong, tịch thu hoặc buộc chuyển giao tài sản. Không chỉ đại tư sản, cả tiểu thương, chủ xe, chủ xưởng nhỏ, người làm ăn vừa và nhỏ cũng bị cuốn vào vòng “cải tạo”.

CS tịch thu được một số lượng rất lớn vàng, đá quý, đô la Mỹ, bất ngờ, không kịp tẩu tán.

Trên 130.000 hộ dân và cán bộ miền Bắc vào Nam được phân phối nhà cửa được tịch thu.


Lời Kết:

Cách mạng Hồi giáo Iran năm 1979 giết người như ngóe, tạo thảm sát tàn khốc, không đâu sánh bằng. Song họ thực thà, ngay thẳng, không huênh hoang. Họ chỉ bắt buộc tuân thủ luật Sharia và đã thẳng tay xử tử vài ngàn người. CSVN đã tẩm ngầm giết 165.000 người trọng trại tù cải tạo, cọng thêm gần nửa triệu thuyên nhân bỏ mình trên biển cả, "Ta không giết Bá Nhân, song Bá Nhân vì ta mà chết". CSVN rất xảo quyệt, ngụy biện, đạo đức giả.


Chiến thắng 30/4/1975 của CSVN có 2 khuyết điểm, là lỗ thủng lớn.

+ Một là chiến thắng đó là ủy nhiệm, do sự giúp đỡ toàn diện của Liên Xô và Trung Quốc. Xưa tiền nhân đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, mới là do tự lực.

+ Hai là chiến thắng đó đã đánh mất ý nghĩa, bị hoen ố vì thực chất là một vụ cướp bóc sạch của cải đồng bào miền Nam trù phú.

Ngày nay, mỗi độ ngày 30/4 CSVN kỷ niệm thấm dần những hành vi sai trái, ngày càng bị phanh phui.  Về phía chúng ta, những nạn nhân còn sống sót và nay định cư ở nước ngoài thì chung ta kỷ niệm, ôn lại những giây phút đau lòng khi bất lực nhìn thấy cua cải bị vơ sạch, nhà cửa bị chiếm đoạt, bản thân bị uy hiếp ,,,,


Năm nay ngày 30/4 lại đến, lần thứ 51, vẫn là ngày Quốc hận trong tháng tư đen rùng rợn..Song nay gió đã đổi chiều và chúng ta từ nay đón nhận ngày 30/4 trong tinh thần phấn khởi. Những lỗi lầm xưa của CS  ngày càng bộc lộ rõ nét thông qua phân tích các hô sơ mật, vạch mặt những khuất dấu. 

Đặc biệt chứng cứ quan trọng là lời thú nhận ngây ngô của cố Tổng bí thư Đỗ Mười.

 

Cố Tổng Bí Thư Đỗ Mười (nhiệm kỳ 1991-1997) lúc ông đang là ủy viên ban bí thư Trung Ương Đảng phụ trách đánh tư sản, kiểm kê và tịch thu tài sản nhân dân miền Nam, ngày 20 Tháng Hai, 1976 vào lúc 10 giờ 15 phút, trước sân tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, được kể lại là đã từng tuyên bố: “Giải phóng miền Nam chúng ta có quyền tịch thu tài sản trưng dụng nhà cửa, hãng xưởng, ruộng đất chúng nó [ám chỉ người dân miền Nam], xe chúng nó ta đi, vợ chúng ta lấy, con chúng nó ta bắt làm nô lệ, còn chúng nó thì ta đày đi kinh tế mới và nơi rừng sâu nước độc, chúng nó sẽ chết lần mòn.” 


Lê Bá Vận

Cuộc Chiến Buồn - Khanh Phương


Nhân 51 năm kể từ ngày 30 tháng Tư 1975 đau buồn, xin được hân hạnh giới thiệu bài thơ Cuộc Chiến Buồn đầy ý nghĩa và cảm động của nhà thơ Khanh Phương (tức Cựu Trung Tá Bác sĩ Trần Văn Khang)  

Tôi thăm Sài Gòn Nhỏ

Đi trên đường Bolsa

Gặp người chiến sĩ Cộng Hòa

Tóc xanh giờ điểm bạc

Da anh còn sạm nắng

Giọng trầm buồn kể chuyện ngày xưa

Những ngày chinh chiến quê nhà

Tôi đi thăm Hà Nội

Tình cờ gặp người bộ đội

Ngày xưa từng tham dự trận Cao Nguyên

Giờ đây, với chiến thương và nạng gỗ hai bên,

Đứng cạnh người con bên bờ hồ Hoàn Kiếm

Rao bán những bản đồ đất nước ba miền

Cho những người du khách

Đã một thời mang tội vượt biên

Tôi trở về thăm Huế

Chân bước lại trên cầu Tràng Tiền

Bên sông Hương, người thiếu phụ bán hàng giải khát

Mắt còn buồn man mác

Nhớ cha, anh vào dịp Tết Mậu Thân

Chôn trong mồ tập thể Ngoại Thành…/

Vô trong Thành Nội

Vết đạn xưa còn hằn trên cây cối

Những tượng đá lặng im không hề nói

Chắc cũng buồn như những hậu sinh thôi

Tôi thăm lại Sài Gòn

Thành phố giờ đã đổi tên

Những đường nhỏ không đủ ánh đèn

Phố xưa thân mà bây giờ bỗng lạ

Chợt thoáng mờ đôi hình bóng nào quen…/

 

Bên một cột đèn, cạnh Tòa Đô Sảnh

Tôi gặp người đạp xích lô ba bánh

Anh kể từng tham gia trận đánh

Chiếm Sài Gòn “giải phóng nhân dân”

Giờ đây, lao động đạp xe

Anh than không đủ nuôi mình !

Tôi đi về xứ Mỹ  

Gặp người cựu chiến binh Hoa Kỳ   

từng đặt chân ở Long Bình, Khe Sanh và Cát Lái

Anh vô gia cư, râu tóc để dài

Đứng góc ngã tư, xin những người qua lại

Tôi dừng xe, tặng  anh một đô la

Để cám ơn anh, và cám ơn xứ Cờ hoa,

Đã giúp đồng minh rồi tháo chạy !

Ôi! Cuộc chiến Việt Nam, kết quả buồn !

 

Khanh Phương (TVK )

Họ Vẫn Sống Dù Đã Thua Một Cuộc Chiến - Phạm Sơn Liêm

 

Sau tháng Tư năm 1975, chiến tranh khép lại trên bản đồ.

Nhưng trong thân thể nhiều người lính cũ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, chiến tranh chưa từng chịu lui binh.

Họ sống giữa những con đường mang tên mới.

Sống giữa những khẩu hiệu mới.

Sống giữa những người từng đứng bên kia chiến tuyến, nay là “bên thắng cuộc”.

Và họ sống… bằng cách của mình.

Những bước chân không còn nguyên vẹn

Buổi sáng ở một góc chợ nhỏ, tôi gặp ông Tư.

Một chân cụt ngang gối, ống quần xếp gọn, chống nạng gỗ đã mòn tay cầm.

Ông trải xấp vé số ra tấm nylon.

“Chú mua giùm tôi tờ, lấy hên,” ông cười.

Nụ cười hiền, nhưng mắt sâu như đáy giếng.

Tôi hỏi nhỏ:

— Chân chú… mất hồi nào?

Ông nhìn xuống phần chân không còn đó.

— Năm bảy hai. Quảng Trị. Bị pháo. Lúc đó tưởng chết rồi. Ai dè còn sống để bán vé số.

Ông nói như kể chuyện của ai khác. Không oán, không kể công.

Một người khách trẻ bước lại, cầm tờ vé số, lẩm bẩm:

— Thời đó mấy ông thua mà.

Ông Tư cười nhẹ:

— Ờ, thua. Nhưng lúc đó tôi đâu có nghĩ chuyện thắng thua. Tôi nghĩ tới thằng bạn nằm bên cạnh, máu chảy ướt áo.

Câu nói rơi xuống, không nặng, mà chìm.

Dưới gầm cầu, có một đời lính

Có những người không bán vé số.

Họ sửa xe lề đường.

Chiếc hộp đồ nghề cũ.

Cái bơm tay xì xì.

Tấm bảng viết nguệch ngoạc: “Vá xe – 10.000”.

Anh Ba cụt một tay. Tay còn lại đầy dầu nhớt.

Một đứa nhỏ hỏi:

— Chú ơi, sao chú mất tay?

Anh Ba ngẩng lên, nhìn dòng xe chạy ngược xuôi.

— Hồi trẻ chú nghịch dại.

Tôi biết anh không muốn nói.

Sau này anh kể riêng:

— Trận đó tôi ôm máy truyền tin. Đạn cối rơi. Tỉnh dậy thì tay không còn. Thằng truyền tin phụ chết ngay bên cạnh.

Tôi hỏi:

— Anh có buồn không?

Anh im lặng lâu lắm.

— Buồn gì nữa. Còn sống là may. Có người còn không có mộ.

Sống giữa kẻ chiến thắng

Có những ngày lễ lớn, cờ đỏ treo kín phố.

Những đoàn diễu hành đi qua.

Loa phóng thanh kể về “ngày toàn thắng”.

Ông Năm, thương phế binh cụt hai chân, ngồi trong căn chòi tạm ven sông.

Mỗi khi nghe nhạc hành khúc vang lên, ông lặng lẽ tắt radio.

Đứa cháu hỏi:

— Ông nội, sao ông không coi tivi diễn binh?

Ông xoa đầu nó:

— Thời ông… khác lắm con.

— Ông có phải người thua không?

Ông cười buồn:

Ông là người lính. Hết chiến tranh rồi, đừng chia thắng thua nữa.

Đứa nhỏ không hiểu. Nó chỉ thấy ông nội mỗi lần trái gió trở trời lại ôm phần thân mình đau nhức, như thể chiến tranh vẫn nằm đâu đó trong xương.

Không phải ai cũng khổ

Nói vậy không có nghĩa tất cả thương phế binh VNCH đều sống dưới gầm cầu.

Có những người ra nước ngoài, con cái thành đạt.

Có người mở tiệm nhỏ, sống an ổn tuổi già.

Có người được con cháu kính trọng, chăm sóc đủ đầy.

Nhưng ngay cả trong căn nhà khang trang ấy, nhiều ông vẫn giật mình giữa đêm.

Vẫn mơ thấy tiếng pháo.

Vẫn nghe tiếng gọi của đồng đội.

Một người con hỏi cha mình:

— Ba có hối hận không?

Người cha nhìn lên bàn thờ, nơi tấm hình chụp thời trai trẻ mặc quân phục.

Hối hận gì con? Ba làm điều ba tin lúc đó là đúng. Lính mà. Được lệnh thì đi.

Câu trả lời không có hận thù.

Chỉ có một đời đã qua.

Điều họ mất không chỉ là chân tay

Có người mất chân.

Có người mất tay.

Có người mất cả tuổi trẻ.

Nhưng điều họ mất nhiều nhất là danh phận.

Họ không được gọi là anh hùng.

Không được truy tặng.

Không được vinh danh.

Họ chỉ là những ông già bán vé số, sửa xe, ngồi lặng lẽ bên lề đời.

Nhưng trong ánh mắt họ, nếu nhìn kỹ, vẫn còn một thứ không ai lấy được:

Lòng tự trọng

Chiều xuống, tôi mua thêm vài tờ vé số của ông Tư.

Ông cười:

— Mua nhiều vậy làm chi?

Tôi đáp:

— Để nhớ.

Ông nhìn tôi lâu, rồi nói khẽ:

— Nhớ thì nhớ luôn mấy thằng không còn sống nghe chú.

Giữa dòng người hối hả, giữa thành phố của “kẻ chiến thắng”,

những người lính già ấy vẫn sống.

Không ồn ào.

Không đòi hỏi.

Chỉ mong một điều giản dị:

Được nhìn như con người.

 

Phạm Sơn Liêm