Saturday, March 21, 2026

Chuyện Tếu: Một Người Anh Ngủ Dậy Mình Mẩy Xanh Lè Từ Đầu Tới Chân, Phải Vô Cấp Cứu - Hùynh Chiếu Đẳng


Nguồn tin và  chi tiết: https://nypost.com/2026/03/10/worldnews/manhospitalizedafterturningbluefromheadtotoebecauseofbizarrebedroomdiscovery/?utm_source=samsungnews&utm_campaign=nypost&utm_medium=referral&utm_source=snews&utm_medium=referral


HCD : Máy tóm tắt nội dung bài báo (có thể còn sót những « tiếng mới » khó hiểu khó nghe)

Một « bịnh » hy hữu nhưng có thật của anh Tommy Lynch, 42 tuổi, sống ở Anh.

Một người đàn ông đã phải vào bịnh viện cấp cứu vì toàn thân bỗng nhiên chuyển sang màu xanh, từ đầu đến chân. Hóa ra, thủ phạm không phải là bệnh tim hay phổi, mà là... bộ drap  trải giường mới mua của anh ấy.

Anh Tommy được tặng một bộ drap trải giường màu xanh nước biển (navy blue) cỡ kingsize. Anh đã trải lên giường và nằm ngủ hai đêm liền mà không hề giặt trước.

Sáng hôm sau, anh thức dậy và Khám phá da mình bị nhuộm xanh từ đầu đến chân, trông giống như nhân vật trong phim "Avatar". Một người bạn làm trong ngành chăm sóc sức khỏe nhìn thấy đã vội vàng đưa anh đi cấp cứu vì nghĩ anh bị thiếu oxy.

Khi vào viện, các bác sĩ cũng rất hoảng vì chưa từng thấy ai xanh như vậy mà vẫn sống. Họ cho anh nằm giường và thở oxy ngay lập tức. Một lúc sau, bác sĩ dùng cồn sát trùng lau lên tay anh để chuẩn bị lấy máu. Điều kỳ diệu (và cũng là lời giải đáp) đã xảy ra: miếng bông thấm cồn chuyển sang màu xanh.

Lúc này anh Tommy mới chợt nhận ra, màu xanh trên người anh chính là thuốc nhuộm từ bộ drap trải giường mới. Ani thú nhận rằng mình không hề biết là phải giặt drap giường mới mua trước khi sử dụng. Vì anh ngủ khỏa thân, đổ mồ hôi và nằm đè lên drap, thuốc nhuộm đã thấm hết vào da.

Các bác sĩ đã được một trận cười bể bụng. Còn anh Tommy, sau khi rời nhà thương (với tâm trạng vừa xấu hổ vừa nhẹ nhõm), đã phải mất một tuần tắm rửa liên tục, nước trong bồn tắm lúc nào cũng có màu xanh, thì da mới trở lại bình thường.


Huỳnh Chiếu Đẳng (Quán ven đường)

Trùm Cuối



Trong chính trường Mỹ, người ta thường nhìn thấy ánh đèn sân khấu chiếu vào những cái tên lớn như tổng thống/phó tổng, bộ trưởng, thượng nghị sĩ… Nhưng phía sau mỗi chiến thắng chính trị lớn luôn có những bộ óc chiến lược đứng trong bóng tối. Và bên cạnh bác Trump, nếu phải nói đến một người như vậy, nhiều người trong nội bộ chiến dịch đều nhắc đến cái tên Susie Wiles.


Susie Wiles không phải kiểu người thích xuất hiện trước ống kính. Bà không tranh micro, không thích phỏng vấn, và cũng hiếm khi phát biểu những lời hoa mỹ. Nhưng trong thế giới chính trị đầy sóng gió của Washington, có một điều gần như ai cũng công nhận là khi cần một người giữ cho cả chiến dịch vận hành trơn tru, Susie Wiles là người đó.

Sinh năm 1957, bà lớn lên trong một gia đình có truyền thống làm việc trong lĩnh vực truyền thông và thể thao. Cha bà, Pat Summerall, là một bình luận viên thể thao nổi tiếng của NFL. Từ nhỏ, Susie đã quen với môi trường kỷ luật, áp lực và sự chuyên nghiệp những điều sau này trở thành dấu ấn trong phong cách làm việc của bà.
Susie Wiles bước vào chính trị từ rất sớm. Bà từng tham gia chiến dịch của Ronald Reagan năm 1980 khi còn khá trẻ. Nhưng phải nhiều thập kỷ sau, tài năng tổ chức và chiến lược của bà mới thật sự được cả nước chú ý.

Trong chiến dịch tranh cử năm 2016 của Trump tại Florida, một bang được xem là chiến trường quyết định thì Susan Wiles là người đứng sau việc tổ chức bộ máy vận hành cực kỳ kỷ luật. Florida cuối cùng đã nghiêng về Trump, và nhiều nhà phân tích cho rằng công lớn thuộc về chiến lược của bà.
Những người từng làm việc với Susie Wiles thường nói bà có một phong cách rất đặc biệt: ít nói, quan sát nhiều, và khi đã lên tiếng thì mọi người đều lắng nghe. Bà không phải kiểu ngôi sao chính trị, nhưng lại là người mà các chính trị gia lớn thường tìm đến khi cần lời khuyên.

Trong chiến dịch tranh cử gần đây của TT Trump, Susie Wiles được xem như người giữ nhịp cho toàn bộ bộ máy. Trong khi những nhân vật khác xuất hiện trước công chúng, bà lại âm thầm quản lý chiến lược, nhân sự và các quyết định quan trọng phía sau hậu trường.
Có người trong nội bộ chiến dịch từng nói vui rằng: Nếu Trump là vị tướng ngoài chiến trường, thì Susie Wiles là người vẽ bản đồ.

Điều khiến nhiều người nể phục ở bà không phải chỉ là kinh nghiệm, mà còn là sự khiêm tốn. Trong một môi trường mà ai cũng muốn được ghi công, Susie Wiles lại gần như luôn tránh ánh đèn sân khấu. Bà làm việc, đạt kết quả, rồi lặng lẽ bước sang việc tiếp theo.
Chính vì vậy, nếu nhìn vào đội ngũ xung quanh Trump từ JD Vance, Marco Rubio cho đến Pete Hegseth mỗi người đều có vai trò riêng trên mặt trận chính trị. Nhưng phía sau tất cả, có một người ít khi xuất hiện mà ảnh hưởng lại vô cùng lớn.

Susie Wiles không cần danh xưng hào nhoáng. Nhưng trong mắt nhiều người trong nội bộ, bà chính là người giúp giữ cho cả cỗ máy chính trị vận hành đúng hướng.
Và nếu phải nói một cách khiêm tốn nhưng chính xác: Ngoài Trump ra, Susie Wiles có lẽ là một trong những người quyền lực nhất mà công chúng ít khi nhìn thấy. #SusieWiles

Video Voyage Djerba Mars 2026 - Nguyễn Duy Phước

2 tuần đi nghỉ hè ở xứ rệp Tunisia, thuộc các nước gọi là Maghreb (gồm có Tunisia, Morocco, Algeria) ở vùng Bắc Phi. Cũng may là không bị trục trặc về vấn đề máy bay vì rất nhiều chuyến bay đi khu Trung Đông ở gần đó đã bị hoản vì ngài Trump và Do thái gây chiến ở Iran. Trong vài ngày, quên đi chuyện thế sự, mặc cho cha con chúng choảng nhau, cứ tha hồ ăn chơi phè phỡn... 

Hôm nay sắp đến ngày về, vậy gửi các bạn một video youtube về những sinh hoạt ở khách sạn Blue Palm Beach Palace và những phong cảnh của đảo Djerba, một trong những nơi thu hút đông du khách nhất ở vùng biển Địa Trung Hải.


Chuyện Phi Công Mỹ Vượt Trại Tù CS - Nguyễn Thị Mão

 

Trong cuộc chiến chống cộng sản tại Việt Nam trước đây, bên cạnh sự chiến đấu dũng cảm của quân đội Viêt Nam Cộng Hoà, không thể không nói đến sự chiến đấu của những quân đội đồng minh, và đặc biệt sự dũng cảm, can trường của những người lính Mỹ đến từ một quốc gia cách nửa vòng trái đất. Họ là những chàng trai bỏ lại sau lưng mọi niềm vui của tuổi thanh xuân, nhập ngũ và sang giúp bảo vệ miền Nam Việt Nam trước họa xâm lăng của cộng sản. Trên bức tường đá đen tại đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam ở Washington DC có ghi danh hơn 58,000 tử sĩ Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam.


Hơn 40 năm sau cuộc chiến, những cựu chiến binh từng chiến đấu chống cộng tại Việt Nam năm xưa nay đã vào tuổi xế chiều, nhiều người đã ra đi.

Câu chuyện sau đây kể về một phi công người Mỹ là bạn của chồng tôi. Câu chuyện trốn thoát trại tù cộng sản tại Lào của Dengler đã được viết thành sách “Escape from Laos”. Thêm cuốn “Hero Found: The Greatest POW Escape from Vietnam War” kể về cuộc đời của Dengler viết bởi Bruce Henderson, người từng cùng phục vụ trong đội bay với Dengler. Câu chuyện cũng được làm thành phim “Rescue Dawn”, do tài tử Christian Bale đóng vai Trung Úy Dengler..

Bài viết sơ lược này để tưởng nhớ Lieutenant Dieter Dengler, của United Stated Navy

***

Dieter Dengler sinh năm 1938 là một di dân từ nước Đức, tới Mỹ với hoài bão sống trong tự do và có cơ hội thực hiện ước mơ bay bổng.

Ngay khi đủ 18 tuổi, chàng Dieter xin gia nhập không quân Mỹ và được tuyển dụng, nhập ngũ năm 1957.

Sau khi được đào tạo cơ bản tại căn cứ Lackland ở San Antonio, Texas, ông được giao nhiệm vụ là một kỹ thuật viên động cơ, sau đó, được chọn dự khoá đào tạo sĩ quan và trở thành một phi công.

Tại trạm không lực Hải Quân Corpus Christi, Texas, ông được đào tạo như 1 phi công trong Douglas AD Skyraider và gia nhập VA-145 trong khi mãn khóa tại Naval Air Stattion Alameda, Califonia.


Năm 1965, phi đội của Trung úy Dieter Dengler tham gia các tàu sân bay USS Ranger và chiến hạm này được điều động về bờ biển Việt Nam, ông được điều về và đóng tại trạm Dexie, ở Nam Việt Nam và sau đó chuyển về phía bắc tại trạm Yankee để mở những cuộc chống lại sự xâm lược của miền Bắc.

Trong cuộc hành quân phía bắc gần biên giơi Lào, nằm về phía tây của đèo Mụ Giạ, ngày 1 tháng 2 năm 1966, ông được điều tới một phi vụ do Hải Quân AD Skyraider từ VA-15 hoạt đông vận chuyển, ông có nhiệm vụ cùng 3 chiếc máy bay khác ngăn chặn đoàn xe tải quân trang của CS từ Bắc vào Nam. Hôm đó thời tiết không mấy tốt, nên tầm nhìn xa rất khó khăn do những vụ cháy dưới đất từ các mục tiêu, ông mất tầm nhìn với 3 chiếc máy bay khác, ông quyết định lượn chiếc Skyraider vào mục tiêu. Sau hơn 2 tiếng quần thảo trong vùng địch, máy bay ông bị trúng đạn và bốc cháy.

Một tiếng nổ lớn như sét đánh. Cánh phải của chiếc Skyraider rớt xuống. Máy bay lộn nhiều vòng trong bầu trời đầy lửa đạn. Dieter cố điều khiển máy bay vào một khoảng trống trên đất Lào. Khi còn khoảng hơn 100 mét cách mặt đất, ông bị đẩy ra khỏi máy bay, rớt xuống mặt đất, bất tỉnh trong vài phút nhưng ông kịp dậy và biến vào rừng,. Khi phi hành đoàn nhận ra máy bay của ông đã bị bắn hạ, họ tin tưởng rằng ông đã ẩn nấp trong rừng và chờ được cấp cứu.


Ngay khi vào rừng, ông đã nhanh chóng đập vỡ máy vô tuyến điện, và dấu hết các thiết bị tồn tại khác để tránh cho quân cộng sản hay quân Lào có thể tìm thấy. Nhưng chỉ một ngày sau khi máy bay bị bắn ha, ông đã bị quân Pathet lào bắt sống. Họ đã dẫn độ ông xuyên qua các khu rừng, bị trói ghô trên bốn cọc để ngăn chặn ông có thể trốn thoát khi đêm xuống. Nhưng tuy bị cột như thế ông không ngừng nghĩ cách trốn thoát, ông đã cố chạy trốn trên đường họ giải ông đi, và ông đã thoát, trên đường chạy trốn ông ngừng tại một con suối để uống nước và ông bị bắt lại. Lần này ông bị họ tra tấn, đánh đập. Ông đã bị họ treo ngược chân lên, cho mặt ông đụng vào ổ kiến cho đến khi ông ngất đi, và bị treo lơ lửng trong miệng giếng suốt đêm, ông biết ông có thể bị chết đuối nếu dây thừng bị đứt. Ông bị họ buộc vào một con trâu nước và kéo lê qua những làng mạc để làm vui cho quân lính Pathet lào. Quân Pathet Lào bắt ông phải ký vào tài liệu lên án Hoa Kỳ nhưng ông từ chối, lần này ông bị chúng tra tấn bằng roi vót thật nhỏ và sắc bén, những vết roi đã lằn sâu vào da thịt ông đến nưng mủ và đau đớn trầm trọng.

Một lần khác, họ buộc dây thừng quanh hai tay ông quặt ra sau, rồi cột vào một khúc gỗ và vặn dây thừng nhiều vòng cho đến khi cánh tay và thần kinh ông tê dại, tay ông sau đó không thể cử động trong 6 tháng.

Từng được đào tạo tại trung tâm SERE (Survival, Escape, Resistance, and Evasion) nơi ông đã thực tập thuần nhuyễn những kinh nghiệm vượt thoát và sống sót khi phải đối diện với sự đói khát, dù bị hành hạ, nhưng mỗi lần tỉnh lại là ông vẫn nghĩ ngay tới kế thoát thân.

Sau 3 tuần bị cầm tù và tra tấn do quân Pathet lào, họ giải ông cho quân cộng sản Việt Nam khi họ hành quân qua một ngôi làng.

Khi bị đưa đến trại tù gần làng Parkung, nơi đây ông đã gặp thêm 6 tù binh khác, trong số này có 2 người Mỹ: phi công Duane W. Martin và Eugene DeBruin, cùng 3 người Thái: Phisit Intharathat, Prasit Promsuwan, Prasit Thanee và một người Tàu, là Y.C. To.

Duane W. Martin là một phi công trực thăng đã bị bắn rơi trên vùng trời miền bắc năm trước đó, còn những người tù khác là những nhân viên làm cho hãng hàng không dân sự thuộc sở hữu của CIA.

Ông thấy họ trong tình trạng thật thê thảm, người bị thương tích đầy mình với những mảng thịt lở loét, người thì mất răng, người bị nhiễm trùng nướu răng đầy mủ, người dáng đi như bộ bộ xương biết đi. Nhóm tù nhân này đã ở đó hơn hai năm rưỡi.

Sau ngày đến trại tù, chẳng bao lâu tất cả những tù nhân bị di chuyển đến địa điểm khác cách đó hơn 10 cây số. Khi đến trại mới ông bắt đầu bàn tính chuyện trốn trại, ông và người phi công tên Martin bàn cãi là ai sẽ đi với họ.

Trong khi đó thực phẩm của trại tù hầu như cạn kiệt, ngay cả đôi lúc phải ăn thịt như rắn, thịt chuột… sự căng thẳng giữa những bọn coi tù thêm quyết liệt là làm sao giải quyết mấy người tù binh này. Tối đến họ xích các tù binh lại với nhau và bỏ mặc họ với lạnh lẽo và bịnh hoạn.


Sau vài tháng, một trong những tù nhân người Thái tình cờ nghe được bọn coi tù bàn với nhau hãy làm hiện trường như là mấy tù binh tìm cách trốn nên họ phải bắn cho chết, ngay cả họ cũng đói như tù nhân nữa, họ cũng muốn trở về nhà với gia đình họ. Tất cả mấy bạn tù bấy giờ đồng loạt định ngày để trốn.

Dengler đã lập kế hoạch khống chế cai tù, sau đó sẽ nới lỏng các dây thép gai chung quanh trại để tù nhân có thể chui qua dễ dàng, ông sắp đặt cho các bạn tù kế hoạch tước đoạt súng và khống chế các cai tù khi họ đang ăn trưa, trong khi ông sẽ giải thoát những bạn tù bị còng tay.

Ngày ước định ra tay đã đến. Đó là ngày 29 tháng 6 năm 1966. Trong lúc bọn cai tù đang ăn trưa, nhóm bạn tù giải thoát cho mấy bạn bị còng trước, Dengler và một bạn tù khống chế cai tù và đoạt lấy vũ khí của họ gồm súng trường M1, súng trường tự động Trung Cộng, một súng carbine Mỹ, và một khẩu tự động AK47. Ông dùng khẩu AK 47 này trong việc thoát khỏi trại tù binh. Ông Dengler ra ngoài trước, đến túp lều trại lấy thêm một khẩu M1 cho chính mình và trao khẩu súng Carbine Mỹ cho phi công Martin. Bọn cai tù thấy các tù nhân đã làm loạn và trốn thoát, họ vội chạy về phía ông Dengler và bắn AK 47 xối xả. 1 bạn tù, ông Phisit đã bắn chết tên cai tù khi tên này tiến đến ông. Hai cai tù khác bỏ chạy.

Thế là nhóm bảy tù nhân thoát khỏi trại tù, họ chia nhau thành 3 nhóm, ban đầu ông DeBruin được sắp xếp cho đi với ông Dengler và ông Martin nhưng DeBruin quyết định đi với Y. C. To, một tù nhân gốc Hoa. Họ dự định đến sườn núi gần nhất và chờ cứu hộ. Ông Dengler và Martin đi cùng nhau, quyết định sẽ phải đi xa hơn về hướng Thái Lan.

Trốn trại rất là nguy hiểm, nhưng Dengler thà chết trên con đường vượt thoát còn hơn là bị chết trong trại tù binh. Họ đi mãi, nghỉ ngơi trong khoảnh khắc rồi lại đi tiếp. “Cách nhanh nhất là tìm một dòng sông có thể chảy ra sông Cửu Long và từ đó sẽ đưa chúng ta an toàn sang Thái Lan.Trung úy Dengler nói với Martin, người bạn đã cùng ông vượt ngục.

Tới được một con sông, hai ông làm một chiếc bè để trôi cho nhanh theo dòng nước ghềnh chảy xiết, buổi tối họ buôc mình vào thân cây để không bị cuôn trôi bởi dòng nước chảy mạnh, đến sáng họ ẩn mình dưới những tàng cây dày, được bao phủ trong bùn lẩy. Họ nghĩ rằng đang theo dòng ra sông lớn Cửu Long, nhưng rồi khám phá ra là họ chỉ đi vòng lại chỗ hôm qua mới đi qua, may quá họ không bị phát giác. Hai ông dựng tạm lều dưới lùm cây rậm rạp, tìm thức ăn trong cái làng bỏ hoang gần đó, nhưng sự đói rét vẫn vật vã. Ý định dùng ngọn lửa để làm tín hiệu cho máy bay C-130 đến cứu. nhưng hai ông không còn sức Họ dùng thuốc đạn của khẩu súng Carbine mà ông Martin đã bỏ đi làm vật dẫn lửa để đốt tín hiệu. Đêm đó có một chiếc C-130 lượn quanh đó, hai ông đã vẫy ngọn lửa theo hình chử S và S để hy vong được cứu, nhưng vô vọng.


Trên đường đi trốn trong rừng, có lúc họ nhìn thấy một xóm nhỏ có dân quê ra vào. Ông Martin, sức khoẻ quá yếu vì đói và bịnh sốt rét, muốn đến đó để lấy trộm thức ăn. Dengler đã ngăn cản, và không cho ông Martin đến gần làng đó một mình. Có 1 thằng bé đang chơi với 1 con chó gần đó thấy họ rồi nó chạy vào làng hô hoán lên là “người Mỹ”. Trong vài phút một vài người dân xuất hiện họ quỳ và cầu nguyện, nhưng 1 người đàn ông trong bọn vung dao lên và đánh vào chân Martin. Một nhát dao nữa chém đứt đầu của Martin.

Ông Dengler chạy nhanh về phía mấy người dân làng, họ bỏ chạy vào làng kêu cứu. Ông Dengler vội chạy đến chân của Martin và tháo chiếc giày (mà hai ông đã nhặt được trong rừng) rồi chạy hết sức nhanh vào rừng. Thoát chết.

Sau khi thoát chết, ông dự định trở lại ngôi làng bỏ hoang đó sẽ đốt cho tàn rụi đề làm ám hiệu cho đội phi hành đoàn C-130 biết mà đến cứu ông. Ông đã nổi lửa đốt, quả thật phi hành đoàn phát hiện đám cháy và bắn hoả châu lên, nhưng họ lại bay xa, vì không ai nghĩ là có người sống sót bên dưới, họ bay về căn cứ tại Thái Lan.


Sau 23 ngày trốn trong rừng, sáng ngày 20/7/1966, Eugene Peyton Deatrick một phi công lái máy bay lượn trên vòm trời gần dòng sông nơi ông Dengler trốn, ông thấy tín hiệu màu trắng vẫy vẫy hình chữ S&S. Khi cho máy bay quay lại, Eugene thấy một người đàn ông đang vẫy vẫy và quyết định cứu giúp bằng cách liên lạc với đội cấp cứu. Dù được khuyên là nên quên đi vì có thể đó là do VC giả dạng để gài bẫy, nhưng cả Eugene và viên phi công phụ vẫn kiên trì thuyết phục, yêu cầu trung tâm phối kiểm xem có phi công nào bị bắn rơi và mất tích không.

Cuối cùng ông Dengler được cứu lên chiếc máy bay cấp cứu. Sau khi lên được sàn của máy bay, họ kiểm tra người của ông không có vũ khí, ông bảo với họ là ông đã trốn khỏi nhà tù của cộng sản Lào trước đó 2 tháng, họ báo với trung tâm hành quân có một người đàn ông nói ông ta là 1 phi công của phi đoàn Douglas A-1H Skyraider đã bị bắn rơi và tên ông là Dieter Dengler.

Khi toán phi cơ cấp cứu hạ cánh xuống căn cứ Đà Nẵng, tên của ông được xác nhận là đúng.

Trong nhóm 7 người trốn trại, cùng với Dengler, còn thêm được 2 người sống sót là Eugene DeBruin, người Mỹ, và Phisit Intharathat, người Thái.

***

Trung úy Dieter Dengler được đưa về Hoa Kỳ để điều trị và phục hồi sức khoẻ. Sau này ông được thăng thưởng huy chương Navy Cross, Distinguished Flying Cross, Purple Heart, Air Medal. Ông được huấn luyện để trở thành phi công lái máy bay phản lực. Sau thời gian phục vụ, hài lòng với nghĩa vụ, ông chuyển sang làm phi công cho hãng hàng không dân sự Trans World Airlines. Năm 1977 ông có trở lại Lào, được đón tiếp long trọng và được đưa tới thăm lại nơi trại giam mà ông đã bắt đầu một cuộc trốn trại lịch sử trong đời ông.


Dieter Dengler mất ngày 7 tháng Hai năm 2001, lễ an táng được cử hành trọng thể tại nghĩa trang Quốc Gia Arlington National Cemetery tại Hoa Thịnh Đốn. Trong buổi tiễn đưa ông, 3 chiếc máy bay F-5 lượn ba vòng trên vòm trời nghĩa trang để tiễn người cựu phi công can trường lần cuối.


Nguyễn Thị Mão

Xuân Phân - Đỗ Công Luận

Chăm Người Bệnh


Chỉ cần chăm một người bệnh nằm liệt giường 30 ngày thôi, bạn sẽ hiểu một sự thật rất ít người dám nói ra.
Không phải ai chăm người bệnh cũng luôn dịu dàng.
Không phải ai chăm cha mẹ già lúc nào cũng đủ kiên nhẫn.

Vì có những ngày
Bạn mệt đến mức chỉ muốn trốn đi một lúc.

Ban ngày:

đút từng thìa cháo
lau người
thay tã
đỡ dậy
xoa lưng
cho uống thuốc.
dọn dẹp nôn ói
Và suy nghĩ lo toan về cơm áo gạo tiền và chăm sóc người bệnh cùng đàn con thơ??

Ban đêm:

Mới chợp mắt được một chút lại nghe tiếng gọi:
“Con ơi…” "Em ơi", "Bà nó ơi", "Anh ơi", "Bố mẹ ơi", "Chị ơi"...

Có khi chỉ là:
“Cho mẹ uống nước"..
"Bố đau quá"...
"Tôi đái ra giường rồi, thay bỉm khác bà nó ơi"...

Những việc đó không hề lớn lao.
Nhưng khi lặp lại 30 ngày… 60 ngày… 1 năm… thậm chí cả đời..
Nó trở thành một thứ áp lực vô hình.
Không ai nhìn thấy.
Nhưng người chăm thì kiệt sức từng chút một.

Có những đêm người chăm ngồi bên giường bệnh.
Không khóc.
Chỉ thở dài, tiếng thở đầy chất chứa của tiếng lòng.
Vì họ biết:
Ngày mai vẫn sẽ lặp lại y hệt ngày hôm nay.

Lúc đó bạn mới hiểu:
Tình yêu thương không phải lúc nào cũng là cảm xúc đẹp.
Đôi khi nó là sự chịu đựng âm thầm.
Người bệnh đau một.
Người chăm mòn mười.
Không phải vì họ không thương.

Mà vì:
cơ thể họ mệt
tinh thần họ kiệt
tiền bạc cạn dần.

Rồi sẽ có một ngày…

Bạn chợt nghĩ một câu mà chính mình cũng thấy tội lỗi:
“Giá như người thân mình… đỡ khổ hơn một chút thì mình cũng đâu khổ thế này". Hoặc tệ hơn là:
"Mong cho người nằm đó, đi sớm, đi nhanh về thế giới bên kia cho đỡ khổ thân họ và cũng đỡ khổ cho người chăm sóc".

Không phải vì bạn vô tình, không phải vì bạn vô cảm, không phải vì bạn không có lòng yêu thương.
Mà vì bạn đã thấy rõ cảnh:
"Sống lay lắt đôi khi còn đau hơn cả cái c.h.ết".

Những người từng chăm người bệnh liệt lâu ngày đều hiểu một điều:
Điều đáng sợ nhất của tuổi già hay lúc bệnh tật không phải là c.h.ết.
Mà là nằm đó… và trở thành gánh nặng.

Vì vậy khi còn khỏe:
Hãy chăm sóc cơ thể mình, yêu thương bản thân không phải là ích kỷ. Ích kỷ là khi cướp giật chiếm đoạt của người khác làm của mình. Còn chăm sóc bản thân cho thân khỏe mạnh là việc tốt và nên làm, đáng để làm.

Đừng đợi đến khi:
đi lại khó khăn
ăn uống phụ thuộc
vệ sinh phải nhờ người khác.

Không ai muốn con cái hay vợ chồng mình phải thức trắng đêm thậm chí nhiều đêm vì mình.

Không ai muốn người mình thương phải kiệt sức vì mình, vay mượn nợ nần đầm đìa vì mình.

Người từng chăm người bệnh liệt sẽ hiểu:

Đôi khi thứ quý giá nhất không phải tiền bạc.
Mà là một cơ thể còn tự lo được cho mình.


(Nguồn: Share trên mạng)

Kim Duncan chuyển

Friday, March 20, 2026

Chuyện Tình Trẻ Con - Tình Yêu Adam Và Eva


Chuyện tình trẻ con

 Một cậu bé 6 tuổi thưa với cha rằng cậu muốn kết hôn với cô bé nhà bên.

Người cha mỉm cười và nói:
- Kết hôn là việc rất trọng đại! Con đã tính kỹ chưa?
- Kỹ rồi ạ! - Cậu bé đáp - Chúng con sẽ ở một tuần trong phòng của con và một tuần trong phòng của cô ấy. Nhà hai đứa lại ở gần nhau nên ban đêm con có thể chạy về nhà nếu cảm thấy buồn.
- Thế còn chuyện đi lại? - Người cha hỏi.
- Cả hai đứa đều có xe đạp ba bánh. Cha đừng lo!
Cậu bé trả lời tất cả các câu trả lời của cha một cách chững chạc. Cuối cùng, người cha hỏi:
- Thế còn chuyện con cái thì sao? Sau khi lập gia đình, người ta sẽ phải sinh con đẻ cái, con biết không?
- Bọn con tính cả tới chuyện đó rồi. Mỗi lần vợ con đẻ ra quả trứng nào là con giẫm bẹp ngay.


Tình yêu Adam và Eva

Adam về nhà rất muộn. Eva giận dữ tra hỏi:
- Tại sao anh lại về muộn như vậy? Đi gặp con nào phải không?
- Đừng có ngu ngốc như vậy! Em là người đàn bà duy nhất trên trái đất này.
- Họ đi ngủ. Nửa đêm, Adam thấy buồn buồn ở ngực và tỉnh giấc, thấy tay Eva đang rờ rẫm trên ngực mình, còn miệng nàng thì lẩm bẩm.
- Chàng hỏi: Em đang làm cái quái quỷ gì thế?
- Tôi đang đếm xem anh có còn đủ xương sườn không.


Vietbf

Xuân Về - Nguyễn Duy Phước

Xóm Cô Hồn - Kha Tiệm Ly



“Xóm Cô Hồn!” Không biết vì xóm đó có cái miếu thờ cô hồn nên người ta gọi vậy hay bởi đó là nơi sinh sống của  nhiều người mà người ta gọi là bất lương, là lũ âm binh. Bất lương hay không thì chưa biết, nhưng xóm đó rõ ràng là nơi bá nạp, chứa nhiều thành phần lao động ở tứ xứ kéo về. Họ làm đủ thứ nghề khác nhau. Có nghề được ghi trong sổ bộ nhà nước như xích lô, ba bánh, phụ hồ, hàng rong, bán vé số, mua ve chai, nhưng có “nghề” phải viết trong ngoặc kép vì không được chấp nhận của nhà cầm quyền như bán bia ôm, đá gà, ghi đề, cho vay! Đặc biệt ở xóm nầy có một nhà văn và một “thằng khùng”!


Sự ồn ào có thể nói không ngừng ở xóm cô hồn và nó cứ lập đi lập lại từ ngày nầy qua ngày khác: Tiếng cãi cọ của băng đá gà, tiếng chửi rủa của bà Hai cho vay (cũng là chủ dãy nhà trọ), tiếng karaoke mở hết công suất của Thủy bia ôm, tiếng “Dzô! Dzô!” và tiếng cười điếc tai của băng ăn nhậu, tiếng của mấy chục con gà nòi thay phiên nhau gáy dậy trời!

Không phải ngẫu nhiên mà “trường gà” lại được chọn ngay trước cửa nhà của anh nhà văn, mà chỉ vì những nơi khác không thể: Nếu đặt trước nhà của các người khác thì sẽ bị vướng xe ba bánh, xe xích lô, xe mua ve chai, hay xe bán hàng rong; đặt trước nhà Thủy bia ôm thì vướng cái hàng rào; còn đặt trước nhà bà Hai Cho Vay thì chỉ có mấy thằng điếc mới không sợ...cái “ô bạc lưa” của bả! Vậy chỉ còn nhà của anh Cao nhà văn là thoáng, chủ nhà “hiền như cục bột”,là nơi lý tưởng nhất!

“Trường gà” nói cho oai chơi chứ nó chưa đủ... tư cách là một trường gà thứ thiệt, bởi nó chỉ mang tính bộc phát nhiều hơn tổ chức. Tuy không quy mô, vì một độ cũng chỉ vài “chai”; nhưng “tần số” có lẽ vượt hẳn bởi tuần nào cũng có ba bốn lần. Người coi thì vài chục, phần  đông là lứa tuổi  choai choai  trong xóm, với mấy người mặn việc ăn thua.

Thời gian từ khi Chín Trọng Tài cân gà, rồi thu tiền bắt độ đến lúc kết thúc trận đấu cũng không hơn 20 phút, (đôi khi vài phút vì một trong hai con gà bị dính cựa chỗ nhiệt). Tuy không lâu, nhưng thời gian đó cũng quá ồn ào với đủ loại ngôn ngữ của giới... đá gà!


Một tháng xỉu xỉu cũng trên dưới 20 lượt ăn thua mà băng đá gà vẫn “mạnh giỏi” vì chưa bị công an phường hốt bao giờ! Đừng nói “chắc có  ăn chia” mà oan cho mấy ảnh, nếu không muốn nói là mang tội vu khống nhà cầm quyền! Hốt sao được mà hốt, khi con hẻm chỉ có hai lối vào thì đã có 2 “cảnh vệ” canh ở hai đầu, hễ thấy bóng công an từ xa, ngoài nầy chỉ việc “a lô” thì bên trong trong tích tắc đã “xóa hiện trường”! Nhưng đi đêm có ngày gặp ma. Công an có hàng trăm thì làm sao “cảnh vệ” nhớ mặt cho hết? Mấy tên chủ chốt thì “bỏ... gà chạy lấy người”, còn lại đám người coi và bắt độ thì mạnh ai nấy làm đủ thứ kiểu giả đò coi như mình vô can vậy! Công an dõng dạc hỏi mọi người: 

– Ai đá gà? 

– Tui có biết đâu? Tui đi ngang qua đây thôi! 

– Thì cũng phải biết mặt người đá gà chớ! 

– Họ ở đâu đó lại làm sao tui biết!

Đến trước cửa anh Cao, một công an hỏi: 

– Sao ông cho tụi nó đá gà trước nhà ông vậy ông? 

– Tôi làm sao cấm họ được! 

– Sao ông không báo công an? 

– Cố nội tôi cũng không dám! 

Thế là chỉ có...2 con gà bị bắt về đồn còn ai về nhà nấy! Và cứ như đám bèo, khỏa nước thì tan ra, hết khỏa nước thì tụ lại!Băng đá gà vẫn “mạnh giỏi” như thường!

Băng nhậu trước thềm nhà Tư Ba Gác,Sáu Thợ Hổ chỏ mỏ qua nhà Chín Trọng Tài (kiêm “kê thủ”) cười  hà hà:

– Tao nói con gà đó có cái vảy hường tâm đâu có sai! Ha ha!...

Chín Trọng Tài đá gà phát quạu:

– Đừng có dô diêng ông ơi!

– Vậy chớ không phải sao mậy?Nếu không hường tâm, hầm tương, thì cũng kì ra... cà ri! Chớ hỏng lẽ mấy chả đem về nuôi để đá sao mậy?

Tư Ba Gác khều Sáu Thợ Hồ, giục:

– Uống đi cha nội! Ở đó mà chọc tức con người ta. Tụi nhỏ nó làm gì thì làm. Uống đi!

– Nói chơi cho vui chớ chọc tức gì anh! Tại nó mất gà rồi nó nói sảng đó chớ! Hihi.

Sáu Thợ Hồ cầm ly rượu, đánh “trót”, “khè” một cái nghe thiệt đã! Vừa để ly xuống thì Thủy Bia Ôm cũng vừa thắng xe tay ga trước cửa. Sáu Thợ Hồ nói với Tư Ba Gác nhưng cố ý cho Thủy Bia Ôm nghe:

– Nhìn nó ăn mặc nhậu khỏi cần mồi anh Tư hén?

Tư Ba Gác phụ họa:

– Nhểu nước miếng luôn! Haha!

Thủy Bia Ôm liếc cái dài ngoằn:

– Nhậu không lo nhậu, nói bậy gì đó mấy cha nội?

Sáu Thợ Hồ:

– Thì thấy em đẹp, tụi anh khen vậy mà!

Thủy Bia Ôm dựng xe rồi bước qua. Sáu Thợ Hồ đổi sắc:

– Thấy em vui tánh tụi anh nói chơi, có chi mà em giận vậy?

– Ai không biết mấy anh nói chơi! Lâu lâu em biếu mấy anh hai hộp gà xối mở nhậu vậy thôi!

Thủy lấy từ trong giỏ, bày ra hai hộp ăm ắp thịt gà vàng lươm. Sáu Thợ Hồ thở phào. Tư Ba Gác:

– Em làm chi hao tốn vậy? Em làm cũng cực khổ.

– Hai anh cứ nhậu đi mà! Chẳng phải em mua đâu. Của mấy thằng dư tiền cho em đó.

Sáu Thợ Hồ:

– Em uống với tụi anh chút cho vui!

Thủy Bia Ôm cười ngất:

– Được thôi! Nhưng có em ngồi đây thì anh khỏi gắp mồi đó nghe! Ha ha…

Cả ba cùng cười vui. Tư Ba Gác, nói vừa đủ nghe:

– Thủy nè! Anh thấy em làm ăn coi bộ khá, sao em không rủ con Dung theo làm với em. Anh thấy nó tội nghiệp quá!

Thủy ngó qua nhà Dung, buồn buồn:

– Chỉ vẫn còn chút hương sắc, nhưng quá đát rồi anh à. Người ta có tiền, họ luôn chọn những người trẻ đẹp. Có những ông khách nếu thấy ai không vừa ý, họ đuổi ra bàn với lời lẽ làm cho người ta xấu hổ. Nghề của em cũng chua xót lắm mấy anh! Em ráng làm để trả nợ cho cha mẹ, vì năm ba năm nữa, khi hết thời, em cũng “về quê cắm câu” mà thôi!...


Gọi nó là “thằng khùng” không biết có quá đáng hay không. Thực ra là nó bị hội chứng đao (dawn) điếc gì đó. “Dạng nhẹ” nên hơi đần độn hơn so với các trẻ bình thường. Lưỡi nó làm như trám hết lỗ miệng nên dù nó nói từng tiếng một nhưng lại rất khó nghe! Ba nó không biết là ai, còn mẹ nó thì suốt ngày đội bánh cam đi bán, bỏ nó một mình ở nhà nên nó mặc tình lê la từ nhà này sang nhà khác. Nó “dễ sai”, ai bảo gì cũng làm, và thù lao thường là trái cam, vài trái mận hay một ít bánh kẹo có sẵn ở nhà. Mối xộp của nó vẫn là băng nhậu của Tư Ba Gác và Sáu Thợ Hồ với vài chục đồng lẻ, hay tô cháo, tô lẩu không đến nỗi kém chất lượng để trả công sau mỗi lần sai nó mua rượu về. Dân nhậu thảo ăn thảo uống là vậy! Chẳng biết ăn uống như vậy có đầy đủ không mà nó lại mập ú. Người ta chưa thấy nó mở miệng xin ai bao giờ, cũng không hề thấy nó đòi tiền công - dù tiếng cám ơn - từ người sai vặt nó. Khùng mà, biết gì! Lạ một điều là thằng khùng rất mến trẻ con. Khi thấy mấy bé còn đi lũn đũn, thì dù đang đi “công tác”... sai vặt, nó cũng phải ngồi xuống nựng với ba câu ú ớ trong họng cho bằng được. Khổ nỗi mỗi lần như vậy là bé lại khóc ré lên bởi nhìn thấy cái thân mập thù lù và cái áo thùng thình dài tới gối, cộng thêm giọng ồ ồ như hù dọa của nó! Và cũng mỗi lần như vậy nó đều bị chửi tắt bếp và bị đuổi như đuổi tà!

Một lần Xóm Cô Hồn náo nhiệt hơn hẳn mọi ngày khi lũ trẻ từ ngoài đường hơ hải chạy vào báo tin: “Thằng... thằng khùng bị xe cán chết rồi!” Mọi người ùa ra hẻm, thì thấy nó đầy máu me, nằm sõng sượt trên tay Sáu Thợ Hồ. Mọi người lao nhao:

– Sao không chở nó đi nhà thương?

– Chết queo rồi chở nhà thương chi, bà nội?

– Ai kiếm má nó về đi! Tội nghiệp quá!

– Sao vậy, Sáu?

Đặt nó xuống hiên nhà, Sáu Thợ Hồ vừa quẹt mồ hôi vừa trả lời:

– Tui đi làm về, tui thấy rõ ràng: Không biết con cháu ai ngoài đó đi lũn đũn giữa đường. Tui thấy nó vừa chỉ tay, rồi vừa chạy ra, vừa ú ớ. Đứa bé nhìn thấy nó, vừa khóc vừa chạy nhanh vô lề nên thoát; còn nó chậm chạp, bị xe tông, nằm im luôn!...   

Nói chút về anh Cao nhà văn và Dung: Anh Cao... cao cao, ròm ròm. Anh viết văn không biết hay dở ra sao nhưng chắc mẫm anh là người nghèo nhứt với cái xóm chẳng ai được coi là giàu nầy! Gia sản “có giá” vỏn vẹn là mớ báo chí đủ loại và cái máy vi tính “đời Bảo Đại còn...ở truồng!”Vợ con không biết có hay không, mà khi hỏi tới, anh đều ỡm ờ: “Có, mà còn ở nhà... người ta”!

Dung là phụ nữ, tuy “quá đát” như Thủy Bia Ôm nhận xét nhưng nhan sắc vẫn còn khá mặn mòi. Không chồng, không con, Dung ví như bông hoa dại trong vườn, mặc tình bướm ong lui tới. Một hôm, Dung hốt hoảng chảy xộc vào nhà Cao, lấp bấp nói:

– Anh cứu em! Họ định giết em!

Cao còn ngỡ ngàng thì Dung đi nhanh ra nhà sau. Bên nhà Dung giọng nói đàn bà oang oang:

– Ông giấu nó chỗ nào? Tui xé xác nó cho ông coi!

Cao nhìn qua,một mụ khá sang trọng cùng 2 thanh niên dáng hung hăng đứng trước cửa nhà Dung. Mụ quát:

– Tụi bây lục nhà, rạch mặt nó cho tao. Ở tù tao chịu!

Giọng người đàn ông dù nhỏ nhưng cũng nghe được:

– Bà đừng làm bậy nghe! Ở đây còn có lối xóm, có chánh quyền...

Một tên trong bọn kề tai mụ nói gì đó rồi cả ba người hùng hổ kéo qua nhà Cao. Mụ nhìn Cao, lớn tiếng hỏi trổng:

– Con đĩ đó trốn đây phải không?

– Bà hỏi ai? Bà nên lịch sự một chút! Bà có thái độ như vậy, tôi không tiếp bà.

Một tên trong bọn bặm môi, nói với Cao:

– Để tránh lôi thôi cho ông, ông lôi nó ra cho tôi!

– Cái gì lùm xùm vậy anh Cao?

Tiếng Tư Ba Gác vừa dứt thì anh cũng vừa tới cửa. Cao nói:

– Không biết sao mà mấy người nầy lại đòi lôi vợ tôi ra mà hành hung!

Tư Ba Gác từ từ quét ánh mắt vào mụ mập và hai thanh niên, giả bộ hỏi:

– Bộ chị Cao thiếu nợ mấy người hả? Nợ thì người ta sẽ trả. Mấy người làm gì phải hành hung?

Một tên trong bọn:

 – Ông là ai mà xía vô chuyện của tụi tui?

Tư Ba Gác nghiến răng, giật phăng nút áo, vỗ mạnh vào ngực:

– Tao là ai hả? Là Tư Ba Gác vựa cá nè!

Nhìn thấy những vết sẹo ngang dọc trên ngực Tư Ba Gác, rồi nhìn quanh thấy cả xóm bu nghẹt xung quanh,  2 thanh nhiên lấm lét nhìn nhau.Tư Ba Gác nói với Cao:

– Anh gọi chị lên coi tụi nầy làm gì cho biết!

Dung đi lên, bình thản hỏi Cao:

– Có chuyện gì không anh?

Cao làm mặt giận:

–Em có thiếu nợ người ta không mà họ đến làm dữ kìa!

Dung lắc nhẹ. Mụ mập nhìn hai thanh niên thầm hỏi như có phải là “đối thủ” không. Hai thanh niên nhẹ nhàng lắc đầu, rồi một tên nói với Tư Ba Gác:

– Xin lỗi anh Tư. Đây là hiểu lầm thôi. Nay hân hạnh được biết mặt anh!

Cả bọn kéo đi. Ai cũng về nhà nấy, thì Chín Trọng Tài xách con gà bị trọng thương vào, vui vẻ nói:

– Mừng chị... Cao... hì hì... thoát nạn. Mình làm con gà nầy nhậu chơi mấy anh hén!

Tiệc nhậu chiều hôm đó ở nhà Cao, có đủ Chín Trọng Tài, Dung, Thủy, và tất nhiên không thiếu Tư Ba Gác và Sáu Thợ Hồ. Tư Ba Gác hỏi Dung:

– May mà em chay qua đây sớm. Nếu không thì không biết ra sao! Sao em biết trước mà né vậy?

Dung chỉ Chín Trọng Tài:

– Cậu Chín thấy họ vừa vô hẻm thì điện thoại cho em!

Sáu Thợ Hồ cười ngất:

– Cảnh giác là nghề của nó mà! Ha ha!

Tư Ba Gác nghiêm giọng nói với Dung:

– Tụi nó biết mặt em mà giả đò là “hiểu lầm”. Tạm thời em nên cắt đứt quan hệ với lão già đó đi để tránh phiển phức.

Dung lí nhí “dạ”, Tư Ba Gác đưa ly rượu cho Chín Trọng Tài:

– Em uống đi rồi anh xin phép nói chuyện nầy.

Chín Trọng Tài bỡ ngỡ đón lấy ly rượu uống cạn. 

Tư Ba Gác nói:

– Cái nghề đá gà không có tương lai đâu em. Làm cái gì phạm pháp sớm muộn gì cũng bị vướng thôi! Em nên suy nghĩ lại.

Sáu Thợ Hồ:

– Tối ngày tụi bây tụ họp làm ồn ào trước nhà anh Cao làm sao ảnh làm việc, phải không? Hay là theo tao làm hồ chắc ăn mầy ơi!

Chín Trọng Tài chưa trả lời thì bà Hai Cho Vay bước vào. Cao ngần ngừ một lát rồi nói:

– Dì Hai thông cảm. Nửa tháng nữa cháu sẽ đóng tiền nhà cho dì, kể cả 2 tháng trước!

Dung:

– Dạ, con cũng còn thiếu dì Hai...

Bà Hai xụ mặt:

– Bộ tao lại đòi tiền nhà sao bây nói vậy? Điều tao muốn nói là xóm mình dù nghèo, nhưng cả thảy đều đoàn kết thương yêu nhau, chí đến “thằng khùng” mà nó cũng biết cứu người, nên tao cũng nghĩ lại mình! Thôi! Gần Tết rồi, cậu Cao với con Dung đừng lo nghĩ về tiền nhà nữa. Dì Hai tặng tụi bây để ăn tết đó!

Chín Trọng Tài khôi hài:

– Hay là anh Cao và chị Dung ở chung một nhà có phải đỡ tốn tiền nhà không? Hè hè!...

Cao ngượng ngùng. Dung đỏ chín mặt. Sáu Thợ Hồ cười cười nhìn Thủy:

– Hay là em dọn qua anh ở để đỡ tốn tiền nhà luôn đi em! Hì hì…

Thủy nguýt dài:

– Tui thấy ông nãy giờ gắp lia lịa đó nghen! Vậy mà nói có tui ông uống không cần mồi! Hihi!

Bà Hai nhìn ra cửa:

– Cháu ngoại dì nó bưng nồi thịt kho tàu qua kìa! Dì tặng cho cậu Cao và con Dung ăn Tết với người ta.

Ngọn gió lùa vào mát rượi. Dường như trời đã vào xuân.  


Kha Tiệm Ly 

Nguồn VanDanViet 


Chuyện Hai Người Lính - Lê Phi Ô


Đơn vị tôi nhận được lệnh hoán chuyển vùng hoạt động với đơn vị bạn, mấy ngày liên tiếp lo tu sửa hệ thống phòng thủ. Hôm nay rảnh rỗi, tôi và Trường rủ nhau vào Câu lạc bộ uống café.

Một anh lính ngồi gần bên nói: 

– Thưa hai ông thầy! (lính trẻ thường gọi cấp chỉ huy như thế) em thấy cách đây vài trăm thước trên đường xuống chợ có một quán café, cô chủ quán... đẹp ơi là đẹp!

Anh ta vừa dứt lời là Trường vội hỏi ngay: 

– Ê, Long! đẹp bằng bồ của Thiếu úy Phi... không mậy?

Long cười cười không nói. Tánh thằng Trường là như thế, hễ nghe tới gái là mắt nó sáng lên.. có lẽ tôi cũng giống nó ở điểm này.

Tôi và Trường ở cùng xóm, thân nhau khi 2 đứa còn con nít. Năm Đệ ngũ, trong lớp có cô bạn tên Sương, cả 2 đứa tôi cùng mê, nhưng khi thấy thằng Trường “đắm đuối” quá nên tôi tự động rút lui “nhường” cho bạn. Tình yêu học trò thật ngớ ngẩn, hai đứa gặp nhau chẳng biết nói gì ngoài các chuyện vớ vẩn như hỏi nhau mượn sách vở, mấy ngày nghỉ ở nhà làm gì, v.v... và v.v... chỉ bấy nhiêu chuyện mà mỗi lần gặp nhau nói chuyện hằng giờ cũng không hết. Có hôm thằng Trường trả cuốn vở cho Sương, 2 đứa lỡ chạm tay nhau... mặt thằng Trường cứ nghệch ra còn Sương thì cúi mặt xuống bàn suốt cả buổi học.

Nhà tôi và Trường cách nhà Sương một con sông, nước chỉ sâu tới ngực. Người dân qua lại bằng đò, đến 8 giờ tối đò hết đưa, muốn qua sông chỉ có cách lội xuống nước. Thằng Trường thường rủ tôi qua thăm Sương, ban đêm trời tối om, tôi đang ngần ngừ không biết phải qua sông bằng cách nào cho quần áo khỏi ướt.

Thằng Trường lôi tôi vào một bụi rậm, cả 2 cởi hết quần áo và, 2 con nhộng bắt đầu lội sông. Qua bên kia sông, 2 đứa lại mặc quần áo vào và tiếp tục đi đến nhà Sương.

Chiến cuộc lan tràn đến tận làng quê của chúng tôi, gia đình Sương dọn lên Sài Gòn, Trường và tôi 2 đứa cũng theo gia đình mỗi đứa một nơi, rồi một hôm chúng tôi gặp lại nhau cùng một đơn vị. Sương thì Trường không biết giờ này ở đâu, cuộc tình học trò... rồi xa... rồi quên!


Sáng sớm còn đang ngủ thì Trường đã dựng đầu tôi dậy: 

– Ê, Phi, dậy uống café mậy! 

Tôi càu nhàu nhưng cũng nhảy xuống khỏi võng. 2 đứa tôi tà tà đi xuống quán người “đẹp”, quán lá thật xinh xắn nằm sâu trong vườn cau, trên vách treo vài giỏ Lan rừng. Cả 2 đứa chọn cái bàn kê tận trong góc, ở đây rất gần quầy tính tiền của cô hàng café. Cô hàng nghe tiếng động khoát màn bước ra, cả 2 chúng tôi cùng choáng váng. Một thân hình eo thon trong chiếc áo bà ba bằng lụa tím, gương mặt thanh tú dễ thương, mái tóc dài buông xõa... làm dáng nàng có vẻ liêu trai!
– Thưa... hai ông dùng gì?

Nghe chữ “dùng” tôi ngạc nhiên, à... thì ra cô nàng ở tỉnh thành nào dọn về đây chứ không phải dân địa phương, giọng nói nhỏ nhẹ thật dễ thương!
– Cô cho xin 2 ly café đá.
2 đứa tôi nhìn quanh một vòng trong quán,mắt tôi chạm vào hàng chữ viết cạnh bàn chúng tôi ngồi:

“Phận em bưng nước, rửa ly
kính xin quý khách... đừng ghi sổ vàng! – Quán nghèo”.
Có lẽ quán này có người ăn chịu rồi quỵt luôn nên cô hàng mới viết như vậy. 

Tôi ghi thêm phía dưới:
“Mai vàng nở khắp thôn trang
Quán không bán thiếu tôi càng buồn... hơn! – Lính nghèo”.

Ngồi một lát tôi để ý thấy thằng Trường cứ thỉnh thoảng liếc nhìn cô hàng, anh chàng này có vẻ “chịu đèn” rồi. Bỗng nhiên thằng Trường khe khẽ hát:
“Gặp em trong quán nhỏ
Bên kia mưa sông dài
Tóc em vương màu mắt
Khi Xuân về sớm mai
Tôi ngồi đan khói thuốc
Mưa…..” *
Giọng nó hay quá, lời nhạc như một bài thơ! Cô hàng cũng bị giọng hát thằng Trường lôi cuốn, tiếng hát tiếp tục đều đều:
“....... Đời mình đâu dám hẹn
Mơ lại phút... tương phùng!”
– Giọng Thiếu úy hay quá! Trâm chưa bao giờ nghe ai hát hay như vậy!

À, thì ra cô hàng tên Trâm (tôi và thằng Trường cùng la thầm như thế). 


Rồi từ đó, thằng Trường thường rủ tôi xuống quán uống café, đôi khi nó đi một mình, mấy lúc gần đây nó đi một mình thường xuyên hơn. Tôi thương nó như anh em ruột, nó chỉ có mẹ già và cô em nhỏ, nó thường tâm sự với tôi: “Mẹ tao muốn tao có vợ sớm để có cháu cho bả ẵm, không có tao bả nhìn thấy cháu nội cũng như thấy tao”. 

Một hôm thằng Trường lôi tôi ra chỗ vắng, mặt có vẻ nghiêm trọng, nó nói: 

– Lâu nay tao giấu mầy, vì khi nào chắc ăn... tao mới nói.

Ngập ngừng một lát nó tiếp: 

– Tao và Trâm yêu nhau... cách đây một tháng tao có hỏi ý kiến Trâm và tao đã viết thư cho má tao, bả mừng rỡ vô cùng! Sau cuộc hành quân này, tao xin phép vài ngày về rước má tao xuống nhà Trâm dạm hỏi... có thể chúng tao sẽ cưới nhau vào đầu Xuân năm tới. 

Tôi ôm chặt hai vai bạn mình, chia sẻ niềm hạnh phúc đang dâng trào trong nó.

—–o0o—–


Đơn vị tôi hành quân bước sang ngày thứ ba thì chạm nặng, địch quân cấp Tiểu đoàn đang vây chặt chúng tôi vào giữa, thiệt hại của ta mỗi lúc một tăng. Chúng tôi cố thủ trên một ngọn đồi, qua hôm sau được 2 Tiểu đoàn bạn cứu viện, địch bị đánh bật trở ra, bỏ chạy quên mang theo xác của đồng bọn. Đại đội của tôi thiệt hại trung bình, trong đó có 2 sĩ quan bị thương nặng, tôi lo lắng cho Trường, linh tính như báo cho tôi tin chẳng lành. Tôi gọi máy liên tục và cuối cùng được biết sĩ quan bị nặng nhất đó là Trường.

Một dáng người nằm im lìm như xác chết, mặt tái nhợt, máu nơi ngực vẫn còn rỉ ra. Tôi hoảng hốt nhào lại quỳ xuống bên cạnh. Khi biết chắc đó là Trường tôi hét lớn, xô ngã người y tá qua một bên và gọi tên Trường rối rít. Một tay bịt chặt vết thương, một tay làm hô hấp nhân tạo, hai hàng nước mắt nhạt nhòa, tôi thảng thốt gọi tên Trường khan cả cổ họng. Bỗng nhiên Trường khẽ cựa mình mắt từ từ mở, tôi mừng rỡ bật lên tiếng cười trong vỡ òa nước mắt. Môi Trường mấp máy... tôi cúi xuống kê tai sát vào miệng Trường nhưng cũng không nghe được tiếng nói, tay Trường sờ soạng nơi ngực đầy máu và dừng lại nơi tấm thẻ bài, miệng nó mấp máy gọi tên người yêu nhẹ như gió thoảng. Tôi hiểu ý, đưa tay gỡ nhẹ bớt một tấm thẻ bài dính máu bỏ vào túi áo giáp của mình, Trường mỉm cười rồi thở hắt ra. Đôi mắt mờ lệ... tôi đứng thẳng người đưa tay chào vĩnh biệt người bạn của mình!

“... Có lẽ tao và Trâm sẽ cưới nhau vào đầu Xuân năm tới...”
Mùa xuân sẽ mãi mãi không đến với mầy và Trâm... Trường ơi!

—–o0o—–


Về đến hậu cứ tôi ngủ vùi cho đến hôm sau, thay quân phục chỉnh tề, nhìn lại trong gương lần chót, tôi bước ra khỏi cổng đồn đi về hướng quán café của Trâm. Trên đường đi tôi suy nghĩ miên man... không biết phải nói với Trâm như thế nào, phải khởi đầu ra sao? Cổ họng tôi nghèn nghẹn, tội nghiệp cho Trâm quá... Trâm ơi!!!

Khi nghe tiếng Trâm tôi giật mình mới hay mình đã tới quán tự lúc nào: 

– Anh Phi, anh về hồi nào vậy? Còn anh Trường đâu?

Tôi bối rối... lí nhí trong cổ họng: 

– Tr..ư..ờng có chút việc sẽ... tới sau.

Trâm hơi biến sắc: 

– Nghe mấy chị vợ lính nói đơn vị anh đụng nặng lắm phải không?
– Ờ, đụng nặng, à không, không... nặng lắm. 

Tôi bước vội vào quán tới chỗ tôi và Trường thường hay ngồi:
– Trâm cho xin hai ly café đá.

Nghe hai ly café mặt Trâm tươi tỉnh trở lại, mắt cứ nhìn ra ngõ như trông chờ Trường. Nhìn chiếc ghế chỗ Trường bỏ trống lòng tôi buồn vô hạn, tiếng Trâm làm tôi chợt tỉnh: 

– Anh Phi, anh làm sao vậy, trông anh hình như... bịnh?

Và Trâm đưa tay ngăn tay tôi lại: 

– Anh đừng khuấy nữa... ly café chưa bỏ đường. 

Trâm xoay người đi vào trong, vừa đi vừa nói: 

– Để Trâm vào trong lấy thuốc cảm cho anh.

Đến bây giờ tôi mới biết được rằng... tôi không thể nào báo tin Trường chết cho Trâm, tôi không đủ can đảm làm việc đó, không thể nào báo cái tin khủng khiếp đó, nó tàn nhẫn quá... tôi không thể nhẫn tâm giết chết cả niềm tin và hy vọng của một người con gái đáng thương như Trâm. Người tôi như run lên: “Trường ơi, mày tha thứ cho tao... tao không thể làm nổi ước nguyện của mày lúc lâm chung, tha thứ cho tao!” Toàn thân tôi run rẩy, nghe tiếng bước chân của Trâm đi lên tôi vờ cúi xuống cột lại dây giày để Trâm không nhìn thấy cặp mắt đỏ hoe của tôi như chực khóc.
– Thuốc cảm đây, anh uống đi!
Tiếng Trâm nhỏ nhẹ... nghe như tiếng hát của Trường:
........“Đời mình đâu dám hẹn
Mơ lại phút..... tương phùng!”
Tiếng hát mượt mà của Trường như lớn dần... lớn dần, cuối cùng như một khối thuốc nổ nặng ký nổ tung trong đầu tôi... tan tác... bi thương! Tôi đứng bật dậy và như người chạy trốn, lảo đảo bước ra khỏi quán vóc dáng xiêu vẹo, bỏ lại sau lưng người con gái mắt tròn xoe, ngơ ngác trông theo!


*Viết để tặng bạn tôi, cố Trung úy Lê Đức Trường.
*Tặng những “Góa Phụ” chưa một lần lên xe hoa!


Lê Phi Ô