Những ngày cuối tháng
3, trời mưa như trút nước, cả ngày lẫn đêm, như xót thương cho số phận non sông
Bình Định đã rơi vào tay của lũ vô thần. Qua hơn 2 ngày đêm, chúng tôi không có
gì để ăn, ruột đói cồn cào, quần áo ướt sũng, thiệt đói và lạnh. Chúng tôi đi
ngang qua những đám gò trồng đậu phộng, nhổ lên hy vọng kiếm củ ăn cho đỡ đói
lòng, nhưng vào mùa đó cuối tháng 2 Âm Lịch, củ còn rất non. Chúng tôi rửa bằng
nước mưa, nhai lấy nước mà thôi. Chúng tôi qua những cánh đồng bắp cũng thế,
chỉ ngậm lấy nước. Qua ngày thứ ba, cả 3 chúng tôi đều bị tiêu chảy, kiệt sức
không còn đi nổi. Tôi thấy tình hình như vậy, chắc là số phận tôi không xong
rồi, nên nói với 2 anh bạn đồng hành:
- Tôi không đi nổi nữa
rồi, hai anh còn sức cứ đi theo hướng Đông ra biển may ra còn tàu của hải quân
của quốc gia bốc các anh về Sài Gòn.
Thiệt là cảm động, tuy
không cùng đơn vị nhưng 2 anh lính nói:
- Đại úy đi thì chúng tôi đi, ông ở lại chúng tôi ở lại. Chúng tôi không
nỡ bỏ ông ở đây!
Không còn cách nào
khác, chúng tôi đành vào làng, may ra xin được thức ăn và dưỡng bịnh sau đó
tiếp tục cuộc hành trình. Sau đêm thứ ba, chúng tôi đến 1 ngôi làng, trước vài
thửa ruộng của ngôi làng có 1 cái chòi, chúng tôi vào chòi khoảng 2, 3 giờ
sáng. Chúng tôi vắt cho khô quần áo, nằm ngủ đợi trời sáng. Sau những ngày đói
lạnh, bịnh tật, chúng tôi nằm thiếp đi cho đến khi mặt trời mọc. Sáng hôm đó
chúng tôi vào một nhà dân gần đó, để nhờ họ cho cơm ăn và dưỡng bịnh, để có sức
mà đi. Chủ nhà là 1 người đàn bà nhà quê trông cũng bình thường như những bà
nông dân khác, không có gì phải nghi kỵ. Sau khi nấu cơm cho chúng tôi ăn xong,
chủ nhà chỉ cho chúng tôi bộ ván để lên nằm nghỉ lưng. Ôi thiệt là một bữa cơm
ngon nhứt trong đời, dầu chỉ có cơm trắng với bầu luộc và mắm ruốc. Nửa giờ
sau, du kích đã vào nhà, súng AK chĩa vào đầu, bắt chúng tôi trói ké dẫn đi.
Tâm trạng tôi lúc này chỉ còn biết tới đâu hay tới đó mà thôi. Sự sống còn phó
mặc cho số mệnh. Chúng tôi bị dẫn đi nhiều nơi, đôi khi là trụ sở của làng, đôi
khi là trường học, có khi là ngôi đình làng. Dần dần số người bị bắt cứ tăng
lên. Nhiều khi một ngôi trường Tiểu học nhỏ, mà nhốt số người lên đến hàng
trăm. Đêm đến không có chỗ nằm, chỉ ngồi mà thôi. Ôi thiệt là những ngày ghê
gớm nhứt của cuộc đời, không biết còn có cảnh khổ nào hơn không?
Chúng tôi không được
cho ăn uống chi cả. Tự ai có gì nấy ăn mà thôi. Ngày hôm sau, chúng tôi bị dẫn
về hướng Tây, không gian vô định, ai biết mình sẽ bị đưa về đâu, và sống còn
đến ngày nào. Khoảng thời gian này, không có một quy ước hay chính sách gì cả,
hễ ai bất tuân bọn chúng, thì coi như bị bắn bỏ. Trong đoàn chúng tôi đi, có
một binh sĩ còn trẻ, không dè dặt với chúng, đôi khi anh ta đi ngoài hàng một
chút thì bị bọn chúng lôi ra bắn ngay. Thiệt là dã man! Chúng muốn bắn để khủng
bố tinh thần của mọi người. Ôi sinh mạng con người nhỏ hơn là con ong, con
kiến. Dọc đường quốc lộ 19, từ Bình Khê lên đến chưn đèo An Khê, trước kia có
lực lượng của SĐ 22 Bộ Binh trấn đóng. Tôi không nhớ rõ là Tiểu Đoàn nào, nhưng
thuộc Trung Đoàn 41. Trước đây có 1 trận đánh thiệt là ác liệt, 2 bên vệ đường
tử thi của các chiến sĩ VNCH nằm la liệt, có lẽ đã xảy ra gần nửa tháng rồi, cơ
thể bắt đầu sình thúi, chỉ thấy quân phục và sọ người trắng hếu. Một số tử thi
khác thì còn loang lổ một ít tóc trên phần sọ đã rữa. Mùi tử khí xông lên nồng
nặc khắp trời. Ôi chiến tranh và thân phận con người, tôi lại nhớ đến mấy câu
thơ của bà Đoàn Thị Điểm:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng
dõi dõi soi,
Chinh phu tử sĩ mấy
người,
Nào ai mạc mặt, nào ai
gọi hồn…..
Vào thời gian này, tôi
không còn nhớ rõ là mình đã nghĩ gì, chỉ có một con đường, chúng muốn đưa mình
đi đâu thì mình theo đó thôi, mặc cho số phận đẩy đưa, cuối cùng là giải thoát
kiếp người. Chúng tôi đi đến ngày thứ ba thì đến một trại trước kia là mật khu
của chúng. Trại này nằm trong rừng sâu, cách đèo An Khê khoảng 50 km từ hướng
Bắc. Cả mấy ngày đi chỉ ăn được một lần, chúng tôi đi
ngang một địa phương thì được đồng bào nấu cơm gói sẵn
bằng lá chuối phát cho chúng tôi mỗi người một gói không biết là lịnh của họ
hay lòng tự nguyện của đồng bào. Đến gần phạm vi của trại, chúng dừng lại để
nghỉ và chuẩn bị cho chúng tôi nhập trại, trong
lúc này tôi gặp lại một số anh em binh sĩ trong Pháo Đội, thiệt mừng và thiệt
tủi cho thân phận những kẻ chiến bại. Thời điểm này chúng bắt giao nộp hết tư
trang như đồng hồ, bút máy, nhẫn..Tôi thấy chúng dùng nón để thu, không ghi sở
hữu của ai cả. Tôi biết bọn này muốn lấy không rồi, tôi làm dấu cho anh thường
vụ Pháo Đội giấu chiếc đồng hồ Boulevard Sport của anh, khi đi đến bờ sông có một số người Thượng đứng bán chuối hoặc cơm. Chúng tôi đổi chiếc
đồng hồ lấy 1 nắm cơm muối mè gói lá chuối, 2 thầy trò chia nhau ăn cho qua cơn
đói lòng. Thiệt là: “Đoạn đường ai có qua cầu mới hay”, vật chất chỉ có giá trị
khi thời gian thích hợp. Còn với thời gian này, vật chất dù cao quý thế nào
cũng không qua nổi một gói muối mè.
Thế là chúng tôi lần
lượt vào trại. Sĩ Quan đều bị đem đi cùm, từ Thiếu Úy trở lên là bị cùm. Số
lượng SQ bị bắt mỗi ngày một đông, chúng thả cấp nhỏ, cùm cấp lớn. Bắt được Đại Úy
cùm Đại Úy thả Thiếu Úy. Cứ như là cấp số cộng. Phải nói bạn nào có thời
gian ở trại Vĩnh Thạnh khi đọc dòng hồi ký này, không thể nào quên được một nơi
gọi là ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN đúng nghĩa của nó, không nơi nào ghê sợ hơn. Vì trại
nằm trong rừng sâu lam sơn chướng khí. Tổng số binh sĩ bị bắt vào thời điểm cao
nhất ở đây có thể lên đến cả ngàn người, nhưng sau hơn 4 tháng, số tử vong lên
đến cả trăm. Sốt rét chết, đói mà chết, bị đánh mà chết... Các đơn vị bộ đội
cộng sản ở đây đa số đều là những cán binh CS trở về từ Côn Đảo, lòng nung nấu
thù hận. Họ muốn trả những trận đòn thù trên các người lính Cộng Hòa còn chút
sĩ khí đã ở lại chiến đấu để bảo vệ quê hương. Có một anh Trung Úy người miền Nam trước kia nguyên là giáo sư bị bắt
vào trại cùng thời gian với chúng tôi, vì quá căm phẫn trước sự hành hạ của bọn
chúng, nên chạy ra vọng gác giựt súng AK của tên bộ đội đang gác cổng nhưng
không thành công vì cơ thể suy nhược, ăn uống thiếu thốn làm sao khoẻ bằng
chúng. Sau khi giựt súng không được, anh ta bị rượt chạy vòng vòng trong trại.
Vì trại quá đông người nên chúng không bắn được. Vì không còn đường thoát, anh
ta chạy đến bên những chảo nước đang nấu để cho tù uống và nhảy vào chảo! Thiệt
là rùng rợn và thương tâm! Chúng dập tắt lửa, mang anh ta ra ngoài, nhưng anh
ta vẫn còn sống. Anh ta chửi rủa bọn Cộng Sản luôn mồm:
- Đả đảo Cộng sản.
Quân dã man khát máu.
Chúng cho khiêng anh
vào trạm xá. Thiệt ra chỉ là một cái nhà nhỏ, vài lọ thuốc, vài lọ cồn mà thôi.
Anh ta vẫn chửi liên hồi. Chúng lấy đất sét cho vào miệng, lấy cây dọng cho đến
khi hết thở. Ôi! các bạn có hình dung được con người hay là ác quỷ nhỉ. Tôi có
người bạn ở cùng quê tên Phan Duy Liêm,cấp Tr/Úy ĐĐT/ĐPQ cũng bị bắt
vào trại này, tôi không nhớ anh đã làm gì phật ý chúng mà buổi chiều hôm đó,
tôi chứng kiến tận mắt, 3 tên bộ đội đứng 3 góc đánh anh từ góc này văng sang
góc kia, như là người ta chuyền bóng. Là thân phận tù sao dám chống trả chúng. Sau
khi anh được thả ra, lục phủ đã bị dập nát, đã bị tổn thương. Mặc dù thời gian
sau được gia đình tiếp tế thuốc men chữa chạy, sau hai năm hao tổn, anh đã lìa
đời, bỏ lại một vợ và một con thơ, là bà con họ hàng với gia đình tôi.
Ở đây khí hậu chưa có
một nơi nào dễ sợ hơn. Danh từ sơn lam chướng khí thiệt là đúng nghĩa của
nó. Các nhà giam (lán) được cất dưới những tàng cây cổ thụ, suốt ngày ít khi
thấy ánh sáng mặt trời, sương buổi sáng rất nặng và dày đặc, 9 hay 10 giờ mới
thấy mặt trời, máy bay thám thính cũng chỉ thấy toàn màu xanh của rừng. Khoảng
hơn tháng đầu chúng chưa cho đi làm, mỗi ngày chỉ phát 2 nắm cơm bằng một bát
trung bình, vơi chứ không đầy, mì khô hết 80%, vài hột gạo có thể đếm được, tất
cả chúng tôi đều đói và sốt rét.
Ở đây trung bình 1
tuần sốt rét 3 lần. Sốt thì nằm, dậy được thì đi lao động, xuống trạm xá khai
bệnh, cặp nhiệt độ 40 độ C, cho vài viên Nivaquine, 39 độ trở lui, thì chúng
cho uống một thứ rễ cây tên là “mật nhân”. Trên đời này chưa có thứ nào đắng
như thứ này, uống xong quay đi là nôn thốc, nôn tháo, nôn đến mật xanh, mật
vàng, lần sau sốt hoặc nằm liệt không dám khai bịnh nữa, hết sốt thì dậy đi
làm. Con người thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng, sốt rét triền miên, nên chúng tôi
trông như những thây ma còn sống. Da mặt thì vàng bệt, xám ngoét, mắt trũng
sâu, chân đi xiêu vẹo, quần áo tả tơi. Ôi! chúng tôi thật là tới tận cùng của
địa ngục.Chúng tôi nào có tội tình gì, chỉ biết cầm súng bảo vệ quê hương không
có một ý đồ bất chính, không có một tham vọng nào làm tổn thương đến giá trị
vật chất hay tinh thần của con người, tại sao chúng tôi lại phải bị trừng phạt
một cách khủng khiếp như thế? Có những lúc tuyệt vọng, anh em nói đùa:
- Chúa hay Phật gì
cũng bỏ chạy hết rồi còn đâu mà cầu nguyện.
Sau hơn 3 tháng tôi bị
bắt, gia đình tôi mới được tin tức. Vợ tôi từ Phan Thiết ra Bình Định đến trại
3 Vĩnh Thạnh để thăm, thiệt là một chặng đường vất vả. Vì xe cộ không có, vợ
tôi phải đi bộ khoảng 50 km đường rừng, phải ngủ lại ở trại 2 rồi mới lên trại
3 được. Biết bao nhiêu gian nan và sợ hãi, khi được gặp mặt, vợ chồng tôi nhìn
nhau nước mắt lưng tròng, hỏi thăm vài câu sức khỏe, đâu còn lời nào để nói.Và
biết nói gì hơn khi mỗi bàn có 2 bộ đội ngồi bên cạnh, súng AK lăm lăm, nói
được gì đây. Về nhà, vợ tôi bị sốt rét chữa trị gần 2 năm mới bình phục. Thời
gian ấy, vợ tôi phải truyền sérum liên tục, thế mới biết rừng thiêng nước độc
đến cỡ nào. Sau đó thân phụ tôi đi thăm một lần, về cũng bị sốt rét liên tục.
Từ đó về sau, chỉ có em trai tôi còn khỏe mạnh đi thăm mà thôi.
Có những lúc đói quá,
mắt đổ đom đóm vàng khi nhìn thấy các anh em khác có người tiếp tế, có đồ ăn.
Muốn quên đi, tôi chỉ còn biết ra gốc cây ngồi luyện Yoga cho quên đi nỗi đói
khát, bịnh tật. Ai có biết sách lược triệt hạ kẻ thù, không sợ chúng phản kháng
là làm cho chúng đói triền miên, không bao giờ cho chúng ăn đủ no. Suốt ngày tư
tưởng lẩn quẩn, mong có cái gì bỏ vào miệng, vào bụng mà thôi, không còn nghĩ
được thứ gì khác trên đời. Ôi con người có những lúc phải như thế này ư? Tôi có
đọc cuốn Tiểu Đoàn Trừng Giới của Erich Maria Remark, nhà văn Đức, tù binh Đức,
cũng bỏ vào các trại tập trung cũng đói như chúng tôi, nhưng thời gian ngắn hạn
và không bịnh tật. Còn chúng tôi đói dài hạn và bịnh tật triền miên.Tôi còn nhớ
vào thời gian còn ở quân ngũ, tướng độc nhãn Mó Dayan của Do Thái có qua thăm
trường Võ Bị Đà Lạt, đã nói:
- Muốn chiến thắng
Cộng Sản, phải sống với Cộng Sản.
Xin những ai, có làm
chính khách, chưa bao giờ biết ngục tù Cộng Sản, thì xin nghĩ đến bao nhiêu anh
hùng đã hy sinh, bao nhiêu triệu đồng bào còn đang sống vất vưởng nơi quê nhà,
vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày vì phương châm “làm cho tập thể, hưởng
theo nhu cầu” của chúng. Và cả một thế hệ chúng tôi tù đày oan khiên, khổ nhọc,
thì chớ nên phụ quá khứ một thời tự do, dân chủ, thanh bình của miền NamViệt
Nam.
Ở trại này có những
cách giết người rất dã man. Các bạn có biết, một cái nhà cùm kín mít, bên trong
là một dãy khóa lại, tất cả việc ăn uống vệ sinh đều tại chỗ, đó là cùm thông
thường. Nếu chúng muốn tra tấn ai, cho hai chưn vào hai lỗ chéo nhau, chân phải
lỗ bên trái, chân trái lỗ bên phải,dưới mông ngồi có 1 cây đà vuông thông ra
ngoài, xuyên qua 1 cây trụ thẳng đứng khoét một lỗ hình chữ nhựt, để cây đà
vuông có thể di chuyển được từ thấp lên cao, chúng gọi là cùm yên ngựa. Mỗi lần
nâng cây đà lên là ống quyển bị ép vào lỗ cùm. Bên ngoài chúng dùng 1 miếng nêm
hình tam giác để đóng, mới đầu đóng là tù nhơn la thất thanh sau đó im dần...
im dần, tù nhơn đã hết thở. Ôi địa ngục ở đâu, có lẽ còn ít sợ hãi hơn nơi này.
Chúng tôi bị nhốt trong một cái lán gần bên nhà cùm. Đêm đêm nghe tiếng la thất
thanh xé tâm can, rồi im dần, im dần và tắt hẳn... Thế là một người đã ra đi
không biết là tốt hay xấu với chúng tôi, biết đâu vài hôm đến lượt mình.
Ở đây có những cái
chết rất kỳ lạ, buổi sáng còn ngồi chơi nói chuyện, vì là ngày Chúa Nhựt, anh
bạn ở cùng quê, Đ/Úy Dậu TĐT/CB, ngồi ngã ra, quay quay như gà mắc toi,
đem xuống bịnh xá, chừng 1 giờ đồng hồ sau thì chết. Khí hậu thật là rùng rợn,
sinh mạng con người còn thua những loài côn trùng. So với tù binh của Đức Quốc
Xã thời Đệ Nhị Thế Chiến đâu có khác gì nhau.
Sau 1 tháng nhốt 1
chỗ,chúng tôi được chia ra để đi lao động. Những công việc chính là nhổ mì,
trồng mì và làm cỏ mì.Buổi sáng tù tập trung do 1 hoặc 2 tên bộ đội dẫn đi tới
những bãi mì trong núi hoặc trên đồi cao. Chúng tôi dàn hàng ngang, mỗi người 1
cái cuốc dùng để cuốc cỏ xung quanh cây mì. Cây mì mới mọc cao chừng 5cm hay 1
tấc, rất dễ lẫn lộn với cỏ. Chúng tôi đâu phải nhà nông chuyên nghiệp, từ nhỏ
cha mẹ đã hy sinh gian khổ, nuôi con ăn học, mong con sau này thành đạt, đâu
nghĩ đến việc phải dùng cái cuốc, cái cày. Ôi công lao của cha mẹ lo lắng nuôi
con trong thời điểm này hình như đã sai đường. Nếu chẳng may chúng tôi cuốc gãy
cây mì chúng thấy được, thì báng súng AK vào đầu, vào cổ, mũi súng thọc vào
sườn, vào bụng.
Anh bạn tôi là Đ/Úy Dậu
có lẽ bị đòn thù trong trường hợp này, nên đã mất đi vài tuần sau đó, trong bữa
sáng Chủ Nhật mà tôi vừa nói ở trên.Thiệt là thê thảm, những tù nhân chẳng may
mà mất đi, chúng quấn bằng miếng vải ni lông, dùng để làm áo mưa, xung quanh
kẹp 7 nẹp tre quấn lại như 1 khúc dồi lớn.2 người khiêng, 2 người đào lỗ ngoài
rừng rồi lấp đi. Xong chúng cắm 1 cái bảng nhỏ viết tên tù nhân bằng sơn.Với
2,3 tháng nắng mưa, thì không còn biết ai là ai nằm đó nữa. Vì thế gia đình anh
Dậu đã cố gắng nhiều lần, nhưng vẫn không tìm thấy xác anh ở đâu để đem hài cốt
của anh về mai táng nơi quê nhà. Rất may là khoảng tháng thứ 5 chúng tôi chuyển
trại, lúc này đại đa số là Quân, Cán, Chính VNCH đã bị bắt hoàn toàn, không còn
1 lực lượng nào trong nước có thể đối kháng và phá hoại chúng được. Chúng thành
lập những Tổng Trại Tù Binh để quản lý.
Một Tổng trại như thế do cấp Trung Đoàn chính quy quản lý do Thủ
Tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng ký, mục đích là để trấn an dân chúng và để trình
làng với Quốc Tế. Giai đoạn cuối ở địa ngục này, tôi bị sốt rét hành hạ liên
tục, có lẽ đã xâm nhập vào gan, lá lách hay thận. Người tôi vàng vọt, xám
ngoét, mắt trũng sâu, bụng ỏng, chân thì dần dần to ra như chân voi bước đi
không nổi nữa. Chúng tôi được đưa xuống Tổng trại 4 An Trường. Ôi, thiệt là một
cuộc di chuyển có khác nào như chở heo chở gà ra chợ để bán! 1 chiếc xeMotolova
như vậy chở xấp xỉ cả trăm người, người sau phải bám người trước cho chặt, nếu
không khi xe quẹo, quán tính của trọng lượng sẽ làm văng những người sau ra
ngoài mà chết. Súc vật đem bán cần sống, cần khoẻ chứ chúng tôi thì không….
Tôi được đưa xuống
trại 1 của Tổng Trại 4,nhờ gia đình tiếp tế, thuốc men đầy đủ, và ở trại này,
chế độ ăn uống có phần dễ thở hơn, nên tôi đã dần dần hồi phục và giữ được cái
mạng còm cho đến hôm nay. Phải nói rằng 6 năm tù đày thời gian ở trại này là tươngđối
dễ chịu nhứt so với các trại khác. Vào thời điểm này, đa số anh em đều tin rằng
sau 3 năm rồi thì thế nào cũngđược thả về, nhưng thiệt là 1 sự lầm lẫn to lớn.
Lời nói của chúng như những bó cỏ treo trước đầu con ngựa đang kéo xe, cỏ thì
nhìn thấy đó nhưng con ngựa có bao giờ ăn được đâu? Những ngày kêu thẩm vấn, tự
khai, ui thực.. là khổ sở. Nói thế nào chúng cũng không tin. Hỏi:
- Từ ngày anh tham gia
ngụy quân, ngụy quyền đến giờ giết bao nhiêu cách
mạng?
Tôi trả lời:
- Tôi là đơn vị Pháo
Binh yểm trợ, họ yêu cầu tác xạ ở đâu, chúng tôi bắn ở đó. Kết quả do các đơn
vị Bộ Binh tham gia họ ghi nhận và báo cáo, chúng tôi đâu có trực tiếp tham dự.
Hỏi:
- Anh nói anh không
giết cách mạng sao họ cho anh mang lon Đ/Úy sớm như vậy?
Tôi trả lời:
- Theo chế độ đào tạo
SQ tại miền Nam, có bằng cấp mới được chọn, 1 năm Chuẩn Úy được thăng
Thiếu Úy, 2 năm Thiếu Úy được thăng Trung Úy. Sau đó khoảng 3 năm đủ điểm
thì lên Đ/Úy.
Nhưng dù có nói thế
nào chúng cũng chẳng tin. Và cứ như thế hết ngày này đến ngày khác, tôi cứ bị
kêu liên tục, hỏi hơn cả tháng, chúng cứ xoáy vào một điểm là giết hại bao
nhiêu cách mạng. Cuối cùng tôi phải moi một trận yểm trợ nhớ mang máng theo kết
quả của Bộ binh báo cáo, là địch quân tổn thất vài chục chúng mới hết hỏi. Ai
có ngờ đâu đó là cái giá treo cổ mà mình tự gánh vào, sau này chúng cho là
thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân….
Thời gian ở Tổng trại
này hơn 1 năm, sau đó có lẽ tình hình thanh lọc tù nhơn giảm dần, chúng tôi
chuyển từ tổng trại này sang tổng trại 5 thuộc các đơn vị tỉnh Phú Yên quản lý.
Trại này cũng là 1 trại sắt máu, chúng tôi làm việc như lao động khổ sai, và
cơm thì không bao giờ được ăn no. Có một vài anh em bỏ mạng vì đốn cây rừng cho
chúng, cây đè mà chết hoặc thương tật suốt đời. Các bạn từng xem những phim La
Mã thời Cesar, các nô lệ kéo gỗ hay kéo đá, chúng tôi cũng vậy. Một khúc gỗ súc
dài 4 hoặc 5 mét,đường kính khoảng 7 tấc, xỏ 4 dây thừng, mỗi bên 4 người
khiêng. Đường từ trên núi, leo dốc, xuống ghềnh hiểm trở, nếu rủi ro mà té ngã
thì coi như cái mạng đi đoong.Súng AK thì lăm lăm, sẳn sàng nhả đạn nếu chúng
tôi tìm đường chạy trốn. Ôi, nếu so sánh, chúng tôi và nô lệ thời Trung Cổ của
La Mã có khác gì nhau đâu.
Tôi còn nhớ nằm cạnh
tôi có ông bạn già là Tr/Tá ĐN Thanh trước 75 là CHT Quân Cảnh Quân Khu 2, và
có thời gian Tr/Tá Thanh đã từng làm Trưởng trại giam tù phiến cộng ở Phú Quốc.
Có một ngày họ phân công tôi và bác Thanh là 1 cặp trong toán chặt gỗ làm nhà,
chỉ tiêu dài 6 mét, đường kính từ 1.5 đến 2 tấc, phải là gỗ tốt, lá nhỏ, vỏ
mỏng. Tôi và bác Thanh phải lên núi cao tìm gỗ vì dưới thấp không còn nữa. Sau
khi chặt xong, tôi và bác Thanh khiêng về trại. Vì lúc đó tôi còn trẻ nên nghĩ
rằng mình khiêng phần gốc để bác Thanh phần ngọn nhẹ hơn. Từ trên triền núi
cao, tôi lao xuống dốc vì nặng quá, không kềm được, nên đã té ngã nhiều lần.
Rốt cuộc để khỏi tai nạn, bác Thanh dành khiêng phần gốc vì thật sự mà nói, bác
rất khỏe và rất đô con. Tối về sinh hoạt kiểm điểm xong, bác nằm và than sao
đau lưng và khổ quá. Bên cạnh tôi có anh bạn Luật sư Lê Đình Khang nói nhỏ:
- Bác khổ là vì hồi đó
bác hà tiện quá mà.
Bác càu nhàu hỏi:
- Hà tiện gì?
Anh bạn Khang nói:
- Nếu hồi đó bác sắm
bao tải cho nhiều, cứ mỗi chuyến C130 chở tù phiến cộng từ Sài Gòn ra Côn Đảo,
bác bỏ hết vào bao ném xuống biển, thì đâu có
ngày hôm nay.
Bác và chúng tôi cùng
cười, quên đi nỗi đau đớn nhọc nhằn. Trong thời gian ở trại này, chúng tôi
chứng kiến một cảnh thương tâm. Có 1 số anh em trốn trại nhưng không thoát
được, tôi chỉ nhớ tên 2 người là T/Tá Giang và T/Tá Phước, 2 người còn lại tôi
không nhớ được. Chúng cho làm mỗi người một cái lều, như lều cắm trại, sát mặt
đất, có khung bằng ván để nằm, làm hệ thống cùm dưới chân bằng gỗ, khóa lại
suốt ngày đêm, trông giống như những chiếc nhà mồ nằm ngay tại vọng gác trước
mặt trại. Chúng tôi ngày nào lao động cũng phải đi ngang qua, trông thật đau
xót và thương tâm, nhưng đâu biết làm sao khác hơn….
Vào một đêm, bỗng dưng
lửa cháy các chòi, chòi của T/Tá Giang là nặng nhất. Họ được đưa đi bệnh viện
Tuy Hòa để cấp cứu. T/Tá Giang phải cưa hai chân đến đầu gối. Các bạn khác đều
bị phỏng nhưng cũng được lành. Chúng tôi đều nhận định rằng chúng muốn đốt cho
chết rồi cho là tai nạn, vì các chòi nằm giữa miếng đất trống thì sao lại có
hỏa hoạn?!!!
Khoảng 5 tháng sau, họ thả anh Giang về. Gia đình từ miền Nam phải lo phương tiện di chuyển anh, sau 1975 gạo còn không đủ ăn, làm sao mà sắm xe lăn. Tôi nghe sau này hình như anh đã quyên sinh vì nghịch cảnh gia đình. Ôi thân phận con người, thân phận của những kẻ chiến bại, dưới nanh vuốt của một lũ bạo tàn nhứt và dã thú nhứt trong lịch sử của nhơn loại.
Và cuộc đời chúng tôi
cứ kéo dài như thế thôi, niềm tin được thả về còn xa lắm, chỉ khi nào sức cùng
lực kiệt, chúng bảo gì nghe đó, sự đối kháng không còn nữa, may ra mới được về,
lúc đó liệu còn sống sót bao nhiêu người đây. Phần cá nhân tôi, có một hôm, tôi
bị sưng chân phải đi cà nhắc, xuống trạm xá được cho làm việc nhẹ. Buổi sáng 1 tên bộ đội vào kêu chúng tôi đi làm, thấy tôi không chuẩn
bị, hắn hỏi tại sao, tôi trả lời đau chân, trạm xá cho làm việc nhẹ. Hắn trừng
mắt, giơ súng lên và bắt tôi đi làm với đội. Tôi phải cà nhắc theo đội để đi
làm. Đứng cuốc đất suốt ngày bằng 1 chân, ngày hôm sau chân kia sưng phù lên.
Thế là tôi phải nằm liệt mấy ngày. Ôi, bạn có hình dung được chúng tôi phải
chịu đựng như thế không?
Sau hơn 3 năm chúng
tôi được chuyển giao cho ngành Công an quản lý. Chúng tôi thuộc loại tù chuyên
nghiệp, được chuyển đến trại A30 ở Tuy Hòa. Trại này tập trung đủ các thành
phần, hình sự, vượt biên, những người bị bắt năm 78, 79 họ gọi là phản động, và
chúng tôi từ các tổng trại 5, tổng trại 8, Trại Lam Sơn, Trại Thanh Bình,
v.v..Cảm nghĩ của tôi khi đến trại này là thôi, thế là cuộc đời gắn liền với
chữ Tù, giống như nhân vật Papillon của Henri Charrière. Ở tù không biết tại
sao mình ở tù, ngoại cảnh đưa đến mà mình không tài nào vùng vẫy được. Hay gần
giống như nhân vật chính trong tác phẩm “Giờ thứ 25″ của một nhà văn Nga tôi
không nhớ rõ tên. Hết ở tù bởi quân Đức, rồi đến Nga, rồi đến Đồng Minh, khi ra
đi thì mới lấy vợ, khi về vợ đã 3 con rồi, mỗi quốc gia một đứa.
Dưới tay Công An quản
lý, thiệt là một sự xảo quyệt của con người, tinh vi đến mức không thể nào diễn
tả được. Ở đây cũng thiếu thốn và đói như những trại khác, nhưng ở đây thì gia
đình thăm nuôi, tiếp tế cho nhận thoải mái. Mục đích của chúng, cứ cho người
nhà thăm nuôi ăn cho no, làm việc cho chúng vượt chỉ tiêu, thì đâu có gì tốt
bằng đâu nào. Các trại khác thì thân nhân thăm nuôi chỉ cho đem quà, bánh, thức
ăn, không cho nhận gạo. Ở trại A 30 này, không tiếp tế gạo cho tù nhơn là một
thiếu sót lớn. Lần thăm ban đầu gia đình tôi không biết, sau mới hiểu ra gạo là
chính. Đến A 30, chúng tôi khai phá những cánh đồng ngút ngàn. Tất cả những
cánh đầm lầy biến thành ruộng xanh ngút tầm mắt, và những cánh đồng mía chỉ
thấy đường chân trời, tầm mắt không thể nhìn hết. Chúng lại lên lớp:
- Ta làm ta hưởng. Lao
động là vinh quang.
Ôi thiệt là bực lỗ
tai. Sao có những con người, chỉ biết nói và không cần thái độ của người nghe.
Chúng tôi làm cho họ hưởng, nếu gia đình chúng tôi không nuôi thì chúng tôi đã
chết đói rồi.
Ở đây có một trường
hợp, anh Đ/Úy Thức đơn vị Dù, tôi không biết Lữ Đoàn mấy vì ở khác lán. Buổi
chiều đi lao động về, anh gặp tên Tr/Tá Hạnh Công An Giám Thị trưởng Trại A 30
hỏi thăm và nói gì đó, sau lên lớp... Vì hắn quá trâng tráo và dối trá nên anh
Thức dằn không nỗi nhảy vào đánh tên Giám Thị trại. Công an phòng vệ đã nhào vô
bắt và đánh anh Thức, không thể nào diễn tả được. Chỉ biết sau khi đánh xong,
chúng bỏ anh vào xe cút kít đẩy vào chỗ biệt giam thì thấy anh như một đống
thịt, máu me đầy mình! Ôi con người đến thế thì thôi! Tôi nghe sau đó họ đưa
anh xuống bệnh viện Tuy Hòa để điều trị và nghe đâu hình như có người bà con
làm lớn ở Hà Nội lãnh anh đem về nhà. Từ đó đến nay, không còn được nghe gì hơn
nữa, không biết anh có còn sống, và nếu như có đọc những dòng này của tôi, thì
xin anh nghĩ, lúc đó chúng tôi rất căm phẫn chúng nó và xót thương anh nhưng
chúng tôi đành bất lực...
Tôi cũng không biết
nói sao, vì mỗi con người có trình độ nhận thức khác nhau, phải nói rằng nếu
nghị lực không đầy đủ thì sẵn sàng làm tay sai cho chúng. Có một ngày, chúng
tôi đang cuốc cỏ thì tên Công An quản giáo kêu tôi ra giữa đám mì, giở trò giáo
đầu là tôi lao động lấy lệ, sinh hoạt không chịu phát biểu, ù lì, là thành phần
chống đối ngấm ngầm, như vậy làm sao tiến bộ, cách mạng xét cho các anh về. Tôi
muốn bật cười nhưng không dám, vì nó đã nhàm với chúng tôi, nghe bao nhiêu năm
rồi. Tôi lặng thinh, hắn nói tiếp:
- Bây giờ anh muốn thể
hiện cho chúng tôi thấy sự tiến bộ của anh thì anh phải theo dõi báo cáo tư
tưởng của anh nào chống đối cách mạng, ai phát biểu những gì bất lợi cho cách
mạng. Báo cáo trực tiếp với tôi, hay bỏ vào hòm thư trước trại.
Tôi phải trả lời hắn
theo sách vở:
- Thưa cán bộ, nhiệm
vụ chúng tôi ngoài việc học tập lao động, tôi còn phải báo cáo ngay nếu phát
hiện được những thành phần nào trốn trại.
Hắn nói:
- Tôi yêu cầu anh báo
cáo những anh nào phát biểu chống đối kìa.
Tôi vâng lấy lệ.
Khoảng tháng sau, hắn kêu tôi ra lần nữa vì không thấy báo cáo của tôi, hắn
hỏi:
- Tôi không thấy báo
cáo nào của anh hết, anh là thành phần ngoan cố, chống đối.
Tôi nói:
- Tôi có để ý một hai
bữa, thấy anh em ai cũng an tâm, đâu có nói gì, thành tôi không có gì để báo
cáo.
Hắn đơn cử một vài lời
nói mỉa mai của vài anh em.
Tôi nói:
- Anh em vui miệng nói
đùa, tôi không để ý.
Thế là hắn lôi tôi ra,
dùng báng súng đập cho một trận. Tôi mang thương tích và nước mắt căm hờn về
trại, cơm nuốt không vào. Không phải đau mà khóc nhưng uất hận làm cho nước mắt
tuôn trào. Tối hôm đó một vài anh em mang thuốc giảm đau và dầu xoa bóp cho
tôi, thật là an ủi. Dầu sao chúng tôi cũng còn có nhiều anh em nghĩa khí và có
tình người.
Bọn hắn cũng có mắt
chọn người lắm. Mỗi ngày chúng tôi đi cuốc đất, cả đội dàn hàng ngang, chỉ tiêu
mỗi người 4 mét chiều rộng và 200 mét chiều dài, chúng chọn một tên kêu ra nói
nhỏ:
- Anh ráng cuốc 250
mét, kỳ sau gia đình anh lên thăm nuôi tôi sẽ can thiệp với trại để cho anh
được gặp gia đình ban đêm.
Ôi, một sự hứa hẹn
tuyệt vời. Tù nhân nào lại không muốn hàn huyên với gia đình sau bao nhiêu năm
dài ngăn cách, bao nhiêu biến cố vật đổi sao dời. Có người suy nghĩ chín chắn
thì thấy là chuyện đau khổ thêm cho vợ mình, có người chuộng vật chất thì cho đó
là 1 đặc ân của Cộng Sản. Thật là 1 thủ đoạn quá tinh vi. Thế là hôm sau, tên
được kêu cuốc vượt trội hơn anh em khác. Tối về họp kiểm điểm chúng nêu ra:
- Anh A cũng như các
anh, cùng sức vóc, cùng tiêu chuẩn ăn uống như nhau.Người ta cuốc được 250 mét,
các anh cuốc có 200 mét, lại kêu không đủ giờ, chứng tỏ các anh làm cầm chừng,
lười lao động. Bao giờ các anh mới tiến bộ đây?
Bắt đầu từ ngày đó,
chỉ tiêu là 250 mét/ngày. Chúng tôi cuốc từ sáng sớm đến chiều tối, tay chân rã
rời, tai như bốc khói. Trên đường đi về trại, thân thể rã rời ngất ngưỡng như
người mộng du, vì sức đã cạn rồi. Chúng tôi chửi thầm, ôi những thằng ngu, nào
dám chửi thẳng vào mặt, nó mà báo cáo một phát là biệt giam, hai chưn vào cùm,
làm bạn với gián...
Ở đây cũng có tổ chức
những đêm văn nghệ, diễn viên là các em vượt biên bị bắt. Các em còn rất trẻ, có em đã bị bắt vào đây đến 3 lần, thật
đáng thương. Họ cho tập dượt, và cho trình diễn những đêm thứ 7, chủ nhật hay
các ngày lễ của chúng. Nội dung hình như chúng tôi gần như thuộc lòng vì xem đi
xem lại, tháng này qua tháng khác. Khi nào tổ chức văn nghệ là chúng lùa hết ra
sân vận động, không được ở lại trong trại. Tôi và anh bạn Thắng đem áo mưa ra
để nằm ngủ, chúng bắt gặp. Thế là hôm sau chúng họp kiểm điểm là chúng tôi không
chịu tiếp thu văn hóa cách mạng, thành phần bướng bỉnh ù lì. Có những trò khác,
bọn chúng mị dân, mà ngay cả một số gia đình chúng tôi cũng nghĩ chúng là nhân
đạo. Thí dụ sau khi cho vợ con thăm nuôi, tiếp tế, tối còn cho gặp. Ngày hôm
sau, gia đình về, chúng đưa sổ cho thân nhân viết cảm tưởng. Chúng đem trình
làng với đồng bào ở ngoài hay các phái đoàn quốc tế viếng thăm. Chúng đem khoe
khoang cũng như phổ biến trong trại, thế thì nhân đạo quá đi chứ, thử hỏi có
thân nhân nào dám viết lời không tốt cho chúng đâu.
Ở trại này, trước khi
chúng tôi chuyển đến, có nghe kể lại một chuyện thương tâm. Là có một số anh em giựt súng tên Công An định bỏ chạy nhưng bị 1 tên
Tr/Tá của ta ôm lại để cho Công An bắn chết 1 hay 2 đồng đội của ta. Cả trại
rất căm phẫn và khinh bỉ tên này. Khi chúng tôi đến trại A 30 thì tên này đã
được bọn Cộng Sản cho định cư vùng kinh tế mới Mai Liên do trại quản lý và được
đem gia đình đến sinh sống vì hắn có công với cách mạng. Tên này là Tr/Tá Lập
trước kia làm Quận Trưởng quận Vạn Ninh, tôi biết vì vợ của hắn có chút bà con
xa với gia đình tôi. Những năm sau, khi được phóng thích về, có một lần tôi ghé
thăm gia đình cha mẹ vợ hắn, thì mới hay việc đời có vay, có trả, thời gian sau
vợ hắn đã bỏ hắn, sống với người khác rồi.
Những khổ hình ở trại
làm sao mà nói cho hết, tôi chỉ ghi lại những điều mình nghe, mình chứng kiến
để bạn đọc suy nghĩ thấy cái bạo tàn, quỷ quyệt của chế độ để đem một chút ánh
sáng cho những ai vì một chút quyền lợi riêng tư mà muốn cái gọi là “hòa hợp
hòa giải với Cộng Sản”. Các bạn có biết, cảnh đời tù tội là đắng cay, khổ nhọc
nhưng cũng có lắm chuyện cười ra nước mắt. Chúng tôi là những thành phần gồm
sinh viên, giáo chức, cán sự hay hành chính bị động viên. Dẫu sao, với xã hội
miền Nam thời đó chúng tôi cũng là thành phần gọi là trí thức chút ít. Từ nhỏ
cha mẹ sinh ra đã hy sinh cho con ăn học những mong cho con mình đỗ đạt, cho
cuộc sống vững vàng, chúng tôi nào có quen cái cuốc, cái cày. Khi bị bắt vào
đây chúng xem bọn tôi như một lũ ăn hại, vô tích sự.
Có một ngày đội chúng
tôi đi cày lần đầu, các bạn có biết, trâu bò cũng quen với ngôn ngữ địa phương.
Ở miền Trung từ Bình Định trở vào, muốn bò quẹo trái thì gọi Thá, muốn bò quẹo
phải thì gọi Dí, muốn chúng dừng lại thì gọi Dò. Còn ở vùng Quảng Trị muốn quẹo
trái thì gọi Tắc, muốn quẹo phải thì dùng Rị, và muốn dừng lại thì dùng Họ. Hôm
đó mỗi người được phát một cặp bò và 1 cái cày, có 1 anh người Quảng Trị cầm
cày và cầm roi điều khiển bò, cứ dùng hết Tắc rồi Rị, bò nó không biết đi đâu,
nó quẹo lung tung. Bò đi mãi gần đến bờ rào đụng nhà dân, anh la Họ...Họ... bò
vẫn đi, hoảng quá anh la: “Stop, stop, stop”. May có vài anh em ra chận bò lại,
chúng tôi có dịp cười nghiêng ngửa. Khi anh chàng trở lại, chúng tôi nói:
- Bò nó đâu có đến trường mà biết tiếng Anh, ông bạn.
Những kỷ niệm đau khổ
cũng như là hạnh phúc của con người đều có giá trị ngang nhau trong tiềm thức,
người ta khó mà quên được. Có những ngày chúng tôi đi làm ruộng tại cánh đồng
tên là Đầm Sen. Cánh đồng đầm lầy bạt ngàn, bỏ hoang lâu ngày từ thời Pháp thuộc,
thật xa xôi và hẻo lánh, bèo lát, điên điển, cỏ dại mọc như rừng, mỗi lần nhảy
xuống ruộng, có chỗ sình ngập lên tới cổ. Và có những đám ruộng nước đĩa ơi là
đĩa... lội như bánh canh. Từ nhỏ tôi cũng như nhiều anh em khác, nói chung môi
trường sống là thành phố, nên thấy đĩa rất là sợ. Lần đầu tiên nhảy xuống
ruộng, thấy nhột nhột nhảy lên, là một vài con bám chân bám đùi, máu chảy tùm
lum. Úi trời ơi, thật là hãi hùng, bắt chúng xong lại nhảy xuống vì nhảy lên bờ
thì AK chĩa vào đầu.
Ngày ấy làm ruộng về,
mặc dù đói, nhưng cơm nuốt không nổi vì tinh thần căng thẳng và hãi hùng quá
mức. Mấy hôm sau, chúng tôi rút kinh nghiệm, chọn bộ quần áo nào mới nhất,
không có chỗ rách, bỏ áo vào trong quần, cột 2 ống chân cho chặt, cột quanh
lưng, cột hai khuỷu tay, nhờ thế mà khi nhảy xuống ruộng, thấy đĩa bơi quanh
người nhưng chúng không bám được nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, chúng
vào tận chỗ kín để cắn, về nhà máu me tùm lum phát khiếp. Cũng có những chuyện
vui đáng nhớ. Số là sau khi khai hoang xong, những đám ruộng bùn quậy lên rất
nhiều cá nên anh em tha hồ bắt. Tôi thì chạm cá rất nhiều, nhưng chẳng bao giờ
bắt được cả. Bắt nó lên là nó vuột, bắt 1 tay cũng vuột, 2 tay cũng không xong.
Chiều về hỏi mấy anh bạn chuyên nghiệp chỉ giùm cho một chiêu làm sao để bắt mà
nó không vuột, anh bạn cười:
- Bắt cá cũng như đi
cua gái vậy, khi đụng nó phải từ từ mò từ đuôi lên tới đầu, khi vị trí của đầu
nằm trong lòng bàn tay rồi, thì dịu dàng nắm lại, thật chặt và thật êm thì
không bao giờ bị mất cả.
Thế là hôm sau theo
cách chỉ dẫn của anh bạn, tôi được mấy bữa bồi dưỡng ngon lành. Có những ngày
làm cỏ ở những thửa ruộng cạn, chúng tôi không tìm được thứ gì để ăn. Vài ba
người, mỗi người vài chú nhái, chiều về “cải thiện”, 1 vài con không đáng là
bao, người nọ dồn cho người kia để ăn cho đủ. Các bạn biết sao không? Cho thì
tiếc, bèn oảnh tù tì ai thắng thì ăn hết, ai thua thì nhịn. Ôi con người khi
tới tận cùng đất đen rồi thì mới nhận chân được giá trị của nó. Chuyện đã 28
năm rồi, nhiều khi tôi nghĩ mình cũng nên quên đi để sống những ngày còn lại
của cuộc đời. Nhưng thỉnh thoảng quá khứ lại hiện về, không sót 1 chi tiết nhỏ
nào. Có những đêm ác mộng hãi hùng, bị đánh, bị tra tấn và những cơn trốn chạy
dưới lằn đạn AK của chúng. Khi tỉnh dậy tinh thần bàng hoàng, đầu óc ngây ngô.
Và không biết đến bao giờ tâm trí mới được bình yên đây. Đọc qua lịch sử biết
bao sự hưng vong của chế độ Đinh, Lý, Trần, Lê... Biết bao nhiêu thi nhân đã
tiếc thương một thời quá khứ êm ấm, thanh bình.....
Tạo hóa gây chi cuộc hý trường,
Đến nay thắm thoát mấy
tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn
thu thảo,
Ngõ cũ lâu đài bóng
tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng
tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với
tang thương,
Ngàn năm gương cũ soi
kim cổ,
Cảnh đấy người đây
luống đoạn trường.
Hay:
Nhớ nước đau lòng con
quốc quốc.
Thương nhà mỏi miệng
cái gia gia…
(Bà Huyện Thanh Quan)
Hoặc:
Khắc khoải đưa sầu giọng lửng lơ
Ấy hồn Thục Đế thác
bao giờ
Năm canh, máu chảy đêm
hè vắng
Sáu khắc hồn tan bóng
nguyệt mờ
Có phải tiếc Xuân mà
đứng gọi
Hay là nhớ nước vẫn
nằm mơ
Đêm đêm ròng rã kêu ai
đó
Giục khách giang hồ dạ
ngẩn ngơ.
(Nguyễn Khuyến)
Vận nước đã đổi thay,
quê nhà chìm đắm trong cảnh bất công. Giới thống trị thì vàng son rủng rỉnh, xe
pháo dập dìu, người dân còn lại phải vật lộn với cuộc sống đầy gian nan mới đủ
cơm ngày hai bữa, và còn phải lo thuốc thang khi đau yếu. Không hiểu tiền nhân
có đau khổ như chúng ta không? Nếu có thì chỉ có sự thay đổi thể chế xã hội và
đau nỗi mất nước, không đến nỗi phải lưu vong như chúng ta, trên 15.000 dặm
đường chim bay, xa hơn một nữa vòng trái đất. Muốn tìm một chút tình cảm thân
thương nơi cha, nơi mẹ, nơi anh em, nơi bạn bè hay người thân thật là khó vô
vàn. Thật là:
Đau lòng tử biệt sinh
ly,
Muốn cho tái ngộ chỉ
nhờ mộng trung...
Chúng ta đã may mắn
thoát khỏi ách bạo tàn, dung thân ở xứ tự do. Tuy không dễ, nhưng chúng ta có
đầy đủ quyền tự do của một con người được pháp luật bảo vệ. Quê nhà còn biết
bao người thân đang trầm luân với cuộc sống đọa đày và bất công, chỉ
hy vọng chút tin vui khi có con cái, hay anh em gửi về chút ít quà hay tiền để
mạch máu đang chảy không bị cạn... bởi một lũ vô thần, tham lam, ích kỷ và tàn
bạo.....
Với những dòng này,
mong đóng góp chút ít tư liệu về cuộc chiến, và những gương hy sinh của các Sĩ
Quan QLVNCH, những anh hùng không tên tuổi đã nằm xuống trong cuộc chiến, để
giữ gìn miền Nam êm ấm thanh bình gần 3 thập niên từ sau 1945-1975. Và để cho thế
hệ sau phân tích sự hy sinh gian khổ của cha ông. Và cũng mong quê hương dân
tộc sớm khỏi ách bạo tàn của một lũ người vô thần thống trị, và mãi mãi thanh
bình trong chiều hướng tự do dân chủ.....
Võ Đức Nhuận
(Đây là những nhân vật có thiệt trong chặng đường chiến đấu cuối cùng, và những trại tù man rợ nhứt đã đi qua).

No comments:
Post a Comment