Tuesday, June 2, 2015

16 Lý Do Để Ghét Việt Nam - Reasons to Hate Vietnam

 Craig Heimburger, tác giả bài viết "Reasons to Hate VietNam" 

Giới thiệu: Tác giả của bài viết này là một anh Tây ba lô sang Việt Nam du lịch với vợ. Kỷ niệm sốc văn hóa của anh đã khiến anh viết bài  16 reasons to hate Vietnam.

Mời click vào link dưới đây để đọc nguyên văn tiếng Anh
  1. Sự gian dối
  2. Kiểu nói thách giả cả
  3. Tiếng ồn
  4. Ngôn ngữ
  5. Giao thông
  6. Phí xin thị thực để vào Việt Nam
  7. Những tòa nhà mỏng
  8. Cách người Việt làm cản trở lối ra vào trước cửa hàng
  9. Tôm hùm
  10. Cái ghế nhựa, con gián và bệnh dịch tả
  11. Cái mũ cối (mũ bộ đội)
  12. Tài xế taxi ở Việt Nam
  13. Món ăn ở Việt Nam
  14. Sự vô ý vô tứ (vô ý thức)
  15. Khả năng về kiến thức và thông tin kém của người Việt
  16. Sự khác biệt văn hóa, góc nhìn cá nhân
Ôi, Việt Nam, sao tôi ghét đất nước này như thế… Để tôi liệt kê vậy…


Lý do số 1: 

Tôi ghét sự gian dối ở Việt NamTôi thật mệt mỏi bởi bị lừa lọc. Nó duờng như là thói quen phải có của nguời dân xứ này.

Tôi bị lừa khi tôi hướng dẫn cho người lái xe bus đưa chúng tôi từ sân bay tới một khách sạn mà tôi đã đặt phòng truớc. Khi đến nơi tôi thấy có một nguời đàn ông chạy ra bảo rằng khách sạn đã hết phòng và yêu cầu tôi đến một khách sạn khác ở một cái góc loanh quanh nào đó. Tôi bị lừa khi muốn nhận lại một chiếc ba lô không quan trọng lắm mà tôi đã bỏ quên ở một khách sạn Hà Nội, tôi thấy chiếc ba lô đuợc cột lại ở một góc phòng duới chân bàn trong phòng tiếp tân cùng với việc một nhân viên cứ cố moi ở tôi 30$ cho việc giữ đồ trong vài ngày đó. Chúng tôi bỏ đi, bỏ luôn chiếc ba lô và không chi trả gì hết.

Tôi thường bị lừa như một kẻ ngốc, thật đơn giản bởi những ngón nghề vớ vẩn tầm thường. Như là lúc tôi mua mấy tấm thiệp hay hay ở một cửa tiệm nhỏ ngoài khu dành cho du lịch. Tatiana có hỏi cách làm những tấm thiệp đó, và người phụ nữ bán hàng đã ra hiệu rằng do chị ta tự làm bằng một con dao. Hoàn toàn bịa đặt, bởi tôi thấy được hầu như cả những vạch in còn lại từ máy laser khi thiệp được sản xuất với số lượng hàng lọat. Tôi cũng cho rằng cô ta đã dán mảnh giấy barcode đằng sau tấm thiệp, phải vậy không hả!?
Lừa đảo. Thật quá nhiều bọn lừa đảo dơ bẩn.


Lý do số 2: Tôi ghét kiểu nói thách 2 mệnh giá cả ở Việt Nam

Mặc dù ở nhiều nước khác cũng phổ biến, nhưng giá cả dành cho người nước ngoài thay đổi xoành xoạch thể hiện rõ nhất ở Việt Nam. Cùng một chuyến đi, khách du lịch phải trả 100 ngàn đồng, hãy hỏi một người Việt Nam ngồi cạnh thì họ trả có 80 ngàn đồng. Tôi có mặc cả khi mua hoa quả, nhưng cái giá cuối cùng tôi trả vẫn cứ cao gấp đôi so với gánh hàng bán bên cạnh, bởi người bán đã thổi phồng giá gốc lên 400%

Mặc dù là điểm chung trong nhiều quốc gia nhưng nguời ngọai quốc rất dễ nhận ra tại Việt Nam. Hầu hết người nước ngoài được coi là mục tiêu cho họ cơ hội. Cùng một món hàng du khách phải trả 100,000 đồng trong khi dân địa phuơng chỉ phải trả 80,000 đồng. Theo lời ông Nguyễn Hữu Việt, trưởng phòng bộ phận du lịch Hà Nội, bán thách giá cho du khách nước ngoài không hẳn là một kiểu lừa lọc, nhưng nó là một phần “văn hóa”.
Đây là một trích dẫn về bài báo (Giá cả không hề ổn định) The price isn’t quite right:

“Khách du lịch người Mỹ và người Nga rất hào phóng, nhưng hào phóng nhất vẫn là khách hành từ Nhật Bản, họ hầu như không mặc cả gì hết” Thu Hương người làm việc trong một sạp lưu niệm nhỏ ở phố cổ nói. “Thậm chí với cái giá cao hơn gấp 10 lần, khách hàng người Nhật vẫn coi vậy là rẻ. Nhưng người Ý hay Đức họ chỉ xem và cười.”
 Vô tư hơn nữa với những khách du lịch lọai này được coi là “gà béo”, đây là một từ lóng dành cho những người mua phải cái giá 100$ cho một chiếc đồng hồ nhái Rolex của Trung Quốc trị giá chỉ 10$ hoặc 40$ cho một chuỗi hạt ngọc trai nhân tạo chỉ với giá 5$.

“Thành thật mà nói tôi không quan tâm lắm tới những tiệm lưu niệm hay là hoa quả khi họ cố lấy thêm chút tiền từ khách nước ngoài, việc mặc cả hàng hóa giống như một phần của trò chơi vậy” – Daniel Lewenstein luật sư người Mỹ thường qua lại và sống ở Việt Nam suốt 10 năm qua đã nói vậy.

 “Nhưng thực sự là rất phiền khi giá cả đã được ấn định, và người ta cứ cố tìm cách móc túi du khách, như lần trước tối tới sân bay Nội Bài, người lái taxi cứ cố đòi ở tôi 280 ngàn VND cho chuyến đi vào thành phố trong khi giá đề rõ trên biển là 150 ngàn đồng.”

Lý do số 3 : Tôi ghét sự ồn ào ở Việt Nam
Có vẻ như đất nước này phát triển hay gia tăng mọi kiểu cách để hủy hoại môi trường bằng tiếng ồn. Cấp độ âm thanh đạt đến đỉnh điểm trên đường phố, nơi tôi phải bịt lỗ tai lại chỉ vì tai tôi chỉ còn lại những tiếng “eeeeeeeeeeeeing” khi tôi về lại khách sạn.
Hàng trăm hàng ngàn thứ âm thanh xe cộ ầm ầm như như xe không đuợc gắn ống bô trên mọi con đường. Còi xe máy thì kêu liên tục bởi mọi nguời lái xe gắn máy, trung bình cứ 5 đến 7 giây như vậy. Họ bấm còi khi vượt qua người khác, bấm còi khi quay xe, bấm còi sau khi đi đái, bấm còi khi vui vẻ, bấm còi khi người ta đi chậm, họ bấm còi ngay cả lúc họ đi ngược chiều, họ bấm còi chỉ để khoe cái còi đặt chế của họ, và họ bấm còi chỉ vì người khác cũng bấm còi. Tôi nhìn và lắng nghe thì thấy họ cứ bấm còi xe khi họ rẽ vào đại lộ. Ở Hà Nội, lúc nào trong ngày bạn cũng nghe thấy tiếng còi xe, không cần biết là ở đâu hay ngay trong phòng khách sạn.

Ở Hà Nội loa phường được đặt khắp mọi nơi phát thanh nhiều lần trong ngày, cứ nhồi vào tai người du lịch và dân cư cho tới khi cái tai phải chảy máu. Những bản phát thanh cả giờ đồng hồ về tin tức, thời tiết và thông tin quảng cáo thật sự quá lớn, nó át cả tiếng còi xe. Thật là ồn lắm.

Điều cuối cùng bạn thực lòng muốn có ở đất nước này chính là một căn phòng khách sạn ở mặt đường, đặc biệt là khi bạn có một chiếc loa phuờng gắn vào vào tòa nhà, làm bạn tỉnh giấc vì chói tai vào 7h sáng với một thứ âm thanh ồn ào bởi một thứ ngôn ngữ khó chịu.
Giữa sự ồn ào của xe cộ, công trình xây dựng liên miên, tiếng Việt và những quán Karaoker, tôi cảm thấy thật ghen tỵ với những người bị điếc.


Lý do số 4: Tôi ghét tiếng Việt

Cách diễn tả hay nhất về tiếng Việt là nó nghe giống như tiếng mèo nó rú nó gào khi nó đang ăn mà bị ai chọc phá….”meruughh-meowruugh-rruughh.” Còn giọng nguời đàn ông thì nghe giống như tiếng vịt đực của một thằng cha bị bệnh tâm thần.


Lý do số 5: Tôi ghét giao thông ở Việt Nam và sự **** khổ khi đi bộ

Hơn một triệu rưỡi xe mô tô ở Hà Nội và hơn bốn trăm ngàn xe ở các vùng phụ cận – với chỉ số tăng trưởng 14% hàng năm. Đéo mẹ nó sao nhiều xe gắn máy thế! Số lượng xe cộ đông đúc như thế như một minh chứng cho tình trạng nguy hiểm của người đi bộ.

Những lối đi cho người đi bộ bị nêm cứng bởi những người bán lẻ và các hộ gia đình ở đây khi họ cố tình lấn chiếm lòng lề đuờng để nới rộng thêm diện tích sử dụng ở tầng duới đuờng với mục đích kinh doanh. Điều đó đồng nghĩa với việc người đi bộ phải đi vào phía đuờng xe chạy. Lúc nào họ cũng có thể cảm nhận được gió tạt ngang gần như bị té khi bị những chiếc xe gắn máy hoặc ô tô vượt qua.

Ở đây thực sự có rất ít lối băng qua đường dành cho người đi bộ. Kể cả khi có, nó cũng chẳng giúp giảm thiểu nguy cơ tai nạn cho người đi bộ bị gây ra bởi xe cộ, và ngay cả khi tín hiệu qua đường cho người đi bộ bật xanh, họ vẫn phải lưu ý những xe cộ rẽ vào hoặc từ hướng trái, hoặc từ hướng phải.

Việc băng sang đường, dù có hoặc không có đèn đuờng, cũng có thể ví von như cảm giác mình đang đóng phim Indiana John khi nhảy xuống vực từ miệng hang Đầu Sư Tử “Indiana Jones jump from the Lion’s Head Leap of Faith”. Nếu ví luồng giao thông như một dòng sông chảy xiết, thì khi đó bạn chỉ như một hòn đá chuyển động chậm chạp, luồng giao thông sẽ tẽ ra khi bạn di chuyển.

Việc này đã gây ra mối bất an cho Tatiana vào ban ngày, khi em lo sợ cho sự an toàn của đứa trẻ đang nằm trong bụng mỗi khi em phải liều lĩnh ra khỏi khách sạn. Đối với Tatiana, việc đi lại ở đây là một thử thách lớn. Em cảm thấy hoang mang khi phải nghĩ đến việc bị đâm bởi một xe máy chạy ẩu và những hậu quả xảy đến sau đó cho đứa con trai chưa sinh của mình. Tôi lúc nào cũng phải giữ chặt tay em, đứng giữa em và luồng xe đang chạy đến, giống như kỹ thuật che chắn bằng hình nộm người. Tôi không thể trách cứ em vì em có thói quen dừng lại khi xe cộ nó tuởng như nó đang đâm xầm vào nguời em, phản ứng đó hòan toàn sai.

Chúng ta coi chừng sẽ bị tai nạn. Không được dừng lại. Không được chạy. Điều đó đã thành luật. Bạn phải thoát khỏi nỗi sợ hãi như thể bạn sắp phải nhảy ra khỏi máy bay và tin rằng mọi thứ vẫn tốt đẹp.
Tôi có quay lại một đoạn phim ngắn để thấy xe cộ hằng ngày ở đây như thế nào và bạn phải cẩn thận như thế nào khi đi bộ ở đây. Trafics in Vietnam


Lý do số 6: Tôi ghét giá cả làm hộ chiếu nhập cảnh vào Việt Nam

Tôi ghét giá là bao nhiêu khi khi làm hộ chiếu vào quốc gia này, và để có đuợc giá rẻ hơn một chút thì tôi phải đau thốn cái lỗ đít như thế nào!


Lý do số 7: Tôi ghét những tòa nhà ốm nhách ốm nheo ở Việt Nam

Bạn phải trèo lên những cầu thang có những nấc thang dài đến vô tận. Nguời Việt thích xây dựng khách sạn có chiều rộng như một phòng ngủ độc thân nhỏ làm tôi muốn dẹp mẹ nó đi cho rồi. Tôi buộc phải thuê phòng sang hơn nhưng chúng ở tầng thứ 8 mà Tatiana thì đang có bầu gần 7 tháng nên chỉ cần leo đến tầng thứ 3 là nàng dường như muốn bị trúng gió.


Lý do số 8: Tôi ghét cái lối nguời Việt làm cản trở lối ra vào các hàng quán

Cái thói quen dân tộc tánh của việc đậu xe gắn máy chóan hết cả lối đi vào ngay truớc cổng hàng quán, nhà hàng mà tôi muốn đi vào làm tôi muốn phát điên lên. Sự thiếu suy nghĩ và mất lịch sự đối với nguời khác đuợc thấy rõ nét trong cách thức đậu xe ngoài đuờng phố. Chen lấn xô đẩy để tìm lối đi bất kể nào đó đuợc xem như là sự thành công của chính mình.

Tôi nhận ra rằng không có bất cứ chổ nào dành cho bất cứ ai hay bất cứ cái gì trong điều kiện giao thông **** nạn ở cái quốc gia này, không phải ai cũng chỉ nặng có 43 kg như một thằng cha Ninja mà có thể di chuyển dễ dàng ở đây – hãy nhìn xem Tatiana với cái bụng bầu chình ình thì hiểu đuợc nàng coi như bị cấm di chuyển ở đây.


Lý do số 9: Tôi ghét món tôm hùm ở Việt Nam

Tôi tin rằng tôi thật sự nhận đuợc món ăn giống như tôm hùm với giá $3, nhưng tôi đã ở vùng vịnh Tokin rồi nên tôi biết hải sản là món ăn chủ yếu trên menu. Vừa mới ra khỏi bát quái trận đồ rồi, tôi nghĩ như thế!

Những gì tôi đuợc ném trên dĩa là một con quái vật dạng con tép và con tôm như tôi đã từng thấy kèm nuớc sốt chua ngọt nằm trên dĩa đồ biển. Tôi không dám nhìn khi Tatiana khều ra những miếng thịt vụn dấu trong bộ xuơng con tôm.
Đây là đọan video diễn tả sự bực cái mình của tôi: Tôm Hùm


Lý do số 10: Tôi ghét cái ghế, con gián và bệnh dịch tả ở Việt Nam

Tôi biết rằng dân Việt nhỏ con nhưng tại sao tôi lại thuờng bị buộc khi đang ăn thì phải ngồi trên cái ghế dành cho trẻ con 4 tuổi?
Gián trên khắp đuờng phố, gián trên các phuơng tiện di chuyển, gián trong đồ ăn đã đuợc nấu. Đúng là đồ khùng cả lũ. Chẳng ngạc nhiên chút nào khi quốc gia này vẫn còn bệnh dịch tả.
Trích nguồn tin từ Hà Nội (Reuters):

Bệnh dịch tã hoành hành tại miền bắc Việt Nam với trên 200 nguời bị bệnh.
Báo Nhân Dân, một tờ báo quốc doanh của đảng cộng sản ghi chú lời nói của bộ truởng y tế Nguyễn quốc Triệu có trên 1,600 nguời bị ói mữa và ỉa chảy, 200 nguời trong số họ bị nhiểm vi khuẩn dịch tả từ 23 tháng 10. Những báo cáo không thấy nói gì đến xem có ai bị chết vì ỉa chảy cấp tính trong 13 tỉnh thành trong số 64 tỉnh thành ở Việt Nam. Đuợc biết bệnh dịch tả lan rộng khắp nuớc năm 2004.

Lý do số 11: Tôi ghét cái nón cối thuờng đuợc dùng ở Việt Nam
Nón cối ở Việt Nam được đội giống như nón chơi baseball ở Mỹ. Đàn ông con trai mọi lứa tuổi thuờng xuyên đội nón cối. Hình ảnh đó làm tôi xốn xang bực bội con mắt, có cảm giác như tôi đang ở sau trận tuyến quân thù, bị bao vây bởi quân đội bắc Việt Nam – và trạng thái tôi lúc đó, tôi có lẽ sẽ không ngần ngại luợm cây súng lên chỉa vào hình ảnh đầy gây hấn như thế, chỉ là để xem cái vật tuợng trưng cho Việt cộng của một cuộc chiến đã qua rớt xuống duới đất.


Lý do số 12: Tôi ghét tài xế tải ở Việt Nam

Tôi không phải là một thằng ngốc với taxi. Cửa xe, kiếng chắn xe luôn luôn khóa chặt và tôi thường thường xem bản đồ đường đi nước bước cho đoạn đường tôi muốn tới trước khi tôi gọi taxi. Khi người ta không chú ý họ thường bị lường gạt, bị bị ăn chận, hay tệ hơn thế nữa. Tài xế taxi nước nào cũng thế toàn bọn đá cá lan dưa.
Ở Việt Nam, thật sự là nơi tệ hại nhất cho mỗi cuốc taxi. Đây là một quốc gia được biết chuyên gắn đồng hồ tính giờ giả mạo (mà đếm giờ phút cao hơn). Mẹ kiếp, người ta luôn tìm mọi cách trấn lột bạn trên đường phố thì không có lý do nào tài xế taxi lại không ngoại lệ.

Tôi cho bạn biết bằng cách nào mà một tài xế taxi tính tiền tôi đến trên 8 phút cho đoạn đường 2km lòng vòng Phố Cổ thay vì lái trực tiếp thẳng đến địa điểm chúng tôi muốn đến. Tôi kêu hắn ta dừng lại nửa đường, và nhìn xem hắn ta nói cho biết vì xe cộ đông đúc nên không cho phép xe đi thẳng mà phải chạy lòng vòng. Tôi biết thừa rằng có nhiều dịp cho hắn nếu hắn ta muốn đi thẳng. Người ta cứ chạy lòng vòng và giả đò không biết đường đi đến (cũng có thể họ ngu như thế).

Khi chúng tôi biết thừa ra rằng đoạn đường như thế chỉ giá 18,000 đồng, và cái đồng hồ, và địa điểm đến của chúng tôi nói giá 25,000 đ, 48,000 đ, hay 55,000 đ. Chúng tôi từ chối trả tiền theo như họ đòi và chúng tôi ném tờ giấy 20,000 vào mặt tài xế rồi bỏ đi. Hắn ta không chịu rồi chạy bộ đuổi theo chúng tôi.

Chúng tôi gọi cả 2 hãng taxi, hãng mắc tiền và rẻ tiền nhưng kết quả đều tuơng tự. Chính sách hiệu quả nhất là kệ mẹ họ nói gì làm gì mình cứ trả đúng số tiền mà mình nghỉ là công bằng nhất không cần biết cái đồng hồ tính tiền nằm trên cái dashboard nó ghi bao nhiêu kệ mẹ bọn nó.


Lý do số 13: Tôi ghét món ăn ở Việt Nam

Những món ăn Việt ngon nhất mà tôi từng nếm qua thì không thấy có ở Việt Nam. Taniana có gấp đôi cảm nghĩ của tôi như thế.
Tôi biết miền Nam rất khác với miền Bắc, nhưng nguyên tắc là “nếu thấy nghi ngờ, hảy thử trước cái đã xem sao” nhưng rất khó mà tin được ở một nơi nào khác trên đất nước này có chỗ ăn khá hơn.
Rất dễ ăn luôn 3 bữa món ăn Thái mỗi ngày cho cả tháng, nhưng khó làm được như thế nếu ăn món Việt ở Việt Nam.


Lý do số 14: Tôi ghét thói vô ý vô tứ của dân Việt Nam

Có nhiều dị biệt giữa du khách và dân địa phuơng ở quốc gia này. Tatiana than phiền với tôi rằng nàng rất ghét khi người ta đụng chạm đến người nàng. Nàng hiểu rằng đó là một phần của dân tộc tính khi nắm tay, kéo tay người ta trên đường phố để mời chào người ta mua hàng.
“Tôi hiểu tại sao họ làm thế, nhưng tại sao họ không chịu hiểu cho điều đó làm tôi khó chịu?”

Với tư cách cá nhân tôi không cho phép làm như thế từ một tên ăn mày hay một tên đội cái nón cối. Tôi đã vỗ tay xua đuổi cách chừng vài phân vào mặt một người đàn ông để chứng tỏ quan điểm của tôi – thay vì vỗ vào mặt hắn ta, giống như Tatiana đã làm trong một đêm nọ với trường hợp tuơng tự.
Tatiana cũng ghét nhân viên bán hàng trong tiệm cứ đi theo đuôi nàng quá gần “rằng nàng cảm giác hơi thở của hắn ta trên cần cổ”.


Lý do số 15: Tôi ghét sự thiếu khả năng về kiến thức, thông tin, hay sự diễn đạt vấn đề của người Việt

Như tôi đã từng nhắc đến trong bài trước, nhưng không phải từ nước Ba Tây về sự thiếu khả năng giao tiếp , nói chuyện. Tôi nhấn mạnh đến việc trách họ về sự thiếu khả năng diễn đạt ý tưởng luôn cả bằng tay – vì người Việt thường không nói chuyện bằng tay – và sự thiếu thông minh tổng quát. Vâng, phải rồi! Tatiana và tôi nghĩ phần nhiều họ thuần túy dưới mức trung bình trong khoa bệnh tâm thần. “Nhiều trong số họ rất tốt, nhưng bọn họ ngu đần như những hòn đá.” Tatiana nói như thế.

Đầu tiên là nỗ lực thất bại của tôi để tìm ra một trong số vật cổ nhất trên một vùng đất nào đó của thế giới mà vùng đó có đầy món này ra: Đó là một cái chày và cái cối – Một dụng cụ dùng để xay, tán nhuyễn, và trộn lại một chất liệu nào đó.

Tôi muốn xay những viên thuốc bổ cho Tatiana uống vì nàng không nuốt nổi những viên thuốc to, thay vì cứ nhìn nàng lấy kéo cắt nhỏ ra rồi hòa với nước mà uống. Tôi quyết định tìm mua một cái cối và cái chày để nghiền thuốc ra.

Bộ tự điển Bách Khoa nói rằng chày và cối xuất hiện trên trái đất cách đây hàng triệu năm và trong nhà thuốc thì họ gọi là “chày và cối” , nguyên thủy được dùng trong nhà bào chế thuốc, cái cối cái đầu của cái chày thường đuợc làm bằng sành trong khi thân chày làm bằng gổ.
Con bà nó, tôi đã đi không biết cơ man nào là tiệm thuốc tây, siêu thị đễ tìm mua nó. Ngay cả hỏi trung tâm du lịch ở Phố Cổ, tại nơi này tôi được hướng dẫn đến một địa điểm bán hàng ma ngay cả siêu cũng không thể có.

Ở tất cả các tiệm thuốc tây tôi ra sức diễn tả món tôi muốn mua, nào là “thuốc viên” “thuốc vo viên” “thuốc” và “bột”. Một tay tôi ra dấu là cái ly, tay kia như nắm đấm và làm động tác xay tròn. Tôi đã tra tự điển Anh/Việt từ “xay” và diễn tã cho người bán hàng biết, thế mà họ chẳng hiều cái gì cả.

Một lần thử thứ 2 của tôi là khi Tatiana bị ngứa, ngứa bụng vì có bầu. Chúng tôi đi từ thuốc tây này đến thuốc tây nọ, cố tìm ra kem trị ngứa. Ở một tiệm nọ, nàng cố gắng giải thích món nàng cần tìm. Nàng đã viết xuống tên cảa loại kem đó – Caladryl. Tên này được viết khắp mọi nơi, nhưng ngừa phòng trường hợp, nàng cũng dùng cái tên khoa học, hydrocortisone.

Nhân viên bán hàng cái mặt ngớ ra, vì thế Tatiana giả làm như bị ngứa rồi gãi ở ngay phía cái bụng bầu. Đứa con gái bán hàng nói: “Bà có bầu hả?” Và Tantian gật đầu nhanh nhẹn trả lời nghỉ rằng cô gái đã hiểu. Và đúng là đồ giống lừa gì đâu không á, ngu như lừa, cô gái đưa cho Tatiana hộp thuốc… ngừa thai.


Lý do số 16 – cảm nghĩ cá nhân: Cảm tưởng cuối cùng về một quốc gia mà tôi… một thời để Ghét!

Tôi đã tới Việt Nam như nhiều quốc gia khác- với tấm lòng cởi mở trong tâm trạng hiếu kỳ. Những ý kiến mà tôi nói ở trên phản ảnh trực tiếp đến kinh nghiệm mà tôi đã từng gặp từ con người và điều kiện sinh hoạt của quốc gia đó. Thật là kỳ lạ khi gặp phải những điều bực bội như thế, nhưng đồng thời bên cạnh đó bạn đọc cũng nên biết đến những điều tuyệt vời làm hài lòng khách phuơng xa.
Một ngày nọ, tôi kinh ngạc đến lặng người khi người bán hàng ở Hà Nội trao vào tay tôi một nắm tiền rồi họ bảo rằng tiền này là tiền họ đã tính quá lố trong lần tôi đến mua hàng cách đây 2 ngày và bây giờ họ muốn trả lại. Tuyệt vời, tôi đã dùng số tiền này để mua thêm thực phẩm từ cửa hàng của họ.

Tôi cũng rất hài lòng khi thuơng lượng để tìm được phòng trọ rẻ hơn ở Bangkok. Bạn phải nỗ lực hơn nữa để có thể có được phòng trọ bao gồm luôn WiFi, tủ lạnh, phòng tắm, nước nóng, giường chiếu lớn hơn, truyền hình trực tiếp từ vệ tinh và dĩ nhiên phòng gắn máy lạnh với giá từ $7-13 US.


Thật là thú vị khi nghĩ rằng bạn có thể thả bộ lang thang thoải mái giữa lòng thủ đô của một nước vừa mới bị tàn phá bởi chiến tranh cách đây không lâu lắm. Đúng đó quý vị, tôi là một người Mỹ đang ở Hà Nội.

Tôi thật sự thích thú 1 chút khi thấy món thịt nướng trên lò than/thịt nướng vỉ trên những lối đi dành cho bộ hành. Vào ban ngày ở một góc đường nào đó bạn thấy vắng vẻ trống trơn như vào đêm khi trời vừa tắc nắng bạn sẽ ngửi được mùi xào nấu thơm lừng.

Và một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi trong những ngày ở Việt Nam là khi gặp gở được bạn gái cũ của Aaron, bạn tôi. Nàng ta trông ngọt ngào, thông minh, ăn nói duyên dáng và là một nhà văn nhà báo hạng quốc tế, cũng không dễ dàng gặp được nàng ta vì nàng thường hay đi Mỹ hay Thailand.

Tatiana và tôi rất vui mừng có được nàng trong đêm hội ngộ đó. Nàng phục vụ chúng tôi ăn uống no say đến tràn họng. Nàng cũng hiểu rõ tất cả những điều phiền toái mà tôi đã gặp phải và kể ra ở trên. Nàng tìm mọi cách để làm cho chúng tôi quên đi đồng thời tha thứ cho những chuyện đó – phần nhiều là như thế. (Ghi chú của người dịch -“almost” trong câu này có vẽ nghĩa là ông ta đã quên và tha thứ nhiều chuyện nhưng vẫn giữ lại… một ít chuyện …đến chết tuyền đài chưa tán!)

Tôi không thê nói đến tôi đã từng giới thiệu đến du khách viếng thăm quốc gia này cho bất kỳ ai. Nếu bạn có ý dịnh tò mò muốn khám phá cái gì mới mẽ thì đó sẽ là kinh nghiệm cho chính bạn, ngoài ra chẳng có gì khác. Tôi không thể kể ra đây hết được vô số những điều bực xà bội mà tôi đã từng chịu đựng. Vì thế bạn cứ đi đi rồi biết, hãy đi Việt Nam chừng vài ba tuần lễ gì đó để rồi khi trở về… trở về … chàng về… chàng về nay đã… cụt chân… ưu ừ!!! (nguyên văn “return home with enough horror stories to choke a small horse.)

Tác giả: Khuyết danh

Tựa Vai Tháng Sáu Ngủ Quên - Đỗ Công Luận

Tháng Sáu Father's Day Và Ba Tôi - Nguyễn Thị Thêm



Rất nhiều lần tôi muốn viết về ba của tôi, tôi nhớ và thương ông nhiều lắm. Ngược lại tôi cũng là đứa con gái ông cưng nhứt nhà.


Mỗi khi nghĩ đến cha thì hình ảnh hiện ra trong đầu tôi là một người cha đạo mạo và nghiêm khắc. Tôi không muốn như vậy. Tôi muốn ông cười, nụ cười thật từ ái và hiền lành. Tôi muốn ông đọc những dòng tôi viết về ông rồi cười thật tươi, thật sảng khoái như mọi lo âu, phiền muộn về đời sống theo gió bay đi.

Không gian chỉ có hai cha con, thời gian như quay lui lại. Tôi chỉ là đứa con gái nhỏ xíu ông hí hoáy cắt tóc húi cua như mấy người anh.

Ngày Tết, tôi ngồi trên bình xăng chiếc xe mô tô đen ông lái. Cái áo đầm ông mua cho tôi còn mới tinh. Sợi dây chuyền vàng mặt hai con chim tranh nhau trái đào, cây kiềng vàng cứng ngắt làm cổ tôi vướng víu. Mấy cái này đích thân ba tôi đeo vào cho tôi. Kể cả đôi khoen vàng đeo tai ông cũng tự tay mang vào cho con gái. Tôi ra dáng một cô con gái nhà giàu mỗi khi Tết theo ba về ngoại đốt nhang ông bà. Tôi nhớ mấy đứa con dì Bảy tôi, đứng lấp ló sau tấm vách tre len lén nhìn, ra vẽ rất thèm thuồng.

Ba tôi cưng tôi như vậy đó vì ông chỉ có tôi là con gái một. Mỗi ngày, sau khi ăn cơm xong, ông cần ngủ một giấc buổi trưa để chiều còn đi rước dân cạo mũ. Ông hay bắt tôi nhổ tóc trắng. Cứ đếm sợi để nhận thưởng. Tôi ngồi nhổ tóc sâu cho ba mà gục xuống ngủ lúc nào cũng không hay. Khi thức dậy ba tôi đã đi làm và đầu tôi nằm trên chiếc gối của ông. Thì ra đó là cách ông dỗ tôi ngủ trưa.

Ba tôi không uống rượu và không đánh bài, ngoại trừ ngày Tết. Và ông chỉ chơi đúng 3 ngày Tết rồi thôi, không ham mê cờ bạc như những người khác. Tuy nhiên chỉ chơi ba ngày thôi mà má tôi cũng đã đứng tim vì ông.

Ngày Tết dân phu thường được nghỉ nhiều ngày để chờ cao su thay lá mới. Do đó nhiều việc ăn chơi giải trí được mở ra. Trong đó có sòng tổ tôm và đánh chắn. Đa số dân phu, cai, đội ở đây đều là người Bắc, được Tây tuyển phu vô Nam khai phá cao su để lập đồn điền. Ba tôi chơi khá lớn. Ông đặt một lần, nếu thua thì bỏ tiền ra đặt lại. Nếu thắng, ông không lấy tiền vào. Ông để vậy đặt tiếp. Thắng đặt tiếp nữa. Nếu hên tới lần thứ tư chủ cái phải kêu ông lấy vào, đặt nhỏ lại. Cho nên khi ông thắng bài thì tiền nhiều lắm. Còn thua chỉ vài ván là ông sạch túi bỏ đi về. 

Má tôi rất tội nghiệp, bà bán thức ăn, khô mực nướng và các đồ nhậu gần đó. Bà hồi hộp mỗi khi ông chơi, bà không dám nhìn cũng không dám lại gần vì sợ ba tôi la. Thỉnh thoảng bà kêu tôi :


- Chín! Qua coi ba con ăn hay thua. Có còn tiền không?

Mấy anh tôi thì theo dụ dỗ.:

- Chín ! Đi qua xin tiền ba, anh dẫn đi mua kẹo kéo ăn.

Và tôi ,chỉ có tôi là dám đứng sau lưng ba để khều khều xin tiền hay đem nước cho ba uống.

Má kể khi sanh tôi ra ba tôi không có ở nhà. Nơi má nằm sinh là vùng Việt Minh hay đi về, mà ba tôi đang là tài xế sở cao su do Tây quản lý. Tôi sinh ra cứ khóc, khóc hoài không nín. Má nhắn ba tôi về thăm. Nhắn mấy tin mãi mấy ngày sau ba mới về. Ông vén cái màn che giường cữ của má tôi, thò đầu vào và nói:

- Ba về rồi nè. Ngủ đi con gái.

Má bồng tôi ra. Ông vuốt hai má tôi rồi nói:

- Ngủ ngon đi con. Ba đi nghen.

Thế là ông đi. Còn tôi từ đó ngủ một giấc say sưa và nín khóc. Má tôi lấy cái áo cũ của ba đắp lên người tôi để lấy hơi.

Tôi lớn lên trong bàn tay chăm sóc của mẹ và sự dạy dỗ dặn dò của ba. Ba tôi rất ít nói. Nhưng khi ông nói thì đâu ra đó. Từ từ chậm chạp như để chúng tôi nuốt từng câu, hiểu từng ‎ý trong lời nói của ông.

Tôi nhớ khi học lớp ba trường làng. Ông thầy giáo Lượm ra đề tài vẽ một trái bí đỏ. Tôi nắn nót vẽ rồi tô màu đàng hoàng. Khi chấm điểm và trả lại bài cho học trò. Thầy kêu tên tôi:

- Trò Chín vẽ trái bí rất đẹp và to. Trái bí này trồng lâu, lâu, lâu… lắm mới lớn như vầy.

Cả lớp cười rần rần. Tôi mắc cở muốn khóc vì tôi biết thầy đem ba tôi ra để chọc chơi. Ba tôi ở Bình Sơn được bà con xóm giếng gọi là Bác Sáu Lâu. Sáu là thứ của má tôi. Còn Lâu hình như tên thường gọi trong nhà ngoài quê. Mà tánh tình ba tôi cũng giống cái tên lắm. Ông làm gì cũng kỹ lưỡng, chậm chạp, từ từ không có gì là vội vàng, kể cả đi... cầu. (Ở Bình Sơn, đường mương thoát nước từ nhà máy chảy ra suối được xây những nhà cầu công cộng. Nước cứ chảy liên tục như vậy để tống khứ phân và rác ra hạ nguồn con suối). Mỗi sáng ba tôi đi cầu. Nếu người nào muốn đi mà biết là ba tôi ngồi ở trong là họ phải đi tìm nhà cầu khác:

- Ai ở trỏng vậy?

- Bác Sáu Lâu.

-Thôi! Tui đi tìm chỗ khác. Chờ ổng có nước ị ra quần.

Thế đó ba tôi nổi tiếng như vậy đó có mắc cười không.

Ba tôi khá đẹp trai dù ông không cao mấy. Nhìn ông người ta có thể tin tưởng: Đây là một người đàn ông chính trực, ngay thẳng và đáng tin cậy. Ông không đùa dai, không trớt nhả nhưng dường như ông có duyên ngầm nên rất nhiều phụ nữ đã ngã vào vòng tay ông. Bà dì ghẻ của tôi một lần chân tình thố lộ:

- Ba mày không dụ dỗ dì đâu. Dì bỏ nhà đi theo ổng đó. Ba của dì đánh biết bao nhiêu nhưng dì không thể không nhớ ổng. Dì lén gói quần áo, trốn ông ngoại và theo ổng tới bây giờ.

Hồi còn nhỏ tôi rất ghét dì. Nhưng khi lớn lên thấy dì thương ba tôi bằng cả tấm chân tình nên tôi không còn giận hờn. Tôi coi dì như một người mẹ và yêu thương các em con dì như ruột thịt.

Ba tôi một thời lăn lộn để mưu sinh nên ông biết nhiều thứ, nhiều nghề. Ông rất mê thể thao và là đoàn trưởng của đoàn Thanh Niên Cộng Hòa thời đó. Nhìn thân hình ông, những bắp thịt săn chắc cuồn cuộn trông rất khỏe mạnh. Ông là huấn luyện viên túc cầu cho sở Bình Sơn. Những cầu thủ Bình Sơn lúc đó đa số là người Chà. Họ đá rất khá và thường đi ra ngoài các quận và sở cao su khác đá tranh giải. Tôi luôn được ba tôi cho đi theo để lo vụ nước chanh và quần áo, khăn cho cầu thủ. Thật ra má tôi cũng vất vã vì phải bỏ tiền và công sức ra cho ba tôi làm tròn nhiệm vụ. Anh em tụi tôi sau mỗi lần đội banh giao đấu phải hì hục gở cỏ may ghim vào vớ, áo quần cầu thủ. Còn má tôi giặt đồ bở hơi tai chả được ba tôi trả công gì hết.

Tôi nhớ có một lần, vào dịp gì đó có buổi họp khá quan trọng. Ban Tổ Chức mời ba tôi lên phát biểu ý‎ kiến. Ba tôi bước lên khán đài. Tôi khều khều con Tuyết mặt mày hí hửng. Mấy anh tôi vỗ tay rào rào. Hội trường dứt tràng pháo tay, ba tôi lên tiếng:

- Kính thưa qu‎‎ý‎ vị quan khách. Kính thưa… Hôm nay tui… Thế rồi ba tui đứng như trời trồng, tay mân mê cái cằm đã cạo râu sạch coóng. Cả hội trường im như nín thở chờ đợi. Thế rồi ba tui lí nhí.

- Xin cám ơn quý vị.

Rồi ba tôi bước xuống. Cả hội trường òa ra cười, vỗ tay vang trời. Tôi ngớ ra tẻn tò ra mặt.

Ba tôi là vậy, làm chứ không nói. Trước đám đông ông rất khớp. Nhưng trước mặt ông, các em, con, cháu cũng rất khớp vì cái uy nghiêm của ông. Ông chưa hề đánh con một roi nào. Ông kêu vào, chỉ cái ghế bảo ngồi xuống đó rồi ông nói. Từng lời nghiêm huấn khiến chúng tôi nín thở để nghe. Ông là cội tùng rất to che chắn cả ba dòng con và ba mái gia đình.

Ba tôi là người con rất có hiếu với bà nội tôi. Một mình xa quê vào Nam lập nghiệp. Tiện tặn lo cho mẹ cho em. Gửi tiền và vật liệu về quê để Nội tôi cất nhà đàng hoàng. Ông cho má tôi về quê rước nội tôi vào Nam phụng dưỡng, mỗi ngày ông đều đến hỏi thăm, trò chuyện và dặn dò má tôi chăm sóc tận tình. Ông và chú Năm tôi mua gỗ tốt rồi mướn thợ làm áo quan cho nội tôi. Ngày đem về, trông thấy cái hòm nội tôi phát khiếp bà la om sòm:

- Úy chu choa quơi! Đem đi, đem đi quăng cho xa, mẹ sợ lắm.

Thế là ba tôi phải làm một gian nhà nhỏ để cái quan vào và phủ kín mít không cho nội biết. Bà nội tôi sống tới 95 tuổi mới ra đi. Ngày nội tôi hấp hối, cơ thể yếu dần, chân tay không còn cử động.Trong khi ba tôi đi rước chư tăng về, tôi pha nước nóng với rượu lau cho nội và thay bộ đồ trắng cho bà. Vì chỉ có các sư thuộc phái Nam tông nên họ tụng cho nội tôi kinh bằng tiếng Pali. Tụng xong, ba tôi nói :

- Mẹ tui là người Việt Nam, mấy thầy tụng tiếng Pali mẹ tui không có hiểu. Mấy thầy làm phước tụng cho mẹ tui một hồi kinh tiếng Việt Nam.

Tôi đứng ở đầu giường lau mồ hôi nội tươm ra ở trán, thấy các thầy vừa dứt hồi kinh, nội tôi thở hắt ra một cái rồi ra đi.Ông thầy cả nghe tôi nói cũng còn nghi ngờ nên lấy bông gòn để ở mũi nội tôi và cuối cùng tuyên bố nội tôi đã ra đi sau khi nghe xong lời kinh siêu độ.

Từ đó ba tôi bắt đầu hướng Phật. Ông ăn chay và tích cực phát tâm cúng dường cũng như bố thí. Ông phát động các bác trong xóm tái thiết lại ngôi chùa bị bỏ hoang từ lâu. Ông thành lập Hội tương tế và cùng các bác trong hội thỉnh Phật và thỉnh tăng về trụ trì. Ngôi chùa thành hình và phát triển cho tới ngày nay.

Thật lòng mà nói, đối với tôi ông ngoài là nghiêm phụ còn là một người bạn. Có điều gì khó khăn tôi thường tâm sự với ông. Ông lắng nghe và cho tôi những câu khuyên bảo chí tình. Còn ông, tuổi càng cao ông càng gần gũi tôi hơn. Những chuyện không thể nói với ai ông đều cùng tôi san sẻ. Hai cha con có nhiều khi ngồi tâm sự thâu đêm. Cái lằn ranh cha con nghiêm khắc những lúc đó không còn, mà còn lại như hai người bạn vong niên.

Tôi thương ba tôi lắm. Có những giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống mỗi khi nhắc tới ba tôi. Nhất là mỗi dịp Tết chuẩn bị bàn thờ để rước ông bà. Nhớ tới ông tôi lại khóc.

Nhà tôi đa số là con trai chỉ có mình tôi là gái. Thế nhưng vào những ngày giáp Tết, các anh tôi có bổn phận lau chùi lư hương, chưn đèn. Nhưng quét dọn bàn thờ và trang trí chưng trái cây, bông hoa ông không cho ai làm. Chỉ chờ tôi về mà thôi. Có năm vì việc làm, việc nhà, chiều 30 Tết tôi mới về nhà cha mẹ. Mấy anh tôi chỉ bàn thờ chưa trang trí mà quát tôi một trận. Mấy ảnh giận luôn cả ba tôi. Ông ngồi đó chậm rãi:

- Bây lo chuẩn bị dọn cúng đi. Con Chín quét dọn chưng trái cây xong thì bưng lên. Làm gì mà ồn vậy.

Tôi xuất ngoại được hai năm thì ba tôi vào chùa xuất gia. Ông vui trong kinh kệ và hướng tâm vào Phật pháp. Tôi về chùa nhìn ông trong lớp áo tăng già mà thương ông nhiều lắm. Tôi cũng rất mừng là ông đã chọn con đường chánh pháp để sống cuối đời. Con anh Sáu tôi theo nội vào chùa để săn sóc và làm thị giả. Sau ngày ba tôi mất, cháu xin thầy trụ trì xuống tóc xuất gia làm chú tiểu. Bây giờ chú cũng đã là một đại đức.

Ba ơi! Tháng Sáu bên này là lễ của cha. Con ngồi viết những dòng này mà nước mắt rơi ướt cả bàn tính. Ba hiển hiện trước mắt con với nụ cười bao dung và hiền hòa. Ba đã vào cửa Phật từ khi con rời quê hương xa xứ. Con đã bất hiếu bỏ ba ở lại để làm tròn trách nhiệm một người dâu, người vợ, người mẹ. Bây giờ đôi khi chăm sóc chồng quá vất vả hay bị nhiều phiền muộn, căng thẳng. Không hiểu tại sao con cứ nhủ mình: “Hãy coi anh ấy như là ba để toàn tâm toàn ý yêu thương và săn sóc.”

Ba ơi! Trên cao hay ở một nơi nào đó trên trái đất này. Con nguyện ba luôn được an lành, hạnh phúc và được mọi phước lành.

Nguyện 10 phương Chư Phật hộ trì cho Ba.

Con gái của ba.
Nguyễn thị Thêm

15 Tật Xấu Ở Phụ Nữ Khiến Đàn Ông Phát Chán


Tình yêu, hôn nhân “chết yểu” đôi khi lại xuất phát những thói quen, tật xấu khó bỏ của phụ nữ

Những thói quen tưởng chừng như vô hại của phụ nữ lại chính là nguyên nhân khiến tình yêu, hôn nhân tan vỡ. Muỗn có hạnh phúc lâu dài, phụ nữ cần hiểu tâm lý và biết đàn ông đặc biệt không ưa những thói quen xấu này:
1,
Phụ nữ luôn cho mình là đúng nên thường có thói quen yêu cầu người đàn ông của mình phải làm thế này, thế kia. Tuy nhiên, đàn ông thường không thích bị chỉ đạo như vậy, họ sẽ bị tổn thương lòng tự trọng nếu như để phụ nữ dẫn dắt mọi chuyện.
2,
Nói dài và nói dai là một tật xấu mà hầu như chị em phụ nữ nào cũng mắc phải. Chỉ một vấn đề đơn giản như chuyện ăn ở sạch sẽ cũng được phụ nữ nhai đi nói lại nhiều lần khiến đàn ông phát ớn.
3,
Phụ nữ thường hay tự cho mình hoàn toàn có quyền phán xét, chỉ trích tất cả bạn bè của người yêu/chồng mình. Và đương nhiên đàn ông rất khó chụ với việc này, chỉ là họ không nói ra thành lời mà thôi.
4,
Phụ nữ rất dễ dàng tâm sự, chia sẻ mọi bí mật riêng tư nhất cho bạn thân nghe. Dường như mọi điểm tốt xấu gì của bạn trai/chồng, hay bất kì trục trặc nào trong quan hệ hai người, họ cũng đều tiết lộ tất tần tật với cô bạn thân của mình. Tuy nhiên nhiều cánh mày râu tỏ ra không hài lòng với thói quen này của chị em bởi đàn ông cho rằng ai cũng có cuộc sống riêng, những bí mật riêng cần giữ cho bản thân nên việc chia sẻ mọi thứ với bạn bè, dù là người thân nhất cũng là điều không nên.
5,
Thường quan tâm, chăm sóc bạn trai/ chồng mình như thể họ là một đứa trẻ và không ít cánh mày râu cảm thấy khó chịu về điều này.
6,
Phụ nữ thường nói rất nhiều, dường như họ không bao giờ hết chuyện để nói, vì thế mới có câu “3 người phụ nữ cũng thành cái chợ”. Đàn ông không thể thích ứng nổi thói quen nói nhiều này.
7,
Không ít phụ nữ cởi mở tiết lộ một cách chi tiết về cuộc sống “chăn gối” của mình cho bạn bè biết, thậm chí còn chê bai “phong độ” của chồng. Việc làm này không có gì là hay ho cả, nó chỉ mang đến trò cười cho người khác và nếu đến tai chồng bạn thì chắc chắn anh ấy sẽ vô cùng giận.
8,
Phụ nữ rất hay đa nghi và chính bản tính này vô tình đã làm ảnh hưởng nghiêm trong đến tình cảm của hai người.
9,
Hầu hết phụ nữ đều có tư tưởng chống đối lại gia đình nhà chồng, đặc biệt là mẹ chồng khó tính. Và đương nhiên hành động này khó nhận được sự ưng thuận từ phía các ông chồng.
10,
Phụ nữ thường có thói quen so sánh bạn trai/chồng mình với người khác trên bất kì phương diện nào như mức độ ga lăng, sự đẹp trai, khả năng kiếm tiền...Tuy nhiên, dù có cô ý hay vô tình so sánh như vậy cũng làm lòng tự trọng của đàn ông bị tổn thương.
11,
Phụ nữ hay cằn nhằn về thói quen ăn uống cũng như lối sinh hoạt của chàng. Vẫn biết sự cằn nhằn đều xuất phát từ ý tốt, muốn chàng có một sức khỏe tốt, nhưng nếu nói quá nhiều đến phát chán sẽ khiến chàng nghĩ rằng mình đang hẹn hò với một người giống như mẹ.
12,
Phụ nữ thích ngồi bên cạnh “lải nhải” mọi chuyện trong khi chàng đang tập trung xem thể thao hoặc chơi game. Và đó chính là điều khiến cánh mày râu khó chịu và bực mình.
13,
Phụ nữ thích phóng đại và nghĩ quá về tất cả mọi việc, dù nó sự việc vô cùng nhỏ nhưng qua miệng truyền đạt của phụ nữ thì nó lại trở thành vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Nếu chàng không nghe điện thoại, ngay lập tức nhiều nàng nghĩ rằng anh ta đang làm việc gì mờ ám. Hay chàng không may quên mua món đồ mình dặn, nàng vội kết luận rằng chàng vô tâm, không chăm lo đến mình. Và danh sách những điều tương tự như vậy còn rất dài.
14,
Phụ nữ thích “nhai” lại mọi chuyện cho dù nó đã xảy ra rất lâu rồi. Chỉ cần chàng mắc một lỗi sai nào đó, nhiều cô nàng sẽ lôi cả chuyện trong quá khứ ra để chỉ trích. Thật lòng, chẳng gã trai nào thích một người phụ nữ chuyên đào bới dĩ vãng như thế.
15,
Phụ nữ hay khóc khi họ biết mình không thể thắng thế trong mỗi lần tranh cãi. Với đàn ông, thứ cảm xúc như bị tống tiền này khiến họ phát điên.

Theo Cẩm Tú
khampha.vn

Monday, June 1, 2015

Best Hats Juggling


Chôn Một Chế Độ - Trần Thiện Phi Hùng


Làm sao để chôn hai chế độ? Là câu hỏi đươc trả lời trong bài viết mới nhất của tác giả, 40 năm sau khi một chế độ đã bị chôn. Trần Thiện Phi Hùng là tác giả có tên trong danh sách nhận giải Viết Về Nước Mỹ 2013. Tác giả cho biết ông nguyên là lính Hải Quân VNCH; tự lái tầu vượt biển năm 1982, hiện định cư tại Úc. Thư kèm bài, ông viết “Tôi vào lính năm 18 tuổi. 12 năm 4 tháng làm lính. 35 năm chưa về lại VN. Không biết, không hiểu, nên không dùng được từ ngữ mới sau 75. Hơn nửa thế kỷ mới viết lại, nên sai nhiều chính tả mong ban biên tập sửa cho. Chuyện cải tạo Vườn Đào và người tù về sớm nhất có thật 100% là tôi. Phi Hùng.

* * *
"Tượng nào cao bằng tựơng Trần Hưng Đạo
Lính nào xạo cho bằng lính Hải Quân".
Tôi sáu năm làm lính, thêm sáu năm làm quan, binh chủng Hải Quân. Xạo là chuyện đương nhiên.

Xứ VNCH ta, Bộ Binh, Không Quân chỉ có 4 vùng chiến thuật nhưng Hải Quân có vùng 5 Duyên Hải; Phú Quốc, Côn Sơn. Như nhiều chàng lính biển khác, tôi có thừa tài xạo. Xạo như thật. Xạo với gái bán bars, xạo cả với thượng cấp, nhưng không dám xạo với gái nhà lành, vì tôi rất sợ vướng nợ giai nhân rồi dính lưới hôn nhơn. Đời lính biển đầy những chuyến hải hành dài cả tháng mà có vợ thì xác suất nuôi con của thiên hạ rất cao.
Thôi thì cứ xạo với mấy em bán bar, mấy cô chịu chơi cho đời vui cái đã rồi tính.
*

Cùng dòng họ Trần Thiện như tôi, có một ông Đại Tướng, 2 ông Đại Tá, mấy chục ông tá, ông uý.
Ông bà nội tôi là loại điền chủ sau khi đã bị chánh phủ VNCH mua lại bởi luật người cày có ruộng; vẫn còn 100 mẫu để canh tác và 15 mẫu ruộng hương hỏa. Cha tôi là một triệu phú có đủ thứ, villas, nhà lầu 4 tầng với mấy chục phòng cho Mỹ mướn rồi sáu bẩy căn phố. Tôi thằng con trưởng nam, vậy mà không được ai nuôi cho ăn học. Ngay khi biết mình 18 tuổi, tôi tự nguyện vào lính hải quân dù chưa nhận được lược giải cá nhân.

Làm lính chưa đầy 6 năm tôi mang lon Thượng sĩ, năm chưa tròn 24 tuổi; đi đâu cũng bị quân cảnh xét giấy tờ coi có mang lon giả hay không. Tôi chỉ mong hết 5 năm để giải ngũ, nhưng rồi chiến cuộc leo thang nên bị lệnh lưu ngũ. Sau đó, tôi đi học làm quan, thăng cấp từ chuẩn úy lên trung úy thì tự động.

Dù làm lính hay làm quan, tất ba gai không bỏ. Gái đến cầu tàu rủ rê đi chơi thì dù đang gác cũng đem súng giao cho sĩ quan trực và bỏ đi chơi 5 ngày sau mới về; vì đi 6 ngày bị cho là đào ngũ nên chiều ngày thứ 5 là tôi về trình diện và vui vẻ nói lý do là "Tại gái xuống tận cầu tàu rũ đi chơi" và vui vẻ đi tù.

Từ đầu tháng Tư 1975, ngay khi thấy chộn rộn, nhiều người tìm đường ra đi, tôi đã chọn đã chọn ở lại. Là sĩ quan hải quân, tôi mà muốn ra đi thì tàu nào cũng lên đi được hết. Tàu nào cũng có bạn cùng khóa lính hay khóa quan hay cùng đơn vị khi xưa; Hơn nữa, nơi tôi phục vụ là Trường Chiến hạm của Bộ Tư Lệnh Hạm Đội, chuyên huấn luyện tác chiến và thanh tra các chiến hạm của hải quân nên gần như quen biết rất nhiều. Những thường dân mang cả gia đình đứng lớ ngớ trước Hải Quân Công Xưởng muốn vào phía trong để xuống tàu mà không vào được tôi còn dẫn dùm vào. Tôi xa mẹ từ thuở nhỏ nay chỉ muốn được sống bên mẹ của tôi mà thôi. Tôi tự tin là dù hoàn cảnh nào, mình cũng có thể xoay trở để sống còn.

Chiều 30 tháng Tư, lần đầu tiên tôi đến nhà ba tôi. Đứng trên sân thượng của building 4 tầng trên đường Chi Lăng, nhìn những chiếc T. 54 của Quân Bắc Việt từ bệnh viện ung thư và tòa hành chánh tỉnh Gia Định quẹo qua đường Chi Lăng ngang bót Hàng Keo qua trước nhà ba của tôi để tiến về Dinh Độc Lập. Tôi rơi nước mắt. "Thế là hết; Tôi thua trận; Tôi bị mất Nước!"

Tôi rời bỏ Biên Hòa về quê mẹ nhưng bị truy tìm nên phải về quê của Ông Ngoại và 15 ngày sau mới trình diện ở Quận Chợ Gạo. Hai tháng sau khi trình diện, tôi được đưa đến tập trung ở Đình xã Tân Lý Tây. Ngôi đình nầy được cho là linh thiêng vì không bị dấu vết của bom đạn. Ở đây chúng tôi phải khai lý lịch chừng chục lần trong 2 tháng. Ngay lần khai đầu tiên, tôi hiểu ngay đây là lúc phải xài tài ba xạo. Mấy ông họ hàng Trần Thiện theo phe quốc gia không dính gì đến tôi. Bố mẹ, chú bác anh em nhà tôi đều theo kháng chiến, có cả lô tử sĩ. Nhiều lúc đang ngủ bị dựng dậy bắt khai lý lịch vì lệnh trên bắt khai lại. Lý lịch của tôi là lý lịch xạo thì làm sao nhớ mà khai cho đúng y như nhau nên phải chép thật nhỏ giấu vào trong bâu áo. Mỗi lần khai là lần lấy ra xào lại.

Sau đợt lý lịch, một ngày Thứ Bảy gần tối, cả bọn trình diện được lùa lên một đoàn xe GMC và xe hàng loại chở heo đến. Lệnh chỉ ngắn gọn, "chuyển trại", không cho biết sẽ đi đâu. Xe chạy về hướng Cai Lậy, một bên lộ là con kinh. Một tên trên xe nói tới Mỹ Phước Tây rồi.

Mỹ Phước Tây cái tên nầy nghe quen quá. Tôi cố moi trí nhớ. Phải rồi, đây vùng nằm giữa Đồng Tháp Mười, trên đường đi Mộc Hóa.

Qua Mỹ Phước Tây chừng 2 hay 3 km, xe dừng lại. Cán bộ coi tù cho biết đây là Trại Cải tạo Vườn Đào. Tên Vườn Đào là vì ngày xưa có người lập vườn trồng đào lộn hột nhưng rồi bỏ hoang. Trên chục dãy nhà lá dài hàng mấy chục thước. Vào trại, tôi được một số trại viên cũ cho biết họ bị bắt trước ngày 30 tháng 4 và đưa về đây, lùa đi đốn cây làm nhà cho trại. Chúng tôi được chia ra 25 người vô một tổ. Trải nylon quấn mền ngủ qua đêm vì quá tối không thể tìm cách giăng mùng.

Trại cải tạo Vườn Đào đúng là cái trại tù không giống bất cứ nơi đâu. Trong trại không ai nhìn ra tôi. Tôi nhận ra một Thiếu úy ngày xưa ở quân trường Nha Trang tôi làm Đại đội trưởng của hắn nhưng nay nhìn tôi hắn ta ngó lơ. Thế cũng là tốt.

Thời mới đến trại Vườn Đào, tôi nhờ được Mẹ lên thăm vừa tiếp tế vừa dúi tiền cho, nên ăn no xài bảnh. Nhưng những ngày tù “huy hoàng” cũng tới lúc kết thúc. Đổi tiền. 22 tây tháng Chín, 1975, tôi còn trên 100 ngàn, phải chia cho bạn bè đổi dùm. Cán bộ đưa cho mấy đồng còn bao nhiêu giữ lại. Vậy là hết thời vung vít.

Trong trại, ngoài màn lao động còn đủ kiểu họp hành, bắt viết đủ thứ “tự khai” rồi “thu hoạch.” Anh nào bị gọi lên “làm việc” là có chuyện vì bị báo cáo gì đó. Tự biết mình khai lý lịch xạo, muốn yên tôi đóng luôn vai dữ, sẵn sàng đập lộn. Hăm he và thừa cơ đánh vào chỗ yếu của thiên hạ là cách sống còn mà trường đời dạy tôi. Nhược điểm là thằng nào cũng muốn được thả về sớm. Tôi thì tuyên bố tao không cần ra sớm. Tiền bạc mẹ và em của tao đủ sống nhiều năm nữa; Tao không cần ra sớm vì tao biết không thể nào ra sớm; Thằng nào cà chớn tao đập để cùng nhau ở trại tù muôn năm cho vui.

Đòn phép này có vẻ hữu hiệu, vậy mà yên được ít lâu, rồi cũng có ngày tôi bị gọi đi trình diện “làm việc”. Chắc là bị báo cáo gì đây. Trước khi đi, tôi còn hâm he:

- Tao mà bị gì thì thằng nào báo cáo nên trốn đi chứ không thì đừng trách tao nặng tay.

Người chờ “làm việc” với tôi không phải tay cán bộ coi an ninh trại mà là một Trung Úy cán bộ người Miền Nam nằm vùng Đồng Tháp Mười. Ngay khi gặp mặt, anh ta tự xưng là “chính trị viên” và trấn an tôi ngay:

- Tôi gọi anh lên chỉ để nói chuyện chơi cho biết thôi, không có gì quan trọng.

Sau đó, tôi còn được mời ngồi, rồi chính viên trung uý cán bộ này đưa thuốc lá của anh ta ra mời hút.

- Tôi vừa đọc xong mấy bài thu hoạch của anh. Anh là văn sĩ à?

À thì ra anh ta thích đọc “văn xạo" của tôi. Trong tự khai rồi thu hoạch của tôi, mẹ tôi từng là cán bộ huyện Giồng Trơm tỉnh Bến Tre từ thời Thanh Niên Tiền Phong chống Pháp và cha tôi thì thời đầu kháng chiến từng là đồng chí của tướng Trần văn Trà. (Thực sự thì Ba tôi có một thời tham gia kháng chiến, biết Trần văn Trà trước khi ông rời khỏi chiến khu về thành) Chuyện trò lan man, anh ta còn hỏi làm sao bài tôi viết đề cập tới nhiều người chính anh ta cũng chưa biết.

Sau hơn tiếng đồng hồ được mời trà mời thuốc, trước khi ra về, viên Trung Uý còn bảo tôi cứ về trại an tâm tin tưởng cách mạng luôn có tình có lý. Được thả về trại bình an, bạn tù vây quanh thăm hỏi việc gì vậy, tôi trả lời:

- Trung Úy Chính Trị Viên (thay vì nói là cán bộ) kêu tao lên hút thuốc nói chuyện chơi và khen bài viết của tao có thể xuất bản thành sách cải tạo!

Tù cải tạo được cán bộ gọi lên nói chuyện chơi mà không có gì hết thì đúng là “đáng ngờ." Saù đó tôi thật là thoải mái dễ sống, không tên nào dám báo cáo gì hết.

Một hôm, vừa cơm trưa xong tôi bị kêu lên gặp cán bộ. Vẫn viên trung uý chính trị viên lần trước, nhưng lần này anh ta không ngồi văn phòng mà đứng sẵn trên bậc thềm khu cơ quan đón tôi. Sau màn chào hỏi, anh ta vui vẻ dẫn tôi lại văn phòng thuộc khu của trưởng trại, bảo tôi chờ phía ngoài. Anh ta vào phòng một lát rồi đi ra, bảo tôi bảo “Hôm nay anh sẽ làm việc với đồng chí bí thư, tôi sẽ gặp anh sau.“ Nói xong, viên trung uý ra dấu cho tôi đi tới phía văn phòng cửa mở sẵn rồi bỏ đi. Tôi đứng lại tần ngần bên cửa, đang tự hỏi không hiểu chuyện gì thì từ trong phòng, một giọng nữ miền nam vang ra:
- Anh vô đi.
Giọng nói có vẻ lạ. Tôi bước vào phòng. Không thấy ai. Bàn làm việc ghế ngồi bỏ trống. Vẫn cái giọng nữ ấy vang lên phía sau tôi.
- Anh ngó lui coi. Tôi ở đây.

Giọng nói vang lên ngay bên cửa, nơi tôi vừa bước qua. Không phải khăn rằn. Cũng không bà ba đen. Một cô mặc áo sơ mi trắng ngắn tay bó sát chưa quá ba mươi tuổi đứng khoanh tay bên cửa. Cô ta nhìn thẳng vào mặt tôi:

- Anh không nhớ tôi đâu nhưng tôi biết anh. Tôi biết anh đánh lộn trong trại. Tôi biết anh khai lý lịch xạo.

A, phút nguy hiểm đã tới. Thì ra cái người mà viên trung uý gọi là “đồng chí bí thư” là cô này. Phải coi cô ta là thứ người gì rồi mới liệu đường mà thoát hiểm. Ai đây? Động nào, bars nào. Có phải mấy cô tôi từng gặp ở làng Cam Ranh hay ở bến bờ nào đây?

- Anh đang cố nhớ mà không thể nhớ ra. Tôi không ở những nơi mà anh đang nghĩ đâu. Anh cứ nhìn tôi coi có nhớ gì không?

Cô ta vẫn đứng yên bên cửa, vẫn khoanh tay nhìn tôi và như đọc được ý nghĩ trong đầu tôi. Có vẻ thấy tôi giống như con nai vàng ngơ ngác giữa trời mùa đông, cô ta nhắc lại điều vừa nói:

- Anh đừng cố tìm tôi trong những chỗ anh thường lui tới. Tôi không phải loại đó. Thong thả, tôi sẽ nhắc cho anh nhớ. Chúng ta chỉ gặp nhau một lần.

Biết tôi không thể nhớ ra gì hơn. Cô ta tiếp tục:

- Có lẽ chưa đầy 30 phút. Nhưng tôi biết về anh. Tôi đã coi tất cả hồ sơ của anh. Bao năm qua, tôi vẫn quyết phải tìm cho ra anh. Đầu tháng Năm, sau khi ổn định tình hình; tôi lên Sài Gòn vào Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Giấy tờ hồ sơ của hải quân còn đầy đủ cả. Một người của chúng tôi nằm vùng ở phòng tổng quản trị đưa cho tôi danh sách những người trình diện; còn anh ta thì tìm giúp tôi danh sách các quân nhân hải quân trước 75. Có ba người trùng tên anh, tất cả đều là sĩ quan. Một Trung tá là người Bắc di cư; một Trung úy người Nam và một thiếu úy người miền Trung. Tôi biết anh người Nam. Trong danh sách sĩ quan hải quân trình diện, tôi tìm thấy tên anh, một Trung úy người Nam, địa chỉ Tân Vạn Biên Hòa. Tôi lên ngay Biên Hòa thì công an xã cho biết anh bỏ cây xăng trốn đi đâu không biết. Anh đâu có trốn khỏi tay tôi.

À, đúng là một tay nguy hiểm. Không hiểu mình gây thù chuốc oán gì mà bị săn lùng tới mức này. Chắc phải giả ngây giả dại mới qua khỏi ải này, tôi nghĩ. Cô ta nói tiếp:

- Tôi biết anh đã trình diện. Sau khi có lệnh tập trung cải tạo tôi tìm hầu hết các trại cải tạo miền Tây và đến Mỹ Tho nầy thì thấy tên anh; Lý lịch anh khai ở trại này toàn là thứ ba xạo, đúng chưa? Con trai độc nhất trong nhà như anh thì đào đâu ra mà có anh ruột là Thương Uý tập kết tử trận ở Cà Mau. Anh muốn tôi kể thêm nữa không?

- Cô... Cán bộ. Cô...

Thấy “con mồi” đứng lơ ngơ chịu trận, cô ta có vẻ hài lòng, thong thả rời chỗ đứng về lại bàn rồi bảo tôi:

-Trong trại này anh còn dám đánh lộn rồi còn tuyên bố chẳng cần được thả sớm. Anh “chì” lắm ma, sao nay ú ớ vậy. Thôi, ngồi xuống đi. Bây giờ chú ý nghe tôi nhắc. Anh nhớ Năm Căn không? Nhớ đi...

- Năm Căn Cà Mau?   

- Còn Năm Căn nào nữa. Ngày ấy anh chỉ là một anh thuỷ thủ quèn mà làm tàng... Nhớ đi. Rán coi. Tôi nhắc thêm nghe. Thấy trên cánh tay bọn tôi có bốn dấu xâm, anh ba hoa giảng lung tung rồi bảo chúng tôi đi đi, mau mau về nhà lo làm ăn mà kiếm tấm chồng...
...
À á. Năm Căn. Bốn vết xâm. Tôi bắt đầu nhớ. Chuyện đã mưới mấy năm trước, hồi tôi mới vào lính. Sau 2 tháng được huyến luyện quân sự ở Nha Trang, tôi xuống chiếc tàu Há Mồm ( HQ. 500) làm thủy thủ tập sự và được tham dự "Chiến dịch Sống Tình Thương" ở quận Năm Căn, tỉnh Cà Mau; Đây là nơi mà khi tàu ủi bãi, có mấy đứa con nít đến, dơ tay gõ vào thành tàu rồi la lên “bằng sắt thiệt tụi bây ơi"; Chúng tôi thấy lạ kỳ nên hỏi vậy chớ các em nghĩ tàu làm bằng gì. Bọn nhỏ nói các ảnh nói tàu làm bằng cạc tông.

Cũng trong chiến dịch này, có bữa địa phương quân đưa xuống tàu chúng tôi ba nữ giao liên gửi cho hải quân giữ chờ hải thuyền đến chở giao về tỉnh Cà Mau. Chiến dịch chấm dứt, tàu tôi được lệnh phải đi công tác khẩn chuyển quân ra miền Trung. Chỉ huy tàu bảo ba cô giao liên chỉ là bọn con nít, chẳng biết gì, cho lệnh phóng thích luôn. Tôi đang phiên gác với một ông Trung sĩ nên được lệnh xuống phòng tạm trú dẫn ba cô lên bờ thả cho đi. Đúng là cả ba đều con nít, hai cô 15 tuổi, cô lớn chắc cũng chỉ 16, 17 tuổi. Thấy trên cánh tay các cô có 4 dấu xâm, tôi nói:

" Các cô có biết 4 dấu chấm xâm trên cánh tay ý nghĩa là gì không? Sinh Bắc Tử Nam là để cho người miền Bắc vượt tuyến vào Nam thề chiến đấu cho đến chết vì Bác vì Đảng. Các cô sinh ở miền Nam không lẽ Sinh Nam Tử Bắc hay Sinh Nam Tử Nam thì chống lại với người Miền Bắc hay sao? Về xóa hết đi lo làm ăn kiếm tấm chồng mà sống cho bình thường. Chuyện đánh nhau là chuyện của đàn ông, con trai đừng xía vào cho khổ thân.”

Không lẽ chỉ nói chừng đó mà thành mối hận để bay giờ phải trả. Thấy tôi nín thinh, cô cán bộ áo trắng nhắc tiếp:

“Anh nhớ thêm đi. Lúc anh bảo ba cô đi đi, tôi không chịu đi mà đòi anh đem giao chúng tôi cho tỉnh Cà Mau. Anh hỏi tại sao thả mà không chịu đi mà đòi giao cho tỉnh. Tôi nói chứ không phải thả đi để các anh bắn từ phía sau lưng hay sao? Anh phá ra cười rồi hỏi ai bảo các cô vậy? Tôi nói nghe các anh lớn nói. Anh hỏi lại nếu thả để bắn sau lưng thì còn ai sống mà kể lại cho các anh lớn biết. Rồi anh tiếp là chẳng những hải quân mà tất cả các binh chủng khác cũng không có binh chủng nào thả người rồi bắn sau lưng. Anh còn nói bắt người thì phải đưa ra tòa xét xử, nếu có tội thì phạt tù chỉ khi nào giết nhiều người, làm hại nhiều người thì mới bị kết tội tử hình công khai chứ không bao giờ bắn sau lưng cả. Anh nhớ ra chưa?

Thấy giọng cô ta bỗng như dịu lại, không có vẻ gì là hằn thù, tôi làm bộ như vừa chợt nhớ ra và kêu:

- A...A... Cô có thể cười cho tôi coi không?

- Có lẽ anh đang nhớ ra rồi; vì ngày đó anh có khen tôi cười có hai núm đồng tiền nên dễ kiếm chồng lắm.

Cô ta nhìn thẳng vào mặt tôi và cười. Hai núm đồng tiền, bên phải sâu hơn bên trái.

- Đúng rồi. Đúng cái mặt cười năm xưa. Tôi nhớ sau khi tôi khen cô bé còn nguýt tôi một cái thật dài. Tôi nhớ hoài cái nguýt dài ấy.

- Ở đó mà cô bé, cô bé....

Tức thì thêm một cái nguýt dài trên mặt cô cán bộ. Đôi má núm đồng tiền bỗng như linh động hơn.

Sau cái cười và cái nguýt dài của cô cán bộ áo trắng, tôi cảm thấy nhẹ người.

- Anh nhìn lại coi. Hơn 12 năm rồi. Đâu còn con bé nào ở đây.

Đến lượt tôi cũng nhìn thẳng vào mắt cô ta và cười. Câu chuyện từ lúc này bắt đầu thấy dễ chịu. Tôi nói:

- Sau khi đưa các cô tới gần cái chợ nhỏ bên sông, thấy chỗ an toàn, tôi mới bảo các cô đi đi. Khi các cô đi qua khu chợ, tôi còn đi theo một đoạn canh chừng. Không thấy cô ngó lui.

- Tôi không ngó lui nhưng biết anh đi theo. Chắc anh không thể ngờ là khi về nhà rồi, ngay ngày hôm sau tôi còn trở lại khu bến sông ấy, nhưng tàu của anh đã đi rồi.

- Tôi có nghe viên trung uý vừa rồi gọi cô là đồng chí bí thư. Chắc cô đã là đảng viên lâu năm.

- Vậy là anh đã nghe. Đúng là tôi đã 12 tuổi đảng. Ngay khi trở về, tôi được kết nạp đảng. Sau đó được chuyển về làm công tác nội thành, theo dõi thầy cô và hiệu đoàn học sinh trường trung học Cà Mau nên tôi học thi lại Tú tài 1 và năm 65, tôi đậu luôn Tú Tài 2. Sau đó ít lâu, tôi chuyển về công tác nằm vùng tại đại học Long Xuyên cho tới ngày giải phóng. Anh không biết là bao năm qua, tôi vẫn tin là sẽ có ngày tôi gặp lại anh...

Tôi nói:

- Thì chúng ta đang gặp nhau ở đây. Hôm nay tôi đã là người tù. Cô là người thắng trận. Ngày ấy, thấy trên cánh tay các cô có mấy vết xâm, tôi lỡ nói mấy câu gì đó. Mong cô không để tâm.

- Anh khỏi cần phải mong. Mấy câu anh nói ngày ấy tôi không bao giờ quên. Hôm nay tôi cố ý mang áo sơ mi ngắn tay để anh thấy trên tay tôi không còn vết xâm nữa. Tôi đã xoá bỏ chúng từ lâu. Anh thấy chưa, không còn dấu vết hay để thẹo gì cả.

Cô ta vừa nói vừa đưa cánh tay ra. Thấy tôi im lặng, cô ta nói luôn:

- Anh không cần phải sợ tôi. Hơn 12 năm trước, khi trở lại bến sông ở Năm Căn tìm anh, tôi chỉ muốn anh biết là tôi cám ơn anh. Hôm nay cũng vậy. Trước đây, khi bắt đầu đi tìm tung tích anh, tôi chỉ mong một lần gặp lại coi anh sống ra sao, vợ con dùm đề thế nào. Khi coi hồ sơ, tôi đến địa chỉ ghi trong lý lịch thì ra là nhà của ông ngoại anh chứ không phải nhà của mẹ anh. Tôi hỏi địa chỉ và đến thăm mẹ anh ở xóm Tân Vạn. Chính bà than phiền với tôi là cho đến nay anh vẫn còn độc thân. Nhìn hình trong nhà, tôi nhận ra anh ngay. Bao năm qua, tôi không thể quên ánh mắt tinh nghịch nụ cười nửa miệng của anh. Mẹ anh kể là mấy cô bạn anh toàn là gái giang hồ, bán bar. Anh sợ lập gia đình nên không dám quen gái nhà lành. Mẹ anh nói có lần bà bảo anh cưới cô giáo nhà bên cạnh nhưng anh nói không muốn có vợ vì sợ phải nuôi con thiên hạ. Anh biết vì sao mẹ anh kể tôi nghe mọi chuyện về anh không?

- Vì cô hỏi thì bà kể. Mấy chuyện đó có gì đâu mà mẹ tôi phải dấu.

- Không phải vì tôi hỏi mà mẹ anh rất thương tôi, tự bà kể ra. Bà muốn tôi phải biết tất cả về anh. Tại sao anh biết không? Tại tôi nói với mẹ anh rằng tôi là người anh thương của anh. Anh đã tính đưa tôi về ra mắt mẹ nhưng chưa kịp làm. Tôi không chỉ nói mà còn ở lại với mẹ anh hai ngày hai đêm. Bà nói với tôi không sót điều gì, từ ba anh tới bà con chú bác dòng họ. Mẹ anh còn nói bà thiệt mừng khi thấy tôi tự đến ra mắt bà. Hôm nay gặp lại anh, chúng ta không có nhiều thì giờ để vòng vo nên tôi phải nói luôn với anh chuyện này. Tôi thật lòng muốn làm bạn với anh.

Một cô cán bộ 12 tuổi đảng muốn làm bạn với tôi. Chuyện thật khó tin. Tôi nói:

- Cám ơn cô nhưng tôi chỉ là một tên tù không biết ngày nào về, làm sao có thể là bạn của cô được.

- Ngày xưa anh từng mang tôi ra khỏi nhà tù, lần này, đến phiên tôi sẽ cứu anh ra khỏi nơi này.

Chuyện tưởng như đùa nhưng cô ta nói nghe chắc như ăn bắp. Tôi từng nghe chuyện lý lịch với phía cộng sản là sinh tử. Có nhiều cán bộ cao cấp tập kết ra Bắc nay thấy con cháu đi tù cải tạo mà ngó lơ, không ai dám dỡn mặt với kỷ luật đảng. Tại sao cô cán bộ này dám nói ra miệng là sẽ ra tay cứu mình. Cô ta là thứ bí thư gì vậy. Âm mưu gì đây mà cô ta phải tìm đến ở với mẹ tôi mấy ngày đêm để nắm hết lý lịch bí ẩn của tôi. Mẹ tôi vốn cả tin. Chưa bao giờ tôi mang bất cứ người cô nào về nhà ra mắt mẹ. Nay thấy một cô gái có vẻ con nhà lành dễ thương tới xưng là người tình của thằng con, bảo sao bà ta không tin ngay mà thương. Nhưng tôi đâu có khờ như bà mẹ mình được. Tôi nói:

- Cô đã biết hết lý lịch thật của tôi. Tất cả rồi sẽ bị phanh phui, chắc tôi sẽ khó sống. Cô tuy có 12 tuổi đảng nhưng dính đến tôi sẽsẽ có ngày liên lụy. Xin cô tha cho tôi.

Cô ta cười to và nói:

- Anh khỏi lo dùm tôi. Tôi đã hứa là sẽ làm. Anh cứ sống bình thường như mọi người trong trại là được rồi.

Cô ta đưa cho tôi một túi quà và nói:

- Đây là quà của riêng tôi biếu anh. Mẹ anh cũng muốn gửi quà nhưng tôi nói bà cứ giữ đó. Tháng tới tôi sẽ đưa bà lên thăm anh. Thôi, anh về đi. Trưởng Trại có lẽ sắp trở lại.

Tôi nhận gói quà, chào cô ta ra về mà gần như người mất hồn. Về tới trại giam, tôi chỉ trả lời qua loa trước những lời dò hỏi của bạn tù.

Đúng như lời hẹn, tháng sau cô ta đi cùng với mẹ tôi lên thăm. Không phải thăm riêng mà bình thường như bao người cải tạo khác. Cùng gặp một lúc tại nhà thăm nuôi, chỉ 15 phút. Mọi lời lẽ tù nói với người thăm gặp phải diễn ra trước mặt viên cán bộ phụ trách. Từ đó, cô ta tiếp tục đi cùng mẹ tôi đến thăm tôi hàng tháng. Chẳng thể nói gì, tôi đành phó mặt cho số mệnh. Thấy cô cán bộ 12 tuổi đảng đóng vai phó thường dân ngồi cười cười bên bà mẹ thăm nuôi, tôi nổi tánh lì, trò chuyện tự nhiên, đôi khi còn chọc cười như ngày xưa ở các bars hay động. Tôi còn gì để mất? Cô ta muốn gì ở tôi? Tôi có gì để mà lợi dụng? Thôi thì phó mặc cho số phận.

Tháng Một năm 1976, một buổi chiều vừa ăn cơm xong, sắp tới giờ điểm danh vô chuồng, bỗng có cán bộ cầm danh sách đến gọi đúng tên tôi bảo thu dọn gọn lẹ đồ đạc cá nhân mang theo ra điểm danh.

Bất ngờ gọi tên lúc chiều tối hẳn không phải lệnh tha. Thu dọn đồ đạc mang theo kiểu này chỉ có thể là chuyện trại. Nơi tập họp điểm danh là sân trại. Số tù được gọi ra điểm danh có hai mươi mấy mạng, trong số này có tên chỉ còn anhchỉ còn một chân. Một cán bộ trẻ mang lon thiếu uý dẫn chúng tôi đi ra cổng. Không thấy xe cộ gì. Cả bọn cuộc bộ, không thấy có quản chế súng ống kèm sát như khi đi lao động. Một tên đánh bạo hỏi:

- Chúng tôi đi đâu đây cán bộ?

- Đi tới nơi làm lệnh tha.

- Tha về hả cán bộ?

- Bộ tha rồi không về ở lại ăn hại à?

Cả bọn nửa tin nửa ngờ; Trời bắt đầu tối. Thả vào giờ nầy, xe cộ đâu mà về?

Cả bọn được dẫn ra đến nhà thăm nuôi. Đèn được thắp sáng. Có viên trung uý xưng là chánh trị viên tôi từng gặp đợi sẵn. Thấy tôi trong đoàn người, anh ta cười ra vẻ “hồ hởi” bảo hôm nay anh sẽ thấy cách mạng luôn có tình có lý. Các anh tập trung lại bàn thăm nuôi khai lại địa chỉ và người nhà cho chính xác một lần, sau đó sẽ nghe đồng chí trại trưởng tới nói chuyện.

Cừng nửa giờ sau, Đại Úy Trưởng Trại ra tuyên bố:

- Các anh thuộc diện gia đình cách mạng được bảo lãnh cho về; Kể từ giờ phút nầy tuyệt đối không được liên lạc với những người trong trại; Từ đêm nay các anh ăn ngủ tạm tại nhà thăm nuôi này. Cán bộ sẽ phát mền chiếu v, gạo và lương thực để các anh tự nấu nướng. Ngày mai sẽ làm thủ tục nhận lại đồ ký gởi và lệnh tha. Sau đó chờ liên lạc, gặp gỡ thân nhân bảo lãnh và làm lễ ra trại. Trong mấy bữa chờ làm lễ, các anh tuyệt đối không được liên lạc với các trại viên cũ.

Hôm sau, cả bọn được tập trung lên cơ quan nhận lệnh tha, tiền và đồ dùng ký gửi. Riêng phần tôi, kiểm lại thấy còn vài trăm bạc mới. Ba ngày sau, đã thấy đoàn người thân nhân trong đó có bà mẹ tôi có mặt tại nhà thăm nuôi. Hai mươi mấy tên tù được tha, kể cả tôi, hầu hết đều do mẹ là người bảo lãnh.

Cán bộ ra đưa cho một số tiền để mua thức ăn làm bữa tiệc chia tay. Một bà mẹ đến từ Cao Lãnh nghe nói trước là chủ nhập cảng các loại máy ghe tàu, “xung phong” nhận sẽ “ủng hộ” thêm tiền chợ và còn tình nguyện lãnh đi chợ dùm. Bà ta hỏi có thể cho một hay hai người đi theo mang phụ thức ăn. Cán bộ nói:

- Bây giờ thì các anh có thể đi tự do; muốn mấy người theo cũng được.

Thế là khu chợ gần Trại Cải Tạo Vườn Đào được một buổi chợ trúng mối. Heo, gà, vịt, tôm càng, cá... rau cải mua nguyên thúng, nguyên sàn, hỏi giá bao nhiêu là mua bấy nhiêu khỏi cần trả giá; tiền chợ được bà chủ Cao Lãnh xuất hầu bao, mớ tiền chợ ít ỏi do trại phát có lẽ được bà mẹ nầy cất riêng để làm kỷ niệm ngày con được ra tù.

Tiệc chia tay thức ăn ê hề nào gỏi, nào ca ri, cá hấp, tôm càng nướng, thịt heo, gà, vịt luộc. Thế rồi tiệc cũng bế mạt. Thức ăn gần như còn nguyên vì ai cũng chỉ nếm cho có vị và cán bộ cũng không dám ăn bửa tiệc giá đáng mấy chục lần số tiền cho để làm tiệc. Mấy Bà xin đem thức ăn cho mấy người trong trại thì cán bộ không cho bảo phải đem chôn hết.

Ra khỏi trại mọi người đứng chờ đón xe Mộc Hóa để về Cai Lậy. Từ phía hàng rào trại, thấy lố nhố người đứng trông ra. Tôi quay lui, cũng không dám nhìn lâu không còn nhận được dáng của đứa nào!.

Tôi nói với Má:

- Mình đi lần, bao giờ có xe thì đón. Chứ đứng đây chờ nhìn vào các bạn trong kia nhìn ra, con thấy bất an!

Tôi và má Tôi đi lần dọc theo lộ. Tất cả gần như thấy vậy cũng đi theo.
*
Là người tù trại Vườn Đào được về sớm, tôi biết thân ở yên với mẹ già. Chòm xóm không thấy làm khó dễ.

Sau khi được trao trả quyền công dân, tôi còn được cử ông Nông Hội Ấp đề nghị tôi làm trung đội trưởng lao động ấp; mọi người vỗ tay táng thành. Thế là từ đó ai thấy tôi đến nhà là biết bị gọi đi lao động không công cho XHCN, nào đào kinh, lấp kinh, rồi nước đọng cây trái bị úng nước, ruộng lúa bị ngập nước không rút kịp lâu ngày cây cối chết, lại phải đi phá đập, vác lúa thu thuế... Tôi không dám nhìn khi thấy bà con nông dân ai cũng đầy nước mắt khi bồ lúa vơi đi hơn phân nửa để đóng thuế. Nghe nói lúa thuế được chở tiếp tế cho Miền Bắc.

Mỗi tháng Cô Bí Thư đều đem nhiều khô mắm từ Cà Mau lên thăm Tôi và ở chơi 3 hay 4 ngày. Cô ta ngủ chung với mẹ tôi, vẫn có vẻ được bà thương mến, tin cẩn. Tôi cũng không nói hay hỏi gì thêm ngoài việc cho mẹ biết là bà đã vô tình đem sói vào nhà vì cô ta là ní bí thư trên 12 tuổi đảng.

Cũng có lần cô ta biệt tăm luôn 3 tháng; rồi một hôm bỗng đến thăm với nhiều quà từ miền Bắc. Cô cho biết vừa đi tập huấn ở Hà Nội về. Tôi hỏi:

- Em sáng mắt ra chưa?

Cô ta lườm và nói:

- Anh chưa thấy quan tài nên chưa biết đổ lệ!

Đầu năm 1980, Cô ta đến thăm và tối hôm đó có mặt mẹ của tôi. Cô ta nói:

- Mẹ muốn em lo cho anh ra đi; nhưng em có điều kiện là anh phải nhận em làm vợ cho đến khi định cư rồi sau đó tùy anh. Em cho anh một tháng để nghĩ suy và trả lời em.

Mẹ tôi khuyên tôi nên nhận cô ta làm vợ vì cô ta thương tôi thật sự. Tôi thì nghĩ không hẳn. Cô ta bỏ nhiều công phu tìm tôi, giúp tôi và nay muốn cùng tôi vượt biên với tư cách là vợ một sĩ quan hải quân để làm gián điệp như bao trường hợp nằm vùng khác, có người làm tài xế, người giúp việc trung thành tận tâm cả chục năm nhưng sau tháng tư đen thì mới lòi mặt thật. Nhưng đâu còn đường nào khác để tính.

Chưa đầy một tháng sau cô ta lên và bảo tôi chỉ đem theo một bộ quần áo gọn nhẹ để mai đi. Tôi hỏi:

- Em chưa biết anh có đồng ý hay không mà bảo ra đi.

- Thông minh như anh thì không bao giờ bỏ mất dịp may, vì anh không mất gì cả, kẻ mất nhiều nhứt là em nhưng là em tự nguyện; Mọi chuyện ra sao sau này anh sẽ biết.

Tôi hỏi cô ta có an toàn không.

- Anh có cần có tàu Hải Quân biên phòng hộ tống hay không? Nếu muốn em cũng có cho anh.

Tôi nghe mà khiếp. Chẳng rõ cô ta nói đủa hay nói thật. Cỡ bí thư huyện ủy cung không thể có quyền vào Bộ Tư Lệnh Hải quân xưa để tầm kẻ thù; Không hiểu cô ta là thứ gì? Không ra hải ngoại để nằm vùng hay làm gián điệp thì còn gì nữa? Nghĩ vậy nhưng thôi kệ. Cô ta làm gì hay là ai tính sau, cứ thoát ra khỏi nước cái đã. Thế là chúng tôi từ giã mẹ ra đi.

Tàu vượt biên dài 12 mét mới toanh, máy cũng mới và số người đi là 52 người do một cựu hàng hải thương thuyền ngày xưa lái; nhưng cuối cùng 26 người bị rớt lại vì ghe nhỏ chuyển ra ghe lớn bị chận giữa đường mà trong đó có gia đình tài công. Cô bí thư hỏi:

- Anh lái được chứ ?

- Lái được nhưng không có bản đồ mà chỉ có la bàn thì phải chạy thẳng ra hải phận quốc tế rồi theo hướng Tàu buôn mà lấy hướng đi thì sẽ sang Singapore hay tấp vào các đảo của Indonesia.

Tôi lái suốt 5 ngày đêm mới gặp một ghe đánh cá của Indonesian và hỏi thăm thì được chỉ cho một chỗ cách đó không xa. Tôi lái vào và ở đó một ngày một đêm thì được tàu của Indo đưa đến trại tỵ nạn Kuku. Một tháng sau chúng tôi được đưa sang trại Galang và dĩ nhiên trong lý lịch của Hải quân Trung úy VNCH nay có thêm cô vợ bí mật nhiều phần là gián điệp.

Trên bước đường lưu vong quê người xứ lạ làm thân thất quốc, chúng tôi cô đơn lạc lõng như nhau. Ngày qua ngày cả hai đứa đi học tiếng Anh về nấu cơm chung rồi chung mùng va thành vợ chồng thật.

Ở Galang tôi gặp lại bạn bè quân ngũ xưa; vì gần như mỗi tàu là có đôi ba hải quân xưa được đi không tốn tiền để lái tàu. Quán Trùng Dương là nơi tụ họp để nhận ra nhau kể chuyện xưa và bàn chuyện tương lai. Các cựu hải quân xưa làm sổ lưu niệm giống như thời học trò viết lưu bút ngày xanh cho những tháng nghĩ hè. Lắm ông ghi cả số quân đơn vị xưa và dán cả hình. Ôi các quan lính ơi Tôi mà đem cái sổ nầy về thì e rằng cô bí thư mười mấy tuổi đảng sẽ lén ghi lại hết gởi về Bắc Bộ phủ thì gia đình các ông cũng mà khó sống ở VN!. Tôi từ chối viếtsổ lưu niệm và cũng không đến quán hội họp nữa.

Cũng tại trại Galang, tôi có người bạn trước là thiếu úy ngành điện khí được mướn làm người gác máy điện phụ cho một thợ điện người Indo. Anh Indo nầy khá am tường về tình hình VN và có phân tích như sau:

- Các anh vượt biên nghĩ rằng ra ngoại quốc rồi Mỹ sẽ giúp cho thành lập một đoàn quân để trở về dành lại VN. Có lẽ các anh lầm rồi. Mỹ không bao giờ giúp các Anh đâu vì giúp các Anh; Mỹ được lợi gì? Các anh đánh nhau mà nhiều nữ tính quá. Nhân đạo với kẻ thù thì chỉ có con đường chết; Phải như chúng tôi kìa. Chỉ một đêm thôi không một tiếng súng; toàn dùng dao, búa, mã tấu mà giết cho tuyệt giống cộng sản. Chỉ một đêm là xong gần triệu mạng...

Sáu tháng sau chúng tôi được đi định cư. Tôi không tham gia đoàn thể nào, không hội họp với cả hội đồng hương nhưng lúc nào cũng canh chừng cô vợ bí thư đảng viên.

Cô ta cũng như tôi chẳng quen ai; đến cả dùng điện thoại cô ta cũng không sử dụng. Mẹ tôi mất năm 83. Mẹ cô ta mất năm 84. Năm 90 ba tôi và ba của cô ta cùng mất trong một năm. Chúng tôi nhận thư nhưng không về và đến nay cũng chưa về. Chúng tôi đồng ý không có con. Tôi 72 và vợ 70 tuổi; nếu còn ở Việt Nam, cô ta nay đã 52 tuổi đảng, không biết làm tới chức gì.

Mất nước bốn mươi năm, lưu vong hơn 35 năm, chúng tôi chưa bao giờ có ý định về thăm lại quê hương. Trong lòng tôi đã chôn một chế độ và trong lòng vợ tôi cũng chôn một chế độ. Chúng tôi không con nối dòng nên khi chúng tôi chết thì "cả hai chế độ" cũng tan thành tro bụi. Với tôi, vậy là chôn xong hai chế độ. Ngày ấy không xa.

Kỷ niệm 40 năm
Trần Thiện Phi Hùng

Qua Mùa Bão Tố - Trầm Vân

Phép Lạ Của Tình Yêu


Cách đây mấy năm tập san Readers Digest có thuật lại một câu chuyện cảm động về một em bé trong bệnh viện Milwaukee.  Em này bị mù, đần độn, lại còn bị liệt não nữa.  Em chỉ khá hơn loài thảo mộc một chút là biết đáp ứng lại âm thanh và sự ve vuốt mà thôi.  Cha mẹ em đã bỏ rơi em.  Nhưng bệnh viện cũng chả biết xử lý thế nào với trường hợp của em.  Thế rồi có một người nhớ đến May Lempke, bà y tá 52 tuổi sống gần đấy.  Bà nầy đã từng nuôi nấng năm đứa con của chính mình, nên bà sẽ biết cách chăm sóc cho một đứa trẻ như thế.  Họ yêu cầu bà chăm sóc đứa bé và bảo: "Thằng bé có lẽ sẽ chết yểu!"  Bà May trả lời: "Nếu tôi chăm sóc đứa bé, nó sẽ không chết yểu đâu, và tôi rất sung sướng được chăm sóc cho nó."

Thế là bà May đặt tên cho cậu bé là Leslie.  Chăm sóc cho cậu bé quả thật không dễ dàng chút nào.  Ngày nào bà cũng phải xoa bóp toàn thân đứa bé, bà đã cầu nguyện cho nó, đã khóc vì nó, bà đã đặt đôi tay nó lên những giọt lệ của bà.  Một hôm, có người nói với bà: "Tại sao bà không gởi đứa bé ấy vào viện?  Nó chỉ làm phí cuộc đời của bà thôi?

Leslie càng lớn thì càng có nhiều vấn đề phải đặt ra cho bà May.  Bà phải giữ nó chặt vào một chiếc ghế để nó khỏi bị té xuống.  Thời gian trôi qua, năm mười, mười lăm năm.  Mãi đến khi Leslie 16 tuổi, bà May mới có thể tập cho nó đứng một mình được.  Suốt thời gian đó, bà May vẫn tiếp tục yêu thương và cầu nguyện cho cậu bé.  Ngoài ra bà còn kể cho cậu bé nghe những mẩu chuyện về Chúa Giêsu dù xem ra cậu chẳng nghe được tiếng bà.

Thế rồi một ngày nọ, bà May chợt nhận thấy Leslie dùng ngón tay của mình búng vào một sợi dây căng thẳng trên một gói đồ.  Bà tự hỏi; điều ấy có ý nghĩa gì?  Biết đâu Leslie lại nhạy cảm với âm nhạc chăng?  Và bà May bắt đầu cho Leslie nghe âm nhạc.  Bà chơi đủ loại hình âm nhạc mà bà tưởng tượng ra được với hy vọng có một loại nào đó có thể lôi cuốn cậu bé.  Cuối cùng, bà May và chồng mua được một chiếc dương cầm cũ kỹ.  Họ đặt nó vào giường ngủ của Lislie.  Bà May cầm những ngón tay của Leslie đặt vào tay bà và tập cho cậu bé biết cách nhấn phím xuống, nhưng xem ra cậu ta chả hiểu.

Thế rồi vào một đêm đông năm 1971, bà May bừng thức giấc vì nghe có tiếng đờn của ai đó đang chơi bản hoà tấu dương cầm số 1 của Tchaikovsky.  Bà lay lay chồng đánh thức ông dậy, và hỏi xem ông có quên tắt radio không.  Ông ta nói rằng không, nhưng họ quyết định tốt hơn là nên xem xét lại.  Và họ khám phá ra một điều vượt khỏi mọi giấc mơ kỳ quái nhất của họ.  Cậu Leslie đang ngồi tại chiếc dương cầm.  Cậu đang mỉm cười và chơi đàn một cách ngẫu hứng không thể nào tin được đây là sự thật!

Trước đây Leslie chưa bao giờ bước ra khỏi giường một mình.  Trước đây cậu bé chưa bao giờ tự mình ngồi vào chiếc dương cầm được, cậu cũng chưa bao giờ tự dùng tay ấn được vào phím đàn.  Thế mà bây giờ đây cậu lại đang chơi đàn tuyệt vời như thế!  Bà May vội quì gối xuống và thốt lên: "Lạy Chúa!  Con xin cảm tạ Ngài, Ngài đã không bỏ quên Leslie."

Chẳng bao lâu, Leslie bắt đầu kiếm sống bằng cây dương cầm.  Cậu chơi được nhạc cổ điển, nhạc đồng quê miền tây, nhạc trữ tình, nhạc dạo và cả nhạc Rock nữa.  Hoàn toàn không thể nào tin nổi.  Tất cả những bài nhạc bà May đã từng chơi cho cậu nghe đều tồn trữ trong óc cậu và giờ đây tuôn trào ra trên phím dương cầm qua đôi tay cậu.  Giờ đây ở tuổi 28, Leslie bắt đầu nói chuyện.  Tuy không thể đối thoại lâu giờ.  Nhưng cậu có thể đặt câu hỏi, trả lời những câu đơn giản và phát biểu được những lời phê bình ngắn gọn.  Chẳng hạn, một buổi tối kia, đang xem một vở hài kịch trên truyền hình, cậu cảm thấy cuộc đối thoại chán ngắt, cậu bèn nói:

"Tốt hơn là chúng ta nên tắt nó đi, cả bọn chỉ toàn là lũ điên!"
Dạo này, Leslie chơi nhạc hoà tấu cho những ca đoàn nhà thờ, cho các cơ quan dân sự, cho các nạn nhân liệt não và cha mẹ họ, cậu còn xuất hiện cả trên đài truyền hình quốc gia nữa!  Các bác sĩ mô tả Leslie như là một người thông thái bị mắc một loại tâm bệnh, nghĩa là một người chậm phát triển về trí tuệ do tổn thất nơi não nhưng lại cực kỳ tài năng.  Họ không thể cắt nghĩa được hiện tượng dị thường này cho dù họ biết về nó gần 200 năm rồi.   Bà May Lempke cũng không thể cắt nghĩa được điều ấy nhưng bà biết chắc rằng nhờ tình yêu mà tài năng ấy được khai mở.

Chúng ta cần đọc đi đọc lại nhiều lần câu chuyện của bà May Lempke với những gì bà đã làm được cho Leslie nhờ tình thương không mệt mỏi của bà.  Nó đặc biệt thích hợp với chúng ta ngày nay vì ba lý do;

Thứ nhất, bằng một cốt chuyện gây cảm động, câu chuyện cụ thể hoá sứ điệp hàm chứa trong các bài đọc hôm nay, được gọi là giáo huấn của Đức Giêsu về việc yêu thương nhau.
Thứ hai, nó đã cụ thể hoá thành một cốt chuyện lý do tại sao chúng ta lại dành ngày hôm nay để làm Ngày Cho Mẹ, bởi vì, thông thường, các bà mẹ sống lời Đức Giêsu dạy về tình thương một cách kiên nhẫn và trung thành hơn bất cứ nhóm người nào khác.

Sau cùng, câu chuyện cũng cụ thể hoá năng lực kinh khủng của tình yêu.  Những gì mà bà May đã làm vì tình yêu cho Leslie qủa thật là lạ lùng.  Đó chính là những gì Đức Giêsu đòi hỏi phải có cho một tình yêu thương đích thực.  Đó là một phương cách để tạo nên những phép lạ trong đời sống của những người thuộc thời đại này, đúng như cách Đức Giêsu đã tạo nên những phép lạ trong đời sống của những người thuộc thời đại Ngài.

Qua tình yêu, Thiên Chúa đã để chúng ta tùy nghi sử dụng cái năng lực mãnh liệt nhất, trên thế gian này, đó là thứ năng lực mà mọi tiền của trên thế gian không thể mua được.  Đó là thứ năng lực mà mọi tri thức trên thế gian không thể tạo ra được.  Đó là thứ năng lực mà mọi lãnh tụ trên thế giới không thể chiếm hữu được.  Đó cũng là thứ năng lực mà mọi đạo quân trên trần thế không thể tập trung lại được.  Và kiều kỳ diệu hơn nữa, Tình yêu là năng lực mà mọi người đều có.
Bất chấp nam hay nữ
Bất kể thuộc tôn giáo nào
Bất kể thuộc quốc tịch nào
Bất kể được giáo dục theo phương pháp nào.
Tình yêu chẳng dành riêng cho người khoẻ mạnh
Cũng chẳng dành riêng cho người giàu có
Cũng chẳng dành riêng cho kẻ khôn ngoan
Cũng chẳng dành riêng cho người danh giá.
Tình yêu dành cho tất cả mọi người
Tình yêu làm cho tất cả chúng ta bình đẳng
trước mặt Thiên Chúa và bình đẳng đối với nhau.

Đây chính là Tin Mừng chứa đựng trong các bài đọc Kinh Thánh hôm nay.  Đây là Tin Mừng có khả năng biến đổi thế giới chúng ta một cách tuyệt hảo chẳng khác nào tình yêu của bà May Lempke đã biến đổi thế giới của Leslie.  Đây chính là Tin Mừng mà chúng ta phải rao to từ trên mái nhà và sống với nó thật trọn vẹn.
Và nếu chúng ta làm được như thế, chúng ta cũng có thể làm được những phép lạ bằng tình yêu của chúng ta ngay trong kiếp sống này y như Đức Giêsu đã làm nên những phép lạ nhờ vào tình yêu của Ngài trong thời gian Ngài sống trên dương thế.

LM Mark Link