Sunday, June 21, 2026

Live To Be Eighty

 

I recently picked a new primary care physician.

After two visits and exhaustive lab tests, he said

I was doing "fairly well" for my age.

 

A little concerned about that comment, I couldn't resist asking him,

- "Do  you think I'll live to be 80?"

He asked,

- "Well, do you smoke tobacco or drink beer/wine?"

- "Oh no," I replied. "I've never done either".

Then he asked, 

- "Do you eat rib-eye steaks and barbecue ribs?"

I said 

- "No, I've heard that all red meat is very unhealthy!"

- "Do you spend a lot of time in the sun, like playing golf/sailing/ballooning/rock climbing ?"

- "No, I don't," I said.

He said, 

- "Do you gamble, drive fast cars, or sexually fool around ?"

- "No," I said. "I've never done any of those things".

He looked at me and said, 

- "Then why do you give a shit if you live to be 80 ?"

 

Fun Funky

Khi “Đàn Bò Vào Thành Phố” - Quốc Nguyên


Tháng Tư năm đó, trời Sài Gòn không nắng gắt như mọi năm. Không hiểu sao, nắng nhạt như vừa bị ai rút mất linh hồn. Những con đường quen bỗng trở nên xa lạ, như thể thành phố đã linh cảm được điều gì đó đang đến.

Người ta bắt đầu nói nhỏ với nhau. Không còn những câu chuyện ồn ào quán cà phê, không còn tiếng cười tự nhiên. Mọi thứ như bị bóp nghẹt bởi một nỗi chờ đợi nặng nề.

Rồi buổi sáng ấy cũng đến. Không có khải hoàn ca. Không có ánh hào quang như những lời tuyên truyền sau này. Chỉ có tiếng xích sắt nghiến trên đường, tiếng giày dép lẫn lộn, và những đoàn người lạ tràn vào thành phố — ngơ ngác, lấm lem, ánh mắt vừa tò mò vừa chiếm hữu.

Người Sài Gòn đứng nép bên lề. Họ nhìn.

Và họ hiểu.

“Đàn bò vào thành phố” ai đó buột miệng nói nhỏ, rồi im bặt. Không phải để miệt thị, mà là một cách diễn tả sự ngỡ ngàng trước một thế giới va chạm: một bên là đời sống đô thị từng quen với tự do, một bên là những con người bước ra từ chiến tranh, mang theo cả một hệ thống niềm tin khác biệt.

Những ngày sau đó, thành phố thay đổi nhanh hơn người ta kịp nhớ. Những bảng hiệu bị tháo xuống. Những cửa tiệm đóng cửa. Những gia đình lặng lẽ biến mất sau một đêm — người đi “học tập”, người tìm đường vượt biển. Tiếng nhạc cũ không còn vang lên. Thay vào đó là loa phường, là những bài ca mới, là những khẩu hiệu cũ kỹ nhưng lặp lại đến mòn tai.

Ba tôi vẫn ngồi trước hiên nhà mỗi chiều, nhìn con đường từng tấp nập giờ thưa dần. Ông không nói nhiều, chỉ hút thuốc. Mỗi điếu thuốc tàn đi, như một phần ký ức bị đốt cháy.

Má tôi thì lặng lẽ hơn. Bà gói ghém mọi thứ như thể chuẩn bị cho một chuyến đi mà không biết bao giờ trở lại.

Những bữa cơm trở nên đạm bạc, nhưng nỗi lo thì đầy lên. Tôi còn nhỏ, chưa hiểu hết. Chỉ nhớ rõ một điều: người lớn không còn cười như trước.

Một buổi tối, điện cúp. Cả nhà ngồi trong bóng tối. Ngoài kia, thành phố cũng chìm trong im lặng lạ lùng. Ba nói khẽ, như nói với chính mình:

– Có những ngày, một dân tộc mất nhiều hơn một thành phố.

Không ai trả lời. Nhiều năm sau, khi đã rời xa nơi ấy, tôi vẫn nhớ về tháng Tư như một vết cắt không lành.

Không chỉ là mất mát vật chất, mà là sự đứt gãy của một đời sống, một niềm tin, một cách làm người. Người ta có thể gọi đó là “giải phóng”. Nhưng trong ký ức của nhiều người, đó là ngày bắt đầu của những cuộc chia ly.

Và mỗi khi tháng Tư trở lại, tôi vẫn thấy đâu đó trong lòng mình một thành phố cũ, một buổi sáng im lặng, và hình ảnh “đàn bò vào thành phố” không phải bằng chân, mà bằng định mệnh.

Sau đêm mất điện ấy, thành phố như bước sang một đời khác. Sáng hôm sau, người ta xếp hàng.

Xếp hàng mua gạo.

Xếp hàng mua nhu yếu phẩm.

Xếp hàng… để được sống một cách hợp lệ.

Những con người từng quen với lựa chọn, bỗng phải học lại cách chờ đợi. Không ai dạy, nhưng ai cũng hiểu: từ nay, mọi thứ đều phải xin.

Ba tôi không còn ngồi trước hiên nữa. Một ngày, người ta đến gọi tên ông. Không ồn ào, không giải thích dài dòng. Chỉ là một tờ giấy, vài câu nói ngắn gọn: “Đi học tập.” Má tôi đứng chết lặng. Tôi không hiểu “học tập” là gì, chỉ thấy cái cách ba xếp lại chiếc áo sơ mi cũ, chậm rãi như thể ông biết chuyến đi này sẽ rất dài.

Trước khi đi, ông nhìn tôi, đặt tay lên đầu:

– Ở nhà nghe lời má.

Câu nói giản dị nhưng ánh mắt ông lúc đó… như gửi lại cả một đời. Ba đi, rồi không có tin tức, kể từ đó ba không trở về nữa…

Thành phố tiếp tục đổi thay. Những căn nhà bị “quản lý”. Những người lạ dọn vào, nói cười lớn tiếng, dùng những vật dụng mà chủ cũ từng nâng niu.

Có những đêm, tôi thấy má ngồi lặng trước bàn thờ, không khóc, nhưng đôi vai rung nhẹ.

Người ta bắt đầu rời đi.

Ban đầu là vài người. Sau đó là nhiều người. Tin đồn về những chuyến vượt biển lan đi như gió. Nguy hiểm, ai cũng biết. Nhưng ở lại — dường như cũng là một kiểu nguy hiểm khác, âm thầm hơn.

Một tối, má gọi tôi lại.

– Con có sợ không?

Tôi không trả lời. Chỉ nắm chặt tay bà.

Vài tuần sau, chúng tôi lên đường. Không hành lý nhiều. Không lời từ biệt. Chỉ có một đêm tối và một con thuyền nhỏ chờ ở đâu đó ngoài bến nước.

Biển đêm rộng và lạnh. Con thuyền chở đầy người những gương mặt căng thẳng, những ánh mắt không dám nhìn nhau lâu. Mỗi người mang theo một câu chuyện, một mất mát, và một hy vọng mong manh.

Có lúc sóng lớn tưởng chừng lật úp tất cả. Có tiếng trẻ con khóc. Có người cầu nguyện. Có người im lặng như đã giao phó số phận. Tôi nằm sát vào má, nghe nhịp tim bà đập nhanh trong bóng tối.

Lần đầu tiên, tôi hiểu thế nào là sợ. Nhưng cũng là lần đầu tiên, tôi cảm nhận rõ một điều: người ta có thể bị đẩy ra khỏi nhà, khỏi thành phố, khỏi quê hương… nhưng vẫn cố giữ một thứ vô hình — niềm tin rằng ở đâu đó, mình sẽ lại được sống như một con người đúng nghĩa.

Chúng tôi may mắn sống sót.

Nhiều năm sau, ở một đất nước xa lạ, tôi lớn lên. Học một ngôn ngữ khác. Làm quen với một cuộc đời khác.

Nhưng mỗi khi tháng Tư về, ký ức cũ lại trở lại, không cần gọi. Má vẫn giữ thói quen cũ: nấu một bữa cơm đơn giản, thắp nhang, và ngồi rất lâu trước bàn thờ ba.

Phải rất lâu sau, chúng tôi mới biết: ba không bao giờ trở về. Không mộ. Không bia. Chỉ là một cái tên tan vào những trại cải tạo xa xôi, nơi mà thời gian không được đo bằng ngày tháng, mà bằng sự chịu đựng.

Tôi từng tự hỏi: Điều gì còn lại sau tất cả?

Không phải là hận thù, dù nó từng rất gần.

Không chỉ là nỗi buồn, dù nó vẫn còn đó.

Mà là ký ức. Một thứ ký ức không thể xóa, không thể thay thế, và cũng không thể truyền đạt trọn vẹn cho những ai chưa từng sống qua.

Thành phố bây giờ đã khác. Người ta nói nó phát triển, hiện đại, rực rỡ hơn. Có thể đúng. Nhưng với những người như tôi, luôn tồn tại hai Sài Gòn: một của hôm nay, và một của trước tháng Tư. Và giữa hai thành phố ấy là một khoảng lặng không bao giờ lấp đầy.

Nhiều năm trôi qua, tôi bắt đầu hiểu một điều: có những mất mát không ồn ào, nhưng kéo dài suốt một đời.

Ở xứ người, chúng tôi học cách sống lại từ đầu. Má đi làm sớm, về muộn. Những công việc lặng lẽ, không ai hỏi quá khứ. Tôi lớn lên giữa hai thế giới: ban ngày là ngôn ngữ mới, bạn bè mới; ban đêm là những câu chuyện cũ, những cái tên chưa bao giờ được quên.

Có những buổi tối, má kể về Sài Gòn. Không phải Sài Gòn sau này, mà là Sài Gòn trước tháng Tư nơi có tiếng xe, tiếng nhạc, có những quán nhỏ sáng đèn, và con người nói cười không cần dè chừng. Bà kể như giữ lửa, như sợ rằng nếu không nhắc lại, ký ức sẽ bị thời gian xóa mất. Tôi hỏi má:

– Có ngày nào mình quay về không?

Má im lặng rất lâu.

– Quê hương… không phải lúc nào cũng là nơi để trở về.

Câu nói ấy theo tôi suốt những năm trưởng thành. Rồi một ngày, khi đã đủ lớn, tôi trở lại. Má không đi cùng. Bà bảo:

– “Con cứ đi, nếu con cần hiểu.”

Tôi biết, có những vết thương không phải ai cũng muốn chạm vào.

Chiếc máy bay hạ xuống trong một thành phố đông đúc, sáng đèn, ồn ào. Người ta nói đủ thứ ngôn ngữ, nhưng tôi vẫn nhận ra âm điệu quen thuộc đâu đó trong từng câu nói.

Sài Gòn… vẫn là Sài Gòn.

Nhưng cũng không còn là Sài Gòn.

Tôi đi qua những con đường cũ, tìm lại căn nhà năm xưa. Nó vẫn còn đó, nhưng đã đổi chủ từ lâu. Cánh cửa sơn lại, hàng rào khác đi, không còn dấu vết nào của gia đình tôi — như thể chúng tôi chưa từng tồn tại ở nơi này.

Tôi đứng bên kia đường, nhìn. Không trách. Không giận. Chỉ thấy một khoảng trống kỳ lạ, như nhìn vào một bức ảnh mà mình từng ở trong đó, nhưng giờ bị cắt ra.

Tôi tìm đến nghĩa trang cũ. Không có tên ba. Chỉ là những hàng mộ nối dài, những tấm bia vô danh, và gió thổi qua như kể lại những câu chuyện không ai còn nhớ rõ. Tôi thắp một nén nhang, không biết gửi về đâu, chỉ mong rằng ở một nơi nào đó, ba sẽ nhận được.

– “Con đã về.” Tôi nói nhỏ.

Không có câu trả lời, nhưng lòng tôi nhẹ đi một chút.

Những ngày sau, tôi đi nhiều hơn, nghe nhiều hơn. Thành phố này có những con người sinh ra sau mọi biến động, họ sống nhanh, sống gấp, và có khi không mang cùng ký ức với thế hệ trước. Tôi không trách họ.

Ký ức là thứ không thể ép buộc.

Nó giống như một dòng sông ai đã từng trôi qua thì nhớ, còn người đứng trên bờ thì chỉ thấy nước chảy.

Đêm cuối trước khi rời đi, tôi đi dọc con đường cũ. Đèn vẫn sáng. Người vẫn đông. Không ai biết tôi là ai, và tôi cũng không cần ai biết. Chỉ có một điều tôi hiểu rõ hơn bao giờ hết:

Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra, mà là nơi những ký ức của mình còn được giữ lại. Dù ở lại hay ra đi, dù mất hay còn, những gì thuộc về tháng Tư năm ấy… vẫn nằm đó, trong một góc rất sâu của mỗi con người.

Khi máy bay cất cánh, tôi nhìn xuống thành phố lần nữa. Không còn giận dữ. Không còn hoang mang. Chỉ còn một nỗi buồn lặng lẽ và một lời hứa không thành lời:

Rằng tôi sẽ kể lại. Để một ngày nào đó, ai đó nghe được, và hiểu rằng có một thời, một thành phố đã đổi đời trong im lặng, và có những con người đã mang theo cả quê hương mình đi suốt phần đời còn lại…


Ký ức Tháng Tư

Boston, Massachusetts

Quốc Nguyên

Mối Tình Thủy Thủ - Nguyễn Duy Phước

Những Tháng Ngày Không Quên - Hoàng Thị Doãn

 

Đúng là những ngày tháng không quên thật! Sau 30.4.75, tôi bị ở lại Việt Nam là một điều quá ngu xuẩn rồi. Tự mình làm hại mình và hại cả tương lai con cái nữa. Niềm đau này thật không làm sao phôi pha được với thời gian, vết thương trong lòng tôi cứ chua xót ngậm ngùi!


Nhớ lại ngày tôi vào trình diện tại trường SNA cũng là ngày không quên được nữa! Bước chân đến trường với tâm tư hoang mang cùng cực, không biết rồi đây mình sẽ làm gì và sẽ được đối xử như thế nào đây? Vừa vào đến sân trường đã thấy một số bạn bè ngồi sẵn trên các ghế đá, nhìn nhau nhếch mép không nổi; ai còn ai ở lại đều rõ cả rồi.

Nhìn kỹ các bạn đồng nghiệp, tôi thấy có người đã mặc áo bà ba quần đen. Có lẽ phải thay đổi cách ăn mặc như vậy mới thích nghi với hoàn cảnh mới chăng? Và Cộng Sản vào đây chỉ để làm cho con người trở nên quê mùa xấu xí mà thôi?!

Qua bao thủ tục như khai tên họ, nộp lại thẻ căn cước v.v… Chúng tôi trở lại nghề “gõ đầu trẻ” của mình. Ngay hôm khai giảng, nghe bài Quốc Ca dưới sân trường mà tôi rùng mình và muốn khóc! Tôi cứ bàng hoàng không thể ngờ được có một ngày quê hương tôi đều nhuộm đỏ như thế này! Viết đến đây, tôi lại nhớ có một lần phải điều khiển buổi lễ chào cờ, một bạn đồng nghiệp của tôi đã bắt đầu bài Quốc Ca “Này công dân ơi….”. Chúng tôi qua một thoáng sững sờ, muốn cười quá sức mà đành phải nín lặng.

Tôi may mắn hơn các bạn dạy Văn, Sử; môn Khoa học mà tôi phụ trách thì dù ở thời đại nào cũng phải diễn tả trung thực mà thôi. Chỉ tội nghiệp xót xa cho các bạn tôi, giảng bài mà không dám nhìn thẳng vào mặt học sinh, chỉ biết nhìn bức tường trước mặt và cố đóng cho xong vai trò. Nói dối quá sức như vậy làm sao khỏi hổ thẹn lương tâm của một nhà giáo đã chứ!


Những ngày tháng kế tiếp của chúng tôi thật nặng nề, chán nản, hội họp liên miên khiếp quá! Suốt tuần không có ngày nào được ở nhà. Buổi sáng vào lớp dạy, chiều lại họp. Chao ôi! Họp kiểu gì mà họp dữ vậy không biết? Nào là họp Tổ chuyên môn, họp Khối chủ nhiệm, họp Công đoàn, họp Ban đời sống, họp Ban văn nghệ rồi làm sổ sách, cộng điểm, phê học bạ… Trong phòng giáo sư, luôn luôn có một cái bảng đen chia ra 2 phần: Một phần ghi những việc làm tốt, phần kia là những việc chưa tốt. Điều làm tôi đau đầu và chán nhất là buổi họp đầu tháng, không có tháng nào là không có kế hoạch thi đua. Thí dụ “kế hoạch hái hoa dâng Bác” chẳng hạn. Lại còn thi đua giữa học sinh, thi đua giữa các giáo sư, các tổ chuyên môn, đăng ký dạy giờ, dự giờ, ngồi phê bình kiểm thảo lẫn nhau. Ra khỏi phòng họp là chân bước không muốn nổi và chỉ muốn “thua đi” cho nó rồi.


Sau đó lại có mục kết nạp các giáo viên vào Công đoàn; Ban Giám Hiệu cho đó là một vinh dự; còn tôi, tôi lại thấy chính sự kết nạp này nhằm để gây chia rẽ trong hàng ngũ giáo sư. Người chưa được kết nạp sẽ bị coi như là ý thức chính trị chưa tốt; nhưng làm sao tốt được, dù có chẻ đầu óc chúng tôi ra làm hai rồi nhét các chủ thuyết Karl Marx và Lénine vào, cũng thế thôi. Hè đến còn phải học chính trị nữa, năm đầu tiên phải học luôn 3 tháng; những giờ học tập dài lê thê và buồn ngủ quá! Ngoài miệng chúng tôi cũng thảo luận hăng say lắm nhưng thật ra chỉ nói như vẹt, ra khỏi phòng học là không biết mình nói cái gì nữa!

Sống với chế độ Cộng Sản thật đúng là chế độ làm bần cùng hóa nhân dân. Ngày nào các Thầy Cô ăn mặc áo quần sang trọng đẹp đẽ, được đám học sinh coi như thần tượng mà bây giờ mỗi Thầy Cô xách tòn ten mỗi người một túm cá, hay 1 túm thịt, một chút bột ngọt, một gói đường… Thật không còn vẻ hào hoa phong nhã của ngày nào! Một số học sinh thường nói với chúng tôi rằng:

– Chúng em nhìn thấy các Thầy Cô như vậy, thần tượng trong lòng chúng em tiêu tan hết!

Cũng đành tiêu tan thôi các em ơi! Vì chính bao tử của các Thầy Cô cũng cần chúng nó kia mà! Chúng tôi thường gọi loại cá này là cá “long hội“, có nghĩa là ăn vào nó sẽ lôi họng mình ra vì quá xương. Nhớ lại việc chia nhu yếu phẩm này mà buồn, cũng có nhiều vị đâm ra so bì cái này ngon, cái kia dở. Cuộc sống thê thảm quá! Đã vậy, ngay các thức cần dùng hằng ngày cũng không được phân phát đầy đủ: 3 người lãnh chung một ống kem đánh răng, hai người lãnh chung một cái mùng hay một cái vỏ xe đạp (xin nói rõ là phải trả tiền chứ không phải cho không đâu). Còn áo quần thì năm nay chỉ mua được 2 mét vải, chỉ may được cái áo thôi, chờ sang năm mới có quần và khi đó cái áo đã muốn rách rồi! Quá chán chường với chính sách bần cùng này nên có dịp là chúng tôi châm biếm mỉa mai. Có một lần đang trong buổi họp, đến giờ giải lao, các Thầy được cho đi lãnh quần đùi. Lãnh xong mặc luôn vào ngoài quần tây rồi trở vào ngồi họp, xem như không có gì xảy ra, làm cho chúng tôi cười một trận đến nôn ruột luôn.


Cứ thế với thời gian, chúng tôi gầy gò xanh xao dần. Đồng lương không đủ sống, nửa tháng lãnh lương một lần, cầm mấy chục bạc trong tay mà ngao ngán thở dài, không biết làm sao mà sống đủ trong hai tuần đây? Chúng tôi phải bán dần các thứ còn lại trong nhà để phụ thêm vào, theo đúng chủ trương “sạch nhà, sạch cửa”. Có một thời gian chúng tôi ăn toàn bo-bo, bột mì rồi đến khoai mì thay cơm; ăn làm sao cho hết một ngày cả mấy chục kilô khoai mì, mà để lâu thì bị hư thối, tháng đó bị hụt phần lương thực rồi đó. Ăn không đủ no mà lại làm việc quá nhiều, bắt chúng tôi phải soạn giáo án đầy đủ. Thật là một việc làm vô ích khi những bài dạy từ năm này qua năm kia đã nằm sẵn trong đầu óc chúng tôi, vậy mà đêm về phải thức viết lại ra giấy.


Ngoài ra, còn có hai việc khốn nạn nhất là trực đêm và trực cho heo, gà ăn. Gọi là trực đêm chứ nếu có ăn trộm vào gỡ hết gạch ngói của nhà trường, chúng tôi cũng không biết. Mà có biết cũng chẳng dám làm gì vì đàn bà chúng tôi vốn dĩ đã nhát gan rồi. Chỉ việc ban đêm đến trường, leo lên lầu, vào phòng giáo sư bật cho được ngọn đèn lên cũng đã quá mừng rồi. Sau đó, đóng chặt cửa leo lên bàn nằm và trông cho mau sáng; khổ nhất là đứa nào cũng muốn nằm vào phía trong chứ không chịu nằm ngoài gần cửa lớn, cuối cùng đành “oánh tù tì” thôi.

Tuy vậy, trực đêm chưa khốn khổ bằng trực heo, gà. Chủ trương chính sách gia tăng sản xuất, nhà trường đã dùng gầm cầu thang để nuôi; chỉ một đàn gà và hai ba con heo mà mỗi ngày đêm có ba ca trực, mỗi ca hai giáo viên. Chúng tôi thường nói lũ heo gà này thật tốt số, chúng được săn sóc kỹ hơn con cái của chúng tôi nữa. Chúng tôi đi suốt ngày thì giờ đâu mà chăm lo cho con, chúng học được chữ nào hay chữ đó, nhiều khi cơm cũng không kịp nấu mà ăn. Đó là chưa kể ngày lễ hay ngày chủ nhật phải đem học sinh đi dự lễ hay làm vệ sinh phường khóm nữa.

Tắm heo và cho gà ăn mà cũng có bảng nội quy treo sẵn trong phòng giáo sư, ai làm chưa tốt được nêu tên lên bảng đen liền. Cho gà ăn còn đỡ, tôi sợ nhất là tắm heo. Phải xắn quần, chui vào gầm cầu thang, người hơi cao như tôi lại càng khổ thân hơn nữa. Phân heo và nước lẫn lộn, bước vào hai chân cảm thấy ghê ghê làm sao! Việc đầu tiên là nắm ngay lấy vòi nước, nhắm mắt nhắm mũi dội cho phân trôi bớt đi đã, phần thì sợ heo cắn nên cứ xịt tưới vào mình nó rồi muốn cho nó đứng yên thì lấy bàn chải mà chà khắp mình. Có lẽ heo cũng giống người, sau khi tắm rửa mát mẻ xong, nó cũng thích đi dạo. Do đó có một lần sau khi tôi tắm cho nó xong, nó đã xổng chuồng chạy luôn, không làm sao chặn đuổi theo kịp. Cả trường vắng lặng vì đang có giờ học, vậy mà con heo hứng chí chạy ngay vào một lớp học, có lẽ nó cũng muốn “dự giờ”! Tôi vừa chạy theo vừa la lên, làm cho cả lớp hôm đó cười một trận đích đáng; cuối cùng cả thầy lẫn trò phụ nhau dắt nó về chuồng.

Tôi quá chán ngấy việc đi dạy học này rồi, ít ra cũng phải đủ ăn, công sức mình bỏ ra phải được đền bù xứng đáng. Muốn dạy tốt, học sinh phải học tốt; đằng này chính các em cũng chưa đủ no, làm sao học được? Vào lớp các em nằm ngay trên bàn mà ngủ vì 2 giờ sáng đã phải thức dậy phụ với mẹ lo dọn hàng. Nhìn thấy cả một thế hệ trẻ đang đi thụt lùi dần mà đau lòng vô cùng!


Tôi phải kéo lê những ngày buồn chán này vì nếu không có nghề nghiệp gì trong khi chồng đi cải tạo, cả nhà phải dọn đi Kinh Tế Mới. Cuộc sống thật nặng nề ngột ngạt, về địa phương làm gì cũng sợ bị để ý: Năm ba người bạn đến thăm, ngồi quây quần nói chuyện với nhau cho đỡ buồn cũng sợ bị Công an nghi ngờ. Đến trường gặp thêm cái nạn bắt phải bài trừ “văn hóa đồi trụy” như các băng “nhạc vàng” phải xóa hết hoặc cấm không cho nghe các đài ngoại quốc như BBC, VOA… Đầu óc luôn luôn bị căng thẳng, hôm nay đồn đổi tiền, ngày mai nghe đồn chuyện khác mà mỗi lần đổi tiền, nhân dân lại khốn đốn thêm vì vật giá leo thang vùn vụt. Lần đổi tiền đầu tiên tôi sợ quá, mỗi gia đình chỉ đổi được 200 đồng thôi. Cầm số tiền trong tay, tôi đã khóc, cứ sợ làm sao đủ sống, do đó cứ cho các con ăn toàn bí ngô và rau muống triền miên. Công nhân viên mỗi tháng mua được nửa ký thịt giá chính thức, còn ngày Tết mới mua được một ký-lô nhưng phải ra phường khóm xếp hàng từ 3 giờ sáng.


Sau 3 năm không chịu đựng nổi, tôi đã quyết định nghỉ dạy dù chưa biết làm gì để sống? Các bạn tôi cũng muốn nghỉ dạy lắm nhưng phần lớn ai cũng sợ vì ngoài việc đi dạy học có quen làm nghề gì khác đâu!

Tôi thì nhất định liều! Sống gì mà ngày qua ngày chỉ thấy mệt mỏi chán chường, không có gì vui cũng không có gì phấn khởi cho chân muốn bước tới. Tôi nộp đơn xin thôi việc, Ban Giám Hiệu đã nhiều lần đến nhà yêu cầu tôi vì các em học sinh mà ở lại, nhưng ai lo cho bao tử mấy mẹ con tôi đây? Bắt đầu đưa đơn là tôi không đặt chân đến trường nữa, dù chưa có quyết định nghỉ việc. Tôi không nhận thêm gì từ tiền lương cho đến nhu yếu phẩm.

Sau ba tháng thấy tôi không thay đổi lập trường, Ban Giám Hiệu đành chuyển đơn lên Bộ Giáo Dục. Kể từ đó, tôi mới thấy tâm hồn mình được thảnh thơi nhẹ nhàng rất nhiều. Tôi đi theo một nhóm học trò cũ ra đứng bán ở Chợ Trời, các em tập cho tôi buôn bán. Ra đến đây mới thấy thật đáng thương cho nghề giáo của mình, học hành chữ nghĩa thì nhiều nhưng cũng lại nghề đói nhất. Trong khi ở thế giới này, họ có cần văn chương trí thức gì đâu, vậy mà con cái họ được no ấm đầy đủ hơn con chúng tôi.

Những ngày đầu tiên ở đây, tôi cảm thấy tủi nhục quá, khó mà thích nghi với môi trường này, về nhà nằm xuống chỉ muốn khóc. Nhưng các con tôi cần cơm áo, tôi không lo cho chúng thì ai lo đây, chúng cần phải no để mà học. Do đó, tôi chai lì dần với thời gian, đã gọi là Chợ Trời rồi thì Thầy Cô cũng thế thôi, ngang hàng nhau hết.

Ô hô! Mỗi cuộc đời đảo lộn, ai giải phóng ai đây?

Khi đọc “Thương Nhớ Mười Hai” của Vũ Bằng ta thường bâng khuâng tiếc nuối những tháng Tư của dĩ vãng ấu thơ, vào hè của tuổi thơ với những nao nức về ngày nghỉ sắp tới, vội vã trao cho nhau những cuốn lưu bút ngày xanh ép đầy những cánh phượng đỏ thắm! Nhưng đến một tháng Tư kinh hoàng cách đây 30 năm thì những huyền diệu tháng Tư đã sụp đổ tan tành không vương vấn một dư âm nào của khúc nhạc ngày hè năm xưa! Bây giờ mỗi tháng Tư đi qua đời mình là một thẫn thờ hoài niệm khoảng thời gian mở đầu cho những gian nan thử thách với giông bão của cuộc đời.

30.4.75, ngày đau thương tang tóc cho toàn dân miền Nam Việt Nam, ngày sụp đổ của một chế độ không lấy gì làm tốt đẹp lắm để thay thế bằng một chế độ khác biệt trăm lần khác biệt và bạo tàn hung ác hơn.

Cứ mỗi tháng Tư vào hè trên quê hương, tôi không thể nào quên được 14 năm ở lại gian nan cùng cực, một thời gian khủng khiếp, vô hình đã trở thành một ấn tượng bi thảm cho người dân Việt Nam về hai tiếng 30/4.

Tháng Tư của kinh hoàng, của đau thương, của nghèo đói, của thử thách và cũng phải là khởi điểm của tranh đấu, hy vọng, tin yêu để tái tạo lại một quê hương Việt Nam thanh bình tươi sáng, hạnh phúc và tự do.


Hoàng Thị Doãn

Saturday, June 20, 2026

Ông Già Cha Cha Cha - Latin Disco Dance

Tị Nạn Và Việt Kiều 50 Năm Sau Chiến Tranh - Lâm Văn Bé


Người tị nạn đông như kiến và sinh hoạt bắt đầu từ sáng sớm đến chiều. Nhà ăn mở cửa ba buổi, sáng, trưa, chiều tối. Tôi nhớ có một lần đứng xếp hàng để lãnh đồ ăn. Tôi nói với người phát đồ ăn:

- Give me chicken legs.

Và những đùi gà thơm ngon được bỏ vô đầy dĩa. Người đàn ông đi sau thấy ngon cũng xin đùi gà, nhưng không hiểu sao người phát đồ ăn cứ lắc đầu và bỏ đầy cổ gà lên dĩa của người đàn ông nọ. Ông ta trả lại và muốn nói đùi gà… Người phát đố ăn lại lấy cổ gà bỏ lên dĩa.

Bực mình quá ông ta la lớn:

- Give me chicken negs.

- What? Người phát đồ ăn hỏi to:

- Chicken negs? Người đàn ông lập lại.

- Chicken negs? Người phát đồ ăn hỏi lại.

- Yes, chic-ken-negs. Người đàn ông gằn giọng.

- Okay, here your chicken necks.

- Đù… Thằng Mễ nầy nó khùng rồi ta. Người đàn ông bực tức nói. Tôi thấy vậy nên phải lên tiếng: Anh phải nói là chicken legs chứ không phải chicken negs. Anh nói như vậy nó hiểu là cổ gà. (Đồng Sa Băng. Dấu chân người tị nạn. Pendleton).

Câu chuyện cổ gà, đùi gà là điển hình một hoạt cảnh trong một trại tị nạn người Việt ở Pendleton. Vào tháng 4/1975, trong khi quân sĩ Việt Nam Cộng Hòa còn đang chiến đấu trên khắp các mặt trận thì tại Pendleton (California), 958 chiếc lều vải màu xanh quân đội và 140 lều Quonset đã được thiết lập trên một thung lũng bên cạnh những ngọn đồi thơ mộng để chờ đón người tị nạn Việt Nam. Đó là trại tiếp cư đầu tiên cùng với 3 trại tiếp cư khác là Fort Chaffee ở Arkansas, Eglin Air Force Base ở Florida và Fort Indiantown Gap ở Pennsylvania lần lượt được thiết lập sau đó để đón nhận 130.000 người Việt di tản, mở đầu cuộc di cư và lập cư vĩ đại của người Việt trên đất Mỹ và thế giới.

Người tị nạn


Người tị nạn là người di dân, nhưng người di dân không tất nhiên là người tị nạn. Theo điều 1, chương 1 của Hiến Chương Geneva của Phủ Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner Refugees = UNHCR), “người tị nạn là người lo sợ một cách chính đáng bị ngược đãi, bị áp bức, hiểm nguy đến mạng sống vì lý do tôn giáo, chủng tộc, quốc tịch, tham gia hiệp hội quan điểm chính trị, phải rời bỏ quốc gia cư trú, và khi trở vể không có bảo đảm an ninh”. Trong ý nghĩa ấy, khi Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, một số người Việt phải bỏ nước ra đi để tránh sự trả thù của Cộng sản, và số khác, sau khi bị Cộng sản cầm tù, đày đọa trong các trại cải tạo cũng phải tìm cách trốn chạy.

Tùy thời điểm, hoàn cảnh lúc ra đi cũng như luật pháp của các quốc gia đón nhận, người tị nạn đến được bến bờ tự do bằng ba cách: Di tản, Vượt biển Vượt biên, Ra đi có trật tự. Đan xen vào 3 hình thức ấy, chính phủ một số quốc gia chấp nhận người “di cư- tị nạn” theo diện nhân đạo.

1 - Giai đoạn đầu tiên (1975-1978): di tản

Từ tháng 4/1975, một số người VN có tiền, có thế lực đã âm thầm rời VN bằng các phương tiện cá nhân hay nhờ không vận Mỹ. Theo ký giả Philippe Franchini trong Les guerres d’Indochine, thì “trước khi Cộng sản chiếm Saigon đã có 22.300 người đã rời VN (tr.431).

Với đạo luật Indochina Migration and Refugee Act, Hoa Kỳ chấp nhận cho 200.000 người Việt và người Miên (trong đó có 130.000 người Việt) được nhập cảnh vào Hoa Kỳ với qui chế tạm dung (parole). Đối với Canada, theo lời yêu cầu của Mỹ, chính phủ Canada cũng chấp thuận 2.000 người Việt nhập cư đã được Mỹ di tản đến các trại tiếp cư Subic Bay, Guam, Wake, Pendleton.

Tuy không chuẩn bị cuộc ra đi, nhưng những di dân trong đợt nầy làm lại cuộc sống tương đối dễ dàng nhờ có người mang theo được tài sản, có trình độ học thức, có ý chí tái xây dựng và nhất là có sự giúp đỡ của chính phủ cũng như các cơ quan thiện nguyện lúc ban đầu. Đến nay, đa số lớp người nầy đã lần lượt ra đi, hay chờ ra đi trong các viện dưỡng lão.

2 - Giai đoạn 2 (1979 -1990): Vượt biển

Chính sách tù đày, thù hận và kinh tế suy sụp của Cộng sản đã khiến người Việt tìm đủ mọi cách ra đi dù phải hi sinh mạng sống. Số thuyền nhân đến Mỹ (và các quốc gia khác trên thế giới) đa dạng, từ trí thức đến thợ thuyền, nhưng tất cả đều trắng tay sau khi bị Cộng sản cướp đoạt tài sản từ trong nước cho đến lúc xuống thuyền vượt biển, và tả tơi khi đặt chân lên đất mới. Đứng lên sau bao năm khổ lụy, họ phải tận dụng sức cần lao, khối óc và tinh thần chịu đựng trong trường học cũng như trên trường đời để tái xây dựng. Nói chung, đa số họ là lớp người thành công trong nhiều lãnh vực, đặc biệt trong thương trường.

3 - Giai đoạn 3 (1990-2000): Ra đi trong trật tự

Những người ra đi trong giai đoạn nầy thuộc thành phần cựu tù nhân cải tạo đến Mỹ theo diện HO (Humanitarian Operation) hay HR (Humanitarian Resettlement Program) và những người tị nạn được thanh lọc. Họ là những người kém may mắn nhất khi còn ở trong nước cũng như khi ở ngoài nước. Trong nước, họ đã gian khổ chiến đấu chống kẻ thù và nếu may mắn không chết trên chiến trận thì chết trong nhà tù hay bị kẻ thù hành hạ tàn tệ. Ngoài nước, khi đến đất Mỹ, thể xác họ đã suy yếu vì tuổi đời, tìm việc khó khăn vì kinh tế suy thoái. Một số người lại kém may mắn hơn khi bị người thân, bạn hữu ngoảnh mặt, có khi còn bị ruồng bỏ, khinh khi. Dù trong mỏi mệt vật chất và tinh thần, đa số tập thể di dân nầy tham gia nhiệt thành với các người đến trước vào các sinh hoạt cộng đồng và các phong trào tranh đấu cho nhân quyền tại VN. Tuy nhiên, vẫn có một thiểu số người bỏ cuộc, sống trong yếm thế, có khi còn đi đi về về VN để bớt đi những ngày tháng lạc lõng trên một đất nước mà họ mơ ước trước khi họ chưa đến.

Số người tị nạn VN (thuyền nhân và ODP) trên thế giới từ 1975 đến 1996

1975-1978: Thuyền nhân: 107.613 người

1979: Thuyền nhân: 202.121 (cao điểm) + ODP: 1.979 (mới bắt đầu)

1975 - 1996: Thuyền nhân: 805 950 + ODP: 604 598

Tổng cộng Thuyền nhân + ODP = 1.410.648 người

Ngoài ra phải kể thêm 42.918 người Việt vượt thoát qua Thái Lan bằng đường bộ.

(Statistiques du UNHCR dẫn bởi Patrick Gubry, Population et développement au Vietnam. p. 288)

Số người tị nạn VN định cư tại các quốc gia trên thế giới từ 1975 đến 1996

Mỹ: 878.341; Canada: 162.777; Úc: 157.729; Pháp; 46.331; Đức: 28.896; Anh: 24.240;

Na Uy: 10.024; Hòa Lan: 9.538; Thụy Điển: 9.091; Nhựt: 8.126; Thụy Sĩ: 7.300;

Đan Mạch: 7 004; Tân Tây Lan: 6 077; Bĩ: 5 158; Phần Lan: 2 601; Ý: 678; Áo: 605;

Taiwan: 263; Côte d’Ivoire: 262; Nouvelle-Calédonie: 233; Ái Nhĩ Lan: 203; Hong Kong: 162; Hi Lạp: 125; Luxembourg: 114; Các nước khác: 105 . Tổng cộng 1.373.389 người

Statistiques du UNHCR dẫn bởi Patrick Gubry. Population et développement au Vietnam p.289).

4 - Giai đoạn 4 (từ sau 2000 đến nay): di dân kinh tế và nhân đạo

Từ sau năm 2000, di dân tị nạn gần như không còn, những người đến định cư trong thời gian sau nầy tại Mỹ và các quốc gia Tây phương là những di dân kinh tế và nhân đạo; tại các quốc gia Đông Âu và Đông Á là những xuất khẩu lao động dưới nhiều dạng khác nhau.

Tại Mỹ, đa số những di dân định cư và tạm cư thuộc các thành phần có thế lực của chế độ Cộng sản, đến Mỹ với tài sản hợp pháp và bất hợp pháp. Họ mua nhà, mua đất ở các khu sang trọng, các cơ sỏ kinh doanh lớn nhỏ, lần lần tạo thành một lớp người “Việt mới” mà người tị nạn gọi là Việt cộng.

Nhà báo, nhạc sĩ Tuấn Khanh, trong bài viết tựa là “Khu định cư mới của Việt cộng ở Quận Cam, USA” có những đoạn như sau: Trên con đường dài dẫn ra Huntington Beach có những khu nhà rất đẹp mà chủ nhân hầu hết là người Việt… Bạn tôi, một người đã sống ở nơi nầy, gần bằng thế hệ người Việt đầu tiên đặt chân đến Mỹ sau tháng 4/1975, nói rằng đó là những khu định cư mới của Việt cộng. Những ngôi nhà đó được mua rất nhanh trong khoảng vài năm gần đây, mỗi căn từ 450.000 cho đến hơn 1 triệu USD, cho thấy có một nguồn ngoại tệ khổng lồ được chuyển ra khỏi ngoài nước Việt Nam, để xây dựng một ước mơ thầm kín và khác biệt bên ngoài tổ quốc của mình. Phần lớn những người này đều nói giọng miền Bắc mới. Họ có một lối diễn đạt thời thượng thật ấn tượng. Anh bạn tôi, một người làm real estate, môi giới mua bán bất động sản kể lại cuộc trò chuyện với một khách hàng như vậy, và được biết nhà được mua bằng tiền mặt, mà người khách dằn giọng “tiền tươi”. Không chỉ ở nơi đó, nhiều năm gần đây, cộng đồng Việt Nam ở Texas cũng hay nói với nhau rằng khu Bellaire đang càng ngày càng nhiều những người chạy khỏi Việt Nam hợp pháp như vậy. Thậm chí, không chỉ xùy tiền nhanh để mua nhà, lớp này rất nhiều tiền, họ mua luôn cả cơ sở thương mại. Từ các tiệm nail với giá vài chục ngàn cho đến các siêu thị vài chục triệu USD…”

Đa số những người Việt mới đến đất Mỹ và các nước Tây Phương giàu thật, nhưng họ nghèo tư cách. Hầu hết họ là những người ít học, làm giàu bằng tham nhũng và làm ăn bất chánh trên một đất nước càng ngày càng cạn kiệt tài nguyên và gia tăng nghèo đói. Bằng cách ứng xử thô lỗ và trịch thượng của người Cộng sản, họ làm tổn thương uy tín của tập thể người Việt tị nạn đã trưởng thành trong tinh thần tự do dân chủ và được sự nể trọng của các quốc gia định cư.

Tị nạn và Việt kiều

Trong một hội nghị với các cán bộ tại Hà Nội năm 1975, Trần Phương, Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học Xã hội đã ví von một cách thô tục dân miền Nam là “những con điếm cho Mỹ làm tình để đổi lấy viện trợ”. Cùng trong tư tưởng dâm ô ấy, Lê Duẩn mạt sát những người di tản là “một bọn ma-cô, đĩ điếm”, Phạm văn Đồng chửi người ra đi là bọn phản quốc, và các nhà báo, nhà văn Cộng sản, kể cả bọn Cộng sản 30 cũng chửi hùa theo là “đồ rác rưởi trôi dạt khắp năm châu bốn bể, cặn bã xã hội, trây lười lao động, chạy theo bơ thừa sữa cặn“. Nguyễn Trọng Nhân, Bộ Trưởng Y tế còn ác độc hơn khi tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn năm 1993 tại Amsterdam: “Nên treo cổ hết bọn phản động ấy”.

Nhưng từ năm 1990, khi Cộng sản bắt đầu nhận tiền của người tị nạn gởi về, “bọn đĩ điếm” được cộng sản “nâng cấp” lên là Việt kiều, và ân tình hơn, Đỗ Mười tuyên bố “ Việt Kiều là những khúc ruột ở bên ngoài ngàn dặm của dân tộc.”

Bởi lẽ chính sách chiêu dụ người Việt ở hải ngoại không thành công với những lời phỉnh nịnh hạ cấp vì chỉ lôi kéo được một thiểu số người háo danh và vô dụng, năm 2004, Phan Diễn, Ủy Viên Bộ Chính trị xảo quyệt hơn ghi trong Nghị Quyết 36:“Đảng và Nhà Nước luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam”.

Từ đó, các nhà lãnh đạo cũng như giới truyền thông Cộng sản ra rả một cách trơ trẽn và lố bịch cái câu nầy để dụ dỗ Việt Kiều, nhưng đối với người tị nạn, họ đã quá rõ bản chất dối trá và phản bội của Cộng sản nên họ để ngoài tai.

Tưởng cần hiểu từ nguyên chữ Việt kiều để thấy rõ thâm ý của Cộng sản. “Kiều” chữ Hán có nghĩa là ở nhờ, ở làng khác hay nước khác được dùng làm tĩnh từ cho những danh từ như “kiều dân” là người sống ở ngoài lãnh thổ mà người đó đã được sinh ra, “kiều bào” là đồng bào ở nước ngoài. Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, người Hoa sống ở VN được gọi là Hoa Kiều và chế độ Hà Nội gọi những người Việt sống ở nước ngoài và ủng hộ họ là “Việt kiều yêu nước”.


Người Việt bỏ xứ ra đi tị nạn không phải là Việt kiều, kiều bào, vì những người nầy đã không chấp nhận chế độ Cộng Sản, đã sinh cơ lập nghiệp vĩnh viễn trên một quốc gia khác, đã có quốc tịch của một quốc gia khác. Gọi người tị nạn là Việt kiều, Cộng sản có gian ý là muốn “tóm thâu” cái khối chất xám nầy là “con dân” của họ, vẫn còn đặt dưới quyền sinh sát của họ.

Nghị định số 78/2009/NĐ về Luật Quốc tịch Việt Nam xác định rõ quan niệm nầy, theo đó bao giờ người mang quốc tịch VN chưa được chính phủ VN cho phép từ bỏ quốc tịch, người ấy vẫn còn quốc tịch VN dù rằng người ấy đã có quốc tịch Mỹ, Canada, Úc… Càng lộng ngôn và ngang ngược hơn, với con cháu của người Việt tị nạn, dù sinh ra và lớn lên tại các quốc gia định cư của ông cha họ, cộng sản cũng xem những người nầy vẫn có quốc tịch Việt Nam nếu chưa làm đơn xin bỏ quốc tịch và chưa được chính phủ VN chấp thuận.

Về điểm nầy, chúng ta thấy rõ chánh sách trơ tráo, đánh lận con đen của Cộng Sản.

Theo điều 13, khoản 2, Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2008 quy định rằng: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch VN theo qui định của pháp luật VN thì vẫn còn quốc tịch VN và trong thời hạn 5 năm phải đăng ký với cơ quan đại diện VN ở nước ngoài để xin giữ quốc tịch, nếu không, sau ngày ngày 1/7/2014 sẽ mất quốc tịch”.


Sau 5 năm, chỉ có khoảng 6.000 người ghi tên xin giữ quốc tịch. Trái với dự tính vì số người xin giữ quốc tịch quá ít, tháng 7/2014, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký luật gia hạn cho người muốn giữ quốc tịch thêm 5 năm nữa, tức là sẽ chấm dứt ngày 1/7/2019.

Ngôn từ Cộng Sản thật lươn lẹo, lật lọng. Sau ngày 1/7/2019, người Việt ở hải ngoại mặc nhiên vẫn còn quốc tịch VN, vẫn bị chi phối bởi Luật quốc tịch VN giải thích “rộng rãi” theo luật rừng.

Chính bà Ngô Bá Thành, chuyên viên xách động xuống đường thời VNCH, được Cộng sản phong chức Chủ nhiệm Ủy Ban Pháp Luật Quốc Hội đã ví von: Việt Nam có một rừng luật và áp dụng luật rừng.

Đối với những Việt Kiều yêu nước, Cộng Sản muốn gọi tên gì thì cứ gọi và sai bảo điều gì thì cứ làm. Nhưng đối với người Việt tị nạn Cộng sản, họ không phải là Việt kiều, Kiều bào, mà là người Mỹ, người Canadian, người Pháp, người Úc, người Đức gốc Việt… Phải gọi chính danh như vậy. Người tị nạn nào tự nhận là Việt Kiều hay Kiều Bào là vô tình hay cố ý tự nhận mình thiên Cộng hay thân Cộng, nếu không, là ngu xuẩn.

Nhân dịp tham dự hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Asean vào tháng 5/2022. Thủ tướng Phạm Minh Chính đã phát biểu trước một “nhúm Việt Kiều” của ông là: “Thủ tướng giao trách nhiệm cho Đại sứ quán thúc đẩy, tạo điều kiện cho Cộng đồng người Việt với tinh thần tốt nhất, phát triển nhanh nhất” (Báo Thanh Niên online 14/2/2022).

Thật là láo khoét, hợm hĩnh và lố bịch. Ông Thủ tướng có biết chăng khi đến các nước Tây Phương, nhất là đến Mỹ thì các ông phải cúi mình trước các nhà lãnh đạo để xin xỏ, bị người Mỹ gốc Việt biểu tình phản đối. Các ông dụ dỗ chất xám về nước giúp đỡ thì chỉ có một thiểu số tiến sĩ được đảng gởi đi mới trở về . Một đất nước dẫy đầy tham những từ trung ương đến tận làng xã, giáo dục đại học lạc hậu vì tiến sĩ giấy thì thử hỏi, toà đại sứ các ông là các đảng viên ngu dốt, thiếu tư cách thì có tài cán gì mà giúp Cộng đồng người Việt ở Mỹ phát triển nhanh nhất?

Cũng ông Thủ Tướng gốc công an của chế độ công an trị nầy, nhân buổi gặp mặt một số “kiều bào” tại San Francisco ngày 17/9/2023, ông đã tuyên bố: “Mong 2.2 triệu kiều bàotiếp tục đóng góp cho đất nước và quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ” (Báo điện tử Chính phủ 18/9/2023).

Từ lời phát biểu trên, tưởng cần xác định với chính quyền Cộng sản ai là Việt kiểu, Kiều bào:

1- Tại Pháp

Trước năm 1975 có Hội Việt Kiều Yêu Nước của chế độ Cộng sản miền Bắc với Cờ Đỏ Sao Vàng và Tổng Hội Sinh Viên của chế độ Việt Nam Cộng Hòa với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Sau năm 1975, Hội Việt Kiều Yêu Nước đổi tên là Hội Người Việt tại Pháp (Union Générale des Vietnamiens en France – UGVF) tập hợp tất cả người Việt sinh sống tại Pháp xem như là kiều bào của nước Việt Nam Cộng Sản. Hội Ngưởi Việt tại Pháp có phương tiện nhân lực và tài lực của Toà Đại sứ CS nên họ bao sân, tổ chức nhiều sinh hoạt các loại, đặc biệt là tuyên truyền cho chế độ trong nước. Tuy nhiên, số người tham dự càng ngày càng ít vì hội viên già yếu và các hội viên trẻ lần lần xa lánh chế độ vì bất tài thối nát. Trong bài tường thuật của ông Nguyễn Tuấn Anh, Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương của Mặt Trận Tổ Quốc VN nói chuyện với Việt kiều tại Pháp có đoạn:”… Tuy số hội viên không nhiều nhưng số tình cảm viên không giới hạn… Đang say sưa câu chuyện thì đổng chí cán bộ Đại Sứ quán vào thông báo đã hết giờ”. Không phải hết giờ, Việt Kiều tại Pháp đã hết thời rồi. (Hội Ngưởi Việt tại Pháp: kết nối và đồng hành, Tạp chí Mặt Trận 26/2/2018).

Về phía người tị nạn, họ tổ chức nhiều hội đoàn để tập hợp những Cộng đồng người tị nạn nhằm mục đích ưu tiên là chống Cộng sản, trong đó có Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tự Do. Tại Pháp, bởi lẽ các hội đoàn bị chi phối bởi Đạo luật 1905 cấm không cho hoạt động chính trị, do đó các hội đoàn lập ra “Văn Phòng Liên Lạc các Hội Đoàn người Việt Quốc Gia tại Pháp” để tổ chức các sinh hoạt văn hóa xã hội và có khi biểu tình phản đối các đán áp bạo lực trong nước.

Như vậy, phát sinh từ bối cảnh lịch sử, danh từ Việt kiều, Kiều bào là tên gọị những người Việt thân Cộng và theo Cộng sinh sống tại Pháp. Vào năm 2015, dựa vào số thống kê các loại, có khoảng 300.000 ngườ i VN gồm 200.000 người sinh sống ở Pháp trước năm 1975 và người tị nạn lần lượt đến Pháp sau năm 1975 đã nhập tịch và 70.000 người chờ có quốc tịch, không kể 20.000 di dân tạm trú trong đó có khoảng 6.000 sinh viên (Giá Tự Do / Lâm Vĩnh Bình, p.203).

2- Tại Anh

Người Việt tại Anh là những người tị nạn khốn khổ nhất khi đến nước Anh. Họ là những thuyền nhân ra đi từ miền Bắc đến Hong Kong bị giam trong các trại, được Thủ tướng Anh Margaret Thatcher ký nhận 10 000 người. Năm 2011, UK Census cho biết số người Việt là 28.978 người nhưng có ít nhất là 70.000 người sống bất hợp pháp bằng di cư lậu qua eo biển Manche, visa du lịch rồi ở lại. Người Việt tại Anh bị nỗi bất hạnh ở hai đầu: giới trí thức chuyên nghiệp bị xấu lây là đồng hương của bọn bất lương, người nghèo khổ trở thành nạn nhân và đồng bọn (trồng cannabis, buôn người, mại dâm, trộm cướp). Tất cả bị Tòa Đại sứ Cộng sản khống chế, họ thật sự là kiều bào của Việt cộng.

3- Tại Đức

Người Việt tại Tây Đức là người tị nạn, công dân của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, hội nhập vào xã hội và văn hóa Đức, nói thông thạo tiếng Đức và con cháu họ thường có học thức cao, đóng góp vào dòng chính của nước Đức. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ (tháng 11/1989) và nước Đức thống nhất, tại vùng Đông Đức cũ có 60.000 người xuất khẩu lao động và du sinh VN cộng sản được chính phủ Đức cấp tiền để hồi hương, nhưng phân nửa số người không chịu về, họ cùng với những đồng hương ở Liên Sô và Đông Âu tràn qua Đức xin tị nạn chính trị, tạo thành một khối 50.000 người cư trú và sinh hoạt bất hợp pháp (bán thuốc lá lậu, trồng cần sa, tổ chức mại dâm, làm băng dĩa lậu…). Họ thành lập nhiều hội lớn nhỏ sống ghetto với nhau dưới trướng của hội Liên Hiệp Người Việt toàn Liên Bang Đức trực thuộc Tòa Đại sứ VN (danh xưng gian xảo: toàn Liên Bang Đức). Như vậy, vào năm 2019, tại Đức có khoảng 150.000 người trong đó có khoảng 50.000 Việt kiều là những người xuất khẩu lao động, nhập cư lậu, dĩ nhiên là những người theo Cộng sản.

4- Tại các quốc gia Tây Âu và Bắc Âu

Đa số người Việt đến các quốc gia nầy từ năm 1978 đến năm 2000 là những người tị nạn và đoàn tụ gia đình (riêng với Bĩ và Thụy Sĩ có một số sinh viên đến trước 1975 là những người định cư vĩnh viễn, phần lớn đã nhập tịch). Những người đến sau năm 2000 là những người tạm cư gồm du sinh, xuất khẩu lao động và những người nhập cư bất hợp pháp. Cả hai nhóm nầy có quan điểm chính trị đối lập nhau: nhóm trước chống Cộng, nhóm sau thân Cộng.

Tổng cộng số người Việt tai 8 quốc gia: Thụy Sĩ, Bĩ, Ý, Hoà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan và vài quốc gia khác khoảng 125.000 người.

5- Tại các quốc gia ở Á Châu 

      * Đài Loan là quốc gia bị tai tiếng nhất ở Á Châu về chánh sách bóc lột người Việt xuất khẩu lao động và bạc đãi các cô dâu thông qua các công ty môi giới trá hình của bọn buôn người. Từ hàng chục năm qua, thảm cảnh nầy đã đánh động lương tâm thế giới, nhưng chính phủ VN vẫn thờ ơ, để mặc cho bọn môi giới thỏa hiệp với tham nhũng phe đảng của nhà nước bóc lột người nghèo đói. Có khoảng 220.000 người Việt trong đó thường xuyên 80.000 xuất khẩu lao động luân chuyển mỗi năm và 120.000 phụ nữ kết hôn với đàn ông Đài Loan (Wikipedia).


  1.   Đại Hàn cũng giống như Đài Loan là quốc gia nhận xuất khẩu lao động và cô dâu VN, nhưng tương đối khả quan hơn Đài Loan về chính sách đối xử.Theo Korea Immigration Service năm 2.020 dẫn bởi KBS World Vietnamese, có 220.000 người Việt.

  2.   Nhật Bản là quốc gia đầu tư và viện trợ hàng đầu cho VN và cũng là quốc gia chấp nhận người xuất khẩu lao động nhiều nhất sau Trung Quốc. Tháng 6 năm 2.024, số lượng người Việt tại Nhật là 600.348 người có qui chế tạm trú (theo Wikipedia) dưới nhiều dạng từ nghiên cứu sinh, kỹ sư, nữ điều dưỡng đến làm vệ sinh nhà cầu. Nhật Bản cần rất nhiều lao động chân tay, chỉ có Trung Quốc và VN là được “ưu tiên”. Ngoài ra phải kể chỉ có khoảng 5.000 người có quốc tịch Nhật là những người kết hôn với người Nhật. Người Việt ở Nhật có nhiều đặc điểm nhất: lao động siêng năng nhất, nhưng ăn cắp nhiều nhất, tội phạm nhiều nhất, sinh viên giả dạng nhiều nhất (trong số 60 000 người đến Nhật với visa học vấn chỉ có 5.000 đi học, số còn lại đi làm chui), di dân bất hợp pháp nhiều nhất qua các các công ty xuất khẩu lao động làm ăn với chính phủ, và nếu phải kể thêm là nhân viên các tòa lảnh sự, sứ quán bị trục xuất nhiều nhất vì phạm pháp.Chưa có quốc gia nào bị người dân và chính phủ khinh rẻ như Việt Nam.

  3.   Miên, Lào, Thái: Người Việt tại Cao Miên đa số là vô tổ quốc. Trừ một thiểu số đã di cư đến từ lâu đời, đã nhập quốc tịch, đa số người di cư cũ mới đều bị chính phủ Miên kỳ thị không có hộ tịch, bị tước đoạt giấy tùy thân, sống lang bạt trên sông rạch làm nghề đánh cá hay trên ruộng rẩy làm nghề nông, nhà cửa thô sơ, tuơng lai bất định. Đó là những người Việt có số phận bi đát nhất, Không có thống kê, dân số chỉ là phỏng định. Theo RFA, năm 2.016 có 156.000, nhưng theo CIA chỉ có 10% (16.000), số còn lại không đươc Miên công nhận. Tình trạng người Việt ở Thái và Lào tương đối dễ dàng hơn, mỗi nơi có chừng 100.000 người.

6- Tại một số quốc gia ở Đông Âu

Người Việt tại Đông Âu gồm 3 thành phần:

  1.  Người đã có quốc tịch hay có giấy chứng nhận thường trú: đó là những người XKLĐ hay sinh viên đã lâu đời đã được hợp thức hóa cùng với các hậu duệ

  2.  Người XKLĐ theo hợp đồng

  3.  Người di cư bất hợp pháp: ở lại sau khi hết hợp đồng, nhập cư lậu, trở thành phạm pháp tràn lan ở Đông Âu và cả Âu Châu (tổ chức đưa di dân lậu qua Đức, Pháp và điểm đến sau cùng là Anh bởi luật pháp về ma túy ở Anh nhẹ hơn các nơi khác). Ba Lan hiện nay là trung tâm sản xuất cần sa lớn nhất ở Đông Âu mà các người cầm đầu đường dây đa số là người Việt.

Các quốc gia có đông đảo người Việt:

  1.   Nga: có giấy phép lao động chính thức là 14.700 người (2018) nhưng ở lậu có thể đến 100.000 người (Wikepedia)

  2.   Tiệp Khắc: sau 1993 chia thành 2 nước: Tchécoslovaquie (Séc) thừa kế Tiệp Khắc về phương diện pháp lý: 35 000 (2014) (Wikepedia)

Tổng cộng người Việt tại Đông Âu khoảng 250 000 ngưởi gồm dân hợp lệ khoảng 100.000 và dân tạm cư gồm XKLĐ, du sinh, nhập cư lậu khoảng 150.000.

Tổng kê số người Việt ở hải ngoại(số chẵn, phỏng định)

Tị nạn

Quốc gia

Số người

Nguồn (chú thích)

Hoa kỳ

2.350.000

US Census 2023

Canada

275.000

Canada Census 2021

Úc

300.000

Australian Census 2023

Pháp

300.000

2020 (tổng hợp nhiều thống kê)

Đức

150.000

2019 (100.000 tị nạn, 50.000 XKLĐ)

Anh

100 000

2011 (trong đó 70 000 bất hợp pháp)

Tây & Bắc Âu

125 000

2020 (trong đó 30 000 bất hợp pháp

Tổng cộng tị nạn

3.600.000

trong đó có 150.000 bất hợp pháp, XKLĐ

Định hợp pháp - tạm cư (XKLĐ, du sinh, bất hợp pháp

Đài Loan

230.000

(XKLĐ: 80.000, cô dâu: 120.000)

Đại Hàn

220.000

XKLĐ, cô dâu

Nhât Bản

600.000

XKLĐ (Wikipedia 6/2014)

Miên, Lào, Thái

300.000

Đa số không hộ tịch

Đông Âu

250.000

100.000 định cư, 150.000 bất hợp pháp XKLĐ

Phi Châu, Trung Đông

100.000

XKLĐ

Tổng cộng định cư

1.600.000

Tổng cộng người Việt ở hải ngoại: khoảng 5, 2 triệu người

Chú thích

  1.  Ba quốc gia có số người tị nạn đông nhất là Mỹ, Úc, Canada. Đó là thành trì của người Việt quốc gia chống Cộng, tôn trọng Cờ vàng ba sọc đỏ, bào vệ và phát huy dòng văn học và văn hóa Việt Nam hải ngoại. Số người Việt tại 3 quốc gia nầy là 2.925.000 người gồm có Hoa Kỳ: 2.350 000 (2023), Úc: 300.000 (2023), Canada: 275.500 (2021).

  2.  Về người xuất khẩu lao động (XKLĐ), trừ những người XKLĐ được miền Bắc gởi đi trước 1975 và sau 1975 đến các quốc gia thuộc khối Liên Sô (cũ) là theo Cộng sản. Trái lại, những người XKLĐ là những người dân vì nghèo đói trong nước phải chấp nhận đi nước ngoài để kiếm sống bằng cách trả tiền cho các công ty môi giới lao động từ 5000 đến 15 000 Mỹ kim gọi là lệ phí. Họ hay thân nhân họ phải bán nhà, bán đất hay thế chấp tài sản cho ngân hàng (gọi là sổ đỏ). Số phận họ bị đong đưa theo vận may, hi vọng trả hết nợ để có chút vốn khi về nước. Nhưng thế giới Cộng sản là thế giới của lừa đảo. Nhiều công ty môi giới đưa người ra nước ngoài rồi phủi tay, hành xử theo lối đem con bỏ chợ. Người XKLĐ bị áp bức, bị bóc lột, không được trả lương như hợp đồng, bị hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn, bơ vơ nơi xứ người không biết liên lạc với ai. Thảm cảnh của những người XKLĐ cũng như những cô dâu kết hôn với Đài Loan, Đại Hàn… không bút mực mà nói hết được. Chính sách XKLĐ của Công sản đã phơi bày bản chất vô trách nhiệm, vô nhân đạo, lợi dụng sự nghèo đói của người dân để chia chác với những công ty quốc doanh hay phe nhóm của cấp lãnh đạo nhẫn tâm bóc lột người nghèo. Đó là một tội ác của bọn vô học, vô đạo.

  3.  Về người di cư, định cư bất hợp pháp

    Nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối diện với tình trạng định cư bất hợp pháp do nhập cư lậu, người đến với visa du lịch rồi ở lại sau khi hết hạn, người XKLĐ ở lại sau khi hết hợp đồng, các tổ chức mafia và buôn người đưa người nhập cảnh lậu qua Nga hay Trung Quốc rồi đến Pháp, Đức và sau cùng là Anh Quốc. Ngoài ra, tại Nga, Tiệp Khắc, Ba Lan, Đông Đức (cũ) , mỗi nước có từ vài ngàn đến vài chục ngàn người Việt nhập cư lậu, tập trung tất cả các tội phạm tổn hại đến uy tín của người Việt Nam.

Nói tóm lại, Cộng Sản thật ác độc, chúng cướp miền Nam rồi đẩy dân Việt Nam ra ngoại quốc gồm 3, 6 triệu người tị nạn và 1, 6 triệu người xuất khẩu lao động và nhập cư bất hợp pháp.

Việt Kiều, Việt Cộng và Nghị Quyết 36


Nhiều người Việt tị nạn không biết hay xem thường những tác hại của Nghị Quyết 36 viện lẽ không làm chính trị. Ban hành vào tháng 3 năm 2004, Nghị Quyết 36 nhằm mục đích chiêu dụ người Việt ở hải ngoại và đem tài sản về nước để gọi là đầu tư, đồng thời tìm cách khống chế lực lượng người Việt ngoài nước. Nói chung, Nghị Quyết 36 có thể tóm lược trong 5 điểm:

  1. Giúp người tị nạn trong việc sinh sống
  2. Giúp người tị nạn đoàn kết lẫn nhau
  3. Thu góp tiền bạc và chất xám
  4. Biện pháp đối với các thành phần ở hải ngoại chống lại Đảng và Chánh phủ
  5. Tổ chức văn hóa vận và tình báo ở hải ngoại

Nhận định từng điểm, NQ 36 mang bản chất láo khoét, gian manh, thù nghịch và trịch thượng.

1- Giúp người tị nạn trong việc sinh sống

Trong một buổi gặp mặt với các “kiều bào” tại California ngày 17/05/2022, cũng ông Thủ tướng Phạm Minh Chính ra chỉ thị: “Thủ tướng yêu cầu các cơ quan đại diện ngoại giao tiếp tục chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của bà con, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt sinh sống, làviệc…” (https://www.vietnamplus.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-gap-mat-kieu-bao-tai-california)

Thật là lố bịch và sống sượng. Các ông có uy tín, có khả năng gì mà giúp cho người Việt ở Mỹ sinh sống. Các ông đã và đang biến người dân trong nước, nhất là miền Nam, trước kia trù phú thì nay trở nên bần cùng, xã hội mất đạo lý, các tiến sĩ mua bán như ở chợ trời, giáo dục tụt hậụ, tham nhũng từ ông đảng trưởng đến ông xã trưởng. Các ông xuất cảng đủ thứ tệ trạng gian manh tại những nơi mà nhân công cán bộ các ông đi qua, làm xấu xa dân tộc. Tại Nhật, Mã Lai, Thụy Điển, nhiều cửa hàng treo bảng hiệu: “Cảnh cáo ăn cắp / No dog, no Vietnamese”

Một đất nước mà sinh viên vừa tốt nghiệp là… thất nghiệp, nhưng chính phủ các ông lại tự hào công bố “giai đoạn 2017-2023, gần 860.000 lao động VN ra nước ngoài làm việc…” ( https://vnbusiness.vn/viet-nam/gan-860-000-lao-dong ). Trên thế giới, có quốc gia nào lùa hằng triệu người dân nước mình đi làm lao động cho nước ngoài rồi buộc nguời lao động chia lương?

2- Giúp người tị nạn đoàn kết lẫn nhau


Khuynh đảo, lừa gạt, xảo trá là sở trường của Cộng Sản. Chúng áp dụng kỹ chiến thuật tuyên truyền của Goebbels: Nhắc đi nhắc lại hoài một sự việc không đúng sự thật, ban đầu người ta không tin, lần lần người ta bán tín bán nghi, sau cùng người ta tin là sự thật. Internet và báo chí là những phương tiện hữu hiệu để chúng bôi lọ những người quốc gia tranh đấu chân chính, làm yếu đi lực lượng chống Cộng để từ đó chúng đưa người của chúng vào các hội đoàn. Nhiều tổ chức tranh đấu chính trị đã bị chẻ làm đôi, làm ba và khi các cộng đồng hay tổ chức này bị chúng đánh cho yếu đi hay tan vỡ thì chúng dùng tiền để mua chuộc đám Việt kiều, Việt gian nhảy ra làm bình phong cho chúng hoạt động. Mặc dù chúng dùng mọi mưu chước nhưng cho đến nay, chúng vẫn không thành công lắm trong công tác vận động quần chúng ở Bắc Mỹ, Úc và vài quốc gia ở Tây Âu.

Tuy nhiên, chính sách vừa chiêu dụ vừa khủng bố của Cộng sản có gây tác hại tại Bắc Âu và Đông Âu. Trong các thập niên qua, các tòa đại sứ hay lãnh sự Cộng sản đã nỗ lực thiết lập và củng cố 13 cộng đồng người Việt theo chủ trương của NQ 36: “… Nếu chúng ta phát huy cao độ các lợi thế của các lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài để phân hóa, cô lập các lực lượng phản động thì chúng ta có thể hạn chế một cách hiệu quả thiết thực các thế lực thù địch…”. Mười ba cộng đồng Cộng sản nầy là: 4 tại các quốc gia trước đây là cộng sản (Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga, Đông Đức), 4 tại các quốc gia có nhiều xuất khẩu lao động (Đại Hàn, Đài Loan, Qatar, Angola), 5 tại các quốc gia ít có người tị nạn (Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Sĩ).

3 - Thu góp tiền bạc và chất xám

Chuyện chiêu dụ người Việt nước ngoài gởi tiền về trong nước và thu góp tiền của những người xuất khẩu lao động thì quá rõ.

Theo Migration Policy Institute (MPI) dựa vào biểu đồ thống kê Annual Remittance flows by Vietnam, 2000 - 2023, tổng cộng số ngoại tệ người Việt gởi về VN (Cộng sản gọi là kiều hối) là 177 tỉ mỹ kim (năm 2000: 1.60 tỉ, năm 2023: 14 tỉ). Theo bài viết của Mặt trận Đại Đoàn Kết tựa là Cộng Đồng Người Việt ở nước ngoài đăng ngày 09/02/2024: “Dòng kiều hối đổ về Việt Nam đã có sự dịch chuyển từ tiêu dùng, hỗ trợ gia đình sang đầu tư, kinh doanh trong nước. Kiều hối năm 2023 đạt 16 tỉ USD, tăng 32% so với năm 2022. Tổng lượng kiều hối từ 1993 – 2023 đạt khoảng 230 tỉ USD, tương đương với nguồn vốn FDI đã giải ngân trong cùng kỳ”.

Thực ra, số tiền chính phủ Cộng sản thu góp về từ năm 1980 đến nay phải cao hơn rất nhiều, vì ngoài số thống kê chính thức như của MPI kể trên, còn phải kể thêm tiền gởi chui, tiền tiêu xài của gần nửa triệu người VN về “thăm quê hương”, tiền đóng góp của khoảng 1 triệu người xuất khẩu lao động trước khi đi và suốt thời gian làm việc.

Về phía người tị nạn, thật là khó hiểu khi nhiều người đã ra đi tìm cái sống trong cái chết để vượt biển, vượt biên sau những ngày đói rách, khổ nhục hay bị lao tù trong nước. Chẳng bao lâu sau đó, họ lại quay trở về để tiếp tục luồn cúi, nịnh bợ công an, cán bộ phường xã, những người trước đó không lâu là kẻ thù của họ. Vui thú, vinh quang gì? Cứ mỗi lần Tết đến, có khoảng nửa triệu người về VN ăn Tết, mỗi người mang về VN quà tặng và chi tiêu trung bình khoảng 4000 mỹ kim, như vậy Cộng sản có được dễ dàng ít nhất 2 tỷ mỹ kim ngoại tệ chỉ trong hai tháng. Ngoài ra, việc gởi tiền về VN triền miên từ hơn 40 năm qua để gọi là giúp đỡ thân nhân cũng là hiện tượng cần suy nghĩ, bởi lẽ chính số ngoai tệ khổng lồ nầy đã nuôi dưỡng, củng cố chế độ và duy trì một lớp thân nhân ỷ lại lười biếng, thỏa hiệp với công an để được dễ dàng trong cuộc sống. Dưới lăng kính nầy, người tị nạn có khác gì những Việt kiều yêu nước hay xuất khẩu lao động thân Cộng? Có gì phi lý hơn, khi người Việt ở Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Tây Đức là thành trì chống Việt Cộng, nhưng đồng thời cũng là đại ngân hàng tài trợ cho Việt Cộng.

4- Biện pháp đảng Cộng Sản đối với “thế lực thù địch” ở hải ngoại

Ngay từ đầu năm 1976, những Cộng Đồng Người Việt (hay còn gọi là Hội Người Việt) đã bắt đầu được hình thành để phát triển tinh thần ái hữu, tương trợ, hỗ trợ và tổ chức các sinh hoạt tranh đấu cho tự do và nhân quyền trong nước và ngăn chận các sinh hoạt tác hại đến tinh thần quốc gia ngoài nước. Đối với Cộng sản, các Cộng đồng nầy là một lực lượng chính trị nguy hiểm mà họ phải triệt hạ bằng nhiều mưu chước theo Nghị Quyết 36.

Tập san Cộng sản, cơ quan chính thức của đảng đã viết:

“… Tính đến nay, có hơn 100 tổ chức chính trị phản động người VN ở hải ngoại đang nuôi chí phục thù nhằm thực hiện ý đồ đen tối phục quốc. Cầm đầu các hội, các nhóm trên là những phần tử cực đoan, từng là ngụy quân ngụy quyền cũ, có nhiều nợ máu với cách mạng. Chúng đã, đang móc nối, cấu kết chặt chẽ với nhau và với bọn phản động trong nước để hoạt động chống phá cách mạng nước ta…” (Tạp chí Cộng sản. Phát huy vai trò của Cộng Đồng ( http://tapchicongsan.org.vn ngày 28/05/2013).

Đến năm 2018, chúng vẫn còn giữ nguyên giọng hằn học: “Hơn 40 năm sau ngày phải bỏ xứ ra đi, sống đời lưu vong vất vưởng ở nơi đất khách quê người, một số kẻ chống Cộng cực đoan vốn là tàn dư của một chế độ bán nước hại dân vẫn không tỉnh ngộ để kết thúc bẽ bàng của số phận, vẫn nuôi ảo vọng về ngày phục quốc...” (Mặt thật chống Cộng của người Việt nước ngoài / Tuyên giáo, 25/10/2018).

Sở dĩ chính quyền Cộng sản hằn học như vậy vì cho đến nay, không một người lãnh đạo nào của chính phủ Cộng sản đến các quốc gia Tây phương mà không bị các Cộng đồng tị nạn biểu tình phản đối, có khi phải nhục nhã vô ra bằng cửa đặc biệt không có nghi thức ngoại giao.

Theo một nghiên cứu của Như Ngọc T. Ông và David Meyer, chỉ trong vòng 25 năm, từ 1975 đến 2001, Cộng Đồng người Việt tại Mỹ đã tổ chức hơn 200 cuộc biểu tình hợp pháp chống lại chánh sách cai trị của Cộng sản, vi phạm nhân quyền hay sự có mặt của những nhân vật cao cấp của VN đến Mỹ (Protest and Political Incorporation. Vietnamese American Protest in Orange County, California 1975-2001).

Ngoài ra, bởi lẽ VN không có chính nghĩa, tại nhiều quốc gia trên thế giới, Cờ vàng ba sọc đỏ được công nhận tượng trưng là quốc kỳ của Việt Nam Cộng Hòa hay là Cờ Tự Do và Di Sản (Freedom and Heritage Flag).

5 - Tổ chức văn hóa vận và tình báo

  1.  Trường dạy tiếng Việt và sinh hoạt tập thể cho thanh thiếu nhi là lò huấn luyện, tuyên truyền. Tại những nơi có đông đảo người Việt, cán bộ Cộng sản chủ động hay hợp tác với các đoàn thể, tư nhân mở trường dạy tiếng Việt, đưa sách báo từ VN sang, hay soạn sách theo quan điểm tuyên truyền cho Cộng sản. Những buổi sinh hoạt tập thể là những cơ hội thuận lợi để cán bộ hay thầy cô thân Cộng rỉ tai, hướng dẫn những măng non theo tư tưởng Cộng sản. Tùy mức độ ảnh hưởng, chính sách văn hóa vận nầy tạo một tư tưởng chống đối của giới trẻ với ông cha trong công cuộc chống Cộng. Trong đại hội “Tổng kết 10 năm thực hiện NQ36” ngày 22 tháng 5, 2014, Thứ Trưởng Giáo Dục Trần Quang Quý đã có chỉ thị rõ rệt “… Cần sớm có quy chế về việc dạy tiếng Việt cho người Việt nước ngoài, đặc biệt thế hệ thứ ba, thứ tư để việc kết nối giao lưu được thuận lợi…”

  2.  Xâm nhập các cơ quan truyền thông
    Cộng Sản đã tung ra hàng triệu mỹ kim để thành lập, hùn vốn mua chuộc các cơ sở truyền thông ở hải ngoại, bề mặt chửi bới Cộng Sản linh tinh, nhưng thỉnh thoảng gài vào những bản tin, bài viết vận động chính trị chiến lược có lợi cho Cộng sản. Trong bản tổng kết Hội nghị Người Việt nước ngoài lần thứ hai từ ngày 27-29 tháng 09 năm 2012 ở TP Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã nói rõ chương trình hành động: “Tăng cường công tác thông tin đối ngoại, tăng cường đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt ở nước ngoài như đài phát thanh, TV, báo chí, thông qua tổ chức các buổi giao lưu văn hóa, nghệ thuật, triển lãm tranh ảnh về đất nước, các hoạt động”.

  3.  Gởi sư quốc doanh ra hải ngoại lập chùa, tu viện

  4. Chùa là nơi gia đình người Việt tị nạn gặp nhau để lễ Phật, niệm kinh, và còn là nơi sinh hoạt xã hội, văn hóa. Biết như vậy, Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã ký kết với Hòa Thượng Thích Thanh Tứ (Tứ chớ không phải Thích Thanh Từ) Phó Chủ tịch Hội Đồng Trị sự Giáo Hội Phật giáo VN ngày 16 /07/2009 một văn kiện nhằm “ phối hợp cộng tác phât sự ở nước ngoài, mở rộng quan hệ, hoạt động của giáo hội sang các nước có đông kiều bào sinh sống”. Từ hàng chục năm nay, tại hải ngoại có nhiều chùa, tu viện được thành lập, mà sinh hoạt chùa không theo truyền thống tôn nghiêm của Phật pháp. Những ngôi chùa nầy tổ chức đại nhạc hội, du lịch, thi hoa hậu và nhiều sinh hoạt của đời thường. Một số thầy chùa, sư nữ gốc là công an, tác phong không phù hợp với người tu hành, làm người phật tử chân chính chán ngán. Ngôi chùa trở nên cơ sở kinh tài cho cá nhân và đảng, sư quốc doanh làm công tác báo cáo, tuyên truyền cho chế độ. Nghị Quyết 36 đã làm tổn hại rất nhiều đời sống tâm linh của người tị nạn.

Kết luận

Ngay từ khi đặt chân trên đất mới, người Việt tị nạn đã mang theo mối thù với Cộng Sản. Trực diện với khó khăn, con người cần tìm gặp nhau để đùm bọc che chở cho nhau, do đó các Hội ái hữu, Hội người Việt (còn có tên là Cộng đồng người Việt) lần lượt ra đời ngay từ 1976 để điều hợp và phát triển các sinh hoạt ái hữu, hội nhập và chính trị của người Việt trong vùng.

Ngoài sinh hoạt riêng theo mục đích của từng hội, mẫu số chung của tất cả các hội là chủ trương quốc gia, hay nói khác là chống Cộng Sản. Mỗi người có mỗi cách chống Cộng khác nhau: có người hăng hái đi biểu tình chống đối những vi phạm nhân quyền của Cộng sản tại quê hương, có người nhất định không về VN, không giúp đỡ VN dưới mọi hình thức, có người viết văn viết báo chống đối chế độ, nhưng đa số, dù không tham gia các sinh hoạt nổi hay chìm, tâm tư của gần như tất cả người Việt là không chấp nhận chế độ Cộng sản.

Nói đến thế hệ con cháu là nói đến một nỗi ưu tư khác. Đa số thế hệ người Việt thứ hai và đặc biệt thế hệ thứ ba đã quá hội nhập vào xã hội định cư đến độ quên mất gốc nguồn. Không có một dân tộc nào xóa bỏ căn cước (identité) một cách nhanh chóng như dân tị nạn Việt Nam.


Tuy nhiên, phải hiểu rằng hoàn cảnh lập cư đặc biệt của người Việt, đa số phải bắt đầu làm lại cuộc đời lúc nửa đời người. Họ phải học hỏi và tìm cách hội nhập vào một nền văn hóa xa lạ cùng lùc với con cháu họ, và bởi lẽ ước muốn tạo dựng lại một thế đứng, một quân bình đã khiến họ phó thác cho xã hội mới và văn hóa mới đào tạo đám con cháu họ. Thanh thiếu niên cũng phải phấn đấu tìm chỗ đứng, chúng cũng không muốn suy nghĩ và hành động khác biệt với bạn hữu của chúng là người da trắng, chủ nhân đất nước đã đón nhận chúng. Trong một hoàn cảnh như vậy, nếu đa số người Việt, sau một thời gian làm việc cật lực có thể ổn định được đời sống kinh tế, mua sắm được gia cư, và trẻ con Việt Nam đa số là những học sinh, sinh viên giỏi, những chuyên viên lành nghề, thì chuyện giới trẻ không nói được tiếng Việt, thờ ơ hay quên gốc nguồn cũng là chuyện dễ hiểu. Đó là cái giá hội nhập phải trả của một dân tộc vô tổ quốc, thiếu cơ cấu cộng đồng để nương tựa, thiếu cơ cấu gia đình để gìn giữ giềng mối, đành phải khuất phục hay có khi tự nguyện khuất phục trước sự đàn áp của một ngôn ngữ và văn hóa mạnh hơn.


Ngoài ra, phải kể thêm một yếu tố khác là trong số người Việt ở ngoài nước trên thế giới không phải chỉ có người tị nạn chống Cộng mà còn có người Viêt thân Cộng và Việt cộng. Sau 50 năm định cư trên các quốc gia Tây phương, với nỗ lực học hỏi và xây dựng, đại đa số 3, 6 triệu người tị nạn đã an cư lạc nghiệp, hội nhập vào dòng chính xã hội và trở thành giới trung lưu trở lên. Bất hạnh thay, trong số người Việt đổng hương còn có 1, 6 triệu người không cùng chính hướng. Đó là những người xuất khẩu lao động hợp pháp và bất hợp pháp, những người nhập cư bất hợp pháp, những người phạm pháp. Họ là những nạn nhân của chế độ bạo ngược, thất nhân tâm, buôn người, vì họ phải đóng tiền cho lãnh đạo và đồng bọn để đi làm thuê ở xứ người. Họ cũng là tác nhân tự nguyện làm điều bất phải. Nói cho cùng, so với hàng mươi triệu người nghèo cùng cực ở Việt Nam mà lợi tức mỗi ngày chỉ có 1, 25 mỹ kim, những người thương phế binh lê lết trên đường phố hay phải bán vé sồ, những người ăn ngủ dưới gầm cầu xó chợ, những nông dân không có ruộng phải đi gặt cấy mướn, thì các người XKLĐ vẫn có nhiều cơ may hơn vì các XKLĐ còn có thể đóng 5.000 -15.000 mỹ kim để mua vé đi nước ngoài. Nhìn dưới góc cạnh nầy, người tị nạn Cộng sản không cùng một phía với người XKLĐ đa số gốc là thân Cộng hay theo Cộng.


Để kết luận, dù trong trạng huống nào, tất cả những người Việt ở ngoài nước vẫn có diễm phúc hơn 80% người Việt trong nước vì trong 50 năm qua, họ phải sống dưới chế độ của bọn ngu xuẩn khăn choàng nón cối, ka ki xanh và cầu vai đỏ.

Trên thế giới, không có quốc gia nào có toàn bộ giới lãnh đạo là công an và quân đội.

Tam trụ lãnh đạo nước Cộng Hòa Xã Nghĩa Việt Nam (từ mặt qua trái).

  1. Đại tướng Tô Lâm, gốc là lính công an, dốt đặc cán mai, tự xưng có tiến sĩ, trở thành Bộ trưởng Công an rồi nay là Tổng Bí thư của cả nước. Nhân chuyến công du ở Anh Quốc, vào tháng 11/2021, ông đã hả họng để cho đầu bếp một nhà hàng sang trọng nhất ở Luân Đôn cầm một que sắt dài đút cục steak trát vàng vô miệng ông giống như cảnh người cho dã thú ăn qua lưới sắt trong Sở Thú. Bức ảnh được phổ biến khắp thế giới, nhiều hí họa vẽ con chó VN táp thịt bò.

  2. Đại Tướng Lương Cường (quân đội), vừa được phong là Chủ tịch nước hồi tháng 10, đi công du lần đầu tiên ở Chile ngày 10/11/2024 dẫn theo tên Lại Đức Tuấn, bác sĩ cận vệ, thì đêm hôm ấy, Tuấn bị kết tội xâm phạm tình dục trong một khách sạn của chính phủ, bị chính phủ Chile ra lịnh trục xuất ngay (thay vì bị ra tòa còn nhục nhã quốc thể hơn).

  3. Trung Tướng Công an Phạm Minh Chính, nay là Thủ tuớng, người được giới trí sĩ chân chính VN nhận định là “nói như Vẹm, phô trương và khoác lác”. Ông nầy lại ăn nói theo kiểu côn an (đồ), trong một buổi gặp mặt Việt kiều ở San Francisco ngày 17/9/2023, ông đã nói với một thuộc cấp ngoài hành lang bị thu âm: “rõ ràng, sòng phẳng, mẹ nó sợ gì”.

Nhìn những gương mặt và thành tích “không giống ai” của các lãnh đạo chóp bu nầy, nầy, người Việt Nam phải xấu hổ với thế giới về kiến thức và cung cách của đám con cháu của “Bác”.