Thursday, January 23, 2014

Cám Ơn Đời - Người Phương Nam

Hiện Tượng Biển Chia Đôi

Kỳ thú hiện tượng "Biển chia đôi"

(Dân trí) - Hai lần một năm khi nước thủy triều xuống thấp, một dải dất dài 2,8 km và rộng 40 mét lộ ra, biến thành con đường kết nối đảo Jindo và Modo của Hàn Quốc trong một vài giờ.

Trong sử thi "10 điều răn của Chúa" có tình tiết Hoàng tử Moses chia đôi biển Đỏ bằng chiếc gậy của mình. Nhờ đó mà người dân của Hoàng tử có thể băng qua biển thoát khỏi cuộc truy đuổi của Pharaoh, gọi tắt là hiện tượng Moses Miracle. Liệu "Moses Miracle" có thể xảy ra trong thời kỳ hiện đại? Câu trả lời là có.

Hiện tượng thiên nhiên kỳ diệu này diễn ra tại Hàn Quốc, đất nước của nhân sâm. Hai lần một năm khi nước thủy triều xuống thấp, một dải dất dài 2,8 km và rộng 40 mét lộ ra, biến thành con đường kết nối đảo Jindo và Modo trong một vài giờ. Điều kì diệu là nó chia biển thành hai phần và người dân có thể đi bộ dọc theo con đường này, tương tự như trong câu chuyện “Moses Miracle”.



Hàng năm, người dân Hàn Quốc tổ chức một lễ hội để đón chào sự xuất hiện của “Moses Miracle” với sự tham dự của rất nhiều du khách từ khắp nơi trên thế giới. Tuy là một hiện tượng thiên nhiên độc nhất vô nhị, “Moses Miracle” chỉ được biết đến rộng rãi mãi cho tới năm 1975, khi một Đại sứ Pháp đến Hàn Quốc và viết bài trên một tờ báo Pháp.



Người Hàn Quốc có một truyền thuyết để giải thích cho hiện tượng này: Ngôi làng Jindo bị tấn công bởi hổ dữ và người dân trong làng phải chạy đến đảo Modo để ẩn náu. Tất cả đều ra đi, ngoại trừ một bà cụ già còn sót lại. Trong tuyệt vọng, bà chắp tay cầu nguyện, Chúa đã nghe thấy lời cầu nguyện và chia đôi biển, tạo con đường nối liền hai đảo để giúp bà thoát khỏi con thú dữ.




Sưu tầm

Wednesday, January 22, 2014

Sống Với Nhau Như Thế Nào


Bệnh Ngưng Thở Lúc Ngủ - (Obstructive Sleep Apnea)


Bệnh ngưng thở lúc ngủ là một biến chứng mà người ngủ bị ngưng thở khoảng 10 giây hay lâu hơn trong lúc ngủ.
Rất là nhiều người bị bệnh ngưng thở lúc ngủ này (obstructive sleep apnea). Bệnh này có thể xảy ra từ trẻ em nhi đồng cho tới mấy cụ già. Bệnh này thường xảy ra trong những người 20 tới 40 và xảy ra khá nhiều trong đàn ông.

Những nguyên nhân gì có thể gây ra bệnh này?

Có nhiều nguyên nhân có thể tạo ra bệnh này và thường là do bệnh mũi hay miệng bị nghẽn.  Sau đây là các lý do:

Trẻ em:
a)  Amidan (thịt dư) (tonsils) lớn
b)  Amidan VA (adnoid) lớn
c)  Cằm lẹm
d)  Bệnh dị ứng (allergy)
e)  Nặng cân
f)  Bệnh khờ (Down’s Syndrome)
g) Bệnh bẩm sinh như là khuôn mặt và đầu sọ không được thành đúng hình (dị dạng) (craniofacial deformity), khe hở vòm miệng (cleft palate) v.v..

Người lớn:
a) Mập béo (obesity)
b) Vách ngăn trong mũi bị lệch
c) Thịt dư trong mũi (nasal    polyps)
d) Lưỡi gà (uvula) bị dài
e) Vòm miệng mềm (soft palate)  bị thòng xuống miệng
f)  Lưỡi lớn 
g) Cằm lẹm v.v..
Những ví dụ trên có thể gây ra bệnh ngưng thở tại vì mấy nguyên nhân này sẽ chận đường thở ở mũi, cổ họng và miệng nên hơi không khí không xuống phổi được và sẽ gây ra bệnh ngưng thở.  Ngoài ra những ví dụ ở trên, bệnh ngưng thở có thể xảy ra nếu não tủy (medulla oblongata) không hoạt động thường được.

Triệu chứng của bệnh ngưng thở lúc ngủ:
Dĩ nhiên chính người bệnh thường sẽ không biết mình bị bệnh ngưng thở trong lúc ngủ vì thường triệu chứng ngưng thở xảy ra trong lúc người bệnh đang chìm trong giấc điệp.  Thường là người thân ngủ cạnh nhận thức được cho người bệnh.

Các triệu chứng thông thường của bệnh ngưng thở:
a)  Ngáy lớn
b) Ngưng thở hơn 10 giây trong  lúc ngủ và có thể xảy ra từ 5-50  lần mỗi giờ
c)  Ngủ không ngon giấc buổi   tối
d)  Ngủ gục ban ngày.
Mặc dù mũi, cổ họng, và miệng bị nghẹt, lâu lâu không khí cũng có thể đi qua mấy chỗ này và làm cho lưỡi gà bị rung nên gây ra ngáy. Tại vì ngưng thở nên tối ngủ bị chập chờn không được ngon giấc bị thức nhiều lần cho nên sẽ gây ra sựûï ngủ gục trong ban ngày. 

Ngủ bị chập chờn hay lăn qua lại, cảm thấy nghẹt thở, toát mồ hôi, tức ngực, không cảm thấy thoải mái hay khoẻ khoắn khi thức dậy. Không tập trung tư tưởng, mệt mỏi.

Tại sao mình nên quan tâm về bệnh ngưng thở?
Bệnh ngưng thở có thể gây ra sự nguy hiểm đến sức khoẻ vì nếu mà không trị bệnh này thì lâu năm (có thể 10 tới 20 năm sau) bệnh này có thể gây ra bệnh suy tim (heart failure), cao áp huyết (hypertension), loạn nhịp tim (arrythmia), sudden infant death syndrome (SIDS) v.v...  Ngoài những bệnh nguy hiểm này bệnh này có thể gây ra bệnh trầm cảm (depression), mất trí nhớ, mệt mỏi (fatigue), giảm tình dục, dễ đụng xe vì ngủ gục trong khi lái, v.v...

Làm sao bác sĩ sẽ biết mình bị bệnh ngưng thở?

Bệnh nhân nên tham khảo với bác sĩ về bệnh ngưng thở lúc ngủ nếu bạn hay người thân cho bạn biết bạn ngáy to như kéo gỗ, ngáy khoan hò hay ngáy như sấm.  Người ngủ có thể thấy bạn sẽ bị ngưng thở hay nghẹn trong lúc ngủ. Bệnh nhân cảm thấy mình ngủ không được ngon giấc, ngủ gục ban ngày; đôi khi có người bị nặng quá ngủ gục trong lúc đang ăn hay lúc nói chuyện, hay bị quên và lúc nào cũng mệt. Nếu bệnh nhân khai những triệu chứng kể trên, bác sĩ sẽ khám bệnh để xem bệnh nhân có bị những nguyên nhân như đã nói ở trên. Sau khi khám bệnh, bác sĩ sẽ làm thử nghiệm ngủ (sleep study). Có hai loại thử nghiệm ngủ, đó là ambulatory và sleep over. Nếu thử nghiệm bằng ambulatory study thì nhân viên y tế sẽ mang máy tới nhà bệnh nhân và gắn máy trên người bệnh nhân một đêm và sẽ trở lại nhà bệnh nhân ngày sau và lấy máy về để xét kết quả.  Nếu thử nghiệm sleep over thì bệnh nhân phải tới phòng thí nghiệm và ngủ qua đêm.

Bác sĩ cũng có thể dùng máy đo dưỡng khí (pulse oximeter) lúc bệnh nhân ngủ.  Nếu dưỡng khí trong máu bị thấp là có thể bệnh nhân bị thiếu dưỡng khí vì ngưng thở lúc ngủ. Bác sĩ có thể nội soi yết hầu để xem thanh quản có bị hẹp không.

Nếu bệnh nhân bị bệnh ngưng thở này vì mập béo và bị ngưng thở dưới 5 lần mỗi giờ thì họ phải cố gắng tìm cách để làm sụt cân và nằm xấp lúc ngủ. Tránh rượu bia và dùng thuốc ngủ hay thuốc an thần.

Ngủ cho đầy đủ. Nếu sau khi làm các cố gắng trên mà vẫn bị ngưng thở thì bác sĩ sẽ ra ý kiến cho bệnh nhân thử máy thở (CPAP machine). Lúc sử dụng máy này, bệnh nhân sẽ đeo một cái mặt nạ (mask) mỗi đêm khi đi ngủ để máy thổi hơi và dưỡng khí oxygen vô miệng và cổ họng trong lúc ngủ.


Nhiều người không chịu quen được với máy CPAP thì có thể cần phải giải phẫu. Tuỳ theo nguyên nhân gây ra bệnh này mà cách giải phẫu khác nhau. Nếu amidan bị lớn thì nên cắt; nếu vách ngăn bị lệch thì phải chỉnh vách ngăn; nếu vòm miệng mềm và lưỡi gà bị dài thì cắt bớt cho bộ phận này ngắn lại. Nhiều bệnh nhân mà bị ngưng thở nặng thì vẫn có thể phải dùng máy CPAP sau khi mổ.

Bác Sĩ Đinh Hòang Ngôn

Tuesday, January 21, 2014

World's Most Insane Rope Swing Ever !!! - Canyon Cliff Jump

Mời xem một màn mạo hiểm thót tim

Luật Nhân Quả Trong Cuộc Sống Xã Hội Và Khoa Học - Bác Sĩ Thái Minh Trung


Luật Nhân Quả là một cuộc cách mạng tâm linh

Khi không hiểu luật nhân quả, con người sống trong sự sợ hãi mê tín mù mờ. Họ giải thích những hiện tượng thiên nhiên qua sự mê tín dị đoan. Thí dụ khi hạn hán mất mùa, họ nghĩ là vì ông thần đất đai giận nên phải hối lộ ông ta bằng cách cúng kiến mới có được trời mưa. Mới đầu thì tế lễ bằng con gà không có hiệu quả, rồi đến con bò, đến khi sự cuồng tín lên cao có thể dẫn đến giết một em bé hay một trinh nữ để tế thần như dân tộc Incas đã từng làm. Ngoài ra trong cuộc sống hàng ngày, đi đứng làm cái gì quan trọng thì phải coi ngày giờ tốt như vậy để tránh cái sợ hãi của những điều xấu xảy ra bất thần chớ không hẳn là tránh được những điều xấu.

Nếu quả thật có như vậy thì thế giới này không có sự đau khổ vì mọi sự đều như ý con người muốn. Ông vua dù có mướn thầy địa lý giỏi nhất nước để xây cung điện nhưng nếu không thương dân, lấy thuế cắt cổ, lúc hết thời thì ngai vàng vẫn bị mất như thường. Nói về hành động cá nhân, nếu không nhận thức có luật nhân quả thì không có gì ngăn cản con người làm việc ác miễn sao trốn tránh được cặp mắt của luật pháp là được, cho nên xã hội rất bấp bênh. Nếu vua và dân hiểu được luật nhân quả thì đất nước dễ thanh bình và dân sẽ được hạnh phúc.

Khi Đức Phật giác ngộ thì Ngài nhận ra luật nhân quả là nền tảng của thế giới tâm linh và vật chất. Mọi hiện tượng từ tâm lý đến vật chất đều có những sự liên quan vô hình rất chặt chẽ, đó là luật nhân quả. Luật nhân quả là sợi dây vô hình nối liền hai biến cố xuyên qua thời gian và không gian. Cho nên khi hiểu luật nhân quả, ta có thể thay đổi biến cố đó theo chiều thuận cho ta, thay vì phải lo sợ hối lộ hoặc cầu khẩn một vị thần linh tưởng tượng nào đó phù hộ cho ta hoặc thỏa mãn điều ta mong ước. Sự mê tín cuối cùng sẽ đưa đến sự thất vọng và mặc cảm tội lỗi (ta có tội nặng quá vị thần không giúp được).

  
Luật nhân quả rất đơn giản, nếu muốn có một kết quả tốt thì ta phải tạo nhân lành. Thí dụ như khi ta nuôi dưỡng một ý nghĩ hận thù thì ta không thể vui cười hồn nhiên được. Khi ta gạt gẫm người khác thì tối về ngủ không yên giấc vì sợ bị phát hiện. Khi ta gieo hạt lúa thì không bao giờ được cây cổ thụ. Khi con người bắt đầu hiểu được như vậy thì họ lấy về được một phần sức mạnh của những vị thần linh. Họ bắt đầu làm chủ được tương lai của họ và lấy lại định mệnh của họ từ tay các vị thần. Hiểu và tin được luật nhân quả là một cuộc cách mạng tâm linh (spiritual revolution) vì sự nhận thức đó sẽ phá tan gông cùm của sự mê tín và giúp con người làm chủ được cuộc sống của họ.

Luật Nhân Quả và khái niệm không gian thời gian

Khi đi từ thế giới tâm linh qua thế giới vật chất thì sự thể hiện của luật nhân quả thay đổi từ rõ đến mờ. Sự thể nghiệm ở thế giới tâm linh rất nhanh và rõ nhưng khi qua cái màn nặng nề của thế giới vật chất thì luật nhân quả bị loãng ra vì phải trải qua nhiều thời gian mới hiện ra rõ được. Cũng vì thế mà khi con mắt bị vật chất làm mờ rồi rất khó mà nhận thức luật nhân quả. Thí dụ như kẻ trộm thành công một vài lần rất khó nhận thức rằng mình sớm muộn gì sẽ vào tù. Nếu kẻ trộm đó nhận thức rằng mình cần phải thay đổi lòng tham của mình (thế giới tâm lý) thì trong tức khắc có khả năng thay đổi được chiều hướng cuộc sống mình bằng cách học nghề và làm ăn lương thiện. Ngược lại, nếu anh ta cứ tiếp tục hành nghề bất lương, lòng tham càng lớn và ăn trộm càng táo bạo hơn, thì một thời gian sau đó anh bị bắt vào tù và sẽ hối hận (thế giới vật chất).

Như vậy, khi nhận thức ở tâm linh thì chuyển nghiệp (karma) rất nhanh, đợi khi nó thể hiện ở cõi vật chất rồi thì cái thời gian thay đổi rất chậm chạp, khó khăn, phức tạp và khổ sở. Với đời sống con người có giới hạn thời gian, sự nhận thức có được khi hoàn cảnh xấu xảy ra đôi lúc quá trễ. Con người có thể không còn đủ thời giờ để cải thiện. Ngoài ra khi họ tiến quá sâu trong hoàn cảnh xấu, trở lại điểm ban đầu rất là gian nan. Thí dụ như anh trộm khi ra tù muốn học lại thì tuổi cao, kiến thức đổi khác nhiều, bạn bè cùng lứa đã có sự nghiệp thành công hết. Anh ta phải khuất phục sự chậm chạp của tuổi cao và lòng mặc cảm để đi học lại. Mặc dù như thế, anh ta sẽ khó mà ngang hàng với các bạn được vì mất khoảng thời gian quá lâu trong tù.


Khi hiểu được luật nhân quả thì câu hỏi có định mệnh (destiny) hay không là tùy nơi con người. Định mệnh có thật khi ta để lực (force) nhân quả lôi cuốn và thụ động để cái nhân ở tâm lý biến thành cái quả ở thế giới vật chất. Định mệnh không có khi ta chủ động biến chuyển những tư tưởng (nhân) xấu thành tốt và theo đó diễn biến (quả) tốt lành sẽ đến với ta. Đôi lúc cái nhận thức nhân quả ở thế giới vật chất rất khó khăn vì có người làm lành mà sao lại gặp ác, rồi họ đâm ra chán nản và cho rằng không có luật nhân quả. Sở dĩ như vậy vì con mắt phàm không thể nhìn thấu được quá khứ và không hiểu được những khúc mắc của nghiệp. Nhưng nếu có người nào đó giữ được tâm hồn tha thứ buông xả thì mặc dù biến cố xấu đến với họ đó, nhưng cái tác động trên tâm lý tạo sự đau khổ giảm đi rất nhiều. Thì đó chẳng qua là một điều lành trong một biến cố dữ. Hiểu được luật nhân quả ở tâm thì ta nhận thức rõ hơn và ta sẽ thấy sự thay đổi nhanh hơn.

Nhân-Duyên-Quả

Nghiệp (karma) là những biến cố vui buồn xảy ra trong đời người. Nghiệp, dòng sông nhân quả trong cuộc đời con người, rất là phức tạp. Nghiệp không phải đơn giản như một cái máy, ta bấm nút (nhân) thì máy hoạt động (quả). Nghiệp có thể ví như một dòng sông và nhân quả là những phân tử (molecule) nước lưu chuyển, tác động lẫn nhau trong dòng sông đó. Ngoài nhân-quả ra còn yếu tố duyên nữa. Duyên là những yếu tố ở không gian và thời gian giúp nhân trở thành quả hoặc ngược lại ngăn cản hoặc đình trệ sự nối liền của nhân quả, làm giảm sức mạnh của quả. Sự sống đa dạng và sáng tạo là nhờ duyên. Như vậy duyên đóng vai trò điều chỉnh (modulation) nhân-quả. Thí dụ dễ hiểu là khi ta gieo hạt lúa (nhân) trong đồng ruộng ẩm ướt phì nhiêu (duyên), vài tháng ta sẽ có những cọng lúa xanh mượt (quả). Nếu có người lữ hành băng qua sa mạc và làm rơi một hạt lúa thì ngàn năm sau hạt lúa đó vẫn là hạt lúa (nghịch duyên). Nếu hạt lúa đó được gió thổi rơi vào một nơi ẩm ướt trên sa mạc thì hạt lúa sẽ mọc thành cọng lúa nhưng rất yếu ớt vì thiếu phân bón. Như thế ta thấy rằng cùng một nhân, qua nhiều duyên khác nhau sẽ cho ta kết quả khác nhau. Thực tế nhân quả không đơn giản như trên mà hoạt động như một mạng lưới nhện (web).


Một nhân có thể là khởi đầu của một chuỗi phản ứng (chain of events). Những yếu tố duyên tác động lên chuỗi phản ứng đó để cho ra nhiều kết quả ở nhiều từng lớp khác nhau. Thí dụ: Có một người vì lòng tham (nhân) phá rừng bán gỗ làm lợi nhuận cho riêng mình. Trời mưa, không có rễ cây hút nước (duyên) nên tạo thành lụt (quả), loài chim mất môi sinh (duyên) dời đi nơi khác (quả). Không có chim ăn (duyên) nên sâu bọ lan tràn đồng ruộng (quả). Không có cây hút thán khí (CO²) nên từ đó khí hậu bị ô nhiễm. Một nhân thiếu sáng suốt sẽ gây ra rất nhiều hậu quả tai hại về sau mà ta khó có thể lường trước được.

Giới luật là nhằm biến đổi cái duyên để cho cái nhân tham, sân và si không có cơ hội để biến thành quả dữ (tham-ăn trộm, sân-giết chóc, si-đau khổ). Xuất gia là tránh xa những duyên có thể dẫn đến quả dữ và gần gũi với những duyên khuyến khích quả lành được biểu hiện. Tuy nhiên thay đổi duyên ở thế giới vật chất không bền vững lắm. Thí dụ lòng tham tiền có thể biến thành tham chùa mình được đẹp nhứt, sân (giận) có thể biến thành bực bội khi đệ tử quên chấp tay xá mình, và si là chấp vào thời gian tụng kinh mà không hiểu ý kinh tạo ra sự tranh chấp hơn thua. Cho nên vào cảnh tịnh mà còn giữ mầm mống tham, sân, si thì cảnh tịnh đó sẽ trở nên cảnh ưu phiền.

Thiền tông chú trọng đến cái duyên ở tâm là tư tưởng. Tham, sân, si mà không có tư tưởng để nuôi dưỡng chúng thì dần dần sẽ tự tiêu mòn. Cho nên giữ giới nơi tâm thì hiệu nghiệm hơn là giữ ở thân hay cảnh. Nếu tâm ta nuôi dưỡng sự bực dọc mà miệng thì tụng kinh thì khó có thể mà ta có được hạnh phúc vì càng tụng kinh, càng mệt mỏi thì sự bực dọc càng nhiều hơn nữa. Một trong những phương pháp thiền là ta nhận thức sự bực bội và từ bi hỷ xả phóng sanh nó ra theo từng hơi thở nhẹ nhàng rồi dần dần sự bực bội đó sẽ tan biến. Đó là một cách “tụng kinh sống” hữu hiệu nhứt. Tụng kinh sống là tụng ý (thay vì chữ) kinh trong từng hơi thở, trong lúc đi, đứng, nằm và ngồi. Nói một cách khác, thiền hay tụng kinh sống là khi ta ý thức không tạo cái duyên nuôi dưỡng tham, sân, si trong tâm ta. Nếu ta không nuôi chúng thì tự động chúng sẽ rời bỏ ta. Rồi ta sẽ trở về sống với con người hạnh phúc của ta.

Nhân quả và Thiên Chúa giáo

Mặc dù Thiên Chúa giáo không đề cập nhân quả một cách trực tiếp nhưng tất cả những câu chuyện trong Thánh kinh đều khuyên răn con chiên hãy củng cố lòng tin Chúa, thương người, giúp đỡ xã hội thì sẽ được cuộc sống hạnh phúc trong vĩnh cửu. Nói một cách khác Chúa khuyên con chiên tạo nhân lành (lòng tin, thương người, tha thứ), tạo duyên lành (xây dựng một xã hội lấy nền tảng là sự yêu thương đùm bọc lẫn nhau, truyền đạo cho nhiều người được nhận thức) thì kết quả cuộc sống hạnh phúc sẽ dễ được thực hiện trên thế gian này và nếu tất cả mọi người làm được thì sẽ được hạnh phúc trong vĩnh cửu.


Tuy nhiên có nhiều con chiên quá cuồng tín dùng sức mạnh áp đặt niềm tin lên kẻ khác và kết quả là hận thù và chiến tranh. Điều dễ hiểu là vì cái nhân là tham (muốn cá nhân mình được nhiều phước khi dẫn người khác vào đạo), sân (bực tức khi người ta không theo đạo mình) và si mê (ngạo mạn coi đạo mình trên tất cả các đạo khác) thì kết quả sẽ là chiến tranh và đau khổ. Vấn đề này không hẳn xảy ra ở đạo Chúa mà còn gặp ở nhiều tôn giáo khác hoặc ngay cả ở đạo Phật (phái này chê bai phái khác). Đó là vì con người mê lầm không chữa trị cái tham, sân si nơi chính mình mà muốn thay đổi thế gian. Muốn cái quả khác cái nhân thì không bao giờ có được. Nếu có kẻ nào nói làm được hẳn là họ tự gạt chính họ, sống trong ảo tưởng u mê. Tôn giáo cũng như thuốc, trị đúng bịnh thì thuốc hay, dù có thuốc quý mà dùng sai bịnh thì thuốc quý có thể thành độc dược. Vì thế không thể nói thuốc này hay hơn thuốc kia được. Đạo Phật có thí dụ ngón tay (phương tiện) chỉ mặt trăng, nếu ta ở nhiều nơi khác nhau thì ngón tay sẽ chỉ nhiều hướng khác nhau, nhưng khi nhìn thấy mặt trăng (cứu cánh) thì chỉ có một.

Tác động trên tâm lý của Thiên Chúa giáo là dùng tình thương người và sự tha thứ tạo cái duyên lành làm giảm bớt ảnh hưởng của hoàn cảnh xấu (quả). Nếu ta tin vào một Thượng Đế công bằng bác ái ở bất cứ mọi nơi và mọi lúc, thì ta giao phó cho Ngài xử phạt những bất công trong cuộc đời ta. Như thế ta không mất ngủ bực tức tìm cách trả thù hay tìm những lời nói đâm thọc xỏ xiên. Với lòng tin đó ta sẵn sàng tha thứ kẻ muốn ám hại ta, tâm ta được an ổn và ta gieo rắc sự an ổn đó cho những người chung quanh ta. Làm được như vậy, mặc dù ta không mở miệng truyền giáo nhưng sẽ có rất nhiều người theo vì họ mến ta. Như thế lời cầu nguyện hữu hiệu nhứt phát xuất từ tư tưởng tha thứ thương yêu chớ không phải từ miệng nói tiếng thương yêu trống rỗng. Giáo đường chân thật của một linh mục hay mục sư là sự an ổn của con chiên khi họ cảm nhận được tình thương và sự tha thứ chân tình qua hành động của vị mục sư đó, chớ không phải cái giáo đường bằng ngói, bằng gạch. Cái giáo đường vật chất không bao giờ làm ấm được lòng người. Ta không thể nào gieo rắc sự an lành chung quanh ta nếu ta không có cái nhân của sự an lành đó trong tâm ta. Ta có thể dối chính ta chớ không thể dối với Thượng Đế và luật nhân quả được.

Nhân quả và y khoa

Tuy nhân quả xuất xứ từ Phật giáo nhưng không hạn chế ở phạm vi tôn giáo. Hiểu được nhân quả giúp ta rất nhiều trong việc phòng ngừa bịnh tật. Trong Đông Y có câu người y sĩ giỏi trị bịnh lúc mà bịnh chưa phát triển. Y khoa hiện đại cũng đồng ý với vấn đề ngưà bịnh hơn là chữa bịnh. Cách tốt nhứt cho con người về vấn đề sức khỏe và xã hội về vấn đề tài chánh là thay đổi cuộc sống để ngừa bịnh. Muốn ngừa bịnh (quả) ta phải hiểu cho ra lẽ những yếu tố gây ra bịnh (nhân), tìm cách làm suy giảm những nguyên nhân gây ra bịnh, tìm cách không tạo duyên xấu để cho hậu quả bịnh dễ xảy ra và củng cố những duyên lành để ngăn ngừa bịnh.


Bây giờ ta hiểu nguyên nhân của nhiều chứng bịnh là do vi trùng (bacteria) và vi khuẩn (virus) có kích thước nhỏ hơn vi trùng gây ra. Để làm suy giảm những nguyên nhân tạo ra bịnh, những nhà thuốc sáng chế ra các loại thuốc trụ sinh. Sự ỷ y có thuốc trụ sinh để trị bịnh mà không cần phòng ngừa hoặc dùng thuốc trụ sinh một cách không phân biệt đưa đến sự ra đời của những siêu vi trùng (“super bugs”) có sức kháng trụ sinh. Về phần bịnh nhân phải ráng ăn ở vệ sinh để không tạo cái duyên cho những loại vi trùng xâm chiếm cơ thể họ. Vaccine (chích ngừa) là cách phòng ngừa bịnh bằng cách dùng bộ kháng nhiễm (immune system) để chống lại bịnh. Vaccine là một cách thay đổi duyên làm cơ thể không thuận cho sự phát triển của bịnh. Một cách ngừa bịnh khác nữa là ta ăn ở vệ sinh, tìm cách tránh những nơi dễ gây ra bịnh tật là góp phần vào sự củng cố những duyên không thích hợp cho bịnh phát triển. Thực tế, ta không thể nào diệt trừ được tất cả những nhân tạo bịnh mà cách dễ dàng nhất là biến đổi cái duyên không thuận cho bịnh-quả phát triển. Con đường trị bịnh bằng cách diệt trừ nhân một cách hoàn toàn rất nguy hiểm vì có thể đưa đến sự mất cân bằng môi sinh và có thể tạo nhiều mối hiểm nguy khác. Thí dụ như khi ta đi du lịch ở những nước khác dễ bịnh tiêu chảy vì ở điều kiện ta sống không có loại vi trùng đó (nhân bị diệt) nên cơ thể ta không có chất miễn nhiễm, dễ sanh ra bịnh. Đứng trên phương diện năng lượng (sức lực, thời gian, tài chánh), dùng duyên để phòng ngừa quả là áp dụng năng lượng một cách hữu hiệu nhứt.

Nhân quả và tâm lý học

Stress, sự căng thẳng tinh thần, là vấn đề lớn của thời đại. Stress có thể coi như cái cửa mở cho nhiều bịnh tật vào thân thể ta. Những triệu chứng khởi đầu của stress là lo âu, bực bội và mất ngủ. Ngoài ra nhức đầu, buồn nôn, mất ăn, cao máu với nhịp tim đập nhanh cũng có thể là một triệu chứng của stress nữa. Thuở xưa, Đức Phật có cho một thí dụ rất thích hợp với stress ngày nay. Thí dụ rằng có một người bị mũi tên bắn bị thương. Người đó lo âu muốn biết mũi tên này từ đâu tới, ai bắn, lý do nào bắn, rồi lo sợ cho tính mạng, không biết vết thương như thế nào, ..., người đó cứ mải lo mà quên tìm cách tháo gỡ mũi tên ra. Tính chất của lo âu là nó không bao giờ chịu dừng ở hiện tại mà lại có chiều hướng lẩn quẩn ở quá khứ hoặc tương lai. Chính vì vậy mà sự lo âu ngày càng tăng vì khi tư tưởng lẩn quẩn ở quá khứ và tương lai thì ta sẽ không giải quyết được vấn đề và tình trạng vô định đó tạo nên cái duyên làm cho lo âu càng lớn dần.


Một khoa tâm lý trị liệu (psychotherapy) trị stress là Cognitive behavioral psychotherapy, tạm dịch là tâm lý trị liệu qua nhận thức. Ta nhận thức ta có những tư tưởng sai lầm dẫn đến sự lo âu đau khổ (1), quán xét kỹ càng rằng những tư tưởng đó không có liên hệ ở thực tế (2), sau cùng thay thế vào đó những tư tưởng thích hợp với thực tại hơn (3). Khi nhận thức thích hợp với thực tại thì ta sẽ tìm được biện pháp giải quyết vấn đề một cách hữu hiệu và từ đó nhẹ gánh lo âu. Thí dụ anh A có triệu chứng hay lo (general anxiety disorder). Khi bị chủ sở phê bình, anh về ngủ không được, liên tưởng đến ngày mai mình sẽ mất việc, không có tiền trả tiền nhà, vợ anh sẽ bực bội bỏ anh (1)... Qua khâu tâm lý trị liệu, anh kiểm duyệt lại thực tế thì không thấy có dấu hiệu nào chủ sở sẽ đuổi anh, chủ anh chỉ muốn anh sửa khuyết điểm nhỏ mà thôi, vợ chồng lúc nào cũng hòa thuận (2)... Khi nhận thức như vậy, anh cảm thấy yên tâm và hiểu rằng mình có phản ứng quá đáng (3). Khi nhìn ở khía cạnh nhân duyên quả, thì khi anh nhận thức rằng cái nhân sai lầm không quan trọng lắm, không để những tư tưởng lo âu thổi phồng sự thật (nghịch duyên), và anh tìm cách học hỏi trau giồi nghề nghiệp thì kết quả sẽ tốt đẹp. Như thế hiểu được nhân quả thì cuộc sống ta sẽ nhẹ gánh lo âu.

Tóm lại

Nhân quả không phải là một khái niệm tôn giáo (dogma) mà là một quy luật thiên nhiên (natural law) ảnh hưởng thế giới nội tâm và thế giới vật chất. Nhân quả còn là một lực (force) gắn liền hai biến cố với nhau qua không gian và thời gian.

Ta khó có thể thay đổi nhân ở quá khứ, nhưng điều dễ làm là thay đổi duyên ở hiện tại để quả xấu khó có thể biểu hiện được. Ở thế giới vật chất, duyên lành là bạn tốt, nơi chốn yên tịnh (chùa, nhà thờ, học đường...). Ở thế giới tâm lý, duyên lành là ý muốn học hỏi, trau giồi trí tuệ, cố giữ lòng nhân từ, bác ái và tha thứ. Gần duyên lành thì quả xấu khó thể hiện hoặc thể hiện một cách yếu ớt hơn.

Nếu ta còn giữ tâm tham, sân, si (làm nhân) và nuôi dưỡng những tư tưởng tham, sân, si (ác duyên) thì không bao giờ biến đổi được cuộc sống hay xã hội một cách tốt lành được (quả). Cảnh lúc nào cũng hiện theo tâm. Người mang tâm xấu lên thiên đàng sớm muộn gì cũng biến cảnh thiên đàng thành địa ngục.

Hiểu được nhân quả thì ta nắm giữ được chìa khóa mở cửa tự do trong đời ta và giúp ta làm chủ lấy cuộc đời. Không hiểu nhân quả thì ta sẽ sống trong mê tín dị đoan hay trong sự lo âu của cuộc sống vô định, bấp bênh.

Hiểu được nhân quả giúp ta định hướng dễ dàng và có một hướng đi và một quan niệm sống vững chắc trước mọi hoàn cảnh khó khăn.

Bác sĩ Thái Minh Trung

Monday, January 20, 2014

10 Khu Vực Bất Khả Xâm Phạm Trên Thế Giới

Đó là những địa điểm tuyệt mật, được canh phòng cẩn mật 24/24 với các hàng rào an ninh dày đặc cùng các trang thiết bị giám sát và vũ khí tối tân nhất để đảm bảo một con muỗi cũng không thể xâm nhập.

1. Hầm hạt giống ngày tận thế

Hầm hạt giống ngày tận thế được tạo ra đề phòng trường hợp sự sống trên trái đất bị hủy diệt bởi một thảm họa nào đó.

Các lãnh đạo thế giới cùng các nhà khoa học đều nhất trí rằng, nếu kịch bản ngày tận thế xảy đến, sự sống trên trái đất coi như bị hủy diệt. Do đó, ý tưởng xây dựng một hầm hạt giống nhằm đảm bảo khả năng tái tạo lại sự sống trên hành tinh này sau ngày tận thế đã ra đời.

Tọa lạc trên một hòn đảo ở Biển Bắc, hầm hạt giống ngày tận thế là nơi cất giữ hơn 250 triệu loại hạt giống và là một trong những nơi được bảo vệ cẩn mật nhất thế giới.

Không ai có thể tiếp cận nơi này. Thậm chí, lớp băng tan cũng không thể thẩm thấu vào bên trong hầm này đe dọa đến các mầm sống bên trong.

Nếu ngày tận thể xảy đến trong nay mai, 250 triệu loại hạt giống sẽ được sử dụng để gieo lại mầm sống trên trái đất.

2. Căn cứ quân sự Fort Knox

Fort Knox là kho dự trữ vàng lớn nhất thế giới.

Không đơn thuần chỉ là căn cứ quân sự, Fort Knox còn là hầm chứa vàng của cường quốc số một thế giới. Được mệnh danh là kho dự trữ vàng lớn nhất thế giới, nơi đây chứa đựng hàng nghìn tấn vàng.

Fort Knox nổi tiếng là bất khả xâm phạm. Được xây dựng xong vào năm 1936 với chi phí chỉ hơn nửa triệu USD, Fort Knox mang thiết kế có thể chống chọi được bất kỳ một dạng tấn công nào. Trong đó, cánh cửa thép dẫn vào kho vàng nặng tới 22 tấn và không dễ bị công phá.

An ninh ở Fort Knox  được đồn đại là còn chặt chẽ hơn cả kho vũ khí hạt nhân của không quân Mỹ. Tại đây luôn có 30.000 binh lính, xe tăng, xe bọc thép, máy bay chiến đấu và pháo túc trực bên ngoài để bảo vệ vàng. Ngoài ra, bao quanh Fort Knox là hàng rào điện chằng chịt trên mặt đất thách đố mọi nỗ lực xâm nhập. Có nhiều lời đồn còn cho rằng, bãi đất xung quanh Fort Knox còn chôn rất nhiều mìn.

Ngày nay, mỗi năm, kho vàng Fort Knox nhận được hàng chục yêu cầu thăm viếng, kể cả của vài cựu tổng thống Mỹ. Tuy nhiên, tất cả đều bị cự tuyệt. Nguyên tắc của Fort Knox là “không vị khách nào được tiếp đón ở đây và không có ngoại lệ nào được chấp nhận”.

Ngoài vàng, Fort Knox còn là nơi cất giữ các tài liệu và tài sản quý như Hiến chương Magna Carta, Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, Hiến pháp Mỹ, các vương miện của Hoàng gia Anh…

3. Núi Cheyenne

Sở Chỉ huy Quốc phòng Hàng không vũ trụ của Mỹ thời Chiến tranh Lạnh từng được đặt ở hầm ngầm bí mật ở núi Cheyenne.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ xây dựng một trung tâm chỉ huy ngầm bí mật ở vùng núi Cheyenne tại Colorado. Trung tâm có 15 đường hầm, được bố trí quy củ và tất cả đều gặp nhau ở những căn phòng ngầm - trụ sở chính của trung tâm chỉ huy, cách mặt đất 720 mét. 

Để đảm bảo tuyệt đối an toàn, tránh mọi ảnh hưởng, tác động của các vụ tấn công từ bên ngoài, trung tâm chỉ huy thiết kế hai cánh cửa có khả năng phòng chống bom đạn nặng khoảng 25 tấn để thông với bên ngoài và sử dụng đá hoa cương cực rắn để xây hầm ngầm.

4. Khu vực 51 (Area 51)

Khu vực 51 ám chỉ một căn cứ quân sự tuyệt mật ở hoang mạc Nevada.
Nó chứa đựng nhiều bí mật sống còn của Mỹ, trong đó có những bí mật liên quan đến người ngoài hành tinh.

Khu vực 51 là tên một căn cứ quân sự tuyệt mật của Mỹ. Nó nằm trên hoang mạc Nevada, cách Las Vegas chừng 130 km. Theo lời đồn đại thì đây chính là nơi có “căn phòng xanh” không chỉ bảo quản xác ướp của những người ngoài hành tinh mà còn lưu giữ những mảnh vỡ của chiếc “đĩa bay” đã rơi xuống vùng Roswell vào năm 1947.

Ngoài ra, khu vực 51 còn là nơi chuyên nghiên cứu, phát triển các loại chiến đấu cơ, máy bay không người lái,  tàu vũ trụ cũng như các công nghệ khoa học quân sự bí mật của Mỹ.

Khu vực 51 không có trên bất cứ bản đồ địa chính trị nào của Mỹ và thậm chí, cái tên của nó cũng chỉ là một trong số nhiều cái tên chỉ khu vực này. Trong suốt nhiều thập kỷ, không ai biết đến sự tồn tại của nó.

Toàn bộ khu vực 51 được quét radar để đảm bảo rằng không có vật thể chuyển động nào nằm ngoài tầm kiểm soát. Không quân Mỹ thậm chí thiết lập các “vùng trắng” nhằm bảo vệ Khu vực 51 trước mọi con mắt nhòm ngó.
Ngoài ra, bất cứ ai làm việc tại đây cho dù là quân nhân hay là nhân viên văn phòng đều phải ký vào bản cam kết không tiết lộ bí mật của khu vực này.

5. Hầm bí mật của Giáo hội Mormon

Hai tín đồ Giáo hội Mormon
Đạo Mormon có truyền thống bí mật khiến nó trở nên khó tiếp cận và xa lạ đối với người ngoài. Những người không theo đạo Mormon sẽ không được vào các nhà thờ của đạo này.

Đặc biệt, Giáo hội Mormon có một căn hầm bí mật bất khả xâm phạm được canh phòng rất nghiêm ngặt. Đây được cho là nơi lưu giữ các ghi chép lịch sử và phả hệ của giáo hội cũng như các lời tiên tri của người sáng lập ra nó, Joseph Smith, vào giữa thế kỷ 19 ở Mỹ.

6. Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York

Hai bảo vệ đứng gác trước cửa Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York.

Là một trong 12 ngân hàng khu vực trực thuộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York là lớn nhất về mặt tài sản, và do đó, chiếm vị trí quan trọng nhất. Đặc biệt, ngân hàng này có một kho vàng dưới tầng hầm và đây được mệnh danh là kho vàng lớn nhất của thế giới. Số vàng mà ngân hàng cất trữ và bảo vệ không chỉ là vàng của nước Mỹ mà còn là tài sản của nước ngoài, bao gồm các ngân hàng trung ương và các tổ chức quốc tế. Họ cất trữ và bảo vệ kim loại quý hiếm này miễn phí như là một cử chỉ thiện chí với các quốc gia khác.

Kho vàng của Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York được đặt ở độ sâu 26m dưới lớp đá móng của Manhattan nên việc đột nhập vào đây từ bên ngoài là điều rất khó. Ngoài ra, cách duy nhất để vào kho vàng là thông qua một hành lang thép và bê tông dài 3m.Lối vào được ngăn với bên ngoài bởi một cánh cửa thép xoay rất dày, nặng tới 90 tấn, được mệnh danh là không loại bom mìn nào có thể phá nổi. Điều đặc biệt là cả hệ thống đều hoạt động bằng sức người, không sử dụng máy móc. Chưa hết, an ninh ở kho vàng còn được đảm bảo bởi đội bảo vệ với các tay thiện xạ hàng đầu thế giới

7. Không Lực Một


Không Lực Một có tầm bay không giới hạn đảm bảo khả năng đưa người đứng đầu nước Mỹ đến bất cứ nơi nào trên thế giới.

Dự án Không Lực Một được thiết kế để trở thành "Nhà Trắng di động" trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công nhằm vào nước Mỹ đẩy Tổng thống và nội các vào vòng nguy hiểm. Không Lực Một chỉ là số hiệu điều khiển không lưu được dùng để gọi bất cứ một chiếc phi cơ phản lực nào đảm nhiệm nhiệm vụ chuyên chở tổng thống Mỹ.
Chiếc máy bay phản lực không cần phải hạ cánh để tiếp nhiên liệu hay tiếp tế hậu cần mà với sự hỗ trợ của máy bay khác, nó có thể thực hiện việc này trong không trung. Do đó, nó có tầm bay không giới hạn và có thể đưa Tổng thống Mỹ đến bất cứ nơi nào trên thế giới.

Không Lực Một được trang bị hệ thống thông tin liên lạc và an ninh hiện đại nhất và có tính bảo mật tuyệt đối, giúp tổng thống Mỹ có thể điều hành công việc bình thường khi đang ở độ cao 13 km.

Trên máy bay có 87 đường điện thoại khác nhau, trong đó có 28 đường tuyệt mật được mã hóa. Nó có đầy đủ điều kiện để trở thành một trung tâm chỉ huy di động trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công nhằm vào nước Mỹ. Chuyên cơ của Tổng thống Mỹ còn có khả năng phòng thủ cao nhờ các thiết bị chống tên lửa gắn kèm.

Tất cả các trang thiết bị bên trong Không Lực Một được bảo vệ bằng lá chắn điện từ. Chuyên cơ có thể bay qua khu vực bị chiếu xạ cao (trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công hạt nhân). Nó cũng có khả năng làm nhiễu radar và triển khai tên lửa có thể phát hiện phóng xạ hồng ngoại từ nhiệt.

8. Nhà tù trên đảo Alcatraz, Mỹ


Các phòng biệt giam kiên cố trong nhà tù đảo Alcatraz.

Nhiều người có thể băn khoăn, các tên tội phạm tàn nhẫn nhất hay những kẻ khủng bố nguy hiểm nhất bị giam giữ ở đâu. Câu trả lời là, phần lớn chúng bị giam ở ngục Alcatraz, đảo Alcatraz thuộc San Francisco, Mỹ. Điều này đã biến nơi đây trở thành địa điểm được canh phòng cẩn mật nhất trên thế giới. Các phòng giam trong nhà tù này được xây hoàn toàn bằng bê tông cốt thép. Hầu hết các tù nhân bị giam giữ trong các khu biệt giam. Mỗi bước di chuyển của chúng đều được giám sát chặt chẽ bằng các thiết bị cảm biến chuyển động.

Trốn khỏi ngục Alcatraz được xem là nhiệm vụ bất khả thi bởi không tù nhân nào có thể vô hiệu hóa hệ thống an ninh điện tử dày đặc, tự động ở đây, vượt qua những cánh cửa thép khổng lồ và các tháp súng không biết nương tay cũng như đội chó nghiệp vụ được huấn luyện chuyên nghiệp, bài bản và sẽ tấn công ngay khi phát hiện các dấu hiệu vượt ngục đầu tiên.

9. Gara ô tô Bold Lane


Bold Lane được mệnh danh là gara ô tô an toàn nhất thế giới.
Bold Lane là một gara ô tô nhiều tầng ở Derby, vùng Derbyshire, nước Anh, được đặt theo tên con phố nơi nó tọa lạc. Gara này có 10 tầng với tất cả 440 chỗ đậu xe, hoạt động 24/24 và được mệnh danh là một trong những nơi an toàn nhất thế giới với hệ thống an ninh hiện đại.

Gửi xe trong gara này, lái xe sẽ được phát một chiếc vé có mã vạch. Chiếc vé này được scan bởi hệ thống scanner và chỉ dẫn chính xác vị trí đậu xe cho lái xe. Ngay khi lái xe đã đậu xe vào vị trí, các thiết bị cảm biến chuyển động phương tiện được kích hoạt. Sau đó, chỉ cần bất cứ thứ gì chạm vào chiếc xe, chuông báo động lập tức vang lên. Khu gara sẽ bị khóa toàn bộ và giống như một khu biệt giam, một con muỗi cũng không thể lọt ra ngoài.

Ngoài ra, khu gara luôn được giám sát 24/24 với các camera truyền hình 190 được đặt ở mọi ngóc ngách và bản đồ của gara luôn được hiển thị trên một hệ thống máy tính được bảo mật tuyệt đối

10. Công ty Haven

Những bí ẩn xung quanh Công ty Haven vẫn chưa được khám phá thì nó đã bị đóng cửa.

Haven được mệnh danh là công ty cung cấp các dịch vụ bảo vệ dữ liệu tốt bậc nhất thế giới. Không có nhiều người biết chính xác công ty này được đặt ở đâu. Chỉ biết rằng, Haven nằm ở một nơi nào đó giữa Biển Bắc.
Giao thức bảo mật của công ty này được đánh giá là bất khả xâm phạm. Để có cơ hội tiếp cận công ty, cách duy nhất là kết hôn với một thành viên Gia đình Hoàng gia Anh, trở thành nhà đầu tư của nó hoặc là nhân viên của công ty. Tuy nhiên, không rõ vì lý do gì công ty này đã đóng cửa mà không đưa ra bất cứ thông báo hay giải thích nào.

Phương Đăng
Theo Infonet

Chúc Mừng năm Mới An Khang Hạnh Phúc - Sương Lam


Sunday, January 19, 2014

Ngựa Phi Đường Xa - Lê Yên - Ban Hợp Ca Thăng Long - PPS HXT

Cám ơn Bác sĩ Hòang Ngọc Khôi



Trước thềm năm Giáp Ngọ, xin chúc quý vị và quý thân hữu sức khỏ dẽo dai để tiếp tục đường xa ngưa phi và mã đáo thành công về mọi mặt.
HXT

Địa Lan Ngày Tết

Cám ơn anh Minh Lương 

Chậu địa lan Đà Lạt với hàng trăm cành hoa vàng, tím khác nhau được bán với giá hơn 40 triệu đồng tại một siêu thị hoa ở Hà Nội.


Chậu Địa lan vàng tím có nguồn gốc từ Đà Lạt này được bán với giá 42 triệu đồng ở một siêu thị hoa tại chợ hoa Quảng An (Tây Hồ, Hà Nội).


Hàng trăm cành địa lan cùng khoe sắc.


Hoa địa Lan (tên khoa học Cymbidium) thường nở  vào cuối mùa đông đầu xuân. Vào mùa đông, địa lan tím cần được tưới nước nhiều lần, giữ không khí lưu thông, độ ẩm khoảng 40-60%.


Một chậu địa lan vàng tím giá 38 triệu khác tại siêu thị.


Hoa địa lan được mệnh danh là “Nữ hoàng các loài hoa” bởi vẻ đẹp kiêu sa lịch lãm, màu sắc phong phú, hương thơm quyến rũ và tươi rất lâu (khoảng 3 tháng mới tàn).


Còn đây là chậu lan hồ điệp có giá 24 triệu đồng với nhiều tầng hoa mầu sắc khác nhau.


Hàng trăm bông nhiều mầu cùng khoe sắc.


Chậu lan hồ điệp khác giá 23 triệu đồng.


Để chăm sóc lan hồ điệp, đòi hỏi nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng trừ 18-28 độ C. Không được để hoa trong phòng điều hòa hoặc nơi nắng quá


Đối với địa lan và lan hồ điệp, người chơi nên để nơi thoáng mát, có ánh sáng nhẹ. Như vậy, hoa sẽ ra đẹp, tươi lâu.


Nhân viên siêu thị hoa chăm sóc đặc biệt cho các chậu địa lan giá chục triệu.

Sưu tầm

Hài Kịch 20 - 40 - 60 - Quang Minh - Hồng Đào - Jonathan

Mời quý vị đón giao thừa cùng Quang Minh Hồng Đào


Saturday, January 18, 2014

Dưa Cải Bông (Cauliflower - Chou-Fleur)



Nhớ hồi xưa, mỗi năm khỏang 28- 29 tết má tôi thường làm dưa cải bông để ăn ba ngày tết và biếu xén bà con lối xóm xa gần. Món dưa chua này ăn kèm với thịt kho trứng hoặc bánh chưng, bánh tét, bánh củ cải sẽ làm giảm bớt vị ngán của mỡ dầu.
Ở VN, chỉ có Đà Lạt, vùng cao nguyên mát lạnh mới có cải bông quanh năm, còn ở đồng bằng sông Hậu thì gần mùa tết, tiết trời se lạnh mới trồng được lọai cải này. Vì thế muốn làm dưa cải bông chỉ có dịp tết là thuận tiện nhứt để làm.



Vật Liệu :

- 1 bắp cải bông 
- 500ml dấm (nếu cái bông nhỏ, lớn hơn thì thêm dấm tùy mình liệu) 
- 1 cup đường
- 1 củ cà rốt khắc bông
- Vài trái ớt hiểm

Cách làm :

Mua cải bông lựa bông thật trắng, cắt từng miếng vừa ăn, lột võ dai bên ngòai như hình dưới đây.  


Rửa cải sạch, nấu nước sôi, bỏ cải vô trụng sơ, đổ ra rổ xả nước lạnh liền và để cho ráo. Cà rốt gọt võ để nguyên củ khắc 5 đường rảnh chiều dọc. Luộc sơ để nguội rồi cắt khoanh tròn dày độ 1mm.
Quậy dấm đường, nếu không muốn quá chua thì pha với hai muỗng canh nước chín (nước nấu sôi để nguội). 


Sắp cải bông vô keo chen lẫn với cà rốt và ớt. Cho hỗn hợp dấm đường vào săm sắp, đậy nắp keo lại. Nếu trời nóng thì qua ngày sau là có thể ăn được, còn trời lạnh phải chờ hai ngày. Qua ngày thứ ba nếu ăn chưa hết thì để tủ lạnh ăn từ từ. 

Dưa cải bông làm ở nhà rất an tòan, không có hàn the, không có phèn chua, không có chất bảo quản. Sau một tuần cất trong tủ lạnh, dưa vẫn dòn ngon như mới chỉ hơi đổi màu vì cà rốt thôi. Ở xứ lạnh, cải bông không hiếm gì, muốn làm lúc nào cũng có. Mời quý vị làm thử!



C'est Bon !

       Người Phương Nam