Thursday, May 16, 2013

Hảo Tâm - Người Phương Nam


Tôi có người em bạn dì
Tính tình khí khái không gì bỏ qua
Thương người hơn chính thương ta
Đầy lòng nhân ái quên ta giúp người
Gia Như con gái em tôi
Giống như má cháu tình người ưu tiên
Gia đình đã đủ chuyện phiền
Còn thêm gồng gánh xóm giềng lân bang
Cuối tuần được chút rảnh rang
Bồng con hàng xóm về chăn không tiền
Bà con tứ xứ khắp miền
Hằng tuần điện thọai tâm tình gọi qua
Việt Nam, Úc, Mỹ, Ca-da(Canada)
Nửa vòng trái đất tuy xa mà gần
Cho nhau tin tức người thân
Ai đau, ai bệnh ân cần ủi an
Ai cần giúp đỡ thở than
Thắt lưng buộc bụng sẵn sàng cho ngay
Nghe ai mãn kiếp lìa đời
Nghĩa tử nghĩa tận Eu-ro gởi liền
Ai vong ai phụ chẳng phiền
Lòng mình chỉ trọn một niềm sớt chia
                                        
Người Phương Nam                              

Giá Trị Cuộc Sống - Những Hạt Mưa


Giáp mặt cuộc đời

Hi!Hai sưu tầm & minh họa


                   NHỮNG HẠT MƯA


http://3.bp.blogspot.com/-g4L9y5KI6Mg/T2BUPAqOoGI/AAAAAAAAQm8/-FAJTL0lgIA/s1600/aesop.jpg

Có một bác bác nông dân có một mảnh ruộng lớn. Bác dùng nhiều thời gian để cày ruộng và trồng ngô. 

Khi những cây ngô bắt đầu phát triển, mỗi ngày bác lại làm việc để nhặt sạch cỏ dại, vì ruộng ngô cung cấp thức ăn và tiền cho gia đình bác. 
Nhưng một số thứ có vấn đề. Đã không có mưa trong nhiều tuần nay, và những cây ngô nhỏ bắt đầu khô và đổi thành màu nâu. Bác nông dân biết bác sẽ mất cả vụ mùa nếu không có mưa sớm, nhưng bác không thể làm gì để có mưa. 
Một ngày khi bác nhìn lên bầu trời xanh và mong ước có mưa, hai hạt mưa nhỏ, trong đám mây trên đầu bác, nhìn thấy bác. 
"Nhìn bác nông dân đó kìa", một giọt nói "Tôi thấy tiếc cho bác ta. Bác ta đã làm việc rất chăm chỉ trong ruộng của mình, và bây giờ ngô của bác đang khô héo. Tôi ước tôi làm điều tốt cho bác." 
"Đúng vậy" giọt còn lại nói, "nhưng bạn chỉ là giọt mưa nhỏ. Bạn còn thể làm gì? Tại sao, bạn còn thậm chí còn không làm ướt nổi một cây ngô!" 
"Vậy thì," giọt đầu tiên nói, "Tôi biết tôi quá nhỏ để làm nhiều việc, nhưng ít nhất tôi có thể cổ vũ bác nông dân một ít. Và tôi luôn muốn làm tốt nhất những gì tôi có thể. Nhưng ít nhất điều tôi có thể làm là thử. Tôi sẽ xuống dưới ruộng. Tạm biệt!..." 



http://thanhhai.violet.vn/uploads/resources/blog/2439/mua_500.jpg



Giọt đầu tiên rơi xuống, và giọt thứ hai quyết định đi theo. Một giọt thứ nhất rơi xuống mũi của bác nông dân; giọt khác rơi lên một thân cây ngô. 

"Trời ơi" bác nông dân nói để tay lên mũi. "Cái gì đó? Một hạt mưa! Tôi tin nó sẽ mưa mà." 
Không lâu sau hai giọt đầu rơi xuống ruộng rồi giọt thứ ba nói, "Vậy nếu họ đi tôi nghĩ tôi cũng sẽ đi. Tôi đến đây!" Và hạt mưa nhỏ đó rơi xuống một một cây ngô khác. 
Trong lúc đó, hàng nghìn hạt mưa đã tập hợp để nghe bạn của họ đang nói về cái gì. 
Khi họ thấy ba giọt đầu tiên đã đi để giúp và cỗ vũ bác nông dân, những hạt khác nói "Tôi cũng muốn giúp". Và chúng rơi xuống. 
"Tôi nữa, tôi nữa! Những giọt khác kêu lên và chẳng bao lâu thì mưa rơi to hơn, và những cây ngô được tưới nước. Nó giờ đã phát triển và đã chín, tất cả vì hạt mưa đầu tiên quyết định làm tốt nhất có thể và là người giúp đỡ. 



Vì ai luôn làm tốt nhất có thể,

Điều tốt nhất sẽ trở nên tốt hơn,
Nhưng ai trốn việc hoặc làm qua loa nhiệm vụ,
Anh ta đã để điều tốt bỏ mà đi.

http://2.imimg.com/data2/KJ/GJ/MY-3724995/rain-water-harvesting-250x250.jpg

Biên dịch: Bùi Huy Khang 
Nguồn: Strong and True, Abeka Books 

Wednesday, May 15, 2013

Những Ngày Mới Tới - Người Phương Nam

Là người tị nạn, có lẽ không ai quên được những ngày đầu tiên vừa đặt chân lên xứ người...


Hình chụp ở cầu Jetty vài ngày trước khi rời đảo Pulau Bidong tháng 4 năm 1980. Từ con nít tới người lớn, ai cũng đăm chiêu tư lự trước tương lai mịt mờ


Sau sáu tháng dài đăng đẳng “holiday” ở trại tị nạn Pulau Bidong, sau sáu tháng trời "Phiền Lo Bi Đát" và hai chục ngày tắm nắng ở trại chuyển tiếp Sungei Beise, thứ  nắng  như thiêu như đốt của mùa hè xứ Mã Lai khiến ai cũng đen thui như Miên như mọi, gia đình thầy Thanh gồm hai vợ chồng, một đứa con gái nhỏ mới lên bốn và thằng em vợ 12 tuổi đã đuợc chính thức đi định cư ở Úc trên chiếc boeing 747 rộng lớn, sang trọng, mở màn cho một cảnh đời mới tươi sáng, tràn trề hy vọng tương lai sau hơn bốn năm trời sống ngột ngạt, hồi hộp, căng thẳng  trong trại  tù khổng lồ tập thể của bọn cộng sản vô nhân luật rừng.

Rời Mã Lai chiều 19/5/80, hừng sáng hôm sau gia đình thầy Thanh tới Úc đại lợi. Trước khi phi cơ hạ cánh, một phụ nữ trung niên người Úc có nét mặt phúc hậu đi cùng chuyến bay ngồi bên cạnh chỉ ra cảnh vật bên ngòai nói với thầy Thanh:
          - Anh hãy nhìn kìa, bên dưới là Sydney, thành phố chính của tiểu bang New South Wales. Nước Úc là một đất nước giàu có, rộng lớn mênh mông, nhiều tài nguyên, lại là một xứ sở thanh bình, người dân rất hiếu khách, cởi mở, tốt bụng. Anh chọn nơi này để định cư thật đúng nơi đúng chỗ, như người Jew khi xưa đã chọn Israel làm đất hứa, là một may mắn lớn trong đời cho anh. Chúc gia đình anh mọi sự tốt đẹp may mắn trên quê hương thứ hai này.    

Thầy Thanh bắt tay nói cám ơn bà người Úc rồi cùng gia đình theo nhóm người tị nạn xuống sân bay. Tương lai thì chưa biết ra sao nhưng qua cuộc sơ ngộ với một người bản xứ  đầy thiện cảm nhân hậu này, thầy Thanh đã có một dấu ấn thật đẹp về người Úc, về một xứ sở mà rồi đây mình sẽ nhận là nhà. Bao nhiêu hoang mang lo lắng từ lúc lên phi cơ bỗng chốc tiêu tan nhường cho một sự phấn chấn, một niềm tin yêu hy vọng rộn lên trong lòng.

Theo sự hướng dẫn của nhân viên Bộ xã hội, đòan người tị nạn được một chiếc xe bus đưa đến  bệnh viện Lidcomb để khám sức khỏe tổng quát. Thuở ấy, vào đầu thập niên 80, dân cư nhà cửa còn rất thưa thớt hoang vu, nhứt là mới hừng đông rạng sáng, đường sá im lìm vắng tanh, thỉnh thỏang mới gặp một chiếc xe chạy ngược chiều, còn người thì không mảy may một bóng dáng. Từ phi trường Mascot đi tới Lidcomb, chiếc xe bus như một người còn ngái ngủ, chạy cà rịch cà tang  mất cả tiếng đồng hồ, trên xe ai nấy đều mệt mõi, nét mặt người nào cũng  trĩu nặng nỗi ưu tư về một viễn ảnh tương lai thật mơ hồ.  

Xuống xe bus rồi, mọi người mới cảm nhận ra cái lạnh thấu xương của thời tiết sắp lập đông ở xứ bốn mùa. Từ Việt Nam sang Mã Lai, ở một xứ nóng quanh năm, ai ai cũng chỉ mặc phong phanh một chiếc áo cánh, một chiếc quần mỏng, dép thì hở gót hở đầu. Thình lình vù một cái qua tới Úc, khí hậu trái ngược hòan tòan như hai thái cực khiến người nào người nấy như muốn đóng băng, chân tay tê cóng không biết dấu vào đâu, nhấc chân đi không muốn nổi.
Đòan người lần lượt đi vào bên trong. Gia đình thầy Thanh đi sau cùng. Bỗng đâu  một người đàn ông ăn vận lịch lãm bước đến bên cạnh thầy Thanh chìa tay ra bắt tay thầy gợi chuyện:
          - Chào anh, anh khỏe không? Anh đi một mình hay với gia đình? Chắc anh là người Việt Nam?
Thầy Thanh cung kính đáp:
          - Dạ, cám ơn ông hỏi thăm. Tôi đi với vợ con và thằng em vợ. Chúng tôi là thuyền nhân chạy nạn cộng sản, trốn từ Việt Nam sang Mã Lai tị nạn và được phái đòan Úc nhận cho định cư .
Người đàn ông gật gù bảo:
          -  Hoan nghênh anh tới Úc. Đây là một đất nước tự do, qua tới đây rồi anh đừng lo lắng gì nữa cả. Mọi sự sẽ có người hướng dẫn dìu dắt lúc ban đầu. Trông anh rất đạo mạo, xin lỗi tôi hơi mạo muội, anh có thể cho tôi biết tên và nghề nghiệp của anh không?
Thầy Thanh từ tốn đáp:
          - Dạ, tôi là giáo chức, dạy sinh ngữ Pháp và Anh. Tôi tên thánh Pierre, nhưng nói theo tiếng Anh là Peter. Từ khi miền nam chúng tôi mất vào tay cộng sản thì thành phần học thức là thành phần ngoan cố đáng sợ đối với bọn chúng. Chúng tôi không còn tòan quyền thực thi thiên chức nhà giáo như xưa. Mỗi giờ dạy chúng tôi đều bị giám sát gắt gao và báo cáo. Người dân không còn một chút tự do nhân quyền, cuộc sống trở thành địa ngục nên ai cũng tìm cách thóat thân với hy vọng có thể làm lại cuộc đời, nhứt là cho tương lai con cái.  
Ông nở một nụ cười như hài lòng về sự nhận xét không sai của mình:
          - Thảo nào, nhìn anh có vẻ trí thức. Tôi là bác sĩ giám đốc y tế phụ trách vùng phía tây Sydney (Regional Health Director of the Western metropolitan area of Sydney). Hôm nay nhân đến đây thanh tra bệnh viện, tình cờ gặp được anh, coi như ý Chúa. Anh cứ xem tôi là người bạn đầu tiên trên đất nước xa lạ mới mẻ này nhé. Trước lạ sau quen, rồi một ngày anh cũng sẽ trở thành công dân Úc như tôi thôi.
Rút tấm danh thiếp trong ví ra, ông nói tiếp:
          - Đây là danh thiếp của tôi, Tôi tên Chris, từ nay có chuyện gì cần tôi giúp, anh cứ phone cho tôi. Thôi xin tạm biệt anh. Anh vào trong khám sức khỏe với mọi người đi . Hẹn gặp lại anh một dịp khác.

Thầy Thanh cầm lấy tấm danh thiếp nói cám ơn mà trong lòng nửa cảm kích, nửa ngỡ ngàng. Nhìn ông ta rồi nhìn lại vợ chồng con cái mình, đứa nào đứa nấy xác xơ tái mét, ăn mặc thì xốc xếch ống thấp ống cao, chân cẳng tím lịm không vớ không giày. Vậy mà một người có địa vị cao sang như ông ta lại chịu ghé mắt ân cần hỏi han. Dân Úc này quả thật có lòng nhân đạo biết bao, chẳng những không kỳ thị chủng tộc, lại cũng không phân chia giai cấp sang hèn, biết cúi xuống với những kẻ lỡ vận không may.

Sau thủ tục khám sức khỏe, nhóm người tị nạn được đưa về một hostel, nơi tạm cư ăn ở miễn phí cho những người di dân và dân tị nạn từ khắp nơi trên thế giới trong lúc chờ học tiếng Anh, chờ tìm việc hay mướn nhà họặc chờ thân nhân sắp xếp đón về. Những ai thuộc diện “mồ côi” thì chờ giáo hội bảo lãnh. Sau hai ngày lưu trú ở đó, gia đình thầy Thanh và ba gia đình khác nữa được thông báo là tuần sau sẽ rời hostel để đi về một vùng quê nơi có một nhóm giáo hội sẵn sàng bảo trợ. Biết được số phận của gia đình, sực nhớ đến ông bác sĩ đã gặp ngày đầu tiên, thầy Thanh muốn báo tin và nói lời từ giã với ông ta nhưng trong túi không có một cắc bạc nào (lúc đó muốn gọi phone công cộng chỉ cần bỏ 10 cents). Lúc ở trại tị nạn Mã Lai, thầy chỉ biết làm thông dịch viên cho các phái đòan nói tiếng Anh và Pháp giúp đồng bào khi được gọi phỏng vấn, vả lại dân thầy giáo như thầy đầu óc thẳng băng, có biết làm cách gì ra tiền hơn ngòai nghề dạy học ở xứ mình. Có chiếc nhẫn cưới và đôi bông tai của vợ thầy thì đã bán mất để mua rau tươi chớ ăn đồ hộp mỗi ngày thành khô đét. Thế nên khi đi định cư, gia đình thầy chỉ xách võn vẹn một túi hành trang nhẹ hững nhẹ tưng được may bằng bao nylon đựng đường trong đó mỗi đứa chỉ có một bộ đồ mỏng dánh. Bất đắc dĩ, thầy phải mượn 10 cents của một người trong nhóm để phone cho ông bác sĩ. Tưởng rằng chỉ từ giã ông Chris rồi thôi, nào dè ông hẹn chiều đó sau giờ làm việc ông sẽ tới hostel đón về nhà ông chơi và dùng cơm tối. Đối với một gia đình tị nạn vừa mới đặt chân lên xứ người vài ba hôm mà được người chiếu cố đưa đón như vậy quả là một niềm vui khôn tả và là một vinh hạnh lớn lao bất ngờ.   

Buổi chiều, khi ông Chris đến rước thì trước khi đưa về nhà, ông chở cho đi một vòng ra city tới Botanical garden đứng bên này nhìn qua bên kia Opera House xem phong cảnh. Nhưng lúc đó có đứa nào trong bọn biết đâu là đâu và trời trăng mây nước ở hướng nào. Văn phòng ông thì ở Parramatta, từ đó ông chạy lại Villawood rước gia đình thầy Thanh chở ra city. Rồi từ city đưa về nhà ông ở Chastwood. Ăn tối xong sẽ từ Chastwood chở về trả lại hostel. Về sau, khi họ đã rành rẽ đường đi nước bước và các khu vực đông tây nam bắc, nghĩ lại thấy ông thật quá  tử tế, tốt bụng. Gia đình thầy Thanh đâu mắc mớ gì với ông, đã không cùng chủng tộc, khác màu da ngôn ngữ, lại xa lạ hòan tòan mà ông vẫn bỏ công sức thời giờ để đem niềm vui đến cho họ.  

Về đến nhà ông, phu nhân của ông nghe bấm chuông vội chạy ra mở cửa và Welcome từng người bằng cái hôn thân mật làm gia đình thầy Thanh ai cũng cảm thấy ngại ngùng. Bà có đứa con gái bằng tuổi con gái thầy nên bảo cô bé mang đồ chơi ra để hai đứa chơi chung. Ông Chris sau khi thay đồ ra, ông vào bếp chòang cái apron đứng làm bếp. Ông nói ông có ở Trung quốc vài tháng nên cũng biết xào nấu theo kiểu Á châu. Bà đã nướng sẵn honey chicken, ông làm thêm món thịt bò xào nấm đông cô xắt sợi chung với giá và cần tây. Đặc biệt, giá là do bà tự làm lấy ở nhà. Sau mấy ngày ăn đồ hostel ớn tới cổ, hôm nay gia đình thầy Thanh mới tìm lại được một chút hương vị cơm gia đình Á châu.

Trong buổi ăn, thầy Thanh kể chuyện mất nước, chuyện cộng sản, chuyện vượt biên. Hai ông bà bác sĩ tỏ ra rất xúc động thương cảm cho sự bất hạnh của người Việt Nam trong một đất nước triền miên chinh chiến. Khi ra về, ông bà còn biếu cho hai trăm dollars để phòng thân trong lúc chờ tiền phúc lợi của chính phủ. Thầy Thanh cố từ chối nhưng ông Chris nói khéo là coi như ông cho mượn trước rồi sau này trả lại. Vì từ này về sau, nơi đây là quê hương thứ hai của thầy, trước sau gì thầy cũng phải lập nghiệp ở đây vĩnh viễn, ông không sợ thầy chạy đi đâu cả.    

Thế là không nhận không được, bất đắc dĩ thầy Thanh phải cầm lấy. Đưa ra cửa, bà bác sĩ còn trao cho cô Thanh và con gái cô mỗi người một chiếc áo ấm mặc dầu cô nói là giáo hội Vincent de Paul đã có phát cho mọi người trong ngày đầu khi tới hostel. Khi đưa gia đình thầy Thanh về tới hostel, ông bác sĩ dặn dò nhớ liên lạc cho biết tin tức và nếu có dịp trở lại Sydney thì hãy đến thăm ông. Gia đình thầy Thanh vô cùng cảm kích trước lòng tốt của ông bác sĩ  nhưng biết làm gì hơn là nói tiếng cám ơn trong niềm xúc động sâu xa tận đáy lòng. Thầy Thanh nhìn theo ông với cái nhìn của một Benhur lúc sa cơ, trên đường bị giải đi làm tù binh súyt chết khát  đã được Chúa nâng đầu lên đổ vào miệng cho gáo nước cứu tỉnh. Số mệnh con người quả là kỳ diệu, một khi đã tới thời gặp quý nhân thì dù muốn tránh cũng không tránh được, không muốn mang ơn cũng phải thọ ơn.

Cuối tuần đó, gia đình thầy Thanh và những người bạn đồng cảnh được đưa về một vùng quê cách thành phố Sydney về phía Bắc 500 km. Khi máy bay đáp xuống phi trường Port Macquarie thì đã có một nhóm  khỏang hai chục người trong hội bảo trợ đang quây quần đứng đón. Và cạnh bên họ còn có phóng viên nhà báo địa phương với chiếc máy ảnh trên tay. Những người bảo trợ niềm nở trao cho mỗi gia đình một bó hoa đón mừng và những vòng tay thân ái . Ông phóng viên vội vàng làm nhiệm vụ, chụp ảnh từng gia đình để mai này đăng lên báo nhà với đề tài Welcome the first refugees to Wauchope. Nghĩ thấy thật tức cười. Dân cố cựu ở đây cả đời chưa chắc có ai đã được lên báo, tự nhiên một đám tị nạn da màu lạ huơ lạ hoắc từ đâu  lưu lạc tới lại được đón rước linh đình như đại sứ, con rồng cháu tiên quả thật có khác, vừa oai mà cũng vừa… quê quê làm sao!.

Sau đó họ chở mọi người trên những chiếc xe riêng của họ đi về quận hạt Wauchope, một timbertown cách Port Macquarie 21 km, chỉ có 4000 cư dân mà đa số là người lớn tuổi và những người trẻ còn trong lứa tuổi đến trường. Về đến nhà thì đã 3 giờ rưởi chiều. Họ đã chuẩn bị sẵn một tiệc trà với bánh ngọt, sandwiches và cà phê. Họ mướn hai căn nhà lớn cho bốn gia đình chia nhau ở, mỗi căn bốn phòng với đầy đủ tiện nghi căn bản. Sau một hồi chào hỏi giới thiệu lẫn nhau, họ dẫn đi chung quanh nhà chỉ phòng này phòng nọ. Đến nhà bếp, một bà mở tủ lạnh chỉ thức ăn tươi để sẵn trong tủ cho buổi cơm chiều, một con cá snapper thật to, một dĩa ức gà, một bụi cần tây, nửa bắp cải, vài trái cà chua, mấy cái củ hành, hai hộp trứng, cheese và sữa v.v. Họ còn khoe rằng họ biết người Việt Nam thích ăn cơm nên cũng chuẩn bị sẵn một ít gạo. 

Cô Thanh thắc mắc hỏi vậy chớ gạo để ở đâu vì cô cứ đinh ninh rằng gạo là phải được chứa trong một cái khạp hay thùng gì ít nhứt cũng khỏang chục ký, đã bảo là biết người Việt phải ăn cơm mà sao không thấy lu gạo đâu hết. Ai ngờ bà bảo trợ chỉ lên một cái hộp cở hai lít trên kệ cao nói gạo để trong đó. Cô Thanh với tính thật thà chân chất nghĩ ngay trong đầu một ý nghĩ ngộ nghĩnh nhưng rất thực tế rằng nếu gạo mà để trên đó thì chắc ăn chiều nay là ngày mai phải lo “chạy gạo” nữa rồi.  Ở xứ mình dân khổ nhứt là chạy gạo, khổ cực biết bao mới qua được tới đây lại phải chạy gạo nữa sao trời!

Nhưng may thay sự lo lắng của cô Thanh không phải kéo dài lâu vì nhóm người bảo trợ trước khi ra về, họ hẹn ngày hôm sau sẽ trở lại hướng dẫn thủ tục xin trợ cấp và đưa mọi người đi shopping coi cần mua sắm gì thì họ sẽ ứng trước. Vậy là yên chí lớn. Chiều đó cô Thanh thái con cá ra lấy thịt xào rau cần và chiên mấy quả trứng với hành tây, còn mấy miếng thịt gà đem nấu nồi canh cải bắp. Hơn sáu tháng trời ở Bidong ăn tòan đồ hộp của Cao ủy phát, qua tới Úc ở hostel một tuần thì ngày nào cũng nghe mùi thịt trừu và ăn cơm sống, đứa nào cũng mất hai ba ký lô. Hôm nay mới chính thức được ăn lại bữa cơm đúng khẩu vị thuần túy của mình do chính mình nấu nên cô Thanh rất hăm hở lên tinh thần. Cũng may trước khi rời Sydney, những người Việt Nam ở hostel đã bày cho thầy Thanh mua hai chai nước mắm mực mang theo chớ không thôi bây giờ nấu ăn chỉ có muối không làm sao ngon cho được.

Sáng hôm sau và những ngày hôm sau nữa, liên tiếp hai tuần lễ, mỗi ngày những người bảo trợ đều đến để chỉ dẫn giúp đỡ bất cứ chuyện gì.Trước tiên thì đưa cả đám đến phòng thất nghiệp làm hồ sơ xin trợ cấp trong lúc chưa có việc làm, kế đến đi ngân hàng mở sổ bank để chính phủ gởi tiền vào đó. Và họ thay phiên mỗi người một ngày dạy Anh ngữ đàm thọai cho người lớn. Còn trẻ em thì họ ghi danh sắp xếp cho vào các trường trung, tiểu học tùy lứa tuổi. Cuối tuần họ chở  đi  Port Macquarie  picnic họặc du ngoạn ở những vùng lân cận.

Sau một tháng trời ăn ở không đi lỏng nhỏng, mọi người đều thấy “ngứa tay ngứa chân” sẵn sàng săn tay áo để làm việc nhưng ở một vùng nông thôn sàng dã, đời sống nhàn hạ không cần giành giựt bon chen thì làm gì có việc cho làm. Hảng xưởng không có, công sở thì le hoe, đâu đó đã đủ nhân viên. Riêng thầy Thanh, sau một buổi được một trường trung học mời  thuyết trình cho lớp 11 và 12 về nguyên nhân đi tị nạn của dân tộc thầy, ông hiệu trưởng đã nhiệt tình khuyên thầy nên đem gia đình trở lại Sydney vì Wauchope này không có cơ hội cho những người muốn khởi sự làm lại cuộc đời, lại càng không có tương lai cho con cái.

Và sau đó, ông hiệu trưởng liên lạc với giáo hội tin lành ở Sydney giới thiệu thầy Thanh với họ và hẹn ngày cho thầy Thanh gặp họ ở Sydney. Trước tiên, thầy Thanh trở lại Sydney một mình để gặp gỡ và trình bày hòan cảnh của mình với một người đại diện trong hội. Có nơi ăn chốn ở xong xuôi thầy mới về Wauchope tạ ơn hội bảo trợ, xin từ giã họ và rước gia đình về thành. Thầy Thanh tiên phong đi trước để rồi những người bạn cùng hội cùng thuyền sau đó cũng nối gót gia đình thầy lần lượt giã từ timbertown dọn đi nơi khác lập nghiệp. Nếu Việt Nam là quê mẹ ruột thì Wauchope là quê mẹ nuôi để về sau, mỗi khi có cơ hội, đàn con tị nạn lại trở về thăm viếng như một hình thức nhớ ơn nơi đã cưu mang họ những ngày đầu trên bước đường định cư.   

Vạn sự khởi đầu nan, cuộc đời ai cũng phải trải qua những chặng bắt đầu. Có gặp gian khó thì mới ló được cái khôn. Khổ nhứt là cô Thanh vì từ nhỏ tới lớn cô quen được bảo bọc trong vòng tay cha mẹ. Khi lấy chồng thì gặp được người chồng tốt rất mực chăm sóc gia đình nên cô không từng biết bôn ba. Bây giờ lưu lạc đất khách quê người, cô phải phụ giúp chồng lo sinh kế, như một người không biết lội rớt xuống sông cô thật chới với, không biết bám vào đâu, chỉ biết cậy trông nơi đấng thiêng liêng, Đức Mẹ hằng cứu giúp.

Nhớ thuở ban sơ mới tới bờ
Vai tựa chồng tay dắt con thơ
Lẻo đẻo theo sau thằng em nhỏ
Nắm chặt nhau sợ lạc bất ngờ

Thuở nhỏ quen sống cha mẹ lo
Đến khi xuất giá được chồng phò
Tới ngày mất nước đi tị nạn
Một mình bốn mạng mới biết lo

Ở xứ người, nghề chọn người chớ người không thể chọn nghề nên lúc bắt đầu ai cũng như ai, đụng đâu làm đó chẳng câu nệ gì. Có chút tiền dằn túi trước rồi muốn gì mới tính sau. Thế nên, sĩ nông công thương, thầy hay thợ, quân tử hay tiểu nhân, cùng đinh hay trí thức, những tâm hồn lớn hay nhỏ gì cũng có thể ngồi chung một chuyến thuyền, cùng chung một mục đích là kiếm tiền. Có lâm vào hòan cảnh thất sở thân sơ trôi nổi quê người như vậy mới thấy rằng thiên tử cũng đồng hạng với thứ dân. Tay làm thì hàm mới nhai. Có no ấm bản thân rồi mới nghĩ đến thù nhà nợ nước, ngồi bên tây đánh giặc bên tàu không mỏi miệng. Nhưng dẫu sao, ở một đất nước tự do chan chứa tình người như nước Úc này thì dù khổ cực bao nhiêu cũng chẳng thấm thía gì so với mấy chục triệu đồng bào còn kẹt lại nơi quê nhà, đang ngày ngày sống vất vưởng đọa đày trong địa ngục cộng sản, không biết đến bao giờ mới được giải thóat đầu thai...   
         
  Người Phương Nam

Vội Hay Không Vội - Người Phương Nam

Đời Tị Nạn - Người Phương Nam


Mang thân tị nạn nổi trôi tới xứ người, lúc bắt đầu hội nhập, có lẽ ai ai cũng gặp ít nhiều trở ngại khó khăn vì việc bất đồng ngôn ngữ. Việc mưu sinh do đó cũng bị ảnh hưởng rất nhiều, muốn tìm một việc làm theo ý mình không phải là chuyện dễ, nghề chọn người chớ người không thể chọn nghề nhứt là những ai không có nghề nghiệp chuyên môn, họặc cho dù có tay nghề gì đi nữa mà không thông thạo tiếng nói cũng không dễ gì được nhận.

Vì vậy đa số đều lâm vào hòan cảnh như nhau, hễ  có việc thì cứ nhào vô làm, đụng đâu làm đó chẳng câu nệ ngại ngùng gì miễn sao có chút tiền dằn túi trước rồi muốn gì thì mới tính sau. Bởi vì sau những năm dài bị đọa đày bầm dập dưới chế độ cộng sản, người dân đã thấm đẩm tới tận cùng xương tủy cái “chân lý” bần cùng của chủ nghĩa xã hội “lao động là vinh quang” mà dân gian miền nam đã không ngần ngại chua chát  thêm vào câu “lang thang là chết đói” cho đủ ý hợp tình.

Thế nên khi tới được bến bờ tự do, tất cả mọi người từ sĩ nông công thương, thầy  hay thợ, chủ hay tớ, trí thức hay cùng đinh,  những tâm hồn lớn nhỏ gì cũng có thể ngồi chung một chiếc thuyền, cùng chung một mục đích như nhau là kiếm tiền. Ai càng có sức thì kiếm tiền càng dễ. Cứ nhào vô hảng xưởng cắm đầu cắm cổ làm hai shift là nhanh chóng có tiền trong tay. Có làm  hàm mới có nhai và một khi có no ấm bản thân thì mới có tinh thần nghĩ đến nguyện vọng lý tưởng  đã từng vẽ vời xây mộng từ lúc vừa thóat khỏi gông xiềng cộng sản vô nhân.    

Gia đình thầy giáo Phương gồm bốn người sau khi tới Úc được giáo hội bảo trợ về một vùng quê khỉ ho cò gáy chỉ có cây rừng và nông trại. Nơi đó, họ không tìm được việc làm nên đã dắt dìu  nhau trở lại Sydney. Lúc ban đầu họ tạm trú trong một căn nhà xưa cũ của giáo hội tin lành cho mướn ngay tại trung tâm city gần Hyde Park. Hai đứa trẻ, thằng em vợ và con thầy Phương thì được sắp xếp cho vào trường học ngay cho kịp tuổi. Thầy Phương cũng ghi tên xin vào một khóa intensive English for migrants and refugees ở NSW Uni để ôn lại vốn liếng tiếng Anh chuẩn bị đi làm. Còn cô Phương thì tạm thời ở nhà đưa rước con đi học.

Thời đầu thập niên 80, tiền thất nghiệp cho một couple mỗi fortnight chỉ có 200 dollars. Tiền thuê nhà hai tuần là hết 80, chỉ còn lại 120 dollars cho bốn người tiêu xài ăn uống trả bills, chật vật gói ghém lắm mới đủ. Vì vậy khi gặp một bà Úc có đứa con học chung lớp với con gái của cô giới thiệu cho cái job làm bồi phòng trong một motel bảy tầng ở gần nhà, cô mừng húm xin đi làm ngay mà chẳng cần biết công việc nặng nhẹ ra sao. Chừng vô làm mới biết ngày tám tiếng phải dọn mười cái phòng giường đôi, mỗi phòng đều phải lau chùi, dọn dẹp, hút bụi, làm giường với số lương là 150 dollars một tuần. Vốn ốm yếu mình hạc xác ve nặng chưa tới 40kg, ngày đầu đi làm về, cô nghe ê ẩm cả người, hôm sau ngồi dậy không muốn nổi nhưng vẫn phải cố gắng, tự nhủ rằng dần dần chắc sẽ quen thôi. Cô tính rồi đây khi ông xã cô cũng có việc làm thì tiền lương hai người cộng lại sẽ có thể dư được chút đỉnh phòng thân khi bệnh họan túng cùng. Nhưng chỉ được hai tuần thì cô thấy cái lưng mình như bị gãy, đau nhức rã rời,  nhắm không thể chịu đựng lâu hơn nữa được, cô đành xin nghỉ việc chờ cơ hội khác .

Trẻ nhỏ đi học đã yên phần
Người lớn tìm việc mới trần thân
Việc làm không thể chọn theo ý
Một năm đổi job bốn năm lần

Đời ai tị nạn chẳng long đong
 Cũng vì sinh kế phải cam lòng
Gặp gì làm nấy đâu quản ngại
  Ai người đồng cảnh mới cảm thông

Nhân một ngày chúa nhựt đi lễ nhà thờ ở Bondi, vợ chồng thầy Phương gặp hai gia đình người đồng hương qua trước mình hai năm hiện đang sinh sống làm việc ở vùng biển du lịch này. Thầy Phương nói thầy cũng đang tìm chỗ dọn vì giáo hội sắp lấy lại căn nhà đang cho thuê. Nghe vậy họ cho biết trong cái building họ ở còn một căn flat trống chưa ai mướn, họ rủ gia đình thầy về đó ở với họ cho có bạn với nhau. Lúc đó tứ cố vô thân, không có người mách nước chỉ bảo cho nên ai rủ ở đâu thì mướn ở đó chớ có biết vùng nào mắc rẻ, vùng nào thuận tiện dễ đi đứng và có nhiều hảng xưởng để kiếm việc làm. Dân tị nạn ở hostel ra đa số đều chọn vùng phía tây để lập nghiệp còn gia đình thầy Phương thì từ quê lên thành lớ ngớ lù khù nhè phía đông tòan là bãi biển du lịch mà “cắm dùi” thì  chỉ có nước đi làm tạp dịch mà thôi.

Nhưng thời may, khi dọn về Bondi beach, một bữa trưa khi cô Phương đi rước con tan học, một bà Úc làm việc xã hội trong nhà thờ Saint Patrick Bondi kêu cô lại trao cho mảnh giấy có ghi số điện thọai của một nhân viên Welfare ở Endeavour hostel, bảo cô về nói với thầy Phương liên lạc với người này vì họ đang cần thông dịch viên. Lúc ấy là lúc thầy đang quơ quào làm tạm cái job cleaning trong một câu lạc bộ ở city chờ thời vì sau khi mãn khóa học thầy chưa tìm được việc gì đúng với sở trường của mình. Cũng xin nói thêm, trước khi vượt biển, thầy Phương có đi coi tử vi thì được ông thầy tử vi dặn bảo là phải đi về hướng nam lập nghiệp thì mới mong thành công, mới mong có cơ hội cầm lại cây viết,  bằng không sẽ cầm cây chổi suốt đời. Do đó, thầy đã chọn nước Úc, một lãnh thổ ở cực nam bán cầu (không còn nơi nào là nam cực hơn nữa trên trái đất này) để định cư. Chắc có lẽ nhờ vậy mà giờ đây chính là thời điểm cây viết trở lại trong tay thầy. Sau khi phỏng vấn, thầy được nhận và đi làm ngay tuần sau. Thế rồi thầy bye bye cây chổi, bắt đầu làm việc văn phòng nine to five, có bàn viết điện thọai riêng, mỗi tuần lãnh lương chính phủ chắc cú. Rồi khỏang vài tháng sau, khi Bộ Di Trú ra thông báo tuyển người, thầy đã nộp đơn thi và may mắn trúng tuyển, từ đó chính thức trở thành công chức chính phủ liên bang vĩnh viễn. Đúng là có phần thì chẳng cần gì bôn ba.   

Vào thập niên 80, dưới trào thủ tướng Malcom Fraser, chính sách di trú rất rộng rãi nhân đạo, nhận dân tị nạn rất nhiều cho nên tuần nào cũng có một hai nhóm người tới định cư, thầy Phương do đó có cơ hội hướng dẫn phục vụ đồng bào mình nhiệt tình tối đa, và đồng thời mặc nhiên cũng góp phần trả ơn chính  phủ nước Úc đúng theo ý nguyện của thầy. Thời gian đó, chủ nhân hảng xưởng nào muốn tìm công nhân viên thì chỉ cần vào hostel là có đủ mọi tầng lớp thầy thợ cho họ chọn, khỏi đi lòng vòng cho mất công.

Có một kỷ niệm rất  vui cho đám dân ở hostel lúc đó mà  tới nay đã ba chục năm, thầy Phương vẫn còn nhớ rõ. Đó là chuyện...đóng phim. Một cuốn phim mang tựa đề là “The Year Of  Living Dangerously” nói về cuộc đảo chánh ở Indonesia thời tổng thống Sukarno, trong đó tài tử  Mel Gibson đóng vai một ký giả người Úc phải mạo hiểm tìm cách rời khỏi Indonesia vào giờ phút cuối vô cùng cấp bách lâm nguy. Ông đạo diễn phim này cần một số đông người làm bối cảnh chạy lọan (ba chục năm về trước con người chưa phát minh ra computer technology để đưa vào phim ảnh tạo người ảo thay cho người thật), nghĩ không tìm đâu cho bằng nhóm người tị nạn mới tới da còn rám nắng đen sạm giống hệt Indonesians cho nên ông ta vào hostel “tóm hết trọn ổ” gọn bân.

Có dịp kiếm tiền dễ dàng, thầy Phương kéo theo gia đình một người bạn bác sĩ và vợ con thầy đi đóng phim luôn. Thầy Phương và ông bạn bác sĩ, một luật sư và một anh  lực sĩ kiến càng đóng vai nhân vật cao cấp gì đó ngồi trong phòng họp với cà phê khói thuốc mịt mù. Cô Phương thì được hóa trang làm nữ tiếp viên hàng không mà không…làm gì hết, chỉ đứng làm cảnh lúc Mel Gibson chạy băng qua cổng sóat vé dzọt ra phi trường “chẩu”(nhưng Mel Gibson dzọt lẹ quá như sao xẹt, nên khi chiếu lại không thấy cô tiếp viên đâu cả). Còn lại bao nhiêu người khác thì chỉ cần giả bộ xô xát nhau chạy lọan, vợ chồng con cái gánh gồng bồng bế chạy qua chạy lại tạo cảnh hỗn lọan để  người ta quay phim là ăn tiền.

Đóng phim hai ngày weekend như thế, mỗi người có thể kiếm được một số tiền bằng đi làm một tuần. Vì vậy ai cũng hăng hái nhận… vai. Sáng sớm  xe bus vô hostel chở mọi người tới phim trường để nhóm make-up hóa trang, sơn đen đen một chút, rồi đứng lóng ngóng chơi chờ khi nào người ta bảo action thì bắt đầu act. Buổi trưa tòan thể diễn viên được bao ăn no nốc, lại còn có giờ tea, coffee nữa, khỏe thì thôi. Khỏe nhứt là khi vai chánh diễn không vừa ý đạo diễn, ông ta bảo “cut” là sẽ có màn quay lại, phải mất thêm thời giờ, là mọi người được dịp lãnh thêm tiền ngon ơ. Còn Mel Gibson  cứ mỗi lần bắt đầu lại là mỗi lần bị xịt nước lên áo, lên đầu cổ mặt mày gỉả đò như  đổ mồ hôi nhễ nhại ròng ròng vì Indonesia là xứ nóng. Thế mới biết nghề nào cũng phải đổ mồ hôi xót con mắt mới kiếm được đồng tiền, cái gì cũng có cái giá phải trả, càng cao danh vọng càng nhiều gian nan là vậy, mà đây  mới chỉ là một  tiểu xảo thôi.       

Thầy Phương có được cái job làm công chức như vậy là coi như ăn chắc suốt đời cho tới ngày về hưu không cần nhọc công kiếm tìm gì hơn nữa. Chỉ có cô Phương là hơi vất vả vì chẳng có nghề ngỗng gì chuyên môn. Sau khi học một khóa tiếng Anh, cô theo người bạn ở cùng building đi làm kitchen hand trong một nhà dòng nữ tu, một retreat house dành cho du khách thập phương tới trọ. Mỗi ngày chỉ làm part time sáu tiếng với công việc   rửa rau xắt thịt lau chùi bếp núc tương đối thích hợp với cô. Duy chỉ có một điều khiến cô không mấy vui là nếu xong việc nhà bếp trước giờ, bà sister người Philippine hay bảo cô đi clean up các phòng ngủ trên lầu hoặc nhà nguyện kế bên. Job của cô là kitchen hand chớ đâu phải cleaner, người bạn làm chief cook  sau khi nấu xong có thể ngồi ung dung đọc báo chờ tới giờ về còn cô sao lại phải làm thêm việc khác.

Tuy nhận thấy sự bất công đó nhưng cô tự an ủi rằng sông có khúc người có lúc, sống ở đời phải biết lấy chữ “nhẫn” làm đầu, chấp nhận hòan cảnh hiện tại chờ thời cơ. Những lúc ấy thì cô lôi cái máy hút bụi vào nhà nguyện để đó rồi cầu nguyện tìm ở đấng thiêng liêng một sự xoa dịu ủi an trước khi bắt đầu công việc. Dẫu sao cô cũng cảm tạ ơn trên vô cùng đã che chở dìu dắt gia đình cô tới được đất nước thanh bình tự do  để làm lại cuộc đời sau những tháng năm dài tối tăm vô vọng dưới tai ách cộng sản. Gia đình cô đã may mắn hơn rất nhiều người. Chồng cô vừa đặt chân lên xứ người chưa quen hơi bén đất đã bất ngờ nhận được một việc làm tốt đẹp hợp ý như một hồng ân của Chúa  thì chút nhọc nhằn này của cô  có đáng gì đâu phải thở than phàn nàn. Cô phải biết nhận lãnh cho mình để Chúa còn có cơ hội chứng tỏ sự công bằng của Chúa đối với người khác. Nếu cả hai vợ chồng đều được ưu đãi hết thì hóa ra Chúa bất công hay sao.
“Con dâng Chúa đôi tay này từng vất vả làm cho tê tái
Con dâng Chúa đôi bờ vai, gánh gồng nặng trĩu bao ngày    
Con dâng Chúa đôi chân này vì tìm hạnh phúc miệt mài.
Vì ngày mai, con lo hôm nay
Vì  tương lai, con lo hiện tại
Bởi trời đất mãi luôn vần xoay và cuộc sống bon chen từng ngày…”*           

Mỗi xế trưa, cứ ba giờ là cô xong việc ra về. Trên đường tới trạm xe bus, cô phải đi ngang qua một dãy nhà nguy nga và những căn chung cư sang trọng đắt tiền (địa thế vùng Point Piper ở trên cao nên nhà nào cũng có cái view nhìn ra biển thấy  vịnh Double bay, Rose bay với thuyền bè, yatch, canoe  tư nhân đậu tấp nập và xa hơn nữa là Opera house cùng Harbour Bridge tráng lệ huy hòang, hai kỳ quan đặc thù của nước Úc). 

Một bữa cũng đi về như mọi bữa, hôm nay cô bỗng thấy một ông Úc khỏang trên năm mươi đang đứng sẵn trước cửa, chờ cô vừa đi tới thì lên tiếng chào và hỏi cô phải là người Việt Nam không. Cô cũng chào đáp lễ và nói yes, I am. Ông ta nói ông ta thích đồ ăn Việt Nam lắm, hổm rày đón cô để hỏi cô có chịu ghé vào nhà ông ta làm chút housework và nấu ăn cho ông ta không. Ông ta mời vô coi nhà chỉ bếp núc, nhà giặt, phòng ngủ. Ông ta tự giới thiệu tên là Bill là chủ một real estate ở Double bay. Con gái ông đã lớn có chồng ở riêng, nhà chỉ có ông và cô girl friend trẻ. Ông nói muốn nhờ cô hằng ngày ghé lại hai tiếng đồng hồ coi có chỗ nào cần dọn thì dọn rồi nấu giùm một hai món ăn cho hai người, mỗi giờ trả cô 5dollars (thời đó, lương căn bản công nhân một giờ là 5 đồng).

Cô thấy công việc như vậy là “trúng tủ” nghề nội trợ của nàng, lại sẵn tiện đường, tiện giờ giấc mà kiếm thêm được chút tiền nên rất mừng nhận  ngay. Thế là ông Bill đưa chìa khóa cho cô, (làm như trên mặt cô có viết chữ ngay lành hay sao không biết, và  hồi thời đó con người ta còn lương thiện dễ tin tưởng nhau quá, không như về sau này khi di dân và người tị nạn tứ xứ ồ ạt tràn ngập vào nước Úc, đem cái xảo quyệt gian manh giang hồ tứ chiến truyền lại cho người Úc thì lần hồi dân tình nhiểm thói mánh mung xỏ lá, không còn biết được lòng người ai giả ai chân) rồi nói rằng ngày mai tôi sẽ mua sẵn vài món, cô muốn nấu sao cũng được, luôn tiện nấu cho tôi 2 cups brown rice. Cô ra về mà nghe thích thú trong bụng. Điều kiện của ông Bill sao mà quá dễ, muốn nấu sao thì nấu, chưa từng nghe chủ nào mà mướn người dễ như vậy. Nhà cô có mấy người mà mỗi người còn một ý, phải chìu như chìu vong, đàng này ông chủ lại để cô tự quyết định theo ý cô. Ở đợ kiểu này là “cha” người ta rồi còn muốn gì hơn nữa.            

Trưa hôm sau cô ghé lại mở cửa vào dọn dẹp, thấy trên bếp có để sẵn hai dĩa thịt trừu  và hai bó English spinach, Sau khi thay drap giường, quăng đồ vào máy giặt, cô bắt đầu nấu ăn. Cô ớn nhứt là mùi thịt trừu nhưng mà không nấu thì không được. Thấy có miếng gừng trong cái rổ hành tỏi, cô nảy ý làm món thịt lamb xào gừng để khử bớt cái mùi mỡ trừu hăng hắc nghe muốn nhợn. Cô gọt miếng gừng xắt chỉ và xắt nhỏ mấy lát thịt trừu rồi xào như xào mặn, cho muối cho đường vào mặn mặn ngọt ngọt, thử cái nước thấy cũng ngon ngon. Còn hai bó cải, cô rửa sạch cắt khúc, phi tỏi cho thơm, bỏ cải vào đảo sơ qua nêm nếm, xúc ra dĩa còn xanh um xanh ngắt trông rất ngon mắt. Khỏang 5 giờ chiều thì ông Bill về tới, cô nói ông ta ăn thử miếng thịt xào gừng coi sao. Thử xong ông ta kêu lên “delicious, so yummy!”. Thuận tay, ông ta bóc luôn miếng cải bỏ vô miệng vừa nhai vừa khen lấy khen để khiến cô vui mừng nhẹ nhõm vì thấy người ta hài lòng về mình. Ông ta còn nói chiều mai sẽ bảo Jeannie (tên bồ nhí của ông ta) tới thưởng thức Vietnamese food mới được.

Gặp người chủ dễ tính, cô làm việc rất thỏai mái vui vẻ. Có ngày ông Bill mua một bọc minced beef để đó, cô không biết làm gì thành ra đem quết nhuyển chế món bò viên. Tuy không đúng tiêu chuẩn bò viên hảo hạng vì không đủ gia vị nhưng đối với họ thì exellent, nói chung món nào cô chế ra, Bill và Jeannie cũng ưng ý. Đôi khi ông ta không biết mua thứ gì, chờ cô tới  tính coi muốn làm món gì mới chở đi mua. Ông Bill khóai khẩu đồ Việt Nam tới nỗi muốn khoe với bạn bè nên có lần ông mở party mời  ba chục người tới dự vào một tối weekend. Dĩ nhiên ông phải order thêm những thức ăn khác ngòai món lamb xào gừng, spinach  stir fry, cá chiên sauce cà, gà sả ớt do cô nấu. Hôm đó nấu nướng dọn dẹp xong đã hơn 10 giờ đêm, khi cô xách giỏ ra cửa định về thì mọi người đều cám ơn cô và cô bồ nhí Jeannie đã xung phong chở cô ra trạm xe bus bằng chiếc xe sport hiệu Alfa Romeo màu đỏ thắm mới cáo chỉ của ông bồ “trâu già” mua  tặng. Cách đối xử tử tế tốt bụng của người chủ này làm cô cảm thấy rất an ủi và bớt đi  mặc cảm mình là kẻ tôi đòi. Có lẽ do nguồn gốc của người Úc là tội phạm và di dân tứ xứ, trải qua bao đời gian truân khó nhọc tạo dựng mới làm nên cơ ngơi tài sản, do đó họ dễ thông cảm, không đặt nặng vấn đề giai cấp  hoặc kỳ thị những kẻ chân ướt chân ráo trắng tay mới bắt đầu khởi sự như cô.

Nhưng may thay, cái số làm osin của cô chỉ kéo dài ba tháng thì cô nhận được một việc làm full time khác nhàn hạ hơn trong một family business do hai ông bà người Hungary làm chủ. Đó là một thương nghiệp chuyên cung cấp lenses (không biết tiếng việt nói sao) cho các phòng thí nghiệm. Ngày tám tiếng công việc của cô là cắt những mảnh lenses theo order. Cùng làm với cô là một chị người Việt Nam vào trước cô một năm. Lúc đầu người chị em này có vẻ kỳ thị ra mặt, không nhìn cô đến nửa mắt, mặt mày khó đăm đăm như bà cô bên chồng chẳng có lấy một nụ cười Welcome người mới khiến cô cảm thấy rất bẽ bàng. Lạ chưa! Úc không kỳ thị mình mà người mình với người mình lại kỳ thị nhau, Việt Nam gặp Việt Nam mà “dội ngược” không muốn nhìn, có lẽ vì người Việt đã lừng  danh là xấu xa xấu xí.

Theo lời bà chủ, chị miễn cưởng chỉ dẫn cô những việc phải làm bằng một giọng khô khan cộc lốc rồi trở về chỗ ngồi cắm cúi tiếp tục công việc của chị.  Suốt buổi, chị chẳng hề đếm xỉa gì tới cô mãi cho đến giờ lunch chị mới cho biết một điều lệ là chị  không nghỉ nửa giờ ăn trưa để chiều về sớm nghĩa là chị  tan việc lúc ba giờ. Còn cô nếu ăn trưa thì ở lại làm tới ba giờ rưởi. Cô vừa làm vừa ấm ức buồn trong bụng không hiểu chị ta muốn thị oai gì mà cứ giữ thái độ lãnh đạm xa cách như vậy. Có lẽ chị đang âm thầm quan sát, đánh giá cô coi có xứng đáng làm bạn với chị  hay không. Thôi kệ, ai biểu mình là ma mới, chị ta muốn kênh kiệu thì mình cứ giả điên coi chị ta kênh được tới chừng nào. Mà thôi tị hiềm chấp nhứt làm gì, chị ta không nói thì mình nói trước vậy. “Phải biết mở cửa lòng mình trước thì mới mong mở đặng lòng kẻ khác” (Pasquier Quesnel), thử xem cái tảng băng này rồi đây có chảy ra được chút thiện cảm nào cho mình không. Cô bèn nói “vậy thì ngày mai tui cũng không ăn trưa, làm luôn một lèo rồi về sớm như chị. Chị tính vậy hay quá, công việc này đâu có nặng nhọc gì mà cần phải nghỉ ngơi, vả lại giờ morning tea mình ăn vài cái bánh thì cũng dư sức làm luôn tới về. Chị nói với bà boss giùm tui đi nghe, chị nói mới “linh” .

Sau hai ngày 16 tiếng làm việc chung, người chị em bắt đầu mở miệng “phỏng vấn” cô vài câu  dọ dẫm đại khái như quê quán ở đâu,  tới hồi nào, sao biết chỗ này mà xin việc vv… Cô nói “tui đâu biết chỗ này mà xin, bà boss vô hostel tìm người làm, ông xã tui làm việc ở đó nên giới thiệu tui với bả và bả nhận”. Vậy rồi qua tuần sau hai đứa bỗng dưng trở thành bạn ngon lành ngọt sớt như mía lùi, chừng đó mới biết té ra là hai đứa bằng tuổi nhau, cùng là hai con rồng như nhau, cùng có tên chữ lót là “Tố” giống nhau. Chị là cô giáo ở Việt Nam. Còn cô tuy không đi dạy học ngày nào nhưng  tất cả những đứa học trò của ông xã cô đều gọi cô là “sư mẫu”. Bên nửa cân, người tám lượng, hèn chi mà đứa nào cũng có chút bẩm sinh… cao ngạo, tưởng là mình ở chót vót trên chín từng mây nên kỳ thị người dưới thế. Nhưng mỗi đứa thể hiện “khí phách” của mình một cách khác nhau. Người thì hịnh hỡm khinh thường đối phương ra mặt, kẻ thì giả bộ nín thở qua sông, lấy nhu chế cương để chinh phục  cho được “con ma đầu” ó đâm này. Rốt cuộc thì hai đưa hỉ hả cười xòa với nhau.

Bây giờ cô không hỏi thì chị cũng kể tuốt luốt hết mọi chuyện, chuyện bản thân, chuyện gia đình, anh chị em, bạn bè như đã từng thân thiết với cô đâu từ hồi đời kiếp nào rồi vậy. Hôm nào ông bà chủ có việc phải ra ngòai là chị tha hồ “gossip” về chuyện của hai ông bà từ thuở mới di dân tới Úc, nói cho hả hê bỏ lúc phải giả bộ làm màu làm chảnh câm như hến đến đổi bà chủ thấy lạ phải lên tiếng hỏi “Are you both from the same country, the same language?”. Và bây giờ thì chị đã chịu gật đầu nhìn nhận “Yes, we are” để rồi sau đó chính chị đã đề nghị cho hai ông xã quen biết kết bạn bạn với nhau để chia sẻ nâng đỡ nhau trong cuộc sống tha hương nơi xứ người. Thế mới biết tâm lý chung của con người là rất sợ bị bỏ rơi cô độc, ai cũng sợ phải làm một Robinson lẻ loi một mình trên hoang đảo, mãi mãi sống cách biệt xã hội, quần thể bạn bè nhứt là cùng trong một hòan cảnh lưu vong tị nạn như nhau.

Đời tị nạn là như thế đó, có biết bao nhiêu chuyện ly kỳ  hào hứng lẫn chua chát đắng cay mà tất cả chúng ta đều phải trải qua lúc mới bắt đầu. Trước khi có được một mái nhà để an cư thì có lẽ mọi người ai cũng đã từng lâm cảnh ba chìm bảy nổi chín cái long đong vì nhu cầu sinh kế, cái ăn cái mặc và tương lai con cái. Người xưa có câu “an cư lạc nghiệp” nhưng đối với những kẻ vong quốc  tị nạn như chúng ta thì có lẽ phải lạc nghiệp trước rồi mới có khả năng mua nhà sắm cửa để an cư cho hết khỏang đời còn lại. Và một khi đã  an cư rồi, chúng ta sẽ không còn là khách trọ nữa mà mặc nhiên đã thành chủ nhà, xứ sở này sẽ là quê hương thứ hai của chúng ta, là nơi chôn nhau cắt rún của thế hệ con cháu tiếp nối về sau. Xin được ghi lại nơi đây lời cảm kích tri ân những quốc gia đã mở rộng vòng tay nhân ái cưu mang những con người tị nạn khốn khổ lạc lòai.

 Người Phương Nam

* Thánh ca “Con dâng Chúa” LM Nguyễn Mộng Hùynh 

Tuesday, May 14, 2013

Quán Trọ

Một vị thầy tâm linh nổi tiếng đến trước cửa lâu đài của vị vua nọ. Vì Thầy nổi tiếng rồi, nên các người lính canh không chặn ông lại khi ông đi vào và tiến thẳng đến trước mặt nhà vua đang ngồi trên ngai vàng.
- Ông muốn gì? Nhà vua hỏi.
- Tôi muốn có một chỗ để ngủ trong cái quán trọ này. Ông ta đáp.
- Nhưng đây không phải là quán trọ, đây là tòa lâu đài của ta . Vua trả lời.
- Xin hỏi bệ hạ rằng ai là sở hữu tòa lâu đài này trước bệ hạ?
- Vua cha ta, Ngài đã chết rồi.
- Và ai là sở hữu trước cha của bệ hạ?
- Ông nội của ta, Ngài cũng đã chết.
- Và cái chỗ này, nơi mà người ta sống một thời gian ngắn rồi dọn đi, như vậy thì nó không phải là quán trọ sao?


http://vckm.sanbds.vn/library/images/old_data/l10918200824446PM.jpg


http://image1.xahoi.com.vn/news/2011/5/6/19/laudai10jpg1304647420.jpg




Ngày Vượt Biên Nhìn Lại - Người Phương Nam


Mỗi năm, cứ tới ngày ba mươi mốt tháng mười là thầy Thanh nhắc vợ mua dĩa trái cây về thắp nhang cúng Bà Áo Trắng để tạ ơn  Bà đã  phù hộ độ trì cho gia đình thầy nói riêng  và  cả nhóm người chung tàu nói chung được bình yên tới bến bờ trong chuyến vượt biên ba mươi năm về trước. Một ơn phước thiêng liêng tưởng như là bịa đặt nhưng kiểm chứng lại thì quả thật không thể nào phủ nhận .  

Đây ngày kỷ niệm vượt biên
Tháng mười, ba (mươi) mốt vượt biên đường tàu
Xế chiều qua chợ Bãi Xàu
Rồi qua Bãi Giá núp vào chờ đêm…

Năm bảy mươi lăm, trong những ngày hấp hối dãy chết của miền nam, Thầy Thanh đã tận sức tìm cách đưa gia đình chạy cộng sản nhưng cuối cùng cuộc di tản bất thành, số mệnh đã cột chân thầy lại cho đến bốn năm sau. Khi về lại tỉnh nhà, trong một buổi họp nhân dân, thầy đã chứng kiến tận mắt  một màn thị oai dằn mặt nhân dân rất ư là ghê rợn bạo tàn của chế độ mới. Trong buổi họp, bọn sắt máu đã tố tội hai sĩ quan “ngụy” và sau đó đã thẳng  tay hành quyết vặn cổ nạn nhân ngay tại hiện trường không mảy may xúc động. Luật lệ nào mà xử người không có đối chứng, không quyền biện hộ phân bua lấy một lời. Lụật lệ nào mà muốn lục xét nhà, muốn bắt người ban đêm ban hôm lúc nào thì bắt, muốn  đày  ai đi vùng kinh tế mới lúc nào thì đày. Có chăng là luật rừng, luật  của những kẻ không may sinh ra để làm công cụ cho một chế độ độc tài đảng trị, đã bị nhào nặn, đầu độc ngay  từ trong trứng nước theo tôn chỉ của đảng và nhà nước, không có cái quyền lựa chọn đúng sai hay nói lý lẽ mà chỉ rặc một khuôn là bạo ngược, cường quyền vô thần vôn nhân tính. Nói theo truyện ngụ ngôn của La Fontaine là lý của kẻ mạnh luôn luôn là phải đúng . Con chó sói một khi đã muốn ăn thịt cừu con  thì cứ lấy cớ bắt tội con cừu là tại sao mày dám uống nước trên dòng suối của tao. Tao phải ăn mày để trị tội…

Thọat đầu, vì phẩn uất và bất khuất, thầy Thanh tìm móc nối với một nhóm phục quốc và thường xuyên đi hội họp khiến gia đình thầy lúc nào cũng phập phồng lên ruột ăn ngủ không yên. Trong thời điểm cộng sản có phong trào tổ chức cho dân đi vượt biển mua bãi công khai bằng số vàng quy định, có vài  ông xì thẩu cũng muốn mời gia đình thầy Thanh đi theo để lo chuyện đối ngọai nếu gặp tàu ngọai quốc nhưng lúc ấy thầy còn hăng máu phục quốc nên chưa chịu bỏ đi mặc dù ông già vợ của thầy rất muốn  thầy đi cho rồi để trút hẳn mối lo. Về sau, càng ngày càng thấy rõ sự nguy hiểm khi người thủ lãnh bị xử tử hình, sự nguy hiểm không chỉ cho bản thân thầy mà còn liên lụy cho gia đình và thân nhân một cách oan uổng vô lý nên thầy mới nghĩ đến chuyện vượt biên đào thóat. Đất nước là đất nước chung, mệnh nước thì trong tay trời, cho dù thầy có lòng nhiệt huyết yêu nước thương dân nhưng rủi như thầy bị bắt bớ tù tội thì ai sẽ thương giùm gia đình thầy. Tề gia còn chưa xong, tâm tình đâu mà trị quốc, nói chi tới bình thiên hạ. Chí lớn này thôi đành cất lại nhường cho những bậc đại trượng phu, anh hùng cái thế, còn cái thân phận tầm thường nhỏ nhoi như  con kiến con sâu này thì  ba mươi sáu chước, “quậy” không được thì chạy là thượng sách.  

Một buổi trưa trên đường từ trường quận đi  dạy về, có một người trạc tuổi thầy đón thầy lại hỏi ngắn gọn một câu “Đi vượt biên không?” Thầy Thanh bỡ ngỡ nhìn anh ta như ngầm hỏi anh là ai. Anh ta  nói là biết thầy từ lâu. Nhà vợ anh ta ở gần nhà vợ thầy, anh ta là lính cũ, hạ sĩ Trần Quý. Thế rồi chiều hôm đó anh ta tới nhà thầy bàn chuyện vượt biên như đã ăn ý quen đâu từ trước rồi. Anh ta nói có một chủ ghe ở Bãi Giá (cách tỉnh Sóc Trăng khỏang 12km)  muốn cho vợ chồng thằng con lấy ghe đi (chiếc ghe đánh cá chỉ đủ nuôi gia đình nên rất nhỏ, bề dài  khỏang mười một thước, bề ngang  hai thước rưởi) nhưng với điều kiện để lại cho ông ta 25 cây vàng dưỡng già. Và bây giờ thằng con chủ ghe đang nhờ anh ta kiếm mối gom vàng. Chỉ đơn giản như vậy . Còn chuyện xăng dầu, nước nôi hải bàn, hay gì gì khác thì để anh ta lo.

Thầy Thanh trời sinh có cái tính lạc quan, dễ tin người, không hề biết dè dặt đề phòng ai cả, mà hình như những người như vậy thì luôn được  quý nhân phù hộ hay sao không biết. Có nhiều chuyện xảy ra chung quanh thầy đều là điềm hung nhưng khi tới gần thầy thì tự nhiên đổi hướng, chuyển bại thành thắng. Trong trường hợp này, nếu như bị công an gài bẫy thì làm sao thầy chối tội cho được. Hơn thế nữa, khi mọi dự tính sắp đặt xong xuôi, thầy công khai phơi chanh đường và cơm nguội để làm lương khô cho chuyến đi sắp tới, hàng xóm chung quanh ai cũng biết thầy chuẩn bị vượt biên, càng đáng nói hơn nữa là nhà thầy lại nằm cạnh bên Ty công an, thằng công an nào đứng trên sân thượng nhìn qua cũng có thể chạy qua nắm đầu bắt quả tang chứng cớ rành rành. Vậy mà không hiểu cái gì đã che mắt bọn chúng làm cho bọn chúng phớt lờ như không biết  không hay. Quả thật lạ lùng!

Cuối cùng ngày khởi hành cũng đến. Gia đình thầy gồm hai vợ chồng với đứa con gái mới lên 5  và thằng em vợ 12 tuổi cải trang như những người nhà quê lam lủ chồng chất lên một chiếc Honda dame chở nhau qua chợ quận Bãi Xàu vào một buổi xế chiều (tên quận xuất xứ  từ  người Miên). Từ Bãi Xàu muốn ra Bãi Giá phải đi thêm một chặng đường lồi lõm rất xấu khỏang 6km nữa mới tới nơi. Thầy Thanh đã sắp đặt với thằng em chú bác của vợ khi gần tới điểm hẹn sẽ giao chiếc xe cho  thằng em mang về. Còn gia đình thầy thì có người trong nhóm tổ chức đưa tới nhà ông chủ tàu chờ đêm xuống mới dẫn ra bãi.  



Mười ba khá sáng trăng đêm
Công an đâu nghĩ có màn vượt biên
Đêm ấy có đám diễn viên
Công an mê mẩn bỏ phiên canh phòng

Thời may đêm đó có một đám văn công về chợ quận hát hò trình diễn nên đám công an biên phòng mải mê vui chơi, lơ là việc canh gác rất thuận lợi cho việc băng đồng lội  ruộng dẫn đường ra bãi hẹn. Thầy Thanh tay dắt vợ, lưng cỏng đứa con, thằng em chạy lúp xúp theo sau. Cô Thanh từ nhỏ tới lớn chưa từng biết thò chân xuống ruộng nên đi rất khó khăn, trợt lên trợt xuống một hồi rồi mất dép luôn, phải chạy chân không, vừa nhờm gớm, vừa bị gai đâm, miểng chai xóc  nhức nhối vô cùng mà cũng không thể dừng lại, rán cà nhắc nhắm mắt chạy bừa theo cho kịp với những người trước, hơn một giờ sau mới ra tới bãi.

Đợi khi con nước hết ròng
Cho tàu vào bãi tài công rước người
Lương khô, nước uống, xăng dầu
Lôi từ bụi rậm chuyền vào khoang ghe
Thế rồi tách bến lui ghe
Nhổ neo xả máy hướng về biển đông
Từ đây thành kẻ lưu vong
Quê hương mờ khuất dần trong mắt nhìn

Đám người vượt biên khỏang vài chục người (không  biết chính xác là bao nhiêu và cũng không ai biết ai, vì khách đi chỉ biết người trung gian mà thôi) khi ra tới bãi thì nhằm lúc con nước đang ròng, tàu không thể cặp vào rước người được cho nên cả đám phải ẩn mình vào trong các lùm cây bụi rậm (nơi mà người tổ chức đã dấu xăng dầu và nước uống từ mấy ngày trước) chờ nước lớn. Khỏang hai giờ sau thì nước mới dâng cao, lập tức anh tài công nổ máy chạy sát vào bờ. Mỗi người một tay phụ nhau chuyền những thùng dầu, nước và lương khô vào khoang tàu, tiếp theo là  phụ nữ và em bé rồi  cuối cùng là  bọn  đàn ông thanh niên. Xong xuôi anh tài công lui ghe rời bến xả hết tốc lực nhắm  hướng đông trực chỉ. 

Cuộc hải trình chỉ mới bắt đầu, chưa biết hung kiết thế nào  nhưng mọi người trên tàu đã vội vui mừng nói cười ầm ĩ khiến một người trong đám phải la lên “Trời ơi!, đi vượt biên mà làm như đi  du lịch vậy, đừng có mừng sớm cha nội, đợi ra tới hải phận quốc tế cho chắc ăn rồi hãy mừng”. Nhưng người nào cũng hừng chí phấn khởi, húyt gió um sùm. Hạ sĩ Trần Quý reo lên “Huy hòang rồi, huy hòang rồi anh em ơi! Thầy Thanh cất tiếng hát vang bài Ra khơi:

Hôm nay ta cùng chuyến thuyền vượt ra khơi
Anh em ơi! xin chớ đừng dừng tay bơi
Một ngày nào ra khơi     
Một ngày nào anh em còn đang xông lướt bên trời
Hôm nay ta cùng chuyến thuyền vượt ra xa
Anh em ơi! sông núi kìa kìa bao la
Một ngày nào ra đi
Đừng buồn vì phân ly đòan ta xa vắng quê nhà…

Mấy anh em còn phụ họa theo “Khoan khoan hò khoan” nữa chớ. Thiệt đúng là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Tàu chạy được một hồi lâu êm thắm, không thấy tàu công an  nào rượt theo, mọi người càng yên chí. Các chị em phụ nữ không có phận sự gì thì dựa vào nhau nhắm mắt thiêm thiếp.  Còn đàn ông trai tráng thay phiên nhau tốp thì ngủ, tốp thì thức nói chuyện tào lao cổ võ tinh thần anh tài công chánh cho anh ta tỉnh ngủ trong lúc anh tài công phụ đi kiếm chỗ nghỉ lưng nhắm mắt một hồi. Đến nửa đêm, chị Cẩm, vợ anh tài công chánh (đang mang thai bốn năm tháng gì đó) bỗng thức giấc bò dậy nói với chồng chị là chị vừa nằm mơ thấy một bà mặc tòan trắng hiện ra báo cho biết là trong tàu mình đi có hai mươi chín người, tính luôn hai đứa nhỏ. Bà bảo hãy đốt nhang cầu nguyện thì bà sẽ phù hộ cho đi tới bờ bình an. Chị lại nói rằng đêm qua lúc còn ở nhà, chị cũng đã chiêm bao y chang như vậy nhưng chưa có dịp kể với ai. Hạ sĩ Trần Quý nghe thế vội chui xuống khoang tàu đếm đầu người rồi trở lên báo cáo với thầy Thanh là đúng  thật  hai mươi bảy người lớn và hai đứa con nít, một là con của anh ta và một đứa là con gái thầy Thanh. Thầy vội nói với chị Cẩm đem nhang đèn ra đốt và khấn vái, cầu xin bà áo trắng cho được thuận buồm xuôi gió tới bờ.

Lâm râm khấn nguyện cầu xin
Ơn trên ban phúc an bình đến nơi
Lênh đênh giữa chốn biển khơi
Mênh mông trời nước biết nơi đâu bờ
Cầu xin sóng lặng như tờ
Thuận buồm xuôi gió đến bờ tự do
Cầu xin sẽ được ban cho
Giữa khuya linh ứng trong mơ gặp bà
Uy linh áo trắng ngọc ngà
Bà truyền bảo đốt cho bà nén hương
Bà sẽ phù hộ trên đường
Bình an cho kẻ hiền lương tới bờ
Tàu này hai đứa trẻ thơ
Vị chi tất cả hai mươi chín người
Không tin  cứ đếm  thử coi
Quả thật hai mươi chín người đúng bon
Vội vàng thắp nén nhang thơm
Hương trầm khói tỏa kính dâng lên bà

Bất cứ một ai, khi trong lòng đã có một niềm tin mãnh liệt ở đấng thiêng liêng thì hình như người ta không còn cảm thấy sợ hãi một điều gì nữa cả. Mặc dù đang lênh đênh giữa biển cả  thăm thẳm bao la không thấy đâu là phương hướng bến bờ nhưng mọi người đều tin chắc rằng mình sẽ được bà áo trắng  độ trì vượt qua mọi tai biến trên bước đường tị nạn. Luôn ba ngày liên tiếp, trời quang mây tạnh, nước xanh biêng biếc, sóng lặng gió êm, cá dolphin lội dọc theo hai bên thành tàu như hai đòan quân hộ vệ. Cô Thanh có cảm tưởng như đang ngồi trên du thuyền, thỉnh thỏang thọc tay xuống biển nghịch nước và nhúng  cái khăn lau mặt cho con. Trưa ngày thứ ba thì đòan người vượt biển gặp giàn khoan dầu của Mã Lai. Anh tài công bỏ neo dừng lại, thầy Thanh đứng ở đầu tàu ngước lên kêu gọi cầu cứu , xin tiếp tế nước, lương thực và hỏi thăm đường  tới Mã Lai còn bao xa nữa. Những người trên giàn khoan nhìn xuống chiếc tàu bé xíu trông giống như đồ chơi trẻ con đều lắc đầu thương hại cho những kẻ khốn cùng điếc không sợ súng, dù biết thập tử nhứt sanh nhưng vẫn cứ liều mạng đi tìm cái sống trong cái chết. Họ cho biết muốn đi  Mã Lai thì đi về hướng bên phải khỏang một ngày một đêm nữa sẽ tới. Rồi họ thả xuống cho một mớ bánh ngọt, nước uống, sữa tươi và một ít trái cây cho đám thuyền nhân đủ cầm cự trong hai ngày . Con tàu bé nhỏ mong manh lại tiếp tục cuộc hải trình tiến về hướng Mã Lai với niềm phấn khởi hy vọng chứa chan.

Đến khỏang hai giờ chiều, bỗng đâu trời chuyển màu âm u, mây đen từ đâu kéo tới che kín mặt trời làm đen ngòm cả một vùng biển mênh mông. Mưa lác đác rồi giông gió nổi lên cuốn theo từng cơn sóng dữ. Lúc đầu sóng còn nhấp nhô như đùa giỡn với con tàu, dần dần bỗng nổi cơn thịnh nộ dâng cao, ngọn sóng bạc đầu chụp phủ lấy con tàu khiến nó quay mòng mòng trồi lên hụp xuống nhừ tử mấy lần súyt chìm. Tử thần như lảng vảng đâu đây. Anh tài công rán chịu trận, cầm cự tay lái thật chặt trong lúc mọi người  lâm râm khấn nguyện với bà áo trắng, cầu xin bà che chở, xua tan đi bao hung hiểm trùng trùng. Trong phút giây thập tử nhứt sinh đó, cô Thanh chợt nghiệm ra  rằng sinh mạng con người là do trời ban, thôi thì cứ giao phó xác hồn cho trời đất. Trời thương thì nhờ, không thương thì chịu. Con người không thể nào cãi được phần số một khi trời  đã muốn lấy lại. Do đó cô không cảm thấy lo sợ bao nhiêu, dẫu sao khi quyết định ra đi thì ai cũng đã  nghĩ đến trường hợp xấu nhứt và chấp nhận chết là cùng.

Gần hai tiếng đồng hồ sau, bão tố  bắt đầu lắng dịu, con tàu mới lấy lại được thăng bằng tiếp tục chẻ sóng. Ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm thầm tạ ơn bà áo trắng linh thiêng.  Đến lúc này mọi người mới cảm thấy đói cồn cào, giục nhau vét gạo nấu cơm chia nhau mỗi người một miếng lót dạ. Đêm ấy trời lại trong, vầng trăng an bình mười sáu tỏa sáng vằng vặc cho đại dương bao la một vẻ đẹp huyền ảo thần kỳ. Sáng hôm sau, đúng như câu “sau cơn mưa trời lại sáng” khi mặt trời lên cao khỏi mặt nước biển,  đòan người tị nạn đã thấy bóng đất liền xa xa. Anh tài công cho mũi tàu tiến về hướng đó và khỏang nửa giờ sau  thì tới  một trại lính.

Trên bờ, hai chú lính thấy tàu lạ xuất hiện liền  xua tay ra dấu đuổi đi và lăm le họng súng như đe dọa. Nhưng hạ sĩ Trần Quý và thầy Thanh đã lội đến sát bờ lên tiếng cho họ biết mình là thuyền nhân tị nạn, cần họ giúp đỡ. Lúc đầu họ nạt nộ, quyết liệt đuổi xô nhưng một lát sau, một ông tướng tá oai vệ có vẻ là người lãnh đạo  nghe ồn ào giằng co bên ngòai  đã bước ra dàn xếp. Ông ta tự giới thiệu là thiếu tá Yap, chỉ huy trưởng của đòan thủy quân lục chiến địa phận Kemaman này. Thầy Thanh trình bày hòan cảnh chung của anh em trong tàu và xin ông  hướng dẫn gặp Cao ủy phụ trách vấn đề tị nạn. Thầy nói:
            - Nếu chúng tôi không mất nước thì giờ này chúng tôi cũng như ông, an nhiên tự tại trên quê hương mình chớ đâu cần phải nổi trôi phiêu bạt, liều chết đi tìm tự do ở xứ người. Đất nước ông đã may mắn không bị chiến tranh thì xin ông rộng lòng chia sớt cái may mắn đó bằng cách cứu vớt những kẻ bất hạnh lỡ đường như chúng tôi. Đường dài trăm dặm, chúng tôi đã tận sức đi được chín mươi, mười dặm còn lại là tùy thuộc vào lòng tốt của ông. Xin  hãy  đưa giúp chúng tôi đi nốt chặng đường còn lại.       
Ông thiếu tá suy nghĩ một chút rồi nói rằng:
            - Từ bao tháng qua, đã có rất nhiều con tàu tị nạn  trôi giạt vào đây nhưng lần nào tôi cũng buộc lòng cho lính kéo ra theo lệnh chính phủ, nếu không đi thì chúng tôi sẽ bắn, nhưng hôm nay không biết sao tôi lại thấy mình bị lay chuyển, thuyết phục, hình như có một sự vô hình nào đó thúc giục tôi phải tiếp nhận các anh. Thôi được, anh hãy gọi hết đồng bào của anh lên bờ nghỉ ngơi, tôi sẽ liên lạc với Hội Hồng Nguyệt Mã Lai (Red Crescent Society) đến đây giải quyết trường hợp của các anh.

Ông thiếu tá bảo lính đem mấy thùng mì gói và nước ra cho mọi người ăn trưa. Sau đó, ông về phòng làm việc gọi máy cho Hội Hồng Nguyệt. Sau bốn ngày ngồi bó gối dưới khoang tàu, hôm nay được thỏai mái đi đi lại lại trên bờ và ăn uống khoan thai, mọi người đều cảm thấy  khỏe khoắn nhẹ nhàng từ thể xác đến tinh thần. Dù chưa biết bước kế tiếp sẽ như thế nào nhưng trước mắt là họ đã hòan tòan thóat khỏi xích xiềng cộng sản, hòan tòan cầm chắc sự tự do mà họ đã đổi lấy mạng sống đi tìm.  Đến xế chiều, bên ngòai trại lính có một chiếc xe bus dài và to với huy hiệu Trăng lưỡi liềm đỏ đổ lại. Ông thiếu tá cho gọi  đòan người tị nạn ra bàn giao họ cho  nhân viên của hội và chúc họ may mắn trên đường định cư. Thầy Thanh thay mặt mọi người chấp tay cám ơn thiếu tá Yap nói rằng:
            - Ơn đức của ông chúng tôi xin ghi nhớ mãi. Tiền rừng bạc biển ai rồi cũng sẽ hết, chỉ có thi ân bố đức, giúp người họan nạn mới là phương cách đầu tư, tích phước trường tồn. Nguyện xin ơn trên ban phúc lành cho gia đình ông.

Khi lên xe bus, nhân viên của hội cho biết là bọn họ sẽ được đưa đến  trại chuyển tiếp Marran ngủ qua đêm rồi sáng hôm sau sẽ xuống tàu qua đảo tị nạn Pulau Bidong ở đó trong thời gian chờ Cao Ủy cứu xét cho đi định cư ở đệ tam quốc gia. Như vậy là mục đích của họ đến giai đọan này coi như đã thành công được hai phần ba. Những ngày sắp tới sẽ là những ngày “dưỡng quân” trước khi được chính thức định cư để  làm lại cuộc đời.       

Bà là Đức Mẹ Ma-ria
Quan Âm Bồ Tát hay bà là ai?
Ơn thiêng liêng ấy muôn đời
Bà tiên áo trắng rạng ngời trong tim

Chuyến vượt biển của gia đình thầy Thanh quả là một chuyến đi suông sẻ an lành hiếm thấy từ lúc khởi đầu cho đến khi tới bến. Không bị đói khát , không bị chết máy bể tàu, không bị cướp biển, sóng gió  cấp tám cũng  lặng lẽ rút lui sau một hồi hòanh hành đe dọa. Không biết đó có phải là nhờ vào đức tin tuyệt đối ở đấng thiêng liêng hay không. Nhưng nếu nói nhờ vào đức tin thì những thuyền nhân khác cũng có thừa đức tin như vậy. Vậy thì  tại sao có biết bao vạn người đã bỏ mình chết oan trên biển cả, nuốt hận ngàn thu? Hay là phước ai người đó nấy hưởng? Vấn đề thiêng liêng thì có lẽ chỉ có đấng thiêng liêng mới giải thích được mà thôi. Còn đối với người phàm như chúng ta thì chỉ biết cầu nguyện và…xin vâng.

  Người Phương Nam