Pages
- Trang Chủ
- About Me
- Truyện Ngắn
- Sưu Tầm
- Sưu Tầm from 2020
- Góp Nhặt Bên Đường
- Nhạc Chọn Lọc
- Sưu Tầm Sức Khỏe
- NPN's Recipes
- Trang Người Phương Nam
- Cười Ý Nhị
- PPS + YouTube Chọn Lọc
- Những Hình Ảnh Ý Nghĩa
- Thơ
- Thơ From 2020
- Bùi Phương Lưu Niệm
- Trang Anh Ngữ
- Truyện Dài : Về Phương Trời Cũ
- Truyện Dài : Ngày Tháng Buồn Hiu
Monday, April 20, 2026
Một Bác Sĩ Biệt Động Quân Chẳng Giống Ai - letamanh
Lời bạt: Năm 2015 tôi
viết bài nầy và cố tình không viết về vợ con của Lê Văn Thại. Nhưng sau khi Hắn
mỉm cười ra đi, tôi viết bổ sung câu chuyện cho tròn cái nghiệp mà Hắn đã trả
xong. Mời quý vị xem đoạn cuối Hắn cưới vợ như thế nào và khúc quanh đời Hắn
như cái "nghiệp" phải mang!
Tôi và Hắn cùng quê
hương Tam Quan, vùng đất trải dài rộng lớn những rừng dừa và hệ thống sông ngòi
chằng chịt! Hắn là cháu nội một phú hộ vùng Cấm An Sơn thuộc xã Hoài Châu; còn
tôi thì sanh ra và lớn lên trong thôn Cữu Lợi xã Tam Quan nổi tiếng sản xuất
dầu dừa và dây dừa. Ông nội của Hắn là chủ những ruộng vườn cò bay thẳng cánh.
Ông nội tôi thì là chủ ghe bầu buôn bán dọc ven biển và các thành phố từ Nam
chí Bắc một thời.
Tôi và Hắn cũng cùng chung số phận sống 9 năm trong vùng Cộng Sản Liên Khu 5, thời kháng chiến chống Pháp, 1945-1954. Cũng có những tháng năm ngồi học trong các đình chùa bị đục vách phá bàn thờ để làm nhà kho và lớp học. Chung số phận là cháu con nhà địa chủ, sắp có chính sách đem ra tòa án nhân dân đấu tố!
Thế nhưng cuộc đổi đời
năm 1954, sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, chúng tôi cởi bỏ được lớp bùn
đất "Thiếu nhi Bác Hồ"; bắt đầu được học trong các trường công lập,
được ca hát tự do! Hắn và tôi sau cùng vào học trường Tăng Bạt Hổ Bồng Sơn. Hắn
nhỏ hơn tôi 1 tuổi nhưng học trên tôi 1 lớp. Gia Đình Hắn có tiệm bán thuốc tây
(Pharmacy), vì thế, vài năm sau, Hắn bỏ trường huyện, vào học Tabert ở Saigon.
Thẳng cánh cò bay, xong Trung Học, Hắn vào trường thuốc. Đến năm 1970, Hắn ra
Bác Sĩ và được động viên vào binh chủng Biệt Động Quân.
Còn tôi, đang học Văn
Khoa thì bị động viên năm 1967 vào khóa 26 SQTB Thủ Đức. Năm
1970, lúc đang đóng quân ở Pleiku thì lính vào báo: "Thẩm quyền, có một số
sĩ quan BĐQ đi xe Jeep trông dữ dằn lắm, tìm thẩm quyền!" Tôi cũng vừa từ
đơn vị tác chiến tiểu khu Bình Định đổi lên vùng đất đỏ chưa được mấy tháng,
chưa quen biết nhiều, làm sao có BĐQ là bạn tìm tôi! Trong khóa 26, ra trường có hơn 80 tên về BĐQ, nhưng chưa biết tụi nó ở
đơn vị nào. Chưa quyết định thế nào thì đám rằn ri mũ nâu chạy sộc vào văn
phòng: "Ê! Dũng Lùn đâu, trình diện thượng cấp!"
Dân mũ nâu rằn ri, đi
tới đâu là ồn ào vang trời! Tôi nhìn lên, hóa ra tên dẫn đầu
là Bác Sĩ Lê Văn Thại, tên thứ hai là Huỳnh Thọ Huyên, Khóa 26, tên thứ ba là Trần Tấn Đỡm, khóa 26, tên thứ tư là Lâm Đạo Đụng, khóa 26. Tôi bật dậy khỏi ghế như chiếc lò xo, mừng quá, bắt
tay từng thằng. Hóa ra là Hắn - Lê Văn Thại - ra trường nghề
thầy thuốc năm 1970 với 7 năm chương trình Bác sĩ dân sự. Sau đó được động viên
về BĐQ, lên Pleiku chăm sóc Liên Đoàn 2 BĐQ, Y Sỹ Trưởng, đóng hậu cứ ở Biển
Hồ.
Cuộc hội ngộ
"lính" vô cùng ồn ào và mùi "quân trường" còn thoảng hơi
chưa phai! Chúng tôi kéo nhau ra cà phê Dinh Điền nhâm nhi và từng thằng khai
"tình trạng quân ngũ", những gương mặt mới xa, nhưng cứ tưởng không
có cơ hội nào gặp lại. 3 thằng Khóa 26 Thủ Đức búng
ra sữa,bây giờ trông rất "ngầu".Bộ quân phục Biệt Động Quân, chiếc mũ
nâu đội lệch, phù hiệu.... Thằng nào cũng hiên ngang và tự tin! 3 thằng cùng
đang phục vụ Liên đoàn 2 BĐQ. Bác Sĩ Lê Văn Thại, Y Sĩ Trưởng với bộ vía tác
chiến Biệt Động trông rất "lính". Hồi còn đi học, Hắn rất giỏi võ
Bình Định, sở trường Hầu Quyền; vô Sài Gòn học thêm Taekwondo, Hapkido... Mỗi
khi Hắn nổi hứng, nắm tay ai bóp nhẹ là người đó la làng. Hắn uống rượu như
uống nước, lần nào ngồi với Hắn và mấy trự BĐQ, tôi chỉ là thằng phá mồi!
*****
Rồi thời gian trôi!
Chiến trường các nơi sôi động. Cánh Biệt Động hành quân rày đây mái đó.
"Mùa Hè Đỏ Lửa" năm 1972, tôi và đơn vị trấn thủ thành phố Pleiku để
cho vợ con và dân chúng "di tản". Sau đó, các đơn vị Biệt Động phải
di chuyển xuống giải tỏa Tam Quan Bồng Sơn, hành quân liên miên,
nên tụi tôi ít khi gặp nhau; dù là ở thành phố trấn biên như Pleiku, mệnh danh
là "thành phố của lính", dù hậu cứ của tụi nó ở ngay Biển Hồ! Mỗi
thằng mỗi khung trời nhỏ trong guồng máy chiến tranh. Đã mang danh hiệu là
"Biệt Động" thì có khi nào đơn vị được yên tịnh đóng ở một chỗ đâu!
Cả "Vùng 2 Quân Khu 2" đều là địa bàn in vết giày Biệt Động Quân; có
biết bao anh hùng ngã xuống! Cuộc di tản tháng 3 năm 1975 là những ngày Quân
Dân Cán Chính Pleiku - Kontum - Phú Bổn không thể nào quên. Tôi được may mắn
thoát khỏi cuộc di tản trong gang tấc nhờ cái lệnh thuyên chuyển về Đặc Khu Cam
Ranh chỉ trước một tháng! Cánh BĐQ của BS Lê Văn Thại, Huỳnh Thọ Huyên cùng số
phận kẹt cứng trong đoàn người và quân trang quân dụng trên Tỉnh Lộ 7b. Mấy
thằng Khóa 26, lúc bấy giờ vừa được thăng cấp Đại
úy, đều bị "tóm" ở gần Sông Ba - Phú Bổn! Đại úy Huỳnh Thọ Huyên cùng chung số phận với đơn vị. Vợ và 3 con
của Hắn thì lạc mất trong rừng. Vợ của Huyên lạc luôn 3 đứa con, 1 trai 5 tuổi
và 2 gái, đứa 3 tuổi và đứa chưa tròn một năm sanh. Sau nầy nhờ
tìm kiếm, vợ của Huyên tìm được đứa con trai từ một gia đình người Thượng, cháu
được nuôi để chăn trâu! Hai cháu nhỏ thì không còn dấu vết! Mấy tay BĐQ, bạn Khóa 26 của tôi bị nhốt ở nhiều nơi, sau rốt nằm ở Z30 A Tuy
Hòa. Riêng tên Bác Sĩ lì Lê Văn Thại thì thoát được về Sai Gòn.
Cuối tháng 3 năm 1975,
từ Cam Ranh tôi về Saigon bằng đường bộ đến Phan Rang rồi đi ghe ở Bình Tuy về
Vũng Tàu, vợ con gởi lại phía ngoại ở Ninh Hòa. Tôi và Lê Văn Thại lại gặp
nhau, nhậu quên đời. Hai thằng quanh quẩn hũ rượu của ông già tôi ngâm. Rượu
thuốc có thêm mùi trái ô môi vừa cay vừa ngọt. Ba tôi thấy hai đứa buồn chán
nên cũng thường làm mồi cho hai đứa nhậu đưa cay!
Thê thảm nhất là ngày
30 tháng tư năm 1975, Khu xóm tôi ở trên đường Bà Hạt - Chung Cư Ấn Quang - rần
rần người ra đi và rậm rật những đứa mang băng đỏ. Nếu ngày ấy hai đứa ra bến
Bạch Đằng thì có lẽ đời sẽ rẽ qua hướng khác. Đàng nầy, hai đứa ngồi nhìn nhau
không nói gì nhưng tay thì cầm ly! Tôi có hơi men, thỉnh thoảng còn bày đặt
khóc nhớ vợ con chưa biết ra sao...
Cho đến một ngày cuối
tháng 5/1975, Ba tôi làm cơm đải 2 đứa ngày mai "Trình Diện Học Tập"
10 ngày bằng 1 chai rượu tây đem về từ Embassy Hotel. Lúc nâng ly, Lê VănThại
đặt tên cuộc nhậu nầy là: "Đăng Trình Tửu". Hôm sau, hai đứa xách bị
áo quần và cái mền mỏng, đem theo tiền ăn 10 ngày, mấy bao thuốc lá, đôi dép
Nhật hai quai... Hai đứa hí ha hí hửng "trình
diện" tại trường Petrus Ký. "Học tập 10 ngày" thì nhằm nhò gì!
Ông hàng xóm nói với tụi tôi khi thấy hai đứa khăn gói gỏ cửa nhà ông chào từ
giã!
Tôi làm ra vẻ sành
đường đi nước bước trong trường, dắt Lê Văn Thại lên lầu bên trái, chỉ vào lớp
gần cuối: "Tao mài quần chưa rách trong phòng nầy!" Thế là hai đứa
tôi và mấy chục người trải nilon nằm dưới sàn. Có thằng leo nằm trên bàn học trò.
Tôi tìm chỗ ngồi năm xưa, phía dưới hộc, quả nhiên còn tên của mình đã khắc
bằng dao!
Ở "khách
Sạn" Petrus Ký, ăn cơm ngày 3 bữa do các nhà hàng nổi tiếng ở Chợ Lớn cung
cấp. Mọi người hí ha hí hửng cho rằng
"Cách Mạng" đối đải "Kẻ Đầu Hàng" sao mà tử tế quá!
Nửa đêm, sau mấy ngày
nằm chờ đợi "việc gì sẽ xảy ra", chúng tôi được gọi tên từng thằng,
sắp hàng một, ôm hành lý leo lên xe bít bùng đang đậu hàng
dài trước cổng trường. Cứ 20 thằng leo lên, trên xe có sẵn 2 chú nhóc bộ đội
gườm súng bên hông. Xe phủ bạt kín mít, xe chạy rần rật trên các đường trong
thành phố, chẳng ai biết nó về hướng nào mà đoán!
2 chú nhóc tì mặt hầm
hầm, luôn gườm súng hăm dọa: "Không được nhìn ra ngoài, không được ồn ào
nhúc nhích..." Xe chạy miết đến xế chiều, chúng tôi được phát lương khô
"made in China". Cuối cùng rồi cũng đến nơi, xe ngừng trong một trại
lính của VNCH gần núi Bà Đen, Trảng Lớn Tây Ninh! Doanh Trại nầy, không biết
trước kia làm gì mà có những gian trống trơn, chỉ có sàn xi măng quá to, quá
dài, rất nhiều căn trại như thế chứa chúng tôi. Cứ 20 thằng là một B, "cán
Bộ" chỉ định B Trưởng, chia nhau trải chiếu hay bao nilon nằm san sát bên
nhau cho có hơi ấm! Cứ thế ở đó tự phân chia nấu ăn, tự biên tự diễn. Nếu có
đứa nào bịnh thì "Bác Sĩ Cách Mạng" đến khám và bôi dầu cù là, chứ
không có thuốc gì hết!
BS Lê Văn Thại tìm
được trong đám đông thêm bạn, đó là BS Lê Văn Một, người miền Nam, râu quai
nón. 2 tên Bác Sĩ bắt đầu ngứa nghề. Trong đám ngàn người ngủ giống như ngoài
trời suốt 2-3 tháng trời, chuyện bệnh hoạn xức dầu cù là được chúng tôi âm thầm
chuyển qua "Bệnh Viện Một - Thại". 2 tên nầy kể cũng mát tay nên ít
khi phải gọi Bác Sĩ "Dầu Cù Là"!
Nhưng khi "biên
chế", một số về trại lính Sư Đoàn 18 ở Long Khánh, B19 của tôi, B20 có
Thại và Một, đều xách gói lên xe.Ở trại mới một thời gian, đang "được lên
lớp" bài đầu tiên: "Ba Dòng Thác Cách Mạng" của Lê Duẫn thì có 4
thằng trốn trại trong đêm. 2 ngày sau thì tụi nó bị bắt, trong túi xách có một
số thuốc tây, chúng khai là của BS Lê Văn Thại cho! Thế là nửa đêm, rần rật súng ống và cả đám đông bộ đội bao vây nơi BS Thại
nằm, lôi hắn xuống sàn, còng số 8, đọc lệnh nhốt vào co néc (conex). Khung sắt
nầy hình khối vuông, trước kia "Xâm Lược Mỹ" dùng loại nầy chở quân
trang quân dụng, chuyên chở từ Hoa Kỳ bằng tàu thủy cung cấp cho chiến
trường... Hắn bị thẩm vấn và nhốt vào cái khung sắt "kiên cố" đó bằng
một khóa bự! Trời Long Khánh nắng đổ lửa mà ngồi trong cái thùng sắt dày,
không có lổ thông hơi, bị khóa trái, ăn ngủ, tiêu tiểu một chỗ... do Bác
Sĩ Lê Văn Một được "đặc trách" chăm sóc. Chúng tôi cứ tưởng chừng mấy
ngày là Hắn chết khô! Thế mà nhờ ngồi thiền, Hắn không chết...
Mấy tháng sau đó, một
buổi trưa hè nóng gắt, kho đạn kế bên trại giam chúng tôi, không biết sao phát
nổ. Toàn bộ bom, hỏa tiển, đạn 81 ly, 60 ly, M79 không những nổ mà còn bay đầy
trời! Vụ nổ kéo dài đến tối. Trong trại chết một ít nhưng bị thương thì hơi
nhiều. Ngoài dân chúng, những trái hỏa tiễn bay xa làm sập nhà và chết
nhiều hơn chúng tôi. Vòng thiệt hại ở xa trung tâm nổ, nhiều hơn vòng trong gần
với kho đạn!
Trong lúc kho đạn nổ
bay đầy trời, mấy anh chàng nhát gan nhảy xuống các hố hay giếng khô trốn thì
đạn lại rơi vào chết thảm. Những thằng sợ quá mất khôn lấy đôi guốc gỗ che lên
đầu đi lững lơ như người điên, thế mà chẳng sao. Có thằng lấy miếng carton che
đầu. Riêng BS Lê Văn Thại an toàn ngồi trong khung sắt nghe tiếng nổ bên ngoài.
Riêng tôi chui vào một cái lổ trong đống gạch, hai chân lòi ra ngoài chịu trận!
Sau vụ nổ, một thời
gian ngắn, chúng tôi được leo lên xe đến "Khu gia binh" ở Long Giao.
Lê Văn Thại được "tháo cũi sổ lồng" lên xe cùng chúng tôi. Hắn vốn đã
là người ốm cao lêu nghêu, bấy giờ xác xơ đi không muốn nổi. Hồi còn sinh viên,
tôi đặt tên Hắn là "Khô trúc Đại Sư". Hai đứa ở Long Giao một thời
gian ngắn thì tôi "được thuyên thuyển" ra Bắc trên con tàu chở xi
măng, để nổi trôi Hoàng Liên Sơn, Lào Cay, Yên Báy, Vĩnh Phú... Còn Hắn,
"được tha về" vì có cái made in Bác Sĩ! Làm việc dưới quyền các Bác Sĩ
vốn xuất thân từ trường thuốc "Dầu Cù Là".
******
Tôi được "Cách
Mạng khoan hồng" lệnh tha về từ trại tù K2 Tân lập Vĩnh Phú, phải mất 10
ngày từ nhà tù, vượt qua con sông Đà, ngồi tàu lửa chen lấn, từ ga Ấm Thượng về
Hà Nội và con tàu suốt xuyên Việt. Về đến Sài Gòn thì mới hay là ông nội tôi đã
qua đời 10 ngày trước, vì nghe tin tôi được ra tù; mừng quá lên máu đứng tim!
Bước vào nhà cha mẹ tôi, Ba tôi chờ bên bàn thờ chít khăn tang cho thằng cháu đích tôn. Bác Sĩ Lê Văn Thại cũng có mặt. Hắn kể lể một loạt từ
khi hai đứa xa nhau. Lúc Ông Nội tôi bị đứng tim thì cũng có Hắn đưa cấp cứu
nhà thương Chợ Rẫy và ẵm xác ông nội tôi về lại nhà. Hắn thay tôi trực lo chôn
cất, sát cánh với gia đình thằng bạn còn trong tù ngục.
Mấy tháng sau Hắn dẫn
đến nhà một cô gái trẻ đẹp, có duyên và nói tiếng Bắc Kỳ ngọt xớt giọng Hà Nội.
Hắn giới thiệu tên cô là Dung đang làm nữ y tá ở Bệnh Viện Chợ Rẫy. Ba tôi xách
một chai đế ngâm thuốc và má tôi thì xào dĩa thịt bò hành tây đãi khách. Dung
uống rượu cũng rất là tâm đắc với Thại. Tôi ngồi chuốc rượu mà ngạc nhiên là
Hắn tìm đâu ra kỳ phùng dịch thủ.
Một năm sau thì Hắn
mời vợ chồng tôi mừng đám cưới Hắn với Dung. Năm đó Hắn 40 tuổi, là Bác Sĩ mà
hàm răng cái mất cái còn trông tội nghiệp. Cô Dung y tá năm đó 25 xuân xanh!
Một trời thơ mộng hạnh phúc mở ra cho thằng bạn tôi. Đám cưới ngoài vườn cây của
ba mẹ Hắn trên Phú Lâm. Ngồi dưới tàng cây nhậu là hết ý.
Tôi nổi hứng đứng lên
trước hàng bao nhiêu Bác Sĩ, bạn bè tứ phương tụ tập vui chuyện chúc mừng. Tôi
ra câu đối chúc mừng tân Lang và tân Giai nhân. Vế đầu tôi đọc lên: "Bốn
mươi tuổi tròn, răng không còn, Thầy Lang cưới vợ!" Nếu ai đối hợp ý thì
được toàn thể cử tọa vỗ tay và cụng ly với một chai rượu tây chính cống!
Thế là một không khí
ồn ào náo nhiệt bàn tán về ý của câu đối và rất nhiều tài danh viết nạp câu
đối. Cuối cùng một anh bạn, nay đã quy tiên, có câu đối như thế này: "Hai
mươi tuổi lẻ, vẫn còn trẻ, Y Tá vu quy". Câu đối được chấm xuất sắc!
Tôi và gia đình không
được nhập cư SàiGòn với cha mẹ tuy trước năm 1975 chúng tôi có tên trong hộ
khẩu. Vì thế nên chúng tôi phải đi vùng "KinhTếMới" ở ĐồngNai. Thời
gian nầy Thại làm việc tại Bệnh Viện "Bệnh Nhiệt Đới" Chợ Quán. Cha Mẹ
vợ Thại có con ở Hoa Kỳ đang làm bảo lãnh cho toàn thể gia quyến sang Mỹ. Lê
Văn Thại lúc đó đã có được 1 con gái kháu khỉnh dễ thương tên Ngọc. Hắn không
muốn ra đi "Tùy theo quê vợ" nên cứ dùng dằng "em chả"!
Nhưng cuối cùng thì cũng phải vì tương lai con gái mà "theo em xuống
thuyền".
Về phần tôi, năm 1990,
cả gia đình tôi được giải thoát theo HO3 tháng 7 năm 1990 và định cư ở Nam
Cali. Gia đình Thại, vì không đủ 3 năm ở tù nên được đoàn
tụ với đại gia đình vợ, định cư tiểu
bang Oregon! Hắn quyết tâm học và quyết tâm lấy cho được bằng Bác Sĩ ở Hoa Kỳ,
dù Hắn lúc đó đã lớn tuổi và sau năm 1990 thì chuyện học lấy BS rất khó! Vì
nhiều lý do mà Hắn không thể theo học nghề thầy thuốc sau 2 năm gắng sức! Trước
kia Hắn học trường Pháp, 7 năm mài quần trong Y Khoa Đại Học Sài Gòn, đậu bằng
Bác Sĩ theo chương trình Pháp ở VN. Qua Hoa Kỳ hóa ra Hắn trở thành một tên
"lộn chuồng"!
Lúc Hắn than là học
khó quá, tôi khuyên Hắn: "Mầy bỏ ý định thành BS ở đây, mầy mở võ đường
dạy võ Bình Định Thiếu Lâm hoặc cùng với BS Phạm Gia Cổn dạy võ Hàn Quốc thì
tốt hơn". Hắn mĩm cười làm thinh tiếp tục hành hạ thân xác
vì sĩ diện (?!).
Chính vì thế mà Hắn
chán đời, chán vợ, chán con, lặn sâu qua tiểu bang Delaware với mấy bạn Biệt
Động Quân chán đời, cùng ở dưới hầm nhà hơn 8-9 năm trời để săn bắn và nhìn
trời chiều bảng lảng! Khi con gái Hắn đậu bằng Bác Sĩ, hắn lên tinh thần
và về lại Cali ở với con gái. Bác Sĩ Ngọc rất có hiếu và chăm sóc tận tình,
chiều chuộng ông cha già ương ngạnh!
Tháng 3 năm 2019, Hắn
được xe cấp cứu ò e, chở vào Fountain Valley nằm đã gần 10 ngày. Tôi vào thăm,
Hắn nhìn tôi cười đểu: "Ê Lùn! sao không xách theo chai nào mà đi không
vậy?" Cầu mong Hắn chóng qua cơn "bệnh viện", tôi sẽ nói với bà
xã đúc bánh xèo "dõ" (chỉ có bột gạo) kiểu Tam Quan, hắn rất thích,
chấm với mắm nêm; đải Hắn một bữa với vài ly xây chừng! Bây giờ Hắn cũng không
còn uống được mấy ly, nhưng gà vẫn còn nhớ tiếng "gáy" một thời vang
bóng!
Sau 3 năm ở với con
gái tối ngày đi trực bệnh viện vì dịch Covid-19 và là Bác Sĩ chuyên khoa, con
gái Hắn ít khi ở nhà với Hắn. Nơi ở của Hắn và con gái xa Westminster 2 giờ lái
xe trên xa lộ, chung quanh rất ít người Việt Nam sinh sống. Hắn không dùng Iphone,
không chơi internet, không lấy bằng lái xe... Bao năm tháng ở cái xứ Hoa Kỳ nầy
mà như Hắn thì có phải chính Hắn tự hủy hoại mình và hành hạ thân xác dẫn đến
chỉ một đường... tự giải thoát!
Được vợ Hắn báo tin
Hắn đã được giải thoát ngày 3 tháng 3 năm 2022, tôi đang lái xe, phải dừng lại
bên lề đường vì xúc động. Bây giờ Hắn nằm xuống, con gái Hắn không thể làm gì
hơn là ngồi khóc, vợ Hắn thì đã sang ngang từ bao nhiêu năm rồi. Nhưng phút cuối
cùng Hắn cũng được gục chết bên vợ con với những lời trăn trối sau cùng nhắn
với bạn bè chào vĩnh biệt!
Một người tài hoa
không giống ai, một Bác Sĩ không giống ai, một người bạn mà mọi người đều cảm
mến! Hắn là Lê Văn Thại!
Tháng 3 năm 2022
letamanh
Bữa Cơm Gia Đình
Hồi nhỏ, tôi đã từng
nghĩ mâm cơm gia đình là một điều hiển nhiên, một nghi lễ bất biến. Chiều nào
cũng vậy, cứ tầm năm sáu giờ, cả nhà chúng tôi lại quây quần bên chiếc bàn gỗ
cũ. Mùi cá kho tộ của mẹ thơm lừng gian bếp. Ba tôi, sau một ngày làm việc, sẽ
kể vài câu chuyện vui. Chị Hai thì líu lo về những chuyện ở trường.
Những lý do nghe có vẻ rất
chính đáng. Cuộc sống hiện đại mà, ai cũng bận rộn. Nhưng tần suất lời từ chối
ngày một dày hơn. Mâm cơm cứ vơi dần, không phải vì nhà thiếu thốn, mà vì thiếu
người ăn.
Mẹ tôi vẫn nấu, nhưng bà bắt
đầu nấu ít lại. Những món cầu kỳ ngày xưa được thay bằng các món đơn giản hơn.
Bà nói cho đỡ mất công, nhưng tôi biết, trong lòng bà có một nỗi buồn không nói
thành lời. Ngọn lửa trong bếp dường như cũng bớt nồng nhiệt hơn trước.
Mâm cơm từ một nơi sum vầy,
dần trở thành một nghĩa vụ. Khi có đủ người, không khí cũng không còn như xưa.
Ba tôi, mệt mỏi vì công việc, dễ cáu gắt vì những chuyện nhỏ nhặt.
Chị Hai thì chê món này mặn,
món kia nhạt, chị nói trên mạng thấy người ta nấu ngon mà sao mẹ mình nấu không
ra gì.
Sự im lặng bao trùm, nặng nề đến mức có thể nghe rõ tiếng nhai, tiếng bát đũa va vào nhau. Mọi người ăn thật nhanh, như để trốn thoát khỏi chính bữa cơm của gia đình mình.
-----
Hôm sau, tôi thấy mẹ đi chợ
từ rất sớm, nấu một bàn đầy những món mà cả nhà đều thích, hy vọng sẽ có một bữa
tối ấm cúng như xưa.
Mẹ không báo trước để cho cả
nhà bất ngờ, tôi thì thấy nghi nghi. Ngồi nhớ lại thì biết hôm nay sinh nhật mẹ.
Mà nghĩ lại, ba với chị tệ thật, sinh nhật mẹ cũng không nhớ.
Buổi chiều hôm đó, chị Hai gọi
điện báo có hẹn đi sinh nhật bạn thân đột xuất. Gần tối, ba cũng báo bận một cuộc
họp quan trọng không về kịp.
Chỉ còn lại tôi và mẹ, ngồi
trước một bàn đồ ăn thịnh soạn đang nguội dần. Mẹ không nói gì, chỉ lẳng lặng xới
cho tôi một chén cơm. Nhưng khi mẹ quay đi, tôi thấy bờ vai gầy của mẹ rung
lên. Bà đang khóc.
Bà gạt vội nước mắt, nhìn
tôi cười gượng: "Mẹ không sợ cực, mẹ chỉ sợ nấu ra không có ai ăn... Cái
nhà này, đến nỗi ăn với nhau một bữa cũng khó vậy sao?"
Câu hỏi của mẹ như một nhát dao cứa vào lòng tôi. Tôi chợt nhận ra, chúng tôi đã để mọi thứ đi quá xa. Chúng tôi đã xem sự hiện diện của nhau, sự chăm sóc của mẹ là điều hiển nhiên, để rồi mải miết chạy theo mối bận tâm của riêng mình.
-----
Sự tan vỡ của một gia
đình không phải lúc nào cũng bắt đầu từ những xung đột lớn lao, từ những lời
chì chiết, mắng nhiếc.
Đôi khi, nó lại bắt đầu từ
chính mâm cơm, khi người ta không còn muốn ăn cùng nhau nữa. Người ta xem đó là
một thói quen cứng nhắc, một nghĩa vụ, chứ họ không nghĩ rằng đó là sự tự nguyện,
sự trân quý, sự yêu thương mà mỗi người cần có để kết nối với người thân trong
nhà mình.
Bởi vì khi họ từ chối một bữa
ăn, thực ra là họ đang từ chối dành thời gian, sự quan tâm và lắng nghe cho những
người thân nhất.
Hóa ra, để hàn gắn một
gia đình, đôi khi chẳng cần điều gì lớn lao. Nó bắt đầu đơn giản bằng việc,
chúng ta đặt điện thoại xuống, nhìn vào mắt nhau, và cùng nhau ăn bữa cơm.
Thường xuyên. Hỏi han. Quan tâm. Thế là đủ!
Nguồn: Vandieuhay.net
Sunday, April 19, 2026
Viếng Thăm Nhà Hàng Les Grands Buffets Pháp - Nguyễn Duy Phước
Lần này mời quí vị đi viếng thăm nhà hàng Les Grands Buffets ở thành phố Narbonne, nằm ở phía Nam nước Pháp, ven biển Địa Trung Hải và cách biên giới Tây Ban Nha gần 100 km.
Tuy mang tên "Buffet" nhưng không phải là một nhà hàng thuộc loại bao bụng Tàu từng thấy. Không đâu, đây là một nhà hàng không thua gì loại 3 sao của Michelin, với một chương trình ẩm thực gồm cả trăm món ăn đặc sắc của Pháp, với một cách thiết kế và trang trí bên trong lộng lẫy không kém gì các cung điện, và với một cách tiếp đãi nồng hậu của toàn thể nhân viên. Để tóm tắt, đây là một nhà hàng độc nhất vô nhị ở Pháp và ngay cả trên thế giới.
Nguyễn Duy Phước
Quá Tam Ba Bận - Ngọc Thanh Thi
Trên đời này chắc trong mười người thì hết chín người phản đối câu nói này của tôi: “Đàn ông cưới vợ lần thứ ba là đại phúc. Đàn bà lấy chồng lần thứ ba là đại họa”
Cũng
có thể tôi “suy bụng ta ra bụng... mình” nên mới nói thế, nhưng trên có trời,
dưới có đất giữa có... bà vợ thứ ba của tôi xin thề tôi đang nói hết sức thành
thật. Thiên hạ khoan lên án tôi cổ suý cho cái thói đa thê, đa tình, đa... gì
gì đó bởi vì chính tôi rất ghét sự ngoại tình. Thật sự thì dù cưới vợ ba lần
nhưng tôi vẫn là một người đàn ông chung thủy có đóng dấu của ba bà vợ hẳn hoi.
Người ngoại tình với tôi là một kẻ rất yếu đuối, vì sao? Họ không dám dứt bỏ sự
chán nản bên cạnh bởi vì những quyền lợi và những sự ràng buộc quá lớn. Họ cũng
không muốn dứt bỏ sự êm ái, vui vẻ mà họ đang hưởng bởi vì lòng tham cũng chẳng
kém gì điều thứ nhất. Thế nên bốn nhân vật nổi bật trong truyện Kiều thi hào
Nguyễn Du tôi phục nhất là Kim Trọng và khinh thường nhất là Thúc Sinh. Sở
Khanh đối với tôi lại không đáng lên án vì đó là “nghề nghiệp” của anh ta, còn
Từ Hải mang tiếng anh hùng hảo hán mà thiếu thông minh đến nỗi mang họa vì đàn
bà thì cũng chẳng đáng khâm phục. Chính vì tư tưởng chung thủy đàng hoàng đó mà
tôi phải lấy vợ... ba lần, thay vì ngoại tình... ba chục lần.
Người
vợ đầu tiên của tôi là một cô bạn cùng lớp. Quê cô hình như ở một địa danh gì
đó tên Chắc Là Bí Đao hay Chắc Cà Đao gì đó. Cha cô tập kết ra Bắc không hẹn
ngày trở về, mẹ cô dắt con lên Sài Gòn lập nghiệp. Hồi đó cô học giỏi lại khá
xinh đẹp nên lắm người theo đuổi. Hồi đó chả ai quan trọng chuyện ”sơ yếu lý lịch”,
kỳ thị con cộng sản hay con quốc gia, hễ ai học giỏi có đạo đức thì được mọi
người thương mến.Vậy thôi! Bằng chứng ba tôi là sĩ quan trong chế độ cũ, tôi
theo đuổi cô mà chẳng nghĩ ngợi gì. Trong mắt tôi, cô là người con gái đẹp,
thông minh, xứng với tôi vì trong lớp tôi cũng là một nhân vật thuộc hạng “con
nhà giàu, học giỏi, viết chữ đẹp”. Tôi lại có tài đàn hát nữa nên dễ dàng đánh
bật các đối thủ khác để chiếm được trái tim người đẹp. Cuộc tình đang đến hồi
du dương thì cô đột nhiên mất tích để đến sau 30/4/75, lúc đưa ba tôi ra phường
đi trình diện học tập cải tạo tôi mới thất kinh nhìn thấy người yêu cũ ngày nào
trở thành “đồng chí Chủ tịch Ủy ban Nhân dân” với mái tóc thắt bím, áo trắng,
quần đen, mặt mày đằng đằng sát khí. Thôi rồi còn chi đâu em ơi! Tôi than thầm
tiếc cho một yểu điệu thục nữ trong tà áo trắng học trò tinh khôi ngày nào giờ,
trở thành... bà la sát. Hú vía! Thấy mặt tôi xanh mét như các đồng chí đồng rận
của cô lúc bị sốt rét rừng, cô động lòng thương nhỏ nhẹ nói với cha con tôi là
đừng lo chỉ đi học tập có 10 ngày rồi về thôi. Cô còn khuyên tôi cố gắng học tiếp
chương trình đại học y khoa đang dang dở vì “nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam” đang cần những người như tôi. Cha con tôi trở về tâm hồn khá xúc động đậy
trước thái độ tử tế của cô. Mẹ tôi an tâm chuẩn bị hành lý cho chồng đi học tập
gì đó trong 10 ngày. Hai tuần sau chẳng thấy tăm hơi bố tôi đâu cả. Hai mẹ con
hốt hoảng lên phường định chất vấn lũ ”đầy tớ nhân dân” láo toét thì thấy “quân
ta” cũng đang đứng đầy ở đó để hỏi tin tức người nhà, ai cũng có vẻ tiều tụy, đầy
nét lo âu, sợ hãi, chán chường. Lần này tôi chẳng thấy đồng chí “chủ tịt” người
yêu cũ đâu, chỉ có một gã “phó chủ tịt” ốm đói ho hen, răng vẩu, mở miệng ra là
sặc mùi thuốc lào. Tên “đầy tớ” rống lên trước bao nhiêu “nhân dân” đang đứng
trước mặt:
–
Đồng bào đừng có no cứ để đảng, nhà lước no! Những thành phần ngụy quân ngụy
quyền phản động lày phải được đi tẩy lão một thời gian để chúng ló biết được tội
ác của mình chống lại đảng và nhân dân. Sau đó chúng ló sẽ được khoan hồng trở
về đoàn tụ gia đình.
Mọi
người ngơ ngác, vì chả hiểu thằng cha này đang nói tiếng người hay tiếng... dã
nhân nhưng cuối cùng cũng đành tiu nghỉu ra về vì chẳng làm được gì. Tối đó, “đồng
chí người yêu cũ” đến thăm. Tôi giật mình nhìn quanh, mẹ tôi vừa nhác thấy đã bỏ
lên lầu chẳng thèm nói câu nào.
–
Huyền tìm tôi có việc gì không?
–
Lâu rồi không gặp lại. Thắng khác nhiều quá! Bộ có người mới rồi sao?
Câu
nói có vẻ hờn dỗi của cô làm tôi chạnh lòng nhớ lại những kỷ niệm êm ái xa xưa
lúc tôi chở cô trên chiếc xe máy và cố ý đạp ga thật mạnh để em sợ áp sát vào
tôi, cả hai đều có cảm giác đê mê lạ lẫm của tình yêu đầu của tuổi thanh xuân
tràn đầy nhựa sống. Tôi mời cô vào nhà. Tối đó cúp điện, dưới ánh đèn dầu lờ mờ
tôi thấy cô khác xưa nhiều lắm. Nét hồn nhiên, trong trắng ngây thơ dường như
hoàn toàn biến mất, trước mặt tôi là một cô gái dày dặn, thoang thoảng mùi...
sát thủ làm tôi hơi ớn ớn.
Tôi
ngập ngừng:
–
Từ hồi Huyền mất tích, tôi hỏi thăm khắp nơi nhưng chẳng có tin tức gì. Nghe
nói Huyền... Huyền... vào bưng.
Cô
nhìn tôi đăm đăm, tất cả con người cô chỉ còn lại cái nhìn này, không che giấu
được một thuở yêu đương say đắm.
–
Đúng vậy! Thế thì Thắng có ghét Huyền không?
Tôi
thở dài tự nhiên một khoảng cách mênh mông hiện ra trước mắt tôi. Tương lai sẽ
ra sao, tôi không biết nữa. Rồi một câu hỏi chợt bật ra mà tôi đã không kìm chế
được:
–
Bố của Thắng sẽ ra sao? Người ta có trả thù ông không?
Huyền
trầm ngâm một lát rồi khẽ nói:
–
Chuyện này.,, chuyện này... Huyền cũng không thể nói được gì. Bố của Thắng đã
gây tội ác với nhân dân quá nhiều, giờ phải đến lúc phải đền tội thôi.
Tôi
căm phẫn nhìn cô trừng trừng, kỷ niệm xưa, tình yêu cũ chợt biến sạch trong tôi
như một cơn bão lớn cuốn đi cả cánh rừng xanh tốt.
–
Có nghĩa là bố tôi bị đem đi…
Hiểu
ý tôi, Huyền vội trấn an:
–
Không! Nhưng những thành phần ngụy quân ngụy quyền này sẽ được đưa vào các trại
cải tạo một thời gian. Đó là chính sách đứng đắn của đảng và nhà nước…
Tôi
giơ tay, nghẹn giọng:
–
Đủ rồi!
Huyền
đứng dậy nhìn tôi một thoáng ái ngại:
–
Nếu Thắng thật sự cần Huyền giúp đỡ thì cứ nói nhưng Thắng cũng phải thay đổi lập
trường chính trị của mình đi!
Cô
đi rồi, mẹ tôi lật đật xuống lầu hỏi tin, tôi kể lại, bà khóc nức nở:
–
Làm sao bây giờ hả con? Mẹ biết tính bố con quật cường, ngang bướng lắm, chắc sẽ
bị chúng nó…
Bà
không nói tiếp được nữa, ngồi phịch xuống ghế khóc to hơn. Tôi an ủi mẹ mà cảm
thấy lòng mình cũng đau như cắt.
–
Mẹ đừng lo! Để con ráng xoay sở.
–
Xoay sở cách nào hả con?
Tôi
ấp úng:
–
Con định nhờ... cô bạn học cũ của con bây giờ là chủ tịch phường can thiệp thử.
Mẹ
tôi ngập ngừng hỏi:
–
Nhưng mà... Việt Cộng có tin được không con? Chúng nó nói đưa bố đi có 10 ngày
thì về thế mà bây giờ... biệt tích luôn.
–
Nhưng cũng đành phải nhờ vả thôi mẹ ạ! Bây giờ mình còn đường nào đâu.
Tôi
định nói: ngay cả cái nhà đang ở đây cũng không biết có giữ được không nhưng sợ
mẹ buồn hơn nên đành im lặng. Tuy an ủi mẹ như thế nhưng tính tôi cũng chả khác
gì bố tôi cho lắm, nghĩa là cũng tự ái ngất trời. Quỵ lụy đàn bà đối với cha
con tôi là một cái nhục không biết rửa mấy sông cho hết. Nam nhi đầu gối có
vàng ròng mà! Chần chừ lần lữa cả tháng, mẹ tôi hối thúc mãi tôi đành vác mặt
và cả cái đầu gối chẳng có tí vàng nào đến gặp “đồng chí chủ tịch người yêu
cũ”. Tôi như một bị cáo đứng giữa ba bàn làm việc dàn ba phía, gã phó chủ tịch,
gã thư ký phường ngồi hai bên làm tôi chẳng biết nói gì. Huyền cũng ”trở mặt”
trắng trợn nói tôi phải cẩn thận với tụi phản động CIA Mỹ còn cài đặt tại đây
(mặc dù tôi biết chắc chính cô ta cũng chẳng biết CIA đang ở đâu nữa). Tôi đứng
im nghe cô giảng dạy về chính sách “diều tha quạ mổ” gì gì đó của nhà nước “chó
ngáp phải ruồi” để cuối cùng bị đuổi thẳng cánh với câu nói:
–
Thôi anh về đi! Trường hợp của bố anh sẽ được cứu xét tùy theo tội ác mà ông ta
đã gây ra cho nhân dân.
Bố
tôi, một bác sĩ quân y cả đời cứu người không phải chỉ cứu người quốc gia mà cứu
cả những người cộng sản nữa trong chiến tranh, không biết ông sẽ được “cứu xét”
thế nào đây? Tôi về nhà ấm ức mà chẳng biết làm sao chỉ biết cằn nhằn mẹ đổ thừa
cho bà hối thúc làm tôi nhục nhã trước bàn dân thiên hạ mặc dù lúc đó chỉ có...
ba người ở đó. Mẹ tôi buồn rầu bỏ vào phòng im lặng cả ngày, tôi hối hận vội chạy
vào xin lỗi. Bà chỉ nhìn tôi dịu dàng nói:
–
Mẹ hiểu tính con hệt như bố nhưng rồi con xem, cuộc đời từ nay sẽ khác, cả hai
bố con sẽ khổ vì cái tính cao ngạo này.
Trên
đời này tôi ghét nhất hạng thầy bói nhưng từ khi mẹ tiên đoán tương lai của cha
con tôi thì tôi tin mẹ tôi mà làm “bà bói” là trúng phóc. Những ngày sau đó,
tôi vừa đi học vừa đi đào kinh đắp đất. Mẹ tôi mở tiệm trà nước, làm bánh trái
lặt vặt để bán. Bà khéo tay lại chăm chỉ, cách ăn nói hòa nhã nên “cửa tiệm”
khá phát đạt. Ít lâu sau, Huyền lại đến thăm, lần này tôi nhất quyết không mời
vào nhà.
–
Huyền có tin của bác trai.
Câu
nói ngắn gọn này kéo cả hai mẹ con tôi sát lại gần cô. Khi biết bố tôi bị đẩy
tuốt luốt ra tận miền Bắc xa xôi, mẹ tôi oà lên khóc còn tôi đứng chết lặng.
Huyền nói nhỏ:
–
Thắng bình tĩnh! Để Huyền nghĩ cách giúp cho.
Ít
lâu sau, cô đến thăm vào buổi tối, bữa đó cũng vào ngày cúp điện hình như cô đến
toàn vào những ngày cúp điện thì phải? Lần này, mẹ tôi thân hành mang trà bánh
ra mời, còn tôi vội gỡ bỏ lớp vàng ròng trên đầu gối để tiếp cô. Huyền
nói gần nói xa than thở bị gã phó chủ tịch phường rồi đến lão chủ tịch quận
theo đuổi làm cô đau đầu quá. Cô kể lại những kỷ niệm của ngày xưa rồi nói bóng
nói, nói gió: bố tôi có thể ra tù cải tạo nếu ông là người... có công với cách
mạng. Trời đất! Bố tôi, người cùng anh em binh sĩ ở lại liều chết với tụi Việt
Cộng đến giờ chót mà công cán gì với tụi nó? Tôi vốn thông minh nhưng tìm mãi
trong gia phả ba đời nhà tôi cũng chẳng thấy có công gì với cách mạng. Ông bà nội
ngoại tôi là địa chủ, cường hào, người bỏ của chạy vào Nam, người ở lại bị đấu
tố đến chết. Ông cố tôi làm việc cho Pháp. Hiền lành nhất là mẹ tôi, cô giáo dạy
sử trong một trường công lập.
–
Nói thật với Huyền, nhà tôi toàn là người “có tội” với cách mạng giờ mới làm
sao?
–
Thì… Thắng tìm cho mẹ cô con dâu... có công với cách mạng là được rồi.
Ối
giời ơi! Lần đầu tiên tôi mới biết “cọc tìm trâu” là như thế nào? Mặt cô nàng tỉnh
bơ nhưng tôi biết má mình đang nóng bừng bừng vì... mắc cỡ giùm. Thấy tôi ngồi
yên lâu quá, cô nàng hơi ngượng nên vội vàng cáo từ.
Thời
gian sau mẹ tôi thu xếp đi thăm nuôi chồng, lúc về bà bỏ ăn khóc sưng cả mắt.
Bà bảo với tôi:
–
Bố con chắc chết mất! Trời ơi! Tụi Việt Cộng này nó ác quá!
Bà
kể lể cho tôi nghe tình trạng thảm thương của bố tôi và các bạn tù ra sao làm
tôi cũng rơi nước mắt. Bố tôi thảm thế nào thì đã rõ nhưng tôi sợ mẹ lo nghĩ
quá hóa điên nên cuối cùng đành phải nói thật hết với mẹ ý định của Huyền. Mẹ nắm
chặt lấy cánh tay tôi khẩn khoản:
–
Con thấy sao? Thôi thì... cứu bố trước đã, được không con? Dù sao ngày xưa con
cũng yêu nó mà.
Thế
là tôi cưới vợ, vậy mà mãi đến cả năm sau bố tôi mới ra tù. Sợ bố về sẽ có chuyện
với “đồng chí con dâu”, mẹ bàn với tôi về bên nhà vợ ở một thời gian để bà
khuyên ông đã. Biết tính bố, tôi năn nỉ Huyền với lời hứa sẽ thuyết phục mẹ bán
nhà mua cho hai vợ chồng một căn nhà nhỏ ra riêng. Tham lợi, cô vợ mới đồng ý
ngay. Dù quả thật là lấy được người mình đã từng yêu và người đó cũng yêu mình
nhưng đời sống vợ chồng tôi thật... kinh hoàng! Mỗi lần nói chuyện với nhau tôi
toàn nghe cô nói về đảng và nhà nước, chính sách này, chế độ nọ. Cô thường đi họp
hành, công tác. “Đồng chí đồng rận” của cô ta toàn là một lũ “đỉnh cao trí tuệ”
của... con bò. (Ấy chết! Nói thế là còn xúc phạm con bò đấy!) Mỗi lần gần gũi,
từ người cô cứ như tỏa ra... mùi sát khí làm tôi ghê ghê rờn rợn mất cả hứng
thú. Cuối cùng, bố mẹ tôi bán nhà thật, bố gọi tôi về rồi nghiêm trang bảo:
–
Bố mẹ có đường dây “đi”. Nếu bố mẹ có mệnh hệ gì con cứ lấy 30/4 làm
ngày giỗ.
Tôi
nhìn bố thật lâu rồi kiên quyết nói:
–
Cho con đi! Con cũng muốn chết chung với bố mẹ. Đời sống này con không thể chịu
đựng được nữa rồi
–
Nhưng ông bà nội chỉ có mình con là cháu đích tôn.
–
Nếu cô ta có con thì con cũng có thể suy nghĩ lại. Đằng này, không biết nhà
ai... vô phúc.
Cuối
cùng, tôi viết cho Huyền một lá thư dài với tờ đơn ly dị ký sẵn rồi lặng lẽ ra
đi, chấm dứt cuộc hôn nhân đầu đầy cay đắng tủi nhục.
Chuyến
đi may mắn trót lọt, chắc ông bà phù hộ cho nhà tôi không tuyệt tự. Đến đảo,
tôi bắt buộc phải lấy vợ... lần hai. Lần này thì tôi là người ra ơn. Người vợ
thứ hai nhan sắc trung bình. Chồng cô là lính Việt Nam Cộng Hoà, mất tích trong
những ngày loạn lạc cuối cùng. Bố mẹ chồng chết sớm, bố mẹ đẻ cũng bị pháo kích
Việt Cộng chết. Cô về ở với anh trai, chị dâu nhưng hoàn cảnh khó khăn khắc
nghiệt quá nên cuối cùng cô đành phải đi theo một người bà con xa về vùng biển
tìm cách mưu sinh bằng nghề bán cá. Tình cờ, cô phát hiện ra một chuyến vượt
biên, sợ bị lộ, họ đành cho cô đi theo. Đến đảo, tứ cố vô thân lại hiền lành chất
phác chẳng biết làm gì, ngày nào cô cũng ra ngồi trước lều nhìn ra biển và
khóc. Mẹ tôi thương cảm, hỏi han ra mới hay chồng cô xưa cũng là lính dưới quyền
bố tôi. Bố mẹ tôi thấy tội nghiệp bèn khuyên tôi cưới cô... làm phúc.
Chuyện này thì cả nhà tôi đều giống nhau, khẳng khái với kẻ thù nhưng lại động
lòng trắc ẩn với người khốn khổ. Cô tuy ít học không xinh đẹp nhưng hiền lành
chân chất nên tôi cũng thương. Tôi đồng ý lấy để cô có cơ hội ra đi đến xứ sở tự
do làm lại cuộc đời. Qua Mỹ, cô chẳng biết nương tựa vào đâu nên đành lẽo đẽo
theo gia đình tôi. Bản tính chăm chỉ chịu khó, nhẫn nhịn nên cô được lòng cả
nhà, năm dài tháng tận, chúng tôi cũng thành vợ chồng thật sự. Dù sau đó có một
đứa con với nhau, không hiểu sao tôi cũng chẳng thể yêu được cô. Trong tôi luôn
có điều gì đó bất như ý, có lẽ vì cô quá hiền lành đến mức khù khờ, “tháng tám
cũng ư, tháng tư cũng gật”. Hình như ngoài chuyện làm cá và... kho cá ra, cô chẳng
còn biết chuyện gì khác nữa. Tôi học tiếp ra trường thành một bác sĩ nhưng
không cứu được bố mình. Ông đã mất vì căn bệnh ung thư có lẽ trong thời
gian đi tù cải tạo, ông đã suy nhược quá từ thể xác đến tinh thần. Bố mất, cả
nhà như con thuyền giữa biển bị gãy mất cột buồm chính. Năm sau, cô vợ chất
phác của tôi ngập ngừng nói với tôi rằng đã có tin tức người chồng cũ, cũng vượt
biên, hiện đang ở bên đảo.
–
Con có còn thương chồng cũ nữa không? – Mẹ tôi hỏi.
–
Dạ có! Con thương ảnh lắm, chắc con không bao giờ quên được ảnh.
Cô
thật thà đến mức tội nghiệp làm tôi cũng cảm động thay vì ghen tuông bực tức.
Thủ tục ly dị được tiến hành nhanh chóng, tôi giúp cô làm giấy tờ đám cưới bảo
lãnh anh chồng bên đảo. Mẹ tôi ngỏ ý xin cô để lại thằng cháu nội đích tôn cho
bà nuôi, cô gạt nước mắt đồng ý vì hiểu rằng đứa con này được sinh ra để trả ơn
cho gia đình tôi một cách xứng đáng. Cuộc hôn nhân thứ hai chấm dứt nhẹ nhàng,
tôi không vui mà cũng chẳng buồn bởi vì đôi lúc tự hỏi lòng tôi biết chắc mình
chưa từng yêu người đàn bà này và ngược lại. Cả hai lấy nhau vì lòng thương hại,
vì ơn nghĩa mà thôi. Đời sống chung lại quá khập khiễng về trình độ, tư tưởng,
nếu cố níu kéo cũng chẳng hạnh phúc. Tuy vậy, tôi vẫn chung thủy làm tròn bổn
phận, dù tôi thừa sức ngoại tình mà vợ tôi cũng chẳng dám nói gì. Thiên hạ bình
phẩm lời ra tiếng vào, kẻ khen người chê thân phận hai đời vợ của mình, tôi
cũng mặc kệ, lương tâm tôi thanh thản, thế là đủ!
Tuy
chưa đến tuổi trung niên nhưng tôi đã bắt đầu cảm thấy chán ngán chuyện tình
yêu, chuyện hôn nhân gia đình với tôi hình như chẳng có ý nghĩa gì cả. Mẹ tôi
cũng chẳng nỡ nhắc nhở vì hai lần hôn nhân vừa qua, tôi toàn theo ý bố mẹ mà
làm nên lần này, bà để yên cho tôi tự định đoạt lấy duyên phận của mình. Từ
ngày bố tôi qua đời, mẹ tôi trở nên một tín đồ Phật giáo thuần thành, bà hay
nghe kinh, nghe pháp, đi chùa. Tự nhiên, tôi giật mình nghĩ lại mình phải chăng
cũng “vô thần” như tụi Việt Cộng? Đến lượt thằng con vào gia đình Phật tử rồi về
nhà nheo nhéo kể cho bố nghe nghe lịch sử Đức Phật rồi hết lời khen ngợi cô Diệu
Hoa nào đó dễ thương thế này, thế nọ.
–
Cô Diệu Hoa là sư cô hả? – Tôi tò mò hỏi nó.
Mẹ
tôi phì cười thay cháu nội trả lời:
–
Cô Diệu Hoa là huynh trưởng gia đình Phật tử của chùa. Cô chỉ là Phật tử tại
gia thôi. Tên thật của cô hình như là Tuyến Hoa thì phải?
–
Bà nội ơi! Tên cô là Tuyết Hoa.
Thằng
cháu vội sửa lại, bà nội mắng yêu:
–
Ừ! Thì bà nói sai, gớm! Thằng bé này để ý quá đi mất!
Cuộc
trò chuyện của hai bà cháu làm sự tò mò của tôi càng lên cao độ. Tôi hỏi thằng
con:
–
Bé Huy nè! Bố có được vào gia đình Phật tử với con không?
–
Để con hỏi cô Diệu Hoa “của con” đã.
Thằng
bé nói với vẻ đầy quan trọng, mẹ tôi quay mặt đi tủm tỉm cười. Từ đó, tôi siêng
năng đến chùa vào cuối tuần, nhờ thằng con... mai mối, tôi làm quen được với
nàng. Tôi không thể diễn tả được cảm xúc của mình lúc đó vì trước tôi, nàng vừa
dễ thương, xinh xắn như người tình đầu tiên, vừa thông minh nhẹ nhàng như mẹ
tôi, vừa hiền lành thật thà như người vợ thứ hai. Nàng có cảm tình với tôi ngay
lần đầu tiên gặp gỡ vì tôi đã nói về lịch sử xuất gia của Đức Phật (từ thằng
con dạy lại!) và hết lời ca tụng Ngài.
Khi
tôi tham gia chương trình văn nghệ Vu Lan ở chùa, tôi ôm đàn cho nàng hát bài
“Bông hồng cài áo”, rồi bài “Lòng mẹ” thì tôi chợt nhận ra mình đã yêu nàng mất
rồi. Khi tôi học đến tứ diệu đế rồi bát chánh đạo thì bao nhiêu những chánh niệm,
chánh tư duy tôi dồn hết... vào nàng. Qua mẹ, tôi biết nàng vẫn là
một bông hoa trắng như tuyết: nàng đi diện bán chính thức, vì học rất giỏi nên
qua Mỹ không lâu đã tốt nghiệp đại học hạng xuất sắc, sau đó bảo lãnh cho bố và
hai em rồi đi làm lo cho cả gia đình ổn định. Mẹ mất sớm, sợ bố buồn, nàng thường
xuyên đưa ông đi chùa. Từ đó, nàng cũng ảnh hưởng và tích cực tham gia mọi Phật
sự, thành lập gia đình Phật tử. Mùa Vu Lan thứ hai tham gia chương trình văn
nghệ thì tôi biết nàng cũng có cảm tình sâu đậm với mình qua ánh mắt, cử chỉ ân
cần mỗi khi nàng đem đồ ăn thức uống đến cho. Tôi thuộc lòng chú đại bi chỉ vì
một mục đích: cầu nguyện cho con lấy được nàng. Đến bây giờ thì tôi dám khẳng định:
chú đại bi linh lắm nếu ai chịu thành tâm trì tụng.
Mẹ
tôi vui một, con tôi vui mười thì tôi vui... vô tận. Nàng đáng yêu, nhân từ
nhưng không nhu nhược. Nàng thông minh, giỏi giang nhưng không độc đoán kiêu
ngạo. Nàng chân thật, biết lắng nghe nhưng không nịnh bợ, a dua. Đức Phật dạy rằng
có năm loại vợ tốt, một trong năm đó là vợ như bạn. Và tôi đã tìm thấy được
một người bạn tri âm tri kỷ tuyệt vời của riêng mình. Cảm động nhất là nàng nói
với tôi không muốn có con để dồn hết tình thương cho bé Huy vì nó thiếu mẹ từ
lúc còn thơ. Nàng còn khuyên tôi bỏ qua mọi chuyện cũ cho Huyền vì dù sao cô
cũng có công giúp đỡ bố tôi trong lúc nguy nan. Nàng đề nghị làm một chuyến du
lịch đến tiểu bang nơi mẹ ruột bé Huy đang sinh sống với gia đình để mẹ con gặp
nhau một lần. Tôi tán thành. Đời sống gia đình của tôi hạnh phúc êm ấm không thể
nào tưởng tượng được.
Lần
mới nhất về Việt Nam cùng nàng, tình cờ gặp lại Huyền, tôi sửng sốt: cô thiếu nữ
yêu kiều ngày nào trở thành một người đàn bà phục phịch, núc ních. Dù khá giả
giàu có nhưng thẩm mỹ viện cũng chẳng làm gì được cho gương mặt cô ta đẹp hơn.
Nghe nói cô ta cũng qua một đời chồng nữa (sau tôi) rồi lại ly dị và bây giờ
đang sống với người chồng thứ ba trẻ hơn cô ta tận mười mấy tuổi. Nhưng đó là
chuyện bình thường ở xã hội Việt Nam hiện tại, những tên đảng viên có chức có
quyền thì tham dâm vô độ, vợ các gã này cũng hăng hái đi ăn chả ăn nem như Huyền.
Con cái những kẻ này cũng ăn chơi sa đọa không kém. Không ngờ đảng và nhà nước
lại đào tạo ra những tên đầy tớ thoái hóa đến như thế. “Cha già” dân tộc Hồ Chí
Minh nếu có sống lại chắc cũng sẽ nói rằng: “Con hơn cha là nhà vô phúc đấy!”
Ngọc Thanh Thi




