Nói về nền thi văn Việt Nam thì đây là một biểu
tượng của tiếng Việt rất phong phú và đặc sắc được thể hiện qua nhiều thể loại thơ
đặc sắc ít có nước nào như vậy. Từ thơ cổ điển đến thơ mới, từ những bài thơ đủ
số chữ, 4, 5, 6, 7, 8 cho đến 9 đều có hết và mỗi thể thơ đều mang nét đặc
trưng riêng biệt.
Tuy nhiên những thể loại được ưa thích và thịnh
hành nhất là thơ Lục Bát (6 và 8 chữ), thơ 7 và 8 chữ mà tôi sẽ trình bày sau đây.
Đôi lời phi lộ
Trước khi đi vào chi tiết tôi xin có vài ý nghĩ
về thơ tuy rằng phải thú thật là tôi không hề học làm thơ vì từ nhỏ đến lớn
theo học chương trình Pháp và đã xuất ngoại rất sớm. Hơn nũa, tôi thiên về
ngành toán, hành nghề kỹ sư, nên trên lý thuyết thì tôi không thể có một tâm hồn
lãng mạn để yêu thích và cảm nhận thi văn. Mặc dù vậy không biết vì sao, khi bắt
đầu có tuổi, tôi lại « lội ngược dòng thời gian », quay về khám phá
những nét hay đẹp của tiếng Việt ngàn đời, của nền văn học thâm thúy đã sinh sản
ra một kho tàng thi văn phong phú. Và từ đó tôi bắt đầu yêu thơ, bắt đầu tập
tành làm thơ, nhiều khi không biết là « có rùa » hay không hay là
« có ma nhập » mà có thể làm được. Dù sao đi nữa, tôi cũng xin
« múa rìu qua mắt thợ » có đôi lời đóng góp sau đây.
Dù rằng thơ thì phải có vần, nếu không thì là văn
suông, nhưng cái hay của thơ không nhất thiết là vần mà là ý, cũng như bình rượu
ngon không phải là cái vỏ ngoài mà là cái chất đựng ở trong. Và những từ ngữ dùng trong bài thơ cộng với cái ý phải thể hiện tâm hồn của người thi sĩ vì thơ
là tiếng vọng và là sự hiện thân cho những gì cao cả nhất củ tâm hồn con người.
Ý kiến này đề cập tới nét đặc trưng quan trọng nhất của thơ là phải xuất phát tự
đáy lòng, là sự giãi bày, bộc lộ những rung động, cảm xúc của người thi sĩ, khác
với một số người làm thơ như cái máy, không có hồn, tình cảm gì cả. Lại có người
thì đi dùng những từ ngữ khó, cầu kỳ, tưởng là hay, nhưng thật ra có rất nhiều
bài thơ trứ danh dùng những chữ rất thông thường mà vẫn làm dao động con tim đọc
giả. Mỗi bài thơ là sự đồng cảm, tri âm giữa
tác giả và bạn đọc, đó chính là vai trò của tiếng nói tâm hồn trong thơ.
Cái đề tài của một bài thơ cũng rất quan trọng, nào là
yêu đương, quê hương, mùa màng, lễ lạc, triết lý cuộc đời, trào phúng, châm biếm
cho đến chống cộng, và thông thường thì những đề tài có liên quan đến tình cảm
là thu hút người đọc nhiều nhất. Như nói trên, cái ý thơ rất là quan trọng, đối
với những người từng trải những tình huống của cuộc đời thì tương đối có phần dễ
sáng tác còn nếu không thì phải ráng nặn óc để tưởng tượng, sáng tạo những tình
cảnh lâm ly, éo le, đầy xúc động để có sức gợi cảm, lôi cuốn. Ngoài
ra, đối với tôi thơ như là một bản nhạc, có âm điệu như những nốt nhạc. Thơ
là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”, và « Thơ là
cây đàn muôn điệu của trái tim, ngân lên những cung bậc trầm bổng của cuộc đời »,
do đó một bài thơ hay là khi đọc lên nghe lâng lâng, thấm vào hồn. Không những
thế, thơ cũng gợi lên rất nhiều hình ảnh vì “Thơ là ảnh, là nhân ảnh và thể
hiện một tâm hồn muôn hình vạn trạng”.
Để kết luận thì thơ là nơi cảm xúc thăng
hoa, nơi những khát vọng tình yêu và suy tư hòa quyện và biến những điều đơn giản
nhất thành vĩnh cửu.
Xin lưu ý trong bài này tôi có
kèm vài bài thơ tôi sáng tác cho
từng thể loại và được tô bằng màu
xanh lục.
Ba hoa chích chòe nhiều rồi bây giờ xin quay lại vấn đề chính là trình bày các loại thơ với những quy tắc riêng cần phải tôn trọng cùng với vài thí dụ để dẫn chứng cho mỗi loại.
A/ Thơ Lục Bát
Có thể nói thơ Lục Bát là một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân Việt Nam từ xưa đến nay, một loại thơ mang hồn thiêng dân tộc. Do đó loại thơ này rất thịnh hành trong dân gian, qua các câu ca dao, tục ngữ, vè và tiêu biểu nhất là Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Thơ lục bát
là thể thơ dễ làm nhưng rất khó hay. Nó đi cheo
leo trên một sợi dây vô hình giữa một bên là thi
phẩm làm rung
động lòng người và một bên là bài vè thô thiển.
Do đó tuy có tính cách bình dị, gần gũi, nhưng loại thơ này cũng có thể làm
rung động lòng người qua những thi phẩm thật tình tự, đầy cảm xúc ở vần điệu, ở
âm hưởng, ở từng chữ, từng lời.
Mặc dù là
một thể thơ tương đối dễ làm, và tuy rằng hay hay không là chuyện khác, nhưng
cũng phải tuân theo một số điều luật được chỉ dẫn sau đây.
Quy tắc thơ Lục Bát
Thơ lục bát là một thể thơ gồm các cặp câu, mỗi
cặp lục bát sẽ bao gồm hai câu, một câu sáu chữ và một câu tám chữ.
Có hai luật chánh yếu cần biết là:
- Luật vần
Chữ cuối của câu 6 sẽ vần với chữ thứ sáu của
câu 8 và chữ cuối của câu 8 sẽ vần với chữ thứ sáu của câu 6 tiếp theo.
Một thí dụ sau đây mà các vần được tô đậm:
Gia Cảnh
Họ Vương (Truyện Kiều)
Đầu
lòng hai ả tố nga
Thúy
Kiều là chị, em là Thúy Vân
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi
người môt vẻ, mười phân vẹn mười...
Nguyễn
Du
Tuy nhiên có một cách gieo vần khác mà chữ cuối
của câu 6 sẽ vần với chữ thứ tư của câu 8 tuy rằng ít thấy hơn, như thí dụ sau đây:
Chào em
cô gái áo vàng
Làm
anh mơ màng mà chẳng nói tên.
hay
Gối mền,
gối chiếu không êm
Gối lụa
không mềm bằng gối tay em.
- Luật thanh hay luật Bằng
Trắc
Trước hết cần biết Thanh
âm tiếng Việt được sắp theo hai loại:
- Thanh bằng viết
tắt là "B" gồm các dấu: huyền và không dấu, còn gọi là
ngang,
- Thanh trắc viết tắt là "T" gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã và nặng.
Sau đây là luật Bằng Trắc
trong thơ Lục Bát:
- Câu 6 chữ: chữ thứ hai
"B", chữ thứ tư "T", chữ thứ sáu
"B"
- Câu 8 chữ: chữ thứ
hai "B", chữ thứ tư "T", chữ thứ sáu "B",
chữ thứ tám "B".
Còn những chữ thứ nhất,
thứ ba và thứ năm trong 2 câu 6 và 8 thì muốn “B” hay “T” gì cũng được.
Xem bài thơ sau đây đã
tôn trọng đàng hoàng các luật nêu trên (những chữ được tô đậm là những chữ cần
phải theo luật).
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường
hôm nao.
Thật ra thì trong thơ Lục
Bát, luật Bằng Trắc như chỉ dẫn trên không « chắc nịch » cho lắm như trong thơ Đường Luật vì nếu vậy thì
những chữ tô đỏ trong bài thơ Kiều trên của Nguyễn Du là sai luật. Chỉ có 2 điều
cần nên tuân theo là:
- Tất cả những chữ cuối
của các câu thơ đều phải là thanh Bằng "B" chứ không bao giờ là
thanh Trắc "T",
- Ở câu 8 chữ, chữ thứ
6 và chữ thứ 8 tuy phải là thang Bằng nhưng không được cùng dấu huyền hay cùng
không dấu, nghĩa là nếu một chữ có dấu huyền thì chữ kia phải không dấu và ngược
lại.
A1/ Vài bài thơ Lục
Bát của các thi sĩ trứ danh
Đã có nhiều thi sĩ nổi
tiếng thuộc thế hệ « mới » như Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử,
Huy Cận v.v… đã thực hiện những bài thơ rất lãng mạn và tình tự, nhiều khi thật
là bóng bẩy qua loại thơ này.
Sau đây xin dẫn chứng với
vài thí dụ :
Ngậm ngùi
Nắng chia nửa bãi chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau
Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây
Lòng anh mơ với quạt này
Trăm con chim mộng về bay đầu giường
Ngủ đi em, mộng bình thường
Ru em sẵn tiếng thuỳ dương đôi bờ...
Huy Cận
Chú thích: Bài thơ này
đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.
===
Uống trăng
Bóng Hằng trong chén ngã nghiêng
Lả lơi tắm mát làm duyên gợi tình
Gió lùa mặt nước rung rinh
Lòng ta khát miếng chung tình từ lâu
Uống đi cho đỡ khô hầu
Uống đi cho bớt cái sầu miên man
Có ai nuốt ánh trăng vàng
Có ai nuốt cả bóng nàng tiên nga.
Hàn Mạc Tử
===
Chiều
Hôm nay, trời nhẹ lên
cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn?
Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn
Sương trinh rơi kín tự nguồn yêu thương
Phất phơ hồn của bông hường
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng...
Xuân Diệu
Trong phong trào Thơ mới,
Xuân Diệu, còn có biệt hiệu “Xuân tóc quăn”, là một nhà thơ tiêu biểu, một cây
bút với sức sáng tạo mãnh liệt. Ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình”
với những vần thơ mang đậm tính chất lãng mạn của tình yêu.
===
Chân quê
“Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi
***
Nào đâu cái yếm lụa sồi
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân
Nào đâu cái áo tứ thân
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen
***
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.”
Nguyễn Bính
Nguyễn Bính là nhà thơ
“mới” mà tôi thích nhất. Những chữ ông dùng không có gì bóng bẩy, cầu kỳ cho lắm
nhưng mang đầy sắc thái dân dã, mộc mạc, do đó mà ông còn có biệt hiệu là “nhà
thơ của làng quê Việt Nam”. Điển hình là bài thơ Lục Bát bất hủ ở trên đã được
nhạc sĩ Song Ngọc phổ nhạc.
Ngoài ra, ông cũng luôn
khắc khoải trước sự đổi thay một cách nhanh chóng của đất nước. Trước sự du nhập
của văn hóa phương Tây, ông không ngừng tiếc nuối khi chứng kiến những giá trị
truyền thống đã bị bào mòn dần qua năm tháng. Và bài thơ trên là tiếng lòng thổn
thức của ông, đau đáu khôn nguôi khi cái chân quê của người Việt đã không còn.
Chỉ tiếc là một số nhà
thơ nói trên, chẳng hạn Xuân Diệu và Nguyễn Bính, có thể vì lòng yêu nước chống
Pháp, đã theo Việt Minh rồi tập kết ra miền Bắc theo V.C. Còn Huy Cận thì có
tham gia trong ĐCSVN , giống như tên văn nô Tố Hữu, chỉ biết làm thơ ca tụng và
bợ đít bác đảng cùng chế độ cộng sản.
A2/ Vài bài thơ Lục Bát tôi sáng tác
Riêng tôi thì cũng có
sáng tác nhiều bài thơ Lục Bát, hay hay dở thì để « tùy người đối diện »,
và xin trích dẫn 4 bài thơ sau:
Mùa Thu Lá Bay
Mùa thu cảnh sắc vương sầu
Tình thu đã mất, niềm đau mãi còn
Chiều loang nắng nhạt bên song
Gió lùa sóng lá, dập dồn mưa bay
Lá nào còn ở trên cây
Lá nào đã rụng rơi đầy lối đi
Kể từ sông núi chia ly
Cũng mùa thu ấy phân kỳ luyến thương
Em đi thu tím gót buồn
Tôi về nghe tiếng mưa tuôn trong lòng
Em đi thổn thức dòng sông
Tôi về canh vắng đèn chong nhớ người
Mây ngàn giăng mắc lưng trời
Mênh mông, hiu quạnh bên đời phù vân
Còn đây một nửa vầng trăng
Dõi tôi soi bóng dặm ngàn tha hương
Lũng xa con suối lạc nguồn
Rừng thu phong kín nẻo đường cô liêu
Tìm đâu chiếc lá thương yêu
Mang màu xanh ngát những chiều mơ say
Em giờ đếm lá vàng bay
Trong công viên cũ tính ngày hợp tan
Tôi đi nhặt lá thu vàng
Ngậm ngùi ngắm xác thu tàn héo hon
Thu qua, thu lại mỏi mòn
Hồn thu đã chết, tình còn chi đâu
Hôm nay tóc đã bạc màu
Vẫn ngơ ngác hỏi ai sầu vào thu.
Chú thích: Xin mượn cái tựa của một bản nhạc để làm tựa bài thơ
này.
Nếu muốn xem video về
bài thơ này (có hình và nhạc) thì xin click vào link sau đây:
===
Tình Si
Mắt em là bể hồ thu
Trăng khuya rót ánh rạng ngời lung linh
Làn thu ba gợn rung rinh
Để anh lặn ngụp sóng tình ngất ngây
Tóc em bay xỏa bờ vai
Mây ngàn kết tụ gió lay bồng bềnh
Hương yêu thoang thoảng ru mềm
Để anh mê mẩn ngày đêm dật dờ
Môi em khao khát đợi chờ
Miệng cười chan chứa ngàn lời yêu thương
Nụ hôn xao xuyến vấn vương
Để anh say khướt nhụy hương nồng nàn
Giọng em ngào ngạt âm vang
Như làn gió thoảng rộn ràng bên tai
Lời ca thánh thót liêu trai
Để anh lạc chốn bồng lai nhiệm mầu
Má em mơn mởn hồng đào
Đôi gò phơi phới ửng màu hây hây
Làn da trắng tựa hoa lài
Để anh đắm đuối miệt mài thâu canh
Tay em mười ngón mơn man
Vỗ về như dạo cung đàn ái ân
Phím tơ dìu dặt lâng lâng
Để anh đắm giấc mộng vàng triền miên
Dáng em gót ngọc thiên kim
Thướt tha tà áo trinh nguyên tuyệt vời
Nghiêng nghiêng bóng ngã đường mơ
Để anh thơ thẩn, ngẩn ngơ sớm chiều.
Chú thích: Đặc biệt của bài thơ này là nói lên những cái đẹp của
người phụ nữ và cứ cuối mỗi cái đẹp thì lại có một câu diễn tả sự đê mê, đắm đuối
như: “Để anh xxx”.
===
Sắc Màu Lưu Luyến
Anh yêu áo lụa tơ vàng
Màu vàng hoa cúc rộn ràng hồn anh
Anh yêu nét đẹp đan thanh
Xuân xanh tươi mát, tình xanh ngát lòng
Anh yêu hương nhụy mặn nồng
Hương nồng âu yếm, má hồng ngây ngây
Anh yêu gót ngọc trang đài
Lộng tà áo trắng thơ ngây tuyệt vời
Anh yêu môi tím đợi chờ
Bờ môi tình mộng, nụ cười mơn man
Anh yêu ánh mắt nai vàng
Thẹn thùng soi bóng trăng tàn
hồ thu
Anh yêu dòng chữ luyến lưu,
Mực đen ghi bút thiên thu không nhòa
Anh yêu dải lụa ngân hà
Xanh lam óng ả, thướt tha gọi mời
Anh yêu gò má đỏ ngời
Vương màu phượng vĩ thắm tươi sân
trường
Anh yêu vị ngọt, mùi thơm
Mặn mà Tố Nữ, bưởi đường
lá cam
Anh yêu châu báu, bạc vàng
Rạng ngời trang điểm, điệu đàng dáng
thon
Anh yêu chiếc yếm nâu sồng
Bóng hình thắt đáy lưng
ong gợi tình
Anh yêu mái tóc đen huyền
Tóc huyền bay xỏa
quyện niềm mơ hoa
Anh yêu da trắng mượt mà
Làn da trắng tựa hoa lài ngát hương
Anh yêu vóc dáng nghê thường
Lung linh vồng sắc tơ vương nhịp cầu
Anh yêu cho đến bạc đầu
Yêu em, yêu hết muôn màu đắm say.
Chú thích: Đặc biệt của bài thơ này là trong mỗi cặp thơ đều có
sự hiện diện của một màu sắc gợi cảm nơi người phụ nữ được tô đỏ.
A3/ Thơ Song Thất Lục Bát
Đây là một biến thể của
thơ Lục Bát, gồm 2 câu 7 chữ và 2 câu 6 và 8 chữ, ít thịnh hành hơn thơ Lục Bát
chỉ với 6 và 8 chữ.
Thể thơ song thất
lục bát, cũng được gọi là lục bát gián thất, hay thể ngâm là một thể văn vần
(thơ) đặc thù của Việt Nam.
Cách gieo vần trong loại thơ này có hơi đặc biệt, như các chữ được tô đỏ trong bài thơ tôi sáng tác sau đây làm thí dụ:
Đôi Lời Gửi Đồng Hương Tỵ Nạn
Chúng ta ghét búa liềm cộng sản (7 chữ)
Bỏ gia đình bè bạn ra đi (7
chữ)
Trăm ngàn khổ cực gian nguy (6 chữ)
Mười phần chết chín cũng vì tự do (8
chữ)
Nay đã được người cho tỵ nạn (trở
lại 7 chữ)
Ở Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Âu (7 chữ)
Hoặc Gia Nã Đại, Úc Châu (trở lại 6 chữ)
Có còn nhớ đến nỗi sầu quê hương (trở lại 8 chữ)
Một số tác phẩm lớn
trong văn chương Việt Nam như
bản dịch Chinh
Phụ Ngâm ra
quốc âm đã được viết theo thể thơ này.
Một đoạn Chinh
phụ ngâm khúc diễn ca (Đoàn Thị Điểm) song thất lục bát tiêu
biểu với "yêu vận" và "cước vận" in đậm:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Nào ai gây dựng cho nên nỗi này
Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt khúc mây
Chín tầng gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch đợi ngày xuất chinh.
A31/ Vài bài thơ
Song Thất Lục Bát tôi sáng tác
Chúc Tết
Đầu năm tớ cũng như ai
Chúc mừng cô bác trong ngoài gần xa
Trước chúc thọ cụ già trăm tuổi
Thú điền viên rong ruổi tiêu dao
Sâm nhung tẩm bổ dồi dào
Cháu con, hầu thiếp thay nhau nâng chiều
Chúc các ông gặt nhiều lợi tức
Đường công danh tiến chức thăng quan
Cổ phần cứ đắt như vàng
Chớ đừng suy sụp lại hoàn trắng tay
Chúc cả thảy tràn đầy sức khỏe
Chẳng phải lo mổ xẻ, ốm đau
Thuốc thang giờ quả nhiệm mầu
Hồi xuân, cải lão, uống vào mạnh ngay
Chúc giới trẻ miệt mài thi cử
Đỗ thành tài, kinh sử tinh tường
Dù cho học vấn khác thường
Hỏi rằng còn nhớ cội nguồn hay chăng?
Chúc thợ thầy siêng năng đắt việc
Sáng, trưa, chiều chẳng kịp nghỉ ngơi
Tiền thời kiếm dễ như chơi
Coi chưng bỏ vợ bơ vơ một mình…
Chúc quý bà trẻ xinh, đẹp mãi
Đã mấy con ngỡ gái còn xuân
Phấn son, mỹ viện chuyên cần
Sửa sang, tô điểm giả chân khó lường
Chúc vợ chồng yêu đương thắm thiết
Tình mặn nồng khắng khít uyên ương
Chớ theo phong tục tây phương
Yêu cuồng sóng vội, luân thường đảo điên
Chúc kiều bào vượt biên tỵ nạn
Năng hồi hương nhan nhản ăn chơi
Vung tiền vui thú nhởn nhơ
Dân tình đói rách làm ngơ sao đành?
Chúc quý ngài đấu tranh chống cộng
Gắng kiên trì giải phóng non sông
Đừng vi tư lợi cỏn con
Tranh giành cấu xé thành công dã tràng
Chúc linh tinh chi bằng chúc đức
Ráng tu tâm hưởng phúc đời đời
Xá chi danh vọng nhất thời
Ở sao cho được giống người mới hay.
Chú thích: Bài thơ châm biếm này để mô tả phần nào cách sống
hiện nay của CDNV hải ngoại.
===
Tình Xuân Hoa Bướm
Mùa xuân cây lá đẹp xinh
Bướm hoa quấn quýt tự tình xôn xao
Chúa xuân đến muôn màu xanh ngát
Rót hương đời ngào ngạt tơ lòng
Bướm hoa tình ngát duyên nồng
Giao thoa trời đất
mênh mông ngập hồn
Hoa man mác dập dồn khoe sắc
Nắng vàng hoe mây mặc cánh hồng
Nụ hoa thuần khiết trắng
trong
Duyên tình hoa bướm mặn nồng đắm say
Hoa trước gió lay
lay yểu điệu
Dáng hoa mềm tơ liễu lả lơi
Mặn mà hoa bướm vương tơ
Bướm say mật ngọt thẫn thờ đê mê
Phấn hoa rải vần thơ chất ngất
Nhụy men nồng phảng phất hương trinh
Bướm hoa vương vấn mộng tình
Dưới trăng rộn bóng rung rinh tuyệt vời
Bướm bay lượn lưng trời thơi thới
Cánh hoa tươi phơi phới mỹ miều
Bướm hoa tha thiết muôn chiều
Trung trinh tình vẫn dập dìu bên nhau
Vạt nắng nhẹ ươm màu cánh bướm
Gió đưa hoa ngát đượm ngàn trùng
Mây ngàn lưu luyến mông lung
Bướm hoa e ấp thẹn thùng thương yêu
Đóa hoa nở yêu kiều sắc
thắm
Bướm lẳng lơ tô đậm
sóng tình
Chung đôi hoa bướm quyện mình
Đẩm hồn trong ánh bình
minh dạt dào
Cành hoa mỏng nghiêng chao trong gió
Hoa yêu đời ửng đỏ chứa chan
Bướm tung cánh biếc rộn ràng
Bướm hoa dệt mối tơ loan phiêu bồng
Hoa với bướm tơ hồng tri kỷ
Hợp tâm đầu tình ý mơn man
Bướm hoa đắm giấc mộng vàng
Mơ màng giai điệu
cung đàn ái ân
Tình xuân trải khắp dương trần
Bướm hoa thắm thiết tình nhân trọn đời.
Chú thích: Trong bài thơ này, tất cả những câu thơ có ngắt khoảng
đều có chữ “bướm hoa” hay “hoa bướm”.
Còn tiếp.
NdP

Ông tây ơi, ông làm thơ đã hay rồi, ông còn bàn luôn tới luật thơ nữa. Thiệt là bái phục!
ReplyDeleteTK
Cám ơn chị Kim. Tôi chỉ "múa rìu qua mắt thợ". Cũng may là có chị ủng hộ tinh thần để viết lách cho vui và nhân dịp cố rèn luyện tiếng Việt.
ReplyDelete