Sunday, April 5, 2026

Tản Mạn Về Thơ Việt Nam - Phần 1 - Nguyễn Duy Phước

 

Nói về nền thi văn Việt Nam thì đây là một biểu tượng của tiếng Việt rất phong phú và đặc sắc được thể hiện qua nhiều thể loại thơ đặc sắc ít có nước nào như vậy. Từ thơ cổ điển đến thơ mới, từ những bài thơ đủ số chữ, 4, 5, 6, 7, 8 cho đến 9 đều có hết và mỗi thể thơ đều mang nét đặc trưng riêng biệt.

Tuy nhiên những thể loại được ưa thích và thịnh hành nhất là thơ Lục Bát (6 và 8 chữ), thơ 7 và 8 chữ mà tôi sẽ trình bày sau đây.


Đôi lời phi lộ

Trước khi đi vào chi tiết tôi xin có vài ý nghĩ về thơ tuy rằng phải thú thật là tôi không hề học làm thơ vì từ nhỏ đến lớn theo học chương trình Pháp và đã xuất ngoại rất sớm. Hơn nũa, tôi thiên về ngành toán, hành nghề kỹ sư, nên trên lý thuyết thì tôi không thể có một tâm hồn lãng mạn để yêu thích và cảm nhận thi văn. Mặc dù vậy không biết vì sao, khi bắt đầu có tuổi, tôi lại « lội ngược dòng thời gian », quay về khám phá những nét hay đẹp của tiếng Việt ngàn đời, của nền văn học thâm thúy đã sinh sản ra một kho tàng thi văn phong phú. Và từ đó tôi bắt đầu yêu thơ, bắt đầu tập tành làm thơ, nhiều khi không biết là « có rùa » hay không hay là « có ma nhập » mà có thể làm được. Dù sao đi nữa, tôi cũng xin « múa rìu qua mắt thợ » có đôi lời đóng góp sau đây.

Dù rằng thơ thì phải có vần, nếu không thì là văn suông, nhưng cái hay của thơ không nhất thiết là vần mà là ý, cũng như bình rượu ngon không phải là cái vỏ ngoài mà là cái chất đựng ở trong. Và những từ ngữ dùng trong bài thơ cộng với cái ý phải thể hiện tâm hồn của người thi sĩ vì thơ là tiếng vọng và là sự hiện thân cho những gì cao cả nhất củ tâm hồn con người. Ý kiến này đề cập tới nét đặc trưng quan trọng nhất của thơ là phải xuất phát tự đáy lòng, là sự giãi bày, bộc lộ những rung động, cảm xúc của người thi sĩ, khác với một số người làm thơ như cái máy, không có hồn, tình cảm gì cả. Lại có người thì đi dùng những từ ngữ khó, cầu kỳ, tưởng là hay, nhưng thật ra có rất nhiều bài thơ trứ danh dùng những chữ rất thông thường mà vẫn làm dao động con tim đọc giả. Mỗi bài thơ là sự đồng cảm, tri âm giữa tác giả và bạn đọc, đó chính là vai trò của tiếng nói tâm hồn trong thơ. Cái đề tài của một bài thơ cũng rất quan trọng, nào là yêu đương, quê hương, mùa màng, lễ lạc, triết lý cuộc đời, trào phúng, châm biếm cho đến chống cộng, và thông thường thì những đề tài có liên quan đến tình cảm là thu hút người đọc nhiều nhất. Như nói trên, cái ý thơ rất là quan trọng, đối với những người từng trải những tình huống của cuộc đời thì tương đối có phần dễ sáng tác còn nếu không thì phải ráng nặn óc để tưởng tượng, sáng tạo những tình cảnh lâm ly, éo le, đầy xúc động để có sức gợi cảm, lôi cuốn. Ngoài ra, đối với tôi thơ như là một bản nhạc, có âm điệu như những nốt nhạc. Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”, và « Thơ là cây đàn muôn điệu của trái tim, ngân lên những cung bậc trầm bổng của cuộc đời », do đó một bài thơ hay là khi đọc lên nghe lâng lâng, thấm vào hồn. Không những thế, thơ cũng gợi lên rất nhiều hình ảnh vì “Thơ là ảnh, là nhân ảnh và thể hiện một tâm hồn muôn hình vạn trạng”. 

Để kết luận thì thơ là nơi cảm xúc thăng hoa, nơi những khát vọng tình yêu và suy tư hòa quyện và biến những điều đơn giản nhất thành vĩnh cửu. 

Xin lưu ý trong bài này tôi có kèm vài bài thơ tôi sáng tác cho

từng thể loại và được tô bằng màu xanh lục.

Ba hoa chích chòe nhiều rồi bây giờ xin quay lại vấn đề chính là trình bày các loại thơ với những quy tắc riêng cần phải tôn trọng cùng với vài thí dụ để dẫn chứng cho mỗi loại.


A/ Thơ Lục Bát 

Có thể nói thơ Lục Bát là một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân Việt Nam từ xưa đến nay, một loại thơ mang hồn thiêng dân tộc. Do đó loại thơ này rất thịnh hành trong dân gian, qua các câu ca dao, tục ngữ, vè và tiêu biểu nhất là Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Thơ lục bát là thể thơ dễ làm nhưng rất khó hay. Nó đi cheo

leo trên một sợi dây vô hình giữa một bên là thi phẩm làm rung

động lòng người và một bên là bài vè thô thiển. Do đó tuy có tính cách bình dị, gần gũi, nhưng loại thơ này cũng có thể làm rung động lòng người qua những thi phẩm thật tình tự, đầy cảm xúc ở vần điệu, ở âm hưởng, ở từng chữ, từng lời.

Mặc dù là một thể thơ tương đối dễ làm, và tuy rằng hay hay không là chuyện khác, nhưng cũng phải tuân theo một số điều luật được chỉ dẫn sau đây. 


Quy tắc thơ Lục Bát 

Thơ lục bát là một thể thơ gồm các cặp câu, mỗi cặp lục bát sẽ bao gồm hai câu, một câu sáu chữ và một câu tám chữ. 

Có hai luật chánh yếu cần biết là:

- Luật vần

Chữ cuối của câu 6 sẽ vần với chữ thứ sáu của câu 8 và chữ cuối của câu 8 sẽ vần với chữ thứ sáu của câu 6 tiếp theo. 

Một thí dụ sau đây mà các vần được tô đậm:

Gia Cảnh Họ Vương (Truyện Kiều)

Đầu lòng hai ả tố nga

Thúy Kiều là chị, em  Thúy Vân

Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Mỗi người môt vẻ, mười phân vẹn mười...

Nguyễn Du

 

Tuy nhiên có một cách gieo vần khác mà chữ cuối của câu 6 sẽ vần với chữ thứ tư của câu 8 tuy rằng ít thấy hơn, như thí dụ sau đây: 

Chào em cô gái áo vàng

Làm anh mơ màng mà chẳng nói tên.

hay

Gối mền, gối chiếu không êm

Gối lụa không mềm bằng gối tay em.

 

- Luật thanh hay luật Bằng Trắc

Trước hết cần biết Thanh âm tiếng Việt được sắp theo hai loại:

- Thanh bằng viết tắt là "B" gồm các dấu: huyền và không dấu, còn gọi là ngang,

- Thanh trắc viết tắt là "T" gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã và nặng. 


Sau đây là luật Bằng Trắc trong thơ Lục Bát:

- Câu 6 chữ: chữ thứ hai "B", chữ thứ tư "T", chữ thứ sáu "B"

- Câu 8 chữ: chữ thứ hai "B", chữ thứ tư "T", chữ thứ sáu "B",  chữ thứ tám "B".

Còn những chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm trong 2 câu 6 và 8 thì muốn “B” hay “T” gì cũng được.

Xem bài thơ sau đây đã tôn trọng đàng hoàng các luật nêu trên (những chữ được tô đậm là những chữ cần phải theo luật).

 Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

Thật ra thì trong thơ Lục Bát, luật Bằng Trắc như chỉ dẫn trên không « chắc nịch »  cho lắm như trong thơ Đường Luật vì nếu vậy thì những chữ tô đỏ trong bài thơ Kiều trên của Nguyễn Du là sai luật. Chỉ có 2 điều cần nên tuân theo là:

- Tất cả những chữ cuối của các câu thơ đều phải là thanh Bằng "B" chứ không bao giờ là thanh Trắc "T",

- Ở câu 8 chữ, chữ thứ 6 và chữ thứ 8 tuy phải là thang Bằng nhưng không được cùng dấu huyền hay cùng không dấu, nghĩa là nếu một chữ có dấu huyền thì chữ kia phải không dấu và ngược lại.

 

A1/ Vài bài thơ Lục Bát của các thi sĩ trứ danh

Đã có nhiều thi sĩ nổi tiếng thuộc thế hệ « mới » như Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Huy Cận v.v… đã thực hiện những bài thơ rất lãng mạn và tình tự, nhiều khi thật là bóng bẩy qua loại thơ này. 

Sau đây xin dẫn chứng với vài thí dụ :


Ngậm ngùi

Nắng chia nửa bãi chiều rồi

Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu

Sợi buồn con nhện giăng mau

Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây

Lòng anh mơ với quạt này

Trăm con chim mộng về bay đầu giường

Ngủ đi em, mộng bình thường

Ru em sẵn tiếng thuỳ dương đôi bờ...

Huy Cận


Chú thích: Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.


===

Uống trăng

Bóng Hằng trong chén ngã nghiêng

Lả lơi tắm mát làm duyên gợi tình

Gió lùa mặt nước rung rinh

Lòng ta khát miếng chung tình từ lâu

Uống đi cho đỡ khô hầu

Uống đi cho bớt cái sầu miên man

Có ai nuốt ánh trăng vàng

Có ai nuốt cả bóng nàng tiên nga.

Hàn Mạc Tử 

===


Chiều
Hôm nay, trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn? 
Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn
Sương trinh rơi kín tự nguồn yêu thương
Phất phơ hồn của bông hường
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng...

Xuân Diệu

Trong phong trào Thơ mới, Xuân Diệu, còn có biệt hiệu “Xuân tóc quăn”, là một nhà thơ tiêu biểu, một cây bút với sức sáng tạo mãnh liệt. Ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” với những vần thơ mang đậm tính chất lãng mạn của tình yêu.  

===

Chân quê

“Hôm qua em đi tỉnh về

Đợi em ở mãi con đê đầu làng

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi

***

Nào đâu cái yếm lụa sồi

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân

Nào đâu cái áo tứ thân

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen

 ***

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.”

Nguyễn Bính

Nguyễn Bính là nhà thơ “mới” mà tôi thích nhất. Những chữ ông dùng không có gì bóng bẩy, cầu kỳ cho lắm nhưng mang đầy sắc thái dân dã, mộc mạc, do đó mà ông còn có biệt hiệu là “nhà thơ của làng quê Việt Nam”. Điển hình là bài thơ Lục Bát bất hủ ở trên đã được nhạc sĩ Song Ngọc phổ nhạc.

Ngoài ra, ông cũng luôn khắc khoải trước sự đổi thay một cách nhanh chóng của đất nước. Trước sự du nhập của văn hóa phương Tây, ông không ngừng tiếc nuối khi chứng kiến những giá trị truyền thống đã bị bào mòn dần qua năm tháng. Và bài thơ trên là tiếng lòng thổn thức của ông, đau đáu khôn nguôi khi cái chân quê của người Việt đã không còn.

Chỉ tiếc là một số nhà thơ nói trên, chẳng hạn Xuân Diệu và Nguyễn Bính, có thể vì lòng yêu nước chống Pháp, đã theo Việt Minh rồi tập kết ra miền Bắc theo V.C. Còn Huy Cận thì có tham gia trong ĐCSVN , giống như tên văn nô Tố Hữu, chỉ biết làm thơ ca tụng và bợ đít bác đảng cùng chế độ cộng sản. 

 

A2/ Vài bài thơ Lục Bát tôi sáng tác

Riêng tôi thì cũng có sáng tác nhiều bài thơ Lục Bát, hay hay dở thì để « tùy người đối diện », và xin trích dẫn 4 bài thơ sau:


Mùa Thu Lá Bay

Mùa thu cảnh sắc vương sầu

Tình thu đã mất, niềm đau mãi còn

Chiều loang nắng nhạt bên song

Gió lùa sóng lá, dập dồn mưa bay

Lá nào còn ở trên cây

Lá nào đã rụng rơi đầy lối đi

Kể từ sông núi chia ly

Cũng mùa thu ấy phân kỳ luyến thương

Em đi thu tím gót buồn

Tôi về nghe tiếng mưa tuôn trong lòng

Em đi thổn thức dòng sông

Tôi về canh vắng đèn chong nhớ người

Mây ngàn giăng mắc lưng trời

Mênh mông, hiu quạnh bên đời phù vân

Còn đây một nửa vầng trăng

Dõi tôi soi bóng dặm ngàn tha hương

Lũng xa con suối lạc nguồn

Rừng thu phong kín nẻo đường cô liêu

Tìm đâu chiếc lá thương yêu

Mang màu xanh ngát nhng chiều mơ say

Em giờ đếm lá vàng bay

Trong công viên cũ tính ngày hợp tan

Tôi đi nhặt lá thu vàng

Ngậm ngùi ngắm xác thu tàn héo hon

Thu qua, thu lại mỏi mòn

Hồn thu đã chết, tình còn chi đâu

Hôm nay tóc đã bạc màu

Vẫn ngơ ngác hỏi ai sầu vào thu.

 

Chú thích: Xin mượn cái tựa của một bản nhạc để làm tựa bài thơ này.


Nếu muốn xem video về bài thơ này (có hình và nhạc) thì xin click vào link sau đây:

Mùa Thu và Thơ

=== 

Tình Si 

Mắt em là bể hồ thu

Trăng khuya rót ánh rạng ngời lung linh

Làn thu ba gợn rung rinh

Để anh lặn ngụp sóng tình ngất ngây

 

Tóc em bay xỏa bờ vai

Mây ngàn kết tụ gió lay bồng bềnh

Hương yêu thoang thoảng ru mềm

Để anh mê mẩn ngày đêm dật dờ

 

Môi em khao khát đợi chờ

Miệng cười chan chứa ngàn lời yêu thương

Nụ hôn xao xuyến vấn vương

Để anh say khướt nhụy hương nồng nàn

 

Giọng em ngào ngạt âm vang

Như làn gió thoảng rộn ràng bên tai

Lời ca thánh thót liêu trai

Để anh lạc chốn bồng lai nhiệm mầu

 

Má em mơn mởn hồng đào

Đôi gò phơi phới ửng màu hây hây

Làn da trắng tựa hoa lài

Để anh đắm đuối miệt mài thâu canh

 

Tay em mười ngón mơn man

Vỗ về như dạo cung đàn ái ân

Phím tơ dìu dặt lâng lâng

Để anh đắm giấc mộng vàng triền miên

 

Dáng em gót ngọc thiên kim

Thướt tha tà áo trinh nguyên tuyệt vời

Nghiêng nghiêng bóng ngã đường mơ

Để anh thơ thẩn, ngẩn ngơ sớm chiều.

 

Chú thích: Đặc biệt của bài thơ này là nói lên những cái đẹp của người phụ nữ và cứ cuối mỗi cái đẹp thì lại có một câu diễn tả sự đê mê, đắm đuối như: “Để anh xxx”.


===

Sắc Màu Lưu Luyến

 

Anh yêu áo lụa tơ vàng

Màu vàng hoa cúc rộn ràng hồn anh

Anh yêu nét đẹp đan thanh

Xuân xanh tươi mát, tình xanh ngát lòng

Anh yêu hương nhụy mặn nồng

Hương nồng âu yếm, má hồng ngây ngây

Anh yêu gót ngọc trang đài

Lộng tà áo trắng thơ ngây tuyệt vời

Anh yêu môi tím đợi chờ

Bờ môi tình mộng, nụ cười mơn man

Anh yêu ánh mắt nai vàng

Thẹn thùng soi bóng trăng tàn hồ thu

Anh yêu dòng chữ luyến lưu,

Mực đen ghi bút thiên thu không nhòa

Anh yêu dải lụa ngân hà

Xanh lam óng ả, thướt tha gọi mời

Anh yêu gò má đỏ ngời

Vương màu phượng vĩ thắm tươi sân trường

Anh yêu vị ngọt, mùi thơm

Mặn mà Tố Nữ, bưởi đường lá cam

Anh yêu châu báu, bạc vàng

Rạng ngời trang điểm, điệu đàng dáng thon

Anh yêu chiếc yếm nâu sồng

Bóng hình thắt đáy lưng ong gợi tình

Anh yêu mái tóc đen huyền

Tóc huyền bay xỏa quyện niềm mơ hoa

Anh yêu da trắng mượt mà

Làn da trắng tựa hoa lài ngát hương 

Anh yêu vóc dáng nghê thường

 Lung linh vồng sắc tơ vương nhịp cầu

Anh yêu cho đến bạc đầu

Yêu em, yêu hết muôn màu đắm say.

 

Chú thích: Đặc biệt của bài thơ này là trong mỗi cặp thơ đều có sự hiện diện của một màu sắc gợi cảm nơi người phụ nữ được tô đỏ. 

  

A3/ Thơ Song Thất Lục Bát

Đây là một biến thể của thơ Lục Bát, gồm 2 câu 7 chữ và 2 câu 6 và 8 chữ, ít thịnh hành hơn thơ Lục Bát chỉ với 6 và 8 chữ.

Thể thơ song thất lục bát, cũng được gọi là lục bát gián thất,  hay thể ngâm là một thể văn vần (thơ) đặc thù của Việt Nam.

Cách gieo vần trong loại thơ này có hơi đặc biệt, như các chữ được tô đỏ trong bài thơ tôi sáng tác sau đây làm thí dụ:

 

Đôi Lời Gửi Đồng Hương Tỵ Nạn

Chúng ta ghét búa liềm cộng sản (7 chữ)

Bỏ gia đình bè bạn ra đi   (7 chữ)

Trăm ngàn khổ cực gian nguy  (6 chữ)

Mười phần chết chín cũng  tự do  (8 chữ)

Nay đã được người cho tỵ nạn (trở lại 7 chữ)

Ở Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Âu (7 chữ)

Hoặc Gia Nã Đại, Úc Châu (trở lại 6 chữ)

Có còn nhớ đến nỗi sầu quê hương (trở lại 8 chữ)

 

Một số tác phẩm lớn trong văn chương Việt Nam như bản dịch Chinh Phụ Ngâm ra quốc âm đã được viết theo thể thơ này.

Một đoạn Chinh phụ ngâm khúc diễn ca (Đoàn Thị Điểm) song thất lục bát tiêu biểu với "yêu vận" và "cước vận" in đậm:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm từng trên

Nào ai gây dựng cho nên nỗi này

Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt

Khói Cam Tuyền mờ mịt khúc mây

Chín tầng gươm báu trao tay

Nửa đêm truyền hịch đợi ngày xuất chinh.

A31/ Vài bài thơ Song Thất Lục Bát tôi sáng tác

 

Chúc Tết

Đầu năm tớ cũng như ai

Chúc mừng cô bác trong ngoài gần xa

 

Trước chúc thọ cụ già trăm tuổi

Thú điền viên rong ruổi tiêu dao

Sâm nhung tẩm bổ dồi dào

Cháu con, hầu thiếp thay nhau nâng chiều

 

Chúc các ông gặt nhiều lợi tức

Đường công danh tiến chức thăng quan

Cổ phần cứ đắt như vàng

Chớ đừng suy sụp lại hoàn trắng tay

 

Chúc cả thảy tràn đầy sức khỏe

Chẳng phải lo mổ xẻ, ốm đau

Thuốc thang giờ quả nhiệm mầu

Hồi xuân, cải lão, uống vào mạnh ngay

 

Chúc giới trẻ miệt mài thi cử

Đỗ thành tài, kinh sử tinh tường

Dù cho học vấn khác thường

Hỏi rằng còn nhớ cội nguồn hay chăng?

 

Chúc thợ thầy siêng năng đắt việc

Sáng, trưa, chiều chẳng kịp nghỉ ngơi

Tiền thời kiếm dễ như chơi

Coi chưng bỏ vợ bơ vơ một mình…

 

Chúc quý bà trẻ xinh, đẹp mãi

Đã mấy con ngỡ gái còn xuân

Phấn son, mỹ viện chuyên cần

Sửa sang, tô điểm giả chân khó lường

 

Chúc vợ chồng yêu đương thắm thiết

Tình mặn nồng khắng khít uyên ương

Chớ theo phong tục tây phương

Yêu cuồng sóng vội, luân thường đảo điên

 

Chúc kiều bào vượt biên tỵ nạn

Năng hồi hương nhan nhản ăn chơi

Vung tiền vui thú nhởn nhơ

Dân tình đói rách làm ngơ sao đành?

Chúc quý ngài đấu tranh chống cộng

Gắng kiên trì giải phóng non sông

Đừng vi tư lợi cỏn con

Tranh giành cấu xé thành công dã tràng

 

Chúc linh tinh chi bằng chúc đức

Ráng tu tâm hưởng phúc đời đời

Xá chi danh vọng nhất thời

Ở sao cho được giống người mới hay.

 

Chú thích: Bài thơ châm biếm này để mô tả phần nào cách sống hiện nay của CDNV hải ngoại.   


===

Tình Xuân Hoa Bướm

 

Mùa xuân cây lá đẹp xinh

Bướm hoa quấn quýt tự tình xôn xao

 

Chúa xuân đến muôn màu xanh ngát

Rót hương đời ngào ngạt tơ lòng

Bướm hoa tình ngát duyên nồng

Giao thoa trời đất mênh mông ngập hồn

 

Hoa man mác dập dồn khoe sắc

Nắng vàng hoe mây mặc cánh hồng

Nụ hoa thuần khiết trắng trong

Duyên tình hoa bướm mặn nồng đắm say

 

Hoa trước gió lay lay yểu điệu

Dáng hoa mềm tơ liễu lả lơi

Mặn mà hoa bướm vương tơ

Bướm say mật ngọt thẫn thờ đê mê

 

Phấn hoa rải vần thơ chất ngất

Nhụy men nồng phảng phất hương trinh

Bướm hoa vương vấn mộng tình

Dưới trăng rộn bóng rung rinh tuyệt vời

 

Bướm bay lượn lưng trời thơi thới

Cánh hoa tươi phơi phới mỹ miều

Bướm hoa tha thiết muôn chiều

Trung trinh tình vẫn dập dìu bên nhau

 

Vạt nắng nhẹ ươm màu cánh bướm

Gió đưa hoa ngát đượm ngàn trùng

Mây ngàn lưu luyến mông lung

Bướm hoa e ấp thẹn thùng thương yêu

 

Đóa hoa nở yêu kiều sắc thắm

Bướm lẳng lơ tô đậm sóng tình

Chung đôi hoa bướm quyện mình

Đẩm hồn trong ánh bình minh dạt dào

 

Cành hoa mỏng nghiêng chao trong gió

Hoa yêu đời ửng đỏ chứa chan

Bướm tung cánh biếc rộn ràng

Bướm hoa dệt mối tơ loan phiêu bồng

 

Hoa với bướm tơ hồng tri kỷ

Hợp tâm đầu tình ý mơn man

Bướm hoa đắm giấc mộng vàng

Mơ màng giai điệu cung đàn ái ân

 

Tình xuân trải khắp dương trần

Bướm hoa thắm thiết tình nhân trọn đời.

 

Chú thích: Trong bài thơ này, tất cả những câu thơ có ngắt khoảng đều có chữ “bướm hoa” hay “hoa bướm”.

 

Còn tiếp.

NdP

2 comments:

  1. Ông tây ơi, ông làm thơ đã hay rồi, ông còn bàn luôn tới luật thơ nữa. Thiệt là bái phục!
    TK

    ReplyDelete
  2. Cám ơn chị Kim. Tôi chỉ "múa rìu qua mắt thợ". Cũng may là có chị ủng hộ tinh thần để viết lách cho vui và nhân dịp cố rèn luyện tiếng Việt.

    ReplyDelete