Lời bạt: Năm 2015 tôi
viết bài nầy và cố tình không viết về vợ con của Lê Văn Thại. Nhưng sau khi Hắn
mỉm cười ra đi, tôi viết bổ sung câu chuyện cho tròn cái nghiệp mà Hắn đã trả
xong. Mời quý vị xem đoạn cuối Hắn cưới vợ như thế nào và khúc quanh đời Hắn
như cái "nghiệp" phải mang!
Tôi và Hắn cùng quê
hương Tam Quan, vùng đất trải dài rộng lớn những rừng dừa và hệ thống sông ngòi
chằng chịt! Hắn là cháu nội một phú hộ vùng Cấm An Sơn thuộc xã Hoài Châu; còn
tôi thì sanh ra và lớn lên trong thôn Cữu Lợi xã Tam Quan nổi tiếng sản xuất
dầu dừa và dây dừa. Ông nội của Hắn là chủ những ruộng vườn cò bay thẳng cánh.
Ông nội tôi thì là chủ ghe bầu buôn bán dọc ven biển và các thành phố từ Nam
chí Bắc một thời.
Tôi và Hắn cũng cùng chung số phận sống 9 năm trong vùng Cộng Sản Liên Khu 5, thời kháng chiến chống Pháp, 1945-1954. Cũng có những tháng năm ngồi học trong các đình chùa bị đục vách phá bàn thờ để làm nhà kho và lớp học. Chung số phận là cháu con nhà địa chủ, sắp có chính sách đem ra tòa án nhân dân đấu tố!
Thế nhưng cuộc đổi đời
năm 1954, sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, chúng tôi cởi bỏ được lớp bùn
đất "Thiếu nhi Bác Hồ"; bắt đầu được học trong các trường công lập,
được ca hát tự do! Hắn và tôi sau cùng vào học trường Tăng Bạt Hổ Bồng Sơn. Hắn
nhỏ hơn tôi 1 tuổi nhưng học trên tôi 1 lớp. Gia Đình Hắn có tiệm bán thuốc tây
(Pharmacy), vì thế, vài năm sau, Hắn bỏ trường huyện, vào học Tabert ở Saigon.
Thẳng cánh cò bay, xong Trung Học, Hắn vào trường thuốc. Đến năm 1970, Hắn ra
Bác Sĩ và được động viên vào binh chủng Biệt Động Quân.
Còn tôi, đang học Văn
Khoa thì bị động viên năm 1967 vào khóa 26 SQTB Thủ Đức. Năm
1970, lúc đang đóng quân ở Pleiku thì lính vào báo: "Thẩm quyền, có một số
sĩ quan BĐQ đi xe Jeep trông dữ dằn lắm, tìm thẩm quyền!" Tôi cũng vừa từ
đơn vị tác chiến tiểu khu Bình Định đổi lên vùng đất đỏ chưa được mấy tháng,
chưa quen biết nhiều, làm sao có BĐQ là bạn tìm tôi! Trong khóa 26, ra trường có hơn 80 tên về BĐQ, nhưng chưa biết tụi nó ở
đơn vị nào. Chưa quyết định thế nào thì đám rằn ri mũ nâu chạy sộc vào văn
phòng: "Ê! Dũng Lùn đâu, trình diện thượng cấp!"
Dân mũ nâu rằn ri, đi
tới đâu là ồn ào vang trời! Tôi nhìn lên, hóa ra tên dẫn đầu
là Bác Sĩ Lê Văn Thại, tên thứ hai là Huỳnh Thọ Huyên, Khóa 26, tên thứ ba là Trần Tấn Đỡm, khóa 26, tên thứ tư là Lâm Đạo Đụng, khóa 26. Tôi bật dậy khỏi ghế như chiếc lò xo, mừng quá, bắt
tay từng thằng. Hóa ra là Hắn - Lê Văn Thại - ra trường nghề
thầy thuốc năm 1970 với 7 năm chương trình Bác sĩ dân sự. Sau đó được động viên
về BĐQ, lên Pleiku chăm sóc Liên Đoàn 2 BĐQ, Y Sỹ Trưởng, đóng hậu cứ ở Biển
Hồ.
Cuộc hội ngộ
"lính" vô cùng ồn ào và mùi "quân trường" còn thoảng hơi
chưa phai! Chúng tôi kéo nhau ra cà phê Dinh Điền nhâm nhi và từng thằng khai
"tình trạng quân ngũ", những gương mặt mới xa, nhưng cứ tưởng không
có cơ hội nào gặp lại. 3 thằng Khóa 26 Thủ Đức búng
ra sữa,bây giờ trông rất "ngầu".Bộ quân phục Biệt Động Quân, chiếc mũ
nâu đội lệch, phù hiệu.... Thằng nào cũng hiên ngang và tự tin! 3 thằng cùng
đang phục vụ Liên đoàn 2 BĐQ. Bác Sĩ Lê Văn Thại, Y Sĩ Trưởng với bộ vía tác
chiến Biệt Động trông rất "lính". Hồi còn đi học, Hắn rất giỏi võ
Bình Định, sở trường Hầu Quyền; vô Sài Gòn học thêm Taekwondo, Hapkido... Mỗi
khi Hắn nổi hứng, nắm tay ai bóp nhẹ là người đó la làng. Hắn uống rượu như
uống nước, lần nào ngồi với Hắn và mấy trự BĐQ, tôi chỉ là thằng phá mồi!
*****
Rồi thời gian trôi!
Chiến trường các nơi sôi động. Cánh Biệt Động hành quân rày đây mái đó.
"Mùa Hè Đỏ Lửa" năm 1972, tôi và đơn vị trấn thủ thành phố Pleiku để
cho vợ con và dân chúng "di tản". Sau đó, các đơn vị Biệt Động phải
di chuyển xuống giải tỏa Tam Quan Bồng Sơn, hành quân liên miên,
nên tụi tôi ít khi gặp nhau; dù là ở thành phố trấn biên như Pleiku, mệnh danh
là "thành phố của lính", dù hậu cứ của tụi nó ở ngay Biển Hồ! Mỗi
thằng mỗi khung trời nhỏ trong guồng máy chiến tranh. Đã mang danh hiệu là
"Biệt Động" thì có khi nào đơn vị được yên tịnh đóng ở một chỗ đâu!
Cả "Vùng 2 Quân Khu 2" đều là địa bàn in vết giày Biệt Động Quân; có
biết bao anh hùng ngã xuống! Cuộc di tản tháng 3 năm 1975 là những ngày Quân
Dân Cán Chính Pleiku - Kontum - Phú Bổn không thể nào quên. Tôi được may mắn
thoát khỏi cuộc di tản trong gang tấc nhờ cái lệnh thuyên chuyển về Đặc Khu Cam
Ranh chỉ trước một tháng! Cánh BĐQ của BS Lê Văn Thại, Huỳnh Thọ Huyên cùng số
phận kẹt cứng trong đoàn người và quân trang quân dụng trên Tỉnh Lộ 7b. Mấy
thằng Khóa 26, lúc bấy giờ vừa được thăng cấp Đại
úy, đều bị "tóm" ở gần Sông Ba - Phú Bổn! Đại úy Huỳnh Thọ Huyên cùng chung số phận với đơn vị. Vợ và 3 con
của Hắn thì lạc mất trong rừng. Vợ của Huyên lạc luôn 3 đứa con, 1 trai 5 tuổi
và 2 gái, đứa 3 tuổi và đứa chưa tròn một năm sanh. Sau nầy nhờ
tìm kiếm, vợ của Huyên tìm được đứa con trai từ một gia đình người Thượng, cháu
được nuôi để chăn trâu! Hai cháu nhỏ thì không còn dấu vết! Mấy tay BĐQ, bạn Khóa 26 của tôi bị nhốt ở nhiều nơi, sau rốt nằm ở Z30 A Tuy
Hòa. Riêng tên Bác Sĩ lì Lê Văn Thại thì thoát được về Sai Gòn.
Cuối tháng 3 năm 1975,
từ Cam Ranh tôi về Saigon bằng đường bộ đến Phan Rang rồi đi ghe ở Bình Tuy về
Vũng Tàu, vợ con gởi lại phía ngoại ở Ninh Hòa. Tôi và Lê Văn Thại lại gặp
nhau, nhậu quên đời. Hai thằng quanh quẩn hũ rượu của ông già tôi ngâm. Rượu
thuốc có thêm mùi trái ô môi vừa cay vừa ngọt. Ba tôi thấy hai đứa buồn chán
nên cũng thường làm mồi cho hai đứa nhậu đưa cay!
Thê thảm nhất là ngày
30 tháng tư năm 1975, Khu xóm tôi ở trên đường Bà Hạt - Chung Cư Ấn Quang - rần
rần người ra đi và rậm rật những đứa mang băng đỏ. Nếu ngày ấy hai đứa ra bến
Bạch Đằng thì có lẽ đời sẽ rẽ qua hướng khác. Đàng nầy, hai đứa ngồi nhìn nhau
không nói gì nhưng tay thì cầm ly! Tôi có hơi men, thỉnh thoảng còn bày đặt
khóc nhớ vợ con chưa biết ra sao...
Cho đến một ngày cuối
tháng 5/1975, Ba tôi làm cơm đải 2 đứa ngày mai "Trình Diện Học Tập"
10 ngày bằng 1 chai rượu tây đem về từ Embassy Hotel. Lúc nâng ly, Lê VănThại
đặt tên cuộc nhậu nầy là: "Đăng Trình Tửu". Hôm sau, hai đứa xách bị
áo quần và cái mền mỏng, đem theo tiền ăn 10 ngày, mấy bao thuốc lá, đôi dép
Nhật hai quai... Hai đứa hí ha hí hửng "trình
diện" tại trường Petrus Ký. "Học tập 10 ngày" thì nhằm nhò gì!
Ông hàng xóm nói với tụi tôi khi thấy hai đứa khăn gói gỏ cửa nhà ông chào từ
giã!
Tôi làm ra vẻ sành
đường đi nước bước trong trường, dắt Lê Văn Thại lên lầu bên trái, chỉ vào lớp
gần cuối: "Tao mài quần chưa rách trong phòng nầy!" Thế là hai đứa
tôi và mấy chục người trải nilon nằm dưới sàn. Có thằng leo nằm trên bàn học trò.
Tôi tìm chỗ ngồi năm xưa, phía dưới hộc, quả nhiên còn tên của mình đã khắc
bằng dao!
Ở "khách
Sạn" Petrus Ký, ăn cơm ngày 3 bữa do các nhà hàng nổi tiếng ở Chợ Lớn cung
cấp. Mọi người hí ha hí hửng cho rằng
"Cách Mạng" đối đải "Kẻ Đầu Hàng" sao mà tử tế quá!
Nửa đêm, sau mấy ngày
nằm chờ đợi "việc gì sẽ xảy ra", chúng tôi được gọi tên từng thằng,
sắp hàng một, ôm hành lý leo lên xe bít bùng đang đậu hàng
dài trước cổng trường. Cứ 20 thằng leo lên, trên xe có sẵn 2 chú nhóc bộ đội
gườm súng bên hông. Xe phủ bạt kín mít, xe chạy rần rật trên các đường trong
thành phố, chẳng ai biết nó về hướng nào mà đoán!
2 chú nhóc tì mặt hầm
hầm, luôn gườm súng hăm dọa: "Không được nhìn ra ngoài, không được ồn ào
nhúc nhích..." Xe chạy miết đến xế chiều, chúng tôi được phát lương khô
"made in China". Cuối cùng rồi cũng đến nơi, xe ngừng trong một trại
lính của VNCH gần núi Bà Đen, Trảng Lớn Tây Ninh! Doanh Trại nầy, không biết
trước kia làm gì mà có những gian trống trơn, chỉ có sàn xi măng quá to, quá
dài, rất nhiều căn trại như thế chứa chúng tôi. Cứ 20 thằng là một B, "cán
Bộ" chỉ định B Trưởng, chia nhau trải chiếu hay bao nilon nằm san sát bên
nhau cho có hơi ấm! Cứ thế ở đó tự phân chia nấu ăn, tự biên tự diễn. Nếu có
đứa nào bịnh thì "Bác Sĩ Cách Mạng" đến khám và bôi dầu cù là, chứ
không có thuốc gì hết!
BS Lê Văn Thại tìm
được trong đám đông thêm bạn, đó là BS Lê Văn Một, người miền Nam, râu quai
nón. 2 tên Bác Sĩ bắt đầu ngứa nghề. Trong đám ngàn người ngủ giống như ngoài
trời suốt 2-3 tháng trời, chuyện bệnh hoạn xức dầu cù là được chúng tôi âm thầm
chuyển qua "Bệnh Viện Một - Thại". 2 tên nầy kể cũng mát tay nên ít
khi phải gọi Bác Sĩ "Dầu Cù Là"!
Nhưng khi "biên
chế", một số về trại lính Sư Đoàn 18 ở Long Khánh, B19 của tôi, B20 có
Thại và Một, đều xách gói lên xe.Ở trại mới một thời gian, đang "được lên
lớp" bài đầu tiên: "Ba Dòng Thác Cách Mạng" của Lê Duẫn thì có 4
thằng trốn trại trong đêm. 2 ngày sau thì tụi nó bị bắt, trong túi xách có một
số thuốc tây, chúng khai là của BS Lê Văn Thại cho! Thế là nửa đêm, rần rật súng ống và cả đám đông bộ đội bao vây nơi BS Thại
nằm, lôi hắn xuống sàn, còng số 8, đọc lệnh nhốt vào co néc (conex). Khung sắt
nầy hình khối vuông, trước kia "Xâm Lược Mỹ" dùng loại nầy chở quân
trang quân dụng, chuyên chở từ Hoa Kỳ bằng tàu thủy cung cấp cho chiến
trường... Hắn bị thẩm vấn và nhốt vào cái khung sắt "kiên cố" đó bằng
một khóa bự! Trời Long Khánh nắng đổ lửa mà ngồi trong cái thùng sắt dày,
không có lổ thông hơi, bị khóa trái, ăn ngủ, tiêu tiểu một chỗ... do Bác
Sĩ Lê Văn Một được "đặc trách" chăm sóc. Chúng tôi cứ tưởng chừng mấy
ngày là Hắn chết khô! Thế mà nhờ ngồi thiền, Hắn không chết...
Mấy tháng sau đó, một
buổi trưa hè nóng gắt, kho đạn kế bên trại giam chúng tôi, không biết sao phát
nổ. Toàn bộ bom, hỏa tiển, đạn 81 ly, 60 ly, M79 không những nổ mà còn bay đầy
trời! Vụ nổ kéo dài đến tối. Trong trại chết một ít nhưng bị thương thì hơi
nhiều. Ngoài dân chúng, những trái hỏa tiễn bay xa làm sập nhà và chết
nhiều hơn chúng tôi. Vòng thiệt hại ở xa trung tâm nổ, nhiều hơn vòng trong gần
với kho đạn!
Trong lúc kho đạn nổ
bay đầy trời, mấy anh chàng nhát gan nhảy xuống các hố hay giếng khô trốn thì
đạn lại rơi vào chết thảm. Những thằng sợ quá mất khôn lấy đôi guốc gỗ che lên
đầu đi lững lơ như người điên, thế mà chẳng sao. Có thằng lấy miếng carton che
đầu. Riêng BS Lê Văn Thại an toàn ngồi trong khung sắt nghe tiếng nổ bên ngoài.
Riêng tôi chui vào một cái lổ trong đống gạch, hai chân lòi ra ngoài chịu trận!
Sau vụ nổ, một thời
gian ngắn, chúng tôi được leo lên xe đến "Khu gia binh" ở Long Giao.
Lê Văn Thại được "tháo cũi sổ lồng" lên xe cùng chúng tôi. Hắn vốn đã
là người ốm cao lêu nghêu, bấy giờ xác xơ đi không muốn nổi. Hồi còn sinh viên,
tôi đặt tên Hắn là "Khô trúc Đại Sư". Hai đứa ở Long Giao một thời
gian ngắn thì tôi "được thuyên thuyển" ra Bắc trên con tàu chở xi
măng, để nổi trôi Hoàng Liên Sơn, Lào Cay, Yên Báy, Vĩnh Phú... Còn Hắn,
"được tha về" vì có cái made in Bác Sĩ! Làm việc dưới quyền các Bác Sĩ
vốn xuất thân từ trường thuốc "Dầu Cù Là".
******
Tôi được "Cách
Mạng khoan hồng" lệnh tha về từ trại tù K2 Tân lập Vĩnh Phú, phải mất 10
ngày từ nhà tù, vượt qua con sông Đà, ngồi tàu lửa chen lấn, từ ga Ấm Thượng về
Hà Nội và con tàu suốt xuyên Việt. Về đến Sài Gòn thì mới hay là ông nội tôi đã
qua đời 10 ngày trước, vì nghe tin tôi được ra tù; mừng quá lên máu đứng tim!
Bước vào nhà cha mẹ tôi, Ba tôi chờ bên bàn thờ chít khăn tang cho thằng cháu đích tôn. Bác Sĩ Lê Văn Thại cũng có mặt. Hắn kể lể một loạt từ
khi hai đứa xa nhau. Lúc Ông Nội tôi bị đứng tim thì cũng có Hắn đưa cấp cứu
nhà thương Chợ Rẫy và ẵm xác ông nội tôi về lại nhà. Hắn thay tôi trực lo chôn
cất, sát cánh với gia đình thằng bạn còn trong tù ngục.
Mấy tháng sau Hắn dẫn
đến nhà một cô gái trẻ đẹp, có duyên và nói tiếng Bắc Kỳ ngọt xớt giọng Hà Nội.
Hắn giới thiệu tên cô là Dung đang làm nữ y tá ở Bệnh Viện Chợ Rẫy. Ba tôi xách
một chai đế ngâm thuốc và má tôi thì xào dĩa thịt bò hành tây đãi khách. Dung
uống rượu cũng rất là tâm đắc với Thại. Tôi ngồi chuốc rượu mà ngạc nhiên là
Hắn tìm đâu ra kỳ phùng dịch thủ.
Một năm sau thì Hắn
mời vợ chồng tôi mừng đám cưới Hắn với Dung. Năm đó Hắn 40 tuổi, là Bác Sĩ mà
hàm răng cái mất cái còn trông tội nghiệp. Cô Dung y tá năm đó 25 xuân xanh!
Một trời thơ mộng hạnh phúc mở ra cho thằng bạn tôi. Đám cưới ngoài vườn cây của
ba mẹ Hắn trên Phú Lâm. Ngồi dưới tàng cây nhậu là hết ý.
Tôi nổi hứng đứng lên
trước hàng bao nhiêu Bác Sĩ, bạn bè tứ phương tụ tập vui chuyện chúc mừng. Tôi
ra câu đối chúc mừng tân Lang và tân Giai nhân. Vế đầu tôi đọc lên: "Bốn
mươi tuổi tròn, răng không còn, Thầy Lang cưới vợ!" Nếu ai đối hợp ý thì
được toàn thể cử tọa vỗ tay và cụng ly với một chai rượu tây chính cống!
Thế là một không khí
ồn ào náo nhiệt bàn tán về ý của câu đối và rất nhiều tài danh viết nạp câu
đối. Cuối cùng một anh bạn, nay đã quy tiên, có câu đối như thế này: "Hai
mươi tuổi lẻ, vẫn còn trẻ, Y Tá vu quy". Câu đối được chấm xuất sắc!
Tôi và gia đình không
được nhập cư SàiGòn với cha mẹ tuy trước năm 1975 chúng tôi có tên trong hộ
khẩu. Vì thế nên chúng tôi phải đi vùng "KinhTếMới" ở ĐồngNai. Thời
gian nầy Thại làm việc tại Bệnh Viện "Bệnh Nhiệt Đới" Chợ Quán. Cha Mẹ
vợ Thại có con ở Hoa Kỳ đang làm bảo lãnh cho toàn thể gia quyến sang Mỹ. Lê
Văn Thại lúc đó đã có được 1 con gái kháu khỉnh dễ thương tên Ngọc. Hắn không
muốn ra đi "Tùy theo quê vợ" nên cứ dùng dằng "em chả"!
Nhưng cuối cùng thì cũng phải vì tương lai con gái mà "theo em xuống
thuyền".
Về phần tôi, năm 1990,
cả gia đình tôi được giải thoát theo HO3 tháng 7 năm 1990 và định cư ở Nam
Cali. Gia đình Thại, vì không đủ 3 năm ở tù nên được đoàn
tụ với đại gia đình vợ, định cư tiểu
bang Oregon! Hắn quyết tâm học và quyết tâm lấy cho được bằng Bác Sĩ ở Hoa Kỳ,
dù Hắn lúc đó đã lớn tuổi và sau năm 1990 thì chuyện học lấy BS rất khó! Vì
nhiều lý do mà Hắn không thể theo học nghề thầy thuốc sau 2 năm gắng sức! Trước
kia Hắn học trường Pháp, 7 năm mài quần trong Y Khoa Đại Học Sài Gòn, đậu bằng
Bác Sĩ theo chương trình Pháp ở VN. Qua Hoa Kỳ hóa ra Hắn trở thành một tên
"lộn chuồng"!
Lúc Hắn than là học
khó quá, tôi khuyên Hắn: "Mầy bỏ ý định thành BS ở đây, mầy mở võ đường
dạy võ Bình Định Thiếu Lâm hoặc cùng với BS Phạm Gia Cổn dạy võ Hàn Quốc thì
tốt hơn". Hắn mĩm cười làm thinh tiếp tục hành hạ thân xác
vì sĩ diện (?!).
Chính vì thế mà Hắn
chán đời, chán vợ, chán con, lặn sâu qua tiểu bang Delaware với mấy bạn Biệt
Động Quân chán đời, cùng ở dưới hầm nhà hơn 8-9 năm trời để săn bắn và nhìn
trời chiều bảng lảng! Khi con gái Hắn đậu bằng Bác Sĩ, hắn lên tinh thần
và về lại Cali ở với con gái. Bác Sĩ Ngọc rất có hiếu và chăm sóc tận tình,
chiều chuộng ông cha già ương ngạnh!
Tháng 3 năm 2019, Hắn
được xe cấp cứu ò e, chở vào Fountain Valley nằm đã gần 10 ngày. Tôi vào thăm,
Hắn nhìn tôi cười đểu: "Ê Lùn! sao không xách theo chai nào mà đi không
vậy?" Cầu mong Hắn chóng qua cơn "bệnh viện", tôi sẽ nói với bà
xã đúc bánh xèo "dõ" (chỉ có bột gạo) kiểu Tam Quan, hắn rất thích,
chấm với mắm nêm; đải Hắn một bữa với vài ly xây chừng! Bây giờ Hắn cũng không
còn uống được mấy ly, nhưng gà vẫn còn nhớ tiếng "gáy" một thời vang
bóng!
Sau 3 năm ở với con
gái tối ngày đi trực bệnh viện vì dịch Covid-19 và là Bác Sĩ chuyên khoa, con
gái Hắn ít khi ở nhà với Hắn. Nơi ở của Hắn và con gái xa Westminster 2 giờ lái
xe trên xa lộ, chung quanh rất ít người Việt Nam sinh sống. Hắn không dùng Iphone,
không chơi internet, không lấy bằng lái xe... Bao năm tháng ở cái xứ Hoa Kỳ nầy
mà như Hắn thì có phải chính Hắn tự hủy hoại mình và hành hạ thân xác dẫn đến
chỉ một đường... tự giải thoát!
Được vợ Hắn báo tin
Hắn đã được giải thoát ngày 3 tháng 3 năm 2022, tôi đang lái xe, phải dừng lại
bên lề đường vì xúc động. Bây giờ Hắn nằm xuống, con gái Hắn không thể làm gì
hơn là ngồi khóc, vợ Hắn thì đã sang ngang từ bao nhiêu năm rồi. Nhưng phút cuối
cùng Hắn cũng được gục chết bên vợ con với những lời trăn trối sau cùng nhắn
với bạn bè chào vĩnh biệt!
Một người tài hoa
không giống ai, một Bác Sĩ không giống ai, một người bạn mà mọi người đều cảm
mến! Hắn là Lê Văn Thại!
Tháng 3 năm 2022
letamanh


No comments:
Post a Comment