Friday, April 4, 2025

Skyline Drive, Shenandoah NP, VA - GiaLộc Ng


Đây là hình ảnh con đường mang tên Skyline Dr thuộc Công Viên Quốc Gia Shenandoah của tiểu bang Virginia với cảnh sắc thật hùng vĩ nhưng chẵng kém phần hữu tình.

Trên đỉnh dãy Appalachian kéo dài từ đảo New Foundland Canada chạy mãi đến miền Trung tiểu bang Alabama HK, cao nhất có nơi đến 6,684' (đỉnh núi Mitchel N.Carolina). Khi băng ngang Virginia thì nơi này trở thành công viên QG Hoa Kỳ Shenandoah mà trong đó con đường đẹp nhất chính là đường lên non cao Skyline Drive được khởi công xây dựng từ 1935. Bên phía Tây con đường ta đi là Thung lủng Shenandoah còn phía Đông chính là Blue Ridge Mountains.

Từ Bắc xuống Nam, Skyline Dr dài 105 dậm gồm tất cả 75 điểm dừng để ngắm cảnh đẹp xa khoảng vài dặm. Nơi chấm dứt con đường này cũng là nơi bắt đầu vào Blue Ridge Park Way để chuyển qua một Công Viên Quốc Gia khác là Great Smoky Mountains nằm ở vùng biên giới hai tiểu bang N. Carolina và Tennessee​ mà​ ​​theo tôi còn xuất sắc hơn Shenandoah.
Thiên hạ vào đây kô phải chỉ để chạy xe ngoạn cảnh mà họ còn cắm trại, câu cá, đi bộ theo các lối mòn có sẵn, cởi ngựa, chụp ảnh hoặc ngắm nhìn các động vật hoang dã...đủ thứ trên đời.
Ta có thể đậu xe nơi chỉ định để men theo lối mòn đầy kỳ hoa, dị thảo, đầy sinh vật từ bướm hoa, chim chóc đến gấu đen, nai rừng, chồn...mà lần theo tiếng nước đổ đến được những con thác tuyệt đẹp nằm trên sườn núi thoai thoải.

Điều rõ ràng là ta chẵng thể nào đem cả một khung trời bao la vào trong tấm ảnh nhỏ như thế này, mà theo tôi để cảm nhận hết cái hùng vỉ, cái rộng lớn của đất trời mình phải đối diện trực tiếp, lúc đó tâm hồn ta sẽ chùng xuống, và tưởng như mình tan biến vào phong cảnh tỉnh lặng bao la của đất trời với gió núi với mây ngàn...Lòng không vướng mắc, không còn gì để lo phiền.

Mời anh chị cùng lên đường.

TPN

Nhớ set up ở icon hình bánh xe bên góc phải, dưới để có Quality HD 720p và mở full screen

Truyện Về Lính : Ước Mơ - MX Nguyễn Đức Hùng


Anh đứng trên đỉnh đồi, nơi căn cứ của Pháo đội biệt lập đồn trú, nhìn xuống phía xa xa là những mái tranh thấp thoáng ẩn hiện, chìm theo vết xanh dài của màu cây rừng, và phiá xa hơn là dòng sông uốn khúc như một con rắn nhỏ chạy mãi tận về phiá Nam…

Không hiểu đã bao lần mỗi khi đứng trên nóc hầm của “Đài Tác Xạ” nhìn về phía chòm xóm ấy, anh đều cảm thấy lòng mình như day dứt khôn nguôi. Hình như có nổi nhớ nào thật nhỏ như những làn khói của từng những buổi chiều đang vươn lên nơi xóm làng đó. Nỗi nhớ như bắt nguồn của buổi chiều thật an bình, dù đó chỉ là sự yên tỉnh giả tạo, vì anh biết thật rõ phía bên kia dòng sông của ngôi làng, là sự có mặt của người “anh em” không cùng lý tưởng đang rình mò, để mỗi khi có dịp là sẽ vượt qua sông, và sự bình yên của xóm làng dưới chân đồi, có còn được như những buổi chiều ngày hôm nay mà anh đang đứng nhìn nó, anh còn biết những vòng tròn xanh đỏ chi chít trên tấm xạ bản trong đài tác xạ như những ô cờ chằng chịt vây quanh cái làng ven sông, là bất an đang bủa vây, mà người dân nơi ấy nào biết!

Những rủi ro nguy hiểm đang vây chặt thôn xóm họ, đời sống họ cũng đang trao vào tay những đấng tối cao, đang trao vào những tính toán bẩn thỉu, điên cuồng của một thiểu số người mang những danh từ thật hoa mỹ để đày đọa quê hương này, anh nghĩ họ cũng chẳng may mắn gì hơn đời sống của anh và các bạn anh.


Cách đây khoảng hơn tháng, có một số người của xóm làng ven sông, họ đã kéo nhau mang theo thi thể của một em bé gái, khoảng 11 hay 12 tuổi đến pháo đội anh và la khóc thảm thiết, đỗ lỗi cho pháo đội anh đã bắn lầm vô nhà của họ, anh thật sự cảm động, nhưng anh hiểu sự việc thật không thể, vì anh hiểu rõ hơn ai hết pháo đội anh đã giử khoảng cách thật an toàn tối đa cho cái làng bé nhỏ này. Anh hầu như đã thuộc lòng những tọa độ với vị trí quân bạn cũng như những điểm tập trung nghi ngờ chung quanh làng, thì những lần bắn quấy rối trong đêm, những sự việc đáng tiếc như thế hoàn toàn không thể xảy.

Sau bao giải thích và sự điều tra từ quận, để anh biết thêm là cả sự xếp đặt của các “anh em” bên kia để vu cáo cho đơn vị trú đóng của anh, tuy vậy với cái làng ấy cảm tình của anh vẫn thật đằm thắm, hình như có cái gì thật gần gủi của nó đối với anh. Nó có thể bắt nguồn từ những kỷ niệm ấu thơ của ngôi làng thuở nhỏ nơi anh đã trải qua bao kỷ niệm thời tuổi nhỏ, cũng giống như ngôi làng này. Quê ngoại của anh, làng Quãng Hội cũng núp lẫn với những rặng dừa bạt ngàn, bên dòng sông Mỹ-Quãng, nơi ấy anh đã có những kỷ niệm thơm ngát tuổi thơ, của những ngày Hè, anh đã nằm bên những gốc bàng thật to, tỏa đầy bóng mát nghe trong gió vi vu tiếng ve gọi Hè.

Tuổi thơ trôi qua trong êm đềm của yêu thương quê ngoại, và thanh bình của những năm tháng cũ xa xưa. Nhưng khi anh bắt đầu qua ngưỡng cửa trung học, anh đã xa dần quê ngoại, xa dần thôn làng. Chiến tranh mỗi ngày thêm lan rộng và ác liệt, anh cũng không còn dám về quê ngoại nữa vì an ninh đã không còn, dù từ Nha Trang về làng anh chỉ không trên dưới 60 cây số!. An bình không còn nữa nơi thôn nghèo quê ngoại anh. Nơi này đều bị hai phía, đều mang danh cho chính nghĩa dành giựt xâu xé. Thỉnh thoảng anh mới được biết tin về quê ngoại khi Dì Bảy anh có dịp vào Nha Trang thăm.

Khi thì bảo ông tám ấp trưởng, lúc thì ông sáu liên gia v..v đã bị VC tối về đem đi giết, với những bản án nghe thật ghê gớm, những danh từ nghe thật xa lạ. những người ấy anh đều biết từ thuở anh còn tắm ở truồng của những ngày trốn học theo đám con nít trong làng tắm ở Cửa, ở cầu Huyện, anh không tìm thấy và cảm thấy họ có gì thật dữ dằn hay ghê gớm để có thể bị bêu đầu trên những ngọn tre của xóm làng trong đêm tối! Và sau này khi anh khá lớn lúc chuẩn bị thi tú tài một, thì được biết tin những thằng bạn từ tuổi nhỏ như thằng Quận, thằng Đờn đã đi theo phía bên kia, còn thằng Chơn, thằng Lá đi BĐQ v,v… Anh cũng không hiểu sự việc thật lạ lùng không tưởng, lúc nhỏ chơi chung cùng thả diều, đá dế, đi làm bẫy bắt chim lá mía, cùng nhau trèo dừa để bắt những con chim sáo con, chia nhau từng củ khoai sùng, từng hạt mít còn sượng và reo vang cả một khoãng đời trẻ dại, nay lại mỗi đứa mỗi nơi, để rồi chơi trò chơi chém giết nhau một cách dã man!

Anh còn nhớ lần cuối cùng khi trở lại thăm quê ngoại anh là khoảng lúc anh đang học lớp đệ lục. Anh vẫn còn nhớ thật rõ, như vừa trãi qua ngày hôm qua. Sau những tuần lễ qua thật lẹ của mùa hè năm đó, anh phải trở lại Nha Trang cho năm học mới. Trên chuyến xe lam già nua ọc ach của chặng đường từ Vạn Giả đến Ninh Hòa, mang anh và vài hành khách, mà họ đều là những người đàn bà quê buôn bán, chỉ có anh là cậu bé mang dáng dấp thành phố. Khi đến một xóm làng nghèo nàn dọc theo quốc lộ 1, anh vẫn còn nhớ rõ địa danh đó là làng Lạc-An cách thị trấn Ninh Hòa chừng 10 cây số.

Khoảng chưa đến cây số về phía Đông Bắc của làng là những đơn vị thuộc sư đoàn Bạch-Mã của Đại Hàn đang trú đóng, khi đến làng này người tài xế xe lam ngừng lại, vì có hai người mang súng chận lại kiểm soát mà anh đoán chắc họ là các người “anh em” bên kia vì lối ăn mặc không giống các người lính mà anh vẫn thấy họ hàng ngày ở phố thị. Đó là lần đầu tiên và củng là lần cuối cùng anh gặp mặt họ, với một tấm lòng thật an bình không lo sợ. Nhìn những khuôn mặt thật ngờ nghệch, xen lẫn sự ngô nghê đượm vẻ nhịn nhục, thế mà bây giờ cũng từng khuôn mặt ấy, đã bao lần hò hét giữa đêm khuya tấn công lên pháo đội anh, và anh, cậu bé năm xưa ngồi trên chiếc xe lam già cũ kỹ ngày nào cũng đã chơi trò súng đạn cũng hăm hở trả đủa một cách tận tình!

Có những buổi sáng anh thỉnh thoảng xuống làng để mua vài vật dụng cá nhân cần thiết. Con đường dẫn đến làng , sau khi qua khỏi cổng gác pháo đội và băng ngang hàng rào phòng thủ của đơn vị địa phương quân giử pháo đội, là một con đường làng nhỏ đầy bụi đỏ, dẫn vô làng. Mổi lần như thế anh đều gặp rất nhiều lính của pháo đội anh lẫn lính địa phương la cà ở những quán nước trong làng. Tuy anh biết việc này không tốt cho vấn đề an ninh, nhưng cũng thật khó mà ngăn cấm nổi, vì chính những người dân trong làng củng có con cháu đi lính nơi địa phương và củng có cả con cháu đi theo phía bên kia sông. ….

Con đường chạy dài vào cuối làng dẫn đến một bến đò cũ kỹ hoang vắng. Theo dân làng cho anh biết, lúc trước còn đưa đón cho người làng bên này qua bên kia sông, để buôn bán và trao đổi vật dụng với một xóm nhỏ bên kia, nhưng nay hình như không còn được sử dụng nữa vì trên quận đã ra thông cáo. Bên kia sông là vùng phi pháo tự do, nên những người bên kia sông cũng lục đục kéo qua bên này sông, coi như đó là một sự lựa chọn tuy không nói ra nhưng mọi người đều thầm hiểu rằng bên kia sông là đêm và bên này sông là ngày.

Anh thường thích ra bến đò hoang vắng ấy để nhìn qua bên kia sông, chỉ cách nhau một chiều dài chưa quá 200m mà là cả một sự âm u bí mật, các đơn vị địa phương quân những lần hành quân đều ban ngày, để rồi đêm đến họ lại kéo về bên này sông. Anh ngồi trên những mảng gỗ vụn mục, dấu tích còn sót lại của bến đò cũ, mắt hướng về phía bên kia sông, những lau sậy lâu ngày cao gần đến đầu anh, lối mòn cũa con đường cũ không còn thấy rõ, và ra xa là màu xanh của cây cỏ hoang kéo xa tận đến chân núi… Cảnh vật làm anh lại nhớ đến những thửa ruộng ở Hóc-Chim quê anh cũng màu xanh kéo tận chân núi, mà đối với tuổi nhỏ của anh ngày nào, là cả một bí mật huyền bí.

Dượng Chín anh thường kể cho đám nhóc anh nghe, nào cọp thường xuống chân núi rình để bắt trâu bò, súc vật nhiều khi còn tấn công cả người! Rồi những chuyện ma được kể trong đêm làm cho lũ nhỏ phải co mình không dám ra khỏi lẫm lúa ban đêm, anh khẽ mĩm cười, bây giờ nhìn sang bên kia anh không nghĩ sẽ có những hình ảnh ngày xưa như dượng anh đã kể, nhưng cũng có một thứ gì đó nó cũng đồng loại như anh, nhưng nó ghê gớm hơn cả cọp hay ma của ngày xưa tuổi nhỏ… Mặt sông thật êm, khẽ gợn những làn sóng nhỏ lăn tăn theo cơn gió buổi sáng. Anh tưởng như những lọn tóc nhỏ của Trầm, cô chủ quán khá xinh ở đầu làng. Mùi mạ non trộn lẫn mùi bùn vương trong gió, hít một hơi dài anh nghe như có vị ngọt trong cổ, hình như mùi mạch nha…

Tiếng súng cối nghe thật gần xen lẫn tiếng AK cùng tiếng súng cá nhân của quân bạn từ phía bìa làng vọng lại…như xé màn đêm…
– Hồng Hà đây Khánh Linh xin tác xạ trả lòi..
Tiếng của người sĩ quan tiền sát trẻ đi cùng tiểu đoàn ĐPQ gởi về xin tác xạ xen lẩn tiếng rè.. rè của chiếc PRC 25 phát ra …Tuyến, người lính truyền tin nhanh nhẩu trả lời..
– Khánh Linh đây Hồng Hà nghe rõ trả lời..
– Hồng Hà đây Khánh Linh, tụi chuột khoảng một râu xin đèn cầy tại tọa độ anh-dũng … bắc-bình… trả lời.
– Hồng Hà nhận..

Chùm ánh sáng tỏa sáng phía làng và phía mé sông..
– Hồng Hà nhận.

Tiếng đạn của trung đội hai nghe thật gần mà anh nhắm mắt lại củng biết đó là phía mé sông của những buổi sáng anh đã từng ngồi hàng giờ phía đầu cầu củ.

– Hồng Hà đây Khánh Linh.. Lần này qua ống liên hợp, anh nghe tiếng người sĩ quan tiền sát có vẻ gấp rút: “Yếu tố cũ về trái năm mươi gần lại một trăm pháo đội 1 tràng trả lời”, rồi qua ống liên hợp anh nghe những tiếng hỗn độn tan vỡ thật gần.
– Đạn đi Khánh Linh nhận rõ trả lời..

Rồi mặt đất hình như rung chuyển gần đài tác xạ, tiếng Hóa, trung đội trưởng trung đội hai báo qua điện thoại, nó pháo mình rồi thẩm quyền.. Rồi từng quả đạn súng cối bắt đầu rơi trong vị trí pháo đội. Không hiểu bằng cách nào các người “anh em” đã xuyên qua đại đội ĐPQ bảo vệ pháo đội cua anh, và bắt đầu tấn công qua cổng rào..
– Hồng Hà đây Khánh Linh, gần lại năm mươi bắn hiệu quả trả lời… _OK nhận…
Tiếng rè rè từ ống liên hợp và tiếng Khánh vọng về:
– Tụi chuột thật lì lợm và cố bám sát, trình thẩm quyền cho gần lại thêm năm mươi trả lời…
Anh chụp lấy ống liên hợp và bảo cho Khánh:
– Tụi tôi củng đang bị chuột gặm chỉ thằng 1 và 2 gáy cho anh thôi…
Tiếng Ak nổ từ phía trung đội 3, vọng về đài tác xạ xen lẫn tiếng M16, Đặng người HSQ khẩu đội trưởng của khẩu 3 trung đội 2 lao nhanh vào đài tác xạ thở hổn hển, bảo anh:
– Ông thầy, tụi đặc công đã lẽn vô một nhóm nhỏ ở trung đội 3 và chiếm kho đạn dự trữ, pháo đội trưởng đang chỉ huy anh em cầm cự …

Rồi những tiếng nổ long trời từ phía kho đạn trung đội 3 xen lẫn những tiếng súng nhỏ vang rền… Sau những phút đầu tiên bất ngờ đại đội ĐPQ bảo vệ pháo đội đã chống trả lại và đẩy lui toán đặc công ra khỏi pháo đội. Ngọn lửa vẫn còn bốc cháy từ phía kho đạn …
– Hồng Hà đây Khánh Linh trình thẩm quyền cho bắn những điểm hỏa tập tiên liệu mà tôi đã gởi về ban chiều, tụi chuột đang rút về phía đó trước khi trời sáng..

Những tiếng nổ thưa dần cùng với bình minh một ngày đang tràn đến. Trận tấn công ban đêm của các người “anh em” chỉ còn để lại những cụm khói nhỏ phía trung đội 3 nơi phía kho đạn pháo đội, một vài xác chết của các “đồng chí” không mang kịp, với những mãnh cháy xém không còn nhìn ra. Rất may pháo đội chỉ có hai binh sỉ bị thương nhẹ vì đạn pháo kích. Một tên VC bị thương… hắn có vẻ bị thương rất nặng, trạc khoảng tuổi anh 24 hoặc 25 hắn bị một vết dạn ở phía trái ngực và một nơi đầu, dù đã được băng bó để đợi xe đưa về bệnh viện quận, cách căn cứ pháo đội gần 10 cây số, anh vn thấy dòng máu chảy thấm ướt qua băng vải cá nhân, còn phía mặt thì bị che khuất gần phân nửa. Hắn ngồi tựa vào những thùng gỗ của trung đội 3 với những tiếng rên gừ gừ cách khoảng trong cổ như tiếng của một con thú bị lạnh và tròng mắt còn lại như lạc thần, sâu thẫm
– Mấy ông lính Cộng Hòa…. cho em xin điếu thuốc …
Giọng nói như làn gió, đứt quảng của hắn xen lẫn tiếng thở thật nặng nhọc chịu đựng. Anh rút điếu thuốc Bastos quân tiếp vụ nhàu nát còn sót lại vuốt lại cho thẳng, châm lửa bập bập cho cháy và đưa cho hắn. Hắn đưa tay ra thật chậm chạp đón nhận, đưa lên môi hít một hơi thật dài.. con mắt còn lại nhìn anh thật lâu như muốn nói điều gì … nhưng lại thôi, hắn lại cố gắng hít thêm một lần nửa… mùi khói thuốc khét lẹt tỏa ra, con mắt hắn mở rộng.

Anh thấy trong ánh mắt sự ngơ ngác lẫn thơ dại và trong phút chốc tròng mắt hắn đã ngừng, trên môi vẫn còn ngậm điếu thuôc đang cháy dở. Trong ánh mắt hắn anh còn thấy màu xanh của bầu trời buổi sáng, và anh còn thấy được nổi ước mơ của một ngày yên bình trên quê hương. Ánh mắt và niềm mơ ước của hắn và cũng là niềm ước mơ của cả anh và tất cả các bạn anh….nó cũng là niềm ước mơ một ngày thôi không tiếng súng của xóm làng nghèo đói dưới chân đồi …

Anh đứng lên lặng lẽ đi về phía đài tác xạ và …mang theo cả ánh mắt của người “anh em” phía bên kia, và là ánh mắt của Quận, thằng bạn anh của một thời tuổi nhỏ bên dòng sông quê ngoại….

Nguyễn Đức Hùng

Pháo Thủ MX Oregon

Nỗi Buồn Thế Kỷ - Đỗ Công Luận

Sài Gòn "Nghèo Đói" Và Được Giải Phóng ? - Tuấn Khanh

Sài Gòn xưa. (Hình minh họa: Facebook “Ký ức Sài Gòn xưa”)

Trong xu hướng hưởng ứng phong trào mừng 50 năm thống nhất, do nhà nước đề ra, có không ít những ngôn luận bầy đàn, chọn một cách tấn công: cứ nhắm vào các diễn đàn, hay bài viết đăng lại những hình ảnh của Sài gòn hay của miền Nam xưa. Những nơi này bị các lực lượng dư luận viên, thành phần tuyên truyền cực đoan góp lời chê bai là “phồn vinh giả tạo”, “chỉ sống dựa vào tiền viện trợ”… Dĩ nhiên, nói một cách ngu xuẩn và không suy nghĩ thì có muôn vàn hình thái.

Bài dưới đây, tổng hợp những dữ liệu đã có, để nói về cụm từ gọi là “phồn vinh giả tạo,” mà gần đây ông Đảng trưởng Tô Lâm cũng đã có dịp đính chính và trân trọng về “Hòn ngọc Viễn đông” của thời gian đó, nhưng nay lại đang bắt gặp nhiều trong các comment định kiến đây đó. Xin được post lại bài, giữa những ồn ào phỉ báng có chủ đích thấp kém về ý nghĩa “miền Nam được giải phóng.”

———–
Miền Nam trước 1975 có là “phồn vinh giả tạo”?

Sau năm 1975, một trong những cách mô tả của báo chí nhà nước mới về sự thịnh vượng của miền Nam là một xã hội “phồn vinh giả tạo”. Cách dẫn giải của cụm từ này, đơn giản là do đô-la của đế quốc Mỹ đổ vào, sự ăn xài phủ phê có tính giai đoạn, quan chức tham nhũng giàu có, bọn tư bản mua bán lũng đoạn… nên xã hội miền Nam Việt Nam có vẻ đầy sức sống nhưng trong lòng của xã hội là sự nghèo kém và lạc hậu vì bị áp bức, bóc lột.

Những quan điểm như vậy, dù thiếu tính nghiên cứu khoa học và được dẫn đường bằng cái nhìn đay nghiến vô cớ, cũng khiến không ít người tin vào điều này, thậm chí là căn bản lý luận của những luận văn gọi là khảo sát miền Nam hoặc báo chí trong suốt một thời gian dài.

Cho đến khi ngôn luận đời sống xã hội được mở rộng, đặc biệt là sau khi các mạng xã hội, blog… phát triển, luận điệu này chìm dần, nhưng không có ai nói lại, xin lỗi hoặc có một sự tự trọng nhất định để cải chính về đời sống thật của người dân miền Nam, nếu không nói đó là loại ngôn luận phủ định đầy xúc phạm.

Mới đây, trong một bài viết của nhà báo Trương Huy San, có nói về thời kỳ phát triển viễn thông sau 1975 với một số quan chức có ý thức về tương lai đất nước, bài viết có dẫn con số về đầu điện thoại sử dụng ở hai miền trước 1975. Theo bài viết, con số thống kê được chính quyền mới ghi nhận lại, cho thấy trong thập niên 1960, điện thoại tư nhân đã tăng rất nhanh ở miền Nam: Năm1965, 23.377; năm 1966, 24.837; năm 1967, 27.082; năm 1968, 30.964; năm 1969, 36.150; năm 1970, 34.889; năm 1971; 38.133 máy.

Những con số này cho thấy sự phổ biến trong đời sống dân sự Việt Nam. Đồng thời gian, các tài liệu về lịch sử viễn thông – phương tiện điện thoại cố định ở Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba,Thái Lan… cho thấy điện thoại cố định (landline telephone) là hầu như chỉ dành cho các văn phòng công sở, không phổ biến cho dân dụng. Dĩ nhiên, miền Bắc thì lại càng không có, do mọi nguồn lực đều tập trung phục vụ cho chiến tranh chứ không là phát triển truyền thông đại chúng. Bên cạnh, việc quản lý nghiêm ngặt các phương tiện liên lạc này vì sợ gián điệp, cảnh giác… khiến điện thoại chỉ có ở các cơ quan, nhưng không đều.

Trong bài viết, nhà báo Trương Huy San lập lại vài chi tiết mà nhiều người miền Nam đã biết, là “ngày 30 tháng Một 1966, lần đầu tiên người dân Sài Gòn được xem một bộ phim Mỹ, vừa có tiếng Việt vừa có tiếng Anh, qua 1.000 máy vô tuyến truyền hình được đặt ở những địa điểm đông người tại Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Tín hiệu được phát đi từ hai máy bay hiệu Constellation bay vòng quanh Sài Gòn. Hôm sau, ngày 31 tháng Một 1966, Tháp vô tuyến truyền hình đã được khánh thành tại số 7 đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai). Cuối thập niên 1960, máy vô tuyến truyền hình trở thành phổ biến ở các đô thị lớn và bắt đầu về tới các vùng nông thôn miền Nam.

Ngày 7 Tháng Chín 1970, miền Bắc mới cho phát thử một chương trình truyền hình đen trắng và phải sau ngày 30 tháng Tư 1975, một số người dân ở Hà Nội, mới được “xem vô tuyến” nhờ các máy thu hình đưa từ miền Nam ra chuyển hệ hoặc đưa từ Liên Xô và các nước Đông Âu. Truyền thông báo chí, ngay cả của nhà nước cũng phát triển rất hạn chế ở miền Bắc. Trong thập niên 1960, trong một xã may ra có ông chủ tịch hay bí thư là có được chiếc máy thu thanh hiệu Xiong Mao hoặc Orionton. Sau năm 1975, những chiếc radio bán dẫn Nhật như Standard, National… được các anh bộ đội, các cán bộ vào Nam công tác đưa ra nhưng nó vẫn là một mặt hàng bị “nhà nước quản lý”.

Trong ký ức nhạt nhòa, tôi vẫn còn nhớ những buổi chiều chủ nhật đón xem các bộ phim cao bồi và siêu nhân trên truyền hình ở Sài Gòn. Bọn trẻ con vẫn hò hét và tán chuyện với nhau về những tình tiết hấp dẫn trên TV. Truyền hình là phương tiện giải trí mắc tiền và riêng tư nhiều hơn cả điện thoại gia đình, nhưng theo một bài viết của nhà báo Phạm Công Luận, thì lúc đó, “Máy truyền hình đã xuất hiện tại VN, lần đầu tiên, năm 1966. Một chiếc Denon, 12 inches, giá 16.500 đồng, 19 inches: 30.000 đồng… Mặc dù kỹ thuật còn lỉnh kỉnh, như: vô tuyến truyền hình, chương trình cao su, hát nói nhiều hơn hình ảnh, ti vi – một danh từ mới – đã được “khán thính giả” VN chiếu cố kỹ. Nhà nhà đều có ti vi. Ai không có thì đi coi cọp. Ăng ten mọc như mắc cưởi, hướng loạn trên các mái nhà, nhất là ở các tỉnh. Chương trình được hâm mộ nhất là… cải lương và… đài Mỹ. Batman xuất hiện khắp hang cùng ngõ hẻm. Lúc đó điện còn yếu, mỗi nhà một survolteur cho ti vi”. Một thống kê khác, cho thấy lúc đó sức mua của người dân miền Nam rất mạnh, nên cho đến đầu thập niên 70, cứ 50 người thì có một gia đình sở hữu truyền hình.

Năm 1980 chính quyền mới thử nghiệm phát truyền hình màu lần đầu, cố gắng nối kết giữa các hệ phát hình xã hội chủ nghĩa và tư bản như NTSC, Secam, Pal… Năm 1983, ông thầy của tôi làm việc ở Sài Gòn, gom góp tiền bạc mua được chiếc tivi màu 14 inch JVC vỏ đỏ. Ông kể chuyện mình dành dụm mãi mới mua với giá gần 1, 4 lạng vàng. Mua xong, ông gửi về quê ở Hà Nội để cho ông cụ thân sinh xem giải trí, vốn cả đời chưa thấy truyền hình màu là gì. Thế nhưng chỉ qua tháng sau, ông nhận lại chiếc truyền hình ấy với thùng, bao còn mới tinh. Hỏi ra mới biết, khi ông cụ nhận được quà không bao lâu, thì xóm làng biết chuyện. Phía hội, đoàn, cả công an khu vực cũng ghé nhà, thuyết phục cụ mỗi đêm nối dây mang ra sân cho cả xóm mấy mươi người cùng xem vì tình nghĩa xóm làng. Đột nhiên từ chỗ có của, nhưng không được vui hưởng, mà trở thành người hàng đêm phải quét sân, dọn tivi ra, rồi hết giờ lại dọn vào… quá mệt mỏi nên ông cụ gửi trả tivi về Sài Gòn, nói rằng ông chỉ muốn được yên.

Về điện thoại cố định, từ giữa những năm 80, khi liên lạc viễn thông không còn bị nhìn với ánh mắt nghi kỵ, và nằm trong kế hoạch phát triển 1995-2000, với mục tiêu 100 người dân/1 điện thoại, người Sài Gòn dù trải qua nhiều đợt vô cùng khốn khó, đã dẫn đầu cả nước để đóng tiền “cọc”, đưa điện thoại cố định về nhà. Cần phải nói, mỗi điện thoại lúc đó bị yêu cầu thế chân 4 đến 5 triệu đồng, tương đương 4-5 cây vàng (năm 2005, giá vàng là 955.000 đồng/chỉ), nhưng đến giờ, hầu như không ai lấy lại được số tiền thế chân đó.


Chắc là Sài Gòn không chỉ là “phồn vinh giả tạo” đâu, vì sau năm 1980, ở các chợ điện tử của quận 5, quận 1, quận 10… mọc lên như nấm các cửa hàng chuyển hệ truyền hình của phương Tây, sang các hệ màu xã hội chủ nghĩa đang phát. Sự phát triển của các cửa hàng này cũng chứng minh một điều là các phương tiện bị gọi là xa xỉ vào lúc đó, đều là tài sản có sẵn của nhiều gia đình miền Nam, còn lại sau các chiến dịch đánh tư sản X1, X2, X3 mà khiến bộ mặt xã hội trở nên mệt mỏi và kiệt quệ… Cái cách sống và chọn tiện nghi cho mình, đắt tiền nhưng vẫn chấp nhận sau giai đoạn chiến tranh kết thúc, rõ là một xã hội đã quen với nhu cầu và mức sống như vậy. “Phồn vinh giả tạo” quả là không có ý nghĩa gì, khi ít phút nhìn lại lịch sử bằng sự thật.


Tuấn Khanh

15 tháng 3, 2025

Ngán Ngẫm Cuộc Đời - Nguyễn Duy Phước


 

Thursday, April 3, 2025

"Cha Đẻ Của AI" Geoffrey Hinton Đã Đa Ra Một Dự Đoán Rùng Rợn Về Tương Lai Của AI. - Huỳnh Chiếu Đẳng


Nguồn tin và chi tiết: https://www.uniladtech.com/news/ai/geoffrey-hinton-predicts-ai-will-take-over-the-world-979951-20250204?utm_source=flipboard&utm_content=topic%2Ftechnology

HCD tóm tắt bản tin :
Người đoạt giải Nobel và được mệnh danh là 'Cha đẻ của AI' Geoffrey Hinton đã đưa ra một dự đoán rùng rợn về tương lai của AI.

Geoffrey Hinton là một nhà khoa học máy tính người Anh-Canada, người có công trình nghiên cứu về mạng nơ-ron nhân tạo, nhận giải Nobel Vật lý năm 2024

Hinton đã đưa ra lời kêu gọi khẩn cấp nên nghiên cứu về tính an toàn của AI và cố gắng ngăn chặn các hệ thống AI thông minh hơn con người . Andrew Marr của LBC đã nói chuyện với Hinton về sự xuất hiện gần đây của DeepSeek của Trung Quốc và ông nhìn thấy tương lai của AI sẽ đi về đâu .
Cha đẻ của AI Yoshua Bengio trước đây đã báo động về DeepSeek, và bây giờ, đến lượt Hinton.

Hinton đã so sánh loài người với những đứa trẻ ba tuổi và gợi ý rằng chúng ta sẽ tiếp tục trao cho AI nhiều quyền lực hơn : "Sẽ không khó để bạn thuyết phục một nhóm trẻ ba tuổi nhường quyền lực cho bạn." "Bạn chỉ cần nói với họ rằng bạn sẽ được tặng kẹo miễn phí trong một tuần và thế là xong."

 

Geoffrey Hinton tiếp tục báo động về mối nguy hiểm của AI : "Điều đầu tiên cần hỏi là - bạn biết bao nhiêu ví dụ về những thứ thông minh hơn được điều khiển bởi những thứ kém thông minh hơn?" (HCD : Chắc là không, con người rồi đây sẽ kém thông minh hơn AI thì làm sao điểu khiển được nó. Đó là lẽ thường tình, con khỉ giả nhân không thể điểu khiển được con người)

Ông cho rằng chúng ta sẽ sớm có những siêu trí tuệ cạnh tranh với nhau, sẽ có một cuộc chiến giữa các siêu trí tuệ nhân tạo này.


Khi Marr hỏi Hinton liệu ông có ngụ ý rằng những siêu trí tuệ này có ý thức riêng hay không, vị giáo sư trả lời là "có": "Hiện tại, có đủ thứ mà chúng ta chỉ hiểu [một cách tối thiểu] về bản chất của con người và ý nghĩa của việc trở thành một sinh vật, và ý nghĩa của việc có một bản ngã. (When Marr pushed Hinton on whether he’s implying these superintelligences have their own consciousnesses, the professor replied 'yes': “There's all sorts of things we have only the [smallest] understanding of at present about the nature of people and what it means to be a being, and what it means to have a self.)

"Chúng ta không hiểu rõ những điều đó, nhưng việc hiểu được những điều đó đang trở nên vô cùng quan trọng vì hiện nay chúng ta đang tạo ra các sinh vật."


Ông lưu ý rằng mặc dù công nghệ mới không phải lúc nào cũng gây ra tình trạng mất việc làm trong quá khứ , nhưng AI nên được coi như cuộc cách mạng công nghiệp: "Những người làm công việc văn phòng sẽ bị thay thế bởi máy móc làm việc rẻ hơn và tốt hơn, vì vậy tôi lo ngại rằng sẽ có tình trạng mất việc làm hàng loạt."

Có lẽ khía cạnh đáng sợ nhất là ý tưởng rằng AI có thể vượt qua các biện pháp bảo vệ: "Trong thời gian chúng ta đào tạo AI, AI sẽ giả vờ không thông minh như nó đang thực sực có... Vậy nên việc chúng ta không biết cách quản lý chúng đã đủ đáng sợ rồi.

"Tôi nghĩ điều tốt nhất chúng ta có thể làm hiện nay là nên dành nhiều nguồn lực để nghiên cứu cách thức giữ an toàn ».

"Vì vậy, điều tôi ủng hộ là chính phủ buộc các công ty lớn phải đầu tư nhiều nguồn lực hơn vào nghiên cứu về an toàn."

Hinton kết luận rằng mặc dù AI có thể làm được những "điều tuyệt vời" trong ngắn hạn như cải tiến y tế, nhưng bức tranh toàn cảnh cho thấy chúng ta vẫn chưa biết cách làm cho AI trở nên "an toàn".

HCD : Lâu nay cũng đã có nhiều khoa học gia lo ngại hay run sợ chuyện AI làm chủ con người.

Theo Sáng Thế Ký thì Chúa cũng đã e ngại loài người rồi đây sẽ « quậy » nên đã làm cho loài người nói nhiểu ngôn ngữ khác nhau để chia rẻ họ ra cho đở « quậy ».
Nay loài người chế tạo ra AI, cũng đang lo sợ chúng nó « quậy », nhưng tai hại là chưa biết cách kiểm chế chúng.

Huỳnh Chếu Đẳng (Quán ven đường

ĐÀ LẠT PHỐ NÚI, Thơ Hồng Thúy, Nhạc Nguyễn Tuấn, Ca Sĩ Hà Thanh, Video Hùng Đặng

Nhớ Người Bạn Xưa - Trung Hậu



Buổi chiều, sau những ngày mưa dài lê thê, bầu trời trong vườn nhà anh có màu tím ngắt. Anh ngồi nhìn đọt cây mùa đông, những chiếc lá cuối cùng không hiểu sao mang lại cho anh một cảm tưởng của chiều hoang biền biệt.

Đứa con gái đi đâu về hỏi ba làm chi đó, làm thơ hả. Anh cười buồn nói “không con”. Hôm nay trời chiều ở đây tự dưng lại tím, như chiều xưa bên giòng sông Vu Gia. Thuở đó khi bóng tối ùa về lúc một chút cuối cùng của mặt trời còn rớt lại trên giòng sông, lúc bụi sim rừng trổ hoa chiều, lúc canh gác đêm bắt đầu là lúc anh thấy chiều hoang biền biệt.

Thuở đó trong những chiều hoang anh thường nhớ về thành phố có những con đường quen chân xanh màu lá kiền kiền, những sân trường áo trắng của người chưa mười bảy. Những chớp mắt nhìn nhau. Những quay đi hay hay màu má đỏ.

Bây giờ lúc chiều tím là lúc anh nhớ nhiều về những người ở lại. Những người nằm xuống bên những giòng sông. Sông Thạch Hãn. Sông Mỹ Chánh. Sông Bồ. Sông Thu Rơi. Sông Vu Gia. Sông Cỏ May. Những người thở những hơi thở cuối cùng trong tím cả chiều hoang, và rồi như mây bay đi biền biệt.

Anh có thằng bạn lính nhỏ hơn anh một tuổi. Tăng Văn Năm. Người nam chính cống. Nó có tật quáng gà. Mỗi ngày đến lúc chập choạng hoàng hôn là lúc hắn không còn nhìn thấy gì hết nữa. Tụi bạn anh chơi ác hay diễu nó là cái thằng con gia đình bác Tám mà cứ đòi làm sang đi Nhảy Dù,chiều nào cũng hát tím cả chiều hoang biền biệt. Thằng Năm hiền, nó cười, nói với tôi rằng:

– Con nhỏ em thương, nó thích màu nón đỏ.

Mỗi lần tới phiên thằng Năm đi gác khi choạng vạng thì phải có một thằng khác nắm tay dẫn nó ra chổ gác. Và khi thằng Năm xong phiên gác thì phải có đứa mò ra ngoài phòng tuyến dắt nó vô. Thằng Năm hiền. Cả trung đội 1 thương nó như thằng em út.

Trong trí nhớ của anh buổi chiều Thượng Đức đó cũng tím như chiều hôm nay. Anh mang máy hướng đồi 383 mà chạy nước rút. Chinh Nhân đích thân dẫn trung đội 1, 2, 3 dứt điểm ngọn đồi bao cánh trái của cao điểm 1062. Ngang lưng đồi anh có thấy một đám tải thương đi xuống. Thằng Ớt cỏng thằng Năm. Một viên 12 ly 7 xuyên ngang cổ họng thằng lính Nhảy Dù hiền từ. Thằng Ớt cằn nhằn: “Mẹ, đồ đui mà cũng cố xung phong”. Thằng Năm còn tỉnh lắm. Nó cười cười: “Cho em xin điếu thuốc”. Anh thấy lo âu. Những thằng bị thương nặng mà tỉnh như vậy thường hay đi hoảng.

Trời tối hẳn khi đại đội 92 thanh toán xong ngọn đồi 383. Toán tải thương buổi chiều cũng vừa về. Anh nghe tiếng thằng Ớt chưởi thề loạn xạ:

– Đù má, thằng nào chôm cái nón đỏ của thằng Năm thì tao quýnh thấy mẹ. Để tao gửi cho anh Phương mang về cho em của nó.

Thằng Năm tím cả chiều hoang, chiều hôm đó nó ra đi biền biệt.

Sáng nay, ngày 5/3/2011 lên internet tình cờ tìm ra mộ bia người đồng đội cũ, nhìn tấm hình mà điếng lặng cả người. Cắn môi rươm rướm. Năm ơi tao mới viết mấy chữ về mày tháng trước đây thì bây giờ lại thấy hình mày. Có phải mày sống khôn thác thiêng về thăm tao hả? Mộ bia mày nhắc cho tao nhớ chặng đường đi qua trải máu xương của tụi mình là chẳng phải chiêm bao. Năm ơi vết thương của mày 37 năm tao vẫn còn đau.


Trung Hậu

Wednesday, April 2, 2025

Di Chứng Bệnh Tâm Thần Bởi Thù Ghét Trump


Nếu Joe Biden/Kamala Harris và đảng Dân Chủ có "tài" thì TT Trump không thể thắng được mùa bầu cử vừa rồi, thế mà các bạn chưa hiểu sao? Bởi vì người dân và cử tri chán ngàn sự bất tài vô dụng của cặp bài trùng Joe Biden và Kamala Harrishiểu... các bạn hiểu chưa?

Dưới triều đại của Joe Biden 4 năm đánh thuế nặng nề, nhưng các bạn im như hến. Ngược lại TT Trump đưa ra chính sách giảm thuế cho toàn dân, thì các bạn lên gân cuống họng gào thét chửi bới, nhục mạ TT Trump tưng bừng. Khó hiểu thật!


Thời của Joe Biden làm tổng thống nỡ lòng nào bỏ hai phi hành gia trên không gian 9 tháng không cứu, Trong khi TT Trump mới lên hai tháng đã cố gắng phải nhờ Elon Musk đem phi hành gia về lại trái đất, Không hiểu các bạn lúc này ở đâu, làm gì, không phổ biến tin tích cực, vĩ đại ngành không gian của Hoa Kỳ, ngược lại các bạn chửi Elon Musk là thằng ngu. Elon Musk phú giàu nhất hành tinh, vừa rồi đưa phi thuyền tư nhân lên cứu phi hành gia kẹt ở trạm vũ trụ mà cả NASA và thế giới không ai làm được, Elon Musk phát mình nhiều công ty kỹ nghệ bậc nhất thế giới đang cung phụng cho nhân loại những khoa học chưa từng có, mà các bạn cho là Ngu, các bạn làm được điều gì ngoài chửi bới, hỗn láo nếu không muốn nói là mất dạy?

Khi làm Tổng thống, Joe Biden hứa trước Quốc Dân sẽ không ân xá cho thằng con hút sách, nghiện ngập thác loạn, trời đánh thánh đâm, nhưng trước khi mãn nhiệm đã ký ân xá cho Hunter Biden, nhưng không bao giờ nghe các bạn lên tiếng vấn đề này? Tại sao?

TT Trump ra sắc lệnh đánh thuế tiền "Tip", tiền giờ phụ trội (over time) giúp cho công nhân phục vụ có thêm lợi tức, ngược lại TT Trump áp thuế ngoại quốc để cân bằng mậu dịch có lợi cho nước Mỹ, thì các bạn chửi bới, bêu rếu và trêu chọc là "Thích Áp Thuế", thật khó hiểu!


TT Trump mới lên chấp chánh có hai tháng, ông quyết tâm tìm cách đàm phán cho hoà bình, chấm dứt chết chốc ở Ukraine và Nga, thì chụp mũ gán ghép TT Trump đi đêm quỳ gối dưới Putin, ngược lại Zelensky đi ăn xin, hỗn xược đối với lãnh đạo Hoa Kỳ, thì các bạn tung hô vạn tuế, ca tung hắn ta là anh hùng. Các bạn đang ở Mỹ, ăn cơm Mỹ lại đi thờ ngoại bang, hả hê khi có ngoại bang ăn nói mất dạy đối với TT Hoa Kỳ...

TT Trump mới vào tòa Bạch Ốc có hai tháng thì các bạn đưa danh sách trục xuất sao không có tên bọn di dân Lậu Tàu cộng, rồi nhục mạ, chửi bới TT Trump là hèn với Táu cọng. Các bạn có đầu mà không có não, chính sách Trục xuất của chính phủ Mỹ, các bạn biệt được bao nhiêu? Chính phủ Trump biết nên trục xuất thành phần nào trước có hại cho Quốc Gia, nhất là băng đảng Mafia, buôn lậu, buôn người, buôn ma túy chất nghiện Fentanyl giết dân Mỹ, còn di dân lậu Tàu cộng rồi cũng sẽ tống cổ đi hết. Mới hai tháng thôi mà!


Chính phủ TT Trump đóng cửa bộ Giáo Dục Liên Bang thì các bạn la hoáng lên như ai chuẩn bị giết con, hiệp dâm vợ của các bạn, và tự khẳng định con cái sắp "mất dạy". Nói như ca sĩ Việt cộng hết thời Ái Vân “cả nước Mỹ mất day”. Bộ giáo dục liên bang điều hành và trục lợi, tham nhũng, cắt phận sự điều hành vô bổ, vô ích liên bang để chuyển cho tiểu bang trực tiếp giáo dục, thì sẽ hiệu quả cho học sinh gấp nhiều lần. Các bạn có tuổi nhưng chưa một lần trưởng thành để suy nghĩ chín chắn trước khi gào thét như kiểu đã bị Mất Dạy.

Tỷ Phú Elon Musk đã bỏ công sức, tiền tài và thời gian để giúp cho nước Mỹ bớt nợ công, chặn đứng quan liêu, tham nhũng thì các bạn cổ động biểu tình, bạo loạn, đi đốt xe phá hoại khủng bố, các bạn hân hoan cho là đúng. Thật là ác tâm giả tính…


Tóm lại, các bạn trong “đoàn quân nguyên” truyền thông gốc Việt, các bạn đã và đang bị “di chứng thù ghét Trump”, cho nên dù TT Trump và nội các của ông có làm cho ích nước lợi dân đến đâu, các bạn cũng thích di chứng này, và thù ghét mãi mãi. Các bạn là con người, con người phải biết phục thiện, biết phân biệt đúng sai, tốt xấu, nếu không phân biệt được những điều cực kỳ đơn giản này, thì các bạn không khác gì là súc sinh, một loại động vật xếp sau súc vật...

Các bạn nghe như vậy, có ngại không?

 

Chris Phan 

Dỗ - Trầm Vân

Cho Người Nằm Xuống Trên Quê Hương - Phan Nhật Nam


Cảm giác Sự Chết vốn sẵn có từ lâu qua thân phận Người Lính trên Quê Hương Miền Nam Việt Nam. Đấy là Năm 1965, với cơn mưa u uất mùa hạ Miền Nam, nơi Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp. Mưa không đủ lớn, không dài lâu để cho ta có cảm giác được tẩy rửa, cuốn trôi. Mưa âm âm, ngột ngạt làm bốc dầy thêm mùi xác chết của những đơn vị gồm Tiểu Đoàn 2, Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 Bộ Binh; Tiểu Đoàn 52 Biệt Động Quân; và Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù với những người lính mà sức chịu đựng dường như vô hạn dưới khối nặng của thùng đạn, ba-lô, nón sắc, vũ khí họ mang trên vai, vác lên lưng, để từng ngày cúi gầm mặt bước xuống vùng sình lầy mênh mông, trèo lên dốc đá núi thăm thẳm, lội xuyên rừng rậm ngút ngàn không tiếng nhỏ than van, ghìm lại hơi thở dài nặng nhọc... Tất cả những người lính cao thượng khắc kỷ vừa kể ra vào những ngày của tháng 6 năm 1965 ấy đã là những xác chết căng cứng, da tím sẫm bốc mùi xanh xao tanh tưởi... Những khuôn mặt, dạng người tinh anh tươi trẻ của tuần, tháng trước biến dạng thành những khối thịt ủng lầy máu sẫm, đất bùn đỏ, nhầy nhụa thêm bởi thấm mưa của bao ngày nằm nơi đụng trận, một chốn gọi là xã Đồng Xoài, Quận Đôn Luân, Tỉnh Bình Dương, nơi chỉ xa Sài Gòn khoảng năm-mươi cây số đường chim bay.



Rồi từ Giao Thừa Mậu Thân, bắt đầu ở Huế, ngõ Âm Hồn, lối đi ra đường Mai Thúc Loan, hướng Cửa Đông Ba. Khoảng đường u thẫm chập dầy bóng đen đêm Xuân 1968... Với tình thế nguy biến qua cảnh tượng người lính xao xác chạy dọc những khu nhà đổ nát, vừa chạy tránh đạn, vừa kéo xác đồng đội... Người Lính kéo xác đồng đội ngang qua căn nhà có xác người đàn bà chết trong vị thế quỳ trước chiếc bàn thờ xiêu đổ tung toé, hẳn đang khấn lạy, cầu xin... Nhưng còn có những xác chết chỉ còn thân người, bởi chiếc đầu đã bị cắt lìa, vất tung đâu đó. Bên cạnh, thây cô gái tóc dài lây lất, khuôn mặt chỉ còn những tảng thịt rời rã. Nhận biết đấy là người thiếu nữ do chiếc áo dài trắng và áo len màu tím than, màu riêng biệt đặc trưng của người thiếu nữ xứ Huế. Nhưng, như một an ủi khốn cùng, dù ở Huế, hay quanh ngoại ô Sài Gòn, vùng Nhị Bình, Thạch Lộc, Hóc Môn, Gia Định trong dịp chiến loạn Mậu Thân 1968, người sống vẫn còn khả năng phân biệt đấy là xác chết của lính hay của dân; của dân chúng Huế hay gã bộ đội Sinh Bắc-Tử Nam, hoặc cán binh Mặt trận giải phóng... qua áo quần, dạng tướng, đôi dép Nhật làm ở Chợ Lớn, giày botte de saut của lính Cộng hòa hay loại dép râu mang theo từ Miền Bắc của bộ đội cộng sản. Thây chết nằm suốt dọc cù lao sông Sài Gòn chảy qua Bình Phước, Bình Triệu, Thạnh Lộc, Nhị Bình, Gò Vấp... Cả một vùng hoa mai tàn tạ trong ánh nắng lung linh mùi tử khí.

Tiếp đến năm 1972, cảnh chết trên quê hương miền Nam tăng vụt cường độ với bất hạnh, tang thương nhân lên gấp bội phần cho dù trí tưởng tượng về tình huống khốn cùng từ lâu đã được người Việt hằng mang nặng, chuẩn bị gánh chịu. Trên chín cây số từ La Vang, nam Quảng Trị đến Cầu Trường Phước lớp nhựa đường đã hoàn toàn chảy nhão, đun nóng sôi bởi một thứ lửa nhân tạo. Lửa được cháy lên do từ áo quần, tay nải, bao bị, gồng gánh, và tế bào thịt da của người tẫm vào lưỡi lửa của xe cộ, xăng nhớt. Tất cả biến thái nên thành ngọn lửa bền bỉ âm ỉ. Thế nên trên quãng đường chín cây số nam Thị Xã Quảng Trị mà giới báo chí Miền Nam đặt nên tên đau thương Đại Lộ Kinh Hoàng hoàn toàn không còn dạng thây ma để được gọi nên là xác chết, mà chỉ là những mảnh xương cốt rời rã, lăn lóc, lẫn lộn đất, đá, cát vương vãi dưới gầm khung xe cháy nám, nơi ổ súng cong queo, sau những bụi lùm trơ trọi, những gò, đụn oan khiên mà ổ mối đùn lên gây tanh mùi máu.

Trong cùng lúc, vào thời điểm đầu mùa Hè, 1972 ở An Lộc nơi Bệnh viện Tiểu Khu Bình Long cũng xẩy ra tình cảnh kinh hoàng đau thương tương tự. Vì pháo binh yểm trợ cho các sư đoàn 5, 7 bộ binh cộng sản đã học được một kinh nghiệm hữu dụng: Ban ngày chỉ pháo xuống nhiều điểm bên trong thị xã để dân chúng tin rằng bộ đội giải phóng không pháo kích vô chỗ bệnh viện! Nhưng vào ban đêm, Trường Trung Học Cộng Đồng, Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long... nơi lớp lớp người bị thương đang lê lết trong bãi máu, giữa những người hấp hối để cầu sống sót, cầu được lúc bình yên. Cho dẫu bình yên được chết... Những nơi nầy biến thành những điểm tập trung của pháo binh cộng sản. Điễn hình chỉ trong một đêm 10 Tháng Tư, 1972 đã có hơn tám ngàn quả đạn 130 ly rơi xuống xé toang đám xác người. Người sống lẫn kẻ chết, tất cả đồng tung lên ngật ngật với thân thể con người chỉ còn là những mảnh vụn tơi tả lẫn với bụi, khói, mảnh thép.

Chiều ngày 28 tháng 4, với tình cảnh sống-chết đan kín, xen kẻ cùng nhau trong suốt chặng đường dài hơn một thập niên như trên vừa kể ra... Tất Cả Hiện Đủ Trong Buổi Sáng Ngày 30 tháng Tư Năm 1975. Sự Chết bắt đầu trùm chiếc cánh tối tăm hung hiểm lúc 6 giờ 15 chiều ngày 28 tháng 4, khi chuỗi bom dưới cánh của những chiếc A37 do viên phi công phản trắc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn rơi xuống phi đạo Tân Sơn Nhất. Đạn phòng không bắn lên, phi cơ F5 đuổi theo muộn màng, vô vọng. Cửa ngõ tháo chạy của Sài Gòn đóng sập lại. Cuối cùng, Tân Sơn Nhất thật sự vùng vẫy, hấp hối, chìm dần trong lửa hoả ngục khi dàn đại pháo, hỏa tiễn cộng sản từ Đồng Dù, Củ Chi, ranh giới Hậu Nghĩa, Gia Định bắt đầu đổ xuống không ngắt nhịp. Từng trái đạn 130 ly, từng hỏa tiễn 122 ly chính xác rơi xuống. Tân Sơn Nhất vật vã, co quắp, rã chết, sụp vỡ, hấp hối trong khói đen, lửa ngọn. Cuộc hành hình kéo dài từ 1 giờ sáng ngày 29 tiếp tục đến rạng đông. Ở căn cứ DAO, Văn phòng Tùy Viên Quân Lực Mỹ, ba ngàn người tỵ nạn chờ đợi di tản bằng C130, hoặc C141 qua Guam đưa mắt nhìn lên trời, giữa vũng lửa, đếm rõ từng viên đạn pháo rơi xuống. Đống hành lý khổng lồ gồm quý kim, vàng, kim cương, giấy bạc Năm Trăm Trần Hưng Đạo của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam; giấy bạc đô-la của ngân khố Mỹ. Tất cả cùng trộn lẫn với thịt da thân thể người thành một thứ pháo bông tan tác bay tung toé, hiện thực nơi trần thế cảnh địa ngục vô vàn mà nhà thơ Dante người Ý đã diễn tả qua thi ca.

Sáng 29 tháng 4, những tướng lãnh đã ra đi, những sĩ quan cao cấp cũng rời bỏ nhiệm sở, đơn vị. Nhưng, Trung Úy Phi Công Trang Văn Thành còn lại. Thành có danh hiệu Thành mọi bởi nước da ngâm đen quá độ ra chỗ đậu tàu.. Anh nổ máy chiếc C119 Hỏa Long, đơn độc bay lên trời xanh bảo vệ, cứu viện Tân Sơn Nhất. Từ trên cao, Trung Úy Thành thấy rõ những vị trí pháo của binh đội cộng sản.. Anh nghiêng cánh, chúc mũi chiếc Hỏa Long căm phẫn trút xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả hỏa lực cơ hữu của hai khẩu đại bác 20 ly gắn dưới cánh. Lửa nháng lên dưới thân tàu, toán phòng không cộng sản phản pháo, nhưng không kịp, Thành bình tĩnh, tài giỏi lách ra khỏi vùng hỏa tập lưới đạn của giặc. Anh đáp xuống lại phi đạo thân yêu quen thuộc đang bốc khói mù bởi cuộc dội bom chiều hôm trước, và cuộc pháo kích cường tập từ sau nửa đêm về sáng của ngày đau thương tang tóc nầy. Mặc, Thành một mình tự tay nạp đạn vào tàu, anh trở lại bầu trời trên phi cảng Tân Sơn Nhất - Cửa ngõ của Miền Nam. Anh nhìn xuống những vị trí pháo cộng sản mà giờ nầy tạm ngưng hoạt động vì vừa bị anh tấn công.. Hóa ra cả một quốc gia chỉ còn được lần cứu viện bi hùng tuyệt vọng nầy. Thành chúc mũi tàu, bấm chặt hệ thống kích hỏa bên cạnh chỗ ngồi, một mình anh lấy đường nhắm.. Một mình anh.. Phải chỉ một mình anh - Trung úy Trang Văn Thành, Thành Thiếu Sinh Quân. Thành hạ thấp hơn để đường đạn thêm phần chính xác. Thân tàu rung mạnh.. Lửa! Lửa! Lửa cháy ngang cánh trái con tàu, ngay bình xăng, sát cạnh ghế ngồi.. Thành giật mạnh chốt thoát hiểm để bung thân ra khỏi con tàu. Tất cả kẹt cứng. Anh dùng tay đẩy cửa buồng lái phóng mình ra, chiếc dù bung mạnh.. Các múi, dây dù vướng vít rối rắm. Thành bị giữ chặt bởi chiếc dù và khung cửa. Lửa bừng bừng! Lửa ào ạt... Người phi công chìm trong lửa, gục chết giữa không gian trên quê hương.

Sáng 30 tháng 4, năm 1975. Sàigòn vắng lạnh. Trời bỗng nhiên trở mưa. Cơn mưa ngắn, từng giọt khô nồng, u uất. Chiếc xe Zil Trung Cộng từ hướng đường Trần Hưng Đạo, chạy chậm rãi qua bùng binh chợ Bến Thành. Những người đi đường nhìn lên, ngó mông trống trải. Xe tới trước thềm Hạ Viện, đám thiếu nữ dáng dấp nhà nông nhẩy xuống, một người đội mũ tai bèo, chắc là người chỉ huy trung đội lính phụ nữ, từ ca-bin xe bước ra, chỉ chỏ, ban lệnh, kéo từng người vào vị trí gọi là “chiến đấu”... Các đồng chí, các đồng chí... bố trí đây nì, sẵn sàng tác chiến... Giọng người vùng miền Bắc Trung Việt cấm cẳng, the thé. Những thiếu nữ thôn quê ngồi bất động nghiêm trọng. Tất cả đều mặc áo quần mới, áo mầu xanh dương, quần đen, vải nội hoá còn nguyên dấu hồ, dây đạn đeo chéo qua thân, miết xuống những thớ thịt ở ngực, phần bụng. Băng đạn trên thân người mới tinh màu đồng đỏ au.

Từ Công Trường Lam Sơn, đầu đường Nguyễn Huệ, đám đông dần tập trung để xem mặt “bộ đội Việt cộng”. Thêm hai xe đổ quân trước rạp Rex. Lính cộng sản nhẩy xuống, chạy vội vào hàng hiên, nằm, trườn, bò, nháo nhác. Tiếng đập đục rầm rập từ những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt lay động, phá bung, những tấm kiếng tủ lớn bị đập vỡ, đồ đạc kéo lê hỗn độn, vội vàng trên mặt đường. Người mỗi lúc mỗi đông. Người dồn dập ùn ùn, la ó, chưởi thề, giành giựt. Đám đông chạy về phía Building Brink, khu Đồn Đất, nhà thương Grall, những nơi có cơ sở của Mỹ kiều, những văn phòng mà chủ nhân đã bỏ đi. Bất chợt, tất cả lắng lại để nghe rất rõ.. Có người tự tử. Có người mới bắn chết. Ai? Lính hả? Không biết, chỉ thấy mặc đồ lính mình. Ở đâu? Ở ngoãi, chỗ tượng Thủy Quân Lục Chiến.. Lời trao đổi đứt khúc, vội vã, mất hút giữa những tiếng thở dồn dập, bước chân cuống cuồng nôn nóng của đám đông đang hăm hở tiến tới những kho hàng, cơ sở đầy ắp vật dụng, thức ăn, rượu, bia. Tiếng súng nổ, đạn bay lên trời... Và những gã thanh niên mang băng đỏ dẫn đám lính cộng sản chạy lúp xúp vào cổng Tòa Đô Chính. Phía khối tượng đài Thủy Quân Lục Chiến thấy hình hài một Người Lính vừa tự sát. Buổi Sáng 30 tháng Tư, 1975, chen giữa âm sắc xích xe tăng đổ nhào cửa Dinh Độc Lập có tiếng nổ khô nhỏ của viên đạn ghim vào, nằm sâu trong đầu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn Long.

Trước cổng Trại Nguyễn Trung Hiếu, hậu cứ Tiểu Đoàn 1 Dù, Thiếu Tá Trần Công Hạnh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 Dù tròng mắt khô khan ráo hoảnh sau bao ngày đêm không ngủ sáng lên ánh mắt dứt khoát quyết định ở lại với những lính của đơn vị khi lắng nghe báo cáo cuối cùng của đại đội giữ Ngã Tư Bảy Hiền vừa bắn cháy thêm hai xe tăng của quân Miền Bắc... Có một xác con trẻ trần truồng không biết ai ném ra từ bao giờ lên mặt đường. Một cô gái mặc áo dài trắng nữ sinh đi đến, gác chiếc xe đạp mini cạnh lề đường, bình thản, thành thạo đưa máy ảnh lên, lấy góc cạnh chụp thây đứa trẻ chết. Tay đứa bé mà giờ nầy đã miết xuống mặt nhựa đường do đám người chạy loạn từ khu Ngã Tư Bảy Hiền giẫm lên. Cô gái nhỏ giải thích: Chụp để làm chứng tội ác Mỹ-Ngụy trước khi bọn chúng rẫy chết! Hóa ra Sự Ác do cộng sản giáo dục có thể chụp xuống lòng người mau chóng đến thế sao?” Bấy giờ chỉ mấy mươi phút sau lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. 

 

Một trung đội lính Dù mà thật sự chỉ khoảng hơn một Tiểu đội giữ nhiệm vụ an ninh cư xá Sĩ quan Bắc Hải đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, trước 1972 là Tư lệnh phó Sư đoàn Dù. Chuẩn Tướng Hậu đang trải chiếc bản đồ trên mui xe jeep, bàn tính với những viên sĩ quan. Khi biết lệnh đầu hàng đã thi hành, ông vất tung chiếc bản đồ, gầm lên lời nguyền rủa.. Dẫu vừa nhận lệnh.. Anh em ai về nhà nấy từ Tiểu Đoàn Trưởng Hạnh. Nhưng viên Thiếu úy trả lời quyết liệt: Tôi không đầu hàng, tôi với trung đội sẽ ra bến tàu tiếp tục chiến đấu... Thiếu úy Huỳnh Văn Thái tập họp trung đội, hô nghiêm, xếp hàng, ra lệnh di chuyển. Trung đội lính ra khỏi cư xá theo lối cổng Đường Tô Hiến Thành, rẽ vào Nguyễn Tri Phương, đi về phía chợ Cá Trần Quốc Toản, hướng bến tàu. Nhưng những Người Lính Nhẩy Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái không ra đến bến Bạch Đằng, khi tới đến bùng binh Ngã Sáu Chợ Lớn, họ xếp thành vòng tròn, đưa súng lên trời đồng hô lớn... Việt Nam Cộng Hoà Muôn Năm.. Con chết đây cha ơi! Và những trái lựu đạn tiếp nhau bừng bực nổ sau lời hô vĩnh quyết cùng đất nước Miền Nam.

Cùng lúc, trong ngõ nhỏ băng ra Chợ Ông Tạ, tại một căn nhà đã diễn nên hoạt cảnh uy nghi bi tráng của cả một gia đình quyết tử cùng vận nước. Thiếu Tá Đặng Sĩ Vĩnh thuộc Khoá 1 Nam Định, chuyên ngành tình báo đặc biệt, biệt phái ngoại ngạch qua ngành viễn thông, phụ trách đường dây quốc ngoại. Người con trai lớn của gia đình, Trung Úy Đặng Trần Vinh sĩ quan Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu. Hai người cùng trao đổi lời đối thoại sau khi có lệnh đầu hàng. Tùy con, riêng bố đã quyết như đã nói với con từ trước. Nếu bố đã quyết như thế, con và các cháu cũng đồng lòng. Toàn gia đình uống chậm những liều thuốc độc cực mạnh đã chuẩn bị từ trước. Cuối cùng Trung Úy Đặng Trần Vinh kết thúc bi kịch với viên đạn bắn tung phần sọ não sau khi đứng chào tấm Đại Kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ với lời hô khiến sông núi cũng quặn thắt thương đau. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm!

Ở Vùng IV, đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long, chị Nguyễn Thị Thàng vợ một Nghĩa Quân Đồn Giồng Trôm, thay chồng giữ đồn đến trái lựu đạn cuối cùng. Chị kết thúc đời mình bên cạnh thây của chồng, các con, với những vũ khí, máy truyền tin đã bị phá hủy.. Không để cho Việt cộng một cái gì cả! Người chồng đã dặn chị trước khi lâm tử. Cùng lần với những danh tướng vị quốc vong thân Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn... rất nhiều người không ai biết cấp Thiếu, Trung úy kể cả binh sĩ, hạ sĩ quan,.. cũng không thiếu những người dân, những người dân thường đã chết cùng lần vĩnh quyết Miền Nam. Phần những người còn sống nơi Miền Nam phần lớn, nếu không nói là hầu hết sau khi đã đi qua biên giới tử sinh nầy đều có mặc cảm phạm tội - Tội đã sống sót. Đấy là cảm ứng có thật kể từ ngày 15 tháng 3 khi nhìn đoàn người di tản dọc Tỉnh Lộ 7 từ Pleiku về Phú Bổn, xuống Tuy Hoà. Khi đứng trên Đèo Hải Vân ngày 25 tháng 3, chứng kiến đoàn người chạy loạn từ Quảng Trị, Huế vào Đà Nẵng. Khi nghe ra tiếng hờn đau ai oán của người đàn bà chân trần, tóc rối, lật vạt áo dài ra để thấy đứa con nhỏ đã chết từ lâu trên tay. Sáng 30 Tháng Tư, mỗi người Việt nơi Miền Nam từ hoàn cảnh riêng hiểu ra một Mối Đau Chung - Mối đau lần chết thật với Miền Nam.

Người Nhật là một dân tộc vĩ đại qua nghi lễ hiến tế, tức Sepuku (mổ bụng tự sát) khi danh dự cá nhân, tập thể, tổ quốc bị xúc phạm. Dân tộc Việt Nam không có nghi thức uy hùng, dũng cảm ấy. Tuy nhiên, Người Việt cũng có phương thức riêng để bày tỏ Lòng Yêu Nước, cách gìn giữ phẩm giá Con Người. Người Việt xử dụng Cái Chết để chứng thực nguyện vọng kia qua cách thế im lặng và đơn giản nhưng không kém phần cao thượng. Cuối cùng, bi kịch không chỉ xẩy ra với thời điểm 30 tháng tư, 1975 mà sau đó, suốt hai thập niên 70, 80, hai triệu người Việt Nam, không phân biệt người Nam, hay người Bắc những người đã sống lâu dài dưới chế độ cộng sản Hà Nội từ 1945, từ 1954... Tất cả đã cùng phá thân băng qua biển lớn, xuyên rừng rậm vùng Đông-Nam Á, với giá máu 600.000 người chết trên đường di tản ra khỏi nước. Hóa ra Dân Tộc Việt, những người Việt Nam bình thường đã đồng lần thực hiện một điều mà họ không hề diễn đạt nên lời: Chết vì Tự Do để bảo vệ Phẩm Giá, Quyền Làm Người. Người Việt Nam đã và đang hiện thực điều mầu nhiệm nầy qua từng ngày vượt sống trên quê hương khổ nạn, với chính thân xác của mình. 41 năm sau Ngày 30 Tháng Tư ý nghĩa cao thượng nầy vẫn luôn hiện thực với những thế hệ Việt thứ hai, thế hệ người Việt thứ ba...


Phan Nhật Nam
Ngày 30-4-1975 của 41 năm sau  

Những Kỳ Quan Thế Giới

Corsica, France 

Queen Victoria Clock in Chester , England

Prague

Secluded beach Amalfi Coast, Italy

River Seine, Paris

Milan, zodiac sundial, 1768 created by the Accademia di Brera - Summer solstice the rays strike the bronze on the floor and for Winter solstice it stretches to the meridian.


Assos, Kefalonia Island, Greece

Millau Viaduct, France

Switchback Mountain, Tianman Hwy, China 

Lighthouse in Sunderland, England

Gate opening to Lake Como, Northern Italy

Astronomical clock, Prague, Czech Republic

St. Petersburg, Russia, up close

Pulpit Rock, Norway

Sheep Highway, Ireland

Dorset, England

Turquoise River, BC , Canada

Vinhedos do Douro. Portugal

Artic Cathedral, Norway

Peles Castle, Romania

Underwater Roller Coaster in Japan (No, thank you!)

Victoria Falls, Africa

Ireland

The Kremlin, Russia

Micheldever Wood, Hampshire, England

Rocky village, Liguria, Italy

Basque, Spain

Balls Pyramid off the Eastern coast of Australia

Massive Vietnam cave discovered in 2009

Lightning on Eiffel Tower, Paris, France

 

St. Mary's Altar, Krakow , Poland

Nguồn: Internet