Sài Gòn xưa. (Hình minh họa: Facebook “Ký ức Sài Gòn xưa”)
Trong xu hướng hưởng ứng phong
trào mừng 50 năm thống nhất, do nhà nước đề ra, có không ít những ngôn luận bầy
đàn, chọn một cách tấn công: cứ nhắm vào các diễn đàn, hay bài viết đăng lại những
hình ảnh của Sài gòn hay của miền Nam xưa. Những nơi này bị các lực lượng dư luận
viên, thành phần tuyên truyền cực đoan góp lời chê bai là “phồn vinh giả tạo”,
“chỉ sống dựa vào tiền viện trợ”… Dĩ nhiên, nói một cách ngu xuẩn và không suy
nghĩ thì có muôn vàn hình thái.
Bài dưới đây, tổng hợp những dữ
liệu đã có, để nói về cụm từ gọi là “phồn vinh giả tạo,” mà gần đây ông Đảng
trưởng Tô Lâm cũng đã có dịp đính chính và trân trọng về “Hòn ngọc Viễn đông” của
thời gian đó, nhưng nay lại đang bắt gặp nhiều trong các comment định kiến đây
đó. Xin được post lại bài, giữa những ồn ào phỉ báng có chủ đích thấp kém về ý
nghĩa “miền Nam được giải phóng.”
———–
Miền Nam trước 1975 có là “phồn vinh giả tạo”?
Sau năm 1975, một trong những
cách mô tả của báo chí nhà nước mới về sự thịnh vượng của miền Nam là một xã hội
“phồn vinh giả tạo”. Cách dẫn giải của cụm từ này, đơn giản là do đô-la của đế
quốc Mỹ đổ vào, sự ăn xài phủ phê có tính giai đoạn, quan chức tham nhũng giàu
có, bọn tư bản mua bán lũng đoạn… nên xã hội miền Nam Việt Nam có vẻ đầy sức sống
nhưng trong lòng của xã hội là sự nghèo kém và lạc hậu vì bị áp bức, bóc lột.
Những quan điểm như vậy, dù thiếu
tính nghiên cứu khoa học và được dẫn đường bằng cái nhìn đay nghiến vô cớ, cũng
khiến không ít người tin vào điều này, thậm chí là căn bản lý luận của những luận
văn gọi là khảo sát miền Nam hoặc báo chí trong suốt một thời gian dài.
Cho đến khi ngôn luận đời sống xã
hội được mở rộng, đặc biệt là sau khi các mạng xã hội, blog… phát triển, luận
điệu này chìm dần, nhưng không có ai nói lại, xin lỗi hoặc có một sự tự trọng
nhất định để cải chính về đời sống thật của người dân miền Nam, nếu không nói
đó là loại ngôn luận phủ định đầy xúc phạm.
Mới đây, trong một bài viết của
nhà báo Trương Huy San, có nói về thời kỳ phát triển
viễn thông sau 1975 với một số quan chức có ý thức về tương lai đất nước, bài
viết có dẫn con số về đầu điện thoại sử dụng ở hai miền trước 1975. Theo bài viết,
con số thống kê được chính quyền mới ghi nhận lại, cho thấy trong thập niên
1960, điện thoại tư nhân đã tăng rất nhanh ở miền Nam: Năm1965, 23.377; năm
1966, 24.837; năm 1967, 27.082; năm 1968, 30.964; năm 1969, 36.150; năm 1970,
34.889; năm 1971; 38.133 máy.
Những con số này cho thấy sự phổ
biến trong đời sống dân sự Việt Nam. Đồng thời gian, các tài liệu về
lịch sử viễn thông – phương tiện điện thoại cố định ở Đại Hàn, Phi Luật Tân,
Tân Gia Ba,Thái Lan… cho thấy điện thoại cố định (landline telephone) là hầu
như chỉ dành cho các văn phòng công sở, không phổ biến cho dân dụng. Dĩ nhiên,
miền Bắc thì lại càng không có, do mọi nguồn lực đều tập trung phục vụ cho chiến
tranh chứ không là phát triển truyền thông đại chúng. Bên cạnh, việc quản lý
nghiêm ngặt các phương tiện liên lạc này vì sợ gián điệp, cảnh giác… khiến điện
thoại chỉ có ở các cơ quan, nhưng không đều.
Trong bài viết, nhà báo Trương
Huy San lập lại vài chi tiết mà nhiều người miền Nam đã biết, là “ngày 30 tháng
Một 1966, lần đầu tiên người dân Sài Gòn được xem một bộ phim Mỹ, vừa có tiếng
Việt vừa có tiếng Anh, qua 1.000 máy vô tuyến truyền hình được đặt ở những địa
điểm đông người tại Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Tín hiệu được phát đi từ hai
máy bay hiệu Constellation bay vòng quanh Sài Gòn. Hôm sau, ngày 31 tháng Một
1966, Tháp vô tuyến truyền hình đã được khánh thành tại số 7 đường Hồng Thập Tự
(nay là Nguyễn Thị Minh Khai). Cuối thập niên 1960, máy vô tuyến truyền hình trở
thành phổ biến ở các đô thị lớn và bắt đầu về tới các vùng nông thôn miền Nam.
Ngày 7 Tháng Chín 1970, miền Bắc
mới cho phát thử một chương trình truyền hình đen trắng và phải sau ngày 30
tháng Tư 1975, một số người dân ở Hà Nội, mới được “xem vô tuyến” nhờ các máy
thu hình đưa từ miền Nam ra chuyển hệ hoặc đưa từ Liên Xô và các nước Đông Âu.
Truyền thông báo chí, ngay cả của nhà nước cũng phát triển rất hạn chế ở miền Bắc.
Trong thập niên 1960, trong một xã may ra có ông chủ tịch hay bí thư là có được
chiếc máy thu thanh hiệu Xiong Mao hoặc Orionton. Sau năm 1975, những chiếc
radio bán dẫn Nhật như Standard, National… được các anh bộ đội, các cán bộ vào
Nam công tác đưa ra nhưng nó vẫn là một mặt hàng bị “nhà nước quản lý”.
Trong ký ức nhạt nhòa, tôi vẫn
còn nhớ những buổi chiều chủ nhật đón xem các bộ phim cao bồi và siêu nhân trên
truyền hình ở Sài Gòn. Bọn trẻ con vẫn hò hét và tán chuyện với nhau về những
tình tiết hấp dẫn trên TV. Truyền hình là phương tiện giải trí mắc tiền và
riêng tư nhiều hơn cả điện thoại gia đình, nhưng theo một bài viết của nhà báo
Phạm Công Luận, thì lúc đó, “Máy truyền hình đã xuất hiện tại VN, lần đầu tiên,
năm 1966. Một chiếc Denon, 12 inches, giá 16.500 đồng, 19 inches: 30.000 đồng…
Mặc dù kỹ thuật còn lỉnh kỉnh, như: vô tuyến truyền hình, chương trình cao su,
hát nói nhiều hơn hình ảnh, ti vi – một danh từ mới – đã được “khán thính giả”
VN chiếu cố kỹ. Nhà nhà đều có ti vi. Ai không có thì đi coi cọp. Ăng ten mọc
như mắc cưởi, hướng loạn trên các mái nhà, nhất là ở các tỉnh. Chương trình được
hâm mộ nhất là… cải lương và… đài Mỹ. Batman xuất hiện khắp hang cùng ngõ hẻm.
Lúc đó điện còn yếu, mỗi nhà một survolteur cho ti vi”. Một thống kê khác, cho
thấy lúc đó sức mua của người dân miền Nam rất mạnh, nên cho đến đầu thập niên
70, cứ 50 người thì có một gia đình sở hữu truyền hình.
Năm 1980 chính quyền mới thử nghiệm
phát truyền hình màu lần đầu, cố gắng nối kết giữa các hệ phát hình xã hội chủ
nghĩa và tư bản như NTSC, Secam, Pal… Năm 1983, ông thầy của tôi làm việc ở Sài
Gòn, gom góp tiền bạc mua được chiếc tivi màu 14 inch JVC vỏ đỏ. Ông kể chuyện
mình dành dụm mãi mới mua với giá gần 1, 4 lạng vàng. Mua xong, ông gửi về quê ở
Hà Nội để cho ông cụ thân sinh xem giải trí, vốn cả đời chưa thấy truyền hình
màu là gì. Thế nhưng chỉ qua tháng sau, ông nhận lại chiếc truyền hình ấy với thùng,
bao còn mới tinh. Hỏi ra mới biết, khi ông cụ nhận được quà không bao lâu, thì
xóm làng biết chuyện. Phía hội, đoàn, cả công an khu vực cũng ghé nhà, thuyết
phục cụ mỗi đêm nối dây mang ra sân cho cả xóm mấy mươi người cùng xem vì tình
nghĩa xóm làng. Đột nhiên từ chỗ có của, nhưng không được vui hưởng, mà trở
thành người hàng đêm phải quét sân, dọn tivi ra, rồi hết giờ lại dọn vào… quá mệt
mỏi nên ông cụ gửi trả tivi về Sài Gòn, nói rằng ông chỉ muốn được yên.
Về điện thoại cố định, từ giữa những
năm 80, khi liên lạc viễn thông không còn bị nhìn với ánh mắt nghi kỵ, và nằm
trong kế hoạch phát triển 1995-2000, với mục tiêu 100 người dân/1 điện thoại,
người Sài Gòn dù trải qua nhiều đợt vô cùng khốn khó, đã dẫn đầu cả nước để
đóng tiền “cọc”, đưa điện thoại cố định về nhà. Cần phải nói, mỗi điện thoại
lúc đó bị yêu cầu thế chân 4 đến 5 triệu đồng, tương đương 4-5 cây vàng (năm
2005, giá vàng là 955.000 đồng/chỉ), nhưng đến giờ, hầu như không ai lấy lại được
số tiền thế chân đó.
Chắc là Sài Gòn không chỉ là “phồn vinh giả tạo” đâu,
vì sau năm 1980, ở các chợ điện tử của quận 5, quận 1, quận 10… mọc lên như nấm
các cửa hàng chuyển hệ truyền hình của phương Tây, sang các hệ màu xã hội chủ
nghĩa đang phát. Sự phát triển của các cửa hàng này cũng chứng minh một điều là
các phương tiện bị gọi là xa xỉ vào lúc đó, đều là tài sản có sẵn của nhiều gia
đình miền Nam, còn lại sau các chiến dịch đánh tư sản X1, X2, X3 mà khiến bộ
mặt xã hội trở nên mệt mỏi và kiệt quệ… Cái cách sống và chọn tiện nghi cho
mình, đắt tiền nhưng vẫn chấp nhận sau giai đoạn chiến tranh kết thúc, rõ là
một xã hội đã quen với nhu cầu và mức sống như vậy. “Phồn vinh giả tạo” quả là
không có ý nghĩa gì, khi ít phút nhìn lại lịch sử bằng sự thật.
Tuấn Khanh
15 tháng 3, 2025