Monday, April 4, 2016

Hồn Tử Sĩ - Mimosa Phương Vinh

Viết cho tháng Tư đen. Một câu chuyện có thật đã xảy ra trong quãng đời đau khổ xưa của tác giả!
Mimosa Phương Vinh


Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn.
Chinh Phụ Ngâm
                                               
Câu chuyện xảy ra rất nhiều năm trước khi tôi còn là một người đàn bà trẻ. Sau khi Miền Nam mất vào tay cộng sản chồng tôi bị bắt đi học tập cải tạo (đó là những danh từ mỹ miều mà họ đặt ra để đánh lừa mọi người chứ thật ra phải gọi là đi tù mới đúng). Chồng đi tù, tôi về nương náu nhà cha mẹ với đứa con gái chưa đầy hai tuổi và chẳng biết làm gì để sống.Tôi thử nạp đơn xin làm lại ở một ngân hàng thì bị từ chối. Gia đình tôi thật bi đát.

Cha bị học tập cải tạo tại chỗ. Nhà có bốn người con trai thì đi tù hết ba người chỉ còn thằng em út mười hai tuổi và năm con gái chưa đứa nào có chồng trừ tôi có chồng đi tù. Chúng tôi sống nhờ sự lanh lẹ của mẹ dù trước kia cha là công chức mẹ chỉ làm việc nội trợ. Sau bảy lăm cả nhà thất nghiệp mẹ bắt buộc phải ra chợ, bắt đầu là bán đồ đạt trong nhà sau đó những người hàng xóm gởi đồ đạt nhờ bán giùm dần dần mẹ trở thành một người buôn bán chợ trời bất đắc dĩ.

Mẹ tôi cũng chẳng được tự do để hành nghề, bởi mấy bà tổ trưởng, tổ phó trong xóm gặp mẹ cứ nói xa nói gần những lời sặc mùi xã hội chủ nghĩa đại khái như bà chưa chấp hành tốt đường lối của nhà nước ta nên còn mua bán linh tinh. Bà không biết hưởng quyền lợi chính trị của nhân dân mà nhà nước đã ban nghĩa là không chịu đi họp tổ dân phố mỗi đêm. Bà chưa biết giáo dục con cái tốt theo đường lối của nhà nước vì con cái không đứa nào có việc làm.

Mỗi lần nghe bọn họ chiếu cố đến gia đình mình quá mẹ chỉ cười trừ rồi nói giả lả cho qua chuyện:
- Tụi nhỏ cũng đang kiếm việc làm ngặt nổi lý lịch gia đình tôi không được trong sạch nên cũng có đôi chút khó khăn.
 - Bà không quán triệt đường lối của nhà nước, nhà nước ta bao giờ cũng khoan hồng cả ai làm tội người ấy chịu. Các con trai  bà có tội với nhân dân thì phải đi học tập cải tạo, càng học nhiều càng tốt chứ có sao đâu. Còn các con gái bà thì không bị ảnh hưởng gì, mà nói bà đừng buồn chứ các cô ấy còn bị ảnh hưởng đời sống phồn hoa giả tạo của Mỹ Ngụy nhiều quá cần phải được giáo dục.
Mẹ tôi hỏi:
- Bà nói vậy nghĩa là sao, các con gái tôi xấu xa thế nào mà cần giáo dục thêm và ảnh hưởng đời sống phồn hoa giả tạo của Mỹ ngụy là gì?
- Chẳng qua là lối ăn mặc của các cô ấy không phù hợp với thời buổi kinh tế mới này.
Mẹ tôi cười khẩy:
- Bà muốn nói tới mấy cái quần tây tụi nó hay mặc đó hả. Thời buổi này vải vóc khan hiếm không có việc làm lấy tiền đâu mà mua vải đen. Còn người Liên Xô, họ cũng là nước xã hội chủ nghĩa mà đàn bà họ cũng mặc quần tây đó thì có sao đâu?
- Họ khác mình khác.
- Chẳng có gì khác cả cũng anh em với nhau thôi!

Mẹ tôi về nhà hay kể chuyện cãi lý với mấy trong hội phụ nữ cho chúng tôi nghe thì cha thường la rầy:
- Mẹ con tụi bây nhiều chuyện quá. Còn bà coi chừng có ngày cũng vô nhà đá mà nằm thôi trong gia đình này đi tù chừng đó chưa đủ hay sao? Ăn thua làm chi với bọn trở cờ, gió chiều nào chúng theo chiều đó.

Cha nói đến ngôi nhà đá cổ của người Pháp xây từ lâu lắm rồi, sau năm bảy lăm chính quyền cách mạng trưng dụng để làm nơi thẩm tra và giam cầm những thành phần phản động trong phường ấp. Ai nghe đến ngôi nhà đá cũng rùng mình kinh sợ.
- Ở ngoài này có hơn gì trong nhà đá. Bữa hôm đi thăm nuôi  nghe nói  mấy đứa con phải làm trâu bò kéo cày lòng tôi đau đớn quá ông ơi. Tôi đâu có muốn sống ngặt nỗi còn mấy đứa con gái, tôi chết thì tụi nó ra sao đây. Thêm mấy đứa cháu nữa, khổ quá trời ơi là trời!
Rồi mẹ khóc òa lên làm bọn tôi cũng khóc theo, cha chặc lưỡi:
- Bởi vậy tôi mới khuyên bà là phải nhường nhịn chúng nó, sông có khúc người có lúc bà ạ. Vận nước tang thương ai ai cũng khổ chứ có riêng mình đâu!

Tôi nhớ có lần theo mẹ ra chợ trời bán mấy cái áo dài, áo đầm  không còn dịp để mặc nữa. Mẹ căn dặn tôi phải trông cho kỹ không thôi bọn gian sẽ đánh cắp và khi bán phải biết nói thách để họ mặc cả, tôi cứ nói giá mình muốn bán nên không ai thèm mua. Tôi đi theo mẹ được vài ngày thì bà kết luận:
- Con thật thà quá không buôn bán được đâu!
Tôi lại mắc cở cứ dấu mặt dưới nón lá nên mẹ khuyên:
 - Không có gì phải xấu hổ, mình không đi ăn cắp thì tại sao phải mắc cở. 
Tôi vâng dạ nhưng thấy làm sao ấy, mình đang lê la ở cầu thang chợ nơi mà ngày xưa mình hay qua lại dạo chơi.
 
Tôi ra chợ trời được vài lần rồi thôi vì mẹ nói tôi không có duyên bán hàng. Mẹ nói cũng không đúng lắm vì sau này khi chồng đi tù về sinh có thêm một đứa con nữa, tôi cũng phải lăn xả vào đời để nuôi hai con. Chuyện vợ người tù cải tạo của riêng tôi còn cái đoạn hậu tràn đầy nước mắt ít ai bì kịp.

Khi chồng đi tù hơn một năm thì có lệnh của phường đưa xuống tất cả phụ nữ có chồng đang học tập cải tạo trong thành phố Đalat được làm đơn bảo lãnh chồng về, thật ra đây cũng là một trò trấn an và lừa đảo của bọn họ thôi mà sau này tôi mới hiểu bởi vì tám năm sau chồng tôi vẫn chưa về.

Chị em mừng rỡ rủ nhau qua phường làm đơn. Khai lý lịch cũng chẳng có chi là khó nhưng đến tiết mục so sánh đời sống của gia đình hiện nay với đời sống trước năm bảy lăm thì tôi bí. Tôi bèn hỏi ý kiến ông tổ trưởng viết làm sao cho chồng mau được về. Ông tổ trưởng nói:
- Chẳng có gì là khó đâu cô cứ nói sự thật thôi!
- Sự thật như thế nào hả chú?
- Sự thật là như thế này gia đình tôi trước khi giải phóng rất khó khăn về kinh tế từ sau giải phóng nhờ ơn đảng và nhà nước đời sống có phần dễ chịu, no ấm hơn nhiều!

À ra vậy mà tôi ngu quá không hiểu. Trong buổi làm đơn bảo lãnh tôi quen chị Mai Linh cũng có chồng đi tù. Chị ăn nói có vẻ nhỏ nhẹ dễ thương, chị khuyên tôi nên vào tổ hợp thêu mà làm vì trong các tổ hợp họ không chú ý đến lý lịch, lương tiền không bao nhiêu nhưng tránh được những đôi mắt cú vọ của mấy bà phụ nữ trong xóm.

Trước năm bảy lăm tôi hầu như không biết ai nhiều vì nhà tôi ở trên một con đồi nhỏ khá xa với làng xóm bên dưới. Sau này khi vào tổ dân phố thì gia đình tôi phải sinh hoạt với mọi người trong xóm và trong những buổi sinh hoạt đó là những dịp tốt cho họ dòm ngó, phê bình. Có nhiều lần họ còn đề nghị cho gia đình tôi đi vùng kinh tế mới dù cha mẹ tôi có nhà cửa đàng hoàng và đã trú ngụ gần bốn mươi năm ở Đalat. Lần đó cha tôi phản ứng mạnh, ông nói thà chết chứ không bỏ cơ ngơi mà ông đã gầy dựng bao nhiêu năm cho người khác hưởng. Thấy cha  cương quyết quá họ đành chịu thua.

Chị Mai Linh nói đúng, vào tổ hợp thêu rồi thì sáng sớm tôi đi tối mịt mới về nên không bị chú ý nhiều nữa. Tôi lại lấy cớ hàng   ngày có hưởng quyền lợi chính trị trên tổ hợp rồi (họp hành!) nên thỉnh thoảng có thể từ chối quyền lợi ở địa phương.

Mỗi buổi sáng dậy sớm đón xe lam ra phố, chỉ cái việc dành một chỗ trên xe lam cũng quá khó khăn vì chẳng còn ai biết lịch sự hay lễ độ nữa. Mạnh ai nấy dành, mạnh ai nấy chen lấn nếu người nào lịch sự thì chỉ có nước đứng ở bến xe cả ngày.

Nhìn xung quanh mọi ngườì đều không che dấu được sự nghèo đói, bần hàn. Từng khuôn mặt biểu lộ niềm lo âu, khắc khoải trong khi đó chiếc loa phóng thanh gắn trên mấy cái cột đèn cứ ra rả nói về thắng lợi của vụ mùa đông xuân, vụ hè thu. Giọng những xướng ngôn viên gằn gằn từng câu ca ngợi xã hội chủ nghĩa, ca ngợi bác và đảng. Lâu lâu tin tức ngừng lại nhường  cho những giọng ca với  âm điệu the thé chói tai trong mấy bài hát đượm mùi tử khí. Tôi còn nhớ bài Cô Gái Vót Chông với câu “còn giặc Mỹ cọp beo có còn giặc Mỹ cọp beo” nghe mà phát khiếp. Họ có biết đâu dân miền Nam đã chán họ đến đầu đến cổ, ngươì dân tìm an ủi hạnh phúc khi lén nghe đài ngoại quốc và kể chuyện vượt biên.

Đi làm mỗi tháng được chưa đến 50 đồng mà tiền xe lam đã gần 80 đồng rồi, nếu làm đủ sản phẩm thì được 12  ký gạo mua theo giá nhà nước. Tôi cố gắng làm đủ chỉ tiêu để lãnh gạo phụ với mẹ tôi nuôi con, nuôi cháu vì anh em tôi đi tù chị dâu cũng dẫn mấy đứa cháu nội về ở chung trong nhà. Mẹ tôi thỉnh thoảng còn phải đi thăm tù nữa thật là đoạn trường ai có qua cầu mới hay.

Thành phố Đalat là một thành phố du lịch nổi tiếng đẹp và thơ mộng bỗng trở nên héo hắt với những dãy phố đóng cửa im lìm. Nhiều hôm đang đi giữa phố lòng tôi bỗng quặn đau thương nhớ những ngày vui xưa. Còn đâu khu Hòa Bình với những chàng sinh viên trường Võ Bị Quốc Gia hay Chiến Tranh Chính Trị trong y phục mùa đông màu rêu đậm khi loài hoa quỳ bắt đầu thắp vàng trên những ngọn đồi trong thành phố. Hàng cây anh đào ven hồ Xuân Hương trổ hoa hồng thắm và phiên chợ mùa đông dập dìu tài tử giai nhân trên Domaine de Marie.

Phố xá vui tươi nhộn nhịp với muôn ngàn màu sắc. Nữ sinh trường Bùi Thị Xuân hai má ửng hồng trong màu áo len xanh dịu dàng. Nữ sinh trường Việt Anh với màu tím hoa cà e ấp. Những thiếu nữ  Lycée Yersin với những bộ cánh Tây Phương sang trọng hợp thời. Học sinh nội trú Couvent des oiseaux, Franciscan, Nazareth, Lasan D’ Adran, sinh viên trường Chính Trị Kinh Doanh. Mọi người đổ xô ra khu phố Hòa Bình, Café Tùng, Mékong, nhà Thủy Tạ, đồi Cù trong những ngày cuối tuần tạo cho Đalat một sắc thái đặc biệt Tây Phương mà không  một thành phố nào ở Việt Nam có được.

Bây giờ không còn gì nữa cả. Một số người may mắn đi nước ngoài, một số nằm trong nhà tù. Đalat trở nên đói nghèo, khốn cùng. Cầu thang chợ lầu trở thành tụ điểm của dân chợ trời, mọi người rủ nhau ra đó để mua bán kiếm ăn qua ngày. Công an xua đuổi nơi này họ chạy đi nơi khác, họ trở nên lam lũ, tội nghiệp không sao tả được. Tôi đi qua phố Đalat nghèo nàn, héo hắt đó mỗi ngày và nhiều lần tôi phải cúi đầu để dấu giọt nước mắt xót xa thương cho thành phố quê hương, thương cho thân phận bất hạnh của mình.
Tôi nhớ thành phố xưa
 Đôi ta qua nhiều lần
 Nắng vàng trong phố ấm
 Ôi thương thuở đời xanh.

Trong tổ hợp đa số chị em có chồng đi tù cải tạo hoặc những học sinh, sinh viên học hành dang dở hoặc có lý lịch xấu nên không tìm được việc làm tốt. Trong đó cũng có thành phần theo cách mạng lập trường vững vàng, trung thành với đảng, nhà nước tuy nhiên đa số có chút chữ nghĩa nên dù sao cũng khá hơn thành phần tạp nham ở phường ấp.

Sau này nghĩ lại thờì kỳ đi thêu tôi mới thấy rằng không xã hội nào bóc lột sức lao động bằng xã hội chủ nghĩa. Làm việc một tuần sáu ngày, tiền lương một tháng không đủ để uống hai ly sữa đậu nành mỗi ngày. Tôi không hiểu sao mình có thể sống sót được trong cái môi trường eo hẹp, thiếu thốn đó cho đến được ngày thoát ra được. Phải công nhận quả thật con người có một sức chịu đựng vô cùng phi thường.

Một ngày kia phòng công thương nghiệp đưa chỉ thị xuống cho các tổ hợp phải thi đua công tác lao động xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi góp tiền mua dây khoai lang, đọt mì để đi khai đất trồng trọt (đúng là nghèo mà gặp cái eo). Vùng trồng trọt hoa màu khá xa ở khu rừng dưới thác Prenn. Nơi đó có những cánh đồng tranh hoang vu, đất khô như đá đang chờ những cánh tay yếu ớt của chúng tôi biến thành vùng hoa màu tươi tốt! Khoai sắn đó sẽ là của tất cả chúng tôi, ăn không hết thì đem bán hay đổi thực phẩm khác và những đợt thi đua lao động đó sẽ biến chúng tôi thành những con ngươì tốt đẹp của xã hội mới vân vân và vân vân.

Bao nhiêu là danh từ hoa mỹ, bao nhiêu ý kiến rồi tập hợp đọc diễn văn, giăng biểu ngữ, rồi hoan hô vang dậy trời đất. Nhất trí. Nhất trí. Cuối cùng kéo nhau đi vào trong chân núi trồng khoai  sắn cho lũ heo rừng phá vì trồng trọt mà không có ai trông nom thì làm sao thu hoạch được.Tuy nhiên điều đó chẳng nên bận tâm, miễn có bằng cớ báo lên cấp trên là được, rồi cấp trên sẽ báo cho cấp trên nữa. Kết luận hợp tác xã, tổ hợp ngoài việc thi đua làm hàng xuất khẩu còn tranh thủ trồng hoa màu để cải tổ đời sống thêm no ấm.

Một đám đàn bà, con gái nói cười inh ỏi trang bị nón lá, giày bata quần vải ú đen, cuốc thuổng và gô đựng cơm trưa đi qua phố Hòa Bình làm cho mọi người đứng lại ngơ ngác nhìn. Trông chẳng giống ai. Vài ba câu chửi bới vu vơ, vài ba lời mỉa mai trò hề của bọn muốn lập công nên vẽ chuyện hành người. Nếu dùng hai tiếng lao động thì ngồi trước khung thêu cũng là lao động rồi đâu cần phải vác cày, vác cuốc đi vào rừng mới là lao động thật sự. Ở đời người làm việc nọ, kẻ làm việc kia chứ. Tuy nhiên nếu có ai đưa ra ý kiến thì sẽ bị kết tội phản động, đi ngược lại chính sách của đảng đề ra. Cho nên mọi người chỉ còn cách là im lặng cho đời sống dễ dàng hơn.

Khi xuống hết dốc Prenn rẽ vào con đường đất đỏ dẫn vô rừng thì đám đông thưa dần vì kẻ trước, người sau không còn hàng ngũ nữa. Tôi và Hương, người bạn gái nhỏ hơn tôi đi hơi chậm nên khi vào sâu trong rừng thì ngó trước, nhìn sau chỉ còn hai chị em vừa đi vừa trò chuyện.

Buổi sáng trong rừng thật tuyệt vời. Không khí trong lành, mát dịu thoảng thoảng mùi thơm lá thông và những loài hoa dại không tên, gió thổi nhè nhẹ trên ngọn cây, lá cỏ và nắng buổi sáng óng ả chan hòa trên vạn vật. Ai đã từng ở Đalat, đã từng đi dạo trong những buổi sáng nắng ấm, từng đắm mình trong cái không gian vàng óng như tơ, không khí mát lạnh hiền hòa của vùng cao nguyên trong khi bên tai là tiếng rì rào bất tận của ngàn thông trong mới cảm nhận được cái đẹp tuyệt hảo nơi thành phố du lịch này. Tôi và Hương trong giây phút như tạm quên đi nổi đày đọa của đời sống hiện tại. Rừng thông bao la tắm mình trong nắng lụa, tôi ngửa mặt thở thật sâu không khí trong lành rừng núi và hạnh phúc bất chợt đến trong phút giây không hẹn:
- Buổi sáng đẹp quá chị nhỉ?
- Thật là tuyệt vời. Hai đứa mình cứ tà tà rồi đến đâu hay đó hơi sức nào mà vội vàng, dễ gì hưởng được một buổi sáng đẹp như hôm nay.
Hương gật đầu tán thành:
- Ðường nào cũng đến La Mã.
- Ðường nào cũng đến lao động là vinh quang chứ!
Chúng tôi cười phá lên thật thoải mái vì xung quanh chẳng có ai cả. Chúng tôi oang oang chuyện trên trời dưới đất cho đến một khúc quanh con đường bỗng mở rộng ra và bên ven đường ngỗn ngang những thân cây to nằm la liệt vì người ta hạ cây mà chưa kịp chuyên chở đi.


Ðang vui câu chuyện chợt nghe tiếng nói cười nói ồn ào của một đám đông nào sau lưng. Có người đồng hành trên quãng đường vắng này cũng hay tuy nhiên không ai bảo ai chúng tôi đều hạ giọng thấp xuống, đám đông càng lúc càng đến gần hơn, họ trò chuyện ầm ĩ và toàn đàn ông vì tôi không nghe giọng nữ. Chắc  một tổ hợp tác nào cũng đi lao động, tôi và Hương cố gắng đi nhanh hơn, khi đến gần chúng tôi vài người trong số họ buông lời trêu ghẹo bâng quơ:
- Đi đâu mà vội mà vàng …
Tôi không dám quay lại vì dù đã có chồng, có con nhưng cũng không tránh khỏi sự ngượng ngùng với những người khác phái nhất là họ rất đông. Họ không ngớt bàn cãi những vấn đề nào đó, lúc cười đùa vang trời, lúc giận dữ la lối om sòm. Tôi nghĩ rằng họ rất trẻ.

Khi đám đông phía sau đến rất gần chúng tôi, gần đến độ tôi có cảm tưởng rằng chân họ sắp dẫm vào gót chân mình thì không hẹn trước tôi và Hương cùng dừng lại và đứng qua một bên để nhường lối cho họ. Tôi cũng tò mò muốn biết họ thuộc tổ hợp nào, già trẻ lớn bé như thế nào mà ồn ào dữ vậy.

Nhưng thật là bất ngờ ngoài sức tưởng tượng của tôi và Hương, phía sau chúng tôi chẳng có ai cả, chỉ là con đường đỏ quạch trống vắng giữa khu rừng xạc xào tiếng gió. Chúng tôi thảng thốt nhìn nhau, khuôn mặt Hương trở nên trắng bệch, hai con mắt thất thần hoảng hốt, đôi môi giật giật một cách kỳ lạ. Còn tôi nổi gai ốc khắp người và cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dài xuống xương sống. Chúng tôi nắm chặt tay nhau, một sự im lặng đột ngột bao trùm xung quanh hai đứa. Tiếng trò chuyện nãy giờ vẫn theo gót chúng tôi đã im bặt.
Giọng Hương run run:
- Họ đông lắm mà, họ đâu cả rồi!
Tôi ú ớ:
- Không biết nữa, chị nghe họ gần sát chân mình nên tránh ra cho họ vượt lên.
- Em cũng vậy, họ còn chọc ghẹo tụi mình nữa chị có nghe không?
Tiếng tôi như tắt nghẹn:
 - Dĩ nhiên cũng nghe như Hương vậy, có một người nói giọng Huế.
 - Em nghe giọng Bắc nữa, có tiếng những người Nam càu nhàu điều gì đó.
Tôi nói tiếp:
 - Họ theo sau lưng tụi mình rất lâu nên chị không nghĩ rằng mình giàu tưởng tượng đâu!
 - Tưởng tượng sao được, chuyện rành rành đâu phải chỉ một người hai chúng ta đều nghe mà!
Ðột nhiên hai đứa cùng thốt lên:
- Họ là ma chứ gì nữa!
- Ma sao lại hiện ra ban ngày nhỉ!
Hai chúng tôi cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng và thỉnh thoảng nhìn lại phía sau xem có ai đuổi theo không. Chẳng còn ai nữa cho đến khi tôi và Hương đến tụ điểm, chúng tôi vừa thở không ra hơi vừa kể cho mọi người nghe câu chuyện ở khúc quanh đường rừng. Mọi người chăm chú nghe và góp ý:
 - Hay gió đưa đến tiếng nói của một nhóm người nào đang ở đâu đó trong rừng thông.
 - Cũng có lý nhưng tại sao tất cả lại ngừng bặt khi chúng tôi khám phá không có ai ở đằng sau cả. Họ còn trêu chọc chúng tôi mà!
Một ngươì hỏi:
- Hai bạn có nghe tiếng chân nện trên đất không vì chỉ người đi mới có âm thanh.
Tôi và Hương nghệt mặt ra vì có ai để ý đến những điều vớ vẩn như thế bao giờ.
Một lát sau chị chủ nhiệm gọi chúng tôi nói:
 - Chuyện xảy ra không biết thực hư thế nào tuy nhiên chúng ta không nên để câu chuyện này lan xa vì nếu nó đến tai các anh chị trên phòng công thương nghiệp thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến công tác trồng hoa màu của chúng ta. Họ sẽ nghĩ mình muốn phá hoại việc trồng màu của phòng đề ra. Các chị em khác sẽ hoang mang khi phải đi qua quãng đường rừng đó.

Chúng tôi ấm ức, lủi thủi nhập vào đám đông để làm việc nhưng đầu óc tôi vẫn bị ám ảnh vì sự việc đã xảy ra ban sáng. Hương cũng đượm vẽ suy tư, trầm lặng. Nắng càng lên cao trời trở nên nóng nực, người nào cũng mồ hôi nhễ nhại, tôi cảm thấy quá mệt mỏi nhưng vẫn cúi đầu làm việc. Tôi biết chắc rằng mình là một kẻ lao động tồi nhất ở đây nhưng không có sự lựa chọn nào khác hơn là im lặng vung hạ cán cuốc lên xuống mặc cho thời gian trôi đi trong vùng núi non hoang vu này.

Ðến trưa mọi người được nghỉ ngơi để ăn uống, tôi và Hương đến một chỗ vắng mở gô cơm mang theo vừa ăn vừa bàn tiếp câu chuyện ban sáng. Chị chủ nhiệm ngồi đằng xa thỉnh thoảng đưa mắt nhìn hai đứa.Tôi rủ Hương:
- Chị em mình xuống dưới đồi chơi, chị thấy có mấy cái chòi kìa.
Hương tán thành ngay:
- Phải đó em cũng thấy khát nước nhiều tụi mình đi xin nước uống đi.
Chúng tôi xuống con dốc ngắn với đám cỏ tranh mọc thật dầy, một con suối hẹp chắn ngang và bên kia là căn chòi bé xíu. Một người đàn ông bước ra hỏi:
 - Các cô cần gì?
Tôi nói:
 - Chúng tôi đi xin nước uống.
Người đàn ông đến gần nhìn tôi dò xét rồi nói to:
 -A, cô Phương phải không?
Tôi đang ngạc nhiên thì bỗng nhận ra đó là anh Tiến, anh của Kim Chi một người bạn gái đã có thời gian làm việc với tôi.
Tôi mừng rỡ:
- Anh Tiến sao lại ở đây? Còn chị đâu?
- Cô ta ở nhà còn tôi làm rẫy nơi đây, mời cô vào nhà nói chuyện.
Tôi theo anh Tiến vào nhà, nói là nhà chứ thật ra chỉ là một mái lá đơn sơ với cái sạp để trong góc, cái bếp đối diện với vài ba cái ấm nồi đen thui vì khói bếp. Anh Tiến đem mấy cái ghế đóng bằng gỗ thông thấp lè tè ra mời chúng tôi ngồi, anh nhìn tôi chăm chú rồi nói:
  - Cô đi đâu mà lạc lõng chốn khỉ ho cò gáy này.
- Ði lao động xã hội chủ nghĩa với tổ hợp.
Anh Tiến gật gù:
- À ra vậy, thỉnh thoảng tôi có gặp mấy người đi lao động như cô, họ trồng trọt quanh đây nhưng không bao giờ thấy họ thu hoạch hoa màu cả.
- Sao vậy?
- Vì trồng rồi bỏ thí đó cho lũ thú rừng phá thì lấy đâu mà thu hoạch. Tôi ở đây canh chừng luôn mà còn không trị nổi mấy con heo rừng huống chi các cô.
- Họ bắt đi thì mình phải đi thôi chứ làm sao mà cãi được.
- Thì đúng là vậy đó! Thời buổi khó khăn biết nói sao!
Tôi hỏi anh Tiến:
- Còn anh sao không phụ chị mà vô đây chi cho khổ?
Có lần tôi đến nhà Kim Chi chơi thấy anh Tiến phụ vợ làm bánh kẹo bỏ mối cho mấy cửa hàng ở Đalat. Anh Tiến là Trung Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đóng ở Qui Nhơn, anh từng bị bắt làm tù binh và được thả trong một cuộc trao đổi giữa hai bên, anh vẫn còn bị ám ảnh nặng nề bởi những năm tháng trong nhà tù cộng sản.
Anh Tiến nhún vai:
- Ở đây dĩ nhiên là buồn nhưng ít thấy mặt mấy ông bà cán bộ cán cuốc trong xóm, thấy họ hoài chẳng thích thú gì.
- Còn chị vẫn làm bánh kẹo chứ?
- Chứ không lấy gì mà sống, lâu lâu biếu xén cho họ một chút để yên thân mà nuôi lũ nhỏ. Còn chồng cô ra sao?                                       
 - Đang ở Suối Máu Biên Hòa, em đi thăm được một lần cách đây hai tháng cũng chẳng biết chừng nào họ thả. Năm ngoái họ cho qua phường làm đơn bảo lãnh cho chồng, em cũng làm rồi nhưng ngày về không biết được.
Anh Tiến thở dài:
- Cũng phải ráng mà sống, cả miền Nam chứ đâu phải riêng mình.
Tôi nhìn ra vuông sân chan hòa ánh nắng trước mặt và nương rẫy của anh Tiến, cảnh trí trông vắng vẻ buồn thiu.
- Anh ngủ lại đây à?
- Thỉnh thoảng thôi, thường thì về đến nhà cũng tám chín giờ tối rồi hàng xóm chẳng ai thấy mặt. Sáng tờ mờ tôi đã ra đi, vậy mà tâm hồn mình lại bình an. Ở chốn núi rừng này cũng có cái hạnh phúc của nó chẳng ai dòm ngó. Cả ngày không có ai nói chuyện nên đôi khi tôi nói một mình, lâu ngày thành thói quen tôi cứ lẩm bẩm khi về nhà làm bà xã và các em sợ tôi bị khùng.
Rồi anh Tiến cười khằn khặc:
- Mà nói cho cùng sống với quân này riết rồi ai cũng khùng cả.
Tôi nhìn quanh hỏi nhỏ:
- Ở một mình chốn đèo heo hút gió này anh không sợ sao?
- Sợ gì?
- Thì sợ đủ thứ như ăn cướp, như ma chẳng hạn.
Anh Tiến lại cười ngặt nghẽo:
- Tôi có cái gì mà sợ bị ăn cướp, tôi không ăn cướp của người ta thì thôi chứ. Cộng sản đáng sợ hơn ma quỷ.
Tôi nhăn mặt:
 - Em kể anh nghe chuyện này, em và Hương vừa gặp ma.
 - Vậy sao?
Anh Tiến cười cười có lẽ anh ta tưởng tôi nói đùa.
Rồi tôi kể chuyện đã xảy ra với chúng tôi sáng nay, nghe xong anh hỏi lại:
 -Chỗ khúc quanh có nhiều cây bị đốn nằm la liệt phải không?
-  Đúng vậy!
Anh Tiến nói:
 - Những người làm rẫy ở đây đều biết nơi ấy có rất nhiều chuyện lạ. Buổi chạng vạng người ta hay gặp nhiều bóng người lãng vãng.
- Ai lãng vãng? Họ là ai vậy?
 -Tôi nghe kể lại vào khoảng năm 67, 68 có một số sinh viên trường Võ Bị Quốc Gia và lính đi kích nơi đó đã đụng độ với Việt Cộng, trận chiến làm chết rất nhiều người của cả hai bên. Từ đó mấy ổng hay hiện ra nơi khúc quanh lắm, tôi đoán rằng mấy ông lính đó rất trẻ, đa số chưa vợ con nên thấy mấy cô đàn bà con gái bèn ra trêu chọc vậy mà.
Chúng tôi hét lên:
- Anh nói ghê quá! Người chết rồi mà còn chọc gái à?
- Chứ sao, họ chết khi còn quá trẻ với những ước mơ khao khát chưa thực hiện được nên họ còn lang thang, lẩn quẩn ở đó. Tội nghiệp, có khi họ chưa biết mình đã chết nữa cũng không chừng.
- Nhưng tại sao họ lại xuất hiện ban ngày, đâu phải là thời gian của họ?
- Ngày đêm gì, thấy người đẹp mấy ổng quên cả luật lệ cõi âm nên chạy ra chọc ghẹo. Đàn ông con trai mà!
Tôi kiếu từ anh Tiến để trở lên đồi, anh đưa chúng tôi qua con suối rồi nhìn tôi ái ngại:
- Thôi hai cô lên làm việc đi kẻo họ tưởng mình trốn. Mà Phương này, cô cũng chẳng nên làm cho quá sức vì không có thu hoạch đâu. Thật ra cũng chẳng có ai chờ sự thu hoạch chỉ làm cho có chuyện. Chán lắm, dù sao cô cũng ráng chịu đựng cho qua cơn khổ này!

Anh Tiến đoán đúng. Sau lần đó, chúng tôi còn đi thêm nhiều lần nữa rồi thôi. Trên phòng cũng không ai nhắc đến ngày thu hoạch hoa màu, dù hình ảnh của phong trào đi lao động xã hội chủ nghĩa vẫn treo trong cơ quan, trong hợp tác xã. Ðúng là đầu voi đuôi chuột. Những lần đi sau tôi và Hương đều cố gắng theo kịp đám đông khi rẽ vào khúc quanh có những thân cây nằm ngổn ngang kia! Tôi rất sợ nếu phải gặp họ thêm một lần nữa, dù thật ra họ chẳng làm hại gì tôi ngoài những câu trêu chọc bình thường của đàn ông, con trai khi gặp người khác phái. Tuy nhiên sự khác biệt của hai thế giới đã làm cho tôi kinh hãi.

Kỷ niệm về những ngày lao động ở đèo Prenn thường mang đến cho tâm hồn vốn đa cảm của tôi nhiều xúc động. Một người phụ nữ còn trẻ xa chồng, cô đơn và lạc lõng giữa một xã hội giả dối tráo trở, sự lo âu luôn đè nặng trên hai vai, con người sống thiếu thốn từ tinh thần đến vật chất. Những buổi chiều mệt lã trở về sau một ngày đày đọa thân xác, đi qua những đồi thông vàng óng ánh nắng hoàng hôn bỗng dưng vang vọng đâu đó giọng ca của Tôn Thất Niệm trong bản Chiều Vàng của Nguyễn văn Khánh.
“Trên đồi thông chiều đã xuống rồi, mặt trời lấp ló sau đồi chiều vàng. Riêng mình ta ngồi ngắm quanh trời ngậm ngùi nghe tiếng chim chiều gọi đàn, buồn xa vắng buồn lòng thầm nhớ đến người chiều vẫn trên đồi cùng ta …Ta nén đau thương gắng bước hoài, chiều chiều nhớ ai khôn lòng nguôi.”

Ai đã từng ở Đalat chắc không thể nào quên giọng ca Tôn Thất Niệm, một giọng ca trầm ấm, truyền cảm khó có ca sĩ nào bì kịp dù ông là một ca sĩ tài tử của đài phát thanh Đalat. Khi đã nghe ông hát bài Chiều Vàng rồi thì khó có thể nào quên được. Tiếng hát Tôn Thất Niệm hòa quyện, lãng đãng với tiếng gió vi vu qua đồi thông, với sương mù là đà những sáng mai lạnh cóng hay những đêm co ro trong chiếc áo Manteau trên khu phố Hòa Bình. Tiếng hát tuyệt vời đó đã ra đi không bao giờ trở lại sau cuộc đổi đời của miền Nam và của thành phố mù sương. Cái đời sống với đầy bất trắc trước mắt hằng đêm xô đẩy tôi vào những cơn mộng dữ, tôi đã phải sống trong từng ngày tháng tuyệt vọng, mõi mòn.

Những năm tháng dài u uẩn đó rồi cũng ra đi như giòng sông nặng nề chảy cuốn theo rác rưới nhọc nhằn. Bây giờ thì tôi đã quá xa Đalat. Xa những chiều vàng trên đồi rong chơi hay là những chiều rã rời, thất thểu về nhà. Người tù cải tạo năm nào, người đã trao tặng cho tôi những ngày tháng cô đơn tuyệt vọng trong chờ đợi mỏi mòn rồi cũng như một loài chim trời cất cánh bay đi tìm một vùng trời nào đó. Tôi như kẻ bị đánh cắp môt thời tuổi trẻ mình và khó bắt đầu lại trong những tan hoang đổ vỡ của đời sống. Dù rằng tôi đã ra đi, đã chối bỏ cái nơi chốn mà đáng ra mình phải yêu thương và bám víu cho đến hơi thở sau cùng đó là quê hương.



Khi tôi viết những giòng chữ này, tháng tư sắp trở về với mọi người trên trái đất này. Tháng tư oan khiên, tàn khốc sắp trở về với dân tộc Việt Nam. Tháng tư tang thương đã xô đẩy con người vào hỏa ngục trần gian trong đó có tôi, người đàn bà vô danh tiểu tốt trong hàng triệu người dân miền Nam Việt Nam. Tôi, một trong những người bất hạnh chịu nhiều hệ lụy trong cuộc dâu bể tang thương của đất nước, tôi đã sống một thời gian rất dài hình như không có nụ cười thật sự nếu cười không có nghĩa là một động tác phô bày hàm răng. Những buổi sáng mở mắt ra đã thấy buồn co thắt con tim và những ngày dài thấp thỏm lo sợ triền miên.

Cái quá khứ đau khổ ấy vẫn ám ảnh tôi một cách dai dẳng, sâu đậm và tôi vẫn tự nhủ rằng hãy quên đi để hưởng lấy những hạnh phúc mình đang có mà nhiều người hằng ao ước. Tôi đang được sống trên nước Mỹ. Mình đang hạnh phúc nhưng có thể nào mình sẽ chôn vùi tất cả vào nấm mộ không tên rồi mặc cho thời gian mang tất cả vào hư vô quên lãng. Rồi cũng xong một kiếp người.

Nấm mộ không tên đã cố vùi lấp mấy chục năm nhưng khi đến tháng Tư lòng tôi bỗng bồi hồi như đang sống lại với cảm giác khổ sở, đơn độc ngày xưa. Tôi đang đi trong phố xưa Đalat, thành phố im lìm câm nín và những con người qua lại với khuôn tràn đầy phiền muộn và đói khổ. Giọng hát nào the thé cất lên làm không gian tê tái nhuốm thêm màu sắc thê lương, chán chường. Con đường đi sâu vào khu rừng trong những ngày lao động xã hội chủ nghĩa, những buổi trở về mệt mõi, rã rời, những buổi họp dân phố ban đêm với từng khuôn mặt hằn nét thù hận, giọng điệu chì chiết đanh thép. Họ đã tuyên truyền những gì tôi không còn nhớ hay chẳng cần phải nhớ.

Còn những linh hồn tử sĩ trên khúc quanh của khu rừng thông ngày đó. Họ đã chết rất trẻ khi những ước mơ, khao khát riêng tư chưa trọn vẹn. Có những người chưa biết đến vòng tay hay nụ hôn của một người tình. Có thể rằng họ chưa biết rằng mình đã chết như ngày nào anh Tiến nói. Họ không bao giờ già đi còn tôi người đàn bà trẻ thơ mà có lần họ buông lời trêu ghẹo nay tóc đã pha sương.

Ðứa con trai mà tôi sanh sau ngày chồng đi tù về nay đã xấp xỉ tuổi họ. Ðứa con trai tôi may mắn hơn họ vì đã lớn lên trên một đất nước Mỹ giàu mạnh chưa biết mùi vị của chiến tranh nhưng con trai tôi hoàn toàn giống họ với những mơ ước của tuổi trẻ và nhất là lòng ưu ái, thích thú khi gặp người khác phái. Nhìn con, tôi càng cảm thương hơn những người lính trẻ miền Nam đã hy sinh, đã đổ máu cho nền tự do của quê hương. Linh hồn họ hình như còn vất vưởng đâu đó và những hoài vọng của họ cũng chẳng ai cần biết đến.

Bao nhiêu năm tháng trôi qua, bao nhiêu nước chảy qua cầu. Người mẹ với cánh tay bao dung che chắn đời tôi trong những ngày khốn khổ giờ đã nằm yên nghỉ trên ngọn đồi tĩnh lặng trong thành phố quê hương, bên cạnh cha người đàn ông đã chia sẻ với mẹ gần sáu mươi năm trên con đường trần gian với vạn nỗi trầm luân này. Anh em chúng tôi mỗi người mỗi ngã trong những xứ sở xa lạ nào chưa một lần đoàn tụ dưới mái nhà xưa. Mái nhà có giàn hoa tím trước cổng và cây hoa ngọc lan hương thơm ngan ngát, mái nhà tôi vào ra suốt thời tuổi nhỏ và là nơi tôi về nương náu quãng đời giông tố trong trái tim yêu thương của mẹ hiền.

Tôi chưa trở về Ðalat lần nào để thăm viếng. Nhiều người nói Ðalat bây giờ thay đổi nhiều và đẹp lắm nhưng cũng có nhiều người nói những lời hoàn toàn ngược lại bây giờ Đalat nhà cửa xây cất vô trật tự, thiếu thẫm mỹ và không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày xưa nữa. Tôi chỉ nhớ ngày tôi ra đi Ðalat vô cùng nghèo nàn, héo hắt như con đường Phan Ðình Phùng sình lầy nước đọng sau những cơn mưa.

Dù sao tôi cũng muốn về Đalat một lần, đi trên đồi thông để hồn chìm lắng trong giọng ca dĩ vãng. Ði qua vùng bờ hồ để nhớ những ngày giông bão, đọa đầy cũ. Tôi ước mong sẽ có một lần trở lại khu rừng nơi có những oan hồn tử sĩ lẩn quẩn để thắp lên nén hương hoài niệm, tạ ơn những anh hùng vô danh đã hy sinh cho nền tự do của miền Nam. Trong đó có những oan hồn, yểu tử phía bên kia thì cũng cầu xin cho họ sớm siêu thoát vì dù sao họ cũng chỉ là nạn nhân của một chủ nghĩa đầy tham vọng không tưởng mà thôi. Trong thế giới người chết chắc chẳng còn thù hận nữa.

Họ đã chết thế là xong, chỉ trách cho những người còn sống đã từng thấy, đã từng đi qua con đường thê lương, đoạn trường của một dân tộc mà vẫn mang tâm trạng mù lòa. Họ làm như đã quên đi tất cả hay tệ hại hơn còn muốn sơn phết tân trang lại những thối rữa của quá khứ mà đã có một thời họ đâm đầu chạy trốn.

Có những kỷ niệm quá đau thương, quá tàn nhẫn biết phải chôn lấp chúng nơi đâu trong ký ức. Xin một lần ngậm ngùi đọc lên một đoạn thơ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của bà Đoàn thị Điểm và xin trang trọng gởi một chút tâm sự mộc mạc đến những ai vẫn còn mang trong tâm hồn vết hằn đau thuở nọ để gọi là chút duyên tri kỷ của những người đồng điệu/.

* Chinh Phụ Ngâm Khúc do bà Đoàn Thị Điểm diễn Nôm từ nguyên tác của Tiên Sinh Đặng Trần Côn.
  
Mimosa Phương Vinh

Đóa Hoa Tình Vỡ - Thơ Trầm Vân - Nhạc: Biệt Ly - Linh Thủy Thực Hiện

Thơ: Trầm Vân
Nhạc: Biệt Ly - Dzõan Mẫn 
Tiếng hát: Tuấn Ngọc 


Sunday, April 3, 2016

Hoa Đồng Nội - Dương Thảo



Một trong những loại bông đặc trưng luôn gắn liền với mùa nước nổi là bông điên điển.  Mỗi năm một lần, bông điên điển nở vàng rực khi nước tràn bờ. 


Buổi sáng bông còn búp, trưa nở, chiều rụng dần xuống nước. Vì vậy, muốn tận hưởng hương vị ngọt bùi của loại bông này, người ta phải đi hái từ lúc sáng sớm. 

Bông điên điển làm món gì cũng ngon, đem xào tép hay thịt ba rọi, chiên trứng, trộn gỏi, đổ bánh xèo hay đơn giản là muối dưa. Bông lặt rửa sạch, để ráo nước, đem ngâm với nước vo gạo pha muối, cùng với giá sống, cho vào khạp đậy lá chuối hay lá môn nước, ủ kín chừng ba ngày là đã có đĩa dưa bông điên điển chua, giòn, lẫn vào đó là vị đăng đắng, chấm với nước tương giằm ớt hay thịt kho, cá kho là vét sạch cả nồi cơm.

Người miền Tây vốn khoái lẩu chua và có thể nấu với bất cứ loại cá gì, nhưng với người sành ăn, “đệ nhất ngon” phải kể đến là món lẩu chua bông điên điển nấu cá linh, có lẽ vì cá linh cũng như bông điên điển, phải đợi đến mùa nước nổi mới xuất hiện. Nồi nước sôi giằm me đã nêm nếm gia vị và không thể thiếu ớt, chờ sôi bùng thì thả cá linh vào, thêm ít rau ngổ (rau om) xắt nhỏ, ăn đến đâu nhúng bông điên điển đến đó. Vị béo của cá, vị chua của me, hòa lẫn với vị nhân nhẩn của bông, đã ăn một lần là không thể quên.


Cũng như điên điển, cây so đũa thường ra hoa khi nước trắng đồng. Bông so đũa có hai màu trắng và đỏ, nhưng thường thì bông trắng được ưa chuộng hơn.

Bông so đũa cũng phải được hái từ sáng sớm mới giữ vẹn hương vị. Nhụy bông đắng, nên khi ăn phải ngắt bỏ, lúc rửa bông cũng phải nhẹ tay, nếu không bông bị giập. 
Bông so đũa luộc chấm với mắm kho quẹt không chỉ là món khoái khẩu ở quê mà dân thị thành cũng chuộng. Thích ăn xào thì đem bông so đũa xào với thịt bò, vừa bổ vừa mát. 


 Phổ biến nhất là món canh chua bông so đũa nấu với cá linh, cá rô, cá lóc hay tôm, ăn với cơm hay bún đều hấp dẫn. Để đãi khách, có món bông so đũa dồn thịt chiên giòn hay nấu canh. Lạ miệng hơn là món cá lóc hấp bông so đũa. Con cá lóc thấm gia vị, đặt giữa hai lớp bông, đem hấp cách thủy. Bao nhiêu “tinh túy” cá tiết ra đều ngấm hết vào bông, vì vậy trên bàn tiệc, người cao tuổi hay khách quý được mời thưởng bông trước. Hương vị tuyệt vời của món ăn khiến người khó tính cũng phải gật gù khen ngon.


Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc đến loại bông súng trắng mọc tự nhiên ngoài đồng vào mùa nước nổi. Cọng bông súng rất dài, có khi đến 4-5m, do phải vươn lên theo nước lũ, nước càng dâng cao thì cọng càng dài. 

Ăn bông súng chỉ lấy cọng mà không lấy bông, đem tước bỏ vỏ, cắt khúc rồi chế biến thành nhiều món khác nhau. Cọng bông súng có thể bóp xổi, làm gỏi, muối dưa; đổi bữa thì xào với tép hay đem nấu canh chua. 

Tuyệt nhất là ăn cọng bông súng tươi cùng với các loại rau khác để chấm mắm kho hay lẩu mắm. Để món ăn thăng hoa, người ta trộn thêm ít dừa nạo mỏng vào đĩa cọng bông súng hay điên điển, mà phải là dừa vừa rám vỏ mới béo, rưới mắm kho lên, mùi vị không chê vào đâu được, ăn đến no vẫn còn thèm.

Mỗi loại hoa đều có hương vị hấp dẫn riêng, tuy cách chế biến giống nhau. Nếu có dịp về miền Tây vào mùa nước nổi, đừng quên ghé thăm những cánh đồng ngập nước ở An Giang, Đồng Tháp Mười hay Long An, để thưởng thức những món ăn hoa đồng cỏ nội hấp dẫn.


 DƯƠNG THẢO  (phunuonline)

Thơ Sinh Nhật Em 3 Tháng 4 năm 2016 - Trần Minh Hiền

Tản Mạn Cuộc Sống: Bốn Niềm Vui Lớn Của Một Đời Người

Đời người thoáng qua thật nhanh, dấu vết thời gian mỗi ngày lại in hằn lên khuôn mặt. Trên đường đời tấp nập ấy, có khi nào bạn tự hỏi: Sống qua ngần ấy năm, niềm vui nào là lớn nhất đời người?

Theo bạn, niềm vui nào lớn nhất trong đời? Thành công, giàu sang hay có được điều mình mong muốn. Tất cả chúng ta đều cố gắng tìm kiếm cho mình những niềm vui trong cuộc sống.

Nhưng khi có được thứ này chúng ta lại muốn có được thứ khác. Quá trình đuổi bắt cứ kéo dài suốt năm này qua tháng khác, chúng ta không dễ gì nhận ra, niềm vui lớn nhất trong đời người lại gần gũi và thân thương biết chừng nào.

1. Được sống cùng cha mẹ
Trải qua những năm tháng tuổi trẻ bồng bột và ích kỷ, chúng ta lại bộn bề với những toan tính của cuộc đời. Không còn tự do bay nhảy, không còn những suy nghĩ ấu trĩ và ngông cuồng. Giờ đây chúng ta có cả một gia đình cần gánh vác. Lúc ấy mới chợt nhận ra rằng, được sống cùng cha mẹ là một niềm hạnh phúc to lớn.

Được dựa dẫm vào đôi vai của mẹ cha mỗi khi bước chân ta trên đường đời rệu rã, được ăn bát cơm mẹ nấu, được cùng cha đàm đạo mỗi lúc chiều tà. Quãng thời gian đó yên bình và hạnh phúc biết bao.
Không phải chỉ có cười thật to, hét thật lớn thì mới được gọi là niềm vui. Đôi lúc niềm vui bình dị và nhẹ nhàng biết bao, nhưng nó sẽ ngấm sâu vào ký ức của ta, an ủi vỗ về ta mỗi khi mệt mỏi và đau đớn trong cuộc đời.

2. Được làm công việc mình thích
Niềm vui này sẽ chẳng có niềm vui nào có thể sánh được. Đó là cảm giác thỏa mãn bởi vì chúng ta đã làm được điều mà mình thích. Không ít người không làm được việc mình thích, không dám theo đuổi ước mơ và hoài bão của bản thân. Chán nản, thất vọng để rồi họ nhận ra cuộc sống của mình thật nhàm chán, thật buồn bã.

Chỉ khi chúng ta được làm công việc mình thích, chúng ta mới cảm nhận được niềm vui đến từ những điều bình dị, những điều tưởng chừng như vốn có của cuộc sống nhưng không phải lúc nào cũng cảm nhận được.
Thế nên, nếu bạn cho rằng công việc chỉ là một công cụ để nuôi sống bản thân thì bạn hãy suy nghĩ lại đi nhé. Bởi vì chỉ khi yêu thích công việc của mình chúng ta mới làm tốt nó được. Được làm công việc mình thích là niềm vui lớn nhất trong đời.

3. Lấy được người mình yêu
Bất kỳ ai trong chúng ta đều muốn có được hạnh phúc trong cuộc sống, vì vậy chúng ta mới trao đi tình yêu của mình. Có người lấy được người mình yêu, trở thành chỗ dựa suốt đời cho mình, có người lại quyết định kết hôn trong lúc nóng vội. Rất nhiều người đã nếm quả đắng vì vội vàng trong tình yêu.

Một trong những niềm vui lớn nhất trong đời đó chính là lấy được người mình yêu và yêu mình. Khi sống cùng nhau, những bất đồng, những mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh, nếu không có một tình yêu lớn dành cho nhau, ít khi chúng ta có thể tha thứ và chấp nhận lẫn nhau được.
Lấy được người mình yêu là niềm vui lớn nhất trong đời. Lớn hơn rất nhiều những niềm vui do tình cảm tạo ra trước đó. Thế nên, hãy trân trọng cuộc sống gia đình và trân trọng người bạn đã lựa chọn.

4. Sống mỗi ngày trọn vẹn
Đây là niềm vui rất lớn bởi hàng ngày chúng ta đều cố gắng tìm kiếm nó nhưng ít người nắm giữ được nó. Có người lo lắng cho những việc không đâu để rồi cáu gắt với người thân và con cái của mình, làm mất đi một ngày đẹp đẽ.

Bạn ơi, hãy đối diện với cuộc sống mỗi ngày, dẫu khó chịu bao nhiêu cũng đừng đổ lỗi lên đầu người khác. Hãy tìm cách chế ngự sự giận dữ của mình và bao dung với người bên cạnh, để mỗi ngày với bạn trọn vẹn hơn. Có thể bạn không nhận ra, nhưng mỗi sớm mai thức dậy, tâm trạng bạn thoải mái bạn sẽ có một ngày ngập tràn niềm vui.

Vậy nên, hãy mỉm cười khi ánh bình minh chiếu qua cửa sổ, bởi vì ít nhất thì chúng ta vẫn còn một ngày để làm những điều mình muốn. Hãy sống trọn vẹn từng ngày một với công việc, gia đình, con cái và những niềm đam mê nho nhỏ của bản thân.

Theo Tuvisomenh

“Ai Đã Từng Dạy Tôi Thì Giơ Tay Lên!”


Thú thật, khi được nghe câu chuyện này tôi không tin. Nhưng, người kể lại là một người có thật, một thầy giáo ở một trường đại học (ĐH) có thật, kể về một cuộc gặp gỡ có thật, và người nói câu mệnh lệnh trên cũng có thật một trăm phần trăm!

Bây giờ tôi viết lại câu chuyện này, ai “tin thì tin, không tin thì thôi” (câu trong ngoặc kép là thơ của Nguyễn Trọng Tạo).
Chuyện là có một người đã học và đã tốt nghiệp ở một trường ĐH vào loại có tiếng ở nước ta. Sau khi ra trường mấy năm, không hiểu trời xui đất khiến hay tổ tiên phù hộ độ trì gì đó mà anh ta được “bắn” sang một nước ngoài nào đấy sinh sống và làm ăn. Rồi nghe nói anh ta dần dần “nổi tiếng” trở thành một đấng trượng phu…
Rồi anh ta muốn về nước chơi, thăm thú quê hương, mong góp sức mình cho đất nước trong thời kì đổi mới. Anh trở về ngôi trường xưa, muốn có một cuộc giao lưu với thầy cô giáo và bạn bè cũ.
Cuộc họp cũng không ít người, các bạn trẻ đến vì tò mò, các thầy giáo già đến vì muốn xem mặt học trò cũ mà trước đây mình không chú ý nên không nhớ ra.
Sau vài câu xã giao thường lệ, con người thành đạt ấy dừng một lúc để mọi người tập trung chú ý và nói: “Ai đã từng dạy tôi thì giơ tay!”.
Phòng họp đột nhiên im lặng như tờ, và không một cánh tay nào giơ lên… Rồi có tiếng động di chuyển bàn ghế và… các thầy giáo lần lượt im lặng ra về.
Chuyện kể đã xong, bây giờ xin cho phép tôi nhớ lại chuyện cũ hồi đi học. Có một bài học trong sách giáo khoa tiểu học mà tôi không thể nào quên. Bài học nhan đề: “Thưa thầy, con là Các-nô đây”. Bài học chỉ hơn nửa trang giấy cùng với một bức ảnh (hay bức vẽ, tôi không phân biệt được vì còn nhỏ).

Trong bức ảnh có một thầy giáo già đang ngồi sau chiếc bàn, trước mặt là học trò, cửa ra vào mở rộng và trong khung cửa là hình một người đàn ông chững chạc có râu mép quăn, đi ủng cao đến đầu gối. Tay phải ông ta ấp lên ngực trái chỗ con tim, đầu cúi thấp và miệng ông dường như đang nói : “Thưa thầy, con là Các-nô đây”.
Cho đến nay tôi cũng không biết Các-nô là ai, chỉ biết rằng ông ta là một quan to, trở về quê hương, muốn đến thăm thầy giáo cũ và lớp học cũ của mình, và bài học trong sách giáo khoa nói về cái phút giây gặp gỡ ấy.

Tôi còn nhớ người thầy tên là thầy Thái đã dạy tôi bài học ấy ở ngôi trường làng. Thầy thường đánh vào mông tôi mỗi khi tôi viết sai chính tả hoặc làm ồn trong lớp. Thầy thường quát: “Lại thằng Cương phải không? Làm ồn vừa chứ, muốn đét vào đít hả ?”.
Học xong bài học ấy tôi cứ mong ước một ngày nào đó, khi đã trưởng thành, tôi sẽ quay về đúng lớp học này, mở cửa bước vào, không chỉ cúi đầu như Các-nô, mà tôi sẽ quỳ xuống trước mặt thầy và nói : “Thưa thầy, con là …thằng Cương đây”.
Nhưng tôi đã không làm được điều đó. Hỡi ôi! Thầy tôi đã mất trước khi tôi kịp nên người…

Văn Như Cương
Theo Bee.net.vn

Mộng Du - Phong Lan

Saturday, April 2, 2016

Gieo Yêu Thương - Gặt Yêu Thương


Hãy mở rộng tâm lượng, để không chỉ yêu những tài năng, mà hãy yêu cả những yếu kém; không chỉ yêu những thành tựu, mà hãy yêu cả những lỗi lầm. Lúc đó ta sẽ thấy điều gì thật sự là hoàn hảo, điều gì thật sự là còn mãi. 

Trong một lần đi tàu điện ngầm, tôi ngồi cạnh một anh thanh niên có dấu hiệu của bệnh thần kinh nhẹ. Tàu đang chuyển động thì gặp sự cố và phải dừng lại. Điều này khiến anh thanh niên lo lắng. Anh ta bắt đầu đứng lên đi lại xung quanh chỗ ngồi và gõ gõ lên các ô cửa. Thấy không có gì thay đổi, anh ngồi xuống và hỏi một người phụ nữ đang đọc sách vì sao tàu dừng lại.

"Vì tàu gặp sự cố", người phụ nữ đáp. "Khi nào thì tàu hết sự cố?", anh thanh niên lại hỏi. Người phụ nữ, sau khi đã gập cuốn sách lại, mỉm cười trả lời rằng chỉ một vài phút nữa sự cố sẽ được khắc phục và tàu sẽ đi tiếp. Anh ta lại tiếp tục hỏi ai là người khắc phục sự cố, vì sao tàu lại gặp sự cố, sự cố có nghiêm trọng không...

Người phụ nữ từ tốn trả lời từng câu hỏi của anh, một số câu bà nói bà không biết. Vài phút sau, tàu tiếp tục chạy. Đến ga đầu tiên ngay sau đó, chúng tôi đều xuống tàu và mỗi người đi một hướng. Tôi chạy theo người phụ nữ và hỏi bà có thấy phiền không khi phải kiên nhẫn trả lời những câu hỏi của anh thanh niên kia. Bà nói với tôi, "Ồ, không phải chúng ta luôn cần một người để lắng nghe hay sao?”.

Thật là vậy. Chúng ta luôn cần một người để lắng nghe, để thấu hiểu, để chia sẻ, để tin tưởng, để yêu thương. Chúng ta luôn cần một người để làm thỏa mãn cái ngã của chính mình, ngẫm ra thật là ích kỷ mà cũng thật trần trụi, cô đơn. Bởi vậy mới nói, con người là một giống loài cô đơn. Người ta tự yêu bản thân mình chưa đủ, phải cần có một người để yêu mình nhiều hơn.

Có những người khi ta mới gặp, chưa từng giao tiếp, đã khiến ta cảm thấy vui vẻ, gần gũi, thân thiết. Những người này là những người có tâm lượng rộng lớn. Hai chữ tâm lượng ở đây là nói đến sự bao dung, độ lượng của tâm hồn. “Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới” là ý nói tấm lòng ôm trọn cả hư không, bao trùm cả vũ trụ. Chính vì tâm lượng rộng lớn như vậy, nên khi đối diện, ta có cảm giác được vỗ về, an ủi, thoải mái, vì tâm lượng rộng lớn kia đã bao trùm tâm lượng nhỏ bé của ta.

Thầy tôi dạy, tâm lượng giống như vật dụng để đựng. Ví như có một cơn mưa, người có tâm lượng lớn như có vật đựng lớn, có thể chứa được nhiều nước. Nếu muốn chứa nhiều nước mưa, hẳn là không thể dùng vật đựng nhỏ. Đó là lý do vì sao cần phải mở rộng tâm lượng, để bao chứa tất cả, đón nhận tất cả, dung hòa tất cả.

Khi ta nói “tôi yêu người”, có bao nhiêu phần chắc chắn rằng ta yêu tất cả những gì thuộc về người? Thường thì khi yêu, người ta chỉ “yêu” những mặt tích cực của đối phương mà bỏ qua những khuyết điểm, thiếu sót. Người đẹp, người tài, người giỏi thì hẳn là ai cũng yêu, nhưng như vậy thì tâm lượng nhỏ quá.

Vì vậy, xin hãy mở rộng tâm lượng, để không chỉ yêu những tài năng, mà hãy yêu cả những yếu kém; không chỉ yêu những thành tựu, mà hãy yêu cả những lỗi lầm. Lúc đó ta sẽ thấy điều gì thật sự là hoàn hảo, điều gì thật sự là còn mãi.

Xin hãy yêu thương vô điều kiện, vì tất cả rồi cũng qua đi, chỉ còn tình người ở lại.
 
GNO - Tâm An (Canada)
Nguồn: Vườn Hoa Phật Giáo

Tháng Tư Trở Lại - Đỗ Công Luận

Vội & Không Vội - Người Phương Nam


Vội


Không vội làm sao kịp chuyến tàu
Cơ hội trong đời có được bao
Ta không muốn vội, đời bắt vội
Không vội thì e lỡ chuyến tàu



Lỡ chuyến tàu đời sẽ về đâu
Bao nhiêu dự tính buổi ban đầu
Trong phút chốc đều tiêu tan cả
Bài toán đời phải tính lại thôi


Lỡ chuyến tàu mọi sự đổi thay
Tại ta hay mệnh số an bày
Ta đã vội phải đâu không vội
Nhưng rồi rốt cuộc chẳng tới tay

Không Vội


Biết đâu như thế mà lại hay
Biết đâu trong rủi có cái may
Thua keo này ta bày keo khác
Lỡ chuyến này ta đợi chuyến mai


Thời cơ chưa tới hãy cứ chờ
Chuyện đời vốn chẳng dễ như mơ
Miễn đừng quan trọng hóa sự việc
Vội hay không vội cũng tới bờ



Người Phương Nam

Friday, April 1, 2016

Đổi Thay - Thơ Như Nguyệt - Nhạc: Sắc Hoa Màu Nhớ - Lính Thủy Thực Hiện

Thơ: Như Nguyệt
Nhạc : Sắc Hoa Màu Nhớ - Nguyễn Văn Đông

Xà Bông Ở Đâu Mà Nhiều Quá Vậy Nè Trời! Too Much Shampoo!

Mời xem. Bảo đảm là phải bật cười! 

Cháy Bừng Lên Ngọn Lửa La Đà - Trần Minh Hiền

Bài Học Từ Thiền Sư: Làm Sao Để Luôn Thấy Vui Vẻ Và Hạnh Phúc Trong Mọi Hoàn Cảnh?


Có một thanh niên 16 tuổi đến bái lạy vị thiền sư cao tuổi với vẻ mặt u sầu và thất vọng. Anh ta hỏi vị thiền sư: “Thưa ngài, con phải làm thế nào mới trở thành một người vui vẻ hạnh phúc ạ? Và làm thế nào mới có thể đem lại niềm vui cho mọi người".

Vị thiền sư nhìn người thanh niên trẻ tuổi vừa cười vừa nói: “Cậu bé! Ở tuổi của cậu mà có nguyện vọng như vậy là đáng quý nhưng cũng khó đạt. Rất nhiều người lớn tuổi hơn cậu, cũng có câu hỏi như thế này nhưng cho dù có giải thích cho họ bao nhiêu thì họ vẫn không hiểu được đạo lý trọng yếu”

Người thanh niên trẻ tuổi vẫn chăm chú nghe từng lời của vị thiền sư.
Vị thiền sư nói tiếp: “Ta tặng cho cậu 4 câu. Câu thứ nhất: Hãy đặt bản thân mình trở thành người khác. Cậu có hiểu hàm nghĩa của câu này không?”
Người thanh niên trả lời: “Có phải là khi mình khổ sở, nếu như coi bản thân mình là người khác thì nỗi khổ sẽ tự nhiên giảm bớt đi. Còn khi mình vui mừng quá mức mà coi mình là người khác thì mình sẽ bình tĩnh trở lại và thản nhiên hơn không ạ?”

Vị thiền sư gật đầu rồi nói tiếp: “Câu thứ hai là đặt người khác trở thành bản thân mình.”
Người thanh niên suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “Khi đặt người khác trở thành bản thân mình, mình có thể hiểu được nỗi khổ cũng như những mong muốn nguyện vọng của họ để thông cảm và giúp đỡ họ khi cần thiết, phải không ạ?’

Vị thiền sư vui vẻ biểu lộ ra sự hài lòng rồi nói tiếp câu thứ ba: “Xem người khác là chính bản thân họ.”
Người thanh niên nhanh nhảu trả lời: “Thưa ngài, câu này có phải có ý là: Tôn trọng sự riêng tư của mỗi người, không xâm phạm vào điều của riêng người khác.”

Vị thiền sư bật cười ha ha rồi nói: “Tốt lắm, tốt lắm, đứa trẻ này cũng rất dễ dạy bảo! Câu thứ tư chính là xem bản thân mình là chính bản thân mình!”

Câu nói này có vẻ khó với người thanh niên trẻ, cậu ta suy nghĩ mãi một hồi lâu rồi mới chậm rãi nói: “Thưa ngài, câu nói này con nhất thời chưa thể hiểu được. Nhưng trong bốn câu nói này con thấy có sự bất đồng, con phải làm thế nào để thống nhất chúng lại ạ?”
Vị thiền sư trả lời: “Rất đơn giản cậu bé ạ! Con hãy dùng thời gian và kinh nghiệm của bản thân mình rồi con sẽ làm được!”

Người thanh niên không hỏi thêm mà quỳ gối cáo biệt vị thiền sư. Nhiều năm sau này, cậu thanh niên đã trở thành một người đàn ông trưởng thành rồi một ông lão vui vẻ hạnh phúc. Ông cũng thường xuyên đem bài học này và kinh nghiệm của mình chia sẻ với những người xung quanh, đặt biệt là những thanh niên trẻ tuổi. Sau khi trãi qua nhiều điều trong cuộc sống, ông đã hiểu được 4 câu nói vủa vị thiền sư khi xưa là:

1. Khi đặt bản thân mình là người khác để đối đãi thì chính là vô ngã.
2. Khi đặt người khác là bản thân mình để đối đãi thì đó chính là từ bi.
3. Khi đặt người khác chính là bản thân họ để đối đãi thì đó chính là trí tuệ.
4. Khi đặt bản thân mình là bản thân mình để đối đãi thì đó chính là tự tại.

Tạp chí Sức Khỏe (Theo GĐXH)

Cứ Như Người Xa Lạ - Thơ Hồng Thúy - Nhạc Nguyễn Hữu Tân - Tâm Thư - PPS DVB

Đóa Hoa Tình Vỡ - Trầm Vân

Chuyện Cuối Tuần - Cao Đắc Vinh


Tác giả là một kỹ sư hồi hưu, đã sống 25 năm bên Pháp, 25 năm ở Mỹ, hiện cư ngụ tại Irvine cùng gia đình. Sau đây là bài viết về nước Mỹ thứ tư của ông. 

1.
- Sáng thứ bẩy anh định làm gì đây?
- Anh phải chùi rửa hai cái xe. Cả tháng rồi... Nhìn dơ quá bên trong và bên ngoài, thấy mà ghê!

- Có gì đâu mà dơ... Đừng mất thì giờ anh ơi! Trời mưa mấy hôm nay cũng tắm nó sạch rồi. Anh à! Em muốn đi Bolsa phố Việt ăn phở và đi chợ.

- Ok! Đi thì đi. Chợ búa cuối tuần em biết đông lắm đó nhưng trước khi đi, anh phải ghé Costco đổ xăng. Xăng bây giờ bao nhiêu một “gallon” em nhỉ?

- Em mới đổ tuần rồi 4 đô 10 xu nhưng thôi đừng đi Costco giờ này, cái “line” nó dài lắm! Chờ chết luôn, em không đợi được đâu.

- Anh muốn đổ cho xong, tiện đường ra xa lộ, sáng sớm mà đông thì đến trưa còn đông hơn em ạ!

- Thôi! Lâu lắm... Lên Bolsa đổ xăng đi anh. Ủa, sao anh lại đi “freeway” số 5. Đi xa lộ 405 đường rộng nhiều “lane” hơn, đỡ kẹt..

- Ok! Em muốn 405 thì đi 405. Đường nào cũng đến La Mã cả mà.

- Sao anh không lấy “carpool” đi nhanh hơn không? Thôi lỡ rồi! sáng nay xa lộ cũng vắng xe, vào “lane” phía ngoài đó không để ý khó “exit” lắm. Anh đổi “lane” qua phía tay phải vắng xe nè...

- Cứ từ từ em ơi! Mình đi ăn phở sáng thứ bẩy, có gì đâu mà vội em à? Ăn phở gà nhé! Anh thích phở gà vì “breakfast” nó nhẹ.

- Thôi! Lần nào ăn phở gà em cũng đau bụng. Ăn phở bò 79 trên đường Brookhurst đi anh. Lâu rồi em chưa lại đó.

- Ok! Sao cũng được. Tiệm ấy giờ này cũng đông lắm đó.

- Ủa, sao anh đi sau cái xe truck này mãi em ngán quá! Quẹo qua “lane” bên phải đi anh.

- Để yên anh lái! Sao em cứ xen vào làm chi cho mệt cả hai đứa. Nếu muốn, anh dừng lại cho em lái nhé...

- Không nói thì anh đâu biết! Đấy, anh vừa sang “lane” mà không để “signal” thấy không? Ấy! Sao anh đi nhanh thế! Hơn 70 “miles”, cảnh sát nó núp đâu đó là anh chết! Tiền phạt bây giờ nặng lắm...

- Đến nơi rồi! Tiệm phở này lúc nào cũng đông. “Parking” ở đây khó đậu quá.

- Hai dẫy dài thế này mà anh bảo ít à! Anh cứ đứng đây cho em thế nào cũng có người ra kẻ vào. Kia kìa! Có xe sắp lùi ra, nó để đèn “signal” anh lái đến gần đi nếu không lại tranh nhau cho mà xem.

2.
- Cái bàn này nhỏ quá anh nhỉ? Hỏi xem mình ngồi gần cửa sổ có được không? Thôi! tiệm đông quá. Ok! anh ăn phở gì?
- Anh ăn phở bò. Ở đây chỉ có phở bò là ngon nhất.

- Biết rồi! Ý em hỏi là anh ăn phở bò nhưng thịt thà làm sao kia...

- Tái gầu gân sách, hành trần nước béo...

- Bỏ giùm em mỡ gầu với nước béo đi. Anh không sợ cholesterol” à? Thôi để em kêu “order” cho anh.

- Lâu lâu mới đi ăn phở chứ có ăn mỗi ngày đâu mà em lo quá làm anh cũng nản... Ăn mất ngon!

- Cho tôi hai tô đặc biệt một tô trung, một tô nhỏ, hành dấm và hành trần nước trong.

- Ăn xong em muốn đi chợ nào? Gần đây có chợ Quang Minh và chợ Nam Hoa.

- Trước khi đi chợ, em muốn cắt tóc đã. Tóc dài quá rồi! Đi làm ai cũng nói như con bú dù.

- Thế em muốn cắt tóc ở đâu? Gần hai chợ này cũng có tiệm tóc Lê Nẫm.

- Không! Em muốn cắt ở tiệm trong khu mái ngói xanh mà quên tên rồi.

- Được! Anh biết tiệm đó. Thế trong lúc em cắt tóc, anh làm gì?

- Anh ngồi chờ em hay đi bộ qua tiệm Tip Top Café bên kia mua hộ em hai bánh mì “baguette” đang “on sale”.

- Ok! Chuyện nhỏ em đừng lo... Vào cắt tóc đi nếu không lại phải chờ đợi.

3.
- Anh ơi! Xong rồi họ làm nhanh quá.

- Tóc cắt đẹp đấy! Mặt em hợp với tóc ngắn, nhìn trẻ hơn 5, 6 tuổi.

- Em nói nó tỉa bớt tóc hai bên má cho mặt bớt bầu mà nó làm không đúng kiểu. Ghét quá! Lỡ rồi biết làm sao?

- Thôi đẹp rồi! Anh thấy đẹp mà... Sao em khó quá! Bây giờ muốn đi đâu? Chợ nào? Gần đây có chợ Thuận Phát, chợ Saigon lúc trước là chợ Đại Hàn sau bán lại cho người Việt, em nhớ không?

- Không đi chợ thằng Tầu và cả chợ Đại Hàn! Anh làm ơn cho em đến chợ T & K trên đường Bolsa.

- T & K cũng là chợ Tầu vậy!

- Đúng! Nhưng em hay đến đó nên quen rồi. Muốn kiếm cái gì cũng dễ nhất là cái anh con trai bán thịt, thích em... Mỗi lần em đến, nó chọn cho em những miếng ba chỉ rất nạc.

- Em mua thịt ba chỉ thì chiều nay cho anh ăn mắm nhé! Lâu không ăn mắm anh thèm quá! Cứ tưởng tượng mỗi miếng ba chỉ luộc thái mỏng kẹp theo một con tôm chua thì hết sẩy!

- Thôi ăn mắm độc lắm anh à! Già rồi ăn mặn, mắm muối sinh ra cao mỡ, cao máu không tốt đâu! Em mua thịt heo ba chỉ làm bánh xèo chiều nay.

- Vậy anh ghé chợ mua chai rượu ngon để nhậu với món ngon này nhé!

- Bớt rượu đi! Rượu nhiều hại gan đấy... Uống bia hơn. Ăn bánh xèo uống bia ngon và hợp khẩu vị.

- Hay là anh mời vợ chồng anh bạn tối nay đến ăn cho vui nhé!

- Thôi để dịp khác đi... Bánh xèo phải làm từng cái, ăn liền mới ngon nên nếu đứng tráng cho nhiều người ăn sẽ mệt lắm! Lần này em làm chúng mình ăn thôi.

- Ok! Ăn bánh xèo xong, nhà chỉ có hai đứa thì chúng mình “yêu nhau” để anh trả công cho em, chịu không? Cứ im lìm mãi thế này, anh không biết có còn hoạt động được nữa không ấy chứ!

- Thôi! Chủ nhật đi.... nếu khỏe! Hôm nay ngủ sớm cho lại sức chứ chẳng “mần” gì được đâu.

- Em lại hứa! Biết là hứa cuội bao nhiêu lần rồi mà vẫn hứa.

- Ấy anh! Đổ xăng đi chứ... Vào xa lộ hết xăng thì chết.

- Đây! Có cây xăng Mobil phía trước kia kìa

- Chết chết! Sao đắt quá 4 đô 30 xu một “gallon” cơ à? Thôi đi đến Costco đi anh...

4.
- Cảm ơn em đã cho anh suốt cả một ngày cuối tuần vui buồn có nhau. Một ngày thứ bẩy đẹp trời chúng mình cùng đi ăn phở, đi chợ ở Little Saigon. Hướng đi thì cùng chung nhưng hướng về thì không! Suốt chặng đường từ lúc đi cho đến lúc về, tất cả những ý kiến của anh đều tiêu cực, chỉ mình em là tích cực... 

Anh đã phải bỏ quê hương để được sống những ngày có ý nghĩa, sống theo sở thích trên đất nước tự do này nhưng với em cuộc đời anh lại là cảnh “cơm lành canh ngọt” kiểu Mỹ có nghĩa là nhất đàn bà, nhì chó... thứ ba mới đến anh! Tội nghiệp... Sao anh thấy nuốt không “vô” em à? Yêu vợ nên vợ lộng hành ngồi cả lên đầu! Biết bao giờ em mới tỉnh táo, giới hạn bớt ảnh hưởng lên chồng con dù đó chỉ là chuyện nhỏ nhặt: yêu đương, lái xe, ăn uống, chợ búa hàng ngày nhưng chính những chi tiết vụn vặt ấy, nếu con người được thỏa mãn, tích tụ lại sẽ là hạnh phúc cuộc đời. 

Ngược lại, khi bất mãn tích tụ lâu ngày sẽ đẩy người chồng tới cảnh đi ăn phở một mình, Một cử chỉ “bất mãn” mà một số những người đàn ông cùng trường hợp như anh đã âm thầm hành động.

Anh mong trường hợp chúng ta và chính anh sẽ không đến nỗi vậy.

Cao Đắc Vinh

Lan Thủy Tiên - Phong Lan

Vài Dòng Gửi Đến Cộng Đồng Việt Nhân Ngày 27/02 - BS Hồ Hải


Từ khi vào nghề Y đến nay đã hơn 30 năm, hễ cứ đến ngày này là nhận nhau những lời chúc tụng. Tôi không biết là mình có nên chúc tụng đồng nghiệp và nhận lời chúc tụng của người khác không, khi mà, ngành Y bây giờ không làm tròn trách nhiệm với người bệnh.
Thôi thì cũng vài dòng cảm ơn những gì các bạn đã chúc nhau, và xin đưa ra những nguyên tắc chung để bà con cẩn thận với sức khỏe của chính mình.

Nguyến tắc thứ nhất: Đừng tin những gì quảng cáo trên báo đài, truyền thông, và thế giới mạng về thuốc. Vì không độc thì không gọi là thuốc, người ta chỉ uống thuốc để tự tử, chứ không ai uống nước để tự tử bao giờ. Chính vì thế, mà ở các quốc gia tiên tiến, cấm quảng cáo thuốc trên phương tiện truyền thông dân dụng, chỉ được quảng cáo thuốc ở tạp chí và hội thảo chuyên ngành Y.

Nguyên tắc thứ hai: Khi đi khám bệnh bất kỳ ở đâu, người bệnh cần có 1 câu hỏi phải hỏi: “Bệnh của tôi do nguyên nhân gì?” Vì chỉ có thầy thuốc giỏi mới điều trị nguyên nhân bệnh, còn lại những thầy thuốc kém hiểu biết chỉ biết điều trị hậu quả – hay còn gọi là chữa triệu chứng – của bệnh.

Nguyên tắc thứ ba: Đừng bao giờ tin những gì mình tìm kiếm trên mạng internet rồi tự suy diễn, tự làm bác sĩ cho mình và gia đình mình. Vì như thế chỉ làm hại chính mình và gia đình mình. Hãy cứ nghĩ, nếu bản thân bạn đủ khả năng được các trường Y nhận vào học thì các bạn đã trở thành bác sĩ, chưa kể các bác sĩ đã được đào tạo chính quy một thời gian dài về bộ máy tinh vi nhất của quả đất – con người – bình thường và bất thường từ tế bào đến bao nhiêu rối loạn khác về cả thể chất lẫn tinh thần, nhưng chưa chắc họ đã giỏi, thì các bạn chỉ vài cú enter với google, không có kiến thức căn bản về y khoa, thì các bạn như người điếc không sợ súng và tự hại mình thôi.

Nguyên tác thứ tư: Đừng bao giờ tin những quảng cáo về các loại thức ăn, thức uống bổ, giúp chữa bệnh này hay bệnh khác – Ví dụ, sữa chống loãng xương, thực phẩm chức năng, thức uống collagen, v.v… – chỉ là những trò kinh doanh kiểu đa cấp để kiếm lãi. Loãng xương là một trong những tiến trình của một quá trình lão hóa của bất kỳ động vật nào được diễn ra ở mức độ phân tử sinh học, tiến trình này cho tới nay, y học vẫn còn mò mẫm và bất lực.

Nguyên tác thứ năm: Ăn uống và làm việc là thuốc. Ăn uống và làm việc đúng thì không hoặc ít bệnh tật. Ăn uống và làm việc sai là tự đưa mình vào nơi khổ đau của bệnh tật, vì sức khỏe qúy hơn vàng.
Chúc cộng đồng người Việt sức khỏe và hạnh phúc.

Asia Clinic, 8h59′ ngày thứ Bảy, 27/02/2016