Saturday, October 31, 2026

Ngày Vượt Biên Nhìn Lại - Người Phương Nam


Lời người đăng: Bài đăng lại nhân kỷ niệm ngày này năm xưa, gia đình chúng tôi đã vượt thoát khỏi chế độ cộng sản đi tìm tự do nơi xứ người.

oo00oo

Mỗi năm, cứ tới ngày ba mươi mốt tháng mười là ông xã tôi  nhắc tôi mua dĩa trái cây về thắp nhang cúng Bà Áo Trắng để tạ ơn  Bà đã  phù hộ độ trì cho gia đình chúng tôi nói riêng,  và cả nhóm người chung tàu nói chung được bình yên tới bến bờ trong chuyến vượt biên ba mươi năm về trước. Một ơn phước thiêng liêng tưởng như là bịa đặt nhưng kiểm chứng lại thì quả thật không thể nào phủ nhận.  

Đây ngày kỷ niệm vượt biên

Tháng mười, ba (mươi) mốt vượt biên đường tàu

Xế chiều qua chợ Bãi Xàu

Rồi ra Bãi Giá núp vào chờ đêm…

Năm bảy mươi lăm, trong những ngày hấp hối dãy chết của miền nam, ông xã tôi đã tận sức tìm cách đưa gia đình chạy cộng sản nhưng cuối cùng cuộc di tản bất thành, số mệnh đã cột chân chúng tôi lại nếm mùi cộng sản, sống thời bao cấp thiếu thốn mọi bề cho đến bốn năm sau. 

Khi về lại tỉnh nhà, trong một buổi họp nhân dân, ông xã tôi đã chứng kiến tận mắt  một màn thị oai dằn mặt nhân dân rất ư là ghê rợn bạo tàn của chế độ mới. Trong buổi họp, bọn sắt máu đã cáo buộc hai sĩ quan “ngụy” với tội danh làm tay sai cho Mỹ nguỵ và sau đó đã thẳng tay hành quyết vặn cổ nạn nhân ngay tại hiện trường không một chút do dự cảm xúc như vặn cổ một con gà. 

Luật lệ nào mà xử tử người không có tòa án, không đối chứng, cũng không được quyền biện hộ phân bua lấy một lời. Lụật lệ nào mà muốn lục xét nhà, muốn bắt người ban đêm ban hôm lúc nào thì bắt, muốn  đày ai  đi vùng kinh tế mới lúc nào thì đày. Có chăng là luật rừng, luật  của những kẻ không may sanh ra để làm công cụ cho một chế độ độc tài đảng trị, đã bị nhào nặn, đầu độc ngay  từ trong trứng nước theo tôn chỉ của đảng và nhà nước, không có cái quyền lựa chọn đúng sai hay nói lý lẽ mà chỉ rặt một khuôn là bạo ngược, tham tàn vô nhân tính. Nói theo truyện ngụ ngôn của La Fontaine là lý của kẻ mạnh luôn luôn là phải đúng . Con chó sói một khi đã muốn ăn thịt cừu con  thì cứ lấy cớ bắt tội con cừu là tại sao mày dám uống nước trên dòng suối của tao. Tao phải ăn mày để trị tội…


Thọat đầu, vì phẩn uất và bất khuất, ông xã tôi tìm móc nối với một nhóm phục quốc và thường xuyên đi hội họp khiến ba má tôi  lúc nào cũng phập phồng lên ruột ăn ngủ không yên. Trong thời điểm cộng sản có phong trào tổ chức cho dân đi vượt biển mua bãi công khai bằng số vàng quy định, có vài  ông xì thẩu cũng muốn mời ông xã tôi đi theo để lo chuyện đối ngọai nếu gặp tàu ngọai quốc nhưng lúc ấy ông đang hăng máu phục quốc chưa chịu bỏ cuộc mặc dù ba tôi hết sức khuyên nhủ rằng đã có cơ hội thì nên đem vợ con đi để tìm một lối thoát, một chân trời rộng mở, một tương lai tươi sáng hơn cho gia đình và con cái về sau.

Cho đến một ngày, người thủ lãnh bị bắt và bị xử tử hình, ông xã tôi nhận thấy sự nguy hiểm không chỉ cho bản thân ông mà còn liên lụy cho gia đình và vợ con một cách oan uổng tức tưởi,  ông mới chịu nghĩ đến chuyện vượt biên đào thoát. Đất nước là đất nước chung, nhưng mệnh nước là do trời, cho dù ông có lòng nhiệt huyết yêu nước thương dân nhưng rủi như bị bắt bớ tù tội thì ai sẽ thương dùm gia đình vợ con ông. Tề gia còn chưa xong, tâm tình đâu mà trị quốc, nói chi tới bình thiên hạ. Chí lớn này thôi đành cất lại nhường cho những bậc đại trượng phu, anh hùng cái thế, đội đá vá trời, còn cái thân phận tầm thường nhỏ nhoi như  con kiến con sâu này thì  ba mươi sáu chước, “quậy” không được thì chạy là thượng sách thôi.


Một buổi trưa trên đường từ trường quận đi  dạy về, có một người trạc tuổi ông xã tôi đón ông lại hỏi ngắn gọn một câu “Đi vượt biên không?” Ông xã tôi bỡ ngỡ nhìn anh ta như ngầm hỏi anh là ai. Anh ta  nói là biết ông xã tôi từ lâu. Nhà vợ anh ta ở gần nhà chúng tôi. Anh ta là lính cũ, hạ sĩ Trần Quý. Thế rồi chiều hôm đó anh ta tới nhà chúng tôi bàn chuyện vượt biên như đã ăn ý quen đâu từ trước rồi. Anh ta nói có một chủ ghe ở Bãi Giá (cách tỉnh Sóc Trăng khỏang 12km)  muốn cho vợ chồng thằng con lấy ghe đi (chiếc ghe đánh cá chỉ đủ nuôi gia đình nên rất nhỏ, bề dài  khỏang mười một thước, bề ngang  hai thước rưởi) nhưng với điều kiện để lại cho chủ ghe 25 cây vàng dưỡng già. Và bây giờ thằng con ông chủ ghe đang nhờ anh ta kiếm mối gom vàng. Chỉ đơn giản như vậy. Còn chuyện xăng dầu, nước nôi lương thực, hải bàn, hay gì gì khác thì để anh ta lo.


Ông xã tôi trời sanh có cái tánh lạc quan, lại thật thà dễ tin người, không hề biết dè dặt đề phòng ai cả, mà hình như những người như vậy thì luôn được  quý nhân phù hộ hay sao không biết. Có nhiều chuyện xảy ra chung quanh ông đều là điềm hung nhưng khi tới gần thì tự nhiên đổi hướng, hung thành kiết , bại  thành thắng. Trong trường hợp này, nếu như bị công an gài bẫy thì làm sao có thể chối tội cho được. Hơn thế nữa, khi mọi dự tính sắp đặt xong xuôi, ông xã tôi công khai phơi chanh đường và cơm nguội để làm lương khô cho chuyến đi sắp tới, hàng xóm chung quanh ai cũng biết chúng tôi chuẩn bị vượt biên. Càng đáng kể hơn nữa là nhà chúng tôi lại nằm cạnh bên Ty Công An mà thời VNCH là Ty Cảnh Sát, thằng công an nào đứng trên sân thượng nhìn qua cũng thấy rõ và có thể chạy qua nắm đầu bắt quả tang với chứng cớ rành rành. Còn đối diện với nhà tôi, trước 75 là Ty Điền Địa, nay trở thành nơi cư ngụ của đám cán bộ mặt trận giải phóng miền nam, tai mắt rập rình. Vậy mà không hiểu cái gì đã che mắt bọn chúng làm cho bọn chúng phớt lờ như không biết  không hay. Quả thật lạ lùng!


Cuối cùng ngày khởi hành cũng đến. Vợ chồng chúng tôi và đứa con gái mới lên 5 cùng thằng em tôi 12 tuổi cải trang như những người nhà quê lam lủ chồng chất lên một chiếc Honda dame chở nhau qua chợ quận Bãi Xàu vào một buổi xế chiều (tên quận xuất xứ  từ  người Miên). Từ Bãi Xàu muốn ra Bãi Giá phải đi thêm một chặng đường lồi lõm rất xấu khỏang 6km nữa mới tới nơi. Chúng tôi đã sắp đặt với thằng em chú bác là  khi gần tới điểm hẹn sẽ giao chiếc xe cho  nó mang về. Còn chúng tôi thì có người trong nhóm tổ chức đưa tới nhà ông chủ ghe chờ đêm xuống mới dẫn ra bãi.


Mười ba khá sáng trăng đêm

Công an đâu nghĩ có màn vượt biên

Đêm ấy có đám diễn viên

Công an mê mẩn bỏ phiên canh phòng


Thời may đêm đó có một đám văn công về chợ quận hát hò trình diễn nên đám công an biên phòng mải mê vui chơi, lơ là việc canh gác rất thuận lợi cho việc băng đồng lội  ruộng dẫn đường ra bãi hẹn. Ông xã tôi tay dắt tôi, lưng cỏng đứa con, thằng em chạy lúp xúp theo sau. Từ nhỏ tới lớn tôi chưa từng biết thò chân xuống ruộng nên đi rất chậm chạp khó khăn, trợt lên trợt xuống một hồi rồi mất dép luôn, phải chạy chân không, vừa nhờm gớm, vừa bị gai đâm, miểng chai sốc nhức nhối vô cùng mà cũng không thể dừng lại, ráng cà nhắc nhắm mắt chạy bừa theo cho kịp với những người trước, hơn một giờ sau mới ra tới bãi.

Đám người vượt biên khoảng vài chục người (không biết chính xác là bao nhiêu và cũng không ai biết ai, vì khách đi chỉ biết người trung gian mà thôi). Khi ra tới bãi thì nhằm lúc con nước đang ròng, tàu không thể cặp vào rước người được. Cả đám phải ẩn mình vào trong các lùm cây bụi rậm (nơi mà người tổ chức đã dấu xăng dầu và nước uống từ mấy ngày trước) chờ nước lớn. Khỏang hai giờ sau thì nước mới dâng cao, lập tức anh tài công nổ máy chạy sát vào bờ. Mỗi người một tay phụ nhau chuyền những thùng dầu, nước và lương khô vào khoang tàu, tiếp theo là  phụ nữ và em bé rồi  cuối cùng là  bọn  đàn ông thanh niên. Xong xuôi anh tài công lui ghe rời bến xả hết tốc lực nhắm  hướng đông trực chỉ. 

Đợi khi con nước hết ròng

Cho tàu vào bãi tài công rước người

Lương khô, nước uống, xăng dầu

Lôi từ bụi rậm chuyền vào khoang ghe

Thế rồi tách bến lui ghe

Nhổ neo xả máy hướng về biển đông

Từ đây thành kẻ lưu vong

Quê hương mờ khuất dần trong mắt nhìn


Cuộc hải trình chỉ mới bắt đầu, chưa biết hung kiết thế nào  nhưng mọi người trên tàu đã vội vui mừng nói cười ầm ĩ khiến một người trong đám phải la lên “Trời ơi!, đi vượt biên mà làm như đi  du lịch vậy, đừng có mừng sớm cha nội, đợi ra tới hải phận quốc tế cho chắc ăn rồi hẵng mừng”. Nhưng người nào cũng hừng chí phấn khởi, húyt gió um sùm. Hạ sĩ Trần Quý reo lên “Huy hòang rồi, huy hòang rồi anh em ơi! Ông xã tôi điếc không sợ súng cất tiếng hát vang bài Ra khơi:

Hôm nay ta cùng chuyến thuyền vượt ra khơi

Anh em ơi! xin chớ đừng dừng tay bơi

Một ngày nào ra khơi     

Một ngày nào anh em còn đang xông lướt bên trời

Hôm nay ta cùng chuyến thuyền vượt ra xa

Anh em ơi! sông núi kìa kìa bao la

Một ngày nào ra đi

Đừng buồn vì phân ly đòan ta xa vắng quê nhà…


Mấy anh em còn phụ họa theo “Khoan khoan hò khoan” nữa chớ. Thiệt đúng là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Tàu chạy được một hồi lâu êm thắm, không thấy tàu công an  nào rượt theo, mọi người càng yên chí. Các chị em phụ nữ không có phận sự gì thì dựa vào nhau nhắm mắt thiêm thiếp.  Còn đàn ông trai tráng thay phiên nhau tốp thì ngủ, tốp thì thức nói chuyện tào lao cổ võ tinh thần anh tài công chánh cho anh ta tỉnh ngủ trong lúc anh tài công phụ đi kiếm chỗ nghỉ lưng nhắm mắt một hồi. 

Đến nửa đêm, chị Cẩm, vợ anh tài công chánh (đang mang thai bốn năm tháng gì đó) bỗng thức giấc bò dậy nói với chồng chị là chị vừa nằm mơ thấy một bà mặc tòan trắng hiện ra báo cho biết là trong tàu mình đi có hai mươi chín người, tính luôn hai đứa nhỏ. Bà bảo hãy đốt nhang khấn nguyện thì bà sẽ phù hộ cho đi tới bờ bình an. Chị lại nói rằng đêm qua lúc còn ở nhà, chị cũng đã chiêm bao y chang như vậy nhưng chưa có dịp kể với ai. Hạ sĩ Trần Quý nghe thế vội chui xuống khoang ghe đếm đầu người rồi trở lên báo cáo với ông xã tôi là đúng  thật  hai mươi bảy người lớn và hai đứa con nít, một là con của anh ta và một đứa là con gái chúng tôi. Ông xã tôi vội nói với chị Cẩm đem nhang đèn ra đốt và khấn vái, cầu xin bà áo trắng cho được thuận buồm xuôi gió tới bờ.

Lâm râm khấn nguyện cầu xin

Ơn trên ban phúc an bình đến nơi

Lênh đênh giữa chốn biển khơi

Mênh mông trời nước biết nơi đâu bờ

Cầu xin sóng lặng như tờ

Thuận buồm xuôi gió đến bờ tự do

Cầu xin sẽ được ban cho

Giữa khuya linh ứng trong mơ gặp bà

Uy linh áo trắng ngọc ngà

Bà truyền bảo đốt cho bà nén hương

Bà sẽ phù hộ trên đường

Bình an cho kẻ hiền lương tới bờ

Tàu này hai đứa trẻ thơ

Vị chi tất cả hai mươi chín người

Không tin cứ đếm  thử coi

Quả thật hai mươi chín người đúng bon

Vội vàng thắp nén nhang thơm

Hương trầm khói tỏa kính dâng lên bà


Bất cứ một ai, khi trong lòng đã có một niềm tin mãnh liệt ở đấng thiêng liêng thì hình như người ta không còn cảm thấy sợ hãi một điều gì nữa cả. Mặc dù đang lênh đênh giữa biển cả bao la thăm thẳm không thấy đâu là phương hướng bến bờ nhưng mọi người đều tin chắc rằng mình sẽ được bà áo trắng  độ trì vượt qua mọi tai biến trên bước đường tị nạn. Luôn ba ngày đêm liên tiếp, trời quang mây tạnh, nước xanh biêng biếc, sóng lặng gió êm, đàn cá dolphins lội dọc theo hai bên thành tàu như hai đòan quân hộ vệ khiến tôi có cảm tưởng như đang  ngồi trên du thuyền thảnh thơi nhàn nhã, không chút lo âu, thỉnh thỏang còn thò tay xuống biển vọc nước và nhúng  cái khăn lau mặt cho con. 


Trưa ngày thứ ba thì đòan người vượt biển chúng tôi gặp giàn khoan dầu của Mã Lai. Anh tài công bỏ neo dừng lại, ông xã tôi đứng ở đầu tàu ngước lên kêu gọi cầu cứu, xin tiếp tế nước, lương thực và hỏi thăm đường  tới Mã Lai còn bao xa nữa. Những người trên giàn khoan nhìn xuống chiếc tàu bé xíu trông giống như đồ chơi trẻ con đều lắc đầu thương hại cho những kẻ khốn cùng hết đường chọn lựa, dù biết thập tử nhứt sanh nhưng vẫn cứ liều mạng đi tìm cái sống trong cái chết. Họ cho biết muốn đi  Mã Lai thì đi về hướng bên phải khỏang một ngày một đêm nữa sẽ tới. Rồi họ thả xuống cho một mớ bánh ngọt, nước uống, sữa tươi và một ít trái cây cho đám thuyền nhân đủ cầm cự trong hai ngày. Con tàu bé nhỏ mong manh lại tiếp tục cuộc hải trình tiến về hướng Mã Lai với niềm phấn khởi hy vọng chứa chan.


Đến khỏang hai giờ chiều, bỗng đâu trời chuyển màu âm u, mây đen từ đâu kéo tới che kín mặt trời làm đen ngòm cả một vùng biển mênh mông. Mưa lác đác rồi giông gió nổi lên cuốn theo từng cơn sóng dữ. Lúc đầu sóng còn nhấp nhô như đùa giỡn với con tàu, dần dần bỗng nổi cơn thịnh nộ dâng cao, ngọn sóng bạc đầu chụp phủ lấy con tàu khiến nó quay mòng mòng trồi lên hụp xuống nhừ tử mấy lần súyt chìm. Tử thần như lảng vảng đâu đây. Anh tài công rán chịu trận, cầm cự tay lái thật chặt trong lúc mọi người  lâm râm khấn nguyện với bà áo trắng, cầu xin bà che chở, xua tan đi bao hung hiểm trùng trùng. Trong phút giây thập tử nhứt sinh đó, tôi chợt nghiệm ra  rằng sinh mạng con người là do trời ban, thôi thì cứ giao phó xác hồn cho trời đất. Trời thương thì nhờ, không thương thì chịu. Con người không thể nào cãi được phần số một khi trời  đã muốn lấy lại. Do đó tôi không cảm thấy lo sợ bao nhiêu, dẫu sao khi quyết định ra đi thì ai cũng đã  nghĩ đến trường hợp xấu nhứt và chấp nhận chết là cùng.


Gần hai tiếng đồng hồ sau, bão tố  bắt đầu lắng dịu, con tàu mới lấy lại được thăng bằng tiếp tục chẻ sóng. Ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm thầm tạ ơn bà áo trắng linh thiêng.  Đến lúc này mọi người mới cảm thấy đói cồn cào, giục nhau vét gạo nấu cơm chia nhau mỗi người một miếng lót dạ. Đêm ấy trời  trong vắt, vầng trăng an bình mười sáu tỏa sáng vằng vặc cho đại dương bao la một vẻ đẹp huyền ảo thần kỳ. Sáng hôm sau, đúng như câu “sau cơn mưa trời lại sáng” khi mặt trời lên cao khỏi mặt nước biển,  chúng tôi đã thấy bóng đất liền xa xa. Anh tài công cho mũi tàu tiến về hướng đó và khỏang nửa giờ sau  thì tới  một trại lính.


Trên bờ, hai chú lính thấy tàu lạ xuất hiện liền  xua tay ra dấu đuổi đi và lăm le họng súng như đe dọa. Nhưng hạ sĩ Trần Quý và ông xã tôi đã mau chân lội đến sát bờ lên tiếng cho họ biết mình là thuyền nhân tị nạn, cần họ giúp đỡ. Lúc đầu họ nạt nộ, quyết liệt đuổi xô nhưng một lát sau, một ông tướng tá oai vệ có vẻ là người chỉ huy nghe ồn ào giằng co bên ngòai  đã bước ra dàn xếp. Ông ta tự giới thiệu là thiếu tá Yap, chỉ huy trưởng của đòan thủy quân lục chiến địa phận Kemaman này. Ông xã tôi trình bày hòan cảnh chung của anh em trong tàu và xin ông  hướng dẫn gặp Cao ủy phụ trách vấn đề tị nạn. Ông nói:

- Nếu chúng tôi không mất nước thì giờ này chúng tôi cũng như ông, an nhiên tự tại trên quê hương mình chớ đâu cần phải nổi trôi phiêu bạt, liều chết đi tìm tự do ở xứ người. Đất nước ông đã may mắn không bị chiến tranh thì xin ông rộng lòng chia sớt cái may mắn đó bằng cách cứu vớt những kẻ bất hạnh lỡ đường như chúng tôi. Đường dài trăm dặm, chúng tôi đã tận sức đi được chín mươi, mười dặm còn lại là tùy thuộc vào lòng tốt của ông. Xin  hãy  đưa giúp chúng tôi đi nốt chặng đường còn lại.       

Ông thiếu tá suy nghĩ một chút rồi nói rằng:

- Từ bao tháng qua, đã có rất nhiều con tàu tị nạn  trôi dạt vào đây nhưng lần nào tôi cũng buộc lòng cho lính kéo ra theo lệnh chính phủ, nếu không đi thì chúng tôi sẽ bắn, nhưng hôm nay không biết sao tôi lại thấy mình bị lay chuyển, thuyết phục, hình như có một sự vô hình nào đó thúc giục tôi phải tiếp nhận các anh. Thôi được, anh hãy gọi hết đồng bào của anh lên bờ nghỉ ngơi, tôi sẽ liên lạc với Hội Hồng Nguyệt Mã Lai (Red Crescent Society) đến đây giải quyết trường hợp của các anh.


Rồi ông thiếu tá bảo lính đem mấy thùng mì gói và nước ra cho mọi người ăn trưa. Sau đó, ông về phòng làm việc gọi máy cho Hội Hồng Nguyệt. Sau bốn ngày ngồi bó gối dưới khoang tàu, hôm nay được thỏai mái đi đi lại lại trên bờ và ăn uống khoan thai, mọi người đều cảm thấy  khỏe khoắn nhẹ nhàng từ thể xác đến tinh thần. Dù chưa biết bước kế tiếp sẽ như thế nào nhưng trước mắt là họ đã hòan tòan thóat khỏi xích xiềng cộng sản, hòan tòan cầm chắc sự tự do mà họ đã đổi lấy mạng sống đi tìm.  Đến xế chiều, bên ngòai trại lính có một chiếc xe bus dài và to với huy hiệu Trăng lưỡi liềm đỏ đổ lại. Ông thiếu tá cho gọi  đòan người tị nạn ra bàn giao  chúng tôi  cho  nhân viên của hội và chúc chúng tôi được nhiều may mắn trên đường định cư. Ông xã tôi thay mặt mọi người chấp tay cám ơn thiếu tá Yap nói rằng:

- Ơn đức của ông chúng tôi xin ghi nhớ trọn đời. Ông chính là người đầu tiên cho chúng tôi cơ hội trên con đường tìm tự do. Tiền rừng bạc biển ai rồi cũng sẽ hết, chỉ có thi ân bố đức, giúp người họan nạn mới là phương cách đầu tư, tích phước trường tồn. Nguyện xin ơn trên ban phúc lành cho gia đình ông mãi mãi.

Khi lên xe bus, nhân viên của hội cho biết là chúng tôi sẽ được đưa đến  trại chuyển tiếp Marang ngủ qua đêm rồi sáng hôm sau sẽ xuống tàu qua đảo tị nạn Pulau Bidong ở đó trong thời gian chờ Cao Ủy cứu xét cho đi định cư ở đệ tam quốc gia. Như vậy là mục đích đi tìm tự do của chúng tôi đến giai đọan này coi như đã thành công được hai phần ba. Những ngày sắp tới sẽ là những ngày “dưỡng quân” trước khi được chính thức định cư để  làm lại cuộc đời.       

Bà là Đức Mẹ Ma-ria

Quan Âm Bồ Tát hay bà là ai?

Ơn thiêng liêng ấy muôn đời

Bà tiên áo trắng rạng ngời trong tim


Chuyến vượt biển của chúng tôi quả là một chuyến đi suông sẻ an lành hiếm thấy từ lúc khởi đầu cho đến khi tới bến. Không bị đói khát, không bị chết máy bể tàu, không bị cướp biển, sóng gió  cấp tám cũng  lặng lẽ rút lui sau một hồi hòanh hành đe dọa. Không biết đó có phải là nhờ vào đức tin tuyệt đối ở đấng thiêng liêng hay không. Nhưng nếu nói nhờ vào đức tin thì những thuyền nhân khác cũng có thừa đức tin như chúng tôi vậy. Vậy thì  tại sao có biết bao nhiêu vạn người bất hạnh đã gặp biết bao thảm cảnh trong chuyến hãi trình, đói khát, cướp bóc, hãm hiếp, cha con chồng vợ kẻ mất người còn, gia đình tan nát thê lương và khỏang từ 200 - 400 ngàn người đã mất tích hoặc đã bỏ mình chết oan trên biển cả, nuốt hận ngàn thu? (Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc (UNHCR). Hay là phước ai người đó nấy hưởng? Vấn đề thiêng liêng thì có lẽ chỉ có đấng thiêng liêng mới giải thích được, tiêu chuẩn ban ơn của họ là như thế nào.  Còn đối với người phàm như chúng ta thì chỉ biết khấn nguyện, khẩn cầu và…xin vâng mà thôi...



Người Phương Nam

No comments:

Post a Comment