Thursday, February 26, 2015

Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ: Quốc Gia Bá Quyền Cuối Cùng Của Nhân Loại - Nguyễn Cao Quyền


Hoa Kỳ và nền văn minh dân chủ

Ngày16/11/1917 Hoa Kỳ bước vào Đệ Nhất Thế Chiến. Đây là lần đầu tiên lịch sử của Hiệp Chúng Quốc xoay sang một chiều hướng mới. Khi Wooddrow Wilson trở thành tổng thống thì thế giới có 7 cường quốc thực dân đang thống trị gần như toàn thể nhân loại. Đó là Anh, Pháp, Đức, Ý, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật. Chiến tranh bắt đầu giữa các cường quốc : một bên là Đức, Áo Hung và Thổ Nhĩ Kỳ, phe còn lại là Anh Pháp và Nga.

Wooddrow Wilson cho chiến tranh là một điều sai lầm và ông yêu cầu quốc hội tuyên chiến chống lại đế quốc Đức. Ông tuyên bố : “Phải làm cho thế giới này thành nơi an toàn cho nền dân chủ. Thiên Chúa đã cho Hoa Kỳ thừa hưởng di sản qúy báu này, thì Hoa Kỳ phải giúp cho thế giới sống hạnh phúc và an bình như thế”.

Năm 1917 Hoa Kỳ đổ quân vào nước Pháp để giải phóng nước này khỏi sự chiếm đóng của Đức. Cả Âu Châu đã kinh ngạc và sửng sốt vể sự hùng mạnh của quân đội Hoa Kỳ và chiến thắng chớp nhoáng quân đội này mang lại. Sự thảm bại của trung tâm quyền lực do Đức cầm đầu vào năm 1918 cho thấy đường lối và tư tưởng của họ không còn hợp thời nữa. Đối với Hoa Kỳ, trọng tâm sau chiến tranh là xây dựng một hê thống chính trị vương đạo dân chủ cho toàn thể thế giới để thay thế hế thống chính trị bá đạo của các đế quốc thực dân.
Chủ thuyết của Wilson là chủ thuyết “dân tộc tự quyết”. Tinh thần này cũng không khác gì tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hiệp Chúng Quốc năm 1776 nghĩa là một chính quyền phải được sự chấp thuận của người dân mới được coi là chân chính. Thế giới mà các đế quốc thực dân đang cưỡng chiếm cần phải làm cho sụp đổ và tan rả. Tẫt cả chiến tranh bắt nguồn từ ý nghĩ điên rồ của Kaiser Wilhelm II của Đức, cho rằng Thiên Chúa đã ban cho y quyền thống trị bất cứ mảnh đất nào trên thế giới, phải được đập bỏ.

Wilson là một nhân vật vĩ đại, đã chiến đấu cho một lý tướng vĩ đại và cao cả nhất. Chính Wilson đã đẩy được hoàng đế Wilhelm II của Đức ra khỏi ngai vàng và làm cho đế quốc Đức sụp đổ để cứu cả Âu Châu.

Hai mươi năm sau khi Thế Chiến I chấm dứt, làn sóng tư tưởng độc tài lại lan tràn khắp Âu Châu. Đầu tiên lả tại Nga, rồi tới Ý, Đức. Thế Chiến II bùng nổ vào năm 1939. Lúc đó, nhiều người Mỹ kêu gọi Hoa Kỳ nên sống cô lập và đừng dính dáng gì đến Âu Châu nữa. Nhưng tổng thống Roosevelt bác bò lập trường này vì ông còn nhớ những gì tổng thống Wilson đã nói trước đó 20 năm : “ Nếu một quốc gia có quyền lực, quốc gia đó không thể chối bỏ xử dụng quyền lực ấy để cứu nhân độ thế ”. Và tổng thống Roosevelt đã thuyết phục Quốc Hội Mỹ chấp thuận cho một ngân khoản lớn để xây dựng quốc phòng.

Thế Chiến II (1939-1945) là một cuộc chiến tranh lớn nhất, tàn bạo nhất và đẫm máu nhất mà nước Mỹ đã tham dự kể từ thời nội chiến. Hoa Kỳ đã phải tiến hành hai mặt trận cùng một lúc : thứ nhất là ở Đại Tây Dương và thứ hai là ở Thái Bình Dương, gồm cả địa chiến, không chiến và hải chiến. Ngày 8/2/1941 cả Đức và Ý đã tuyên chiến với Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Tai Âu Châu Hoa Kỳ đã chiến đấu cho tự do chống độc tài. Tại Thái Bình Dương Hoa Kỳ đã chiến đấu cho quyền sống của con người. Mục tiêu này cho thấy vị trí và vai trò của Hoa Kỳ hoàn toàn khác biệt và vô cùng lớn lao so với tất cả các quốc gia khác trên thế giới.

Trong Thế Chiến II, tướng Eisenhower là tư lệnh các mặt trận Âu Châu và Phi Châu. Chỉ trong một tháng, ông đã cho đổ bộ một trịệu quân, cùng với 70.000 xe tăng và xe vận tải lên các địa điểm chiến lược tại Âu Châu. Riêng cho trận Normandy, tại bờ biến Omaha và Utah, ngày 6/6/1944 Hoa Kỳ đã xử dụng 4000 chiếc tàu thủy để chở quân đến mặt trận nàỳ. Thêm vào đó có 600 chiến hạm tham dự trận đánh và 11.000 máy bay chiến đấu bay lượn trên không để yểm trợ và bảo vệ.

Tại Thái Bình Dương, tướng Mac Arthur đả bỏ hai quả bom nguyên tử xuống hai tỉnh Hiroshima và Nagasaki để buộc Nhật phải đầu hàng. Đây là những trang quân sử lẫy lừng và oanh liệt nhất mà quân đội Hoa Kỳ đã để lại cho hậu thế.

Cả hai tổng thống Wilson và Roosevelt đã không ngần ngại mang mạng sống của mình ra thực hiện con đường chính trị vương đạo mà các quốc phụ Hoa Kỳ muốn đem áp dụng trên toàn thế giới để đem lại tự do, đân chủ và vẹn toàn lãnh thổ cho 70 quốc gia non trẻ mới thu hồi độc lập.

Tổng thống Roosevelt đả bước theo dấu chân của tổng thống Wilson, và tồng thống Truman đã nối tiếp bước đường gian nan của tổng thống Roosevelt để đối đầu với làn sóng độc tài của Phong Trào Cộng sản Quốc Tế.

Những người Hoa Kỳ đã mang tinh thần Dân Chủ, tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập Năm 1776, tinh thần của Đạo Luật Nhân Quyền, tinh thần của Hiến Pháp Hiệp Chúng Quốc, để phát động cách mạng từ Đông sang Tây trong suốt Thế Kỷ 20 sang Thế Kỷ 21, nhằm giải phóng nhân loại và đem lại quyền sống cho họ.

Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ sẽ là quốc gia bá quyền cuối cùng của nhân loại?

Hai thập niên sau khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt nhiều người cho rằng chủ nghĩa Tự Do (Liberalism) đang bị thách đố bởi sự hồi sinh của hiện tượng chuyên chính. Có thể nói như vậy là vì hiện nay nền dân chủ Tây phương đang phải đối đầu quyết liệt với một chế độ chuyên chính vô cùng nguy hiểm là Trung Quốc .

Nhưng luận điểm về sự hồi sinh của chuyên chính khó thuyết phục vì những tỳ vết trầm trọng trong bản chất của các chế độ đó. Hai đặc tính căn bản của mọi chế độ chuyên chính là “bất lực” và “hỗn loạn” với những biểu hiện cụ thể là tham nhũng và thiếu công bằng.
Tham nhũng là hiện tượng quen thuộc phát sinh từ sự lạm dụng quyền lực không thể kiểm soát. Nó là một vấn đề thuộc bản chất. Vì không thể kiểm soát được nên tham nhũng tự do hoành hành.

Hiện tượng thứ hai là sự thiếu công bằng (inequality) xảy ra từ thời xa xưa nhưng vẫn tồn tại đến ngày nay. Hiện tượng này biểu hiện ở hành động ăn cướp và trấn lột của nhà nước đối với những tầng lớp hiền lành nhất như công nhân và nông dân. Nó chỉ chấm dứt khi xã hội trở thành dân chủ đa nguyên trong đó các đảng chính trị cầm chân lẫn nhau như trong các chế độ dân chủ Tây phương.

Những người bênh vực luận điểm “chuyên chính hồi sinh” cho rằng thế kỷ 21 sẽ có nhiều điểm tương đồng với thế kỷ 19, và sẽ nảy sinh ra những phe nhóm đại cường thù nghịch giữa dân chủ và độc tài. Một thế giới như vậy sẽ không thể thoát khỏi chiến tranh và giấc mơ dân chủ toàn cầu sẽ bị đẩy lui.

Tuy nhiên những người đó quên rằng ngày nay không còn ai nghĩ chiến tranh là phương thức được ưa chuộng để giải quyết sự thù nghịch và thực hiện ý đồ bành trướng bá quyền. Ý nghĩa của thuật ngữ bá quyền cũng không cỏn nội dung như xưa nữa. Bá quyền giờ đây là một lọai bá quyền lỏng lẻo, có đi có lại, chứ không hoàn toàn bất cân xứng (asymetric) như trong mấy thế kỷ trước.

Hơn thế nữa nền kinh tế toàn cầu thực sự đã xóa nhòa mọi biên giời quốc gia. Thương mại, đầu tư và sản xuất từ lâu đã phát triển ra ngoài lãnh thổ và mang lại một sự thịnh vượng chung. Những yếu tố này đã bào mòn tư tưởng bá quyền. Để minh họa nhận định này ta có thể lấy Hoa Kỳ làm thí dụ.

Trong sinh hoạt quốc tế hiện nay, hành động của Hoa Kỳ đôi lúc cũng vẫn còn bị đánh giá là mang tính bá quyền. Nhưng ai cũng nhận thấy đó là những hành động bá quyền bao dung. Samuel Huntington nhận xét rất chính xác: “Một thế giời không có Hoa Kỳ dẫn dắt sẽ là một thế giới có nhiều bạo lực hơn, mất trật tự hơn, kém dân chủ hơn và kém phát triển hơn một thế giới trong đó Hoa Kỳ tiếp tục có ảnh hưởng hướng dẫn và điều hành sinh hoạt toàn cầu”.
Sự khác biệt giữa bá quyền bạo lực và bá quyền bao dung rất dễ nhận biết. Đó là sự khác biệt biệt về mức độ hành xữ quyền lực (exercise of power). Mức độ quyền lực mà Hoa Kỳ có được sau Thế Chiến II là mức độ chưa quốc gia nào đạt tới kể từ sau đế quốc La Mã. Vậy mà Hoa Kỳ không hề lạm dụng. Trái lại vẫn hành xử dân chủ. Chỉ cần nhìn vào cách hành xử của Stalin cách đây không xa sẽ thấy ngay sự khác biệt.

Truyền thống dân chủ lâu đời của dân Mỹ chỉ dẫn cho họ biết khai thác sức mạnh dân chủ qua việc để cho các đồng minh tự do hành động về cả hai phương diện đối nội và đối ngoại. Hơn nữa, trong suốt thời gian Chiến Tranh Lạnh, đại chiến lược của Hoa Kỳ là “cho nhiều hơn đòi hỏi” .

Bằng đại chiến lược này Hoa Kỳ đã vực dậy những đồng minh của họ ở Tây Âu và Đông Á từ đống tro tàn đổ nát vì chiến tranh, để cùng với các quốc gia này kết thành một khối kinh tế lớn mạnh và gắn bó nhất hoàn cầu. Trong đại chiến lược này điều đáng nói hơn cả là Hoa Kỳ dám đem sinh mạng của dân tộc mình bảo đảm cho các đồng minh bằng chiếc dù nguyên tử mà các đồng minh chưa sở hữu. Điểm này là một thực tế không thể chối cãi và đồng thời cũng là một nét son trong lịch sử Hiệp Chủng Quốc.

Chiến lược “cho nhiều hơn đòi hỏi” vẫn được Hoa Kỳ áp dụng sau Chiến Tranh Lạnh. Sự thật là ngân sách quốc phòng của Mỹ ngày càng tăng thành một con số khổng lồ: 700 tỷ Mỹ Kim/năm. Với ngân sách khổng lồ này Hoa Kỳ đã làm gì ? Rất ít chi tiêu đã được đã được dùng vào việc bảo vệ lãnh thổ quốc gia. Phần lớn được dùng vào việc thi hành các cam kết đã hứa với đồng minh.

Hoa Kỳ đã bước vào vị thế lãnh đạo thế giới tương đối dễ dàng và không đổ máu chính là nhờ chiến lược này. Dân tộc Hoa Kỳ chủ trương rằng hạnh phúc của dân tộc mình căn bản phụ thuộc vào hạnh phúc của người khác, nền thịnh vượng của nước mình không thể xảy ra nếu không có sự thịnh vượng của thế giới, một sự xâm phạm lãnh thổ của bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có thể trở thành sự xâm phạm lãnh thổ của mình, nền an ninh của quốc gia mình phụ thuộc phần lớn vào tình trạng an ninh của nhân loại.

Thật ra không phải vì lòng vị tha mà Hoa Kỳ đã có những tư tưởng như trên. Giống như bất cứ dân tộc nào khác, đó cũng chỉ là những tính toán vì lợi ích của chính mình. Tuy nhiên, áp dụng lâu ngày trong thời gian, sự tính toán này có hình thái như một “nét hào phóng”.

Trong thời gian qua cả thế giới đã hưởng sự hào phóng này. Nhưng đối với nhân dân Hoa Kỳ thì chiến lược hào phóng đó đôi lúc đã khiến họ cảm thấy mệt mỏi.

Theo dòng chảy của thời gian không khí chính trị của thế giời ngày càng trở nên thoải mái và con người dường như không chịu nổi một tình trạng bá quyền rơi gọn vào tay một quốc gia duy nhất. Cho nên cảm nhận chung là rất có thể Hoa Kỳ sẽ là quốc gia cuối cùng nằm trên vị thế bá chủ toàn cầu.

Cảm nhận này xuất phát từ hai cơ sở thực tế không thể phủ nhận. Thứ nhất, trong thế giới ngày nay tiến trình toàn cầu hóa đã giảm thiểu rất nhiều tính sơ cứng của ý niệm chủ quyền quốc gia. Thứ hai, tri thức (knowledge) như một quyền lực (power) đã lan tỏa ra ngoài biên cương của đất nước .

Trong nền kinh tế của thế gìới cũng không còn hiện tượng tập trung. Vào năm 1945, GDP của Mỹ là 50% GDP của toàn thể các quốc gia nhưng ngày nay mức độ đó chỉ còn là 30% và đến năm 2020 thì sẽ chỉ còn 20%. Liên Âu, Trung Quốc và Nhật Bản là những nước có khả năng bắt kịp GDP của Mỹ vào cuối thập niên thứ hai này.

Tình trạng kinh tế phát triển đồng đều nói trên sẽ làm cho lòng ham muốn vị thế lãnh đạo của Hoa Kỳ ngày càng phai nhạt và đưa đến hậu qủa là dần dần không còn quốc gia nào thèm muốn vị thế đó nữa. Viễn kiến này không phải là một ảo tưởng mà là một thực tế đang xuất hiện. 

Từ kinh nghiệm của dĩ vãng, Trung Quốc đã rút ra được bài học của Liên Xô nhưng chưa rút ra đươc bài học của Hoa kỳ. Liên Xô thất bại chủ yếu là vì đã áp dụng một thể chế độc tài. Không phải chỉ có Liên Xô mà tất cả các chế độ độc tài trong dĩ vãng như Đức, Ý, Nhật đều đã theo nhau sụp đổ, nếu không vì chiến tranh với nước ngoài thì cũng vì thối nát trong nội bộ.

Trong khi đó Hoa Kỳ đã dễ dàng bước vào vị thế bá chủ hoàn cầu không phải nhờ chiến tranh xâm lược mà vì biết lợi dụng sức mạnh dân chủ của nhân loại, biết khai thác tâm lý ưa chuộng hòa bình và chán ghét chiến tranh như một bản chất tự nhiên của con người. Trên bàn cờ quốc tế, ý đồ bá quyền không hẳn là điều xấu vì nó là động cơ cho văn minh nhân loại tiến lên, nhưng phải thực hiện bá quyền bằng cạnh tranh phát triển và thực thi dân chủ chứ không phải bằng độc tài và bạo lực.

Đối với Việt Nam, viễn kiến trình bày trong những dòng viết ở trên phải được coi như một nhận định quan trọng trong việc thẩm định lợi ích lâu dài của đất nước. Bản chất bá quyền của Hoa Kỳ và của Trung Quốc không có những yếu tố cấu thành tương tự. Bản năng sinh tồn của dân tộc, vào lúc này, chỉ ra rằng phải liên kết với kẻ mạnh dù chỉ là một sự liên kết giai đoạn.

Nguyễn Cao Quyền
Tháng 1 năm 2015

Nghệ Thuật Uốn Dẻo - Extreme Contortionist Stretches Out

Về tài năng uốn dẻo người, được biết cô Zlata người Nga được mệnh danh là cô gái có thân hình dẻo nhất thế giới. Nhưng hôm nay tình cờ khám phá ra video này mới thấy rằng nếu ai chịu khó kiên trì luyện tập thì cũng có ngày đạt đến mức thượng thừa như cô gái Nga.
Mời quý vị click vào ảnh để xem màn uốn dẻo khó tin của một cô gái Mông Cổ mà chắc chắn quý vị sẽ hài lòng.

Đời Người Như Gió Qua - Phạm Thanh Chương


Cuối cùng  thì những  dự định, hy vọng,  ước mơ, hoài bão cũng chỉ là khói bụi tan đi như những đám mây trên bầu trời mênh mông, vô tận kia. Đến một ngày rồi ai ai cũng đều phải trả lại cho đất trời những gì đã vay mượn để trở về. Sự chấm dứt của kiếp người là điều tất yếu, phải như vậy, không thể khác, không thể có điều ngoại lệ.
Đó là sự bình đẳng, công bằng và cũng là niềm an ủi cho tất cả mọi sinh linh có mặt trong cuộc sống ở thế gian này.
Sự sống là một điều kỳ diệu. Có lẽ mọi vật hữu tình từ đơn bào cho đến sinh vật thượng đẳng là con người đều có một mong ước giống nhau là kéo dài sự sống, nhưng “tuổi thọ” của muôn loài đã được quyết định bởi những  yếu tố mang  tính chất định luật mà mọi sinh linh có sự sống không dễ gì vượt qua.

Hiện nay, cho dù có nền y học tiên tiến vượt bực mà loài người đã đạt được thì tuổi thọ của con người cũng không sánh kịp với tuổi thọ của loài rùa. Thực vật cũng là một dạng sống, có những loài cây có tuổi thọ từ vài trăm năm đến cả ngàn năm. Như loài thông  có tên Bristlecone ở Bắc Mỹ có tuổi thọ đến 4.500 tuổi.

Gần đây, có một số phát hiện khoa học cho rằng có sinh vật “lách” khỏi qui luật sinh tử khắc nghiệt của tạo hóa để trường tồn mà không hề biết “thời gian, tuổi thọ” là gì. Các nhà nghiên cứu thuộc Pennsylvania State University cho biết loài sứa Turritopis Nutricula là sinh vật thủy tức có thể quay ngược vòng đời của chúng từ thời kỳ trưởng thành trở lại thời kỳ sinh vật đơn bào và từ đó tiếp tục phát triển; nhờ vậy chúng trở nên bất tử. Loài sứa này vốn được phát hiện ở vùng biển Địa Trung Hải từ năm 1883 nhưng khả năng độc đáo của chúng thì chỉ mới được quan tâm từ hồi thập niên 1990. Người ta tìm thấy ở chúng một quá trình chuyển dịch tế bào, từ một dạng tế bào này có thể chuyển đổi thành một dạng tế bào khác và có khả năng liên tục tái tạo toàn bộ cơ thể của chúng. Khả năng này hiện vẫn là điều bí mật của tự nhiên và đang được các nhà khoa học tập trung giải mã với hy vọng có thể từ đó tìm ra những phương thức chống lại bệnh ung thư ở loài người. Tuy nhiên, trong các cuộc thảo luận về khoa học, không ít người tuyên bố rằng không có bằng cớ về sự bất tử của loài sứa này; vì lẽ người ta không thể theo dõi cùng một con sứa trong vài chục năm, cả trăm năm, hay nhiều thế kỷ; hơn nữa, chúng vẫn không thể thoát khỏi tình trạng bị ăn thịt, gặp tai nạn, hoặc nhiều hoàn cảnh vô thường khác. Vả chăng, khi chúng tái tạo toàn bộ cơ thể từ giai đoạn ban đầu của một sinh vật đơn bào dạng ống thì chúng đã là một sinh vật khác, không còn là sinh vật cũ để bảo rằng chúng bất tử!
Nói khác đi, định luật sinh lão bệnh  tử vẫn là một định luật khắc nghiệt áp dụng cho mọi hình thái sinh vật, áp dụng cho mọi chúng sinh!

Sống và được sống là điều mà tất cả mọi sinh linh đều tha thiết và mong ước, nhưng sống để làm gì? Sống có ích gì cho đồng loại? Đó là điều thiết yếu và quan trọng.
Phù dung  là một  loại hoa  mỏng  manh,  quí phái nhưng lại có một đời sống ngắn ngủi “sớm nở tối tàn”. Tuy nhiên, trong khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi đó, phù dung đã tô điểm, mang lại cho đời vẻ đẹp thanh tao, cũng là điều đáng quí.

Trời đất thì bao la, thời gian thì vô tận, kiếp người cũng như loài hoa phù dung, thấy đó rồi mất đó, sắc sắc không không, như cơn gió thoảng  qua, như một vạt nắng hắt hiu còn sót lại của một buổi chiều.
Nếu chúng ta tỉnh thức và quán tưởng về cuộc đời, chúng ta sẽ thoát khỏi ảo tưởng thân này là tự ngã. Khi thực hành được điều này, nỗi sợ hãi âu lo về sinh tử sẽ nhẹ nhàng hơn, như trút bỏ lớp áo nặng nề mà bấy lâu nay cứ đeo bám bên người.

Không ai biết điều gì sẽ xảy ra ở ngày mai, có thể đó là điều tốt lành nhất hay điều tồi tệ nhất sẽ đến với chúng ta, nhưng chắc chắn một điều là ngày mai sẽ đến và có một lúc chúng ta sẽ không còn có mặt trong cuộc sống này. Cái chết làm chúng ta sợ hãi nhưng xét cho cùng sự chấm dứt đó là một món quà, như một niềm an ủi mà tạo hóa dành tặng riêng cho mỗi sinh linh. „

Phạm Thanh chương (Nguồn: Văn Hóa Phật Giáo)

Wednesday, February 25, 2015

Ngày Mồng Sáu Tết Say Nhừ - Đỗ Công Luận


Dược Thảo, Lợi Hại Ra Sao? - Dr Liêu Vĩnh Bình (Đài SBS Australia) Phần 1

Bác Sĩ Liêu Vĩnh Bình nói về sự lợi và cái hại của dược thảo trên đài Radio SBS (Úc Châu) Phần 1

Thơ Người Phương Nam - PPS Marian Tran

Xin giới thiệu đến quý vị một youtube mới của chị Marian Tran "Tản mạn những dòng thơ Người Phương Nam".   
Rất mong được quý vị ủng hộ và góp ý để chị có thể học hỏi trau dồi thêm kỹ thuật làm PPS. Cám ơn.
    

Người Dân Xứ "Nẩu" - Sông Lô


Nói đến chữ “Nẫu” thường thì thiên hạ hay đem nó ra đùa hay ghẹo để mua vui một cách vô thưởng vô phạt hơn là nghiêm túc đề cập đến một loại thổ âm miền Trung nghe là lạ đến quê mùa so với những thổ âm khác trong cộng đồng dân tộc Việt.

Có nhiều người cứ thắc mắc chữ "Nẫu" có nghĩa là gì? Và từ „Nẫu“ có mang ý nghĩa miệt thị hay không?
Xin trả lời, ý nghĩa có miệt thị hay không là tùy cách nhận thức và trình độ của mỗi người, nó chẳng những được đánh giá ở tha nhân mà còn chính ngay cách cảm nhận ở người dân Nẫu.

Còn chữ nẫu từ đâu mà có? Đây cũng là một loại „chuyện dài nhiều tập“ người viết xin trích ngắn gọn ra đây từ tài liệu ghi được trong bài viết „Xứ Nẫu“ của tác giả Phan Thanh Bình như sau:

Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Phù nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan có bổn phận đưa lưu dân nghèo không sản nghiệp khai khẩn vùng đất mới từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả (tỉnh Phú yên bây giờ). Sau 33 năm khai phá vùng đất mới, hình thành làng mạc, năm 1611 chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Năm 1629, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên . Do đặc điểm của vùng đất mới còn hoang hóa, dân cư thưa thớt nên các đơn vị hành chính của vùng biên viễn có những nét đặc thù. Dưới cấp huyện có cấp Thuộc, dưới Thuộc là các đơn vị hành chính nhỏ hơn như Phường, Nậu, Man.

Phường là các làng nghề có quy mô như phường Lụa, phường Sông Nhiễu. Nậu là tổ chức quản lý một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, người đứng đầu gọi là đầu Nậu.

Ví dụ: “Nậu nguồn” chỉ nhóm người khai thác rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ, “Nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm...

Do sự phát triển của xã hội Đàng Trong, năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chú (1697-1738) cử Đại ký lục chính danh Nguyễn Đăng Đệ quy định phạm vi, chức năng của các đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính như “Thuộc”, “Nậu” bị xóa bỏ.

Khái niệm thành tố chung cấp hành chính “Nậu” được biến nghĩa dùng để gọi người đứng đầu trong đám người nào đó và sau này dùng để gọi đại từ nhân xưng ngôi thứ ba.

Từ “Nậu” không xuất hiện độc lập mà chỉ có mặt trong các tổ hợp danh ngữ:
Ví dụ:

Mất chồng như nậu mất trâu
Chạy lên chạy xuống cái đầu chôm bơm.
- Tiếc công anh đào ao thả cá
Năm bảy tháng trời nậu lạ tới câu.
- Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên.

Từ chữ “Nậu” ban đầu, phương ngữ Phú Yên-Bình Định tỉnh lược đại từ danh xưng ngôi thứ ba (cả số ít và số nhiều) bằng cách thay từ gốc thanh hỏi. Ví dụ: Ông ấy, bà ấy được thay bằng: “ổng”, “bả”. Anh ấy, chị ấy được thay bằng: “ảnh”, “chỉ”.

Và thế là “Nậu” được thay bằng “Nẩu”.

Nẫu đã đi vào ca dao Bình Định, Phú Yên khá mượt mà, chân chất:

Ai nề sông núi Phú Yên
Cho nẫu nhắn gở nỗi niềm nhớ quê

Phương ngữ Thuận Quảng (Thuận Hóa - Quảng Nam) với “mô, tề, răng, rứa, chừ”, vượt qua đèo Bình Đê (ranh giới Bình Định - Quảng Ngãi) được đổi thành “đâu, kia, sao, vậy, giờ”.

Và đặc trưng ngữ âm của vùng Nam Trung bộ (Bình Định - Phú Yên) không phân biệt rạch ròi cách phát âm dấu hỏi và dấu ngã. Đặc biệt, bà con vùng biển từ Hoài Nhơn (Bình Định) đến Gành Đỏ (Sông Cầu-Phú Yên), các âm dấu ngã đều phát âm thành dấu hỏi.

Riêng đồng bằng Tuy Hòa, khi phát âm không phân biệt được dấu hỏi và dấu ngã. Bởi vậy, “Nẩu” hay được phát âm là “Nẫu”.

Đồng bằng Tuy Hòa trù phú, nhiều nhà giàu trong vùng cho con cái đi học chữ phương xa. Các vị có chữ nghĩa viết chữ “Nẩu” theo phát âm quen miệng thành chữ “Nẫu”.

Nói nôm na, tiếng Nẫu là tiếng địa phương của vùng Bình Định và Phú Yên có nghĩa là họ, hay người ta, vì là "đại từ nhân xưng" nó nằm ở vị trí ngôi thứ ba vừa số ít mà cũng vừa số nhiều. Ví dụ thay vì hỏi „Hôm nay người ta đi đâu mà nhiều vậy? „ thì người dân Bình Định và Phú Yên hỏi là „Hôm nay nẫu đi đâu mà nhiều dậy?“ hay „Cái nhà này là của họ“ thì dân Nẫu sẽ nói là „Cái nhà nhà này là của nẫu“.

Chính vì vậy mà khi hòa cùng tất cả tiếng nói của mọi miền đất nước thì tiếng nẫu sẽ không lạc vào đâu được, thậm chí còn dùng những từ hoàn toàn khác với những từ thông dụng, ví dụ thay vì nói „Vào tận trong đó“ thì nói là „Dô tuốt trỏng“ hay hỏi "vậy hả?" thì hỏi là „dẫy na?“, "dẫy ngheng" (vậy nghen hay thế nhé), "dẫy á" (vậy đó), "chu cha wơi" (trời đất ơi) v.v...

Cũng vậy, nếu có một chàng trai xứ khác nào đó có quan hệ tình cảm với một cô gái người xứ Nẫu nhưng tình của chang này còn lấn cấn theo kiểu „Mặt trong thì đã mặt ngoài còn e“ hay vẫn còn „ú ớ việt gian“ thì cũng có thể sẽ nhận được câu nói chân chất với khí phách, ngang tàng, dám nói mà cũng dám làm sau đây từ phía người đẹp. Yêu không yêu thì thâu, cứ dứt phát đi (Ý nói yêu không yêu thì thôi, cứ nói dứt khoát đi).

Mất chồng như nẫu mất trâu
Ý nói mất chồng như người ta mất trâu

Hay

Thương chi cho uổng công tình
Nẫu dề xứ nẫu bỏ mình bơ vơ
Bơ vơ đừng ngại bơ vơ
Nẫu dề Nẫu sẽ viết thơ cho mình

Ý nói thương làm chi cho uổng cái tình của mình, người ta sẽ về xứ của họ rồi bỏ lại mình bơ vơ ... người ta đi về thế nào cũng sẽ viết thơ đừng có ngại.

Có một câu chuyện cười về „Nẫu“ cũng xin kể ra đây,

Một anh du khách đi đến xứ nẫu, hỏi cô gái cấy lúa bên đường.
- Cô ơi, cho hỏi thăm, ruộng này của ai vậy?
- Ruộng nẫu đó anh!
-Cái nhà đằng kia của ai vậy em?
- Của nẫu đó anh!
-Vậy chiếc xe Honda kia?
-Cũng của nẫu đó anh!
Đang lúc đó có chiếc phi cơ đang bay trên trời anh du khách mới hỏi thêm,
- Vậy còn máy bay kia là của ai?
- Cũng của nẫu luôn đó anh!
Anh du khách trố mắt: -"Trời, ông Nẫu là ông nào mà giàu quá vậy ta!"

Xứ nẫu quê tôi có hòn núi Nhạn, có Núi Đá Bia, có đèo Cả, Cù Mông, có Vũng Rô, có đập Đồng Cam, có đồng lúa mênh mông cò bay thẳng cánh“. Xứ Nẫu quê tôi còn có sông Ba, hòn Chùa, có đầm Ô Loan, vịnh Xuân Đài, có những rừng dừa xanh nằm trên bãi biển cát vàng, tạo nên những phong cảnh thiên nhiên hài hòa và hùng vỹ. Nói chung nó chẳng khác nào như một nước Việt Nam thu nhỏ vì nó có tất cả, từ vịnh, gành, đầm, vũng đến biển, đảo, núi rừng cùng với cả một vùng đồng bằng được mệnh danh là vựa lúa miền Trung. Nó còn có cả vùng trung du, vùng, cao nguyên với núi cao rừng thẳm và cũng bắt nguồn từ đó nó đã đi vào ca dao, dân ca, thi ca, văn học nuôi dưỡng tâm hồn người dân tôi qua nhiều thế hệ.

Một tay cầm biển rộng
Một tay nắm trời cao
Quê tôi đứng giữa tự hào
Đất Phú Yên giữ một màu Việt Nam

Hay

Chiều chiều mây phủ Đá Bia
Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng
Lẽ loi như ngọn Núi Sầm,
Lặng yên như mặt nước Đầm Ô Loan

Còn đánh giá dân xứ Nẫu như thế nào thì mời bạn đọc xem những mẩu đối thọai dưới đây :

-Ở hoài xứ nẫu, đâm ra tôi cũng dần biết nói tiếng nẫu, mến người xứ nẫu. Người xứ nẫu ăn cục nói hòn, nhưng chắc thiệt. Cái khí chất ăn sóng, nói gió của những cư dân đất này cũng góp vào tiếng nẫu cái mạnh mẽ trong sắc thái ngôn ngữ, cái độ nồng như mang theo cả gió biển và cát nóng.

-Hiện giờ em sống trong một khu toàn là dân "nẫu", họ rất giàu có nhưng mà vô cùng tiết kiệm, thấy mà phát oải luôn, các học trò của em thì xuất xứ đủ mọi miền bắc trung nam, nhưng em thấy học trò xứ nẫu thông minh vượt trội, nhưng có điều tính cách hơi cực đoan và khó gần gũi. Không biết gái "nẫu" có dể thương không hử các bác?

-Rất dễ thương nhưng thường nóng tánh và đá song phi rất giỏi nhưng biết chiều chồng và lo cho gia đình đồng thời sức chịu đựng rất cao.

-Tôi lang thang Quy Nhơn, Tuy Phước rồi vào Sông Cầu, Tuy Hòa... một thời gian nên cũng có nhiều kỷ niệm với vùng đất này. Con gái "nẫu" thường khép kín và khá nghiêm trọng. Họ quan hệ với ai thì rõ ràng, rành mạch (khá khuôn phép và phong kiến). Khi đã "thương" rồi thì họ cực kỳ bền nhưng để cho họ "ghét" rồi thì coi như là xong.

-Dân "nẫu" có cái ít "đĩ miệng" như dân ở phía ngoài nhưng cũng không bộc trực, gan ruột để ra ngoài như dân miền Nam (chính cống). Dân vùng "nẫu" có điểm rất đặc biệt là họ rất sợ bị "nói". Làm cái gì cũng sợ hàng xóm, láng giềng, xã hội dòm ngó. Nói chung họ bị những khuôn phép cũ kỹ ràng buộc và tai miệng thiên hạ chi phối khá nặng nề.

-Dân Nẫu nói chung là dân đặc biệt rạch ròi trong cuộc chiến VN. Theo và chống cả hai phía CH và CS rất cực đoan. Có những người bỏ cả gia đình để đi theo VC và có những người bỏ cả gia đình để chống VC.

-Giai thoại đàn bà con gái Bình Định "đi quyền, đánh roi" xuất hiện trên sách báo chỉ là phóng đại. Không phải đàn bà con gái Bình Định ai cũng... "có nghề" cả đâu. "

Có một nhạc phẩm hát theo thể loại hát chòi, đó là một thể loại hát dân gian chỉ ở dân Phú Yên, dân Bình Định hay nói cách khác là dân Nẫu mới có được. Chính nghệ sĩ hài nỗi tiếng Hoài Linh đã đưa lên sân khấu hài qua giọng bi ai đặc xệt chấc Nẫu với nhiều ý vị mang tính văn hóa phi vật thể trù phú dân gian.

Vâng, chính dân Phú Yên được người ta mệnh danh là dân xứ "Nẫu", đó là tiếng nói đặc trưng của quê tôi mà nhạc phẩm Trách Thân một thể loại dân ca Phú Yên Bình Định sau đây được hát theo điệu Chòi, diễn tả cái phong cách riêng của người dân xứ Nẫu hiền hòa chấc phát mà cũng nhiều tình cảm.

Trách Thân

Thân nè, trách thân nè. Thân sao chớ lận đận nè, mình nè, trách mình nè, số phận chớ sao hẩm hiu.

Chớ bởi thân tui, tui cực khổ, tui eo nghèo nên vợ tui nó mấi (mới) không ở nữa mà nó theo chứ Nẫu rầu (rồi)

Em ơi chớ bi (bây) giờ mà em ở kìa nâi (nơi) đâu? Chớ để cho Qua (anh) nè Qua (Anh) trông đứng nữa trông ngầu (ngồi) rầu (rồi) canh phia (khuya).

Chớ hầu (hồi) nào qua Phú Lỡ (Phú Lễ) eng (ăn) ẩu (ổi) chua, chớ xuống Đại Lãnh, uống nước ngót (ngọt), chớ qua Hòn Dùa (Hòn Dừa), eng (ăn) mực neng (nang). Chớ bây giờ em không ngó nữa em không ngàng đến chồng nghèo nó cực khổ mà gian nan nó cơ hàn...

Hầu (hồi) nào chớ em thất nghiêp, em đi làng (lang) thang chớ anh thấy em nữa tậu (tội) nghiệp anh di mang anh nuôi rày.
Chớ hầu (hồi) nào em bán nước đá rầu (rồi) anh đi may hai đứa mình nè, chung sống chứ không biết ngày rầu (rồi) mai sau.
Chớ hầu (hồi) nào em bắt ốc rầu (rồi) anh hái rau. ư bây giờ, em đở (để) lại mấu (mối) sầu này cho Qua...
Hầu (hồi) nào trái chuối chín... cũng kấng (cắn) làm ba, chớ trái cam tươi cũng kấng (cắn)... Làm bốn, nửa trái cà cũng kấng (cắn) làm năm
Chớ bây giờ em lấy Nẫu chớ em ân (ăn) nằm, em bỏ Qua chớ Qua hiu quạnh,vấi (với) năm canh Qua một mình...

Anh bây giờ, khoé mắt sầu cứ rùng (rung) rinh có giọt lợ (lệ) sầu, giọt lợ (lệ) tham (thảm) như nước trong bình nó tuôn ra
Anh bây giờ, như con Cuốc nó kêu tù qua chớ nó lẻ đâu (đôi), nó lẻ bạn, í quớ chú cha ơi.... là buồn!

Cũng vậy, bài thơ „Nghĩa Tình“ dưới đây cũng là một điển hình nói lên được khía cạnh tình cảm của người dân xứ Nẫu quê tôi

Nghĩa Tình

Tôi cứ (cưới) bà từ thở (thuở) mừ (mườ)i lăm
Vợ chồng hủ hỉ ăn nằm với nhau
Nhớ hầu nào bà ốm bà đau
Tôi lo thang thuốc cho bà mau chóng lành
Bây giờ bà béo nước bà ngọt canh
Bà quên đi cái nghĩa ba sinh thuở nào
Tôi nói ra chẳng phải tính công lao
Tôi nuôi bà mập ú cặp nhủ bà tròn inh
Bây giờ bà giờ bạc nghĩa bạc tình
Để tôi ngậm đắng cũng chịu đành vậy thôi
Gia tài chẳng có là bao
Chỉ có cái cối giả gạo của tôi với bà
Mai này lỡ có ra tòa
Bà rinh cái cối tôi na cái chày
Đêm về ngẫm nghĩ gác tay
Cái cối bà lạnh lẽo mới sang mượn cái chày của tôi

Nói chung văn hóa xứ Nẫu quê tôi không những chỉ thể hiện qua điệu hát chòi than trách thân phận não nùng ai oán như trên, cũng không những chỉ thể hiện qua những tuồng hát bộ mộc mạc dể dải cùng với những ngọn tháp Chàm trầm mặc với „Bao nhiêu vật đổi sao dời, tháp Chàm kia cũng ngậm ngùi phong rêu“ mà còn thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ không lạc vào đâu của nó.......... Dẫy ngheng (thế nhé).

 Sông Lô
(trích " Xứ Nẫu")

Tự Tình Mùa Xuân - Đỗ Công Luận


Sài Gòn, Cà Phê Và Nhạc Sến - Vũ Thế Thành


“…Tách cà-phê ấm môi,
Mình ngồi ôn lại những phút vui trôi qua mất rồi…”
(Hai mùa mưa)

Thằng bạn ở Thụy Sĩ về chơi VN, trên đường tới Hội An, ghé quán cà phê ven đường, “Cho ly cà phê đá Sài Gòn đi bà chủ”. Cà phê mang ra, chưa nếm, y đã lắc đầu, “Không phải. Cà phê là cà phê kiểu Sài Gòn, có biết không?”. “Dạ, dạ… biết”. Dân miền Trung nhẫn nại. Cái gì cũng biết, trừ những cái không biết. Ly cà phê khác mang ra. Cũng không phải!

Tôi sống ở cái đất Sài Gòn này gần mãn kiếp, mấy tiếng cà phê Sài Gòn đã nhạt nhòa từ thưở tám hoánh nào rồi. Nay, nghe một khứa Tây da vàng, biệt xứ 40 năm (xẹt đi xẹt lại VN giỏi lắm là vài ba lần) dõng dạc: “cà phê kiểu Sài Gòn”. Thấy sốc!

Tôi không nhớ mình đã uống cà phê từ lúc nào. Chắc từ thưở biết bưng bê, uống vụng cà phê của các bậc bề trên hơi nhiều. Nhưng chỉ thèm cà phê khi thấy mấy ông khách ở quán cà phê các chú (Tàu) đổ cà phê sữa vào đĩa, chấm bánh tiêu. Thèm cà phê hay bánh tiêu? Tôi không biết, có thể cả hai.


Nhưng vị đắng cà phê biết nếm từ lúc nào thì tôi biết chắc. Đó là những tháng ngày của năm 1972, khi bè bạn bỗng chốc xếp bút nghiên ra đi. Thằng về, thằng đi… luôn. Đóng đô ở quán cà phê nhiều hơn lớp học. Cà phê có đường hay không đường đều đắng như nhau. Vị đắng quá dư để nhận lời ủy thác, mày đưa thư này cho em… dùm tao, mà đợi tao đi rồi hãy đưa. Chết thiệt tới nơi rồi, không ngán, mà lại chết… nhát vì mấy sợi tóc dài. Thua xa bọn trẻ @ thời nay.

Cà phê ngon nhất Sài Gòn, theo cái lưỡi của tôi, ở góc đường số 4 Duy Tân. Chỉ là quán vỉa hè, không bảng hiệu, tụi tôi gọi là cà phê lá me, mà hình như ở đó chẳng có cây me nào thì phải. Hồi đó tôi học ở Đại học Khoa Học, mà mấy bà bên khoa học, nói phải tội, khô khan và nặng vía. Tôi phải vượt qua cà phê Năm Dưỡng gần trường, đến ngồi đồng ở cà phê lá me, chiều chiều ngắm mấy cô sinh viên Luật khoa, Văn khoa tha thướt. Trời ơi, nắng Sài Gòn mát rượi chứ không phải “chợt mát” như thi sĩ Nguyên Sa vã mồ hôi làm bài thơ Áo Lụa đâu.

Quẹo trái chừng vài trăm mét là đường Cường Để, con đường đẹp nhất Sài Gòn, hai bên đường là những biệt thự lâu đời, chủng viện, tu viện cổ kính với hàng cây cổ thụ cả trăm tuổi,… Lá đổ muôn chiều là con đường này, chẳng cần đợi tới mùa thu. Bây giờ nơi đây là nhà cao tầng, khu thương mại, ồn ào náo nhiệt, đi quờ quạng kẹt xe. Cả trăm cây cổ thụ bị đốn trên con đường vài trăm mét thì chẳng còn gì để nói thêm nữa. Mất hết…

Cảnh đẹp, người đẹp, cà phê không ngon sao được. Mà cà phê lá me ngon thiệt, chứ không phải tôi mù quáng cái đẹp nói bừa. Cô chủ quán không biết pha kiểu gì, pha vớ, chứ không phải pha phin, mà ly cà phê sữa đá 80 đồng ngon không thể tả. Sau này nếm thử Starbucks, Maxell House, Green Mountain,… cũng không thể bằng. Sức mạnh của dĩ vãng nặng oằn vai.

Luận về cà phê ngon dở hơi bị khó, mỗi người mỗi goût, chân lý đa dạng. Nhưng cà phê Sài Gòn chắc là luận được. Từ luận được cho đến luận hết nổi. Người ta cứ đồn cà phê Sài Gòn độn bắp, độn cau, rượu đế, mắm muối,… toàn là mấy thứ dân dã. Có lửa, có khói. Lời đồn này đúng. Cà phê Tây cũng đâu phải nguyên chất, cũng pha thứ này, trộn thứ nọ chút chút. Thích nghi văn hóa mà! Cà phê Sài Gòn không độn bắp rang làm sao có độ sánh. Xứ nóng, uống cà phê đá mà lỏng le coi sao được. Cà phê không thêm cau rang làm sao đủ đắng mà ngẫm chuyện đời. Cà phê đá làm gì có chuyện hương thơm thoang thoảng nếu không tẩm chút rượu. Rồi cũng phải mắm muối chút đỉnh cho đậm đà… Những thứ lằng nhằng này coi như là… phụ gia, chứ “chính gia” vẫn phải là cà phê rang sao cho tới tới… Bí quyết ngon dở là ở chỗ đó.

Rồi theo thời thế, mọi thứ đổi đời. Phụ gia trở thành chính gia, chính gia thành phụ gia. Đổi đời thêm cú nữa, cà phê biến luôn, chỉ còn đậu nành và hóa chất. Muốn đắng có ký ninh, hạt mắt rồng, dexamethasone. Muốn sánh có a dao gelatin. Muốn đen có nước màu caramel. Hương cà phê thì vô vàn nhớ không hết. Muốn bọt? Đã có lauryl sulfate (tạo bọt xà phòng). Làm gì còn “cà phê kiểu Sài Gòn” hở thằng bạn Tây da vàng kia, thèm lauryl hay sao mà ngồi đó làu bàu.
Thiệt ra, cà phê Sài Gòn vẫn còn, vẫn có vẻ đẹp của riêng nó – Vẻ đẹp của ký ức.

Cà phê lề đường làm gì có âm nhạc, chỉ có âm thanh đường phố, tiếng rao hàng, tiếng còi xe, và cái “mát rượi” riêng tư. Cà phê nghe nhạc phải vào quán đèn mờ, máy Akai băng cối, những bản tình ca diễm lệ, tiếng hát Lệ Thu, Khánh Ly,…Bảnh hơn thì nhạc Tây, Il est mort le soleil, Oh Mon amour,…Thời cuộc thì ca khúc da vàng, đại bác ru đêm, người chết hai lần… Bè bạn về phép (có khi chúng liều mạng “nhảy dù” cũng không chừng) lại kéo nhau ra quán nhậu. Nhậu đã rồi tới quán cà phê Chiêu đường Cao Thắng. Ở quán nhậu thì tranh nhau nói, tới quán cà phê, chẳng thằng nào buồn nói. Cà phê và khói thuốc. Cà phê nhỏ giọt. Giọt có buồn không? Mờ quá không thấy giọt, nhưng nỗi buồn thì thấy.

Dạo sau này tôi đổ đốn khoái nhạc sến, từ khoái tới mê chỉ là gang tấc. Giác ngộ tiệm tiến qua nhiều ngõ khác nhau. Một trong những ngõ đó là nhạc kẹo kéo. Xe kẹo kéo chiều chiều đẩy ngang nhà, mở to những bản nhạc sến một thời. Chưa hát nhạc sến bao giờ, mà sao trong đầu lại hát theo. Thời gian chưa đủ nghe hết bản nhạc thì tiếng hát đã xa dần, và cái đầu lại lẩm bẩm hát tiếp, thuộc lời nhạc sến từ thưở nào chẳng hay. Cù cưa với ký ức kiểu này thì con đường tới bến giác mê cũng chẳng bao xa.

Một ngõ giác ngộ khác, khi tiếng lòng lời ca bỗng nhiên gặp nhau. Cách nay 7-8 năm gì đó, tôi ra Hà Nội có chuyện, nhân tiện ghé quê ngoại. Mẹ tôi bệnh nằm một chỗ, hớn hở dặn dò, con về phải ghé người này trước, thăm người nọ sau, nói mẹ biếu người này cái này, người kia cái kia,… Quê mẹ tôi ở làng Chử Xá, mảnh đất của Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Nửa tiên nửa tục, nên có máu lãng tử, nhảy cóc qua đời mẹ tôi, tới tôi thành gen trội. Trước hôm đi, bè bạn kéo nhau ra Hóc Môn nhậu gà hấp hèm. Đất ven đô hồi đó còn hơi vắng, nhưng cũng đã lên vàng, chẳng vàng 4 số 9, thì cũng 9 số 4, hơi hớm văn minh đô thị đã len tới. Dàn nhạc lưu động, cũng bass treble ra trò, đến trước quán vừa bán kẹo, vừa mượn nhạc đệm karaoke chơi nhạc sống. Ca sĩ toàn mấy em pê đê, ở đâu mà ra nhiều thế! Bản Sương trắng miền quê ngoại nghe nhiều rồi, hôm đó thấy phê. “Một mai con về quê ngoại xưa, để mẹ nhắn lời thăm….” Trời ơi, giọng mấy em pê đê mà ẻo thì tận cùng sến… rện. Càng nghe càng thấm.

Đất Sài Gòn tìm đâu ra cà phê nhạc sến. Dù cà phê ở những quán deluxe không quá tệ như cà phê đậu nành, nhưng chắc chắn không phải là “cà phê Sài Gòn”. Cà phê gì mà đen thui đặc sệt, chỉ là một thứ cà phê bá đạo có bản quyền. Nhạc thì ầm ầm DJ uốn éo, khổ cho cái đầu già cổ lỗ sĩ. Cũng có quán chơi nhạc trữ tình, nhạc của một thời, nhưng nhìn cách bài trí của quán, tôi đã cảm thấy kiểu “một thời” đó là cái mà mình muốn quên. Như lúc này, tôi không còn muốn nghe ca khúc da vàng nữa. Nghe mà ngượng, thì nghe làm gì? Trên đời đâu có gì hoàn hảo, chỉ có thể chọn giữa cái xấu hoặc cái ít xấu hơn. Không chọn lựa chẳng khác nào gián tiếp chọn cái xấu hơn.

Vài năm trở lại đây, mỗi lần từ Đà Lạt về Sài Gòn, tôi vẫn hay ghé xe cà phê đường Nguyễn Minh Chiếu, chỉ là cà phê vỉa hè trong hẻm. Ly cà phê đá 6.000 đồng, mấy năm rồi giá không đổi, giá đậu nành chưa lên, thì cà phê đâu cần lên giá. Đằng nào cũng chẳng tìm đâu ra hương vị cà phê Sài Gòn xưa, thì cà phê ở đâu cũng thế thôi.

Tôi vào quán cà phê vỉa hè đó chỉ để nghe nhạc sến, chẳng phải đến từ dàn Onkyo loa Bose, mà từ cái máy cassette nhỏ xíu rù rì trong hẻm. Ngồi cả giờ đồng hồ, đến khi rời quán mà ly cà phê vẫn còn quá nửa, đá tan loãng hết rồi. Dĩ vãng vay mượn cà phê, để cái vẻ bụi bặm của quán, và nhạc sến đưa tôi về ký ức. Tiếng đại bác không còn ru đêm nữa, nó dội ngược vào lòng. Nhiều bản nhạc từ hồi xửa hồi xưa, giờ nghe lại, rồi lẩm nhẩm hát theo mà chạnh lòng,
” Tiếng còi đêm lướt mau,
Đoàn tàu đi về mãi, mà bạn thân tôi nơi đâu….”
Thấy tiếc và nhớ. Nhớ ngẩn người!

Vũ Thế Thành

Tôi nhớ không nổi, mà cũng tìm không ra tên 2 tác giả của bản “Sương trắng miền quê ngoại” và ”Hai mùa mưa”. Bạn đọc nào biết, xin vui lòng bổ khuyết.
——

Nghe ”Hai mùa mưa” – tiếng hát Thanh Tuyền https://www.youtube.com/watch?v=cqqWID5yX0A

Nghe ”Sương trắng miền quê ngoại” – tiếng hát Duy Khánh https://www.youtube.com/watch?v=_m7mx10xoW4

Tân Niên Họp Mặt Thầy Trò - Trầm Vân


Tuesday, February 24, 2015

Chuyện Khó Tin Nhưng Có Thật Về Trạm Vũ Trụ Quốc Tế

Trạm vũ trụ Quốc tế được coi là dự án khoa học phức tạp nhất trên thế giới. 

Nó có kích thước tương đương một sân bóng đá của Mỹ.


Trạm vũ trụ Quốc tế (viết tắt: ISS) là một tổ hợp công trình nhằm nghiên cứu không gian, là sự hợp tác của năm cơ quan không gian: NASA (Hoa Kỳ), RKA (Nga), JAXA (Nhật Bản), CSA (Canada) và 10 trong 17 nước thành viên của ESA (châu Âu). ISS di chuyển trong không gian với vận tốc trung bình là 27.743,8 km/giờ, ứng với 15,79 lần bay quanh Trái đất mỗi ngày.


Trạm vũ trụ ISS hoạt động như một phòng thí nghiệm bay cho nhiều thí nghiệm như nghiên cứu sinh học và vật lý, khoa học trái đất, thăm dò không gian, công nghệ hàng không vũ trụ. Trong hình là bức ảnh chụp từ năm 2008, cho thấy phi hành gia Karen Nyberg nhìn ra cửa sổ của phòng thí nghiệm Kibo trên tàu ISS.


Trên ISS, có robot giúp những công việc hàng ngày. Hình ảnh cho thấy robot Robonaut 2 đang tập thể dục với phi hành gia Scott Kelly trên Trạm vũ trụ quốc tế. Robonaut 2 được thiết kế để thực hiện các thí nghiệm nguy hiểm và công việc nhàm chán trên tàu ISS.


Kích thước của ISS rất lớn. Trạm vũ trụ Quốc tế được coi là dự án khoa học phức tạp nhất trên thế giới. Nó có kích thước tương đương một sân bóng đá của Mỹ. Sau khi nó được hoàn thành, nó sẽ lắp đặt 16 module điều áp tạo nên các phòng thí nghiệm, khu nhà ở, nút không khí, trạm đỗ tàu


Các phi hành gia trên ISS phải tập thể dục ở mức nhiều nhất có thể. Những cư dân của ISS thường phải dành thời gian làm việc khoảng 6 tháng trên tàu vệ tinh. Do đó, họ phải đối mặt với các vấn đề y tế do sống trong môi trường không trọng lượng lâu dài như teo cơ bắp và giảm kích thước xương. Để giảm thiểu các tác động xấu của không gian, các nhà du hành thường xuyên phải tập thể dục trên máy chạy bộ. Hình ảnh ở đây cho thấy phi hành gia Sunita Williams L. đang tập thể dục trên ISS.


Trạm ISS là nơi quan sát Trái đất tuyệt mỹ nhất. Trạm vũ trụ Quốc tế thuộc dạng quỹ đạo gần mặt đất, độ cao cách mặt đất chỉ trong khoảng từ 319,6 km đến 346,9 km, trạm có các tấm pin mặt trời rộng, phản chiếu tốt ánh sáng Mặt trời nên có thể quan sát ISS từ mặt đất. Ảnh: phi hành gia Tracy Caldwell Dyson nhìn xuống Trái đất vào ngày 15/11/2010 từ cửa sổ bay Cupola.


Cuộc sống trên Trạm vũ trụ Quốc tế bận rộn với nghiên cứu, nhưng các nhà khoa học vẫn có thời gian để thư giãn. Bởi Trái đất quay xung quanh ISS 90 phút một lần, các phi hành gia có thể nhìn thấy cảnh bình minh và hoàng hôn nhiều lần mỗi ngày. Do đó, các cửa sổ của ISS đều được che phủ để các phi hành gia cảm nhận bóng tối, họ thường dậy dựa trên lịch trình nhiệm vụ có sẵn.



Chuyện ăn, uống trên ISS không bình thường. Do ảnh hưởng của môi trường không trọng lực khiến việc ăn, uống của phi hành gia khá vất vả, tuy nhiên, đồ ăn uống của họ đã được từ hóa để không trôi ra xa.


Trên ISS, nước rất là quý giá. Nước là mặt hàng quý giá ở khắp mọi nơi, và đặc biệt là trong không gian. Tất cả nước được đưa lên ISS từ Trái đất, do đó các nhà du hành phải rất cẩn thận để bảo vệ nước. Các phi hành gia NASA thậm chí phải sử dụng một loại kem đánh răng đặc biệt có thể nuốt vào.

Việt Báo (Theo_Kiến Thức )

SỨC KHOẺ : Dép Xỏ Ngón !



Sưu tầm

Ở Trọ Mùa Xuân - Trầm Vân


Vài Mẹo Vặt Khi Chơi Bài Ở CASINO.

"Mánh" chơi bài ở Las Vegas
Lindsey Galloway

Với khẩu hiệu ‘Cái gì xảy ra ở Vegas thì ở lại Vegas’, không có gì ngạc nhiên khi Thành phố Tội lỗi này có nhiều bí mật nhất về việc làm thế nào để thắng trên các sòng bạc. Trên trang mạng hỏi đáp Quora, một số người sành sỏi đã phá vỡ quy luật im lặng và chia sẻ một số điều mà các sòng bạc ở Las Vegas không cho bạn biết.

Uống rượu thì chắc chắn sẽ thua bạc

Mặc dù nhiều du khách đến chơi bài ở Vegas có thể nghĩ rằng được uống miễn phí là quyền lợi nhưng việc tiếp bia rượu cho khách là một chiến thuật rất rõ ràng của các sòng bài. “Trừ phi anh có tửu lượng cao, nếu không rượu vào sẽ làm giảm khả năng phán đoán và cảm nhận của anh,” ông Jon Mixon, người lớn lên ở Nevada, nói, “Nếu anh muốn thắng bạc, anh cần phải không đụng tới giọt rượu nào.” 



Sòng bạc có lợi thế trong bất cứ trò nào
Những người góp ý trên Quora đều nhắc đi nhắc lại các sòng bạc có lợi thế đối với tất cả các trò chơi của họ nhưng lợi thế này thay đổi tùy trò. Ilya Veygman, một kỹ sư phần mềm ở California, và Jenn Tseng, vốn làm việc trong ngành điều hành khách sạn ở Las Vegas, đồng ý rằng bàn quay roulette là trò có tỷ lệ thắng ít nhất trong các trò chơi trên bàn được ưa thích.
Trò chơi có tỷ lệ thắng cao nhất, theo Don Dawson, một cư dân Las Vegas, là bài xì tố. “Trò nào cũng có lợi cho chủ sòng. Chỉ có bài xì tố là sòng không lấy tiền trực tiếp của người chơi,” ông nói, “Bạn muốn ăn hay thua bao nhiêu là hoàn toàn tùy thuộc vào bạn và tài chơi bài của bạn.”


Phải đặt tiền tối đa khi chơi máy đánh bạc (slots) để thắng lớn

“Nếu bạn chơi trò slots, không có lý do gì đặt tiền thấp nhất,” Tseng nói. “Đặt tiền nhiều nhất thì mới ăn nhiều nhất.” Số tiền đặt tối đa thường là gấp hai hay ba lần giá đưa ra, ví dụ, số tiền đặt cược tối đa đối với máy 25 cent thường là 50 hay 75 cent.

Các sòng bạc được thiết kế để làm bạn mất phương hướng
Tìm đường đi ra khỏi sòng bạc không phải là điều dễ dàng một khi bạn đã bước vào. “Các sòng bạc đều được thiết kế theo kiểu mê cung,” Veygman nói, “Bạn sẽ lạc vì người ta muốn bạn như thế. Sau đó bạn chụp lấy một chiếc ghế tại một máy đánh bạc hay một sòng xì dzách và rồi xong. Bạn sẽ mất một số tiền vì đánh bạc.
Cũng chính vì lý do đó, bạn sẽ không bao giờ nhìn thấy chiếc đồng hồ nào ở trong các sòng bạc. “Họ không muốn bạn nói rằng: ‘Muộn rồi. Đến lúc về rồi.’,” Garrick Saito, một người sống ở Los Angeles, nói. “Bạn chơi lâu chừng nào thì bạn càng có khả năng thua nhiều chừng đó.”

Thắng rồi đi ngay
Theo tất cả các ý kiến thì cách thực tế duy nhất có thể ăn được tiền tươi từ các sòng bài ở Vegas là biết dừng lại khi bạn đang thắng. “Bạn chỉ có thể thắng được một hai lần trong suốt thời gian chơi,” Mixon nói, “Và khi bạn thắng thì hãy đứng dậy và đi về. Nếu bạn không về thì bạn sẽ thua hết số tiền đã thắng và còn thua nhiều hơn số đó.”

Sưu tầm 

Monday, February 23, 2015

Một Chút Tết Paris

Mời quý vị lướt qua vài hình ảnh Tết ở China town Paris 13














Mời quý vị click vào ảnh dây pháo dưới đây để xem đốt pháo như tết xưa quê nhà  


Hình ảnh và Video: Gia Như Huỳnh