Wednesday, May 29, 2024

Cá Ăn Kiến Hay Kiến Ăn Cá - Bữu Nguyễn

 

Sau trận Đại hồng thủy cuối tháng 4/75, Sàigòn được người ta đặt cho cái tên mới nhưng người dân Sàigòn vốn hoài cổ nên vẫn khoái cái tên cũ và Sàigòn vẫn được gọi là Sàigòn.

Là một người lính QLVNCH, được thượng cấp ra lệnh “tan hàng” và đi bộ về nhà trưa ngày 30/4/1975, tôi bị gọi đi “học tập” một tuần, rồi tiếp tục bị mời đi họp hầu như hàng tuần với mấy tên Cán bộ Phường khóm. Cứ họp hoài họp mãi với những tên cán bộ đọc tiếng Việt không suông, nói tiếng Việt không rành, tôi đâm ra lì.

Ai nói gì thì nói, sống cái đã.

Sau trận đổi tiền, tưởng đâu ai cũng nghèo như mình, nhưng chỉ vài tuần sau, đâu cũng vào đó. Hàng quán được bày ra đầy các lề đường, chợ trời mọc lên như nấm và giá cả tùy tiện leo thang. Tôi mướn chiếc xích-lô, thử nghề “vận tải giao thông” bất đắc dĩ. Còng lưng đạp từ tờ mờ sáng đến nửa đêm chỉ đủ tiền chợ, khi đau ốm phải bán tư trang của vợ để mua thuốc nên tôi đổi qua nghề bán xăng lề đường.

Nghề này thấy nhẹ nhàng nhưng không phải dễ ăn. Nhận xăng từ một người bỏ mối nào đó để bán lẻ trên lề đường, người bán phải lanh lợi, phải biết ngó trước dòm sau, phải biết ai là bò vàng ai là Cán bộ kiểm soát kinh tế, ai là cán bộ Phường khóm, ai là phe ta, ai là kẻ địch, v.v....

Vô phước bị ốp là coi như vợ phải lo tiền chợ hai ba ngày. Chua nhất là những ngày mưa phùn, gió bấc. Đầu đội Poncho, tựa mình bên một thân cây hay đứng nép dưới mái hiên nhà nào đó, người run theo từng cơn gió, chịu lạnh suốt ngày mà chỉ bán được chục lít xăng, coi như chỉ lời được một bữa cơm.

Thêm bọn cướp cạn thỉnh thoảng đến thăm. Chịu giá xong kêu đổ xăng, đổ xăng xong nổ máy xe vọt mất. Bọn này luôn luôn đi hai tên nên nếu mình tiếc của rượt theo la làng thì phải coi chừng cái gáo vì thằng ngồi sau đã thủ sẵn vài cục đá hoặc đồ nghề gì đó.

Thấy đây là một nghề lời lóm không bao nhiêu nhưng có hy vọng hui nhị tì lảng xẹt nên tôi gồng mình “bước thêm bước nữa” là tìm cách mua xăng thẳng từ trạm về bỏ mối. Muốn làm ăn theo kiểu này phải mua phiếu xăng từ các tên thủ trưởng các cơ quan phân phối xăng dầu, điều mà tôi không thích chút nào nhưng ... biết sao bây giờ, sống cái đã.

Sau nhiều ngày cân nhắc, dò hỏi, và nhiều lần bao những người đưa tin nhậu nhẹt, tháng 10/1975 tôi được giới thiệu với một tên Cán bộ có thẩm quyền ngành xăng dầu tại Sàigòn tên Mười Của. Qua người môi giới, hắn hẹn tôi đến gặp hắn tại nhà ở khu Ngân hàng vùng chợ trời Hàm Nghi.

Đúng giờ hẹn, 9 giờ sáng thứ Tư, tôi đến gõ cửa nhà hắn. Sau vài giây chờ đợi, một khuôn mặt ốm nhom, tái mét, ló ra bên cánh cửa vừa hé. Tôi dụi mắt, lùi lại một bước để nhìn kỹ khuôn mặt người đối diện và hắn cũng nhìn tôi trân trối.

Lại thêm vài giây lặng lẽ trôi qua... hắn lắp bắp mở lời :

- Mầy ... anh ... anh là Long, Long Lừa phải hông ?

Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại hắn :

- Còn ông... ông là Vinh… Vinh Mén phải hông ?

Tôi vừa dứt lời thì cánh cửa được mở rộng và hắn nhảy thót đến ôm cổ tôi, hai chân hắn quặp ngang hông tôi, người hắn đeo hẳn vào người tôi như cặp tình nhân lâu ngày gặp nhau mà mình thường thấy trong phim ảnh ở hải ngọai.

Tôi rất xúc động khi gặp lại thằng bạn cũ thời thời Trung học nhưng tôi không dám ôm hắn, cũng không dám nói gì thêm vì không biết hắn làm cái quái gì mà được ở trong căn phố này, vốn là cơ sở kinh doanh của một ông lớn trước năm 75.

Sau mấy giây xúc động, hắn quàng vai tôi kéo vào nhà. Nói là nhà chớ thật ra chỉ là một căn phố trống. Cao hơn đầu một chút là dây chì giăng ngang dọc, vừa để phơi quần áo, vừa để treo mùng màn. Ở khoảng giữa căn phố, một tấm vải bông sặc sỡ được căng ngang, có lẽ để che chỗ ngủ. Bên ngoài tấm vải là một cái tủ cũ chỉ còn một cánh cửa, bên cạnh cái tủ là một chiếc chiếu, trên chiếc chiếu có một cái lon sửa bò để gạt tàn thuốc. Một cái võng được đóng đinh treo ở góc nhà và một chiếc xe đạp mini còn mới dựng kế bên.

Tôi nhìn kỹ người đối diện. Hắn đúng là Vinh Mén, thằng bạn mà tôi coi như ruột thịt lúc còn học Trung học ở Nam Vang. Nhìn Vinh Mén, một rừng kỷ niệm của tuổi thơ ngà ngọc lần lượt hiện về.


oOo

Nam Vang, đầu năm 1962, tôi bước chân vào ngưỡng cửa Trung học.

Ở Nam Vang thời đó, cũng như hầu hết học sinh Việt Nam khác, tôi học chương trình Pháp nên sau khi học xong Sixième và thi đậu bằng Tiểu học (Certificat d’Études Primaires), tôi lên Cinquième và bắt đầu học chương trình Trung học Đệ Nhất Cấp (Brevet d’Études du Premier Cycle). Những thằng bạn thời Tiểu học cùng lên Cinquième với tôi có Thành Rùa, Liêm Láng, Chung Mập, Minh Lùn, Cận C... Bò, Phúc xì-ke, Vinh Mén và Bé Chà. Trong đám này, tôi chơi thân nhất với Vinh Mén và Bé Chà.

Sau giờ học buổi sáng, tôi thường đến nhà Vinh Mén ăn cơm trưa hay ngược lại. Ba Má hai bên thương chúng tôi như con ruột. Trên sân cỏ, tôi và Vinh Mén cùng chơi cho một hội túc cầu thiếu niên, là cặp bài trùng ăn ý nhất ở hàng tiền đạo và tôi, vì tật khoái lừa banh, cứ được banh là phải lừa qua một hai đối thủ cho nó sướng cặp giò, dù đôi lúc không cần thiết mà còn có hại là khác, nên được bạn bè đặt cho cái tên Long Lừa từ đó.

Vinh có biệt danh Vinh Mén vì nó nhỏ con, ốm nhom nhưng đừng coi thường nó mà ân hận vì nó nhanh như sóc, rất khôn banh và không màu mè như đa số chúng tôi. Vinh Mén xuống banh, tạt banh vào hay thọc lỗ là chắc ăn như bắp.

Còn thằng Bé Chà và tôi cùng chơi trong ban nhạc của trường. Nó đánh trống, tôi vừa hát vừa đệm Ghi-ta. Tôi khoái thằng Bé Chà ở chỗ chúng tôi rất hạp ý nhau. Nhạc Twist, nhạc Bebop, nó đánh dồn dập, ngưng syncop thật tài tình. Qua Slow Rock, Boléro ... nó rung cymbal nhuyễn nhừ và thỉnh thoảng rouler rất giòn ở đoạn cuối câu hát.

oOo

Vinh Mén lên tiếng, kéo tôi trở về thực tại :

- Hút với tao điếu thuốc mừng hội ngộ đi mầy !

Tôi nhận điếu Capstan. Vinh Mén bật lửa cho tôi đốt thuốc và mời tôi ngồi xuống chiếu. Nhìn bàn tay nó run run khi mồi thuốc cho tôi, tôi biết nó rất xúc động. Vinh Mén nói giọng đứt đọan :

- Tao không ngờ ... gặp mầy hôm nay ... mầy đến đây tìm ai vậy ?

Tôi ấm ớ:

- Dạ... dạ... tôi có hẹn với... ông Mười Của.

Vinh Mén trừng mắt :

- Ê mậy! Sao mầy ăn nói giọng gì kỳ cục cậy ??? Hồi đó mầy tao thì bây giờ cứ mầy tao. Ở đó mà dạ dạ tôi tôi cái con c...! Mầy kiếm Mười Của hả? Mười Của là tao nè, có chuyện gì không?

Tôi nhìn Vinh Mén, suy nghĩ. Cung cách nó nói chuyện vẫn như xưa, vẫn hay xổ nho, mỗi câu nói kèm theo vài tiếng chửi thề. Nhưng hiện giờ nó là Mười Của, là Cán bộ Việt Cộng, có thể đầu óc nó không còn là thằng Vinh Mén, bạn thân của tôi ngày nào. Thấy tôi im lặng, Vinh Mén đập lên vai tôi:

- Suy nghĩ cái con c... gì ! Mầy sợ Việt Cộng hả ? Mầy sợ tao hả ? Nói cho mầy biết là tao bị tụi nó gạt vô khu, vô khu rồi không biết đường ra nên phải ở luôn trong đó, phải làm theo lệnh tụi nó nếu không thì tụi nó cho tao đi mò tôm lâu rồi. Còn thằng Vinh Mén vẫn là thằng Vinh Mén, mầy hiểu chưa ???

Tụi gục gặt đầu như đã hiểu dù trong lòng còn bối rối :

- Ờ... gặp lại mầy bất ngờ... tôi... ừ... tao xúc động quá thành ra lính quýnh, vả lại... tao không biết mầy làm ông gì trong chế độ mới ... còn cái tên mới nữa... mầy... đổi tên rồi hả ?

Vinh Mén xua tay lia lịa :

- Tao có đổi tên hồi nào đâu ! Mấy cha trong “R” đặt bí danh cho tao đó, nói là để bảo mật. Mầy còn nhớ hồi tụi mình còn học chung ở Nam Vang, mấy thằng mấy con “đồng chí, đồng rận” đến dụ tụi mình vô Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) bị mầy chửi mấy câu để đời đó không ?

Tôi nghe lạnh xương sống.

Không lẽ mới vừa mầy mầy tao tao, giờ Vinh Mén nhắc lại chuyện cũ để có cớ bắt nhốt tôi dù rằng, trong những năm từ 1960 đến 1968 là năm cao điểm, tôi, Vinh Mén, và nhiều bạn bè chúng tôi đều nhận ra rằng ... những kẻ đi tuyên truyền cho Việt Cộng, mộ quân cho MTGPMN là những người xảo trá, ác độc, được Cộng sản Hà nội trả lương đi tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước”, dụ khị thanh niên nam nữ Việt Nam nhẹ dạ ở Cao Miên đi đỡ đạn cho MTGPMN trong khi họ, con cái họ và thân nhân họ ăn sung mặc sướng, nhà cao cửa rộng, lên xe xuống ngựa trong cái hậu cứ an tòan là thủ đô Nam Vang của xứ Chùa Tháp.

Cho nên, những lúc phải nghe mấy ông bà đồng chí đồng rận này lặp đi lặp lại những lời đề cao tinh thần những kẻ đi “giải phóng Miền Nam”, đôi lúc không nhịn được nên tôi xổ nho thẳng vào mặt họ :

- Giải phóng con c... tao nè! Mới 15, 16 tuổi đầu, sáng sáng còn xòe tay chờ Ba Má cho tiền đi học, chữ nghĩa chưa tới đâu, nghề ngỗng cũng không có thì biết con mẹ gì mà đòi đi giải phóng... mà giải phóng ai? Người dân ở Miền Nam giàu có hơn người dân Miền Bắc nhiều nên họ đâu cần ai giải phóng. Mấy ông mấy bà ăn cứt bác Hồ nên lợi dụng hai từ “giải phóng” để gạt mấy thằng ngu đi đỡ đạn dùm cho mấy ông mấy bà chớ gạt chúng tôi sao được. Sống quang minh chính đại không chịu lại chui vô rừng làm thân con chuột, phải ly khai gia đình, cái tên cha mẹ đặt cho cũng không dám xài, công ơn dưỡng dục của mẹ cha cũng không đươc quyền nhớ, giải phóng con c... gì mà kỳ cục vậy hả??? Đi chỗ khác chơi đi mấy cha nội, xạo xạo hoài tui bực cái lỗ tai, tui kêu phú-lít là bỏ mạng đó !

Tôi đã nói đại khái với họ như vậy vì chúng tôi biết rõ họ thuộc thành phần nào, gia cảnh ra sao. Họ xuất thân là chị nấu bếp, anh thợ hớt tóc, cô thợ may, chú bán thuốc sơn đông hay nhiều người không có nghề nghiệp gì cả. Cộng sản Hà nội mướn họ đi mộ lính cho MTGPMN để xâm lăng Miền Nam. Giờ họ đang làm chủ các tiệm phở, tiệm giày, tiệm may, và nhiều người có nhà, có phố cho mướn. Con cái họ có đứa là bạn học của chúng tôi. Tụi nó đi học bằng xe gắn máy, có đứa có xe hơi đưa rước trong khi đa số học sinh Việt Nam ở Nam Vang thời đó đi học bằng lô-ca-chân, hoặc xe đạp hay xe buýt. Họ dụ dỗ người khác đi “chống Mỹ cứu nước” nhưng bản thân họ và con cái họ vẫn sống phây phây một cách trưởng giả tại Nam Vang.

Đa số chúng tôi có thân nhân ở Miền Nam, qua lại thăm nhau thường xuyên nên biết cuộc sống ở Miền Nam không có gì là tồi tệ như lời họ tuyên truyền. Chúng tôi thường xuyên đọc báo Việt ngữ, Pháp ngữ phát hành tại Nam Vang, hay từ Sàigòn, và quan trọng nhất là nhờ lời giáo huấn của mẹ cha, chúng tôi so sánh và đi đến kết luận rằng mấy tên cán bộ Việt Cộng ở Cao Miên đa số là những kẻ bất lương, đi đâu cũng quảng cáo cái chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” để đưa con em đồng hương vào đất chết, trong khi họ sợ vô khu hơn ai hết. 


Ở Nam Vang, chúng tôi còn quen biết một số anh chị, chú bác vốn là những người có thành tích chống Pháp, chống Cộng sản từ thời 40-50, và mới đây chống chính sách gia đình trị của nhà Ngô, bị mật vụ của ông Ngô Đình Nhu tìm bắt ... phải lánh nạn sang Cao Miên, nên chúng tôi được quý vị này chỉ dẫn về những mánh khóe dụ dỗ và những mưu mô gian xảo của Cán bộ VC khi đi mộ quân.

Ngoài ra, còn có những người trước đây nghe theo lời VC theo MTGPMN, giải phóng đâu không thấy, chỉ thấy giết hại dân mình, nên khi biết mình bị gạt, họ tìm cách trốn và vài người may mắn về tới Nam Vang. Họ thay đổi lý lịch, tránh tiếp xúc với người Việt vì sợ VC thủ tiêu. Vài người gan dạ, kín đáo nói cho người thân tín biết những sự thật phũ phàng trong R, từ đó những “tội ác Trời không dung, đất không tha” của bọn đi mộ quân cho MTGPMN được truyền miệng trong các làng xóm người Việt ở Cao Miên.

oOo

Vinh Mén cất lời, xóa tan cái cảm giác đang làm nhức buốt đầu óc tôi :

- Hồi đó, đôi khi tao không đồng ý với mầy vì nghĩ rằng mầy ghét mấy tên cán bộ VC nên mầy cương ẩu.

Nhưng khi vô khu tao mới biết mầy gan, dám nói sự thật trước mặt tụi nó. Đ.M.! Gạt được người ta vô khu rồi là xoa tay đi kiếm thằng khác. Mầy nói đúng, vô khu sống như chuột, ngày đêm căng võng nằm dưới hầm, dưới hố vì sợ bom.

Vinh Mén ngưng nói, rít một hơi thuốc rồi trợn mắt nhìn tôi, làm như tôi là người đã gạt hắn vô khu, hắn chửi thề :
- Đ.M.! Giải phóng cái con c... gì mà trốn chui trốn nhủi như đi ăn trộm ! Cứ vài tuần là di chuyển từ cánh rừng này qua cánh rừng nọ, loanh quanh trong các tỉnh Xoài Riêng (Svay Rieng, Đông-Nam Kampuchea) và Tây Ninh hay Lộc Ninh, gặp lúc tụi ngụy hành quân qui mô thì phải bỏ khu đi bộ mấy trăm cây số về hậu cứ an toàn ở tận Cần Ché (Kratié, Đông-Bắc Kampuchea). Đị bộ ban đêm, ban ngày ngủ. Tụi nó phát lương khô chỉ đủ ăn một tuần nhưng thường di hành cả tháng nên gặp cái gì ăn được là cứ ăn, kể cả ăn trộm, ăn cướp của dân Miên để sống cầm hơi. Thiệt khổ hơn trâu bò. Liên lạc với gia đình cũng không được. Tụi nó nói đi làm cách mạng cứu nước là phải ly khai gia đình. Ly khai con c...! Tao nhớ Ba Má tao thấy mẹ. Nhiều lần định trốn về Nam Vang nhưng không biết đường ra. Đ. M.! Có lần tao định xách súng bắn chết mẹ tụi nó hết rồi tới đâu thì tới nhưng nghĩ đi nghĩ lại ... đa số mấy thằng ở chung đơn vị cũng bị gạt như mình nên thôi, đành giao cái thân mén của tao cho ông Trời ...

Tôi mạnh dạn hỏi tới :

- Đã biết vậy sao mầy còn đút đầu vô ?

Vinh Mén nhìn tôi rồi nhìn lên tường, nói như nói với chính nó :

- Tao đâu có theo. Mầy còn nhớ không ? Hồi đó họ dụ mình bằng miệng lưỡi không được thì họ xài mỹ nhân kế, dùng gái dụ mình. Họ dàn xếp cho con Lan Lé đến dụ tao. Con nhỏ này nhận tiền con mẹ Phở Bắc mời tao đến nhà nó nhậu xỉn rồi ngủ với nó để dụ tao vô khu chớ nó có yêu thương gì tao, nên sau khi đã ò-e với nó mấy lần thì tao để số de mà không ray rứt gì hết. Rồi tụi mình thi Brevet, mầy đậu nên tiếp tục học Tú Tài, tao rớt nên đi làm với ông già, tụi mình ít gặp nhau từ đó. Giữa năm 65, một thằng cán bộ đến rỉ tai tao tại sân banh. Cha này dìu dắt hội Xóm Mới, cái xóm toàn Việt Cộng đó. Chả nói tao đá banh giỏi, có kỷ thuật cao, ở Nam Vang không có cơ hội phát triển tài năng. Nếu tao đồng ý, chả đưa tao đi Hànội, cho vô Câu Lạc Bộ Thể Dục Thể Thao và sẽ được đi đá Quốc tế. Mầy biết là tao thèm đá banh như người ta thèm cơm, thèm nước, nên nghe chả nói vậy tao khoái. Tao biết tao học dỡ nên chỉ ước mơ làm cầu thủ đá banh nhà nghề. Sui cho tao là lúc đó mình ít khi gặp nhau, tao không có ai để hỏi ý kiến nên bị chả gạt dễ ợt.

Vinh Mén ngưng nói, rít một hơi thuốc. Tôi tiếp lời :

- Tao nhớ rồi... không thấy mầy đi đá banh mấy tuần, tưởng mầy bệnh nên tao ghé nhà thăm mầy thì chỉ gặp bà già mầy. Bác gái vừa nói vừa khóc với tao là mầy mê con nào đó nên mầy theo gái rồi. Tao nghe bác nói nhưng không tin vì tao biết mầy thương Ba Má mầy lắm, và không mê gái bằng mê đá banh. Không dè mầy bị họ gạt.

Giọng Vinh Mén trở nên giân dữ :

- Chả nói vô khu chờ chuyến đi Hà nội, ai dè vô khu tụi nó phát cho tao cái ba lô, bộ đồ cứt ngựa, cây súng AK... thế là xong cuộc đời. Tao tức muốn hộc máu nhưng chuyện đã rồi. Thằng cha gạt mình đâu có ở đó mà chơi nó. Đa số bọn thủ trưởng trong khu là đám đầu trâu mặt ngựa Bắc kỳ, mở miệng thở than là nát xương với tụi nó, thành thử đành ngậm miệng và suy nghiệm cái ngu của mình. Ngày qua ngày cứ học tập. Hết học tập chính trị đến các chiến dịch này nọ. Vừa học tập vừa đếm tuổi Xuân đi qua trong rừng núi âm u, không thấy ánh sáng mặt trời. Rồi bổ sung về tiểu đòan, đi hành quân theo từng chiến dịch do Cục R đề ra.

“Đ. M.! Nhắc lại còn ớn da gà. Cả đại đội ... đa số là con nít ở Cao Miên về, đụng tụi ngụy mấy ngày chỉ còn hơn chục thằng sống sót, nhưng đã điên điên khùng khùng. Tao hên thiệt ... qua mấy trận Bình Giả, Đồng Xoài, Bù-Đốp ... ăn thêm mấy đợt B52 rải thảm mà không sứt mẻ gì nên được mấy chả để ý, cho về làm ở hậu cần, làm cần vụ cho một thằng mới từ Bắc vô. Đừng tưởng tụi nó vô thần, đánh giặc giỏi hay có tình nghĩa với tao. Lầm to đó ! Tụi nó cũng sợ chết và tin dị đoan thấy mẹ. Tụi nó cho tao làm cần vụ cho thằng sư trưởng Bắc kỳ vì tụi nó nói tao hên, ai gần tao sẽ hên lây”.

Gịong Vinh Mén dịu dần :

- Tao đỡ khổ từ đó. Đỡ lo đói, đỡ phải lội hành quân. Nhưng bị B52 dội hay pháo binh ngụy bắn thì ... trời kêu ai nấy dạ. Thằng sư trưởng tao bị B52 rải thảm chết tại An Lộc. Tao nhờ bị sốt rét, lúc đó đang nằm trong trạm y tế tại Lộc Ninh nên thoát chết. Số còn hên ...

Vinh nhìn tôi cười, nói tiếp :

- Số tao hên, phải không mầy ? Mà tao còn hên dài dài nên mới ngồi ở đây nói chuyện với mầy hôm nay đó.

Tôi đổi đề tài :

- Hiện nay mầy làm ông gì mà được về Thành phố ?

Vinh Mén lại xổ nho :

- Ông con c... gì ! Hồi còn làm cần vụ cho thằng Sư trưởng Bắc kỳ, lúc đầu nó chỉ sai vặt. Nhưng vì chữ nghĩa của nó còn thua con nít Tiểu học, mỗi lần nó cộng trừ nhơn chia, nó nhăn nhó như đàn bà đau đẻ nên nhờ tao giúp nó, lần lần nó tin tao, cho tao tiếp thu văn thư, rồi giao luôn sổ sách nó buôn lậu với tụi Miên. Khi nó chết, tao còn ôm một số tiền của nó. Thằng sư trưởng mới có em út của nó nên đẩy tao ra tiểu đoàn. Cha tiểu đoàn trưởng này là dân miền Nam tập kết nên khoái tao, cho tao theo chả. Tiếp tục đỡ khổ. Nhưng chả lại theo bác Hồ trong trận Xuân Lộc, đầu năm 75. Tiểu đoàn tao banh-xà-rông. Tao sống sót, được gắn quân hàm Thiếu-úy và được lịnh về Lộc Ninh chờ đi tiếp thu. Lớ ngớ trong rừng cả tháng không thấy ai nói tới mình, hỏi ra mới biết tụi nó chọn bồ nhà đi tiếp thu Tây Ninh rồi.

Vinh Mén chua chát :
- Sợ sẽ làm chúa sơn lâm thiên thu nên tao lót đường một thằng thủ trưởng quen trong R lúc trước, mới được theo nó về thành và hiện giờ tao là một trong hai thằng có quyền ký phiếu xăng trong quận này. Còn hên phải không mầy ? Và nhờ vậy mầy mới gặp tao phải không ? 

 

Tôi nhỏ giọng :

- Ờ... tao hiện giờ không có việc gì làm nên tìm cách buôn bán... sống qua ngày. Thằng Thiện cho tao biết Mười Của có phiếu xăng nên tao tìm đến hỏi, không dè gặp mầy là bạn cũ. Sao, có thiệt vậy không ?

Vinh Mén cười :

- Có chớ ! Mầy muốn bao nhiêu phiếu cũng có nhưng nếu thằng Thiện hỏi thì mầy nói là tao đưa mầy mỗi tuần hai ba phiếu thôi. Một là để bảo mật, hai là để nó khỏi theo mầy đòi tiền hoa hồng. Đ. M... thằng đó làm ăn tính từng xu từng cắc. Tao ở trong rừng mới ra mà đôi khi cũng bực mình, nhưng nó kín miệng... tin được phải không mầy ?

Tôi trả lời ba phải :

- Tao mới quen nó lúc gần đây nên không dám xác quyết nó là người thế nào. Có điều ... nó quen biết nhiều cán bộ, nó bán tin cho đủ hạng người. Tao nghĩ... mầy nên cẩn thận là hơn.

Vinh Mén suy nghĩ hồi lâu. Lát sau hắn xua tay :

- Nó không dám phản tao đâu. Nó hó hé là nó đi tù liền. Tao làm vụ này theo chỉ thị thủ trưởng của tao. Thôi … mình ra Chợ Cũ làm vài chai la-de mừng ngày hội ngộ.

Vinh Mén vói tay lấy cái áo sơ-mi màu xanh lục máng trên sợi giây chì, vừa thay áo vừa nói tiếp :

- Tao thiệt mừng khi gặp lại mầy. Với mầy tao mới dám ăn nói. Tao đỡ lo bị phản phé vì sau hơn mười năm trong guồng máy Cộng sản, tao không còn tin vào mấy chữ « tình người » hay « tín nghĩa » nữa. Nói cho mầy biết… mấy thằng Bắc kỳ sợ chết bỏ mẹ nên đẩy tụi tao đi trước để dọ tình hình nên bây giờ ai chụp giựt được bao nhiêu cứ chụp giựt. Mai mốt đâu vào đó rồi thì mầy chờ coi, chỗ nào có ăn là tụi đảng viên Bắc kỳ vô nắm hết !

Chúng tôi ra cửa, Vinh Mén khóa cẩn thận xong băng qua đường Hàm Nghi. Nhìn đồng hồ mới hơn 10 giờ sáng, tôi im lặng đi theo Vinh Mén về hướng Chợ Cũ. Hắn đi thẳng đến tiệm ăn của một người Việt gốc Hoa. Chúng tôi vừa ngồi xuống ghế thì một bà đứng tuổi ăn mặc tươm tất, có lẽ là bà chủ quán, đã đứng bên chờ gọi thức ăn. Vinh Mén nhìn bà ta cười cười nói :

- Như thường lệ … thím Ba.

Người đàn bà cười đáp lễ rồi đi vào trong. Tôi hỏi Vinh Mén:

- Quán quen hả ?

- Ừ! Lúc mới về đây, tao ăn cơm lòng vòng quanh đây trước khi ghé quán này. Thấy đồ ăn ở đây ngon, ông bà chủ dễ chịu, cho tao ghi sổ nên tao ăn ở đây luôn.

Hai chai bia con cọp được mang ra ngay và vài phút sau là một dĩa đồ xào thập cẩm thơm phức. Vinh Mén cầm đũa, nói ba tiếng « ăn đi mầy » rồi ăn ngay. Hắn vừa ăn, vừa uống bia, vừa nhỏ giọng kể tôi nghe đủ thứ chuyện vui buồn từ lúc còn ở trong cục R cho đến khi được về Sàigòn. Hắn thật thà thú nhận :

- Trước khi được về thành phố, tao phải học tập một tuần. Mấy cha chính trị viên nói là dân Sàigòn nghèo khổ lạc hậu, sống chui rút trong những căn nhà ổ chuột nên phải được giải phóng, phải được học tập và cải tạo để tiến lên cuộc sống văn minh. Đ.M.! Cộng sản nói láo hay thật. Về thành không biết xài cầu tiêu, có thằng chưa từng thấy cái quạt trần, cái tủ lạnh ra làm sao mà đòi đi giải phóng người ta. Chê Sàigòn bụi bặm lấy băng vệ sinh phụ nữ bịt ngang lỗ mũi. Tiếu lâm quá trời ! Thiệt mỉa mai cho hai chữ « giải phóng » mà tụi nó đang lạm dụng. Tao thấy phải hiểu ngược lại mới đúng.

Vinh Mén cho tôi biết hắn đã được vô đoàn, được coi là đối tượng đảng từ hơn ba năm trước, nhưng vì hắn ăn nói bốp chát, hay chửi thề, thi hành lệnh một cách miễn cưỡng không sốt sắng, bị coi là thành phần chậm tiến hay bất mãn, nên chưa được vô đảng. Hắn kết luận :

- Tao đéo cần ! Vô đảng được con c... gì ??? Chỉ làm mọi cho mấy thằng ở trung ương chớ có ích lợi gì cho dân mình đâu.

Ăn uống xong, Vinh Mén gọi bà chủ ra ghi sổ và ra đường kêu chiếc xích-lô, chỉ về hướng bến xe Pétrus Ký. Đến nơi, hắn kéo tôi vào một con hẻm đường Trần Nhân Tôn, đi quanh co một hồi thì đến một căn nhà chứa gái mãi dâm. Tôi vừa đi vừa nghĩ mà thương hại cho Vinh Mén. Có lẽ hắn thiếu thốn quá lâu nên mới giữa trưa đã thèm đàn bà. Người chủ chứa đã quen mặt Vinh Mén nên vừa gặp nhau là bà ta chào hỏi vồn vả rồi gọi vào trong :

- Con Thu, con Cúc … ra biểu coi.

Hai cô gái bán dâm vén màn bước ra, đứng dựa vách. Vinh Mén nhìn họ như mèo vờn chuột, xoay qua tôi giọng kẻ cả :

- Tao cho mầy lựa trước đó !

Tôi lắc đầu :

- Tao bị cảm mấy ngày rồi ... và mới ăn uống bụng còn ọc ạch nên đi không nổi. Mầy cứ tự nhiên.

Vinh Mén không nói thêm tiếng thứ hai, nắm tay một cô đi vào trong. Tôi ngồi chờ khoảng mười lăm phút sau thì hắn trở ra, mặt mày tái mét, không còn tươi tắn như lúc mới đến. Trên đường về, hắn ghé nhà tôi. Chúng tôi bàn với nhau về những điểm hẹn sắp tới để trao đổi phiếu xăng và tiền bạc vì chúng tôi đều không muốn gặp nhau thường xuyên tại nhà tôi hay nơi trú ngụ của Vinh Mén.

oOo

Bắt đầu từ ngày hôm sau, Vinh Mén đưa tôi mỗi ngày hai ba phiếu xăng, có hôm năm sáu phiếu, mỗi phiếu từ mười đến bốn mươi lít xăng. Tôi vừa bỏ mối vừa bán lẻ dọc đường Trần Hưng Đạo. Chuyện làm ăn của chúng tôi trôi qua suông sẻ cho đến một chiều, vài ngày sau Tết con Rồng, Vinh Mén đến khoe với tôi chiếc Honda dame hắn mới mua và kéo tôi đi nhậu. Hắn nói với bà xã tôi là chúng tôi sẽ về khuya.

Khác với những lần trước là Vinh Mén ăn mặc lèng xèng và chúng tôi đến những quán bia trên đường Hai Bà Trưng hay lòng vòng khu Chợ Bến Thành, lần này Vinh Mén mặc áo sơ-mi trắng ủi thẳng nếp, áo bỏ trong quần coi khá bảnh trai và hắn chở tôi vô Chợ Lớn. Qua cầu Bình Tây, quẹo phải qua Bến Lê Quang Liêm, chạy thêm khoảng năm phút thì rẻ vào một con hẻm bên tay mặt. Từ đầu hẻm vào khỏang một trăm thước, hắn dừng xe trước một căn nhà gạch nhỏ, có gác phía sau.

Vinh Mén vừa tắt máy xe thì cửa nhà mở ra, một người đàn bà còn trẻ cúi đầu chào chúng tôi. Hắn dẫn xe vào nhà, xoay lại giới thiệu :

- Loan, vợ tao đó !

Tôi cố nén ngạc nhiên, nhìn Loan và cúi đầu chào lại. Tôi hỏi Vinh Mén:

- Mầy cưới vợ hồi nào mà bây giờ mới giới thiệu với bạn bè vậy ?

Vinh Mén nhìn tôi rồi nhìn Loan, im lặng đi vô buồng. Vợ Vinh Mén mời tôi ngồi, hỏi tôi uống gì thì nghe tiếng Vinh Mén nói vọng ra :

- Em vô bếp làm cho hai đứa anh vài món nhậu đi. Bữa nay anh phải say với nó. Ba Má đâu rồi ?

- Ba Má đi thăm chú Bảy. Chắc tối tối mới về. 

 

Loan chào tôi lần nữa rồi đi vô bếp. Hình như tôi đã gặp Loan đâu đó, cố nhớ mà nhớ không ra. Vài phút sau Vinh Mén trở ra, mặc quần đùi áo thun lá. Hắn đến tủ lạnh lấy hai chai 33 rót ra ly có đá. Tôi hớp một hớp bia, nhìn quanh căn phòng khách nhỏ. Vinh Mén nhìn tôi cười tủm tỉm nói :

- Giờ tao trả lời câu hỏi của mầy hồi nảy. Chắc mầy không biết điều lệ của Cộng sản về vụ cưới vợ. Như tao là sĩ quan, muốn cưới vợ thì phải xin phép đơn vị, phải khai lý lịch ba đời của nhà vợ tao cho đảng điều tra. Nếu xét thấy ba đời nhà vợ tao không làm điều gì có hại cho Cách mạng thì mới cho cưới… còn ngược lại, chẳng những không được cưới mà còn bị kiểm thảo lia chia, nên tuần rồi, được Ba Má vợ tao đồng ý cho tụi tao ăn ở với nhau, vợ chồng tao chỉ cúng rồi lạy ông bà tổ tiên, ngoài ra không mời bà con lối xóm gì hết. Mầy là thằng bạn đầu tiên và có thể là duy nhất biết tao có vợ.

Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác :

- Rồi … làm sao mầy giấu được chánh quyền và đơn vị mầy ?

- Từ từ rồi tính. Nhưng không thể cho đơn vị tao biết. Tao chỉ về đây ăn cơm chiều, hú hí với vợ tao tới khuya thì về đường Hàm Nghi ngủ. Còn chuyện làm ăn của tụi mình thì có lẽ cũng sắp dẹp tiệm vì tụi công an đã đánh hơi biết tụi tao làm ăn có tiền, nhưng … mầy đừng có lo vì vụ phiếu xăng chỉ là lẻ tẻ.

Thủ trưởng của tao còn nhờ tao liên hệ nhiều vụ lớn hơn nhiều, thành ra thua thiệt là ở cấp trên. Có thể cha thủ trưởng của tao sẽ bị đổi đi nơi khác trong vài ngày hay vài tuần nữa. Tao sẽ cùng chung số phận nên tao mới mời mầy đến đây giới thiệu cho biết vợ tao và cho mầy biết quyết định của tao là … nếu bị đổi đi khỏi Sàigòn, tao sẽ đào ngũ, dẫn vợ tao về Nam Vang sống. Tao không muốn nói ai nghe ý định này, nhưng tao biết mầy thương tao nên nói mầy biết, biết đâu sau này mầy có về Nam Vang thì tìm vợ chồng tao, mình sẽ qua lại với nhau như bây giờ.

Tôi hỏi nhỏ : - Mầy có cho vợ mầy biết ý định này không ?

- Nói rồi ! Nói trước khi cưới… Loan mới chịu lấy tao vì cả nhà Loan không ai ưa Việt cộng. Nói cho mầy biết vợ tao hồi xưa là bạn thân ở cùng xóm. Cái nhà sơn xanh có hai cây điệp tây trước cửa trên đường đến nhà tao đó. Ba Má vợ tao về Sàigòn giữa năm 70. Cuối năm đó Loan lấy chồng là lính Sư Đoàn 5. Chưa có con thì chồng Loan chết trận năm 72. Loan ở vậy thờ chồng và thù Việt cộng kịch liệt.

- Vậy sao Loan chịu lấy mầy ?

- Bần gan tím ruột mầy ơi ! Hồi mới về thành … nhờ làm có tiền nên tao đi may đồ mặc và gặp Loan ở tiệm may. Hai đứa tao nhận ra nhau ngay nhưng Loan không thèm nói chuyện với tao vì biết tao theo Việt cộng.

Vinh Mén ngưng nói, liếc mắt nhìn hướng nhà bếp :

- Sau đó tao làm mặt lì, đón đường nói chuyện mấy lần cũng không kết quả… nên tao âm thầm theo Loan về tới nhà vì tao nhớ hồi xưa … Ba Má tao và Ba Má Loan rất thân nhau. Hai đứa tao cũng “đá lông nheo” với nhau rồi. Nếu không vì cái vụ tao bị Việt cộng gạt vô khu thì có thể hai đứa tao đã thành vợ chồng lâu rồi. Gặp Ba Má Loan, tao năn nỉ cả tháng trời. Ông Bà dằn vật tao gần muốn điên luôn. Ổng bả nói vì tao theo Việt cộng nên Ba Má tao buồn tủi, sanh bệnh và qua đời trên Nam Vang. Tao phải lạy lục, kể lể là tao bị gạt chớ không thật lòng theo Cộng sản. Dùng dằng mấy tháng Loan mới chịu nói chuyện với tao với điều kiện là tao không được mặc đồ bộ đội khi tới nhà này.

Loan mang lên cho chúng tôi một dĩa tôm khô củ kiệu với vài lát ớt xắt mỏng rải ở trên. Vinh Mén nhìn vợ cười mỉm. Loan hỏi chồng :

- Anh nói lén em phải không ?

Vinh Mén nịnh vợ :

- Anh nói cho thằng Long biết là anh may mắn lắm mới cưới được em.

Loan nhìn chúng tôi mỉm cười, trở vô bếp. Vinh Mén mời tôi gắp tôm khô củ kiệu.

Hắn uống một ngụm bia, nói tiếp :

- Trước giờ tao không nói cho mầy biết vụ này vì tao cũng không mấy hy vọng là Loan chịu lấy tao. Cho tới tháng Chạp vừa rồi, có tin xầm xì sẽ có đảng viên từ Bắc vô thay thế tụi tao. Tao tâm sự với Ba Má Loan là tao đã dành dụm được khá nhiều tiền, tao xin ổng bả cho tao lập gia đình với Loan, tao sẵn sàng giã từ Cộng sản nếu gia đình Loan đòi hỏi. Ổng bả hẹn tao tuần sau trả lời. Tuần sau tao trở lại thì Ba Má Loan cho biết ổng bả không cản trở việc hôn nhân của hai đứa tao, nhưng tao phải hỏi ý Loan vì ổng bả đã gả Loan một lần rồi nhưng duyên tình đứt đọan, nên giờ Loan có trọn quyền quyết định việc hôn nhân của mình.

Vinh Mén gắp một củ kiệu bỏ vô miệng nhai, kể tiếp :

- Cửa ải thứ nhất đã qua, cửa ải thứ hai tưởng dễ mà khó. Loan đòi tao phải giải ngũ ngay, trở về làm dân không dính dấp vì tới Việt cộng nữa vì dân Sàigòn nói … “khoai lang chấm muối ăn bùi, lấy chồng bộ đội … lấy thằng cùi sướng hơn”! 

 

Vinh Mén thở ra một hơi dài, như cố trút cái gánh nặng vô hình đang đè trên tim phổi hắn :

- Kế đến là khi làm đám cưới, tao không được mời những người bạn trong đơn vị hay bất cứ ai có liên hệ với Cộng sản.

Vinh nói đến đây thì Loan mang tiếp cho chúng tôi một dĩa chả chiên và dăm-bông xắt mỏng xếp xen kẻ với dưa leo và cà rốt làm chua. Sẵn trớn Vinh Mén nhìn vợ rồi xoay qua nhỏ giọng phần trần với tôi :

- Cái vụ làm đám cưới không mời ai thì dễ ợt, nhưng cái vụ giải ngũ ngay lập tức thì … mầy nghĩ coi, vợ tao tưởng bộ đội Cộng sản như quân đội Quốc gia vậy, hễ muốn giải ngũ thì cứ xin giải ngũ. Tao phải vừa giải thích vừa năn nỉ hết mấy ngày trời cho bà xã tao hiểu là Việt cộng nó chỉ cho mình giải ngũ khi mình đã bị thương tích nặng, không còn chiến đấu nổi nữa hay không còn xài được nữa. Và tao phải hứa với Loan là khi cần, tao sẽ đào ngũ chớ không xin giải ngũ, vì xin xỏ chẳng những không được gì mà còn bị tụi nó theo dõi, có thể nguy hiểm tới tánh mạng.

Loan háy chồng :

- Ai biểu anh theo hạng người gì mà kỳ cục ! Nói một đường, làm một ngã. Ai biết phải làm sao cho vừa lòng họ. Người ta nói đi làm Cách mạng là để xóa bỏ những cái cũ xấu xa, lạc hậu và thực hiện những gì mới tốt đẹp hơn, no ấm hơn, sung sướng hơn cho dân tộc. Đàng này, mấy ổng đi làm Cách mạng kiểu gì mà đời sống của người dân Việt càng ngày càng khổ sở, khốn cùng. Chỉ có mấy ổng là sung sướng thôi. Vậy là mấy ổng làm cách mạng cho mấy ổng chớ đâu phải cho dân mà mấy ổng bắt dân theo, mà bắt dân phải đi lính ... đi lính để bảo vệ ai?

Vinh Mén vỗ tay :

- Hay! Hay! Mầy thấy vợ chồng tao hợp nhau cái vụ ăn nói phải không ?

Vỗ tay xong, Vinh Mén xoay qua vợ :

- Nhưng em nói cho anh và thằng Long nghe thì không sao, đừng ra đường phát ngôn bừa bãi, tụi nó nghe được là bắt nhốt em liền. Kẹt lắm đó !

Loan không nói gì, trở vô bếp, lát sau mang ra tô thịt kho nước dừa và một dĩa bánh tét với cải mặn. Vinh Mén nói là nhậu nhưng các món ăn do Loan mang lên ngon vô cùng. Chúng tôi vui vẻ ăn uống và nhắc lại những chuyện vui buồn từ khi chúng tôi quen nhau, nhờ vậy tôi mới biết lúc còn ở Nam Vang, Loan học chung trường với bà xã tôi. Hèn gì cứ nhớ là đã gặp Loan đâu đó.

Vinh Mén kể cho chúng tôi nghe chuyện lúc còn ở trong cục R, trong một lần nhảy bừa xuống hầm để tránh bom, một tên cán bộ chính trị trung đoàn bị người nhảy sau đạp vào mặt, gãy hết mấy cái răng cửa.

Trong R không có phương tiện làm răng giả cho hắn nên mỗi lần nói chuyện, miệng hắn như có cái cửa sổ trống phọc, ai nhìn cũng phì cười. Hắn chữa thẹn bằng cách ví von rằng những người đi làm Cách mạng cũng như là cá. Bây giờ Cách mạng chưa thành công, cũng như cá còn ở trên cạn nên bị kiến hiếp đáp, mai này Cách mạng thành công thì cá sẽ mặc sức mà ăn kiến, nhất là với cái hàm trên không răng trống phọc của hắn thì hắn sẽ đớp nhiều kiến hơn những con cá Cách mạng khác. Lời ví von của thằng Cán bộ sau đó được cục R dùng đi dùng lại để khích lệ tinh thần những tàn binh Việt cộng, sống sót sau các trận đụng độ với QLVNCH.

Vinh Mén hậm hực :

- Đ. M.! Hồi đó trong rừng, tao chả biết thực tế như thế nào nên cũng tin theo lời nói đó để mà hy vọng, để mà sống cho tới lúc được ăn con kiến, vì tao nghĩ con kiến này là những thằng đầu sỏ Mỹ-Ngụy. Bây giờ biết ra nó chua chát quá, vì theo tao nhận xét, con kiến trong lời nói của thằng cán bộ chính trị cục R bây giờ là nhân dân miền Nam chớ đâu phải là bọn đầu sỏ Mỹ-Ngụy, vì bọn đó đã đi nước ngoài hết rồi. Nhưng nếu người dân miền Nam là con kiến đi nữa thì chưa chắc cách mạng đã ăn được con kiến. Bằng chứng là chiếm miền Nam chưa được một năm thì nhiều cán bộ cao cấp đã hủ hóa trầm trọng, cán bộ trung cấp theo chân đàn anh ăn hối lộ, tham nhũng công khai, còn bọn tép riu như tụi tao thì đụng đâu đớp đó để phòng thân sau này. Thành ra bao nhiêu chính sách đo đảng đề ra để ăn con kiến chắc chắn sẽ không thành công nhưng các thủ đoạn để cướp đoạt tài sản của con kiến thì đã được thi hành triệt để. Đ. M.! Hành động như một lũ cướp mà cứ hô hào là Cách mạng thì con nít nó cũng không tin. Tao chưa thấy cá ăn kiến nhưng nếu tình trạng này kéo dài thì kiến ăn cá là cái chắc !

Loan ngắt lời chồng :

- Anh hứa với em là anh không chửi thề nữa mà.

Vinh Mén đỏ mặt :

- Nói tới bọn cướp cạn này, anh tức quá nên không dằn được.

- Thì đừng thèm nói tới họ nữa... coi như họ không có mặt trên đất nước này.

- Em nói vậy là em thua Việt cộng rồi. Tụi nó không cần mình theo mà chỉ cần mình im lặng cho tụi nó đè đầu đè cổ. Cái khổ, cái đau, cái đói, cái khát mà người dân từ Bắc chí Nam đang gánh chịu đều do tụi nó gây ra, nên nếu mình không nói, nếu mình giả đò quên là mình đồng lõa với tội ác. Em hiểu không ?

Loan nhìn chồng mỉm cười. Tôi nhận thấy trong lúc gần đây, Vinh Mén nói chuyện ít khi chửi thề nữa. Tôi đổi đề tài, kể cho vợ chồng Vinh Mén nghe về đứa con đầu lòng của chúng tôi, về niềm vui của vợ chồng tôi khi bà xã tôi có bầu, những lúc lo âu, những khi sung sướng từ khi nó chào đời cho đến hôm nay.

Ăn uống xong, Vinh Mén đưa tôi về nhà và hẹn hai ngày sau sẽ đưa phiếu xăng. Tôi đến nơi hẹn, chờ hơn một giờ mà không thấy bóng dáng Vinh Mén, nên biết nó đã giã từ Cộng sản. Tôi cầu Trời Phật phò hộ cho vợ chồng nó tìm được nơi dung thân ở Nam Vang hay một nơi nào đó.

Cuối năm 1981, trong lúc vợ chồng tôi chuẩn bị đi tìm tự do, tôi nhận được tin của Vinh Mén. Nó cho biết vợ chồng nó đang làm ăn thoải mái ở Siem Reap (Đông-Bắc Cao miên, giáp giới với Thái lan), và vợ nó vừa sinh đứa con gái đầu lòng. Nó dự định, khi vợ nó cứng cáp, vợ chồng nó sẽ qua Thái lan xin tị nạn.

Tôi mừng thầm cho bạn, và dù mới chuẩn bị cho chuyến đi của chính mình, tôi mong rằng sẽ gặp lại vợ chồng nó ở một nơi nào đó nơi xứ người.


Bữu Nguyễn 

Chiếc Xe Thổ Mộ - Topa


Mùa thu năm 2012 tôi trở về Việt Nam thăm gia đình. Dịp này tôi gặp lại 2 người bạn học từ những ngày xa xưa lắm. Khi đó chúng tôi 3 người thuộc nhóm học sinh tập tễnh viết thơ văn để kịp đăng trên tờ bích báo của trường sắp ra mắt số đầu tiên. 2 bạn viết truyện vui và truyện tuổi học trò; còn tôi làm thơ... tình. Sau rất nhiều năm xa cách, bây giờ gặp lại 2 bạn và được 2 bạn khuyến khích, tôi quyết định, 3 tuần cuối cùng tôi sẽ không đi ra khỏi thành phố vào 2 ngày thứ bảy và Chúa nhật. 2 ngày này tôi sẽ có mặt tại quán café Ngọc Hân số 41 đường Lê Quý Đôn Quận 3 Thành phố Sàigòn. Tôi có mặt tại quán café từ 7 giờ 30 sáng đến 11 giờ trưa. Tại đây tôi sẽ được gặp những nhà văn đã lớn tuổi của Sàigòn cũ. Và, đó cũng là những người đàn anh của 2 bạn. Qua những nhà văn này, tôi sẽ được chỉ dẫn để có thể tạo ra thật dễ dàng rất nhiều cốt truyện hấp dẫn để viết về thế giới tâm linh. Tôi không muốn những gì tôi viết sẽ để lộ sự non nớt chưa có tay nghề, hoặc, không đáp ứng được nhu cầu của độc giả.

Nhớ lại những tháng ngày “chân ướt chân ráo” mới đến định cư tại Vương Quốc Hòa Lan, tôi đã tiếp tục làm thơ. Thơ của tôi được đăng trên các báo của người Việt bên Mỹ, cùng báo Việt Nam Nguyệt San của Cộng Đồng Người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản tại Hòa Lan, và trên tạp chí điện tử Cái Đình. Tôi chưa từng viết truyện ngắn bao giờ. Bây giờ tôi muốn kết hợp thơ cùng truyện ngắn về thế giới tâm linh. Và, tôi tin tôi cũng sẽ thành công và cũng sẽ được độc giả khắp bốn phương... cùng độc giả tại Hòa Lan đón nhận.


Hôm nay là ngày chúa nhật, tôi còn 8 ngày ở Việt Nam. Sáng hôm nay tôi đến quán nhưng không gặp 1 người anh nào có mặt. Vì là ngày chúa nhật nên quán đông khách quá. Tôi thất vọng nhưng quyết định sẽ chờ. Nhìn quanh từ trong quán ra đến ngoài sân, tôi thấy không còn bàn nào trống cả. Tôi định đi loanh quanh đâu đó một chút rồi quay lại. Thì, tôi thấy 1 người đàn ông lớn tuổi ngồi một mình bên cái bàn nhỏ mà tôi có thể xin ngồi cùng. Tôi đi đến và hỏi:

- Thưa bác, cháu có thể ngồi đây được không bác?

Người đàn ông không nói mà chỉ gật đầu. Tôi kéo ghế và ngồi xuống. Tôi để quyển truyện lên bàn và gọi ly café sữa đá. Trong khi chờ café đem ra, tôi mở quyển truyện ra để đọc tiếp. Quyển truyện tôi đang đọc có tựa: “Liêu Trai Chí Dị” của tác giả Bồ Tùng Linh. Tôi đọc quyển truyện này vì tôi muốn xem cách viết, cách tạo cốt truyện của ‘lão tiền bối’ này ra sao.

Tôi vừa thoáng nhìn thấy ông khách ngồi đối diện tôi nhếch môi cười. Một nụ cười như chế nhạo tôi? Hay có ý nào khác thì tôi chưa biết. Quyển truyện tôi đang đọc mà 2 người bạn của tôi cho là truyện tầm thường. Nên, nụ cười của ông đã làm cho tôi cảm thấy chút khó chịu.

Thật bất ngờ, ông lên tiếng nói với tôi làm cho mọi ý nghĩ không đúng về ông vụt trôi qua thật nhanh:

- Lâu lắm rồi tôi mới thấy lại quyển truyện này.

Câu nói của ông cho tôi biết, ông không lạ gì với quyển truyện tôi đang đọc. Tôi muốn biết ông nghĩ thế nào về nội dung quyển truyện. Tôi hỏi:

- Bác... có lẽ bác cũng đã đọc qua những truyện trong sách này rồi, phải không bác?

Ông gật đầu và nói:

- Quyển truyện cô đọc, tôi đã đọc từ... từ khi cô còn là cô bé... tắm truồng dưới mưa. Những truyện ngắn trong quyển đó kể ra cũng không tệ mà cũng không có gì gọi là đặc sắc cả. Vừa nhìn thấy quyển truyện thì tôi... cười vì tôi nghĩ, nếu tôi biết viết văn tôi sẽ viết truyện về thế giới tâm linh, thì truyện của tôi sẽ... sẽ... “được” hơn truyện của Bồ Tùng Linh nhiều lắm. Một con... ma nữ hiện lên làm người thật 100%. Con... ma nữ đó và tôi... ly kỳ lắm cô à.

Nhìn ông nói, tôi tin ông nói thật. Tôi nghĩ, phải làm sao để ông chịu kể câu chuyện có thật và đã xảy ra với ông thì đúng là tôi... “đang buồn ngủ mà gặp được chiếc chiếu hoa.” Tôi đang muốn tìm đề tài để viết cho có cái gọi là tác phẩm đầu tay. Tôi nói như van xin ông:

- Thưa bác, cháu từng làm thơ, nhưng, hiện nay cháu đang tập sự viết văn. Cháu muốn viết truyện ngắn về thế giới tâm linh. Nếu bác đồng ý kể câu chuyện thật đã xảy ra với bác, cháu sẽ mang ơn bác nhiều lắm. Cháu muốn có... tác phẩm đầu tay để làm kỷ niệm. Cháu mong bác đừng từ chối.

Và, người đàn ông mà tôi gọi là bác, đã nhìn ngay mắt tôi rồi lại... nhếch môi cười. Ông hỏi:

- Cô nói cô từng làm thơ à! Thế... bút hiệu của cô là gì?

- Dạ thưa bác, là Miên Thụy ạ.

Ông không... nhếch môi cười mà lại cười thành tiếng thật lớn. Ông nói làm cho tôi ngạc nhiên, làm cho tôi hãnh diện và vui mừng vô cùng. Ông nói:

- Ô! Thế ra... cô là nhà thơ Miên Thụy ở Hà...ở Hòa Lan đấy à! Thơ của cô hay lắm. Thơ của cô tình cảm và mượt mà lắm. Bút hiệu Miên Thụy rất hay và... cũng đã là thơ đấy. Tôi đã đọc nhiều bài thơ của cô từ trước năm 1975 trên các tờ báo phát hành tại Sàigòn. Sau này tôi đọc thơ của  cô do đứa cháu của tôi cũng đang sống ở Hà... đang sống ở Hòa Lan về thăm ba má nó. Cháu tôi mở internet cho tôi xem và tôi đã đọc thơ của cô trên đó.

- Bác đọc báo nào trên mạng vậy, thưa bác?

- Báo Cái Đình.

Tôi hỏi:

- Cháu của bác cũng viết bài…?

- Không. Cháu tôi chỉ là độc giả thôi. Nhưng nó rất thích thơ văn.

Ông ngưng nói và cầm ly lên uống hớp café cuối cùng còn trong ly. Tôi hồi hộp chờ đợi để được nghe câu chuyện... ma có thật. Sau khi ông uống xong hớp café, ông từ từ rót nước trà vô ly rồi chậm rãi ông nói và ông kể câu chuyện dài có thật của chính ông cho tôi nghe:

“Cô Miên Thụy à! Câu chuyện mà tôi sắp kể là chuyện thật 100% đã xảy đến với tôi, tuy không rùng rợn,không làm tôi phải bị đứng tim; nhưng, rất đặc biệt đối với tôi vào những năm xa xưa lắm cô Miên Thụy à. Đó là vào cái thời mà vùng ven Sàigòn còn nhiều ruộng lúa, còn nhiều sông rạch và ao hồ; cũng như còn nhiều thú dữ. Đó là cái thời mà tôi mới lớn; thời mà tóc tôi còn xanh và tình tôi còn nồng vì đang độ tuổi yêu cuồng nhiệt. Thế rồi... thế rồi cách nay gần 1 tháng. Chính xác đó là ngày 13 tháng 9 năm 2012, khi đó tôi đang trên đường đi đến quán café này. Tôi vừa bước chân vô trong quán, tôi đã giật mình khi nhìn thấy người thiếu nữ có đôi con mắt thật đặc biệt đang ngồi trong góc quán và... nhìn tôi.” Bác ngưng kể và chỉ tay đến cái bàn trong góc bên tay phải của tôi và nói tiếp: “Người thiếu nữ ngồi đó và nhìn tôi đến không chớp mắt. Cô gái nhìn tôi như thể cô muốn thôi miên tôi vậy, buộc tôi phải nhìn lại cô. Và, tôi đã nhận ra cô là người mà tôi đã gặp qua lần trước đó. Lần này là lần thứ hai tôi gặp lại cô. Lần trước, cách chỉ 1 ngày, khi đó tôi cũng đang đi bộ từ nhà đến quán café này và thấy cô ta đang đứng trước cổng Công Viên Tao Đàn. Cô gái đứng đó như thể cô đang chờ đợi người nào đó sẽ đến với cô. Có một điều lạ là, đôi mắt của cô như có 1 sức thu hút, như có 1 ma lực mạnh mẽ buộc tôi phải nhìn ngay mặt của cô; mặc dù tôi rất ngại nhìn những cô gái trẻ. Đôi mắt của cô, dù tôi chỉ nhìn thoáng qua thôi, nhưng, tôi có cảm nhận đôi mắt đó là của người tôi từng quen biết. Tôi sợ có người thấy tôi nhìn cổ cách quá sỗ sàng và sẽ cho tôi là... “già rồi mà còn ham gái trẻ”. Già hết xí quách rồi mà còn muốn... tò tí te; muốn gặm cỏ... măng. Một ông già 82 tuổi, răng cỏ chỉ còn đúng 3 cái... đang lung lay chưa biết giờ phút nào nó sẽ vĩnh biệt cái miệng của tôi. Hơn nữa tôi ăn mặc lại tuềnh toàng như ông già nhà quê... thì còn ham muốn gì nữa mà nhìn gái trẻ chứ. Phải vậy không cô Miên Thụy?”

Tôi chỉ biết mỉm cười chứ không dám có ý kiến. Bác kể tiếp: “Cô gái vẫn ngồi đó và vẫn đang nhìn ngay tôi. Nhưng, hai tay của cổ lại đang mân mê 1 vật mà thoạt nhìn, tôi đã nhận ra ngay đó là chiếc xe thổ mộ – chiếc xe có 1 con ngựa kéo để chở hàng hóa và chở người rất thông dụng vào những năm của thập niên 40-50 của thế kỷ thứ 20, là thời của tôi khi mới lớn. Nay thì chiếc xe đó đã đi vào quá khứ rồi... cô Miên Thụy à.


Tôi là khách thường xuyên của quán café này, nên mỗi lần đến đây các nhân viên của quán đã biết “gu” của tôi uống gì rồi. Vì vậy khi tôi ngồi vô ghế chưa được một phút, một cô tiếp viên đã đem đến đặt trên bàn của tôi ly café sữa. Ngồi một lúc, tôi muốn biết cô gái ngồi đó một mình hay với người nào khác, nên tôi quay đầu qua để nhìn cổ. Nhưng, cô gái đã “biến” đi đâu mất tiêu rồi. Trên bàn thì chiếc xe thổ mộ xưa vẫn còn để đó. Đây cũng là điều làm cho tôi phải bị đau đầu. Cô gái không thể đi vô nhà vệ sinh được vì người lao công đang làm vệ sinh mà cửa nhà vệ sinh thì đang mở ra toang hoác. Cô gái đó cũng không thể đi ra khỏi quán được, vì khi cô đi cô phải đi ngang qua trước mặt tôi. Nhân có 1 cô tiếp viên đi ngang qua chỗ tôi ngồi, tôi chận cô lại. Tôi vừa chỉ tay về cái bàn có chiếc xe thổ mộ vừa hỏi: “Cô ơi, cho tôi hỏi cô một chút. Cô gái ngồi ở cái bàn kia đi đâu cô có thấy không?” Cô tiếp viên nhìn theo hướng tay tôi chỉ rồi quay lại nói nhỏ với tôi: “Bác ơi. Có lẽ đèn trong quán mờ quá nên làm cho bác tưởng tượng chứ không có ai ngồi ở cái bàn đó đâu bác.” “Ơ... tôi mới nhìn thấy....” “Cái bàn đó không có khách bác à.” Tôi lại chỉ tay về hướng cái bàn và hỏi: “Thế cái xe ngựa... cái xe thổ mộ đó là của ai?” 


Nghe tôi nói, cô tiếp viên liền đi đến cái bàn đó và cầm chiếc xe thổ mộ lên ngắm nhìn với vẻ ngạc nhiên. Cô tiếp viên liền hỏi cô ngồi ở quầy tính tiền: “Bàn này có khách không chị?” Người kia lắc đầu. Thấy vậy tôi ngoắc cô tiếp viên lại và cầm cái xe thổ mộ rồi cũng nhìn ngắm thật kỹ. Chiếc xe và con ngựa được làm bằng cây và đánh vẹc-ni bóng loáng. Tôi nhìn thấy bên hông chiếc xe có ghi ngày tháng và năm, 13/9/1947. Tôi định đưa chiếc xe lại cho cô tiếp viên thì, ngay lúc đó tôi bỗng giật nẩy cả người lên. Mồ hôi trong người tôi liền tuôn ra như thể tôi đang ở trong phòng tắm hơi vậy. Tôi vội vàng nhìn lại những con số một lần nữa cho chắc chắn. Tôi ngước nhìn nhanh lên tấm lịch treo tường, tờ lịch của ngày hôm đó cho tôi thấy là 13-9-2012. Tôi hoảng hốt khi vừa nhớ ra khuôn mặt của cô gái mà tôi đã gặp tổng cộng 2 lần là người nào rồi. Tôi lại nhìn chiếc xe thổ mộ đến không chớp mắt. Mặt của tôi lúc đó chắc chắn phải nhợt nhạt lắm vì mồ hôi cứ chảy dầm dề từ trên trán xuống làm cho cả hai con mắt bị cay sè. Tôi như người bị mê sảng nên lảm nhảm nói đi nói lại chỉ một câu với cô tiếp viên: “Trời ơi cô ơi! Vậy là tôi sắp chết rồi. Trời ơi là trời! Tôi sắp chết rồi..cô ơi!”


Tôi liền đứng lên và bước đi ra khỏi quán đến quên cả uống café và quên trả tiền ly café. Có lẽ cô tiếp viên của quán cũng ngạc nhiên khi nghe tôi nói lảm nhảm... mà chắc chắn cô không hiểu gì cả. Tôi đi ra khỏi quán và đi thật lẹ về nhà. Khi tôi bước chân vô hẳn trong nhà, tôi liền nằm vật ra giường. Và, câu chuyện về chiếc xe ngựa – chiếc xe thổ mộ của những năm xa xưa lắm, đang như cuốn phim hiện ra từ từ và thật rõ ràng trong cái đầu của tôi....

******

Đã 4 tháng trôi qua kể từ ngày ba mẹ tôi dọn về ở trong khu đồng ruộng vắng vẻ vùng Đa Kao này. Chung quanh khu nhà tôi, tôi đếm được chỉ có 8 căn nhà và tổng cộng có 21 nhân khẩu. Thời gian đó toàn thành phố Saigon Gia Định dân cư vẫn còn rất thưa thớt, nên ngoài những khu trung tâm thị tứ ra, những vùng chung quanh phần nhiều vẫn còn là những khu hoang vắng với đầm lầy và ruộng lúa cùng sông ngòi chằng chịt. Tôi là con trưởng trong gia đình có 4 người em. Năm đó, năm 1947 tôi đã 17 tuổi nên, tôi cũng muốn phụ giúp gia đình bớt gánh nặng trong sinh hoạt thường ngày. Tôi đã nhờ bạn bè kiếm giúp tôi một chỗ dạy kèm cho trẻ em vào buổi chiều. 1 ngày kia tôi được bạn bè giới thiệu 1 công việc đúng như ý muốn, dạy kèm cho 2 anh em ruột còn nhỏ nhà ở vùng Phú Nhuận. Ngày đầu đến nói chuyện, tôi không giấu nổi vẻ thất vọng khi được cho biết công việc chỉ bắt đầu vào lúc 7 giờ tối và kết thúc lúc 9 giờ 30. Thất vọng là vì nơi mà tôi mỗi tối đến dạy kèm cách nhà tôi cũng khoảng 6 cây số mà lại là khu vực quá vắng vẻ. Căn nhà tôi sẽ dạy kèm nằm cách cánh đồng trồng lúa khoảng hơn trăm thước và nằm sau dãy nhà mặt tiền ở con đường chính. Con đường chính từ ngã tư dẫn đến chợ Phú Nhuận không có, hoặc có rất ít xe chạy vào thời gian tôi chấm dứt công việc. Và, nếu phải đi bộ về nhà thì tôi không dám vì đường quá xa và quá vắng vẻ âm u. Thật sự thì tôi cũng sợ ma lắm vì tôi tin có cuộc sống ở bên kia thế giới. Thấy tôi có vẻ lo lắng nên ông bà chủ muốn biết tôi bị những trở ngại gì. Ông chủ hỏi: “Có điều gì không vừa lòng thì cậu cứ nói cho chúng tôi biết... xem sao, may ra chúng tôi có thể giúp cho cậu.” Tôi nói ngay ra điều tôi lo sợ: “Dạ, kính thưa hai bác, 9 giờ rưỡi thì trễ quá vì cháu không có phương tiện để di chuyển...”

“Chuyện đó cũng không có gì làm cậu phải lo lắng lắm đâu. Ngay ngã tư Phú Nhuận có bến xe ngựa. Nếu cậu đồng ý công việc và điều kiện thì chúng tôi sẽ chịu luôn tiền xe cho cậu. Cậu cứ hỏi xem giá cả như thế nào rồi cho chúng tôi biết.” “Cháu cám ơn sự ưu ái của hai bác. Như vậy thì ngày mốt cháu sẽ bắt đầu công việc, cũng như sẽ cho hai bác biết về tiền xe mà cháu phải đi.”


Đi bộ từ nhà ông bà chủ ra đến ngã tư Phú Nhuận, tôi nhìn thấy 1 chiếc xe thổ mộ đã đậu ở ngã tư từ lúc nào rồi. Vị chi tôi mất đúng 6 phút đi bộ từ chỗ làm việc ra đây. Thấy tôi nhìn chiếc xe, người xà ích già lên tiếng mời chào: “Cậu đi về đâu... cậu?” “Về Đa Kao... bao nhiêu bác?” “Dạ, 4 cắc.” Nhìn thấy trong xe không có khách nên tôi hỏi: “Còn bao lâu nữa thì chạy vậy bác?”

“Dạ, cứ đúng 10 giờ 30 dù có hay không có khách tôi cũng chạy cậu à. Vì đó là chuyến cuối cùng.” “Mỗi đêm đều đúng giờ như vậy hả bác?” “Dạ, đúng vậy.” Đường xá Sàigòn vào những năm cuối của thập niên 1940 còn rất vắng vẻ, cả ban ngày cũng vậy. Xã Phú Nhuận thời gian đó thuộc vùng ngoại ô. Đường thì có trải nhựa và rộng thênh thang nhưng rất ít xe cộ chạy qua lại trên đường. Người bộ hành cũng rất ít. Mỗi đêm tôi đi bộ từ nơi làm việc ra đến bến xe thổ mộ luôn luôn cũng chỉ một mình tôi chứ tuyệt nhiên không thấy một người nào trên đường. Thảng hoặc, tôi mới thấy 1 chiếc xe chạy qua. Nhà ở hai bên đường Paul Blanchy – Võ Di Nguy sau này – từ ngã tư Phú Nhuận lên đến chợ Tân Định thì hầu hết sau 9 giờ đều đã then cài cửa đóng. Những cây đèn điện ở hai bên đường không đủ soi sáng lắm, nhất là khoảng từ chợ Phú Nhuận lên đến cầu Kiệu. Có lần tôi đã nghĩ quẩn là, nếu chẳng may có 1 bọn cướp ra chận chiếc xe thổ mộ bắt người xà ích và tôi lôi vô con hẻm để khảo của thì cũng chẳng ai dám đến cứu chúng tôi. Cảnh sát chưa chắc đã dám đến can thiệp nữa nói chi đến người dân. Có những lúc tôi cũng sợ khi nghĩ vu vơ về những chuyện ma quỉ hiện ra nhát người đi đường mà tôi thường được nghe ba má tôi kể lại, cũng như đã đọc trong những quyển truyện. Nhưng, tôi vội gạt những ý nghĩ đó ra khỏi đầu ngay. Tôi không muốn tự mình nghĩ ngợi huyễn hoặc rồi làm cho mình nhút nhát lo sợ vu vơ. 

Từ đêm đầu tiên cho đến đêm hôm nay, đã 2 tuần trôi qua rồi, nhưng cũng chỉ một mình tôi là khách duy nhất của chuyến xe thổ mộ cuối ngày. Có đôi lúc tôi nhìn người xà ích từ phía sau lưng và cảm thấy tội nghiệp cho ông. Không biết mỗi ngày ông có bao nhiêu người khách? Cuộc sống quả là quá cơ cực đối với người lao động như ông. Đúng 5 tuần làm việc trôi qua trong êm đềm thì,một đêm kia, thường thì tôi ngồi quay lưng lại với người xà ích và để 2 chân được thòng xuống cái bàn đạp dùng để cho khách bước lên xe, tôi đang nhìn trời và cảnh vật hai bên đường, mặc dù cảnh vật vẫn giống như mọi đêm, nghĩa là ở những nơi có đèn đường thì còn sáng, chứ từ chợ Phú Nhuận lên đến cầu Kiệu thì không. Đột nhiên chiếc xe thổ mộ từ từ chạy chậm lại. Tôi quay nhìn ra phía trước thì thấy có người đứng bên đường đang đưa tay đón xe. Tôi chuyển chỗ ngồi và tránh qua một bên thì cũng vừa lúc người xà ích lên tiếng: “Cô về đâu cô?” “Qua khỏi cầu Kiệu bao nhiêu tiền hả bác?” “Dạ, 2 cắc cô ạ.” Khách là cô gái mặc áo dài trắng mà quần cũng trắng.Chỗ cô gái đứng đón xe không có ánh đèn đường nên tôi không nhìn thấy được rõ mặt. Cô gái thoáng nhìn tôi với cử chỉ hơi lúng túng khi cô tìm cách bước lên xe. Cái bàn đạp có hơi cao. Nhưng, vì hai tay của cô đang ôm mấy quyển sách nên cô chưa biết phải làm sao để bước lên. Thấy vậy tôi nói: “Cô đưa mấy quyển sách tôi cầm giúp cho.” Sau khi đưa mấy quyển sách cho tôi, cô gái đặt một chân lên cái bàn đạp và tay cô cầm cái vịn tay rồi leo lên ngồi cạnh tôi. Nghĩa là cô cũng để hai chân thòng xuống chỗ bàn đạp. Có lẽ cô gái không muốn ngồi hẳn vào bên trong xe vì như vậy hai chân của cô phải bị co lại. Tôi rất vụng về trong giao tiếp với phái nữ. Có thể nói là chưa bao giờ tôi có dịp trò chuyện thân mật với một cô gái nào cả. Tuy đang là ban đêm và trời lạnh, nhưng tôi cảm thấy mặt của tôi nóng bừng lên, và, khi xe chạy ngang qua chỗ có ánh đèn điện tôi liếc nhìn thật nhanh mặt của người con gái để nhận ra là, nàng rất đẹp. Đẹp lắm! Tuổi của cô gái có lẽ cũng bằng tuổi của tôi thôi. Mùi thơm da thịt từ người của cô gái tỏa ra làm tôi ngây ngất và càng làm cho tôi rụt rè hơn. Người con gái từ khi thấy tôi nhìn lén thì từ đó nàng cứ cúi mặt nhìn xuống đường như thể cô muốn tìm kiếm vật gì đó dưới đường. Cô gái luôn ôm mấy quyển sách sát vô ngực như thể cô muốn những quyển sách đó luôn được sưởi ấm từ người của cô. Thỉnh thoảng cô gái cũng có ngước mặt lên một chút và rồi lại nhìn xuống mặt đường ngay. 

Mỗi lần chiếc xe thổ mộ nghiêng qua nghiêng lại vì mặt đường gập ghềnh rồi sự đụng chạm giữa cô và tôi làm cho cô giống như con giun vậy. Cô co hai chân lên và thân mình thì muốn thu nhỏ lại để... ẩn mình. Những lần như vậy tôi chỉ biết nói lí nhí trong miệng hai tiếng xin lỗi mà tôi không biết cô nàng có nghe được hay không. 

Xe vừa chạy lên giữa cầu thì cô gái quay đầu lại nói với người xà ích: “Ngừng ngay dốc cầu bên kia nghe bác.” Sau khi trả tiền, cô gái bước xuống xe rồi thoăn thoắt đi xuống những bực thềm để đi vô xóm nhà mà tôi cố giương hai con mắt lên cho thật lớn để nhìn theo chiếc áo dài trắng của cô cho đến khi mất hút. Gần chỗ cô gái mất bóng, tôi nghe nói nơi đó có ‘bãi tắm ngựa’ của quân đội Pháp nên tôi không nhìn thấy căn nhà nào cả. Đêm tối... mù mù như vậy mà cô gái bước đi thoăn thoắt như vậy chứng tỏ cô đã quá quen đường lối đi trong đêm tối. 3 đêm kế tiếp, cũng đúng tại địa điểm cũ, cũng người con gái mặc áo dài trắng, cũng ra đón xe và người xà ích cũng lập lại lời mời khách như ông đã từng mời tôi và cô gái lần đầu tiên. 

Ngày mai thứ bảy cuối tuần tôi được nghỉ. Nhưng, ông bà chủ muốn mời tôi ăn bữa cơm với gia đình. Nếu không vì muốn gặp lại cô gái cùng đồng hành 4 đêm liền thì tôi đã từ chối, vì công việc ở nhà và bài vở ở trường quá nhiều. Cả ngày thứ bảy tôi cứ nhớ mãi về người con gái cùng đồng hành trên một đoạn đường ngắn ngủi và tự hỏi, nàng làm gì và từ đâu đi ra đón xe vào thời điểm mà trên đường gần như hoàn toàn không còn một người bộ hành nào qua lại. Hay... cũng có thể lắm. Có thể cô gái cũng đi dạy kèm như tôi chăng? Rõ ràng cô gái có ôm một chồng sách giống như tôi vậy mà. Nhưng, cô gái trú ngụ ở căn nhà nào trong cái khu còn đầy ruộng nước hoang vắng mà cách phục sức của cô thì lại quá sạch sẽ với cái áo dài trắng tinh? Chắc chắn cô gái không thể là... tôi vội xua đuổi ý nghĩ kinh dị vừa thoáng qua trong đầu và tin rằng cô gái không thể là người của cõi âm hiện lên với mục đích... để chọc ghẹo, để nhát tôi. Chắc chắn cô gái cũng đang dạy học như tôi vì tối nay thứ bảy mà cô gái không ra đón xe như 4 hôm trước tức là tôi đã nghĩ đúng. Và, đúng như tôi đã suy đoán, tối thứ bảy hôm đó cô gái không ra đón xe. 

Tối ngày thứ hai đầu tuần bà chủ cho tôi về sớm 1 tiếng rưỡi vì lũ trẻ sẽ được bà đưa đi đâu đó. Được về sớm hơn 1 giờ, tôi thả bộ ra ngã tư Phú Nhuận. Người xà ích và chiếc xe thổ mộ chưa đến. Thời gian còn hơn cả tiếng đồng hồ nên tôi đi dọc theo đường Võ Di Nguy để nhìn ngắm các cửa tiệm. Ngay tại ngã tư phía tay trái tôi hướng về cầu Kiệu có 1 vườn ươm cây rất lớn hiện đã đóng cửa. Đối diện phía bên kia đường là nhà may Âu phục Bảo Toàn mà tôi định đến kỳ lương tôi sẽ đến đó may vài bộ... hiện cũng đã đóng cửa. Xa hơn 1 chút là ngã ba đường chưa được trải nhựa và rất nhỏ. Xa hơn 1 chút nữa có ngôi trường làng tên Võ Tánh. Sát ngay bên phải ngôi trường là tòa nhà của Hội Đồng Xã Phú Nhuận mà tôi thấy có 1 người lính đứng gác phía trước cổng. Xa hơn chút nữa về phía bên trái có 1 khu đất rộng lớn mà người ta đang xây rạp chiếu phim mà ông bà chủ của tôi đã có nói cho tôi biết, đồng thời ông bà cũng nói là sau khu đất rộng lớn đó là khu nhà của nông dân sinh sống bên những cánh đồng lúa chạy dài đến khu nhà của ông bà. Phía trước khu đất rộng, bên kia đường có 1 cái đình mà tôi không biết tên vì nơi đó không có ánh đèn. Phía trước đình có 1 cái phông tên nước mà giờ này vẫn còn nhiều người đến gánh nước. Đi thêm 1 quãng nữa tôi đã đến chợ Phú Nhuận. Giờ này dĩ nhiên chợ cũng không còn buôn bán nên vắng tanh và tối thui. Từ chợ Phú Nhuận đến cầu Kiệu, hai bên đường là hai dãy nhà lá, nhà tôn nhưng không có căn nhà nào có ánh đèn. Phía sau những căn nhà đó cũng là những cánh đồng ruộng mênh mông nước. Bất chợt tôi nhìn về phía xa xa nơi mà đã 4 đêm có người con gái cùng tôi trên chiếc xe thổ mộ. Tôi nghĩ người con gái có lẽ giờ này cũng đang ngồi đâu đó trong các căn nhà ở khu đó và đang dạy kèm cho mấy em nhỏ. Nhìn đồng hồ thấy đã gần đến giờ nên tôi quay trở lại ngã tư Phú Nhuận. 

Từ xa tôi đã thấy chiếc xe thổ mộ đậu sẵn tự bao giờ. Người xà ích có lẽ quá mệt suốt một ngày lao động nên ông nằm ngã lưng ra sàn xe và chân này gác lên lên chân kia còn cánh tay phải đang vắt ngang trán. Người xà ích già có lẽ đang ngủ. Con ngựa thì thỉnh thoảng co cái chân trước lên rồi nhịp nhịp xuống mặt đường như thể nó đang bực bội vì phải đứng yên một chỗ quá lâu. Đêm nay, với sự háo hức trong lòng mong được gặp lại người con gái đi cùng trên chiếc xe trong mấy đêm qua thì chiếc xe thổ mộ đã bình thản chạy qua địa điểm nơi có người con gái vẫn thường đứngđón mấy đêm trước. Tôi cảm thấy hụt hẫng, cảm thấy buồn như vừa bị mất một vật rất quý. Tôi quay nhìn ông xà ích nhưng gương mặt của ông vẫn bình thản như những ngày qua. Ông cầm dây cương và mặt nhìn thẳng về phía trước như không cần phải thắc mắc làm gì đến việc thiếu vắng một người khách quen đêm nay.


Đêm hôm nay khi tôi vừa ra đến chiếc xe thổ mộ thì trời cũng vừa bắt đầu rơi những giọt mưa nhỏ xuống trần gian; những giọt mưa đầu mùa. Tôi uể oải bước lên xe và ngồi co chân trong lòng xe vì tôi không muốn đôi giày bị ướt. Tôi dựa đầu vào thành xe và nhắm mắt lại. Tiếng vó ngựa vẫn nhịp đều trên mặt đường và cái âm thanh ‘lộp cộp lộp cộp’ nghe quen tai mà mọi khi tôi rất thích. Nhưng, đêm nay tôi cảm thấy cái âm thanh đó nó làm phiền tôi vô cùng.Tôi nhắm mắt lại nhưng trong cái đầu của tôi lại cứ nghĩ về cô gái. Chiếc xe ngựa bỗng từ từ giảm tốc độ làm cho tôi giựt mình và ngồi thẳng người lại. Tôi ngoái cổ nhìn về phía lề đường vì biết chắc người xà ích cho con ngựa giảm tốc độ để đón người khách mà tôi đang mong đợi. Tôi vui mừng quá đỗi. Vui như lúc còn bé đón mẹ đi chợ về vì biết chắc sẽ được mẹ mua cho cái bánh hoặc cái kẹo. Người con gái kia sẽ không cho tôi bánh hay kẹo, nhưng, đích thật sẽ cho tôi niềm vui và hy vọng. Cô nàng có vẻ lúng túng vì không biết phải ngồi như thế nào vì trời đang mưa thì, tôi đã lẹ làng ngồi ra phía ngoài như tôi vẫn thường ngồi để chỗ cho cô nàng ngồi được rộng rãi. Khi người xà ích chuẩn bị cho con ngựa cất vó chạy thì cô nàng lên tiếng nói khơi khơi, nhưng chắc chắn là nói cho người xà ích và tôi cùng nghe: “Cả tuần nay... bị cảm mà bây giờ lại gặp mưa nữa... Xui xẻo quá!” Ôi chao, giọng nói của cô nàng nghe sao mà nhẹ nhàng nghe sao mà vi vút giống như cơn gió nhẹ thoảng qua tai. Giọng nói sao mà ngọt còn hơn cả mật ong, ngọt hơn cả mía hấp nữa; tuy cô nàng đang bị cảm như cô nàng vừa cho biết. Tôi quay nhìn qua phía cô nàng nhưng cô nàng đang hướng mặt nhìn về phía trước. Cơ hội đang có. Dịp may sẽ không đến... hai lần nếu như tôi không lên tiếng về những gì đã ấp ủ trong lòng cả tuần qua thì sợ sẽ không còn dịp nữa. Và, thế là tôi hít một hơi cho không khí vào đầy 2 cái lá phổi rồi... rụt rè lên tiếng nói:

“Cô... cô nên cầm theo cái áo mưa...” Rõ ràng là tôi vừa thốt ra một câu thật hết sức vô duyên. Chính tôi cũng không ngờ có cơn mưa bất chợt đến như đêm nay để đem theo áo mưa thì làm sao cô nàng biết trước được mà đem theo chứ. Nhưng, thật may mắn là cô nàng lại nở nụ cười và nói: “Em... em cũng không ngờ đêm nay lại có mưa.”Tôi nhìn cô nàng và muốn mở miệng ra nói, nói bất cứ chuyện gì nhưng, cái “hột thị” quái ác nó cứ nằm ngay cổ họng làm cho tôi cứ trơ hai con mắt ra nhìn cô nàng mà trong lòng xao xuyến... mà vẫn không thốt ra được lời nào. Cô nàng có nụ cười quá xinh với hai hàm răng trắng muốt và thật đều. Dưới ánh sáng của những ngọn đèn đường hắt vào trong xe làm cho gương mặt của cô nàng thoáng ẩn thoáng hiện trông thật thanh tú và thật huyền ảo. Hai hàm răng của cô nàng trắng tinh. Tôi không biết cách nào để bắt chuyện nên hai bàn tay cứ hết chắp vô với nhau rồi lại xoa xoa vô với nhau như thể là đang bị lạnh vậy. 

Sự im lặng thật dài, thật lâu, chỉ nghe tiếng vó ngựa gõ đều đều trên mặt đường giữa đêm khuya vang lên. Phút chốc chiếc xe thổ mộ đã lên đỉnh cầu và đang đổ dốc. Người xà ích đang ghìm cương để chiếc xe từ từ dừng lại. Tự nhiên tôi buột miệng: “Cô hãy đi mau về nhà kẻo ướt. Tôi xin được trả tiền xe đêm nay giúp cô.” Một lần nữa, cô nàng nhìn tôi và nở nụ cười thật tươi đồng thời cô nàng cũng lí nhí nói 3 tiếng cám ơn anh, rồi bước nhanh xuống những bực thềm dẫn vô khu nhà tối tăm không có đến một chút ánh sáng chiếu rọi đến.... 


Từ phía xa tôi đã nhìn thấy cô nàng đứng ngay chỗ đón xe mỗi đêm. Tự nhiên trái tim của tôi cứ đập liên hồi và đập thật mạnh. Cô nàng nhìn tôi gật đầu chào và đồng thời cũng ban phát cho tôi nụ cười. Mãi một lúc sau tôi mới mở được miệng ra nói: “Có lẽ... cô cũng đi dạy ở gần chỗ cô đứng đón xe?” “Dạ, đúng vậy anh à. Sao... anh biết hay vậy?” “Tôi chỉ đoán...mò vậy thôi. Tôi... Tôi cũng đang dạy kèm cho mấy em ở khu ngã tư Phú Nhuận nên... Tôi xin tự giới thiệu, tôi tên Ngọc.” “Ô, vậy ra anh Ngọc và em có cùng một công việc giống nhau. Mình là đồng nghiệp anh Ngọc há.” Tôi liền đổi cách xưng hô: “Nhà... em ở... ở dưới đó hả?” “Dạ, đúng rồi anh. Đi xuống hết mấy bậc thềm rồi quẹo phải sau đó quẹo trái đi theo mé sông đến căn nhà cuối cùng là nhà của em. Em sống với ba vì mẹ em mất lâu rồi. Em tên Thơm. Ban ngày em đi may tới chiều mới về. Ăn cơm xong nghỉ một chút là em lại đi đến gần chỗ mà em thường đứng đón xe. Em dạy kèm cho hai em bé gái.”

“Còn bến tắm ngựa...” “Qua khỏi nhà của em một đoạn ngắn là đến “bến tắm ngựa”… anh à.”


Xe đã đến chỗ mà Thơm phải xuống. Thơm nhoẻn miệng cười và nói lời từ giã: “Hẹn anh Ngọc đêm mai… mình gặp lại. Cám ơn anh Ngọc đã trả tiền xe cho em hôm qua. Hôm nay anh Ngọc để em được tự trả nghe anh.” “Không đáng bao nhiêu mà... Thơm. Em cứ đi về đi. Chúc em ngủ ngon... em nhé.” “Cám ơn anh Ngọc nhiều lắm. Em... muốn mời anh Ngọc đến nhà em cho biết nhưng... em ngại vô cùng vì nhà em nghèo quá.”

“Được em mời đến nhà là quý lắm rồi. Gia đình anh cũng đâu phải thuộc loại giàu có sang trọng gì mà dám chê ai.” “Vậy anh cứ hỏi trước... ông xe ngựa xem có chịu chờ để đưa anh về không thì đêm mai em mời anh đến nhà cho biết nhà. Thôi bây giờ em về nghen. Chúc anh Ngọc ngủ ngon.”.....


Tôi lẽo đẽo đi theo sau Thơm như cái bóng. Tôi đi theo phía sau Thơm là vì đường đi nhỏ mà lại quá tối. Đoạn đường bằng đất nên có nhiều chỗ “gồ ghề”. Thơm vừa vấp vào 1 vật gì đó nằm trên đường và như muốn ngã chúi về phía trước. Nhưng, tôi đã kịp thời đưa tay ra đỡ lấy người của Thơm. Cánh tay của tôi chạm đến thân thể của người con gái rồi chuyền qua tôi một cảm giác.. lạnh buốt. Tôi thấy thật ái ngại cho Thơm. Vì sao đêm hôm khuya khoắt như thế này mà Thơm lại không cầm hờ theo cái áo lạnh khi mà cô vừa trải qua 1 cơn bệnh kéo dài cũng cả tuần lễ. Tôi vừa nhớ lại là mấy đêm vừa qua, Thơm thường hay ngồi co ro và ôm sát chồng sách vô lòng như để cho hơi ấm không thoát được ra khỏi thân thể của Thơm. Tôi nghĩ và thấy thương Thơm nhiều hơn. Tôi nghĩ là tôi sẽ tặng Thơm cái áo thật ấm và thật đẹp vào đêm mai. 


Đi hết 1 dãy nhà khoảng 8 căn mà mỗi căn cách nhau cũng có đến...năm mười thước, Thơm dừng lại trước 1 căn nhà ở cuối dãy. Căn nhà khá nhỏ được che chắn chung quanh bằng ván cây mỏng và nóc nhà được lợp lá.Thơm đẩy nhẹ cánh cửa rồi gật đầu với tôi ra hiệu bước theo nàng vô bên trong. Gần ngay cửa ra vô có đặt 1 cái bàn nhỏ, trên bàn đặt 1 cây đèn dầu cũng nhỏ đang cháy leo lét. Kế bên cái đèn là bình nước được đựng trong cái vỏ của trái dừa đã khô; với 4 cái ly nhỏ và được đựng chung trong một cái dĩa bằng nhôm. Sau cái bàn là cái giường được che chắn bởi một tấm màn màu trắng. Phía bên trái là nhà bếp. Cạnh cái bếp có treo 1 cái võng và trên đó có người đàn ông đang nằm mà tôi đoán là ba của Thơm. Thơm lên tiếng khi người đàn ông bỏ chân xuống khỏi võng. “Con có mời anh Ngọc ghé nhà mình cho biết. Anh Ngọc là người đã trả tiền xe cho con mà con đã có kể cho ba nghe rồi đó.” Tôi không thấy rõ được mặt ba của Thơm vì ánh đèn dầu không đủ soi sáng khắp căn nhà. Tôi khoanh tay lại và gật đầu chào đại: “Chào bác ạ.” Thơm nói: “Anh ngồi xuống đó đi. Em pha trà anh uống cho ấm nhé. Em bị lạnh quá. Em sợ bị bịnh quá anh Ngọc ơi.” Trong lúc Thơm nấu nước tôi nói như lo lắng cho Thơm: “Người của em... lạnh lắm. Lạnh cứ như là... vừa trong hầm chứa nước đá đi ra vậy. Em đi làm đêm mà ăn mặc như vậy dễ bị bịnh lắm.” “Em định tới đầu tháng khi lãnh lương, em sẽ mua 1 cái áo lạnh thật dầy chứ mỗi đêm cứ như vầy thì sợ sẽ không kéo dài được lâu.” 

Niềm cảm xúc trổi dậy trong lòng tôi. Thơm nghèo nhưng thật thà quá. Thơm nói chuyện thật tự nhiên và rất thân tình. Thơm cầm bình nước sôi đến châm vô ấm trà. Thơm rót nước từ trong cái ấm trà ra và mời tôi: “Mời anh Ngọc uống ly nước trà cho ấm. Trời... lạnh quá anh há.” Tôi đón ly nước từ tay Thơm. Bàn tay của Thơm tuy đang cầm ly nước nóng, vậy mà cũng lạnh ngắt. Hớp nước vừa trôi qua cuống họng, tôi liền cảm thấy trong người nóng ran lên như có cả ngàn ngọn lửa đốt bên trong và lòng tôi bỗng rạo rực khi thấy Thơm nhìn tôi với ánh mắt như của người yêu nhìn người tình vậy. Bỗng Thơm đưa cả hai bàn tay... lạnh ngắt về phía tôi mà không nói gì cả. Tôi liền nắm chặt lấy hai bàn tay lạnh như ướp nước đá của Thơm, tôi muốn ôm Thơm vì tôi muốn truyền hơi ấm từ người tôi qua cho nàng. Thơm chỉ tay đến cái giường. Trên giường có một cái gối và cái mền, Thơm nói như mời gọi: “Anh Ngọc lên giường nằm một lúc cho ấm... rồi hãy về.” Tôi làm một cách máy móc mà không một chút nghĩ ngợi nào. Tôi đi đến giường rồi nằm xuống. Thơm bước theo sau tôi và đồng thời Thơm cởi cái áo dài ra. Sau khi treo cái áo, Thơm đứng lên giường.Thơm bước một chân qua người tôi rồi đứng im nhìn tôi. Tôi đang nằm giữa hai chân của Thơm. Hai con mắt của tôi nhìn ngay ngực của Thơm vì Thơm đang cởi cái nịt vú ra. Tôi nhìn thấy rất rõ dưới bên vú trái của Thơm có một cái thẹo. Thơm nhìn tôi với ánh mắt như mời gọi. Liền ngay đó Thơm cởi luôn cái quần ngoài và quần lót ra. Thơm nằm xuống bên cạnh tôi. Thơm ôm tôi. Tấm thân trắng nõn nà không còn một mảnh vải che thân và lạnh như tảng nước đá mà giờ đây tôi không còn thấy lạnh nữa, bởi vì toàn thân tôi đang nóng bừng bừng. Tôi hồi hộp đến tim đánh thình thịch và thở dồn dập. Tôi liền ôm chặt lấy Thơm. Tôi hôn lên khắp mặt của Thơm. Tôi hôn lên cái ngực săn chắc của Thơm. Tôi hôn vô vết thẹo dưới vú.. Thơm ghì chặt đầu tôi vô ngực của nàng hơn. Thơm đón nhận những cái hôn của tôi bằng cách hôn lại tôi. Thơm và tôi hôn nhau thật nồng cháy, đồng thời bàn tay của nàng cũng thoăn thoắt cởi bỏ tất cả những gì trên người tôi ra.Trong cơn ngây ngất đê mê tôi đã nói vô tai Thơm những lời xuất phát tự con tim đang yêu say đắm: “Thơm ơi... anh yêu em. Anh muốn chúng mình chung sống với nhau. Anh muốn em và anh chung sống suốt đời... với nhau.” Thơm vẫn siết chặt tôi và thì thầm bên tai tôi những lời mà suốt cả cuộc đời còn lại của tôi, tôi luôn bị ám ảnh đến không bao giờ quên được: “Anh Ngọc à. Hôm nay là ngày 13 tháng 9 năm 1947. Bây giờ là 12 giờ 18 phút. Ngay bây giờ em sẽ trao cho anh cái quý nhất của đời em. Em cũng sẽ trao tặng anh 1 món quà mà không một người nào trên thế gian này có được. Khi thời điểm đến ngày.. anh sẽ phải từ giã tất cả để đi về một nơi hoàn toàn xa lạ, em sẽ đến trước đúng 1 tháng để báo cho anh biết. Khi anh nhìn thấy em và nhìn thấy chiếc xe thổ mộ được thu nhỏ, chiếc xe mà mỗi đêm ba của em vẫn đưa anh về nhà. Anh sẽ hiểu là, thời gian của anh chỉ còn đúng 30 ngày để giải quyết mọi việc. Anh sẽ được em đến đón anh đi cũng đúng giờ này.” 

Tôi nghe rõ những lời Thơm nói, nhưng, cái đầu của tôi đang như có ngọn lửa đốt cháy bừng bừng nên tôi không hiểu kịp. Tôi muốn hỏi, tôi muốn nói, nhưng tôi lại không thể há miệng ra được. Tôi chưa hiểu tại sao lại có cái hiện tượng lạ lùng như vậy, thì, Thơm kéo tôi nằm hẳn lên người của nàng. Tôi quên hết mọi chuyện khi tôi ôm chặt lấy tấm thân săn chắc của cô gái mới lớn. Chúng tôi ôm chặt lấy nhau như hai con Sam... Tôi tận hưởng thân xác của Thơm với các cảm giác vô cùng đê mê ngây ngất. Thơm và tôi buông nhau ra. Tôi chìm ngay vô giấc ngủ thật sâu....


3 ngày sau tôi mới trở lại khu đất có căn nhà của Thơm. Khu đất không có căn nhà nào cả. Nhưng... có 2 ngôi mộ nằm cách ‘bãi tắm ngựa’ của lính Pháp khoảng 1 trăm thước. Những người đi làm ruộng buổi sớm mai đã nhìn thấy tôi nằm cạnh bên một ngôi mộ và đã đưa tôi đến bệnh viện. Hỏi thăm rất nhiều người, cuối cùng tôi cũng gặp được 1 gia đình khi xưa sống ngay khu đất đó rất lâu năm, và, nay gia đình đó đã dọn ra ngoài mặt lộ và mở tiệm bán xe đạp. Ông chủ tiệm kể cho tôi nghe về 2 ngôi mộ như sau: “Cô tên Thơm thì tôi... tôi có gặp cô nhiều lần lắm. Ngay chỗ có hai ngôi mộ đó, khi xưa chỉ có 1 gia đình có 2 cha con sinh sống với nhau. Người cha làm nghề chạy xe thổ mộ. Cô Thơm còn đi học. Cô Thơm hiền và rất đẹp. Người dân sống gần đó kể lại rằng, vào một đêm tối... đâu giữa năm 1945, họ nhìn thấy có mấy người lính Nhật Bản đã đến khu đất đó. Mấy người lính Nhật Bản đến ‘bãi tắm ngựa’ của quân đội Pháp lúc đó cũng đã khuya lắm. Đám lính Nhật thấy cô Thơm còn ngồi may vá gì đó nên đã định hãm hiếp cô rồi đổ cho lính Pháp. Nhưng, cô Thơm đã chống cự và rồi cô lấy cây kéo cắt vải tự đâm vô ngực. Vừa lúc đó người cha đi làm về và có lẽ bọn Nhật Bản sợ chuyện đổ bể nên họ giết luôn người cha. Sau khi giết người xong, bọn chúng đốt căn nhà với 2 cái xác bên trong rồi bắn nhiều phát súng như là đang đụng với lính Pháp. Căn nhà đang cháy dở dang thì bất ngờ một cơn mưa lớn đổ xuống và làm tắt đám cháy. Sáng ngày hôm sau, những người đi làm ruộng nhìn thấy xác của hai cha con nhưng chưa bị cháy hết nên họ đã chôn ngay tại nền của căn nhà đó. Ngày đó loạn lạc và người dân còn nghèo khó lắm nên đâu có phương tiện để chôn cất hai cha con cho đàng hoàng được.” 


Từ ngày đó, tôi đã hiểu vết thẹo dưới vú trái của Thơm từ đâu mà có. Và, cũng từ đó... tự nhiên tôi thích cuộc sống độc thân. Tôi đã sống độc thân cho đến tận ngày hôm nay.Tôi biết thời gian của tôi chỉ còn.. dăm ngày nữa là tôi sẽ từ giã cuộc sống ở cõi tạm này. Lúc mới nhìn thấy lại Thơm và chiếc xe thổ mộ được thu nhỏ trong quán café, tôi đã quá sợ hãi. Nhưng, bây giờ tôi đã hoàn toàn bình tâm rồi. Tôi đã sắp xếp mọi chuyện đâu vào đó cả rồi. Tôi bình thản chờ đón điều sẽ phải xảy đến với tôi. Đã là con người thì ai ai rồi cũng phải một lần chết. Tôi chết trong tâm thái bình an, vì tôi luôn nói và làm những điều phải. Trong khi chờ đón điều sẽ đến, mỗi ngày tôi vẫn đều đặn đến quán này uống café một lần. Nhưng, tôi đã không còn gặp lại Thơm lần nào nữa. Có 1 điều chắc chắn là, chỉ có một mình tôi trên thế gian này là người biết trước đúng tháng đúng ngày và đúng giờ mình từ giã cõi đời... là món quà mà Thơm đã tặng cho riêng tôi. Như vậy, chỉ còn vài ngày nữa là tôi sẽ phải từ giã tất cả để ra đi như Thơm đã nói như vậy với tôi vào cái đêm.. thần tiên của ngày xa xưa lắm. Tôi chắc chắn sẽ được gặp lại Thơm ở bên kia thế giới. Tôi mong và tin tưởng chắc như vậy, cô Miên Thụy à”.

Bất chợt ông hỏi tôi:

- Cô Miên Thụy khi nào về lại bên kia?

- Dạ, thứ hai 15 tháng 10 cháu sẽ rời Việt Nam.

- Hôm nay là ngày chúa nhật 7 tháng 10, tôi còn 5 ngày đến quán café này. Thứ bảy tới là ngày 13 tháng 10 năm 2012. Cô Miên Thụy nhớ đến nhà tôi để... chia buồn với vợ chồng người em út của tôi nhé. Vì, vào lúc 12 giờ 18 phút sáng sớm ngày hôm đó, là đúng ngày giờ tôi từ giã cõi tạm này rồi. Giờ đó là giờ tôi sẽ đi gặp em Thơm yêu quý của tôi.

Ông ngưng kể và lấy cây viết cùng tờ giấy ra và viết địa chỉ nhà của ông lên đó. Ông đưa tờ giấy đó cho tôi và nói:

- Đây là địa chỉ nhà của người em út tôi. Cô Miên Thụy phải đến để được chứng kiến cái chết của tôi... ứng với câu chuyện tôi kể hôm nay là sự thật. Và, rất xứng đáng để cho cô Miên Thụy viết thành truyện ngắn về thế giới tâm linh... có một không hai trên cõi đời này. Tôi tin độc giả người Việt Nam tại Hà... tại Hòa Lan sẽ rất hài lòng và đón nhận “tác phẩm đầu tay’ của cô”.


Topa (Hòa Lan)