Nắng mùa Hè rát mặt, lẫn vào cái ồn ào hỗn độn của bến xe Miền Tây. Mùi mồ hôi, dầu nhớt, và khói xe hòa với tiếng rao hàng, tiếng còi inh ỏi, tiếng người gọi nhau như mắc cạn giữa một dòng đời khốn khó. Nơi đây, ai cũng như ai – đều đang vật lộn để sống còn.
Hùng ngồi trên chiếc xe ba gác của mình,
lưng áo bạc màu với những vòng mồ hôi lõm đốm, vai áo rách một đường nhỏ nhưng
chưa kịp vá. Chân mang đôi dép được khâu lại bằng những cọng kẽm rỉ sét. Mắt
anh nhìn mông lung như nhớ về một việc gì như xa xôi lắm.
Hôm đó sáng ngày 30 tháng tư, anh đang
phục vụ trên chiếc PCF. Tàu anh đang cập bến âm thầm bên khu Khánh Hội. Tất cả
nhân viên cùng lên bờ kể cả sĩ quan thuyền trưởng để về nhà đưa gia đình xuống
tàu chạy đi. Riêng anh tình nguyện ở lại tàu vì gia đình anh ở tận Cần Thơ. Đến
gần nửa đêm thì tất cả gia đình nhân viên mới xuống tàu đầy đủ. Anh cho tàu chạy
đi hướng cửa biển Vũng Tàu, đến sáng mới ra được cửa biển. May là chiến hạm HQ
502 đang trôi lềnh bềnh nơi đó, anh cập vào tất cả leo lên, chỉ mình anh ở lại
định lái tàu về Cần Thơ tìm gia đình. Nhưng anh bị chận lại dọc đường và bị bắt.
Anh là hạ sĩ quan Hải quân VNCH, từng phục
vụ ở vùng 3 duyên Hải. Sau ngày tháng Tư, anh bị bắt và đi học tập “ngắn hạn”,
thực ra là mấy tháng đói rét ở trại cải tạo tận Long Khánh. Trở về, chẳng còn
gì – không nhà, người thân đã di tản. Anh ở lại Sài Gòn chờ cơ hội vượt biên,
anh xin được chiếc ba gác cũ vô chủ, sửa chữa lại rồi ra bến xe kiếm sống bằng
cách chở thuê cho người ta. Sáng đi, chiều về ngủ gác tạm trong căn nhà trọ tối
tăm trong một hẻm nhỏ ở Chợ Lớn.
Chiều hôm đó, khi nắng còn hắt le lói
qua mái hiên ngả bóng, Hùng đang ngồi lơ đãng trên xe thì nghe tiếng bước chân
chạy rầm rập phía sau. Rồi bất ngờ, một cô gái lao tới, không nói một lời, nhảy
tọt lên xe anh, kéo trùm bao bố lên người luôn cả đầu, chỉ kịp thở gấp:
– Làm ơn… chạy đi… công an rượt tới…
Rồi cô cởi áo đang mặc nhét vào bụng,
bên trong là một áo khác màu để tránh công an.
Chưa kịp nghĩ ngợi, bản năng khiến Hùng
đạp mạnh chân, chiếc ba gác rầm rì lăn bánh về phía đường cái.
Mới được vài chục mét thì hai anh công
an chặn đầu xe, hét lớn:
– Dừng lại! Kiểm tra!
Hùng thắng lại, tim đập thình thịch. Một
người trèo lên xe, lấy chân đá nhẹ cái bao bố.
– Cái gì đây?
Từ trong bao ló đầu ra, giọng con gái yếu
ớt vang lên, như sắp khóc:
– Em… em là vợ ảnh… có bầu, mệt quá nên
nằm nghỉ…
Cô vén bao bố, lộ ra gương mặt tái xanh
và đôi mắt long lanh nước. Công an liếc cô, liếc Hùng:
– Vợ ông hả?
Hùng gật, cố cười:
– Dạ, nhà em ở Thủ Đức, bả đi theo phụ
em, thình lình thì mệt, kêu em chở về…
Hai ông công an nhìn nhau rồi lắc đầu:
– Kỳ này tha, chớ mấy người giấu hàng cấm
kiểu này tụi tôi bắt suốt. Lần sau nhớ cẩn thận!
Họ đi. Cô gái ngồi dậy, chỉnh lại áo, mồ
hôi lấm tấm trên trán. Cô lôi trong bụng ra một bao ni lông giấu ra sau lưng.
– Em cảm ơn… không có anh chắc giờ em bị
bắt mất rồi.
– Ừ… mà cô buôn gì vậy?
– Thịt heo… – cô nói, thở dài – Ở quê
đem lên Sài Gòn bán lại, chớ không thì đói.
– Nguy hiểm quá. Sao không làm gì khác?
– Không còn gì để làm, anh à.
Từ hôm đó, cô gái – tên Mai – thỉnh thoảng
lại xuất hiện ở bến xe. Lúc thì gửi vài ký thịt, lúc thì xin đi nhờ đoạn đường.
Cô nói trước tháng 4 1975 cô đang đi học, thì gia đình bị nạn. Đạn pháo kích giết
cả gia đình, cô nhờ ở trọ đi học nên mới sống sót.
Lâu dần, hai người thân nhau lúc nào
không hay. Mai có nụ cười rất hiền, dáng nhỏ nhắn mà lanh lợi. Cô hay nhăn mặt
nói:
– Cái anh này, nhìn lạnh lùng vậy chớ tốt
bụng dữ lắm nghe!
Còn Hùng thì chẳng nói nhiều, nhưng ai
thấy anh chở Mai thì biết ánh mắt anh không giống chở người thuê nữa. Anh bắt đầu
đem xe tới chỗ Mai sớm hơn, thi thoảng còn ghé qua đưa cho cô ổ bánh mì, ly cà
phê. Mai ngồi sau xe, tóc bay lòa xòa, giọng líu lo kể chuyện xưa, chuyện nay
như chim sẻ ríu rít.
Một chiều trời đổ mưa lớn, Hùng chở Mai
về khu nhà trọ. Cô ngồi nép sát lưng anh, lạnh run, áo mỏng dính nước. Trước cửa
nhà, cô níu tay anh, khẽ nói:
– Bữa đó em nói dối, em là vợ anh….
Nhưng giờ… nếu em nói thiệt, thì anh có ….
Hùng nhìn cô. Không gian như chùng lại.
Mưa lộp độp trên mái tôn, ngoài kia xe cộ vẫn xuôi ngược, nhưng trong khoảnh khắc
ấy, anh thấy lòng mình ấm lại, y như chiếc áo khoát Hải hành cũ còn thơm mùi biển
mặn năm xưa. Anh không trả lời, chỉ đưa tay vuốt nhẹ tóc Mai. Cô đứng yên, rưng
rưng.
Rồi họ về sống chung với nhau. Không đám
cưới, không tiệc tùng, chỉ một mâm cơm nhỏ mời mấy người bạn cùng xóm trọ. Họ gọi
nhau là “vợ chồng” từ hôm đó. Mai thôi buôn lậu, phụ Hùng đi mua ve chai, chở
hàng. Chiếc ba gác cũ được lau rửa mỗi tuần, Hùng còn viết dòng chữ bằng sơn trắng:
“Xe Hùng Mai – vợ chồng chở hàng rẻ, vui vẻ, không chém”.
Nhiều năm sau, đời vẫn khó, nhưng họ có
nhau. Mai sinh được một đứa con gái, đặt tên là Thu Hằng. Mỗi lần kể chuyện
xưa, Mai hay đùa:
– Nhờ chiếc bao bố đó mà má con thoát nạn,
chớ không giờ con đâu có mặt trên đời!
Ba mươi năm trôi qua. Bến xe Miền Tây
thay đổi, người đổi xe máy, kẽ đổi xe tải. Nhưng, chiếc ba gác cũ vẫn lặng lẽ mỗi
sáng lăn bánh, với ông Hùng râu bạc và bà Mai ngồi phía sau, tay ôm giỏ rau,
thi thoảng huýt gió nghêu ngao mấy câu bolero thời chinh chiến.
Một sáng mùa đông năm nọ, người ta không
thấy chiếc ba gác đâu. Hỏi thăm thì biết, bà Mai bệnh nặng, nằm viện lâu ngày.
Ông Hùng thôi chạy xe, ngồi suốt bên giường bệnh. Bà Mai gầy đi, mắt lờ đờ,
nhưng tay vẫn nắm chặt tay chồng.
– Anh nhớ không… hôm đó… em chui bao bố…
anh cứu em…
– Nhớ chớ. – Hùng cười, nghẹn ngào – Rồi
em còn nói em có bầu…
– Em nói dối, mà cả đời… em chỉ mong cái
dối đó thành thiệt.
Mai mất vào một chiều mưa. Trời Sài Gòn
mưa dai như năm nào. Hùng ngồi lặng bên mộ vợ, tay cầm bó hoa dại cô từng
thích, miệng lẩm bẩm:
– Mai à… nhờ em mà anh sống những tháng
ngày hạnh phúc. Nhờ lời nói dối đó, mà anh tin đời còn thương người như mình…
Người ta tưng bừng ăn mừng 50 năm giải
phóng. Bến xe vẫn nhộn nhịp vẫn đông người. Nắng vẫn gắt. Người ta vẫn mưu sinh
như cũ. Nhưng nếu ai để ý, sẽ thấy có một ông già tóc bạc, lâu lâu vẫn ngồi
trên chiếc ba gác cũ, ngó về phía cổng bến xe, như đợi ai.
Đợi một người đã từng chui bao bố… và bước
vào đời anh, bằng một lời nói dối đẹp hơn cả sự thật.
Tháng 6, 2025
Nguyễn Kiên
Khoá 59 đoàn viên HQ
No comments:
Post a Comment