Friday, May 3, 2024

Tháng Tư Đen, Nhìn Lại Cuộc Chiến - Chu Tất Tiến


Sau biến cố đau thương 1975, một số người viết sử quốc tế và rất nhiều chứng nhân trong cuộc chiến đã ghi chép lại các nguyên nhân đưa đến sự thất bại của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Đa số đều cho rằng nguyên nhân chính là việc Mỹ phản bội miền Nam Việt Nam, rút toàn bộ quân Đồng Minh về nước, không tiếp tục viện trợ cho quân Cộng Hòa, trong khi lại cho phép quân Bắc Việt được chính thức chiếm ngụ các phần đất của miền Nam theo kế hoạch “Da Beo”, một kế hoạch hoàn toàn bất công và vô lý với Việt Nam Cộng Hòa. Kế hoạch “Da Beo cho phép các kẻ cướp đã cướp được nhà nào, thì được sở hữu các căn nhà ấy, kết quả là quân Cộng Hòa, có súng mà không đạn, làm hàng xóm với Việt Cộng được sự quân viện dồi dào của Nga Cộng và Tầu Cộng tại khắp miền đất nước. Bị buộc làm hàng xóm với Việt Cộng, súng đạn đầy mình, thì quân Việt trước sau gì cũng bị nuốt chửng. Đau hơn nữa, Mỹ đã công khai chấp nhận sự hiện diện thắng trận của Cộng Sản tại miền Nam, mà hạ giá trị của Viêt Nam Cộng Hòa như một đàn em, khi soạn Hiệp Định Thư 1973 với chữ ký của Hoa Kỳ ngang với chữ ký của Cộng Sản Bắc Việt, còn chữ ký của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa chỉ ngang với du kích Nguyễn Thị Bình, một kẻ đần độn, được Đảng đẩy ra làm bù nhìn cho cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do Nguyễn Hữu Thọ, một tên bung xung khác của Đảng. (Sau 1975, các tên bung xung này bị dẹp bỏ như môt phế liệu rẻ tiền.) Như thế, Hiệp Định Paris là một Huy Chương, một Bằng Khen quốc tế do Mỹ trao tặng cho Cộng Sản Việt Nam, khuyến khích họ tiếp tục tấn công vào miền Nam để đạt thắng lợi sau cùng, nộp cho Mao Trạch Đông, người đã cùng thù tạc, yến ẩm suốt ba ngày đêm với Nixon tại Bắc Kinh năm 1971. Sự ép buộc tàn nhẫn này được sắp xếp bởi Kissinger, môt tay thủ đoạn nham hiểm, đã hăm dọa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nếu không ký vào văn kiện thì sẽ lập lại sự kiện Kenedy giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Nguyễn Văn Thiệu, vì sợ bị thủ tiêu, nên nhắm mắt ký vào văn kiện này, đồng ý cho Miền Nam thất thủ.


Tuy nhiên, trên hết, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc Miền Nam thất thủ là vì Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Tư Lệnh Quân Đội, đã độc tài, mà lại không có nhiều kinh nghiệm chiến trận, nên ra lệnh “triệt thoái” Tây Nguyên, bảo quân dân tháo chạy, mà không có kế hoạch hành quân, lại phải chạy qua thông lộ 17 kinh dị, đầy mìn bẫy và du kích, để mặc cho pháo địch nã vào đầu quân dân miền Trung tan nát. Những lệnh chuyển quân, điều Tướng lung tung, đến kế hoạch “Đầu to, đít teo” của Ông Tổng, đã làm cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa, một đạo quân anh dũng mất tinh thần chiến đấu, trong khi phải đánh giặc với súng không đạn, máy bay và xe tăng không xăng, đưa đến sự thảm bại của toàn thể quốc gia Việt Nam.


Ngoài ra, một vụ án chưa chứng minh được là chính Nguyễn Văn Thiệu đã gián tiếp giết Tướng Nguyễn Văn Hiếu, nguyên Tổng Thanh Tra Quân Lực VNCH. Khi Tướng Hiếu đang làm tờ trình kết luận Tướng Nguyễn Văn Toàn hối lộ, tham nhũng, thì Nguyễn Văn Thiệu lại ra lệnh cho Tướng Hiếu, người đang điều tra Tướng Toàn, dự định đưa Tướng Toàn ra trước vành móng ngựa, về làm phó cho Tướng Toàn! Kết quả dễ thấy: chỉ trong vài ngày làm việc, Tướng Toàn cho một anh lính bước vào phòng Tướng Hiếu, nã súng bắn Tướng Hiếu mấy phát chết gục xuống bàn làm việc!

Lý do nữa đưa đến việc tan hàng là có quá nhiều những kẻ “nội tuyến, gián điệp, nội thù, nằm vùng” trong hàng ngũ lãnh đạo Quân đội, trong Quốc Hội, trong giới văn nghệ sĩ, và giới tu sĩ miền Nam.

Kẻ nội tuyến quan trọng nhất trong quân đội là Dương Văn Minh, phản tướng thời chính phủ Ngô Đình Diệm, kẻ tham vọng nhưng ngu xuẩn. Dương Văn Minh có người em trai là Đại Tá bộ đội Dương Văn Nhựt. Với tình anh em ruột, Dương Văn Minh đã chuyển cho Cộng Sản nhiều tin tức quan trọng. Những ngày sau cùng, Minh còn hy vọng khi Bộ Đội Bắc Việt chiếm miền Nam, với tình anh em với Dương Văn Nhựt, ông ta vẫn được làm Tổng Thống, dù là một Tổng Thống bù nhìn. Minh cũng mong vào sự tiếp tay của tay giao liên Việt Cộng nằm vùng là Thích Trí Quang, nhờ Trí Quang xin xỏ giùm cho ông ta được tiếp tục lãnh đạo Miền Nam, nhưng khi Trí Quang cho hay là không có kết quả, Minh đã đập tay xuống máy điện thoại và kêu lên: “Thầy giết tôi rồi!” Sau đó, Minh đọc thông báo Đầu Hàng. Điều xấu hổ của một ông vị lãnh đạo quốc gia là năn nỉ bên thắng trận “Xin cho tôi không xướng danh là Tổng Thống, có được không?” nhưng bên thắng trận được chấp nhận. Những tháng ngày sau đó, Minh sống nhờ ơn huệ của phe địch, rồi được cho phép bỏ nước ra đi, sống hết đời trong nhục nhã.


Nội tuyến đáng khinh thứ hai là Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng. Tay phản bội này cũng tưởng là sẽ lập công to với Đảng khi liên tục cung cấp thông tin về các cuộc chuyển quân của “phe ta”, nhưng để sau cùng, với chính sách “vắt chanh, bỏ vỏ” và “thà giết oan 100 người còn hơn để lọt một tay gián điệp”, Công Sản đã bỏ rơi tay nội gián này và cuối cùng, cựu Tướng Hạnh đã kết liễu cuộc đời trong một cái lều rách dựng trong nghĩa địa.

Một tên nằm vùng khác là Đại Tá Phạm Ngọc Thảo, tên này lặn sâu, trèo cao làm đến Đại tá Tuỳ Viên báo chí trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Một thời gian sau, được cử làm Tuỳ viên Văn hóa tại Tòa đại sứ VNCH ở Hoa Kỳ. Lộ tẩy, bị bắt nhiều lần nhưng đều được các linh mục bảo lãnh hoặc bỏ trốn, sau cùng, bị bắt và bị đánh chết.

Trung Tá Đinh Văn Đệ, khóa 4 Thủ Đức, từng làm Tỉnh Trưởng, sau móc nối để vào Hạ Viện, và nhờ các thế lực ngầm đưa hắn lên chiếm môt vị trí cực kỳ quan trọng: Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng Hạ Viện, nơi chuẩn chị mọi kế hoạch chi tiêu, chuyển quân, chuyển tướng. Mọi thông tin về quân viện, quân sự của miền Nam đều được báo cáo cho Việt Cộng, do đó, nhiều chiến dịch và trận đánh lớn của quân Miền Nam đã bị Việt Cộng chuẩn bị đón đầu và làm cho quân ta thiệt hại nặng. Nhưng như số mệnh của những tên phản bội khốn nạn khác, sau 1975, Đệ chỉ được làm Hiệu Trưởng một trường học và rồi thất sủng, chết trong nhục nhã.

Tổng kết về phía Quốc Hội có nghị sĩ Hồng Sơn Đông và các dân biểu nằm vùng như: Nguyễn Văn Hàm, Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung, Ngô Công Đức, Kiều Mộng Thu, và Đinh Văn Đệ. Không nằm trong danh sách dân biểu, nhưng cùng hoạt động với nhóm này là Luật Sư Trần Ngọc Liễng và Tôn Nữ Thị Ninh.


Bên cạnh những tên nằm vùng trong Hạ Viện, có rất nhiều những tay hoạt động nội thành núp dưới nhãn hiệu Văn Sĩ, Thi Sĩ, Thượng Tọa, Linh Mục. Điển hình trong giới nghệ sĩ là Trịnh Công Sơn, kẻ đã từng vào bưng nhận lệnh đánh phá Tâm Lý Chiến qua các bản nhạc phản chiến, chống chiến tranh làm ủy mị tinh thần binh sĩ. Các bản nhạc “Người con gái Việt Nam, Đại bác ru đêm, Tôi Sẽ đi thăm, Ngủ đi con, Tình ca của người mất trí…” chất chứa oán hờn chế độ Cộng Hòa, cho rằng chế độ này cùng hung cực ác đã gây ra chiến tranh, hận thù, giết gái tơ, bỏ bom phá thành phố. Cùng với Trịnh Công Sơn, ngấm ngầm hoạt động cho địch là Phạm Thế Mỹ, tác giả của những bản “Những ngày xưa thân ái, Trăng Tàn trên hè phố, Thương quá Việt Nam, Hoa Vẫn nở trên đường quê hương”…viết những câu bóng gió ca tụng du kích trong rừng sâu.

Một kịch sĩ, đào thương nổi tiếng ở miền Nam với những vở “Lá Sầu Riêng, Sắc Hoa Mầu Nhớ, Dưới hai Mầu Áo” là Kim Cương, sau 1975, lộ diện là cán bộ văn nghệ thành ủy, đã tập họp toàn bộ các nghệ sĩ lại buộc họ phải làm nô lệ cho chế độ mới, nếu không thì bắt nhốt.


Về phía nhà văn, có Vũ Hạnh là tay nguy hiểm nhất, sau khi miền Nam sụp đổ, hắn đã cho truy lùng tất cả những nhân vật làm truyền thông cho chế độ, các nhà văn, thi sĩ chống Cộng để nhốt vào tù. Trước 1975, Vũ Hạnh đã bị bắt 5 lần nhưng đều được bảo lãnh ra, trong số người bảo lãnh Vũ Hạnh có Dương Nghiễm Mậu và Linh Mục Thanh Lãng. Cùng hợp tác nằm vùng với Vũ Hạnh và các nhà báo nằm vùng khác là Huỳnh Bá Thành (Họa Sĩ Ớt). Nhưng nhân vật quan trọng nhất cỡ quốc tế phải là nhà báo Phạm Xuân Ẩn, sau 1975, đeo lon Tướng. Ẩn đóng vai báo chí, giỏi tiếng Anh nên có nhiều quan hệ với giới tình báo Mỹ để cung cấp tin cực nóng cho miền Bắc. Sau này ân hận, sống đời bệ rạc cho đến chết.


Phía Công Giáo có Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Đa Minh Thiện Cẩm, Huỳnh Công Minh, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần. Những ông linh mục tay sai Cộng Sản này đã viết bài hoan hô Công An khi Công An dàn trận phá tan tu viện Thủ Đức và bắt giữ Linh Mục Trần Đình Thủ, vị lập dòng Đồng Công Thủ Đức và trường học Công Giáo ở đây. Về Phan Khắc Từ: Quản nhiệm Giáo Xứ Vườn Xoài, người có vợ và hai con, nhưng vẫn làm linh mục. Phan Khắc Từ là một linh mục nằm vùng nguy hiểm nhất, vì giữ chức vụ trong Mặt Trận Tổ Quốc, viết báo cho tổ chức này, kích động chống phá Giáo Hội Công Giáo. Khi Vatican chuẩn bị phong Thánh cho hơn 100 vị Tử Đạo, thì Phan Khắc Từ viết báo chống đối kịch liệt với những lý do vớ vẩn.


Phía Phật Giáo thì có Ni Sư Huỳnh Liên, Thích Trí Quang, Thích Nhất Hạnh, Thích Đôn Hậu.

Về Thích Đôn Hậu: năm 1968, tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, vào chiến khu, ra Hà Nội.  Tháng 1/1968: Phó Chủ tịch Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa Bình Việt Nam. Tháng 6/1968: Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Năm 1976, Đại biểu Quốc hội khóa VI nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. (https://thuvienhoasen.org/a8173/tieu-su-hoa-thuong-thich-don-hau)

Về Thích Nhất Hạnh: Nổi tiếng với bài báo cho rằng Mỹ bỏ bom giết chết 300,000 dân Bến Tre. Năm 2005, dẫn phái đoàn hơn 200 tăng ni về Việt Nam cầu siêu, gặp Võ Nguyên Giáp và các lãnh đạo Cộng sản Việt Nam. Vì vụ này mà Bush bỏ Việt Nam ra khỏi CPC, cho Việt Nam vào WTO, rồi vào LHQ, dẫn đến Ủy Viên trong Ủy Ban Nhân Quyền thế giới. (https://tuoitre.vn/thien-su-thich-nhat-hanh-bieu-tuong-cua-doi-thoai-va-hoa-giai-20220123074751265.htm)


Về Thích Trí Quang: Theo tin của Chùa Kim Quang, thì Thích Trí Quang từng gia nhập đảng Cộng Sản, tiếp tay với những tên  nằm vùng khác làm sập miền Nam. (http://chuakimquang.com/vn/document/details/ly-lich-ca-nhan-va-nhung-hoat-dong-cong-san-cua-thich-tri-quang-9139.aspx)

Về Sinh viên các trường đại học nằm vùng có những tên như sau: Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Dương Văn Đầy, Lê Thành Yến, Phùng Hữu Trân, Trần Khiêm, Đỗ Hữu Ứng, Lê Anh, Võ Ba, Đỗ Hữu Bút, Hồ Nghĩa, Cao Thị Quế Hương, Trương Hồng Liên, Trương Thị Kim Liên, Võ Thị Tố Nga, Phan Công Trình, Tôn Thất Lập, Trần Long Ân…

Ác độc và dã man hơn hết là các tên nằm vùng ở miền Trung: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phạn, Nguyễn Đắc Xuân là ba tên Đao Phủ Huế, đã giết gần 6000 dân Huế vô tội vào Tết Mậu Thân 1968. Chính Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tọa các phiên tòa xử tử tất cả những người mà hắn không thích, giết cả các sinh viên bạn học. Các tên nằm vùng khác là Ngô Kha, Trần Quang Vọng, Trần Hữu Lục, Trần Duy Phiên, Lê Văn Ngân, Trần Vàng Sao, và Võ Quế.

Thật ra, danh sách trên đây là do tác giả tìm kiếm từ Internet, nên còn thiếu sót nhiều. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là sau khi biết là có quá nhiều gián điệp, các tên nội tuyến, phản quốc, nằm vùng, sẽ có câu hỏi là “tại sao Chính Phủ không biết hoặc không kiểm soát được, để đến nỗi thua trận?” Xin thưa: Đó là vì Chế Độ Việt Nam Cộng Hòa là một chế độ Dân Chủ thực sự, đầy tính NHÂN BẢN, coi trọng giá trị của Con Người, không coi dân chúng như là những tên nô lệ, muốn bắn thì bắn, muốn nhốt tù thì nhốt tù như trong chế độ Cộng Sản độc tài, toàn trị, luôn giơ cao khẩu hiệu: THÀ GIẾT OAN MÔT TRĂM NGƯỜI CÒN HƠN ĐỂ LỌT MÔT TÊN PHẢN BỘI. Ngược lại, chế độ Việt Nam Cộng Hòa luôn cân nhắc kỹ từng trường hợp trước khi kết tội, đồng thời cũng muốn cho những kẻ lầm đường, lạc lối tự giác quay về với Dân Tộc. Vì thế, có cả một Bộ Chiêu Hồi, một tổ chức cơ quan không có tại bất cứ quốc gia nào, nhất là trong các quốc gia Cộng Sản. Nhưng, vì Nhân Bản quá, Tự Do quá, mà KẺ ÁC ĐÃ THẮNG!


Chu Tất Tiến

10 tháng 4 năm 2024

Tháng Tư Đen Buồn - NTL


Tháng Tư Đen: mất nước, thê lương…

Khỉ Cộng Bắc phương khắp nẻo đường

“ Nơ náo, nố năng “ mừng “ giải phóng “ !!??

“ Vội vàng vơ vét “ nhét đầy rương

Chiếm nhà, đốt sách, đổi tiền mới…

Lục soát, dò la….mọi xóm phường

Bán nước, độc tài…: loài Cộng phỉ!!

Ô danh muôn thưở Đảng ma vương !!

 

NTL 

Khắc Khẩu - Nguyễn Đình Phùng


Dạo trước tôi có dịp ghé thăm nhà vợ chồng người bạn. Mới bước đến cửa, tôi đã nghe tiếng ồn ào trong nhà vọng ra. Tiếng chị vợ hét lên đanh đá, tiếng anh bạn quát lại, gầm gừ nghe cũng dễ sợ. Tôi ngần ngại muốn quay về. Nhưng đã lỡ đến, nên đành bấm chuông. Trong nhà bỗng im bặt, không còn tiếng nào. Rồi anh bạn mở cửa, thấy tôi toe toét cười, chị bạn cũng đon đả chào đón, mặt mày hớn hở, không còn dấu tích gì của cuộc cãi vã sôi động mới vài giây trước!

Hai vợ chồng như không có chuyện gì xảy ra, tiếp đón bạn, hiền hòa, vui vẻ, cười nói huyên thuyên, âu yếm nhau trước mặt khách, như cặp vợ chồng mới cưới! Tôi cũng làm như không hề nghe tiếng hai người choảng nhau tận tình trước khi bước vào nhà. Nhưng trong lòng không khỏi ngạc nhiên. Không lẽ mình chưa già đã bị ảo giác, nghe bậy chăng? Hay vợ chồng anh bạn đều có tài đóng kịch giỏi, che dấu mọi chuyện trước mặt khách?


Mấy hôm sau đi ăn trưa, gặp lại anh bạn đi một mình, tôi hỏi ngay về chuyện nghe tiếng hai người cãi nhau mấy hôm trước khi lại chơi nhà. Anh bạn cười:

- Chuyện bình thường, toa ơi! Vợ chồng moa khắc khẩu, mở miệng là cãi nhau, nói qua nói lại, không ai nhường ai. Người ngoài nghe thấy to tiếng, thực ra là vợ chồng moa nói chuyện với nhau như vậy! Mấy mươi năm rồi, riết thành quen! Không cãi nhau lại thấy nhà sao im lặng quá. Vợ moa mà nói năng nhỏ nhẹ là moa phải đưa đi bác sĩ khám bệnh ngay. Phải có gì bệnh hoạn, bất thường, mới nói êm ái như vậy!

Tôi hỏi lại:

- Toa không đùa đấy chứ? Cãi nhau suốt ngày mà ở với nhau mãi đến bây giờ à!

Anh bạn trả lời:

-- Duyên số hết toa à! Mà giòng họ nhà moa đều như thế hết mới lạ chứ! Từ bao nhiêu đời rồi, ông cố, ông tổ lấy vợ đều khắc khẩu với nhau, xuống đến đời moa, rồi con cái cũng rứa hết! Moa nghe kể lại, có ông thầy địa lý ghé ngang làng nhà ông cố moa, xem mộ của tổ tiên, phán rằng: " Mộ này có rễ của cây đa cổ thụ mắy trăm năm rồi, mọc rễ lớn chạy qua cửa địa khẩu, nên con cái lấy chồng lấy vợ đều mắc phải chuyện khắc khẩu với nhau hết! Không tránh khỏi được! " Ông thày địa lý này học nghề từ ông Tả Ao nên phán câu nào là đúng ngay phóc, không sai vào đâu được!

Để moa kể cho toa nghe chuyện ông bác moa, mới là thần sầu quỷ khốc!

Bác moa là con trai trưởng tộc của giòng họ nhà moa. Ông đẹp trai, nghệ sĩ, đàn giỏi, hát hay, được lên Hà Nội học. Ông có mối tình lớn lắm. Nhưng ông nội moa rất nghiêm khắc, bắt ông về để lấy vợ là con gái một ông bá hộ làng gần đó. Bác moa không dám cãi, thời xưa mà, đành gạt lệ dứt mối tình lớn, về quê lấy vợ, dù không biết người đó là ai!


Rước dâu về nhà, ăn tiệc linh đình rồi hai vợ chồng tân hôn động phòng. Gần sáng, mọi người thấy cô dâu chạy ra bù lu bù loa. Hóa ra bác moa bất tỉnh trên giường, nằm ngay đơ không nhúc nhích. Cạo gió, thoa dầu loạn cào cào, hồi lâu ông mới tỉnh. Chỉ thấy ông thều thào: "Sao nó dữ quá vậy! Thầy mẹ giết con rồi!" Không biết chuyện gì xảy ra đêm đó, nhưng bây giờ ai cũng thấy rõ là bác gái moa không phải bình thường, dữ tợn loại chằng ăn trăn cuốn, không phải đùa!

Ông nội moa cho người dò hỏi, tìm hiểu về cô con dâu mới. Làng của bác gái moa là làng cách quê nhà moa vài chục cây số. Con gái làng này đều cao lớn, đúng cỡ gái làng phải cao hơn thước bảy. To con, khỏe mạnh, thêm tật lắm lời, dữ tợn, không bao giờ chịu thua ai nửa câu nửa bước. Nghe chuyện kể khi mới lớn, có lần bác gái moa bị ông bố bắt đi từ đầu làng đến cuối làng cùng với cô em gái, để chửi một người vay tiền quịt nợ ông bá hộ. Ông này buộc giây vào cổ hai cô con gái, cầm roi bắt hai cô đọc bài vè ông sáng tác để chửi tên quịt nợ. Ông cầm chai ruọu tu từng ngụm rồi ngất ngưởng quất roi phạt cô nào đọc sai. Hai cô gào lên, chửi đích danh tên quịt nợ từ đầu làng đến cuối làng, ai cũng ra xem, con nít bu quanh, vui như ngày hội! Tay quịt nợ bị vố này, xấu hổ quá, không còn mặt mũi nào, phải bỏ làng, bỏ xứ đi ngay, không bao giờ dám trở lại!


Kể vậy để biết là bác gái moa dữ tợn đến chừng nào! Nhưng ông bác moa cũng không phải người sợ vợ. Ông khó tính ra gì. Lại thêm nỗi uất ức mất mối tình lớn trong đời, nên ông đổ diệt vào bà vợ. Thế là oánh nhau, cãi nhau, thượng cẳng chân hạ cẳng tay liên tu bất tận. Chỉ lạ là cứ khi nào có trận lớn lắm, đổ máu đầu, bầm tím hết tay chân, y kỳ là 9 tháng 10 ngày sau lại có thêm đứa con ra đời! Cứ thế, hai ông bà bác vẫn ở với nhau, có đến 12 người con, kỷ niệm cho những trận quần thảo bán sống bán chết!


Ông bố moa kể lại, có lần hai vợ chồng ông bác cãi nhau dữ quá, bà bác đòi về quê nhà, không ở với chồng nữa. Bác trai bắt bố moa đi theo để hộ tống đưa bà này về quê bố mẹ. Nửa đường hai bên tiếp tục chửi nhau inh ỏi. Bác gái moa dọa nhảy xuống sông tự tử. Ông bố moa định giữ tay bà để can không cho xuống bờ sông nhưng bác moa ngăn lại không cho, để mặc bác gái vừa la hét, khóc lóc quyết chí xuống sông trầm mình. Ông bác moa trên bờ lầm bầm khấn vái: Xuống nữa đi! Xuống nữa đi! Bà ấy lội xuống sông thật, ngập vai rồi ngập đến đầu, lâu lâu quay lại xem chồng mình nói gì hay chạy xuống cản hay không. Chỉ thấy bác moa lạnh như tiền, đứng thản nhiên ngắm nhìn bà vợ trầm mình xuống sông thật, không thấy tăm hơi đâu. Ông bác moa thở phào, ra vẻ nhẹ nhõm. Nhưng rồi ông giật bắn mình. Vì bác gái moa đang bơi như rái cá, bơi đúng một vòng rồi lên bờ! Hóa ra bà này bơi giỏi, làm sao trầm mình dưới sông cho nổi! Sau đó hai người yên lặng, không thấy cãi nhau gì nữa, người trước kẻ sau, cất bước về làng!


Kể cho toa nghe chuyện ông bác để toa thấy chuyện vợ chồng moa có thấm thía gì đâu! Có khắc khẩu với nhau, chẳng qua là chuyện mồ mả, chuyện duyên số trời định cả, không tránh khỏi được. Nhưng toa biết không. Moa quen rồi, nên không cãi nhau lại thấy như thiêu thiếu một cái gì! Nhà im lặng thấy sao buồn tẻ quá! Nên moa và bà xã đều vặn volume to tiếng với nhau cho vui cửa vui nhà mà thôi! Lại đối đáp nhau chan chát nên đầu óc làm việc không bao giờ bị Alzheimer được. Toa biết không? Moa vốn tính tình cao ngạo. Bà xã biết hết những nhược điểm của moa nên moa nói câu nào bà chặn họng câu đó. Giở giọng kiêu ngạo là bà quạt ngay, không để moa có dịp tự cao tự đắc. Nên moa phải cảm ơn bà xã dạy dỗ moa được như ngày nay. Thành người khiêm tốn, hiểu biết cuộc đời. Là nhờ bà xã moa cả đó toa ơi!


Lại còn chuyện này nữa! Đời vốn tẻ nhạt. Nên cãi nhau, khắc khẩu nhau là thêm gia vị cho cuộc sống. Mà spicy chính là sexy đó toa! Yêu nhau lắm là cắn nhau đau! Nhưng cãi nhau lắm lại yêu nhau nhiều. Hiểu chưa nào! Trông toa có vẻ tăm tối quá! Tối nay về cãi nhau với vợ một trận long trời lở đất đi thì hiểu ra ngay nghe không toa! 


Nguyễn Đình Phùng 

https://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn3nnntnqn31n343tq83a3q3m3237nvn#phandau

Tháng Năm Mưa Chuyển Mùa Sang - Đỗ Công Luận

Thursday, May 2, 2024

Một Làn Sóng Phẫn Uất Mới Từ Miền Nam Việt Nam - Mai Thị Mùi


Chưa bao giờ có làn sóng kỳ thị “Bên kia vĩ tuyến” mạnh mẽ như hiện nay! 

Suốt từ năm 1975 đến giờ, dân Nam đã ăn đủ mùi tráo trở, xảo quyệt, lọc lừa rồi. Họ ấm ức, họ tức tưởi, họ chán ngán quá nhiều rồi. Người dân Nam nào lên tiếng sẽ bị cho là kỳ thị.

Một người Bắc 54 lên tiếng cũng bị cho là mất gốc nên mới nói. Còn một người Bắc 75 lên tiếng thì họ cho là vào hùa với dân Nam. Tôi, một con Bắc kỳ 1985 lên tiếng thì bị cho là cố xóa vết tích Bắc kỳ, muốn chứng minh mình là thượng đẳng. 

Bác sĩ Nhàn Lê, Bắc kỳ 2000 lên tiếng bị cho là nói lấy lòng dân miền Nam.

Đến bao giờ, bao giờ người miền Bắc mới chịu nhìn nhận lại bản thân? Trên Facebook, tôi và Bs Nhàn Lê là hai người lên tiếng mạnh mẽ và thẳng thắn nhất về các thói hư tật xấu của người miền Bắc. Tại sao?

Chúng tôi đã sống ở cả hai miền, chúng tôi đã nếm trải cái khốn nạn, lưu manh của miền Bắc và sự tử tế, nhân hậu của miền Nam.


Chúng tôi thấy cần thiết phải lên tiếng. Chúng tôi cất lên tiếng nói là để mọi người biết được cái xấu của mình mà sửa. Chúng tôi là người Bắc thì tiếng nói nhất định là công tâm.

Mồ mả cha ông tôi còn ngoài Bắc, họ hàng tôi còn ở Nam Định, anh em cha bác nhà bà Nhàn còn đang xúm xít đâu đó ở một tỉnh miền núi phía Bắc, chúng tôi đâu có thần kinh mà nói xấu quê hương, đồng hương mình.

Và khi bài viết đăng lên cũng có nhiều ý kiến trái chiều. Những người đồng tình đầu tiên tất nhiên là người Nam, sau đó là Bắc 54, Bắc 75 hoặc các năm sau đó, hoặc có những người chỉ mới vào Nam mấy năm nhưng họ phải nhìn nhận đó là sự thật, vì họ đã thấy, đã trải nghiệm và hơn nữa là họ có nhận thức. 

Những người phản ứng là ai? Là những người vừa vào Nam chơi mấy hôm rồi về hoặc đa phần là những người chưa bao giờ bước chân vào miền Nam. Họ chưa chứng kiến những người đi phát đồ từ thiện cúi người cảm ơn những người đi nhận quà.

Họ chưa từng thấy một gã xăm trổ chặn đứa bé bán vé số lại chửi “đm mày, ba má mày đâu để mày lang thang vầy?” rồi mua cho nó tô mì hoành thánh, sau đó mua hết xấp vé số của nó.  

Họ chưa thấy một thằng nhóc phì phèo điếu thuốc trên cặp môi thâm sì nhưng hét vào mặt con mẹ tỉnh lẻ lên thành phố đang lớ ngớ hỏi đường “Thôi nói hoài bà cũng không biết, chạy theo sau tui đi tui dẫn tới địa chỉ đó”.


Cái mà người miền Bắc có trong đầu là gì? “Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng, Có sách mới áo hoa đây là nhờ ơn Đảng ta, Đảng là kim chỉ nam cho mọi hành động, Tình bác sáng đời ta…”

Nên trong một comment phản biện em ếch kia mới hỏi một câu hết sức thanh niên cách mạng đồng chí hội: “Chị đã kết nạp đảng chưa?”

Trong đầu thanh niên miền Bắc thì đầy những khái niệm: “Miền Nam ăn bơ thừa, sữa cặn của Mỹ, bọn Công giáo theo ông Diệm vào Nam, bọn ba sọc đu càng, không có miền Bắc thì miền Nam giờ này vẫn còn dưới ách kềm kẹp của Mỹ-Ngụy…”  

Chả vậy mà một cô sinh viên tuổi đời chưa tròn 20 mới phơi phới đòi đi giải phóng miền Nam lần nữa…! 

Chính vì vậy mà họ luôn mang tâm thế của kẻ thắng cuộc, trịch thượng, thượng đẳng. Với lối giáo dục sai lệch và bóp méo lịch sử, họ không biết phân biệt phải trái và ăn nói như những kẻ vô giáo dục.  

Đọc tất cả các status, các comment phản biện thì cảm giác chung đều là ngụy biện, lấp liếm, đổ lỗi, giận hờn, trách móc và trên tâm thế của kẻ ban ơn. Tất cả những điều đó chỉ gây cho người đọc một cảm giác khinh khi, chán ngán và nếu nhân văn, độ lượng một chút thì có thể nói rằng chỉ thấy thương cho những kẻ kém hiểu biết và tự ti mà thôi. 

Thôi thì bò đội nón ta sẽ gỡ nón cho bò, bị nhồi sọ thì ta sẽ tẩy não. Nhưng còn những người hiểu thời sự, thời cuộc thì sao? Đó là những người lớn, những dư luận viên, những người có sức ảnh hưởng…

Những người này thừa hiểu biết về thời cuộc, sự thật và lịch sử nhưng vì nhiều lẽ, tự ái có, tự ti có, cố chấp có, bẻ lái có, vì tiền cũng có, mà cố lái sự việc sang hướng khác.

Và nói chung là vì không được giáo dục tính khiêm nhường, biết nhận lỗi nên khi nghe chỉ trích là họ sửng cồ, xù lông, cố bảo vệ cái sai của mình. Và cái bế tắc trong luận điệu của họ thể hiện ở việc quay ra đổ lỗi cho nạn nhân. Tôi đã hai lần đọc status của hai phụ nữ miền Bắc chửi dân miền Nam ngu mới để mất VNCH vào tay CS.

Thú thật, tôi thấy thương các bạn vô cùng.


Khi mới giành được độc lập, Hàn Quốc không lung linh như các bạn thấy bây giờ đâu. Một đất nước hoang tàn, đổ nát, lạc hậu và ngu dốt sau chiến tranh. Nhưng họ đã dẹp bỏ tự ái nhập cả bộ sách giáo khoa của Nhật, là kẻ thù xâm lăng mà họ vừa đánh đuổi, về dịch ra để học. Và hiện nay có một Hàn Quốc với Samsung, Daewoo, Huyndai mà thế giới biết đến. 

Khi công nghệ chưa phát triển, hàng hóa của Hàn Quốc xếp trên kệ chỉ để vui mắt chứ không mang lại lợi ích kinh doanh gì. Một lần có du khách phương Tây ghé thăm quầy hàng xem qua món hàng lưu niệm thủ công rồi bỏ đi. Cô nhân viên khi ấy đã khổ sở dùng hết khả năng ngôn ngữ lẫn chân tay của mình, thậm chí là cả van lạy và nước mắt chỉ để người khách kia mua món hàng đó. Lợi nhuận món hàng có thể không phải là chuyện sống chết nhưng cô đang cố gắng giới thiệu quốc gia mình ra thế giới. 

Du khách kia ra về, có thể không hài lòng với món đồ lưu niệm thô kệch, xấu xí đó, nhưng chắc chắn ấn tượng về một cô nhân viên cầu thị, có tinh thần tự tôn dân tộc sẽ khó phai mờ, và biết đâu trong những lúc trà dư tửu hậu, gã mắt xanh mũi lõ đó không vô tình quảng bá hình ảnh người Hàn Quốc chịu thương, chịu khó, nhẫn nhục, tự tôn đó cho bạn bè năm châu. 


Tất nhiên không phải ngẫu nhiên mà có một Hàn Quốc như ngày hôm nay. Không phải ai cứ sinh ra cũng sẽ có lòng tự tôn dân tộc như cô nhân viên bán hàng kia. Tất cả là do giáo dục. Giáo dục không chỉ từ nhà trường và gia đình, mà còn từ xã hội và tự giáo dục. Tự giáo dục tức là các hình thức thay đổi bản thân thông qua quan sát, học hỏi từ sách báo, ứng xử của những người xung quanh và nhận thức. 

Trên 18 tuổi là chỉ còn tự giáo dục. Nhưng hình như thanh niên miền Bắc không có được kỹ năng này. Họ đi du lịch chỉ để chụp hình khoe Facebook chứ không phải tìm hiểu đời sống, con người, tập tục, văn hóa của một vùng đất lạ. Họ dùng internet chỉ để giải trí, Facebook của họ chỉ dùng để mua hàng online, khoe của và chat chít. Nếu không, họ đã không hớn hở đòi đi giải phóng miền Nam một lần nữa.


Làm thế nào để dư luận không đào xới thêm chuyện Bắc-Nam nữa? Rất đơn giản, các anh chị miền Bắc vốn văn hay chữ tốt, chữ nghĩa một bồ thế nào chả có cách viết. Có điều các anh chị chỉ lo chữa lửa bằng xăng vì các anh chị không biết cúi đầu.


“Bắc kỳ 1985” này cũng không thiếu chữ. Nhưng tôi đâu có đòi giải phóng miền Nam nên mắc mớ chi tôi phải viết?


Mai Thị Mùi

14 tháng 5, 2023

Sông Ra Biển Lớn - Trần C. Trí

 
Tranh Cẩm Tâm


(Để tưởng nhớ HH và bao nhiêu lần 30 tháng Tư)

Chiếc ghe vượt biển nhỏ xíu, mỏng mảnh của chúng tôi vậy mà chất lúc nhúc đến hơn 80 thuyền nhân, chẳng khác nào một cái lá lạc loài trên đại dương mênh mông, không biết đâu là bờ bến. Đoàn người rời bỏ quê hương tụm năm tụm ba, rải rác khắp thuyền, co ro trong cái lạnh ngoài khơi xa tít tắp, đầu óc hoang mang với trăm ngàn ý nghĩ. Hồi trước, tôi thường nghe người ta kể, những chuyến vượt biển may mắn, nhặm lẹ nhất cũng phải mất từ một tuần lễ đến mươi, mười mấy ngày mới đến được bến bờ tự do. Giữa những tiếng rì rầm cầu nguyện hay thở dài của những người lớn và tiếng con nít khóc la om sòm, tôi ngồi bó gối, rầu rĩ không biết chừng nào ghe của mình mới băng qua hết vùng biển Đông để may ra tấp vào được đất liền đâu đó của xứ Phi Luật Tân, nơi có đến 7.000 hòn đảo lớn nhỏ. Ghe chúng tôi đi từ vùng biển miền Trung, nên nếu thuận buồm xuôi gió thì sẽ đến xứ Phi, còn nếu bị bão bùng thổi ngược lên hướng bắc hay chếch về hướng nam ắt phải đến Hồng Kông hay xuống Mã Lai, Nam Dương. Nhiều người đi thoát được, đến một trong những trại tỵ nạn ở các nước đó, viết thư về kể khổ nghe mà phát ngán.

    Ghe chạy đều đều, áng chừng đâu cũng đã được mười mấy tiếng đồng hồ. Lúc chúng tôi lên ghe là khoảng nửa đêm trước, bây giờ mặt biển đã bắt đầu nhuốm vàng ánh nắng chiều. Chúng tôi chuyền cho nhau những cái ly chỉ vỏn vẹn chút xíu nước dưới đáy, uống cho đỡ khát, phải để dành cho những ngày sắp tới, không biết còn bao lâu nữa. Ai cũng nhấm nhá một ít lương khô để dằn bụng, nhưng cũng không dám ăn nhiều vì sợ lại khát nước. Tiếng máy ghe kêu xình xịch, xình xịch, nghe như nỗi nôn nao nặng nề của những người đang đánh đổi mạng sống để tìm đến tự do mà chưa biết nó ở chỗ nào.

    Thình lình, từ phía cuối ghe, có nhiều tiếng người la lên, thảng thốt:

    “Cháy! Cháy!”

    Ai nấy trên thuyền đều nhớn nhác, quay về hướng có tiếng la. Vài người đàn ông vạm vỡ, chắc là trong nhóm tổ chức, chạy huỳnh huỵch về hướng đó. Tôi nghe trong người hồn phi phách tán, miệng lâm râm cầu Trời khấn Phật, cầu xin luôn cả chúa Giê-su, cho tai qua nạn khỏi. Hai mắt tôi nhắm nghiền lại, mặc cho chung quanh rào rào những tiếng nói, tiếng la, tiếng khóc.

    “Hết cháy chưa? Hết cháy chưa?”—người ta nhao nhao hỏi, không biết hỏi ai, mà cũng không biết phải làm gì.

    Có giọng ai hét lớn:

    “Bà con làm ơn về chỗ ngồi giùm chút coi! Nhốn nháo quá coi chừng nước vô ghe bây giờ!”

    Càng nghĩ tôi càng sợ. Bây giờ mà ghe cháy, máy hư thì sẽ ra nông nỗi gì đây? Chưa đi tới đâu cả. Cách đây chừng mươi phút, tôi nghe có người đàn bà cỡ trung niên hỏi với theo anh tài công phụ đang đi qua:

    “Mình ra tới hải phận quốc tế chưa anh?”

    “Còn trong lãnh hải của Việt Nam!”—anh ta trả lời cộc lốc, rồi buông thêm một câu,“Mọi người đừng có ồn ào nhe. Công an biên phòng đi ngang thì chết cả lũ đó!”

Lời hăm he của anh ta có hiệu lực ngay. Mọi người đều nín khe, lũ nhỏ không biết mô tê gì tự nhiên cũng im thin thít. Hồi lâu sau mới có một đứa oà ra khóc, vậy là dàn đồng ca thiếu nhi lại nối tiếp. Người lớn nào không có con nít đi theo đều ngó nhau, lắc đầu ngao ngán.

    Một đám khói to, đen nghịt đang bốc ra từ đuôi con tàu. Chẳng có vẻ gì là đám cháy đã được dập tắt. Tình hình bây giờ thấy nguy ngập lắm rồi. Chẳng ai còn nghe lời ai cả. Người đứng lên, kẻ ngồi xuống, nhiều người chạy về phía mũi thuyền làm chiếc ghe chòng chành như muốn chúi nhủi về phía trước. Họ hoảng sợ quay trở lại phần thân tàu, làm con thuyền cứ lắc lư, chao đảo tứ phía. Lũ con nít được dịp lại gào khóc inh ỏi. Giữa khung cảnh hỗn loạn đó, chợt có nhiều tiếng nhao nhao cất lên:

    “Có tàu lớn đang đến gần bà con ơi!”

    Theo nhiều cánh tay đang chỉ trỏ, mọi người hướng về đó, đồng loạt đứng lên rồi nối lời nhau reo lên:

    “Có tàu lớn! Có tàu lớn!”

    Mấy anh trong nhóm tổ chức lại gào khản cả giọng:

    “Ngồi xuống! Ngồi xuống giùm hết đi!”

    Từ xa, bóng dáng một con tàu khổng lồ đang dần dần rõ nét, nổi bật lên trên nền chân trời. Chắc cũng như mọi người quanh mình, tim tôi như thắt lại, rồi muốn vỡ oà ra vì niềm vui bất chợt. 

    “Tàu lớn thật, bà con ơi!”—người đàn bà cách tôi vài bước thốt lên—"Nhưng lỡ đó là tàu Liên Xô thì sao?”

    Ai nấy như giật mình, lo lắng nhìn nhau. Ừ, nếu là tàu Liên Xô thì có nước quay về học lại... chủ nghĩa Mác-Lê Nin!

    Có giọng cười lớn, đắc thắng của một thanh niên gần đó vang lên:

    “Chẳng có Liên Xô Liên Xiếc gì hết! Là cờ nước Nhật chần dần trên cột đó, bà con không thấy sao?”

    Mọi người cùng “ồ” lên một tiếng vui mừng lẫn nhẹ nhõm. Quả vậy, lá cờ trắng với mặt trời tròn trĩnh, đỏ thắm ở giữa đang bay phấp phới trên đỉnh cột trong ánh nắng chiều rạng rỡ. Tôi rưng rưng nước mắt. Chưa bao giờ tôi thấy xúc động khi thấy một lá cờ của một quốc gia khác như thế. Đây là chiêm bao hay là thật vậy ta? Sau cả chục năm sống cô lập trong thế giới độc tài cộng sản, tôi bàng hoàng hiểu ra có một thế giới bên ngoài, một thế giới tự do mà chúng tôi đang nhìn thấy, ngỡ ngàng và sung sướng.

    Con tàu to lớn tiến gần hơn rồi từ từ dừng lại, giữ một khoảng cách đối với chiếc thuyền nhỏ bé của chúng tôi.

    “Í cha, sao nó ngừng giữa chừng vậy?”—một thiếu nữ trạc tuổi tôi buột miệng—“Bộ đổi ý rồi sao cà?”

    Anh thanh niên ban nãy cất giọng rành rõi:

    “Phải ngừng lại chớ. Tới gần nữa thì con tàu khổng lồ đó có thể tạo ra những đợt sóng đủ lớn để đánh chìm chiếc ghe tí hon của tụi mình!”

    Chúng tôi loáng thoáng thấy được từ trên boong tàu, một người cầm loa nói về phía chiếc ghe:

    “Hello! Please remain calm. We are here to help and rescue you. Please be patient and wait for our crew to get near you in our lifeboats.”

    Trời đất thiên địa ôi, cả chục năm trời rồi tôi mới được nghe lại tiếng Anh, thứ tiếng mà bọn cộng sản gọi là tiếng của đế quốc Mỹ, của bọn tư bản, của giai cấp bóc lột! Vốn liếng tiếng Anh hồi trung học của tôi cũng không đến nỗi tồi, vậy mà nó bỗng bay đi đâu mất hết. Tôi chỉ còn nhớ được chữ “help” và chắc mẫm là chúng tôi sẽ được thuỷ thủ đoàn trên con tàu này ra tay cứu vớt.

    Từ bên kia, ba chiếc tàu phao từ từ được hạ xuống, trên mỗi chiếc có hai người ngồi sẵn. Ba chiếc tàu nhỏ tiến về phía chúng tôi, cập vào mạn thuyền. Những người thuỷ thủ, Nhật có, tây phương có—tôi không biết là Mỹ, Tây hay gì đó—cho phép người già và trẻ con bước qua trước, kế đến là phụ nữ rồi cuối cùng mới đến đàn ông. Ba chiếc tàu phải chạy qua chạy lại mấy vòng mới chuyển hết đám thuyền nhân chúng tôi lên con tàu cao sừng sững của họ. Lúc đến phiên mình hồi hộp leo lên bậc thang dây, tôi run rẩy toàn thân, gần như thở không được, phần vì xúc động cực điểm, phần vì đói, vì mệt, và vì... không hiểu được những gì đang xảy ra trước mắt.

    Lên đến boong tàu, một số người nằm vật ra, mệt lử vì mất sức. Một số khác, trong đó có tôi, đứng vịn tay vào lan can tàu, bồi hồi cảm động ngó lại chiếc thuyền mong manh đã đưa chúng tôi ra đến đây, đang dập dềnh trên sóng nước, trông buồn bã thế nào. Những thuỷ thủ cuối cùng còn trên chiếc ghe, sau khi đã đi khắp con thuyền để chắc chắn không còn sót người nào, đã đưa tay ra dấu hiệu cho nhau rồi xuống con tàu phao chót để quay lại tàu lớn. Trước khi rời đi, người thuỷ thủ ném một cây đuốc đang cháy vào lòng ghe để phóng hoả con thuyền. Ngọn lửa từ từ nhen nhóm lên lúc chiếc tàu phao đang xa dần. Tôi nghe có tiếng sụt sịt từ những người đứng gần mình. Ngọn lửa càng ngày càng lan rộng, bốc cao lên. Con thuyền vượt biển bây giờ chỉ còn là một đám lửa lớn, khói đen toả mịt mù trong không gian rồi lan rộng ra theo gió biển. 

    Tôi nghe mắt mình cay cay. Vậy là hết. Vĩnh biệt con thuyền đã đưa chúng tôi ra biển lớn, ra đến thế giới tự do bên ngoài. Thốt nhiên, trong khung cảnh mới mẻ này, trên con tàu giữa biển cả mênh mông, tôi thấy như xa lạ với chính mình, xa lạ với cuộc đời vừa chấm dứt của mình ở đất nước tội tình mà tôi vừa dứt áo ra đi. Hình ảnh những người thân yêu của tôi đang còn ở lại không dưng hiện ra mồn một trong đầu tôi: Ba, má, Thuỷ Trúc, Vũ, Việt, Thanh... và cả Thu nữa. Mới đó ra đó mà tôi đã thấy những bóng hình ấy xa vời vợi như từ cõi nào. 

    Một số thuỷ thủ trên tàu kêu gọi chúng tôi ngồi tập trung vào một chỗ để họ chính thức chào đón và hai cô y tá khởi sự chích ngừa cho từng người. Vài cô gái Nhật đi qua, trao cho chúng tôi mỗi người một cái túi nhỏ, trong đó có chiếc khăn ướp lạnh, thơm tho để lau mặt cho tỉnh táo, một cái xăng-uých kẹp thịt mà lâu lắm rồi chúng tôi mới thấy lại, một trái táo nhỏ và một lon nước ngọt còn đọng những giọt nước mát lạnh, tươi mát như niềm vui vừa tìm thấy của mọi người.

*** 

Đêm đầu tiên trên chiếc tàu Nhật tôi ngủ được một giấc thật ngon lành, không mộng mị. Chúng tôi được xếp vào ở trên tầng thứ nhì của con tàu, trong một cái khoang rộng lớn như một nhà kho. Giường của mỗi người là một cái phao hình chữ nhật bơm lên căng phồng. Gia đình có con cái thì được phao lớn hơn. Lập tức, chúng tôi trở thành một xã hội nhỏ, sinh hoạt với nhau thật vui vẻ. Chúng tôi hết làm thủ tục giấy tờ lại qua sắp hàng để lãnh thức ăn. Một số người được chọn để giúp nấu ăn trong nhà bếp, hay phụ bác sĩ, y tá làm thông dịch để họ khám những bệnh thông thường cho ai cần đến. Tôi cũng xung phong làm thông dịch, biết chữ nào dịch chữ đó, chỉ cầu mong sao có người nhức đầu tôi không dịch thành đau bụng thì thật rầy rà.

    Con tàu bắt đầu quay mũi về hướng đông để đem chúng tôi đến Phi Luật Tân, quốc gia đã chính thức nhận chúng tôi vào trại tỵ nạn trên đất của họ sau khi ông thuyền trưởng đã liên lạc với đất liền xin phép. Con tàu to lớn là thế mà xem ra di chuyển thật chậm chạp giữa đại dương bát ngát. Nếu không ra đứng trên boong mà nhìn xuống nước để thấy con tàu thật sự đang rẽ sóng, bỏ lại đằng sau những vệt trắng xoá, chắc không ai có cảm tưởng là nó đang tiến tới một chút nào trên mặt nước. Bây giờ là ngày thứ nhì chúng tôi ở trên tàu. Sau bữa ăn chiều, người thì trở về chỗ ngủ, kẻ thì đứng trên boong tàu, ngắm cảnh hoàng hôn đang dần dần phủ xuống biển cả. Một đàn cá heo rủ nhau đồng loạt phóng lên khỏi mặt nước. Chúng tôi ai nấy đều trầm trồ khi thấy được cảnh có một không hai này.

    Hơn 24 tiếng đồng hồ sau khi chúng tôi được cứu vớt, con tàu mang quốc tịch Nhật Bản đã đỗ nhóm thuyền nhân may mắn xuống cảng Puerto Princesa, thuộc đảo Palawan của Phi Luật Tân, theo thoả thuận giữa thuỷ thủ đoàn của con tàu và ban quản trị trại tỵ nạn ở thành phố biển này. Cảng nằm về phía đông của hòn đảo nên con tàu phải đi một vòng qua phía bên kia đảo mới cập bến được. Từ đó, chúng tôi được chở bằng xe buýt về trại tỵ nạn PFAC (Philippines First Asylum Center), nơi tôi và mọi người chính thức bắt đầu cuộc sống tỵ nạn, được tạm dung trên xứ người.

    Nơi chúng tôi dừng chân để làm thủ tục là một dãy “barracks” phủ mái tranh, dựng bằng những cây cột và lán bằng tre, trông thật dân dã và quen thuộc như ở Việt Nam. Người dân Phi rất hiền hoà, hiếu khách. Họ luôn miệng chào chúng tôi “Kamusta, my friend!” Sau này, khi đến Mỹ, được học tiếng Tây Ban Nha và biết lịch sử 500 năm Phi Luật Tân bị thực dân Tây Ban Nha đô hộ, tôi mới biết lời chào “kamusta” của người Phi là do câu thăm hỏi “¿Cómo está?” từ quê hương của chàng hiệp sĩ Don Quijote mà ra.

    Lại điền đơn, làm giấy tờ. Lần này, bên cạnh các người Phi còn có một số người Việt làm thiện nguyện đi theo thông dịch. Những người ngày cũng là dân tỵ nạn, đến trước chúng tôi nên nhìn điệu bộ và cách ăn nói đầy vẻ tự tin. Chẳng bù như tôi là dân “new comer”, còn ngơ ngơ ngác ngác, chưa hoàn hồn từ một chuyến viễn du trong đời có một. 

    Đang ngồi lơ ngơ, chờ đến phiên mình để làm giấy tờ, tôi bỗng nghe có người gọi tên mình:

    “Chị Thuỳ Linh!”

    Tôi giật bắn cả người. Ai ở đây mà lại biết tôi vậy? Quay về hướng của tiếng gọi, tôi thấy Quỳnh Tiên, em họ của Việt, đang mừng rỡ tiến đến gần.

    “Quỳnh Tiên!”—tôi thốt lên, giọng lạc hẳn đi—“Em qua đây hồi nào vậy?”

    Quỳnh Tiên chưa trả lời vội, đưa cho tôi một chai nước Coca đã khui sẵn, vồn vã nói:

    “Chị uống đi cho mát rồi mình nói chuyện,”—trong lúc tôi e dè hớp một ngụm nước mát rượi, Quỳnh Tiên liến thoắng nói tiếp—"Em qua đây được ba tháng rồi chị. Ghe của em tấp đảo ở El Nido, phía bắc của Palawan đó. Còn chị đi có một mình sao? Gặp chị ở đây em mừng quá! Lâu rồi, từ sau khi anh Việt lấy vợ, em không có dịp gặp chị nữa.”

    Tôi cười gượng, nói lảng đi:

    “Ừ, lâu thật đó. Gặp lại Quỳnh Tiên ở đây chị cũng mừng hết lớn. Chị đi một mình thôi, nhưng đúng là tha hương ngộ cố tri, chị thấy đỡ lạc lõng nhiều. Em làm gì ở đây vậy?”

    “Em làm trong văn phòng của Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc, thường thông dịch cho đồng bào lúc làm giấy tờ hay phỏng vấn với phái đoàn của các nước thứ ba,”—Quỳnh Tiên nói với vẻ hãnh diện, khác hẳn với hình ảnh của cô bé rụt rè, ít nói mà ngày trước tôi đến nhà Việt chơi thỉnh thoảng có gặp.

    Ngừng một chút, Quỳnh Tiên lại nói tiếp:

    “Chị về nhà em ở đi nhe. Nhà em có hai người mới đi định cư ở Úc nên cũng trống trải. Để em nói với anh trưởng đoàn ghi tên chị vào nhà em há.”

Tôi gật đầu như cái máy. Vừa vui vì sẽ được ở chung với Quỳnh Tiên, vừa vẫn còn tê tái vì nghe câu “từ sau khi anh Việt lấy vợ...” mà cô bé vô tình nói. Hoá  ra đâu có dễ gì đoạn tuyệt với quá khứ. Chuyện tưởng như đã chìm vào quên lãng mà sao như đã vượt cả ngàn cây số, băng qua đại dương, để đeo đuổi, ám ảnh tôi ngay lúc này.

    Quỳnh Tiên giúp tôi điền giấy tờ, vừa làm vừa nói đủ thứ chuyện. Tôi nghe tai này lọt qua tai kia vì cũng chưa thật tỉnh táo, chốc chốc lại gật gù ra vẻ hiểu những gì cô bé đang nói. Nhóm “Tàu Nhật Vớt” của chúng tôi—mới đó mà đã có biệt danh!—lục tục rời khỏi barracks, ai về nhà nấy, theo như sự phân chia của nhóm người làm ở văn phòng Cao Uỷ. Tôi sánh vai với Quỳnh Tiên, đi qua các dãy nhà tranh đơn sơ, mộc mạc, đằng trước có những cây cột giăng dây thép, phơi đầy áo quần bay phất phơ trong gió. Nhiều người đang đứng hay ngồi trước nhà, vẫy tay chào đoàn người vừa nhập trại, vui vẻ nói:

    “Mới tới há bà con! Mừng rồi nhe!”

    Đám con nít đang chơi đùa trước sân, cũng hoà vào niềm vui của người lớn, reo hò tở mở:

    “A! Có thêm người mới tới trại, tụi bây ơi!”

    Chúng tôi vẫy tay đáp trả, miệng cười thật tươi. Niềm vui sao mà bát ngát, mênh mang, không bút nào tả hết. Nhiều căn nhà đã toả ra mùi thơm quen thuộc của bữa cơm chiều sắp đến. Bất giác, tôi nhớ ra là mình đã đói bụng lắm rồi. Quỳnh Tiên cũng hít hà mùi thức ăn trong không gian, cười khúc khích:

    “Kiến bò bao tử em rồi, chị Thuỳ Linh ơi! Mình về nhà ăn nhe. Chiều nay tụi em ăn bún với cá kho. Vô tình mà được đón mừng chị với món này há!”

    Tôi bỡ ngỡ bước vào “nhà” của Quỳnh Tiên. Trong nhà còn có hai người nữa—hai mẹ con tên Thảo và Trang—niềm nở chào người vừa đến.

    Sau bữa cơm ngon miệng, Quỳnh Tiên và tôi ngồi nói chuyện với nhau thật lâu, nhắc lại những kỷ niệm ngày trước ở quê nhà. Trái với đêm ngủ ngon trên chiếc tàu Nhật, đêm đó tôi trằn trọc mãi đến gần sáng mới thiếp được đi một chút.

***

Buổi sáng đầu tiên ở xứ Phi đem lại cho tôi thật nhiều cảm xúc. Tôi không thể ngờ được mình đang ở bên kia của biển Đông. Hồi đó, mỗi lần nhìn cảnh mặt trời mọc, tôi vẫn ước ao được đến những xứ miền tự do nằm ở bên kia bờ đại dương. Vậy mà giờ đây tôi đã cầu được ước thấy. Quỳnh Tiên rủ tôi ra một bãi cỏ rộng, nơi có nhiều người đang vươn vai tập thể dục, một cảnh tượng vừa vui vừa thú vị. Tôi làm những động tác nhẹ nhàng theo mọi người, trong đầu miên man nghĩ đến ba má và quê nhà. Bây giờ, quê hương tôi nằm về hướng tây. Tôi ở trời đông tôi nhớ trời tây. Câu này tôi nhớ loáng thoáng trong một bài hát nào đó. Chắc chẳng ai có thể vui trọn vẹn. Khi sắp sửa vượt biên thì chỉ nghĩ đến những điều sẽ có được; đến lúc đi thoát rồi lại bắt đầu nghĩ đến những gì đã mất. 

    Quỳnh Tiên giới thiệu tôi vào làm trong ban thông dịch của cô bé trong Cao Uỷ. Mới đầu, tôi cũng sợ lắm, nghĩ mình tiếng Anh được bao nhiêu mà dám thông với dịch. Dịch mà không thông, đồng bào không đi định cư được thì mình chắc có nước độn thổ. Nhưng ban thông dịch làm việc có tổ chức, quy củ lắm. Người mới vào như tôi đâu có được thông dịch ngay. Tôi được xếp ngồi cạnh Quỳnh Tiên, quan sát và học hỏi cách cô bé làm việc. Tôi phục Quỳnh Tiên sát đất. Mới qua Phi có ba tháng thôi mà cô bé nói tiếng Anh nghe thật lưu loát, dùng toàn những chữ “nhà nghề” mà hồi giờ tôi chưa nghe qua bao giờ.

    Một tháng sau, tôi mới chính thức được ngồi làm thông dịch viên một mình. Vừa dịch vừa... run, nhưng những lần đầu tiên của tôi chắc cũng không đến nỗi tệ vì cả người phỏng vấn lẫn người được phỏng vấn đề tỏ ra khá hài lòng với kết quả. Tuy vậy, làm nghề nào mà không có lúc bị... tổ trác! Trong một buổi phỏng vấn, ông nhân viên trong phái đoàn Mỹ hỏi một thanh niên về chuyến đi bị hải tặc tấn công của ghe anh ta. Ông hỏi (và tôi ghi lại bằng tiếng Việt để dễ theo dõi):

    “Khi thuyền của các anh bị chìm thì làm thế nào mà anh và một số người sống sót đến khi được tàu cứu?”

    Anh ta trả lời:

    “Tụi tôi bám vào mấy cái phao của ghe.”

    Tôi dịch lại:

    “We were holding on to the buoys from our boat.”

    Vấn đề là thứ tiếng Anh tôi học ở Việt Nam dựa vào cách phát âm của người Anh chứ không phải của người Mỹ. Khi nghe đến chữ “phao”, tôi nhớ ngay đến chữ “buoy”, và còn nhớ thầy đã dạy tụi tôi là chữ này là chữ đồng âm với chữ “boy”, tức là hai chữ viết khác, nghĩa khác mà đọc y như nhau.

    Nghe tôi dịch xong, ông Mỹ trố mắt lên, hỏi lại tôi:

    “Anh này và mấy người sống sót bám vào mấy đứa con trai?!!”

    Tôi gật đầu. Ông ta vẫn trợn mắt:

    “Con trai nghĩa là không phải con gái à?”

    Nghe ông ta hỏi vặn, tôi biết ông ta hiểu lầm, bèn hùng hồn trả lời:

    “Không phải đâu. Tôi nói ‘buoy’, viết là ‘b-u-o-y’, tức là cái mà nổi trên mặt nước đó, chứ không phải là ‘b-o-y’!”

    Ông Mỹ vỡ lẽ, cười tủm tỉm:

    “Nếu vậy thì cô phải nói là ‘bu-y’ chứ đâu phải là ‘boy’!”

    Tôi ngượng chín cả mặt, vừa ấm ức vì chắc chắn mình đã được học như vậy, nhưng không đủ chữ nghĩa để cãi với ông ta. Tôi lí nhí xin lỗi, chỉ muốn tìm chỗ nào mà lặn sâu cho rảnh. Sau này qua Mỹ, có dịp nói chuyện với một người gốc Anh, tôi mới khẳng định lại được “niềm tin” và tự giải oan cho mình. Anh này xác nhận rằng người Anh đọc hai chữ đó giống nhau, còn người Mỹ đọc khác nhau. Chẳng qua hồi đó tôi xui xẻo phát âm kiểu Anh với một người Mỹ mà thôi.

    Một buổi tối, thấy Quỳnh Tiên đang ngồi hí hoáy viết viết, xoá xoá, tôi hỏi:

    “Quỳnh Tiên viết thư về nhà hả em?”

    “Dạ phải,”—Quỳnh Tiên nheo mắt với tôi—“Chị muốn gởi lời thăm anh Việt không?”

    “Không,”—tôi tỉnh bơ nhún vai—“Người ta có vợ rồi mà còn thăm với hỏi gì nữa. Mà em cũng đừng kể chuyện gặp chị ở đây làm gì nghe. Đâu có ai quan tâm làm gì!”

    Nghe giọng chua chát của tôi, Quỳnh Tiên giả lả đổi đề tài:

    “Tháng này chị có nhận nhiều thư từ bên nhà hai bác gởi qua không?”

    “Có, em à. Một tháng mà má chị gởi qua tới năm lá thư đó!”—tôi cũng cười cho qua chuyện.

    Mỗi buổi chiều thứ Tư, trong trại rộn rịp hẳn lên. Mọi người vui vẻ rủ nhau ra phòng phát thư để mong nhận được những lá thư từ Việt Nam sang, nhưng đặc biệt hơn là thư từ Mỹ, Úc, Pháp, Anh... bên trong thường có kẹp thêm một cái money order hay tờ đô-la, tờ franc hoặc tờ pound còn thơm phức mùi tiền mới của thân nhân gởi cho người còn ở trại. Ai nấy đều hồi hộp chờ đợi đến đúng giờ, cánh cửa ọp ẹp của phòng phát thư mới bật mở. Nhiều nhân viên thiện nguyện ngồi sau mấy cái bàn bắt đầu phân phát thư theo số khu trong trại. Ai cũng kiên nhẫn chờ đến lượt khu mình được đọc tên để lãnh thư. Thôi thì kẻ vui, người buồn, kẻ cười, người khóc... đủ cả. Có mấy cô cậu nhảy cẫng lên vì nhận được thư và tiền của người thân bên tây bên Mỹ, mà cũng có không ít người thất thểu quay về nhà vì chẳng thấy cánh nhạn nào đưa tin.

    Quỳnh Tiên được một lá thư từ Việt Nam gởi qua, còn tôi không có thư Việt Nam mà lại nhận được một lá của cậu Cảnh gởi từ tiểu bang North Carolina bên Mỹ. Hai chúng tôi hí hửng rủ nhau ra ngồi trên chiếc băng đá trước ngôi chùa trong trại, háo hức xé phong bì ra. Mỗi người chìm vào thế giới riêng tư của mình, mặc cho kẻ qua người lại chung quanh. Trong lúc Quỳnh Tiên đang đọc thư với một vẻ trầm ngâm ít thấy, tôi cũng lướt qua những dòng chữ thăm hỏi ân cần của cậu Cảnh. Đây là lần thứ nhì tôi nhận được thư của cậu, và lần này... thật cảm động và hân hoan, tôi thấy một tờ giấy bạc 50 đô-la mà cậu Cảnh đã cẩn thận bọc lại bằng một tờ carbon để lỡ nhân viên bưu điện có dùng máy soi qua cũng không thấy được. Đây là một mẹo vặt của dân tỵ nạn kháo nhau để tránh chuyện mất tiền mặt trong thư ngoại quốc.

    Cuối thư, cậu Cảnh ghi thêm mấy dòng, mà tôi có thể cảm được bao nhiêu ân tình ẩn sau những lời lẽ đó: “Cậu kèm vào thư này một tờ giấy bạc. Nếu Thuỳ Linh mà “hên” thì khi thư tới tay cháu nó vẫn còn trong đó!”

    Tôi nắm chặt lá thư, hình dung ra cậu Cảnh cặm cụi đi làm ở xứ người, chắc đồng tiền kiếm ra cũng không dễ. Vậy mà cậu gởi tiền cho mình, thật là cảm động. Cậu Cảnh là cậu út trong nhà. Khoảng cách tuổi tác giữa cậu và các cháu coi như là ít nhất so với những cậu dì khác của Thuỳ Linh và các anh chị em họ, nên cậu rất gần gũi, thân mật với lũ cháu. Đứa nào cũng mến cậu và ít “sợ” cậu như sợ các cậu dì lớn tuổi khác trong gia đình nhà ngoại. Vợ chồng cậu vượt biên cách đây ba năm, ở trại tỵ nạn Galang trước khi qua Mỹ định cư. Cậu không có con cái gì cả.

    Quay qua nhìn Quỳnh Tiên, tôi thấy cô bé cũng đã đọc xong lá thư của mình, có vẻ tư lự lắm. Tôi lo lắng hỏi:

    “Có tin gì bên nhà không em?”

    “Có chị ạ, mà toàn là tin không vui,”—Quỳnh Tiên thở dài—“Mẹ em nói ba em cứ bệnh rề rề, vào ra bệnh viện hoài, mà nhà lại túng thiếu. Với lại... mẹ em cũng cho biết là anh Việt mới bị stroke, bây giờ yếu lắm.”

    “Trời đất!”—tôi không giấu được giọng thảng thốt—“Còn trẻ mà lại bị như vậy sao?”

    “Hình như già trẻ gì cũng bị hết, chị à,”—Quỳnh Tiên nói với vẻ thạo đời—“Có điều là người lớn tuổi thì dễ bị hơn người nhỏ tuổi thôi.”

    Tôi không thể làm ra vẻ không quan tâm được nữa:

    “Tội nghiệp há. Vợ của Việt còn trẻ quá, lo cho chồng cũng vất vả lắm.”

“Mẹ em nói hai vợ chồng đã về ở gần gia đình chị ấy ở Cam Ranh để có người này người kia giúp đỡ.”

    Buổi chiều đang xuống thấp. Niềm vui của tôi cũng mờ nhạt hẳn trước cái tin về Việt. Hai chị em đi chầm chậm về nhà, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Rồi bóng tối phủ xuống thật nhanh. Các ngọn đèn đường bật sáng. Những người tỵ nạn rảo bước về nhà để lo bữa ăn tối, đi như những bóng ma trong một khung cảnh nửa thực, nửa hư, mờ mờ, ảo ảo.

***

Chuyện đời cũng trớ trêu, tôi qua sau Quỳnh Tiên mấy tháng, mà lại được phái đoàn Mỹ nhận trước. Ba của Quỳnh Tiên là trung tá trong quân đội cộng hoà, còn ba tôi mới làm tới đại uý thì đến ngày mất nước. Đáng lẽ ai cấp bậc cao hơn thì chính phủ Mỹ phải ưu tiên, đằng này... Quỳnh Tiên ức lắm, nhưng cô bé cũng khéo, trước mặt tôi không hề phàn nàn về chuyện trái khoáy này cả.

    Tôi được phái đoàn Mỹ phỏng vấn lần chót trước khi chính thức được chấp nhận đi định cư. Vào đến vòng này, phái đoàn Mỹ có thông dịch viên riêng của họ từ Mỹ qua, chứ không dùng những người tay ngang như Quỳnh Tiên hay tôi nữa. Cô thông dịch người Việt của tôi nhìn có vẻ dễ mến. Chắc cô ở Mỹ đã lâu rồi nên nhìn cô thật tự tin, chững chạc. Trước khi cuộc phỏng vấn bắt đầu, tôi rụt rè nói với cô:

    “Chị cho phép em được nói thẳng tiếng Anh với bà Mỹ này để bà có cảm tình với em hơn, được không chị? Chỗ nào em kẹt thì nhờ chị giúp.”

    Cô thông dịch vui vẻ gật đầu:

    “Được chứ em. Nói thẳng tiếng Anh thì hay quá. Có gì thì chị sẵn sàng giúp em mà!”

    Tôi nói cám ơn cô. Bà Mỹ phỏng vấn tôi cũng hết sức dễ thương và tử tế. Tôi thấy mình thật may mắn vì giọng Mỹ của bà rõ ràng, dễ hiểu. Tôi mạnh dạn trả lời bằng tất cả vốn tiếng Anh mình có. Tôi nói năng lưu loát một cách lạ thường, như thể có ai đó nhập vào mình chứ không phải chính là tôi nữa. Cuối cùng, bà Mỹ bảo tôi đứng lên để đọc lời tuyên thệ. Tôi lặp lại lời bà nói như một cái máy, mọi cảm xúc trong người tôi lúc đó hoàn toàn tê dại.

    Khi tôi ngừng nói, bà Mỹ long trọng bảo:

    “You are now officially admitted to the United States of America. Congratulations!”

    Tôi vừa hiểu lời bà nói, nhưng lại vừa không tin vào tai mình. Cô thông dịch viên biết tôi hiểu được câu cuối cùng này, nhưng cô cũng vui lây cho tôi nên nói lại bằng tiếng Việt một lần nữa:

    “Em được chính thức nhận vào Mỹ rồi đó! Chúc mừng em.”

    Tôi không nhớ mình đã cám ơn bà Mỹ và cô thông dịch viên người Việt bao nhiêu lần, chỉ nhớ là mình đã bước ra ngoài, lòng lâng lâng một niềm vui khôn xiết. Thế giới càng này càng như mở rộng vòng tay đối với tôi, tựa hồ như tôi đang được đền bù vì đã buồn khổ nhiều trong những năm tháng vừa qua.

    Những ngày còn lại của tôi trong trại để chờ được chuyển lên một trại khác trước khi qua Mỹ định cư, tôi sống thật tràn đầy như chưa bao giờ được sống như thế. Thấm thoát mà tôi đã ở trại PFAC được tám tháng trời. Buổi sáng, tôi vẫn tiếp tục làm công việc thông dịch trong văn phòng Cao Uỷ. Buổi chiều, tôi dạy Việt ngữ cho mấy đứa bé ở trường CADP (Center for Aid to Displaced Persons), tổ chức của các bà xơ đủ mọi quốc tịch. Còn thì giờ rảnh rỗi, tôi xin vào làm việc ở văn phòng Counseling, thông dịch cho những người cần giúp đỡ khi gặp khó khăn về tinh thần hay vật chất trong những tháng ngày tỵ nạn ở xứ Phi này. Vì vậy, tôi bận rộn cả ngày, không có thì giờ để buồn vẩn vơ. Tôi về nhà ăn uống, phụ nhau dọn dẹp với mọi người trong nhà, rồi đánh một giấc ngon lành cho đến sáng hôm sau.

    Trong trại, hầu hết các công việc là thiện nguyện, nhưng đặc biệt có hai công việc được “trả lương” là đi dạy và làm ở văn phòng vệ sinh, phụ trách việc dọn dẹp trại sạch sẽ và đổ rác hằng ngày. Với hai việc này, mỗi người nhận được 100 peso tiền Phi mỗi tháng. Nói là lương cho oai chứ thật ra chỉ là một món tiền tượng trưng, theo hối suất thời đó tương đương 5 đô-la Mỹ. Tôi rất dè xẻn, mỗi tháng lãnh tiền ra chỉ tiêu có một ít, còn lại đổi thành đô-la, cất để dành chờ ngày định cư để mua áo quần mặc đi máy bay cho bảnh. Tuy vậy, mỗi cuối tháng tôi vẫn thường mời mọi người trong nhà đến “coffee shop” trong trại—cũng của các bà xơ CADP làm ra để gây quỹ—ở đó chúng tôi cùng nhau thưởng thức những món ăn rất Việt Nam như phở hay chả giò, và tự thưởng cho mình những chai nước ngọt ngon lành made in the Philippines mà hồi còn ở Việt Nam có tiền đâu để uống. Tiêu tiền vào tiệm ăn đó, coi như chúng tôi đã “lại quả” một phần nào cho tổ chức CADP, để các xơ lại có tiền chi phí cho biết bao nhiêu sinh hoạt hằng ngày trong thế giới nhỏ của trại tỵ nạn này.

    Quỳnh Tiên, hẳn là buồn vì chưa được nước nào nhận mà lại còn sắp phải xa tôi. Ở với nhau lâu ngày, chúng tôi trở nên thân nhau như chị em ruột thịt. Ngày xưa, khi đến nhà Việt, mỗi lần tình cờ gặp Quỳnh Tiên cũng ghé chơi, tôi cũng chỉ trao đổi vài lời với cô bé cho có lệ. Nào ngờ có ngày hai đứa gặp nhau nơi trại tỵ nạn này. Bên cạnh nỗi buồn, Quỳnh Tiên cũng vui cho tôi, lo lắng, dặn dò tôi đủ thứ. Ngày tôi ra bến tàu để được đưa lên trại Bataan, gần thủ đô Manila, để học văn hoá Mỹ trước khi qua định cư, Quỳnh Tiên và hai mẹ con Thảo, Trang đều ra đưa tôi đi, bịn rịn không muốn rời nhau. Tôi lấy trong ví ra tờ 50 đô-la của cậu Cảnh cho vẫn còn y nguyên đó, đưa cho Quỳnh Tiên và nói:

    “Khi nào em có dịp gởi tiền về nhà, cho chị gởi theo chút này, một nửa để ba em thuốc thang, còn nửa kia nhờ mẹ em chuyển giùm đến Việt nhe. Nhưng em nhớ đừng nói với Việt là tiền này của chị gởi. Cám ơn em nhiều lắm!”

    Vậy là tôi đi, trên một chuyến hải hành nữa, lần này có chỗ giường nằm đàng hoàng trên con tàu hướng về một hòn đảo khác ở phía bắc xứ Phi ngàn đảo. Tàu chạy khoảng gần một ngày thì cập cảng Subic Bay, một căn cứ quân sự của quân đội Mỹ. Từ đó, chúng tôi được chở bằng xe buýt về hướng nam, đến thành phố Morong, thuộc tỉnh Bataan, nơi có trại tỵ nạn chuyển tiếp PRPC (Philippine Refugee Processing Center). Trại tiếp nhận tất cả những người đã được chính phủ Hoa Kỳ chính thức cho đi định cư tại Mỹ với diện tỵ nạn chính trị từ các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á, hay những gia đình được thân nhân ở Mỹ bảo lãnh trực tiếp từ Việt Nam qua. Ngoài người Việt, trại còn có người Miên, người Lào và người H'mong, rất ư là “quốc tế”.

    Mặc dù tên chính thức của trại là PRPC, mọi người vẫn quen miệng gọi một cách thân mật là “trại Bataan”. Trại tỵ nạn này lớn gấp nhiều lần so với trại cũ của tôi, gồm đến 10 vùng khác nhau, có đường trải nhựa cho xe buýt và xe hơi chạy, không thua gì một thành phố thực thụ. Cuộc sống ở đây “văn minh” hẳn ra. Nhà cửa cất bằng gỗ và mái tôn, mỗi nhà có hai tầng. Trong trại có nhiều tiệm ăn, tiệm cà-phê, có bán loại chè halo-halo đặc biệt của người Phi. Dân Phi chẳng khác gì người Việt là mấy, cũng ăn hột vịt lộn (mà họ gọi là balut) và ăn xoài xanh chấm nước mắm y như người mình nữa! Khắp 10 vùng trong trại có chỗ họp chợ, chùa chiền, nhà thờ và các dãy lớp học hết sức khang trang. Sáng sáng, học trò ra đứng chờ xe buýt đón đến trường, một cảnh tượng thật đẹp và tràn đầy cảm hứng. 

    Tụi tôi thường bảo nhau “Đến Bataan là đã thấy nước Mỹ... mờ mờ rồi đó!” Thật vậy, khi còn ở trại tỵ nạn, chẳng ai biết rõ khi nào mình mới được một nước thứ ba nhận. Còn qua đến Bataan, thời gian ấn định rõ ràng là 6 tháng. Trong suốt thời gian đó, ai cũng vào các lớp gọi là CO (Cultural Orientation), do các giáo viên người Phi đảm nhiệm. Tôi được nhận làm AT (Assistant Teacher), đứng bên cạnh giáo viên để thông dịch cho mọi người trong lớp. Các giáo viên Phi nói tiếng Anh lưu loát, nhưng tất nhiên có âm hưởng Phi trong giọng nói của họ.

    Sáu tháng ở trại này qua nhanh như một giấc ngủ trưa. Mới đó mà đã đến ngày kết thúc các khoá học CO. Thầy trò trong lớp tổ chức liên hoan, cám ơn và chia tay nhau. Các giáo viên lại chuẩn bị cho những khoá học mới, còn chúng tôi nôn nao chờ ngày lên đường. Một dàn xe buýt chở những người đi định cư, băng qua đèo núi hiểm trở, đến thủ đô Manila náo nhiệt mà ngày xưa tôi chỉ biết loáng thoáng qua báo chí, sách vở. Đêm ngủ ở trại transit ở Manila, tôi lại thao thức, thấy mình như chơi vơi giữa nhiều thế giới khác nhau. Xin tạm biệt và cám ơn Phi Luật Tân, xứ sở của những người dân thân thiện, hiền lành, đã cưu mang những người vong quốc lưu lạc đến đây trong thời gian qua...

    Chuyến bay của hãng Philippine Airlines đưa nhóm người của chúng tôi qua phi trường Narita ở Nhật để quá cảnh. Sau đó, chúng tôi đáp một chuyến bay khác đến thẳng Los Angeles, California, cho tôi và mọi người bắt đầu một quãng đời mới. Lúc chiếc máy bay đứng lại trên đường băng, rồ máy thật mạnh lần chót để chuẩn bị cất cánh, bất giác tôi nhớ đến hai câu hát trong một bài ca nào tôi đã quên tên “Ra đi là hết rồi. Quay nhìn đoạn đời trôi...”

    Ra đi là hết rồi. Có thật vậy không, Thuỳ Linh?


 Trần C. Trí