Monday, May 6, 2024

Tình Bạn Lính Xưa - Ngu Yên

Ảnh minh hoạ

Mi 30 tháng 4 là mi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm mt bước na xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hu hết nhng người trc tiếp tham gia vào cuc chiến trước 75, nay đã vng mt. Non na thế k ri còn gì. Khi không còn ai na, không hiu nhng thế h tr tha hương s nh gì? Mt thoáng hơi cay?

Có khi nào bn đc ngi mt mình cht hát lên bài quc ca, ri đng dy, nghiêm chnh chào bc tường, thng cháu nh thy được, cười hí hí. Ông ngoi mát ri.

Trí tưởng tượng ca người tht k diu.  Rượu cũng k diu không kém. Na chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ tr v thi đó. L lùng thay, quá kh dù kinh hoàng, khn kh cách my, khi nh li, có gì đó đã đi thay, dường như mt cm giác đp ph lên như tm màn mng, che phía sau mt thiếu ph tr đang khóc chng. Cô có mái tóc màu nâu đm, kiu Sylvie Vartan, r xung che na mt. Nhưng thôi, đng khóc na. Ch làm đt tri thêm chán nn. Đ tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, nhng người lính rt tr.

Chiếc xe GMC trn tri ch mt by trai non, có dân chơi thành ph, tóc bm xm; có hc sinh mi ln còn ng ngn; có sinh viên b đôn quân, dn dĩ kiu đàn anh; có dân quê nhp ngũ, lúng túng; có k trung người tây, chúng tôi chen ln ngi hai hàng đi din. Xe băng qua thành ph. Mi người sinh hot bình thường. Không ai lưu tâm nhng chàng trai tr, xếp bút nghiên theo vic đao cung. Xa xa, sau lưng ch là nhà tôi. M gi này đang chun b cơm trưa. Bng dưng, mt anh nào đó, ct tiếng hát:

Ri đây mai ngày ai hi đến tên tôi (1)

Bn ơi! Hãy nói khoác chiến y” ri

Lp tc c bn hùa theo.Làm như có tp dt trước. Ai cũng hăng say, dù thuc li hay không.

Người thư sinh y đã xếp bút nghiên

giã t trường yêu vi bao nhiêu bn hin

có v là khi nước non vui bình yên…

Tht là cm đng. Anh bn ngi cnh tôi, người huế,

ct ging tr tr nghe như than th:

Nh lúc lên đường đưa tin chân tôi,

Thương lên khoé mt m nhn đôi li,

Dit thù lp công cho xng tài trai,

St son ghi lòng ch phai.

Ai đi chinh chiến xây đp tương lai,

Con đi chinh chiến đ nước yên vui

Li m hin khuyên nguyn khc trong tim.

Ri anh bt lên khóc gia lúc mi người đang h hi, khiến chúng tôi lng thinh, thông cm. Ch còn nghe tiếng máy xe rú và bánh xe m m nhi gà. Trong lúc có v thành tâm, mt anh dân chơi phá lên. Có đa phát cười. Có đa cau có:

Bn ơi, quan tài xin cn chén đi thôi

Ngày mai tôi đã, đã đi xa ri.

Mt ging khác ln hơn chiếm li ưu thế, vài người hùa vào:

Bn ơi! Khi nào ai hi đến tên tôi

Đi tôi lính chiến cánh chim tung tri.

Ngày nào khi đt nước hết binh đao

gia đoàn hùng binh có tôi đi hàng đu,

tr v thành đô nm tay ta mng nhau.

Tôi bt đu s nghip lính như vy.

Đi đi ca chúng tôi gm có 110 đa. Ra trường vào mùa hè đ la 1972. Mt năm sau, kêu gi, hn hò, gp li nhau, ch còn mt na. Năm đó, bn tôi, chun úy thy quân lc chiến tham gia trn đánh chiếm li C thành Qung Tr và anh đã lên lon c thiếu úy.

Bn tôi hát rt hay. Nhng đêm ngh hc quân trường, anh ôm đàn thùng, mơ màng nhng li truyn cm, đúng tâm s, c bn ngi nghe, mt m, say sóng. (2)

Nhng ngày xưa thân ái, anh gi li cho ai?

Gió mùa xuân êm đưa rung hàng cau lưa thưa

Anh cùng tôi bước nh, áo qun nhăn gic ng

Đi tìm chim sáo n, ôi bây gi anh còn nh?

Nhng ngày xưa thân ái, anh gi li cho ai?

………

Thi gian qua mau, tìm anh nơi đâu?

Tôi v qua xóm nh, con đò nay đã già

Nghe tin anh gc ngã, dng chân quán năm xưa

Ung nước da hay nước mt quê hương

Nhng đường xưa ph cũ, ôi n đành quên sao?

Xin gi li tên anh gia tri sao long lanh

Anh gi yên gic ng, tôi nm nghe súng n

Như li anh nhc nh, ôi căm hn dâng ngp li

Nhng ngày xưa thân ái xin buc vào tương lai

Anh còn gì cho tôi, tôi còn gì cho em

Ch còn tay súng nh gia rng sâu giết thù

Nhng ngày xưa thân ái xin gi li cho em

Anh có mt người yêu xinh xn. Chúng tôi xem được hình. Không biết ri anh s gi cho ai.

Tôi ri quân đi sm. Tr v trường lut đ tiếp tc chun b ra trường. Hôm chia tay vi các bn trong đi đi. Người thiếu ph đó li khóc lên, tht mi lòng. Tôi vn nh mãi anh chàng nh nhn cùng tiu đi, da trng và o o như con gái. Khi tôi làm trưởng ban văn ngh thc hin l ra trường gn Anh Pha, tôi bt anh gi gái, đi tóc gi màu nâu đm, kiu Sylvie Vartan, mc áo đm, múa vũ khúc “Ác Qu và Giai Nhân” tht là đp, tht là vui. Tht khó hiu, khi bt anh mang cái nt vú ca ch tôi, ri xoay my vòng, trông anh như mt vũ n. Mt năm sau, cô vũ n đã theo chng sang bên kia thế gii trong trn chiến Bình Long.

Chai rượu đã gn cn. Mt mình ung rt d say. Nhưng tôi chưa say vì bn rn nh li nhng bài nhc, mt lch s ngh thut va hin thc va lãng mn, có l ch có trong mt đt nước chiến tranh dai dng vi nhng tâm hn đa cm.

Nếu biết rng tôi đã b c hương

Khoát áo đi trai đi nga lên đường

Tôi tin rng người y thêm thương

Vui lòng cho k phong sương

Dn thân ngoài súng đn sa trường. (3)

Tc cười nht là nhng ca t mang n ý thm nhun hành vi tui tr và ca lính v thành ph, chp nhoáng, thăm người yêu.

Nhng ngày chưa nhp ngũ, (4)

Anh hay dt em v vùng ngoi ô có c bông may.

đây êm vng thưa người, còn ta vi tri,

….

S khi người đi đ thương, đ nh

Tiếng yêu đương ai n chi t.

………….

Nhng ngày anh đi khi

Xin em ch đi li vùng tình yêu lm by nhân gian,

Mt trong s bài hát mà hu hết người lính đu ưa thích, dù không biết hát cũng lm bm vài câu. Din t ni say mê thm thiết “Ca tâm tư là mt, nên khi đi mt, chuyn bun dương gian ln mt…” va văn v va cm đng va đúng chóc, không th nào nói hay hơn. Ri, cái cnh tưởng tượng “vng v ngôn ng tình, làm bng du đôi tay,” nhc sĩ Trúc Phương tht là lão luyn tâm lý.

T xa tôi v phép (5)

Hai mươi bn gi tìm người thương trong người thương

Chân nghe quen tng viên si đường nhà

Chiu nghiêng nghiêng nng đ

Và người yêu đng ch ngoài đu ngõ bao gi

Ca tâm tư là mt

Nên khi đi mt chuyn bun dương gian ln mt

Đưa ta đi v nguyên thu loài người

Mùa yêu đương mun ng

Vng v ngôn ng tình làm bng du đôi tay

Bn gi đi dài thêm bn gi v

Thi gian còn li, anh cho em tt c em ơi

Ta đưa ta đến vùng tuyt vi

Đêm lc loài gic ng m côi

………………………..

nh minh ho

Người thiếu ph đó không còn khóc na. Có l đã quá mt mi, đã cn nước mt, gc đu lên mt bàn. Quê hương chinh chiến ca tôi có biết bao nhiêu thiếu ph mt chng. Ni đau lòng bun thm đó là mt thế gii khác. Thế gii ca mt mát, ly tan, ca nhng tâm hn b cướp git yêu thương, b xô ngã gia đi sng vn tiếp tc đp lên và không nhìn li.

Ri sau 30 tháng 4, h phi làm gì vi thân phn đó? Ly chng khác hay vy nuôi con? Khn kh nói sao cho hết li. Cay đng k sao cho ai hiu. Đp ch v ra, có thy máu chăng?

Đi ca mi người, ai cũng có mt s điu may mn. Mt trong nhng may mn mà tôi ghi khc trong trí nh, đó là ln gp li nhng người bn thân t thi trung hc. Thi tú tài xong, mi đa mi nơi, mi binh chng, mi vùng chiến tuyến. Vy mà may mn thay, bn anh bn này đi phép, tr v thành ph Nha Trang, thăm nhà, có được hai ngày trùng lp vi nhau. Chúng tôi hn mt quán cà phê nh, vng v, sau 8 gi ch còn chúng tôi, ung bia và làm nhiu chuyn ng ngn, tr thơ, ri ca hát, say mèm. Sáng hôm sau, chia xa, tr v đơn v, tôi li thành ph. Điu may mn đó có th là không may mn. Mi khi nh li, không biết gi nó là gì, ngôn ng thiếu ht, đành gi là may mn.

Tôi li gp anh (6)

Người trai nơi chiến tuyến

Súng trên vai bước lê qua đường ph

Tôi li gp anh

Gi đây nơi quán nh

Tui 30 mà ng như tr thơ

[Ngón đàn bolero ca Sơn vn ngt lm như ngày nào. Ging hát ca Phương gi đây thêm nhiu nha thuc lá và thanh qung mòn mài rượu đế.

Khi chúng tôi mang đàn vào quán, cô thu ngân đã chú ý nhng anh lính này. Chc cô đã quen lính tráng nhu nht, có hung thn, có ma qu, có thư sinh, có ngh sĩ. Và cô phi chu đng nhng gì xy ra, k c vic súng n, chai bay. Miếng cơm manh áo có đáng hay không? Không có câu tr li chính xác vì không th làm gì khác hơn. Nhưng đêm nay, cô thu ngân, tên Phương Hnh, ánh mt tr mà ngm bun, mái tóc nâu đm, kiu Sylvie Vartan, nghiêng nghiêng dưới ánh đèn m, rt n tượng, nhưng chúng tôi bn hát, bn sng cho hết đêm. Mi đu, thnh thong Hnh liếc nhìn v hướng bàn bn anh lính và mt anh dân s chìm sâu trong góc ti ri quay đi s h trông thy, mc dù, tai vn lng nghe. Mt lát sau, khi quán không còn ai, ch còn v chai bia và lính, Hnh dn dĩ chng tay lên cm ngi thưởng thc tiếng hát ca anh thiếu úy rn ri nhưng đp trai vi hàng lông mày rm.]    

Nh gì t ngày anh xa mái trường

Nh gì t ngày anh vui lên đường

Li gy v nhà anh hoa phượng thm

Màu xanh áo người thương

Nng chiu đp quê hương

Hay nhc bun đêm sương

Tôi li gp anh

Tri đêm nay sáng quá

Ánh trăng như hé tươi sau ngàn lá

Tôi li gp anh

Đường khuya vui bước nh

K nhau nghe chuyn cũ bao ngày qua

Li gy v nhà anh hoa vn n

K nim t ngày xưa chưa xóa m

Ánh đèn vàng ngoài ô vn còn đó

Bn anh vn còn đây

Sng cuc đi hôm nay

Vi bn mình đêm nay

[Đêm càng ti, lòng càng bay bng mt cách nng n. Không có tâm s nào rõ ràng, ch cm thy xúc đng vi đi vi người vi bn, k c vi Hnh, gi này, không còn là ch quán, cô đã tr thành mt em gái nh, hu phương, đang chia x vi các anh lính t tin đn v ph. Dường như sáu người chúng tôi đang cm bun v nhng điu gì xa xăm. Gn ging thôi nhưng không hn là nim chia tay, ni chết, ch là mt cm nhn, mt th gì mơ h bao quanh ri tràn ngp c quán. Tt c nhng đèn trên tường trên bàn đã ti, gi còn ti thêm. Hùng có l đã say mê, không phi Hnh, ch mt người n cn thiết xut hin thoáng qua, đm đà cm xúc cho anh lính bit đng đang la đà trong câu hát “Và phương đó em ơi có gì vui xin biên thư v cho anh. Nh thương vơi đy, đêm nay trên đn vng, thương em anh thương nhiu lm, em ơi biết cho chăng, tnh l đêm bun… “(7) Đi người d được my khi sng trn vn buông th, chúng tôi không còn nh thi gian. Hnh cũng quên đóng ca quán.]

Anh sng đi trai gia núi đi

Tôi viết bài ca xây đi mi

B tre quê hương

Cây súng anh gìn gi

Tôi hát vang gia đi đ người vui

Thôi mình chia tay

Cu mong anh chiến thng

Ánh trăng khuya sp tàn trên hè ph

Thôi mình chia tay

Ri mai đây có v

Quà cho tôi anh nh chép bài thơ

Nng đp ca bình minh đang hé ch

Ni bun vui bit ly chưa xóa m

Súng thù t rng sâu vn còn đó

t nhiên tiếng còi gii nghiêm hú lên. Mt tiếng hú không đúng lúc, phá v mt thế gii tình t lãng mn. Hnh tr v vi cô ch quán. Chúng tôi tr v vi chiến tranh. “Cm ơn Hnh,” Ch có Hùng nói như vy. 

Năm đa tôi đi ra đu đường, Tôi và Thành v chung mt hướng, ba người kia mi người mi ng.]

Đng lưu luyến gì đây

Thôi bn mình chia tay

Thôi bn mình chia tay.

[Chia xa. Mi người tr v đơn v ca mình. Tôi li thành ph. Và vĩnh vin không còn trông thy nhau na.]

                    Viết trong khi ch 30 tháng 4, 2024

Ghi:

(1)  Bit Kinh K ca Minh K.

(2)  Nhng Ngày Xưa Thân Ái ca Phm Thế M.

(3)  Gõ Ca ca Anh Bng.

(4)  Bông C May ca Trúc Phương.

(5)  24 Gi Phép ca Trúc Phương.

(6)  Trăng Tàn Trên Hè Ph ca Phm Thế M.

(7)  Đêm BUn Tnh L ca Tú Nhi.

Ngun: https://vietbao.com/a318871/tinh-ban-linh-xua

International Orchid and Flower Show 2024

Tháng Tư – Và Một Cuộc Giải Phóng Khác - Phạm Thanh Nghiên

(Hình minh họa: Nhac Nguyen/AFP via Getty Images)

Một ngày nọ đi làm về, khi vừa bước vào nhà, tôi đã phát hiện cái bàn thờ ông Hồ Chí Minh không còn ở vị trí cũ. Chắc là bố tôi đã chuyển nó sang chỗ khác. Tôi ngó nghiêng tất cả những vị trí trang trọng nhất mà tôi nghĩ bố tôi sẽ đặt bàn thờ, hoặc chí ít là treo được tấm hình cho xứng tầm với sự “vĩ đại” của ông. Nhưng không, giờ đây nó nằm chềnh ềnh trong thùng rác. Bát nhang và những tấm gỗ nằm ngổn ngang, lẫn với đủ loại gốc rau, vỏ trái cây, ruột cá – thứ mà mẹ tôi vừa vứt vào khi chuẩn bị bữa tối cho cả nhà.

Trên chiếc chiếu bố tôi hay ngồi uống trà, ảnh ông Hồ đã bị lột khỏi tấm khung gỗ, nằm vật vờ, méo mó. Tôi lặng lẽ nhặt bức ảnh lên, kín đáo kẹp vào cuốn sổ tay, cất trong ngăn bàn. Tôi sốc, và cả sợ hãi. Một nỗi buồn vô cớ ập đến, bám riết lấy tâm hồn tôi. Hai mươi bảy năm sau cái ngày được gọi là “giải phóng” ấy, bố tôi đã đoạn tuyệt với ông Hồ, với chủ nghĩa Cộng Sản, theo một cách bất ngờ như thế.

Ngày ấy tôi không hiểu vì sao ông lại làm như thế. Bố tôi không bao giờ giải thích, chỉ nói cộc lốc một câu “Đừng bao giờ nhắc đến ông ta nữa.” Nhưng từ đó, mấy mẹ con tôi phải nghe những lời chửi rủa nhiều hơn, nhất là khi xem chương trình thời sự của đài truyền hình nhà nước, với những câu như “Đ.m. cộng sản” hay “Đ.m. quân lừa đảo.”

Nhưng vào lúc ấy, tôi vẫn là một thanh niên yêu ông Hồ và tin vào đảng CSVN, dù lý trí không tự giải thích được vì sao lại thế. Nếu hồi đó có người hoạnh họe về niềm tin của tôi, chắc chắn là tôi sẽ không trả lời được. Hoặc nếu có, thì sẽ lại nói như con vẹt, nói cùn như bọn dư luận viên bây giờ.

Đồng nghĩa với sự sùng bái Hồ Chí Minh và đảng CSVN của tôi lúc đó là sự căm ghét đối với chế độ VNCH, với các nhân vật lãnh đạo miền Nam như Tổng Thống Ngô Đình Diệm hay Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Tôi từng tin rằng, ông Diệm đã lê máy chém đi khắp miền Nam để giết hại đồng bào mình. Tôi từng tin những người lính phục vụ trong chế độ VNCH đều là những người ăn thịt trẻ con, giết phu hiếp phụ. Tôi đã tin, và phải tin, vì ở trường và ở nhà, tôi đều được ấn vào đầu những điều như thế.

Hai năm sau ngày đập bỏ bàn thờ ông Hồ, bố tôi qua đời. Đó là một sớm mùa Đông Tháng Mười Một Âm Lịch năm 2004 với cái lạnh tê tái, ngọt tận đến xương.

Tôi dại. Khi bố tôi nhồi nhét đủ thứ mang danh những điều “tốt đẹp, kỳ diệu, vĩ đại” gắn với ông Hồ và đảng CSVN vào đầu óc non nớt của tôi, tôi tiếp thu rất nhanh. Tôi cứ tưởng bố tôi cũng phải dạy con cách từ bỏ Hồ Chí Minh và đảng CSVN giống như cách ông dứt khoát vứt xuống đất, để giúp tôi thôi trở thành kẻ sùng bái họ. Lẽ ra, tôi phải nhận thức được ngay, từ cái ngày ông đập bỏ bàn thờ Hồ Chí Minh với lời tuyên bố “Đừng bao giờ nhắc đến ông ta nữa,” hay những câu chửi tục “Đ.m. cộng sản,” “Đ.m. quân lừa đảo” khi nhìn thấy những lời tuyên truyền trên TV.

Tôi vẫn tiếp tục yêu ông Hồ như thế, cho đến một ngày, tôi lôi tấm hình ông Hồ ra, tự tay xé nát thành từng mảnh vụn. Lúc ấy cũng vào một ngày mùa Đông năm 2006. Khi ấy, tôi vừa tròn 29 tuổi.

Mọi thứ, đến chầm chậm với tôi, nhưng dứt khoát và mãnh liệt, qua những trang tin điện tử từ hải ngoại mà tôi phải vượt tường lửa mới tiếp cận được. Có một sự thật rất khác với cái được gọi là “sự thật” mà người ta muốn tôi, muốn cả dân tộc này phải tin.

Tôi như trải qua một cơn bạo bệnh. Lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận một cách trọn vẹn dư vị của nỗi đắng cay khi biết, và nhận rõ mình bị lừa dối. Và cả sự xấu hổ, ê chề. Tôi chưa bao giờ thấy xấu hổ như thế cho dù không ai nhận ra cơn chấn động tinh thần của mình.

Đa số, nếu không nói là tất cả người dân miền Bắc, nhất là thế hệ sinh sau năm 1975 như tôi, đều được nhồi sọ là phải tôn thờ Hồ Chí Minh, phải tin tuyệt đối vào “sự lãnh đạo tài tình của đảng.” Cho nên, khi tôi hòa mình vào đám đông im lặng – sản phẩm của sự nhồi sọ ấy, tôi là bạn. Ngược lại, khi tôi đứng lên cùng với sự thật, chính những con người đó đã kết án, đã chửi rủa tôi không chỉ riêng vì tội thôi sùng bái ông Hồ, mà là tội dám từ bỏ niềm tin cộng sản.

Tôi thấy mình cần phải có một thái độ dứt khoát trước thời cuộc dù tôi chỉ là một đứa con gái còi cọc, nhát gan, nặng chưa đầy 36 kg và nhất là chữ nghĩa chẳng được bao nhiêu. Nếu tôi không làm gì, có lẽ thời cuộc cũng chẳng thèm giận hờn gì tôi cả. Tôi chỉ là một kẻ vô danh trên cõi đời này, thêm hay bớt thì nhân gian này vẫn thế.

Nhưng tôi cần sám hối, cần xét đoán lại mình, đơn giản để được là chính tôi. Tôi phải tự thoát khỏi cơn mê, chui ra khỏi cái vỏ trứng để làm một sinh linh dù yếu ớt, nhưng nhìn thấy ánh sáng của sự thật và làm chứng cho sự thật. Quyết định ấy không phải sản phẩm của một cơn bốc đồng thời cuộc, sự nổi loạn của tuổi trẻ hay lòng tự ái bị tổn thương, đến ào ạt rồi tan biến để rồi chỉ còn sự tiếc nuối và sợ hãi. Bày tỏ thái độ trước thời cuộc đồng nghĩa với việc bị liệt vào danh sách “kẻ thù của chế độ,” để bước vào một cuộc đời khác đầy bão tố, chông gai và tù đày. Nhưng tôi được là chính mình.

Tôi không bao giờ quên lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy những chú thương phế binh VNCH bằng xương bằng thịt tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn, vào cuối năm 2015. Đêm hôm trước, tôi rất hồi hộp vì sắp được gặp những con người mà mình từng nghĩ oan, từng được giáo dục là phải căm ghét và coi họ như những tội đồ của dân tộc. Lần thứ hai sau gần chục năm, ý nghĩ sám hối lại trở về với tôi.

Tôi đứng lặng lẽ ở một góc của sân Hiệp Nhất trong nhà thờ, nơi tổ chức các buổi “Tri ân thương phế binh VNCH,” và khóc. Đầu tiên, tôi còn kìm được. Càng về sau, nước mắt càng tuôn ra, với những tiếng nấc cứ lớn dần lên. Một người bạn, là con của một cựu quân nhân VNCH chạy đến, ôm tôi. Cả hai chúng tôi cùng khóc. Chúng tôi khóc, không chỉ xót thương cho “những con người bị bỏ rơi hơn cả” trong chế độ cộng sản tàn ác này. Khóc, để xót thương cho một nửa đất nước từng phồn thịnh, tự do, đẹp đẽ đã bị bức tử bởi những kẻ man rợ nhân danh đủ thứ chủ nghĩa bệnh hoạn. Khóc cho sự ngu dại một thời của tôi, của biết bao người dân miền Bắc vẫn chưa có cơ may, hoặc chưa đủ dũng khí để làm một cuộc gột rửa bản thân đặng góp phần cứu nguy cho dân tộc.

Quê hương Việt Nam quá dư thừa những nỗi đau. Còn nỗi đớn đau nào đau hơn khi phải chứng kiến cảnh triệu triệu đồng bào ăn mừng trên nỗi đau thương, bất hạnh của triệu triệu đồng bào khác cũng mang tên Việt Nam, vào mỗi dịp Tháng Tư về.

Dẫu vậy, tôi vẫn tin, và hy vọng rằng ngày mai trên con đường đổi thay đất nước, sẽ rộn rã những gương mặt mà hôm nay rất có thể đang còn ngu dại như tôi thuở nào. Để không còn mang danh “Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm. Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi” (*). Ngày mai, sẽ rộn ràng như thế. [đ.d.]

————-

(*) Lời bài thơ “Đất nước mình ngộ lắm phải không anh” của Trần Thị Lam, giáo viên văn trường THPT chuyên ở Hà Tĩnh. Cô giáo Lam bỏ lên Facebook ngày 25 Tháng Tư, 2016, thời điểm xảy ra sự kiện cá chết hàng loạt gây ô nhiễm biển ở các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Bài thơ đã tạo thành cơn bão hưởng ứng khắp nơi, và chính cô cũng gặp khó khăn với nhà cầm quyền vào thời điểm ấy.Thanh Nghiên


Phạm Thanh Nghiên

April 28, 2024

Kính Mừng Đại Lễ Phật Đản - Minh Lương

Những Cái Bằng - Gió Đồng Nội



Thời mà tôi cắp sách đến trường học thì chỉ cần đủ điểm hai kỳ thi lục cá nguyệt và có học bạ tốt là được lên lớp, không phải thi lấy bằng Tiểu Học, Trung Học gì cả. Không phải thi có nghĩa là thoát được biết bao ngày khan cổ học bài ra rả như chim cuốc kêu mùa hè, ve sầu kêu mùa hạ, chim quạ kêu mùa đông để kiếm lấy cái bằng đem về lộng kiếng, treo lên tường hù dọa những người ít chữ. Chỉ còn phải thi Tú Tài bán phần rồi toàn phần là được quyền làm sinh viên rồi. Làm sinh viên là làm người lớn. Nghe oai dễ sợ, dù vẫn còn trong cái tuổi "teen" mười tám, mười chín. Ngày xưa, khi nghe người lớn chọc nhau: nhỏ không học lớn làm Đại Úy tôi không hiểu họ mỉa mai những ông sĩ quan đánh trận giỏi nhưng không giỏi về học vấn. Rồi đến câu vè: Rớt Tú Tài anh đi Trung Sĩ. Cấp bậc Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan chỉ khác nhau ở mảnh bằng Tú Tài I. (Sau này bỏ thi Tú Tài I, chỉ còn Tú Tài II) Chương trình bậc Tú Tài đâu có dạy con người lối xử sự đẹp với nhau, cũng chẳng dạy con người cách ăn ở sao cho phải đạo. Mà là từ bậc Tiểu Học. Những môn Công Dân, Đức Dục đã dạy cho đứa trẻ biết kính trên, nhường dưới, biết bổn phận một người con trong gia đình, một người dân trong xã hội. Có Học còn phải có Hạnh mới thành Nhân. Học mà thiếu Hành thì chẳng giúp được gì dù là cho chính bản thân, chỉ là một mớ từ chương nhét trong đầu.

Không chỉ người Á Đông mời trọng bằng cấp, Tây Phương cũng quý bằng cấp vậy. Có khi còn hơn chúng ta nhiều. Bằng cớ là họ đưa ra hằng ngàn loại bằng khác nhau. Nào là những cái bằng chứng thực hiểu biết về trí tuệ như Tiến Sĩ, Cao Học, Cử nhân.. thật khó nuốt. Thấp hơn một tí là bằng chứng nhận hai năm đại học. Dê dễ hơn một chút nữa là bằng cấp xác định khả năng chuyên môn như bằng thợ điên, thợ máy, thợ làm tóc, móng tay. Dễ có hơn nữa là bằng lái xe, và dễ ợt, chẳng cần thi cử là bằng... câu cá (nếu ta dịch chữ License là cái bằng). Học ít, học nhiều hay không học, mọi loại bằng đều phải tốn tiền vì hầu như cùng dùng trong một mục đích kiếm ăn. Kiếm lại số vốn đã đầu tư trong việc học. Cũng có không ít người cần cái bằng để cầu danh. Số người học thực sự cho kiến thức hay chỉ để giúp đời thật là nhỏ nhoi khiêm nhượng.


Hồi tôi mới tốt nghiệp bằng cử nhân, một anh bạn chồng đến rủ tôi ghi danh học trường hàm thụ mà anh đã theo. Cứ đóng đủ tiền, bảo đảm hai năm chị có cả bằng cao học lẫn tiến sĩ. Nghe đã lỗ tai quá nhưng tôi vẫn thắc mắc hỏi lại anh: Học vậy thì mình biết cái quái gì. Anh cười tỉnh bơ: “Who care”. Ai biết được. Miễn mình có mác tiến sĩ là oai rồi. Vừa nghe thế ông chồng tôi dằn mặt vợ liền: Em đi học trường đàng hoàng để dạy con chứ không phải để lòe thiên hạ đâu nhé. Thế là tôi chẳng bao giờ được làm bà tiến sĩ. Dù là tiến sĩ giấy. Tiến sĩ thật học gì nổi, khó thấy mồ. Người Mỹ học còn khờ người, huống chi mình tiếng Mỹ ăn đong. Đôi khi tôi giả vờ tiếc phải chi mình ở Việt Nam thì thế nào tôi cũng tiếp tục đi học để kiếm một mớ bằng cấp vì chữ của mình chắc dễ học hơn chăng. Cho đến một hôm tôi gặp mặt Soeur Vân từ Việt Nam sang Italy công tác, ghé Hoa Kỳ thăm một hội thiện nguyện. Tôi gọi là chị Vân. Chị trông nom một làng cùi. Chị được nhà dòng gửi về Sài Gòn học về Giáo Dục để dạy trẻ em. Thiếu bác sĩ, chị được gửi đi học Y khoa để lấy bằng ra chữa bệnh cho người nghèo trên cao nguyên. Rồi lại tiếp tục học Dược để phát thuốc. Vẫn chưa đủ, chị lại được đưa đi học Vật Lý trị liệu về chỉnh hình miễn phí cho người tật nguyền. Khi tôi hỏi cái bằng nào khó học nhất thì Chị Vân cười thật tươi, nhã nhặn trả lời: theo chị thì chỉ có mỗi một cái bằng khó học nhất là Bằng Lòng. Thật là một bài học quý giá cho tôi.


Gió Đồng Nôi

 

Sunday, May 5, 2024

Hai Nẻo Tình Quê - Trầm Vân

Đất Nước Việt Nam Sau Tháng Tư Đen Đến Bây Giờ - Nhận Định Của Nhà Văn Học Giả Nguyễn Hiến Lê

Nguyễn Hiến Lê tại nhà riêng trong Nam trước 1975.

- Trần Vũ

January 13th, 2024

Thất bại trong hòa bình

Những ngày áp cuối tháng 4, Sàigòn bắt đầu hỗn loạn. Võ Phiến rời tòa soạn Bách Khoa trên đường Phan Đình Phùng để đến từ giã người bạn tâm giao là Nguyễn Hiến Lê. Đôi bạn cùng ngậm ngùi. Cả hai đều biết sẽ không gặp lại. Sang đến Mỹ, Võ Phiến không bao giờ quên dòng nước mắt lăn trên má người bạn có sở học uyên thâm.


Võ Phiến chọn ra đi. Nguyễn Hiến Lê chọn ở lại vì trong nội chiến Nam-Bắc, cụ Lê dành nhiều cảm tình cho phía “cách mạng”. Rồi chứng kiến “xã hội mới, con người mới” của phía chiến thắng áp đặt lên đồng bào đã đầu hàng, cụ Lê phê phán không tương nhượng. Sống đúng với lương tâm của mình, là tiêu chí của Nguyễn Hiến Lê.

[Trần Vũ]

*******

Mấy tháng đầu sau ngày 30-4-75, các bạn kháng chiến, già cũng như trẻ, nhất là trẻ, đều có tâm lý chung là hăm hở hưởng thụ sau mấy chục năm gian khổ sống chui, sống nhủi trong rừng, trong bụi, dưới hố dưới hầm. Đành rằng phải bắt tay ngay vào việc kiến thiết, nhưng đã có đường lối sẵn rồi, có kinh nghiệm 20 năm ở Bắc thì không có gì khó; vả lại đã thắng được Mỹ, thành cường quốc thứ ba trên thế giới, sau Nga và Trung Hoa thì có việc gì mà làm không được, chỉ trong 5 năm sẽ tiến bộ, 20 năm sẽ đuổi kịp Nhật Bản về kinh tế.

Muốn kiến thiết thì trước hết phải san phẳng chế độ cũ đã không để lại một dấu vết nào cả. Phải đuổi hết các nhân viên cũ, để anh em cách mạng chia nhau tất cả các chức vụ lớn nhỏ. Phải diệt bọn tư bản, chiếm nhà cửa, tài sản như núi của họ, chia nhau mỗi người một chút. “Đó là quyền của mình mà!”

Thời chiến hễ nung được lòng yêu nước của quốc dân rồi, giữ cho lòng đó đừng giảm, quốc dân kiên trì chịu đựng được tới phút chót thì không còn vấn đề gì nữa: thiếu cái gì đã có Nga, Trung Hoa cung cấp cho; trái lại trong thời bình mới phải đương đầu với nhiều vấn đề nội bộ, ngoại giao, kinh tế, nhất là kinh tế. Nước ta nghèo, thiếu vốn đầu tư thiếu kỹ thuật gia, khó phát triển kinh tế mau được. Thất bại về kinh tế thì sự nghiệp của cách mạng sụp đổ.

Bây giờ 5 năm sau ngày 30-4-75, hết kế hoạch ngũ niên đầu tiên rồi, chúng ta mới thấy cơ hồ chẳng tiến bộ về một phương diện nào hết mà còn thụt lùi nữa, và ai lạc quan tới mấy cũng phải nhận chúng ta đã bỏ phí 5 năm, và không biết phải mấy năm nữa mới bắt lại được thời gian đã mất đó. Trong khi ấy thì thế giới cứ vùn vụt tiến tới.


Không đoàn kết

Thất bại lớn nhất, theo tôi, là không đoàn kết được quốc dân. Tháng 5-1975, có ít nhất là 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mỹ đi, lập lại hòa bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ 6, 7 tháng sau, cuối 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc. Tôi nhớ như ở phần trên tôi đã nói năm 1976, trong một cuộc hội nghị ở Sài Gòn, bàn về vấn đề thống nhất quốc gia, một học giả lão thành miền Bắc, ông Đào Duy Anh (đã có hồi sống ở Nam nhiều năm, có nhiều bạn thân ở Nam) khi được mời phát biểu ý kiến, chỉ nói mỗi một câu đại ý là thống nhất cái gì cũng dễ; quan trọng nhất là phải thống nhất nhân tâm đã. Cả hội trường sửng sốt và làm thinh.

Ông Anh đã nhận xét đúng và dám nói. Quả thực là lúc đó có sự chia rẽ nặng giữa người Nam và người Bắc, Nam đã không muốn thống nhất với Bắc rồi. Từ đó, tinh thần chia rẽ cứ mỗi ngày mỗi tăng, năm nay (1980) có thể nói 90% người miền Nam hay hơn nữa, muốn tách khỏi miền Bắc.

Có nhiều nguyên nhân.

Nguyên nhân chính theo tôi là người miền Bắc vơ đũa cả nắm, coi người Nam là “ngụy” hết, trụy lạc, bị nhiễm độc nặng của Mỹ. Ngay hạng trí thức miền Bắc như ông Đào Duy Anh cũng có thành kiến rằng dân Sài Gòn hư hỏng quá rồi Họ chỉ nhìn bề ngoài, chỉ thấy một số thanh niên híp pi, lêu bêu ở ngoài đường; tôi phải giảng cho họ hiểu rằng đó chỉ là thiểu số, chứ đại đa số người trong này ghét Mỹ, ghét văn minh Mỹ, có thể nói gia đình nào cũng có người có cảm tình với kháng chiến, giúp kháng chiến cách này hay cách khác, nếu không vậy thì làm sao kháng chiến thành công được. Chỉ nội một việc biết người nào đó là kháng chiến mà không tố cáo cũng đủ có công với kháng chiến, chớ đừng nói là còn che chở, giúp tiền bạc, tiếp tay cho nữa. Chỉ trừ một số phản quốc, theo Mỹ, Thiệu triệt để vì quyền lợi, còn thì không có gia đình nào trong Nam là ngụy cả. Một số người yêu nước, có tư cách, mới đầu gia nhập kháng chiến, sau vì lập trường chính trị, phải rời hàng ngũ, về thành, mà không ưa Pháp, Mỹ, hạng đó không nên coi người ta là ngụy. Bọn thanh niên hư hỏng chỉ ở Sài Gòn mới có nhiều, mà tỉ số không cao so với những thanh niên đứng đắn.


Người Bắc coi người Nam là ngụy, đối xử với người Nam như thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mỹ thì cái gì cũng làm được.Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là ngụy thì tôi mới có lý, anh đừng nói nữa”.

Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kỹ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau … Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè, hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú…

Trong mỗi cơ quan ở Sài Gòn cũng có sự chia rẽ. Cùng là công nhân viên cả, mà bọn ở Bắc vô không ưa bọn Liên khu 5; hai hạng đó đều khinh bọn ở bưng trong Nam về; bọn này lại không chơi với bọn trước kia tập kết ra Bắc, nay trở vô Nam; bọn “nằm vùng” cũng không ưa bọn tập kết về đó; bị khinh nhất là bọn ngụy được tạm dùng lại, mà bọn này thạo việc hơn hết. Chỉ vì thiếu đoàn kết cho nên trong cuộc hội họp nào người ta cũng hô hào “Đoàn kết, đại đoàn kết”. Còn ở trong phòng họp thì ai cũng hoan hô tinh thần đoàn kết, ra khỏi phòng rồi thì hết đoàn kết. Người ta chỉ đoàn kết với nhau vì quyền lợi thôi; do đó mà có tinh thần bè phái, gia đình trị, và ở Bắc có câu này: Nhất thân, nhì thế, tam quyền, tứ chế.


Bất công

Điểm thứ nhì làm cho chúng ta thất vọng là xã hội còn bất công hơn thời trước nhiều.

Có người nói một số “ông lớn” đi đâu cũng có người hầu xách bình nước sâm Cao Ly để ông lớn uống thay trà; một ông nọ luôn luôn có một bác sĩ ở bên và một thiếu nữ quạt hầu vì ông không chịu được quạt máy. Tôi không biết những tin đó đúng hay không, chỉ biết những tin đó do “anh em cách mạng” đưa ra cả.

Một ông bạn tôi bảo có vô nhà thương mới thấy có cả chục (sic) giai cấp bệnh nhân, tùy giai cấp mà được ở phòng nào, khám bệnh ra sao, trị bệnh ra sao, cấp thứ thuốc nào v.v.

Người chết cũng phân biệt giai cấp khi đăng cáo phó: cán bộ thường thì được mấy phân trên cột báo, cán bộ bự thì được mười mấy phân; lời cáo phó cũng theo những tiêu chuẩn riêng. Đúng là đường lối Staline.

Sài Gòn được giải phóng vài năm thì ta thấy xuất hiện ngay một hạng giàu sang mới nổi, thay thế bọn giàu sang thời Thiệu, và cũng thích những xa xí phẩm (áo hàng thêu, hột xoàn, máy điều hòa không khí v.v.) của thời Thiệu. Tiền đâu mà họ mua những thứ đó nhỉ?

Sự bất công chướng nhất, tàn nhẫn nhất là lương công nhân viên từ 1975 cứ đứng yên trong khi sự phân phối nhu yếu phẩm giảm đi gần hết, chỉ còn gạo, bo bo là tạm đủ, nhất là trong khi mãi lực của đồng bạc năm 1980 chỉ còn bằng 1/10 năm 1975; thành thử lương một công nhân viên chỉ đủ để mua củi chụm, lương một bác sĩ mới ra trường chỉ đủ để mua rau muống ăn. Khắp thế giới không đâu có chế độ lương bổng kỳ cục như vậy (2). Người nào cũng phải bán đồ đi mà xài, nhờ cha mẹ giúp đỡ, nếu không thì phải xoay trở mọi cách, làm sao sống được thì làm, chính phủ không biết tới. Một cán bộ ở Hà Nội đã phàn nàn: “Người ta có rất nhiều quyền hành mà không có một chút tinh thần trách nhiệm nào cả. Thật lạ lùng!” Kravchenko (trang 185) nói chính phủ Nga bắt dân đói để dân biết phép chính phủ mà phải răm rắp tuân lệnh. Ở nước ta không đến nỗi như vậy, có áp dụng chính sách đó thì chỉ áp dụng cho những kẻ thù của chế độ thôi, tức bọn ngụy quân ngụy quyền còn ở trong một số trại cải tạo.


Thiếu kỷ luật

Không ai có trách nhiệm mà tinh thần bè phái quá nặng, nên không có kỷ luật, dưới không tuân trên, loạn.

Chương trên tôi đã nói tới cái tệ mỗi tỉnh là một tiểu quốc, địa phương tự do tới mức không tuân lệnh trung ương (ngay xã cũng không tuân lệnh tỉnh, huyện), lấy lẽ rằng chỉ địa phương mới hiểu tình trạng của địa phương, cấp trên không nên xen vào; cái tệ nhân viên được lệnh đi công tác mà không đi, nằm ỳ ở nhà, một tuần sau trở lại sở, trả sự vụ lệnh mà không bị khiển trách; cái tệ nhân viên muốn bỏ sở về giờ nào thì về, lấy cớ là phải kiếm gạo, chủ nhiệm đành làm thinh, chứ không biết đáp sao.

Tôi kể thêm một trường hợp nữa. Ông giám đốc một cơ quan nọ đến tuổi về hưu, bảo người giúp việc: “Tôi sẽ không về, về thì mất hết quyền lợi: xe hơi, “bìa” (sổ đặc biệt để mua nhu yếu phẩm), nhà ở v.v. mà còn bị xã ấp nó ăn hiếp, hoạnh họe cái này, cái khác; không, tôi không về”. Một ông giám đốc mà sợ công an ấp vì công an có quyền bắt ai thì bắt, giam ai thì giam. Một viên công an bảo: “Tôi làm việc 4, 5 năm rồi, mà bây giờ mới biết quyền hạn của tôi, từ trước tôi muốn làm gì thì làm”.

Vì mất kỷ luật, cho nên thanh niên trốn nghĩa vụ quân sự: ở miền Nam trốn tới 90%, có nơi cả 100% mà vẫn sống yên ổn. Bắt được họ, đưa họ ra mặt trận, họ lại trốn nữa. Không thể giam hoài họ được, gạo đâu mà nuôi? Họ sống yên ổn ngay ở làng vì chỉ cần đút lót cho công an là êm. Còn nạn đào ngũ thì toàn quốc tới 25%. Trước kia người ta hy sinh để giành độc lập; bây giờ độc lập rồi lại đánh nhau với nước anh em, người ta không hăng hái nữa.

Nghe nói ở một tỉnh nọ, viên giám đốc sở tài chánh kiêm giám đốc ngân hàng (?) ôm 60 lượng vàng cùng với 30 viên công an xuống một chiếc tàu của chính phủ, mang theo đầy đủ khí giới (và không biết bao nhiêu lượng vàng nữa) để vượt biên. Tin đó chưa lấy gì làm chắc nhưng chuyện công an – cây cột chống đỡ chế độ – ôm vàng vượt biên thì mấy năm nay nghe thường quá rồi.

Tinh thần vô kỷ luật đó, không biết một phần có phải do chính sách giáo dục trẻ em không. Người ta cấm đánh trẻ – điều đó có thể hiểu được – cấm nghiêm khắc với trẻ, chúng nghỉ học thì lại nhà mời chúng đi học; chúng làm biếng thì không bị phạt mà cô giáo bị trách là dạy dở. Kỳ tựu trường có nơi còn tổ chức múa lân, đốt pháo để dụ trẻ em đi học nữa. Cô giáo nào mời được ít trẻ thì bị rầy. Riết rồi cô giáo ngán dạy quá, cứ tự ý nghỉ bừa, hiệu trưởng phải tới nhà năn nỉ, nếu không thì lỗi ở hiệu trưởng chứ không phải ở cô giáo. Và người ta ngán luôn cả nghề sư phạm: dốt hoặc muốn tránh nghĩa vụ quân sự mới phải thi vô sư phạm.

Kỷ luật như vậy, trẻ em càng được thể làm biếng, sức học rất kém, mà tính ngỗ nghịch (bóp vú cô giáo như trên đã nói) thì quá sức tưởng tượng. Một số cán bộ già ở Bắc vô nhận rằng trẻ em trong này ngoan ngoãn, lễ phép. Nhưng tôi sợ rằng ít năm nữa, chúng đuổi kịp bạn chúng ở Bắc mất.


Kinh tế suy sụp

Sự thất bại hiển nhiên nhất của chế độ là sự suy sụp của kinh tế mà tôi đã trình bày sơ lược ở trên. Hậu quả là Việt Nam trước thế chiến tự hào là “tiền rừng bạc bể”, có những đồng lúa, đồn điền cao su mênh mông ở miền Nam, những mỏ than, mỏ phốt phát (phosphate) phong phú ở miền Bắc mà bây giờ thành một trong vài nước nghèo nhất thế giới.

Từ ngày 30-4-75, do những đồng bào ở Bắc vào, chúng ta ở Nam mới lần lần biết cảnh điêu đứng của dân tình ngoài đó sau 20 năm sống dưới chế độ mới. Từ trên xuống dưới ai cũng phải ăn độn có khi 60-70% (3); có hồi gạo quý tới nỗi người ta cất vào trong những cái thố, cái liễn, trân trọng như nhân sâm, chỉ khi nào đau ốm mới lấy ra một nhúm để nấu cháo; ngày Tết mà có đủ gạo nấu cơm cúng ông bà là mừng lắm; khi nào được ăn một bữa cơm không độn với nước mắm thôi thì coi như được dự một bữa tiệc. Nước mắm rất hiếm, có người ở Nghệ An hay Hà Tĩnh mấy năm không có nước mắm ăn, gặp người trong Nam ra đem theo nước mắm, xin một vài muỗng rồi cầm nuốt ực ngay hết, không đợi đem về nhà.

Nhiều người vào Sài Gòn thăm bà con, khi ra vơ vét đủ thứ, từ cây đinh, khúc dây chì, lon sữa bò, ve chai … đem ra, vì ở ngoài đó thường cần dùng tới mà không kiếm đâu ra. Họ cho miền Nam này là thiên đường. Nhưng một người Ba Lan trong ủy ban kiểm soát quốc tế năm 1975 bảo chỉ trong 5 năm, miền Nam sẽ “đuổi kịp miền Bắc”, nghĩa là nghèo như miền Bắc. Lời đó đúng, rất sáng suốt. Nếu không nhờ mấy trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gởi tiền, thuốc men, thực phẩm, quần áo … về giúp bà con ở đây thì chúng ta hiện nay cũng điêu đứng như anh em miền Bắc rồi.

Dân miền Nam từ xưa chưa bao giờ biết đói, phải ăn độn thì năm 1979 đã phải ăn độn 70-80%, có những gia đình phải ăn bữa cơm bữa cháo, có cô giáo và học sinh đói quá, tới lớp té xỉu

Nhà nào cũng bán đồ cũ đi để ăn; nhiều giáo viên nhà đã trống rỗng, không còn bàn ghế nữa, ăn ngủ trên sàn. Ai cũng chỉ lo sao có cái gì nuốt cho đầy bao tử, chứ không dám nghĩ tới miếng ngon. Tết Canh Thân vừa rồi, ở Long Xuyên, nhà một giáo viên hồi hưu, trên bàn thờ ông bà chỉ bày một đĩa có mấy chiếc bánh phồng và bánh gai, không có một đòn bánh tét, một quả dưa hấu.

Khổ nhất là bọn đi kinh tế mới, thất bại, tiêu tan hết vốn liếng, về Sài Gòn, sống cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin, moi các đống rác hôi thối, lượm một miếng giấy vụn, một túi ni lông, một miếng sắt rỉ, một quai dép mủ … để bán cho “ve chai”. Trông thấy đống túi ni lông được rửa qua loa trong nước dơ rồi phơi ở lề đường để bán cho tiểu thương đựng hàng, tôi ghê tởm quá.

Không có tiền mua rau thì làm gì có tiền mua thịt. Muốn lâu lâu có thịt thì phải nuôi heo, gà, cho nên nhiều cơ quan ngay khi mới thành lập đã nghĩ ngay đến việc hùn tiền (hay lấy trong quỹ?) mua heo con, phân công nhau nuôi tại khu ở tập thể, như vậy đến lễ, Tết mới có thịt liên hoan. Người ta thèm thịt quá, cho nên liên hoan lu bù, bất kỳ một dịp gì cũng liên hoan được: một bạn đồng nghiệp được ban khen, ngày tựu trường, bãi trường, họp bạn để học tập, ban hành hiến pháp mới, làm xong một công tác, mỗi ngày lễ, Tết … mỗi năm liên hoan cả chục lần là ít.

Cơ quan nào cũng có đủ nhà bếp, chén đĩa, xoong chảo, người làm bếp (lựa trong nhân viên) để nấu ăn làm tiệc Và khi ngồi vào bàn tiệc thì chẳng ai mời ai, đợi ai, mạnh ai nấy gắp, ăn cho thật mau (tới nỗi có người bảo cứ nuốt trước rồi sẽ nhai sau!), tệ gấp 10 thói ăn uống ở đình làng mà Ngô Tất Tố đã mạt sát trong cuốn Việc làng.

Nghèo thì sinh ra ở bẩn. Ngay trong khu tập thể một trường Đại học Hà Nội, phòng một giáo sư ở Pháp về cũng dơ dáy, từ sàn gạch đến tường đều đầy vết bẩn. Hỏi như vậy làm sao chịu được, ông ta nhún vai đáp: “Lâu rồi quen đi” Không nên trách ông ta. Dù muốn sống sạch cũng không thể được: đâu có vôi để quét tường? đâu có xà bông để rửa sàn? đâu có giẻ để lau? Nước thì có nhưng phải xuống dưới sân để hứng rồi xách lên 5-6 chục bực thang, ai mà không ngại?

Phải, lâu rồi thì quen đi. Nếu tình trạng không thay đổi thì chỉ mươi năm nữa, toàn dân sẽ quen đi, không thấy gì là bẩn nữa. Hiện nay ở trong Nam đã nhiều nhà để bụi đóng đầy bàn ghế – mà trước kia họ sống rất sạch – mạng nhện giăng đầy trần, còn dân thị xã thì đã quen với cảnh 4, 5 người cùi nằm trên đường đưa tới chợ, lăn ở giữa chợ để xin ăn.

Câu “nghèo cho sạch, rách cho thơm” của ông cha, chúng ta không giữ được vì chúng ta nghèo tới mức không thể ở sạch được.


Xã hội sa đoạ

Điều đáng ngại nhất là sa đọa về tinh thần, tới mất nhân phẩm.

1) Tham nhũng

Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng: xin vô hộ khẩu một thành phố lớn thì bao nhiêu tiền, một thị xã nhỏ thì bao nhiêu, một ấp thì bao nhiêu. Muốn mua một vé máy bay, vé xe lửa thì bao nhiêu. Muốn được một chân công nhân viên, phải nộp bao nhiêu… Cái tệ đó còn lớn hơn tất cả các thời trước.

Nếu một cán bộ nào bị dân tố cáo nhiều quá thì người ta cũng điều tra, đưa cán bộ đó tới một cơ quan khác (có khi còn dể kiếm ăn hơn cơ quan cũ), đem người khác (cũng tham nhũng nữa) lại thay. Ít tháng sau dân chúng nguôi ngoai rồi, người ta lại đưa kẻ có tội về chỗ cũ. Người ta bênh vực nhau (cũng là đảng viên cả mà) vì ăn chịu với nhau rồi. Dân thấy vậy, chán, không phí sức tố cáo nữa. Có người còn bảo: “Chống chúng làm gì? Nên khuyến khích chúng sa đọa thêm chứ để chúng mau sụp đổ”.

Có những ông trưởng ti uống mỗi ngày một ve Whisky (tôi không biết giá mấy trăm đồng), hút hai ba gói thuốc thơm 555 (30 đồng một gói). Bọn đàn em của họ cũng hút thuốc thơm, điểm tâm một tô phở 6 đồng, một li cà phê sữa 4 đồng, sáng nào như sáng nấy mà lương chỉ có 60-70 đồng một tháng.

2) Ăn cắp

Như vậy thì tất phải có những vụ ăn cắp của công (Kho một trung tâm điện lực nọ cứ bốn năm tháng lại mất trộm một lần mà không tra ra thủ phạm; rất nhiều bồn xăng bị rút cả ngàn lít xăng rồi thay bằng nước…), thụt két, ôm vàng trong ngân hàng đề vượt biên, có khi lại tạo ra những vụ kho bị cướp, bị cháy v.v… Y tá ăn bớt thuốc của bệnh nhân rồi tố cáo lẫn nhau, giám đốc biết mà không làm gì được. Lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ. ăn cắp nhỏ thì chỉ bị đuổi chớ không bị tội, vì “họ nghèo nên phải ăn cắp”, mà nhốt khám họ thì chỉ tốn gạo nuôi. Vì vậy chúng càng hoành hành, ăn cắp, ăn cướp giữa chợ, cảnh sát làm lơ, còn dân chúng thì không dám la, sợ bọn chúng hành hung. Ăn cắp lớn, không thể ỉm được thì phải điều tra, bắt giam ít lâu rồi nhân một lễ lớn nào đó, ân xá; không xin ân xá cho họ được thì đồng đảng tổ chức cho vượt ngục rồi cùng với gia đình vượt biên yên ổn.

3) Con người mất nhân phẩm

Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hóa ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả.

Năm 1975 đa số các cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa.

Gởi họ mang ra giùm một cuốn sách tặng một người ở Hà nội, họ giữ lại 5-6 tháng, vợ chồng con cái, bạn bè coi cho hết lượt, sách nhàu rồi, họ mới đem lại cho người nhận sách; có khi họ lấy luôn, nhắc họ, họ bảo thất lạc, để kiếm. Mà ba người nhận được sách thì chỉ có một người cảm ơn tôi.

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.

Thời Pháp thuộc, không bao giờ nhân viên bưu chính ăn cắp đồ trong các bưu kiện. Thời Nguyễn văn Thiệu thỉnh thoảng có một vụ ăn cắp nhưng nhỏ thôi. Từ bốn năm nay ở khắp miền Nam, cứ 10 bưu kiện ở ngoại quốc gởi về thì có 6-7 bưu kiện bị ăn cắp hoặc đánh tráo vài ba món, thường là dược liệu và vải. Kêu nài thì nhân viên bưu chính bảo: “Không nhận thì thôi; có muốn khiếu nại thì cứ làm đơn đi”. Không ai buồn khiếu nại cả vì cả năm chưa có kết quả, mà nếu có thì số bồi thường không bõ. Cho nên chúng tha hồ ăn cắp, ăn cướp một cách trắng trợn. Trắng trợn nhất là chúng lấy trộm tất cả bưu kiện trong một kho, như ở Long xuyên năm 1981; nếu là kho lớn thì chúng đốt kho như ở Tân sơn nhất hai năm trước.

Nhơ nhớp nhất là vụ một cán bộ nọ vào hàng phó giám đốc, mưu mô với vợ, làm bộ tổ chức vượt biên cho vợ chồng con cái một đứa cháu ruột, bác sĩ ở Sài gòn, nhận mấy chục lượng vàng của cháu (và sáu chục lượng vàng của gia đình bên vợ đứa cháu đó nữa vì họ cũng muốn vượt biên), rồi lừa gạt người ta, tố cáo với công an bắt hết cả nhóm trên mười người khi họ ra Vũng tàu chờ ghe đưa ra khơi. Đa số cán bộ ở Nam đã tư bản hóa rồi, một xã hội chủ nghĩa xã hội mà như vậy thì chủ nghĩa đó chỉ còn cái tên thôi.

Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm vỉệc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó.

Nạn làm tiền, tống tiền lan tràn khắp các ngành, cả trong ngành cứu nhân độ thế và ngành tống táng. Để cho bác sĩ ngụy đủ sống mà khỏi vượt biên, chính phủ năm 1980 cho phép họ ngoài giờ làm việc được khám thêm bệnh ở nhà và định cho họ số tiền thù lao là 1 đồng ở Sài gòn, 0,8 đồng ở tỉnh (5). Nhưng ở Long xuyên bác sĩ nào cũng thu của bệnh nhân 10 đồng. Có kẻ ra một cái toa cần 9 thứ thuốc toàn thứ đắt tiền, trị đủ các bệnh: tim, phổi, gan, thận, bao tử… cho một bà lão suy nhược, rồi bảo lại mua của một tên buôn lậu đồng lõa với họ. Tính ra toa đó mua cho đủ thì mất cả triệu đồng cũ (2.000 đồng mới). Một số bác sĩ không làm tiền cách đó, không ra toa mà bắt bệnh nhân mỗi ngày lại để các ông ấy cho thuốc và chích cho, và phải trả các ông ấy từ 60 đồng đến 100 đồng mỗi lần. Năm 1981, tiền thù lao từ 10 đồng đã hạ xuống còn 5 đồng, có lẽ vì bác sĩ làm riêng khá đông, cạnh tranh nhau. Và tháng 7-1981 có lệnh không cho bác sĩ công làm tư tại nhà nữa, mà muốn làm tư thì lại dưỡng đường làm ngoài giờ làm việc. Chưa thấy ai theo.

Bệnh nhân lỡ mà chết thì bị hàng xăng tống tiền: quốc doanh định 45 đồng kể cả một bịch thuốc lá và 4 thước vải thô, nhưng tang gia phải trả 400 đồng thì xăng mới được ghép lại kĩ, khỏi trống hổng trống hoảng với 8 cây đinh đóng hờ. Rồi tới nhà đòn cũng đầu cơ: hạ huyệt xong, phủ qua một lớp đất cho bằng mặt, muốn có cái mồ cho ra mồ thì phải đưa thêm vài trăm đồng nữa. Nếu đem thiêu mà cứ nộp đúng lệ thì xương ống, xương hông bị ném riêng vào một chỗ, chứ không thiêu hết. Ai nỡ để cha mẹ mình què!

Tất cả chỉ tại cái lệ chính phủ định giá, định lương rẻ quá không cho dân đủ sống, dân phải xoay xở lấy, bóc lột lẫn nhau. Cổ kim chưa một xã hội nào phi lí như vậy. Vì biết mình phi lí nên có nơi chính quyền làm ngơ cho bác sĩ làm ăn, cho phép cả giáo viên ngụy dạy thêm tại nhà.

Nói cho ngay, thời nào trong xã hội cũng có một số người lương thiện. Và ông Phạm văn Đồng đã nhận rằng thời này hạng đó thiệt thòi nhất. Tôi được biết một hai cán bộ trung cấp liêm khiết, chịu nghèo, nuôi heo thêm, chứ không tham nhũng. Gia đình họ phải ăn rau muống; quần áo thì vá đụp, có thể nói họ nghèo như các nông dân nghèo nhất thời xưa.

Tóm lại sau 5 năm chúng ta không thấy chút tiến bộ nào cả mà chỉ thấy sự chia rẽ trong xã hội, sự tan rã trong gia đình, sự sa đọa của con người, sự suy sụp của kinh tế. Ông Hồ Chí Minh có lần nói: “Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa thì phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Con người vẫn là quan trọng hơn cả. Có chế độ tốt, chính sách tốt mà không có con người tốt thì cũng hỏng hết. Ai cũng phải nhận rằng tinh thần, tư cách đại đa số cán bộ càng ngày càng sa sút, hủ hóa mà xã hội chủ nghĩa mỗi ngày một lùi xa. Ông Hồ đã thấy trước cái mòi suy vi đó khi ông thốt ra lời trên chăng?

Người ta nhận định sai về tình trạng miền Nam. Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ: nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kĩ thuật, nghệ thuật, văn hóa; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc…; cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ, ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm chứ đừng nói là người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên. Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là ngụy hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là ngụy với nhau mà!

Như vậy mà đưa cán bộ Bắc vào cai trị họ, dạy chính trị họ thì làm sao không thất bại? Bọn đó quê mùa, ngu dốt, nghèo khổ, vụng về, tự cao tự đại, bị người Nam khinh ra mặt, mỉa mai. Sau 5 năm, cả triệu cán bộ và thường dân Bắc vào Nam mà Bắc Nam miễn cưỡng sống với nhau, lơ là với nhau, Nam coi Bắc là bọn thực dân, tự coi mình là bị trị. Làm gì có sự hợp tác?


Hết trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

NGUYỄN HIẾN LÊ

Đợi Chờ Cơn Mưa - Đỗ Công Luậ̣n

Phiếm: Trai Bao Sài Gòn - Nguyễn Vĩnh Long Hồ

Hình minh họa 


Hắn là sinh viên tốt nghiệp đại học, thất nghiệp dài dài, bèn ra nghề chạy xe ôm gần cả năm nay để kiếm cơm sống qua ngày. Nhưng, so với những quái xế chuyên nghiệp tại thành Hồ, hắn còn kém họ xa lơ xa lắc về mặt kiến thức giang hồ mà họ tích lủy được ngoài đường phố; vì vậy, có những trường hợp cần thỏa mãn nhu cầu của khách, nhứt là những khách ở tỉnh khác lên Sài gòn, hắn đành chịu thua. Đôi khi hắn bị họ gọi ngược lại là “quái xế Hai Lúa” thế mới đau chớ! Hãy nghe hắn tâm sự về nghề lái xe ôm.

Lái xe ôm là một nghề kiếm sống thật đơn giản, đổ mồ hôi để đổi lấy bát cơm manh áo, sống một cách lương thiện. Xe ôm phân chia ra làm 4 giai cấp:

CÁ TRA: Những người lái xe ôm được rước khách ngay tại các bến xe trong xa cảng miền Đông hoặc miền Tây, lực lượng nầy mặc đồng phục, áo thun màu xanh hoặc màu vàng, có ghi ký hiệu đàng hoàng. Thí dụ tại bến xe Miền Đông: “Tài đêm BXMĐ P…QBT” thu nhập của họ rất cao và chịu sự quản lý chặc chẽ của đội bảo vệ xa cảng. Tập trung trước cổng số 2 là đội xe ôm “cá tra””.

CÁ CHỐT: Chỉ được phép đón khách ở ngoài cổng xa cảng.

CÁ LÒNG TONG: Là lái xe ôm hạng hành nghề tự do, chạy rong ngoài đường phố để bắt khách, nên thu nhập rất thấp. Sau khi trừ tiền xăng nhớt cho chiếc xe Suzuki cà tàng, cũng còn 5, 6 chục ngàn đủ tiền cơm, cà phê, thuốc lá cho một ngày.

HOÀNG GIA: Còn đội siêu xe ôm “hoàng gia””, họ ăn mặc rất lịch lãm, comlpe, cà vạt hẳn hoi, chơi toàn xe xịn đời mới như Honda, Dylan, Yamaha, Suzuki Avenis… chuyên phục vụ khách đưa đón tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Còn tôi thuộc loại “cá lòng tong”, chuyên chạy rong ngoài đường phố bắt khách tự do nên biết rất nhiều chuyện vừa mới xảy ra trong thành phố Sàigòn, như chuyện buồn cười mới xảy ra ngoài hôm qua. Vào khoảng 10 giờ sáng, tôi đang xách xe không, chạy cầu âu trên đường Cách Mạng Tháng Tám gần miệt Ngã Tư Bảy Hiền thì gặp một thiếu phụ sồn sồn, béo tròn, vẫy tay gọi, nhờ tôi chở đi tìm mua “bánh mì”. Tưởng thật, tôi mời bà ta lên xe, chạy một lèo ra Chợ Cũ Sài Gòn, vì bánh mì ở đây thơm ngon nổi tiếng nhất thành đô. Đến nơi, tôi mời bà ta xuống xe thì bà ta cười, nói: Chị muốn đi tìm “bánh mì”, nhưng không phải bánh mì loại nầy, vừa nói bàn tay phải của bà ta di động mất trật tự xuống “vùng cấm địa” của tôi rồi nói. “Chị muốn mua bánh mì loại nầy thôi hà!”

À, thì bây giờ tôi mới hiểu bà nầy thuộc loại bà già ham vui, tiếng lóng “bánh mì” là ám chỉ mại dâm nam; còn “bành bèo” ám chỉ mại dâm nữ. Tiếng lóng nầy xưa rồi, ít ai dùng tới. Tiếng lóng bây giờ, giới giang hồ dùng từ hiện đại hơn nhiều, bọn “mãi dâm nam” thì họ gọi là “heo nọc””.

Heo nọc được chia ra làm ba hạng: “heo độc”, “heo bầy” và cuối cùng là “heo 4 Đ”. Đây là một tệ nạn xã hội nhức nhối trong thời buổi “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”. Món ăn chơi gì mà cánh đàn ông hưởng thụ được thì đàn bà cũng đâu có chịu thua kém. Cụm từ “bán trôn nuôi miệng” dành cho giới chị em ta, còn bọn mãi dâm nam bán cái gì nuôi miệng đây? Nghĩ hoài mà không ra, chẳng lẽ dùng từ “bán … nuôi miệng” ? Mà “heo độc” khác với “heo bầy” và “heo 4 Đ” như thế nào? Khách mua dâm, đa số là mấy bà sồn sồn tuổi từ 50 trở lên, phần đông từ miền Tây lên Sài Gòn buôn bán chuyến, xa gia đình đi mua vui. Giới giang hồ đánh giá và phân loại bọn mãi dâm nam như sau:

HEO ĐỘC là heo đực giống thượng thặng, hoạt động độc lập, rất đắc giá, thường là các mệnh phụ phu nhân của “cán bộ gộc”, vợ các đại gia hoặc những tên tư bản đỏ mới dám đụng tới. Họ là những thanh niên khỏe mạnh, vai u, thịt bắp luôn luôn khoát lên mình bộ vó sang trọng, đắc tiền như: quần soóc, áo thun Adidas, giày Nike, đồng hồ Omega hay Rolex và cái điện thoại I Phone di động đời mới luôn luôn kè bên mình…. Bãi đáp thường trực của họ là mấy quán cà phê nằm trên đường Phạm Ngọc Thạch, quận 3. Có vào thử nơi nầy mới biết hư thực ra sao.

Không phải những “heo độc” là những chàng vai thịt bắp đâu nghen! Nhưng, đấy không phải là tiêu chuẩn cần thiết. Ngược lại, có những chàng đẹp trai, dáng người mảnh khảnh thư sinh như Alain Delon, cái tướng trói gà không chặc, cũng đắc khách như thường. Khi khách làng chơi là phụ nữ có tâm hồn lãng mạng, rất thích hạng người nầy để nhớ lại cái phút ban đầu lưu luyến ấy…Còn những mệnh phụ có máu Võ Tắc Thiên hay Từ Hy Thái Hậu thì khoái mấy anh chàng vai u thịt bắp như võ sĩ đô vật bên Mỹ. Khi khách hàng có nhu cầu cần thiết là liên lạc với nhau bằng điện thoại di động. Giá mỗi lần “xuất chuồng” đi nhảy sô có thể lên đến 4, 5 vé (400, 500 USD), bèo lắm thì cũng được 1 hoặc 2 vé.

HEO BẦY là những mãi dâm nam hoạt động trong đường dây, có tổ chức hẳn hòi. Theo sự đánh giá trong giới làng chơi phụ nữ thì “heo bầy” không thể nào so bì được với “heo độc” về hình thức bên ngoài cũng như mức thu nhập. Giá mỗi lần đi sô chỉ thu nhập được từ 6 xị (600.000 đồng) hoặc 1 chai (1 triệu). Hiện nay, “heo bầy” thường tập trung tại nhiều tại các công viên nằm ở trung tâm thành phố, các quán trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm quận 1. Điều kiện heo nào muốn nhập bầy cũng dễ dàng thôi: phải chịu khoảng chi phí bắt buộc 20% trên “tổng doanh thu” cho “tú ông”, số điện thoại di động, và hai tấm ảnh 10 X 15 cm để làm catelogue có đánh mã số đàng hoàng. Có 3 loại mã số: Mã số đỏ là dạng “xông khói” (trẻ khỏe mạnh). Mã số xanh là “loại nướng” (phải sử dụng thuốc kích thích). Mã số vàng là “luộc” (cho mấy bà có thu nhập ít xài đở).

HEO 4 Đ là “điếm đực đứng đường”. Bãi đáp thường xuyên từ góc đường Lê Thánh Tôn – Nguyễn Bỉnh Khiêm đến trước cửa Thảo Cầm Viên là “chợ tình” của họ. Hãy nghe một đoạn băng ghi âm tiếp thị của bọn ma cô là đủ thất kinh hồn vía: “Xin bảo đảm với quý bà, quý cô là hàng đúng tiêu chuẩn quốc tế không sida, sẵn sàng phục từ A đến Z, không hài lòng không lấy tiền. Tụi nầy là con nhà đàng hoàng đấy, vì ham vui nên ra đây chơi. Dùng thử một lần thì biết đá, biết vàng…” Bọn ma cô rao hàng theo kiểu “treo đầu heo bán thịt chó”, bọn 4 Đ nầy là loại vào tù ra khám như ăn cơm bữa, chớ con nhà đàng hoàng cái nổi gì chớ!

Hồi tháng trước, tôi đến “chợ tình” trước cửa Thảo Cầm Viên để chứng kiến hoạt cảnh buôn bán thân xác của bọn 4 Đ. Không phải bà nào bà nấy da mặt dầy hơn gót chân đâu nghen. Bọn đàn ông đi tìm hoa tương đối dễ dàng khi chọn bãi đáp. Nhưng cánh mấy bà đều phải tuyệt đối kín đáo vì việc mua dâm của họ là chuyện làm khó có thể chấp nhận, vì thế họ phải theo một quy trình khép kín. Đã vậy mà quý bà còn phải hóa trang bằng cách đeo những mặt nạ, đeo kính đen như điệp viên 007, khẩu trang… cho chắc ăn, rồi đi taxi đến chợ tình tha hồ chọn hàng vừa ý.

Đêm đó, tôi quan sát một chiếc xe taxi màu xanh, chạy chầm chậm trước Thảo Cầm Viên để tìm “bò lạc”, ngồi trong xe là một người đàn bà đội nón rộng vành màu đen, kéo xệ xuống che gần hết khuôn mặt. Liền theo đó, một chiếc Honda màu đỏ phân khối lớn chở một thanh niên ngồi phía sau, ăn mặc bảnh bao, tướng tá không tệ lắm. Bà ta quay cửa xe taxi xuống để quan sát mặc hàng cho chính xác. Tôi liền bám sát phía sau chiếc Honda, nghe bà ta hỏi:

-Bảo đảm hàng không có bệnh “sida” chớ?

Tên lái Honda, tôi đoán không lầm là “tú ông” nói:

-Bảo đảm với chị là hàng sạch!

-Giá phục vụ over night mấy xị? Bà ta hỏi.

Hắn trả lời:

-Giá gì bèo thế? Cho xin một chai mới đủ sở hụi!”

Bà ta nói:

-Được, chất hàng lên xe taxi đi! Nếu phục vụ đúng mức, chị “bo” thêm để bồi dưỡng. Còn làng chàng là chị Hai “thiến” đó nghe!”

Thường la cà khu vực nầy, còn có mấy tên “gay” tới lui để bày hàng. Dưới chân cầu Đồng Nai thuộc quận 9 thành Hồ, có một tiệm chụp hình thời trang, mấy bà mệnh phụ phu nhân thường tới lui khu vực nầy để tìm “hàng son”, chọn mặt đặt hàng, có khi phải order mất mấy ngày mới có đấy nhá!

Trong cái thế giới mãi dâm nam ở thành Hồ cũng có quy luật riêng của nó, đôi khi cũng rất tàn nhẫn. Những chàng trai khỏe mạnh bán cái “vốn trời cho” không phải là sức voi hoài đâu, xài hoài cũng cạn kiệt. Đó là những bọn “cave nam” mà khách hàng của họ là những dân đồng tính nước ngoài giàu có như doanh gia, nghệ sĩ…Ngoài cái khoảng tiền đi khách phải chia cho chủ khách sạn 50% (ngoài trừ tiền bo), cave nam còn dành một khoảng tiền không nhỏ để tái tạo lại sức lao động, mới đủ sức trường kỳ kháng chiến. Ngoài dân đồng tính, các bà sồn sồn từ 40 đến 50 tuổi cùng thường tới lui vũ trường để tìm bướm.

Hoàng Lao Ái, một tên cave nam chuyên nghiệp, thuộc dạng “heo độc”, tâm sự:

-Làm cái nghề nầy cũng cay nghiệt lắm, khi mà sức tàn lực kiệt sẽ bị đào thải ra đứng đường không thương tiếc! Hắn than thở: Mỗi ngày phải “nhảy dù” 5, 7 sô với mấy bà sồn sồn thì chỉ có nước từ hết xí quách đến…liệt như chơi! Gặp nhiều bà chằng xấu như Chung Vô Diệm, cũng phải ráng nín thở qua sông.

Hắn còn cho biết, khu vực quanh Nhà máy Bia Sài Gòn, nhất là đường Nguyễn Kim và Lý Thường Kiệt thuộc quận 5 và 10 là nơi làm ăn của giới nầy và tương lai của hắn cũng sẽ ra đó kiếm sống.

Hiện tượng mãi dâm nam hay trai đứng đường có khuynh hướng phát triển “đại trà” ở cấp quốc gia, báo động về sự suy đồi đạo đức tột cùng của chế độ XHCN hiện nay. Nguyên nhân đưa đến tệ đoan xã hội nầy là do các phu nhân, mệnh phụ sồn sồn, đẻ năm sáu lứa hay đào nhí của cán bộ CS có chức, có quyền hoặc mấy đại gia, tư bản đỏ giàu có. Khi mà tài sản của họ lên đến hàng trăm triệu USD thì giàu đổi bạn, sang đổi vợ là chuyện thường tình, mà trâu già lại thích gặm cỏ non. Quý ngài thay đào nhí, người mẫu thời trang chân dài như thay áo, viện cớ đi họp Đảng vắng nhà thường xuyên, đến mức các bà chịu hết nổi phải “vùng lên” đấu tranh, ông ăn chả thì bà phải ăn nem. Đời là thế đấy!

Xin hãy lắng nghe tâm sự của một chàng “heo độc” trước khi chấm dứt phóng sự nầy:

“Tôi nhờ cái mã trời cho đẹp trai, nhờ vậy mà tôi trở thành “trai bao” cho một số mệnh phụ phu nhân. Tôi sợ nhất là khi phục vụ cho mấy bà vợ sồn sồn của quí vị lãnh đạo cơ quan nhà nước hoặc các đại gia uy quyền thuộc loại “3G”, mà quí bạn có biết 3G là gì không? Đó là loại “gộc, già, giàu”. Mấy mụ nầy chuyên ăn no rửng mỡ, sung sức quá mạng. Có một lần, tôi được gọi phục vụ cho một bà sồn sồn, vợ của một đại gia khét tiếng ở Sài Gòn. Hôm đó, tôi chẳng may “khóc ngoài quan ải”, làm bà ta nỗi trận lôi đình, hét tướng lên: “Tao trả tiền bo đẹp cho mầy là để mầy làm cho tao sướng, chớ đâu phải tao làm cho mầy…sướng đâu hả? Đồ mắc dịch! Trả tiền bo lại cho tao!”

Mắng xong, tiện tay bà ta vói tay lấy chiếc giày cao gót, nện vào đầu tôi mấy quả đến phun máu… Làm đời trai bao, không phải lúc nào cũng được quý bà cưng chiều đâu nghen bà con. Mình mà “hộc máu trước cửa thành” thì dễ bị mấy bả nổi điên lên, giở trò bạo lực, nắm tóc, giựt chỏ, lên gối… sau cùng nện cho một trận, quần áo tơi tả, phù mỏ như chơi…

oOo

Để tiết kiệm xăng dầu, hàng ngày tôi thường chạy xe Phố Tây Ba Lô, ghé một trong những quán cà phê, ngồi nhâm nhi ly cà phê đá chờ đón khách, bắt được mối nào thì chạy, còn hơn chạy rong suốt ngày ngoài đường phố, vừa tốn xăng dầu lại vừa mệt thân. Khu Tây Ba Lô là một khu vực được giới hạn bởi 4 con đường: Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Thái Học, Bùi Viện và Đỗ Quang Đẩu thuộc quận 1 Sàigòn với hàng trăm điểm dịch vụ du lịch thường mang tiếng Anh ngồ ngộ như: Go 2 eat, Bodhi Tree, Zen, Shunshine Indian, Sahara Music, Good Morning Vietnam, Cyclo bar, Gun & Roses Bar…

Phố Tây Ba Lô được xem là hình thành vào khoảng năm 1986, khi có một vài nhóm du khách Pháp, Nhật, Mỹ, Pháp tình cờ tập trung về trú gụ tại nơi nầy. Lý do họ tập trung về nơi nầy vì gần chợ Bến Thành, lại ở trung tâm thành phố nên tiện việc đi lại dễ dàng. Tới năm 1993, khi khu Phạm Ngũ lão được nhắc đến trong tập sách du lịch “Lonely Planet”, nhiều nhóm di lịch “BỤI” đến từ Nhật, Pháp, Úc, Anh và đông nhất là dân đến từ Phi Châu… đã đưa họ vào điểm hẹn khi đến Sàigòn. Những khách du lịch nầy đeo ba lô hành lý gọn nhẹ trên lưng đi lòng vòng tìm chỗ nghỉ ngơi, ăn uống vừa túi tiền, thấy vậy người dân ở đây bèn gọi họ là “Tây Ba Lô”.

Từ đó đến nay, khu phố Tây Ba Lô đã phát triển rầm rộ, nhất là các dịch vụ khách sạn, quán ăn cửa hàng để phục vụ cho họ từ sáng sớm đến nửa đêm. Ở khu phố nầy có hàng chục chiếc xe hơi mang dòng chữ “Open tour” tấp nập đón khách đi, thả khách xuống. Những chuyến xe nầy không chỉ chạy trong thành phố mà còn bao cả các tuyến đường đi Củ Chi, Tây Ninh, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Vũng Tàu, Nha Trang…

Theo UBND phường Phạm Ngũ Lão, riêng tại khu vực nầy có khoảng 250 cơ sỡ lưu trú như khách sạn, phòng cho thuê, có khoảng 70 công ty du lịch và hơn 300 cơ sở dịch vụ phụ trợ khác như: cửa hàng ăn uống, quán bar, cà phê, karaoke, của hàng Internet, băng dĩa, cửa hàng bán đồ lưu niệm. Phần lớn người dân ở đây đều nói được tiếng Anh. Đặc biệt đối với khách du lịch “Bụi” không khá giả, đi lẻ và chi tiêu rất tiết kiệm nên khu phố nầy đã có đủ loại dịch vụ giá hạ, từ ăn uống, cắt tóc, cho thuê xe 2 bánh, quán nhậu bình dân, quán bar giá rất hạ. Mỗi ngày tại Khu phố Tây Ba Lô có từ 3.000 đến 4.000 khách quốc tế đến và đi, họ ăn mặc rất thoải mái, quần short, áo thun, đi giày thể thao hoặc dép Nhật. Sàigòn còn có khu vực phường Bến Nghé. Ở khu phòng Bến Nghé tập trung những khách sạn 5 sao, quán cà phê lớn và sang trọng. Nơi đây dành cho Tây giàu hay Tây thương gia làm trong những cao ốc sang trọng. Vào một buổi xế chiều, tôi đang ngồi ở quán Sinh Cafe chờ khách thì tôi bất ngờ gặp lại Hoàng Lao Ái đi lang thang trên đường. Tôi mừng quá gọi:

-Ê, anh Hoàng Lao Ái vô đây uống càfe!

Anh ta nghe tôi gọi, giật mình ngó dáo dác xem ai gọi. Thấy tôi đang ngồi nhâm nhi bên ly cafe đá trong quán, hắn vội vàng bước vào, chào tôi:

-Chú mầy đang làm gì ở khu Tây Ba Lô nầy?

-Chạy xe ôm mà, anh quên rồi sao? Chạy vòng vo ngoài đường phố hoài vừa mệt, vừa hao xăng. Vô đây kiếm khách, chờ gần một tiếng đồng hồ mà chưa thấy thằng Tây Ba Lô nào đi lạc cả. Còn anh đi đâu lang thang ở đây?

-Tao vô đây cũng kiếm khách sộp, tao đi hồi sáng tới giờ mà chẳng được mối nào để phục vụ. Mấy con mụ trước đây lần lượt bỏ tao đi theo trai Tây Đen. Dạo nầy mốt của mấy bà vợ đại gia, vợ cán bộ lãnh đạo “ghiền” chơi với Tây Đen. Mấy mụ nầy quan niệm: “Tắt đèn nhà ngói cũng như nhà tranh”, miễn sao nó làm cho mấy bả phê là được rồi! Hoàng Lao Aùi than đứt ruột: Nghề làm “trai bao” giờ cũng cạnh tranh khốc liệt để sinh tồn, tụi tao khó lòng mà cạnh tranh cho lại mấy thằng Tây Đen, “của trời cho” của mấy thằng Tây Đen, thằng nào cũng “quá cở thợ mộc” thấy mà ớn xương sống!

-Anh uống gì, tôi đãi.

Hắn gọi người phục vụ:

-Cho tôi ly café đá cho ít đường thôi nghe!

-Tụi Tây Đen ở nước nào mà qua xứ mình đông quá vậy anh? Tôi hỏi.

-Theo ghi nhận của quý bà nghiện trai Tây Đen, sành của ngoại cho biết, tụi nó thường là những gã thanh niên thất nghiệp ở đất nước họ, đến Việt Nam theo con đường du lịch. Nhưng sau đó họ họ tìm cách ở lại, bám trụ khu Tây Ba Lô, hành nghề “trai bao” chuyên phục quý bà ăn no rửng mỡ, bán “của trời cho” để nuôi thân, ăn no bò cỡi lại có thu nhập cao và đôi khi bao cả những cô vợ hờ “chân dài” của những cán bộ cao cấp “3G” hoặc các đại gia.

-Đúng là của lạ xuyên quốc gia, quý bà có cơ hội đổi món ăn chơi vừa sướng mà giá cả cũng phải chăng, đúng không? Tôi hỏi.

-Đúng vậy! Đa số những khách “du lịch” Tây Đen thường từ các nước nghèo ở châu Phi như Ma rốc, Alger, Nam Phi, Bờ Biển Ngà… thất nghiệp dài dài. Sau đó, nhờ những người đi trước hướng dẫn bằng internet, video… nên họ ồ ạt tìm mọi cách du lịch sang Việt Nam hành nghề “trai bao”, vì đàn bà Việt Nam đẹp hơn đàn bà bản xứ rất nhiều. Thường những trai bao Tây Đen là những người nhập cư trên một năm, nói tiếng Việt khá sành sỏi và biết mọi ngóc ngách của Sàigòn. Các đối tượng nầy thường ngày rong ruổi khắp nơi, kiếm quý bà, quý cô để phục vụ kiếm thu nhập. Tối về ở các quán bar, nhậu nhẹt, hút ma túy. Ngày nào cũng như ngày nấy thì cũng có ngày cũng cạn kiệt xí quách…

-Đến lúc đó thì họ làm gì để sinh sống?

-Về sau, khi hết tiền hoặc “hết xí quách”, họ kiếm các nhà trọ rẻ hơn và có khi phải nằm ngủ ngoài công viên, cuối cùng là trở về nước của họ, Hoàng Lao Ái hỏi tôi: Tối nay, mầy có muốn theo tao xem sinh hoạt của khu Tây Ba Lô về đêm không?

-Ờ, đi thì đi! Sợ gì mà không dám đi chớ!

Chờ khi màn đêm buông xuống, khu vực nầy lên đèn là chúng tôi lên đường. Thường các “trai bao” Tây Đen tụ tập thành từng nhóm đứng ngồi trong công viên 23/9 hoặc đường Phạm Ngũ Lão, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Nghĩa… trên địa bàn Quận 1, vì khu vực nầy thường là tập trung giới thượng lưu hoặc trung lưu, có tiền dư bạc để.

Khoảng 8 giờ tối, tôi đã thấy những gã “trai bao” Tây Đen ăn mặc chải chuốt xuất hiện, đi trên những chiếc xe tay ga lượn lờ hoặc đứng ngồi chờ khách. Thiên hạ cứ tưởng trai bao chỉ cần đứng đó chờ khách đến ngã giá, kiếm nhà nghỉ thế là xong. Nhưng, Hoàng Lao Ái tìm hiểu qua các tay cò mồi thì mọi việc không hề đơn giản như vậy; đôi khi rất phức tạp tùy theo từng đối tượng mà họ phải phục vụ. Thậm chí, trong giới “trai bao” Tây Đen có cả một đường dây môi giới, và dĩ nhiên, người đứng đầu tổ chức môi giới “trai bao” Tây Đen nầy là người Việt Nam, phần đông xuất thân của họ là dân giang hồ, đâm thuê chém mướn.

Nếu khách hàng cho biết dịch vụ cần kín đáo thì người môi giới làm theo yêu cầu của khách đã chọn bãi đáp trước và theo giá cả đã thỏa thuận như: tiền phòng khách hàng chịu chi và chia cho cò 30%. Thường mỗi cuốc là từ 7 – 800 ngàn đồng tiền thuê, phi vụ nguyên đêm khoảng 2 triệu, nếu quý bà hài lòng thì “bo” thêm. Khách làng chơi có hai hạng:

“”MỐI RUỘT” đa số là những bà đã bỏ chồng hoặc góa chồng hay thuộc dạng trả thù đời, vùng lên “ông ăn chả, bà ăn nem”. Họ thường xuyên tới đây tìm trai bao khi có nhu cầu mà không ngại ngùng. Còn hạng thứ hai là “MỐI QUA ĐƯỜNG” là những bà mệnh phụ, phu nhân của các đại gia, cán bộ cao cấp gộc, giàu và già gần hết xí quách, không thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi của quý bà lúc lên… giường nên thích đi tìm của lạ “xuyên quốc gia”, xong qua một đêm bay bổng, các bà ít khi quay lại chốn xưa…

Làm trai bao vừa có tiền vừa sướng, họ trở thành cái cối “làm tình” cốt thỏa mãn cho đối tượng là có thêm tiền “bo” bỏ túi. Như chàng trai tên Abu gốc Nam Phi, thân người khá cao lớn, sang Việt Nam gần 3 năm rồi. Ở Nam Phi, Abu chỉ là người chào hàng, nhưng khi nghe mấy người cùng quê giới thiệu đi du lịch Việt Nam rẻ, nhiều phong cảnh đẹp nên Abu lên đường cùng nhóm bạn bè sang Việt Nam một chuyến. Sau khi sang Việt Nam được hơn tháng thì Abu cạn tiền, định trở về nước.


Nhưng, khi thấy những người cùng màu da với mình vẫn sống phây phây với nghề “trai bao” nên Abu xin theo học nghề …mỗi đêm thu nhập vài triệu bạc tha hồ ăn chơi trác táng. Abu cho biết, đối tượng của mình phần lớn là quí bà khoảng U40 mà vẫn còn khát tình. Abu bỏ ý định về nước và nghề trai bao vì nghề nầy vừa dễ dàng, vừa nhẹ nhàng, vừa sướng và vừa có thu nhập cao, mỗi tháng rủng rỉnh bỏ túi khoảng 5 chục triệu đồng sau khi trừ hết mọi chi phí.

Hoàng Lao Ái dẫn tôi đến một quán bar trên đường Đỗ Quang Đẩu thuộc quận 1, là một trong các tuyến đường thuộc khu phố Tây tại Sàigòn, nơi tập trung nhiều quán bar nhỏ mang tên ngoại: R. café,J. Star café… chúng tôi choáng ngộp với những màn ăn chơi về đêm của giới nầy, nơi tụ tập để nhảy thoát y táo bạo, dùng cả thuốc lắc, ma túy, rượu mạnh đủ loại. Hoàng Lao Ái thấy thấp thoáng một bóng hồng quen quen, liền dẫn tôi tới gạ chuyện:

-Hello, Loan lâu ngày không gặp! Bà lượn lờ tới những quán Bar nầy làm gì vậy?

-Biết rồi còn phải hỏi làm chi vậy, cha nội! Tui đang kiếm bắt bồ với khách du lịch nước ngoài. Hy vọng câu trúng một thằng “Tây trắng” nào đó, rồi giục nó mau chóng làm giấy đăng ký kết hôn để được bảo lãnh qua bển. Còn không, nó cũng giúp mình đi theo dạng du lịch mà hễ đi qua bển được thì mình kiếm cách ở lại. Thông thường mấy thằng Tây Ba Lô sang đây vốn lạ nước lạ cái, nếu được cô gái Việt Nam chủ động đến bắt bồ, đa số họ đều nổ banh nhà lồng chợ. Ở bên Mỹ làm bồi bàn nhưng sang tới đây thì khoe là Giám đốc nhà hàng. Còn mấy thằng làm công nhân xây dựng thì khoe là Kiến trúc sư. Xạo bỏ mẹ!

Loan móc một gói lá 3 số trong bóp ra, mời Hoàng Lao Ái và tôi mỗi người một điếu, rồi bật quẹt lửa đốt, phì phà một vài hơi, nói tiếp:

-Chị Oanh, chủ một cửa hàng trên đường Phạm Ngũ Lão nói rằng, hồi trước nhà ai có con gái cặp bồ hoặc có chồng Mỹ, thì họ gọi mỉa mai là “Me Mỹ”, đi ra đường mắc cở với thiên hạ, chẳng dám nhìn mặt hàng xóm. Bây giờ thì khác xưa khi thế giới hội nhập, kinh tế thị trường, chuyện yêu đương với nước ngoài là chuyện bình thường; thậm chí, có lắm cô còn hãnh diện cặp bồ với một ông Tây đáng tuổi bố mình đi tung tăng ngoài phố.

-Bà có mặc cảm với xã hội khi bà lấy chồng Tây không? Hoàng Lao Ái hỏi.

-Mặc cảm gì cha nội! Tôi mà cặp bồ được với ông Mỹ già là phước đức ba đời rồi, vẫn còn hơn mấy cô muốn lấy chồng Hàn, Đài Loan, Singapore được mối lái tập trung tại một điểm bí mật nào đó, phải cởi truồng 100% cho tụi nó sờ ngực, sờ mông …để chọn vợ. Tính đến cuối năm 2013, anh có biết bao nhiêu cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan và Hàn Quốc không? Loan hỏi.

-Làm sao tôi biết được chớ! Hoàng Lao Ái nói.

-Vậy mới nói, anh chỉ biết phục vụ mấy bà chân dài, vợ nhí của mấy đại gia và tụi cán bộ “3G”, ngoài ra anh có biết con mẹ gì đâu! Loan nói: Đã có trên 120.000 phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan và khoảng 40.000 lấy chồng Hàn Quốc thông qua hoạt động môi giới bất hợp pháp. Điều nầy khiến hàng vạn phụ nữ sau khi kết hôn theo chồng về Đài Loan và Hàn Quốc đa số lâm vào cảnh sống vô cùng khó khăn, bị ngược đãi, bị buôn bán với mục đích mại dâm, bị chồng đánh đập tàn nhẫn dẫn đến thương tật suốt đời hoặc tử vong; thậm chí, những phụ nữ còn khỏe mạnh thì bị chồng đem bán cho các “lò mỗ người” để lấy nội tạng đem bán cho những ai có nhu cầu với giá cao; thỉnh thoảng, người ta phát hiện những xác chết mất hết nội tạng của thiếu nữ Việt Nam xấu số bị vất dưới chân núi hoặc trong rừng để phi tang.

-Thôi, bây giờ chúng tôi còn đi tham quan vài nơi khác, Hoàng Lao Ái nói: Tôi chúc bà gặp nhiều may mắn lấy được một ông Tây trắng như mong ước để đổi đời với thiên hạ.

Sau đó Hoàng Lao Ái dẫn tôi tham quan một vài địa điểm ăn chơi thác loạn của quý bà sồn sồn ăn mặc diêm dùa, lòe loẹt đi săn tìm mấy “phi công Tây Đen” vừa trẻ, vừa khỏe, vừa kinh nghiệm sẵn sàng phục vụ quý bà thừa tiền, thiếu tình từ A tới Z. Vì vậy, xu hướng đàn bà Việt Nam mê mệt trai bao Tây Đen ngày càng gia tăng nhanh chóng. Mấy bà quan niệm: “Tắt đèn nhà ngói cũng như nhà tranh” cũng đúng thôi!

Nếu như Đảng và Nhà nước ta không có biện pháp kiểm soát chặt chẽ thành phần dân Tây Đen cư ngụ bất hợp pháp tại Sàigòn thì có ngày phu nhân và con gái của các ngài lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta cũng “ghiền” trai bao Tây Đen mà quý vị không hề hay biết… cho đến khi phu nhân và các tiểu thư mang bầu rồi sanh cho quý vị một hoàng tử hoặc một thằng cháu ngoại “ĐEN THUI” như cục than hầm, đến lúc quý vị mới tá hỏa tam tinh thì đã muộn….


NGUYỄN VĨNH LONG HỒ

https://baovecovang2012.wordpress.com/2014/10/10/phiem-trai-bao-sai-gon-nguyen-vinh-long-ho/