Monday, October 30, 2023

Cảnh Trần Thanh Tịnh - Minh Lương

Do Thái Và Palestine


Mỗi khi có biến động hay chiến tranh xảy ra trên thế giới, không chỉ riêng người Việt Nam, mà quốc gia nào cũng có người theo phe này, người khác bênh phe kia. Cho dù bạn ủng hộ bên nào, sao không tìm hiểu tí xíu về Israel và Palestine?


Ai cũng biết là người Do Thái (Israel) và người Palestine là cùng một thủy tổ, cùng nguồn gốc, chỉ khác biệt về tôn giáo. Do Thái Giáo ra đời trước, và 300 năm sau Hồi Giáo mới ra đời, cũng trên cùng một mảnh đất thánh Jerusalem. Do Thái giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo là 3 tôn giáo khác nhau cùng trên một mảnh đất và cùng một dân tộc, chỉ là ai tin thần thánh nào thì theo đạo đó. Nhưng hãy cứ quên đi kinh Thánh và chuyện 3000 năm trước ở Jerusalem, vì chẳng có ai còn sống đến giờ để xác minh sự thật.

Ở các quốc gia phương Tây và cả phương Đông, tự do tôn giáo là hầu hết, các đạo khác nhau đều chung sống hòa bình. Ví dụ ở Việt Nam, Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo hay Hồi Giáo đều chung sống yên lành, tự do tín ngưỡng mà, ai thấy đạo nào đúng thì theo, không thì thờ ông bà thôi cũng được. Cứ làm công dân tốt, đi làm đóng thuế cho chính phủ là xong, khi rảnh thì cứ việc đến nhà thờ hay chùa chiền tha hồ thờ phượng cúng vái theo ý mình.

Nhưng ở một số điểm nóng như Trung Đông và Phi Châu thì không phải vậy. Nơi nào có đa số người dân theo Hồi Giáo thì khó chấp nhận các tôn giáo khác chung sống thanh bình. Vậy nên ở các quốc gia mà Hồi Giáo là quốc giáo, thì các nhà thờ Ki Tô giáo hay bị đặt bom hay xả súng tàn sát bởi người Hồi Giáo. Ví dụ như ở Afghanistan, khi người Hồi Giáo Taliban chiếm được quốc gia, họ đặt bom phá hủy nhà thờ Thiên Chúa Giáo hay phá hủy tượng Phật nghìn năm là di tích lịch sử tài sản quý báu của quốc gia là chuyện thường tình.

Bạn lên youtube gõ tìm, sẽ thấy nhiều video clip quay cảnh người Hồi Giáo ở Phi Châu bắt những người theo Thiên Chúa Giáo trong làng đánh đập rồi chất củi xung quanh thiêu sống rất dã man, còn người Hồi Giáo Phi Châu thì đứng xung quanh vỗ tay reo cười.

Người Hồi Giáo cuồng tín không chấp chận bất cứ ai theo tôn giáo khác chung sống với họ, kể cả những người họ cho là "vô thần" như trong trường hợp của ông Bùi Giang Tô, 48 tuổi, Tham Tán Đại Sứ Quán Việt Nam ở Algeria bị bọn khủng bố Hồi Giáo bắn vào đầu rồi ném thi thể ông xuống đường băng sau khi kiểm tra hộ chiếu của ông lúc bọn chúng cướp phi cơ hãng Air France số hiệu 8969 ngày 24/12/1994 ở phi trường Houari Boumedienne tại thủ đô Algiers.

Ngay cả người Hồi Giáo với nhau cũng giết nhau rất tàn bạo nếu khác hệ phái, họ đặt bom vào nhà thờ của nhau mỗi khi có tranh chấp. Con nhỏ Iman Naji, kỹ sư người Irag làm chung department với mình hồi trước kể: Hồi nó còn ở Irag, mỗi khi đi làm về nó cùng đám bạn đồng nghiệp rất sợ hãi mỗi khi có một nhóm vũ trang chận đường hỏi han, kiểm tra giấy tờ. Những nhóm vũ trang này không rõ lai lịch và không biết họ là người Hồi Giáo Shi'a hay Sunni. Nếu bạn là người Hồi Giáo Shi'a, mà bị nhóm vũ trang của Hồi Giáo Sunni chận lại thì có khi bạn sẽ bị lôi đi giết, chặt đầu vất xác ở nơi hoang vắng hay xó xỉnh nào đó và ngược lại. Vậy nên khi bị hỏi là người Hồi Giáo Shi'a hay là Sunni thì người bị hỏi (nhất là đàn ông) thường sợ xanh máu mặt không biết nên trả lời như thế nào. Vì lỡ mình là người Hồi Giáo Shi'a mà bị nhóm vũ trang Sunni chận lại mà nói mình là người Shi'a thì đi bán chuối chiên.

Trở lại Gaza, dải đất nhỏ mà Do Thái nếu muốn chiếm giữ thì họ đã làm từ nhiều năm về trước rồi. Nhưng tất nhiên Do Thái không dám vì thế giới sẽ nhìn họ như thế nào nếu chiếm luôn Gaza? Dải đất Gaza là do Hamas cai trị, nhưng dải đất này hoàn toàn phụ thuộc Do Thái vào năng lượng, kinh tế ... để tồn tại. Lương thực, điện nước của Gaza là do Do Thái cung cấp. Hàng trăm ngàn người Palestine ở Gaza được Do Thái cấp phép vào sinh sống và làm việc ở Do Thái mỗi năm ... Nếu Do Thái ngưng tất cả, dân Palestine ở Gaza sẽ tiêu đời.

Cuộc tấn công tàn bạo ngày 7/10/23 cho thấy rằng người Do Thái Giáo có thể sinh sống cùng người Hồi Giáo, nhưng người Hồi Giáo thì không, muôn vạn lần cũng không. Thay vì tập trung phát triển kinh tế (sẽ nhận được viện trợ của phương Tây) để lớn mạnh, tự lực tự cường thì Hamas chỉ lo nghe lời xúi giục của Iran và các thế lực ngoại bang để nhận vũ khí và tấn công Do Thái. Và lần này, rõ ràng Hamas đã cho Do Thái cơ hội ngàn năm một thuở để chiếm luôn Gaza nếu họ muốn.

Vùng Trung Đông không thể là nơi tự do tôn giáo, để người dân theo các tôn giáo khác nhau chung sống hòa bình như các nơi khác trên thế giới. Và vì vậy, tranh chấp giữa Do Thái và các quốc gia Hồi Giáo không bao giờ có hồi kết ...

Thằng Bờm

Thời Gian - Hàn Thiên Lương

Tuy Hòa Một Thời Gió Cát - Phạm Tín An Ninh


Tôi không phải là người Phú Yên, cũng chẳng có mối tình nào gởi lại Tuy Hòa, nhưng dường như cái xứ có núi Nhạn sông Đà thơ mộng ấy đã mãi vương vấn tâm hồn tôi, in đậm trong ký ức tôi những mối tình đẹp, thật dễ thương của đám bạn bè, đồng đội, cùng bao kỷ niệm vui buồn một thời trận mạc. Khi ấy bọn tôi còn rất trẻ, đa số vừa mới rời khỏi học đường vài ba năm để bước chân vào nơi gió cát.


Ngày mang “sự vụ lệnh” về trình diện đơn vị tại Ban Mê Thuột, tôi và bốn thằng bạn cùng khóa cứ ngỡ cuộc đời mình sẽ dính liền với rừng núi của xứ “bụi mù trời” và “buồn muôn thuở”, chỉ còn biết nằm nghe tiếng chim kêu vượn hú. Ai ngờ sau hai tuần lang thang quanh quẩn trong con phố buồn hiu, ngắm mấy cô gái Thượng mang gùi đi xuống đi lên trên con đường A Ma Trang Long bám đầy đất đỏ, bọn tôi được ông Trưởng phòng 1 lái xe đi tìm chở về Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, vội vàng lấy balô quân trang, rồi đưa thẳng ra phi trường Phụng Dực, tháp tùng phi cơ của ông tư lệnh, đại tá Lữ Lan, bay xuống đơn vị đang hành quân tại Khánh Hòa, ngay vùng biển quê hương tôi.

Đơn vị tôi lúc ấy, chắc cũng thuộc loại đánh đấm có hạng nên được chọn làm lực lượng lưu động trừ bị cho Quân Đoàn. Nay đây mai đó.Trước khi di chuyển đến đây, đã có mặt khắp nơi: từ Bình Tuy, Bình Thuận, Ninh Thuận, đến Lâm Đồng, Quảng Đức…

Khi đến đơn vị, tôi rất vui. Vì ngoại trừ ông tiểu đoàn trưởng, hầu hết tất cả sĩ quan trong đơn vị đều trẻ măng, độc thân vui tính, anh nào “đàn anh” nhất cũng chỉ vừa rời ghế nhà trường năm ba năm. Ba anh trung úy đại đội trưởng đều dạn dày lửa đạn. Một anh tốt nghiệp khóa 16 VB Đà Lạt, hai anh khóa 13 Thủ Đức, một gốc Huế một gốc Bắc Kỳ di cư. Nhưng anh nào cũng đánh đấm rất gan lì và vui vẻ chịu chơi. Tôi được bổ nhậm về đại đội của anh trung úy gốc Huế nhưng lại thân thiết với anh trung úy gốc Bắc Kỳ, vì ngoài các đức tính khác anh còn có nụ cười và ánh mắt dễ làm “chết người ta”. Không biết có bao nhiêu “hồn (đã) lỡ sa vào đôi mắt…anh” rồi, nhưng tôi là thằng lính ngang tàng mà cũng phải lụy anh trong cái tình huynh đệ. Sau này và cho mãi đến bây giờ, chúng tôi vẫn còn giữ cái tình “anh em tri kỷ” ấy. Đám trung đội trưởng tò te, ngoài tôi ra còn có bốn thằng cùng khóa 18 Thủ Đức với tôi, vài ba anh khóa 15, 17 và hai chàng khóa 19 VB Đà Lạt đầy phong độ, cũng vừa mới ra trường năm ba tháng trước. Tôi nhận trung đội với chỉ 25 thằng lính, nửa Kinh nửa Thượng. Ngay sau khi nhận trách nhiệm, công việc đầu tiên của tôi là dắt đám lính tráng vào QYV Nguyễn Huệ để dự đám tang, chào tiễn đưa ông Thượng sĩ già, trung đội trưởng tiền nhiệm ra nghĩa trang Đồng Đế. Ông vừa tử trận vài ngày trước đó trong một trận phản phục kích tại Tu Bông (Vạn Giã) và tôi đến trung đội để thay thế ông. Nhìn bà vợ và mấy đứa con của ông kêu gào, khóc la thảm thiết, tôi hình dung ra con đường thê lương trước mặt, và tự trấn an mình: mai này mình chết, may ra cũng không có tiếng quả phụ và trẻ thơ khóc lóc!


Thời ấy, nhờ ảnh hưởng kết quả của kế hoạch Ấp Chiến Lược còn sót lại, nên tình hình địch ở mọi nơi còn rất yếu, hầu hết là các lực lượng du kích và địa phương, nên bị tiểu đoàn chủ lực lưu động thiện chiến của tôi đánh cho tan tác. Do vậy chúng tôi đến đâu, cũng được các ông tỉnh trưởng đón tiếp nồng hậu. Sau hơn ba tháng theo đơn vị tiếp tục hành quân qua nhiều làng mạc, rừng núi và dẫm nát những mật khu Đồng Bò, Đá Bàn, Hòn Hèo của địch, đơn vị kéo về trú đóng trong một vườn dương bên bờ biển Nha Trang. Đám sĩ quan bọn tôi được ông tỉnh trưởng ưu ái dành cho bốn phòng trong khách sạn Phụng Hoàng, nằm trước ga xe lửa. Mệt và mất ngủ vì vừa trải qua cuộc phục kích đêm hôm trước, nên sau khi tắm rửa xong, tôi ngủ vùi một giấc. Thức dậy, nhìn ra ngoài, ánh đèn đường đã bắt đầu sáng. Mở ba lô tìm bộ quân phục mới để thay bộ quần áo trận còn dính đầy bùn lầy, cho hợp với khung cảnh phố phường. Dự định đi một vòng tìm lại những hang động tuổi thơ cùng dấu tích mấy mối tình học trò của vài năm trước, tôi bỗng nghe tiếng ông tiểu đoàn trưởng gọi tất cả bọn tôi lên xe trở về đơn vị, điểm danh sắp xếp lính tráng lên tàu Hải quân, đã ủi bãi ngay phía trước TTHL Hải Quân.


Ra khơi lúc 11 giờ đêm. Qua hơn một đêm lênh đênh trên biển, tàu cặp vào bến của Duyện Đoàn 24 HQ bên bờ biển Tuy Hòa. Trong số những người ra đón đơn vị chúng tôi, ngoài ông tỉnh trưởng- trung tá Trần Văn Hai, anh trung úy Duyên Đoàn Trưởng HQ, tôi còn bất ngờ nhận ra ông anh con bà cô, trung úy thuộc Tiểu Đoàn 23 BĐQ đang hành quân trú đóng ở đây. Từ khi anh vào quân đội, bao nhiêu năm anh em không gặp, bất ngờ lại nhận ra nhau ở một nơi xa lạ, vui mừng quá đỗi. Anh em vừa mới ôm nhau, hỏi han vài câu, thì đơn vị nhận lệnh lên xe di chuyển. Ông anh kéo tôi và mấy sĩ quan cùng đại đôi lên xe Jeep của anh chạy theo đơn vị. Về khu Nhà Bằng, vị trí đóng quân tạm, sắp xếp đơn vị xong, bọn tôi theo anh ra phố. “Moa đãi các toa một chầu để biết mặt Tuy Hòa – xứ nẫu”. Anh bảo thế trước khi lái xe đi.

Tôi bỗng giật mình khi nghe “xứ nẫu”. Cái tên “Nam Ngãi Bình Phú” và “Liên Khu Năm” vẫn còn hằn trong tâm trí tôi từ lúc mới lên năm, bởi cha tôi bị Việt Minh bắt đưa ra đây hơn ba năm khi ông là thầy giáo đang dạy trường Pháp Việt, và mẹ tôi qua đời trước đó hai năm. Kể từ ấy tôi sống với ông bà nội, thiếu vắng cả cái tình phụ mẫu.


Có lẽ đã phải trải qua những năm dài chiến tranh, nên phố xá Tuy Hòa ngày ấy còn “hoang sơ” lắm. Ngoài văn phòng Air Vietnam hai tầng và khu chợ mới xây dang dở, hầu hết là nhà cũ. Ông anh chở bọn tôi đến một cái quán nằm bên cây cầu, trên đường hướng ra Quốc Lộ 1. Tôi không còn nhớ tên, nhưng quán này nổi tiếng về món cá lóc nướng, và đặc biệt có mấy o Huế rất xinh. Để tránh tình trạng “tấn công nhầm mục tiêu”, ông anh tôi cho biết:

– Tuy Hòa có hai quán ăn nổi tiếng, đều có hai cô chủ “hoa khôi” gốc Huế, nhưng một quán đã có ông quan năm trung đoàn trưởng đóng đô, còn quán này là sào huyệt của ông chi đoàn trưởng Thiết Giáp có tiếng hào hoa.

Nhìn mặt thằng nào cũng buồn xo, ông anh tôi cười, an ủi:

-Yên chí đi! Tuy Hòa còn thiếu gì cô bé dễ thương. Trường trung học Nguyễn Huệ có biết bao cánh hoa biết nói, và mai mốt khi các toa ra vùng hành quân, sẽ có khối cậu chết mê chết mệt vì mấy cô gái quê! Bọn lính trong đơn vị moa thường kháo nhau: “Phú Yên đến dễ khó về” đấy!

Thấy trong đám bọn tôi có hai chàng khóa 19VB, ông anh cho tài xế chạy về đơn vị đón một anh cùng khóa 19 ra gặp bạn đồng môn. Hơn 20 phút sau, một thiếu úy BĐQ cao ráo đẹp trai đến nơi chạy vào tay bắt mặt mừng. Cái tình Võ Bị quả là thắm thiết. Anh được giới thiệu là ” Chương Classic” .Và để giải thích cái nick name của mình, anh mượn cây ghita của cô chủ quán, độc tấu mấy bản nhạc Tây cỗ điển. Ngón đàn của anh quả thật tuyệt vời!

Chỉ sau ba hôm ở thành phố, đơn vị tôi có lệnh di chuyển đi Hiếu Xương, đến đầu cầu Bàn Thạch để hành quân tái chiếm lại một vài nơi đã bị Cộng quân làm chủ tình hình. Ông tỉnh trưởng cũng đã cảnh báo đám sĩ quan trẻ chúng tôi:

-Ở vùng ấy nhiều gia đình có thân nhân theo VC, nên mấy chú phải cẩn thận, nhất là thấy mấy cô con gái đẹp đừng có vội nhào vô. Trước đây đã có một anh chàng sĩ quan đề lô Pháo Binh mết lòng con bé thợ may, hành quân xong cứ ra ngồi ngoài quán, cuối cùng không thấy trở về đơn vị nữa, mất tích luôn!

Đám lính trẻ bọn tôi “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” nên chỉ còn nhớ tới “mấy cô con gái đẹp” trong câu nói ấy của ông thôi.


Trung đội tôi được lệnh đóng quân giữ an ninh cầu Bàn Thạch và khu vực chung quanh. Cây cầu xi măng đúc đã bị VC giật mìn sập, nên vừa được Công Binh bắc cây cầu gỗ tạm. Cầu nằm gần chợ, và phía bên kia là vùng mất an ninh. Một tiểu đội của tôi nằm tiền đồn bên ấy. Ban chỉ huy trung đội và một tiểu đội bố trí ngay dưới gầm cầu.

Sắp xếp vị trí đóng quân và canh gác xong, đã gần 5 giờ chiều, tôi bảo mấy chú lính dọn cơm ăn, để tôi còn đi một vòng chợ tìm xem các cô gái có “đôi mắt người …Phú Yên” ra sao. Vừa mang mấy lon guigoz cơm ra, bốn thằng chúng tôi chưa kịp cầm đũa, thì một trái lựu đạn từ trên cầu rơi xuống. Một anh lính phát giác la lên, cả bọn kịp lăn mình qua bên kia tấm cầu đúc (bị sập xuống), nhưng trái lựu đạn không nổ! Chỉ năm phút sau, người ném lựu đạn bị toán lính của tôi bên kia cầu đuổi bắt. Đến nơi, tôi ngạc nhiên khi nhận ra, không phải một, mà là hai cô con gái quê, tuổi cỡ 14-15,  một cô khá xinh, có đôi mắt đẹp. Cô bé này chính là người ngồi phía sau xe đạp, ném trái lựu đạn định giết tôi – chàng “lính trẻ hào hoa”, chỉ mới vài phút trước đây có ý định đi tìm… đôi mắt ấy. Đưa hai nữ “địch quân” đến trình diện ông tiểu đoàn trưởng. Thấy hai cô bé vừa run vừa khóc, mặt mày tái xanh, ông “tâm lý chiến”rất hay, vỗ vai hai cô bé, vừa cười vừa ôn tồn nói chuyện. Hai cô khai hết sự tình, nên được dẫn về giao cho gia đình, vừa “chiêu hồi” và cũng vừa cánh cáo, theo dõi họ. Một tuần sau, toán quân báo tiểu đoàn bắt được người đàn bà trong mũi công tác đã dụ dỗ hai cô bé làm giao liên và ném trái lựu đạn xuống cầu.


Chiều hôm sau, đơn vị có lệnh xuất phát cuộc hành quân bao vây và đánh chiếm kho vũ khí của địch tại Đa Ngư-Phú Lạc, nằm trên một khu núi đá sát biển, địa thế khó khăn hiểm trở và được phòng thủ rất kiên cố bằng nhiều ổ súng đại liên.Tin tức cho biết địch quân đã chiếm làng Thạch Tuân và khu vực Hảo Sơn hơn hai tuần nay. Bộ đội địa phương vừa tiếp nhận một số lượng lớn vũ khí từ miến Bắc chuyển vào khu núi Đa Ngư Phú Lạc bằng thuyền. Đơn vị tôi có trách nhiệm phải đánh chiếm kho vũ khí này và sau đó tảo thanh các khu vực địch trong vòng hai tuần để đưa một đơn vị Bảo An của Tiểu khu vào trấn giữ.

Đơn vị tôi được tăng cường Đại Đội 23 Thám Kích. Tất cả đều được trang bị mặt nạ chống hơi độc.Khởi hành từ tuyến xuất phát lúc 11 giờ trưa, mãi đến gần 3 giờ chiều chúng tôi mới đến khu vực mục tiêu, vì phải di chuyển qua những địa thế khó khăn hiểm trở để tránh bị phát hiện, gây yếu tố bất ngờ cho địch. Đại đội 3 của tôi đi dọc theo bờ biển đến phục dưới chân núi làm lực lượng án ngữ. Nỗ lực chính đánh chiếm mục tiêu là đại đội 23 Thám Kích và đại đội 2 của ông anh trung úy gốc Bắc kỳ. Không ngờ trận chiến lại khó khăn khốc liệt đến như thế, phải chia nhau từng nhóm nhỏ bò lên chiếm các hốc đá nằm bên ngoài căn cứ, bị địch phát hiện, cầm chân bằng đạn súng cối đủ loại và nhiều ổ súng đại liên. Vì đây là kho vũ khí, nên địch có đầy đủ các loại vũ khí và đạn dược. Cuối cùng phải nhờ đến phi yểm, mặc dù rất bất lợi vì trời chiều, sắp tối. Theo các trái sáng (cầm tay) được đồng loạt phóng lên đánh dấu vị trí bạn, cùng với sự hướng dẫn, chỉ điểm tài tình của anh phi công L19, hai phi tuần khu trục liên tiếp đánh bom rất chính xác xuống căn cứ địch, diệt các ổ súng đại liên, để lực lượng ta bám sát mục tiêu. Đại đội 23 TK và đại đội 2 của anh trung úy gốc Bắc Kỳ đánh đẹp một cuộc cận chiến, chiếm được căn cứ, một số tù binh bị bắt. Đại đôi 1 của anh trung úy Khóa 16VB kịp thời tăng cường bao vây và truy kích. Trận chiến kết thúc trước khi trời tối. Số chiến lợi phẩm thu được khá lớn, địch quân dự trù trang bị các loại vũ khí mới này cho các đơn vị thuộc Liên khu 5 của chúng. Tiểu đoàn kéo về Đông Tác dưỡng quân, được ông tướng tư lệnh Vùng và ông trung tá tỉnh trưởng đến thăm, mừng chiến thắng. Anh trung úy (nhiệm chức) gốc Bắc kỳ khóa 13 Thủ Đức được vinh thăng (điều chỉnh) trung úy thực thụ và tưởng thưởng anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Anh trung úy khóa 16VB được ngôi sao vàng. Nhiều sĩ quan và binh sĩ có công cũng được trao gắn huy chương.


Ba ngày sau, được tiếp tế lương thực và đạn dược, tiểu đoàn trở lại Thạch Tuân. Chiếm lại ngôi làng nghèo này rất dễ dàng, cả đơn vị tiếp tục tiến quân vào Hảo Sơn, Đá Bia. Một khu vực núi non hiểm trở. Địch quân đã chiếm ngự các cao điểm trọng yếu. Trung đội tôi có lệnh mở đường dọc theo thiết lộ, nằm sâu giữa hai vách núi, để chiếm một ngọn đồi, đặt đại liên yểm trợ cho đơn vị còn lại bung ra hai triền núi phía trước. Con đường độc đạo hoàn toàn bất lợi, nhưng không còn lối nào khác. Nhờ pháo binh bắn dọn mục tiêu, nên trung đội tôi dễ dàng chiếm lĩnh ngọn đồi, ngay sau khi một toán địch quân vừa bỏ chạy, không kịp mang theo nồi cơm đang nấu và mấy cái võng nilon còn cột chặt trên cây. Cả tiểu đoàn tiếp tục tiến quân hai bên triền núi. Trận chiến khá quyết liệt, vì địch quân đã có sẵn nhiều cái chốt trên các hốc đá nằm cao trên núi, bắn trung liên và ném lựu đạn xuống quân ta phía dưới. Trời đổ mưa như trút nước. Đại đội 1 của ông anh Khóa 16 VB là mũi tiến công chính. Dù ở thế hoàn toàn bất lợi, nhưng nhờ tài chỉ huy và điều quân gan dạ của chàng trai Đa Hiệu, cuối cùng cũng đã chiếm được mục tiêu. Địch quân tháo chạy, bỏ lại vài chục xác chết và trên mười khẩu súng. Bên ta, hai binh sĩ tử thương và vài người khác bị thương nhẹ. Trời tiếp tục mưa không dứt. Bóng tối đã bắt đầu phủ kín khu vực hành quân. Có lẽ lo ngại địa thế bất lợi cho một cuộc đóng quân đêm và địch quân có thể được tăng cường phản kích, nên cả đơn vị có lệnh khẩn cấp rút quân ra. Riêng trung đội của tôi phải nằm lại để yểm trợ và đề phòng địch quân tập hậu. Khi được lệnh rút ra sau cùng, tôi xin pháo binh bắn chặn, để trung đội chia làm hai cánh yểm trợ nhau rút nhanh ra. Tôi đi theo cánh quân có lộ trình nguy hiểm hơn: theo con đường sắt. Nép sát vào vách núi, di chuyển rất nhanh, nhưng chỉ năm phút sau thì nhiều loạt đạn từ trên triền núi bắn xuống. Đạn địch xối xả xuống đường xe lửa, chát chúa ngay sát dưới chân tôi, tóe lên nhiều đóm lửa. Có cả đạn súng cối. Tôi nghe vài tiếng la đau đớn. Anh trung sĩ và một người lính đi sau lưng tôi trúng đạn. Anh trung sĩ bị bắn vào chân, còn anh lính kia bị thương nặng ở vùng bụng, ruột đổ ra ngoài. Cho người băng vội vết thương bằng các băng cá nhân, tôi vừa gọi xin tiếp ứng vừa xin pháo binh bắn cản hậu, rồi cõng anh lính bị thương rất nặng chạy nhanh ra khỏi vùng nguy hiểm. Người tôi ướt đẫm cả máu, nước mưa, và có thể có cả nước mắt (cho người thương binh -không có chút hy vọng sống- của mình).


Trên đường trở lại làng Thạch Tuân đóng quân đêm, cả tiểu đoàn dàn hàng ngang lội bì bõm dưới những đám ruộng ngập đầy nước. Du kích trong làng lại bắn ra. Chúng tôi bám theo các bờ ruộng xâm nhập vào làng, nhanh chóng bao vây tứ phía, cả toán du kích không chạy kịp bị chúng tôi bắt. Xe tải thương không thể nào đến được vì không có an ninh lộ trình. Tối hôm ấy, anh lính bị trọng thương của tôi, vốn là một tân binh quân dịch, quê tận Gò Công, đã trút hơi thở cuối cùng trên tay tôi, sau khi giao cho tôi cái bóp có hai tháng tiền lương và thì thào lời trối trăn đứt đoạn, nhờ tôi chuyển lại cho vợ và đứa con gái đầu lòng chưa đầy một tuồi mà anh chỉ mới về phép thăm cháu một lần. Đó là người lính đầu tiên dưới quyền đã chết, trên tay tôi. Anh có cái tên rất dân dã mà tôi không bao giờ quên được: Nguyễn văn Tý. Trùng tên với một nhạc sĩ tài hoa và khí khái mà sau này tôi mới biết.


Mục tiêu các cuộc hành quân đã hoàn tất, tiểu đoàn chúng tôi được lệnh về đóng quân dọc theo Quốc lộ 1, từ ngã ba Phú Lâm đến hết Bàn Nham, Bàn Thạch. Trung đội tôi lại nhận lãnh cái cầu (gãy) Bàn Thạch, nơi mà tôi được cô gái Phú Yên đón chào bằng một trái lựu đạn nội hóa. Cứ vài ba hôm chúng tôi lại tổ chức các cuộc hành quân (có khi luân phiên từng đại đội có khi cả tiểu đoàn) ở Hòa Xuân, Hòa Thịnh, Sơn Thành, hay ra tận Ngân Sơn (Tuy An), Hiệp Mỹ, Tuyết Diêm, Hòa Phú, phía dưới đèo Cù Mông (Sông Cầu), giáp ranh Bình Định. Chấm dứt hành quân lại trở về “cứ điểm” Bàn Thạch. Lúc này con đường từ Bàn Thạch ra phố Tuy Hòa đã tương đối an ninh, nên những ngày không bận hành quân, bọn tôi được phép thay phiên nhau xuống phố Tuy Hòa. Cũng có những đón đưa trước cỗng trường Nguyễn Huệ, Bồ Đề. Cũng có những hẹn hò ngoài bãi dương, quán nước.Trong đám bọn tôi cũng vài thằng có những cuộc tình chợt đến chợt đi. Thì ra các cô gái Tuy Hòa trông dễ thương mà thương thì không dễ lắm. Lúc ấy, tuổi trẻ bọn tôi còn cao ngạo: “mấy thằng lính ngang tàng này thì dễ gì mà chết trong mắt em”!, nhưng khi cô đơn lại tự an ủi mình: “đời lính tráng như vậy mà vui, không nợ nần, không làm khổ một ai, vợ con làm gì cho vướng chân vướng cẳng!”, tránh cái cảnh như một ông nhà thơ sau này đã thốt lên lời bi thảm “anh trở về dang dở đời em”! Hồi còn trong lính, tôi ghét cay ghét đắng bài thơ được phổ nhạc này. Đám lính tráng về phép mà nghe được đôi lần, chắc nhiều thằng không muốn trở về đơn vị nữa. Nhưng bây giờ ngồi nghiệm lại, tôi thấy đúng, cho dù có chút đắng cay. Lính bị thương tàn phế, hay là lính bị đày ải trong tù “cải tạo” ngày trở về ít nhiều gì cũng đã làm dang dở đời em.


Dù vậy, trong đám bọn tôi cũng có ba chàng phá luật chơi. Một thằng, cùng khóa với tôi, yêu một cô bé học mới lớp đệ lục, nhà ở cạnh chợ Tuy Hòa, một tiệm bán đồ gỗ nhỏ. Bọn tôi cứ nhạo nó là “dụ dỗ gái vị thành niên” và “tiền lương của mày không đủ để mua gạo thúc cho nó lớn”!  Vậy mà cuộc tình cũng gắn bó hơn một năm. Ngày đơn vị tôi từ giã Tuy Hòa, cô con gái ấy đã tốn khá nhiều nước mắt. Sau này dường như cô bé trở thành cô giáo, lấy chồng là một đồng nghiệp tốt nghiệp Sư Phạm Qui Nhơn. Thằng bạn của tôi được giải ngũ sớm vì cận thị nặng. Nó trở về tiếp tục sách đèn. Tốt nghiệp sư phạm Đại học Đà Lạt về dạy Triết tại vài trường trung học. Năm 1973, khi nghe bạn bè bảo tôi đang nằm dưỡng thương ở QYV Nguyễn Huệ Nha Trang, nó từ đâu tìm đến thăm. Khi nhắc tới thời lính tráng ở Phú Yên, đôi mắt nó sáng lên, bảo là nó vừa bất ngờ gặp lại cô bé Tuy Hòa ngày xưa, khi cả hai cùng làm giám khảo và giám thị một cuộc thi Tú Tài ở trường Nguyễn Huệ hay Cường Đễ gì đó. Nó cười, nhưng đôi mắt nó lại mơ màng nhìn về một nơi nào đó … xa xăm!


Một ông đàn anh khóa 14 Thủ Đức của tôi, SQ/CTCT Tiểu Đoàn, vốn tu xuất và bị động viên khi đang dạy ở một trường La San Taberd nào đó, lại vướng vào lưới tình của một cô giáo Bàn Thạch. Là con một của bà già góa bụa. Cô giáo có nhan sắc và hiền lành, cười nhiều hơn nói. Có lẽ lớn hơn tôi một vài tuổi. Chị tỏ ra rất thân tình với đám lính trẻ bọn tôi. Chỉ một thời gian, chúng tôi xem nhau như người nhà. Khi nào chán cơm lính, bọn tôi rủ nhau ra chợ mua thịt cá rồi kéo đến nhà chị để nhờ chị nấu cơm, rồi cùng nhau ăn uống và đàn địch ca hát cả ngày. Ông đàn anh “tu xuất” của tôi vốn làm thơ tình rất hay, đàn ca có “trường lớp” lắm. Nghe nói trước kia anh làm trưởng ca đoàn trong mấy nhà thờ. Anh thường đệm đàn cho cô giáo hát bài “Chuyện tình Lan và Điệp”. Giọng hát Phú Yên cũng não nùng ai oán lắm. Đặc biệt phía sau nhà có cái giếng nước rất trong, nên chúng tôi thường ghé vào tắm rửa sau các lần hành quân trở về. Sau này, ông đàn anh thuyên chuyển về Vùng 4 trong Nam.


Mãi đến năm 1980, tôi bất ngờ gặp lại anh trong một trại tù ngoài Bắc. Ngạc nhiên và thú vị khi nghe anh kể là anh vẫn còn độc thân, và cô giáo Bàn Thạch ngày xưa giờ cũng chưa chồng. Điều làm tôi sững sờ hơn là ông bố của cô không chết mà tập kết ra Bắc năm 1954. Sau 75 về lại Phú Yên và giữ một chức hàm khá lớn. Cô giáo bây giờ không làm nghề giáo nữa mà đang là một cán bộ, chủ nhiệm hay trưởng phòng gì đó của chính quyền CS. Anh còn khoe là cô giáo thường gởi quà cho anh, và còn cho tôi đọc ké mấy lá thư cô ấy viết, bảo là sẽ ra thăm anh, cũng như hứa hẹn bảo lãnh cho anh về Phú Yên, nếu anh thấy lo lắng không muốn trở về quê quán Mỹ Tho, và nơi ấy anh cũng chẳng còn ai, sau khi bà mẹ già đã mất. Nhưng không thấy cô đề cập đến chuyện “nối lại tình xưa”. Tôi ngại, nên cũng không dám hỏi anh. Cuộc tình “giữa hai chiến tuyến” này liệu có làm cho con tim thắng được tất cả mọi giáo điều chủ nghĩa, để vượt qua bao hận thù, tang tóc? Rất tiếc, tôi không tìm được câu trả lời này. Vì mãi đến bây giờ tôi vẫn chưa gặp lại anh ấy, mặc dù tôi đã nhắn tin và tìm hỏi rất nhiều bạn bè sang Mỹ theo diện HO. Đôi lúc, nghĩ về họ, tôi hình dung đến một đôi vợ chồng già sống hạnh phúc trong ngồi nhà ngói xưa ở Bàn Thạch, có khu vườn và cái giếng nước trong, anh đàn em hát; hay đang cùng quì xuống cầu kinh trong một ngôi nhà thờ nào đó. Cô giáo hiền thục ngày xưa không thể nào trở thành một “nữ đồng chí CS” thứ thiệt được, chắc cũng đã sớm nhìn ra cái lý tưởng hoang đường mà ông cha của cô đã mê muội theo đuổi, để đành lòng bỏ lại mẹ con cô một thời góa bụa cút côi, giờ chỉ còn lại bao hệ lụy đau lòng. Có thể cô đã từ bỏ mọi chức tước (nhờ vào thành tích”phấn đấu”của cha), để cùng người tình xưa – người lính khác chiến tuyến với cha cô – sống trong hạnh phúc bình thường. Cầu mong những người con gái Phú Yên, dù hoàn cảnh nào cũng luôn giữ trọn mối tình xưa.


Đặc biệt nhất, và cũng gắn bó nhất, chính là chuyện tình của ông đàn anh Khóa 13 gốc Bắc Kỳ, có nụ cười và đôi mắt dễ làm ” khuấy động trái tim người… ta” mà chúng tôi đã kết nghĩa anh em. Đại đội của anh là đại đội đánh đấm khá nhất, nên được ông tiểu đoàn trưởng tin tưởng, giao cho đóng quân và phụ trách vùng đất bất an nhất: từ phía nam Bàn Thạch đến tận làng Thạch Tuân, tiếp giáp Đèo Cả, ranh giới cuối cùng phía nam của tỉnh Phú Yên.

Ban chỉ huy đại đội đóng quân sau khu vườn của một ngôi nhà ngói lớn hai tầng duy nhất ở vùng này. Đối diện phía bên kia, sau con hương lộ, là ngôi trường tiểu học. Ông bà chủ nhà thuộc hàng khá giả, vừa làm chủ một cửa hàng tạp hóa ở tầng dưới, vừa làm nước mắm ở khu nhà sau. Một ngày cuối tuần, anh rủ chú lính cận vệ ra giếng tắm. Thầy trò chỉ mặc quần xà lỏn huýt sáo nhởn nhơ, bất ngờ gặp hai cô gái đang ngồi giặt áo quần bên thềm giếng. Sau khi bớt ngượng ngùng, hỏi ra mới biết là con ông bà chủ nhà, học ở Tuy Hòa, cuối tuần về thăm cha mẹ. Có lần tôi ghé lại thăm anh, được ông bà chủ nhà và hai cô con gái mời hai anh em tôi dùng bữa cơm thịnh soạn. Ông anh Bắc kỳ hào hoa nhưng rất kín miệng. Nhìn ánh mắt tôi biết là anh đang mết cô chị. Cô em còn bé lắm. Ông bà già mua hẵn một ngôi nhà khá khang trang ở phố Tuy Hòa, gần trường Nguyễn Huệ cho hai cô và một ông anh trú ngụ học hành. Là anh em kết nghĩa, vậy mà cuộc tình của anh, tôi không biết mặn nồng đến đâu. Chỉ biết lâu lâu anh lái xe bỏ bọn tôi xuống phố Tuy Hòa, lì xì vài chục uống bia, rồi phóng xe đi một mình. Đúng hẹn ghé đón bọn tôi với nụ cười lúc nào cũng nở trên môi.


Hơn một năm từ ngày đổ quân xuống Tuy Hòa, cũng vào một ngày hè nắng cháy, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi Phú Yên, bàn giao trách nhiệm lại cho Trung Đoàn 47 biệt lập từ Bình Tuy ra để sáp nhập vào Sư Đoàn 22BB, mà bản doanh Bộ Tư Lệnh đóng ngoài Bình Định. Đơn vị tôi cùng chi đoàn Thiết Quân Vận của ông đại úy tài hoa Bùi Thế Dung, lại lên tàu há mổm xuôi nam, đổ quân xuống Phan Thiết.

Ông đàn anh Bắc Kỳ của tôi sau này lên làm tiểu đoàn trưởng, đánh thắng một trận lẫy lừng tại Căn Cứ 6 Pleiku đầu năm 1971, đươc ông Tướng Vùng gắn lon thiếu tá đặc cách tại mặt trận. Sau đó được ông tỉnh trưởng Ninh Thuận (vốn là cựu trung đoàn phó của chúng tôi khi còn đóng ở Phú Yên) xin đích danh anh về Phan Rang làm quận trưởng. Một hôm, bất ngờ tôi nhận được thiệp hồng của anh mời đám cưới. Tôi ngẩn người khi đọc thấy tên cô dâu chính là cô hoc trò, con bà chủ quán ở Bàn Thạch ngày xưa, nơi anh đóng quân sau vườn nhà 6 năm về trước. Đến bây giờ tai tôi vẫn còn văng vẳng dư âm Bài Không Tên Số 2, với giọng hát Phú Yên thật nồng nàn cảm xúc, chị đã hát tặng bọn tôi ngay sau ngày đám cưới. Phải chăng ” đời một người con gái (Tuy Hòa) ước mơ rất nhiều, nhưng trời cho không được mấy, đến khi lấy chồng chỉ còn một mối tình mang theo”?


Điều trùng hợp lý thú là năm 1976, khi bị chuyển tù ra Bắc, anh và tôi lại gặp nhau, ở chung một trại. Anh em thường gặp nhau tâm sự. Trong cảnh tù đày khốn khó, tình anh em gắn bó như xưa. Mỗi lần chị ra thăm nuôi anh đều mang theo thêm phần quà cho tôi. Có khi chị giả vờ đi lại trên con đê trước nhà thăm nuôi, biết chúng tôi sau một ngày lao động sẽ được về tắm giặt ở bên con đê ấy, để dúi vào tay tôi mấy tờ giấy bạc. Lòng tôi cảm động. Không ngờ cô con gái hiền lành ở vùng quê Bàn Thạch ngày xưa ấy, sau ngày chồng vào tù, đã dắt ba thằng con trai, mà đứa nhỏ nhất chỉ mới tròn 2 tuổi, vào Sàigòn bươn chãi nuôi con, tạo dựng được cơ ngơi nơi vùng đất lạ xô bồ phức tạp này. Và với chúng tôi, còn là một người bạn, người chị chí tình.


Anh chị sang Mỹ theo diện HO. Mang theo kinh nghiệm từ Việt Nam, chị sớm vào nghiệp bán buôn. Chỉ một thời gian ngắn gia đình khá giả. Ba đứa con trai đều thành đạt. Cháu trai út ra bác sĩ, cháu giữa làm luật sư, còn cháu lớn là kỹ sư, nhưng sau này đã trở thành một mục sư đi rao giảng đức tin Thiên Chúa.

Ngày đám cưới cháu trai thứ nhì, vợ chồng tôi sang tham dự. Bạn bè cùng đơn vị xưa từ khắp nơi cũng qui tụ về đây. Bất ngờ gặp một nhóm đồng môn Nguyễn Huệ của chị. Một cuộc hạnh ngộ thật kỳ thú. “Phe anh phe chị”. Chúng tôi biết thêm một số người đẹp Tuy Hòa xưa.

Đám đàn bà ngồi nhắc tên những thầy bạn cũ. Đám đàn ông bọn tôi ngồi điểm danh lại những thằng bạn lính, từng in dấu giày saut trên vùng đất Tuy Hòa thuở trước. Giờ cũng chỉ còn có hai thằng: ông anh gốc Bắc kỳ và tôi. Một số đã chết trong chiến trận: Trương Ngọc Điệp, anh trung úy gốc Huế, đại đội trưởng đầu tiên của tôi ngày ấy, đã chết tại chiến trường Thiện Giáo (Phan Thiết) sau hơn một năm rời khỏi Tuy Hòa, và sau đúng hai tuần cưới vợ, một cô giáo Ninh Hòa gốc Huế. Vài tháng sau, ông anh Thái Hữu Dư, khóa 16VB, bị thương nặng trong một trận phản phục kích rất hào hùng tại Lâm Đồng, được thuyên chuyển về Vùng 4 sau khi xuất viện. Đặng Trung Đức, khóa 19 Đà Lạt, người bạn rất thân với tôi, tử trận tại Kontum trong “mùa hè đỏ lửa” khi đang làm tiểu đoàn trưởng. Trần Công Lâm, thằng bạn cùng khóa thân thiết nhất của tôi, trước khi nắm tiểu đoàn từng là một đại đội trưởng trinh sát lừng danh của Quân Đoàn II, cũng đã bỏ mình tại vùng Tây Bắc Kontum, trên dãy núi Ngok Wang đèo heo gió hú. Vài thằng giải ngũ vì thương tích. Số còn lại thì bị tù đày rồi tản mát khắp bốn phương trời! Nhưng dù còn sống hay đã chết, có lẽ thằng nào cũng mang theo ít nhiều bóng dáng và giọng nói của các cô gái Tuy Hòa, cùng bao kỷ niệm hào hùng, dễ thương của một thời trai trẻ.


Ngày rời khỏi Tuy Hòa năm ấy, đơn vị tôi cũng đã mang theo một số cô dâu Phú Yên xinh đẹp. Tôi còn nhớ mãi những khuôn mặt thật xinh xắn, làn da trắng nõn nà của các cô bé ở Ngân Sơn (Tuy An), bẽn lẽn “hóa trang”làm lính, xúng xính trong bộ quân phục của chồng, đầu đội cả nón sắt, lội nước leo lên tàu Hải Quân, sợ những người chỉ huy chặn lại không cho phép. Nhưng ông tiểu đoàn trưởng đã biết trước, bảo nhỏ đám chúng tôi cứ làm ngơ cho họ được “tùng phu”, khi biết chắc đây không phải là “mỹ nhân kế” của địch, và biết đâu đơn vị lại được thêm vài tay súng, những “người lính không có số quân“!

Ông trung tá trung đoàn trưởng cao lớn bô trai của tôi cũng đã mang theo cô chủ quán hoa khôi gốc Huế nổi tiếng một dạo ở Tuy Hòa. Ông đại úy Thiết Giáp hào hoa thì xuống tàu một mình. Sau này lên đại tá, trở thành thiết đoàn trưởng chiến xa lừng danh Vùng I, và đã rước cô ca sĩ Hà Thanh của xứ Huế về dinh.

Riêng tôi, rời Tuy Hòa, không vương vấn mối tình nào, nhưng lại mang theo một cậu con trai 15 tuổi. Thời gian đơn vị hành quân ở Phú Lâm, tôi đóng quân sau nhà chú bé. Từ đó chú bé cứ theo mấy chú lính của tôi và năn nỉ xin tôi nhận cho vào lính. Học tới lớp nhì thì cha chết, bà mẹ theo người chồng mới vào Cam Ranh hơn một năm sau. Chú bé ở với vợ chồng ông chú, vừa nghèo vừa đông con, lại bị bà thím hất hủi. Tôi động lòng thương nên thường cho lính gọi đến ăn cơm chung, và lâu lâu lì xì chút tiền lẻ. Chú có khuôn mặt khôi ngô, tình tình lễ phép, gọi tôi là anh ba, và khóc lóc năn nỉ nhất định xin đi theo tôi, dù góc bể chân trời nào. Vào Phan Thiết, tôi kể cho ông tiểu đoàn trưởng nghe hoàn cảnh đáng thương của nó, ông chở tôi và nó đến một văn phòng xã làm giấy khai sanh, tăng thêm đủ tuổi để nhận nó vào lính. Ông giao nó cho tôi. Tôi chỉ cho nó đi theo, mang cho tôi một balô sách và vài thứ thức ăn. Cuộc hành quân nào ác liệt, tôi gởi nó cho anh HSQ Tiếp Tế ở lại hậu trạm. Hơn bốn tháng sau, được gởi vào Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn. Nó trở lại đơn vị khi tôi đã làm đại đội trưởng, nhất định xin tôi tình nguyện vào tiểu đội thám báo. Không ngờ nó lại là thằng lính đánh giặc gan dạ, lẫy lừng, đã mấy lần cùng toán thám báo cứu tôi thoát chết. Hai năm sau, nó tử trận tại mât khu Lê Hồng Phong (Phan Thiết) vào một ngày gió mưa tầm tã, khi xông vào một căn hầm của địch. Khi ấy nó vừa tròn 18 tuổi đời. Lúc hấp hối, nó thoi thóp cố mở mắt nhìn tôi, đôi môi mấp máy như muốn nói với tôi một điều gì đó. Tôi vuốt mắt nó mà nước mắt tôi ràn rụa, trong lòng tựa hổ như đang có trăm ngàn vết chém.
(Lê Xuân Tiên ơi! Bây giờ em đang ở một thế giới khác, bình an, không còn có hận thù chết chóc. Xin em hãy tha thứ cho anh. Đã mấy lần em xả thân cứu anh thoát chết, còn “anh ba”thì lại bất tài, không bảo vệ được cho em!).

Và đó cũng chính là món nợ ân tình duy nhất mà tôi không bao giờ trả được cho vùng đất Tuy Hòa – Phú Yên – của một thời chiến tranh, khốn khó.


Riêng ông trung tá tỉnh trưởng gốc Biệt Động Quân chịu chơi ngày ấy, sau này trở thành vị tướng lãnh tài ba và đã tuẫn tiết theo cùng vận nước vào cuối tháng 4/75.  Còn ông anh Nguyễn Văn Tri, con bà cô, và anh “Chương Classic” của Tiểu Đoàn 23 BĐQ đã thoát chết trong một lần Tiểu Đoàn nghỉ quân trong căn cứ của một đơn vị ĐPQ, bị nội tuyến từ trong đơn vị ĐPQ này. Sau này anh Tri bị thương, được chuyển về TTHL/BĐQ Dục Mỹ. Tôi ghé thăm anh một đôi lần khi đơn vị chuyển quân ngang qua Huấn Khu này. Anh sang Mỹ theo diện HO, định cư ở Boston, có cô con gái là ca sĩ Hạ Vy. và anh đã qua đời hơn 5 năm trước. Anh “Chương Classic” khóa 19VB, sau này lên Thiếu tá, làm Tiểu Đoàn Trưởng một Tiểu Đoàn BĐQ lừng danh. Năm 1979, sau một lần chuyển trại tôi bất ngờ gặp lại anh trong một trại tù tận vùng Hoàng Liên Sơn. Hai anh em nằm gần nhau. Anh tự chế một cây đàn rất đẹp. Vẫn luôn giữ phong cách của một cấp chỉ huy, tư cách, nhẫn nhục, ít nói. Đêm đêm hai anh em uống trà tươi (giấu được khi hái trà cho trại), tôi ngồi nghe anh đàn. Trong hoàn cảnh ấy và với không gian yên ắng nặng nề, tiếng đàn Hạ Uy Cầm của anh càng thêm não nề réo rắt, chiêu dụ cả đám bộ đội canh gác, kéo nhau đến bên ngoài mê mẫn ngồi nghe. Nghe nói anh cũng đã sang Mỹ theo diện HO, nhưng nỗi buồn gãy súng vẫn chưa vơi, sống rất âm thầm với vết thương không lành được trong lòng.


Xin cám ơn Phú Yên, cám ơn Tuy Hòa, cám ơn cả ngôi trường Nguyễn Huệ đã cho tôi những kỷ niệm vui buồn của một thời làm lính, với những đồng đội, bạn bè cùng những chuyện tình lãng mạn, dễ thương. Tất cả cứ như khói như sương lãng đãng quanh tôi trong những phút giây hồi tưởng.


Phạm Tín An Ninh

Sunday, October 29, 2023

Vườn Xuân Và Câu Đố

Đố các bạn tìm được con vật dễ thương ở một trong những tấm hình hoa xuân dưới đây.















Chắc hơi khó tìm phải không các bạn? Vậy để tôi để thêm một tấm hình nữa vào. Chắc chắn lần này các bạn sẽ thấy ngay thôi hihihii😊😊😊


Người Phương Nam


Tình Anh Lính Chiến Biệt Động - Nguyễn Khắp Nơi


Chồng sắp cưới của em tên Tốt, ảnh với anh Thân ở cùng xóm với em. Lớn lên, ảnh thương em, đòi ba má ảnh qua nhà em xin cưới. Em thấy ảnh tảnh tình hổng có hạp với em, nên không chịu, nhưng ba má ảnh cứ đeo theo em nói riết hà, anh Tốt cũng theo em hoài, luôn hai ba năm trời như vậy đó, làm cho em cũng thấy tội nghiệp ảnh. Cuối cùng, em suy nghĩ, thấy mặc dù hổng hạp, nhưng ãnh cũng có thành tâm, nên em chịu lấy ảnh.


Bữa làm đám nói, em có rao trước với ảnh rằng:
“Anh quen tui từ nhỏ, anh biết tánh tui rồi, tui nói gì thì tui làm cái nấy. Anh nói thương tui, bảo bọc được đời của tui, thì tui chịu. Nhưng hễ tui thấy anh làm hổng đúng như vậy, tui... bỏ anh liền đó.”

Anh Tốt thề sống thề chết là sẽ yêu thưong lo lắng cho em suốt đời, ba má ảnh cũng chịu làm chứng, nên em chịu làm đám cưới với ảnh.

Nhà em ở bên sông, nhà ảnh ở bên chợ, nên bữa đám cưới, nhà ảnh rước dâu bằng ghe. Ảnh với em và đám bạn bè ngồi chung một chiếc ghe chèo đi trước, phía nhà trai một chiếc, nhà gái một chiếc đi theo sau Bạn bè em ai cũng chúc mừng em lấy được chồng xứng đôi, biết thương mình.

Đoàn ghe cưới chèo đi ngon lành, sắp tới nhà trai rồi, hai bên bờ bà con lối xóm đứng tụ dài dài coi đám cưới, vui lắm. Tài công sửa soạn tấp ghe vô, anh Tài lo đốt pháo mừng, tụi bạn bè em phần vui vẻ, phần sợ pháo rơi trúng cháy quần áo, nên chộn rộn đứng lên đứng xuống. Ngay lúc đó, có một chiếc ghe máy chạy ngang, chiếc ghe lớn mà lại chạy mau nữa, nên làm sóng lớn đánh ào lên ghe cưới, nước lọt vô tùm lum, chiếc ghe muốn lật. Tụi em la hoảng quá chừng, kiếm đồ múc nước ra, nhưng ghe đám cưới đâu có đồ múc nước, lính quýnh một hồi, chiếc ghe bị lật luôn.

Tụi em đều là dân quê, đứa nào cũng biết lội, nhưng mấy đứa con gái tụi em bữa đó hổng làm sao mà lội hết mình được, vì đứa nào cũng bận áo dài, gài bông, đeo nữ trang tùm lum hết. Phần em còn nhiều hơn nữa, có đôi khoen tai má em mới cho, lại chiếc cà rá đám nói rộng rinh muốn xúc, nên em hổng dám đụng mạnh, chỉ ráng thả nổi chờ có ai cứu. Em nghe trên bờ người ta đứng coi la lối chỉ chỏ um xùm:
- “Cô dâu bị chìm, cô dâu bị chìm, cứu cô dâu cho mau...”

Em thấy anh Tốt đang lội ở đằng trước, em la lên:
- “Anh Tốt, cứu em...”

Ảnh dòm lại thấy em đang chới dới, mà ảnh làm như hổng thấy em, hổng nghe tiếng em kêu, ảnh cứ lội riết vô bờ.

Đám con gái tụi em ráng đập tay đập chân, đứa nào cũng la cầu cứu om xòm. Em đưa tay lên ngoắc anh Tối một lần nữa, la thiệt lớn:
- “Anh Tốt... Cứu em... Em lội hổng nổi, bị chìm rồi nè...”

Em há miệng lớn quá, bị nước vô miệng hụt hơi chìm luôn, thôi chết cho rồi.

Bất ngờ, em thấy có bàn tay của ai đó kéo em lên, rồi ôm lấy em mà lội vô bờ. Lên tới bờ, em muốn xỉu, nhưng cũng ráng dòm coi anh Tốt ở đâu? Coi ảnh có bị gì hông? Em thấy anh đang đứng trên bờ, lo cởi giầy cởi áo, lau người thì cũng đỡ lo. Bà con lối xóm đi coi thấy em được cứu, người ta mừng quính, la lên:
- Cô dâu được cứu rồi... Cô dâu xỉu rồi, mau đem vô nhà đám cứu tỉnh...”

Lúc đó ghe hai bên nhà trai nhà gái cũng cặp bến được rồi, ông bà giả ảnh cũng nhào lên, đỡ em vô nhà đám. Ba má em lo đi lấy khăn quấn cho em, kiếm quần áo khác cho em thay, hỏi em có sao hông? Bà con chòm xóm cũng bụ lại hỏi thăm em. Em chờ hoài mà hổng thấy anh Tốt đâu hết trơn, làm em tủi thân, em khóc quá chừng. Chuyện chèo ghe chìm xuồng ở xứ này, bữa nào cũng có, nhưng em thấy rõ ràng anh Tốt không có lo cho em, ảnh chỉ lo cho mình ên ảnh thôi. Chính cái miệng ảnh nói sẽ lo cho em suốt đời, vậy mà thấy em bị chìm xuồng, bỏ luôn hồng thèm cứu, đã vậy, em lên tới bờ cũng hổng thèm chạy lại hỏi thăm, coi em có bị gì hông? Người gì mà ác nhơn ác đức quá trời đi. hỏi sao em không buồn cho được.

Một hồi sau, cả hai gia đình tụ tập lại hết rồi, anh Tốt cũng đã thay đồ mới rồi, lúc đó ảnh mới tới hỏi thăm em. Em có hỏi ảnh:
- Anh có thấy tui bị chìm hông? Anh có nghe tui kêu anh cứu tui hông?

Ảnh trả lời tỉnh như không:
- Anh thấy, nhưng nghĩ rằng em biết lội, tự lội vô bờ được, đâu cần anh lo đâu! Mà hồi sau cũng đã có mấy người nhẩy xuống cứu em đưa lên bời rồi, nên anh mới lo đi thay đồ đặng lát nữa làm đám cưới tiếp. Sao em không đi thay đồ đi mà còn ngồi đó, để trễ giờ rồi.”

Em giận quá chừng là giận, nói với ảnh:
- Anh lo cho tui cái kỉểu đó đó hả? Anh đã hổng cứu tui, giờ còn bắt lỗi tui sao hổng đi thay đồ hả? Nếu không có người ta cứu tui, tui chết chìm rồi, lấy ai cho anh làm đám cưới.

Em vô trong nhà thay đồ, lấy bộ đồ thường ra bận, chứ hổng chịu bận đồ mới. Tới khi ba má ảnh đứng lên chào bà con rồi kêu em ra lạy bàn thờ ông Tổ, em một mình đứng lên nói với ba má ảnh và ba má em, nói với chòm xóm:
- “Thưa ba má, các bác, các dì, bữa nay là đám cưới của con với anh Tốt. Hồi làm đám nói, con có thưa với ba má và anh Tốt, ảnh phải bảo bọc được đời con thì con mới ưng ảnh. Bữa nay, con bị chìm xuồng, con kêu ảnh cứu con, ảnh hổng thèm cứu con, lo lội lên bờ mình ên. Tới khi con được cứu lên bờ rồi, ảnh cũng hổng thèm tới thăm, dòm ngó coi con còn sống hay chết. Hên là con được người ta cứu, chứ nếu không, con chết mất rồi, đâu còn đứng đây mà làm đám cưới. Cũng hên là con thấy cái bản mặt của ảnh ra sao trước khi làm đám cưới. Nguời như ảnh, làm sao lo cho con, bảo bọc được đời con? Con xin ba má hai bên, bỏ qua cái đám cưới này đi.

Em day qua anh Tốt, nói vởi ảnh:
- Anh Tốt, bữa đám nói, anh hứa lo cho tui, bảo bọc đời tui. Vậy mà bữa nay, tui bị chìm xuồng, anh lo mình ên anh, hổng thèm cứu tui, cũng hổng thèm dòm coi tui sống chết ra sao. Tui... hổng lấy anh nữa đâu. Nè, cà rá của anh nè, tui trả lại cho anh đó.”

Em nói một hơi, anh Tốt đứng xụi lơ, ba má ảnh cứng họng ngồi một đống, hổng nói được một tiếng. Tới khi thấy em trả lại cái cà rá, ổng bả hoảng quá, chạy lại ôm em, khóc:
- Con ơi, con thưong ba má đi, ai đời đám cưới mà nói gì tùm lum vậy. Vợ chồng có gì mai mốt đóng cửa chỉ biểu nhau, làm gì mà con làm dữ vậy con. Thôi con bớt giận đi, làm đám cưới cho rồi đi?

Ba má em thấy em đứng xững, hổng thèm trả lời ba má anh, ổng bả hổng hiểu cho em, còn nổi giận, la em:
- Mày dám từ hôn bữa nay hả? Thằng Tốt nó thấy mày được cứu rồi, thì nó lo đi thay đồ chứ còn gì nửa mà bắt lỗi nó. Mày mà hổng chịu làm đám cưới bữa nay, tao... từ mày luôn đó.

Em hổng nói gì thêm, xá ba má ảnh, ba má em rồi bỏ đi về.

Bà con lối xóm bu theo em, người thì nói em có lý, chồng cỡ đó bỏ đi là phải, người thì nói em xui xẻo quá... tùm lum hết. Em cứ lặng thinh bỏ đi một nước.
Đang đi, chợt em thấy mặt thằng Thìn, em mới hỏi nó:
- “Mày có thấy hồi nầy... ai cứu tao hông?”

Thằng Thìn chỉ người con trai đứng kế bên, đang cởi cái áo lính vắt nước cho khô:
- “Thằng này nè.”

Em nhs text-align: justify;">- “Tui thiếu anh một mạng đó.”

Rồi đứng lên đi ra bờ sông kiếm ghe về nhà.”
......
Kể tới đó, Lan nắm tay Hải, cười như mắc cở.

Hải tiếp lời vợ:
- “Thiếu úy biết hông, bữa đó, tiểu đoàn được về hậu cứ nghỉ, cho đi phép 24 tiếng. Em về Cần Thơ hổng kịp, nên đi theo thằng Thìn về nhà nó chơi.

Về tới nhà, ba má thằng Thìn cho hay, bửa nay con Lan kế bên làm đám cưới. Thằng Thìn nói với em:
- “Vậy là trúng mối rồi, tao với mày đi... ăn ké cho vui.”

Nó dẫn em ra bờ sông, dòm nhà trai nhà gái rước râu bằng ghe, cũng ngồ ngộ. Đang coi thì thấy có chiếc ghe máy chạy ngang, làm sóng lớn lật chìm luôn chiếc ghe cô dâu. Em thấy người ta bị té dồn cục dưới nước, lội lủm chủm, có người lội không nổi, muốn chìm, em kêu thằng Thìn:
- “Mau cứu người ta, cởi giầy ra lẹ lên...”

Em và thằng Thìn nhào xuống sông lội một hơi, thấy một cô coi bộ muốn chìm lỉm, em lội tới đỡ đưa cô vào bờ rồi lội trở ra phụ thằng Thìn cứu thêm người khác. Tới khi tất cả đã được cứu rồi, tụi em mới lên bờ, cởi áo cới vớ lau mặt lau người chờ khô. Đang đứng xớ rớ, tự nhiên có một ai đó tới kế bên xụp xuống lạy em một lạy, làm em hoảng quá, nhẩy nai, hổng hiểu chuyện gì hết?

Khi cô đó đi rồi, thằng Thân mới cho em hay:
- “Mày hổng nhớ hả? Con nhỏ đó là... Cô dâu đó. Nó bị chìm xuồng, chính mày cứu nó đưa vô bờ đó. Thằng rể cũng bị chìm xuồng cùng với cô dâu, nhưng lo lội vô bờ mình ên, hổng lo cho nó, nó tức quá, lên tới bờ, nó... từ hôn, hổng thèm lấy thằng đó nữa. Nó mới đi ngang, hỏi tao ai cứu nó? Tao chỉ mày, nên mới xụp lạy mày cám ơn cứu mạng đó.”

Quần áo khô đỡ rồi, tụi em thả bộ ra chợ ăn uống đầy một bụng, tính đi về nhà thằng Thìn ngủ một giấc, ngày mai đi trình diện tiểu đoàn, lội tiếp.

Về ngang qua chòm cây gần bờ sông, thằng Thìn chợt thấy có bóng người đang ngồi chu hu dựa gốc cây. Nó thọc cùi chỏ em:
- Giờ này mà còn ai ngồi bờ sông coi bộ buồn hiu dzậy! Tới coi coi...

Tới gần, thằng Thìn dòm cô gái một hồi, cái mặt nó cũng buồn hiu, nói nhỏ với em:
- “Coong nhỏ Lan chớ ai, con nhỏ cô dâu hồi sáng đó. Chắc nó đang buồn vì đám cưới của nó hổng xong, nên mới ra đây ngồi đó. Mình tới nói với nó vài tiếng cho nó đỡ buồn đi, chứ để nó buồn, nó dám... nhẩy sông chết, uổng công mày cứu nó hồi sáng.

Tụi em tới nơi nói chuyện, Lan dòm thằng Thân một cái rồi dòm tiếp ra mé sông, hổng muốn nghe mà cũng hổng trả vốn trả lời gì hết. Một hồi sau Lan mới nói tâm sự của mình ra, buồn vì tưởng lấy được người chồng xứng đáng, bảo bọc được cuộc đời của mình, ai dè đụng chuyện mới biết anh ta chết nhát, chỉ biết lo cho thân mình. Lan buồn vì tình duyên, mắc cở với chòm xóm, lại bị cha mẹ từ, cô muốn bỏ xứ mà đi cho rồi, nhưng lại sợ ba má buồn, nên hổng biết làm sao. Em mới khuyên Lan:
- “Cô đừng có buồn ba má. Tại ba má cô thương cô, lo cho tương lại của cô vậy thôi. Ai cũng có số mạng, biết đâu sau này anh Tốt suy nghĩ lại, sẽ biết thương, biết lo cho cô.”

- “Anh là... ai, mà bữa nay đi ngang đây dzậy? Anh hổng quen hổng biết gì tui, khi không nhẩy xuống cứu tui... chi dzậy? Anh coi bộ... gan cùng mình đó. Hồi nẫy, tôi có... xá cám ơn anh rồi đó, anh nhớ hông?”

Em trả lời Lan:
- “Thấy ai bị nạn thì mình cứu, đâu có cần quen biết gì đâu. Đánh trận với Việt cộng, sống chết mỗi ngày mà tui còn hổng ngáng, thì nhằm nhò chi mấy cái lẻs text-align: justify;">
Kế đó, em mới nói cho Lan biết, em tên gì? Ở đâu?

Em nói một hồi, hổng biết nói gì thêm, ngồi lặng thinh. Lan nghe tới hết, cũng ngồi làm thinh. Thằng Thìn chạy đi đâu mất tiêu, chỉ còn em với Lan ngồi đó. Lan ngồi một hồi, ngó lên nhìn em, vui vẻ cười nói:
- “Ngộ há! Anh dám nhầy xuông sông cứu tui, lại nói... Nhằm nhò chi. Tui... phục anh thiệc đó. Bộ anh hổng có biết ba má anh là ai hết hả? Buồng quá dzậy! Sao hổng... lấy dzợ đi, có người lo cho anh?

Em cũng cười lớn, nói với Lan:
- “Tui như cục đá từ trên trời rớt xuống, hổng có bà con, hổng có cha mẹ gì ráo... Cái mạng cùi của tui, tui còn lo hổng xong, nói chi tới lấy dzợ. Tui bây giờ là... Tứ Hải Giai Huynh Đệ, đâu cũng là nhà, có mấy thằng bạn lính là dzui rồi, hổng cần gì khác hết.”

Hai đứa cùng cười thiệt là vui. Lan lại ngồi bó gối suy nghĩ một hồi nữa, chợt nói với em:
- “Anh Hải à, tui... thiếu anh một mạng, mà tôi cũng... phục anh lắm. Anh mới là người có thể bảo bọc cho đời tui... Tụi... Chịu anh đó... Anh... chịu... tui hông?”

Em nghe cổ nói, mới dòm kỹ lại cổ. Lan coi bộ trắng trẻo, dễ thương... Mà cổ coi bộ cũng là... thứ thiệt, dám nói dám làm. Hổng ưa ai thì dám nói hổng ưa, mà thương ai thì cũng dám nói là thương. Em chịu thứ con gái như vậy, chứ hổng thích cái thứ nhỏng nhẽo làm bảnh.

Em dòm Lan, nắm tay Lan, từ từ nói:
- “Tui có mình ên, không bà con chòm xóm, cuộc đời chưa biết đi về đâu, Lan dám... chịu tui hả?”

Lan cũng nắm lấy tay em, nói:
- “Em phục ai thì lấy người đó. Anh là người hổng nói nhưng mà dám làm. Em chịu anh là như vậy đó.”

Em vẫn còn ngại ngùng, nói với Lan:
- “Anh hổng có ba má đứng làm đám cưới, ba má em... có chịu hông?”

Lan nhìn em, trả lời liền:
- “Hễ mình thương nhau là có ông Trời chứng giám, mấy cái chuỵện nhỏ đó, để em lo cho.”

Vậy là tụi em hứa với nhau. Lan dẫn em về ra mắt ông bà già:
- “Thưa ba má, đây là anh Hải, người cứu con hồi sáng. Tụi con gặp nhau, nói chuyện với nhau hạp lắm, rồi tụi con... thương nhau. Con muốn... lấy ảnh.”

Ba má Lan cùng với bà con đã mời dự đám cưới hồi sáng đã tụ tập về nhà đông đủ, chưng hửng nhìn tụi em. Một hồi sao, ba má Lan mới nói:
- “Mới hồi sáng đây, mày từ hôn với thằng Tốt, giờ đem đứa khác về đây đòi cưới? Bộ tụi bay quen biết với nhau trước, rồi... dàn cảnh chọc tức ba má hay sao đây?”

Hai đứa em ngồi xuống nói chuyện với ba má suốt buổi chiều. Anh Hải thưa ngày mai sẽ về Tiểu đoàn làm đơn xin cưới vợ. Chừng nào được phép, sẽ tổ chức đám cưới, mời ba má bà con lối xóm.

Ba má em hổng biết làm sao, nhưng thấy anh Hải hiền lành dễ thương, có gan cứu tử em, thì ba má em cũng đành chấp nhận.

Sẵn đồ ăn tiếp nhà trai còn dư hồi sáng, ba má em dọn ra, mời bà con... ăn cưới luôn, vui hết sức vậy đó.

Sẵn ba má em đang vui, em cũng xin ông bả cho em theo anh Hải về đơn vị xin chỗ ở, mai mốt được cấp nhà ở, sẽ làm đám cưới luôn.

Em đưa Lan về nhà Dượng Há, dượng của Lan, và cũng là Tiểu đội trưởng của tụi em, đặng nhờ ổng giúp đỡ.

Vừa mới bước vô, Dượng Há nắm cứng lấy hai người lính, giọng nói lạnh tanh:
- “Tụi mày đi đâu mà tao kiếm quá trời hổng ra. Tiểu đoàn phải đi hành quân gấp, đang cho Quân cảnh đi kiếm hết tụi bay về đó, vô trại với tao liền đi. Còn con Lan, sao mày lại đi chung với hai cái thằng trời đánh này?

Lan nghe ông duợng la lối om xòm, hoảng quá, vội vàng chỉ em nói với dượng:
- Dượng à, anh Hải... là chồng mới của con đó. Con... ưng ảnh, ba má con cũng chịu rồi, tụi con tới gặp dượng đặng nhờ dượng làm đơn xin phép cho ảnh làm đám cưới với con đó.”

Dượng Há đứng chết trân dòm hai đứa tụi em. Dì Há nghe la lối, cũng ở phía sau chạy lên. Khi nghe Lan nói, dì Há cũng đứng chắp tai sau đít dòm hai đứa tụi em, rồi cười nói:
- “Hai đứa tụi bay như dzầy mới xứng. Chứ mày lấy cái thằng Tốt gà chớt đó mà coi sao cho đặng!”

Dượng Há lúc giờ mới chêm vô:
- “Thấy ghe bay bị chìm, tao cũng có nhẩy xuống cứu bay, lên tới bờ, nghe mày từ hôn thằng Tốt, tao... chịu lắm. Thằng chồng gì mà thấy con vợ bị chìm, sợ chết hổng dám cứu, lên tới bờ cũng hổng thèm dòm. Thứ chết nhát đó, đem bỏ trôi sông cho rồi chớ lấy làm chồng sao được. Khi thấy mày đi dzìa, tao thấy cái đám cưới coi như là hổng có nữa, nên tao cũng dắc dì mày đi dzìa luôn. Thằng Hải trọc này thì được lắm, nhưng mà nó đâu có bao giờ đi cua gái đâu, mà cũng hổng phải dân Bạc Liêu mình, sao mà mày... dzớc được nó hay dzậy? Mà thôi, trễ giờ rồi, xe GMC sắp lại đây rồi đó, tụi mày vô trại hết đi, mai mốt gặp ông Thiếu úy Nam, muốn nói gì thì nói dzới ổng.”.

Em nghe ổng hối, không biết tính làm sao:
- “Nhưng mà còn con dzợ của con đây, con đâu biết để nó ở đâu bây giờ?”

Dượng Há cũng hổng biết làm sao, gấp quá rồi:
- “Thì... đi hết vô trại đi, rồi tính sau.”

Em kiếm trong ba lô bộ đồ Biệt Động đưa cho Lan bận vô, lấy đôi giầy và cái nón sắt cũ của dượng Há mang vô, coi cũng... ngầu lắm. Lan khoái chí đi tới đi lui ngắm mình trong gương. Vừa xong là xe nhà binh chạy lại gôm hết tụi em vô trong trại. Lan đi theo tụi em hành quân từ bữa đó, tới mấy bữa sau mới lên trình diện Thiếu úy Nam, ổng la tụi em quá trời, nói phải trả Lan về hậu cứ trong chuyến tiếp tế tới...

Nghe xong câu chuyện tình của Hải và Lan, tôi mỉm cười nhìn cả hai:
- “Câu chuyện tình thật đẹp. Hai người thật xứng đôi vừa lứa, anh chúc cho hai em thương nhau trọn đời, sống với nhau suốt đời suốt kiếp. Anh chỉ ghé đây có bữa nay, mai lại đi nữa rồi, có thể không có dịp gặp lại hai em nữa đâu. Hai em có muốn anh giúp chuyện gì không? Anh sẽ ráng làm trong khả năng của anh.”

Hải và Lan nhìn nhau, một lúc sau, Hải ấp úng nói:
- “Thiếu úy, tụi em mới gặp Thiếu úy, tự dưng... có cảm tình với Thiếu uý nhiều lắm. Sẵn Thiếu úy hỏi, tụi em hổng dám, nhưng ngày mai tụi em làm đám cưới, nhỏ nhỏ thôi, Thiếu úy có thể... làm anh lớn của em, đại diện bên nhà trai, đặng tụi em làm đám cưới, được không Thiếu úy?”

- Được quá đi chứ!

TÌNH LÍNH THÌ PHẢI... TÍNH LIỀN.

Đoạn chót của câu chuyện “Tình Anh Lính Biệt Động Quân”

Ngày 10 tháng 4 năm 2010,

Chào Thiếu úy mạnh giỏi.

Vợ chồng em kiếm được Thiếu úy, thiệt là mừng hết sức. Tụi em hổng thể ngờ là có ngày kiếm ra Thiếu úy đó chớ.

Sau bữa đám cưới của tụi em, em có hỏi xin địa chỉ để mai mốt còn liên lạc, Thiếu úy trả lời là hổng biết mình sẽ đi tiểu đoàn nào, thì làm sao mà có KBC cho được, chỉ cần nhớ địa chỉ của tụi em thôi, để mai mốt tính...

Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, cả tiểu đoàn của em còn đang hành quân, nghe đầu hàng, tụi em buồn muốn chết. Sau đó nghe tin các Sĩ quan của tiểu đoàn bị đi học tập hết, tụi em coi như là không còn hy vọng gì có ngày mai trở lại. Ở Bạc Liêu khó sống quá, vợ chồng em lên Cần Thơ, em lo chạy xe ôm, vợ em bán quán.

Vào khoảng năm 1989, có một bữa, em chở người ta đi ngang một công sở, em thấy rất nhiều người tóc vàng, tóc đỏ, da trắng da đen, mắt xanh biển mắt xanh lá cây, giống như em, đang đứng xếp hàng. Em cũng chạy vô coi, thì ra chỗ đó làm hồ sơ cho con lai lính Mỹ đi Mỹ. Em đâu có biết mình lai cái giống gì? Ba mình là ai? Nhưng cũng làm gan xếp hàng đại. Khi làm hổ sơ cho em, người ta chỉ hỏi em tên gỉ? Rồi hẹn ngày tới khám sức khỏe.

Em về nhà nói cho con Lan hay, vợ em nó mừng quá, nhưng mà lại nói là... hổng chắc, vì em đâu phải con lai Mỹ đâu. Em cũng nghĩ như vậy, nên không để ý tới chuyện đó nữa. Tới bữa khám sức khỏe, em cũng đi cho biết. Người ta chỉ nhỏ thuốc vô tóc của em, vô mắt của em để coi em có nhuộm tóc hay là có nhuộm con ngươi hay không mà thôi, chứ hổng hề hỏi ba em là Mỹ hay là cái giống gì?

Khoảng ba tháng sau, em nhận được thơ, nói rằng em được chấp nhận đi Mỹ với vợ và hai đứa con. Em như đang ở trên trời rớt xuống đất, hổng tin được chuyện như vậy có thể xẩy ra.

Rồi tụi em được đi Mỹ thiệt!

Vợ chồng em được gia đình người bảo trợ tới định cư ở Tiểu bang Minesota. Hai đứa em lo cho hai đứa nhỏ đi học, tụi em cũng đi học luôn. Con vợ em nó lanh lắm, học một hồi nó nói tiếng Mỹ còn giỏi hơn em nữa. Gia đình người bảo trợ có một hãng nuôi gà, bán gà và trứng gà. Tụi em cũng thích nuôi gà, nên theo học nghề này. Thấy tụi em siêng năng, nên ông bà bảo trợ nhận cho tụi em làm và chỉ dẫn cho em từng chút. Tới khi ổng bả về hưu, giao nguyên cái farm cho tụi em coi, lần hồi bán luôn cái farm cho tụi em. Cuộc sống của tụi em từ đó được thoải mái, vững vàng.

Một bữa, em vô trong internet đọc truyện, em thấy người nào đó tên Nguyễn Khắp Nơi có viết chuyện “Cà Phê Nha Chuẩn Úy?” trong đó có nhắc tới thời gian ba người Sĩ quan Biệt Động Quân đi thực tập ở Tiểu Đoàn 42 của tụi em. Em nghi một trong ba người đó là Thiếu úy, em kêu vợ em cho nó đọc lại cho chắc ăn. Tụi em đọc tới đọc lui ba bốn lần, chắc chắn là có Thiếu úy ở trỏng, nên đã theo địa chỉ trong báo Việt Luận mà hỏi thăm.

Thiếu úy gởi email trả lời cho tụi em, Đúng là Thiếu úy Đen, người đã làm đại diện nhà trai cho em lấy vợ. Tụi em mừng quá trời, coi như ông Trời có mắt, cho tụi em được gặp lại Thiếu úy.

Thiếu úy nói trong thơ, cỡ tháng 5 năm 2011 Thiếu úy sẽ đi thăm mẹ ở Canada, sẵn dịp sẽ đi thăm bạn bè ở Los Angeles, tụi em mừng quá, vội vàng gởi thơ lại liền, xin địa chỉ hotel của Thiếu úy đặng mua vé máy bay đưa hết cả nhà tới trình diện Thiếu úy. Giờ này mới là tháng 1 năm 2011, còn lâu lắm, tụi em mong sao cho chóng tới ngày đó đặng gặp lại Thiếu úy.

Cầu chúc Thiếu úy mạnh giỏi, giữ gìn sức khỏe. 

Nguyễn Khắp Nơi