Wednesday, August 12, 2026

Bản Tình Ca Của Người Tị Nạn - Nguyễn Văn Luận


Lời giới thiệu: Tôi không dám tự cho mình đã đọc nhiều sách và lại càng không dám phê bình một cây bút nào...nhưng qua bài tự truyện này, tôi phải thảng thốt lên rằng Ồ giọng văn gãy gọn, ngắn mà súc tích biết bao, ngắn gọn như là tác giả tiết kiệm từng lời từng chữ...để không dẫn dắt độc giả vào những chi tiết quanh co nhưng vẫn làm rung động trái tim tình người... không như nhiều cây bút khác tôi đã từng đoc. Mời các bạn theo dấu chân di vào đoãn buồn một đời lưu lạc...

-----
Hai năm sau ngày đất nước chia đôi, từ miền Bắc hoang tàn, tôi lặn lội tới vùng giới tuyến mong vượt thoát vào miền Nam tự do.
Lần tới gần sông Bến Hải, đêm tối âm u bờ Bắc, tôi đã nhìn thấy cầu Hiền Lương vì bờ Nam rực sáng ánh đèn. Trên cột cờ cao vút, bóng cờ vàng sọc đỏ lung linh. Giọng ca ngọt ngào từ loa treo vọng về miền Bắc:
"...sông Bến Hải là nơi chia cắt đôi đường...
hỡi ai... lạc lối... mau quay... về đây ...!"

Tôi đứng đó chơi vơi định hướng, đăm đăm nhìn cờ vàng bên kia bờ sông lịch sử, uống từng lời ca trong cơn đói khát, rồi bừng tỉnh, lao lên phía trước. Từ đâu đó, mấy cái nón cối xông ra. Tôi bị trói hai tay bằng sợi thừng oan nghiệt, theo nón cối về lại địa ngục trần gian.
Mười chín tuổi, lao tù đày đọa, tôi đã mất mẹ, mất cha, bị quy là tư sản, xa vắng họ hàng vì chia rẽ giai cấp. Tôi mất Hà nội là nơi tôi sinh ra làm người Việt Nam. Không có tang cha khi cha gục xuống, không có tang mẹ khi mẹ xuôi tay, không hy vọng có đám cưới đời mình.

Bạo quyền cộng sản Việt Nam bắn giết hàng trăm ngàn người, bị quy là địa chủ. Nhiều trăm ngàn người bị tập trung lên rừng, để lại vợ con không nhà không đất. Thời gian làm ngưng nước mắt, oán than cũng vô ích, chỉ còn tiếng kêu vang vọng khắp miền: "Chúng tôi muốn sống!"

Hai mươi lăm năm sau (1981) tôi vượt biển, thoát tới Hong Kong. Bốn mươi tư năm từ lúc chào đời, tôi thành người tị nạn cộng sản.

Ngày tiếp kiến phái đoàn Mỹ xin đi định cư, một ông Mỹ dáng nghiêm trang, nghe tôi trả lời, đột nhiên hỏi "Anh có biết nói tiếng Pháp?". Tôi nhìn ông, giọng run run: "L'exilé partout est seul!" (Kẻ lưu đày nơi đâu cũng cô độc).
Ông gật đầu hiểu cả tiếng Tây, hiểu lòng tôi đau xót. Xưa tôi học trường Albert Sarraut, Hà Nội.
Đứng bên rào kẽm gai, sau dãy nhà tôn của trại tị nạn Hong Kong, một mình, suy tư thân phận. Tôi sẽ đến nơi xứ lạ là nước Mỹ xa xôi, tìm quê hương mới, chỉ trở về khi đất nước Việt Nam tự do, không còn cộng sản.
Đứa bé chừng 5, 6 tuổi, tung trái banh, toan bắt thì trượt chân trên sân trại. Tôi đã kịp giang tay đỡ cháu khỏi ngã thì người đàn bà chạy tới, đứng im, lặng lẽ nhìn tôi.

Tiếng trẻ thơ kêu "Má", tôi nhìn nàng... Sự thầm lặng và ánh mắt trao nhau là chân tình của người tị nạn Việt Nam nhẫn nhục, khổ đau, nói được nhiều hơn lời nói. Rồi những ngày sau đó, tâm sự, nỗi niềm, tôi đã cùng Mai kết thành bạn đường và bạn đời, đi Mỹ định cư.


Chồng Mai là người lính Cộng Hòa hiên ngang dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, quyết bảo vệ quê hương. Anh tử trận, mang thân đền nợ nước, để lại con thơ. Mai trở thành góa phụ, miền quê Đà Nẵng, cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại. Sau năm 1975, mất nước. Mẹ già khuất núi, con chậm lớn vì cháo loãng, bo bo thay cho sữa mẹ và cơm.
Một đêm mưa bão, Mai bị tên Việt cộng trưởng công an xã cưỡng hiếp, du kích xã canh gác quanh nhà. Mai phải sống vì con mới lên ba, mất cha còn mẹ. Người dân Đà Nẵng ra đi, đã mang theo vợ con người lính chiến tới Hong Kong năm 1981. Đứa con lên sáu không biết tiếng gọi "Ba"!


Tôi mang nặng tủi nhục, đọa đày triền miên từ đất Bắc đi tìm tự do. Mai gánh những thương đau, mất mát, cơ cực của miền Nam, bồng con đi tị nạn. Lấy dĩ vãng chia sẻ cùng nhau, chúng tôi sắp xếp lại hành trang cho bớt gánh đoạn trường, đi Mỹ.

Con đã có Má, có Ba. Má bồng con, Ba xách túi. Con có đồ chơi, cầm chiếc máy bay vẫy chào các chú, hai người lính chiến Quảng Nam đưa tiễn. Tôi nhìn con tự nhủ: "Ba sẽ dạy con tiếng "Cha", chỉ cho con hình người lính Cộng Hòa, ở bất cứ nơi đâu đều là Cha con đó!".


Mai đã nhất định không đi kinh tế mới. Tôi đã trốn công trường, vào tù chịu đựng, bây giờ dù bỏ lại quê hương nhưng còn Tổ quốc Việt Nam. Bốn ngàn năm lịch sử, thăng trầm, người dân nước Việt sẽ không trở thành Cộng sản.
Quê hương mới của chúng tôi là vùng đông bắc nước Mỹ. Căn apartment hai phòng, hai chiếc giường nệm, một chiếc bàn con, đã cho tôi ấn tượng đẹp những ngày đầu tới Mỹ.


Lúc tôi khôn lớn, không có chiếc giường làm nơi cư trú, vì đã thành vô sản. Rồi tôi hiểu, vô sản cũng vẫn còn giai cấp. Phải lên rừng, một miếng nylon bọc vài manh vải gọi là quần áo, thì mới thành "người vô sản chân chính"!
Nhìn con ngon giấc ngủ thần tiên, vợ chồng tôi thao thức, không phải lo âu mà thì thầm những dự định tương lai. 18 tháng welfare trợ cấp, đủ thời gian cho mình đi học tiếng Anh. Đọc dòng thư hội M&RS nhắc trả nửa tiền nợ vé máy bay sang Mỹ "Xin bạn trả dần 12 tháng, giúp cho người sau bạn định cư", theo ý Mai, ý nghĩ nhân hậu của người đàn bà làm mẹ, "mình trả ngay từ tháng thứ hai".

Việc đơn giản là tại sao người ta không khấu trừ vào trợ cấp, lại đòi riêng. Mai chỉ nhẹ nhàng "nợ thì mình trả, ở hiền sẽ gặp lành", nhưng tôi lại suy nghĩ mung lung. Đây là bước đầu thử thách, cái thước đo lòng người tị nạn. 72 đô tiền nợ một tháng, có thể không trả và quên đi. Một lần để lòng vẩn đục sẽ trở thành bất lương. Cha mẹ bất lương con cái sẽ chẳng nên người.


Một sáng mùa Xuân, "bé Nam" gọi Má, gọi Ba, chỉ bông hoa màu vàng màu đỏ đung đưa bên vườn hàng xóm, kêu lên "hoa tu-líp". Bà già người Mỹ đứng trên thềm, giơ tay vẫy vẫy. Mai đã nói "Thank you", ngọt ngào, mạnh dạn, tay chỉ trỏ, diễn tả được những gì muốn nói.
Bà Jenny hiểu chút ít về "chiến tranh Việt Nam" qua tivi, sách báo hồi bà còn dạy học. Bà đã thấy "Boat people", những thuyền nhân tị nạn, nhưng lần đầu bà thấy một gia đình người Việt đến vùng này, lại là hàng xóm nên bà có cảm tình. Đây là ứng nghiệm "Ở hiền gặp lành" hay là sự may mắn cho gia đình tôi? Nói thế nào thì cũng đúng vì vài nơi trên đất Mỹ vẫn còn kỳ thị chủng tộc.


Thời gian trôi đi nhưng hai tiếng "lần đầu" lặp lại: lần đầu ra nhà Bank, lần đầu tới Post Office. Có những lần đầu chưa biết, nhưng có hai lần đầu quan trọng: "bé Nam" đi học, chúng tôi xin được việc làm. Bà Jenny cùng chúng tôi đưa "cháu" tới trường, bà cho chiếc mũ baseball và đôi giày sneaker trắng muốt, khen "Cháu cute." Vợ chồng nhìn nhau, không hiểu, lát nữa về tra từ điển.
"Từ nay chúng mình có Má, bé Nam có Bà...!" Mai thốt lên khi chúng tôi đồng lòng nhận "Má Nuôi". Bà Jenny thành "Má Jen". Chuyện xảy ra vào ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), 17 năm về trước.
Sống một mình trong căn nhà rộng rãi, bà Jenny vốn là cô giáo nên rất yêu trẻ. Bà mời "cả nhà" sang ăn Turkey.
Bé Nam lên bảy, đi học, hiểu nhiều về Thanksgiving hơn Má và Ba. Ăn uống vui vẻ, vợ chồng tôi nói chuyện với bà, có lúc ngồi im lặng hơi lâu vì vốn tiếng Anh ít ỏi. Bỗng bé Nam kêu "Má...!", bà Jenny toan đứng dậy thì Mai buột miệng nói: "Má... let me do it!".


Nghe tiếng "Má" lỡ lời của Mai, tiếng Việt, vừa lạ, vừa thích, bà bâng khuâng giây lát.
Mai kể chuyện xưa, miền Đà Nẵng cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại... Tôi góp phần thông dịch, bớt thêm: Người Việt Nam coi việc chăm sóc cha mẹ già là bổn phận, dù chịu nhiều cơ cực cũng cố gắng đền ơn sinh thành, dưỡng dục.
Bà suy nghĩ mấy ngày, bỏ dự định chuyển về Florida, tỏ ý muốn nhận gia đình tôi làm Con, làm Cháu.
Chúng tôi dọn nhà sang ở chung với "Má Jen", điều này ít thấy trong các gia đình người Mỹ có con trưởng thành. Các con nhờ Má, nói được tiếng Anh. Cháu quấn quýt bên Bà, xem chú chuột Mickey. Mùa đông buốt giá nhưng trong nhà nồng ấm tình người. Má vui tươi hơn trước, thích ăn bánh xèo và phở Việt Nam.
Mai vẫn cặm cụi hàng ngày, làm những chiếc ví tay của phụ nữ. Mấy người bạn Việt Nam đặt cho Mai biệt danh "Bà đầm hãng bóp" vì "giỏi việc, lại biết tiếng Anh," nhiệt tình giúp đỡ bà con.

Cũng như Má Jen, Mai không thích sa hoa, theo Má vào tiệm sách trong Mall nhiều hơn vào tiệm bán phấn son, make up. Việc từ thiện đã thành sở thích, Mai gửi 200 đôla, mỗi lần, giúp đồng bào bão lụt miền Trung, miền Bắc, vì lương tâm, đạo lý. Kẻ cầm quyền ăn chặn của dân, như đám cướp, có bao giờ được mãn kiếp yên thân. Đức Phật từ bi dạy Mai lòng độ lượng.


Tôi làm technician, ngành điện tử. Nhớ xưa, học sửa radio bị nghi làm gián điệp. Bộ công an Hà nội lấy công nông lãnh đạo, coi "điện tử" là CIA. Mười bảy năm trong ngành điện tử, nay chắc tôi thành CIA ngoại hạng!
Bây giờ, ngồi trước máy computer, nối vào mạng Net, đọc Website tiếng Anh, tiếng Việt, thông tin thế giới bằng email, việc hãng, việc nhà, công tư hòa vào nhau từng ngày làm việc, tôi đã có cuộc sống an hòa, hạnh phúc, một gia đình thật sự yêu thương.
"Ngày mai, chúng mình đi New York thăm con".
Mai nắm tay tôi, hân hoan về ngày mai.
Ngày mai là tương lai của bé Nam ngày trước, giờ là một thanh niên cao 6 feet, đầy nghị lực bước vào đời. Xong đại học, Nam Nguyen trở thành chuyên viên tài chánh, làm việc trong văn phòng, tầng thứ 32 của một nhà "chọc trời" New York.
Ngày con ra trường là ngày vui trọn vẹn, ngày con nhận việc mới là niềm sung sướng của Má, của Ba, của Gia Đình tị nạn, mong ước từng ngày cho Con thành Người.


Lâu lắm rồi, tôi mới có một đêm không ngủ để nhìn lại đời mình. Tháng chín, trời sang Thu se lạnh vùng đông bắc nước Mỹ. Tôi đã sống nơi đây 18 năm tị nạn, không thất vọng mà tin tưởng vào tương lai.
Người cộng sản muốn làm hung thần cai quản địa cầu, dựng lên Địa Ngục. Dựng được vài phần thì sụp đổ, sót lại từng mảnh vỡ điêu tàn. Hung thần đã chết.


Thoát kiếp lưu đày làm người tự do, tôi kính cẩn tri ân người phá ngục: người lính Cộng Hòa, giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ, chính nghĩa Quốc Gia. Việt Nam, từ tinh thần đến lãnh thổ.
Người lính chiến Cộng Hòa hiên ngang đi làm Lịch Sử. Không có Anh, tôi đã không có niềm tin để sống sót, đã thành nấm mộ hoang trên rừng xơ xác. 21 năm kiên cường giữ vững miền Nam, Anh đối mặt hung thần, cứu sống thêm hàng triệu người vô tội.

Người lính của miền Nam tự do tử trận. Anh để lại người Vợ hiền, cuốc đất trồng khoai, chúng vẫn không tha, chà đạp nhân phẩm. Tôi lê bước chân vô định, gặp Mai làm Bạn Đường, nhìn mắt con thơ thấy hình người lính chiến.
Anh đã để lại Con Thơ cho tôi được làm "Ba" mang tròn trách nhiệm. Con đã trưởng thành, mai này sẽ góp phần xây dựng lại Quê Hương. Tôi muốn níu lại thời gian để được thương vợ, thương con nhiều hơn nữa.
Đã quá nửa đêm về sáng. Nhìn Mai ngon giấc ngủ thần tiên như "bé Nam" ngày đầu tới Mỹ, tôi ngồi im lặng bên bàn viết, đợi chờ sớm mai để được nhìn bình minh bừng sáng Phương Đông, được nhìn Mai thức dậy, mỉm cười, âu yếm nhìn chồng.


Cuộc sống an vui. Ngót 20 năm rồi, không biết khóc, đêm nay tôi nhỏ từng dòng lệ, xúc động, bùi ngùi.
Tôi đang sống và đang viết Bài Tình Ca của Một Người Tị Nạn.


NGUYỄN VĂN LUẬN

Hôn - Sáng Tác: Tống Viết Minh - Thực Hiện: Phạm Anh Dũng - AI

Xin gửi bản tình ca “HÔN” đến tặng những ai đã hoặc đang yêu, với những mộng ước đã hoặc chưa thành.

Tống Viết Minh


Lời của bản nhạc

Hôn trên đôi mắt em, xin cho em, đời giấc ngủ thiên thần. 

Hôn trên má lúm xinh, nguyện cho em, đời không là lừa dối

Hôn lên mái tóc nghiêng, cho đời em mãi sống trong bình yên.

Anh hứa sẽ yêu em, anh yêu em như giây phút ban đầu.

Anh hứa luôn yêu em, anh yêu em, yêu mãi đến mai sau

Mình yêu nhau em nhé, dù vạn lý cách xa.

Mình dìu nhau đi tới, khung trời riêng đôi ta.

                                 *****

Nầy em yêu, hãy ngồi lại gần bên anh.

Tựa vai anh, em nghe bài ca anh viết.

Từng nụ hôn, phiếm rung, nhịp yêu bất diệt

Từng câu ca, anh hát hôn em ngàn năm.

                                 *****

Qua bao nhiêu tháng năm, xin cho em hằng giữ nét yêu kiều.

Em luôn vẫn tươi vui, dù chông gai bủa vây từ ngàn lối.

Qua bao nhiêu nổi trôi, bờ môi em luôn thắm tươi nụ cười.

Đôi ta vẫn bên nhau, ta yêu nhau mãi đến muôn đời sau.

Đôi ta vẫn bên nhau, ta yêu nhau mãi đến muôn đời sau.

Đôi ta vẫn bên nhau... ta yêu nhau mãi đến... muôn đời sau...

 

BS Tống Viết Minh YK65-72, HD 19, SB58/57

Đừng Vội Vứt Đồ Ăn Vì Quá Hạn - Huỳnh Chiếu Đẳng


Nguồn tin và  chi tiết: https://apnews.com/article/date-labels-food-safety-term=Morning%20Wire%20Subscribers 

HCD: Máy dịch nội dung bài báo (có thể còn sót những “tiếng mới” khó hiểu khó nghe)


Đừng vội vứt đồ ăn khi mới vừa quá hạn trên nhãn!

Mấy vị chuyên gia vừa lên tiếng nhắc nhở bà con chớ có phung phí tiền bạc. Mấy cái nhãn ghi "Hạn dùng tốt nhất" (Best Before) dán trên hộp trứng, hộp sữa thường chỉ là cái mốc để biết đồ ăn lúc nào tươi ngon nhất thôi, chứ hông phải hễ qua ngày đó là đồ ăn biến thành thuốc độc. Trong lúc giá cả chợ chuẩn đang đắt đỏ, chuyện cái gì cũng đem quăng vô thùng rác chỉ vì nhìn cái ngày dán trên hộp là cực kỳ tốn tiền tốn bạc!

Olga R. Rodriguez
Cập nhật lúc 5:03 sáng (giờ Thái Bình Dương), ngày 28 tháng 7 năm 2026

SAN FRANCISCO (AP) — Nếu bạn từng bỏ đi một hộp sữa hoặc một hũ sữa chua chỉ vì ngày ghi trên Vỏ hộpđã qua, thì bạn không phải là người duy nhất.

Rất nhiều người bỏ thức ăn chỉ vì thấy ngày ghi trên nhãn. Nhưng theo lời các nhà chuyên môn, trong nhiều trường hợp, thức ăn ấy vẫn còn ăn được.

Ngoài sữa bột dành cho trẻ nhỏ, hiện nay không có luật liên bang nào buộc phải dùng một lối ghi ngày tháng giống nhau trên các loại thức ăn. Vì vậy, những dòng chữ như
“Best Before” (ngon nhất trước ngày...),
“Best By” (ngon nhất nếu dùng trước...),
Best If Used By” (giữ phẩm vị tốt nhất nếu dùng trước...),
“Enjoy By” (nên dùng trước...), hay
“Sell By” (cửa tiệm nên bán trước...) thường làm người mua bối rối.

Điều mà phần đông mọi người chưa biết là những dòng chữ ấy chủ yếu nói đến độ tươi ngon của món ăn, chứ không phải để cho biết món ấy còn an toàn hay không.

Tiểu bang California đang cố làm cho việc này rõ ràng hơn bằng một đạo luật mới. Theo luật ấy, các hãng làm thực phẩm chỉ còn được dùng hai loại nhãn: một loại nói về phẩm vị, và một loại nói về sự an toàn.

Dưới đây là vài điều giúp bạn hiểu rõ ý nghĩa các nhãn ghi ngày tháng trên thực phẩm, để khỏi phải bỏ đi những món vẫn còn dùng được, dù bạn không sống tại California.

Bài này thuộc loạt bài Be Well của hãng AP, chuyên nói về việc giữ gìn sức khỏe, vận động thân thể, ăn uống và sức khỏe tinh thần.


Tại Hoa Kỳ có hơn 50 lối ghi ngày khác nhau

Một cuộc khảo cứu năm 2019 của Trường Y tế Công cộng Bloomberg thuộc Đại học Johns Hopkins cho thấy hơn 80% người tiêu thụ tại Hoa Kỳ, ít nhất đôi khi, vẫn bỏ thức ăn khi thấy gần đến ngày ghi trên bao bì.

Ông Donald Schaffner, người chuyên nghiên cứu về sự an toàn của thực phẩm tại Đại học Rutgers, nói:

"Những ngày ghi trên nhãn chỉ bảo đảm rằng món ăn còn giữ được phẩm vị tốt cho đến lúc ấy. Chúng không nhằm nói rằng món ăn còn an toàn hay không."

Việc ghi ngày trên thực phẩm khác nhau tùy từng tiểu bang và do chính hãng sản xuất quyết định. Các nhà khảo cứu thuộc Đại học Maryland nhận thấy hiện có hơn 50 kiểu ghi ngày khác nhau được dùng trên khắp Hoa Kỳ.

Bà Rachel Zemser, một chuyên viên về khoa học thực phẩm tại vùng Vịnh San Francisco, người giúp các hãng chế tạo và đưa các món ăn mới ra thị trường, nói:

"Những ngày ấy được đặt ra theo nhận định của hãng sản xuất về lúc món ăn còn ngon nhất, hay lúc phẩm vị của nó đạt mức cao nhất."

Vỏ hộp ảnh hưởng đến thời gian thức ăn còn dùng được

Những món đóng hộp chưa mở như đậu, cà chua, trái cây, rau cải, cùng mọi loại thực phẩm đóng kín có thể để ở nhiệt độ thường, vẫn có thể giữ được nhiều năm sau ngày ghi trên nhãn.

Điều ấy cũng đúng với sữa đậu nành, sữa hạnh nhân đóng hộp, hay những món đã được đun nóng rồi đóng kín để có thể giữ ở nhiệt độ thường mà không cần bỏ tủ lạnh.

Các món khô như bánh quy, bánh giòn và ngũ cốc cũng giữ được rất lâu, vì chúng có rất ít hơi nước nên vi trùng khó sinh sôi.

Bà Zemser nói:

"Người ta có thể tự xem xét bằng cách ngửi và nếm. Những chiếc bánh quy khô hay bánh giòn có thể bị ỉu hoặc mất ngon, nhưng ăn vào thường không làm bạn đau bệnh."

Tuy nhiên, cần cẩn thận hơn với thịt bò, thịt gà và cá. Dù được cất trong tủ lạnh, chúng vẫn có thể hư. Nếu gói thật kín rồi đem đông lạnh trước ngày ghi trên Vỏ hộpthì sẽ giữ được lâu hơn.

Bà Zemser nói:

"Phần lớn vi trùng cần có hơi nước và không khí mới sinh sôi được. Vì vậy những món thật khô có thể giữ lâu, nhưng riêng thịt thì tôi không dám liều."

Trang mạng và chương trình miễn phí FoodKeeper, do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Đại học Cornell và Viện Tiếp Thị Thực Phẩm cùng thực hiện, có ghi rõ mỗi loại thực phẩm có thể giữ tươi và còn dùng được trong bao lâu.

California muốn làm cho cách ghi nhãn dễ hiểu hơn

California là tiểu bang đầu tiên tại Hoa Kỳ đặt ra một lối ghi nhãn thống nhất bằng cách bỏ hẳn kiểu ghi "Sell By".

Đạo luật bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 vừa qua buộc các hãng bán thực phẩm tại California chỉ được dùng hai loại nhãn:

  • "Best If Used By": chỉ thời điểm món ăn còn giữ phẩm vị tốt nhất.
  • "Use By": chỉ thời điểm liên quan đến sự an toàn khi dùng.

Ông Nate Rose, phát ngôn viên của Hiệp hội Các Tiệm Thực Phẩm California, cho biết dòng chữ "Sell By" vốn chỉ để các cửa tiệm biết nên bày bán món hàng trong bao lâu trước khi phẩm vị bắt đầu giảm.

Ông nói:

"Có thể xem đó như một cách ghi chú nội bộ dành cho người quản trị cửa tiệm và nhân viên."

Các nhà làm luật của tiểu bang New York cũng vừa thông qua một đạo luật tương tự. Hiện đạo luật ấy đang chờ Thống đốc Kathy Hochul ký ban hành.

Phần lớn các nhãn ghi ngày nói về phẩm vị, không phải sự an toàn

Theo luật liên bang, chỉ có sữa bột dành cho trẻ nhỏ là buộc phải ghi ngày hết hạn. Không nên dùng sau ngày ấy vì giá trị dinh dưỡng sẽ giảm dần theo thời gian.

Ông Schaffner giải thích:

"Đối với trẻ nhỏ, sữa bột là nguồn dinh dưỡng chính. Nếu dùng sữa đã quá hạn, đứa trẻ có thể không nhận đủ chất bổ cần thiết."

Nói chung, mỗi người nên tự xem xét món ăn trước khi quyết định bỏ đi. Nếu thấy có nấm mốc, mùi lạ hoặc màu sắc khác thường thì không nên dùng nữa.

Ngoài ra, hãy tin vào vị giác của chính mình.

Ông Schaffner khuyên:

"Hãy tập thói quen dùng thức ăn theo thứ tự cũ trước, mới sau; chỉ mua vừa đủ ăn; đừng mua quá nhiều đến nỗi không dùng hết. Vì chẳng ai muốn ăn những món đã mất ngon cả."

Nếu muốn, tôi cũng có thể sửa bản dịch này theo đúng văn phong miền Nam trước năm 1975 hơn nữa (thí dụ đổi "người tiêu thụ" thành "người mua", "phẩm vị" thành "mùi vị", "chương trình" thành "ứng dụng", v.v.) để đọc tự nhiên hơn.

Dưới đây là mấy lời bàn luận qua lại của thiên hạ xung quanh cái vụ này:

  • Độc giả  rmnrx góp ý về chuyện thuốc men: Ổng bảo hông riêng gì đồ ăn, mà ngay cả mấy viên thuốc tây cũng vậy. Mấy loại thuốc viên nếu giữ kỹ nơi khô ráo, thoáng mát thì qua hạn in trên vỏ hộp vẫn còn nguyên chất lượng. Mấy hãng thuốc họ chỉ ấn định cái hạn đó để đỡ phải tốn tiền nghiên cứu coi thuốc để được bao lâu thôi. Ngoại trừ mấy loại thuốc đặc trị hay thuốc nhức đầu dễ biến chất, còn lại đa số đều xài tiếp tốt chán!
  • Độc giả  ConcernedCitizen123 thì cằn nhằn: Ổng than thở rằng dân chúng thời nay sao mà dạ khờ quá, tới chuyện ăn uống sinh hoạt hàng ngày mà cũng hông biết tự phân biệt tươi hư, phải đợi chính quyền ra tay đặt luật lệ quản lý mấy cái ngày tháng đó thì mới biết đường mà làm.
  • Ông cựu quân nhân ProudlyServed_USAF chia sẻ kinh nghiệm dân gian: Ổng bảo cứ dùng cái mũi mà ngửi là chắc ăn nhất! Như miếng thịt heo muối mà ngửi vẫn thơm tho thì cứ việc ăn. Ổng còn bày cách bỏ ổ bánh mì vô tủ lạnh là để dành ăn được lâu gấp đôi. Rồi ổng than bình sữa tươi mua về hễ thấy cái hạn còn ngắn quá là y như rằng xài chưa kịp hết đã bị chua.
  • Độc giả  pewpew thì tính toán chi li: Chuyện bỏ hay giữ là tùy món. Chữ "ngon nhất" chỉ có nghĩa là ngon nhất thôi, chứ qua ngày hôm sau đâu có nổ tung hay sinh bệnh liền được! Đi chợ thấy đồ gần hết hạn mà tiệm người ta dán nhãn bớt giá một nửa là ổng chộp liền, tội gì hông mua! 

HCD: Đố các bạn tại sao tôi để nguyên văn mà không tóm tắt

Một hạt gạo rơi, mười giọt mồ hôi người cày cấy;

Một bữa ăn thừa, trăm tiếng thở dài kẻ đói lòng.


Lại rằng:

Của cải có dư, chớ để dư thành phung phí;

Từ tâm chưa đủ, nên đem cơm sẻ với người.


Huỳnh Chiếu Đẳng (Quán ven đường)

Tuesday, August 11, 2026

Mù Căng Chải Mùa Nước Đổ - Cảnh Đẹp Ở VN - TUẤN VŨ

Mùa nước đổ khiến những thửa ruộng bậc thang Mù Cang Chải (tỉnh Yên Bái) hiện lên với màu của đất nâu hòa quyện cùng trời xanh và mặt nước óng ánh, dưới nắng vàng rực rỡ đẹp tựa như một bức tranh.

Ruộng bậc thang Mù Cang Chải nằm trải rộng trên diện tích hơn 2.300ha, nhưng tập trung nhiều nhất ở 3 xã La Pán Tẩn, Dế Xu Phình và Chế Cu Nha. Đây là nơi canh tác lúa nước của người Mông và cũng là minh chứng cho sự sáng tạo trong việc canh tác lúa nước thích ứng với điều kiện khí hậu, đất đai và thủy lợi của đồng bào dân tộc miền núi.

Ruộng bậc thang Mù Cang Chải nằm trải rộng trên diện tích hơn 2.300 ha, nhưng tập trung nhiều nhất ở 3 xã La Pán Tẩn, Dế Xu Phình và Chế Cu Nha. Đây là nơi canh tác lúa nước của người Mông và cũng là minh chứng cho sự sáng tạo trong việc canh tác lúa nước thích ứng với điều kiện khí hậu, đất đai và thủy lợi của đồng bào dân tộc miền núi.

Nếu có dịp đến Mù Cang Chải vào tháng 5-6, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của những thửa ruộng bậc thang nơi đây vào mùa nước đổ.

Vẻ đẹp của Mù Cang Chải vào tháng 5-6, mùa nước đổ.

Không thẳng cánh cò bay như những cánh đồng ở vùng đồng bằng phù sa châu thổ, những thửa ruộng ở vùng cao ở Tây Bắc nói chung và Mù Cang Chải nói riêng cứ chồng lấn lên nhau từ lớp này đến lớp khác như những bậc thang bắc lên trời xanh.

Không thẳng cánh cò bay như những cánh đồng ở vùng đồng bằng phù sa châu thổ, những thửa ruộng ở vùng cao ở Tây Bắc nói chung và Mù Cang Chải nói riêng cứ chồng lấn lên nhau từ lớp này đến lớp khác như những bậc thang bắc lên trời xanh.

Để có những thửa ruộng bậc thang, người Mông ở Mù Cang Chải phải chọn những vùng đất trên triền đồi, sườn núi có diện tích khá rộng, độ dốc vừa phải và vị trí thuận lợi để đón nước mưa, nước suối.

Để có những thửa ruộng bậc thang, người Mông ở Mù Cang Chải phải chọn những vùng đất trên triền đồi, sườn núi có diện tích khá rộng, độ dốc vừa phải và vị trí thuận lợi để đón nước mưa, nước suối.

Mặc dù công việc khai đất và dẫn nước cho ruộng bậc thang nơi đây có khó khăn hơn, nhưng bù lại, ngoài những vụ mùa bội thu, những dân tộc nơi đây còn kiến tạo nên một kỳ quan thiên nhiên kỳ vĩ.

Mặc dù công việc khai đất và dẫn nước cho ruộng bậc thang nơi đây có khó khăn hơn, nhưng bù lại, ngoài những vụ mùa bội thu, những dân tộc nơi đây còn kiến tạo nên một kỳ quan thiên nhiên kỳ vĩ.

Đó là những mảng màu đa sắc của ruộng bậc thang mùa nước đổ, đẹp tựa một bức bích họa giữa đại ngàn Tây Bắc.

Đó là những mảng màu đa sắc của ruộng bậc thang mùa nước đổ, đẹp tựa một bức bích họa giữa đại ngàn Tây Bắc.

Không màu mè, lộng lẫy như mùa thu, khi ruộng bậc thang Mù Cang Chải được nhuộm bởi màu vàng óng ả của sắc nắng và những bông lúa chín trĩu hạt, ruộng bậc thang vào mùa nước đổ mang một gam màu trầm, một vẻ hoang sơ, đúng chất của núi rừng Tây Bắc. 

Không màu mè, lộng lẫy như mùa thu, khi ruộng bậc thang Mù Cang Chải được nhuộm bởi màu vàng óng ả của sắc nắng và những bông lúa chín trĩu hạt, ruộng bậc thang vào mùa nước đổ mang một gam màu trầm, một vẻ hoang sơ, đúng chất của núi rừng Tây Bắc.

Màu vàng của đất chưa cấy, màu trắng loang loáng của nước đã đổ, màu xanh của nương mạ, màu đỏ của hoa gạo, màu bàng bạc của dòng suối chảy vắt qua giữa thung lũng cùng vô số màu sắc từ những chiếc váy áo, từ cuộc sống lao động hăng say đã làm nên những mùa xuân miền núi.

Màu vàng của đất chưa cấy, màu trắng loang loáng của nước đã đổ, màu xanh của nương mạ, màu đỏ của hoa gạo, màu bàng bạc của dòng suối chảy vắt qua giữa thung lũng cùng vô số màu sắc từ những chiếc váy áo, từ cuộc sống lao động hăng say đã làm nên những mùa xuân miền núi.

Cảnh nơi đây kỳ thực là những món quà kỳ vĩ vào mùa hạ dành cho những người yêu thích cảnh vật, thiên nhiên, sự kiến tạo tuyệt vời của tạo hóa. Và gương mặt ngây thơ của những đứa trẻ vùng cao cũng là những điểm nhấn thú vị tại nơi này.

Cảnh nơi đây kỳ thực là sự kiến tạo tuyệt vời của tạo hóa. Và gương mặt ngây thơ của những đứa trẻ vùng cao cũng là những điểm nhấn thú vị tại nơi này. 

Vùng rẻo cao của Yên Bái hiện lên với màu của đất nâu hòa quyện cùng trời xanh và mặt nước óng ánh dưới nắng vàng rực rỡ. Vào mùa nước đổ, Mù Cang Chải khoác lên mình chiếc áo mới đầy màu sắc, quyến rũ một cách riêng khác với thời điểm lúa chín tháng 10.

Vùng rẻo cao của Yên Bái hiện lên với màu của đất nâu hòa quyện cùng trời xanh và mặt nước óng ánh dưới nắng vàng rực rỡ. Vào mùa nước đổ, Mù Cang Chải khoác lên mình chiếc áo mới đầy màu sắc với thời điểm lúa chín tháng 10.

Ánh nắng phản chiếu của nước quyện cùng ánh mặt trời, và màu xanh của mạ non tạo nên một bức tranh đẹp mê mẩn trên những thửa ruộng bậc thang với hình ảnh bà con dân tộc Mông đang hăng say cấy hái.

Ánh nắng phản chiếu của nước quyện cùng ánh mặt trời, và màu xanh của mạ non tạo nên một bức tranh đẹp mê mẩn trên những thửa ruộng bậc thang với hình ảnh bà con dân tộc Mông đang hăng say cấy hái. 

Lũ trẻ con cũng tung tăng theo bố mẹ, đứa ngồi trên bờ trông em, đứa lớn thì vận chuyển mạ, đứa lại đang vắt vẻo trên cây gạo giữa thung lũng hái những bông hoa rực đỏ cuối mùa.

Lũ trẻ con cũng tung tăng theo bố mẹ, đứa ngồi trên bờ trông em, đứa lớn thì vận chuyển mạ, đứa lại đang vắt vẻo trên cây gạo giữa thung lũng hái những bông hoa rực đỏ cuối mùa.

Huyện Mù Cang Chải có khoảng trên 62.000 dân, trong đó 91% là dân tộc Mông, còn lại là dân tộc Thái, Kinh và các dân tộc khác. Sự đa dạng về dân tộc cũng tạo nên cho Mù Cang Chải có một nền văn hóa phong phú, là sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc trong toàn huyện.

Huyện Mù Cang Chải có khoảng trên 62.000 dân, trong đó 91% là dân tộc Mông, còn lại là dân tộc Thái, Kinh và các dân tộc khác. Sự đa dạng về dân tộc cũng tạo nên cho Mù Cang Chải có một nền văn hóa phong phú, là sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc trong toàn huyện.

Bằng sự sáng tạo thông minh, đôi bàn tay cần cù, chăm chỉ, cùng sức mạnh tập thể, những người dân vùng cao đã tạo nên hệ thống ruộng bậc thang độc đáo và kỳ vĩ.

Bằng sự sáng tạo thông minh, đôi bàn tay cần cù, chăm chỉ, cùng sức mạnh tập thể, những người dân vùng cao đã tạo nên hệ thống ruộng bậc thang độc đáo và kỳ vĩ.

Không chỉ giúp nhân dân có cuộc sống ổn định, đẩy lui đói nghèo mà sự hòa quyện giữa vẻ đẹp của những thửa ruộng bậc thang cùng nét văn hóa bản địa độc đáo còn giúp Mù Cang Chải trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn.

Vẻ đẹp của Mù Cang Chải. 

Năm 2007, ruộng bậc thang ở 3 xã La Pán Tẩn, Dế Xu Phình và Chế Cu Nha - thiên đường ruộng bậc thang Việt Nam - đã được Nhà nước công nhận Danh thắng quốc gia. Không chỉ vậy, Mù Cang Chải còn được bầu chọn vào top 10 ruộng bậc thang đẹp nhất thế giới.

Mù Cang Chải còn được bầu chọn vào top 10 ruộng bậc thang đẹp nhất thế giới.

Nhằm quảng bá du lịch cũng như vẻ đẹp ruộng bậc thang, hàng năm huyện Mù Cang Chải tổ chức các hoạt động du lịch “mùa nước đổ” thu hút đông đảo du khách đến với vùng cao nơi đây.

Vẻ đẹp ruộng bậc thang của Mù Cang Chải.

Năm nay do tình hình dịch bệnh COVID-19 nên các chương trình hoạt động đều dừng tổ chức. Tuy nhiên, du khách vẫn có thể chiêm ngưỡng qua ống kính của các nghệ sĩ nhiếp ảnh Yên Bái ghi nhận tại đây.

Mù Cang Chải qua ống kính của các nghệ sĩ nhiếp ảnh Yên Bái.


TUẤN VŨ

Vẩn Vơ Lắm Chuyện - Đỗ Duy Ngọc


 1. Chơi  thể thao

Nhiều bữa không ngủ được, nằm nghĩ toàn mấy chuyện tào lao.  Ví dụ như những năm sau 1975, cơm không có mà ăn; ăn toàn bo bo với khoai mì, thức ăn toàn cá ươn và rau héo. Lúc đó chỉ mong có bát cơm trắng, bữa cơm có thịt. Giải trí thì chỉ quanh quẩn mấy bài ca cách mạng; thể thao thì chỉ loanh quanh bóng đá, bóng chuyền.


Thời mở cửa, tiền bạc khá hơn, đời sống được nâng cao, bắt đầu xuất hiện phong trào chơi “Tennis.” Thật ra trước 75, ở miền Nam, “Tennis” cũng là bộ môn có khá nhiều người chơi, nhưng toàn là tướng tá, nhà giàu, công chức cấp cao vì sân “Tennis” không nhiều mà dụng cụ thì giá rất đắt.

Từ cuối thập niên 80, phong trào chơi “Tennis" nở rộ; sân “Tennis” mở ra nhiều; Vợt, banh, giày, vớ, áo quần được nhập về; và “Tennis” lúc đó là thú chơi của người có tiền, nhất là cán bộ. Ra đường mà mặc bộ đồ đánh “Tennis” trắng, giày hiệu Adidas, Nike... với vợt hiệu Wilson, Head… chính hãng là quý tộc rồi.


Vẫn biết đó là môn thể thao để mang lại sức khoẻ. Thế nhưng lắm người đến với bộ môn này để khoe khoang. Thời đó là thú chơi trưởng giả, có “đẳng cấp” cao trong xã hội.

Ngồi đâu cũng nghe bàn về “Tennis,” thể hiện đẳng cấp.  Dần dà, khi phong trào “Golf” du nhập vào, nhiều sân “Golf “xây lên, 18, 36 lỗ đều có đủ. Người ta lấy luôn đất sân bay làm sân “Golf.” Từ đó “Tennis” thành trò chơi bình dân, ít vốn, không còn được nhắc đến nhiều nữa.

Từ đấy “Golf” mới là quý tộc, là đẳng cấp, là dân chơi thứ thiệt.  Đi vào thế giới của trưởng giả, của trọc phú, của doanh nhân, của cán bộ đều bàn chuyện “Golf”; và giá cả của các món đồ phục vụ thú chơi này với giá cao ngất ngưỡng.

Tennis” xuống giá. “Golf” lên giá.

Giá trị của "đẳng cấp" đã thay đổi.



2. Chuyện ăn chay / ăn thịt

Một thời người ta mong có miếng thịt mỡ để có chất béo, để rán, để chiên. Mong có miếng thịt nạc để có thêm chất đạm.

Đến khi mở cửa, thức ăn tràn trề, thích gì có đấy, chỉ sợ không có tiền thì lại rộ lên phong trào ăn chay.

Doanh nhân bạc tỷ cũng ăn chay; nghệ sĩ, người mẫu cũng ăn chay; tu cũng chay mà không tu cũng chay.  Tiệm cơm chay mở ra tràn ngập, bình dân có, sang chảnh có. Đi đâu cũng nghe bàn chuyện ăn rau cỏ. Vào nhà hàng sang trọng, giá cả trên trời cũng chỉ gọi món rau trộn. Ăn chay trở thành phong trào, trở thành mốt thời thượng.

Ngược với ăn chay lại có một xu hướng kiếm ăn thịt thú rừng.  Thú càng hiếm càng quý, càng được săn đuổi. Thưởng thức thịt rừng là một thú vui quý tộc. Ăn những món ăn bình thường là tầm thường, phải tay gấu, óc khỉ, mật rắn, chồn hương, tê tê...  rồi sừng tê, mật gấu, cao hổ, nhung hươu mới là dân chơi thứ thiệt.

Chay hay mặn…  Cán bộ ta toàn là dân chơi thứ thiệt!



3. Chuyện cúng bái / mê muội

Từ chuyện ăn chay lại dẫn đến chuyện tu hành.  Xã hội càng tàn bạo, khát máu, bạo lực, lừa lọc, dối trá, láo toét thì người nói chuyện tu hành, kinh kệ càng nhiều.  Chùa chiền mọc lên như nấm.

Thằng du đãng giết người cướp của, bà cho vay nặng lãi, chứa gái, buôn ma tuý, cán bộ tham nhũng, cướp đất của dân ngày rằm, mồng một, lễ, vía... đều mang tiền, dâng hương, vàng mã cúng lạy Phật.  Họ cầu chức, cầu tiền, làm ăn phát đạt. Họ cầu giàu càng giàu thêm, ghế càng cao thêm, chức tước bổng lộc càng nhiều hơn.

Bởi có chức là có tiền, có nhà to, có đô la, hột xoàn, vàng ký.



4. Chuyện tu theo phong trào

Chưa bao giờ mà câu “A-Di-Đà-Phật” lại xuất hiện nhiều trên cửa miệng dân gian nhiều đến thế.  Nó tràn đầy trong các mạng xã hội, đầy dẫy trong các “comment.”  Tự hỏi họ có hiểu câu ấy muốn nói điều gì, ẩn chứa tư tưởng gì, chắc hẳn chẳng mấy người hiểu.



Họ bắt con chim đang sống tự do trên trời, con cá đang sống hạnh phúc dưới nước nhốt vào lồng, vào chậu, giam đói, chết khát rồi đúng giờ, đúng ngày đem thả ra gọi là phóng sinh.  Sát sinh chứ phóng sinh nỗi gì?


Tu theo phong trào, đọc kinh ê a theo phong trào, dạy người khác đạo lý, tín điều cũng theo phong trào.  Trở thành một xã hội cuồng tín và mê muội.  Một thời loạn tăng, loạn pháp…

Một số không ít thầy tu thuyết pháp toàn nói chuyện vớ vẩn, phản khoa học, công kích, nói xấu các tôn giáo khác.  Xu nịnh người giàu, coi thường kẻ nghèo, cứ bước vào chùa là thấy rõ. Chùa thành doanh nghiệp,  thầy tu thành doanh nhân,  loạn xà ngầu cả lên.



5. Phong trào từ thiện

Bản chất của việc từ thiện là sự chia sẻ, là chuyện tốt, Nhưng làm từ thiện mà khoe khoang cho tất thảy mọi người, mà tự hào xem đó là công trạng thì chưa hiểu hết nghĩa bố thí của nhà Phật.

Vật để cho là mối liên kết giữa người cho và kẻ nhận. Vật này trước tiên hết phải thuộc về người cho sở hữu, nghĩa là nó là vật của người cho (chứ không phải là lấy của người, hay của công rồi đem cho!).

Cho một vật không phải của mình thời không thành nghĩa bố thí được. Sau khi cho, vật ấy trở thành vật của người nhận, và người cho không còn quyền hạn gì đối với vật ấy nữa.  Cho như thế có nghĩa là "xả bỏ" các sở hữu của mình, “xả bỏ” những gì mà mình có.

Còn cho rồi mà vẫn cầu ân, kể lể thì đó chỉ là làm cho cái tôi của mình chứ chẳng phải vì tha nhân.



6. Chuyện chơi lan, chơi "Bonsai" đột biến

Chơi lan, chơi “bonsai là thú vui tao nhã.  Nhưng rồi người ta không dừng lại đó, đưa tới chuyện phá rừng, cưa cây đem về trưng bày trong vườn nhà.

Cây trăm năm trong rừng già biến thành chậu “bonsai” cho lớp người nhà giàu mới. Cây lan biến hoá thành đột biến giá cả trăm tỷ đồng.

Những thú chơi thanh lịch ngàn năm biến thành những trò cờ bạc, lọc lừa.



7. Phong trào lạ - Mặc quân phục lính Mỹ, lính VNCH và hát nhạc lính miền Nam.

Có một hiện tượng khó mà cắt nghĩa được là hiện nay ở miền Bắc có phong trào mặc quân phục lính Mỹ, lính Việt Nam Cộng Hoà, hát nhạc lính miền Nam rất rầm rộ.

Họ tụ tập thành hội đoàn rất đông, có tổ chức đàng hoàng dù ngày xưa chửi Mỹ, hô hào “Đánh cho Mỹ cút, Nguỵ nhào!” Nam thanh, nữ tú đủ cả.  Mỗi lần họ tập họp nhìn y như cả tiểu đoàn quân đội VNCH đang chuẩn bị hành quân diệt cộng!

Nhìn mặt họ hân hoan, sung sướng, tự hào, thoả mãn mới chết người!

Thế là sao nhỉ?



8. Chuyện Phản quốc (?)

Cũng một thời, người ta toàn nói chuyện yêu nước thương dân, lòng ái quốc, nghĩa đồng bào.  Những gia đình vượt biên bị niêm phong với dấu đỏ lòm là phản quốc. 

Giờ thì ngồi đâu cũng nói chuyện Mỹ, chuyện Pháp, chuyện Anh.  Người Việt ngày xưa trốn chạy, vượt biên giờ trở thành "khúc ruột ngàn dặm."

Con cán bộ từ cấp trung đến cấp cao đều du học Mỹ. Nhiều cán bộ chưa về hưu đã có thẻ xanh lận túi, chờ đến giờ là vọt qua Mỹ.

Thế mới thấy trên đời này mọi giá trị chẳng có chi là vĩnh cửu.



9. Chuyện giàu sang

Trong tiếng Việt chữ giàu đi với chữ sang.

Nhưng thời nay, giàu tiền thì nhiều nhưng mà sang thì không có mấy.  Đốt đuốc cũng khó tìm ra.  Bởi sang nằm trong cốt cách, trong cách ứng xử, trong trí tuệ, trong ngôn ngữ thể hiện, trong điệu đi, cách nói, kiểu cười.

Chẳng phải chơi “Golf” mà sang. Cũng chẳng phải có cây hoa quý đắt tiền mà sang. Cũng chẳng phải tiền muôn, bạc tỷ mà sang. 

Chẳng phải có chút sắc đẹp, có chút địa vị xã hội, có hột xoàn cả ký, có nhiều người xu nịnh tiền hô hậu ủng mà sang…

Hết biết!


22.4.2021

Đỗ Duy Ngọc