Năm 1973, tôi là sinh viên Y3.
Hôm ấy là buổi đầu tiên đi lâm sàng ở
khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân.
Chúng tôi có sáu đứa, sáu cái áo
blouse trắng mới tinh, túi áo thêu 3 ngôi sao đỏ, cổ áo dựng lên vì căng thẳng.
Từ cổng đường Phan Thanh Giản* đi vào, nắng Sài Gòn tháng đó không gắt lắm, vậy
mà vừa bước qua cái hành lang khu ung thư, một mùi thối khắm, thối nồng nặc của
mủ, của thịt hoại tử, của xác chết thối rữa xộc thẳng vào mũi cả bọn.
Tôi nín thở theo phản xạ. Thằng bạn đứng
cạnh tôi đưa tay lên che mũi. Đứa con gái duy nhất trong nhóm thì tái mặt đi.
Khoa Ung thư thời đó không như bây giờ.
Không có máy lạnh, không có buồng cách ly đầy mùi thuốc sát khuẩn. Chỉ là một
dãy phòng dài, giường sắt kê gần nhau. Trên mỗi giường là một thân người đã bị
ung thư gặm mòn. Có người nằm co quắp vì đau, có người rên ư ử...
Chúng tôi, sáu đứa nhóc Y3, vừa mới
qua xong hai năm đầu chỉ học cơ thể học trên xác ướp, sinh lý học trên trong
labo và triệu chứng học trên các bài giảng bệnh viện, chưa từng đối diện với những
sinh mạng chỉ còn thoi thóp.
Sáu đứa líu ríu đứng chụm lại ở cửa
khoa, e ngại chưa dám bước vào, tay kẹp chặt cuốn sổ ghi chép lâm sàng nhỏ bằng
bàn tay.
Rồi chúng tôi thấy Thầy - Thầy Đào Đức
Hoành**.
Thầy đang ngồi trên mép một chiếc giường
bệnh ở cuối dãy. Một chiếc giường kê gần cửa sổ, nắng xiên vào chỉ đủ sáng một
khoảng nhỏ.
Trên giường là một bà bệnh nhân khoảng
năm mươi tuổi. Bà mặc một bộ bà ba nâu sờn, kiểu thường thấy của phụ nữ nông
thôn miền Nam khi lên Sài Gòn chữa bệnh thời đó. Tóc bà đã điểm bạc, búi sau
gáy nhưng rối bời. Bà rất gầy, xương quai xanh nhô hẳn lên, đôi mắt bà lo lắng
như đang đối diện với một nỗi sợ hãi vô hình, nó trũng sâu có lẽ vì mất ngủ hay
vì sụt cân quá nhanh. Sau này tôi mới biết bà bị ung thư cổ tử cung giai đoạn
cuối, đã di căn, không còn khả năng điều trị vì đến quá muộn.
Thầy ngồi bên bà. Không phải ngồi
trên ghế. Thầy ngồi hẳn lên giường bệnh, ngay sát chân bà, như một người thân của
bà.
Thầy cầm tay bà. Tôi nhớ như in bàn
tay thầy, bao trọn lấy bàn tay gầy guộc, khô đét của bà.
Thầy không đeo khẩu trang. Thầy cũng
không mang găng tay.
Thầy hỏi chuyện bà nhỏ nhẹ, dịu dàng
như với người thân của mình.
-Bà Tư, nhà bà ở đâu?
- Dạ thưa bác sĩ, ở dưới Cai Lậy...
- Bà có mấy cháu rồi? Đứa nào đi theo
bà lên đây?
- Dạ có thằng Út nó theo...
Thầy nói giọng Bắc di cư, nghe nhẹ
nhàng, ấm áp, chậm rãi, từ tốn.
Bà Tư ban đầu chỉ lí nhí, cứ chớp mắt
nhìn đi chỗ khác, như ngại mình hôi thối không dám gần thầy. Nhưng thầy vẫn cầm
lấy tay bà, thỉnh thoảng lại gật đầu khi bà trả lời, rồi vuốt nhẹ lên mu bàn
tay nổi đầy gân xanh của bà.
Cả khoa vẫn ồn ào tiếng xe đẩy, tiếng
rên rỉ, tiếng y tá gọi nhau văng vẳng, nhưng ở góc phòng đó, ở chiếc giường nồng
nặc mùi ung thư đó, chỉ có hai người, một bác sĩ và một người bệnh, nói chuyện
với nhau như hai người đã quen từ lâu rồi, không phải người dưng ở bệnh viện.
Chúng tôi sáu đứa đứng sững lại ở đó,
không đứa nào còn che mũi. Các anh chị nội trú lớp trên cũng đứng sau thầy. Tất
cả đều im lặng.
Theo lẽ thường, một buổi đi buồng đầu
tiên, thầy sẽ gọi chúng tôi lại, giới thiệu bệnh nhân, chỉ vào khối u nào đó,
giảng về cách thăm khám, về phân loại các giai đoạn của ung thư, về tiên lượng,
về hướng điều trị... Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sổ để ghi chép những từ ngữ to
tát đó.
Nhưng hôm đó, Thầy Hoành không giảng
một chữ nào về bệnh.
Thầy không nói một tí gì về ung thư,
về chẩn đoán, về tiên lượng của bà Tư. Thầy không lật hồ sơ bệnh án lên cho
chúng tôi xem các kết quả xét nghiệm.
Thầy chỉ ngồi đó, cầm tay bà, hỏi bà
ăn được không, đêm ngủ được không? có đau nhiều không? thằng Út nó có chỗ ngủ
không?
Một lúc sau, bà Tư khóc. Khóc không
thành tiếng Nước mắt bà chảy dài trên gò má hóp. Chỉ là những giọt nước mắt lặng
lẽ của một người đàn bà biết mình sắp chết.
Thầy vẫn không buông tay bà ra. Thầy
lấy trong túi áo blouse ra một chiếc khăn tay trắng, chấm nhẹ lên khóe mắt bà.
Khoảnh khắc đó, cái mùi hôi khắm nồng
nặc của khoa ung thư mà lúc nãy làm chúng tôi muốn nôn mửa, bỗng dưng như biến
mất.
Tôi chỉ còn cảm thấy mùi nắng khét
trên bộ bà ba nâu của bà, mùi mồ hôi của một đời lam lũ.
Thằng bạn đứng cạnh tôi cúi gằm mặt
xuống. Đứa con gái trong nhóm đưa tay quẹt mắt.
Chúng tôi hiểu.
Chúng tôi, sáu đứa sinh viên Y3 ngày
đầu tiên đi lâm sàng ung thư năm 1973, vừa được học bài học lâm sàng đầu tiên
và có lẽ là bài học quý giá nhất trong cả cuộc đời làm nghề y của mình.
Đó không phải là bài học về bệnh ung
thư cổ tử cung.
Đó là bài học về cách đối xử với một
con người đang mang trong mình căn bệnh ung thư.
Sau này ra trường, đi qua nhiều bệnh
viện, phụ mổ nhiều ca, đọc hàng trăm cuốn sách y khoa rồi cũng quên dần theo
năm tháng, nhưng tôi không bao giờ quên hình ảnh buổi sáng năm 1973 đó. Thầy
Hoành ngồi trên giường bệnh, cầm tay một bà bệnh nhân nghèo, bệnh ung thư không
còn khả năng điều trị.
Thầy đã dạy chúng tôi bằng chính hành
động của mình: Khi y học bất lực, thì tình người là thứ thuốc duy nhất còn lại.
Giờ nghĩ lại, ở tuổi này, tóc tôi
cũng đã bạc trắng, thầy tôi cũng ra đi đã lâu rồi, tôi mới thấy mình thật là
may mắn. May mắn vì năm hai mươi mấy tuổi, khi còn là một thằng nhóc lơ ngơ,
khá ngạo mạn với mớ kiến thức sách vở, tôi đã được học thầy một bài học đến giờ
vẫn nhớ như in.
Hãy đối xử với bệnh nhân như chính người
thân của mình.
Và mỗi khi tôi đặt tay lên bụng một bệnh
nhân để thăm khám, tôi lại nhớ đến bàn tay to, ấm của thầy Hoành năm đó, bao trọn
lấy bàn tay gầy guộc của bà Tư, ở khoa Ung thư Bệnh viện Bình Dân, trong một buổi
sáng nồng nặc mùi tử khí, một ký ức sao ấm áp lạ thường.
Chú thích:
* nay là Đường Điện biên Phủ , trước
năm 1975 có tên là đường Phan Thanh Giản.
** GS Đào Đức Hoành (1920 -
15.6.2002) là người đặt nền móng ngành Ung thư học miền Nam.
Thầy sinh tại Hà Nội, Tú tài 1941, tốt
nghiệp Bác sĩ Y khoa 1948. Thầy từng là Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa Hà Nội
(1950), Bác sĩ thường trú Ngoại khoa BV Yersin (1952).
Thầy tu nghiệp chuyên sâu về ung thư
tại Pháp với GS Henri Redon và tại Viện Gustave Roussy với GS Pierre Denoix
(1956-1957), học Đồng vị Phóng xạ ở Tokyo (1958), Observer tại Memorial Sloan
Kettering, New York (1964-1965).
Tại Sài Gòn trước 1975:
• Trưởng khu Bệnh lý Ngoại khoa B -
BV Bình Dân từ 1955.
• Giảng sư Ung thư học Đại học Y khoa
Sài Gòn 1957, Giáo sư Thạc sĩ 1964, Giáo sư Thực thụ 1966.
• Thành lập Khoa Ung thư BV Bình Dân
năm 1957, nơi vừa điều trị vừa giảng dạy cho sinh viên Y khoa Sài Gòn.
• Giám đốc Bệnh viện Bình Dân từ
1967.
Thầy có 41 công trình nghiên cứu, bảo
trợ 70 luận án Tiến sĩ Y khoa (1958-1968), được kính trọng vì y đức và tài năng
phẫu thuật đầu cổ, bụng chậu.
Thầy và gia đình đã rời Sài Gòn cuối
tháng 4/1975 và sau đó định cư tại Canada.
Nguyen Thyanh - TRUYỆN CỰC NGẮN 💔 BS THI ANH BÀI HỌC NHỚ ĐỜI Năm... | Facebook

No comments:
Post a Comment