Saturday, September 2, 2023

12 Ưu Điểm Tuyệt Vời Của Việc Bị Hói - Shai K.

 

Rụng tóc và hói đầu là một trong những nỗi lo đáng sợ nhất mà một số nam giới mắc phải. Những sợi tóc được tìm thấy trên gối và những mảng tóc nhỏ tiếp tục rụng có thể là nỗi lo lắng của nhiều người đàn ông. Nhưng rụng tóc và hói không cần phải quá tệ. Hóa ra chứng hói đầu cũng có những ưu điểm riêng. Vì vậy, thay vì tập trung vào những điều tiêu cực, hãy tự tìm hiểu về những ưu điểm của việc bị hói.


1. Bạn có nguy cơ mắc ung thư thấp hơn 

Một nghiên cứu về ung thư tuyến tiền liệt cho thấy nam giới bắt đầu rụng tóc khi còn trẻ có nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt thấp hơn 45% so với nam giới với một cái đầu đầy tóc. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tiếp xúc lâu dài với một lượng lớn testosterone, một trong những nguyên nhân gây ra chứng hói đầu ở nam giới, có thể làm chậm sự phát triển của các khối u trong cơ thể, trái ngược hoàn toàn với niềm tin trước đây rằng testosterone thực sự khuyến khích sự phát triển của ung thư tăng trưởng. 


2. Bạn có quá trình trao đổi chất hiệu quả hơn 

Mặc dù có tác động tiêu cực đến da đầu nhưng lượng testosterone cao trong cơ thể nam giới có tác động tích cực - chúng thúc đẩy quá trình trao đổi chất và giúp cơ thể lấy lại vóc dáng, duy trì cân nặng khỏe mạnh và phát triển cơ bắp . Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người đàn ông có mức testosterone cao sẽ có nồng độ chất béo ở mặt thấp hơn, điều này có thể góp phần tạo nên khuôn mặt săn chắc và có đường nét hơn.

3. Bạn được coi là nam tính hơn những tấm ảnh. 

Những người đàn ông có mặt được coi là mạnh mẽ hơn, quyết đoán hơn và thậm chí cao hơn trong các bức ảnh mà họ bị hói. Nghiên cứu thậm chí còn đề xuất một lời giải thích cho hiện tượng này - nhiều người cho rằng da đầu hói có liên quan đến những nghề nghiệp "nam tính" hơn, chẳng hạn như binh lính, cảnh sát và lính cứu hỏa.  


4. Bạn tiết kiệm thời gian và tiền bạc 

Dầu gội đầu, dầu xả, lược, bàn chải, kem và thợ làm tóc - chúng ta có thể không nhận thấy, nhưng những chi phí này cộng lại. Những người đàn ông bị hói không cần phải chi tiền cho việc chải chuốt mái tóc của họ. Một ưu điểm tuyệt vời khác là tiết kiệm THỜI GIAN - bạn sẽ không cần tạo kiểu tóc. Một phần thưởng mà bạn có thể chưa từng nghĩ đến trước đây là bạn cũng có thể tắm nhanh hơn rất nhiều.

 

5. Bạn trông thật tuyệt trong bất kỳ chiếc mũ nào 

Đúng vậy, không có kiểu tóc đội mũ nào dành cho bạn. Những người đàn ông hói có thể làm cho bất kỳ chiếc mũ nào trông đẹp. Thêm một cặp kính râm trông gọn gàng và bạn trông giống như một triệu phú mỗi khi ra khỏi nhà. Hãy thử bất kỳ chiếc mũ nào bạn muốn, mũ bóng chày, mũ fedora - thậm chí bạn có thể mang những chiếc mũ đội đầu trở lại phong cách! Tất cả họ đều trông tuyệt vời trên bạn. 


6. Bạn có lợi thế trong giao dịch kinh doanh 

Đàn ông hói được nhiều người đánh giá là có tiềm năng lãnh đạo tốt hơn, quyết đoán hơn và mạnh mẽ hơn. Những ấn tượng này mang lại cho họ một lợi thế trong thế giới kinh doanh. Điều đó nói rằng, các nghiên cứu cho thấy rằng những người đàn ông có tóc rụng và không cạo đầu thực sự được coi là yếu đuối và không an toàn. Đó là lý do tại sao các chuyên gia khuyên những người đàn ông bị rụng tóc nên cắn viên đạn và cạo sạch đầu. Một số chuyên gia cũng đề cập rằng một số nhà lãnh đạo mạnh mẽ và có ảnh hưởng nhất mọi thời đại đều bị rụng tóc, bao gồm Winston Churchill, Vladimir Lenin, Mahatma Gandhi và Vladimir Putin.


7. Bạn không phải đối mặt với nỗi lo tồi tệ nhất của đàn ông 

Theo các nhà tâm lý học hàng đầu, nỗi sợ bị hói là một trong những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của đàn ông. Suy nghĩ về nó mọi lúc có thể rất mệt mỏi và suy nhược. Nhiều người đàn ông tham khảo ý kiến của các chuyên gia về da, trả tiền hàng tháng cho tất cả các loại thuốc và thậm chí đếm số lượng tóc rụng hàng ngày. Nếu bạn đã nói lời tạm biệt với mái tóc của mình, có lẽ bạn đã nhận ra rằng nó không tệ đến thế và bạn không còn phải đối mặt với nỗi sợ hãi hàng ngày này nữa. 


8. Bạn không già đi 

Những người đàn ông bị hói thoạt nhìn có thể trông già hơn. Nhưng thời gian trôi qua, họ không còn tóc bạc hay tóc rụng, nên ngoài một vài nếp nhăn, họ vẫn giữ nguyên vẻ ngoài như thuở nào. Lấy ví dụ như Patrick Stewart hoặc Bruce Willis, cả hai người đàn ông hói đầu trông giống nhau trong nhiều thập kỷ!

9. Nó thu hút sự chú ý vào những đặc điểm tốt nhất của bạn 

Có một cái đầu hói có nghĩa là mọi người sẽ không còn bị phân tâm bởi vẻ ngoài của mái tóc của bạn và sẽ tự động tập trung vào khuôn mặt của bạn. Đây là một tin rất tốt, vì các đặc điểm đẹp nhất trên khuôn mặt của bạn giờ đây sẽ nổi bật hơn rất nhiều và điều này sẽ khiến bạn trông hấp dẫn hơn. Nhiều người nhận thấy rằng việc để râu càng làm tăng thêm hiệu ứng này, vì mắt của mọi người sẽ bị kéo xuống sâu hơn. 


10. Trông bạn sẽ săn chắc và cơ bắp hơn 

Đầu hói có nghĩa là khối lượng trên đầu của bạn trông nhỏ hơn rất nhiều so với người có tóc. Điều này sẽ tự động làm cho phần thân trên của bạn có vẻ to hơn rất nhiều so với thực tế, tạo ra vẻ ngoài của một thân hình cực kỳ nam tính. 

11. Mùa hè sẽ dễ chịu hơn nhiều 

Khi bạn có một mái tóc đầy ắp, những ngày hè có thể gần như không thể chịu nổi khi cái nóng bắt đầu vượt quá tầm kiểm soát. Bạn sẽ cảm thấy nóng nực, đổ mồ hôi và hoàn toàn nhếch nhác, nhưng bạn có thể tránh được tất cả những điều này sau khi bị hói. Tuyệt vời nhỉ?  


12. Bạn sẽ luôn đẹp trong những bức ảnh cũ 

Hãy nhớ rằng bạn đã từng rùng mình như thế nào mỗi khi xem lại những bức ảnh thời trung học cũ của mình và thấy mình có một kiểu tóc kỳ cục? Rất may, một khi bạn bị hói, điều này sẽ không bao giờ xảy ra nữa. Điều này là do trong khi việc cắt tóc trở nên lỗi mốt trong những năm qua, thì việc bị hói là một vẻ ngoài hoàn toàn vượt thời gian! 


Sưu tầm

Sáng Suốt 🤔🤔🤔🤔🤔

 🤔🤔🤔🤔🤔🤔

Có một hôm, có một Cô gái đi xưng tội tại một nhà thờ. 

Vì nhà thờ cũ kỷ nên 2 phòng xưng tội nằm gần có thể nghe được nhau.

May quá, hôm đó có được 2 Cha phụ trách nên Cô gái và bà Cụ có thể vào xưng tội cùng một lúc. 

Bà cụ thì nói rất nhỏ nhưng lỗ tai thì rất thính, còn Cô gái thì nói rất lớn tiếng nên bà Cụ nghe rõ mồn một. 

Cô gái: 

-Thưa Cha con muốn xưng tội: 

Trước năm 75, có mấy nguời cán bộ cộng sản nằm vùng bị truy lùng đến nhà con xin tá túc, và con có chứa họ dưới hầm nhà.

Cha: 

-Giúp đỡ tha nhân khi họ kêu cứu trong lúc bị hiểm nguy không phải là một cái tội nên con không cần xin.

Cô gái: 

-Nhưng thưa Cha… 

Cha: 

-Con cứ yên tâm ra về. 

Điều con làm hoàn toàn hợp với tinh thần bác ái của Chúa Ky Tô và văn hoá của dân tộc Việt. 

“Thương người như thể thương thân. Rét thời cho mặc, đói thời cho ăn”. 

Gia Huấn Ca cũng có dạy như vậy. Chúng ta không thể vì chính kiến hay lòng thù hận mà bỏ người ta đói khát trong cơn hoạn nạn; hoặc tệ hơn nữa là tố giác những kẻ ở bước đường cùng. 

Cô gái: 

-Dạ vâng nhưng thưa Cha … 

-Cha hiểu… đó không phải lỗi của con. Nếu những kẻ được cứu giúp trong cơn hoạn nạn, sau này, trở mặt, lấy ân báo oán hoặc lại tiếp tục con đường tà đạo thì đó là tội lỗi của họ… 

Cô gái: 

-Dạ vâng nhưng điều khiến con áy náy là… 

Cha: 

-…Là gì nữa ? 

Cô gái: 

-Là vì họ… vẫn còn dưới hầm nhà… 

Cha: 

-Con nói sao? Họ vẫn còn dưới hầm nhà con! 

Cô gái: 

-Thưa cha, quý vị cán bộ cộng sản trốn dưới hầm nhà con vẫn còn sống ở dưới đó cho mãi đến bây giờ. 

Cha: 

-Ối, Giê Xu Ma…lậy Chúa tôi ! 

Sao lại thế, hả con ? 

Cô gái: 

-Vì con vẫn chưa cho họ biết là Cách Mạng … đã thành công! 

Cha: 

-Nhưng… sao… sao… con lại … lại … đãng trí đến như thế được? 

Cô gái: 

-Tại con rút kinh nghiệm hồi kháng chiến chống Tây. 

Thuở ấy, bố con cũng chứa Cán Bộ Cộng Sản trong nhà; sau này, lúc Cải Cách Ruộng Đất, chính những nguời này đã “dàn dựng” để “nhân dân” mang ông Cụ ra … đấu tố, ném đá cho đến chết! Bởi vậy nên con sợ…

Cha: 

-Kể thì cũng như nuôi rắn trong nhà, đáng sợ thật chứ chả phải chuyện đùa! 

Cô gái: 

-Xin cha giúp con… 

Bà Cụ ngồi phòng bên nghe tới đây chịu không nổi nữa, bà la lớn lên ..

Bà Cụ: 

-Con ơi, nghe lời bà đi, về lấy xi măng lấp luôn cái hầm nhà lại cho… xong! 

Đỡ được đứa nào hay đứa đó. 

Tội nghiệt này, xin Chúa nhân từ chứng giám, Bà xin chịu tội thay con. 

Cô gái: 

-Con cám ơn bà; tuy nhiên, việc làm này, cũng xin Chúa nhân từ chứng giám, con rất hoan hỹ làm chuyện nầy, con làm thì con chịu, không liên hệ gì đến Bà hoặc bất cứ ai! 

Bà Cụ: 

-Có làm thì làm lẹ đi con ơi, để bà hùn tiền trả tiền mua xi măng phụ con..... 

Cha: 

-Giết rắn cứu người, xin Chúa tha tội cho chúng con! Con ơi, cho Cha hùn 500 nghìn tiền mua xi măng với nhé....


Kim Hoa Bà Bà

Chúc Mừng Bình Minh - Minh Lương

NỢ !! - Liên Hương Phanta

 

 Hình chụp đang hát bài Tình Ca của ns. Phạm Duy. Tại nhà thờ khu C. Panatnikhom Thái-Lan 1989 khi vị Giám Mục Thái có mẹ là người Việt đến thăm trại tỵ nạn.


Chín tháng tị-nạn trong trại Panatnikhom Thái-Lan, hai mẹ con tôi đã sống trong hy vọng sau những gian nan trên đường vượt biên vượt biển.

Để cảm tạ đất trời tự do khi đặt chân lên đất liền, một số anh em chung thuyền đã quỳ lạy ơn trên và sấp mình trên đá sỏi rừng núi, cúi hôn lên mảnh đất tự do đầu tiên, những giọt nước mắt vui mừng mở đầu cho một chương đời mới, có khổ cực có nhọc nhằn... 

Giọt nước mắt rưng rưng nơi khoé mắt nhăn nheo của những người đàn ông da cháy nám khắc khổ, giọt nước mắt chảy dài trên má thiếu phụ lưng chừng mùa xuân... những giọt nước mắt đã rơi xuống một vạt núi rừng đất Thái cuối đông !

 

Chúng tôi được đổ xuống sân trước có mái che từ những chiếc xe GMC bít bùng, những người lính Thái hò hét bắt đám người tị-nạn ngồi thành hàng qua thông dịch của những trật tự viên người Việt ( phần đông là những người ở lâu thâm niên không được quốc-gia nào nhận, bộ đội vượt biên không có qui chế tị-nạn trở thành cay cú dữ dằn ). 

Đám đàn ông đàn bà thanh niên trai gái ngồi xếp re không dám hó hé dù bị bắt lên xe lúc mờ sáng qua những chặng đường dài; Chỉ có đám con nít chạy lăng quăng chung quanh là được phát hộp nước trái cây và phong bánh ngọt... Mái tole nóng hừng hực dù là tháng một, chúng tôi theo thứ tự điểm danh nhiều lần rồi lại được phân nhóm, rồi lại chờ... chờ "ông Chô" trại trưởng !

"Ông Chô" trưởng trại là người Thái, trẻ, đẹp trai, cấp bậc Đại-úy trong quân đội Thái. Ông làm trại trưởng vì có thâm niên "chăm sóc" trại tù này, thật sự đây là một trại tù dùng để nhốt những người Cambuchia, Lào vượt biên, nhốt những người Việt đã được thanh lọc từ các trại sát biên giới Thái Cambuchia.v.v...

Ông Chô nói tiếng Việt như người Việt, ông tử tế với người này nhưng là hung thần của người khác. Khu trại transit và khu C tổng cọng hàng chục ngàn người Việt tỵ nạn đủ mọi thành phần thêm nhóm người Lào, Campuchia thì kỷ luật sắt của ông Chô là điều cần thiết. ( đó là những gì tôi biết được về ông Chô chỉ trong 4 giờ ngồi xếp hàng trên nền ciment chờ được vào trại chính, không ăn uống tiêu tiểu chi hết từ 4 giờ sáng ! )

 

Hơn ba mươi người ở chung một lán, bốn lán đâu mặt vuông sân đất rộng, giửa khoảnh sân là nơi mỗi tuần chúng tôi được nhận gạo, mắm, cá, than củi ép, không đủ dùng cho cả tuần. Tôi may mắn được chia chỗ nằm xa góc có nhà tiêu chung cho 8 lán trại (nhờ có con nhỏ), vị chi trên 250 người dùng chung, nhà tiêu có bốn ngăn có mái che, người bên trong đứng lên thì vách ngăn cao đến ngực... và bốn người có thể nghe thấy những âm thanh bất nhã, bất khả kháng của nhau ! Vì nhà cầu lúc nào cũng có người xếp hàng dài chờ phiên bên ngoài, nhất là ngày vừa được hút hầm ( cầu nổi ) và đã dọn đẹp sạch sẽ.

Bé Hân sau này kể :

- Con hay lén má đổ bỏ ly sữa vì sợ đi chảy...

Những ngày sau khi hút hầm, phân người chồng chất lên nhau tràn ra cả bàn cầu, nghĩ đến mà vẫn còn rùng mình ! Bé Hân nhớ lại :

- Con sau này cứ nghĩ đến cái cầu tiêu phân người chất đống chồng lên nhau lổn nhổn vàng đỏ xanh nâu... mà không dám ăn sinh tố trái cây giằm giống quán nước ông Dư nữa ! 

Mọi người được kêu đi lãnh nước tắm, nước đủ cho tắm gội nhưng những người đàn bà con gái mới đến như chúng tôi thì được nhóm thanh niên Cambuchia hậu hỉ cho thêm nước trong lúc tắm vì sau tuần lễ tại trại nhỏ gần biên giới thiếu thốn, đám đàn bà chúng tôi thật tình hôi như cú ! Đổi lại mấy thằng đổ nước được phen hí hố nhìn ngó đám đàn bà chúng tôi tắm chung trong phòng tắm không có mái che, chung quanh được che chắn quây tạm bằng những tấm phên tre hoặc tấm nilon... mặc kệ ! Đã gần như chết đi, khi sống lại thì nhằm nhò chi những cặp mắt trần tục kia...


Một tuần, hai tuần... qua, tuần kế không hiểu vì sao không có lương thực cung cấp, không gạo không cá mắm dầu củi ! Những người mang theo được ít vàng còn có cái để đi chợ, phần tôi đã bán một chỉ đánh điện tín mua thực phẩm thuốc men khi mới đặt chân lên đất Thái.

Còn một chỉ vàng cuối cùng trước khi chuyển lên đây, tôi đã lạc lòng cho một em gái nhỏ 13 tuổi bị giữ lại vì có mẹ chết khi vào bờ bị lún trong bãi sình lầy; Em phải ở lại để nhận xác mẹ và làm thủ tục thiêu xác... mà em lại không còn thân nhân nào đi cùng ngoài anh Tuấn cùng ghe và cũng là người cứu kéo em từ bãi sình vào bờ trước đôi mắt mở trừng của mẹ em chới với lún dần chìm xuống.. 


Anh Tuấn hứa sẽ trả lại chỉ vàng ấy cho tôi khi anh nhận được tiền từ thân nhân, nhưng đói quá ! Tôi hằng ngày dẫn bé Hân đến khu lán anh ở, lảng vảng mà không dám hỏi đòi vì anh đã hứa là đồng bạc đầu tiên anh nhận được sẽ trả cho tôi...

Tôi đói thì không nói chi, anh em thằng Hiệp đi chung ghe cùng ăn cơm chung với tôi đói theo! Tụi nó không có thân nhân cũng đã đành nhưng bé Hân con gái tôi thường kén ăn bây giờ môi khô khốc mắt thâm quầng, đôi cẳng chân và cánh tay khẳng khiu ! Không thể chờ đợi và không làm gì khác được, cũng không thể nhờ cậy ai, một buổi sáng tôi dẫn con ra chợ...

Tôi dẫn con lang thang khu chợ sáng sớm, thật ra chỉ là một dãy lán bán quần áo vật dụng tạp hoá của người Thái, bên ngoài là chái bán rau, khoai củ, thịt cá... tôi lang thang hy vọng có ai đó mở tay, tôi đi xin ăn các bạn à ! Nhưng còn sớm vắng người bé Hân nắm tay tôi đi lòng vòng đã mỏi chân, con rơm rớm nước mắt :

- Má ơi con muốn về nhà, con đói bụng, con muốn ăn mì. ..

- Ừ ! ráng chút nữa đi con...

Tôi biết chắc Chủ nhật trạm thư trại đóng cửa, sẽ không có ai còn tiền cho tôi mượn, vã có ai quen biết nhau đâu ! Chúng tôi tứ xứ gặp nhau, có ai giàu có hơn ai đâu, tôi đói họ cũng đói ! Tôi đến gần một vài người đàn bà đi chợ sớm, họ nhìn tôi và bé Hân lắc đầu, tia nhìn ái ngại...

Chân tay tôi đã run, con gái tôi nước mắt nhòe mặt... từ xa tôi thoáng thấy bên trong khu tạp hoá có người đàn ông bước vào đang lúi húi tìm mua gì đó trong quầy... Tôi bước như chạy, tay bé Hân nhỏ xíu trong tay tôi :

- Thưa ông, không thưa anh...

Người đàn ông ngó lên :

- Vâng thưa cô có việc gì ?

Tôi nhìn thấy chiếc áo sơ mi đen có miếng cổ trắng cài ngang, tôi nhìn thẳng gương mặt người đàn ông... vị linh mục mà tôi có gặp những buổi chiều dự Thánh lễ đây mà ! Tôi lắp bắp, nước mắt chảy dài :

- Thưa cha, con của con mấy ngày nay không có gì ăn, con đói thưa cha... con có thân nhân nhưng chưa liên lạc được, con đã gửi thư...

Vị linh mục lục túi, giúi vào tay bé Hân 3 dollars. 

- Cầm lấy mua gạo cho cháu tạm vậy.

- Dạ Cảm ơn cha, cả tuần nay họ không phát thực phẩm ! Con sẽ gửi lại cha khi...

- Ôi ! Cô gì hôm trước có hát sau lễ đây mà, không cần phải trả lại đâu ! Mai cha đi định cư rồi.

Tôi mua mấy gói mì gà Thái, vài ký gạo, chai xì dầu, vài quả trứng gà những món mà bé Hân thích và... giấu kỹ đồng bạc còn lại !

 

Mỗi sáng đúng 8 giờ loa trại phát bài quốc ca Thái, luật buộc mọi người bất kể già trẻ dù trong phòng khuất cũng phải đứng nghiêm chào quốc-ca ; một sáng bé Hân chạy chơi đâu đó, tôi còn đang bưng chén mì đi vòng sân Chùa tìm, thì bài quốc-ca vang lên, nóng ruột vì không thấy con ( trại tị-nạn nhiều thành phần, cha mẹ không được rời mắt khỏi con cái, nhất là các bé gái ) Chân tôi vẫn bước tới cứ nghĩ không ai thấy mình nhưng... "đét" tiếng roi vụt xuống mông đau điếng ! Tôi quay lại, ông Chô tay lăm lăm cây roi vụt vụt trong không khí... Tôi trừng mắt :

- Ông không thấy tôi đang tìm con gái tôi sao ? Ông biết ở đây rất nguy hiểm cho các bé gái mà ! 

Ông Chô nhìn tôi chăm chăm rồi dịu giọng :

- Được rồi lần này tha, phải chú ý lần sau !

(Không tha thì sẽ lãnh thêm vài roi thẳng cánh và quỳ gối tại chỗ hàng giờ cho lần phạm lỗi đầu tiên... ) Tức anh ách, nhưng sống trên đất người thì phải theo lệ người, ghét ông Chô thì ít mà tức đám thanh niên Việt ỷ làm trật tự dựa thế tác oai tác quái. Nghe nói ông Chô cặp bồ với những cô gái Việt mà ông vừa ý qua những cống nạp lập công của đám trật tự này, nghe nói ông muốn lấy vợ là người Việt tị nạn để ông có cơ hội đi Mỹ (*)

 

Tháng sau thì tôi bắt đầu nhận thư và tiền từ ba và chồng tôi gửi đến trại, số tiền không nhiều nhưng đủ để nhàn nhã, tôi thành người giầu có ( vì có thân nhân ở Mỹ) ; Nhận được tin thằng em út cũng đã qua được biên giới Thái đang bị giam giữ ở Sikiu, tôi gửi 50 dollars nhờ một linh mục mang giùm cho thằng em út, gửi thí xác vì chỉ biết tin chứ không biết thật sự nó đang ở đâu !


Chung lán có ôngTánh, người đàn ông thấp đậm chân chất cùng vợ và năm con nheo nhóc, ông làm tất cả mọi việc trong trại để kiếm thêm thu nhập, khi thì đóng cho tôi chiếc bàn thấp, chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp, đến giờ lấy nước ông canh chừng lấy hai thùng cho mẹ con tôi trước rồi mới đến phiên gia đình ông, ông lãnh làm vệ sinh chung quanh lán trại và nhà tiêu khi đến phiên tôi.v.v... đổi lại dù không nói ra nhưng tôi cho ông hết phần lương thực dầu củi cá mắm... cho con ông bánh kẹo những thứ mà tôi mua cho con gái mình thì tôi mua thêm cho con ông, tôi cho vợ ông cả những viên thuốc cảm sốt và một ít tiền công.


Ngày gia đình ông Tánh lên đường qua Phi, tôi giúi vào tay chị vợ 50$ dặn chị cất riêng không được đưa cho chồng vì tôi biết chồng chị tuy thương và lo lắng cho vợ con nhưng lại có tật uống rượu, mà uống rồi thì ông lại đánh vợ không nương tay... Chiều tối đó hai vợ chồng dắt nhau qua "nhà tôi" cảm ơn rối rít, anh chồng còn khóc hu hu nắm tay tôi thề hứa sẽ không bao giờ đánh vợ, sẽ chăm sóc con cái nên người... sẽ... nếu gặp lại tôi bên Mỹ :

- Tụi tui cắn cỏ ngậm vành... sẽ suốt đời chăm sóc nhà cửa cho gia đình cô... 

- Không cần phải vậy ! Em giúp anh chị vì trên đường vượt biên em nhận được nhiều giúp đỡ của người khác, em không trả ơn được cho họ thì em trả bằng cách giúp lại anh chị và các cháu, đừng ngại chi sau này không gặp lại em thì anh chị làm việc thiện giúp người khác cũng như trả cho em vậy.

 

Hai mẹ con tôi sau phỏng vấn được nhận thì chuyển vào khu C , một góc bốn mét vuông đủ để giăng cái mùng đôi treo cao, sáng cuốn vắt lên trần mùng và tối hạ mùng xuống phải dùng tất cả mọi thứ để chèn chung quanh nếu không muốn nửa đêm bị chuột gặm ngón chân... rồi gián, rít, bọ cạp... !

Góc lán tôi ở bên cạnh năm sáu cái chum nước lớn cho bốn lán, có một cái chum để riêng gần cửa ra vào "nhà" tôi, dọn vào buổi sáng buổi chiều cô gái góc lán bên kia bước qua chào giọng miền nam thân thiện:

- Em tên T, chị tên gì ? Cái chum nước này là của riêng em đó, chị và con gái cứ xài chung với em tự nhiên nhen, em bị rớt phỏng vấn hoài, không nước nào nhận... em ở đây lâu lắm rồi !

Hôm sau và những hôm sau nữa, cô gái lúc qua nhờ tôi bắt chí giùm, lúc tỉ tê kể chuyện :

- Em đi một mình không có ai quen, cũng không có ai ở nước ngoài, em ở lâu nên quen mấy anh trật tự, mấy anh đổ nước thương cho em nước xài... chị dạy thêm cho em tiếng Mỹ, viết chữ... mà... nếu đêm hôm chị có nghe ồn ào gì bên nhà em thì cũng đừng để ý tới làm gì ! Nhưng sáng thì chị qua coi thử em có thức dậy không thôi nhen...


Cứ vậy mà cô gái mà tôi quen nhau, cô thức dậy thường quá trưa, chiều tắm xong cô qua nhà tôi hong tóc nhờ tôi bắt chí, cô hát nho nhỏ mấy bài tân cổ trữ tình... Một buổi tối quá nửa đêm ngoài trời trăng sáng vằng vặc không khí lại oi nồng ! Tôi nghe tiếng cãi nhau nho nhỏ rồi âm thanh của những cái tát... tiếng vật lộn, rồi tiếng khóc nho nhỏ ! Tôi rón rén mở cửa bước qua dập mạnh lên phên cửa nhà cô T:

- Có chuyện gì không ? T nói chị biết nếu không lên tiếng chị kêu cứu...

Im lặng, rồi tiếng T nhỏ nhẻ:

- Em không sao !

Chiều hôm sau T qua nhà tôi ngồi chải mái tóc ướt, một bên mắt bầm tím cô gái nói giọng sũng nước mắt:

- Em ở trại hơn 10 năm nay, em làm gái chị à ! Ở đây lâu khổ lắm buồn lắm, em yêu ai vài tháng rồi họ cũng bỏ em đi... hồi đó em cũng có người yêu em thiệt, ảnh ghen quá mà em thì cần tiền, làm gái như em khi đổ bịnh thì phải có tiền...

Tôi thở dài ! Hèn chi từ bên này phên cửa tôi thấy khung cửa nhà cô ban đêm khép mở và bóng những người đàn ông thấp thỏm vào ra ! Ngọn đèn dầu bên nhà cô ban đêm không bao giờ tắt...

Một hôm cô gái bị sốt nặng, tôi cho cô mượn 15$ mua thuốc trụ sinh và hạ nhiệt, mấy ngày sau tôi có danh sách lên máy bay ! Cô gái cầm qua nhà tôi chiếc khăn quàng cổ len móc hoa xù màu hồng trao cho tôi mắt ngân ngấn nước :

- Xin chị nhận món quà này ! Em làm nó đã lâu để dành nay tặng chị, món nợ của chị em không có dịp trả...

- Chị nhận chiếc khăn quàng cho em vui, còn tiền em mượn thì coi như chị cho ! Hôm nay chị giúp em ở đây thì biết đâu nơi nào đó cũng có người đang giúp đỡ em chị ở trại biên-giới. 

( Đến nay, chiếc khăn quàng màu hồng tôi không còn giữ, nhưng tôi hy vọng cô gái đã được định cư một nơi nào khác trước khi trại tị nạn đóng cửa, và cuộc đời cô phải được ngoi lên từ vũng lầy cô đã sẩy chân... )

 

Chín tháng trong trại Panatnikhom Thái Lan, tôi dạy bé Hân Anh-văn những từ ngữ thông dụng, nhưng con bé ham chơi chẳng nhớ được là bao ! Qua Mỹ bé Hân đi học tiểu học được vài tháng, còn tôi thì học lớp ESL. có lần đón con đi học về hai mẹ con ghé Supermarket mua ít vật dụng, đến quầy trả tiền người thâu ngân hỏi tôi một tràng tiếng Mỹ, tôi cứ ngẩn người không hiểu ! Thì bé Hân cầm tay áo tôi giật giật :

- Má nè, ổng nói má muốn dùng bịch giấy hay bịch ni lông đó má plastic bag or nilon bag...

Tôi mừng quá, đứa con gái tám tuổi ngày nào tôi dạy tiếng Anh bập bẹ: table là cái bàn, chair là cái ghế... chỉ ba tháng đã "giỏi" hơn má nó !


Nửa năm sau một mình tôi khệ nệ bụng bầu đẩy xe mua thực phẩm gia dụng, tôi chất đầy xe những món trong phiếu WIC ( bông sữa chính phủ cấp cho bà bầu ) đến quầy tính tiền. Cô thâu ngân nói một tràng, tôi ngẩn ngơ nhìn miệng cô đoán ý... 

- Repeat again please !

- This coupons for three months, you only can use one month coupon ( những phiếu này dùng cho 3 tháng, bà chỉ được mua một tháng mỗi lần )

 Tôi hiểu ra vì là lần đầu tiên mua bằng phiếu bông sữa, vội vã tôi lấy những thứ đã mua quá quy định ra ngoài... Một phụ nữ trẻ bước đến gần xua tay nói với cô thâu ngân :

- Tôi sẽ trả tiền tất cả những thứ dư ra cho this lady please !

Rồi quay qua tôi :

- Có phải bà mới được tị nạn từ quốc gia của bà không ? Bà không phải lo âu hãy nhận như là món quà chúc mừng bà được đến đất nước tự do chúng tôi.

Ôi ! Tôi vẫn còn nhớ tôi đã đỏ mặt vì cảm kích, đỏ mặt vì xấu hổ lí nhí nói "Thank you"

Tôi qua Mỹ diện nhân đạo vì qua chương trình bảo trợ của ba tôi, không phải trả tiền vé máy bay cho hai má con ( mấy năm sau mới bắt đầu trả góp). Chồng tôi mấy tháng đầu thất nghiệp thì tôi và bé Hân được trợ cấp phiếu thực phẩm, tiền trợ cấp sinh sống, chương-trình chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ trẻ em, phiếu thực phẩm cho bà bầu em bé... Con gái tôi đi học được free ăn sáng, ăn trưa... Tôi không phải tốn một đồng nào cho chi phí trường học !

Tôi đã nợ nước Mỹ rất nhiều, các con tôi được đi học ở những trường học từ lớp mẫu giáo đến hết trung học trong các trường công tốt nhất mà ở Việt-Nam bạn có mơ cũng không được !

Tôi đã được cho học nghề với giá phí thấp tượng trưng cho người mới chưa có thu nhập... Hai lần sinh con, các con đi học tất cả đều nhờ trợ cấp chính phủ. 

Tôi quay phim gửi về Việt-Nam cái tủ lạnh đầy trứng gà, sữa, sữa chua, nước trái cây, bánh ngọt, kem lạnh, ngăn đông đá chất đầy thịt bò heo gà cá... những con tôm đông lạnh to hơn ngón chân cái ! Mà ngày xưa sau 75 cả nhà tôi ngay cả mơ cũng không dám.


Bây giờ các con tôi đã tốt nghiệp đại học, bằng tiền ngân hàng cho mượn không tiền lời cho đến ngày ra trường, chúng có việc làm sẽ trả góp với phân lời thấp...

Tôi mang nợ nước Mỹ tất cả những gì tôi có được hôm nay, mọi đóng góp của các con tôi sẽ trả lại cho nước Mỹ từ thành quả của chúng.

Riêng tôi, tôi trả ơn cho những người đã giúp tôi bằng cách của riêng mình !

 

* Viết xong tháng 6-2017. Xin cảm ơn tất cả các bạn đã đọc đến giòng cuối những tâm tình này 🥰 


Liên Hương Phanta

Friday, September 1, 2023

Sầu Viễn Khách - Hàn Thiên Lương

Vì Tôi Là Henry Ford

 

Một lần, tỷ phú Mỹ Henry Ford đến Anh công tác.

Tại phòng chỉ dẫn của sân bay, ông tìm khách sạn rẻ nhất trong thành phố. Cô nhân viên nhìn ông và nhận ra ngay vì báo chí trên thế giới viết nhiều về Ford.

Giờ đây, ông ta đang đứng trước mặt cô trong chiếc áo khoác cũ sờn và hỏi về khách sạn rẻ tiền nhất.

Cô nhân viên do dự hỏi:

- Nếu tôi không nhầm thì ngài là Henry Ford?

- Vâng, - ông ta trả lời.

Cô nhân viên lấy làm ngạc nhiên.

- Tôi đọc báo và biết rằng con trai của ngài khi đến bất cứ đâu cũng đều ở trong những khách sạn đắt tiền nhất và luôn ăn mặc sang trọng. Còn ngài lại quan tâm tới khách sạn rẻ nhất và mặc chiếc áo khoác hình như còn nhiều tuổi hơn cả ngài. Thưa ngài tỷ phú, phải chăng ngài thiếu tiền?

Henry Ford trả lời:

-Tôi không việc gì phải ở khách sạn đắt tiền, bởi vì tôi thấy không cần thiết phải trả tiền cho những thứ quá thừa thãi. Dù ở đâu, tôi vẫn là Henry Ford. Hơn nữa, tôi không thấy sự khác biệt giữa các khách sạn, vì thậm chí ở khách sạn rẻ nhất, tôi cũng có thể nghỉ ngơi không thua kém gì khách sạn đắt tiền. Còn chiếc áo khoác này - vâng, bạn nói đúng, bố tôi cũng đã từng mặc, nhưng điều đó không quan trọng, vì trong chiếc áo khoác này tôi vẫn là Henry Ford.

Con trai tôi còn trẻ, chưa có kinh nghiệm, nên sợ mọi người dị nghị khi thuê khách sạn rẻ tiền. Tôi không quan tâm về ý kiến của người khác về mình, vì tôi biết giá trị thực của tôi. Tôi trở thành tỷ phú vì tôi biết kiếm tiền và phân biệt giá trị thật với giá trị giả.


Sưu tầm

Tạ Từ Tháng Tám - Tháng Chín Mùa Thu - Đỗ Công Luận


Tiếng Chuông Điện Thoại - Lê Đức Luận

 

Có người bảo rằng tiếng chuông điện thoại là “niềm vui của tuổi trẻ và nguồn an ủi cho tuổi già”.

Đối với bà Thoa, tiếng chuông điện thoại còn là tiếng gọi của tình yêu khi còn trẻ, là tiếng lòng thương mến khi làm mẹ, là tiếng gọi mong chờ và là liều thuốc an thần khi nằm trong viện dưỡng lão. 


Nhớ thuở xa xưa, lúc tuổi xuân thì, bà có nhan sắc lại con nhà danh giá, nhiều thanh niên con nhà giàu, học giỏi, đẹp trai theo đuổi, nhưng không anh nào lọt vào vòng “chung kết”.

Cuối cùng bà “phải lòng” anh phó quận vì tiếng chuông điện thoại.

Lần đầu tiên, bà gặp chàng qua sự giới thiệu của cô bạn cùng lớp với bà, trong đêm văn nghệ Mừng Xuân ở sân trường Đại học Văn Khoa. Lúc ấy, anh chàng không có nét gì độc đáo để bà để ý, nhưng bà tỏ ra vui vẻ, lịch sự cho đúng phép xã giao. Còn anh chàng, tuy nổi tiếng là tay “tán phét” có hạng bên trường Quốc Gia Hành Chánh, nhưng khi đứng trước vẻ đẹp cao sang của nàng, chàng ngẩn ngơ, lúng túng, không nói nên lời…

Những lần gặp gỡ về sau, nàng vẫn không để ý hay ngây thơ không nhận biết ánh mắt si tình và những cử chỉ vụng về, lúng túng của chàng; nàng cứ hồn nhiên, vui vẻ với người bạn mới quen như các bạn trai khác… làm chàng thất vọng!

Nhưng tiếng lòng đã gọi, chàng quyết tâm theo đuổi.

Qua cô bạn học của nàng, chàng biết: Nàng có nhiều nơi dạm hỏi, toàn là những tay học giỏi, có bằng cấp, là bác sĩ, kỹ sư.. con nhà giàu. Cha mẹ nàng lại rất khó, còn theo nếp xưa - môn đăng hộ đối. Biết phận mình, con nhà nghèo ở miền Trung, làm sao tranh nổi với những tay “công tử” ở Sài Gòn, nên chàng không dám “tấn công trực diện”.

Thế là, đêm đêm, chàng gọi điện thoại thăm nàng từ một quận lỵ xa xôi, trên vùng cao nguyên xanh mát Lâm Đồng.

Ban đầu chỉ tả cảnh, chưa dám tỏ tình.

Chàng tả nơi chàng đang làm việc: Núi đồi trùng điệp với những rừng thông bạt ngàn; ở lưng chừng đồi nhìn xuống các thung lũng xa xa, sương mù bao phủ trên các đồi trà, đồn điền cà phê như làn khói mỏng - lúc ẩn, lúc hiện - trông như bức tranh thủy mạc. Vào mùa hoa dã quỳ nở rộ, đi trên con đường uốn lượn lưng đồi, dưới ánh nắng ban mai trong trẻo với khí trời se lạnh, trông hoa vàng rực rỡ, cứ tưởng như mình đang lạc vào chốn thiên thai.

Cái giọng Quảng Nam trầm trầm, thỉnh thoảng chêm vào một câu tán thán ngô nghê: “Răng mà đẹp rứa hè!”. Lúc đầu nghe ngồ ngộ, nhưng rồi thấy thinh thích, cuối cùng bà “ghiền!”

Vài đêm không có tiếng chuông gọi về, bà nhớ, bà mong.. khi được nghe lại cái giọng “ngồ ngộ” ấy bà mừng, rồi trách: “Sao mấy hôm nay không gọi về?”

Thế là chàng tiến lên bước thứ hai - nói chuyện tâm tình - than thở: lạnh giá, cô đơn...

Không hiểu do những lời tả cảnh, tả tình của chàng hay do cha mẹ bà nói xa, nói gần việc hôn nhân với anh chàng bác sĩ, con của bà bạn thân với mẹ, mà bà muốn rời cái nóng bức, nhộn nhịp ở Sài Gòn, lên vùng cao nguyên mát mẻ với thiên nhiên thơ mộng?

Giữa mùa hè năm ấy, bà xin phép cha mẹ đi nghỉ mát ở Đà Lạt.

Cái se lạnh của Đà Lạt lồng trong không gian trong trẻo rực rỡ ngàn hoa: hoa dại ven đường, hoa trước hiên nhà, hoa trong công viên, hoa leo lơ lửng trên tường, hoa trên đồi thấp...Đâu đâu cũng thấy hoa, làm cho Đà Lạt thêm thơ mộng. Một ngày ở Đà Lạt, bà có thể cảm nhận được cái khí hậu bốn mùa: buổi sáng sớm là cái se lạnh mùa xuân, buổi trưa nắng vàng rực rỡ như mùa hạ, buổi chiều ảm đạm sương mù như mùa thu, và đêm về nếm cái lạnh của mùa đông. Đà Lạt thơ mộng quyến rũ bà như cơ duyên tiền định.

Qua một người bạn giới thiệu, bà được ông Hiệu trưởng một trường Trung học tư thục, mời dạy môn Việt văn. Đây là cơ hội để bà ở lại với Đà Lạt.

Trở về Sài Gòn, bà xin phép cha mẹ cho lên Đà Lạt dạy học. Có chút lo âu, nhưng cha mẹ bà không ngăn cản vì bà đã trưởng thành.


Mùa tựu trường năm ấy, bà trở lại Đà Lạt, làm giáo sư dạy môn Việt văn.

Từ đây, bà được gặp gỡ thường xuyên anh chàng Phó quận vào những ngày cuối tuần. Bây giờ cả hai, không còn trẻ để mơ mộng chuyện tình lãng mạn của tuổi đôi mươi. Những buổi chiều bên nhau trên bờ hồ Xuân Hương hay trên thảm cỏ ở sân Cù, họ trao đổi quan niệm về tình yêu, hôn nhân, cuộc sống gia đình và xã hội... Cả hai cùng chung quan điểm.

Rồi một bưổi chiều, hai người ngồi sát bên nhau trong vườn hoa Thung Lũng Tình Yêu, chàng Phó quận run run nắm tay nàng, thì thầm: “Anh yêu em ngay lần gặp gỡ đầu tiên ở sân trường Đại học Văn Khoa.” Nàng xúc động, ngả đầu vào vai chàng, khẽ nói: “Tiếng chuông điện thoại đêm đêm gọi về, đã làm em xúc động, em biết lòng em đã bắt gặp tình yêu.”

Họ trao nhau nụ hôn say đắm với lời nguyện ước sẽ gắn bó bên nhau suốt đời.

Bà về thưa với cha mẹ chuyện tình duyên của bà với anh Phó quận và cho cha mẹ biết hoàn cảnh của chàng. Tuy có chút ngỡ ngàng, nhưng khi nghe bà giải bày tâm sự, cha mẹ chiều lòng con, chấp nhận cuộc hôn nhân, không còn nghĩ đến chuyện môn đăng hộ đối.

Một năm sau, đám cưới được tổ chức ở hội trường quận lỵ. Ông Quận trưởng đại diện nhà trai làm chủ hôn (mẹ chàng già yếu, ở ngoài miền Trung xa xôi, không vào tham dự được). Cha mẹ bà, từ Sai Gòn lên chứng giám.

 

Sau đám cưới, chàng đưa nàng ra Trung, ra mắt con dâu với mẹ. Bà mẹ vui mừng, xúc động, cầm tay con dâu rưng rưng, nói: “Đám cưới tụi bây, mẹ không vào được, mẹ áy náy vô cùng. Khi thằng Phong viết thư báo tin sẽ làm đám cưới. Nó bảo mẹ đừng lo, nó sẽ tự lo liệu được… Mẹ mừng, nhưng không biết rồi sẽ ra sao? Mẹ già yếu, mắt lại mờ, không thể đi xa, chỉ còn biết cầu xin ơn trên phù hộ cho mọi điều tốt đẹp. Hôm nay các con về đây thăm mẹ và ra mắt tổ tiên, ông bà, mẹ không biết nói sao cho hết nỗi vui mừng.”


Bà mẹ thắp nhang lên bàn thờ, lấy khăn lau tấm di ảnh của chồng, lâm râm khấn vái: “Hôm nay thằng Phong đưa vợ về ra mắt tổ tiên, ông bà, xin ông chứng giám và phù hộ cho các con được may mắn, hạnh phúc và sớm có đứa con trai nối dõi tông đường.”

Bà lấy cái tráp cẩn xà cừ trong ngăn tủ thờ, mở nắp lấy đôi bông tai và chiếc kiềng vàng đeo vào tai, vào cổ con dâu. Ngước nhìn con dâu, bà nói: “Ngày đám cưới của mẹ, bà nội các con đã đeo đôi hoa tai, và chiếc kiềng này cho mẹ. Bây giờ mẹ trao lại cho con, coi như bảo vật của gia đình.”

Bà tiếp tục kể: “Ngày mẹ về làm dâu nhà ông huyện, mẹ rất lo lắng, nhưng bà nội của các con là người nhân hậu đã chỉ dạy cho mẹ cách ăn ở, đối xử sao cho phải phép gia phong, dòng họ nhà ông huyện. Ông nội của thằng Phong làm tri huyện, nhưng gia đình vẫn thanh bạch; bà nội của các con và mẹ vẫn tiếp tục công việc đồng áng, nuôi tằm, dệt lụa để nuôi sống gia đình. Ông nội của thằng Phong là ông quan huyện thanh liêm, được dân kính mến, nên năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, họ không công khai kêu án tử hình, mà đưa ông đi “an trí” ở đâu đó, gia đình không biết tin. Sau này mới hay, họ đã thủ tiêu ông trên vùng núi cấm. Dân chúng trong huyện luôn nhắc nhở tên ông với lòng thương tiếc.”

Bà quay sang, nói với thằng Phong: “Phong à, trong 9 năm kháng chiến, cha con không chịu đựng được sự gian khổ, mắc bịnh lao, không có thuốc men chữa trị, cha con qua đời lúc con chưa đầy 6 tuổi. Từ đó, một mình mẹ làm lụng cực khổ nuôi con. Đến năm 1954, Quốc gia tiếp thu vùng này, cuộc sống dễ thở hơn, con được đi học. Hết tiểu học, mẹ gởi con ra Đà Nẵng, học Trung học, rồi con vào Sài Gòn học tiếp... Con được thừa hưởng cái thông minh và phúc đức của tổ tiên, bây giờ là ông “Phó Quận”. Con phải noi gương ông nội, làm ông quan thanh liêm để danh thơm cho dòng họ. Con nên nhớ rằng: ‘Quan nhất thời, dân vạn đại.’ Hành xử thế nào để người dân không ta thán khi mình làm quan, và không bị phỉ nhổ khi mình về làm dân.” Đến đây bà bảo: “Ngày mốt chúng ta sẽ làm cỗ cúng tổ tiên, ông bà và mời ít bà con thân thuộc đến chung vui với gia đình mình”.

Ở chơi với mẹ gần tuần lễ, vợ chồng Phong trở lại Đà Lạt.

Cuộc sống của họ êm đềm, hạnh phúc và cho ra đời 2 đứa con trai kháu khỉnh (sinh đôi).

Rồi cuộc chiến mỗi ngày thêm ác liệt, nhưng họ vẫn còn hưởng được sự bình an, nơi hậu phương tươi đẹp và trù phú ở vùng cao nguyên. Phong không phải trực tiếp trước trước lằn tên, mũi đạn như các chiến sĩ ở chiến trường, nhưng mối hiểm nguy luôn rình rập... Dù vậy, đêm đêm vẫn có tiếng điện thoại gọi về cho bà.


Đến ngày 30/4/1975, đất trời như sập đổ, cuộc đời của họ cuốn theo vận nước tang thương.

Phong bị bắt! Bà không còn được đi dạy học!

Không thể kể hết những nghiệt ngã họ đã trải qua, sau ngày Miền Nam rơi vào tay giặc - chồng bị đọa đày 6 năm trong các trại tù cải tạo; còn bà gian truân nơi chợ trời, bươn chải kiếm sống nuôi con, tiếp tế cho chồng...

Rồi đến một ngày, chính phủ Hoa Kỳ cho những người phục vụ trong chế độ cũ, đã bị tù trên 3 năm, được đi định cư  trên vùng đất hứa, họ mới thoát cảnh lầm than.

Những ngày đầu tiên trên đất khách, cũng như bao nhiêu người tỵ nạn khác, lăn vào công việc, bất kể ngày đêm. Nơi nào có việc mà người Mỹ chê, là dân tỵ nạn nhảy vào. Phong xin được một chân hốt rác trong nhà in, còn bà xin làm phụ bếp cho nhà hàng Tàu. Phong làm ban đêm, ban ngày đi học - mấy năm sau lấy được bằng CPA (Certified Public Accountant). Còn bà, ngoài giờ làm phụ bếp ở nhà hàng, bà đi học Anh văn.

Số tiền kiếm được trong mấy năm lao động cực nhọc, ông bà ra thuê căn phố, trương bảng hiệu: “Khai Thuế và Real Estate Broker.” Lúc ấy nhiều người Việt mới sang, chưa rành tiếng Anh, nên thường đến nhờ ông khai thuế và nhờ bà hướng dẫn mua nhà.

Văn phòng lúc nào cũng đông khách. Vận may đến với ông bà như “diều gặp gió”. Thế là giàu và được xem là một gia đình thành công lúc bấy giờ.


Tuy công việc bận rộn, bà vẫn để tâm đến chuyện học hành của 2 đứa con trai. Có tiền nên ông bà cho con vào học trường tư. Qua bậc Trung học, bà cho con vào những Đại học danh tiếng, đóng học phí rất cao. Nhưng tiền bạc không mua được chữ nghĩa, và hình như ông trời cho cái này thì mất cái kia - chuyện học hành của 2 đứa con không ra gì. Bà buồn lắm! Bà thường xuyên gọi điện thoại khuyến khích chúng nó học hành, nhưng vẫn không đạt được điều mong muốn.


Thời gian qua mau, 2 đứa con trai đến tuổi trưởng thành, ông bà lo việc hôn nhân cho chúng nó. Rồi chúng nó ra riêng, ông bà bù đắp mua cho mỗi đứa một căn nhà.

Bây giờ đã đến tuổi về hưu, hai vợ chồng già hủ hỉ bên nhau trong căn nhà cũ. Tiếng điện thoại vẫn reo đều, nhưng không phải là tiếng điện thoại của khách hàng hẹn đi xem nhà, hay hẹn giờ khai thuế, mà là tiếng điện thoại của con dâu, gọi: nhờ mẹ sang trông giúp đứa cháu nội để nó đi mua sắm, hay tiếng điện thoại của thằng con trai nhờ ba đi đón đứa cháu nội ở trường. Những tiếng điện thoại ấy làm ông bà bận rộn, nhưng là niềm vui trong hạnh phúc.

Những lần đi chơi xa, không có bà đi theo, đêm đêm ông gọi về cho vợ, tỉ tê những chuyện vui buồn nơi ông đang ở, làm bà nhớ lại kỷ niệm năm xưa. Hay những lần lạc nhau trong shopping mall rộng lớn, tiếng điện thoại lại reo, để ông đến dẫn bà ra xe, về nhà... làm bà bớt bối rối. Bà thương chồng và cảm ơn chiếc điện thoại.  


Gần 10 năm, từ ngày về hưu, tiếng chuông điện vẫn reo đều... Cho đến một ngày, ông ra đi đột ngột vì cơn đau tim. Thế là bà ngậm ngùi, vĩnh biệt một tiếng chuông điện thoại yêu thương.

Sau đó, những tiếng chuông điện thoại thưa dần, vì bây giờ sức bà đã yếu, đâu còn giúp con dâu trông cháu được nữa. Nó gọi để làm gì? Thỉnh thoảng đứa con trai gọi đến hỏi thăm sức khỏe, nhưng giọng không tha thiết như lúc nó còn đi học, gọi về cho mẹ để xin tiền. Đôi lần, vắng tiếng điện của con, bà nhớ, bà lo: không biết có chuyện gì xảy ra.. Bà gọi cho con. Khi biết mọi sự bình an, bà mừng. Rồi bà kể lể chuyện: cô đơn, buồn chán, đau nhức, bệnh tật của tuổi già... Đứa con dâu nghe thấy, nó nói một câu phũ phàng: “Mẹ nhõng nhẽo, làm nũng đấy!” Thằng con trai thương mẹ cũng an ủi vài câu, rồi tắt máy.  Đến một ngày xui rủi, bà trượt chân té ngã, bị bể xương bàn tọa, vào nhà thương chữa trị hơn 6 tháng. Bà không đi đứng được nữa, phải ngồi xe lăn và không tự lo vệ sinh cho mình được. Ở nhà thương có y tá giúp đỡ, chứ về nhà, con trai bà đâu có chăm sóc cho mẹ được, còn con dâu thì khó trông cậy. Biết làm sao bây giờ? Bà đành chấp nhận đề nghị của nhà thương chuyển qua một viện dưỡng lão. 


Từ ngày vô viện dưỡng lão, thỉnh thoảng con trai bà đến thăm vào dịp Tết, Giáng Sinh, ngày Mother’s Day, nhưng rất hiếm khi được nghe tiếng chuông điện thoại.

Các con của bà chọn một viện dưỡng lão cao cấp, mỗi tháng trả 5 ngàn đô. Chúng nghĩ như vậy là sung sướng cho mẹ. Thực tế không sai, vì ở đây có những điều dưỡng viên kinh nghiệm, tận tụy, phục vụ chu đáo...  Tuổi già mấy người được như vậy?

Nhưng tiền bạc không thể đáp ứng được mọi vấn đề. Ngày xưa, thương con, bà chọn những trường danh tiếng cho con vào học, đóng học phí rất cao, nhưng tiền bạc không mua được chữ nghĩa. Bây giờ, các con thương mẹ, chọn nhà dưỡng lão cao cấp, với chi phí cũng rất cao, nhưng không mua được ước vọng yêu thương.

Ở đây bà mong đợi tiếng điện thoại reo như một liều thuốc an thần cho bớt cảm thấy cô đơn. Nhưng chồng bà không còn gọi về nữa, các bạn bè của bà cũng lần lượt ra đi, bà chỉ còn mong tiếng chuông điện thoại của các con. Nhưng than ôi! Tiếng chuông điện thưa dần rồi mất hút.     

Những lúc nhớ đến con cháu, bà gọi về; chúng nó không bắt phone vì lần nào bà cũng kể lể dông dài, chỉ chừng ấy chuyện, không có gì mới mẻ. Chúng nó chán và cũng không gọi lại cho bà. Chúng nó ỷ lại, nếu có điều gì bất trắc, văn phòng viện dưỡng lão sẽ gọi thông báo, chúng nó đến ngay. Chúng đâu có biết - nghe được giọng nói của con, bà cảm thấy khỏe ra như được uống viên thuốc bổ.         


Ngày lễ Mother’s Day năm nay, 2 đứa con dẫn vợ con vào nhà dưỡng lão, thăm mẹ. Món quà tặng mẹ trong ngày Mothe’s Day là cái iPhone 14. Từ trước đến giờ, món quà mà bà thích nhất vẫn là chiếc điện thoại di động (cell phone). Tặng món gì, dù đắt giá hơn, bà cũng không thích bằng cái điện thoại di động. Biết ý vợ,  ông chồng lúc còn sinh tiền, hễ chiếc điện thoại di động nào mới ra đời, nổi tiếng là mua tặng cho vợ, không cần biết giá cả bao nhiêu, cũng không cần đợi ngày sinh nhật hay lễ Tết. Bây giờ các con của bà cũng bắt chước cha mua tặng bà chiếc iPhone 14.    Bà cảm động cầm chiếc iPhone 14 săm soi, rồi cúi xuống, hai giọt nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo, bà thở dài khẽ nói: “Mẹ biết gọi ai bây giờ?” 

 

Lê Đức Luận

04/08/2023